RonRolheiser,OMI

Nguy cơ của quá an toàn 

Tôi thường hay được nhắc nhở là phải thận trọng cả hồn lẫn xác: “Cẩn thận! Đừng mắc sai lầm! Hãy thận trọng! Đừng làm điều gì khiến mình phải hối tiếc!” Đúng là tôi đã hấp thụ những lời này ngay từ khi còn nhỏ, những năm học ở trường dòng, và phần lớn những năm tháng làm linh mục.Đây cũng là những lời trối trăn cuối cùng của cha tôi, cha tôi là một trong những người đàn ông chân thật nhất mà tôi được biết. Đêm đó, anh tôi và tôi đến bệnh viện thăm cha đang bị bệnh ung thư, sau đó chúng tôi ra về không hề biết sáng sớm hôm sau cha ra đi, cha nhắc chúng tôi: “Cẩn thận nghe!” Ông nhắc chúng tôi lái xe cẩn thận trên con đường mùa đông đầy băng tuyết. Lời nhắc nhở này cho thấy cá tính, tâm hồn nhạy cảm và sự lo lắng đúng đắn của ông dành cho con cái, và về mặt tinh thần nó cũng có nghĩa: “Cẩn thận! Thận trọng!” Đây là lời nhắc nhở thường xuyên của cha tôi.

Bây giờ những lời đó là một phần tính di truyền của tôi. Con cái không những thừa hưởng các đặc tính sinh học của cha mẹ mà còn hơn thế nữa, đặc biệt nếu may mắn có một đấng sinh thành có lập trường đạo đức vững chắc. Và sự thận trọng đó giúp ích cho tôi rất nhiều. Tôi biết ơn nó. Hơn năm mươi năm qua, tôi đã giữ gìn nguyên vẹn cả xác lẫn hồn. Một món quà không phải là nhỏ. 

Tuy vậy sự thận trọng đó đôi lúc cũng không tốt cho tôi. Một người có thể  không sứt mẻ, nhưng thận trọng đến mức nhút nhát, rụt rè nhiều hơn yêu thương thì sự thận trọng đó trở thành tâm điểm cuộc đời họ. Mối nguy cơ trong việc luôn luôn muốn toàn hảo dễ đi đến tâm trạng giống như tâm trạng của người anh cả của người con hoang đàng, đặt niềm tin cứng ngắt vào mọi sự, nhưng lại hay xét đoán, đố kỵ, gắt gỏng cay chua; không bao giờ thỏa hiệp về mặt đạo đức và tín lý, trong khi lại ham muốn những chuyện phi luân lý và tâm hồn như tê cứng với cuộc sống thật. Đôi lúc một sự thận trọng được rèn dũa kỹ lưỡng trong từng hành vi là do quả tim cảnh giác nhiều hơn là quảng đại, ham muốn nhiều hơn là khẳng định, xét đoán nhiều hơn là tha thứ. Đôi lúc nó làm do một quả tim mà yêu thương và tha thứ được xem như phần thưởng chứ không phải cho và nhận không vụ lợi. Tx nó là kết quả của một quả tim âm thầm sung sướng khi người khác đi lầm đường vì không sống giống như mình. Không phải lúc nào cũng như vậy, nhưng nó cũng dễ xảy ra, phải thẳng thắn và khiêm tốn nói thỉnh thoảng trong cuộc đời tôi, tôi cũng vướng vào những trường hợp như vậy.
Goethe, nhà thơ người Đức đã viết: Cuộc sống chứa đựng nhiều nguy cơ, và sự an toàn là một trong những mối nguy cơ đó. Đối với một vài người thì có lẽ lời nhắc nhở ngược lại mới thích hợp hơn. Tuy nhiên đối với hầu hết chúng ta, những người luôn được nhắc nhở phải trở nên người tử tế và có đạo thì câu nói của Goethe cũng mang một sựï thật làm chúng ta bối rối.

Có phải chúng ta đang sống quá thận trọng? Liệu chúng ta có đủ can đảm để nhìn vào những kiềm chế, ghen tương, luận phạt tôn giáo của chúng ta một cách thẳng thắn không? Có phải cuộc sống của chúng ta bị nỗi sợ hướng dẫn thay vì được tình yêu hướng dẫn không? Liệu chúng ta có thể yêu đời mà không bị phán xét và cay đắng không? Người khác có xem chúng ta là những người cứng ngắt không? Lần cuối cùng chúng ta thật sự tha thứ cho người làm tổn thương mình là lần nào? Cuộc sống chúng ta có nói lên tình yêu thương và lòng quảng đại hơn là sợ hãi và tự vệ không? Mối nguy cơ trong việc sống quá thận trọng là đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ cuộc đời nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ sự nghèo nàn của chính đời sống mình, đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ đức hạnh, nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ những kiềm chế và sợ hãi của chính mình, và có khi chúng ta nghĩ chúng ta đang nói về sự quan phòng của Thiên Chúa cho thế gian nhưng, như người anh cả của người con hoang đàng, thật ra chúng ta đáng nói về lòng ghen tương giấu kín trong con người mình.

Nhân vật nam chính trong bộ phim Những cỗ xe rực lửa là Eric Liddell, một chàng thanh niên hết sức đạo đức, là lực sĩ chạy bộ tham dự Thế Vận Hội Olympic với triển vọng được huy chương vàng, nhưng anh từ chối tham dự cuộc tranh tài vì vòng tranh sơ khởi nhằm vào ngày Chúa Nhật, ngày anh giành cho Chúa. Rất dễ phê phán việc làm của Eric Liddell là việc làm xuất phát từ nguyên tắc tôn giáo cứng ngắt. Đối với ai đó thì điều này có thể đúng. Nhưng đối với Eric Liddell thì không. Tại sao? Bởi vì anh không bị cuốn đi bởi nỗi sợ hãi hay nguyên tắc cứng ngắt. Anh được cuốn đi bởi tình yêu. “Khi tôi chạy,” anh nói, “tôi cảm thấy niềm vui của Thiên Chúa.”

Thỉnh thoảng tôi cũng hỏi tôi câu hỏi đó trong mối liên hệ của tôi với tôn giáo và những kiềm chế tinh thần: Liệu Thiên Chúa có vui trong sự thận trọng của tôi? Liệu Thiên Chúa có vui trong các hy sinh của tôi? Liệu Thiên Chúa có vui trong những khắc khoải của tôi về những khiếm khuyết đạo đức của thế giới? Hay có phải Người Cha đang đứng bên cạnh tôi, bên ngoài bàn tiệc, nài nỉ tôi như ông từng nài nỉ với người con cả, con không thể vì cha mà chấp nhận em con sao?

Tôi biết ơn sự giáo dục tôi được hưởng, dù tính dè dặt bẩm sinh đi kèm với nó không còn ở tôi nữa. Thận trọng là điều hay. Đó là cách sống đầy yêu thương và có trách nhiệm. Nhưng tôi lớn lên một cách thẳng thắn hơn trên các nguy cơ này. Đa số thời gian tôi như được trọn vẹn, tuy nhiên đôi lúc tôi sợ hãi nhiều hơn quảng đại, tự vệ nhiều hơn yêu thương, ghen tương nhiều hơn quan tâm lành mạnh. Sự thận trọng đôi lúc đã không cho tôi một quả tim lớn. An toàn cũng là một mối nguy cơ.

Liêm chính riêng tư

Trong bộ phim City Slickers, có một cảnh làm sáng tỏ tầm quan trọng của tính liêm chính riêng tư: Ba người bạn thân sống ở New York, rủ nhau đến nghỉ hè ở một nông trại nuôi gia súc với hy vọng chuyến đi này sẽ giúp họ xếp đặt lại các vấn đề riêng của lứa tuổi trung niên của họ.
Họ vừa cưỡi ngựa vừa thảo luận về đạo đức trong quan hệ tình dục và những nguy cơ liên hệ. Đầu tiên cuộc nói chuyện chủ yếu vào chuyện sợ người khác bắt gặp và hai trong số họ đồng ý rằng đó không phải là một việc gì đáng lo lắm. Bạn quá tin chắc là sẽ bị bắt gặp. Nhưng người bạn của họ tiếp tục đặt câu hỏi, lần này anh hỏi họ rằng liệu họ có quan hệ tình dục không nếu họ chắc chắn không bị bắt gặp:

Anh nói : “Tưởng tượng có một phi thuyền đáp xuống mặt đất. Một cô gái xinh đẹp bước ra. Bạn làm tình với cô và cô trở lại sao Hỏa. Không có hậu quả nào cả. Cũng không ai có thể biết. Các anh có làm không?”

Trưởng nhóm là Billy Crystal, anh trả lời anh ngờ là luôn luôn có thể bị bắt gặp. Anh nói: “Các bạn luôn bị bắt gặp, mọi người sẽ ngửi thấy mùi không thành thật nơi các anh.” Người bạn của anh quả quyết: “Nhưng nếu thật sự có thể quan hệ tình dục mà không bị bắt gặp. Anh có làm không?  Nếu không ai biết việc anh làm cả?” Câu trả lời của Billy Crystal là: “Nhưng tôi biết, và tôi sẽ ghét bản thân tôi về điều đó!”

Câu trả lời của anh làm nổi bật một sự thật quan trọng. Những gì chúng ta làm trong riêng tư, bí mật, nó có hệ quả và hệ quả này không thuộc vào việc bí mật bị lộ hay không. Sự tai hại của nó thì giống nhau. Những gì chúng ta làm trong bí mật góp phần đúc nặn con người chúng ta và ảnh hưởng lên cách chúng ta liên hệ với người khác một cách sâu xa hơn chúng ta ngờ. Không có cái gì giống như hành vi bí mật. Người sắc bén nhất luôn luôn biết. Chúng ta biết. Và vì thế chúng ta ghét chính mình, ghét bản thân mình vì mình nói dối, và một cách chung chung nó ảnh hưởng đến cách chúng ta quan hệ với người khác.

Những gì chúng ta làm trong bí mật rốt cùng cũng thể hiện cụ thể qua con người bề ngoài của chúng ta. Dối trá thay đổi cách nhìn của chúng ta bởi vì nó thay đổi con người thật của chúng ta. Điều đó giải thích tại sao thường thường người chung quanh sẽ trực cảm được con người thật của chúng ta, ngửi thấy vẻ không thật nơi chúng ta, ngay cả khi họ không có bất cứ một chứng cớ hiển nhiên nào để nghi ngờ chúng ta.Làm một chuyện gì đó trong bí mật mà không thể thừa nhận công khai đó chính là định nghĩa tiêu biểu của chữ đạo đức giả và tính đạo đức giả này buộc chúng ta nói dối. Trong tất cả các tội, có lẽ tội nói dối là tội nguy hiểm nhất. Tại sao? Bởi vì nó làm cho chúng ta ghét mình và không còn tôn trọng chính mình. Khi chúng ta không còn tôn trọng mình thì rất sớm, chúng ta cũng thấy người khác không tôn trọng chúng ta. Đó là nơi mà trực giác chúng ta “ngửi ra mùi” nói dối của người khác.

Hơn thế nữa, nói dối còn làm cho chúng ta chai cứng, như thế chúng ta mới sống được với sự dối trá. Tội lỗi không phải luôn luôn làm chúng ta khiêm tốn và ăn năn.  Tất cả chúng ta đều biết hình ảnh về người tội lỗi chân thật nhất, một người giống như người phụ nữ ăn năn đã xức dầu thơm lên chân Đức Giê-su. Đôi lúc đó là trường hợp của những người tội lỗi chấp nhận Đức Ki-tô một cách dễ dàng hơn những người có đạo đức và đi nhà thờ.Tuy nhiên không phải lúc nào cách này cũng được thực hiện. Hình ảnh trong Kinh Thánh về người tội lỗi chân thành khiêm tốn quay về Chúa chính là muốn nói đức tính ngay thẳng, họ không giấu cũng không nói dối về tội của mình. Khi chúng ta không thừa nhận một cách chân thành tội lỗi của mình, chúng ta đi về hướng ngược lại, đó là muốn hợp lý hóa, làm chai cứng thái độ của mình, và trở nên hoài nghi yếm thế. Hơn nữa, khi nói dối, không phải là do yếu đuối ban đầu, thì nó trở thành vết mực thật sự và nó đưa đến một mối nguy hiểm lớn hơn. Khi chúng ta che dấu một tội, chúng ta buộc phải nói dối, và với sự nói dối đó, ngay lập tức tâm hồn chúng ta chai cứng và nó bị uốn nắn lại. Bạn có thể làm bất cứ điều gì, nhưng đừng nói dối về chuyện này. Điều đó không có nghĩa là bạn có thể làm bất cứ điều gì miễn là không ai phát hiện ra việc đó. 

Phẩm chất con người chúng ta tùy thuộc vào phẩm chất liêm chính riêng tư của mình. Chúng ta cũng bệnh như căn bệnh bí mật nhất của chúng ta, chúng ta lành mạnh như đức hạnh riêng tư của mình. Chúng ta không thể làm một việc trong riêng tư và rồi phô ra và tuyên bố thành một việc khác trước mọi người được. Chẳng quan trọng nếu người khác biết hay không biết bí mật của chúng ta. Chúng ta biết, và, khi những bí mật này không lành mạnh,  chúng ta ghét chính mình và quả tim chúng ta trở nên chai cứng vì chúng ta sống trong giả dối.

Chúng ta không bao giờ nên tự lừa dối mình để nghĩ rằng những việc chúng ta làm trong riêng tư, gồm cả những hành vi rất nhỏ như không trung tín, dễ dãi, mù quáng, đố kỵ, nói xấu, không phải là không có hậu quả gì vì không ai biết. Trong huyền nhiệm của sự tương quan chặt chẽ của chúng ta như một gia đình nhân loại và như một gia đình đức tin, cậy trông, thì những hành vi riêng tư nhất của chúng ta, dù tốt hay xấu, đều như vi khuẩn nằm trong mạch máu, ảnh hưởng đến toàn thân thể. Mọi việc đều được biết đến hay cảm thấy được, không cách này thì cũng cách khác.

Người khác biết chúng ta ngay cả khi họ không biết chính xác mọi chuyện về chúng ta. Người khác ngửi ra các thói xấu, cũng như ngửi thấy các đức hạnh của chúng ta.

Phép Thánh Thể, một dâng mừng cho cuộc sống hằng ngày 

Đôi khi chúng ta quên là Chúa Giêsu sinh ra trong chuồng bò, chứ không phải trong nhà thờ, và Thiên Chúa nhập thể thì liên hệ đến bàn ăn trong nhà bếp cũng nhiều như bàn thờ hội thánh. Ngài thuộc về gia đình cũng nhiều như thuộc về tu viện. Chúng ta nên giữ điều quan trọng này trong đầu nếu muốn tìm hiểu Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là nhiệm thể Chúa Kitô, một tiếp diễn của Nhập thể, và cũng như việc Chúa sinh ra, có nghĩa là thần thiêng cụ thể nhập vào tạo vật mỗi ngày.
Vì vậy, giữa các ý nghĩa khác nữa, thì Bí tích Thánh Thể đơn giản là một bữa ăn gia đình, một mừng lễ cộng đoàn, một nơi như bàn ăn và phòng khách, nơi chúng ta hội lại để cùng nhau chia sẻ cuộc sống bình thường, để mừng những sự kiện đặc biệt, để an ủi và khóc với nhau khi cuộc sống nhuốm màu đau buồn, và để ngồi lại với nhau đơn giản là cùng ở chung với nhau.

Con người sống một mình không tốt. Thiên Chúa đã nói những lời này trước khi tạo ra Evà, và Ngài ý chỉ không phải cho ông A-dong, người đầu tiên mà thôi, nhưng là mãi mãi cho tất cả đàn ông, đàn bà, trẻ nhỏ và hết thảy tạo vật. Không ai tự mình là một hòn đảo, thậm chí một phân tử hay một nguyên tử cũng vậy. Tất cả mọi tạo vật được định liệu là phải liên kết. Bí tích Thánh Thể vinh danh điều đó.

Khi Đức Giêsu trao cho chúng ta Phép Thánh Thể, Ngài mong muốn đó là nghi lễ mời gọi chúng ta đến với nhau như một gia đình, trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Trong đức tin, như một chuyện tự nhiên, chúng ta được định liệu để đến với nhau khi vui khi buồn, khi có lễ hội, khi có dịp vui thú, khi mừng một em bé ra đời hay khi chôn cất người thân yêu, khi trao thân cho nhau trong phép hôn phối, khi cần hòa hợp, khi tràn đầy sức sống hay khi kiệt sức, khi cảm nhận sự cần thiết của người khác, khi muốn tạo khoảng cách với họ, và cả khi chúng ta chẳng có lý do nào khác hơn là bản năng tự nhiên mời gọi chúng ta đến với nhau.

Phép Thánh Thể mời gọi chúng ta tụ họp lại như một gia đình. Điều cốt lõi nhất của đời sống gia đình là chia sẻ với nhau những chuyện đặc biệt cũng như những giây phút bình thường của cuộc sống. Gia đình tụ họp lại với nhau để mừng những dịp: Sinh nhật, đám cưới, tốt nghiệp, chuyển đổi, đau ốm, tang tóc, và an táng. Vào những dịp này, bầu khí nghiêm trọng hơn, sinh lực mạnh hơn, và rõ ràng những dịp này là dịp đáng để chúng ta tụ họp lại với nhau.  

Nhưng những gia đình hỗ trợ nhau, họ cũng họp nhau thường xuyên, lý tưởng là mỗi ngày, bất kể có dịp đặc biệt hay không. Gia đình không chỉ quây quần với nhau khi có năng lực tốt, khi mọi người mạnh mẽ, khi không có ai chán chường hay giận dữ, hay khi có những dịp nào đó cần gặp nhau. Gia đình gặp nhau dù nhạt nhẽo, chán ngắt, thiếu năng lực, bận rộn, xao nhãng, mâu thuẫn cá nhân bởi vì, ngay từ đầu, họ nhận ra, dù không đầy đủ, trong đời sống gia đình việc chia sẻ các thú vui, phiền muộn, giải trí, những căng thẳng cuộc sống cũng quan trọng như chia sẻ những lúc vui sướng đặc biệt. Những buổi cơm tối với thức ăn đơn sơ, dù ăn nhanh trong 20 phút với những câu chuyện quanh quẩn ai thua ai thắng trong trấn đá banh, không giống như các bữa tiệc đêm Noel hay những lúc trò chuyện ở đám cưới hay đám tang, nhưng cũng đóng vai trò quan trọng như vậy trong việc xây dựng và giữ cho gia đình quây quần bên nhau. Gia đình là chuyện mỗi ngày, cũng như trong những dịp đặc biệt. Và Phép Thánh Thể cũng như vậy.

Với rất nhiều lý do, chúng ta đã không nhanh nhạy trong việc đón nhận nghiêm túc khía cạnh này của Phép Thánh Thể. Có lẽ do các chiều kích khác của Bí tích này quá mức thần thánh. Chúng ta không thích đón nhận điều này cũng như chúng ta phê phán những người đi nhà thờ chỉ vì khía cạnh xã hội: “Cô ấy không đi nhà thờ để cầu nguyện! Cô ấy đi nhà thờ chỉ để có dịp gặp người này người kia!” Lúc nào đây cũng là tiếng nói tiêu cực, nhưng thật ra đó cũng là một, trong các lý do tốt khác, để đến dự bí tích Thánh Thể. Nghi thức Thánh Thể được trao ban cho chúng ta bởi vì chúng ta là con người của xã hội. Đi nhà thờ để giao thiệp xã hội cũng là một lý do đáng để đi.

Tôi ước sao tôi nhận thức được điều đó như đứa trẻ đi nhà thờ trong những dịp đặc biệt, như Giáng Sinh và Phục Sinh, và nghe linh mục dùng từ “cử hành” để mô tả sự họp nhau trong Phép Thánh Thể mà không bao giờ, không một giây, nối kết điều đó với bữa ăn tối gia đình mà chúng tôi dự tính là sẽ dùng khi về đến nhà. Tôi cũng ước sao người ta cũng biết được điều này, khi họ cách xa nhà thờ, vì buồn chán hay giận dữ hay vì  cảm thấy sự hiện diện của họ chỉ mang tính xã hội chứ không phải vì cầu nguyện.

Một trong những lý do chúng ta đến nhà thờ là để cầu nguyện, nhưng chúng ta đến đó cũng cùng một lý do khi chúng ta đến bên nhau trong buổi ăn tối với gia đình. Đến được là tốt, bất kể vì lý do gì đi nữa!

Chúa không phán xét ai

Có một câu hỏi lâu đời về lòng nhân lành của Chúa, nó lâu đời cũng như tôn giáo chúng ta: Làm sao một Thiên Chúa toàn thiện lại có thể đày người nào đó xuống hỏa ngục muôn đời? Làm sao Thiên Chúa đầy yêu thương và độ lượng mà lại có hình phạt đời đời?

Đó là một câu hỏi sai. Thiên Chúa không đày bất cứ ai xuống hỏa ngục và Thiên Chúa cũng không tạo ra hình phạt đời đời. Thiên Chúa ban cho chúng ta sự sống và lựa chọn thuộc về chúng ta để đón nhận hay từ chối nó.

Đức Giê-su nói cho chúng ta biết Thiên Chúa không phán xét bất cứ ai. Chỉ có chúng ta mới phán xét nhau. Thiên Chúa không tạo ra hỏa ngục và  cũng không đày ai xuống hỏa ngục. Tuy nhiên nói vậy không có nghĩa hỏa ngục không tồn tại và nó không phải là một khả thể cho chúng ta. Điều cốt yếu là cách Đức Giê-su giải thích chuyện này ở đây:

Thiên Chúa ban sự sống của Ngài cho thế gian và chúng ta có thể chọn lựa sự sống này hoặc từ chối nó. Chúng ta tự phán xét mình trong hành động chọn lựa đó. Nếu chọn sự sống, thì cuối cùng chúng ta sẽ chọn thiên đàng. Nếu từ chối sự sống, thì chúng ta chết mà vẫn ở bên ngoài sự sống và cuối cùng đó là hỏa ngục. Nhưng sự lựa chọn thuộc về chúng ta, Thiên Chúa không đày chúng ta đi đâu cả. Hơn thế, hỏa ngục không phải là một hình phạt tích cực Thiên Chúa tạo ra để bắt chúng ta phải chịu. Hỏa ngục là sự vắng mặt của một điều gì đó, ấy là, sống trong lòng sự sống dành sẵn cho chúng ta.

Nói lên tất cả điều này không phải là để nói không có hỏa ngục, hoặc hỏa ngục không phải là một khả thể có thật cho mọi người. Hỏa ngục là có thật, nhưng nó không phải là một hình phạt tích cực  Chúa tạo ra để thực thi công lý, trừng trị cái ác hay trừng phạt người cứng lòng không biết ăn năn khi phạm lỗi. Hỏa ngục là sự vắng mặt của sự sống, tình yêu, sự tha thứ, cộng đoàn, và Chúa không đày bất cứ ai vào đó cả. Chúng ta có thể kết thúc ở đó, bên ngoài tình yêu và cộng đoàn, nhưng đó là sự lựa chọn của chúng ta nếu chúng ta, một cách đáng trách, đã từ chối nó khi tất cả đều dành sẵn cho chúng ta ngay trong cuộc đời này. Hỏa ngục, như John Shea từng nói, không bao giờ là một sự bất ngờ phục chờ ai đó đang hạnh phúc, nó là biểu hiện rõ ràng nhất của một cuộc đời từ chối tình yêu, sự tha thứ, và cộng đoàn.

Triết gia Jean Paul Sartre từng phát biểu câu nói nổi tiếng, hỏa ngục chính là người khác. Nói ngược lại cũng đúng. Hỏa ngục là những gì chúng ta trải qua khi đặt bản thân mình lên trên cộng đoàn đời sống với người khác. Đời sống con người có nghĩa là chia sẻ đời sống, chia sẻ hiện hữu, góp phần của mình vào trong cộng đoàn đời sống, đời sống bao gồm Ba Ngôi Một Thể.

Kinh Thánh nói, Thiên Chúa là tình yêu, và ai ở lại trong tình yêu, thì người ấy ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa cũng ở lại trong họ. Trong bối cảnh này, không nên hiểu tình yêu như kiểu tình yêu lãng mạn. Bản văn không nói ai rơi vào lưới tình thì đều ở lại trong Thiên Chúa (dù điều này cũng có thể đúng). Thật sự, bản văn này có thể được nói như sau: Thiên Chúa là hiện thân của sự chia sẻ, và ai chia sẻ đời sống mình với người khác, người ấy sống trong sự sống của Thiên Chúa. 
Nhưng ngược lại cũng đúng. Khi chúng ta không chia sẻ đời sống mình với người khác, chúng ta kết thúc đời sống mình ở bên ngoài sự sống. Đó, thật sự, chính là hỏa ngục.

Hỏa ngục là gì? Các hình ảnh trong Kinh Thánh nói về hỏa ngục không cố định và liên tục thay đổi. Chung chung có khuynh hướng hình dung hỏa ngục là lửa, lò lửa cháy không bao giờ tắt, nhưng đó chỉ là một hình ảnh, và nó không nhất thiết là hình ảnh nổi trội trong Kinh Thánh. Trong các điều được nói đến, Kinh Thánh nói về hỏa ngục như là nơi gánh chịu cơn phẫn nộ của Thiên Chúa, như ở ngoài tiệc cưới và lễ hội, nơi tang tóc, khóc lóc và nghiến răng, nơi giống như thung lũng Gehenna (chứa rác bên ngoài thành Giêrusalem), nơi bị giòi bọ rúc rỉa, như là lửa, như hụt buổi dạ tiệc, như ở bên ngoài nước trời, như sống với quả tim đau đớn bị bóp méo, như đang hụt sự sống. Cuối cùng, tất cả những hình ảnh này đều nhắm đến một điểm chung: Hỏa ngục là nỗi đau và cay đắng, thứ lửa, chúng ta phải chịu khi, một cách đáng trách, chúng ta đã đặt bản thân mình ra ngoài cộng đoàn đời sống. Và luôn luôn nó do tự mình làm khổ mình. Thiên Chúa không bao giờ áp đặt nó trên chúng ta cả. Thiên Chúa không ban sự chết chóc và đày ai xuống hỏa ngục.

Khi Đức Giê-su nói về Thiên Chúa, Người không bao giờ nói Thiên Chúa ban cả sự sống và sự chết, Người chỉ nói Thiên Chúa ban sự sống mà thôi. Sự chết có nhiều nguyên nhân, từ việc nói dối, hợp lý hóa, cay chua gắt gỏng, cứng lòng, và hỏa ngục. Khi nói Thiên Chúa không tạo ra hỏa ngục và đày bất cứ ai vào đó thì không có ý phủ nhận sự tồn tại của cái ác, tội lỗi và nguy cơ của hình phạt đời đời, điều này chỉ nhằm xác định các căn nguyên và làm rõ đó là ai, ai hay phán xét, ai hay kết án. Thiên Chúa thì không; Ngài không tạo ra hỏa ngục cũng không đày ai vào đó cả. Chúng ta thì làm cả hai.

Như Đức Giê-su nói trong Phúc Âm thánh Gio-an: Thiên Chúa không sai Con của Ngài giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con Ngài mà được cứu độ. Ai tin vào Người Con thì người đó không bị luận phạt; ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa. Và đây là án phạt, sự sáng đã đến với thế gian, và người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng.

Ta không phán xét ai cả.Người không cần phán xét.

Sự giàu có của Thiên Chúa là lời mời gọi cho lòng quảng đại 

Mặt trời hào phóng một cách lạ thường, không giây phút nào là nó không chiếu sáng nhất.
Các nhà khoa học cho biết, bên trong mặt trời, cứ mỗi giây có một tỉ lệ tương đương với bốn triệu con voi được chuyển hóa thành ánh sáng, một thứ quà tặng chỉ biết cho đi, không bao giờ biết nhận lại. Mặt trời vẫn tiếp tục đốt cháy nó. Nếu sự hào phóng này ngừng lại, đương nhiên tất cả năng lượng sẽ mất nguồn cung cấp, mọi sự sẽ chết và bất động. Chúng ta, và mọi vật trên hành tinh này, sống được là nhờ sự hào phóng của mặt trời.

Trong sự hào phóng này, mặt trời phản ánh sự giàu có của Thiên Chúa, một sự hào phóng mời gọi chúng ta cũng trở nên hào phóng theo, mở rộng quả tim, dấn thân nhiều hơn để tận hiến bản thân mình trong công việc hy sinh, để làm chứng nhân cho sự giàu có của Thiên Chúa.

Nhưng điều này không dễ. Một cách bản năng, chúng ta có khuynh hướng tự nhiên là tích trử và để dành để cho cuộc sống được an toàn. Bản chất chúng ta là sợ và sống chùm với nhau. Vì vậy, dù nghèo hay không, chúng ta đều có cảm nhận thiếu thốn, luôn luôn sợ mình không có đủ, và vì không có đủ, chúng ta phải cẩn thận khi cho, chúng ta không thể quá hào phóng được.

Nhưng Thiên Chúa làm ngược lại với điều tự nhiên trên. Thiên Chúa rộng rãi, giàu có, quảng đại, và hào phóng vượt ra ngoài những lo sợ và tưởng tượng nhỏ nhoi của chúng ta. Vũ trụ của Thiên Chúa quá phong phú và phi thường. Kích thước của vũ trụ, chỉ tính riêng về những gì con người đã khám phá, cũng đã là không tưởng tượng nổi. Quá dồi dào và hào phóng là đặc nét của Thiên Chúa.
Chúng ta thấy điều này qua dụ ngôn Người gieo giống trong Kinh Thánh: Người gieo giống, đại diện cho Thiên Chúa, người mà Đức Giê-su mô tả, không phải là người  tính toán, gieo cẩn thận và chỉ gieo ở những mảnh đất màu mỡ. Người gieo giống này gieo không phân biệt nơi gieo: bên vệ đường, trong bụi gai, trên đá, nơi mảnh đất cằn cỗi, cũng như nơi tốt tươi. Hình như ông quá dư hạt giống nên có thể nói cách gieo giống của ông xuất phát từ tính hào phóng của sự dồi dào hơn là tính thận trọng của sự thiếu thốn. Chúng ta cũng thấy sự giàu có này trong dụ ngôn người làm công vườn nho, gia chủ, đại diện cho Thiên Chúa, trả công đồng đều cho tất cả người làm công, không phân biệt ai trước ai sau. Thiên Chúa, như chúng ta biết, giàu có vô hạn và không bao giờ tính toán chi ly trong việc ban phát.

Thiên Chúa cũng rộng rãi và quảng đại khi tha thứ, như chúng ta thấy trong các phúc âm. Trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu, người cha tha cho người con hoang đàng, ông cho vượt lên sự giàu có của ông, nhiều khi sự giàu có này làm cho nhân phẩm bị mất vì quá tính toán cho mình. Chúng ta cũng thấy sự rộng rãi này nơi Đức Giê-su khi Người tha thứ cho kẻ hành hình cũng như tất cả những ai bỏ Người trong cuộc thương khó.Qua những gì chúng ta thấy, Thiên Chúa quá giàu tình yêu, quá giàu lòng thương xót nên Ngài mới phung phí, quá quảng đại, không tính toán, không kỳ thị, dám nhận bất trắc, và có quả tim rộng lượng vượt quá trí tưởng tượng chúng ta.
Và đó là lời mời gọi: Để có được một khái niệm về sự giàu có của Thiên Chúa, một giàu có dám nhận bất trắc, chúng ta cần có một quả tim luôn rộng mở và một lòng quảng đại vượt lên trên bản năng sợ hãi, bản năng làm chúng ta nghĩ rằng, chỉ vì chúng ta không có đủ nên cần tính toán chi ly nhiều hơn.

Trong tất cả các phúc âm, phúc âm thánh Lu-ca chứa đựng một trong những sứ điệp mạnh mẽ nhất về đức công bình (cứ sáu hàng là có một thách thức trực tiếp với đức công bình đối với người nghèo) nhưng tuy thế, trong phúc âm thánh Lu-ca, Đức Giê-su vẫn nhắc nhở về mối hiểm nguy của giàu có, Ngài không bao giờ lên án sự giàu có hay người giàu có. Hơn thế Người phân biệt sự giàu có quảng đại và giàu có bủn xỉn. Người giàu có quảng đại tốt lành vì họ tỏa ra và hiện thân cho sự giàu có và lòng quảng đại của Thiên Chúa trong khi  người giàu có bủn xỉn không tốt bởi vì họ đưa ra một hình ảnh sai lầm về sự giàu có, quảng đại, và quả tim rộng lớn của Thiên Chúa.
Đức Giêsu bảo đảm với chúng ta rằng chúng ta đong đấu nào sẽ nhận lại đấu đó. Điểm chính là nói lên rằng không khí chúng ta thở ra là không khí chúng ta hít vào. Điều đó không chỉ đúng về mặt sinh thái học mà nó còn đúng cho mọi khía cạnh chung của cuộc sống. Nếu chúng ta thở ra sự bủn xỉn, chúng ta sẽ hít vào sự bủn xỉn; nếu chúng ta thở ra tính nhỏ nhen, chúng ta sẽ hít vào tính nhỏ nhen; nếu chúng ta thở ra sự gắt gỏng cay chua, chúng ta cũng sẽ hít vào sự gắt gỏng cay chua đó; và nếu chúng ta thở ra sự thiếu thốn khiến chúng ta tính toán và dè dặt, thì sự toán tính và dè dặt đó sẽ là không khí chúng ta hít vào. Nhưng, nếu nhận thức được sự giàu có của Thiên Chúa, chúng ta sẽ thở ra lòng quảng đại và bao dung, và khi đó chúng ta sẽ hít  không khí quảng đại và bao dung vào. Chúng ta hít vào những gì chúng ta thở ra.

Tôi chưa bao giờ gặp ai thật sự có lòng quảng đại mà họ lại không nói rằng, lúc nào họ cũng nhận được nhiều hơn cho. Và tôi cũng chưa bao giờ gặp một ai thật sự có quả tim rộng rãi mà lại sống trong cảm nhận mình thiếu thốn. Để có lòng quảng đại và quả tim rộng mở thì trước hết chúng ta phải tin vào sự giàu có và lòng quảng đại của Thiên Chúa.

Nhờ sự giàu có của Thiên Chúa mà chúng ta nhận được ánh sáng mặt trời, một vũ trụ lớn lao hào phóng vượt sức tưởng tượng của loài người. Đó không phải chỉ là thử thách cho tinh thần và trí tưởng tượng, nhưng đặc biệt là thử thách cho quả tim, để nó trở nên giàu có và quảng đại hơn. 

Tự do và bảo thủ chúng ta cần cả hai

Nhà đấu tranh quá cố Malcolm X được nuôi dạy  là người Kitô nhưng đến một thời điểm trong cuộc đời, ông theo đạo Hồi. Tuy thế, trong thâm tâm và trong sứ vụ của ông, ông khi nào cũng là người Kitô. Lúc nào ông cũng có quyển kinh Koran và Tân Ước trong người. Ông thấy cần có cả hai. Ông giảng giải điều đó như sau:

Đa số những người mà tôi làm việc cần kỷ luật nghiêm nhặt của Allah cốt để đời sống của họ có quy củ, nhất là đời sống đạo đức và tôn giáo. Sau đó, khi đã có những điều thiết yếu trong tay, sẽ đến lúc họ tìm đến với tình yêu tự do hơn của Đức Giê-su.

Những gì Malcolm X xuất sắc đặt kề nhau ở đây là sự căng thẳng có muôn đời giữa kỷ luật phải theo và tính trưởng thành cá nhân, giữa câu chữ của lề luật và ý nghĩa của nó, giữa người bảo thủ và người tự do. Và ông khẳng định chúng ta cần cả hai: kỷ luật để nghe theo và tính trưởng thành cá nhân, lề luật và ý nghĩa của nó, bảo thủ và tự do.

Buồn thay những tiếng nói như thế này ngày nay đã hiếm đi ở cả hai phía của phạm vi tư tưởng. Người tự do và người bảo thủ, cả trong giáo hội và xã hội, đều có khuynh hướng nói xấu về nhau, ghen ghét lẫn nhau và đều thiếu đi lòng ngưỡng phục, đồng cảm, thấu hiểu, và ngay cả lễ độ với nhau. Mỗi phía đều có chân lý riêng của mình và, không như Malcolm X, không phía nào thấy cần bất kỳ chân lý nào ngoài chân lý của mình. Cho phép tôi lấy một ví dụ:
Trong các giáo hội hôm nay, phái tự do và phái bảo thủ đều sẽ đồng ý rằng không có gì là lý tưởng, cần phải làm một cách khác. Tuy nhiên họ có những cách nhìn khác nhau về cách nhìn vấn đề và cách nó được nói lên.

Phái bảo thủ thường có khuynh hướng chú trọng vào sự thiếu sót của những điều căn bản. Họ thấy, chung chung các thế hệ Ki-tô nổi lên chưa bao giờ mang đặc tính căn bản thiết yếu, thiếu hiểu biết nền tảng về căn tính cấu thành đạo Ki-tô và những gì tạo nên ranh giới riêng về đạo đức và tôn giáo. Vì thế họ nhấn mạnh, đôi lúc gần như không khoan dung, vào bản sắc toàn vẹn, vào những giới hạn riêng và nét khác biệt so với người khác, và vào những quy tắc và kỷ luật, kèm theo sự sốt ruột và (thường) tức giận những ai thách thức quan điểm này của họ.

Ngươc lại, phái tự do chú trọng đến một vài chuyện khác. Khi nhìn vào giáo hội ngày nay, họ thấy rằng chưa bao giờ trong lịch sử 2000 năm của Ki-tô giáo, các tín hữu có trình độ, có học thức, và có óc suy xét thần học như hôm nay. Vì thế, họ nhấn mạnh, thường cũng mạnh mẽ và quyết liệt như phái bảo thủ, nhưng sự biện giải và cái toàn bộ mà họ nhấn mạnh hoàn toàn ngược lại với những giới hạn nghiêm khắc và căn tính toàn vẹn mà phái bảo thủ mong muốn. Phái tự do nhận thấy hàng triệu người đang cảm thấy xa cách với các giáo hội của họ (ví dụ, cộng đoàn đông tín hữu đứng thứ nhì về số lượng ở Hoa Kỳ ngày nay là xuất phát từ các giáo hội Công Giáo La Mã cũ) và họ kết luận những gì cần để các quả tim và thái độ này cảm kích không phải là giáo lý rõ ràng hơn hay ranh giới chặt chẽ hơn, mà là nhấn mạnh lại một cách chính xác vào phúc âm của tình yêu, vòng ôm rộng mở hơn, và tính trưởng thành cá nhân trên các lề luật.

Cả hai đều đúng. Về bản chất những gì chúng ta thấy trong sự căng thẳng giữa người bảo thủ và người tự do trong giáo hội và xã hội hôm nay chính là sự căng thẳng mà Malcolm X đã cố gắng giải quyết cho chính mình bằng cách mang theo kinh Koran và Phúc Âm trong túi. Chúng ta cũng thế cần mang theo bên mình một vài nguyên tắc bảo thủ và một vài nguyên tắc tự do.
Có một nhu cầu cần thiết hôm nay để định nghĩa một cách mạnh mẽ bản sắc và để sắp đặt các ranh giới rõ ràng. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy chúng ta thường thiếu tính trưởng thành cá nhân và nội lực để sống với phúc âm của tình yêu mà không cần đến luật. Để đối diện với những yếu đuối và hoang mang của mình chúng ta cần kỷ luật của lề luật, giáo lý rõ ràng, tính độc nhất và bảo vệ cái mà theo nghĩa gốc của chúng là chủng viện. Tuy nhiên đó không phải là tất cả những gì chúng ta cần. Để sống với đức tin của mình trong một cách mà, cuối cùng, chúng ta tôn trọng tình thương phổ quát của Chúa, tình thương cho từng người và tôn trọng nhân cách riêng của chúng ta, chúng ta cần quả tim rộng mở và một tôn giáo của tự do và tính trưởng thành cá nhân. Chúng ta cần cả người tự do và người bảo thủ.

Tuy nhiên nếu cứ phân ra hai thái cực cả trong giáo hội và xã hội như hiện nay, thì chúng ta sẽ khó đồng cảm, thấu hiểu, tôn trọng, đối xử có văn hóa với nhau được. Mỗi phía đều quá xác tín rằng Thiên Chúa đứng về phía mình, tầm nhìn của mình là quan trọng, ý kiến riêng của mình là đáng kể trong lịch sử, điều đó làm cho họ thấy người kia không thành thật, ngốc nghếch, ích kỷ, nguy hiểm mà lại là người chiến đấu nhân danh Chúa.

Nhưng chân lý đích thửc là chúng ta cần lẫn nhau. Người tự do cần người bảo thủ; người bảo thủ cần người tự do; xã hội và giáo hội cần lẫn nhau. Người bảo thủ có lý khi nhìn vào gốc rễ và họ có lý khi nhận thấy rằng ngày nay gốc rễ chúng ta không còn mạnh mẽ và được nuôi dưỡng. Người tự do có lý khi nhìn vào tính trưởng thành và họ có lý khi nhận thấy chúng ta không có được tính trưởng thành và quả tim rộng mở. Có lẽ, bắt chước như Malcolm X, tất cả chúng ta nên mang theo giáo lý và Phúc Âm thánh Gio-an trong túi và trong tim mình.

Ngôn ngữ tôn giáo như một biểu tượng

Trước khi cha Henri Nouwen viết cuốn sách Người con hoang đàng trở về, sau này trở thành tác phẩm tiêu biểu của cha, cha đã đến tận bảo tàng Hermitage ở Nga để ngắm bức họa nổi tiếng Người con hoang đàng trở về của danh họa Rembrandt trong suốt nhiều ngày. Cha được viện bảo tàng cho phép mang ghế vào ngồi hàng giờ, nghiên cứu bức tranh từ đủ mọi góc cạnh, để nó dấy lên trong tâm hồn cha những tâm trạng khác nhau. Kết quả là cha đã viết được một tác phẩm hay nhất về bức danh họa của Rembrandt cũng như ý nghĩa của dụ ngôn liên quan trong phúc âm.

Những gì cha Henri Nouven đã làm với bức tranh của danh họa Rembrandt là những gì chúng ta cần làm với ngôn ngữ cổ điển của Kinh Thánh, tín điều, và giáo lý. Đây là loại ngôn ngữ có tính biểu tượng hơn là nghĩa đen, là ngôn ngữ ẩn dụ hơn là ngôn ngữ đời thường, hình ảnh sâu đậm hơn là cuộn băng ghi hình thực tế. Không có nghĩa là không đúng đắn hay  như câu chuyện thần thoại “Alice lạc vào xứ sở thần tiên”. Nó hết sức đúng đắn, đến mức chúng ta có thể máng đời sống mình lên chân lý của nó. Nhưng nó cần được nghiên cứu, chiêm nghiệm, gối quỳ, cầu nguyện với nó, hơn là chỉ bám lấy trên nghĩa câu chữ.

Cho phép tôi lấy một ví dụ: Hãy thử xem ngôn ngữ và hình ảnh quanh cuộc khổ nạn của Đức Giê-su lúc Người cứu chuộc tội lỗi chúng ta.
Kinh Thánh, tín điều, và truyền thống Ki-tô giáo chúng ta có một loại ngôn ngữ cho việc này. Một trong những câu chúng ta hay nói là: “Đức Giê-su đã chuộc tội cho chúng ta. Máu của Người đã cứu chúng ta. Người đã chuộc lấy món nợ tội lỗi. Chúng ta được rửa sạch trong máu của Người, máu của Con Chiên Thiên Chúa. Người là Con Chiên Thiên Chúa xóa tội trần gian. Sau một thời gian dài chết vì tội tổ tông, Người đã khôi phục sự sống lại cho chúng ta. Người đã chiến thắng sự chết, một lần cho tất cả. Nhờ thương tích của Người chúng ta được chữa lành. Người hy sinh đời đời cho Chúa Cha. Người gánh chịu cái chết thay cho chúng ta. Người mở ra các cánh cửa thiên đường. Người đập tan ách thống trị và quyền lực của sự dữ. Người xuống hỏa ngục.”

Chấp nhận sự thật của ngôn ngữ này là một chuyện, giải thích theo phạm trù và ngôn ngữ đời thường là một chuyện khác. Quanh cuộc khổ nạn của Đức Giê-su, chúng ta có ngôn ngữ nhưng không có từ vựng. Chúng ta biết ý nghĩa của nó, nhưng chúng ta chưa bao giờ có thể giải thích nó một cách trọn vẹn.

Chính xác chúng ta muốn nói gì trong những câu nói này? Bằng cách nào cuộc khổ nạn của Đức Giê-su cứu lấy tội lỗi cho tôi? Bằng cách nào cuộc khổ nạn của Người gánh lấy những thiếu sót của nhân loại, bao gồm cả những thiếu sót của chính tôi, qua hàng thế kỷ? Tại sao Thiên Chúa cần một ai đó chịu đau đớn cùng cực để thứ tha tội lỗi cho tôi? Bằng cách nào cuộc khổ nạn của Đức Giê-su mở ra các cánh cửa thiên đàng? Tại sao trước đó cánh cửa lại bị đóng kín? Trong cuộc khổ nạn của Đức Giê-su, việc Người đi xuống hỏa ngục có ý nghĩa như thế nào?

Các giải thích về nghĩa đen sẽ ngắn gọn ở đây. Các lời nói này giống biểu tượng nhiều hơn, biểu tượng nhấn mạnh đến hình thức để nói lên bản chất. Ngôn ngữ của Kinh Thánh, các tín điều và giáo lý đặt chúng ta chạm đến một điều gì đó chúng ta có thể biết nhưng phải gắng sức để khái niệm hóa và giải thích nó. Nó mang nghĩa là phải được nắm lấy ở những tầng mức vượt xa khả năng hiểu biết của con người. Đó là một ngôn ngữ để quỳ gối và chiêm nghiệm hơn là ngôn ngữ chỉ để hiểu ở mức độ câu chữ.

Cách đây vài năm, tạp chí TIME có viết câu chuyện về cuộc khổ nạn của Đức Giê-su, để thực hiện đề tài này, họ phỏng vấn và đặt câu hỏi rất nhiều người để xem họ hiểu câu máu của Đức Giê-su rửa sạch như thế nào. Một trong số những người được phỏng vấn là JoAnne Terrell, tác giả cuốn sách Quyền lực trong Máu? Thập Giá trong kinh nghiêm sống của Người Mỹ Gốc Phi. Đối với JoAnne Terrell, câu hỏi về cách máu của Đức Giê-su cứu chúng ta như thế nào đã làm cho bà có một cuộc tìm kiếm riêng tư sâu đậm. Ngồi trong lớp học trường Dòng, tìm hiểu cuộc khổ nạn của Đức Giê-su, bà hồi tưởng lại: Lúc trẻ bà đã tận mắt chứng kiến mẹ mình bị bạn trai sát hại. Bà nhớ lại rất rõ chiếc nệm ướt đầy máu và những dấu tay dính máu của mẹ in trên tường. Cuộc tìm kiếm đó chính là cuộc tìm kiếm “để tìm ra mối liên hệ giữa câu chuyện của mẹ tôi, của tôi và của Đức Giê-su.”

Đối với JoAnne Terrell, ngôn ngữ quanh cuộc khổ nạn của Đức Giê-su, máu và nỗi đau của Người, trở thành một biểu tượng đầy ý nghĩa để chiêm nghiệm. Như cha Henri Nouwen, JoAnne Terrell đã quay vòng chiếc ghế của mình để nhìn nó từ nhiều góc cạnh khác nhau và thấy cách nó nói với bà trong các tình huống của cuộc đời, về máu trong chính cuộc đời mình. Ngôn ngữ của máu cứu chuộc đã đem lại ý nghĩa và chân giá trị cho máu của mẹ bà.

Bất cứ khi nào chúng ta xem Thánh Kinh, tín điều, và giáo lý đức tin như những phát biểu đơn thuần của lịch sử, như tài liệu báo chí theo nghĩa đen là khi đó chúng ta tự lừa dối mình. Thánh Kinh, tín điều và giáo lý đức tin có tính lịch sử và đúng đắn, nhưng ngôn ngữ xung quanh chúng không phải là ngôn ngữ của báo chí hằng ngày. Chúng bám vào lịch sử và chúng ta mạo hiểm đời sống mình trên sự thật của chúng, nhưng chúng nói với chúng ta nhiều điều như một biểu tượng chứ không phải là tờ báo cũ. Ngôn ngữ của chúng có nghĩa là phải được chiêm nghiệm, gối quỳ trước chúng và ngấm vào trong quả tim khi chúng ta trải nghiệm ngày càng sâu hơn huyền nhiệm của cuộc sống.

Người vô thần, người nói châm biếm chỉ là tên gọi khác để gọi một ai đó không hiểu thấu được các ẩn dụ.

Tình yêu – ảo tưởng và thực tế

Trong cuốn tiểu thuyết Những cuộc đời ngắn ngủi, nữ văn sĩ Anita Brookner nhận xét thế này: Khi còn trẻ, nghe những bản tình ca buồn, chúng ta nghĩ rằng nỗi buồn và thất vọng là khúc dạo đầu của yêu đương chứ không phải kết quả của nó. Bà cho rằng, sở dĩ như vậy là vì chúng ta còn trẻ và còn bị thu hút với những gì thăng hoa, nhưng càng lớn tuổi, chúng ta nhận ra cái thăng hoa này chỉ gây ấn tượng nhất thời, rằng hành động yêu thương là hữu hạn, vì vậy chúng ta mới thất vọng và những gì chúng ta mong mỏi lại thường xuyên biến  đổi.

Tôi không hoàn toàn đồng ý với bà. Điều tôi chắc chắn nhất và cũng đáng buồn là, sự thăng hoa này chỉ gây ấn tượng nhất thời, nó làm cho cuộc đời chúng ta buồn nhiều hơn chúng ta nghĩ, nhưng điều tôi băn khoăn là liệu có phải nỗi buồn trong các tình khúc buồn nói về cái hữu hạn của tình yêu không, hay là  về một điều gì khác.

Thật sự thì hầu hết các bản tình ca buồn đều nói về một nỗi hụt hẫng hay thất vọng, và đó là khúc dạo mở đầu cho tình yêu. Nội dung các bản tình ca buồn là gì? Hụt hẫng, phản bội, không thể đến  được  với  nhau, ghen tương, hối tiếc, xa nhau, chết chóc: Hụt hẫng vì yêu mà không được yêu; đau khổ vì mong mỏi mà hoàn cảnh không cho phép; hối tiếc vì đã phạm lỗi lầm; đau đớn vì tình yêu phụ bạc, vì; chia ly, vì người yêu chết trước khi tình yêu trở nên trọn vẹn, vì ghen tương. Tất cả những điều này trên một phương diện nào đó là khúc dạo đầu của tình yêu,  ít nhất cũng là của tình yêu viên mãn. Tất cả đều nói về nỗi buồn không thể thật sự làm  cho tình yêu trọn vẹn.

Nhưng bà Brookner còn nói về một điều khác. Nỗi buồn và thất vọng bà nêu lên là từ kinh nghiệm của một tình yêu không bị hụt hẫng, không bị phản bội, không phải không đến được với nhau, không vì ghen tương, chia ly, hay chia lìa bởi cái chết. Nỗi buồn và thất vọng bà nói rất rõ là từ kinh nghiệm của tình yêu hữu hạn, từ cái bẩm sinh là đã thiếu của tình yêu ở bờ hữu hạn này, và từ nhận thức bất kỳ người nào chúng ta yêu thương trên thế gian này, dù hoàn hảo hay tuyệt vời đến mấy đi nữa thì chàng hay nàng cũng không bao giờ đủ cho chúng ta, họ không phải là Chúa.

Những gì Brookner mô tả giống cảm nhận của chúng ta khi thời kỳ trăng mật chấm dứt. Mọi thời kỳ trăng mật đều chấm dứt, một số chấm dứt vì những lý do tồi tệ – thờ ơ, buồn chán, quá thông thuộc, thiếu kỷ luật trong tình cảm, hay không trọn tình từ một hay cả hai phía. Nhưng cũng có những thời kỳ trăng mật kết thúc vì những lý do tốt đẹp. Một thời kỳ trăng mật như vậy có thể nói là đã hoàn thành nhiêm vụ của nó, đúng thời gian, lúc đó sự vỡ mộng và thất vọng là lời mời gọi tích cực đưa mối quan hệ đến một tầng mức đậm sâu hơn. Bằng cách nào?

Vỡ mộng cũng có thể tốt và cũng có thể không tốt. Bị vỡ mộng là có “một ảo tưởng bị dập tắt”. Tình yêu mà chúng ta cảm nhận khi ở thời kỳ trăng mật không phải là một ảo tưởng. Nó thật, hết sức thật, đến độ đôi khi làm chúng ta nghẹt thở. Nhưng có một điều gì đó không thật trong thời kỳ trăng mật và rốt cuộc thì ảo tưởng phải bị dập tắt. Cái gì không thật ở đây?

Khi chúng ta đang trong thời kỳ trăng mật với người yêu, dù chúng ta nghĩ là nhiều nhưng thật ra chúng ta không yêu người đó nhiều bằng yêu chính tình yêu đó, với chính trải nghiệm yêu thương đó, với những gì ái tình đang tác động lên chúng ta. Chúng ta yêu với nguồn sức lực diệu kỳ, đầy năng lượng ngùn ngụt cháy trong bản thân mình. Chúng ta yêu một hình mẫu: Lúc thánh Gio-an yêu Maria, đầu tiên ông không yêu Maria nhiều bằng yêu những gì Maria đang mang, đó là, nữ tính trọn vẹn, người đàn bà bên cạnh Chúa. Nó giải thích tại sao ban đầu khi ta phải lòng ai đó thì chỉ một mình người đó cũng đủ làm cho ta không còn cảm thấy bồn chồn thao thức và cô đơn. Chỉ cần bên cạnh người đó là đủ. Người đó đóng chức năng là Thiên Chúa cho chúng ta. Đó là lý do tại sao các ám ảnh trong tình yêu cũng có thể làm cho chúng ta tê dại.

Nhưng lúc nào cũng vậy, dù rất trọn tình với nhau, cảm tưởng này cuối cùng cũng biến mất. Ai đó dù hoàn hảo cách mấy, rốt cuộc họ vẫn không đủ cho chúng ta. Một sự vỡ mộng cần thiết nhất định xảy tới và, kèm theo nó là một nỗi buồn và thất vọng nào đó. Chúng ta khám phá ra rằng chúng ta đã kết hôn với một con người, không phải là Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa mới trọn đủ.

Sự vỡ mộng của chúng ta là lời mời gọi đi từ trạng thái đắm mình vào tình yêu với một năng lượng đối với một hình mẫu (với Chúa thể hiện ở con người) để đến với tình yêu đích thực, quan tâm cụ thể đến một người duy nhất, bằng xương bằng thịt. Nó giống như cảm nhận của các tông đồ khi họ ở trên núi với Chúa, đang lúc cầu nguyện thì dung mạo Người bỗng đổi khác, rực rỡ, trắng tinh, sau đó họ nhận ra những gì còn lại “chỉ là Đức Giê-su”. Nhiều người, nam cũng như nữ, sau khi thời kỳ trăng mật chấm dứt, cũng nhận ra rằng: “Đó chỉ là Mary! Đó chỉ là John!”

Đầu tiên hết, là cảm nhận buồn bã và thất vọng. Nhưng nó không thúc mình làm giảm hay tăng lên mong chờ. Ngược lại, nó là lời mời gọi chúng ta vào cuộc hành trình quan hệ sâu đậm hơn, một hành trình mà cuối  cùng, không hề ảo tưởng, chúng ta sẽ thấy lại người bạn của mình rạng rỡ như lần đầu thấy họ ở thời kỳ trăng mật – mãi mãi, là Chúa, trọn đủ.

Hằn đau quá sâu để không chạm tới được – Một trong các nguyên do của tự tử

Cách đây gần 700 năm, nhà thơ Hafiz đã viết bài thơ mang tựa đề Chúng ta nên nói về vấn đề này (We Should Talk About This Problem). Trong đó, Thiên Chúa nói với một tâm hồn bị thương tổn:

Có một Tạo vật Xinh đẹp
Sống trong hố do mình đào ra …
Ta đã thường cất tiếng hát, nhưng người yêu dấu ơi,
Người vẫn mãi vô tâm.
Ta phải lòng Ai đó,
Người đang ẩn mặt trong ngươi.

Đó là cảm giác của Thiên Chúa, và có lẽ của chúng ta nữa, khi có người lâm cảnh suy thoái muốn tự tử. Ít có chuyện gì hủy hoại chúng ta cho bằng việc có người thân tự tử. Đó là tổn thương khủng khiếp vì mất người mình thương quá đột ngột, chỉ với sự kiện này mới làm chúng ta khụy gối xuống; thêm vào đó, việc tự tử sẽ còn gây nên những xúc cảm tâm hồn, khổ sở, rối loạn, tội lỗi, phê phán, và băn khoăn về tôn giáo. Chúng ta mất họ ở điểm nào? Chúng ta có thể làm được gì? Trước Thiên Chúa, người đó sẽ ra sao?

Chúng ta cần nói về việc này như thế nào đây? Trước hết, tự tử là một bệnh và chung chung đó là căn bệnh ít được biết nhất trong các căn bệnh. Nó đẩy con người ra khỏi cuộc sống, ngược với ý muốn của họ, sự tổn hại về mặt tinh thần tương đương như bệnh ung thư, đột quỵ, hay trụy tim. Tiếp theo, chúng ta, những người ở lại, không cần thiết phải có những phê phán không đáng thêm vào như chúng ta đã bị mất họ cách nào, đáng lý chúng ta nên chú ý gì, nên làm gì để ngăn việc tự tử này. Tự tử là một bệnh, và như những bệnh khác, chúng ta có thể yêu người bệnh nhưng không cứu sống họ được. Thiên Chúa cũng thương người đó, và cũng như chúng ta, ở khía cạnh vĩnh cửu, cũng không làm gì khác được. Cuối cùng, mặt khác, chúng ta không nên lo lắng quá về việc họ sẽ đối diện với Thiên Chúa như thế nào. Tình yêu của Thiên Chúa, không như của chúng ta, tình yêu đó có thể đi qua các cánh cửa đóng kín và chạm đến được cả những điều mà tự nó đã không cho chúng ta làm được như vậy.

Liệu điều này có giảm nhẹ cho việc tự tử? Không. Ai đã từng quen họ trước khi họ tự tử hay phải hứng chịu nỗi đau từ cái chết đó thì biết không thể giảm nhẹ cho việc đó được. Không có nỗi đau nào như nỗi đau mà tự tử giáng xuống. Không người lành mạnh nào muốn chết và không ai lành mạnh mà muốn gieo nỗi đau này lên người mình yêu thương. Và đó là điểm: Chỉ xảy ra ở người không lành mạnh. Sự kiện thông thường rằng có loại thuốc có thể ngăn chặn việc tự tử cũng nói lên được điều gì đó.

Tự tử, trong hầu hết trường hợp, là một bệnh lý chứ không phải một tội. Không ai lành mạnh mà tự nguyện tự tử và nỗi đau của người thân qua cái chết này thì đau hơn là nỗi đau khi người thân vì bệnh ung thư hay một bệnh nào khác mà tự nguyện chết. Nạn nhân của tự tử (trong hầu hết trường hợp) là người bị giam hãm, bị kẹt trong ngọn lửa, họ rơi vào những xáo trộn riêng tư mà gốc rễ nằm trong tâm hệ và trong hệ sinh hóa của họï. Trong hầu hết trường hợp, tự tử là một nỗ lực tuyệt vọng để kết thúc nỗi đau không chịu đựng nổi, gần giống như người nhảy ra khỏi tòa nhà cao tầng vì áo quần đang bùng cháy.

Nhiều người trong chúng ta đã biết nhiều nạn nhân tự tử và chúng ta cũng biết, trong hầu hết trường hợp, người đó không quá tự phụ, kiêu căng, muốn làm tổn thương người khác. Xét tổng thể thì ngược lại. Chính ra nạn nhân có những vấn đề ung hoại vì họ bị tổn thương, non nớt và nỗi đau hằn quá sâu để có thể có được sức bật cần thiết giúp họ trở lại với cuộc sống. Chúng ta, những người đã từng mất người yêu thương vì tự tử biết rằng vấn đề đó không phải vì sự mạnh mẽ nhưng là vì sự yếu đuối, vết thương của họ quá hằn sâu đến không chạm tới được.

Tôi còn nhớ một lời bình đã nghe ở đám tang của một nạn nhân tự tử. Bài giảng của vị linh mục thật tệ, ám chỉ rằng tự tử theo một nghĩa nào đó là lỗi phạm của người này và tự tử luôn luôn là hành động rốt cùng của tuyệt vọng. Sau khi nghe xong, một láng giềng của nạn nhân bày tỏ sự bất mãn với bài giảng. Ông than: “Có nhiều người trên thế giới này nên tự tử hết đi, nhưng loại đó thì chẳng bao giờ làm vậy! Còn người này là người cuối cùng tự tử mới đúng vì đó là người nhạy cảm nhất mà tôi từng gặp!” Một quyển sách có thể bắt đầu với câu này. Người hiền lành thường thường là người thất bại trong cuộc chiến ở thế gian này.

Cuối cùng, chúng ta không nên quá lo lắng về việc người thân tự tử của chúng ta sẽ gặp Chúa như thế nào. Như Chúa Giêsu đã quả quyết, Thiên Chúa có một tình thương đặc biệt cho những ai bị hằn sâu trong đau khổ, bị tổn thương, Người sẽ chạm đến họ. Đức Giêsu cũng đoan chắc với chúng ta rằng tình yêu Thiên Chúa có thể đi qua các cánh cửa đóng kín và vào trong các tâm hồn tan vỡ, giải thoát họ khỏi vòng kềm tỏa, giúp họ những gì mà chúng ta không còn giúp được. Thiên Chúa không khóa trái nơi chúng ta ở. Ngài có thể xuyên qua nó.

Và như thế những người thân yêu từng là nạn nhân tự tử của chúng ta, bây giờ đang ở trong vòng ôm của Chúa, vui hưởng tự do mà họ đã không bao giờ có trọn vẹn nơi trần gian này. Họ đang được chữa lành bởi một giao tiếp mà họ chưa bao giờ nhận được trọn vẹn như thế từ chúng ta.

Những người đàn bà đặc biệt, những câu chuyện đặc biệt.

Trong quyển sách mới Thức tỉnh hôm nay (Waking Up to This Day) bà Paula D’Arcy đã chia sẻ câu chuyện sau: Bà quen một người đàn bà, bà này mất người con trai trong một tai nạn. Vài năm sau, có người nói chuyện với bà, chia sẻ nỗi buồn khi bà không được nhìn đứa con khôn lớn, lập gia đình, không có cháu để ẵm. Bà trả lời: “Tôi không nghĩ giới hạn ngang đó. Câu trả lời là tôi không biết. Tôi không biết cuộc sống con tôi sẽ như thế nào. Giờ đây, tôi nhận ra rằng linh hồn của con tôi có hành trình riêng và mức giới hạn riêng trong cuộc đời của nó. Tôi chẳng làm được gì trong việc này. Nhưng tôi đã dự phần trong một thời điểm của hành trình tâm hồn nó. Vì vậy, tôi biết ơn đến không nói nên lời.”

Câu chuyện này nhắc tôi nhớ một câu chuyện khác của một bà đã chia sẻ gần đây trong một cuộc tĩnh tâm. Mẹ của bà là một phụ nữ thăng bằng vững vàng và có lòng tin ngoại hạng. Câu tâm niệm bà sống cho chính bà trước, rồi sau này bà lặp đi lặp lại mãi cho các con là: chúng ta chỉ hạnh phúc khi chúng ta biết ơn về những gì chúng ta có, vì, và duy nhất chỉ vì vậy, đó là những gì đủ cho chúng ta. Lời dạy mãi mãi của bà là: Như vậy là đủ!

Và bà sống điều này trọn vẹn cho đến giờ cuối đời: Bà nhập viện vì một căn bệnh chưa có thuốc trị, nhiễm trùng máu và rất ít hy vọng cứu chữa. Khi sức khỏe bà ngày càng sa sút, gia đình túc trực bên giường bệnh của bà trong vòng mấy tuần. Cuối cùng, bà đưa ra quyết định: Bà gọi cả nhà lại và bảo rằng, tất cả đã ở đây với bà và bỏ bê gia đình lâu quá rồi, bà cho biết đã liên hệ với khoa chăm sóc chờ chết trong bệnh viện và yêu cầu được chuyển đến đó, bà sẽ có thể chết trong ngày hôm đó.

Bà được chuyển đến khoa chăm sóc này, y tá báo cho cả nhà biết sẽ tiêm cho bà một liều thuốc mạnh để bà chìm sâu vào giấc ngủ và có thể bà sẽ không bao giờ tỉnh lại. Lúc chuan bị chích, con gái bà, người kể câu chuyện này, ngồi cạnh giường bà, cầm tay bà, ôm chặt bà như đứa trẻvà nói: “Mẹ ơi, một lúc nữa thôi! Chỉ một lúc nữa thôi! Đừng ngay bây giờ! Ở lại với chúng con một chút nữa thôi!” Nhưng bà, với nghị lực lâu nay của bà, bà nói: “Đủ rồi, vậy là đủ rồi.” Đó là những lời cuối cùng của bà với cô con gái và với cả gia đình.

Đó là các câu chuyện kiên quyết về những người đàn bà nghị lực, với đủ khôn ngoan và lòng tin để loại bớt các tình cảm ủy mị sai lầm dễ làm cho chúng ta tê liệt khi đứng trước mất mát. Cả hai đều biết sẽ có lúc ra đi và cách thức ra đi đã không làm giảm đi, nhưng lại tăng thêm tình yêu. Cả hai đều biết sự thật sâu xa của phục sinh: rằng đức tin không đòi hỏi chúng ta ướp xác chết, nhưng phó thác nó cho trần gian và cho Thiên Chúa, đấng ban sự sống và sự sống lại. Cả hai đều biết bí mật sâu xa nhất của cuộc sống không bị tê liệt vì cái chết, nhưng để nó ra đi, chuyển tiến và thấm sâu hơn. Và cả hai đều tôn trọng thích đáng các nhịp điệu sâu lắng của cuộc sống.

Tôi nhận ra rằng linh hồn của con tôi có hành trình riêng và mức giới hạn riêng trong cuộc đời của nó. Điều này không thuộc về tôi … Tôi biết ơn đến không nói nên lời vì được dự phần vào bí nhiệm đó. Như những phụ nữ này, chúng ta sẽ tôn trọng người khác vô cùng nếu chúng ta biết chấp nhận hiện thực đó. Tình cảm sai lầm thường kéo chúng ta theo các hướng khác. Chúng ta khóc rất nhiều, vì chúng ta muốn cuộc đời người khác hướng về chúng ta. Tôi có thể là cha mẹ, vợ chồng, bạn bè, anh chị em, thầy dạy, bảo hộ hay người bảo vệ của ai đó, nhưng xét đến cùng, linh hồn người đó có sự tư riêng, tự do, ác tính và số mệnh cho riêng họ mà thôi. Những người khác không vì tôi mà sống. Hầu hết các giọt nước mắt chúng ta khóc là khóc cho mình, không phải cho người khác.

Đủ rồi! Đây là những từ quan trọng mình phải có cho hành trang của mình. Với Thomas Merton, nhận thức (“Đủ rồi!”) tạo nên phần bí mật khó lường của hạnh phúc. Sau đây là những gì ông mô tả về cách thức tìm kiếm bình an trong cuộc đời của ông. Trong nhật ký hàng ngày, có một hôm ông chia sẻ ngày hôm đó, ông đã tìm thấy bình an. Tại sao? Vì hôm nay đã đủ, sống như một người bình thường, với đói khát và ngủ nghỉ, lạnh lẽo và ấm áp, thức dậy và đi ngủ. Đắp chăn rồi tung chăn, pha cà-phê rồi uống. Xả đá tủ lạnh, đọc sách, suy ngẫm, làm việc, cầu nguyện. Tôi sống như những tổ tiên của tôi đã sống trên trái đất này cho đến giờ cuối của tôi. Amen. Không cần phải làm một khẳng định về cuộc sống của tôi, đặc biệt về những cái gì của tôi, dù chắc chắn nó không phải của ai khác. Tôi phải tập quên dần dần các lập trình và tính toán. Vào một ngày đó trong cuộc đời, ông có thể nói: “Đủ rồi!” Và nó là vậy.

Và chỉ duy nhất sự thừa nhận này mới có thể cắt bớt khối u bất mãn của chúng ta.

Thánh Thể như lời mời gọi cho đức công chính

Khi nhà sử học nổi tiếng Christopher Dawson quyết định trở thành tín hữu Công giáo La-mã, bà mẹ quí tộc của ông đã rất buồn khổ, không phải vì bà có ác cảm gì với giáo lý Công giáo, nhưng vì đối với bà, giờ đây con trai mình phải “tôn kính sự tương trợ”. Bà đau đớn nhận ra, rồi thì ở nhà thờ địa vị quí tộc con trai bà sẽ chẳng còn khác biệt hay đứng trên bất kỳ ai khác nữa. Ở đó con bà sẽ chỉ là một người như những người khác, bình đẳng trước bí tích Thánh Thể vì bí tích Thánh Thể sẽ tháo bỏ hết tất cả địa vị xã hội cao sang của con bà.

Bà trực cảm rất đúng. Một trong số các điều Thánh Thể kêu gọi là chúng ta phải hướng về đức công chính, không phân biệt giàu nghèo, người sang kẻ hèn, quí tộc đầy tớ, tất cả đều bình đẳng bên bàn tiệc Thánh Thể và sau đó, bên ngoài nhà thờ. Thánh Thể thực hiện những gì Đức Maria tiên đoán khi Người mang thai Đức Giêsu, ấy là, rằng, nơi Đức Giêsu, người nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, người hạ mình xuống sẽ được nâng lên. Đó cũng chính là điều đầu tiên dẫn bà Dorothy Day đến với đức tin Ki-tô giáo. Bà nhận thấy bên bàn tiệc Thánh Thể, người giàu và người nghèo quỳ gối bên nhau, tất cả đều bình đẳng với nhau lúc đó.

Buồn thay, chúng ta thường không đón nhận chiều kích này của Thánh Thể một cách nghiêm túc. Có một khuynh hướng suy nghĩ phổ biến rằng thực hành đức công chính, đặc biệt là đức công chính xã hội, là một phần không bắt buộc để trở thành Ki-tô hữu, một điều gì đó được ủy thác bởi đường lối chính trị lề phải hơn là do Phúc âm. Thông thường chúng ta không nhận ra lời kêu gọi mở rộng lòng với người nghèo như một cái gì mà chúng ta không được tự mình tách ra.

Và chúng ta đã sai lầm về điều này. Trong Phúc Âm và Kinh Thánh Ki-tô giáo nói chung, lời kêu gọi mở lòng ra với người nghèo và giúp tạo dựng công chính trên thế giới là điều hiển nhiên như tuân giữ các điều răn và đi lễ nhà thờ. Quả thật chiến đấu cho công chính phải là một phần tất yếu trong mọi việc thờ phượng đích thực.

Trong Tân Ước, cứ mỗi mười hàng là có một lời thách đố trực diện phải mở lòng ra với người nghèo. Trong Phúc âm thánh Lu-ca, cứ mỗi sáu hàng là chúng ta lại thấy điều này. Trong Thư thánh Gia-cô-bê, cứ mỗi năm hàng là thấy. Thử thách mở lòng ra với người nghèo và san bằng khác biệt giữa người giàu và người nghèo là một tổng thể và một phần không thể thiếu được để trở thành Ki-tô hữu, nó cũng mạnh như bất cứ điều răn nào khác.

Và thử thách này nằm trong bí tích Thánh Thể: Bàn tiệc Thánh Thể mời gọi chúng ta hướng đến đức công chính, mở lòng ra với người nghèo. Bằng cách nào?

Trước hết, bằng định nghĩa, bàn tiệc Thánh Thể là chiếc bàn, nơi không còn phân biệt địa vị xã hội, nơi người giàu người nghèo được mời gọi đến với nhau không phân biệt giai cấp địa vị. Nơi bàn tiệc Thánh Thể không có người giàu người nghèo, chỉ có một gia đình bình đẳng cùng nhau cầu nguyện trong tình thân thiết của con người. Trong lễ rửa tội chúng ta đã bình đẳng với nhau và vì lý do đó không có thờ phượng nào là riêng cho người giàu hay riêng cho người nghèo cả. Hơn thế, thánh Phao-lô còn mạnh mẽ nhắc nhở chúng ta, khi chúng ta họp lại với nhau vì Thánh Thể, người giàu không nên nhận đối xử ưu tiên.

Quả thật, Phúc âm mời gọi chúng ta thiên về phía người nghèo. Khi tổ chức bất kỳ bữa tiệc nào, Phúc âm nói chúng ta nên dành ưu tiên cho người nghèo. Điều này đặc biệt đúng với Thánh Thể. Người nghèo nên được chào đón một cách đặc biệt. Tại sao?

Bởi vì, một trong số các điều tưởng nhớ của Thánh Thể là tưởng nhớ sự ngã xuống, tinh thần khó nghèo, thân xác bầm dập và máu đổ ra của Đức Giê-su. Pierre Teilhard de Chardin diễn tả rất đúng điều này khi ông cho rằng rượu trong bí tích Thánh Thể chính là tượng trưng cho mất mát của người nghèo: trong ý nghĩa vật chất được thánh hóa mỗi ngày nói lên sự phát triển của thế gian trong ngày đó – bánh tượng trưng cho những gì được tạo nên bởi thành tựu trong sản xuất, máu rượu tượng trưng cho những gì được tạo ra bởi mất mát vì vắt ép và quá trình của nỗ lực. Thánh Thể gợi nhớ đến những giọt nước mắt và máu của người nghèo và mời gọi chúng ta giúp sức để bớt đi các điều kiện gây ra nước mắt và máu.

Và chúng ta làm điều đó, như nội dung bài thánh ca nổi tiếng “từ thờ phượng đến phục vụ” đã nói lên. Chúng ta không đi nhà thờ chỉ để thờ phượng Thiên Chúa bằng cách bày tỏ đức tin và lòng thành tâm. Thánh Thể không phải là lời cầu nguyện sốt sắng riêng, nhưng còn hơn thế, đó là hành động thờ phượng của cộng đoàn mà trong số các hành động này, Thánh Thể kêu gọi chúng ta hướng về phía trước và sống ra với thế giới bên ngoài những gì chúng ta đã cử hành trong nhà thờ, đó là không lưu tâm đến khác biệt địa vị xã hội, Thánh Thể là nơi đặc biệt để Thiên Chúa trao cho chúng ta nước mắt và máu của người nghèo, và thử thách tất yếu của Thiên Chúa với mỗi chúng ta là chúng ta nổ lực thay đổi các điều kiện gây ra nước mắt và máu. Thánh Thể kêu mời chúng ta yêu thương dịu dàng, nhưng, cũng rất mạnh mẽ, Thánh Thể mời gọi chúng ta hành động vì công chính.

Khi nói rằng Thánh Thể mời gọi chúng ta hướng về phía công chính và công bình xã hội thì đó không phải là một bày tỏ xuất phát từ sự đúng đắn về chính trị. Nhưng là xuất phát từ Đức Giêsu, Người đã đúc rút từ các ngôn sứ vĩ đại xa xưa để quả quyết với chúng ta rằng giá trị của mọi thờ phượng cuối cũng sẽ được phán xét dựa trên các kết quả có được nơi “các góa phụ, trẻ mồ côi, và những người xa lạ.”

Đâu là điều cốt yếu của một tôn giáo thật?

Thế nào là định nghĩa của một tôn giáo thật? Cái gì rốt cùng tạo nên việc thờ phượng chân chính? Làm sao chúng ta biết mình không tự hợp lý hóa và gọi đó là tôn giáo? Làm sao chúng ta biết chúng ta không đang tạo ra Thiên Chúa theo hình ảnh và theo họa hình của chúng ta, và dùng tôn giáo cho mục đích riêng của mình.

Paul Tillich đã phân biệt giữa các từ ông định danh: Ngụy đạo, Cận đạo, và Chân đạo. Ông định nghĩa như sau:

Ngụy đạo dùng các ngôn ngữ tôn giáo rõ ràng, dù đôi khi nó có ý mang một ý nghĩa thật, nhưng rốt cùng nó không mở ra cho thành viên vươn lên một cái gì cao hơn con người của họ. Cuối cùng, nó chỉ tái hồi ý thức con người và không hướng chúng ta đến siêu việt, đến những gì ngoài chúng ta. Họ dùng từ “Thượng Đế”, nhưng “Thượng Đế” của họ không nâng chúng ta vượt lên được con người của chính mình. “Thượng Đế” là quyền lực cao hơn, một lý tưởng, một uy quyền vượt trên ý thức trần tục, nhưng “Thượng Đế” đó không phải là quyền uy siêu việt, một người thật có thể tách đôi biển Đỏ hay hồi sinh thân xác của Chúa Giêsu. Dù sao thì “Thượng Đế” này cũng là điều tích cực, để chúng ta thách thức chính mình hướng đến điều cao cả nhất trong nội tâm. Ngụy đạo là tôn giáo của suy nghĩ tích cực.

Cận đạo không dùng ngôn ngữ tôn giáo rõ ràng, nhưng đưa thành viên của họ vượt  lên điều cao cả nhất của bản thân đến điều cao cả nhất của nhân loại. Nhiều tư tưởng là cận đạo. Chúng đòi hỏi chúng ta hy sinh chính mình cho những gì cao cả hơn. Những ước mơ riêng của chúng ta thì chẳng quan trọng bao nhiêu so với ước mơ cao lớn của nhân loại. Vì thế, một tư tưởng như tư tưởng Mác, Hòa bình xanh, Nữ quyền có thể đòi hỏi chúng ta hy sinh giấc mơ riêng và thậm chí cuộc sống của mình vì lợi ích chung. Trong khi không dùng ngôn ngữ tôn giáo rõ ràng và đôi khi còn hiện rõ là vô thần, cận đạo vẫn đạt tới một vài giá trị của chân đạo, chính xác, nó thúc đẩy thành viên hướng đến lòng vị tha, hy sinh, và còn có chủ đích vượt ra khỏi đặc trưng riêng của nó.
 
Chân đạo có thể có hoặc không dùng ngôn ngữ tôn giáo rõ ràng, nhưng dù cách nào đi nữa, nó cũng mở ra cho thành viên một viễn tượng và một thực tại vượt trên những ý tưởng cao nhất của cá nhân và trên cả lý tưởng chung của nhân lọai. Chân đạo đưa chúng ta đến với siêu việt, đến với một Thiên Chúa có thật, vượt trên chúng ta, liên kết với chúng ta, đòi hỏi chúng ta những điều rất thật qua lời đáp trả. Chân đạo, không như các bản sao, không tái hồi những gì đã có sẵn trong thực tại chúng ta. Nói theo một cách nào đó, chân đạo mang nguồn sống từ bên ngòai, từ cõi thượng. Thượng đế ở đây không phải là Thượng đế đã có sẵn ở đó trong ý thức cá nhân cũng như ý thức của nhân loại.

Nhưng làm sao chúng ta biết chúng ta đạt đến chân đạo? Làm sao chúng ta biết việc giữ đạo của chúng ta là chân xác, cận gần, hay giả tạo.

Chúa Giêsu trả lời bằng câu: “Xem quả thì biết cây.” Không nên xét đoán, thường thường là xét đoán, việc chân chính giữ đạo của chúng ta bằng những tiêu chuẩn như: Chân thành đơn sơ (“Anh ta xác quyết và thành tâm”), mộ đạo (“Lòng anh ta bừng cháy với Chúa”), cẩn mật và trong sáng theo kiểu giáo điều (“Anh ta say mê chân lý!”), dấn thân vì công chính (“Anh ta tận tụy với người nghèo!”) trung thành giữ đạo (“Chưa bao giờ bỏ lễ trong đời), hay thậm chí hy sinh (“Anh ta sẵn sàng chết vì đạo”). Bất cứ đặc nét nào trong các đặc nét trên đều có thể thấy nơi một người mà việc giữ đạo của họ có thể vẫn không thực. Mất thăng bằng, cuồng tín, hận thù đôi khi có thể tạo nên các đặc nét này hoặc hòa lẫn một cách không lành mạnh vào chúng. Người anh của đứa con hoang đàng không bao giờ bỏ nhà đi, cũng không bao giờ làm gì sai, nhưng anh vẫn không thể hòa vào niềm vui của cha.

Làm sao chúng ta phán định được chân đạo?

Có lẽ không có cách nào đơn giản và rõ ràng hơn cách mà thánh Phao-lô đã chỉ trong chương thứ năm thư gởi cộng đoàn Galat. Ngài chỉ cho ta thấy rằng ta có thể sống theo hai tinh thần, tinh thần thế gian (“xác thịt”) và Thần Khí.

Tinh thần thế gian là ghen tương, giận dữ, bất hòa, nói xấu, bè phái, vu khống, thờ quấy, dâm bôn và kiêu ngạo; còn tinh thần của Thiên Chúa, Thần Khí được nhận ra qua bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, bền tâm, hiền hoà, trung tín, tiết độ. Xét cách đơn giản, khi cuộc sống hằng ngày của chúng ta đầy ghen tương, giận dữ, bất hòa, nói xấu, bè phái, vu khống, thờ quấy, dâm bôn và kiêu ngạo, thì chúng ta không nên tự lừa dối mình rằng mình đang sống trong tinh thần Thiên Chúa, bất chấp tính trong sáng của việc giữ đạo hay cam kết làm điều tốt. Chúng ta sống trong Thần Khí khi cuộc sống chúng ta toát ra bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, bền tâm, hiền hoà, trung tín, tiết độ. Sống với những phẩm tính này chính là chân đạo, không hơn không kém. Chúng ta biết được chúng ta đang thở bầu khí trên cao khi các phẩm tính này toát ra rõ rệt trong cuộc sống chúng ta.

Ngay cả khi mình tự dối mình và dối người qua cách giữ đạo chẳng mang nét nào như tinh thần của thánh Phao-lô, rốt cùng, cũng không có gì giấu được sự thật khi chúng ta vẫn còn cay chua, ghen tỵ, ở ngoài niềm vui của người Cha.

Tính nhạy cảm, tính yếu mềm và tôn giáo

Daniel Berrigan có lần đã nói: Trước khi bạn quan tâm thật sự về Chúa Giêsu, đầu tiên hết bạn nên xem xét mình sẽ tốt như thế nào nếu mình ở trên thập giá.

Có một thực tế khó khăn ở đây. Các tác giả kinh điển về đời sống thiêng liêng đều nói, một trong các cách chúng ta tuyên xưng đức tin và giữ đạo được cho là đích thực hay chỉ là hình thức hợp lý hóa và biện minh cho động lực và ý chí riêng của mình, đó là, nếu việc giữ đạo của chúng ta là đích thực, chúng ta sẽ không thể nào tự mình chống lại một số đau khổ nào đó mà trước đó chúng ta có thể chống lại được. Nếu con đường chúng ta theo Chúa Giêsu là thật, thì chúng ta sẽ thấy mình nhạy cảm và yếu mềm, chúng ta sẽ không thể nào tự mình tránh khỏi bổn phận, trách nhiệm, tình trạng bị sỉ nhục mà trước đó chúng ta có thể tránh được. Tôn giáo đích thật mang lại cho chúng ta mọi thứ nhưng không mang lại tấm lòng dửng dưng.

Tại sao? Các tác giả cổ điển về đời sống thiêng liêng giải thích một cách đơn giản: Hãy nhìn cách Thiên Chúa đối xử với Chúa Giêsu thì biết, nếu chúng ta cho phép thì Thiên Chúa cũng đối xử với chúng ta như vậy. Nếu chúng ta đến với Chúa một cách sâu đậm thì chúng ta chờ để thấy những gì đau đớn đến với Chúa Giêsu thì cũng sẽ đến với chúng ta. Mở lòng ra và yêu thương đã đưa Chúa Giêsu đến thập giá. Chúng ta chờ một cái gì khác đến sao?

Cũng là một điều hay khi tìm hiểu phản ứng của mẹ Tê-rê-xa trong quyển nhật ký của mẹ, để biết cuộc đấu tranh nội tâm, các hoài nghi và đau khổ của mẹ. Phản ứng chung là: Chuyện này mà cũng xảy ra với người đức hạnh và có đức tin sâu xa như mẹ ư? Các tác giả cổ điển về đời sống thiêng liêng sẽ phản ứng ngược lại: Tại sao lại không xảy ra với người phụ nữ đức hạnh và có đức tin sâu xa như vậy? Bà đã mở lòng ra với Chúa một cách tận căn và xin Chúa cho bà được cảm nhận như Chúa cảm nhận. Thiên Chúa đã nhận lời bà. Nhật ký của bà mô tả đúng những gì Chúa Giêsu cảm nhận trong suốt cuộc đời, đặc biệt là trong những giây phút cuối cùng.

Chúng ta nên dè dặt khi cầu nguyện, để ít nhất chúng ta không ngạc nhiên khi Chúa nhận lời chúng ta xin. Nếu tôi nói với Chúa: “Xin cho con giống Chúa Giêsu” thì có nghĩa là, không những ngoài hạnh phúc sâu đậm và bình an đang chờ mình, mà mình còn chờ để có một tính nhạy cảm mới mẻ, một đau đớn sâu đậm đi theo trong suốt cuộc đời mình.

Trong quyển sách “Đường lên Núi Carmel”, thánh Gio-an Thánh Giá đưa ra một số lời khuyên cho những ai muốn có một đời sống thiêng liêng sâu đậm. Đầu tiên hết của những lời khuyên là ngài thách thức độc giả nổ lực bắt chước Chúa Giêsu. Và, đối với thánh Gio-an có nghĩa là cố gắng bắt chước động lực của Chúa Giêsu hơn là bắt chước bề ngoài và ngay cả bắt chước các hành động của Chúa. Ngài nói, hãy xin Chúa Giêsu cho bạn động lực của Chúa để bạn cảm nhận như Chúa cảm nhận.

Và làm sao chúng ta biết được đều này mang lại hiệu quả? Chúng ta sẽ biết chúng ta bắt chước động lực Chúa Ki-tô khi chúng ta không hợp lý hóa theo kiểu chúng ta, thánh Gio-an nói, khi có một vài đau đớn bắt đầu xuất hiện trong cuộc đời, chúng ta biết rằng giờ đây chúng ta không thể nào tránh một vài khó khăn và khó chịu mà trước đây chúng ta có thể tránh.

Ngài diễn tả theo một châm ngôn là lạ: Hãy sẵn sàng rán sức mà nghi ngờ, khi ý của mình và của Chúa thường hay gặp nhau, khi việc giữ đạo luôn luôn thuận chiều theo những gì mình muốn trong cuộc sống. Để chọn theo ý muốn của Chúa thí chính xác là không luôn luôn chọn theo ý của mình. Bằng chứng là bây giờ chúng ta sẽ thiên về các cảm nhận và các trạng huống mà trước đây chúng ta có thể tránh.

Nhưng ngài lưu ý một chuyện quan trọng: Đừng thử, giống như một vài linh đạo thường ưa thử, chọn con đường khó nhất và khó ưa nhất chỉ bởi vì nó khó và khó ưa. Đó là thái độ khoái khổ, không phải tôn giáo. Mọi chuyện không nhất thiết sẽ tốt cho bạn chỉ vì nó khó. Chọn làm theo ý Chúa, dù nó tốt dễ chịu hay nó xấu dễ ghét. Nhưng ngài nói, nếu bạn chọn ý Chúa chứ không chọn theo lý của mình, nhất định lúc nào bạn cũng sẽ có thêm được tính nhạy cảm mới trong cuộc sống, những đau đớn mới mà trước đây bạn có thể tránh, những chức vụ mới mà trước đây bạn không muốn làm.

Và không phải lúc nào bạn cũng được nhìn nhận mình là người tốt. Chúa Giêsu cũng không vậy. Ngài yêu thương người khác với một tình thương không biên giới, mang đến cho Ngài một niềm vui to lớn và sâu đậm nhưng không vì thế mà Ngài không bị sỉ nhục và chịu đóng đinh. Đôi khi dưới mắt người khác, Ngài cũng chẳng tốt. Khi nhân danh Chúa và tôn giáo, chúng ta thực hiện ý Chúa thay vì ý mình thì dưới mắt người khác, không phải lúc nào chúng ta cũng được nhìn nhận là người tốt. Dửng dưng là phía đối nghịch với yếu mềm và nhạy cảm đích thực.

Thỉnh thoảng, và một cách nghịch lý, có những lúc, khi chúng ta cố gắng khổ công nhất, trung thực nhất, bỏ ý riêng mình nhất thì cuộc sống chúng ta tưởng như đứng riêng lẻ chứ không kết hợp. Câu hỏi bộc phát của chúng ta là: Tại sao? Đâu là vấn đề?

Có thể Chúa là vấn đề! Có thể chỉ đến khi nào chúng ta làm những chuyện đúng, nhưng chúng ta không thích nhìn mình trên thập giá.

Một đám cưới vui vẻ đặc biệt

Tuần trước tôi cử hành một lễ đám cưới. Tất cả các đám cưới đều đặc biệt, nhưng đám cưới này có nét đặc biệt riêng. Tại sao?

Cô dâu trẻ hôm đó rạng rỡ và tràn đầy sức sống một cách lạ thường, đó là người  đã chiến thắng căn bệnh ung thư. Năm năm trước đây, trong cột báo này, tôi có kể sơ sơ câu chuyện của cô. Tôi xin phép kể lại câu chuyện này, cập nhật thời gian hơn một chút:

Trong hai mươi lăm năm liên tiếp, hè nào tôi cũng đến dạy một khóa hè ở đại học Seattle. Trong suốt các mùa hè này, tôi có thói quen, gần như thông lệ, là đi một chuyến phà ngắn từ Seattle đến đảo Bainridge để nghỉ ngày Quốc Khánh 4 tháng 7 với gia đình một người bạn. Gia đình này có nhiều tập tục riêng, một trong các tập tục này là ngắm đoàn diễn hành mừng lễ Quốc Khánh đi qua bãi cỏ phía trước nhà người hàng xóm của họ.

Mười năm về trước, lúc ngồi trên bãi cỏ này để đợi đoàn diễn hành đi qua, tôi được gia đình giới thiệu cô gái nhỏ nhất nhà. Em đang học lớp 12 và là thành viên đội bóng rổ giành chức vô địch toàn liên bang của trường, nhưng em lại đang mắc bệnh ung thư và phải dùng hóa trị để chống chọi với bệnh tật. Mười tám tuổi, cân nặng chưa đầy 36 kilô, mùa hè nắng ấm mà em ngồi yên lặng, buồn bã, quấn mình trong chăn trong khi bạn bè em khỏe mạnh, tràn đầy sức sống uống bia và vui chơi. Sức khỏe em không được tốt. Chẩn đoán về lâu dài không chắc chắn, ít nhất, cơ thể và tinh thần của em cho thấy như vậy dù bạn bè và người thân không tin. Em được mọi người chung quanh quan tâm, yêu thương lo lắng. Em bệnh, nhưng em được yêu thương.

Tôi biết em hôm đó và những năm tháng sau này tôi còn biết nhiều hơn. Gia đình và mọi người cầu nguyện nhiều cho em, cầu xin em được lành. Cuối cùng, lời cầu nguyện và thuốc men chữa trị đã có tác độïng. Em bám lấy hy vọng nhỏ nhoi nhất, dần dần hồi phục và mấy tháng sau đó, em có sức khỏe lại, đời sống trở lại bình thường, ngoại trừ một điều không bao giờ giống như trước, đó là em nhìn cái chết với vẻ mặt “bình thường.”

Khi lắp ráp lại từng mảnh cuộc sống ban đầu, em nhận ra có những thứ đã trở lại như cũ, nhưng cũng có những thứ đã khác trước rất rất nhiều. Qua trải nghiệm thức tỉnh này, cuộc sống bình thường không còn là một cái gì là hiển nhiên nữa, có một niềm vui sâu đậm trong tất cả mọi chuyện bình thường, có một chân trời, một khôn ngoan, một trưởng thành, một thành quả mới mà trước đây chưa có. Thiên Chúa viết đường thẳng bằng những nét cong cong và đôi khi căn bệnh ung thư dù rất khủng khiếp, lại mang đến nhiều điều kỳ diệu hơn là nó lấy mất đi.

Sức khỏe mới của em không chỉ là sức khỏe thể chất. Đó là sức khỏe tâm hồn, một tinh thần vững mạnh, có chiều sâu, có khôn ngoan. Trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi nếu được chọn, em sẽ mong mình không bị bệnh và có cuộc sống như lúc đầu không, em trả lời: “Không, em không chọn như vậy, qua bệnh tật, em học được yêu thương.” Yêu thương trải nghiệm khi bị bệnh dạy cho em biết có những bị kịch còn nặng hơn bi kịch mang bệnh ung thư.

Văn sĩ John Powell có viết một cuốn sách nhỏ đáng chú ý, cuốn Yêu Thương Không Điều Kiện, kể về anh Tommy, sinh viên của ông đã chết vì ung thư ở tuổi hai mươi bốn. Không lâu trước khi chết, Tommy đến gặp và cám ơn Powell đã giúp anh có được một am hiểu nội tâm sâu sắc mà anh rút ra được từ lớp học của ông. Powell đã giảng trong lớp học: Chỉ có hai bi kịch tiềm ẩn trong cuộc sống, chết trẻ không phải là một trong hai bi kịch này. Bi kịch thứ nhất là chết và không yêu thương; bi kịch thứ hai là chết và không bày tỏ yêu thương với người chung quanh.

Các bác sĩ nghiên cứu về não bộ con người cho biết chúng ta chỉ mới sử dụng 10% năng lực não bộ của mình mà thôi. Hầu hết các tế bào não không bao giờ được kích hoạt, vì chúng ta không cần chúng (chúng giành cho khôn ngoan hơn là gây lợi) và vì chúng ta không biết cách tiếp cận chúng. Cũng các bác sĩ này cho biết, một cách nghịch lý, có hai điều giúp chúng ta tiếp cận chúng: trải nghiệm yêu thương và trải nghiệm bi kịch. Tình yêu sâu đậm và đau đớn sâu đậm đều làm cho tâm hồn sâu sắc một cách mà không điều gì khác có thể làm được.
Điều đó giải thích tại sao Thánh Têrêsa Hài Đồng là bác sĩ tâm hồn ở tuổi 24. Nó cũng giải thích sự khôn ngoan của người đàn bà trẻ sống với các thử thách nhẹ nhàng với bạn bè và tỏa rạng với thế giới chung quanh cô ngày hôm nay.

Cách đây mười năm, khối u não đã lấy đi tuổi trẻ và ước mơ của một cô gái trẻ. Khi đó là nỗi đau, thất vọng, xuống tinh thần, cay đắng, mất hy vọng. Ai cũng có vẻ như may mắn hơn cô. Chỉ lúc đó thôi. Hôm nay, cô gái trẻ ấy là giáo viên ngoại hạng về giáo dục đặc biệt, cô Katie Chamberlin-Malloy, đang đi hưởng tuần trăng mật. Cô hạnh phúc, thông minh, lên kế hoạch cuộc sống, sau khi đã học những gì đa số chúng ta sẽ học khi gần chết, ấy là, cuộc sống bình thường sẽ tốt hơn trong một chân trời rộng lớn hơn, rằng cuộc sống sâu đậm và hân hoan hơn khi chúng ta không cho nó là điều hiển nhiên, và rằng yêu thương còn quan trọng hơn sức khỏe và sự sống – và rằng tất các câu chuyện cổ tích thần tiên đều kết thúc bằng một đám cưới.

Vòng ôm bao dung

Hãy yêu thương nhau như Cha trên trời yêu thương các con. Đức Giêsu muốn thử thách chúng ta qua câu nói này. Có nhiều điều ẩn chứa trong câu nói này hơn chúng ta tưởng. Thiên Chúa yêu thương như thế nào?

Đức Giêsu định nghĩa giúp chúng ta: Thiên Chúa để cho mặt trời chiếu tỏa trên người lành cũng như người dữ. Chúa yêu thương không kỳ thị, đơn giản ôm vào lòng tất cả mọi sự. Mặt trời không chiếu sáng một cách chọn lọc, tỏa nắng ấm trên hoa màu vì chúng tốt, không tỏa nắng ấm trên cỏ dại vì chúng xấu. Mặt trời cứ chiếu sáng và mọi vật tùy theo điều kiện của mình mà hấp thụ nắng ấm.

Đó là sự thật đáng ngạc nhiên: Thiên Chúa yêu khi chúng ta tốt cũng như lúc chúng ta xấu. Thiên Chúa yêu các thánh trên trời cũng như kẻ dữ ở hỏa ngục. Họ chỉ đáp trả khác nhau mà thôi. Người cha nhân từ yêu cả hai người con, người con hoang đàng và người anh cả, yêu cái yếu đuối của đứa này và tính đố kỵ của đứa kia. Lòng bao dung của người cha không còn lệ thuộc vào việc chúng có hoán cải hay không. Ông yêu chúng ngay cả khi chúng rời bỏ ông.

Và Đức Giêsu đòi hỏi chúng ta yêu thương theo cách này.

Chúng ta làm điều đó bằng cách nào? Trước hết, phải đặt câu hỏi này: Nếu Thiên Chúa yêu chúng ta lúc xấu cũng như lúc tốt, vậy tại sao phải trở nên tốt? Đây là một câu hỏi rất hay, dù không sâu sắc lắm. Đương nhiên được yêu thương không bao giờ được hiểu đó là phần thưởng vì mình tốt. Thay vào đó, trở nên tốt, luôn luôn là kết quả của người được yêu. Chúng ta không được yêu bởi vì chúng ta tốt, nhưng chúng ta hy vọng sẽ trở nên tốt vì chúng ta trải nghiệm được tình yêu.

Nhưng bằng cách nào để chúng ta dang tay ôm mọi người vào lòng một cách không kỳ thị như Chúa? Bằng cách nào để tình yêu chúng ta tỏa ra với người tốt cũng như với người xấu, mà không cần phải giải thích sống cách nào, làm bất cứ gì là chuyện bình thường? Bằng cách nào để chúng ta yêu thương như Thiên Chúa và vẫn giữ được con người thật và giá trị thật của mình?

Chúng ta làm điều đó bằng cách giữ vững lập trường và đạo đức của mình một cách đầy yêu thương và độ lượng. Đức Giêsu có cho một ví dụ về điều này. Ngài yêu thương mọi người, những người tội lỗi cũng như các thánh, và không bao giờ cho bên nào quan trọng hơn bên nào. Quả thật, một lòng bao dung đầy yêu thương ôm lấy cả đối nghịch.

Lấy ví dụ: Thử tưởng tượng vào một dịp cuối tuần nào đó, đứa con gái đang học đại học của bạn đi với bạn trai về thăm nhà. Mặc dù biết chúng đã sống với nhau, nhưng bạn vẫn lúng túng: Bạn có bắt chúng ngủ riêng khi chúng ở nhà không? Câu trả lời của bạn là có và rõ ràng, bạn nói với con gái, từ tốn nhưng dứt khoát, rằng khi chưa lập gia đình và đang ở dưới mái nhà của bạn, chúng sẽ phải ngủ phòng riêng. Con gái bạn sẽ phản đối: “Đạo đức giả, giá trị của con không giống ba mẹ, và con tin điều này chẳng có gì sai cả!”

Phản ứng của bạn là không kỳ thị, loại vòng ôm nhưng có phân biệt của Đức Giêsu: Bạn ôm con vào lòng và nói rằng bạn yêu nó, bạn biết hai đứa đã ngủ chung với nhau, nhưng hai đứa không thể làm điều đó trong nhà bạn, dưới mái nhà này. Mọi chuyện diễn ra trong ngôn ngữ của vòng tay ôm bao dung, vòng tay ôm và con người bạn lúc đó, nói với con gái bạn hai điều rõ ràng sau: “Mẹ yêu con, con là con của mẹ, dù con thế nào chăng nữa, mẹ lúc nào cũng yêu con. Tuy nhiên mẹ không đồng ý với con chuyện này.”

Vòng tay ôm của bạn không nói, “Mẹ đồng ý với con!”, nhưng đơn giản nói lên rằng, “Mẹ yêu con!” và khẳng định tình yêu của bạn, trong khi bạn vẫn giữ vững lập trường cá nhân và đạo đức của mình, có lẽ hơn bất cứ điều gì bạn trao tặng cho con, điều này sẽ giúp con bạn suy nghĩ nhiều hơn về lập trường đạo đức của bạn và lý do tại sao bạn giữ vững nó một cách sâu đậm.

Vòng tay ôm có sức tỏa ra yêu thương và thông hiểu rộng lớn ngay cả khi bạn cần giữ vững lập trường đạo đức của bạn; cách này là cách cần thiết không những đối với gia đình và cộng đoàn, nhưng còn ở các lãnh vực khác của cuộc sống – nhà thờ, đạo đức, tư tưởng, mỹ học. Công Giáo Tin Lành, người thuộc phái Phúc Âm và người theo thuyết Nhất Thể, Ki-tô hữu và tín đồ Do-Thái, tín đồ Do-Thái và tín đồ Hồi giáo, tín đồ Ki-tô và tín đồ Hồi giáo, nhóm chống phá thai và nhóm ủng hộ phá thai, người tự do và bảo thủ, người bất đồng quan điểm về hôn nhân và giới tính, người theo thị hiệu cổ điển và theo thị hiếu phổ thông, tất cả phải tìm thấy yêu thương và đồng cảm đủ để có thể ôm nhau, biểu lộ yêu thương và thông hiểu ngay cả khi vòng ôm này không có ý muốn nói các khác biệt là không quan trọng.

Có một thời bảo vệ đức tin, có một thời nói tiên tri, có một thời vẻ trên cát, có một thời vạch ra các khác biệt và hệ quả của nó, có một thời đứng về phía đối lập gay gắt khi các giá trị và thế lực đe dọa những gì thân thiết đối với chúng ta. Nhưng cũng có một thời để yêu thương qua các khác biệt, để nhận biết là chúng ta có thể yêu thương và tôn trọng nhau khi chúng ta không có chung giá trị, khi những điểm chung che khuất các khác biệt.

Có một thời để thương xót như Chúa thương xót, để mặt trời của chúng ta chiếu cả trên hoa màu và cỏ dại mà không từ chối ai với ai.

Khi những gì quý giá bị tước đi

Có lẽ thực tế khó chấp nhận nhất trong đời là sự thực bất di bất dịch rằng, cuối cùng, những gì quý nhất của chúng ta sẽ bị tước đi, theo một cách nào đó. Con cái lớn lên xa nhà, bạn bè đi xa, người thân mất đi, sức khỏe giảm sút, và rồi cuối cùng chúng ta ra đi. Ngay cả những gì quý giá nhất của chúng ta là đức tin và các giá trị chúng ta có suốt cả cuộc đời cũng phải chịu chung số phận: sự vật thay đổi, suy nghĩ và cảm xúc đổi thay, các nền tảng từng là chỗ nương tựa vững chắc cho chúng ta bị lung lay, nỗi hoài nghi len vào, nền móng sụp đổ, còn lại chúng ta trơ trọi và tự hỏi: mình thật sự tin vào cái gì và cái gì thật sự có thể tin tưởng được.

May mắn thay, đây mới chỉ là một vế của phương trình: Những gì mất đi, cuối cùng sẽ quay trở lại với chúng ta một cách sâu đậm hơn. Con cái trưởng thành đến không ngờ và bắt đầu phụng dưỡng cha mẹ, bạn bè liên lạc lại dù ở cách xa, chúng ta lại có những mối liên hệ sâu xa và bền vững hơn đến những người thân yêu đã mất, chúng ta tìm thấy một điều gì đó sâu kín và lâu bền hơn là sức khỏe thể chất. Cái chết mở ra cho chúng ta chạm đến vô tận, và nền móng những niềm tin xưa cũ sụp đổ đưa chúng ta rơi tự do xuống tới một nơi mà ở đó chúng ta đặt chân lên nền đá, một nền tảng vững chắc, an toàn tới nỗi không bao giờ còn bị lung lay nữa.

Chúng ta thấy điều này trong Sách Thánh, qua câu chuyện của cộng đồng dân Do-Thái và cuộc lưu đày ở thành Ba-bi-lon. Câu chuyện như sau:

Sau khi đến Pa-lét-xtin (“Đất Hứa”), dân Do-Thái mất nhiều thế hệ mới gây dựng được cơ nghiệp, thống nhất các bộ lạc về một mối, xây dựng đền thờ Giê-ru-sa-lem thành trung tâm thờ phượng. Các vị vua vĩ đại Đa-vít và Sa-lô-môn đã thực hiện điều này, và người dân cảm thấy an tâm cả về chính trị lẫn tôn giáo. Đặc biệt họ cảm thấy vững mạnh trong đức tin. Thiên Chúa hứa ban đất, bây giờ họ có đất; Thiên Chúa hứa ban một vị vua, bây giờ họ có vua; Thiên Chúa hứa ban đền thờ, bây giờ họ có đền thờ. Họ thấy ba thực tế: đất hứa, vua, đền thờ là bằng chứng chắc chắn cho sự hiện diện và thánh ý Thiên Chúa đối với họ. Những lời hứa của Thiên Chúa rõ ràng đã trở thành hiện thực.

Nhưng ngay khi dân Do-Thái mãn nguyện trong vỏ bọc an toàn này, thì người At-xi-ri đến, chiếm lấy đất đai, đày họ đến Ba-bi-lon, giết vua, phá hủy đền thờ cho đến viên đá cuối cùng. Với những chuyện như vậy, đất đai, vua, đền thờ bị mất đi, thế giới của họ bị sụp đổ, cả về nghĩa đen lẫn về mặt tôn giáo. Những gì từng bảo đảm an toàn cho họ đã bị tước đi và họ cảm thấy mình bị lưu vong, không những đối với quê hương mình, mà đối với cả Chúa và tôn giáo của mình. Nếu sự hiện diện của Chúa được bảo đảm ở đất hứa, vua, và đền thờ, mà những điều này bị mất đi, vậy Chúa ở đâu? Làm sao bạn có thể tiếp tục tin, tin tưởng và hân hoan sống khi tất cả những gì từng làm chỗ dựa vững chắc cho niềm tin, lòng tin tưởng và niềm vui của bạn bị tước đi?

Câu trả lời của Thiên Chúa lúc đó là: Các con sẽ lại tìm thấy Ta khi các con tìm một cách sâu sắc hơn, với tất cả trái tim, khối óc và tâm hồn. Ngày nay Chúa cũng cho chúng ta câu trả lời đó bất cứ lúc nào chúng ta cảm thấy mình bị phản bội, bơ vơ, và mất phương hướng.
Và đây là bài học sâu sắc: Trong các giá trị và đức tin của chúng ta, những gì không thuộc về Thiên Chúa, cho dù tuyệt vời và chính xác tới đâu, cuối cùng sẽ đi ra khỏi cuộc đời chúng ta. Tại sao? Vì chúng không thuộc về Thiên Chúa. Chúng có thể là biểu tượng của chúng ta trong nhất thời, nhưng những biểu tượng được nắm giữ quá chặt, quá lâu đã trở thành các thần tượng mà chúng ta cần dẹp bỏ.

Điều này cũng đúng kể cả đối với những gì quý giá nhất trong tôn giáo chúng ta – Sách Thánh, giáo lý đức tin, Giáo Hội, các vị thánh lớn, các tư tưởng gia vĩ đại. Dù cho tất cả những điều đó có tuyệt vời đến thế nào, rốt cuộc đó cũng không phải là Chúa. Đó có thể là những phương tiện tuyệt diệu để đưa chúng ta đến với Chúa, là những biểu tượng, là các bài trình bày PowerPoint về Chúa, nhưng không phải là Chúa. Và bao giờ cũng v&77853;y, bằng cách này hay cách khác, cuối cùng, cần phải đập vỡ thần tượng, không phải là không đau đớn và thất vọng sâu xa, nhưng chúng ta sẽ học được bài học này qua kinh nghiệm cay đắng. Tất cả các sách vở thiêng liêng, kể cả Sách Thánh đều nói rõ ràng về điều này.

Các biểu tượng trợ dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa, còn thần tượng ngăn cản chúng ta tiếp cận Thiên Chúa. Một thần tượng chỉ đơn giản là một biểu tượng bị nắm giữ quá lâu. Và chính vì thế trong bản chất truyền thừa của đức tin đã ghi rõ động năng giúp thanh lọc: Chúng ta được trao một số điều nào đó để nương theo trong một thời gian: một ngôn ngữ nhất định, những lễ nghi nhất định, giáo lý và tín điều nhất định, một cách hiểu nhất định về đức tin của chúng ta, những vị thánh nào đó làm hình mẫu, những sách thánh để nuôi dưỡng chúng ta, và, không kém phần quan trọng, một cảm thức tin tưởng và an toàn nhất định trong sâu xa rằng tất cả những điều này là tốt lành, đúng đắn, và trong một cách nào đó chính là Thiên Chúa

Tất cả điều này là tốt, trong một thời gian. Nhưng rồi ngày đó sẽ đến, thường là đi kèm với nỗi đau và mất mát sâu xa, khi nền móng sụp đổ và chúng ta suy sụp trong trạng thái rơi tự do, ta cố gắng bám vào cái gì cũng không được, cho tới khi chúng ta cuối cùng chạm chân vào một cái gì vững chắc như nền đá tảng, và đó chính là Thiên Chúa.
When what is precious is taken from you