RonRolheiser,OMI

Tình yêu trưởng thành hay chỉ yêu cho có lệ?

Là linh mục của phái Luther, khi cử hành hôn lễ, linh mục Dietrich Bonhoeffer thường khuyên: “Hôm nay các con yêu nhau và tin rằng tình yêu sẽ giữ gìn hôn nhân của các con, nhưng không thể. Các con hãy để hôn nhân gìn giữ tình yêu của các con.”

Đó là lời khuyên khôn ngoan, nhưng chính xác ý nghĩa của lời khuyên này là gì? Vì sao tình yêu không thể giữ gìn hôn nhân?

Điều Linh mục nêu bật ở đây là chúng ta ngây thơ khi nghĩ cảm xúc sẽ giữ chúng ta trong tình yêu, trong dấn thân lâu dài. Tình yêu không thể và không làm vậy. Nhưng nghi thức thì có thể. Bằng cách nào? Bằng cách tạo một nghi thức có thể giữ chúng ta vững vàng bên trong con tàu lượn sóng của những cảm xúc và tình cảm giữ chúng ta trong mối quan hệ lâu dài.

Nói đơn giản, chúng ta sẽ không bao giờ giữ mối quan hệ lâu dài với người khác, với Thiên Chúa, với việc cầu nguyện, hay việc phục vụ quên mình, nếu chỉ dựa trên tình cảm tốt đẹp và cảm xúc tích cực. Ở đời, tình cảm và cảm xúc của chúng ta thường cứ đến rồi đi tùy ý và không nhất quán.

Chúng ta đã biết, cảm xúc của chúng ta thiếu nhất quán. Hôm nay chúng ta thấy mình yêu người này, ngày mai chúng ta bực tức họ. Cầu nguyện cũng thế. Hôm nay chúng ta chú tâm, sốt sắng, ngày mai chúng ta chán nản phân tâm.

Vì thế, theo Linh mục Bonhoeffer chúng ta cần nghi thức để giữ mình trong tình yêu và trong cầu nguyện, vì những việc chúng ta làm theo nghi thức giữ chúng ta vững vàng và cam kết bên trong làn sóng của cảm xúc và tình cảm.

Chẳng hạn, một cặp vợ chồng yêu nhau, hứa yêu nhau và ở bên nhau suốt đời, xét tận cùng thì họ hoàn toàn có chủ ý làm vậy. Họ tôn trọng nhau, đối xử tốt với nhau, sẵn sàng chết vì nhau. Tuy nhiên, cảm xúc của họ không phải lúc nào cũng vậy. Có ngày tình cảm của họ dường như ngược với tình yêu, họ bực bội, họ giận nhau. Nhưng hành động của họ nói lên tình yêu và cam kết, chứ không nói lên cảm xúc tiêu cực của họ. Buổi sáng trước khi đi làm, họ hôn nhau và nói “anh yêu em”, “em yêu anh” như một nghi thức. Vậy họ đang nói dối? Họ chỉ làm cho có lệ? Hay đó là tình yêu thực sự?

Tình yêu và cam kết trong gia đình cũng vậy. Chúng ta hình dung người cha và người mẹ với những đứa con tuổi teen, một cậu bé 16, một cô bé 14 tuổi. Họ có luật là mỗi tối, họ sẽ ăn tối với nhau trong khoảng 40 phút, không đụng đến điện thoại thông minh. Nhiều bữa tối, cậu con trai, cô con gái, hay người cha, người mẹ đến bàn ăn (không cầm điện thoại) như thể chỉ vì bổn phận, cảm thấy chán, họ chán ghét thì giờ ở bên nhau này, họ chỉ muốn ở một nơi nào khác. Nhưng họ ngồi với nhau vì họ đã biến thì giờ này thành một cam kết. Họ chỉ đang làm cho có lệ hay họ đang thể hiện một tình yêu thực sự?

Nếu Linh mục Bonhoeffer đúng và tôi cho là đúng, thì họ không chỉ làm cho có lệ, họ đang nói lên một tình yêu trưởng thành. Khi có cảm xúc thúc đẩy và giữ chúng ta thì việc biểu lộ tình yêu này thành dễ dàng. Nhưng về lâu về dài cảm xúc tốt đẹp sẽ không gìn giữ tình yêu và cam kết của chúng ta. Chỉ có sự trung tín với cam kết và những hành động mang tính nghi thức làm nền cho cam kết đó mới giữ chúng ta khỏi bỏ đi khi cảm xúc đã cạn.

Trong văn hóa thời nay, ở hầu hết mọi tầng mức, chúng ta không hiểu điều này. Từ những người chìm đắm trong một văn hóa nghiện cảm xúc, đến con số đông đảo các nhà trị liệu tâm lý, các nhà mục vụ tôn giáo, những người cầm trịch cầu nguyện, linh hướng, và “những người bạn của ông Gióp”, chúng ta thường nghe: Nếu chúng ta không cảm nhận được, thì nó không có thật, chúng ta chỉ làm cho có lệ thôi! Chỉ là nghi thức sáo rỗng nà thôi!

Thật vậy, nó có thể là nghi thức sáo rỗng. Như Kinh Thánh đã nói, chúng ta tôn vinh trên môi miệng nhưng lòng thì cách xa.

Tuy nhiên, thường thì đó là cách thể hiện một tình yêu trưởng thành, một tình yêu không còn cháy bằng tư lợi hay cảm xúc. Bây giờ nó là tình yêu đủ khôn ngoan và trưởng thành cho hoàn cảnh con người vốn đầy khiếm khuyết và phức tạp và cho mọi chuyện vốn đầy màu sắc và phức tạp – bao gồm cả người chúng ta yêu, cả chính chúng ta và thực tế tình yêu của con người.

Quyển sách chúng ta cần cho tình yêu, không phải là quyển sách của những người đang yêu nhau say đắm trong tuần trăng mật viết, cũng như quyển sách chúng ta cần cho việc cầu nguyện không phải là quyển sách của một tân tòng nhiệt huyết ở giai đoạn ban đầu viết, lại càng không phải của hầu hết những người cầm trịch cầu nguyện viết.

Quyển sách chúng ta cần cho tình yêu là quyển sách của các cặp vợ chồng đã qua nghi thức nhưng còn giữ sự cam kết qua bao thăng trầm của năm tháng viết. Cũng vậy với quyển sách cầu nguyện, quyển sách này cần một người đã giữ một đời cầu nguyện, đi nhà thờ qua nhiều mùa lễ và ngày chúa nhật, dù đôi khi họ chẳng muốn cầu nguyện hay đi nhà thờ chút nào.

Người tị nạn, nhập cư và Chúa Giêsu

Ngày nay, ở biên giới các nước trên biên giới có rất nhiều người tị nạn, có nơi có cả hàng triệu người. Họ dễ dàng bị cho là quỷ hóa, là tai ương, là mối đe họa, là kẻ xâm lấn, là tội phạm trốn tránh công lý ở quê nhà. Nhưng hầu hết họ là những người tử tế và lương thiện đang chạy trốn nghèo đói và bạo lực. Và những lý do làm cho họ phải rời quê nhà cho biết họ không phải là tội phạm.

Bất chấp sự thật hầu hết họ là người tốt, gần như ở khắp mọi nơi, họ vẫn bị cho là những người tạo vấn đề. Chúng ta không được cho họ vào! Họ là mối đe dọa! Và các chính trị gia thường dùng từ “xâm lấn” để nói đến sự hiện diện của họ ở biên giới.

Còn chúng ta nói được gì về điều này? Chúng ta cứ để ai vào cũng được sao? Chúng ta sáng suốt chọn lọc, cho một số vào, một số khác chặn lại? Chúng ta xây tường và dây thép gai để chặn đường? Chúng ta phải phản ứng như thế nào?

Những câu hỏi này cần được xem xét từ hai khía cạnh: thực tế và Kinh Thánh.

Thực tế, đây là một vấn đề rất lớn. Chúng ta không thể đơn giản mở hết biên giới và để hàng triệu người tràn vào. Làm vậy là phi thực tế. Nhưng mặt khác, chúng ta không thể biện hộ cho sự chần chừ đón nhận người tị nạn bằng cách viện dẫn Kinh Thánh, Chúa Giêsu, hay lý luận ngây thơ cho rằng nước “chúng ta” là của chúng ta và chúng ta có quyền ở đây còn người khác thì không, trừ phi chúng ta cho phép họ vào. Tại sao không?

Với người tín hữu kitô, có vô số nguyên tắc Kinh Thánh miễn tranh luận.

Trước hết, Thiên Chúa tạo nên thế giới cho tất cả mọi người. Chúng ta là quản gia chứ không phải là chủ. Chúng ta không sở hữu gì, tất cả là của Thiên Chúa và Thiên Chúa đã tạo nên thế giới cho tất cả mọi người. Đây là nguyên tắc chúng ta dễ làm ngơ khi nói đến vấn đề ngăn người khác vào nước “của mình”. Nhưng chúng ta chỉ là người quản gia ở đây, ở một đất nước thuộc về toàn thể thế giới mà thôi.

Thứ hai, trong Kinh Thánh, cả Cựu Ước và Tân Ước có vô số điểm nói rõ ràng và mạnh mẽ về thách thức đón nhận người lạ và người nhập cư. Điều này ở khắp nơi trong thánh thư Do Thái và là hình ảnh rất mạnh trong tâm điểm thông điệp của Chúa Giêsu. Quả thật, Chúa Giêsu mở đầu con đường mục vụ của Ngài bằng việc thông báo Ngài đến để mang Tin Mừng cho người nghèo. Vì vậy, bất kỳ việc giảng dạy, rao giảng, mục vụ, chính sách chính trị hay hành động nào không phải là Tin Mừng cho người nghèo, thì không phải là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô, dù chúng ta có thiết thực về mặt chính trị hay về mặt Giáo hội gì đi chăng nữa. Và nếu đó không phải là Tin Mừng cho người nghèo, thì các chính sách này đừng khoác lên mình lớp áo Phúc âm hay Chúa Giêsu. Do đó, bất kỳ quyết định nào chúng ta đưa ra với người tị nạn và người nhập cư, không được đối nghịch với sự thật rằng Phúc âm đã đem Tin Mừng đến cho người nghèo.

Hơn nữa, Chúa Giêsu quá rõ ràng khi đồng nhất người nghèo với chính Ngài (Ai trong các con làm việc này cho người nhỏ bé nhất, là đang làm cho Ta) và cho chúng ta biết, đến cuối cùng, chúng ta sẽ bị phán xét bằng cách chúng ta đối xử với người nhập cư và tị nạn (Hãy đi khuất mắt Ta, vì khi Ta là người lạ, ngươi đã không đón tiếp.) Trong kinh thánh có một vài đoạn văn thẳng thừng và đầy thách thức như vậy (Mt 25: 35-40).

Cuối cùng, chúng ta còn bị thách thức trong Cựu Ước. Thiên Chúa thách chúng ta đón nhận người nước ngoài (người nhập cư), chia sẻ tình yêu, đồ ăn, áo mặc với họ, vì chính chúng ta đã một thời là người nhập cư (Đệ nhị luật 10: 18-19). Đây không chỉ là câu châm ngôn Kinh Thánh mơ hồ, nhất là với những người sống ở Bắc Mỹ. Trừ các quốc gia Da Đỏ bản địa (mà chúng ta đã dùng vũ lực đuổi đi), thì hết thảy chúng ta đều là người nhập cư và đức tin thách thức chúng ta đừng bao giờ quên điều này, ít nhất là khi đối xử với người đói đang chờ bên đường biên giới. Dĩ nhiên, những ai đã ở đây hàng thế hệ, có thể lập luận chúng tôi ở đây đã lâu và bây giờ chúng tôi không là người nhập cư nữa. Nhưng có lẽ còn có một lập luận thuyết phục hơn, đó là việc đóng cửa biên giới sau khi bản thân mình được vào là một hành động ích kỷ.

Đây là những thách thức của Kinh Thánh. Tuy nhiên, sau khi đã công nhận những thách thức này, chúng ta vẫn còn một câu hỏi thực tế: xét một cách thực tế, chúng ta (và nhiều nước trên khắp thế giới) nên làm gì với hàng triệu người, đàn ông, phụ nữ trẻ con đang tìm đến biên giới của chúng ta? Làm sao chúng ta tôn vinh sự thật rằng mảnh đất chúng ta sống thuộc về tất cả mọi người? Làm sao chúng ta tôn vinh sự thật rằng, là tín hữu kitô, chúng ta phải nghĩ về người nghèo trước hết? Làm sao chúng ta đối diện với Chúa Giêsu trong ngày phán xét khi Ngài hỏi vì sao chúng ta không tiếp đón Ngài lúc Ngài ở trong hình hài người tị nạn? Và làm sao chúng ta tôn vinh sự thật rằng hầu hết chúng ta đều là người nhập cư, sống ở một đất nước mà chúng ta đã dùng vũ lực đoạt lấy của người khác?

Không có câu trả lời dễ dàng nào cho những câu hỏi này, cho dù đến tận cùng, chúng ta vẫn cần đưa ra một vài quyết định chính trị thực tế. Tuy nhiên, khi áp dụng chủ nghĩa thực dụng để xử lý chuyện này, chúng ta đừng bao giờ lẫn lộn về chuyện Chúa Giêsu và Kinh Thánh đứng về phía ai.

Bản giao hưởng dang dở

Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học để biết trong đời này, tất cả mọi bản giao hưởng đều phải dang dở.

Đây là lời của linh mục thần học gia Đức Karl Rahner, và nếu không hiểu ý nghĩa của câu này thì chúng ta có nguy cơ để tình trạng khắc khoải thành khối u trong đời mình. Bị dằn vặt bởi sự thiếu hụt mọi thứ mang ý nghĩa gì? Chúng ta bị hành hạ bởi thứ mình không có được theo kiểu gì?

Đây là chuyện chúng ta trải nghiệm hằng ngày. Thực ra, trong cả cuộc đời, trừ một số ít thời điểm đặc ân và yên bình, sự dằn vặt là cơn sóng ngầm trong tất cả mọi chuyện chúng ta trải nghiệm. Lý ra vẻ đẹp làm chúng ta bình yên thì nó lại làm chúng ta khắc khoải. Tình yêu với người bạn đời không đáp ứng đủ khao khát của chúng ta. Những mối quan hệ của chúng ta trong gia đình dường như quá nhỏ hẹp để chúng ta có thể thấy đủ. Công việc của chúng ta chẳng cân xứng với ước mơ chúng ta có về mình. Nơi chúng ta sống dường như buồn tẻ so với những nơi khác. Chúng ta quá bồn chồn nên chẳng thể ngồi yên trên bàn, chẳng thể ngủ yên trên giường, người cứ bồn chồn lo lắng.

Khi chúng ta có cảm nhận này, chúng ta sẽ luôn thấy đời mình dường như quá bé nhỏ và chúng ta không sống đời mình theo cách chúng ta mong chờ, mong chờ ai đó hay điều gì đó xuất hiện và thay đổi để cuộc đời chúng ta tưởng tượng sẽ bắt đầu.

Tôi nhớ có người kể cho tôi nghe câu chuyện. Anh 45 tuổi, hôn nhân tốt đẹp, có ba đứa con khỏe mạnh, có công việc ổn định nhưng tẻ nhạt, sống ở khu phố bình yên nhưng cũng tẻ nhạt. Nhưng anh chưa bao giờ đặt trọn bản thân vào cuộc sống. Anh thú nhận:

“Phần lớn đời tôi, nhất là trong 20 năm qua, tôi quá khắc khoải muốn thực sự sống đời mình. Tôi chưa thực sự đón nhận con người tôi – một người 45 tuổi, làm việc ở cửa hàng tạp hóa trong một thị trấn nhỏ, lập gia đình với một phụ nữ tốt lành, biết cuộc hôn nhân này sẽ không bao giờ thỏa mãn khao khát tình dục thâm sâu của mình, và biết cho dù có mơ mộng thế nào thì cũng sẽ không đi đến đâu, sẽ không bao giờ có được những ước mơ, sẽ chỉ ở đây, như lúc này, trong một thị trấn nhỏ, trong cuộc hôn nhân này, với những con người này và trong cơ thể này đến hết cuộc đời. Tôi sẽ chỉ già hơn, hói hơn, cơ thể sẽ bớt khỏe mạnh, bớt hấp dẫn hơn. Nhưng trong mọi chuyện, xét từ mọi góc độ, điều đáng buồn là cuộc đời tôi vốn tốt. Tôi thực sự rất may mắn. Tôi khỏe mạnh, được yêu thương, có đời sống gia đình tốt, sống ở một đất nước yên bình và sung túc. Nhưng lòng tôi lại quá khắc khoải đến nổi tôi chẳng bao giờ cảm kích được đời mình, vợ mình, con mình, công việc của mình và nơi mình sống. Tôi luôn mãi ở một nơi khác bên trong con người tôi, quá khắc khoải để thực sự hiện diện nơi tôi đang hiện diện, quá khắc khoải để sống trong nhà mình, quá khắc khoải để thoải mái với chính mình”.

Sự dằn vặt do thiếu mọi thứ có thể có trong đời là vậy. Nhưng nhận thức thấu suốt của Rahner không chỉ là một chẩn đoán mà còn là đơn thuốc cho căn bệnh này. Nó cho chúng ta biết để vượt lên những dằn vặt này, vượt lên khối u của khắc khoải này. Làm sao làm được?

Chính xác bằng cách hiểu và chấp nhận ở đời, mọi hòa âm đều dang dở. Khi hiểu và chấp nhận lý do làm chúng ta dằn vặt không phải do chúng ta là những người thèm khát tình dục quá độ, loạn thần và vô ơn, quá tham lam để không thỏa mãn với cuộc đời này. Không phải vậy. Lý do sâu xa là vì chúng ta bẩm tại được tạo dựng, được truyền năng lượng vượt quá thế giới này. Chúng ta được Thiên Chúa tạo dựng như thế. Chúng ta là những linh hồn vô hạn sống trong một thế giới hữu hạn, những tâm hồn được tạo nên để hợp nhất với mọi vật và mọi người nhưng chỉ được gặp phàm nhân và phàm vật. Chẳng trách chúng ta có vấn đề với sự bất đạt, mộng tưởng, cô đơn và khắc khoải! Chúng ta là những vực sâu không đáy. Khi chưa thể hợp nhất với tất cả, thì chẳng có gì lấp đầy hố thẳm đó được.

Bị dằn vặt vì khắc khoải mới là con người. Hơn nữa, khi chấp nhận chúng ta là con người và do đó không thể có hòa âm trọn vẹn ở đời này, chúng ta thanh thản hơn trong khắc khoải của mình. Tại sao? Vì bây giờ chúng ta biết mọi thứ đến với chúng ta là cơn sóng ngầm của khắc khoải, của bất đạt, và đó là chuyện bình thường và đúng đắn cho tất cả mọi người.

Như linh mục Henri Nouwen đã viết: “Ở đây, trong đời này, không có thứ gì gọi là niềm vui thuần túy và rõ ràng. Đúng hơn, trong mọi thỏa mãn, đều có ý thức về giới hạn. Phía sau nụ cười là giọt nước mắt. Trong mọi vòng tay ôm, vẫn có cô đơn. Trong mọi tình bạn, vẫn có ngăn cách”.

Bình an và nghỉ ngơi chỉ có thể đến với chúng ta khi chúng ta chấp nhận giới hạn đó trong thân phận con người, vì chỉ khi đó chúng ta mới thôi đòi hỏi rằng cuộc đời – hay cụ thể là người bạn đời, gia đình, bạn bè, công việc, thiên hướng và kỳ nghỉ của chúng ta – cho chúng ta một điều mà nó vốn không thể cho được, cụ thể là một niềm vui thuần túy rõ ràng và sự viên mãn tròn đầy.

Khi nào sợ hãi là lành mạnh?

Tại sao chúng ta không giảng về lửa hỏa ngục nữa? Đây là câu hỏi được nhiều giáo dân chân thành đặt ra, họ lo lắng khi thấy quá nhiều linh mục, thừa tác viên đã nhân nhượng với tội lỗi và quảng đại quá mức khi nói về lòng thương xót của Thiên Chúa. Họ nghĩ nếu chúng ta giảng nhiều hơn về sự thật khó nuốt là tội trọng, là cơn thịnh nộ của Thiên Chúa và nguy cơ vào hỏa ngục, thì sẽ có thêm nhiều người đến nhà thờ và giữ các điều răn. Họ khẳng định “Sự thật sẽ giải phóng” và sự thật ở đây là: tội lỗi có thật, hậu quả cho tội lỗi cũng có thật và mang tính đời đời. Cổng thiên đàng thì hẹp, đường vào hỏa ngục thì rộng. Vậy tại sao chúng ta không giảng nhiều hơn về nguy cơ của lửa hỏa ngục?

Kiểu lý luận này có lý ở chỗ: giảng về tội trọng và lửa hỏa ngục có thể hiệu quả. Đe dọa thì hiệu quả. Tôi biết vậy. Hồi nhỏ, tôi được học như vậy và đã ảnh hưởng đến hành vi của tôi. Nhưng ảnh hưởng này có tốt có xấu. Một mặt, nó làm cho tôi đủ sợ hãi trước Thiên Chúa và cuộc đời, để luôn mãi sợ mình sẽ đi lạc quá xa về mặt luân lý và tôn giáo. Mặt khác, nó làm tôi bị khuyết tật về tôn giáo và cảm xúc theo cách sâu sắc. Đơn giản là rất khó để thân mật với một Thiên Chúa làm mình sợ, và quá e dè sợ hãi trước những sinh lực thần thiêng của cuộc sống thì không tốt về mặt tôn giáo hay những mặt khác. Phải thừa nhận, sợ thánh thiêng trừng phạt, sợ lửa hỏa ngục có thể có hiệu quả khi nó đóng vai trò làm yếu tố thúc đẩy.

Vậy tại sao lại không giảng về nó? Bởi vì nó sai, đơn thuần và đơn giản là vậy. Tẩy não và đe dọa về thể xác cũng hiệu quả, nhưng chúng là phản đề của tình yêu. Chúng ta đâu bước vào mối quan hệ yêu thương vì cảm thấy sợ hãi hay bị đe dọa. Chúng ta bước vào quan hệ yêu thương vì cảm thấy mình được tình yêu cuốn hút vào đó.

Quan trọng hơn nữa, giảng về sự đe dọa thánh thiêng là làm ô danh Thiên Chúa mà chúng ta tin. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu hiện thân và mạc khải không phải là Thiên Chúa dựa trên một vài sa ngã về nhân bản hoặc luân lý bị phân loại tôn giáo cho là tội trọng để đẩy những người thiện tâm thành tâm vào hỏa ngục dù họ không muốn. Tôi vẫn nghe lời đe dọa này được giảng ở các nhà thờ: bỏ lễ ngày chúa nhật là tội trọng, chưa xưng tội mà chết thì sẽ vào hỏa ngục.

Thiên Chúa nào là bênh vực cho một đức tin như thế? Thiên Chúa nào lại không cho những người thành tâm một cơ hội thứ hai, thứ ba, và thậm chí là thứ bảy mươi lần bảy, nếu họ vẫn tiếp tục thành tâm? Chúa nào sẽ nói với một người biết ăn năn trong hỏa ngục: “Xin lỗi, nhưng con biết luật rồi mà! Bây giờ con ăn năn thì đã quá muộn. Con đã có cơ hội rồi mà!”

Một thần học lành mạnh về Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải thôi giảng hỏa ngục có thể là bất ngờ không tốt đang chờ những người tốt lành. Thiên Chúa mà chúng ta tin là Đấng thông hiểu vô hạn, cảm thương vô hạn, và tha thứ vô hạn. Tình yêu của Thiên Chúa vượt quá tình yêu của chúng ta, và nếu chúng ta trong những phút minh trí hơn, có thể thấy được thiện tâm thay vì thấy những lỗi lầm và yếu đuối nơi lòng người, thì Thiên Chúa còn thấy hơn thế biết bao nhiêu. Chúng ta chẳng có gì để sợ Chúa.

Hay là có? Có phải Kinh Thánh nói kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan đó sao? Sao câu này lại không là câu giống câu kính sợ Thiên Chúa?

Sợ có nhiều dạng, lành mạnh và không lành mạnh. Khi Kinh Thánh nói rằng kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan, thì dạng sợ này không phải là do cảm thấy mình bị đe dọa hay hay lo âu về chuyện bị trừng phạt. Đó là dạng sợ khi chúng ta đứng trước bạo chúa và kẻ bắt nạt. Tuy nhiên, có một dạng sợ lành mạnh bẩm tại trong những xung năng của tình yêu. Dạng sợ này về căn bản là một tôn kính đúng đắn, nghĩa là, khi chúng ta thực sự yêu ai thì chúng ta sẽ sợ mình phản bội tình yêu này, sợ mình ích kỷ, sợ mình thô tục, sợ mình thiếu tôn trọng mối quan hệ đó. Chúng ta sẽ sợ mình vi phạm không gian thiêng liêng của sự thân mật này. Một cách ẩn dụ, chúng ta sẽ cảm thấy mình đang đứng trên đất thánh và tốt nhất nên tháo giày trước khi đến trước ngọn lửa thiêng.

Hơn nữa, Kinh Thánh còn nói khi Thiên Chúa xuất hiện trong đời chúng ta, thì gần như mọi lúc, lời đầu tiên chúng ta nghe Chúa nói là: “Con đừng sợ!” Vì Thiên Chúa không phải là bạo chúa phán xét nhưng là một sinh lực và bản thể đầy yêu thương, sáng tạo và niềm vui. Như nhà khảo luận Leon Bloy nhắc nhở chúng ta, niềm vui là dấu hiệu không thể sai lầm nhất về sự hiện diện của Thiên Chúa.

Nhà tâm thần học nổi tiếng, Fritz Perls, đã từng được một người theo chủ nghĩa chính thống trẻ tuổi hỏi: “Ông đã được cứu rỗi chưa?” Ông trả lời: “Được cứu rỗi ư? Tôi vẫn đang cố gắng tìm cách để được cứu rỗi!” Chúng ta tôn vinh Chúa không phải bằng cách sống trong sợ hãi để không xúc phạm đến Ngài, mà bằng cách cung kính dùng năng lượng tuyệt vời Chúa ban cho chúng ta. Chúa không phải là một luật lệ để tuân theo, mà là một năng lượng vui tươi để chúng ta dùng một cách phong phú.

Giàu có, nhưng tất bật

Vài năm trước, tôi đi cùng một linh mục đến thăm một người bạn chung của chúng tôi. Bạn tôi là một thương gia thành công, sống ở tầng trên cùng một căn hộ rất đắt tiền nhìn xuống thung lũng dòng sông ở thành phố Edmonton, Canada. Ông đưa chúng tôi ra ban công ngắm nhìn thành phố. Thật tuyệt đẹp. Từ ban công, tầm nhìn có thể nhìn xa hàng dặm, bao quát toàn bộ thung lũng dòng sông và hầu hết thành phố.

Chúng tôi nói với ông, chúng tôi rất kinh ngạc. Ông cám ơn lời khen của chúng tôi, ông tiếc là hiếm khi ông ra ban công để ngồi uống trà ngắm cảnh. Tôi xin trích vài lời của ông: “Cha biết đấy, tôi nên đưa một gia đình nghèo nào đó đến đây để xem. Tôi sống trong căn hầm cũng được, vì tôi chẳng bao giờ có thì giờ để tận hưởng cảnh này. Tôi chẳng nhớ lần cuối tôi đã ra đây để ngắm hoàng hôn hay bình minh là lúc nào. Tôi luôn quá bận rộn, quá áp lực, luôn bận tâm. Tôi ở chỗ này phí quá. Tôi chỉ ra đây khi nào có khách và mời họ nhìn quang cảnh này.”

Chúa Giêsu đã nói một điều có thể diễn giải như sau: Lợi ích gì khi được cả thế gian nhưng luôn quá tất bật, quá áp lực để hưởng nó.

Khi Chúa Giêsu nói về việc được cả thế gian mà mất linh hồn, Ngài không hoàn toàn nói về việc sống vô luân, chết trong tội lỗi và xuống hỏa ngục. Thông điệp của Ngài là lời cảnh báo triệt để hơn. Chúng ta có thể đánh mất linh hồn theo nhiều cách, kể cả khi chúng ta tốt lành, tận tụy, và đạo đức. Người trong câu chuyện tôi vừa kể thật ra là người tử tế, đạo đức, tận tụy và tốt lành. Nhưng ông, như chính ông thừa nhận, ông chật vật đấu tranh để là người sống trọn linh hồn, để cuộc đời được phong phú hơn, vì khi chúng ta sống liên tục dưới áp lực, bị thúc ép phải tất bật không ngừng nghỉ, thì không dễ để mỗi sáng thức dậy có thể nói: “Đây là ngày Chúa dựng nên, tôi mừng vui và hân hoan sống ngày này”. Khả năng nhiều hơn chúng ta sẽ nói: “Lạy Chúa, cho con sống qua ngày hôm nay!”

Cũng vậy, khi Chúa Giêsu nói “thật khó để vào Nước Trời” Ngài không chỉ nói đến những người giàu vật chất, tiền bạc và ảnh hưởng, dù chắc chắn Ngài cảnh báo như vậy. Vấn đề Chúa muốn nói đến, đó là một cuộc đời luôn bận rộn, một lịch trình kín mít, một công việc hoặc một đam mê làm chúng ta hết năng lực đến nỗi hiếm khi chúng ta có thì giờ (hoặc nghĩ đến dành thì giờ) để ngắm nét đẹp hoàng hôn, hay vui vì chúng ta khỏe mạnh, có một lịch trình phong phú.

Thú thật, đây cũng là một trong những đấu tranh của tôi. Trong những năm làm mục vụ, tôi được phúc có một lịch trình phong phú, công việc quan trọng, công việc tôi yêu thích. Nhưng tôi cần thành thật thú nhận trong những năm đó, tôi đã quá hối hả, quá áp lực để không thể ngắm hoàng hôn (trừ khi như bạn tôi, mời một khách nào đó ngắm hoàng hôn.)

Tôi cố thoát khỏi chuyện này bằng cách ép mình vào tĩnh nguyện, đi bộ, tĩnh tâm đều đặn vài tuần nghỉ hè hàng năm. Chắc chắn những chuyện này giúp được phần nào, nhưng gần như mọi lúc tôi ở trạng thái nghiện, áp lực, vội vã, khao khát một không gian để tĩnh lặng, để cầu nguyện, để ngắm hoàng hôn, đi dạo công viên, uống ly rượu vang hoặc trầm ngâm bên điếu xì gà. Và tôi nhận ra một nghịch lý mỉa mai: tôi vội vã và vắt kiệt mình để dành ra một chút thì giờ thư giãn!

Tôi không phải là Thomas Merton, nhưng tôi cảm thấy tôi được an ủi với chuyện ngài là ẩn tu nhưng lại quá bận rộn và áp lực khi đi tìm cô tịch. Để tìm cô tịch, ngài dành vài năm cuối đời ở một nơi ẩn tu, tránh tu viện chính, trừ những lúc dự thánh lễ và đọc kinh phụng vụ mỗi ngày. Rồi, khi tìm được cô tịch, ngài ngạc nhiên khi thấy nó khác với điều ngài đã hình dung. Ngài viết trong nhật ký:

Hôm nay, tôi cô tịch vì khoảnh khắc này “là đủ, trong đời sống của một người bình thường, có đói, có ngủ, có nóng, có lạnh, có thức dậy, có đi ngủ. Đắp chăn rồi bỏ chăn, pha cà phê rồi uống. Rã đông đồ trong tủ lạnh, đọc, chiêm niệm, làm việc, cầu nguyện. Tôi sống như các tổ tiên của tôi đã sống trên trái đất, cho đến khi chết. Amen. Không cần phải tuyên bố gì về đời tôi, nhất là về chuyện nó là của tôi… Tôi phải học cách sống sao cho quên đi chương trình và cách thức”.

Và để ngắm hoàng hôn từ ban công!

Khi chúng ta giàu có, bận rộn, áp lực và đầy mối bận tâm, thì thật khó để uống ly cà phê mình pha.

Di sản của chúng ta: sinh lực chúng ta để lại

Vài năm trước, vào thời điểm báo chí nước Mỹ quá tập trung vào một vụ quấy rối tình dục lớn, tôi hỏi ba nữ đồng nghiệp: “Điều gì gây ra quấy rối tình dục? Ranh giới nào không được vượt qua? Cái gì là hành vi vô tội và cái gì là quấy rối?” Họ trả lời: “Đây không phải là vấn đề về ranh giới rõ ràng, một bình luận hoặc một hành vi quá trớn nào đó. Đúng hơn, chúng ta biết điều gì là vô tội và điều gì là không. Chúng ta thấy sinh lực ẩn dưới hành vi đó. Chúng ta biết khi nào là quấy rối và khi nào là không.”

Tôi chắc chắn điều này đúng trong hầu hết trường hợp. Tất cả chúng ta đều có rađa nội tâm rất nhạy bén. Chúng ta cảm nhận một cách tự nhiên và nắm bắt được sinh lực đang tồn tại – dù căng thẳng, an tâm, ghen tị, chấp thuận, ngây thơ, hay hung hăng. Chúng ta thấy được điều này ở những em bé còn nhỏ, cả những em bé mới lên hai, chúng có thể cảm nhận được sự căng thẳng đang có trong người.

Thánh Gioan Thánh Giá thần nghiệm đã viết về khái niệm này trong phân định linh hướng. Ngài nêu lên, làm sao để phân định mình đang ở trong đêm tối tâm hồn thật sự (một điều lành mạnh) hay đang buồn nản vì trầm cảm hoặc vì có hành vi vô đạo đức. Ngài đưa ra một vài tiêu chuẩn để phân định, nhưng cuối cùng, tất cả đều quy về cách chúng ta nắm bắt được sinh lực người đó đang tỏa ra. Họ đem lại oxy cho căn phòng hay họ đang hút oxy? Khi nghe họ, bạn có thấy mình bị nản lòng không? Nếu có, thì lời nói của họ không mang tính thiêng liêng, không lành mạnh. Những người thật sự ở trong đêm tối tâm hồn, thì dù có đấu tranh nội tâm, họ vẫn đem lại sinh lực tích cực và làm cho bạn thêm hứng khởi thay vì nản lòng.

Mục đích của tôi khi chia sẻ vấn đề này không phải để chúng ta phê phán hay phán xét người khác nhưng để biết nắm bắt sinh lực họ tỏa ra (dù trong vô thức, chúng ta đã làm rồi). Điều tôi muốn nêu bật: đây là thách thức mỗi chúng ta phải chủ tâm kiểm điểm xem mình mang lại sinh lực gì và để lại gì.

Mỗi người chúng ta cần can đảm tự hỏi: Tôi đem lại sinh lực gì? Tôi đem lại sinh lực nào cho bữa ăn gia đình? Cho buổi họp cộng đoàn? Cho những người bàn chuyện chính trị và tôn giáo với tôi? Cho các đồng nghiệp và cộng sự của tôi? Cho nhóm xã hội tôi tham gia? Và sâu sắc hơn, là cha mẹ, là người lớn tuổi trong cộng đồng, tôi đem lại sinh lực gì cho con cái, cho người trẻ? Là người đi dạy hoặc làm mục vụ, tôi mang sinh lực gì khi hướng dẫn người khác?

Đây là câu hỏi quan trọng. Tôi thường đem lại sinh lực gì và để lại gì? Chán nản? Giận dữ? Hỗn loạn? Ghen tương? Hoang tưởng? Cay đắng? Trầm cảm? Bất ổn? Hay tôi đem lại và để lại một chút ổn định, bình tĩnh, vui vẻ, một sinh lực đem lại phúc lành thay vì nguyền rủa người khác? Rốt cùng tôi để lại gì?

Trong Phúc âm Thánh Gioan, khi Chúa Giêsu nói lời từ biệt, Ngài đi thì tốt hơn cho các môn đệ, vì nếu không họ sẽ không nhận được Thần khí của Ngài, và Thần khí của Ngài, ơn cuối cùng Ngài ban, đó là bình an. Chúng ta cần lưu ý hai điểm: thứ nhất, các môn đệ không thể nhận hoàn toàn những gì Chúa Giêsu ban cho đến ngày Ngài thật sự ra đi, thứ hai, ơn thật sự, di sản thật sự Chúa Giêsu để lại cho họ, chính là bình an.

Thoạt nhìn điều này có vẻ hơi lạ, các môn đệ chỉ có thể nhận trọn sinh lực này khi Ngài ra đi và để lại Thần Khí cho họ. Điều này cũng đúng cho mỗi chúng ta. Chỉ sau khi chúng ta rời khỏi một nơi nào đó thì sinh lực chúng ta để lại mới rõ ràng nhất. Có thể sau khi chúng ta chết, sinh lực chúng ta để lại sẽ là di sản thực sự của chúng ta. Nếu chúng ta sống trong cay đắng giận dữ, trong ghen tương và không sẵn lòng chấp nhận người khác, nếu cuộc sống chúng ta gieo hỗn loạn và bất ổn, thì đó là những gì chúng ta sẽ để lại, và sẽ luôn là một phần di sản của chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta đáng tin cậy và sống quên mình, có đạo đức, hiếu hòa với người khác, đem lại bình thản và vững vàng, thì như Chúa Giêsu, chúng ta sẽ để lại món quà bình an. Đó sẽ là di sản của chúng ta, là oxy chúng ta để lại cho hành tinh này sau khi chúng ta ra đi.

Và đây không phải là chuyện người nào có thể thổi bừng căn phòng bằng sự hóm hỉnh và hài hước, dù những chuyện này cũng tốt, nhưng đúng hơn, ai là người toàn vẹn cá nhân để đem lại tin tưởng và ổn định cho người khác?

Với tất cả những điều này, chúng ta tự hỏi: khi bước vào một căn phòng, tôi đang đem oxy vào hay tôi đang hút oxy của phòng đó?

Bỏ lại sự nô dịch và pharaô

Một trong những câu chuyện tôn giáo lớn nhất trong lịch sử là câu chuyện Xuất hành, câu chuyện về một dân tộc được giải thoát khỏi cảnh nô lệ, nhờ phép lạ đi qua được Biển Đỏ, rồi tự do đứng trên một bờ biển mới.

Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với câu chuyện này. Một quốc gia dân tộc Israel đã sống dưới ách nô lệ của Ai Cập trong nhiều năm. Trong những năm này, họ cầu nguyện để được giải phóng, nhưng hơn bốn trăm năm mà không được.

Rồi Thiên Chúa ra tay. Thiên Chúa cử ông Môsê đối đầu với Pharaô đã nô dịch dân Israel, rồi khi Pharaô chống cự, Thiên Chúa cho một loạt tai ương trút xuống, cuối cùng Pharaô phải thả dân Israel ra khỏi ách nô lệ và cho họ ra đi.

Ông Môsê bắt đầu dẫn dân Israel ra khỏi Ai Cập, nhưng khi họ vừa đi thì Pharaô đổi ý, đem quân đội đuổi theo, khi đó dân Israel bị kẹt ở bờ Biển Đỏ, không thể đi tiếp.
Chính lúc đó, Thiên Chúa làm phép lạ củng cố đức tin của người Do Thái. Ngài đã rẽ nước làm đôi và cho dân đi qua biển mà chân khô ráo. Rồi khi quân đội Ai Cập đuổi đến, nước ập về như cũ và nhấn chìm toàn bộ binh lính, khi đó người nô lệ chạy trốn đứng trên một bờ biển mới, được tự do thoát khỏi kẻ áp bức.

Cả người tín hữu kitô và người Do Thái đều tin phép lạ này có thật trong lịch sử, và là một trong hai phép lạ nền tảng mà Thiên Chúa đã làm. Với người tín hữu kitô, phép lạ nền tảng thứ hai là phép lạ Chúa Giêsu Phục sinh. Đức tin Do Thái giáo phụ thuộc vào sự thật về phép lạ Biển Đỏ, và đức tin kitô giáo phụ thuộc vào sự thật về Chúa Giêsu Phục sinh.
Hơn nữa, cả Do Thái giáo và Kitô giáo đều cho rằng những phép lạ này (đã xảy ra trong lịch sử, có thời gian và địa điểm) vốn được định cho mọi thời và mọi nơi và có thể được tham dự thông qua nghi lễ (theo một cách có thật, mặc dù nằm ngoài lịch sử).

Trong Do Thái giáo, phép tính như sau: khi tách Biển Đỏ và để dân Israel thoát nạn, Thiên Chúa làm một phép lạ, biến đổi hiện thực về mặt vật chất. Tuy nhiên, dù về mặt lịch sử, chỉ có một thế hệ thực sự đi qua Biển Đỏ, thì đây là một phép lạ vượt quá thời gian, địa điểm, lịch sử và siêu hình bình thường. Nó vô tận và có thể được nhiều thế hệ sau cùng tham dự.
Như thế nào? Thông qua nghi lễ, thông qua sự tưởng niệm mang tính nghi lễ phép lạ nguyên thủy đó, chính là lễ Vượt qua.

Khi người Do Thái mừng lễ Vượt qua, họ tin không chỉ họ tưởng nhớ một chuyện đã xảy ra khi Thiên Chúa tách Biển Đỏ, họ tin mỗi một người trong số họ, vào hàng thế kỷ sau, đang thực sự bước qua Biển Đỏ. Họ không chỉ tưởng nhớ một sự kiện lịch sử, họ đang tích cực tham gia vào sự kiện đó.

Có thể giải thích chuyện này thế nào? Làm sao có thể giải nghĩa một sự kiện có thể tồn tại ngoài không gian và thời gian? Không thể. Theo định nghĩa, hiện tượng học không thể giải thích phép lạ được. Chính vì vậy mới gọi là phép lạ. Vì thế chúng ta không thể giải thích cả việc đi qua Biển Đỏ, lẫn tính hiệu lực của sự kiện đó ngoài thời gianNgười tín hữu kitô cũng tin một điều như vậy về cuộc xuất hành của Chúa Giêsu, đi từ cái chết đến phục sinh. Chúng ta tin chuyện này đã xảy ra trong lịch sử, có thật, trong một sự kiện đã biến đổi thần kỳ vật lý bình thường của trái đất. Và như các anh chị em Do Thái, chúng ta cũng tin sự kiện xảy ra duy nhất, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, là điều mà chúng ta có thể tham dự, một cách có thật và thông qua nghi lễ, cụ thể là tưởng nhớ qua Kinh Thánh và qua việc cử hành Bí tích Thánh Thể.

Với kitô hữu, đây là chức năng đặc biệt của Kinh nguyện Thánh Thể trong việc cử hành nghi thức Thánh Thể. Kinh nguyện Thánh Thể không chỉ là lời cầu nguyện để Chúa Kitô hiện diện trong bánh và rượu, mà còn là lời cầu nguyện để cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu hiện diện khi chúng ta tham dự. Cũng như người Do Thái tin lễ Vượt qua là thực sự đi qua con đường Thiên Chúa đã tạo ra cho họ để hướng đến tự do, thì kitô hữu chúng ta cũng tin rằng trong phép Thánh Thể, chúng ta cũng thực sự bước qua con đường kỳ diệu từ sự chết đến sự sống mà Chúa Giêsu đã tạo qua hành trình từ cái chết đến phục sinh của Ngài.

Và, trong chuyện này có lời mời gọi cho tất cả những ai tham dự Bí tích Thánh Thể: đó là trong phần kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta hãy tự hỏi, thế lực nào đang nô dịch tôi? Pharaô nào đang giam cầm tôi? Một hình ảnh xấu về mình? Hoang tưởng? Nỗi sợ? Một vết thương nào đó? Tổn thương? Chứng nghiện? Tôi có thể đi với Chúa Kitô đến một nơi mới không còn sự nô lệ này nữa không? Phép lạ phục sinh của Chúa Giêsu, cũng như cuộc Xuất hành, đã xảy ra trong lịch sử, nhưng cũng vượt thời gian và không gian, có sẵn cho chúng ta để chúng ta bỏ lại những Pharaô đang làm chúng ta bị nô dịch, để chúng ta đến với tự do, trên một bờ biển mới.

Ký ức đen tối

Trong tâm hồn chúng ta, vượt ra ngoài những gì chúng ta có thể hình dung, diễn tả bằng lời, thậm chí cảm nhận rõ ràng, chúng ta có một ký ức đen tối về việc đã từng được chạm vào, được đôi bàn tay dịu dàng hơn nhiều so với bàn tay của chính chúng ta vuốt ve. Vuốt ve này đã để lại một dấu ấn vĩnh viễn, một dấu ấn của một tình yêu dịu dàng và sâu sắc đến nỗi ký ức về nó trở thành lăng kính để qua đó chúng ta nhìn các thứ khác. Dấu ấn này nằm ngoài ký ức có ý thức, nhưng lại hình thành nên trọng tâm tâm hồn chúng ta.

Đây không phải là một khái niệm dễ giải thích. Linh mục triết gia Canada Bernard Lonergan (1904-1984), một trong những nhà trí thức vĩ đại đã cố gắng giải thích theo cách triết học, linh mục cho rằng chúng ta mang trong mình “dấu ấn của các nguyên tắc đầu tiên”, cụ thể là những thuộc tính của Chúa như sự toàn vẹn, chân lý, lòng tốt, vẻ đẹp. Điều đó chính xác, nhưng trừu tượng. Có lẽ các huyền thoại, các truyền thuyết xưa cổ nắm bắt điều này tốt hơn khi họ nói, trước khi sinh ra, mỗi linh hồn được Chúa hôn, sau đó dù trải qua cuộc sống đen tối một cách nào đó, con người luôn nhớ nụ hôn này và lượng định mọi thứ qua trải nghiệm ngọt ngào ban đầu này, để kết nối với trái tim, kết nối với nụ hôn nguyên thủy với tất cả sự quý giá và ý nghĩa của nó.
Chính xác điều đang được nói ở đây là gì?

Bên trong mỗi chúng ta, tại nơi mà tất cả những gì quý giá nhất của chúng ta, có một cảm giác mơ hồ về việc đã từng được chạm vào, vuốt ve, yêu thương và trân trọng vượt xa bất kỳ điều gì chúng ta đã trải nghiệm một cách có ý thức. Trên thực tế, tất cả sự tốt đẹp, tình yêu, giá trị và dịu dàng chúng ta trải nghiệm trong cuộc sống đều không đủ chính xác vì chúng ta đã kết nối với một điều gì đó sâu sắc hơn. Khi chúng ta cảm thấy thất vọng, tức giận, bị phản bội, bị xâm phạm đó là vì những trải nghiệm bên ngoài này ngược với những gì chúng ta trân trọng bên trong.

Tất cả chúng ta đều có nơi này, một nơi trong trái tim, nơi chúng ta giữ tất cả những gì quý giá và thiêng liêng nhất của mình. Từ nơi đó, những nụ hôn, những giọt nước mắt của chúng ta tuôn ra. Đó là nơi chúng ta bảo vệ mình để khỏi bị người khác đi vào, nhưng cũng là nơi chúng ta muốn người khác đi vào nhất; nơi chúng ta cô đơn sâu đậm nhất, nơi của thân mật; nơi của ngây thơ, nơi chúng ta bị xâm phạm; nơi của lòng trắc ẩn, nơi của thịnh nộ. Ở đó, chúng ta là thánh. Ở đó, chúng ta là đền thờ của Chúa, đền thờ thiêng liêng của chân lý và tình yêu. Ở đó, chúng ta mang hình ảnh của Chúa.

Nhưng chúng ta cần hiểu điều này: hình ảnh của Chúa bên trong chúng ta không phải là biểu tượng đẹp đẽ được đóng dấu bên trong tâm hồn chúng ta. Không. Hình ảnh và sự giống Chúa bên trong chúng ta là năng lượng, lửa và ký ức; đặc biệt là ký ức về một đụng chạm nhẹ nhàng và yêu thương đến mức lòng tốt và sự thật trở thành lăng kính để cuối cùng chúng ta nhìn thấy mọi thứ. Vì vậy, chúng ta nhận ra lòng tốt và sự thật bên ngoài chúng ta chính xác là vì chúng cộng hưởng với một cái gì đó đã có bên trong chúng ta. Mọi thứ chạm đến trái tim chúng ta khi chúng chạm đến chúng ta ở đây. Không phải vì chúng ta đã được chạm đến và vuốt ve sâu sắc nên chúng ta say mê tìm kiếm người bạn tâm giao, chúng ta tìm kiếm một ai đó để cùng chúng ta ở nơi thân mật này sao?

Và, một cách có ý thức và vô thức, chúng ta đo lường mọi thứ trong cuộc sống bằng cách chạm đến nơi này: tại sao một số trải nghiệm lại chạm đến chúng ta sâu sắc hơn một số trải nghiệm khác? Tại sao trái tim chúng ta lại bùng cháy khi chúng ta đứng trước bất kỳ sự thật, tình yêu, lòng tốt hay sự dịu dàng chân thành và sâu sắc nào? Chẳng phải mọi kiến thức sâu sắc chỉ đơn giản là sự thức tỉnh với điều gì đó chúng ta đã biết sao? Chẳng phải mọi tình yêu chỉ đơn giản là vấn đề được tôn trọng vì điều gì đó chúng ta đã có sao? Chẳng phải sự đụng chạm và sự dịu dàng mang lại ngây ngất không gì khác hơn là khuấy động vào ký ức sâu thẳm của chúng ta sao? Chẳng phải những lý tưởng truyền cảm hứng cho hy vọng chỉ là lời nhắc về những lời mà ai đó đã nói với chúng ta sao? Chẳng phải mong muốn được ngây thơ (ngây thơ là không bị tổn thương) của chúng ta phản ánh một nơi nguyên thủy không bị tổn thương sâu thẳm bên trong chúng ta sao? Và khi chúng ta cảm thấy bị xâm phạm, chẳng phải là vì ai đó đã vô lễ bước vào nơi thiêng liêng bên trong chúng ta đó sao?

Khi chúng ta gần với ký ức này và tôn trọng sự nhạy cảm của nó, chúng ta đang tiếp xúc với tâm hồn mình. Vào những lúc đó, đức tin, hy vọng và tình yêu sẽ nảy nở trong chúng ta, niềm vui và nước mắt sẽ tuôn trào một cách tự nhiên, và chúng ta sẽ bị ảnh hưởng sâu sắc của sự ngây thơ và vẻ đẹp trẻ thơ, khi nỗi đau và lòng biết ơn xen kẽ sẽ làm chúng ta quỳ xuống.

Đó chính là ý nghĩa của việc được hồi tưởng và tập trung. Để thực sự là chính mình là nhớ, chạm và cảm nhận ký ức về một chạm vào ban đầu của Chúa trong chúng ta. Ký ức đó đốt cháy năng lượng và cung cấp cho chúng ta một lăng kính để nhìn và hiểu.

Đáng buồn thay, ngày nay, thế giới bị tổn thương, bị chai sạn, hoài nghi, quá tinh vi và quá trưởng thành thường mời gọi chúng ta quên đi nụ hôn của Chúa trong tâm hồn, xem đây là trò trẻ con. Nhưng, trừ khi chúng ta tự dối mình và cứng rắn chống lại chính mình (hoạt động nguy hiểm nhất trong mọi hoạt động), chúng ta sẽ luôn nhớ, một cách mơ hồ, đen tối, không ngừng nghỉ cái vuốt ve của Chúa.

Độc thân – Nên nói gì đây?

Vài năm trước, một bài xã luận của Frank Bruni đăng trên New York Times có tựa đề Giá của Độc thân (The Wages of Celibacy). Bài viết tuy mang tính khiêu khích nhưng công bằng. Chủ yếu tác giả đặt nhiều câu hỏi khó và cần thiết khi nghiên cứu các vụ bê bối tình dục đã ảnh hưởng đến chức linh mục công giáo trong nhiều năm qua, tác giả cho rằng đã đến lúc phải xem xét lại chế độ độc thân với con mắt trung thực và can đảm, tự hỏi mặt trái của chế độ này có lớn hơn những lợi ích tiềm tàng hay không. Tác giả không đưa ra quyết định chắc chắn về vấn đề này; ông chỉ nói, với lối sống đã khấn, chế độ độc thân có nhiều rủi ro hơn mức bình thường. Gần cuối bài ông viết: “Văn hóa độc thân có nguy cơ kìm hãm phát triển tình dục và biến những ham muốn tình dục thành những cử chỉ lén lút, đau khổ. Nó hạ thấp mối liên hệ cơ bản và có thể là không thể cưỡng lại được của con người. Có gì lạ khi một số linh mục vẫn ráng có những mối liên hệ đó, theo những cách lén lút, thiếu thận trọng và đôi khi mang tính phá hoại không?”

Đây không phải là câu hỏi bất kính. Đây là câu hỏi cần thiết. Chúng ta cần có can đảm để đối diện với câu hỏi: liệu độc thân có thực sự bất thường cho tình trạng con người không? Độc thân có nguy cơ cản trở sự phát triển tình dục không?

Một nhà báo đã hỏi tu sĩ Thomas Merton (1915-1968) độc thân là như thế nào. Tôi ngờ rằng câu trả lời của ông sẽ làm cho những người mộ đạo ngạc nhiên vì ông thực sự tán thành quan điểm của tác giả Bruni. Câu trả lời của ông: “Độc thân là địa ngục! Bạn sống trong cô đơn mà chính Chúa đã lên án khi Ngài nói: ‘Đàn ông sống một mình không tốt!’” Tuy nhiên, khi thừa nhận như vậy, ngay lập tức Merton nói, chỉ vì độc thân không phải là tình trạng bình thường của con người, nhưng không có nghĩa là nó không thể đơm hoa kết trái tốt đẹp, có lẽ sự đơm hoa kết trái độc đáo của nó gắn liền với mức độ phi thường và bất thường của nó.

Về bản chất, Merton muốn nói độc thân là bất thường và làm chúng ta sống trong tình trạng không được Tạo Hóa mong muốn; nhưng, bất chấp và có lẽ là vì sự bất thường đó, nó có thể đặc biệt có ích, cho cả người sống độc thân và những người xung quanh.

Cũng như vô số người khác, tôi biết điều này là đúng vì tôi đã được nuôi dạy sâu sắc là tín hữu kitô và là con người, cuộc sống của các linh mục, nữ tu và anh em đã khấn độc thân chạm đến cuộc sống của tôi và chính xác “sự bất thường” của họ đã giúp họ trở nên vô cùng hiệu quả.

Hơn nữa, sự bất thường đặc biệt này có thể có sức hấp dẫn riêng của nó. Tôi đã làm linh hướng cho một chàng trai trẻ đang phân vân không biết có nên vào dòng Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm hay nên đính hôn với một cô gái trẻ. Đây là quyết định đau đớn vì anh muốn cả hai. Phân định của anh dù lãng mạn quá mức khi anh nói về cả hai lựa chọn, nhưng đồng thời lại cũng rất chín chắn. Đây là cách anh mô tả tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình:

Tôi lớn lên ở một vùng nông thôn và là người anh cả gia đình. Khi tôi 15 tuổi, cha tôi còn trẻ, một buổi tối trước khi ăn tối, cha tôi lên cơn đau tim. Vì không có xe cứu thương để gọi, chúng tôi quấn cha vào xe và mẹ tôi ngồi băng sau ôm cha, còn tôi, một thiếu niên sợ hãi lái xe đến bệnh viện cách nhà khoảng 15 dặm. Cha tôi mất trước khi đến bệnh viện. Dù bi thảm, nhưng có nét tốt đẹp trong đó. Cha tôi chết trong tay mẹ tôi. Vẻ đẹp bi thảm này in dấu trong tâm hồn tôi. Trong tâm trí tôi, trong tưởng tượng của tôi, đó là cách tôi muốn chết – trong vòng tay của vợ tôi. Với hoang mang này, tôi rất do dự khi vào Dòng Hiến Sĩ vì phải độc thân. Nếu tôi là linh mục, tôi sẽ không chết trong vòng tay con người. Tôi sẽ chết như những người độc thân – trong đức tin nhưng không trong vòng tay con người.

Một ngày nọ, khi cố gắng phân định tất cả những điều này, tôi thấy một hình ảnh khác: Chúa Giêsu không chết trong vòng tay của người bạn đời, Ngài chết một mình, trong cô đơn. Tôi luôn có điểm yếu về sự cô đơn của những người độc thân, tôi luôn bị thu hút bởi những người như triết gia Soren Kierkegaard, Mẹ Têrêxa, bà Dorothy Day, các tu sĩ Thomas Merton và Daniel Berrigan, những người không chết trong vòng tay người bạn đời. Nhưng cũng có một vẻ đẹp thực sự trong cách họ chết!

Tác giả Bruni đã đúng khi cảnh cáo độc thân là bất thường và đầy nguy hiểm. Nó có nguy cơ cản trở sự phát triển tình dục và đặc biệt là hạ thấp mối liên hệ cơ bản của con người theo lệnh của Kinh thánh, cụ thể là giáo điều nhân học cơ bản có trong câu chuyện về Chúa tạo ra cha mẹ đầu tiên của chúng ta và tuyên bố con người sống một mình là không tốt (và nguy hiểm)!

Độc thân làm chúng ta sống trong cô đơn mà chính Chúa đã lên án, nhưng đó cũng là cô đơn mà Chúa Giêsu đã chết cho chúng ta, và đó là biểu hiện tình yêu sáng tạo nhất của lịch sử loài người.

Yêu Giáo hội của mình và của anh em mình

Tôi dạy môn linh đạo ở Trường Thần học Hiến sĩ ở San Antonio, Texas. Mười lăm năm trước, chúng tôi bắt đầu chương trình Tiến sĩ về Tâm linh. Trong 15 năm này chúng tôi có các nghiên cứu sinh tiến sĩ từ nhiều giáo phái kitô giáo khác nhau – tin lành, tin lành chính thống, tân giáo, anh giáo và công giáo la-mã đến học. Trong 15 năm này không có ai đổi đạo của mình sang đạo khác. Nhưng khi rời trường, các sinh viên dấn thân sâu đậm hơn trong tôn giáo của mình và hiểu sâu sắc hơn tôn giáo bạn. Chúng tôi tự hào về điểm này. Đó là một trong những mục tiêu của chúng tôi.

Kể từ thời Cải cách Tin lành, các tín hữu kitô đã trải qua năm trăm năm hiểu lầm và nghi ngờ nhau. Khi đó ai cũng có khuynh hướng làm việc với giả định mình thuộc về một giáo phái chân thực (hoặc ít nhất là chân chính nhất) của kitô giáo và tìm cách hoán cải người khác bỏ giáo phái của họ theo giáo phái của mình. Đáng mừng thay, mọi thứ đang thay đổi, dù có người vẫn còn cho rằng kitô giáo mới thực sự là kitô giáo, bảo vệ cho một ranh giới nhiều người vẫn còn bám vào. Một tầm nhìn mới đang dần dần hình thành và chúng tôi bắt đầu nhìn nhau dưới một góc nhìn khác.

Chúng tôi bắt đầu nhận ra con đường dẫn đến hiệp nhất không phải là con đường cho rằng: ‘Bạn sai, tôi đúng’, cả khi chúng tôi ý thức được những vấn đề gây chia rẽ giữa nhau. Đúng hơn, chúng tôi đang nhìn vào những gì chúng tôi chia sẻ chung trong tư cách là tín hữu kitô, là con người, và nhận ra những gì chúng tôi chia sẻ trong những điểm chung nhỏ bé lại là những điều làm chúng tôi ngăn cách.

Chúng tôi có điểm chung nào đã làm lu mờ giáo điều, giáo hội học, cơ cấu quyền lực hoặc sự hiểu lầm lịch sử nào đã chia rẽ chúng tôi?

Chúng tôi chia sẻ điểm chung này: một khởi đầu, một bản chất, một trái đất, một bầu trời, một định luật hấp dẫn, một mong manh, một cái chết trần thế, một ước muốn, một mục tiêu, một số phận, một con đường, một Thiên Chúa, một Chúa Giêsu, một Chúa Kitô, một Chúa Thánh Thần. Tất cả những điều này mang theo một mệnh lệnh tối thượng: yêu Giáo hội của mình và của anh em mình.

Nhưng chúng ta có thể phản đối, còn tất cả những điều sai trái ở Giáo hội anh em của tôi thì sao? Phải công nhận đây là cả một vấn đề. Tuy nhiên, cũng phải công nhận, Giáo hội chúng ta cũng có những điều sai trái, dù chúng ta ở giáo phái nào. Hơn nữa, như học giả nổi tiếng về tôn giáo Huston Smith khẳng định, chúng ta đánh giá một tôn giáo khác hay một giáo phái kitô không qua những sai lầm hay những biểu hiệu xấu nhưng qua những biểu hiệu tốt nhất, qua những thánh của họ.

Nếu điều này đúng thì tất cả chúng ta có thể hướng về các Giáo hội khác, các thánh, các phong phú đặc biệt của họ để làm phong phú thêm vai trò môn đệ của chúng ta trong Chúa Kitô. Trong quyển sách sâu sắc Yêu Giáo hội của người anh em như Giáo hội mình (To Love Your Neighbor’s Church as Your Own) tác giả tin lành chính thống Thụy Điển Peter Halldorf đặt câu hỏi: “Yêu Giáo hội của người anh em như Giáo hội mình có nghĩa là gì? Liệu tín hữu đạo Ngũ Tuần có thể xem người công giáo có thể làm phong phú thêm cho kinh nghiệm đức tin của họ không? Liệu người công giáo la-mã có thể nhìn người tín hữu Ngũ Tuần như vậy được không?”

Nếu chúng ta trung thực, chúng ta phải nhận chúng ta có nhiều điều để học lẫn nhau. Vì vậy, chúng ta không nên xa cách nhau, chúng ta phải bắt đầu nói về những điểm “hội tụ” hơn là “hoán cải”. Chúa Thánh Thần mời gọi chúng ta đến với nhau trong tôn trọng, chia sẻ, khiêm nhường, không có thái độ nghi ngờ hay đắc thắng. Ở đó, ngờ vực có thể được khắc phục.

Làm sao chúng ta có thể đến với nhau theo cách đó? Cách đây một thế hệ, thần học gia nổi tiếng Avery Dulles cho rằng con đường đại kết không phải là con đường hoán cải. Sự hiệp nhất giữa các giáo hội kitô giáo sẽ không xảy ra vì tất cả các giáo phái trở lại và theo một giáo phái. Ông khẳng định, điều này không những không thực tế mà còn không lý tưởng vì không một giáo phái nào nắm giữ toàn bộ chân lý. Đúng hơn, tất cả chúng ta vẫn đang hành trình, với tất cả tấm lòng chân thành chúng ta hướng đến sự thật trọn vẹn, hướng đến vai trò môn đệ trọn vẹn và hướng tới việc thể hiện đầy đủ hơn Nhiệm thể Chúa Kitô trên trái đất này. Tất cả chúng ta vẫn đang trên con đường đi đến điều này.

Vì thế, con đường dẫn đến chủ nghĩa đại kết, đến sự hiệp nhất kitô giáo, đến sự hiệp nhất tại bàn tiệc Thánh Thể nằm ở mỗi chúng ta, mỗi giáo phái, từ hoán cải bên trong, ngày càng trung thành hơn trong vai trò môn đệ của mình, trong việc bày tỏ một cách chân thực hơn về Nhiệm thể Chúa Kitô, để khi trung thành hơn với Chúa Kitô, chúng ta sẽ thấy mình ngày càng đến với nhau, hội tụ với nhau, cùng nhau lớn lên như một gia đình.

Cố Tổng giám mục anh giáo Kenneth Cragg (1913-2012) từng đề nghị tương tự với vấn đề liên tôn giữa các tôn giáo trên thế giới. Sau khi làm việc với tư cách là nhà truyền giáo kitô giáo với người hồi giáo, ngài cho rằng tất cả các tôn giáo trên thế giới sẽ phải thể hiện nơi Chúa Kitô trọn vẹn.

Đã đến lúc vượt quá năm trăm năm hiểu lầm, chúng ta đến gần nhau ôm nhau, cùng hành hương, cùng phấn đấu trên một hành trình chung. Yêu Giáo hội của mình và yêu Giáo hội của người anh em.

Điều gì định hình nên tâm hồn con người?

Trong một phần bài thơ Chiếc lá và đám mây, bà Mary Oliver mô tả cảm xúc của bà khi ở bên mộ cha mẹ. Bà suy nghĩ về cách vừa tính tốt vừa lỗi lầm của họ đã ảnh hưởng đến cuộc sống của bà. Bà kết thúc bài suy ngẫm bằng những từ này:

Tôi trao cho họ – một, hai, ba, bốn – nụ hôn lịch sự,
Của lời cám ơn ngọt ngào.
Tôi mong họ ngủ ngon. Mong họ dịu lại.
Nhưng tôi sẽ không cho họ nụ hôn đồng tình.
Tôi sẽ không cho họ trách nhiệm về cuộc đời của tôi.

Điều gì định hình nên tâm hồn chúng ta? Đâu là phần của bí ẩn? Đâu là phần của di truyền? Đâu là ảnh hưởng của người khác? Đâu là trách nhiệm của chính tôi? Khi tôi suy ngẫm về những gì đã định hình nên tâm hồn tôi, ảnh hưởng của cha mẹ tôi hiện lên rất lớn.

Một phần trong tôi là mẹ tôi. Bà là người nhạy cảm, người đôi khi không thể từ chối khi thấy cần làm. Vì vậy, bà thường cảm thấy quá căng thẳng và mệt mỏi. Ngày nay, một số người sẽ cho bà đã không giữ đúng ranh giới. Bà có mười sáu người con. Nên không có lý gì để chỉ trích bà.

Bà là người hào phóng, luôn cho đi mọi thứ. Khi còn nhỏ, đôi khi tôi giận bà vì chuyện này. Tôi không muốn một người mẹ hào phóng. Tôi muốn mọi thứ. Điều bà muốn là sự hòa thuận trong gia đình. Tôi nhớ một sáng thứ bảy bà đã chảy nước mắt khi bà dọn dẹp nhà cửa và cố gắng giữ hòa bình ổn định trong gia đình, vì gia đình đang hỗn loạn cãi vã nhau. Bà nói với chúng tôi bà thất vọng như thế nào vì gia đình không giống như Thánh Gia.

Chúng tôi không phải là gia đình Thánh Gia, đôi khi tôi thấy bà thất vọng, không phải với chúng tôi mà với sự bất cập của cuộc sống. Nhưng bà là người vui vẻ, có tinh thần lạc quan tự nhiên hơn cha tôi. Bà thích khiêu vũ hơn cha tôi, cười tự nhiên hơn và là người dễ gần gũi với chúng tôi khi chúng tôi còn nhỏ. Bà ít suy nghĩ về cuộc sống hơn cha tôi, dù không đến mức thiếu suy nghĩ như chúng tôi ngây thơ nghĩ. Trong một giai đoạn cuộc đời, bà đã viết nhật ký và bà cho thấy bà đã suy nghĩ sâu sắc hơn về mọi thứ so với những gì chúng tôi nghĩ.

Niềm khao khát sâu xa nhất của bà là một mái ấm thực sự và bà đã may mắn ở đây. Bà đã gặp cha tôi. Ngay sau khi họ gặp nhau cho đến ngày ông mất, cha mẹ tôi là bạn tâm giao theo đúng nghĩa của nó. Bà không cần phải kể cho cha tôi nghe các bí mật của bà hay chia sẻ với ông các thất vọng của bà, ngược lại, ông cũng vậy. Họ hiểu nhau mà không cần phải giải thích. Trong suốt những năm tháng lớn lên, tôi chưa bao giờ thấy họ hiểu lầm hay giận nhau.

Cha tôi mất vì ung thư, bà vẫn mạnh cho đến khi mất, ba tháng sau bà qua đời vì viêm tụy và vì nỗi cô đơn không thể chữa khỏi. Ngày nay, sẽ có người cho rằng hai người sống lệ thuộc nhau. Nhưng bà sẽ cười và nói với họ, bà đã có những gì bà muốn trong cuộc sống. Bà mất vì nhớ cha tôi, bà chết trong hạnh phúc. Có điều gì đó đáng ganh tị trong việc này.

Tôi là con trai của bà và khi tôi suy nghĩ nhiều về chuyện này, tâm hồn tôi trở nên ít bí ẩn hơn với những đấu tranh, lỗi lầm, khao khát và điểm mạnh của tôi. Tôi hiểu vì sao tôi mệt mỏi nhiều như vậy!

Và rồi một phần lớn trong tôi là cha tôi. Có rất nhiều điều trong tôi có thể giải thích bằng gen của tôi. Cha tôi không dễ dàng khiêu vũ dù ông là người giàu tình cảm. Khiêu vũ là quá trình diễn với ông. Ông thích thể hiện tình cảm nơi riêng tư. Ông yêu mẹ tôi, gia đình và tất cả mọi người trong gia đình, nhưng cách của ông là không công khai ở nơi công cộng. Ông có sự kín đáo đôi khi bị cho là lạnh lùng, nhưng phải đọc hành động nơi đôi mắt của ông. Đôi mắt nói lên một chuyện gì khác. Ông không thích phô trương, ghét những nghi lễ dài dòng, ghét những màn phô trương rẻ tiền nơi công cộng. Ông cũng không thích thái quá trong mọi thứ. Ông là người có phong cách điều độ, kiềm chế đúng mực trong mọi thứ. Gia đình chúng tôi thích nói đùa sự điều độ là sự thái quá duy nhất của ông.

Ông không khoan nhượng trong quá trình nuôi dạy chúng tôi. Ông đau khổ vì tất cả những gì không đúng trên thế giới và kiên nhẫn của ông không phải lúc nào cũng vượt qua được thử thách. Tôi sợ đôi mắt của ông những lúc tôi làm ông thất vọng. Tôi cũng sợ, và vẫn sợ, làm ông thất vọng. Ông là một trong những người đạo đức nhất mà tôi biết, ông có giác quan thứ sáu gần như không thể sai. Ông biết đúng sai theo cách tôi không thể nghi ngờ. Ông đã chỉ bảo tôi về chuyện này – bất chấp tôi phản đối. Nếu tôi phải xuống địa ngục, tôi không thể biện hộ rằng mình không biết. Cha tôi đã trang bị cho tôi về mặt đức tin và đạo đức cho cuộc sống. Nhưng tôi cũng có những lỗi lầm đi kèm với điều này, lỗi lầm của ông cọng thêm lỗi lầm của chính tôi.

Rất nhiều người trong chúng ta, điểm mạnh và điểm yếu bắt nguồn từ cách nuôi dạy chúng ta, nhưng dù sao, chúng ta vẫn phải chịu trách nhiệm cho cuộc sống của chính mình.

Con đường ít ai đi

Hai con đường rẽ ra trong một khu rừng – và tôi, tôi chọn con đường ít ai đi, đó là cả một khác biệt.
Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với lời của nhà thơ Mỹ Robert Frost (1874-1963), ông đã nói vô số lần trong các bài phát biểu tốt nghiệp và trong các dịp khác như một thách thức: chúng ta không nên đi theo đám đông, nhưng dám đi trên con đường của chính mình, nâng nỗi cô đơn của mình lên một tầm cao mới. Đúng, Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta như thế khi chúng ta đứng trước hai con đường rất khác nhau.

Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu tóm tắt nhiều lời dạy quan trọng của Ngài. Nhưng những lời này dễ bị hiểu lầm và thường chúng ta hợp lý hóa nó. Phần lớn chúng ta không nắm bắt được điểm chính yếu ở lời dạy này: đức hạnh chúng ta phải sâu sắc hơn đức hạnh của các luật sĩ và của người biệt phái pharisêu. Vấn đề ở đây là gì?

Hầu hết các luật sĩ và người pharisêu đều là những người tốt, chân thành, tận tụy, mộ đạo, có đức hạnh cao. Họ tuân giữ các Điều răn, họ là các ông các bà giữ công lý nghiêm ngặt. Họ công bằng với mọi người, rất nhân từ và quảng đại với người lạ. Vậy, họ còn thiếu gì? Đúng, họ tốt nhưng chưa đủ. Vì sao?

Vì chúng ta có thể là người đạo đức, hoàn toàn công bằng và quảng đại nhưng chúng ta vẫn có thể căm ghét, trả thù và hung bạo vì đó là những chuyện chúng ta vẫn có thể làm một cách công bằng. Công lý nghiêm ngặt cho phép chúng ta có thể ghét người ghét mình. Trả thù khi bị đối xử bất công và có thể ủng hộ án tử hình. Mắt đền mắt!

Nhưng khi làm như vậy, chúng ta luôn làm những gì đến một cách tự nhiên. Yêu người yêu mình là chuyện tự nhiên, ghét người ghét mình cũng là chuyện tự nhiên. Nhưng đức hạnh thực sự đòi hỏi nhiều hơn thế. Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta đến với điều gì đó cao cả hơn. Ngài xin chúng ta yêu người ghét chúng ta, chúc phúc cho người nguyền rủa chúng ta, không bao giờ tìm cách trả thù và tha thứ cho những kẻ giết chúng ta – kể cả những kẻ giết người hàng loạt.

Phải thừa nhận, đây không phải là con đường dễ đi. Hầu như mọi bản năng tự nhiên trong chúng ta đều chống lại điều này. Phản ứng tự phát khi chúng ta bị oan là gì? Chúng ta muốn trả thù. Phản ứng tự phát khi chúng ta nghe tin kẻ nổ súng trong vụ thảm sát đã bị giết là gì? Chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm. Phản ứng tự phát của chúng ta khi kẻ giết người không hối hận bị hành quyết là gì? Chúng ta cảm thấy vui vì hắn đã chết; chúng ta không thể kiềm chế các phản ứng này. Công lý đã được thực thi. Một điều gì đó đã được thực thi trong vũ trụ. Sự phẫn nộ về mặt đạo đức của chúng ta đã được xoa dịu. Đã có một kết luận.

Có một kết luận không? Không. Những gì chúng ta cảm thấy chỉ là giải thoát về mặt cảm xúc, là thanh tẩy; nhưng có một khác biệt rất lớn giữa thanh tẩy và sự khép lại thực sự. Mặc dù về mặt tâm lý, sự giải thoát về mặt cảm xúc có thể lành mạnh, chúng ta được Chúa Giêsu và tất cả những gì cao cả nhất bên trong chúng ta mời gọi đến với một điều gì đó khác, đến một con đường vượt ra ngoài cảm giác giải thoát về mặt cảm xúc, cụ thể là con đường ít người đi để đến với lòng trắc ẩn: hiểu biết và tha thứ rộng lớn hơn.

Để đánh giá điều này, chúng ta nên xem lại cách Đức Gioan-Phaolô II giải quyết án tử hình. Ngài là giáo hoàng đầu tiên trong lịch sử Giáo hội hai ngàn năm lên tiếng phản đối án tử hình. Ngài không nói án tử hình là sai, vì theo công lý nghiêm ngặt, án tử hình có thể được thực hiện. Ngài chỉ nói chúng ta không nên làm điều đó vì Chúa Giêsu mời gọi chúng ta làm điều khác: tha thứ cho kẻ giết người.

Nói thì dễ! Khi nghe tin vụ xả súng hàng loạt, suy nghĩ và cảm xúc của tôi không tự nhiên hướng đến sự hiểu biết và thông cảm với kẻ xả súng. Tôi không đau khổ về việc người này đã đau khổ như thế nào để làm việc này. Tôi không thông cảm với những người có vấn đề tinh thần, những người bị tổn thương để họ có thể làm những chuyện như vậy. Nhưng, cảm xúc tự nhiên của tôi là đi con đường của nhiều người đi: đây là người xấu xa, họ đáng chết! Sự đồng cảm và tha thứ không phải là điều đầu tiên tôi nghĩ đến trong những tình huống này. Thù hận và muốn trả thù: có.

Tuy nhiên, đó lại là con đường của cảm xúc, con đường được lựa chọn nhiều hơn. Điều này dễ hiểu. Ai muốn thông cảm cho kẻ giết người, kẻ ngược đãi, kẻ bắt nạt?

Nhưng đó chỉ là cảm xúc khi chúng ta trút giận. Có điều gì đó khác bên trong chúng ta luôn kêu gọi chúng ta đến với điều cao cả hơn, cụ thể: đến với thông cảm và thấu hiểu mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trong Bài giảng trên núi. Hãy yêu kẻ ghét mình. Chúc phúc cho kẻ nguyền rủa mình. Tha thứ cho kẻ làm hại mình.

Hơn nữa, đức hạnh này không phải là điều chúng ta có thể có một lần và được mãi mãi. Không. Đức tin làm việc theo cách: có ngày chúng ta đi trên mặt nước, có ngày chúng ta chìm lỉm như tảng đá. Vì vậy, giống như nhà thơ Robert Frost nói, có những khi chúng ta thấy mình đứng giữa hai con đường. Một con đường nhiều người đi, con đường của căm thù, trả thù, con đường cảm thấy mình là nạn nhân; con đường kia ít người đi, mời tôi đi trên con đường của lòng trắc ẩn, thông cảm và tha thứ cao cả hơn.

Tôi sẽ chọn con đường nào? Đôi khi là con đường này, đôi khi là con đường kia; dù tôi biết con đường nào Chúa Giêsu đang mời tôi.

Ảo tưởng về lòng tốt của chính chúng ta

Một trong những bi kịch lớn trong mọi tác phẩm văn học là câu chuyện về ông Saul trong Kinh Thánh. Saul làm cho nhân vật Hamlet giống như một nhân vật của Disney. Ít nhất thì Hamlet cũng có lý do chính đáng cho thảm họa ập đến với mình. Còn với ông Saul, với những ơn ông có, lý ra số phận của ông phải tốt hơn rất nhiều.

Câu chuyện của ông bắt đầu với lời tuyên bố, trong toàn bộ Israel, không ai có thể sánh được với ông về chiều cao, sức mạnh, lòng tốt, lời ca ngợi. Là nhà lãnh đạo bẩm sinh, một hoàng tử giữa những người đồng cấp, tính cách phi thường của ông được mọi người công nhận và tuyên xưng. Câu chuyện của ông bắt đầu như câu chuyện cổ tích. Và cứ thế tiếp diễn trong một thời gian.

Nhưng, đến một lúc nào đó, mọi thứ bắt đầu trở nên xấu đi. Đó là lúc Đavid xuất hiện, một thanh niên trẻ hơn, đẹp trai hơn, tài năng hơn, được ca ngợi hơn. Sự đố kị bắt đầu và đố kỵ dần dần biến tâm hồn ông thành chất độc. Khi nhìn Đavid, ông chỉ thấy sự nổi tiếng làm lu mờ chính ông, ông không thấy lòng tốt của người khác, không thấy lòng tốt đó có thể là ơn cho nhiều người như thế nào. Ông trở nên cay đắng, nhỏ nhen, lạnh lùng và muốn giết Đavid, cuối cùng Đavít chết dưới bàn tay ông, người tức giận đã sa ngã so với lòng tốt khi còn son trẻ.

Chuyện gì đã xảy ra ở đây? Làm thế nào mà một người có quá nhiều lòng tốt, tài năng, quyền lực và ơn lành lại trở thành người đàn ông tức giận, nhỏ nhen, tự tử vì thất vọng? Chuyện này xảy ra như thế nào?

Nữ văn sĩ quá cố Margaret Laurence, trong quyển tiểu thuyết đen tối The Stone Angel đã mô tả chính xác cách điều này có thể xảy ra. Hagar Shipley, nhân vật chính của bà có phần giống ông Saul trong Kinh Thánh.

Câu chuyện của Hagar bắt đầu giống như câu chuyện của Saul: cô trẻ, tốt đẹp, đầy tiềm năng. Một phụ nữ trẻ đẹp, thông minh, tài năng như vậy sẽ ra sao? Đáng buồn thay, chẳng ra gì. Cô trôi dạt vào mọi thứ: tuổi trưởng thành, hôn nhân không hạnh phúc, thất vọng sâu đậm không được nhận ra, cuối cùng cô trở nên luộm thuộm, lạnh lùng, cay đắng, không năng lực, không tham vọng. Điều đáng chú ý cũng như đáng buồn là cô không nhận ra bất kỳ điều gì trong những điều này đã xảy ra với mình. Trong tâm trí cô, cô vẫn nghĩ cô là cô gái trẻ đẹp, tốt bụng, duyên dáng, nổi tiếng, hấp dẫn như hồi trung học. Cô không nhận ra thế giới của cô đã trở nên nhỏ bé như thế nào, cô không còn được bạn bè xung quanh ngưỡng mộ, cô để bề ngoài của cô như người bê tha.

Sự thức tỉnh của cô đột ngột và tàn khốc. Một ngày mùa đông, cô mặc chiếc áo khoác parka cũ, cô bấm chuông ngôi nhà cô giao trứng. Một đứa trẻ mở cửa, nhìn cô và cô nghe đứa bé nói với mẹ: “Bà già bán trứng khủng khiếp đang ở ngoài cửa!” Rụng rời ngạc nhiên.

Sửng sốt, cô rời ngôi nhà và đến nhà vệ sinh công cộng, cô bật hết đèn và nhìn khuôn mặt mình trong gương. Một khuôn mặt mà chính cô không nhận ra, một người trái ngược một cách thảm hại với hình ảnh cô nghĩ về mình. Thực tế, cô thấy người phụ nữ già nua, kinh khủng mà đứa bé nhìn thấy ở cửa, chứ không phải hình ảnh người phụ nữ trẻ trung, duyên dáng, hấp dẫn, rộng lượng mà cô vẫn nghĩ về mình. Cô tự hỏi, làm sao điều này có thể xảy ra? Làm sao chúng ta, những người vô hình với chính mình, có thể trở thành người mà chúng ta không thể nhận ra?

Ở mức độ nhỏ hoặc lớn hơn, điều này xảy ra với tất cả chúng ta. Không dễ để già đi, để chấp nhận cái chết của nhiều thứ mà chúng ta mơ ước cho chính mình và để chứng kiến những người trẻ sau chúng ta được nổi tiếng, được ca ngợi mà chúng ta từng được. Giống như Saul, chúng ta có thể bị ghen tị tức giận làm mù quáng và giống như Hagar, chúng ta không thấy chính mình. Dĩ nhiên người khác nhìn thấy.

Nhưng, với hầu hết chúng ta, khi điều này xảy ra, chúng ta vẫn là những người tốt và hào phóng, ngoại trừ chúng ta trở nên cay nghiệt, hoài nghi và phán xét nhiều hơn trước đây. Chúng ta vẫn là người tốt, nhưng than van quá nhiều, quá thương hại mình, nguyền rủa nhiều hơn là chúc phúc cho những người đã thay thế chúng ta về tuổi trẻ, về nổi tiếng và địa vị.

Vì thế một trong những nhiệm vụ thiêng liêng quan trọng nhất của con người trong nửa sau cuộc đời là nhận ra sự ghen tị, xấu xí này bên trong mình, quay trở lại với tình yêu, với sự tươi mới của tuổi trẻ để tái sinh, để trở nên ngây thơ lần thứ hai, và bắt đầu lại, để là những người trẻ tuổi với ánh mắt ngưỡng mộ.

Vào đầu Sách Khải Huyền, tác giả, nói bằng giọng nói của Chúa, đã đưa ra lời khuyên này cho chúng ta, ít nhất là với những người trong chúng ta đã qua tuổi thanh xuân: “Ta đã thấy con làm việc chăm chỉ như thế nào. Ta công nhận lòng hào phóng và mọi việc tốt con làm. Nhưng Ta có điều này trách con – con không còn yêu thương con như khi con còn trẻ! Hãy quay lại và nhìn từ nơi con đã sa ngã!”

Chúng ta có thể muốn nghe những lời này từ Kinh Thánh hơn là nghe một cô bé nói với mẹ có một người già, xấu xí, cay đắng đang ở trước cửa.

Giữ ngày Sabát

Nhà thần bí Sufi Rumi đã từng than thở: “Tôi đã sống quá lâu ở nơi mọi người có thể gặp tôi!” Đó là cách đây một ngàn hai trăm năm trước, rất lâu trước khi có điện thoại di động, internet, máy tính và phương tiện truyền thông xã hội. Ngày nay, gần như tất cả chúng ta đều sống ở những nơi mà mọi người có thể tiếp xúc với nhau bất cứ lúc nào. Dù điều này có một số điểm tích cực rất to lớn, nhưng chúng ta lại nhận ra mặt trái khó chịu của nó chậm hơn. Chúng ta không bao giờ thoát được những bận tâm, những can dự đè nặng lên sức khỏe tinh thần chúng ta. Nhiều người cảm thấy khó khăn khi phải xa các phương tiện này, dừng các hoạt động, nghỉ ngơi, làm mới, tái tạo năng lượng. Nói theo ngôn ngữ Kinh thánh, chúng ta thấy càng ngày càng khó khăn hơn để có “ngày Sabát” trong cuộc sống.

Chúng ta có một điều răn của Chúa: anh chị em đừng quên giữ ngày Sabát. Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều dễ dàng đồng ý: ngày nay điều răn này đã thành khó khăn. Vấn đề không chỉ là càng ngày càng ít người đi lễ chúa nhật, các cửa tiệm mở cửa ngày chúa nhật, các sự kiện thể thao thường tổ chức vào ngày chúa nhật, ngày dành cho tôn giáo. Vấn đề sâu xa hơn là ngày càng nhiều người trong chúng ta không thể sống chậm lại, không thể tắt các thiết bị liên lạc, không thể tránh xa lo lắng căng thẳng trong cuộc sống, để đơn thuần dừng lại nghỉ ngơi.

Chúng ta đang sống ở nơi mà mọi người có thể tiếp xúc với nhau bất cứ lúc nào và phần lớn chúng ta mất khái niệm về ngày Sabát trong cuộc sống. Bây giờ chúng ta xem ngày này như một gợi ý để sống lý tưởng: Tốt, nếu bạn tìm được thời gian để làm.

Với suy nghĩ này, tôi xin đưa ra Mười lời khuyên để có ngày Sabát.

  1. Giữ ngày Sabát với một kỷ luật đòi hỏi như giữ điều răn, một kỷ luật của cuộc sống và bổn phận.
  2. Mỗi ngày có ít nhất một giây phút Sabát. Tự cho mình một điều gì đó để mong đợi mỗi ngày. Ngày Sabát không nhất thiết phải là một ngày; nó có thể là một giờ đặc biệt, một khoảnh khắc đặc biệt, khi chúng ta ra khỏi máy chạy bộ, tự thưởng cho mình một cái gì đó mình yêu thích.
  3. Mỗi tuần chúng ta đến một nơi mà không ai có thể liên lạc được và có “ngày Sabát trên mạng.” Một tuần một lần, tắt mọi phương tiện liên lạc điện tử trong sáu giờ hoặc tốt hơn trong mười hai giờ. Đến một nơi không ai tìm được, trừ trường hợp khẩn cấp. Có thể chúng ta thấy đây là kỷ luật khó khăn nhất, nhưng có lẽ đó là kỷ luật quan trọng nhất.
  4. Tôn trọng “sự khôn ngoan của trí tuệ ở chế độ ngủ đông”. Hãy thường xuyên làm một cái gì đó không thực tế. Như những người nông dân, họ biết họ không thể gieo hạt liên tục trên cánh đồng mà mùa màng vẫn được tươi tốt. Các cánh đồng cần tình trạng ngủ đông để hấp thụ các chất dinh dưỡng và các yếu tố khác để sản xuất. Cơ thể và tâm lý con người cũng vậy. Chúng ta thường xuyên cần những khoảng thời gian ngủ đông, để năng lượng của chúng ta yên lặng với thế giới thực dụng.
  5. Chúng ta nên thường xuyên cầu nguyện và chiêm niệm theo một cách nào đó. Chỉ có một quy tắc và lời khuyên cho việc này: Hãy làm điều đó! Hãy làm thường xuyên và chuyện gì đến nó sẽ đến. Đó là cách quan trọng để chúng ta ra khỏi tấm thảm cuốn và có một chút Sabát trong cuộc sống.
  6. Hãy chú ý đến trẻ em, người lớn tuổi và thời tiết. Ngày Sabát là ngày tìm lại sự ngạc nhiên cho cuộc sống, ngày nay chúng ta đã không còn biết ngạc nhiên. Vì, như thi sĩ John Shea nói, chúng ta nên mượn tinh thần ngạc nhiên nơi trẻ em. Đó là một trong số ít nơi chúng ta còn tìm được ngạc nhiên. Ngoài ra, thời gian dành cho người lớn tuổi có thể giúp chúng ta có cái nhìn lành mạnh hơn về cuộc sống. Lần cuối cùng chúng ta tìm lại suối nguồn ngạc nhiên là khi nào?
  7. Hãy sống theo châm ngôn: “Nếu không phải bây giờ, thì khi nào? Nếu không phải ở đây, thì ở đâu? Nếu không phải với những người này, thì với ai? Nếu không phải vì Chúa, thì tại sao? Chúng ta dành 98% cuộc đời để chờ một cái gì đó khác xảy ra với mình. Có một số khoảnh khắc chúng ta nhận ra điều chúng ta chờ đã ở đây.
  8. Hãy để cơ thể biết đó là ngày Sabát. Ngày Sabát không chỉ dành cho tâm hồn mà còn cho cơ thể. Hãy dành cho cơ thể một ngày Sabát, ít nhất mỗi tuần một lần.
  9. Dành ưu tiên cho gia đình và cho các mối quan hệ. Vào cuối ngày, cuộc sống là của gia đình, của tình bạn, của các mối quan hệ, một sự thật dễ dàng bị lu mờ và mất đi trong áp lực của cuộc sống hối hả. Ngày Sabát mang chúng ta về lại sự thật này, ít nhất một tuần một lần.
  10. Đừng nuôi dưỡng những hận thù và những ám ảnh. Sự mệt mỏi sâu xa nhất của chúng ta không phải là kết quả của làm việc quá sức, nhưng là của những vết thương, hận thù, ám ảnh chúng ta nuôi dưỡng. Lời mời nghỉ ngơi đặc biệt là lời mời buông bỏ những tổn thương. Thật vậy, khái niệm luật lệ về thời hiệu dựa trên khái niệm ngày Sabát của do thái giáo-kitô giáo. Với mỗi hận thù chúng ta nuôi dưỡng đều có một thời hiệu.

Chúa đã ban cho chúng ta ngày Sabát vì sức khỏe và niềm vui của chúng ta.

Sự cho phép thiêng liêng để ở trong thống khổ

Chúng ta sống đời này “trong đau buồn và khóc lóc, trong thung lũng đầy nước mắt”. Cũng như nhiều người trong thế hệ cha mẹ tôi, đó là một phần lời cầu nguyện hàng ngày trong suốt cuộc đời của họ. Theo quan điểm tế nhị ngày nay (tâm linh một chiều), điều này nghe có vẻ bệnh hoạn. Chúng ta có nên hiểu cuộc đời là đau buồn trong một thế giới không thể mang lại hạnh phúc cho con người không? Thực sự đây có phải là điều Chúa muốn ở chúng ta không?

Nếu hiểu nông cạn thì điều này có thể bị cho là bệnh hoạn. Chúa không đặt chúng ta vào thế giới này để chịu đau khổ mới được lên thiên đàng. Không. Chúa là người cha nhân lành. Các cha mẹ nhân lành đưa con cái đến thế giới này với mục đích là chúng sẽ phát triển và tìm thấy hạnh phúc. Vậy vì sao đức tin kitô giáo đòi hỏi chúng ta phải than khóc đau buồn trong thung lũng đầy nước mắt?

Với cha mẹ tôi, lời cầu nguyện này mang lại cho họ một an ủi nào đó, cụ thể cuộc sống của họ không nhất thiết phải là cuộc sống của bản giao hưởng trọn vẹn, một thiên đàng trần thế ngay lúc này. Cuộc sống cho họ điều thiêng liêng để chấp nhận, trong đời sẽ có những thất vọng, đau khổ, nghèo đói, bệnh tật, mất mát, những giấc mơ không đạt được, những thất vọng, đau khổ, hiểu lầm và cái chết. Họ không bao giờ mong chờ một điều gì quá mức, họ hiểu chịu đau khổ và thất vọng là chuyện bình thường. Nhưng ngược lại, khi chấp nhận những hạn chế này, họ lại cho phép mình tận hưởng trọn vẹn những khoảnh khắc tốt đẹp của cuộc sống mà không cảm thấy tội lỗi.

Tôi sợ chúng ta và cả thế hệ tiếp theo không chuẩn bị đủ để có thể đi qua thất vọng, đau khổ mà không suy sụp về đức tin (đôi khi cả về tinh thần lẫn thể xác). Ngày nay, phần lớn mong chờ bình thường là không bị ở trong tình trạng phải than van khóc lóc, cuộc sống phải mang đến cho chúng ta bản giao hưởng trọn vẹn. Chúng ta không còn cảm thấy mình cần sự cho phép thiêng liêng để khóc nữa.

Tâm linh mà chúng ta hít thở ngày nay từ các nhà thờ, các thần học gia, các nhà văn tâm linh có nhiều điểm mạnh (giống như tâm linh mà cha mẹ tôi hít thở cũng có những điểm yếu). Tuy nhiên, theo tôi, phần lớn các tôn giáo ngày nay không dành đủ không gian cho đau buồn, một khoảng trống mà hầu hết thế giới thế tục đều có.

Chúng ta không dành đủ không gian cho đau buồn, trong nhà thờ cũng như trong cuộc sống. Chúng ta không cung cấp cho mọi người những công cụ cần thiết để giải quyết các thất vọng, mất mát và đau khổ, cũng như cách để đau buồn khi bị những chuyện này bủa vây. Ngoài các nghi thức tang lễ, chúng ta dành rất ít không gian cho đau buồn. Tệ hơn, chúng ta có xu hướng tạo ấn tượng có điều gì không ổn khi cuộc sống của mình đầy nước mắt. Vị trí và giá trị của đau buồn là gì?

Đầu tiên, như thần học gia Karl Rahner đã giải thích một cách nên thơ, đó là chấp nhận trong sự giày vò của thiếu thốn, của những chuyện không thể có được, cuối cùng chúng ta học bài học, ở đời này không có bản giao hưởng nào hoàn chỉnh. Như bà Rachel Naomi Remen, giáo sư danh dự ở Trung tâm Osher, San Francisco đã viết, đau buồn cũng là một cách thiết yếu để tự chăm sóc mình, không đau buồn là phủ nhận sự chính trực của mình. Chúng ta kiệt sức vì chúng ta không làm xong đau buồn của mình. Tiểu thuyết gia người Anh Anita Brookner lặp lại một điệp khúc trong một số sách của bà. Khi bình luận về hôn nhân, bà cho rằng nhiệm vụ đầu tiên trong hôn nhân là hai vợ chồng phải an ủi nhau, vì thực tế họ không thể không làm nhau thất vọng.

Cha mẹ tôi không đọc Karl Rahner, Rachel Naomi Remen hay Anita Brookner, nhưng trong lời cầu nguyện hàng ngày, họ tự nhắc mình, cuộc sống này không có bản giao hưởng nào hoàn chỉnh, rằng đau buồn là cách tự chăm sóc bản thân lành mạnh và chấp nhận, người này không thể đủ cho người kia và ngược lại, vì chỉ có Chúa mới có thể an ủi chúng ta được.

Chúng ta cần gì khi đau buồn? Tình trạng con người của chúng ta và tất cả những gì đi kèm, cụ thể là vô thường, tuổi trẻ bị đánh mất, không còn cơ thể trẻ trung, bị những tổn thương, những phản bội, những giấc mơ thất vọng, những nỗi đau, mất người thân yêu, vỡ mộng vì tuần trăng mật biến mất, dòng đời, nơi chốn, thể chế rồi cũng biến mất, sự bất lực của chúng ta khi làm cho người khác thất vọng, sức khỏe mất đi và cuối cùng cái chết đến, đó là những gì chúng ta cần phải đau buồn.

Và chúng ta đau buồn như thế nào? Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta ở vườn Giếtsêmani. Như các Phúc âm kể, Ngài đã đổ mồ hôi máu trước cái chết của mình. Ngài đã làm gì? Ngài cầu nguyện, lời cầu nguyện công khai và trung thực về nỗi đau của Ngài, thừa nhận có một khoảng cách với người khác trong nỗi đau này, thừa nhận mình bất lực khi không thể làm bất cứ điều gì để thay đổi tình hình, Ngài liên tục cầu xin Chúa thay đổi mọi thứ, nhưng hoàn toàn phó thác dù đi trong đêm tối. Đó là cách Chúa Giêsu khóc.

Nếu Chúa Giêsu đã khóc, thì chúng ta cũng phải khóc. Người môn đệ không bao giờ hơn thầy. Hơn nữa, chúng ta có thể học ở Chúa Giêsu, đau buồn và than khóc trong cuộc sống không hẳn là sai trái. Nó có nghĩa, đây là nơi chúng ta phải đến.

Chúng ta có sự cho phép thiêng liêng để đôi khi ở trong thống khổ.

Cầu nguyện khi cảm thấy dường như vô ích

”Cầu nguyện đặc biệt cần thiết nhất khi chúng ta cảm thấy cầu nguyện là vô ích.” Cố linh mục thần học gia Dòng Tên Michael J. Buckley (1931-2019), một trong những người cố vấn tâm linh quan trọng nhất của tôi đã viết những lời này. Ngài có ý gì khi nói như vậy?

Trước rất nhiều vấn đề, có khi chúng ta cảm thấy cầu nguyện là vô ích. Chẳng hạn trước một số vấn đề lớn của thế giới, chúng ta cảm thấy nản lòng và bất lực, chúng ta dễ dàng nói cầu nguyện là vô ích. Lời cầu nguyện của tôi sẽ có tác dụng gì với các cuộc chiến đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới? Giá trị của lời cầu nguyện của tôi là gì khi tôi phải đối diện với bất công, nạn đói, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính? Lời cầu nguyện của tôi có tác động nào khi cộng đồng của tôi đang chia rẽ và thù hận? Thật dễ dàng để cảm nhận cầu nguyện trong những tình huống này là vô ích.

Cũng vậy khi chúng ta bị bệnh nặng. Liệu lời cầu nguyện có thể chữa khỏi bệnh ung thư ở giai đoạn cuối không? Chúng ta có thực sự mong chờ một phương thuốc phép lạ không? Phần lớn chúng ta không nghĩ vậy, nhưng chúng ta vẫn tiếp tục cầu nguyện dù cảm thấy lời cầu nguyện của mình sẽ không thay đổi tình hình. Vì sao?

Vì sao phải cầu nguyện khi có vẻ như việc cầu nguyện là vô ích? Các thần học gia, các tác giả tâm linh giải thích cho chúng ta nhiều góc nhìn khác nhau về vấn đề này, tuy hữu ích nhưng không đầy đủ. Họ cho rằng, cầu nguyện không phải để thay đổi tâm trí Chúa, nhưng để thay đổi tâm trí của người đang cầu nguyện. Chúng ta không cầu nguyện để kéo Chúa về phía mình; chúng ta cầu nguyện để đặt mình về phía Chúa. Thêm nữa, chúng ta được dạy, lý do chúng ta cảm thấy Chúa không trả lời, vì Chúa như người cha yêu thương, biết điều gì tốt cho chúng ta và ban cho chúng ta những gì chúng ta thực sự cần chứ không phải những gì chúng ta ngây thơ muốn. Tác giả C.S. Lewis đã nói, chúng ta sẽ dành nhiều thì giờ trong cõi vĩnh hằng để tạ ơn Chúa vì những lời cầu nguyện Chúa đã không nhận lời.

Tất cả những điều này đều đúng và quan trọng. Đường lối của Chúa không phải là đường lối của chúng ta. Đức tin đòi hỏi chúng ta dành cho Chúa không gian và thời gian để Chúa là Chúa, không theo những mong chờ rất hạn hẹp và thiếu kiên nhẫn của chúng ta. Thực sự chúng ta nên tạ ơn Chúa vì điều này.

Nhưng dù vậy… khi Chúa Giêsu xin chúng ta cầu nguyện, Ngài không cảnh báo chúng ta: con phải xin những điều đúng đắn nếu con muốn Ta nhận lời. Không, Ngài chỉ nói: Hãy xin và con sẽ được. Ngài nói, một số con quỷ chỉ bị đuổi đi bằng ăn chay cầu nguyện.

Vậy, làm thế nào những con quỷ bạo lực, chia rẽ, hận thù, chiến tranh, đói kém, khí hậu nóng lên toàn cầu, nạn đói, phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, ung thư, bệnh tim… có thể bị đuổi đi bằng lời cầu nguyện? Làm thế nào để cầu nguyện hữu ích một cách thiết thực khi đối diện với những vấn đề này?

Tóm lại, lời cầu nguyện không chỉ thay đổi người đang cầu nguyện mà còn thay đổi tình huống. Khi chúng ta cầu nguyện, thực tế chúng ta là một phần của tình huống mà chúng ta cầu nguyện. Lời cầu nguyện chân thành giúp chúng ta trở thành sự thay đổi mà chúng ta đang cầu nguyện để được. Chẳng hạn, cầu nguyện cho hòa bình giúp chúng ta bình tâm, mang lại cho thế giới thêm một trái tim thanh thản.

Dù điều này là đúng, nhưng cũng có một thực tế sâu đậm hơn. Sâu đậm vì khi chúng ta cầu nguyện, có điều gì đó đang xảy ra vượt ra ngoài cách chúng ta thường hình dung về sự tương tác đơn giản giữa nguyên nhân và kết quả. Khi thay đổi bản thân, chúng ta đang thay đổi tình hình; đúng vậy, nhưng theo cách sâu đậm hơn cách chúng ta thường tưởng tượng.

Là người có đạo, chúng ta nghĩ chúng ta là một phần của Nhiệm thể Chúa Kitô, và sự kết hợp của chúng ta trong Chúa không phải là sự kết hiệp của một cộng đồng lý tưởng. Nhưng, chúng ta là một phần của một sinh vật sống mà mọi bộ phận đều ảnh hưởng đến nhau, giống như trong một cơ thể vật lý. Vì lý do này, với chúng ta, không có một hành động nào là riêng tư – tốt hay xấu. Tôi ngần ngại khi nghĩ rằng điều này tương tự như hệ thống miễn dịch trong cơ thể con người, vì đây không chỉ là một phép so sánh. Nó là thực tế, hữu cơ. Giống như hệ thống miễn dịch bảo vệ sức khỏe cho toàn bộ cơ thể bằng cách tiêu diệt các tế bào và vi-rút gây nguy hiểm cho sức khỏe, thì bên trong Nhiệm thể của Chúa Kitô cũng vậy. Khi nào chúng ta, hoặc là những tế bào khỏe mạnh mang lại sức mạnh cho hệ thống miễn dịch bên trong Nhiệm thể Chúa Kitô, hoặc chúng ta là một loại vi-rút, một loại tế bào ung thư đe dọa cho sức khỏe. Cầu nguyện tạo nên sự khác biệt vì cầu nguyện giúp tăng cường hệ thống miễn dịch bên trong Nhiệm thể Chúa Kitô – chính xác giải quyết vấn đề chúng ta đang cầu nguyện. Mặc dù trên bề mặt, đôi khi lời cầu nguyện có vẻ vô ích, nhưng nó đang làm một điều gì đó quan trọng bên trong – điều cần thiết chính xác là khi chúng ta cảm thấy lời cầu nguyện của mình vô ích.