RonRolheiser,OMI

Hướng Đến Sự Thấu Hiểu Về Tự Tử

A A A

Mỗi năm tôi đều cố gắng viết một bài báo về chủ đề tự tử, bởi vì đây có lẽ là cái chết bị hiểu lầm nhiều nhất và nó gây ra những tàn phá độc hại, riêng biệt lên gia đình cùng những người thân yêu ở lại.

Họ bị bỏ lại với một trận bão tuyết của những cảm xúc mâu thuẫn và giằng xé: sự hổ thẹn (Thật là một cách chết đáng xấu hổ); sự tội lỗi (Giá như mình làm được nhiều hơn); sự giằng xé (Tại sao mình không chú ý hơn?); sự giận dữ (Đây là một hành động ích kỷ); và sự băn khoăn (Làm sao người này có thể lên thiên đàng?). Hơn nữa, về bản chất, điều này làm tổn hại đến ký ức về người đã khuất.

Xuyên suốt các bài viết cũng như cuốn sách của mình (Bruised & Wounded: Struggling to Understand Suicide – Trầy xước & Đớn đau: Vật lộn để hiểu về tự tử), tôi luôn cố gắng nhấn mạnh rằng trong hầu hết các trường hợp tự tử:

  • Chúng ta đang đối diện với một con người cực kỳ nhạy cảm và tổn thương, một người mà ở một khía cạnh nào đó đã quá đau đớn đến mức không thể chạm vào.
  • Khi tự sát, một người ra đi trái với ý muốn của chính họ, tương tự như việc phải nhảy ra khỏi cửa sổ tòa nhà cao tầng vì quần áo trên người đang bốc cháy.
  • Một cái chết do tự sát tương đương về mặt cảm xúc và tâm lý với bệnh ung thư, đột quỵ hay một cơn đau tim. Vì lý do này, chúng ta không còn dùng từ “phạm tội” tự tử, bởi chẳng ai nói một người “phạm tội” ung thư, đột quỵ hay đau tim cả. Tự tử, trong hầu hết trường hợp, không phải là một hành vi tự nguyện.
  • Trong nhiều trường hợp, trầm cảm dẫn đến tự tử có gốc rễ từ sinh hóa.
  • Chúng ta không cần phải lo lắng về sự cứu rỗi đời đời của người đó. Họ có một trái tim lành thánh và Thiên Chúa là Đấng đọc được thấu suốt trái tim. Đôi khi một người rơi vào một trạng thái mà tình yêu con người, y học, và tâm thần học tốt nhất cũng không thể chạm tới, nhưng đức tin quả quyết với chúng ta rằng không có địa ngục trầm cảm nào mà Thiên Chúa không thể hạ mình đi xuống để thổi hơi bình an.
  • Chúng ta cần cho phép bản thân được cảm nhận tất cả những xúc cảm giằng xé mà mình sẽ có về người thân yêu và về cách ra đi của họ. Đó là một quá trình nguôi ngoai lành mạnh không nên bị cắt ngắn. Rốt cuộc, ký ức về người thân và linh hồn của họ sẽ trở về với chúng ta trong sự bình an và thấu hiểu.
  • Nhiệm vụ của chúng ta, sau thời gian chịu tang, là cứu chuộc ký ức về người thân yêu để cuộc đời họ không bị nhìn nhận và đánh giá qua lăng kính của cái chết. Hãy treo lại ảnh của họ lên tường, không còn nhắc về họ bằng giọng điệu thì thầm, hãy tưởng nhớ cuộc đời họ và nói một cách tự nhiên về tinh thần đặc biệt mà họ đã mang đến cho thế giới này.

Margaret Atwood từng nói rằng đôi khi có những điều cần phải được nói đi, nói lại và nói lại lần nữa, cho đến khi chúng không cần phải nói thêm nữa. Những góc nhìn này về tự tử vẫn cần phải được tiếp tục cất lời.

Bên cạnh những khẳng định trên, xin cho phép tôi bổ sung thêm hai góc nhìn về tự tử mà tôi thấy rất hữu ích.

Góc nhìn đầu tiên là một bài học từ thiên nhiên. Đây là chia sẻ của Elif Shafak, một nhà thực vật học, khi suy ngẫm về cái chết tự tử của mẹ người bạn mình: “Khi còn là một nhà thực vật học trẻ tuổi, tôi được nhờ chẩn đoán cho một cây xanh đang phát triển không tốt. Nó có vẻ như đang chết dần. Sau nhiều xét nghiệm không mang lại kết quả rõ ràng, tôi lấy xẻng và bắt đầu đào xuống, để rồi học được một bài học mà tôi không bao giờ quên: sự thắt nút đang diễn ra ngay bên dưới bề mặt. Cái cây đang bị siết cổ bởi chính rễ của nó. Nếu những chùm rễ quấn quanh không được phát hiện kịp thời, chúng sẽ bắt đầu tạo áp lực lên cây và mọi thứ trở nên quá sức chịu đựng… Cái chết của mẹ bạn không liên quan gì đến sự thiếu thốn tình yêu. Bà ấy đã nở hoa và phát triển nhờ tình yêu của bạn, và tôi tin là cả của tôi nữa, nhưng bên dưới lòng đất, có điều gì đó đang siết cổ bà: quá khứ, những ký ức, những chùm rễ.”

Đôi khi chính những chùm rễ của chúng ta (sự phức tạp, chấn thương, sự hỗn loạn, thất vọng, yếu tố sinh học) có thể quá áp đảo đến mức chúng quay sang triệt hạ thể xác. Như James Hillman đã viết trong cuốn sách Suicide and the Soul (Tự sát và Tâm hồn), đôi khi có những điều sâu thẳm bên trong không thể cất lên tiếng nói, và sự bế tắc của chúng rốt cuộc quay lại siết cổ thể xác. Chính những chùm rễ của chúng ta đôi khi là một sự pha trộn phức tạp giữa tâm hồn và sinh học khiến chúng ta bắt đầu rơi vào trạng thái ngạt thở.

Suy ngẫm thứ hai đến từ Jeffrey Monroe trong cuốn sách Reading Buechner: Exploring the Work of a Master Memoirist, Novelist, Theologian, and Preacher. Frederick Buechner, một mục sư Kitô giáo, đã phải đối mặt với cái chết tự tử của cha mình. Với tư cách là một người con, một người có đức tin, một mục sư cố gắng giúp người khác thấu hiểu, ông đã tìm kiếm những câu trả lời cho cái chết của cha. Những câu trả lời không dễ dàng đến, hoặc dường như chẳng hề xuất hiện. Rốt cuộc, Buechner đã đi đến sự thấu hiểu này về cái chết của cha mình.

Câu trả lời mục vụ tốt nhất trước một bi kịch không thể giải thích (cái chết tự tử của cha ông) không phải là một câu trả lời. Đó là sự hiện diện. Ở phía bên này của cõi đời đời, chúng ta sẽ không có được mọi câu trả lời, đặc biệt là câu hỏi về tự tử. Đôi khi không có câu trả lời nào thỏa đáng trong những khoảnh khắc đen tối nhất, như khi chúng ta mất đi người thân vì tự tử. Điều quan trọng nhất trong những khoảnh khắc đen tối đó là chúng ta có thể tin tưởng rằng Thiên Chúa không bỏ rơi người thân của chúng ta. Và điều chúng ta khao khát hơn cả những câu trả lời – chính là Thiên Chúa.

Khi Nào Chúng Ta Về Nhà?

A A A

Hơn bất cứ điều gì khác, chúng ta luôn khao khát một mái nhà. Nỗi khắc khoải sâu sắc của chúng ta về sự gắn kết, sự an toàn và niềm an ủi, đến cuối cùng, chẳng qua chỉ là niềm khao khát về nhà, không gì hơn. Chúng ta mãi bồn chồn tìm kiếm ai đó hoặc điều gì đó để đưa ta trở về nhà.

Nhưng nhà là gì? Là một gia đình? Một ngôi nhà? Một thành phố? Một quốc gia? Một người tình? Một ngôn ngữ? Hay một sắc tộc?

Khái niệm “nhà” vượt lên trên tất cả những điều đó. Chúng ta có thể tìm thấy một mái nhà trong nhiều gia đình, ngôi nhà, thành phố, quốc gia, sắc tộc và ngôn ngữ khác nhau; và chúng ta cũng có thể ở rất xa nhà ngay trong chính gia đình, ngôi nhà, thành phố, quốc gia hay dòng máu sắc tộc của mình.

Nhà là một chốn trong tim, chứ không phải là huyết thống, tòa nhà, thành phố hay chủng tộc. Nhà là chốn sâu thẳm, mong manh bên trong, nơi chúng ta gìn giữ và bảo vệ những gì quý giá nhất của bản thân. Đó là nơi mà bằng một cách mờ ảo nào đó, ta nhớ rằng đã từng có thời — trước khi nhận thức — ta được vuốt ve bởi những bàn tay dịu dàng hơn bất kỳ bàn tay nào ta từng gặp trong đời này, và nơi ta từng được hôn bởi một sự thật cùng một vẻ đẹp hoàn hảo đến mức chúng trở thành tiêu chuẩn vô thức để ta đo lường mọi thứ. Nhà là nơi những giá trị “vang lên sự chân thật”, nơi những gì quý giá nhất của ta được trân trọng, là chốn của lương tâm mềm mại, của sự gắn kết thấu hiểu.

Và chúng ta biết khi nào mình đang ở đó và khi nào không. Nhà là một cảm giác trực giác, một chốn nghỉ ngơi, một sự lành thánh, một niềm an toàn mà ta cảm nhận được hoặc không cảm nhận được.

Thỉnh thoảng có người hỏi tôi: “Làm sao tôi biết tình yêu tôi dành cho một người là thứ tình yêu có thể xây dựng một cuộc hôn nhân?” Câu trả lời của tôi: “Tình yêu là một ẩn số và không có gì đảm bảo; nhưng hãy tự hỏi mình điều này: Người này có mang lại cho tôi cảm giác về nhà hay không? Hay đây là một tình yêu — bất kể nó mạnh mẽ và phấn khích đến đâu — mà rốt cuộc tôi vẫn cần phải từ đó để đi về nhà?”

Có một sự khác biệt rất lớn giữa việc chia sẻ những xúc cảm mạnh mẽ với ai đó và việc cùng người đó xây dựng một cuộc đời, một mái nhà. Có một sự khác biệt rất lớn giữa một cuộc phiêu lưu tình cảm và một cuộc hôn nhân, giữa một kỳ nghỉ trăng mật hay việc gầy dựng tương lai với một người. Nhiều kiểu tình yêu có thể tạo nên một kỳ trăng mật, nhưng chỉ có một kiểu tình yêu mới đưa chúng ta về nhà.

Rồi sau khi đã tìm thấy nhà, chúng ta vẫn đối mặt với vấn đề làm sao để ở lại đó. Điều này không mang nghĩa đen, mà mang một ý nghĩa sâu sắc hơn. Bằng cách nào?

Trong các Sách Tin Mừng, ngay sau khi chối Đức Giê-su, chúng ta được kể rằng Phê-rô “đã đi ra ngoài”. Điều được mô tả ở đây không đơn thuần là một hành động thể lý — một ai đó bước qua cánh cửa để ra ngoài. Điều được ngụ ý là Phê-rô đã đi ra ngoài chính mình, ra ngoài bản ngã của ông, ra ngoài lương tâm, ra ngoài cách hiểu thông thường của ông về mọi việc. Ông “đi ra ngoài” theo cái cách một người đàn ông “đi ra ngoài” khi anh ta đến một quán bar dành cho người độc thân và kết nối với ai đó theo cách đưa anh ta “ra bên ngoài” ranh giới đạo đức bình thường của mình.

Và từ đó, anh ta phải đi về nhà. Tại sao? Bởi vì cũng như Phê-rô, anh ta đã “đi ra ngoài”. Những gì một người làm trong bất kỳ hành vi phân liệt nào về mặt đạo đức, về bản chất, đều đưa người đó rời xa ngôi nhà của mình (ngay cả khi hành vi đó được thực hiện ngay trong chính ngôi nhà của họ). Về mặt đạo đức và tâm lý, hành vi đó được thực hiện ở xa nhà. Nó được thực hiện ở “bên ngoài”.

Có một câu nói đùa hơi thô nhưng lột tả được điều này. Người ta hỏi: “Những người ngoại tình làm gì sau khi quan hệ?” Câu trả lời: “Họ đi về nhà!” Điều đó thể hiện một sự chua chát đáng buồn: Tình dục chưa bao giờ là điều mà từ đó chúng ta phải đi về nhà. Nó được thiết kế để đưa chúng ta về nhà, để cấu thành nên mái nhà. Sự gắn kết thấu hiểu chính là nhà, và nếu chúng ta cần phải rời khỏi một trải nghiệm để đi về nhà, thì đó là dấu hiệu không thể nhầm lẫn rằng những gì chúng ta vừa trải qua rốt cuộc không mang lại sự sống.

Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc hiểu cuộc sống. Trong các Sách Tin Mừng, Đức Giê-su nói: “Phần anh em (những người ở bên trong vòng tròn thấu hiểu), bí mật của Nước Trời được mạc khải; còn với những kẻ ở bên ngoài, mọi chuyện đều là câu đố.” Ai là người “ở bên trong” và ai là người “ở bên ngoài” vòng tròn thấu hiểu? Ai “nắm bắt” được bí mật và ai “không nắm bắt” được?

Việc “nắm bắt” hay “không nắm bắt” được bí mật không phải là vấn đề về trí thông minh, học thức, may mắn, hay việc tìm đúng sách, đúng thầy. Đúng hơn, chúng ta “ở bên trong” vòng tròn thấu hiểu và chúng ta “thấu hiểu” được Tin Mừng khi chúng ta “ở nhà”, khi chúng ta sống chân thật với những gì sâu thẳm nhất trong mình, khi chúng ta thành thật với lương tâm, khi chúng ta không “đi ra ngoài” về mặt đạo đức (như Phê-rô đã làm và như chúng ta vẫn làm khi thực hiện những hành vi không trung thực với chính bản thân). Khi chúng ta trung thành về mặt đạo đức, chúng ta “thấu hiểu” được Tin Mừng.

Ngược lại, chúng ta “không thấu hiểu” khi chúng ta “đi ra ngoài” — ra ngoài về mặt đạo đức — khi chúng ta “rời khỏi nhà” bằng sự bất toàn như Phê-rô đã từng.

Và chúng ta biết sự thật này từ trải nghiệm: Khi chúng ta trung thành, các Sách Tin Mừng trở nên dễ hiểu. Khi chúng ta bất toàn, gần như ngay lập tức, chúng ta ngập tràn những phản bác, trở nên cay đắng và bắt đầu vạch lá tìm sâu nơi những sự thật mà mình từng tin tưởng.

T.S. Eliot từng nói: “Nhà là nơi chúng ta bắt đầu.” Đó cũng là nơi mà từ đó, chúng ta hiểu điều gì mang lại sự sống cho mình và điều gì thì không.

Suy Tưởng Và Những Bài Thơ Viết Về Sự Tan Vỡ

A A A

Khi ngẫm lại về nền tảng tâm linh mà tôi được nuôi dưỡng, tôi cảm thấy biết ơn sâu sắc. Không có nền tảng tâm linh nào là hoàn hảo, nhưng những gì tôi được nhận qua truyền thống Kitô giáo phong phú của chúng ta hoàn toàn vững vàng trước những thử thách của cuộc sống và đức tin. Tuy nhiên, nếu phải đưa ra một lời phê bình, thì đó sẽ là: Dù rất giàu có về mặt nội dung, linh đạo Kitô giáo không phải lúc nào cũng cho phép chúng ta thừa nhận và đối diện với sự phức tạp của chính mình. Ít nhất là trong cách thể hiện phổ biến của nó, truyền thống này không phải lúc nào cũng nhìn nhận một cách nghiêm túc việc trở thành một con người phức tạp đến nhường nào.

Đó chẳng phải là một nhiệm vụ đơn giản. Như Nicole Krauss đã viết trong cuốn tiểu thuyết The History of Love (Lịch sử của tình yêu), chúng ta sống với “mâu thuẫn không thể dung hòa khi vừa là những động vật bị nguyền rủa với khả năng tự phản ánh, vừa là những sinh vật đạo đức bị nguyền rủa với bản năng động vật.” Đúng vậy, chúng ta là những sinh vật được tạo nên từ bụi đất mang hơi thở của Thiên Chúa.

Trong sâu thẳm tâm hồn, chúng ta mang hình ảnh và sự giống nhau của Thiên Chúa, nhưng điều đó không nên được hình dung như một biểu tượng tuyệt đẹp được in hằn trong tâm hồn chúng ta. Không. Đó là lửa, ngọn lửa thần thánh. Trong mỗi chúng ta đều có một hơi thở của sự vô tận khiến chúng ta luôn bồn chồn từ trong bản ngã, mang đến những khao khát chẳng thể lấp đầy trọn vẹn trong đời này, và như tác giả Kinh Thánh Qoheleth (Sách Giảng Viên) đã nói, điều đó giữ chúng ta mãi mãi lệch nhịp với các mùa. Như Thánh Âu-tinh đã viết trong câu nói nổi tiếng: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con cho Chúa, và lòng con sẽ mãi bồn chồn cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.” Là con người, chúng ta phức tạp và bồn chồn một cách mang tính bản chất.

Và đây là những gì điều đó có thể thể hiện trong một cuộc sống đức tin.

Khi bạn đọc tác phẩm Story of a Soul (Truyện một tâm hồn) của Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu, bạn sẽ thấy một nghịch lý, một sự mâu thuẫn gần như rõ rệt. Một mặt, ngài thể hiện một cách tuyệt vời tinh thần từ bỏ của Kitô giáo. Ngài là một hình mẫu của sự vị tha. Thế nhưng, ngài cũng gắn bó mạnh mẽ với những điều nhất định, chẳng hạn như gia đình, và có thể rơi vào một cơn trầm cảm nhẹ nếu gia đình lỡ một chuyến ghé thăm. Tê-rê-sa là một người phụ nữ phức tạp, không phải là một vị thánh không có những giằng xé nội tâm, và sự chia sẻ chân thành của ngài về những giằng xé đó là một trong những lý do khiến các tác phẩm của ngài chạm đến trái tim mọi người một cách sâu sắc.

Điều tương tự cũng đúng với Pierre Teilhard de Chardin — nhà khoa học, nhà viết sách tâm linh và nhà huyền học nổi tiếng. Đây là cách ông tự định nghĩa về mình (qua những lời lẽ mang ý nghĩa này): “Tôi sinh ra trong cuộc đời này với hai tình yêu lớn: tình yêu Thiên Chúa và tình yêu thế gian. Khi tôi nghĩ về Thiên Chúa, điều đó khiến tôi ngợp thở; nhưng khi tôi nhìn vào thế gian và vẻ đẹp trần thế của nó, điều đó cũng làm tôi ngợp thở. Cuộc đời tôi là một cuộc vật lộn giữa việc bái quỳ trước điều linh thiêng và bái quỳ trước vẻ đẹp trần gian.”

Tôi đưa ra bối cảnh này như một cách để giới thiệu và tiến cử cuốn sách gần đây của Maria Shriver: I Am Maria – My Reflections and Poems on Heartbreak, Healing, and Finding Your Way Home (Tôi là Maria – Những suy tưởng và bài thơ của tôi về sự tan vỡ, sự chữa lành và đường tìm về nhà).

Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với Maria Shriver với tư cách là một thành viên của dòng họ Kennedy nổi tiếng và là cựu Đệ nhất Phu nhân Bang California; nhưng cuốn hồi ký này giới thiệu bà với chúng ta theo một cách rất khác. Đây không phải là một người nổi tiếng viết hồi ký dựa trên sự nổi tiếng của mình. Đây là một cuốn sách có chiều sâu, về bản chất, là một bản Story of a Soul của thời hiện đại.

Shriver diễn đạt cuộc vật lộn của một tâm hồn nhạy cảm khi bà chia sẻ hành trình của chính mình, vừa với tư cách là một người phụ nữ của thế gian, vừa là một người phụ nữ của đức tin. Giống như Tê-rê-sa Hài Đồng Giêsu, bà có một sự buông bỏ lành mạnh, ngay cả khi vẫn bám víu vào một vài điều trong thế giới này. Giống như Teilhard de Chardin, Thiên Chúa và đức tin có thể làm bà ngợp thở, cũng giống như những an ủi trần thế trong đời này làm được điều đó. Bà nhìn nhận nghiêm túc cả thể xác lẫn tâm hồn mình và gọi tên, bằng sự chân thành, những căng thẳng mà bà phải sống cùng vì điều đó. Bà thể hiện một lòng đạo đức sâu sắc, ngay cả khi mang tinh thần phá vỡ những khuôn mẫu một cách lành mạnh. Bà gánh vác những căng thẳng này một cách trọn vẹn.

Hành trình của bà vừa mang tính hy vọng vừa mang tính thực tế cùng một lúc. Chẳng hạn, bà kết thúc bài thơ My Morning Meditation (Bài suy ngẫm buổi sáng của tôi) bằng những lời này:

Chắc chắn có những thứ khiến tôi sợ hãi, ví dụ như phải sống cô đơn suốt đời.
Nhưng nếu chuyện đó xảy ra thì cứ để vậy thôi.
Tôi sẽ tiếp tục bao quanh mình bằng những điều đẹp đẽ.
Nhờ vậy, tôi có thể tiếp cận vẻ đẹp, khía cạnh tâm linh và nữ tính trong mình.

Carl Rogers từng gợi ý rằng “những gì riêng tư nhất thường lại là những gì mang tính phổ quát nhất.” Shriver chia sẻ những vật lộn cá nhân sâu sắc mà chúng ta lập tức nhận ra đó là điều phổ quát. Và bà luôn là một nghệ sĩ trong việc chia sẻ chúng — sâu sắc và riêng tư, nhưng không bao giờ phô trương. Bà không bao giờ khiến bạn muốn ngoảnh mặt đi, đó chính là dấu ấn của một nhà văn giỏi.

Lần đầu tiên đọc Henri Nouwen, tôi có cảm giác như mình được giới thiệu với chính bản thân mình: Làm sao ông ấy lại hiểu mình rõ đến vậy? Có phải ông ấy đang viết riêng cho mình không? Nếu bạn là một người đang vật lộn với một tâm hồn nhạy cảm, bạn sẽ có cùng trải nghiệm đó khi đọc cuốn sách của Shriver.

Ai đó từng nói điều này về nữ ca sĩ quá cố Karen Carpenter: Khi nghe cô ấy hát, bạn có cảm giác như cô ấy đang hát cho riêng bạn và hát trực tiếp vào tai bạn. Cuốn sách của Maria Shriver cũng sẽ mang lại cho bạn chính cảm giác đó.