RonRolheiser,OMI

Định luật hấp dẫn và Chúa Thánh Thần

Một thần học lành mạnh và một khoa học lành mạnh đều sẽ công nhận định luật hấp dẫn và Chúa Thánh Thần đồng nhất về nguyên tắc. Không có tinh thần nào khác nâng đỡ vật chất ngoài tâm linh. Có một tinh thần nói thông qua cả luật hấp dẫn và bài giảng trên núi.

Nếu chúng ta nhận ra rằng cùng một Thần hiện diện trong mọi sự, trong tạo dựng vật chất, trong tình yêu, trong vẻ đẹp, trong tính sáng tạo của con người, trong luân lý của con người, thì chúng ta có thể quy tụ nhiều thứ hơn trong một căng thẳng sinh hoa trái thay vì đặt chúng trong thế đối lập và để các ơn ban khác nhau từ Thần của Thiên Chúa giao tranh với nhau. Như vậy nghĩa là gì?

Chúng ta có quá nhiều sự phân rẽ không lành mạnh trong đời. Chúng ta quá thường phải chọn giữa những điều vốn không nên đối lập nhau, và không may chúng ta thường rơi vào tình thế phải chọn một trong hai điều vốn tự thân đều tốt đẹp. Chúng ta sống trong một thế giới quá thường xuyên có cảnh tâm linh đối đầu vật chất, luân lý đối đầu tính sáng tạo, trí tuệ đối đầu giáo dục, chung thủy đối đầu tình dục, lương tâm đối đầu với lạc thú, trung tín đối đầu với nghệ thuật và thành công sự nghiệp.

Rõ ràng là có gì đó không ổn. Nếu một lực là Thần của Thiên Chúa, là nguồn sống duy nhất cho mọi sự này, thì rõ ràng chúng ta không nên rơi vào tình thế phải chọn lựa. Lý tưởng nhất, chúng ta nên chọn cả hai, bởi vì cũng một Thần nâng đỡ cả hai.

Có đúng vậy không? Thánh Thần là nguồn của trọng lực, nguồn của tình yêu? Đúng. Ít nhất, nếu chúng ta tin Kinh Thánh. Kinh Thánh bảo chúng ta, Thánh Thần vừa là lực vật chất vừa là lực tâm linh, nguồn của mọi thứ vật chất và tâm linh cùng một lúc.

Chúng ta gặp Thánh Thần trong dòng đầu tiên của Kinh Thánh: Lúc khởi đầu, đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Trong những chương đầu tiên của Kinh Thánh, Thánh Thần hiện diện như một lực vật chất, một làn gió từ miệng Thiên Chúa, không chỉ hình thành và tạo trật tự cho tạo dựng vật chất, mà còn là một sinh lực nền tảng của mọi sự, cả có sự sống và không có sự sống. Mất đi sinh khí là mọi thứ trở về với cát bụi.

Cổ nhân tin rằng trong mọi sự đều có linh hồn, và linh hồn đó là hơi thở của Thượng đế, giữ mọi thứ lại với nhau và đem lại ý nghĩa cho nó. Dù không hiểu, nhưng họ tin như thế, cũng như chúng ta ngày ngay tin vào sự vận hành của thế giới hạt nguyên tử, cách những hạt nhỏ xíu và những làn sóng năng lượng có điện ái lực, cách hydro tìm đến oxy, cách mà những năng lượng ở mức độ thực tế vật chất căn bản nhất đã có luật hấp dẫn và đẩy nhau hệt như cách con người làm. Cổ nhân không thể giải thích những điều này về mặt khoa học như chúng ta, nhưng như chúng ta, họ nhận ra rằng trong mọi sự đã có một dạng “tình yêu” dù là vô tri vô giác. Họ quy mọi chuyện này về hơi thở của Thượng đế, một làn gió từ miệng Thượng đế và cuối cùng ban sự sống cho đá, nước, động vật và con người.

Họ hiểu được, luồng hơi đem lại sự sống và tạo trật tự cho tạo dựng vật chất cũng là nguồn của mọi khôn ngoan, hòa hợp, bình an, sáng tạo, luân lý và trung tín. Hơi thở của Thiên Chúa được xem là vừa tinh thần vừa vật chất, vừa hợp nhất vừa sáng tạo, vừa khôn ngoan vừa táo bạo. Với cổ nhân, hơi thở của Thiên Chúa là một lực và không tự mâu thuẫn. Thế giới vật chất và thế giới không nên đối đầu nhau. Chúng ta hiểu, cùng một Thần là nguồn của cả hai.

Và chúng ta cần hỏi mọi sự theo cùng cách đó. Chúng ta cần để Thánh Thần trọn vẹn thổi sinh khi vào cuộc sống chúng ta. Ý nghĩa cụ thể của điều này là chúng ta không được để mình lấy sinh lực và động lực quá nhiều từ một phần của Thần đến mức làm tổn hại đến những phần khác của cùng một Thần.

Do đó, không nên có sáng tạo mà thiếu luân lý, giáo dục mà thiếu khôn ngoan, tình dục mà thiếu sự chung thủy, lạc thú mà thiếu lương tâm, và thành tựu sự nghiệp hay nghệ thuật mà thiếu sự trung tín cá nhân. Không kém quan trọng, cũng không nên có cuộc sống tốt đẹp cho một số người mà thiếu đi công lý cho tất cả mọi người. Nhưng ngược lại, chúng ta cần hoài nghi bản thân khi mình đạo đức mà thiếu sáng tạo, khi khôn ngoan của chúng ta sợ nền giáo dục phê phán, khi tâm linh của chúng ta thấy có vấn đề với lạc thú, và khi sự trung tín cá nhân của chúng ta quá đề phòng trước nghệ thuật và thành tựu. Một Thần là tác giả của mọi sự này. Do đó, chúng ta phải nhạy cảm tương đồng với một trong số chúng. Có người từng nói, dị giáo là một thứ đúng chín phần mười. Vấn đề của chúng ta với Thánh Thần cũng vậy. Khi không chấp nhận sự liên kết giữa luật hấp dẫn và bài giảng trên núi thì chúng ta luôn mãi tập trung vào sự thật cục bộ.

Ngoan đạo và hài hước

Ngoan đạo là kẻ thù của hài hước, ít nhất là mỗi khi có thứ gì đó không hẳn là ngoan đạo mà lại ngụy trang thành ngoan đạo. Tôi xin đưa ra một ví dụ: Tôi từng sống trong một cộng đoàn với một người nghiêm túc quá mức. Khi ai đó nói một câu chuyện cười thú vị, thì chúng tôi lại bị mất hứng vì câu hỏi “Cha kể chuyện như thế trước Thánh Thể được không?” Hỏi kiểu đó không chỉ làm mất vui người kể và câu chuyện cười của họ, mà còn làm cho không khí trở nên ngột ngạt.

Tôi muốn trả lời câu hỏi trên bằng một chuyện cười mà cha giáo tập ở Dòng Hiến sĩ từng kể cho chúng tôi, nói về sự mỉa mai vạch trần sự ngoan đạo giả tạo. Câu chuyện như thế này: Một cô gái chuẩn bị kết hôn và gia đình cô không đủ tiền thuê sảnh tiệc cưới. Vị linh mục giáo xứ hào phóng bảo họ cứ dùng phòng hội trước nhà thờ, có thể đem bánh kem đến và tổ chức tiệc. Cha của cô dâu hỏi họ có được đem rượu đến không. Linh mục trả lời: “Tuyệt đối không, không được uống rượu trong nhà thờ!” Cha của cô dâu phản đối: “Nhưng trong tiệc cưới Cana, Chúa Giêsu cũng uống rượu mà”. Vị linh mục dứt khoát: “Nhưng trước Thánh Thể thì không.”

Phải thừa nhận, hài hước có thể táo tợn, thô bỉ, xúc phạm và bẩn thỉu, nhưng mỗi khi xảy ra chuyện như vậy thì vấn đề thường nằm ở mỹ cảm hơn là ở nội dung câu chuyện đùa. Câu chuyện cười không mang tính xúc phạm vì nó nói về tình dục, tôn giáo hay một lãnh vực nào đó mà chúng ta xem là thiêng liêng. Hài hước mang tính xúc phạm khi nó vượt quá ranh giới của tôn trọng, thị hiếu và mỹ cảm. Hài hước mang tính xúc phạm khi nó là một nghệ thuật tồi. Nghệ thuật tồi thì vượt quá ranh giới của tôn trọng, đập thẳng vào mặt khán giả hay chủ đề của nó. Điều khiến câu chuyện cười mang tính xúc phạm hoặc bẩn thỉu là thời điểm nói ra, cách nói ra, đương sự bị nhắm đến, giọng điệu kể, hoặc thiếu nhạy cảm, hoặc sự đa diện của ngôn ngữ dùng để kể. Còn chuyện có kể trước Thánh Thể hay không, thì không phải là tiêu chí cho chuyện này. Nếu một câu chuyện cười không nên kể trước Thánh Thể thì cũng không nên kể trước mặt bất kỳ ai. Tiêu chuẩn đối với sự xúc phạm không nên nước đôi.

Và vì thế, lòng ngoan đạo tồi là kẻ thù của hài hước. Nó cũng là kẻ thù của cuộc sống trần tục mạnh bạo. Nhưng đó chỉ là với lòng ngoan đạo tồi, chứ không phải đối với lòng ngoan đạo đích thực. Lòng ngoan đạo đích thực là hoa trái của Chúa Thánh Thần, là sự tôn kính lành mạnh trước toàn thể sự sống. Sự tôn kính này, dù rất đáng trọng một cách lành mạnh, nhưng không bị xúc phạm bởi hài hước (thậm chí là dạng hài hước trần tục mạnh bạo), vì hài hước không phải là xúc phạm về mỹ cảm, cũng như khỏa thân nghệ thuật là lành mạnh, còn khỏa thân khiêu dâm thì không.

Sự nhạy cảm sai lầm đội lốt ngoan đạo cũng tước đi hết mọi tính tâm linh của hài hước. Khi làm thế, nó cũng biến Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các thánh trở nên những người không có hài hước, không còn trọn vẹn về mặt con người và lành mạnh. Một thầy dạy ở tập viện Hiến sĩ đã nói với các tập sinh chúng tôi rằng, trong Kinh thánh không có đoạn nào nói về chuyện Chúa Giêsu cười lớn. Cha bảo chúng tôi điều này để làm con đê cho sinh lực trẻ trung, tự nhiên đang nhảy lên của chúng tôi, như thể nó là một thứ cản trở với lòng đạo.

Sinh lực hài hước không phải là cản trở với lòng đạo. Ngược lại là đàng khác. Chúa Giêsu mẫu mực của những gì là nhân bản lành mạnh, và chắc chắn Ngài là một người vui vẻ, hăng hái và lành mạnh hoàn toàn, và những từ này hẳn sẽ không được dùng để nói về Ngài nếu như Ngài không có óc hài hước thật sự trần tục và lành mạnh.

Trong 15 năm qua tôi dạy môn Thần học về Thiên Chúa cho các chủng sinh và những người chuẩn bị bước vào công việc mục vụ. Tôi muốn dạy đủ mọi căn bản cần thiết trong giáo trình, như mặc khải Kinh thánh, sự thấu suốt của giáo phụ, các giáo lý quy chuẩn của hội thánh, và các quan điểm ức đoán từ các thần học gia đương thời. Nhưng trong mọi chuyện này, như một chủ đề lặp đi lặp lại trong một vở opera, tôi bảo các sinh viên thế này: Trong mọi việc giảng lễ, giảng dạy, mục vụ hay bất kỳ việc gì khác, đừng cố làm cho Thiên Chúa như người ngốc. Đừng cố làm cho Thiên Chúa như người thiếu trí thông minh, bè phái, nhỏ nhen, cứng ngắc, chủ nghĩa quốc gia, giận dữ hay sợ hãi. Dù muốn hay không, xét tận cùng, mọi bài giảng, mọi bài dạy về thần học, mọi việc phụng vụ, mọi việc mục vụ đều phản ánh một hình ảnh về Thiên Chúa. Và nếu trong bài giảng hay việc mục vụ của các bạn có gì đó kém lành mạnh, thì Thiên Chúa mà những việc này minh họa cũng có vẻ không lành mạnh. Một Thiên Chúa lành mạnh thì không nâng đỡ cho một thần học, một giáo hội học hay nhân học không lành mạnh.

Do đó, nếu dạy về một Chúa Giêsu không biết hài hước, thấy những thứ trần tục là xúc phạm, thấy khó chịu khi nghe từ tình dục, thấy ngại trước ngôn từ đa sắc, ngại mở miệng cười trước sự hóm hỉnh, hài hước, thì chúng ta đang làm cho Chúa Giêsu có vẻ cứng ngắc, câu nệ, ra vẻ, và không phải là một người mà chúng ta muốn ngồi cùng bàn.

Mười quyển sách hàng đầu của tôi trong năm 2023

Hàng năm, có hàng ngàn quyển sách mới xuất bản, nối tiếp hàng triệu quyển đã xuất bản trước đó. Và mỗi quyển sách phải tìm đến bạn không khác gì bạn tìm đến nó. Có thể nói quyển sách bạn cần đọc tìm đến bạn vào lúc bạn cần đọc nó nhất. Với nền tảng như vậy, tôi xin đưa ra mười quyển sách tìm đến tôi nhất trong năm 2023 vào đúng thời điểm thích hợp.

Trong lãnh vực tâm linh…

Tomas Halik, Chạm đến vết thương – Về đau khổ, tin tưởng và biến đổi (Touch the Wounds – On Suffering, Trust, & Transformation), quyển sách này lấy hình ảnh Chúa Giêsu trong Kinh thánh, Ngài mời Thánh tông đồ Tôma chạm vết thương của Ngài để thắng lòng tin kém cỏi, biến lời kêu gọi này thành lời kêu gọi chung cho mỗi chúng ta. Bạn có đang hoài nghi trong đức tin? Bạn hãy vươn ra và chạm đến những nơi mà Chúa Kitô vẫn còn mang thương tích trong thế giới chúng ta.

Karl Rahner, Những người tôi tớ Chúa (Servants of the Lord) Quyển sách này đã hơn 50 năm tuổi, nhưng vẫn đáng đọc và đọc lại. Quyển này có một bài với câu trứ danh của Rahner: Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, trong đời này, tất cả mọi hòa âm đều phải dang dở.

Bill Cain, Quyển sách của Cain (The Book of Cain). Đây là cái nhìn rất cá nhân của một tu sĩ Dòng Tên, đã viết nhật ký khi canh thức người mẹ hấp hối vì căn bệnh nan y. Quyển sách đầy những suy tư thấm thía về cuộc đời, tình yêu, sự bất toàn và buông bỏ.

Ben McBride, Xáo động dòng nước – Việc khẩn thiết của sự thuộc về tận căn (Troubling the Water – The Urgent Work of Radical Belonging). Đây là quyển sách về công bằng xã hội mà tôi khuyên nên đọc nhất trong năm nay. McBride làm việc với người nghèo ở Oakland, California, ngoài một vài lời khuyên thực tế về cách chúng ta phải dấn thân hơn nữa trong việc làm vì công lý, sức mạnh to lớn của quyển sách này là ông mời gọi chúng ta về mặt tâm hồn và thái độ khi làm việc vì công lý. Khoác lên vẻ thực tế cho ý nghĩa của làm việc với cộng đồng thay vì làm một lữ hành cô độc, ông cho thấy cách làm sao để duy trì bản thân trên chặng đường dài hơi và giữ vững tình đồng cảm trước áp bức và thù hận.

Connie Zweig, Công việc nội tâm của Tuổi già – Chuyển từ Nhiệm vụ sang Linh hồn (The Inner Work of Age – Shifting from Role to Soul), là quyển sách xuất sắc về tuổi già. Tiểu đề đã nói rõ: nhiệm vụ của tuổi già là chuyển từ vai trò sang linh hồn. Quyển sách có những gợi ý quý giá về cách để làm được việc đó.

Kim Colella, Ôm lấy tinh thần, Hồi ký từ sự chân thực của cuộc sống (Spirit Embraced, AS A Guiding Memoir for a Life Authentic). Đây là một quyển sách rất riêng tư, một hồi ký, lần theo hành trình của tác giả trong cuộc đời. Chúng ta trưởng thành như thế nào? Mỗi người đều có con đường riêng, nhưng bà Colella chia sẻ con đường bà đi và có nhiều điều chúng ta có thể học được. Tôi cũng tự hào nói, bà là một sinh viên tôi từng dạy.

Trong lĩnh vực hàn lâm hơn…

Brian Swimme, Khởi nguyên vũ trụ, Vén màn sự mở rộng của vũ trụ (Cosmogenesis, An Unveiling of the Expanding Universe). Dựa vào những tư tưởng gia thần học vĩ đại (như Pierre Teilhard de Chardin và Thomas Berry), Swimme, một nhà khoa học, đưa ra cái nhìn về cách vũ trụ khởi đầu, cách nó uốn mình trong sự tiến hóa vẫn đang diễn ra, và làm sao mà mọi chuyện này đều tóm lại trong một viễn tượng hy vọng đầy mạnh mẽ. Các nhà vật lý học thiên thể đương thời và Kinh Thánh có thể làm bạn với nhau. Brian Swimme sẽ cho chúng ta nối kết này.

Philip Sheldrake, Julian thành Norwich: Trong mắt Thiên Chúa – Thần học của ngài theo bối cảnh (Julian of Norwich: In God’s Sight – Her Theology in Context). Quyển này phần nào nặng về tính hàn lâm, nhưng nó là sách giáo khoa hàng đầu về Julian thành Norwich.

Lisabeth During, Dự tính Khiết tịnh (The Chastity Plot). Đây là lịch sử (về cơ bản rất công tâm) về khái niệm khiết tịnh trong văn hóa Tây phương. Từ các gốc rễ khổ hạnh của nó trong kitô giáo, đến các gốc rễ xã hội qua nhiều thế kỷ hôn nhân sắp đặt và phụ nữ thường là nạn nhân của chủ nghĩa gia trưởng, cho đến những gốc rễ tình cảm lãng mạn của nước Anh thời Victoria, quyển sách này nêu bật những sắc thái và thể thức khác nhau của khiết tịnh, đồng thời đặt ra cho chúng ta câu hỏi: Liệu thời nay có ai có thể nói lên chữ khiết tịnh mà không thấy e ngại không?

Về tiểu thuyết…

Năm 2023 là năm không tốt đẹp cho tôi về việc đọc tiểu thuyết. Dù tôi có đọc một vài tiểu thuyết, tất cả đều có đánh giá tốt, nhưng chỉ có một quyển thật sự đặc biệt đối với tôi, đó là quyển Không nơi nương tựa (Unsheltered) của Barbara Kingsolver.

Đặc biệt nhắc đến…

Học giả kinh thánh lừng danh Raymond E. Brown đã viết những tác phẩm đồ sộ về việc Chúa sinh ra và cái chết của Chúa Giêsu. Các nhà biên tập của Worship, nhận ra những bài chú giải này khó tiếp cận đối với những người ngoài môi trường học thuật, nên đã biên soạn thành những loạt sách nhỏ ngắn và được phổ biến rộng rãi. Raymond E. Brown đã làm quá tuyệt và để lại cho chúng ta năm quyển sách phổ biến (đều được nhà xuất bản Liturgical Press phát hành), chứa đựng những thấu suốt sâu sắc của ngài.

Đến với Chúa Kitô trong Mùa Vọng
Chúa Kitô trưởng thành lúc Giáng Sinh
Chúa Kitô chịu đóng đinh trong Tuần Thánh, những bài về bốn trình thuật thương khó.
Chúa Kitô sống lại trong mùa Phục Sinh
Thánh Thần đã đến và sẽ đến trong Lễ Hiện Xuống

Chúng là một kho báu đáng để đọc hàng năm vào mùa thích hợp.

Chúc mừng Giáng Sinh An lành hay Chúc mừng Mùa lễ

Gieo nhân nào gặt quả đó, có vẻ vậy. Ngày xua tín hữu kitô lấy lễ hội của dân ngoại và thánh hóa thành dịp để mừng Chúa Giáng sinh và bây giờ thế giới thế tục đang làm lại như vậy.

Quyết định mừng Chúa Giáng sinh ngày 25 tháng 12, không dựa trên sự tính toán chính xác ngày Chúa Giêsu sinh ra, nhưng nguồn gốc của nó như sau. Ở vào thời Rôma đa thần, ngày 25 tháng 12 là ngày lễ mừng Mặt trời Bất diệt, đánh dấu thời gian ngày dài hơn đêm. Lễ hội này nối tiếp lễ hội mừng thần Saturn, thời điểm mọi người mở tiệc và tặng quà cho nhau. Giáo hội Rôma bắt đầu mừng Giáng Sinh ngày 25 tháng 12 (vào khoảng những từ năm 306 đến năm 337) dưới triều đại đế Constantinople, đại đế kitô giáo đầu tiên, với mục đích có lẽ để làm suy yếu truyền thống dân ngoại.

Các tín hữu kitô đã thánh hóa ngày lễ của dân ngoại, và đến thời nay, chúng ta thấy chuyện ngược lại. Càng ngày lễ Giáng sinh càng mất biểu tượng và hàm ý tôn giáo. Ông già Noel đã thay thế Chúa Hài Đồng, bài Rocking around the Christmas tree đã thay thế Come all ye faithful và bài I’m Dreaming of a White Christmas thay thế bài Silent Night. Câu Merry Christmas (Chúc mừng Giáng Sinh An lành) đã thành câu Season’s Greetings (Chúc mừng Mùa lễ). Vì sao lại có chuyện này?

Trước hết, xã hội chúng ta ngày càng thế tục hóa. Ngày càng ít người thấy mình được cuốn hút về mặt tôn giáo qua câu chuyện Giáng Sinh, cho dù họ vẫn xem mùa Giáng Sinh là thời gian đặc biệt trong năm. Họ đánh giá cao mùa lễ này vì mùa này nêu bật biểu tượng tình yêu, vì việc tặng quà, sắc màu, vì nét đặc biệt và việc ăn mừng, nhưng họ thích nhấn mạnh những chuyện này hơn là ý nghĩa liên quan đến Chúa Kitô.

Tuy nhiên, trong sự thế tục hóa này, có một số người âm mưu loại bỏ nguồn gốc của việc mừng lễ Giáng Sinh. Cơ bản họ phê phán như sau: “Chúng ta là một nền văn hóa thế tục, đâu phải nền văn hóa kitô giáo, và thật bất công khi những người ngoài kitô giáo phải nêu bật khía cạnh tôn giáo (kitô giáo) của mùa lễ này. Làm vậy là xúc phạm đến người do thái, người hồi giáo, phật giáo, người theo thuyết bất khả tri hoặc những người không có tín ngưỡng. Với sự đa nguyên của xã hội, chúc “Giáng Sinh an lành” có thể là lời chúc mang tính đế quốc chủ nghĩa, hạn hẹp và không thật sự tôn trọng người khác”.

Câu này đúng đến mức nào? Nó cũng có lý, dù cũng sai lầm sâu đậm. Tại sao lại vậy? Trước hết, lời phê phán này không đến từ người do thái, người hồi giáo và ngoài kitô giáo. Chủ yếu là từ những người nhạy cảm quá đáng và thiếu lành mạnh nơi các tín hữu kitô hoặc từng là kitô hữu. Phải thừa nhận chúng ta có một nền văn hóa đa nguyên và thế tục. Nhưng chẳng lẽ kitô hữu không có quyền mừng Chúa Giáng sinh với mọi ngôn ngữ, biểu tượng và nghi thức thích đáng sao? Không ai ganh tị với việc người do thái có quyền mừng lễ Hanukkah, hay người hồi giáo có quyền mừng lễ Ramadan. Tại sao lễ của kitô giáo lại không được như vậy?

Chúng ta cần đưa ra một câu hỏi quan trọng này. Ưu tư dành cho sự công bằng và quan tâm đến người khác này, chủ yếu là do thật lòng quan tâm đến cảm thức của người khác hay do mang động cơ (dù có thể vô thức) từ những cảm giác nào đó về bản thân, cụ thể một sự kết hợp không lành mạnh giữa tự ghét mình, một phải lẽ chính trị quá trớn và sự tự đại tuổi dậy thì nào đó không? Chúng ta dễ bị rơi vào kiểu tự ghét mình, khi chúng ta công bằng với mọi truyền thống khác trừ truyền thống của chính mình, chúng ta dễ bị rơi vào kiểu phải lẽ chính trị quá trớn khi không có những ranh giới thường thức cho sự nhạy cảm của mình, và dễ rơi vào thứ có thể gọi là tự đại tuổi dậy thì, khi chúng ta chỉ thấy lỗi lầm của cha mẹ, chứ không thấy những đức tính hay những gì chúng ta mang ơn họ.

Chúng ta cần phải nhạy cảm với tha nhân, nhận ra và chấp nhận mình không thể áp đặt lễ mừng của kitô giáo lên những ai không chia sẻ cùng đức tin vào Chúa Giêsu Kitô với chúng ta. Nhưng xã hội cũng phải công bằng với chúng ta và để chúng ta mừng Chúa Giáng sinh như một ngày lễ tôn giáo. Thật sự lý ra chẳng có gì là căng thẳng. Chẳng ai nên trách người khác vì người đó nói Chúc mừng Giáng Sinh An lành hay Chúc mừng Mùa lễ. Bài Silent Night có thể mở lên cùng bài White Christmas. Chắc chắn Chúa Giêsu sẽ rất hợp với Ông già Noel. Tình yêu, niềm vui, quà tặng và những ánh đèn sắc màu sẽ có tác động đến tâm hồn, và tác động đó thế nào là tùy vào tâm hồn đó có gì. Với một số tâm hồn, các bài này nói lên Giáng Sinh An lành, với những tâm hồn khác, chúng sẽ nói Chúc mừng Mùa lễ, và với một số tâm hồn, chúng sẽ nói cả hai. Chúng ta nên thấy như thế là tốt.

Vậy nên, các tín hữu kitô hãy mừng Giáng Sinh như sinh nhật Chúa Kitô mà không cần phải biện bạch hay biện giải gì cả. Thế giới thế tục không có quyền ngăn chúng ta nói Giáng Sinh An lành và mừng sinh nhật Chúa Kitô với hang đá, thánh ca, những biểu tượng và nghi thức nói lên sự giáng sinh của Chúa Giêsu. Việc mừng lễ kitô giáo của chúng ta đâu có loại trừ sự ăn mừng thế tục, những ánh đèn Giáng Sinh, trang trí, Ông già Noel diễn hành, tặng quà, tiệc tùng và cây thông Noel. Tất cả đều có giá trị và là những cách tốt đẹp để mừng Giáng Sinh. Đúng, chúng ta lấy lễ này từ dân ngoại, họ có quyền lấy lại phần nào. Hơn nữa, ngoại giáo và kitô giáo đôi khi cũng là một hòa trộn phong phú. Và cũng đừng quên, thế giới tính thời gian theo sự giáng sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta đang ở năm 2023 kể từ thời điểm lịch sử đó. Một sự kiện trọng đại đến thế chẳng xứng đáng được mừng gấp đôi sao? Vừa Giáng Sinh An lành vừa Mừng Mùa lễ.

Thánh Giuse và câu chuyện Giáng Sinh

Có vô số người, vương cung thánh đường, nhà thờ, đền thánh, chủng viện, tu viện, thị trấn và thành phố được đặt tên Thánh Giuse. Quê hương Canada của tôi nhận ngài làm đấng bảo trợ.

Vậy chính xác Giuse này là ai? Ngài là nhân vật lặng lẽ trong câu chuyện Giáng Sinh, với tư cách chồng của Đức Mẹ và nghĩa phụ của Chúa Giêsu, rồi sau đó, ngài không còn được nhắc đến lần nào nữa. Hình ảnh của lòng mộ đạo bình dân có về ngài là hình ảnh của một người lớn tuổi, bảo vệ cho Đức Mẹ, người thợ mộc, khiết tịnh, thánh thiện, khiêm nhường, lặng lẽ, thánh bảo trợ hoàn hảo cho người lao động chân tay và những nhân đức thầm lặng, hiện thân của đức khiêm nhường.

Chúng ta thật sự biết được gì về ngài?

Trong phúc âm Thánh Matthêu, việc thụ thai Chúa Giêsu được báo cho Thánh Giuse thay vì cho Đức Maria. Trước khi họ đến với nhau, Đức Maria đã có thai nhờ Chúa Thánh Thần. Giuse, chồng bà là người ngay thẳng và không muốn làm cho bà phải hổ thẹn, nên đã quyết định âm thầm tuyệt hôn với bà, vừa lúc đó một thiên thần xuất hiện trong giấc mơ và bảo ngài đừng sợ cưới Đức Maria về làm vợ, rằng đứa bé trong bụng Đức Maria được thụ thai nhờ Thánh Thần.

Đoạn này nói lên điều gì?

Hầu hết là những điều mang tính tượng trưng. Thánh Giuse trong câu chuyện Giáng Sinh rõ ràng làm chúng ta liên tưởng đến Giuse trong Cựu Ước, cũng được báo mộng, cũng đi Ai Cập, cũng cứu gia đình. Cũng như vậy, vua Hêrôđê rõ ràng là tái hiện vua Pharaô Ai Cập, cả hai đều cảm thấy bị đe dọa, đều giết con trai người do thái, nhưng Thiên Chúa đã bảo vệ mạng sống của họ, sẽ cứu họ.

Nhưng sau tính biểu tượng đó, Thánh Giuse trong câu chuyện Giáng Sinh còn có câu chuyện riêng của ngài. Ngài được cho là người “ngay thẳng”, theo các học giả, đây là cách gọi ngụ ý ngài tuân theo Lề luật của Thiên Chúa, tiêu chuẩn thánh thiện tối cao của người do thái. Về mọi mặt, ngài không có gì đáng trách, ngài là gương mẫu của sự tốt lành, thể hiện qua việc ngài không muốn vạch trần để làm nhục Đức Maria, dù ngài quyết định sẽ âm thầm tuyệt hôn.

Về mặt lịch sử, chuyện gì đã xảy ra?

Theo những gì chúng ta có thể làm tái hiện, thì bối cảnh mối quan hệ giữa thánh Giuse và Đức Maria là như sau. Phong tục hôn nhân thời đó là khi đến tuổi dậy thì, người phụ nữ trẻ sẽ được cha mẹ sắp xếp gả cho một người đàn ông, thường là lớn hơn vài tuổi. Họ sẽ hứa hôn, về căn bản là thành vợ chồng, nhưng chưa sống với nhau và chưa có quan hệ tình dục trong vài năm. Luật do thái đặc biệt nghiêm ngặt về chuyện hai người phải giữ khiết tịnh trong thời gian hứa hôn. Trong thời gian này, người thiếu nữ sẽ tiếp tục sống với cha mẹ mình, còn người đàn ông sẽ đi dựng nhà và tìm một nghề nghiệp để có thể chu cấp cho vợ sau khi hai người sống chung.

Thánh Giuse và Đức Maria đang ở giai đoạn này, là vợ chồng về pháp lý, nhưng chưa sống với nhau, thì Đức Maria có thai. Thánh Giuse biết đứa con không phải của mình, như thế là có vấn đề. Nếu ngài không phải là cha đứa trẻ, vậy ai là cha đứa bé? Để giữ thanh danh của mình, ngài có thể yêu cầu điều tra công khai, và làm Đức Maria sẽ bị cáo buộc tội gian dâm, đồng nghĩa với cái chết. Nhưng ngài quyết định “lặng lẽ tuyệt hôn”, nghĩa là tránh cuộc điều tra công khai có thể sẽ làm cho Đức Maria bị rơi vào tình cảnh khó xử và tình thế nguy hiểm.

Rồi sau khi được báo mộng, ngài đồng ý đưa Đức Maria về nhà mình làm vợ, đặt tên con như con của mình, như thế là nhận mình là cha đứa trẻ. Khi làm như thế, ngài giúp Đức Maria không bị bẽ mặt, thậm chí còn cứu cả mạng sống cho Đức Maria, và ngài cho đứa trẻ sắp sinh ra có một vị thế được đón nhận về mặt tôn giáo, xã hội, vật chất, đồng thời nuôi dạy đứa trẻ. Nhưng ngài còn làm một việc khác nữa, một việc không hữu hình bằng. Ngài cho thấy người ta có thể là một tín hữu ngoan đạo, đầy đức tin vào mọi sự trong tôn giáo của mình, nhưng đồng thời lại mở lòng với một mầu nhiệm vượt quá tầm hiểu tôn giáo và nhân văn của mình.

Đây chính là vấn đề đối với nhiều tín hữu kitô, kể cả Thánh Matthêu, vào thời điểm các Phúc âm được viết. Họ là những người do thái tận tâm không biết làm sao để đưa Đức Kitô vào khung tôn giáo vốn có của mình. Khi Thiên Chúa đi vào đời sống con người theo những cách mới mẻ thì không thể tưởng tượng nổi, con người phải làm gì? Với một khái niệm bất khả thi, chúng ta phải làm thế nào? Thánh Giuse là một gương mẫu. Như thần học gia Raymond Brown nói: “Nhân vật chính trong câu chuyện sơ khai của thánh Matthêu là thánh Giuse, một người do thái tuân theo Lề luật nhưng nhạy bén. Trong Thánh Giuse, thánh sử đã họa nên điều mà ngài nghĩ một người do thái (ngoan đạo thật sự) nên là, và có lẽ cũng là điều mà ngài đã sống như vậy”.

Về căn bản, Thánh Giuse dạy chúng ta cách sống trong lòng trung tín yêu thương với mọi sự mà chúng ta bám vào về mặt nhân bản hay tôn giáo, đồng thời chúng ta cũng mở lòng với mầu nhiệm của Thiên Chúa sẽ đưa chúng ta vượt ra ngoài mọi phạm trù thực hành và tưởng tượng tôn giáo. Và đây chẳng phải là thách thức thật sự của Giáng Sinh hay sao?

Thắp lên ngọn nến mùa Vọng

Vào thời phân biệt chủng tộc ở Nam Phi, các tín hữu kitô ở đó dùng ánh nến đặt ở bệ cửa sổ làm dấu hiệu họ tin đến một ngày nào đó sự bất công này sẽ chấm dứt. Một ngọn nến thắp ở cửa sổ là dấu chỉ của hy vọng và đồng thời là một tuyên bố chính trị. Chính quyền không bỏ qua thông điệp này. Họ đã ra luật mới, tuyên bố việc đặt nến ở bệ cửa sổ là phạm pháp, tội danh tương đương với tàng trữ súng, cả hai đều bị xem là nguy hiểm ngang nhau. Chuyện này cuối cùng trở thành chuyện cười cho trẻ con: “Chính quyền chúng ta sợ những ngọn nến kìa!”

Nhưng đúng là phải sợ! Hơn cả vũ khí, chính những ngọn nến đã lật đổ chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi. Đến tận cùng, chỉ có hy vọng, chứ không phải súng đạn, mới biến đổi mọi sự. Thắp lên một ngọn nến là hành động của hy vọng, nói với chính mình và với người khác, dù tình hình trên thế giới hiện nay có như thế nào, chúng ta vẫn có thể nuôi một viễn tưởng về hòa bình và hiệp nhất dựa trên một điều gì đó vượt quá tình trạng hiện thời của mọi sự, dựa trên những hiện thực và quyền lực lớn hơn những gì thế giới thừa nhận. Thắp lên ngọn nến là lời tuyên bố công khai, đến cùng chúng ta vẫn tin những gì chúng ta thấy trên bản tin mới nhất trong ngày, sẽ không phải là cái định đoạt kết cục cuối cùng của mọi sự. Có những quyền lực khác cũng đang hoạt động. Thắp lên một ngọn nến là hành động phản kháng về chính trị và là hành động của hy vọng.

Hy vọng là gì?

Trước hết, hy vọng không phải là mơ tưởng hão huyền. Tôi có thể mơ mình trúng số, nhưng ước mơ đó tự nó không có sức mạnh để biến chuyện này thành sự thật. Thứ hai, hy vọng không phải là chủ nghĩa lạc quan đơn thuần, không phải là tính tình của một người luôn thấy được mặt tốt của mọi chuyện. Tinh thần lạc quan không chút dao động về mọi sự đôi khi có thể hữu ích, nhưng nó không phải là cơ sở của hy vọng. Cũng như mơ tưởng hão huyền, nó thiếu sức mạnh để biến ước mơ thành hiện thực. Cuối cùng, hy vọng không phải chỉ là quan sát và lẽ phải thông thường, không phải là dạng tài năng tìm ra được cái có thật từ trong cái sai. Nó hữu dụng đấy, nhưng vẫn không phải là hy vọng. Tại sao lại không?

Bởi vì hy vọng không đặt trên sự đánh giá sắc sảo của các sự thật theo kinh nghiệm, mà đặt trên niềm tin vào một hệ thực tế sâu xa hơn. Sự hiện hữu của Thiên Chúa, quyền năng và sự nhân lành của Thiên Chúa, cùng lời hứa phát xuất từ đó.

Có một câu chuyện về thần học gia Pierre Teilhard de Chardin có thể giúp chúng ta làm rõ hơn chuyện này. Teilhard de Chardin không bị cho là người mơ tưởng hão huyền hay người lạc quan, nhưng đúng hơn là người hiện thực cô độc. Nhưng cha là người của một hy vọng đích thực. Chẳng hạn trong một dịp nọ, sau khi phát biểu trong một hội nghị về một viễn tượng trong đó sự hiệp nhất và hòa bình tối hậu sẽ đến trên trái đất này theo cách tương tự như viễn tượng của Kinh thánh, có một đồng nghiệp đặt ra cho cha thách thức thế này: “Đây là một viễn tượng lý tưởng, rất tuyệt vời, nhưng giả sử chúng ta phá tan thế giới bằng bom nguyên tử, thì ước vọng đó sẽ như thế nào?” Cha Teilhard trả lời: “Thế thì mọi chuyện sẽ bị đẩy lùi hàng triệu năm, nhưng nó vẫn sẽ đến hồi thành tựu, không phải vì tôi nói thế hay những sự thật hiện thời cho thấy sẽ như thế, nhưng vì Thiên Chúa đã hứa như thế và trong sự phục sinh của Chúa Giêsu đã cho thấy, Ngài đủ quyền năng để thực hiện lời hứa đó”.

Như chúng ta có thể thấy từ chuyện này, hy vọng cần cả đức tin và nhẫn nại. Nó hoạt động như men, chứ không phải như lò vi sóng. Ông Jim Wallis, nhà sáng lập tạp chí Sojourners đã mô tả một cách sinh động: “Mọi chính trị gia đều như nhau, họ nhìn xem hướng gió thế nào, rồi ngả theo hướng đó. Dù có đổi chính trị gia nào, thì chuyện đó sẽ không bao giờ thay đổi. Vậy nên chúng ta phải thay đổi luồng gió! Việc của hy vọng là thế, là thay đổi chiều gió!”

Khi nhìn vào những gì đã thay đổi về mặt tinh thần trong thế giới này, từ những truyền thống tôn giáo lớn phát xuất từ các hoang mạc, hang động và hầm mộ đã giúp lên men toàn bộ nhiều nền văn hóa, cho đến chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã bị lật đổ ở Nam Phi, chúng ta thấy rằng những chuyện này xảy ra khi có những cá nhân và nhóm người thắp lên những ngọn nến và hy vọng đủ lâu cho đến khi chiều gió thay đổi.

Chúng ta thắp lên những ngọn nến Mùa Vọng với tâm thức này, chấp nhận thay đổi chiều gió là một tiến trình lâu dài, rằng những bản tin mới nhất không phải lúc nào cũng tích cực, thị trường chứng khoán không phải lúc nào cũng tăng, những hệ thống quốc phòng tinh vi nhất thế giới không phải lúc nào cũng bảo vệ được chúng ta khỏi khủng bố, và những hệ tư tưởng bảo thủ hay tự do sẽ không thể loại bỏ tính ích kỷ ra khỏi hành tinh này.

Tuy nhiên, chúng ta tiếp tục thắp lên những ngọn nến, vẫn tiếp tục hy vọng, không phải trên cơ sở là tình hình đang tốt hơn hoặc xấu hơn, nhưng với hiện thực thâm sâu nhất là Thiên Chúa hiện hữu, cốt lõi vẫn được giữ vững, có một Thiên Chúa nhân từ cai quản toàn thể vũ trụ này, và Thiên Chúa này đủ quyền năng để sắp xếp lại những nguyên tử trên hành tinh và cho xác chết sống lại. Chúng ta thắp lên những ngọn nến vì Thiên Chúa, Đấng quyền năng tối thượng, đã hứa sẽ thiết lập vương quốc yêu thương và hòa bình trên trái đất này, và cũng là Đấng nhân từ, đầy tha thứ và đủ quyền năng để cuối cùng biến nó thành hiện thực.

Cái tôi giày vò và quá đỗi phức tạp của chúng ta

Nói cho cùng, cuộc đời chúng ta đâu phải chỉ có bình yên và thanh thản. Có thể nói, chúng ta luôn phần nào thê thảm. Nhưng chuyện đó không nên làm chúng ta sợ hãi. Thê thảm không phải là một từ miệt thị. Từ này có gốc Hy Lạp là pathos, nghĩa là đau đớn. Thê thảm nghĩa là sống trong đau đớn, và chúng ta đều như thế bởi vì chúng ta được tạo nên như thế.

Có lẽ các bạn sẽ nghĩ như thế thì chẳng hợp lý gì cho lắm. Chúng ta được tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên chẳng phải mỗi người chúng ta, dù cuộc sống có thảm đến đâu thì vẫn mang một phẩm giá đặc biệt và tính thần thiêng nào đó trong người sao? Chúng ta có phẩm giá đặc biệt đó thật. Tuy nhiên, bất chấp những chuyện này, và phần lớn lại là do những chuyện này, cuộc sống của chúng ta có khuynh hướng phức tạp cũng như đầy đau đớn. Tại sao lại như vậy?

Không dễ để mang lấy sự thần thiêng. Sự vô hạn trong chúng ta không dễ tương hợp với cái hữu hạn. Chúng ta mang trong mình một ngọn lửa quá thần thiêng, đến nỗi khó mà tìm được sự bình an trong đời này.

Sự đấu tranh đó đã bắt đầu có từ đầu đời. Để tạo cái tôi cho một đứa bé còn rất nhỏ, chúng ta cần một loạt truyền thụ về tinh thần và đến cuối cùng, nó lại hạn chế ý thức của chúng ta. Trước hết, chúng ta cần phân biệt bản thân và người khác (kia là mẹ, đây là mình), rồi chúng ta cần phân biệt giữa cái có sự sống và cái không có sự sống (con chó thì sống, con búp bê thì không), tiếp theo, chúng ta cần phân biệt giữa cái vật chất và cái ý thức (đây là cơ thể mình, nhưng tâm trí mới giúp mình suy nghĩ). Cuối cùng, và quan thiết nhất, khi làm mọi chuyện này, chúng ta cần chia ra cái mà chúng ta có thể xử lý một cách có ý thức và cái vượt quá tầm xử lý có ý thức của mình. Từ đó, chúng ta tạo nên cái tôi, nhưng chúng ta còn tạo nên một cái bóng, cụ thể là một vùng trong chính mình, tách biệt khỏi ý thức của mình.

Và chúng ta phải lưu ý, cái bóng của chúng ta, trước hết và trên hết, không phải là bóng tối lẩn khuất. Đúng hơn, nó là mọi sự sáng và sinh lực trong bản thân mà chúng ta không thể xử lý một cách có ý thức. Tôi cho rằng hầu hết chúng ta đều quen thuộc với những lời của bà Marianne Williamson, đã được Nelson Mandela trích dẫn trong bài diễn văn nhậm chức: Nỗi sợ thâm sâu nhất của chúng ta không phải là sợ chúng ta bất đạt. Nỗi sợ thâm sâu nhất của chúng ta là sợ chúng ta mạnh quá mức. Chính ánh sáng, chứ không phải bóng tối, mới là điều làm chúng ta sợ nhất.

Ánh sáng trong chúng ta làm chúng ta sợ, vì nó chính là điều không dễ mang lấy. Nó cho chúng ta phẩm giá cao quý và sự thâm sâu vô hạn, nhưng nó cũng cho chúng ta sự phức tạp và khắc khoải thảm thê. Bà Ruth Burrows, một trong những ngòi bút thiêng liêng hàng đầu của thời chúng ta, đã mở đầu tự truyện của bà như sau: Tôi được sinh ra trong thế giới này với sự nhạy bén bị giày vò và cuộc sống của tôi chẳng dễ dàng gì. Các bạn sẽ không ngờ một nhà thần nghiệm, một nữ tu bền đỗ hơn 70 năm cuộc đời, lại nói câu này. Các bạn cũng sẽ không ngờ rằng trong cuộc sống bà phải đấu tranh ánh sáng bên trong mình không khác gì đấu tranh với bóng tối bên trong và bao quanh mình. Điều này cũng đúng với mỗi chúng ta.

Trong sách Giảng viên, có một câu nhiều người biết, nói rằng Thiên Chúa làm cho mọi thứ trở nên đẹp đẽ vào đúng thời đúng điểm của nó. Tuy nhiên, đoạn đó không kết thúc theo một cách êm đềm. Đoạn kết nói rằng trong khi Thiên Chúa làm cho mọi thứ trở nên đẹp đẽ vào đúng thời đúng điểm của nó, Ngài cũng đưa sự vô tận vào tâm hồn con người, nên từ đầu đến cuối, từ bẩm tính, chúng ta cứ lạc nhịp với thời gian và các thời. Cả phẩm giá đặc biệt và sự phức tạp bệnh hoạn của chúng ta đều có nguồn gốc nơi sự bất thường trong bản tính chúng ta. Chúng ta cưu mang quá nhiều, vượt quá cuộc sống đời này.

Thánh Augutinô diễn tả một cách kinh điển: Lạy Chúa, Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài. Câu này tóm gọn cả nhân học và linh đạo. Phẩm giá và sự khắc khoải luôn mãi của chúng ta có cùng một nguồn gốc.

Vì thế chúng ta cần tự cho mình sự chấp thuận thần thiêng để có một tâm hồn hoang dại, khắc khoải, vô độ, phức tạp và đầy xung lực. Cả tâm lý học và linh đạo quá thường xuyên phụ lòng chúng ta khi cho chúng ta ấn tượng mình nên sống mà không có những hỗn loạn và khắc khoải. Phải thừa nhận rằng khi chúng ta bất đạt về tinh thần thì những thứ này có thể bủa vây chúng ta dữ dội hơn nữa, nhưng dù cho chúng ta có sống tốt thế nào đi nữa, thì nó vẫn cứ bủa vây chúng ta. Sự thật là, nếu chúng ta là người nhạy cảm sâu sắc, thì có lẽ chúng ta sẽ cảm nhận sự phức tạp của mình rõ ràng hơn một người thiếu nhạy cảm hoặc đã làm tê dại sự nhạy cảm bằng những thứ xao lãng khác.

Một người bạn từng viết thư cho Karl Rahner, phàn nàn rằng mình đã không tìm được sự viên mãn mà ông mong mỏi trong đời. Ông bày tỏ sự thất vọng với chính mình, với cuộc hôn nhân và công việc của mình. Rahner mới viết thư khuyên rằng: Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, trong đời này, tất cả mọi hòa âm đều phải dang dở. Trong đời này, không thể có hòa âm trọn vẹn, và lý do không phải bởi linh hồn của chúng ta khiếm khuyết, mà là bởi chúng mang trong mình sự thần thiêng.

Tưởng niệm Richard “Rick” Gaillardetz

Không cộng đồng nào phải làm hỏng các tang lễ của mình. Triết gia, sử gia Mircea Eliade (1907-1986) đã nói như thế. Hàm ý của ông là sự thật, những gì chúng ta không dâng mừng thì chúng ta sẽ sớm không còn trân trọng.

Với tâm thức đó, tôi muốn nêu bật, chúng ta, cả cộng đồng tôn giáo lẫn thế tục cần phải tôn vinh và trân trọng khi khóc thương cho Richard Gaillardetz vừa mới qua đời (1958-2023).

Richard, hay thường được gọi là “Rick”, là người chồng, người cha, người bạn, và (theo hầu hết mọi mặt) là nhà giáo hội học trong thế giới nói tiếng Anh. Ông dạy ở Đại học Boston, nhưng đi giảng gần như mọi nơi, cả với tư cách giáo sư giảng dạy và diễn giả nổi tiếng. Vượt ngoài tầm vóc hàn lâm, ông còn có lòng nhân đạo, vững vàng tỉnh táo, trí tuệ sắc sảo cùng sự nồng hậu tự nhiên, sự thân thiện và hài hước làm cho ông rất dễ gần và luôn có người ở gần. Ông đem lại bầu khí điềm đạm và yên bình cho mọi người.

Để nêu bật những cống hiến của ông, chúng ta cần nói về mặt nào đây? Chúng ta không nên làm hỏng những gì khi thương tiếc cái chết của ông? Chúng ta phải tôn vinh những gì để tiếp tục trân trọng?

Có nhiều điều cần phải nêu bật, tất cả đều mang tính tích cực, nhưng tôi muốn tập trung vào bốn món quà phi thường mà ông đem lại cho chúng ta.

Trước hết, ông là một thần học gia đã tích cực hoạt động để nối liền khoảng cách giữa giới hàn lâm và giới bình dân. Rick là nhà hàn lâm rất được trọng vọng. Tầm học thuật của ông thì không thể bàn cãi. Nhưng ông lại rất được ưu ái trong tư cách diễn giả đại chúng về tâm linh và chưa hề hy sinh tính học thuật để đổi lấy tầm đại chúng. Sự kết hợp này được cả giới hàn lâm và giới bình dân thông hiểu cũng như tôn trọng, đây là điều hiếm có (khi mà khó để đơn giản nhưng không tối giản) và cũng là một nguy cơ lớn (khi mà tư cách diễn giả đại chúng thường làm cho đồng nghiệp hàn lâm nghi ngờ). Rick đã nhận lấy nguy cơ đó vì ông muốn nền học thuật của mình phục vụ cho toàn thể cộng đồng, chứ không phải chỉ cho những người đủ may mắn để ngồi trong trường lớp đại học.

Thứ hai, ông là nhà giáo hội học đã dùng tính hàn lâm của mình để hiệp nhất thay vì chia rẽ. Giáo hội học là nghiên cứu về giáo hội, nhưng chủ nghĩa giáo phái vẫn đang chia rẽ các tín hữu kitô của chúng ta. Sự chia rẽ giữa chúng ta chủ yếu là về mặt giáo hội. Trong hầu hết mọi chuyện khác, chúng ta đều chung lòng với nhau. Chúng ta cùng chung Chúa Giêsu, chung Kinh Thánh, chung Phép Thánh Thể (trong nhiều thể thức khác nhau), chung một đấu tranh để trung thành với giáo huấn của Chúa Giêsu, và chung nhiều đấu tranh về nhân bản, xã hội và luân lý. Linh đạo hiệp nhất chúng ta, nhưng tính giáo hội vẫn chia rẽ. Công trình của Rick trong ngành giáo hội học là hơi thở tươi mát giúp chúng ta vượt lên nhiều thế kỷ chia rẽ. Ông yêu mến phái công giáo la-mã của ông, nhưng ông hoàn toàn trân trọng các giáo phái khác. Bí quyết của ông là gì? Ông không chỉ để tâm vào thần học của Giáo hội, mà ông còn để tâm vào linh đạo của Giáo hội.

Thứ ba, ông là một người yêu mến Giáo hội, dù trong tình yêu này ông có thể phê phán Giáo hội một cách lành mạnh khi đáng bị chỉ trích. Tôi đã dự buổi diễn thuyết cuối cùng của ông tháng 9 năm ngoái, ông mở đầu bằng những lời này: Tôi là một người công giáo do cha mẹ sinh ra, rồi do lựa chọn và bây giờ là do tình yêu. Ông tiếp tục chia sẻ về việc Giáo hội công giáo là tình yêu lớn nhất trong đời ông, và cách Giáo hội đã cho ông nhiều lần vỡ mộng và đau đớn. Ông thách thức chúng ta yêu thương Giáo hội và đồng thời phê phán Giáo hội. Điều này cho thấy một tâm hồn cao cả và một trí tuệ phi thường. Có người có thể yêu Giáo hội mà không hề thấy lỗi lầm gì của Giáo hội, và cũng có người có thể thấy lỗi lầm của Giáo hội mà chẳng bao giờ yêu Giáo hội. Rick thì có thể làm cả hai.

Cuối cùng, ông là người đối diện cái chết với đức tin, dũng khí và tôn nghiêm, xứng đáng là gương mẫu cho chúng ta. Cách đây 18 tháng, Rick bị chẩn đoán mắc ung thư tụy giai đoạn cuối. Ông biết nếu không có phép lạ thì ông sẽ không sống qua nổi hai năm. Bất chấp bao đau khổ và đấu tranh nội tâm để cố chấp nhận chuyện này, suốt 18 tháng qua, mọi lời ông nói, mọi việc ông làm, và mọi bài diễn thuyết đều thể hiện một đức tin, đức cậy, đức dũng và lòng quan tâm đến người khác. Ông viết nhật ký trong thời gian này và những trang nhật ký đó sẽ sớm được đăng, đóng góp vào món quà lớn cuối cùng mà Rick đem lại cho Giáo hội và thế giới.

Tôi muốn kết thúc bài tưởng niệm ông với giai thoại mà tôi nghĩ ông sẽ hài lòng, xem nó như một nét vui tươi cho bài điếu văn. Vài năm trước, tôi đi nghe Rick diễn thuyết ở một đại học gần nhà. Người giới thiệu ông là thần học gia nổi tiếng Bernard J. Lee của Tu hội Nữ tử Đức Maria. Sau khi nêu lên những thành tựu hàn lâm của Rick, Lee quay qua hỏi ông: “Richard, làm thế nào ông đọc nổi cái họ Gaillardetz của ông vậy?”

Dù cái họ của ông phải đọc thế nào, hay viết thế nào, thì Richard Gaillardetz chắc chắn là một kho báu thần học mà chúng ta đã mất đi quá sớm.

Bình dân và học thuật

Tôi sống ở hai bờ biên giới. Không phải là biên giới địa lý, nhưng là biên giới phân chia hàng ghế giáo dân bình dân với hàng ghế hàn lâm thần học.

Tôi lớn lên trong một gia đình công giáo la-mã bảo thủ. Dù thân phụ tôi hoạt động chính trị cho đảng Tự do, nhưng hầu hết mọi thứ trong thời thơ ấu của tôi đều rất bảo thủ, nhất là những vấn đề liên quan đến tôn giáo. Xét về mọi mặt, tôi là người công giáo la-mã kiên định. Tôi lớn lên dưới thời giáo hoàng Piô XII (cha mẹ tôi đặt tên Pius cho em út tôi, điều này nói lên lòng trung thành của gia đình tôi với giáo hoàng Piô XII như thế nào). Chúng tôi tin công giáo la-mã là tôn giáo chân chính duy nhất, còn tin lành và phái phúc âm phải hoán cải và trở lại với đức tin chân chính. Tôi thuộc giáo lý công giáo la-mã và bảo vệ từng câu từng chữ trong đó. Hơn nữa, gia đình chúng tôi không chỉ đi nhà thờ đều đặn mà còn hết sức sốt sắng và ngoan đạo: ngày nào gia đình tôi đều lần hạt với nhau, khắp nhà có nhiều tượng và ảnh thánh, chúng tôi đeo các tượng được làm phép trên cổ, đọc kinh cầu Đức Mẹ, thánh Giuse, Thánh Tâm theo từng tháng, tôn kính các thánh mỗi ngày. Và những điều đó thật tuyệt vời. Tôi sẽ luôn mãi biết ơn về nền tảng tôn giáo này của gia đình tôi.

Năm 17 tuổi, tôi đi từ mái ấm gia đình vào chủng viện và những năm đầu tiên ở chủng viện củng cố thêm những gì gia đình đã cho tôi. Học thuật là tốt, và chúng tôi được khuyến khích đọc sách của những tư tưởng gia lớn thuộc mọi trường phái. Nhưng việc học lên cao vẫn nằm trong khuôn khổ đặc tính công giáo la-mã, tôn vinh nền tảng tôn giáo và mộ đạo của tôi. Ban đầu việc học đại học của tôi tốt với lòng sùng mến của tôi. Tâm trí tôi được mở mang, lòng ngoan đạo của tôi vẫn như cũ.

Nhưng nhà là nơi chúng ta bắt đầu. Dần dần, qua năm tháng, thế giới của tôi thay đổi. Nghiên cứu ở các trường cao học khác nhau, dạy ở các cơ sở cao học, tiếp xúc hàng ngày với những biểu hiện khác của đức tin, đọc sách của các tiểu thuyết gia và tư tưởng gia đương thời, thân thiết với các đồng nghiệp học thuật, tôi phải thú thật, tất cả đã tạo một sự căng thẳng với lòng ngoan đạo thời trẻ của tôi. Nói thật, trong các lớp cao học hay các buổi họp ban giảng viên, chúng tôi không thường lần hạt hay đọc kinh cầu Đức Mẹ, Thánh Tâm.

Tuy nhiên, các lớp học hàn lâm và các buổi họp ban giảng huấn đã mang lại một điều gì khác, một điều cực kỳ cần thiết trong các hàng ghế nhà thờ và trong giới những người mộ đạo, cụ thể một tầm nhìn thần học phê phán và các nguyên tắc để giữ vững lòng đạo đức không bị kiềm chế, chủ nghĩa chính thống cực đoan ngây thơ và lòng nhiệt thành tôn giáo sai lầm trong những ranh giới của nó. Những gì tôi học được trong giới học thuật cũng tuyệt vời và tôi luôn mãi biết ơn vì đã được dự phần vào giới học thuật trong phần lớn cuộc đời trưởng thành của tôi.

Nhưng dĩ nhiên, sự kết hợp tuy lành mạnh nhưng chắc chắn là có căng thẳng, Tôi muốn dùng lời của một người khác để làm rõ chuyện này. Trong quyển sách Thinh lặng và Vẻ đẹp (Silence and Beauty) của nghệ sĩ người Mỹ gốc Nhật, Makoto Fujimura, ông chia sẻ câu chuyện của ông như sau. Một ngày chúa nhật nọ, khi ông đi ra khỏi nhà thờ, thì mục sư đến nhờ ông ký tên vào danh sách tẩy chay bộ phim Cám dỗ cuối cùng của Chúa Kitô (The Last Temptation of Christ). Ông mến mục sư và muốn làm vui lòng mục sư bằng cách ký tên vào thỉnh nguyện đơn, nhưng ông cảm thấy ngập ngừng vì nhiều lý do mà lúc đó ông không giải thích rõ ràng được. Nhưng vợ ông thì giải thích được. Khi ông chưa kịp ký, bà đã bước lên nói: “Các nghệ sĩ có những vai trò khác ngoài việc tẩy chay phim này.” Ông hiểu được ý bà và không ký vào thỉnh nguyện đơn đó.

Nhưng quyết định này làm ông suy nghĩ, giữa căng thẳng của việc tẩy chay một bộ phim như thế với vai trò nghệ sĩ của ông. Đây là cách ông giải thích: “Một nghệ sĩ thường bị kéo theo hai hướng. Những người bảo thủ tôn giáo có khuynh hướng xem văn hóa là cái đáng nghi ngờ, và khi một tuyên bố văn hóa thay đổi hiện thực bình thường mà họ yêu quý, thì phản ứng mặc định của họ là phản đối và tẩy chay. Những người trong cộng đồng nghệ thuật tự do thì xem những bước đột phá này là cần thiết cho “tự do biểu đạt” của họ. Một nghệ sĩ như tôi, trân trọng cả tôn giáo lẫn nghệ thuật, sẽ bị loại bỏ khỏi cả hai. Tôi cố đưa hai điều gắn kết này lại với nhau, nhưng đây là một đấu tranh chật vật”.

Và đây cũng là nỗi chật vật của tôi. Lòng mộ đạo thời thơ ấu, của cha tôi và của nhánh công giáo phong phú này, là một điều thực tế và nuôi dưỡng sự sống, nhưng thần học đả phá ngẫu tượng cấp tiến (và đôi khi đáng lo ngại) của học thuật cũng thế. Cả hai thật sự cần lẫn nhau, nhưng người nào cố trung thành với cả hai, thì có thể bị cả hai đẩy ra, như tình cảnh của nghệ sĩ Fujimura. Các thần học gia có những vai trò khác hơn là đi tẩy chay phim này.

Những người mà tôi xem là thầy của tôi trong lãnh vực này, đó là những người mà theo tôi có thể làm cả hai: như Dorothy Day, người có thể thoải mái lần hạt hoặc đi đầu trong các cuộc tuần hành, như Jim Wallis, có thể nồng nhiệt bênh vực cho hoạt động xã hội cấp tiến và cũng có thể thân mật với Chúa Giêsu, như Thánh Tôma Aquinô, với tri thức có thể lấn át các nhà trí thức khác, nhưng cũng có thể cầu nguyện với lòng ngoan đạo của một em bé. Những nhóm ngoan đạo và học thuật thần học không phải là đối địch của nhau. Họ cần phải kết bạn với nhau mới đúng.

Bất lực cũng phong phú

Đôi khi chúng ta là những người hữu ích và mang lại sự sống, nhất là những khi chúng ta bất lực nhất. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm. Chúng ta đang dự đám tang và không có lời nào để có thể xoa dịu nỗi đau của người mất người thân. Chúng ta cảm thấy lúng túng và bất lực. Chúng ta muốn nói hoặc làm điều gì đó, nhưng chẳng có gì để nói hay làm, ngoài việc chúng ta ở đó, ôm lấy người đang đau buồn và chia sẻ sự bất lực của chúng ta. Thật kỳ lạ, nhưng chính sự bất lực mới là điều giúp đỡ nhất, mạnh mẽ nhất trong hoàn cảnh này. Sự thụ động của chúng ta mang lại nhiều kết quả và sinh sôi hơn khi chúng ta làm điều gì đó.

Chúng ta thấy ví dụ này nơi Chúa Giêsu. Ngài đã hiến dâng cả sự sống và cả cái chết của Ngài cho chúng ta – nhưng trong những khoảnh khắc riêng biệt. Ngài đã hiến cuộc sống của Ngài cho chúng ta qua cuộc đời hoạt động của Ngài và cái chết của Ngài cho chúng ta qua sự thụ động của Ngài, trong những gì Ngài ngấm trong sự bất lực của Ngài. Thật vậy, chúng ta có thể chia Tin Mừng thành hai phần rõ rệt. Cho đến khi bị bắt tại Vườn Ghếtssêmani, Chúa Giêsu là người tích cực: Ngài dạy dỗ, chữa lành, làm phép lạ, Ngài cho dân chúng ăn. Sau đó, khi bị bắt, Ngài không còn làm gì: bị còng tay, bị dẫn đi, xét xử, đánh đòn và đóng đinh. Nhưng chính đây lại là điều huyền nhiệm, chúng ta tin chính lúc này Ngài cho chúng ta nhiều hơn, khi Ngài không thể làm gì so với suốt thời gian Ngài hoạt động. Chúng ta được cứu nhờ sự thụ động và bất lực của Ngài hơn là nhờ những hành động mạnh mẽ của Ngài trong chức vụ. Làm thế nào điều này lại hoạt động? Làm sao sự bất lực và thụ động lại có thể sinh sôi đến thế?

Một phần điều này là huyền nhiệm, dù chúng ta có thể nắm bắt được một phần nhờ kinh nghiệm. Chẳng hạn, một bà mẹ yêu thương chết trong nhà hưu dưỡng, bà hôn mê và không còn nói được, đôi khi trong tình trạng này bà lại làm thay đổi trái tim con cái mạnh mẽ hơn bao giờ hết, hơn suốt bao năm tháng bà đã làm rất nhiều cho con cái. Logic ở đây là gì? Siêu hình học tác dụng như thế nào ở đây?

Tôi xin bắt đầu một cách trừu tượng và khoanh câu hỏi này trước khi mạo hiểm đưa ra câu trả lời. Các nhà tư tưởng vô thần của thời kỳ Khai sáng (Nietzsche, Feuerbach, Marx và những người khác) đưa ra một phê phán rất mạnh về tôn giáo và kinh nghiệm tôn giáo. Theo quan điểm của họ, mọi trải nghiệm tôn giáo đơn thuần chỉ là phóng chiếu chủ quan, không hơn không kém. Với họ, trong đức tin và trong giữ đạo, chúng ta mãi mãi tạo cho mình hình ảnh một vị thần giống chúng ta, để phục vụ lợi ích riêng của chúng ta. (Phản đề chính xác với những gì người tín hữu kitô tin tưởng.) Ví dụ với triết gia Nietzsche. không có mặc khải thiêng liêng nào đến từ bên ngoài chúng ta, không có Chúa trên trời nào mạc khải sự thật thiêng liêng cho chúng ta. Mọi thứ đều là của chúng ta, phóng chiếu những nhu cầu của chúng ta và tạo một vị thần để phục vụ những nhu cầu đó. Mọi tôn giáo đều mang tính tư lợi, phóng chiếu của con người.

Điều này đúng đến mức nào? Linh mục Dòng Tên Michael Buckley, một trong những giáo sư có ảnh hưởng nhất của tôi, trước những lời chỉ trích này, ngài nói: Những nhà tư tưởng này đúng 90%. Nhưng họ sai 10% – và 10% này tạo nên khác biệt.

Linh mục Buckley đưa ra nhận xét này khi giảng dạy điều mà Thánh Gioan Thánh Giá gọi là đêm tối tâm hồn. Đêm tối tâm hồn là gì? Đó là trải nghiệm mà chúng ta không còn có thể cảm nhận được Chúa một cách tưởng tượng hay cảm nhận Chúa một cách đầy cảm xúc, khi chính ý thức về sự tồn tại của Chúa cạn kiệt bên trong chúng ta và chúng ta bị bỏ lại trong bóng tối bất khả tri, bất lực (trong đầu, trái tim và trong ruột) để gợi lên bất cứ điều gì cảm nhận về Chúa.

Tuy nhiên, và đây chính là vấn đề, chính vì chúng ta bất lực và không thể gợi lên bất kỳ khái niệm tưởng tượng hay cảm xúc tình cảm nào về Chúa, nên Chúa giờ đây có thể đi vào chúng ta một cách thuần khiết mà chúng ta không thể tô màu hay làm ô nhiễm trải nghiệm này. Khi mọi nỗ lực của chúng ta đều vô ích, cuối cùng ân sủng có thể chiếm lĩnh và tuôn vào chúng ta một cách thuần khiết. Quả thực, đó là cách mà tất cả mặc khải đích thực đi vào thế giới chúng ta. Khi sự bất lực của con người làm chúng ta không có khả năng bắt Thiên Chúa phục vụ lợi ích riêng của mình, thì Thiên Chúa có thể tràn vào cuộc sống của chúng ta mà không bị ô nhiễm.

Và điều này cũng đúng với tình yêu con người. Rất nhiều tình yêu chúng ta dành cho nhau, dù chúng ta chân thành nhưng đều mang màu sắc tư lợi cá nhân và đôi khi ích kỷ. Theo một cách nào đó, chúng ta chắc chắn sẽ biến những người chúng ta yêu thương thành hình ảnh và chân dung của chính chúng ta. Tuy nhiên, giống như linh mục Buckley phê phán các nhà tư tưởng vô thần thời Khai sáng, điều này không phải lúc nào cũng đúng. Có một số tình huống nào đó khi chúng ta không thể giữ tình yêu và biến nó thành tư lợi. Những tình huống này là gì? Chính xác là những người mà chúng ta thấy mình hoàn toàn bất lực, câm lặng, trì trệ, không thể nói hoặc làm điều gì hữu ích. Trong những “đêm đen tối của tâm hồn” đặc biệt này, khi chúng ta hoàn toàn bất lực trong việc định hình trải nghiệm, tình yêu và ân sủng có thể tuôn chảy một cách thuần khiết và mạnh mẽ. Trong tác phẩm kinh điển Môi trường thần thánh, Pierre Teilhard de Chardin thách thức chúng ta giúp đỡ người khác thông qua hoạt động và sự thụ động của chúng ta. Ngài Ông có lý. Chúng ta có thể có khả năng sáng tạo thông qua những gì chúng ta tích cực làm cho người khác, và chúng ta có thể đặc biệt có khả năng sáng tạo khi, trong bất lực, chúng ta thụ động đứng bên cạnh người đang đau khổ.

Tình yêu vượt quá cái chết

Gilbert K. Chesterton từng nói, kitô giáo là nền dân chủ duy nhất mà người chết cũng được bỏ phiếu. Tôi xin chia sẻ hai câu chuyện về khía cạnh này.

Trong một hội nghị tôi tham dự, một nhà tâm lý đã chia sẻ câu chuyện như sau: Một phụ nữ trong tâm trạng khá sầu thảm đến văn phòng ông. Bà bất an vì cuộc nói chuyện với chồng ngay trước khi ông mất. Bà kể, hai vợ chồng bà hạnh phúc suốt 30 năm, không hề có cãi nhau to tiếng giữa họ. Rồi đến một ngày nọ, họ cãi nhau về một chuyện vặt vãnh (bà còn không nhớ đó là chuyện gì). Cuộc cãi vã kết thúc trong giận dữ, ông chồng đùng đùng bỏ đi làm, rồi chết vì trụy tim ngày hôm đó, khi họ chưa có cơ hội nói chuyện lại với nhau.

Thật quá bất hạnh! Ba mươi năm không có chuyện gì nghiêm trọng, thế mà bây giờ, những lời cuối cùng họ lại nói với nhau những lời giận dữ. Ban đầu, nhà tâm lý học bông đùa bảo đảm với bà, lỗi là ở người chồng quá cố, ông đã chọn chết ở thời điểm khó xử như vậy, để bà sống trong mặc cảm tội lỗi!

Ông hỏi bà, “nếu bây giờ chồng bà ở đây, bà sẽ nói gì với ông?” Bà trả lời, bà sẽ xin lỗi và sẽ nói với ông chuyện hôm đó chẳng là gì so với bao nhiêu năm họ ở bên nhau, bao tình yêu họ đã dành cho nhau. Ông cam đoan với bà, chồng bà đang sống trong sự hiệp thông các thánh và đang ở bên họ lúc này. Rồi ông nói thêm, “sao bà không ngồi đây mà nói với ông những lời bà vừa nói, rằng tình yêu chung thủy của hai người với nhau lấn át hoàn toàn cuộc nói chuyện cuối cùng này. Thật sự, hãy cùng nhau cười với chuyện oái oăm này”.

Câu chuyện thứ hai. Gần đây, tôi gặp một gia đình mà người cha gia đình đã tự tử cách đây 20 năm. Qua thời gian, họ có được bình an với chuyện này, nhưng cũng như các gia đình có người thân mất vì tự tử, vẫn còn một chút đau lòng trong lòng họ. Họ đã tha thứ cho người cha, đã tha thứ cho bản thân mình vì những gì không làm được, và tha thứ cho Thiên Chúa vì sự bất công khi Chúa để cho cái chết xảy ra như thế này. Nhưng họ vẫn còn một điều gì đó chưa xong, một điều gì đó họ cảm nhận nhưng không xác định được (dù 20 năm đã trôi qua, dù mọi tha thứ, dù đã thông hiểu về việc tự tử). Tôi cũng không thể xác định được nó, chỉ có thể gợi ý một phương thuốc mà thôi.

Tôi gợi ý họ nên có một buổi nghi thức tôn vinh tình yêu dành cho người cha, tôn vinh món quà là chính cuộc sống của ông, và chuộc lại cách ra đi bất hạnh của ông. Tôi gợi ý: Hãy chọn một ngày, có thể là sinh nhật ông, hoặc ngày giỗ của ông. Cả nhà tụ họp lại và tổ chức một lễ mừng vui vẻ, với bong bóng, rượu ngon, với tinh thần thoải mái. Hãy chia sẻ những câu chuyện về ông, nêu bật những câu chuyện vui vẻ của ông, vui cười, phấn khởi, những câu chuyện khi ông tạo bầu khí sinh lực đặc biệt cho mọi người. Hãy mừng những chuyện đó với đồ ăn ngon, rượu ngon, tiếng cười và tình yêu. Ông vẫn ở với các bạn. Các bạn vẫn ở trong sự thông hiệp sự sống với ông. Ông đang vui vẻ. Hãy mừng điều đó cùng ông. Hãy cất đi gánh nặng 20 năm. Thiếu đi dạng lễ mừng này chính là điều không nói ra được giữa các bạn và người cha.

Những câu chuyện như thế này có thể hấp dẫn và mơ mộng, nhưng chúng có nền tảng vững chắc, được xác định trong giáo lý kitô giáo, có căn nguyên nơi đức tin dạy rằng chúng ta đang hiệp thông với nhau trong Nhiệm thể Chúa Kitô. Là tín hữu kitô, chúng ta tin mình đang hiệp thông với nhau trong một thân thể sống (một thân thể chứ không phải là một tổ chức) và sự hiệp thông trong một thân thể này bao hàm toàn thể chúng ta, cả người sống lẫn người chết. Chúng ta có thể giao tiếp với nhau, xin lỗi nhau, bù đắp cho nhau và mừng cuộc sống cũng như sinh lực của nhau, kể cả khi có người trong chúng ta đã qua đời. Là tín hữu kitô, chúng ta được mời gọi cầu nguyện cho người chết. Không ngạc nhiên khi có kitô hữu khó chịu về điều này, phản đối rằng Thiên Chúa đâu cần chúng ta nhắc để yêu thương và tha thứ. Họ nói đúng, nhưng xét đến cùng, đó đâu phải là lý do chúng ta cầu nguyện cho những người thân yêu đã mất. Cho dù cách thức cầu nguyện mà chúng ta thường dùng là xin Chúa thương xót, nhưng mục đích thực sự của lời cầu nguyện cho người đã qua đời là để chúng ta giữ liên hệ với họ, thông hiệp sự sống với họ. Mục đích thực sự trong lời cầu nguyện và các nghi lễ của chúng ta dành cho người đã qua đời là để chúng ta tiếp tục ở trong thông hiệp sự sống có chủ ý hơn với họ, để hoàn thành những việc còn dang dở, để xin lỗi, để tha thứ, để xin tha thứ, để vẫn quan tâm đến bầu khí mà họ truyền vào địa cầu này khi họ còn sống, và để thỉnh thoảng nâng ly mừng họ.

Sức mạnh của từ ngữ

Từ ngữ cho chúng ta một ý nghĩa. Chúng ta không thể tạo ra hoặc làm lại hiện thực, nhưng các từ ngữ chúng ta chọn để đặt tên cho thực tế có thể đưa chúng ta ra khỏi trải nghiệm buồn tẻ hàng ngày.

Thật không may, ngày nay nhiều từ chúng ta cần để hiểu cho đúng nghĩa không còn đủ sức mạnh để làm điều đó nữa. Chúng ta như bà Chatterley của D. H. Lawrence. Về thế giới của bà, tác giả Lawrence viết: “Tất cả những từ ngữ vĩ đại đã bị thế hệ của bà hủy bỏ. Tình yêu, niềm vui, hạnh phúc, tổ ấm, làm cha, làm mẹ, làm chồng, tất cả những từ ngữ mang sức sống vĩ đại này giờ đã chết đi một nửa.” Điều đó cũng đúng với chúng ta. Càng ngày, những từ ngữ chúng ta cần càng thiếu ý nghĩa nên những điều sâu sắc không còn sâu sắc nữa. Tại sao?

Ý nghĩa mà chúng ta gán cho sự vật phụ thuộc vào những từ ngữ chúng ta dùng bao quanh chúng. Chẳng hạn, bạn bị đau lưng kinh niên. Một cách sinh học, bác sĩ có thể cho bạn biết bạn bị viêm khớp để giải thích cơn đau của bạn, bạn cảm thấy dễ chịu hơn vì triệu chứng sẽ giảm khi biết nguyên do. Tuy nhiên nếu bạn đi gặp một tâm lý gia, cũng cùng triệu chứng tương tự, bà có thể nói bạn bị một chứng đau gì khác hơn là vấn đề y khoa: “Bạn đang gặp khủng hoảng tuổi trung niên.” Và thật yên tâm nếu bạn biết đây chỉ là chuyện nhói đau vì tuổi. Nhưng chuyện này có thể đi xa hơn. Khi bạn nói chuyện với một người linh hướng, bạn được biết chứng đau này là thập giá bạn phải vác, vườn Giếtsêmani của bạn, đêm tối của tâm hồn, cuộc lưu đày đến Babylon, trải nghiệm sa mạc của bạn. Nỗi đau thông thường bây giờ trở thành một cái gì đó có ý nghĩa, nó mang ý nghĩa tôn giáo. Ý nghĩa của một điều gì đó phụ thuộc vào những từ chúng ta dùng để mô tả nó.

Điều tương tự cũng xảy ra với tình yêu. Thế nào là “phải lòng?” Thế nào là “ăn ý”? Thế nào là tìm được “bạn tâm giao”? Cách giải thích cuối cùng này không bỏ đi một “hấp lực hóa học” nhưng nó bổ sung thêm cho tâm hồn được phong phú. Một tập hợp từ ngữ sâu sắc hơn sẽ định hình trải nghiệm của bạn, dựa trên một chân trời rộng lớn hơn và đó là bí quyết để có được ý nghĩa sâu sắc hơn.

Trong quyển sách Sự đóng kín tâm trí của người Mỹ (The Close of the American Mind), tác giả Allan Bloom cho chúng ta ví dụ sau. Là người ngưỡng mộ Plato, ông chia sẻ cách Plato kể việc các học trò của ông ngồi xung quanh, chia sẻ ý nghĩa “khát khao bất tử” của họ. Bloom nói, công việc học sinh của ông muốn ngồi xuống để chia sẻ việc “hứng tình”. Đó là sự khác biệt về ý nghĩa! Những từ ngữ về ham muốn của Plato giờ đây đã chết một nửa trong nền văn hóa chúng ta và những từ chúng ta dùng để thay thế chúng thường thiếu chiều sâu.

Khi chúng ta bao quanh những trải nghiệm hàng ngày bằng những từ ngữ sâu sắc hơn, những trải nghiệm – tình yêu, niềm vui, tình dục, nỗi đau, hạnh phúc, hôn nhân, làm cha, làm mẹ, làm chồng, làm vợ, pha cà phê, uống cà phê, làm những công việc nhà bình thường – sẽ chứa đựng điều gì đó vượt thời gian, vĩnh cửu. Ý nghĩa và hạnh phúc không nằm ở nơi chúng ta đang sống và những gì chúng ta đang làm mà là cách chúng ta nhìn nhận và gọi tên nơi chúng ta đang sống và những gì chúng ta đang làm. Một trải nghiệm chỉ tuyệt vời khi chúng ta cho nó có một tên riêng.

Có một câu chuyện nổi tiếng của một ký giả phỏng vấn hai công nhân tại một công trường nơi đang xây ngôi nhà thờ mới. Cô hỏi người đầu tiên: “Anh làm nghề gì?” Anh trả lời: “Tôi là thợ nề”. Cô hỏi đồng nghiệp của anh: “Anh làm nghề gì?” Anh trả lời: “Tôi đang xây nhà thờ chính tòa!” Quan điểm thay đổi mọi thứ và nó xuất phát từ cách chúng ta hiểu và đặt tên cho những gì chúng ta đang trải qua.

Nhà thơ người Canada, J.S. Porter từng viết: “Khi bạn lấy đi bầu trời, trái đất sẽ héo úa!” Ông đúng. Khi chúng ta không bao quanh các hoạt động thông thường của mình bằng những từ ngữ và ký hiệu thích hợp, chúng ta sẽ sớm mất đi mọi mê hoặc và những trải nghiệm của chúng ta trở nên gần như chết dở. Chúng ta cần một tầm nhìn rộng, những biểu tượng cao cả và những ngôn từ phù hợp để biến cuộc sống bình thường, tưởng chừng như trần tục của chúng ta thành chất liệu của thơ ca và lãng mạn.

Nhà thơ Rainer Maria Rilke nhận một bức thư của một chàng trai trẻ phàn nàn, anh khó thành nhà thơ vì anh sống ở tỉnh lẻ, nơi cuộc sống quá giản dị, quá quê mùa và quá ít thời gian để tạo cảm hứng cho thơ. Câu trả lời của Rilke như sau: Nếu với bạn, cuộc sống hàng ngày của bạn có vẻ nghèo nàn, thì hãy tự nhủ bạn không đủ thơ ca để ca ngợi sự phong phú của nó, vì không có nơi nào hoặc cuộc sống nào trên trái đất này mà không phong phú. Mỗi cuộc đời đều có khả năng là chất liệu của thơ ca, của lãng mạn, của siêu phàm.

Bí quyết để khơi dậy những phong phú này là gì?

Tôi tin rằng G. K. Chesterton đã đúng khi nói, chúng ta cần học cách nhìn những thứ quen thuộc cho đến khi chúng trông xa lạ trở lại. Chúng ta khao khát một cứu rỗi không lành mạnh chỉ thông qua sự mới lạ, trong khi trên thực tế, những từ ngữ chúng ta cần để nâng nâng tầm cao của thơ ca và siêu phàm lại thường tìm thấy trong những giếng đức tin cổ xưa, trên những tấm giấy da cổ của Kinh thánh, trong những thứ quá quen thuộc, những bài thánh ca và những lời tuyên xưng mà chúng ta gọi là Kinh Tin Kính.

Khi ngôn ngữ của chúng ta nửa sống nửa chết, có thể chúng ta cần học lại một số ngôn ngữ cũ.

Suy nghĩ xấu

Có người từng châm biếm rằng chúng ta dùng nửa đầu đời để vật lộn với giới răn thứ sáu – Chớ ngoại tình, rồi dùng nửa đời sau để vật lộn với giới răn thứ năm – Chớ giết người! Câu này có một sự thật đáng để chúng ta xem xét.

Trong đạo công giáo mà tôi được nuôi dạy, có sự nhấn mạnh rất lớn vào giới răn thứ sáu. Tình dục và các vấn đề liên quan đến tình dục bị cho rất rõ, đó là vấn đề của hành vi phạm tội. Mọi tình dục ngoài hôn nhân đều bị xem là có tội, nhưng ảo tưởng tình dục cũng vậy. Nếu bạn thích thú với bất kỳ ảo tưởng tình dục nào thì bạn phải xưng tội với linh mục. Trong cách nói thời đó, thì chuyện này bị gọi là “có suy nghĩ xấu”. Vì bản tính con người và vì các kích thích tố, chắc chắn gần như ai cũng có “suy nghĩ xấu”.

Khi lớn lên, tôi bắt đầu nghĩ các ảo tưởng tình dục không phải là mối nguy thật sự về mặt suy nghĩ xấu. Khi thêm tuổi, những suy nghĩ xấu chúng ta cần xưng tội nhất lại liên quan nhiều hơn đến giới răn khác, đó là “chớ giết người”. Những suy nghĩ xấu ngăn chúng ta đến với tình yêu, cộng đồng và bàn tiệc thiên quốc nhất, là những suy nghĩ liên quan đến người chúng ta giận, người mà chúng ta không đội trời chung, người chúng ta không muốn ngồi cùng bàn, người chúng ta muốn báo thù, người chúng ta không thể tha thứ và người chúng ta không ủng hộ thái độ sống của họ.

Cha Henri Nouwen từng nói, rất lâu trước khi người nào bị bắn, thì họ đã bị bắn bằng lời lẽ, và rất lâu trước khi họ bị bắn bằng lời thì họ đã bị bắn bằng suy nghĩ. Những suy nghĩ kiểu như: Bà đó quá tự mãn! Tôi ghét bà! Tôi không thể ở cùng phòng với bà nổi! Chúng ta giết nhau trong suy nghĩ, trong xét đoán, trong thù ghét, ghen tị và tránh né nhau. Đây là những suy nghĩ xấu mà chúng ta cần xưng nhất.

Hơn nữa, đó chỉ là những hình thức thô thiển nhất trong những gì chúng ta phạm điều răn chớ giết người. Chúng ta còn có “suy nghĩ xấu” theo những cách tinh vi hơn thế. Chúng ta còn giết nhau mỗi khi chiều theo những ảo tưởng tự đại, ảo tưởng mình là siêu sao, xuất chúng, hơn người, ưu việt, và xem người khác thấp kém hơn mình. Cũng như những ảo tưởng tình dục, những ảo tưởng này đi kèm với sức mạnh chúng ta khó cự lại. Như những ảo tưởng tình dục, chúng bủa vây chúng ta bằng sự ấm áp tự thỏa mãn.

Nhưng tại sao chúng sai trái? Chiều theo những ảo tưởng rằng chúng ta đặc biệt, xuất chúng và anh hùng thì có gì sai?

Ngắn gọn, tự chúng thì không sai về luân lý. Nghĩ mình đặc biệt thì không phải là tội, nhất là khi chúng ta đặc biệt thật! Thiên Chúa tạo nên mỗi một người đều đặc biệt và độc nhất vô nhị, nhận ra mình như thế thì không có gì sai. Hơn nữa, trong phần lớn cuộc đời, như thế lại có thể là lành mạnh. Phải về sau này, vấn đề mới nảy sinh, khi đến lúc chúng ta phải bắt đầu xem lại bản thân một cách dũng cảm và dữ dội hơn, đối diện với những thứ trong nội tâm đang ngăn cản chúng ta nên một với mọi sự. Đừng nghĩ câu “nên một với mọi sự” có vẻ quá phật giáo, hay ấn giáo, kitô hữu chúng ta cũng nghĩ rằng tình trạng cuối cùng của mình trên thiên đàng sẽ như vậy, làm một với mọi sự, với Thiên Chúa, với tha nhân, với vũ trụ và với chính mình.

Dù tự thân những ảo tưởng này không sai, nhưng chúng bồi đắp cho sự tách rời của chúng ta với tha nhân, đặt mình xa cách họ, ưu việt hơn họ, và cuối cùng, nó là vật cản cho sự hiệp nhất trong tình yêu với những gì chúng ta được kêu gọi và tiền định. Chúng cũng là cách để chúng ta giết nhau, dành vị trí chủ bàn tiệc cho chính mình.

Chúng ta dành phần lớn đời mình đấu tranh với giới răn thứ sáu. Tuy nhiên, hầu hết chúng ta cuối cùng phải đấu tranh với giới răn thứ năm còn cam go hơn nữa. Dụ ngôn trong phúc âm về người con hoang đàng cho chúng ta thấy rõ vài điều về chuyện này. Người cha (Thiên Chúa) có hai con trai, và ông cố xin cả hai vào nhà (thiên đàng). Người con thứ, người con hoang đàng bỏ nhà đi vì những vấn đề với giới răn thứ sáu. Dù vậy, cuối cùng anh về với người cha và vào nhà. Người anh cả, không hề rời nhà, nhưng lại ở ngoài nhà cha vì anh đang chiến đấu với một thứ khác, là giận dữ, cay đắng, ghen tị và phán xét. Anh đang chiến đấu với những suy nghĩ xấu. Anh đang giết em mình bằng phán xét, ghen tương, bằng những ảo tưởng về sự ưu việt đạo đức của mình.

Cái kết của dụ ngôn này đáng để chúng ta để ý. Chuyện không kết lại với việc ăn mừng người em trở về và đoàn tụ với gia đình. Chuyện kết lại với việc người cha đứng bên ngoài nhà, ân cần vỗ về người con cả ghen tương, cay đắng, phán xét, ân cần dỗ dành anh bỏ đi những suy nghĩ xấu của mình.

Một dạng nghèo khó tinh tế hơn

Có những cách bị loại trừ trong đời khác nhau.

Đầu năm nay, một trong các anh lớn của tôi qua đời. Theo mọi tiêu chuẩn, anh đã sống một cuộc đời gương mẫu, chủ yếu sống vì người khác. Anh chết trong tình yêu thương tha thiết của mọi người quen biết anh. Cuộc đời anh sống vì gia đình, cho Giáo hội, cho cộng đồng và bạn bè.

Khi giảng trong tang lễ của anh, tôi chia sẻ, trong khi anh luôn đem lại nụ cười và sự phúc hậu, nhiều lúc là cả sự hóm hỉnh, nhưng ẩn sâu trong lòng, đôi khi anh phải cố gắng lắm để luôn làm như thế. Vì sao? Vì dù anh đã dành trọn cuộc sống trưởng thành để phục vụ người khác, nhưng phần lớn trong đời, anh không có nhiều lựa chọn trong những chuyện đó. Câu chuyện của anh tôi là thế này.

Anh là một trong số anh lớn trong nhà, thuộc gia đình nhập cư đông con thế hệ thứ hai, vật lộn với nghèo đói ở một vùng nông thôn hẻo lánh tại vùng đồng cỏ Canada, nơi không dễ để đi học vào thời đó. Cho nên, với anh và những người đồng trang lứa, cả nam và nữ, dự tính bình thường là sau khi học xong tiểu học thì nghỉ học và bắt đầu làm việc phụ giúp gia đình. Thêm nữa, khi anh học xong tiểu học, lúc đó cũng không có trường trung học để anh học tiếp. Đáng tiếc hơn, có lẽ anh là người có thiên tư và sáng láng nhất nhà. Không phải anh không muốn tiếp tục học, nhưng vào thời đó, anh làm những gì mà hầu hết những người đồng trang lứa của anh làm, nghỉ học và bắt đầu làm việc, góp hết tiền lương hàng tháng để phụ giúp gia đình. Anh đã làm thế với tâm hồn vui vẻ, biết rằng đây là điều mình được mong chờ để làm.

Suốt thời gian từ lúc bắt đầu đi làm năm 16 tuổi, cho đến khi tiếp quản nông trại của gia đình năm ba mươi mấy tuổi, anh đã làm nông, làm thợ nề, và đủ thứ nghề, từ lái máy xúc cho đến lái xe tải. Hơn thế nữa, khi bố mẹ chúng tôi qua đời và anh tiếp quản nông trại, anh bị áp lực phải giữ nông trại này để nuôi sống gia đình trong nhiều năm trời. Đến lúc anh được ra khỏi trách nhiệm này thì cũng đã quá muộn để anh đi học lại. Những năm trước khi anh nghỉ hưu, anh hăng hái tham gia các chương trình giáo dục và mục vụ giáo dân, giúp anh được hăng hái về cảm xúc và phát triển về tri thức. Một phần hy sinh của anh là anh chưa hề kết hôn, không phải vì anh thích độc thân, mà vì những chuyện đã ràng buộc anh với bổn phận, làm cho anh không bao giờ có đủ cơ hội để kết hôn.

Sau khi chia sẻ câu chuyện của anh trong bài giảng, có vài người đã nói với tôi: Anh tôi cũng thế! Chị tôi cũng thế! Bố tôi cũng thế! Mẹ tôi cũng thế!

Từ nhỏ đã thấy người anh của mình như vậy, nên ngày nay, hễ thấy ai làm những công việc phục vụ như nấu ăn trong căn-tin, quét dọn nhà cửa, cắt cỏ, làm thợ nề, làm lao công và những công việc tương tự, tôi thường tự hỏi, họ có giống anh mình không? Họ có chọn làm công việc này hay họ làm vì hoàn cảnh bắt buộc? Người này có muốn làm bác sĩ, nhà văn, giáo viên, doanh nhân hay CEO, rồi cuối cùng lại phải làm công việc này vì kinh tế hay vì hoàn cảnh nào đó? Đừng hiểu lầm ý tôi. Những công việc đó không có gì là hạ giá hay kém cao quý cả. Thật sự là làm việc tay chân có lẽ là công việc lương thiện nhất, không như công việc của tôi trong cộng đồng hàn lâm, rất dễ vị kỉ và gần như là không thích đáng. Làm việc tay chân có một phẩm giá cao quý, như anh tôi đã có. Tuy nhiên, dù tầm quan trọng và phẩm giá của công việc đó, hạnh phúc của người làm việc đó đôi khi phụ thuộc vào việc họ có lựa chọn hay không, nghĩa là họ làm việc đó vì họ chọn hay là vì những yếu tố khác nhau, như kinh tế gia đình, thân phận nhập cư, thiếu cơ hội, buộc họ phải làm những việc này.

Khi thấy những người này trong cuộc sống hằng ngày, tôi cố để ý đến họ và trân trọng việc phục vụ của họ cho chúng ta. Đôi khi tôi tự nhủ: Đây có thể là anh mình. Đây có thể là chị mình. Đây có thể là người thông minh nhất nhà nhưng lại không có cơ hội để làm bác sĩ, nhà văn, y tá, giáo viên hay nhân viên xã hội. Nếu như Chúa Giêsu đã hứa rằng trong đời sau, sẽ có sự đảo ngược, người đứng cuối sẽ đứng đầu, thì tôi mong là những người này, như anh tôi, người đã bị lấy đi những cơ hội mà chúng ta có được, sẽ hiểu thấu lòng tôi với một tâm tình đồng cảm hơn cả sự thấu hiểu của tôi dành cho họ trong đời này.

Lối sống của chúng ta và hành tinh đang kiệt quệ

Trong Quyển sách của Hy vọng, đồng tác giả với Jane Goodall, Douglas Abrams đã tuyên bố: Tạo nên nhân loại có lẽ là sai lầm lớn nhất của sự tiến hóa.

Ông nói câu đùa thâm thúy này vì ông công nhận rằng sự xuất hiện của loài người rõ ràng là theo ý định của quá trình tiến hóa và thay vì là một sai lầm khủng khiếp, nó là tột đỉnh của quá trình đó. Dù gì, ngày nay, loài người là mối đe dọa lớn nhất đối với hành tinh trái đất. Nói đơn giản, hiện giờ trên hành tinh này có hơn bảy tỷ người, và chúng ta đang dùng nguồn tài nguyên có hạn nhanh hơn mức mà tự nhiên có thể bù đắp vào. Đến năm 2050, sẽ có khoảng mười tỷ người. Nếu chúng ta cứ làm như lâu nay, hành tinh này sẽ không thể gánh nổi chúng ta, ít nhất là nếu chúng ta cứ tiếp tục lối sống hiện tại.

Và lối sống này không phải là nói đến lối sống xa hoa của người giàu có thể tùy tiện và tiêu thụ nhiều hơn phần của mình. Dĩ nhiên, họ góp phần vào vấn đề và ảnh hưởng lớn đến số còn lại chúng ta về thói quen tiêu thụ, nhưng lối sống mà tôi nói đến ở đây, là điều mà tôi và bạn, những người tiêu thụ có ý thức, đang sống, thậm chí cả trong những lúc chúng ta bảo tồn, tái chế, làm phân, lái xe điện và cố sống đơn giản.

Bản thân tôi là ví dụ. Tôi đang cố nhạy bén về ảnh hưởng từ sự tiêu thụ của tôi với mẹ Trái đất. Khi so với những người có lối sống xa hoa, tôi có thể nói tôi sống rất đơn sơ. Tôi không mua thứ mình không cần, áo quần không có mấy bộ, và rất để ý đến chuyện dùng điện nước. Tôi lái chiếc xe nhỏ second-hand (xe mua lại) và cố gắng chỉ lái khi cần thiết. Tôi bảo đảm máy sưởi trong nhà được chỉnh cố định để tiêu thụ điện năng ít nhất có thể, và tôi sống trong căn nhà tương đối nhỏ, tái chế và cố dùng ít đồ nhựa nhất có thể.

Nhưng mặt khác, tôi có hai máy tính, một máy bàn ở văn phòng và một laptop ở nhà. Tôi có điện thoại di động, dù qua nhiều năm tôi chỉ nâng cấp điện thoại bốn lần, là mua mẫu mới và bỏ cái cũ. Tôi tắm hằng ngày, và tùy hoạt động thể chất, đôi khi tôi tắm hai lần. Tôi lái xe. Tôi đi máy bay ít nhất mỗi tháng một lần để dự các hội nghị và hội họp, và mỗi năm vài lần, tôi bay quốc tế để thăm gia đình. Tôi không có nhiều áo quần, nhưng việc mục vụ và công việc của tôi yêu cầu tôi có y phục tiêu chuẩn (và tôi đáp ứng được mức tối thiểu).

Với nơi tôi sống và công việc tôi làm, tôi nghĩ có thể nói rằng mình có lối sống đơn sơ. Tuy nhiên, một cách thực tế, nếu bảy tỷ người trên thế giới đều sống như tôi, thì sẽ không đủ tài nguyên để nuôi dưỡng chúng ta. Rốt cuộc là gì, thế giới không thể chu cấp nổi cho tám tỷ người, nếu ai cũng sống như tôi, và như hầu hết chúng ta đang sống ở những vùng thịnh vượng của thế giới. Vậy giải pháp là gì?

Chúng ta có thể trách tội mình hoặc người khác, cho dù việc đó không hẳn là có ích gì. Vậy điều gì mới có ích? Không có câu trả lời dễ dàng cho chuyện này. Những người sống ở những vùng thịnh vượng của thế giới như chúng ta có thể tạo ra thay đổi, nhưng chúng ta có thể ngừng sử dụng máy tính và điện thoại hay không? Chúng ta có thể hạn chế sử dụng nước, chúng ta có thể bỏ các tiêu chuẩn vệ sinh hiện tại của mình không? Chúng ta có thể hạn chế sử dụng điện, nhưng chúng ta có thể không lái xe và để các tòa nhà thành phố của mình tối om ban đêm không? Chúng ta ta có thể bớt mức độ di chuyển bằng máy bay, nhưng chúng ta có thể sống thiếu du lịch đường hàng không? Chúng ta có thể cắt giảm những gì chúng ta mua mà bị xem là ăn uống, ăn mặc quá mức, xa hoa và giải trí quá mức. Chúng ta có thể tái chế, phân hủy, và không dùng túi nhựa – tất cả những chuyện này gộp lại sẽ tạo nên khác biệt. Thật vậy, cần phải làm tất cả mọi chuyện này. Tuy nhiên, dù chúng hữu ích, nhưng nếu chỉ có chúng thì không giải quyết được vấn đề.

Với Jane Goodall, vượt ngoài những chuyện cá nhân này, chúng ta cần làm những chuyện tập thể để giải quyết mối đe dọa hiện hữu với trái đất. Goodall nêu ra ba điều: Trước hết, phải giảm nghèo đói. Nếu có người sống trong nghèo đói đến mức tê liệt cuộc sống, thì cũng dễ hiểu khi họ chặt cái cây cuối cùng hoặc bắt con cá cuối cùng, vì họ quá tuyệt vọng kiếm miếng ăn cho gia đình. Thứ hai, chúng ta phải loại bỏ sự tham nhũng của chính phủ và sự tham lam của các công ty. Không có chính phủ tốt và không có công ty biết quan tâm đến công ích, thì không thể nào giải quyết được các vấn đề môi trường và xã hội khổng lồ. Hơn nữa, những người vì tư lợi mà không chịu đối diện với vấn đề sẽ không cảm thấy có thách thức nào đặt ra cho họ. Cuối cùng, như một tập thể, chúng ta phải thực tế đối diện với sự căng thẳng giữa lối sống của chúng ta và dân số đang ngày một tăng trên trái đất. Những người tiêu thụ bất cần suy nghĩ là một phần vấn đề, nhưng số còn lại chúng ta cũng vậy, bao gồm cả tôi, những người tự xem mình là sống đơn sơ.

Nỗi cô đơn sâu thẳm nhất

Nhà tâm lý học Robert Coles ở trường đại học Harvard, khi mô tả triết gia thần nghiệm người Pháp, Simone Weil, ông cho rằng điều mà bà thật sự chịu đựng và cũng là động lực cho cuộc đời của bà, chính là sự cô đơn về tinh thần. Cô đơn tinh thần là gì?

Cô đơn tinh thần là điều mà chúng ta trải nghiệm khi khắc khoải về ái lực tinh thần, nghĩa là khao khát một tri kỷ, một người gặp chúng ta, hiểu chúng ta và tôn trọng những gì thâm sâu nhất, quý báu nhất trong chúng ta.

Chúng ta cô đơn theo nhiều cách. Chúng ta cảm thấy khắc khoải dù đang trải nghiệm sự thân mật, chúng ta thấy hoài niệm về một mái ấm mà chúng ta không bao giờ thật sự tìm được. Có sự cô đơn, thao thức, một khắc khoải, khao khát, thiết tha, yêu thích, bất an, hoài niệm và vô tận trong chúng ta và chúng không bao giờ cảm thấy trọn vẹn.

Hơn nữa, sự bất tịnh này nằm ở trọng tâm chứ không phải ở bên rìa trải nghiệm của chúng ta. Chúng ta không phải là những người yên nhàn đôi lúc cảm thấy thao thức, không phải là những người thanh bình đôi lúc cảm thấy bất an, không phải là những người viên mãn đôi lúc cảm thấy chán nản. Đúng hơn, chúng ta là những sinh vật bồn chồn đôi lúc tìm được nghỉ ngơi, những con người bất an đôi lúc tìm được sự thanh tĩnh, những con người bất mãn đôi lúc tìm được sự thỏa mãn.

Và trong nhiều khao khát này, có một khao khát thâm sâu hơn những khao khát khác. Điều mà chúng ta khao khát tối hậu, điều ẩn dưới mọi sự khác, chính là ái lực tinh thần, một tri kỷ, một người gặp gỡ chúng ta ở nơi thâm sâu trong tâm hồn chúng ta, một người tôn trọng mọi sự quý báu nơi chúng ta. Hơn cả khao khát tìm được ai đó ngủ cùng mình về mặt tình dục, chúng ta khao khát ai đó ngủ cùng mình về mặt tinh thần.

Như vậy có nghĩa là gì?

Có thể diễn đạt như thế này: Mỗi một người chúng ta nuôi dưỡng một ký ức mơ hồ về một thời từng được chạm đến và âu yếm bởi những bàn tay trìu mến hơn hẳn bàn tay chúng ta. Sự âu yếm đó để lại một dấu tích không phai, một ghi dấu tình yêu quá dịu dàng, quá tốt đẹp và thuần khiết đến nỗi ký ức đó trở thành lăng kính để chúng ta nhìn mọi sự khác. Các thần thoại cổ xưa diễn tả chuyện này rất hay khi bảo với chúng ta, trước khi chúng ta được sinh ra, Thiên Chúa đã hôn linh hồn chúng ta, và chúng ta bước vào cuộc đời luôn ghi nhớ nụ hôn đó một cách trực giác, đánh giá mọi sự khác bằng cách đối chiếu với nụ hôn đó, với sự thuần khiết, dịu dàng và vô điều kiện ban đầu của nụ hôn đó.

Ký ức vô thức về một thời được Thiên Chúa chạm đến và âu yếm tạo trong chúng ta một nơi thâm sâu nhất, nơi chúng ta giữ những chuyện quý báu nhất và thiêng liêng nhất của mình. Khi chúng ta nói chuyện gì đó “nghe rất đúng”, thì thật ra chúng ta đang nói, nó tôn trọng chốn thâm sâu đó trong lòng mình, nó tương hợp với chân lý, với dịu dàng và thuần khiết sâu sắc mà chúng ta đã từng trải nghiệm.

Từ nơi này xuất phát tất cả những gì là sâu sắc nhất, chân thực nhất trong chúng ta, cả những nụ hôn và giọt nước mắt. Nghịch lý thay, đây là nơi chúng ta canh giữ đề phòng người khác, dù cho đó là nơi chúng ta muốn người khác bước vào nhất, với điều kiện là người bước vào tôn trọng sự thuần khiết, dịu dàng, vô điều kiện của sự âu yếm ban đầu mà Thiên Chúa đã tạo thành chốn dịu dàng đó.

Đây là nơi của thân mật sâu thẳm và cô đơn sâu sắc, nơi chúng ta ngây thơ vô tội, nơi chúng ta bị xâm phạm, nơi chúng ta thánh thiện, là đền thờ của Thiên Chúa, là đền thiêng tôn kính và là nơi chúng ta băng hoại khi hành động trái với chân lý. Đây là trung tâm tinh thần của chúng ta, và cơn khắc khoải chúng ta cảm thấy có thể được gọi là cô đơn tinh thần. Chúng ta khao khát tri kỷ là vì nó.

Và trong khao khát này, trong khắc khoải khôn nguôi này, chúng ta được thôi thúc hướng ra ngoài, như người nữ trong sách Diễm ca, chúng ta khắc khoải tìm kiếm một người ngủ cùng mình về mặt tinh thần.

Đôi khi khao khát đó dán chặt vào một người nào đó, và sự cố định đó có thể ám ảnh đến nỗi chúng ta đánh mất tự do về cảm xúc. Như nền văn hóa của chúng ta, chúng ta cũng có thể kết luận, về căn nguyên nó là khao khát sự giao hợp tình dục. Nói như thế có phần nào đúng, mặc dù có khiếm diện. Sự giao hợp tình dục, trong dạng chân thực của có, thật sự đúng là gắn kết “thành một xác thịt” được Đấng Tạo Hóa tuyên bố sau khi lên án sự cô đơn “con người ở một mình không tốt”. Ngoài giao hợp tình dục, cuối cùng, người ta luôn phần nào cô đơn, độc thân, tách biệt, một kẻ thiểu số.

Nhưng xét tận cùng, chúng ta cô đơn ở một mức độ mà chỉ tình dục thì không đủ để thỏa mãn. Thâm sâu hơn cả khao khát bạn tình, chúng ta khao khát một ái lực tinh thần. Khao khát thâm sâu nhất của chúng ta là khao khát một người để ngủ cùng về mặt tinh thần, một tinh thần đồng điệu, một tri kỷ.

Những tình bạn và tình vợ chồng tuyệt vời nhất luôn có điều này, cụ thể là ái lực tinh thần. Những người đó là những “tình nhân” theo nghĩa sâu xa của nó, bởi vì họ ngủ với nhau ở mức độ thâm sâu, bất chấp có sự giao hợp tình dục hay không. Ở mức độ cảm giác đó, dạng tình yêu này được trải nghiệm như đi “về nhà”.

Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu từng nói, là con người, chúng ta là “kẻ lưu đày của tâm hồn”, và chúng ta chỉ có thể thắng vượt chuyện này bằng sự giao hợp tinh thần với người khác, nghĩa là ngủ với ngời khác trong tình thiện lành, hân hoan, an bình, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng và đức tin.

Nỗi cô đơn sâu thẳm nhất

2023-10-02

Nhà tâm lý học Robert Coles ở trường đại học Harvard, khi mô tả triết gia thần nghiệm người Pháp, Simone Weil, ông cho rằng điều mà bà thật sự chịu đựng và cũng là động lực cho cuộc đời của bà, chính là sự cô đơn về tinh thần. Cô đơn tinh thần là gì?

Cô đơn tinh thần là điều mà chúng ta trải nghiệm khi khắc khoải về ái lực tinh thần, nghĩa là khao khát một tri kỷ, một người gặp chúng ta, hiểu chúng ta và tôn trọng những gì thâm sâu nhất, quý báu nhất trong chúng ta.

Chúng ta cô đơn theo nhiều cách. Chúng ta cảm thấy khắc khoải dù đang trải nghiệm sự thân mật, chúng ta thấy hoài niệm về một mái ấm mà chúng ta không bao giờ thật sự tìm được. Có sự cô đơn, thao thức, một khắc khoải, khao khát, thiết tha, yêu thích, bất an, hoài niệm và vô tận trong chúng ta và chúng không bao giờ cảm thấy trọn vẹn.

Hơn nữa, sự bất tịnh này nằm ở trọng tâm chứ không phải ở bên rìa trải nghiệm của chúng ta. Chúng ta không phải là những người yên nhàn đôi lúc cảm thấy thao thức, không phải là những người thanh bình đôi lúc cảm thấy bất an, không phải là những người viên mãn đôi lúc cảm thấy chán nản. Đúng hơn, chúng ta là những sinh vật bồn chồn đôi lúc tìm được nghỉ ngơi, những con người bất an đôi lúc tìm được sự thanh tĩnh, những con người bất mãn đôi lúc tìm được sự thỏa mãn.

Và trong nhiều khao khát này, có một khao khát thâm sâu hơn những khao khát khác. Điều mà chúng ta khao khát tối hậu, điều ẩn dưới mọi sự khác, chính là ái lực tinh thần, một tri kỷ, một người gặp gỡ chúng ta ở nơi thâm sâu trong tâm hồn chúng ta, một người tôn trọng mọi sự quý báu nơi chúng ta. Hơn cả khao khát tìm được ai đó ngủ cùng mình về mặt tình dục, chúng ta khao khát ai đó ngủ cùng mình về mặt tinh thần.

Như vậy có nghĩa là gì?

Có thể diễn đạt như thế này: Mỗi một người chúng ta nuôi dưỡng một ký ức mơ hồ về một thời từng được chạm đến và âu yếm bởi những bàn tay trìu mến hơn hẳn bàn tay chúng ta. Sự âu yếm đó để lại một dấu tích không phai, một ghi dấu tình yêu quá dịu dàng, quá tốt đẹp và thuần khiết đến nỗi ký ức đó trở thành lăng kính để chúng ta nhìn mọi sự khác. Các thần thoại cổ xưa diễn tả chuyện này rất hay khi bảo với chúng ta, trước khi chúng ta được sinh ra, Thiên Chúa đã hôn linh hồn chúng ta, và chúng ta bước vào cuộc đời luôn ghi nhớ nụ hôn đó một cách trực giác, đánh giá mọi sự khác bằng cách đối chiếu với nụ hôn đó, với sự thuần khiết, dịu dàng và vô điều kiện ban đầu của nụ hôn đó.

Ký ức vô thức về một thời được Thiên Chúa chạm đến và âu yếm tạo trong chúng ta một nơi thâm sâu nhất, nơi chúng ta giữ những chuyện quý báu nhất và thiêng liêng nhất của mình. Khi chúng ta nói chuyện gì đó “nghe rất đúng”, thì thật ra chúng ta đang nói, nó tôn trọng chốn thâm sâu đó trong lòng mình, nó tương hợp với chân lý, với dịu dàng và thuần khiết sâu sắc mà chúng ta đã từng trải nghiệm.

Từ nơi này xuất phát tất cả những gì là sâu sắc nhất, chân thực nhất trong chúng ta, cả những nụ hôn và giọt nước mắt. Nghịch lý thay, đây là nơi chúng ta canh giữ đề phòng người khác, dù cho đó là nơi chúng ta muốn người khác bước vào nhất, với điều kiện là người bước vào tôn trọng sự thuần khiết, dịu dàng, vô điều kiện của sự âu yếm ban đầu mà Thiên Chúa đã tạo thành chốn dịu dàng đó.

Đây là nơi của thân mật sâu thẳm và cô đơn sâu sắc, nơi chúng ta ngây thơ vô tội, nơi chúng ta bị xâm phạm, nơi chúng ta thánh thiện, là đền thờ của Thiên Chúa, là đền thiêng tôn kính và là nơi chúng ta băng hoại khi hành động trái với chân lý. Đây là trung tâm tinh thần của chúng ta, và cơn khắc khoải chúng ta cảm thấy có thể được gọi là cô đơn tinh thần. Chúng ta khao khát tri kỷ là vì nó.

Và trong khao khát này, trong khắc khoải khôn nguôi này, chúng ta được thôi thúc hướng ra ngoài, như người nữ trong sách Diễm ca, chúng ta khắc khoải tìm kiếm một người ngủ cùng mình về mặt tinh thần.

Đôi khi khao khát đó dán chặt vào một người nào đó, và sự cố định đó có thể ám ảnh đến nỗi chúng ta đánh mất tự do về cảm xúc. Như nền văn hóa của chúng ta, chúng ta cũng có thể kết luận, về căn nguyên nó là khao khát sự giao hợp tình dục. Nói như thế có phần nào đúng, mặc dù có khiếm diện. Sự giao hợp tình dục, trong dạng chân thực của có, thật sự đúng là gắn kết “thành một xác thịt” được Đấng Tạo Hóa tuyên bố sau khi lên án sự cô đơn “con người ở một mình không tốt”. Ngoài giao hợp tình dục, cuối cùng, người ta luôn phần nào cô đơn, độc thân, tách biệt, một kẻ thiểu số.

Nhưng xét tận cùng, chúng ta cô đơn ở một mức độ mà chỉ tình dục thì không đủ để thỏa mãn. Thâm sâu hơn cả khao khát bạn tình, chúng ta khao khát một ái lực tinh thần. Khao khát thâm sâu nhất của chúng ta là khao khát một người để ngủ cùng về mặt tinh thần, một tinh thần đồng điệu, một tri kỷ.

Những tình bạn và tình vợ chồng tuyệt vời nhất luôn có điều này, cụ thể là ái lực tinh thần. Những người đó là những “tình nhân” theo nghĩa sâu xa của nó, bởi vì họ ngủ với nhau ở mức độ thâm sâu, bất chấp có sự giao hợp tình dục hay không. Ở mức độ cảm giác đó, dạng tình yêu này được trải nghiệm như đi “về nhà”.

Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu từng nói, là con người, chúng ta là “kẻ lưu đày của tâm hồn”, và chúng ta chỉ có thể thắng vượt chuyện này bằng sự giao hợp tinh thần với người khác, nghĩa là ngủ với ngời khác trong tình thiện lành, hân hoan, an bình, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng và đức tin.