RonRolheiser,OMI

Lời mời gọi đến với giờ kinh phụng vụ

Tất cả chúng ta đều là tư tế nhờ phép rửa, và cùng với đó là lời mời gọi cầu nguyện cho thế giới như một tư tế thông qua lời cầu bàu của Chúa Kitô và Giáo hội. Điều này chính xác là gì?

Ai được rửa tội để trở thành tín hữu kitô thì đều được làm phép rửa để trở thành tư tế của Chúa Giêsu Kitô. Chức tư tế được trao cho mọi kitô hữu đã nhận phép rửa, chứ không chỉ là đặc quyền và trách nhiệm của những người được chính thức thánh hiến cho việc mục vụ, và như thế là mọi tín hữu kitô trưởng thành đều có một lời kêu gọi.

Lời kêu gọi này rất cụ thể. Chúng ta không cần phải nghĩ xem mình phải làm gì hay phải sáng tạo gì. Đúng hơn, chúng ta được kêu gọi tham gia vào một thực hành đã khởi sự từ thời cộng đoàn tông đồ tiên khởi và truyền cho đến chúng ta ngày nay. Đó là mỗi ngày cầu nguyện hai bài kinh trong bộ kinh phụng vụ: Thần vụ của Giáo hội, Giờ kinh Phụng vụ, Giờ kinh điển hoặc Kinh nhật tụng. Từ thời sơ khởi của tu viện kitô giáo, những bài kinh này đã đóng vai trò then chốt trong việc cầu nguyện của Giáo hội dù là công giáo hay không.

Có tám bài kinh, mỗi bài để đọc vào một thời gian khác nhau trong ngày và có liên quan đến bầu khí và ánh sáng của mỗi giờ. Tám bài kinh này là: Kinh sáng, Kinh sách, Kinh Trưa giờ Ba, Kinh trưa giờ Sáu, Kinh trưa giờ Chín, Kinh chiều, Kinh Tối, Kinh đêm. Xin lưu ý sự thích hợp của các tên: Các giờ kinh phụng vụ.

Dù có tám bài kinh, nhưng chỉ có các tu sĩ và nữ tu ở các dòng chiêm niệm mới đọc đủ toàn bộ tám bài. Còn các linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ chuyên việc mục vụ, các thừa tác viên của Tin Lành và phái Phái Phúc âm, cùng giáo dân, thì bình thường chỉ đọc hai kinh: Kinh sáng và Kinh tối.

Cần phân biệt những bài kinh này với đời sống cầu nguyện riêng. Đây không phải là những suy niệm cá nhân, mà là lời cầu nguyện chung, lời kinh phụng vụ, lời kinh của Giáo hội, lời cầu nguyện của Chúa Kitô cho thế giới. Về lý thuyết, các kinh này là để cầu nguyện, để đọc chung, nhưng nếu đọc riêng, chúng vẫn là lời kinh chung của Giáo hội. Đọc kinh phụng vụ là để tham gia vào lời cầu nguyện chính thức của Giáo hội, dâng lên lời cầu nguyện được hàng ngàn, có khi hàng triệu kitô hữu dâng cùng một giờ trên khắp thế giới, và đó là Nhiệm thể Chúa Kitô đang cầu lời cầu nguyện tư tế của Chúa Kitô cho toàn thế giới.

Hơn nữa, vì đây là những lời cầu nguyện của Giáo hội chứ không phải của riêng chúng ta, nên chúng ta không được tự do biến đổi hay thay thế bằng những lời cầu nguyện khác tùy theo tâm trạng, lòng sùng mến hoặc sở thích về thần học của mình. Những lời cầu nguyện này không cần phải có ý nghĩa cá nhân với chúng ta. Chúng ta đang cầu nguyện với tư cách tư tế, dâng lời cầu nguyện cho thế giới, và tự nó đã vô cùng ý nghĩa, độc lập với việc nó có ý nghĩa gì với chúng ta vào một ngày nào đó hoặc một giai đoạn nào đó trong đời. Hoàn thành trách nhiệm không phải lúc nào cũng có ý nghĩa cụ thể. Khi đọc những lời kinh này, là chúng ta đang đảm nhận trách nhiệm của một tín hữu kitô trưởng thành, nghĩa là cầu nguyện cùng Giáo hội qua Chúa Kitô cho toàn thế giới.

Hai giờ Kinh sáng và Kinh tối chúng ta được mời gọi cầu nguyện mỗi ngày đều có kết cấu đơn giản: ba thánh vịnh, một đoạn ngắn Lời Chúa, một thánh ca cổ (kinh Benedictus hay kinh Magnificat), một vài lời nguyện ngắn, kinh Lạy Cha và lời nguyện kết.

Vì vậy, đây là lời mời gọi: với tư cách là kitô hữu trưởng thành, là tư tế nhờ phép rửa, là người quan tâm đến Hội thánh và Giáo hội, tôi mời gọi bạn tham gia cùng hàng ngàn, hàng triệu tín hữu kitô trên khắp thế giới cầu nguyện lời Kinh sáng và Kinh tối của Giáo hội. Rồi, như Chúa Kitô là tư tế, chúng ta sẽ dâng hiến lễ cho thế giới. Rồi khi xem tin tức thế giới và cảm thấy nản lòng, bất lực trước những chuyện không ổn của thế giới và tự hỏi mình có thể làm gì, thì có một việc để làm, rất thực, đó là cầu nguyện cùng Chúa Kitô và cùng Giáo hội cho thế giới.

Vậy tìm ở đâu ra những bài Kinh sáng tối này? Có thể mua kinh phụng vụ ở hầu hết các nhà xuất bản tôn giáo, cả công giáo và tin lành. Thật ra bây giờ không cần phải mua, hiện đã có sẵn trên mạng. Đơn giản chỉ cần mở công cụ tìm kiếm và đánh vào “giờ kinh phụng vụ” là sẽ thấy.

Khi đọc những lời kinh này mỗi ngày, dù một mình hay lý tưởng là cùng với người khác, bạn sẽ đảm đương một năng lực và trách nhiệm đặc biệt được trao cho bạn trong phép rửa và sẽ là một món quà quan trọng để trao cho thế giới. Và bạn sẽ không bao giờ phải đấu tranh với câu hỏi: hôm nay mình nên cầu nguyện như thế nào?

Những người bạn đồng hành đức tin thực sự của chúng ta là ai?

Tôi làm việc và thường xuyên đi lại trong các nhóm của giáo hội, tôi thấy hầu hết những người ở đây đều trung thực, tận tâm, và sốt sắng giữ đức tin của mình. Họ không phải là những người đạo đức giả đi lễ. Nhưng điều làm tôi cảm thấy khó chịu, đó là nhiều người trong chúng ta có thể có ác ý, cay đắng, phán xét khi bảo vệ những giá trị mà họ yêu quý.

Cố linh mục Henri Nouwen là người đầu tiên nêu lên vấn đề này khi ngài đau buồn bình luận, trong số những người cay đắng và bị thúc đẩy bởi ý thức hệ mà ngài quen biết, có không ít người nằm trong các nhóm ở nhà thờ, các nơi mục vụ. Trong các nhóm này, gần như hầu hết họ giận dữ về một chuyện gì đó. Thêm nữa, trong các nhóm này, quá dễ để hợp lý hóa chuyện này chuyện kia nhân danh tính ngôn sứ, xem đó là nhiệt tâm công chính vì chân lý và luân lý của mình.

Đa số hoạt động theo cách: vì tôi thực sự quan tâm đến vấn đề công lý, giáo hội hay luân lý, tôi có thể thách thức cho một số mức độ tức giận, chủ nghĩa tinh hoa và phán xét tiêu cực. Vì tôi có thể hợp lý hóa cho lý do của tôi, dù là về giáo lý hay luân lý, nó quá quan trọng đến mức nó biện minh cho ác ý của tôi. Nói như thế có nghĩa là tôi có quyền được lạnh lùng và gay gắt, vì đây là một chân lý quan trọng.

Và thế là chúng ta biện minh cho ác ý bằng cách khoác lên tấm áo ngôn sứ, nghĩ rằng mình là chiến binh cho Thiên Chúa, cho chân lý và luân lý, trong khi thực ra, chúng ta cũng đang đấu tranh dữ dội như thế trước những vết thương, bất an và nỗi sợ của chính chúng ta. Vì thế chúng ta thường nhìn vào người khác, thậm chí nhìn vào toàn bộ những giáo hội khác với những con người chân thành đang cố sống Tin mừng, nhưng chúng ta lại không thấy được những gì họ đang đấu tranh để theo Chúa Giêsu như chúng ta, chúng ta chỉ thấy “những người lầm lỗi, những người theo chủ nghĩa tương đối nguy hại, những dân ngoại của thế hệ mới, đóm lửa tàn của tôn giáo”, hay nhẹ nhàng nhất là “những linh hồn lạc lối tội nghiệp”. Hiếm khi chúng ta nhìn dạng phán xét này đang nói gì về chính chúng ta, về sức khỏe tâm hồn và việc đi theo Chúa Giêsu của chúng ta.

Xin đừng hiểu lầm ý tôi: Chân lý thì không tương đối, các vấn đề luân lý thì quan trọng, và chân lý đúng đắn cũng như luân lý đúng đắn thì luôn mãi bị vây hãm và luôn cần được bảo vệ. Không phải mọi phán xét về đạo đức đều được tạo ra ngang nhau, và với mọi giáo hội cũng thế.

Nhưng sự thật này không áp chế mọi sự khác và cho chúng ta cái cớ để hợp lý hóa ác ý. Chúng ta phải bảo vệ chân lý, bảo vệ những người không thể tự vệ, và chúng ta phải trung thành với các truyền thống trong giáo hội của mình. Tuy nhiên, nếu chỉ có chân lý và luân lý đúng đắn thì không làm chúng ta trở nên môn đệ của Chúa Giêsu. Vậy điều gì mới làm chúng ta thành môn đệ của Chúa Giêsu?

Điều làm chúng ta thành môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, đó là việc sống trong Thần Khí của Ngài, trong Chúa Thánh Thần, và đây không phải là chuyện mơ hồ hay trừu tượng. Nếu muốn tìm một công thức duy nhất để xác định ai là Kitô hữu ai không, thì chúng ta phải đọc lại chương 5 Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Galat. Trong đoạn này, ngài nói chúng ta có thể sống theo tính xác thịt hoặc sống theo Thần Khí.

Chúng ta sống theo tính xác thịt khi chúng ta sống trong cay đắng, phán xét người anh em, bè phái và không biết tha thứ. Khi những thói xấu này định hình cuộc sống, thì chúng ta không được tự lừa dối mình, nghĩ mình đang sống trong Thần Khí.

Ngược lại, chúng ta sống trong Thần Khí khi cuộc sống chúng ta sống trong bác ái, vui vẻ, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Nếu những điều này không định hình cuộc sống chúng ta, thì dù chúng ta có nhiệt tâm vì chân lý, giáo lý hay công lý, thì chúng ta không nên nuôi ảo tưởng mình đang sống trong Thần Khí Thiên Chúa.

Nói thế này có lẽ rất ác, nhưng không nói có lẽ còn ác hơn: đôi khi tôi thấy những người theo thuyết Nhất Thể hay phong trào Thời Đại Mới (những người thường bị các giáo hội khác xem là mơ hồ và không biết đứng lên vì bất kỳ điều gì) lại có bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục và nhân hậu hơn những người trong chúng ta đang mạnh mẽ đứng lên vì một số vấn đề luân lý nào đó trong giáo hội, đến mức trở nên ác ý và thiếu bác ái khi chìm trong những xác quyết đó.

Về lựa chọn muốn ai là người anh em của mình, hoặc sâu sắc hơn, ai là người tôi muốn sống đời với họ, thì đôi khi chúng ta lại mâu thuẫn trong lựa chọn. Ai là bạn đồng hành đức tin thật sự của tôi? Những người cuồng tín hèn hạ đang chiến tranh vì Chúa Giêsu, vì chính nghĩa, hay những linh hồn hiền lành bị gán mác mơ hồ hay “thời đại mới”? Xét cho cùng, ai là người sống trong Thần Khí hơn?

Tôi nghĩ, chúng ta cần phải tự phê phán hơn nữa về sự giận dữ của mình, về những lời phán xét gay gắt, tinh thần ác ý, bài xích, khinh thị của mình với các con đường luân lý và giáo hội khác. Như tác giả T.S. Eliot từng nói: Cám dỗ tận cùng, cũng là phản bội lớn nhất, đó là làm điều đúng đắn nhưng lại sai lý do. Có lẽ chúng ta có chân lý và luân lý đúng đắn, nhưng sự giận dữ và những lời phán xét gay gắt của chúng ta nhắm đến những người không cùng chung luân lý và chân lý, có lẽ chính đó là điều làm chúng ta phải đứng ngoài nhà của Cha, như người anh của người con hoang đàng, cay đắng về lòng thương xót của Thiên Chúa và cay đắng với những người được Thiên Chúa thương xót, khi những người này có vẻ không xứng đáng.

Văn minh đã không còn

Vì sao chúng ta không còn hòa hợp với người khác? Vì sao lại có sự phân cực cay đắng trong đất nước, ở khu phố, trong Giáo hội và cả trong gia đình chúng ta? Vì sao trong nhiều cuộc trò chuyện, chúng ta cảm thấy không an toàn, luôn mãi cảnh giác để không lỡ chân bước vào bãi mìn nào đó về đạo đức, chính trị và xã hội?

Chúng ta, ai cũng có lập luận riêng về những lý do này, và chúng ta hầu hết dựa vào mạng tin tức mình thích, vào bạn bè để củng cố quan điểm của mình. Vì sao? Vì sao lại có sự phân cực cay đắng và những chuyện phiền phức này duy trì giữa chúng ta?

Tôi xin mạn phép đưa ra câu trả lời từ một nguồn gốc cổ xưa: đó là Sách thánh. Tiên tri Malachi trong Sách thánh do thái, cũng là Cựu Ước của chúng ta, cho chúng ta cái nhìn thấu suốt về nguồn gốc của phân cực, chia rẽ và hận thù. Ngài viết lại lời sấm của Thiên Chúa: “Còn Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối Ta, và hay nể vì khi áp dụng Luật. Tất cả chúng ta chẳng có cùng một cha sao? Chẳng phải cùng một Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta sao? Thế vì sao chúng ta lại phản bội nhau?”

Lời này chẳng hợp cho chúng ta thời nay sao? Khi, vì phân cực và thù ghét, trong Quốc hội, trong Giáo hội, trong cộng đồng, gia đình, và gần như mọi nơi mọi lúc chúng ta không còn tôn trọng nhau, không còn cố gắng đối xử văn minh với nhau. Chúng ta đã phản bội lẫn nhau. Văn minh đã không còn.

Hơn nữa, chuyện này ảnh hưởng đến cả hai phía trong lăng kính tư tưởng, chính trị, xã hội và giáo hội. Cả hai phía đều có những phe, những hệ tư tưởng riêng biệt từ hờ hững đến khinh miệt với những ai không cùng quan điểm với mình, những ám ảnh về thuyết âm mưu, kiên quyết không nhân nhượng, thiếu tôn trọng và còn hạ thấp những ai không chia sẻ cùng quan điểm. Và gần như lúc nào chúng ta cũng rao giảng, biện hộ, thù hận, tin rằng những điều này được thực hiện nhân danh Thiên Chúa, chân lý, luân lý, khai sáng, tự do, hay chủ nghĩa quốc gia.

Có người đã từng nói, không phải chuyện gì cũng có thể khắc phục hoặc chữa lành, nhưng nó phải được đặt tên cho đúng. Chuyện ở đây cũng vậy. Chúng ta cần đặt một tên cho nó. Chúng ta cần lớn tiếng nói, chuyện này là sai. Chúng ta cần lớn tiếng nói, những chuyện này không được làm nhân danh tình yêu. Và chúng ta cần nói to không bao giờ được lý luận hóa sự thù hận và vô lễ nhân danh Thiên Chúa, Kinh Thánh, chân lý, luân lý, tự do, khai sáng hay bất cứ lý do nào khác.

Phải đặt tên cho từng chuyện, dù chúng ta ở đâu trong cuộc tranh luận đầy thù hận và chia rẽ đang bao trùm xã hội hiện nay. Mỗi chúng ta cần xét mình về sự thiên vị của mình, cụ thể chúng ta ít muốn hiểu bên kia thế nào, chúng ta thiếu tôn trọng người khác thế nào, lời nói của chúng ta thiếu văn minh đến thế nào, và bao nhiêu hận thù đã vô thức len lỏi vào cuộc sống chúng ta.

Sau đó, chúng ta cần tự kiểm lại thêm một lần nữa. Từ chân thành “sincere” có nguồn gốc la-tinh là sine-không và cere-sáp. Chân thành nghĩa là “không có sáp”, là chính mình không chịu bất kỳ ảnh hưởng nào. Nhưng chuyện này không dễ dàng như vậy. Cách chúng ta nhìn chính mình, điều chúng ta tin và quan điểm của chúng ta về mọi sự mọi lúc đều bị cuộc đời chúng ta phủ bóng rất lớn, qua những tổn thương, qua công việc, qua những người mình sống cùng, đồng nghiệp, bạn bè, qua đất nước, qua bầu khí của hệ tư tưởng, chính trị, xã hội, tôn giáo mà chúng ta đang hít thở. Không dễ để biết chúng ta thật sự nghĩ gì hoặc cảm thấy gì về một vấn đề nào đó. Tôi có chân thành không, phản ứng của tôi dựa trên bạn bè và đồng nghiệp của tôi như thế nào, và tôi đón nhận tin này ở đâu? Tận sâu thẳm trung tâm hiện hữu, tôi là ai khi tôi không có lớp sáp?

Khi chúng ta đấu tranh để chân thành, nhất là trong môi trường chia rẽ, thiếu tôn trọng và thù ghét hiện tại, có lẽ chúng ta nên tự hỏi xem những gì mình say mê đủ lớn để nảy sinh thù ghét trong mình, cái đó liệu có bén rễ từ sự chân thành hay là từ hệ tư tưởng, từ cảm xúc bản thân hay phản ứng tri thức đối với điều mà mình ghét?

Cũng dễ hiểu khi chúng ta không trả lời được câu hỏi này. Là con người, chúng ta phức tạp, và việc đi tìm sự chân thành là hành trình của cả một đời. Tuy nhiên, khi đi trên con đường đến với sự chân thành, có một số quy luật mang tính thiêng liêng và nhân văn không thể du di. Tiên tri Malachi đã nêu ra một luật trong đó: “Đừng thiên kiến trong quyết định và đừng phản bội nhau”. Câu này muốn nói gì?

Có một ý là: Bạn có quyền để đấu tranh, để bất đồng với người khác, để say mê vì chân lý, để thỉnh thoảng nổi giận và ngay cả đôi khi cảm thấy thù ghét (vì ghét không đối lập với yêu, lãnh đạm mới đối lập với yêu). Nhưng bạn đừng bao giờ rao giảng thù ghét và chia rẽ, đừng nhân danh sự thiện mà biện hộ cho chúng. Trong chân thành của mình, bạn cần nuôi dưỡng một sự bất tín bẩm tại với bất kỳ ai tích cực biện hộ cho thù ghét và chia rẽ.

Văn minh đã không còn.

Năng lượng tràn đầy của Thiên Chúa

Xét về mọi mặt, tôi nghĩ tôi đã lớn lên với một khái niệm tương đối lành mạnh về Thiên Chúa. Thiên Chúa trong tuổi thơ của tôi, Thiên Chúa tôi được học trong giáo lý, không phải là Đấng trừng phạt quá đáng, độc đoán hay phán xét. Cứ cho là Ngài hiện diện khắp mọi nơi nên mọi tội lỗi của chúng ta đều bị Ngài biết và ghi lại, nhưng xét cho cùng, Ngài công bằng, yêu thương, đích thân quan tâm đến từng người, bảo vệ chúng ta đến mức cho chúng ta mỗi người một thiên thần hộ mệnh. Thiên Chúa đó cho tôi được sống mà không quá sợ hãi và không bị những tác động méo mó của tôn giáo làm rối loạn thần kinh.

Nhưng hình ảnh Thiên Chúa này chỉ giúp chúng ta tiến được chừng đó. Không có quan niệm không lành mạnh về Thiên Chúa không có nghĩa là có được một quan niệm lành mạnh rõ ràng. Thiên Chúa mà tôi được dạy hồi nhỏ không nghiêm khắc và phán xét quá mức, nhưng cũng không quá vui vẻ, cười đùa, hài hước hay hóm hỉnh. Nhất là Thiên Chúa này không có tính dục, đặc biệt thận trọng và không nhân nhượng trong lãnh vực này. Về căn bản, Thiên Chúa này u ám, nặng nề, không phải người để chúng ta vui vẻ ở gần. Ở gần Ngài thì phải trang nghiêm và cung kính. Tôi nhớ cha phó giám tập của tôi ở Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ nói, không hề có ghi chép nào về việc Chúa Giêsu cười.

Sống với một Thiên Chúa như vậy, căn bản chúng ta phải có sức mạnh. Nhưng khi đặt nặng Ngài như thế, chúng ta không hoàn toàn hăng hái bước đi trên đường đời, và mối quan hệ giữa Ngài với chúng ta chỉ có thể là trang nghiêm và cung kính.

Rồi cách đây hơn một thế hệ, trong các giáo hội và các nền văn hóa đã có một phản ứng mạnh với khái niệm này về Thiên Chúa. Thần học và linh đạo đại chúng bắt đầu sửa đổi, đôi khi còn phản ứng một cách dữ dội thái quá. Cái mà họ muốn đưa ra là một Chúa Giêsu đang cười, một Thiên Chúa nhảy múa, và dù điều này không phải là không có giá trị, nhưng nó vẫn làm chúng ta đi tìm một lời sâu sắc hơn về bản tính Thiên Chúa và ý nghĩa của điều này với sự lành mạnh và các mối quan hệ của chúng ta.

Văn học này không dễ viết ra, không phải vì Thiên Chúa không thể diễn tả, nhưng vì năng lực của Thiên Chúa là điều không thể diễn tả được. Vậy thật sự năng lực này là gì? Chúng ta hiếm khi đặt câu hỏi này, vì chúng ta xem sinh lực là một điều gì đó căn bản, không thể định nghĩa, mà chỉ có thể xem là một cái gì đó đương nhiên, hiển nhiên. Chúng ta xem sinh lực là lực nguyên thủy, nằm ở trung tâm mọi hiện hữu có sự sống hay không có sự sống. Hơn nữa, chúng ta cảm nhận được năng lực một cách rất mạnh mẽ bên trong mình. Chúng ta nhận biết sinh lực, cảm nhận được sinh lực, nhưng hiếm khi nhận ra được nguồn gốc của nó, sự phi thường, niềm vui, sự tốt lành, sôi nổi và hồ hởi của nó. Hơn thế, chúng ta hiếm khi nhận ra được điều nó nói với chúng ta về Thiên Chúa. Nó nói gì với chúng ta?

Phẩm chất đầu tiên của sinh lực là phi thường. Nó phi thường vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta, và điều này nói lên điều gì đó về Thiên Chúa. Một Đấng Tạo Hóa nào lại tạo ra hàng tỷ tỷ vũ trụ mà chẳng để làm gì? Một Đấng Tạo Hóa nào lại tạo ra hàng tỷ tỷ giống loài có sự sống, hàng tỷ tỷ triệu triệu loài trong đó chưa bao giờ con người nhìn thấy? Loại người cha, người mẹ nào lại có hàng tỷ người con?

Và sự tràn đầy năng lực nơi trẻ con nói lên điều gì về Đấng Tạo Hóa? Sự vui đùa của chúng gợi ý gì về điều hẳn cũng đã ẩn trong sinh lực thiêng liêng? Sinh lực của chú chó con cho chúng ta biết điều gì là thiêng liêng không? Tiếng cười, hóm hỉnh, châm biếm nói với chúng ta điều gì về Thiên Chúa?

Chắc chắn sinh lực chúng ta nhìn thấy quanh mình và cảm nhận trong chính mình đang nói với chúng ta, ẩn dưới mọi sự khác, có một nguồn năng lượng thiêng liêng, cả về thể chất lẫn tinh thần, và cội nguồn của nó là vui vẻ, hạnh phúc, vui đùa, hồ hởi, sôi nổi, riêng tư và yêu thương. Thiên Chúa là nền tảng cho sinh lực đó. Sinh lực đó nói về Thiên Chúa, sinh lực đó cho chúng ta biết vì sao Thiên Chúa tạo ra chúng ta và cho chúng ta những gì để sống cuộc sống của chúng ta.

Thiên Chúa là không thể diễn tả, đó là chân lý đầu tiên chúng ta có về Thiên Chúa. Như thế có nghĩa, chúng ta không thể tưởng tượng hay định nghĩa Thiên Chúa vào trong một khái niệm. Mọi hình tượng về Thiên Chúa đều không đủ, nhưng phải công nhận, chúng ta nên hình dung mọi chuyện như thế. Ở trung tâm mọi sự, ẩn chứa một năng lượng không thể tưởng tượng được, đó không phải là một sức mạnh vô ngã, mà là một con người, một khối óc, một trái tim tự phát yêu thương. Từ nền tảng này, con người này phát sinh ra mọi sinh lực, mọi sáng tạo, mọi sức mạnh, mọi tình yêu, mọi nuôi dưỡng, mọi vẻ đẹp. Hơn nữa, sinh lực đó, cũng như cội nguồn thiêng liêng của nó, không chỉ đầy sáng tạo, thông minh, riêng tư, và yêu thương, mà trong cốt lõi còn vui vẻ, đa dạng, hóm hỉnh, vui đùa, hài hước, gợi tình và hồ hởi. Sống trong sinh lực đó là cảm nhận một mời gọi mãi mãi ghi ơn.

Thách thức trong cuộc sống chúng ta là sống trong nguồn sinh lực đó theo cách tôn vinh vừa sinh lực vừa cội nguồn của nó. Như thế nghĩa là cởi giày trước bụi gai bốc cháy khi chúng ta tôn kính sự thiêng liêng, cả khi chúng ta liên tục được sự cho phép của nó, để trở nên mạnh mẽ, tự do, vui vẻ, hài hước, và vui đùa mà không cảm thấy mình đang trộm lửa của các vị thần.

Phát điên hay nên thánh

Trong bài thơ Serenade, nhà thơ Brazil Adelia Prado nói về nỗi đau nhức nhối mà chúng ta cảm nhận khi luôn mãi chờ đợi một điều gì đó hay một ai đó đến làm cho chúng ta được nên toàn vẹn. Chúng ta chờ đợi gì? Tình yêu? Tri kỷ? Thiên Chúa? Dù là gì, thì sự chán nản cuối cùng đẩy chúng ta đến một lựa chọn, là phát điên hay thánh thiện.

Tôi bắt đầu tuyệt vọng
Và chỉ thấy có hai lựa chọn:
Hoặc phát điên hoặc thánh thiện.

Và khi người đó hay việc đó cuối cùng cũng đến thì:

Làm sao tôi mở được cửa sổ lòng, trừ phi tôi điên?
Làm sao tôi đóng được cửa lòng, trừ phi tôi thánh thiện?

Phát điên hoặc thánh thiện. Càng thêm tuổi chúng ta càng nhận ra câu này đúng như thế nào, nhận ra cuối cùng, đó là lựa chọn mà tất cả chúng ta phải chọn, cả theo cách chúng ta được hình thành và những giới hạn nội tại của cuộc đời. Tại sao? Cuộc đời và chúng ta có gì không ổn sao? Tại sao chúng ta không thể tìm được một nơi yên bình giữa điên loạn và thánh thiện?

Tác giả sách Giảng viên đã cho chúng ta một lý do. Ông viết một câu văn mỹ miều thường được trích dẫn về việc chuyện gì cũng có thời: một thời để chào đời, một thời để lìa thế; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây; một thời để giết chết, một thời để chữa lành; một thời để khóc lóc, một thời để vui cười; một thời để than van, một thời để múa nhảy; một thời để ôm hôn, một thời để tránh hôn; một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng; một thời để yêu thương, một thời để thù ghét; một thời để gây chiến, một thời để làm hòa – rồi sau đó, ông lại nói cho chúng ta, Thiên Chúa đã đặt một nhịp điệu mỹ miều cho cuộc sống và làm cho mọi thứ đẹp đẽ vào thời của nó, nhưng Thiên Chúa đã đưa sự vô tận vào tâm hồn con người, nên từ đầu đến cuối, chúng ta cứ lạc nhịp với các thời. Thiên Chúa đã thiết lập một nhịp điệu mỹ miều cho tự nhiên, nhưng chúng ta, khác với những nguyên tố vật lý, khác với thực vật và động vật vốn không có sự vô tận trong linh hồn, nên chúng ta không bao giờ quá hòa hợp với nhịp điệu đó. Chúng ta cưu mang quá nhiều, vượt quá cuộc sống đời này. (Giảng viên 3, 1-11)

Quý vị sẽ thấy cách diễn tả này trong các tác phẩm cả tôn giáo lẫn thế tục. Chẳng hạn, thần học gia người Đức Karl Rahner từng quả quyết, trong sự giày vò của việc bất đạt mọi thứ khả đạt, chúng ta học được, cuộc đời không có bản hòa âm trọn vẹn. Và lời này vang vọng câu nói bất hủ của Thánh Augutinô, một lời vẫn đúng và thích hợp cho thời nay, dù đã được viết cách đây 17 thế kỷ: “Lạy Chúa, Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.” Một câu thể hiện cả nhận thức bất di bất dịch về con người và con đường bất di bất dịch mà con người phải đi. Chúng ta không có mái ấm tối hậu và đó là lý do vì sao, đến cuối cùng, chúng ta chẳng có lựa chọn nào khác ngoài phát điên hoặc nên thánh. Chẳng ngạc nhiên khi bà Ruth Burrows, ngòi bút thiêng liêng trứ danh đã mở đầu tự truyện của bà với câu: “Tôi được sinh ra trong thế giới này với sự nhạy bén bị giày vò và cuộc sống của tôi chẳng dễ dàng gì.”

Mô-típ này xuất hiện khắp trong văn học tôn giáo, nó cũng xuất hiện trong suy nghĩ của nhiều thi sĩ, văn sĩ và triết gia thế tục. Ví dụ nhà văn Albert Camus, người tự cho là vô thần, sau khi được giải Nobel Văn học, ông trả lời một phóng viên hỏi ông có tin vào Thiên Chúa không: “Không, tôi không tin vào Thiên Chúa, nhưng không phải vì vậy mà tôi không bị ám ảnh với câu hỏi về Thiên Chúa.” Tại sao ông lại bị ám ảnh này? Vì trong suy nghĩ của ông, ông không thể nào lý giải được, thế giới cũng không tìm được một nơi hoàn toàn hợp lý trên thế giới cho con người, trừ phi, nơi đó có Thiên Chúa. Không có Thiên Chúa, sự hiện hữu của con người không thể nào thấy bình an với chính mình. Ông xem tình trạng của một con người trong thế giới này giống tình trạng của tù nhân nhà tù thời Trung cổ nào đó, nơi ngươi ta bắt tù nhân ở một phòng giam quá nhỏ đến nỗi họ không bao giờ có thể đứng thẳng hoặc nằm duỗi hoàn toàn. Cảm giác tù túng mãi mãi này cuối cùng có thể làm tinh thần của tù nhân suy sụp. Theo Camus, tình trạng trong đời của chúng ta cũng vậy. Chúng ta không bao giờ có thể thật sự đứng thẳng hoặc nằm duỗi thẳng hoàn toàn toàn. Cuối cùng, chuyện này sẽ làm tinh thần chúng ta suy sụp, chúng ta hoặc phát điên hoặc nên thánh. Đây cũng là quan điểm căn bản của các nhà triết học hiện sinh vô thần khác như Martin Heidegger hay Jean-Paul Sartre.

Phát điên hoặc nên thánh. Tác giả Richard Rohr còn cho chúng ta một lựa chọn thứ ba, đó là cay đắng. Ông cho rằng khi đến một tuổi nào đó, chúng ta chỉ có ba lựa chọn: Chúng ta có thể trở thành một người già thảm hại, một người già cay đắng, hoặc một người già thánh thiện. Quý vị lưu ý, đây là chuyện bất di bất dịch. Cuối cùng chúng ta đều là người già. Chúng ta chỉ được lựa chọn xem mình sẽ trở thành người già nào – điên cuồng, cay đắng hay thánh thiện.

Sự thinh lặng của Thiên Chúa trước sự dữ

Các thần học gia đôi khi cố gói gọn ý nghĩa sự sống lại của Chúa Giêsu bằng một câu: “Trong sự phục sinh, Thiên Chúa chứng thực cho Chúa Giêsu, cho cuộc sống, sứ điệp và lòng trung tín của Ngài”. Như vậy nghĩa là gì?

Chúa Giêsu đi vào thế gian để rao giảng về đức tin, tình yêu và sự tha thứ, nhưng thế gian không đón nhận. Thay vào đó, thế gian đóng đinh Ngài trên thập giá, và hành động đó dường như cũng là chế giễu thông điệp của Ngài. Chúng ta thấy điều này rõ ràng nhất nơi thập giá, khi Chúa Giêsu bị sỉ nhục, chế giễu và thách thức: Nếu ông là con Thiên Chúa thì xuống khỏi đó đi! Nếu thông điệp của ông là đúng, thì để Thiên Chúa xác nhận ngay đi! Nếu lòng trung tín của ông không phải chỉ là sự cứng đầu và ngu muội của con người, vậy tại sao ông lại chết trong tủi nhục?

Thiên Chúa đáp lại thế nào với những lời chế nhạo này? Dường như Ngài chẳng có đáp lại gì, chẳng có bình luận, biện hộ, biện giải, phản bác gì, chỉ có thinh lặng. Chúa Giêsu chết trong thinh lặng. Cả Chúa Giêsu lẫn Thiên Chúa mà Ngài tin đều không cố gắng lấp đầy hố thẳm ghê gớm đó bằng một lời an ủi hay giải thích nào, không thách thức con người nhìn vào bức tranh tổng thể hay nhìn vào những mặt tươi sáng hơn. Hoàn toàn không có gì. Chỉ có thinh lặng.

Chúa Giêsu chết trong thinh lặng, trong thinh lặng của Thiên Chúa và trong vô tri của thế gian. Và chúng ta bực bội trước sự thinh lặng này, cũng như chúng ta bực bội bởi cái dường như chiến thắng của sự dữ, đau đớn và thống khổ nơi trần gian. Thiên Chúa dường như thinh lặng trước sự dữ và cái chết, điều này có thể làm chúng ta bực bội mãi: như trong cuộc diệt chủng Do Thái, những cuộc diệt chủng sắc tộc, những cuộc chiến tranh phi nghĩa và tàn bạo, trong những trận động đất và sóng thần cướp đi hàng ngàn sinh mạng và tàn phá nhiều quốc gia, trong cái chết của vô số người vì ung thư và vì bạo lực, trong những bất công của cuộc đời, trong lề thói của những người vô lương tâm có thể hủy hoại cả một lãnh vực cuộc sống mà không chịu hậu quả gì. Trong mọi chuyện này, Thiên Chúa ở đâu? Câu trả lời của Ngài là câu trả lời nào?

Câu trả lời của Thiên Chúa là sự phục sinh, sự phục sinh của Chúa Giêsu và sự phục sinh mãi mãi của sự thiện trong chính sự sống. Nhưng sự phục sinh không nhất thiết là sự giải cứu. Thiên Chúa không nhất thiết giải cứu chúng ta khỏi những tác hại của sự dữ, hay thậm chí là sự chết. Sự dữ làm việc của nó, thiên tai là thiên tai, và những kẻ vô lương tâm có thể hủy hoại khi họ đang bị ngọn lửa thiêng của sự sống thôi thúc. Thông thường, Thiên Chúa không can thiệp. Biển Đỏ rẽ làm đôi không phải là chuyện chúng ta thấy hàng ngày. Thiên Chúa để những người Ngài yêu thương chịu đau khổ và chết, cũng như Chúa Giêsu để cho Lazarô bạn của Ngài chết và Thiên Chúa để cho Chúa Giêsu chết. Sau đó, Thiên Chúa cứu chuộc, nâng chúng ta lên, trong một chứng thực sâu sắc hơn, trường tồn hơn. Hơn nữa, sự thật của tuyên bố này còn có thể được kiểm nghiệm.

Bất chấp mọi thể hiện ngược lại, đến cuối cùng, tình yêu chiến thắng hận thù. Hòa bình chiến thắng hỗn loạn. Tha thứ chiến thắng chua cay. Hy vọng chiến thắng yếm thế. Trung tín chiến thắng tuyệt vọng. Đức hạnh chiến thắng tội lỗi. Lương tâm chiến thắng nhẫn tâm. Sự sống chiến thắng cái chết, sự thiện chiến thắng sự dữ, luôn là vậy. Mohandas K. Gandhi đã viết: “Khi tôi tuyệt vọng, tôi nhớ lại mọi chuyện đã trải qua suốt dòng lịch sử, chân lý và tình yêu luôn chiến thắng. Có những kẻ sát nhân và bạo chúa, và chúng dường như bất khả chiến bại suốt một thời gian. Nhưng đến tận cùng, chúng luôn sụp đổ. Cứ nghĩ đi, luôn là thế”.

Sự phục sinh đã chứng thực điều đó một cách mạnh mẽ nhất. Đến cuối cùng, Thiên Chúa là người phán quyết. Sự phục sinh của Chúa Giêsu chính là phán quyết đó. Từ tro tàn của hổ thẹn, của cái dường như là thất bại và cái chết, một sự sống bất diệt mới thâm sâu hơn tuôn trào vĩnh viễn. Đức tin của chúng ta bắt đầu từ chính lúc mọi sự dường như kết thúc, từ trong cái dường như là sự thinh lặng của Thiên Chúa trước sự dữ.

Và điều này yêu cầu chúng ta điều gì?

Trước hết, đơn giản là yêu cầu chúng ta tin vào sự thật của sự phục sinh. Sự phục sinh yêu cầu chúng ta tin vào điều mà Gandhi đã xác nhận, cụ thể là, đến cuối cùng, sự dữ sẽ không có quyền phán quyết. Nó sẽ thất bại. Sự thiện cuối cùng sẽ chiến thắng.

Cụ thể hơn nữa, sự phục sinh yêu cầu chúng ta đánh cược vào tin tưởng và sự thật, tin tưởng rằng lời Chúa Giêsu dạy là đúng. Đức hạnh không ngây dại, kể cả khi bị sỉ nhục. Tội lỗi và yếm thế mới ngây dại, kể cả khi chúng có vẻ đang chiến thắng. Những ai đã dùng lương tâm mà cúi mình trước Thiên Chúa và tha nhân, thì sẽ tìm được ý nghĩa và niềm vui, kể cả khi họ bị tước đi một số lạc thú thế gian. Những ai vô lương tâm múc lấy và thao túng sinh lực thần thiêng thì sẽ không tìm được ý nghĩa sứ sống, kể cả khi họ đã nếm trải lạc thú. Những ai sống trung thực bằng mọi giá, thì sẽ tìm được tự do. Những ai dối trá và lý luận sẽ thấy mình bị cầm tù trong sự ghét mình. Những ai sống trong tin tưởng thì sẽ tìm được tình yêu. Có thể tin tưởng sự thinh lặng của Thiên Chúa, kể cả khi chúng ta chết trong đó. Chúng ta cần phải giữ vững sự thành tín trong tình yêu, tha thứ và lương tâm, bất chấp tất cả đang cho rằng chúng ta làm thế là ngây dại. Chúng sẽ cho chúng ta điều sâu thẳm nhất trong sự sống. Đến cuối cùng, Thiên Chúa chứng thực cho đức hạnh. Thiên Chúa chứng thực cho tình yêu. Thiên Chúa chứng thực cho lương tâm. Thiên Chúa chứng thực cho sự tha thứ. Thiên Chúa chứng thực cho sự trung tín. Đến tận cùng, Thiên Chúa chứng thực cho Chúa Giêsu và chứng thực cho cả chúng ta nếu chúng ta vẫn giữ lòng trung tín.

Sự Thương Khó của Chúa Kitô là thụ động

Chúng ta gọi các đoạn Phúc âm kể lại cuộc đời Chúa Giêsu tính từ bữa Tiệc ly cho đến khi Ngài chết và được mai táng là “Sự thương Khó”. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, người đọc sách mở đầu bài Phúc âm: “Cuộc thương khó của Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan”.

Tại sao chúng ta gọi cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu trước khi chết là thương khó?

Thường thì chúng ta không hiểu đúng chuyện này. Chúng ta thường nghĩ “thương khó” là đau khổ dữ dội. Nghĩ như thế cũng không sai, nhưng lại bỏ sót một điểm chính. “Thương Khó”, hay “Passion” trong tiếng Anh, có gốc La Tinh là PASSIO, nghĩa là thụ động, không hoạt động, hấp thụ hơn là làm gì đó. Vì vậy, “Thương khó” của Chúa Giêsu là nói đến thời gian trong cuộc đời mà ý nghĩa của Ngài đối với chúng ta không được xác định bằng những gì Ngài làm nhưng qua những gì đến với Ngài. Như thế có nghĩa là gì?

Cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giêsu có thể chia thành hai phần riêng biệt, các học giả ước tính Chúa Giêsu có khoảng ba năm rao giảng và dạy dỗ trước khi bị giết. Phần lớn thời gian đó, thật ra chỉ trừ ngày cuối cùng, Ngài rất năng động, chỉ đạo, dạy dỗ, chữa bệnh, làm phép lạ, khuyên nhủ, ăn uống cùng tội nhân, tranh luận với các giới chức trong hội đường, và Ngài thường làm bằng đủ hoạt động, Ngài mời gọi những người cùng thời với Ngài đến với sự sống của Thiên Chúa. Và Ngài quá bận rộn, quá áp lực đến nỗi không có thời gian để ăn. Hầu hết quãng đời công khai của mình, Chúa Giêsu tích cực làm việc.

Tuy nhiên, từ lúc Ngài bước ra khỏi phòng tiệc ly, sự hoạt động đó dừng lại. Ngài không còn là người làm việc này việc kia cho người khác, mà là người bị người khác làm gì đó với mình. Trong vườn, họ bắt Ngài, trói tay Ngài, dẫn Ngài đến chỗ thượng tế, rồi đến dinh Philatô. Ngài bị đánh đập, bị sỉ nhục, bị lột áo quần, và cuối cùng bị đóng đinh trên thập giá rồi chết. Điều này cấu thành nên “sự thương khó” của Chúa Giêsu, thời gian trong cuộc đời và sứ vụ mà Ngài không còn là người hành động mà là người nhận lấy hành động.

Điều đặc biệt qua chuyện này, chính đức tin dạy chúng ta, chúng ta được cứu rỗi nhờ sự thương khó của Chúa Giêsu (nhờ cái chết và đau khổ của Ngài) hơn là nhờ mọi hoạt động rao giảng và phép lạ của Ngài. Sao lại như thế?

Tôi xin phép được minh họa một chút: vài năm trước, em gái Helen của tôi, một nữ tu dòng Ursuline qua đời vì ung thư. Làm nữ tu hơn 30 năm, Helen yêu ơn gọi của mình, và cũng được yêu thương trong ơn gọi đó. Trong hầu hết 30 năm đó, Helen như người mẹ bảo bọc cho hàng trăm cô gái trẻ vào học viện mà Dòng của em mở. Em yêu quý những cô gái này và là người mẹ, người chị, người thầy cho các cô. Trong 20 năm cuối đời, sau khi mẹ chúng tôi mất, em còn đảm nhận vai trò này trong gia đình tôi, sắp xếp mọi thứ và giữ chúng tôi gắn kết với nhau. Suốt bao năm đó, em là người năng động, người làm việc tuyệt vời, người mà ai cũng muốn giao cho em nhiệm vụ đảm trách. Và em có thiên bẩm trong vai trò này, em thích làm việc gì đó cho người khác.

Rồi chín tháng trước khi mất, căn bệnh ung thư đã tàn phá quá đỗi, em phải nằm liệt giường trong nhiều tháng. Bây giờ em cần có người làm gì đó cho mình. Các bác sĩ, điều dưỡng, các chị em trong Dòng và những người khác luân phiên chăm sóc em. Và như Chúa Giêsu từ khi bị bắt cho đến lúc chết, cơ thể em xuống sức, em phải để người khác dìu dắt, thay áo quần, di chuyển và bị người đi ngang qua tò mò nhìn. Như Chúa Giêsu, em chết khát, phải có người dùng miếng bọt biển thấm vào môi để nhấp chút nước.

Đó là sự thương khó của em. Em đã dành nhiều năm cuộc đời để làm việc cho người khác, giờ em phải chấp nhận để người khác làm việc cho em. Nhưng mấu chốt là ở đây, như Chúa Giêsu, trong giai đoạn cuộc đời, khi bất lực và không còn là người đảm trách, em lại đem lại sự sống và ý nghĩa cho người khác một cách thâm sâu hơn những gì em đã làm trong những năm hoạt động tích cực và làm quá nhiều việc cho người khác.

Đó là mầu nhiệm sinh hoa trái của thụ động, của bất lực. Và ở đây có một bài học quan trọng, đó là hoa trái tiềm tàng của căn bệnh nan y, của sự khuyết tật nghiêm trọng và của bệnh tật. Còn có một bài học nữa về cách chúng ta hiểu được mình có gì để cho người khác trong lúc bản thân đau đớn bệnh tật, bất lực, cần người khác chăm sóc.

Sự thương khó của Chúa Giêsu dạy cho chúng ta, như Chúa Giêsu, chúng ta trao cho người khác lúc bị động cũng nhiều như lúc chúng ta năng động. Khi chúng ta không còn là người đảm trách, khi chúng ta bị đánh gục, bị hạ nhục, bị đau khổ và có khi người thân yêu cũng không hiểu chúng ta, thì đó là lúc chúng ta đang trải qua sự thương khó, và như Chúa Giêsu, chúng ta có cơ hội để trao đi tình yêu của mình một cách rất đỗi thâm sâu.

Đề xuất một cuốn sách mới

Tôi vừa đọc xong quyển sách mới của tác giả John Mark Comer: Thực hành Con đường – Ở cùng Giêsu; Nên như Ngài; Làm như Ngài (Practicing the Way – Be with Jesus; Become like him; Do as he did). Khi giới thiệu, tôi muốn đưa ra một loạt câu trích trong sách mà tôi mong quý độc giả sẽ thấy thú vị về cả ngôn ngữ lẫn nội dung tinh túy của quyển sách.

  • Ân sủng không đối lập với nỗ lực, mà đối lập với sự kiếm được. Đáng buồn thay, sự hiểu lầm bi thảm này thường sinh sản ra những người tận dụng giá trị của Chúa Giêsu thay vì là môn đệ của đường lối Chúa Giêsu.
  • Không có Thiên Chúa, chúng ta không thể, không có chúng ta, Thiên Chúa sẽ không làm vậy. Và như Thomas Keating nói, hành động chính của ý chí không phải là nỗ lực mà là sự đồng ý.
  • Kẻ thù chính của đời sống thiêng liêng là vội vã. Chúng ta phải loại bỏ vội vã ra khỏi đời mình. Hầu hết chúng ta quá bận để sống lành mạnh về mặt cảm xúc và tâm linh. (Trong nỗ lực để sống chậm lại, tác giả Comer đã hai lần bỏ việc. Ông chỉ hối tiếc một điều là đã không làm sớm hơn).
  • Sự cứu rỗi là một trải nghiệm chung. Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ, chứ không gọi một môn đệ. Sống trong cộng đoàn không dễ nhưng đáng để sống. Khi đời sống cộng đoàn không ổn, ai cũng có thể thấy đó là chuyện kinh dị, nhưng khi đời sống cộng đoàn ổn, thì đó chính là một chút hé nhìn vào sự sống bất diệt.
  • Bạn muốn bài điếu văn trong đám tang của mình như thế nào?
  • Bạn có đang ngày càng yêu thương, không chỉ với bạn bè và gia đình mà còn với kẻ thù của mình không? Khi bị tổn thương, bị đối xử bất công (chúng ta đều vậy), bạn có thấy mình ngày càng dễ bộc lộ cay đắng, chịu đựng nỗi đau và không đáp trả bằng sự tử tế không? Bạn có thể cầu nguyện và thậm chí là chúc lành cho người nguyền rủa bạn không?
  • Điều tuyệt vời trong giáo huấn đạo đức của Chúa Giêsu là chúng ta không thể giữ luật bằng cách cố không phạm luật. Đừng đánh giá hành vi bằng “việc này có tội lỗi không?”, mà bằng câu hỏi “việc này đưa mình đến gần hay xa Chúa Giêsu”?
  • Về chữa lành: chỉ cần một điều duy nhất: cởi mở nỗi đau của mình với Thiên Chúa. Khởi đầu của sự cứu rỗi chính là thành thật đối diện với những yếu đuối của mình. Càng trốn tránh, càng khó chữa lành. Không phải đối diện mới có thể thay đổi được, nhưng không đối diện thì không bao giờ thay đổi được. Thường thì chúng ta phạm tội một mình, nhưng chữa lành thì chúng ta cùng nhau chữa lành.
  • Tại sao bạn phải đấu tranh? Vì có lẽ Chúa Giêsu ở trong lòng bạn, nhưng tổ tiên lại ở trong xương tủy bạn. Khi ma quỷ tìm đến ông A-dong và bà E-và trong vườn Địa đàng, nó không cầm theo cây gậy mà đến, nó mang theo một ý tưởng đến. Hãy chú ý đến sự ghen tị của bạn. Đẩy lùi những thế lực làm méo mó bạn.
  • Thế hệ chúng ta đang chứng kiến một sự đổi chiều khổng lồ trong lịch sử nhân loại, sự đổi chiều từ cuộc cách mạng công nghiệp sang thế giới kỹ thuật số. Thời đại kỹ thuật số làm chúng ta được kết nối hơn bao giờ hết. Nhưng các nhà xã hội học cho rằng, chúng ta là thế hệ cô đơn nhất. Con đường tiến tới liệu có thể nào đơn giản là gặp gỡ mọi người trong nỗi đau của họ không? Về việc dùng truyền thông điện tử: Hãy tự mình chọn những ràng buộc, hoặc chúng sẽ chọn mình.
  • Ảo tưởng văn hóa lớn của chúng ta chính là nghĩ sự tiến bộ của chúng ta có thể: Dễ dàng, Nhanh chóng và Trong tầm kiểm soát.
  • Khi chay tịnh là ta đang cầu nguyện bằng cơ thể.
  • Bạn không thể suy nghĩ theo cách của mình để nên giống Chúa Kitô.
  • Không thể nào học theo Chúa Giêsu mà không bị tác động lên cuộc sống của mình. Theo Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải để lại gì đó. Với Phêrô, là để lại lưới đánh cá. Còn với bạn là gì? Theo Chúa Giêsu sẽ làm cho bạn mất một cái gì đó, nhưng không theo Ngài thì bạn sẽ mất nhiều hơn, sẽ mất hạnh phúc và bình an. Trích lời nhà truyền giáo tử đạo Jim Eliot: “Người từ bỏ cái mình không thể giữ để đạt được cái mình không thể đánh mất, thì không phải là người dại”.
  • Hầu hết mọi người nghĩ rằng họ sẽ ngày càng nên giống Chúa Giêsu bằng cách cố gắng hết sức thay vì rèn luyện hết sức. Chúng ta không chạy marathon bằng cách cố gắng hết sức, nhưng bằng cách rèn luyện. Rèn luyện, chứ không phải cố gắng, mới là bí quyết để trở nên giống Chúa Giêsu. Các tu sĩ làm gì trong tu viện? Họ vấp ngã và đứng lên, lại vấp ngã và đứng lên.
  • Có bốn mức độ cầu nguyện: Nói với Thiên Chúa, chuyện trò với Thiên Chúa, lắng nghe Thiên Chúa, ở cùng Thiên Chúa.
  • Nếu muốn có thêm Thiên Chúa, hãy buông Ngài ra.
  • Chúng ta không thể chết trên mọi thập giá, và cũng không được kỳ vọng nên như thế.
  • Trích lời thánh Isaac người Syria: “Lời nói là cơ quan của thế giới hiện tại. Thinh lặng là bí ẩn của thế giới sắp đến”.
  • Chín quy tắc sống của ngài để thực hành Đạo là:
  1. Thực hành ngày Sabát trong một nền văn hóa hối hả và kiệt lực.
  2. Thực hành cô tịch trong một văn hóa ồn ào và bồn chồn.
  3. Thực hành cầu nguyện trong một văn hóa xao lãng và thoát ly thực tế.
  4. Thực hành tính cộng đồng trong một nền văn hóa cá nhân và hời hợt.
  5. Thực hành kinh thánh trong một nền văn hóa bị tiêm nhiễm và thỏa hiệp ý thức hệ.
  6. Thực hành chay tịnh trong một nền văn hóa buông thả.
  7. Thực hành quảng đại trong một nền văn hóa tiêu thụ.
  8. Thực hành phục vụ trong một nền văn hóa bất công và chia rẽ.
  9. Thực hành lòng hiếu khách trong một nền văn hóa thù địch.

Nhưng một loạt câu trích tôi đưa ra đây không thể nào thay thế được cho việc trực tiếp đọc quyển sách này.

Luôn mãi đi trước linh hồn mình

Đôi khi, không có gì hữu ích cho bằng một ẩn dụ tốt.

Trong quyển sách Bản năng Thiên Chúa (The God Instinct) của tác giả Tom Stella, ông chia sẻ câu chuyện sau: Một ngày nọ, vài phu khuân vác được thuê vận chuyển một khối lượng lớn hàng tiếp tế cho một nhóm thợ săn. Các gói hàng này nặng bất thường và đường mòn trong rừng già lại rất khó đi. Sau vài ngày đi đường, họ dừng lại, dỡ hàng xuống và không chịu đi nữa. Không một lời năn nỉ, đe dọa nào có thể thuyết phục họ tiếp tục hành trình. Khi được hỏi vì sao họ không thể đi tiếp, họ trả lời: ‘Chúng tôi không thể đi tiếp, chúng tôi phải chờ cho linh hồn chúng tôi bắt kịp đã.’

Chuyện này cũng có thể xảy ra trong cuộc sống chúng ta, ngoại trừ, gần như không bao giờ chúng ta chờ cho linh hồn bắt kịp mình. Chúng ta cứ tiếp tục đi mà không có linh hồn, có khi suốt nhiều năm ròng. Như vậy có nghĩa là gì? Gần như chúng ta cố gắng, để trong giây phút hiện tại chúng ta thoải mái với chính mình, để ý thức được sự phong phú trong trải nghiệm bản thân. Gần như các trải nghiệm của chúng ta không thuộc phần hồn cho lắm, vì chính chúng ta không hiện diện với nó. Ví dụ:

Trong 20 năm vừa qua, mỗi ngày tôi viết một loại như viết nhật ký. Ý tôi muốn giữ thói quen này để ghi lại những sự việc thâm sâu tôi nhận thức trong ngày, nhưng cuối cùng, những gì tôi viết lại giống như một loại biên niên sử đơn giản của ngày sống, một quyển đơn thuần kể lại những gì tôi đã làm hết giờ này đến giờ khác mà thôi. Nhật ký của tôi chẳng giống gì với Nhật ký của Anne Frank, quyển Marking của cố thư ký Liên Hiệp Quốc Dag Hammarskjold, hay Nhật ký Genesee của cha Henri Nouwen. Nhật ký của tôi giống quyển tập của một cậu bé trung học kể chuyện một ngày ở trường. Nhưng khi lật giở và đọc lại một bài, tôi luôn kinh ngạc thấy ngày sống hôm đó thật phong phú và trọn vẹn, ngoại trừ một việc là lúc viết, tôi không nhận ra điều này. Trong khi tôi đã thực sự sống những ngày như thế, vậy mà hiện nay tôi vẫn còn vất vả để cố gắng hoàn thành công việc, để được lành mạnh, để theo kịp các kỳ vọng, để có được những thời khắc thân ái và sáng tạo giữa các áp lực thường nhật, và để đi ngủ cho đúng giờ đúng giấc. Trong phong cách này, không có nhiều phần hồn, chỉ có một đống lịch trình, công việc và vội vã.

Tôi ngờ rằng đây không phải chuyện gì xa lạ. Tôi ngờ rằng hầu hết chúng ta, sống ngày này qua ngày khác mà không nhận ra cuộc sống của mình phong phú biết bao, và như thế cứ luôn mãi để cho linh hồn bị đi lui lại đằng sau. Chẳng hạn, nhiều phụ nữ mất 10, 15 năm cho việc nuôi dạy con cái, luôn chăm lo cho nhu cầu người khác, nửa đêm thức giấc lo cho con, 24 tiếng một ngày luôn trong tình trạng ứng trực, hy sinh hết thời gian vui thích của mình, tạm gác sự nghiệp và sáng tạo của mình qua một bên. Và cũng rất thường, những phụ nữ này khi nhìn lại năm tháng đã qua này, họ mong muốn làm lại như vậy. Nhưng nhìn theo khía cạnh xúc cảm phần hồn, họ nhận thức rõ rệt, thật tuyệt vời và đặc ân khi được làm những gì mình đã làm với sự chán chường và bức xúc. Nhiều năm về sau, nhìn lại, họ thấy trải nghiệm này thật phong phú và quý báu, và cũng sẽ thấy thời đó họ đã để quá ít phần hồn trong những gì họ đã thực sự trải qua.

Chúng ta có thể kể hàng ngàn ví dụ như ví dụ này. Chúng ta tất cả đều từng đọc đâu đó những chia sẻ về việc mình sẽ sống khác đi nếu được sống lần nữa. Hầu hết câu chuyện như thế có cùng một môtíp chung. Nếu có cơ hội khác, tôi sẽ cố gắng tận hưởng cuộc đời hơn, nghĩa là tôi sẽ cố gắng để tâm hồn và có ý thức hơn vào chuyện đó.

Tôi e là với hầu hết chúng ta, linh hồn sẽ chỉ bắt kịp chúng ta khi chúng ta già, khi sức khỏe sinh lực và cơ hội làm việc tan biến dần dần. Có vẻ như trước hết chúng ta cần phải mất đi điều gì đó trước khi trân trọng nó cho trọn vẹn. Chúng ta có khuynh hướng xem sức khỏe, sinh lực và công việc là chuyện đương nhiên, cho đến khi chúng ta rời xa chúng. Chỉ sau khi đó, chúng ta mới nhận ra cuộc sống của mình thật phong phú biết bao, và nhận ra thời đó, chúng ta đã nhận sự phong phú đó ít ỏi biết bao.

Linh hồn của chúng ta cuối cùng cũng bắt kịp chúng ta, nhưng sẽ thật tốt nếu chúng ta không để cho đến khi vào viện dưỡng lão mới có được điều này. Cũng như các phu khuân vác đã để các thùng hàng xuống và dừng bước, thì chúng ta cũng cần đều đặn dừng lại và chờ cho linh hồn bắt kịp mình.

Khi mới làm linh mục, Đức Phanxicô phụ trách một trường học. Và mỗi ngày, ở một thời điểm cố định, ngài có vài lời trên loa phóng thanh, chen vào những việc đang diễn ra trong từng lớp học.

Xin các con hãy biết ơn. Xin các con định hình tầm nhìn của mình. Và xin các con tận dụng ngày sống của mình.

Già đi như một tu viện tự nhiên

Tu viện là gì? Tu viện hoạt động như thế nào? Thánh Biển Đức (480-547 TCN) được xem là nhà sáng lập đời sống tu viện Tây phương, ngài có lời khuyên như luật căn bản cho các tu sĩ của ngài: Hãy ở trong phòng của mình, nó sẽ dạy anh em mọi điều anh em cần biết. Hiểu cho đúng, đây là một ẩn dụ phong phú, chứ không phải lời khuyên theo nghĩa đen. Khi nói đến một tu sĩ ở trong phòng và để việc đó dạy mình những gì mình cần biết, ngài không nói đến căn phòng tu sĩ trong tu viện. Ngài đang nói đến tình trạng sống hiện tại của một tu sĩ hay của bất kỳ ai.

Đôi khi, điều này được linh đạo kitô giáo gọi là trung thành với bổn phận hiện tại. Ý nghĩa là nếu chúng ta trung thành với tình yêu và có thiện tâm với tình trạng cuộc sống hiện tại của mình, thì cuộc sống tự nó sẽ làm cho chúng ta trưởng thành và nhân đức. Ví dụ, một người mẹ hy sinh, tận tụy hết lòng nuôi con, bà sẽ trưởng thành và vị tha qua quá trình bà. Nhà của bà sẽ là căn phòng tu sĩ của bà và nói theo ẩn dụ, bà sẽ là tu viện trưởng của tu viện mình (cùng vài tu sĩ rất nhỏ tuổi) và việc ở trong tu viện này, là mái nhà của bà, nó sẽ dạy cho bà mọi điều bà cần biết. Bà sẽ nuôi dạy con cái, nhưng con cái cũng sẽ nuôi dạy bà. Tình mẫu tử sẽ dạy bà những gì bà cần biết và sẽ làm cho bà thành một vị trưởng bối khôn ngoan, một Khôn ngoan kinh điển và gương mẫu.

Quá trình già đi chính là một tu viện tự nhiên. Nếu sống đủ lâu, cuối cùng quá trình già đi sẽ biến tất cả mọi người thành tu sĩ. Các tu sĩ có bốn lời khấn: khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục và kiên vững. Quá trình già đi (dường như tàn nhẫn) đưa chúng ta đến với việc bị loại ra rìa, phải phụ thuộc vào người khác, mất đi đời sống tình dục năng nổ, và đi vào tình trạng sống không lối thoát, có thể nói là áp đặt bốn lời khấn đó lên chúng ta. Nhưng như lời khuyên của Thánh Biển Đức, điều này có thể dạy cho chúng ta mọi điều chúng ta cần biết, và nó có sức mạnh độc nhất vô nhị làm chúng ta trưởng thành một cách rất sâu sắc. Các tu sĩ có những bí quyết đáng để chúng ta học hỏi. Quá trình già đi cũng vậy.

Đây có thể đem lại hiểu biết đặc biệt về cách chúng ta có thể biến những ngày tháng cuối đời và cái chết của chúng ta thành một món quà tận căn cho người khác. Trong những thế kỷ đầu của kitô giáo, tử đạo là cách lý tưởng để một tín hữu kết thúc hành trình dương thế. Nó được xem là cách triệt để để noi gương Chúa Kitô và biến cái chết của mình thành một ơn. Dĩ nhiên, sau khi kitô giáo thành quốc giáo và các đại đế không còn giết hại kitô hữu nữa, thì chuyện này cần được suy nghĩ lại. Từ đó đã có nhiều nỗ lực để tử đạo có thể hiểu theo nghĩa bóng. Có một cách phổ biến là sau khi nuôi dạy con cái trưởng thành và đến tuổi về hưu, hai vợ chồng sẽ rời nhau và mỗi người đến một tu viện để sống phần đời còn lại như tu sĩ.

Các nhà thần nghiệm kitô giáo kinh điển nói, trong giai đoạn cuối đời, chúng ta nên đi vào điều mà họ gọi là đêm tối tâm hồn, cụ thể là chúng ta chủ động đưa ra quyết định triệt để dựa trên đức tin, bước vào một tình trạng sống mà chúng ta không còn chăm sóc cho bản thân mình, mà phải tin tưởng, với một đức tin thuần túy nhất, rằng Thiên Chúa sẽ chu cấp cho chúng ta. Điều này cũng tương tự với linh đạo của Ấn giáo, cho rằng trong giai đoạn cuối cùng, trưởng thành trọn vẹn của cuộc đời, chúng ta nên trở thành môn đệ sannyasin, hành khất già thánh thiện.

Tôi nghĩ rằng, hầu hết chúng ta sẽ không bao giờ chủ động cắt đứt mọi an toàn cũ của mình để đặt mình vào tình trạng mà chúng ta bất lực trong việc chu toàn và chăm sóc bản thân. Nhưng đây là lúc thể hiện vị trí của mình một cách tự nhiên. Quá trình già đi sẽ làm điều đó cho chúng ta. Nó sẽ biến chúng ta thành môn đệ sannyasin và đưa chúng ta vào đêm tối tâm hồn.

Như thế nào? Khi già đi, sức khỏe suy yếu và thấy bị đẩy ra rìa hơn, không còn một vị trí quan trọng trong xã hội, chúng ta sẽ dần mất đi năng lực tự chăm sóc cho bản thân. Cuối cùng, nếu sống đủ lâu, hầu hết chúng ta sẽ chuyển sang sống trong cơ sở hỗ trợ sinh hoạt, và nó là một tu viện tự nhiên.

Đúng là một ẩn dụ quá thích hợp! Cơ sở hỗ trợ sinh hoạt như một tu viện tự nhiên. Ẩn dụ này cũng thích hợp cho ý nghĩa của việc (bị cưỡng bách) bước vào đêm tối tâm hồn và việc làm môn đệ sannyasin, hành khất già thánh thiện. Thực chất nó mang ý nghĩa: khi ai đó sống trong cơ sở hỗ trợ sinh hoạt, thì dù người đó là triệu phú hay người bần cùng, thì luật cũng như nhau. Vì chúng ta không thể chăm sóc cho bản thân (và thật sự là không cần phải làm thế), thì chúng ta sống một cuộc sống tu viện vâng phục và phụ thuộc.

Khi cần hỗ trợ sinh hoạt, là chúng ta sống theo tiếng chuông tu viện và chết như một hành khất già thánh thiện.

Trò chơi Tuần lộc

Tôi ghét đám đông, ít nhất là ghét hầu hết các đám đông. Tôi thoải mái với các trận bóng, khi đám đông tạm gác sự tỉnh táo để bung tỏa cảm xúc trong vài tiếng. Nhưng tôi ghét các đám đông chìm trong cơn say do suy nghĩ tập thể gây ra, dù là thời trang văn hóa, hệ tư tưởng chính trị, chủ nghĩa tôn giáo chính thống cực đoan, kỳ thị chủng tộc vô thức, chủ nghĩa dân tộc lầm lạc, hay một loại bốc đồng bất cứ ở dạng nào. Tôi sợ đám đông như thế vì dù tiếng nói của chúng đến từ cánh tả hay cánh hữu, bảo thủ hay tự do, thì trong những tiếng vọng của nó, đó là những đe nẹt, đòi đóng đinh, đòi xử tử không cần xét xử, đòi diệt chủng, ám sát, chiến tranh, đàn áp ngôn luận, và ngày nay là cả những thiếu niên tự tử vì bị bắt nạt trên mạng. Đám đông thiên hình vạn trạng, nhưng xu hướng và năng lượng của đám đông lúc nào cũng như nhau.

Milan Kundera là tác giả yêu thích của tôi, ông là nhà văn người Czech, ông cũng ghét đám đông như tôi. Nơi đám đông, ông thấy một thứ mà ông gọi là “cuộc đại tuần hành”, cụ thể là một cuộc tuần hành mù quáng, vô tri, hướng đến chủ nghĩa toàn trị kiểu này hay kiểu khác. Đám đông với ý định hệ tư tưởng luôn kết thúc như thế.

Nhưng điều này khơi lên một câu hỏi: Còn những đám đông (tuần hành, biểu tình, đình công, ngồi phản đối) dẫn đến những thay đổi tốt về chính trị, xã hội và thậm chí cả đạo đức thì sao? Những đám đông mà Gandhi đã khởi xướng thì sao? Những đám đông đi theo Martin Luther King thì sao? Những đám đông giúp chấm dứt chế độ kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi thì sao? Những đám đông quy tụ chung quang phong trào Black Lives Matter (Sinh mạng của người Da đen Quý giá) thì sao? Những người họp nhau lại vì chính nghĩa và phải vào tù vì hoạt động của họ thì sao? Đó có phải là những đám đông tốt không?

Đúng, đó là những đám đông tốt, chính xác họ tốt vì họ hữu tri chứ không vô tri, nghĩa là họ tốt đến mức độ không chìm vào cơn sốt của suy nghĩ nhóm và mục đích của họ là để chữa lành một tình trạng bệnh hoạn chứ không phải để thù hận và đóng đinh bất kỳ ai chống đối họ. Chính vì thế mà trong một đám đông như thế, chúng ta không thấy hận thù và bạo lực nơi người lãnh đạo và trong đặc tính chung của họ.

Nhưng dù vậy, chúng ta cũng phải thừa nhận nơi những đám đông này cũng có thù hận và bạo lực, vì một đám đông sẽ luôn có yếu tố bạo loạn. Nhưng thù hận, bạo lực và chủ trương phi chính phủ mà chúng ta thấy ở đó không đại diện cho đám đông tổng thể đó. Những đám đông của Gandhi, của Martin Luther King, Nelson Mandela và Dorothy Day là những gương mặt thật sự, có đặc tính của bất kỳ đám đông nào thật sự có xu hướng thay đổi đạo đức.

Nhưng không phải đám đông nào cũng hữu tri nên không mấy ngạc nhiên khi việc đóng đinh Chúa Giêsu được khơi mào bởi một đám đông (và mỉa mai thay cũng là đám đông cách đó năm ngày đã reo mừng tôn Ngài làm vua). Năng lượng của đám đông là bất định và vô tri. Chính vì thế mà đám đông là thứ đáng sợ, bất kể đám đông đó tôn sùng hay hò hét đòi đóng đinh chúng ta.

Tôi không phải là nhà thơ, nhưng đôi khi có những điều cần đến một dạng ngôn ngữ khác để diễn tả. Vậy nên, tôi xin mượn những câu trong bài hát Giáng Sinh (vô tri) lâu đời và thêm chút bình luận của tôi, để diễn tả cảm giác của tôi về các đám đông theo cách của một thi sĩ, dù có lẽ bạn cũng không xem nó là thơ.

Trò chơi Tuần lộc

Rudolph, con tuần lộc mũi đỏ
Có cái mũi sáng bóng
Và nếu bạn từng thấy
Thì sẽ nói nó sáng bừng
Mọi con tuần lộc khác
Thường cười cợt và chế giễu nó
Chúng không hề để Rudolph tội nghiệp
Tham gia trò chơi tuần lộc nào
Rồi vào đêm Giáng Sinh đầy sương mù
Ông già Noel đến và bảo:
Rudolph với cái mũi sáng bóng
Con kéo xe trượt tối nay cho ông nhé?
Rồi mọi con tuần lộc khác mến nó
Khi chúng vui sướng reo hò
Rudolph mỉm cười…
rồi nó trầm tư nói:
Các bạn ơi, xin thứ lỗi vì sự miễn cưỡng của tôi
Khi thấy tình cảm này
Khác với sự tàn bạo
Khác biệt thì chế giễu – Đóng đinh nó đi!
Chiến thắng thì hân hoan – Phong ngài làm vua!
Cuồng là cuồng
Cuồng loạn kích động
Vô tri và mù quáng
Chỉ vì bản thân
Trò chơi Tuần lộc
Với đám đông luôn mãi kinh ngạc và reo hò
Dù là để phong vương
Hay là để đóng đinh.

Khi đóa hoa đã bừng nở hết

Tâm điểm thâm sâu nhất của chúng ta là gì? Thường thì chúng ta xem nó là phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn, trong linh hồn mình, trọng tâm tình cảm, trọng tâm tinh thần, nơi mà nhà thần nghiệm Thomas Merton gọi là “điểm trinh nguyên” (le pointe vierge). Và đó là những cách hình dung tốt về nó. Nhưng còn một cách khác nữa.

Nhà thần nghiệm kinh điển ThánhGioan Thánh Giá nhìn nhận những điều này một cách khác biệt. Với ngài, tâm điểm thâm sâu nhất của bất kỳ điều gì chính là điểm xa nhất mà sự hiện hữu, năng lực và sức mạnh vận hành, chuyển động của nó có thể đạt đến. Ngài nói thế nghĩa là sao? Căn bản ý ngài như sau: Tâm điểm sâu thẳm nhất của bất kỳ điều gì, của một đóa hoa hay của một con người, đó chính là điểm xa nhất mà sự đó có thể vươn đến trước khi chết.

Chúng ta lấy đóa hoa làm ví dụ: Ban đầu nó là một hạt giống, rồi thành mầm cây, lớn lên thành cây non. Cuối cùng cây đó bừng nở thành đóa hoa đẹp. Đóa hoa đó tồn tại một thời gian rồi bắt đầu héo đi và lụi tàn. Cuối cùng, cái từng là tinh túy của một đóa hoa đẹp biến thành hạt giống, và trong chính hành động chết đi của nó, đóa hoa cho hạt giống để đem lại sự sống mới.

Vì thế với ThánhGioan Thánh Giá, tâm điểm thâm sâu thẳm nhất của một đóa hoa không phải là khoảnh khắc đẹp đẽ, bừng nở của nó, mà là khoảnh khắc cuối cùng, khi hoa nở biến thành hạt giống và có thể tạo nên hạt giống trong chính hành động chết đi đó.

Chuyện này cho chúng ta một bài học, ngược với cách chúng ta thường đánh giá mọi sự. Khi nào thì chúng ta có năng lực sinh sôi nhất? Khi nào thì chúng ta có năng lực dùng cuộc đời của mình để tạo ra những hạt giống đem lại sự sống mới nhất? Tâm điểm sâu thẳm nhất sự trưởng thành của chúng ta là gì?

Thường thì dĩ nhiên chúng ta nghĩ tâm điểm thâm sâu nhất chính là lúc bừng nở, cụ thể là giai đoạn hay khoảnh khắc trong cuộc đời mà chúng ta có sức khỏe, có vẻ đẹp, tài năng, thành tựu và tầm ảnh hưởng làm chúng ta được ngưỡng mộ và có khi còn bị ghen tị. Đó là thời gian trong cuộc đời mà chúng ta thấy mình tốt đẹp nhất, hay như mọi người thường nói, ở đỉnh cao cuộc đời. Đó là sự bừng nở của chúng ta! Là hình ảnh đẹp đẽ nhất của chúng ta, hơn bao giờ hết!

Thánh Gioan Thánh Giá không chê bai thời điểm đó. Nhưng, ngài thách thức chúng ta bước vào thời điểm đó, để tận hưởng, để tạ ơn Thiên Chúa, và dùng những lợi thế, những đặc quyền đi kèm với nó để giúp đỡ tha nhân. Nhưng Ngài không nói đây là đỉnh cao trong sự sinh sôi của chúng ta, không nói đây là khoảnh khắc hay giai đoạn cuộc đời mà chúng ta tạo ra hầu hết hạt giống cho sự sống mới. Không, như đóa hoa tạo ra hạt giống trong chính hành động chết đi, chúng ta cũng có tiềm năng sinh sôi nhất sau khi sự bừng nở, nhường bước cho màu xám của tuổi già, sau khi những thành tựu nhường cho một dạng sinh hoa trái khác.

Cứ hình dung một cô gái trẻ xinh đẹp và tài năng, trở thành một diễn viên nổi tiếng. Ở đỉnh cao sự nghiệp, cô bừng nở hoàn toàn và làm mọi người ngưỡng mộ, có khi còn tôn sùng cô. Ngoài ra, trong đời thực, cô có thể là người quảng đại, người vợ tuyệt vời, người mẹ tận tâm và người bạn tri kỷ đáng tin cậy. Nhưng sự bừng nở của cô không phải là cao điểm của sự trưởng thành, không phải là tâm điểm thâm sâu nhất, không phải là thời điểm trong đời mà cô tạo ra điều đem lại sự sống trực diện nhất. Nhưng chính là lúc cô đã thành người lớn tuổi, vật lộn với sức khỏe giảm sút, vẻ đẹp bên ngoài đã mất đi, phải đối diện với tương lai cần người chăm sóc và cái chết đến gần, như đóa hoa khô đi và biến thành hạt giống, cô có thể cho đi cuộc đời mình, giúp tạo nên sự sống mới theo cách mà cô đã không thể làm khi còn trẻ, hấp dẫn, được ngưỡng mộ, bị ghen tị và bừng nở hoàn toàn.

Tương tự như vậy với một vận động viên ngôi sao. Ở đỉnh cao sự nghiệp, giành chức vô địch, tên tuổi lẫy lừng ai cũng biết, hình ảnh thể thao tươi trẻ của họ xuất hiện khắp nơi, trên báo chí, trên truyền hình, trên các bảng quảng cáo, đó là lúc họ bừng nở hoàn toàn, nhưng lúc đó, họ không sinh sôi mạnh nhất trong việc tạo ra hạt giống đem lại sự sống mới. Mà nó có thể xảy ra sau đó, khi họ đã già, khi quần chúng không còn nhìn nhận họ qua thành tựu, và họ cũng như mọi người khác, tóc bạc, thể chất giảm sút, bị ra rìa và cận kề cái chết. Lúc đó, khi sự bừng nở đã ra đi, trong thời gian cận kề cái chết, họ có thể tạo ra những hạt giống đem lại sự sống mới. Chúng ta thường đồng nhất sự bừng nở đặc biệt với năng lực sinh sôi mạnh mẽ. Nói vậy cũng đúng, sự bừng nở có tầm quan trọng của nó, có mục đích chính đáng và giá trị của nó. Nhưng, một trong những thách thức của chúng ta là cho sự bừng nở đó một ánh mắt ngưỡng mộ mà không ghen tị. Không dễ để làm thế, và chúng ta thường không giỏi làm thế. Nhưng thách thức lớn hơn nữa, chính là học biết được điều mà chúng ta được kêu gọi làm sau khi đóa hoa đã bừng nở hết.

Cầu nguyện bằng thánh vịnh

Trong thánh vịnh, Thiên Chúa cư xử theo những cách mà Ngài không được phép cư xử trong thần học.

Câu này của cố thần học gia Sebastian Moore nên được nêu bật trong thời đại mà ngày càng ít người muốn dùng thánh vịnh để cầu nguyện, vì họ cảm thấy bị xúc phạm với nhiều điều thỉnh thoảng họ gặp phải trong thánh vịnh. Ngày càng có nhiều người phản đối dùng thánh vịnh như một cách cầu nguyện (hoặc họ muốn thanh lọc thánh vịnh), vì các thánh vịnh nói về giết người, báo thù, thịnh nộ, bạo lực, gây chiến và trọng nam khinh nữ.

Một số người nói làm sao họ có thể cầu nguyện với những lời đầy hận thù, thịnh nộ, bạo lực, nói về vinh quang của chiến tranh, về tiêu diệt kẻ thù nhân danh Thiên Chúa? Một số khác thì phản đối tính trọng nam khinh nữ trong các thánh vịnh, khi thần thánh là nam và người nam được tôn sùng quá đáng. Số khác lại thấy khó chịu về mặt thẩm mỹ. Họ phản đối: “Đây là những vần thơ dở!”

Có lẽ các thánh vịnh không phải là thi ca tuyệt mỹ và chắc chắn là thoang thoảng có bạo lực, chiến tranh, thù hận, mong muốn báo thù, tất cả đều nhân danh Thiên Chúa. Phải thừa nhận, nó cũng có tính chất trọng nam khinh nữ. Nhưng những điều này làm cho thánh vịnh có một cách diễn đạt xấu để cầu nguyện sao? Tôi xin phép được đưa ra một vài điểm ngược lại.

Một trong những định nghĩa kinh điển về cầu nguyện là “nâng tâm trí và tâm hồn lên cùng Thiên Chúa”. Đơn giản, rõ ràng, chính xác. Tôi cho rằng vấn đề thật sự, chính là những lúc cầu nguyện, chúng ta hiếm khi thực sự làm vậy. Thay vì dâng lên Thiên Chúa những gì thực sự ở trong tâm trí và tâm hồn, thì chúng ta lại có khuynh hướng xem Thiên Chúa là người mà chúng ta cần giấu diếm chân tướng sự thật của những suy nghĩ và cảm giác trong mình. Thay vì dốc trọn tâm trí và tâm hồn, chúng ta lại thưa với Chúa những gì chúng ta nghĩ là Ngài muốn nghe, những gì không phải là suy nghĩ muốn giết người, khao khát báo thù hay sự thất vọng về Thiên Chúa.

Nhưng, bày tỏ những cảm giác đó mới là điều quan trọng. Điều khiến cho các thánh vịnh đặc biệt thích hợp cho việc cầu nguyện, chính là vì các thánh vịnh không giấu diếm sự thật với Thiên Chúa, mà lại bày tỏ toàn bộ cảm giác thực sự của con người chúng ta. Thánh vịnh là tiếng nói thành thật về những gì đang diễn ra trong tâm trí và tâm hồn chúng ta.

Đôi khi chúng ta cảm thấy tốt đẹp và bộc phát muốn nói ra những lời tôn vinh và cảm tạ, thì thánh vịnh cho chúng ta những lời đó. Những lời này nói về sự tốt lành của Thiên Chúa trong mọi sự, là tình yêu, tình bạn, đức tin, sức khỏe, thức ăn, rượu, và vui hưởng. Nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng cảm nhận như thế. Cuộc sống có những lúc cô đơn, lạnh lẽo, thất vọng, cay đắng âm ỉ hoặc bạo phát. Các thánh vịnh cho chúng ta lời thành thật để có thể mở lòng về những cảm giác âm ỉ này với Thiên Chúa. Cũng vậy, có những lúc chúng ta cảm thấy mình bất xứng, không xứng với sự tin tưởng và yêu thương mình được ban cho. Và thánh vịnh cũng cho chúng ta lời để nói ra, xin Thiên Chúa thương xót và làm mềm trái tim chúng ta, rửa sạch chúng ta và cho chúng ta một khởi đầu mới.

Cũng vậy, có những lúc chúng ta cảm thấy thất vọng cay đắng với Thiên Chúa, và cần cách để bày tỏ. Thánh vịnh cho chúng ta lời để nói ra (“Vì sao Ngài im lặng?”, “Vì sao Ngài quá xa con?”), cho chúng ta ý thức Thiên Chúa không sợ những giận dữ, cay đắng của chúng ta, mà như người cha người mẹ đầy yêu thương, Ngài chỉ muốn chúng ta đến và kể với Ngài những chuyện này. Các thánh vịnh là những phương tiện đầy ơn ích cho việc cầu nguyện, vì chúng nâng lên những suy nghĩ và cảm giác khác nhau của chúng ta lên Thiên Chúa.

Tuy nhiên, có những lý do làm chúng ta thấy khó khăn với thánh vịnh. Trước hết, thời đại chúng ta thường gạt bỏ ẩn dụ và thích hiểu theo nghĩa đen, một vài hình ảnh trong thánh vịnh lại chướng tai gai mắt. Thứ hai, chúng ta có khuynh hướng chối bỏ cảm thức thực sự của mình. Thật khó để thừa nhận những cảm giác mà đôi khi chúng ta đều có, là tự đại, ám ảnh tình dục, ghen tương, cay đắng, hoang tưởng, muốn giết người, thất vọng với Thiên Chúa, hoài nghi trong đức tin. Những lời cầu nguyện của chúng ta quá thường đi ngược lại những suy nghĩ và cảm giác thật của mình. Chúng ta cầu nguyện những điều mà chúng ta nghĩ là Thiên Chúa muốn nghe. Thánh vịnh thì trung thực hơn.

Cầu nguyện với sự trung thực tuyệt đối là một thách thức. Tác giả Kathleen Norris nói như sau: “Nếu cầu nguyện đều đặn, thì không thể nào cầu nguyện cho chuẩn được. Đâu phải lúc nào chúng ta cũng ngồi thẳng thớm, càng không thể lúc nào chúng ta cũng có những suy nghĩ thánh thiện. Khi cầu nguyện, chúng ta đâu thể lúc nào cũng mặc bộ đồ đẹp nhất, thường là mặc những bộ đồ đủ sạch sẽ. Chúng ta đọc quyển sách chúc tụng của Kinh Thánh thông qua mọi tâm trạng và tình trạng cuộc sống. Những lúc thấy thảm thê tột độ, chúng ta vẫn hát. Ngạc nhiên thay, thánh vịnh lại không phủ nhận những cảm giác thật của ta, mà lại cho chúng ta được phản chiếu nó, ngay trước mặt Thiên Chúa và mọi người.” Những câu cách ngôn tạo cảm giác tốt đẹp thể hiện cảm giác chúng ta nên có, chúng không thể nào thay thế được tính thực tế đời thực của các thánh vịnh bày tỏ những cảm giác thật mà đôi khi chúng ta có. Bất kỳ ai nâng tâm trí và tâm hồn lên Thiên Chúa mà không bao giờ nói đến những cảm giác cay đắng, ghen tương, thù hận, ghét bỏ, và chiến tranh, thì nên làm người soạn những câu bắt tai để viết thiệp, chứ đừng đi làm cố vấn tâm linh cho bất kỳ ai.

Đêm tối ngõ cụt

Chuyện gì xảy ra khi chúng ta trải qua đêm tối linh hồn? Chuyện gì đã xảy ra và chúng ta phản ứng như thế nào?

Số lượng sách vở viết về chuyện này có thể chất đầy thư viện, mỗi quyển sách hay mỗi bài viết đều có cái lý riêng của nó, nhưng ở đây, tôi muốn chia sẻ một thấu suốt độc nhất vô nhị của nữ tu dòng Cát Minh Constance FitzGerald, là người được nhiều ngòi bút thiêng liêng trích dẫn khi nói về đêm tối linh hồn.

Sơ dùng từ “ngõ cụt” để diễn tả điều thường được gọi là đêm tối linh hồn. Với sơ, đêm tối linh hồn là khi chúng ta đi đến một ngõ cụt trong cuộc đời về mặt tình cảm, trí tuệ và tưởng tượng. Mọi cách thức chúng ta từng hiểu, từng tưởng tượng, từng cảm nhận trước đây, nhất là những điều liên quan đến Thiên Chúa, đức tin và cầu nguyện, giờ đây không còn hiệu quả nữa. Có thể nói chúng ta bị tê liệt, không thể trở lại như trước, không thể tiến tới. Và một phần sự tê liệt chính là do chúng ta không thể suy nghĩ, cảm nhận hay tưởng tượng để thoát ra khỏi chuyện này. Chúng ta rơi vào ngõ cụt, không lùi được mà cũng không tiến được. Vậy chúng ta phải làm gì? Làm sao để đi ra khỏi ngõ cụt?

Con đường để đi ra không đơn giản cũng không nhanh chóng. Chúng ta không thể tưởng tượng, suy nghĩ hay cảm nhận để thoát ra khỏi nó, bởi vì tầm nhìn, những biểu tượng, những câu trả lời và cảm giác chúng ta cần thì chưa có, hoặc ít ra là chưa có cho chúng ta. Chính vì thế mà chúng ta rơi vào ngõ cụt và bị tê liệt về tình cảm và trí tuệ. Tầm nhìn và những cảm giác mới có thể thiết lập lại tầm nhìn, những suy nghĩ và cảm giác, những điều phải được thai nghén và khai sinh thông qua đau đớn và hoang mang.

Ở giai đoạn này, không có câu trả lời, ít nhất là không có câu trả lời cho chúng ta. Có lẽ bạn đã đọc chuyện về những người đã gặp ngõ cụt, bây giờ họ khuyên cách trải qua đêm tối linh hồn. Những điều này có thể hữu ích, nhưng lòng bạn, trí tưởng tượng và trí tuệ của bạn mới là những gì đang được thử lửa. Biết người khác từng trải qua ngọn lửa đó thì có thể giúp bạn có được tầm nhìn và sự an ủi trong cơn tê liệt, nhưng ngọn lửa đó vẫn phải đi qua đời bạn để bạn thiết lập lại trí tưởng tượng, suy nghĩ và cảm giác của bạn.

Với nữ tu FitzGerald, ở trong trạng thái này chính là ở ngưỡng của giới hạn mà chúng ta có thể tìm ra bản ngã. Đây là lò lửa thanh tẩy trong lòng chúng ta. Và với sơ, lối thoát chính là đi xuyên qua nó. Lối thoát ra khỏi đêm tối dạng này là qua “chiêm niệm”, cụ thể là ở lại trong ngõ cụt, kiên nhẫn chờ đợi với nó, chờ Thiên Chúa phá vỡ ngõ cụt bằng cách biến đổi trí tưởng tượng, trí tuệ và tâm hồn chúng ta.

Cho nên, xét tận cùng, ngõ cụt này là thách thức chúng ta trở nên nhà thần nghiệm, không phải là chúng ta bắt đầu tìm kiếm trải nghiệm tôn giáo phi thường, mà là chúng ta để những ảo tưởng, những biểu tượng rạn vỡ và ý nghĩa mất mát của chúng ta trở thành một không gian để Thiên Chúa có thể thiết lập lại đức tin, cảm giác, tưởng tượng và trí tuệ của chúng ta bên trong một chân trời mới, với mọi sự đều được diễn giải lại triệt để.

Cụ thể chúng ta làm thế nào? Chúng ta chiêm nghiệm thế nào? Bằng cách ngồi xuống trong căng thẳng, bất lực nhưng kiên nhẫn, cởi mở, chờ đợi, và ở lại đó bao nhiêu lâu cần thiết để từ trong sâu thẳm tâm hồn, chúng ta nhận được một cách tưởng tượng, suy nghĩ và cảm nhận mới về Thiên Chúa, đức tin, cầu nguyện để vượt ra khỏi ngõ cụt.

Hơn nữa, những biểu tượng rạn vỡ, ảo tưởng và bất lực không thể suy nghĩ hay cảm nhận lối thoát ra khỏi ngõ cụt, chính nó là điều khẳng định với chúng ta, tầm nhìn mới chúng ta được ban, chính là điều phát xuất từ Thiên Chúa chứ không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng, của phóng chiếu hay tư lợi của bản thân chúng ta.

Một trong những phê phán sâu cay nhất về trải nghiệm tôn giáo là của triết gia Friedrich Nietzsche, ông tuyên bố mọi trải nghiệm tôn giáo, tất cả, xét tận cùng đều là sự phóng chiếu của con người. Ông lập luận chúng ta tạo nên Thiên Chúa theo hình ảnh và hình tượng của mình vì lợi ích của mình, vì thế mà nhiều đức tin và tôn giáo chân thành có thể giả hình và sai lầm. Trả lời cho lập luận này, triết gia, thần học gia Dòng Tên Michael Buckley đã phản bác: Nietzsche đúng 95%. 95% của những điều tự nhận là trải nghiệm tôn giáo thật ra là sự phóng chiếu của con người. Nhưng Nietzsche sai 5%, và 5% đó làm nên sự khác biệt, bởi vì trong 5% đó, sự mặc khải của Thiên Chúa đi vào cuộc sống chúng ta một cách nguyên tuyền, không bị ô nhiễm.

Và 5% đó xảy ra chính xác vào lúc chúng ta đang ở trong đêm tối linh hồn, khi các biểu tượng của chúng ta rạn vỡ, trí tuệ bất lực, tưởng tượng trống rỗng và tâm hồn lạc lối. Chính vào lúc đó, khi chúng ta bất lực không thể tự giúp mình, thì chúng ta cũng bất lực không thể đánh lận hay làm ô nhiễm cách thức Thiên Chúa đi vào chúng ta.

Thiên Chúa có thể đi vào cuộc sống chúng ta một cách thuần khiết, không chút ô nhiễm khi chúng ta đang ở ngõ cụt, không thể lấy tầm nhìn của mình để thay thế tầm nhìn của Thiên Chúa.

Khi chúng ta chống nhau

Đây là chuyện mới hay chỉ là do chúng ta đang ý thức rõ hơn về nó? Hận thù và khinh ghét xuất hiện khắp nơi. Có trong chính phủ, trong cộng đồng, trong Giáo hội, trong gia đình. Chúng ta vật lộn để cư xử có văn minh với nhau, mà hầu như lúc nào chúng ta cũng không làm được, để tôn trọng nhau lại càng khó hơn. Tại sao? Tại sao chuyện này lại xảy ra và ngày càng trầm trọng?

Hơn nữa, về cả hai phía, chúng ta thường biện minh cho sự thù ghét bằng các căn cứ đạo đức, thậm chí là căn cứ Kinh Thánh, nói rằng Kinh cho chúng ta căn cứ để không tôn trọng. Kiểu như, chân lý của tôi quá đúng, còn anh thì quá sai, nên tôi không thể tôn trọng anh và tôi có căn cứ Kinh Thánh để làm thế.

Ngay cả chỉ nhìn lướt qua Kinh Thánh, cũng đủ để chúng ta nhận kiểu này là gì, là biện luận, là tư lợi và là điều xa rời Chúa Giêsu nhất.

Hãy bắt đầu với một điều được Chúa Giêsu dạy từ lâu. Trong sách thánh của Do Thái giáo, có đoạn: “Còn Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối Ta, và hay nể vì khi áp dụng Luật. Tất cả chúng ta chẳng có cùng một cha sao? Chẳng phải cùng một Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta sao? Thế mà sao chúng ta lại bội phản nhau?” (Malachi 2, 8-10). Rất lâu trước khi Chúa Giêsu xuất hiện, linh đạo Do Thái giáo đã yêu cầu phải công bằng và không bao giờ được thiên vị. Tuy nhiên, nó vẫn cho phép ghét kẻ thù và báo thù khi bị ngược đãi, là “mắt đền mắt, răng đền răng”.

Chúa Giêsu đã lật đổ chuyện này. Trong con người và lời dạy của Chúa Giêsu, chính xác nhất là trong Bài giảng Trên núi, Ngài thách thức chúng ta theo một cách mới mẻ triệt để, rằng nếu muốn vào thiên đàng thì nhân đức của chúng ta phải hơn các kinh sư và biệt phái. Nhân đức của họ là gì?

Kinh sư và biệt phái vào thời đó rất giống với tín hữu kitô giữ đạo của thời chúng ta. Họ chân thành, về căn bản là thành thật, về căn bản là người tốt, giữ các điều răn và nghiêm ngặt về công lý. Nhưng theo Chúa Giêsu, như thế là không đủ. Tại sao? Nếu là người chân thành, trung thực, giữ điều răn và công bằng với tất cả mọi người, vậy thì còn thiếu gì nữa? Cái còn thiếu là cái nằm ở trọng tâm giáo huấn đạo đức của Chúa Giêsu, cụ thể là yêu thương và tha thứ vượt trên thù ghét và oán hận. Chính xác là gì?

Về công lý và công bằng, chúng ta vẫn có quyền ghét người ghét mình, và trả đũa tương xứng với người đã hại mình. Tuy nhiên, Chúa Giêsu lại yêu cầu một chuyện khác. “Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời… Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”. (Mt 5, 43-48)

Đây là thực chất của luân lý kitô giáo. Có thể yêu thương người ghét mình không? Có thể làm việc thiện với người muốn làm việc ác với mình không? Có thể tha thứ cho người ngược đãi mình không? Có thể tha thứ cho kẻ giết người không? Không phải vấn đề đặc biệt nào trong thần học luân lý, mà chính điều này mới là thử nghiệm cho người tín hữu kitô. Có thể yêu thương người ghét mình không? Có thể tha thứ cho người làm hại mình không? Có thể vượt lên khuynh hướng trả thù không?

Đáng buồn thay, ngày nay chúng ta đều không qua được phép thử này, về cả hai phía, và trong phạm vi tôn giáo hay hệ tư tưởng. Chúng ta thấy chuyện này nhan nhản khắp nơi, từ cấp cao nhất trong chính phủ, những cấp cao nhất trong Giáo hội, cho đến những tranh luận riêng tư và công khai, họ công khai tán thành sự thiếu tôn trọng, chia rẽ, thù ghét và trả thù – lại còn cố viện đến những căn cứ cao đẹp để làm thế. Các chính trị gia tầm cỡ công khai và thẳng thắn nói về việc thù ghét nhau, về việc báo thù những ai chống đối họ. Tệ hơn nữa, các Giáo hội và lãnh đạo Giáo hội đủ mọi dạng đang ủng hộ họ và cung cấp cho họ “Tin Mừng” để hỗ trợ cho họ ngả theo sự thù ghét và báo thù của họ.

Cần phải xác định và đương đầu với chuyện này: bất kỳ ai ủng hộ chia rẽ, thiếu tôn trọng, thù ghét và báo thù, thì đều đối nghịch với Chúa Giêsu và Tin Mừng. Cũng vậy, bất kỳ ai ủng hộ người như thế bằng cách viện đến Chúa Giêsu, Tin Mừng, hay luân lý chính cống, thì cũng đối nghịch với Chúa Giêsu và Tin Mừng.

Thiên Chúa là tình yêu. Chúa Giêsu là tình yêu hiện thể. Cho dù vì sự nghiệp gì, cho dù là giận dữ, cho dù đối diện cái sai thế nào, thì thiếu tôn trọng, thù ghét, chia rẽ và báo thù không bao giờ nên được rao giảng dưới danh Chúa Giêsu. Điều này không có nghĩa là chúng ta không được phản đối, tranh luận và tranh cãi gay gắt. Nhưng sự thiếu tôn trọng, thù ghét, chia rẽ và báo thù, dù chúng ta có cảm nhận chúng sâu sắc thế nào đi nữa, cũng không được lấy danh nghĩa sự thiện và Chúa Giêsu mà biện hộ cho chúng. Chia rẽ, thiếu tôn trọng, thù ghét và báo thù là những thứ phản Kitô.

Linh đạo của thánh Eugene de Mazenod

Trong những năm viết chuyên mục này, tôi ít khi nhắc đến tôi thuộc Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm. Đây không phải là lảng tránh, vì tôi rất tự hào với Dòng. Nhưng tôi hiếm khi nhắc đến chuyện tôi là linh mục và là tu sĩ thuộc một hội dòng vì tôi nghĩ những gì tôi viết ở đây và ở những nơi khác có chỗ đứng vững chắc trên những điều khác nữa ngoài các danh xưng đó.

Tuy nhiên, trong bài hôm nay, tôi muốn nói về Thánh Eugene de Mazenod, đấng sáng lập Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm, vì những gì ngài nói về cương vị môn đệ và linh đạo kitô hữu là một điều giá trị và quan trọng với tất cả mọi người, giống như di sản của các đấng sáng lập dòng khác như Thánh Bênađô, Thánh Phanxicô, Thánh Đa Minh, Thánh Angela Merici, Thánh I-Nhã, Thánh Vinh Sơn Phaolô và nhiều đấng khác.

Thánh Eugene de Mazenod (1779-1861) là giám mục người Pháp, xuất thân dòng dõi quý tộc, và thường được mọi người xem là gương mẫu cho giám mục trong quyển Những người khốn khổ (Victor Hugo). Ngài là người có bản tính tự nhiên nghiêm nghị, hướng nội, thần nghiệm và tư duy độc lập. Ngài không phải kiểu người mà đa số sẽ chọn khi muốn có bạn tán gẫu trong bữa ăn nhẹ, nhưng ngài là kiểu người thường được Thiên Chúa chọn để lập một hội dòng.

Triết gia Soren Kierkegaard từng nói, làm thánh là chỉ muốn một điều. Eugene de Mazenod rõ ràng đã làm như vậy, và trong trường hợp của ngài, điều đó có nhiều khía cạnh, và khi hợp lại, tạo thành một linh đạo rất cân bằng và phong phú – một linh đạo nêu bật nhiều khía cạnh tiêu biểu của cương vị môn đệ kitô hữu vốn thường bị lãng quên thời nay.

Điều gì hình thành nên linh đạo của Eugene de Mazenod và uy tín mà ngài để lại?

Trước hết, ngài nhấn mạnh về tính cộng đồng. Với ngài, sống tốt không chỉ là thành tựu cá nhân, sự trung tín hay ngay cả sự vĩ đại cá nhân, nhưng sống liên kết với sức mạnh nội tại trong cộng đồng. Ngài là người tin tưởng câu: điều chúng ta mơ một mình thì vẫn cứ là mơ, nhưng điều chúng ta mơ cùng người khác thì có thể trở thành hiện thực. Trong quan điểm của ngài, tình thương chỉ hiệu quả hơn khi mang tính tập thể, khi phát xuất từ một nhóm người hơn là từ một cá nhân. Ngài tin rằng nếu làm một mình thì chúng ta có thể tạo được gợn sóng, nhưng không tạo nên được khác biệt. Ngài lập một hội dòng vì ngài vô cùng tin tưởng điều này.

Trước mọi vấn đề của thế giới và Giáo hội thời nay, nếu có người hỏi ngài: “Đâu là một điều duy nhất mà tôi có thể làm để tạo nên khác biệt?” Ngài sẽ trả lời: “Hãy kết nối với những người thành tâm trong cộng đồng, quanh nhân thể Chúa Kitô. Một mình thì không cứu thế giới được. Nhưng cùng nhau thì có thể!”

Thứ hai, ngài tin một linh đạo lành mạnh chính là cuộc hôn nhân giữa chiêm niệm và công lý. Nhìn từ những nhạy cảm đương thời, diễn đạt cụ thể của ngài về chuyện này có lẽ hơi gượng gạo về mặt ngôn từ ở thời nay, nhưng nguyên tắc chính yếu của nó thì luôn có giá trị: nghĩa là chỉ có một hành động phát xuất từ một cuộc đời bén rễ trong cầu nguyện và thế giới nội tâm sâu sắc thì mới thật sự mang tính ngôn sứ và có hiệu quả. Mọi lời cầu nguyện đích thực và thế giới nội tâm đích thực sẽ tuôn trào từ hành động, nhất là những hành động vì công lý và người nghèo.

Thứ ba, trong cuộc đời cá nhân và linh đạo mà ngài đặt ra cho hội dòng của ngài, ngài chọn lựa ưu tiên cho người nghèo. Ngài làm thế không phải vì đó là điều đúng đắn về chính trị, nhưng vì đó là điều phải đạo, là việc mà Phúc âm yêu cầu chúng ta làm và là điều không thể thương lượng. Niềm tin của ngài đơn giản và rõ ràng: là kitô hữu, chúng ta được kêu gọi ở cùng và làm việc cùng những người mà chẳng ai muốn ở cùng và làm việc cùng. Với ngài, bất kỳ giáo huấn hay hành động nào không phải là Tin Mừng cho người nghèo thì không thể được xem là nói về Chúa Giêsu hay Kinh thánh.

Thứ tư, ngài đặt mọi sự dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ, đấng mà ngài xem là người bênh vực cho người nghèo. Ngài nhận thấy người nghèo hướng về Mẹ, vì chính Mẹ đã cất lên bài Magnificat.

Cuối cùng, trong cuộc sống riêng và lý tưởng của mình, ngài kết hợp hai khuynh hướng dường như đối lập: là tình yêu sâu sắc với Giáo hội thể chế và năng lực thách thức mang tính ngôn sứ. Ngài yêu Giáo hội, tin rằng chết vì Giáo hội là điều cao thượng nhất, nhưng đồng thời, ngài không sợ công khai đưa ra những lỗi lầm của Giáo hội hoặc thừa nhận rằng Giáo hội cần được liên tục thách thức và tự phê phán… chính bản thân ngài sẵn sàng cho việc này!

Tính của của ngài rất khác với tôi. Tôi không dám nghĩ ngài và tôi tự nhiên sẽ thích nhau. Nhưng hóa ra lại thích nhau thật. Tôi tự hào về di sản của ngài, tự hào được làm một người con của ngài, và tin tưởng linh đạo của ngài đủ để dâng cả cuộc đời mình.