RonRolheiser,OMI

Khiết tịnh và Giáng Sinh

Kinh Thánh và truyền thống Kitô giáo nhấn mạnh rằng Đức Giêsu chỉ có thể sinh ra trong một cung lòng khiết tịnh, và Linh đạo Kitô cũng nêu bật lên rằng Ngài chỉ triển nở trong một tâm hồn khiết tịnh. Tại sao? Tại sao đức khiết tịnh lại được nhấn mạnh đến như vậy?

Đức khiết tịnh cần được hiểu cách đúng đắn. Đã qua rồi một thời kỳ lâu dài chúng ta đã có quan niệm sai lầm và hẹp hòi về khiết tịnh. Khiết tịnh hầu như được đồng hóa với sự tiết chế tình dục và rồi do đó, tình dục được coi như tự bản chất là đối nghịch với khiết tịnh và tu đức. Nhưng khiết tịnh không cùng nghĩa với độc thân, mà thực sự, nó trước hết và trên hết là một quan niệm về tính dục. Có người có thể sống khiết tịnh nhưng không độc thân, cũng như có người sống độc thân mà không khiết tịnh. Bố mẹ tôi không độc thân, họ có nhiều con cái, nhưng họ là những người sống khiết tịnh tuyệt vời. Và điều ngược lại cũng có thể đúng. Có người độc thân nhưng lại không có chút gì khiết tịnh.
 Khiết tịnh là gì? Chúng ta khiết tịnh, khi chúng ta đứng trước cuộc đời, tha nhân, Thiên Chúa theo cách để cho họ nên trọn vẹn trong chính con người của họ, mà không để cho tính thiếu kiên nhẫn, ích kỷ, thiếu thiện chí của chúng ta lôi kéo họ, vi phạm đến thực tại và tiến trình tự nhiên của họ. Điều này có nghĩa gì?

Tôi xin minh họa ba hình ảnh sau về điều này:

Trong quyển sách Kiên quyết thánh thiện (Holy The Firm), Annie Dillard đã chia sẻ câu chuyện này: Một buổi tối, một mình trong căn phòng, bà quan sát một con bướm đêm chầm chậm chui ra khỏi cái kén của nó. Quá trình đó thật hấp dẫn nhưng chậm đến vô tận. Đến một lúc bà mất kiên nhẫn và cần đi làm chuyện khác, bà thắp một cây sáp để làm cho nó ấm thêm. Và có kết quả. Sự ấm nóng đã thúc đẩy quá trình nhanh hơn, con bướm chui ra nhanh hơn, nhưng vì quá trình tự nhiên bị can thiệp bởi một gấp gáp không tự nhiên, nên con bướm chui ra với đôi cánh yếu ớt, nó không bay được. Một lỗi lầm trong khiết tịnh đã dẫn đến sự trì trệ tăng trưởng.

Bộ phim, Lý trí và tình cảm, do Emma Thompson đóng vai chính, dựa trên tiểu thuyết cổ điển của nhà văn Jane Austen, đã mô tả nhân vật này như một người chuốc lấy căng thẳng đau đớn tột độ trong một thời gian dài, do tình yêu dang dở và không được đáp trả. Cô không có ai để thực lòng chia sẻ nỗi đau đó và hoàn cảnh buộc cô phải chịu đựng, dù cô không đủ sức chịu đựng. Cô chịu đựng tình trạng đè nén này rất lâu, thăng hoa nó thành lòng khoan dung tử tế thậm chí đối với người đã gây ra nỗi đau. Và chỉ sau một thời gian dài, cuối cùng áp lực đó cũng được giải quyết, lòng kiên nhẫn của cô không thúc ép để có giải pháp nhanh chóng, quyết tâm chịu đựng áp lực cho đến cùng, đã giúp mang lại không chỉ cho cô mà còn cho mọi người một đời sống sâu sắc hơn. Đây là cốt lõi của khiết tịnh. 

Tác giả thiêng liêng người Ý, Carlo Carretto, sau khi sống nhiều năm ẩn tu trong sa mạc Sahara, khi được hỏi đâu là lời ông nhắn cho mọi người biết khi có người hỏi: Trong cô tịch và cầu nguyện, ông đã nghe được Thiên Chúa nói gì với chúng tôi, những người có cuộc sống năng động trong thế giới này? Carretto đã trả lời: Thiên Chúa nói: phải học chờ đợi, học để chờ đợi mọi thứ – tình yêu, hoàn thiện, ăn nằm – cho Chúa! Học để chờ đợi, cho Thiên Chúa và cuộc sống một khoảng không gian để triển nở theo như cần thiết, đó là tinh hoa của khiết tịnh.

Trong một số sách của Nikos Kazantzakis, ông vừa trìu mến vừa chua chát nói: Thiên Chúa gần như không bao giờ vội vã, trong khi chúng ta lại luôn luôn vội vã. Ông đúng: Cuộc sống triển nở theo nhịp bẩm sinh của nó, thử thách lòng kiên nhẫn chúng ta và sẽ không để nhịp điệu đó bị gấp gáp, ngoại trừ một giá. Cả cuộc sống và tình yêu đòi hỏi thời gian và khoảng không gian để triển nở theo tiếng gọi bên trong của nó. Bất cứ khi nào, vì thiếu kiên nhẫn, ích kỷ, hay thiếu thiện chí khi chịu áp lực, chúng ta cắt ngắn chu trình đó, thì theo những cách nặng, nhẹ khác nhau, chúng ta đã vi phạm thực tế của nó. 

Khiết tịnh là đức hạnh mời gọi chúng ta sống trong kiên nhẫn, chờ đợi, tôn trọng người khác, và chịu áp lực đủ lâu để người khác trung thực với chính họ, và tặng phẩm có thể triển nở đúng như một tặng phẩm.

Từ cao thượng có gốc từ chữ thăng hoa. Không có gì cao thượng nếu không có thăng hoa lúc đầu. Không ai sinh em bé mà không có thời gian dài mang thai, không ai viết luận án tiến sĩ trong vòng hai giờ, không ai sáng tạo kiệt phẩm nghệ thuật mà không đổ mồ hôi lao nhọc lâu ngày, và không ai là anh hùng cá nhân mà không chịu đựng áp lực khó khăn. Cô bé lọ lem chỉ đến buổi tiệc sau khi ở lâu trong bếp tro. Đức Giêsu chỉ mang lấy vinh quang và tự do của ngày Chúa nhật Phục sinh nhờ những giọt mồ hôi máu đầu tiên trong vườn Dầu.

Đó là lý do tại sao Đấng Thiên Sai chỉ có thể sinh ra trong một cung lòng khiết tịnh, và sống trọn vẹn trong một tâm hồn khiết tịnh. Thiên Chúa Giáng Sinh không thể đi đường tắt.

Thánh Giuse và Giáng Sinh

Có vô số người, nhà thờ, vương cung thánh đường, chủng viện, tu viện, và cả các thành phố, thị trấn mang tên Thánh Giuse. Và thánh Giuse cũng là thánh đỡ đầu của nước Canada, quê hương sinh trưởng của tôi.

Thánh Giuse đích thật là ai? Ngài là một nhân vật trầm lặng được nêu bật lên trong câu chuyện Giáng Sinh, là người chồng của Đức Maria và là người cha trần thế của Đức Giêsu, rồi sau đó về cơ bản là không bao giờ được nhắc đến nữa. Hình tượng đạo đức về ngài là một người lớn tuổi, người bảo vệ an toàn cho Mẹ Maria, người thợ mộc, khiết tịnh và thánh thiện, khiêm hạ và âm thầm, một vị thánh bảo trợ hoàn hảo cho người lao động và đức hạnh âm thầm, hiện thân của khiêm hạ.

Nhưng thực sự chúng ta biết gì về ngài?

Trong Tin Mừng theo thánh Mathêu, việc truyền tin về sự nhập thể của Đức Giêsu được báo cho thánh Giuse hơn là Đức Maria: Trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.”

Chúng ta học được gì từ đoạn này?

Phần nào trong đó là có tính biểu tượng: Thánh Giuse trong chuyện Giáng Sinh rõ ràng nhắc lại hình ảnh ông Giuse trong sách Xuất Hành, ông cũng có một giấc mơ, cũng đi đến Ai Cập, cũng cứu cả gia đình. Và vua Hêrôđê rõ ràng là bản sao của vua Pharaon Ai Cập; cả hai đều sợ hãi và đều giết các con trai Do Thái, đó chỉ là dịp để Thiên Chúa ra tay che chở sự sống cho người sẽ cứu cả dân tộc.

Nhưng sau đó, thánh Giuse của câu chuyện Giáng Sinh đã đưa chúng ta về câu chuyện riêng của mình: Ngài được cho là người “công chính”, một danh xưng mà các học giả  ngụ ý ngài đã hướng theo Luật Thiên Chúa, và “công chính” là tầm mức thánh thiện cao nhất của người Do Thái. Ở dưới mọi khía cạnh, ngài là người không có điều gì để chê trách, một gương mẫu của lòng tốt, điều ngài làm trong câu chuyện Giáng Sinh là đã không muốn Đức Mẹ bị sỉ nhục, cả khi ngài đã quyết định sẽ bỏ Mẹ cách kín đáo. 

Thật sự thì điều gì xảy ra ở đây?

Chúng ta có thể dựng lên bối cảnh của mối quan hệ giữa thánh Giuse và Đức Maria như sau: Phong tục kết hôn thời đó là một cô gái trẻ, thông thường ở tuổi dậy thì, được cha mẹ sắp xếp kết hôn với một người đàn ông thường lớn hơn vài tuổi. Họ sẽ đính hôn và về pháp lý đã là vợ chồng, nhưng chưa sống với nhau và chưa bắt đầu quan hệ tình dục trong vòng vài năm. Luật Do Thái đặc biệt nghiêm nhặt về việc hai người phải sống riêng trong suốt thời gian đính hôn. Trong thời gian này, người nữ tiếp tục sống với cha mẹ, người nam sẽ gầy dựng một căn nhà và theo một nghề nghiệp để có thể lo toan cho cuộc sống cho vợ khi họ bắt đầu chung sống.

Lúc Đức Maria thụ thai, thì hai người đang ở trong tình trạng này, chính thức kết hôn nhưng chưa chung sống. Thánh Giuse khi biết đứa trẻ không phải là con của ngài đã rất bối rối: Nếu mình không phải là cha đứa bé, vậy thì là ai? Để cứu vãn danh tiếng của mình, ngài có thể xin điều tra công khai và tất nhiên Đức Maria sẽ bị kết tội thông dâm, có nghĩa là phải chết. Tuy nhiên, ngài đã quyết định “bỏ bà cách kín đáo” để tránh một cuộc điều tra công khai có thể đẩy Đức Maria vào một hoàn cảnh khó khăn và nguy hiểm.

Rồi sau khi được báo mộng, ngài đồng ý đưa Đức Maria về nhà xem như vợ mình và đứa con là con mình. Phần nào chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của việc này, ngài đã dung thứ cho tình trạng khó khăn của Đức Maria, đặt tên đứa trẻ như con mình, và đã mang lại một vị trí, một địa vị xã hội, tôn giáo cho đứa trẻ được sinh ra và lớn lên.  Nhưng ngài đã làm những việc âm thầm hơn: Đó là cách sống của một tín hữu, tin tưởng chân thành sâu sắc vào mọi điều thuộc truyền thống tôn giáo, và cũng vừa biết mở lòng ra với thần nhiệm vượt trên hiểu biết của bản thân và của tôn giáo mình theo.

Và đây chính xác là vấn đề của mỗi kitô hữu, kể cả thánh Mathêu, vào thời điểm viết Tin Mừng: Họ là những người Do Thái mộ mến, những người không biết làm sao để đón nhận Đức Kitô vào nền tôn giáo của họ. Một người sẽ làm gì nếu Thiên Chúa tác động vào cuộc đời họ với những cách thức mới lạ, chưa từng tưởng nghĩ đến? Làm sao có thể đón nhận ý niệm bất khả? Raymond Brown đã diễn đạt như sau: Thánh Giuse, nhân vật chính trong phần đầu Phúc âm thánh Mathêu, là người Do Thái rất nhạy cảm tuân theo Luật. … Trong thánh Giuse, tác giả Tin Mừng Mathêu đã khắc họa hình ảnh ngài nghĩ về một người Do Thái [một tín hữu chân thành] nên như vậy và cũng có lẽ là chính ngài là như vậy.

Điều thiết yếu thánh Giuse dạy chúng ta là cách thế sống trong lòng quý chuộng sự trung tín với tất cả những gì ta nối kết về mặt nhân bản và tôn giáo, cả việc chúng ta mở lòng ra với huyền nhiệm Thiên Chúa mặc khải, vượt lên mọi thể loại giữ đạo và trí tưởng tượng của chúng ta.  Đó có là một thách thức tiếp diễn của Giáng Sinh hay không?

Cầu xin chắc chắn được nhận lời

Có nhiều đoạn trong Phúc Âm, Đức Giê-su bảo đảm với chúng ta rằng, nếu chúng ta xin điều gì đó nhân danh Người, chúng ta sẽ được nhận lời.Chẳng hạn, trong Phúc Âm thánh Mát-thêu, Người nói: Hãy xin thì sẽ được, bởi vì ai xin thì đều sẽ được. Trong Phúc Âm thánh Gio-an người hứa với chúng ta rằng, nếu chúng ta xin bất cứ điều gì nhân danh Người, Chúa Cha sẽ ban cho điều đó.

Tại sao không lúc nào nó được ứng nghiệm? Đôi khi chúng ta cầu xin một điều gì đó nhân danh Đức Giê-su, và lời cầu xin không được nhận lời. Đôi khi đúng là chúng ta đã kêu lên tới trời bằng lời cầu xin của mình và dường như tất cả đều không được đáp lại. Phải chăng Đức Giê-su đã hứa vu vơ khi Người xác quyết với chúng ta rằng Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta bất cứ điều gì chúng ta xin, nhân danh Người?

Các tác giả thiêng liêng và các nhà biện giải đã đưa ra nhiều câu trả lời cho câu hỏi này: Có thể nhưõng lời cầu xin của chúng ta không được nhận lời vì chúng ta đã xin không đúng. Một người mẹ yêu con sẽ không đưa dao cho con mình chơi, phải không? Cũng có thể lời cầu xin của chúng ta được nhận lời, nhưng ở một tầng mức sâu đậm hơn và khi đến lúc chúng ta mới hiểu được câu trả lời. C.S. Lewis từng nói rằng chúng ta sẽ dùng hầu hết đời sống vĩnh cưõu của mình để cám ơn Thiên Chúa đã không đáp lại lời cầu xin của mình!

Các câu trả lời này đều có giá trị, dù không phải là nhưõng câu trả lời của Đức Giê-su. Quả thật, khi Người hứa lời cầu xin của chúng ta sẽ được nhận lời, Người không nói thêm với điều kiện chúng ta chỉ xin nhưõng điều đúng. Người mời gọi chúng ta xin bất cứ điều gì nhân danh Người. Người không chỉ định đó phải là điều đúng. Vậy thì tại sao nhưõng lời cầu xin của chúng ta không lúc nào được nhận lời?

Linh mục Jerome Murphy-O’Connor, một học giả Kinh Thánh nổi tiếng, gợi ý rằng, trong Phúc Âm thánh Mát-thêu, cũng như trong phần lớn Tân Ước, lời cầu xin luôn dính liền với các hoạt động bác ái cụ thể trong cộng đồng. Vì vậy để thật sự cầu xin cho người nào thì phải cụ thể mở lịng ra để giúp người đó. Để thật sự cầu xin cho hịa bình và công lý thì phải làm việc tích cực cho hịa bình và công lý. Khi chúng ta cầu xin “qua Đức Ki-tô”, chúng ta không chỉ cầu xin qua Đức Ki-tô đã sống lại trên trời nhưng cịn qua “Nhiệm Thể của Đức Ki-tô” trên mặt đất này, là chính chúng ta. Chúng ta cần phải tự mình giúp cho lời cầu xin của chính mình. Vì vậy khi lời cầu xin của chúng ta dường như không được nhận lời, thì có thể chúng ta, Nhiệm Thể của Đức Ki-tô trên mặt đất này, chưa dành hết tâm trí để cố gắng trả lời cho lời cầu xin của chính mình, chúng ta chưa thật sự cầu xin “qua Đức Ki-tô”.

Nhà thần học Karl Rahner, khi bình giải về lời hứa của Đức Giê-su trong Phúc Âm thánh Gio-an rằng bất cứ điều gì chúng ta xin Đức Giê-su nhân danh Người chúng ta sẽ nhận được, đã đưa ra suy tư này:

Cầu xin một điều gì đó nhân danh Đức Giê-su không có nghĩa xin bằng miệng mà tâm hồn thì rối bời, quả tim chia rẻ, thèm muốn, cơn mê khốn cùng của chúng ta về mọi sự, làm chúng ta khao khát. Không, cầu xin nhân danh Đức Giê-su có nghĩa là đi vào trong Người, sống với Người, nên một với Người trong tình yêu và Đức tin. Nếu Người ở trong chúng ta qua Đức tin, tình yêu, ân sủng, Thần Khí, thì khi đó sự cầu xin của chúng ta mới nảy sinh từ tâm điểm của sự sống, đó chính là bản thân Đức Giê-su, và chỉ khi tất cả lời cầu xin và ao ước của chúng ta hợp nhất nơi Người và Thần Khí của Người, thì khi đó Chúa Cha mới nghe lời cầu xin của chúng ta. Khi đó lời cầu xin trở nên giản dị và thành thật, hài hịa, đúng mực, và khiêm tốn. Khi đó nhưõng gì thánh Phao-lô nói trong thư gởi tín hưõu Rô-ma có thể áp dụng cho chúng ta: Chúng ta không biết cách cầu xin theo cách chúng ta phải làm, nhưng chính Thần Khí của Đức Giê-su đã cầu bàu cho chúng ta, chỉ một lời cầu xin, “Áp-ba! Cha ơi!” Người khát khao điều đó từ khởi nguồn: Người khát khao Thiên Chúa, Người xin Thiên Chúa vì Thiên Chúa, Người cầu xin Thiên Chúa thay cho chúng ta. Mọi sự đều bao gồm và chứa đựng trong lời cầu xin này. …[Nếu chúng ta cầu xin theo cách này] chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa đang thật sự đáp lại lời cầu xin của chúng ta, bằng cách này hay cách khác. Khi đó chúng ta sẽ không cịn cảm thấy “cách này hay cách khác” là lời xin lỗi mong manh của  người ngoan đạo, và Phúc Âm là lời cầu xin không được đáp lại. Không. Lời cầu xin của chúng ta được nhận lời, nhưng chính vì đó là lời cầu xin nhân danh Đức Giê-su; và nhưõng gì cuối cùng chúng ta cầu xin cùng Thiên Chúa là để làm cho đời sống chúng ta được lớn lên, để lấp đầy đời sống chúng ta với Người, để chiến thắng, để cuộc đời phân rẻ của chúng ta được hợp lại thành một, để ngàn lẻ một ước muốn của chúng ta nên một với Người… Cầu xin nhân danh Đức Giê-su là lời cầu được nhận lời, là đón nhận Thiên Chúa và ơn phúc của Ngài, và khi đó, dù trong nước mắt, đau đớn, khốn cùng, khi dường như chúng ta vẫn chưa được nhận lời, tâm hồn chúng ta đã được nghỉ ngơi trong Thiên Chúa dù chúng ta đang hành trình, dù chưa có niềm vui trọn vẹn của Thiên Chúa. 

Nếu chúng ta chưa cầu nguyện như thế, thì Đức Giê-su vẫn cịn nói với chúng ta: “Cho đến lúc này, con vẫn chưa cầu xin điều gì nhân danh Ta. Con có thể đã cố gắng, con có thể có ý như vậy, nhưng con chưa làm cho Ta có sức mạnh và sức nặng trong lời cầu xin của con.”

Câu chuyện của một nữ tu

Khi nghĩ về một vị thánh, chúng ta thường nghĩ về người được Giáo Hội chính thức phong thánh, nhưng tôi có một ít vị thánh chưa được chính thức phong thánh bảo trợ.

Một trong những vị đó là cô giáo cũ của tôi, cô vừa mất cách đây năm năm. Cô là nữ tu Shirley Christopher, thuộc dòng Ursuline. Tôi may mắn được xơ làm cô giáo chủ nhiệm trong suốt ba năm trung học. Xơ dạy lịch sử, Anh văn, Pháp văn, và tôn giáo; xơ là một nhà giáo ngoại hạng, vừa về tài năng vừa lòng tận tụy, không có thầy giáo nào để lại ảnh hưởng sâu đậm trong lòng tôi cho bằng xơ.

Nội dung các bài học của xơ rõ ràng tuyệt vời, nhưng đó chỉ là một phần tài năng sư phạm của xơ. Xơ còn dạy cho chúng tôi phương pháp học tập, nghiên cứu, thảo tài liệu, ghi nhớ các động từ tiếng Pháp, cách dạy học, cách truyền cảm hứng cho học sinh, cách cống hiến của một nhà giáo trên phương diện cá nhân và nghề nghiệp, và, quan trọng nhất là, cách dồn hết đời mình cho những chuyện quan trọng.

Ảnh hưởng của xơ trong đời sống của tôi thì không thể nào tính được. Sau khi học xong trung học, tôi vào chủng viện và đại học, sau đó là cao học, hậu cao học, và tiếp đó là quá trình tự học. Suốt quãng đời đi học, tôi chưa thấy ai dạy dễ hiểu như xơ Shirley. Hơn thế, các phương pháp xơ dạy cho tôi từ lớp 9, vẫn còn giúp cho tôi rất nhiều trong các bài nghiên cứu và luận án tiến sĩ. Tôi làm bài nghiên cứu và thảo đề tài tiến sĩ bằng phương pháp của xơ. Bây giờ tôi vẫn còn áp dụng phương pháp sư phạm của xơ. Xơ biết áp dụng chương trình PowerPoint trước khi nó được phát minh.

Tuy nhiên, nhớ lại hồi còn học với xơ, lúc đó tôi còn quá trẻ để ý thức được tất cả giá trị của xơ. Tôi chỉ nghĩ xơ là cô giáo của tôi; tôi không lưu tâm nhiều về cuộc sống của xơ, không bao giờ suy nghĩ về những gì có ở nơi xơ: Xơ là một nhà giáo ngoại hạng, những năm tháng đầu đời lại đi dạy học ở một vùng nông thôn hẻo lánh của tỉnh bang Saskatchewan, Canada. Trường chúng tôi, lúc nó chưa giải tán, không phải là nơi sinh ra, nuôi dưỡng, khám phá các nhân tài hàn lâm. Chúng tôi được học với tài năng ngoại hạng của xơ Shirley chỉ vì xơ là một nữ tu, tận hiến để phục vụ người nghèo, dạy ở những vùng xa xôi hẻo lánh như vùng chúng tôi ở. 

Thêm nữa, là một học sinh trung học, thực sự lúc đó tôi cũng không nhận thức chân giá trị về đời sống cá nhân của xơ, như một nữ tu, như một phụ nữ. Cuộc đời sẽ như thế nào nếu hy sinh chồng con gia đình để làm việc này? Cuộc đời sẽ như thế nào nếu sống theo luật lệ khắc khe của thời trước Công Đồng Vatican II? Cuộc đời sẽ như thế nào khi sống với năm hay sáu phụ nữ khác trong nhà tu kín, trong cộng đoàn hẻo lánh nơi mà mọi người dù đối xử tôn trọng với nhau nhưng vẫn có một khoảng cách nhất định nào đó với mình? Cuộc sống sẽ như thế nào khi đến thời tắt kinh và không có con cái?

Là học sinh của xơ, tôi chỉ bắt đầu có ý thức về sự phức tạp của đời sống và ngay cả đức tin sâm đậm nhất cũng không nhất thiết lấy đi hết tính người của mình, tính người với những nhu cầu nóng bỏng của nó và đời sống nội tâm vẫn là đời sống của một phụ nữ, dù người phụ nữ này là nữ tu tận tụy nhất, mỗi ngày cũng muốn Thiên Chúa trả lại cho mình những gì mình đã hiến dâng.

Dù phải trả giá nào đi nữa, xơ cũng đã trả, trả mà không bao giờ đánh mất lòng tốt, trí thông minh, đức tin và ý muốn cá nhân của mình chỉ là phụ so với ý muốn phục vụ người khác.

Tôi đậu trung học và mãi nhiều năm sau, tôi không gặp lại xơ. Khi đó xơ đã nửa về hưu, tóc đã bạc, mặc thường phục giản dị không còn mặc áo dòng, nhưng điều ngạc nhiên là xơ rất hạnh phúc, hạnh phúc hơn cả thời gian xơ đi dạy. Bây giờ xơ giống như một bậc tiền bối giàu kinh nghiệm, một thiền sư, một nhà thông thái, nhà minh triết trong thân thể của một người già. Nhưng xơ tỏa ra một vẻ an lạc mà khi không còn vướng bận cảnh buồn phiền thiếu thốn của thời thanh xuân nữa phải ao ước. Xơ, một người độc thân, một nữ tu, bằng tuổi này người khác đã có cháu, nhưng, dù không có cháu, xơ vẫn là người phụ nữ mãn nguyện, hạnh phúc, xơ không có nhu cầu đòi hỏi gì cho đời mình.

Tôi đến thăm xơ mấy tháng trước khi xơ mất, khi xơ vào ở trong dưỡng đường chờ chết. Tôi đã nói xơ có ảnh hưởng với tôi như thế nào và cám ơn lòng tận tụy của xơ. Xơ là giáo viên thanh lịch, chuyên nghiệp, tận tâm, khiêm tốn nhất mà tôi được học gần 40 năm trước: “Xơ chỉ làm điều tốt nhất của xơ.”

Khi lực lượng quân đội El Salvador đe dọa giết Đức tổng giám mục Romero, ngài phản ứng lại bằng câu nói: “Nếu các anh giết tôi, tôi sẽ sống lại trong người dân Salvador.” Nữ tu Shirley Christopher qua đời ngày 19 tháng 11, năm 2004, nhưng xơ vẫn sống mãi trong lòng chúng tôi, những cựu học sinh của xơ, những học sinh có được ơn phúc khi có được một cô giáo đầy tài năng và tận tâm. Cuộc đời của xơ vẫn tiếp diễn.

Tôn trọng người khác trong một cộng đồng phân cực

Thời buổi này, chúng ta sống trong một thế giới và trong các cộng đoàn rất phân cực. Trong đó, chúng ta không hiệp nhất. Một mức độ phân cực nào đó trong mọi cộng đồng là bình thường và lành mạnh. Tuy nhiên, chua cay, tinh thần thấp kém, và sự thiếu tôn trọng là đặc nét nhiều nhất trong các cuộc tranh luận chính trị, giáo hội, và luân lý hiện nay là điều không bình thường và rất không lành mạnh. Chúng ta đừng cố lừa dối mình khi nghĩ rằng điều này là lành mạnh và tệ hơn nữa, đừng nhân danh sự thật, công lý, hay Thiên Chúa để biện minh cho sự thiếu tôn trọng đối với những người suy nghĩ khác chúng ta. Chúng ta không phải là chiến sĩ thần thánh, mà chỉ là những con người đầy giận dữ với tấm lòng thương xót có tính phân biệt chọn lựa.

Có thể những nhãn hiệu như tự do và bảo thủ không định danh chính xác các nhóm, kiểu người mà chúng ta luôn phân tách hiện nay, nhưng như một tổng thể hóa thì những danh xưng này vẫn có giá trị. Chúng ta phân tách cách gay gắt, tự do với bảo thủ, bảo thủ với tự do, và thay vì xem chúng ta như một cộng đồng với những nỗ lực chiến đấu chung, chúng ta thích nói về “chúng ta” và “bọn họ” hơn, nghe giống như trong các nhóm giao tranh. Không có một sự chung nhất phổ quát nữa.

Nghiêm trọng hơn, chúng ta không thể và ngay cả không có một cuộc trao đổi tôn trọng với nhau. Ngày nay thật hiếm có một cuộc trao đổi về bất cứ vấn đề nhạy cảm nào về chính trị, luân lý và quan điểm trong giáo hội mà không xuống cấp thành kiểu dán nhãn và thiếu tôn trọng. Thấu cảm, thông hiểu, và thương mến trở thành cực kỳ phân tách chọn lọc, nghiêng về tư tưởng riêng và một chiều. Chúng ta chỉ lắng nghe và tôn trọng những gì chúng ta yêu thích. Hơn nữa, cả tự do hay bảo thủ đều như vậy. Những gì chúng ta thấy ở họ thật đáng buồn, một hình thức quá nhạy cảm, quá nghiêm túc, hoang tưởng về người khác, nóng giận, thiếu vắng niềm vui và thiếu tính hài hước.

Phái bảo thủ thì có khuynh hướng biện minh cho điều này bằng việc đặt nặng tầm hệ trọng các tranh điểm họ muốn bảo vệ: phá thai, đời sống gia đình, kết hôn truyền thống. Các điểm họ trình bày với tất cả tầm hệ trọng thích đáng, là quá nghiêm túc và phái tự do cũng đồng thuận là không thể trao đổi cho có ý nghĩa thật sự được. Sự thật đang được bảo vệ là bất diệt và không thương lượng, vậy thì trao đổi để làm gì?

Phái tự do cũng nói vậy: Tại sao lại thảo luận những điều hiển nhiên hợp lý, đơn giản là nhân quyền, và đã từ xa xưa, nó đã được trân trọng lưu giữ trong nguyên tắc dân chủ? Những vấn đề này thậm chí không cần phải tranh luận. Hơn nữa, trong nhóm tự do, thường có sự khinh miệt đầu óc đối với những gì bị cho là bất dung hẹp hòi từ chủ nghĩa tôn giáo chính thống cực đoan. Mặc dù có những nỗ lực thuyết phục đáng kể với phía đối lập, phái tự do vẫn thiếu một ít chân thành trong mong muốn có một trao đổi thực sự về các vấn đề như phá thai, kết hôn đồng tính, và giá trị gia đình. Họ, cũng như phe bảo thủ, rõ ràng đã có một định kiến về mặt luân lý. Tại sao phải trao đổi?

Xác quyết vững mạnh không phải là một lỗi, nhưng điều đáng lo là thiếu tinh thần cởi mở để có một đối thoại tôn trọng nhau, trên những vấn đề nhạy cảm, tình trạng này chung chung phổ biến trong các lãnh vực tôn giáo cũng như chính trị.

Trong lãnh vực Giáo hội, chúng ta muốn giữ mình ở một tầm mức cao hơn: đón nhận chuyện xấu bằng lòng tử tế, giận dữ bằng thương xót, đối nghịch bằng thông hiểu, phỉ báng mà không trã đũa, bất dung bằng kiên nhẫn, và đón nhận mọi thứ, mọi người bằng đức ái. Đa số là đã không xảy ra như vậy. Và đáng buồn thay, trong nội bộ Giáo hội, các trao đổi của chúng ta về các vấn đề nhạy cảm là tấm kiếng phản chiếu tận căn tư tưởng khắc khe, một chiều mà chúng ta nghe tranh cãi gay gắt hơn trên các diễn đàn. Kết quả cũng như nhau: người trở lại giảng cho người trở lại nghe, tâm hồn chúng ta ngày càng chai hơn là mềm, thái độ chúng ta càng chua cay và cách biệt, và rồi chúng ta bị đẩy xa khỏi tha nhân trong lòng Giáo Hội cũng như trên chính trường.

Đến một lúc, khi bất hòa, giận dữ, thiếu dung thứ, thiếu kiên nhẫn, thiếu tôn trọng và thiếu đức ái làm tê liệt cộng đoàn và chia rẽ những người thiện tâm với nhau, thì chúng ta, những người đi theo Đức Giêsu được kêu gọi để noi theo gương yêu thương bao la của Ngài, để tái định lại chúng ta trong vài nguyên tắc căn bản: tôn trọng, nhân ái, thông hiểu, nhẫn nại, và rộng lượng đối với những người đối lập mình. Và đây cũng là lúc chúng ta cùng ở với nhau trong một gia đình mà mọi người cần có nhau.

Không có “chúng tôi” và “họ”, chỉ có “chúng ta”

Học giả Kinh Thánh, Ernst Kaseman, đã từng giả thuyết rằng những gì sai trái trong thế giới và trong Giáo Hội là bởi những người tự do không phải là những người ngoan đạo và những người ngoan đạo không phải là những người tự do. Thật chính xác. Hiếm khi thấy một người lãnh đạo vừa lần chuỗi vừa đi bộ vì hoà bình. Phái tự do trội ở điểm này, phái bảo thủ trội ở điểm kia. Mỗi bên có hình mẫu riêng của mình, đó là những Mel Gibson và Michael Moore, các vị thánh bảo trợ của lòng mộ đạo hay công chính. Chúng ta cần một thánh bảo trợ cho cả hai.      
Có lẽ chúng ta thấy được vị bảo trợ đó ở bà Dorothy Day, người mà ở cả hai phía, tự do và bảo thủ, đều  tôn trọng và nhìn nhận như một vị thánh và sẽ được Giáo Hội phong thánh sớm. Bà vừa sốt sắng vừa tự do, một phụ nữ thong dong tự tại, vừa hướng dẫn cuộc đi bộ vì hoà bình, vừa sốt sắng lần chuỗi. Bà cũng có thể đứng lên vững mạnh vì chân lý, vì sự sống, và vì công chính, không đặt đồng hạng những gì là căn bản vĩnh cữu trong tất cả các quan hệ, bà nói chuyện trong tinh thần nhân ái, tôn trọng, lân tuất và với một óc hài hước!

Hình ảnh huyền bí của phục vụ

Khi thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, nhà thần nghiệm trẻ tuổi người Pháp, cố gắng giải nghĩa ơn gọi của mình, bà nhắc đến một dấu ấn nội tâm sâu sắc đã xảy ra trong đời bà:

Một ngày Chúa nhật, khi nhìn ảnh Chuộc tội, tôi bị đánh động bởi dòng máu chảy ra từ bàn tay chí thánh của Chúa. Tôi cảm thấy nhức nhối buồn sầu vô cùng khi nghĩ rằng dòng máu này rơi xuống đất mà không có ai vội vàng hứng lấy. Tôi quyết tâm mình sẽ ở dưới chân Thánh giá để hứng giọt sương đó. … Tôi không muốn giọt máu cực trọng này bị bỏ phí. Tôi sẽ để suốt đời gom lại dòng máu ấy vì sự tốt lành cho các linh hồn. … Sống trong tình yêu là quên mình.

Ở một mức độ nào đó, điều này có thể đơn thuần xem như hình ảnh lòng mộ đạo quá độ của một nữ tu trẻ tuổi cực kỳ sốt sắng ngồi trong nhà nguyện, tôn thờ người bị đóng đinh, có cảm xúc thái quá khi hình dung cảnh Chúa Giêsu bị xúc phạm và bị đóng đinh trên thập giá. Nhưng đây là một ẩn dụ, một thần hiện, và đúng là một thách thức thật sự.

Khi thánh Têrêxa Hài Đồng nói về Chúa Kitô ở đây, bà không phải chỉ nói đến và nhắm chính yếu vào thân xác của một Đức Giêsu trong lịch sử, mà nói đến thân thể Đức Kitô trong thế giới này. Đức Kitô vẫn chịu khổ hình và máu vẫn chảy từ khuôn mặt và đôi tay của Ngài cho khắp thế gian. Một trong những trách nhiệm của Kitô-hữu chúng ta, và đơn giản trong tư cách làm người, là, nói theo cách ẩn dụ, nhớ lại, hứng lại và tôn kính cách riêng máu thánh Ngài. Trách vụ người Kitô-hữu, luôn luôn, đứng cạnh chân thập giá và hứng lấy giọt sương đó để không làm phí phạm giọt sương cực trọng này.

Chúng ta làm điều đó cách nào?

Khi tổ chức Ân xá Quốc Tế, hoặc bất cứ nhóm, cá nhân nào phục vụ cho công lý đến những vùng còn chiến tranh hay xung đột bạo lực trên thế giới, họ gom lại tài liệu về bạo lực ở đó, liệt kê công bố danh tính của tất cả những người bị thủ tiêu, khi đó họ đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi một nữ tu rời bỏ sự an toàn và yên ổn ở quê nhà và cộng đồng để đến Sudan sống với các phụ nữ bị hãm hiếp, ghi lại các câu chuyện này, thì khi đó họ đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi một người bạn vội vàng bỏ chơi để chạy đến an ủi người bạn yếu ớt của mình vừa bị đám anh chị trong trường bắt nạt sỉ nhục, bạn ấy đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi một người, như Greg Mortenson, từ bỏ cuộc sống đặc quyền và tiện nghi để mạo hiểm trong mọi thứ, kể cả cuộc sống, để xây các trường học trong những vùng sâu nhất Pakistan cho giới trẻ Hồi giáo, đặc biệt là các thiếu nữ Hồi có thể có được một nền giáo dục, thì khi đó ông đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi có những người cống hiến cuộc sống để làm việc với những người khuyết tật tinh thần giúp họ sống và thể hiện phẩm giá của những người có tài năng khác biệt, thì khi đó họ đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi một người trẻ có lý tưởng gia nhập vào các quân đoàn gìn giữ hòa bình, hay trở thành nhà truyền giáo với khát vọng chân thành là giúp đỡ những người thiếu may mắn, thì khi đó họ đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Và …

Khi bất cứ ai trong chúng ta dành thì giờ ở sở làm hay ở nhà riêng để lắng nghe tâm hồn người bị thương tổn, đã mỏi mòn kiệt sức với sự hờ hững của mọi người không còn muốn nghe các lời than trách, các kỷ niệm buồn khổ, thì khi đó chúng ta đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi bất cứ ai trong chúng ta cố gắng thông hiểu lắng nghe một người bạn, người đồng nghiệp hay người anh em đang nản lòng vì đời họ không rơi vào trạng huống hụt hẫng ghen tương, vì cuộc đời họ không được như họ mơ ước, thì khi đó chúng ta đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi bất cứ ai trong chúng ta lưu tâm đến thành tựu của người khác, chân thành khen ngợi và chúc phúc cho thành công đó, thì khi đó chúng ta đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi bất cứ ai trong chúng ta với lòng thương cảm, cầu nguyện cho tất cả những người bị vùi dập ước mơ, bị đau khổ vì sống trong bóng tối, trong vô danh, thì khi đó chúng ta đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Máu vẫn còn chảy từ bàn tay và khuôn mặt Đấng chịu đóng đinh trên thập giá. Hầu hết nó rơi trong hờ hững và không ai vội vàng hứng lấy.

Nhiệm vụ của chúng ta cũng như nhiệm vụ của thánh Têrêxa Hài Đồng là ghi nhận và tin chắc rằng giọt máu cực trọng này không rơi đi trong vô tâm, không dấu vết, và không được loài người tôn kính thích đáng.

Phép thử cho Tinh thần Môn đệ Đức Kitô

Thời đại này, chúng ta sống với nhiều phân cực, cả trong lòng giáo hội lẫn xã hội bên ngoài. Có một cái gì lành mạnh trong đó, dù có cả đắng cay. Xét cho cùng, sự tổn thương đạo đức và lửa giận là dấu chỉ có thể của một tấm lòng đạo đức sốt sắng. Chúng ta vẫn tin tưởng vào nhiều thứ, điều sai cũng như điều đúng. Đức hạnh là ở đó.

Nhưng như đã nói, ở đó cũng có những điều rất không lành mạnh trong tình thế hiện nay của chúng ta, đó là việc những người chân tín không thể trao đổi cách lễ độ và tôn trọng với người đối diện về những vấn đề luân lý và tôn giáo, vì rốt cùng hai bên không tôn trọng nhau, tin chắc rằng những gì người kia phát ngôn là chỉ để làm một phép thử luân lý như phép thử nhúng giấy quỳ vào dung dịch để biết dung dịch đó là axít hay kiềm. Luôn là vậy, cả trong giáo hội và trong các diễn biến chính trị dân sự, mỗi bên, như phe bảo thủ và tự do, có một vấn đề tối hậu không nhân nhượng, và nó là phép thử cho việc phân xét tinh thần luân lý và tôn giáo của người khác.

Một vài vấn đề là thuần luân lý (phá thai, kết hôn đồng tính, công lý cho nhóm đặc thù), một số khác về việc giữ đạo (đi nhà thờ, thành viên trong các nhóm riêng), một số khác về tín điều (phong chức cho phụ nữ, chấp nhận vô điều kiện Kinh Thánh và quyền Giáo Hội, hòa đồng chủ nghĩa). Luôn luôn là vậy, một vấn đề cá biệt sẽ trở nên nền tảng cho một sự phán xét vô cùng kỳ thị, một phép thử axít-kiềm, xem người đó có đáng được tôn trọng về mặt tôn giáo và luân lý không.

Nhưng liệu có chính đáng? Một vấn đề đơn lẻ có là một phép thử? Chúa Giêsu đã nói gì về điều này? Kinh Thánh đã nói gì về điều này? Liệu một vấn đề đơn lẻ luân lý hay tôn giáo có được chỉ định như tâm điểm mấu chốt, điểm chính không nhân nhượng của tinh thần môn đệ Kitô hữu không?

Trong một cách nghĩ, đúng, dù có đôi điểm khác biệt cần lưu ý. Cũng vậy, mỗi tác giả trong Tân Ước trình bày điểm này theo cách khác nhau:

Trong Tin Mừng thánh Mát-thêu, tâm điểm đạo đức của tinh thần môn đệ được Chúa Giêsu nói rõ trong Bài Giảng trên Núi. Trọng tâm là ở đòi hỏi: Con có thể yêu thương kẻ thù? Con có thể thực tâm tha thứ cho ai xúc phạm mình? Con có thể chúc phúc cho ai nguyền rủa mình? Con có thể đối xử tốt với người làm hại mình? Con có thể tha thứ cho kẻ sát nhân? 

Thách thức này đặt cho giáo huấn luân lý của Đức Giêsu có một chỗ đứng riêng biệt hẳn với các giáo lý khác và trở nên tính độc nhất – và đó là cái khó thật sự của giáo lý này. Có nghĩa đó là dấu để nhận biết môn đệ Chúa Giêsu: Họ có thể yêu và tha thứ cho kẻ thù. Nếu Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, có lẽ là cả Tân Ước, cho chúng ta thấy phép thử này về tinh thần môn đệ, thì có thể có một công thức tóm gọn: Con có yêu mến và tha thứ cho kẻ ghét con không?

Tin Mừng theo thánh Luca cũng nói giống như vậy nhưng theo một cách nói khác. Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta có lòng thương xót như Cha trên trời có lòng thương xót,  thánh Lu-ca định hình lòng thương xót này là tình yêu, như cách mà người Cha của Đứa con hoang đàng và Anh của nó, như cách mặt trời tỏa sáng trên cả người tốt lẫn người xấu, vươn đến và yêu mến dù nó có đáng hay không. Phép thử ở đây có thể định danh: Yêu tha nhân bất kể khác biệt và bất kể những ý nghĩ liệu người đó có đáng hay không. Đừng chỉ yêu mến những ai tốt với mình hay có thể đền đáp lại cho mình. Hãy yêu thương vô vàn như Thiên Chúa đã yêu.

Thư thánh Phao-lô đề cập đến điều này khi ngài phân biệt cái gọi là sống theo xác thịt đối lập với sống theo Thần Khí. Cái đầu tiên, sống theo xác thịt đặc nét qua “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy.” Thánh Phao-lô cảnh báo rằng khi những điều này có trong cuộc sống chúng ta thì chúng ta không nên lừa dối chính mình khi nghĩ rằng chúng ta đang sống trong Thần Khí.

Ngược lại, sống theo Thần Khí, với thánh Phao-lô, là có “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ.” Chỉ khi nào các phẩm tính này hiển hiện trong cuộc sống chúng ta thì chúng ta mới có thể nhận biết được chúng ta đang đi đúng trong tinh thần người môn đệ của Chúa.

Theo thánh Phao-lô, phép thử không phải là một vấn đề đức hạnh đơn lẻ, mà trọn vẹn cách sống chiếu tỏa nhiều đức ái hơn là ích kỷ, nhiều hoan lạc hơn là hận thù, nhiều bình an hơn là chia rẽ, nhiều từ tâm và tôn trọng hơn là dò xét và nói xấu, nhiều nhẫn nhịn hơn là nóng giận, và sẵn sàng đổ máu hy sinh hơn là chiều theo cám dỗ tức thời.

Điều này không đề xuất rằng luân lý cá biệt, tín điều và các thông tư giáo hội là không quan trọng; một số trong đó là chủ điểm của sự sống và sự chết. Nhưng tinh thần người môn đệ Kitô không chỉ dựa trên những gì chúng ta làm, mà còn ở tại tâm chúng ta. Thực chất tinh thần người môn đệ Kitô là liên kết vào quả tim Chúa Kitô. Phẩm hạnh đứng đắn, bảo vệ chân lý, giữ đạo suốt cuộc đời cũng từ điều này mà ra, và khi đặt cội nguồn ở đó, ở Đức Kitô, thì người môn đệ trở nên đáng trọng, biết tha thứ, và yêu thương.

Niềm vui của thói cũ

Trong cuốn sách rất hay, cuốn Sức mạnh của cá tính, James Hillman chia sẻ câu chuyện sau: Một buổi chiều nọ, chàng thanh niên trẻ ngồi nghe ông bác già kể chuyện, anh không khỏi bực mình khi nghe ông bác kể câu chuyện mà anh nghe cả trăm lần, Hillman càu nhàu: “Bác kể  chuyện này rồi.” “Bác thích kể câu chuyện này!” ông bác vặn lại, và thì thầm qua hởi thở, “kể lại thì có gì sai đâu!”

Lúc đó, khi nghe bác vặn lại, Hillman chỉ tức thêm. Chỉ sau này, khi đã hiểu cuộc đời và cá tính con người sâu đậm hơn, Hillman mới cảm kích vì sao bác mình có nhu cầu kể đi kể lại một chuyện như vậy: “Ông hiểu niềm vui của thói cũ!” Và thói cũ chính là niềm vui, chính là quà tặng!

Chúng ta không thể nuôi dưỡng mình và người khác bằng những gì tươi mát và mới lạ. Nó chỉ là cung cấp nhất thời và thường thì không với tới được. Nếu chúng ta chỉ nói với nhau những chuyện mới hay những chuyện thích thú thì chắc chúng ta sẽ im lặng trên bàn ăn. Chúng ta cũng không có bao nhiêu chuyện châm biếm, hài hước, và dí dỏm trong các buổi chuyện trò. Chúng ta không những chỉ nuôi dưỡng nhau bằng các chuyện mới lạ và thú vị, nhưng còn và cũng rất quan trọng chúng ta nuôi dưỡng đời sống gia đình, quan hệ bạn bè, tình đồng nghiệp bằng cách kể đi kể lại cho đến cuối đời chuyện đời xưa, chuyện hài hước cũ, giai thoại cũ, mãi cho đến khi câu chuyện lặp đi lặp lại đó thành chuyện riêng, thành dí dỏm riêng, và thành giai thoại riêng của nó. Hillman gọi tên điều này rất xuất sắc: Niềm vui của thói cũ.

Từ câu chuyện này Hillman đi đến một suy tư triết học nghiêm túc hơn, làm sáng tỏ giá trị của hành động lặp lại trong các nghi lễ. Ông trích dẫn lời của triết gia người Pháp, Gilles Deleuze, cho rằng sự lặp lại có thể là cách để chúc tụng một điều gì đó qua việc nhấn mạnh đến đặc tính của nó: Bằng cách lặp đi lặp lại từ lần đầu cho  đến vô hạn lần, lặp lại là vinh danh một cách có nghệ thuật. Một sự kiện được lặp đi lặp lại là vinh danh và nhấn mạnh đến nguồn gốc của nó; sự lặp lại này khác với sao chép, sao chép chỉ làm cho sự lặp lại thành tiếng dội lại yếu hơn, một bản sao mờ nhạt ngày càng xa cách bản gốc.

Với điều này, Hillman thêm một bài ca ngợi nho nhỏ tán dương sự lặp lại: Không gì buồn tẻ hơn tập gam khi học đàn, giọng đọc lần chuỗi rì rầm. Tuy nhiên, thành tựu của nghệ thuật, hiệu lực của cầu nguyện, vẻ đẹp của nghi lễ, và sức mạnh của cá tính phụ thuộc vào những hành vi nho nhỏ lặp đi lặp lại vô tận, mà nếu tách riêng nó ra thì hoàn toàn vô dụng.

Đa số chúng ta biết rõ điều này. Chúng ta có những người bạn, người quen hoặc anh chị em, họ nhẫn tâm đón chúng ta và làm chúng ta bực mình với những câu chuyện xưa rích, những câu chuyện hài nghe nhàm tai, những giai thoại xưa như quả đất mãi cho đến khi mỗi câu chuyện lặp lại đó thành câu chuyện riêng, thành dí dỏm riêng, và thành giai thoại riêng. Họ làm theo thói cũ. Đôi lúc nó làm chúng ta bực mình và muốn chống đối, nhưng, cũng như Hillman, cuối cùng rồi chúng ta cũng cảm kích và thấy nó mang đến cho cuộc sống gia đình, bạn bè và cộng đoàn một sự nuôi dưỡng cần thiết để có sắc thái, cá tính, nét hóm hỉnh, một phong cách riêng mà chỉ có các câu chuyện mới mang lại được. Chúng ta không chỉ sống với những gì mới lạ, mà còn với những câu chuyện được kể đi kể lại, những câu chuyện nhấn mạnh nét châm biếm dí dỏm và sắc thái trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.Gia đình tôi nổi tiếng về chuyện bực mình này, một cá tính không phải lúc nào tôi cũng hãnh diện nhưng chung chung tôi rất thích. Gia đình tôi yêu niềm vui của thói cũ. Cứ mỗi lần sum họp bên bàn ăn, năm này qua năm khác, chúng tôi kể đi kể lại rất nhiều chuyện. Và không phải lúc nào chúng cũng được thích nghe. Không ít lần có bộ chân mày nhíu lên “Lạy Chúa, bác ấy đừng kể câu chuyện đó nữa!” hay, như chàng thanh niên Hillman càu nhàu “Bác  kể câu chuyện này rồi!” Nhưng, chung chung, những câu chuyện, những kiến thức, những lời châm biếm, dí dỏm cũ vẫn được mọi người thích thú theo lối mới cho cả người kể và người nghe. Chung quanh bàn ăn, những chuyện cũ và nhạt nhẽo cũng như  những chuyện mới và thú vị vẫn có tác dụng nuôi dưỡng đời sống gia đình, đôi lúc chuyện cũ còn nuôi sống mạnh hơn vì các câu chuyện xưa này có tác dụng nhấn mạnh đến lịch sử và các nét đặc thù của chúng ta.

Mùa hè vừa qua chúng tôi mất một người em yêu quý, trong buổi lễ canh thức, ba người con đã lớn của anh đọc một điếu văn làm mọi người xúc động. Họ nhấn mạnh đến ước ao của người cha đối với con cái, cam kết của anh với giáo hội, với công lý (sinh thái, quyền sinh sống, nữ quyền), óc dí dỏm, đặc biệt là nhu cầu lúc nào cũng muốn lặp đi lặp lại một câu chốt, như thể vì lý do nào đó mà chưa ai nghe: “Các con không tránh được đâu! Cha tôi lặp đi lặp lại câu đó cho đến khi ông chắc chắn mọi người đã nắm vững nó!”

Nhưng đó chưa phải là lý do thật sự chúng ta lặp lại câu chốt. Giống như lý do của ông bác Hillman khi ông kể lui kể tới một câu chuyện, chúng ta lặp lại câu chốt vì: Chúng ta thích nói về nó! Chúng ta thích niềm vui của thói cũ. Rồi ra, vượt qua nỗi bực mình ban đầu, người khác rồi cũng sẽ thích thú làm theo.

Đuổi theo tuổi ngây thơ

Nhà văn Annie Dillard viết về sự ngây thơ như sau: Thơ ngây không phải là đặc quyền của trẻ con và chó con, và còn lâu hàng đống siêu sao mới ngây thơ, họ không có một độc quyền nào hết. Ngây thơ không mất đi trong chúng ta; thế giới tốt đẹp hơn chúng ta tưởng. Như mọi món quà tinh thần giá trị khác, thơ ngây sẵn đó nếu bạn muốn, bạn cứ đòi mà chẳng tốn đồng xu, nhiều người còn dùng những chữ mạnh hơn để nhấn mạnh nó hơn tôi. Có thể đuổi theo sự thơ ngây như cách chó săn đuổi theo thỏ rừng: quyết tâm theo một mục đích duy nhất, cuốn theo một loại tình yêu nào đó, băng ngàn, xuống núi, gào lên và mất hút trong các cánh đồng bao la, lượn vòng, nhảy qua  hàng rào ngăn cách, mắt mở to, thét lên một cách vô thức, thèm khát một cách khó hiểu, tim rừng rực cháy, và hát lên bản đồng ca vang dội rừng núi.

Một trong những nền tảng sâu đậm nhất về đạo đức và thiêng liêng là sự thơ ngây, nếu không có nó thì hẳn phải ao ước nó. Như  ao ước lành mạnh của trẻ con là có được kinh nghiệm của người lớn, ao ước lành mạnh của người lớn là có được quả tim trẻ con. Đánh mất ước muốn được thơ ngây là đánh mất xúc cảm tâm hồn. Đúng vậy, mất thơ ngây là mất tâm hồn. Đánh mất hoàn toàn ước muốn được thơ ngây là một trong những con đường đưa đến hỏa ngục.

Thơ ngây là gì?

Dilliard mô tả đó là trạng thái vô tư của tâm hồn lúc nào cũng trong sáng thành tâm cho bất cứ đối tượng nào. Theo bà, thơ ngây chính là cái nhìn ngưỡng phục, tình yêu không lụy ham muốn, là một cái gì đó gần giống với những gì văn sĩ James Joyce mô tả trong cuốn Chân dung về nghệ sỹ như một chàng thanh niên, khi chàng trai trẻ Steven, nhân vật nam chính, thấy một một cô gái ăn mặc nửa kín nửa hở trên bãi biển nhưng thay vì bị thèm khát nhục dục chi phối, Steven chỉ thấy lòng mình đầy ngưỡng phục và ngạc nhiên mà thôi.

Tác giả quá cố Allan Bloom, trong cuốn Điều cuối cùng trong đầu người Mỹ, gợi ý rằng, xét cho cùng, thơ ngây là sự trong trắng và sự trong trắng thì diễn tả nhiều ý nghĩa hơn là khái niệm tính dục đơn thuần. Theo Bloom, cần có một dạng trong trắng nào đó trong tất cả các trải nghiệm của chúng ta, có nghĩa là, chúng ta cần trải nghiệm chúng, nếu và khi, chúng ta có thể trải nghiệm chúng mà chúng ta vẫn giữ được trọn vẹn con người mình. Nói một cách ngắn gọn, chúng ta mất thơ ngây khi chúng ta trải nghiệm một cái gì đó mà nó làm “chia tách” chúng ta, phá vỡ con người trọn vẹn của mình trên một phương diện nào đó. Và chúng ta có thể bị phân mảnh về nhiều phương diện – đạo đức, tâm lý, cảm xúc, tinh thần, hay ái tình.

Bloom gợi ý rằng ngày nay đa số chúng ta thiếu đi sự trong trắng và ít nhiều trở nên manh mún. Ông gợi ý, điều này tự nó đã biểu hiện không chỉ trong tỉ lệ ngày càng tăng các vụ tự tử, suy sụp cảm xúc, lạm dụng rượu và ma túy, nhưng còn phổ biến hơn, trong một tình trạng chết cứng làm chúng ta “yêu đương què quặt”, không còn lửa trong mắt, và không còn những điều cao cả trong tim và trong giấc mơ của mình nữa.

Tuy nhiên sự thơ ngây của người lớn dứt khoát không phải là thơ ngây tự nhiên của trẻ con. Đối với người trưởng thành, thơ ngây có thể là không còn kéo dài hồn nhiên nhưng nó cần một cái gì đó mạnh hơn, có thể gọi đó là thơ ngây thứ hai. Nó là thơ ngây sau khi phê phán. Chúng ta phải phân biệt giữa tính trẻ con, thơ ngây tự phát của một đứa trẻ do thiếu kinh nghiệm và hồn nhiên, và sự thơ ngây, tuổi thơ ấu, sau khi đã biết phê phán của một người trưởng thành hiểu biết, có kinh nghiệm, tìm lại thế giới hồn nhiên của trẻ con.

Đức Giê-su định nghĩa thơ ngây thế nào? Người nhận diện thơ ngây qua hai điều: có quả tim của một đứa trẻ và có quả tim của một trinh nữ: Ai không có quả tim của trẻ nhỏ, người ấy không thể vào được nước Trời. Nước Trời có thể ví như 10 trinh nữ chờ đợi một chàng rễ.

Theo Đức Giê-su, quả tim của đứa trẻ là một cái gì đó tươi mới, dễ tiếp thu, đầy ngạc nhiên, tôn trọng, và chưa bị chai cứng,  hoài nghi yếm thế ăn sâu vào quả tim người lớn vì bị thương tổn và tội lỗi. Theo Người, quả tim của trinh nữ là quả tim có thể nhẫn nại sống chờ đêm tân hôn mà không đòi hỏi. Nó thơ ngây vì có thể sống mà không phạm vào những điều cấm kỵ lành mạnh, biết rằng, như đứa trẻ, có nhiều cái ao ước hết sức nhưng chưa thể thực hiện được. Quả tim trẻ con là quả tim tin tưởng vào điều tốt, quả tim trinh nữ là quả tim không thử thách Chúa.

Trong cuốn tiểu thuyết Thiên thần đá, bà Margaret Laurence mô tả một phụ nữ tên là Hagar Shipley, một hôm sau khi nghe trộm một đứa trẻ gọi bà là mụ phù thủy già, bà xem lại mình trong gương và khiếp sợ về hình ảnh của mình. Bà chợt nhận ra khuôn mặt của mình và những gì bà thấy khiến bà sợ. Làm sao, một người không biết về mình, lại thay đổi và trở nên quá khác biệt, quá lạnh lùng, không còn sinh khí, không còn tươi mát và ngây thơ như vậy? Nó có thể xảy ra với tất cả chúng ta và cũng có thể xảy với nhiều người trong chúng ta.

Nếu chúng ta không còn là con người thơ ngây như trẻ con, kết bạn dễ dàng, thì có lẽ đã đến lúc chúng ta nên đuổi theo sự thơ ngây như chó săn đuổi theo thỏ rừng: quyết tâm theo một mục đích duy nhất, băng ngàn, xuống núi, gào lên trong các cánh đồng, cuốn hút theo một loại tình yêu nào đó.

Nguy cơ của quá an toàn 

Tôi thường hay được nhắc nhở là phải thận trọng cả hồn lẫn xác: “Cẩn thận! Đừng mắc sai lầm! Hãy thận trọng! Đừng làm điều gì khiến mình phải hối tiếc!” Đúng là tôi đã hấp thụ những lời này ngay từ khi còn nhỏ, những năm học ở trường dòng, và phần lớn những năm tháng làm linh mục.Đây cũng là những lời trối trăn cuối cùng của cha tôi, cha tôi là một trong những người đàn ông chân thật nhất mà tôi được biết. Đêm đó, anh tôi và tôi đến bệnh viện thăm cha đang bị bệnh ung thư, sau đó chúng tôi ra về không hề biết sáng sớm hôm sau cha ra đi, cha nhắc chúng tôi: “Cẩn thận nghe!” Ông nhắc chúng tôi lái xe cẩn thận trên con đường mùa đông đầy băng tuyết. Lời nhắc nhở này cho thấy cá tính, tâm hồn nhạy cảm và sự lo lắng đúng đắn của ông dành cho con cái, và về mặt tinh thần nó cũng có nghĩa: “Cẩn thận! Thận trọng!” Đây là lời nhắc nhở thường xuyên của cha tôi.

Bây giờ những lời đó là một phần tính di truyền của tôi. Con cái không những thừa hưởng các đặc tính sinh học của cha mẹ mà còn hơn thế nữa, đặc biệt nếu may mắn có một đấng sinh thành có lập trường đạo đức vững chắc. Và sự thận trọng đó giúp ích cho tôi rất nhiều. Tôi biết ơn nó. Hơn năm mươi năm qua, tôi đã giữ gìn nguyên vẹn cả xác lẫn hồn. Một món quà không phải là nhỏ. 

Tuy vậy sự thận trọng đó đôi lúc cũng không tốt cho tôi. Một người có thể  không sứt mẻ, nhưng thận trọng đến mức nhút nhát, rụt rè nhiều hơn yêu thương thì sự thận trọng đó trở thành tâm điểm cuộc đời họ. Mối nguy cơ trong việc luôn luôn muốn toàn hảo dễ đi đến tâm trạng giống như tâm trạng của người anh cả của người con hoang đàng, đặt niềm tin cứng ngắt vào mọi sự, nhưng lại hay xét đoán, đố kỵ, gắt gỏng cay chua; không bao giờ thỏa hiệp về mặt đạo đức và tín lý, trong khi lại ham muốn những chuyện phi luân lý và tâm hồn như tê cứng với cuộc sống thật. Đôi lúc một sự thận trọng được rèn dũa kỹ lưỡng trong từng hành vi là do quả tim cảnh giác nhiều hơn là quảng đại, ham muốn nhiều hơn là khẳng định, xét đoán nhiều hơn là tha thứ. Đôi lúc nó làm do một quả tim mà yêu thương và tha thứ được xem như phần thưởng chứ không phải cho và nhận không vụ lợi. Tx nó là kết quả của một quả tim âm thầm sung sướng khi người khác đi lầm đường vì không sống giống như mình. Không phải lúc nào cũng như vậy, nhưng nó cũng dễ xảy ra, phải thẳng thắn và khiêm tốn nói thỉnh thoảng trong cuộc đời tôi, tôi cũng vướng vào những trường hợp như vậy.
Goethe, nhà thơ người Đức đã viết: Cuộc sống chứa đựng nhiều nguy cơ, và sự an toàn là một trong những mối nguy cơ đó. Đối với một vài người thì có lẽ lời nhắc nhở ngược lại mới thích hợp hơn. Tuy nhiên đối với hầu hết chúng ta, những người luôn được nhắc nhở phải trở nên người tử tế và có đạo thì câu nói của Goethe cũng mang một sựï thật làm chúng ta bối rối.

Có phải chúng ta đang sống quá thận trọng? Liệu chúng ta có đủ can đảm để nhìn vào những kiềm chế, ghen tương, luận phạt tôn giáo của chúng ta một cách thẳng thắn không? Có phải cuộc sống của chúng ta bị nỗi sợ hướng dẫn thay vì được tình yêu hướng dẫn không? Liệu chúng ta có thể yêu đời mà không bị phán xét và cay đắng không? Người khác có xem chúng ta là những người cứng ngắt không? Lần cuối cùng chúng ta thật sự tha thứ cho người làm tổn thương mình là lần nào? Cuộc sống chúng ta có nói lên tình yêu thương và lòng quảng đại hơn là sợ hãi và tự vệ không? Mối nguy cơ trong việc sống quá thận trọng là đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ cuộc đời nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ sự nghèo nàn của chính đời sống mình, đôi lúc chúng ta nghĩ chúng ta đang bảo vệ đức hạnh, nhưng thật ra chúng ta đang bảo vệ những kiềm chế và sợ hãi của chính mình, và có khi chúng ta nghĩ chúng ta đang nói về sự quan phòng của Thiên Chúa cho thế gian nhưng, như người anh cả của người con hoang đàng, thật ra chúng ta đáng nói về lòng ghen tương giấu kín trong con người mình.

Nhân vật nam chính trong bộ phim Những cỗ xe rực lửa là Eric Liddell, một chàng thanh niên hết sức đạo đức, là lực sĩ chạy bộ tham dự Thế Vận Hội Olympic với triển vọng được huy chương vàng, nhưng anh từ chối tham dự cuộc tranh tài vì vòng tranh sơ khởi nhằm vào ngày Chúa Nhật, ngày anh giành cho Chúa. Rất dễ phê phán việc làm của Eric Liddell là việc làm xuất phát từ nguyên tắc tôn giáo cứng ngắt. Đối với ai đó thì điều này có thể đúng. Nhưng đối với Eric Liddell thì không. Tại sao? Bởi vì anh không bị cuốn đi bởi nỗi sợ hãi hay nguyên tắc cứng ngắt. Anh được cuốn đi bởi tình yêu. “Khi tôi chạy,” anh nói, “tôi cảm thấy niềm vui của Thiên Chúa.”

Thỉnh thoảng tôi cũng hỏi tôi câu hỏi đó trong mối liên hệ của tôi với tôn giáo và những kiềm chế tinh thần: Liệu Thiên Chúa có vui trong sự thận trọng của tôi? Liệu Thiên Chúa có vui trong các hy sinh của tôi? Liệu Thiên Chúa có vui trong những khắc khoải của tôi về những khiếm khuyết đạo đức của thế giới? Hay có phải Người Cha đang đứng bên cạnh tôi, bên ngoài bàn tiệc, nài nỉ tôi như ông từng nài nỉ với người con cả, con không thể vì cha mà chấp nhận em con sao?

Tôi biết ơn sự giáo dục tôi được hưởng, dù tính dè dặt bẩm sinh đi kèm với nó không còn ở tôi nữa. Thận trọng là điều hay. Đó là cách sống đầy yêu thương và có trách nhiệm. Nhưng tôi lớn lên một cách thẳng thắn hơn trên các nguy cơ này. Đa số thời gian tôi như được trọn vẹn, tuy nhiên đôi lúc tôi sợ hãi nhiều hơn quảng đại, tự vệ nhiều hơn yêu thương, ghen tương nhiều hơn quan tâm lành mạnh. Sự thận trọng đôi lúc đã không cho tôi một quả tim lớn. An toàn cũng là một mối nguy cơ.

Liêm chính riêng tư

Trong bộ phim City Slickers, có một cảnh làm sáng tỏ tầm quan trọng của tính liêm chính riêng tư: Ba người bạn thân sống ở New York, rủ nhau đến nghỉ hè ở một nông trại nuôi gia súc với hy vọng chuyến đi này sẽ giúp họ xếp đặt lại các vấn đề riêng của lứa tuổi trung niên của họ.
Họ vừa cưỡi ngựa vừa thảo luận về đạo đức trong quan hệ tình dục và những nguy cơ liên hệ. Đầu tiên cuộc nói chuyện chủ yếu vào chuyện sợ người khác bắt gặp và hai trong số họ đồng ý rằng đó không phải là một việc gì đáng lo lắm. Bạn quá tin chắc là sẽ bị bắt gặp. Nhưng người bạn của họ tiếp tục đặt câu hỏi, lần này anh hỏi họ rằng liệu họ có quan hệ tình dục không nếu họ chắc chắn không bị bắt gặp:

Anh nói : “Tưởng tượng có một phi thuyền đáp xuống mặt đất. Một cô gái xinh đẹp bước ra. Bạn làm tình với cô và cô trở lại sao Hỏa. Không có hậu quả nào cả. Cũng không ai có thể biết. Các anh có làm không?”

Trưởng nhóm là Billy Crystal, anh trả lời anh ngờ là luôn luôn có thể bị bắt gặp. Anh nói: “Các bạn luôn bị bắt gặp, mọi người sẽ ngửi thấy mùi không thành thật nơi các anh.” Người bạn của anh quả quyết: “Nhưng nếu thật sự có thể quan hệ tình dục mà không bị bắt gặp. Anh có làm không?  Nếu không ai biết việc anh làm cả?” Câu trả lời của Billy Crystal là: “Nhưng tôi biết, và tôi sẽ ghét bản thân tôi về điều đó!”

Câu trả lời của anh làm nổi bật một sự thật quan trọng. Những gì chúng ta làm trong riêng tư, bí mật, nó có hệ quả và hệ quả này không thuộc vào việc bí mật bị lộ hay không. Sự tai hại của nó thì giống nhau. Những gì chúng ta làm trong bí mật góp phần đúc nặn con người chúng ta và ảnh hưởng lên cách chúng ta liên hệ với người khác một cách sâu xa hơn chúng ta ngờ. Không có cái gì giống như hành vi bí mật. Người sắc bén nhất luôn luôn biết. Chúng ta biết. Và vì thế chúng ta ghét chính mình, ghét bản thân mình vì mình nói dối, và một cách chung chung nó ảnh hưởng đến cách chúng ta quan hệ với người khác.

Những gì chúng ta làm trong bí mật rốt cùng cũng thể hiện cụ thể qua con người bề ngoài của chúng ta. Dối trá thay đổi cách nhìn của chúng ta bởi vì nó thay đổi con người thật của chúng ta. Điều đó giải thích tại sao thường thường người chung quanh sẽ trực cảm được con người thật của chúng ta, ngửi thấy vẻ không thật nơi chúng ta, ngay cả khi họ không có bất cứ một chứng cớ hiển nhiên nào để nghi ngờ chúng ta.Làm một chuyện gì đó trong bí mật mà không thể thừa nhận công khai đó chính là định nghĩa tiêu biểu của chữ đạo đức giả và tính đạo đức giả này buộc chúng ta nói dối. Trong tất cả các tội, có lẽ tội nói dối là tội nguy hiểm nhất. Tại sao? Bởi vì nó làm cho chúng ta ghét mình và không còn tôn trọng chính mình. Khi chúng ta không còn tôn trọng mình thì rất sớm, chúng ta cũng thấy người khác không tôn trọng chúng ta. Đó là nơi mà trực giác chúng ta “ngửi ra mùi” nói dối của người khác.

Hơn thế nữa, nói dối còn làm cho chúng ta chai cứng, như thế chúng ta mới sống được với sự dối trá. Tội lỗi không phải luôn luôn làm chúng ta khiêm tốn và ăn năn.  Tất cả chúng ta đều biết hình ảnh về người tội lỗi chân thật nhất, một người giống như người phụ nữ ăn năn đã xức dầu thơm lên chân Đức Giê-su. Đôi lúc đó là trường hợp của những người tội lỗi chấp nhận Đức Ki-tô một cách dễ dàng hơn những người có đạo đức và đi nhà thờ.Tuy nhiên không phải lúc nào cách này cũng được thực hiện. Hình ảnh trong Kinh Thánh về người tội lỗi chân thành khiêm tốn quay về Chúa chính là muốn nói đức tính ngay thẳng, họ không giấu cũng không nói dối về tội của mình. Khi chúng ta không thừa nhận một cách chân thành tội lỗi của mình, chúng ta đi về hướng ngược lại, đó là muốn hợp lý hóa, làm chai cứng thái độ của mình, và trở nên hoài nghi yếm thế. Hơn nữa, khi nói dối, không phải là do yếu đuối ban đầu, thì nó trở thành vết mực thật sự và nó đưa đến một mối nguy hiểm lớn hơn. Khi chúng ta che dấu một tội, chúng ta buộc phải nói dối, và với sự nói dối đó, ngay lập tức tâm hồn chúng ta chai cứng và nó bị uốn nắn lại. Bạn có thể làm bất cứ điều gì, nhưng đừng nói dối về chuyện này. Điều đó không có nghĩa là bạn có thể làm bất cứ điều gì miễn là không ai phát hiện ra việc đó. 

Phẩm chất con người chúng ta tùy thuộc vào phẩm chất liêm chính riêng tư của mình. Chúng ta cũng bệnh như căn bệnh bí mật nhất của chúng ta, chúng ta lành mạnh như đức hạnh riêng tư của mình. Chúng ta không thể làm một việc trong riêng tư và rồi phô ra và tuyên bố thành một việc khác trước mọi người được. Chẳng quan trọng nếu người khác biết hay không biết bí mật của chúng ta. Chúng ta biết, và, khi những bí mật này không lành mạnh,  chúng ta ghét chính mình và quả tim chúng ta trở nên chai cứng vì chúng ta sống trong giả dối.

Chúng ta không bao giờ nên tự lừa dối mình để nghĩ rằng những việc chúng ta làm trong riêng tư, gồm cả những hành vi rất nhỏ như không trung tín, dễ dãi, mù quáng, đố kỵ, nói xấu, không phải là không có hậu quả gì vì không ai biết. Trong huyền nhiệm của sự tương quan chặt chẽ của chúng ta như một gia đình nhân loại và như một gia đình đức tin, cậy trông, thì những hành vi riêng tư nhất của chúng ta, dù tốt hay xấu, đều như vi khuẩn nằm trong mạch máu, ảnh hưởng đến toàn thân thể. Mọi việc đều được biết đến hay cảm thấy được, không cách này thì cũng cách khác.

Người khác biết chúng ta ngay cả khi họ không biết chính xác mọi chuyện về chúng ta. Người khác ngửi ra các thói xấu, cũng như ngửi thấy các đức hạnh của chúng ta.

Phép Thánh Thể, một dâng mừng cho cuộc sống hằng ngày 

Đôi khi chúng ta quên là Chúa Giêsu sinh ra trong chuồng bò, chứ không phải trong nhà thờ, và Thiên Chúa nhập thể thì liên hệ đến bàn ăn trong nhà bếp cũng nhiều như bàn thờ hội thánh. Ngài thuộc về gia đình cũng nhiều như thuộc về tu viện. Chúng ta nên giữ điều quan trọng này trong đầu nếu muốn tìm hiểu Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là nhiệm thể Chúa Kitô, một tiếp diễn của Nhập thể, và cũng như việc Chúa sinh ra, có nghĩa là thần thiêng cụ thể nhập vào tạo vật mỗi ngày.
Vì vậy, giữa các ý nghĩa khác nữa, thì Bí tích Thánh Thể đơn giản là một bữa ăn gia đình, một mừng lễ cộng đoàn, một nơi như bàn ăn và phòng khách, nơi chúng ta hội lại để cùng nhau chia sẻ cuộc sống bình thường, để mừng những sự kiện đặc biệt, để an ủi và khóc với nhau khi cuộc sống nhuốm màu đau buồn, và để ngồi lại với nhau đơn giản là cùng ở chung với nhau.

Con người sống một mình không tốt. Thiên Chúa đã nói những lời này trước khi tạo ra Evà, và Ngài ý chỉ không phải cho ông A-dong, người đầu tiên mà thôi, nhưng là mãi mãi cho tất cả đàn ông, đàn bà, trẻ nhỏ và hết thảy tạo vật. Không ai tự mình là một hòn đảo, thậm chí một phân tử hay một nguyên tử cũng vậy. Tất cả mọi tạo vật được định liệu là phải liên kết. Bí tích Thánh Thể vinh danh điều đó.

Khi Đức Giêsu trao cho chúng ta Phép Thánh Thể, Ngài mong muốn đó là nghi lễ mời gọi chúng ta đến với nhau như một gia đình, trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Trong đức tin, như một chuyện tự nhiên, chúng ta được định liệu để đến với nhau khi vui khi buồn, khi có lễ hội, khi có dịp vui thú, khi mừng một em bé ra đời hay khi chôn cất người thân yêu, khi trao thân cho nhau trong phép hôn phối, khi cần hòa hợp, khi tràn đầy sức sống hay khi kiệt sức, khi cảm nhận sự cần thiết của người khác, khi muốn tạo khoảng cách với họ, và cả khi chúng ta chẳng có lý do nào khác hơn là bản năng tự nhiên mời gọi chúng ta đến với nhau.

Phép Thánh Thể mời gọi chúng ta tụ họp lại như một gia đình. Điều cốt lõi nhất của đời sống gia đình là chia sẻ với nhau những chuyện đặc biệt cũng như những giây phút bình thường của cuộc sống. Gia đình tụ họp lại với nhau để mừng những dịp: Sinh nhật, đám cưới, tốt nghiệp, chuyển đổi, đau ốm, tang tóc, và an táng. Vào những dịp này, bầu khí nghiêm trọng hơn, sinh lực mạnh hơn, và rõ ràng những dịp này là dịp đáng để chúng ta tụ họp lại với nhau.  

Nhưng những gia đình hỗ trợ nhau, họ cũng họp nhau thường xuyên, lý tưởng là mỗi ngày, bất kể có dịp đặc biệt hay không. Gia đình không chỉ quây quần với nhau khi có năng lực tốt, khi mọi người mạnh mẽ, khi không có ai chán chường hay giận dữ, hay khi có những dịp nào đó cần gặp nhau. Gia đình gặp nhau dù nhạt nhẽo, chán ngắt, thiếu năng lực, bận rộn, xao nhãng, mâu thuẫn cá nhân bởi vì, ngay từ đầu, họ nhận ra, dù không đầy đủ, trong đời sống gia đình việc chia sẻ các thú vui, phiền muộn, giải trí, những căng thẳng cuộc sống cũng quan trọng như chia sẻ những lúc vui sướng đặc biệt. Những buổi cơm tối với thức ăn đơn sơ, dù ăn nhanh trong 20 phút với những câu chuyện quanh quẩn ai thua ai thắng trong trấn đá banh, không giống như các bữa tiệc đêm Noel hay những lúc trò chuyện ở đám cưới hay đám tang, nhưng cũng đóng vai trò quan trọng như vậy trong việc xây dựng và giữ cho gia đình quây quần bên nhau. Gia đình là chuyện mỗi ngày, cũng như trong những dịp đặc biệt. Và Phép Thánh Thể cũng như vậy.

Với rất nhiều lý do, chúng ta đã không nhanh nhạy trong việc đón nhận nghiêm túc khía cạnh này của Phép Thánh Thể. Có lẽ do các chiều kích khác của Bí tích này quá mức thần thánh. Chúng ta không thích đón nhận điều này cũng như chúng ta phê phán những người đi nhà thờ chỉ vì khía cạnh xã hội: “Cô ấy không đi nhà thờ để cầu nguyện! Cô ấy đi nhà thờ chỉ để có dịp gặp người này người kia!” Lúc nào đây cũng là tiếng nói tiêu cực, nhưng thật ra đó cũng là một, trong các lý do tốt khác, để đến dự bí tích Thánh Thể. Nghi thức Thánh Thể được trao ban cho chúng ta bởi vì chúng ta là con người của xã hội. Đi nhà thờ để giao thiệp xã hội cũng là một lý do đáng để đi.

Tôi ước sao tôi nhận thức được điều đó như đứa trẻ đi nhà thờ trong những dịp đặc biệt, như Giáng Sinh và Phục Sinh, và nghe linh mục dùng từ “cử hành” để mô tả sự họp nhau trong Phép Thánh Thể mà không bao giờ, không một giây, nối kết điều đó với bữa ăn tối gia đình mà chúng tôi dự tính là sẽ dùng khi về đến nhà. Tôi cũng ước sao người ta cũng biết được điều này, khi họ cách xa nhà thờ, vì buồn chán hay giận dữ hay vì  cảm thấy sự hiện diện của họ chỉ mang tính xã hội chứ không phải vì cầu nguyện.

Một trong những lý do chúng ta đến nhà thờ là để cầu nguyện, nhưng chúng ta đến đó cũng cùng một lý do khi chúng ta đến bên nhau trong buổi ăn tối với gia đình. Đến được là tốt, bất kể vì lý do gì đi nữa!

Chúa không phán xét ai

Có một câu hỏi lâu đời về lòng nhân lành của Chúa, nó lâu đời cũng như tôn giáo chúng ta: Làm sao một Thiên Chúa toàn thiện lại có thể đày người nào đó xuống hỏa ngục muôn đời? Làm sao Thiên Chúa đầy yêu thương và độ lượng mà lại có hình phạt đời đời?

Đó là một câu hỏi sai. Thiên Chúa không đày bất cứ ai xuống hỏa ngục và Thiên Chúa cũng không tạo ra hình phạt đời đời. Thiên Chúa ban cho chúng ta sự sống và lựa chọn thuộc về chúng ta để đón nhận hay từ chối nó.

Đức Giê-su nói cho chúng ta biết Thiên Chúa không phán xét bất cứ ai. Chỉ có chúng ta mới phán xét nhau. Thiên Chúa không tạo ra hỏa ngục và  cũng không đày ai xuống hỏa ngục. Tuy nhiên nói vậy không có nghĩa hỏa ngục không tồn tại và nó không phải là một khả thể cho chúng ta. Điều cốt yếu là cách Đức Giê-su giải thích chuyện này ở đây:

Thiên Chúa ban sự sống của Ngài cho thế gian và chúng ta có thể chọn lựa sự sống này hoặc từ chối nó. Chúng ta tự phán xét mình trong hành động chọn lựa đó. Nếu chọn sự sống, thì cuối cùng chúng ta sẽ chọn thiên đàng. Nếu từ chối sự sống, thì chúng ta chết mà vẫn ở bên ngoài sự sống và cuối cùng đó là hỏa ngục. Nhưng sự lựa chọn thuộc về chúng ta, Thiên Chúa không đày chúng ta đi đâu cả. Hơn thế, hỏa ngục không phải là một hình phạt tích cực Thiên Chúa tạo ra để bắt chúng ta phải chịu. Hỏa ngục là sự vắng mặt của một điều gì đó, ấy là, sống trong lòng sự sống dành sẵn cho chúng ta.

Nói lên tất cả điều này không phải là để nói không có hỏa ngục, hoặc hỏa ngục không phải là một khả thể có thật cho mọi người. Hỏa ngục là có thật, nhưng nó không phải là một hình phạt tích cực  Chúa tạo ra để thực thi công lý, trừng trị cái ác hay trừng phạt người cứng lòng không biết ăn năn khi phạm lỗi. Hỏa ngục là sự vắng mặt của sự sống, tình yêu, sự tha thứ, cộng đoàn, và Chúa không đày bất cứ ai vào đó cả. Chúng ta có thể kết thúc ở đó, bên ngoài tình yêu và cộng đoàn, nhưng đó là sự lựa chọn của chúng ta nếu chúng ta, một cách đáng trách, đã từ chối nó khi tất cả đều dành sẵn cho chúng ta ngay trong cuộc đời này. Hỏa ngục, như John Shea từng nói, không bao giờ là một sự bất ngờ phục chờ ai đó đang hạnh phúc, nó là biểu hiện rõ ràng nhất của một cuộc đời từ chối tình yêu, sự tha thứ, và cộng đoàn.

Triết gia Jean Paul Sartre từng phát biểu câu nói nổi tiếng, hỏa ngục chính là người khác. Nói ngược lại cũng đúng. Hỏa ngục là những gì chúng ta trải qua khi đặt bản thân mình lên trên cộng đoàn đời sống với người khác. Đời sống con người có nghĩa là chia sẻ đời sống, chia sẻ hiện hữu, góp phần của mình vào trong cộng đoàn đời sống, đời sống bao gồm Ba Ngôi Một Thể.

Kinh Thánh nói, Thiên Chúa là tình yêu, và ai ở lại trong tình yêu, thì người ấy ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa cũng ở lại trong họ. Trong bối cảnh này, không nên hiểu tình yêu như kiểu tình yêu lãng mạn. Bản văn không nói ai rơi vào lưới tình thì đều ở lại trong Thiên Chúa (dù điều này cũng có thể đúng). Thật sự, bản văn này có thể được nói như sau: Thiên Chúa là hiện thân của sự chia sẻ, và ai chia sẻ đời sống mình với người khác, người ấy sống trong sự sống của Thiên Chúa. 
Nhưng ngược lại cũng đúng. Khi chúng ta không chia sẻ đời sống mình với người khác, chúng ta kết thúc đời sống mình ở bên ngoài sự sống. Đó, thật sự, chính là hỏa ngục.

Hỏa ngục là gì? Các hình ảnh trong Kinh Thánh nói về hỏa ngục không cố định và liên tục thay đổi. Chung chung có khuynh hướng hình dung hỏa ngục là lửa, lò lửa cháy không bao giờ tắt, nhưng đó chỉ là một hình ảnh, và nó không nhất thiết là hình ảnh nổi trội trong Kinh Thánh. Trong các điều được nói đến, Kinh Thánh nói về hỏa ngục như là nơi gánh chịu cơn phẫn nộ của Thiên Chúa, như ở ngoài tiệc cưới và lễ hội, nơi tang tóc, khóc lóc và nghiến răng, nơi giống như thung lũng Gehenna (chứa rác bên ngoài thành Giêrusalem), nơi bị giòi bọ rúc rỉa, như là lửa, như hụt buổi dạ tiệc, như ở bên ngoài nước trời, như sống với quả tim đau đớn bị bóp méo, như đang hụt sự sống. Cuối cùng, tất cả những hình ảnh này đều nhắm đến một điểm chung: Hỏa ngục là nỗi đau và cay đắng, thứ lửa, chúng ta phải chịu khi, một cách đáng trách, chúng ta đã đặt bản thân mình ra ngoài cộng đoàn đời sống. Và luôn luôn nó do tự mình làm khổ mình. Thiên Chúa không bao giờ áp đặt nó trên chúng ta cả. Thiên Chúa không ban sự chết chóc và đày ai xuống hỏa ngục.

Khi Đức Giê-su nói về Thiên Chúa, Người không bao giờ nói Thiên Chúa ban cả sự sống và sự chết, Người chỉ nói Thiên Chúa ban sự sống mà thôi. Sự chết có nhiều nguyên nhân, từ việc nói dối, hợp lý hóa, cay chua gắt gỏng, cứng lòng, và hỏa ngục. Khi nói Thiên Chúa không tạo ra hỏa ngục và đày bất cứ ai vào đó thì không có ý phủ nhận sự tồn tại của cái ác, tội lỗi và nguy cơ của hình phạt đời đời, điều này chỉ nhằm xác định các căn nguyên và làm rõ đó là ai, ai hay phán xét, ai hay kết án. Thiên Chúa thì không; Ngài không tạo ra hỏa ngục cũng không đày ai vào đó cả. Chúng ta thì làm cả hai.

Như Đức Giê-su nói trong Phúc Âm thánh Gio-an: Thiên Chúa không sai Con của Ngài giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con Ngài mà được cứu độ. Ai tin vào Người Con thì người đó không bị luận phạt; ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa. Và đây là án phạt, sự sáng đã đến với thế gian, và người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng.

Ta không phán xét ai cả.Người không cần phán xét.

Sự giàu có của Thiên Chúa là lời mời gọi cho lòng quảng đại 

Mặt trời hào phóng một cách lạ thường, không giây phút nào là nó không chiếu sáng nhất.
Các nhà khoa học cho biết, bên trong mặt trời, cứ mỗi giây có một tỉ lệ tương đương với bốn triệu con voi được chuyển hóa thành ánh sáng, một thứ quà tặng chỉ biết cho đi, không bao giờ biết nhận lại. Mặt trời vẫn tiếp tục đốt cháy nó. Nếu sự hào phóng này ngừng lại, đương nhiên tất cả năng lượng sẽ mất nguồn cung cấp, mọi sự sẽ chết và bất động. Chúng ta, và mọi vật trên hành tinh này, sống được là nhờ sự hào phóng của mặt trời.

Trong sự hào phóng này, mặt trời phản ánh sự giàu có của Thiên Chúa, một sự hào phóng mời gọi chúng ta cũng trở nên hào phóng theo, mở rộng quả tim, dấn thân nhiều hơn để tận hiến bản thân mình trong công việc hy sinh, để làm chứng nhân cho sự giàu có của Thiên Chúa.

Nhưng điều này không dễ. Một cách bản năng, chúng ta có khuynh hướng tự nhiên là tích trử và để dành để cho cuộc sống được an toàn. Bản chất chúng ta là sợ và sống chùm với nhau. Vì vậy, dù nghèo hay không, chúng ta đều có cảm nhận thiếu thốn, luôn luôn sợ mình không có đủ, và vì không có đủ, chúng ta phải cẩn thận khi cho, chúng ta không thể quá hào phóng được.

Nhưng Thiên Chúa làm ngược lại với điều tự nhiên trên. Thiên Chúa rộng rãi, giàu có, quảng đại, và hào phóng vượt ra ngoài những lo sợ và tưởng tượng nhỏ nhoi của chúng ta. Vũ trụ của Thiên Chúa quá phong phú và phi thường. Kích thước của vũ trụ, chỉ tính riêng về những gì con người đã khám phá, cũng đã là không tưởng tượng nổi. Quá dồi dào và hào phóng là đặc nét của Thiên Chúa.
Chúng ta thấy điều này qua dụ ngôn Người gieo giống trong Kinh Thánh: Người gieo giống, đại diện cho Thiên Chúa, người mà Đức Giê-su mô tả, không phải là người  tính toán, gieo cẩn thận và chỉ gieo ở những mảnh đất màu mỡ. Người gieo giống này gieo không phân biệt nơi gieo: bên vệ đường, trong bụi gai, trên đá, nơi mảnh đất cằn cỗi, cũng như nơi tốt tươi. Hình như ông quá dư hạt giống nên có thể nói cách gieo giống của ông xuất phát từ tính hào phóng của sự dồi dào hơn là tính thận trọng của sự thiếu thốn. Chúng ta cũng thấy sự giàu có này trong dụ ngôn người làm công vườn nho, gia chủ, đại diện cho Thiên Chúa, trả công đồng đều cho tất cả người làm công, không phân biệt ai trước ai sau. Thiên Chúa, như chúng ta biết, giàu có vô hạn và không bao giờ tính toán chi ly trong việc ban phát.

Thiên Chúa cũng rộng rãi và quảng đại khi tha thứ, như chúng ta thấy trong các phúc âm. Trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu, người cha tha cho người con hoang đàng, ông cho vượt lên sự giàu có của ông, nhiều khi sự giàu có này làm cho nhân phẩm bị mất vì quá tính toán cho mình. Chúng ta cũng thấy sự rộng rãi này nơi Đức Giê-su khi Người tha thứ cho kẻ hành hình cũng như tất cả những ai bỏ Người trong cuộc thương khó.Qua những gì chúng ta thấy, Thiên Chúa quá giàu tình yêu, quá giàu lòng thương xót nên Ngài mới phung phí, quá quảng đại, không tính toán, không kỳ thị, dám nhận bất trắc, và có quả tim rộng lượng vượt quá trí tưởng tượng chúng ta.
Và đó là lời mời gọi: Để có được một khái niệm về sự giàu có của Thiên Chúa, một giàu có dám nhận bất trắc, chúng ta cần có một quả tim luôn rộng mở và một lòng quảng đại vượt lên trên bản năng sợ hãi, bản năng làm chúng ta nghĩ rằng, chỉ vì chúng ta không có đủ nên cần tính toán chi ly nhiều hơn.

Trong tất cả các phúc âm, phúc âm thánh Lu-ca chứa đựng một trong những sứ điệp mạnh mẽ nhất về đức công bình (cứ sáu hàng là có một thách thức trực tiếp với đức công bình đối với người nghèo) nhưng tuy thế, trong phúc âm thánh Lu-ca, Đức Giê-su vẫn nhắc nhở về mối hiểm nguy của giàu có, Ngài không bao giờ lên án sự giàu có hay người giàu có. Hơn thế Người phân biệt sự giàu có quảng đại và giàu có bủn xỉn. Người giàu có quảng đại tốt lành vì họ tỏa ra và hiện thân cho sự giàu có và lòng quảng đại của Thiên Chúa trong khi  người giàu có bủn xỉn không tốt bởi vì họ đưa ra một hình ảnh sai lầm về sự giàu có, quảng đại, và quả tim rộng lớn của Thiên Chúa.
Đức Giêsu bảo đảm với chúng ta rằng chúng ta đong đấu nào sẽ nhận lại đấu đó. Điểm chính là nói lên rằng không khí chúng ta thở ra là không khí chúng ta hít vào. Điều đó không chỉ đúng về mặt sinh thái học mà nó còn đúng cho mọi khía cạnh chung của cuộc sống. Nếu chúng ta thở ra sự bủn xỉn, chúng ta sẽ hít vào sự bủn xỉn; nếu chúng ta thở ra tính nhỏ nhen, chúng ta sẽ hít vào tính nhỏ nhen; nếu chúng ta thở ra sự gắt gỏng cay chua, chúng ta cũng sẽ hít vào sự gắt gỏng cay chua đó; và nếu chúng ta thở ra sự thiếu thốn khiến chúng ta tính toán và dè dặt, thì sự toán tính và dè dặt đó sẽ là không khí chúng ta hít vào. Nhưng, nếu nhận thức được sự giàu có của Thiên Chúa, chúng ta sẽ thở ra lòng quảng đại và bao dung, và khi đó chúng ta sẽ hít  không khí quảng đại và bao dung vào. Chúng ta hít vào những gì chúng ta thở ra.

Tôi chưa bao giờ gặp ai thật sự có lòng quảng đại mà họ lại không nói rằng, lúc nào họ cũng nhận được nhiều hơn cho. Và tôi cũng chưa bao giờ gặp một ai thật sự có quả tim rộng rãi mà lại sống trong cảm nhận mình thiếu thốn. Để có lòng quảng đại và quả tim rộng mở thì trước hết chúng ta phải tin vào sự giàu có và lòng quảng đại của Thiên Chúa.

Nhờ sự giàu có của Thiên Chúa mà chúng ta nhận được ánh sáng mặt trời, một vũ trụ lớn lao hào phóng vượt sức tưởng tượng của loài người. Đó không phải chỉ là thử thách cho tinh thần và trí tưởng tượng, nhưng đặc biệt là thử thách cho quả tim, để nó trở nên giàu có và quảng đại hơn. 

Tự do và bảo thủ chúng ta cần cả hai

Nhà đấu tranh quá cố Malcolm X được nuôi dạy  là người Kitô nhưng đến một thời điểm trong cuộc đời, ông theo đạo Hồi. Tuy thế, trong thâm tâm và trong sứ vụ của ông, ông khi nào cũng là người Kitô. Lúc nào ông cũng có quyển kinh Koran và Tân Ước trong người. Ông thấy cần có cả hai. Ông giảng giải điều đó như sau:

Đa số những người mà tôi làm việc cần kỷ luật nghiêm nhặt của Allah cốt để đời sống của họ có quy củ, nhất là đời sống đạo đức và tôn giáo. Sau đó, khi đã có những điều thiết yếu trong tay, sẽ đến lúc họ tìm đến với tình yêu tự do hơn của Đức Giê-su.

Những gì Malcolm X xuất sắc đặt kề nhau ở đây là sự căng thẳng có muôn đời giữa kỷ luật phải theo và tính trưởng thành cá nhân, giữa câu chữ của lề luật và ý nghĩa của nó, giữa người bảo thủ và người tự do. Và ông khẳng định chúng ta cần cả hai: kỷ luật để nghe theo và tính trưởng thành cá nhân, lề luật và ý nghĩa của nó, bảo thủ và tự do.

Buồn thay những tiếng nói như thế này ngày nay đã hiếm đi ở cả hai phía của phạm vi tư tưởng. Người tự do và người bảo thủ, cả trong giáo hội và xã hội, đều có khuynh hướng nói xấu về nhau, ghen ghét lẫn nhau và đều thiếu đi lòng ngưỡng phục, đồng cảm, thấu hiểu, và ngay cả lễ độ với nhau. Mỗi phía đều có chân lý riêng của mình và, không như Malcolm X, không phía nào thấy cần bất kỳ chân lý nào ngoài chân lý của mình. Cho phép tôi lấy một ví dụ:
Trong các giáo hội hôm nay, phái tự do và phái bảo thủ đều sẽ đồng ý rằng không có gì là lý tưởng, cần phải làm một cách khác. Tuy nhiên họ có những cách nhìn khác nhau về cách nhìn vấn đề và cách nó được nói lên.

Phái bảo thủ thường có khuynh hướng chú trọng vào sự thiếu sót của những điều căn bản. Họ thấy, chung chung các thế hệ Ki-tô nổi lên chưa bao giờ mang đặc tính căn bản thiết yếu, thiếu hiểu biết nền tảng về căn tính cấu thành đạo Ki-tô và những gì tạo nên ranh giới riêng về đạo đức và tôn giáo. Vì thế họ nhấn mạnh, đôi lúc gần như không khoan dung, vào bản sắc toàn vẹn, vào những giới hạn riêng và nét khác biệt so với người khác, và vào những quy tắc và kỷ luật, kèm theo sự sốt ruột và (thường) tức giận những ai thách thức quan điểm này của họ.

Ngươc lại, phái tự do chú trọng đến một vài chuyện khác. Khi nhìn vào giáo hội ngày nay, họ thấy rằng chưa bao giờ trong lịch sử 2000 năm của Ki-tô giáo, các tín hữu có trình độ, có học thức, và có óc suy xét thần học như hôm nay. Vì thế, họ nhấn mạnh, thường cũng mạnh mẽ và quyết liệt như phái bảo thủ, nhưng sự biện giải và cái toàn bộ mà họ nhấn mạnh hoàn toàn ngược lại với những giới hạn nghiêm khắc và căn tính toàn vẹn mà phái bảo thủ mong muốn. Phái tự do nhận thấy hàng triệu người đang cảm thấy xa cách với các giáo hội của họ (ví dụ, cộng đoàn đông tín hữu đứng thứ nhì về số lượng ở Hoa Kỳ ngày nay là xuất phát từ các giáo hội Công Giáo La Mã cũ) và họ kết luận những gì cần để các quả tim và thái độ này cảm kích không phải là giáo lý rõ ràng hơn hay ranh giới chặt chẽ hơn, mà là nhấn mạnh lại một cách chính xác vào phúc âm của tình yêu, vòng ôm rộng mở hơn, và tính trưởng thành cá nhân trên các lề luật.

Cả hai đều đúng. Về bản chất những gì chúng ta thấy trong sự căng thẳng giữa người bảo thủ và người tự do trong giáo hội và xã hội hôm nay chính là sự căng thẳng mà Malcolm X đã cố gắng giải quyết cho chính mình bằng cách mang theo kinh Koran và Phúc Âm trong túi. Chúng ta cũng thế cần mang theo bên mình một vài nguyên tắc bảo thủ và một vài nguyên tắc tự do.
Có một nhu cầu cần thiết hôm nay để định nghĩa một cách mạnh mẽ bản sắc và để sắp đặt các ranh giới rõ ràng. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy chúng ta thường thiếu tính trưởng thành cá nhân và nội lực để sống với phúc âm của tình yêu mà không cần đến luật. Để đối diện với những yếu đuối và hoang mang của mình chúng ta cần kỷ luật của lề luật, giáo lý rõ ràng, tính độc nhất và bảo vệ cái mà theo nghĩa gốc của chúng là chủng viện. Tuy nhiên đó không phải là tất cả những gì chúng ta cần. Để sống với đức tin của mình trong một cách mà, cuối cùng, chúng ta tôn trọng tình thương phổ quát của Chúa, tình thương cho từng người và tôn trọng nhân cách riêng của chúng ta, chúng ta cần quả tim rộng mở và một tôn giáo của tự do và tính trưởng thành cá nhân. Chúng ta cần cả người tự do và người bảo thủ.

Tuy nhiên nếu cứ phân ra hai thái cực cả trong giáo hội và xã hội như hiện nay, thì chúng ta sẽ khó đồng cảm, thấu hiểu, tôn trọng, đối xử có văn hóa với nhau được. Mỗi phía đều quá xác tín rằng Thiên Chúa đứng về phía mình, tầm nhìn của mình là quan trọng, ý kiến riêng của mình là đáng kể trong lịch sử, điều đó làm cho họ thấy người kia không thành thật, ngốc nghếch, ích kỷ, nguy hiểm mà lại là người chiến đấu nhân danh Chúa.

Nhưng chân lý đích thửc là chúng ta cần lẫn nhau. Người tự do cần người bảo thủ; người bảo thủ cần người tự do; xã hội và giáo hội cần lẫn nhau. Người bảo thủ có lý khi nhìn vào gốc rễ và họ có lý khi nhận thấy rằng ngày nay gốc rễ chúng ta không còn mạnh mẽ và được nuôi dưỡng. Người tự do có lý khi nhìn vào tính trưởng thành và họ có lý khi nhận thấy chúng ta không có được tính trưởng thành và quả tim rộng mở. Có lẽ, bắt chước như Malcolm X, tất cả chúng ta nên mang theo giáo lý và Phúc Âm thánh Gio-an trong túi và trong tim mình.

Ngôn ngữ tôn giáo như một biểu tượng

Trước khi cha Henri Nouwen viết cuốn sách Người con hoang đàng trở về, sau này trở thành tác phẩm tiêu biểu của cha, cha đã đến tận bảo tàng Hermitage ở Nga để ngắm bức họa nổi tiếng Người con hoang đàng trở về của danh họa Rembrandt trong suốt nhiều ngày. Cha được viện bảo tàng cho phép mang ghế vào ngồi hàng giờ, nghiên cứu bức tranh từ đủ mọi góc cạnh, để nó dấy lên trong tâm hồn cha những tâm trạng khác nhau. Kết quả là cha đã viết được một tác phẩm hay nhất về bức danh họa của Rembrandt cũng như ý nghĩa của dụ ngôn liên quan trong phúc âm.

Những gì cha Henri Nouven đã làm với bức tranh của danh họa Rembrandt là những gì chúng ta cần làm với ngôn ngữ cổ điển của Kinh Thánh, tín điều, và giáo lý. Đây là loại ngôn ngữ có tính biểu tượng hơn là nghĩa đen, là ngôn ngữ ẩn dụ hơn là ngôn ngữ đời thường, hình ảnh sâu đậm hơn là cuộn băng ghi hình thực tế. Không có nghĩa là không đúng đắn hay  như câu chuyện thần thoại “Alice lạc vào xứ sở thần tiên”. Nó hết sức đúng đắn, đến mức chúng ta có thể máng đời sống mình lên chân lý của nó. Nhưng nó cần được nghiên cứu, chiêm nghiệm, gối quỳ, cầu nguyện với nó, hơn là chỉ bám lấy trên nghĩa câu chữ.

Cho phép tôi lấy một ví dụ: Hãy thử xem ngôn ngữ và hình ảnh quanh cuộc khổ nạn của Đức Giê-su lúc Người cứu chuộc tội lỗi chúng ta.
Kinh Thánh, tín điều, và truyền thống Ki-tô giáo chúng ta có một loại ngôn ngữ cho việc này. Một trong những câu chúng ta hay nói là: “Đức Giê-su đã chuộc tội cho chúng ta. Máu của Người đã cứu chúng ta. Người đã chuộc lấy món nợ tội lỗi. Chúng ta được rửa sạch trong máu của Người, máu của Con Chiên Thiên Chúa. Người là Con Chiên Thiên Chúa xóa tội trần gian. Sau một thời gian dài chết vì tội tổ tông, Người đã khôi phục sự sống lại cho chúng ta. Người đã chiến thắng sự chết, một lần cho tất cả. Nhờ thương tích của Người chúng ta được chữa lành. Người hy sinh đời đời cho Chúa Cha. Người gánh chịu cái chết thay cho chúng ta. Người mở ra các cánh cửa thiên đường. Người đập tan ách thống trị và quyền lực của sự dữ. Người xuống hỏa ngục.”

Chấp nhận sự thật của ngôn ngữ này là một chuyện, giải thích theo phạm trù và ngôn ngữ đời thường là một chuyện khác. Quanh cuộc khổ nạn của Đức Giê-su, chúng ta có ngôn ngữ nhưng không có từ vựng. Chúng ta biết ý nghĩa của nó, nhưng chúng ta chưa bao giờ có thể giải thích nó một cách trọn vẹn.

Chính xác chúng ta muốn nói gì trong những câu nói này? Bằng cách nào cuộc khổ nạn của Đức Giê-su cứu lấy tội lỗi cho tôi? Bằng cách nào cuộc khổ nạn của Người gánh lấy những thiếu sót của nhân loại, bao gồm cả những thiếu sót của chính tôi, qua hàng thế kỷ? Tại sao Thiên Chúa cần một ai đó chịu đau đớn cùng cực để thứ tha tội lỗi cho tôi? Bằng cách nào cuộc khổ nạn của Đức Giê-su mở ra các cánh cửa thiên đàng? Tại sao trước đó cánh cửa lại bị đóng kín? Trong cuộc khổ nạn của Đức Giê-su, việc Người đi xuống hỏa ngục có ý nghĩa như thế nào?

Các giải thích về nghĩa đen sẽ ngắn gọn ở đây. Các lời nói này giống biểu tượng nhiều hơn, biểu tượng nhấn mạnh đến hình thức để nói lên bản chất. Ngôn ngữ của Kinh Thánh, các tín điều và giáo lý đặt chúng ta chạm đến một điều gì đó chúng ta có thể biết nhưng phải gắng sức để khái niệm hóa và giải thích nó. Nó mang nghĩa là phải được nắm lấy ở những tầng mức vượt xa khả năng hiểu biết của con người. Đó là một ngôn ngữ để quỳ gối và chiêm nghiệm hơn là ngôn ngữ chỉ để hiểu ở mức độ câu chữ.

Cách đây vài năm, tạp chí TIME có viết câu chuyện về cuộc khổ nạn của Đức Giê-su, để thực hiện đề tài này, họ phỏng vấn và đặt câu hỏi rất nhiều người để xem họ hiểu câu máu của Đức Giê-su rửa sạch như thế nào. Một trong số những người được phỏng vấn là JoAnne Terrell, tác giả cuốn sách Quyền lực trong Máu? Thập Giá trong kinh nghiêm sống của Người Mỹ Gốc Phi. Đối với JoAnne Terrell, câu hỏi về cách máu của Đức Giê-su cứu chúng ta như thế nào đã làm cho bà có một cuộc tìm kiếm riêng tư sâu đậm. Ngồi trong lớp học trường Dòng, tìm hiểu cuộc khổ nạn của Đức Giê-su, bà hồi tưởng lại: Lúc trẻ bà đã tận mắt chứng kiến mẹ mình bị bạn trai sát hại. Bà nhớ lại rất rõ chiếc nệm ướt đầy máu và những dấu tay dính máu của mẹ in trên tường. Cuộc tìm kiếm đó chính là cuộc tìm kiếm “để tìm ra mối liên hệ giữa câu chuyện của mẹ tôi, của tôi và của Đức Giê-su.”

Đối với JoAnne Terrell, ngôn ngữ quanh cuộc khổ nạn của Đức Giê-su, máu và nỗi đau của Người, trở thành một biểu tượng đầy ý nghĩa để chiêm nghiệm. Như cha Henri Nouwen, JoAnne Terrell đã quay vòng chiếc ghế của mình để nhìn nó từ nhiều góc cạnh khác nhau và thấy cách nó nói với bà trong các tình huống của cuộc đời, về máu trong chính cuộc đời mình. Ngôn ngữ của máu cứu chuộc đã đem lại ý nghĩa và chân giá trị cho máu của mẹ bà.

Bất cứ khi nào chúng ta xem Thánh Kinh, tín điều, và giáo lý đức tin như những phát biểu đơn thuần của lịch sử, như tài liệu báo chí theo nghĩa đen là khi đó chúng ta tự lừa dối mình. Thánh Kinh, tín điều và giáo lý đức tin có tính lịch sử và đúng đắn, nhưng ngôn ngữ xung quanh chúng không phải là ngôn ngữ của báo chí hằng ngày. Chúng bám vào lịch sử và chúng ta mạo hiểm đời sống mình trên sự thật của chúng, nhưng chúng nói với chúng ta nhiều điều như một biểu tượng chứ không phải là tờ báo cũ. Ngôn ngữ của chúng có nghĩa là phải được chiêm nghiệm, gối quỳ trước chúng và ngấm vào trong quả tim khi chúng ta trải nghiệm ngày càng sâu hơn huyền nhiệm của cuộc sống.

Người vô thần, người nói châm biếm chỉ là tên gọi khác để gọi một ai đó không hiểu thấu được các ẩn dụ.