RonRolheiser,OMI

Chúng ta được ban cho điều gì để gánh vác?

Chúng ta được ban cho điều gì để gánh vác? Nhu cầu và nỗi đau của người khác tác động đến sự tự do của chúng ta như thế nào? Khi nào tự do bị hoàn cảnh làm cho bớt tự do? Chúng ta sinh ra hoặc chúng ta gặp những tình huống nào trong cuộc sống buộc chúng ta phản ứng, dù phải trả bằng chính mạng sống của mình? Chúng ta không được quay lưng với điều gì?

Đó là những câu hỏi quan trọng nhưng không dễ để trả lời. Nhưng đó lại là những câu hỏi then chốt liên quan đến việc phân định ơn gọi của chúng ta: nhiệm vụ đặc biệt mỗi chúng ta được giao cho cuộc sống của mình là gì?

Mỗi chúng ta đến với thế giới này với ơn gọi của Chúa trao ban. Về bản chất, điều này khá dễ xác định. Một cách đơn giản, tất cả chúng ta được gọi để yêu Chúa và yêu nhau. Tất cả đều được gọi như vậy. Tuy nhiên, ngoài điều thiết yếu đơn giản này, nó lại không giống nhau cho tất cả mọi người, vì chúng ta sinh ra trong những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống. Chúng ta sinh ra trong những gia đình khác nhau, quốc gia khác nhau, thời đại lịch sử khác nhau, văn hóa khác nhau, hoàn cảnh nghèo giàu khác nhau, tôn giáo khác nhau, trí thông minh khác nhau, năng khiếu tự nhiên khác nhau, cơ thể khác nhau về sức khỏe, sức mạnh và sức hấp dẫn bề ngoài. Các nhà triết học gọi đây là tình huống “hiện sinh”. Giống như bông tuyết, trong những đặc thù này không ai giống hệt ai. Và sự độc đáo này tô điểm, có lẽ xác định cơ bản thiên chức của chúng ta giúp chúng ta quyết định những gì chúng ta được trao để gánh vác.

Và đó là những gì đang bị đe dọa. Đúng là tất cả chúng ta sinh ra đều tự do, nhưng có nhiều chuyện vừa cưỡng ép vừa hạn chế tự do của chúng ta.

Xin cho tôi minh họa bằng ví dụ của gia đình tôi. Tôi là đứa con thứ mười hai trong một gia đình đông con. Cha mẹ tôi là nhà nông nhập cư thế hệ đầu tiên, ông bà lập gia đình, nuôi dạy con cái, hoàn toàn sống bằng nghề nông. Chúng tôi cần thêm thu nhập. Cộng đồng nông thôn hẻo lánh của chúng tôi chỉ có một trường tiểu học và trẻ em học xong lớp tám phải xa nhà để vào trường nội trú, nhưng cha mẹ tôi không đủ khả năng chi trả.

Vì lý do đó, sau khi học xong tiểu học năm anh chị lớn của tôi bỏ học, không phải vì họ không đủ thông minh để học thêm nhưng vì gia đình không có tiền để cho con đi học xa, làng chúng tôi không có trường trung học, các anh chị phải bỏ học để đi làm phụ giúp gia đình. Với các anh chị, đặc biệt với vài người, đây là cả một hy sinh khó khăn. Họ khao khát được tự do, được lựa chọn nhiều hơn; nhưng, xét theo hoàn cảnh của họ, đây là những gì họ được trao cho. Và sự hy sinh đó, việc trao đi bản thân mình cho một điều gì đó vượt ra ngoài bản thân đã xác định rất nhiều về thiên chức và chính con người của họ. Một phần lớn thiên chức của họ là hy sinh ước mơ và hoài bão riêng của mình vì lợi ích gia đình. Trong những yếu tố này, cơ hội được học hành của riêng tôi phần lớn dựa trên sự hy sinh của họ.

Tuy nhiên, về điều này, họ không phải là ngoại lệ. Sự hy sinh của họ được phản ánh trong cuộc sống của hàng triệu người trên khắp thế giới: những người nhập cư phải hy sinh tham vọng riêng để làm việc trên đồng ruộng hoặc làm việc tay chân để nuôi sống gia đình; những phụ nữ và đàn ông trẻ từ các nước đang phát triển phải rời gia đình, đi ra nước ngoài làm việc để gởi tiền về giúp gia đình; hàng triệu người trẻ không có tiền để học tiếp lên đại học; vô số các ông, các bà phải hy toàn thời gian của mình để chăm sóc cha mẹ bệnh tật hoặc già yếu; và hàng tỷ phụ nữ phải hy sinh sự nghiệp để nuôi con. Đó là những gì họ được trao cho để gánh vác – và sự hy sinh của họ giúp hình thành nên tâm hồn ơn gọi của họ.

Ngoài những điều có thể tước đoạt quyền tự do của chúng ta và quyết định một cách triệt để ơn gọi của chúng ta, vẫn còn những điều khác có thể hạn chế hoặc mở rộng quyền tự do của chúng ta và qua đó giúp chúng ta quyết định ơn gọi: có sức khỏe thể chất và tinh thần mạnh mẽ chứ không yếu đuối; có sức vóc của một vận động viên thay vì khuyết tật thể chất; là người đàn ông đích thực, là nữ hoàng dạ hội chứ không là người đi bắt nạt người khác và sống xa lánh; có tính khí năng động chứ không nhẹ nhàng và dễ tính; hoặc người xuất thân từ đặc quyền trái ngược với người xuất thân từ hoàn cảnh không có đặc quyền.

Mỗi yếu tố này không chỉ định hình ơn gọi của chúng ta nhưng còn giúp chúng ta trang bị đặc biệt cho ơn gọi của mình. Nếu chúng ta yếu đuối và dễ bị tổn thưông thì những khiếm khuyết sẽ mang lại cho chúng ta sức mạnh đặc biệt để thành người chữa lành cho người khác. Bị tổn thương, chúng ta có sức mạnh đặc biệt để trở thành người chữa lành bị tổn thương. Ngược lại, nếu chúng ta ở phía được đặc quyền thì đặc quyền này cũng định hình thiên chức và ơn gọi đặc biệt của chúng ta, cụ thể chúng ta là người nhận được nhiều ơn, vì thế chúng ta bị mong chờ nhiều. Chuyện này không chỉ giúp chúng ta biết ơn gọi của mình, nhưng còn giúp chúng ta trang bị đặc biệt cho ơn gọi của mình. Nếu chúng ta ở phía yếu đuối và bị tổn thương, những khiếm khuyết có vẻ như đó như là con người của mình, có thể mang lại cho chúng ta sức mạnh đặc biệt để trở thành người chữa lành cho người khác. Bị tổn thương, chúng ta có sức mạnh đặc biệt để là người chữa lành người bị tổn thương. Ngược lại, nếu chúng ta ở phía đặc quyền, đặc quyền này cũng định hình nghề nghiệp và món quà đặc biệt của chúng ta, cụ thể bây giờ chúng ta là người được ban ơn nhiều và vì thế được kỳ vọng nhiều.

Trao tặng cái chết của mình

Richard Gaillardetz (1958-2023)

Theo nhà thần nghiệm nổi tiếng Gioan Thánh giá, chúng ta có ba cuộc đấu tranh thiết yếu trong cuộc sống: nắm lại trong tay đời sống mình, trao tặng cuộc sống và trao tặng cái chết. Những gì trong hai cuộc đấu tranh đầu tiên thì rõ ràng. Nhưng trao tặng cái chết của mình có nghĩa gì?

Về bản chất, điều này có nghĩa: Cách chúng ta chết để lại di sản, một tinh thần cụ thể có thể nuôi dưỡng hoặc ám ảnh người ở lại. Nếu chúng ta chết trong cay đắng và tức giận, không hòa thuận với người thân yêu, với chính mình và với Chúa, chúng ta để lại một tinh thần độc hại hơn là nuôi dưỡng. Ngược lại, nếu chúng ta chết trong hòa giải và hòa bình với người thân yêu, với thế giới và với Chúa, thì như Chúa Giêsu, chúng ta để lại một tinh thần nuôi dưỡng, sưởi ấm, an ủi, giúp người thân được bình an thiêng liêng. Cách chúng ta chết tô màu cho di sản chúng ta, di sản đó có thể là món quà hoặc gánh nặng cho người thân

Ngày 23 tháng 11 năm 2023, Richard (Rick) Gaillardetz, thần học gia nổi tiếng qua đời vì ung thư tuyến tụy khi đang ở tuổi sung sức nhất. Ông là người chồng, người cha, người ông, diễn giả tài ba, người bạn, người cố vấn đáng mến của nhiều người, người đam mê thể thao, người có tinh thần hài hước sống động. Ông cũng là người có đức tin vững chắc thử thách trong những tháng ngày mắc bệnh nan y.

Khi bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư hơn một năm trước khi qua đời, các bác sĩ cho biết, đó là bệnh nan y và không có cách chữa trị; ông phải đối diện với sự thật tàn khốc: mình sẽ chết trong hai năm tới. Ông đã đối diện với sự thật này. Và khi làm như vậy, ông cố gắng (có những lúc rất đau đớn) để biến cái chết của mình thành món quà có ý nghĩa cho gia đình, cho thế giới. Trong những tháng trước khi qua đời, ông viết blog chia sẻ về cảm giác khi biết mình sắp chết, với tình yêu và đức tin, dù đau đớn, ông chấp nhận buông bỏ cuộc sống, buông bỏ đấu tranh với những bản năng kháng cự mạnh mẽ nội tâm.

Những trang viết này được gom lại trong quyển sách Cho đến khi tôi còn thở, tôi hy vọng (While I Breathe I Hope – A Mystagogy of Dying, Grace Agolia biên tập).

Đây là một số cảm xúc và suy nghĩ của ông:

  • Không như nhiều thánh trong truyền thống của chúng ta, tôi không chọn sự suy yếu này; với tôi, tôi bị thúc đẩy, bị mời gọi, tôi không muốn. Nhưng tôi thấy đây là lời mời gọi đến với một sự yếu đuối được ban ơn, lời kêu gọi từ bỏ sự tự tin sai chỗ vào sức mạnh và quyền tự chủ cơ thể tôi.
  • Tôi cầu nguyện cho cả hai, ơn cho sự suy yếu và ơn của sự suy yếu.
  • Một trong những con quỷ mà tôi phải đương đầu mỗi ngày là cái tôi quá mức, nó không ngừng kêu gào tôi phải được chú ý như một đứa trẻ than van, lấn át nhu cầu và mối quan tâm của người khác. Một trong những ân sủng bất ngờ của sự suy yếu xuất hiện khi tôi ra khỏi bản ngã tự nhiên, để khám phá một nội tâm chứa lòng trắc ẩn bị lãng quên nhiều trước đau khổ của người khác.
  • Tôi phải thú nhận, đôi khi tôi quá lo cho tiến trình chết. Nó sẽ như thế nào? Tôi sẽ xử lý thế nào khi các cơ quan bắt đầu suy yếu và khi cái chết thực sự bắt đầu? Liệu bình an tôi cảm thấy hiện tại có giúp tôi vượt qua thời gian “khác biệt” đó không? … Qua tất cả những chuyện này, điều tôi giữ vững nhất trong lòng là tin Chúa đã bao bọc tôi sâu đậm trong tình yêu của Ngài kể từ khi tôi bị bệnh, chắc chắn Chúa sẽ không bỏ rơi tôi trong những ngày giờ cuối cùng này. Bây giờ tôi thuộc về nhóm người già yếu và bất lực. Họ là những người của tôi, gia đình cuối cùng của tôi.
  • Việc trao đi cái chết không chỉ là vấn đề chấp nhận sự ra đi không thể tránh khỏi về mặt thể xác; việc trao đi cái chết đòi hỏi tôi phải chấp nhận những kinh nghiệm thụ động khi chờ đợi, khi bị suy yếu, khi bị sống bên lề, như một giải thoát khỏi nô lệ cho thành tích cá nhân và khỏi tự phụ. Nếu tôi dành không gian thích hợp cho những trải nghiệm này, chúng sẽ đưa tôi ra khỏi bản ngã ích kỷ, mở rộng tâm hồn tôi.

Chúng sẽ làm cho tôi đồng cảm hơn với nỗi đau của người khác, khuyến khích tôi cầu nguyện cho họ khi họ đau khổ, khi họ trải qua cái chết sắp tới. Đó chính là cách giúp tôi nhẹ nhàng đi đến cái chết và sự phục sinh.

  • “Nhiệm vụ cuối cùng của tôi là trả lại cho Chúa cuộc sống mà Chúa đã ban cho tôi.”

Khi nói lời từ giã các môn đệ, Chúa Giêsu hứa khi Ngài rời khỏi chúng ta, Ngài sẽ để lại Thần Khí hòa bình của Ngài cho chúng ta. Khi chúng ta ra đi, tất cả chúng ta đều để lại đằng sau mình một tinh thần tuy không nói ra nhưng ảnh hưởng đến người thân ở lại của chúng ta. Nếu chúng ta chết trong hòa bình với Chúa, với người khác và với chính mình, thì như Chúa Giêsu, người thân của chúng ta dù đang đau buồn vì mất mát, sẽ cảm nhận trong sâu thẳm tâm hồn họ, họ được nuôi dưỡng, sưởi ấm và an ủi khi nghĩ về chúng ta.

An nghỉ trong Chúa, Rick Gaillardetz, anh để lại cho chúng tôi, gia đình, bạn bè, thế giới món quà hòa bình.

Mùa Thường niên

Lịch Giáo hội có những mùa đặc biệt để kỷ niệm: Mùa Vọng và lễ Giáng Sinh, Mùa Chay và lễ Phục Sinh, nhưng ngoài những mùa đặc biệt này, Giáo hội mời chúng ta sống và cử hành mùa Thường niên.

Mùa Thường niên. Với hầu hết chúng ta, tôi nghĩ mùa này không nói lên một cái gì đặc biệt – nó nhạt nhẽo, tẻ nhạt, thường ngày, nhàm chán. Trong lòng, chúng ta có cảm giác đó là những gì đè nặng lên chúng ta, nhận chìm chúng ta, đẩy chúng ta ra khỏi môi trường hữu ích của đam mê, lãng mạn, sáng tạo và ăn mừng.

Chúng ta dễ dàng chê bai chuyện bình thường. Tôi nhớ một cô sinh viên trẻ chia sẻ trong lớp nỗi sợ lớn nhất đời cô là không thể chống chọi với những điều tầm thường, “là người nội trợ bình thường, người hài lòng làm quảng cáo thuốc giặt!”

Nếu bạn là nghệ sĩ hoặc có khiếu nghệ thuật, bạn dễ là đề tài của chê bai kiểu này vì các nghệ sĩ có xu hướng sáng tạo ngược với những gì bình thường. Chẳng hạn, văn sĩ Doris Lessing đã từng nhận xét lẽ ra George Eliot (1819-1880) có thể là nhà văn giỏi hơn “nếu bà không quá đạo đức”. Điều mà Lessing muốn nói là Eliot đã quá bám vào những điều bình thường, quá an toàn, quá chắc chắn, quá xa khỏi các bờ vực. Trong tác phẩm tiểu sử Cô gái đồng trinh của Bennington (The Virgin of Bennington), bà Kathleen Norris chia sẻ khi còn là nhà văn trẻ, bà là nạn nhân của hệ tư tưởng này như thế nào: “Tôi nghĩ các nghệ sĩ quá nghiêm túc để sống một cuộc sống lành mạnh và bình thường. Bị thúc đẩy bởi những thế lực không thể lay chuyển trong một thế giới lạnh lùng, họ đã phải đương đầu với cuộc đấu tranh không thể tránh khỏi, đôi khi chết người, nhưng luôn cao cả để chống buồn bã và bất hạnh.”

Cuộc vật lộn cao quý với buồn bã và bất hạnh. Nghe có vẻ quyến rũ, đặc biệt với những người trong chúng ta tự cho mình là nghệ sĩ, trí tuệ hoặc tâm linh. Đó là lý do vì sao một ngày nào đó, bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể cảm thấy thương hại cho những người có hạnh phúc đơn giản. Chúng ta nghĩ quá dễ với họ, nhưng họ phải đấu tranh để có. Đó là người nghệ sĩ bên trong chúng ta đang lên tiếng. Chúng ta chưa bao giờ thấy một nghệ sĩ bằng lòng làm quảng cáo thuốc giặt!

Xin quý vị đừng hiểu lầm tôi. Có một số xứng đáng cho việc này. Chính Chúa Giêsu đã nói, chúng ta không chỉ sống bằng cơm bánh. Không nghệ sĩ nào cần giải thích ý nghĩa của câu này. Trong số những điều khác, họ biết điều Chúa Giêsu muốn nói, đó là thói quen đơn giản, không nhất thiết đó là thiên đàng. Chúng ta cần cơm bánh, nhưng chúng ta cũng cần vẻ đẹp và màu sắc. Doris Lessing là nghệ sĩ vĩ đại, bà vào đảng cộng sản khi còn trẻ nhưng khi trưởng thành bà bỏ đảng. Vì sao? Một câu nói lên tất cả. Bà nói, bà bỏ đảng cộng sản, “vì họ không tin vào sắc màu!” Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta, cuộc sống không có nghĩa là sống đơn giản như một chu kỳ bất tận: thức dậy, đi làm, làm việc có trách nhiệm, về nhà, ăn tối, chuẩn bị mọi thứ cho ngày hôm sau và sau đó đi ngủ.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều để nói về một thói quen có vẻ kịch tính của sự bình thường. Cuối cùng, nhịp điệu của sự bình thường là nguồn gốc sâu sắc nhất để rút ra niềm vui và ý nghĩa. Tác giả Kathleen Norris sau khi kể cho chúng ta nghe cám dỗ thời trẻ của bà, bà đã vượt lên những điều bình thường để dự vào cuộc chiến cao quý chống buồn bã và bất hạnh, bà chia sẻ cách mà người cố vấn tuyệt vời Betty Kray đã giúp bà thoát khỏi cạm bẫy này như thế nào. Kray khuyên bà viết ra niềm vui cũng như nỗi buồn của mình. Bà Norris nói: “Betty cố hết sức thuyết phục tôi về điều mà những người bạn của bà, những người từng bị điên biết rất rõ: sự trân trọng đơn giản và trong sáng với những gì bình thường trong cuộc sống hàng ngày là kho báu không có gì so sánh trên trái đất này.”

Đôi khi phải có một căn bệnh mới dạy chúng ta điều này. Khi chúng ta lấy lại sức khỏe và năng lượng sau khi bị bệnh, sau khi bị nghỉ việc, sau khi bị ra khỏi nhịp sống và thói quen bình thường, không có gì ngọt ngào cho bằng trở lại với đời sống bình thường – với thói quen của công việc, với những điều bình thường của cuộc sống hàng ngày. Chỉ sau khi bị lấy đi và sau khi được trả lại, chúng ta mới quý sự đơn giản và trong sáng của những việc bình thường hàng ngày, một kho báu tối thượng.

Tuy nhiên, các nghệ sĩ vẫn đúng một phần. Những điều bình thường có thể đè nặng chúng ta, loại chúng ta khỏi môi trường sáng tạo, khỏi môi trường lãng mạn, khỏi môi trường hoang dã, những môi trường làm chúng ta vui vẻ. Nhưng phải công nhận, sự bình thường chính là điều giúp chúng ta không bị cuốn trôi. Nhịp điệu của những điều bình thường giữ vững chúng ta, làm chúng ta tỉnh táo.

Nghệ sĩ Paul Simon trong một bài hát của thập niên 1970 có tựa đề An American Tune, hát về việc đương đầu với những bối rối, sai lầm, phản bội và những sự kiện khác làm khuấy động bình an của chúng ta. Ông kết thúc bài hát khá buồn với những lời: “Ngày mai lại một ngày làm việc và tôi cố gắng nghỉ ngơi một chút. Nghỉ ngơi một chút, đó là tất cả những gì tôi đang cố gắng.”

Đôi khi việc giữ mệnh lệnh này lại giúp chúng ta tỉnh táo hơn. Có rất nhiều điều để nói về việc trở thành một người nhỏ bé, hài lòng, gắn bó với nhịp sống bình thường và thậm chí có thể làm quảng cáo cho thuốc giặt.

Chúng ta vừa tốt hơn, vừa xấu hơn chúng ta nghĩ

Sự phức tạp của chính chúng ta có thể làm hoang mang. Chúng ta tốt hơn những gì chúng ta nghĩ và chúng ta xấu hơn những gì chúng ta tưởng tượng, vừa quá khắt khe vừa quá dễ dãi với chính mình. Chúng ta là một pha trộn kỳ lạ.

Một mặt, chúng ta tốt. Tất cả chúng ta đều được tạo ra theo hình ảnh và giống Chúa, như triết gia Aristote và Thánh Tôma Aquinô khẳng định: về mặt siêu hình chúng ta tốt. Điều đó đúng, nhưng lòng tốt của chúng ta cũng ít trừu tượng hơn. Chúng ta cũng tốt, ít nhất là trong đa số thời gian, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Chung chung, chúng ta quảng đại, thường là quá đáng. Dù đôi khi có vẻ bề ngoài, nhưng phần lớn chúng ta đều nồng ấm và hiếu khách. Điều tương tự cũng đúng về ý định cơ bản trong tâm trí và trái tim chúng ta. Chúng ta có trái tim bao la. Trong tâm hồn mỗi người, chúng ta dễ dàng bị kích thích bởi một chút tình yêu hoặc một chút khẳng định, ẩn chứa một trái tim rộng lớn, magna anima, luôn khao khát thương người. Vấn đề chủ yếu không phải ở lòng tốt, nhưng ở sự thất vọng khi chúng ta cố gắng sống điều này trong thế giới. Chúng ta thường tỏ ra lạnh lùng và ích kỷ trong khi chúng ta chỉ thất vọng, đau thương và tổn thương.

Không phải lúc nào chúng ta cũng tỏ ra tốt, nhưng phần lớn là tốt; dù chúng ta thường thất vọng vì chúng ta không thể (do hoàn cảnh, do tổn thương hay nhạy cảm) thể hiện lòng tốt của mình như chúng ta mong muốn, không thể ấm áp đón nhận thế giới và những người chung quanh mình. Chúng ta đi tìm một nơi ấm áp để thể hiện con người mình và thường không tìm thấy. Chúng ta không tệ nhưng thất vọng. Chúng ta yêu thương nhiều hơn chúng ta nghĩ.

Nhưng đó chỉ là một nửa của vấn đề, còn một khía cạnh khác: chúng ta cũng là kẻ có tội nhiều hơn chúng ta nghĩ. Một câu châm ngôn cũ trong đạo tin lành nói một cách chính xác về bản chất con người dựa trên thư Thánh Phaolô: “Vấn đề không phải chúng ta là kẻ có tội hay không, nhưng tội của chúng ta là gì?” Tất cả chúng ta đều là kẻ có tội, cũng như chúng ta có một trái tim rộng lớn, một tâm hồn vĩ đại, đồng thời chúng ta cũng có một tâm hồn nhỏ nhen, pusilla anima. Ở tận gốc rễ của bản năng cấu tạo nên chúng ta, có ích kỷ, ghen tị, hẹp hòi trong trái tim và tâm trí.

Hơn nữa, chúng ta thường mù quáng trước lỗi lầm thực sự của mình. Như Chúa Giêsu đã nói, chúng ta dễ dàng thấy bụi nơi mắt người mà không thấy đà trong mắt mình. Điều này thường tạo nên một trớ trêu kỳ lạ, nơi chúng ta nghĩ mình là kẻ có tội, lại không phải là nơi người khác đấu tranh nhiều nhất với chúng ta, hoặc nơi mà lỗi lầm thực sự của chúng ta ở đó. Ngược lại, chính ở những lãnh vực chúng ta nghĩ mình đức hạnh và chính trực thì tội lỗi thực sự của chúng ta thường ở đó, nơi người khác gặp khó khăn với chúng ta.

Chẳng hạn chúng ta luôn nhấn mạnh đến điều răn thứ sáu nhưng không tự kiểm bản thân về điều răn thứ năm (cay đắng, phán xét, tức giận và hận thù) hoặc điều răn thứ chín và thứ mười (liên quan đến ghen tị). Không phải là đạo đức tình dục không quan trọng, nhưng những thất bại của chúng ta ở đây khó lý giải hơn. Điều tương tự cũng không đúng với cay đắng, tức giận, đặc biệt là tức giận chính đáng, hay ghen tuông. Chúng ta có thể dễ dàng lý giải những điều này và không nhận ra ghen tuông là tội duy nhất mà Chúa thấy cần phải viết ra hai điều răn. Chúng ta tệ hơn chúng ta nghĩ và gần như chúng ta không nhận ra lỗi lầm thực sự của mình.

Vậy điều này dẫn chúng ta đến đâu trong tình trạng tốt hơn và tệ hơn như chúng ta nghĩ. Nếu chúng ta nhận ra chúng ta tốt hơn hoặc tội lỗi hơn chúng ta nghĩ, như thế sẽ hữu ích để chúng ta tự hiểu mình và cách chúng ta hiểu tình yêu và ơn Chúa trong cuộc sống.

Triết gia Aristote nói: “Hai điều trái ngược không thể cùng tồn tại trong một chủ thể.” Ông đúng về mặt siêu hình, nhưng hai điều trái ngược có thể (và thực sự) tồn tại trong chúng ta về mặt đạo đức. Chúng ta vừa tốt vừa xấu, vừa quảng đại vừa ích kỷ, vừa rộng lượng vừa nhỏ nhen, vừa nhân hậu vừa cay đắng, vừa tha thứ vừa oán giận, vừa hiếu khách vừa lạnh lùng, vừa đầy ân sủng vừa tội lỗi, tất cả cùng một lúc. Hơn nữa, chúng ta thường quá mù quáng trong cả hai trường hợp, vừa không nhận ra cái tốt cũng như cái xấu của mình.

Nhận ra điều này có thể làm chúng ta khiêm nhường và giải thoát chúng ta. Chúng ta là kẻ có tội được yêu thương. Cả lòng tốt và tội lỗi đều tạo nên bản sắc chúng ta. Không nhận ra sự thật này làm chúng ta hoặc chán nản không lành mạnh hoặc tự mãn một cách nguy hiểm, quá khắt khe hoặc quá dễ dãi với chính mình. Sự thật sẽ giải thoát chúng ta, và sự thật về bản thân chúng ta: chúng ta vừa tốt hơn vừa xấu hơn những gì chúng ta nghĩ về mình.

Thần học gia Robert Funk đã từng đưa ra ba châm ngôn về ân sủng nói lên điều này. Ông viết:

  • Ân sủng luôn làm tổn thương từ phía sau, khi chúng ta nghĩ mình ít bị tổn thương nhất.
  • Ân sủng khó khăn hơn chúng ta nghĩ: chúng ta đạo đức hóa sự phán xét để làm giảm bớt căng thẳng.
  • Ân sủng dễ dãi hơn chúng ta nghĩ: nhưng nó không bao giờ dễ dãi ở thời điểm chúng ta nghĩ nó có thể dễ dãi.

Chúng ta cần dễ dãi hơn và khắt khe hơn với chính mình và cởi mở với cách mà ân sủng hoạt động.

Mất người thân yêu vì tự tử

Tôi đã viết về tự tử suốt gần 40 năm. Tôi làm vậy bởi vì nhìn chung, chuyện tự tử bị hiểu lầm nghiêm trọng. Hơn thế nữa, có lẽ hơn bất cứ hình thức chết nào khác, tự tử làm cho những người bị bỏ lại mang một nỗi đau buồn, tổn thương và mặc cảm tội lỗi nặng nề.

Chúng ta cần phải nói thẳng bốn điều về tự tử:

Thứ nhất, tự tử là căn bệnh và có lẽ đây là căn bệnh khó hiểu nhất. Trong hầu hết trường hợp, đương sự không được tự do khi lựa chọn cách chết này. Khi chết vì đau tim, đột quỵ, ung thư, AIDS hay tai nạn, con người chết trái với ý mình. Với tự tử cũng thế, trừ một chuyện, tự tử là cơn bộc phát cảm xúc hơn là bộc phát thể lý, một đột quỵ về cảm xúc, một khối ung thư về cảm xúc, một sụp đổ của hệ miễn dịch cảm xúc, một đòn chí tử của cảm xúc.

Và đây không phải là cách nói ẩn dụ. Tự tử là một căn bệnh. Hầu hết những người tự tử đều chết trái với ý muốn của họ. Họ chỉ muốn kết thúc nỗi đau không thể chịu đựng thêm được nữa, cũng như người nhảy ra khỏi tòa nhà đang cháy, vì họ đã như cây đuốc sống.

Thứ hai, chúng ta không nên lo lắng quá mức về sự cứu rỗi đời đời của họ, không nên tin rằng tự tử là hành động tuyệt vọng tận cùng và là điều mà Thiên Chúa sẽ không tha thứ. Thiên Chúa thông hiểu, yêu thương và trìu mến con người vô cùng vô tận. Chúng ta không nên lo lắng về số phận của bất kỳ ai đã rời thế giới này trong tan vỡ, trong quá đỗi nhạy cảm, thiết tha, quá đỗi kiệt quệ và cảm xúc bị sụp đổ. Những con người tan nát được Chúa yêu thương cách đặc biệt.

Nhưng, hiểu được chuyện này không nhất thiết giúp chúng ta hết đau đớn (hết giận dữ) khi mất người thân vì tự tử, đức tin và sự thông hiểu không phải lúc nào cũng giúp chúng ta xóa bỏ nỗi đau, để chúng ta hy vọng, để được nâng đỡ khi chúng ta bước đi trong nỗi đau.

Thứ ba, chúng ta không nên hành hạ bản thân khi cảm thấy tội lỗi và băn khoăn lo lắng mình đã mất người thân yêu này vào thời điểm nào. “Mình đã phụ lòng họ lúc nào? Giá mà mình ở đó? Nếu như?” Lẽ tự nhiên, chúng ta sẽ bị ám ảnh với suy nghĩ, “giá mình ở đó vào lúc này”. Hiếm khi mặc cảm này tạo nên được sự khác biệt. Thật vậy, hầu như chúng ta đều không ở đó vì người đó không muốn chúng ta ở đó. Người đó đã chọn thời điểm, địa điểm và phương thức sao để chúng ta không thể làm được gì. Tự tử là căn bệnh dường như chọn nạn nhân, để làm sao họ loại trừ được người khác, loại trừ được sự quan tâm của người thân. Đây không phải là biện hộ cho sự thiếu nhạy cảm, nhưng là một xác nhận lành mạnh trước mặc cảm tội lỗi và băn khoăn đau đớn.

Chúng ta là con người, chúng ta không phải là Thiên Chúa. Con người chết vì tai nạn, vì bệnh tật, và đôi khi tình yêu và cả sự quan tâm của cả thế giới cũng không ngăn được cái chết. Một người mẹ mất con vì tự tử đã viết: “Ý chí muốn cứu mạng ai đó không tạo được sức mạnh để ngăn chặn cái chết.”

Vì thế, chúng ta phải tha thứ cho bản thân vì sự bất toàn của mình khi sống với người bị trầm cảm muốn tự tử. Nhưng chuyện này không dễ dàng gì, như người đàn ông đã mất vợ vì tự tử này xác nhận: “Vợ tôi không hạnh phúc, bà bị trầm cảm quá lâu, vì thế tôi mong cuối cùng bây giờ bà được bình an. Suốt bốn hay năm năm qua, ít nhất mỗi tuần một lần, bà lặp lại ý muốn chết… Thật khó để tôi không cắn rứt trong bất hạnh của vợ tôi… Ít nhất, tôi sẽ mang đến chết đáng ra tôi có thể làm nhiều hơn để giữ bà lại. Suốt mấy năm qua, thay vì nói chuyện để cố khuyến khích bà nhìn sự việc một cách tích cực, tôi lại chọn cách trốn tránh và rút lui. Tôi nghĩ cố gắng phá trầm cảm không giải thích được, chỉ làm mọi chuyện tệ hơn, ít nhất là với tôi, vì tôi thường là mục tiêu dễ nhắm để vợ tôi trút cơn giận và bất hạnh của bà”.

Đây là cảm giác tội lỗi thường có của những người mất người thân vì tự tử, nhất là người vợ hoặc người chồng. Điều chúng ta cần hiểu là cơn giận dữ của người trầm cảm gần như thường xuyên chính xác tập trung vào những người mà họ tin tưởng và thân yêu nhất, vì đó là nơi an toàn duy nhất họ có thể trút cơn giận (mà không bị phản đòn). Hệ quả là, người bị nhắm thường cố thoát ra bằng cách trốn tránh và rút lui, sau đó là cảm thấy mình tội lỗi.

Thứ tư, khi mất người thân vì tự tử, một trong những nhiệm vụ của chúng ta là cứu ký ức về họ, đưa cuộc đời họ vào một góc nhìn sao cho cách chết của họ không làm ố màu ký ức về họ mãi mãi. Đừng gỡ bỏ hình ảnh của họ, đừng thì thầm khi nói về cuộc đời và cái chết của họ, đừng đánh một ngôi sao không phai bên cạnh tên họ. Cuộc đời của họ không nên bị phán xét qua lăng kính cái chết của họ. Chúng ta nên chuộc lại ký ức cho họ.

Phản ứng với chỉ trích

Ở nhiều nơi trong thế giới thế tục ngày nay, chúng ta sống trong bầu khí phần nào bài kitô giáo và bài Giáo hội (mâu thuẫn của chuyện này là nó lại xảy ra trong nền văn hóa vẫn xem mình là kitô giáo). Nhưng sự thật là ở nhiều môi trường, khuynh hướng thời thượng là công kích kitô giáo, nhất là các Giáo hội kitô giáo, bất kể đó là công giáo la-mã, tin lành hay phái Phúc âm. Sự chỉ trích này luôn nhắm vào những điểm bất nhất, những sai phạm và lỗi lầm trong quá khứ của các Giáo hội này. Quả thật câu “Tôi có đời sống tâm linh nhưng không có tôn giáo”, cũng mang một chỉ trích không mấy giấu diếm với các Giáo hội. Tôi muốn Thiên Chúa, nhưng tôi không muốn kitô giáo và các Giáo hội.

Chuyện này nghiêm trọng như thế nào? Chúng ta phải phản ứng ra sao? Dù bực mình nhưng xét cho cùng nó không phải là nguyên do chính cần phải lo. Là một Giáo hội, chúng ta không bị đe dọa tận căn vì chuyện này, và chúng ta không nên phản ứng thái quá. Vì sao?

Trước hết, vì một số chỉ trích này tốt cho chúng ta. Chúng ta thật sự có những sai phạm và thiếu sót, nền văn hóa của chúng ta đã rộng lượng đưa ra cho chúng ta thấy. Những lời chỉ trích Giáo hội hiện nay làm cho chúng ta biết khiêm nhường một cách lành mạnh và thúc đẩy chúng ta phải can đảm thanh tẩy nội bộ ta hơn nữa. Những người chỉ trích cho chúng ta thấy lỗi lầm của mình, như thế là họ giúp chúng ta. Ngoài ra, chúng ta đã tận hưởng đặc quyền quá lâu rồi, và đó không bao giờ là một điều tốt cho Giáo hội. Cho dù không thích cho lắm, nhưng thường trong thời thiếu đặc quyền, chúng ta sống tinh thần kitô hữu lành mạnh hơn thời có đặc quyền. Hơn nữa, còn có một chuyện nghiêm trọng hơn đang bị đe dọa.

Chúng ta phải cẩn thận đừng phản ứng thái quá với bầu khí bài Giáo hội hiện nay, vì nó có thể làm chúng ta thủ thế không lành mạnh, đẩy chúng ta vào vị trí đối địch với văn hóa. Tin Mừng không muốn chúng ta làm như vậy, hoàn toàn không muốn. Nhiệm vụ của chúng ta là nhận chỉ trích, đau đớn suy ngẫm về nó, nhẹ nhàng đưa ra sự thiếu công tâm trong đó, nhưng phải chống lại mọi cám dỗ phòng vệ quá đáng. Vì sao? Vì sao đừng gồng lên bảo vệ?

Bởi vì chúng ta đủ mạnh để không làm thế, đơn giản vậy thôi. Chúng ta có thể chịu đựng điều này mà không gay gắt và thủ thế. Bất chấp sự chỉ trích có phổ biến hay bất công đến đâu, Giáo hội đâu có sụp đổ hay tan biến ngay. Chúng ta có hai tỷ rưỡi tín hữu kitô trên khắp thế giới, đứng vững với truyền thống hai ngàn năm, có một Kinh thánh được chấp nhận rộng rãi, có giáo lý được giữ vững và chỉnh sửa tinh tế trong hai ngàn năm, có các thể chế lớn với hàng trăm năm tuổi, bén rễ sâu trong văn hóa và công nghệ Tây phương, có lẽ chúng ta là nhóm đa quốc gia lớn nhất thế giới, phát triển về con số mạnh nhất thế giới. Chúng ta đâu phải là cây sậy lay lắt trước gió hay con tàu sắp chìm. Chúng ta mạnh mẽ, được Thiên Chúa chúc phúc và là trưởng lão của nền văn hóa. Vì thế chúng ta nợ nền văn hóa này sự tử tế và thông hiểu.

Ngoài ra, quan trọng hơn cả sức mạnh từ lịch sử, chính là sự thật chúng ta có Đức Kitô đã hứa ở bên chúng ta, và sự phục sinh để nâng đỡ chúng ta. Với tất cả những điều này, tôi nghĩ chúng ta có thể hoàn toàn tiếp nhận một lượng chỉ trích khá lớn mà không sợ bị mất căn tính. Hơn nữa, chúng ta đừng để những chỉ trích này làm chúng ta đánh mất đi nhận thức về lý do vì sao chúng ta tồn tại.

Giáo hội không tồn tại vì chính mình, cũng không phải để đảm bảo sự tồn tại của mình. Giáo hội tồn tại vì thế giới. Chúng ta cũng có thể dễ dàng quên mất điều này và trong thành tâm lại mất đi ý thức về yêu cầu của Tin Mừng với chúng ta. Chúng ta so sánh hai phản ứng: ở một buổi họp báo, có người hỏi cố hồng y Basil Hume, ngài xem điều gì là thách thức hàng đầu mà Giáo hội thời nay phải đối diện. Ngài trả lời: “Cứu lấy hành tinh.” Vài năm trước, một hồng y khác (xin giấu tên vì câu trả lời của ngài), trong một phỏng vấn trên truyền hình cũng được hỏi câu tương tự: “Cha thấy nhiệm vụ hàng đầu của mình khi tiếp quản giáo phận này là gì?” Ngài trả lời: “Bảo vệ đức tin”. Một câu trả lời hoàn toàn khác.

Mọi điều về Chúa Giêsu cho thấy quan điểm của hồng y Hume gần với Tin Mừng hơn hồng y kia. Khi Chúa Giêsu nói, “Thịt Ta là của ăn cho thế gian được sống”, Ngài xác nhận rõ, nhiệm vụ hàng đầu của Giáo hội không phải là bảo vệ mình, bảo đảm sự tiếp diễn của mình hay bảo vệ mình khỏi bị thế giới vùi dập. Giáo hội tồn tại vì thế giới chứ không phải cho chính Giáo hội. Chính vì thế mà Chúa Giêsu sinh ra trong hang lừa, nơi thú vật đến để ăn, và chính vì thế mà Ngài trao mình trên bàn ăn, để được ăn. Một phần của Chúa Giêsu chính là Ngài đặt mình ở chỗ thấp. Mọi sự về Ngài đều gợi lên sự yếu đuối dễ tổn thương hơn là phòng thủ, mạo hiểm hơn là an toàn, tin tưởng vào lời hứa thần thiêng hơn là vào phòng vệ và bảo đảm của con người.

Thực chất của Phúc âm là mời chúng ta mạo hiểm chứ không đề phòng, nhận những gì bất công chứ không thủ thế, “Tha thứ cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Chúng ta phải là của ăn cho thế gian, chứ không lo lắng cho sự sinh tồn của mình. Chúng ta phải là của ăn của sự thông hiểu, tử tế và tha thứ cho thế gian.

Mầu nhiệm của thăng thiên

Thăng thiên là gì? Thăng thiên là một sự kiện trong đời Chúa Giêsu và các môn đệ tiên khởi của Ngài, cũng là ngày lễ của kitô giáo, một thần học, một linh đạo, tất cả kết lại thành một mầu nhiệm mà hiếm khi chúng ta cố gắng giải thích. Thăng thiên là gì?

Có một phần trong sự Thăng thiên là bí ẩn nghịch lý đến kỳ lạ. Đó là nghịch lý: một người nào đó đã đi vào cuộc đời chúng ta, chạm đến chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta, xây dựng chúng ta, đem lại cho chúng ta sự sống, người đó là một ơn đem lại sự sống tuyệt diệu. Nhưng trong việc cuối cùng khi chúng ta phải tạm biệt sự hiện diện của người đó, thì họ cũng mang lại một ơn khác. trong việc người nào đó ra đi, cũng có một ơn. Sự hiện diện cũng phụ thuộc vào sự vắng mặt. Có ơn lành chúng ta chỉ có thể trao khi ra đi.

Chính vì thế, khi từ biệt các môn đệ trước lúc thăng thiên, Chúa Giêsu đã có những lời: “Ta đi thì tốt hơn cho anh em. Giờ anh em sẽ buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ biến thành niềm vui. Đừng giữ Ta, Ta phải lên trời.”

Chúng ta nên hiểu những lời này như thế nào? Người chúng ta yêu thương giờ đi xa thì làm thế nào nào có thể tốt hơn được? Làm thế nào mà nỗi buồn của chia ly và sự rời xa đau đớn lại trở thành niềm vui? Làm sao một lời từ biệt cuối cùng lại đem đến sự hiện diện sâu sắc hơn của người đó?

Chuyện này khó giải thích, dù ai cũng có kinh nghiệm trong cuộc đời về chuyện này. Tôi xin đưa ra một ví dụ: Năm tôi 23 tuổi, chỉ trong vòng ba tháng, cả cha mẹ của tôi đều lần lượt qua đời. Với tôi và các anh chị em, nỗi đau mất cha mẹ quá lớn. Như với bất kỳ nỗi mất mát lớn nào, ban đầu chúng ta cảm thấy đau khổ, bị đoạn tuyệt, lạnh lẽo, bất lực, yếu đuối, mất đi mối liên hệ sống còn của mình, và cảm nhận sự tàn bạo của cái chết tuyệt đối ập đến khi chúng ta chưa chuẩn bị đủ. Trong mọi mất mát, cái chết hay một chia ly đau đớn, mới đầu không có gì là ấm áp.

Dĩ nhiên thời gian có thể chữa lành mọi thứ, nhưng nó không chỉ có nghĩa chúng ta được bình an qua năm tháng, nó còn hơn thế. Sau một thời gian, với tôi là vài năm, tôi không còn cảm thấy lạnh lẽo nữa. Cái chết của cha mẹ không còn là chuyện đau đớn. Thay vào đó, sự vắng mặt của họ biến thành sự hiện diện ấm áp, nặng nề nhường chỗ cho nhẹ nhàng trong linh hồn, dường như việc họ không thể nói chuyện với tôi lại là một hiện diện liên tục, vững vàng mới mẻ đầy kinh ngạc, và ơn lành họ chưa mang lại trọn vẹn cho tôi khi còn sống, thì bây giờ lại bắt đầu thấm sâu hơn, vững chắc hơn vào tận tâm hồn tôi. Với các anh chị em của tôi cũng thế. Nỗi buồn của chúng tôi biến thành niềm vui, và chúng tôi bắt đầu tìm thấy lại cha mẹ một cách thâm sâu hơn, ở một nơi sâu thẳm hơn của linh hồn, cụ thể là những nơi mà tinh thần của họ đã bừng nở khi còn sống. Họ đã lên trời, chúng tôi được tốt hơn nhờ thế.

Chúng ta thường xuyên có dạng trải nghiệm này, chỉ là ít mãnh liệt hơn. Chẳng hạn khi con cái trưởng thành ra khỏi nhà để xây dựng cuộc sống riêng, cha mẹ rất buồn. Cái chết thật sự phải xảy ra, sự thăng thiên phải xảy ra. Cách kết nối cũ phải chết đi, dù có đau lòng đi chăng nữa. Nhưng chúng ta biết, con cái chúng ra rời đi thì tốt hơn.

Và chuyện này cũng đúng với mọi chuyện khác trong đời. Khi chúng ta đến thăm ai, điều quan trọng là chúng ta đến, nhưng việc chúng ta đi cũng quan trọng. Chúng ta đi, dù đau đớn, nhưng đó là một phần của món quà khi chúng ta đến thăm. Sự hiện diện của chúng ta phần nào phụ thuộc vào sự vắng mặt của chúng ta.

Chúng ta cẩn thận phân biệt điều này với ý của câu: “Xa cách làm lòng thêm yêu thương.” Câu này phần lớn là không đúng. Sự vắng mặt làm yêu mến thêm, nhưng chỉ trong một thời gian và hầu hết là vì những lý do sai. Sự vắng mặt về thể lý, sự xa cách đơn thuần không có động lực tinh thần sâu sắc thì thường chấm dứt mối quan hệ hơn là đào sâu mối quan hệ. Cuối cùng, gần như lúc nào chúng ta cũng đơn giản là xa rời nhau. Cách sự thăng thiên đào sâu thân mật, hiện diện và ơn lành thì không như thế.

Thăng thiên đào sâu sự thân mật bằng cách cho chúng ta một hiện diện mới, sâu sắc hơn và phong phú hơn, nhưng nó chỉ đến nếu như cách thức hiện diện cũ của chúng ta bị rời đi. Có lẽ chúng ta hiểu chuyện này rõ nhất qua kinh nghiệm con cái trưởng thành và rời nhà. Thật đau đớn khi thấy con cái lớn lên và xa chúng ta. Thật đau đớn khi phải nói tạm biệt. Thật đau đớn khi để ai đó ra đi.

Nhưng nếu con cái có thể nói những lời mà lòng chúng cảm nhận thì chúng sẽ nói như Chúa Giêsu đã nói trước khi thăng thiên: “Con đi thì tốt hơn cho cha mẹ. Giờ cha mẹ sẽ buồn, nhưng nỗi buồn sẽ biến thành niềm vui khi một ngày không xa, con sẽ đứng trước cha mẹ như người con trường thành, có thể cho cha mẹ món quà sâu sắc hơn từ sự trưởng thành của con”.

Lời mời gọi đến với giờ kinh phụng vụ

Tất cả chúng ta đều là tư tế nhờ phép rửa, và cùng với đó là lời mời gọi cầu nguyện cho thế giới như một tư tế thông qua lời cầu bàu của Chúa Kitô và Giáo hội. Điều này chính xác là gì?

Ai được rửa tội để trở thành tín hữu kitô thì đều được làm phép rửa để trở thành tư tế của Chúa Giêsu Kitô. Chức tư tế được trao cho mọi kitô hữu đã nhận phép rửa, chứ không chỉ là đặc quyền và trách nhiệm của những người được chính thức thánh hiến cho việc mục vụ, và như thế là mọi tín hữu kitô trưởng thành đều có một lời kêu gọi.

Lời kêu gọi này rất cụ thể. Chúng ta không cần phải nghĩ xem mình phải làm gì hay phải sáng tạo gì. Đúng hơn, chúng ta được kêu gọi tham gia vào một thực hành đã khởi sự từ thời cộng đoàn tông đồ tiên khởi và truyền cho đến chúng ta ngày nay. Đó là mỗi ngày cầu nguyện hai bài kinh trong bộ kinh phụng vụ: Thần vụ của Giáo hội, Giờ kinh Phụng vụ, Giờ kinh điển hoặc Kinh nhật tụng. Từ thời sơ khởi của tu viện kitô giáo, những bài kinh này đã đóng vai trò then chốt trong việc cầu nguyện của Giáo hội dù là công giáo hay không.

Có tám bài kinh, mỗi bài để đọc vào một thời gian khác nhau trong ngày và có liên quan đến bầu khí và ánh sáng của mỗi giờ. Tám bài kinh này là: Kinh sáng, Kinh sách, Kinh Trưa giờ Ba, Kinh trưa giờ Sáu, Kinh trưa giờ Chín, Kinh chiều, Kinh Tối, Kinh đêm. Xin lưu ý sự thích hợp của các tên: Các giờ kinh phụng vụ.

Dù có tám bài kinh, nhưng chỉ có các tu sĩ và nữ tu ở các dòng chiêm niệm mới đọc đủ toàn bộ tám bài. Còn các linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ chuyên việc mục vụ, các thừa tác viên của Tin Lành và phái Phái Phúc âm, cùng giáo dân, thì bình thường chỉ đọc hai kinh: Kinh sáng và Kinh tối.

Cần phân biệt những bài kinh này với đời sống cầu nguyện riêng. Đây không phải là những suy niệm cá nhân, mà là lời cầu nguyện chung, lời kinh phụng vụ, lời kinh của Giáo hội, lời cầu nguyện của Chúa Kitô cho thế giới. Về lý thuyết, các kinh này là để cầu nguyện, để đọc chung, nhưng nếu đọc riêng, chúng vẫn là lời kinh chung của Giáo hội. Đọc kinh phụng vụ là để tham gia vào lời cầu nguyện chính thức của Giáo hội, dâng lên lời cầu nguyện được hàng ngàn, có khi hàng triệu kitô hữu dâng cùng một giờ trên khắp thế giới, và đó là Nhiệm thể Chúa Kitô đang cầu lời cầu nguyện tư tế của Chúa Kitô cho toàn thế giới.

Hơn nữa, vì đây là những lời cầu nguyện của Giáo hội chứ không phải của riêng chúng ta, nên chúng ta không được tự do biến đổi hay thay thế bằng những lời cầu nguyện khác tùy theo tâm trạng, lòng sùng mến hoặc sở thích về thần học của mình. Những lời cầu nguyện này không cần phải có ý nghĩa cá nhân với chúng ta. Chúng ta đang cầu nguyện với tư cách tư tế, dâng lời cầu nguyện cho thế giới, và tự nó đã vô cùng ý nghĩa, độc lập với việc nó có ý nghĩa gì với chúng ta vào một ngày nào đó hoặc một giai đoạn nào đó trong đời. Hoàn thành trách nhiệm không phải lúc nào cũng có ý nghĩa cụ thể. Khi đọc những lời kinh này, là chúng ta đang đảm nhận trách nhiệm của một tín hữu kitô trưởng thành, nghĩa là cầu nguyện cùng Giáo hội qua Chúa Kitô cho toàn thế giới.

Hai giờ Kinh sáng và Kinh tối chúng ta được mời gọi cầu nguyện mỗi ngày đều có kết cấu đơn giản: ba thánh vịnh, một đoạn ngắn Lời Chúa, một thánh ca cổ (kinh Benedictus hay kinh Magnificat), một vài lời nguyện ngắn, kinh Lạy Cha và lời nguyện kết.

Vì vậy, đây là lời mời gọi: với tư cách là kitô hữu trưởng thành, là tư tế nhờ phép rửa, là người quan tâm đến Hội thánh và Giáo hội, tôi mời gọi bạn tham gia cùng hàng ngàn, hàng triệu tín hữu kitô trên khắp thế giới cầu nguyện lời Kinh sáng và Kinh tối của Giáo hội. Rồi, như Chúa Kitô là tư tế, chúng ta sẽ dâng hiến lễ cho thế giới. Rồi khi xem tin tức thế giới và cảm thấy nản lòng, bất lực trước những chuyện không ổn của thế giới và tự hỏi mình có thể làm gì, thì có một việc để làm, rất thực, đó là cầu nguyện cùng Chúa Kitô và cùng Giáo hội cho thế giới.

Vậy tìm ở đâu ra những bài Kinh sáng tối này? Có thể mua kinh phụng vụ ở hầu hết các nhà xuất bản tôn giáo, cả công giáo và tin lành. Thật ra bây giờ không cần phải mua, hiện đã có sẵn trên mạng. Đơn giản chỉ cần mở công cụ tìm kiếm và đánh vào “giờ kinh phụng vụ” là sẽ thấy.

Khi đọc những lời kinh này mỗi ngày, dù một mình hay lý tưởng là cùng với người khác, bạn sẽ đảm đương một năng lực và trách nhiệm đặc biệt được trao cho bạn trong phép rửa và sẽ là một món quà quan trọng để trao cho thế giới. Và bạn sẽ không bao giờ phải đấu tranh với câu hỏi: hôm nay mình nên cầu nguyện như thế nào?

Những người bạn đồng hành đức tin thực sự của chúng ta là ai?

Tôi làm việc và thường xuyên đi lại trong các nhóm của giáo hội, tôi thấy hầu hết những người ở đây đều trung thực, tận tâm, và sốt sắng giữ đức tin của mình. Họ không phải là những người đạo đức giả đi lễ. Nhưng điều làm tôi cảm thấy khó chịu, đó là nhiều người trong chúng ta có thể có ác ý, cay đắng, phán xét khi bảo vệ những giá trị mà họ yêu quý.

Cố linh mục Henri Nouwen là người đầu tiên nêu lên vấn đề này khi ngài đau buồn bình luận, trong số những người cay đắng và bị thúc đẩy bởi ý thức hệ mà ngài quen biết, có không ít người nằm trong các nhóm ở nhà thờ, các nơi mục vụ. Trong các nhóm này, gần như hầu hết họ giận dữ về một chuyện gì đó. Thêm nữa, trong các nhóm này, quá dễ để hợp lý hóa chuyện này chuyện kia nhân danh tính ngôn sứ, xem đó là nhiệt tâm công chính vì chân lý và luân lý của mình.

Đa số hoạt động theo cách: vì tôi thực sự quan tâm đến vấn đề công lý, giáo hội hay luân lý, tôi có thể thách thức cho một số mức độ tức giận, chủ nghĩa tinh hoa và phán xét tiêu cực. Vì tôi có thể hợp lý hóa cho lý do của tôi, dù là về giáo lý hay luân lý, nó quá quan trọng đến mức nó biện minh cho ác ý của tôi. Nói như thế có nghĩa là tôi có quyền được lạnh lùng và gay gắt, vì đây là một chân lý quan trọng.

Và thế là chúng ta biện minh cho ác ý bằng cách khoác lên tấm áo ngôn sứ, nghĩ rằng mình là chiến binh cho Thiên Chúa, cho chân lý và luân lý, trong khi thực ra, chúng ta cũng đang đấu tranh dữ dội như thế trước những vết thương, bất an và nỗi sợ của chính chúng ta. Vì thế chúng ta thường nhìn vào người khác, thậm chí nhìn vào toàn bộ những giáo hội khác với những con người chân thành đang cố sống Tin mừng, nhưng chúng ta lại không thấy được những gì họ đang đấu tranh để theo Chúa Giêsu như chúng ta, chúng ta chỉ thấy “những người lầm lỗi, những người theo chủ nghĩa tương đối nguy hại, những dân ngoại của thế hệ mới, đóm lửa tàn của tôn giáo”, hay nhẹ nhàng nhất là “những linh hồn lạc lối tội nghiệp”. Hiếm khi chúng ta nhìn dạng phán xét này đang nói gì về chính chúng ta, về sức khỏe tâm hồn và việc đi theo Chúa Giêsu của chúng ta.

Xin đừng hiểu lầm ý tôi: Chân lý thì không tương đối, các vấn đề luân lý thì quan trọng, và chân lý đúng đắn cũng như luân lý đúng đắn thì luôn mãi bị vây hãm và luôn cần được bảo vệ. Không phải mọi phán xét về đạo đức đều được tạo ra ngang nhau, và với mọi giáo hội cũng thế.

Nhưng sự thật này không áp chế mọi sự khác và cho chúng ta cái cớ để hợp lý hóa ác ý. Chúng ta phải bảo vệ chân lý, bảo vệ những người không thể tự vệ, và chúng ta phải trung thành với các truyền thống trong giáo hội của mình. Tuy nhiên, nếu chỉ có chân lý và luân lý đúng đắn thì không làm chúng ta trở nên môn đệ của Chúa Giêsu. Vậy điều gì mới làm chúng ta thành môn đệ của Chúa Giêsu?

Điều làm chúng ta thành môn đệ đích thực của Chúa Giêsu, đó là việc sống trong Thần Khí của Ngài, trong Chúa Thánh Thần, và đây không phải là chuyện mơ hồ hay trừu tượng. Nếu muốn tìm một công thức duy nhất để xác định ai là Kitô hữu ai không, thì chúng ta phải đọc lại chương 5 Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Galat. Trong đoạn này, ngài nói chúng ta có thể sống theo tính xác thịt hoặc sống theo Thần Khí.

Chúng ta sống theo tính xác thịt khi chúng ta sống trong cay đắng, phán xét người anh em, bè phái và không biết tha thứ. Khi những thói xấu này định hình cuộc sống, thì chúng ta không được tự lừa dối mình, nghĩ mình đang sống trong Thần Khí.

Ngược lại, chúng ta sống trong Thần Khí khi cuộc sống chúng ta sống trong bác ái, vui vẻ, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Nếu những điều này không định hình cuộc sống chúng ta, thì dù chúng ta có nhiệt tâm vì chân lý, giáo lý hay công lý, thì chúng ta không nên nuôi ảo tưởng mình đang sống trong Thần Khí Thiên Chúa.

Nói thế này có lẽ rất ác, nhưng không nói có lẽ còn ác hơn: đôi khi tôi thấy những người theo thuyết Nhất Thể hay phong trào Thời Đại Mới (những người thường bị các giáo hội khác xem là mơ hồ và không biết đứng lên vì bất kỳ điều gì) lại có bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục và nhân hậu hơn những người trong chúng ta đang mạnh mẽ đứng lên vì một số vấn đề luân lý nào đó trong giáo hội, đến mức trở nên ác ý và thiếu bác ái khi chìm trong những xác quyết đó.

Về lựa chọn muốn ai là người anh em của mình, hoặc sâu sắc hơn, ai là người tôi muốn sống đời với họ, thì đôi khi chúng ta lại mâu thuẫn trong lựa chọn. Ai là bạn đồng hành đức tin thật sự của tôi? Những người cuồng tín hèn hạ đang chiến tranh vì Chúa Giêsu, vì chính nghĩa, hay những linh hồn hiền lành bị gán mác mơ hồ hay “thời đại mới”? Xét cho cùng, ai là người sống trong Thần Khí hơn?

Tôi nghĩ, chúng ta cần phải tự phê phán hơn nữa về sự giận dữ của mình, về những lời phán xét gay gắt, tinh thần ác ý, bài xích, khinh thị của mình với các con đường luân lý và giáo hội khác. Như tác giả T.S. Eliot từng nói: Cám dỗ tận cùng, cũng là phản bội lớn nhất, đó là làm điều đúng đắn nhưng lại sai lý do. Có lẽ chúng ta có chân lý và luân lý đúng đắn, nhưng sự giận dữ và những lời phán xét gay gắt của chúng ta nhắm đến những người không cùng chung luân lý và chân lý, có lẽ chính đó là điều làm chúng ta phải đứng ngoài nhà của Cha, như người anh của người con hoang đàng, cay đắng về lòng thương xót của Thiên Chúa và cay đắng với những người được Thiên Chúa thương xót, khi những người này có vẻ không xứng đáng.

Văn minh đã không còn

Vì sao chúng ta không còn hòa hợp với người khác? Vì sao lại có sự phân cực cay đắng trong đất nước, ở khu phố, trong Giáo hội và cả trong gia đình chúng ta? Vì sao trong nhiều cuộc trò chuyện, chúng ta cảm thấy không an toàn, luôn mãi cảnh giác để không lỡ chân bước vào bãi mìn nào đó về đạo đức, chính trị và xã hội?

Chúng ta, ai cũng có lập luận riêng về những lý do này, và chúng ta hầu hết dựa vào mạng tin tức mình thích, vào bạn bè để củng cố quan điểm của mình. Vì sao? Vì sao lại có sự phân cực cay đắng và những chuyện phiền phức này duy trì giữa chúng ta?

Tôi xin mạn phép đưa ra câu trả lời từ một nguồn gốc cổ xưa: đó là Sách thánh. Tiên tri Malachi trong Sách thánh do thái, cũng là Cựu Ước của chúng ta, cho chúng ta cái nhìn thấu suốt về nguồn gốc của phân cực, chia rẽ và hận thù. Ngài viết lại lời sấm của Thiên Chúa: “Còn Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi đáng khinh và ra hèn mạt trước mặt toàn dân, vì các ngươi không tuân giữ đường lối Ta, và hay nể vì khi áp dụng Luật. Tất cả chúng ta chẳng có cùng một cha sao? Chẳng phải cùng một Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta sao? Thế vì sao chúng ta lại phản bội nhau?”

Lời này chẳng hợp cho chúng ta thời nay sao? Khi, vì phân cực và thù ghét, trong Quốc hội, trong Giáo hội, trong cộng đồng, gia đình, và gần như mọi nơi mọi lúc chúng ta không còn tôn trọng nhau, không còn cố gắng đối xử văn minh với nhau. Chúng ta đã phản bội lẫn nhau. Văn minh đã không còn.

Hơn nữa, chuyện này ảnh hưởng đến cả hai phía trong lăng kính tư tưởng, chính trị, xã hội và giáo hội. Cả hai phía đều có những phe, những hệ tư tưởng riêng biệt từ hờ hững đến khinh miệt với những ai không cùng quan điểm với mình, những ám ảnh về thuyết âm mưu, kiên quyết không nhân nhượng, thiếu tôn trọng và còn hạ thấp những ai không chia sẻ cùng quan điểm. Và gần như lúc nào chúng ta cũng rao giảng, biện hộ, thù hận, tin rằng những điều này được thực hiện nhân danh Thiên Chúa, chân lý, luân lý, khai sáng, tự do, hay chủ nghĩa quốc gia.

Có người đã từng nói, không phải chuyện gì cũng có thể khắc phục hoặc chữa lành, nhưng nó phải được đặt tên cho đúng. Chuyện ở đây cũng vậy. Chúng ta cần đặt một tên cho nó. Chúng ta cần lớn tiếng nói, chuyện này là sai. Chúng ta cần lớn tiếng nói, những chuyện này không được làm nhân danh tình yêu. Và chúng ta cần nói to không bao giờ được lý luận hóa sự thù hận và vô lễ nhân danh Thiên Chúa, Kinh Thánh, chân lý, luân lý, tự do, khai sáng hay bất cứ lý do nào khác.

Phải đặt tên cho từng chuyện, dù chúng ta ở đâu trong cuộc tranh luận đầy thù hận và chia rẽ đang bao trùm xã hội hiện nay. Mỗi chúng ta cần xét mình về sự thiên vị của mình, cụ thể chúng ta ít muốn hiểu bên kia thế nào, chúng ta thiếu tôn trọng người khác thế nào, lời nói của chúng ta thiếu văn minh đến thế nào, và bao nhiêu hận thù đã vô thức len lỏi vào cuộc sống chúng ta.

Sau đó, chúng ta cần tự kiểm lại thêm một lần nữa. Từ chân thành “sincere” có nguồn gốc la-tinh là sine-không và cere-sáp. Chân thành nghĩa là “không có sáp”, là chính mình không chịu bất kỳ ảnh hưởng nào. Nhưng chuyện này không dễ dàng như vậy. Cách chúng ta nhìn chính mình, điều chúng ta tin và quan điểm của chúng ta về mọi sự mọi lúc đều bị cuộc đời chúng ta phủ bóng rất lớn, qua những tổn thương, qua công việc, qua những người mình sống cùng, đồng nghiệp, bạn bè, qua đất nước, qua bầu khí của hệ tư tưởng, chính trị, xã hội, tôn giáo mà chúng ta đang hít thở. Không dễ để biết chúng ta thật sự nghĩ gì hoặc cảm thấy gì về một vấn đề nào đó. Tôi có chân thành không, phản ứng của tôi dựa trên bạn bè và đồng nghiệp của tôi như thế nào, và tôi đón nhận tin này ở đâu? Tận sâu thẳm trung tâm hiện hữu, tôi là ai khi tôi không có lớp sáp?

Khi chúng ta đấu tranh để chân thành, nhất là trong môi trường chia rẽ, thiếu tôn trọng và thù ghét hiện tại, có lẽ chúng ta nên tự hỏi xem những gì mình say mê đủ lớn để nảy sinh thù ghét trong mình, cái đó liệu có bén rễ từ sự chân thành hay là từ hệ tư tưởng, từ cảm xúc bản thân hay phản ứng tri thức đối với điều mà mình ghét?

Cũng dễ hiểu khi chúng ta không trả lời được câu hỏi này. Là con người, chúng ta phức tạp, và việc đi tìm sự chân thành là hành trình của cả một đời. Tuy nhiên, khi đi trên con đường đến với sự chân thành, có một số quy luật mang tính thiêng liêng và nhân văn không thể du di. Tiên tri Malachi đã nêu ra một luật trong đó: “Đừng thiên kiến trong quyết định và đừng phản bội nhau”. Câu này muốn nói gì?

Có một ý là: Bạn có quyền để đấu tranh, để bất đồng với người khác, để say mê vì chân lý, để thỉnh thoảng nổi giận và ngay cả đôi khi cảm thấy thù ghét (vì ghét không đối lập với yêu, lãnh đạm mới đối lập với yêu). Nhưng bạn đừng bao giờ rao giảng thù ghét và chia rẽ, đừng nhân danh sự thiện mà biện hộ cho chúng. Trong chân thành của mình, bạn cần nuôi dưỡng một sự bất tín bẩm tại với bất kỳ ai tích cực biện hộ cho thù ghét và chia rẽ.

Văn minh đã không còn.

Năng lượng tràn đầy của Thiên Chúa

Xét về mọi mặt, tôi nghĩ tôi đã lớn lên với một khái niệm tương đối lành mạnh về Thiên Chúa. Thiên Chúa trong tuổi thơ của tôi, Thiên Chúa tôi được học trong giáo lý, không phải là Đấng trừng phạt quá đáng, độc đoán hay phán xét. Cứ cho là Ngài hiện diện khắp mọi nơi nên mọi tội lỗi của chúng ta đều bị Ngài biết và ghi lại, nhưng xét cho cùng, Ngài công bằng, yêu thương, đích thân quan tâm đến từng người, bảo vệ chúng ta đến mức cho chúng ta mỗi người một thiên thần hộ mệnh. Thiên Chúa đó cho tôi được sống mà không quá sợ hãi và không bị những tác động méo mó của tôn giáo làm rối loạn thần kinh.

Nhưng hình ảnh Thiên Chúa này chỉ giúp chúng ta tiến được chừng đó. Không có quan niệm không lành mạnh về Thiên Chúa không có nghĩa là có được một quan niệm lành mạnh rõ ràng. Thiên Chúa mà tôi được dạy hồi nhỏ không nghiêm khắc và phán xét quá mức, nhưng cũng không quá vui vẻ, cười đùa, hài hước hay hóm hỉnh. Nhất là Thiên Chúa này không có tính dục, đặc biệt thận trọng và không nhân nhượng trong lãnh vực này. Về căn bản, Thiên Chúa này u ám, nặng nề, không phải người để chúng ta vui vẻ ở gần. Ở gần Ngài thì phải trang nghiêm và cung kính. Tôi nhớ cha phó giám tập của tôi ở Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ nói, không hề có ghi chép nào về việc Chúa Giêsu cười.

Sống với một Thiên Chúa như vậy, căn bản chúng ta phải có sức mạnh. Nhưng khi đặt nặng Ngài như thế, chúng ta không hoàn toàn hăng hái bước đi trên đường đời, và mối quan hệ giữa Ngài với chúng ta chỉ có thể là trang nghiêm và cung kính.

Rồi cách đây hơn một thế hệ, trong các giáo hội và các nền văn hóa đã có một phản ứng mạnh với khái niệm này về Thiên Chúa. Thần học và linh đạo đại chúng bắt đầu sửa đổi, đôi khi còn phản ứng một cách dữ dội thái quá. Cái mà họ muốn đưa ra là một Chúa Giêsu đang cười, một Thiên Chúa nhảy múa, và dù điều này không phải là không có giá trị, nhưng nó vẫn làm chúng ta đi tìm một lời sâu sắc hơn về bản tính Thiên Chúa và ý nghĩa của điều này với sự lành mạnh và các mối quan hệ của chúng ta.

Văn học này không dễ viết ra, không phải vì Thiên Chúa không thể diễn tả, nhưng vì năng lực của Thiên Chúa là điều không thể diễn tả được. Vậy thật sự năng lực này là gì? Chúng ta hiếm khi đặt câu hỏi này, vì chúng ta xem sinh lực là một điều gì đó căn bản, không thể định nghĩa, mà chỉ có thể xem là một cái gì đó đương nhiên, hiển nhiên. Chúng ta xem sinh lực là lực nguyên thủy, nằm ở trung tâm mọi hiện hữu có sự sống hay không có sự sống. Hơn nữa, chúng ta cảm nhận được năng lực một cách rất mạnh mẽ bên trong mình. Chúng ta nhận biết sinh lực, cảm nhận được sinh lực, nhưng hiếm khi nhận ra được nguồn gốc của nó, sự phi thường, niềm vui, sự tốt lành, sôi nổi và hồ hởi của nó. Hơn thế, chúng ta hiếm khi nhận ra được điều nó nói với chúng ta về Thiên Chúa. Nó nói gì với chúng ta?

Phẩm chất đầu tiên của sinh lực là phi thường. Nó phi thường vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta, và điều này nói lên điều gì đó về Thiên Chúa. Một Đấng Tạo Hóa nào lại tạo ra hàng tỷ tỷ vũ trụ mà chẳng để làm gì? Một Đấng Tạo Hóa nào lại tạo ra hàng tỷ tỷ giống loài có sự sống, hàng tỷ tỷ triệu triệu loài trong đó chưa bao giờ con người nhìn thấy? Loại người cha, người mẹ nào lại có hàng tỷ người con?

Và sự tràn đầy năng lực nơi trẻ con nói lên điều gì về Đấng Tạo Hóa? Sự vui đùa của chúng gợi ý gì về điều hẳn cũng đã ẩn trong sinh lực thiêng liêng? Sinh lực của chú chó con cho chúng ta biết điều gì là thiêng liêng không? Tiếng cười, hóm hỉnh, châm biếm nói với chúng ta điều gì về Thiên Chúa?

Chắc chắn sinh lực chúng ta nhìn thấy quanh mình và cảm nhận trong chính mình đang nói với chúng ta, ẩn dưới mọi sự khác, có một nguồn năng lượng thiêng liêng, cả về thể chất lẫn tinh thần, và cội nguồn của nó là vui vẻ, hạnh phúc, vui đùa, hồ hởi, sôi nổi, riêng tư và yêu thương. Thiên Chúa là nền tảng cho sinh lực đó. Sinh lực đó nói về Thiên Chúa, sinh lực đó cho chúng ta biết vì sao Thiên Chúa tạo ra chúng ta và cho chúng ta những gì để sống cuộc sống của chúng ta.

Thiên Chúa là không thể diễn tả, đó là chân lý đầu tiên chúng ta có về Thiên Chúa. Như thế có nghĩa, chúng ta không thể tưởng tượng hay định nghĩa Thiên Chúa vào trong một khái niệm. Mọi hình tượng về Thiên Chúa đều không đủ, nhưng phải công nhận, chúng ta nên hình dung mọi chuyện như thế. Ở trung tâm mọi sự, ẩn chứa một năng lượng không thể tưởng tượng được, đó không phải là một sức mạnh vô ngã, mà là một con người, một khối óc, một trái tim tự phát yêu thương. Từ nền tảng này, con người này phát sinh ra mọi sinh lực, mọi sáng tạo, mọi sức mạnh, mọi tình yêu, mọi nuôi dưỡng, mọi vẻ đẹp. Hơn nữa, sinh lực đó, cũng như cội nguồn thiêng liêng của nó, không chỉ đầy sáng tạo, thông minh, riêng tư, và yêu thương, mà trong cốt lõi còn vui vẻ, đa dạng, hóm hỉnh, vui đùa, hài hước, gợi tình và hồ hởi. Sống trong sinh lực đó là cảm nhận một mời gọi mãi mãi ghi ơn.

Thách thức trong cuộc sống chúng ta là sống trong nguồn sinh lực đó theo cách tôn vinh vừa sinh lực vừa cội nguồn của nó. Như thế nghĩa là cởi giày trước bụi gai bốc cháy khi chúng ta tôn kính sự thiêng liêng, cả khi chúng ta liên tục được sự cho phép của nó, để trở nên mạnh mẽ, tự do, vui vẻ, hài hước, và vui đùa mà không cảm thấy mình đang trộm lửa của các vị thần.

Phát điên hay nên thánh

Trong bài thơ Serenade, nhà thơ Brazil Adelia Prado nói về nỗi đau nhức nhối mà chúng ta cảm nhận khi luôn mãi chờ đợi một điều gì đó hay một ai đó đến làm cho chúng ta được nên toàn vẹn. Chúng ta chờ đợi gì? Tình yêu? Tri kỷ? Thiên Chúa? Dù là gì, thì sự chán nản cuối cùng đẩy chúng ta đến một lựa chọn, là phát điên hay thánh thiện.

Tôi bắt đầu tuyệt vọng
Và chỉ thấy có hai lựa chọn:
Hoặc phát điên hoặc thánh thiện.

Và khi người đó hay việc đó cuối cùng cũng đến thì:

Làm sao tôi mở được cửa sổ lòng, trừ phi tôi điên?
Làm sao tôi đóng được cửa lòng, trừ phi tôi thánh thiện?

Phát điên hoặc thánh thiện. Càng thêm tuổi chúng ta càng nhận ra câu này đúng như thế nào, nhận ra cuối cùng, đó là lựa chọn mà tất cả chúng ta phải chọn, cả theo cách chúng ta được hình thành và những giới hạn nội tại của cuộc đời. Tại sao? Cuộc đời và chúng ta có gì không ổn sao? Tại sao chúng ta không thể tìm được một nơi yên bình giữa điên loạn và thánh thiện?

Tác giả sách Giảng viên đã cho chúng ta một lý do. Ông viết một câu văn mỹ miều thường được trích dẫn về việc chuyện gì cũng có thời: một thời để chào đời, một thời để lìa thế; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây; một thời để giết chết, một thời để chữa lành; một thời để khóc lóc, một thời để vui cười; một thời để than van, một thời để múa nhảy; một thời để ôm hôn, một thời để tránh hôn; một thời để làm thinh, một thời để lên tiếng; một thời để yêu thương, một thời để thù ghét; một thời để gây chiến, một thời để làm hòa – rồi sau đó, ông lại nói cho chúng ta, Thiên Chúa đã đặt một nhịp điệu mỹ miều cho cuộc sống và làm cho mọi thứ đẹp đẽ vào thời của nó, nhưng Thiên Chúa đã đưa sự vô tận vào tâm hồn con người, nên từ đầu đến cuối, chúng ta cứ lạc nhịp với các thời. Thiên Chúa đã thiết lập một nhịp điệu mỹ miều cho tự nhiên, nhưng chúng ta, khác với những nguyên tố vật lý, khác với thực vật và động vật vốn không có sự vô tận trong linh hồn, nên chúng ta không bao giờ quá hòa hợp với nhịp điệu đó. Chúng ta cưu mang quá nhiều, vượt quá cuộc sống đời này. (Giảng viên 3, 1-11)

Quý vị sẽ thấy cách diễn tả này trong các tác phẩm cả tôn giáo lẫn thế tục. Chẳng hạn, thần học gia người Đức Karl Rahner từng quả quyết, trong sự giày vò của việc bất đạt mọi thứ khả đạt, chúng ta học được, cuộc đời không có bản hòa âm trọn vẹn. Và lời này vang vọng câu nói bất hủ của Thánh Augutinô, một lời vẫn đúng và thích hợp cho thời nay, dù đã được viết cách đây 17 thế kỷ: “Lạy Chúa, Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.” Một câu thể hiện cả nhận thức bất di bất dịch về con người và con đường bất di bất dịch mà con người phải đi. Chúng ta không có mái ấm tối hậu và đó là lý do vì sao, đến cuối cùng, chúng ta chẳng có lựa chọn nào khác ngoài phát điên hoặc nên thánh. Chẳng ngạc nhiên khi bà Ruth Burrows, ngòi bút thiêng liêng trứ danh đã mở đầu tự truyện của bà với câu: “Tôi được sinh ra trong thế giới này với sự nhạy bén bị giày vò và cuộc sống của tôi chẳng dễ dàng gì.”

Mô-típ này xuất hiện khắp trong văn học tôn giáo, nó cũng xuất hiện trong suy nghĩ của nhiều thi sĩ, văn sĩ và triết gia thế tục. Ví dụ nhà văn Albert Camus, người tự cho là vô thần, sau khi được giải Nobel Văn học, ông trả lời một phóng viên hỏi ông có tin vào Thiên Chúa không: “Không, tôi không tin vào Thiên Chúa, nhưng không phải vì vậy mà tôi không bị ám ảnh với câu hỏi về Thiên Chúa.” Tại sao ông lại bị ám ảnh này? Vì trong suy nghĩ của ông, ông không thể nào lý giải được, thế giới cũng không tìm được một nơi hoàn toàn hợp lý trên thế giới cho con người, trừ phi, nơi đó có Thiên Chúa. Không có Thiên Chúa, sự hiện hữu của con người không thể nào thấy bình an với chính mình. Ông xem tình trạng của một con người trong thế giới này giống tình trạng của tù nhân nhà tù thời Trung cổ nào đó, nơi ngươi ta bắt tù nhân ở một phòng giam quá nhỏ đến nỗi họ không bao giờ có thể đứng thẳng hoặc nằm duỗi hoàn toàn. Cảm giác tù túng mãi mãi này cuối cùng có thể làm tinh thần của tù nhân suy sụp. Theo Camus, tình trạng trong đời của chúng ta cũng vậy. Chúng ta không bao giờ có thể thật sự đứng thẳng hoặc nằm duỗi thẳng hoàn toàn toàn. Cuối cùng, chuyện này sẽ làm tinh thần chúng ta suy sụp, chúng ta hoặc phát điên hoặc nên thánh. Đây cũng là quan điểm căn bản của các nhà triết học hiện sinh vô thần khác như Martin Heidegger hay Jean-Paul Sartre.

Phát điên hoặc nên thánh. Tác giả Richard Rohr còn cho chúng ta một lựa chọn thứ ba, đó là cay đắng. Ông cho rằng khi đến một tuổi nào đó, chúng ta chỉ có ba lựa chọn: Chúng ta có thể trở thành một người già thảm hại, một người già cay đắng, hoặc một người già thánh thiện. Quý vị lưu ý, đây là chuyện bất di bất dịch. Cuối cùng chúng ta đều là người già. Chúng ta chỉ được lựa chọn xem mình sẽ trở thành người già nào – điên cuồng, cay đắng hay thánh thiện.

Sự thinh lặng của Thiên Chúa trước sự dữ

Các thần học gia đôi khi cố gói gọn ý nghĩa sự sống lại của Chúa Giêsu bằng một câu: “Trong sự phục sinh, Thiên Chúa chứng thực cho Chúa Giêsu, cho cuộc sống, sứ điệp và lòng trung tín của Ngài”. Như vậy nghĩa là gì?

Chúa Giêsu đi vào thế gian để rao giảng về đức tin, tình yêu và sự tha thứ, nhưng thế gian không đón nhận. Thay vào đó, thế gian đóng đinh Ngài trên thập giá, và hành động đó dường như cũng là chế giễu thông điệp của Ngài. Chúng ta thấy điều này rõ ràng nhất nơi thập giá, khi Chúa Giêsu bị sỉ nhục, chế giễu và thách thức: Nếu ông là con Thiên Chúa thì xuống khỏi đó đi! Nếu thông điệp của ông là đúng, thì để Thiên Chúa xác nhận ngay đi! Nếu lòng trung tín của ông không phải chỉ là sự cứng đầu và ngu muội của con người, vậy tại sao ông lại chết trong tủi nhục?

Thiên Chúa đáp lại thế nào với những lời chế nhạo này? Dường như Ngài chẳng có đáp lại gì, chẳng có bình luận, biện hộ, biện giải, phản bác gì, chỉ có thinh lặng. Chúa Giêsu chết trong thinh lặng. Cả Chúa Giêsu lẫn Thiên Chúa mà Ngài tin đều không cố gắng lấp đầy hố thẳm ghê gớm đó bằng một lời an ủi hay giải thích nào, không thách thức con người nhìn vào bức tranh tổng thể hay nhìn vào những mặt tươi sáng hơn. Hoàn toàn không có gì. Chỉ có thinh lặng.

Chúa Giêsu chết trong thinh lặng, trong thinh lặng của Thiên Chúa và trong vô tri của thế gian. Và chúng ta bực bội trước sự thinh lặng này, cũng như chúng ta bực bội bởi cái dường như chiến thắng của sự dữ, đau đớn và thống khổ nơi trần gian. Thiên Chúa dường như thinh lặng trước sự dữ và cái chết, điều này có thể làm chúng ta bực bội mãi: như trong cuộc diệt chủng Do Thái, những cuộc diệt chủng sắc tộc, những cuộc chiến tranh phi nghĩa và tàn bạo, trong những trận động đất và sóng thần cướp đi hàng ngàn sinh mạng và tàn phá nhiều quốc gia, trong cái chết của vô số người vì ung thư và vì bạo lực, trong những bất công của cuộc đời, trong lề thói của những người vô lương tâm có thể hủy hoại cả một lãnh vực cuộc sống mà không chịu hậu quả gì. Trong mọi chuyện này, Thiên Chúa ở đâu? Câu trả lời của Ngài là câu trả lời nào?

Câu trả lời của Thiên Chúa là sự phục sinh, sự phục sinh của Chúa Giêsu và sự phục sinh mãi mãi của sự thiện trong chính sự sống. Nhưng sự phục sinh không nhất thiết là sự giải cứu. Thiên Chúa không nhất thiết giải cứu chúng ta khỏi những tác hại của sự dữ, hay thậm chí là sự chết. Sự dữ làm việc của nó, thiên tai là thiên tai, và những kẻ vô lương tâm có thể hủy hoại khi họ đang bị ngọn lửa thiêng của sự sống thôi thúc. Thông thường, Thiên Chúa không can thiệp. Biển Đỏ rẽ làm đôi không phải là chuyện chúng ta thấy hàng ngày. Thiên Chúa để những người Ngài yêu thương chịu đau khổ và chết, cũng như Chúa Giêsu để cho Lazarô bạn của Ngài chết và Thiên Chúa để cho Chúa Giêsu chết. Sau đó, Thiên Chúa cứu chuộc, nâng chúng ta lên, trong một chứng thực sâu sắc hơn, trường tồn hơn. Hơn nữa, sự thật của tuyên bố này còn có thể được kiểm nghiệm.

Bất chấp mọi thể hiện ngược lại, đến cuối cùng, tình yêu chiến thắng hận thù. Hòa bình chiến thắng hỗn loạn. Tha thứ chiến thắng chua cay. Hy vọng chiến thắng yếm thế. Trung tín chiến thắng tuyệt vọng. Đức hạnh chiến thắng tội lỗi. Lương tâm chiến thắng nhẫn tâm. Sự sống chiến thắng cái chết, sự thiện chiến thắng sự dữ, luôn là vậy. Mohandas K. Gandhi đã viết: “Khi tôi tuyệt vọng, tôi nhớ lại mọi chuyện đã trải qua suốt dòng lịch sử, chân lý và tình yêu luôn chiến thắng. Có những kẻ sát nhân và bạo chúa, và chúng dường như bất khả chiến bại suốt một thời gian. Nhưng đến tận cùng, chúng luôn sụp đổ. Cứ nghĩ đi, luôn là thế”.

Sự phục sinh đã chứng thực điều đó một cách mạnh mẽ nhất. Đến cuối cùng, Thiên Chúa là người phán quyết. Sự phục sinh của Chúa Giêsu chính là phán quyết đó. Từ tro tàn của hổ thẹn, của cái dường như là thất bại và cái chết, một sự sống bất diệt mới thâm sâu hơn tuôn trào vĩnh viễn. Đức tin của chúng ta bắt đầu từ chính lúc mọi sự dường như kết thúc, từ trong cái dường như là sự thinh lặng của Thiên Chúa trước sự dữ.

Và điều này yêu cầu chúng ta điều gì?

Trước hết, đơn giản là yêu cầu chúng ta tin vào sự thật của sự phục sinh. Sự phục sinh yêu cầu chúng ta tin vào điều mà Gandhi đã xác nhận, cụ thể là, đến cuối cùng, sự dữ sẽ không có quyền phán quyết. Nó sẽ thất bại. Sự thiện cuối cùng sẽ chiến thắng.

Cụ thể hơn nữa, sự phục sinh yêu cầu chúng ta đánh cược vào tin tưởng và sự thật, tin tưởng rằng lời Chúa Giêsu dạy là đúng. Đức hạnh không ngây dại, kể cả khi bị sỉ nhục. Tội lỗi và yếm thế mới ngây dại, kể cả khi chúng có vẻ đang chiến thắng. Những ai đã dùng lương tâm mà cúi mình trước Thiên Chúa và tha nhân, thì sẽ tìm được ý nghĩa và niềm vui, kể cả khi họ bị tước đi một số lạc thú thế gian. Những ai vô lương tâm múc lấy và thao túng sinh lực thần thiêng thì sẽ không tìm được ý nghĩa sứ sống, kể cả khi họ đã nếm trải lạc thú. Những ai sống trung thực bằng mọi giá, thì sẽ tìm được tự do. Những ai dối trá và lý luận sẽ thấy mình bị cầm tù trong sự ghét mình. Những ai sống trong tin tưởng thì sẽ tìm được tình yêu. Có thể tin tưởng sự thinh lặng của Thiên Chúa, kể cả khi chúng ta chết trong đó. Chúng ta cần phải giữ vững sự thành tín trong tình yêu, tha thứ và lương tâm, bất chấp tất cả đang cho rằng chúng ta làm thế là ngây dại. Chúng sẽ cho chúng ta điều sâu thẳm nhất trong sự sống. Đến cuối cùng, Thiên Chúa chứng thực cho đức hạnh. Thiên Chúa chứng thực cho tình yêu. Thiên Chúa chứng thực cho lương tâm. Thiên Chúa chứng thực cho sự tha thứ. Thiên Chúa chứng thực cho sự trung tín. Đến tận cùng, Thiên Chúa chứng thực cho Chúa Giêsu và chứng thực cho cả chúng ta nếu chúng ta vẫn giữ lòng trung tín.

Sự Thương Khó của Chúa Kitô là thụ động

Chúng ta gọi các đoạn Phúc âm kể lại cuộc đời Chúa Giêsu tính từ bữa Tiệc ly cho đến khi Ngài chết và được mai táng là “Sự thương Khó”. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, người đọc sách mở đầu bài Phúc âm: “Cuộc thương khó của Chúa Giêsu Kitô theo thánh Gioan”.

Tại sao chúng ta gọi cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu trước khi chết là thương khó?

Thường thì chúng ta không hiểu đúng chuyện này. Chúng ta thường nghĩ “thương khó” là đau khổ dữ dội. Nghĩ như thế cũng không sai, nhưng lại bỏ sót một điểm chính. “Thương Khó”, hay “Passion” trong tiếng Anh, có gốc La Tinh là PASSIO, nghĩa là thụ động, không hoạt động, hấp thụ hơn là làm gì đó. Vì vậy, “Thương khó” của Chúa Giêsu là nói đến thời gian trong cuộc đời mà ý nghĩa của Ngài đối với chúng ta không được xác định bằng những gì Ngài làm nhưng qua những gì đến với Ngài. Như thế có nghĩa là gì?

Cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giêsu có thể chia thành hai phần riêng biệt, các học giả ước tính Chúa Giêsu có khoảng ba năm rao giảng và dạy dỗ trước khi bị giết. Phần lớn thời gian đó, thật ra chỉ trừ ngày cuối cùng, Ngài rất năng động, chỉ đạo, dạy dỗ, chữa bệnh, làm phép lạ, khuyên nhủ, ăn uống cùng tội nhân, tranh luận với các giới chức trong hội đường, và Ngài thường làm bằng đủ hoạt động, Ngài mời gọi những người cùng thời với Ngài đến với sự sống của Thiên Chúa. Và Ngài quá bận rộn, quá áp lực đến nỗi không có thời gian để ăn. Hầu hết quãng đời công khai của mình, Chúa Giêsu tích cực làm việc.

Tuy nhiên, từ lúc Ngài bước ra khỏi phòng tiệc ly, sự hoạt động đó dừng lại. Ngài không còn là người làm việc này việc kia cho người khác, mà là người bị người khác làm gì đó với mình. Trong vườn, họ bắt Ngài, trói tay Ngài, dẫn Ngài đến chỗ thượng tế, rồi đến dinh Philatô. Ngài bị đánh đập, bị sỉ nhục, bị lột áo quần, và cuối cùng bị đóng đinh trên thập giá rồi chết. Điều này cấu thành nên “sự thương khó” của Chúa Giêsu, thời gian trong cuộc đời và sứ vụ mà Ngài không còn là người hành động mà là người nhận lấy hành động.

Điều đặc biệt qua chuyện này, chính đức tin dạy chúng ta, chúng ta được cứu rỗi nhờ sự thương khó của Chúa Giêsu (nhờ cái chết và đau khổ của Ngài) hơn là nhờ mọi hoạt động rao giảng và phép lạ của Ngài. Sao lại như thế?

Tôi xin phép được minh họa một chút: vài năm trước, em gái Helen của tôi, một nữ tu dòng Ursuline qua đời vì ung thư. Làm nữ tu hơn 30 năm, Helen yêu ơn gọi của mình, và cũng được yêu thương trong ơn gọi đó. Trong hầu hết 30 năm đó, Helen như người mẹ bảo bọc cho hàng trăm cô gái trẻ vào học viện mà Dòng của em mở. Em yêu quý những cô gái này và là người mẹ, người chị, người thầy cho các cô. Trong 20 năm cuối đời, sau khi mẹ chúng tôi mất, em còn đảm nhận vai trò này trong gia đình tôi, sắp xếp mọi thứ và giữ chúng tôi gắn kết với nhau. Suốt bao năm đó, em là người năng động, người làm việc tuyệt vời, người mà ai cũng muốn giao cho em nhiệm vụ đảm trách. Và em có thiên bẩm trong vai trò này, em thích làm việc gì đó cho người khác.

Rồi chín tháng trước khi mất, căn bệnh ung thư đã tàn phá quá đỗi, em phải nằm liệt giường trong nhiều tháng. Bây giờ em cần có người làm gì đó cho mình. Các bác sĩ, điều dưỡng, các chị em trong Dòng và những người khác luân phiên chăm sóc em. Và như Chúa Giêsu từ khi bị bắt cho đến lúc chết, cơ thể em xuống sức, em phải để người khác dìu dắt, thay áo quần, di chuyển và bị người đi ngang qua tò mò nhìn. Như Chúa Giêsu, em chết khát, phải có người dùng miếng bọt biển thấm vào môi để nhấp chút nước.

Đó là sự thương khó của em. Em đã dành nhiều năm cuộc đời để làm việc cho người khác, giờ em phải chấp nhận để người khác làm việc cho em. Nhưng mấu chốt là ở đây, như Chúa Giêsu, trong giai đoạn cuộc đời, khi bất lực và không còn là người đảm trách, em lại đem lại sự sống và ý nghĩa cho người khác một cách thâm sâu hơn những gì em đã làm trong những năm hoạt động tích cực và làm quá nhiều việc cho người khác.

Đó là mầu nhiệm sinh hoa trái của thụ động, của bất lực. Và ở đây có một bài học quan trọng, đó là hoa trái tiềm tàng của căn bệnh nan y, của sự khuyết tật nghiêm trọng và của bệnh tật. Còn có một bài học nữa về cách chúng ta hiểu được mình có gì để cho người khác trong lúc bản thân đau đớn bệnh tật, bất lực, cần người khác chăm sóc.

Sự thương khó của Chúa Giêsu dạy cho chúng ta, như Chúa Giêsu, chúng ta trao cho người khác lúc bị động cũng nhiều như lúc chúng ta năng động. Khi chúng ta không còn là người đảm trách, khi chúng ta bị đánh gục, bị hạ nhục, bị đau khổ và có khi người thân yêu cũng không hiểu chúng ta, thì đó là lúc chúng ta đang trải qua sự thương khó, và như Chúa Giêsu, chúng ta có cơ hội để trao đi tình yêu của mình một cách rất đỗi thâm sâu.

Đề xuất một cuốn sách mới

Tôi vừa đọc xong quyển sách mới của tác giả John Mark Comer: Thực hành Con đường – Ở cùng Giêsu; Nên như Ngài; Làm như Ngài (Practicing the Way – Be with Jesus; Become like him; Do as he did). Khi giới thiệu, tôi muốn đưa ra một loạt câu trích trong sách mà tôi mong quý độc giả sẽ thấy thú vị về cả ngôn ngữ lẫn nội dung tinh túy của quyển sách.

  • Ân sủng không đối lập với nỗ lực, mà đối lập với sự kiếm được. Đáng buồn thay, sự hiểu lầm bi thảm này thường sinh sản ra những người tận dụng giá trị của Chúa Giêsu thay vì là môn đệ của đường lối Chúa Giêsu.
  • Không có Thiên Chúa, chúng ta không thể, không có chúng ta, Thiên Chúa sẽ không làm vậy. Và như Thomas Keating nói, hành động chính của ý chí không phải là nỗ lực mà là sự đồng ý.
  • Kẻ thù chính của đời sống thiêng liêng là vội vã. Chúng ta phải loại bỏ vội vã ra khỏi đời mình. Hầu hết chúng ta quá bận để sống lành mạnh về mặt cảm xúc và tâm linh. (Trong nỗ lực để sống chậm lại, tác giả Comer đã hai lần bỏ việc. Ông chỉ hối tiếc một điều là đã không làm sớm hơn).
  • Sự cứu rỗi là một trải nghiệm chung. Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ, chứ không gọi một môn đệ. Sống trong cộng đoàn không dễ nhưng đáng để sống. Khi đời sống cộng đoàn không ổn, ai cũng có thể thấy đó là chuyện kinh dị, nhưng khi đời sống cộng đoàn ổn, thì đó chính là một chút hé nhìn vào sự sống bất diệt.
  • Bạn muốn bài điếu văn trong đám tang của mình như thế nào?
  • Bạn có đang ngày càng yêu thương, không chỉ với bạn bè và gia đình mà còn với kẻ thù của mình không? Khi bị tổn thương, bị đối xử bất công (chúng ta đều vậy), bạn có thấy mình ngày càng dễ bộc lộ cay đắng, chịu đựng nỗi đau và không đáp trả bằng sự tử tế không? Bạn có thể cầu nguyện và thậm chí là chúc lành cho người nguyền rủa bạn không?
  • Điều tuyệt vời trong giáo huấn đạo đức của Chúa Giêsu là chúng ta không thể giữ luật bằng cách cố không phạm luật. Đừng đánh giá hành vi bằng “việc này có tội lỗi không?”, mà bằng câu hỏi “việc này đưa mình đến gần hay xa Chúa Giêsu”?
  • Về chữa lành: chỉ cần một điều duy nhất: cởi mở nỗi đau của mình với Thiên Chúa. Khởi đầu của sự cứu rỗi chính là thành thật đối diện với những yếu đuối của mình. Càng trốn tránh, càng khó chữa lành. Không phải đối diện mới có thể thay đổi được, nhưng không đối diện thì không bao giờ thay đổi được. Thường thì chúng ta phạm tội một mình, nhưng chữa lành thì chúng ta cùng nhau chữa lành.
  • Tại sao bạn phải đấu tranh? Vì có lẽ Chúa Giêsu ở trong lòng bạn, nhưng tổ tiên lại ở trong xương tủy bạn. Khi ma quỷ tìm đến ông A-dong và bà E-và trong vườn Địa đàng, nó không cầm theo cây gậy mà đến, nó mang theo một ý tưởng đến. Hãy chú ý đến sự ghen tị của bạn. Đẩy lùi những thế lực làm méo mó bạn.
  • Thế hệ chúng ta đang chứng kiến một sự đổi chiều khổng lồ trong lịch sử nhân loại, sự đổi chiều từ cuộc cách mạng công nghiệp sang thế giới kỹ thuật số. Thời đại kỹ thuật số làm chúng ta được kết nối hơn bao giờ hết. Nhưng các nhà xã hội học cho rằng, chúng ta là thế hệ cô đơn nhất. Con đường tiến tới liệu có thể nào đơn giản là gặp gỡ mọi người trong nỗi đau của họ không? Về việc dùng truyền thông điện tử: Hãy tự mình chọn những ràng buộc, hoặc chúng sẽ chọn mình.
  • Ảo tưởng văn hóa lớn của chúng ta chính là nghĩ sự tiến bộ của chúng ta có thể: Dễ dàng, Nhanh chóng và Trong tầm kiểm soát.
  • Khi chay tịnh là ta đang cầu nguyện bằng cơ thể.
  • Bạn không thể suy nghĩ theo cách của mình để nên giống Chúa Kitô.
  • Không thể nào học theo Chúa Giêsu mà không bị tác động lên cuộc sống của mình. Theo Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải để lại gì đó. Với Phêrô, là để lại lưới đánh cá. Còn với bạn là gì? Theo Chúa Giêsu sẽ làm cho bạn mất một cái gì đó, nhưng không theo Ngài thì bạn sẽ mất nhiều hơn, sẽ mất hạnh phúc và bình an. Trích lời nhà truyền giáo tử đạo Jim Eliot: “Người từ bỏ cái mình không thể giữ để đạt được cái mình không thể đánh mất, thì không phải là người dại”.
  • Hầu hết mọi người nghĩ rằng họ sẽ ngày càng nên giống Chúa Giêsu bằng cách cố gắng hết sức thay vì rèn luyện hết sức. Chúng ta không chạy marathon bằng cách cố gắng hết sức, nhưng bằng cách rèn luyện. Rèn luyện, chứ không phải cố gắng, mới là bí quyết để trở nên giống Chúa Giêsu. Các tu sĩ làm gì trong tu viện? Họ vấp ngã và đứng lên, lại vấp ngã và đứng lên.
  • Có bốn mức độ cầu nguyện: Nói với Thiên Chúa, chuyện trò với Thiên Chúa, lắng nghe Thiên Chúa, ở cùng Thiên Chúa.
  • Nếu muốn có thêm Thiên Chúa, hãy buông Ngài ra.
  • Chúng ta không thể chết trên mọi thập giá, và cũng không được kỳ vọng nên như thế.
  • Trích lời thánh Isaac người Syria: “Lời nói là cơ quan của thế giới hiện tại. Thinh lặng là bí ẩn của thế giới sắp đến”.
  • Chín quy tắc sống của ngài để thực hành Đạo là:
  1. Thực hành ngày Sabát trong một nền văn hóa hối hả và kiệt lực.
  2. Thực hành cô tịch trong một văn hóa ồn ào và bồn chồn.
  3. Thực hành cầu nguyện trong một văn hóa xao lãng và thoát ly thực tế.
  4. Thực hành tính cộng đồng trong một nền văn hóa cá nhân và hời hợt.
  5. Thực hành kinh thánh trong một nền văn hóa bị tiêm nhiễm và thỏa hiệp ý thức hệ.
  6. Thực hành chay tịnh trong một nền văn hóa buông thả.
  7. Thực hành quảng đại trong một nền văn hóa tiêu thụ.
  8. Thực hành phục vụ trong một nền văn hóa bất công và chia rẽ.
  9. Thực hành lòng hiếu khách trong một nền văn hóa thù địch.

Nhưng một loạt câu trích tôi đưa ra đây không thể nào thay thế được cho việc trực tiếp đọc quyển sách này.

Luôn mãi đi trước linh hồn mình

Đôi khi, không có gì hữu ích cho bằng một ẩn dụ tốt.

Trong quyển sách Bản năng Thiên Chúa (The God Instinct) của tác giả Tom Stella, ông chia sẻ câu chuyện sau: Một ngày nọ, vài phu khuân vác được thuê vận chuyển một khối lượng lớn hàng tiếp tế cho một nhóm thợ săn. Các gói hàng này nặng bất thường và đường mòn trong rừng già lại rất khó đi. Sau vài ngày đi đường, họ dừng lại, dỡ hàng xuống và không chịu đi nữa. Không một lời năn nỉ, đe dọa nào có thể thuyết phục họ tiếp tục hành trình. Khi được hỏi vì sao họ không thể đi tiếp, họ trả lời: ‘Chúng tôi không thể đi tiếp, chúng tôi phải chờ cho linh hồn chúng tôi bắt kịp đã.’

Chuyện này cũng có thể xảy ra trong cuộc sống chúng ta, ngoại trừ, gần như không bao giờ chúng ta chờ cho linh hồn bắt kịp mình. Chúng ta cứ tiếp tục đi mà không có linh hồn, có khi suốt nhiều năm ròng. Như vậy có nghĩa là gì? Gần như chúng ta cố gắng, để trong giây phút hiện tại chúng ta thoải mái với chính mình, để ý thức được sự phong phú trong trải nghiệm bản thân. Gần như các trải nghiệm của chúng ta không thuộc phần hồn cho lắm, vì chính chúng ta không hiện diện với nó. Ví dụ:

Trong 20 năm vừa qua, mỗi ngày tôi viết một loại như viết nhật ký. Ý tôi muốn giữ thói quen này để ghi lại những sự việc thâm sâu tôi nhận thức trong ngày, nhưng cuối cùng, những gì tôi viết lại giống như một loại biên niên sử đơn giản của ngày sống, một quyển đơn thuần kể lại những gì tôi đã làm hết giờ này đến giờ khác mà thôi. Nhật ký của tôi chẳng giống gì với Nhật ký của Anne Frank, quyển Marking của cố thư ký Liên Hiệp Quốc Dag Hammarskjold, hay Nhật ký Genesee của cha Henri Nouwen. Nhật ký của tôi giống quyển tập của một cậu bé trung học kể chuyện một ngày ở trường. Nhưng khi lật giở và đọc lại một bài, tôi luôn kinh ngạc thấy ngày sống hôm đó thật phong phú và trọn vẹn, ngoại trừ một việc là lúc viết, tôi không nhận ra điều này. Trong khi tôi đã thực sự sống những ngày như thế, vậy mà hiện nay tôi vẫn còn vất vả để cố gắng hoàn thành công việc, để được lành mạnh, để theo kịp các kỳ vọng, để có được những thời khắc thân ái và sáng tạo giữa các áp lực thường nhật, và để đi ngủ cho đúng giờ đúng giấc. Trong phong cách này, không có nhiều phần hồn, chỉ có một đống lịch trình, công việc và vội vã.

Tôi ngờ rằng đây không phải chuyện gì xa lạ. Tôi ngờ rằng hầu hết chúng ta, sống ngày này qua ngày khác mà không nhận ra cuộc sống của mình phong phú biết bao, và như thế cứ luôn mãi để cho linh hồn bị đi lui lại đằng sau. Chẳng hạn, nhiều phụ nữ mất 10, 15 năm cho việc nuôi dạy con cái, luôn chăm lo cho nhu cầu người khác, nửa đêm thức giấc lo cho con, 24 tiếng một ngày luôn trong tình trạng ứng trực, hy sinh hết thời gian vui thích của mình, tạm gác sự nghiệp và sáng tạo của mình qua một bên. Và cũng rất thường, những phụ nữ này khi nhìn lại năm tháng đã qua này, họ mong muốn làm lại như vậy. Nhưng nhìn theo khía cạnh xúc cảm phần hồn, họ nhận thức rõ rệt, thật tuyệt vời và đặc ân khi được làm những gì mình đã làm với sự chán chường và bức xúc. Nhiều năm về sau, nhìn lại, họ thấy trải nghiệm này thật phong phú và quý báu, và cũng sẽ thấy thời đó họ đã để quá ít phần hồn trong những gì họ đã thực sự trải qua.

Chúng ta có thể kể hàng ngàn ví dụ như ví dụ này. Chúng ta tất cả đều từng đọc đâu đó những chia sẻ về việc mình sẽ sống khác đi nếu được sống lần nữa. Hầu hết câu chuyện như thế có cùng một môtíp chung. Nếu có cơ hội khác, tôi sẽ cố gắng tận hưởng cuộc đời hơn, nghĩa là tôi sẽ cố gắng để tâm hồn và có ý thức hơn vào chuyện đó.

Tôi e là với hầu hết chúng ta, linh hồn sẽ chỉ bắt kịp chúng ta khi chúng ta già, khi sức khỏe sinh lực và cơ hội làm việc tan biến dần dần. Có vẻ như trước hết chúng ta cần phải mất đi điều gì đó trước khi trân trọng nó cho trọn vẹn. Chúng ta có khuynh hướng xem sức khỏe, sinh lực và công việc là chuyện đương nhiên, cho đến khi chúng ta rời xa chúng. Chỉ sau khi đó, chúng ta mới nhận ra cuộc sống của mình thật phong phú biết bao, và nhận ra thời đó, chúng ta đã nhận sự phong phú đó ít ỏi biết bao.

Linh hồn của chúng ta cuối cùng cũng bắt kịp chúng ta, nhưng sẽ thật tốt nếu chúng ta không để cho đến khi vào viện dưỡng lão mới có được điều này. Cũng như các phu khuân vác đã để các thùng hàng xuống và dừng bước, thì chúng ta cũng cần đều đặn dừng lại và chờ cho linh hồn bắt kịp mình.

Khi mới làm linh mục, Đức Phanxicô phụ trách một trường học. Và mỗi ngày, ở một thời điểm cố định, ngài có vài lời trên loa phóng thanh, chen vào những việc đang diễn ra trong từng lớp học.

Xin các con hãy biết ơn. Xin các con định hình tầm nhìn của mình. Và xin các con tận dụng ngày sống của mình.