RonRolheiser,OMI

Nói dối và tội phạm đến Thần Khí

Không có gì nguy hiểm về mặt tâm lý lẫn luân lý cho bằng nói dối, phủ nhận sự thật. Chúa Giêsu cảnh cáo, chúng ta có thể phạm một tội không thể tha thứ (nguyên văn lời Ngài) khi phạm đến Thần Khí.

Đó là tội gì? Vì sao không thể tha thứ? Tội này liên kết như thế nào với việc không nói thật?

Và đây là bối cảnh khi Chúa Giêsu nói lời cảnh báo này. Ngài vừa trừ quỷ, có vài người chứng kiến chuyện này họ tin theo giáo lý của họ, chỉ có những ai đến từ Thiên Chúa mới có thể trừ quỷ. Nhưng họ ghét Chúa Giêsu, nên việc Ngài trừ quỷ là một sự thật khó chịu với họ, khó chịu đến mức họ chọn phủ nhận những gì họ vừa tận mắt chứng kiến. Thế là, trái với mọi điều họ đã biết là có thật, họ khẳng định Chúa Giêsu trừ quỷ nhờ phép của quỷ vương Beelzebub. Họ dư biết không phải vậy. Họ biết mình đang phủ nhận sự thật.

Phản ứng đầu tiên của Chúa Giêsu là cố làm cho họ thấy họ nói dối. Ngài viện đến logic, Ngài lập luận nếu quỷ Beelzebub lại đi trừ quỷ, thì có phải là nhà Satan tự chia rẽ và cuối cùng nó sẽ sụp đổ. Nhưng họ cứ khăng khăng với lời phủ nhận của họ. Lúc đó, trong bối cảnh cụ thể này, Chúa Giêsu nói lời cảnh cáo về mối nguy phạm một tội không thể tha thứ: phạm đến Thần Khí.

Về căn bản, lời cảnh cáo này là gì?

Những người Chúa Giêsu nhắm đến đã phủ nhận một hiện thực mà họ vừa thấy tận mắt, chỉ vì quá khó để họ tiếp nhận sự thật ấy. Cho nên họ phủ nhận sự thật, họ hoàn toàn ý thức mình đang nói dối.

Lời nói dối đầu tiên của chúng ta không nguy hiểm đến vậy, vì chúng ta vẫn còn biết mình đang nói dối. Nguy cơ là nếu chúng ta cứ khăng khăng với lời nói dối ấy và tiếp tục phủ nhận (và nói dối), thì chúng ta đi đến mức độ tin vào lời nói dối, xem nó là sự thật, và xem sự thật là giả dối. Lúc đó, sự xuyên tạc được xem là nhân đức, và như thế tội này trở nên không thể tha thứ, không phải vì sự tha thứ không được ban nhưng vì chúng ta không còn tin mình cần được tha thứ, không muốn tha thứ hay mở lòng để đón nhận tha thứ.

Theo bất cứ cách nào, mỗi khi chúng ta nói dối, chúng ta phủ nhận sự thật là chúng ta bắt đầu nhốt lương tâm lại, và nếu chúng ta cứ nhất quyết làm, thì cuối cùng (không nói quá) chúng ta làm tâm hồn bị biến thái đến nỗi với chúng ta, giả dối trông như sự thật, bóng tối trông như ánh sáng, và địa ngục trông như thiên đàng.

Địa ngục chưa bao giờ là một bất ngờ kinh khủng với những người hạnh phúc và căn bản thành thật. Địa ngục chỉ phát triển trọn vẹn qua sự thiếu thành thật lâu dài, được duy trì khi chúng ta phủ nhận hiện thực quá lâu đến nỗi xem sự thiếu thành thật là sự thật. Không có ai trong địa ngục ăn năn và mong sao mình có một cơ hội khác để sống và chết đi cho tốt đẹp. Nếu có người ở trong địa ngục, thì người đó, bất kể bản thân đang thống khổ, lại cảm thấy xem thường và khinh thị sự ngây thơ của những người thành thật đang ở thiên đàng.

Và tại sao đó là tội “phạm đến Thần Khí”?

Trong thư Thánh Phaolô gởi tín hữu thành Galát, ngài đưa ra hai con đường căn bản để chúng ta sống. Chúng ta có thể sống ngoài Thần Khí. Và chúng ta sống như thế mỗi khi chúng ta sống dâm bôn, thờ quấy, hận thù, bất hòa, chia rẽ, và không thành thật. Chính nói dối đẩy chúng ta đến đó. Ngược lại, chúng ta sống trong Thần Khí khi chúng ta sống trong bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Và chúng ta được như thế mỗi khi chúng ta thành thật. Do đó, mỗi khi nói dối, mỗi khi phủ nhận hiện thực, mỗi khi phủ nhận sự thật, là chúng ta (hoàn toàn và thực tế) đang bước ra khỏi Thần Khí và phạm thượng vì khinh thị Thần Khí.

Satan là vua dối trá. Chính vì thế mà nguy cơ lớn nhất trong thế giới chúng ta chính là khối lượng lời nói dối, tin giả, tin sai sự thật, phủ nhận thẳng thừng mỗi khi chúng ta thấy sự thật không hợp với ý thích của mình, phủ nhận hiện thực hiện diện gần như khắp nơi. Chẳng có gì mang tính hủy hoại và nguy hiểm cho sức khỏe linh hồn, cho khả năng tạo cộng đồng giữa chúng ta, cho tương lai của hành tinh, cho ý thức của chính chúng ta cho bằng thẳng thừng phủ nhận sự thật.

Khi sự thật bị phủ nhận: khi sự thật lịch sử bị viết lại để xóa bỏ một sự thật đau lòng, khi có người cho rằng chuyện bạn tận mắt chứng kiến không xảy ra, khi có người bảo cuộc diệt chủng Do Thái không xảy ra, khi có người bảo ở đất nước này chưa hề có chế độ nô lệ, khi có người nói không có trẻ em chết ở Sandy Hook, thì như vậy không chỉ là không tôn trọng hàng triệu người, mà con nhạo báng với ý thức của cả một văn hóa.

Khi có chuyện gì đó xảy ra rồi sau đó bị phủ nhận, thì đó không chỉ là giễu cợt với sự thật, mà còn gieo tai họa cho ý thức chúng ta, đặc biệt với người nói dối.

An lòng với việc thiếu sự công nhận

Không có mấy điều khiến chúng ta khao khát cho bằng sự thể hiện bản thân và sự công nhận. Chúng ta có nhu cầu không thể kìm nén muốn thể hiện bản thân, muốn được người khác biết đến, công nhận, thông hiểu, nhìn nhận chúng ta là độc nhất vô nhị, có thiên tư và quan trọng. Một tâm hồn không được biết đến, không được cảm kích trong sâu thẳm cõi lòng, một tâm hồn thiếu thể hiện và thiếu công nhận đầy đủ ý nghĩa, thì có chiều hướng dằn vặt, nản lòng và cay đắng. Và sự thật là, thể hiện bản thân là việc khó, thể hiện trọn vẹn bản thân lại càng là việc bất khả thi.

Đến tận cùng, với hầu hết chúng ta, cho dù sống ở đâu hay đã thành tựu được những gì, thì cuộc sống của chúng ta vẫn luôn bé hơn nhu cầu và ước mơ của chúng ta. Trong những lúc mơ mộng hão huyền, mỗi chúng ta đều muốn trở thành nhà văn lừng danh, vũ công kiều diễm, vận động viên, ngôi sao điện ảnh được ái mộ, cô gái được lên bìa tạp chí, học giả trứ danh, người đoạt giải Nobel, cái tên tuổi quốc tế, nhưng đến tận cùng, hầu hết chúng ta vẫn là người vô danh, sống giữa những người vô danh khác.

Và như thế, cuộc sống chúng ta có vẻ quá nhỏ với chúng ta. Chúng ta cảm thấy bản thân thật phi thường mà luôn mãi bị giam trong sự tầm thường, kể cả khi trong chúng ta có điều gì đó vẫn đang tìm cách thể hiện, vẫn đang đi tìm để được công nhận, kể cả khi có vẻ như điều gì đó quý báu trong chúng ta đang sống và chết đi một cách vô ích. Sự thật, khi nhìn từ góc nhìn của thế giới này, thì phần nhiều những gì quý báu, độc nhất vô nhị và phong phú, có vẻ đều đang sống và chết đi vô ích. Chỉ có một số hiếm người được thỏa lòng về chuyện thể hiện bản thân và được công nhận.

Có một sự tử đạo nhất định trong vấn đề này. Triết gia Ai-len Iris Murdoch (1919-1999) đã nói: “Nghệ thuật có những người tử đạo, và trong số họ không ít người vẫn kiên quyết giữ thinh lặng”. Thiếu sự thể hiện bản thân, dù là do tự chọn hay bị hoàn cảnh áp đặt, chính là một cái chết thực sự, nhưng giống như mọi cái chết, chúng ta có thể hiểu và cảm kích nó theo những cách khác nhau.

Nếu buồn bã đón nhận nó như một bi kịch, thì sẽ dẫn đến tâm trạng cay đắng và tan vỡ. Tuy nhiên, nếu hiểu và cảm kích nó trong đức tin như lời mời trở thành một tế bào ẩn mình trong Thân thể Chúa Kitô và gia đình nhân loại, ẩn danh cung cấp sự nuôi dưỡng và sức mạnh cho toàn bộ thân thể, thì nó có thể dẫn đến sự nghỉ ngơi, tri ân và một ý thức về tầm quan trọng sẽ chặt phăng những gốc rễ của nản lòng, thất vọng, trầm cảm và cay đắng.

Tôi nói vậy vì phần lớn những gì mang lại sự sống và nuôi dưỡng chúng ta trong đời đâu phải đến từ những người giàu có và nổi tiếng, những người vô cùng thành đạt, những người ghi danh sử sách. Như tác giả George Eliot đưa ra, chúng ta không cần làm những việc vĩ đại để lại dấu ấn trong lịch sử nhân loại, vì “sự thiện đang lớn lên của thế giới phụ thuộc một phần vào những hành động không có ý nghĩa lịch sử, và những điều không mấy ghê gớm với bạn và tôi, phân nửa là do những người sống cuộc đời thành tín và ẩn mình và an nghỉ ở những phần mộ không ai thăm viếng”.

Một câu rất hay. Lịch sử ủng hộ điều này. Ví dụ như Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu sống suốt đời vô danh trong tu viện nhỏ ẩn mình ở vùng quê nước Pháp, khi ngài chết năm 24 tuổi, có lẽ chẳng có hơn trăm người quen biết ngài. Theo cách chúng ta đánh giá trong thế giới này, thì ngài ít thành công, chẳng có thành tựu nào nổi bật hay cống hiến nào rõ rệt. Thánh Thánh Têrêxa vào tu viện khi 15 tuổi, sống ẩn dật ở đây cho đến khi qua đời, làm những việc vặt ở bếp, ở phòng giặt, ngoài vườn. Vật hữu hình duy nhất mà thánh nữ để lại là quyển nhật ký riêng với nhiều lỗi chính tả, kể lại câu chuyện gia đình mình, thời thơ ấu, và những gì đã trải qua trong những tháng cuối đời được chăm sóc giảm nhẹ trước khi qua đời.

Nhưng những gì ngài để lại là những gì bây giờ đã làm cho ngài thành nhân vật nổi tiếng thế giới, cả trong và ngoài thế giới đức tin. Nhật ký riêng của ngài, Câu chuyện của một Tâm hồn đã chạm đến hàng triệu cuộc đời, dù viết sai chính tả được các nữ tu chỉnh lại sau khi ngài qua đời.

Điều làm cho quyển nhật ký nhỏ của thánh nữ có sức mạnh độc nhất vô nhị chính là là câu chuyện ngài kể lại cuộc sống riêng tư của ngài trong bao nhiêu năm tháng đó, khi ngài ẩn mình và vô danh, khi ngài là đứa trẻ hay một nữ tu. Những gì thánh nữ ghi lại trong câu chuyện về linh hồn mình là khi ngài hoàn toàn ý thức được sự độc nhất vô nhị và quý báu của mình, thánh nữ sẵn lòng trao hết trong đức tin, vì ngài tin thiên tư và tài năng của mình là làm việc thầm lặng (và mạnh mẽ) bên trong thân thể mầu nhiệm (nhưng có thực và hữu cơ), Thân thể Chúa Kitô và nhân loại. Thánh nữ hiểu bản thân mình là một tế bào trong một cơ thể sống, trao đi những gì quý báu và độc nhất vô nhị trong mình vì sự tốt đẹp của thế giới.

Sự vô danh cho chúng ta lời mời gọi này. Người ta không thể có tác phẩm nghệ thuật nào vĩ đại hơn thế để trao cho thế giới.

Chúa Giêsu cũng nói như vậy. Ngài bảo chúng ta hãy làm việc lành trong bí mật, đừng để tay trái (cùng hàng xóm và thế giới) biết việc tay phải làm.

Mười quyển sách sách hàng đầu của tôi năm 2024

Hé lộ đầy đủ, tôi không đọc hết. Với cuộc sống bận rộn đầy áp lực, tôi chỉ có một ít thì giờ ngắn để đọc bất cứ thứ gì không liên quan trực tiếp đến công việc của tôi, nhưng tôi cố gắng trung thành với kỷ luật tôi tự đặt cho tôi nhiều năm nay, mỗi ngày đọc từ 8 đến 10 trang một quyển sách (không tính tạp chí và báo), một năm cộng lại tôi cũng đọc được vài ngàn trang.

Trong số những trang này, tôi sẽ giới thiệu 10 quyển sách nào? Và đây là danh sách của tôi.

Những quyển sách tâm linh: mỗi quyển đều có ý nghĩa riêng của nó:

Richard Gaillardetz, Tôi còn thở, tôi còn hy vọng – Bí ẩn về cái chết
(While I Breathe I hope – A Mystagogy of Dying), được Grace Mariette Agoli biên tập. Đây là quyển sách ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất trong năm qua. Richard Gaillardez là thần học gia nổi tiếng tại Đại học Boston, qua đời vì bệnh ung thư tháng 11 năm 2023. Quyển sách là những suy ngẫm trong những tháng cuối đời của ông, một đức tin đáng chú ý và đáng nể trọng. Ông không để hụt giờ chết nhưng xem đây như một ơn. Quyển sách là một phần của ơn này.

Mark Joseph Williams, Dòng suối ân sủng (Torrent of Grace), hành trình chữa lành của một tín hữu công giáo sống sót sau khi bị giáo sĩ lạm dụng, ông giải quyết vấn đề theo con đường tha thứ và hòa giải sau nhiều năm bị tổn thương. Ông kể câu chuyện của ông nhưng không tạo cảm giác tội lỗi cho những người liên hệ, ông để lại cho tất cả mọi người, đặc biệt cho Giáo hội một thử thách cần thiết. Quý độc giả nên đọc câu chuyện chữa lành này.

John Mark Comer, Thực hành Con đường: Ở với Chúa Giêsu, Trở nên giống Ngài, Làm như Ngài đã làm (Practicing the Way: Be with Jesus, Become like Him, Do as He Did). Tín hữu Tin lành, John Mark Comer có khuynh hướng đại kết rộng rãi và có cái nhìn sâu sắc về thần học. Đây là quyển sách xuất sắc, một hướng dẫn thực tế để đào sâu tinh thần môn đệ kitô của bất kỳ ai, bất kể giáo phái nào.

Mirabai Starr, Chủ nghĩa thần bí thông thường, Cuộc sống của bạn như vùng đất thiêng liêng (Ordinary Mysticism, Your Life As Sacred Ground). Mirabai Starr là tín hữu, là nhà thần bí dù bà không chính thức tuyên xưng bà thuộc tôn giáo nào. Bà đưa ra cụm từ Tôi là người tâm linh nhưng không tôn giáo, theo nghĩa bình thường. Và vì bà không nói về bất kỳ tôn giáo hay giáo phái nào, nên lời nói của bà mang lại điều gì đó cho bất kỳ ai thuộc bất kỳ tôn giáo hay giáo phái nào.

Peter Halldorf, Yêu Giáo hội của người anh em như Giáo hội của chính mình – Tuyên ngôn về sự hiệp nhất các kitô hữu (To Love Your Neighbor’s Church As Your Own – A Manifest for Christian Unity). Peter Halldorf là tín hữu Luther Tin lành, Chính thống Đông phương. Một Giám mục Nghi lễ Đông phương tặng cho tôi quyển sách này trong cuộc Họp Đại kết mùa hè vừa qua. Tác giả phác thảo một tầm nhìn sâu sắc và sâu rộng về đại kết và hiệp nhất kitô giáo hơn hầu hết các sách tôi đã đọc. Quyển sách nhỏ này là một kho báu.

Brian Swimme & Monica DeRaspe-Bolles, Câu chuyện về Noosphere. Có lẽ mang tính khoa học hơn là tâm linh, quyển sách rất dễ đọc sẽ giúp quý độc giả hiểu nguồn gốc vũ trụ và cách các nguồn gốc này phù hợp hoàn toàn với tầm nhìn kitô giáo.

Raymond E. Brown, Mỗi năm theo mùa, tôi đọc lại các sách của tác giả Raymond Brown về Mùa Vọng, Lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh, Lễ Phục Sinh và Lễ Hiện Xuống. Mỗi quyển chỉ 90 trang nhưng đây là một khóa học Kinh thánh chính.

Donna Freitas, Ước mơ, Tôi đã đánh mất đức tin như thế nào và Vì sao tôi muốn tìm lại đức tin (Wishful Thinking, How I Lost My Faith and Why I Want to Find It). Freitas được biết đến với những quyển sách trong lãnh vực tình dục, bà viết hồi ký về cuộc đấu tranh của chính bà với đức tin và cuộc đấu tranh đó đã trở nên phức tạp như thế nào do trải nghiệm cá nhân của bà khi bà bị một linh mục lạm dụng tình dục. Điều làm cho quyển sách khác với những quyển sách khác thuộc loại này là cụm từ thứ hai trong tiêu đề “Vì sao tôi muốn tìm lại đức tin”.

Trong số những quyển sách học thuật, tôi khuyên quý độc giả nên đọc quyển này:

William T. Cavanaugh, Công dụng của việc thờ ngẫu tượng (The Uses of Idolatry). Thần học gia Charles Taylor trong tác phẩm kinh điển Thời đại Thế tục (A Secular Age) đã nói về việc chúng ta hiện đang sống trong thời của vỡ mộng, chúng ta không còn nhìn thấy bất cứ điều gì đằng sau thực tế thực nghiệm. Tác giả khẳng định, chúng ta không có thiên thần, không có linh hồn, không có ác quỷ, không có thần thánh, chỉ có thực tế kinh nghiệm. Theo ông, chúng ta sống kiểu “nhân cách đệm”, có nghĩa thế giới linh hồn và ma quỷ không còn ảnh hưởng đến chúng ta nữa. Hậu quả là chủ nghĩa bất khả tri và vô thần bây giờ trở thành những lựa chọn dễ dàng. Tác giả Cavanaugh phản đối lập luận này, ông cho rằng chúng ta không hề thất vọng. Đúng hơn chúng ta chỉ đơn giản bị mê hoặc bởi những linh hồn, ác quỷ và thần thánh (theo kinh nghiệm) khác nhau. Ông tin, vấn đề của chúng ta không phải là chủ nghĩa vô thần, nhưng là thờ ngẫu tượng. Đơn giản chúng ta thờ những vị thần mới và sợ những con quỷ mới. Điều thú vị này là một điều đáng đọc, mặc dù không phải là chuyện dễ dàng.

Còn tiểu thuyết thì đây không phải là năm thành công của tôi, tôi vừa không có thì giờ để đọc, vừa thất vọng với nhiều quyển sách tôi đã đọc. Nhưng những quyển sách này nổi bật:

Anne Michaels, Held. Được đề cử giải Booker năm nay, đây là tác phẩm văn học xuất sắc nhất của Anne Michaels, dù cốt truyện không phải lúc nào cũng dễ theo dõi. Nhưng Anne Michaels luôn đáng đọc.

Và tất cả lựa chọn sách đều dựa theo châm ngôn nổi tiếng của Thánh Augustinô: Thị hiếu không phải để tranh cãi.

Chúa Kitô ra đời ở Bê-lem – xoa dịu hay quấy rầy

Tôi chưa bao giờ có cảm giác thoải mái với các bạn gởi thiệp Giáng sinh với lời chúc mừng: Mong bình an của Chúa Kitô quấy rầy bạn! Chẳng lẽ chúng ta không thể có một ngày trong năm để hạnh phúc và ăn mừng mà không làm cho cái tôi vốn đã không hạnh phúc của mình bị lay động vì mặc cảm tội lỗi hay sao? Chẳng lẽ Giáng Sinh không phải là thời gian để chúng ta có thể tận hưởng cảm giác trở lại thời thơ ấu sao? Hơn thế nữa, như thần học gia Karl Rahner đã nói, chẳng lẽ Giáng Sinh không phải là lúc Thiên Chúa cho phép chúng ta được hạnh phúc hay sao? Vậy tại sao lại không?

Chuyện này phức tạp đấy. Giáng Sinh là thời gian mà Thiên Chúa cho phép chúng ta được hạnh phúc, khi Ngài phán: Hãy xoa dịu dân Ta. Hãy khuây khỏa! Hãy nói những lời làm khuây khỏa!

Nhưng Giáng Sinh còn là thời gian nêu bật sự thật đáng buồn, khi Thiên Chúa sinh vào thế giới chúng ta cách đây hai ngàn năm, trong các căn nhà bình thường thời đó. Chẳng có căn nào dành chỗ cho Ngài. Chẳng có chỗ cho Thiên Chúa trong nhà trọ. Cuộc sống bận rộn và những lo âu thực tế làm cho người dân không thể nào cho Ngài một nơi để ra đời. Và chuyện đó vẫn chưa thay đổi. Vậy nên, có những lý do tốt để chúng ta bị quấy rầy.

Nhưng trước hết, hãy nói về sự khuây khỏa: Vài năm trước, tôi dự một hội nghị giáo phận. Người điều hành chia chúng tôi thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm đều được giao cùng một câu hỏi: Thông điệp quan trọng nhất mà Giáo hội cần nói với thế giới thời nay là gì?

Mỗi nhóm nêu ra một vài thách thức quan trọng về tâm linh và đạo đức. “Chúng ta cần thách thức xã hội hướng đến sự công bằng hơn!” “Chúng ta cần thách thức thế giới có đức tin thật và không nhầm lẫn lời Thiên Chúa với ý muốn của chúng ta”. “Chúng ta cần thách thức thế giới hướng đến một đặc nét tình dục có trách nhiệm hơn”. Tuyệt vời, đó đều là những thách thức cần thiết. Nhưng không nhóm nào nói: “Chúng ta cần nói với thế giới về sự an ủi của Thiên Chúa!”

Đúng là trên thế giới có đầy bất công, bạo lực, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, tham lam, ích kỷ, tình dục vô trách nhiệm, đức tin tự quy; nhưng hầu hết người trưởng thành trên thế giới chúng ta cũng đang sống trong đau đớn, lo lắng, thất vọng, mất mát, trầm cảm và mặc cảm tội lỗi không nguôi. Nhìn đâu cũng thấy những tâm hồn nặng trĩu. Hơn nữa, nhiều người đang sống với nỗi đau và thất vọng, họ không thấy Thiên Chúa và Giáo hội là câu trả lời cho nỗi đau của họ, thay vào đó lại là nguồn cơn cho nỗi đau đó.

Vậy nên, khi rao giảng lời Thiên Chúa, các Giáo hội chúng ta cần cam đoan với thế giới về tình yêu của Thiên Chúa, về sự bận tâm và tha thứ của Thiên Chúa. Có lẽ trước khi làm bất kỳ việc nào khác, lời của Thiên Chúa là để làm khuây khỏa chúng ta, quả thật lời của Thiên Chúa là nguồn tối hậu cho mọi khuây khỏa của chúng ta. Chỉ khi chúng ta biết sự khuây khỏa của Thiên Chúa thì thế giới mới cởi mở hơn để đón nhận các thách thức kèm theo.

Và một thách thức nổi bật là chừa chỗ cho Chúa Kitô trong quán trọ, cụ thể là mở lòng mình, nhà mình, thế giới mình cho Chúa Kitô có thể đến và cư ngụ, cho dù việc đó có bất tiện đến thế nào cho chúng ta. Với khoảng cách 2000 năm xa xôi, chúng ta quá dễ dàng đưa ra phán xét gay gắt về những người ở thời Chúa Giêsu, họ không biết Đức Mẹ và Thánh Giuse cưu mang điều gì, không biết chừa chỗ cho Chúa Giêsu ra đời. Sao họ có thể đui mù đến vậy?

Nhưng phán xét đó vẫn có thể đúng với chúng ta. Chúng ta có chừa chỗ cho Chúa trong nhà trọ của mình không.

Khi một sinh linh ra đời, người đó chiếm một không gian mà trước đó chưa là của ai. Đôi khi người mới này được chào đón nồng nhiệt, được đưa vào một không gian đầy yêu thương và mọi người xung quanh vui mừng vì cuộc xâm chiếm mới này. Nhưng không phải khi nào cũng vậy, đôi khi, như trường hợp Chúa Giêsu, không có chỗ cho người mới này, và sự hiện diện mới này không được chào đón.

Chúng ta đang thấy chuyện này ngày nay (và nó sẽ cấu thành sự phán xét của chúng ta đối với thế hệ này) nơi sự lưỡng lự của gần như toàn thế giới, trong việc đón nhận người di dân, trong việc chừa chỗ trong nhà trọ cho họ. Nếu Chúa Kitô là người nghèo, là khách lạ, và các Phúc âm nói với chúng ta như thế, vậy chắc chắn Chúa Kitô là người di dân. Ngày nay, có hơn 50 triệu người tị nạn trên toàn thế giới, những người chẳng được ai đón nhận. Vì sao vậy?

Chúng ta không phải là kẻ xấu, gần như lúc nào chúng ta cũng vô cùng rộng lượng. Nhưng để làn sóng di dân này đi vào cuộc sống của chúng ta thì chúng ta thấy phiền toái. Cuộc sống chúng ta sẽ phải thay đổi. Chúng ta sẽ mất đi một vài tiện nghi, một vài điều quen thuộc, và mất phần nào an ninh.

Chúng ta không phải là người xấu, cũng không phải là những chủ quán trọ cách đây 2000 năm đã không biết gì, đã đuổi Đức Mẹ và Thánh Giuse. Tôi luôn thầm cảm thông họ. Có lẽ vì tôi vẫn đang vô tri làm chính việc họ đã làm. Sự thoải mái và an ninh thường làm cho tôi nói: “Nhà trọ hết chỗ rồi”.

Nếu hiểu được hoàn cảnh méo mó thời Chúa Kitô sinh ra thì chúng ta không thể không thấy tâm tư bối rối. Và tôi mong sao nó cũng có thể đem lại sự khuây khỏa sâu sắc.

Tìm kiếm dạ để sinh hạ Đấng Thiên sai

Chính trị gia, triết gia Nikos Kazantzakis (1883-1957) đã viết: “Con người luôn thiếu kiên nhẫn, nhưng Thiên Chúa không bao giờ nóng vội!”. Câu này nêu bật một chân lý quan trọng. Chúng ta cần kiên nhẫn, kiên nhẫn vô hạn với Thiên Chúa. Chúng ta cần để mọi chuyện phát triển đúng thời điểm của nó, đúng thời điểm của Thiên Chúa.

Nhìn vào lịch sử tôn giáo qua hàng thế kỷ, chúng ta không khỏi choáng váng trước sự thật Thiên Chúa dường như thong thả trước sự thiếu kiên nhẫn của chúng ta. Kinh Thánh thường ghi lại những khao khát bị nản lòng, những điều không viên mãn, và sự thiếu kiên nhẫn của con người. Việc Thiên Chúa can thiệp trực tiếp và dứt khoát giải quyết một căng thẳng nào đó của con người là chuyện hiếm hơn cả mức ngoại lệ. Chúng ta luôn mãi khao khát một Đấng Thiên sai đến cất đi nỗi đau, báo oán những áp bức, nhưng hầu hết những lời cầu nguyện này dường như rơi vào hư không.

Vì thế trong Kinh Thánh triền miên có lời cầu khẩn đau đớn: Lạy Chúa, xin hãy đến! Xin cứu chúng con! Chúng con còn phải chờ bao lâu nữa! Lúc nào, lạy Chúa, đến lúc nào!

Chúng con luôn thiếu kiên nhẫn, nhưng Chúa lại không vội vàng. Vì sao? Vì sao Chúa dường như hành động quá chậm trễ? Chẳng lẽ Chúa nhẫn tâm nhìn chúng con khổ sao? Thiên Chúa chai đá trước đau khổ của chúng con sao? Vì sao Chúa hành động quá đỗi chậm trễ trước sự mất kiên nhẫn của nhân loại?

Trong ngụy văn của Do Thái giáo, có một câu giúp trả lời câu hỏi này một cách ẩn dụ: Mọi giọt nước mắt sẽ đưa Đấng Thiên sai đến gần hơn! Có vẻ có một mối liên kết cố hữu giữa sự chán nản và khả năng Đấng Thiên sai ra đời. Đấng Thiên sai chỉ có thể ra đời sau khi con người khao khát suốt một thời gian dài. Tại sao?

Việc sinh hạ có thể cho chúng ta thấy được đôi điều. Không thể đẩy nhanh thời kỳ thai nghén, và có mối liên kết giữa cơn đau mà người mẹ chịu lúc sinh con. Việc hạ sinh của Chúa Giêsu cũng vậy. Với tiền đề không thể đẩy nhanh quá trình thai nghén. Nước mắt, nỗi đau, và thời gian cầu nguyện lâu dài là điều cần thiết để tạo điều kiện cho sự thai nghén sẽ hạ sinh Đấng Thiên sai vào thế giới chúng ta. Vì sao? Vì có một dạng tình yêu và sự sống chỉ có thể nảy sinh sau khi kiên nhẫn chịu đựng lâu dài, tạo nên một không gian thích đáng cho dạ người trinh nữ, để từ đó hạ sinh sự siêu phàm. Sự siêu phàm luôn dựa vào một sự thăng hoa trước đó.

Một vài ẩn dụ có thể giúp chúng ta hiểu chuyện này.

Khi cố gắng giải thích về cách con người có thể được thổi bùng với tình yêu vị tha, Thánh Gioan Thánh Giá đã dùng hình ảnh một khúc gỗ cháy thành ngọn lửa trong lò. Khi khúc gỗ khô được đặt vào lò, nó không cháy ngay lập tức. Trước hết, nó cần được làm khô đã. Do đó, suốt một thời gian dài, nó chỉ kêu xèo xèo trong lò, màu xanh và độ ẩm sẽ mất và chỉ khi đến nhiệt độ cháy, nó mới có thể bắt lửa và cháy bùng thành ngọn.

Một cách ẩn dụ, trước khi khúc gỗ có thể bùng cháy, nó phải qua thời kỳ chờ đợi, một tình trạng khô héo, một thời gian chán nản và khao khát. Động lực để một tình yêu đặc biệt sinh ra trong đời chúng ta cũng vậy. Chúng ta chỉ có thể khơi lên dạng tình yêu này khi chúng ta bị là những khúc củi ẩm ướt, còn xanh, kêu xèo xèo trong ngọn lửa của khao khát bất đạt.

Thần học gia Pierre Teilhard de Chardin cho chúng ta một ẩn dụ thứ hai. Ngài nói về điều mà ngài gọi là “tăng nhiệt độ tâm linh”. Trong phòng thí nghiệm hóa học, bạn có thể đặt hai chất trong cùng một ống mà không bị hợp nhất. Những chất đó vẫn tách biệt, không hợp nhất với nhau được. Chỉ sau khi được nung đến một nhiệt độ đủ cao, chúng mới phản ứng hợp lại với nhau. Chúng ta cũng vậy. Thường chỉ khi nhiệt độ tâm linh của chúng ta lên đến mức hợp nhất đó, nghĩa là khi khao khát bất đạt làm tăng nhiệt độ tâm hồn của chúng ta đến mức chúng ta có thể hướng về sự hòa hợp và hợp nhất.

Tóm lại, đôi khi chúng ta phải đi đến cơn sốt mến tâm linh bằng chán nản và nỗi đau, trước khi sẵn sàng buông bỏ ích kỷ và để mình được kéo vào thông hiệp.

Thần học gia công giáo Thomas Halik từng nói, người vô thần đơn giản chỉ là một từ khác để gọi một người không đủ kiên nhẫn với Thiên Chúa. Cha nói đúng. Thiên Chúa không bao giờ vội vã, và Ngài làm thế vì những lý do chính đáng. Đấng Thiên sai chỉ có thể được thai nghén trong một dạng cung lòng nhất định, cụ thể là một cung lòng đủ kiên nhẫn và sẵn lòng chờ đợi, để mọi chuyện diễn ra theo kỳ hạn của Thiên Chúa chứ không phải kỳ hạn của chúng ta.

Mọi giọt nước mắt đưa Đấng Thiên sai đến gần hơn. Đây là một bí ẩn không thể dò thấu. Về lý thuyết, mỗi một chán nản nên làm chúng ta sẵn sàng yêu thương hơn. Về lý thuyết, mỗi một giọt nước mắt nên làm chúng ta sẵn sàng tha thứ hơn. Về lý thuyết, mỗi một lần đau lòng nên làm chúng ta sẵn sàng buông bỏ phần nào sự tách biệt của mình. Về lý thuyết, mỗi một khao khát bất đạt nên dẫn chúng ta đi vào lời cầu nguyện sâu sắc hơn và thành tâm hơn. Và về lý thuyết, mọi sự thiếu kiên nhẫn đau đớn của chúng ta hướng đến sự sự kết hợp vốn luôn mãi tránh né chúng ta, làm cho chúng ta đủ nhiệt tâm để cháy bùng thành ngọn lửa tình yêu. Một cách ngôn trong ngụy văn Do Thái giáo đã diễn đạt rất nên thơ rằng: Với nhiều tiếng rên rỉ của xác thịt thì sự sống của linh hồn được sinh ra!

Từ các vị thánh đến những người nổi tiếng: Cuộc cách mạng về sự ngưỡng mộ và noi gương

Khi tôi còn là cậu bé lớn lên trong cộng đoàn Công giáo, giáo lý thời đó làm cho tâm hồn chúng tôi nhiệt thành qua các câu chuyện về các bậc tử đạo, các thánh và những người sống theo lý tưởng cao cả về đức hạnh và đức tin. Tôi còn nhớ câu chuyện của Thánh Tarcisius ở thế kỷ thứ ba, cuộc đời của Tarcisius đã tác động trên trí tưởng tượng và cảm hứng trong tuổi trẻ của tôi.

Theo truyền thuyết (hay sự thật) thì thánh Tarcisius là chú bé giúp lễ 12 tuổi sống trong thời Kitô giáo bị bách hại. Lúc đó giáo dân Rôma phải lén lút xem lễ trong các hầm mộ, sau các thánh lễ bí mật này, một phó tế hoặc người giúp lễ sẽ đi trao Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân và tù nhân. Một hôm nọ, sau thánh lễ, cậu bé Tarcisius đưa Mình Thánh Chúa đến một nhà tù, thì giữa đường bị một nhóm côn đồ chặn lại bắt Tarcisius đưa cho họ, Tarcisius không chịu đưa, em bảo vệ Mình Thánh Chúa bằng cả cơ thể mình, kết quả là Tarcisius bị đánh đến chết.

Năm tôi 12 tuổi, cùng tuổi với thánh Tarcisius, câu chuyện này đã thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn của tôi. Tôi đã muốn có lý tưởng cao cả như thế trong đời. Trong trí tưởng tượng non trẻ của tôi, thánh Tarcisius là người hùng tuyệt vời nhất mà tôi muốn trở thành.

Từ đó đến nay, chúng ta đã đi một quãng đường khá dài, cả trong văn hóa lẫn giáo hội. Chúng ta không còn thấy xúc động một cách lãng mạn với những câu chuyện về các vị thánh thời xưa lẫn nay. Đúng, chúng ta vẫn dành cho các ngài một chỗ trang trọng và chính thức trong nhà thờ cũng như trong lý tưởng cao cả của mình, nhưng bây giờ chúng ta lại xúc động một cách lãng mạn bởi những người giàu, người nổi tiếng, người đẹp, các ngôi sao ca nhạc, các vận động viên lừng lẫy, những người có tài năng về thể chất cũng như trí tuệ. Họ thổi bùng trí tưởng tượng của chúng ta, thu hút sự ngưỡng mộ của chúng ta, và chúng ta muốn được như họ.

Hồi đầu thế kỷ 19, Alban Butler, một người Anh trở lại, đã thu thập các câu chuyện về đời sống các thánh và làm tuyển tập Hạnh Các Thánh của Butler có 12 tập. Trong gần 200 năm, quyển sách này đã tạo hứng khởi cho không biết bao nhiêu tín hữu kitô cả già lẫn trẻ. Nhưng bây giờ đã không còn như thế nữa.

Ngày nay, quyển Hạnh Các Thánh của Butler đã bị thay thế bởi vô số tạp chí, podcast, trang web đăng cuộc đời của những nhân vật giàu có nổi tiếng, đập vào mắt chúng ta qua màn hình điện thoại, máy tính, trên mọi kệ báo, mọi quầy trả tiền ở siêu thị.

Thực sự, chúng ta đã chuyển từ thánh Tarcisius sang Justin Bieber, từ thánh Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu sang Taylor Swift; từ thánh Tôma Aquinô sang Tom Brady, từ thánh Mônica sang Meryl Streep, từ Thánh Augustinô sang Mark Zuckerberg, từ thánh Julian thành Norwich sang Marianne Williamson, từ thánh gốc Phi đầu tiên Máctinô Porres sang LeBron James. Những người này đang thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn của chúng ta, và chúng ta muốn được nên giống họ nhất.

Xin quý độc giả đừng hiểu lầm ý tôi, những người này không có gì xấu và ngưỡng mộ họ chẳng có gì là sai. Thật sự chúng ta nên ngưỡng mộ họ vì mọi vẻ đẹp và tài năng đều xuất phát từ Thiên Chúa, Đấng tạo tác mọi sự tốt đẹp. Từ đức hạnh của một vị thánh cho đến vẻ đẹp của một ngôi sao điện ảnh, hay sự lôi cuốn của một vận động viên, tất cả đều do một Đấng tạo tác và tất cả đều phát xuất từ nguồn của mọi sự tốt đẹp là chính Thiên Chúa.

Thánh Tôma Aquinô từng nói, kìm nén lời khen cho người xứng đáng là một tội, vì chúng ta đang giấu đi của ăn cho người cần nó để sống. Vẻ đẹp, tài năng, và sự duyên dáng cần được thừa nhận và công nhận. Vấn đề tôi muốn nói đến không phải là ngưỡng mộ. Đúng hơn, vấn đề là trong khi chúng ta cần ngưỡng mộ và công nhận tài năng, duyên dáng và vẻ đẹp, nhưng bản thân những điều này không tỏa ra nhân đức và sự thánh thiện. Chúng ta không nên tự động đồng nhất sự duyên dáng của con người với đức hạnh, mặc dù ở thời buổi này, đây là chuyện rất hấp dẫn, rất dễ dàng.

Một trong những điểm yếu nhất của các giáo hội thời nay, là trong khi chúng ta đã nâng cấp và thanh lọc rất nhiều cho trí tưởng tượng về trí tuệ của mình đồng thời đã có những nghiên cứu Kinh thánh và thần học tốt hơn, lành mạnh hơn, thế nhưng chúng ta vẫn chật vật trong việc chạm đến trái tim con người. Trong khi chúng ta có thêm sức mạnh để thỏa mãn về mặt tri thức, nhưng chúng ta lại chật vật trong việc chạm đến trái tim con người, chật vật để làm cho giáo dân rung động với đức tin và nhất là với giáo hội của họ. Chúng ta chật vật trong việc thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn mà một thời chúng ta đã làm được nhờ hạnh các thánh.

Với tình trạng này, chúng ta có thể làm được gì đây? Chúng ta có tìm ra những vị thánh thổi bùng được các lý tưởng của mình không? Tác phẩm rất hay của Robert Ellsberg về hạnh các thánh (cuộc đời các thánh và những vĩ nhân đạo đức) có trở thành quyển Hạnh Các Thánh mới ngang tầm quyển Hạnh Các Thánh của Butler không? Các tiểu sử thế tục về một số vĩ nhân đạo đức trong thời chúng ta có làm chúng ta muốn noi gương không? Liệu cuộc đời của một Dag Hammarskjold, cựu Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc có thể là nguồn cảm hứng về đạo đức và đức tin cho chúng ta được không? Liệu ngoài kia có một Têrêxa Hài Đồng Giêsu mới không? Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần những câu chuyện hứng khởi về những người nam, người nữ, cả già và trẻ, đã sống trọn đức hạnh anh hùng. Chúng ta cần những mẫu gương đạo đức, những cố vấn về đạo đức. Nếu không, chúng ta chỉ đang tự lừa mình khi đồng nhất tối giản hóa sự duyên dáng của con người với đức hạnh.

Lời khấn mà chúng ta không chọn

Là tu sĩ Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, tôi đã khấn bốn lời khấn: khó nghèo, khiết tịnh, vâng lời và trung thành. Tôi đã tự nguyện khấn, không một ép buộc nào khác ngoài một cảm nhận mạnh mẽ trong lòng: tôi cần khấn những lời khấn này. Tự nguyện khấn, không một áp lực, nhưng là một xa xỉ mà hàng triệu người trên thế giới này không có được. Họ có thể khấn những lời khấn này (theo một phương thức khác) vì họ bị hoàn cảnh ép buộc phải làm như vậy. Trên thực tế, đó là những lời khấn mà người khác khấn giùm cho họ.

Nhà thơ người Anh William Wordsworth 91770-1850) đã viết câu thơ:

Trái tim tôi tràn đầy;
tôi không khấn nhưng lời khấn được làm cho tôi;
một ràng buộc được ban cho tôi mà tôi không biết,
để tôi phải như vậy,
nếu không tôi sẽ phạm một tội rất lớn.

Tôi nghĩ hầu hết chúng ta đều quen biết những người mà điều này là đúng với họ, họ không bao giờ chính thức khấn lời khấn tu trì, nhưng họ sống độc thân, vâng lời, khó nghèo và trung thành theo cách riêng của họ. Gần như suốt đời, hoàn cảnh đã buộc họ phải sống như vậy, đã lấy đi quyền tự do để họ không bao giờ có thể tự lựa chọn nơi nào họ sẽ đến, nơi nào họ sống, trường nào họ học, công việc nào họ làm và (không kém phần quan trọng) họ có nên kết hôn hay không. Thay vào đó, họ sống không tự do trong những năm tháng trưởng thành của mình, bị hoàn cảnh và nghĩa vụ ràng buộc, họ hy sinh các ước mơ và kế hoạch riêng của mình để phục vụ người khác.

Nhiều người trong chúng ta biết có những người vì hoàn cảnh nghèo đói, cha mẹ qua đời, hoàn cảnh gia đình hoặc bệnh tật cá nhân đã phải thề nguyện. Một số anh trai của tôi rơi vào trường hợp này. Nhưng, và đây là vấn đề, mặc dù những lời thề đó không được thực hiện một cách rõ ràng hoặc công khai, nhưng chúng là những lời thề được thánh hiến, thiêng liêng theo nghĩa Kinh Thánh.

Được thánh hiến có nghĩa là gì? Thánh hiến là gì?

Thật đáng buồn, ngày nay chúng ta đã biến từ này thành một “danh từ của nhà thờ”, chúng ta nói về các tòa nhà được thánh hiến (nhà thờ), các chén thánh được thánh hiến và những người được thánh hiến (các mục tử, những người tu hành đã khấn). Tại sao chúng ta lại nói về họ như những người được thánh hiến? Câu trả lời nằm ở ý nghĩa ban đầu của việc được thánh hiến.
Được thánh hiến đơn giản có nghĩa là được “đặt sang một bên” – dù đầu tiên không phải vì mục đích cho nhà thờ. Thay vào đó, quý vị nên tưởng tượng tình huống này: quý vị vừa rời khỏi nơi làm việc và đang lái xe về nhà thì gặp một vụ tai nạn. Quý vị không phải là người trong vụ nhưng quý vị là người đầu tiên ở đó. Lúc đó, quý vị mất tự do của mình. Quý vị không còn tiếp tục lái xe. Có người bị thương và quý vị ở đó! Quý vị phải hành động chỉ vì quý vị ở đó. Lúc đó quý vị là người thánh hiến, được thánh hiến do hoàn cảnh, do nhu cầu. Và chính lúc đó lời của nhà thơ Wordsworth áp dụng cho quý vị.

Có một tương đồng thú vị với tình huống mà ông Môsê gặp khi Chúa xin ông đưa người Israel ra khỏi Ai-cập để thoát khỏi chế độ nô lệ. Ông không muốn làm việc này, cũng không tình nguyện làm. Ông đưa ra nhiều lý do khác nhau để biện minh với Chúa vì sao ông không phải là người phù hợp, cuối cùng ông hỏi Chúa: “Tại sao lại là con? Tại sao không phải là anh em con?” Về bản chất, câu trả lời của Chúa là: “Vì con đã chứng kiến dân tộc con bị áp bức. Vì con đã chứng kiến nên con không còn tự do. Con giống như người đầu tiên có mặt tại hiện trường vụ tai nạn.”

Đó chính là ý nghĩa của việc được thánh hiến, được kêu gọi, có một ơn gọi. Trong khi chúng ta vẫn hoàn toàn tự do (lái xe tránh xa vụ tai nạn) nhưng chúng ta không còn tự do về mặt hiện sinh hay đạo đức nữa – nếu không, như nhà thơ Wordsworth nói, chúng ta sẽ phạm tội nghiêm trọng. Lựa chọn của chúng ta là phải tiếp tục cuộc sống hay ở lại giúp đỡ? Câu hỏi duy nhất của chúng ta là: trách nhiệm của tôi ở đây là gì? Hoàn cảnh đã đưa ra cho chúng ta lời khấn.

Có thể hữu ích khi hiểu ơn gọi, lời khấn và sự thánh hiến qua lăng kính này. Tôi đã từng tự do lựa chọn hiến mình cho một ơn gọi yêu cầu tôi khấn công khai, sống giản dị, từ bỏ hôn nhân và gia đình riêng, sẵn sàng phục vụ người khác và kiên trì trong suốt quãng đời còn lại. Một số anh chị em của tôi (và hàng triệu đàn ông, đàn bà) cũng làm điều tương tự nhưng không có sự công nhận và hỗ trợ của cộng đồng như lời khấn của chúng tôi. Họ cũng sống cuộc sống thánh hiến, dù không được công chúng công nhận.

Khi khẳng định điều này, tôi không loại trừ những người đã kết hôn, trong hôn nhân họ cũng như tôi, họ đã tuyên thệ công khai và nhận được sự công nhận và hỗ trợ của cộng đồng như tôi; ngoại trừ việc độc thân, lời khấn của họ cũng giống tôi.

Tất cả chúng ta đều thường xuyên ở hiện trường của một vụ tai nạn, không được tự do lái xe đi, bị bắt buộc, bị ràng buộc bởi những lời khấn được lập ra cho chúng ta. Điều đó được cho là có ơn gọi.

Thiên đàng mỗi người mỗi khác

Linh mục Dòng Tên Daniel Berrigan (1921-2016) đã từng nói: Trước khi bạn nghiêm túc nói về Chúa Giêsu, xin bạn nghĩ lại xem mình có thích bị treo trên thập giá không!

Đây là lời cảnh báo cần có, vì Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta, nếu chúng ta muốn đi theo Ngài, thì đời chúng ta sẽ khổ đau, chúng ta sẽ chịu đóng đinh vào thập giá với Ngài.

Chính xác điều này có nghĩa là gì? Nỗi đau là để thử thách người môn đệ sao? Chúa Giêsu có muốn những người đi theo Ngài phải cảm nhận nỗi đau của Ngài không? Chúa có muốn những ai theo Ngài phải chịu đau đớn để trả giá cho tội của họ không? Vì sao chấp nhận vác thập giá với Chúa Giêsu lại làm cho đời chúng ta đau khổ?

Một điều thú vị đáng chú ý là nhà thần nghiệm Gioan Thánh Giá đã dùng nỗi đau đi vào đời chúng ta để làm tiêu chuẩn chính phân định, liệu chúng ta có thật sự đi theo Chúa Giêsu hay không. Theo ngài, chúng ta biết mình theo Chúa Giêsu khi nỗi đau bắt đầu đi vào đời chúng ta. Vì sao? Vì sao Chúa đặt nỗi đau đặc biệt lên những ai chân thành đi theo Ngài?

Không, Thiên Chúa không đặt nỗi đau đặc biệt lên những ai kính trọng Ngài. Nỗi đau đi vào cuộc đời chúng ta khi chúng ta xem trọng Chúa Kitô, nó không phát xuất từ Thiên Chúa. Nó đi vào tâm hồn chúng ta vì chúng ta có một tâm hồn cởi mở sâu đậm, một nhạy cảm sâu sắc và một chiều sâu mới. Đại đa số hoạt động theo cách này: khi chúng ta chân thành mở lòng ra với Chúa, chúng ta sẽ không còn bảo vệ mình quá mức, chúng ta dễ tổn thương hơn, dễ nhạy cảm hơn để cuộc sống với tất cả mọi thứ có thể đi vào tâm hồn chúng ta một cách thoải mái và sâu sắc hơn.

Một phần của những gì đi vào tâm hồn chúng ta chính là nỗi đau: nỗi đau của người khác, nỗi đau của trái đất, nỗi đau của sự bất lực và thiếu vị tha của mình, nỗi đau do tác động của tội lỗi khắp nơi. Nỗi đau này sẽ đi vào tâm hồn chúng ta sâu sắc hơn, chúng ta sẽ cảm nhận nó theo cách chúng ta chưa hề cảm nhận trước đó, vì trước đó chúng ta trơ lì và tự quy để phòng vệ.

May thay, chuyện này còn một mặt khác: nỗi đau bây giờ đi vào cuộc sống chúng ta thoải mái và sâu sắc hơn, thì ý nghĩa và hạnh phúc cũng vậy. Một khi chúng ta thôi phòng vệ bằng cách tự quy, thì cả nỗi đau và hạnh phúc đều có thể đi vào lòng chúng ta một cách thoải mái và sâu sắc, và chúng ta bắt đầu toát ra một phần thâm sâu hơn của mình.

Nhà phân tâm học Freud từng nhận định: đôi khi chúng ta hiểu rõ nhất mọi chuyện bằng cách xem xét cái đối lập của nó. Chuyện ở đây phần nào cũng vậy. Trái ngược với người mở lòng với nỗi đau của nhân loại, với nỗi đau của thập giá là người vô cảm trơ trơ, họ không cảm nhận nhiều về nỗi đau, những người này cũng chẳng cảm nhận gì về bất cứ điều gì khác.

Và điều này ngụ ý nhiều điểm:

Thứ nhất, Chúa không đặt nỗi đau lên chúng ta khi chúng ta là môn đệ của Ngài, khi chúng ta hiểu sâu mầu nhiệm thập giá và Chúa Kitô. Nỗi đau kèm theo là điều nội tại của thập giá, chúng ta cảm nhận được, đơn giản là vì bây giờ chúng ta không ở thế phòng vệ, nhưng chúng ta để toàn bộ cuộc đời đi vào tâm hồn mình một cách thoải mái và sâu sắc hơn. May thay, nỗi đau đã được bù đắp với đầy đủ ý nghĩa và hạnh phúc mới mà bây giờ chúng ta mới cảm nhận được.

Thứ hai, như thánh Gioan Thánh Giá đã khéo léo diễn tả, trải nghiệm nỗi đau nội tại trong cương vị của người môn đệ và thập giá là một trong những tiêu chuẩn chính để phân biệt Phúc âm thật và Phúc âm Thịnh vượng. Khi nỗi đau của thập giá đi vào cuộc đời chúng ta, chúng ta biết chúng ta không nhân danh Phúc âm để bảo vệ cho tư lợi của mình.

Thứ ba, thật đáng để nhạy cảm! Freud đã từng nói chứng cuồng hoảng (một dạng lo lắng không lành mạnh) là căn bệnh của người bình thường. Điều ông không nói, nhưng có thể ông đã nói, đối lập của lo lắng (cả lành mạnh và không lành mạnh) là sự vô cảm trơ ì cực độ, mặt dày như mặt mo nên nó che cho mình khỏi đau – nhưng nó cũng che và làm cho chúng ta không sâu sắc, không có tình yêu, không thân mật, không cộng đồng.

Nếu bạn là người nhạy cảm (thậm chí là người quá nhạy cảm, có khuynh hướng trầm cảm, lo lắng đủ kiểu) thì xin bạn yên lòng vì sự đấu tranh của bạn cho thấy bạn không phải là người trơ lì chai sạn, không phải là người thô kệch về mặt đạo đức.

Cuối cùng, một trong những ngụ ý của điều này là thiên đàng với mỗi người một khác. Cũng như nỗi đau, chúng ta có thể đau sơ sơ, đau sâu đậm thì ý nghĩa và hạnh phúc cũng vậy. Chúng ta mở lòng đến mức độ nào, thì ý nghĩa và hạnh phúc vào tâm hồn chúng ta cũng ở mức độ đó. Với tấm lòng đóng kín thì ý nghĩa của chúng ta hời hợt. Với tấm lòng mở ra phần nào thì ý nghĩa có phần nào sâu sắc, nhưng không trọn vẹn. Còn với tấm lòng hoàn toàn mở ra thì chúng ta có ý nghĩa sâu sắc nhất.

Ở đời này, ý nghĩa và hạnh phúc có những chiều sâu khác nhau, và tôi cho rằng, ở đời sau cũng vậy. Cho nên, lời mời của Chúa Giêsu chính là hãy đón nhận nỗi đau từ thập giá, còn hơn là để tâm hồn trơ trơ!

Tháp Babel

Những trang đầu tiên của Kinh thánh kể cho chúng ta một loạt các câu chuyện diễn ra vào thời điểm bắt đầu lịch sử để giải thích vì sao thế giới ngày nay lại như vậy. Câu chuyện của ông A-đam và bà E-và về tội nguyên tổ là một trong những câu chuyện này. Và cũng có những câu chuyện khác. Các chuyện này dùng hình ảnh làm chúng ta nghe như chuyện cổ tích nên chúng ta nghĩ đó là những chuyện hoàn toàn do tưởng tượng, nhưng thật ra đó là những chuyện còn thật hơn cả sự thật. Và nó đã xảy ra. Đã xảy ra với người đàn ông và phụ nữ đầu tiên trên hành tinh, và tiếp tục xảy ra cho đến ngày nay theo cách ảnh hưởng đến mọi người đàn ông và phụ nữ trong suốt lịch sử. Đó là các câu chuyện về trái tim, không phải theo nghĩa đen mà theo những bài học của trái tim.

Một trong những câu chuyện nền tảng đầu tiên này là câu chuyện Tháp Babel. Theo ngôn ngữ bình dân thì nó như thế này: Lúc đầu (trước đây cũng giống như bây giờ) có một thành tên là Babel quyết định làm cho thành của mình có tên tuổi, họ xây một tháp ấn tượng đến mức tất cả các thành khác sẽ phải thán phục. Họ bắt đầu xây nhưng có điều gì đó kỳ lạ xảy ra. Khi họ xây, bỗng nhiên họ nói các loại ngôn ngữ khác nhau, họ không còn hiểu nhau và ra đi sống rải rác khắp nơi trên thế giới, họ nói ngôn ngữ mà người khác không thể hiểu được.

Bài học ở đây là gì? Có phải để giải thích nguồn gốc các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới không? Không, nhưng để giải thích những hiểu lầm sâu xa, dường như không thể hòa giải giữa chúng ta. Vì sao chúng ta mãi hiểu lầm nhau? Nguồn gốc của những chuyện này là gì?

Có nhiều cách để hiểu, để làm sáng tỏ sự chia rẽ trong thế giới chúng ta ngày nay. Ví du: năm ngoái, nhà tâm lý học xã hội Jonathan Haidt viết trên tờ The Atlantic cho rằng có lẽ không có phép ẩn dụ nào tốt hơn để giải thích sự chia rẽ giữa chúng ta ngày nay cho bằng câu chuyện của Tháp Babel. Lập luận của ông như sau: Phương tiện truyền thông xã hội dùng để kết nối chúng ta không chỉ với bạn bè và gia đình mà còn với mọi người từ khắp nơi trên thế giới, nhưng trên thực tế đã dẫn đến sự phân mảnh triệt để trong xã hội và làm tan vỡ tất cả mọi thứ, điều đó có vẻ vững chắc, sự phân tán của những người đã từng là một cộng đồng. Lấy nước Mỹ làm ví dụ: chúng ta vẫn dùng một ngôn ngữ, nhưng các phương tiện truyền thông xã hội và các nơi loan tin tức đã cung cấp cho chúng ta những tập hợp dữ kiện, giá trị và tầm nhìn khác nhau làm cho trong thực tế, cuộc trò chuyện ngày càng trở nên bất khả thi.

Khi những căng thẳng gần đây xung quanh cuộc bầu Tổng thống Mỹ trở nên rõ ràng, với tư cách là một xã hội, chúng ta không còn nói cùng một ngôn ngữ, ở chỗ chúng ta không còn có thể hiểu nhau về hầu hết mọi vấn đề quan trọng – hiện tượng nóng lên toàn cầu, nhập cư, nghèo đói, giới tính, sức khỏe, phá thai, vị trí của tôn giáo trong phạm vi công cộng – sự thật đứng về phía nào, và quan trọng nhất: sự thật là gì. Chúng ta không còn chia sẻ bất kỳ sự thật chung nào nữa. Đúng hơn, tất cả chúng ta đều có sự thật riêng, ngôn ngữ riêng của mình. Như chúng ta vẫn thường nói, tôi đã thực hiện nghiên cứu của riêng tôi! Tôi không tin vào khoa học. Tôi không tin vào bất kỳ sự thật chính thống nào. Tôi có nguồn tin riêng của tôi.

Và những nguồn tin đó thì rất nhiều, nhiều không đếm xuể được! Hàng trăm kênh truyền hình, vô số podcast và hàng triệu người cung cấp cho chúng ta phiên bản đặc trưng của họ trên mạng xã hội để bây giờ chúng ta hoài nghi về bất kỳ sự thật nào. Điều này chia rẽ chúng ta ở mọi cấp độ: gia đình, láng giềng, nhà thờ, đất nước và thế giới. Tất cả chúng ta hiện đang nói những ngôn ngữ khác nhau giống như người dân đầu tiên của Tháp Babel sống rải rác trên khắp thế giới.

Dưới ánh sáng của điều này, điều đáng chú ý là lễ Hiện Xuống được mô tả trong Kinh thánh sẽ như thế nào. Sách Công vụ Tông đồ mô tả Lễ Hiện Xuống, sự hiện đến của Chúa Thánh Thần, như một sự kiện đảo ngược những gì đã xảy ra tại Tháp Babel. Tại Tháp Babel, các ngôn ngữ (“tiếng lạ”) trên trái đất bị chia cắt và phân tán. Nhưng trong Lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh Thần ngự xuống trên mỗi người như một “lưỡi lửa” đến nỗi, trước sự ngạc nhiên tột độ của mọi người, giờ đây mọi người đều hiểu nhau bằng ngôn ngữ của mình.

Một lần nữa, những gì đang được mô tả ở đây không phải là về ngôn ngữ theo nghĩa đen của con người khi mọi người đột nhiên hiểu được tiếng Hy Lạp hoặc tiếng La-tinh trong lễ Hiện Xuống. Đúng hơn, bây giờ mọi người đều hiểu người khác bằng ngôn ngữ của mình. Tất cả các ngôn ngữ đã trở thành một ngôn ngữ.

Ngôn ngữ chung đó là gì? Đó không phải là tiếng Hy lạp, tiếng La-tinh, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Yiddish, tiếng Trung Quốc hay tiếng Ả Rập hay bất kỳ ngôn ngữ nào khác trên thế giới. Đó cũng không phải là ngôn ngữ thiếu nhân ái của những người bảo thủ hay những người theo chủ nghĩa tự do. Như Chúa Giêsu và Kinh thánh đã nói rõ, đó là ngôn ngữ của bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tin tưởng và tiết độ.

Đó là ngôn ngữ duy nhất có thể hàn gắn những hiểu lầm và khác biệt giữa chúng ta – và khi chúng ta nói bằng ngôn ngữ này, chúng ta sẽ không tìm cách xây một tòa tháp để tạo ấn tượng cho bất cứ ai.

Suy nghĩ nhẹ nhàng hơn về một chủ đề nặng nề

Vài năm trước đây, một cô bạn của tôi đang phải đối diện với việc sinh đứa con đầu lòng. Mặc dù rất vui vì sắp được làm mẹ nhưng cô thú nhận cô rất sợ tiến trình sinh nở này, những cơn đau, những nguy hiểm, những điều chưa biết. Cô tự an ủi, hàng trăm triệu phụ nữ đã đi qua con đường này và đã vượt qua được. Chắc chắn, cô cảm thấy mình cũng sẽ vượt qua được.

Đôi khi tôi lấy kinh nghiệm này để áp dụng vào bối cảnh cái chết. Cái chết là chủ đề đáng sợ, khó chịu và nặng nề nhất, dù chúng ta thường nói một cách giả tạo. Khi chúng ta nói mình không sợ chết thì phần lớn chúng ta đang huýt sáo trong bóng tối và cả ở đó, líu lo thì dễ dàng hơn khi cái chết của chính mình vẫn là một ý tưởng trừu tượng, một điều gì đó trong tương lai không xác định. Nói lên trọn vẹn suy nghĩ của tôi về cái chết chắc chắn phù hợp với mô tả đó, huýt sáo trong bóng tối. Nhưng tại sao không? Chắc chắn là huýt sáo trong bóng tối tốt hơn là tự hành hạ mình bằng nỗi sợ hãi không cần thiết.

Vì vậy, tôi dùng phương pháp của bạn tôi khi cô muốn có thêm can đảm để đối diện với việc sinh con và điều chưa từng biết này. Một cách đơn giản, hàng triệu triệu người đã vượt qua được quá trình chết, vì vậy tôi cũng phải vượt qua được! Hơn nữa, không giống như việc sinh con, chỉ ảnh hưởng đến một nửa nhân loại, còn cái chết thì ảnh hưởng đến toàn nhân loại, kể cả tôi đều sẽ đi qua. Một trăm năm nữa, những ai đang đọc bài này sẽ vượt qua cái chết của mình.

Vì vậy, đây là cách để nhìn nhận về cái chết của chính chúng ta: hàng tỷ tỷ người đã vượt qua được điều này, đàn ông, phụ nữ, trẻ em, kể cả trẻ sơ sinh. Một số người đã già, một số người còn trẻ; một số đã chuẩn bị, một số thì không; một số đón nhận, một số cay đắng phản kháng; một số chết vì nguyên nhân tự nhiên, một số chết vì bạo lực; một số chết trong vòng tay yêu thương, một số chết cô đơn không có vòng tay yêu thương nào chung quanh; một số chết trong thanh thản, một số chết trong tiếng khóc vì sợ hãi; một số người chết khi đã già, một số ở tuổi thanh xuân; một số bị bệnh mất trí vô nghĩa trong nhiều năm làm cho những người chung quanh hỏi vì sao Chúa và thiên nhiên lại tàn nhẫn khi giữ họ sống; lại có những người khỏe mạnh có đầy đủ để sống nhưng họ lại tự tử; có những người chết trong đức tin và hy vọng, có những người chỉ thấy bóng tối và tuyệt vọng; một số khi chết có lòng biết ơn, một số khi chết lòng đầy oán giận; một số chết trong vòng tay tôn giáo và nhà thờ, một số hoàn toàn ở ngoài vòng tay này; một số chết như Mẹ Têrêxa, một số lại như Hitler. Nhưng tất cả họ đều làm được điều đó, điều vô danh vĩ đại, điều vô danh vĩ đại nhất. Có vẻ như có thể làm được.

Hơn nữa, không ai trở về từ thế giới bên kia với những câu chuyện kinh dị về cái chết, như thế cho thấy tất cả những bộ phim kinh dị của chúng ta về việc bị hành hạ sau khi chết, bị ma quỷ và những ngôi nhà ma ám đều hoàn toàn hư cấu.

Tôi nghĩ ai cũng có trải nghiệm như tôi khi nghĩ về người chết, đặc biệt là những người tôi biết đã chết. Nỗi đau buồn và sự mất mát ban đầu của họ cuối cùng cũng qua đi và được thay thế bằng một cảm giác mơ hồ rằng mọi chuyện vẫn ổn, rằng họ ổn, và rằng cái chết theo một cách kỳ lạ nào đó đã rửa sạch mọi thứ. Cuối cùng, chúng ta có một cảm giác khá tốt về những người thân yêu đã khuất của mình và về những người đã khuất nói chung, ngay cả khi sự ra đi của họ không hề lý tưởng, khi họ chết trong tức giận, thiếu chín chắn, hoặc vì họ đã phạm tội, hoặc tự tử. Bằng cách nào đó, cuối cùng tất cả đều được rửa sạch và những gì còn lại là một cảm giác mơ hồ, một trực giác vững chắc, rằng bất kể họ đang ở đâu, họ đều ở trong một vòng tay tốt hơn và an toàn hơn chúng ta.

Khi còn là chủng sinh trẻ, chúng tôi phải dịch chuyên luận của tác giả cổ đại Cicero về tuổi già và về cái chết từ tiếng La-tinh sang tiếng Anh. Khi đó tôi mười chín tuổi, nhưng rất ấn tượng với những suy nghĩ của Cicero về lý do vì sao chúng ta không nên sợ chết. Ông là người theo phái khắc kỷ nổi tiếng; nhưng, cuối cùng, việc ông không sợ chết cũng giống như cách bạn tôi đối diện với việc sinh nở, xét theo mức độ phổ biến của nó, chúng ta đều có thể quản lý được!

Tôi đã đánh mất ghi chép của tôi về Cicero từ lâu nên bây giờ tôi tra cứu chuyên luận này trên Internet. Đây là một đoạn trích từ chuyên luận này: “Cái chết không nên được cho là quan trọng! Vì rõ ràng tác động của cái chết là không đáng kể nếu nó hoàn toàn hủy diệt linh hồn, ngay cả là mong muốn, nếu nó dẫn linh hồn đến một nơi nào đó để sống mãi mãi. Vậy thì, tôi sẽ sợ gì, nếu sau khi chết, tôi được định sẵn là không bất hạnh hoặc hạnh phúc?”

Đức tin của chúng ta cho chúng ta biết rằng, với tình yêu và với lòng nhân từ của Chúa mà chúng ta tin tưởng, chỉ có lựa chọn thứ hai là hạnh phúc đang chờ chúng ta. Và chúng ta đã trực giác được điều đó.

Bánh và Rượu

Khi Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể trong Bữa Tiệc Ly, Ngài dùng hai chất liệu: bánh và rượu. Bánh và rượu đã ăn sâu trong tâm trí chúng ta, đến mức chúng ta không bao giờ dừng lại để tự hỏi, vì sao lại là bánh và rượu? Trong số tất cả những gì Chúa Giêsu có thể chọn, vì sao Ngài chọn bánh và rượu? Bánh và rượu có đặc tính gì để có thể phù hợp với Mình và Máu Chúa Kitô? Cụ thể, bánh và rượu tượng trưng cho điều gì?

Khi được dùng trong Bí tích Thánh Thể, bánh và rượu tượng trưng cho những khía cạnh rất khác nhau trong cuộc sống, trong thế giới chúng ta và trong cuộc sống của Chúa Giêsu.

Bánh. Bánh là gì? Bánh tượng trưng điều gì với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể đầu tiên này? Bánh mì gồm nhiều hạt lúa mì và khi bị nghiền nát, chúng mất bản sắc riêng và trở thành một ổ bánh mì duy nhất. Trong Bí tích Thánh Thể, bánh mì tượng trưng cho chúng ta, nhiều cá nhân, và giờ đây tất cả chúng ta là một thân thể, Thân thể Chúa Kitô. Nhưng bánh mì cũng tượng trưng cho một khía cạnh cụ thể trong cuộc sống khi chúng ta vui vẻ, khỏe mạnh, sống trong cộng đồng, cùng nhau phát triển như những đứa con của Chúa. Mùi bánh mì tươi nói lên sự sống. Bánh mì trong Bí tích Thánh Thể cũng vậy. Bánh mì trở thành bánh mì của những thành tựu thế giới, được Chúa chúc phúc cho tất cả những gì là trẻ trung, khỏe mạnh, sáng tạo và tràn đầy sức sống.

Theo nghĩa bóng, bánh mì kỷ niệm thời Galilê của cuộc đời Chúa Giêsu và trong chính cuộc sống của chúng ta – thời kỳ của tuổi trẻ, của phép lạ, của việc đi trên mặt nước, làm cho người chết sống lại, của năng lượng cuộc sống vui tươi, của việc yêu đương và sự ra đời một cuộc sống mới.

Rượu. Tượng trưng cho điều gì của Chúa Giêsu và tượng trưng cho điều gì trong Bí tích Thánh Thể? Rượu được làm từ nho nghiền nát và tượng trưng cho máu. Và như máu của Chúa Kitô, rượu tượng trưng cho tất cả những gì tan vỡ, mong manh, không trọn vẹn, bệnh tật, đau khổ, chết chóc của thế giới. Đó là rượu của sự chết và sự bất lực của thế gian, máu của những gì bị nghiền nát khi thành tựu của thế gian diễn ra.

Theo nghĩa bóng, rượu tưởng nhớ thời kỳ Giêrusalem trong cuộc đời Chúa Giêsu, cũng như trong cuộc đời của chúng ta – thời kỳ của những hiểu lầm, thời kỳ nạn nhân, thời kỳ đau khổ về tinh thần, về thể xác, bị xa lánh, cô đơn khi chết, khi người khác không thể giúp chúng ta.

Và bánh và rượu tạo nên một tổng thể cân bằng cho cuộc sống trong mọi khía cạnh của nó. Trên thực tế, khi chủ tế dâng bánh và rượu, thì đây là những gì đang được nói: Lạy Chúa, những gì con dâng lên Chúa hôm nay là tất cả những gì có trên thế gian này, cả niềm vui và đau khổ – bánh của những thành tựu và máu của những gì bị nghiền nát khi những thành tựu này diễn ra. Con xin dâng cho Chúa mọi thứ lành mạnh và phát triển trong thế giới của chúng con – niềm vui bên bàn ăn, niềm vui của trẻ em, những giấc mơ đầy hy vọng của người trẻ, sự thỏa mãn khi được thành tựu, mọi thứ sáng tạo và tràn đầy sức sống, cả khi con dâng lên Chúa mọi yếu đuối, bị đè bẹp, già nua bệnh tật, hấp hối và là nạn nhân. Con dâng cho Chúa mọi vẻ đẹp trần thế, mọi niềm vui của cuộc sống này, cả những khi con đứng dưới chân thánh giá của Chúa, hiểu rằng người bị loại khỏi thú vui trần gian chính là hòn đá tảng của cộng đồng. Con dâng lên Chúa tất cả những mạnh mẽ, những yếu đuối, những nhẹ nhàng của trái tim, con xin Chúa chúc phúc cho cả những mạnh mẽ, những yếu đuối, của con, xin Chúa mở rộng trái tim con, để con được nắm giữ và chúc phúc mọi thứ như Chúa đã làm. Con xin dâng lên Chúa tất cả những điều kỳ diệu và nỗi đau của thế giới này, thế giới của Chúa.

Chúng ta có thể học được nhiều điều từ linh đạo này. Các linh đạo thường một chiều, chúng cần được cân bằng.

Một mặt, linh đạo có thể tập trung một chiều vào sự phát triển con người mà bỏ qua các bất cập: đau khổ, tội lỗi, cái chết, lời mời gọi vác thập giá theo Chúa Giêsu. Nó chỉ tôn vinh tuổi trẻ, sức khỏe, thịnh vượng và lòng tốt – trình bày một Chúa Giêsu ban cho chúng ta một Phúc âm Thịnh vượng thay vì một Phúc âm Toàn vẹn.

Ngược lại, nếu linh đạo tập trung quá một chiều vào sự bất cập của con người: tội lỗi, cái chết, chủ nghĩa khổ hạnh, từ bỏ lạc thú. Nó tôn vinh người già nhưng không tôn vinh người trẻ, người bệnh nhưng không tôn vinh người khỏe mạnh, người nghèo nhưng không tôn vinh người thịnh vượng, người hấp hối nhưng không tôn vinh người sống, tôn vinh thế giới bên kia nhưng không tôn vinh thế giới này. Điều này tước đi tính toàn vẹn của Phúc âm và trình bày Chúa Giêsu như nhà tu khổ hạnh không lành mạnh, cau mày với hạnh phúc tự nhiên của con người.

Bánh và rượu trong Bí tích Thánh Thể lên tiếng cho mọi khía cạnh của cuộc sống. Theo thần học gia Pierre Teilhard de Chardin, về bản chất, lời truyền phép trong Bí tích Thánh Thể nên đọc như thế này: “Trên mọi vật sống sắp nảy nở, phát triển, nở hoa, chín muồi trong ngày này, tôi lặp lại lời này: ‘Đây là mình Ta’. Và trên mọi thế lực tử thần đang chờ sẵn để ăn mòn, héo úa, chặt hạ, tôi lặp lại lời Chúa nói về mầu nhiệm tối cao của đức tin: ‘Đây là máu Ta.’”

Kinh Tin Kính phổ quát

Các tín điều làm nền tảng cho chúng ta. Trong một công thức ngắn gọn, các tín điều tóm tắt các nguyên lý chính của đức tin và giúp chúng ta ghi nhớ những chân lý đã giữ neo để chúng ta cắm vào.

Là tín hữu kitô, tôi cầu nguyện với hai Kinh Tin Kính, Kinh của các Tông đồ và Kinh Nicea. Nhưng tôi cũng cầu nguyện với một Kinh Tin Kính khác, giúp tôi có nền tảng trong một số chân lý sâu sắc không phải lúc nào cũng được công nhận trọn vẹn trong các Kinh Tin Kính của chúng ta. Đó là Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Thành Êphêsô, rất ngắn và chỉ đơn giản như sau: Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha của tất cả chúng ta.

Chỉ vài từ nhưng nói lên rất nhiều điều! Kinh này tuy của kitô giáo nhưng bao gồm tất cả các giáo phái khác, mọi tín ngưỡng và tất cả những người chân thành ở khắp nơi trên thế giới. Mọi người trên hành tinh này đều có thể cầu nguyện với Kinh này, vì cuối cùng chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa tạo dựng và yêu thương tất cả chúng ta.

Điều này có các hậu quả sâu rộng với cách chúng ta hiểu về Chúa, về các giáo phái kitô khác, các tín ngưỡng khác, về những người không tin nhưng chân thành và hiểu cả chính chúng ta. Dù giáo phái nào, đức tin nào hay không có đức tin thì cũng chỉ có một Chúa, một Chúa duy nhất, Đấng Tạo Dựng, là cha mẹ yêu thương của nhân loại. Và Chúa duy nhất này không thiên vị, không ghét ai, không ghét một giáo phái, một đức tin nào, không bao giờ xem thường lòng tốt, lòng chân thành của ai, dù người đó có tôn giáo hay không có tôn giáo.

Và đây là một số hậu quả: Đầu tiên, Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta, Chúa là Đấng của mọi điều tốt lành. Thêm nữa, là tín hữu kitô, chúng ta tin Chúa có một số thuộc tính siêu việt, duy nhất, chân thật, tốt lành và đẹp đẽ. Nếu điều đó đúng (nhưng làm sao lại không đúng?) thì mọi thứ chúng ta thấy trên thế giới này là toàn vẹn, chân thật, tốt lành, đẹp đẽ, cho dù nhãn hiệu bên ngoài của chúng là gì (công giáo la-mã, tin lành, do thái giáo, ấn độ giáo, phật giáo, hồi giáo, thời đại mới, tân ngoại giáo hay hoàn toàn thế tục), tất cả đều từ Chúa mà đến và phải được tôn vinh.

Nhà văn Mỹ John Muir (1838-1914) đã từng thách thức kitô giáo với câu hỏi: Vì sao tín hữu kitô lại ngần ngại không để các loài vật vào thiên đàng keo kiệt của họ? Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Êphêsô cũng đặt ra câu hỏi tương tự: Vì sao tín hữu kitô lại ngần ngại không để các giáo phái, các tín ngưỡng khác, những người chân thành nhân từ không có đức tin rõ ràng vào khái niệm keo kiệt của chúng ta có về Chúa, về đức tin và Giáo hội? Vì sao chúng ta lại sợ hiệp thông đức tin với các tín hữu thuộc các giáo phái khác? Vì sao chúng ta sợ sự hiệp thông đức tin với người do thái, người hồi giáo, ấn độ giáo, phật giáo và những người theo các phong trào New Age? Vì sao chúng ta sợ người ngoại giáo? Vì sao chúng ta sợ các bí tích tự nhiên?

Có thể có những lý do chính đáng. Đầu tiên, chúng ta cần bảo vệ chính xác những chân lý được thể hiện trong tín điều của chúng ta, chúng ta không muốn mình sa vào một loại pha trộn vô định hình, trong đó mọi thứ đều tương đối, mọi chân lý, mọi tôn giáo đều như nhau, yêu cầu duy nhất là chúng ta phải tử tế với nhau, dù trên thực tế, có một điều gì đó mang tính tôn giáo khi nói đến việc phải đối xử tốt với nhau, nhưng điều quan trọng hơn trong việc giữ nhau trong đức tin không có nghĩa mọi đức tin đều ngang nhau, giáo phái hay truyền thống đức tin cụ thể của một người nào đó là không quan trọng. Thay vào đó, xét cho cùng, điều quan trọng phải chấp nhận: tất cả chúng ta đều là một gia đình của một Chúa và chúng ta cần ở trong vòng tay nhau như anh chị em. Dù chúng ta khác biệt nhau, nhưng tất cả chúng ta đều có cùng một tín điều tận căn.

Ngoài ra, là người thiên chúa giáo, chúng ta tin Chúa Kitô là trung gian duy nhất giữa Chúa và chúng ta. Như Chúa Giêsu đã nói, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua tôi. Nếu điều này đúng, với tư cách là tín hữu thiên chúa giáo, chúng ta xem đây là tín điều, vậy với những người theo đạo hinđu, phật giáo, lão giáo, do thái giáo, hồi giáo, tin lành, New Age, tân ngoại giáo và những người không tin khác, họ sẽ nghĩ như thế nào? Làm sao họ có thể chia sẻ Nước Chúa với chúng ta, khi họ không tin vào Chúa Kitô?

Là người có đạo, chúng ta luôn có câu trả lời cho câu hỏi đó. Sách giáo lý công giáo thời trẻ của tôi nói về “rửa tội do lòng khao khát” như một cách để bước vào mầu nhiệm của Chúa Kitô. Thần học gia Karl Rahner nói các tín hữu chân thành là “những người ẩn danh theo đạo”. Frank de Graeve nói về một thực tế mà ông gọi “đạo Thiên chúa” như một mầu nhiệm rộng lớn hơn “đạo Thiên chúa lịch sử”; và thần học gia Pierre Teilhard de Chardin nói về Chúa Kitô như một cấu trúc nhân học và vũ trụ học cuối cùng trong chính quá trình tiến hóa. Tất cả những điều này đều nói lên mầu nhiệm Chúa Kitô không thể được xác định một cách đơn giản với các giáo hội kitô lịch sử. Mầu nhiệm của Chúa Kitô hoạt động thông qua các Giáo hội kitô lịch sử nhưng cũng hoạt động, và hoạt động rộng rãi, bên ngoài các Giáo hội của chúng ta và bên ngoài các khuôn khổ đức tin rõ ràng.

Chúa Kitô là Chúa và do đó Ngài được tìm thấy ở bất cứ đâu có bất kỳ ai trong sự hiện diện của hợp nhất, chân lý, lòng tốt và vẻ đẹp. Kenneth Cragg, sau nhiều năm làm nhà truyền giáo cho người Hồi giáo, đã gợi ý cần phải có tất cả các tôn giáo trên thế giới để thể hiện đầy đủ Chúa Kitô trọn vẹn.

Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa tội, một Thiên Chúa là Cha của tất cả chúng ta – và vì vậy chúng ta không nên ngần ngại để những người khác, những người không cùng loại với chúng ta bước vào thiên đàng keo kiệt của chúng ta.

Một thực tại căn tính kép trong nội tâm

Thần học gia Pierre Teilhard de Chardin đã có những lời này: “Bởi vì, lạy Chúa, dù tâm hồn con không sốt sắng, dù con không có sự chính trực cao cả của các thánh, nhưng con vẫn nhận lòng thương xót sâu xa của Chúa cho tất cả những gì khuấy động trong khối vật chất đen tối; vì con biết con không thể cứu vãn được, con là con của trời, của đất.”

Những lời này, giống những lời mở đầu quyển Tự Thú nổi tiếng của Thánh Augustinô, không chỉ nói lên nỗi căng thẳng suốt đời của ngài; nhưng đó còn là nền tảng cho toàn bộ cuộc sống thiêng liêng của chúng ta. Với tất cả những ai khỏe mạnh về mặt cảm xúc và trung thực, chúng ta luôn có căng thẳng suốt đời giữa những quyến rũ của thế giới và sự cuốn hút của Thiên Chúa. Trái đất, với vẻ đẹp, thú vui và tính vật chất của nó có thể làm chúng ta nghẹt thở, làm chúng ta nghĩ rằng thế giới này là tất cả những gì tồn tại và tất cả những gì cần phải có. Ai còn cần gì thêm? Cuộc sống trên trái đất chưa đủ sao? Ngoài ra, có bằng chứng nào cho bất kỳ thực tại và ý nghĩa nào ngoài cuộc sống chúng ta ở đây không?

Nhưng, dù chúng ta bị thế giới và những gì thế giới này thu hút một cách mạnh mẽ và đúng đắn, thì một phần khác trong lòng chúng ta, chúng ta thấy mình bị cuốn vào vòng tay, bị một thực tại khác khống chế, một thực tại thần thánh, dù còn mơ hồ nhưng không kém phần kiên định. Nó cho chúng ta biết, đó là điều có thật, rằng thực tại của nó cuối cùng cũng mang lại sự sống, rằng nó cần được tôn vinh và rằng nó không thể bị bỏ qua. Và, giống như thực tại của thế giới, nó tự thể hiện mình vừa là lời hứa vừa là mối đe dọa. Đôi khi chúng ta cảm nhận chúng ta như ở trong cái kén ấm áp, cảm thấy đây là nơi trú ẩn cuối cùng và sức mạnh của nó như một phán xét đe dọa cho sự hời hợt, tầm thường và tội lỗi của chúng ta. Đôi khi nó ban phước cho nỗi ám ảnh cuộc sống trần thế, với những thú vui trần thế, đôi khi nó làm chúng ta sợ hãi và tương đối hóa vừa thế giới vừa cuộc sống của chúng ta. Chúng ta có thể tự bảo vệ mình khỏi bằng cách bỏ qua hoặc phủ nhận; nhưng nó vẫn ở đó, luôn duy trì một căng thẳng mạnh mẽ bên trong chúng ta: chúng ta là những đứa con không thể cứu vãn của cả trời và đất; cả Chúa và thế gian đều muốn chúng ta chú ý.

Đó là cách thế giới phải như vậy. Chúa tạo ra chúng ta một cách cố định về mặt thể chất, xác thịt, chúng ta hướng về trái đất, và gần như mọi bản năng bên trong chúng ta đều hướng tới những thứ của trái đất này. Khi đó, chúng ta không nên mong chờ Chúa muốn chúng ta tránh xa trái đất này, phủ nhận vẻ đẹp đích thực của nó và cố gắng bước ra khỏi cơ thể, khỏi bản năng tự nhiên, khỏi thể chất của mình để chỉ hướng mắt vào những chuyện trên trời. Chúa không xây dựng thế giới này như một nơi thử thách, một nơi mà vâng lời và lòng đạo đức phải bị thử thách trước cám dỗ của thú vui trần gian, để xem chúng ta có xứng đáng lên thiên đàng hay không. Thế giới này là một bí ẩn riêng với ý nghĩa riêng của nó, một bí ẩn của Chúa ban. Thế giới này không chỉ đơn thuần là một sân khấu mà chúng ta, với tư cách là con người, đóng những vở kịch cứu rỗi cá nhân, rồi khép lại khi chúng ta rời đi. Nhưng thế giới này là nơi để tất cả chúng ta, con người, động vật, côn trùng, thực vật, nước, đá và đất cùng nhau tận hưởng trong một ngôi nhà.

Và đó là gốc rễ của một căng thẳng lớn bên trong chúng ta. Trừ khi chúng ta phủ nhận bản năng mạnh mẽ nhất của con người hoặc những cảm xúc tôn giáo mạnh mẽ nhất của mình, còn không, chúng ta sẽ thấy mình mãi mãi bị giằng xé giữa hai thế giới, với lòng trung thành dường như xung đột, bị kẹt giữa sự quyến rũ của thế giới này và sự quyến rũ của Chúa.

Tôi biết điều này đúng như thế nào với cuộc sống của chính tôi. Tôi sinh ra ở thế gian này với hai tình yêu không lay chuyển, cả cuộc đời và chức thánh của tôi bị giằng xé giữa hai tình yêu này. Tôi luôn yêu thế giới bên ngoài vì thế giới này tôn vinh cuộc sống và tôn vinh những điều kỳ diệu của cơ thể con người cũng như vẻ đẹp và sự khoái lạc mà năm giác quan mang lại cho chúng ta. Cùng với anh chị em lương dân của tôi, tôi cũng tôn vinh sự quyến rũ của tình dục, sự thoải mái của cộng đồng nhân loại, niềm vui của tinh thần hài hước và mỉa mai, những món quà hấp dẫn mà nghệ thuật và khoa học mang lại. Nhưng đồng thời, tôi luôn thấy mình ở trong một thực tế khác – thần thánh, đức tin, tôn giáo. Thực tế này luôn thu hút sự chú ý của tôi – và quan trọng hơn nữa, nó quyết định các lựa chọn quan trọng trong đời tôi.

Những lựa chọn chính trong cuộc sống đã là một căng thẳng lớn vì những lựa chọn này cố gắng trung thành với hai căn tính nguyên thủy trong tôi, người lương dân và người thiêng liêng. Tôi không thể phủ nhận thực tế, sự hấp dẫn và lòng tốt của cả hai. Chính vì lý do này mà tôi có thể sống như một người tận tụy, độc thân suốt đời, tận tụy với chức thánh, dù tôi yêu sâu sắc thế giới lương dân, ban phúc lành cho những thú vui của nó, ban phúc lành cho sự tốt lành của tình dục dù tôi đã từ bỏ nó. Đó cũng là lý do vì sao tôi liên tục xin lỗi Chúa cho những phản kháng của thế giới ngoại đạo. Tôi đã xé tan lòng trung thành.

Điều đó đúng như nó phải thế. Thế giới là để khiến chúng ta thổn thức đến nghẹt thở, cả khi chúng ta quỳ gối trước Đấng tạo ra hơi thở.

Tình yêu trưởng thành hay chỉ yêu cho có lệ?

Là linh mục của phái Luther, khi cử hành hôn lễ, linh mục Dietrich Bonhoeffer thường khuyên: “Hôm nay các con yêu nhau và tin rằng tình yêu sẽ giữ gìn hôn nhân của các con, nhưng không thể. Các con hãy để hôn nhân gìn giữ tình yêu của các con.”

Đó là lời khuyên khôn ngoan, nhưng chính xác ý nghĩa của lời khuyên này là gì? Vì sao tình yêu không thể giữ gìn hôn nhân?

Điều Linh mục nêu bật ở đây là chúng ta ngây thơ khi nghĩ cảm xúc sẽ giữ chúng ta trong tình yêu, trong dấn thân lâu dài. Tình yêu không thể và không làm vậy. Nhưng nghi thức thì có thể. Bằng cách nào? Bằng cách tạo một nghi thức có thể giữ chúng ta vững vàng bên trong con tàu lượn sóng của những cảm xúc và tình cảm giữ chúng ta trong mối quan hệ lâu dài.

Nói đơn giản, chúng ta sẽ không bao giờ giữ mối quan hệ lâu dài với người khác, với Thiên Chúa, với việc cầu nguyện, hay việc phục vụ quên mình, nếu chỉ dựa trên tình cảm tốt đẹp và cảm xúc tích cực. Ở đời, tình cảm và cảm xúc của chúng ta thường cứ đến rồi đi tùy ý và không nhất quán.

Chúng ta đã biết, cảm xúc của chúng ta thiếu nhất quán. Hôm nay chúng ta thấy mình yêu người này, ngày mai chúng ta bực tức họ. Cầu nguyện cũng thế. Hôm nay chúng ta chú tâm, sốt sắng, ngày mai chúng ta chán nản phân tâm.

Vì thế, theo Linh mục Bonhoeffer chúng ta cần nghi thức để giữ mình trong tình yêu và trong cầu nguyện, vì những việc chúng ta làm theo nghi thức giữ chúng ta vững vàng và cam kết bên trong làn sóng của cảm xúc và tình cảm.

Chẳng hạn, một cặp vợ chồng yêu nhau, hứa yêu nhau và ở bên nhau suốt đời, xét tận cùng thì họ hoàn toàn có chủ ý làm vậy. Họ tôn trọng nhau, đối xử tốt với nhau, sẵn sàng chết vì nhau. Tuy nhiên, cảm xúc của họ không phải lúc nào cũng vậy. Có ngày tình cảm của họ dường như ngược với tình yêu, họ bực bội, họ giận nhau. Nhưng hành động của họ nói lên tình yêu và cam kết, chứ không nói lên cảm xúc tiêu cực của họ. Buổi sáng trước khi đi làm, họ hôn nhau và nói “anh yêu em”, “em yêu anh” như một nghi thức. Vậy họ đang nói dối? Họ chỉ làm cho có lệ? Hay đó là tình yêu thực sự?

Tình yêu và cam kết trong gia đình cũng vậy. Chúng ta hình dung người cha và người mẹ với những đứa con tuổi teen, một cậu bé 16, một cô bé 14 tuổi. Họ có luật là mỗi tối, họ sẽ ăn tối với nhau trong khoảng 40 phút, không đụng đến điện thoại thông minh. Nhiều bữa tối, cậu con trai, cô con gái, hay người cha, người mẹ đến bàn ăn (không cầm điện thoại) như thể chỉ vì bổn phận, cảm thấy chán, họ chán ghét thì giờ ở bên nhau này, họ chỉ muốn ở một nơi nào khác. Nhưng họ ngồi với nhau vì họ đã biến thì giờ này thành một cam kết. Họ chỉ đang làm cho có lệ hay họ đang thể hiện một tình yêu thực sự?

Nếu Linh mục Bonhoeffer đúng và tôi cho là đúng, thì họ không chỉ làm cho có lệ, họ đang nói lên một tình yêu trưởng thành. Khi có cảm xúc thúc đẩy và giữ chúng ta thì việc biểu lộ tình yêu này thành dễ dàng. Nhưng về lâu về dài cảm xúc tốt đẹp sẽ không gìn giữ tình yêu và cam kết của chúng ta. Chỉ có sự trung tín với cam kết và những hành động mang tính nghi thức làm nền cho cam kết đó mới giữ chúng ta khỏi bỏ đi khi cảm xúc đã cạn.

Trong văn hóa thời nay, ở hầu hết mọi tầng mức, chúng ta không hiểu điều này. Từ những người chìm đắm trong một văn hóa nghiện cảm xúc, đến con số đông đảo các nhà trị liệu tâm lý, các nhà mục vụ tôn giáo, những người cầm trịch cầu nguyện, linh hướng, và “những người bạn của ông Gióp”, chúng ta thường nghe: Nếu chúng ta không cảm nhận được, thì nó không có thật, chúng ta chỉ làm cho có lệ thôi! Chỉ là nghi thức sáo rỗng nà thôi!

Thật vậy, nó có thể là nghi thức sáo rỗng. Như Kinh Thánh đã nói, chúng ta tôn vinh trên môi miệng nhưng lòng thì cách xa.

Tuy nhiên, thường thì đó là cách thể hiện một tình yêu trưởng thành, một tình yêu không còn cháy bằng tư lợi hay cảm xúc. Bây giờ nó là tình yêu đủ khôn ngoan và trưởng thành cho hoàn cảnh con người vốn đầy khiếm khuyết và phức tạp và cho mọi chuyện vốn đầy màu sắc và phức tạp – bao gồm cả người chúng ta yêu, cả chính chúng ta và thực tế tình yêu của con người.

Quyển sách chúng ta cần cho tình yêu, không phải là quyển sách của những người đang yêu nhau say đắm trong tuần trăng mật viết, cũng như quyển sách chúng ta cần cho việc cầu nguyện không phải là quyển sách của một tân tòng nhiệt huyết ở giai đoạn ban đầu viết, lại càng không phải của hầu hết những người cầm trịch cầu nguyện viết.

Quyển sách chúng ta cần cho tình yêu là quyển sách của các cặp vợ chồng đã qua nghi thức nhưng còn giữ sự cam kết qua bao thăng trầm của năm tháng viết. Cũng vậy với quyển sách cầu nguyện, quyển sách này cần một người đã giữ một đời cầu nguyện, đi nhà thờ qua nhiều mùa lễ và ngày chúa nhật, dù đôi khi họ chẳng muốn cầu nguyện hay đi nhà thờ chút nào.

Người tị nạn, nhập cư và Chúa Giêsu

Ngày nay, ở biên giới các nước trên biên giới có rất nhiều người tị nạn, có nơi có cả hàng triệu người. Họ dễ dàng bị cho là quỷ hóa, là tai ương, là mối đe họa, là kẻ xâm lấn, là tội phạm trốn tránh công lý ở quê nhà. Nhưng hầu hết họ là những người tử tế và lương thiện đang chạy trốn nghèo đói và bạo lực. Và những lý do làm cho họ phải rời quê nhà cho biết họ không phải là tội phạm.

Bất chấp sự thật hầu hết họ là người tốt, gần như ở khắp mọi nơi, họ vẫn bị cho là những người tạo vấn đề. Chúng ta không được cho họ vào! Họ là mối đe dọa! Và các chính trị gia thường dùng từ “xâm lấn” để nói đến sự hiện diện của họ ở biên giới.

Còn chúng ta nói được gì về điều này? Chúng ta cứ để ai vào cũng được sao? Chúng ta sáng suốt chọn lọc, cho một số vào, một số khác chặn lại? Chúng ta xây tường và dây thép gai để chặn đường? Chúng ta phải phản ứng như thế nào?

Những câu hỏi này cần được xem xét từ hai khía cạnh: thực tế và Kinh Thánh.

Thực tế, đây là một vấn đề rất lớn. Chúng ta không thể đơn giản mở hết biên giới và để hàng triệu người tràn vào. Làm vậy là phi thực tế. Nhưng mặt khác, chúng ta không thể biện hộ cho sự chần chừ đón nhận người tị nạn bằng cách viện dẫn Kinh Thánh, Chúa Giêsu, hay lý luận ngây thơ cho rằng nước “chúng ta” là của chúng ta và chúng ta có quyền ở đây còn người khác thì không, trừ phi chúng ta cho phép họ vào. Tại sao không?

Với người tín hữu kitô, có vô số nguyên tắc Kinh Thánh miễn tranh luận.

Trước hết, Thiên Chúa tạo nên thế giới cho tất cả mọi người. Chúng ta là quản gia chứ không phải là chủ. Chúng ta không sở hữu gì, tất cả là của Thiên Chúa và Thiên Chúa đã tạo nên thế giới cho tất cả mọi người. Đây là nguyên tắc chúng ta dễ làm ngơ khi nói đến vấn đề ngăn người khác vào nước “của mình”. Nhưng chúng ta chỉ là người quản gia ở đây, ở một đất nước thuộc về toàn thể thế giới mà thôi.

Thứ hai, trong Kinh Thánh, cả Cựu Ước và Tân Ước có vô số điểm nói rõ ràng và mạnh mẽ về thách thức đón nhận người lạ và người nhập cư. Điều này ở khắp nơi trong thánh thư Do Thái và là hình ảnh rất mạnh trong tâm điểm thông điệp của Chúa Giêsu. Quả thật, Chúa Giêsu mở đầu con đường mục vụ của Ngài bằng việc thông báo Ngài đến để mang Tin Mừng cho người nghèo. Vì vậy, bất kỳ việc giảng dạy, rao giảng, mục vụ, chính sách chính trị hay hành động nào không phải là Tin Mừng cho người nghèo, thì không phải là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô, dù chúng ta có thiết thực về mặt chính trị hay về mặt Giáo hội gì đi chăng nữa. Và nếu đó không phải là Tin Mừng cho người nghèo, thì các chính sách này đừng khoác lên mình lớp áo Phúc âm hay Chúa Giêsu. Do đó, bất kỳ quyết định nào chúng ta đưa ra với người tị nạn và người nhập cư, không được đối nghịch với sự thật rằng Phúc âm đã đem Tin Mừng đến cho người nghèo.

Hơn nữa, Chúa Giêsu quá rõ ràng khi đồng nhất người nghèo với chính Ngài (Ai trong các con làm việc này cho người nhỏ bé nhất, là đang làm cho Ta) và cho chúng ta biết, đến cuối cùng, chúng ta sẽ bị phán xét bằng cách chúng ta đối xử với người nhập cư và tị nạn (Hãy đi khuất mắt Ta, vì khi Ta là người lạ, ngươi đã không đón tiếp.) Trong kinh thánh có một vài đoạn văn thẳng thừng và đầy thách thức như vậy (Mt 25: 35-40).

Cuối cùng, chúng ta còn bị thách thức trong Cựu Ước. Thiên Chúa thách chúng ta đón nhận người nước ngoài (người nhập cư), chia sẻ tình yêu, đồ ăn, áo mặc với họ, vì chính chúng ta đã một thời là người nhập cư (Đệ nhị luật 10: 18-19). Đây không chỉ là câu châm ngôn Kinh Thánh mơ hồ, nhất là với những người sống ở Bắc Mỹ. Trừ các quốc gia Da Đỏ bản địa (mà chúng ta đã dùng vũ lực đuổi đi), thì hết thảy chúng ta đều là người nhập cư và đức tin thách thức chúng ta đừng bao giờ quên điều này, ít nhất là khi đối xử với người đói đang chờ bên đường biên giới. Dĩ nhiên, những ai đã ở đây hàng thế hệ, có thể lập luận chúng tôi ở đây đã lâu và bây giờ chúng tôi không là người nhập cư nữa. Nhưng có lẽ còn có một lập luận thuyết phục hơn, đó là việc đóng cửa biên giới sau khi bản thân mình được vào là một hành động ích kỷ.

Đây là những thách thức của Kinh Thánh. Tuy nhiên, sau khi đã công nhận những thách thức này, chúng ta vẫn còn một câu hỏi thực tế: xét một cách thực tế, chúng ta (và nhiều nước trên khắp thế giới) nên làm gì với hàng triệu người, đàn ông, phụ nữ trẻ con đang tìm đến biên giới của chúng ta? Làm sao chúng ta tôn vinh sự thật rằng mảnh đất chúng ta sống thuộc về tất cả mọi người? Làm sao chúng ta tôn vinh sự thật rằng, là tín hữu kitô, chúng ta phải nghĩ về người nghèo trước hết? Làm sao chúng ta đối diện với Chúa Giêsu trong ngày phán xét khi Ngài hỏi vì sao chúng ta không tiếp đón Ngài lúc Ngài ở trong hình hài người tị nạn? Và làm sao chúng ta tôn vinh sự thật rằng hầu hết chúng ta đều là người nhập cư, sống ở một đất nước mà chúng ta đã dùng vũ lực đoạt lấy của người khác?

Không có câu trả lời dễ dàng nào cho những câu hỏi này, cho dù đến tận cùng, chúng ta vẫn cần đưa ra một vài quyết định chính trị thực tế. Tuy nhiên, khi áp dụng chủ nghĩa thực dụng để xử lý chuyện này, chúng ta đừng bao giờ lẫn lộn về chuyện Chúa Giêsu và Kinh Thánh đứng về phía ai.

Bản giao hưởng dang dở

Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học để biết trong đời này, tất cả mọi bản giao hưởng đều phải dang dở.

Đây là lời của linh mục thần học gia Đức Karl Rahner, và nếu không hiểu ý nghĩa của câu này thì chúng ta có nguy cơ để tình trạng khắc khoải thành khối u trong đời mình. Bị dằn vặt bởi sự thiếu hụt mọi thứ mang ý nghĩa gì? Chúng ta bị hành hạ bởi thứ mình không có được theo kiểu gì?

Đây là chuyện chúng ta trải nghiệm hằng ngày. Thực ra, trong cả cuộc đời, trừ một số ít thời điểm đặc ân và yên bình, sự dằn vặt là cơn sóng ngầm trong tất cả mọi chuyện chúng ta trải nghiệm. Lý ra vẻ đẹp làm chúng ta bình yên thì nó lại làm chúng ta khắc khoải. Tình yêu với người bạn đời không đáp ứng đủ khao khát của chúng ta. Những mối quan hệ của chúng ta trong gia đình dường như quá nhỏ hẹp để chúng ta có thể thấy đủ. Công việc của chúng ta chẳng cân xứng với ước mơ chúng ta có về mình. Nơi chúng ta sống dường như buồn tẻ so với những nơi khác. Chúng ta quá bồn chồn nên chẳng thể ngồi yên trên bàn, chẳng thể ngủ yên trên giường, người cứ bồn chồn lo lắng.

Khi chúng ta có cảm nhận này, chúng ta sẽ luôn thấy đời mình dường như quá bé nhỏ và chúng ta không sống đời mình theo cách chúng ta mong chờ, mong chờ ai đó hay điều gì đó xuất hiện và thay đổi để cuộc đời chúng ta tưởng tượng sẽ bắt đầu.

Tôi nhớ có người kể cho tôi nghe câu chuyện. Anh 45 tuổi, hôn nhân tốt đẹp, có ba đứa con khỏe mạnh, có công việc ổn định nhưng tẻ nhạt, sống ở khu phố bình yên nhưng cũng tẻ nhạt. Nhưng anh chưa bao giờ đặt trọn bản thân vào cuộc sống. Anh thú nhận:

“Phần lớn đời tôi, nhất là trong 20 năm qua, tôi quá khắc khoải muốn thực sự sống đời mình. Tôi chưa thực sự đón nhận con người tôi – một người 45 tuổi, làm việc ở cửa hàng tạp hóa trong một thị trấn nhỏ, lập gia đình với một phụ nữ tốt lành, biết cuộc hôn nhân này sẽ không bao giờ thỏa mãn khao khát tình dục thâm sâu của mình, và biết cho dù có mơ mộng thế nào thì cũng sẽ không đi đến đâu, sẽ không bao giờ có được những ước mơ, sẽ chỉ ở đây, như lúc này, trong một thị trấn nhỏ, trong cuộc hôn nhân này, với những con người này và trong cơ thể này đến hết cuộc đời. Tôi sẽ chỉ già hơn, hói hơn, cơ thể sẽ bớt khỏe mạnh, bớt hấp dẫn hơn. Nhưng trong mọi chuyện, xét từ mọi góc độ, điều đáng buồn là cuộc đời tôi vốn tốt. Tôi thực sự rất may mắn. Tôi khỏe mạnh, được yêu thương, có đời sống gia đình tốt, sống ở một đất nước yên bình và sung túc. Nhưng lòng tôi lại quá khắc khoải đến nổi tôi chẳng bao giờ cảm kích được đời mình, vợ mình, con mình, công việc của mình và nơi mình sống. Tôi luôn mãi ở một nơi khác bên trong con người tôi, quá khắc khoải để thực sự hiện diện nơi tôi đang hiện diện, quá khắc khoải để sống trong nhà mình, quá khắc khoải để thoải mái với chính mình”.

Sự dằn vặt do thiếu mọi thứ có thể có trong đời là vậy. Nhưng nhận thức thấu suốt của Rahner không chỉ là một chẩn đoán mà còn là đơn thuốc cho căn bệnh này. Nó cho chúng ta biết để vượt lên những dằn vặt này, vượt lên khối u của khắc khoải này. Làm sao làm được?

Chính xác bằng cách hiểu và chấp nhận ở đời, mọi hòa âm đều dang dở. Khi hiểu và chấp nhận lý do làm chúng ta dằn vặt không phải do chúng ta là những người thèm khát tình dục quá độ, loạn thần và vô ơn, quá tham lam để không thỏa mãn với cuộc đời này. Không phải vậy. Lý do sâu xa là vì chúng ta bẩm tại được tạo dựng, được truyền năng lượng vượt quá thế giới này. Chúng ta được Thiên Chúa tạo dựng như thế. Chúng ta là những linh hồn vô hạn sống trong một thế giới hữu hạn, những tâm hồn được tạo nên để hợp nhất với mọi vật và mọi người nhưng chỉ được gặp phàm nhân và phàm vật. Chẳng trách chúng ta có vấn đề với sự bất đạt, mộng tưởng, cô đơn và khắc khoải! Chúng ta là những vực sâu không đáy. Khi chưa thể hợp nhất với tất cả, thì chẳng có gì lấp đầy hố thẳm đó được.

Bị dằn vặt vì khắc khoải mới là con người. Hơn nữa, khi chấp nhận chúng ta là con người và do đó không thể có hòa âm trọn vẹn ở đời này, chúng ta thanh thản hơn trong khắc khoải của mình. Tại sao? Vì bây giờ chúng ta biết mọi thứ đến với chúng ta là cơn sóng ngầm của khắc khoải, của bất đạt, và đó là chuyện bình thường và đúng đắn cho tất cả mọi người.

Như linh mục Henri Nouwen đã viết: “Ở đây, trong đời này, không có thứ gì gọi là niềm vui thuần túy và rõ ràng. Đúng hơn, trong mọi thỏa mãn, đều có ý thức về giới hạn. Phía sau nụ cười là giọt nước mắt. Trong mọi vòng tay ôm, vẫn có cô đơn. Trong mọi tình bạn, vẫn có ngăn cách”.

Bình an và nghỉ ngơi chỉ có thể đến với chúng ta khi chúng ta chấp nhận giới hạn đó trong thân phận con người, vì chỉ khi đó chúng ta mới thôi đòi hỏi rằng cuộc đời – hay cụ thể là người bạn đời, gia đình, bạn bè, công việc, thiên hướng và kỳ nghỉ của chúng ta – cho chúng ta một điều mà nó vốn không thể cho được, cụ thể là một niềm vui thuần túy rõ ràng và sự viên mãn tròn đầy.