RonRolheiser,OMI

Tìm kiếm dạ để sinh hạ Đấng Thiên sai

Chính trị gia, triết gia Nikos Kazantzakis (1883-1957) đã viết: “Con người luôn thiếu kiên nhẫn, nhưng Thiên Chúa không bao giờ nóng vội!”. Câu này nêu bật một chân lý quan trọng. Chúng ta cần kiên nhẫn, kiên nhẫn vô hạn với Thiên Chúa. Chúng ta cần để mọi chuyện phát triển đúng thời điểm của nó, đúng thời điểm của Thiên Chúa.

Nhìn vào lịch sử tôn giáo qua hàng thế kỷ, chúng ta không khỏi choáng váng trước sự thật Thiên Chúa dường như thong thả trước sự thiếu kiên nhẫn của chúng ta. Kinh Thánh thường ghi lại những khao khát bị nản lòng, những điều không viên mãn, và sự thiếu kiên nhẫn của con người. Việc Thiên Chúa can thiệp trực tiếp và dứt khoát giải quyết một căng thẳng nào đó của con người là chuyện hiếm hơn cả mức ngoại lệ. Chúng ta luôn mãi khao khát một Đấng Thiên sai đến cất đi nỗi đau, báo oán những áp bức, nhưng hầu hết những lời cầu nguyện này dường như rơi vào hư không.

Vì thế trong Kinh Thánh triền miên có lời cầu khẩn đau đớn: Lạy Chúa, xin hãy đến! Xin cứu chúng con! Chúng con còn phải chờ bao lâu nữa! Lúc nào, lạy Chúa, đến lúc nào!

Chúng con luôn thiếu kiên nhẫn, nhưng Chúa lại không vội vàng. Vì sao? Vì sao Chúa dường như hành động quá chậm trễ? Chẳng lẽ Chúa nhẫn tâm nhìn chúng con khổ sao? Thiên Chúa chai đá trước đau khổ của chúng con sao? Vì sao Chúa hành động quá đỗi chậm trễ trước sự mất kiên nhẫn của nhân loại?

Trong ngụy văn của Do Thái giáo, có một câu giúp trả lời câu hỏi này một cách ẩn dụ: Mọi giọt nước mắt sẽ đưa Đấng Thiên sai đến gần hơn! Có vẻ có một mối liên kết cố hữu giữa sự chán nản và khả năng Đấng Thiên sai ra đời. Đấng Thiên sai chỉ có thể ra đời sau khi con người khao khát suốt một thời gian dài. Tại sao?

Việc sinh hạ có thể cho chúng ta thấy được đôi điều. Không thể đẩy nhanh thời kỳ thai nghén, và có mối liên kết giữa cơn đau mà người mẹ chịu lúc sinh con. Việc hạ sinh của Chúa Giêsu cũng vậy. Với tiền đề không thể đẩy nhanh quá trình thai nghén. Nước mắt, nỗi đau, và thời gian cầu nguyện lâu dài là điều cần thiết để tạo điều kiện cho sự thai nghén sẽ hạ sinh Đấng Thiên sai vào thế giới chúng ta. Vì sao? Vì có một dạng tình yêu và sự sống chỉ có thể nảy sinh sau khi kiên nhẫn chịu đựng lâu dài, tạo nên một không gian thích đáng cho dạ người trinh nữ, để từ đó hạ sinh sự siêu phàm. Sự siêu phàm luôn dựa vào một sự thăng hoa trước đó.

Một vài ẩn dụ có thể giúp chúng ta hiểu chuyện này.

Khi cố gắng giải thích về cách con người có thể được thổi bùng với tình yêu vị tha, Thánh Gioan Thánh Giá đã dùng hình ảnh một khúc gỗ cháy thành ngọn lửa trong lò. Khi khúc gỗ khô được đặt vào lò, nó không cháy ngay lập tức. Trước hết, nó cần được làm khô đã. Do đó, suốt một thời gian dài, nó chỉ kêu xèo xèo trong lò, màu xanh và độ ẩm sẽ mất và chỉ khi đến nhiệt độ cháy, nó mới có thể bắt lửa và cháy bùng thành ngọn.

Một cách ẩn dụ, trước khi khúc gỗ có thể bùng cháy, nó phải qua thời kỳ chờ đợi, một tình trạng khô héo, một thời gian chán nản và khao khát. Động lực để một tình yêu đặc biệt sinh ra trong đời chúng ta cũng vậy. Chúng ta chỉ có thể khơi lên dạng tình yêu này khi chúng ta bị là những khúc củi ẩm ướt, còn xanh, kêu xèo xèo trong ngọn lửa của khao khát bất đạt.

Thần học gia Pierre Teilhard de Chardin cho chúng ta một ẩn dụ thứ hai. Ngài nói về điều mà ngài gọi là “tăng nhiệt độ tâm linh”. Trong phòng thí nghiệm hóa học, bạn có thể đặt hai chất trong cùng một ống mà không bị hợp nhất. Những chất đó vẫn tách biệt, không hợp nhất với nhau được. Chỉ sau khi được nung đến một nhiệt độ đủ cao, chúng mới phản ứng hợp lại với nhau. Chúng ta cũng vậy. Thường chỉ khi nhiệt độ tâm linh của chúng ta lên đến mức hợp nhất đó, nghĩa là khi khao khát bất đạt làm tăng nhiệt độ tâm hồn của chúng ta đến mức chúng ta có thể hướng về sự hòa hợp và hợp nhất.

Tóm lại, đôi khi chúng ta phải đi đến cơn sốt mến tâm linh bằng chán nản và nỗi đau, trước khi sẵn sàng buông bỏ ích kỷ và để mình được kéo vào thông hiệp.

Thần học gia công giáo Thomas Halik từng nói, người vô thần đơn giản chỉ là một từ khác để gọi một người không đủ kiên nhẫn với Thiên Chúa. Cha nói đúng. Thiên Chúa không bao giờ vội vã, và Ngài làm thế vì những lý do chính đáng. Đấng Thiên sai chỉ có thể được thai nghén trong một dạng cung lòng nhất định, cụ thể là một cung lòng đủ kiên nhẫn và sẵn lòng chờ đợi, để mọi chuyện diễn ra theo kỳ hạn của Thiên Chúa chứ không phải kỳ hạn của chúng ta.

Mọi giọt nước mắt đưa Đấng Thiên sai đến gần hơn. Đây là một bí ẩn không thể dò thấu. Về lý thuyết, mỗi một chán nản nên làm chúng ta sẵn sàng yêu thương hơn. Về lý thuyết, mỗi một giọt nước mắt nên làm chúng ta sẵn sàng tha thứ hơn. Về lý thuyết, mỗi một lần đau lòng nên làm chúng ta sẵn sàng buông bỏ phần nào sự tách biệt của mình. Về lý thuyết, mỗi một khao khát bất đạt nên dẫn chúng ta đi vào lời cầu nguyện sâu sắc hơn và thành tâm hơn. Và về lý thuyết, mọi sự thiếu kiên nhẫn đau đớn của chúng ta hướng đến sự sự kết hợp vốn luôn mãi tránh né chúng ta, làm cho chúng ta đủ nhiệt tâm để cháy bùng thành ngọn lửa tình yêu. Một cách ngôn trong ngụy văn Do Thái giáo đã diễn đạt rất nên thơ rằng: Với nhiều tiếng rên rỉ của xác thịt thì sự sống của linh hồn được sinh ra!

Từ các vị thánh đến những người nổi tiếng: Cuộc cách mạng về sự ngưỡng mộ và noi gương

Khi tôi còn là cậu bé lớn lên trong cộng đoàn Công giáo, giáo lý thời đó làm cho tâm hồn chúng tôi nhiệt thành qua các câu chuyện về các bậc tử đạo, các thánh và những người sống theo lý tưởng cao cả về đức hạnh và đức tin. Tôi còn nhớ câu chuyện của Thánh Tarcisius ở thế kỷ thứ ba, cuộc đời của Tarcisius đã tác động trên trí tưởng tượng và cảm hứng trong tuổi trẻ của tôi.

Theo truyền thuyết (hay sự thật) thì thánh Tarcisius là chú bé giúp lễ 12 tuổi sống trong thời Kitô giáo bị bách hại. Lúc đó giáo dân Rôma phải lén lút xem lễ trong các hầm mộ, sau các thánh lễ bí mật này, một phó tế hoặc người giúp lễ sẽ đi trao Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân và tù nhân. Một hôm nọ, sau thánh lễ, cậu bé Tarcisius đưa Mình Thánh Chúa đến một nhà tù, thì giữa đường bị một nhóm côn đồ chặn lại bắt Tarcisius đưa cho họ, Tarcisius không chịu đưa, em bảo vệ Mình Thánh Chúa bằng cả cơ thể mình, kết quả là Tarcisius bị đánh đến chết.

Năm tôi 12 tuổi, cùng tuổi với thánh Tarcisius, câu chuyện này đã thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn của tôi. Tôi đã muốn có lý tưởng cao cả như thế trong đời. Trong trí tưởng tượng non trẻ của tôi, thánh Tarcisius là người hùng tuyệt vời nhất mà tôi muốn trở thành.

Từ đó đến nay, chúng ta đã đi một quãng đường khá dài, cả trong văn hóa lẫn giáo hội. Chúng ta không còn thấy xúc động một cách lãng mạn với những câu chuyện về các vị thánh thời xưa lẫn nay. Đúng, chúng ta vẫn dành cho các ngài một chỗ trang trọng và chính thức trong nhà thờ cũng như trong lý tưởng cao cả của mình, nhưng bây giờ chúng ta lại xúc động một cách lãng mạn bởi những người giàu, người nổi tiếng, người đẹp, các ngôi sao ca nhạc, các vận động viên lừng lẫy, những người có tài năng về thể chất cũng như trí tuệ. Họ thổi bùng trí tưởng tượng của chúng ta, thu hút sự ngưỡng mộ của chúng ta, và chúng ta muốn được như họ.

Hồi đầu thế kỷ 19, Alban Butler, một người Anh trở lại, đã thu thập các câu chuyện về đời sống các thánh và làm tuyển tập Hạnh Các Thánh của Butler có 12 tập. Trong gần 200 năm, quyển sách này đã tạo hứng khởi cho không biết bao nhiêu tín hữu kitô cả già lẫn trẻ. Nhưng bây giờ đã không còn như thế nữa.

Ngày nay, quyển Hạnh Các Thánh của Butler đã bị thay thế bởi vô số tạp chí, podcast, trang web đăng cuộc đời của những nhân vật giàu có nổi tiếng, đập vào mắt chúng ta qua màn hình điện thoại, máy tính, trên mọi kệ báo, mọi quầy trả tiền ở siêu thị.

Thực sự, chúng ta đã chuyển từ thánh Tarcisius sang Justin Bieber, từ thánh Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu sang Taylor Swift; từ thánh Tôma Aquinô sang Tom Brady, từ thánh Mônica sang Meryl Streep, từ Thánh Augustinô sang Mark Zuckerberg, từ thánh Julian thành Norwich sang Marianne Williamson, từ thánh gốc Phi đầu tiên Máctinô Porres sang LeBron James. Những người này đang thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn của chúng ta, và chúng ta muốn được nên giống họ nhất.

Xin quý độc giả đừng hiểu lầm ý tôi, những người này không có gì xấu và ngưỡng mộ họ chẳng có gì là sai. Thật sự chúng ta nên ngưỡng mộ họ vì mọi vẻ đẹp và tài năng đều xuất phát từ Thiên Chúa, Đấng tạo tác mọi sự tốt đẹp. Từ đức hạnh của một vị thánh cho đến vẻ đẹp của một ngôi sao điện ảnh, hay sự lôi cuốn của một vận động viên, tất cả đều do một Đấng tạo tác và tất cả đều phát xuất từ nguồn của mọi sự tốt đẹp là chính Thiên Chúa.

Thánh Tôma Aquinô từng nói, kìm nén lời khen cho người xứng đáng là một tội, vì chúng ta đang giấu đi của ăn cho người cần nó để sống. Vẻ đẹp, tài năng, và sự duyên dáng cần được thừa nhận và công nhận. Vấn đề tôi muốn nói đến không phải là ngưỡng mộ. Đúng hơn, vấn đề là trong khi chúng ta cần ngưỡng mộ và công nhận tài năng, duyên dáng và vẻ đẹp, nhưng bản thân những điều này không tỏa ra nhân đức và sự thánh thiện. Chúng ta không nên tự động đồng nhất sự duyên dáng của con người với đức hạnh, mặc dù ở thời buổi này, đây là chuyện rất hấp dẫn, rất dễ dàng.

Một trong những điểm yếu nhất của các giáo hội thời nay, là trong khi chúng ta đã nâng cấp và thanh lọc rất nhiều cho trí tưởng tượng về trí tuệ của mình đồng thời đã có những nghiên cứu Kinh thánh và thần học tốt hơn, lành mạnh hơn, thế nhưng chúng ta vẫn chật vật trong việc chạm đến trái tim con người. Trong khi chúng ta có thêm sức mạnh để thỏa mãn về mặt tri thức, nhưng chúng ta lại chật vật trong việc chạm đến trái tim con người, chật vật để làm cho giáo dân rung động với đức tin và nhất là với giáo hội của họ. Chúng ta chật vật trong việc thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn mà một thời chúng ta đã làm được nhờ hạnh các thánh.

Với tình trạng này, chúng ta có thể làm được gì đây? Chúng ta có tìm ra những vị thánh thổi bùng được các lý tưởng của mình không? Tác phẩm rất hay của Robert Ellsberg về hạnh các thánh (cuộc đời các thánh và những vĩ nhân đạo đức) có trở thành quyển Hạnh Các Thánh mới ngang tầm quyển Hạnh Các Thánh của Butler không? Các tiểu sử thế tục về một số vĩ nhân đạo đức trong thời chúng ta có làm chúng ta muốn noi gương không? Liệu cuộc đời của một Dag Hammarskjold, cựu Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc có thể là nguồn cảm hứng về đạo đức và đức tin cho chúng ta được không? Liệu ngoài kia có một Têrêxa Hài Đồng Giêsu mới không? Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần những câu chuyện hứng khởi về những người nam, người nữ, cả già và trẻ, đã sống trọn đức hạnh anh hùng. Chúng ta cần những mẫu gương đạo đức, những cố vấn về đạo đức. Nếu không, chúng ta chỉ đang tự lừa mình khi đồng nhất tối giản hóa sự duyên dáng của con người với đức hạnh.

Lời khấn mà chúng ta không chọn

Là tu sĩ Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, tôi đã khấn bốn lời khấn: khó nghèo, khiết tịnh, vâng lời và trung thành. Tôi đã tự nguyện khấn, không một ép buộc nào khác ngoài một cảm nhận mạnh mẽ trong lòng: tôi cần khấn những lời khấn này. Tự nguyện khấn, không một áp lực, nhưng là một xa xỉ mà hàng triệu người trên thế giới này không có được. Họ có thể khấn những lời khấn này (theo một phương thức khác) vì họ bị hoàn cảnh ép buộc phải làm như vậy. Trên thực tế, đó là những lời khấn mà người khác khấn giùm cho họ.

Nhà thơ người Anh William Wordsworth 91770-1850) đã viết câu thơ:

Trái tim tôi tràn đầy;
tôi không khấn nhưng lời khấn được làm cho tôi;
một ràng buộc được ban cho tôi mà tôi không biết,
để tôi phải như vậy,
nếu không tôi sẽ phạm một tội rất lớn.

Tôi nghĩ hầu hết chúng ta đều quen biết những người mà điều này là đúng với họ, họ không bao giờ chính thức khấn lời khấn tu trì, nhưng họ sống độc thân, vâng lời, khó nghèo và trung thành theo cách riêng của họ. Gần như suốt đời, hoàn cảnh đã buộc họ phải sống như vậy, đã lấy đi quyền tự do để họ không bao giờ có thể tự lựa chọn nơi nào họ sẽ đến, nơi nào họ sống, trường nào họ học, công việc nào họ làm và (không kém phần quan trọng) họ có nên kết hôn hay không. Thay vào đó, họ sống không tự do trong những năm tháng trưởng thành của mình, bị hoàn cảnh và nghĩa vụ ràng buộc, họ hy sinh các ước mơ và kế hoạch riêng của mình để phục vụ người khác.

Nhiều người trong chúng ta biết có những người vì hoàn cảnh nghèo đói, cha mẹ qua đời, hoàn cảnh gia đình hoặc bệnh tật cá nhân đã phải thề nguyện. Một số anh trai của tôi rơi vào trường hợp này. Nhưng, và đây là vấn đề, mặc dù những lời thề đó không được thực hiện một cách rõ ràng hoặc công khai, nhưng chúng là những lời thề được thánh hiến, thiêng liêng theo nghĩa Kinh Thánh.

Được thánh hiến có nghĩa là gì? Thánh hiến là gì?

Thật đáng buồn, ngày nay chúng ta đã biến từ này thành một “danh từ của nhà thờ”, chúng ta nói về các tòa nhà được thánh hiến (nhà thờ), các chén thánh được thánh hiến và những người được thánh hiến (các mục tử, những người tu hành đã khấn). Tại sao chúng ta lại nói về họ như những người được thánh hiến? Câu trả lời nằm ở ý nghĩa ban đầu của việc được thánh hiến.
Được thánh hiến đơn giản có nghĩa là được “đặt sang một bên” – dù đầu tiên không phải vì mục đích cho nhà thờ. Thay vào đó, quý vị nên tưởng tượng tình huống này: quý vị vừa rời khỏi nơi làm việc và đang lái xe về nhà thì gặp một vụ tai nạn. Quý vị không phải là người trong vụ nhưng quý vị là người đầu tiên ở đó. Lúc đó, quý vị mất tự do của mình. Quý vị không còn tiếp tục lái xe. Có người bị thương và quý vị ở đó! Quý vị phải hành động chỉ vì quý vị ở đó. Lúc đó quý vị là người thánh hiến, được thánh hiến do hoàn cảnh, do nhu cầu. Và chính lúc đó lời của nhà thơ Wordsworth áp dụng cho quý vị.

Có một tương đồng thú vị với tình huống mà ông Môsê gặp khi Chúa xin ông đưa người Israel ra khỏi Ai-cập để thoát khỏi chế độ nô lệ. Ông không muốn làm việc này, cũng không tình nguyện làm. Ông đưa ra nhiều lý do khác nhau để biện minh với Chúa vì sao ông không phải là người phù hợp, cuối cùng ông hỏi Chúa: “Tại sao lại là con? Tại sao không phải là anh em con?” Về bản chất, câu trả lời của Chúa là: “Vì con đã chứng kiến dân tộc con bị áp bức. Vì con đã chứng kiến nên con không còn tự do. Con giống như người đầu tiên có mặt tại hiện trường vụ tai nạn.”

Đó chính là ý nghĩa của việc được thánh hiến, được kêu gọi, có một ơn gọi. Trong khi chúng ta vẫn hoàn toàn tự do (lái xe tránh xa vụ tai nạn) nhưng chúng ta không còn tự do về mặt hiện sinh hay đạo đức nữa – nếu không, như nhà thơ Wordsworth nói, chúng ta sẽ phạm tội nghiêm trọng. Lựa chọn của chúng ta là phải tiếp tục cuộc sống hay ở lại giúp đỡ? Câu hỏi duy nhất của chúng ta là: trách nhiệm của tôi ở đây là gì? Hoàn cảnh đã đưa ra cho chúng ta lời khấn.

Có thể hữu ích khi hiểu ơn gọi, lời khấn và sự thánh hiến qua lăng kính này. Tôi đã từng tự do lựa chọn hiến mình cho một ơn gọi yêu cầu tôi khấn công khai, sống giản dị, từ bỏ hôn nhân và gia đình riêng, sẵn sàng phục vụ người khác và kiên trì trong suốt quãng đời còn lại. Một số anh chị em của tôi (và hàng triệu đàn ông, đàn bà) cũng làm điều tương tự nhưng không có sự công nhận và hỗ trợ của cộng đồng như lời khấn của chúng tôi. Họ cũng sống cuộc sống thánh hiến, dù không được công chúng công nhận.

Khi khẳng định điều này, tôi không loại trừ những người đã kết hôn, trong hôn nhân họ cũng như tôi, họ đã tuyên thệ công khai và nhận được sự công nhận và hỗ trợ của cộng đồng như tôi; ngoại trừ việc độc thân, lời khấn của họ cũng giống tôi.

Tất cả chúng ta đều thường xuyên ở hiện trường của một vụ tai nạn, không được tự do lái xe đi, bị bắt buộc, bị ràng buộc bởi những lời khấn được lập ra cho chúng ta. Điều đó được cho là có ơn gọi.

Thiên đàng mỗi người mỗi khác

Linh mục Dòng Tên Daniel Berrigan (1921-2016) đã từng nói: Trước khi bạn nghiêm túc nói về Chúa Giêsu, xin bạn nghĩ lại xem mình có thích bị treo trên thập giá không!

Đây là lời cảnh báo cần có, vì Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta, nếu chúng ta muốn đi theo Ngài, thì đời chúng ta sẽ khổ đau, chúng ta sẽ chịu đóng đinh vào thập giá với Ngài.

Chính xác điều này có nghĩa là gì? Nỗi đau là để thử thách người môn đệ sao? Chúa Giêsu có muốn những người đi theo Ngài phải cảm nhận nỗi đau của Ngài không? Chúa có muốn những ai theo Ngài phải chịu đau đớn để trả giá cho tội của họ không? Vì sao chấp nhận vác thập giá với Chúa Giêsu lại làm cho đời chúng ta đau khổ?

Một điều thú vị đáng chú ý là nhà thần nghiệm Gioan Thánh Giá đã dùng nỗi đau đi vào đời chúng ta để làm tiêu chuẩn chính phân định, liệu chúng ta có thật sự đi theo Chúa Giêsu hay không. Theo ngài, chúng ta biết mình theo Chúa Giêsu khi nỗi đau bắt đầu đi vào đời chúng ta. Vì sao? Vì sao Chúa đặt nỗi đau đặc biệt lên những ai chân thành đi theo Ngài?

Không, Thiên Chúa không đặt nỗi đau đặc biệt lên những ai kính trọng Ngài. Nỗi đau đi vào cuộc đời chúng ta khi chúng ta xem trọng Chúa Kitô, nó không phát xuất từ Thiên Chúa. Nó đi vào tâm hồn chúng ta vì chúng ta có một tâm hồn cởi mở sâu đậm, một nhạy cảm sâu sắc và một chiều sâu mới. Đại đa số hoạt động theo cách này: khi chúng ta chân thành mở lòng ra với Chúa, chúng ta sẽ không còn bảo vệ mình quá mức, chúng ta dễ tổn thương hơn, dễ nhạy cảm hơn để cuộc sống với tất cả mọi thứ có thể đi vào tâm hồn chúng ta một cách thoải mái và sâu sắc hơn.

Một phần của những gì đi vào tâm hồn chúng ta chính là nỗi đau: nỗi đau của người khác, nỗi đau của trái đất, nỗi đau của sự bất lực và thiếu vị tha của mình, nỗi đau do tác động của tội lỗi khắp nơi. Nỗi đau này sẽ đi vào tâm hồn chúng ta sâu sắc hơn, chúng ta sẽ cảm nhận nó theo cách chúng ta chưa hề cảm nhận trước đó, vì trước đó chúng ta trơ lì và tự quy để phòng vệ.

May thay, chuyện này còn một mặt khác: nỗi đau bây giờ đi vào cuộc sống chúng ta thoải mái và sâu sắc hơn, thì ý nghĩa và hạnh phúc cũng vậy. Một khi chúng ta thôi phòng vệ bằng cách tự quy, thì cả nỗi đau và hạnh phúc đều có thể đi vào lòng chúng ta một cách thoải mái và sâu sắc, và chúng ta bắt đầu toát ra một phần thâm sâu hơn của mình.

Nhà phân tâm học Freud từng nhận định: đôi khi chúng ta hiểu rõ nhất mọi chuyện bằng cách xem xét cái đối lập của nó. Chuyện ở đây phần nào cũng vậy. Trái ngược với người mở lòng với nỗi đau của nhân loại, với nỗi đau của thập giá là người vô cảm trơ trơ, họ không cảm nhận nhiều về nỗi đau, những người này cũng chẳng cảm nhận gì về bất cứ điều gì khác.

Và điều này ngụ ý nhiều điểm:

Thứ nhất, Chúa không đặt nỗi đau lên chúng ta khi chúng ta là môn đệ của Ngài, khi chúng ta hiểu sâu mầu nhiệm thập giá và Chúa Kitô. Nỗi đau kèm theo là điều nội tại của thập giá, chúng ta cảm nhận được, đơn giản là vì bây giờ chúng ta không ở thế phòng vệ, nhưng chúng ta để toàn bộ cuộc đời đi vào tâm hồn mình một cách thoải mái và sâu sắc hơn. May thay, nỗi đau đã được bù đắp với đầy đủ ý nghĩa và hạnh phúc mới mà bây giờ chúng ta mới cảm nhận được.

Thứ hai, như thánh Gioan Thánh Giá đã khéo léo diễn tả, trải nghiệm nỗi đau nội tại trong cương vị của người môn đệ và thập giá là một trong những tiêu chuẩn chính để phân biệt Phúc âm thật và Phúc âm Thịnh vượng. Khi nỗi đau của thập giá đi vào cuộc đời chúng ta, chúng ta biết chúng ta không nhân danh Phúc âm để bảo vệ cho tư lợi của mình.

Thứ ba, thật đáng để nhạy cảm! Freud đã từng nói chứng cuồng hoảng (một dạng lo lắng không lành mạnh) là căn bệnh của người bình thường. Điều ông không nói, nhưng có thể ông đã nói, đối lập của lo lắng (cả lành mạnh và không lành mạnh) là sự vô cảm trơ ì cực độ, mặt dày như mặt mo nên nó che cho mình khỏi đau – nhưng nó cũng che và làm cho chúng ta không sâu sắc, không có tình yêu, không thân mật, không cộng đồng.

Nếu bạn là người nhạy cảm (thậm chí là người quá nhạy cảm, có khuynh hướng trầm cảm, lo lắng đủ kiểu) thì xin bạn yên lòng vì sự đấu tranh của bạn cho thấy bạn không phải là người trơ lì chai sạn, không phải là người thô kệch về mặt đạo đức.

Cuối cùng, một trong những ngụ ý của điều này là thiên đàng với mỗi người một khác. Cũng như nỗi đau, chúng ta có thể đau sơ sơ, đau sâu đậm thì ý nghĩa và hạnh phúc cũng vậy. Chúng ta mở lòng đến mức độ nào, thì ý nghĩa và hạnh phúc vào tâm hồn chúng ta cũng ở mức độ đó. Với tấm lòng đóng kín thì ý nghĩa của chúng ta hời hợt. Với tấm lòng mở ra phần nào thì ý nghĩa có phần nào sâu sắc, nhưng không trọn vẹn. Còn với tấm lòng hoàn toàn mở ra thì chúng ta có ý nghĩa sâu sắc nhất.

Ở đời này, ý nghĩa và hạnh phúc có những chiều sâu khác nhau, và tôi cho rằng, ở đời sau cũng vậy. Cho nên, lời mời của Chúa Giêsu chính là hãy đón nhận nỗi đau từ thập giá, còn hơn là để tâm hồn trơ trơ!

Tháp Babel

Những trang đầu tiên của Kinh thánh kể cho chúng ta một loạt các câu chuyện diễn ra vào thời điểm bắt đầu lịch sử để giải thích vì sao thế giới ngày nay lại như vậy. Câu chuyện của ông A-đam và bà E-và về tội nguyên tổ là một trong những câu chuyện này. Và cũng có những câu chuyện khác. Các chuyện này dùng hình ảnh làm chúng ta nghe như chuyện cổ tích nên chúng ta nghĩ đó là những chuyện hoàn toàn do tưởng tượng, nhưng thật ra đó là những chuyện còn thật hơn cả sự thật. Và nó đã xảy ra. Đã xảy ra với người đàn ông và phụ nữ đầu tiên trên hành tinh, và tiếp tục xảy ra cho đến ngày nay theo cách ảnh hưởng đến mọi người đàn ông và phụ nữ trong suốt lịch sử. Đó là các câu chuyện về trái tim, không phải theo nghĩa đen mà theo những bài học của trái tim.

Một trong những câu chuyện nền tảng đầu tiên này là câu chuyện Tháp Babel. Theo ngôn ngữ bình dân thì nó như thế này: Lúc đầu (trước đây cũng giống như bây giờ) có một thành tên là Babel quyết định làm cho thành của mình có tên tuổi, họ xây một tháp ấn tượng đến mức tất cả các thành khác sẽ phải thán phục. Họ bắt đầu xây nhưng có điều gì đó kỳ lạ xảy ra. Khi họ xây, bỗng nhiên họ nói các loại ngôn ngữ khác nhau, họ không còn hiểu nhau và ra đi sống rải rác khắp nơi trên thế giới, họ nói ngôn ngữ mà người khác không thể hiểu được.

Bài học ở đây là gì? Có phải để giải thích nguồn gốc các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới không? Không, nhưng để giải thích những hiểu lầm sâu xa, dường như không thể hòa giải giữa chúng ta. Vì sao chúng ta mãi hiểu lầm nhau? Nguồn gốc của những chuyện này là gì?

Có nhiều cách để hiểu, để làm sáng tỏ sự chia rẽ trong thế giới chúng ta ngày nay. Ví du: năm ngoái, nhà tâm lý học xã hội Jonathan Haidt viết trên tờ The Atlantic cho rằng có lẽ không có phép ẩn dụ nào tốt hơn để giải thích sự chia rẽ giữa chúng ta ngày nay cho bằng câu chuyện của Tháp Babel. Lập luận của ông như sau: Phương tiện truyền thông xã hội dùng để kết nối chúng ta không chỉ với bạn bè và gia đình mà còn với mọi người từ khắp nơi trên thế giới, nhưng trên thực tế đã dẫn đến sự phân mảnh triệt để trong xã hội và làm tan vỡ tất cả mọi thứ, điều đó có vẻ vững chắc, sự phân tán của những người đã từng là một cộng đồng. Lấy nước Mỹ làm ví dụ: chúng ta vẫn dùng một ngôn ngữ, nhưng các phương tiện truyền thông xã hội và các nơi loan tin tức đã cung cấp cho chúng ta những tập hợp dữ kiện, giá trị và tầm nhìn khác nhau làm cho trong thực tế, cuộc trò chuyện ngày càng trở nên bất khả thi.

Khi những căng thẳng gần đây xung quanh cuộc bầu Tổng thống Mỹ trở nên rõ ràng, với tư cách là một xã hội, chúng ta không còn nói cùng một ngôn ngữ, ở chỗ chúng ta không còn có thể hiểu nhau về hầu hết mọi vấn đề quan trọng – hiện tượng nóng lên toàn cầu, nhập cư, nghèo đói, giới tính, sức khỏe, phá thai, vị trí của tôn giáo trong phạm vi công cộng – sự thật đứng về phía nào, và quan trọng nhất: sự thật là gì. Chúng ta không còn chia sẻ bất kỳ sự thật chung nào nữa. Đúng hơn, tất cả chúng ta đều có sự thật riêng, ngôn ngữ riêng của mình. Như chúng ta vẫn thường nói, tôi đã thực hiện nghiên cứu của riêng tôi! Tôi không tin vào khoa học. Tôi không tin vào bất kỳ sự thật chính thống nào. Tôi có nguồn tin riêng của tôi.

Và những nguồn tin đó thì rất nhiều, nhiều không đếm xuể được! Hàng trăm kênh truyền hình, vô số podcast và hàng triệu người cung cấp cho chúng ta phiên bản đặc trưng của họ trên mạng xã hội để bây giờ chúng ta hoài nghi về bất kỳ sự thật nào. Điều này chia rẽ chúng ta ở mọi cấp độ: gia đình, láng giềng, nhà thờ, đất nước và thế giới. Tất cả chúng ta hiện đang nói những ngôn ngữ khác nhau giống như người dân đầu tiên của Tháp Babel sống rải rác trên khắp thế giới.

Dưới ánh sáng của điều này, điều đáng chú ý là lễ Hiện Xuống được mô tả trong Kinh thánh sẽ như thế nào. Sách Công vụ Tông đồ mô tả Lễ Hiện Xuống, sự hiện đến của Chúa Thánh Thần, như một sự kiện đảo ngược những gì đã xảy ra tại Tháp Babel. Tại Tháp Babel, các ngôn ngữ (“tiếng lạ”) trên trái đất bị chia cắt và phân tán. Nhưng trong Lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh Thần ngự xuống trên mỗi người như một “lưỡi lửa” đến nỗi, trước sự ngạc nhiên tột độ của mọi người, giờ đây mọi người đều hiểu nhau bằng ngôn ngữ của mình.

Một lần nữa, những gì đang được mô tả ở đây không phải là về ngôn ngữ theo nghĩa đen của con người khi mọi người đột nhiên hiểu được tiếng Hy Lạp hoặc tiếng La-tinh trong lễ Hiện Xuống. Đúng hơn, bây giờ mọi người đều hiểu người khác bằng ngôn ngữ của mình. Tất cả các ngôn ngữ đã trở thành một ngôn ngữ.

Ngôn ngữ chung đó là gì? Đó không phải là tiếng Hy lạp, tiếng La-tinh, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Yiddish, tiếng Trung Quốc hay tiếng Ả Rập hay bất kỳ ngôn ngữ nào khác trên thế giới. Đó cũng không phải là ngôn ngữ thiếu nhân ái của những người bảo thủ hay những người theo chủ nghĩa tự do. Như Chúa Giêsu và Kinh thánh đã nói rõ, đó là ngôn ngữ của bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tin tưởng và tiết độ.

Đó là ngôn ngữ duy nhất có thể hàn gắn những hiểu lầm và khác biệt giữa chúng ta – và khi chúng ta nói bằng ngôn ngữ này, chúng ta sẽ không tìm cách xây một tòa tháp để tạo ấn tượng cho bất cứ ai.

Suy nghĩ nhẹ nhàng hơn về một chủ đề nặng nề

Vài năm trước đây, một cô bạn của tôi đang phải đối diện với việc sinh đứa con đầu lòng. Mặc dù rất vui vì sắp được làm mẹ nhưng cô thú nhận cô rất sợ tiến trình sinh nở này, những cơn đau, những nguy hiểm, những điều chưa biết. Cô tự an ủi, hàng trăm triệu phụ nữ đã đi qua con đường này và đã vượt qua được. Chắc chắn, cô cảm thấy mình cũng sẽ vượt qua được.

Đôi khi tôi lấy kinh nghiệm này để áp dụng vào bối cảnh cái chết. Cái chết là chủ đề đáng sợ, khó chịu và nặng nề nhất, dù chúng ta thường nói một cách giả tạo. Khi chúng ta nói mình không sợ chết thì phần lớn chúng ta đang huýt sáo trong bóng tối và cả ở đó, líu lo thì dễ dàng hơn khi cái chết của chính mình vẫn là một ý tưởng trừu tượng, một điều gì đó trong tương lai không xác định. Nói lên trọn vẹn suy nghĩ của tôi về cái chết chắc chắn phù hợp với mô tả đó, huýt sáo trong bóng tối. Nhưng tại sao không? Chắc chắn là huýt sáo trong bóng tối tốt hơn là tự hành hạ mình bằng nỗi sợ hãi không cần thiết.

Vì vậy, tôi dùng phương pháp của bạn tôi khi cô muốn có thêm can đảm để đối diện với việc sinh con và điều chưa từng biết này. Một cách đơn giản, hàng triệu triệu người đã vượt qua được quá trình chết, vì vậy tôi cũng phải vượt qua được! Hơn nữa, không giống như việc sinh con, chỉ ảnh hưởng đến một nửa nhân loại, còn cái chết thì ảnh hưởng đến toàn nhân loại, kể cả tôi đều sẽ đi qua. Một trăm năm nữa, những ai đang đọc bài này sẽ vượt qua cái chết của mình.

Vì vậy, đây là cách để nhìn nhận về cái chết của chính chúng ta: hàng tỷ tỷ người đã vượt qua được điều này, đàn ông, phụ nữ, trẻ em, kể cả trẻ sơ sinh. Một số người đã già, một số người còn trẻ; một số đã chuẩn bị, một số thì không; một số đón nhận, một số cay đắng phản kháng; một số chết vì nguyên nhân tự nhiên, một số chết vì bạo lực; một số chết trong vòng tay yêu thương, một số chết cô đơn không có vòng tay yêu thương nào chung quanh; một số chết trong thanh thản, một số chết trong tiếng khóc vì sợ hãi; một số người chết khi đã già, một số ở tuổi thanh xuân; một số bị bệnh mất trí vô nghĩa trong nhiều năm làm cho những người chung quanh hỏi vì sao Chúa và thiên nhiên lại tàn nhẫn khi giữ họ sống; lại có những người khỏe mạnh có đầy đủ để sống nhưng họ lại tự tử; có những người chết trong đức tin và hy vọng, có những người chỉ thấy bóng tối và tuyệt vọng; một số khi chết có lòng biết ơn, một số khi chết lòng đầy oán giận; một số chết trong vòng tay tôn giáo và nhà thờ, một số hoàn toàn ở ngoài vòng tay này; một số chết như Mẹ Têrêxa, một số lại như Hitler. Nhưng tất cả họ đều làm được điều đó, điều vô danh vĩ đại, điều vô danh vĩ đại nhất. Có vẻ như có thể làm được.

Hơn nữa, không ai trở về từ thế giới bên kia với những câu chuyện kinh dị về cái chết, như thế cho thấy tất cả những bộ phim kinh dị của chúng ta về việc bị hành hạ sau khi chết, bị ma quỷ và những ngôi nhà ma ám đều hoàn toàn hư cấu.

Tôi nghĩ ai cũng có trải nghiệm như tôi khi nghĩ về người chết, đặc biệt là những người tôi biết đã chết. Nỗi đau buồn và sự mất mát ban đầu của họ cuối cùng cũng qua đi và được thay thế bằng một cảm giác mơ hồ rằng mọi chuyện vẫn ổn, rằng họ ổn, và rằng cái chết theo một cách kỳ lạ nào đó đã rửa sạch mọi thứ. Cuối cùng, chúng ta có một cảm giác khá tốt về những người thân yêu đã khuất của mình và về những người đã khuất nói chung, ngay cả khi sự ra đi của họ không hề lý tưởng, khi họ chết trong tức giận, thiếu chín chắn, hoặc vì họ đã phạm tội, hoặc tự tử. Bằng cách nào đó, cuối cùng tất cả đều được rửa sạch và những gì còn lại là một cảm giác mơ hồ, một trực giác vững chắc, rằng bất kể họ đang ở đâu, họ đều ở trong một vòng tay tốt hơn và an toàn hơn chúng ta.

Khi còn là chủng sinh trẻ, chúng tôi phải dịch chuyên luận của tác giả cổ đại Cicero về tuổi già và về cái chết từ tiếng La-tinh sang tiếng Anh. Khi đó tôi mười chín tuổi, nhưng rất ấn tượng với những suy nghĩ của Cicero về lý do vì sao chúng ta không nên sợ chết. Ông là người theo phái khắc kỷ nổi tiếng; nhưng, cuối cùng, việc ông không sợ chết cũng giống như cách bạn tôi đối diện với việc sinh nở, xét theo mức độ phổ biến của nó, chúng ta đều có thể quản lý được!

Tôi đã đánh mất ghi chép của tôi về Cicero từ lâu nên bây giờ tôi tra cứu chuyên luận này trên Internet. Đây là một đoạn trích từ chuyên luận này: “Cái chết không nên được cho là quan trọng! Vì rõ ràng tác động của cái chết là không đáng kể nếu nó hoàn toàn hủy diệt linh hồn, ngay cả là mong muốn, nếu nó dẫn linh hồn đến một nơi nào đó để sống mãi mãi. Vậy thì, tôi sẽ sợ gì, nếu sau khi chết, tôi được định sẵn là không bất hạnh hoặc hạnh phúc?”

Đức tin của chúng ta cho chúng ta biết rằng, với tình yêu và với lòng nhân từ của Chúa mà chúng ta tin tưởng, chỉ có lựa chọn thứ hai là hạnh phúc đang chờ chúng ta. Và chúng ta đã trực giác được điều đó.

Bánh và Rượu

Khi Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể trong Bữa Tiệc Ly, Ngài dùng hai chất liệu: bánh và rượu. Bánh và rượu đã ăn sâu trong tâm trí chúng ta, đến mức chúng ta không bao giờ dừng lại để tự hỏi, vì sao lại là bánh và rượu? Trong số tất cả những gì Chúa Giêsu có thể chọn, vì sao Ngài chọn bánh và rượu? Bánh và rượu có đặc tính gì để có thể phù hợp với Mình và Máu Chúa Kitô? Cụ thể, bánh và rượu tượng trưng cho điều gì?

Khi được dùng trong Bí tích Thánh Thể, bánh và rượu tượng trưng cho những khía cạnh rất khác nhau trong cuộc sống, trong thế giới chúng ta và trong cuộc sống của Chúa Giêsu.

Bánh. Bánh là gì? Bánh tượng trưng điều gì với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể đầu tiên này? Bánh mì gồm nhiều hạt lúa mì và khi bị nghiền nát, chúng mất bản sắc riêng và trở thành một ổ bánh mì duy nhất. Trong Bí tích Thánh Thể, bánh mì tượng trưng cho chúng ta, nhiều cá nhân, và giờ đây tất cả chúng ta là một thân thể, Thân thể Chúa Kitô. Nhưng bánh mì cũng tượng trưng cho một khía cạnh cụ thể trong cuộc sống khi chúng ta vui vẻ, khỏe mạnh, sống trong cộng đồng, cùng nhau phát triển như những đứa con của Chúa. Mùi bánh mì tươi nói lên sự sống. Bánh mì trong Bí tích Thánh Thể cũng vậy. Bánh mì trở thành bánh mì của những thành tựu thế giới, được Chúa chúc phúc cho tất cả những gì là trẻ trung, khỏe mạnh, sáng tạo và tràn đầy sức sống.

Theo nghĩa bóng, bánh mì kỷ niệm thời Galilê của cuộc đời Chúa Giêsu và trong chính cuộc sống của chúng ta – thời kỳ của tuổi trẻ, của phép lạ, của việc đi trên mặt nước, làm cho người chết sống lại, của năng lượng cuộc sống vui tươi, của việc yêu đương và sự ra đời một cuộc sống mới.

Rượu. Tượng trưng cho điều gì của Chúa Giêsu và tượng trưng cho điều gì trong Bí tích Thánh Thể? Rượu được làm từ nho nghiền nát và tượng trưng cho máu. Và như máu của Chúa Kitô, rượu tượng trưng cho tất cả những gì tan vỡ, mong manh, không trọn vẹn, bệnh tật, đau khổ, chết chóc của thế giới. Đó là rượu của sự chết và sự bất lực của thế gian, máu của những gì bị nghiền nát khi thành tựu của thế gian diễn ra.

Theo nghĩa bóng, rượu tưởng nhớ thời kỳ Giêrusalem trong cuộc đời Chúa Giêsu, cũng như trong cuộc đời của chúng ta – thời kỳ của những hiểu lầm, thời kỳ nạn nhân, thời kỳ đau khổ về tinh thần, về thể xác, bị xa lánh, cô đơn khi chết, khi người khác không thể giúp chúng ta.

Và bánh và rượu tạo nên một tổng thể cân bằng cho cuộc sống trong mọi khía cạnh của nó. Trên thực tế, khi chủ tế dâng bánh và rượu, thì đây là những gì đang được nói: Lạy Chúa, những gì con dâng lên Chúa hôm nay là tất cả những gì có trên thế gian này, cả niềm vui và đau khổ – bánh của những thành tựu và máu của những gì bị nghiền nát khi những thành tựu này diễn ra. Con xin dâng cho Chúa mọi thứ lành mạnh và phát triển trong thế giới của chúng con – niềm vui bên bàn ăn, niềm vui của trẻ em, những giấc mơ đầy hy vọng của người trẻ, sự thỏa mãn khi được thành tựu, mọi thứ sáng tạo và tràn đầy sức sống, cả khi con dâng lên Chúa mọi yếu đuối, bị đè bẹp, già nua bệnh tật, hấp hối và là nạn nhân. Con dâng cho Chúa mọi vẻ đẹp trần thế, mọi niềm vui của cuộc sống này, cả những khi con đứng dưới chân thánh giá của Chúa, hiểu rằng người bị loại khỏi thú vui trần gian chính là hòn đá tảng của cộng đồng. Con dâng lên Chúa tất cả những mạnh mẽ, những yếu đuối, những nhẹ nhàng của trái tim, con xin Chúa chúc phúc cho cả những mạnh mẽ, những yếu đuối, của con, xin Chúa mở rộng trái tim con, để con được nắm giữ và chúc phúc mọi thứ như Chúa đã làm. Con xin dâng lên Chúa tất cả những điều kỳ diệu và nỗi đau của thế giới này, thế giới của Chúa.

Chúng ta có thể học được nhiều điều từ linh đạo này. Các linh đạo thường một chiều, chúng cần được cân bằng.

Một mặt, linh đạo có thể tập trung một chiều vào sự phát triển con người mà bỏ qua các bất cập: đau khổ, tội lỗi, cái chết, lời mời gọi vác thập giá theo Chúa Giêsu. Nó chỉ tôn vinh tuổi trẻ, sức khỏe, thịnh vượng và lòng tốt – trình bày một Chúa Giêsu ban cho chúng ta một Phúc âm Thịnh vượng thay vì một Phúc âm Toàn vẹn.

Ngược lại, nếu linh đạo tập trung quá một chiều vào sự bất cập của con người: tội lỗi, cái chết, chủ nghĩa khổ hạnh, từ bỏ lạc thú. Nó tôn vinh người già nhưng không tôn vinh người trẻ, người bệnh nhưng không tôn vinh người khỏe mạnh, người nghèo nhưng không tôn vinh người thịnh vượng, người hấp hối nhưng không tôn vinh người sống, tôn vinh thế giới bên kia nhưng không tôn vinh thế giới này. Điều này tước đi tính toàn vẹn của Phúc âm và trình bày Chúa Giêsu như nhà tu khổ hạnh không lành mạnh, cau mày với hạnh phúc tự nhiên của con người.

Bánh và rượu trong Bí tích Thánh Thể lên tiếng cho mọi khía cạnh của cuộc sống. Theo thần học gia Pierre Teilhard de Chardin, về bản chất, lời truyền phép trong Bí tích Thánh Thể nên đọc như thế này: “Trên mọi vật sống sắp nảy nở, phát triển, nở hoa, chín muồi trong ngày này, tôi lặp lại lời này: ‘Đây là mình Ta’. Và trên mọi thế lực tử thần đang chờ sẵn để ăn mòn, héo úa, chặt hạ, tôi lặp lại lời Chúa nói về mầu nhiệm tối cao của đức tin: ‘Đây là máu Ta.’”

Kinh Tin Kính phổ quát

Các tín điều làm nền tảng cho chúng ta. Trong một công thức ngắn gọn, các tín điều tóm tắt các nguyên lý chính của đức tin và giúp chúng ta ghi nhớ những chân lý đã giữ neo để chúng ta cắm vào.

Là tín hữu kitô, tôi cầu nguyện với hai Kinh Tin Kính, Kinh của các Tông đồ và Kinh Nicea. Nhưng tôi cũng cầu nguyện với một Kinh Tin Kính khác, giúp tôi có nền tảng trong một số chân lý sâu sắc không phải lúc nào cũng được công nhận trọn vẹn trong các Kinh Tin Kính của chúng ta. Đó là Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Thành Êphêsô, rất ngắn và chỉ đơn giản như sau: Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha của tất cả chúng ta.

Chỉ vài từ nhưng nói lên rất nhiều điều! Kinh này tuy của kitô giáo nhưng bao gồm tất cả các giáo phái khác, mọi tín ngưỡng và tất cả những người chân thành ở khắp nơi trên thế giới. Mọi người trên hành tinh này đều có thể cầu nguyện với Kinh này, vì cuối cùng chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa tạo dựng và yêu thương tất cả chúng ta.

Điều này có các hậu quả sâu rộng với cách chúng ta hiểu về Chúa, về các giáo phái kitô khác, các tín ngưỡng khác, về những người không tin nhưng chân thành và hiểu cả chính chúng ta. Dù giáo phái nào, đức tin nào hay không có đức tin thì cũng chỉ có một Chúa, một Chúa duy nhất, Đấng Tạo Dựng, là cha mẹ yêu thương của nhân loại. Và Chúa duy nhất này không thiên vị, không ghét ai, không ghét một giáo phái, một đức tin nào, không bao giờ xem thường lòng tốt, lòng chân thành của ai, dù người đó có tôn giáo hay không có tôn giáo.

Và đây là một số hậu quả: Đầu tiên, Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta, Chúa là Đấng của mọi điều tốt lành. Thêm nữa, là tín hữu kitô, chúng ta tin Chúa có một số thuộc tính siêu việt, duy nhất, chân thật, tốt lành và đẹp đẽ. Nếu điều đó đúng (nhưng làm sao lại không đúng?) thì mọi thứ chúng ta thấy trên thế giới này là toàn vẹn, chân thật, tốt lành, đẹp đẽ, cho dù nhãn hiệu bên ngoài của chúng là gì (công giáo la-mã, tin lành, do thái giáo, ấn độ giáo, phật giáo, hồi giáo, thời đại mới, tân ngoại giáo hay hoàn toàn thế tục), tất cả đều từ Chúa mà đến và phải được tôn vinh.

Nhà văn Mỹ John Muir (1838-1914) đã từng thách thức kitô giáo với câu hỏi: Vì sao tín hữu kitô lại ngần ngại không để các loài vật vào thiên đàng keo kiệt của họ? Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Êphêsô cũng đặt ra câu hỏi tương tự: Vì sao tín hữu kitô lại ngần ngại không để các giáo phái, các tín ngưỡng khác, những người chân thành nhân từ không có đức tin rõ ràng vào khái niệm keo kiệt của chúng ta có về Chúa, về đức tin và Giáo hội? Vì sao chúng ta lại sợ hiệp thông đức tin với các tín hữu thuộc các giáo phái khác? Vì sao chúng ta sợ sự hiệp thông đức tin với người do thái, người hồi giáo, ấn độ giáo, phật giáo và những người theo các phong trào New Age? Vì sao chúng ta sợ người ngoại giáo? Vì sao chúng ta sợ các bí tích tự nhiên?

Có thể có những lý do chính đáng. Đầu tiên, chúng ta cần bảo vệ chính xác những chân lý được thể hiện trong tín điều của chúng ta, chúng ta không muốn mình sa vào một loại pha trộn vô định hình, trong đó mọi thứ đều tương đối, mọi chân lý, mọi tôn giáo đều như nhau, yêu cầu duy nhất là chúng ta phải tử tế với nhau, dù trên thực tế, có một điều gì đó mang tính tôn giáo khi nói đến việc phải đối xử tốt với nhau, nhưng điều quan trọng hơn trong việc giữ nhau trong đức tin không có nghĩa mọi đức tin đều ngang nhau, giáo phái hay truyền thống đức tin cụ thể của một người nào đó là không quan trọng. Thay vào đó, xét cho cùng, điều quan trọng phải chấp nhận: tất cả chúng ta đều là một gia đình của một Chúa và chúng ta cần ở trong vòng tay nhau như anh chị em. Dù chúng ta khác biệt nhau, nhưng tất cả chúng ta đều có cùng một tín điều tận căn.

Ngoài ra, là người thiên chúa giáo, chúng ta tin Chúa Kitô là trung gian duy nhất giữa Chúa và chúng ta. Như Chúa Giêsu đã nói, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua tôi. Nếu điều này đúng, với tư cách là tín hữu thiên chúa giáo, chúng ta xem đây là tín điều, vậy với những người theo đạo hinđu, phật giáo, lão giáo, do thái giáo, hồi giáo, tin lành, New Age, tân ngoại giáo và những người không tin khác, họ sẽ nghĩ như thế nào? Làm sao họ có thể chia sẻ Nước Chúa với chúng ta, khi họ không tin vào Chúa Kitô?

Là người có đạo, chúng ta luôn có câu trả lời cho câu hỏi đó. Sách giáo lý công giáo thời trẻ của tôi nói về “rửa tội do lòng khao khát” như một cách để bước vào mầu nhiệm của Chúa Kitô. Thần học gia Karl Rahner nói các tín hữu chân thành là “những người ẩn danh theo đạo”. Frank de Graeve nói về một thực tế mà ông gọi “đạo Thiên chúa” như một mầu nhiệm rộng lớn hơn “đạo Thiên chúa lịch sử”; và thần học gia Pierre Teilhard de Chardin nói về Chúa Kitô như một cấu trúc nhân học và vũ trụ học cuối cùng trong chính quá trình tiến hóa. Tất cả những điều này đều nói lên mầu nhiệm Chúa Kitô không thể được xác định một cách đơn giản với các giáo hội kitô lịch sử. Mầu nhiệm của Chúa Kitô hoạt động thông qua các Giáo hội kitô lịch sử nhưng cũng hoạt động, và hoạt động rộng rãi, bên ngoài các Giáo hội của chúng ta và bên ngoài các khuôn khổ đức tin rõ ràng.

Chúa Kitô là Chúa và do đó Ngài được tìm thấy ở bất cứ đâu có bất kỳ ai trong sự hiện diện của hợp nhất, chân lý, lòng tốt và vẻ đẹp. Kenneth Cragg, sau nhiều năm làm nhà truyền giáo cho người Hồi giáo, đã gợi ý cần phải có tất cả các tôn giáo trên thế giới để thể hiện đầy đủ Chúa Kitô trọn vẹn.

Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa tội, một Thiên Chúa là Cha của tất cả chúng ta – và vì vậy chúng ta không nên ngần ngại để những người khác, những người không cùng loại với chúng ta bước vào thiên đàng keo kiệt của chúng ta.

Một thực tại căn tính kép trong nội tâm

Thần học gia Pierre Teilhard de Chardin đã có những lời này: “Bởi vì, lạy Chúa, dù tâm hồn con không sốt sắng, dù con không có sự chính trực cao cả của các thánh, nhưng con vẫn nhận lòng thương xót sâu xa của Chúa cho tất cả những gì khuấy động trong khối vật chất đen tối; vì con biết con không thể cứu vãn được, con là con của trời, của đất.”

Những lời này, giống những lời mở đầu quyển Tự Thú nổi tiếng của Thánh Augustinô, không chỉ nói lên nỗi căng thẳng suốt đời của ngài; nhưng đó còn là nền tảng cho toàn bộ cuộc sống thiêng liêng của chúng ta. Với tất cả những ai khỏe mạnh về mặt cảm xúc và trung thực, chúng ta luôn có căng thẳng suốt đời giữa những quyến rũ của thế giới và sự cuốn hút của Thiên Chúa. Trái đất, với vẻ đẹp, thú vui và tính vật chất của nó có thể làm chúng ta nghẹt thở, làm chúng ta nghĩ rằng thế giới này là tất cả những gì tồn tại và tất cả những gì cần phải có. Ai còn cần gì thêm? Cuộc sống trên trái đất chưa đủ sao? Ngoài ra, có bằng chứng nào cho bất kỳ thực tại và ý nghĩa nào ngoài cuộc sống chúng ta ở đây không?

Nhưng, dù chúng ta bị thế giới và những gì thế giới này thu hút một cách mạnh mẽ và đúng đắn, thì một phần khác trong lòng chúng ta, chúng ta thấy mình bị cuốn vào vòng tay, bị một thực tại khác khống chế, một thực tại thần thánh, dù còn mơ hồ nhưng không kém phần kiên định. Nó cho chúng ta biết, đó là điều có thật, rằng thực tại của nó cuối cùng cũng mang lại sự sống, rằng nó cần được tôn vinh và rằng nó không thể bị bỏ qua. Và, giống như thực tại của thế giới, nó tự thể hiện mình vừa là lời hứa vừa là mối đe dọa. Đôi khi chúng ta cảm nhận chúng ta như ở trong cái kén ấm áp, cảm thấy đây là nơi trú ẩn cuối cùng và sức mạnh của nó như một phán xét đe dọa cho sự hời hợt, tầm thường và tội lỗi của chúng ta. Đôi khi nó ban phước cho nỗi ám ảnh cuộc sống trần thế, với những thú vui trần thế, đôi khi nó làm chúng ta sợ hãi và tương đối hóa vừa thế giới vừa cuộc sống của chúng ta. Chúng ta có thể tự bảo vệ mình khỏi bằng cách bỏ qua hoặc phủ nhận; nhưng nó vẫn ở đó, luôn duy trì một căng thẳng mạnh mẽ bên trong chúng ta: chúng ta là những đứa con không thể cứu vãn của cả trời và đất; cả Chúa và thế gian đều muốn chúng ta chú ý.

Đó là cách thế giới phải như vậy. Chúa tạo ra chúng ta một cách cố định về mặt thể chất, xác thịt, chúng ta hướng về trái đất, và gần như mọi bản năng bên trong chúng ta đều hướng tới những thứ của trái đất này. Khi đó, chúng ta không nên mong chờ Chúa muốn chúng ta tránh xa trái đất này, phủ nhận vẻ đẹp đích thực của nó và cố gắng bước ra khỏi cơ thể, khỏi bản năng tự nhiên, khỏi thể chất của mình để chỉ hướng mắt vào những chuyện trên trời. Chúa không xây dựng thế giới này như một nơi thử thách, một nơi mà vâng lời và lòng đạo đức phải bị thử thách trước cám dỗ của thú vui trần gian, để xem chúng ta có xứng đáng lên thiên đàng hay không. Thế giới này là một bí ẩn riêng với ý nghĩa riêng của nó, một bí ẩn của Chúa ban. Thế giới này không chỉ đơn thuần là một sân khấu mà chúng ta, với tư cách là con người, đóng những vở kịch cứu rỗi cá nhân, rồi khép lại khi chúng ta rời đi. Nhưng thế giới này là nơi để tất cả chúng ta, con người, động vật, côn trùng, thực vật, nước, đá và đất cùng nhau tận hưởng trong một ngôi nhà.

Và đó là gốc rễ của một căng thẳng lớn bên trong chúng ta. Trừ khi chúng ta phủ nhận bản năng mạnh mẽ nhất của con người hoặc những cảm xúc tôn giáo mạnh mẽ nhất của mình, còn không, chúng ta sẽ thấy mình mãi mãi bị giằng xé giữa hai thế giới, với lòng trung thành dường như xung đột, bị kẹt giữa sự quyến rũ của thế giới này và sự quyến rũ của Chúa.

Tôi biết điều này đúng như thế nào với cuộc sống của chính tôi. Tôi sinh ra ở thế gian này với hai tình yêu không lay chuyển, cả cuộc đời và chức thánh của tôi bị giằng xé giữa hai tình yêu này. Tôi luôn yêu thế giới bên ngoài vì thế giới này tôn vinh cuộc sống và tôn vinh những điều kỳ diệu của cơ thể con người cũng như vẻ đẹp và sự khoái lạc mà năm giác quan mang lại cho chúng ta. Cùng với anh chị em lương dân của tôi, tôi cũng tôn vinh sự quyến rũ của tình dục, sự thoải mái của cộng đồng nhân loại, niềm vui của tinh thần hài hước và mỉa mai, những món quà hấp dẫn mà nghệ thuật và khoa học mang lại. Nhưng đồng thời, tôi luôn thấy mình ở trong một thực tế khác – thần thánh, đức tin, tôn giáo. Thực tế này luôn thu hút sự chú ý của tôi – và quan trọng hơn nữa, nó quyết định các lựa chọn quan trọng trong đời tôi.

Những lựa chọn chính trong cuộc sống đã là một căng thẳng lớn vì những lựa chọn này cố gắng trung thành với hai căn tính nguyên thủy trong tôi, người lương dân và người thiêng liêng. Tôi không thể phủ nhận thực tế, sự hấp dẫn và lòng tốt của cả hai. Chính vì lý do này mà tôi có thể sống như một người tận tụy, độc thân suốt đời, tận tụy với chức thánh, dù tôi yêu sâu sắc thế giới lương dân, ban phúc lành cho những thú vui của nó, ban phúc lành cho sự tốt lành của tình dục dù tôi đã từ bỏ nó. Đó cũng là lý do vì sao tôi liên tục xin lỗi Chúa cho những phản kháng của thế giới ngoại đạo. Tôi đã xé tan lòng trung thành.

Điều đó đúng như nó phải thế. Thế giới là để khiến chúng ta thổn thức đến nghẹt thở, cả khi chúng ta quỳ gối trước Đấng tạo ra hơi thở.

Tình yêu trưởng thành hay chỉ yêu cho có lệ?

Là linh mục của phái Luther, khi cử hành hôn lễ, linh mục Dietrich Bonhoeffer thường khuyên: “Hôm nay các con yêu nhau và tin rằng tình yêu sẽ giữ gìn hôn nhân của các con, nhưng không thể. Các con hãy để hôn nhân gìn giữ tình yêu của các con.”

Đó là lời khuyên khôn ngoan, nhưng chính xác ý nghĩa của lời khuyên này là gì? Vì sao tình yêu không thể giữ gìn hôn nhân?

Điều Linh mục nêu bật ở đây là chúng ta ngây thơ khi nghĩ cảm xúc sẽ giữ chúng ta trong tình yêu, trong dấn thân lâu dài. Tình yêu không thể và không làm vậy. Nhưng nghi thức thì có thể. Bằng cách nào? Bằng cách tạo một nghi thức có thể giữ chúng ta vững vàng bên trong con tàu lượn sóng của những cảm xúc và tình cảm giữ chúng ta trong mối quan hệ lâu dài.

Nói đơn giản, chúng ta sẽ không bao giờ giữ mối quan hệ lâu dài với người khác, với Thiên Chúa, với việc cầu nguyện, hay việc phục vụ quên mình, nếu chỉ dựa trên tình cảm tốt đẹp và cảm xúc tích cực. Ở đời, tình cảm và cảm xúc của chúng ta thường cứ đến rồi đi tùy ý và không nhất quán.

Chúng ta đã biết, cảm xúc của chúng ta thiếu nhất quán. Hôm nay chúng ta thấy mình yêu người này, ngày mai chúng ta bực tức họ. Cầu nguyện cũng thế. Hôm nay chúng ta chú tâm, sốt sắng, ngày mai chúng ta chán nản phân tâm.

Vì thế, theo Linh mục Bonhoeffer chúng ta cần nghi thức để giữ mình trong tình yêu và trong cầu nguyện, vì những việc chúng ta làm theo nghi thức giữ chúng ta vững vàng và cam kết bên trong làn sóng của cảm xúc và tình cảm.

Chẳng hạn, một cặp vợ chồng yêu nhau, hứa yêu nhau và ở bên nhau suốt đời, xét tận cùng thì họ hoàn toàn có chủ ý làm vậy. Họ tôn trọng nhau, đối xử tốt với nhau, sẵn sàng chết vì nhau. Tuy nhiên, cảm xúc của họ không phải lúc nào cũng vậy. Có ngày tình cảm của họ dường như ngược với tình yêu, họ bực bội, họ giận nhau. Nhưng hành động của họ nói lên tình yêu và cam kết, chứ không nói lên cảm xúc tiêu cực của họ. Buổi sáng trước khi đi làm, họ hôn nhau và nói “anh yêu em”, “em yêu anh” như một nghi thức. Vậy họ đang nói dối? Họ chỉ làm cho có lệ? Hay đó là tình yêu thực sự?

Tình yêu và cam kết trong gia đình cũng vậy. Chúng ta hình dung người cha và người mẹ với những đứa con tuổi teen, một cậu bé 16, một cô bé 14 tuổi. Họ có luật là mỗi tối, họ sẽ ăn tối với nhau trong khoảng 40 phút, không đụng đến điện thoại thông minh. Nhiều bữa tối, cậu con trai, cô con gái, hay người cha, người mẹ đến bàn ăn (không cầm điện thoại) như thể chỉ vì bổn phận, cảm thấy chán, họ chán ghét thì giờ ở bên nhau này, họ chỉ muốn ở một nơi nào khác. Nhưng họ ngồi với nhau vì họ đã biến thì giờ này thành một cam kết. Họ chỉ đang làm cho có lệ hay họ đang thể hiện một tình yêu thực sự?

Nếu Linh mục Bonhoeffer đúng và tôi cho là đúng, thì họ không chỉ làm cho có lệ, họ đang nói lên một tình yêu trưởng thành. Khi có cảm xúc thúc đẩy và giữ chúng ta thì việc biểu lộ tình yêu này thành dễ dàng. Nhưng về lâu về dài cảm xúc tốt đẹp sẽ không gìn giữ tình yêu và cam kết của chúng ta. Chỉ có sự trung tín với cam kết và những hành động mang tính nghi thức làm nền cho cam kết đó mới giữ chúng ta khỏi bỏ đi khi cảm xúc đã cạn.

Trong văn hóa thời nay, ở hầu hết mọi tầng mức, chúng ta không hiểu điều này. Từ những người chìm đắm trong một văn hóa nghiện cảm xúc, đến con số đông đảo các nhà trị liệu tâm lý, các nhà mục vụ tôn giáo, những người cầm trịch cầu nguyện, linh hướng, và “những người bạn của ông Gióp”, chúng ta thường nghe: Nếu chúng ta không cảm nhận được, thì nó không có thật, chúng ta chỉ làm cho có lệ thôi! Chỉ là nghi thức sáo rỗng nà thôi!

Thật vậy, nó có thể là nghi thức sáo rỗng. Như Kinh Thánh đã nói, chúng ta tôn vinh trên môi miệng nhưng lòng thì cách xa.

Tuy nhiên, thường thì đó là cách thể hiện một tình yêu trưởng thành, một tình yêu không còn cháy bằng tư lợi hay cảm xúc. Bây giờ nó là tình yêu đủ khôn ngoan và trưởng thành cho hoàn cảnh con người vốn đầy khiếm khuyết và phức tạp và cho mọi chuyện vốn đầy màu sắc và phức tạp – bao gồm cả người chúng ta yêu, cả chính chúng ta và thực tế tình yêu của con người.

Quyển sách chúng ta cần cho tình yêu, không phải là quyển sách của những người đang yêu nhau say đắm trong tuần trăng mật viết, cũng như quyển sách chúng ta cần cho việc cầu nguyện không phải là quyển sách của một tân tòng nhiệt huyết ở giai đoạn ban đầu viết, lại càng không phải của hầu hết những người cầm trịch cầu nguyện viết.

Quyển sách chúng ta cần cho tình yêu là quyển sách của các cặp vợ chồng đã qua nghi thức nhưng còn giữ sự cam kết qua bao thăng trầm của năm tháng viết. Cũng vậy với quyển sách cầu nguyện, quyển sách này cần một người đã giữ một đời cầu nguyện, đi nhà thờ qua nhiều mùa lễ và ngày chúa nhật, dù đôi khi họ chẳng muốn cầu nguyện hay đi nhà thờ chút nào.

Người tị nạn, nhập cư và Chúa Giêsu

Ngày nay, ở biên giới các nước trên biên giới có rất nhiều người tị nạn, có nơi có cả hàng triệu người. Họ dễ dàng bị cho là quỷ hóa, là tai ương, là mối đe họa, là kẻ xâm lấn, là tội phạm trốn tránh công lý ở quê nhà. Nhưng hầu hết họ là những người tử tế và lương thiện đang chạy trốn nghèo đói và bạo lực. Và những lý do làm cho họ phải rời quê nhà cho biết họ không phải là tội phạm.

Bất chấp sự thật hầu hết họ là người tốt, gần như ở khắp mọi nơi, họ vẫn bị cho là những người tạo vấn đề. Chúng ta không được cho họ vào! Họ là mối đe dọa! Và các chính trị gia thường dùng từ “xâm lấn” để nói đến sự hiện diện của họ ở biên giới.

Còn chúng ta nói được gì về điều này? Chúng ta cứ để ai vào cũng được sao? Chúng ta sáng suốt chọn lọc, cho một số vào, một số khác chặn lại? Chúng ta xây tường và dây thép gai để chặn đường? Chúng ta phải phản ứng như thế nào?

Những câu hỏi này cần được xem xét từ hai khía cạnh: thực tế và Kinh Thánh.

Thực tế, đây là một vấn đề rất lớn. Chúng ta không thể đơn giản mở hết biên giới và để hàng triệu người tràn vào. Làm vậy là phi thực tế. Nhưng mặt khác, chúng ta không thể biện hộ cho sự chần chừ đón nhận người tị nạn bằng cách viện dẫn Kinh Thánh, Chúa Giêsu, hay lý luận ngây thơ cho rằng nước “chúng ta” là của chúng ta và chúng ta có quyền ở đây còn người khác thì không, trừ phi chúng ta cho phép họ vào. Tại sao không?

Với người tín hữu kitô, có vô số nguyên tắc Kinh Thánh miễn tranh luận.

Trước hết, Thiên Chúa tạo nên thế giới cho tất cả mọi người. Chúng ta là quản gia chứ không phải là chủ. Chúng ta không sở hữu gì, tất cả là của Thiên Chúa và Thiên Chúa đã tạo nên thế giới cho tất cả mọi người. Đây là nguyên tắc chúng ta dễ làm ngơ khi nói đến vấn đề ngăn người khác vào nước “của mình”. Nhưng chúng ta chỉ là người quản gia ở đây, ở một đất nước thuộc về toàn thể thế giới mà thôi.

Thứ hai, trong Kinh Thánh, cả Cựu Ước và Tân Ước có vô số điểm nói rõ ràng và mạnh mẽ về thách thức đón nhận người lạ và người nhập cư. Điều này ở khắp nơi trong thánh thư Do Thái và là hình ảnh rất mạnh trong tâm điểm thông điệp của Chúa Giêsu. Quả thật, Chúa Giêsu mở đầu con đường mục vụ của Ngài bằng việc thông báo Ngài đến để mang Tin Mừng cho người nghèo. Vì vậy, bất kỳ việc giảng dạy, rao giảng, mục vụ, chính sách chính trị hay hành động nào không phải là Tin Mừng cho người nghèo, thì không phải là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô, dù chúng ta có thiết thực về mặt chính trị hay về mặt Giáo hội gì đi chăng nữa. Và nếu đó không phải là Tin Mừng cho người nghèo, thì các chính sách này đừng khoác lên mình lớp áo Phúc âm hay Chúa Giêsu. Do đó, bất kỳ quyết định nào chúng ta đưa ra với người tị nạn và người nhập cư, không được đối nghịch với sự thật rằng Phúc âm đã đem Tin Mừng đến cho người nghèo.

Hơn nữa, Chúa Giêsu quá rõ ràng khi đồng nhất người nghèo với chính Ngài (Ai trong các con làm việc này cho người nhỏ bé nhất, là đang làm cho Ta) và cho chúng ta biết, đến cuối cùng, chúng ta sẽ bị phán xét bằng cách chúng ta đối xử với người nhập cư và tị nạn (Hãy đi khuất mắt Ta, vì khi Ta là người lạ, ngươi đã không đón tiếp.) Trong kinh thánh có một vài đoạn văn thẳng thừng và đầy thách thức như vậy (Mt 25: 35-40).

Cuối cùng, chúng ta còn bị thách thức trong Cựu Ước. Thiên Chúa thách chúng ta đón nhận người nước ngoài (người nhập cư), chia sẻ tình yêu, đồ ăn, áo mặc với họ, vì chính chúng ta đã một thời là người nhập cư (Đệ nhị luật 10: 18-19). Đây không chỉ là câu châm ngôn Kinh Thánh mơ hồ, nhất là với những người sống ở Bắc Mỹ. Trừ các quốc gia Da Đỏ bản địa (mà chúng ta đã dùng vũ lực đuổi đi), thì hết thảy chúng ta đều là người nhập cư và đức tin thách thức chúng ta đừng bao giờ quên điều này, ít nhất là khi đối xử với người đói đang chờ bên đường biên giới. Dĩ nhiên, những ai đã ở đây hàng thế hệ, có thể lập luận chúng tôi ở đây đã lâu và bây giờ chúng tôi không là người nhập cư nữa. Nhưng có lẽ còn có một lập luận thuyết phục hơn, đó là việc đóng cửa biên giới sau khi bản thân mình được vào là một hành động ích kỷ.

Đây là những thách thức của Kinh Thánh. Tuy nhiên, sau khi đã công nhận những thách thức này, chúng ta vẫn còn một câu hỏi thực tế: xét một cách thực tế, chúng ta (và nhiều nước trên khắp thế giới) nên làm gì với hàng triệu người, đàn ông, phụ nữ trẻ con đang tìm đến biên giới của chúng ta? Làm sao chúng ta tôn vinh sự thật rằng mảnh đất chúng ta sống thuộc về tất cả mọi người? Làm sao chúng ta tôn vinh sự thật rằng, là tín hữu kitô, chúng ta phải nghĩ về người nghèo trước hết? Làm sao chúng ta đối diện với Chúa Giêsu trong ngày phán xét khi Ngài hỏi vì sao chúng ta không tiếp đón Ngài lúc Ngài ở trong hình hài người tị nạn? Và làm sao chúng ta tôn vinh sự thật rằng hầu hết chúng ta đều là người nhập cư, sống ở một đất nước mà chúng ta đã dùng vũ lực đoạt lấy của người khác?

Không có câu trả lời dễ dàng nào cho những câu hỏi này, cho dù đến tận cùng, chúng ta vẫn cần đưa ra một vài quyết định chính trị thực tế. Tuy nhiên, khi áp dụng chủ nghĩa thực dụng để xử lý chuyện này, chúng ta đừng bao giờ lẫn lộn về chuyện Chúa Giêsu và Kinh Thánh đứng về phía ai.

Bản giao hưởng dang dở

Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học để biết trong đời này, tất cả mọi bản giao hưởng đều phải dang dở.

Đây là lời của linh mục thần học gia Đức Karl Rahner, và nếu không hiểu ý nghĩa của câu này thì chúng ta có nguy cơ để tình trạng khắc khoải thành khối u trong đời mình. Bị dằn vặt bởi sự thiếu hụt mọi thứ mang ý nghĩa gì? Chúng ta bị hành hạ bởi thứ mình không có được theo kiểu gì?

Đây là chuyện chúng ta trải nghiệm hằng ngày. Thực ra, trong cả cuộc đời, trừ một số ít thời điểm đặc ân và yên bình, sự dằn vặt là cơn sóng ngầm trong tất cả mọi chuyện chúng ta trải nghiệm. Lý ra vẻ đẹp làm chúng ta bình yên thì nó lại làm chúng ta khắc khoải. Tình yêu với người bạn đời không đáp ứng đủ khao khát của chúng ta. Những mối quan hệ của chúng ta trong gia đình dường như quá nhỏ hẹp để chúng ta có thể thấy đủ. Công việc của chúng ta chẳng cân xứng với ước mơ chúng ta có về mình. Nơi chúng ta sống dường như buồn tẻ so với những nơi khác. Chúng ta quá bồn chồn nên chẳng thể ngồi yên trên bàn, chẳng thể ngủ yên trên giường, người cứ bồn chồn lo lắng.

Khi chúng ta có cảm nhận này, chúng ta sẽ luôn thấy đời mình dường như quá bé nhỏ và chúng ta không sống đời mình theo cách chúng ta mong chờ, mong chờ ai đó hay điều gì đó xuất hiện và thay đổi để cuộc đời chúng ta tưởng tượng sẽ bắt đầu.

Tôi nhớ có người kể cho tôi nghe câu chuyện. Anh 45 tuổi, hôn nhân tốt đẹp, có ba đứa con khỏe mạnh, có công việc ổn định nhưng tẻ nhạt, sống ở khu phố bình yên nhưng cũng tẻ nhạt. Nhưng anh chưa bao giờ đặt trọn bản thân vào cuộc sống. Anh thú nhận:

“Phần lớn đời tôi, nhất là trong 20 năm qua, tôi quá khắc khoải muốn thực sự sống đời mình. Tôi chưa thực sự đón nhận con người tôi – một người 45 tuổi, làm việc ở cửa hàng tạp hóa trong một thị trấn nhỏ, lập gia đình với một phụ nữ tốt lành, biết cuộc hôn nhân này sẽ không bao giờ thỏa mãn khao khát tình dục thâm sâu của mình, và biết cho dù có mơ mộng thế nào thì cũng sẽ không đi đến đâu, sẽ không bao giờ có được những ước mơ, sẽ chỉ ở đây, như lúc này, trong một thị trấn nhỏ, trong cuộc hôn nhân này, với những con người này và trong cơ thể này đến hết cuộc đời. Tôi sẽ chỉ già hơn, hói hơn, cơ thể sẽ bớt khỏe mạnh, bớt hấp dẫn hơn. Nhưng trong mọi chuyện, xét từ mọi góc độ, điều đáng buồn là cuộc đời tôi vốn tốt. Tôi thực sự rất may mắn. Tôi khỏe mạnh, được yêu thương, có đời sống gia đình tốt, sống ở một đất nước yên bình và sung túc. Nhưng lòng tôi lại quá khắc khoải đến nổi tôi chẳng bao giờ cảm kích được đời mình, vợ mình, con mình, công việc của mình và nơi mình sống. Tôi luôn mãi ở một nơi khác bên trong con người tôi, quá khắc khoải để thực sự hiện diện nơi tôi đang hiện diện, quá khắc khoải để sống trong nhà mình, quá khắc khoải để thoải mái với chính mình”.

Sự dằn vặt do thiếu mọi thứ có thể có trong đời là vậy. Nhưng nhận thức thấu suốt của Rahner không chỉ là một chẩn đoán mà còn là đơn thuốc cho căn bệnh này. Nó cho chúng ta biết để vượt lên những dằn vặt này, vượt lên khối u của khắc khoải này. Làm sao làm được?

Chính xác bằng cách hiểu và chấp nhận ở đời, mọi hòa âm đều dang dở. Khi hiểu và chấp nhận lý do làm chúng ta dằn vặt không phải do chúng ta là những người thèm khát tình dục quá độ, loạn thần và vô ơn, quá tham lam để không thỏa mãn với cuộc đời này. Không phải vậy. Lý do sâu xa là vì chúng ta bẩm tại được tạo dựng, được truyền năng lượng vượt quá thế giới này. Chúng ta được Thiên Chúa tạo dựng như thế. Chúng ta là những linh hồn vô hạn sống trong một thế giới hữu hạn, những tâm hồn được tạo nên để hợp nhất với mọi vật và mọi người nhưng chỉ được gặp phàm nhân và phàm vật. Chẳng trách chúng ta có vấn đề với sự bất đạt, mộng tưởng, cô đơn và khắc khoải! Chúng ta là những vực sâu không đáy. Khi chưa thể hợp nhất với tất cả, thì chẳng có gì lấp đầy hố thẳm đó được.

Bị dằn vặt vì khắc khoải mới là con người. Hơn nữa, khi chấp nhận chúng ta là con người và do đó không thể có hòa âm trọn vẹn ở đời này, chúng ta thanh thản hơn trong khắc khoải của mình. Tại sao? Vì bây giờ chúng ta biết mọi thứ đến với chúng ta là cơn sóng ngầm của khắc khoải, của bất đạt, và đó là chuyện bình thường và đúng đắn cho tất cả mọi người.

Như linh mục Henri Nouwen đã viết: “Ở đây, trong đời này, không có thứ gì gọi là niềm vui thuần túy và rõ ràng. Đúng hơn, trong mọi thỏa mãn, đều có ý thức về giới hạn. Phía sau nụ cười là giọt nước mắt. Trong mọi vòng tay ôm, vẫn có cô đơn. Trong mọi tình bạn, vẫn có ngăn cách”.

Bình an và nghỉ ngơi chỉ có thể đến với chúng ta khi chúng ta chấp nhận giới hạn đó trong thân phận con người, vì chỉ khi đó chúng ta mới thôi đòi hỏi rằng cuộc đời – hay cụ thể là người bạn đời, gia đình, bạn bè, công việc, thiên hướng và kỳ nghỉ của chúng ta – cho chúng ta một điều mà nó vốn không thể cho được, cụ thể là một niềm vui thuần túy rõ ràng và sự viên mãn tròn đầy.

Khi nào sợ hãi là lành mạnh?

Tại sao chúng ta không giảng về lửa hỏa ngục nữa? Đây là câu hỏi được nhiều giáo dân chân thành đặt ra, họ lo lắng khi thấy quá nhiều linh mục, thừa tác viên đã nhân nhượng với tội lỗi và quảng đại quá mức khi nói về lòng thương xót của Thiên Chúa. Họ nghĩ nếu chúng ta giảng nhiều hơn về sự thật khó nuốt là tội trọng, là cơn thịnh nộ của Thiên Chúa và nguy cơ vào hỏa ngục, thì sẽ có thêm nhiều người đến nhà thờ và giữ các điều răn. Họ khẳng định “Sự thật sẽ giải phóng” và sự thật ở đây là: tội lỗi có thật, hậu quả cho tội lỗi cũng có thật và mang tính đời đời. Cổng thiên đàng thì hẹp, đường vào hỏa ngục thì rộng. Vậy tại sao chúng ta không giảng nhiều hơn về nguy cơ của lửa hỏa ngục?

Kiểu lý luận này có lý ở chỗ: giảng về tội trọng và lửa hỏa ngục có thể hiệu quả. Đe dọa thì hiệu quả. Tôi biết vậy. Hồi nhỏ, tôi được học như vậy và đã ảnh hưởng đến hành vi của tôi. Nhưng ảnh hưởng này có tốt có xấu. Một mặt, nó làm cho tôi đủ sợ hãi trước Thiên Chúa và cuộc đời, để luôn mãi sợ mình sẽ đi lạc quá xa về mặt luân lý và tôn giáo. Mặt khác, nó làm tôi bị khuyết tật về tôn giáo và cảm xúc theo cách sâu sắc. Đơn giản là rất khó để thân mật với một Thiên Chúa làm mình sợ, và quá e dè sợ hãi trước những sinh lực thần thiêng của cuộc sống thì không tốt về mặt tôn giáo hay những mặt khác. Phải thừa nhận, sợ thánh thiêng trừng phạt, sợ lửa hỏa ngục có thể có hiệu quả khi nó đóng vai trò làm yếu tố thúc đẩy.

Vậy tại sao lại không giảng về nó? Bởi vì nó sai, đơn thuần và đơn giản là vậy. Tẩy não và đe dọa về thể xác cũng hiệu quả, nhưng chúng là phản đề của tình yêu. Chúng ta đâu bước vào mối quan hệ yêu thương vì cảm thấy sợ hãi hay bị đe dọa. Chúng ta bước vào quan hệ yêu thương vì cảm thấy mình được tình yêu cuốn hút vào đó.

Quan trọng hơn nữa, giảng về sự đe dọa thánh thiêng là làm ô danh Thiên Chúa mà chúng ta tin. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu hiện thân và mạc khải không phải là Thiên Chúa dựa trên một vài sa ngã về nhân bản hoặc luân lý bị phân loại tôn giáo cho là tội trọng để đẩy những người thiện tâm thành tâm vào hỏa ngục dù họ không muốn. Tôi vẫn nghe lời đe dọa này được giảng ở các nhà thờ: bỏ lễ ngày chúa nhật là tội trọng, chưa xưng tội mà chết thì sẽ vào hỏa ngục.

Thiên Chúa nào là bênh vực cho một đức tin như thế? Thiên Chúa nào lại không cho những người thành tâm một cơ hội thứ hai, thứ ba, và thậm chí là thứ bảy mươi lần bảy, nếu họ vẫn tiếp tục thành tâm? Chúa nào sẽ nói với một người biết ăn năn trong hỏa ngục: “Xin lỗi, nhưng con biết luật rồi mà! Bây giờ con ăn năn thì đã quá muộn. Con đã có cơ hội rồi mà!”

Một thần học lành mạnh về Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải thôi giảng hỏa ngục có thể là bất ngờ không tốt đang chờ những người tốt lành. Thiên Chúa mà chúng ta tin là Đấng thông hiểu vô hạn, cảm thương vô hạn, và tha thứ vô hạn. Tình yêu của Thiên Chúa vượt quá tình yêu của chúng ta, và nếu chúng ta trong những phút minh trí hơn, có thể thấy được thiện tâm thay vì thấy những lỗi lầm và yếu đuối nơi lòng người, thì Thiên Chúa còn thấy hơn thế biết bao nhiêu. Chúng ta chẳng có gì để sợ Chúa.

Hay là có? Có phải Kinh Thánh nói kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan đó sao? Sao câu này lại không là câu giống câu kính sợ Thiên Chúa?

Sợ có nhiều dạng, lành mạnh và không lành mạnh. Khi Kinh Thánh nói rằng kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan, thì dạng sợ này không phải là do cảm thấy mình bị đe dọa hay hay lo âu về chuyện bị trừng phạt. Đó là dạng sợ khi chúng ta đứng trước bạo chúa và kẻ bắt nạt. Tuy nhiên, có một dạng sợ lành mạnh bẩm tại trong những xung năng của tình yêu. Dạng sợ này về căn bản là một tôn kính đúng đắn, nghĩa là, khi chúng ta thực sự yêu ai thì chúng ta sẽ sợ mình phản bội tình yêu này, sợ mình ích kỷ, sợ mình thô tục, sợ mình thiếu tôn trọng mối quan hệ đó. Chúng ta sẽ sợ mình vi phạm không gian thiêng liêng của sự thân mật này. Một cách ẩn dụ, chúng ta sẽ cảm thấy mình đang đứng trên đất thánh và tốt nhất nên tháo giày trước khi đến trước ngọn lửa thiêng.

Hơn nữa, Kinh Thánh còn nói khi Thiên Chúa xuất hiện trong đời chúng ta, thì gần như mọi lúc, lời đầu tiên chúng ta nghe Chúa nói là: “Con đừng sợ!” Vì Thiên Chúa không phải là bạo chúa phán xét nhưng là một sinh lực và bản thể đầy yêu thương, sáng tạo và niềm vui. Như nhà khảo luận Leon Bloy nhắc nhở chúng ta, niềm vui là dấu hiệu không thể sai lầm nhất về sự hiện diện của Thiên Chúa.

Nhà tâm thần học nổi tiếng, Fritz Perls, đã từng được một người theo chủ nghĩa chính thống trẻ tuổi hỏi: “Ông đã được cứu rỗi chưa?” Ông trả lời: “Được cứu rỗi ư? Tôi vẫn đang cố gắng tìm cách để được cứu rỗi!” Chúng ta tôn vinh Chúa không phải bằng cách sống trong sợ hãi để không xúc phạm đến Ngài, mà bằng cách cung kính dùng năng lượng tuyệt vời Chúa ban cho chúng ta. Chúa không phải là một luật lệ để tuân theo, mà là một năng lượng vui tươi để chúng ta dùng một cách phong phú.

Giàu có, nhưng tất bật

Vài năm trước, tôi đi cùng một linh mục đến thăm một người bạn chung của chúng tôi. Bạn tôi là một thương gia thành công, sống ở tầng trên cùng một căn hộ rất đắt tiền nhìn xuống thung lũng dòng sông ở thành phố Edmonton, Canada. Ông đưa chúng tôi ra ban công ngắm nhìn thành phố. Thật tuyệt đẹp. Từ ban công, tầm nhìn có thể nhìn xa hàng dặm, bao quát toàn bộ thung lũng dòng sông và hầu hết thành phố.

Chúng tôi nói với ông, chúng tôi rất kinh ngạc. Ông cám ơn lời khen của chúng tôi, ông tiếc là hiếm khi ông ra ban công để ngồi uống trà ngắm cảnh. Tôi xin trích vài lời của ông: “Cha biết đấy, tôi nên đưa một gia đình nghèo nào đó đến đây để xem. Tôi sống trong căn hầm cũng được, vì tôi chẳng bao giờ có thì giờ để tận hưởng cảnh này. Tôi chẳng nhớ lần cuối tôi đã ra đây để ngắm hoàng hôn hay bình minh là lúc nào. Tôi luôn quá bận rộn, quá áp lực, luôn bận tâm. Tôi ở chỗ này phí quá. Tôi chỉ ra đây khi nào có khách và mời họ nhìn quang cảnh này.”

Chúa Giêsu đã nói một điều có thể diễn giải như sau: Lợi ích gì khi được cả thế gian nhưng luôn quá tất bật, quá áp lực để hưởng nó.

Khi Chúa Giêsu nói về việc được cả thế gian mà mất linh hồn, Ngài không hoàn toàn nói về việc sống vô luân, chết trong tội lỗi và xuống hỏa ngục. Thông điệp của Ngài là lời cảnh báo triệt để hơn. Chúng ta có thể đánh mất linh hồn theo nhiều cách, kể cả khi chúng ta tốt lành, tận tụy, và đạo đức. Người trong câu chuyện tôi vừa kể thật ra là người tử tế, đạo đức, tận tụy và tốt lành. Nhưng ông, như chính ông thừa nhận, ông chật vật đấu tranh để là người sống trọn linh hồn, để cuộc đời được phong phú hơn, vì khi chúng ta sống liên tục dưới áp lực, bị thúc ép phải tất bật không ngừng nghỉ, thì không dễ để mỗi sáng thức dậy có thể nói: “Đây là ngày Chúa dựng nên, tôi mừng vui và hân hoan sống ngày này”. Khả năng nhiều hơn chúng ta sẽ nói: “Lạy Chúa, cho con sống qua ngày hôm nay!”

Cũng vậy, khi Chúa Giêsu nói “thật khó để vào Nước Trời” Ngài không chỉ nói đến những người giàu vật chất, tiền bạc và ảnh hưởng, dù chắc chắn Ngài cảnh báo như vậy. Vấn đề Chúa muốn nói đến, đó là một cuộc đời luôn bận rộn, một lịch trình kín mít, một công việc hoặc một đam mê làm chúng ta hết năng lực đến nỗi hiếm khi chúng ta có thì giờ (hoặc nghĩ đến dành thì giờ) để ngắm nét đẹp hoàng hôn, hay vui vì chúng ta khỏe mạnh, có một lịch trình phong phú.

Thú thật, đây cũng là một trong những đấu tranh của tôi. Trong những năm làm mục vụ, tôi được phúc có một lịch trình phong phú, công việc quan trọng, công việc tôi yêu thích. Nhưng tôi cần thành thật thú nhận trong những năm đó, tôi đã quá hối hả, quá áp lực để không thể ngắm hoàng hôn (trừ khi như bạn tôi, mời một khách nào đó ngắm hoàng hôn.)

Tôi cố thoát khỏi chuyện này bằng cách ép mình vào tĩnh nguyện, đi bộ, tĩnh tâm đều đặn vài tuần nghỉ hè hàng năm. Chắc chắn những chuyện này giúp được phần nào, nhưng gần như mọi lúc tôi ở trạng thái nghiện, áp lực, vội vã, khao khát một không gian để tĩnh lặng, để cầu nguyện, để ngắm hoàng hôn, đi dạo công viên, uống ly rượu vang hoặc trầm ngâm bên điếu xì gà. Và tôi nhận ra một nghịch lý mỉa mai: tôi vội vã và vắt kiệt mình để dành ra một chút thì giờ thư giãn!

Tôi không phải là Thomas Merton, nhưng tôi cảm thấy tôi được an ủi với chuyện ngài là ẩn tu nhưng lại quá bận rộn và áp lực khi đi tìm cô tịch. Để tìm cô tịch, ngài dành vài năm cuối đời ở một nơi ẩn tu, tránh tu viện chính, trừ những lúc dự thánh lễ và đọc kinh phụng vụ mỗi ngày. Rồi, khi tìm được cô tịch, ngài ngạc nhiên khi thấy nó khác với điều ngài đã hình dung. Ngài viết trong nhật ký:

Hôm nay, tôi cô tịch vì khoảnh khắc này “là đủ, trong đời sống của một người bình thường, có đói, có ngủ, có nóng, có lạnh, có thức dậy, có đi ngủ. Đắp chăn rồi bỏ chăn, pha cà phê rồi uống. Rã đông đồ trong tủ lạnh, đọc, chiêm niệm, làm việc, cầu nguyện. Tôi sống như các tổ tiên của tôi đã sống trên trái đất, cho đến khi chết. Amen. Không cần phải tuyên bố gì về đời tôi, nhất là về chuyện nó là của tôi… Tôi phải học cách sống sao cho quên đi chương trình và cách thức”.

Và để ngắm hoàng hôn từ ban công!

Khi chúng ta giàu có, bận rộn, áp lực và đầy mối bận tâm, thì thật khó để uống ly cà phê mình pha.

Di sản của chúng ta: sinh lực chúng ta để lại

Vài năm trước, vào thời điểm báo chí nước Mỹ quá tập trung vào một vụ quấy rối tình dục lớn, tôi hỏi ba nữ đồng nghiệp: “Điều gì gây ra quấy rối tình dục? Ranh giới nào không được vượt qua? Cái gì là hành vi vô tội và cái gì là quấy rối?” Họ trả lời: “Đây không phải là vấn đề về ranh giới rõ ràng, một bình luận hoặc một hành vi quá trớn nào đó. Đúng hơn, chúng ta biết điều gì là vô tội và điều gì là không. Chúng ta thấy sinh lực ẩn dưới hành vi đó. Chúng ta biết khi nào là quấy rối và khi nào là không.”

Tôi chắc chắn điều này đúng trong hầu hết trường hợp. Tất cả chúng ta đều có rađa nội tâm rất nhạy bén. Chúng ta cảm nhận một cách tự nhiên và nắm bắt được sinh lực đang tồn tại – dù căng thẳng, an tâm, ghen tị, chấp thuận, ngây thơ, hay hung hăng. Chúng ta thấy được điều này ở những em bé còn nhỏ, cả những em bé mới lên hai, chúng có thể cảm nhận được sự căng thẳng đang có trong người.

Thánh Gioan Thánh Giá thần nghiệm đã viết về khái niệm này trong phân định linh hướng. Ngài nêu lên, làm sao để phân định mình đang ở trong đêm tối tâm hồn thật sự (một điều lành mạnh) hay đang buồn nản vì trầm cảm hoặc vì có hành vi vô đạo đức. Ngài đưa ra một vài tiêu chuẩn để phân định, nhưng cuối cùng, tất cả đều quy về cách chúng ta nắm bắt được sinh lực người đó đang tỏa ra. Họ đem lại oxy cho căn phòng hay họ đang hút oxy? Khi nghe họ, bạn có thấy mình bị nản lòng không? Nếu có, thì lời nói của họ không mang tính thiêng liêng, không lành mạnh. Những người thật sự ở trong đêm tối tâm hồn, thì dù có đấu tranh nội tâm, họ vẫn đem lại sinh lực tích cực và làm cho bạn thêm hứng khởi thay vì nản lòng.

Mục đích của tôi khi chia sẻ vấn đề này không phải để chúng ta phê phán hay phán xét người khác nhưng để biết nắm bắt sinh lực họ tỏa ra (dù trong vô thức, chúng ta đã làm rồi). Điều tôi muốn nêu bật: đây là thách thức mỗi chúng ta phải chủ tâm kiểm điểm xem mình mang lại sinh lực gì và để lại gì.

Mỗi người chúng ta cần can đảm tự hỏi: Tôi đem lại sinh lực gì? Tôi đem lại sinh lực nào cho bữa ăn gia đình? Cho buổi họp cộng đoàn? Cho những người bàn chuyện chính trị và tôn giáo với tôi? Cho các đồng nghiệp và cộng sự của tôi? Cho nhóm xã hội tôi tham gia? Và sâu sắc hơn, là cha mẹ, là người lớn tuổi trong cộng đồng, tôi đem lại sinh lực gì cho con cái, cho người trẻ? Là người đi dạy hoặc làm mục vụ, tôi mang sinh lực gì khi hướng dẫn người khác?

Đây là câu hỏi quan trọng. Tôi thường đem lại sinh lực gì và để lại gì? Chán nản? Giận dữ? Hỗn loạn? Ghen tương? Hoang tưởng? Cay đắng? Trầm cảm? Bất ổn? Hay tôi đem lại và để lại một chút ổn định, bình tĩnh, vui vẻ, một sinh lực đem lại phúc lành thay vì nguyền rủa người khác? Rốt cùng tôi để lại gì?

Trong Phúc âm Thánh Gioan, khi Chúa Giêsu nói lời từ biệt, Ngài đi thì tốt hơn cho các môn đệ, vì nếu không họ sẽ không nhận được Thần khí của Ngài, và Thần khí của Ngài, ơn cuối cùng Ngài ban, đó là bình an. Chúng ta cần lưu ý hai điểm: thứ nhất, các môn đệ không thể nhận hoàn toàn những gì Chúa Giêsu ban cho đến ngày Ngài thật sự ra đi, thứ hai, ơn thật sự, di sản thật sự Chúa Giêsu để lại cho họ, chính là bình an.

Thoạt nhìn điều này có vẻ hơi lạ, các môn đệ chỉ có thể nhận trọn sinh lực này khi Ngài ra đi và để lại Thần Khí cho họ. Điều này cũng đúng cho mỗi chúng ta. Chỉ sau khi chúng ta rời khỏi một nơi nào đó thì sinh lực chúng ta để lại mới rõ ràng nhất. Có thể sau khi chúng ta chết, sinh lực chúng ta để lại sẽ là di sản thực sự của chúng ta. Nếu chúng ta sống trong cay đắng giận dữ, trong ghen tương và không sẵn lòng chấp nhận người khác, nếu cuộc sống chúng ta gieo hỗn loạn và bất ổn, thì đó là những gì chúng ta sẽ để lại, và sẽ luôn là một phần di sản của chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta đáng tin cậy và sống quên mình, có đạo đức, hiếu hòa với người khác, đem lại bình thản và vững vàng, thì như Chúa Giêsu, chúng ta sẽ để lại món quà bình an. Đó sẽ là di sản của chúng ta, là oxy chúng ta để lại cho hành tinh này sau khi chúng ta ra đi.

Và đây không phải là chuyện người nào có thể thổi bừng căn phòng bằng sự hóm hỉnh và hài hước, dù những chuyện này cũng tốt, nhưng đúng hơn, ai là người toàn vẹn cá nhân để đem lại tin tưởng và ổn định cho người khác?

Với tất cả những điều này, chúng ta tự hỏi: khi bước vào một căn phòng, tôi đang đem oxy vào hay tôi đang hút oxy của phòng đó?

Bỏ lại sự nô dịch và pharaô

Một trong những câu chuyện tôn giáo lớn nhất trong lịch sử là câu chuyện Xuất hành, câu chuyện về một dân tộc được giải thoát khỏi cảnh nô lệ, nhờ phép lạ đi qua được Biển Đỏ, rồi tự do đứng trên một bờ biển mới.

Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với câu chuyện này. Một quốc gia dân tộc Israel đã sống dưới ách nô lệ của Ai Cập trong nhiều năm. Trong những năm này, họ cầu nguyện để được giải phóng, nhưng hơn bốn trăm năm mà không được.

Rồi Thiên Chúa ra tay. Thiên Chúa cử ông Môsê đối đầu với Pharaô đã nô dịch dân Israel, rồi khi Pharaô chống cự, Thiên Chúa cho một loạt tai ương trút xuống, cuối cùng Pharaô phải thả dân Israel ra khỏi ách nô lệ và cho họ ra đi.

Ông Môsê bắt đầu dẫn dân Israel ra khỏi Ai Cập, nhưng khi họ vừa đi thì Pharaô đổi ý, đem quân đội đuổi theo, khi đó dân Israel bị kẹt ở bờ Biển Đỏ, không thể đi tiếp.
Chính lúc đó, Thiên Chúa làm phép lạ củng cố đức tin của người Do Thái. Ngài đã rẽ nước làm đôi và cho dân đi qua biển mà chân khô ráo. Rồi khi quân đội Ai Cập đuổi đến, nước ập về như cũ và nhấn chìm toàn bộ binh lính, khi đó người nô lệ chạy trốn đứng trên một bờ biển mới, được tự do thoát khỏi kẻ áp bức.

Cả người tín hữu kitô và người Do Thái đều tin phép lạ này có thật trong lịch sử, và là một trong hai phép lạ nền tảng mà Thiên Chúa đã làm. Với người tín hữu kitô, phép lạ nền tảng thứ hai là phép lạ Chúa Giêsu Phục sinh. Đức tin Do Thái giáo phụ thuộc vào sự thật về phép lạ Biển Đỏ, và đức tin kitô giáo phụ thuộc vào sự thật về Chúa Giêsu Phục sinh.
Hơn nữa, cả Do Thái giáo và Kitô giáo đều cho rằng những phép lạ này (đã xảy ra trong lịch sử, có thời gian và địa điểm) vốn được định cho mọi thời và mọi nơi và có thể được tham dự thông qua nghi lễ (theo một cách có thật, mặc dù nằm ngoài lịch sử).

Trong Do Thái giáo, phép tính như sau: khi tách Biển Đỏ và để dân Israel thoát nạn, Thiên Chúa làm một phép lạ, biến đổi hiện thực về mặt vật chất. Tuy nhiên, dù về mặt lịch sử, chỉ có một thế hệ thực sự đi qua Biển Đỏ, thì đây là một phép lạ vượt quá thời gian, địa điểm, lịch sử và siêu hình bình thường. Nó vô tận và có thể được nhiều thế hệ sau cùng tham dự.
Như thế nào? Thông qua nghi lễ, thông qua sự tưởng niệm mang tính nghi lễ phép lạ nguyên thủy đó, chính là lễ Vượt qua.

Khi người Do Thái mừng lễ Vượt qua, họ tin không chỉ họ tưởng nhớ một chuyện đã xảy ra khi Thiên Chúa tách Biển Đỏ, họ tin mỗi một người trong số họ, vào hàng thế kỷ sau, đang thực sự bước qua Biển Đỏ. Họ không chỉ tưởng nhớ một sự kiện lịch sử, họ đang tích cực tham gia vào sự kiện đó.

Có thể giải thích chuyện này thế nào? Làm sao có thể giải nghĩa một sự kiện có thể tồn tại ngoài không gian và thời gian? Không thể. Theo định nghĩa, hiện tượng học không thể giải thích phép lạ được. Chính vì vậy mới gọi là phép lạ. Vì thế chúng ta không thể giải thích cả việc đi qua Biển Đỏ, lẫn tính hiệu lực của sự kiện đó ngoài thời gianNgười tín hữu kitô cũng tin một điều như vậy về cuộc xuất hành của Chúa Giêsu, đi từ cái chết đến phục sinh. Chúng ta tin chuyện này đã xảy ra trong lịch sử, có thật, trong một sự kiện đã biến đổi thần kỳ vật lý bình thường của trái đất. Và như các anh chị em Do Thái, chúng ta cũng tin sự kiện xảy ra duy nhất, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, là điều mà chúng ta có thể tham dự, một cách có thật và thông qua nghi lễ, cụ thể là tưởng nhớ qua Kinh Thánh và qua việc cử hành Bí tích Thánh Thể.

Với kitô hữu, đây là chức năng đặc biệt của Kinh nguyện Thánh Thể trong việc cử hành nghi thức Thánh Thể. Kinh nguyện Thánh Thể không chỉ là lời cầu nguyện để Chúa Kitô hiện diện trong bánh và rượu, mà còn là lời cầu nguyện để cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu hiện diện khi chúng ta tham dự. Cũng như người Do Thái tin lễ Vượt qua là thực sự đi qua con đường Thiên Chúa đã tạo ra cho họ để hướng đến tự do, thì kitô hữu chúng ta cũng tin rằng trong phép Thánh Thể, chúng ta cũng thực sự bước qua con đường kỳ diệu từ sự chết đến sự sống mà Chúa Giêsu đã tạo qua hành trình từ cái chết đến phục sinh của Ngài.

Và, trong chuyện này có lời mời gọi cho tất cả những ai tham dự Bí tích Thánh Thể: đó là trong phần kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta hãy tự hỏi, thế lực nào đang nô dịch tôi? Pharaô nào đang giam cầm tôi? Một hình ảnh xấu về mình? Hoang tưởng? Nỗi sợ? Một vết thương nào đó? Tổn thương? Chứng nghiện? Tôi có thể đi với Chúa Kitô đến một nơi mới không còn sự nô lệ này nữa không? Phép lạ phục sinh của Chúa Giêsu, cũng như cuộc Xuất hành, đã xảy ra trong lịch sử, nhưng cũng vượt thời gian và không gian, có sẵn cho chúng ta để chúng ta bỏ lại những Pharaô đang làm chúng ta bị nô dịch, để chúng ta đến với tự do, trên một bờ biển mới.