RonRolheiser,OMI

Bất lực cũng phong phú

Đôi khi chúng ta là những người hữu ích và mang lại sự sống, nhất là những khi chúng ta bất lực nhất. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm. Chúng ta đang dự đám tang và không có lời nào để có thể xoa dịu nỗi đau của người mất người thân. Chúng ta cảm thấy lúng túng và bất lực. Chúng ta muốn nói hoặc làm điều gì đó, nhưng chẳng có gì để nói hay làm, ngoài việc chúng ta ở đó, ôm lấy người đang đau buồn và chia sẻ sự bất lực của chúng ta. Thật kỳ lạ, nhưng chính sự bất lực mới là điều giúp đỡ nhất, mạnh mẽ nhất trong hoàn cảnh này. Sự thụ động của chúng ta mang lại nhiều kết quả và sinh sôi hơn khi chúng ta làm điều gì đó.

Chúng ta thấy ví dụ này nơi Chúa Giêsu. Ngài đã hiến dâng cả sự sống và cả cái chết của Ngài cho chúng ta – nhưng trong những khoảnh khắc riêng biệt. Ngài đã hiến cuộc sống của Ngài cho chúng ta qua cuộc đời hoạt động của Ngài và cái chết của Ngài cho chúng ta qua sự thụ động của Ngài, trong những gì Ngài ngấm trong sự bất lực của Ngài. Thật vậy, chúng ta có thể chia Tin Mừng thành hai phần rõ rệt. Cho đến khi bị bắt tại Vườn Ghếtssêmani, Chúa Giêsu là người tích cực: Ngài dạy dỗ, chữa lành, làm phép lạ, Ngài cho dân chúng ăn. Sau đó, khi bị bắt, Ngài không còn làm gì: bị còng tay, bị dẫn đi, xét xử, đánh đòn và đóng đinh. Nhưng chính đây lại là điều huyền nhiệm, chúng ta tin chính lúc này Ngài cho chúng ta nhiều hơn, khi Ngài không thể làm gì so với suốt thời gian Ngài hoạt động. Chúng ta được cứu nhờ sự thụ động và bất lực của Ngài hơn là nhờ những hành động mạnh mẽ của Ngài trong chức vụ. Làm thế nào điều này lại hoạt động? Làm sao sự bất lực và thụ động lại có thể sinh sôi đến thế?

Một phần điều này là huyền nhiệm, dù chúng ta có thể nắm bắt được một phần nhờ kinh nghiệm. Chẳng hạn, một bà mẹ yêu thương chết trong nhà hưu dưỡng, bà hôn mê và không còn nói được, đôi khi trong tình trạng này bà lại làm thay đổi trái tim con cái mạnh mẽ hơn bao giờ hết, hơn suốt bao năm tháng bà đã làm rất nhiều cho con cái. Logic ở đây là gì? Siêu hình học tác dụng như thế nào ở đây?

Tôi xin bắt đầu một cách trừu tượng và khoanh câu hỏi này trước khi mạo hiểm đưa ra câu trả lời. Các nhà tư tưởng vô thần của thời kỳ Khai sáng (Nietzsche, Feuerbach, Marx và những người khác) đưa ra một phê phán rất mạnh về tôn giáo và kinh nghiệm tôn giáo. Theo quan điểm của họ, mọi trải nghiệm tôn giáo đơn thuần chỉ là phóng chiếu chủ quan, không hơn không kém. Với họ, trong đức tin và trong giữ đạo, chúng ta mãi mãi tạo cho mình hình ảnh một vị thần giống chúng ta, để phục vụ lợi ích riêng của chúng ta. (Phản đề chính xác với những gì người tín hữu kitô tin tưởng.) Ví dụ với triết gia Nietzsche. không có mặc khải thiêng liêng nào đến từ bên ngoài chúng ta, không có Chúa trên trời nào mạc khải sự thật thiêng liêng cho chúng ta. Mọi thứ đều là của chúng ta, phóng chiếu những nhu cầu của chúng ta và tạo một vị thần để phục vụ những nhu cầu đó. Mọi tôn giáo đều mang tính tư lợi, phóng chiếu của con người.

Điều này đúng đến mức nào? Linh mục Dòng Tên Michael Buckley, một trong những giáo sư có ảnh hưởng nhất của tôi, trước những lời chỉ trích này, ngài nói: Những nhà tư tưởng này đúng 90%. Nhưng họ sai 10% – và 10% này tạo nên khác biệt.

Linh mục Buckley đưa ra nhận xét này khi giảng dạy điều mà Thánh Gioan Thánh Giá gọi là đêm tối tâm hồn. Đêm tối tâm hồn là gì? Đó là trải nghiệm mà chúng ta không còn có thể cảm nhận được Chúa một cách tưởng tượng hay cảm nhận Chúa một cách đầy cảm xúc, khi chính ý thức về sự tồn tại của Chúa cạn kiệt bên trong chúng ta và chúng ta bị bỏ lại trong bóng tối bất khả tri, bất lực (trong đầu, trái tim và trong ruột) để gợi lên bất cứ điều gì cảm nhận về Chúa.

Tuy nhiên, và đây chính là vấn đề, chính vì chúng ta bất lực và không thể gợi lên bất kỳ khái niệm tưởng tượng hay cảm xúc tình cảm nào về Chúa, nên Chúa giờ đây có thể đi vào chúng ta một cách thuần khiết mà chúng ta không thể tô màu hay làm ô nhiễm trải nghiệm này. Khi mọi nỗ lực của chúng ta đều vô ích, cuối cùng ân sủng có thể chiếm lĩnh và tuôn vào chúng ta một cách thuần khiết. Quả thực, đó là cách mà tất cả mặc khải đích thực đi vào thế giới chúng ta. Khi sự bất lực của con người làm chúng ta không có khả năng bắt Thiên Chúa phục vụ lợi ích riêng của mình, thì Thiên Chúa có thể tràn vào cuộc sống của chúng ta mà không bị ô nhiễm.

Và điều này cũng đúng với tình yêu con người. Rất nhiều tình yêu chúng ta dành cho nhau, dù chúng ta chân thành nhưng đều mang màu sắc tư lợi cá nhân và đôi khi ích kỷ. Theo một cách nào đó, chúng ta chắc chắn sẽ biến những người chúng ta yêu thương thành hình ảnh và chân dung của chính chúng ta. Tuy nhiên, giống như linh mục Buckley phê phán các nhà tư tưởng vô thần thời Khai sáng, điều này không phải lúc nào cũng đúng. Có một số tình huống nào đó khi chúng ta không thể giữ tình yêu và biến nó thành tư lợi. Những tình huống này là gì? Chính xác là những người mà chúng ta thấy mình hoàn toàn bất lực, câm lặng, trì trệ, không thể nói hoặc làm điều gì hữu ích. Trong những “đêm đen tối của tâm hồn” đặc biệt này, khi chúng ta hoàn toàn bất lực trong việc định hình trải nghiệm, tình yêu và ân sủng có thể tuôn chảy một cách thuần khiết và mạnh mẽ. Trong tác phẩm kinh điển Môi trường thần thánh, Pierre Teilhard de Chardin thách thức chúng ta giúp đỡ người khác thông qua hoạt động và sự thụ động của chúng ta. Ngài Ông có lý. Chúng ta có thể có khả năng sáng tạo thông qua những gì chúng ta tích cực làm cho người khác, và chúng ta có thể đặc biệt có khả năng sáng tạo khi, trong bất lực, chúng ta thụ động đứng bên cạnh người đang đau khổ.

Tình yêu vượt quá cái chết

Gilbert K. Chesterton từng nói, kitô giáo là nền dân chủ duy nhất mà người chết cũng được bỏ phiếu. Tôi xin chia sẻ hai câu chuyện về khía cạnh này.

Trong một hội nghị tôi tham dự, một nhà tâm lý đã chia sẻ câu chuyện như sau: Một phụ nữ trong tâm trạng khá sầu thảm đến văn phòng ông. Bà bất an vì cuộc nói chuyện với chồng ngay trước khi ông mất. Bà kể, hai vợ chồng bà hạnh phúc suốt 30 năm, không hề có cãi nhau to tiếng giữa họ. Rồi đến một ngày nọ, họ cãi nhau về một chuyện vặt vãnh (bà còn không nhớ đó là chuyện gì). Cuộc cãi vã kết thúc trong giận dữ, ông chồng đùng đùng bỏ đi làm, rồi chết vì trụy tim ngày hôm đó, khi họ chưa có cơ hội nói chuyện lại với nhau.

Thật quá bất hạnh! Ba mươi năm không có chuyện gì nghiêm trọng, thế mà bây giờ, những lời cuối cùng họ lại nói với nhau những lời giận dữ. Ban đầu, nhà tâm lý học bông đùa bảo đảm với bà, lỗi là ở người chồng quá cố, ông đã chọn chết ở thời điểm khó xử như vậy, để bà sống trong mặc cảm tội lỗi!

Ông hỏi bà, “nếu bây giờ chồng bà ở đây, bà sẽ nói gì với ông?” Bà trả lời, bà sẽ xin lỗi và sẽ nói với ông chuyện hôm đó chẳng là gì so với bao nhiêu năm họ ở bên nhau, bao tình yêu họ đã dành cho nhau. Ông cam đoan với bà, chồng bà đang sống trong sự hiệp thông các thánh và đang ở bên họ lúc này. Rồi ông nói thêm, “sao bà không ngồi đây mà nói với ông những lời bà vừa nói, rằng tình yêu chung thủy của hai người với nhau lấn át hoàn toàn cuộc nói chuyện cuối cùng này. Thật sự, hãy cùng nhau cười với chuyện oái oăm này”.

Câu chuyện thứ hai. Gần đây, tôi gặp một gia đình mà người cha gia đình đã tự tử cách đây 20 năm. Qua thời gian, họ có được bình an với chuyện này, nhưng cũng như các gia đình có người thân mất vì tự tử, vẫn còn một chút đau lòng trong lòng họ. Họ đã tha thứ cho người cha, đã tha thứ cho bản thân mình vì những gì không làm được, và tha thứ cho Thiên Chúa vì sự bất công khi Chúa để cho cái chết xảy ra như thế này. Nhưng họ vẫn còn một điều gì đó chưa xong, một điều gì đó họ cảm nhận nhưng không xác định được (dù 20 năm đã trôi qua, dù mọi tha thứ, dù đã thông hiểu về việc tự tử). Tôi cũng không thể xác định được nó, chỉ có thể gợi ý một phương thuốc mà thôi.

Tôi gợi ý họ nên có một buổi nghi thức tôn vinh tình yêu dành cho người cha, tôn vinh món quà là chính cuộc sống của ông, và chuộc lại cách ra đi bất hạnh của ông. Tôi gợi ý: Hãy chọn một ngày, có thể là sinh nhật ông, hoặc ngày giỗ của ông. Cả nhà tụ họp lại và tổ chức một lễ mừng vui vẻ, với bong bóng, rượu ngon, với tinh thần thoải mái. Hãy chia sẻ những câu chuyện về ông, nêu bật những câu chuyện vui vẻ của ông, vui cười, phấn khởi, những câu chuyện khi ông tạo bầu khí sinh lực đặc biệt cho mọi người. Hãy mừng những chuyện đó với đồ ăn ngon, rượu ngon, tiếng cười và tình yêu. Ông vẫn ở với các bạn. Các bạn vẫn ở trong sự thông hiệp sự sống với ông. Ông đang vui vẻ. Hãy mừng điều đó cùng ông. Hãy cất đi gánh nặng 20 năm. Thiếu đi dạng lễ mừng này chính là điều không nói ra được giữa các bạn và người cha.

Những câu chuyện như thế này có thể hấp dẫn và mơ mộng, nhưng chúng có nền tảng vững chắc, được xác định trong giáo lý kitô giáo, có căn nguyên nơi đức tin dạy rằng chúng ta đang hiệp thông với nhau trong Nhiệm thể Chúa Kitô. Là tín hữu kitô, chúng ta tin mình đang hiệp thông với nhau trong một thân thể sống (một thân thể chứ không phải là một tổ chức) và sự hiệp thông trong một thân thể này bao hàm toàn thể chúng ta, cả người sống lẫn người chết. Chúng ta có thể giao tiếp với nhau, xin lỗi nhau, bù đắp cho nhau và mừng cuộc sống cũng như sinh lực của nhau, kể cả khi có người trong chúng ta đã qua đời. Là tín hữu kitô, chúng ta được mời gọi cầu nguyện cho người chết. Không ngạc nhiên khi có kitô hữu khó chịu về điều này, phản đối rằng Thiên Chúa đâu cần chúng ta nhắc để yêu thương và tha thứ. Họ nói đúng, nhưng xét đến cùng, đó đâu phải là lý do chúng ta cầu nguyện cho những người thân yêu đã mất. Cho dù cách thức cầu nguyện mà chúng ta thường dùng là xin Chúa thương xót, nhưng mục đích thực sự của lời cầu nguyện cho người đã qua đời là để chúng ta giữ liên hệ với họ, thông hiệp sự sống với họ. Mục đích thực sự trong lời cầu nguyện và các nghi lễ của chúng ta dành cho người đã qua đời là để chúng ta tiếp tục ở trong thông hiệp sự sống có chủ ý hơn với họ, để hoàn thành những việc còn dang dở, để xin lỗi, để tha thứ, để xin tha thứ, để vẫn quan tâm đến bầu khí mà họ truyền vào địa cầu này khi họ còn sống, và để thỉnh thoảng nâng ly mừng họ.

Sức mạnh của từ ngữ

Từ ngữ cho chúng ta một ý nghĩa. Chúng ta không thể tạo ra hoặc làm lại hiện thực, nhưng các từ ngữ chúng ta chọn để đặt tên cho thực tế có thể đưa chúng ta ra khỏi trải nghiệm buồn tẻ hàng ngày.

Thật không may, ngày nay nhiều từ chúng ta cần để hiểu cho đúng nghĩa không còn đủ sức mạnh để làm điều đó nữa. Chúng ta như bà Chatterley của D. H. Lawrence. Về thế giới của bà, tác giả Lawrence viết: “Tất cả những từ ngữ vĩ đại đã bị thế hệ của bà hủy bỏ. Tình yêu, niềm vui, hạnh phúc, tổ ấm, làm cha, làm mẹ, làm chồng, tất cả những từ ngữ mang sức sống vĩ đại này giờ đã chết đi một nửa.” Điều đó cũng đúng với chúng ta. Càng ngày, những từ ngữ chúng ta cần càng thiếu ý nghĩa nên những điều sâu sắc không còn sâu sắc nữa. Tại sao?

Ý nghĩa mà chúng ta gán cho sự vật phụ thuộc vào những từ ngữ chúng ta dùng bao quanh chúng. Chẳng hạn, bạn bị đau lưng kinh niên. Một cách sinh học, bác sĩ có thể cho bạn biết bạn bị viêm khớp để giải thích cơn đau của bạn, bạn cảm thấy dễ chịu hơn vì triệu chứng sẽ giảm khi biết nguyên do. Tuy nhiên nếu bạn đi gặp một tâm lý gia, cũng cùng triệu chứng tương tự, bà có thể nói bạn bị một chứng đau gì khác hơn là vấn đề y khoa: “Bạn đang gặp khủng hoảng tuổi trung niên.” Và thật yên tâm nếu bạn biết đây chỉ là chuyện nhói đau vì tuổi. Nhưng chuyện này có thể đi xa hơn. Khi bạn nói chuyện với một người linh hướng, bạn được biết chứng đau này là thập giá bạn phải vác, vườn Giếtsêmani của bạn, đêm tối của tâm hồn, cuộc lưu đày đến Babylon, trải nghiệm sa mạc của bạn. Nỗi đau thông thường bây giờ trở thành một cái gì đó có ý nghĩa, nó mang ý nghĩa tôn giáo. Ý nghĩa của một điều gì đó phụ thuộc vào những từ chúng ta dùng để mô tả nó.

Điều tương tự cũng xảy ra với tình yêu. Thế nào là “phải lòng?” Thế nào là “ăn ý”? Thế nào là tìm được “bạn tâm giao”? Cách giải thích cuối cùng này không bỏ đi một “hấp lực hóa học” nhưng nó bổ sung thêm cho tâm hồn được phong phú. Một tập hợp từ ngữ sâu sắc hơn sẽ định hình trải nghiệm của bạn, dựa trên một chân trời rộng lớn hơn và đó là bí quyết để có được ý nghĩa sâu sắc hơn.

Trong quyển sách Sự đóng kín tâm trí của người Mỹ (The Close of the American Mind), tác giả Allan Bloom cho chúng ta ví dụ sau. Là người ngưỡng mộ Plato, ông chia sẻ cách Plato kể việc các học trò của ông ngồi xung quanh, chia sẻ ý nghĩa “khát khao bất tử” của họ. Bloom nói, công việc học sinh của ông muốn ngồi xuống để chia sẻ việc “hứng tình”. Đó là sự khác biệt về ý nghĩa! Những từ ngữ về ham muốn của Plato giờ đây đã chết một nửa trong nền văn hóa chúng ta và những từ chúng ta dùng để thay thế chúng thường thiếu chiều sâu.

Khi chúng ta bao quanh những trải nghiệm hàng ngày bằng những từ ngữ sâu sắc hơn, những trải nghiệm – tình yêu, niềm vui, tình dục, nỗi đau, hạnh phúc, hôn nhân, làm cha, làm mẹ, làm chồng, làm vợ, pha cà phê, uống cà phê, làm những công việc nhà bình thường – sẽ chứa đựng điều gì đó vượt thời gian, vĩnh cửu. Ý nghĩa và hạnh phúc không nằm ở nơi chúng ta đang sống và những gì chúng ta đang làm mà là cách chúng ta nhìn nhận và gọi tên nơi chúng ta đang sống và những gì chúng ta đang làm. Một trải nghiệm chỉ tuyệt vời khi chúng ta cho nó có một tên riêng.

Có một câu chuyện nổi tiếng của một ký giả phỏng vấn hai công nhân tại một công trường nơi đang xây ngôi nhà thờ mới. Cô hỏi người đầu tiên: “Anh làm nghề gì?” Anh trả lời: “Tôi là thợ nề”. Cô hỏi đồng nghiệp của anh: “Anh làm nghề gì?” Anh trả lời: “Tôi đang xây nhà thờ chính tòa!” Quan điểm thay đổi mọi thứ và nó xuất phát từ cách chúng ta hiểu và đặt tên cho những gì chúng ta đang trải qua.

Nhà thơ người Canada, J.S. Porter từng viết: “Khi bạn lấy đi bầu trời, trái đất sẽ héo úa!” Ông đúng. Khi chúng ta không bao quanh các hoạt động thông thường của mình bằng những từ ngữ và ký hiệu thích hợp, chúng ta sẽ sớm mất đi mọi mê hoặc và những trải nghiệm của chúng ta trở nên gần như chết dở. Chúng ta cần một tầm nhìn rộng, những biểu tượng cao cả và những ngôn từ phù hợp để biến cuộc sống bình thường, tưởng chừng như trần tục của chúng ta thành chất liệu của thơ ca và lãng mạn.

Nhà thơ Rainer Maria Rilke nhận một bức thư của một chàng trai trẻ phàn nàn, anh khó thành nhà thơ vì anh sống ở tỉnh lẻ, nơi cuộc sống quá giản dị, quá quê mùa và quá ít thời gian để tạo cảm hứng cho thơ. Câu trả lời của Rilke như sau: Nếu với bạn, cuộc sống hàng ngày của bạn có vẻ nghèo nàn, thì hãy tự nhủ bạn không đủ thơ ca để ca ngợi sự phong phú của nó, vì không có nơi nào hoặc cuộc sống nào trên trái đất này mà không phong phú. Mỗi cuộc đời đều có khả năng là chất liệu của thơ ca, của lãng mạn, của siêu phàm.

Bí quyết để khơi dậy những phong phú này là gì?

Tôi tin rằng G. K. Chesterton đã đúng khi nói, chúng ta cần học cách nhìn những thứ quen thuộc cho đến khi chúng trông xa lạ trở lại. Chúng ta khao khát một cứu rỗi không lành mạnh chỉ thông qua sự mới lạ, trong khi trên thực tế, những từ ngữ chúng ta cần để nâng nâng tầm cao của thơ ca và siêu phàm lại thường tìm thấy trong những giếng đức tin cổ xưa, trên những tấm giấy da cổ của Kinh thánh, trong những thứ quá quen thuộc, những bài thánh ca và những lời tuyên xưng mà chúng ta gọi là Kinh Tin Kính.

Khi ngôn ngữ của chúng ta nửa sống nửa chết, có thể chúng ta cần học lại một số ngôn ngữ cũ.

Suy nghĩ xấu

Có người từng châm biếm rằng chúng ta dùng nửa đầu đời để vật lộn với giới răn thứ sáu – Chớ ngoại tình, rồi dùng nửa đời sau để vật lộn với giới răn thứ năm – Chớ giết người! Câu này có một sự thật đáng để chúng ta xem xét.

Trong đạo công giáo mà tôi được nuôi dạy, có sự nhấn mạnh rất lớn vào giới răn thứ sáu. Tình dục và các vấn đề liên quan đến tình dục bị cho rất rõ, đó là vấn đề của hành vi phạm tội. Mọi tình dục ngoài hôn nhân đều bị xem là có tội, nhưng ảo tưởng tình dục cũng vậy. Nếu bạn thích thú với bất kỳ ảo tưởng tình dục nào thì bạn phải xưng tội với linh mục. Trong cách nói thời đó, thì chuyện này bị gọi là “có suy nghĩ xấu”. Vì bản tính con người và vì các kích thích tố, chắc chắn gần như ai cũng có “suy nghĩ xấu”.

Khi lớn lên, tôi bắt đầu nghĩ các ảo tưởng tình dục không phải là mối nguy thật sự về mặt suy nghĩ xấu. Khi thêm tuổi, những suy nghĩ xấu chúng ta cần xưng tội nhất lại liên quan nhiều hơn đến giới răn khác, đó là “chớ giết người”. Những suy nghĩ xấu ngăn chúng ta đến với tình yêu, cộng đồng và bàn tiệc thiên quốc nhất, là những suy nghĩ liên quan đến người chúng ta giận, người mà chúng ta không đội trời chung, người chúng ta không muốn ngồi cùng bàn, người chúng ta muốn báo thù, người chúng ta không thể tha thứ và người chúng ta không ủng hộ thái độ sống của họ.

Cha Henri Nouwen từng nói, rất lâu trước khi người nào bị bắn, thì họ đã bị bắn bằng lời lẽ, và rất lâu trước khi họ bị bắn bằng lời thì họ đã bị bắn bằng suy nghĩ. Những suy nghĩ kiểu như: Bà đó quá tự mãn! Tôi ghét bà! Tôi không thể ở cùng phòng với bà nổi! Chúng ta giết nhau trong suy nghĩ, trong xét đoán, trong thù ghét, ghen tị và tránh né nhau. Đây là những suy nghĩ xấu mà chúng ta cần xưng nhất.

Hơn nữa, đó chỉ là những hình thức thô thiển nhất trong những gì chúng ta phạm điều răn chớ giết người. Chúng ta còn có “suy nghĩ xấu” theo những cách tinh vi hơn thế. Chúng ta còn giết nhau mỗi khi chiều theo những ảo tưởng tự đại, ảo tưởng mình là siêu sao, xuất chúng, hơn người, ưu việt, và xem người khác thấp kém hơn mình. Cũng như những ảo tưởng tình dục, những ảo tưởng này đi kèm với sức mạnh chúng ta khó cự lại. Như những ảo tưởng tình dục, chúng bủa vây chúng ta bằng sự ấm áp tự thỏa mãn.

Nhưng tại sao chúng sai trái? Chiều theo những ảo tưởng rằng chúng ta đặc biệt, xuất chúng và anh hùng thì có gì sai?

Ngắn gọn, tự chúng thì không sai về luân lý. Nghĩ mình đặc biệt thì không phải là tội, nhất là khi chúng ta đặc biệt thật! Thiên Chúa tạo nên mỗi một người đều đặc biệt và độc nhất vô nhị, nhận ra mình như thế thì không có gì sai. Hơn nữa, trong phần lớn cuộc đời, như thế lại có thể là lành mạnh. Phải về sau này, vấn đề mới nảy sinh, khi đến lúc chúng ta phải bắt đầu xem lại bản thân một cách dũng cảm và dữ dội hơn, đối diện với những thứ trong nội tâm đang ngăn cản chúng ta nên một với mọi sự. Đừng nghĩ câu “nên một với mọi sự” có vẻ quá phật giáo, hay ấn giáo, kitô hữu chúng ta cũng nghĩ rằng tình trạng cuối cùng của mình trên thiên đàng sẽ như vậy, làm một với mọi sự, với Thiên Chúa, với tha nhân, với vũ trụ và với chính mình.

Dù tự thân những ảo tưởng này không sai, nhưng chúng bồi đắp cho sự tách rời của chúng ta với tha nhân, đặt mình xa cách họ, ưu việt hơn họ, và cuối cùng, nó là vật cản cho sự hiệp nhất trong tình yêu với những gì chúng ta được kêu gọi và tiền định. Chúng cũng là cách để chúng ta giết nhau, dành vị trí chủ bàn tiệc cho chính mình.

Chúng ta dành phần lớn đời mình đấu tranh với giới răn thứ sáu. Tuy nhiên, hầu hết chúng ta cuối cùng phải đấu tranh với giới răn thứ năm còn cam go hơn nữa. Dụ ngôn trong phúc âm về người con hoang đàng cho chúng ta thấy rõ vài điều về chuyện này. Người cha (Thiên Chúa) có hai con trai, và ông cố xin cả hai vào nhà (thiên đàng). Người con thứ, người con hoang đàng bỏ nhà đi vì những vấn đề với giới răn thứ sáu. Dù vậy, cuối cùng anh về với người cha và vào nhà. Người anh cả, không hề rời nhà, nhưng lại ở ngoài nhà cha vì anh đang chiến đấu với một thứ khác, là giận dữ, cay đắng, ghen tị và phán xét. Anh đang chiến đấu với những suy nghĩ xấu. Anh đang giết em mình bằng phán xét, ghen tương, bằng những ảo tưởng về sự ưu việt đạo đức của mình.

Cái kết của dụ ngôn này đáng để chúng ta để ý. Chuyện không kết lại với việc ăn mừng người em trở về và đoàn tụ với gia đình. Chuyện kết lại với việc người cha đứng bên ngoài nhà, ân cần vỗ về người con cả ghen tương, cay đắng, phán xét, ân cần dỗ dành anh bỏ đi những suy nghĩ xấu của mình.

Một dạng nghèo khó tinh tế hơn

Có những cách bị loại trừ trong đời khác nhau.

Đầu năm nay, một trong các anh lớn của tôi qua đời. Theo mọi tiêu chuẩn, anh đã sống một cuộc đời gương mẫu, chủ yếu sống vì người khác. Anh chết trong tình yêu thương tha thiết của mọi người quen biết anh. Cuộc đời anh sống vì gia đình, cho Giáo hội, cho cộng đồng và bạn bè.

Khi giảng trong tang lễ của anh, tôi chia sẻ, trong khi anh luôn đem lại nụ cười và sự phúc hậu, nhiều lúc là cả sự hóm hỉnh, nhưng ẩn sâu trong lòng, đôi khi anh phải cố gắng lắm để luôn làm như thế. Vì sao? Vì dù anh đã dành trọn cuộc sống trưởng thành để phục vụ người khác, nhưng phần lớn trong đời, anh không có nhiều lựa chọn trong những chuyện đó. Câu chuyện của anh tôi là thế này.

Anh là một trong số anh lớn trong nhà, thuộc gia đình nhập cư đông con thế hệ thứ hai, vật lộn với nghèo đói ở một vùng nông thôn hẻo lánh tại vùng đồng cỏ Canada, nơi không dễ để đi học vào thời đó. Cho nên, với anh và những người đồng trang lứa, cả nam và nữ, dự tính bình thường là sau khi học xong tiểu học thì nghỉ học và bắt đầu làm việc phụ giúp gia đình. Thêm nữa, khi anh học xong tiểu học, lúc đó cũng không có trường trung học để anh học tiếp. Đáng tiếc hơn, có lẽ anh là người có thiên tư và sáng láng nhất nhà. Không phải anh không muốn tiếp tục học, nhưng vào thời đó, anh làm những gì mà hầu hết những người đồng trang lứa của anh làm, nghỉ học và bắt đầu làm việc, góp hết tiền lương hàng tháng để phụ giúp gia đình. Anh đã làm thế với tâm hồn vui vẻ, biết rằng đây là điều mình được mong chờ để làm.

Suốt thời gian từ lúc bắt đầu đi làm năm 16 tuổi, cho đến khi tiếp quản nông trại của gia đình năm ba mươi mấy tuổi, anh đã làm nông, làm thợ nề, và đủ thứ nghề, từ lái máy xúc cho đến lái xe tải. Hơn thế nữa, khi bố mẹ chúng tôi qua đời và anh tiếp quản nông trại, anh bị áp lực phải giữ nông trại này để nuôi sống gia đình trong nhiều năm trời. Đến lúc anh được ra khỏi trách nhiệm này thì cũng đã quá muộn để anh đi học lại. Những năm trước khi anh nghỉ hưu, anh hăng hái tham gia các chương trình giáo dục và mục vụ giáo dân, giúp anh được hăng hái về cảm xúc và phát triển về tri thức. Một phần hy sinh của anh là anh chưa hề kết hôn, không phải vì anh thích độc thân, mà vì những chuyện đã ràng buộc anh với bổn phận, làm cho anh không bao giờ có đủ cơ hội để kết hôn.

Sau khi chia sẻ câu chuyện của anh trong bài giảng, có vài người đã nói với tôi: Anh tôi cũng thế! Chị tôi cũng thế! Bố tôi cũng thế! Mẹ tôi cũng thế!

Từ nhỏ đã thấy người anh của mình như vậy, nên ngày nay, hễ thấy ai làm những công việc phục vụ như nấu ăn trong căn-tin, quét dọn nhà cửa, cắt cỏ, làm thợ nề, làm lao công và những công việc tương tự, tôi thường tự hỏi, họ có giống anh mình không? Họ có chọn làm công việc này hay họ làm vì hoàn cảnh bắt buộc? Người này có muốn làm bác sĩ, nhà văn, giáo viên, doanh nhân hay CEO, rồi cuối cùng lại phải làm công việc này vì kinh tế hay vì hoàn cảnh nào đó? Đừng hiểu lầm ý tôi. Những công việc đó không có gì là hạ giá hay kém cao quý cả. Thật sự là làm việc tay chân có lẽ là công việc lương thiện nhất, không như công việc của tôi trong cộng đồng hàn lâm, rất dễ vị kỉ và gần như là không thích đáng. Làm việc tay chân có một phẩm giá cao quý, như anh tôi đã có. Tuy nhiên, dù tầm quan trọng và phẩm giá của công việc đó, hạnh phúc của người làm việc đó đôi khi phụ thuộc vào việc họ có lựa chọn hay không, nghĩa là họ làm việc đó vì họ chọn hay là vì những yếu tố khác nhau, như kinh tế gia đình, thân phận nhập cư, thiếu cơ hội, buộc họ phải làm những việc này.

Khi thấy những người này trong cuộc sống hằng ngày, tôi cố để ý đến họ và trân trọng việc phục vụ của họ cho chúng ta. Đôi khi tôi tự nhủ: Đây có thể là anh mình. Đây có thể là chị mình. Đây có thể là người thông minh nhất nhà nhưng lại không có cơ hội để làm bác sĩ, nhà văn, y tá, giáo viên hay nhân viên xã hội. Nếu như Chúa Giêsu đã hứa rằng trong đời sau, sẽ có sự đảo ngược, người đứng cuối sẽ đứng đầu, thì tôi mong là những người này, như anh tôi, người đã bị lấy đi những cơ hội mà chúng ta có được, sẽ hiểu thấu lòng tôi với một tâm tình đồng cảm hơn cả sự thấu hiểu của tôi dành cho họ trong đời này.

Lối sống của chúng ta và hành tinh đang kiệt quệ

Trong Quyển sách của Hy vọng, đồng tác giả với Jane Goodall, Douglas Abrams đã tuyên bố: Tạo nên nhân loại có lẽ là sai lầm lớn nhất của sự tiến hóa.

Ông nói câu đùa thâm thúy này vì ông công nhận rằng sự xuất hiện của loài người rõ ràng là theo ý định của quá trình tiến hóa và thay vì là một sai lầm khủng khiếp, nó là tột đỉnh của quá trình đó. Dù gì, ngày nay, loài người là mối đe dọa lớn nhất đối với hành tinh trái đất. Nói đơn giản, hiện giờ trên hành tinh này có hơn bảy tỷ người, và chúng ta đang dùng nguồn tài nguyên có hạn nhanh hơn mức mà tự nhiên có thể bù đắp vào. Đến năm 2050, sẽ có khoảng mười tỷ người. Nếu chúng ta cứ làm như lâu nay, hành tinh này sẽ không thể gánh nổi chúng ta, ít nhất là nếu chúng ta cứ tiếp tục lối sống hiện tại.

Và lối sống này không phải là nói đến lối sống xa hoa của người giàu có thể tùy tiện và tiêu thụ nhiều hơn phần của mình. Dĩ nhiên, họ góp phần vào vấn đề và ảnh hưởng lớn đến số còn lại chúng ta về thói quen tiêu thụ, nhưng lối sống mà tôi nói đến ở đây, là điều mà tôi và bạn, những người tiêu thụ có ý thức, đang sống, thậm chí cả trong những lúc chúng ta bảo tồn, tái chế, làm phân, lái xe điện và cố sống đơn giản.

Bản thân tôi là ví dụ. Tôi đang cố nhạy bén về ảnh hưởng từ sự tiêu thụ của tôi với mẹ Trái đất. Khi so với những người có lối sống xa hoa, tôi có thể nói tôi sống rất đơn sơ. Tôi không mua thứ mình không cần, áo quần không có mấy bộ, và rất để ý đến chuyện dùng điện nước. Tôi lái chiếc xe nhỏ second-hand (xe mua lại) và cố gắng chỉ lái khi cần thiết. Tôi bảo đảm máy sưởi trong nhà được chỉnh cố định để tiêu thụ điện năng ít nhất có thể, và tôi sống trong căn nhà tương đối nhỏ, tái chế và cố dùng ít đồ nhựa nhất có thể.

Nhưng mặt khác, tôi có hai máy tính, một máy bàn ở văn phòng và một laptop ở nhà. Tôi có điện thoại di động, dù qua nhiều năm tôi chỉ nâng cấp điện thoại bốn lần, là mua mẫu mới và bỏ cái cũ. Tôi tắm hằng ngày, và tùy hoạt động thể chất, đôi khi tôi tắm hai lần. Tôi lái xe. Tôi đi máy bay ít nhất mỗi tháng một lần để dự các hội nghị và hội họp, và mỗi năm vài lần, tôi bay quốc tế để thăm gia đình. Tôi không có nhiều áo quần, nhưng việc mục vụ và công việc của tôi yêu cầu tôi có y phục tiêu chuẩn (và tôi đáp ứng được mức tối thiểu).

Với nơi tôi sống và công việc tôi làm, tôi nghĩ có thể nói rằng mình có lối sống đơn sơ. Tuy nhiên, một cách thực tế, nếu bảy tỷ người trên thế giới đều sống như tôi, thì sẽ không đủ tài nguyên để nuôi dưỡng chúng ta. Rốt cuộc là gì, thế giới không thể chu cấp nổi cho tám tỷ người, nếu ai cũng sống như tôi, và như hầu hết chúng ta đang sống ở những vùng thịnh vượng của thế giới. Vậy giải pháp là gì?

Chúng ta có thể trách tội mình hoặc người khác, cho dù việc đó không hẳn là có ích gì. Vậy điều gì mới có ích? Không có câu trả lời dễ dàng cho chuyện này. Những người sống ở những vùng thịnh vượng của thế giới như chúng ta có thể tạo ra thay đổi, nhưng chúng ta có thể ngừng sử dụng máy tính và điện thoại hay không? Chúng ta có thể hạn chế sử dụng nước, chúng ta có thể bỏ các tiêu chuẩn vệ sinh hiện tại của mình không? Chúng ta có thể hạn chế sử dụng điện, nhưng chúng ta có thể không lái xe và để các tòa nhà thành phố của mình tối om ban đêm không? Chúng ta ta có thể bớt mức độ di chuyển bằng máy bay, nhưng chúng ta có thể sống thiếu du lịch đường hàng không? Chúng ta có thể cắt giảm những gì chúng ta mua mà bị xem là ăn uống, ăn mặc quá mức, xa hoa và giải trí quá mức. Chúng ta có thể tái chế, phân hủy, và không dùng túi nhựa – tất cả những chuyện này gộp lại sẽ tạo nên khác biệt. Thật vậy, cần phải làm tất cả mọi chuyện này. Tuy nhiên, dù chúng hữu ích, nhưng nếu chỉ có chúng thì không giải quyết được vấn đề.

Với Jane Goodall, vượt ngoài những chuyện cá nhân này, chúng ta cần làm những chuyện tập thể để giải quyết mối đe dọa hiện hữu với trái đất. Goodall nêu ra ba điều: Trước hết, phải giảm nghèo đói. Nếu có người sống trong nghèo đói đến mức tê liệt cuộc sống, thì cũng dễ hiểu khi họ chặt cái cây cuối cùng hoặc bắt con cá cuối cùng, vì họ quá tuyệt vọng kiếm miếng ăn cho gia đình. Thứ hai, chúng ta phải loại bỏ sự tham nhũng của chính phủ và sự tham lam của các công ty. Không có chính phủ tốt và không có công ty biết quan tâm đến công ích, thì không thể nào giải quyết được các vấn đề môi trường và xã hội khổng lồ. Hơn nữa, những người vì tư lợi mà không chịu đối diện với vấn đề sẽ không cảm thấy có thách thức nào đặt ra cho họ. Cuối cùng, như một tập thể, chúng ta phải thực tế đối diện với sự căng thẳng giữa lối sống của chúng ta và dân số đang ngày một tăng trên trái đất. Những người tiêu thụ bất cần suy nghĩ là một phần vấn đề, nhưng số còn lại chúng ta cũng vậy, bao gồm cả tôi, những người tự xem mình là sống đơn sơ.

Nỗi cô đơn sâu thẳm nhất

Nhà tâm lý học Robert Coles ở trường đại học Harvard, khi mô tả triết gia thần nghiệm người Pháp, Simone Weil, ông cho rằng điều mà bà thật sự chịu đựng và cũng là động lực cho cuộc đời của bà, chính là sự cô đơn về tinh thần. Cô đơn tinh thần là gì?

Cô đơn tinh thần là điều mà chúng ta trải nghiệm khi khắc khoải về ái lực tinh thần, nghĩa là khao khát một tri kỷ, một người gặp chúng ta, hiểu chúng ta và tôn trọng những gì thâm sâu nhất, quý báu nhất trong chúng ta.

Chúng ta cô đơn theo nhiều cách. Chúng ta cảm thấy khắc khoải dù đang trải nghiệm sự thân mật, chúng ta thấy hoài niệm về một mái ấm mà chúng ta không bao giờ thật sự tìm được. Có sự cô đơn, thao thức, một khắc khoải, khao khát, thiết tha, yêu thích, bất an, hoài niệm và vô tận trong chúng ta và chúng không bao giờ cảm thấy trọn vẹn.

Hơn nữa, sự bất tịnh này nằm ở trọng tâm chứ không phải ở bên rìa trải nghiệm của chúng ta. Chúng ta không phải là những người yên nhàn đôi lúc cảm thấy thao thức, không phải là những người thanh bình đôi lúc cảm thấy bất an, không phải là những người viên mãn đôi lúc cảm thấy chán nản. Đúng hơn, chúng ta là những sinh vật bồn chồn đôi lúc tìm được nghỉ ngơi, những con người bất an đôi lúc tìm được sự thanh tĩnh, những con người bất mãn đôi lúc tìm được sự thỏa mãn.

Và trong nhiều khao khát này, có một khao khát thâm sâu hơn những khao khát khác. Điều mà chúng ta khao khát tối hậu, điều ẩn dưới mọi sự khác, chính là ái lực tinh thần, một tri kỷ, một người gặp gỡ chúng ta ở nơi thâm sâu trong tâm hồn chúng ta, một người tôn trọng mọi sự quý báu nơi chúng ta. Hơn cả khao khát tìm được ai đó ngủ cùng mình về mặt tình dục, chúng ta khao khát ai đó ngủ cùng mình về mặt tinh thần.

Như vậy có nghĩa là gì?

Có thể diễn đạt như thế này: Mỗi một người chúng ta nuôi dưỡng một ký ức mơ hồ về một thời từng được chạm đến và âu yếm bởi những bàn tay trìu mến hơn hẳn bàn tay chúng ta. Sự âu yếm đó để lại một dấu tích không phai, một ghi dấu tình yêu quá dịu dàng, quá tốt đẹp và thuần khiết đến nỗi ký ức đó trở thành lăng kính để chúng ta nhìn mọi sự khác. Các thần thoại cổ xưa diễn tả chuyện này rất hay khi bảo với chúng ta, trước khi chúng ta được sinh ra, Thiên Chúa đã hôn linh hồn chúng ta, và chúng ta bước vào cuộc đời luôn ghi nhớ nụ hôn đó một cách trực giác, đánh giá mọi sự khác bằng cách đối chiếu với nụ hôn đó, với sự thuần khiết, dịu dàng và vô điều kiện ban đầu của nụ hôn đó.

Ký ức vô thức về một thời được Thiên Chúa chạm đến và âu yếm tạo trong chúng ta một nơi thâm sâu nhất, nơi chúng ta giữ những chuyện quý báu nhất và thiêng liêng nhất của mình. Khi chúng ta nói chuyện gì đó “nghe rất đúng”, thì thật ra chúng ta đang nói, nó tôn trọng chốn thâm sâu đó trong lòng mình, nó tương hợp với chân lý, với dịu dàng và thuần khiết sâu sắc mà chúng ta đã từng trải nghiệm.

Từ nơi này xuất phát tất cả những gì là sâu sắc nhất, chân thực nhất trong chúng ta, cả những nụ hôn và giọt nước mắt. Nghịch lý thay, đây là nơi chúng ta canh giữ đề phòng người khác, dù cho đó là nơi chúng ta muốn người khác bước vào nhất, với điều kiện là người bước vào tôn trọng sự thuần khiết, dịu dàng, vô điều kiện của sự âu yếm ban đầu mà Thiên Chúa đã tạo thành chốn dịu dàng đó.

Đây là nơi của thân mật sâu thẳm và cô đơn sâu sắc, nơi chúng ta ngây thơ vô tội, nơi chúng ta bị xâm phạm, nơi chúng ta thánh thiện, là đền thờ của Thiên Chúa, là đền thiêng tôn kính và là nơi chúng ta băng hoại khi hành động trái với chân lý. Đây là trung tâm tinh thần của chúng ta, và cơn khắc khoải chúng ta cảm thấy có thể được gọi là cô đơn tinh thần. Chúng ta khao khát tri kỷ là vì nó.

Và trong khao khát này, trong khắc khoải khôn nguôi này, chúng ta được thôi thúc hướng ra ngoài, như người nữ trong sách Diễm ca, chúng ta khắc khoải tìm kiếm một người ngủ cùng mình về mặt tinh thần.

Đôi khi khao khát đó dán chặt vào một người nào đó, và sự cố định đó có thể ám ảnh đến nỗi chúng ta đánh mất tự do về cảm xúc. Như nền văn hóa của chúng ta, chúng ta cũng có thể kết luận, về căn nguyên nó là khao khát sự giao hợp tình dục. Nói như thế có phần nào đúng, mặc dù có khiếm diện. Sự giao hợp tình dục, trong dạng chân thực của có, thật sự đúng là gắn kết “thành một xác thịt” được Đấng Tạo Hóa tuyên bố sau khi lên án sự cô đơn “con người ở một mình không tốt”. Ngoài giao hợp tình dục, cuối cùng, người ta luôn phần nào cô đơn, độc thân, tách biệt, một kẻ thiểu số.

Nhưng xét tận cùng, chúng ta cô đơn ở một mức độ mà chỉ tình dục thì không đủ để thỏa mãn. Thâm sâu hơn cả khao khát bạn tình, chúng ta khao khát một ái lực tinh thần. Khao khát thâm sâu nhất của chúng ta là khao khát một người để ngủ cùng về mặt tinh thần, một tinh thần đồng điệu, một tri kỷ.

Những tình bạn và tình vợ chồng tuyệt vời nhất luôn có điều này, cụ thể là ái lực tinh thần. Những người đó là những “tình nhân” theo nghĩa sâu xa của nó, bởi vì họ ngủ với nhau ở mức độ thâm sâu, bất chấp có sự giao hợp tình dục hay không. Ở mức độ cảm giác đó, dạng tình yêu này được trải nghiệm như đi “về nhà”.

Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu từng nói, là con người, chúng ta là “kẻ lưu đày của tâm hồn”, và chúng ta chỉ có thể thắng vượt chuyện này bằng sự giao hợp tinh thần với người khác, nghĩa là ngủ với ngời khác trong tình thiện lành, hân hoan, an bình, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng và đức tin.

Nỗi cô đơn sâu thẳm nhất

2023-10-02

Nhà tâm lý học Robert Coles ở trường đại học Harvard, khi mô tả triết gia thần nghiệm người Pháp, Simone Weil, ông cho rằng điều mà bà thật sự chịu đựng và cũng là động lực cho cuộc đời của bà, chính là sự cô đơn về tinh thần. Cô đơn tinh thần là gì?

Cô đơn tinh thần là điều mà chúng ta trải nghiệm khi khắc khoải về ái lực tinh thần, nghĩa là khao khát một tri kỷ, một người gặp chúng ta, hiểu chúng ta và tôn trọng những gì thâm sâu nhất, quý báu nhất trong chúng ta.

Chúng ta cô đơn theo nhiều cách. Chúng ta cảm thấy khắc khoải dù đang trải nghiệm sự thân mật, chúng ta thấy hoài niệm về một mái ấm mà chúng ta không bao giờ thật sự tìm được. Có sự cô đơn, thao thức, một khắc khoải, khao khát, thiết tha, yêu thích, bất an, hoài niệm và vô tận trong chúng ta và chúng không bao giờ cảm thấy trọn vẹn.

Hơn nữa, sự bất tịnh này nằm ở trọng tâm chứ không phải ở bên rìa trải nghiệm của chúng ta. Chúng ta không phải là những người yên nhàn đôi lúc cảm thấy thao thức, không phải là những người thanh bình đôi lúc cảm thấy bất an, không phải là những người viên mãn đôi lúc cảm thấy chán nản. Đúng hơn, chúng ta là những sinh vật bồn chồn đôi lúc tìm được nghỉ ngơi, những con người bất an đôi lúc tìm được sự thanh tĩnh, những con người bất mãn đôi lúc tìm được sự thỏa mãn.

Và trong nhiều khao khát này, có một khao khát thâm sâu hơn những khao khát khác. Điều mà chúng ta khao khát tối hậu, điều ẩn dưới mọi sự khác, chính là ái lực tinh thần, một tri kỷ, một người gặp gỡ chúng ta ở nơi thâm sâu trong tâm hồn chúng ta, một người tôn trọng mọi sự quý báu nơi chúng ta. Hơn cả khao khát tìm được ai đó ngủ cùng mình về mặt tình dục, chúng ta khao khát ai đó ngủ cùng mình về mặt tinh thần.

Như vậy có nghĩa là gì?

Có thể diễn đạt như thế này: Mỗi một người chúng ta nuôi dưỡng một ký ức mơ hồ về một thời từng được chạm đến và âu yếm bởi những bàn tay trìu mến hơn hẳn bàn tay chúng ta. Sự âu yếm đó để lại một dấu tích không phai, một ghi dấu tình yêu quá dịu dàng, quá tốt đẹp và thuần khiết đến nỗi ký ức đó trở thành lăng kính để chúng ta nhìn mọi sự khác. Các thần thoại cổ xưa diễn tả chuyện này rất hay khi bảo với chúng ta, trước khi chúng ta được sinh ra, Thiên Chúa đã hôn linh hồn chúng ta, và chúng ta bước vào cuộc đời luôn ghi nhớ nụ hôn đó một cách trực giác, đánh giá mọi sự khác bằng cách đối chiếu với nụ hôn đó, với sự thuần khiết, dịu dàng và vô điều kiện ban đầu của nụ hôn đó.

Ký ức vô thức về một thời được Thiên Chúa chạm đến và âu yếm tạo trong chúng ta một nơi thâm sâu nhất, nơi chúng ta giữ những chuyện quý báu nhất và thiêng liêng nhất của mình. Khi chúng ta nói chuyện gì đó “nghe rất đúng”, thì thật ra chúng ta đang nói, nó tôn trọng chốn thâm sâu đó trong lòng mình, nó tương hợp với chân lý, với dịu dàng và thuần khiết sâu sắc mà chúng ta đã từng trải nghiệm.

Từ nơi này xuất phát tất cả những gì là sâu sắc nhất, chân thực nhất trong chúng ta, cả những nụ hôn và giọt nước mắt. Nghịch lý thay, đây là nơi chúng ta canh giữ đề phòng người khác, dù cho đó là nơi chúng ta muốn người khác bước vào nhất, với điều kiện là người bước vào tôn trọng sự thuần khiết, dịu dàng, vô điều kiện của sự âu yếm ban đầu mà Thiên Chúa đã tạo thành chốn dịu dàng đó.

Đây là nơi của thân mật sâu thẳm và cô đơn sâu sắc, nơi chúng ta ngây thơ vô tội, nơi chúng ta bị xâm phạm, nơi chúng ta thánh thiện, là đền thờ của Thiên Chúa, là đền thiêng tôn kính và là nơi chúng ta băng hoại khi hành động trái với chân lý. Đây là trung tâm tinh thần của chúng ta, và cơn khắc khoải chúng ta cảm thấy có thể được gọi là cô đơn tinh thần. Chúng ta khao khát tri kỷ là vì nó.

Và trong khao khát này, trong khắc khoải khôn nguôi này, chúng ta được thôi thúc hướng ra ngoài, như người nữ trong sách Diễm ca, chúng ta khắc khoải tìm kiếm một người ngủ cùng mình về mặt tinh thần.

Đôi khi khao khát đó dán chặt vào một người nào đó, và sự cố định đó có thể ám ảnh đến nỗi chúng ta đánh mất tự do về cảm xúc. Như nền văn hóa của chúng ta, chúng ta cũng có thể kết luận, về căn nguyên nó là khao khát sự giao hợp tình dục. Nói như thế có phần nào đúng, mặc dù có khiếm diện. Sự giao hợp tình dục, trong dạng chân thực của có, thật sự đúng là gắn kết “thành một xác thịt” được Đấng Tạo Hóa tuyên bố sau khi lên án sự cô đơn “con người ở một mình không tốt”. Ngoài giao hợp tình dục, cuối cùng, người ta luôn phần nào cô đơn, độc thân, tách biệt, một kẻ thiểu số.

Nhưng xét tận cùng, chúng ta cô đơn ở một mức độ mà chỉ tình dục thì không đủ để thỏa mãn. Thâm sâu hơn cả khao khát bạn tình, chúng ta khao khát một ái lực tinh thần. Khao khát thâm sâu nhất của chúng ta là khao khát một người để ngủ cùng về mặt tinh thần, một tinh thần đồng điệu, một tri kỷ.

Những tình bạn và tình vợ chồng tuyệt vời nhất luôn có điều này, cụ thể là ái lực tinh thần. Những người đó là những “tình nhân” theo nghĩa sâu xa của nó, bởi vì họ ngủ với nhau ở mức độ thâm sâu, bất chấp có sự giao hợp tình dục hay không. Ở mức độ cảm giác đó, dạng tình yêu này được trải nghiệm như đi “về nhà”.

Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu từng nói, là con người, chúng ta là “kẻ lưu đày của tâm hồn”, và chúng ta chỉ có thể thắng vượt chuyện này bằng sự giao hợp tinh thần với người khác, nghĩa là ngủ với ngời khác trong tình thiện lành, hân hoan, an bình, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng và đức tin.

Quy phục tình yêu

Có lẽ mọi lời mời gọi của Chúa Giêsu với chúng ta có thể gói gọn trong một từ: quy phục. Chúng ta cần quy phục tình yêu.

Nhưng vì sao quy phục lại khó khăn đến thế? Chẳng phải đó là điều tự nhiên nhất trên đời sao? Chẳng phải khát khao sâu thẳm nhất của chúng ta là tìm được tình yêu và quy phục tình yêu đó sao?

Đúng là vậy, khát khao sâu thẳm nhất của chúng ta là quy phục tình yêu, nhưng chúng ta có những kháng cự bẩm tại trong việc để cho bản thân quy phục. Có một vài ví dụ như thế này:

Ở bữa tiệc ly trong Phúc âm Thánh Gioan, khi Chúa Giêsu cố rửa chân cho ông Phêrô, Ngài đã gặp phải sự chống cự kiên quyết – “Không đời nào! Không đời nào con để cho thầy rửa chân cho con!” Nhưng oái oăm thay, có lẽ chính ông Phêrô lại mong mỏi có một thân thiết như thế với Chúa Giêsu hơn bất kỳ điều gì. Nhưng khi Chúa Giêsu muốn làm thì ông lại kháng cự.

Một ví dụ khác ở trong những đấu tranh của cố linh mục Henri Nouwen. Ngài là một trong những ngòi bút thiêng liêng nhiều thiên tư nhất của thế hệ chúng ta và được mến mộ rộng khắp. Ngài đã xuất bản hơn 50 quyển sách, một giáo sư được nhiều người theo học (với biên chế ở cả đại học Harvard và Yale), ngày nào cũng có người mời ngài đi diễn thuyết khắp thế giới, và ngài có rất nhiều bạn thân.

Nhưng giữa sự nổi tiếng và ngưỡng mộ, giữa nhiều bạn bè yêu mến, ngài lại không thể để cho mình thật sự cảm nhận tình yêu này, rằng mình được yêu hay đáng được yêu. Thay vào đó, trong suốt cuộc đời ngài, ngài đấu tranh với nỗi lo âu sâu sắc làm cho ngài nghĩ rằng mình không đáng được yêu. Có lần cảm nhận này làm cho ngài bị trầm cảm. Và suốt cuộc đời trưởng thành của ngài, dù được chung quanh bao phủ tình thương, nhưng ngài lại bị ám ảnh mình không được yêu, không xứng đáng được yêu. Hơn nữa, ngài là người vô cùng nhạy cảm, muốn quy phục tình yêu hơn bất kỳ điều gì. Điều gì đã kìm hãm ngài?

Theo lời ngài, thì ngài bị khiếm khuyết do một vết thương sâu xa mà ngài không thể gọi tên và không thể buông bỏ. Trong hầu hết cuộc đời trưởng thành của ngài, chuyện đúng là như thế. Cuối cùng, ngài cũng đã giải phóng mình khỏi vết thương sâu xa này và quy phục tình yêu. Tuy nhiên, ngài phải trải qua một trải nghiệm cận tử đầy đau đớn mới được như vậy. Một sáng nọ khi đứng quá gần đường cao tốc ở trạm xe buýt, ngài bị kính chiếu hậu của một chiếc xe van chạy qua đụng phải và văng ra xa. Được đưa đến bệnh viện cấp cứu, ngài đã trải qua mấy tiếng đồng hồ để giành giật sự sống. Khi ở trong tình trạng này, ngài có một trải nghiệm rất sâu sắc về tình yêu mà Thiên Chúa dành cho mình. Khi hồi tỉnh và trở lại cuộc sống bình thường, ngài đã thay đổi hoàn toàn. Sau trải nghiệm tình yêu Thiên Chúa dành cho mình, cuối cùng ngài đầu hàng trước tình yêu của con người theo cách mà trước trải nghiệm cận tử đó ngài không thể làm. Mọi quyển sách ngài viết sau đó đều ghi dấu sự biến đổi này về tình yêu.

Tại sao chúng ta đấu tranh với tình yêu? Tại sao chúng ta không quy phục tình yêu dễ dàng hơn? Mỗi người có một lý do độc nhất vô nhị riêng của mình. Đôi khi, chúng ta có một tổn thương sâu xa làm chúng ta cảm thấy mình không đáng được yêu. Nhưng đôi khi sự chống cự của chúng ta không liên quan đến tổn thương cho bằng do chúng ta vô thức đấu tranh với tình yêu mà chúng ta khắc khoải kiếm tìm. Và đôi khi, cũng như ông Giacóp trong Thánh Kinh, chúng ta vô thức vật lộn với Thiên Chúa (là Tình yêu) và do đó vô thức đấu tranh với tình yêu.

Trong câu chuyện ông Giacóp vật lộn cả đêm với một người, chúng ta thấy trong cuộc giao tranh này, ông không ý thức được mình đang đánh nhau với Thiên Chúa và tình yêu. Trong đầu ông nghĩ mình đang vật nhau với một kẻ địch mà ông cần chinh phục. Cuối cùng, khi màn đêm nhường chỗ cho ánh sáng, ông thấy được mình đang vật nhau với ai, và đã làm cho ông kinh ngạc bàng hoàng. Ông nhận ra mình đã vật nhau với tình yêu. Nhận ra như thế, ông không đấu tranh nữa, mà ôm lấy người ông đã giao đấu, nài nỉ: “Tôi sẽ không để ngài đi, nếu ngài chưa chúc phúc cho tôi!”

Đây là bài học cuối cùng mà chúng ta cần học trong tình yêu: Chúng ta vật lộn vì tình yêu bằng hết tài năng, trí khôn và sức mạnh của mình. Cuối cùng, nếu may mắn, chúng ta sẽ thức tỉnh. Một ánh sáng, thường là thảm bại đến tàn phế, cho chúng ta nhìn thấy khuôn mặt thật của người mà chúng ta đang giao đấu, và chúng ta nhận ra đây không phải là điều mà chúng ta cần chinh phục, đây chính là tình yêu mà chúng ta khao khát quy phục.

Với nhiều người chúng ta, đây sẽ là sự thức tỉnh lớn lao trong đời, sự thức tỉnh trước sự thật rằng với mọi tham vọng và trù tính để chúng ta chứng tỏ cho người khác thấy mình xứng đáng và đáng được yêu như thế nào, chúng ta vô thức chiến đấu với chính tình yêu mà chúng ta vô cùng mong muốn quy phục. Và thường là như ông Giacóp trong Kinh thánh, chúng ta cần bị đánh bại, bị tàn phế thì mới nhận ra rằng điều chúng ta đang giao chiến thật ra là điều mà chúng ta muốn quy phục.

Và đây là quy phục chứ không phải từ bỏ, đây là điều mà chúng ta đem lại cho mình thay vì là nó đánh bại chúng ta.

Quy phục tình yêu

2023-09-25

Có lẽ mọi lời mời gọi của Chúa Giêsu với chúng ta có thể gói gọn trong một từ: quy phục. Chúng ta cần quy phục tình yêu.

Nhưng vì sao quy phục lại khó khăn đến thế? Chẳng phải đó là điều tự nhiên nhất trên đời sao? Chẳng phải khát khao sâu thẳm nhất của chúng ta là tìm được tình yêu và quy phục tình yêu đó sao?

Đúng là vậy, khát khao sâu thẳm nhất của chúng ta là quy phục tình yêu, nhưng chúng ta có những kháng cự bẩm tại trong việc để cho bản thân quy phục. Có một vài ví dụ như thế này:

Ở bữa tiệc ly trong Phúc âm Thánh Gioan, khi Chúa Giêsu cố rửa chân cho ông Phêrô, Ngài đã gặp phải sự chống cự kiên quyết – “Không đời nào! Không đời nào con để cho thầy rửa chân cho con!” Nhưng oái oăm thay, có lẽ chính ông Phêrô lại mong mỏi có một thân thiết như thế với Chúa Giêsu hơn bất kỳ điều gì. Nhưng khi Chúa Giêsu muốn làm thì ông lại kháng cự.

Một ví dụ khác ở trong những đấu tranh của cố linh mục Henri Nouwen. Ngài là một trong những ngòi bút thiêng liêng nhiều thiên tư nhất của thế hệ chúng ta và được mến mộ rộng khắp. Ngài đã xuất bản hơn 50 quyển sách, một giáo sư được nhiều người theo học (với biên chế ở cả đại học Harvard và Yale), ngày nào cũng có người mời ngài đi diễn thuyết khắp thế giới, và ngài có rất nhiều bạn thân.

Nhưng giữa sự nổi tiếng và ngưỡng mộ, giữa nhiều bạn bè yêu mến, ngài lại không thể để cho mình thật sự cảm nhận tình yêu này, rằng mình được yêu hay đáng được yêu. Thay vào đó, trong suốt cuộc đời ngài, ngài đấu tranh với nỗi lo âu sâu sắc làm cho ngài nghĩ rằng mình không đáng được yêu. Có lần cảm nhận này làm cho ngài bị trầm cảm. Và suốt cuộc đời trưởng thành của ngài, dù được chung quanh bao phủ tình thương, nhưng ngài lại bị ám ảnh mình không được yêu, không xứng đáng được yêu. Hơn nữa, ngài là người vô cùng nhạy cảm, muốn quy phục tình yêu hơn bất kỳ điều gì. Điều gì đã kìm hãm ngài?

Theo lời ngài, thì ngài bị khiếm khuyết do một vết thương sâu xa mà ngài không thể gọi tên và không thể buông bỏ. Trong hầu hết cuộc đời trưởng thành của ngài, chuyện đúng là như thế. Cuối cùng, ngài cũng đã giải phóng mình khỏi vết thương sâu xa này và quy phục tình yêu. Tuy nhiên, ngài phải trải qua một trải nghiệm cận tử đầy đau đớn mới được như vậy. Một sáng nọ khi đứng quá gần đường cao tốc ở trạm xe buýt, ngài bị kính chiếu hậu của một chiếc xe van chạy qua đụng phải và văng ra xa. Được đưa đến bệnh viện cấp cứu, ngài đã trải qua mấy tiếng đồng hồ để giành giật sự sống. Khi ở trong tình trạng này, ngài có một trải nghiệm rất sâu sắc về tình yêu mà Thiên Chúa dành cho mình. Khi hồi tỉnh và trở lại cuộc sống bình thường, ngài đã thay đổi hoàn toàn. Sau trải nghiệm tình yêu Thiên Chúa dành cho mình, cuối cùng ngài đầu hàng trước tình yêu của con người theo cách mà trước trải nghiệm cận tử đó ngài không thể làm. Mọi quyển sách ngài viết sau đó đều ghi dấu sự biến đổi này về tình yêu.

Tại sao chúng ta đấu tranh với tình yêu? Tại sao chúng ta không quy phục tình yêu dễ dàng hơn? Mỗi người có một lý do độc nhất vô nhị riêng của mình. Đôi khi, chúng ta có một tổn thương sâu xa làm chúng ta cảm thấy mình không đáng được yêu. Nhưng đôi khi sự chống cự của chúng ta không liên quan đến tổn thương cho bằng do chúng ta vô thức đấu tranh với tình yêu mà chúng ta khắc khoải kiếm tìm. Và đôi khi, cũng như ông Giacóp trong Thánh Kinh, chúng ta vô thức vật lộn với Thiên Chúa (là Tình yêu) và do đó vô thức đấu tranh với tình yêu.

Trong câu chuyện ông Giacóp vật lộn cả đêm với một người, chúng ta thấy trong cuộc giao tranh này, ông không ý thức được mình đang đánh nhau với Thiên Chúa và tình yêu. Trong đầu ông nghĩ mình đang vật nhau với một kẻ địch mà ông cần chinh phục. Cuối cùng, khi màn đêm nhường chỗ cho ánh sáng, ông thấy được mình đang vật nhau với ai, và đã làm cho ông kinh ngạc bàng hoàng. Ông nhận ra mình đã vật nhau với tình yêu. Nhận ra như thế, ông không đấu tranh nữa, mà ôm lấy người ông đã giao đấu, nài nỉ: “Tôi sẽ không để ngài đi, nếu ngài chưa chúc phúc cho tôi!”

Đây là bài học cuối cùng mà chúng ta cần học trong tình yêu: Chúng ta vật lộn vì tình yêu bằng hết tài năng, trí khôn và sức mạnh của mình. Cuối cùng, nếu may mắn, chúng ta sẽ thức tỉnh. Một ánh sáng, thường là thảm bại đến tàn phế, cho chúng ta nhìn thấy khuôn mặt thật của người mà chúng ta đang giao đấu, và chúng ta nhận ra đây không phải là điều mà chúng ta cần chinh phục, đây chính là tình yêu mà chúng ta khao khát quy phục.

Với nhiều người chúng ta, đây sẽ là sự thức tỉnh lớn lao trong đời, sự thức tỉnh trước sự thật rằng với mọi tham vọng và trù tính để chúng ta chứng tỏ cho người khác thấy mình xứng đáng và đáng được yêu như thế nào, chúng ta vô thức chiến đấu với chính tình yêu mà chúng ta vô cùng mong muốn quy phục. Và thường là như ông Giacóp trong Kinh thánh, chúng ta cần bị đánh bại, bị tàn phế thì mới nhận ra rằng điều chúng ta đang giao chiến thật ra là điều mà chúng ta muốn quy phục.

Và đây là quy phục chứ không phải từ bỏ, đây là điều mà chúng ta đem lại cho mình thay vì là nó đánh bại chúng ta.

Một câu gói gọn cho tất cả!

“Lạy Chúa, Ngài đã tạo chúng con cho Ngài, tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ an trong Ngài”.

Không một dòng nào ngoài Kinh Thánh đã đi vào tâm hồn tôi một cách mạnh mẽ, vững bền và khắc sâu cho bằng dòng này của Thánh Augutinô. Căn bản, đây là câu chuyện đời của Thánh Augutinô và cũng là câu chuyện đời của mỗi chúng ta.

Khi đọc và nghiên cứu và được đánh động mạnh bởi một dòng đầy mãnh lực của một tác giả nào đó, tôi liền gạch chân dòng đó và chép lại. Tôi có cả một quyển tập những câu trích của Shakespeare, Aristotle, Plato, Tôma Aquinô, Teilhard, Einstein, Albert Camus, Steve Hawkings, Doris Lessing, Milan Kundera, John Steinbeck, Karl Rahner, Gioan Thánh Giá, Ruth Burrows, James Hillman, Anne Frank, Ivan Illich cùng những người khác. Nhưng câu ghi khắc của Thánh Augutinô vượt trên tất cả.

Điều ngài nêu lên ở đây, trong mỗi chúng ta có một khắc khoải khôn nguôi làm chúng ta cứ bồn chồn không dứt. Tôi luôn cảm thấy rất rõ điều này trong đời mình, và ở tuổi hai mươi, tôi đã viết quyển sách Quả tim Thao thức (The Restless Heart), trong đó tôi cố đưa ra một linh đạo cho người khắc khoải (và có lẽ chủ yếu là cho chính tôi) với nền tảng chủ yếu là câu này của Thánh Augutinô. Nhiều năm trôi qua, tôi vẫn mở to mắt tìm kiếm những thành ngữ bổ sung và dễ đối chiếu về châm ngôn trứ danh này của Thánh Augutinô. Có một số câu như sau:

Karl Rahner, một thần học gia trứ danh của thế kỷ 20 vừa qua, khi viết thư cho người bạn đang sợ mình bị lỡ mất quá nhiều điều trong đời, ngài đã khuyên: “Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học để biết rằng, trong đời này, tất cả mọi bản nhạc giao hưởng đều dang dở”.

Còn tác giả Qoheleth viết sách Giảng viên trong Cựu Ước, trong đoạn văn vốn quen thuộc với hầu hết chúng ta, (“mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời”), tác giả mang đến cho chúng ta nhịp điệu tự nhiên đã được Thiên Chúa sắp đặt. Ông nói, thời gian và tự nhiên có nhịp điệu tuyệt mỹ và mọi sự đều có thời, có chốn thích đáng của nó. Tuy nhiên, ông kết lại với câu: Thiên Chúa đã làm mọi sự hợp thời đúng lúc, nhưng Thiên Chúa đã đưa sự vô tận vào tâm hồn con người, nên từ đầu đến cuối, chúng ta cứ lạc nhịp với thời gian và các thời. Chúng ta không bao giờ ăn khớp với nhịp điệu của vạn vật vì trong chúng ta có điều gì đó nằm ngoài thời gian.

Và ai có thể quên được những lời đầy ám ảnh của Anne Frank, thiếu nữ thu mình trên căn gác xếp để trốn quân phát xít, bàng hoàng trước sự khắc khoải của một thiếu niên và sự băn khoăn của một nghệ sĩ, cô tâm sự đơn sơ, cô không bao giờ có thể hoàn toàn ở trong khoảnh khắc hiện tại vì “Tôi muốn ở mọi nơi cùng một lúc”.

Bà Doris Lessing, tiểu thuyết gia người Anh, nêu lên rằng trong mỗi chúng ta có một năng lượng mạnh mẽ không hề nguôi ngoai (“dòng điện cao thế 1000 vôn”) và nó làm chúng ta bồn chồn luôn mãi. Với dòng văn ngoài quan điểm đức tin, bà hỏi sinh lực này để làm gì? Và câu trả lời của bà: Vì tất cả và vì bất kỳ sự gì – sáng tạo, tình yêu, tình dục, công lý. Nhà văn Nobel Albert Camus, cũng viết ngoài quan điểm đức tin, ông có cách hiểu rất thú vị về linh hồn con người. Ông so sánh việc ở trong bản tính con người với việc bị kẹt trong nhà tù trung cổ. Các nhà tù trung cổ nhằm để triệt tinh thần của tù nhân bằng cách nhét họ trong căn phòng rất chật, chật đến mức họ không thể nào đứng thẳng hay giãn thẳng người. Trần quá thấp, phòng quá hẹp. Mục đích là để bẻ gãy tinh thần của tù nhân. Với Camus, đó là cách chúng ta cảm nghiệm bản thân bên trong bản tính của mình. Thế giới đơn giản là quá nhỏ với chúng ta, không đủ để chúng ta đứng thẳng hay giãn người, và nó vắt kiệt tinh thần chúng ta.

Trên đây là những câu rất sâu sắc nói về sự bồn chồn này, nhưng thật ra chúng có khắp nơi. Ấn giáo nói về một “hoài niệm về sự vô tận” nào đó trong chúng ta, Plato nói về “sự điên loạn thần thánh” ở trung tâm linh hồn, Shakespeare nói về “khao khát bất tử, bà Ruth Burrows thì mở đầu tự truyện bằng lời thú nhận mình bẩm sinh có một phức tạp bệnh lý làm bà phải đấu tranh cả đời; nhà tâm lý học James Hillman, trong quyển sách sâu sắc Tự tử và Linh hồn (Suicide and the Soul), nêu lên hầu hết các vụ tử tử là vì linh hồn không được lắng nghe nên hậu quả là nó giết chết thân xác, còn tác giả Philip Roth thì nói về trận bão những chi tiết cấu thành sự hỗn độn của đời người.

Văn học, triết học, thi ca, nghệ thuật, tâm lý học, tiểu sử, thần học, và linh đạo đầy những biểu đạt về khao khát vô độ trong linh hồn con người vốn cuối cùng không thể nào hoàn toàn hòa hợp với bất kỳ điều gì trên đời. Nhưng nó phải như thế. Với Thánh Augutinô, cách đây 1700 năm, thì sự khắc khoải, sự vô tận, nỗi nhớ nhà, cơn điên loạn thần thánh, dòng điện cao thế 1000 vôn trong chúng ta, sự phức tạp bệnh lý và sự hỗn độn của đời người này, chúng giữ cho chúng ta luôn mãi khắc khoải, và đến tận cùng, nó là thuộc tính tốt nhất của chúng ta, là ơn Thiên Chúa ban cho chúng ta, là sự bất tử và thần thánh như một phần cấu thành linh hồn chúng ta.

Hai mặt của đạo đức giả

Sự tinh vi của đạo đức giả! Dù chúng ta nhìn thấy thật rõ lỗi lầm của người khác, nhưng không dễ để nhận ra sự bất nhất quán của mình. Chúng ta cố tình mù quáng, hay chỉ là chúng ta không nhìn thấy? Đây là vấn đề đạo đức hay vấn đề tầm nhìn? Tôi xin đưa ra vài ví dụ để chúng ta xem xét.

Trong những chuyến du hành của thuyền trưởng James Cook, nhà thánh hiểm thế kỷ 18, ông đã ở vài năm trên quần đảo Polynesia. Ông học thổ ngữ và kết bạn với thổ dân. Một hôm, họ đưa ông đi xem lễ hiến tế người. Bộ lạc này vẫn theo tín ngưỡng vật linh và đôi khi hiến tế người làm của lễ dâng lên các thần. Chúng ta có thể hiểu được vì sao ông Cook, một người Anh tinh tế, lại bị choáng váng. Ông viết trong nhật ký, ông đã rất căm phẫn với tộc trưởng: “Thật kinh khủng! Các ông là người sơ khai. Ở Anh mà các ông làm vậy là sẽ bị treo cổ!”

Trong phản ứng của ông có một điều mỉa mai mà các nhà nhân học không thể bỏ qua. Là khi chúng ta giết người nhân danh Thiên Chúa, thì hiến tế người cũng như án tử hình. Cách nào thì chúng ta cũng hiến tế một sinh mạng và lấy danh Thiên Chúa mà biện minh cho nó.

Ví dụ thứ hai là trong những bài viết của Bill Plotkin, người từng nghiên cứu các nghi thức khai mở mà các bộ lạc cận đại dùng để khai mở các cô cậu đến tuổi dậy thì. Như chúng ta biết, tuổi dậy thì có thể là thời gian nguy hiểm cho một người trẻ. Dậy thì đánh mạnh vào cơ thể lẫn tâm lý của người trẻ. Tuy nhiên, phải nhớ rằng lực bất ổn mạnh mẽ này đã được Thiên Chúa và tự nhiên tạo ra với một mục đích rõ ràng, là để thôi thúc chúng ta rời nhà, thúc đẩy chúng ta tìm một mái ấm cho riêng mình, kết thúc thời thơ ấu và bước vào tuổi trưởng thành. Dễ hiểu khi việc này cần đến những sinh lực mạnh mẽ để có thể thực hiện.

Nhưng những sinh lực này có thể khó kiềm chế và khó khai mở theo hướng trưởng thành. Thật vậy, hầu hết các nền văn hóa cận đại đều có các nghi thức khai mở giúp định hướng cho quá trình đó. Ngày nay, hầu hết các văn hóa (chứ không chỉ riêng chúng ta) ít trân trọng những nghi thức khai mở rõ ràng này. Điều mà Plotkin phát hiện trong nghiên cứu của ông về các nghi thức khai mở cận đại, là tất cả chúng đều rất thử thách và đòi hỏi, về mặt thể lý, cảm xúc và đôi khi người trẻ phải mất mạng trong quá trình đó.

Nhìn vào chuyện này, Plotkin bình luận, những nhạy cảm hiện đại của chúng ta sẽ cảm thấy mình bị xúc phạm bởi cái có vẻ như là sự tàn bạo sơ khai này. Chúng ta dễ dàng thấy căm phẫn về mặt luân lý và thấy những việc này là lạc hậu và tàn ác. Tuy nhiên, ông cho thấy, thật sự các bộ lạc này mất rất ít người trẻ trong những nghi thức chuyển tiếp từ tuổi dậy thì sang trưởng thành đó, trong khi chúng ta, những nền văn hóa hiện đại vi tế, lại mất hàng ngàn người trẻ mỗi năm, khi họ đang cố tự khai mở mình bằng cách dùng ma túy, rượu chè, tình dục, xe hơi, băng đảng và những hành vi mạo hiểm.

Như Chúa Giêsu đã nói, thật dễ để thấy cái rác trong mắt người, còn cái xà trong mắt mình thì không thấy.

Tôi nói mọi chuyện này với lòng cảm thông hơn là phán xét, vì đạo đức giả không phải chỉ có một loại. Có đạo đức giả kiểu chủ tâm mù quáng, và có đạo đức giả với sự mù quáng ngây thơ. Thánh Tôma Aquinô từng phân biệt hai loại vô tri này. Với ngài, có sự vô tri đáng tội và có sự vô tri bất bại, nghĩa là đôi khi chúng ta không nhìn thấy vì chúng ta không muốn thấy, và đôi khi chúng ta không thấy bởi vì chúng ta không thể thấy.

Trong sự vô tri đáng tội, chúng ta biết rõ. Chỉ là chúng ta không chịu nhìn vào chuyện gì đó vì chúng ta không muốn thấy sự thật. Khả năng không nhìn không thấy này căn cứ vào lý luận và nỗi sợ, một sự từ chối có chủ tâm, chúng ta sợ sẽ thấy điều mình không muốn thấy, thấy ra sự thật bất tiện cho mình. Trong sự vô tri đáng tội, chúng ta không thấy được sự tương đồng giữa hiến tế người và án tử hình, bởi vì chúng ta đã trực cảm mối liên kết đó và chúng ta không muốn thấy nó, nên đã từ chối không nhìn.

Còn trong sự vô tri bất bại thì chúng ta không biết rõ. Những thiếu sót của chúng ta có liên quan đến những giới hạn của nhân tính, của xuất thân và trải nghiệm. Chúng ta không sợ nhìn vào hiện thực. Chúng ta nhìn nhưng đơn giản là không thấy. Như thuyền trưởng Cook, với hết lòng thật tâm, chúng ta đơn giản là không thấy được sự tương đồng giữa hiến tế người và án tử hình, và không như Bill Plotkin, chúng ta có thể dễ dàng phán xét nghi thức khai mở cận đại là tàn ác và kinh khủng, kể cả khi hàng ngàn người trẻ của chúng ta đang chết một cách vô lý kinh khủng khi họ cố gắng tìm ra cây cầu nối giữa dậy thì và trưởng thành.

Tất cả chúng ta, bảo thủ hay tự do, đều có những điểm mù về cách mình thấy và tiếp cận những vấn đề công bằng xã hội, dù là biến đổi khí hậu, nghèo đói, phá thai, nhập cư, tị nạn, kỳ thị chủng tộc, bình đẳng nữ giới hay vấn đề giới tính. Đứng trước những vấn đề phức tạp này, chúng ta sẵn sàng nhìn thẳng vào chúng, hay chúng ta thật sự không sẵn sàng xem xét chúng, vì chúng ta đã trực cảm được mình sẽ thấy những gì? Vậy sự mù quáng và giả hình của chúng ta là đáng tội hay bất bại?

Sự cho phép của Chúa trước mệt mỏi của con người

Có người từng hỏi Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu ngủ gật khi cầu nguyện có sai trái không. Ngài trả lời: “Tuyệt đối không. Một đứa bé dù ngủ hay thức đều làm cho cha mẹ vui lòng, có khi lúc ngủ nó còn làm cho cha mẹ vui lòng hơn!”

Đó là một câu trả lời nồng ấm, còn hơn cả dễ thương. Trong câu trả lời của Thánh Têrêxa, có một khôn ngoan mà hầu hết chúng ta đánh mất, đó là ý thức, Thiên Chúa hiểu tình trạng con người và cho chúng ta được phép thiêng liêng để làm con người, ngay cả trong những dấn thân thiêng liêng và quan trọng nhất của chúng ta.

Gần đây, điều này đã đánh động tôi qua một bài giảng. Một linh mục chân thành và tận tâm thách thức chúng ta, với ý niệm Thiên Chúa phải luôn là số một trong cuộc sống chúng ta. Như vậy thì tốt đẹp tất cả. Nhưng rồi cha chia sẻ, cha buồn lòng mỗi khi nghe mọi người nói kiểu: “Đi lễ chiều thứ bảy, cho xong cho rồi”. Hoặc khi người đi lễ nói: “Hôm nay nên làm lễ ngắn thôi, vì buổi trưa là trận đấu bắt đầu rồi”. Cha cho rằng những câu như thế để lộ sự yếu đuối nghiêm trọng trong đời sống cầu nguyện của chúng ta. có đúng vậy không?

Có lẽ là có, có lẽ là không. Những câu như thế có thể nói lên sự lười biếng, ơ hờ về đường thiêng liêng hoặc có những ưu tiên sai lầm. Chúng cũng có thể là biểu hiện của mệt mỏi con người, rất bình thường và rất dễ hiểu, một mệt mỏi mà Thiên Chúa, Đấng tạo ra bản tính con người, cho chúng ta được phép cảm nhận.

Có thể, và thường xuyên, có một tâm thức ngây thơ về vị trí của nhiệt huyết và tinh thần cao trong đời sống chúng ta. Ví dụ, chúng ta hình dung một gia đình, với ý định tốt đẹp, quyết định để tăng tinh thần gia đình, mọi bữa ăn tối đều phải là bàn tiệc thịnh soạn, yêu cầu tất cả mọi người trong nhà phải tham dự và hăng hái suốt 90 phút. Chúc may mắn cho họ! Có ngày cách này sẽ tăng sự gắn kết, nơi bàn ăn mọi người sẽ nhiệt tình hăng hái, nhưng chẳng bao lâu sau, cách này sẽ không bền về mặt tinh thần cho mọi người, có một, hai người sẽ nói thầm “làm cho xong cho rồi”, hoặc “rút ngắn chút được không vì tối nay có trận bóng lúc 7 giờ”. Cứ cho là chuyện này thể hiện một thái độ không hứng thú, nhưng khả năng cao hơn, nó chỉ là biểu hiện có lý do của một mệt mỏi bình thường.

Không ai trong chúng ta có thể duy trì tinh thần và nhiệt huyết mãi được. Và chúng ta cũng không được mặc định như thế. Cuộc đời chúng ta là cuộc chạy marathon đường dài chứ không chạy nước rút. Chính vì thế chuyện tốt đẹp, đôi khi chúng ta cần có những bữa tiệc lâu giờ và đôi khi chúng ta cũng cần những bữa ăn đơn giản, ăn vội miếng bánh mì thịt. Thiên Chúa và tự nhiên cho phép chúng ta đôi khi nói “làm cho xong cho rồi”, và đôi khi gấp gáp để khỏi hụt trận bóng.

Hơn nữa, ngoài chuyện đặt nặng sự mệt mỏi, thiếu năng lượng bình thường vẫn còn một chuyện khác, quan trọng hơn. Tinh thần nhiệt huyết hoặc thiếu tinh thần nhiệt huyết không nhất thiết phải mang ý nghĩa gì đó. Chúng ta có thể làm một việc gì đó, vì nó có hiệu quả với chúng ta, hoặc chúng ta có thể làm việc gì đó đơn giản chỉ vì nó có giá trị riêng, không liên quan đến cảm giác của chúng ta lúc đó. Nhưng chúng ta lại quá thường xuyên không hiểu chuyện này. Ví dụ, khi giải thích vì sao không còn dự các buổi phụng vụ ở nhà thờ nữa, người ta thường nói “nó chẳng có ý nghĩa gì với tôi”. Khi nói thế, cái họ không thấy là sự thật, việc cùng nhau ở trong nhà thờ, tự nó đã có ý nghĩa rồi, và nó không liên quan đến cảm giác của chúng ta lúc đó. Một buổi phụng vụ tự nó có ý nghĩa, cũng hệt như đi thăm mẹ già của mình. Bạn làm thế không phải vì bạn luôn háo hức về chuyện đó hoặc vì nó luôn đem lại cảm xúc tốt đẹp. Không. Bạn làm thế vì đó là mẹ của bạn, vì đó là điều mà Thiên Chúa, tự nhiên và sự trưởng thành yêu cầu chúng ta làm.

Bữa ăn gia đình cũng vậy. Bạn không nhất thiết phải ăn tối cùng cả nhà với một niềm hăng say. Bạn ăn tối với cả nhà vì đây là cách các gia đình duy trì đời sống chung. Sẽ có những lúc bạn tham dự với tinh thần cao và cảm kích sự quý báu của thời khắc đó và thời gian dài của bữa tối đó. Nhưng sẽ có những lúc, bất chấp bạn ý thức rất rõ rằng ở cùng nhau như thế này là việc quan trọng, nhưng bạn sẽ muốn làm cho xong cho rồi, hoặc liếc nhìn đồng hồ và nhẩm xem bao nhiêu phút nữa là vào trận bóng.

Vì thế, Kinh Thánh dạy chúng ta hãy tránh những bạn của ông Gióp. Về lời khuyên thiêng liêng trong lĩnh vực này, là hãy tránh những người mới nhập môn thiêng liêng, những người mộ đạo quá mức, những người ngây thơ về nhân học, những người đang hưởng tuần trăng mật, những người mới trở lại đạo, và ít nhất một nửa số nhà phụng vụ và người dẫn dắt việc thờ phượng. Sổ tay hướng dẫn đích thực cho hôn nhân không bao giờ là tác phẩm của hai người đang trong thời kỳ trăng mật, và sổ tay hướng dẫn đích thực cho cầu nguyện không bao giờ từ ngòi bút của người nghĩ rằng lúc nào mình cũng đầy tinh thần cao ngút. Hãy tìm người thầy đường thiêng liêng thách thức bạn đủ để giữ bạn tránh sự ích kỷ và lười biếng của mình, kể cả khi người đó cho bạn quyền thiêng liêng là được đôi khi mệt mỏi. Một con người cầu nguyện là điều đẹp lòng Thiên Chúa, dù nhiệt tình hay mệt mỏi, có lẽ khi mệt mỏi còn đẹp lòng hơn.

Từ bỏ nỗi sợ

Một người bạn của tôi chia sẻ câu chuyện sau. Ông là con một trong gia đình. Năm ông ở tuổi đôi mươi, ông vẫn còn độc thân, ông gây dựng sự nghiệp thành công và sống cùng thành phố với cha mẹ, thì bỗng một hôm người cha qua đời, để lại người mẹ góa. Cả đời người mẹ sống cho gia đình và đứa con một, nên việc tinh thần bà bị suy sụp nặng nề là dễ hiểu. Phần lớn thế giới của bà đã sụp đổ, bà mất chồng, nhưng bà còn đứa con trai.

Những năm tiếp theo không phải là những năm nhẹ nhàng cho con trai bà. Thế giới của người mẹ bị tan nát quá nhiều, trừ người con một này, và anh cảm thấy mình có trách nhiệm nặng nề với mẹ. Bà sống nhờ những lần anh về thăm nhà. Những ngày nghỉ và kỳ nghỉ lễ, anh đều dành thì giờ để ở bên bà. Anh thương mẹ lắm, nhưng đó lại là gánh nặng ngăn cản anh có cuộc sống xã giao và được tự do quan hệ như anh mong muốn, nó cũng ngăn cản anh có vài quyết định nghề nghiệp khác nữa. Anh phải chăm sóc mẹ, phải ở bên cạnh bà. Như mọi người có thể đoán được, thời gian hai mẹ con ở bên nhau là thử thách cho lòng trung thành và bổn phận của người con trai. Nhưng từ năm này qua năm khác, anh đã trung thành. Mẹ anh đâu còn ai khác để trông cậy.

Khi sức khỏe mẹ anh bắt đầu đi xuống, bà bán nhà và dọn vào ở một khu phức hợp dành cho người lớn tuổi. Hầu hết thời gian rảnh rỗi, anh dành để đưa đón mẹ, chở bà ra miền quê hóng gió, đưa bà đi ăn trước khi chở bà về lại căn phòng nhỏ của bà. Một hôm, trong một lần đi chơi, khi anh lái xe dọc con đường quê lặng lẽ, mẹ anh phá tan sự thinh lặng bằng những lời vừa làm anh ngạc nhiên, vừa làm anh chú ý, vì đây là lần đầu tiên sau một thời gian dài bà lên tiếng.

Bà nói những lời mang một tác động thật mạnh:: “Đời mẹ đã có một chuyện trọng đại. Mẹ đã từ bỏ nỗi sợ rồi. Suốt đời mẹ đã sợ đủ thứ, sợ không đúng tiêu chuẩn, không đủ tốt, sợ mình tẻ nhạt, sợ bị loại trừ, sợ cô đơn, sợ cuối cùng rơi vào cảnh đơn độc, không tiền bạc, không nhà cửa, sợ người khác nói xấu sau lưng. Mẹ đã sợ cả cái bóng của mình. Mẹ đã từ bỏ nỗi sợ rồi. Sao lại không bỏ chứ? Mẹ đã mất tất cả, mất chồng, mất địa vị xã hội, mất căn nhà, mất thân xác tuổi trẻ, mất sức khỏe, mất hàm răng, mất cả phẩm giá. Mẹ chẳng còn gì để mất nữa, và con biết sao không? Như vậy lại là tốt! Mẹ không còn sợ gì nữa. Mẹ cảm thấy tự do như chưa từng có. Mẹ đã từ bỏ nỗi sợ rồi”.

Lần đầu tiên sau một thời gian dài, anh chăm chú lắng nghe mẹ. Anh cũng cảm nhận một điều gì đó mới mẻ nơi bà, một sức mạnh mới và một khôn ngoan sâu đậm hơn mà anh muốn có. Lần tiếp theo chở bà đi chơi, anh nói với mẹ: “Mẹ ơi, mẹ dạy con cái đó đi. Dạy con đừng sợ hãi”.

Bà sống thêm hai năm nữa, và trong hai năm đó, anh đưa bà đi dạo miền quê, đi ăn trưa, ăn tối, và nơi bà, nơi sức mạnh mới của bà, anh hấp thụ được điều gì đó mà trước đây anh không hề hấp thụ được. Khi cuối cùng bà qua đời, khi anh mất đi sự hiện diện của bà trên đời, anh chỉ có thể mô tả những năm tháng cuối đời của bà bằng câu nói kinh điển: “Mẹ tôi đã sinh tôi hai lần, một lần từ hạ giới, và một lần từ thượng giới,”

Không dễ để từ bỏ nỗi sợ, cũng không dễ để dạy người khác cách làm. Nỗi sợ chiếm giữ chúng ta, vì gần như cả đời, chúng ta có quá nhiều thứ để mất nên sợ. Vì thế, cũng dễ hiểu, gần như cả đời chúng ta khó mà không sống với nỗi sợ. Hơn nữa, đây không phải là vấn đề trưởng thành hay nông nổi, tâm linh hay trần tục. Thật vậy, đôi khi càng trưởng thành và tâm linh, chúng ta càng trân trọng sinh mạng, sức khỏe, gia đình, tình bạn hay cộng đồng, tất cả những điều này có sự mỏng manh riêng của nó và đó là điều chúng ta có thể mất đi. Chúng ta có những lý do chính đáng để sợ.

Không phải tình cờ khi mẹ của bạn tôi chỉ vượt lên được nỗi sợ sau khi bà đã mất hết mọi thứ trong đời. Thiên Chúa và tự nhiên nhận ra điều này và đã viết nó vào quá trình lão hóa chúng ta. Quá trình lão hóa được thiết kế để đưa chúng ta đến mức có thể từ bỏ nỗi sợ, vì khi chúng ta già đi, khi chúng ta ngày càng mất sức khỏe, mất tầm ảnh hưởng trên thế giới, mất vẻ đẹp hình thể, khi những người thân yêu đã qua đời, và thậm chí còn mất cả phẩm giá, thì chúng ta ngày càng có ít thứ để mất, và như thế càng ngày càng không sợ.

Đây là một trong những tặng vật cuối cùng mà tự nhiên trao cho chúng ta, sống theo cách mà người khác thấy được sự tự do này nơi chúng ta cũng có thể là một trong những tặng vật cuối cùng mà chúng ta để lại cho người thân yêu.

Những mối quan hệ chưa trọn

Một người bạn trị liệu tâm lý của tôi chia sẻ câu chuyện sau: Một phụ nữ trong tâm trạng khá sầu thảm tìm đến ông. Chồng của bà vừa chết vì đau tim. Ông chết đột ngột vào thời điểm không phù hợp nhất. Họ kết hôn đã ba mươi năm và trong những năm tháng này, mối quan hệ của họ chưa từng bị khủng hoảng nặng nề. Thế mà vào ngày chồng bà chết, họ đã cãi nhau về một vấn đề rất quan trọng và đã leo thang đến mức họ thốt những lời ác ý cay độc với nhau. Kích động và giận dữ, chồng của bà lao khỏi phòng, ông nói ông đi mua sắm, và rồi ông đột quỵ trên đường ra xe. Chúng ta dễ hiểu vì sao bà suy sụp, vì cái chết đột ngột của người bạn đời, nhưng nhất là vì những lời cuối cùng họ nói với nhau. Bà than thở, “suốt bao nhiêu năm qua, chúng tôi đã yêu thương nhau, để rồi chẳng có lý do gì chúng tôi lại cãi vã nhau và có những lời cuối cùng chúng tôi nói với nhau!”

Nhà tâm lý học mở đầu với lời khôi hài phần nào có chủ đích. Ông nói: “Ông ấy thật tệ khi làm như thế với bà! Khi chết kiểu đó!” Rõ ràng, ông không lên kế hoạch cho cái chết của mình, nhưng thời điểm chết của ông lại quá bất công với vợ, như thể nó làm cho bà phải mang mặc cảm tội lỗi suốt đời, chẳng có cách nào để xóa bỏ.

Tuy nhiên, bác sĩ tâm lý chuyển sang một kiểu khác. Ông hỏi bà: “Nếu bà được gặp chồng bà trong năm phút, bà sẽ nói gì với ông?” Không chần chừ, bà trả lời ngay: “Tôi sẽ nói với ông, tôi rất yêu ông, trong bao nhiêu năm, ông đã tốt với tôi biết chừng nào và chuyện giận dữ của chúng tôi trong giây lát, xét cho cùng chỉ là khoảnh khắc vô lý quá đáng, nó chẳng là gì so với tình yêu của chúng tôi.”

Khi đó nhà tâm lý học mới nói: “Bà là người có đức tin, bà tin vào sự hiệp thông các thánh, chồng bà đang sống và hiện diện với bà lúc này, thế tại sao bà không nói tất cả những lời này với ông ngay đi. Chưa quá muộn để giải bày hết những tâm tình đó với ông đâu!”

Nhà tâm lý học đúng. Chẳng bao giờ là quá muộn! Chẳng bao giờ là quá muộn để nói với những người thân đã qua đời về cảm giác thực sự của mình dành cho họ. Chẳng bao giờ là quá muộn để xin lỗi những gì chúng ta đã làm tổn thương nhau. Chẳng bao giờ là quá muộn để xin họ tha thứ cho những lơ là của chúng ta trong quan hệ và chẳng bao giờ là quá muộn để nói lên những lời cảm kích, trân trọng, tri ân mà lẽ ra chúng ta phải nói khi họ còn sống. Là kitô hữu, chúng ta được an ủi vô cùng khi biết rằng chết chưa phải là hết, biết rằng chẳng bao giờ là quá muộn.

Và chúng ta vô cùng cần sự an ủi đó, cần cơ hội thứ hai đó. Dù là ai, chúng ta luôn bất toàn trong những quan hệ của mình. Chúng ta không thể lúc nào cũng thể hiện được những gì đáng phải thể hiện với người mình yêu thương, đôi khi chúng ta nói lên những câu giận dữ và chua cay hằn học với người khác, chúng ta phản bội lòng tin bằng đủ kiểu khác nhau, và hầu như chúng ta thiếu sự trưởng thành và tự tin để xác nhận, mà đáng lẽ chúng ta phải dành cho người mình yêu thương. Không ai trong chúng ta tốt cho đủ. Khi thần học gia Karl Rahner nói, trong cõi đời này, không ai trong chúng ta là không có kinh nghiệm của bản “giao hưởng không trọn vẹn”, ý cha muốn nói đến việc không ai trong chúng ta có được ước mơ trọn vẹn trong các quan hệ quan trọng nhất của mình, không ai trong chúng ta tốt cho đủ. Chúng ta không thể không đôi khi gây thất vọng cho nhau.

Xét cho cùng, tất cả chúng ta yêu thương người mình thương theo những cách chẳng khác gì người phụ nữ mất chồng trong câu chuyện trên, với những chuyện còn dang dở, với những thời điểm không đúng lúc. Luôn có những điều đáng phải nói mà chưa nói, luôn có những điều đáng ra không được nói nhưng đã nói.

Nhưng chính vì thế mới cần đức tin kitô giáo của chúng ta. Chúng ta không phải là những người duy nhất gặp khó khăn. Và thời điểm Chúa Giêsu chết, rõ ràng các môn đệ đã mất tất cả. Thời điểm xảy ra chuyện đó thật xấu. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là một chuyện không hay trong tâm thức nhiều người trong một thời gian dài. Nhưng, lúc này, là kitô hữu, chúng ta không tin, trong đời luôn có cái kết có hậu, cũng không tin, chúng ta luôn mãi bất toàn trong đời. Đúng hơn, chúng ta tin rằng sự viên mãn trong đời và hạnh phúc sẽ đến với chúng ta nhờ chuộc lại những gì đã sai lầm, ít nhất là với những gì đã sai lầm vì sự bất toàn và yếu đuối của ta.

Tác giả G.K. Chesterton đã nói, kitô giáo đặc biệt vì kitô giáo tin vào hiệp thông các thánh, “đến kẻ chết cũng có lá phiếu.” Họ không chỉ có lá phiếu mà thôi. Họ vẫn nghe được những gì chúng ta nói với họ.

Thế nên, nếu chúng ta mất đi một người thân yêu trong hoàn cảnh vẫn còn khúc mắc, vẫn còn căng thẳng cần xoa dịu, khi đáng ra chúng ta phải quan tâm hơn, khi mình trách mình vì chưa từng thể hiện đủ sự trân trọng và tình cảm đáng phải có, những lúc như thế, chúng ta nên biết, vẫn chưa quá muộn. Tất cả vẫn có thể làm được!

Thiên đàng sẽ như thế nào?

Tác giả Andrew Greeley từng gợi ý, có lẽ chúng ta sẽ có ích hơn nếu chúng ta suy gẫm về phiên bản này của thiên đàng: Tình trạng ngây ngất thể lý và sự thỏa mãn tinh thần chúng ta có từ sự giao hợp tình dục giữa hai người yêu nhau sâu đậm là dự báo tốt nhất hiện nay cho tình trạng vĩnh hằng của chúng ta khi được phục sinh. “Giá trị đầy cảm hứng của xung lực tình dục và sự rực rỡ tuyệt diệu của cơ thể con người sẽ không bị kiềm chế trong tình trạng phục sinh như khi bị kiềm chế do sự yếu ớt của thế giới này. Niềm vui phục sinh sẽ mang tính tương giao, thể lý, tình dục và phối hợp, vì chúng ta sẽ tận hưởng chúng với nhau”.

Không ít người sốc với dạng hình dung này về thiên đàng. Tuy nhiên, chính dạng hình dung này rất nổi bật trong đường lối mô tả thiên đàng của nhiều nhà thần nghiệm kitô giáo vĩ đại, kể cả Gioan Thánh Giá, Thánh Têrêxa thành Avila. Với họ, cái chết là đêm tân hôn.

Hơn nữa, khi nhìn vào cách một vài ngôn sứ, nổi bật là tiên tri Isaiah khi họ mường tượng về “thời cánh chung”, thì chúng ta thấy có sự tương đồng nổi bật giữa hình dung của họ về điều cấu thành ơn cứu rỗi và hình tượng tình dục của các nhà thần nghiệm. Trong cả hai trường hợp, hình dung này mang tính toàn vẹn, giao hợp, tình yêu vô giới hạn, cuộc sống bình thường bị đảo lộn hoặc một sự bình an tối hậu đến ngất ngây. Ví dụ như, khi tiên tri Isaia cho rằng vào thời cánh chung, chó sói sẽ nằm bên cạnh cừu non, hổ báo chơi với trẻ con, bò và gấu sẽ kết thân, kể cả sư tử cũng ăn cỏ như bò, và khi ngài mường tượng về thời cánh chung là bàn tiệc với những món cao lương mỹ vị nhất, những loại rượu hảo hạng nhất, thì ảo tượng của ngài so với điều mà Greeley gợi ý, chỉ khác về hình ảnh, chứ không khác về bản chất. Trong cả hai trường hợp, một hình ảnh thơm tho và khơi gợi giác quan sâu sắc được dùng để mô tả về những gì có thể đến nếu chúng ta mở lòng ra với ơn cứu rỗi.

Tôi nêu bật những ảo tượng này vì chúng ta quá hiếm khi được dạy rằng những ảo tượng của chúng ta, kể cả những ảo tượng tình dục, có thể là nơi chúng ta trực cảm sự cứu rỗi. Chúng ta thật có phúc nếu được dạy rằng những ảo tượng trần gian của chúng ta có thể, ít nhất là có khả dĩ, là một nguồn phong phú cho sự thấu suốt và trưởng thành về mặt thiêng liêng. Làm sao lại thế?

Trong những mộng tưởng yêu thích của mình, chúng ta thường hình dung một vài thành phần thiết yếu của sự cứu rỗi, nghĩa là những ảo tượng đẹp nhất của chúng không tránh khỏi là những hình ảnh về sự giao hợp trọn vẹn. Trong những ảo tượng đó, chúng ta giao hợp và được giao hợp, làm cho trọn vẹn và được nên trọn vẹn, biết rõ rằng mình được biết rõ, diện đối diện (như thánh Phaolô mô tả trong thư gởi tín hữu Côrintô 1, chương 13, câu 12-13). Trong những mộng tưởng của mình, chúng ta chưa hề thiếu cái ôm trao ban sự sống. Trong những giấc mộng, chúng ta làm tình một cách thật sự và không dè dặt.

Những ảo tượng đẹp nhất của chúng ta làm cho hiện thực đảo ngược một cách vui thú, kiểu như sư tử ăn cỏ như bò trong sách Isaia. Trong những mộng tưởng của chúng ta, các luật lệ bình thường của thế giới bị dẹp bỏ và chúng ta có thể làm những việc lớn lao và cao cả, bất chấp những giới hạn về thể chất, nghệ thuật, giáo dục hay thực tiễn của mình. Trong những ảo tượng, chúng ta không bao giờ bị giới hạn bởi cơ thể, chủng tộc, học vấn, xuất thân, hoàn cảnh hay trí tuệ. Trong những mộng tưởng, không có gì là không thể. Trong những ảo tượng, chúng ta có thể bay, trở thành một nghệ sĩ, tiểu thuyết gia, vận động viên, ngôi sao điện ảnh và một vị thánh triệu người có một.

Hơn thế nữa, trong những ảo tượng của chúng ta có công lý và chính đáng. Như các ngôn sứ hình dung một ngày phán xét vĩ đại, khi kẻ kiêu ngạo sẽ bị hạ xuống, kẻ tàn ác sẽ phải trả lời cho sự ác độc của mình, và đức hạnh ẩn kín của những người âm thầm chịu đau khổ sẽ được tiết lộ, thì trong những mộng tưởng của chúng ta cũng vậy. Một ảo tượng tốt, theo một cách thơm tho, luôn đem đến công lý. Trong ảo tượng của mình, chúng ta trực cảm một trời mới đất mới.

Cuối cùng, trong những ảo tượng lành mạnh, chúng ta cũng luôn là con người tốt nhất và cao thượng nhất của mình. Trong mộng tưởng, chúng ta không bao giờ nhỏ nhen, hẹp hòi hay bé nhỏ, mà luôn là mẫu mực của đức hạnh và cao thượng, đầy quảng đại, trìu mến, yêu thương sâu sắc và dễ thương.

Thánh Tôma Aquinô phân biệt hai loại hiệp nhất. Theo ngài, chúng ta có thể hiệp nhất với một điều gì đó bằng cách chiếm hữu hoặc khao khát. Trong những ảo tượng của chúng ta, kể cả những ảo tượng quá khơi gợi và riêng tư đến nỗi làm cho chúng ta cảm thấy xấu hổ, đều cho chúng ta cơ hội đặc ân để trực cảm xem sự cứu rỗi trông như thế nào và có cảm giác như thế nào.

Đáng buồn là, khái niệm về thiên đàng đến với chúng ta qua giáo huấn của giáo hội, giáo lý căn bản và các lớp học giáo lý, lại thường quá nhạt nhẽo, vô trùng, nhị nguyên, vô tính và thuần khiết đến nỗi chúng ta không muốn đổi cuộc sống trần thế này để lấy nó. Cuộc sống ở trần thế, với mọi nỗi đau và chán nản, vẫn có vẻ phong phú và thú vị hơn thiên đàng được hứa cho chúng ta sau khi chết. Thông hiệp với các thiên thần, ánh sáng tuyệt đối, và viễn cảnh ngồi thinh lặng vĩnh viễn thờ phượng Thiên Chúa, những điều này dù rất đúng và đầy ý nghĩa nếu hiểu đúng, nhưng cũng quá mơ hồ để có thể làm chúng ta vượt ra khỏi những lạc thú đời này.

Do đó, chúng ta có một điều cần học nơi các ngôn sứ trong Kinh Thánh, nơi các nhà thần nghiệm – và từ cả hình tượng có vẻ bất kính của tác giả Andrew Greeley.

Ảo tưởng tự đủ

Vài năm trước, tôi có dự tang lễ của một ông cụ thọ 90 tuổi. Ở mọi khía cạnh, ông là người tốt, kiên trung giữ đạo, con cái đông đúc, người đáng trọng trong cộng đồng và là người có lòng quảng đại. Ông mạnh khỏe, có tài, có tư chất lãnh đạo, là người mà chúng ta sẽ chọn để quản trị và dẫn dắt. Vì thế ông có một địa vị uy tín trong cộng đồng. Ông là kiểu người nắm quyền.

Ông có người con trai là linh mục công giáo, và người con giảng trong tang lễ. Cha mở đầu bài giảng như sau: Kinh Thánh viết, đời người chỉ đến bảy mươi, mạnh giỏi lắm thì được tám mươi. Bây giờ cha của chúng tôi qua đời năm 90 tuổi. Tại sao lại có thêm 20 năm này? Đây không phải là một bí ẩn gì. Ông quá mạnh mẽ, ông có nhiều trách vụ phải làm để phải chết ở tuổi 70 hay 80. Chúa cho ông thêm 20 năm để ông dịu lại. Và nó hiệu quả. Mười năm cuối của ông là những năm ông suy giảm rất nhiều. Vợ mất, và cha tôi không bao giờ qua được thử thách này. Ông bị trụy tim và phải cần người giúp hỗ trợ sinh hoạt, đây là một đòn nặng giáng lên ông. Rồi những năm cuối đời, ông phải cần có người giúp trong các công việc vệ sinh tối thiểu. Với một người như ông, đó là cả một hạ mình.

Nhưng tất cả những chuyện này có tác động. Nó làm ông dịu đi. Trong những năm cuối này, mỗi khi có ai đến thăm, ông sẽ cầm tay họ và nói “xin giúp tôi”. Từ lúc lên năm và khi có thể tự thắt dây giày, ông đã không thể nói ba chữ này. Đến lúc qua đời, ông đã sẵn sàng để ra đi. Khi gặp Chúa Giêsu và thánh Phêrô ở thiên đàng, tôi chắc cha tôi sẽ đưa tay ra và nói, “xin giúp con”. Tôi chắc chắn, nếu là 10 hay 20 năm trước, hẳn ông đã cho Chúa Giêsu và Thánh Phêrô lời khuyên làm sao để cổng thiên đàng mở ra mở vào hiệu quả hơn.

Đây là dụ ngôn nói một cách trực tiếp và sâu sắc về một vị thế mà chúng ta cuối cùng đều phải đứng ở đó, dù bằng chọn lựa chủ động hay phải quy phục hoàn cảnh, nhưng cuối cùng tất cả chúng ta đều đứng vào một vị thế chấp nhận, chúng ta không tự đủ, chúng ta cần giúp đỡ, cần người khác, cần cộng đồng, cần ân sủng và cần Thiên Chúa.

Tại sao điều này lại quan trọng đến như thế? Vì chúng ta không phải là Chúa, và khi nhận ra, chấp nhận như thế thì chúng ta khôn ngoan hơn và biết yêu thương hơn. Các thần học gia kinh điển của kitô giáo định nghĩa Thiên Chúa là hiện hữu tự đủ, và nhấn mạnh rằng chỉ có Thiên Chúa mới tự đủ. Chỉ có Thiên Chúa mới không cần điều gì ngoài chính Ngài. Còn mọi sự khác, tất cả mọi sự không phải là Thiên Chúa, thì được định nghĩa là phụ thuộc các yếu tố, là không tự đủ, là cần điều gì đó ngoài bản thân mình để tồn tại và duy trì sự tồn tại đó mỗi giây mỗi phút trong đời.

Nói như vậy nghe có vẻ là thần học trừu tượng, nhưng mỉa mai thay, chính các em bé lại hiểu chuyện này, ý thức được chuyện này. Chúng biết rằng chúng không thể tự chu cấp cho mình, và mọi sự đến với chúng đều là món quà. Chúng biết chúng cần giúp đỡ. Tuy nhiên, không lâu sau khi đã biết thắt dây giày, thì ý thức này bắt đầu phai mờ khi chúng bước vào tuổi dậy thì, rồi tuổi trưởng thành, nhất là khi chúng khỏe mạnh, cường tráng và thành công thì chúng bắt đầu sống với ảo tưởng tự đủ. Tôi tự chu cấp cho bản thân tôi!

Thật sự là điều này đã tạo điều kiện cho chúng tự tin bước vào đời. Nhưng nó lại không tạo điều kiện cho sự thật, cộng đồng, tình yêu hay linh hồn. Nó là một ảo tưởng, là ảo tưởng lớn nhất. Không ai trong chúng ta đi sâu vào cộng đồng trong khi đang nuôi dưỡng ảo tưởng tự đủ, khi chúng ta vẫn còn nói, mình không cần đến người khác! Tôi chọn mình sẽ là ai, là gì trong đời này!

G.K. Chesterton từng nói rằng sự quen thuộc là thứ ảo tưởng lớn nhất. Ông nói đúng, và điều chúng ta quen thuộc nhất, đó là tự chăm sóc bản thân và nghĩ rằng mình lo cho mình được. Như chúng ta biết, nó giúp cho chúng ta vượt lên trong đời. Tuy nhiên, may cho chúng ta, thông qua đau đớn, Thiên Chúa và tự nhiên luôn hợp sức để dạy chúng ta rằng chúng ta không tự đủ. Tiến trình trưởng thành, già đi, và cuối cùng là chết được sắp đặt để dạy cho chúng ta (bất kể chúng ta có tiếp thu bài học này hay không) rằng chúng ta không nắm quyền và sự tự đủ chỉ là một ảo tưởng. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều đến một ngày mà chúng ta, như thời chưa biết thắt dây giày, sẽ đưa tay ra mà nói, “xin giúp tôi”.

Triết gia Eric Mascall có một câu nói, bao lâu chúng ta còn xem cuộc đời là chuyện đương nhiên thì chúng ta không khôn ngoan cũng không trưởng thành. Chúng ta thực sự khôn ngoan và trưởng thành khi nào chúng ta xem nó là món quà nhưng không, từ Thiên Chúa, từ tha nhân, từ tình yêu.

Đức tin đến rồi đi

Rumi, nhà thần nghiệm Sufi và thi sĩ người Ba Tư ở thế kỷ 13 từng nói đức tin chuyển động trong đời chúng ta: Chúng ta sống trong một bí mật thâm sâu mà đôi khi chúng ta biết, rồi không biết, rồi lại biết.

Nhà báo David Brooks cũng nói tương tự. Trong quyển sách Ngọn núi thứ hai (The Second Mountain), ông chia sẻ về cách mình cố sống vừa đức tin kitô giáo vừa đức tin do thái giáo. Ông cho biết gần như lúc nào cũng hiệu quả. Xét cho cùng, Chúa Giêsu đã thử chuyện này rồi. Tuy nhiên có một câu hỏi khó mà thỉnh thoảng ông bị đặt ra là: Ông có tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu, tin rằng thân thể Chúa Giêsu ba ngày sau khi chịu đóng đinh đã ra khỏi mồ không? Ông đã trả lời: “Niềm tin đó đến rồi đi. Kẻ đi giữa lằn ranh như tôi vẫn còn mạnh lắm”.

Nếu hầu hết chúng ta, những người nhận mình là tín hữu kitô chân thành, thì tôi nghĩ chúng ta cũng sẽ trả lời như vậy cho câu hỏi thực tế về việc Chúa Giêsu phục sinh. Chúng ta có tin chuyện đó đã thực sự xảy ra không? Niềm tin đó đến rồi đi. Có lẽ không phải về mặt tri thức, nhưng về mặt hiện sinh.

Tuyên xưng đức tin về mặt tri thức là một chuyện, nhưng tuyên xưng chuyện đó trong đời sống của mình lại là một chuyện khác. Chính Chúa Giêsu đã đưa ra sự phân biệt này trong dụ ngôn về người cha có hai con trai và ông bảo chúng ra đồng làm việc. Người con cả thưa vâng, nhưng không đi. Người con thứ bảo không, nhưng cuối cùng lại đi. Vậy, chính Chúa Giêsu hỏi, trong hai người, ai là đứa con đích thực?

Câu trả lời của Brooks bao gồm cả hai, kiểu một người đi giữa hai lằn ranh. Sự thật, chúng ta là cả hai người con đó, nói có rồi lại nói không, rồi lại nói có lại. John Shea, khi bình luận về sự thăng trầm của các môn đệ đầu tiên của Chúa và sự dao động của họ giữa nhiệt tâm theo Chúa và từ bỏ giấc mơ đức tin của mình, ông gọi đây là cuộc đấu tranh (đối với họ và với chúng ta) giữa lời mời gọi thần thánh và phản ứng của con người, giữa một quả quyết vô cùng và một dao động lớn lao.

Và không đâu cho chúng ta thấy rõ ràng hơn là cách chúng ta dao động giữa liệu mình có thật sự tin vào lời mời gọi trọng tâm của kitô giáo dành cho tất cả mọi người, cụ thể là chúng ta có xem trọng sự phục sinh của Chúa Giêsu đủ để thật sự tái định hình bản thân, tái định hình ý nghĩa cuộc đời và biến đó thành một lăng kính để định hình cách chúng ta sống hay không? Liệu chúng ta có tin đủ mạnh vào sự phục sinh của Chúa Giêsu để đưa ra những quyết định liều lĩnh triệt để và bất chấp thường thức trong đời mình không? Nếu chúng ta thật sự tin Chúa Giêsu đã phục sinh, thì nó phải tái định hình đời sống chúng ta.

Tôi chắc chắn rằng, hầu hết chúng ta đều quen thuộc với câu nói trứ danh của thánh Julian thành Norwich. Khi suy ngẫm về ý nghĩa của sự phục sinh của Chúa Giêsu, ngài nói, nếu đúng là thế, nếu Chúa Giêsu thật sự sống lại từ cõi chết, nếu Thiên Chúa thật sự cho một người chết từ mồ trỗi dậy, vậy thì chúng ta có sự bảo đảm tuyệt đối (và đi kèm là sự tự tin) để tin rằng “Cuối cùng, tất cả sẽ tốt đẹp, và tất cả sẽ tốt đẹp, mọi sinh linh sẽ tốt đẹp”.

Phương trình của ngài đúng, nếu sự phục sinh thật sự đã xảy ra, thì những chuyện tiếp theo, cái kết cho câu chuyện đời chúng ta và thế giới đã được viết sẵn rồi, và chúng ta được bảo đảm tuyệt đối rằng đó là một cái kết có hậu.

Nhưng chúng ta có tin như vậy không? Với đa số chúng ta, nếu thành thật như David Brooks, thì câu trả lời hiện sinh của chúng ta cũng sẽ như ông: niềm tin đó đến rồi đi. Cứ cho là thừa nhận như vậy là khiêm nhượng, nhưng sự thừa nhận đó có thể giải thoát chúng ta khỏi sự trốn tránh, giúp chúng ta hiểu hơn về động lực của đức tin, và hướng chúng ta đến nơi chúng ta cần đến trong hành trình hoán cải tiếp diễn.

Có lần ở một hội nghị tôn giáo nọ, tôi nghe câu này từ một diễn giả chính, một phụ nữ như Dorothy Day, đã làm việc với người nghèo trên đường phố nhiều năm. Cụ thể bà nói: “Tôi là tín hữu kitô và tôi làm việc trên đường phố với người nghèo. Xét cho cùng, Chúa Giêsu là lý do để tôi làm việc này. Nhưng tôi có thể làm việc trên đường phố nhiều năm mà không nhắc đến danh Chúa Kitô vì tôi tin rằng Thiên Chúa đủ trưởng thành để không đòi hỏi phải luôn mãi là trọng tâm sự chú tâm có ý thức của chúng ta”. Bạn có thể hình dung nhận định này gặp phải nhiều phản ứng trái chiều.

Nhưng xét cho cùng, bà nói đúng, và điều mà bà chia sẻ không phải là kiểu hàng hai không lành mạnh, cũng không phải kiểu trải nghiệm của Brooks và Rumi về cách đức tin chuyển động trong đời sống hiện sinh. Niềm tin đó đến rồi đi. Điều mà bà chia sẻ có thể giúp chúng ta giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi sai lầm mà chúng ta cảm nhận khi đức tin dường như phải ra đi và chúng ta cảm thấy hiện thực trần gian của đời mình quá hữu hình và hiện sinh đến nỗi trong khoảnh khắc đó dường như chúng ta không biết bí mật của đức tin và có vẻ dao động trước một bảo đảm vô cùng. Niềm tin đó đến rồi đi. Quả vậy. Chúng ta sống trong một bí mật thâm sâu mà đôi khi chúng ta biết, rồi không biết, rồi lại biết.