RonRolheiser,OMI

Già đi như một tu viện tự nhiên

Tu viện là gì? Tu viện hoạt động như thế nào? Thánh Biển Đức (480-547 TCN) được xem là nhà sáng lập đời sống tu viện Tây phương, ngài có lời khuyên như luật căn bản cho các tu sĩ của ngài: Hãy ở trong phòng của mình, nó sẽ dạy anh em mọi điều anh em cần biết. Hiểu cho đúng, đây là một ẩn dụ phong phú, chứ không phải lời khuyên theo nghĩa đen. Khi nói đến một tu sĩ ở trong phòng và để việc đó dạy mình những gì mình cần biết, ngài không nói đến căn phòng tu sĩ trong tu viện. Ngài đang nói đến tình trạng sống hiện tại của một tu sĩ hay của bất kỳ ai.

Đôi khi, điều này được linh đạo kitô giáo gọi là trung thành với bổn phận hiện tại. Ý nghĩa là nếu chúng ta trung thành với tình yêu và có thiện tâm với tình trạng cuộc sống hiện tại của mình, thì cuộc sống tự nó sẽ làm cho chúng ta trưởng thành và nhân đức. Ví dụ, một người mẹ hy sinh, tận tụy hết lòng nuôi con, bà sẽ trưởng thành và vị tha qua quá trình bà. Nhà của bà sẽ là căn phòng tu sĩ của bà và nói theo ẩn dụ, bà sẽ là tu viện trưởng của tu viện mình (cùng vài tu sĩ rất nhỏ tuổi) và việc ở trong tu viện này, là mái nhà của bà, nó sẽ dạy cho bà mọi điều bà cần biết. Bà sẽ nuôi dạy con cái, nhưng con cái cũng sẽ nuôi dạy bà. Tình mẫu tử sẽ dạy bà những gì bà cần biết và sẽ làm cho bà thành một vị trưởng bối khôn ngoan, một Khôn ngoan kinh điển và gương mẫu.

Quá trình già đi chính là một tu viện tự nhiên. Nếu sống đủ lâu, cuối cùng quá trình già đi sẽ biến tất cả mọi người thành tu sĩ. Các tu sĩ có bốn lời khấn: khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục và kiên vững. Quá trình già đi (dường như tàn nhẫn) đưa chúng ta đến với việc bị loại ra rìa, phải phụ thuộc vào người khác, mất đi đời sống tình dục năng nổ, và đi vào tình trạng sống không lối thoát, có thể nói là áp đặt bốn lời khấn đó lên chúng ta. Nhưng như lời khuyên của Thánh Biển Đức, điều này có thể dạy cho chúng ta mọi điều chúng ta cần biết, và nó có sức mạnh độc nhất vô nhị làm chúng ta trưởng thành một cách rất sâu sắc. Các tu sĩ có những bí quyết đáng để chúng ta học hỏi. Quá trình già đi cũng vậy.

Đây có thể đem lại hiểu biết đặc biệt về cách chúng ta có thể biến những ngày tháng cuối đời và cái chết của chúng ta thành một món quà tận căn cho người khác. Trong những thế kỷ đầu của kitô giáo, tử đạo là cách lý tưởng để một tín hữu kết thúc hành trình dương thế. Nó được xem là cách triệt để để noi gương Chúa Kitô và biến cái chết của mình thành một ơn. Dĩ nhiên, sau khi kitô giáo thành quốc giáo và các đại đế không còn giết hại kitô hữu nữa, thì chuyện này cần được suy nghĩ lại. Từ đó đã có nhiều nỗ lực để tử đạo có thể hiểu theo nghĩa bóng. Có một cách phổ biến là sau khi nuôi dạy con cái trưởng thành và đến tuổi về hưu, hai vợ chồng sẽ rời nhau và mỗi người đến một tu viện để sống phần đời còn lại như tu sĩ.

Các nhà thần nghiệm kitô giáo kinh điển nói, trong giai đoạn cuối đời, chúng ta nên đi vào điều mà họ gọi là đêm tối tâm hồn, cụ thể là chúng ta chủ động đưa ra quyết định triệt để dựa trên đức tin, bước vào một tình trạng sống mà chúng ta không còn chăm sóc cho bản thân mình, mà phải tin tưởng, với một đức tin thuần túy nhất, rằng Thiên Chúa sẽ chu cấp cho chúng ta. Điều này cũng tương tự với linh đạo của Ấn giáo, cho rằng trong giai đoạn cuối cùng, trưởng thành trọn vẹn của cuộc đời, chúng ta nên trở thành môn đệ sannyasin, hành khất già thánh thiện.

Tôi nghĩ rằng, hầu hết chúng ta sẽ không bao giờ chủ động cắt đứt mọi an toàn cũ của mình để đặt mình vào tình trạng mà chúng ta bất lực trong việc chu toàn và chăm sóc bản thân. Nhưng đây là lúc thể hiện vị trí của mình một cách tự nhiên. Quá trình già đi sẽ làm điều đó cho chúng ta. Nó sẽ biến chúng ta thành môn đệ sannyasin và đưa chúng ta vào đêm tối tâm hồn.

Như thế nào? Khi già đi, sức khỏe suy yếu và thấy bị đẩy ra rìa hơn, không còn một vị trí quan trọng trong xã hội, chúng ta sẽ dần mất đi năng lực tự chăm sóc cho bản thân. Cuối cùng, nếu sống đủ lâu, hầu hết chúng ta sẽ chuyển sang sống trong cơ sở hỗ trợ sinh hoạt, và nó là một tu viện tự nhiên.

Đúng là một ẩn dụ quá thích hợp! Cơ sở hỗ trợ sinh hoạt như một tu viện tự nhiên. Ẩn dụ này cũng thích hợp cho ý nghĩa của việc (bị cưỡng bách) bước vào đêm tối tâm hồn và việc làm môn đệ sannyasin, hành khất già thánh thiện. Thực chất nó mang ý nghĩa: khi ai đó sống trong cơ sở hỗ trợ sinh hoạt, thì dù người đó là triệu phú hay người bần cùng, thì luật cũng như nhau. Vì chúng ta không thể chăm sóc cho bản thân (và thật sự là không cần phải làm thế), thì chúng ta sống một cuộc sống tu viện vâng phục và phụ thuộc.

Khi cần hỗ trợ sinh hoạt, là chúng ta sống theo tiếng chuông tu viện và chết như một hành khất già thánh thiện.

Trò chơi Tuần lộc

Tôi ghét đám đông, ít nhất là ghét hầu hết các đám đông. Tôi thoải mái với các trận bóng, khi đám đông tạm gác sự tỉnh táo để bung tỏa cảm xúc trong vài tiếng. Nhưng tôi ghét các đám đông chìm trong cơn say do suy nghĩ tập thể gây ra, dù là thời trang văn hóa, hệ tư tưởng chính trị, chủ nghĩa tôn giáo chính thống cực đoan, kỳ thị chủng tộc vô thức, chủ nghĩa dân tộc lầm lạc, hay một loại bốc đồng bất cứ ở dạng nào. Tôi sợ đám đông như thế vì dù tiếng nói của chúng đến từ cánh tả hay cánh hữu, bảo thủ hay tự do, thì trong những tiếng vọng của nó, đó là những đe nẹt, đòi đóng đinh, đòi xử tử không cần xét xử, đòi diệt chủng, ám sát, chiến tranh, đàn áp ngôn luận, và ngày nay là cả những thiếu niên tự tử vì bị bắt nạt trên mạng. Đám đông thiên hình vạn trạng, nhưng xu hướng và năng lượng của đám đông lúc nào cũng như nhau.

Milan Kundera là tác giả yêu thích của tôi, ông là nhà văn người Czech, ông cũng ghét đám đông như tôi. Nơi đám đông, ông thấy một thứ mà ông gọi là “cuộc đại tuần hành”, cụ thể là một cuộc tuần hành mù quáng, vô tri, hướng đến chủ nghĩa toàn trị kiểu này hay kiểu khác. Đám đông với ý định hệ tư tưởng luôn kết thúc như thế.

Nhưng điều này khơi lên một câu hỏi: Còn những đám đông (tuần hành, biểu tình, đình công, ngồi phản đối) dẫn đến những thay đổi tốt về chính trị, xã hội và thậm chí cả đạo đức thì sao? Những đám đông mà Gandhi đã khởi xướng thì sao? Những đám đông đi theo Martin Luther King thì sao? Những đám đông giúp chấm dứt chế độ kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi thì sao? Những đám đông quy tụ chung quang phong trào Black Lives Matter (Sinh mạng của người Da đen Quý giá) thì sao? Những người họp nhau lại vì chính nghĩa và phải vào tù vì hoạt động của họ thì sao? Đó có phải là những đám đông tốt không?

Đúng, đó là những đám đông tốt, chính xác họ tốt vì họ hữu tri chứ không vô tri, nghĩa là họ tốt đến mức độ không chìm vào cơn sốt của suy nghĩ nhóm và mục đích của họ là để chữa lành một tình trạng bệnh hoạn chứ không phải để thù hận và đóng đinh bất kỳ ai chống đối họ. Chính vì thế mà trong một đám đông như thế, chúng ta không thấy hận thù và bạo lực nơi người lãnh đạo và trong đặc tính chung của họ.

Nhưng dù vậy, chúng ta cũng phải thừa nhận nơi những đám đông này cũng có thù hận và bạo lực, vì một đám đông sẽ luôn có yếu tố bạo loạn. Nhưng thù hận, bạo lực và chủ trương phi chính phủ mà chúng ta thấy ở đó không đại diện cho đám đông tổng thể đó. Những đám đông của Gandhi, của Martin Luther King, Nelson Mandela và Dorothy Day là những gương mặt thật sự, có đặc tính của bất kỳ đám đông nào thật sự có xu hướng thay đổi đạo đức.

Nhưng không phải đám đông nào cũng hữu tri nên không mấy ngạc nhiên khi việc đóng đinh Chúa Giêsu được khơi mào bởi một đám đông (và mỉa mai thay cũng là đám đông cách đó năm ngày đã reo mừng tôn Ngài làm vua). Năng lượng của đám đông là bất định và vô tri. Chính vì thế mà đám đông là thứ đáng sợ, bất kể đám đông đó tôn sùng hay hò hét đòi đóng đinh chúng ta.

Tôi không phải là nhà thơ, nhưng đôi khi có những điều cần đến một dạng ngôn ngữ khác để diễn tả. Vậy nên, tôi xin mượn những câu trong bài hát Giáng Sinh (vô tri) lâu đời và thêm chút bình luận của tôi, để diễn tả cảm giác của tôi về các đám đông theo cách của một thi sĩ, dù có lẽ bạn cũng không xem nó là thơ.

Trò chơi Tuần lộc

Rudolph, con tuần lộc mũi đỏ
Có cái mũi sáng bóng
Và nếu bạn từng thấy
Thì sẽ nói nó sáng bừng
Mọi con tuần lộc khác
Thường cười cợt và chế giễu nó
Chúng không hề để Rudolph tội nghiệp
Tham gia trò chơi tuần lộc nào
Rồi vào đêm Giáng Sinh đầy sương mù
Ông già Noel đến và bảo:
Rudolph với cái mũi sáng bóng
Con kéo xe trượt tối nay cho ông nhé?
Rồi mọi con tuần lộc khác mến nó
Khi chúng vui sướng reo hò
Rudolph mỉm cười…
rồi nó trầm tư nói:
Các bạn ơi, xin thứ lỗi vì sự miễn cưỡng của tôi
Khi thấy tình cảm này
Khác với sự tàn bạo
Khác biệt thì chế giễu – Đóng đinh nó đi!
Chiến thắng thì hân hoan – Phong ngài làm vua!
Cuồng là cuồng
Cuồng loạn kích động
Vô tri và mù quáng
Chỉ vì bản thân
Trò chơi Tuần lộc
Với đám đông luôn mãi kinh ngạc và reo hò
Dù là để phong vương
Hay là để đóng đinh.

Khi đóa hoa đã bừng nở hết

Tâm điểm thâm sâu nhất của chúng ta là gì? Thường thì chúng ta xem nó là phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn, trong linh hồn mình, trọng tâm tình cảm, trọng tâm tinh thần, nơi mà nhà thần nghiệm Thomas Merton gọi là “điểm trinh nguyên” (le pointe vierge). Và đó là những cách hình dung tốt về nó. Nhưng còn một cách khác nữa.

Nhà thần nghiệm kinh điển ThánhGioan Thánh Giá nhìn nhận những điều này một cách khác biệt. Với ngài, tâm điểm thâm sâu nhất của bất kỳ điều gì chính là điểm xa nhất mà sự hiện hữu, năng lực và sức mạnh vận hành, chuyển động của nó có thể đạt đến. Ngài nói thế nghĩa là sao? Căn bản ý ngài như sau: Tâm điểm sâu thẳm nhất của bất kỳ điều gì, của một đóa hoa hay của một con người, đó chính là điểm xa nhất mà sự đó có thể vươn đến trước khi chết.

Chúng ta lấy đóa hoa làm ví dụ: Ban đầu nó là một hạt giống, rồi thành mầm cây, lớn lên thành cây non. Cuối cùng cây đó bừng nở thành đóa hoa đẹp. Đóa hoa đó tồn tại một thời gian rồi bắt đầu héo đi và lụi tàn. Cuối cùng, cái từng là tinh túy của một đóa hoa đẹp biến thành hạt giống, và trong chính hành động chết đi của nó, đóa hoa cho hạt giống để đem lại sự sống mới.

Vì thế với ThánhGioan Thánh Giá, tâm điểm thâm sâu thẳm nhất của một đóa hoa không phải là khoảnh khắc đẹp đẽ, bừng nở của nó, mà là khoảnh khắc cuối cùng, khi hoa nở biến thành hạt giống và có thể tạo nên hạt giống trong chính hành động chết đi đó.

Chuyện này cho chúng ta một bài học, ngược với cách chúng ta thường đánh giá mọi sự. Khi nào thì chúng ta có năng lực sinh sôi nhất? Khi nào thì chúng ta có năng lực dùng cuộc đời của mình để tạo ra những hạt giống đem lại sự sống mới nhất? Tâm điểm sâu thẳm nhất sự trưởng thành của chúng ta là gì?

Thường thì dĩ nhiên chúng ta nghĩ tâm điểm thâm sâu nhất chính là lúc bừng nở, cụ thể là giai đoạn hay khoảnh khắc trong cuộc đời mà chúng ta có sức khỏe, có vẻ đẹp, tài năng, thành tựu và tầm ảnh hưởng làm chúng ta được ngưỡng mộ và có khi còn bị ghen tị. Đó là thời gian trong cuộc đời mà chúng ta thấy mình tốt đẹp nhất, hay như mọi người thường nói, ở đỉnh cao cuộc đời. Đó là sự bừng nở của chúng ta! Là hình ảnh đẹp đẽ nhất của chúng ta, hơn bao giờ hết!

Thánh Gioan Thánh Giá không chê bai thời điểm đó. Nhưng, ngài thách thức chúng ta bước vào thời điểm đó, để tận hưởng, để tạ ơn Thiên Chúa, và dùng những lợi thế, những đặc quyền đi kèm với nó để giúp đỡ tha nhân. Nhưng Ngài không nói đây là đỉnh cao trong sự sinh sôi của chúng ta, không nói đây là khoảnh khắc hay giai đoạn cuộc đời mà chúng ta tạo ra hầu hết hạt giống cho sự sống mới. Không, như đóa hoa tạo ra hạt giống trong chính hành động chết đi, chúng ta cũng có tiềm năng sinh sôi nhất sau khi sự bừng nở, nhường bước cho màu xám của tuổi già, sau khi những thành tựu nhường cho một dạng sinh hoa trái khác.

Cứ hình dung một cô gái trẻ xinh đẹp và tài năng, trở thành một diễn viên nổi tiếng. Ở đỉnh cao sự nghiệp, cô bừng nở hoàn toàn và làm mọi người ngưỡng mộ, có khi còn tôn sùng cô. Ngoài ra, trong đời thực, cô có thể là người quảng đại, người vợ tuyệt vời, người mẹ tận tâm và người bạn tri kỷ đáng tin cậy. Nhưng sự bừng nở của cô không phải là cao điểm của sự trưởng thành, không phải là tâm điểm thâm sâu nhất, không phải là thời điểm trong đời mà cô tạo ra điều đem lại sự sống trực diện nhất. Nhưng chính là lúc cô đã thành người lớn tuổi, vật lộn với sức khỏe giảm sút, vẻ đẹp bên ngoài đã mất đi, phải đối diện với tương lai cần người chăm sóc và cái chết đến gần, như đóa hoa khô đi và biến thành hạt giống, cô có thể cho đi cuộc đời mình, giúp tạo nên sự sống mới theo cách mà cô đã không thể làm khi còn trẻ, hấp dẫn, được ngưỡng mộ, bị ghen tị và bừng nở hoàn toàn.

Tương tự như vậy với một vận động viên ngôi sao. Ở đỉnh cao sự nghiệp, giành chức vô địch, tên tuổi lẫy lừng ai cũng biết, hình ảnh thể thao tươi trẻ của họ xuất hiện khắp nơi, trên báo chí, trên truyền hình, trên các bảng quảng cáo, đó là lúc họ bừng nở hoàn toàn, nhưng lúc đó, họ không sinh sôi mạnh nhất trong việc tạo ra hạt giống đem lại sự sống mới. Mà nó có thể xảy ra sau đó, khi họ đã già, khi quần chúng không còn nhìn nhận họ qua thành tựu, và họ cũng như mọi người khác, tóc bạc, thể chất giảm sút, bị ra rìa và cận kề cái chết. Lúc đó, khi sự bừng nở đã ra đi, trong thời gian cận kề cái chết, họ có thể tạo ra những hạt giống đem lại sự sống mới. Chúng ta thường đồng nhất sự bừng nở đặc biệt với năng lực sinh sôi mạnh mẽ. Nói vậy cũng đúng, sự bừng nở có tầm quan trọng của nó, có mục đích chính đáng và giá trị của nó. Nhưng, một trong những thách thức của chúng ta là cho sự bừng nở đó một ánh mắt ngưỡng mộ mà không ghen tị. Không dễ để làm thế, và chúng ta thường không giỏi làm thế. Nhưng thách thức lớn hơn nữa, chính là học biết được điều mà chúng ta được kêu gọi làm sau khi đóa hoa đã bừng nở hết.

Cầu nguyện bằng thánh vịnh

Trong thánh vịnh, Thiên Chúa cư xử theo những cách mà Ngài không được phép cư xử trong thần học.

Câu này của cố thần học gia Sebastian Moore nên được nêu bật trong thời đại mà ngày càng ít người muốn dùng thánh vịnh để cầu nguyện, vì họ cảm thấy bị xúc phạm với nhiều điều thỉnh thoảng họ gặp phải trong thánh vịnh. Ngày càng có nhiều người phản đối dùng thánh vịnh như một cách cầu nguyện (hoặc họ muốn thanh lọc thánh vịnh), vì các thánh vịnh nói về giết người, báo thù, thịnh nộ, bạo lực, gây chiến và trọng nam khinh nữ.

Một số người nói làm sao họ có thể cầu nguyện với những lời đầy hận thù, thịnh nộ, bạo lực, nói về vinh quang của chiến tranh, về tiêu diệt kẻ thù nhân danh Thiên Chúa? Một số khác thì phản đối tính trọng nam khinh nữ trong các thánh vịnh, khi thần thánh là nam và người nam được tôn sùng quá đáng. Số khác lại thấy khó chịu về mặt thẩm mỹ. Họ phản đối: “Đây là những vần thơ dở!”

Có lẽ các thánh vịnh không phải là thi ca tuyệt mỹ và chắc chắn là thoang thoảng có bạo lực, chiến tranh, thù hận, mong muốn báo thù, tất cả đều nhân danh Thiên Chúa. Phải thừa nhận, nó cũng có tính chất trọng nam khinh nữ. Nhưng những điều này làm cho thánh vịnh có một cách diễn đạt xấu để cầu nguyện sao? Tôi xin phép được đưa ra một vài điểm ngược lại.

Một trong những định nghĩa kinh điển về cầu nguyện là “nâng tâm trí và tâm hồn lên cùng Thiên Chúa”. Đơn giản, rõ ràng, chính xác. Tôi cho rằng vấn đề thật sự, chính là những lúc cầu nguyện, chúng ta hiếm khi thực sự làm vậy. Thay vì dâng lên Thiên Chúa những gì thực sự ở trong tâm trí và tâm hồn, thì chúng ta lại có khuynh hướng xem Thiên Chúa là người mà chúng ta cần giấu diếm chân tướng sự thật của những suy nghĩ và cảm giác trong mình. Thay vì dốc trọn tâm trí và tâm hồn, chúng ta lại thưa với Chúa những gì chúng ta nghĩ là Ngài muốn nghe, những gì không phải là suy nghĩ muốn giết người, khao khát báo thù hay sự thất vọng về Thiên Chúa.

Nhưng, bày tỏ những cảm giác đó mới là điều quan trọng. Điều khiến cho các thánh vịnh đặc biệt thích hợp cho việc cầu nguyện, chính là vì các thánh vịnh không giấu diếm sự thật với Thiên Chúa, mà lại bày tỏ toàn bộ cảm giác thực sự của con người chúng ta. Thánh vịnh là tiếng nói thành thật về những gì đang diễn ra trong tâm trí và tâm hồn chúng ta.

Đôi khi chúng ta cảm thấy tốt đẹp và bộc phát muốn nói ra những lời tôn vinh và cảm tạ, thì thánh vịnh cho chúng ta những lời đó. Những lời này nói về sự tốt lành của Thiên Chúa trong mọi sự, là tình yêu, tình bạn, đức tin, sức khỏe, thức ăn, rượu, và vui hưởng. Nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng cảm nhận như thế. Cuộc sống có những lúc cô đơn, lạnh lẽo, thất vọng, cay đắng âm ỉ hoặc bạo phát. Các thánh vịnh cho chúng ta lời thành thật để có thể mở lòng về những cảm giác âm ỉ này với Thiên Chúa. Cũng vậy, có những lúc chúng ta cảm thấy mình bất xứng, không xứng với sự tin tưởng và yêu thương mình được ban cho. Và thánh vịnh cũng cho chúng ta lời để nói ra, xin Thiên Chúa thương xót và làm mềm trái tim chúng ta, rửa sạch chúng ta và cho chúng ta một khởi đầu mới.

Cũng vậy, có những lúc chúng ta cảm thấy thất vọng cay đắng với Thiên Chúa, và cần cách để bày tỏ. Thánh vịnh cho chúng ta lời để nói ra (“Vì sao Ngài im lặng?”, “Vì sao Ngài quá xa con?”), cho chúng ta ý thức Thiên Chúa không sợ những giận dữ, cay đắng của chúng ta, mà như người cha người mẹ đầy yêu thương, Ngài chỉ muốn chúng ta đến và kể với Ngài những chuyện này. Các thánh vịnh là những phương tiện đầy ơn ích cho việc cầu nguyện, vì chúng nâng lên những suy nghĩ và cảm giác khác nhau của chúng ta lên Thiên Chúa.

Tuy nhiên, có những lý do làm chúng ta thấy khó khăn với thánh vịnh. Trước hết, thời đại chúng ta thường gạt bỏ ẩn dụ và thích hiểu theo nghĩa đen, một vài hình ảnh trong thánh vịnh lại chướng tai gai mắt. Thứ hai, chúng ta có khuynh hướng chối bỏ cảm thức thực sự của mình. Thật khó để thừa nhận những cảm giác mà đôi khi chúng ta đều có, là tự đại, ám ảnh tình dục, ghen tương, cay đắng, hoang tưởng, muốn giết người, thất vọng với Thiên Chúa, hoài nghi trong đức tin. Những lời cầu nguyện của chúng ta quá thường đi ngược lại những suy nghĩ và cảm giác thật của mình. Chúng ta cầu nguyện những điều mà chúng ta nghĩ là Thiên Chúa muốn nghe. Thánh vịnh thì trung thực hơn.

Cầu nguyện với sự trung thực tuyệt đối là một thách thức. Tác giả Kathleen Norris nói như sau: “Nếu cầu nguyện đều đặn, thì không thể nào cầu nguyện cho chuẩn được. Đâu phải lúc nào chúng ta cũng ngồi thẳng thớm, càng không thể lúc nào chúng ta cũng có những suy nghĩ thánh thiện. Khi cầu nguyện, chúng ta đâu thể lúc nào cũng mặc bộ đồ đẹp nhất, thường là mặc những bộ đồ đủ sạch sẽ. Chúng ta đọc quyển sách chúc tụng của Kinh Thánh thông qua mọi tâm trạng và tình trạng cuộc sống. Những lúc thấy thảm thê tột độ, chúng ta vẫn hát. Ngạc nhiên thay, thánh vịnh lại không phủ nhận những cảm giác thật của ta, mà lại cho chúng ta được phản chiếu nó, ngay trước mặt Thiên Chúa và mọi người.” Những câu cách ngôn tạo cảm giác tốt đẹp thể hiện cảm giác chúng ta nên có, chúng không thể nào thay thế được tính thực tế đời thực của các thánh vịnh bày tỏ những cảm giác thật mà đôi khi chúng ta có. Bất kỳ ai nâng tâm trí và tâm hồn lên Thiên Chúa mà không bao giờ nói đến những cảm giác cay đắng, ghen tương, thù hận, ghét bỏ, và chiến tranh, thì nên làm người soạn những câu bắt tai để viết thiệp, chứ đừng đi làm cố vấn tâm linh cho bất kỳ ai.

Đêm tối ngõ cụt

Chuyện gì xảy ra khi chúng ta trải qua đêm tối linh hồn? Chuyện gì đã xảy ra và chúng ta phản ứng như thế nào?

Số lượng sách vở viết về chuyện này có thể chất đầy thư viện, mỗi quyển sách hay mỗi bài viết đều có cái lý riêng của nó, nhưng ở đây, tôi muốn chia sẻ một thấu suốt độc nhất vô nhị của nữ tu dòng Cát Minh Constance FitzGerald, là người được nhiều ngòi bút thiêng liêng trích dẫn khi nói về đêm tối linh hồn.

Sơ dùng từ “ngõ cụt” để diễn tả điều thường được gọi là đêm tối linh hồn. Với sơ, đêm tối linh hồn là khi chúng ta đi đến một ngõ cụt trong cuộc đời về mặt tình cảm, trí tuệ và tưởng tượng. Mọi cách thức chúng ta từng hiểu, từng tưởng tượng, từng cảm nhận trước đây, nhất là những điều liên quan đến Thiên Chúa, đức tin và cầu nguyện, giờ đây không còn hiệu quả nữa. Có thể nói chúng ta bị tê liệt, không thể trở lại như trước, không thể tiến tới. Và một phần sự tê liệt chính là do chúng ta không thể suy nghĩ, cảm nhận hay tưởng tượng để thoát ra khỏi chuyện này. Chúng ta rơi vào ngõ cụt, không lùi được mà cũng không tiến được. Vậy chúng ta phải làm gì? Làm sao để đi ra khỏi ngõ cụt?

Con đường để đi ra không đơn giản cũng không nhanh chóng. Chúng ta không thể tưởng tượng, suy nghĩ hay cảm nhận để thoát ra khỏi nó, bởi vì tầm nhìn, những biểu tượng, những câu trả lời và cảm giác chúng ta cần thì chưa có, hoặc ít ra là chưa có cho chúng ta. Chính vì thế mà chúng ta rơi vào ngõ cụt và bị tê liệt về tình cảm và trí tuệ. Tầm nhìn và những cảm giác mới có thể thiết lập lại tầm nhìn, những suy nghĩ và cảm giác, những điều phải được thai nghén và khai sinh thông qua đau đớn và hoang mang.

Ở giai đoạn này, không có câu trả lời, ít nhất là không có câu trả lời cho chúng ta. Có lẽ bạn đã đọc chuyện về những người đã gặp ngõ cụt, bây giờ họ khuyên cách trải qua đêm tối linh hồn. Những điều này có thể hữu ích, nhưng lòng bạn, trí tưởng tượng và trí tuệ của bạn mới là những gì đang được thử lửa. Biết người khác từng trải qua ngọn lửa đó thì có thể giúp bạn có được tầm nhìn và sự an ủi trong cơn tê liệt, nhưng ngọn lửa đó vẫn phải đi qua đời bạn để bạn thiết lập lại trí tưởng tượng, suy nghĩ và cảm giác của bạn.

Với nữ tu FitzGerald, ở trong trạng thái này chính là ở ngưỡng của giới hạn mà chúng ta có thể tìm ra bản ngã. Đây là lò lửa thanh tẩy trong lòng chúng ta. Và với sơ, lối thoát chính là đi xuyên qua nó. Lối thoát ra khỏi đêm tối dạng này là qua “chiêm niệm”, cụ thể là ở lại trong ngõ cụt, kiên nhẫn chờ đợi với nó, chờ Thiên Chúa phá vỡ ngõ cụt bằng cách biến đổi trí tưởng tượng, trí tuệ và tâm hồn chúng ta.

Cho nên, xét tận cùng, ngõ cụt này là thách thức chúng ta trở nên nhà thần nghiệm, không phải là chúng ta bắt đầu tìm kiếm trải nghiệm tôn giáo phi thường, mà là chúng ta để những ảo tưởng, những biểu tượng rạn vỡ và ý nghĩa mất mát của chúng ta trở thành một không gian để Thiên Chúa có thể thiết lập lại đức tin, cảm giác, tưởng tượng và trí tuệ của chúng ta bên trong một chân trời mới, với mọi sự đều được diễn giải lại triệt để.

Cụ thể chúng ta làm thế nào? Chúng ta chiêm nghiệm thế nào? Bằng cách ngồi xuống trong căng thẳng, bất lực nhưng kiên nhẫn, cởi mở, chờ đợi, và ở lại đó bao nhiêu lâu cần thiết để từ trong sâu thẳm tâm hồn, chúng ta nhận được một cách tưởng tượng, suy nghĩ và cảm nhận mới về Thiên Chúa, đức tin, cầu nguyện để vượt ra khỏi ngõ cụt.

Hơn nữa, những biểu tượng rạn vỡ, ảo tưởng và bất lực không thể suy nghĩ hay cảm nhận lối thoát ra khỏi ngõ cụt, chính nó là điều khẳng định với chúng ta, tầm nhìn mới chúng ta được ban, chính là điều phát xuất từ Thiên Chúa chứ không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng, của phóng chiếu hay tư lợi của bản thân chúng ta.

Một trong những phê phán sâu cay nhất về trải nghiệm tôn giáo là của triết gia Friedrich Nietzsche, ông tuyên bố mọi trải nghiệm tôn giáo, tất cả, xét tận cùng đều là sự phóng chiếu của con người. Ông lập luận chúng ta tạo nên Thiên Chúa theo hình ảnh và hình tượng của mình vì lợi ích của mình, vì thế mà nhiều đức tin và tôn giáo chân thành có thể giả hình và sai lầm. Trả lời cho lập luận này, triết gia, thần học gia Dòng Tên Michael Buckley đã phản bác: Nietzsche đúng 95%. 95% của những điều tự nhận là trải nghiệm tôn giáo thật ra là sự phóng chiếu của con người. Nhưng Nietzsche sai 5%, và 5% đó làm nên sự khác biệt, bởi vì trong 5% đó, sự mặc khải của Thiên Chúa đi vào cuộc sống chúng ta một cách nguyên tuyền, không bị ô nhiễm.

Và 5% đó xảy ra chính xác vào lúc chúng ta đang ở trong đêm tối linh hồn, khi các biểu tượng của chúng ta rạn vỡ, trí tuệ bất lực, tưởng tượng trống rỗng và tâm hồn lạc lối. Chính vào lúc đó, khi chúng ta bất lực không thể tự giúp mình, thì chúng ta cũng bất lực không thể đánh lận hay làm ô nhiễm cách thức Thiên Chúa đi vào chúng ta.

Thiên Chúa có thể đi vào cuộc sống chúng ta một cách thuần khiết, không chút ô nhiễm khi chúng ta đang ở ngõ cụt, không thể lấy tầm nhìn của mình để thay thế tầm nhìn của Thiên Chúa.

Khi chúng ta chống nhau

Đây là chuyện mới hay chỉ là do chúng ta đang ý thức rõ hơn về nó? Hận thù và khinh ghét xuất hiện khắp nơi. Có trong chính phủ, trong cộng đồng, trong Giáo hội, trong gia đình. Chúng ta vật lộn để cư xử có văn minh với nhau, mà hầu như lúc nào chúng ta cũng không làm được, để tôn trọng nhau lại càng khó hơn. Tại sao? Tại sao chuyện này lại xảy ra và ngày càng trầm trọng?

Hơn nữa, về cả hai phía, chúng ta thường biện minh cho sự thù ghét bằng các căn cứ đạo đức, thậm chí là căn cứ Kinh Thánh, nói rằng Kinh cho chúng ta căn cứ để không tôn trọng. Kiểu như, chân lý của tôi quá đúng, còn anh thì quá sai, nên tôi không thể tôn trọng anh và tôi có căn cứ Kinh Thánh để làm thế.

Ngay cả chỉ nhìn lướt qua Kinh Thánh, cũng đủ để chúng ta nhận kiểu này là gì, là biện luận, là tư lợi và là điều xa rời Chúa Giêsu nhất.

Hãy bắt đầu với một điều được Chúa Giêsu dạy từ lâu. Trong sách thánh của Do Thái giáo, có đoạn: “Còn Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối Ta, và hay nể vì khi áp dụng Luật. Tất cả chúng ta chẳng có cùng một cha sao? Chẳng phải cùng một Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta sao? Thế mà sao chúng ta lại bội phản nhau?” (Malachi 2, 8-10). Rất lâu trước khi Chúa Giêsu xuất hiện, linh đạo Do Thái giáo đã yêu cầu phải công bằng và không bao giờ được thiên vị. Tuy nhiên, nó vẫn cho phép ghét kẻ thù và báo thù khi bị ngược đãi, là “mắt đền mắt, răng đền răng”.

Chúa Giêsu đã lật đổ chuyện này. Trong con người và lời dạy của Chúa Giêsu, chính xác nhất là trong Bài giảng Trên núi, Ngài thách thức chúng ta theo một cách mới mẻ triệt để, rằng nếu muốn vào thiên đàng thì nhân đức của chúng ta phải hơn các kinh sư và biệt phái. Nhân đức của họ là gì?

Kinh sư và biệt phái vào thời đó rất giống với tín hữu kitô giữ đạo của thời chúng ta. Họ chân thành, về căn bản là thành thật, về căn bản là người tốt, giữ các điều răn và nghiêm ngặt về công lý. Nhưng theo Chúa Giêsu, như thế là không đủ. Tại sao? Nếu là người chân thành, trung thực, giữ điều răn và công bằng với tất cả mọi người, vậy thì còn thiếu gì nữa? Cái còn thiếu là cái nằm ở trọng tâm giáo huấn đạo đức của Chúa Giêsu, cụ thể là yêu thương và tha thứ vượt trên thù ghét và oán hận. Chính xác là gì?

Về công lý và công bằng, chúng ta vẫn có quyền ghét người ghét mình, và trả đũa tương xứng với người đã hại mình. Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại yêu cầu một chuyện khác. “Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời… Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”. (Mt 5, 43-48)

Đây là thực chất của luân lý kitô giáo. Có thể yêu thương người ghét mình không? Có thể làm việc thiện với người muốn làm việc ác với mình không? Có thể tha thứ cho người ngược đãi mình không? Có thể tha thứ cho kẻ giết người không? Không phải vấn đề đặc biệt nào trong thần học luân lý, mà chính điều này mới là thử nghiệm cho người tín hữu kitô. Có thể yêu thương người ghét mình không? Có thể tha thứ cho người làm hại mình không? Có thể vượt lên khuynh hướng trả thù không?

Đáng buồn thay, ngày nay chúng ta đều không qua được phép thử này, về cả hai phía, và trong phạm vi tôn giáo hay hệ tư tưởng. Chúng ta thấy chuyện này nhan nhản khắp nơi, từ cấp cao nhất trong chính phủ, những cấp cao nhất trong Giáo hội, cho đến những tranh luận riêng tư và công khai, họ công khai tán thành sự thiếu tôn trọng, chia rẽ, thù ghét và trả thù – lại còn cố viện đến những căn cứ cao đẹp để làm thế. Các chính trị gia tầm cỡ công khai và thẳng thắn nói về việc thù ghét nhau, về việc báo thù những ai chống đối họ. Tệ hơn nữa, các Giáo hội và lãnh đạo Giáo hội đủ mọi dạng đang ủng hộ họ và cung cấp cho họ “Tin Mừng” để hỗ trợ cho họ ngả theo sự thù ghét và báo thù của họ.

Cần phải xác định và đương đầu với chuyện này: bất kỳ ai ủng hộ chia rẽ, thiếu tôn trọng, thù ghét và báo thù, thì đều đối nghịch với Chúa Giêsu và Tin Mừng. Cũng vậy, bất kỳ ai ủng hộ người như thế bằng cách viện đến Chúa Giêsu, Tin Mừng, hay luân lý chính cống, thì cũng đối nghịch với Chúa Giêsu và Tin Mừng.

Thiên Chúa là tình yêu. Chúa Giêsu là tình yêu hiện thể. Cho dù vì sự nghiệp gì, cho dù là giận dữ, cho dù đối diện cái sai thế nào, thì thiếu tôn trọng, thù ghét, chia rẽ và báo thù không bao giờ nên được rao giảng dưới danh Chúa Giêsu. Điều này không có nghĩa là chúng ta không được phản đối, tranh luận và tranh cãi gay gắt. Nhưng sự thiếu tôn trọng, thù ghét, chia rẽ và báo thù, dù chúng ta có cảm nhận chúng sâu sắc thế nào đi nữa, cũng không được lấy danh nghĩa sự thiện và Chúa Giêsu mà biện hộ cho chúng. Chia rẽ, thiếu tôn trọng, thù ghét và báo thù là những thứ phản Kitô.

Linh đạo của thánh Eugene de Mazenod

Trong những năm viết chuyên mục này, tôi ít khi nhắc đến tôi thuộc Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm. Đây không phải là lảng tránh, vì tôi rất tự hào với Dòng. Nhưng tôi hiếm khi nhắc đến chuyện tôi là linh mục và là tu sĩ thuộc một hội dòng vì tôi nghĩ những gì tôi viết ở đây và ở những nơi khác có chỗ đứng vững chắc trên những điều khác nữa ngoài các danh xưng đó.

Tuy nhiên, trong bài hôm nay, tôi muốn nói về Thánh Eugene de Mazenod, đấng sáng lập Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm, vì những gì ngài nói về cương vị môn đệ và linh đạo kitô hữu là một điều giá trị và quan trọng với tất cả mọi người, giống như di sản của các đấng sáng lập dòng khác như Thánh Bênađô, Thánh Phanxicô, Thánh Đa Minh, Thánh Angela Merici, Thánh I-Nhã, Thánh Vinh Sơn Phaolô và nhiều đấng khác.

Thánh Eugene de Mazenod (1779-1861) là giám mục người Pháp, xuất thân dòng dõi quý tộc, và thường được mọi người xem là gương mẫu cho giám mục trong quyển Những người khốn khổ (Victor Hugo). Ngài là người có bản tính tự nhiên nghiêm nghị, hướng nội, thần nghiệm và tư duy độc lập. Ngài không phải kiểu người mà đa số sẽ chọn khi muốn có bạn tán gẫu trong bữa ăn nhẹ, nhưng ngài là kiểu người thường được Thiên Chúa chọn để lập một hội dòng.

Triết gia Soren Kierkegaard từng nói, làm thánh là chỉ muốn một điều. Eugene de Mazenod rõ ràng đã làm như vậy, và trong trường hợp của ngài, điều đó có nhiều khía cạnh, và khi hợp lại, tạo thành một linh đạo rất cân bằng và phong phú – một linh đạo nêu bật nhiều khía cạnh tiêu biểu của cương vị môn đệ kitô hữu vốn thường bị lãng quên thời nay.

Điều gì hình thành nên linh đạo của Eugene de Mazenod và uy tín mà ngài để lại?

Trước hết, ngài nhấn mạnh về tính cộng đồng. Với ngài, sống tốt không chỉ là thành tựu cá nhân, sự trung tín hay ngay cả sự vĩ đại cá nhân, nhưng sống liên kết với sức mạnh nội tại trong cộng đồng. Ngài là người tin tưởng câu: điều chúng ta mơ một mình thì vẫn cứ là mơ, nhưng điều chúng ta mơ cùng người khác thì có thể trở thành hiện thực. Trong quan điểm của ngài, tình thương chỉ hiệu quả hơn khi mang tính tập thể, khi phát xuất từ một nhóm người hơn là từ một cá nhân. Ngài tin rằng nếu làm một mình thì chúng ta có thể tạo được gợn sóng, nhưng không tạo nên được khác biệt. Ngài lập một hội dòng vì ngài vô cùng tin tưởng điều này.

Trước mọi vấn đề của thế giới và Giáo hội thời nay, nếu có người hỏi ngài: “Đâu là một điều duy nhất mà tôi có thể làm để tạo nên khác biệt?” Ngài sẽ trả lời: “Hãy kết nối với những người thành tâm trong cộng đồng, quanh nhân thể Chúa Kitô. Một mình thì không cứu thế giới được. Nhưng cùng nhau thì có thể!”

Thứ hai, ngài tin một linh đạo lành mạnh chính là cuộc hôn nhân giữa chiêm niệm và công lý. Nhìn từ những nhạy cảm đương thời, diễn đạt cụ thể của ngài về chuyện này có lẽ hơi gượng gạo về mặt ngôn từ ở thời nay, nhưng nguyên tắc chính yếu của nó thì luôn có giá trị: nghĩa là chỉ có một hành động phát xuất từ một cuộc đời bén rễ trong cầu nguyện và thế giới nội tâm sâu sắc thì mới thật sự mang tính ngôn sứ và có hiệu quả. Mọi lời cầu nguyện đích thực và thế giới nội tâm đích thực sẽ tuôn trào từ hành động, nhất là những hành động vì công lý và người nghèo.

Thứ ba, trong cuộc đời cá nhân và linh đạo mà ngài đặt ra cho hội dòng của ngài, ngài chọn lựa ưu tiên cho người nghèo. Ngài làm thế không phải vì đó là điều đúng đắn về chính trị, nhưng vì đó là điều phải đạo, là việc mà Phúc âm yêu cầu chúng ta làm và là điều không thể thương lượng. Niềm tin của ngài đơn giản và rõ ràng: là kitô hữu, chúng ta được kêu gọi ở cùng và làm việc cùng những người mà chẳng ai muốn ở cùng và làm việc cùng. Với ngài, bất kỳ giáo huấn hay hành động nào không phải là Tin Mừng cho người nghèo thì không thể được xem là nói về Chúa Giêsu hay Kinh thánh.

Thứ tư, ngài đặt mọi sự dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ, đấng mà ngài xem là người bênh vực cho người nghèo. Ngài nhận thấy người nghèo hướng về Mẹ, vì chính Mẹ đã cất lên bài Magnificat.

Cuối cùng, trong cuộc sống riêng và lý tưởng của mình, ngài kết hợp hai khuynh hướng dường như đối lập: là tình yêu sâu sắc với Giáo hội thể chế và năng lực thách thức mang tính ngôn sứ. Ngài yêu Giáo hội, tin rằng chết vì Giáo hội là điều cao thượng nhất, nhưng đồng thời, ngài không sợ công khai đưa ra những lỗi lầm của Giáo hội hoặc thừa nhận rằng Giáo hội cần được liên tục thách thức và tự phê phán… chính bản thân ngài sẵn sàng cho việc này!

Tính của của ngài rất khác với tôi. Tôi không dám nghĩ ngài và tôi tự nhiên sẽ thích nhau. Nhưng hóa ra lại thích nhau thật. Tôi tự hào về di sản của ngài, tự hào được làm một người con của ngài, và tin tưởng linh đạo của ngài đủ để dâng cả cuộc đời mình.

Định luật hấp dẫn và Chúa Thánh Thần

Một thần học lành mạnh và một khoa học lành mạnh đều sẽ công nhận định luật hấp dẫn và Chúa Thánh Thần đồng nhất về nguyên tắc. Không có tinh thần nào khác nâng đỡ vật chất ngoài tâm linh. Có một tinh thần nói thông qua cả luật hấp dẫn và bài giảng trên núi.

Nếu chúng ta nhận ra rằng cùng một Thần hiện diện trong mọi sự, trong tạo dựng vật chất, trong tình yêu, trong vẻ đẹp, trong tính sáng tạo của con người, trong luân lý của con người, thì chúng ta có thể quy tụ nhiều thứ hơn trong một căng thẳng sinh hoa trái thay vì đặt chúng trong thế đối lập và để các ơn ban khác nhau từ Thần của Thiên Chúa giao tranh với nhau. Như vậy nghĩa là gì?

Chúng ta có quá nhiều sự phân rẽ không lành mạnh trong đời. Chúng ta quá thường phải chọn giữa những điều vốn không nên đối lập nhau, và không may chúng ta thường rơi vào tình thế phải chọn một trong hai điều vốn tự thân đều tốt đẹp. Chúng ta sống trong một thế giới quá thường xuyên có cảnh tâm linh đối đầu vật chất, luân lý đối đầu tính sáng tạo, trí tuệ đối đầu giáo dục, chung thủy đối đầu tình dục, lương tâm đối đầu với lạc thú, trung tín đối đầu với nghệ thuật và thành công sự nghiệp.

Rõ ràng là có gì đó không ổn. Nếu một lực là Thần của Thiên Chúa, là nguồn sống duy nhất cho mọi sự này, thì rõ ràng chúng ta không nên rơi vào tình thế phải chọn lựa. Lý tưởng nhất, chúng ta nên chọn cả hai, bởi vì cũng một Thần nâng đỡ cả hai.

Có đúng vậy không? Thánh Thần là nguồn của trọng lực, nguồn của tình yêu? Đúng. Ít nhất, nếu chúng ta tin Kinh Thánh. Kinh Thánh bảo chúng ta, Thánh Thần vừa là lực vật chất vừa là lực tâm linh, nguồn của mọi thứ vật chất và tâm linh cùng một lúc.

Chúng ta gặp Thánh Thần trong dòng đầu tiên của Kinh Thánh: Lúc khởi đầu, đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Trong những chương đầu tiên của Kinh Thánh, Thánh Thần hiện diện như một lực vật chất, một làn gió từ miệng Thiên Chúa, không chỉ hình thành và tạo trật tự cho tạo dựng vật chất, mà còn là một sinh lực nền tảng của mọi sự, cả có sự sống và không có sự sống. Mất đi sinh khí là mọi thứ trở về với cát bụi.

Cổ nhân tin rằng trong mọi sự đều có linh hồn, và linh hồn đó là hơi thở của Thượng đế, giữ mọi thứ lại với nhau và đem lại ý nghĩa cho nó. Dù không hiểu, nhưng họ tin như thế, cũng như chúng ta ngày ngay tin vào sự vận hành của thế giới hạt nguyên tử, cách những hạt nhỏ xíu và những làn sóng năng lượng có điện ái lực, cách hydro tìm đến oxy, cách mà những năng lượng ở mức độ thực tế vật chất căn bản nhất đã có luật hấp dẫn và đẩy nhau hệt như cách con người làm. Cổ nhân không thể giải thích những điều này về mặt khoa học như chúng ta, nhưng như chúng ta, họ nhận ra rằng trong mọi sự đã có một dạng “tình yêu” dù là vô tri vô giác. Họ quy mọi chuyện này về hơi thở của Thượng đế, một làn gió từ miệng Thượng đế và cuối cùng ban sự sống cho đá, nước, động vật và con người.

Họ hiểu được, luồng hơi đem lại sự sống và tạo trật tự cho tạo dựng vật chất cũng là nguồn của mọi khôn ngoan, hòa hợp, bình an, sáng tạo, luân lý và trung tín. Hơi thở của Thiên Chúa được xem là vừa tinh thần vừa vật chất, vừa hợp nhất vừa sáng tạo, vừa khôn ngoan vừa táo bạo. Với cổ nhân, hơi thở của Thiên Chúa là một lực và không tự mâu thuẫn. Thế giới vật chất và thế giới không nên đối đầu nhau. Chúng ta hiểu, cùng một Thần là nguồn của cả hai.

Và chúng ta cần hỏi mọi sự theo cùng cách đó. Chúng ta cần để Thánh Thần trọn vẹn thổi sinh khi vào cuộc sống chúng ta. Ý nghĩa cụ thể của điều này là chúng ta không được để mình lấy sinh lực và động lực quá nhiều từ một phần của Thần đến mức làm tổn hại đến những phần khác của cùng một Thần.

Do đó, không nên có sáng tạo mà thiếu luân lý, giáo dục mà thiếu khôn ngoan, tình dục mà thiếu sự chung thủy, lạc thú mà thiếu lương tâm, và thành tựu sự nghiệp hay nghệ thuật mà thiếu sự trung tín cá nhân. Không kém quan trọng, cũng không nên có cuộc sống tốt đẹp cho một số người mà thiếu đi công lý cho tất cả mọi người. Nhưng ngược lại, chúng ta cần hoài nghi bản thân khi mình đạo đức mà thiếu sáng tạo, khi khôn ngoan của chúng ta sợ nền giáo dục phê phán, khi tâm linh của chúng ta thấy có vấn đề với lạc thú, và khi sự trung tín cá nhân của chúng ta quá đề phòng trước nghệ thuật và thành tựu. Một Thần là tác giả của mọi sự này. Do đó, chúng ta phải nhạy cảm tương đồng với một trong số chúng. Có người từng nói, dị giáo là một thứ đúng chín phần mười. Vấn đề của chúng ta với Thánh Thần cũng vậy. Khi không chấp nhận sự liên kết giữa luật hấp dẫn và bài giảng trên núi thì chúng ta luôn mãi tập trung vào sự thật cục bộ.

Ngoan đạo và hài hước

Ngoan đạo là kẻ thù của hài hước, ít nhất là mỗi khi có thứ gì đó không hẳn là ngoan đạo mà lại ngụy trang thành ngoan đạo. Tôi xin đưa ra một ví dụ: Tôi từng sống trong một cộng đoàn với một người nghiêm túc quá mức. Khi ai đó nói một câu chuyện cười thú vị, thì chúng tôi lại bị mất hứng vì câu hỏi “Cha kể chuyện như thế trước Thánh Thể được không?” Hỏi kiểu đó không chỉ làm mất vui người kể và câu chuyện cười của họ, mà còn làm cho không khí trở nên ngột ngạt.

Tôi muốn trả lời câu hỏi trên bằng một chuyện cười mà cha giáo tập ở Dòng Hiến sĩ từng kể cho chúng tôi, nói về sự mỉa mai vạch trần sự ngoan đạo giả tạo. Câu chuyện như thế này: Một cô gái chuẩn bị kết hôn và gia đình cô không đủ tiền thuê sảnh tiệc cưới. Vị linh mục giáo xứ hào phóng bảo họ cứ dùng phòng hội trước nhà thờ, có thể đem bánh kem đến và tổ chức tiệc. Cha của cô dâu hỏi họ có được đem rượu đến không. Linh mục trả lời: “Tuyệt đối không, không được uống rượu trong nhà thờ!” Cha của cô dâu phản đối: “Nhưng trong tiệc cưới Cana, Chúa Giêsu cũng uống rượu mà”. Vị linh mục dứt khoát: “Nhưng trước Thánh Thể thì không.”

Phải thừa nhận, hài hước có thể táo tợn, thô bỉ, xúc phạm và bẩn thỉu, nhưng mỗi khi xảy ra chuyện như vậy thì vấn đề thường nằm ở mỹ cảm hơn là ở nội dung câu chuyện đùa. Câu chuyện cười không mang tính xúc phạm vì nó nói về tình dục, tôn giáo hay một lãnh vực nào đó mà chúng ta xem là thiêng liêng. Hài hước mang tính xúc phạm khi nó vượt quá ranh giới của tôn trọng, thị hiếu và mỹ cảm. Hài hước mang tính xúc phạm khi nó là một nghệ thuật tồi. Nghệ thuật tồi thì vượt quá ranh giới của tôn trọng, đập thẳng vào mặt khán giả hay chủ đề của nó. Điều khiến câu chuyện cười mang tính xúc phạm hoặc bẩn thỉu là thời điểm nói ra, cách nói ra, đương sự bị nhắm đến, giọng điệu kể, hoặc thiếu nhạy cảm, hoặc sự đa diện của ngôn ngữ dùng để kể. Còn chuyện có kể trước Thánh Thể hay không, thì không phải là tiêu chí cho chuyện này. Nếu một câu chuyện cười không nên kể trước Thánh Thể thì cũng không nên kể trước mặt bất kỳ ai. Tiêu chuẩn đối với sự xúc phạm không nên nước đôi.

Và vì thế, lòng ngoan đạo tồi là kẻ thù của hài hước. Nó cũng là kẻ thù của cuộc sống trần tục mạnh bạo. Nhưng đó chỉ là với lòng ngoan đạo tồi, chứ không phải đối với lòng ngoan đạo đích thực. Lòng ngoan đạo đích thực là hoa trái của Chúa Thánh Thần, là sự tôn kính lành mạnh trước toàn thể sự sống. Sự tôn kính này, dù rất đáng trọng một cách lành mạnh, nhưng không bị xúc phạm bởi hài hước (thậm chí là dạng hài hước trần tục mạnh bạo), vì hài hước không phải là xúc phạm về mỹ cảm, cũng như khỏa thân nghệ thuật là lành mạnh, còn khỏa thân khiêu dâm thì không.

Sự nhạy cảm sai lầm đội lốt ngoan đạo cũng tước đi hết mọi tính tâm linh của hài hước. Khi làm thế, nó cũng biến Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các thánh trở nên những người không có hài hước, không còn trọn vẹn về mặt con người và lành mạnh. Một thầy dạy ở tập viện Hiến sĩ đã nói với các tập sinh chúng tôi rằng, trong Kinh thánh không có đoạn nào nói về chuyện Chúa Giêsu cười lớn. Cha bảo chúng tôi điều này để làm con đê cho sinh lực trẻ trung, tự nhiên đang nhảy lên của chúng tôi, như thể nó là một thứ cản trở với lòng đạo.

Sinh lực hài hước không phải là cản trở với lòng đạo. Ngược lại là đàng khác. Chúa Giêsu mẫu mực của những gì là nhân bản lành mạnh, và chắc chắn Ngài là một người vui vẻ, hăng hái và lành mạnh hoàn toàn, và những từ này hẳn sẽ không được dùng để nói về Ngài nếu như Ngài không có óc hài hước thật sự trần tục và lành mạnh.

Trong 15 năm qua tôi dạy môn Thần học về Thiên Chúa cho các chủng sinh và những người chuẩn bị bước vào công việc mục vụ. Tôi muốn dạy đủ mọi căn bản cần thiết trong giáo trình, như mặc khải Kinh thánh, sự thấu suốt của giáo phụ, các giáo lý quy chuẩn của hội thánh, và các quan điểm ức đoán từ các thần học gia đương thời. Nhưng trong mọi chuyện này, như một chủ đề lặp đi lặp lại trong một vở opera, tôi bảo các sinh viên thế này: Trong mọi việc giảng lễ, giảng dạy, mục vụ hay bất kỳ việc gì khác, đừng cố làm cho Thiên Chúa như người ngốc. Đừng cố làm cho Thiên Chúa như người thiếu trí thông minh, bè phái, nhỏ nhen, cứng ngắc, chủ nghĩa quốc gia, giận dữ hay sợ hãi. Dù muốn hay không, xét tận cùng, mọi bài giảng, mọi bài dạy về thần học, mọi việc phụng vụ, mọi việc mục vụ đều phản ánh một hình ảnh về Thiên Chúa. Và nếu trong bài giảng hay việc mục vụ của các bạn có gì đó kém lành mạnh, thì Thiên Chúa mà những việc này minh họa cũng có vẻ không lành mạnh. Một Thiên Chúa lành mạnh thì không nâng đỡ cho một thần học, một giáo hội học hay nhân học không lành mạnh.

Do đó, nếu dạy về một Chúa Giêsu không biết hài hước, thấy những thứ trần tục là xúc phạm, thấy khó chịu khi nghe từ tình dục, thấy ngại trước ngôn từ đa sắc, ngại mở miệng cười trước sự hóm hỉnh, hài hước, thì chúng ta đang làm cho Chúa Giêsu có vẻ cứng ngắc, câu nệ, ra vẻ, và không phải là một người mà chúng ta muốn ngồi cùng bàn.

Mười quyển sách hàng đầu của tôi trong năm 2023

Hàng năm, có hàng ngàn quyển sách mới xuất bản, nối tiếp hàng triệu quyển đã xuất bản trước đó. Và mỗi quyển sách phải tìm đến bạn không khác gì bạn tìm đến nó. Có thể nói quyển sách bạn cần đọc tìm đến bạn vào lúc bạn cần đọc nó nhất. Với nền tảng như vậy, tôi xin đưa ra mười quyển sách tìm đến tôi nhất trong năm 2023 vào đúng thời điểm thích hợp.

Trong lãnh vực tâm linh…

Tomas Halik, Chạm đến vết thương – Về đau khổ, tin tưởng và biến đổi (Touch the Wounds – On Suffering, Trust, & Transformation), quyển sách này lấy hình ảnh Chúa Giêsu trong Kinh thánh, Ngài mời Thánh tông đồ Tôma chạm vết thương của Ngài để thắng lòng tin kém cỏi, biến lời kêu gọi này thành lời kêu gọi chung cho mỗi chúng ta. Bạn có đang hoài nghi trong đức tin? Bạn hãy vươn ra và chạm đến những nơi mà Chúa Kitô vẫn còn mang thương tích trong thế giới chúng ta.

Karl Rahner, Những người tôi tớ Chúa (Servants of the Lord) Quyển sách này đã hơn 50 năm tuổi, nhưng vẫn đáng đọc và đọc lại. Quyển này có một bài với câu trứ danh của Rahner: Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, trong đời này, tất cả mọi hòa âm đều phải dang dở.

Bill Cain, Quyển sách của Cain (The Book of Cain). Đây là cái nhìn rất cá nhân của một tu sĩ Dòng Tên, đã viết nhật ký khi canh thức người mẹ hấp hối vì căn bệnh nan y. Quyển sách đầy những suy tư thấm thía về cuộc đời, tình yêu, sự bất toàn và buông bỏ.

Ben McBride, Xáo động dòng nước – Việc khẩn thiết của sự thuộc về tận căn (Troubling the Water – The Urgent Work of Radical Belonging). Đây là quyển sách về công bằng xã hội mà tôi khuyên nên đọc nhất trong năm nay. McBride làm việc với người nghèo ở Oakland, California, ngoài một vài lời khuyên thực tế về cách chúng ta phải dấn thân hơn nữa trong việc làm vì công lý, sức mạnh to lớn của quyển sách này là ông mời gọi chúng ta về mặt tâm hồn và thái độ khi làm việc vì công lý. Khoác lên vẻ thực tế cho ý nghĩa của làm việc với cộng đồng thay vì làm một lữ hành cô độc, ông cho thấy cách làm sao để duy trì bản thân trên chặng đường dài hơi và giữ vững tình đồng cảm trước áp bức và thù hận.

Connie Zweig, Công việc nội tâm của Tuổi già – Chuyển từ Nhiệm vụ sang Linh hồn (The Inner Work of Age – Shifting from Role to Soul), là quyển sách xuất sắc về tuổi già. Tiểu đề đã nói rõ: nhiệm vụ của tuổi già là chuyển từ vai trò sang linh hồn. Quyển sách có những gợi ý quý giá về cách để làm được việc đó.

Kim Colella, Ôm lấy tinh thần, Hồi ký từ sự chân thực của cuộc sống (Spirit Embraced, AS A Guiding Memoir for a Life Authentic). Đây là một quyển sách rất riêng tư, một hồi ký, lần theo hành trình của tác giả trong cuộc đời. Chúng ta trưởng thành như thế nào? Mỗi người đều có con đường riêng, nhưng bà Colella chia sẻ con đường bà đi và có nhiều điều chúng ta có thể học được. Tôi cũng tự hào nói, bà là một sinh viên tôi từng dạy.

Trong lĩnh vực hàn lâm hơn…

Brian Swimme, Khởi nguyên vũ trụ, Vén màn sự mở rộng của vũ trụ (Cosmogenesis, An Unveiling of the Expanding Universe). Dựa vào những tư tưởng gia thần học vĩ đại (như Pierre Teilhard de Chardin và Thomas Berry), Swimme, một nhà khoa học, đưa ra cái nhìn về cách vũ trụ khởi đầu, cách nó uốn mình trong sự tiến hóa vẫn đang diễn ra, và làm sao mà mọi chuyện này đều tóm lại trong một viễn tượng hy vọng đầy mạnh mẽ. Các nhà vật lý học thiên thể đương thời và Kinh Thánh có thể làm bạn với nhau. Brian Swimme sẽ cho chúng ta nối kết này.

Philip Sheldrake, Julian thành Norwich: Trong mắt Thiên Chúa – Thần học của ngài theo bối cảnh (Julian of Norwich: In God’s Sight – Her Theology in Context). Quyển này phần nào nặng về tính hàn lâm, nhưng nó là sách giáo khoa hàng đầu về Julian thành Norwich.

Lisabeth During, Dự tính Khiết tịnh (The Chastity Plot). Đây là lịch sử (về cơ bản rất công tâm) về khái niệm khiết tịnh trong văn hóa Tây phương. Từ các gốc rễ khổ hạnh của nó trong kitô giáo, đến các gốc rễ xã hội qua nhiều thế kỷ hôn nhân sắp đặt và phụ nữ thường là nạn nhân của chủ nghĩa gia trưởng, cho đến những gốc rễ tình cảm lãng mạn của nước Anh thời Victoria, quyển sách này nêu bật những sắc thái và thể thức khác nhau của khiết tịnh, đồng thời đặt ra cho chúng ta câu hỏi: Liệu thời nay có ai có thể nói lên chữ khiết tịnh mà không thấy e ngại không?

Về tiểu thuyết…

Năm 2023 là năm không tốt đẹp cho tôi về việc đọc tiểu thuyết. Dù tôi có đọc một vài tiểu thuyết, tất cả đều có đánh giá tốt, nhưng chỉ có một quyển thật sự đặc biệt đối với tôi, đó là quyển Không nơi nương tựa (Unsheltered) của Barbara Kingsolver.

Đặc biệt nhắc đến…

Học giả kinh thánh lừng danh Raymond E. Brown đã viết những tác phẩm đồ sộ về việc Chúa sinh ra và cái chết của Chúa Giêsu. Các nhà biên tập của Worship, nhận ra những bài chú giải này khó tiếp cận đối với những người ngoài môi trường học thuật, nên đã biên soạn thành những loạt sách nhỏ ngắn và được phổ biến rộng rãi. Raymond E. Brown đã làm quá tuyệt và để lại cho chúng ta năm quyển sách phổ biến (đều được nhà xuất bản Liturgical Press phát hành), chứa đựng những thấu suốt sâu sắc của ngài.

Đến với Chúa Kitô trong Mùa Vọng
Chúa Kitô trưởng thành lúc Giáng Sinh
Chúa Kitô chịu đóng đinh trong Tuần Thánh, những bài về bốn trình thuật thương khó.
Chúa Kitô sống lại trong mùa Phục Sinh
Thánh Thần đã đến và sẽ đến trong Lễ Hiện Xuống

Chúng là một kho báu đáng để đọc hàng năm vào mùa thích hợp.

Chúc mừng Giáng Sinh An lành hay Chúc mừng Mùa lễ

Gieo nhân nào gặt quả đó, có vẻ vậy. Ngày xua tín hữu kitô lấy lễ hội của dân ngoại và thánh hóa thành dịp để mừng Chúa Giáng sinh và bây giờ thế giới thế tục đang làm lại như vậy.

Quyết định mừng Chúa Giáng sinh ngày 25 tháng 12, không dựa trên sự tính toán chính xác ngày Chúa Giêsu sinh ra, nhưng nguồn gốc của nó như sau. Ở vào thời Rôma đa thần, ngày 25 tháng 12 là ngày lễ mừng Mặt trời Bất diệt, đánh dấu thời gian ngày dài hơn đêm. Lễ hội này nối tiếp lễ hội mừng thần Saturn, thời điểm mọi người mở tiệc và tặng quà cho nhau. Giáo hội Rôma bắt đầu mừng Giáng Sinh ngày 25 tháng 12 (vào khoảng những từ năm 306 đến năm 337) dưới triều đại đế Constantinople, đại đế kitô giáo đầu tiên, với mục đích có lẽ để làm suy yếu truyền thống dân ngoại.

Các tín hữu kitô đã thánh hóa ngày lễ của dân ngoại, và đến thời nay, chúng ta thấy chuyện ngược lại. Càng ngày lễ Giáng sinh càng mất biểu tượng và hàm ý tôn giáo. Ông già Noel đã thay thế Chúa Hài Đồng, bài Rocking around the Christmas tree đã thay thế Come all ye faithful và bài I’m Dreaming of a White Christmas thay thế bài Silent Night. Câu Merry Christmas (Chúc mừng Giáng Sinh An lành) đã thành câu Season’s Greetings (Chúc mừng Mùa lễ). Vì sao lại có chuyện này?

Trước hết, xã hội chúng ta ngày càng thế tục hóa. Ngày càng ít người thấy mình được cuốn hút về mặt tôn giáo qua câu chuyện Giáng Sinh, cho dù họ vẫn xem mùa Giáng Sinh là thời gian đặc biệt trong năm. Họ đánh giá cao mùa lễ này vì mùa này nêu bật biểu tượng tình yêu, vì việc tặng quà, sắc màu, vì nét đặc biệt và việc ăn mừng, nhưng họ thích nhấn mạnh những chuyện này hơn là ý nghĩa liên quan đến Chúa Kitô.

Tuy nhiên, trong sự thế tục hóa này, có một số người âm mưu loại bỏ nguồn gốc của việc mừng lễ Giáng Sinh. Cơ bản họ phê phán như sau: “Chúng ta là một nền văn hóa thế tục, đâu phải nền văn hóa kitô giáo, và thật bất công khi những người ngoài kitô giáo phải nêu bật khía cạnh tôn giáo (kitô giáo) của mùa lễ này. Làm vậy là xúc phạm đến người do thái, người hồi giáo, phật giáo, người theo thuyết bất khả tri hoặc những người không có tín ngưỡng. Với sự đa nguyên của xã hội, chúc “Giáng Sinh an lành” có thể là lời chúc mang tính đế quốc chủ nghĩa, hạn hẹp và không thật sự tôn trọng người khác”.

Câu này đúng đến mức nào? Nó cũng có lý, dù cũng sai lầm sâu đậm. Tại sao lại vậy? Trước hết, lời phê phán này không đến từ người do thái, người hồi giáo và ngoài kitô giáo. Chủ yếu là từ những người nhạy cảm quá đáng và thiếu lành mạnh nơi các tín hữu kitô hoặc từng là kitô hữu. Phải thừa nhận chúng ta có một nền văn hóa đa nguyên và thế tục. Nhưng chẳng lẽ kitô hữu không có quyền mừng Chúa Giáng sinh với mọi ngôn ngữ, biểu tượng và nghi thức thích đáng sao? Không ai ganh tị với việc người do thái có quyền mừng lễ Hanukkah, hay người hồi giáo có quyền mừng lễ Ramadan. Tại sao lễ của kitô giáo lại không được như vậy?

Chúng ta cần đưa ra một câu hỏi quan trọng này. Ưu tư dành cho sự công bằng và quan tâm đến người khác này, chủ yếu là do thật lòng quan tâm đến cảm thức của người khác hay do mang động cơ (dù có thể vô thức) từ những cảm giác nào đó về bản thân, cụ thể một sự kết hợp không lành mạnh giữa tự ghét mình, một phải lẽ chính trị quá trớn và sự tự đại tuổi dậy thì nào đó không? Chúng ta dễ bị rơi vào kiểu tự ghét mình, khi chúng ta công bằng với mọi truyền thống khác trừ truyền thống của chính mình, chúng ta dễ bị rơi vào kiểu phải lẽ chính trị quá trớn khi không có những ranh giới thường thức cho sự nhạy cảm của mình, và dễ rơi vào thứ có thể gọi là tự đại tuổi dậy thì, khi chúng ta chỉ thấy lỗi lầm của cha mẹ, chứ không thấy những đức tính hay những gì chúng ta mang ơn họ.

Chúng ta cần phải nhạy cảm với tha nhân, nhận ra và chấp nhận mình không thể áp đặt lễ mừng của kitô giáo lên những ai không chia sẻ cùng đức tin vào Chúa Giêsu Kitô với chúng ta. Nhưng xã hội cũng phải công bằng với chúng ta và để chúng ta mừng Chúa Giáng sinh như một ngày lễ tôn giáo. Thật sự lý ra chẳng có gì là căng thẳng. Chẳng ai nên trách người khác vì người đó nói Chúc mừng Giáng Sinh An lành hay Chúc mừng Mùa lễ. Bài Silent Night có thể mở lên cùng bài White Christmas. Chắc chắn Chúa Giêsu sẽ rất hợp với Ông già Noel. Tình yêu, niềm vui, quà tặng và những ánh đèn sắc màu sẽ có tác động đến tâm hồn, và tác động đó thế nào là tùy vào tâm hồn đó có gì. Với một số tâm hồn, các bài này nói lên Giáng Sinh An lành, với những tâm hồn khác, chúng sẽ nói Chúc mừng Mùa lễ, và với một số tâm hồn, chúng sẽ nói cả hai. Chúng ta nên thấy như thế là tốt.

Vậy nên, các tín hữu kitô hãy mừng Giáng Sinh như sinh nhật Chúa Kitô mà không cần phải biện bạch hay biện giải gì cả. Thế giới thế tục không có quyền ngăn chúng ta nói Giáng Sinh An lành và mừng sinh nhật Chúa Kitô với hang đá, thánh ca, những biểu tượng và nghi thức nói lên sự giáng sinh của Chúa Giêsu. Việc mừng lễ kitô giáo của chúng ta đâu có loại trừ sự ăn mừng thế tục, những ánh đèn Giáng Sinh, trang trí, Ông già Noel diễn hành, tặng quà, tiệc tùng và cây thông Noel. Tất cả đều có giá trị và là những cách tốt đẹp để mừng Giáng Sinh. Đúng, chúng ta lấy lễ này từ dân ngoại, họ có quyền lấy lại phần nào. Hơn nữa, ngoại giáo và kitô giáo đôi khi cũng là một hòa trộn phong phú. Và cũng đừng quên, thế giới tính thời gian theo sự giáng sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta đang ở năm 2023 kể từ thời điểm lịch sử đó. Một sự kiện trọng đại đến thế chẳng xứng đáng được mừng gấp đôi sao? Vừa Giáng Sinh An lành vừa Mừng Mùa lễ.

Thánh Giuse và câu chuyện Giáng Sinh

Có vô số người, vương cung thánh đường, nhà thờ, đền thánh, chủng viện, tu viện, thị trấn và thành phố được đặt tên Thánh Giuse. Quê hương Canada của tôi nhận ngài làm đấng bảo trợ.

Vậy chính xác Giuse này là ai? Ngài là nhân vật lặng lẽ trong câu chuyện Giáng Sinh, với tư cách chồng của Đức Mẹ và nghĩa phụ của Chúa Giêsu, rồi sau đó, ngài không còn được nhắc đến lần nào nữa. Hình ảnh của lòng mộ đạo bình dân có về ngài là hình ảnh của một người lớn tuổi, bảo vệ cho Đức Mẹ, người thợ mộc, khiết tịnh, thánh thiện, khiêm nhường, lặng lẽ, thánh bảo trợ hoàn hảo cho người lao động chân tay và những nhân đức thầm lặng, hiện thân của đức khiêm nhường.

Chúng ta thật sự biết được gì về ngài?

Trong phúc âm Thánh Matthêu, việc thụ thai Chúa Giêsu được báo cho Thánh Giuse thay vì cho Đức Maria. Trước khi họ đến với nhau, Đức Maria đã có thai nhờ Chúa Thánh Thần. Giuse, chồng bà là người ngay thẳng và không muốn làm cho bà phải hổ thẹn, nên đã quyết định âm thầm tuyệt hôn với bà, vừa lúc đó một thiên thần xuất hiện trong giấc mơ và bảo ngài đừng sợ cưới Đức Maria về làm vợ, rằng đứa bé trong bụng Đức Maria được thụ thai nhờ Thánh Thần.

Đoạn này nói lên điều gì?

Hầu hết là những điều mang tính tượng trưng. Thánh Giuse trong câu chuyện Giáng Sinh rõ ràng làm chúng ta liên tưởng đến Giuse trong Cựu Ước, cũng được báo mộng, cũng đi Ai Cập, cũng cứu gia đình. Cũng như vậy, vua Hêrôđê rõ ràng là tái hiện vua Pharaô Ai Cập, cả hai đều cảm thấy bị đe dọa, đều giết con trai người do thái, nhưng Thiên Chúa đã bảo vệ mạng sống của họ, sẽ cứu họ.

Nhưng sau tính biểu tượng đó, Thánh Giuse trong câu chuyện Giáng Sinh còn có câu chuyện riêng của ngài. Ngài được cho là người “ngay thẳng”, theo các học giả, đây là cách gọi ngụ ý ngài tuân theo Lề luật của Thiên Chúa, tiêu chuẩn thánh thiện tối cao của người do thái. Về mọi mặt, ngài không có gì đáng trách, ngài là gương mẫu của sự tốt lành, thể hiện qua việc ngài không muốn vạch trần để làm nhục Đức Maria, dù ngài quyết định sẽ âm thầm tuyệt hôn.

Về mặt lịch sử, chuyện gì đã xảy ra?

Theo những gì chúng ta có thể làm tái hiện, thì bối cảnh mối quan hệ giữa thánh Giuse và Đức Maria là như sau. Phong tục hôn nhân thời đó là khi đến tuổi dậy thì, người phụ nữ trẻ sẽ được cha mẹ sắp xếp gả cho một người đàn ông, thường là lớn hơn vài tuổi. Họ sẽ hứa hôn, về căn bản là thành vợ chồng, nhưng chưa sống với nhau và chưa có quan hệ tình dục trong vài năm. Luật do thái đặc biệt nghiêm ngặt về chuyện hai người phải giữ khiết tịnh trong thời gian hứa hôn. Trong thời gian này, người thiếu nữ sẽ tiếp tục sống với cha mẹ mình, còn người đàn ông sẽ đi dựng nhà và tìm một nghề nghiệp để có thể chu cấp cho vợ sau khi hai người sống chung.

Thánh Giuse và Đức Maria đang ở giai đoạn này, là vợ chồng về pháp lý, nhưng chưa sống với nhau, thì Đức Maria có thai. Thánh Giuse biết đứa con không phải của mình, như thế là có vấn đề. Nếu ngài không phải là cha đứa trẻ, vậy ai là cha đứa bé? Để giữ thanh danh của mình, ngài có thể yêu cầu điều tra công khai, và làm Đức Maria sẽ bị cáo buộc tội gian dâm, đồng nghĩa với cái chết. Nhưng ngài quyết định “lặng lẽ tuyệt hôn”, nghĩa là tránh cuộc điều tra công khai có thể sẽ làm cho Đức Maria bị rơi vào tình cảnh khó xử và tình thế nguy hiểm.

Rồi sau khi được báo mộng, ngài đồng ý đưa Đức Maria về nhà mình làm vợ, đặt tên con như con của mình, như thế là nhận mình là cha đứa trẻ. Khi làm như thế, ngài giúp Đức Maria không bị bẽ mặt, thậm chí còn cứu cả mạng sống cho Đức Maria, và ngài cho đứa trẻ sắp sinh ra có một vị thế được đón nhận về mặt tôn giáo, xã hội, vật chất, đồng thời nuôi dạy đứa trẻ. Nhưng ngài còn làm một việc khác nữa, một việc không hữu hình bằng. Ngài cho thấy người ta có thể là một tín hữu ngoan đạo, đầy đức tin vào mọi sự trong tôn giáo của mình, nhưng đồng thời lại mở lòng với một mầu nhiệm vượt quá tầm hiểu tôn giáo và nhân văn của mình.

Đây chính là vấn đề đối với nhiều tín hữu kitô, kể cả Thánh Matthêu, vào thời điểm các Phúc âm được viết. Họ là những người do thái tận tâm không biết làm sao để đưa Đức Kitô vào khung tôn giáo vốn có của mình. Khi Thiên Chúa đi vào đời sống con người theo những cách mới mẻ thì không thể tưởng tượng nổi, con người phải làm gì? Với một khái niệm bất khả thi, chúng ta phải làm thế nào? Thánh Giuse là một gương mẫu. Như thần học gia Raymond Brown nói: “Nhân vật chính trong câu chuyện sơ khai của thánh Matthêu là thánh Giuse, một người do thái tuân theo Lề luật nhưng nhạy bén. Trong Thánh Giuse, thánh sử đã họa nên điều mà ngài nghĩ một người do thái (ngoan đạo thật sự) nên là, và có lẽ cũng là điều mà ngài đã sống như vậy”.

Về căn bản, Thánh Giuse dạy chúng ta cách sống trong lòng trung tín yêu thương với mọi sự mà chúng ta bám vào về mặt nhân bản hay tôn giáo, đồng thời chúng ta cũng mở lòng với mầu nhiệm của Thiên Chúa sẽ đưa chúng ta vượt ra ngoài mọi phạm trù thực hành và tưởng tượng tôn giáo. Và đây chẳng phải là thách thức thật sự của Giáng Sinh hay sao?

Thắp lên ngọn nến mùa Vọng

Vào thời phân biệt chủng tộc ở Nam Phi, các tín hữu kitô ở đó dùng ánh nến đặt ở bệ cửa sổ làm dấu hiệu họ tin đến một ngày nào đó sự bất công này sẽ chấm dứt. Một ngọn nến thắp ở cửa sổ là dấu chỉ của hy vọng và đồng thời là một tuyên bố chính trị. Chính quyền không bỏ qua thông điệp này. Họ đã ra luật mới, tuyên bố việc đặt nến ở bệ cửa sổ là phạm pháp, tội danh tương đương với tàng trữ súng, cả hai đều bị xem là nguy hiểm ngang nhau. Chuyện này cuối cùng trở thành chuyện cười cho trẻ con: “Chính quyền chúng ta sợ những ngọn nến kìa!”

Nhưng đúng là phải sợ! Hơn cả vũ khí, chính những ngọn nến đã lật đổ chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi. Đến tận cùng, chỉ có hy vọng, chứ không phải súng đạn, mới biến đổi mọi sự. Thắp lên một ngọn nến là hành động của hy vọng, nói với chính mình và với người khác, dù tình hình trên thế giới hiện nay có như thế nào, chúng ta vẫn có thể nuôi một viễn tưởng về hòa bình và hiệp nhất dựa trên một điều gì đó vượt quá tình trạng hiện thời của mọi sự, dựa trên những hiện thực và quyền lực lớn hơn những gì thế giới thừa nhận. Thắp lên ngọn nến là lời tuyên bố công khai, đến cùng chúng ta vẫn tin những gì chúng ta thấy trên bản tin mới nhất trong ngày, sẽ không phải là cái định đoạt kết cục cuối cùng của mọi sự. Có những quyền lực khác cũng đang hoạt động. Thắp lên một ngọn nến là hành động phản kháng về chính trị và là hành động của hy vọng.

Hy vọng là gì?

Trước hết, hy vọng không phải là mơ tưởng hão huyền. Tôi có thể mơ mình trúng số, nhưng ước mơ đó tự nó không có sức mạnh để biến chuyện này thành sự thật. Thứ hai, hy vọng không phải là chủ nghĩa lạc quan đơn thuần, không phải là tính tình của một người luôn thấy được mặt tốt của mọi chuyện. Tinh thần lạc quan không chút dao động về mọi sự đôi khi có thể hữu ích, nhưng nó không phải là cơ sở của hy vọng. Cũng như mơ tưởng hão huyền, nó thiếu sức mạnh để biến ước mơ thành hiện thực. Cuối cùng, hy vọng không phải chỉ là quan sát và lẽ phải thông thường, không phải là dạng tài năng tìm ra được cái có thật từ trong cái sai. Nó hữu dụng đấy, nhưng vẫn không phải là hy vọng. Tại sao lại không?

Bởi vì hy vọng không đặt trên sự đánh giá sắc sảo của các sự thật theo kinh nghiệm, mà đặt trên niềm tin vào một hệ thực tế sâu xa hơn. Sự hiện hữu của Thiên Chúa, quyền năng và sự nhân lành của Thiên Chúa, cùng lời hứa phát xuất từ đó.

Có một câu chuyện về thần học gia Pierre Teilhard de Chardin có thể giúp chúng ta làm rõ hơn chuyện này. Teilhard de Chardin không bị cho là người mơ tưởng hão huyền hay người lạc quan, nhưng đúng hơn là người hiện thực cô độc. Nhưng cha là người của một hy vọng đích thực. Chẳng hạn trong một dịp nọ, sau khi phát biểu trong một hội nghị về một viễn tượng trong đó sự hiệp nhất và hòa bình tối hậu sẽ đến trên trái đất này theo cách tương tự như viễn tượng của Kinh thánh, có một đồng nghiệp đặt ra cho cha thách thức thế này: “Đây là một viễn tượng lý tưởng, rất tuyệt vời, nhưng giả sử chúng ta phá tan thế giới bằng bom nguyên tử, thì ước vọng đó sẽ như thế nào?” Cha Teilhard trả lời: “Thế thì mọi chuyện sẽ bị đẩy lùi hàng triệu năm, nhưng nó vẫn sẽ đến hồi thành tựu, không phải vì tôi nói thế hay những sự thật hiện thời cho thấy sẽ như thế, nhưng vì Thiên Chúa đã hứa như thế và trong sự phục sinh của Chúa Giêsu đã cho thấy, Ngài đủ quyền năng để thực hiện lời hứa đó”.

Như chúng ta có thể thấy từ chuyện này, hy vọng cần cả đức tin và nhẫn nại. Nó hoạt động như men, chứ không phải như lò vi sóng. Ông Jim Wallis, nhà sáng lập tạp chí Sojourners đã mô tả một cách sinh động: “Mọi chính trị gia đều như nhau, họ nhìn xem hướng gió thế nào, rồi ngả theo hướng đó. Dù có đổi chính trị gia nào, thì chuyện đó sẽ không bao giờ thay đổi. Vậy nên chúng ta phải thay đổi luồng gió! Việc của hy vọng là thế, là thay đổi chiều gió!”

Khi nhìn vào những gì đã thay đổi về mặt tinh thần trong thế giới này, từ những truyền thống tôn giáo lớn phát xuất từ các hoang mạc, hang động và hầm mộ đã giúp lên men toàn bộ nhiều nền văn hóa, cho đến chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã bị lật đổ ở Nam Phi, chúng ta thấy rằng những chuyện này xảy ra khi có những cá nhân và nhóm người thắp lên những ngọn nến và hy vọng đủ lâu cho đến khi chiều gió thay đổi.

Chúng ta thắp lên những ngọn nến Mùa Vọng với tâm thức này, chấp nhận thay đổi chiều gió là một tiến trình lâu dài, rằng những bản tin mới nhất không phải lúc nào cũng tích cực, thị trường chứng khoán không phải lúc nào cũng tăng, những hệ thống quốc phòng tinh vi nhất thế giới không phải lúc nào cũng bảo vệ được chúng ta khỏi khủng bố, và những hệ tư tưởng bảo thủ hay tự do sẽ không thể loại bỏ tính ích kỷ ra khỏi hành tinh này.

Tuy nhiên, chúng ta tiếp tục thắp lên những ngọn nến, vẫn tiếp tục hy vọng, không phải trên cơ sở là tình hình đang tốt hơn hoặc xấu hơn, nhưng với hiện thực thâm sâu nhất là Thiên Chúa hiện hữu, cốt lõi vẫn được giữ vững, có một Thiên Chúa nhân từ cai quản toàn thể vũ trụ này, và Thiên Chúa này đủ quyền năng để sắp xếp lại những nguyên tử trên hành tinh và cho xác chết sống lại. Chúng ta thắp lên những ngọn nến vì Thiên Chúa, Đấng quyền năng tối thượng, đã hứa sẽ thiết lập vương quốc yêu thương và hòa bình trên trái đất này, và cũng là Đấng nhân từ, đầy tha thứ và đủ quyền năng để cuối cùng biến nó thành hiện thực.

Cái tôi giày vò và quá đỗi phức tạp của chúng ta

Nói cho cùng, cuộc đời chúng ta đâu phải chỉ có bình yên và thanh thản. Có thể nói, chúng ta luôn phần nào thê thảm. Nhưng chuyện đó không nên làm chúng ta sợ hãi. Thê thảm không phải là một từ miệt thị. Từ này có gốc Hy Lạp là pathos, nghĩa là đau đớn. Thê thảm nghĩa là sống trong đau đớn, và chúng ta đều như thế bởi vì chúng ta được tạo nên như thế.

Có lẽ các bạn sẽ nghĩ như thế thì chẳng hợp lý gì cho lắm. Chúng ta được tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên chẳng phải mỗi người chúng ta, dù cuộc sống có thảm đến đâu thì vẫn mang một phẩm giá đặc biệt và tính thần thiêng nào đó trong người sao? Chúng ta có phẩm giá đặc biệt đó thật. Tuy nhiên, bất chấp những chuyện này, và phần lớn lại là do những chuyện này, cuộc sống của chúng ta có khuynh hướng phức tạp cũng như đầy đau đớn. Tại sao lại như vậy?

Không dễ để mang lấy sự thần thiêng. Sự vô hạn trong chúng ta không dễ tương hợp với cái hữu hạn. Chúng ta mang trong mình một ngọn lửa quá thần thiêng, đến nỗi khó mà tìm được sự bình an trong đời này.

Sự đấu tranh đó đã bắt đầu có từ đầu đời. Để tạo cái tôi cho một đứa bé còn rất nhỏ, chúng ta cần một loạt truyền thụ về tinh thần và đến cuối cùng, nó lại hạn chế ý thức của chúng ta. Trước hết, chúng ta cần phân biệt bản thân và người khác (kia là mẹ, đây là mình), rồi chúng ta cần phân biệt giữa cái có sự sống và cái không có sự sống (con chó thì sống, con búp bê thì không), tiếp theo, chúng ta cần phân biệt giữa cái vật chất và cái ý thức (đây là cơ thể mình, nhưng tâm trí mới giúp mình suy nghĩ). Cuối cùng, và quan thiết nhất, khi làm mọi chuyện này, chúng ta cần chia ra cái mà chúng ta có thể xử lý một cách có ý thức và cái vượt quá tầm xử lý có ý thức của mình. Từ đó, chúng ta tạo nên cái tôi, nhưng chúng ta còn tạo nên một cái bóng, cụ thể là một vùng trong chính mình, tách biệt khỏi ý thức của mình.

Và chúng ta phải lưu ý, cái bóng của chúng ta, trước hết và trên hết, không phải là bóng tối lẩn khuất. Đúng hơn, nó là mọi sự sáng và sinh lực trong bản thân mà chúng ta không thể xử lý một cách có ý thức. Tôi cho rằng hầu hết chúng ta đều quen thuộc với những lời của bà Marianne Williamson, đã được Nelson Mandela trích dẫn trong bài diễn văn nhậm chức: Nỗi sợ thâm sâu nhất của chúng ta không phải là sợ chúng ta bất đạt. Nỗi sợ thâm sâu nhất của chúng ta là sợ chúng ta mạnh quá mức. Chính ánh sáng, chứ không phải bóng tối, mới là điều làm chúng ta sợ nhất.

Ánh sáng trong chúng ta làm chúng ta sợ, vì nó chính là điều không dễ mang lấy. Nó cho chúng ta phẩm giá cao quý và sự thâm sâu vô hạn, nhưng nó cũng cho chúng ta sự phức tạp và khắc khoải thảm thê. Bà Ruth Burrows, một trong những ngòi bút thiêng liêng hàng đầu của thời chúng ta, đã mở đầu tự truyện của bà như sau: Tôi được sinh ra trong thế giới này với sự nhạy bén bị giày vò và cuộc sống của tôi chẳng dễ dàng gì. Các bạn sẽ không ngờ một nhà thần nghiệm, một nữ tu bền đỗ hơn 70 năm cuộc đời, lại nói câu này. Các bạn cũng sẽ không ngờ rằng trong cuộc sống bà phải đấu tranh ánh sáng bên trong mình không khác gì đấu tranh với bóng tối bên trong và bao quanh mình. Điều này cũng đúng với mỗi chúng ta.

Trong sách Giảng viên, có một câu nhiều người biết, nói rằng Thiên Chúa làm cho mọi thứ trở nên đẹp đẽ vào đúng thời đúng điểm của nó. Tuy nhiên, đoạn đó không kết thúc theo một cách êm đềm. Đoạn kết nói rằng trong khi Thiên Chúa làm cho mọi thứ trở nên đẹp đẽ vào đúng thời đúng điểm của nó, Ngài cũng đưa sự vô tận vào tâm hồn con người, nên từ đầu đến cuối, từ bẩm tính, chúng ta cứ lạc nhịp với thời gian và các thời. Cả phẩm giá đặc biệt và sự phức tạp bệnh hoạn của chúng ta đều có nguồn gốc nơi sự bất thường trong bản tính chúng ta. Chúng ta cưu mang quá nhiều, vượt quá cuộc sống đời này.

Thánh Augutinô diễn tả một cách kinh điển: Lạy Chúa, Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài. Câu này tóm gọn cả nhân học và linh đạo. Phẩm giá và sự khắc khoải luôn mãi của chúng ta có cùng một nguồn gốc.

Vì thế chúng ta cần tự cho mình sự chấp thuận thần thiêng để có một tâm hồn hoang dại, khắc khoải, vô độ, phức tạp và đầy xung lực. Cả tâm lý học và linh đạo quá thường xuyên phụ lòng chúng ta khi cho chúng ta ấn tượng mình nên sống mà không có những hỗn loạn và khắc khoải. Phải thừa nhận rằng khi chúng ta bất đạt về tinh thần thì những thứ này có thể bủa vây chúng ta dữ dội hơn nữa, nhưng dù cho chúng ta có sống tốt thế nào đi nữa, thì nó vẫn cứ bủa vây chúng ta. Sự thật là, nếu chúng ta là người nhạy cảm sâu sắc, thì có lẽ chúng ta sẽ cảm nhận sự phức tạp của mình rõ ràng hơn một người thiếu nhạy cảm hoặc đã làm tê dại sự nhạy cảm bằng những thứ xao lãng khác.

Một người bạn từng viết thư cho Karl Rahner, phàn nàn rằng mình đã không tìm được sự viên mãn mà ông mong mỏi trong đời. Ông bày tỏ sự thất vọng với chính mình, với cuộc hôn nhân và công việc của mình. Rahner mới viết thư khuyên rằng: Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, trong đời này, tất cả mọi hòa âm đều phải dang dở. Trong đời này, không thể có hòa âm trọn vẹn, và lý do không phải bởi linh hồn của chúng ta khiếm khuyết, mà là bởi chúng mang trong mình sự thần thiêng.

Tưởng niệm Richard “Rick” Gaillardetz

Không cộng đồng nào phải làm hỏng các tang lễ của mình. Triết gia, sử gia Mircea Eliade (1907-1986) đã nói như thế. Hàm ý của ông là sự thật, những gì chúng ta không dâng mừng thì chúng ta sẽ sớm không còn trân trọng.

Với tâm thức đó, tôi muốn nêu bật, chúng ta, cả cộng đồng tôn giáo lẫn thế tục cần phải tôn vinh và trân trọng khi khóc thương cho Richard Gaillardetz vừa mới qua đời (1958-2023).

Richard, hay thường được gọi là “Rick”, là người chồng, người cha, người bạn, và (theo hầu hết mọi mặt) là nhà giáo hội học trong thế giới nói tiếng Anh. Ông dạy ở Đại học Boston, nhưng đi giảng gần như mọi nơi, cả với tư cách giáo sư giảng dạy và diễn giả nổi tiếng. Vượt ngoài tầm vóc hàn lâm, ông còn có lòng nhân đạo, vững vàng tỉnh táo, trí tuệ sắc sảo cùng sự nồng hậu tự nhiên, sự thân thiện và hài hước làm cho ông rất dễ gần và luôn có người ở gần. Ông đem lại bầu khí điềm đạm và yên bình cho mọi người.

Để nêu bật những cống hiến của ông, chúng ta cần nói về mặt nào đây? Chúng ta không nên làm hỏng những gì khi thương tiếc cái chết của ông? Chúng ta phải tôn vinh những gì để tiếp tục trân trọng?

Có nhiều điều cần phải nêu bật, tất cả đều mang tính tích cực, nhưng tôi muốn tập trung vào bốn món quà phi thường mà ông đem lại cho chúng ta.

Trước hết, ông là một thần học gia đã tích cực hoạt động để nối liền khoảng cách giữa giới hàn lâm và giới bình dân. Rick là nhà hàn lâm rất được trọng vọng. Tầm học thuật của ông thì không thể bàn cãi. Nhưng ông lại rất được ưu ái trong tư cách diễn giả đại chúng về tâm linh và chưa hề hy sinh tính học thuật để đổi lấy tầm đại chúng. Sự kết hợp này được cả giới hàn lâm và giới bình dân thông hiểu cũng như tôn trọng, đây là điều hiếm có (khi mà khó để đơn giản nhưng không tối giản) và cũng là một nguy cơ lớn (khi mà tư cách diễn giả đại chúng thường làm cho đồng nghiệp hàn lâm nghi ngờ). Rick đã nhận lấy nguy cơ đó vì ông muốn nền học thuật của mình phục vụ cho toàn thể cộng đồng, chứ không phải chỉ cho những người đủ may mắn để ngồi trong trường lớp đại học.

Thứ hai, ông là nhà giáo hội học đã dùng tính hàn lâm của mình để hiệp nhất thay vì chia rẽ. Giáo hội học là nghiên cứu về giáo hội, nhưng chủ nghĩa giáo phái vẫn đang chia rẽ các tín hữu kitô của chúng ta. Sự chia rẽ giữa chúng ta chủ yếu là về mặt giáo hội. Trong hầu hết mọi chuyện khác, chúng ta đều chung lòng với nhau. Chúng ta cùng chung Chúa Giêsu, chung Kinh Thánh, chung Phép Thánh Thể (trong nhiều thể thức khác nhau), chung một đấu tranh để trung thành với giáo huấn của Chúa Giêsu, và chung nhiều đấu tranh về nhân bản, xã hội và luân lý. Linh đạo hiệp nhất chúng ta, nhưng tính giáo hội vẫn chia rẽ. Công trình của Rick trong ngành giáo hội học là hơi thở tươi mát giúp chúng ta vượt lên nhiều thế kỷ chia rẽ. Ông yêu mến phái công giáo la-mã của ông, nhưng ông hoàn toàn trân trọng các giáo phái khác. Bí quyết của ông là gì? Ông không chỉ để tâm vào thần học của Giáo hội, mà ông còn để tâm vào linh đạo của Giáo hội.

Thứ ba, ông là một người yêu mến Giáo hội, dù trong tình yêu này ông có thể phê phán Giáo hội một cách lành mạnh khi đáng bị chỉ trích. Tôi đã dự buổi diễn thuyết cuối cùng của ông tháng 9 năm ngoái, ông mở đầu bằng những lời này: Tôi là một người công giáo do cha mẹ sinh ra, rồi do lựa chọn và bây giờ là do tình yêu. Ông tiếp tục chia sẻ về việc Giáo hội công giáo là tình yêu lớn nhất trong đời ông, và cách Giáo hội đã cho ông nhiều lần vỡ mộng và đau đớn. Ông thách thức chúng ta yêu thương Giáo hội và đồng thời phê phán Giáo hội. Điều này cho thấy một tâm hồn cao cả và một trí tuệ phi thường. Có người có thể yêu Giáo hội mà không hề thấy lỗi lầm gì của Giáo hội, và cũng có người có thể thấy lỗi lầm của Giáo hội mà chẳng bao giờ yêu Giáo hội. Rick thì có thể làm cả hai.

Cuối cùng, ông là người đối diện cái chết với đức tin, dũng khí và tôn nghiêm, xứng đáng là gương mẫu cho chúng ta. Cách đây 18 tháng, Rick bị chẩn đoán mắc ung thư tụy giai đoạn cuối. Ông biết nếu không có phép lạ thì ông sẽ không sống qua nổi hai năm. Bất chấp bao đau khổ và đấu tranh nội tâm để cố chấp nhận chuyện này, suốt 18 tháng qua, mọi lời ông nói, mọi việc ông làm, và mọi bài diễn thuyết đều thể hiện một đức tin, đức cậy, đức dũng và lòng quan tâm đến người khác. Ông viết nhật ký trong thời gian này và những trang nhật ký đó sẽ sớm được đăng, đóng góp vào món quà lớn cuối cùng mà Rick đem lại cho Giáo hội và thế giới.

Tôi muốn kết thúc bài tưởng niệm ông với giai thoại mà tôi nghĩ ông sẽ hài lòng, xem nó như một nét vui tươi cho bài điếu văn. Vài năm trước, tôi đi nghe Rick diễn thuyết ở một đại học gần nhà. Người giới thiệu ông là thần học gia nổi tiếng Bernard J. Lee của Tu hội Nữ tử Đức Maria. Sau khi nêu lên những thành tựu hàn lâm của Rick, Lee quay qua hỏi ông: “Richard, làm thế nào ông đọc nổi cái họ Gaillardetz của ông vậy?”

Dù cái họ của ông phải đọc thế nào, hay viết thế nào, thì Richard Gaillardetz chắc chắn là một kho báu thần học mà chúng ta đã mất đi quá sớm.

Bình dân và học thuật

Tôi sống ở hai bờ biên giới. Không phải là biên giới địa lý, nhưng là biên giới phân chia hàng ghế giáo dân bình dân với hàng ghế hàn lâm thần học.

Tôi lớn lên trong một gia đình công giáo la-mã bảo thủ. Dù thân phụ tôi hoạt động chính trị cho đảng Tự do, nhưng hầu hết mọi thứ trong thời thơ ấu của tôi đều rất bảo thủ, nhất là những vấn đề liên quan đến tôn giáo. Xét về mọi mặt, tôi là người công giáo la-mã kiên định. Tôi lớn lên dưới thời giáo hoàng Piô XII (cha mẹ tôi đặt tên Pius cho em út tôi, điều này nói lên lòng trung thành của gia đình tôi với giáo hoàng Piô XII như thế nào). Chúng tôi tin công giáo la-mã là tôn giáo chân chính duy nhất, còn tin lành và phái phúc âm phải hoán cải và trở lại với đức tin chân chính. Tôi thuộc giáo lý công giáo la-mã và bảo vệ từng câu từng chữ trong đó. Hơn nữa, gia đình chúng tôi không chỉ đi nhà thờ đều đặn mà còn hết sức sốt sắng và ngoan đạo: ngày nào gia đình tôi đều lần hạt với nhau, khắp nhà có nhiều tượng và ảnh thánh, chúng tôi đeo các tượng được làm phép trên cổ, đọc kinh cầu Đức Mẹ, thánh Giuse, Thánh Tâm theo từng tháng, tôn kính các thánh mỗi ngày. Và những điều đó thật tuyệt vời. Tôi sẽ luôn mãi biết ơn về nền tảng tôn giáo này của gia đình tôi.

Năm 17 tuổi, tôi đi từ mái ấm gia đình vào chủng viện và những năm đầu tiên ở chủng viện củng cố thêm những gì gia đình đã cho tôi. Học thuật là tốt, và chúng tôi được khuyến khích đọc sách của những tư tưởng gia lớn thuộc mọi trường phái. Nhưng việc học lên cao vẫn nằm trong khuôn khổ đặc tính công giáo la-mã, tôn vinh nền tảng tôn giáo và mộ đạo của tôi. Ban đầu việc học đại học của tôi tốt với lòng sùng mến của tôi. Tâm trí tôi được mở mang, lòng ngoan đạo của tôi vẫn như cũ.

Nhưng nhà là nơi chúng ta bắt đầu. Dần dần, qua năm tháng, thế giới của tôi thay đổi. Nghiên cứu ở các trường cao học khác nhau, dạy ở các cơ sở cao học, tiếp xúc hàng ngày với những biểu hiện khác của đức tin, đọc sách của các tiểu thuyết gia và tư tưởng gia đương thời, thân thiết với các đồng nghiệp học thuật, tôi phải thú thật, tất cả đã tạo một sự căng thẳng với lòng ngoan đạo thời trẻ của tôi. Nói thật, trong các lớp cao học hay các buổi họp ban giảng viên, chúng tôi không thường lần hạt hay đọc kinh cầu Đức Mẹ, Thánh Tâm.

Tuy nhiên, các lớp học hàn lâm và các buổi họp ban giảng huấn đã mang lại một điều gì khác, một điều cực kỳ cần thiết trong các hàng ghế nhà thờ và trong giới những người mộ đạo, cụ thể một tầm nhìn thần học phê phán và các nguyên tắc để giữ vững lòng đạo đức không bị kiềm chế, chủ nghĩa chính thống cực đoan ngây thơ và lòng nhiệt thành tôn giáo sai lầm trong những ranh giới của nó. Những gì tôi học được trong giới học thuật cũng tuyệt vời và tôi luôn mãi biết ơn vì đã được dự phần vào giới học thuật trong phần lớn cuộc đời trưởng thành của tôi.

Nhưng dĩ nhiên, sự kết hợp tuy lành mạnh nhưng chắc chắn là có căng thẳng, Tôi muốn dùng lời của một người khác để làm rõ chuyện này. Trong quyển sách Thinh lặng và Vẻ đẹp (Silence and Beauty) của nghệ sĩ người Mỹ gốc Nhật, Makoto Fujimura, ông chia sẻ câu chuyện của ông như sau. Một ngày chúa nhật nọ, khi ông đi ra khỏi nhà thờ, thì mục sư đến nhờ ông ký tên vào danh sách tẩy chay bộ phim Cám dỗ cuối cùng của Chúa Kitô (The Last Temptation of Christ). Ông mến mục sư và muốn làm vui lòng mục sư bằng cách ký tên vào thỉnh nguyện đơn, nhưng ông cảm thấy ngập ngừng vì nhiều lý do mà lúc đó ông không giải thích rõ ràng được. Nhưng vợ ông thì giải thích được. Khi ông chưa kịp ký, bà đã bước lên nói: “Các nghệ sĩ có những vai trò khác ngoài việc tẩy chay phim này.” Ông hiểu được ý bà và không ký vào thỉnh nguyện đơn đó.

Nhưng quyết định này làm ông suy nghĩ, giữa căng thẳng của việc tẩy chay một bộ phim như thế với vai trò nghệ sĩ của ông. Đây là cách ông giải thích: “Một nghệ sĩ thường bị kéo theo hai hướng. Những người bảo thủ tôn giáo có khuynh hướng xem văn hóa là cái đáng nghi ngờ, và khi một tuyên bố văn hóa thay đổi hiện thực bình thường mà họ yêu quý, thì phản ứng mặc định của họ là phản đối và tẩy chay. Những người trong cộng đồng nghệ thuật tự do thì xem những bước đột phá này là cần thiết cho “tự do biểu đạt” của họ. Một nghệ sĩ như tôi, trân trọng cả tôn giáo lẫn nghệ thuật, sẽ bị loại bỏ khỏi cả hai. Tôi cố đưa hai điều gắn kết này lại với nhau, nhưng đây là một đấu tranh chật vật”.

Và đây cũng là nỗi chật vật của tôi. Lòng mộ đạo thời thơ ấu, của cha tôi và của nhánh công giáo phong phú này, là một điều thực tế và nuôi dưỡng sự sống, nhưng thần học đả phá ngẫu tượng cấp tiến (và đôi khi đáng lo ngại) của học thuật cũng thế. Cả hai thật sự cần lẫn nhau, nhưng người nào cố trung thành với cả hai, thì có thể bị cả hai đẩy ra, như tình cảnh của nghệ sĩ Fujimura. Các thần học gia có những vai trò khác hơn là đi tẩy chay phim này.

Những người mà tôi xem là thầy của tôi trong lãnh vực này, đó là những người mà theo tôi có thể làm cả hai: như Dorothy Day, người có thể thoải mái lần hạt hoặc đi đầu trong các cuộc tuần hành, như Jim Wallis, có thể nồng nhiệt bênh vực cho hoạt động xã hội cấp tiến và cũng có thể thân mật với Chúa Giêsu, như Thánh Tôma Aquinô, với tri thức có thể lấn át các nhà trí thức khác, nhưng cũng có thể cầu nguyện với lòng ngoan đạo của một em bé. Những nhóm ngoan đạo và học thuật thần học không phải là đối địch của nhau. Họ cần phải kết bạn với nhau mới đúng.