RonRolheiser,OMI

Ký ức đen tối

Trong tâm hồn chúng ta, vượt ra ngoài những gì chúng ta có thể hình dung, diễn tả bằng lời, thậm chí cảm nhận rõ ràng, chúng ta có một ký ức đen tối về việc đã từng được chạm vào, được đôi bàn tay dịu dàng hơn nhiều so với bàn tay của chính chúng ta vuốt ve. Vuốt ve này đã để lại một dấu ấn vĩnh viễn, một dấu ấn của một tình yêu dịu dàng và sâu sắc đến nỗi ký ức về nó trở thành lăng kính để qua đó chúng ta nhìn các thứ khác. Dấu ấn này nằm ngoài ký ức có ý thức, nhưng lại hình thành nên trọng tâm tâm hồn chúng ta.

Đây không phải là một khái niệm dễ giải thích. Linh mục triết gia Canada Bernard Lonergan (1904-1984), một trong những nhà trí thức vĩ đại đã cố gắng giải thích theo cách triết học, linh mục cho rằng chúng ta mang trong mình “dấu ấn của các nguyên tắc đầu tiên”, cụ thể là những thuộc tính của Chúa như sự toàn vẹn, chân lý, lòng tốt, vẻ đẹp. Điều đó chính xác, nhưng trừu tượng. Có lẽ các huyền thoại, các truyền thuyết xưa cổ nắm bắt điều này tốt hơn khi họ nói, trước khi sinh ra, mỗi linh hồn được Chúa hôn, sau đó dù trải qua cuộc sống đen tối một cách nào đó, con người luôn nhớ nụ hôn này và lượng định mọi thứ qua trải nghiệm ngọt ngào ban đầu này, để kết nối với trái tim, kết nối với nụ hôn nguyên thủy với tất cả sự quý giá và ý nghĩa của nó.
Chính xác điều đang được nói ở đây là gì?

Bên trong mỗi chúng ta, tại nơi mà tất cả những gì quý giá nhất của chúng ta, có một cảm giác mơ hồ về việc đã từng được chạm vào, vuốt ve, yêu thương và trân trọng vượt xa bất kỳ điều gì chúng ta đã trải nghiệm một cách có ý thức. Trên thực tế, tất cả sự tốt đẹp, tình yêu, giá trị và dịu dàng chúng ta trải nghiệm trong cuộc sống đều không đủ chính xác vì chúng ta đã kết nối với một điều gì đó sâu sắc hơn. Khi chúng ta cảm thấy thất vọng, tức giận, bị phản bội, bị xâm phạm đó là vì những trải nghiệm bên ngoài này ngược với những gì chúng ta trân trọng bên trong.

Tất cả chúng ta đều có nơi này, một nơi trong trái tim, nơi chúng ta giữ tất cả những gì quý giá và thiêng liêng nhất của mình. Từ nơi đó, những nụ hôn, những giọt nước mắt của chúng ta tuôn ra. Đó là nơi chúng ta bảo vệ mình để khỏi bị người khác đi vào, nhưng cũng là nơi chúng ta muốn người khác đi vào nhất; nơi chúng ta cô đơn sâu đậm nhất, nơi của thân mật; nơi của ngây thơ, nơi chúng ta bị xâm phạm; nơi của lòng trắc ẩn, nơi của thịnh nộ. Ở đó, chúng ta là thánh. Ở đó, chúng ta là đền thờ của Chúa, đền thờ thiêng liêng của chân lý và tình yêu. Ở đó, chúng ta mang hình ảnh của Chúa.

Nhưng chúng ta cần hiểu điều này: hình ảnh của Chúa bên trong chúng ta không phải là biểu tượng đẹp đẽ được đóng dấu bên trong tâm hồn chúng ta. Không. Hình ảnh và sự giống Chúa bên trong chúng ta là năng lượng, lửa và ký ức; đặc biệt là ký ức về một đụng chạm nhẹ nhàng và yêu thương đến mức lòng tốt và sự thật trở thành lăng kính để cuối cùng chúng ta nhìn thấy mọi thứ. Vì vậy, chúng ta nhận ra lòng tốt và sự thật bên ngoài chúng ta chính xác là vì chúng cộng hưởng với một cái gì đó đã có bên trong chúng ta. Mọi thứ chạm đến trái tim chúng ta khi chúng chạm đến chúng ta ở đây. Không phải vì chúng ta đã được chạm đến và vuốt ve sâu sắc nên chúng ta say mê tìm kiếm người bạn tâm giao, chúng ta tìm kiếm một ai đó để cùng chúng ta ở nơi thân mật này sao?

Và, một cách có ý thức và vô thức, chúng ta đo lường mọi thứ trong cuộc sống bằng cách chạm đến nơi này: tại sao một số trải nghiệm lại chạm đến chúng ta sâu sắc hơn một số trải nghiệm khác? Tại sao trái tim chúng ta lại bùng cháy khi chúng ta đứng trước bất kỳ sự thật, tình yêu, lòng tốt hay sự dịu dàng chân thành và sâu sắc nào? Chẳng phải mọi kiến thức sâu sắc chỉ đơn giản là sự thức tỉnh với điều gì đó chúng ta đã biết sao? Chẳng phải mọi tình yêu chỉ đơn giản là vấn đề được tôn trọng vì điều gì đó chúng ta đã có sao? Chẳng phải sự đụng chạm và sự dịu dàng mang lại ngây ngất không gì khác hơn là khuấy động vào ký ức sâu thẳm của chúng ta sao? Chẳng phải những lý tưởng truyền cảm hứng cho hy vọng chỉ là lời nhắc về những lời mà ai đó đã nói với chúng ta sao? Chẳng phải mong muốn được ngây thơ (ngây thơ là không bị tổn thương) của chúng ta phản ánh một nơi nguyên thủy không bị tổn thương sâu thẳm bên trong chúng ta sao? Và khi chúng ta cảm thấy bị xâm phạm, chẳng phải là vì ai đó đã vô lễ bước vào nơi thiêng liêng bên trong chúng ta đó sao?

Khi chúng ta gần với ký ức này và tôn trọng sự nhạy cảm của nó, chúng ta đang tiếp xúc với tâm hồn mình. Vào những lúc đó, đức tin, hy vọng và tình yêu sẽ nảy nở trong chúng ta, niềm vui và nước mắt sẽ tuôn trào một cách tự nhiên, và chúng ta sẽ bị ảnh hưởng sâu sắc của sự ngây thơ và vẻ đẹp trẻ thơ, khi nỗi đau và lòng biết ơn xen kẽ sẽ làm chúng ta quỳ xuống.

Đó chính là ý nghĩa của việc được hồi tưởng và tập trung. Để thực sự là chính mình là nhớ, chạm và cảm nhận ký ức về một chạm vào ban đầu của Chúa trong chúng ta. Ký ức đó đốt cháy năng lượng và cung cấp cho chúng ta một lăng kính để nhìn và hiểu.

Đáng buồn thay, ngày nay, thế giới bị tổn thương, bị chai sạn, hoài nghi, quá tinh vi và quá trưởng thành thường mời gọi chúng ta quên đi nụ hôn của Chúa trong tâm hồn, xem đây là trò trẻ con. Nhưng, trừ khi chúng ta tự dối mình và cứng rắn chống lại chính mình (hoạt động nguy hiểm nhất trong mọi hoạt động), chúng ta sẽ luôn nhớ, một cách mơ hồ, đen tối, không ngừng nghỉ cái vuốt ve của Chúa.

Độc thân – Nên nói gì đây?

Vài năm trước, một bài xã luận của Frank Bruni đăng trên New York Times có tựa đề Giá của Độc thân (The Wages of Celibacy). Bài viết tuy mang tính khiêu khích nhưng công bằng. Chủ yếu tác giả đặt nhiều câu hỏi khó và cần thiết khi nghiên cứu các vụ bê bối tình dục đã ảnh hưởng đến chức linh mục công giáo trong nhiều năm qua, tác giả cho rằng đã đến lúc phải xem xét lại chế độ độc thân với con mắt trung thực và can đảm, tự hỏi mặt trái của chế độ này có lớn hơn những lợi ích tiềm tàng hay không. Tác giả không đưa ra quyết định chắc chắn về vấn đề này; ông chỉ nói, với lối sống đã khấn, chế độ độc thân có nhiều rủi ro hơn mức bình thường. Gần cuối bài ông viết: “Văn hóa độc thân có nguy cơ kìm hãm phát triển tình dục và biến những ham muốn tình dục thành những cử chỉ lén lút, đau khổ. Nó hạ thấp mối liên hệ cơ bản và có thể là không thể cưỡng lại được của con người. Có gì lạ khi một số linh mục vẫn ráng có những mối liên hệ đó, theo những cách lén lút, thiếu thận trọng và đôi khi mang tính phá hoại không?”

Đây không phải là câu hỏi bất kính. Đây là câu hỏi cần thiết. Chúng ta cần có can đảm để đối diện với câu hỏi: liệu độc thân có thực sự bất thường cho tình trạng con người không? Độc thân có nguy cơ cản trở sự phát triển tình dục không?

Một nhà báo đã hỏi tu sĩ Thomas Merton (1915-1968) độc thân là như thế nào. Tôi ngờ rằng câu trả lời của ông sẽ làm cho những người mộ đạo ngạc nhiên vì ông thực sự tán thành quan điểm của tác giả Bruni. Câu trả lời của ông: “Độc thân là địa ngục! Bạn sống trong cô đơn mà chính Chúa đã lên án khi Ngài nói: ‘Đàn ông sống một mình không tốt!’” Tuy nhiên, khi thừa nhận như vậy, ngay lập tức Merton nói, chỉ vì độc thân không phải là tình trạng bình thường của con người, nhưng không có nghĩa là nó không thể đơm hoa kết trái tốt đẹp, có lẽ sự đơm hoa kết trái độc đáo của nó gắn liền với mức độ phi thường và bất thường của nó.

Về bản chất, Merton muốn nói độc thân là bất thường và làm chúng ta sống trong tình trạng không được Tạo Hóa mong muốn; nhưng, bất chấp và có lẽ là vì sự bất thường đó, nó có thể đặc biệt có ích, cho cả người sống độc thân và những người xung quanh.

Cũng như vô số người khác, tôi biết điều này là đúng vì tôi đã được nuôi dạy sâu sắc là tín hữu kitô và là con người, cuộc sống của các linh mục, nữ tu và anh em đã khấn độc thân chạm đến cuộc sống của tôi và chính xác “sự bất thường” của họ đã giúp họ trở nên vô cùng hiệu quả.

Hơn nữa, sự bất thường đặc biệt này có thể có sức hấp dẫn riêng của nó. Tôi đã làm linh hướng cho một chàng trai trẻ đang phân vân không biết có nên vào dòng Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm hay nên đính hôn với một cô gái trẻ. Đây là quyết định đau đớn vì anh muốn cả hai. Phân định của anh dù lãng mạn quá mức khi anh nói về cả hai lựa chọn, nhưng đồng thời lại cũng rất chín chắn. Đây là cách anh mô tả tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình:

Tôi lớn lên ở một vùng nông thôn và là người anh cả gia đình. Khi tôi 15 tuổi, cha tôi còn trẻ, một buổi tối trước khi ăn tối, cha tôi lên cơn đau tim. Vì không có xe cứu thương để gọi, chúng tôi quấn cha vào xe và mẹ tôi ngồi băng sau ôm cha, còn tôi, một thiếu niên sợ hãi lái xe đến bệnh viện cách nhà khoảng 15 dặm. Cha tôi mất trước khi đến bệnh viện. Dù bi thảm, nhưng có nét tốt đẹp trong đó. Cha tôi chết trong tay mẹ tôi. Vẻ đẹp bi thảm này in dấu trong tâm hồn tôi. Trong tâm trí tôi, trong tưởng tượng của tôi, đó là cách tôi muốn chết – trong vòng tay của vợ tôi. Với hoang mang này, tôi rất do dự khi vào Dòng Hiến Sĩ vì phải độc thân. Nếu tôi là linh mục, tôi sẽ không chết trong vòng tay con người. Tôi sẽ chết như những người độc thân – trong đức tin nhưng không trong vòng tay con người.

Một ngày nọ, khi cố gắng phân định tất cả những điều này, tôi thấy một hình ảnh khác: Chúa Giêsu không chết trong vòng tay của người bạn đời, Ngài chết một mình, trong cô đơn. Tôi luôn có điểm yếu về sự cô đơn của những người độc thân, tôi luôn bị thu hút bởi những người như triết gia Soren Kierkegaard, Mẹ Têrêxa, bà Dorothy Day, các tu sĩ Thomas Merton và Daniel Berrigan, những người không chết trong vòng tay người bạn đời. Nhưng cũng có một vẻ đẹp thực sự trong cách họ chết!

Tác giả Bruni đã đúng khi cảnh cáo độc thân là bất thường và đầy nguy hiểm. Nó có nguy cơ cản trở sự phát triển tình dục và đặc biệt là hạ thấp mối liên hệ cơ bản của con người theo lệnh của Kinh thánh, cụ thể là giáo điều nhân học cơ bản có trong câu chuyện về Chúa tạo ra cha mẹ đầu tiên của chúng ta và tuyên bố con người sống một mình là không tốt (và nguy hiểm)!

Độc thân làm chúng ta sống trong cô đơn mà chính Chúa đã lên án, nhưng đó cũng là cô đơn mà Chúa Giêsu đã chết cho chúng ta, và đó là biểu hiện tình yêu sáng tạo nhất của lịch sử loài người.

Yêu Giáo hội của mình và của anh em mình

Tôi dạy môn linh đạo ở Trường Thần học Hiến sĩ ở San Antonio, Texas. Mười lăm năm trước, chúng tôi bắt đầu chương trình Tiến sĩ về Tâm linh. Trong 15 năm này chúng tôi có các nghiên cứu sinh tiến sĩ từ nhiều giáo phái kitô giáo khác nhau – tin lành, tin lành chính thống, tân giáo, anh giáo và công giáo la-mã đến học. Trong 15 năm này không có ai đổi đạo của mình sang đạo khác. Nhưng khi rời trường, các sinh viên dấn thân sâu đậm hơn trong tôn giáo của mình và hiểu sâu sắc hơn tôn giáo bạn. Chúng tôi tự hào về điểm này. Đó là một trong những mục tiêu của chúng tôi.

Kể từ thời Cải cách Tin lành, các tín hữu kitô đã trải qua năm trăm năm hiểu lầm và nghi ngờ nhau. Khi đó ai cũng có khuynh hướng làm việc với giả định mình thuộc về một giáo phái chân thực (hoặc ít nhất là chân chính nhất) của kitô giáo và tìm cách hoán cải người khác bỏ giáo phái của họ theo giáo phái của mình. Đáng mừng thay, mọi thứ đang thay đổi, dù có người vẫn còn cho rằng kitô giáo mới thực sự là kitô giáo, bảo vệ cho một ranh giới nhiều người vẫn còn bám vào. Một tầm nhìn mới đang dần dần hình thành và chúng tôi bắt đầu nhìn nhau dưới một góc nhìn khác.

Chúng tôi bắt đầu nhận ra con đường dẫn đến hiệp nhất không phải là con đường cho rằng: ‘Bạn sai, tôi đúng’, cả khi chúng tôi ý thức được những vấn đề gây chia rẽ giữa nhau. Đúng hơn, chúng tôi đang nhìn vào những gì chúng tôi chia sẻ chung trong tư cách là tín hữu kitô, là con người, và nhận ra những gì chúng tôi chia sẻ trong những điểm chung nhỏ bé lại là những điều làm chúng tôi ngăn cách.

Chúng tôi có điểm chung nào đã làm lu mờ giáo điều, giáo hội học, cơ cấu quyền lực hoặc sự hiểu lầm lịch sử nào đã chia rẽ chúng tôi?

Chúng tôi chia sẻ điểm chung này: một khởi đầu, một bản chất, một trái đất, một bầu trời, một định luật hấp dẫn, một mong manh, một cái chết trần thế, một ước muốn, một mục tiêu, một số phận, một con đường, một Thiên Chúa, một Chúa Giêsu, một Chúa Kitô, một Chúa Thánh Thần. Tất cả những điều này mang theo một mệnh lệnh tối thượng: yêu Giáo hội của mình và của anh em mình.

Nhưng chúng ta có thể phản đối, còn tất cả những điều sai trái ở Giáo hội anh em của tôi thì sao? Phải công nhận đây là cả một vấn đề. Tuy nhiên, cũng phải công nhận, Giáo hội chúng ta cũng có những điều sai trái, dù chúng ta ở giáo phái nào. Hơn nữa, như học giả nổi tiếng về tôn giáo Huston Smith khẳng định, chúng ta đánh giá một tôn giáo khác hay một giáo phái kitô không qua những sai lầm hay những biểu hiệu xấu nhưng qua những biểu hiệu tốt nhất, qua những thánh của họ.

Nếu điều này đúng thì tất cả chúng ta có thể hướng về các Giáo hội khác, các thánh, các phong phú đặc biệt của họ để làm phong phú thêm vai trò môn đệ của chúng ta trong Chúa Kitô. Trong quyển sách sâu sắc Yêu Giáo hội của người anh em như Giáo hội mình (To Love Your Neighbor’s Church as Your Own) tác giả tin lành chính thống Thụy Điển Peter Halldorf đặt câu hỏi: “Yêu Giáo hội của người anh em như Giáo hội mình có nghĩa là gì? Liệu tín hữu đạo Ngũ Tuần có thể xem người công giáo có thể làm phong phú thêm cho kinh nghiệm đức tin của họ không? Liệu người công giáo la-mã có thể nhìn người tín hữu Ngũ Tuần như vậy được không?”

Nếu chúng ta trung thực, chúng ta phải nhận chúng ta có nhiều điều để học lẫn nhau. Vì vậy, chúng ta không nên xa cách nhau, chúng ta phải bắt đầu nói về những điểm “hội tụ” hơn là “hoán cải”. Chúa Thánh Thần mời gọi chúng ta đến với nhau trong tôn trọng, chia sẻ, khiêm nhường, không có thái độ nghi ngờ hay đắc thắng. Ở đó, ngờ vực có thể được khắc phục.

Làm sao chúng ta có thể đến với nhau theo cách đó? Cách đây một thế hệ, thần học gia nổi tiếng Avery Dulles cho rằng con đường đại kết không phải là con đường hoán cải. Sự hiệp nhất giữa các giáo hội kitô giáo sẽ không xảy ra vì tất cả các giáo phái trở lại và theo một giáo phái. Ông khẳng định, điều này không những không thực tế mà còn không lý tưởng vì không một giáo phái nào nắm giữ toàn bộ chân lý. Đúng hơn, tất cả chúng ta vẫn đang hành trình, với tất cả tấm lòng chân thành chúng ta hướng đến sự thật trọn vẹn, hướng đến vai trò môn đệ trọn vẹn và hướng tới việc thể hiện đầy đủ hơn Nhiệm thể Chúa Kitô trên trái đất này. Tất cả chúng ta vẫn đang trên con đường đi đến điều này.

Vì thế, con đường dẫn đến chủ nghĩa đại kết, đến sự hiệp nhất kitô giáo, đến sự hiệp nhất tại bàn tiệc Thánh Thể nằm ở mỗi chúng ta, mỗi giáo phái, từ hoán cải bên trong, ngày càng trung thành hơn trong vai trò môn đệ của mình, trong việc bày tỏ một cách chân thực hơn về Nhiệm thể Chúa Kitô, để khi trung thành hơn với Chúa Kitô, chúng ta sẽ thấy mình ngày càng đến với nhau, hội tụ với nhau, cùng nhau lớn lên như một gia đình.

Cố Tổng giám mục anh giáo Kenneth Cragg (1913-2012) từng đề nghị tương tự với vấn đề liên tôn giữa các tôn giáo trên thế giới. Sau khi làm việc với tư cách là nhà truyền giáo kitô giáo với người hồi giáo, ngài cho rằng tất cả các tôn giáo trên thế giới sẽ phải thể hiện nơi Chúa Kitô trọn vẹn.

Đã đến lúc vượt quá năm trăm năm hiểu lầm, chúng ta đến gần nhau ôm nhau, cùng hành hương, cùng phấn đấu trên một hành trình chung. Yêu Giáo hội của mình và yêu Giáo hội của người anh em.

Điều gì định hình nên tâm hồn con người?

Trong một phần bài thơ Chiếc lá và đám mây, bà Mary Oliver mô tả cảm xúc của bà khi ở bên mộ cha mẹ. Bà suy nghĩ về cách vừa tính tốt vừa lỗi lầm của họ đã ảnh hưởng đến cuộc sống của bà. Bà kết thúc bài suy ngẫm bằng những từ này:

Tôi trao cho họ – một, hai, ba, bốn – nụ hôn lịch sự,
Của lời cám ơn ngọt ngào.
Tôi mong họ ngủ ngon. Mong họ dịu lại.
Nhưng tôi sẽ không cho họ nụ hôn đồng tình.
Tôi sẽ không cho họ trách nhiệm về cuộc đời của tôi.

Điều gì định hình nên tâm hồn chúng ta? Đâu là phần của bí ẩn? Đâu là phần của di truyền? Đâu là ảnh hưởng của người khác? Đâu là trách nhiệm của chính tôi? Khi tôi suy ngẫm về những gì đã định hình nên tâm hồn tôi, ảnh hưởng của cha mẹ tôi hiện lên rất lớn.

Một phần trong tôi là mẹ tôi. Bà là người nhạy cảm, người đôi khi không thể từ chối khi thấy cần làm. Vì vậy, bà thường cảm thấy quá căng thẳng và mệt mỏi. Ngày nay, một số người sẽ cho bà đã không giữ đúng ranh giới. Bà có mười sáu người con. Nên không có lý gì để chỉ trích bà.

Bà là người hào phóng, luôn cho đi mọi thứ. Khi còn nhỏ, đôi khi tôi giận bà vì chuyện này. Tôi không muốn một người mẹ hào phóng. Tôi muốn mọi thứ. Điều bà muốn là sự hòa thuận trong gia đình. Tôi nhớ một sáng thứ bảy bà đã chảy nước mắt khi bà dọn dẹp nhà cửa và cố gắng giữ hòa bình ổn định trong gia đình, vì gia đình đang hỗn loạn cãi vã nhau. Bà nói với chúng tôi bà thất vọng như thế nào vì gia đình không giống như Thánh Gia.

Chúng tôi không phải là gia đình Thánh Gia, đôi khi tôi thấy bà thất vọng, không phải với chúng tôi mà với sự bất cập của cuộc sống. Nhưng bà là người vui vẻ, có tinh thần lạc quan tự nhiên hơn cha tôi. Bà thích khiêu vũ hơn cha tôi, cười tự nhiên hơn và là người dễ gần gũi với chúng tôi khi chúng tôi còn nhỏ. Bà ít suy nghĩ về cuộc sống hơn cha tôi, dù không đến mức thiếu suy nghĩ như chúng tôi ngây thơ nghĩ. Trong một giai đoạn cuộc đời, bà đã viết nhật ký và bà cho thấy bà đã suy nghĩ sâu sắc hơn về mọi thứ so với những gì chúng tôi nghĩ.

Niềm khao khát sâu xa nhất của bà là một mái ấm thực sự và bà đã may mắn ở đây. Bà đã gặp cha tôi. Ngay sau khi họ gặp nhau cho đến ngày ông mất, cha mẹ tôi là bạn tâm giao theo đúng nghĩa của nó. Bà không cần phải kể cho cha tôi nghe các bí mật của bà hay chia sẻ với ông các thất vọng của bà, ngược lại, ông cũng vậy. Họ hiểu nhau mà không cần phải giải thích. Trong suốt những năm tháng lớn lên, tôi chưa bao giờ thấy họ hiểu lầm hay giận nhau.

Cha tôi mất vì ung thư, bà vẫn mạnh cho đến khi mất, ba tháng sau bà qua đời vì viêm tụy và vì nỗi cô đơn không thể chữa khỏi. Ngày nay, sẽ có người cho rằng hai người sống lệ thuộc nhau. Nhưng bà sẽ cười và nói với họ, bà đã có những gì bà muốn trong cuộc sống. Bà mất vì nhớ cha tôi, bà chết trong hạnh phúc. Có điều gì đó đáng ganh tị trong việc này.

Tôi là con trai của bà và khi tôi suy nghĩ nhiều về chuyện này, tâm hồn tôi trở nên ít bí ẩn hơn với những đấu tranh, lỗi lầm, khao khát và điểm mạnh của tôi. Tôi hiểu vì sao tôi mệt mỏi nhiều như vậy!

Và rồi một phần lớn trong tôi là cha tôi. Có rất nhiều điều trong tôi có thể giải thích bằng gen của tôi. Cha tôi không dễ dàng khiêu vũ dù ông là người giàu tình cảm. Khiêu vũ là quá trình diễn với ông. Ông thích thể hiện tình cảm nơi riêng tư. Ông yêu mẹ tôi, gia đình và tất cả mọi người trong gia đình, nhưng cách của ông là không công khai ở nơi công cộng. Ông có sự kín đáo đôi khi bị cho là lạnh lùng, nhưng phải đọc hành động nơi đôi mắt của ông. Đôi mắt nói lên một chuyện gì khác. Ông không thích phô trương, ghét những nghi lễ dài dòng, ghét những màn phô trương rẻ tiền nơi công cộng. Ông cũng không thích thái quá trong mọi thứ. Ông là người có phong cách điều độ, kiềm chế đúng mực trong mọi thứ. Gia đình chúng tôi thích nói đùa sự điều độ là sự thái quá duy nhất của ông.

Ông không khoan nhượng trong quá trình nuôi dạy chúng tôi. Ông đau khổ vì tất cả những gì không đúng trên thế giới và kiên nhẫn của ông không phải lúc nào cũng vượt qua được thử thách. Tôi sợ đôi mắt của ông những lúc tôi làm ông thất vọng. Tôi cũng sợ, và vẫn sợ, làm ông thất vọng. Ông là một trong những người đạo đức nhất mà tôi biết, ông có giác quan thứ sáu gần như không thể sai. Ông biết đúng sai theo cách tôi không thể nghi ngờ. Ông đã chỉ bảo tôi về chuyện này – bất chấp tôi phản đối. Nếu tôi phải xuống địa ngục, tôi không thể biện hộ rằng mình không biết. Cha tôi đã trang bị cho tôi về mặt đức tin và đạo đức cho cuộc sống. Nhưng tôi cũng có những lỗi lầm đi kèm với điều này, lỗi lầm của ông cọng thêm lỗi lầm của chính tôi.

Rất nhiều người trong chúng ta, điểm mạnh và điểm yếu bắt nguồn từ cách nuôi dạy chúng ta, nhưng dù sao, chúng ta vẫn phải chịu trách nhiệm cho cuộc sống của chính mình.

Con đường ít ai đi

Hai con đường rẽ ra trong một khu rừng – và tôi, tôi chọn con đường ít ai đi, đó là cả một khác biệt.
Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với lời của nhà thơ Mỹ Robert Frost (1874-1963), ông đã nói vô số lần trong các bài phát biểu tốt nghiệp và trong các dịp khác như một thách thức: chúng ta không nên đi theo đám đông, nhưng dám đi trên con đường của chính mình, nâng nỗi cô đơn của mình lên một tầm cao mới. Đúng, Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta như thế khi chúng ta đứng trước hai con đường rất khác nhau.

Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu tóm tắt nhiều lời dạy quan trọng của Ngài. Nhưng những lời này dễ bị hiểu lầm và thường chúng ta hợp lý hóa nó. Phần lớn chúng ta không nắm bắt được điểm chính yếu ở lời dạy này: đức hạnh chúng ta phải sâu sắc hơn đức hạnh của các luật sĩ và của người biệt phái pharisêu. Vấn đề ở đây là gì?

Hầu hết các luật sĩ và người pharisêu đều là những người tốt, chân thành, tận tụy, mộ đạo, có đức hạnh cao. Họ tuân giữ các Điều răn, họ là các ông các bà giữ công lý nghiêm ngặt. Họ công bằng với mọi người, rất nhân từ và quảng đại với người lạ. Vậy, họ còn thiếu gì? Đúng, họ tốt nhưng chưa đủ. Vì sao?

Vì chúng ta có thể là người đạo đức, hoàn toàn công bằng và quảng đại nhưng chúng ta vẫn có thể căm ghét, trả thù và hung bạo vì đó là những chuyện chúng ta vẫn có thể làm một cách công bằng. Công lý nghiêm ngặt cho phép chúng ta có thể ghét người ghét mình. Trả thù khi bị đối xử bất công và có thể ủng hộ án tử hình. Mắt đền mắt!

Nhưng khi làm như vậy, chúng ta luôn làm những gì đến một cách tự nhiên. Yêu người yêu mình là chuyện tự nhiên, ghét người ghét mình cũng là chuyện tự nhiên. Nhưng đức hạnh thực sự đòi hỏi nhiều hơn thế. Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta đến với điều gì đó cao cả hơn. Ngài xin chúng ta yêu người ghét chúng ta, chúc phúc cho người nguyền rủa chúng ta, không bao giờ tìm cách trả thù và tha thứ cho những kẻ giết chúng ta – kể cả những kẻ giết người hàng loạt.

Phải thừa nhận, đây không phải là con đường dễ đi. Hầu như mọi bản năng tự nhiên trong chúng ta đều chống lại điều này. Phản ứng tự phát khi chúng ta bị oan là gì? Chúng ta muốn trả thù. Phản ứng tự phát khi chúng ta nghe tin kẻ nổ súng trong vụ thảm sát đã bị giết là gì? Chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm. Phản ứng tự phát của chúng ta khi kẻ giết người không hối hận bị hành quyết là gì? Chúng ta cảm thấy vui vì hắn đã chết; chúng ta không thể kiềm chế các phản ứng này. Công lý đã được thực thi. Một điều gì đó đã được thực thi trong vũ trụ. Sự phẫn nộ về mặt đạo đức của chúng ta đã được xoa dịu. Đã có một kết luận.

Có một kết luận không? Không. Những gì chúng ta cảm thấy chỉ là giải thoát về mặt cảm xúc, là thanh tẩy; nhưng có một khác biệt rất lớn giữa thanh tẩy và sự khép lại thực sự. Mặc dù về mặt tâm lý, sự giải thoát về mặt cảm xúc có thể lành mạnh, chúng ta được Chúa Giêsu và tất cả những gì cao cả nhất bên trong chúng ta mời gọi đến với một điều gì đó khác, đến một con đường vượt ra ngoài cảm giác giải thoát về mặt cảm xúc, cụ thể là con đường ít người đi để đến với lòng trắc ẩn: hiểu biết và tha thứ rộng lớn hơn.

Để đánh giá điều này, chúng ta nên xem lại cách Đức Gioan-Phaolô II giải quyết án tử hình. Ngài là giáo hoàng đầu tiên trong lịch sử Giáo hội hai ngàn năm lên tiếng phản đối án tử hình. Ngài không nói án tử hình là sai, vì theo công lý nghiêm ngặt, án tử hình có thể được thực hiện. Ngài chỉ nói chúng ta không nên làm điều đó vì Chúa Giêsu mời gọi chúng ta làm điều khác: tha thứ cho kẻ giết người.

Nói thì dễ! Khi nghe tin vụ xả súng hàng loạt, suy nghĩ và cảm xúc của tôi không tự nhiên hướng đến sự hiểu biết và thông cảm với kẻ xả súng. Tôi không đau khổ về việc người này đã đau khổ như thế nào để làm việc này. Tôi không thông cảm với những người có vấn đề tinh thần, những người bị tổn thương để họ có thể làm những chuyện như vậy. Nhưng, cảm xúc tự nhiên của tôi là đi con đường của nhiều người đi: đây là người xấu xa, họ đáng chết! Sự đồng cảm và tha thứ không phải là điều đầu tiên tôi nghĩ đến trong những tình huống này. Thù hận và muốn trả thù: có.

Tuy nhiên, đó lại là con đường của cảm xúc, con đường được lựa chọn nhiều hơn. Điều này dễ hiểu. Ai muốn thông cảm cho kẻ giết người, kẻ ngược đãi, kẻ bắt nạt?

Nhưng đó chỉ là cảm xúc khi chúng ta trút giận. Có điều gì đó khác bên trong chúng ta luôn kêu gọi chúng ta đến với điều cao cả hơn, cụ thể: đến với thông cảm và thấu hiểu mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trong Bài giảng trên núi. Hãy yêu kẻ ghét mình. Chúc phúc cho kẻ nguyền rủa mình. Tha thứ cho kẻ làm hại mình.

Hơn nữa, đức hạnh này không phải là điều chúng ta có thể có một lần và được mãi mãi. Không. Đức tin làm việc theo cách: có ngày chúng ta đi trên mặt nước, có ngày chúng ta chìm lỉm như tảng đá. Vì vậy, giống như nhà thơ Robert Frost nói, có những khi chúng ta thấy mình đứng giữa hai con đường. Một con đường nhiều người đi, con đường của căm thù, trả thù, con đường cảm thấy mình là nạn nhân; con đường kia ít người đi, mời tôi đi trên con đường của lòng trắc ẩn, thông cảm và tha thứ cao cả hơn.

Tôi sẽ chọn con đường nào? Đôi khi là con đường này, đôi khi là con đường kia; dù tôi biết con đường nào Chúa Giêsu đang mời tôi.

Ảo tưởng về lòng tốt của chính chúng ta

Một trong những bi kịch lớn trong mọi tác phẩm văn học là câu chuyện về ông Saul trong Kinh Thánh. Saul làm cho nhân vật Hamlet giống như một nhân vật của Disney. Ít nhất thì Hamlet cũng có lý do chính đáng cho thảm họa ập đến với mình. Còn với ông Saul, với những ơn ông có, lý ra số phận của ông phải tốt hơn rất nhiều.

Câu chuyện của ông bắt đầu với lời tuyên bố, trong toàn bộ Israel, không ai có thể sánh được với ông về chiều cao, sức mạnh, lòng tốt, lời ca ngợi. Là nhà lãnh đạo bẩm sinh, một hoàng tử giữa những người đồng cấp, tính cách phi thường của ông được mọi người công nhận và tuyên xưng. Câu chuyện của ông bắt đầu như câu chuyện cổ tích. Và cứ thế tiếp diễn trong một thời gian.

Nhưng, đến một lúc nào đó, mọi thứ bắt đầu trở nên xấu đi. Đó là lúc Đavid xuất hiện, một thanh niên trẻ hơn, đẹp trai hơn, tài năng hơn, được ca ngợi hơn. Sự đố kị bắt đầu và đố kỵ dần dần biến tâm hồn ông thành chất độc. Khi nhìn Đavid, ông chỉ thấy sự nổi tiếng làm lu mờ chính ông, ông không thấy lòng tốt của người khác, không thấy lòng tốt đó có thể là ơn cho nhiều người như thế nào. Ông trở nên cay đắng, nhỏ nhen, lạnh lùng và muốn giết Đavid, cuối cùng Đavít chết dưới bàn tay ông, người tức giận đã sa ngã so với lòng tốt khi còn son trẻ.

Chuyện gì đã xảy ra ở đây? Làm thế nào mà một người có quá nhiều lòng tốt, tài năng, quyền lực và ơn lành lại trở thành người đàn ông tức giận, nhỏ nhen, tự tử vì thất vọng? Chuyện này xảy ra như thế nào?

Nữ văn sĩ quá cố Margaret Laurence, trong quyển tiểu thuyết đen tối The Stone Angel đã mô tả chính xác cách điều này có thể xảy ra. Hagar Shipley, nhân vật chính của bà có phần giống ông Saul trong Kinh Thánh.

Câu chuyện của Hagar bắt đầu giống như câu chuyện của Saul: cô trẻ, tốt đẹp, đầy tiềm năng. Một phụ nữ trẻ đẹp, thông minh, tài năng như vậy sẽ ra sao? Đáng buồn thay, chẳng ra gì. Cô trôi dạt vào mọi thứ: tuổi trưởng thành, hôn nhân không hạnh phúc, thất vọng sâu đậm không được nhận ra, cuối cùng cô trở nên luộm thuộm, lạnh lùng, cay đắng, không năng lực, không tham vọng. Điều đáng chú ý cũng như đáng buồn là cô không nhận ra bất kỳ điều gì trong những điều này đã xảy ra với mình. Trong tâm trí cô, cô vẫn nghĩ cô là cô gái trẻ đẹp, tốt bụng, duyên dáng, nổi tiếng, hấp dẫn như hồi trung học. Cô không nhận ra thế giới của cô đã trở nên nhỏ bé như thế nào, cô không còn được bạn bè xung quanh ngưỡng mộ, cô để bề ngoài của cô như người bê tha.

Sự thức tỉnh của cô đột ngột và tàn khốc. Một ngày mùa đông, cô mặc chiếc áo khoác parka cũ, cô bấm chuông ngôi nhà cô giao trứng. Một đứa trẻ mở cửa, nhìn cô và cô nghe đứa bé nói với mẹ: “Bà già bán trứng khủng khiếp đang ở ngoài cửa!” Rụng rời ngạc nhiên.

Sửng sốt, cô rời ngôi nhà và đến nhà vệ sinh công cộng, cô bật hết đèn và nhìn khuôn mặt mình trong gương. Một khuôn mặt mà chính cô không nhận ra, một người trái ngược một cách thảm hại với hình ảnh cô nghĩ về mình. Thực tế, cô thấy người phụ nữ già nua, kinh khủng mà đứa bé nhìn thấy ở cửa, chứ không phải hình ảnh người phụ nữ trẻ trung, duyên dáng, hấp dẫn, rộng lượng mà cô vẫn nghĩ về mình. Cô tự hỏi, làm sao điều này có thể xảy ra? Làm sao chúng ta, những người vô hình với chính mình, có thể trở thành người mà chúng ta không thể nhận ra?

Ở mức độ nhỏ hoặc lớn hơn, điều này xảy ra với tất cả chúng ta. Không dễ để già đi, để chấp nhận cái chết của nhiều thứ mà chúng ta mơ ước cho chính mình và để chứng kiến những người trẻ sau chúng ta được nổi tiếng, được ca ngợi mà chúng ta từng được. Giống như Saul, chúng ta có thể bị ghen tị tức giận làm mù quáng và giống như Hagar, chúng ta không thấy chính mình. Dĩ nhiên người khác nhìn thấy.

Nhưng, với hầu hết chúng ta, khi điều này xảy ra, chúng ta vẫn là những người tốt và hào phóng, ngoại trừ chúng ta trở nên cay nghiệt, hoài nghi và phán xét nhiều hơn trước đây. Chúng ta vẫn là người tốt, nhưng than van quá nhiều, quá thương hại mình, nguyền rủa nhiều hơn là chúc phúc cho những người đã thay thế chúng ta về tuổi trẻ, về nổi tiếng và địa vị.

Vì thế một trong những nhiệm vụ thiêng liêng quan trọng nhất của con người trong nửa sau cuộc đời là nhận ra sự ghen tị, xấu xí này bên trong mình, quay trở lại với tình yêu, với sự tươi mới của tuổi trẻ để tái sinh, để trở nên ngây thơ lần thứ hai, và bắt đầu lại, để là những người trẻ tuổi với ánh mắt ngưỡng mộ.

Vào đầu Sách Khải Huyền, tác giả, nói bằng giọng nói của Chúa, đã đưa ra lời khuyên này cho chúng ta, ít nhất là với những người trong chúng ta đã qua tuổi thanh xuân: “Ta đã thấy con làm việc chăm chỉ như thế nào. Ta công nhận lòng hào phóng và mọi việc tốt con làm. Nhưng Ta có điều này trách con – con không còn yêu thương con như khi con còn trẻ! Hãy quay lại và nhìn từ nơi con đã sa ngã!”

Chúng ta có thể muốn nghe những lời này từ Kinh Thánh hơn là nghe một cô bé nói với mẹ có một người già, xấu xí, cay đắng đang ở trước cửa.

Giữ ngày Sabát

Nhà thần bí Sufi Rumi đã từng than thở: “Tôi đã sống quá lâu ở nơi mọi người có thể gặp tôi!” Đó là cách đây một ngàn hai trăm năm trước, rất lâu trước khi có điện thoại di động, internet, máy tính và phương tiện truyền thông xã hội. Ngày nay, gần như tất cả chúng ta đều sống ở những nơi mà mọi người có thể tiếp xúc với nhau bất cứ lúc nào. Dù điều này có một số điểm tích cực rất to lớn, nhưng chúng ta lại nhận ra mặt trái khó chịu của nó chậm hơn. Chúng ta không bao giờ thoát được những bận tâm, những can dự đè nặng lên sức khỏe tinh thần chúng ta. Nhiều người cảm thấy khó khăn khi phải xa các phương tiện này, dừng các hoạt động, nghỉ ngơi, làm mới, tái tạo năng lượng. Nói theo ngôn ngữ Kinh thánh, chúng ta thấy càng ngày càng khó khăn hơn để có “ngày Sabát” trong cuộc sống.

Chúng ta có một điều răn của Chúa: anh chị em đừng quên giữ ngày Sabát. Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều dễ dàng đồng ý: ngày nay điều răn này đã thành khó khăn. Vấn đề không chỉ là càng ngày càng ít người đi lễ chúa nhật, các cửa tiệm mở cửa ngày chúa nhật, các sự kiện thể thao thường tổ chức vào ngày chúa nhật, ngày dành cho tôn giáo. Vấn đề sâu xa hơn là ngày càng nhiều người trong chúng ta không thể sống chậm lại, không thể tắt các thiết bị liên lạc, không thể tránh xa lo lắng căng thẳng trong cuộc sống, để đơn thuần dừng lại nghỉ ngơi.

Chúng ta đang sống ở nơi mà mọi người có thể tiếp xúc với nhau bất cứ lúc nào và phần lớn chúng ta mất khái niệm về ngày Sabát trong cuộc sống. Bây giờ chúng ta xem ngày này như một gợi ý để sống lý tưởng: Tốt, nếu bạn tìm được thời gian để làm.

Với suy nghĩ này, tôi xin đưa ra Mười lời khuyên để có ngày Sabát.

  1. Giữ ngày Sabát với một kỷ luật đòi hỏi như giữ điều răn, một kỷ luật của cuộc sống và bổn phận.
  2. Mỗi ngày có ít nhất một giây phút Sabát. Tự cho mình một điều gì đó để mong đợi mỗi ngày. Ngày Sabát không nhất thiết phải là một ngày; nó có thể là một giờ đặc biệt, một khoảnh khắc đặc biệt, khi chúng ta ra khỏi máy chạy bộ, tự thưởng cho mình một cái gì đó mình yêu thích.
  3. Mỗi tuần chúng ta đến một nơi mà không ai có thể liên lạc được và có “ngày Sabát trên mạng.” Một tuần một lần, tắt mọi phương tiện liên lạc điện tử trong sáu giờ hoặc tốt hơn trong mười hai giờ. Đến một nơi không ai tìm được, trừ trường hợp khẩn cấp. Có thể chúng ta thấy đây là kỷ luật khó khăn nhất, nhưng có lẽ đó là kỷ luật quan trọng nhất.
  4. Tôn trọng “sự khôn ngoan của trí tuệ ở chế độ ngủ đông”. Hãy thường xuyên làm một cái gì đó không thực tế. Như những người nông dân, họ biết họ không thể gieo hạt liên tục trên cánh đồng mà mùa màng vẫn được tươi tốt. Các cánh đồng cần tình trạng ngủ đông để hấp thụ các chất dinh dưỡng và các yếu tố khác để sản xuất. Cơ thể và tâm lý con người cũng vậy. Chúng ta thường xuyên cần những khoảng thời gian ngủ đông, để năng lượng của chúng ta yên lặng với thế giới thực dụng.
  5. Chúng ta nên thường xuyên cầu nguyện và chiêm niệm theo một cách nào đó. Chỉ có một quy tắc và lời khuyên cho việc này: Hãy làm điều đó! Hãy làm thường xuyên và chuyện gì đến nó sẽ đến. Đó là cách quan trọng để chúng ta ra khỏi tấm thảm cuốn và có một chút Sabát trong cuộc sống.
  6. Hãy chú ý đến trẻ em, người lớn tuổi và thời tiết. Ngày Sabát là ngày tìm lại sự ngạc nhiên cho cuộc sống, ngày nay chúng ta đã không còn biết ngạc nhiên. Vì, như thi sĩ John Shea nói, chúng ta nên mượn tinh thần ngạc nhiên nơi trẻ em. Đó là một trong số ít nơi chúng ta còn tìm được ngạc nhiên. Ngoài ra, thời gian dành cho người lớn tuổi có thể giúp chúng ta có cái nhìn lành mạnh hơn về cuộc sống. Lần cuối cùng chúng ta tìm lại suối nguồn ngạc nhiên là khi nào?
  7. Hãy sống theo châm ngôn: “Nếu không phải bây giờ, thì khi nào? Nếu không phải ở đây, thì ở đâu? Nếu không phải với những người này, thì với ai? Nếu không phải vì Chúa, thì tại sao? Chúng ta dành 98% cuộc đời để chờ một cái gì đó khác xảy ra với mình. Có một số khoảnh khắc chúng ta nhận ra điều chúng ta chờ đã ở đây.
  8. Hãy để cơ thể biết đó là ngày Sabát. Ngày Sabát không chỉ dành cho tâm hồn mà còn cho cơ thể. Hãy dành cho cơ thể một ngày Sabát, ít nhất mỗi tuần một lần.
  9. Dành ưu tiên cho gia đình và cho các mối quan hệ. Vào cuối ngày, cuộc sống là của gia đình, của tình bạn, của các mối quan hệ, một sự thật dễ dàng bị lu mờ và mất đi trong áp lực của cuộc sống hối hả. Ngày Sabát mang chúng ta về lại sự thật này, ít nhất một tuần một lần.
  10. Đừng nuôi dưỡng những hận thù và những ám ảnh. Sự mệt mỏi sâu xa nhất của chúng ta không phải là kết quả của làm việc quá sức, nhưng là của những vết thương, hận thù, ám ảnh chúng ta nuôi dưỡng. Lời mời nghỉ ngơi đặc biệt là lời mời buông bỏ những tổn thương. Thật vậy, khái niệm luật lệ về thời hiệu dựa trên khái niệm ngày Sabát của do thái giáo-kitô giáo. Với mỗi hận thù chúng ta nuôi dưỡng đều có một thời hiệu.

Chúa đã ban cho chúng ta ngày Sabát vì sức khỏe và niềm vui của chúng ta.

Sự cho phép thiêng liêng để ở trong thống khổ

Chúng ta sống đời này “trong đau buồn và khóc lóc, trong thung lũng đầy nước mắt”. Cũng như nhiều người trong thế hệ cha mẹ tôi, đó là một phần lời cầu nguyện hàng ngày trong suốt cuộc đời của họ. Theo quan điểm tế nhị ngày nay (tâm linh một chiều), điều này nghe có vẻ bệnh hoạn. Chúng ta có nên hiểu cuộc đời là đau buồn trong một thế giới không thể mang lại hạnh phúc cho con người không? Thực sự đây có phải là điều Chúa muốn ở chúng ta không?

Nếu hiểu nông cạn thì điều này có thể bị cho là bệnh hoạn. Chúa không đặt chúng ta vào thế giới này để chịu đau khổ mới được lên thiên đàng. Không. Chúa là người cha nhân lành. Các cha mẹ nhân lành đưa con cái đến thế giới này với mục đích là chúng sẽ phát triển và tìm thấy hạnh phúc. Vậy vì sao đức tin kitô giáo đòi hỏi chúng ta phải than khóc đau buồn trong thung lũng đầy nước mắt?

Với cha mẹ tôi, lời cầu nguyện này mang lại cho họ một an ủi nào đó, cụ thể cuộc sống của họ không nhất thiết phải là cuộc sống của bản giao hưởng trọn vẹn, một thiên đàng trần thế ngay lúc này. Cuộc sống cho họ điều thiêng liêng để chấp nhận, trong đời sẽ có những thất vọng, đau khổ, nghèo đói, bệnh tật, mất mát, những giấc mơ không đạt được, những thất vọng, đau khổ, hiểu lầm và cái chết. Họ không bao giờ mong chờ một điều gì quá mức, họ hiểu chịu đau khổ và thất vọng là chuyện bình thường. Nhưng ngược lại, khi chấp nhận những hạn chế này, họ lại cho phép mình tận hưởng trọn vẹn những khoảnh khắc tốt đẹp của cuộc sống mà không cảm thấy tội lỗi.

Tôi sợ chúng ta và cả thế hệ tiếp theo không chuẩn bị đủ để có thể đi qua thất vọng, đau khổ mà không suy sụp về đức tin (đôi khi cả về tinh thần lẫn thể xác). Ngày nay, phần lớn mong chờ bình thường là không bị ở trong tình trạng phải than van khóc lóc, cuộc sống phải mang đến cho chúng ta bản giao hưởng trọn vẹn. Chúng ta không còn cảm thấy mình cần sự cho phép thiêng liêng để khóc nữa.

Tâm linh mà chúng ta hít thở ngày nay từ các nhà thờ, các thần học gia, các nhà văn tâm linh có nhiều điểm mạnh (giống như tâm linh mà cha mẹ tôi hít thở cũng có những điểm yếu). Tuy nhiên, theo tôi, phần lớn các tôn giáo ngày nay không dành đủ không gian cho đau buồn, một khoảng trống mà hầu hết thế giới thế tục đều có.

Chúng ta không dành đủ không gian cho đau buồn, trong nhà thờ cũng như trong cuộc sống. Chúng ta không cung cấp cho mọi người những công cụ cần thiết để giải quyết các thất vọng, mất mát và đau khổ, cũng như cách để đau buồn khi bị những chuyện này bủa vây. Ngoài các nghi thức tang lễ, chúng ta dành rất ít không gian cho đau buồn. Tệ hơn, chúng ta có xu hướng tạo ấn tượng có điều gì không ổn khi cuộc sống của mình đầy nước mắt. Vị trí và giá trị của đau buồn là gì?

Đầu tiên, như thần học gia Karl Rahner đã giải thích một cách nên thơ, đó là chấp nhận trong sự giày vò của thiếu thốn, của những chuyện không thể có được, cuối cùng chúng ta học bài học, ở đời này không có bản giao hưởng nào hoàn chỉnh. Như bà Rachel Naomi Remen, giáo sư danh dự ở Trung tâm Osher, San Francisco đã viết, đau buồn cũng là một cách thiết yếu để tự chăm sóc mình, không đau buồn là phủ nhận sự chính trực của mình. Chúng ta kiệt sức vì chúng ta không làm xong đau buồn của mình. Tiểu thuyết gia người Anh Anita Brookner lặp lại một điệp khúc trong một số sách của bà. Khi bình luận về hôn nhân, bà cho rằng nhiệm vụ đầu tiên trong hôn nhân là hai vợ chồng phải an ủi nhau, vì thực tế họ không thể không làm nhau thất vọng.

Cha mẹ tôi không đọc Karl Rahner, Rachel Naomi Remen hay Anita Brookner, nhưng trong lời cầu nguyện hàng ngày, họ tự nhắc mình, cuộc sống này không có bản giao hưởng nào hoàn chỉnh, rằng đau buồn là cách tự chăm sóc bản thân lành mạnh và chấp nhận, người này không thể đủ cho người kia và ngược lại, vì chỉ có Chúa mới có thể an ủi chúng ta được.

Chúng ta cần gì khi đau buồn? Tình trạng con người của chúng ta và tất cả những gì đi kèm, cụ thể là vô thường, tuổi trẻ bị đánh mất, không còn cơ thể trẻ trung, bị những tổn thương, những phản bội, những giấc mơ thất vọng, những nỗi đau, mất người thân yêu, vỡ mộng vì tuần trăng mật biến mất, dòng đời, nơi chốn, thể chế rồi cũng biến mất, sự bất lực của chúng ta khi làm cho người khác thất vọng, sức khỏe mất đi và cuối cùng cái chết đến, đó là những gì chúng ta cần phải đau buồn.

Và chúng ta đau buồn như thế nào? Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta ở vườn Giếtsêmani. Như các Phúc âm kể, Ngài đã đổ mồ hôi máu trước cái chết của mình. Ngài đã làm gì? Ngài cầu nguyện, lời cầu nguyện công khai và trung thực về nỗi đau của Ngài, thừa nhận có một khoảng cách với người khác trong nỗi đau này, thừa nhận mình bất lực khi không thể làm bất cứ điều gì để thay đổi tình hình, Ngài liên tục cầu xin Chúa thay đổi mọi thứ, nhưng hoàn toàn phó thác dù đi trong đêm tối. Đó là cách Chúa Giêsu khóc.

Nếu Chúa Giêsu đã khóc, thì chúng ta cũng phải khóc. Người môn đệ không bao giờ hơn thầy. Hơn nữa, chúng ta có thể học ở Chúa Giêsu, đau buồn và than khóc trong cuộc sống không hẳn là sai trái. Nó có nghĩa, đây là nơi chúng ta phải đến.

Chúng ta có sự cho phép thiêng liêng để đôi khi ở trong thống khổ.

Cầu nguyện khi cảm thấy dường như vô ích

”Cầu nguyện đặc biệt cần thiết nhất khi chúng ta cảm thấy cầu nguyện là vô ích.” Cố linh mục thần học gia Dòng Tên Michael J. Buckley (1931-2019), một trong những người cố vấn tâm linh quan trọng nhất của tôi đã viết những lời này. Ngài có ý gì khi nói như vậy?

Trước rất nhiều vấn đề, có khi chúng ta cảm thấy cầu nguyện là vô ích. Chẳng hạn trước một số vấn đề lớn của thế giới, chúng ta cảm thấy nản lòng và bất lực, chúng ta dễ dàng nói cầu nguyện là vô ích. Lời cầu nguyện của tôi sẽ có tác dụng gì với các cuộc chiến đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới? Giá trị của lời cầu nguyện của tôi là gì khi tôi phải đối diện với bất công, nạn đói, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính? Lời cầu nguyện của tôi có tác động nào khi cộng đồng của tôi đang chia rẽ và thù hận? Thật dễ dàng để cảm nhận cầu nguyện trong những tình huống này là vô ích.

Cũng vậy khi chúng ta bị bệnh nặng. Liệu lời cầu nguyện có thể chữa khỏi bệnh ung thư ở giai đoạn cuối không? Chúng ta có thực sự mong chờ một phương thuốc phép lạ không? Phần lớn chúng ta không nghĩ vậy, nhưng chúng ta vẫn tiếp tục cầu nguyện dù cảm thấy lời cầu nguyện của mình sẽ không thay đổi tình hình. Vì sao?

Vì sao phải cầu nguyện khi có vẻ như việc cầu nguyện là vô ích? Các thần học gia, các tác giả tâm linh giải thích cho chúng ta nhiều góc nhìn khác nhau về vấn đề này, tuy hữu ích nhưng không đầy đủ. Họ cho rằng, cầu nguyện không phải để thay đổi tâm trí Chúa, nhưng để thay đổi tâm trí của người đang cầu nguyện. Chúng ta không cầu nguyện để kéo Chúa về phía mình; chúng ta cầu nguyện để đặt mình về phía Chúa. Thêm nữa, chúng ta được dạy, lý do chúng ta cảm thấy Chúa không trả lời, vì Chúa như người cha yêu thương, biết điều gì tốt cho chúng ta và ban cho chúng ta những gì chúng ta thực sự cần chứ không phải những gì chúng ta ngây thơ muốn. Tác giả C.S. Lewis đã nói, chúng ta sẽ dành nhiều thì giờ trong cõi vĩnh hằng để tạ ơn Chúa vì những lời cầu nguyện Chúa đã không nhận lời.

Tất cả những điều này đều đúng và quan trọng. Đường lối của Chúa không phải là đường lối của chúng ta. Đức tin đòi hỏi chúng ta dành cho Chúa không gian và thời gian để Chúa là Chúa, không theo những mong chờ rất hạn hẹp và thiếu kiên nhẫn của chúng ta. Thực sự chúng ta nên tạ ơn Chúa vì điều này.

Nhưng dù vậy… khi Chúa Giêsu xin chúng ta cầu nguyện, Ngài không cảnh báo chúng ta: con phải xin những điều đúng đắn nếu con muốn Ta nhận lời. Không, Ngài chỉ nói: Hãy xin và con sẽ được. Ngài nói, một số con quỷ chỉ bị đuổi đi bằng ăn chay cầu nguyện.

Vậy, làm thế nào những con quỷ bạo lực, chia rẽ, hận thù, chiến tranh, đói kém, khí hậu nóng lên toàn cầu, nạn đói, phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, ung thư, bệnh tim… có thể bị đuổi đi bằng lời cầu nguyện? Làm thế nào để cầu nguyện hữu ích một cách thiết thực khi đối diện với những vấn đề này?

Tóm lại, lời cầu nguyện không chỉ thay đổi người đang cầu nguyện mà còn thay đổi tình huống. Khi chúng ta cầu nguyện, thực tế chúng ta là một phần của tình huống mà chúng ta cầu nguyện. Lời cầu nguyện chân thành giúp chúng ta trở thành sự thay đổi mà chúng ta đang cầu nguyện để được. Chẳng hạn, cầu nguyện cho hòa bình giúp chúng ta bình tâm, mang lại cho thế giới thêm một trái tim thanh thản.

Dù điều này là đúng, nhưng cũng có một thực tế sâu đậm hơn. Sâu đậm vì khi chúng ta cầu nguyện, có điều gì đó đang xảy ra vượt ra ngoài cách chúng ta thường hình dung về sự tương tác đơn giản giữa nguyên nhân và kết quả. Khi thay đổi bản thân, chúng ta đang thay đổi tình hình; đúng vậy, nhưng theo cách sâu đậm hơn cách chúng ta thường tưởng tượng.

Là người có đạo, chúng ta nghĩ chúng ta là một phần của Nhiệm thể Chúa Kitô, và sự kết hợp của chúng ta trong Chúa không phải là sự kết hiệp của một cộng đồng lý tưởng. Nhưng, chúng ta là một phần của một sinh vật sống mà mọi bộ phận đều ảnh hưởng đến nhau, giống như trong một cơ thể vật lý. Vì lý do này, với chúng ta, không có một hành động nào là riêng tư – tốt hay xấu. Tôi ngần ngại khi nghĩ rằng điều này tương tự như hệ thống miễn dịch trong cơ thể con người, vì đây không chỉ là một phép so sánh. Nó là thực tế, hữu cơ. Giống như hệ thống miễn dịch bảo vệ sức khỏe cho toàn bộ cơ thể bằng cách tiêu diệt các tế bào và vi-rút gây nguy hiểm cho sức khỏe, thì bên trong Nhiệm thể của Chúa Kitô cũng vậy. Khi nào chúng ta, hoặc là những tế bào khỏe mạnh mang lại sức mạnh cho hệ thống miễn dịch bên trong Nhiệm thể Chúa Kitô, hoặc chúng ta là một loại vi-rút, một loại tế bào ung thư đe dọa cho sức khỏe. Cầu nguyện tạo nên sự khác biệt vì cầu nguyện giúp tăng cường hệ thống miễn dịch bên trong Nhiệm thể Chúa Kitô – chính xác giải quyết vấn đề chúng ta đang cầu nguyện. Mặc dù trên bề mặt, đôi khi lời cầu nguyện có vẻ vô ích, nhưng nó đang làm một điều gì đó quan trọng bên trong – điều cần thiết chính xác là khi chúng ta cảm thấy lời cầu nguyện của mình vô ích.

Chúng ta được ban cho điều gì để gánh vác?

Chúng ta được ban cho điều gì để gánh vác? Nhu cầu và nỗi đau của người khác tác động đến sự tự do của chúng ta như thế nào? Khi nào tự do bị hoàn cảnh làm cho bớt tự do? Chúng ta sinh ra hoặc chúng ta gặp những tình huống nào trong cuộc sống buộc chúng ta phản ứng, dù phải trả bằng chính mạng sống của mình? Chúng ta không được quay lưng với điều gì?

Đó là những câu hỏi quan trọng nhưng không dễ để trả lời. Nhưng đó lại là những câu hỏi then chốt liên quan đến việc phân định ơn gọi của chúng ta: nhiệm vụ đặc biệt mỗi chúng ta được giao cho cuộc sống của mình là gì?

Mỗi chúng ta đến với thế giới này với ơn gọi của Chúa trao ban. Về bản chất, điều này khá dễ xác định. Một cách đơn giản, tất cả chúng ta được gọi để yêu Chúa và yêu nhau. Tất cả đều được gọi như vậy. Tuy nhiên, ngoài điều thiết yếu đơn giản này, nó lại không giống nhau cho tất cả mọi người, vì chúng ta sinh ra trong những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống. Chúng ta sinh ra trong những gia đình khác nhau, quốc gia khác nhau, thời đại lịch sử khác nhau, văn hóa khác nhau, hoàn cảnh nghèo giàu khác nhau, tôn giáo khác nhau, trí thông minh khác nhau, năng khiếu tự nhiên khác nhau, cơ thể khác nhau về sức khỏe, sức mạnh và sức hấp dẫn bề ngoài. Các nhà triết học gọi đây là tình huống “hiện sinh”. Giống như bông tuyết, trong những đặc thù này không ai giống hệt ai. Và sự độc đáo này tô điểm, có lẽ xác định cơ bản thiên chức của chúng ta giúp chúng ta quyết định những gì chúng ta được trao để gánh vác.

Và đó là những gì đang bị đe dọa. Đúng là tất cả chúng ta sinh ra đều tự do, nhưng có nhiều chuyện vừa cưỡng ép vừa hạn chế tự do của chúng ta.

Xin cho tôi minh họa bằng ví dụ của gia đình tôi. Tôi là đứa con thứ mười hai trong một gia đình đông con. Cha mẹ tôi là nhà nông nhập cư thế hệ đầu tiên, ông bà lập gia đình, nuôi dạy con cái, hoàn toàn sống bằng nghề nông. Chúng tôi cần thêm thu nhập. Cộng đồng nông thôn hẻo lánh của chúng tôi chỉ có một trường tiểu học và trẻ em học xong lớp tám phải xa nhà để vào trường nội trú, nhưng cha mẹ tôi không đủ khả năng chi trả.

Vì lý do đó, sau khi học xong tiểu học năm anh chị lớn của tôi bỏ học, không phải vì họ không đủ thông minh để học thêm nhưng vì gia đình không có tiền để cho con đi học xa, làng chúng tôi không có trường trung học, các anh chị phải bỏ học để đi làm phụ giúp gia đình. Với các anh chị, đặc biệt với vài người, đây là cả một hy sinh khó khăn. Họ khao khát được tự do, được lựa chọn nhiều hơn; nhưng, xét theo hoàn cảnh của họ, đây là những gì họ được trao cho. Và sự hy sinh đó, việc trao đi bản thân mình cho một điều gì đó vượt ra ngoài bản thân đã xác định rất nhiều về thiên chức và chính con người của họ. Một phần lớn thiên chức của họ là hy sinh ước mơ và hoài bão riêng của mình vì lợi ích gia đình. Trong những yếu tố này, cơ hội được học hành của riêng tôi phần lớn dựa trên sự hy sinh của họ.

Tuy nhiên, về điều này, họ không phải là ngoại lệ. Sự hy sinh của họ được phản ánh trong cuộc sống của hàng triệu người trên khắp thế giới: những người nhập cư phải hy sinh tham vọng riêng để làm việc trên đồng ruộng hoặc làm việc tay chân để nuôi sống gia đình; những phụ nữ và đàn ông trẻ từ các nước đang phát triển phải rời gia đình, đi ra nước ngoài làm việc để gởi tiền về giúp gia đình; hàng triệu người trẻ không có tiền để học tiếp lên đại học; vô số các ông, các bà phải hy toàn thời gian của mình để chăm sóc cha mẹ bệnh tật hoặc già yếu; và hàng tỷ phụ nữ phải hy sinh sự nghiệp để nuôi con. Đó là những gì họ được trao cho để gánh vác – và sự hy sinh của họ giúp hình thành nên tâm hồn ơn gọi của họ.

Ngoài những điều có thể tước đoạt quyền tự do của chúng ta và quyết định một cách triệt để ơn gọi của chúng ta, vẫn còn những điều khác có thể hạn chế hoặc mở rộng quyền tự do của chúng ta và qua đó giúp chúng ta quyết định ơn gọi: có sức khỏe thể chất và tinh thần mạnh mẽ chứ không yếu đuối; có sức vóc của một vận động viên thay vì khuyết tật thể chất; là người đàn ông đích thực, là nữ hoàng dạ hội chứ không là người đi bắt nạt người khác và sống xa lánh; có tính khí năng động chứ không nhẹ nhàng và dễ tính; hoặc người xuất thân từ đặc quyền trái ngược với người xuất thân từ hoàn cảnh không có đặc quyền.

Mỗi yếu tố này không chỉ định hình ơn gọi của chúng ta nhưng còn giúp chúng ta trang bị đặc biệt cho ơn gọi của mình. Nếu chúng ta yếu đuối và dễ bị tổn thưông thì những khiếm khuyết sẽ mang lại cho chúng ta sức mạnh đặc biệt để thành người chữa lành cho người khác. Bị tổn thương, chúng ta có sức mạnh đặc biệt để trở thành người chữa lành bị tổn thương. Ngược lại, nếu chúng ta ở phía được đặc quyền thì đặc quyền này cũng định hình thiên chức và ơn gọi đặc biệt của chúng ta, cụ thể chúng ta là người nhận được nhiều ơn, vì thế chúng ta bị mong chờ nhiều. Chuyện này không chỉ giúp chúng ta biết ơn gọi của mình, nhưng còn giúp chúng ta trang bị đặc biệt cho ơn gọi của mình. Nếu chúng ta ở phía yếu đuối và bị tổn thương, những khiếm khuyết có vẻ như đó như là con người của mình, có thể mang lại cho chúng ta sức mạnh đặc biệt để trở thành người chữa lành cho người khác. Bị tổn thương, chúng ta có sức mạnh đặc biệt để là người chữa lành người bị tổn thương. Ngược lại, nếu chúng ta ở phía đặc quyền, đặc quyền này cũng định hình nghề nghiệp và món quà đặc biệt của chúng ta, cụ thể bây giờ chúng ta là người được ban ơn nhiều và vì thế được kỳ vọng nhiều.

Trao tặng cái chết của mình

Richard Gaillardetz (1958-2023)

Theo nhà thần nghiệm nổi tiếng Gioan Thánh giá, chúng ta có ba cuộc đấu tranh thiết yếu trong cuộc sống: nắm lại trong tay đời sống mình, trao tặng cuộc sống và trao tặng cái chết. Những gì trong hai cuộc đấu tranh đầu tiên thì rõ ràng. Nhưng trao tặng cái chết của mình có nghĩa gì?

Về bản chất, điều này có nghĩa: Cách chúng ta chết để lại di sản, một tinh thần cụ thể có thể nuôi dưỡng hoặc ám ảnh người ở lại. Nếu chúng ta chết trong cay đắng và tức giận, không hòa thuận với người thân yêu, với chính mình và với Chúa, chúng ta để lại một tinh thần độc hại hơn là nuôi dưỡng. Ngược lại, nếu chúng ta chết trong hòa giải và hòa bình với người thân yêu, với thế giới và với Chúa, thì như Chúa Giêsu, chúng ta để lại một tinh thần nuôi dưỡng, sưởi ấm, an ủi, giúp người thân được bình an thiêng liêng. Cách chúng ta chết tô màu cho di sản chúng ta, di sản đó có thể là món quà hoặc gánh nặng cho người thân

Ngày 23 tháng 11 năm 2023, Richard (Rick) Gaillardetz, thần học gia nổi tiếng qua đời vì ung thư tuyến tụy khi đang ở tuổi sung sức nhất. Ông là người chồng, người cha, người ông, diễn giả tài ba, người bạn, người cố vấn đáng mến của nhiều người, người đam mê thể thao, người có tinh thần hài hước sống động. Ông cũng là người có đức tin vững chắc thử thách trong những tháng ngày mắc bệnh nan y.

Khi bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư hơn một năm trước khi qua đời, các bác sĩ cho biết, đó là bệnh nan y và không có cách chữa trị; ông phải đối diện với sự thật tàn khốc: mình sẽ chết trong hai năm tới. Ông đã đối diện với sự thật này. Và khi làm như vậy, ông cố gắng (có những lúc rất đau đớn) để biến cái chết của mình thành món quà có ý nghĩa cho gia đình, cho thế giới. Trong những tháng trước khi qua đời, ông viết blog chia sẻ về cảm giác khi biết mình sắp chết, với tình yêu và đức tin, dù đau đớn, ông chấp nhận buông bỏ cuộc sống, buông bỏ đấu tranh với những bản năng kháng cự mạnh mẽ nội tâm.

Những trang viết này được gom lại trong quyển sách Cho đến khi tôi còn thở, tôi hy vọng (While I Breathe I Hope – A Mystagogy of Dying, Grace Agolia biên tập).

Đây là một số cảm xúc và suy nghĩ của ông:

  • Không như nhiều thánh trong truyền thống của chúng ta, tôi không chọn sự suy yếu này; với tôi, tôi bị thúc đẩy, bị mời gọi, tôi không muốn. Nhưng tôi thấy đây là lời mời gọi đến với một sự yếu đuối được ban ơn, lời kêu gọi từ bỏ sự tự tin sai chỗ vào sức mạnh và quyền tự chủ cơ thể tôi.
  • Tôi cầu nguyện cho cả hai, ơn cho sự suy yếu và ơn của sự suy yếu.
  • Một trong những con quỷ mà tôi phải đương đầu mỗi ngày là cái tôi quá mức, nó không ngừng kêu gào tôi phải được chú ý như một đứa trẻ than van, lấn át nhu cầu và mối quan tâm của người khác. Một trong những ân sủng bất ngờ của sự suy yếu xuất hiện khi tôi ra khỏi bản ngã tự nhiên, để khám phá một nội tâm chứa lòng trắc ẩn bị lãng quên nhiều trước đau khổ của người khác.
  • Tôi phải thú nhận, đôi khi tôi quá lo cho tiến trình chết. Nó sẽ như thế nào? Tôi sẽ xử lý thế nào khi các cơ quan bắt đầu suy yếu và khi cái chết thực sự bắt đầu? Liệu bình an tôi cảm thấy hiện tại có giúp tôi vượt qua thời gian “khác biệt” đó không? … Qua tất cả những chuyện này, điều tôi giữ vững nhất trong lòng là tin Chúa đã bao bọc tôi sâu đậm trong tình yêu của Ngài kể từ khi tôi bị bệnh, chắc chắn Chúa sẽ không bỏ rơi tôi trong những ngày giờ cuối cùng này. Bây giờ tôi thuộc về nhóm người già yếu và bất lực. Họ là những người của tôi, gia đình cuối cùng của tôi.
  • Việc trao đi cái chết không chỉ là vấn đề chấp nhận sự ra đi không thể tránh khỏi về mặt thể xác; việc trao đi cái chết đòi hỏi tôi phải chấp nhận những kinh nghiệm thụ động khi chờ đợi, khi bị suy yếu, khi bị sống bên lề, như một giải thoát khỏi nô lệ cho thành tích cá nhân và khỏi tự phụ. Nếu tôi dành không gian thích hợp cho những trải nghiệm này, chúng sẽ đưa tôi ra khỏi bản ngã ích kỷ, mở rộng tâm hồn tôi.

Chúng sẽ làm cho tôi đồng cảm hơn với nỗi đau của người khác, khuyến khích tôi cầu nguyện cho họ khi họ đau khổ, khi họ trải qua cái chết sắp tới. Đó chính là cách giúp tôi nhẹ nhàng đi đến cái chết và sự phục sinh.

  • “Nhiệm vụ cuối cùng của tôi là trả lại cho Chúa cuộc sống mà Chúa đã ban cho tôi.”

Khi nói lời từ giã các môn đệ, Chúa Giêsu hứa khi Ngài rời khỏi chúng ta, Ngài sẽ để lại Thần Khí hòa bình của Ngài cho chúng ta. Khi chúng ta ra đi, tất cả chúng ta đều để lại đằng sau mình một tinh thần tuy không nói ra nhưng ảnh hưởng đến người thân ở lại của chúng ta. Nếu chúng ta chết trong hòa bình với Chúa, với người khác và với chính mình, thì như Chúa Giêsu, người thân của chúng ta dù đang đau buồn vì mất mát, sẽ cảm nhận trong sâu thẳm tâm hồn họ, họ được nuôi dưỡng, sưởi ấm và an ủi khi nghĩ về chúng ta.

An nghỉ trong Chúa, Rick Gaillardetz, anh để lại cho chúng tôi, gia đình, bạn bè, thế giới món quà hòa bình.

Mùa Thường niên

Lịch Giáo hội có những mùa đặc biệt để kỷ niệm: Mùa Vọng và lễ Giáng Sinh, Mùa Chay và lễ Phục Sinh, nhưng ngoài những mùa đặc biệt này, Giáo hội mời chúng ta sống và cử hành mùa Thường niên.

Mùa Thường niên. Với hầu hết chúng ta, tôi nghĩ mùa này không nói lên một cái gì đặc biệt – nó nhạt nhẽo, tẻ nhạt, thường ngày, nhàm chán. Trong lòng, chúng ta có cảm giác đó là những gì đè nặng lên chúng ta, nhận chìm chúng ta, đẩy chúng ta ra khỏi môi trường hữu ích của đam mê, lãng mạn, sáng tạo và ăn mừng.

Chúng ta dễ dàng chê bai chuyện bình thường. Tôi nhớ một cô sinh viên trẻ chia sẻ trong lớp nỗi sợ lớn nhất đời cô là không thể chống chọi với những điều tầm thường, “là người nội trợ bình thường, người hài lòng làm quảng cáo thuốc giặt!”

Nếu bạn là nghệ sĩ hoặc có khiếu nghệ thuật, bạn dễ là đề tài của chê bai kiểu này vì các nghệ sĩ có xu hướng sáng tạo ngược với những gì bình thường. Chẳng hạn, văn sĩ Doris Lessing đã từng nhận xét lẽ ra George Eliot (1819-1880) có thể là nhà văn giỏi hơn “nếu bà không quá đạo đức”. Điều mà Lessing muốn nói là Eliot đã quá bám vào những điều bình thường, quá an toàn, quá chắc chắn, quá xa khỏi các bờ vực. Trong tác phẩm tiểu sử Cô gái đồng trinh của Bennington (The Virgin of Bennington), bà Kathleen Norris chia sẻ khi còn là nhà văn trẻ, bà là nạn nhân của hệ tư tưởng này như thế nào: “Tôi nghĩ các nghệ sĩ quá nghiêm túc để sống một cuộc sống lành mạnh và bình thường. Bị thúc đẩy bởi những thế lực không thể lay chuyển trong một thế giới lạnh lùng, họ đã phải đương đầu với cuộc đấu tranh không thể tránh khỏi, đôi khi chết người, nhưng luôn cao cả để chống buồn bã và bất hạnh.”

Cuộc vật lộn cao quý với buồn bã và bất hạnh. Nghe có vẻ quyến rũ, đặc biệt với những người trong chúng ta tự cho mình là nghệ sĩ, trí tuệ hoặc tâm linh. Đó là lý do vì sao một ngày nào đó, bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể cảm thấy thương hại cho những người có hạnh phúc đơn giản. Chúng ta nghĩ quá dễ với họ, nhưng họ phải đấu tranh để có. Đó là người nghệ sĩ bên trong chúng ta đang lên tiếng. Chúng ta chưa bao giờ thấy một nghệ sĩ bằng lòng làm quảng cáo thuốc giặt!

Xin quý vị đừng hiểu lầm tôi. Có một số xứng đáng cho việc này. Chính Chúa Giêsu đã nói, chúng ta không chỉ sống bằng cơm bánh. Không nghệ sĩ nào cần giải thích ý nghĩa của câu này. Trong số những điều khác, họ biết điều Chúa Giêsu muốn nói, đó là thói quen đơn giản, không nhất thiết đó là thiên đàng. Chúng ta cần cơm bánh, nhưng chúng ta cũng cần vẻ đẹp và màu sắc. Doris Lessing là nghệ sĩ vĩ đại, bà vào đảng cộng sản khi còn trẻ nhưng khi trưởng thành bà bỏ đảng. Vì sao? Một câu nói lên tất cả. Bà nói, bà bỏ đảng cộng sản, “vì họ không tin vào sắc màu!” Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta, cuộc sống không có nghĩa là sống đơn giản như một chu kỳ bất tận: thức dậy, đi làm, làm việc có trách nhiệm, về nhà, ăn tối, chuẩn bị mọi thứ cho ngày hôm sau và sau đó đi ngủ.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều để nói về một thói quen có vẻ kịch tính của sự bình thường. Cuối cùng, nhịp điệu của sự bình thường là nguồn gốc sâu sắc nhất để rút ra niềm vui và ý nghĩa. Tác giả Kathleen Norris sau khi kể cho chúng ta nghe cám dỗ thời trẻ của bà, bà đã vượt lên những điều bình thường để dự vào cuộc chiến cao quý chống buồn bã và bất hạnh, bà chia sẻ cách mà người cố vấn tuyệt vời Betty Kray đã giúp bà thoát khỏi cạm bẫy này như thế nào. Kray khuyên bà viết ra niềm vui cũng như nỗi buồn của mình. Bà Norris nói: “Betty cố hết sức thuyết phục tôi về điều mà những người bạn của bà, những người từng bị điên biết rất rõ: sự trân trọng đơn giản và trong sáng với những gì bình thường trong cuộc sống hàng ngày là kho báu không có gì so sánh trên trái đất này.”

Đôi khi phải có một căn bệnh mới dạy chúng ta điều này. Khi chúng ta lấy lại sức khỏe và năng lượng sau khi bị bệnh, sau khi bị nghỉ việc, sau khi bị ra khỏi nhịp sống và thói quen bình thường, không có gì ngọt ngào cho bằng trở lại với đời sống bình thường – với thói quen của công việc, với những điều bình thường của cuộc sống hàng ngày. Chỉ sau khi bị lấy đi và sau khi được trả lại, chúng ta mới quý sự đơn giản và trong sáng của những việc bình thường hàng ngày, một kho báu tối thượng.

Tuy nhiên, các nghệ sĩ vẫn đúng một phần. Những điều bình thường có thể đè nặng chúng ta, loại chúng ta khỏi môi trường sáng tạo, khỏi môi trường lãng mạn, khỏi môi trường hoang dã, những môi trường làm chúng ta vui vẻ. Nhưng phải công nhận, sự bình thường chính là điều giúp chúng ta không bị cuốn trôi. Nhịp điệu của những điều bình thường giữ vững chúng ta, làm chúng ta tỉnh táo.

Nghệ sĩ Paul Simon trong một bài hát của thập niên 1970 có tựa đề An American Tune, hát về việc đương đầu với những bối rối, sai lầm, phản bội và những sự kiện khác làm khuấy động bình an của chúng ta. Ông kết thúc bài hát khá buồn với những lời: “Ngày mai lại một ngày làm việc và tôi cố gắng nghỉ ngơi một chút. Nghỉ ngơi một chút, đó là tất cả những gì tôi đang cố gắng.”

Đôi khi việc giữ mệnh lệnh này lại giúp chúng ta tỉnh táo hơn. Có rất nhiều điều để nói về việc trở thành một người nhỏ bé, hài lòng, gắn bó với nhịp sống bình thường và thậm chí có thể làm quảng cáo cho thuốc giặt.

Chúng ta vừa tốt hơn, vừa xấu hơn chúng ta nghĩ

Sự phức tạp của chính chúng ta có thể làm hoang mang. Chúng ta tốt hơn những gì chúng ta nghĩ và chúng ta xấu hơn những gì chúng ta tưởng tượng, vừa quá khắt khe vừa quá dễ dãi với chính mình. Chúng ta là một pha trộn kỳ lạ.

Một mặt, chúng ta tốt. Tất cả chúng ta đều được tạo ra theo hình ảnh và giống Chúa, như triết gia Aristote và Thánh Tôma Aquinô khẳng định: về mặt siêu hình chúng ta tốt. Điều đó đúng, nhưng lòng tốt của chúng ta cũng ít trừu tượng hơn. Chúng ta cũng tốt, ít nhất là trong đa số thời gian, trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Chung chung, chúng ta quảng đại, thường là quá đáng. Dù đôi khi có vẻ bề ngoài, nhưng phần lớn chúng ta đều nồng ấm và hiếu khách. Điều tương tự cũng đúng về ý định cơ bản trong tâm trí và trái tim chúng ta. Chúng ta có trái tim bao la. Trong tâm hồn mỗi người, chúng ta dễ dàng bị kích thích bởi một chút tình yêu hoặc một chút khẳng định, ẩn chứa một trái tim rộng lớn, magna anima, luôn khao khát thương người. Vấn đề chủ yếu không phải ở lòng tốt, nhưng ở sự thất vọng khi chúng ta cố gắng sống điều này trong thế giới. Chúng ta thường tỏ ra lạnh lùng và ích kỷ trong khi chúng ta chỉ thất vọng, đau thương và tổn thương.

Không phải lúc nào chúng ta cũng tỏ ra tốt, nhưng phần lớn là tốt; dù chúng ta thường thất vọng vì chúng ta không thể (do hoàn cảnh, do tổn thương hay nhạy cảm) thể hiện lòng tốt của mình như chúng ta mong muốn, không thể ấm áp đón nhận thế giới và những người chung quanh mình. Chúng ta đi tìm một nơi ấm áp để thể hiện con người mình và thường không tìm thấy. Chúng ta không tệ nhưng thất vọng. Chúng ta yêu thương nhiều hơn chúng ta nghĩ.

Nhưng đó chỉ là một nửa của vấn đề, còn một khía cạnh khác: chúng ta cũng là kẻ có tội nhiều hơn chúng ta nghĩ. Một câu châm ngôn cũ trong đạo tin lành nói một cách chính xác về bản chất con người dựa trên thư Thánh Phaolô: “Vấn đề không phải chúng ta là kẻ có tội hay không, nhưng tội của chúng ta là gì?” Tất cả chúng ta đều là kẻ có tội, cũng như chúng ta có một trái tim rộng lớn, một tâm hồn vĩ đại, đồng thời chúng ta cũng có một tâm hồn nhỏ nhen, pusilla anima. Ở tận gốc rễ của bản năng cấu tạo nên chúng ta, có ích kỷ, ghen tị, hẹp hòi trong trái tim và tâm trí.

Hơn nữa, chúng ta thường mù quáng trước lỗi lầm thực sự của mình. Như Chúa Giêsu đã nói, chúng ta dễ dàng thấy bụi nơi mắt người mà không thấy đà trong mắt mình. Điều này thường tạo nên một trớ trêu kỳ lạ, nơi chúng ta nghĩ mình là kẻ có tội, lại không phải là nơi người khác đấu tranh nhiều nhất với chúng ta, hoặc nơi mà lỗi lầm thực sự của chúng ta ở đó. Ngược lại, chính ở những lãnh vực chúng ta nghĩ mình đức hạnh và chính trực thì tội lỗi thực sự của chúng ta thường ở đó, nơi người khác gặp khó khăn với chúng ta.

Chẳng hạn chúng ta luôn nhấn mạnh đến điều răn thứ sáu nhưng không tự kiểm bản thân về điều răn thứ năm (cay đắng, phán xét, tức giận và hận thù) hoặc điều răn thứ chín và thứ mười (liên quan đến ghen tị). Không phải là đạo đức tình dục không quan trọng, nhưng những thất bại của chúng ta ở đây khó lý giải hơn. Điều tương tự cũng không đúng với cay đắng, tức giận, đặc biệt là tức giận chính đáng, hay ghen tuông. Chúng ta có thể dễ dàng lý giải những điều này và không nhận ra ghen tuông là tội duy nhất mà Chúa thấy cần phải viết ra hai điều răn. Chúng ta tệ hơn chúng ta nghĩ và gần như chúng ta không nhận ra lỗi lầm thực sự của mình.

Vậy điều này dẫn chúng ta đến đâu trong tình trạng tốt hơn và tệ hơn như chúng ta nghĩ. Nếu chúng ta nhận ra chúng ta tốt hơn hoặc tội lỗi hơn chúng ta nghĩ, như thế sẽ hữu ích để chúng ta tự hiểu mình và cách chúng ta hiểu tình yêu và ơn Chúa trong cuộc sống.

Triết gia Aristote nói: “Hai điều trái ngược không thể cùng tồn tại trong một chủ thể.” Ông đúng về mặt siêu hình, nhưng hai điều trái ngược có thể (và thực sự) tồn tại trong chúng ta về mặt đạo đức. Chúng ta vừa tốt vừa xấu, vừa quảng đại vừa ích kỷ, vừa rộng lượng vừa nhỏ nhen, vừa nhân hậu vừa cay đắng, vừa tha thứ vừa oán giận, vừa hiếu khách vừa lạnh lùng, vừa đầy ân sủng vừa tội lỗi, tất cả cùng một lúc. Hơn nữa, chúng ta thường quá mù quáng trong cả hai trường hợp, vừa không nhận ra cái tốt cũng như cái xấu của mình.

Nhận ra điều này có thể làm chúng ta khiêm nhường và giải thoát chúng ta. Chúng ta là kẻ có tội được yêu thương. Cả lòng tốt và tội lỗi đều tạo nên bản sắc chúng ta. Không nhận ra sự thật này làm chúng ta hoặc chán nản không lành mạnh hoặc tự mãn một cách nguy hiểm, quá khắt khe hoặc quá dễ dãi với chính mình. Sự thật sẽ giải thoát chúng ta, và sự thật về bản thân chúng ta: chúng ta vừa tốt hơn vừa xấu hơn những gì chúng ta nghĩ về mình.

Thần học gia Robert Funk đã từng đưa ra ba châm ngôn về ân sủng nói lên điều này. Ông viết:

  • Ân sủng luôn làm tổn thương từ phía sau, khi chúng ta nghĩ mình ít bị tổn thương nhất.
  • Ân sủng khó khăn hơn chúng ta nghĩ: chúng ta đạo đức hóa sự phán xét để làm giảm bớt căng thẳng.
  • Ân sủng dễ dãi hơn chúng ta nghĩ: nhưng nó không bao giờ dễ dãi ở thời điểm chúng ta nghĩ nó có thể dễ dãi.

Chúng ta cần dễ dãi hơn và khắt khe hơn với chính mình và cởi mở với cách mà ân sủng hoạt động.

Mất người thân yêu vì tự tử

Tôi đã viết về tự tử suốt gần 40 năm. Tôi làm vậy bởi vì nhìn chung, chuyện tự tử bị hiểu lầm nghiêm trọng. Hơn thế nữa, có lẽ hơn bất cứ hình thức chết nào khác, tự tử làm cho những người bị bỏ lại mang một nỗi đau buồn, tổn thương và mặc cảm tội lỗi nặng nề.

Chúng ta cần phải nói thẳng bốn điều về tự tử:

Thứ nhất, tự tử là căn bệnh và có lẽ đây là căn bệnh khó hiểu nhất. Trong hầu hết trường hợp, đương sự không được tự do khi lựa chọn cách chết này. Khi chết vì đau tim, đột quỵ, ung thư, AIDS hay tai nạn, con người chết trái với ý mình. Với tự tử cũng thế, trừ một chuyện, tự tử là cơn bộc phát cảm xúc hơn là bộc phát thể lý, một đột quỵ về cảm xúc, một khối ung thư về cảm xúc, một sụp đổ của hệ miễn dịch cảm xúc, một đòn chí tử của cảm xúc.

Và đây không phải là cách nói ẩn dụ. Tự tử là một căn bệnh. Hầu hết những người tự tử đều chết trái với ý muốn của họ. Họ chỉ muốn kết thúc nỗi đau không thể chịu đựng thêm được nữa, cũng như người nhảy ra khỏi tòa nhà đang cháy, vì họ đã như cây đuốc sống.

Thứ hai, chúng ta không nên lo lắng quá mức về sự cứu rỗi đời đời của họ, không nên tin rằng tự tử là hành động tuyệt vọng tận cùng và là điều mà Thiên Chúa sẽ không tha thứ. Thiên Chúa thông hiểu, yêu thương và trìu mến con người vô cùng vô tận. Chúng ta không nên lo lắng về số phận của bất kỳ ai đã rời thế giới này trong tan vỡ, trong quá đỗi nhạy cảm, thiết tha, quá đỗi kiệt quệ và cảm xúc bị sụp đổ. Những con người tan nát được Chúa yêu thương cách đặc biệt.

Nhưng, hiểu được chuyện này không nhất thiết giúp chúng ta hết đau đớn (hết giận dữ) khi mất người thân vì tự tử, đức tin và sự thông hiểu không phải lúc nào cũng giúp chúng ta xóa bỏ nỗi đau, để chúng ta hy vọng, để được nâng đỡ khi chúng ta bước đi trong nỗi đau.

Thứ ba, chúng ta không nên hành hạ bản thân khi cảm thấy tội lỗi và băn khoăn lo lắng mình đã mất người thân yêu này vào thời điểm nào. “Mình đã phụ lòng họ lúc nào? Giá mà mình ở đó? Nếu như?” Lẽ tự nhiên, chúng ta sẽ bị ám ảnh với suy nghĩ, “giá mình ở đó vào lúc này”. Hiếm khi mặc cảm này tạo nên được sự khác biệt. Thật vậy, hầu như chúng ta đều không ở đó vì người đó không muốn chúng ta ở đó. Người đó đã chọn thời điểm, địa điểm và phương thức sao để chúng ta không thể làm được gì. Tự tử là căn bệnh dường như chọn nạn nhân, để làm sao họ loại trừ được người khác, loại trừ được sự quan tâm của người thân. Đây không phải là biện hộ cho sự thiếu nhạy cảm, nhưng là một xác nhận lành mạnh trước mặc cảm tội lỗi và băn khoăn đau đớn.

Chúng ta là con người, chúng ta không phải là Thiên Chúa. Con người chết vì tai nạn, vì bệnh tật, và đôi khi tình yêu và cả sự quan tâm của cả thế giới cũng không ngăn được cái chết. Một người mẹ mất con vì tự tử đã viết: “Ý chí muốn cứu mạng ai đó không tạo được sức mạnh để ngăn chặn cái chết.”

Vì thế, chúng ta phải tha thứ cho bản thân vì sự bất toàn của mình khi sống với người bị trầm cảm muốn tự tử. Nhưng chuyện này không dễ dàng gì, như người đàn ông đã mất vợ vì tự tử này xác nhận: “Vợ tôi không hạnh phúc, bà bị trầm cảm quá lâu, vì thế tôi mong cuối cùng bây giờ bà được bình an. Suốt bốn hay năm năm qua, ít nhất mỗi tuần một lần, bà lặp lại ý muốn chết… Thật khó để tôi không cắn rứt trong bất hạnh của vợ tôi… Ít nhất, tôi sẽ mang đến chết đáng ra tôi có thể làm nhiều hơn để giữ bà lại. Suốt mấy năm qua, thay vì nói chuyện để cố khuyến khích bà nhìn sự việc một cách tích cực, tôi lại chọn cách trốn tránh và rút lui. Tôi nghĩ cố gắng phá trầm cảm không giải thích được, chỉ làm mọi chuyện tệ hơn, ít nhất là với tôi, vì tôi thường là mục tiêu dễ nhắm để vợ tôi trút cơn giận và bất hạnh của bà”.

Đây là cảm giác tội lỗi thường có của những người mất người thân vì tự tử, nhất là người vợ hoặc người chồng. Điều chúng ta cần hiểu là cơn giận dữ của người trầm cảm gần như thường xuyên chính xác tập trung vào những người mà họ tin tưởng và thân yêu nhất, vì đó là nơi an toàn duy nhất họ có thể trút cơn giận (mà không bị phản đòn). Hệ quả là, người bị nhắm thường cố thoát ra bằng cách trốn tránh và rút lui, sau đó là cảm thấy mình tội lỗi.

Thứ tư, khi mất người thân vì tự tử, một trong những nhiệm vụ của chúng ta là cứu ký ức về họ, đưa cuộc đời họ vào một góc nhìn sao cho cách chết của họ không làm ố màu ký ức về họ mãi mãi. Đừng gỡ bỏ hình ảnh của họ, đừng thì thầm khi nói về cuộc đời và cái chết của họ, đừng đánh một ngôi sao không phai bên cạnh tên họ. Cuộc đời của họ không nên bị phán xét qua lăng kính cái chết của họ. Chúng ta nên chuộc lại ký ức cho họ.

Phản ứng với chỉ trích

Ở nhiều nơi trong thế giới thế tục ngày nay, chúng ta sống trong bầu khí phần nào bài kitô giáo và bài Giáo hội (mâu thuẫn của chuyện này là nó lại xảy ra trong nền văn hóa vẫn xem mình là kitô giáo). Nhưng sự thật là ở nhiều môi trường, khuynh hướng thời thượng là công kích kitô giáo, nhất là các Giáo hội kitô giáo, bất kể đó là công giáo la-mã, tin lành hay phái Phúc âm. Sự chỉ trích này luôn nhắm vào những điểm bất nhất, những sai phạm và lỗi lầm trong quá khứ của các Giáo hội này. Quả thật câu “Tôi có đời sống tâm linh nhưng không có tôn giáo”, cũng mang một chỉ trích không mấy giấu diếm với các Giáo hội. Tôi muốn Thiên Chúa, nhưng tôi không muốn kitô giáo và các Giáo hội.

Chuyện này nghiêm trọng như thế nào? Chúng ta phải phản ứng ra sao? Dù bực mình nhưng xét cho cùng nó không phải là nguyên do chính cần phải lo. Là một Giáo hội, chúng ta không bị đe dọa tận căn vì chuyện này, và chúng ta không nên phản ứng thái quá. Vì sao?

Trước hết, vì một số chỉ trích này tốt cho chúng ta. Chúng ta thật sự có những sai phạm và thiếu sót, nền văn hóa của chúng ta đã rộng lượng đưa ra cho chúng ta thấy. Những lời chỉ trích Giáo hội hiện nay làm cho chúng ta biết khiêm nhường một cách lành mạnh và thúc đẩy chúng ta phải can đảm thanh tẩy nội bộ ta hơn nữa. Những người chỉ trích cho chúng ta thấy lỗi lầm của mình, như thế là họ giúp chúng ta. Ngoài ra, chúng ta đã tận hưởng đặc quyền quá lâu rồi, và đó không bao giờ là một điều tốt cho Giáo hội. Cho dù không thích cho lắm, nhưng thường trong thời thiếu đặc quyền, chúng ta sống tinh thần kitô hữu lành mạnh hơn thời có đặc quyền. Hơn nữa, còn có một chuyện nghiêm trọng hơn đang bị đe dọa.

Chúng ta phải cẩn thận đừng phản ứng thái quá với bầu khí bài Giáo hội hiện nay, vì nó có thể làm chúng ta thủ thế không lành mạnh, đẩy chúng ta vào vị trí đối địch với văn hóa. Tin Mừng không muốn chúng ta làm như vậy, hoàn toàn không muốn. Nhiệm vụ của chúng ta là nhận chỉ trích, đau đớn suy ngẫm về nó, nhẹ nhàng đưa ra sự thiếu công tâm trong đó, nhưng phải chống lại mọi cám dỗ phòng vệ quá đáng. Vì sao? Vì sao đừng gồng lên bảo vệ?

Bởi vì chúng ta đủ mạnh để không làm thế, đơn giản vậy thôi. Chúng ta có thể chịu đựng điều này mà không gay gắt và thủ thế. Bất chấp sự chỉ trích có phổ biến hay bất công đến đâu, Giáo hội đâu có sụp đổ hay tan biến ngay. Chúng ta có hai tỷ rưỡi tín hữu kitô trên khắp thế giới, đứng vững với truyền thống hai ngàn năm, có một Kinh thánh được chấp nhận rộng rãi, có giáo lý được giữ vững và chỉnh sửa tinh tế trong hai ngàn năm, có các thể chế lớn với hàng trăm năm tuổi, bén rễ sâu trong văn hóa và công nghệ Tây phương, có lẽ chúng ta là nhóm đa quốc gia lớn nhất thế giới, phát triển về con số mạnh nhất thế giới. Chúng ta đâu phải là cây sậy lay lắt trước gió hay con tàu sắp chìm. Chúng ta mạnh mẽ, được Thiên Chúa chúc phúc và là trưởng lão của nền văn hóa. Vì thế chúng ta nợ nền văn hóa này sự tử tế và thông hiểu.

Ngoài ra, quan trọng hơn cả sức mạnh từ lịch sử, chính là sự thật chúng ta có Đức Kitô đã hứa ở bên chúng ta, và sự phục sinh để nâng đỡ chúng ta. Với tất cả những điều này, tôi nghĩ chúng ta có thể hoàn toàn tiếp nhận một lượng chỉ trích khá lớn mà không sợ bị mất căn tính. Hơn nữa, chúng ta đừng để những chỉ trích này làm chúng ta đánh mất đi nhận thức về lý do vì sao chúng ta tồn tại.

Giáo hội không tồn tại vì chính mình, cũng không phải để đảm bảo sự tồn tại của mình. Giáo hội tồn tại vì thế giới. Chúng ta cũng có thể dễ dàng quên mất điều này và trong thành tâm lại mất đi ý thức về yêu cầu của Tin Mừng với chúng ta. Chúng ta so sánh hai phản ứng: ở một buổi họp báo, có người hỏi cố hồng y Basil Hume, ngài xem điều gì là thách thức hàng đầu mà Giáo hội thời nay phải đối diện. Ngài trả lời: “Cứu lấy hành tinh.” Vài năm trước, một hồng y khác (xin giấu tên vì câu trả lời của ngài), trong một phỏng vấn trên truyền hình cũng được hỏi câu tương tự: “Cha thấy nhiệm vụ hàng đầu của mình khi tiếp quản giáo phận này là gì?” Ngài trả lời: “Bảo vệ đức tin”. Một câu trả lời hoàn toàn khác.

Mọi điều về Chúa Giêsu cho thấy quan điểm của hồng y Hume gần với Tin Mừng hơn hồng y kia. Khi Chúa Giêsu nói, “Thịt Ta là của ăn cho thế gian được sống”, Ngài xác nhận rõ, nhiệm vụ hàng đầu của Giáo hội không phải là bảo vệ mình, bảo đảm sự tiếp diễn của mình hay bảo vệ mình khỏi bị thế giới vùi dập. Giáo hội tồn tại vì thế giới chứ không phải cho chính Giáo hội. Chính vì thế mà Chúa Giêsu sinh ra trong hang lừa, nơi thú vật đến để ăn, và chính vì thế mà Ngài trao mình trên bàn ăn, để được ăn. Một phần của Chúa Giêsu chính là Ngài đặt mình ở chỗ thấp. Mọi sự về Ngài đều gợi lên sự yếu đuối dễ tổn thương hơn là phòng thủ, mạo hiểm hơn là an toàn, tin tưởng vào lời hứa thần thiêng hơn là vào phòng vệ và bảo đảm của con người.

Thực chất của Phúc âm là mời chúng ta mạo hiểm chứ không đề phòng, nhận những gì bất công chứ không thủ thế, “Tha thứ cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Chúng ta phải là của ăn cho thế gian, chứ không lo lắng cho sự sinh tồn của mình. Chúng ta phải là của ăn của sự thông hiểu, tử tế và tha thứ cho thế gian.

Mầu nhiệm của thăng thiên

Thăng thiên là gì? Thăng thiên là một sự kiện trong đời Chúa Giêsu và các môn đệ tiên khởi của Ngài, cũng là ngày lễ của kitô giáo, một thần học, một linh đạo, tất cả kết lại thành một mầu nhiệm mà hiếm khi chúng ta cố gắng giải thích. Thăng thiên là gì?

Có một phần trong sự Thăng thiên là bí ẩn nghịch lý đến kỳ lạ. Đó là nghịch lý: một người nào đó đã đi vào cuộc đời chúng ta, chạm đến chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta, xây dựng chúng ta, đem lại cho chúng ta sự sống, người đó là một ơn đem lại sự sống tuyệt diệu. Nhưng trong việc cuối cùng khi chúng ta phải tạm biệt sự hiện diện của người đó, thì họ cũng mang lại một ơn khác. trong việc người nào đó ra đi, cũng có một ơn. Sự hiện diện cũng phụ thuộc vào sự vắng mặt. Có ơn lành chúng ta chỉ có thể trao khi ra đi.

Chính vì thế, khi từ biệt các môn đệ trước lúc thăng thiên, Chúa Giêsu đã có những lời: “Ta đi thì tốt hơn cho anh em. Giờ anh em sẽ buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ biến thành niềm vui. Đừng giữ Ta, Ta phải lên trời.”

Chúng ta nên hiểu những lời này như thế nào? Người chúng ta yêu thương giờ đi xa thì làm thế nào nào có thể tốt hơn được? Làm thế nào mà nỗi buồn của chia ly và sự rời xa đau đớn lại trở thành niềm vui? Làm sao một lời từ biệt cuối cùng lại đem đến sự hiện diện sâu sắc hơn của người đó?

Chuyện này khó giải thích, dù ai cũng có kinh nghiệm trong cuộc đời về chuyện này. Tôi xin đưa ra một ví dụ: Năm tôi 23 tuổi, chỉ trong vòng ba tháng, cả cha mẹ của tôi đều lần lượt qua đời. Với tôi và các anh chị em, nỗi đau mất cha mẹ quá lớn. Như với bất kỳ nỗi mất mát lớn nào, ban đầu chúng ta cảm thấy đau khổ, bị đoạn tuyệt, lạnh lẽo, bất lực, yếu đuối, mất đi mối liên hệ sống còn của mình, và cảm nhận sự tàn bạo của cái chết tuyệt đối ập đến khi chúng ta chưa chuẩn bị đủ. Trong mọi mất mát, cái chết hay một chia ly đau đớn, mới đầu không có gì là ấm áp.

Dĩ nhiên thời gian có thể chữa lành mọi thứ, nhưng nó không chỉ có nghĩa chúng ta được bình an qua năm tháng, nó còn hơn thế. Sau một thời gian, với tôi là vài năm, tôi không còn cảm thấy lạnh lẽo nữa. Cái chết của cha mẹ không còn là chuyện đau đớn. Thay vào đó, sự vắng mặt của họ biến thành sự hiện diện ấm áp, nặng nề nhường chỗ cho nhẹ nhàng trong linh hồn, dường như việc họ không thể nói chuyện với tôi lại là một hiện diện liên tục, vững vàng mới mẻ đầy kinh ngạc, và ơn lành họ chưa mang lại trọn vẹn cho tôi khi còn sống, thì bây giờ lại bắt đầu thấm sâu hơn, vững chắc hơn vào tận tâm hồn tôi. Với các anh chị em của tôi cũng thế. Nỗi buồn của chúng tôi biến thành niềm vui, và chúng tôi bắt đầu tìm thấy lại cha mẹ một cách thâm sâu hơn, ở một nơi sâu thẳm hơn của linh hồn, cụ thể là những nơi mà tinh thần của họ đã bừng nở khi còn sống. Họ đã lên trời, chúng tôi được tốt hơn nhờ thế.

Chúng ta thường xuyên có dạng trải nghiệm này, chỉ là ít mãnh liệt hơn. Chẳng hạn khi con cái trưởng thành ra khỏi nhà để xây dựng cuộc sống riêng, cha mẹ rất buồn. Cái chết thật sự phải xảy ra, sự thăng thiên phải xảy ra. Cách kết nối cũ phải chết đi, dù có đau lòng đi chăng nữa. Nhưng chúng ta biết, con cái chúng ra rời đi thì tốt hơn.

Và chuyện này cũng đúng với mọi chuyện khác trong đời. Khi chúng ta đến thăm ai, điều quan trọng là chúng ta đến, nhưng việc chúng ta đi cũng quan trọng. Chúng ta đi, dù đau đớn, nhưng đó là một phần của món quà khi chúng ta đến thăm. Sự hiện diện của chúng ta phần nào phụ thuộc vào sự vắng mặt của chúng ta.

Chúng ta cẩn thận phân biệt điều này với ý của câu: “Xa cách làm lòng thêm yêu thương.” Câu này phần lớn là không đúng. Sự vắng mặt làm yêu mến thêm, nhưng chỉ trong một thời gian và hầu hết là vì những lý do sai. Sự vắng mặt về thể lý, sự xa cách đơn thuần không có động lực tinh thần sâu sắc thì thường chấm dứt mối quan hệ hơn là đào sâu mối quan hệ. Cuối cùng, gần như lúc nào chúng ta cũng đơn giản là xa rời nhau. Cách sự thăng thiên đào sâu thân mật, hiện diện và ơn lành thì không như thế.

Thăng thiên đào sâu sự thân mật bằng cách cho chúng ta một hiện diện mới, sâu sắc hơn và phong phú hơn, nhưng nó chỉ đến nếu như cách thức hiện diện cũ của chúng ta bị rời đi. Có lẽ chúng ta hiểu chuyện này rõ nhất qua kinh nghiệm con cái trưởng thành và rời nhà. Thật đau đớn khi thấy con cái lớn lên và xa chúng ta. Thật đau đớn khi phải nói tạm biệt. Thật đau đớn khi để ai đó ra đi.

Nhưng nếu con cái có thể nói những lời mà lòng chúng cảm nhận thì chúng sẽ nói như Chúa Giêsu đã nói trước khi thăng thiên: “Con đi thì tốt hơn cho cha mẹ. Giờ cha mẹ sẽ buồn, nhưng nỗi buồn sẽ biến thành niềm vui khi một ngày không xa, con sẽ đứng trước cha mẹ như người con trường thành, có thể cho cha mẹ món quà sâu sắc hơn từ sự trưởng thành của con”.