RonRolheiser,OMI

Lòng trung thành lớn nhất của chúng ta

Cha Ronald Knox trong một bài giảng về Thánh Thể đã có nhận xét: Suốt quá trình hai ngàn năm lịch sử Kitô-hữu, cả toàn Giáo Hội cũng như tín hữu đã luôn luôn làm ngơ đến cốt lõi các lời kêu gọi và điều răn của Chúa Giêsu. Cách này cách khác, chúng ta hoặc quá yếu để đi theo lời dạy của Người hoặc quá phân tích lý luận để không đi theo Người.

Và như thế, trên một tầm mức rộng lớn, chính chúng ta cũng không áp dụng yêu kẻ thù như mình, đưa má kia cho người khác đánh tiếp, tha thứ 70 lần 7, rời bàn thờ về làm hòa với người anh em trước khi dâng của lễ, đặt công chính cùng tầm với thờ phượng, lòng trắc ẩn quan trọng hơn giáo điều, không lấy vợ chồng người, không cắp của người, không nói dối, không nói người khác ngu, không sa chước ghen tương. Trong một vài lãnh vực, cá nhân và tập thể, chúng ta thật sự đã không trung tín và quá phân tích lý luận.

Nhưng đa số chúng ta trung thành và kiên định qua bao nhiêu năm tháng theo các điều răn Chúa dạy, cữ hành Thánh Thể, trong mỗi dịp gặp nhau, chia sẻ Lời Chúa, cùng bẻ bánh và uống rượu để nhớ đến Người.

Càng về già, việc này càng rõ và càng có ý nghĩa hơn đối với tôi, cả hai mặt giáo hội và cá nhân tôi.

Trong chừng mực có thể, tôi dâng lễ mỗi ngày, tôi có nhiều lý do để dâng thánh lễ. Thánh Thể bao gồm và thực hiện nhiều thực tế sâu thẳm: Giúp thể hiện việc Chúa nhập thể trong giòng lịch sử, được ôm Chúa vào lòng, tình cộng đoàn ki-tô sâu đậm, lương thực man-na nuôi dưỡng, bữa ăn gia đình của tín hữu, tưởng niệm việc Chúa hy sinh cho nhân loại, món quà hòa giải và thứ tha của Chúa, mời gọi làm tông đồ sâu đậm hơn, buổi tiệc mở ra cho người nghèo, canh thức chờ Chúa Giêsu trở lại, và là lời cầu nguyện hàng tư tế của Chúa Giêsu cho nhân loại.

Nhưng tôi cũng dâng lễ vì nhiều lý do khác, riêng tư hơn: Đó là nơi duy nhất tôi tỏ lòng trung tín, là nơi cơ bản tôi được nâng cao. Tôi không thể nào kiềm chế cách tôi cảm nhận hoặc cách tôi suy nghĩ và tôi không thể lúc nào cũng ở tầm cao về mặt đạo đức và thiêng liêng, nhưng, bên trong cảm nhận lúc nào mình cũng khiếm khuyết, cũng có những lúc nghi ngờ và hoang mang, tôi cảm nhận mình trung tín trên con đường sâu đậm này. Tôi có thể dâng Thánh Lễ thường xuyên.

Càng già, nó càng có ý nghĩa với tôi. Với tuổi tác, tôi càng không chắc về hiểu biết của tôi về Chúa, tôn giáo và cuộc sống. Khi hiểu biết càng sâu, càng trải rộng thì nó bắt đầu đi về đến các bến bờ dịu mát. Ngược lại với những năm đầy tin tưởng của tuổi trẻ, bây giờ tôi sống trong ý thức các con đường tự đủ là một con đường dài, ít quy tắc cho hiểu biết về Thiên Chúa của tôi. Cái huyền nhiệm chúng ta sống là huyền nhiệm mênh mông, càng thấu hiểu tầm mức quy mô của vũ trụ và đời sống thiêng liêng thì càng thấu hiểu Chúa không thấu hiểu đến mức như thế nào. Đúng là Chúa đã vượt ngoài chúng ta, ngoài ngôn ngữ, ngoài tưởng tượng, và ngoài cả cảm nhận. Chúng ta có thể biết Chúa nhưng không bao giờ hiểu được Chúa. Và vì thế chúng ta cần phải khiêm tốn hơn, trong thần học cũng như trong giáo hội. Thánh Thễ là nghi thức duy nhất mà chính Chúa Giêsu đã trao ban cho chúng ta, một trong những nơi chúng ta đặt lòng tin tưởng.

Thêm nữa, càng già tôi càng thấy tôi đã mù quáng như thế nào về các đạo đức giả của riêng tôi, tôi yếu và phân tích lý luận như thế nào trong bản chất con người của tôi. Không phải lúc nào tôi cũng biết tôi đang lý luận, đang chệch hướng hay đang theo Chúa Giêsu. Và khi làm, không phải lúc nào tôi cũng có đủ sức mạnh hay ý chí để làm những gì tôi biết là đúng. Vì thế tôi dựa mạnh vào lời mời gọi của Chúa Giêsu để lại trước khi chết, bẻ bánh và uống rượu để nhớ đến Người và tin rằng, và dù cho mọi sự là bất định, đó là những gì tôi phải làm trong khi chờ Chúa trở lại.

Trong những buổi hướng dẫn các cặp dự bị hôn nhân, mục sư người Đức, nhà thần học tử đạo trong thời Đức quốc xã, đã lưu ý khi dùng tù trong việc này: Bây giờ, các bạn đang yêu nhau và các bạn nghỉ tình yêu hổ trợ cho hôn nhân. Không phải. Hôn nhân hổ trợ cho tình yêu của bạn!

Thánh Thể là nghi lễ phụng vụ của người Kitô, chúng ta không thể duy trì  đức tin, đức ái, thứ tha, hy vọng dựa trên suy nghĩ và cảm nhận, nhưng, chúng ta có thể duy trì chúng qua Thánh Thể. Chúng ta không thể lúc nào cũng rõ ràng trong đầu và nhiệt thành trong tim; chúng ta không thể nào biết chắc con đường đi chính xác của Chúa; và chúng ta cũng không thể lúc nào cũng ở tầm cao mà đức tin đòi hỏi chúng ta, về mặt luân lý cũng như nhân bản. Nhưng chúng ta có thể trung tín vào chuyện này, một cách sâu đậm: Chúng ta dự Thánh Lễ thường xuyên.

Một tiên tri đã mất

Vào chiều 18-05, năm linh mục đang lái xe ở phía bắc thành phố Guatemala để đến họp ở một cộng đoàn thì bị các người vũ trang mang mặt nạ chận bắt. Sau khi lấy các vật dụng tùy thân của các linh mục, họ nổ súng, giết cha Lawrence (Lorenzo) Rosebaugh, một linh mục người Mỹ và làm trọng thương cha Jean Claude Nowama, một linh mục người Congo.
   
Bản tin bỗng gây chú ý trong nhà dòng, không phải vì các nạn nhân là linh mục nhưng vì họ thuộc nhà dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, dòng của tôi và linh mục bị giết là người tôi biết nhiều và rất kính trọng ngài.

Mircea Eliade đã cảnh báo các cộng đoàn đừng vì cái chết mà làm hư việc. Cộng đoàn của tôi cũng không muốn vì chuyện này mà làm hư việc. Lorenzo Rosebaugh không phải là một người bình thường, cũng không phải là một linh mục bình thường. Cha là món quà Chúa cho thế giới, giáo hội và cộng đoàn của chúng tôi, đặc biệt là người nghèo mà cha tận hiến cả cuộc đời cho họ.

Cha Lorenzo sinh năm 1935, tại Appleton, bang Wisconsin, nhưng lớn lên ở St-Louis. Cha vào nhà dòng năm 1955 và chịu chức linh mục năm 1963. Luôn luôn yêu thương người nghèo và thiết tha với công chính, Lorenzo chịu ảnh hưởng Dorothy Day và Daniel Berrigan rất lớn. Vì thế, cha đã trả một giá khá đắt.

Năm 1968, để chống đối chiến tranh Việt Nam, cha đốt một số giấy tờ. Cha bị tù hai năm. Năm 1975, cha di chuyển bằng cách xin quá giang xe ở Ba Tây, và trong nhiều năm, sống ngoài đường phố ở Recife, không địa chỉ, không giáo xứ, cử hành Thánh lễ với người bụi đời và giúp họ kiếm thức ăn. Vì thế cha bị chính quyền nghi ngờ, bị bắt, bị bỏ tù, bị đánh đập. Bầu khí chính trị của Ba Tây lúc đó nếu không có sự can thiệp của quốc tế, thì chắc cha đã bị thủ tiêu. Chỉ sau khi bà Rosalyn Carter viếng thăm Ba Tây thì cha mới được phóng thích. Sau đó bà gặp cha và nhân cơ hội đó, cha xin bà can thiệp để cải thiện nhà tù ở Ba Tây.

Trong những năm 1980, cha bị viêm gan gần chết, buộc phải về Mỹ để điều trị, nhưng sau đó cha lại hoạt động trở lại. Năm 1983 cha lại bị bắt vì phá hoại hệ thống âm thanh ở Fort Benning và phát thanh bài giảng cuối cùng của giám mục Romero. Vì hành động này, cha bị thêm 18 tháng tù.

Từ đó, cha dọn về Catholic Worker ở Nữu Ước, rồi về Salvador để sống gần người nghèo, và, sau một thời gian tĩnh tâm dài hạn ở Nhà Dòng Mẹ ở Pháp, cha về St-Louis một thời gian săn sóc mẹ của cha sắp chết và viết hồi ký, sau đó cha về Guatemala, nơi cha làm tông đồ cho người nghèo cho đến khi cha chết tháng vừa qua.
   
Cha viết một quyển sách về các kinh nghiệm của cha: “Hiểu Biết qua Thất Bại: Hành Trình của Từ Bi, Chống Đối và Hy Vọng.” Tôi được đặc ân viết Lời Tựa cho quyển nhật ký kể hành trình nội tâm của cha xuyên qua cuộc đời của cha. Trong bài đó, tôi có viết:

Có lần Daniel Berrigan nói: Một nhà tiên tri không khấn lời khấn ghét bỏ mà khấn lời khấn yêu thương. Và đó là những gì Lorenzo làm. Cha khấn lời khấn yêu thương và cha đã đi trên một con đường gồ ghề, nhất là đi một mình, đi chân không, đi vào tù, để lại cho cha là thân xác bị đánh đập, bị hao mòn, nhưng cuối cùng nó lại cho cha hạnh phúc, chín chắn, dịu hiền, trung tín, ngay thẳng và biết ơn. Cộng đoàn của chúng tôi được thành lập để phục vụ người nghèo và nhà sáng lập cộng đoàn đòi hỏi chúng tôi phải học ngôn ngữ của người nghèo. Tất cả chúng tôi đều cố gắng học, nhưng chỉ có một ít người có đặc sủng và có quả tim để cụ thể ở với người nghèo, chịu dơ bẩn, sống ngoài đường nơi người nghèo sống, đem thức ăn, giường ngủ, an ủi, nhân phẩm và Thiên Chúa đến cho họ. Lorenzo đã học ngôn ngữ của người nghèo, vì cha là bạn, là luật sư, là linh mục của họ và chúng tôi tự hào về cha!

Trong thánh lễ an táng, cha giám tỉnh mô tả cha “một phần như thánh Gio-an Tẩy Giả, một phần như thánh Phan-xi-cô Đa-xi.” Đúng là người nghèo đã nhìn cha như vậy.

Cha Lorenzo không thích nói về mình, nhưng ở Nhà Dòng Mẹ ở Pháp, có một đêm cha đã chia sẻ câu chuyện sau: “Trước khi vào tù vì kháng cự, tôi đi tĩnh tâm với cha Daniel Berrigan. Ngài nói với chúng tôi: ‘Nếu con làm chuyện đó mà cơn giận và cay đắng mọc lên thì đừng làm!” Tôi cầu nguyện trắng đêm trước hôm bị bắt lần đầu tiên, phần vì sợ, phần vì tôi cần Chúa giúp để hạt giận, hạt cay đắng đừng mọc lên!”

Và cha không bao giờ để hạt giận, hạt cay đắng lớn lên. Lúc nào tinh thần cha cũng dịu dàng và cha được người nghèo đỡ đầu, tôi nghi trong giây phút cuối cùng, khi bị tên cướp thiếu suy nghĩ, kết thúc đời cha một cách vô nghĩa, cha, cũng như Chúa Giêsu, đã tỏ lòng thương xót vì sao cớ sự lại xảy ra như vậy: “Xin Cha tha cho chúng; chúng không biết việc chúng làm!”

Cầu nguyện như tu sĩ và cầu nguyện cảm tính

Cầu nguyện được định nghĩa theo cách cổ điển là nâng tâm hồn và quả tim lên Thiên Chúa. Đó là một định nghĩa hay, nhưng cần một tiêu chuẩn quan trọng.

Có hai hình thức cầu nguyện cốt yếu: Một, chúng ta gọi là cầu nguyện phụng vụ, cầu nguyện chung trong nhà thờ, và một, chúng ta gọi là cầu nguyện riêng tư hay sốt sắng. Thật không may, chúng ta thường lẫn lộn giữa hai cái.

Chẳng hạn, năm trăm người có thể cùng nhau ngồi chiêm niệm trong nhà thờ hay cùng nhau lần chuỗi mân côi trong đền thánh, thì việc cầu nguyện ở đây vẫn có tính cách riêng tư sùng kính. Ngược lại, người đọc giờ kinh Phụng Vụ ở nhà trong chiếc ghế bành hay một linh mục dâng Thánh Lễ một mình tại bàn ăn, nhưng cả hai đều có tính cách phụng vụ chung. Như chúng ta thấy từ các thí dụ này, sự phân biệt không phụ thuộc vào số người tham dự, nơi cử hành hay đó là cầu nguyện chung hay riêng tư. Sự phân biệt được căn cứ trên một điều khác. Điều gì?

Có lẽ một thay đổi trong cách gọi tên có thể giúp chúng ta hiểu rõ phân biệt này: Cầu nguyện phụng vụ hay cầu nguyện chung có thể gọi là cầu nguyện như hàng tu sĩ, cầu nguyện riêng tư và sùng kính có thể gọi là cầu nguyện cảm tính.

Cầu nguyện như tu sĩ là cầu nguyện như thế nào? Đó là lời cầu nguyện của Đức Ki-tô thông qua Giáo Hội hoàn cầu. Đức tin Ki-tô giáo của chúng ta là tin Đức Ki-tô vẫn còn quy tụ chúng ta lại để nghe Lời Người và để trao ban hành động yêu thương cho thế gian. Nối dài hành động này, bất cứ lúc nào chúng ta gặp nhau, trong nhà thờ hay một nơi nào khác, quây quần bên Sách Thánh hay cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta đang cầu nguyện như các linh mục và hiệp thông với hiến tế của Đức Ki-tô. Đó là cầu nguyện phụng vụ; là cầu nguyện của Đức Ki-tô, không phải cầu nguyện của chúng ta. Chúng ta cầu nguyện phụng vụ bất cứ lúc nào chúng ta quy tụ để cử hành phụng vụ Lời Chúa, các phép bí tích, hay khi chúng ta cầu nguyện trong cộng đoàn hay một cách riêng tư, cái được gọi là Cầu Nguyện Giáo Hội hay Lễ Nghi Giáo Hội (Kinh Sáng và Kinh Chiều).

Và hình thức cầu nguyện này không phải chỉ dành cho các linh mục. Tất cả chúng ta cũng là linh mục, nhờ phép bí tích rửa tội và cũng một phần nhờ vào giao ước ngầm chúng ta ký kết với cộng đoàn khi  nhận phép rửa tội, đó chính là sự ràng buộc, và khi đến tuổi trưởng thành, chúng ta thường xuyên cầu nguyện cho thế giới qua giờ kinh phụng vụ với cộng đoàn.

Những gì cần làm nổi bật ở đây là vì chúng ta rất dễ bỏ qua khía cạnh này, rằng cầu nguyện phụng vụ ở nhà thờ là cầu cho thế giới, không phải cho chính nhà thờ. Nhà thờ, trong thế gian này, không tồn tại cho chính mình, nhưng là công cụ cứu rỗi của thế gian. Chức năng của nhà thờ là cứu rỗi thế gian, chứ không phải cứu rỗi cho nhà thờ. Cầu nguyện phụng vụ là chúng ta cầu nguyện với Đức Ki-tô, qua trung gian nhà thờ, nhưng cầu nguyện cho thế giới.

Cầu nguyện thuộc cảm tính mang một ý nghĩa khác. Mặc dù có nhiều hình thức, chiêm nghiệm, cầu nguyện tập trung, lần chuỗi, sốt sắng cầu nguyện nhiều cách, cầu nguyện cảm tính có một mục đích duy nhất, cuộn chúng ta và người thân vào trong tình mật thiết sâu đậm với Đức Ki-tô. Rốt lại, dù có thể thức riêng, toàn bộ việc cầu nguyện này có mục đích tạo tình thân mật riêng tư với Thiên Chúa và cuối cùng nó vẫn mang tính cách riêng tư dù khi cầu nguyện chung hay với một nhóm nhiều người. Tất cả việc cầu nguyện riêng tư và sốt sắng có thể được định nghĩa theo cách này: Qua nhiều cách cầu nguyện khác nhau, cố gắng mở lòng chúng ta hoặc người thân thế nào để chúng ta có thể nghe ra được Lời Chúa nói với chúng ta: “Ta yêu các con!”

Thật quan trọng để nhận biết sự khác nhau này khi cầu nguyện: Chúng ta đang đi vào hình thức cầu nguyện nào đây? Nhầm cái này với cái kia là làm phương hại đến cả hai. Chẳng hạn, một người nào đó cảm thấy nản lòng vì lễ nghi phụng vụ và thái độ của một hội đoàn trong lễ nghi ở nhà thờ, xem đó như chướng ngại và làm xao lãng đến giờ cầu nguyện riêng tư, sốt sắng, người đó đang lẫn lộn hai hình thức của cầu nguyện và kết quả làm phương hại đến cả hai. Chức năng của cầu nguyện phụng vụ trước hết không có tính cách sốt sắng riêng tư.
Hay thỉnh thoảng sự nhầm lẫn dẫn đến việc buông bỏ hoàn toàn một hình thức cầu nguyện phụng vụ. Tôi biết một người, sau hai năm cầu nguyện theo Giờ Kinh Phụng Vụ đã thay thế giờ kinh này bằng hình thức cầu nguyện riêng tư vì anh không tìm thấy hình thức cầu nguyện phụng vụ có nhiều ý nghĩa. Những chiêm nghiệm riêng tư của anh bây giờ có thể là hình thức cầu nguyện cảm tính kỳ diệu, khi cầu nguyện như vậy anh không còn cầu nguyện theo hình thức các linh mục của Đức Ki-tô. Đôi khi cầu nguyện như thế này cũng có thiện hướng tốt nhưng nó không theo đúng một kế hoạch tốt, nhà thờ, nơi mà giờ kinh phụng vụ chung lại thành giờ chiêm nghiệm riêng tư, tuy tốt lành và mạnh mẽ thiệt nhưng không dùng Sách Thánh cũng như cầu nguyện cho thế giới.

Các Giáo Hội tự đấu tranh với điều này. Giáo hội Công Giáo La Mã, Giáo hội Anh Quốc, Giáo hội ở Mỹ và các Giáo hội Tin Lành chính thống có một truyền thống phụng vụ kiên cố, thỉnh thoảng đã làm phương hại đến hình thức cầu nguyện cảm tính. Các Giáo hội thuộc phái Phúc Âm và Thánh Linh, ngược lại, đặt trọng tâm nhiều vào hình thức cầu nguyện cảm tính, thỉnh thoảng có khuynh hướng sao lãng gần như hoàn toàn hình thức cầu nguyện phụng vụ.

Có lẽ bản thân chúng ta cũng thiên vị khi có hai chiếc khăn choàng hình thức cầu nguyện, mỗi cái được thêu khác nhau: Cầu Nguyện Như Tu Sĩ và Cầu Nguyện Cảm Tính.

Cây Cỏ, Bầu Trời, Ca Hát, Tiếng Nói Đạo Đức

Một bài viết hay cũng như một tác phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp, chúng mang tính đạo đức nhưng không giảng đạo đức, diễn tả tình cảm sâu đậm nhưng không vướng tình cảm uỷ mị, thách thức nhưng không gợi lên mặc cảm tội lỗi sai, đứng đắn  nhưng không mang nét châm biếm gay gắt. Không có một công thức nào dễ dàng.

Với suy nghĩ như vậy, tôi muốn nhấn mạnh đến quyển sách Cây Cỏ, Bầu Trời, Ca Hát, Hứa Hẹn và Đe Dọa trong Thế Giới của Chim Muông Đồng Cỏ, của Trevor Herriot, một văn sĩ người Canada. Một quyển sách rất tinh tế: có tính đạo đức cao nhưng không mang nét giảng đạo đức, đứng đắn nhưng không thấy nét châm biếm gay gắt, một quyển sách nói về cái chết nhưng để lại hy vọng trong lòng độc giả.
   
Bề ngoài thì đây là quyển sách nói về loài chim đồng đang dần dần suy giảm và biến mất trên các đồng cỏ ở Canada và Mỹ, nhưng đây cũng là một quyển sách nói rất nhiều về chim muông, rất nhiều điều hơn thế. Về mối quan hệ của chúng ta với quả đất, tất cả chúng ta, dù ở đồng quê hay thành phố, và dù chủ ý của chúng ta có vô tình hay ngây thơ thế nào đi nữa thì chính những hiểu biết hạn hẹp của chúng ta về thiên nhiên đang đe dọa bóp nghẹt nguồn sinh lực cấp dưỡng sự sống cho chính chúng ta.
   
Nhưng điều này có thể đi trước thời đại. Câu chuyện từa tựa như câu chuyện Người Điên của Nietzsche cách đây một trăm năm. Ông ra ngoài chợ đập vỡ cái đèn ra từng mãnh để thu hút sự chú ý của mọi người, rồi loan báo, nhưng có thể ông loan báo một sứ điệp khẩn cấp quá sớm. Bằng chứng thuyết phục được dân chúng chỉ đến sau đó khi người ta bắt đầu cảm thấy hậu quả những gì mà họ đã làm.
   
Đâu là sứ điệp của Herriot? Ông là chuyên gia thiên nhiên học, nhà thần học thiên nhiên, người viết chuyên đề thiên nhiên. Quyển sách trước của ông, Giòng Sông trên Đất Khô Cằn, một suy tư trầm mặc về quan hệ đôi khi quá coi thường của chúng ta về thiên nhiên, đã được các nhà phê bình khen và được nhiều giải văn học ở Canada. Đây là quyển sách thuần suy nghiệm về thiên nhiên, nhưng cũng nói nhiều đến thần học. Cây Cỏ, Bầu Trời, Ca Hát cũng là quyển sách như vậy, có thể còn sâu đậm hơn.
   
Sứ điệp cốt lõi của quyển sách này có thể tóm gọn trong một ẩn dụ đơn sơ mà tác giả cố gắng chọn lựa qua các thảm cảnh môi sinh của chúng ta: Chối bỏ, bào chữa, nhìn nơi khác thì quá dễ, chỉ cho đến khi nào bạn nắm trong tay một trong các nạn nhân của mình. Sáng nay, ở Last Moutain Lake Bird, thiên đàng của chim muông, khi Stephen Davies băng bó xong cho con chim sẻ đồng, anh hỏi Don hay tôi có muốn thả nó bay hay không. Ôm con chim trong bàn tay, Don liếc nhanh, rồi giương hai tay lên tầm mắt, anh mở lòng bàn tay ra. Con chim sẻ vẫn nằm trong lòng bàn tay, giống như bàn tay vẫn còn ôm nó. Nó lắc lắc một chút, tỏ ra không muốn bay chút nào. Chúng tôi quan sát trong thinh lặng và kinh ngạc, không biết nó có bị thương hay không. Stephen lấy ngón tay sờ nó – “Nào không sao đâu, bay đi nào” – con chim sẻ vỗ cánh yếu ớt bay một khoảng ngắn, rồi sau đó chúi nhào xuống bãi cỏ quen thuộc.
   
Sau đó, Don nói anh cảm thấy lúc đó chúng tôi như vi phạm một cái gì đó, giống như mình đã vụng về và không lịch sự với một điều huyền bí. Anh nói với một kiểu chú tâm, khác kiểu chú tâm khoa học, một kiểu nghiêng về người khác mà không tìm cách chiếm đoạt hay hướng nó qua hình thức hiểu biết, một kiểu lắng nghe cái đã làm sâu đậm nhận thức của chúng tôi về những gì có ý nghĩa lúc đóù.
   
Tôi không có một lý do nào tốt để nghĩ rằng đa số chúng ta sẽ sớm nghe tiếng nói của quả đất, mở lòng bàn tay để phóng thích tất cả những gì chúng ta đang cầm giữ, nhưng rất nhiều các buổi nói chuyện về chính trị, triết lý cho thấy chúng ta đã vụng về như thế nào. Ít nhất là chúng ta bắt đầu thấy mình đã mang đến đau khổ cho đồng cỏ bằng cách áp đặt một lối sống xa lạ trên chủng giống, nơi chốn và các tạo vật hoang dã.
   
Cách đây vài năm, trong một loạt các khảo luận tương tự có tựa đề Các Phép Lạ Nho Nhỏ, Barbara Kingsolver đã thử làm cho chúng ta để ý đến những chuyện nho nhỏ, nhưng chúng ta đã không làm. Theo Trevor Herriot, một trong các phép lạ nho nhỏ này là con chim sẻ, một con chim sẻ mà Chúa Giêsu nói chẳng bao giờ rơi xuống đất mà không theo ý Chúa. Herriot nói:
   
Những con chim đồng thứ thiệt – một loài không chấp nhận cây cối và đất đai trồng trọt – cho thế giới thấy chúng có con đường riêng của chúng. Đó là bằng chứng xứng đáng cho các cố gắng tốt nhất của chúng ta dừng lại để lắng nghe, mơ mộng và tưởng tượng như bất cứ một cái gì khác trong công trình Tạo Dựng; không phải ồn ào kéo đoàn xe du lịch đến xem, có thể, nhưng điều đáng làm hơn để tỏ lòng quan tâm là vun trồng điều đó trong chính mỗi con người. Các tạo vật nhỏ bé này có chỗ đứng của nó trước các thế lực to lớn muốn biến đổi đồng cỏ hoang dại của nó, sống sót qua thảm kịch hàng năm, một tự do và gắn bó với gió mây, có thể vuột mất khỏi ý thức chúng ta, dù chúng đang ca hát cho bất cứ tâm hồn nào trong tầm có thể lắng nghe được. Ảnh hưởng của các sinh vật dù ít dễ thương hay xa cách như những con chim đồng thì có một cái gì giống như trọng lực, rất yếu nhưng như một huyền bí đã kiên trì nắm giữ chúng ta lại. Quả tim nhận ra một lực rất dịu nhẹ, biết rằng, có một tỉnh thức đơn giản, là chúng ta đã bước một bước nhỏ trên con đường về với chính mình.
   
Đó là thần học đạo đức.  

Hình Ảnh Huyền Bí trong Việc Đi Tìm Tôn Giáo Của Chúng Ta

Ít có điều gì có sức mạnh bằng một hình ảnh nên thơ. Đất nước nào có nhiều thi sĩ chân tài rồi sẽ giành được chiến thắng bởi vì thi ca có sức mạnh hơn các đạo quân. Một đạo quân chỉ có thể buộc một đất nước hàng phục nhưng một hình ảnh nên thơ có thể thay đổi được cách nhìn của con người.

Đó không phải cường điệu. Thử lấy một ví dụ nhỏ: Cách đây sáu thế kỉ Leonardo da Vinci vẽ bức Bữa Tiệc Ly. Không sử gia nào trên thế giới có thể chắc rằng Bữa Tiệc Ly thật sự của Đức Giêsu có bất cứ chi tiết nào giống với bức vẽ của da Vinci, nhưng tự thân bức Bữa Tiệc Ly đã in dấu sâu đậm trong tâm thức mọi người, đến nỗi ngày nay, chúng ta không thể hình dung ra Bữa Tiệc Ly theo một cách nào khác với những gì da Vinci đã vẽ.

Với suy nghĩ như vậy, tôi muốn làm nổi bật hai hình ảnh trong Phúc Âm thánh Gioan, hai hình ảnh in đậm trong tâm thức chúng ta như bức tranh của da Vinci. Đây là hình ảnh của việc đi tìm tín ngưỡng, chuyến hành hương đích thực, cho ơn gọi tông đồ.

Không giống các Phúc Âm khác, mẹ Maria được thể hiện như một vị tông đồ lý tưởng, Phúc Âm thánh Gioan cho Đức Maria một vai trò khác, đó là vai trò Êva, mẹ của tất cả tạo vật. Tiếp đó Phúc Âm thánh Gioan cho chúng ta hai hình ảnh đầy sức thuyết phục của ơn gọi tông đồ, một nam một nữ: Vị Tông Đồ Được Sủng Ái và Maria Mađalêna.

Vị Tông Đồ Được Sủng Ái, người mà chúng ta thường nghĩ là Gioan, mặc dù như vậy có lẽ khá ngây thơ, là một hình ảnh của những gì có nghĩa là một tông đồ Giêsu. Thánh Gioan đã thể hiện nhân vật này trong những vai khác nhau, nhưng tựu trung tất cả đều có điểm chung: có một tình thân thiết đặc biệt với Đức Giêsu. Có lẽ hình ảnh có sức mạnh tiêu biểu nhất là hình ảnh Vị Tông Đồ Được Sủng Ái tựa đầu vào ngực Đức Giêsu.

Hình ảnh này nói lên điều gì? Đây là hình ảnh huyền bí của tình thân thiết và việc biết lắng nghe. Nói một cách đơn giản, hình ảnh này nói lên rằng: Nếu bạn kề tai vào ngực ai đó, bạn có thể nghe thấy nhịp đập trái tim họ. Như thế Vị Tông Đồ Được Sủng Ái là người thật thân thiết với Đức Giêsu, người đó  có thể nghe được nhịp đập trái tim Người và từ hướng nhìn đó, ông hướng lòng ra với thế giới bên ngoài. Trở thành môn đệ của Đức Giêsu là có đôi tai bắt nhịp được với nhịp đập trái tim Thầy khi dõi nhìn ra thế giới bên ngoài. Đối với thánh Gioan, khi bạn thực hành điều này, bạn sẽ luôn luôn đứng về phía lẽ phải, sẽ luôn có những hướng nhìn đúng đắn, và sẽ có dũng khí để hành động cho lẽ phải. Bạn luôn luôn được tình yêu dẫn lối.

Và đây, để được dẫn lối bởi tình yêu, là hình ảnh tiếp theo cho ơn gọi tông đồ, hình ảnh Maria Mađalêna.

Phúc Âm thánh Gioan thể hiện Maria Mađalêna như nhân vật đầy thao thức xuất phát từ Sách Diễm Ca, một người nữ trằn trọc mãi cho đến khi tìm gặp người bạn tâm tình của mình. Và như hình ảnh Vị Tông Đồ Được Sủng Ái tựa đầu vào ngực Đức Giêsu, đây cũng là một hình ảnh của tình thân thiết duy nhất.

Để hiểu thấu sức mạnh của hình ảnh này, chúng ta đọc lại Sách Diễm Ca. Những chương đầu được kể qua giọng một nhân vật nữ, giới thiệu hình ảnh một người nữ khao khát yêu thương, người mong mỏi người bạn tâm tình mà lòng mong mỏi đó đã khiến mọi thứ  khác trong cuộc sống của nàng chỉ có ý nghĩa tương đối. Nàng chỉ mong mỏi một điều duy nhất trong tâm trí là tìm gặp một người, người có thể xoa dịu nỗi cô đơn trong tâm hồn nàng:

Suốt đêm, trên giường ngủ, tôi tìm người lòng tôi yêu dấu. Tôi đi tìm chàng mà đâu có gặp!
Vậy tôi sẽ đứng lên, đi rảo quanh khắp thành, nơi đầu đường cuối phố, để tìm người yêu dấu của lòng tôi.
Tôi đi tìm chàng mà đâu có gặp!
Đang tuần tiễu trong thành, bọn lính gác gặp tôi.
Tôi hỏi họ: “Các anh có thấy chăng người lòng tôi yêu dấu?”
Vừa rời họ mà đi, tôi đã gặp người lòng tôi yêu dấu.
Tôi vội níu lấy chàng
và chẳng chịu buông ra
cho đến khi đưa vào nhà thân mẫu, tới chính khuê phòng và chiếc giường nơi thân mẫu đã thụ thai ra tôi.

Không hình ảnh nào nhiều tình thân thiết riêng tư hơn hai hình ảnh trên. Và, theo Gioan, tông đồ đích thực là người được dẫn lối bởi chính sự mong mỏi như vậy, xét về tính cách mãnh liệt của xúc cảm có tính cách thế tục và mức độ sâu đậm của tình thân thiết riêng tư.

Nhưng chúng ta hiếm khi nghĩ như thế từ góc độ tôn giáo. Ngôn ngữ như vậy làm chúng ta choáng váng vì gần như  báng bổ, không hợp với đôi tai ngoan đạo. Cuộc đi tìm Thiên Chúa và khát khao toàn thiện đã hình thành những phạm trù khác nhau, hình thành hai thế giới biệt lập trong lòng chúng ta.

Cuộc đi tìm ơn gọi tông đồ và tín ngưỡng tất cả về mặt xúc cảm ngoại trừ việc nó hoàn toàn tách rời với mong mỏi tìm kiếm người bạn tâm tình, với dục tính, với hoang tưởng của chúng ta, với bất cứ điều gì mà mục đích cuối cùng là sự toàn thiện. Đối với chúng ta, tôn giáo và thế giới tâm lý tình dục, nếu có gặp nhau chăng nữa, cũng hiếm khi gặp nhau  ở mức độ đó. Tôn giáo được hiểu như một bổn phận chúng ta phải làm, một mệnh lệnh tối thượng mà trong những lúc tốt đẹp nhất chúng ta biết được tầm quan trọng của nó, nhưng tôn giáo không còn là điều gì đó thúc đẩy chúng ta vào một sáng chúa nhật như đã thúc đẩy Maria Mađalêna sáng hôm đó lang thang kiếm tìm không ngưng nghỉ trong các khu vườn, nơi chúng ta có thói quen gọi là nhà thờ, tìm kiếm một Thiên Chúa để lấp đầy nỗi trống trải mà chúng ta chỉ coi là có tính cách cảm xúc, tâm lý và xác thịt.

Hiểu rõ hy sinh

Chúng ta nghĩ gì khi nói mình hy sinh? Tôi hy sinh nghề nghiệp vì con cái! Tôi hy sinh rất nhiều cho công việc! Tình yêu đòi hỏi chúng ta rất nhiều hy sinh! Đôi khi chúng ta phải hy sinh chính đời sống để giữ chính trực! Chúa Ki-tô hy sinh chính mình vì tội lỗi chúng ta! Bí tích Thánh Thể là một hy sinh!

Từ các thành ngữ chung này, chúng ta xem thêm định nghĩa của hy sinh trong tự điển Webster: Từ bỏ một cái gì có giá trị để mưu ích cho một cái khác.

Đây là một định nghĩa đúng, nhưng nội dung còn hàm chứa nhiều điều hơn là mới nhìn lướt qua, rõ rệt hơn khi chúng ta xem lại khái niệm về hy sinh trong Sách Thánh của Do Thái và Kitô giáo. Lấy ví dụ câu chuyện hy sinh I-xa-ác của tổ phụ Áp-ra-ham. Đâu là lời lời kêu gọi tối hậu của Chúa khi Chúa đòi hỏi ông Áp-ra-ham hy sinh I-xa-ác.

Đây là các yếu tố bên ngoài của câu chuyện: Đã từ lâu Áp-ra-ham không có con trai. Cuối cùng, khi mọi hy vọng của loài người không còn, bà Xa-ra thụ thai và sinh cho ông một đứa con trai, I-xa-ác, người Áp-ra-ham mô tả là “độc nhất”, “quý nhất” của ông. Nhưng Chúa xin ông dùng I-xa-ác làm vật hiến tế. Với tấm lòng nặng trĩu, Áp-ra-ham đồng ý và cùng I-xa-ác, hai cha con mang củi, lửa lên đường. Trên đường đi, ông phải trả lời các câu hỏi hiếu kỳ của con vì sao họ không mang vật hiến tế đi theo.

Khi đến nơi, Áp-ra-ham nhóm củi, đốt lửa, trói I-xa-ác, rồi đưa dao lên cổ để giết. Nhưng Chúa can thiệp. Cuộc hiến tế ngưng lại, Chúa cho Áp-ra-ham con cừu đực làm vật hiến tế. Câu chuyện kết thúc, ông Áp-ra-ham cùng I-xa-ác đi về trên vùng đất riêng của mình. Đâu là bài học sâu xa trong chuyện này?

Ở một mức độ, bài học là Chúa không muốn con người hy sinh, nhưng ở một mức sâu thẳm hơn, mật thiết hơn, bài học tự trong lòng dạy chúng ta một cái gì về một nhu cầu sâu thẳm bên trong tâm hồn chúng ta, nhu cầu được tỏ tấm lòng muốn hy sinh. Nói cách khác, bài học như sau: Để một cái gì đó được nhận như quà tặng, nó phải được nhận hai lần. Điều này ngụ ý gì?

Theo định nghĩa, món quà là vật được tặng, tự nguyện cho, không buộc phải xứng đáng mới được nhận. Phản ứng đầu tiên khi chúng ta nhận quà là gì? Là câu trả lời bộc phát: “Tôi không thể nhận! Tôi không xứng đáng nhận!” Phản ứng bộc phát lành mạnh này là ngụ ý trả lui lại món quà. Nhưng đương nhiên, người cho từ chối, họï trao lại món quà với lời trấn an: “Nhưng tôi muốn bạn nhận món quà này!” Khi nhận lần thứ nhì, bây giờ món quà mới thật của mình, vì, khi muốn trả lại món quà, chúng ta nhận ra đây đúng là món quà không xứng đáng mà được hưởng.

Đây đúng là năng động trong câu chuyện hiến tế I-xa-ác. I-xa-ác là món quà lớn nhất trong cuộc đời Áp-ra-ham, món quà ông không xứng đáng được hưởng. Ý chí muốn hy sinh của ông đi đôi với hành vi bộc phát: “Tôi không xứng đáng được! Tôi không thể nào nhận món quà này!” Ông trả lại món quà. Nhưng người cho, chính là Tình Yêu, chận đứng hành vi hy sinh và trả lại món quà. Bây giờ Ap-ra-ham mới dám nhận I-xa-ác như một món quà, không mặc cảm có tội. Khi họ cùng nhau đi về nhà, bây giờ I-xa-ác là đứa con theo một cách khác đứa con trước đây của ông. Áp-ra-ham đã nhận món quà hai lần khi hy sinh món quà lần đầu.

Đó là cốt tủy của hy sinh: Để nhận cho đúng một cái gì, ngay cả chính cuộc đời chúng ta, đòi hỏi chúng ta phải biết nhận thức đó là món quà, một cái gì không xứng đáng mà được hưởng. Và đã nhận món quà thì phải hy sinh, vui lòng cho lại một phần hay trọn món quà cho người đã cho.

Đây là năng động ngụ ý trong tục lệ hiến tế ngày xưa. Ví dụ: Nhà nông gặt hái vụ mùa. Nhưng trước khi ông và gia đình ăn no, ông phải lấy một ít (hoa quả đầu mùa) dâng lên Chúa dưới hình thức hiến tế, thường thường đốt để khói bay lên trời, xem như một ít hoa quả dâng trả lại Chúa vì họ xem hoa quả này là món quà Chúa cho họ. Sau khi hy sinh theo kiểu này, người nông dân và gia đình mới thoải mái ăn no mà không có mặc cảm mang tội vì, qua hành vi trả lại người cho, họ ý thức đó là món quà. Bây giờ họ mới thưởng thức mà không mang mặc cảm tội, vì họ đã hy sinh, họ đã biết đây là món quà.

Đó là cốt tủy bên trong của mọi hy sinh, dù hy sinh nghề nghiệp vì con cái hay hy sinh của Chúa Giê-su trên thập giá. Hy sinh là nhận biết món quà là món quà. Giống như ông Áp-ra-ham, cố gắng trả lại món quà cho người cho nhưng người cho chận lại sự hy sinh và cho ông lại một cách sâu xa hơn.

Chúng ta sẽ tận hưởng cuộc sống sâu đậm hơn nếu chúng ta hiểu được điều này.

Sáng tạo, câu trả lời cho bạo lực

Trong quyển tiểu thuyết Con Ma Của Anil, Michael Ondaatje tạo ra một nhân vật tên là Ananda. Vợ của Ananda bị giết trong cuộc nội chiến ở Sri Lanka và Ananda cố gắng cứu để mình khỏi bị điên và đi đến tự tử vì chuyện này. Làm sao ông giữ được sức mạnh tinh thần? Nhờ nghệ thuật, sáng tạo, tạo dựng một cái gì.

Gần cuối câu chuyện, tác giả để Ananda tái tạo một cái tượng Phật đã bị bể. Ananda cố ý làm con mắt của bức tượng giống con mắt của loài người, chứ không phải con mắt của vị thần: Ông nhìn con mắt mà trước đây là con mắt của thần. Và đây là cảm nhận của ông: Như một nghệ nhân, bây giờ ông không mừng vì có đức tin cao lớn. Nhưng ông biết, nếu ông không giữ tâm hồn nghệ nhân, thì ông sẽ trở thành quỷ. Chiến tranh chung quanh ông hẳn do quỷ làm, những bóng ma của hận thù.

Chúng ta muốn mình là nhà sáng tạo hay muốn giữ cho mình tính khí hung bạo. Một cách nào đó, chúng ta phải trở thành nghệ sĩ nếu không chúng ta thành quỷ. Đối với Ondaatje, đó là lựa chọn duy nhất của chúng ta. Ông có lý hay không?

Tôi tin, một nền thần học đúng về ân sủng sẽ đồng ý với ông. Tại sao? Bởi vì tự chúng ta, chúng ta không thể nào tự làm cho mình là người tốt. Chúng ta không thể nào chỉ quyết định, à, từ nay mình sẽ yêu thương và hạnh phúc, cũng như không bao giờ có thể quyết định từ nay không giận dữ, không chua cay, không ghen tương. Cậy chỉ vào ý chí không thể có được loại quyền lực này. Chỉ có một luồng tuôn chảy vào tâm hồn chúng ta một cái gì đó không phải gịân dữ, cay đắng, ghen tương có thể làm chuyện này. Chúng ta gọi đó là ân sủng, và nó không phải là ý chí, nó cho phép chúng ta cuối cùng yêu thương được cuộc sống.

Sáng tạo, mở lối cho người nghệ sĩ cũng như đồ tạo tác, có thể là sinh lực thiết yếu cho ân sủng này.

Nhưng nó có đúng không? Những người nghệ sĩ và những người có đầu óc sáng tạo có ít hung bạo hơn người khác không? Chúng ta có thấy ân sủng nào tác động ở đây không? Chung chung là có. Dù các nghệ sĩ cũng có các lỗi lầm khác, nhưng hiếm khi nghệ sĩ gây chiến tranh. Tại sao? Vì hung bạo tước đoạt hết cái đẹp mà cái đẹp thì rất cần và rất quan trọng cho nghệ sĩ, bởi vì sáng tạo cái đẹp bất cứ loại nào cũng giúp cho tinh thần, cho nội tâm người sáng tạo được chín chắn.

Đơn giản, khi chúng ta sáng tạo, chúng ta thấy được một chút những gì Thiên Chúa cảm nhận lúc ngài tạo dựng vũ trụ và lúc Chúa Giêsu nhận phép rửa, khi, quả đất tươi mới vừa thoát ra khỏi cảnh hỗn mang và khi đầu Đức Giê-su trồi lên mặt nước, câu nói bật lên lúc đó: “Thật là tốt đẹp! Thật là tốt đẹp!” “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con.”

Sáng tạo có thể cho chúng ta cảm nhận này. Kinh nghiệm người sáng tạo có thể giúp chúng ta thấm nhuần tâm tình thán phục, tri ân, và có được sảng khoái thần thánh.

Đương nhiên ở đây cũng có một hiểm nguy. Cảm nhận giống Thiên Chúa cũng là một loại ma túy mạnh, nhiều nghệ sĩ, trình diễn viên, lực sĩ đã học bài học này. Trong kinh nghiệm sáng tạo, người nghệ sĩ dễ đồng hóa mình với năng lượng, tự cho mình là Thượng Đế hoặc cho nghệ thuật và sáng tạo là thần thánh và cùng đích ở trong nó. Ý nghĩa hơn cả thành tựu và khó hơn nữa là phải tách chúng ta ra khỏi nó, không đồng hóa chúng ta hoặc tác phẩm của chúng ta với Thiên Chúa. Sáng tạo tạo ra nhiều nguy hiểm. Nhưng dù có cơ nguy này, chúng ta cần sáng tạo, nếu không, một cách nào đó như Ondaatje cảnh cáo, chúng ta sẽ trở nên cay đắng và hung bạo.

Hơn nữa, phải hiểu sáng tạo một cách đúng. Chúng ta thường e ngại về quan điểm sáng tạo và thấy mình không có gì để có thể sáng tạo.
Tại sao?

Bởi vì chúng ta có khuynh hướng đồng hóa sáng tạo với những gì phi thường và được công chúng công nhận. Ai là người phán xét xem chúng ta có phải là người sáng tạo? Chỉ những người có bài hát được thâu, có bài thơ được xuất bản, có điệu vũ được nhảy ở Broadway, có thành tựu được công chúng tán thưởng, có tài ăn nói trên truyền hình.

Nhưng 99% sáng tạo không dính gì với những chuyện trên. Cùng đích của sáng tạo không phải là được công chúng biết đến hay có đóng góp ngoại hạng. Đó là khả năng biết diễn tả, nuôi dưỡng một cái gì cho cuộc sống và thoả mãn những gì nó mang lại cho mình.

Sáng tạo có thể đơn giản (và điều này thật tuyệt vời) như làm vườn, trồng hoa, may vá, nuôi dạy con, nấu ăn, sưu tập tem, viết nhật ký, âm thầm làm thơ, làm thầy giáo, hướng dẫn một nhóm, trưởng hướng đạo, nhảy trong phòng một mình, lắp ráp xe cũ. Không nhất thiết phải được nhận biết hay được công bố. Bạn chỉ cần thích làm.

Một thi sĩ người Mỹ, ông William Stafford đề nghị chúng ta mỗi buổi sáng nên viết một bài thơ. Có người hỏi ông làm sao làm được khi mình không có hứng sáng tác? Ông trả lời: “Thì hạ tiêu chuẩn của mình xuống!”

“Hãy xuất bản hay hãy chết!” Chúa không bao giờ nói câu này. Thế giới khoa bảng nói câu đó. Luật của Chúa về sáng tạo thì khác. Chúa Giêsu nói điều này trong dụ ngôn nén bạc: “Hãy là nghệ nhân với một vài tài sản của con hoặc chắc chắn con sẽ trở thành quỷ!” 

Mỗi việc có thời của nó

Tôi có người bạn, anh tự phác họa bối cảnh tín ngưỡng của anh như thế này: “Gốc gác của tôi mang nặng tính bảo thủ. Tôi lớn lên trong một gia đình nông dân Đức nhập cư, theo Giáo Hội Công Giáo La Mã, cực kỳ bảo thủ với tất cả những hạn chế, riêng tư, dè dặt và giữ gìn những điều mà đã trở thành truyền thống. Sẽ thật khó để tìm ra một bối cảnh tín ngưỡng bảo thủ nào bảo thủ hơn tôi. Tôi biết ơn vì điều đó. Đó là một trong những món quà lớn nhất mà tôi đã nhận được. Bây giờ tôi đã tự do trong quãng đời còn lại của mình.”

Lời khẳng định trên có một chút gì đó vừa bảo thủ một cách lành mạnh và cũng vừa tự do một cách lành mạnh. Bản năng trong con người tự do muốn xô đẩy giới hạn, nới rộng phạm vi, thoát khỏi chật hẹp, muốn bao quát nhiều hơn mãi, muốn luôn luôn thấy được sự thoải mái khi tiếp xúc với người khác, và muốn giữ mãi bí mật không thể diễn tả về Thiên Chúa và ý muốn cứu chuộc của Người. Nhưng ngược lại bản năng trong con người bảo thủ trực cảm sự cần thiết của việc bám rễ vào sự thật, xây dựng nền móng cho những điều thiết yếu, có những giới hạn riêng, muốn không bị ngây thơ với sự thật rằng mọi điều quý giá và chân chính sẽ luôn bị công kích.

Cả bản năng tự do và bảo thủ đều có khuynh hướng bảo vệ linh hồn. Linh hồn, như chúng ta biết có hai chức năng thường căng thẳng với nhau. Một mặt, linh hồn là gốc của tất cả năng lượng bên trong, ngọn lửa cảm hứng cho mọi việc chúng ta làm. Chúng ta biết khoảnh khắc chính xác khi linh hồn rời bỏ thân xác, tất cả năng lượng đều ngừng lại. Mặt khác, linh hồn cũng là nguồn gốc của hợp nhất và hòa hợp; là chất keo gắn kết chúng ta lại với nhau. Sự phân ly bắt đầu khi linh hồn lìa khỏi thân xác. Không có linh hồn, mỗi yếu tố của cơ thể phân tán mỗi đường khác nhau.

Bản chất tự do hầu hết nói lên nó là ngọn lửa và bản chất bảo thủ hầu hết nói lên nó là chất keo gắn kết. Câu chuyện bạn tôi được nuôi dưỡng trong một bối cảnh cực kì bảo thủ như trên và nay cảm thấy đã bám rễ sâu đủ để trở nên tự do hơn chứng tỏ cả hai bản chất đều quan trọng. Có lúc tự do, có lúc bảo thủ. Thật quan trọng để biết khi nào là cần thiết để áp dụng điều đó cho sự trưởng thành của chính mình và cả cho người khác.

Malcolm X đã từng nói: Tôi có niềm tin mạnh mẽ cả vào Đấng Kitô và Đấng Môhammet bởi vì cả hai đều cần thiết cho tôi. Lúc này đây, có rất nhiều người tôi cố gắng coi sóc đang cần kỷ luật của thánh Allah. Cuộc sống của họ đang bị xáo trộn năng nề nên lúc này họ cần nguyên tắc kỷ luật cứng rắn và rõ ràng, nó sẽ cho họ những chỉ dẫn thực tế. Sau đó, một khi cuộc sống được trật tự hơn, họ có thể đến với tình yêu của Đức Giêsu một cách tự do hơn. Đầu tiên, chúng ta cần kỷ luật của thánh Allah, sau đó là tự do của Đức Giêsu.

Malcolm X đã hiểu có những giai đoạn khác nhau trong đời sống thiêng liêng và những gì cần thiết ở giai đoạn này đôi khi khác xa với những gì cần thiết ở giai đoạn khác. Vậy đâu là những giai đoạn nền tảng của đời sống thiêng liêng?

Các sách Phúc âm, những gì là huyền bí, và các tác giả thiêng liêng, mặc dù có vài thay đổi trong cách biểu hiện, đều nhất trí có ba giai đoạn rõ ràng cho cuộc hành trình tâm linh, hoặc nói khác hơn đó là ba mức của ơn gọi tông đồ:

Mức đầu tiên, có thể gọi một cách thích hợp là Tông Đồ Trọng Yếu là cuộc chiến đấu để gây dựng cuộc sống chung, để đạt được sự trưởng thành nhân bản (khả năng không bị tính ích kỷ điều khiển, khả năng đặt bản thân mình ra sau người khác). Mức thứ hai có thể gọi là Tông Đồ Tạo Sinh là cuộc đấu tranh để tận hiến cuộc sống mình cho tình yêu, phục vụ và cầu nguyện. Mức thứ ba có thể gọi là Tông Đồ Tận Căn là cuộc đấu tranh để trọn hiến bằng cái chết của mình, là rời khỏi trần gian này trong một ý nghĩa rằng cái chết của mình trở thành quà tặng và phúc lành cuối cùng cho gia đình, cộng đoàn, và xã hội.

Mức đầu tiên, Tông Đồ Trọng Yếu một cách chính xác liên quan đến những điều thiết yếu, đến việc gắn kết cuộc sống mọi người lại với nhau bằng cách tập trung một cách đúng đắn nguồn năng lượng chúng ta thông qua kỷ luật (chữ kỷ luật-discipline có nguồn gốc từ chữ tông đồ-discipleship). Bằng cách định nghĩa rằng sứ vụ một cách chính yếu mang ý nghĩa bảo thủ thì: việc học hỏi những bài học thích hợp là để chúng ta có một cái nhìn lành mạnh, là để quy phục những quy tắc cư xử, cái sẽ là nền tảng cho chúng ta, đưa chúng ta ra khỏi bản chất vị kỷ, và trở thành một người biết học hỏi trong gia đình và cộng đoàn của mình. Nói một cách ẩn dụ thì ở giai đoạn này chúng ta đang học hỏi “kỷ luật của thánh Allah”.

Nhưng, một khi chúng ta vượt qua giai đoạn này với một thành tựu chắc chắn, sự thử thách sẽ trở thành một điều gì đó khác biệt. Bây giờ sứ vụ của chúng ta là tận hiến cuộc đời, tận hiện một cách sâu đậm và rộng mở hơn bao giờ hết. Đó là một sứ vụ tự do hơn và thậm chí tự do hơn nữa khi chúng ta hướng về phía cái không biết vĩ đại, sự chết, nơi mà tất cả những gì chúng ta đã xây dựng lên phải bỏ lại đằng sau khi chúng ta chạm đến giới hạn rộng mở nhất của cái tất cả, cái ôm lấy toàn thể vũ trụ, cái vô tận, và bí mật không thể diễn tả về Thiên Chúa.

Có một khoảng thời gian quan trọng để chúng ta bảo thủ, cũng như có khoảng thời gian quan trọng để chúng ta trở nên tự do. Trong cuộc hành trình tâm linh và ơn gọi tông đồ của mình, chúng ta không nên xem phía này quan trọng hơn phía kia.

Đối diện với con rồng, đối diện với điều cao cả trong cuộc sống chúng ta

 
Một quyển sách ở lâu bên cạnh thường đó là quyển sách thật quan trọng. Tôi còn nhớ cách đây mười năm, tôi đọc quyển Bạo Lực Lộ Diện của Gil Bailie, lúc đó tôi có cảm nhận đây là một quyển sách đáng kể. Tôi cũng vừa có cảm nhận này khi đọc quyển Đối Diện với Con Rồng: Đối Diện với Tầm Cao Cả Thiêng Liêng và Chính Mình. Đây không phải là một quyển sách bình thường, đáng đọc, đáng thích rồi để một bên. Đây là một quyển sách cần nghiên cứu kỹ nhiều lần.
   
Robert L. Moore là ai? Ông không phải là chuyên gia thần học cũng không phải là người quen thuộc trong các nhà thờ đại chúng, dù ông có tầm ảnh hưởng lớn trên các sứ vụ viên hoạt động trong nhà thờ. Ông là giáo sư Khoa Phân Tâm, Văn Hóa và Thiêng Liêng ở Chủng Viện Thần Học Chicago và là nhà sáng lập Viện Thiêng Liêng ở Chicago. Trong lãnh vực nghiên cứu và giảng dạy, ông tập hợp các hiểu biết của các khoa nhân chủng, thiêng liêng, lịch sử, tâm lý để có một cái nhìn duy nhất hiểu được về bản thể con người, đặc biệt trong việc đấu tranh với tội lỗi và ân sủng, thổi phồng và suy thoái, hung bạo và cao cả.

Tôi được biết ông cách đây hai mươi năm ở San Francisco. Một cựu sinh viên điện thoại cho tôi nói sẽ đến đón tôi để đi nghe «một tư tưởng gia phi thường.» Tôi đi theo và đã không thất vọng. Có rất nhiều tư tưởng gia sáng giá, nhưng những điều tôi nghe từ Robert Moore chứa đựng một cái gì khác, hàng chục năm khổ công nghiên cứu tổng hợp lại trong một thế thăng bằng thật hiếm. Không có tư tưởng tự do hay bảo thủ, không có mộ đạo hay sùng tín đối đầu với quá khứ hay văn hóa, không có tôn giáo huyền ảo hay phản tôn giáo lệch lạc nào. Tôi có cảm tưởng như cuối cùng tôi có được người đỡ đầu.

Tôi mua mọi cuốn sách và băng thu bài giảng của ông, trong suốt sáu năm liền, tôi để hàng trăm giờ để nghe (thường trong khi lái xe) các bài giảng này. Tôi cũng bắt đầu đưa tư tưởng và cấu trúc của ông vào các bài viết và bài dạy của tôi. Mỗi lần  giảng các tư tưởng của ông, các sinh viên sốt ruột hỏi tôi nên đọc thêm các sách nào để đào sâu các tư tưởng này. Khổ thay, vào thời đó, các sách của ông chưa phong phú bằng các bài nói chuyện của ông. Nhưng nó đã thay đổi khi quyển Đối Diện với Con Rồng: Đối Diện với Tầm Cao Cả Thiêng Liêng được xuất bản. Cuối cùng, bây giờ chúng tôi có quyển sách tập hợp lại các hiểu biết sâu sắc nói lên đúng tư tưởng của ông.

Cái gì, trong tựa đề, là các hiểu biết sâu sắc?

Giống như Sách Thánh đã nói, Moore khẳng định mỗi người chúng ta được sinh ra với một tầm cao cả bẩm sinh, không cách nào xóa đi được, bởi vì vậy, chúng ta có những khả năng tưởng tượng và những mong ước cho mình vượt hơn khả năng mà kinh nghiệm sống thực tế hỗ trợ cho chúng ta. Gần như lúc nào chúng ta cũng muốn vượt ra khỏi lốt da thịt của mình bởi vì cuộc sống hình như quá nhỏ đối với chúng ta. Nhưng ở đây có một lý do chính đáng: Trong chúng ta mỗi người đều mang Hình Ảnh và Chân Dung của Chúa. Còn hơn cả bức tượng in dấu trong lòng chúng ta; đó là lửa và năng lượng, mà, giống như Chúa, không có biên giới. Chúng ta đến với thế gian này với dấu ấn của Chúa; phẩm cách, năng lượng này tạo một tầm cao cả thần thánh trong lòng chúng ta.

Và năng lượng cao cả này sinh ra khao khát mà chúng ta không dễ gì kềm giữ nó được. Khi nhìn cội rễ của ham muốn, tham vọng, lệ thuộc, cay đắng, giận dữ, hiếu động bệnh hoạn, hung bạo, thì chúng ta thấy không có một thấu hiểu thực sự nào với các chuyện này cho đến khi, trước hết, chúng ta hiểu được tầm cao cả ngụt cháy trong mỗi con người mình. Chỉ cần nhìn 6 tỷ người trên hành tinh nhỏ bé và mỗi người âm thầm nuôi dưỡng một vị thần trong lòng, thì chuyện chúng ta hay gây chiến tranh và bạo lực không phải là chuyện ngẫu nhiên. Tất cả chúng ta đều mang một niềm tự phụ nguy hiểm và bệnh hoạn.

Đối với Moore, thất bại không nhận ra tầm cao cả này là cội rễ các cuộc đấu tranh và có thể đó là điều ngây ngô nguy hiểm nhất trong các ngây ngô. Ông viết, trí tưởng tượng của thời buổi này cho rằng chúng ta sẽ tốt hơn nếu không có Chúa và nhà thờ, nhưng tưởng tượng này không để ý đến «sự gia tăng của một nền văn hóa ái kỷ với nạn dịch bệnh hoạn tồi tệ của sự phô trương vĩ đại.»

Giải pháp của ông? Khiêm tốn. Nhưng, tầm cao cả bẩm sinh có thể cho chúng ta lòng khiêm tốn chân thật được không?

Được, chúng ta có thể có được lòng khiêm tốn chân thật và đó là hy vọng duy nhất của chúng ta. Nhưng, đối với ông, lòng khiêm tốn chân thật bao gồm hai chuyện: Biết giới hạn của mình và xin được giúp đỡ những gì mình cần. Theo Moore, không bao giờ có câu hỏi: «Tôi có tự phụ một cách nguy hiểm không?» mà chỉ có câu hỏi: «Làm thế nào để tôi có được giúp đỡ cần thiết để thương thảo với tầm cao cả của tôi?»

Theo ông, sự giúp đỡ này tìm được trong quan hệ với Chúa, giúp chúng ta chấp nhận một cách lành mạnh và dùng năng lượng thần thánh của chúng ta, dù rõ ràng là chúng ta không bao giờ đồng nhất với năng lượng này. Chúng ta không phải là Chúa, dù chúng ta dùng năng lượng thần thánh. Cuộc chiến đấu mãi mãi của chúng ta giữa suy thoái và thổi phồng, cốt tủy là cuộc chiến đấu để cầu nguyện cho đúng.
Không biết đến cuộc chiến đấu này, là như tác giả nói, «tiếp tục chuẩn bị một cách vô thức cho nghi thức an táng cuối cùng của mình.»

Các điểm hội tụ trong các truyền thống thiêng liêng lớn

Khi nhìn vào tất cả các tôn giáo lớn, chúng ta thấy các tôn giáo đều giống nhau hơn là khác nhau trong cách tìm hiểu về con đường đi tìm một đời sống thiêng liêng, con đường tu tập và thánh thiện. Khi nhìn vào Kitô giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo và những tôn giáo bản xứ, chúng ta có thể rút ra những điểm hội tụ lớn như sau:
hứ nhất, tất cả đều giống nhau về mục đích của sự tìm kiếm thiêng liêng, đó là kết hợp với Thiên Chúa và kết hợp với mọi người, mọi sự.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về Thiên Chúa, về cuộc đời, cũng như khác nhau trong tu tập, nhưng cuối cùng, mọi truyền thống thiêng liêng lớn đều đi tìm một chuyện: kết hợp với thần linh, và qua đó, hòa hợp mình với người khác,  với mọi tạo vật được tạo dựng về mặt thể lý.
    
Thứ hai, trong tất cả các truyền thống thiêng liêng lớn, con đường dẫn đến kết hợp là con đường từ bi, bác ái. Trong mọi truyền thống thiêng liêng, điều mà các tôn giáo cố gắng đạt đến là có được từ tâm, nó chỉ hình thành được trong lòng thương xót và khôn ngoan. Khi đó, và chỉ duy nhất khi đó, việc thờ phượng, các tín điều và công chính mới được thực hiện cách đúng đắn.
   
Thứ ba, trong mọi truyền thống thiêng liêng lớn, con đường dẫn đến từ bi bác ái và nên một với Thiên Chúa đều là con đường nghịch lý, nghĩa là cách nào đó đòi hỏi chúng ta phải buông bỏ mình thì mới tìm lại được mình, phải chết thì mới được sống, phải cho đi thì mới được nhận lãnh. Mọi truyền thống thiêng liêng đều dạy chúng ta không thể có được niềm vui, hạnh phúc và an lạc bằng cách theo đuổi chúng; nhưng chính khi cố gắng đem niềm vui, hạnh phúc và an lạc đến cho người khác, thì chúng ta mới có được niềm vui, hạnh phúc, an lạc cho mình. Vì thế, mọi truyền thống thiêng liêng đều đồng ý với Kinh Hòa Bình của thánh Phan-xi-cô: Chính lúc cho đi là khi nhận lãnh, chính lúc an ủi người là lúc được ủi an, chính lúc hiểu biết người là lúc được hiểu biết.
   
Thứ tư, mọi truyền thống thiêng liêng lớn đều nhấn mạnh, tiến bộ trong đời sống thiêng liêng đòi hỏi chúng ta khổ công luyện tập, buông bỏ chính mình, rằng «con đường mà phần lớn nhân loại thích đi» thực ra không đưa mình về nhà, nghĩa là đạt đích. Cửa vào thiên đường luôn là cửa hẹp, đòi hỏi tu tập và từ bỏ. Khi Ấn giáo và Phật giáo nói đến các hình thức yoga, thực ra đó là hình thức tu tập, đáng tiếc là bây giờ người ta chỉ hiểu yoga theo nghĩa rất hạn hẹp.
   
Thứ năm, mọi truyền thống thiêng liêng lớn đều nói cuộc tìm kiếm thiêng liêng là hành trình kéo dài suốt đời, không có đường tắt, không có xa lộ chạy nhanh, không có đường bí mật dành cho một thiểu số, và cũng không có chuyện đặc quyền đặc lợi để có thể đạt đích mà không cần tu tập và từ bỏ. Các truyền thống đó cũng cho chúng ta biết rằng đời sống thiêng liêng bao gồm mọi khía cạnh của đời sống, không có khía cạnh đạo đức hay tâm lý nào mà chúng ta bỏ qua, cho là không quan trọng. Không có truyền thống thiêng liêng lớn nào bảo chúng ta chỉ được chọn giữa phát huy nhân cách và công bằng xã hội, giữa thánh thiện cá nhân và hoạt động chính trị. Tôn giáo nào cũng nói cả hai đều quan trọng.
   
Thứ sáu, trong mọi truyền thống thiêng liêng lớn, an ủi và sầu muộn, sốt sắng và đêm tăm tối của tâm hồn, cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong hành trình thiêng liêng. Dù rất khác nhau, cả hai đều cần thiết, như chất dinh dưỡng cho hành trình thiêng liêng. Cho nên mọi truyền thống đều cảnh giác chúng ta không nên đồng hoá an ủi, sốt sắng với tiến bộ trong đời sống thiêng liêng, cũng như đừng coi  đau khổ, phiền muộn và đêm tăm tối của linh hồn là cùng đích ở tự nó.
   
Thứ bảy và có lẽ là điều đáng ngạc nhiên, mọi truyền thống thiêng liêng lớn đều không cho các hiện tượng lạ thường trong hành trình thiêng liêng là quan trọng. Các thị kiến, các tình trạng thay đổi ý thức, kinh nghiệm thần bí, xuất thần, phép lạ hay những cuộc hiện ra của vị này vị nọ, sức mạnh này sức mạnh kia, dù lành hay dữ, tất cả các truyền thống thiêng liêng đều không cho đó là quan trọng. Những chuyện đó có thể là thật và in dấu trong đời chúng ta, nhưng nó không phải là dấu chỉ cho sự tăng trưởng và tiến bộ thiêng liêng đích thực. Sự tăng trưởng và tiến bộ thiêng liêng thực sự diễn ra trong chính đời thường chứ không phải bằng những chuyện lạ thường. Trong mọi truyền thống thiêng liêng lớn, các điều thiết yếu mà Thiên Chúa muốn chúng ta biết là những điều công khai, được viết ra, và ai cũng có thể biết. Cho nên mọi truyền thống đều phân biệt mặc khải công (nghĩa là ràng buộc mọi người) và mặc khải tư (có thể tốt nhưng không ràng buộc mọi người).

Thứ tám, mọi truyền thống thiêng liêng lớn đều khẳng định rằng khi đi trên con đường thiêng liêng, chúng ta sẽ gặp nhiều cám dỗ và ma quỷ quấy phá, cần phải nhận biết và nghiêm túc lưu tâm. Các truyền thống đều cảnh giác về sự ngây thơ, đặc biệt là ngây thơ trước những khuynh hướng bẩm sinh tự nhiên có trong chính mình hoặc do ảnh hưởng của đám đông.

Cuối cùng, mọi truyền thống thiêng liêng lớn đều đồng ý hành trình thiêng liêng luôn là hành trình có phần mầu nhiệm. Cũng như Thiên Chúa mà chúng ta gặp gỡ trong cuộc hành trình này là Đấng bất khả đạt thấu, thì kinh nghiệm của chúng ta về Ngài cũng thế. Xét cho cùng, chúng ta chẳng thể nào tìm được từ ngữ và ý niệm tương xứng để hiểu hoặc diễn tả điều mà chúng ta trải nghiệm được trong cuộc hành trình này. Vì thế, mọi truyền thống đều cảnh giác: đừng bao giờ nghĩ rằng mình đã ôm trọn được thực tại và diễn tả cách thích hợp.

Mọi truyền thống đều nhất trí rằng: đường thiêng liêng là đường hẹp và khó, và không có đường tắt để đi.

Phục Sinh Mở Cánh Cửa Thiên Đàng

Cách đây một vài năm, tôi có biết trường hợp một cô gái trẻ, là sinh viên đại học, cô rơi vào tình trạng suy thoái tinh thần nặng và đã muốn tự tử. Kinh hoảng khi hay tin, gia đình đến thăm cô. Họ đem cô về nhà và mấy tháng sau đó, họ cố gắng giúp đỡ cô cách tốt nhất, thuốc men, bác sĩ tâm lý, nhà thờ, tình thương, tóm lại, những gì tốt nhất có thể làm được. Tuy cố gắng bằng mọi cách nhưng họ không thể hiểu thấu cái hố thẳm tăm tối cô đã đi xuống.

Bốn tháng sau, cô tự tử. Cô đã đi xuống hỏa ngục của chính cô, nơi không một điều gì ở phía sự sống có thể vào được. Cô bất lực trong việc mở tâm hồn ra để đón nhận giúp đỡ. Tôi nghĩ nhiều nguyên nhân của tình trạng suy thoái tinh thần không do lỗi của cô. Tự cô, cô không muốn đi vào tình cảnh tê liệt này, hoàn cảnh, tổn thương, và sức khỏe suy sụp đã đưa cô đến đó. Tất cả chúng ta đều đã từng biết những chuyện tương tự.

Có thể nói gì đây? Liệu đức tin của chúng ta có câu trả lời cho chuyện này không?

Có một câu đặc biệt trong kinh Tin Kính, bắt rễ sâu trong Thánh Kinh, làm sáng tỏ vấn đề này. Đó là câu: Người đi vào cõi chết. Hay, ở một số bản kinh Tin Kính khác: Người đi xuống hỏa ngục. Chắc chắn, những gì chứa đựng trong câu này: trong tất cả tôn giáo, đức tin mang lại nhiều ủi an nhất, Ki-tô giáo hay các tôn giáo khác. Những gì câu này muốn nói là cách Đức Giêsu chết đi và sống lại đã mở ra các cửa hỏa ngục và cái chết. Điều này có nghĩa là gì?

Đây không phải là một bài giảng dễ hiểu. Có nhiều mức độ ý nghĩa khác nhau ở đây. Ở một tầng mức, đó là đức  tin Ki-tô giáo (niềm tin này cần nhiều giải thích) rằng từ thời sa ngã của ông A-dong và bà Ê-va đến cái chết của Đức Giêsu, bất cứ ai, dù đức hạnh đến mấy đi chăng nữa, cũng không vào được nước trời. Các cánh cửa thiên đàng vẫn đóng kín và chỉ qua cái chết của Đức Giêsu, Ngài mới mở các cánh cửa này. Có một bài giảng ngày xưa (nay là một phần của các bài đọc chính thức ngày Thứ Bảy Tuần Thánh) phác họa một bức tranh về điều này được phản ảnh qua một biểu tượng. Nó vừa diễn tả lý do tại sao không ai có thể vào được nước trời cho đến khi Đức Giêsu đi xuống hỏa ngục và cách thức Đức Giêsu, khi ở đó, đã đánh thức ông A-dong và bà Ê-va, dẫn họ qua một cánh cửa mở vào nước trời như thế nào. Tuy nhiên đó chỉ mới là một biểu tượng, chưa phải là một bức tranh thật sự.

Các sách Phúc Âm lồng điều này vào một khái niệm rộng hơn. Chẳng hạn trong Phúc Âm thánh Mác-cô, chúng ta nhận ra một điều quan trọng của việc Đức Giêsu đi vào mọi chốn tối tăm, một nơi kiêng kỵ trên thế gian này, mang chữa lành và ánh sáng Thiên Chúa đến đó. Bằng nhân đức của mình, Đức Giêsu đi vào những nơi được coi là tối tăm, cấm kỵ lúc đó. Hơn thế nữa, Người còn đi vào những nơi tối tăm, cấm kỵ khác, đặc biệt là những nơi bệnh tật và chết chóc. Nhưng, vào thế kỷ đầu tiên của Do-Thái giáo không nơi nào nhiều kiêng kỵ bằng nơi chết chóc. Niềm tin lúc đó là con người được tạo ra để vui hưởng tạo vật của Thiên Chúa trong cõi đời này và sẽ mãi mãi bất tử. Cái chết được xem như quỷ dữ, là kết quả của tội lỗi, một phân ly khỏi Thiên Chúa, một chốn biệt lập với Thiên đàng, và không tồn tại bất kỳ cánh cửa nào giữa thiên đàng và hỏa ngục. Vì thế khi nói rằng Đức Giêsu “Đi vào cõi chết” thì tương tự như khi nói Người “đi xuống hỏa ngục”. Tất cả chết chóc đều được coi là biệt lập với Thiên Chúa.

Một trong những xác quyết quan trọng nhất của chúng ta về Đức Giêsu là, bằng cách đi vào cõi chết, chính xác Người đi vào hỏa ngục, âm ty, chốn của phân ly và chia cắt, và, khi ở đó, Người tỏa ra ánh sáng và sự chữa lành của Thiên Chúa, theo cùng một cách như Phúc Âm thánh Gio-an mô tả – Người đi xuyên qua các cánh cửa trước đó đã bị khóa bằng sợ hãi và Người thở ra hơi thở của bình an và tha thứ. Bằng cách đi qua các cảnh cửa đã bị khóa và thở hơi thở bình an, Người vừa đi xuống hỏa ngục vừa mở ra cánh cửa Thiên Đàng.

Và đây chẳng phải là một điều gì đó trừu tượng, một giáo điều phải tin theo. Nó vẫn thường xảy ra. Có nhiều hình thức của sự chết, âm ty, hỏa ngục. Suy thoái tinh thần đến mức phải tự tử, nỗi cay đắng không thể chữa lành, vết thương quá sâu không lành lại được, nỗi vô vọng của một đời nghiện ngập tự hủy hoại, một tâm trí bầm dập và tan vỡ, một chia cắt quá sâu sắc và lâu dài khó vượt qua, tất cả những chuyện này có thể đẩy chúng ta vào một căn phòng khóa kín, trong một thứ hỏa ngục, một chốn âm ty nào đó, không đủ sức để mở ra cánh cửa dẫn chúng ta đến với yêu thương và sự sống. Những cánh cổng thiên đàng bị đóng kín vì nhiều lý do.

Đó là trường hợp cô gái trẻ tự kết liễu đời mình ở trên. Cô đã đi vào hỏa ngục. Nhưng, tôi không nghi ngờ chút nào, khi cô thức dậy ở bên kia, qua những cánh cửa đã bị khóa, Đức Ki-tô nhẹ nhàng đến bên cạnh hỏa ngục của cô, và thở hơi thở bình an.

Trong bài giảng ngày xưa mô tả Đức Giêsu đi vào hỏa ngục, khi Đức Giêsu đánh thức ông A-dong và nói với ông: Ta không tạo dựng ra con để con bị giam ở đây… Hãy đứng dậy, chúng ta cùng ra khỏi chốn này! Chắc chắn đây là lời Đức Giêsu đã nói với cô gái, khi đó Người mở các cánh cửa thiên đàng cho cô như Người đã từng mở cho ông A-dong và bà Ê-va.

Hận thù và tôn giáo chân chính

Có một câu nói thường được gán cho là của văn sĩ người Mỹ G.K. Chesterton, nội dung tương tự như thế này: Công giáo là tôn giáo bị ghét nhiều nhất trong mọi tôn giáo, đó là lý do tại sao tôi biết đó là tôn giáo chân chính. Đây là một lời bình phẩm rất hay, nhưng nó cần phải dè dặt.

Ngày nay, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan (không phải Hồi giáo chính thống) có thể là tôn giáo bị ghét nhiều nhất. Nhưng có phải đây là chuẩn mực của một tôn giáo chân chính?
   
Không phải tất cả hận thù đều như nhau. Chúng ta hận thù vì những lý do khác nhau. Hơn thế, như chúng ta biết, hận thù không đối nghịch với yêu thương, nó là dửng dưng. Hận thù là tình thương đã xoay chiều, là tình thương lớn lên với ghen ghét. Chúng ta chỉ có thể ghét một ai đó mà chúng ta đã từng yêu thương.
   
Đức Giêsu bị ghét, và là mục tiêu của tính ghen ghét cay chua. Vì vậy Người bị đóng đinh vào thập giá. Nhưng tại sao người ta lại ghét Người? Tại sao người ta lại đố kỵ với Người?
   
Đức Giêsu bị ghen ghét vì lòng bao dung, không phân biệt đối xử của mình. Đức Giêsu đã dang tay ra ôm lấy những người tội lỗi và những gì bị cho là bất xứng. Người làm cho đền thờ trong sạch, trong nghĩa Người giảng dạy cho dân chúng thấy họ không cần phải đi qua người trung gian để gặp Thiên Chúa. Đức Giêsu làm cho Thiên Chúa và tình yêu của Thiên Chúa dễ tiếp cận như vòi nước bên cạnh, không để cho quyền lực chính trị, xã hội, tôn giáo do con người dựng lên đi xa khỏi tiếp cận này. Người bị ghen ghét vì người đã thách thức những giới hạn thông thường chung quanh Thiên Chúa và tôn giáo.
   
Và Đức Giêsu bị ghen ghét do chính lòng tốt, đức hạnh của mình, bởi Người tỏa ra tình yêu thương, mà một cách nghịch lý nhưng lúc nào cũng giống nhau, chính lòng tốt lại nảy sinh ra ham muốn và ghen tương cho đến khi chính đương sự chết hoặc bị giết chết. Họ ghen ghét với Đức Giêsu vì Người tốt, trong quả tim Người có một tấm lòng yêu thương tất cả mọi người.

Chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan bị ghét hầu hết vì những lý do ngược lại. Họ bị ghét vì tính độc đoán, hẹp hòi, cứng ngắt trong các rào chắn họ dựng quanh Thượng Đế và tôn giáo, và với vẻ bên ngoài nhân danh Thượng Đế, họ có thể dùng yêu thương, lòng tốt, lòng trắc ẩn để cổ võ cho bạo lực và những hành động thiếu lòng nhân. Giống như Đức Giêsu, họ cũng bị  ghét, nhưng với những lý do hoàn toàn khác biệt.
Vì thế chúng ta phải thận trọng không dựa một cách mù quáng vào câu nói của Chesterton khi thấy mình bị ghét hay trở thành mục tiêu của đố kỵ, nhất là khi bị ghét vì tôn giáo hay quan điểm đạo đức của mình trong một vấn đề nào đó. Các thánh thường bị ghen ghét, cũng như những kẻ độc đoán và có tinh thần thiển cận cũng bị ghét. Nhưng các thánh bị ghen ghét một cách khác hơn những kẻ độc đoán, tôn giáo chân chính bị ghen ghét một cách khác biệt hơn tôn giáo mạo danh.

Sự ghen ghét nhắm vào các thánh là có thật, đôi khi họ còn bị bách hại và bị đóng đinh vào thập giá, giống như trường hợp của Đức Giêsu và các thánh tử đạo. Tuy nhiên, một khi đối tượng của ghen ghét đó chết hay bị giết chết, một khi ghen ghét đó được tẩy đi, tinh thần của người từng bị ghét thường chuyển hóa được trái tim của ai đã từng đóng đinh người đó khi: Họ ngước nhìn lên người đã bị họ làm tổn thương. Và đó là điều xảy ra sau khi Đức Giêsu chết, trong đời sống chúng ta, điều này xảy ra nhưng ít bi thảm hơn.

Có bao giờ bạn có kinh nghiệm quen biết một người nào đó, mà bằng đủ mọi lý do đã làm bạn tức giận, gây xáo trộn, thất vọng, ghen ghét, đố kỵ, làm cho bạn vừa cảm thấy khó tả, vừa khó chấp nhận họ; nhưng sau khi họ qua đời, dưới ánh sáng của sự việc họ ra đi, nỗi tức giận, ghen ghét và đố kỵ được rửa sạch và bạn nhận ra lòng tốt, đức chính trực của cuộc đời họ, kèm theo một nỗi buồn và tiếc nuối về cách bạn đã đối xử với người đó khi họ còn sống không? Lòng ghen ghét và đố kỵ đã chuyển thành tôn trọng và bạn nhận ra bạn trở nên tốt hơn vì đã hiểu được một người mà bạn đã từng ghen ghét.

Sau khi một ai đó mất đi, chúng ta tiếp nhận tinh thần của họ theo một cách mà không thể nào chúng ta có được khi họ  còn sống. Điều này cũng đúng với Đức Giêsu, và đó là lý do tại sao Người bảo chúng ta, Người phải đi xa trước khi gởi Thần Khí đến cho chúng ta. Chỉ sau khi Đức Giêsu chết đi, các môn đệ – cũng như những kẻ đóng đinh Người mới hiểu được đầy đủ con người đích thật của Đức Giêsu. Tinh thần, chúng ta nhận được sau cái chết của một ai đó, thanh lọc giá trị cuộc đời họ, mà khi họ còn sống, chúng ta không bao giờ có thể lãnh hội được, lúc mà bằng mọi lý do, chúng ta phản ứng với lòng kính phục hoặc bức rức, độ lượng hoặc hụt hẫng, yêu thương hoặc ghen ghét, hay bằng các kết hợp khác nhau của tất cả điều này.

Cũng vậy với chống đối và ghen ghét mà đôi khi người khác nhìn vào chúng ta qua đời sống tôn giáo và đạo đức của chúng ta. Cảm nhận của họ về chúng ta, ghen ghét hay khâm phục, không quyết định chúng ta tốt hay xấu, nên thánh hay cuồng tín. Chỉ tinh thần chúng ta để lại đằng sau sẽ quyết định điều đó.

Giáo huấn về kinh tế-xã hội của Giáo hội

Phần đông chúng ta được giáo dục để tin rằng mình có quyền sở hữu bất cứ gì làm ra một cách lương thiện, bằng lao động của chính mình hay bằng việc thừa kế hợp pháp. Cho dù tài sản đó có lớn đến đâu, nó vẫn là của chúng ta nếu chúng ta không kiếm được bằng con đường gian dối. Vẫn là vậy và với một mức độ rộng lớn, niềm tin này được đưa vào bộ luật của các nước dân chủ và chung chung chúng ta tin tưởng về mặt luân lý nó được Kitô giáo phê chuẩn

Trên một khía cạnh, nó hoàn toàn đúng, nhưng cần phải xem xét lại nhiều. Từ Kinh Thánh, qua những lời Chúa Giêsu, qua giáo huấn xã hội của Giáo Hội, qua các thông điệp Giáo Hoàng từ đức Lê-ô XIII đến đức Gioan Phao-lô II, thì vấn đề quyền tư hữu và và tài sản tư đã được giảm nhẹ qua một số nguyên tắc luân lý. Tôi xin liệt kê một số nguyên tắc này (những gì được nhấn mạnh của Thường Huấn trong Giáo Hội Công Giáo La Mã và trong hàng giáo sĩ tương đương của hầu hết Giáo Hội Tin Lành). Về phía Giáo Hội Công Giáo, tôi sẽ trình bày một số điểm chính trong các văn kiện giáo hội:

Thiên Chúa lo toan cho quả đất và tất cả mọi sự nhằm mưu lợi ích cho toàn thể con người. Cho nên, trong sự công bình, mọi tạo vật tốt đẹp phải được lưu chuyển cân xứng cho tất cả mọi người. Tất cả mọi quyền đều dựa trên nguyên tắc này. (Gaudium et Spes 69, Vui mừng và Hi vọng 69, Popularum Progressio Phát triển các Dân tộc 22) Chúng ta có quyền tư hữu và không bao giờ có ai khước từ quyền đó của chúng ta (Rerum Novarum Tân sự 3-5, 14, Quadregesima Anno Năm thứ bốn mươi 44-56, Mater et Magistra Mẹ và Thầy109) nhưng quyền đó phải phụ thuộc vào tài sản chung, vào sự kiện rằng của cải được dự liệu cho hết thảy mọi người. (Laborem Exercens Thực hành lao động14) Của cải và sở hữu phải được hiểu theo cách rằng chúng ta được giao phó để quản lý chứ không phải để sở hữu hoàn toàn. (Rerum Novarum Tân sự 18-19)

Không một ai (hay quốc gia nào) có thể có thặng dư nếu người khác không có được nhu yếu căn bản. (Rerum Novarum Tân sự 19, Quadregesimo Anno Năm thứ bốn mươi 50-51, Mater et Magistra Mẹ và Thầy 119-121 & 157-165, Popularum Progressio Phát triển các Dân tộc 230). Cho nên, không ai độc chiếm thặng dư để sử dụng cho riêng mình khi có người còn thiếu các nhu yếu của cuộc sống. (Popularum Progressio Phát triển các Dân tộc 23) Người dân bắt buộc phải nâng đỡ người nghèo quanh mình và nếu một có người lâm vào cảnh cùng quẫn cực độ, anh ta có quyền lấy từ những người giàu điều gì nhu yếu cho anh. (Gaudium et Spes Vui mừng và Hi vọng 69)

Nền kinh tế hiện hành trên thế giới cần được điều phối lại. (Popularum Progressio Phát triển các dân tộc 6,26,32, Gaudium et Spes Vui mừng và Hy vọng 66, Octogesimus Adveniens Tám mươi năm 43, Sollectitudo Rei Socialis Mối quan tâm xã hội 43) Cho nên quy luật cung cầu, kinh tế tự do, cạnh tranh, luân chuyển lợi nhuận và tư hữu phương tiện sản xuất không thể để tự do hoàn toàn được. Chúng không phải là quyền vô hạn, chúng chỉ trở nên tốt khi được giới hạn rõ ràng. (Popularum Progressio Phát triển các dân tộc 26, Quadragesimo Anno Năm thứ bốn mươi 88, 110)

Xét đến sự tư hữu sản xuất và phương tiện sản xuất, có hai thái cực cần phải tránh: Chủ nghĩa tư bản không cương tỏa và chủ nghĩa xã hội hoàn toàn. (Quadregesimo Anno Năm thứ bốn mươi 46, 55, 111-126)

Chính phủ nên tôn trọng nguyên tắc phân quyền và chỉ can thiệp khi cần thiết. (Rerum Novarum 28-29, Quadragesimo Anno 79-80, Mater et Magistra 117-152) Tuy nhiên khi vì điều tốt cho toàn thể thì chính phủ không chỉ bắt tay vào mà còn bị bắt buộc phải làm.  (Popularum Progressio 24, 33, Mater et Magistra 53, Gaudium et Spes 71) Hơn nữa, chắc hẳn một số loại của cải nên được ở trong tay chính phủ vì chúng mang đến cơ hội cho một sự thống trị quá lớn và không nên để cho một cá nhân nắm giữ chúng. (Quadragesimo Anno Năm thứ bốn mươi 114, Mater et Magistra Mẹ và thầy 116)

Chính phủ cũng không bao giờ nên hy sinh cá nhân cho tập thể, vì cá nhân là khởi đi của xã hội dân sự và chính xã hội này phải hướng trực tiếp đến con người đó. (Mater et Magistra Mẹ và thầy 109, Quadragesimo Anno Năm thứ bốn mươi 26)

Chủ nhân phải trả lương ở mức có thể mang lại cho người lao động một cuộc sống “hợp lý và tương đối đầy đủ” (Rerum Novarum Tân sự 34) và lương không đơn giản là những gì hợp đồng mà người lao động đã ký. Ngược lại, người lao động không được đòi hỏi sản phẩm và lợi nhuận này được giữ lại, không tái đầu tư theo luật của nó (Quadragesimo Anno Năm thứ bốn mươi 55, 114) và họ phải thương lượng mức lương theo lợi ích chung. (Quadragesimo Anno Năm thứ bốn mươi 119, Mater et Magistra Mẹ và thầy 112) Cũng vậy trong trường hợp chủ nhân, không phải chỉ có vấn đề hợp đồng là vấn đề cần được quan tâm.

Cả người lao động lẫn chủ nhân đều có trách nhiệm ngang nhau về lợi ích chung. (Laborem Exercens Thực hành lao động 20)

Và việc lên án sự bất công là một phần của sứ vụ phúc âm hóa và cũng là một khía cạnh nhất tính trong vai trò ngôn sứ của Giáo Hội. (Sollectitudo Rei Socialis Mối quan tâm xã hội 42)

Lịch sử Giáo Hội đã có các nguyên tắc trong việc giáo huấn này. Sự thất bại của chũ nghĩa Mác ở Đông Âu đã khắc họa đậm nét và chính xác rằng sự cố gắng xây dựng một nền công bằng cho hết thảy mọi người mà không dựa trên sự phân tích thỏa đáng về lợi ích và tài sản tư (không kể Thiên Chúa và tình yêu) sẽ không đem lại thịnh vượng và công bằng, và cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay cũng tô đậm sự thực rằng vòng luân chuyển vốn không kìm hãm và không điều chỉnh cũng sẽ mang lại kết cục như thế. Giữa hai điều đó có một phương cách trung dung, và những giáo huấn xã hội của Giáo Hội chính là bản đồ cho con đường ấy.

Thiêng liêng và tính dục

Người ta thường phàn nàn rằng các giáo huấn cổ điển Công giáo về tính dục đa số là do các  linh mục, nữ tu độc thân, khấn khiết tịnh, những người không có kinh nghiệm tình dục viết. Họ phàn nàn không phải vì những người đó (trong đó có cả tôi) dạy những điều không đúng, nhưng vì cuộc sống độc thân, những người này có khuynh hướng lý tưởng hóa tình dục và đặt nó trong một bối cảnh thần thánh không hiện thực.

Chắc chắn phàn nàn đó có phần đúng. Nhưng, công bằng mà nói, ai ai cũng đấu tranh với tình dục. Mọi truyền thống tôn giáo, mọi nền văn hóa đều có sự đấu tranh riêng của nó với tình dục. Không nhà thần học tự tôn nào có thể nói rằng Kitô giáo hay bất cứ tôn giáo nào khác tạo được bình tâm trọn vẹn với tình dục, cũng không có nhà phân tích tự tôn nào có thể nói trên thế giới này có một nền văn hóa đạt được sự hòa hoãn lành mạnh với tình dục. Tôn giáo và thế tục, cả hai đấu tranh với tình dục theo nhiều cách khác nhau. Ai ai cũng đấu tranh.

Và điều này chẳng có gì là ngẫu nhiên, vì tình dục luôn luôn có một phần nào đó vượt ngoài tầm chúng ta, nó quá hùng mạnh nên không thể lúc nào cũng kìm nén nó một cách lành mạnh. Nó quá quyền lực và bao la. Nó nằm ở nền tảng của mọi thứ, cả thứ mang đến sự sống và không mang đến sự sống. Các phân tử có giới tính, các nguyên tử có giới tính, mọi vật sống có giới tính, nơi từng tế bào của từng con người đều có giới tính, cả thể xác lẫn tâm hồn. Đương nhiên, đa số chúng hỗn độn mờ mịt, và là một khát khao nhức nhối không có một định hướng rõ rệt, dù cho từ tuổi dậy thì, chúng ta đã hướng về nó với trọng tâm và họa hình sâu đậm trong ý thức mỗi con người chúng ta.
Khôi hài thay, trên điểm này, cả hai phe tự do và bảo thủ đều không thành công để đặt tâm điểm tình dục một cách nghiêm túc cho đủ, người bảo thủ phủ nhận tâm điểm này, người tự do thì tầm thường hóa nó. Cả hai đều tỏ ra ngây ngô, chỉ là theo các cách khác nhau mà thôi.

Hơn nữa, vượt ra ngoài uy quyền tuyệt đối, thú tính của tình dục, vẫn còn đó bao nhiêu là phức tạp. Tình dục là lực sáng tạo mạnh nhất và hủy hoại nhất của trần gian này. Nó là sức lực mạnh mẽ không những cho tình yêu anh dũng, sự sống, và ân phúc diệu kỳ, nó còn là hận thù, chết chóc, hủy hoại tồi tệ nhất loài người có thể tưởng tượng được. Nó tạo nên đa phần đê mê nhất thế gian, nhưng cũng gây nên vô số vụ sát nhân, tự tử. Khi lành mạnh, nó gắn kết tư cách nhân bản lại với nhau, nhưng khi không lành mạnh, nó làm phân rã nhân cách. Nó có thể nối kết gia đình, nối kết cộng đồng và nó cũng có thể hủy hoại gia đình, cộng đồng. Nó là mãnh lực duy nhất làm rộn ràng con tim và nảy sinh lòng tri ân, nhưng cũng mãnh lực đó, nó có thể làm tâm hồn cay chua và ghen tương. Tình dục là ngọn lửa đẹp nhất trong tất cả các ngọn lửa nhưng cũng là ngọn lửa nguy hiểm nhất trong tất cả các ngọn lửa.

Và nghịch lý này là cội nguồn của rất nhiều căng thẳng chung quanh bất cứ tranh luận về tình dục nào. Ở vào thời điểm nào thì khía cạnh tình dục sẽ có tầm quan trọng? Thanh khiết hay đam mê, tốt lành hay nguy hiểm, mang đến khoái lạc hay đồi trụy, phúc năng để liên kết hay ác năng để chia rẽ?

Không dễ để trả lời các câu hỏi này, những gì chúng ta thường thấy là hai khuynh hướng đối nghịch: thiên quá về lý tưởng hóa và thiên về tầm thường hóa, quá e sợ và quá tùy tiện, tê cứng không lành mạnh và vô trách nhiệm không đàng hoàng. Hiếm khi chúng ta làm đúng. Luôn là vậy, rào ngăn vô hình đó dường như quá cao hay quá thấp.

Làm sao chúng ta có được quân bình? Không dễ. Nhưng với tất cả các hỗn độn phức tạp này, điểm khởi đầu tốt là từ chối không thỏa hiệp với các nghịch lý thái cực này, không phản lại bất cứ sự thật nào trong các sự thật này, dù cho nó có vẽ mâu thuẫn gì đi chăng nữa.

Vì thế, quan trọng là chấp nhận tình dục là một mãnh lực vượt ngoài sức chúng ta, dù chấp nhận như vậy, chúng ta phải có trách nhiệm chế ngự nó. Phải luôn luôn khẳng định rõ, nó có điểm tốt cũng như có nguy hiểm. Tính chất trong sáng thiêng liêng của nó phải được đề cập đến, cũng như tính trần tục của nó cũng không được chê bai. Chúng ta phải minh định rõ, tất nhiên nó vừa thiêng liêng vừa lạc thú, nguồn sinh sôi mà cũng là cách yêu đương, nguồn vui thú tốt đẹp nhưng cũng cần gìn giữ cẩn thận, và đó không phải là điều mà đứng trước nó, chúng ta sợ sệt một cách bệnh hoạn khi bọc nó trong vỏ bọc của những điều cấm kị để che chắn an toàn cho giá trị của nó hay để xúc cảm riêng của chúng ta được an toàn.

Tình dục có thể như một dòng điện cao thế. Điện thế 50.000 vôn của nó có thể mang lại ánh sáng ấm áp cho căn nhà, nhưng có hai mối nguy: Mối nguy đầu tiên là chúng ta có thể sợ sệt sự nguy hiểm của nó và không bao giờ nối điện vào nhà. Như vậy chúng ta tự cắt ánh sáng và nhiệt. Mối nguy thứ hai ngược lại: Năng lượng cực mạnh này chỉ an toàn khi sức mạnh nội tại của nó được máy biến thế truyền đúng và an toàn, cách ly thích đáng, nếu không chúng ta đang đùa với lửa, trong ngôi nhà và cả trong tâm hệ chúng ta.

Người bảo thủ phải đấu tranh với mối nguy đầu tiên, người tự do với mối hại sau.

Ghen tương bẩm sinh và lời mời gọi vượt lên cao

Tất cả các bạn đều yêu thương nhau, còn tôi bị loại ra ngoài! Theo Robert Moore, cảm nhận này, nỗi sợ đặc biệt này là căn bản của tính ghen tương.
   
Đó là nỗi sợ của Ca-in, nhân vật mẫu đầu tiên giết người vì ghen tương của Thánh Kinh. Cái gì gợi lên lòng ghen ghét nơi Ca-in? Dù nói thế nào đi nữa, trong lòng chúng ta vẫn nghĩ: Chúa thích A-ben và lễ vật của A-ben, Chúa không thích Ca-in và lễ vật của Ca-in. Dù lý do dì đi nữa, đối với Ca-in, mọi người yêu thương nhau, còn tôi bị loại ra ngoài!
   
Và Thánh Kinh nói, ghen tương đã biến Ca-in thành kẻ giết người, và tôi ngờ, lý do giết người giống nhau này có mặt ở các vụ giết người hàng loạt như các vụ xảy ra ở trường Đại Học Kỹ Thuật Virginia, ở Colombine, gần đây ở Đức và ở Alabama. Các kẻ giết người luôn luôn đơn độc, đơn độc một cách hiểm nguy, chắc chắn họ cũng suy nghĩ như Ca-in, thấy quà tặng của người khác được chấp nhận, còn mình thì không. Hình như, tất cả các người khác đều  yêu thương lẫn nhau, còn họ bị loại ra ngoài.
Hơn nữa, những gì chúng ta thấy khủng khiếp trong các vụ giết người hàng loạt thường chính là những người trong nội bộ, trong khuôn khổ nhỏ bé của chúng ta. Vì ghen tương, chúng ta cũng là những kẻ giết người, có điều chúng ta giết người không cần vũ khí. Chúng ta giết với tư tưởng và lời nói.

Cha Henri Nouwen nói trong một lời cầu nguyện: Người nào dùng súng giết người, thì trước hết họ đã dùng câu nói để giết, người nào dùng câu nói để giết thì trước hết họ đã dùng tư tưởng để giết. Cha nói đúng. Chúng ta giết người trong tư tưởng mỗi lần chúng ta nói thầm trong lòng: “Hắn là ai mà hắn nghĩ vậy! Cô tưởng cô thông minh gớm! Hắn nghĩ hắn là con cưng của Chúa! Bà ấy tự phụ quá!” Ai trong chúng ta đã không từng dự một buổi thuyết trình, một buổi họp giáo xứ, một bữa ăn với gia đình, với bạn bè, hay bất cứ một buổi họp nào mà không giống như những tên làm thịt người ở Columbine hay Virginia Tech, bỗng nổi khùng tuôn một tràng đạn giận dữ ghen tương lên buổi họp? Khi chúng ta bị thương tổn như Ca-in, khi quà tặng của chúng ta không được chấp nhận như quà tặng của người khác, khi mọi người yêu thương lẫn nhau, còn mình thì bị loại ra ngoài, thì xung động tức khắc sẽ là giết người bằng lời, bằng tư tưởng, bằng thái độ.
   
Điều gì phải nên làm? Làm sao chúng ta sống vượt lên ghen tương và cảm nhận mình bị loại trừ?
   
Việc đầu tiên là chúng ta chấp nhận mình có ghen. Đây không phải là vấn đề đau khổ hay không đau khổ vì ghen, nhưng mình làm gì với tính ghen tương của mình. Chúng ta tất cả đều đau khổ vì ghen tương, các suy nghĩ cay đắng và giết người có thể phát xuất từ đó.
   
Một khi chúng ta chấp nhận mình có ghen tương là chúng ta đã đứng lên trên nó và giải quyết tính ghen tương của mình như một thách đố về mặt đạo đức và thiêng liêng lớn nhất đời chúng ta. Đó không có gì là quá đáng.
   
Khi suy gẫm sự thương khó của Chúa Giêsu trong vườn Giết-xê-ma-ni, cuộc thương khó mà Chúa Giêsu chiến đấu để cho chúng ta cái chết của Người, cũng như Người đã cho chúng ta trọn cuộc đời của Người thì chúng ta thấy đây là cuộc thương khó vì tình yêu, không phải tình yêu về mặt thể lý. Khác với cuốn phim Cuộc Thương Khó Chúa Giêsu của đạo diễn Mel Gibson, Sách thánh không nhấn mạnh đến đau đớn thể xác, đúng ra, gần như họ không viết đến. Điều họ nhấn mạnh là nổi cô đơn vừa tinh thần vừa xúc cảm trong lòng, khoảng cách xa giữa Chúa Giêsu và những người chung quanh, cảm thấy mình bị cắt đứt với những người chung quanh, không ai hiểu mình, bị gạt ra ngoài vòng thân thiết của nhân loại. Sách Thánh nói với chúng ta Người “như cục đá chúng ta dùng để ném đi”, một tình trạng mà Gil Bailie cho rằng “đồng nhất trừ một.”

Khi gần chết, kinh nghiệm trần thế của Chúa Giêsu giống như tâm trạng của Ca-in. Món quà tặng của Người hình như không được chấp nhận. Người cảm thấy mình bị cô lập hoàn toàn, một hình thức loại trừ, hiểu lầm, là bia của hận thù. Chắc chắn khuynh hướng tự nhiên của con người sẽ là cay đắng, giận dữ, tủi thân, hận thù. Nhưng Chúa Giêsu hành động khác Ca-in và câu trả lời cho cảm xúc cay đắng chắc chắn dâng trào trong lòng Người, chính là sự hy sinh đích thực của Người và đó là thách đố tinh thần rất lớn mà Người đã để lại cho chúng ta:

Bị ghen tương đố kỵ, hận thù, hiểu lầm bao vây, Người vẫn tin tưởng tận hiến cuộc đời. Khi mọi chuyện xoay chiều về cay đắng, Người hướng tâm hồn về lòng nhân hậu. Khi mọi chuyện xoay chiều về giận dữ, Người hướng lòng về yêu thương. Khi mọi cánh cửa đều đóng, Người mở lòng ra, luôn luôn cho thấy mình yếu mềm để người khác có thể đến với Người. Khi mọi người lạnh lùng, cuồng hoảng, nguyền rủa, người củng cố, chúc phúc, Người vẫn tin tưởng, nhiệt thành. Chúng ta sẽ hành động như thế nào khi tình yêu của mình thành cay đắng, thành thảm kịch của tình yêu. Ca-in cho chúng ta một câu trả lời. Chúa Giêsu cho một câu trả lời khác.

Đâu là câu trả lời của chúng ta khi chúng ta cảm thấy “những người chung quanh thương nhau còn mình thì bị loại trừ”?

Thèm muốn và tôi luỵên đạo đức

Cha Daniel Berrigan có một lần nữa đùa nữa thiệt nói nếu Chúa Giêsu xuống lại thế gian lần này, Người sẽ đến văn phòng các tâm lý gia ở Âu Mỹ, dùng roi và dây để đuổi các bác sĩ cũng như các bệnh nhân của họ, giống như ngày xưa Người dùng để đuổi các người buôn bán trong nhà thờ và nói: “Khiêng cái đi-văng và đi! Ta đã cho các con mạng sống của Ta, các con không cần phải khóc thương!” Nói vậy có thể hơi quá, nhưng cha có một quan điểm. Con người được dựng lên để được tôi luỵên và khả năng tôi luyện là một nghĩa vụ luân lý. Chúng ta nhờ lẫn nhau để phục hồi. Vậy đây, tôi xin giới thiệu với các bạn một quyển sách.

Đôi khi tôi ngần ngại khi giới thịêu sách hoặc phim, bởi vì dù toàn bộ tác phẩm có thể nói lên tính đạo đức và nâng cao tâm hồn, nhưng các chi tiết trong đó có thể làm khó chịu một số người chỉ nhìn chi tiết mà không nhìn cốt lõi.

Đó là trường hợp quyển sách mới Whisful Drinking – Thèm uống – của  Carrie Fisher. Tôi giới thiệu với một lời cảnh báo trước. Tổng thể, đây là một quyển sách đạo đức, nâng cao tâm hồn và đầy hy vọng, dù đôi khi ở một vài chỗ, tác giả đi quá nhanh và phóng khoáng.

Thường thường, tôi tránh các sách do các người nổi tiếng viết, nhất là những người nổi tiêng ở Hollywood, nhưng cũng có một vài ngoại lệ và Carrie Fisher là một trong những ngoại lệ này. Trí thông minh về luân lý và tài dí dỏm của bà đã làm cho bà có một chỗ đứng riêng, bà để cả hai tài năng này vào  quyển sách.

Quyển sách đúng ra là quyển tự truyện, câu chuyện của một người lớn lên ở Hollywood, con của Debbie Reynolds và Eddie Fisher, với một người cha thường xuyên vắng mặt và chạy theo các bà các cô, một người mẹ cũng thường xuyên vắng mặt dù rất yêu thương. Bà nổi tiếng thế giới và trở thành thần tượng khi đóng vai Công Chúa Leia trong Stars Wars, kết hôn với Paul Simon nhưng chia tay, có những ngày sống trong nghiện ngập, rượu, ma túy và mang bệnh tinh thần. Bà đứng được trên đôi chân nhờ có đủ khả năng tôi luyện, thấu cảm và tài dí dỏm làm chúng ta phải thèm.

Và bà viết với một sắc thái và hài hước làm bạn bị che mờ không thấy chiều sâu bên trong cuộc sống và ý nghĩa của nó. Giống như quyển sách Mommy Dearest and Survivor –Bà Mẹ yêu quý nhất và Người sống sót – của Christina Crawford, đây cũng là câu chuyện của một người thoát được kiểu giáo dục của Hollywood, dù trong trường hợp của Carrie bà có tình cảm  với Hollywood hơn là Crawford. Fisher không bao giờ rời Hollywood; bà có đủ triển vọng để không cần phải rời nó.

Tôi nói quyển sách này là quyển sách đạo đức và nâng cao dù, mới nhìn thì cách nói về tôn giáo, thuốc men, dục tính có thể coi như không chính xác, tùy tiện và không có ý thức về luân lý. (Ghi chú, tôi nói không có ý thức về luân lý, không phải là trái luân lý, có một khác biệt ở đây.) Như vậy, đâu là đạo đức của quyển sách?
 
Tôi không giới thiệu các phần không có ý thức về luân lý và, tôi nghĩ, Carrie Fisher (người không thể nào viết một dòng mà không chêm vào một cái gì dí dỏm và vui vẻ) sẽ không xem các phần này như một lý tưởng đạo đức. Bà chỉ đơn giản viết câu chuyện của bà, không nghĩ quan điểm của bà trên bất cứ chuyện gì phải là kim chỉ nam đạo đức. Nhưng có một cái gì bên trong câu chuyện này, tôi xin đưa ra, sẽ có tính cách đạo đức chuẩn mực, phải nói đến, là bà vội vã khiêng đi-văng và ra đi.

Bà đau khổ rất nhiều, đời bà cho thấy: cha vắng mặt, ít giáo dục con về mặt tôn giáo và đạo đức, sớm nổi tiếng một cách nguy hiểm, thất bại trong quan hệ, rối loạn tâm lý lưỡng cực. Tuy thế, ở đâu có tủi thân thì lại có thấu cảm. Có cay đắng thì có quả tim dịu ngọt. Có giận dữ thì có tha thứ. Có mặc kệ thì có tôi luỵên. Có tuyệt vọng thì có say mê lành mạnh. Và khi ánh sáng sắp tắt thì có phục hồi sức khỏe lạ thường. Và đó cũng là đạo đức, không đúng y như sách vở cổ điển nói về đạo đức, nhưng là con đường mà Đức Giê-su công nhận.

Quyển sách này đánh động tôi rất nhiều và tôi giới thiệu cho bạn vì  những gì bạn thấy trong câu chuyện của bà thì ngược với những gì chúng ta thấy trong thế giới, trong giáo hội ngày nay, nơi mà mỗi người dễ dàng cho phép mình giận dữ, cay đắng, trách móc người khác vì họ không hạnh phúc. Có một cái gì tươi mát và một thách thức về mặt đạo đức khi thấy một người có rất nhiều vấn đề nhưng lại không cần phải đổ vấn đề lên Chúa, lên gia đình, lên nhà thờ, lên người tự do, lên người bảo thủ hay lên bất cứ ai khác. Đó là lành mạnh và có đạo đức khi nhìn một người giữ được tinh thần hài hước ngoài mong chờ, vì đôi khi, tinh thần hài hước và chỉ có tinh thần hài hước mới làm xẹp cái ego thổi phồng của chúng ta.

Câu hỏi thứ nhì trong các sách Giáo Lý xưa cổ của chúng ta là: Tại sao Chúa tạo dựng ra chúng ta? Trả lời: Để biết, yêu và phụng sự Chúa ở đời này và hưởng hạnh phúc với Chúa đời sau. Có một khôn ngoan đích thực trong đó, nhưng ở đời này, chúng ta cần thêm: Tại sao Chúa tạo dựng ra chúng ta? Vì Chúa nghĩ rằng chúng ta có thể thưởng thức nó! Carrie Fisher cho chúng ta câu trả lời này, và đó là đạo đức.
Đã có lần Đức Giê-su thách đố dân chúng khi nói con cái của thế gian thì tinh khôn hơn con cái của ánh sáng. Wishfil Drinking – Thèm Uống – gợi ý  thỉnh thoảng chúng ta cũng nên có óc khôi hài dí dỏm hơn.