RonRolheiser,OMI

Chiến đấu trong đức tin – Giữa biết cái gì đúng và tin vào đó!

Trong tâm điểm đức tin chúng ta có một chân lý sâu thẳm là chúng ta được Chúa yêu thương không điều kiện. Chúng ta tin Chúa đang nhìn xuống chúng ta và nói: Con là con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về con!” Chúng ta không nghi ngờ về sự thật này, nhưng có điều là chúng ta không tin được.

Cách đây vài năm, đến giờ giải lao trong một khoá học, có một bà đến gặp tôi và nói: “Chúa thương con không điều kiện. Con biết đó là đúng, nhưng làm sao con tin vào đó được? Đơn giản là con không tin được!” Nói như vậy, có thể bà đã nói thay cho một nửa nhân loại. Chúng ta biết Chúa thương mình, chúng ta có thể nói ra như vậy nhưng làm sao chúng ta có thể tự mình tin vào đó được?

Tại sao? Tại sao khó để tin như vậy?
Có rất nhiều lý do, nhưng phần lớn là dorất hiếm khi, hoặc chưa bao giờ, chúng ta trải nghiệm được thế nào là tình thương không điều kiện
(trừ khi chúng ta được ơn đặc biệt). Thường thường chúng ta có trải nghiệm yêu với điều kiện, ngay cả với những người thân thiết nhất: Cha mẹ thương nhiều hơn nếu chúng ta ngoan và học hành giỏi. Nhà thờ quý chúng ta hơn nếu chúng ta không phạm tội. Bạn bè thích chúng ta hơn nếu chúng ta thành công và không túng thiếu. Thế giới mê chúng ta hơn nếu chúng ta hấp dẫn. Người bạn đời thương chúng ta hơn nếu chúng ta không làm họ thất vọng. Trong thế gian này, hầu hết, chúng ta phải đạt một mức độ nào đó chúng ta mới được yêu thương.

Ngoài ra một số người trong chúng ta bị tổn thương bởi những biểu hiện được cho là tình yêu thương nhưng không hề là tình yêu thương, thay vào đó là sự khai thác, lạm dụng, lèo lái để tư lợi. Lại thêm, tất cả chúng ta đã từng nghe chửi và xấu hổ không biết bao nhiêu lần, khi có người, hoặc nói hoặc gợi lên hận thù, hoặc phán đoán lạnh lùng, như muốn nói với chúng ta: Bạn tưởng mình là ai chứ? Chúng ta héo hắt dưới các lời nói như vậy và trở nên người bị thương tổn, không thể nào tin mình được yêu và đáng yêu. Vì thế, dù biết Chúa thương nhưng làm sao chúng ta có thể làm cho mình tin được?

Ở một mức nhất định, chúng ta nghĩ như vậy là đúng. Trong sâu thẳm, dưới các tổn thương của chúng ta, đứa trẻ con của Chúa vẫn còn ở trong ngõ ngách tâm hồn chúng ta, nó biết nó được dựng lên bởi hình ảnh của Chúa và giống Chúa, nó là duy nhất, tốt đẹp và đáng yêu. Chính vì vậy mà chúng ta dễ giận khi có người vi phạm đến phẩm cách hoặc hạ thấp chúng ta.

Nhưng làm sao chúng ta có thể tin chúng ta được yêu thương một cách không điều kiện, để chúng ta bớt cảm thấy bất an trong thái độ và hành động của chúng ta? Làm sao chúng ta có thể sống trong tình trạng được trấn an, rằng chúng ta được yêu thương không điều kiện, để chúng ta có thể toát ra tình thương này trong cách chúng ta đối xử với người khác và với chính chúng ta?

Không có câu trả lời dễ dàng. Đối với một tâm hồn bị thương tổn, cũng giống một cơ thể bị thương, không có phép mầu gì để chữa lành nhanh chóng. Tuy nhiên, về mặt Thánh Kinh, có một hình ảnh, dù bên ngoài có vẻ khó hiểu nhưng nó giải thích được chuyện này: Khi Thiên Chúa cho ông Giô-suê các chỉ dẫn để đi về Đất Hứa, Chúa nói khi đến đó, ông phải “giết” tất cả đàn ông, đàn bà ở đó, kể cả súc vật.

Hiểu theo nghĩa đen, bản văn này thật kinh khủng và nói về những gì không đúng với Chúa. Nhưng đó không phải là bản văn theo nghĩa đen, mà là một hình ảnh, một ẩn dụ. Tôi ngờ những người ở trong chương trình Nghiện Rượu Ẩn Danh sẽ hiểu sứ điệp này dễ dàng: Giết tất cả dân cư thành Ca-na-an chính xác có nghĩa là bỏ đi tất cả chai hũ lọ bình trong tủ đồ uống có cồn của mình – bia, rượu nho, rượu gin, rượu cô- nhắc, rượu vốt-ka. Bạn không thể lấy Đất Hứa và vẫn để người Ca-na-an ở một bên, sớm muộn gì bạn cũng mất Đất Hứa.

Hình ảnh đó nói cho chúng ta biết chúng ta phải đi vào con người thật của mình, sự thật sâu thẳm rằng chúng ta được Chúa yêu thương vô điều kiện. Trong văn chương huyền thoại, thường thường, chúng ta thấy trước khi hoàng tử và công chúa làm đám cưới để sống trọn đời với nhau, việc đầu tiên họ phải làm là: giết người anh và người chị ghẻ tội lỗi nhất. Tại sao? Vì các người này có thể đến và phá hoại buổi đám cưới.

Ai là người anh, chị ghẻ tội lỗi nhất? Họ không phải là những người khác với hoàng tử hay công chúa sắp làm đám cưới. Họ là những thân đời kiếp trước của hoàng tử hay công chúa đó. Họ cũng ở trong lòng mỗi chúng ta. Họ là tiếng nói bên trong của quá khứ chúng ta, đến một lúc nào đó, làm hại đám cưới, hại hình ảnh chúng ta bằng những lời nói: “Bạn nghĩ mình là ai chứ? Bạn nghĩ bạn lấy được hoàng tử hay công chúa sao? Bạn nghĩ bạn đáng yêu sao? Chúng tôi biết bạn, biết quá khứ bạn, bạn đừng tự đánh lừa bạn chứ!”
Để có thể tin chúng ta được yêu thương không điều kiện, trước hết chúng ta phải giết một vài “Người Ca-na-an.”

Đi vào Mùa Chay

Biết căn nguyên của một từ đôi khi rất hữu ích. Theo ngôn ngữ học, trong tiếng Anh cổ, mùa chay có nghĩa là mùa xuân. Theo tiếng La-Tinh, mùa chay có nghĩa là chầm chậm.

Như vậy, theo từ nguyên học, mùa chay báo gọi mùa xuân đến và mời gọi chúng ta giảm nhịp sống để nhìn lại cuộc đời mình.

Dù qua cách nghĩ thông thường, mùa chay mang một vài nét cổ truyền nhưng mùa chay chính là thời gian kêu gọi chúng ta chay tịnh, gạt qua những thú vui thông thường và lành mạnh nào đó để chuẩn bị tốt hơn cho đại lễ Phục Sinh.

Một trong những hình ảnh giúp ích cho điều này là ý niệm về Sa Mạc trong Kinh Thánh. Qua Kinh Thánh chúng ta biết rằng, để chuẩn bị cho việc rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đi vào sa mạc bốn mươi đêm ngày để chay tịnh và, theo Phúc Âm thánh Mác-cô, Đức Giêsu còn chịu Xa-tan cám dỗ, sống với thú hoang, và được các thiên thần che chở.

Mùa Chay luôn được hiểu là thời gian chúng ta noi theo Đức Giêsu, một cách ẩn dụ Đức Giêsu trải qua bốn mươi ngày trong sa mạc, không sống bằng thực phẩm thông thường, để có thể đối diện với “Xa-tan” và “thú hoang” và thấy “các thiên thần” hiện đến, che chở khi chúng ta không còn tự lo cho mình được nữa.

“Xa-tan” và “thú hoang” ám chỉ đặc biệt đến các xáo trộn trong tâm hồn mà chúng ta thường hay phủ nhận hoặc đơn giản không dám đối diện – đó là các chứng hoang tưởng, nỗi giận, ghen tương, xa lánh mọi người, ảo tưởng, tự kiêu, ham muốn, những tổn thương chưa lành, rắc rối trong đời sống tình dục, không có khả năng cầu nguyện, kém lòng tin, và các che giấu về mặt đạo đức. Thực phẩm thông thường làm sao nhãng cuộc sống, nó che không cho chúng ta đối diện với các xáo trộn sâu kín núp bóng dưới bề mặt cuộc sống.

Mùa chay kêu gọi chúng ta ngưng dùng các thực phẩm này, các thực phẩm ngăn không cho chúng ta đối diện với cô tịch trong tâm hồn. Mùa Chay kêu gọi chúng ta đối diện với bé mọn, yếu mềm, e sợ của mình, và mở lòng để thấy cái xáo trộn của sa mạc, để các thiên thần có dịp nuôi sống chúng ta. Đó là lý tưởng Ki-tô giáo về mùa chay, đối diện với chính những xáo trộn của mình.

Để bổ sung, tôi đề nghị ba hình ảnh đầy tính thần thoại, mỗi hình ảnh giúp giải thích một khía cạnh của mùa chay và việc giữ chay:
Trong mỗi nền văn hóa đều có các câu chuyện cổ, các huyền thoại dạy chúng ta lúc này lúc kia trong đời, phải biết ngồi giữa tro tàn. Chẳng hạn, ai cũng biết chuyện Cô Bé Lọ Lem. Theo nghĩa đen Cinderella có nghĩa là cô bé (puella) ngồi trong tro tàn (cinders). Bài học rất rõ ở đây là: Trước khi trở nên xinh đẹp, trước khi có thể kết hôn với hoàng tử hay công chúa, trước khi đi dự tiệc, trước hết bạn phải nếm trải thời gian ở một mình giữa tro tàn nhem nhuốc, hèn mọn, quay về với với bụi đất và chờ đợi. Mùa chay là mùa dành thời gian ngồi trong tro tàn. Không ngẫu nhiên khi chúng ta bắt đầu Mùa Chay bằng việc xức tro lên trán.

Thứ hai là hình ảnh ngồi dưới sao Thổ, làm đứa con của sao Thổ. Người xưa tin rằng sao Thổ là sao của buồn chán, u sầu. Do đó không ngạc nhiên khi thấy ai đó rơi vào bùa mê của nó, chính xác khi họ cảm thấy buồn và thất vọng. Thật vậy, người xưa tin rằng trong đời, ai cũng phải trải qua một khoảng thời gian nào đó làm đứa con của sao Thổ, nghĩa là, ngồi trong buồn chán, nặng nề, kiên nhẫn chờ đợi để một điều quan trọng nào đó tự biến chuyển trong tâm hồn mình. Thỉnh thoảng những người lớn tuổi hay các vị Thánh cũng tự nguyện đặt mình ngồi dưới sao Thổ, như Đức Giêsu đi vào sa mạc, họ sẽ ngồi trong tình trạng buồn chán, nặng nề, hi vọng rằng, nỗi u sầu này có một ý nghĩa đưa họ đến một chiều sâu nội tâm mới mẻ nào đó. Đó cũng là chức năng của mùa chay.

Cuối cùng một hình ảnh quý giá, lưu truyền trong những thần thoại cổ xưa, hình ảnh các giọt nước mắt nối kết chúng ta lại với dòng chảy cuộc đời, với nguồn mạch sự sống. Nước mắt, như chúng ta biết, là nước muối mặn. Không phải không có ý nghĩa sâu sắc. Đại dương là nước muối mặn và, như chúng ta biết, tất cả sự sống đều bắt nguồn từ đó. Vì vậy, trong ý tưởng nhiệm mầu và nên thơ, nước mắt nối kết chúng ta lại với nguồn mạch sự sống, nước mắt tái sinh, thanh lọc chúng ta trong sự tận hiến cuộc đời, và nước mắt làm tâm hồn sâu đậm, để tâm hồn nếm trải nguồn mạch sự sống. Với sự thật đó, và khi tất cả chúng ta đều trải nghiệm sự thật đó, nước mắt chính là đi vào sa mạc để chay tịnh, là vật dẫn truyền đến chiều sâu mới mẻ của tâm hồn.

Sự cần thiết của mùa chay được trải nghiệm khắp nơi: Nếu không được thăng hoa thì có thể chúng ta sẽ không bao giờ đạt được cái siêu phàm. Để thật sự đi vào đại tiệc trước hết phải có chay tịnh. Để đi vào Phục Sinh một cách đúng đắn trước hết phải có một khoảng thời gian của sa mạc, tro tàn, buồn chán và nước mắt.

Khiêm tốn, ego và cao cả

Đối với đa số chúng ta, tôi ngờ rằng chữ ego có một nghĩa tiêu cực. Kết án ai có ego to là kết án họ quá tin vào họ, tự thổi phồng, tự cao và thiếu khiêm tốn. Lúc nào chúng ta cũng cho ego và khiêm tốn là ngược nhau. Có ego to là không khiêm tốn.

Nhưng điều này có vẻ đơn giản và sai. Có ego mạnh và lớn không nhất thiết là xấu. Đúng ra, đó là một điều cần thiết, đặc biệt khi chúng ta thực hiện một cái gì có giá trị. Không một ai làm một cái gì lớn mà không có ego mạnh, và điều này không có nghĩa là họ không khiêm tốn.
Ví dụ:

Ít ai nghĩ mẹ Têrêxa có ego lớn. Khi nghĩ về mẹ, chúng ta nghĩ đó là một người khiêm tốn bẩm sinh. Nhưng, rõ ràng, mẹ có một ego khổng lồ, một hình ảnh tự hào rất mạnh, cho phép mẹ đứng thẳng trước hoàn cầu để xác quyết chân lý, xác quyết mẹ có giá trị và tin chắc tầm quan trọng của mẹ. Mẹ có thể đứng trước bất cứ ai trên thế giới và cho họ biết con người của mẹ và lời nói của mẹ là quan trọng. Phải có một ego rất mạnh mới làm được điều này, ego của họ mạnh hơn ego của đa số chúng ta. Mẹ ý thức mẹ là khí cụ duy nhất và được Chúa chúc phúc trong thế giới này, mẹ đủ yên tâm để hành động.

Dù vậy mẹ lại khiêm tốn. Lúc nào mẹ cũng ý thức rằng những điều làm mẹ trở nên duy nhất, cá biệt và vững mạnh không bao giờ xuất phát từ bản thân mẹ mà đến từ Thiên Chúa. Mẹ chỉ là một băng tần của quyền năng và ân sủng của một ai đó. Mẹ có một ego khổng lồ nhưng mẹ không ích kỷ. Mẹ không bao giờ chứa đầy cái tôi, mẹ chỉ chứa đầy Thiên Chúa.

Người ta cũng có thể nói như vậy với đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II: ngài khiêm tốn nhưng rõ ràng ngài có một ego cũng khổng lồ. Ngài có thể đứng trước hàng triệu người, giang tay ra và nói: “Cha thương các con!” (Với cả hệ luận đi kèm?), “Và quan trọng là các con phải nghe cha!” Ego của ngài phải rất mạnh mới nói được như vậy. Đa số chúng ta sẽ run khi làm như vậy. Chúng ta sẽ bị khống chế bởi hàng trăm rào cản nội tâm, chúng làm chúng ta tê liệt với các câu: “Bạn nghĩ bạn là ai mà nói như vậy! Ai cho bạn có quyền nghĩ rằng cả thế giới muốn nghe bạn nói bạn thương họ?”

Thêm một lần nữa, cũng giống như mẹ Têrêxa, đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II cũng sẽ nói  như vậy và ngài vẫn khiêm tốn, vì ngài biết rõ, những gì tạo nên ngài là người duy nhất, ân sủng không đến từ ngài và thuộc về ngài. Ngài chỉ là băng tần. Ngài có thể tiếp cận tầm cao cả và tự nhiên với tầm cao cả này, nhưng ngài không tự cho mình là cao cả và đòi hỏi tầm cao cả này cho riêng mình. Đó là khác biệt giữa khiêm tốn và cao cả, giữa cao lớn và ích kỷ. Một người ích kỷ có thể tiếp cận cao cả, nhưng khác với các vị thánh, người ích kỷ lấy bản sắc mình ở đó và cho rằng tự mình làm nên chuyện cao cả này.

Về mặt thiêng liêng, chung chung người ta khó chấp nhận tầm quan trọng của ego và thường chối bỏ thẳng thừng vai trò của ego trên tầm cao cả, đặc biệt là tầm cao cả thiêng liêng. Cách này cách khác, chúng ta không chấp nhận các thánh như thánh Phan-xi-cô Đa-xi, Têrêxa Đa-vi-la, Gio-an Thánh Giá, Têrêxa Hài Đồng là những người có ego khổng lồ – những người có niềm tự phụ lớn, nghĩ rằng họ là những người quan trọng đặc biệt. Thay vào đó, chúng ta thường phản chiếu lên họ một hình ảnh sai về khiêm tốn, mà đối với họ thì không đúng và làm chúng ta tổn thương.

Nó làm chúng ta tổn thương, vì đa số chúng ta, vấn đề lớn nhất trong đời sống chúng ta, kể cả đời sống thiêng liêng, chính là ego của chúng ta quá yếu. Chúng ta mang một hình ảnh quá yếu đến mức không cho phép chúng ta làm một cái gì thật sự lớn hoặc đúng để trải rộng tình thương và lòng nhiệt thành.

Bởi vì hình ảnh chúng ta quá yếu, không giống như mẹ Têrêxa và đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô II, chúng ta ngăn không cho chúng ta mở rộng lòng ra, nói lên chân lý và tình yêu đích thực của chúng ta. Chúng ta có quá nhiều tiếng nói bên trong (chắc chắn nguồn gốc của nó là từ những tiếng nói bên ngoài) làm chúng ta bị tê liệt với những câu nói thường lệ: “Bạn nghĩ bạn là ai! Đúng là tự hào và kiêu hãnh! Đúng là ego! Bạn chưa có năng khiếu hoặc chưa giỏi để làm! Không ai cần đến bạn!”

Như thế, không phải vì ego chúng ta mạnh nhưng vì nó yếu nên chúng ta mới cần bảo vệ nó. Chúng ta chiến đấu để trở nên yếu mềm, chứ không phải chiến đấu để thành hoang tưởng và bảo vệ chúng ta. Tại sao? Chính xác vì chúng ta không đủ tự tin bên trong, vì ego và niềm tự tin của chúng ta lung lay. Thánh Phan-xi-cô Đa-xi, Têrêxa Đa-vi-la, Gio-an Thánh Giá, Têrêxa Hài Đồng không bao giờ cần tự bảo vệ họ. Họ đủ yên tâm để tỏ ra yếu mềm. Họ có ego vững mạnh.

Chúng ta nên luôn luôn biết mệt về tính kiêu căng và ích kỷ. Tuy nhiên, khiêm tốn giả tạo không làm cho chúng ta tránh được kiêu căng. Thay vào đó, nó ngăn cản chúng ta đến với  nhiệt thành, yêu thương và những điều cao cả.

Trung tín, món quà lớn nhất chúng ta cho người khac

Sau tang lễ của mục sư Martin Luther King, một trong các kỷ giả tường thuật buổi lễ đến nói chuyện với một ông già đứng ở bên kia lề nghĩa địa. Ký giả hỏi ông: “Người chết có ý nghĩa gì với ông? Tại sao người đó đặc biệt dưới mắt ông?” Ông già vừa khóc vừa trả lời đơn giản: “Ông ấy là người cao cả vì ông trung tín. Ông vẫn tin ở chúng tôi khi chúng tôi không còn tin ở mình, ông vẫn ở lại với chúng tôi ngay cả khi chúng tôi không xứng đáng để ở cùng ông!”

Đó là chứng tá của cả một đời. Nếu, đến ngày chôn mình, có người nói, bạn đã sống trọn một cuộc đời tốt đẹp, dù trong đời đã có những chuyện không đẹp. Ông cụ già này đã định nghĩa một điều chính xác trong chứng tá của mục sư Martin Luther King, đó là ý nghĩa của lòng trung tín. Trọn một lòng tin có nghĩa là trung tín. Đây không phải là trò chơi chữ, nó còn giá trị hơn thế.

Xét cho cùng, đức tin không phải đơn giản chỉ là tốt, là cảm thấy an bình có Chúa hiện hữu. Đức tin là cam kết vào lối sống vượt quá cả tốt và cảm nhận được bình an. Để có lòng tin đôi khi chúng ta phải độc lập với bất cứ xúc cảm nào đến với chúng ta. Rốt cùng, đức tin không phải là cái đầu, cũng không phải là quả tim nhưng hành động để hổ trợ cho điều mình đã cam kết dấn thân. Đức tin là trung tín, không hơn, không kém.

Và có thể, hơn tất cả các đức tính khác, ngày nay, ở nhà thờ, trong gia đình, trong thế giới chung chung, trung tín là đức tính chúng ta cần đến nhất. Món quà lớn nhất mà chúng ta có thể cho người chung quanh là lời hứa trung tín, đơn giản hứa ở lại, không bỏ đi khi gặp khó khăn, khi cảm thấy thất vọng, bị đụng chạm, ở lại dù cảm thấy mình không được mong muốn, không được tôn trọng, ở lại khi cá tính và nhãn quan bị xung đột, ở lại nhờ kiên định.

Thường thường điều hay xảy ra trong các các việc chúng ta dấn thân làm là bỗng người này người kia hăm dọa nhau: chúng tôi cam kết ở lại với bạn, gia đình, cộng đoàn, nhà thờ với một điều kiện ngầm: tôi sẽ ở lại nếu bạn đừng làm tôi thất vọng nhiều, đừng đụng chạm đến tôi. Nếu đụng đến tôi, tôi đi!

Không gia đình, tình bạn, cộng đoàn, nhà thờ nào có thể đứng vững trên nguyên tắc này, đơn giản vì chúng ta sống và làm việc lâu dài với nhau thì không thể nào không thất vọng và đụng chạm nhau.

Bên trong bất cứ quan hệ nào – hôn nhân, gia đình, tình bạn, giáo xứ và ngay cả với các đồng nghiệp –  không bao giờ chúng ta có thể hứa là không làm thất vọng nhau, không bực mình nhau, cá tính không đụng chạm hoặc không đụng chạm nhau vì cứng ngắt, ích kỷ và yếu kém. Chúng ta không thể nào hứa mình sẽ luôn luôn tốt. Chúng ta chỉ có thể hứa là sẽ luôn luôn ở đó!

Và, cuối cùng, lời hứa đó là đủ để chúng ta ở lại và không hăm dọa bỏ nhau khi bị thất vọng hay đụng chạm, bởi vì thất vọng hay đụng chạm có thể bỏ qua và bù lại bằng đức tin và bằng tình thương để chúng ta ở lại với nhau lâu dài. Khi có đức tính trung tín trong quan hệ, thì các tổn thương và hiểu lầm có thể được thanh tẩy và ngay cả chuyển hóa thành tình thương.

Khi kỷ niệm đám cưới, ngày khấn dòng, ngày chịu chức, tình bạn lâu năm, thời gian làm việc thâm niên, rất nhiều người khi nhìn lại đàng sau, họ không còn cảm thấy bị tổn thương, ruồng bỏ, hiểu lầm, cay đắng, vì đó cũng là một phần của những năm tháng này. Những chuyện này được thanh tẩy bởi một cái gì sâu đậm, được lớn lên nhờ lòng trung tín, là tin cậy và tôn trọng.

Đôi khi các bạn thấy được điều này một cách đáng khâm phục ở hai người nào đó, họ miễn cưỡng tôn trọng nhau, cuối cùng giữa họ đã phát triển một mối quan hệ, chân thành và gắn bó với nhau qua nhiều năm tháng dù họ bất đồng về cá tính, chính trị, tôn giáo hay lịch sử. Thực tế đơn giản của việc phải tiếp xúc với nhau qua bao nhiêu năm tháng, cuối cùng, họ đã hiểu nhau sâu đậm và tôn trọng nhau dù họ rất khác biệt nhau.

Cầu nguyện cũng đóng vai trò như vậy. Các tác giả thiêng liêng lớn đưa ra một luật tối hậu về cầu nguyện và luật này không dính gì với phương pháp, phong cách, nội dung. Đơn giản: Cầu nguyện! Đừng bao giờ bỏ! Đừng bao giờ ngừng cầu nguyện! Bạn vẫn một mực cầu nguyện, cuối cùng thì Chúa sẽ thấu hiểu. Đừng bao giờ ngừng cố gắng! Và đó cũng đúng cho tất cả mọi quan hệ của chúng ta.
Món quà lớn nhất mà chúng ta cho là lời hứa trung tín, hứa chúng ta sẽ tiếp tục cố gắng, sẽ không bỏ đi vì bị tổn thương hay vì cảm thấy mình không được mong muốn hoặc không được đánh giá đúng.

Chúng ta tất cả đều yếu đuối, bị xúc phạm, tội lỗi, và dễ bị tổn thương. Trong hôn nhân, gia đình, giáo xứ, bạn bè, giữa các đồng nghiệp, chúng ta không thể nào hứa là chúng ta không làm thất vọng nhau, không làm tổn thương nhau. Nhưng chúng ta có thể hứa là không bỏ đi vì thất vọng và bị tổn thương. Đó là tất cả những gì chúng ta có thể hứa, và như vậy là đủ!

Phép Thánh Thể chữa lành

Có nhiều dạng cô đơn và nhiều dạng thân tình. Chúng ta đau ở nhiều nơi khác nhau.

Khi còn là một linh mục trẻ mới chịu chức và mới trơ trụi ra khỏi cảnh cô đơn của tuổi vị thành niên, một vài câu trong phép Thánh Thể đã làm tôi xúc động sâu xa. Tôi còn trẻ và ở một mình, và các lời nói về hợp nhất một thể xác một tinh thần đã gợi lên trong lòng tôi cảm nhận tôi biết tôi sẽ làm gì với nỗi cô đơn riêng của tôi. Nên một trong cơ thể Chúa Ki-tô, gợi lên trong tôi hình ảnh của vòng tay ôm ghì, chấm dứt nỗi cô đơn, các đau khổ triền miên và tính chất đơn độc trong tình dục của tôi. Hợp nhất trong Chúa Ki-tô, như tôi tơ tưởng hóa lúc đó, có nghĩa là vượt lên nỗi cô đơn của tôi.

Và đó là một am hiểu đúng. Bí tích Thánh Thể là vòng ôm cất đi nỗi cô đơn riêng của tôi, nhưng khi chúng ta già đi, một loại cô đơn sâu thẳm hơn có thể và bắt đầu ám ảnh chúng ta. Nỗi cô đơn sâu thẳm này làm chúng ta ý thức về thế giới này, mọi sự, mọi người đã bị cắt xé và phân chia như thế nào. Có một nỗi cô đơn toàn diện quá lớn làm cho nỗi cô đơn riêng thành nhỏ.

Thế giới này đã rời ra và phân chia ra biết bao! Chỉ cần nhìn chung quanh mình, xem tin tức thế giới, xem tin tức địa phương, ở sở làm, ở nơi sinh hoạt và ngay cả giáo xứ, đâu đâu chúng ta cũng thấy căng thẳng và chia rẻ. Còn lâu chúng ta mới được nên một thể xác, một tinh thần. Gần như có quá nhiều chuyện phân chia chúng ta: lịch sử, hoàn cảnh, tính khí, lý tưởng, địa dư, xuất xứ, tín ngưỡng, màu da, giới tính. Và rồi chúng ta có những tổn thương, ghen tương, quan tâm, tội lỗi riêng. Thế giới giống như trẻ vị thành niên cô độc, nó có quá nhiều phân chia đau đớn. Chúng ta sống trong một thế giới phân chia một cách sâu đậm, rất sâu đậm.

Càng già, tôi càng thất vọng vì không thấy một giải pháp đơn giản hay ngay cả một giải pháp nhân bản cho tất cả mọi người về các phân chia của chúng ta. Một cách chầm chậm, cuộc sống dạy chúng ta, đừng ngây thơ nghĩ rằng tất cả những gì chúng ta cần, đơn giản chỉ là một ý chí tốt, một tinh thần lạc quan, và xác tín rằng tình yêu sẽ chiến thắng. Tình yêu có thể và sẽ chiến thắng, nhưng không theo kiểu phim ảnh Hollywood, nơi mà hai người thật sự không có một điểm gì chung, gặp nhau, yêu nhau, mặc cho những tổn thương sâu xa, mặc cho tính ích kỷ và non nớt của nhau, lại cùng nhau xây dựng vượt lên mọi khác biệt, để nâng đỡ nhau, cho nhau khoái cảm xuất thần, đơn giản chỉ vì tình yêu chiến thắng mọi sự.

Ở một vài điểm, chúng ta hiểu đời sống thực sự không phải như vậy, trừ khi chúng ta chết ngay vòng ôm đầu tiên như Roméo và Juliet. Xét cho cùng, các khác biệt của chúng ta có lời nói của nó, cả bên trong lẫn bên ngoài quan hệ của chúng ta, bên trong bên ngoài các quan hệ giữa các nước, các nền văn hóa, các nhóm thiểu số và tôn giáo. Ở một điểm nào đó, các khác biệt này giống như bệnh ung thư, không thể chận đứng căn bệnh, triệu chứng bắt đầu kết lại, và chúng ta cảm thấy bất lực để vượt qua.

Nhưng không phải là thất vọng. Đó lại là lành mạnh. Ai đã từng chiến đấu để chống cơn lệ thuộc đều biết, để bắt đầu trở lại đời sống lành mạnh thì cần phải hiểu cái bất lực của mình. Chỉ khi nào chúng ta chấp nhận mình không thể tự giúp mình thì lúc đó chúng ta mới mở lòng ra để xin được giúp. Chúng ta thấy trong Phúc Âm, bao nhiêu lần, ngay lập tức sau khi nghe Chúa giảng dạy, các tông đồ đều phản ứng bằng câu: “Đó là chân lý, nhưng không thể được cho chúng con, chúng con không làm được gì!” Chúa Giê-su đón nhận câu trả lời này (vì khi chấp nhận mình bất lực thì lúc đó mới mở lòng ra để nhận sự giúp đỡ) và Người trả lời: “Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự có thể được!”

Các lời cầu nguyện của chúng ta để được mật thiết, hợp nhất chỉ có thể có tác động khi chúng ta cảm thấy mình bất lực, chúng ta xin Chúa làm một cái gì cho chúng ta vì chúng ta thất vọng không làm được một mình.

Chúng ta thấy ví dụ này trong cộng đoàn giáo phái Quaker, khi mọi người tụ họp lại, ngồi với nhau trong thinh lặng, xin Chúa làm cho họ những gì họ không thể làm được, đó là, cho họ được hoà hợp và hiệp nhất. Thinh lặng là lời thú nhận mình bất lực, hiểu trong thân phận con người, sẽ không bao giờ chúng ta tìm được chữ đúng, hành động đúng để mang đến một hiệp nhất, điều luôn luôn vượt quá tầm tay chúng ta.

Bí tích Thánh Thể là lời cầu nguyện của tấm lòng bất lực, lời cầu nguyện xin Chúa cho chúng ta hiệp nhất vì chúng ta không thể nào tự mình cho mình. Không phải là chuyện ngẫu nhiên, khi, trong những giây phút cùng cực cô đơn, khi nhận ra tất cả những lời mình đã nói đều không đủ và không còn lời nào để nói thêm, Người đã tạo nên phép Thánh Thể. Khi cảm thấy bất lực nhất, Người cho chúng ta lời cầu nguyện của tấm lòng bất lực, phép Thánh Thể.

Giống như tất cả các thế hệ trước, thế hệ chúng ta ý thức được mình bất lực và qua trực giác, chúng ta hiểu thế hệ chúng ta cần một đấng thiên sai đến từ bên trên. Chúng ta không thể nào tự chữa lành và cũng không thể nào có chìa khóa để vượt lên các phân chia, các tổn thương riêng của mình. Như thế, chúng ta phải đưa nỗi bất lực của chúng ta vào thinh lặng, vào lời cầu nguyện với phép Thánh Thể, xin Chúa đến và giúp chúng ta làm những việc chúng ta không làm được, đó là, tạo nên một cộng đoàn. Và vì lý do này, chúng ta phải đi dự phép Thánh Thể.

Trưởng thành – dửng dưng hay yếu mềm?

Tất cả chúng ta ai cũng cố gắng để tạo cho mình một hình ảnh nào đó. Dù cố gắng như thế nào, che giấu như thế nào, khi đến sở làm hay đi chơi với bạn bè, chúng ta cũng muốn mình có hình ảnh điềm tĩnh, đàng hoàng, dễ gần, đặc biệt không bao giờ tỏ ra mình yếu, nghèo khổ, cô quạnh, bực tức hay mất tự chủ.

Xã hội chúng ta gọi tâm trạng này là dửng dưng – cool, và rất nhiều người trong chúng ta cố gắng giữ cho mình hình ảnh này. Từ áo quần, mắt kiếng, bộ dạng trau chuốt khi ra trước công chúng, tất cả như muốn nói: “Nhìn tôi đây. Tôi thành công, mạnh khỏe, hấp dẫn, thoải mái, hạnh phúc, không ở một mình, tôi không có gì lo lắng nhiều trong cuộc sống, đời tôi chẳng có gì phải chiến đấu, tôi xử lý được các vấn đề của tôi, đời tôi chẳng chao động và tôi chẳng cố gắng gì cho lắm để làm những chuyện này. Thoải mái thôi!”

Và không phải là không có lý. Ngược lại với các tâm trạng trên là phơi tình cảm, là cuồng loạn. Chúng ta muốn tự chủ được đời mình, không phơi cái túng thiếu của mình không đúng chỗ cho người khác, tự lo cho mình một cách lành mạnh.

Tuy nhiên, càng thán phục loại sức mạnh này, càng muốn phóng chiếu nó trên đời sống của mình, thì cái dửng dưng và thanh thản thông thường có thể bị coi là dấu hiệu của chưa trưởng thành, thiếu nhạy cảm và thiếu chiều sâu. Một trong các dấu hiệu của trưởng thành và có lòng thương xót đó là biết mình bất lực không bảo vệ được mình trước các đau khổ, bất lực không thể nào trấn tĩnh, điềm tĩnh.

Tại sao? Vì, theo định nghĩa, nhạy cảm và thương xót là dễ mềm yếu trước nỗi đau và bị bỏ lại với một nỗi cô đơn, tuyệt vọng và yếu đuối nào đó. Càng nhạy cảm, chúng ta càng ít dửng dưng. Đó không phải là dấu hiệu của một dạng trưởng thành hay có chiều sâu nào đó để thanh thản đi bên cạnh nỗi đau và cảm thấy nó không liên can gì đến đời mình. Hình như người vô cảm dễ ngủ hơn vì họ không có nhiều lo lắng, ngay cả khi các hành vi của họ có thể ảnh hưởng đến người khác.

Nhà thông thái dòng Tên người Mỹ, giáo sư Michael Buckley đề cập đến vấn đề này rất hay trong một khảo luận trở nên danh tiếng: Cha so sánh Đức Giê-su và triết gia cổ đại Socrate về nhiều mặt của đời sống tiêu biểu cho một con người, và cha làm độc giả ngạc nhiên khi nói, về nhiều mặt, Đức Giê-su có vẻ như không ngang tầm với Socrate.

Cha giải thích: Đối diện với cái chết, Socrate bình tĩnh và đĩnh đạc. Ông chấp nhận bản án của tòa, đàm luận các giải pháp khác nhau về cái chết, biện chứng về các dấu hiệu của bất tử, và không thấy có lý do gì để sợ hãi, ông uống thuốc độc và chết. Chúa Giêsu thì hoàn toàn ngược lại. Chúa Giêsu cảm thấy hãi hùng xao xuyến; “Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết.” Người trở lui trở lại xin các đồ đệ cùng thức và cầu nguyện với Người nhưng họ vẫn ngủ.

Hồi đó tôi nghĩ vì Socrate và Đức Giêsu chịu đau khổ về cái chết một cách khác nhau. Cái chết của người này quá khủng khiếp hơn người kia, đau đớn và hấp hối trên thập giá thì quá khủng khiếp hơn là uống thuốc độc. Nhưng bây giờ tôi nghĩ cách giải thích này, dù đúng và nó vẫn còn đúng, hời hợt và không chính yếu. Bây giờ tôi nghĩ Đức Giê-su là người tận cùng yếu đuối hơn Socrate, nhạy cảm với đau đớn thể xác và mệt mỏi, nhạy cảm với tâm trạng người bị bỏ rơi, bị khinh rẻ, dễ xúc động với tình thương và hận thù. Socrate không bao giờ khóc ở thành phố Athens. Không bao giờ tỏ ra buồn phiền và đau đớn vì bị bạn bè phản bội. Ông tự chủ và liêm chính, không bao giờ làm gì quá, xác tín người công chính không bao giờ để người khác làm mình tổn thương. Vì lý do đó mà Socrate là một triết gia, ông là một trong những người cao cả và anh hùng nhất, một kiểu mẫu thế nào là bản chất loài người có thể thành tựu nơi một con người. Và cũng cùng lý do đó, Chúa Giêsu Na-da-rét là một linh mục – đau khổ, khó hiểu, huyền bí và cứu rỗi.

Thánh Gio-an Thánh Giá, trong tác phẩm cổ điển – Đường Lên Núi Carmel đưa ra một loạt bậc cấp để đi sâu vào con đường tông đồ của Chúa Giêsu. Cấp đầu tiên là học để hiểu sâu xa Chúa Kitô bằng cách suy niệm về cuộc đời của Ngài. Cấp thứ nhì là nỗ lực bắt chước Chúa Kitô, bằng cách cân nhắc để bắt chước động lực của Ngài. Và một khi làm được điều này, ông nói, chúng ta hãy xem xét liệu những nỗ lực của chúng ta đang dẫn chúng ta đi sâu hơn trên con đường tông đồ nhiều hơn hoặc đi trên con đường tự dối mình nhiều hơn, vì, trong số các điều khác, có tiêu chuẩn này: Có phải là một khởi đầu cho các đau khổ ùa vào cuộc sống chúng ta hay chúng ta sẽ khéo léo hơn bao giờ hết trong việc bảo vệ mình chống lại chúng? Giống như Chúa Giêsu, bây giờ chúng ta sẽ nghiêng hơn về phía than khóc cho Giê-ru-sa-lem, hay ngược lại, không cho Giê-ru-sa-lem thấy chúng ta đã đau như thế nào với nỗi đau của Giê-ru-sa-lem? Bây giờ chúng ta yếu mềm hơn hay điềm tĩnh hơn?

Nữ triết gia Irsis Murdoch đã viết: Một người lính bình thường chết không sợ, nhưng Đức Giê-su chết trong sợ hãi.” Và đây là một bài học.

Đưa nỗi cô đơn của mình lên tầm mức cao hơn

Trong quyển tiểu thuyết tự truyện, Các Mối Tình Đầu Của Tôi, văn sĩ Tiệp Ivan Klima chia sẻ tâm tư người đàn ông trẻ chiến đấu với tình trạng khó xử đặc biệt của mình. Một mặt, anh muốn được tự do như các bạn, thoải mái về tình dục, một mặt, có phần nào đó trong con người anh muốn cự lại chuyện này. Nó làm cho anh đặt câu hỏi: Sự ngần ngại của anh là do tính rụt rè không lành mạnh hay do một ước muốn thanh cao, muốn đưa nỗi cô đơn của mình lên tầm mức cao hơn. Cuối cùng, anh lựa chọn quyết định thứ nhì.

Đưa nỗi cô đơn của mình lên mức cao hơn là chuyện không dễ để làm, đặc biệt trong nền văn hóa chúng ta, khi tất cả mọi chuyện như muốn mời gọi chúng ta đi con đường thoải mái. Giống như xã hội Ivan Klima dựng lên, xã hội này mời gọi chúng ta đi con đường ngược lại, con đường có nhiều người đi. Ngay cả ở những người có lòng tin, ý tưởng thường thấy là nếu cái giá quá cao thì không đáng để kiên định, không đáng để duy trì một lý tưởng cao. Nền văn hóa chúng ta còn đề nghị: Thà hạ tiêu chuẩn xuống còn hơn sống trong đau khổ. Thà để tâm hồn chịu nhục còn hơn chịu cô quạnh. Thà bán rẻ bản thân mình còn hơn ở một mình.

Vừa rồi có một nữ độc giả viết thư cho tôi, kể nổi bực tức  khi bà biết các bạn trong giáo xứ không nâng đỡ để bà sống một lý tưởng cao hơn. Bà viết như sau: “Tôi góa chồng bảy năm nay, tôi sống trong buồn tủi và cô đơn. Tôi nhớ lại khi chồng tôi mới chết, các người bạn thân có đạo nói với tôi: “Bạn sẽ lấy chồng lại sớm thôi.” “Tại sao làm đám cưới, chỉ cần sống với nhau thôi.” “Tại sao sống với một người, chỉ cần ngủ qua đêm tối thứ bảy thôi.” Thái độ này rất thường thấy ở lứa tuổi của tôi. Tôi chưa bao giờ đọc các bài viết thiêng liêng về chuyện này. Cha có một số lượng độc giả lớn. Cha có thể viết được không?”

Thư của bà tiếp tục giải thích rõ về điểm này: «Có rất nhiều điều kỳ thú, tuyệt vời mà những người góa chồng góa vợ có thể đóng góp cho xã hội mà hiện nay họ chưa làm được. Thế giới này cổ võ cho hiệu năng và ngoại hình đẹp, dùng phương tiện y khoa để trị rối loạn tình dục, có sở thích du lịch điệu đàng, nhà cao cửa rộng, luôn luôn trẻ, luôn luôn đẹp, luôn luôn có đôi có cặp, làm đủ cách để chống già, lột da, hút mỡ, vv. Chúng ta cần một tiếng nói khác! Nơi đó, chúng ta sẽ được nghe tiếng nói nói niềm vui làm lại một cuộc sống cao đẹp hơn cuộc sống chúng ta, đi vào mãnh đất khô cằn của các tâm hồn, thể xác đã bị tan vỡ, để tinh thần rốt cuộc có thể tung cánh bay tự do, không vướng bận, bởi những vết nứt, vết nhăn.

Có thể đó không phải vì chúng ta mất lý tưởng, mà tuyệt vọng vì điều đó đến với chúng ta. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều muốn giữ một phẩm cách cho tâm hồn, luôn muốn tìm  gặp một ai đó và để vinh danh chúng ta, với tất cả lòng tôn kính con người thật của mình. Nhưng, như một ký giả vừa viết một quyển sách về chay tịnh gần đây, ông nói lý tưởng này chỉ có ý nghĩa khi chúng ta còn trẻ và luôn luôn mơ người mình mong chờ, hơn là bây giờ đang ở tuổi ngoài bốn mươi và đã từ lâu không còn hy vọng một cái gì tốt hơn sẽ đến với mình. Bà nói nền văn hóa của chúng ta tin, như các loại bài hát phổ thông hay hát, thà bị tình phụ còn hơn không bao giờ có tình yêu. Nhưng như nữ văn sĩ Doris Lessing đã từng nói: Chỉ có một tội duy nhất hơn bất cứ một tội nào khác, đó là tội bằng lòng cái… tốt thứ nhì!
   
Rất nhiều người ở trong trận chiến này. Và đây là một bà góa khác viết: «Với một tấm lòng tôn kính sâu xa và danh dự mà chúng ta phải kêu gọi đến lòng can đảm để tránh xa bất cứ cái gì không để lại âm vang về một sự thật rằng chúng ta đã chiến đấu để tự mình hiểu được những con đường sâu thẳm nhất. Và nếu cuối cùng, chúng ta vẫn ở một mình trước sự hiện diện của Chúa thì đó là con đường mà chúng ta luôn luôn phải đi tới. Nói cách khác, tôi tự đặt ra các giới hạn cho mình, và đó là nỗi cô đơn rất lớn!» 

Đó là lời mô tả chính xác tâm trạng của Chúa Giêsu trong vường Giệt-sê-ma-ni. Trong đoạn mô tả sự Thương Khó của Chúa Giêsu, các thánh sử không bao giờ ngừng lại ở đau đớn thể xác (đánh đòn, đóng đinh) nhưng trọng tâm là nỗi cô đơn về mặt tinh thần, cô đơn tận cùng, cái gọi là «đồng nhất trừ một». Người từ chối đi ngược lại và đó là món quà to lớn cho chúng ta. Người đã trả giá trong máu và trong cô đơn, để đi vào mãnh đất khô cằn của các tâm hồn, thể xác đã bị tan vỡ để mang cô đơn lên tầm mức cao hơn. Mặc cho đau đớn, sỉ nhục, cô đơn, Ngài không đi ngược lại lý tưởng của mình. Và Người ở trong nỗi cô đơn tận cùng.
   
Ở bên trong những gì tốt nhất tâm hồn, chúng ta nghe tiếng Người mời gọi: Sống trong đau khổ hơn là hạ thấp tiêu chuẩn của mình, thà chịu có thể bị cô đơn còn hơn đi ngược với con người mình, và thà cô đơn, cô quạnh, dù phải cô đơn tận cùng nhưng không được bán rẻ mình.

Chiến đấu để ăn mừng

Thật khó để mừng lễ cho đúng. Chúng ta muốn làm cho đúng nhưng không biết làm như thế nào.

Nhất là chúng ta lại mừng không tốt vì nghĩ rằng mừng lễ là làm các thứ quá lên. Chúng ta cố gắng mừng bằng cách đưa những điều bình thường (ăn uống, kể chuyện, trò chơi, ca hát) tới mức quá trớn. Đối với nhiều người trong chúng ta, ăn mừng có nghĩa là ăn uống cho nhiều, hát hò ầm ĩ, say sưa và chơi thâu đêm suốt sáng, với suy nghĩ rằng những gì quá trớn đó mới thực sự là ăn mừng. Tuy nhiên, với tất cả những cố gắng điên cuồng này, đổi lại chúng ta cũng chẳng có bao nhiêu niềm vui quý giá thật sự.

Thỉnh thoảng chúng ta cũng có những buổi gặp nhau ăn mừng một cách chân thành. Trong những buổi này, chúng ta cảm nhận có một tình cảm sâu đậm với nhau, có thêm bạn, biết tin của nhau, vui chơi với nhau nhiều hơn, cảm thấy tình thương và niềm vui sâu đậm trong lòng mỗi người. Nhưng ít khi được như vậy, lại càng không có khi buổi lễ diễn ra trong cuồng nhiệt. Thường buổi lễ kéo theo dư vị khó chịu, cách này cách khác. Tại sao?

Lý do thì phức tạp, sâu xa và hầu hết ẩn giấu trong lòng chúng ta.

Có thể lý do đầu tiên vì sao chúng ta không mừng lễ một cách chân thành là vì chúng ta thiếu khả năng thưởng thức hương vị của những niềm vui nho nhỏ; không xem cuộc sống, khoái lạc, tình yêu như món quà tặng của Chúa, tinh tuyền và đơn giản. Không phải vì chúng ta không có khả năng làm, nhưng vì khả năng này bị chôn vùi dưới một núi mặc cảm tội lỗi. Có nghĩa là, thường thường chúng ta không thoải mái vui đùa, vì có một cái gì trong vô thức, chúng ta kết nối chúng với các huyền thoại xưa, ấy là, khi hưởng khoái lạc chúng ta lén lấy một cái gì đó từ Thiên Chúa.

Chúng ta thường có khuynh hướng trách cứ tôn giáo vể điểm này, những bức rức này là chuyện ở đâu cũng có, bên trong cũng như bên ngoài tôn giáo. Cách này cách khác, nhân danh thần thiêng, đa số cảm thấy tội lỗi khi hưởng khoái lạc.

Vì vậy, chúng ta có khuynh hướng luân phiên thay đổi giữa hưởng lạc kiểu nổi loạn (khoái lạc chúng ta lấy cắp từ Chúa) và hưởng lạc kiểu bổn phận (một bổn phận sống, nhưng không có thích thú đích thực). Chúng ta gần như không bao giờ có thể ăn mừng một cách chân thành được. Tôi nói chân thành, vì, một cách nghịch lý, việc thiếu khả năng thưởng thức chính là cái đẩy chúng ta đi đến chỗ ăn mừng giả tạo, hưởng thụ và theo đuổi khoái lạc không lành mạnh.

Một cách đơn giản, chỉ vì chúng ta phải đấu tranh với chính mình để có niềm vui đơn giản, chúng ta đuổi theo để hưởng khoái lạc cho nhiều và lấy sự quá mức làm vui.

Và thường thường nó dẫn đến một hỗn loạn nguy hiểm, chúng ta thay  thế thú vui nho nhỏ bằng hưởng lạc, ngây ngất bằng quá độ, ý thức cao bằng mù quáng. Chúng ta cần học bài học của các lực sĩ say men chiến thắng chìm ngập trong rượu. Đã quá độ thì không còn vui, lương tâm mờ đi thì không còn ý thức cao. Những phẩm vật thay thế này yếu kém và không tạo được sảng khoái.

Mục đích mừng lễ là nhấn mạnh ý nghĩa của một điều gì đó (sinh nhật, đám cưới, thành đạt, ra trường, chiến thắng, sinh con, tất niên, tân niên.) Các ngày lễ này cần được chia sẻ, nhấn mạnh, ăn mừng. Chúng ta có một nhu cầu tự nhiên mừng lễ, và đó là chuyện lành mạnh.
Vì sao phải ăn mừng một cái gì? Mừng là dịp để nhấn mạnh, chia sẻ, thưởng thức, nhân rộng ra. Mừng cũng là dịp để gần nhau trọn vẹn hơn, cùng vui chơi, cùng cảm nhận sâu đậm, dạt dào tình cảm, và thường thường là để thư giãn. Nhưng cũng vì thiếu khả năng yêu thích những gì đơn giản, nên chúng ta thường cố gắng đẩy những niềm vui này đi đến quá độ, tìm ngây ngất của tự nhận thức trong lương tâm bị xóa mờ của chúng ta.

Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy mình lê chân về nhà với tâm trạng khó chịu, mệt mỏi, trống rỗng, cô độc. Tâm trạng khó chịu là dấu hiệu không thể nhầm lẫn rằng ở đâu đó chúng ta đã lướt qua mà không nhìn thấy một trụ dẫn đường.

Nhưng chúng ta phải tiếp tục cố gắng. Chúa Kitô đến và tuyên bố đám cưới, ăn mừng, dâng lễ trong lòng cuộc sống. Ngài làm dân chúng ngạc nhiên vì cách Ngài yêu cuộc sống cũng như cách Ngài từ bỏ nó. Cuối cùng, Ngài bị loại đi cùng với sứ điệp yêu đời cũng như sứ điệp khổ hạnh của Ngài. Bây giờ cũng đúng như vậy. Chúng ta thường có khuynh hướng đọc Sách Thánh theo ý thích của mình, để không thấy thách đố tích cực của Chúa Giêsu là vui hưởng mà không có mặc cảm tội lỗi.

Và trong đó, có liên hệ đến vấn đề của chúng ta: Vì chúng ta chưa bao giờ được thử thách một cách ý thức và nhân danh Chúa Giêsu, để vui hưởng sâu đậm mà không mặc cảm tội lỗi, các thú vui nhân bản của cuộc sống, của sự lành mạnh, của thường xuyên, nên nhu cầu vui hưởng và thưởng thức của chúng ta có khuynh hướng làm trong lén lút. Chúng ta vẫn luôn luôn đi tìm khoái lạc và niềm vui, nhưng bây giờ chúng ta hãy tách chúng ra, cái gì là mộ đạo, thần thánh, là “lấy của Chúa”, để vui hưởng chúng một cách đơn giản và có ý thức. Đó là một trong các lý do chính vì sao chúng ta phải thay thế các lạc thú quá độ bằng niềm vui đích thực, thế lương tâm mù quáng bằng ý thức cao hơn.

Chúa cho phép chúng ta hưởng cuộc sống và các thú vui. Sự thật này cũng cần được nhấn mạnh nhiều hơn nữa trong công việc giảng dạy tôn giáo. Lạc thú là món quà tặng của Chúa, chứ không phải trái cấm.

Làm điều đúng vì nó đúng

“Có bao giờ bạn làm một điều gì đó đơn giản vì trên nguyên tắc điều đó đúng, biết rằng bạn không thể giải thích điều đó với bất cứ ai, ngay cả không có cảm giác tốt cho hành động đó của bạn?”

Karl Rahner đã viết như vậy và sau đó ông còn viết thêm: “Nếu bạn từng hành động như thế, bạn đã trải nghiệm Thiên Chúa, mà có lẽ bạn không biết.”

Đức Giêsu sẽ rất đồng tình về điểm đó, hơn thế Người biến điều này vừa thành nguyên tắc trọng tâm của tôn giáo, vừa thành tiêu chuẩn quan trọng nhất cho sự cứu rỗi.

Chúng ta thấy điều này rõ ràng nhất trong đoạn Phúc Âm nổi tiếng khi Đức Giêsu bảo những gì chúng ta làm cho người nghèo khó trên thế gian này là làm cho Người. Theo Đức Giêsu, khi chúng ta trao tặng một cái gì đó cho người nghèo là trao tặng cho Chúa, làm ngơ trước người nghèo nghĩa là làm ngơ trước Thiên Chúa.

Có một nền tảng quan trọng trong lời giảng này. Một ngày kia, người ta hỏi Đức Giêsu: “Điều gì sẽ là thử thách? Điều gì sẽ là tiêu chuẩn cuối cùng cho phán quyết ai đó sẽ được vào nước trời hay không? Câu trả lời của Đức Giêsu đã làm cho dân chúng ngạc nhiên. Họ mong chờ phán quyết cuối cùng sẽ quay chung quanh các vấn đề liên quan đến đạo, thực hành tín ngưỡng, các lễ nghi thích hợp, và lề luật luân lý. Thay vào đó là câu trả lời: “Khi Con Người đến trong vinh quang, tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển. Muôn dân thiên hạ sẽ quy tụ trước Người, và Người sẽ tách người này với người kia ra như mục tử tách chiên với dê; để chiên bên hữu và dê bên tả.”

Vậy theo Đức Giêsu điều gì sẽ là cơ sở cho sự phân tách này? Chỉ duy nhất điều này: Các con đã từng cho kẻ đói ăn? Đã cho kẻ khát uống? Đã đón tiếp khách lạ? Đã mặc áo cho kẻ trần truồng? Đã viếng thăm kẻ ốm đau, tù tội? Vì khi các con làm những điều này cho kẻ ốm đau, đói khát, khách lạ, và tù tội chính là các con đã làm cho Chúa và ngược lại.

Ngay lập tức có sự lúng túng trong số những người nghe Chúa. Cả hai nhóm, người đã làm và người không làm đều ngẩn ngơ và đều có một thắc mắc như nhau: Khi nào? Có bao giờ chúng con thấy Người đói đâu? Có bao giờ chúng con thấy Người khát đâu? Có bao giờ chúng con thấy Người trần truồng, khách lạ, ốm đau, hoặc ngồi tù để chúng con phục vụ hay không phục vụ Người? Có bao giờ chúng con thấy Thiên Chúa như vậy, để làm điều đó cho Người?”

Cả hai đều bị bất ngờ và cả hai đều có vẻ có cùng thắc mắc như nhau, tuy nhiên cách họ kháng cự thì lại khác nhau: Nhóm thứ nhất, những người trước đó đã có khả năng đáp lại người nghèo thì ngạc nhiên một cách vui vẻ. Những gì họ nói với Đức Giêsu cốt lõi là: “Chúng con đã không nhận ra đó là Người! Những gì chúng con làm lúc đó đơn giản vì đó là điều đúng!” Và Đức Giêsu đáp lại: “Không sao cả! Khi các con phục vụ cho kẻ nghèo khó, là các con đang gặp chính Ta!”

Nhóm thứ hai, những người trước đó không hành động như thế, họ bị sốc mạnh. Họ kháng cự lại như thế này: “Nếu chúng con đã biết! Nếu chúng con biết Người hiện diện trong kẻ nghèo thì chúng con đã không làm ngơ rồi. Chúng con không nhận ra điều đó!” Và Đức Giêsu đáp lại: “Không sao cả! Khi các con không phục vụ người nghèo là các con lãng tránh Ta.”

Bài học ở đây là gì? Điều dễ nhận ra hơn hết, dĩ nhiên đó là thử thách nội dung lời suy niệm nổi tiếng của các ngôn sứ, những người đã phát biểu một cách rõ ràng rằng phẩm cách niềm tin của chúng ta sẽ được phán xét dựa trên phẩm cách công chính trên mặt đất và phẩm cách công chính sẽ được phán xét dựa trên cách đối xử với những người bị thương tổn nhất trong xã hội (góa phụ, trẻ mồ côi, người xa lạ), họ được tiếp đãi như thế nào khi chúng ta còn sống trên thế gian này. Các ngôn sứ Do Thái đã dạy chúng ta rằng phục vụ người nghèo khó là một phần tất yếu của tôn giáo, rằng không một ai có thể vào nước trời mà không có thư giới thiệu của người nghèo khó. Hơn thế, Đức Giêsu còn nói thêm rằng: Thiên Chúa không những chỉ giành ưu tiên cho người nghèo, Thiên Chúa ở trong họ.

Nhưng cũng có một bài học khác, chỉ phảng phất nhưng quan trọng: Trong câu chuyện này, những người đã phục vụ Thiên Chúa hiện diện trong người nghèo khó, và những người đã không phục vụ Thiên Chúa đều không biết những gì họ đang làm.

Nhóm thứ nhất, nhóm đáp trả, họ làm thế đơn giản vì họ thấy đó là điều đúng. Họ không biết Chúa ẩn mình trong người nghèo khó. Nhóm thứ hai, không đáp lại, đã không mở tay ra vì họ không thấy Chúa ở bên trong người nghèo. Không ai trong họ biết Thiên Chúa ở đó và bài học là:

Một tông đồ chín chắn không suy tính hay phân biệt liệu có Chúa ở trong tình huống đó hay không, liệu người này có đáng giá hay không, liệu người này có là kitô-hữu hay không, liệu người kia có là người tốt hay không, khi họ mở lòng ra phục vụ. Một tông đồ chín chắn phục vụ bất cứ ai đang cần phục vụ, không phụ thuộc vào bất cứ suy xét nào cả.

Cám dỗ cuối cùng, đó là phản bội lớn nhất khi làm điều đúng cho một lý do sai trái. Thi sĩ T.S.Eliot đã nói như vậy. Đức Giêsu cũng sẽ nói thêm làm điều đúng đã đủ là lý do rồi.

Bài này được dịch từ

 Một vài năm trước, tôi biết một phụ nữ trẻ đã toan tự tử. Cô ấy 23 tuổi, sống xa gia đình. Gia đình cô trong nỗi sợ hãi, lo lắng vội vàng đến để có mặt với cô. Rồi họ đưa cô ấy trở về nhà và cố gắng để cung cấp cho cô sự chăm sóc của y tế và tâm thần đầy đủ nhất, tốt nhất mà họ có thể tìm được, và quan trọng nhất là mọi người đã bên cạnh cô để ủng hộ cô, cố gắng bằng mọi cách để đem cô ra khỏi sự trầm cảm tự tử.

 Họ đã không thành công. Hai tháng sau, cô ta đã tự tử. Cô ta đi đến một nơi mà không một tình thương nhân loại, thuốc thang hay nhà trị liệu tâm thần nào có thể xâm nhập, một địa ngục riêng tư vượt quá tầm với của loài người.

Có niềm hy vọng nào trong tình cảnh như thế này được?

Với cái nhìn của con người thì chẳng có hy vọng nào cả. Ngoài vòng tác động của đức tin, cô ấy ở bên ngoài khả năng của chúng ta và chúng ta bất lực khi cố gắng để giúp cô. Nhưng, với đức tin có hy vọng, một niềm hy vọng lạ lùng.

Có một tín điều trong đức tin của chúng ta và đối với sự hiểu biết của tôi, là một niềm tin an ủi riêng biệt nhất trong mọi tôn giáo, đó  là niềm tin rằng Đức Kitô đã đi xuống địa ngục (descended into hell như trong Kinh Tin Kính của tiếng Anh).

Một phiên bản của Kinh Tin Kính cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su “đã đi xuống hỏa ngục”; điều này có nghĩa là gì?
Chúng ta không chắc chắn được. Có những truyền thống khác nhau giải thích về ý nghĩa của cụm từ đó: trong một phiên bản, có lẽ phổ biến nhất cho biết đó là tội lỗi của Adam và Evà đã đóng những cánh cửa thiên đàng và chúng đã bị niêm phong cho đến khi Chúa Giêsu chịu chết. Cuộc tử nạn của Chúa Giê-su đã mở các cánh cửa thiên đàng và chính Người, trong thời gian giữa cái chết và sự phục sinh đã xuống địa ngục (Sheol, phần Dưới Thế) nơi mà các linh hồn của những người đã chết từ thời Adam cách nào đó, nghỉ ngơi. Chúa Giê-su đã mang tất cả họ lên thiên đàng. Cuộc “đi xuống địa ngục” trong phiên bản này về niềm tin, đề cập đến việc Người xuống dưới thế sau cái chết để giải cứu những linh hồn.

Nhưng lại có một sự hiểu biết khác về Chúa Giêsu [đi xuống địa ngục]. Cách giải nghĩa này gợi ý rằng Chúa Giêsu đi xuống địa ngục nêu lên đặc biệt về cách Người chịu chết, về sự sâu thẳm của hỗn loạn và tối tăm mà Ngài đã phải chịu đựng nơi ấy, và tình yêu, lòng tin cậy và sự tha thứ vô tận Ngài đã tỏ lộ trong nơi tối tăm tuyên bố một tình yêu mà có thể xâm nhập vào bất cứ địa ngục nào mà có thể được hình thành. Cách giải nghĩa này khá trừu tượng nên cho phép tôi đưa ra một ví dụ mình họa:

Trong Nhà Thờ Thánh Phaolô ở Anh, có một bức tranh nổi tiếng của Holman Hunt đã linh hứng nhiều vô số những mô phỏng ít giá trị hơn. Đó là một bức tranh mô tả Chúa Giêsu ở bên ngoài cánh cửa với cây đèn lồng, và bức tranh gợi ý rằng chúng ta,  những người ở bên trong cánh cửa đó, phải mở cửa để Chúa Giêsu đi vào, nếu không Người sẽ đứng đợi ngoài cửa. Trong những sự mô phỏng của bức tranh này, các nghệ sĩ còn đi xa hơn nữa, cụ thể là, họ đã đặt tay khóa mở cửa bên trong cánh cửa, nhưng bên ngoài cánh cửa thì không có gì cả, gợi ý rằng Chúa Giêsu không thể đi vào cuộc sống của chúng ta nếu chúng ta không mở cánh cửa cho phép Người vào.

Tôi còn nhớ khi còn là bé trai nhỏ, tôi nhìn thấy bức tranh này trên một ảnh thánh kẹp sách và nó làm tôi bị ám ảnh, sợ chính điều rằng một ngày nào đó, tôi có thể bị tổn thương, trầm cảm, hoặc bị tê liệt để mở cánh cửa đó cho Chúa đi vào.

Nhưng mạnh mẽ như bức tranh này, Phúc Âm đi ngược lại với ngụ ý của nó. Cách nào?

Thánh Gioan, trong Tin Mừng của Ngài, tô bày hình ảnh này cho chúng ta: ngày Chúa Giêsu chỗi dậy từ cõi chết, Người thấy các môn đệ vì sợ hãi đã tụ tập với nhau trong căn phòng khóa kín. Chúa Giêsu, không như những mô phỏng của bức tranh tuyệt diệu của Holman Hunt, không đứng bên ngoài cánh cửa để gõ, chờ các môn đệ đến và mở cửa. Người đi qua ngay cả các cánh cửa, đi vào đứng giữa vòng kín của các tông đồ đang sợ hãi và thổi hơi bình an trên họ. Người không bất lực để đi qua cánh cửa khi các môn đệ đều đang rất sợ hãi, thất vọng và quá đau đớn để mở cánh cửa cho Người. Người có thể đi vào chốn địa ngục của họ bằng cách đi qua những cánh cửa mà họ đã khóa lại vì sợ hãi.

Điều này cũng đúng đối với những hỏa ngục riêng tư của mỗi người nơi mà đôi khi chúng ta đi vào. Chúng ta có thể đi vào một thời điểm trong cuộc đời của mình nơi mà những người khác không còn có thể với tay để giúp đỡ chúng ta trong sự đau khổ của mình và nơi mà chúng ta bị quá ổn thương, quá sợ hãi và quá tê liệt để mở cửa cho bất cứ ai đi vào. Sự quan tâm của nhân loại không còn với đến tới chúng ta nữa. Nhưng Chúa Giêsu có thể đi vào những cánh cửa đã bị khóa, Người có thể đi vào tận địa ngục của chúng ta.

Tôi chắc chắn rằng khi người phụ nữ trẻ đã tự tử tôi đề cập đến lúc ban đầu, thức dậy ở thế giới bên kia, cô ấy thấy Chúa Giêsu đang đứng bên trong nỗi sợ và cơn bệnh của mình thở hơi ơn bình an, tình yêu và sự tha thứ, như Người đã làm trong bóng tối và sự hỗn loạn mà Người đã đi xuống trong cái chết của Người. Tôi cũng chắc chắn rằng cô ấy, một người phụ nữ nhạy cảm như cô, đã tìm thấy nơi sự ra lệnh của Ngài, hơi thở của ơn tha thứ, sự bình an mà cho rất nhiều lý do, đã từ chối cô trong đời này.

Niềm tin của chúng ta rằng Chúa Giêsu đã và có thể “đi xuống địa ngục” là điều an ủi đặc biệt nhất trong trọn vẹn tôn giáo. Điều đó đem hy vọng khi không có bất cứ hy vọng nào theo phương cách của loài người. Đôi khi, vì đau ốm và sự tổn thương, người mà chúng ta yêu dấu có thể đi xuống một nơi mà chúng ta, bất kể tình yêu thương và nỗ lực, không thể với tới. Nhưng không phải tất cả đều là thất vọng: Chúa Giêsu có thể đi xuống hỏa ngục đó và ngay cả trong nơi đó Người lại thổi hơi bình an mà lần nữa đem trật tự vào nơi hỗn loạn.