RonRolheiser,OMI

Thư ngỏ gởi người không đi nhà thờ

Người lữ hành thân mến:

Tôi xin chào bạn, người đang kiếm tìm hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống, giống như tất cả chúng tôi. Tôi biết là bạn rất chân tình nếu không bạn đã không đọc bức thư này. Nhưng trước hết, tôi mong bạn biết: Chúng tôi nhớ bạn khi ở nhà thờ. Không có chúa nhật nào qua đi mà chúng tôi không cảm thấy sự vắng mặt của bạn. Chúng tôi nhớ bạn. Xin bạn đến với chúng tôi.

Đúng, tôi biết đây không phải là chuyện đơn giản. Triết gia Pascal từng nói, con tim có những lý lẽ của nó. Mà nhà thờ cũng có những chuyện phức tạp. Có thể chính một trong những chuyện phức tạp này đã làm bạn thấy khó bước qua ngưỡng cửa nhà thờ. Vì thế, tôi sẽ không cố gắng tô hồng nhà thờ làm gì. Nhà thờ là một biểu hiện còn-lâu-mới-đầy-đủ cho tình thương và lòng nhân từ của Chúa và cũng là một biểu hiện còn-lâu-mới-đầy-đủ cho ý chí cứu rỗi của Chúa đối với tất cả mọi người.  Đôi khi nhà thờ lại ngăn chận tình yêu của Chúa cũng nhiều như mức độ nó vén mở tình yêu này. Từ xưa đến nay, và bây giờ vẫn vậy, nó vẫn là một cỗ xe vừa mang ân phúc lại vừa gây tội lỗi. Làm sao chúng ta có thể vượt lên được khía cạnh đen tối này?

Về già, Carlo Carretto, văn sĩ nổi tiếng người Ý đã viết bài ca ngợi nhà thờ như sau:

Tôi phải phê phán người nhiều biết bao, nhà thờ của tôi, ấy vậy mà tôi yêu người nhiều biết bao!
Người đã làm cho tôi khổ đau nhiều hơn ai hết, ấy vậy mà tôi cũng hàm ơn người nhiều hơn ai hết.
Tôi những muốn thấy người bị hủy diệt, ấy vậy mà tôi cần sự có mặt của người
Người đã tạo ra quá nhiều tai tiếng cho tôi, ấy vậy mà chỉ duy nhất người mới làm cho tôi hiểu thế nào là thánh thiện.
Không ở đâu trên thế gian này tôi thấy nhiều chuyện trái khuấy, sai trái hơn ở người, ấy vậy mà, tôi cũng chưa bao giờ trực nhận điều gì tinh khiết hơn, quảng đại hơn và đẹp đẽ hơn người.
Vô số lần tôi đã muốn đóng sập cửa tâm hồn tôi vào mặt người, ấy vậy mà, hằng đêm, tôi cầu nguyện để tôi có thể chết trong vòng tay vững chãi của người!
Không, tôi không thể nào không có người, bởi tôi là một với người, cho dù không phải là người trọn vẹn.
Vậy thì – tôi sẽ đi đâu?
Đi xây một nhà thờ khác?
Nhưng tôi không thể xây một nhà thờ nào khác không có cùng khiếm khuyết, vì chúng chính là những khiếm khuyết của tôi. Hơn nữa, nếu tôi xây một nhà thờ khác, nó là nhà thờ của tôi, không phải là nhà thờ của Chúa.
Không, tôi đã già dặn., Tôi đã hiểu hơn!

Đó là một mô tả chín chắn về nhà thờ, vừa thực tế, vừa biểu lộ tình thương.  Đó cũng là một mô tả chân thực. Nhà thờ có một lịch sử lâu dài, một lịch sử vừa ân phúc vừa tội lỗi, và chúng ta, những người dựng nhà thờ trên trần thế đã không vinh danh Chúa cho đúng. Không ai vinh danh Chúa trọn vẹn. Chúng ta cần phải chấp nhận sự thật đó.

Tôi chỉ có thể suy đoán về những lý do khiến bạn không đi nhà thờ thường xuyên hay hoàn toàn không đến nhà thờ: Có thể bạn đã bị Nhà thờ làm tổn thương, có thể do chính cơ chế của Giáo hội, hoặc do một trong các linh mục hay các thừa tác vụ. Có thể bạn là một trong những người có một trực nghiệm về sự chai đá, vô cảm và phỉ báng của nhà thờ đối với bạn. Hoặc về mặt trí tuệ, bạn thất vọng về nhà thờ, không thấy những giáo lý của nó phù hợp với cách hiểu của bạn về cuộc sống và các huyền nhiệm của cuộc sống. Hoặc cũng có thể bạn đã tìm thấy những gì bạn đang kiếm tìm ở một nơi nào khác, bên ngoài cánh cửa nhà thờ ngày xưa còn bé bạn đã đi. Hoặc bạn đã xa nhà thờ và không còn nghĩ đến nó nữa Cũng có thể bạn thấy không cần nhà thờ trong cuộc sống của bạn. Hoặc, bạn tin chắc rằng Chúa Giêsu và những lời giảng dạy của Chúa đã bị nhà thờ làm ô nhiễm, rằng Chúa Giêsu không bao giờ muốn xây nhà thờ, chỉ muốn dân chúng ghi khắc trong tim lời Chúa dạy, sống trong tình yêu và có thiện tâm. Có rất nhiều lý do khiến người ta không đi nhà thờ. Tôi chỉ có thể suy đoán về những lý do của bạn mà thôi.

Nhưng lý do bạn không đi nhà thờ không phải là điều quan trọng của lá thư này. Ở đây tôi không muốn bảo vệ nhà thờ, viện dẫn đôi điều biện hộ cho nó, hay lý luận phản bác lại một trong những lý do người ta đưa ra để không đến nhà thờ. Tôi cũng không muốn cố gắng đưa ra những lý do mà tôi nghĩ là giải thích vì sao đến nhà thờ là chuyện quan trọng. Đây không phải là lời biện hộ, mà là một lời cầu xin, một lời mời:

Xin bạn quay về! Hãy cùng chúng tôi một lần nữa! Hoặc, nếu bạn chưa bao giờ thuộc về một nhà thờ nào, thì hãy đến với chúng tôi!

Có thể lần này bạn sẽ tìm thấy sức sống nơi nhà thờ và sẽ có thể đón nhận một vài ân phúc. Có thể lần này, bạn sẽ thấy nhà thờ trong chính bản thân mình để tha thứ những khiếm khuyết của nhà thờ, thấy những khiếm khuyết này cũng chính là khiếm khuyết của bạn, và thấy vì sao Chúa Giêsu lại chọn một cỗ xe không hoàn hảo như vậy để chuyển tải sự hiện diện của Người. Cũng có thể lần này bạn sẽ thấy ở nhà thờ điều mà Chúa Giêsu cũng đã từng thấy – một đoàn hội không hoàn hảo gồm những người như bạn và tôi, đầy tội lỗi, đầy ngã chấp, tủn mủn, nhỏ nhen, không chân thành, bủn xỉn, ô uế, nhưng cũng đầy ân sủng, đầy Chúa Kitô, bao dung, chân thành, quảng đại và thanh khiết, một nhóm người đáng để mình hy sinh vì họ – và thuộc về. Bạn hãy đến với chúng tôi!
 
Kẻ lữ hành và thành viên khiếm khuyết của nhà thờ.

Động đất ở Haiti và câu hỏi thần học

Thiên Chúa ở đâu trong vô số các bi kịch xảy ra trên thế giới? Thiên Chúa ở đâu khi người hiền gặp chuyện dữ? Thiên Chúa ở đâu trong các trại cải tạo?

Đây là những câu hỏi được lặp đi lặp lại không ngừng, khi chúng gom lại với nhau thì chúng mang tính thần học, câu hỏi về Thiên Chúa và về nỗi đau con người.

Thường thường câu hỏi này gây nhức nhối cho chúng ta, giống như trận động đất ở Haiti tuần trước. Ước tính có trên 200 000 người chết, hàng ngàn người bị thương, hàng trăm ngàn người mất nhà cửa, hàng ngàn người đối diện với nguy cơ mắc bệnh do  thiếu nước sạch, thực phẩm, nhà ở, vệ sinh. Thủ đô Haiti gần như hoàn toàn bị hư hại, và ai ai trong đất nước này đều cũng có một người thân yêu bị chết. Và tất cả chuyện này đã xảy ra cho một trong các quốc gia nghèo nhất thế giới – một dân tộc có đức tin sâu đậm vào Thiên Chúa.

Thiên Chúa ở đâu trong tất cả chuyện này? Làm cách nào có một cái nhìn đức tin để hiểu tất cả chuyện này? Thật không dễ dàng.

Khi tìm câu trả lời trong Kinh Thánh, các bản văn của Do thái hay của Đức Giê-su không tìm cách xử lý vấn đề theo cái nhìn triết học như các tác giả chú giải Ki-tô và Do thái thường hay làm. Thay vào đó, Thánh Kinh và Đức Giê-su chỉ làm hai điều: Trước hết, đặt nỗi đau và bi kịch vào trong một cái nhìn rộng lớn hơn nơi Thiên Chúa được hiểu là đấng cứu chuộc nỗi đau hơn là giải thoát nó ra khỏi chúng ta. Thứ hai, quả quyết với chúng ta rằng Thiên Chúa ở cùng chúng ta, cùng chịu nỗi đau với chúng ta, trong mọi bi kịch.

Chẳng hạn, bất cứ ai theo dõi các bài đọc phụng vụ hàng ngày ở nhà thờ, đều không thể không chú ý rằng, từng có một sự kiện ám ảnh tương tự như những gì xảy ra ở Haiti và những gì được mô tả trong Thánh Thư trích từ Sách Samuen. Sau đây là một trích đoạn Thánh Thư của bài đọc phụng vụ sau trận động đất:

Dân sai người đi Si-lô; từ đó họ mang về Hòm Bia Giao Ước của Đức Chúa các đạo binh, Đấng ngự trên các thần hộ giá; ở đó, bên cạnh Hòm Bia Giao Ước của Thiên Chúa, có hai con ông Ê-li là Khóp-ni và Pin-khát. Khi Hòm Bia Giao Ước của Đức Chúa xuống trại, toàn thể Ít-ra-en hò reo vang dội khiến đất rung chuyển… (Và bằng đức tin và sự tin tưởng như thế, dân Ít-ra-en đã đi vào cuộc chiến, song)… Ít-ra-en bị đánh bại và ai nấy chạy trốn về lều của mình. Đó là một đòn rất đau: về phía Ít-ra-en có ba mươi ngàn bộ binh tử trận. Hòm Bia Thiên Chúa bị chiếm đoạt, và hai con ông Ê-li là Khóp-ni và Pin-khát bị giết.

Tác giả nào đó đã không quá sức tưởng tượng để viết một sự kiện ám ảnh tương tự:

Cũng thế người dân Haiti đã sống tin tưởng và chân thành theo đức tin Ki-tô. Họ đi nhà thờ, chịu Mình Thánh Chúa, thắp lên ngọn nến canh thức cho Thiên Chúa. Họ tin tưởng Chúa sẽ bảo vệ họ. Nhưng ở đó vừa xảy ra một trận động đất kinh hoàng. Hàng trăm ngàn người chết, các tòa nhà lớn bị san bằng, các nhà thờ bị phá hủy, nhà thờ chánh tòa thì tan hoang, và vị Tổng giám mục bị chết.

Vậy Thiên Chúa ở đâu trong tất cả chuyện này?

Sách Samuen không tìm cách giải thích sự kiện ngày hôm đó, ngày mà dân tộc chưa kịp vui mừng về đức tin và sự tin tưởng của mình vào Thiên Chúa thì đã bị thua trận. Sách Samuen không tìm cách giải thích Thiên Chúa đã ở đâu khi chuyện này xảy ra. Sách chỉ đơn giản kể tiếp câu chuyện và, cuối cùng, chúng ta thấy cách Thiên Chúa cứu chuộc bi kịch từ chính cái bi kịch mà người đã không giải thoát các nạn nhân trong đó. Sách Samuen nói rõ Thiên Chúa luôn ở với dân Ít-ra-en, ngay cả khi họ bị đánh bại.

Chúa Giêsu cũng cho chúng ta cái nhìn tương tự: Khi ông La-da-rô hấp hối, Người không vội vã đến cứu ông. Người đợi cho đến khi La-za-rô chết mới đến thăm. Người được hai người chị của La-za-rô là Matta và Maria ra đón và hỏi Người câu hỏi nhức nhối: Thầy đã ở đâu khi em con hấp hối? Tại sao Thầy không đến cứu em con?

Chúa Giêsu không trả lời. Người chỉ nói: “Các con để xác anh ở đâu?” Họ trả lời: “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem!” Họ dẫn Đức Giê-su ra nghĩa trang và khi thấy ngôi mộ táng anh La-da-rô, Người  ngồi xuống và liền khóc. Người đi vào và chia sẻ nỗi buồn với hai người chị. Rồi sau đó Người mới làm cho La-da-rô sống lại.
   
Thiên Chúa ở đâu khi động đất xảy ra ở Haiti?

Chúa đang khóc với họ, đau buồn bên các ngôi mộ, buồn bã bên cạnh những tòa nhà đổ nát. Người đã ở đó, Người không giải cứu theo kiểu phim Hollywood hay Siêu Nhân. Nhưng Người bảo đảm Người sẽ chuộc lại những gì đã mất. Trong thời gian của Chúa, rốt cùng, không một cuộc đời hay một giấc mơ nào chết đi ở Haiti mà không được cứu chuộc. Cuối cùng, tất cả rồi sẽ đâu vào đấy.

Về Người già, chí khí, sự Thương Khó của Chúa Kitô, và chúc phúc

Cách đây nhiều năm, trong một khóa tĩnh tâm có một bà chia sẻ như sau: Bà là mẹ của bốn đứa con, trong khi chúng còn nhỏ, đứa ở nhà, đứa đi học, cha của bà, lúc đó đã góa vợ, bị đột quỵ và trở nên suy nhược nghiêm trọng. Ông không săn sóc được bản thân, phải cần trợ giúp.

Là người con chí hiếu, bà đưa ông về ở với gia đình bà, và việc này gây ra rất nhiều bất tiện cho chồng con. Vì thế nhiều thói quen của gia đình phải được điều chỉnh để thích ứng với việc ông dọn về ở. Cuộc sống của họ thay đổi hoàn toàn.

Đến một lúc tình trạng của ông nặng hơn, bà phải đưa ông vào viện để ông được săn sóc đầy đủ hơn. Nhưng khi đó bà phải đi thăm ông mỗi ngày, thường thường bà đem một hay vài đứa con đi theo. Tình trạng này kéo dài bảy năm. Mỗi ngày, bà và ít nhất một đứa con phải đến và dành thời gian ở bên cạnh ông.

Trong những năm này, đã có nhiều lần, bằng cách này cách kia, bà xin lỗi chồng con về những bất tiện do việc này gây ra. Cuối cùng thì cha bà chết. Nhiều năm sau khi chôn ông, đứa con lớn nhất, lúc đó đã lên đại học, nói với bà: «Mẹ biết không, tất cả những năm gia đình phải thu xếp nếp sống để săn sóc ông ngoại là những năm quý báu. Đó là món quà to lớn cho gia đình mình!»

Làm sao cuộc sống của một người như vậy, cuộc sống mà hoàn cảnh của họ tạo cho mình gánh nặng, lại trở thành ân phúc? Làm sao gọi là nhận quà tặng khi có những người như vậy trong cuộc sống chúng ta?

Câu trả lời là một phần của huyền nhiệm sâu xa về nhân bản và thiêng liêng, một phần của điều bí ẩn của chính tình yêu. Chúng ta cho nhau cuộc sống không những chỉ trong những gì chúng ta làm tích cực cho nhau, nhưng, và đôi khi rất đặc biệt, là trong những gì chúng ta tiếp nhận thụ động và không đủ khả năng làm. Sự yếu đuối mang lại sự hiện diện đặc biệt cho căn phòng. Chúng ta cho cuộc sống qua những sinh hoạt năng động nhưng chúng ta cũng cho cuộc sống qua những gì thụ động. Khi đi thăm người bệnh, chúng ta mang lời chúc phúc đến cho họ, nhưng khi từ giã họ, chúng ta mang ân phúc vì đã thăm viếng họ. Có tình yêu trong việc cho đi và cũng có tình yêu trong việc thọ nhận.

Và không phải lúc nào quà tặng cũng được gói đẹp như quà tặng ngày lễ Giáng sinh. Cũng có thể, thoạt đầu quà tặng dường như là một gánh nặng, một áp đặt không mong muốn, một bất tiện phải chịu, một bổn phận không may. Nhưng chính những cảm nhận này góp phần tạo cho quà tặng này có một chiều sâu.

Chúng ta thấy khía cạnh huyền bí của tình yêu này trong Kinh Thánh khi Kinh Thánh nói đến cách Chúa Giêsu cho chúng ta sự sống và cái chết của Ngài. Mỗi Phúc âm có hai phần rõ rệt: Phần đầu mô tả sinh hoạt của Chúa Giêsu và cách Ngài cho sự sống của Ngài qua những gì Ngài làm cho chúng ta. Phần sau mô tả phần thụ động của Chúa Giêsu, cách Ngài cho cái chết qua những gì Ngài âm thầm chịu đựng vì chúng ta. Phần này được gọi là phần Thương Khó (tiếng La-tinh chữ passio có nghĩa là thụ động.)

Ngày nay, chúng ta khó hiểu được chuyện này, vừa về mặt trí tuệ vừa về mặt cuộc đời. Khổ thay, chúng ta có khuynh hướng định nghĩa cuộc sống và ý nghĩa của nó duy nhất dựa trên sức khỏe, năng suất, sự hữu dụng, những gì chúng ta tích cực đóng góp cho người khác. Chúng ta mang gì đến bàn tiệc?

Và vì thế chúng ta tự hỏi: Những người lớn tuổi không còn có thể tự mình lo cho cuộc sống thì đóng góp được gì cho cuộc sống chúng ta? Đâu là ý nghĩa khi duy trì cuộc sống của một người đã hoàn toàn lãng trí? Người khuyết tật tinh thần mang lại gì cho cộng đồng? Tại sao lại kéo dài cuộc sống của người bệnh ở giai đoạn cuối? Tại sao giữ ông-bà đã yếu trong nhà khi họ làm xáo trộn cuộc sống bình thường của chúng ta?

Câu trả lời: Bởi vì một người trong tình trạng này, ở một tầm mức sâu đậm nào đó, đang cho chúng ta một món quà quý báu, đó là chiều sâu và chí khí.

Mỗi lần có cuộc tranh luận về vấn đề trợ tử cho những người mắc bệnh nan y giai đoạn cuối thì chắc chắn đó là dấu hiệu cho thấy chúng ta không còn hiểu được ý nghĩa trên nữa.

Tôi thích quan điểm của tâm lý gia Mỹ James Hillman về vấn đề này: Năng suất là cách đo lường quá hẹp đối với tính hữu dụng, khuyết tật là một khái niệm quá gò bó về tình trạng không thể tự lực. Một người đàn bà lớn tuổi có thể hữu ích chỉ đơn giản do chí khí của bà. Như một tảng đá ở đáy sông sâu, nó có thể chẳng làm gì hết, chỉ nằm bất động và án ngữ ở đó, nhưng dòng sông phải tính đến nó và phải thay đổi dòng chảy vì nó. Một cụ ông lớn tuổi, chỉ đơn giản sự có mặt của ông cũng đủ để ông có một tính cách quyết định trong dòng đời của gia đình và hàng xóm láng giềng. Người ta phải suy nghĩ đến ông, và các thể thức hoạt động phải được điều chỉnh đơn giản chỉ vì ông có mặt ở đó. Nhân cách của ông mang đến phẩm chất đặc biệt cho từng bối cảnh, góp vào đó tính phức tạp và chiều sâu bằng cách đại diện cho quá khứ và những người đã khuất. Khi tất cả những người lớn tuổi bị đưa vào nhà dưỡng lão, dòng sông sẽ chảy về nguồn xuôi hơn. Không còn tảng đá nào cản trở. Và cũng ít chí khí hơn.

Bài học từ tịnh cốc

Các tu sĩ có những bí mật chúng ta nên biết. Đây là một vài lời khuyên của các tổ phụ trong sa mạc: Về tịnh cốc và nó sẽ dạy cho con mọi điều con cần biết. Và đây là lời khuyên của Thomas a Kempis trong quyển sách trứ danh Bắt chước gương Chúa Kitô: Sau mỗi lần bạn rời tịnh cốc, khi trở về, tính nhân bản của bạn kém hơn.

Thoạt nghe, những lời khuyên này nhắm đến các tu sĩ, tịnh cốc là phòng riêng của mỗi tu sĩ, với một giường nhỏ, một chiếc ghế độc nhất, một bàn viết, một bồn rửa mặt và một đệm quỳ đọc kinh. Các lời khuyên gợi ý là có rất nhiều bài học khi ngồi lại trong khoảng không gian này và có những mối nguy thực sự khi ra khỏi phòng. Lời khuyên này có thể mang ý nghĩa gì đối với người không phải là tu sĩ hay một nữ tu dòng kín?

Những lời khuyên này viết cho tu sĩ nhưng những nguyên tắc sâu xa của chúng có thể được suy rộng ra để tỏa minh triết trên đời sống của từng người.

Đâu là minh triết sâu xa trong những lời khuyên này?

Những lời khuyên này tự nó không nói rằng – như đôi khi ta được dạy – ơn gọi tu trì thì cao hơn ơn gọi thế tục. Cũng như nó không nói rằng tu sĩ hay tu sĩ dòng kín có quan hệ xã hội bên ngoài tịnh cốc là không lành mạnh.

Tịnh cốc ở đây là một ẩn dụ, một hình ảnh, là nơi chốn nội tâm của cuộc sống hơn là phòng riêng của một người. Tịnh cốc nhằm nói đến bổn phận, ơn gọi và lời khấn.

Cốt yếu, nó có nghĩa là:

Về tịnh cốc và nó sẽ dạy cho bạn những chuyện bạn cần phải biết: Hãy ở lại với ơn gọi của mình, với lời khấn của mình, với bổn phận chính đáng, với nhà thờ, với gia đình và chúng sẽ dạy cho bạn biết cuộc sống ở đâu và thế nào là ý nghĩa của tình yêu. Hãy trung thành với các cam kết của mình, và những gì bạn đi tìm rốt cùng sẽ tìm thấy ở đây.

Sau mỗi lần bạn rời tịnh cốc, khi trở về tính nhân bản của bạn kém hơn: Câu này cho chúng ta biết mỗi khi chúng ta không giữ cam kết, không trung tín, không làm những việc mình phải làm thì sau đó, tính nhân bản chúng ta kém đi do sự phản bội này.

Những nguyên tắc này có một ý nghĩa tinh thần rất phong phú: Hãy trung thành với lời khấn, giữ lòng trung tín, nơi làm việc của bạn là trường dòng, công việc của bạn là lời nguyện, gia đình của bạn là tu viện, nhà của bạn là đền thánh, ở lại bên trong nó, đừng phản bội nó, học những gì nó dạy mình, đừng lúc nào cũng nghĩ rằng đời sống là ở chỗ khác, Chúa là ở chỗ khác.

Carlo Carretto, người Ý, văn sĩ nổi tiếng về linh đạo, chia sẻ một câu chuyện minh họa cho chuyện này: Sau khi đi tu được hơn một phần tư thế kỷ và đã sống một mình hàng ngàn giờ trong sa mạc để cầu nguyện, ông đi về thăm mẹ già. Bà là một người đàn bà dành hết thời gian, sức lực vào bổn phận nuôi nấng một gia đình đông trong suốt một thời gian dài, song song với những năm tháng một mình trong sa mạc của ông, bà quá bận rộn đến nỗi không hề có một chút thì giờ thinh lặng nào trong cuộc sống. Suốt thời gian của ông là thinh lặng. Suốt thời gian của bà là hoạt động. Dù vậy, qua sự thú nhận của ông, có thể cuộc sống của bà chiêm nghiệm hơn cuộc sống của ông. Ngoài ra, ông còn nghĩ bà có thể còn vô ngã hơn ông, bà có một chiều sâu tâm hồn, mà ở giai đoạn này của cuộc đời, ông chỉ mới mơ ước.

Nhưng kết luận mà ông nghiệm ra từ nhận thức đó không phải là có điều gì sai trái trong  những gì ông đã làm suốt những năm dài tu trong sa mạc. Ngược lại, có một cái gì rất đúng về những gì mẹ ông làm khi bà tận tâm, vô ngã trong bổn phận làm mẹ, làm vợ. Ông vào tịnh cốc của ông để tịnh cốc đó dạy ông cần phải làm những gì. Bà vào tịnh cốc của bà để tịnh cốc đó dạy bà cần phải làm những gì. Tịnh cốc của ông là tịnh cốc của tu sĩ theo nghĩa kỹ thuật. Tịnh cốc của bà là tịnh cốc theo nghĩa rộng. Cả hai đều sống cuộc sống tu trì, và cả hai tu viện đều dạy họ những gì họ cần phải làm.

Cũng vậy, mỗi phản bội dù nhỏ của ông đối với ơn gọi tu trì đều làm cho tính nhân bản của ông kém đi, mỗi phản bội dù nhỏ của bà trong bổn phận làm mẹ, làm vợ cũng làm cho tính nhân bản của bà kém đi.

Những gì chúng ta tự cam kết chính là tịnh cốc của chúng ta. Khi trung thành với chúng, nghĩa là, trung thành với những bổn phận của chúng ta trong các mối quan hệ cá nhân và nơi chốn làm việc, chúng ta học bài học cuộc sống bằng thẩm thấu. Ngược lại, khi phản bội các cam kết của chúng ta, vốn đi đôi với các quan hệ và nơi chốn làm việc của chúng ta, thì tính nhân bản chúng ta sẽ kém hơn.

Chúng ta tất cả đều là tu sĩ, dù chúng ta ở trong tu viện hay ở ngoài đời, là vợ chồng, cha mẹ, bạn bè, sứ vụ viên trong giáo hội, thầy giáo, bác sĩ, y tá, thợ thuyền, cán sự xã hội, nhân viên ngân hàng, cố vấn tài chánh, chính trị gia, luật sư, nhân viên làm việc trong lãnh vực y tế tâm thần, doanh gia hay người về hưu. Mỗi chúng ta đều có tịnh cốc của mình và tịnh cốc đó có thể dạy cho chúng ta những gì chúng ta cần biết.

Đối diện với cái chết

Vài năm trước đây, người em họ của tôi chết trong một tai nạn nghề nghiệp. Anh phụ trách chất hàng lên toa xe lửa và khi sợi giây cáp bật đứt dưới sức nặng ngàn cân của sức ép, thì người anh như bị cắt đôi. Anh chết trên đường đến bệnh viện. Anh còn trẻ, đang độ tuổi xuân, là lực sĩ tài năng có mặt trong các đội thể thao địa phương.

Cái chết của anh thật đau đớn và buồn thảm, tuy vậy gia đình và bạn bè anh có vài chuyện an ủi: Những ngày cuối cùng của anh thật dễ thương, các hành vi cuối cùng của anh thật nồng ấm: Trước đó vài ngày, anh tạt qua thăm mẹ và ăn trưa với mẹ, có một thời gian vui vẻ tuyệt vời, và khi đi về anh hôn mẹ chào từ giã, mẹ anh yên lòng biết anh thương mẹ. Cách đó mấy tuần, anh đưa người em út, người em rất thần tượng anh, đi nghỉ vài ngày để xem các trận đấu bóng bầu dục. Theo cách mọi người vẫn nghĩ, anh đã từ giã thế gian trong bình an, anh chết trong khi làm việc. Chất hàng là công việc của anh, khi giây cáp bị đứt, anh bị chết, anh ở đúng nơi anh phải ở, đúng giây phút làm việc của anh. Nếu anh không ở đó vào lúc đó, một người khác cũng sẽ ở đó và họ sẽ chết. Anh chết ở cương vị của anh, đang làm công việc của anh, làm việc lương thiện, anh kiếm sống, anh là nạn nhân của một chuyện bất ngờ, ở nơi mà anh phải ở.

Rốt cùng đó là những gì chúng ta cố gắng để đảm trách cho chính chúng ta. Chúng ta cố gắng trụ nơi chúng ta phải trụ.

Mỗi người chúng ta, không ngoại trừ ai, bất kể tuổi tác, sức khỏe như thế nào, chúng ta đều mong manh, đều không biết gì trước, đều có thể chết, một nhịp tim hụt là rời thế gian, một cú đột quỵ là mất cuộc sống, một tai nạn cho chúng ta biết sức mạnh của chúng ta là phù du, sợi giây cáp đứt và chết trong xe cứu thương. Chúng ta có thể cẩn trọng với mạng sống của mình, sống thận trọng, cố gắng đảm bảo an toàn cho mình, cho người thân, nhưng cuối cùng vẫn không đủ. Chúng ta không thể bảo đảm tim của chúng ta luôn đập.

Vậy chúng ta phải làm gì?

Chúng ta có thể sống cẩn thận, săn sóc sức khỏe và sự an toàn của chúng ta, và nếu chúng ta có đức tin, chúng ta có thể xin Chúa quan phòng. Đương nhiên đó là điều tốt. Nhưng chúng ta có thể làm những chuyện khác, những chuyện còn quan trọng hơn.

Chúng ta cố gắng trụ nơi chúng ta phải trụ. Chúng ta có thể luôn luôn cố gắng giữ nhiệt tâm, phòng hờ đó là những hành vi cuối cùng của chúng ta. Chúng ta có thể ăn điểm tâm với mẹ và tỏ lòng âu yếm mẹ. Chúng ta có thể đưa người thân đi xem trận đấu bóng bầu dục và cố gắng hoà thuận với mọi người. Cốt yếu, chúng ta có thể trung tín, chân thật với những người chúng ta thương, chân thật với những gì chúng ta tin. Chúng ta ở đúng trách vụ của mình, trong dấn thân, trong tình yêu và bổn phận.

Rốt cùng, đó là những gì chúng ta có thể làm, và, rốt cùng, như thế là đủ. Ý thức về tính mong manh và về cái chết không có nghĩa là chúng ta sợ hãi, khiếp nhược, rụt rè trước cuộc đời hay cảm thấy tội lỗi vì vui sướng. Chúng ta không buộc phải hướng về một cuộc sống ở thế giới khác mà buông bỏ cuộc sống này. Ngược lại, chúng ta cũng không buông tuồng vui hưởng vì cuộc sống này ngắn ngủi và đầy chuyện không ngờ tới được. Đó là lời mời gọi lòng trung tín; luôn luôn cố gắng để trụ nơi chúng ta phải trụ, trong nhiệt tâm, tình yêu, bổn phận và vui hưởng.

John Powell đã viết có thể có hai thảm kịch trong cuộc sống, mà chết trẻ không nằm trong số đó. Hai thảm kịch đó là: Sống mà không yêu, yêu mà không bao giờ nói lên được tình yêu và lòng biết ơn. Quả đúng như vậy.

Có thể vì tuổi của tôi và cũng có thể đó là chỉ là một thời gian khác thường, nhưng suốt năm vừa rồi, không một tháng nào trôi qua mà thần chết không lấy đi một người tôi thương mến. Chưa bao giờ tôi ý thức tính mong manh của cuộc sống như bây giờ. Về mặt bên ngoài nó làm cho tôi phải nhìn lại sức khỏe của tôi: Tôi đã săn sóc đủ cho tôi? Tập thể dục đủ chưa? Chế độ ăn uống đúng không? Nghỉ ngơi đủ không?

Tuy nhiên, ở tầng mức sâu hơn, nó buộc tôi nhìn lại sức khỏe của tôi theo nghĩa rộng hơn: Tôi có đang trụ nơi tôi phải trụ? Liệu tôi có trung tín với con người của tôi và với những gì tôi tin để mà thanh thản biết rằng tôi đang làm những việc tôi phải làm, giả như hôm nay là ngày cuối cùng của đời tôi? Những gì tôi làm có nồng ấm không?

Tôi cố gắng trung tín mỗi ngày – cầu nguyện, dâng thánh lễ, nhiệt tâm với mọi người, làm công việc của tôi tốt nhất có thể, biết rằng, nếu tôi làm như vậy, tôi đang trụ nơi tôi phải trụ và tôi có thể vui hưởng cuộc sống tốt đẹp này, không mặc cảm tội lỗi, không sợ hãi, sẵn sàng, đứng trụ ngay thẳng, dù sợi giây cáp có đứt thình lình.

Những cuốn sách đã gặp tôi trong năm 2009

Một câu châm ngôn xưa nói rằng quyển sách bạn cần đọc sẽ tự tìm đến bạn. Tôi tin điều đó, dù rõ ràng là các quyển sách cần sự giúp đỡ nhỏ từ phía người đọc, họ cần cần lục lọi trong các tiệm sách, nghe bạn bè giới thiệu và theo dõi điểm sách. Và rồi những chuỗi ngẫu nhiên kết hợp lại sẽ đưa quyển sách đến với bạn.

Quyển sách nào đã tìm đến tôi năm nay? Đây là những quyển gắn kết với tôi nhất:

Trong số tiểu thuyết.

Ba quyển tiểu thuyết của Jhumpa Lahiri, Trái đất xa lạ (Unaccustomed Earth), Người trùng tên (The Namesakes), và Thông dịch viên của các Bệnh tật (Interpreter of Maladies), cho thấy một thông tuệ xúc cảm lớn lao giúp bóc trần cơ chế của tâm hồn, hôn nhân và đời sống gia đình.

Mái vòm mùa đông (The Winter Vault) của Anne Michaels, một câu chuyện u ám, nhưng là tác phẩm hay nhất tôi đọc trong năm nay. Ở đó văn xuôi bao bọc lấy thơ. 

Ông Ibrahim (Monsieur Ibrahim) của Eric-Emmanuel Schmitt, là một quyển sách nhỏ, nhưng phụ truyện của nó, bức thư của một thanh niên chết vì ung thư, là một truyện đặc biệt.

Quá nhiều hạnh phúc (Too Much Happiness) của Alice Munro, là tập hợp những truyện ngắn, phần lớn u ám, gợi lên những dằn vặt lạ lẫm, nhưng tôi nghĩ không ai bì kịp bà trong thể truyện ngắn. Các trang sách tự nó lật qua.

Huyền kinh (The Secret Scripture) của Sebastian Barry, sẽ bắt lòng kiên nhẫn của bạn nín thở, nhưng tác phẩm này được viết theo truyền thống lâu đời của thần thoại Ailen, nên đã tô điểm thêm cho tiết tấu chậm rãi của nó.

Đêm thứ sáu (Friday Night) của Joanna Trollope là một tác phẩm nhẹ nhàng, thuộc loại đọc bỏ túi, nhưng lại mang một thông tuệ xúc cảm cao nhất trong số này.

Trong số khảo luận và tiểu sử.

Ba chiếc tách trà (Three Cups of Tea), của David Oliver Relin và Greg Mortenson, là câu chuyện về một vị anh hùng chân thật nhằm dạy chúng ta biết, đáp lại chủ nghĩa khủng bố phải dùng giáo dục và tình bạn chứ không dùng chiến tranh.

Ham muốn rượu chè (Wishful Drinking), của Carrie Fisher là một tuyệt phẩm về sự dí dỏm thông minh và lời đáp đối với tật tự thương hại mình.

Đối mặt với Con rồng, Đương đầu với bệnh vĩ cuồng về truyền thống thiêng liêng và cá nhân (Facing the Dragon: Confronting Personal and Spiritual Grandiosity) của Robert Moore, cuối cùng đã viết lên trang giấy bản chất thiết yếu của một nhà tư tưởng lớn.

Mảnh vỡ cuộc đời (Fragments of a Life), của Kevin Rafferty, là tự thuật khiêm tốn của một người cống hiến vĩ đại cho giáo hội, đã dành cả cuộc đời để viết nên một biên niên sử xuất sắc về Giáo hội Công giáo La Mã từ năm 1950 đến năm 2008.

Các quyển chú dẫn Thánh Kinh súc tích cho các mùa chính trong năm của Raymond Brown: Đức Kitô chịu đóng đinh trong Tuần thánh (The Crucified Christ in Holy Week); Đức Kitô Phục sinh trong mùa Phục Sinh (A Risen Christ in Eastertime), Đức Kitô đang đến trong mùa Vọng (A Coming Christ in Advent), là những quyển sách nhỏ xuất sắc, tổng hợp các hiểu biết sâu sắc dùng cho đại chúng của một trong những học giả Kinh thánh lớn của thời đại chúng ta. Những quyển này đáng để đọc đi đọc lại nhiều lần.

Mục lục tự vẫn, đặt lại thứ trật trong cái chết của cha tôi (The Suicide Index, Putting My Father’s Death in Order), là hai hồi ký của Joan Wickersham trong nỗ lực cố thấu hiểu việc cha cô tự vẫn. Bút pháp hay và có hiệu quả giúp cho những ai đã có những trải nghiệm tương tự.

Tác phẩm của Trevor Herriot, Cây cối, Bầu trời, Ca hát – Hứa hẹn và hiểm họa trong thế giới của loài chim đồng cỏ (Grass, Sky, Song – Promise and Peril in the World of Grassland Birds) là một trong những quyển sách hay nhất tôi đã đọc năm nay. Đây là quyển sách về loài chim, nhưng thực sự, nó sâu sắc hơn, nói đến cuộc sống, luân lý, và tương lai chúng ta. Thách đố luân lý phải được viết ra như vậy.

Sự bừng tỉnh lớn lao: Phục hồi Niềm tin và Chính trị trong Thời Hậu Quyền Tôn giáo ở Mỹ (The Great Awakening: Reviving Faith and Politics in a Post-Religious Right America) của Jim Wallis, nói rõ những dấu hiệu hy vọng trong nền văn hóa chúng ta, đặc biệt sự gắn kết của hai điều, công bình và đức tin. Theo Wallis, Dorothy Day của thế hệ chúng ta, cánh tả tìm kiếm Thiên Chúa, cánh hữu tìm kiếm người nghèo. Điều này báo trước một tương lai tốt lành. Wallis sẽ hay hơn nếu không luôn quá ngắn gọn.

Rời bỏ Giáo hội, Hồi ký về Đức Tin (Leaving Church, A Memoir of Faith) của Barbara Brown Taylor là hồi ký của một nữ thừa tác vụ trong giáo hội và đối diện với những phức tạp bẩm sinh của giáo hội. Một đánh giá chính chắn và trưởng thành không khiển trách và tự thương hại. Một quyển sách hay cho người làm mục vụ trong giáo hội hay đang làm mục vụ hòa giải.

Bàn thờ của Thế giới – Bản đồ địa dư Đức tin (An Altar in the World – A Geography of the Faith) của Barbara Brown Taylor, là một trong những quyển sách hay về “thâm nhập vào thời điểm hiện tại”. Bà đưa ra những chỉ dẫn cân bằng tốt đẹp về việc làm sao thâm nhập vào thời điểm hiện tại, và, một điểm quan trọng, làm sao để nâng những kinh nghiệm sống thường ngày thành hy lễ.

Tác phẩm chuyên sâu

Thời đại Thế tục (A Secular Age) của Charles Taylor, là một quyển sách lớn, không phải loại bỏ túi đọc qua đường. Chuyên ngành của chúng tôi đã học tác phẩm này suốt năm qua. Đây là câu chuyện tìm lại dấu vết gốc rễ của ý thức thế tục ở cả hai nghĩa, sự tan vỡ ảo mộng của ý thức chúng ta trước đây và, một cấu trúc xác thực của chủ nghĩa nhân văn có tham vọng thay thế đức tin. Rất khó đọc nhưng đáng để cố gắng đọc.

Tôi ghi lại cho bạn một mẫu văn của Anne Michael: “Chỉ có tình yêu thật mới chờ khi chúng ta đi trong sầu khổ. Đó là điều đáng tin thật sự trong lòng mỗi người. Trong mọi anh hùng ca, mọi chuyện kể đã đi suốt bao đời, luôn luôn có cùng một sự thật: tình yêu phải chờ đợi những vết thương để được chữa lành. Đợi chờ này, chúng ta phải thực hiện cho nhau, không phải với lòng thương hại, hay phê phán, nhưng trong tha thứ, nơi chúng ta gặp nhau. Có bao nhiêu người sẵn lòng chờ đợi theo cách này? Số đó quá ít ”

Các lý do để mừng lễ Giáng Sinh

Với nhiều người, nghĩ về lễ Giáng Sinh làm cho họ mệt mỏi. Không phải khía cạnh tôn giáo gây nên mệt mỏi, nhưng do các hình thức thái quá xung quanh lễ: cửa hàng trang trí quá mức, việc mua sắm bắt buộc, đèn lấp lánh muôn màu, ông già Noel, cây thông Noel, và các bài thánh ca vang vọng khắp cửa hàng ngay từ đầu tháng 11.

Và chúng ta có một câu hỏi: Tất cả những chuyện này hay một cái gì trong các chuyện này có nghĩa gì với việc Chúa Giêsu sinh ra? Mùa Vọng, là mùa chuẩn bị cho ngày lễ, có trở nên thử thách mệt mỏi đẩy chúng ta đến với lễ Giáng Sinh lúc đã bão hòa với những gì chúng ta cần phải làm không? Liệu chúng ta có tôn vinh Chúa Giêsu hơn nếu thay vì tiêu phí trong dịp lễ, chúng ta dùng tiền đó để cho người nghèo không? Việc mừng lễ Giáng Sinh của chúng ta liệu có phá đi hay tô đậm ý thức về việc Chúa Giêsu sinh ra không? Đó là những câu hỏi thích đáng.

Phải thừa nhận rằng, việc mừng lễ Giáng Sinh bắt đầu quá sớm, bị tiền bạc chi phối nhiều, không chú trọng gì nhiều đến khía cạnh tôn giáo, và không quan tâm đủ đến người nghèo. Người ta thường xuyên đi phá hơn là tô đậm ý nghĩa ngày lễ. Và cũng không khó khi muốn dèm pha lễ Giáng Sinh. Nó có quá nhiều cái quá độ.

Tuy nhiên, để được thừa nhận, chúng ta phải cẩn thận để khi loại đi những gì không cần thiết, chúng ta không bỏ phí các điều thiết yếu. Bởi vì cái gì bị làm cho xấu không có nghĩa là phải bỏ nó đi. Tôi nghĩ, không phải bỏ nét hào nhoáng, ánh đèn muôn màu, tiệc tùng chung quanh lễ Giáng Sinh, mà cần làm cho tốt hơn. Có nhiều lý do tốt để xóa bỏ các lễ nghi chúng ta tạo ra quanh lễ Giáng Sinh, nhưng cũng có những lý do còn tốt hơn nữa để giữ lại chúng. 

Đó là những lý do nào? Tại sao lại tiếp tục các nghi thức này, khi chúng gần như luôn thoái trào đi đến quá độ và mệt mỏi?

Thuần đơn giản vì chúng ta có nhu cầu bẩm sinh là ăn mừng. Là người, chúng ta có nhu cầu lành mạnh, thiên phú, bản năng để đôi khi tổ chức tiệc tùng, lễ hội, mừng lễ nghỉ, để qua một bên tính cẩn trọng trong chốc lát, và để sống những giây phút hào phóng, không có lý do gì để giữ tiền bo bo hay để lạnh lùng với láng giềng. Giáng Sinh là ngày lễ nghỉ, ngày lễ nghỉ vô cùng quan trọng.

Có những thời kỳ trong cuộc đời, và vòng xoay cuộc đời thường là vậy, được định liệu cho vui thú, gia đình, bạn bè, sắc màu, hào nhoáng, tiệc tùng xa hoa. Cũng có những thời kỳ lo toan cẩn trọng. Đức Giêsu đã nói với các môn đệ về điều này khi họ chướng mắt nhìn một phụ nữ xức quá nhiều nước hoa lên chân Chúa và hôn chân Chúa. 

Mọi nền văn hóa, kể cả những nơi nghèo nhất, đều có thời gian cho lễ hội, rõ ràng họ áp dụng nghiêm túc các lời này: Người nghèo thì anh em luôn có bên mình, nhưng hôm nay là lúc vui mừng. Như vậy, Giáng Sinh là một thời gian của lễ hội.

John Shea, trong cuốn sách nay đã trở thành cổ điển về Giáng Sinh, Ánh sao (Starlight), kể câu chuyện của một gia đình quyết định năm đó mừng lễ Giáng Sinh theo cách khác. Họ không dựng cây Giáng Sinh, không treo đèn, không hát thánh ca, không tặng quà. Họ chỉ gặp nhau trong một bữa ăn đơn sơ, yên tĩnh vào ngày Giáng Sinh. Khi các bạn hỏi ngày hôm đó ra sao, một thành viên gia đình đó trả lời “dễ chịu”. Một người khác trong nhà, có lẽ chân thành hơn, cho đó là “vực thẳm đời người.”

Có một thúc bách bẩm sinh trong chúng ta, thúc đẩy chúng ta ăn mừng, và len trong lòng chúng ta một ý thức không kìm nén được là chúng ta được sinh ra không phải để nghèo đói, buồn rầu, có những quan hệ cẩn thận quá mức, nhưng xét đến cùng, chúng ta được sinh ra cho yến tiệc, khiêu vũ, nơi có ánh đèn và âm nhạc, nơi chúng ta không phải dè sẻn tiền bạc, tâm trí không lo toan chuyện mưu sinh, trả nợ nhà cửa. Các việc ăn mừng lễ hội và hội hè, dù với những quá độ của nó, đã giúp dạy cho chúng ta những chuyện này.

Giáng Sinh là một lễ hội. Và xét cho cùng thì việc ăn mừng lễ là một bài học về niềm tin và hy vọng, dù cho không hẳn là một bài học vững mạnh về khôn ngoan.

Để tạo nên lễ hội Giáng Sinh, mừng Chúa Giêsu giáng sinh với trọn niềm vui, ánh đèn, âm nhạc, tặng quà, sức sống, nồng nhiệt mà chúng ta có thể tập trung được, nói một cách hơi lạ lẫm, là một hành động ngôn sứ. Nó là, hay ít nhất có thể là, một sự biểu lộ niềm tin và hy vọng. Người mang hy vọng không phải là người nói: “Nó mục nát rồi, phải bỏ nó đi”. Nói như vậy đúng là tuyệt vọng đội lốt niềm tin. Không. Người mang niềm tin là người, cho dù thế giới có lạm dụng và gièm pha, vẫn treo đèn Giáng Sinh, trang trí cây thông, chuẩn bị món ngon cho ngày lễ, hát các bài thánh ca, tặng quà cho nhau, ngồi bên cạnh gia đình bạn bè, rực lên nụ cười cho cuộc đời, rạng lên lòng tin, là người nói lên rằng người ta được tạo nên cho điều gì đó vượt trên các nỗi buồn, và là người mừng Chúa Giáng Sinh.

Khiết tịnh và Giáng Sinh

Kinh Thánh và truyền thống Kitô giáo nhấn mạnh rằng Đức Giêsu chỉ có thể sinh ra trong một cung lòng khiết tịnh, và Linh đạo Kitô cũng nêu bật lên rằng Ngài chỉ triển nở trong một tâm hồn khiết tịnh. Tại sao? Tại sao đức khiết tịnh lại được nhấn mạnh đến như vậy?

Đức khiết tịnh cần được hiểu cách đúng đắn. Đã qua rồi một thời kỳ lâu dài chúng ta đã có quan niệm sai lầm và hẹp hòi về khiết tịnh. Khiết tịnh hầu như được đồng hóa với sự tiết chế tình dục và rồi do đó, tình dục được coi như tự bản chất là đối nghịch với khiết tịnh và tu đức. Nhưng khiết tịnh không cùng nghĩa với độc thân, mà thực sự, nó trước hết và trên hết là một quan niệm về tính dục. Có người có thể sống khiết tịnh nhưng không độc thân, cũng như có người sống độc thân mà không khiết tịnh. Bố mẹ tôi không độc thân, họ có nhiều con cái, nhưng họ là những người sống khiết tịnh tuyệt vời. Và điều ngược lại cũng có thể đúng. Có người độc thân nhưng lại không có chút gì khiết tịnh.
 Khiết tịnh là gì? Chúng ta khiết tịnh, khi chúng ta đứng trước cuộc đời, tha nhân, Thiên Chúa theo cách để cho họ nên trọn vẹn trong chính con người của họ, mà không để cho tính thiếu kiên nhẫn, ích kỷ, thiếu thiện chí của chúng ta lôi kéo họ, vi phạm đến thực tại và tiến trình tự nhiên của họ. Điều này có nghĩa gì?

Tôi xin minh họa ba hình ảnh sau về điều này:

Trong quyển sách Kiên quyết thánh thiện (Holy The Firm), Annie Dillard đã chia sẻ câu chuyện này: Một buổi tối, một mình trong căn phòng, bà quan sát một con bướm đêm chầm chậm chui ra khỏi cái kén của nó. Quá trình đó thật hấp dẫn nhưng chậm đến vô tận. Đến một lúc bà mất kiên nhẫn và cần đi làm chuyện khác, bà thắp một cây sáp để làm cho nó ấm thêm. Và có kết quả. Sự ấm nóng đã thúc đẩy quá trình nhanh hơn, con bướm chui ra nhanh hơn, nhưng vì quá trình tự nhiên bị can thiệp bởi một gấp gáp không tự nhiên, nên con bướm chui ra với đôi cánh yếu ớt, nó không bay được. Một lỗi lầm trong khiết tịnh đã dẫn đến sự trì trệ tăng trưởng.

Bộ phim, Lý trí và tình cảm, do Emma Thompson đóng vai chính, dựa trên tiểu thuyết cổ điển của nhà văn Jane Austen, đã mô tả nhân vật này như một người chuốc lấy căng thẳng đau đớn tột độ trong một thời gian dài, do tình yêu dang dở và không được đáp trả. Cô không có ai để thực lòng chia sẻ nỗi đau đó và hoàn cảnh buộc cô phải chịu đựng, dù cô không đủ sức chịu đựng. Cô chịu đựng tình trạng đè nén này rất lâu, thăng hoa nó thành lòng khoan dung tử tế thậm chí đối với người đã gây ra nỗi đau. Và chỉ sau một thời gian dài, cuối cùng áp lực đó cũng được giải quyết, lòng kiên nhẫn của cô không thúc ép để có giải pháp nhanh chóng, quyết tâm chịu đựng áp lực cho đến cùng, đã giúp mang lại không chỉ cho cô mà còn cho mọi người một đời sống sâu sắc hơn. Đây là cốt lõi của khiết tịnh. 

Tác giả thiêng liêng người Ý, Carlo Carretto, sau khi sống nhiều năm ẩn tu trong sa mạc Sahara, khi được hỏi đâu là lời ông nhắn cho mọi người biết khi có người hỏi: Trong cô tịch và cầu nguyện, ông đã nghe được Thiên Chúa nói gì với chúng tôi, những người có cuộc sống năng động trong thế giới này? Carretto đã trả lời: Thiên Chúa nói: phải học chờ đợi, học để chờ đợi mọi thứ – tình yêu, hoàn thiện, ăn nằm – cho Chúa! Học để chờ đợi, cho Thiên Chúa và cuộc sống một khoảng không gian để triển nở theo như cần thiết, đó là tinh hoa của khiết tịnh.

Trong một số sách của Nikos Kazantzakis, ông vừa trìu mến vừa chua chát nói: Thiên Chúa gần như không bao giờ vội vã, trong khi chúng ta lại luôn luôn vội vã. Ông đúng: Cuộc sống triển nở theo nhịp bẩm sinh của nó, thử thách lòng kiên nhẫn chúng ta và sẽ không để nhịp điệu đó bị gấp gáp, ngoại trừ một giá. Cả cuộc sống và tình yêu đòi hỏi thời gian và khoảng không gian để triển nở theo tiếng gọi bên trong của nó. Bất cứ khi nào, vì thiếu kiên nhẫn, ích kỷ, hay thiếu thiện chí khi chịu áp lực, chúng ta cắt ngắn chu trình đó, thì theo những cách nặng, nhẹ khác nhau, chúng ta đã vi phạm thực tế của nó. 

Khiết tịnh là đức hạnh mời gọi chúng ta sống trong kiên nhẫn, chờ đợi, tôn trọng người khác, và chịu áp lực đủ lâu để người khác trung thực với chính họ, và tặng phẩm có thể triển nở đúng như một tặng phẩm.

Từ cao thượng có gốc từ chữ thăng hoa. Không có gì cao thượng nếu không có thăng hoa lúc đầu. Không ai sinh em bé mà không có thời gian dài mang thai, không ai viết luận án tiến sĩ trong vòng hai giờ, không ai sáng tạo kiệt phẩm nghệ thuật mà không đổ mồ hôi lao nhọc lâu ngày, và không ai là anh hùng cá nhân mà không chịu đựng áp lực khó khăn. Cô bé lọ lem chỉ đến buổi tiệc sau khi ở lâu trong bếp tro. Đức Giêsu chỉ mang lấy vinh quang và tự do của ngày Chúa nhật Phục sinh nhờ những giọt mồ hôi máu đầu tiên trong vườn Dầu.

Đó là lý do tại sao Đấng Thiên Sai chỉ có thể sinh ra trong một cung lòng khiết tịnh, và sống trọn vẹn trong một tâm hồn khiết tịnh. Thiên Chúa Giáng Sinh không thể đi đường tắt.

Thánh Giuse và Giáng Sinh

Có vô số người, nhà thờ, vương cung thánh đường, chủng viện, tu viện, và cả các thành phố, thị trấn mang tên Thánh Giuse. Và thánh Giuse cũng là thánh đỡ đầu của nước Canada, quê hương sinh trưởng của tôi.

Thánh Giuse đích thật là ai? Ngài là một nhân vật trầm lặng được nêu bật lên trong câu chuyện Giáng Sinh, là người chồng của Đức Maria và là người cha trần thế của Đức Giêsu, rồi sau đó về cơ bản là không bao giờ được nhắc đến nữa. Hình tượng đạo đức về ngài là một người lớn tuổi, người bảo vệ an toàn cho Mẹ Maria, người thợ mộc, khiết tịnh và thánh thiện, khiêm hạ và âm thầm, một vị thánh bảo trợ hoàn hảo cho người lao động và đức hạnh âm thầm, hiện thân của khiêm hạ.

Nhưng thực sự chúng ta biết gì về ngài?

Trong Tin Mừng theo thánh Mathêu, việc truyền tin về sự nhập thể của Đức Giêsu được báo cho thánh Giuse hơn là Đức Maria: Trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.”

Chúng ta học được gì từ đoạn này?

Phần nào trong đó là có tính biểu tượng: Thánh Giuse trong chuyện Giáng Sinh rõ ràng nhắc lại hình ảnh ông Giuse trong sách Xuất Hành, ông cũng có một giấc mơ, cũng đi đến Ai Cập, cũng cứu cả gia đình. Và vua Hêrôđê rõ ràng là bản sao của vua Pharaon Ai Cập; cả hai đều sợ hãi và đều giết các con trai Do Thái, đó chỉ là dịp để Thiên Chúa ra tay che chở sự sống cho người sẽ cứu cả dân tộc.

Nhưng sau đó, thánh Giuse của câu chuyện Giáng Sinh đã đưa chúng ta về câu chuyện riêng của mình: Ngài được cho là người “công chính”, một danh xưng mà các học giả  ngụ ý ngài đã hướng theo Luật Thiên Chúa, và “công chính” là tầm mức thánh thiện cao nhất của người Do Thái. Ở dưới mọi khía cạnh, ngài là người không có điều gì để chê trách, một gương mẫu của lòng tốt, điều ngài làm trong câu chuyện Giáng Sinh là đã không muốn Đức Mẹ bị sỉ nhục, cả khi ngài đã quyết định sẽ bỏ Mẹ cách kín đáo. 

Thật sự thì điều gì xảy ra ở đây?

Chúng ta có thể dựng lên bối cảnh của mối quan hệ giữa thánh Giuse và Đức Maria như sau: Phong tục kết hôn thời đó là một cô gái trẻ, thông thường ở tuổi dậy thì, được cha mẹ sắp xếp kết hôn với một người đàn ông thường lớn hơn vài tuổi. Họ sẽ đính hôn và về pháp lý đã là vợ chồng, nhưng chưa sống với nhau và chưa bắt đầu quan hệ tình dục trong vòng vài năm. Luật Do Thái đặc biệt nghiêm nhặt về việc hai người phải sống riêng trong suốt thời gian đính hôn. Trong thời gian này, người nữ tiếp tục sống với cha mẹ, người nam sẽ gầy dựng một căn nhà và theo một nghề nghiệp để có thể lo toan cho cuộc sống cho vợ khi họ bắt đầu chung sống.

Lúc Đức Maria thụ thai, thì hai người đang ở trong tình trạng này, chính thức kết hôn nhưng chưa chung sống. Thánh Giuse khi biết đứa trẻ không phải là con của ngài đã rất bối rối: Nếu mình không phải là cha đứa bé, vậy thì là ai? Để cứu vãn danh tiếng của mình, ngài có thể xin điều tra công khai và tất nhiên Đức Maria sẽ bị kết tội thông dâm, có nghĩa là phải chết. Tuy nhiên, ngài đã quyết định “bỏ bà cách kín đáo” để tránh một cuộc điều tra công khai có thể đẩy Đức Maria vào một hoàn cảnh khó khăn và nguy hiểm.

Rồi sau khi được báo mộng, ngài đồng ý đưa Đức Maria về nhà xem như vợ mình và đứa con là con mình. Phần nào chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của việc này, ngài đã dung thứ cho tình trạng khó khăn của Đức Maria, đặt tên đứa trẻ như con mình, và đã mang lại một vị trí, một địa vị xã hội, tôn giáo cho đứa trẻ được sinh ra và lớn lên.  Nhưng ngài đã làm những việc âm thầm hơn: Đó là cách sống của một tín hữu, tin tưởng chân thành sâu sắc vào mọi điều thuộc truyền thống tôn giáo, và cũng vừa biết mở lòng ra với thần nhiệm vượt trên hiểu biết của bản thân và của tôn giáo mình theo.

Và đây chính xác là vấn đề của mỗi kitô hữu, kể cả thánh Mathêu, vào thời điểm viết Tin Mừng: Họ là những người Do Thái mộ mến, những người không biết làm sao để đón nhận Đức Kitô vào nền tôn giáo của họ. Một người sẽ làm gì nếu Thiên Chúa tác động vào cuộc đời họ với những cách thức mới lạ, chưa từng tưởng nghĩ đến? Làm sao có thể đón nhận ý niệm bất khả? Raymond Brown đã diễn đạt như sau: Thánh Giuse, nhân vật chính trong phần đầu Phúc âm thánh Mathêu, là người Do Thái rất nhạy cảm tuân theo Luật. … Trong thánh Giuse, tác giả Tin Mừng Mathêu đã khắc họa hình ảnh ngài nghĩ về một người Do Thái [một tín hữu chân thành] nên như vậy và cũng có lẽ là chính ngài là như vậy.

Điều thiết yếu thánh Giuse dạy chúng ta là cách thế sống trong lòng quý chuộng sự trung tín với tất cả những gì ta nối kết về mặt nhân bản và tôn giáo, cả việc chúng ta mở lòng ra với huyền nhiệm Thiên Chúa mặc khải, vượt lên mọi thể loại giữ đạo và trí tưởng tượng của chúng ta.  Đó có là một thách thức tiếp diễn của Giáng Sinh hay không?

Cầu xin chắc chắn được nhận lời

Có nhiều đoạn trong Phúc Âm, Đức Giê-su bảo đảm với chúng ta rằng, nếu chúng ta xin điều gì đó nhân danh Người, chúng ta sẽ được nhận lời.Chẳng hạn, trong Phúc Âm thánh Mát-thêu, Người nói: Hãy xin thì sẽ được, bởi vì ai xin thì đều sẽ được. Trong Phúc Âm thánh Gio-an người hứa với chúng ta rằng, nếu chúng ta xin bất cứ điều gì nhân danh Người, Chúa Cha sẽ ban cho điều đó.

Tại sao không lúc nào nó được ứng nghiệm? Đôi khi chúng ta cầu xin một điều gì đó nhân danh Đức Giê-su, và lời cầu xin không được nhận lời. Đôi khi đúng là chúng ta đã kêu lên tới trời bằng lời cầu xin của mình và dường như tất cả đều không được đáp lại. Phải chăng Đức Giê-su đã hứa vu vơ khi Người xác quyết với chúng ta rằng Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta bất cứ điều gì chúng ta xin, nhân danh Người?

Các tác giả thiêng liêng và các nhà biện giải đã đưa ra nhiều câu trả lời cho câu hỏi này: Có thể nhưõng lời cầu xin của chúng ta không được nhận lời vì chúng ta đã xin không đúng. Một người mẹ yêu con sẽ không đưa dao cho con mình chơi, phải không? Cũng có thể lời cầu xin của chúng ta được nhận lời, nhưng ở một tầng mức sâu đậm hơn và khi đến lúc chúng ta mới hiểu được câu trả lời. C.S. Lewis từng nói rằng chúng ta sẽ dùng hầu hết đời sống vĩnh cưõu của mình để cám ơn Thiên Chúa đã không đáp lại lời cầu xin của mình!

Các câu trả lời này đều có giá trị, dù không phải là nhưõng câu trả lời của Đức Giê-su. Quả thật, khi Người hứa lời cầu xin của chúng ta sẽ được nhận lời, Người không nói thêm với điều kiện chúng ta chỉ xin nhưõng điều đúng. Người mời gọi chúng ta xin bất cứ điều gì nhân danh Người. Người không chỉ định đó phải là điều đúng. Vậy thì tại sao nhưõng lời cầu xin của chúng ta không lúc nào được nhận lời?

Linh mục Jerome Murphy-O’Connor, một học giả Kinh Thánh nổi tiếng, gợi ý rằng, trong Phúc Âm thánh Mát-thêu, cũng như trong phần lớn Tân Ước, lời cầu xin luôn dính liền với các hoạt động bác ái cụ thể trong cộng đồng. Vì vậy để thật sự cầu xin cho người nào thì phải cụ thể mở lịng ra để giúp người đó. Để thật sự cầu xin cho hịa bình và công lý thì phải làm việc tích cực cho hịa bình và công lý. Khi chúng ta cầu xin “qua Đức Ki-tô”, chúng ta không chỉ cầu xin qua Đức Ki-tô đã sống lại trên trời nhưng cịn qua “Nhiệm Thể của Đức Ki-tô” trên mặt đất này, là chính chúng ta. Chúng ta cần phải tự mình giúp cho lời cầu xin của chính mình. Vì vậy khi lời cầu xin của chúng ta dường như không được nhận lời, thì có thể chúng ta, Nhiệm Thể của Đức Ki-tô trên mặt đất này, chưa dành hết tâm trí để cố gắng trả lời cho lời cầu xin của chính mình, chúng ta chưa thật sự cầu xin “qua Đức Ki-tô”.

Nhà thần học Karl Rahner, khi bình giải về lời hứa của Đức Giê-su trong Phúc Âm thánh Gio-an rằng bất cứ điều gì chúng ta xin Đức Giê-su nhân danh Người chúng ta sẽ nhận được, đã đưa ra suy tư này:

Cầu xin một điều gì đó nhân danh Đức Giê-su không có nghĩa xin bằng miệng mà tâm hồn thì rối bời, quả tim chia rẻ, thèm muốn, cơn mê khốn cùng của chúng ta về mọi sự, làm chúng ta khao khát. Không, cầu xin nhân danh Đức Giê-su có nghĩa là đi vào trong Người, sống với Người, nên một với Người trong tình yêu và Đức tin. Nếu Người ở trong chúng ta qua Đức tin, tình yêu, ân sủng, Thần Khí, thì khi đó sự cầu xin của chúng ta mới nảy sinh từ tâm điểm của sự sống, đó chính là bản thân Đức Giê-su, và chỉ khi tất cả lời cầu xin và ao ước của chúng ta hợp nhất nơi Người và Thần Khí của Người, thì khi đó Chúa Cha mới nghe lời cầu xin của chúng ta. Khi đó lời cầu xin trở nên giản dị và thành thật, hài hịa, đúng mực, và khiêm tốn. Khi đó nhưõng gì thánh Phao-lô nói trong thư gởi tín hưõu Rô-ma có thể áp dụng cho chúng ta: Chúng ta không biết cách cầu xin theo cách chúng ta phải làm, nhưng chính Thần Khí của Đức Giê-su đã cầu bàu cho chúng ta, chỉ một lời cầu xin, “Áp-ba! Cha ơi!” Người khát khao điều đó từ khởi nguồn: Người khát khao Thiên Chúa, Người xin Thiên Chúa vì Thiên Chúa, Người cầu xin Thiên Chúa thay cho chúng ta. Mọi sự đều bao gồm và chứa đựng trong lời cầu xin này. …[Nếu chúng ta cầu xin theo cách này] chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa đang thật sự đáp lại lời cầu xin của chúng ta, bằng cách này hay cách khác. Khi đó chúng ta sẽ không cịn cảm thấy “cách này hay cách khác” là lời xin lỗi mong manh của  người ngoan đạo, và Phúc Âm là lời cầu xin không được đáp lại. Không. Lời cầu xin của chúng ta được nhận lời, nhưng chính vì đó là lời cầu xin nhân danh Đức Giê-su; và nhưõng gì cuối cùng chúng ta cầu xin cùng Thiên Chúa là để làm cho đời sống chúng ta được lớn lên, để lấp đầy đời sống chúng ta với Người, để chiến thắng, để cuộc đời phân rẻ của chúng ta được hợp lại thành một, để ngàn lẻ một ước muốn của chúng ta nên một với Người… Cầu xin nhân danh Đức Giê-su là lời cầu được nhận lời, là đón nhận Thiên Chúa và ơn phúc của Ngài, và khi đó, dù trong nước mắt, đau đớn, khốn cùng, khi dường như chúng ta vẫn chưa được nhận lời, tâm hồn chúng ta đã được nghỉ ngơi trong Thiên Chúa dù chúng ta đang hành trình, dù chưa có niềm vui trọn vẹn của Thiên Chúa. 

Nếu chúng ta chưa cầu nguyện như thế, thì Đức Giê-su vẫn cịn nói với chúng ta: “Cho đến lúc này, con vẫn chưa cầu xin điều gì nhân danh Ta. Con có thể đã cố gắng, con có thể có ý như vậy, nhưng con chưa làm cho Ta có sức mạnh và sức nặng trong lời cầu xin của con.”

Câu chuyện của một nữ tu

Khi nghĩ về một vị thánh, chúng ta thường nghĩ về người được Giáo Hội chính thức phong thánh, nhưng tôi có một ít vị thánh chưa được chính thức phong thánh bảo trợ.

Một trong những vị đó là cô giáo cũ của tôi, cô vừa mất cách đây năm năm. Cô là nữ tu Shirley Christopher, thuộc dòng Ursuline. Tôi may mắn được xơ làm cô giáo chủ nhiệm trong suốt ba năm trung học. Xơ dạy lịch sử, Anh văn, Pháp văn, và tôn giáo; xơ là một nhà giáo ngoại hạng, vừa về tài năng vừa lòng tận tụy, không có thầy giáo nào để lại ảnh hưởng sâu đậm trong lòng tôi cho bằng xơ.

Nội dung các bài học của xơ rõ ràng tuyệt vời, nhưng đó chỉ là một phần tài năng sư phạm của xơ. Xơ còn dạy cho chúng tôi phương pháp học tập, nghiên cứu, thảo tài liệu, ghi nhớ các động từ tiếng Pháp, cách dạy học, cách truyền cảm hứng cho học sinh, cách cống hiến của một nhà giáo trên phương diện cá nhân và nghề nghiệp, và, quan trọng nhất là, cách dồn hết đời mình cho những chuyện quan trọng.

Ảnh hưởng của xơ trong đời sống của tôi thì không thể nào tính được. Sau khi học xong trung học, tôi vào chủng viện và đại học, sau đó là cao học, hậu cao học, và tiếp đó là quá trình tự học. Suốt quãng đời đi học, tôi chưa thấy ai dạy dễ hiểu như xơ Shirley. Hơn thế, các phương pháp xơ dạy cho tôi từ lớp 9, vẫn còn giúp cho tôi rất nhiều trong các bài nghiên cứu và luận án tiến sĩ. Tôi làm bài nghiên cứu và thảo đề tài tiến sĩ bằng phương pháp của xơ. Bây giờ tôi vẫn còn áp dụng phương pháp sư phạm của xơ. Xơ biết áp dụng chương trình PowerPoint trước khi nó được phát minh.

Tuy nhiên, nhớ lại hồi còn học với xơ, lúc đó tôi còn quá trẻ để ý thức được tất cả giá trị của xơ. Tôi chỉ nghĩ xơ là cô giáo của tôi; tôi không lưu tâm nhiều về cuộc sống của xơ, không bao giờ suy nghĩ về những gì có ở nơi xơ: Xơ là một nhà giáo ngoại hạng, những năm tháng đầu đời lại đi dạy học ở một vùng nông thôn hẻo lánh của tỉnh bang Saskatchewan, Canada. Trường chúng tôi, lúc nó chưa giải tán, không phải là nơi sinh ra, nuôi dưỡng, khám phá các nhân tài hàn lâm. Chúng tôi được học với tài năng ngoại hạng của xơ Shirley chỉ vì xơ là một nữ tu, tận hiến để phục vụ người nghèo, dạy ở những vùng xa xôi hẻo lánh như vùng chúng tôi ở. 

Thêm nữa, là một học sinh trung học, thực sự lúc đó tôi cũng không nhận thức chân giá trị về đời sống cá nhân của xơ, như một nữ tu, như một phụ nữ. Cuộc đời sẽ như thế nào nếu hy sinh chồng con gia đình để làm việc này? Cuộc đời sẽ như thế nào nếu sống theo luật lệ khắc khe của thời trước Công Đồng Vatican II? Cuộc đời sẽ như thế nào khi sống với năm hay sáu phụ nữ khác trong nhà tu kín, trong cộng đoàn hẻo lánh nơi mà mọi người dù đối xử tôn trọng với nhau nhưng vẫn có một khoảng cách nhất định nào đó với mình? Cuộc sống sẽ như thế nào khi đến thời tắt kinh và không có con cái?

Là học sinh của xơ, tôi chỉ bắt đầu có ý thức về sự phức tạp của đời sống và ngay cả đức tin sâm đậm nhất cũng không nhất thiết lấy đi hết tính người của mình, tính người với những nhu cầu nóng bỏng của nó và đời sống nội tâm vẫn là đời sống của một phụ nữ, dù người phụ nữ này là nữ tu tận tụy nhất, mỗi ngày cũng muốn Thiên Chúa trả lại cho mình những gì mình đã hiến dâng.

Dù phải trả giá nào đi nữa, xơ cũng đã trả, trả mà không bao giờ đánh mất lòng tốt, trí thông minh, đức tin và ý muốn cá nhân của mình chỉ là phụ so với ý muốn phục vụ người khác.

Tôi đậu trung học và mãi nhiều năm sau, tôi không gặp lại xơ. Khi đó xơ đã nửa về hưu, tóc đã bạc, mặc thường phục giản dị không còn mặc áo dòng, nhưng điều ngạc nhiên là xơ rất hạnh phúc, hạnh phúc hơn cả thời gian xơ đi dạy. Bây giờ xơ giống như một bậc tiền bối giàu kinh nghiệm, một thiền sư, một nhà thông thái, nhà minh triết trong thân thể của một người già. Nhưng xơ tỏa ra một vẻ an lạc mà khi không còn vướng bận cảnh buồn phiền thiếu thốn của thời thanh xuân nữa phải ao ước. Xơ, một người độc thân, một nữ tu, bằng tuổi này người khác đã có cháu, nhưng, dù không có cháu, xơ vẫn là người phụ nữ mãn nguyện, hạnh phúc, xơ không có nhu cầu đòi hỏi gì cho đời mình.

Tôi đến thăm xơ mấy tháng trước khi xơ mất, khi xơ vào ở trong dưỡng đường chờ chết. Tôi đã nói xơ có ảnh hưởng với tôi như thế nào và cám ơn lòng tận tụy của xơ. Xơ là giáo viên thanh lịch, chuyên nghiệp, tận tâm, khiêm tốn nhất mà tôi được học gần 40 năm trước: “Xơ chỉ làm điều tốt nhất của xơ.”

Khi lực lượng quân đội El Salvador đe dọa giết Đức tổng giám mục Romero, ngài phản ứng lại bằng câu nói: “Nếu các anh giết tôi, tôi sẽ sống lại trong người dân Salvador.” Nữ tu Shirley Christopher qua đời ngày 19 tháng 11, năm 2004, nhưng xơ vẫn sống mãi trong lòng chúng tôi, những cựu học sinh của xơ, những học sinh có được ơn phúc khi có được một cô giáo đầy tài năng và tận tâm. Cuộc đời của xơ vẫn tiếp diễn.

Tôn trọng người khác trong một cộng đồng phân cực

Thời buổi này, chúng ta sống trong một thế giới và trong các cộng đoàn rất phân cực. Trong đó, chúng ta không hiệp nhất. Một mức độ phân cực nào đó trong mọi cộng đồng là bình thường và lành mạnh. Tuy nhiên, chua cay, tinh thần thấp kém, và sự thiếu tôn trọng là đặc nét nhiều nhất trong các cuộc tranh luận chính trị, giáo hội, và luân lý hiện nay là điều không bình thường và rất không lành mạnh. Chúng ta đừng cố lừa dối mình khi nghĩ rằng điều này là lành mạnh và tệ hơn nữa, đừng nhân danh sự thật, công lý, hay Thiên Chúa để biện minh cho sự thiếu tôn trọng đối với những người suy nghĩ khác chúng ta. Chúng ta không phải là chiến sĩ thần thánh, mà chỉ là những con người đầy giận dữ với tấm lòng thương xót có tính phân biệt chọn lựa.

Có thể những nhãn hiệu như tự do và bảo thủ không định danh chính xác các nhóm, kiểu người mà chúng ta luôn phân tách hiện nay, nhưng như một tổng thể hóa thì những danh xưng này vẫn có giá trị. Chúng ta phân tách cách gay gắt, tự do với bảo thủ, bảo thủ với tự do, và thay vì xem chúng ta như một cộng đồng với những nỗ lực chiến đấu chung, chúng ta thích nói về “chúng ta” và “bọn họ” hơn, nghe giống như trong các nhóm giao tranh. Không có một sự chung nhất phổ quát nữa.

Nghiêm trọng hơn, chúng ta không thể và ngay cả không có một cuộc trao đổi tôn trọng với nhau. Ngày nay thật hiếm có một cuộc trao đổi về bất cứ vấn đề nhạy cảm nào về chính trị, luân lý và quan điểm trong giáo hội mà không xuống cấp thành kiểu dán nhãn và thiếu tôn trọng. Thấu cảm, thông hiểu, và thương mến trở thành cực kỳ phân tách chọn lọc, nghiêng về tư tưởng riêng và một chiều. Chúng ta chỉ lắng nghe và tôn trọng những gì chúng ta yêu thích. Hơn nữa, cả tự do hay bảo thủ đều như vậy. Những gì chúng ta thấy ở họ thật đáng buồn, một hình thức quá nhạy cảm, quá nghiêm túc, hoang tưởng về người khác, nóng giận, thiếu vắng niềm vui và thiếu tính hài hước.

Phái bảo thủ thì có khuynh hướng biện minh cho điều này bằng việc đặt nặng tầm hệ trọng các tranh điểm họ muốn bảo vệ: phá thai, đời sống gia đình, kết hôn truyền thống. Các điểm họ trình bày với tất cả tầm hệ trọng thích đáng, là quá nghiêm túc và phái tự do cũng đồng thuận là không thể trao đổi cho có ý nghĩa thật sự được. Sự thật đang được bảo vệ là bất diệt và không thương lượng, vậy thì trao đổi để làm gì?

Phái tự do cũng nói vậy: Tại sao lại thảo luận những điều hiển nhiên hợp lý, đơn giản là nhân quyền, và đã từ xa xưa, nó đã được trân trọng lưu giữ trong nguyên tắc dân chủ? Những vấn đề này thậm chí không cần phải tranh luận. Hơn nữa, trong nhóm tự do, thường có sự khinh miệt đầu óc đối với những gì bị cho là bất dung hẹp hòi từ chủ nghĩa tôn giáo chính thống cực đoan. Mặc dù có những nỗ lực thuyết phục đáng kể với phía đối lập, phái tự do vẫn thiếu một ít chân thành trong mong muốn có một trao đổi thực sự về các vấn đề như phá thai, kết hôn đồng tính, và giá trị gia đình. Họ, cũng như phe bảo thủ, rõ ràng đã có một định kiến về mặt luân lý. Tại sao phải trao đổi?

Xác quyết vững mạnh không phải là một lỗi, nhưng điều đáng lo là thiếu tinh thần cởi mở để có một đối thoại tôn trọng nhau, trên những vấn đề nhạy cảm, tình trạng này chung chung phổ biến trong các lãnh vực tôn giáo cũng như chính trị.

Trong lãnh vực Giáo hội, chúng ta muốn giữ mình ở một tầm mức cao hơn: đón nhận chuyện xấu bằng lòng tử tế, giận dữ bằng thương xót, đối nghịch bằng thông hiểu, phỉ báng mà không trã đũa, bất dung bằng kiên nhẫn, và đón nhận mọi thứ, mọi người bằng đức ái. Đa số là đã không xảy ra như vậy. Và đáng buồn thay, trong nội bộ Giáo hội, các trao đổi của chúng ta về các vấn đề nhạy cảm là tấm kiếng phản chiếu tận căn tư tưởng khắc khe, một chiều mà chúng ta nghe tranh cãi gay gắt hơn trên các diễn đàn. Kết quả cũng như nhau: người trở lại giảng cho người trở lại nghe, tâm hồn chúng ta ngày càng chai hơn là mềm, thái độ chúng ta càng chua cay và cách biệt, và rồi chúng ta bị đẩy xa khỏi tha nhân trong lòng Giáo Hội cũng như trên chính trường.

Đến một lúc, khi bất hòa, giận dữ, thiếu dung thứ, thiếu kiên nhẫn, thiếu tôn trọng và thiếu đức ái làm tê liệt cộng đoàn và chia rẽ những người thiện tâm với nhau, thì chúng ta, những người đi theo Đức Giêsu được kêu gọi để noi theo gương yêu thương bao la của Ngài, để tái định lại chúng ta trong vài nguyên tắc căn bản: tôn trọng, nhân ái, thông hiểu, nhẫn nại, và rộng lượng đối với những người đối lập mình. Và đây cũng là lúc chúng ta cùng ở với nhau trong một gia đình mà mọi người cần có nhau.

Không có “chúng tôi” và “họ”, chỉ có “chúng ta”

Học giả Kinh Thánh, Ernst Kaseman, đã từng giả thuyết rằng những gì sai trái trong thế giới và trong Giáo Hội là bởi những người tự do không phải là những người ngoan đạo và những người ngoan đạo không phải là những người tự do. Thật chính xác. Hiếm khi thấy một người lãnh đạo vừa lần chuỗi vừa đi bộ vì hoà bình. Phái tự do trội ở điểm này, phái bảo thủ trội ở điểm kia. Mỗi bên có hình mẫu riêng của mình, đó là những Mel Gibson và Michael Moore, các vị thánh bảo trợ của lòng mộ đạo hay công chính. Chúng ta cần một thánh bảo trợ cho cả hai.      
Có lẽ chúng ta thấy được vị bảo trợ đó ở bà Dorothy Day, người mà ở cả hai phía, tự do và bảo thủ, đều  tôn trọng và nhìn nhận như một vị thánh và sẽ được Giáo Hội phong thánh sớm. Bà vừa sốt sắng vừa tự do, một phụ nữ thong dong tự tại, vừa hướng dẫn cuộc đi bộ vì hoà bình, vừa sốt sắng lần chuỗi. Bà cũng có thể đứng lên vững mạnh vì chân lý, vì sự sống, và vì công chính, không đặt đồng hạng những gì là căn bản vĩnh cữu trong tất cả các quan hệ, bà nói chuyện trong tinh thần nhân ái, tôn trọng, lân tuất và với một óc hài hước!

Hình ảnh huyền bí của phục vụ

Khi thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, nhà thần nghiệm trẻ tuổi người Pháp, cố gắng giải nghĩa ơn gọi của mình, bà nhắc đến một dấu ấn nội tâm sâu sắc đã xảy ra trong đời bà:

Một ngày Chúa nhật, khi nhìn ảnh Chuộc tội, tôi bị đánh động bởi dòng máu chảy ra từ bàn tay chí thánh của Chúa. Tôi cảm thấy nhức nhối buồn sầu vô cùng khi nghĩ rằng dòng máu này rơi xuống đất mà không có ai vội vàng hứng lấy. Tôi quyết tâm mình sẽ ở dưới chân Thánh giá để hứng giọt sương đó. … Tôi không muốn giọt máu cực trọng này bị bỏ phí. Tôi sẽ để suốt đời gom lại dòng máu ấy vì sự tốt lành cho các linh hồn. … Sống trong tình yêu là quên mình.

Ở một mức độ nào đó, điều này có thể đơn thuần xem như hình ảnh lòng mộ đạo quá độ của một nữ tu trẻ tuổi cực kỳ sốt sắng ngồi trong nhà nguyện, tôn thờ người bị đóng đinh, có cảm xúc thái quá khi hình dung cảnh Chúa Giêsu bị xúc phạm và bị đóng đinh trên thập giá. Nhưng đây là một ẩn dụ, một thần hiện, và đúng là một thách thức thật sự.

Khi thánh Têrêxa Hài Đồng nói về Chúa Kitô ở đây, bà không phải chỉ nói đến và nhắm chính yếu vào thân xác của một Đức Giêsu trong lịch sử, mà nói đến thân thể Đức Kitô trong thế giới này. Đức Kitô vẫn chịu khổ hình và máu vẫn chảy từ khuôn mặt và đôi tay của Ngài cho khắp thế gian. Một trong những trách nhiệm của Kitô-hữu chúng ta, và đơn giản trong tư cách làm người, là, nói theo cách ẩn dụ, nhớ lại, hứng lại và tôn kính cách riêng máu thánh Ngài. Trách vụ người Kitô-hữu, luôn luôn, đứng cạnh chân thập giá và hứng lấy giọt sương đó để không làm phí phạm giọt sương cực trọng này.

Chúng ta làm điều đó cách nào?

Khi tổ chức Ân xá Quốc Tế, hoặc bất cứ nhóm, cá nhân nào phục vụ cho công lý đến những vùng còn chiến tranh hay xung đột bạo lực trên thế giới, họ gom lại tài liệu về bạo lực ở đó, liệt kê công bố danh tính của tất cả những người bị thủ tiêu, khi đó họ đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi một nữ tu rời bỏ sự an toàn và yên ổn ở quê nhà và cộng đồng để đến Sudan sống với các phụ nữ bị hãm hiếp, ghi lại các câu chuyện này, thì khi đó họ đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi một người bạn vội vàng bỏ chơi để chạy đến an ủi người bạn yếu ớt của mình vừa bị đám anh chị trong trường bắt nạt sỉ nhục, bạn ấy đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi một người, như Greg Mortenson, từ bỏ cuộc sống đặc quyền và tiện nghi để mạo hiểm trong mọi thứ, kể cả cuộc sống, để xây các trường học trong những vùng sâu nhất Pakistan cho giới trẻ Hồi giáo, đặc biệt là các thiếu nữ Hồi có thể có được một nền giáo dục, thì khi đó ông đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi có những người cống hiến cuộc sống để làm việc với những người khuyết tật tinh thần giúp họ sống và thể hiện phẩm giá của những người có tài năng khác biệt, thì khi đó họ đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi một người trẻ có lý tưởng gia nhập vào các quân đoàn gìn giữ hòa bình, hay trở thành nhà truyền giáo với khát vọng chân thành là giúp đỡ những người thiếu may mắn, thì khi đó họ đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Và …

Khi bất cứ ai trong chúng ta dành thì giờ ở sở làm hay ở nhà riêng để lắng nghe tâm hồn người bị thương tổn, đã mỏi mòn kiệt sức với sự hờ hững của mọi người không còn muốn nghe các lời than trách, các kỷ niệm buồn khổ, thì khi đó chúng ta đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi bất cứ ai trong chúng ta cố gắng thông hiểu lắng nghe một người bạn, người đồng nghiệp hay người anh em đang nản lòng vì đời họ không rơi vào trạng huống hụt hẫng ghen tương, vì cuộc đời họ không được như họ mơ ước, thì khi đó chúng ta đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi bất cứ ai trong chúng ta lưu tâm đến thành tựu của người khác, chân thành khen ngợi và chúc phúc cho thành công đó, thì khi đó chúng ta đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Khi bất cứ ai trong chúng ta với lòng thương cảm, cầu nguyện cho tất cả những người bị vùi dập ước mơ, bị đau khổ vì sống trong bóng tối, trong vô danh, thì khi đó chúng ta đang đứng dưới chân thập giá, đón nhận sương mát từ đó, và vội vàng hứng nó.

Máu vẫn còn chảy từ bàn tay và khuôn mặt Đấng chịu đóng đinh trên thập giá. Hầu hết nó rơi trong hờ hững và không ai vội vàng hứng lấy.

Nhiệm vụ của chúng ta cũng như nhiệm vụ của thánh Têrêxa Hài Đồng là ghi nhận và tin chắc rằng giọt máu cực trọng này không rơi đi trong vô tâm, không dấu vết, và không được loài người tôn kính thích đáng.

Phép thử cho Tinh thần Môn đệ Đức Kitô

Thời đại này, chúng ta sống với nhiều phân cực, cả trong lòng giáo hội lẫn xã hội bên ngoài. Có một cái gì lành mạnh trong đó, dù có cả đắng cay. Xét cho cùng, sự tổn thương đạo đức và lửa giận là dấu chỉ có thể của một tấm lòng đạo đức sốt sắng. Chúng ta vẫn tin tưởng vào nhiều thứ, điều sai cũng như điều đúng. Đức hạnh là ở đó.

Nhưng như đã nói, ở đó cũng có những điều rất không lành mạnh trong tình thế hiện nay của chúng ta, đó là việc những người chân tín không thể trao đổi cách lễ độ và tôn trọng với người đối diện về những vấn đề luân lý và tôn giáo, vì rốt cùng hai bên không tôn trọng nhau, tin chắc rằng những gì người kia phát ngôn là chỉ để làm một phép thử luân lý như phép thử nhúng giấy quỳ vào dung dịch để biết dung dịch đó là axít hay kiềm. Luôn là vậy, cả trong giáo hội và trong các diễn biến chính trị dân sự, mỗi bên, như phe bảo thủ và tự do, có một vấn đề tối hậu không nhân nhượng, và nó là phép thử cho việc phân xét tinh thần luân lý và tôn giáo của người khác.

Một vài vấn đề là thuần luân lý (phá thai, kết hôn đồng tính, công lý cho nhóm đặc thù), một số khác về việc giữ đạo (đi nhà thờ, thành viên trong các nhóm riêng), một số khác về tín điều (phong chức cho phụ nữ, chấp nhận vô điều kiện Kinh Thánh và quyền Giáo Hội, hòa đồng chủ nghĩa). Luôn luôn là vậy, một vấn đề cá biệt sẽ trở nên nền tảng cho một sự phán xét vô cùng kỳ thị, một phép thử axít-kiềm, xem người đó có đáng được tôn trọng về mặt tôn giáo và luân lý không.

Nhưng liệu có chính đáng? Một vấn đề đơn lẻ có là một phép thử? Chúa Giêsu đã nói gì về điều này? Kinh Thánh đã nói gì về điều này? Liệu một vấn đề đơn lẻ luân lý hay tôn giáo có được chỉ định như tâm điểm mấu chốt, điểm chính không nhân nhượng của tinh thần môn đệ Kitô hữu không?

Trong một cách nghĩ, đúng, dù có đôi điểm khác biệt cần lưu ý. Cũng vậy, mỗi tác giả trong Tân Ước trình bày điểm này theo cách khác nhau:

Trong Tin Mừng thánh Mát-thêu, tâm điểm đạo đức của tinh thần môn đệ được Chúa Giêsu nói rõ trong Bài Giảng trên Núi. Trọng tâm là ở đòi hỏi: Con có thể yêu thương kẻ thù? Con có thể thực tâm tha thứ cho ai xúc phạm mình? Con có thể chúc phúc cho ai nguyền rủa mình? Con có thể đối xử tốt với người làm hại mình? Con có thể tha thứ cho kẻ sát nhân? 

Thách thức này đặt cho giáo huấn luân lý của Đức Giêsu có một chỗ đứng riêng biệt hẳn với các giáo lý khác và trở nên tính độc nhất – và đó là cái khó thật sự của giáo lý này. Có nghĩa đó là dấu để nhận biết môn đệ Chúa Giêsu: Họ có thể yêu và tha thứ cho kẻ thù. Nếu Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, có lẽ là cả Tân Ước, cho chúng ta thấy phép thử này về tinh thần môn đệ, thì có thể có một công thức tóm gọn: Con có yêu mến và tha thứ cho kẻ ghét con không?

Tin Mừng theo thánh Luca cũng nói giống như vậy nhưng theo một cách nói khác. Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta có lòng thương xót như Cha trên trời có lòng thương xót,  thánh Lu-ca định hình lòng thương xót này là tình yêu, như cách mà người Cha của Đứa con hoang đàng và Anh của nó, như cách mặt trời tỏa sáng trên cả người tốt lẫn người xấu, vươn đến và yêu mến dù nó có đáng hay không. Phép thử ở đây có thể định danh: Yêu tha nhân bất kể khác biệt và bất kể những ý nghĩ liệu người đó có đáng hay không. Đừng chỉ yêu mến những ai tốt với mình hay có thể đền đáp lại cho mình. Hãy yêu thương vô vàn như Thiên Chúa đã yêu.

Thư thánh Phao-lô đề cập đến điều này khi ngài phân biệt cái gọi là sống theo xác thịt đối lập với sống theo Thần Khí. Cái đầu tiên, sống theo xác thịt đặc nét qua “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy.” Thánh Phao-lô cảnh báo rằng khi những điều này có trong cuộc sống chúng ta thì chúng ta không nên lừa dối chính mình khi nghĩ rằng chúng ta đang sống trong Thần Khí.

Ngược lại, sống theo Thần Khí, với thánh Phao-lô, là có “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ.” Chỉ khi nào các phẩm tính này hiển hiện trong cuộc sống chúng ta thì chúng ta mới có thể nhận biết được chúng ta đang đi đúng trong tinh thần người môn đệ của Chúa.

Theo thánh Phao-lô, phép thử không phải là một vấn đề đức hạnh đơn lẻ, mà trọn vẹn cách sống chiếu tỏa nhiều đức ái hơn là ích kỷ, nhiều hoan lạc hơn là hận thù, nhiều bình an hơn là chia rẽ, nhiều từ tâm và tôn trọng hơn là dò xét và nói xấu, nhiều nhẫn nhịn hơn là nóng giận, và sẵn sàng đổ máu hy sinh hơn là chiều theo cám dỗ tức thời.

Điều này không đề xuất rằng luân lý cá biệt, tín điều và các thông tư giáo hội là không quan trọng; một số trong đó là chủ điểm của sự sống và sự chết. Nhưng tinh thần người môn đệ Kitô không chỉ dựa trên những gì chúng ta làm, mà còn ở tại tâm chúng ta. Thực chất tinh thần người môn đệ Kitô là liên kết vào quả tim Chúa Kitô. Phẩm hạnh đứng đắn, bảo vệ chân lý, giữ đạo suốt cuộc đời cũng từ điều này mà ra, và khi đặt cội nguồn ở đó, ở Đức Kitô, thì người môn đệ trở nên đáng trọng, biết tha thứ, và yêu thương.

Niềm vui của thói cũ

Trong cuốn sách rất hay, cuốn Sức mạnh của cá tính, James Hillman chia sẻ câu chuyện sau: Một buổi chiều nọ, chàng thanh niên trẻ ngồi nghe ông bác già kể chuyện, anh không khỏi bực mình khi nghe ông bác kể câu chuyện mà anh nghe cả trăm lần, Hillman càu nhàu: “Bác kể  chuyện này rồi.” “Bác thích kể câu chuyện này!” ông bác vặn lại, và thì thầm qua hởi thở, “kể lại thì có gì sai đâu!”

Lúc đó, khi nghe bác vặn lại, Hillman chỉ tức thêm. Chỉ sau này, khi đã hiểu cuộc đời và cá tính con người sâu đậm hơn, Hillman mới cảm kích vì sao bác mình có nhu cầu kể đi kể lại một chuyện như vậy: “Ông hiểu niềm vui của thói cũ!” Và thói cũ chính là niềm vui, chính là quà tặng!

Chúng ta không thể nuôi dưỡng mình và người khác bằng những gì tươi mát và mới lạ. Nó chỉ là cung cấp nhất thời và thường thì không với tới được. Nếu chúng ta chỉ nói với nhau những chuyện mới hay những chuyện thích thú thì chắc chúng ta sẽ im lặng trên bàn ăn. Chúng ta cũng không có bao nhiêu chuyện châm biếm, hài hước, và dí dỏm trong các buổi chuyện trò. Chúng ta không những chỉ nuôi dưỡng nhau bằng các chuyện mới lạ và thú vị, nhưng còn và cũng rất quan trọng chúng ta nuôi dưỡng đời sống gia đình, quan hệ bạn bè, tình đồng nghiệp bằng cách kể đi kể lại cho đến cuối đời chuyện đời xưa, chuyện hài hước cũ, giai thoại cũ, mãi cho đến khi câu chuyện lặp đi lặp lại đó thành chuyện riêng, thành dí dỏm riêng, và thành giai thoại riêng của nó. Hillman gọi tên điều này rất xuất sắc: Niềm vui của thói cũ.

Từ câu chuyện này Hillman đi đến một suy tư triết học nghiêm túc hơn, làm sáng tỏ giá trị của hành động lặp lại trong các nghi lễ. Ông trích dẫn lời của triết gia người Pháp, Gilles Deleuze, cho rằng sự lặp lại có thể là cách để chúc tụng một điều gì đó qua việc nhấn mạnh đến đặc tính của nó: Bằng cách lặp đi lặp lại từ lần đầu cho  đến vô hạn lần, lặp lại là vinh danh một cách có nghệ thuật. Một sự kiện được lặp đi lặp lại là vinh danh và nhấn mạnh đến nguồn gốc của nó; sự lặp lại này khác với sao chép, sao chép chỉ làm cho sự lặp lại thành tiếng dội lại yếu hơn, một bản sao mờ nhạt ngày càng xa cách bản gốc.

Với điều này, Hillman thêm một bài ca ngợi nho nhỏ tán dương sự lặp lại: Không gì buồn tẻ hơn tập gam khi học đàn, giọng đọc lần chuỗi rì rầm. Tuy nhiên, thành tựu của nghệ thuật, hiệu lực của cầu nguyện, vẻ đẹp của nghi lễ, và sức mạnh của cá tính phụ thuộc vào những hành vi nho nhỏ lặp đi lặp lại vô tận, mà nếu tách riêng nó ra thì hoàn toàn vô dụng.

Đa số chúng ta biết rõ điều này. Chúng ta có những người bạn, người quen hoặc anh chị em, họ nhẫn tâm đón chúng ta và làm chúng ta bực mình với những câu chuyện xưa rích, những câu chuyện hài nghe nhàm tai, những giai thoại xưa như quả đất mãi cho đến khi mỗi câu chuyện lặp lại đó thành câu chuyện riêng, thành dí dỏm riêng, và thành giai thoại riêng. Họ làm theo thói cũ. Đôi lúc nó làm chúng ta bực mình và muốn chống đối, nhưng, cũng như Hillman, cuối cùng rồi chúng ta cũng cảm kích và thấy nó mang đến cho cuộc sống gia đình, bạn bè và cộng đoàn một sự nuôi dưỡng cần thiết để có sắc thái, cá tính, nét hóm hỉnh, một phong cách riêng mà chỉ có các câu chuyện mới mang lại được. Chúng ta không chỉ sống với những gì mới lạ, mà còn với những câu chuyện được kể đi kể lại, những câu chuyện nhấn mạnh nét châm biếm dí dỏm và sắc thái trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.Gia đình tôi nổi tiếng về chuyện bực mình này, một cá tính không phải lúc nào tôi cũng hãnh diện nhưng chung chung tôi rất thích. Gia đình tôi yêu niềm vui của thói cũ. Cứ mỗi lần sum họp bên bàn ăn, năm này qua năm khác, chúng tôi kể đi kể lại rất nhiều chuyện. Và không phải lúc nào chúng cũng được thích nghe. Không ít lần có bộ chân mày nhíu lên “Lạy Chúa, bác ấy đừng kể câu chuyện đó nữa!” hay, như chàng thanh niên Hillman càu nhàu “Bác  kể câu chuyện này rồi!” Nhưng, chung chung, những câu chuyện, những kiến thức, những lời châm biếm, dí dỏm cũ vẫn được mọi người thích thú theo lối mới cho cả người kể và người nghe. Chung quanh bàn ăn, những chuyện cũ và nhạt nhẽo cũng như  những chuyện mới và thú vị vẫn có tác dụng nuôi dưỡng đời sống gia đình, đôi lúc chuyện cũ còn nuôi sống mạnh hơn vì các câu chuyện xưa này có tác dụng nhấn mạnh đến lịch sử và các nét đặc thù của chúng ta.

Mùa hè vừa qua chúng tôi mất một người em yêu quý, trong buổi lễ canh thức, ba người con đã lớn của anh đọc một điếu văn làm mọi người xúc động. Họ nhấn mạnh đến ước ao của người cha đối với con cái, cam kết của anh với giáo hội, với công lý (sinh thái, quyền sinh sống, nữ quyền), óc dí dỏm, đặc biệt là nhu cầu lúc nào cũng muốn lặp đi lặp lại một câu chốt, như thể vì lý do nào đó mà chưa ai nghe: “Các con không tránh được đâu! Cha tôi lặp đi lặp lại câu đó cho đến khi ông chắc chắn mọi người đã nắm vững nó!”

Nhưng đó chưa phải là lý do thật sự chúng ta lặp lại câu chốt. Giống như lý do của ông bác Hillman khi ông kể lui kể tới một câu chuyện, chúng ta lặp lại câu chốt vì: Chúng ta thích nói về nó! Chúng ta thích niềm vui của thói cũ. Rồi ra, vượt qua nỗi bực mình ban đầu, người khác rồi cũng sẽ thích thú làm theo.

Đuổi theo tuổi ngây thơ

Nhà văn Annie Dillard viết về sự ngây thơ như sau: Thơ ngây không phải là đặc quyền của trẻ con và chó con, và còn lâu hàng đống siêu sao mới ngây thơ, họ không có một độc quyền nào hết. Ngây thơ không mất đi trong chúng ta; thế giới tốt đẹp hơn chúng ta tưởng. Như mọi món quà tinh thần giá trị khác, thơ ngây sẵn đó nếu bạn muốn, bạn cứ đòi mà chẳng tốn đồng xu, nhiều người còn dùng những chữ mạnh hơn để nhấn mạnh nó hơn tôi. Có thể đuổi theo sự thơ ngây như cách chó săn đuổi theo thỏ rừng: quyết tâm theo một mục đích duy nhất, cuốn theo một loại tình yêu nào đó, băng ngàn, xuống núi, gào lên và mất hút trong các cánh đồng bao la, lượn vòng, nhảy qua  hàng rào ngăn cách, mắt mở to, thét lên một cách vô thức, thèm khát một cách khó hiểu, tim rừng rực cháy, và hát lên bản đồng ca vang dội rừng núi.

Một trong những nền tảng sâu đậm nhất về đạo đức và thiêng liêng là sự thơ ngây, nếu không có nó thì hẳn phải ao ước nó. Như  ao ước lành mạnh của trẻ con là có được kinh nghiệm của người lớn, ao ước lành mạnh của người lớn là có được quả tim trẻ con. Đánh mất ước muốn được thơ ngây là đánh mất xúc cảm tâm hồn. Đúng vậy, mất thơ ngây là mất tâm hồn. Đánh mất hoàn toàn ước muốn được thơ ngây là một trong những con đường đưa đến hỏa ngục.

Thơ ngây là gì?

Dilliard mô tả đó là trạng thái vô tư của tâm hồn lúc nào cũng trong sáng thành tâm cho bất cứ đối tượng nào. Theo bà, thơ ngây chính là cái nhìn ngưỡng phục, tình yêu không lụy ham muốn, là một cái gì đó gần giống với những gì văn sĩ James Joyce mô tả trong cuốn Chân dung về nghệ sỹ như một chàng thanh niên, khi chàng trai trẻ Steven, nhân vật nam chính, thấy một một cô gái ăn mặc nửa kín nửa hở trên bãi biển nhưng thay vì bị thèm khát nhục dục chi phối, Steven chỉ thấy lòng mình đầy ngưỡng phục và ngạc nhiên mà thôi.

Tác giả quá cố Allan Bloom, trong cuốn Điều cuối cùng trong đầu người Mỹ, gợi ý rằng, xét cho cùng, thơ ngây là sự trong trắng và sự trong trắng thì diễn tả nhiều ý nghĩa hơn là khái niệm tính dục đơn thuần. Theo Bloom, cần có một dạng trong trắng nào đó trong tất cả các trải nghiệm của chúng ta, có nghĩa là, chúng ta cần trải nghiệm chúng, nếu và khi, chúng ta có thể trải nghiệm chúng mà chúng ta vẫn giữ được trọn vẹn con người mình. Nói một cách ngắn gọn, chúng ta mất thơ ngây khi chúng ta trải nghiệm một cái gì đó mà nó làm “chia tách” chúng ta, phá vỡ con người trọn vẹn của mình trên một phương diện nào đó. Và chúng ta có thể bị phân mảnh về nhiều phương diện – đạo đức, tâm lý, cảm xúc, tinh thần, hay ái tình.

Bloom gợi ý rằng ngày nay đa số chúng ta thiếu đi sự trong trắng và ít nhiều trở nên manh mún. Ông gợi ý, điều này tự nó đã biểu hiện không chỉ trong tỉ lệ ngày càng tăng các vụ tự tử, suy sụp cảm xúc, lạm dụng rượu và ma túy, nhưng còn phổ biến hơn, trong một tình trạng chết cứng làm chúng ta “yêu đương què quặt”, không còn lửa trong mắt, và không còn những điều cao cả trong tim và trong giấc mơ của mình nữa.

Tuy nhiên sự thơ ngây của người lớn dứt khoát không phải là thơ ngây tự nhiên của trẻ con. Đối với người trưởng thành, thơ ngây có thể là không còn kéo dài hồn nhiên nhưng nó cần một cái gì đó mạnh hơn, có thể gọi đó là thơ ngây thứ hai. Nó là thơ ngây sau khi phê phán. Chúng ta phải phân biệt giữa tính trẻ con, thơ ngây tự phát của một đứa trẻ do thiếu kinh nghiệm và hồn nhiên, và sự thơ ngây, tuổi thơ ấu, sau khi đã biết phê phán của một người trưởng thành hiểu biết, có kinh nghiệm, tìm lại thế giới hồn nhiên của trẻ con.

Đức Giê-su định nghĩa thơ ngây thế nào? Người nhận diện thơ ngây qua hai điều: có quả tim của một đứa trẻ và có quả tim của một trinh nữ: Ai không có quả tim của trẻ nhỏ, người ấy không thể vào được nước Trời. Nước Trời có thể ví như 10 trinh nữ chờ đợi một chàng rễ.

Theo Đức Giê-su, quả tim của đứa trẻ là một cái gì đó tươi mới, dễ tiếp thu, đầy ngạc nhiên, tôn trọng, và chưa bị chai cứng,  hoài nghi yếm thế ăn sâu vào quả tim người lớn vì bị thương tổn và tội lỗi. Theo Người, quả tim của trinh nữ là quả tim có thể nhẫn nại sống chờ đêm tân hôn mà không đòi hỏi. Nó thơ ngây vì có thể sống mà không phạm vào những điều cấm kỵ lành mạnh, biết rằng, như đứa trẻ, có nhiều cái ao ước hết sức nhưng chưa thể thực hiện được. Quả tim trẻ con là quả tim tin tưởng vào điều tốt, quả tim trinh nữ là quả tim không thử thách Chúa.

Trong cuốn tiểu thuyết Thiên thần đá, bà Margaret Laurence mô tả một phụ nữ tên là Hagar Shipley, một hôm sau khi nghe trộm một đứa trẻ gọi bà là mụ phù thủy già, bà xem lại mình trong gương và khiếp sợ về hình ảnh của mình. Bà chợt nhận ra khuôn mặt của mình và những gì bà thấy khiến bà sợ. Làm sao, một người không biết về mình, lại thay đổi và trở nên quá khác biệt, quá lạnh lùng, không còn sinh khí, không còn tươi mát và ngây thơ như vậy? Nó có thể xảy ra với tất cả chúng ta và cũng có thể xảy với nhiều người trong chúng ta.

Nếu chúng ta không còn là con người thơ ngây như trẻ con, kết bạn dễ dàng, thì có lẽ đã đến lúc chúng ta nên đuổi theo sự thơ ngây như chó săn đuổi theo thỏ rừng: quyết tâm theo một mục đích duy nhất, băng ngàn, xuống núi, gào lên trong các cánh đồng, cuốn hút theo một loại tình yêu nào đó.