RonRolheiser,OMI

Lòng thấu cảm cho thế giới

Có một câu chuyện, có lẽ được thêu dệt hơn là sự thực, về một vị thị trưởng của một thành phố lớn Mỹ vào cuối thập niên 1960. Hồi đó thành phố của ông trải qua thời gian không mấy tốt đẹp: đối diện với tình trạng phá sản tài chính, tỷ lệ tội phạm leo thang, hệ thống giao thông công cộng không còn an toàn về đêm, con sông cung cấp nguồn nước uống bị ô nhiễm nghiêm trọng, không khí tràn ngập mối căng thẳng chủng tộc, và hầu như tuần nào cũng có đình công và các cuộc xuống đường phản đối. 

Chuyện kể lại vào một buổi chiều thứ sáu, vị thị trưởng bay trong một chiếc trực thăng trên bầu trời thành phố. Khi âm thanh huyên náo của giao thông giờ tan tầm đang bóp nghẹt hầu như tất cả mọi thứ khác thì ông nhìn xuống cái dường như là một mớ hỗn loạn lúc nhúc và nói với một trong những người trợ lý của mình: “Chẳng phải hay sao, nếu có một cái bơm để chúng ta có thể xả sạch toàn bộ mớ hỗn độn này ra đại dương!”

Lúc đó thấy ông có vẻ như khôi hài, nhưng tôi e là đôi khi chúng ta cũng suy nghĩ một cách âm thầm như vậy về thế giới của mình. Rất thường khi chúng ta và nhà thờ của mình coi thế giới này đúng là một mớ hỗn độn, bị vướng mắc vào những chuyện tầm thường hóa dại dột, là tự đắm chìm, tự yêu mình, thiển cận, không còn có nh&77919;ng giá trị đòi hỏi sự hy sinh nữa, tôn thờ danh vọng, nghiện hàng hóa vật chất, và chống-nhà-thờ và chống-Ki tô. Thật sự, điểm chung của các nhà thờ của chúng ta ngày nay là coi thế giới này như kẻ thù của chúng ta. 

Và, không hề cảm thấy đau đớn về điều đó, chúng ta lại thấy sung sướng và chính đáng khi khoái trá chứng kiến sự sụp đổ của nó: thế giới này đang nhận lấy những gì nó đáng phải nhận! Không còn Chúa, chính là hình phạt của chính nó! Đó chính là cái mà nó phải nhận lấy vì không chịu lắng nghe chúng ta! Trong chuyện này, thái độ của chúng ta là cái ngược lại với thái độ của Chúa Giêsu về thế giới. 

Chúa Giêsu đã thương yêu thế giới. Thật thế ư? Đúng vậy. Đó là điều Phúc âm dạy ư? Đúng thế. 

Đây là mô tả của Phúc âm về phản ứng của Chúa Giêsu đối với cái thế giới đã chối bỏ Người: Khi Chúa Giêsu đến gần thành Giêrusalem và nhìn thấy thành phố này, người khóc cho thành phố và nói: “Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được.” Chúa Giêsu nhìn thấy những gì xảy ra khi con người cố tìm cách sống không có Chúa, trong hỗn độn, đau đớn, thương tâm, và, không hề vui mừng khi thấy thế giới không thu xếp ổn thỏa, trái tim Người đau đớn trong thấu cảm: Giá như các người có thể thấy được các người đang làm những gì!

Nhìn vào một thế giới đang suy sụp chính bởi vì chỉ quan tâm tới mình, Chúa Giêsu đã đáp lại với lòng thấu cảm, chứ không khoái trá; với sự thông hiểu, chứ không phán xét; với nỗi thương tâm, chứ không xát muối vào vết thương; và với nước mắt, chứ không phải rũ bỏ đi cho nhẹ lòng. 

Những cha mẹ và bạn bè lòng tràn tình thương yêu hiểu chính xác những gì Chúa Giêsu cảm thấy trong giây phút người rơi lệ vì thành phố Giêrusalem. 

Đó là điều mà người cha, người mẹ nao lòng với trái tim tan nát khi thấy con cái mình cuốn theo những lựa chọn sai lầm và những hành vi tự hủy hoại, và khóc thầm khi lời lẽ cứ tự nhiên thốt ra: Giá như con có thể thấy được điều con đang làm! Giá như ba/mẹ có thể làm được điều gì đó để con tránh được những tổn hại mà con đang gây ra đời mình vì mù quáng như vậy! Giá như con có thể nhận ra được những gì đem đến bình an! Nhưng con không thể nào thấy được, và điều đó làm đau lòng cha/mẹ!

Điều này cũng đúng giữa những người bạn với nhau. Những người bạn chân chính không sung sướng và khoái trá khi bạn mình có những chọn lựa tồi tệ và đời họ bắt đầu tan vỡ. Mà họ khóc, xen lẫn với niềm thấu cảm lo lắng, đau lòng, với những van nài, và cầu nguyện. Tình thương yêu chân thực là thấu cảm, và lòng thấu cảm là không bao giờ khoái trá trước sự rơi rụng của người khác. 

Đức tin Ki-tô của chúng ta đòi hỏi chúng ta có tình thương yêu thật sự đối với thế giới này. Thế giới này không phải là kẻ thù của chúng ta. Đó là đứa con ương ngạnh, là người bạn thân thương đang làm cho lòng chúng ta tan nát. Có thể khó mà thấy được và chấp nhận được điều đó trên thực tế khi thế giới thường hung hăng và xấc xược với chúng ta, khi nó nổi xung với chúng ta, khi nó phán xét chúng ta một cách sai lầm, và khi nó bắt chúng ta giơ đầu chịu báng. Nhưng đó chính là những gì mà những đứa con khổ sở thường gây ra cho cha mẹ và bạn bè khi chúng đưa ra những lựa chọn sai lầm và phải gánh chịu hậu quả. Chúng quy kết và đổ lỗi sang người khác. Có thể chúng ta cảm thấy như vậy rất bất công, nhưng thái độ của Chúa Giêsu đối với những ai chối bỏ Người và đóng đinh Người trên thập giá đã mời gọi chúng ta mở lòng thấu cảm vượt lên trên chuyện đó. 

Kathleen Norris nói rằng, khi thế giới chống đối chúng ta, chúng ta nhìn nó như cách chúng ta nhìn đứa con gái 17 tuổi giận dữ xử sự với cha mẹ nó. Trong giây phút giận dữ đó của đứa con gái, cha mẹ dường như đã trở thành cái cột thu lôi (một nơi an toàn) để cô bé xổ ra cơn giận dữ và trút lỗi lên đó. Nhưng thấm ngậm điều này chính là chức năng tình thương yêu của người trưởng thành. Bậc làm cha mẹ tốt không phản ứng lại với cơn giận dữ của một đứa con đang tuổi thanh niên bằng cách tuyên bố nó là kẻ thù. Mà họ phản ứng như Chúa Giêsu đã phản ứng, là nhỏ lệ vì con. 

Hơn nữa, lòng thấu cảm thật sự cho thế giới không chỉ dựa trên lòng thông cảm chín chắn. Bản thân lòng thông cảm chín chắn lại dựa trên việc nhìn thấy thế giới như chính nó một cách rõ ràng hơn. Đứa con gái 17 tuổi đang hung hăng và nổi xung trước cha mẹ nó không phải là một người tồi tệ, chỉ là cô bé chưa trưởng thành hết mà thôi. 

Điều đó cũng đúng cho thế giới của chúng ta: Nó không phải là chỗ tồi tệ; chỉ là còn lâu nữa nó mới là một nơi hoàn thiện và trưởng thành.

Thương yêu vượt lên trên ngây thơ và lãng mạn

Nhiều năm trước, một vị trong Giáo vụ đoàn mà tôi biết đã thách thức giáo đoàn của mình phải mở rộng cánh cửa và tấm lòng một cách trọn vẹn hơn với người nghèo. Ban đầu, giáo đoàn đáp lại nhiệt tình và một số chương trình được thực hiện, tích cực mời gọi mọi người từ những vùng ít ưu đãi hơn về kinh tế, kể cả những người vô gia cư đến nhà thờ của họ. 

Nhưng tâm lý lãng mạn đã sớm phai khi các tách cà phê và những món đồ nho nhỏ khác bắt đầu biến mất, một số xách tay bị mất cắp, còn nhà thờ và không gian hội họp thì không còn được sạch sẽ và rối tung lên. Một số thành viên trong giáo đoàn bắt đầu than phiền và yêu cầu chấm dứt chuyện thử nghiệm này: “Đây không phải là điều chúng ta trông đợi! Nhà thờ chúng ta không còn sạch sẽ và an toàn nữa rồi! Chúng ta muốn đến với những người này và đây là những gì chúng ta nhận về! Quá sức lộn xộn đến mức không thể tiếp tục được nữa!”

Nhưng vị mục sư vẫn kiên quyết giữ vững ý kiến, chỉ ra rằng những điều họ trông đợi là ngây thơ, và những gì họ đang trực nghiệm chính là một phần trong cái giá của việc đến với người nghèo, và rằng Chúa Giêsu đoan chắc với chúng ta rằng bản chất của thương yêu là không an toàn và rối tung, và điều đó không chỉ đúng trong chuyện đến với người nghèo mà trong chuyện đến với bất cứ ai. 

Chúng ta thích nghĩ về bản thân mình là người hòa nhã và đầy tình thương yêu, nhưng, sự thực là điều đó dựa trên một quan niệm quá sức ngây thơ và quá sức lãng mạn về tình yêu. Chúng ta không thật sự yêu thương như Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta khi Người nói rằng: Hãy thương yêu nhau như Ta đã thương yêu con! Phần sau của câu nói này mới là khó: Chúa Giêsu không nói, hãy thương yêu nhau tùy theo nhịp điệu tự nhiên của quả tim; cũng không nói, hãy thương yêu nhau như cách xã hội định nghĩa tình thương yêu, mà là: hãy thương yêu nhau như Ta đã thương yêu con!

Và, phần nhiều, chúng ta đã không làm như vậy:

– Chúng ta đã không thương yêu kẻ thù của mình, cũng không đưa má kia ra để chấp nhận những người thù ghét chúng ta. Chúng ta đã không cầu nguyện cho những ai chống đối chúng ta. 

– Chúng ta đã không tha thứ người nào làm tổn thương mình, cũng không tha thứ cho những ai đã sát hại những người yêu quý của chúng ta. Trong nỗi đau của mình, chúng ta đã không cầu xin Chúa tha thứ cho chính những người đang làm chúng ta đau đớn vì họ không thật sự nhận thức được điều mà họ đang làm. 

– Chúng ta đã không rộng lượng mà bỏ lòng tự ái khi bị coi nhẹ hay phớt lờ, lúc đó chúng ta cũng không để cho hiểu biết và lòng cảm thông thay thế nỗi chua chát và khao khát bỏ cuộc của chúng ta. Chúng ta đã không xả bỏ nỗi hậm hực của mình. 

– Chúng ta đã không để cho bản thân mình dễ bị tổn thương đến mức có thể bị xúc phạm và khước từ khi chúng ta ngỏ lời thương yêu. Chúng ta đã không bỏ được nỗi sợ hãi bị người khác hiểu lầm, hoặc trông không tốt đẹp, hoặc không tỏ ra mạnh mẽ và có thể kiểm soát mọi chuyện. Chúng ta chưa hề dám đi chân trần, dám thương yêu mà không có sự bảo đảm chắc chắn.

– Chúng ta đã không mở lòng mình ra đủ để bắt chước sự chấp nhận không phân biệt và phổ quát của Chúa Giêsu, chúng ta cũng không thể mở rộng trái tim để coi mọi người là anh chị em, bất kể chủng tộc, màu da hay tôn giáo. Chúng ta vẫn chưa thôi nuôi dưỡng cái bí mật âm thầm rằng cuộc sống của chúng ta và của những người thân yêu của chúng ta là đáng quý hơn cuộc sống của những người khác trên thế giới. 

– Chúng ta vẫn chưa lựa chọn người nghèo, chưa mời người nghèo đến ngồi cùng bàn với chúng ta, và vẫn chưa bỏ được khuynh hướng muốn ở bên những người hấp dẫn và có ảnh hưởng. 

– Chúng ta vẫn chưa hy sinh bản thân mình trọn vẹn tới mức mất đi tất cả vì lợi ích của người khác. Chúng ta vẫn chưa thật sự đặt cuộc sống của mình xuống vì bạn bè mình, mà đặc biệt là vì kẻ thù của mình. Chúng ta vẫn chưa sẵn sàng chết vì chính những người chống đối và đang cố gắng đóng đinh chúng ta trên thập giá. 

– Chúng ta vẫn chưa thương yêu với ý định thanh khiết trong lòng, không tìm cách tìm kiếm bản thân trong các mối quan hệ. Chúng ta không để cho trái tim tan vỡ mà muốn xâm phạm trái tim người khác, cho dù theo cách tinh tế. 

– Chúng ta chưa đi trong kiên nhẫn, trao cho kẻ khác trọn vẹn không gian mà họ cần để tương liên với chúng ta theo mệnh lệnh nội tâm của chính họ. Chúng ta vẫn chưa sẵn lòng đổ mồ hôi máu một cách kiên nhẫn để giữ lòng trung tín. Chúng ta chưa chờ đợi kiên nhẫn, theo thời gian lành của Chúa, để được Chúa phán xét về đúng và sai. 

– Chúng ta chưa chống lại bản năng thôi thúc tự nhiên của mình về phán xét người khác, về gán cho các động lực. Chúng ta chưa nhường để Chúa phán xét. 

– Cuối cùng, không kém phần quan trọng, chúng ta chưa thương yêu và tha thứ cho bản thân, để biết rằng không nên để lỗi lầm của mình làm hàng rào ngăn cách chúng ta và Chúa. Chúng ta vẫn chưa tin đủ vào lòng thương yêu của Chúa để luôn luôn bắt đầu lại từ đầu trong lòng bao dung vô biên của Chúa. 

– Chúng ta chưa thương yêu như Chúa Giêsu thương yêu. 

Sau khi Raissa vợ ông chết, Jacques Maritain biên tập quyển nhật ký của bà. Trong Lời tựa của cuốn sách đó, ông mô tả cuộc chiến đấu của bà với căn bệnh đã cướp sinh mạng của bà. Bị kiệt sức và không thể nào nói được, bà đã chiến đấu kịch liệt đến những ngày cuối cùng của cuộc đời. Sự đau đớn chịu đựng của bà đã vừa thử thách vừa làm cho đức tin của chính Maritain trưởng thành. Hết sức tỉnh táo nhờ chứng kiến những đau đớn của vợ, Maritain viết: Chỉ có hai loại người nghĩ rằng tình thương yêu là dễ dàng: các vị thánh, những người qua nhiều năm dài hy sinh đã tạo được một thói quen đức hạnh, và những người ngây thơ không biết mình đang nói cái gì.

Cô đơn – Nỗi thống khổ rốt cùng

Khi là một chủng sinh 22 tuổi, tôi may mắn có một trải nghiệm độc đáo loại trải nghiệm trong sa mạc. Tôi ngồi bên các anh em của tôi nhiều tuần trong căn phòng ở khu vực dành riêng cho những người không còn chữa trị chỉ chờ chết, tôi nhìn cha tôi chết. 

Cha tôi còn trẻ, 62 tuổi, và còn khỏe mạnh cho tới khi căn bệnh ung thư tụy tạng đốn ngã. Ông là người có đức tin, và ông đem niềm tin đó vào cuộc chiến đấu cuối cùng của mình. Ông không sợ hãi Chúa, Đấng mà ông phụng sự suốt đời, cũng không sợ hãi đời sống sau khi chết, đời sống mà đức tin của ông đoan chắc là tràn đầy niềm vui. Nhưng ông không thể nào xa lìa cuộc đời một cách dễ dàng, đôi khi ông vật lộn gần như là cay đắng để không đầu hàng. Trong lòng ông có một nỗi buồn sâu sắc, cuối cùng thì đã êm ả hơn là cay đắng trong những tuần cuối cuộc đời. Ông đã không muốn chết. 

Nhưng nỗi buồn của ông không bắt rễ từ nỗi sợ hãi cái chết, sợ Chúa, hay sợ đời sống sau khi chết. Nỗi buồn của ông liên quan tới chuyện phải rời khỏi thế giới này, rời bỏ vợ con, cộng đoàn, những giấc mơ cho những năm tháng sẽ nghỉ hưu, và chính niềm yêu thích cuộc sống của ông. Ông buồn bã trước sự thật cay đắng rằng mình đang chết trong khi tất cả chúng tôi và cuộc sống vẫn tiếp tục, mà không có ông. 

Gần đây tôi nhớ lại điều này khi đọc một bài báo trên Tạp chí American Magazine của Sidney Callahan, trong đó bà chia sẻ về nỗi sợ chết của chính mình. Đây là phần nổi bật nhất trong bài viết: 

Nhưng những mất mát ít nghiêm trọng hơn cũng thấm vào nỗi sợ chết của tôi. Nỗi buồn kinh khủng trỗi lên khi nghĩ tới chuyện từ bỏ vai diễn của mình trong vở kịch cuộc đời vẫn tiếp diễn hàng ngày. Vòng láng giềng thân hữu và tình thương yêu gia đình mình (kể cả con chó yêu quý của tôi) kết chặt chúng ta vào với thế giới cụ thể và xinh đẹp của chúng ta. Bắt câu chuyện này gián đoạn là một viễn cảnh đau lòng trong khi chúng ta có thể tiếp tục mãi mãi. Khi cuộc sống của anh là một bữa tiệc được Chúa chúc phúc bây giờ và ở đây, thì rời khỏi chỗ của mình trên bàn tiệc là chuyện khó khăn – cho dù là để đi tới một cuộc ăn mừng huy hoàng hơn. Khi chết, chúng ta chắc chắn sẽ bước vào một cuộc hiện sinh mới mẻ, không thể nào tưởng tượng nỗi, giống như một bào thai được sinh ra. Cho dù có những điều kỳ diệu được hứa hẹn trong cái thế giới sắp tới đó, tôi vẫn sợ hãi thấy mình giống y như bào thai hài lòng sung sướng trong dạ ấm áp không muốn ra ngoài. 

Trước khi chê đoạn văn đó là cảm xúc non nớt hay không phải là thiêng liêng, chúng ta nên xem xét kỹ nỗi sợ chết của chính Chúa Giêsu. Phúc âm trình bày về nỗi thống khổ của người, “mồ hôi máu” của Người, như là một bi kịch đạo đức hơn là một bi kịch về thể xác. Đó là Giêsu trong bản chất con người, là một người thương yêu, người đang toát mồ hôi trước cái chết của mình. Khi mô tả cái chết của Người, họ đã nêu bật nỗi cô đơn kinh khủng, tình trạng bị cô lập, là “một hòn đá bị ném xa khỏi tất cả mọi người”, và cảm giác bị bỏ rơi. Nỗi đau đớn mà Người thể hiện trong Vườn Cây Dầu không phải là nỗi lo sợ về cơn đau đớn thể xác sắp tới, mà là nỗi lo sợ về việc sắp bị bỏ rơi, về việc mất chỗ của mình ở bàn ăn, tình trạng bị cô lập về tình cảm và luân lý, bị chết một mình, chết trong hiểu lầm, chết như một kẻ vô danh tiểu tốt. 

Suy ngẫm về điều này có thể có ích vì nhiều lẽ. 

Thứ nhất, hiểu sâu sắc hơn về điều này có thể giúp chúng ta nhận ra và xử lý một cách cởi mở hơn với một vài nỗi sợ hãi của chúng ta về cái chết. Chúng ta cần cho phép bản thân mình được buồn rầu khi nghĩ về cái chết. Đồng thời, hiểu điều này sâu sắc hơn có thể giúp chúng ta tự chuẩn bị cho nỗi cô đơn khi mà một ngày nào đó tất cả chúng ta đều sẽ phải đối diện. Như Martin Luther đã nói: Anh sẽ chết một mình. Tốt hơn là anh nên tin một mình. 

Tiếp đến, hiểu điều này sâu sắc hơn có thể cứu chúng ta khỏi việc nói lên những phán xét đơn giản quá mức về cách những người khác ứng xử như thế nào với cái chết. Quá thường xuyên là những suy nghĩ đơn giản quá mức rằng nếu người nào có đức tin thật sự thì người đó sẽ có thể rời bỏ cuộc sống dễ dàng và chết thanh thản. Điều đó đúng, nhưng cần có rất nhiều điều kiện: Như Iris Murdoch từng viết: “Một người lính bình thường chết không sợ hãi, Chúa Giêsu chết đầy sợ hãi!” Chúa Giêsu, như câu chuyện về cái chết của Người trong Phúc âm thánh Mác-cô đã kể rõ, đã không trải qua một quá trình chết, quá trình buông bỏ cách thanh thản. Người đối diện cái chết bằng đức tin và lòng can đảm, nhưng cũng đối diện nó với nỗi buồn sâu sắc, sự tranh đấu kịch liệt, gần như cay đắng, và dường như là đêm tối ở trọng tâm đức tin của mình. Những con người lành mạnh, những người yêu cuộc sống, thấy khó mà từ bỏ chỗ của mình ở những chiếc bàn của thế gian này. Chẳng hề ngạc nhiên là Chúa đã phải gắng gỗ như thế!Cuối cùng, và cũng trớ trêu thay là chúng ta cần hiểu điều này sâu sắc hơn mới có thể giúp chúng ta bước vào cuộc đời một cách sâu sắc hơn. Chúa Giêsu đã nói chúng ta phải đánh mất sự sống mới có sự sống. Bên cạnh nhiều ý nghĩa khác, điều này có nghĩa là chấp nhận một ngày nào đó chúng ta sẽ mất chỗ của mình nơi những cái bàn của thế gian này. Và sự chấp nhận đó có thể đem lại cho chúng ta thái độ cảm kích sâu sắc hơn đối với những cái bàn gia đình, cộng đoàn, và những cái bàn của niềm vui thích mà giờ đây chúng ta đang ngồi quanh trong thế giới cụ thể và xinh đẹp này. 

Cuộc sống và tình thương yêu là quý giá, ở cả hai bên bờ vĩnh cửu. Nỗi sợ hãi của chúng ta về việc mất chỗ của mình trong cuộc sống và tình yêu là một nỗi sợ hãi lành mạnh, thiêng liêng.

Tình yêu, lòng tin và nghi thức

Chẳng dễ gì để duy trì được tình yêu, ít nhất cũng không thể duy trì thường xuyên cảm xúc thiết tha sôi nổi. Hiểu lầm, khó chịu, mệt mỏi, ghen tuông, tổn thương, tính khí khác biệt, sự quen thuộc nuôi dưỡng khinh nhờn, và sự chán ngán luôn luôn bào mòn cảm xúc và xúc động của chúng ta, và chẳng mấy chốc, sự thiết tha sôi nổi nhường chỗ cho cái đều đều tẻ nhạt, thói quen trở thành nếp cũ chán ngắt, và tình yêu dường như biến mất. Nhưng chúng ta dễ dàng hiểu sai điều đó. 

Trước hết, chỉ vì mặt ngoài một mối quan hệ có vẻ bị hiểu lầm, khó chịu và tổn thương làm cho u ám không có nghĩa là chúng ta không thương yêu nhau. Tình thương yêu nằm ở một nơi bên dưới những cơn thăng trầm của sự khó chịu và tẻ nhạt. Anh có thể sẵn sàng chết vì một người nào đó, thậm chí ngay ở thời điểm anh đang sôi lên vì giận người ta. 

John Shea, trong một loạt các bài giảng xuất sắc được Nhà xuất bản Liturgical phát hành, đưa ra một ví dụ tuyệt vời cho chúng ta. Ông kể câu chuyện một người phụ nữ đưa người mẹ già yếu của mình về để giúp bà khi bà đang trong quá trình hồi phục từ một cơn đột quỵ. Người con gái chịu khó chăm sóc chu đáo từng nhu cầu của mẹ; nhưng, có một lúc, một cuộc cãi vả kinh khủng nổ ra – xung quanh một chuyện vặt vãnh về một quả trứng luộc chín quá mức. Giữa cuộc khẩu chiến kịch liệt, bà mẹ đột nhiên hỏi cô con gái: “Thế thì tại sao con lại làm tất cả những việc này cho mẹ?”Sau này, người con gái kể lại, cô trả lời bằng cách liệt kê một loạt lý do: Tôi lo cho bà; tôi muốn bà bình phục; tôi cảm thấy dường như hồi trẻ tôi đã lơ là với bà. Tôi cần chứng tỏ cho bà thấy là tôi mạnh mẽ. Tôi cần giúp bà sẵn sàng về nhà một mình trở lại; sẵn sàng đối diện với tuổi già, vân vân. Bản thân tôi cũng thấy ngạc nhiên. Tôi có thể viện dẫn lý do cả đêm cũng chưa hết. Cả mẹ tôi cũng kinh ngạc. “
Vớ vẩn,” bà nói khi tôi liệt kê xong.

“Vớ vẩn ư?” Tôi la lên. Như thể bà đã mắc sai lầm thật sự khi nhận xét như vậy. 

“Đúng, vớ vẩn,” bà lại nói lần nữa, nhưng giọng hơi nhỏ đi. Và tôi chợt hiểu trước âm sắc ngày càng nhỏ đi đó. Rồi bà nói tiếp: “Con không cần phải viện tất cả những lý do này. Chúng ta thương yêu nhau. Thế là đủ.”

Khó chịu, giận dữ, chán nản trong một mối quan hệ không hẳn có nghĩa là tình thương yêu đã chết, như câu chuyện trên đã chứng tỏ. Tình thương yêu nằm ở một chỗ sâu xa hơn. Nhưng làm sao chúng ta chạm tới được chỗ đó trong những cảm xúc dưới mức nhẹ nhàng bình thường?

Chúng ta làm được điều đó thông qua các nghi thức. Đời sống chung của chúng ta trong mọi kiểu cộng đồng đều được duy trì thông qua các nghi thức lớn nhỏ chúng ta gắn bó với nhau, giữ chúng ta tôn trọng nhau, và để chúng ta kiên nhẫn chờ đợi qua suốt những cơn thăng trầm của cuộc sống chung. Ví dụ, đôi khi chúng ta chào nhau một cách nồng nhiệt thật sự, và cũng đôi khi việc chào hỏi của chúng ta khó có thể che giấu được sự khó chịu hay chán chường. Nhưng chúng ta vẫn chào hỏi nhau. Nói “chào buổi sáng” là một hành động thuộc về nghi thức, một hành động quan trọng. Nó nói lên rằng chúng ta vẫn thương nhau và quan tâm tới nhau, kể cả khi đó không phải chính xác là những gì chúng ta có thể đang cảm thấy vào một ngày nào đó. Điều này cũng đúng với những cái hôn chiếu lệ vội vàng trên má khi chúng ta chào hay tạm biệt nhau, ôm nhau theo lệ, làm dấu hòa bình trong nhà thờ, và (đặc biệt) là việc chúng ta cam kết ngồi lại với nhau vào những thời điểm thường lệ để ăn cơm và những lần tụ họp khác. Đó là những nghi thức quan trọng, dùng hành động và cam kết của chúng ta để nói lên những gì mà cảm xúc của chúng ta đôi khi không thể nói lên, đó là: “mẹ/ba/em/anh thương con/anh/em! Mẹ/ba/em/anh có mặt ở đây cho con/anh/em đây, kể cả khi cả hai chúng ta đều mệt mỏi, đều quá sức quen thuộc với nhau, quá bận rộn, và quá khó chịu vì những điều khác biệt của nhau đến mức không còn thấy thiết tha trong tình cảm của chúng ta lúc này nữa.” 
Nghi thức nói thay cho tình thương yêu, kể cả khi nó luôn luôn cần được tình thương yêu làm nền tảng bên dưới. 

Điều này cũng đúng đối với đức tin. Trong đức tin, cũng y như trong tình yêu, vừa có bề mặt lẫn có nền tảng bên dưới. Thực tại sâu xa hơn nằm trong cái nền tảng bên dưới, và chúng ta cần sẵn sàng chuẩn bị cho rất nhiều những đổi thay ở trên bề mặt. 

Trong cuộc hành trình đức tin của chúng ta, sẽ có những phút giây thiết tha sôi nổi, cảm xúc nồng nhiệt, bình an ấm áp; nhưng sẽ cũng có từng giai đoạn, những giai đoạn dài, đôi khi là những giai đoạn cay đắng, khi trên bề mặt chúng ta chỉ cảm thấy khô khan, chán chường, thấy như Chúa vắng mặt, và thậm chí còn chán ghét những thứ gì của Chúa và của đức tin. Điều này không hẳn có nghĩa là chúng ta thiếu nỗ lực hay chúng ta đang chịu đau khổ trong đức tin vì quá quen thuộc dẫn tới khinh nhờn. Chúng ta có thể, như Chesterton đã gợi ý một cách cổ điển, cố gắng nhìn vào mọi điều quen thuộc cho tới khi nào chúng lại trông chẳng còn vẻ quen thuộc nữa, nhưng, như những nhà huyền bí đoan chắc với chúng ta, chuyện đó không phải lúc nào cũng giải quyết được vấn đề. 

Đức tin, giống như tình yêu, cần phải được duy trì thông qua nghi thức, thông qua những việc làm mang tính nghi thức cho phép sự cam kết và hành động của của chúng ta nói lên cái điều mà không phải lúc nào chúng ta cũng có thể nói ra bằng lời và bằng cảm xúc được. Và truyền thống đức tin của chúng ta có sẵn những nghi thức đó cho chúng ta: đọc kinh, dự Bí tích Thánh thể, cầu nguyện trong nhà thờ, lần chuỗi, cầu nguyện theo các sách kinh khác nhau, ngồi cầu nguyện chú tâm lặng lẽ, và, quan trọng hơn hết thảy, đơn giản là có mặt thường xuyên ở nhà thờ. Tất cả những điều đó nói lên điều mà người mẹ trong câu chuyện trên nói với con gái: Bên dưới tất cả những điều này, là chúng ta thương yêu nhau. Thế là đủ!

Giới báo chí Thiên Chúa giáo mất đi một người bạn

Không một cộng đồng nào được nói vụng về về cái chết của mình! Đó là câu nói của nhà nhân loại học nổi tiếng Mircea Eliade, và tôi dùng câu đó để kính viếng Otto Herschan, một nhà xuất bản Thiên Chúa giáo lâu năm, qua đời vào ngày 12 tháng 7 ở tuổi 84. 

Trong nhiều năm ông là chủ bút và là Giám đốc Điều hành của một số các tuần báo Thiên Chúa giáo tầm quốc gia, bao gồm tờ Người đưa tin Thiên Chúa giáo (Catholic Herald) ở Anh, tờ Nhà quan sát Thiên Chúa giáo Scotland (Scottish Catholic Observer in Scotland), và tờ Irish Catholic ở Ai-len. Ông đem lại một nền tảng thú vị vào báo chí Thiên Chúa giáo.

Ông sinh ra ở Áo và khi lên 10 tuổi, cùng với mẹ, ông đến tỵ nạn tại nước Anh khi xảy ra Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Cha của ông, người đưa vợ mình và Otto lên con tàu Tốc hành Phương Đông (Orient Express) để tới Luân Đôn ngay trước khi ông qua đời, là một sĩ quan quân đội Áo, và trong những chương đầu tiên tự truyện của Otto, quyển Làn khói thiêng, ông mô tả những phiên tòa xét xử Thiên Chúa giáo ở Áo khi nước này dần rơi vào vòng kiểm soát của phát xít Đức.

Khi tới nước Anh, Otto được các cha dòng Biển Đức giáo dục trong trường dòng ở Herefordshire, Belmont Abbey. Sau khi tốt nghiệp, ông làm một thời gian ngắn trong ngành kế toán và quảng cáo, trước khi ghi tên học đại học, nhưng vì không đủ tiền nên ông buộc phải bỏ học sau một năm. Sau đó Otto hướng sức lực sang nhà hát, làm việc ở Nhà hát Boltons, câu lạc bộ kịch nghệ nổi tiếng nhất của Luân Đôn trong thập niên 1940. Ông làm việc ở đó trong nhiều vai trò: người vẽ phông cảnh, diễn các vai lẻ, và cuối cùng là trở thành người quản lý nhà hát, là vị quản lý nhà hát trẻ nhất Luân Đôn, mới ở tuổi 21. Các khó khăn tài chính đã buộc Nhà hát Boltons phải đóng cửa vào năm 1950. Sau đó ông làm việc cho truyền hình trong một thời gian, giúp sáng lập ra đài truyền hình thương mại đầu tiên ở nước Anh. 

Điều này lại đưa ông trở về với nhà hát, nơi mà vào năm 1954, trong một buổi gây quỹ, ông đã gặp vị chủ tịch tờ báo Catholic Herald, ông này mời ông đảm nhiệm công việc quản lý tờ báo. Ông phản đối, nói rằng mình chẳng hề biết gì về chuyện điều hành một tờ báo, và ông nhận được câu trả lời: “Như thế có khi lại là khởi đầu tốt ấy chứ!” Thế là ông trở thành Giám đốc Điều hành tờ Catholic Herald trong gần 50 năm.

Với tầm nhìn và dưới sự dẫn dắt của ông, tờ Catholic Herald đã phát triển từ chỗ chỉ phục vụ một số lượng độc giả nhỏ, khép kín mà với họ, việc mua một tờ báo được coi như là một hành động mộ đạo, trở thành một tờ tuần báo Thiên Chúa giáo tầm cỡ quốc gia và quốc tế, có mặt trên các sạp báo trong toàn bộ thế giới nói tiếng Anh. Ông tuyển mộ những nhà báo tài năng từ giới báo chí thế tục, và Catholic Herald trở thành tờ báo năng nổ và được rất nhiều người tìm đọc. Là chủ bút của một số tờ báo Thiên Chúa giáo trong và sau thời gian Vatican II, ông luôn luôn có thể giữ cho tờ báo của mình đứng vững được trên cái ranh giới mong manh giữa hai ý thức hệ tự do và bảo thủ. Luôn luôn, người ta coi báo của ông là quá tự do đối với những người bảo thủ và quá bảo thủ đối với những người tự do. Vậy không phải là lời phê bình dở.

Là người xuất bản có ngân sách rất eo hẹp, Otto có tài phát hiện những nhà báo trẻ tài năng, thuê họ làm biên tập viên cho tờ báo của ông, sau đó vài năm, ông hết lòng chúc phúc cho họ khi họ chuyển sang những công việc có lương bổng cao hơn trong giới báo chí thế tục. Theo cách đó, ông đã giúp tạo dựng sự nghiệp cho nhiều nhà báo trẻ rất xuất sắc; nhưng đem lại lợi ích cho cả hai, những biên tập viên trẻ trung thiết tha cầu tiến mong được khởi nghiệp trong ngành báo chí và báo chí Thiên Chúa giáo hưởng lợi từ tài năng của họ. Trong những năm làm nghề báo, ông phát triển tình bằng hữu keo sơn với những vị lãnh đạo giáo hội ở khắp nơi, trong đó có Tổng giám mục Denis Hurley của Nam Phi và Hồng y Giáo chủ Franz Konig của Vienna.Tôi gặp Otto lần đầu tiên vào năm 1990, khi ông tuyển tôi viết chuyên mục định kỳ cho tờ báo của ông, và suốt 20 năm từ đó trở đi, tôi đã có một tình bạn tuyệt vời với ông và Marie vợ ông. Dù là người khiêm tốn và dễ gần, ông luôn luôn có chút phi thường. Ông làm không khí thêm sinh động. Ông yêu cuộc sống, yêu công việc, yêu vợ sâu đậm, và đặc biệt yêu thích những bữa ăn tối kéo dài tới khuya, đậm đà hơn bởi rượu ngon, chuyện trò việc đạo, châm chọc, trêu đùa và tình bằng hữu được thêm hương vị qua những điếu xì gà ngon. Thời gian ngừng trôi trong những bữa tối như thế, liếc nhìn đồng hồ đeo tay là điều cấm kỵ, cọng thêm phải trả giá cho những bữa tối đó bằng sự mệt mỏi cả ngày hôm sau, thì anh cũng biết là, trong suốt những giờ đồng hồ ngồi bên bàn ăn với nhau như vậy, anh đang làm điều mà anh được mong làm trong suốt đời mình, đó là thưởng thức tình bạn, tình thương, thức ăn, trêu đùa, và chuyện trò việc đạo với nhau. Tôi luôn luôn nâng niu ký ức về những bữa ăn tối như vậy tại nhiều câu lạc bộ khác nhau của Otto, cũng như những giây phút với đôi vợ chồng dành thời gian cả ngày lái xe qua miền đồng quê nước Anh giữa mùa hè, cửa sổ xe hơi mở rộng, khói tẩu thuốc lá và xì gà phì phèo tỏa khắp, và cặp mắt Otto xem xét khắp cảnh quan, tìm ra những cảnh đẹp và kiếm xem có thể có quán rượu nào hay không. Không một cộng đồng nào được nói vụng về về cái chết của mình! Và vì thế, là điều quan trọng khi nói rằng khi Otto Herschan qua đời, giáo hội và thế giới này đã mất đi một người lịch lãm, một người bạn tốt, một người thông thái, một người mà, giống như Chúa Giêsu, đã cố gắng hội tụ những người có niềm tin khác nhau ngồi chung lại một bàn, bàn của tình bằng hữu và đức tin. 

Chúa và Tình dục

Thế giới chúng ta nghĩ rằng đã hiểu tình dục. Thật ra là không hiểu. Hơn nữa, thế giới này còn bắt đầu phớt lờ và thậm chí còn khinh khi cách nhìn nhận của người Ki-tô hữu đối với tình dục. 

Và bây giờ chúng ta đang trả giá cho điều đó, mà phần lớn là không nhận thấy: Tình dục, nếu vượt ra ngoài các giới hạn đúng mực của nó, lòng tôn trọng, cam kết vô điều kiện, và tình thương yêu, thì chẳng mang đến điều gì vui vẻ cho cuộc sống chúng ta, chỉ làm cho chúng ta phân lẻ và cô đơn hơn. Một phần những gì đang xảy ra với chúng ta được diễn tả trong ca từ ám ảnh của bài hát “Chiếc áo mưa xanh trứ danh” của Leonard Cohen, trong đó một người đàn ông nhắc nhở bạn mình về những hậu quả của việc anh ăn nằm với một phụ nữ mà anh ta không cam kết nghiêm túc: Anh đối xử với người phụ nữ nào đó như thể là bông tuyết rơi qua đời anh; và khi cô về nhà, cô chẳng phải là vợ của ai cả. Tình dục dễ dãi: một bông tuyết của đời ta. Được cho đi một cách lông bông nhẹ dạ.

Có quá nhiều tình dục trong văn hóa, nhưng điều đó chẳng đem lại được mái ấm cho ai, mái ấm nơi người ta cảm thấy được tôn trọng hoàn toàn, được an toàn vô điều kiện, có thể là chính mình, thoải mái và tự tin rằng niềm vui của câu chuyện làm tình của họ đang khiến cho trái tim họ lớn lao hơn, dịu dàng hơn, đầy lòng biết ơn hơn, đầy niềm vui hơn. 

Với đôi lời mở đầu như vậy, tôi xin được giới thiệu quyển sách “Vị Thần Tình dục” của Rob Bell. Ông là mục sư của một nhà thờ Ki-tô giáo ở Michigan và ông viết những điều, trước nay người khác cũng đã cố gắng viết nhưng hiếm khi hay được. Điều ông làm là coi trọng cái sức mạnh thô, tính chất nhục dục và sự phức tạp đến mức mụ mị của tình dục và đặt nó vào góc nhìn nhân loại học, của Kinh thánh và của Ki-tô hữu vốn coi trọng một cách đúng mức cả tính phàm tục lẫn tính thiêng liêng của tình dục. Khác với nhiều tác giả Ki-tô, ông thừa nhận tính chất phức tạp trong tình dục của chúng ta mà không chối bỏ, không phỉ báng, hay bao bọc bằng lớp vỏ sùng đạo. Nhưng, khác với phần lớn tác giả thế tục vốn thật sự thừa nhận tác động trọn vẹn của tính chất phức tạp tình dục của chúng ta nhưng lại không thấy được ý nghĩa sâu xa hơn của nó, ông kết hợp chặt chẽ tính chất phàm tục và tính chất thiêng liêng của tình dục thành một quan điểm mà tức thì thấy ngay được vừa phàm tục vừa thiêng liêng. Đây là một ví dụ về cái nhìn sâu sắc đó của ông: 

Đối với quá nhiều người trong chúng ta, tình dục là cuộc kiếm tìm một cái gì đó chúng ta còn thiếu, cuộc săn lùng không ngơi nghỉ một sự chấp thuận yêu thương vô điều kiện; và thế là chúng ta đi từ mối quan hệ này sang mối quan hệ khác, tìm kiếm điều đó. Nhưng, như Bell nói: Tình dục không phải là kiếm tìm cái gì đó còn đang thiếu. Nó là sự thể hiện của cái gì đó đã được tìm thấy. Nó là sự tuôn tràn, là sự tiến tới đỉnh cao của điều mà một người đàn ông và một người đàn bà đã tìm thấy ở nhau. Đó là sự tôn vinh cái điều sống động rõ ràng đang xảy ra giữa hai người với nhau.

Theo quan điểm của Bell, tình dục trong giới hạn đúng mức của nó (cam kết vô điều kiện, lòng tôn trọng và tình thương yêu) là để đối lập với tính chất tan vỡ của đời sống chúng ta và sự phân lẻ của thế giới chúng ta. Cái “nhất thể” biểu hiện trong sự ăn nằm là nhằm để mang cái “nhất thể” vào thế giới này: Người đàn ông và người phụ nữ đã trao bản thân họ cho nhau này là để đem lại cho thế giới một tia hy vọng, một sự hiển bày của Chúa, một mẩu “nhất thể” trên trái đất. Có phải đó là nguồn gốc cho cụm từ “làm tình” xuất hiện hay không? Ý thức được rằng một điều gì đó huyền nhiệm xảy ra trong tình dục, một điều gì đó tốt lành và cần phải được tạo ra? Một điều gì đó được đưa vào thế giới, trao tặng cho thế giới này. Cùng nhau, người đàn ông và người đàn bà này là tốt đẹp cho sự an lành của toàn thế giới này theo một cách thức huyền nhiệm sâu sắc nào đó. 

Bell nói rõ ràng về tính chất thiêng liêng của tình dục và điều đó thực ra củng cố sức khống chế không khoan nhượng của tình dục như thế nào: Trên thiên đường chúng ta sẽ được thấu hiểu trọn vẹn … Đó chính là điều mà người ta khao khát trong tình dục, chẳng phải vậy hay sao? Được thấu hiểu mà vẫn được thương yêu, vẫn được nâng niu và chấp thuận. Chẳng phải tình dục trong sự biểu hiện chân thực, vui tươi nhất, trong trắng nhất và lớn lao nhất của nó chính là một phút giây của vĩnh cửu hay sao?

Hơn nữa, ông không hề viễn vông và ngây thơ về những gì mà sức mạnh khống chế của tình dục có thể gây ra với chúng ta và nó có thể để lại những dấu vết hối hận đối với lòng trong trắng của chúng ta lẫn trên tấm áo choàng rửa tội của mình. Ông quả quyết với chúng ta rằng Chúa biết tình dục có sức mạnh đến mức nào và vì vậy đã lường trước những rủi ro nhất định. Quyển sách của ông kết thúc với một câu chuyện về một cuộc hôn nhân đáng ao ước của một cặp vợ chồng lý tưởng, nhưng vài năm sau đó họ đã chia tay: Tôi kết lại quyển sách này với câu chuyện như vậy bởi vì cuộc đời không hề thẳng hàng thẳng lối. Mà đau lòng. Rủi ro. Không phải bao giờ mọi chuyện cũng giải quyết ổn thỏa. Đôi khi chẳng hề có một lối mở nào cả. Đôi khi mọi chuyện tan tành và chúng ta tự hỏi liệu có có bất kỳ ý nghĩa gì trong bất kỳ điều gì trong số đó hay không. Chúng ta những muốn đóng chặt lòng mình, phong kín bốn bề trái tim, và nghiến răng đi tiếp, tự hứa rằng đừng bao giờ mở lòng ra như vậy một lần nào nữa. Nhưng chúng ta phải tin rằng chúng ta có thể hồi phục từ bất kỳ chuyện gì. Tôi phải tin rằng Chúa có thể sắp đặt cho bất cứ điều gì – bất kỳ ai – tìm lại với nhau. Tôi phải tin rằng vị Chúa mà Giê-su mời gọi chúng ta đặt lòng tin tưởng vào là tốt lành như lời Chúa nói. Thương yêu… Tha thứ… Khoan dung… Đầy lòng nhân từ…. 

Vấn đề với tình dục là giáo hội không coi trọng đam mê đúng mức, trong khi thế giới lại không coi trọng sự trinh bạch đúng mức. Tình dục lành mạnh đặt nền tảng trên sự cộng hưởng của cả hai, đam mê và trinh bạch, sự phàm tục và tính thiêng liêng. Quyển sách của Rob Bell tôn vinh sự cộng hưởng đó. 

Bức chân dung của Dorian Gray và của nền văn hóa chúng ta

Cách đây gần một thế kỷ, Oscar Wilde viết quyển tiểu thuyết nổi tiếng có tên là Bức chân dung của Dorian Gray. Tiểu thuyết mở đầu như thế này:

Basil Hallward, một họa sĩ, vừa hòan thành bức chân dung một chàng trai trẻ có tướng mạo đẹp đẽ phi thường, Dorian Gray. Ngay khi ông vừa hồn thành bức vẽ, Ngài Henry Wotton trẻ tuổi thông minh, một người bất chấp đạo đức, đi vào phòng, kinh ngạc trước bức tranh, và tán tụng Dorian về tướng mạo đẹp đẽ của chàng. Dorian, rất khiêm nhường vào tuổi đó, nói với Ngài Henry rằng tướng mạo đẹp đẽ đó hầu như chẳng có ý nghĩa gì với mình cả. Nhưng Ngài Henry thách thức Dorian làm sao để biến tướng mạo đẹp đẽ của mình phải mang ý nghĩa nào đó, vừa bởi vì đó là điều có thực vừa bởi vì nó là cái nhất thời, thống qua. 

Đây là lời của vị quý tộc này đối với chàng trai trẻ Dorian Gray: Anh có một gương mặt đẹp tuyệt vời, anh Gray ạ. Đừng có cau mày. Thật sự anh có gương mặt đẹp tuyệt vời. Và Vẻ đẹp là một hình thức của Thiên tài, mà thực ra còn cao hơn cả Thiên tài, bởi vì nó không cần lời giải thích. Đó là một trong những sự thực vĩ đại của thế giới này, cũng giống như ánh mặt trời, mùa xuân, hay hình ảnh sáng chiếu trên mặt nước đêm đen của quả cầu bạc mà chúng ta gọi là mặt trăng. Nó không thể nào bị nghi vấn. Nó có cái quyền chủ quyền thiêng liêng. Nó biến những ai có nó trở thành những bông hồng. Anh cười ư? A! Khi nào mất nó thì anh sẽ không cười được… Người ta đôi khi nói rằng Vẻ đẹp chỉ là hời hợt. Có thể như vậy. Nhưng ít nhất nó không hời hợt đến mức như Suy nghĩ. Đối với tôi, Vẻ đẹp là kỳ quan của mọi kỳ quan. Chỉ những người nông cạn mới không phán xét qua bề ngồi. Bí ẩn đích thực của thế giới này là những cái nhìn thấy, không phải là những cái không nhìn thấy… Đúng, ông Gray, thánh thần đã tốt đối với anh. Nhưng những gì thánh thần cho thì họ cũng nhanh chóng lấy đi. Anh chỉ có ít năm để sống thật sự, hồn tồn và trọn vẹn. Khi tuổi trẻ đi qua, vẻ đẹp của anh cũng đi theo, và rồi thình lình anh sẽ thấy chẳng còn lại chiến thắng nào cho anh cả, hay phải tự hài lòng với những chiến thắng nhỏ mọn mà ký ức về quá khứ lại càng khiến cho những chiến thắng đó chua chát hơn cả thất bại. Từng tháng trôi qua, vẻ đẹp héo tàn dần dẫn anh tới gần hơn với một cái gì đó chết chóc. Thời gian ghen tức với anh, và gây chiến với làn da trắng hồng của anh. Anh sẽ trở nên tái xám, má hĩp, mắt mờ. Anh sẽ phải chịu đựng kinh khủng… A! hãy sống thực cái tuổi trẻ của mình khi còn đang có nó. Đừng phí hồi những ngày hoàng kim của mình vào chuyện lắng nghe những điều tẻ nhạt, cố gắng cải thiện thất bại vô vọng hay bỏ phí đời mình cho những kẻ ngu dốt, tầm thường và thô tục. Đó là những mục đích ủy mị, những lý tưởng sai lầm của thời đại chúng ta. Hãy sống đi! Hãy sống cái sức sống tuyệt vời trong anh! Đừng tự bỏ lỡ điều gì. Hãy luôn luôn kiếm tìm những xúc cảm mới. Đừng có sợ hãi gì cả… Một chủ nghĩa hưởng lạc mới, đó là cái mà thế kỷ chúng ta đang cần. Có thể anh sẽ là một biểu tượng hữu hình cho nó. Với tính cách của anh, thì chẳng có gì anh không thể làm được. Thế giới này thuộc về anh trong một thời gian mà thôi…

Một chủ nghĩa hưởng lạc mới – đó là cái mà thế kỷ chúng ta đang cần. Oscar Wilde đã tiên đốn điều này từ cách đây gần một thế kỷ, và dường như đó chính là cái mà chúng ta đã tiến hĩa trong thế giới phương Tây này. Vẻ hình thể, vẻ ngồi nhìn đẹp, có một thân thể gọn gàng khỏe mạnh, gợi tình, trẻ mãi và được người ta hâm mộ mình về hình thể, đó là mối bận tâm ám ảnh lớn lao với phần lớn nền văn hĩa chúng ta. Hầu hết mọi người trong nền văn hĩa chúng ta, có lẽ không phải trong lý thuyết và chắc chắn là trong những lựa chọn đời thực của chúng ta, sẽ đồng ý với Ngài Henry khi ông nói: bí ẩn đích thực của thế giới này là những cái nhìn thấy được, không phải là những cái không nhìn thấy. Vẻ ngồi ưa nhìn có xu hướng đánh bạt tất cả. Không phải điều này hồn tồn xấu. Hời hợt thay truyền thống thiêng liêng nào đi hạ thấp giá trị của thân thể. Chúng ta không phải như các thiên thần, không phải là những cái hồn không xác, mà là những sinh vật có cả thân xác lẫn tinh thần, và cả hai đều quan trọng đối với sức khỏe tinh thần của chúng ta. Chúa không tạo ra chúng ta để chúng ta đi trên hành tinh này một cách thờ ơ trước những vẻ ngồi của cơ thể chúng ta, lành lùng về tình dục, và chẳng ngĩ ngàng gì đến sức khỏe cơ thể của chúng ta. Trên thực tế, thờ ơ với sức khỏe và vẻ ngồi thân thể chúng ta là một trong những dấu hiệu của trầm cảm lâm sàng. Trẻ trung, khỏe mạnh và hấp dẫn về mặt tình dục là điều để mà thích thú, một trong những niềm hoan lạc mà Chúa dành cho chúng ta. Không có đức hạnh gì trong chuyện trông tiều tụy và cảm thấy ảo não. 

Vì thế: lành mạnh thể chất là điều tốt về tinh thần. Cố gắng để giữ cho thân thể chúng ta hấp dẫn là điều tốt về tinh thần. Cảm thấy lành mạnh về dục tình của chúng ta là điều tốt về tinh thần. Nhưng đó là những phương tiện, không phải là mục đích. Tuổi trẻ, sức khỏe, và sự hấp dẫn tình dục không phải là cái quyền chủ quyền thiêng liêng như Ngài Henry và phần nhiều xã hội đương đại của chúng ta nghĩ. Bản thân chúng không phải là mục đích tự thân, mà chỉ là một phần trong cuộc hành trình của chúng ta để đạt tới sự trưởng thành, lòng vị tha, và hạnh phúc. Chúng không phải là mục đích của cuộc hành trình.

Khi chúng ta thật sự biến chúng thành mục đích của cuộc hành trình của mình, thì chẳng mấy chốc chúng ta sẽ nếm mùi cay đắng mà Ngài Henry đã nói với chàng thanh niên Dorian: thình lình anh sẽ thấy chẳng còn lại chiến thắng nào cho anh cả, hoặc phải tự hài lòng với những chiến thắng nhỏ mọn mà ký ức về quá khứ lại càng khiến cho những chiến thắng đó chua chát hơn cả thất bại.

Sự quý giá và niềm vui của con số toàn vẹn

Ngày nay chúng ta không còn gắn cho các con số nhiều ý nghĩa biểu tượng cho lắm. Một số ít tàn tích vẫn còn từ những thời kỳ xa xưa, phần lớn là mê tín, ví dụ như nhìn thấy số 7 là may mắn còn số 13 là không may. Với chúng ta, phần lớn các con số chẳng có ý nghĩa gì cụ thể.

Trước đây thì chưa bao giờ như vậy. Thời Chúa tại thế, người ta thường gắn các con số với ý nghĩa sâu sắc. Chẳng hạn, trong kinh thánh, các con số 40, 10, 12 và 100 có ý nghĩa tượng trưng rất lớn. Chẳng hạn con số 40 mang ý nghĩa về thời lượng cần để một cái gì đó có thể chín muồi, thành tựu, trong khi các con số 10, 12 và 100 chỉ tính chất toàn vẹn nhất định cần để có thể nhận được ân sủng một cách đúng đắn.

Biết được người xưa gán những ý nghĩa đặc biệt trong những con số nhất định là điều cốt yếu để hiểu được một câu chuyện rất khó, và thường bị quên lãng, trong Phúc âm, đó là câu chuyện ngụ ngôn về một người phụ nữ với 10 đồng xu (Luke, 15, 8-10). Nếu không hiểu được ý nghĩa tượng trưng của các con số, thì câu chuyện này mất hết ý nghĩa.

Đây là câu chuyện ngụ ngôn trong Kinh thánh: Một  phụ nữ có 10 đồng xu, bà bị mất một đồng. Bà cực kỳ lo lắng, bất an và tìm kiếm đồng tiền bị mất này một cách điên cuồng, không chịu ngưng nghỉ, thắp đèn đuốc, tìm khắp các gầm bàn, và quét mọi nơi mọi chỗ trên nền nhà. Cuối cùng bà tìm thấy đồng xu và niềm sung sướng của bà cũng lên đến tột độ như nỗi khó chịu khi mất nó. Bà vui sướng như điên, gọi cả những người hàng xóm đến chia vui, và tổ chức một bữa tiệc ăn mừng mà còn tốn kém gấp nhiều lần giá trị cái đồng xu bà bị mất trước đó.

Tại sao lại lo lắng và rồi sung sướng đến như vậy trước việc mất đi rồi tìm lại được một đồng xu mà giá trị của nó chỉ là 10 cent? Câu trả lời nằm ở ý nghĩa biểu tượng của các con số: trong văn hóa của bà, 9 không phải là con số toàn vẹn; 10 mới là con số toàn vẹn. Nỗi lo lắng của người phụ nữ khi mất đồng xu lẫn niềm sung sướng của bà khi tìm thấy lại chẳng liên quan gì đến giá trị của đồng xu này. Mà là ở giá trị của sự toàn vẹn. Một sự toàn vẹn nào đó trong cuộc đời của bà đã bị rạn vỡ và chỉ có việc tìm thấy lại đồng xu đó mới khôi phục được sự toàn vẹn đó. Về căn cốt, câu chuyện ngụ ngôn có ý thế này:

Một người mẹ có 10 người con và gia đình bà được tạo thành từ đó. Với 9 người con, bà có mối quan hệ tốt đẹp, nhưng một trong những người con gái của bà lại xa lánh bà và gia đình. Người con nào cũng thường đến thăm bà, ăn cơm chung với cả nhà, chỉ trừ người con gái này. Người mẹ không thể nào yên lòng trong cảnh đó; bà cần đứa con gái xa lạ đó quay về cùng cả nhà. Bà tìm đủ mọi cách để hàn gắn với con gái, và một ngày, như một phép màu trong muôn một, điều đó đã xảy ra. Con gái làm hòa với mẹ và trở về lại gia đình. Cả gia đình lại toàn vẹn, ai ai cũng trở về ngồi ăn chung một bàn. Người mẹ vui mừng khôn tả, bà rút hết tất cả tiền tiết kiệm của mình trong ngân hàng, tổ chức một bữa tiệc hào phóng để ăn mừng cái ân huệ lớn lao là gia đình bà lại được toàn vẹn.

Ở đây có một bài học quan trọng: Giống như người mẹ đó, chúng ta hẳn sẽ bồn chồn, không thể ngơi nghỉ, sẽ thắp đèn đốt đuốc đi tìm, cho đến khi tất cả người thân của mình, những người trong nhà thờ và cộng đoàn của mình lại quây quần hòa hợp, và những người không còn ngồi chung bàn với mình lại quay về nhập hội. 9 không phải là con số toàn vẹn…, và con số thông thường trong gia đình chúng ta hay trong các bàn Thánh thể cũng vậy. Chúng ta cần phải luôn bất an: Ai đang không ngồi chung bàn với chúng ta? Ai không còn đến nhà thờ cùng chúng ta nữa? Ai cảm thấy khó chịu với việc thờ phượng của chúng ta? Ai không còn cùng chúng ta trò chuyện về luân lý và chính trị nữa? Và quan trọng hơn hết thảy, chúng ta có thoải mái trước sự tình quá nhiều người giờ đây không thể nào cùng tham gia với chúng ta trong gia đình, ở bàn Thánh Thể, luận bàn luân lý hay chính trị?

Đáng buồn là, ngày nay, quá nhiều người trong chúng ta cảm thấy thoải mái trong gia đình, nhà thờ, và cộng đoàn khi cách xa sự toàn vẹn, rất xa. Đôi khi, trong những phút giây hời hợt, chúng ta thậm chí còn vui mừng vì chuyện đó: “Thật nhẹ cả người! Nếu không thích thì đừng tới! Cô ta dù thế nào đi nữa cũng không phải là tín hữu Thiên chúa giáo thực thụ! Các quan điểm của anh ta thật quá hẹp hòi và mù quáng, cho nên càng tốt nếu anh không ở đây! Không có cái ngữ ấy thì chúng ta còn tốt đẹp hơn! Như thế này càng bình an! Không có cô ta, gia đình hay giáo hội của chúng ta còn thanh khiết và trung tín hơn!”

Nhưng chính thái độ này và tình trạng thiếu ước ao lành mạnh đối với sự toàn vẹn, hơn bất kỳ điều gì khác, giải thích tình trạng buồn bã và khắt khe mà biểu hiện quá sức rõ ràng ở khắp nơi trong gia đình, giáo hội và giới chính trị chúng ta ngày nay. Khác với Chúa Giêsu, người mà trái tim đau với ý muốn cứu rỗi thế giới và cầu nguyện trong nước mắt cho “những con chiên không ở trong cùng đàn chiên này”, và khác với người phụ nữ bị mất một đồng xu, không chịu đi ngủ chừng nào lật tung mọi ngóc ngách của căn nhà để điên cuồng tìm kiếm đồng xu bị mất, chúng ta tự hài lòng với chỉ 9 đồng xu, một bộ bất toàn, thay vì khao khát kiếm tìm sự toàn vẹn đã mất đó, để cuối cùng đem về lại cho chúng ta sự trọn vẹn và niềm vui.

Những hình ảnh vô thức ảnh hưởng sâu sắc tới chúng ta 

Trong số tất cả những câu chuyện lớn lao trên thế giới, những câu chuyện phổ biến nhất, nổi tiếng nhất, và vĩnh viễn hấp dẫn, là những chuyện về các vị anh hùng. Những câu chuyện này mô tả một người nào đó, nam hay nữ (dù thường là nam), phải trải qua hành trình hiểm nguy, đau khổ, bị chống đối, hiểu lầm và xúc phạm, để đạt được một mục đích cao đẹp nào đó. 

Những thể loại chuyện như vậy có khắp mọi nơi trong thần thoại cổ điển, trong thánh kinh, tiểu thuyết anh hùng ca, và phim ảnh bình dân. Chi tiết của các câu chuyện này rất khác nhau, nhưng chúng đều có một mô thức chung: Vì những lý do cao cả, nam hay nữ anh hùng này phải đi xuống thế giới tối tăm của khổ đau, chịu đựng khổ đau đó, thường là bị hiểu lầm và chống đối trầm trọng, để cuối cùng vươn lên trong chiến thắng, trở thành người chinh phục, vị anh hùng, đối tượng để ngưỡng mộ, và là một người mà giờ đây cách nào đó đã đứng cao hơn những người khác nhờ thành tựu này. Đồng thời, một điều rất quan trọng, trong các thần thoại và câu chuyện như thế, thế giới trở nên tốt đẹp hơn và cách nào đó đã được cứu rỗi nhờ lòng dũng cảm, tinh thần sẵn sàng gánh chịu đau đớn, hiểu lầm, cách ly và bị hạ nhục của vị anh hùng này.

Phổ biến nhất, trong những câu chuyện này, người nam hay người nữ anh hùng đạt được một chiến công nào đó trên thế giới, một chiến thắng trong chiến tranh hay thể thao; nhưng, ở một cấp độ sâu sắc hơn, nhiều câu chuyện trong số này muốn nói về cuộc hành trình nội tâm và tinh thần của một người. Trong thần thoại, điều này được diễn đạt là cuộc săn tìm “chén thánh”, và cuối cùng “chén thánh” là điều gì đó tìm thấy vào cuối cuộc hành trình nội tâm, nghĩa là sự chính chắn và thánh thiện hiếm hoi của con người. 

Trong cuốn sách mới của mình, Tự nhiên và Tâm hồn Con người (Nature and the Human Soul), Bill Plotkin chiêm nghiệm về việc cách hiểu của chúng ta về vấn đề này bây giờ đã bị méo mó tệ hại như thế nào, trên thực tế là tệ hại đến mức mà, đối với văn hóa của chúng ta, “chén thánh” được hình dung không hơn hào quang của chuyện trở thành thần tượng của tuổi “teen”.

Ông viết như thế này: trong những thập niên gần đây, văn hóa bình dân đã làm suy yếu hình thức chính chắn của hành trình người anh huong, phá hỏng nó bằng hình ảnh kỳ khôi của thanh thiếu niên vị kỷ. Tất cả chúng ta đều quá quen thuộc với mô thức câu chuyện của Hollywood: vị nam hay nữ anh hùng quả cảm – từ John Wayne đến James Bond, từ Siêu nhân đến Chú chuột Hùng mạnh, từ Người Dơi đến Người Đàn bà Điện tử – không tiếc mạng sống, sức khỏe hay tài sản của mình, trong thể thao, chinh chiến, điệp vụ hay một nhiệm vụ bất khả thi nào đó, để cứu lấy thời gian, hay cứu một thiếu nữ, hay cứu hành tinh này, và nhận về những phần thưởng chiến thắng và khen ngợi cá nhân. Trong cách biểu đạt non nớt này về cuộc hành trình của người anh hùng, nhân vật chính tìm cách đánh lừa cái chết và trở nên “người hùng” hoặc phô trương lòng tự tôn, giống kiểu của một biểu tượng người nổi tiếng hay một thần tượng tuổi “teen” hơn là người đã trưởng thành. Người hùng thiếu niên này trở về với vài vết trầy xước nhưng căn bản vẫn không thay đổi gì. Mặc dù người ta thường lấy làm vui thích, nhưng đó chỉ là câu chuyện Ngục tối và Rồng ác, chứ không phải hành trình của một vị anh hùng chính chắn. 

Con đường đi đến sự trưởng thành đích thực của người nam hay người nữ đều khác hẳn chủ nghĩa anh hùng vị thành niên, thường là kiểu nam tính vai u thịt bắp. Vị nam anh hùng trưởng thành đã lâm vào thế giới tối tăm, trải qua một trận bại chiến quyết định đối với tính cách thiếu niên (một cái chết tâm lý hay tổn thương tâm lý nặng nề), đã đón nhận thiên khải về vị trí chân chính của mình trên thế gian, và khiêm tốn trở về với nhân dân của mình, sẵn sàng phục vụ nhãn quan của mình. Điều này cũng đúng hoàn toàn với vị nữ anh hùng. 

Cuộc hành trình của vị anh hùng có ý nghĩa chuyển hóa từ thiếu niên sang người trưởng thành, để biến một người thành Người Lớn, và điều này được thành tựu không hẳn bằng cách chinh phục những kẻ xâm lược xa lạ, đánh bại những kẻ xấu bằng sức mạnh cơ bắp, hay bằng cách đoạt được Giải thưởng Hàn lâm viện hay một cúp vô địch. Quá thường xuyên, những cuộc chinh phục kiểu đó có tác dụng ngược lại, đó là đậm thêm tính vị kỷ, coi mình là trung tâm mọi việc, và khóa chặt con người lại, thậm chí còn khóa kín hơn trong tình trạng chưa trưởng thành, bằng cách tăng cường kiểu mơ mộng hão của thiếu niên là trở thành một vị anh hùng đứng tách biệt và cao hơn. 

Điều cần để giết chết tính cách thiếu niên chính là bị đánh bại hay bị làm nhục, khiến cho tính chất thiếu chính chắn của những giấc mộng hão thiếu thời của chúng ta bị vỡ toang, bị phô bày ra, những giấc mộng hão mà trong đó chúng ta luôn luôn là siêu sao, là thần tượng được hâm mộ, vị anh hùng chinh phục, người sáng giá hơn và hùng mạnh hơn người khác, và là người mà bằng cách nào đó miễn nhiễm ốm đau, cái chết và những yếu đuối đời thường của con người. Một hành trình của vị anh hùng chân chính, hành trình chuyển hóa chúng ta từ lòng tự tôn và vị kỷ không lành mạnh trở thành khiêm nhường và hào hiệp lành mạnh, sẽ luôn luôn là một cuộc hành trình quá hải, trong đó chúng ta, giống như Chúa, uống ly sỉ nhục, mà vẫn không vì thế trở nên cay đắng hay tuyệt vọng. Một vị anh hùng chân chính thường giống một người ông hay người bà nói năng nhỏ nhẹ, dịu dàng và khiêm nhường (người mà mỗi một nếp nhăn đều là một câu chuyện về nỗ lực, nỗi lo lắng, muộn phiền, và nước mắt), hơn là một người đang vẻ vang sung sướng giương cao cúp vô địch thể thao hay giải thưởng Viện hàn lâm.  

Trong văn hóa ngày nay của chúng ta, những người nổi tiếng là những vị thánh mới – và các tạp chí, chương trình truyền hình, trang mạng internet đầy ảnh của họ và những chi tiết sâu kín của đời sống họ giờ là thức ăn tinh thần của thời đại chúng ta – đối với nhiều bộ phận lớn trong nền văn hóa của ta. Tình hình là như vậy, cả hay và dở; nhưng chúng ta cần nhận ra mình đang chịu ảnh hưởng sâu sắc như thế nào bởi những hình ảnh thiếu niên này hơn là lòng nhân chính chắn. 

Đủ cho lòng tin

Vài năm trước đây, một người bạn của tôi đã ngỏ lời cầu hôn với hôn thê của anh theo một cách rất phản-Hollywood: Lúc đó anh đã ngoài bốn mươi và đã vỡ mộng nhiều lần vì thất tình, mà theo anh thú nhận, thì trong số đó, có vài vụ  là do lỗi của anh, kết quả của những thay đổi cảm xúc bất ngờ về phần anh. Giờ đây, đến nửa cuộc đời gắng gỏi để không vỡ mộng và khắc kỷ về chuyện tình yêu và lãng mạn, anh gặp một phụ nữ mà anh tôn trọng sâu sắc, rất khâm phục, anh cảm thấy muốn xây dựng cuộc đời với người đó. Nhưng, chưa tin chắc vào bản thân mình, nên anh đã ngỏ lời cầu hôn rất khiêm nhường. 

Đại ý, lời cầu hôn của anh như thế này: Anh muốn đề nghị em lấy anh, nhưng, anh cần phải nói rõ ràng mọi nhẽ: anh không tự cho anh đã hiểu trọn vẹn về tình yêu. Đã có lúc trong đời anh nghĩ là anh hiểu, nhưng anh đã thấy những cảm xúc của chính mình và những cảm xúc của người khác thay đổi quá thất thường theo những cách khiến anh mất tự tin vào những điều anh hiểu về tình yêu. Và như vậy, anh sẽ rất trung thực: anh không thể hứa hẹn là anh sẽ luôn luôn yêu em. Nhưng anh có thể hứa rằng anh sẽ luôn luôn trung tín, rằng anh sẽ luôn luôn đối xử tôn trọng với em, rằng anh sẽ luôn luôn làm mọi điều trong khả năng của mình để có mặt bên em hầu giúp em thực hiện những ước mơ của em, và rằng anh sẽ luôn luôn là  người bạn đời trung thực cố gắng xây dựng cuộc sống với nhau. Anh không thể bảo đảm anh sẽ luôn luôn cảm thấy như thế nào, nhưng anh có thể hứa rằng anh sẽ không phản bội em và bội tín với em. 

Đó không phải là kiểu cầu hôn như chúng ta thấy trong phim ảnh và tiểu thuyết lãng mạn – dựa trên niềm tin ngây thơ rằng niềm đam mê và nồng cháy mà chúng ta trải qua lúc đầu khi mới yêu sẽ kéo dài mãi mãi. Nhưng đó là một lời cầu hôn của người trưởng thành, lời cầu hôn không ngây thơ hứa hẹn một điều không thể nào thực hiện. Mà, ngoài việc hướng chúng ta tới chỗ hiểu biết chính chắn về tình yêu, đó còn là một hình ảnh phong phú về lòng tin và diễn tiến của nó. Lòng tin, rốt cuộc, là lòng chung thủy trong hành động hơn là tha thiết trong cảm xúc. Cho phép tôi nêu một ví dụ: 

Khi còn học ở trường dòng, một mùa hè nọ, bạn cùng lớp của tôi lên đường đi ẩn tu 30 ngày. Mục đích của anh là cố gắng đạt được một đức tin quả quyết hơn, một đức tin mà anh cảm thấy tha thiết và sẽ làm ấm lòng anh. Anh đã chịu đựng cái mà theo lời anh mô tả, là đức tin “khắc kỷ”, một cảm giác tinh túy về thực tại và tình thương yêu của Chúa, nhưng là một đức tin mà không chuyển mấy thành những cảm xúc an toàn ấm áp về sự hiện diện và tình thương của Chúa. Theo lời anh thú nhận, anh thiếu cảm giác yêu mến, nhiệt tình hừng hực, cảm xúc, và hơi ấm trong đức tin của mình. Mà đó là những gì anh đi để tìm kiếm. 

Sau thời gian ẩn tu, anh vẫn còn khắc khổ, tuy nhiên đã thay đổi: “Tôi không bao giờ đạt được điều tôi mong muốn,” anh nói, “nhưng tôi lại được một điều khác. Tôi đã biết chấp nhận được là có thể đức tin của tôi luôn luôn khắc khổ, nhưng tôi đã cũng biết rằng như thế vẫn ổn. Tôi không nhất thiết phải có những cảm xúc ấm áp tưởng tượng về đức tin của mình. Tôi không cần phải đầy đam mê và nhiệt tình hừng hực. Tôi chỉ cần trung tín trong những việc làm của mình, không phản bội điều mà tôi tin. Giờ đây, đối với tôi, đức tin có nghĩa là tôi cần phải sống đời mình trong sự thiện lành, tôn trọng, kiên nhẫn, trinh bạch, và hào hiệp với người khác. Tôi chỉ cần làm điều đó; tôi không cần phải cảm thấy điều đó.”

Đức tin và tình yêu quá dễ dàng bị đánh đồng với cảm xúc nồng nàn, đam mê, tha thiết, cảm giác mến yêu, và ngọn lửa lãng mạn. Và những cảm xúc đó là một phần của bí ẩn, một phần mà chúng ta sinh ra là để nâng niu và yêu thích. Nhưng, cho dù những cảm xúc này tuyệt vời, chúng lại mong manh và sớm nở tối tàn, theo kinh nghiệm đã cho thấy. Thế giới của chúng ta có thể đổi thay trong vòng 15 giây bởi vì chúng ta có thể phải lòng hay thay lòng đổi dạ chỉ trong quãng thời gian đó. Những cảm xúc đam mê và lãng mạn là một phần của tình yêu và đức tin, nhưng không phải là phần sâu sắc nhất, không phải là phần mà chúng ta có thể kiểm soát được về mặt tình cảm. 

Vì thế mà, cho dù nó không lãng mạn, tôi lại thích cách tiếp cận khắc khổ như thể hiện trong lời cầu hôn của anh bạn tôi, đặc biệt khi áp dụng vào đức tin. Đối với một số người trong chúng ta, đức tin sẽ không bao giờ là điều gì đó làm tình cảm chúng ta bốc cháy và khiến ta tràn ngập lửa nồng nàn, ngoại trừ những thời gian ngắn ngủi. Chúng ta trước nay đã trực nhận ngọn lửa đó có thể sớm nở tối tàn như thế nào. 

Vì thế mà, như bạn học của tôi với đức tin “khắc khổ”, một số người trong chúng ta có thể phải đặt định một đức tin mà nói với Chúa, những người khác và với chính chúng ta như thế này: Tôi không thể bảo đảm tôi sẽ cảm thấy như thế nào vào một ngày nào đó. Tôi không thể hứa tôi sẽ luôn luôn có tình cảm đam mê đối với đức tin của tôi, nhưng tôi có thể hứa tôi sẽ luôn luôn trung tín, tôi sẽ luôn luôn hành xử một cách tôn trọng, và tôi sẽ luôn luôn làm mọi điều trong khả năng của mình, tới chừng nào những yếu đuối con người của tôi còn chịu được, để giúp sự nghiệp của những người khác và Chúa trên thế giới này. Tôi không thể bảo đảm chuyện tôi sẽ luôn luôn cảm thấy như thế nào, nhưng tôi có thể sống với lòng quyết tâm sắt đá là sẽ không bao giờ phản bội điều tôi tin!

Như vậy là đủ cho lòng tin. 

Một vài tâm tư riêng về những chuyện tin tưởng nho nhỏ  

Tất cả chúng ta đều quen thuộc với kinh Tin Kính Nicene và của các thánh Tông đồ, hai bản tóm tắt đức tin vĩ đại giúp lòng tin của chúng ta bám neo. Nếu không có hai bản kinh đó, cuối cùng chúng ta sẽ trôi dạt khỏi đường hướng và bị lạc lối. Các kinh Tin Kính đã neo giữ chúng ta. 

Nhưng các bản kinh Tin Kính vĩ đại giống như những dòng sông lớn, cần những nhánh sông nhỏ đem nước từ nhiều nới khác đến. Vì vậy, chúng ta cũng cần những lời tin kính nhỏ, những lời phát biểu chân lý cô đọng, ngắn gọn để neo giữ chúng ta về mặt luân lý và thiêng liêng. Chắc chắn, tất cả chúng ta đều có những lời tin kính nhỏ mà mình yêu thích nhất. Đây là một số lời kinh của tôi:

• Thương yêu thì hay hơn giận dữ. Hy vọng thì hay hơn sợ hãi. Lạc quan thì hay hơn tuyệt vọng. Vậy chúng ta hãy thương yêu, hy vọng và lạc quan. Jack Layton, lãnh đạo Đảng Dân chủ Mới của Canada, viết trong lá thư gửi người dân Canada, ngay trước khi qua đời vì bệnh ung thư. 

• Thử thách lớn nhất là sống trọn những vết thương của mình thay vì nghĩ mãi về chúng. Khóc lên thì tốt hơn là lo lắng, cảm nhận sâu sắc vết thương của mình thì tốt hơn là hiểu chúng, để chúng đi vào thinh lặng thì tốt hơn là nói về chúng. Sự chọn lựa mà bạn luôn luôn đối diện là đem vết thương của mình lên đầu hay tới trái tim. Henri Nouwen, viết nhật ký khi đang trải qua cơn bệnh trầm cảm.

• Khi có điều gì khó khăn xảy tới với bạn, bạn có hai lựa chọn để ứng xử với nó. Bạn có thể cay đắng hơn hay tốt hơn. Donald Miller, thách thức thanh niên vươn lên tầm đạo đức cao hơn. 

• Khi tôi tuyệt vong, tôi nhớ lại rằng suốt lịch sử xưa nay, cái đạo của chân lý và lòng thương luôn luôn chiến thắng. Đã có những kẻ sát nhân và những tên bạo chúa, và có lúc chúng dường như không thể bị đánh bại. Nhưng cuối cùng chúng luôn gục ngã. Hãy luôn luôn nghĩ về điều đó. Mohandas K. Gandhi, khẳng định niềm tin của mình vào chiến thắng tối hậu của chân lý và điều thiện. 

• Không một điều gì đáng làm lại có thể đạt được trong cuộc đời của chúng ta; vì vậy chúng ta phải được cứu rỗi bằng hy vọng. Không có điều gì chúng ta làm, cho dù đức hạnh đến đâu, có thể một mình mà thành tựu được; vì vậy chúng ta phải được cứu rỗi bằng tình thương yêu. Không một hành động đức hạnh nào lại đức hạnh từ quan điểm của người bạn hay người thù của mình bằng chính quan điểm của mình. Vì vậy chúng ta phải được cứu rỗi bằng hành động thương yêu cuối cùng, đó là tha thứ. Reinholt Niebuhr, bàn về những điều phức tạp của sự thánh thiện.

• Chúng ta lớn lên như thế này: qua việc bị những điều luôn luôn vĩ đại đánh bại một cách quyết định. Rainer Marie Rilke nói rằng bị đánh bại bởi thế giới bên kia thì tốt hơn chiến thắng ở thế giới này. 

• Đức tin của chúng ta bắt đầu ở chính nơi những người vô thần cho rằng phải chấm dứt. Đức tin của chúng ta bắt đầu với lạnh lẽo và sức mạnh của bóng đêm trên thập giá, của ruồng bỏ, cám dỗ và nghi hoặc về tất cả mọi thứ hiện tồn. Jurgen Moltmann nói về đêm tối của đức tin và thánh giá. 

• Sẽ đến một thời kỳ trong cuộc sống khi câu hỏi không còn là: Tôi còn có thể làm gì để tiếp tục có ích và đóng góp cho thế giới này? Mà câu hỏi đã trở thành: Giờ đây tôi có thể sống như thế nào để khi tôi chết đi, cái chết của tôi sẽ là một điều lành tốt nhất cho những người thân yêu, cho giáo hội, cho thế giới này? Henri Nouwen bàn về điểm khác nhau giữa việc cho đi sự sống của chúng ta và cho đi cái chết của chúng ta. 

• Đừng sợ đau đớn, hãy trả lại sự nặng nề cho sức nặng của trái đất; những ngọn núi nặng nề; biển cả nặng nề. Rainer Marie Rilke viết cho một người bạn đang sầu thảm trước cái chết của một người thân yêu. 

• Tình yêu phải đợi những vết thương lành miệng. Đó chính là sự chờ đợi mà chúng ta phải làm cho nhau, không phải với cảm thức ban ơn, hay phán xét, mà như thể sự tha thứ là một cuộc hẹn hò. Tiểu thuyết gia Anne Michaels viết về lòng thấu cảm.

• Trên đời này chẳng hề có cái gọi là niềm vui hoàn toàn trọn vẹn. Nhưng cái trải nghiệm mật thiết này, mà trong đó mỗi một mẩu sự sống đều bị một mẩu cái chết chạm vào, có thể chỉ cho chúng ta vượt lên trên những giới hạn của cuộc hiện sinh. Henri Nouwen viết về việc chúng ta giờ sống ra sao, “rền rĩ khóc than trong thung lũng nước mắt này”.

• Những người yêu nhau hãy tỉnh dậy; đã đến lúc bắt đầu cuộc hành trình! Chúng ta đã nhìn ngắm thế giới này đủ rồi; giờ đã đến lúc ta nhìn ngắm nhau. Rumi, cho rằng chúng ta phần lớn ngủ quên trước cái thế giới kia và trước những điều sâu sắc của thế giới này.  

• Đừng đầu hàng nỗi cô đơn của bạn nhanh như vậy. Hãy để nó cứa sâu thêm. Hãy để nó làm bạn dậy men và đậm đà như một số rất ít thành phần phàm tục hay thiêng liêng có thể làm được. Hafiz, Fourteenth Century, nhà thơ huyền bí đạo Hồi.

• Để mãn nguyện trong tất cả, hãy đừng khao khát mãn nguyện trong điều gì cả. Để sở hữu tất cả, hãy đừng khao khát sở hữu gì cả. Để đi đến chỗ tri kiến tất cả, hãy đừng khao khát tri kiến gì cả. Để đến chỗ thích thú những gì mình không có, phải đi bằng cách mà mình không thích thú. Để đến chỗ sở hữu cái mình không có, phải đi bằng cách mà mình không sở hữu. Để đi đến chỗ bạn là, phải đi bằng cách bạn không là. Thánh Gio-an Thánh giá bàn về tìm ra cuộc sống bằng cách cho đi cuộc sống. 

Chúa Kitô như là Vũ trụ

Pierre Teilhard, một trong các cuộc đối thoại của ông với Bộ Tín điều về Đức tin ở Rôma, đã được hỏi: “Ông đang cố gắng làm điều gì?” Câu trả lời của ông như thế này: Tôi đang cố gắng viết một học thuyết Kitô học sao cho đủ lớn để bao gồm trọn vẹn Chúa Kitô vì Chúa Kitô không chỉ là Đấng cứu thế thiêng liêng được phái đến để cứu con người; Chúa Kitô còn là cấu trúc trong một vũ trụ thực thể, một con đường cứu rỗi cho chính trái đất. 

Điều này có nghĩa là gì? Làm sao Chúa Kitô lại là một cấu trúc trong một tạo vật thực thể?

Có lẽ phần bị bỏ quên nhiều nhất trong hiểu biết của chúng ta về Chúa Kitô, mặc dù được giảng dạy rõ ràng trong Kinh Thánh, là ý niệm mầu nhiệm Chúa Kitô lớn hơn những gì chúng ta nhìn thấy hữu hình trong cuộc đời Chúa Giê-su và trong đời sống lịch sử của các giáo hội Ki-tô. Chúa Kitô đã là một phần của chính tạo vật thực thể và là trọn vẹn của sáng tạo đó. Như chúng ta thấy điều này được nói lên trong Thư gởi tín hữu thành Côlôxê:Khi mô tả thực tại Chúa Giê-su, tác giả viết: Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình và vô hình.

Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người. Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người. Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu. (Cl 1: 15-18)  

Cũng vậy, trong thư gởi tín hữu Rôma, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng cũng giống y như người phàm trần rên rỉ trong những giới hạn sinh tử của mình và khao khát được bất tử, tất cả các tạo vật thực thể đều như vậy. Trái đất cũng khao khát được cứu rỗi. Và mầu nhiệm Chúa Kitô là con đường dẫn tới bất tử, giống như đó là con đường dẫn tới cùng đích của chúng ta. 

Mầu nhiệm Chúa Kitô rộng hơn, sâu hơn, và bao gồm nhiều hơn những gì có thể được nhìn thấy đơn thuần trong cuộc sống hữu hình của Chúa Giêsu và trong lịch sử hữu hình của các giáo hội Ki-tô. Cứ công nhận là, những gì chúng ta thấy một cách rõ ràng trong cuộc đời Chúa Giê-su và lịch sử các giáo hội là điều rất đáng quý và vinh dự. Các giáo hội Ki-tô (như Maria, mẹ Chúa Giêsu) là nơi mà Chúa bước vào thế giới này một cách rõ ràng, cụ thể, hữu hình, như trong quá trình lịch sử đã cho thấy. Nhưng như Thánh Kinh và thần học Ki-tô khẳng định, mầu nhiệm Chúa Kitô bao gồm nhiều hơn những gì chúng ta có thể thấy một cách rõ ràng từ trong lịch sử. Nó còn bao gồm những gì mà Thư gởi tín hữu Côlôxê dạy, đó là bản thân tạo vật thực thể đã được tạo ra thông qua Chúa Kitô theo cách nào đó, rằng Chúa Kitô gắn kết chúng lại vói nhau, và rằng Chúa Kitô ban cho nó một tương lai vĩnh viễn. Mầu nhiệm Chúa Kitô không chỉ là về việc cứu rỗi chúng ta, những người trên hành tinh này, mà còn về việc cứu lấy chính hành tinh này. 

Đưa điều này vào cái hiểu của chúng ta sẽ đem lại những hệ quả lớn lao trong cách chúng ta hiểu hành tinh của mình lẫn cách hiểu các tôn giáo khác. Nếu mọi sự vật đều được sáng tạo thông qua Chúa Kitô và vì Chúa Kitô thì hành tinh trái đất chúng ta, và tất cả các tạo vật thực thể đều có giá trị trong tự thân mà không phải chỉ có giá trị trong mối liên hệ với chúng ta. Trái đất cũng là con của Chúa, không tự có ý thức như chúng ta, nhưng có những quyền chính đáng của nó và quyền được tôn trọng. Nói một cách đơn giản, trái đất không chỉ là một sân khấu để chúng ta diễn trên đó. Nó còn là một phần của mầu nhiệm Chúa Kitô và mầu nhiệm cứu rỗi. Chúng ta phải tôn trọng nó vì chính nó, mà không phải vì sức khỏe của chúng ta tùy thuộc vào sức khỏe của nó. Những gốc rễ sâu xa cho bất kỳ thuyết thần học-sinh thái nào nằm sâu hơn mối quan ngại thực tiễn về làm sao tiếp tục có đủ nguồn cung cấp không khí, nước và thức ăn tốt cho sức khỏe. Thiên nhiên cũng nằm bên trong mầu nhiệm của Chúa Kitô. 

Từ đó rút ra những ý nghĩa lớn lao trong cách chúng ta nhìn nhận những tôn giáo khác. Là Ki-tô hữu, chúng ta cần nghiêm túc tiếp nhận lời dạy của Chúa Giêsu rằng Chúa Kitô chính là con đường (duy nhất) đưa tới cứu rỗi và không ai đi đến Chúa Cha mà không qua Chúa Kitô. Như vậy, những người không phải Ki-tô hữu và những con người có tấm lòng chân thực khác thì như thế nào, xét thực tế là vào bất kỳ thời điểm nào, 2/3 thế giới cũng đều không liên quan gì đến Chúa Giêsu hay giáo hội Ki-tô giáo lịch sử?

Trừ khi chúng ta hiểu được mầu nhiệm Chúa Kitô sâu sắc hơn và rộng hơn mức chúng ta có thể nhìn thấy rõ ràng và dựa vào lịch sử từ trước đến nay, thì tình thế khó khăn này chắc chắn sẽ dẫn chúng ta tới chỗ hoặc từ bỏ lời dạy của Chúa Giê-su về chuyện quy chuẩn hoặc đi đến thái độ loại trừ vốn đi ngược lại ý chí cứu rỗi phổ quát của Chúa. Nếu khi nói mầu nhiệm Chúa Kitô, chúng ta chỉ nói duy nhất đến Chúa Giêsu hữu hình và giáo hội hữu hình, thì chúng ta bị vướng trong thế lưỡng nan không lời giải đáp. Tuy nhiên, nếu khi nói mầu nhiệm Chúa Kitô là ý nói về mầu nhiệm việc Chúa tái sinh bên trong tạo vật thực thể, đã bắt đầu trong sự sáng tạo nguyên sơ, tiếp tục là linh hồn liên kết tạo vật thực thể này thành một chỉnh thể, và hiện diện ở đó vừa như là nguồn năng lượng thu hút tạo vật về phía Đấng sáng tạo ra nó vừa là sự hoàn thành tạo vật đó, thì tất cả mọi thứ đều liên quan đến Chúa Kitô, dù chúng có nhận ra điều đó hay không, và tất cả sự thờ phụng chân thực đều dẫn đến Chúa Cha, cho dù chúng ta có nhìn thấy điều đó hay không. Nói như Kenneth Cragg: Cần trọn thế giới để hiểu trọn Giê-su.

Nuôi dưỡng bằng lửa thiêng cuộc sống

Hãy nhìn người thông thái và kẻ xấu xa, những người sống bằng ngọn lửa thiêng của cuộc đời. Đó là lời bài hát của Gordon Lightfoot, cố gắng diễn giải cuộc đấu tranh diễn ra trong tâm trí người anh hùng trong tưởng tượng của Miguel de Cervantes, Đông Ki-sốt. Lòng tốt của chàng tách chàng khỏi thế giới này, kể cả khi chàng hiểu rằng sự xấu xa cũng có cùng một nguồn gốc. 

Và trong chuyện này có một nghịch lý khó hiểu, đó là cả người thông thái lẫn kẻ xấu xa, thánh thần lẫn tội đồ, đều được nuôi dưỡng bằng một nguồn thiêng liêng. Cùng nguồn năng lượng tiếp liệu cho lòng vị tha dâng hiến của vị thánh chết vì người nghèo lại châm lửa cho lối sống buông tuồng vô trách nhiệm của ngôi sao màn bạc huênh hoang kể về hàng ngàn cuộc chinh phục tình dục của mình. Cả hai đều sống bằng cùng một nguồn năng lượng mà suy cho cùng là thiêng liêng. Sự sùng đạo trên thế giới này được sử dụng cho những mục đích rất khác nhau. Nhưng rất dễ diễn giải sai về điều này. 

Ví dụ, một trong những lời chỉ trích đối với tôn giáo và giáo hội là họ quá thường xuyên sử dụng Chúa để biện minh cho mọi kiểu chiến tranh và bạo lực. Chúng ta thường thấy bạo lực kinh khủng được tiếp liệu bằng đức tin và tôn giáo, như trong trường hợp Hồi giáo cực đoan ngày nay. Nhưng Ki tô giáo cũng khó mà không vướng như vậy. Trong các cuộc thập tự chinh và các tòa thẩm tra, chúng ta cũng đã viết lịch sử bạo lực của chính mình nhân danh Chúa và ngày nay có nhiều bạo lực hơn mức chúng ta có can đảm thừa nhận vẫn đang được thực hiện bởi những Ki-tô hữu lấy động cơ và năng lượng từ đức tin của họ. Chúng ta có thể phản đối rằng, trong những trường hợp đó, nguồn năng lượng này đã bị hướng lệch lạc, lầm đường, hay bị chiếm đoạt vì lợi ích cá nhân, nhưng vấn đề thì vẫn vậy. Đó vẫn là nguồn năng lượng thiêng liêng, cho dù nó đang bị lầm đường lạc lối. 

John Lennon (trong bài hát “Imagine” nổi tiếng) đã cho rằng chúng ta sẽ tiến dễ dàng hơn đến tình thương yêu và hòa bình nếu loại bỏ tôn giáo (“Chẳng có gì để giết hay để chết, và cũng chẳng có tôn giáo nào”). Trong suy nghĩ đó có sự ngây thơ nguy hiểm, nhưng anh đã đúng khi nói rằng nguồn năng lượng thiêng liêng trong tôn giáo thường đi ngược lại hòa bình và tình thương yêu trên thế giới này. Những người cuồng tín lầm lạc cũng sống bằng ngọn lửa thiêng liêng của cuộc đời.

Tuy nhiên, điều mà lời chỉ trích này và nhiều người khác không nhận thấy là: nguồn năng lượng tôn giáo lầm lạc, bị lạm dụng và đi sai đường không làm chứng chống lại sự tồn tại của Chúa. Ngược lại: chính quyền lực đáng sợ của nó, vòng vây mù quáng của nó, khả năng khiến cuộc sống của một người quy phục nó hoàn toàn, và lòng tự tin quá bệnh hoạn của nó, chính là nói lên tính chất sùng đạo, kính sợ, thiêng liêng, và những gốc rễ của nó trong thực tại và cái nguồn năng lượng này đánh bạt năng lượng của chính chúng ta. Tôn giáo không lành mạnh lại có sức mạnh lớn như vậy chính bởi vì nó thật, không phải là mộng hão. Nó có thể không lành mạnh, nhưng nó có thật. Đó là lý do tại sao các sùng bái tôn giáo lại nguy hiểm. Chúng nguy hiểm vì chúng có thật, có thật một cách quỷ quái. Người ta thường chết vì sự sùng bái do ngọn lửa thiêng liêng mà những kẻ lãnh đạo lầm lạc của nó hướng dẫn là có thật như dòng điện đốt cháy ai nếu họ dí con dao vào một ổ cắm điện cao thế. Những hệ thống sùng bái tôn giáo sống nhờ ngọn lửa thiêng của cuộc đời; nhưng điều bi đát là ở chỗ họ làm như vậy mà không có sự thận trọng đúng đắn và chọn lọc, rằng những điều mà các truyền thống thiêng liêng vĩ đại đã dạy là cần thiết khi tiếp cận những điều thiêng liêng này. Những hệ thống sùng bái lại ngây thơ không hiểu tại sao Kinh Thánh lại cảnh cáo chúng ta phải cẩn trọng khi tiếp cận điều thiêng liêng: “Không ai có thể nhìn thấy Chúa mà sống sót!”

Những gì chúng ta thấy ở tôn giáo xấu cũng đúng đối với đời sống riêng của chúng ta. Điều này đôi khi khó thấy (và người có tôn giáo thường khó chấp nhận), nhưng những gì hoang dã và xấu xa trên thế giới này cũng được tiếp liệu bằng ngọn lửa thiêng liêng của cuộc đời. Những năng lượng bất an quá mức của chúng ta dành cho sự sáng tạo, tình dục, thành tựu, vui thú, và để biết cũng như được biết đến trong cộng đồng loài người của chúng ta, là thường được sử dụng một cách vô trách nhiệm, quá mức, tự yêu mình, mê hoặc và hủy diệt. Những người hoang dã và độc ác, những người có thừa gan lớn và thiếu lương tâm, thường đơn giản là lấy về những gì họ muốn từ cuộc đời, mà không cần biết tới luân lý và hậu quả. Và vì thế mà thế giới của chúng ta bị thúc đẩy bởi những lực đẩy hoang dã, mạnh bạo, sáng tạo và khiêu dâm mà có thể trông rất giống như chính phản đề của năng lượng thiêng liêng. 

Nhưng, một lần nữa, chính cái sức mạnh, cái khả năng dường như không thể nào cưỡng lại và tính chất hoang dại của năng lượng này lại không phải là dấu hiệu cho thấy rằng các năng lượng tình dục và sáng tạo của chúng ta là thế tục và không có tính thiêng liêng, hay, thậm chí còn tệ hơn, xung khắc với những gì thiêng liêng trong bản thân chúng ta. Điều ngược lại mới đúng: sức mạnh và khả năng dường như không thể cưỡng lại của chúng nằm chính ở lòng sùng đạo và tính chất thiêng liêng của chúng. Ngọn lửa của chúng mạnh đến vậy là vì nó là nguồn năng lượng thiêng liêng, thần thánh, là năng lượng của Chúa bên trong chúng ta. 

Kinh Thánh nói với chúng ta rằng chúng ta mang trong tự thân hình ảnh và tính tương đồng với Chúa, và đó thật sự là bản thể sâu xa nhất của chúng ta, nguồn cội của những năng lượng sâu xa nhất của chúng ta. Nhưng chúng ta không nên hình dung hình ảnh Chúa trong chúng ta như một biểu tượng đẹp đẽ trong tranh Andrei Rublev, một biểu tượng gắn chặt trong tâm hồn chúng ta. Chúa là lửa, là năng lượng thiêng liêng, sự sáng tạo vô hạn, tự do vô hạn, hoang dã vượt lên trên tưởng tượng của chúng ta, và là một nguồn năng lượng không biên giới, tiếp liệu cho mọi thứ đang sống, đang thở, đang tìm kiếm ý nghĩa, đang thương yêu. 

Ngọn lửa thiêng liêng tiếp liệu tất cả sự sống và truyền sức sống cho tất cả mọi người, từ vị thánh cho tới kẻ tội đồ. Và Chúa đã ban cho chúng ta tự do để sử dụng ngọn lửa đó theo ý muốn của chúng ta, một cách thông thái hay xấu xa. Chúng ta sống bằng ngọn lửa thiêng liêng và chúng ta trở thành vị thánh hay kẻ hưởng lạc, người kiến tạo hòa bình hay kẻ gây chiến tranh.

Cầu nguyện dưới vòm che 

Chúng ta có bao giờ thật sự hiểu được hay nắm bắt được cầu nguyện không? Có và không. Khi cố gắng cầu nguyện, đôi khi chúng ta như bước đi trên mặt nước, đôi khi chìm lỉm như cục đá. Đôi khi chúng ta có cảm thức sâu sắc về thực tại của Chúa nhưng có khi chúng ta thậm chí không thể nào tưởng tượng Chúa tồn tại. Đôi khi chúng ta có cảm nhận sâu sắc về lòng lành và tình thương yêu của Chúa, đôi khi chúng ta thấy chán ngán và phân tâm. Đôi khi đẫm lệ, đôi khi len lén nhìn đồng hồ xem còn phải cầu nguyện thêm bao nhiêu lâu nữa. Đôi khi chúng ta muốn ở mãi nơi cầu nguyện, đôi khi lại tự hỏi có nên tới đó không. Chuyện cầu nguyện thật sự là lên xuống thất thường. 

Tôi nhớ một câu chuyện, đã nhiều năm về trước, một người đàn ông đến gặp tôi để được hướng dẫn tâm linh. Ông tham gia một nhóm cầu nguyện đầy lôi cuốn trong nhiều năm và đã trực nghiệm cảm xúc tôn giáo mãnh liệt. Nhưng bấy giờ, ông hết sức kinh ngạc thấy những cảm xúc đó đã bay biến hết. Khi cố gắng cầu nguyện, chủ yếu ông chỉ cảm thấy khô khan và chán ngán. Ông thấy có chuyện gì đó không ổn vì tình cảm nồng nhiệt của ông đã biến mất. Và ông nói như thế này: “Cha ơi, cha phải thấy quyển kinh thánh của con, con tô đậm từng dòng một vì lời kinh nói với con ý nghĩa sâu sắc nhường nào. Vậy mà, bây giờ, con cảm thấy như thể con đang rao lời kinh qua cửa sổ bởi vì chẳng lời nào còn có ý nghĩa gì với con hết! Con bị làm sao thế này?”

Có thể một câu trả lời vội vàng sẽ là “Chúa đã lầm với con!” Tôi nêu với anh trải nghiệm của thánh Têrêxa Đavila, người mà, sau một thời gian cầu nguyện sốt sắng nhiệt thành, đã trải qua mười tám năm chán nản và khô cứng. Ngày nay, tôi hẳn sẽ để anh đọc những trang nhật ký của Mẹ Têrêxa, giống như Têrêxa Đavila, sau lúc sốt sắng cầu nguyện ban đầu, đã trải qua sáu mươi năm khô cứng.

Chúng ta ấp ủ một ảo mộng ngây thơ về những gì tạo nên cầu nguyện, và cách chúng ta nên duy trì cầu nguyện như thế nào. và những gì thường nằm ở tâm điểm của suy nghĩ sai lầm này là tin rằng cầu nguyện luôn luôn tràn đầy nhiệt thành hăng hái, thú vị, ấm áp, mang cái nhìn tâm linh sâu sắc, và mang lại cảm thức rằng mình đang thật sự cầu nguyện. Cộng với ý niệm đó là một suy nghĩ không kém phần lệch lạc rằng cách để duy trì cảm xúc và lòng nhiệt huyết trong cầu nguyện là thông qua sự tươi mới liên tục và chuyên tâm bền bỉ. Những tác giả cổ điển về linh hướng bảo đảm với chúng ta rằng, tuy điều đó thường đúng trong những giai đoạn đầu tiên của đời sống cầu nguyện, khi chúng ta là những người mới nhập đạo và trong giai đoạn trăng mật của đời sống thiêng liêng, nhưng càng ngày càng ít đúng hơn khi chúng ta tiến sâu hơn vào cầu nguyện và de thiêng liêng. 

Những người nào đã cố gắng duy trì cuộc sống cầu nguyện trong một thời gian dài sẽ thấy rất nhẹ nhõm và an ủi khi biết những nhà thần bí vĩ đại nói với chúng ta rằng, một khi chúng ta đã vượt qua thời kỳ cầu nguyện ban đầu, giai đoạn trăng mật đó, thì chướng ngại vật duy nhất và lớn nhất là duy trì một đời sống cầu nguyện chính là nỗi chán ngán đơn thuần và cảm giác rằng chẳng có gì có ý nghĩa. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng chúng ta đã bị thoái lui trong cầu nguyện. Mà thường là ngược lại.

Đây là vòm trời mà chúng ta cầu nguyện bên dưới khi chật vật chống lại nỗi chán ngán và cảm giác chẳng điều gì có ý nghĩa xảy ra: Hãy tưởng tượng bạn có một bà mẹ già yếu chỉ còn bó thân trong nhà dưỡng lão. Bạn là người con trai hay con gái hiếu thảo, và hàng đêm sau giờ làm việc, bạn dừng lại và dành một tiếng đồng hồ vói bà, giúp bà ăn tối, kể lại những sự việc trong ngày, và chỉ đơn giản là làm người con ở bên cạnh bà. Tôi nghi ngờ chuyện bạn có nhiều cuộc trò chuyện đầy tình cảm và thậm chí còn thú vị nữa với bà, ngoại trừ những dịp rất hiếm hoi. Nhìn bên ngoài, những lần bạn đến sẽ có vẻ chủ yếu là lệ thường nhàm chán, khô khan, và vì nghĩa vụ. Hầu hết mọi ngày bạn sẽ nói về những chuyện vặt vãnh, thường lệ, và thỉnh thoảng bạn liếc trộm đồng hồ coi xem khi nào thì xong một tiếng đồng hồ với bà. Tuy nhiên, nếu bạn cứ kiên trì đến thăm bà thường xuyên, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, thì giữa tất cả mọi người trên thế gian này, bạn sẽ dần dần biết mẹ mình một cách sâu sắc nhất và bà sẽ dần dần biết bạn một cách sâu sắc nhất, bởi vì, như các nhà thần bí đã quả quyết, ở một tầm mức sâu sắc nhất định trong mối quan hệ, sự kết thông thật sự giữa chúng ta xảy ra ở bên dưới bề mặt các cuộc chuyện trò của mình. Chúng ta bắt đầu biết nhau qua sự hiện diện đơn giản của mình. 

Bạn có thể nhận ra điều đó qua cảnh ngược lại: hãy để ý mẹ mình như thế nào với những người con chỉ thảng hoặc đến thăm bà. Trong những lần thăm hiếm hoi, thảng hoặc đó, sẽ có cảm xúc, nước mắt, và chuyện trò khác với chuyện thời tiết hay những thứ vụn vặt của đời sống hàng ngày. Nhưng đó là vì mẹ bạn quá hiếm khi gặp những người con kia. 

Cầu nguyện cũng như vậy. Nếu chúng ta chỉ cầu nguyện đôi khi, có thể chúng ta sẽ trải nghiệm một vài cảm xúc tương đối sâu sắc khi cầu nguyện. Nhưng nếu chúng ta trung thành cầu nguyện hàng ngày, hết năm này sang năm khác, chúng ta có thể sẽ ít hào hứng, nhiều chán nản, muốn nhìn đồng hồ trong khi cầu nguyện.., nhưng, sẽ có một mối dây liên hệ sâu sắc lớn dần giữa Chúa với chúng ta.

Không bỏ qua những điều cốt yếu trong cuộc đấu tranh luân lý của chúng ta

Ngày nay, cả trong xã hội lẫn giáo hội, chúng ta thấy ngày càng khó giải quyết các khác biệt của mình hơn bao giờ hết vì những cuộc chuyện trò của chúng ta đã phá hỏng do thái độ thiếu lịch sự, nhục mạ, vùi dập nhân cách, và khinh thị.

Điều đặc biệt đáng lo ngại là chúng ta đang làm những điều đó nhân danh chân lý, chính nghĩa, Phúc âm, và Chúa Giê-su. Chúng ta đang cho phép bản thân mình căm thù, thóa mạ, và khinh thị người khác nhân danh Chúa. Sự nghiệp của chúng ta có vẻ quá quan trọng với chúng ta đến nỗi, một cách có ý thức hay vô ý thức, chúng ta tự cho phép mình bỏ qua đôi điều cốt yếu của đức ái Ki-tô hữu, đó là lòng tôn trọng, khoan dung, tình thương yêu, và tha thứ.

Điều đó là sai lầm: Không có sự nghiệp nào cho phép tôi tự miễn thứ mình khỏi nền tảng đức ái, ngay cả nếu tôi tự coi mình là “chiến binh bảo vệ chân lý” đi nữa. Có một mệnh lệnh phúc âm, đó là chiến đấu vì chân lý và cuối cùng tất cả chúng ta đều phải là những tiên tri chiến đấu cho những gì là đúng đắn; nhưng kể cả chiến tranh cũng có đạo lý của nó. Thậm chí trong chiến tranh (có lẽ đặc biệt trong chiến tranh), không bao giờ biện minh cho sự khinh thị dựa trên cơ sở cho rằng Chúa đứng về phía chúng ta. Thực sự, nếu Chúa đứng về phía chúng ta thì hẳn chúng ta phải bộc lộ lòng tôn trọng ra với người khác.

Lòng tôn trọng, khoan dung, tình thương yêu và tha thứ là những điều cốt yếu không thể nào tranh cãi trong đức ái Ki-tô. Đó cũng là phần căn cốt của tất cả đức tính cao đẹp của loài người. Bất cứ khi nào chúng ta bước ra khỏi những điều đó, như ngày nay chúng ta vẫn thường mắc phải khi đàm luận với những người không có chung suy nghĩ chính trị hay tôn giáo với mình, chúng ta không nên tự lựa dối mình mà cho rằng cái sự nghiệp cao cả mà chúng ta nghĩ mình đang phục vụ biện minh được cho sai lầm căn bản trong lòng nhân và lòng ái của mình. Bất cứ khi nào lời nói hay hành động của chúng ta thể hiện sự khinh thị thì khi đó chúng ta đang không phụng sự Chúa Giê-su hay chân lý nào cả, cho dù những lý luận của chúng ta có được đặt dưới cái vòm sự nghiệp cao cả đến mức nào. Mà đúng hơn, lúc đó chúng ta đang phục vụ cho một ý thức hệ nào đó, hay, tệ hơn nữa, đang phóng chiếu ra ngoài những nỗi giận dữ hay bệnh lý nào đó của chính mình. 

Vài năm trước đây, ở một trường đại học thần học tôi dạy, chúng tôi có một sinh viên bị ám ảnh với chuyện bảo vệ cho tính chính thống của Thiên Chúa giáo đến mức sự có mặt của anh trở thành điều tiêu cực cho bất kỳ lớp học nào, đến nỗi không giáo viên nào muốn dạy lớp có anh ghi tên học. Cuối cùng, tình hình trở nên không thể nào chịu đựng đến mức mà ban giảng huấn, sau khi suy xét rất kỹ lưỡng và đau xót, phải đề nghị vị trưởng khoa yêu cầu anh ra khỏi trường. Ngay khi bị đuổi, anh viết một lá thư gửi vị giám mục của mình và than phiền trường đại học chúng tôi đã trục xuất anh vì anh “quá bảo thủ và quá chính thống” đến mức không thể nào tương hợp được với tính cách của chúng tôi. Anh cũng gửi lá thư đó đến khoa trưởng. Vị khoa trưởng cũng viết một lá thư gửi vị giám mục của anh, nói với ông rằng trường đã phải yêu cầu anh ra đi, không phải vì anh quá bảo thủ và chính thống…, mà vì anh thiếu phép lịch sự cơ bản và tôn trọng đối với người khác.

Ví dụ trên đây là ví dụ về bệnh lý bảo thủ, nhưng những người tự do cũng hoàn toàn dễ mắc. Cả hai bên, không bên nào nên tự lựa dối; bất cứ khi nào chúng ta thiếu thái độ tôn trọng căn bản và biết cách hành xử căn bản, thì vấn đề thực chất không hề là chuyện chính thống hay chính nghĩa, nhưng vì thiếu lành mạnh. 

Chúng ta sống trong một thời đại cay đắng, phân cực sâu sắc, cả trong lòng xã hội lẫn trong giáo hội chúng ta. Những sự nghiệp là có thực và những gì đang bị lâm nguy là rất quan trọng: chiến tranh, tình trạng bất công, nạo thai, nghèo đói, hệ sinh thái, phân biệt chủng tộc, vấn đề nhập cư, đa văn hóa, nền kinh tế, các nguyên tắc dân chủ, luật pháp và trật tự, tự do ngôn luận, thẩm quyền phù hợp, tín điều phù hợp, đại kết phù hợp, tính chính đáng trong mục vụ, Ki-tô hữu trong tương liên với các tôn giáo khác, những tự do và giới hạn trong chính cuộc sống thế tục. Rốt cuộc, tất cả những điều này đều là những vấn đề sinh tử mà, chính bởi vì chúng quan trọng, nên luôn luôn gắn liền với cảm xúc bùng cháy. Bất kỳ ai quan tâm thực sự đến thế giới này đều đôi khi thấy mình hục hặc với người khác, đôi khi một cách cay đắng, về một vài vấn đề trong số các vấn đề trên. 

Và, đặc biệt khi các vấn đề đang bị đe dọa là những vấn đề hết sức quan trọng, thì bao giờ cũng có mối nguy là bỏ qua những điều cốt yếu (lòng tôn trọng, khoan dung, tình thương yêu, và tha thứ) dựa trên nền tảng của chính nghĩa, và về căn bản là rơi vào cách suy nghĩ rằng: vấn đề này quan trọng đến mức tôi không cần phải tôn trọng, khoan dung hay thương yêu nữa. Tôi có thể thóa mạ đối thủ, vùi dập tính cách hắn, chửi rủa hắn, sử dụng bất kỳ cái gì có thể trong khả năng của mình, có lẽ thậm chí cả bạo lực, để chân lý của tôi chiến thắng.  Bởi vì tôi đúng và vì điều này quá sức quan trọng như vậy, nên tôi có thể bỏ qua lòng kính trọng căn bản!

Sai lầm của chuyện đó là gì? Ngoài việc tự lựa dối mình rằng thiếu lòng nhân và tôn trọng có thể được biện minh dưới danh nghĩa phúc âm, thì tất cả những gì tốt đẹp nhất của loài người và tất cả những gì đẹp đẽ nhất trong nguyên tắc Ki-tô hữu đều kêu gọi chính cái điều ngược lại: tính cấp bách của tình huống và sự cay đắng vốn đã tồn tại cố hữu trong tình huống đó đang kêu gọi phải lưu tâm nhiều hơn, chứ không hề ít đi, tới những lời lẽ và hành động của chúng ta. Chúng ta càng gặp phải giận dữ, hận thù, khinh thị, thóa mạ, lăng nhục, từ chối trò chuyện thật sự, và những mối đe dọa nói ra lẫn không nói ra, thì chúng ta càng phải bám chặt hơn vào những điều cốt yếu của lòng nhân: lòng kính trọng, khoan dung, tha thứ, cởi mở, và chìa tay ra đề nghị nói chuyện thật sự giữa đôi bên. Tại sao? Vì rốt cuộc, chúng ta không thắng được cuộc đấu tranh luân lý này bằng cách đánh bại kẻ khác, mà chúng ta thắng được họ bằng cách làm sao để họ tâm phục khẩu phục chúng ta.

Câu thần chú tiên tri về người nghèo

Không ai lên thiên đàng mà không có thư giới thiệu của người nghèo! Đó là câu của James Forbes, một mục sư liên giáo phái ở thành phố New York, và câu này nắm bắt tuyệt vời điều mà các nhà tiên tri cổ đại của Do Thái đã nhấn mạnh nhiều thế kỷ trước. 

Các nhà tiên tri vĩ đại của Do Thái đã nghĩ ra câu thần chú này: Giá trị đức tin của các con sẽ được phán xét theo chất lượng của công lý trong xứ sở của các con. Mà chất lượng của công lý trong xứ sở đó sẽ luôn luôn được phán xét qua cách “các bà góa, con côi, và người lạ” sống như thế nào trong khi các con còn tại thế. Cụm từ này “bà góa, con côi, và người lạ” là mật mã để chỉ ba nhóm người yếu ớt nhất, dễ bị tổn thương nhất trong xã hội vào thời đó. Đối với những vị tiên tri vĩ đại của Do Thái, cuối cùng chúng ta sẽ được phán xét về mặt tôn giáo và luân lý dựa trên việc những người nghèo khổ nhất trong những người nghèo sống như thế nào khi chúng ta còn tại thế. 

Đó là một tư tưởng làm chúng ta rùng mình, và càng rùng mình hơn khi chúng ta thấy Giê-su ủng hộ quan điểm đó mạnh mẽ như thế nào. Trong khi điều này cần được đặt trong bối cảnh thông điệp của Chúa Giê-su xét về tổng thể, chúng ta có trong Phúc âm của thánh Mát-thêu đoạn văn nổi tiếng về Lời Phán xét Cuối cùng khi Chúa Giê-su nói với chúng ta rằng, cuối cùng, khi chúng ta đứng trước Đức vua vĩ đại vào ngày phán xử, chúng ta sẽ được hỏi chỉ duy nhất một loại các câu và tất cả đều liên quan tới chuyện chúng ta đối xử với người nghèo như thế nào: Con có cho kẻ đói ăn? Cho kẻ khát uống? Tiếp đón người lạ mặt? Cho kẻ trần trụi mặc? Thăm người đau ốm? Thăm kẻ tù tội? Tôi ngờ không ai trong chúng ta đủ gan rao giảng lời này từ bất kỳ bục giảng nào hôm nay, như nó được viết trong các Phúc âm. Ấy vậy mà Giê-su đã ý nói như vậy. Không ai lên được thiên đàng mà không có một bức thư giới thiệu của người nghèo. 

Bây giờ thì có cả loạt thách thức khó khăn. 

Thứ nhất: Nhu cầu sống cuộc đời vì công lý cho người nghèo và quan tâm thật sự đến người nghèo là một phần toàn bộ và không thể nhượng bộ của sứ vụ tông đồ Ki-tô hữu. Đó không phải là điều dựa trên một ý thức hệ nhất định nào đó mà tôi có thể tin theo hay giả lơ, miễn là tôi sống trung thực và cầu nguyện chuyên cần trong đời sống riêng. Đó là một phần tất yếu của phúc âm, ngang với nhu cầu cầu nguyện, đi nhà thờ, và giữ nếp quy củ cho đời sống luân lý riêng tư của tôi. Đối với một Ki-tô hữu, ngoan đạo, tốt, và đều đặn đi nhà thờ là chưa đủ. Chúng ta cần một lá thư giới thiệu cụ thể của người nghèo. 

Tiếp theo: Điều mà cả câu thần chú của các nhà tiên tri và lời dạy của Giê-su về Lời Phán xét Cuối cùng đều dạy là từ thiện thôi thì chưa đủ. Từ thiện là một đức hạnh tuyệt vời, là một phần cơ yếu của đức hạnh cao cả nhất – tình thương yêu. Không bao giờ có thể hạ thấp vai trò của nó. Nhưng từ thiện không hẳn là công lý. Tôi có thể là một con người từ thiện tuyệt vời, tốt, có đạo đức và hào phóng trong cuộc sống và vẫn nhận được lợi ích một cách không công bằng từ một hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử vốn đang tưởng thưởng cho tôi một cách không thích đáng thậm chí khi nó đang chất gánh nặng và cướp bóc những kẻ khác. Những thứ tôi có được một cách lương thiện từ công việc nặng nhọc của mình và tôi rất hào phóng chia sẻ chúng với người khác, cùng lúc lại có thể là sản phẩm của một hệ thống bất công đối với những người khác. Chăm lo cho “những bà góa, con côi và người lạ” đòi hỏi không chỉ lòng tốt và từ thiện của cá nhân, mà còn đòi hỏi tôi phải có lòng can đảm xem xét liệu có thể của cải lương thiện của tôi phần nào là sản phẩm của một cơ chế bất lương hay không. Ai bị thua thiệt trong khi tôi có lợi?

Cuối cùng: Câu thần chú của các nhà tiên tri và lời dạy của Chúa Giê-su về Lời Phán xét Cuối cùng cần phải là thách thức để luôn luôn soi xét bản thân tôi với câu hỏi: Tôi có đang thật sự đến với người nghèo không? Tôi có thật sự có “con côi, bà góa, và người lạ” trong đời mình không? Có phải cam kết của tôi với người nghèo là điều gì đó chỉ là lý thuyết, một lý tưởng mà tôi đề cao nhưng lại là điều gì đó chưa bao giờ thật sự tác động đến người nghèo? Nói suông về lý tưởng này thì dễ dàng rồi, và viết về nó trong sơ yếu lý lịch của tôi thì còn dễ dàng hơn để tôi có vẻ tốt đẹp trong mắt người khác và để cảm thấy hài lòng về bản thân. Tuy nhiên, như Ruth Burrows hỏi: Những lời hùng hồn của chúng ta về người nghèo có thật sự giúp cho họ được không hay chỉ giúp ta cảm thấy hài lòng thoải mái hơn về bản thân?

Tôi thừa nhận rằng những câu hỏi này không dễ dàng gì và chúng ta cần phải trả lời một cách từ tốn. Đôi khi tất cả những gì chúng ta có thể làm được là chấp nhận mình bất lực. Tôi từng tham dự một buổi nói chuyện của Gustavo Gutierrez, và sau bài trình bày của ông, một người đàn ông đứng lên, trung thực một cách đau đớn, ông chia sẻ về chính nỗi bất lực của chính mình không thể đến với những người nghèo. Một người có thể làm gì đây trước tất cả các vấn đề toàn cầu bất công đang làm rối loạn tâm trí chúng ta?

Gutierrez thừa nhận tính chất phức tạp của câu hỏi và thông cảm với nỗi bất lực của người đàn ông này, nhưng nói thêm: “Tối thiểu, hãy bảo đảm anh luôn luôn có ít nhất một người bằng xương bằng thịt trong cuộc sống để mình đặc biệt chăm lo. Điều này sẽ bảo đảm cam kết của anh luôn luôn ít nhất cũng có đôi phần thực chất!”

Một lá thư giới thiệu duy nhất của người nghèo còn tốt hơn là không có lá thư nào.