RonRolheiser,OMI

Đủ cho lòng tin

Vài năm trước đây, một người bạn của tôi đã ngỏ lời cầu hôn với hôn thê của anh theo một cách rất phản-Hollywood: Lúc đó anh đã ngoài bốn mươi và đã vỡ mộng nhiều lần vì thất tình, mà theo anh thú nhận, thì trong số đó, có vài vụ  là do lỗi của anh, kết quả của những thay đổi cảm xúc bất ngờ về phần anh. Giờ đây, đến nửa cuộc đời gắng gỏi để không vỡ mộng và khắc kỷ về chuyện tình yêu và lãng mạn, anh gặp một phụ nữ mà anh tôn trọng sâu sắc, rất khâm phục, anh cảm thấy muốn xây dựng cuộc đời với người đó. Nhưng, chưa tin chắc vào bản thân mình, nên anh đã ngỏ lời cầu hôn rất khiêm nhường. 

Đại ý, lời cầu hôn của anh như thế này: Anh muốn đề nghị em lấy anh, nhưng, anh cần phải nói rõ ràng mọi nhẽ: anh không tự cho anh đã hiểu trọn vẹn về tình yêu. Đã có lúc trong đời anh nghĩ là anh hiểu, nhưng anh đã thấy những cảm xúc của chính mình và những cảm xúc của người khác thay đổi quá thất thường theo những cách khiến anh mất tự tin vào những điều anh hiểu về tình yêu. Và như vậy, anh sẽ rất trung thực: anh không thể hứa hẹn là anh sẽ luôn luôn yêu em. Nhưng anh có thể hứa rằng anh sẽ luôn luôn trung tín, rằng anh sẽ luôn luôn đối xử tôn trọng với em, rằng anh sẽ luôn luôn làm mọi điều trong khả năng của mình để có mặt bên em hầu giúp em thực hiện những ước mơ của em, và rằng anh sẽ luôn luôn là  người bạn đời trung thực cố gắng xây dựng cuộc sống với nhau. Anh không thể bảo đảm anh sẽ luôn luôn cảm thấy như thế nào, nhưng anh có thể hứa rằng anh sẽ không phản bội em và bội tín với em. 

Đó không phải là kiểu cầu hôn như chúng ta thấy trong phim ảnh và tiểu thuyết lãng mạn – dựa trên niềm tin ngây thơ rằng niềm đam mê và nồng cháy mà chúng ta trải qua lúc đầu khi mới yêu sẽ kéo dài mãi mãi. Nhưng đó là một lời cầu hôn của người trưởng thành, lời cầu hôn không ngây thơ hứa hẹn một điều không thể nào thực hiện. Mà, ngoài việc hướng chúng ta tới chỗ hiểu biết chính chắn về tình yêu, đó còn là một hình ảnh phong phú về lòng tin và diễn tiến của nó. Lòng tin, rốt cuộc, là lòng chung thủy trong hành động hơn là tha thiết trong cảm xúc. Cho phép tôi nêu một ví dụ: 

Khi còn học ở trường dòng, một mùa hè nọ, bạn cùng lớp của tôi lên đường đi ẩn tu 30 ngày. Mục đích của anh là cố gắng đạt được một đức tin quả quyết hơn, một đức tin mà anh cảm thấy tha thiết và sẽ làm ấm lòng anh. Anh đã chịu đựng cái mà theo lời anh mô tả, là đức tin “khắc kỷ”, một cảm giác tinh túy về thực tại và tình thương yêu của Chúa, nhưng là một đức tin mà không chuyển mấy thành những cảm xúc an toàn ấm áp về sự hiện diện và tình thương của Chúa. Theo lời anh thú nhận, anh thiếu cảm giác yêu mến, nhiệt tình hừng hực, cảm xúc, và hơi ấm trong đức tin của mình. Mà đó là những gì anh đi để tìm kiếm. 

Sau thời gian ẩn tu, anh vẫn còn khắc khổ, tuy nhiên đã thay đổi: “Tôi không bao giờ đạt được điều tôi mong muốn,” anh nói, “nhưng tôi lại được một điều khác. Tôi đã biết chấp nhận được là có thể đức tin của tôi luôn luôn khắc khổ, nhưng tôi đã cũng biết rằng như thế vẫn ổn. Tôi không nhất thiết phải có những cảm xúc ấm áp tưởng tượng về đức tin của mình. Tôi không cần phải đầy đam mê và nhiệt tình hừng hực. Tôi chỉ cần trung tín trong những việc làm của mình, không phản bội điều mà tôi tin. Giờ đây, đối với tôi, đức tin có nghĩa là tôi cần phải sống đời mình trong sự thiện lành, tôn trọng, kiên nhẫn, trinh bạch, và hào hiệp với người khác. Tôi chỉ cần làm điều đó; tôi không cần phải cảm thấy điều đó.”

Đức tin và tình yêu quá dễ dàng bị đánh đồng với cảm xúc nồng nàn, đam mê, tha thiết, cảm giác mến yêu, và ngọn lửa lãng mạn. Và những cảm xúc đó là một phần của bí ẩn, một phần mà chúng ta sinh ra là để nâng niu và yêu thích. Nhưng, cho dù những cảm xúc này tuyệt vời, chúng lại mong manh và sớm nở tối tàn, theo kinh nghiệm đã cho thấy. Thế giới của chúng ta có thể đổi thay trong vòng 15 giây bởi vì chúng ta có thể phải lòng hay thay lòng đổi dạ chỉ trong quãng thời gian đó. Những cảm xúc đam mê và lãng mạn là một phần của tình yêu và đức tin, nhưng không phải là phần sâu sắc nhất, không phải là phần mà chúng ta có thể kiểm soát được về mặt tình cảm. 

Vì thế mà, cho dù nó không lãng mạn, tôi lại thích cách tiếp cận khắc khổ như thể hiện trong lời cầu hôn của anh bạn tôi, đặc biệt khi áp dụng vào đức tin. Đối với một số người trong chúng ta, đức tin sẽ không bao giờ là điều gì đó làm tình cảm chúng ta bốc cháy và khiến ta tràn ngập lửa nồng nàn, ngoại trừ những thời gian ngắn ngủi. Chúng ta trước nay đã trực nhận ngọn lửa đó có thể sớm nở tối tàn như thế nào. 

Vì thế mà, như bạn học của tôi với đức tin “khắc khổ”, một số người trong chúng ta có thể phải đặt định một đức tin mà nói với Chúa, những người khác và với chính chúng ta như thế này: Tôi không thể bảo đảm tôi sẽ cảm thấy như thế nào vào một ngày nào đó. Tôi không thể hứa tôi sẽ luôn luôn có tình cảm đam mê đối với đức tin của tôi, nhưng tôi có thể hứa tôi sẽ luôn luôn trung tín, tôi sẽ luôn luôn hành xử một cách tôn trọng, và tôi sẽ luôn luôn làm mọi điều trong khả năng của mình, tới chừng nào những yếu đuối con người của tôi còn chịu được, để giúp sự nghiệp của những người khác và Chúa trên thế giới này. Tôi không thể bảo đảm chuyện tôi sẽ luôn luôn cảm thấy như thế nào, nhưng tôi có thể sống với lòng quyết tâm sắt đá là sẽ không bao giờ phản bội điều tôi tin!

Như vậy là đủ cho lòng tin. 

Một vài tâm tư riêng về những chuyện tin tưởng nho nhỏ  

Tất cả chúng ta đều quen thuộc với kinh Tin Kính Nicene và của các thánh Tông đồ, hai bản tóm tắt đức tin vĩ đại giúp lòng tin của chúng ta bám neo. Nếu không có hai bản kinh đó, cuối cùng chúng ta sẽ trôi dạt khỏi đường hướng và bị lạc lối. Các kinh Tin Kính đã neo giữ chúng ta. 

Nhưng các bản kinh Tin Kính vĩ đại giống như những dòng sông lớn, cần những nhánh sông nhỏ đem nước từ nhiều nới khác đến. Vì vậy, chúng ta cũng cần những lời tin kính nhỏ, những lời phát biểu chân lý cô đọng, ngắn gọn để neo giữ chúng ta về mặt luân lý và thiêng liêng. Chắc chắn, tất cả chúng ta đều có những lời tin kính nhỏ mà mình yêu thích nhất. Đây là một số lời kinh của tôi:

• Thương yêu thì hay hơn giận dữ. Hy vọng thì hay hơn sợ hãi. Lạc quan thì hay hơn tuyệt vọng. Vậy chúng ta hãy thương yêu, hy vọng và lạc quan. Jack Layton, lãnh đạo Đảng Dân chủ Mới của Canada, viết trong lá thư gửi người dân Canada, ngay trước khi qua đời vì bệnh ung thư. 

• Thử thách lớn nhất là sống trọn những vết thương của mình thay vì nghĩ mãi về chúng. Khóc lên thì tốt hơn là lo lắng, cảm nhận sâu sắc vết thương của mình thì tốt hơn là hiểu chúng, để chúng đi vào thinh lặng thì tốt hơn là nói về chúng. Sự chọn lựa mà bạn luôn luôn đối diện là đem vết thương của mình lên đầu hay tới trái tim. Henri Nouwen, viết nhật ký khi đang trải qua cơn bệnh trầm cảm.

• Khi có điều gì khó khăn xảy tới với bạn, bạn có hai lựa chọn để ứng xử với nó. Bạn có thể cay đắng hơn hay tốt hơn. Donald Miller, thách thức thanh niên vươn lên tầm đạo đức cao hơn. 

• Khi tôi tuyệt vong, tôi nhớ lại rằng suốt lịch sử xưa nay, cái đạo của chân lý và lòng thương luôn luôn chiến thắng. Đã có những kẻ sát nhân và những tên bạo chúa, và có lúc chúng dường như không thể bị đánh bại. Nhưng cuối cùng chúng luôn gục ngã. Hãy luôn luôn nghĩ về điều đó. Mohandas K. Gandhi, khẳng định niềm tin của mình vào chiến thắng tối hậu của chân lý và điều thiện. 

• Không một điều gì đáng làm lại có thể đạt được trong cuộc đời của chúng ta; vì vậy chúng ta phải được cứu rỗi bằng hy vọng. Không có điều gì chúng ta làm, cho dù đức hạnh đến đâu, có thể một mình mà thành tựu được; vì vậy chúng ta phải được cứu rỗi bằng tình thương yêu. Không một hành động đức hạnh nào lại đức hạnh từ quan điểm của người bạn hay người thù của mình bằng chính quan điểm của mình. Vì vậy chúng ta phải được cứu rỗi bằng hành động thương yêu cuối cùng, đó là tha thứ. Reinholt Niebuhr, bàn về những điều phức tạp của sự thánh thiện.

• Chúng ta lớn lên như thế này: qua việc bị những điều luôn luôn vĩ đại đánh bại một cách quyết định. Rainer Marie Rilke nói rằng bị đánh bại bởi thế giới bên kia thì tốt hơn chiến thắng ở thế giới này. 

• Đức tin của chúng ta bắt đầu ở chính nơi những người vô thần cho rằng phải chấm dứt. Đức tin của chúng ta bắt đầu với lạnh lẽo và sức mạnh của bóng đêm trên thập giá, của ruồng bỏ, cám dỗ và nghi hoặc về tất cả mọi thứ hiện tồn. Jurgen Moltmann nói về đêm tối của đức tin và thánh giá. 

• Sẽ đến một thời kỳ trong cuộc sống khi câu hỏi không còn là: Tôi còn có thể làm gì để tiếp tục có ích và đóng góp cho thế giới này? Mà câu hỏi đã trở thành: Giờ đây tôi có thể sống như thế nào để khi tôi chết đi, cái chết của tôi sẽ là một điều lành tốt nhất cho những người thân yêu, cho giáo hội, cho thế giới này? Henri Nouwen bàn về điểm khác nhau giữa việc cho đi sự sống của chúng ta và cho đi cái chết của chúng ta. 

• Đừng sợ đau đớn, hãy trả lại sự nặng nề cho sức nặng của trái đất; những ngọn núi nặng nề; biển cả nặng nề. Rainer Marie Rilke viết cho một người bạn đang sầu thảm trước cái chết của một người thân yêu. 

• Tình yêu phải đợi những vết thương lành miệng. Đó chính là sự chờ đợi mà chúng ta phải làm cho nhau, không phải với cảm thức ban ơn, hay phán xét, mà như thể sự tha thứ là một cuộc hẹn hò. Tiểu thuyết gia Anne Michaels viết về lòng thấu cảm.

• Trên đời này chẳng hề có cái gọi là niềm vui hoàn toàn trọn vẹn. Nhưng cái trải nghiệm mật thiết này, mà trong đó mỗi một mẩu sự sống đều bị một mẩu cái chết chạm vào, có thể chỉ cho chúng ta vượt lên trên những giới hạn của cuộc hiện sinh. Henri Nouwen viết về việc chúng ta giờ sống ra sao, “rền rĩ khóc than trong thung lũng nước mắt này”.

• Những người yêu nhau hãy tỉnh dậy; đã đến lúc bắt đầu cuộc hành trình! Chúng ta đã nhìn ngắm thế giới này đủ rồi; giờ đã đến lúc ta nhìn ngắm nhau. Rumi, cho rằng chúng ta phần lớn ngủ quên trước cái thế giới kia và trước những điều sâu sắc của thế giới này.  

• Đừng đầu hàng nỗi cô đơn của bạn nhanh như vậy. Hãy để nó cứa sâu thêm. Hãy để nó làm bạn dậy men và đậm đà như một số rất ít thành phần phàm tục hay thiêng liêng có thể làm được. Hafiz, Fourteenth Century, nhà thơ huyền bí đạo Hồi.

• Để mãn nguyện trong tất cả, hãy đừng khao khát mãn nguyện trong điều gì cả. Để sở hữu tất cả, hãy đừng khao khát sở hữu gì cả. Để đi đến chỗ tri kiến tất cả, hãy đừng khao khát tri kiến gì cả. Để đến chỗ thích thú những gì mình không có, phải đi bằng cách mà mình không thích thú. Để đến chỗ sở hữu cái mình không có, phải đi bằng cách mà mình không sở hữu. Để đi đến chỗ bạn là, phải đi bằng cách bạn không là. Thánh Gio-an Thánh giá bàn về tìm ra cuộc sống bằng cách cho đi cuộc sống. 

Chúa Kitô như là Vũ trụ

Pierre Teilhard, một trong các cuộc đối thoại của ông với Bộ Tín điều về Đức tin ở Rôma, đã được hỏi: “Ông đang cố gắng làm điều gì?” Câu trả lời của ông như thế này: Tôi đang cố gắng viết một học thuyết Kitô học sao cho đủ lớn để bao gồm trọn vẹn Chúa Kitô vì Chúa Kitô không chỉ là Đấng cứu thế thiêng liêng được phái đến để cứu con người; Chúa Kitô còn là cấu trúc trong một vũ trụ thực thể, một con đường cứu rỗi cho chính trái đất. 

Điều này có nghĩa là gì? Làm sao Chúa Kitô lại là một cấu trúc trong một tạo vật thực thể?

Có lẽ phần bị bỏ quên nhiều nhất trong hiểu biết của chúng ta về Chúa Kitô, mặc dù được giảng dạy rõ ràng trong Kinh Thánh, là ý niệm mầu nhiệm Chúa Kitô lớn hơn những gì chúng ta nhìn thấy hữu hình trong cuộc đời Chúa Giê-su và trong đời sống lịch sử của các giáo hội Ki-tô. Chúa Kitô đã là một phần của chính tạo vật thực thể và là trọn vẹn của sáng tạo đó. Như chúng ta thấy điều này được nói lên trong Thư gởi tín hữu thành Côlôxê:Khi mô tả thực tại Chúa Giê-su, tác giả viết: Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình và vô hình.

Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người. Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người. Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu. (Cl 1: 15-18)  

Cũng vậy, trong thư gởi tín hữu Rôma, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng cũng giống y như người phàm trần rên rỉ trong những giới hạn sinh tử của mình và khao khát được bất tử, tất cả các tạo vật thực thể đều như vậy. Trái đất cũng khao khát được cứu rỗi. Và mầu nhiệm Chúa Kitô là con đường dẫn tới bất tử, giống như đó là con đường dẫn tới cùng đích của chúng ta. 

Mầu nhiệm Chúa Kitô rộng hơn, sâu hơn, và bao gồm nhiều hơn những gì có thể được nhìn thấy đơn thuần trong cuộc sống hữu hình của Chúa Giêsu và trong lịch sử hữu hình của các giáo hội Ki-tô. Cứ công nhận là, những gì chúng ta thấy một cách rõ ràng trong cuộc đời Chúa Giê-su và lịch sử các giáo hội là điều rất đáng quý và vinh dự. Các giáo hội Ki-tô (như Maria, mẹ Chúa Giêsu) là nơi mà Chúa bước vào thế giới này một cách rõ ràng, cụ thể, hữu hình, như trong quá trình lịch sử đã cho thấy. Nhưng như Thánh Kinh và thần học Ki-tô khẳng định, mầu nhiệm Chúa Kitô bao gồm nhiều hơn những gì chúng ta có thể thấy một cách rõ ràng từ trong lịch sử. Nó còn bao gồm những gì mà Thư gởi tín hữu Côlôxê dạy, đó là bản thân tạo vật thực thể đã được tạo ra thông qua Chúa Kitô theo cách nào đó, rằng Chúa Kitô gắn kết chúng lại vói nhau, và rằng Chúa Kitô ban cho nó một tương lai vĩnh viễn. Mầu nhiệm Chúa Kitô không chỉ là về việc cứu rỗi chúng ta, những người trên hành tinh này, mà còn về việc cứu lấy chính hành tinh này. 

Đưa điều này vào cái hiểu của chúng ta sẽ đem lại những hệ quả lớn lao trong cách chúng ta hiểu hành tinh của mình lẫn cách hiểu các tôn giáo khác. Nếu mọi sự vật đều được sáng tạo thông qua Chúa Kitô và vì Chúa Kitô thì hành tinh trái đất chúng ta, và tất cả các tạo vật thực thể đều có giá trị trong tự thân mà không phải chỉ có giá trị trong mối liên hệ với chúng ta. Trái đất cũng là con của Chúa, không tự có ý thức như chúng ta, nhưng có những quyền chính đáng của nó và quyền được tôn trọng. Nói một cách đơn giản, trái đất không chỉ là một sân khấu để chúng ta diễn trên đó. Nó còn là một phần của mầu nhiệm Chúa Kitô và mầu nhiệm cứu rỗi. Chúng ta phải tôn trọng nó vì chính nó, mà không phải vì sức khỏe của chúng ta tùy thuộc vào sức khỏe của nó. Những gốc rễ sâu xa cho bất kỳ thuyết thần học-sinh thái nào nằm sâu hơn mối quan ngại thực tiễn về làm sao tiếp tục có đủ nguồn cung cấp không khí, nước và thức ăn tốt cho sức khỏe. Thiên nhiên cũng nằm bên trong mầu nhiệm của Chúa Kitô. 

Từ đó rút ra những ý nghĩa lớn lao trong cách chúng ta nhìn nhận những tôn giáo khác. Là Ki-tô hữu, chúng ta cần nghiêm túc tiếp nhận lời dạy của Chúa Giêsu rằng Chúa Kitô chính là con đường (duy nhất) đưa tới cứu rỗi và không ai đi đến Chúa Cha mà không qua Chúa Kitô. Như vậy, những người không phải Ki-tô hữu và những con người có tấm lòng chân thực khác thì như thế nào, xét thực tế là vào bất kỳ thời điểm nào, 2/3 thế giới cũng đều không liên quan gì đến Chúa Giêsu hay giáo hội Ki-tô giáo lịch sử?

Trừ khi chúng ta hiểu được mầu nhiệm Chúa Kitô sâu sắc hơn và rộng hơn mức chúng ta có thể nhìn thấy rõ ràng và dựa vào lịch sử từ trước đến nay, thì tình thế khó khăn này chắc chắn sẽ dẫn chúng ta tới chỗ hoặc từ bỏ lời dạy của Chúa Giê-su về chuyện quy chuẩn hoặc đi đến thái độ loại trừ vốn đi ngược lại ý chí cứu rỗi phổ quát của Chúa. Nếu khi nói mầu nhiệm Chúa Kitô, chúng ta chỉ nói duy nhất đến Chúa Giêsu hữu hình và giáo hội hữu hình, thì chúng ta bị vướng trong thế lưỡng nan không lời giải đáp. Tuy nhiên, nếu khi nói mầu nhiệm Chúa Kitô là ý nói về mầu nhiệm việc Chúa tái sinh bên trong tạo vật thực thể, đã bắt đầu trong sự sáng tạo nguyên sơ, tiếp tục là linh hồn liên kết tạo vật thực thể này thành một chỉnh thể, và hiện diện ở đó vừa như là nguồn năng lượng thu hút tạo vật về phía Đấng sáng tạo ra nó vừa là sự hoàn thành tạo vật đó, thì tất cả mọi thứ đều liên quan đến Chúa Kitô, dù chúng có nhận ra điều đó hay không, và tất cả sự thờ phụng chân thực đều dẫn đến Chúa Cha, cho dù chúng ta có nhìn thấy điều đó hay không. Nói như Kenneth Cragg: Cần trọn thế giới để hiểu trọn Giê-su.

Nuôi dưỡng bằng lửa thiêng cuộc sống

Hãy nhìn người thông thái và kẻ xấu xa, những người sống bằng ngọn lửa thiêng của cuộc đời. Đó là lời bài hát của Gordon Lightfoot, cố gắng diễn giải cuộc đấu tranh diễn ra trong tâm trí người anh hùng trong tưởng tượng của Miguel de Cervantes, Đông Ki-sốt. Lòng tốt của chàng tách chàng khỏi thế giới này, kể cả khi chàng hiểu rằng sự xấu xa cũng có cùng một nguồn gốc. 

Và trong chuyện này có một nghịch lý khó hiểu, đó là cả người thông thái lẫn kẻ xấu xa, thánh thần lẫn tội đồ, đều được nuôi dưỡng bằng một nguồn thiêng liêng. Cùng nguồn năng lượng tiếp liệu cho lòng vị tha dâng hiến của vị thánh chết vì người nghèo lại châm lửa cho lối sống buông tuồng vô trách nhiệm của ngôi sao màn bạc huênh hoang kể về hàng ngàn cuộc chinh phục tình dục của mình. Cả hai đều sống bằng cùng một nguồn năng lượng mà suy cho cùng là thiêng liêng. Sự sùng đạo trên thế giới này được sử dụng cho những mục đích rất khác nhau. Nhưng rất dễ diễn giải sai về điều này. 

Ví dụ, một trong những lời chỉ trích đối với tôn giáo và giáo hội là họ quá thường xuyên sử dụng Chúa để biện minh cho mọi kiểu chiến tranh và bạo lực. Chúng ta thường thấy bạo lực kinh khủng được tiếp liệu bằng đức tin và tôn giáo, như trong trường hợp Hồi giáo cực đoan ngày nay. Nhưng Ki tô giáo cũng khó mà không vướng như vậy. Trong các cuộc thập tự chinh và các tòa thẩm tra, chúng ta cũng đã viết lịch sử bạo lực của chính mình nhân danh Chúa và ngày nay có nhiều bạo lực hơn mức chúng ta có can đảm thừa nhận vẫn đang được thực hiện bởi những Ki-tô hữu lấy động cơ và năng lượng từ đức tin của họ. Chúng ta có thể phản đối rằng, trong những trường hợp đó, nguồn năng lượng này đã bị hướng lệch lạc, lầm đường, hay bị chiếm đoạt vì lợi ích cá nhân, nhưng vấn đề thì vẫn vậy. Đó vẫn là nguồn năng lượng thiêng liêng, cho dù nó đang bị lầm đường lạc lối. 

John Lennon (trong bài hát “Imagine” nổi tiếng) đã cho rằng chúng ta sẽ tiến dễ dàng hơn đến tình thương yêu và hòa bình nếu loại bỏ tôn giáo (“Chẳng có gì để giết hay để chết, và cũng chẳng có tôn giáo nào”). Trong suy nghĩ đó có sự ngây thơ nguy hiểm, nhưng anh đã đúng khi nói rằng nguồn năng lượng thiêng liêng trong tôn giáo thường đi ngược lại hòa bình và tình thương yêu trên thế giới này. Những người cuồng tín lầm lạc cũng sống bằng ngọn lửa thiêng liêng của cuộc đời.

Tuy nhiên, điều mà lời chỉ trích này và nhiều người khác không nhận thấy là: nguồn năng lượng tôn giáo lầm lạc, bị lạm dụng và đi sai đường không làm chứng chống lại sự tồn tại của Chúa. Ngược lại: chính quyền lực đáng sợ của nó, vòng vây mù quáng của nó, khả năng khiến cuộc sống của một người quy phục nó hoàn toàn, và lòng tự tin quá bệnh hoạn của nó, chính là nói lên tính chất sùng đạo, kính sợ, thiêng liêng, và những gốc rễ của nó trong thực tại và cái nguồn năng lượng này đánh bạt năng lượng của chính chúng ta. Tôn giáo không lành mạnh lại có sức mạnh lớn như vậy chính bởi vì nó thật, không phải là mộng hão. Nó có thể không lành mạnh, nhưng nó có thật. Đó là lý do tại sao các sùng bái tôn giáo lại nguy hiểm. Chúng nguy hiểm vì chúng có thật, có thật một cách quỷ quái. Người ta thường chết vì sự sùng bái do ngọn lửa thiêng liêng mà những kẻ lãnh đạo lầm lạc của nó hướng dẫn là có thật như dòng điện đốt cháy ai nếu họ dí con dao vào một ổ cắm điện cao thế. Những hệ thống sùng bái tôn giáo sống nhờ ngọn lửa thiêng của cuộc đời; nhưng điều bi đát là ở chỗ họ làm như vậy mà không có sự thận trọng đúng đắn và chọn lọc, rằng những điều mà các truyền thống thiêng liêng vĩ đại đã dạy là cần thiết khi tiếp cận những điều thiêng liêng này. Những hệ thống sùng bái lại ngây thơ không hiểu tại sao Kinh Thánh lại cảnh cáo chúng ta phải cẩn trọng khi tiếp cận điều thiêng liêng: “Không ai có thể nhìn thấy Chúa mà sống sót!”

Những gì chúng ta thấy ở tôn giáo xấu cũng đúng đối với đời sống riêng của chúng ta. Điều này đôi khi khó thấy (và người có tôn giáo thường khó chấp nhận), nhưng những gì hoang dã và xấu xa trên thế giới này cũng được tiếp liệu bằng ngọn lửa thiêng liêng của cuộc đời. Những năng lượng bất an quá mức của chúng ta dành cho sự sáng tạo, tình dục, thành tựu, vui thú, và để biết cũng như được biết đến trong cộng đồng loài người của chúng ta, là thường được sử dụng một cách vô trách nhiệm, quá mức, tự yêu mình, mê hoặc và hủy diệt. Những người hoang dã và độc ác, những người có thừa gan lớn và thiếu lương tâm, thường đơn giản là lấy về những gì họ muốn từ cuộc đời, mà không cần biết tới luân lý và hậu quả. Và vì thế mà thế giới của chúng ta bị thúc đẩy bởi những lực đẩy hoang dã, mạnh bạo, sáng tạo và khiêu dâm mà có thể trông rất giống như chính phản đề của năng lượng thiêng liêng. 

Nhưng, một lần nữa, chính cái sức mạnh, cái khả năng dường như không thể nào cưỡng lại và tính chất hoang dại của năng lượng này lại không phải là dấu hiệu cho thấy rằng các năng lượng tình dục và sáng tạo của chúng ta là thế tục và không có tính thiêng liêng, hay, thậm chí còn tệ hơn, xung khắc với những gì thiêng liêng trong bản thân chúng ta. Điều ngược lại mới đúng: sức mạnh và khả năng dường như không thể cưỡng lại của chúng nằm chính ở lòng sùng đạo và tính chất thiêng liêng của chúng. Ngọn lửa của chúng mạnh đến vậy là vì nó là nguồn năng lượng thiêng liêng, thần thánh, là năng lượng của Chúa bên trong chúng ta. 

Kinh Thánh nói với chúng ta rằng chúng ta mang trong tự thân hình ảnh và tính tương đồng với Chúa, và đó thật sự là bản thể sâu xa nhất của chúng ta, nguồn cội của những năng lượng sâu xa nhất của chúng ta. Nhưng chúng ta không nên hình dung hình ảnh Chúa trong chúng ta như một biểu tượng đẹp đẽ trong tranh Andrei Rublev, một biểu tượng gắn chặt trong tâm hồn chúng ta. Chúa là lửa, là năng lượng thiêng liêng, sự sáng tạo vô hạn, tự do vô hạn, hoang dã vượt lên trên tưởng tượng của chúng ta, và là một nguồn năng lượng không biên giới, tiếp liệu cho mọi thứ đang sống, đang thở, đang tìm kiếm ý nghĩa, đang thương yêu. 

Ngọn lửa thiêng liêng tiếp liệu tất cả sự sống và truyền sức sống cho tất cả mọi người, từ vị thánh cho tới kẻ tội đồ. Và Chúa đã ban cho chúng ta tự do để sử dụng ngọn lửa đó theo ý muốn của chúng ta, một cách thông thái hay xấu xa. Chúng ta sống bằng ngọn lửa thiêng liêng và chúng ta trở thành vị thánh hay kẻ hưởng lạc, người kiến tạo hòa bình hay kẻ gây chiến tranh.

Cầu nguyện dưới vòm che 

Chúng ta có bao giờ thật sự hiểu được hay nắm bắt được cầu nguyện không? Có và không. Khi cố gắng cầu nguyện, đôi khi chúng ta như bước đi trên mặt nước, đôi khi chìm lỉm như cục đá. Đôi khi chúng ta có cảm thức sâu sắc về thực tại của Chúa nhưng có khi chúng ta thậm chí không thể nào tưởng tượng Chúa tồn tại. Đôi khi chúng ta có cảm nhận sâu sắc về lòng lành và tình thương yêu của Chúa, đôi khi chúng ta thấy chán ngán và phân tâm. Đôi khi đẫm lệ, đôi khi len lén nhìn đồng hồ xem còn phải cầu nguyện thêm bao nhiêu lâu nữa. Đôi khi chúng ta muốn ở mãi nơi cầu nguyện, đôi khi lại tự hỏi có nên tới đó không. Chuyện cầu nguyện thật sự là lên xuống thất thường. 

Tôi nhớ một câu chuyện, đã nhiều năm về trước, một người đàn ông đến gặp tôi để được hướng dẫn tâm linh. Ông tham gia một nhóm cầu nguyện đầy lôi cuốn trong nhiều năm và đã trực nghiệm cảm xúc tôn giáo mãnh liệt. Nhưng bấy giờ, ông hết sức kinh ngạc thấy những cảm xúc đó đã bay biến hết. Khi cố gắng cầu nguyện, chủ yếu ông chỉ cảm thấy khô khan và chán ngán. Ông thấy có chuyện gì đó không ổn vì tình cảm nồng nhiệt của ông đã biến mất. Và ông nói như thế này: “Cha ơi, cha phải thấy quyển kinh thánh của con, con tô đậm từng dòng một vì lời kinh nói với con ý nghĩa sâu sắc nhường nào. Vậy mà, bây giờ, con cảm thấy như thể con đang rao lời kinh qua cửa sổ bởi vì chẳng lời nào còn có ý nghĩa gì với con hết! Con bị làm sao thế này?”

Có thể một câu trả lời vội vàng sẽ là “Chúa đã lầm với con!” Tôi nêu với anh trải nghiệm của thánh Têrêxa Đavila, người mà, sau một thời gian cầu nguyện sốt sắng nhiệt thành, đã trải qua mười tám năm chán nản và khô cứng. Ngày nay, tôi hẳn sẽ để anh đọc những trang nhật ký của Mẹ Têrêxa, giống như Têrêxa Đavila, sau lúc sốt sắng cầu nguyện ban đầu, đã trải qua sáu mươi năm khô cứng.

Chúng ta ấp ủ một ảo mộng ngây thơ về những gì tạo nên cầu nguyện, và cách chúng ta nên duy trì cầu nguyện như thế nào. và những gì thường nằm ở tâm điểm của suy nghĩ sai lầm này là tin rằng cầu nguyện luôn luôn tràn đầy nhiệt thành hăng hái, thú vị, ấm áp, mang cái nhìn tâm linh sâu sắc, và mang lại cảm thức rằng mình đang thật sự cầu nguyện. Cộng với ý niệm đó là một suy nghĩ không kém phần lệch lạc rằng cách để duy trì cảm xúc và lòng nhiệt huyết trong cầu nguyện là thông qua sự tươi mới liên tục và chuyên tâm bền bỉ. Những tác giả cổ điển về linh hướng bảo đảm với chúng ta rằng, tuy điều đó thường đúng trong những giai đoạn đầu tiên của đời sống cầu nguyện, khi chúng ta là những người mới nhập đạo và trong giai đoạn trăng mật của đời sống thiêng liêng, nhưng càng ngày càng ít đúng hơn khi chúng ta tiến sâu hơn vào cầu nguyện và de thiêng liêng. 

Những người nào đã cố gắng duy trì cuộc sống cầu nguyện trong một thời gian dài sẽ thấy rất nhẹ nhõm và an ủi khi biết những nhà thần bí vĩ đại nói với chúng ta rằng, một khi chúng ta đã vượt qua thời kỳ cầu nguyện ban đầu, giai đoạn trăng mật đó, thì chướng ngại vật duy nhất và lớn nhất là duy trì một đời sống cầu nguyện chính là nỗi chán ngán đơn thuần và cảm giác rằng chẳng có gì có ý nghĩa. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng chúng ta đã bị thoái lui trong cầu nguyện. Mà thường là ngược lại.

Đây là vòm trời mà chúng ta cầu nguyện bên dưới khi chật vật chống lại nỗi chán ngán và cảm giác chẳng điều gì có ý nghĩa xảy ra: Hãy tưởng tượng bạn có một bà mẹ già yếu chỉ còn bó thân trong nhà dưỡng lão. Bạn là người con trai hay con gái hiếu thảo, và hàng đêm sau giờ làm việc, bạn dừng lại và dành một tiếng đồng hồ vói bà, giúp bà ăn tối, kể lại những sự việc trong ngày, và chỉ đơn giản là làm người con ở bên cạnh bà. Tôi nghi ngờ chuyện bạn có nhiều cuộc trò chuyện đầy tình cảm và thậm chí còn thú vị nữa với bà, ngoại trừ những dịp rất hiếm hoi. Nhìn bên ngoài, những lần bạn đến sẽ có vẻ chủ yếu là lệ thường nhàm chán, khô khan, và vì nghĩa vụ. Hầu hết mọi ngày bạn sẽ nói về những chuyện vặt vãnh, thường lệ, và thỉnh thoảng bạn liếc trộm đồng hồ coi xem khi nào thì xong một tiếng đồng hồ với bà. Tuy nhiên, nếu bạn cứ kiên trì đến thăm bà thường xuyên, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, thì giữa tất cả mọi người trên thế gian này, bạn sẽ dần dần biết mẹ mình một cách sâu sắc nhất và bà sẽ dần dần biết bạn một cách sâu sắc nhất, bởi vì, như các nhà thần bí đã quả quyết, ở một tầm mức sâu sắc nhất định trong mối quan hệ, sự kết thông thật sự giữa chúng ta xảy ra ở bên dưới bề mặt các cuộc chuyện trò của mình. Chúng ta bắt đầu biết nhau qua sự hiện diện đơn giản của mình. 

Bạn có thể nhận ra điều đó qua cảnh ngược lại: hãy để ý mẹ mình như thế nào với những người con chỉ thảng hoặc đến thăm bà. Trong những lần thăm hiếm hoi, thảng hoặc đó, sẽ có cảm xúc, nước mắt, và chuyện trò khác với chuyện thời tiết hay những thứ vụn vặt của đời sống hàng ngày. Nhưng đó là vì mẹ bạn quá hiếm khi gặp những người con kia. 

Cầu nguyện cũng như vậy. Nếu chúng ta chỉ cầu nguyện đôi khi, có thể chúng ta sẽ trải nghiệm một vài cảm xúc tương đối sâu sắc khi cầu nguyện. Nhưng nếu chúng ta trung thành cầu nguyện hàng ngày, hết năm này sang năm khác, chúng ta có thể sẽ ít hào hứng, nhiều chán nản, muốn nhìn đồng hồ trong khi cầu nguyện.., nhưng, sẽ có một mối dây liên hệ sâu sắc lớn dần giữa Chúa với chúng ta.

Không bỏ qua những điều cốt yếu trong cuộc đấu tranh luân lý của chúng ta

Ngày nay, cả trong xã hội lẫn giáo hội, chúng ta thấy ngày càng khó giải quyết các khác biệt của mình hơn bao giờ hết vì những cuộc chuyện trò của chúng ta đã phá hỏng do thái độ thiếu lịch sự, nhục mạ, vùi dập nhân cách, và khinh thị.

Điều đặc biệt đáng lo ngại là chúng ta đang làm những điều đó nhân danh chân lý, chính nghĩa, Phúc âm, và Chúa Giê-su. Chúng ta đang cho phép bản thân mình căm thù, thóa mạ, và khinh thị người khác nhân danh Chúa. Sự nghiệp của chúng ta có vẻ quá quan trọng với chúng ta đến nỗi, một cách có ý thức hay vô ý thức, chúng ta tự cho phép mình bỏ qua đôi điều cốt yếu của đức ái Ki-tô hữu, đó là lòng tôn trọng, khoan dung, tình thương yêu, và tha thứ.

Điều đó là sai lầm: Không có sự nghiệp nào cho phép tôi tự miễn thứ mình khỏi nền tảng đức ái, ngay cả nếu tôi tự coi mình là “chiến binh bảo vệ chân lý” đi nữa. Có một mệnh lệnh phúc âm, đó là chiến đấu vì chân lý và cuối cùng tất cả chúng ta đều phải là những tiên tri chiến đấu cho những gì là đúng đắn; nhưng kể cả chiến tranh cũng có đạo lý của nó. Thậm chí trong chiến tranh (có lẽ đặc biệt trong chiến tranh), không bao giờ biện minh cho sự khinh thị dựa trên cơ sở cho rằng Chúa đứng về phía chúng ta. Thực sự, nếu Chúa đứng về phía chúng ta thì hẳn chúng ta phải bộc lộ lòng tôn trọng ra với người khác.

Lòng tôn trọng, khoan dung, tình thương yêu và tha thứ là những điều cốt yếu không thể nào tranh cãi trong đức ái Ki-tô. Đó cũng là phần căn cốt của tất cả đức tính cao đẹp của loài người. Bất cứ khi nào chúng ta bước ra khỏi những điều đó, như ngày nay chúng ta vẫn thường mắc phải khi đàm luận với những người không có chung suy nghĩ chính trị hay tôn giáo với mình, chúng ta không nên tự lựa dối mình mà cho rằng cái sự nghiệp cao cả mà chúng ta nghĩ mình đang phục vụ biện minh được cho sai lầm căn bản trong lòng nhân và lòng ái của mình. Bất cứ khi nào lời nói hay hành động của chúng ta thể hiện sự khinh thị thì khi đó chúng ta đang không phụng sự Chúa Giê-su hay chân lý nào cả, cho dù những lý luận của chúng ta có được đặt dưới cái vòm sự nghiệp cao cả đến mức nào. Mà đúng hơn, lúc đó chúng ta đang phục vụ cho một ý thức hệ nào đó, hay, tệ hơn nữa, đang phóng chiếu ra ngoài những nỗi giận dữ hay bệnh lý nào đó của chính mình. 

Vài năm trước đây, ở một trường đại học thần học tôi dạy, chúng tôi có một sinh viên bị ám ảnh với chuyện bảo vệ cho tính chính thống của Thiên Chúa giáo đến mức sự có mặt của anh trở thành điều tiêu cực cho bất kỳ lớp học nào, đến nỗi không giáo viên nào muốn dạy lớp có anh ghi tên học. Cuối cùng, tình hình trở nên không thể nào chịu đựng đến mức mà ban giảng huấn, sau khi suy xét rất kỹ lưỡng và đau xót, phải đề nghị vị trưởng khoa yêu cầu anh ra khỏi trường. Ngay khi bị đuổi, anh viết một lá thư gửi vị giám mục của mình và than phiền trường đại học chúng tôi đã trục xuất anh vì anh “quá bảo thủ và quá chính thống” đến mức không thể nào tương hợp được với tính cách của chúng tôi. Anh cũng gửi lá thư đó đến khoa trưởng. Vị khoa trưởng cũng viết một lá thư gửi vị giám mục của anh, nói với ông rằng trường đã phải yêu cầu anh ra đi, không phải vì anh quá bảo thủ và chính thống…, mà vì anh thiếu phép lịch sự cơ bản và tôn trọng đối với người khác.

Ví dụ trên đây là ví dụ về bệnh lý bảo thủ, nhưng những người tự do cũng hoàn toàn dễ mắc. Cả hai bên, không bên nào nên tự lựa dối; bất cứ khi nào chúng ta thiếu thái độ tôn trọng căn bản và biết cách hành xử căn bản, thì vấn đề thực chất không hề là chuyện chính thống hay chính nghĩa, nhưng vì thiếu lành mạnh. 

Chúng ta sống trong một thời đại cay đắng, phân cực sâu sắc, cả trong lòng xã hội lẫn trong giáo hội chúng ta. Những sự nghiệp là có thực và những gì đang bị lâm nguy là rất quan trọng: chiến tranh, tình trạng bất công, nạo thai, nghèo đói, hệ sinh thái, phân biệt chủng tộc, vấn đề nhập cư, đa văn hóa, nền kinh tế, các nguyên tắc dân chủ, luật pháp và trật tự, tự do ngôn luận, thẩm quyền phù hợp, tín điều phù hợp, đại kết phù hợp, tính chính đáng trong mục vụ, Ki-tô hữu trong tương liên với các tôn giáo khác, những tự do và giới hạn trong chính cuộc sống thế tục. Rốt cuộc, tất cả những điều này đều là những vấn đề sinh tử mà, chính bởi vì chúng quan trọng, nên luôn luôn gắn liền với cảm xúc bùng cháy. Bất kỳ ai quan tâm thực sự đến thế giới này đều đôi khi thấy mình hục hặc với người khác, đôi khi một cách cay đắng, về một vài vấn đề trong số các vấn đề trên. 

Và, đặc biệt khi các vấn đề đang bị đe dọa là những vấn đề hết sức quan trọng, thì bao giờ cũng có mối nguy là bỏ qua những điều cốt yếu (lòng tôn trọng, khoan dung, tình thương yêu, và tha thứ) dựa trên nền tảng của chính nghĩa, và về căn bản là rơi vào cách suy nghĩ rằng: vấn đề này quan trọng đến mức tôi không cần phải tôn trọng, khoan dung hay thương yêu nữa. Tôi có thể thóa mạ đối thủ, vùi dập tính cách hắn, chửi rủa hắn, sử dụng bất kỳ cái gì có thể trong khả năng của mình, có lẽ thậm chí cả bạo lực, để chân lý của tôi chiến thắng.  Bởi vì tôi đúng và vì điều này quá sức quan trọng như vậy, nên tôi có thể bỏ qua lòng kính trọng căn bản!

Sai lầm của chuyện đó là gì? Ngoài việc tự lựa dối mình rằng thiếu lòng nhân và tôn trọng có thể được biện minh dưới danh nghĩa phúc âm, thì tất cả những gì tốt đẹp nhất của loài người và tất cả những gì đẹp đẽ nhất trong nguyên tắc Ki-tô hữu đều kêu gọi chính cái điều ngược lại: tính cấp bách của tình huống và sự cay đắng vốn đã tồn tại cố hữu trong tình huống đó đang kêu gọi phải lưu tâm nhiều hơn, chứ không hề ít đi, tới những lời lẽ và hành động của chúng ta. Chúng ta càng gặp phải giận dữ, hận thù, khinh thị, thóa mạ, lăng nhục, từ chối trò chuyện thật sự, và những mối đe dọa nói ra lẫn không nói ra, thì chúng ta càng phải bám chặt hơn vào những điều cốt yếu của lòng nhân: lòng kính trọng, khoan dung, tha thứ, cởi mở, và chìa tay ra đề nghị nói chuyện thật sự giữa đôi bên. Tại sao? Vì rốt cuộc, chúng ta không thắng được cuộc đấu tranh luân lý này bằng cách đánh bại kẻ khác, mà chúng ta thắng được họ bằng cách làm sao để họ tâm phục khẩu phục chúng ta.

Câu thần chú tiên tri về người nghèo

Không ai lên thiên đàng mà không có thư giới thiệu của người nghèo! Đó là câu của James Forbes, một mục sư liên giáo phái ở thành phố New York, và câu này nắm bắt tuyệt vời điều mà các nhà tiên tri cổ đại của Do Thái đã nhấn mạnh nhiều thế kỷ trước. 

Các nhà tiên tri vĩ đại của Do Thái đã nghĩ ra câu thần chú này: Giá trị đức tin của các con sẽ được phán xét theo chất lượng của công lý trong xứ sở của các con. Mà chất lượng của công lý trong xứ sở đó sẽ luôn luôn được phán xét qua cách “các bà góa, con côi, và người lạ” sống như thế nào trong khi các con còn tại thế. Cụm từ này “bà góa, con côi, và người lạ” là mật mã để chỉ ba nhóm người yếu ớt nhất, dễ bị tổn thương nhất trong xã hội vào thời đó. Đối với những vị tiên tri vĩ đại của Do Thái, cuối cùng chúng ta sẽ được phán xét về mặt tôn giáo và luân lý dựa trên việc những người nghèo khổ nhất trong những người nghèo sống như thế nào khi chúng ta còn tại thế. 

Đó là một tư tưởng làm chúng ta rùng mình, và càng rùng mình hơn khi chúng ta thấy Giê-su ủng hộ quan điểm đó mạnh mẽ như thế nào. Trong khi điều này cần được đặt trong bối cảnh thông điệp của Chúa Giê-su xét về tổng thể, chúng ta có trong Phúc âm của thánh Mát-thêu đoạn văn nổi tiếng về Lời Phán xét Cuối cùng khi Chúa Giê-su nói với chúng ta rằng, cuối cùng, khi chúng ta đứng trước Đức vua vĩ đại vào ngày phán xử, chúng ta sẽ được hỏi chỉ duy nhất một loại các câu và tất cả đều liên quan tới chuyện chúng ta đối xử với người nghèo như thế nào: Con có cho kẻ đói ăn? Cho kẻ khát uống? Tiếp đón người lạ mặt? Cho kẻ trần trụi mặc? Thăm người đau ốm? Thăm kẻ tù tội? Tôi ngờ không ai trong chúng ta đủ gan rao giảng lời này từ bất kỳ bục giảng nào hôm nay, như nó được viết trong các Phúc âm. Ấy vậy mà Giê-su đã ý nói như vậy. Không ai lên được thiên đàng mà không có một bức thư giới thiệu của người nghèo. 

Bây giờ thì có cả loạt thách thức khó khăn. 

Thứ nhất: Nhu cầu sống cuộc đời vì công lý cho người nghèo và quan tâm thật sự đến người nghèo là một phần toàn bộ và không thể nhượng bộ của sứ vụ tông đồ Ki-tô hữu. Đó không phải là điều dựa trên một ý thức hệ nhất định nào đó mà tôi có thể tin theo hay giả lơ, miễn là tôi sống trung thực và cầu nguyện chuyên cần trong đời sống riêng. Đó là một phần tất yếu của phúc âm, ngang với nhu cầu cầu nguyện, đi nhà thờ, và giữ nếp quy củ cho đời sống luân lý riêng tư của tôi. Đối với một Ki-tô hữu, ngoan đạo, tốt, và đều đặn đi nhà thờ là chưa đủ. Chúng ta cần một lá thư giới thiệu cụ thể của người nghèo. 

Tiếp theo: Điều mà cả câu thần chú của các nhà tiên tri và lời dạy của Giê-su về Lời Phán xét Cuối cùng đều dạy là từ thiện thôi thì chưa đủ. Từ thiện là một đức hạnh tuyệt vời, là một phần cơ yếu của đức hạnh cao cả nhất – tình thương yêu. Không bao giờ có thể hạ thấp vai trò của nó. Nhưng từ thiện không hẳn là công lý. Tôi có thể là một con người từ thiện tuyệt vời, tốt, có đạo đức và hào phóng trong cuộc sống và vẫn nhận được lợi ích một cách không công bằng từ một hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử vốn đang tưởng thưởng cho tôi một cách không thích đáng thậm chí khi nó đang chất gánh nặng và cướp bóc những kẻ khác. Những thứ tôi có được một cách lương thiện từ công việc nặng nhọc của mình và tôi rất hào phóng chia sẻ chúng với người khác, cùng lúc lại có thể là sản phẩm của một hệ thống bất công đối với những người khác. Chăm lo cho “những bà góa, con côi và người lạ” đòi hỏi không chỉ lòng tốt và từ thiện của cá nhân, mà còn đòi hỏi tôi phải có lòng can đảm xem xét liệu có thể của cải lương thiện của tôi phần nào là sản phẩm của một cơ chế bất lương hay không. Ai bị thua thiệt trong khi tôi có lợi?

Cuối cùng: Câu thần chú của các nhà tiên tri và lời dạy của Chúa Giê-su về Lời Phán xét Cuối cùng cần phải là thách thức để luôn luôn soi xét bản thân tôi với câu hỏi: Tôi có đang thật sự đến với người nghèo không? Tôi có thật sự có “con côi, bà góa, và người lạ” trong đời mình không? Có phải cam kết của tôi với người nghèo là điều gì đó chỉ là lý thuyết, một lý tưởng mà tôi đề cao nhưng lại là điều gì đó chưa bao giờ thật sự tác động đến người nghèo? Nói suông về lý tưởng này thì dễ dàng rồi, và viết về nó trong sơ yếu lý lịch của tôi thì còn dễ dàng hơn để tôi có vẻ tốt đẹp trong mắt người khác và để cảm thấy hài lòng về bản thân. Tuy nhiên, như Ruth Burrows hỏi: Những lời hùng hồn của chúng ta về người nghèo có thật sự giúp cho họ được không hay chỉ giúp ta cảm thấy hài lòng thoải mái hơn về bản thân?

Tôi thừa nhận rằng những câu hỏi này không dễ dàng gì và chúng ta cần phải trả lời một cách từ tốn. Đôi khi tất cả những gì chúng ta có thể làm được là chấp nhận mình bất lực. Tôi từng tham dự một buổi nói chuyện của Gustavo Gutierrez, và sau bài trình bày của ông, một người đàn ông đứng lên, trung thực một cách đau đớn, ông chia sẻ về chính nỗi bất lực của chính mình không thể đến với những người nghèo. Một người có thể làm gì đây trước tất cả các vấn đề toàn cầu bất công đang làm rối loạn tâm trí chúng ta?

Gutierrez thừa nhận tính chất phức tạp của câu hỏi và thông cảm với nỗi bất lực của người đàn ông này, nhưng nói thêm: “Tối thiểu, hãy bảo đảm anh luôn luôn có ít nhất một người bằng xương bằng thịt trong cuộc sống để mình đặc biệt chăm lo. Điều này sẽ bảo đảm cam kết của anh luôn luôn ít nhất cũng có đôi phần thực chất!”

Một lá thư giới thiệu duy nhất của người nghèo còn tốt hơn là không có lá thư nào. 

Về Nietzsche, Feuerbach và những đêm tối của tâm hồn

Ít người viết được những bài phê bình về đức tin và tôn giáo thấm thía như Friedrich Nietzsche và Ludwig Feuerbach. “Chúa đã chết rồi,” Nietzsche tuyên bố, “và chúng ta là những kẻ ám sát Chúa!” Mà chúng ta ám sát Người – ông nói tiếp, theo những cách tinh vi mà chúng ta hoàn toàn không nhận thấy. 

Nếu nói một cách đơn giản hết sức, thì lời phê bình của họ có thể được hiểu như sau: Đức tin và tôn giáo, nói cho cùng, là những phóng chiếu từ tâm của con người. Chúng ta tin vào Chúa vì chúng ta cần như vậy, đơn thuần và giản đơn là ngày. Chúng ta tạo ra Chúa để phục vụ cho những nhu cầu của riêng mình. Chúng ta cần tin vào Chúa bởi vì nếu không có lòng tin nơi Chúa, chúng ta không thể xử lý được nỗi đau đớn, đổ vỡ, thiếu thốn và những giới hạn trong cuộc sống chúng ta. Chúng ta không đủ nhìn xa trông rộng và can đảm để sống mà không có Chúa; vì vậy mà có thứ thuốc phiện là đức tin và tôn giáo. Chúa và tôn giáo là những thứ thuốc mà chúng ta tạo ra cho bản thân để dìu ta đi qua cơn đau cuộc đời và cho chúng ta hy vọng về một điều gì đó vượt cao hơn. 

Nhưng lời buộc tội này không phải là thách thức chủ yếu của họ. Điều họ thách thức ghê hơn nữa là: Chúng ta tạo ra Chúa vì chúng ta muốn biện bạch cho những lựa chọn của mình bằng cách khoác cho chúng tấm áo choàng thiêng liêng. Chúa không chỉ là loại thuốc phiện vĩ đại mà chúng ta hấp thụ để làm tê liệt cơn đau và nỗi chán chường của mình, mà Chúa đặc biệt là sự biện bạch vĩ đại, sự bào chữa vĩ đại, là sự cho phép thiêng liêng vĩ đại mà chúng ta cần để phục vụ chính mình mà vẫn mang cái ảo tưởng rằng chúng ta đang phục vụ cho một sự nghiệp thiêng liêng và cao cả. 

Chẳng cần nhìn đâu xa cũng hiểu được tại sao họ nói như vậy. Khắp mọi nơi, dường như chúng ta đang thao túng đức tin và tôn giáo vì lợi ích của chính mình. Ai đó từng nhận xét chua cay rằng Chúa đã tạo ra chúng ta giống hình ảnh của chính Người và từ trước đến giờ chúng ta chưa bao giờ ngừng trả cái ơn đó. Đức tin và tôn giáo hiếm khi được thực hiện một cách trong sáng. Chắc chắn trong đó thấy rõ ràng có đôi chút yếu tố con người. 

Chỉ cần nhìn vào vai trò của tôn giáo trong lịch sử thì có thể thấy đầy rẫy bằng chứng cho điều này. Ví dụ, ngày nay chúng ta thấy các hình thức bạo lực được biện hộ nhân danh Chúa, dĩ nhiên rõ ràng nhất là ở Đạo Hồi cực đoan, nhưng khó mà chỉ dừng ở đó. Và chúng ta cũng thấy điều đó trong quá khứ riêng tư của mình. Tất cả chúng ta có xu hướng tìm cách có Chúa theo những điều kiện của mình, theo những kiểu phần lớn là thuận lợi cho chúng ta, và cho phép chúng ta biện bạch cho những quyết định của mình rồi được Chúa và tôn giáo đóng dấu chấp thuận. 

Vậy thì cần nói gì về tất cả những lời này? Tôi ngờ rằng, thánh Gio-an Thánh giá sẽ nói là Nietzsche và Feuerbach đúng 98%. Hầu như luôn luôn chúng ta thao túng Chúa và tôn giáo để cho khớp với những nhu cầu của riêng mình. Nhưng…, và đây chính là chỗ hoàn toàn khác…, chỗ mà Nietzsche và Feuerbach đã sai 2%, và ở 2% đó, Chúa có thể tìm thấy nơi để tuôn chảy một cách trong sáng vào đời chúng ta, và tôn giáo có thể tìm thấy nơi để bắc cầu cho sự có mặt của Chúa và sự thật một cách trong sáng. 

Phải thừa nhận là, về bản chất con người, cho dù thế nào đi nữa, chúng ta luôn luôn cố gắng một cách vô thức để làm Chúa khớp với những nhu cầu riêng của mình. Chúng ta không dễ dàng hay không tự nhiên để Chúa buộc dây và dắt chúng ta đi tới những nơi mình không muốn tới. Chúng ta mong muốn Chúa, tôn giáo, và sự thật, nhưng phải theo những điều kiện của riêng chúng ta. Trong giáo hội cũng vậy, chúng ta cũng có khuynh hướng đó. Các nhà thờ thấy khó mà để Chúa buộc dây và dắt họ đi tới những nơi họ không muốn tới. Tuy nhiên, vào một thời điểm nhất định, Chúa chấm dứt chuyện đó bằng cách liệng từng người một trong chúng ta, hay đôi khi là cả cộng đoàn nhà thờ, vào cái mà các nhà thần bí gọi là “đêm tối của tâm hồn.” Đó là gì?

Điều xảy ra trong “đêm tối của tâm hồn” là cả trí tưởng tượng lẫn trái tim chúng ta trở nên trống rỗng và cạn kiệt mọi suy nghĩ lẫn cảm xúc có ý nghĩa về Chúa. Chúng ta bị đẩy đến chỗ suy sụp không nơi nương tựa và thấy mình lâm vào tình trạng mà mọi nỗ lực nắm bắt Chúa qua trí tưởng tượng hay qua cảm xúc đều vô ích. Dù chúng ta cố gắng đến mấy, thì tất cả những suy nghĩ, cảm xúc và điều bảo đảm chắc chắn trước đây của chúng ta về Chúa, kể cả cảm giác của chúng ta về chính sự tồn tại của Chúa, giờ đây đều trống rỗng và cạn kiệt, và không còn có thể phục vụ chúng ta nữa. Chúng ta bị bỏ lại, cảm giác như mình là người vô thần hay người bất khả tri, ở mức độ suy nghĩ và xúc cảm. 

Nhưng, như Jurgens Moltmann nói, đức tin của chúng ta sẽ bắt đầu ở chính cái nơi mà những người vô thần nghĩ nó phải chấm dứt, trong hương vị của cái không, trong trống rỗng, trong tối tăm, và trong tình trạng hoàn toàn bất lực – không thể tưởng tượng sự tồn tại của Chúa hay cảm thấy sự có mặt của Chúa. Trong trạng thái trống rỗng và bất lực đó, Chúa cuối cùng có thể bắt đầu tuôn chảy vào đời chúng ta một cách trong sáng, vô nhiễm, không bị ảnh hưởng bởi nhu cầu, mong đợi và những gì chúng ta tưởng tượng nên. Chính sự trống rỗng, cạn kiệt và sự bất lực về mặt tưởng tượng và cảm xúc của chúng ta là những gì khiến chúng ta không còn có thể thao túng Chúa nữa. Chúng ta quá yếu ớt đến mức không thể làm nhiễm bẩn dòng chảy của Chúa vào đời mình nữa. Đức tin thật sự và tôn giáo thật sự bắt đầu ở đó. 

Khi chúng ta hoàn toàn cạn kiệt đức tin và những điều bảo đảm an toàn về mặt tôn giáo, Chúa cuối cùng có thể bắt đầu tạo khuôn cho chúng ta theo hình ảnh của Người và tuôn chảy vào đời chúng ta, trong sáng và vô nhiễm. 

Gắng gỗ để hiểu vấn đề tự tử

Gần đây một người bạn của tôi dự đám tang của một người đàn ông vừa tự vẫn. Vào cuối lễ tang, anh trai của người quá cố phát biểu với những người tham dự lễ. Sau khi kể về lòng hào hiệp và mẫn cảm của em mình, và chia sẻ một vài giai thoại để khắc họa cuộc đời của người em, ông chuyển sang nói đôi điều về cái chết của người em. Đây là những gì ông đã nói: 

Khi một người mắc bệnh ung thư, có thể sẽ xảy ra một trong ba điều sau: Có khi bác sĩ có thể điều trị bệnh, và căn bản là chữa lành. Đôi khi các nhà chuyên môn y tế không thể chữa lành căn bệnh nhưng có thể khống chế nó đủ để người bệnh tuy có đau nhưng vẫn có thể sống với căn bệnh này cho đến cuối đời. Tuy nhiên, đôi khi căn bệnh ung thư này thuộc loại vô phương cứu chữa. Tất cả thuốc men và phương cách điều trị trên thế giới đều bất lực, và người đó chết. 

Những kiểu trầm cảm cũng vậy: Đôi khi có thể điều trị được để trên thực tế người bệnh được chữa lành. Đôi khi không thể chữa lành thật sự, nhưng có thể điều trị theo cách mà người đó vẫn có thể sống với căn bệnh đến trọn đời. Và đôi khi, cũng như với các kiểu bệnh ung thư, căn bệnh này là vô phương cứu chữa, không thể chặn đứng lại, không ai có thể can thiệp bằng cách gì hết, hoặc không có cái gì có thể chặn đà tiến triển của nó. Cuối cùng, nó giết người bệnh và không ai có thể làm được điều gì hết. Bệnh trầm cảm của em tôi là thuộc kiểu đó, kiểu cuối cùng. 

Tôi nghĩ rằng lời giải thích đó có thể có ích cho bất cứ ai trong chúng ta từng phải mất mát một người thân vì tự vẫn. Mọi cái chết đều làm chúng ta rúng động, nhưng tự tử bỏ lại chúng ta đằng sau với hàng loạt những vết sẹo về tình cảm, về đạo đức và tôn giáo. Nó để lại một nỗi đau đớn, một tình trạng hỗn loạn, tối tăm, và một nỗi mặc cảm mà có trải qua thì mới hiểu được. Đôi khi chúng ta phủ nhận điều đó, nhưng bao giờ nó cũng tồn tại, bất chấp niềm tin tôn giáo và đạo đức của chúng ta. Thực sự, từ tình trạng tăm tối và mặc cảm, tự tử không chỉ làm chúng ta mất đi người thân yêu, mà còn lấy đi của chúng ta những ký ức chân thực về những người đó. Món quà mà họ đã mang đến trong đời chúng ta không còn được ca ngợi. Chúng ta không bao giờ tự hào nói về cuộc đời của họ nữa. Những bức ảnh của họ bị gỡ khỏi tường, cất sâu trong ngăn tủ để không bao giờ chúng ta mở ra nữa, tên của họ ngày càng ít được nhắc đến trong những lần trò chuyện, và chúng ta hiếm khi nào nói về chuyện họ chết ra sao. Tự tử đã đẩy những người thân yêu ra xa khỏi chúng ta theo nhiều cách hơn mức mà đôi khi chúng ta thừa nhận.

Và không hề có giải pháp nào dễ dàng để thay đổi điều đó, mặc dù có thể bắt đầu bằng cách thông hiểu hơn về vấn đề tự tử. 

Không phải mọi trường hợp tự tử đều cùng một loại. Một số trường hợp tự tử là vì người đó quá kiêu hãnh và trái tim quá cứng rắn nên không muốn sống trên thế gian này. Nhưng tôi phải nói đó là trường hợp ngoại lệ chứ không phải trường hợp tự tử thường gặp. Phần lớn các trường hợp tự tử, và chắc chắn tất cả những trường hợp tôi biết, đều vì lý do ngược lại, nghĩa là người đó mang quá nhiều thương tích và mẫn cảm quá, đến mức không thể bền gan để tiếp tục đối phó với cuộc sống. Trong những trường hợp đó, và đây là đại đa số các trường hợp tự tử, nguyên nhân cái chết có thể được gọi một cách khá chính xác là ung thư – ung thư tình cảm. Cũng như với bệnh ung thư ở thân thể, người chết do tự vẫn bị đưa ra khỏi cuộc sống này trái với ý muốn của họ. Cái chết do tự tử tương đương với bệnh ung thư về tình cảm, cơn đột quỵ tình cảm, cơn đau tim tình cảm. Như vậy, kiểu của nó cũng giống như kiểu của bệnh ung thư, đột quỵ, và những cơn đau tim. Cái chết có thể xảy tới đột ngột hay có thể là kết cục của một quá trình gắng gỗ lâu dài và dần dần khiến người đó sức cùng lực kiệt. Cách nào đi nữa, thì cái chết đó đều không tự nguyện. 

Là con người, chúng ta không phải là những thiên thần hoàn toàn mà cũng không phải là con vật hoàn toàn, mà luôn luôn vừa là thể xác vừa là tinh thần, một tổng thể trọn vẹn của tâm lý và thân thể. Và một trong hai phần, phần nào cũng có thể suy sụp.

Điều này có thể giúp để hiểu được vấn đề tự tử, mặc dù nếu hiểu rõ hơn cũng không hẳn có nghĩa là bóng tối và mặc cảm xung quanh vấn đề này sẽ đơn thuần biến mất. Chúng ta vẫn sẽ mang nhiều cảm giác như trước đây khi đối diện với một cái chết do tự tử: Chúng ta vẫn sẽ cảm thấy đau khổ. Chúng ta vẫn sẽ cảm thấy bị giằng xé và chia rẽ giữa cảm giác tội lỗi và phỏng đoán. Chúng ta vẫn sẽ cảm thấy bứt rứt về cái cách mà người này đã ra đi và vẫn sẽ cảm thấy như đau bệnh khi nói về chuyện người này đã chết như thế nào. Chúng ta vẫn sẽ cảm thấy ngại ca ngợi cuộc đời của người đó theo cái cách mà chúng ta hẳn sẽ ca ngợi nếu người đó chết vì những nguyên nhân tự nhiên. Chúng ta vẫn sẽ đi xuống mồ với những vết thủng đen trong tim. Nỗi đau của cái chết do tự tử để lại dấu vết không thể nào gột sạch trong tâm hồn chúng ta. 

Nhưng ở một cấp độ hiểu biết khác, sẽ có một điều gì đó đột phá và giúp chúng ta xoay xở tốt hơn với tất cả những cảm giác giằng co này, nghĩa là thông cảm và hiểu được một người mà hệ miễn dịch về tình cảm đã suy sụp. Và sự thông hiểu này cùng lúc sẽ đem lại niềm khuây khỏa rằng sự thấu cảm và thông hiểu của Chúa vượt xa thấu cảm và thông hiểu của chúng ta. 

Một thách thức mới

Khi tôi bắt đầu viết bài trên trang web này, tôi có chia sẻ đôi khi tôi sẽ viết một chuyên mục ít nói về cuộc sống riêng tư của tôi. Tôi đã cố gắng tự giới hạn như vậy, và trong 28 năm viết chuyên mục này, có lẽ tôi viết chưa đầy mười bài nói về cuộc đời tôi. Khi tôi viết những bài đó, gần như bao giờ cũng là để chia sẻ với bạn đọc về một biến chuyển quan trọng trong đời tôi. 

Bài này là một trong những bài riêng tư như vậy. Cuộc sống riêng của tôi lần nữa trải qua một chuyển biến quan trọng, mặc dù lần này không liên quan tới công việc mới hay chuyển sang một thành phố khác. Lần này liên quan tới sức khỏe của tôi:

Đầu tháng 5 vừa rồi, tôi đi soi đại tràng định kỳ và bác sĩ phát hiện ra một khối u ác tính trong đại tràng. Tin mừng là nó được phát hiện tương đối sớm, cả trước khi có các triệu chứng. Các bác sĩ xếp lịch cho tôi phẫu thuật vào đầu tháng 6 và đã cắt bỏ vùng bị ảnh hưởng, cùng với một loạt các hạch bạch huyết. 

Cuộc phẫu thuật này, dù khá táo bạo, đã diễn ra rất tốt, nhưng một số hạch bạch huyết đã bị ảnh hưởng, nghĩa là căn bệnh ung thư không hẳn chỉ khu trú hoàn toàn trong khối u. Tôi đã hồi phục tốt sau cuộc phẫu thuật, dù cũng mất vài tuần. Một bác sĩ chuyên khoa ung thư khuyên tôi rằng để cẩn trọng thì phải có điều trị đi liền sau phẫu thuật, nghĩa là phải có hóa trị liệu trong sáu tháng. Ông cũng trấn an tôi rằng chẩn đoán về dài hạn là tốt, nhưng dù vậy, cũng như đối với mọi trường hợp bệnh ung thư, chẳng có gì thật sự chắc chắn cho tới chừng nào nó đã chắc chắn. Chữa lành là rất có thể, nhưng chưa chắc chắn. Tôi sẽ bắt đầu các đợt hóa trị liệu vào đầu tháng 8 và sẽ kinh qua kiểu cảm giác trong sa mạc trong vòng sáu tháng. 

Đây không phải là lời cầu xin được thông cảm. Tôi chia sẻ điều này với các bạn vì người ta thường chia sẻ điều này với gia đình mình, và các bạn là gia đình độc giả của tôi. Tôi sẽ rất cảm kích trước lời cầu nguyện của các bạn, kể cả khi tôi tin tưởng là bạn sẽ không làm tôi ngập lụt trong hộp thư điện tử, thiệp và thư tay. Những gì chúng ta trao cho nhau trong cộng đoàn đức tin, gia đình và bạn bè thì không cần phải nói ra mới là có.Tôi giờ ra sao với tất cả những chuyện này?

Ban đầu, đặc biệt là trước khi cuộc phẫu thuật và những lần soi quang tuyến sau đó cho thấy chính xác hơn giới hạn của khối ung thư, dễ hiểu là tôi khá sợ hãi và hoảng sợ. Những suy nghĩ và nỗi sợ hãi không dễ gì kiểm soát được khi mà lần đi khám bệnh tiếp theo có thể là một bản án tử hình. Dù sao thì, cuối cùng, và không phải chỉ vì tiên liệu bệnh dài hạn cho thấy khá tích cực, tôi đã bắt đầu thấy bình an sâu sắc trong tất cả những điều này. Tôi tin ở Chúa và biết rằng tôi đang ở trong đôi tay an toàn, bất kể điều gì xảy ra đi nữa. Tôi cũng tin tưởng ở các chuyên gia y khoa chữa trị tôi. Họ giỏi tuyệt vời và vô cùng nhân từ. Chuyên môn và kỹ năng của bác sĩ, thật là ân đức cho tất cả chúng ta!

Nhưng sự bình an tâm hồn đó cũng dựa trên nhiều điều tôi nhận ra, những điều mà trước khi mắc bệnh này chỉ là lý thuyết trừu tượng đối với tôi. Một vài điều giờ đây còn thật với tôi hơn nữa: giờ đây tôi biết từ chính trong hiện thể đời mình rằng cuộc đời này mong manh, rằng sức khỏe là quý giá, và có sức khỏe thì cần cảm kích, không nên coi là chuyện bình thường. Tôi cũng biết từ trong hiện thể đời mình rằng chúng ta không thể nào che chắn an toàn cho cuộc sống của chính mình, cho dù mình có cố gắng cẩn thận đến thế nào. Đức tin và hy vọng đang tràn ngập trong cuộc sống của tôi như chưa từng bao giờ mạnh mẽ đến thế.

Tình yêu cũng vậy. Gia đình và bạn bè phần nhiều được coi là bình thường khi chúng ta còn trẻ, sung sức và mang ảo tưởng rằng cái chết không thật sự là chuyện có thật đối với chúng ta. Chúng ta nhận ra rằng gia đình và tình bạn là ân đức sâu sắc biết bao chỉ khi chúng ta hoàn toàn ở trong tình trạng yếu ớt; và cũng phần lớn là chỉ lúc đó chúng ta mới thực sự để những người khác thương yêu mình. 

Và cũng có những bài học sâu sắc cho tôi trong chuyện này: Tôi đã làm việc cật lực trong một thời gian dài, né đạn khi tôi làm việc quá sức và giờ đang bị quá tải. Những năm trước đây, đã từng rất nhiều lần khi làm việc quá sức trong một thời gian kéo dài, tôi hứa với Chúa sẽ sống chậm lại, ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ cụ thể đó. Trên thực tế, thường xuyên, trong lời cầu nguyện rõ ràng, tôi xin Chúa để cho tôi thực hiện chuyện sống chậm lại này theo ý tôi chủ động, chứ không chịu để một tình trạng suy sụp sức khỏe nào đó buộc tôi phải như vậy. Giống như chàng thanh niên Âu-Tinh, tôi cứ cầu nguyện: “Xin cho con chậm lại, nhưng chưa phải là bây giờ!” Cuối cùng, việc tôi được chẩn đoán bị bệnh ung thư đã làm cho tôi cái điều mà tôi không tự làm được cho mình. Lời cầu nguyện của tôi bây giờ là: Cho con đón nhận điều này với lòng biết ơn, và đón nhận như một ân đức!

Bài học cuối cùng: Nếu tôi đứng vững được, khỏe mạnh và tự tin sau đợt hóa trị, tôi hy vọng sẽ có bản lĩnh để không trở lại cuộc đời trước đây, biết ơn đã né được một viên đạn và sẵn sàng cho công việc như bình thường. Thay vào đó, giống như người hủi nọ đi lui để tạ ơn Chúa Giê-su chứ không về với cuộc sống bình thường, tôi đang cầu nguyện là ân đức của trải nghiệm này sẽ là phép giả kim mà tôi từ lâu nay vẫn cần đến để khiến tôi hướng về Chúa Giê-su với lòng hằng biết ơn và hướng về phút giây hiện tại. 

Những điều ẩn kín đối với những người học rộng và thông minh 

Tôi đã sống và làm việc gần trọn quãng đời trưởng thành trong giới hàn lâm, học ở nhiều trường đại học, dạy trong giới đại học, và có bạn bè thân thiết và đồng nghiệp là các vị giáo sư đại học. Thế giới đó như thế nào? Những người sống trong giới hàn lâm đó là những người ra sao?

Có lẽ trải nghiệm của tôi không mang tính điển hình bởi vì phần lớn các học giả mà tôi được theo học và phần lớn các giáo sư thần học cũng như các học giả đồng nghiệp khác của tôi đã trở thành giáo sư và giảng viên đại học với chức năng mục vụ như là một ơn gọi hơn là nghề nghiệp. Vì vậy, thay vì phải chật vật với vấn đề đức tin và giáo hội, họ có động lực trở thành những nhà hàn lâm phục vụ cho đức tin và các cam kết của mình với giáo hội. Xét theo nhiều khía cạnh, những vị giáo sư trong các trường thần học và các trường mục vụ không phải là điển hình của giới hàn lâm. 

Nhưng một nhà hàn lâm là một nhà hàn lâm, và các nghiên cứu đại học và sau đại học, cho dù được thực hiện với động cơ gì, cũng đều có vài tác động tương tự tới con người. Và thế là tôi nghi ngờ xem cái quỹ đạo, trong đó có tôi, là điển hình hơn hay là không điển hình. Mà điển hình là như thế nào?

Các nhà hàn lâm, các học giả, và các vị giáo sư đại học, giống bất kỳ thành phần xã hội nào, đều là một tập hợp phức tạp: Trong các giới đại học, bạn sẽ thấy một số người khiêm tốn, khoan dung, đầy lòng kính tín và thật sự tốt nhất mà bạn từng gặp; cũng vậy, bạn sẽ thấy một số người đầy kiêu ngạo, bo bo thu vén cho mình, phi luân và bất nhẫn nhất trên đời. Thế giới hàn lâm cũng giống như mọi nơi khác. 

Dù sự thật là vậy, từ lâu một câu nói của Chúa Giê-su vẫn ám ảnh tôi, đó là: thường thường, những bí mật sâu kín nhất của cuộc sống và đức tin lại ẩn kín đối với những người học rộng và thông minh, nhưng lại vén mở ra với trẻ con, với những ai có tâm trí ít phức tạp hơn. Tôi không nghi ngờ tính chân thực của câu nói đó; tôi chỉ tự hỏi tại sao. 

Tại sao? Rõ ràng trí tuệ và học vấn là những chuyện tốt. Trí tuệ là món quà Chúa ban cho để tách chúng ta khỏi các loài cầm thú, cơ hội học hành là cái quyền quý giá mà Chúa trao cho ta. Thực sự, tình trạng ngu si và thiếu giáo dục là những điều mà bất kỳ xã hội lành mạnh và bất kỳ cá nhân lành mạnh nào cũng cố gắng vượt thoát ra. Thánh kinh khen ngợi cả minh triết lẫn trí thông minh, và sự lành mạnh của bất kỳ giáo hội nào cũng dựa một phần vào dòng chảy trí tuệ mạnh mẽ trong lòng nó. Trong lịch sử, khi nào giáo hội để cho lòng sùng đạo bình dân, cho dù chân thành, lấn lướt nền thần học sâu sắc thì giáo hội phải trả giá đắt. Chính công cuộc Cải tạo đã thoát thai từ đó, và một trong những điều đầu tiên mà Công đồng Trent giao nhiệm vụ cho Công giáo La Mã là các linh mục phải được đào tạo tốt hơn về mặt trí tuệ. 

Trí tuệ và học hành là những điều tốt. Chúa không ban cho chúng ta trí tuệ rồi bảo chúng ta đừng sử dụng nó. Ngây ngô không phải là một phẩm hạnh và không bao giờ được nhầm lẫn với ngây thơ. Vậy thì tại sao “thông minh và giỏi giang” là điều có thể không giúp cho chúng ta hiểu được những bí ẩn sâu kín nhất của cuộc sống và đức tin?

Lỗi không nằm ở chuyện thông minh và học hành; bản thân cả hai chuyện đó đều tốt, nhưng sai lầm là ở những gì chúng có thể vô tình gây ra cho chúng ta. Trí tuệ và học hành thường có một tác động ngoài dự tính, đó là làm suy yếu đi những gì thuộc về bản tính trẻ thơ trong chúng ta, nghĩa là, chính cái sức mạnh mà chúng đem lại cho cuộc sống chúng ta có thể khiến ta một cách vô thức tự cho rằng mình siêu việt hơn, và khiến chúng ta tin rằng, vì thông minh, nên chúng ta có nhu cầu lẫn có quyền tự tách mình ra khỏi những người khác theo kiểu mà bản tính tự nhiên cần nương tựa của trẻ con không để chúng làm như vậy. Trẻ con không tự lực được cho dù đó là điều chúng mong muốn mãnh liệt. Chúng cần những người khác và chúng biết như vậy. Vì thế, một cách tự nhiên hơn, trẻ con tìm tới và nắm lấy bàn tay ai đó chìa ra. Chúng không có cái khả năng tự lực xa xỉ kia.

Khi chúng ta “học rộng và thông minh” chúng ta có thể quên đi dễ dàng hơn rằng mình cần đến những người khác, và vì vậy không tự nhiên tìm đến nhờ bàn tay giúp đỡ của người khác như cách của một đứa trẻ. Chúng ta dễ tự cách ly bản thân hơn. Khi càng ít nhận thức được tình trạng thiếu thốn của mình thì chúng ta càng dễ bỏ qua những gì mà Chúa và cuộc sống đang mời gọi chúng ta. Chính cái sức mạnh mà trí tuệ và học hành đem lại cho đời sống chúng ta có thể gợi cho chúng ta có cảm giác tự lực sai lầm khiến chúng ta tách mình một cách thiếu lành mạnh ra khỏi người khác và coi mình siêu việt hơn theo cách nào đó. Và lòng tự đại không bao đi một mình, nó luôn luôn đem theo con cái của nó: ngạo mạn, khinh khi, chán nản, bất nhẫn. Tất cả những tính đó là những rủi ro nghề nghiệp cho những người “học rộng và thông minh”, và không cái nào trong số đó giúp hé mở một bí mật sâu kín nào của cuộc sống. 

Nhưng chúng ta phải cẩn thận để không hiểu sai bài học này. Đức tin không yêu cầu chúng ta không được mở mang trí óc. Cả ngu si lẫn ngây ngô đều không ích gì cho đức tin. Những chiều sâu vô hạn không bao giờ bị trí tuệ hữu hạn đe dọa. Và vì vậy, trở nên học rộng và tinh tế không bao giờ là chuyện xấu; chỉ là chuyện xấu nếu chúng ta vẫn kẹt ở đó. Nhiệm vụ ở đây là phải trở nên hậu-tinh tế, nghĩa là, vẫn tràn đầy trí tuệ và luôn học hỏi ngay cả khi chúng ta trở về mang tâm thức trẻ thơ. 

Cuộc chiến đấu nội tâm của chúng ta

Hai điều trái ngược không thể cùng tồn tại trong cùng một chủ thể. Triết gia A-rix-tốt đã viết như vậy và nghe chừng điều đó quá rõ ràng; không thể có cái gì vừa là ánh sáng vừa là bóng tối cùng một lúc. 

Tuy nhiên, xét về những gì đang xảy ra bên trong tâm hồn chúng ta thì dường như những điều trái ngược thật sự có thể cùng tồn tại trong cùng một chủ thể. Bất cứ thời điểm nào, trong lòng mình, chúng ta là sự trộn lẫn giữa ánh sáng và bóng tối, chân thành và giả trá, vô ngã và ái ngã, đức hạnh và suy đồi, ân sủng và tội lỗi, thánh thần và tội phạm. Như cha Henri Nouwen thường nói: Chúng ta muốn là những bậc thánh vĩ đại, nhưng cũng không muốn bỏ lỡ tất cả các cảm giác mà những người tội lỗi trải qua. Và thế là cuộc sống chúng ta không hề đơn giản. 

Chúng ta sống trong ánh sáng lẫn bóng tối trong lòng mình và dường như, trong một thời gian dài, những điều trái ngược thật sự cùng tồn tại trong lòng chúng ta. Tâm chúng ta như một bãi chiến trường, nơi vô ngã và ái ngã, đức hạnh và tội lỗi, cái gì cũng tranh nhau làm chủ. Nhưng cuối cùng, chỉ một cái này hoặc cái kia sẽ bắt đầu làm chủ và tìm cách đánh bật cái kia ra. Đó là lý do tại sao Thánh Gio-an Thánh giá đã chọn câu dụ ngôn triết học này và dùng nó để dạy một bài học cốt lõi về việc đi đến chỗ khiết tịnh của con tim và khiết tịnh của ý định trong đời sống chúng ta. Bởi vì những điều trái ngược không thể nào cùng tồn tại trong lòng chúng ta, nên có điều cần yếu mà chúng ta cần làm. Đó là điều gì? 

Chúng ta cần chuyên cần cầu nguyện. Những điều trái ngược không thể nào cùng tồn tại trong chúng ta như vậy, nếu chúng ta duy trì lòng cầu nguyện chân thành trong đời sống mình để cuối cùng sự thành tâm sẽ đánh bật đi giảo trá, vô ngã sẽ đánh bật ái ngã, và ân sủng sẽ đánh bật tội lỗi. Nếu chúng ta giữ lòng cầu nguyện chân thành, thì về lâu dài, chúng ta sẽ không bao giờ rơi vào lý luận biện hộ cho tội lỗi. Nếu chúng ta duy trì cầu nguyện chân thành trong đời sống thì chúng ta sẽ không bao giờ nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi của mình, và cứ như vậy tới mức chúng ta bắt đầu có những vùng miễn nhiễm về đạo đức trong đời sống của mình. Trung thành với cầu nguyện sẽ bảo đảm chúng ta không bao giờ, về lâu dài, sống đời hai mặt bởi vì những gì lời cầu nguyện đưa vào đời sống chúng ta, một sự có mặt chân chính của Chúa, sẽ không sống chung hòa hợp với ái ngã, tội lỗi, lý luận biện hộ cho tội lỗi, tự huyễn, và giảo trá. Nói nôm na, đến một lúc nào đó trong đời, chúng ta hoặc sẽ thôi cầu nguyện hoặc thôi hành xử tệ hại. Chúng ta sẽ không thể nào sống cả hai thứ trái ngược. Như vậy mối nguy hiểm lớn nhất của chúng ta là ngừng cầu nguyện. 

Và đây là lời khuyên vô cùng hữu dụng: Chúng ta không thể lúc nào cũng kiểm soát được việc mình cảm thấy như thế nào về mọi chuyện. Chúng ta không thể lúc nào cũng kiểm soát được chuyện mình bị quyến dụ ra sao. Và không ai trong chúng ta có sức mạnh để không bao giờ rơi vào tội lỗi. Chuyện chúng ta không có khả năng thực hiện đạo đức mong muốn cho bản thân khiến chúng ta luôn luôn không thể thánh thiện đầy đủ. Có những điều vượt ngoài khả năng của chúng ta.

Nhưng có đôi điều chúng ta có thể kiểm soát, những điều vượt quá con ngựa cảm xúc và cám dỗ bất kham. Chúng ta bị nhiều thứ vây bủa, nhưng chúng ta có thể chuyên cần có mặt để cầu nguyện, theo ý chí của mình, có chủ tâm, với kỷ luật và quyết tâm. Chúng ta có thể cầu nguyện riêng theo kỷ luật chuyên cần trong cuộc sống của mình. Chúng ta có thể hứa với chính mình phải có thói quen cầu nguyện riêng. Và, nếu làm như vậy, thì bất luận sự thực chúng ta sẽ phải chịu một thời gian dài khô khan và chán nản, cuối cùng những gì lời cầu nguyện đưa vào đời sống chúng ta sẽ đánh bật ra các thói quen xấu, những lý luận biện hộ cho tội lỗi, và tội lỗi của chúng ta. Hai điều trái ngược nhau không thể cùng tồn tại trong cùng một chủ thể. Cuối cùng chúng ta hoặc sẽ phải thôi cầu nguyện hoặc sẽ từ bỏ tội lỗi và lý luận biện hộ cho tội lỗi. Không ai có thể vừa cầu nguyện chân thành một cách đều đặn lại vừa nhắm mắt làm ngơ trước tình trạng tội lỗi của mình.  

Vậy thì, nhiệm vụ của chúng ta là duy trì việc cầu nguyện riêng như một thói quen trong cuộc sống, kể cả khi chúng ta không có cái nhìn sâu sắc lẫn không có lòng can đảm để nhìn nhận và giải quyết tất cả các kiểu tiêu chuẩn kép và những điểm mù-đạo-đức trong đời sống của mình. Những gì đi vào đời sống chúng ta qua lời cầu nguyện, mà thường thì khó cảm nhận hơn là dễ thấy, cuối cùng sẽ đánh bật ra (“hóa cứng,” nói theo lời thánh Gio-an Thánh giá) tội lỗi của chúng ta lẫn những lý luận chúng ta biện hộ cho nó.

Điều này gần với lời Ronald Knox từng dạy về phép Thánh thể. Đối với ông, phép Thánh thể là nghi thức có tính cách nâng đỡ, cốt yếu, duy nhất trong đời sống Ki-tô hữu. Tại sao? Bởi vì Knox tin rằng, là Ki-tô hữu, chúng ta chưa bao giờ thật sự sống theo những gì Chúa Kitô yêu cầu. Chúng ta chưa bao giờ thật sự yêu thương kẻ thù mình, chìa má kia ra, chúc phúc cho những ai nguyền rủa chúng ta, sống đời quang minh chính đại trọn vẹn, hay tha thứ cho những ai đã làm chúng ta tổn thương. Nhưng, ông nói, chúng ta đã trung thành với Chúa chủ yếu theo cách: Chúng ta đã trung thành với phép Thánh thể, trung thành với mệnh lệnh duy nhất đó. 

Ngay trước khi từ giã chúng ta, Chúa Giêsu đã ban phép Thánh Thể và yêu cầu chúng ta tiếp tục dâng phép Thánh Thể cho tới khi Người quay trở lại. Hai ngàn năm nay, trong khi chờ đợi sự quay trở lại đó, chúng ta đã trung thành với phép Thánh Thể, dù chúng ta đã trở nên bất trung xét theo các khía cạnh khác. Chúng ta đã tiếp tục dâng phép Thánh Thể, và cuối cùng, hơn bất cứ điều gì khác, đó là điều duy nhất gọi chúng ta, liên tục liên hồi, trở lại với lòng trung tín.

Thói quen cầu nguyện riêng cũng sẽ làm được điều đó cho chúng ta. Bởi vì hai điều trái ngược không thể nào cùng tồn tại trong một chủ thể, cuối cùng chúng ta hoặc sẽ thôi cầu nguyện hoặc chúng ta sẽ không phạm lỗi và lý luận biện hộ cho tội lỗi nữa. Mối nguy hiểm đạo đức lớn nhất trong đời sống là chúng ta ngừng cầu nguyện!

Kích thước trái tim chúng ta

Nhìn chung và đặc biệt là các nhà bình luận tôn giáo thường mô tả trái tim con người là nhỏ nhen, hẹp hòi và nhỏ mọn: Chúng ta hẹp hòi và nhỏ mọn biết bao!

Tôi thấy điều này thật đáng buồn bởi vì các nhà tư tưởng tôn giáo đặc biệt cần phải hiểu biết hơn. Không phải chúng ta được Chúa tạo ra và đặt lên trái đất này với trái tim nhỏ nhen, hẹp hòi và nhỏ mọn. Ngược lại mới đúng. Chúa đưa chúng ta tới thế gian này với những trái tim rộng lớn, những trái tim sâu như thung lũng Grand Canyon. Trái tim con người trong tự thân, khi không bị sợ hãi, tổn thương và hoang tưởng khóa chặt, chính là phản đề của nhỏ mọn. Trái tim con người, như thánh Âu-Tinh mô tả, được lấp đầy không bằng cái gì khác hơn là chính sự vô hạn của nó. Trái tim con người không có gì là nhỏ nhen. 

Nhưng như vậy thì tại sao chúng ta lại quá thường xuyên thấy mình quan hệ với nhau, với thế giới này, và với Chúa thực ra bằng trái tim nhỏ nhen, hẹp hòi và nhỏ mọn?

Vấn đề không phải là kích thước hay những động cơ tự nhiên của trái tim con người, mà là những gì trái tim có khuynh hướng làm khi nó bị tổn thương, sợ hãi, bị coi khinh, hoang tưởng hay tự huyễn hoặc bởi lòng tham và tính ích kỷ. Lúc đó nó đóng chặt lại trước chiều sâu và sự cao cả của chính mình, trở nên hẹp hòi, nhỏ mọn, sợ hãi và ích kỷ. Nhưng hành vi đó là bất bình thường, không phải trái tim con người ở trạng thái bình thường cũng không phải ở trạng thái tốt đẹp nhất. Ở mức bình thường và tốt đẹp nhất, trái tim con người là rộng lớn, hào hiệp, cao cả và biết hy sinh. 

Các tổ phụ xa xưa có một cách biểu đạt đơn giản về cuộc vật lộn của chúng ta ở đây. Họ dạy rằng mỗi người trong chúng ta đều có hai trái tim, hai linh hồn:
Trong mỗi con người, họ khẳng định, đều có một trái tim nhỏ nhen, nhỏ mọn, một pusilla anima. Đây là trái tim mà chúng ta vận hành theo khi cảm thấy bị tổn thương và ngăn cách với những người khác. Đây là trái tim mà trong đó chúng ta bị khó chịu và giận dữ kinh niên, trái tim trong đó chúng ta cảm thấy cuộc đời bất công, trái tim trong đó chúng ta coi những người khác như là mối đe dọa, trái tim trong đó chúng ta cảm thấy ganh tỵ và chua chát, và trái tim trong đó lòng tham, sự thèm khát và lòng ích kỷ đã đột nhập vào. Đó cũng là trái tim muốn tự tách ra khỏi và đứng lên trên những trái tim khác. Và đó là trái tim thường xuyên bị những nhà tư tưởng tôn giáo nói đến nhất khi họ mô tả bản chất con người là nhỏ mọn và tầm thường. 

Nhưng các tổ phụ cũng dạy rằng trong mỗi con người chúng ta cũng có một trái tim khác, một magna anima, một trái tim cao cả, sâu sắc, rộng lớn, hào hiệp và cao thượng. Đây là trái tim mà từ đó chúng ta vận hành theo khi chúng ta ở mức tốt đẹp nhất. Đây là trái tim mà trong đó chúng ta thấy thấu cảm và trắc ẩn. Đây là trái tim trong đó chúng ta cháy rực những lý tưởng cao thượng. Đây là trái tim nơi chúng ta bắt đầu cảm thấy sự hiện diện của Chúa trong đức tin và hy vọng, và có thể vươn ra tới người khác với lòng từ và tha thứ. 

Vì vậy vào một ngày nào đó, vào một thời điểm nào đó, chúng ta có thể cảm thấy giống như Mẹ Tê-rê-xa hay giống một tên khủng bố cay đắng. Chúng ta có thể cảm thấy sẵn lòng hy sinh tính mạng mình vì đạo hoặc cảm thấy sẵn sàng phạm tội. Chúng ta cảm thấy giống hiệp sĩ Đông Ki-sốt cao thượng, cháy rực lý tưởng, hoặc cảm thấy giống như một người yếm thế tuyệt vọng, bằng lòng với bất cứ thứ gì bù đắp và lạc thú ngắn hạn mà cuộc sống có thể ban cho hơn là tin vào những khả năng sâu sắc hơn, hiến dâng tính mạng hơn cho bản thân và người khác. Mọi thứ đều tùy thuộc chúng ta được nối với trái tim nào vào một thời điểm nào đó. 

Nếu điều này đúng thì lời mời gọi của chúng ta đối với người khác khi hướng tới trái tim cao thượng sẽ hiệu quả nhất, thay vì nhấn mạnh lỗi lầm và sự hẹp hòi của họ, chúng ta mời họ cố gắng tiếp cận những gì tốt nhất, cao cả nhất, trong chính bản thân họ. 

Và điều này không phải là một biến thể đơn giản của chân lý hiển nhiên rằng với mật, bạn sẽ thu hút nhiều ong đến hơn là với dấm. Đó là một biến thể của các động lực của lòng ăn năn và chữa lành mà nhà huyền thuật vĩ đại, Gio-an Thánh giá, đã mô tả. Đối với ông, cách hiệu quả nhất hướng tới chữa lành không phải là tập trung vào các lĩnh vực luân lý và thiêng liêng mà chúng ta đặc biệt vật lộn trong đó. Đối với ông, chúng ta chữa lành, lớn lên và cuối cùng làm “chai cứng” các lỗi lầm của mình bằng cách quạt bùng lên ngọn lửa của những gì là đức hạnh, tốt đẹp nhất trong chúng ta. Khi chúng ta thổi bùng lên đức hạnh của mình, những ngọn lửa này cuối cùng sẽ đốt sạch lòng ích kỷ và vết thương của chúng ta. Đức hạnh của chúng ta, khi được thổi bùng thành ngọn lửa, sẽ không chừa lại chỗ nào cho sự tầm thường và nhỏ nhen trong lòng mình. Thổi bùng những gì cao đẹp nhất trong chúng ta cuối cùng sẽ đưa chúng ta ngày càng tiến gần hơn chỗ sống theo trái tim rộng lớn của mình hơn là trái tim nhỏ hẹp.

Không phải mọi thứ đều có thể sửa chữa hay chữa lành, nhưng nó cần được định danh chính xác. Không ở nơi nào điều này quan trọng hơn ở cách chúng ta định danh cả kích thước lẫn những cuộc vật lộn của trái tim con người. Chúng ta không phải là những linh hồn nhỏ mọn thỉnh thoảng làm những chuyện cao cả. Đúng hơn, chúng ta là những linh hồn cao cả mà, buồn thay, thỉnh thoảng làm những chuyện nhỏ mọn.

Vật lộn với sự phức tạp của chúng ta

Trong một cuốn sách gồm các bài giảng có tựa đề “Nói lên sự thật” (Telling the Truth), Frederick Buechner đã thách thức tất cả những người đi giảng và các tác giả thiêng liêng làm sao để nói một cách “trung thực khủng khiếp” về cuộc vật lộn của con người, ngay cả trong bối cảnh đức tin. Đừng bọc đường mọi việc một cách dễ dãi, ông cảnh báo:

“Hãy để người đi giảng nói lên sự thật. Hãy để vị đó nói lên tiếng nói của thinh lặng trong các tin tức của thế giới này, tắt âm thanh, để trong thinh lặng đó chúng ta có thể nghe thấy sự thật bi thương của Phúc âm vốn dĩ có nghĩa là thế giới nơi Chúa vắng mặt là một nơi trống rỗng đen tối và vang động; và sự thật khôi hài của Phúc âm vốn có nghĩa là chính trong chiều sâu của sự vắng mặt này mà Chúa hiện diện theo những cách tưởng như không thể và trong những con người tưởng như không thể như ông bà Sa-ra và A-bra-ham già nua, và có lẽ khi đúng lúc thì cả Phi-la-tô, ông Gióp… và cả bạn lẫn tôi đều cười toáng lên cho tới lúc nước mắt chảy dài trên má. Và cuối cùng hãy để vị đó giảng về bi kịch lan tràn này bằng hài kịch, giảng về ánh sáng lấn át bóng đêm, giảng về cái tầm thường bằng cái phi thường, vì câu chuyện này quá hay đến nỗi không thể không thành hiện thực, bởi lẽ phủ nhận rằng nó không thực có nghĩa là phủ nhận cùng với nó một hơi thở dốc, nhịp đập và nhịp đập gấp của con tim sắp khóc hoặc thậm chí đang khóc, điều mà tôi tin là linh cảm sâu xa nhất về sự thật mà chúng ta có được.”

Khi đọc đoạn đó, tôi nhớ lại một số bài giảng trong giáo xứ khi tôi còn là một cậu bé. Tôi lớn lên trong một cộng đoàn nhỏ, an toàn, gồm những nông dân nhập cư, trong lòng thảo nguyên Canada. Các linh mục trong giáo xứ chúng tôi, những con người tha thiết một cách tuyệt vời, ấy thế mà lại có khuynh hướng giảng cho chúng tôi như thể chúng tôi là một nhóm các gia đình bình dị trong loạt phim truyền hình “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên.” Họ thường nói với chúng tôi là họ rất hài lòng được làm mục vụ cho chúng tôi, những bà con nông dân giản dị, sống cuộc đời không phức tạp, xa hẳn các vấn đề của những vị đang sống trong các đô thị lớn.

Dù còn nhỏ, chẳng tiếp xúc gì nhiều trong cuộc sống, mà không phải lúc nào tôi cũng nuốt trôi những lời đó. Trước hết, tôi không cảm thấy hết sức đơn giản và không phức tạp. Trong sâu thẳm tôi chất chứa nỗi bất an sâu sắc và tôi cảm thấy nhiều chuyện đau đầu nhiều hơn so với phần riêng của mình. Ngay từ hồi đó, cũng như bây giờ, tôi đã cảm thấy rằng cả cuộc đời con người và trái tim con người đều có một chiều sâu luôn luôn phần nào nằm ngoài tầm với của chúng ta. Đồng thời, cho dù cộng đoàn của chúng tôi tuyệt vời như vậy, nó cũng có những phần đổ vỡ, những vụ tự sát, những mối căng thẳng giữa con người với nhau. Bề ngoài, đôi khi chúng tôi trông có vẻ như những ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, nhưng bên dưới, những điều sâu thẳm hơn luôn luôn âm ỉ. Không ai là không có vừa những bí ẩn tuyệt vời lẫn những nỗi ai oán rối rắm phức tạp của cuộc đời. 

Nghệ thuật giỏi là giỏi chính vì nó nhìn nhận sự phức tạp đó một cách nghiêm túc và rọi ánh sáng vào trong đó theo một cách không phải là giải quyết mối căng thẳng này một cách quá dễ dãi. Nghệ thuật tồi lúc nào cũng ủy mị chính vì nó không nhìn nhận sự phức tạp đó một cách nghiêm túc, bằng cách không chịu thừa nhận điều đó hoặc bằng cách giải quyết nó một cách quá dễ dãi. 

Điều này cũng đúng đối với thần học hay và tinh thần thiêng liêng hay. Nó cần phải nhìn nhận một cách nghiêm túc sự phức tạp của trái tim con người. Thánh Tô-ma Đa-canh từng đặt câu hỏi: Đối tượng phù hợp của trí óc và ý chí con người là gì? Theo cách nói thời nay, câu hỏi đó sẽ là: Điều gì sẽ thỏa mãn hoàn toàn từng nỗi đau và nỗi khao khát của chúng ta? Câu trả lời của ông là: Mọi hiện thể, mọi thứ, tất cả những gì tồn tại. Chúng ta sẽ phải biết và cách nào đó phải kết nối về mặt cảm xúc với mọi chuyện thì tâm trí và trái tim bất an của chúng ta mới đi tới chỗ bình an trọn vẹn. Xét điều này là không thể được trong đời này, chúng ta không nên ngây thơ về chuyện cuộc sống của chúng ta sẽ trở thành thường xuyên bất an và phức tạp như thế nào. Món quà vĩ đại trong các tác phẩm của Henri Nouwen là nói cho chúng ta biết về sự phức tạp của chính đời sống của chúng ta và rồi cho phép chúng ta hiểu chuyện đó là bình thường. Chúng ta không hẳn tham lam quá mức, hưởng tình dục quá mức, hay bất an quá mức. Chúng ta chỉ là những con người bình thường, đi đi lại lại với da thịt phàm trần. Đó chính là cuộc đời thật sự! Đó cũng là sự thật rõ ràng trong thánh kinh và phúc âm. Thánh kinh có đầy những câu chuyện về những người tìm thấy Chúa và giúp xây dựng nước Chúa, cho dù cuộc đời của chính họ đầy những hỗn độn, rối rắm, chán chường, phản bội, bất tín, và tội lỗi. Không hề có con người nào đơn giản, miễn nhiễm đối với những mối phức tạp về mặt thiêng liêng, tâm lý, tình dục và quan hệ vốn dĩ vẫn bao vây tất cả chúng ta. 

Và rốt cuộc, đó là điều tốt: Bên cạnh những thứ khác, nó giữ cho chúng ta luôn luôn tỉnh thức, mà thường là trước nỗi sợ hãi và uể oải của chúng ta, và rằng bí ẩn của cuộc đời là vô cùng to lớn, lớn hơn rất nhiều so với những gì mà chúng ta phần lớn thời gian cảm thấy thoải mái. Căn bệnh phức tạp thường hằng của chúng ta ép chúng ta càng hướng gần tới ánh sáng lớn lao hơn. 

Điều cũng quan trọng nữa là sự tỉnh thức và thái độ chấp nhận căn bệnh phức tạp thường hằng của chúng ta có thể là nơi chúng ta cuối cùng sẽ tìm thấy những mối dây thấu cảm và tha thứ: Cuộc đời đối với ai cũng khó khăn cả. Ai ai cũng đau đớn. Chúng ta không cần phải đổ lỗi cho ai hết. Tất cả chúng ta đều bị bao vây bởi cùng những vấn đề. Hiểu và chấp nhận điều đó có thể giúp chúng ta tha thứ cho nhau – và rồi tha thứ bản thân mình. 

Ý nghĩa và Hạnh phúc

Tôi có hạnh phúc không? Đời tôi có hạnh phúc không? Cuộc hôn nhân của tôi có hạnh phúc không? Tôi có hạnh phúc với gia đình tôi không? Tôi có hạnh phúc trong công ăn việc làm hiện nay không? Tôi có hạnh phúc trong giáo hội không? Dưới lớp da của chính mình, tôi có hạnh phúc không?

Đây có phải là những câu hỏi hay đáng để tự hỏi không? Không. Đó là những câu hỏi tra tấn bản thân. Khi đối diện với đời mình, thật tình loại câu hỏi về hạnh phúc này dễ khiến chúng ta rơi nước mắt hơn là an ủi tâm hồn, bởi vì, cho dù cuộc sống chúng ta đang tốt đẹp đến thế nào đi nữa, chẳng ai trong chúng ta sống được cuộc sống trọn vẹn hoàn hảo. Luôn luôn có những giấc mơ không thành. Luôn luôn có những mảng thất vọng. Luôn luôn có căng thẳng. Luôn luôn có những nỗi khát khao chôn chặt. Và luôn luôn, như Karl Rahner đã nói một cách sầu thảm mà thấm thía: chúng ta đang phải chịu nỗi hành hạ của sự thiếu thốn mọi điều có thể đạt được trong khi chúng ta đi đến chỗ biết rằng trên đời này không có bản giao hưởng nào trọn vẹn. Luôn luôn, chúng ta sống đời mình trong nỗi tuyệt vọng lặng câm. Rất nhiều khi không hề dễ dàng cảm thấy hạnh phúc.

Nhưng chúng ta đang tự đặt những câu hỏi sai lầm. Không nên đặt câu hỏi: Tôi có hạnh phúc không? Mà câu hỏi nên là: Đời tôi có ý nghĩa không? Có ý nghĩa gì trong đời sống của tôi không? Có ý nghĩa gì trong cuộc hôn nhân của tôi không? Có ý nghĩa gì trong gia đình tôi không? Có ý nghĩa gì trong công ăn việc làm của tôi không? Có ý nghĩa gì trong giáo hội của tôi không? Chúng ta cần đặt ra những câu hỏi sâu sắc về đời mình xét về mặt ý nghĩa hơn là về hạnh phúc, bởi vì, đại đa số chúng ta đều có một ý niệm phi thực tế, lý tưởng hóa quá mức và sai lầm về hạnh phúc.

Chúng ta có xu hướng đánh đồng hạnh phúc với hai điều: lạc thú và không căng thẳng. Vì vậy chúng ta mơ mộng viễn vông rằng, với mình, để hạnh phúc, chúng ta cần phải ở trong hoàn cảnh không hề có bất kỳ căng thẳng nào vốn thường tràn ngập đời sống chúng ta, những căng thẳng đến từ áp lực, mệt mỏi, rạn nứt giữa con người với nhau, đau đớn trong cơ thể, lo lắng tài chính, chán nản trong công việc, thất vọng trong giáo hội, thất vọng với những đội thể thao ưa thích của chúng ta, và tất cả các chuyện đau đầu và đau tim khác có thể xảy ra. Như vẫn được hình dung một cách hời hợt, hạnh phúc nghĩa là sức khỏe hoàn hảo, những mối quan hệ đáp ứng hoàn hảo, một công việc hoàn hảo, chẳng hề phải lo lắng hay căng thẳng gì trong cuộc sống, không chán nản, và có thì giờ lẫn tiền bạc để hưởng cuộc đời tốt đẹp.

Nhưng đó không phải là điều tạo nên hạnh phúc. Ý nghĩa mới là điều tạo nên hạnh phúc và ý nghĩa không phụ thuộc vào chuyện không bị đau hay không bị căng thẳng trong cuộc sống: Tưởng tượng có người bước đến cạnh Chúa Giêsu khi người đang chết dần trên thập giá và hỏi người: Trên đó ông có hạnh phúc không? Câu trả lời của người, tôi chắc chắn, hẳn sẽ rất rõ ràng: “Không! Và đặc biệt hôm nay tôi không hạnh phúc gì!” Tuy nhiên, nhãn quan này sẽ rất khác nếu như, khi Chúa Giê-su đang bị đóng đinh trên thập giá, có người nào đó bước đến và đặt ra với người câu hỏi này: “Có ý nghĩa gì trong chuyện ông đang làm trên đó không?” Có thể có ý nghĩa sâu sắc trong một sự việc gì đó ngay cả khi không có vui sướng hạnh phúc gì trong cái cách chúng ta hời hợt hình dung về sự việc đó.

Chúng ta hiểu điều này dễ dàng hơn nếu chúng ta nhìn lại những giai đoạn khác nhau trong đời mình. Từ góc độ của chúng ta ngày nay, quay nhìn lại, đôi khi chúng ta thấy những giai đoạn nào đó đầy vất vả khó khăn của cuộc đời, chúng ta phải xoay xở thiếu thốn thật ra lại là thời gian hạnh phúc. Giờ đây chúng ta nhìn lại với lòng trìu mến và niềm ấm áp. Đó là thời gian đầy ý nghĩa mà cái nhìn hiện nay của chúng ta khi trở ngược về trước đã quét dọn rác rến, xóa đi nỗi đau và nhấn mạnh niềm vui. Ngược lại, chúng ta cũng có thể nhìn vào những giai đoạn nào đó trong đời mình, có thể khi đó đời sống chúng ta có lạc thú nhưng giai đoạn đó giờ đây rõ ràng là một thời kỳ bất hạnh. Chúng ta nhìn lại thời đó với cảm giác nặng nề nào đó và thấy hối hận. Hồi đó chúng ta thấy dường như là ánh sáng mà giờ đây lại có vẻ là thời kỳ đen tối.

C.S. Lewis dạy rằng hạnh phúc và bất hạnh chiếu màu sắc ngược thời gian: Nếu cuối đời chúng ta hạnh phúc, thì chúng ta nhận ra rằng từ trước đến giờ chúng ta vẫn luôn luôn hạnh phúc kể cả lúc gian nan, cũng y như nếu cuối đời chúng ta không hạnh phúc thì chúng ta nhận ra rằng lúc nào chúng ta cũng bất hạnh, kể cả những giai đoạn hoan hỷ của đời mình. Nếu rốt cuộc, cuối đời chúng ta có ý nghĩa thì sẽ quyết định đời mình đã hạnh phúc hay bất hạnh. Nhiều người, trong đó có Chúa Giêsu, đã chịu đựng đau đớn lớn lao nhưng đã sống đời hạnh phúc. Đáng buồn là điều trái lại cũng đúng. Hạnh phúc liên quan nhiều đến ý nghĩa hơn là đến vui thú.

Trong quyển tự truyện của mình, Ngạc nhiên trước Niềm vui, C.S. Lewis đã nói với độc giả rằng hành trình đến với Ki-tô giáo của ông không hề dễ dàng. Ông thú nhận, ông là “người trở lại miễn cưỡng nhất trong lịch sử ki-tô giáo.” Nhưng một trong những điều rốt cuộc đưa ông đến gần với Ki-tô giáo chính là việc nhận ra rằng ý nghĩa vượt cao hơn khái niệm thông thường của chúng ta về hạnh phúc. Ông viết, ông đi đến chỗ hiểu rằng sự khe khắt của Chúa tốt lành hơn sự nhẹ nhàng của con người và sự cưỡng chế của Chúa là sự giải phóng của chúng ta.

Tiền không thể mua hạnh phúc. Nó có thể mua lạc thú, nhưng, như cuộc đời cuối cùng đã dạy chúng ta, lạc thú không hẳn là hạnh phúc.

Lắng nghe nhịp tim của Chúa Ki-tô

Câu chuyện về bữa ăn tối cuối cùng trong Phúc âm thánh Gio-an cho chúng ta một hình ảnh bí ẩn tuyệt vời. Thánh sử mô tả vị tông đồ yêu quý tựa đầu vào ngực Chúa Giê-su. Hình ảnh này chứa đựng điều gì? Rất nhiều điều:

Thứ nhất, khi bạn tựa đầu vào ngực người khác, tai của bạn nằm ngay bên trên trái tim người đó, bạn có thể nghe nhịp đập trái tim của họ. Vì vậy, trong hình ảnh của thánh Gio-an, chúng ta thấy vị tông đồ yêu dấu áp tai lên trái tim Chúa Giê-su, lắng nghe nhịp đập trái tim của Chúa, và từ đó nhìn ra thế giới. Đây là hình ảnh tối thượng về sứ vụ tông đồ của thánh Gio-an: Vị tông đồ lý tưởng là người hòa nhịp với nhịp tim của Chúa và nhìn thế giới với âm thanh của nhịp đập đó trong tai mình.

Và còn có một tầng mức thứ hai của hình ảnh này: Đó là biểu tượng của bình an, hình ảnh em bé ngả đầu vào ngực mẹ, hài lòng, thỏa mãn, êm dịu, không căng thẳng, không muốn ở đâu khác hơn nơi này. Đây là hình ảnh của tình mật thiết tối thượng, của sự nhất thể cộng sinh, một mối liên hệ còn sâu sắc hơn cả tình yêu lãng mạn. 

Và đối với thánh Gio-an, đó còn là hình ảnh của bí tích Thánh thể: Điều mà chúng ta thấy trong hình ảnh một người áp tai lên trái tim của Chúa Giê-su, là cái cách mà thánh Gio-an muốn chúng ta hình dung chính mình khi tham dự bí tích Thánh thể, bởi vì, rốt cuộc, đây chính là ý nghĩa của bí tích Thánh thể, dựa đầu vào ngực Chúa Giê-su. Trong phép Thánh thể, Chúa Giê-su dành cho chúng ta, về mặt thực thể, một lồng ngực để dựa đầu vào, để được nuôi dưỡng, để cảm thấy an toàn và vững chãi, và từ đó nhìn ra thế giới.

Cuối cùng, đây còn là hình ảnh về cách chúng ta cần chạm đến Chúa và được Chúa duy trì trong sự cô tịch như thế nào. 

Cha Henri Nouwen từng nói: “Bằng cách chạm vào tâm điểm của sự cô tịch chúng ta, chúng ta cảm thấy mình đã được những bàn tay thương yêu chạm đến.” Sâu thẳm trong lòng mình, giống như một dấu ấn, có một nơi Chúa đã chạm đến, đã vuốt ve và đã hôn chúng ta. Rất lâu trước khi ký ức của chúng ta có thể nhớ được, rất lâu trước khi chúng ta có thể nhớ được đã chạm tới hay đã thương yêu hay hôn ai hay cái gì, hay nhớ được mình đã được ai hay cái gì trên thế gian này chạm tới, đã có một thứ ký ức khác, một ký ức đã được những bàn tay thương yêu nhẹ nhàng chạm đến. Khi áp tai vào trái tim Chúa – vào lồng ngực của những gì tốt lành, chân chính và đẹp đẽ – chúng ta đã nghe một nhịp tim nào đó và chúng ta nhớ mãi, trí nhớ cất giữ ở một nơi ban sơ nào đó, ở một cấp độ vượt lên trên suy nghĩ, rằng mình đã từng được Chúa hôn dịu dàng. 

Tựu trung, đây là điều sâu sắc nhất trong lòng chúng ta. Có một huyền thoại cổ xưa nói rằng khi tạo ra một em bé, Chúa hôn linh hồn của em và hát cho em nghe. Khi vị thiên thần hộ mệnh mang em xuống trần gian để nhập vào thể xác của em, vị đó cũng hát cho em. Huyền thoại này nói rằng nụ hôn và bài hát của Chúa, cũng như bài hát của vị thiên thần, mãi mãi lưu lại trong linh hồn em – để được đánh thức, nâng niu, chia sẻ, và trở thành nền tảng cho tất cả các bài hát của chúng ta. 

Nhưng để cảm nhận được nụ hôn đó, để nghe thấy bài hát đó, cần có sự cô tịch. Bạn không cảm thấy được sự dịu dàng khi trong lòng và tất cả xung quanh bạn đều ồn ào, khó chịu, giận dữ, chua chát, ganh tị, tranh giành, và hoang tưởng. Âm thanh nhịp đập trái tim của Chúa chỉ có thể nghe được trong một cô tịch nào đó và trong sự dịu dàng mà nó mang lại. Thánh Gio-an Thánh giá từng định nghĩa cô tịch là “đem cái nhẹ nhàng hòa hợp với cái nhẹ nhàng.” Đó là cách ông nói về việc chúng ta sẽ bắt đầu nhớ lại cái chạm nguyên thủy của Chúa, khi, qua sự cô tịch, chúng ta dọn dẹp hết khỏi trái tim mình tất cả những gì không nhẹ nhàng, nghĩa là ồn ào, giận dữ, chua chát, và ganh tỵ. Khi chúng ta trở nên nhẹ nhàng, chúng ta sẽ nhớ lại rằng mình đã được đôi tay thương yêu chạm vào, và, giống như vị tông đồ yêu dấu, lúc đó chúng ta sẽ áp tai mình vào nghe nhịp đập trái tim của Chúa.

Vậy, trong mỗi chúng ta đều có một nhà thờ, một nhà nguyện, một nơi thờ phụng, một nơi tôn nghiêm không phải do bàn tay con người tạo nên. Và đó là nơi dịu dàng, nơi trinh trắng, nơi thiêng liêng, nơi không hề có giận dữ, không cảm thấy bị lừa dối, không cần phải tranh giành, và không cần phải bất an. Đó là nơi dịu dàng; nhưng nó có thể bị xâm phạm, bằng việc cam kết với chính mình nhưng lại không tôn trọng chính mình, và đặc biệt, bằng dối trá rồi duy lý hóa và tiếp theo đó là chai sạn, sa đọa và khô cứng của trái tim. Tuy nhiên, trái lại, đó cũng là nơi có thể vẫn không hề bị xâm phạm, thiêng liêng, không bị hề hấn gì kể cả khi bị lạm dụng và xâm hại. 

Chính tại nơi đó, nơi chỉ vào được qua sự cô tịch và dịu dàng của tinh thần, mà chúng ta có được đặc ân tiếp cận với Chúa vì đó là nơi Chúa đã chạm đến chúng ta và nơi mà chúng ta nhớ lại điều đó, cho dù mờ nhạt đến đâu. 

Chúng ta đã từng được chạm đến bằng đôi tay dịu dàng hơn nhiều và đầy thương yêu hơn nhiều so với đôi tay của chính chúng ta. Ký ức về cái chạm đó là một dấu ấn – ấm áp, sâu đậm, dịu dàng. Bước vào miền ký ức đó là dựa vào ngực Chúa, giống như vị tông đồ yêu dấu đã làm tại bữa ăn tối cuối cùng. Từ nơi đó, tai áp trên trái tim của Chúa Ki-tô, chúng ta có cái nhìn chân thật nhất về thế giới của chúng ta.