RonRolheiser,OMI

Đời sống thiêng liêng và màu thời gian

Thời trẻ, Nikos Kazantzakis, nhà văn nổi tiếng người Hy Lạp, từng nghiền ngẫm để trở thành tu sĩ, và từng để cả một mùa hè đi thăm các tu viện. Nhiều năm sau, khi viết về trải nghiệm này, ông kể lại tỉ mỉ một cuộc chuyện trò tuyệt diệu với một tu sĩ già, Cha Makarios.

Một dịp, anh hỏi vị tu sĩ già: “Thưa Cha Makarios, cha còn vật lộn với quỷ dữ không,?” Vị mục sư già thở dài trả lời: “Hết rồi, con ạ. Giờ cha đã già rồi, và quỷ dữ cũng già theo cha. Nó không còn sức lực… Giờ Cha vật lộn với Chúa.” “Với Chúa!” Kazantzakis kinh ngạc kêu lên. “Cha hy vọng sẽ thắng chứ?” “Cha hy vọng sẽ thua, con ạ,” ông trả lời, “Xương cốt của ta vẫn còn đây, chúng vẫn tiếp tục cự lại ý muốn của ta”.

Ngoài những ý nghĩa khác, câu chuyện này nêu bật thực tế rằng những đấu tranh tinh thần của chúng ta thay đổi khi chúng ta thêm tuổi tác và trải nghiệm cuộc đời. Những đấu tranh thời trẻ không nhất thiết là những đấu tranh tuổi trung niên và tuổi già. Sự chín chắn luôn luôn tiến triển. Mỗi chặng đời lại đòi hỏi chúng ta những điều khác nhau. Nó cũng đúng đối với đời sống thiêng liêng và sứ vụ tông đồ.

Đời sống tinh thần của chúng ta thay đổi ra sao và khi chúng ta ngày một lớn lên, nó đòi hỏi những điều gì mới?

Dựa trên những nhận thức sâu sắc của thánh Gio-an Thánh giá, tôi xin nói rằng có ba giai đoạn nền tảng trong cuộc sống tinh thần của chúng ta, ba cấp độ của sứ vụ tông đồ:

Cấp độ đầu tiên, mà thánh Gio-an Thánh giá gọi là đêm tối của cảm quan, cũng có thể gọi là “Sứ vụ tông đồi cốt yếu”. Về cốt yếu, đây là cuộc đấu tranh để định hình cuộc sống của chúng ta. Cuộc đấu tranh này thật sự bắt đầu ngay khi chúng ta sinh ra, nhưng chỉ trở thành cuộc đấu tranh mang tính chất cá nhân của riêng mình khi đến tuổi dậy thì và bắt đầu chịu sự thúc đẩy của những lực mạnh mẽ bên trong khiến chúng ta tách khỏi gia đình để tạo lập cuộc sống và mái ấm cho riêng mình. Trong thời gian này, chúng ta gắng gỗ gian nan để tìm được chính bản thân, để định hình cuộc đời, để tạo một mái ấm mới cho chính mình. Thời gian này có thể kéo dài nhiều năm trời và có thể không bao giờ thành tựu. Sự thật là, đối với hầu hết mọi người, một số khía cạnh của cuộc đấu tranh này vẫn tiếp tục trong suốt cuộc đời.

Nhưng, với hầu hết mọi người, sẽ tới một lúc điều căn bản này đạt được, khi có cảm giác thoải mái như về lại mái nhà xưa, khi những câu hỏi chính của cuộc đời không còn là: Tôi là ai? Tôi sẽ làm gì với đời mình? Ai thương yêu tôi? Ai sẽ kết hôn với tôi? Tôi nên sống ở đâu? Tôi nên làm gì? Đến một lúc, hầu hết chúng ta đều tìm thấy được một chỗ vượt lên trên những câu hỏi đó: Chúng ta có một mái ấm, một sự nghiệp, một người phối ngẫu hay sự bình yên nhất định với một người phối ngẫu, một ơn gọi, một ý nghĩa, một lý do tốt lành để thức dậy mỗi sớm mai, và một nơi để trở về mỗi tối. Chúng ta đã tìm được đường về lại mái nhà xưa.

Rồi chúng ta bước vào cấp độ thứ hai của sứ vụ tông đồ mà thánh Gio-an Thánh giá gọi là Thuần thục và chúng ta có thể gọi là Sứ vụ tông đồ Sinh sôi. Cốt yếu, đây là cuộc đấu tranh để cho đi cuộc sống của chúng ta. Bấy giờ mối quan tâm chính không phải là chúng ta làm gì với đời mình nữa, mà là cho đi cuộc sống của mình như thế nào để biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn. Đây là những năm tháng sinh sôi  và chúng kéo dài từ khi chúng ta cập bến vào một ơn gọi, một sự nghiệp, một mái ấm, cho tới lúc về hưu. Và những câu hỏi chính trong suốt những năm này phải là những câu hỏi vì người khác: Làm thế nào để tôi cho đi bản thân mình một cách hào phóng và thanh khiết hơn? Làm thế nào để tôi giữ lòng trung tín? Làm thế nào để tôi trụ vững với những cam kết của mình? Làm thế nào để tôi cho đi cuộc sống của mình?

Nhưng đó vẫn chưa phải là những câu hỏi tối hậu: đến một lúc nào đó, nếu chúng ta may mắn có sức khỏe và vẫn còn sống sau khi về hưu, một câu hỏi còn sâu sắc hơn bắt đầu trỗi lên trong ta, một câu hỏi mời chúng ta đến giai đoạn thứ ba của sứ vụ tông đồ. Như Henri Nouwen đã nói: Đến một thời điểm trong cuộc sống chúng ta, câu hỏi không còn là: “Tôi còn có thể làm gì nữa để sống cống hiến?” mà là “Bây giờ tôi có thể sống như thế nào để đến khi chết, cái chết của tôi sẽ là phúc lành tốt đẹp nhất đối với gia đình tôi, đối với giáo hội, và với thế giới này?

Thánh Gio-an Thánh giá gọi giai đoạn này là đêm tối của linh hồn. Chúng ta có thể gọi là Sứ vụ tông đồ Tận căn bởi vì ở giai đoạn này, chúng ta không còn đấu tranh nhiều nữa với việc làm sao để cho đi cuộc sống của chúng ta, mà là làm sao để cho đi cái chết của mình. Lúc bấy giờ vấn đề của chúng ta là: Tôi sống những năm cuối đời mình như thế nào để khi chết đi, cái chết của tôi sẽ gieo phúc lành cho những người thân yêu, giống như cuộc sống của tôi đã làm? Tôi sống những năm còn lại của đời mình như thế nào để khi tôi chết, “máu và nước” – nói như dụ ngôn – sẽ tuôn chảy từ thi thể tôi như từng tuôn chảy từ thi thể của Chúa Giê-su?

Các tài liệu linh hướng của chúng ta hầu như không có cái gì thách thức chúng ta xem xét giai đoạn cuối này của cuộc đời: Làm thế nào để chúng ta chết vì người khác? Tuy nhiên, như Goethe nói về điều này trong bài thơ Nỗi Khao khát Thiêng liêng (The Holy Longing), chính cuộc sống cuối cùng sẽ buộc chúng ta phải nghiền ngẫm việc liệu chúng ta có muốn trở thành “điên cuồng tìm ánh sáng” hay không.

Biên tập lại đời mình

Từ xưa đến nay, các định luật toán học và vật lý vẫn luôn là những điều bất di bất dịch vĩ đại. Chúng có thể tiên liệu được và đáng tin cậy, không có những bất ngờ lạ kỳ. Nhưng giờ đây, các nhà khoa học ngày càng phát hiện, đôi khi các định luật vật lý cũng có những bất ngờ và cho thấy một mức độ tự do khiến chúng ta bối rối. Dường như tự do có mặt khắp mọi nơi.

Các tiểu thuyết gia luôn luôn hiểu điều này. Họ hư cấu lên một nhân vật, bắt đầu viết câu chuyện, và rồi phát hiện ra không phải lúc nào nhân vật này cũng tuân theo những gì họ nghĩ sẵn trong đầu cho nó. Nó trở thành một con người riêng, có thái độ riêng, có cách đi đứng riêng, và hướng câu chuyện đi theo một cách mà tiểu thuyết gia chưa bao giờ nghĩ đến trong đầu. Cuối cùng, phần nào nó độc lập với tác giả, mỗi một nhân vật tự viết nên câu chuyện của riêng mình.

Trong cuốn sách mới Một Triệu Dặm trong Một Ngàn Năm (A Million Miles in a Thousand Years), Donald Miller lấy ý tưởng này và dùng nó để đưa ra một thử thách tuyệt vời, theo đó mỗi người trong chúng ta được mời biên tập lại đời mình để biến câu chuyện đời mình hay hơn và cao đẹp hơn.

Ông làm như vậy thông qua một loạt các bài viết tự sự, trong đó ông tự thách thức mình viết lên một câu chuyện đời hay ho hơn cho bản thân, và sau đó mời mỗi độc giả tự chỉnh lại cuộc đời của chính mình nhằm xây dựng nên một câu chuyện thú vị hơn và cao đẹp hơn, một câu chuyện mà, giống như một bộ phim tuyệt hay, khi kết thúc sẽ khiến khán giả rơi nước mắt và khao khát làm những điều tốt đẹp hơn với đời mình.

Ông mô tả điều này như sau: “Và thế là tôi thì viết tiểu thuyết, còn các nhân vật của tôi thì làm những gì họ muốn, càng ngày tôi càng nhận ra một người nào đó đang viết tôi. Vì vậy tôi bắt đầu lắng nghe Tiếng nói đó, hay đúng hơn, tôi bắt đầu gọi đó là Tiếng nói và chấp nhận đó là Người viết. Tôi thừa nhận rằng một điều gì đó không phải là tôi đang chỉ cho tôi thấy một cách hay hơn. Và khi tôi thừa nhận như vậy, tôi nhận ra rằng Tiếng nói đó, Người viết đó, mà không phải là tôi, đang cố gắng tạo nên một câu chuyện hay hơn, một loạt những trải nghiệm ý nghĩa hơn để tôi có thể nếm trải.”

Lối viết của ông giỏi nhưng dễ đánh lừa. Vì tính chất khác thường như vậy, nên nhiều khi có vẻ ông gần như hời hợt, nhưng, rốt cục, cái bạn có là một sự kết hợp giữa David Sedaris (dí dỏm nhanh trí, giấu mình một cách bông đùa), Annie Lamott (trần tục, thẳng thắn theo cách khiến người khác quy thuận), Kathleen Norris (trực giác xuất sắc, thông minh), Henri Nouwen (cái nhìn trung thực về bản thân), và Ignatius of Loyola (những quy tắc hay để minh định và một chút như là một hướng dẫn về mọi điều). Donald Miller pha trộn tất cả những điều đó lại với nhau.

Thoạt tiên, khi đọc những chương đầu, tôi chỉ để ý tới ngôn ngữ hành văn của ông chứ không để ý đến nội dung. Ông có vẻ như là một người có tài dí dỏm trong kịch vui hơn là một bậc cao niên thông thái. Nhưng rồi một cách từ từ, gần như không nhận thấy – và đó là biệt tài của ông – chiều sâu, lý tưởng, tầm nhìn Ki-tô, trực giác khiến người khác quy thuận, và theo mạch truyện, thách thức thật sự của ông bắt đầu thấm vào, mỗi lúc một trở nên rõ ràng và mời gọi hơn.

Đây là một ví dụ cho cách hành văn lẫn chiều sâu của ông. Trong đoạn văn này, ông chia sẻ cách ông minh định tiếng nói đích thật của Chúa với nhiều tiếng nói không thật do thần kinh kích thích mà ông và hầu như bất kỳ ai khác có thể dễ dàng nhầm với tiếng nói của Chúa:

“Hồi còn nhỏ, cảm thức duy nhất mà tôi có từ Chúa là tội lỗi, một cái gì đó tôi gạt đi, xem như đó là một loại lương tâm quá sức nhạy cảm do giáo dục ở nhà thờ của một vị mục sư áp chế. Nhưng đó không phải là tiếng nói mà tôi đang đề cập. … Tiếng nói thật sự đó yên lặng hơn, nhỏ hơn và dường như biết được một cách không hề nhầm lẫn sự khác nhau giữa đúng và sai, và ranh giới tinh tế giữa cái đẹp đẽ và cái trần tục. Đó không phải là tiếng nói kích động, mà luôn luôn kiên nhẫn, như thể chấp nhận được cả triệu lần làm sai. Cái Tiếng nói mà tôi đang đề cập là một thứ minh triết làm tâm hồn được bình an trong sâu thẳm, nó nói rằng: hãy chớ mở lời; đừng nói như vậy về người đó; hãy tha thứ cho người bạn mà lâu nay mình không nói chuyện; đừng coi người phụ nữ đó như vật sở hữu; ba muốn chỉ cho con thấy hoàng hôn; hãy nhìn ngắm đi và thấy cuộc đời ngắn ngủi biết chừng nào còn các vấn đề của con không xứng đáng khiến con lo lắng đến vậy; hãy mua một chai rượu vang và gọi điện cho người bạn của mình, xem anh ta có đến được không, bởi vì, hãy nhớ rằng anh ta phải có cuộc trò chuyện đó với con gái mình, và bạn cần hỏi anh ta về việc đó.”

Và Tiếng nói đó, ông nói, vẫn luôn luôn bảo chúng ta: “Hãy yêu thích vị trí của mình trong câu chuyện của tôi. Vị trí đó đẹp ở chỗ nó cho biết bạn là quan trọng, và bạn có thể tạo ra vị trí đó kể cả khi tôi là người đã tạo ra bạn.”

Cuối cùng, quyển sách đó là một lời xin lỗi lành mạnh về đức tin, luân lý, lòng tử tế, và Chúa, là loại thử thách mà ngày nay chúng ta thật sự rất cần. Một người bạn cho tôi quyển sách này, bạn tôi có cô con gái khoảng 20 tuổi từ lâu luôn khẳng định mối nghi ngờ về Chúa, và, cũng không kém phần quan trọng, quan niệm bất khả tri về giáo hội. Bạn tôi kể, cô gái trẻ hậu-Kitô này thấy quyển sách đó trên bàn ăn trong bếp, tò mò nhặt lên, và đọc ngấu nghiến từ đầu tới cuối, thừa nhận nó đã thách thức cô rất nhiều.

Một lời xác nhận không đến nỗi tệ!

Suy ngẫm hàng năm của tôi về vấn đề tự tử

Hàng năm tôi đều viết một bài về vấn đề tự tử. Không phải vì đó là chủ đề yêu thích của tôi, nhưng tôi viết vì có quá ít bài viết về vấn đề đau đớn này trên các diễn đàn công luận, cả thế tục lẫn tôn giáo. Tự tử vẫn là một trong những chuyện không thể nào đề cập tới và những người mất đi người thân yêu vì tự tử vẫn đang tìm kiếm, gần như trong vô vọng, bất cứ điều gì có thể đem lại sự thông hiểu và an ủi.

Năm nay, hơn cả những năm trước, tôi đang cố gắng để viết bài này bởi vì gần đây, có một số người đã viết bài cho rằng những gì tôi viết là tô hồng vấn đề này, rằng tôi đưa ra một cách an ủi nguy hiểm và sai trái, và tệ hơn nữa, những gì tôi viết (qua việc làm dịu đi quan điểm cấm kỵ coi tự tử là nỗi tuyệt vọng cuối cùng để chấm dứt thống khổ) đã góp phần làm tăng số vụ tự tử. Tôi đã bị cảnh cáo rằng, với việc làm dịu đi điều cấm kỵ này, anh cho phép người ta được tự sát. Chúa tha thứ điều đó, thì sao lại không làm? Cũng vậy, những tín hữu Công giáo La Mã thường xuyên trích dẫn Giáo lý của Giáo hội Công giáo để bảo vệ họ trước những lời công kích.

Dù vậy, vấn đề này vẫn cần được xem xét: Thực tế phũ phàng là, chỉ riêng ở Hoa kỳ, mỗi giờ có 3-4 vụ tự tử, một ngày có hơn 90 vụ, một năm có hơn 33.000 vụ, và mỗi một cái chết như vậy làm rúng động tận căn nhiều người. Cuối cùng, tất cả mọi người đều bị rúng động. Không người nào sống tiếp cuộc đời mà không bị rúng động, mang vết sẹo trong lòng và cuộc sống của họ đã thay đổi không thể đảo lại sau khi người thân tự tử. Trong tất cả những chuyện này, đa số là thinh lặng đè nén cảm xúc một cách “anh hùng.” Chúng ta hãy không nói về điều đó. Nhưng bên dưới sự đè nén cảm xúc một cách “anh hùng” này là tình trạng mâu thuẫn tư tưởng cay đắng, các bức ảnh bị hạ xuống, ký ức bị xóa mờ, và chúng ta vật vã mong giải thoát khỏi cảm giác tội lỗi, tủi hổ và sợ hãi không thể nào giải quyết được, và không hề kém phần quan trọng, một căn bệnh nào đó của chính cuộc sống. Nếu xảy ra tình trạng đó, thì có thể thật sự trông cậy vào cái gì đây?

Cần nói điều gì về vấn đề tự tử, vượt lên trên những gì tôi đã cố gắng nói rõ trong những bài viết trước đây?

Trước hết, sự sợ hãi mà những người phê phán tôi nêu ra cần được coi là nghiêm túc: Tự tử là một chuyện kinh khủng. Chuyện xã hội và giáo hội cấm kỵ vấn đề đó tận căn, cũng giống như cấm kỵ loạn luân, là có lý do chính đáng. Đó là một hành động kinh khủng mà một khi đã xảy ra thì không thể cứu vãn được. Nó phá hủy, và phá hủy mãi mãi, không chỉ cuộc đời của người làm hành động đó. Chúng ta không bao giờ được tô hồng chuyện tự tử. Đó cũng là lý do tại sao vấn đề đó đã luôn luôn bị đóng khung trong thái độ cấm kỵ kinh khủng này.

Nhưng việc cấm kỵ đó là nhằm cảnh cáo trước khi để nó xảy ra trên thực tế. Nhưng cũng cần phải nói đôi điều sau khi chuyện đó xảy ra. Khi có người tự tay giết mình, những người ở lại quả thật phải gắng gỗ để sống, về mặt thể xác lẫn tinh thần. Cần phải nói đôi điều cho những người ở lại.

Những gì tôi viết về vấn đề tự tử là dành cho những người ở lại, chứ không phải để làm tư liệu tư vấn cho những người đang bị bệnh trầm cảm. Hơn nữa, tôi xin nói rằng không điều gì tôi từng nói về vấn đề tự tử lại đi ngược với những gì được giảng trong sách giáo lý của Giáo hội Công giáo. Những gì sách giáo lý dạy đều nêu rõ lòng thương xót và thông cảm sâu sắc: nhấn mạnh sức nặng của vấn đề, nói rõ đây là hành động đi ngược lại ý Chúa đối với cuộc sống con người, khẳng định tiếp rằng trách nhiệm đối với hành động đó có thể giảm triệt để nếu xét trạng thái tâm lý của một người, và sau đó mời gọi chúng ta tin tưởng vào lòng thông hiểu và thương xót của Chúa. Hơn nữa, trong mục vụ, giáo hội cũng thực hiện chính những điều như tôi đã viết, không hề có ngoại lệ nào.

Tôi nhớ tới trường hợp không thể nào áp dụng được những điều trên. Khi tôi còn là một thiếu niên, một người hàng xóm của chúng tôi tự tử. Vào thời điểm đó, vẫn có một vấn đề tranh cãi đau xót về chuyện tự tử: Có nên chọ họ đầy đủ nghi lễ của nhà thờ và được chôn trong nghĩa trang của nhà thờ hay không? Linh mục của chúng tôi lúc đó là cha Michael Schatz, một người trầm lặng và khiêm nhường, một Hiến Sĩ dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm, đã nhanh chóng xóa tan mọi băn khoăn và làm điều mà Giê-su hẳn cũng sẽ làm: dành trọn vẹn tình thương của Chúa, của Giáo hội, và cộng đoàn cho người tín hữu đầy tổn thương và gia đình đau khổ của anh. Đó cũng là lý do, bên cạnh các lý do khác, đã thúc đẩy tôi làm linh mục ngày hôm nay. Hành xử của cha đã giúp tôi hiểu trái tim của Chúa và tình thương của con người và giáo hội cần phải như thế nào.

Rốt cuộc, vấn đề này rút lại thành một câu hỏi về Thiên Chúa: Nếu Chúa là tình yêu, tình thương và lòng cảm thông trọn vẹn, nếu Chúa là lòng từ bi vô tận và có thể đi xuống địa ngục, như đức tin Ki-tô của chúng ta đã dạy, thì sẽ là một sự lăng nhục đối với bản chất của Chúa và là một sự lăng nhục đối với đức tin của chúng ta nếu cho rằng một vị Chúa như vậy, đời đời, lại gạt một người nào đó ra khỏi dòng sống bởi vì người đó quá mong manh, quá tổn thương, quá bầm dập, quá sức nhạy cảm, hay có lẽ chỉ đơn giản là quá sức mất cân bằng về sinh hóa tới nỗi trong một giây phút trầm cảm hay sợ hãi đã tự sát. Tận thẳm sâu, chúng ta hiểu điều đó. Chúng ta cần phải nói ra.

Chúng ta đang được an toàn trong vòng tay chở che của Chúa, vòng tay ân cần hơn vòng tay của chính chúng ta. Phải tin tưởng vào Chúa, và không ở đâu điều này lại chân thực và thấm thía hơn trong vấn đề tự tử.

Tự ngã, Chúa, và Sứ vụ

Nhà thần học nổi tiếng Hans Urs von Balthasar từng nói rằng chúng ta có thể sống với hai bản ngã – tự ngã và thần ngã.

Chúng ta sống với tự ngã khi chúng ta lấy nguồn sinh khí căn bản từ bản ngã của mình với những thăng trầm mà bản ngã chúng ta trải qua trong cuộc sống, cảm thấy ổn khi mọi việc tốt đẹp, chán nản khi ngược lại. Khi sống với tự ngã, chúng ta dễ dàng bị và thường thường bị thoái chí, cáu giận và chán chường.

Chúng ta sống với Thần Ngã khi chúng ta lấy nguồn sinh khí căn bản từ điều gì đó vượt cao trên bản thân chúng ta, từ Chúa. Khi chúng ta làm được, thì những thăng trầm trong cuộc sống hàng ngày không gây ảnh hưởng quá sâu đậm tới chúng ta, chúng ta ít bị ngã lòng, cáu giận và chán nản hơn vì chúng ta lấy ý nghĩa và sinh khí từ một điều gì vượt cao hơn những biến thiên trong bản ngã chính mình.

Không nơi nào điều này lại đúng hơn trong sứ  vụ, nơi mà chúng ta luôn luôn hoặc là quá tự mãn khi mọi việc diễn tiến tốt đẹp hoặc quá thoái chí và giận dữ khi mọi việc không như ý. Có một câu chuyện trong truyền thuyết thần bí của đạo Hồi minh họa điều này một cách xuất sắc. Câu chuyện có nhiều dị bản nhưng tất cả đều có chung một thông điệp, và đây là phiên bản tôi thấy quen thuộc nhất:

Ngày xửa ngày xưa có một chàng trai trẻ, lòng thành tâm và đầy lý tưởng, chàng trai cảm thấy có tiếng gọi thôi thúc mình rao giảng cho thế giới nghe về thách thức và sự an ủi của Chúa. Vì vậy chàng đi vào rừng sâu và theo học các Trưởng lão. Những người này rèn luyện chàng, và khi cảm thấy chàng đã sẵn sàng, họ đặt tay lên người chàng, chúc lành cho chàng, rồi phái chàng ra đi để rao giảng về thách thức và sự an ủi của Chúa.

Và chàng trai làm như thế này: Mỗi ngày, chàng thường đến một khu phố vào lúc giữa trưa, khi quảng trường khu chợ đông đúc nhất, và rồi kêu to: “Có ai muốn nghe về thách thức và an ủi của Chúa không?” Luôn luôn có một người nào đó, một người già, bước tới và nói: “Có, chúng tôi sẽ nghe anh nói về điều này.” Và vị cao niên đó dẫn chàng trai về nhà, sau bữa cơm tối, một số người họp lại. Nhưng không có nhiều người đến cho lắm, một số người tới muộn, một số về sớm, và chàng trai cảm thấy họ lắng nghe chàng nói chỉ vì lịch sự, mà không thật sự quan tâm. Vì thế, sau những buổi như vậy, chàng trai trẻ thường quay về nơi trú ngụ của mình với tâm trạng trống rỗng, thoái chí, nghĩ rằng đây chắc chắn không phải là những người mà vì họ chàng được mời gọi để làm sứ vụ.

Sự việc cứ vậy trôi đi, trong một thời gian dài, một thời gian ngắn, hay dài ngắn gì đó: hàng ngày, chu trình này cứ tiếp diễn: Chàng đi vào một khu phố, kêu to lên hỏi có ai muốn nghe về thách thức và an ủi của Chúa hay không, rồi luôn luôn có một vị cao niên bước tới và dẫn chàng về nhà; hàng đêm có một nhóm nhỏ tụ tập, một số người đến muộn và một số về sớm, loch sự lắng nghe, đặt ra những câu hỏi lịch sự, và rồi chàng lại quay về với tâm trạng trống rỗng và thoái chí.

Cho tới một ngày nọ, chàng đến một khu phố như mọi khi vẫn đến, kêu to lên như mọi khi vẫn kêu, và một người cao niên bước tới như mọi bận. Nhưng lần này sự việc khác hẳn: thay vì dẫn chàng về nhà mình, bậc cao niên đó dẫn chàng tới quảng trường thành phố, ở đó đã có đặt một bục nói chuyện và rất nhiều ghế ngồi. Tối hôm đó, quảng trường chật kín người, không ai đến muộn cũng không ai về sớm, họ ngồi chăm chú lắng nghe và đặt ra những câu hỏi sâu sắc tới tận đêm khuya.

Trở về nơi trú ngụ đêm đó, chàng cảm thấy tràn trề sinh khí và suốt cả ngày hôm sau, chàng phấn khởi làm việc để chuẩn bị những gì sẽ nói vào buổi tối. Và khi tới quảng trường thành phố tối hôm đó, quang cảnh cũng y như đêm trước, một đám đông lớn đã tụ tập. Nhưng, khi chàng chuẩn bị bước lên bục để nói, thì vị cao niên nọ giật tay áo chàng và nói: “Tối nay một người khác sẽ nói, không phải anh”. Và rồi cũng giống như đêm hôm trước, không có ai tới muộn cũng không ai về sớm, tất cả mọi người đều chăm chú lắng nghe và đặt cho diễn giả những câu hỏi sâu sắc tới tận đêm khuya.

Nhưng chàng trai trẻ cảm thấy trống rỗng và không thể để tâm lắng nghe. Khi buổi nói chuyện kết thúc, chàng quay về nơi trú ngụ, lòng bắt đầu rấm rứt thấy vỡ mộng. Sáng hôm sau, chàng xếp khăn gói với chút đồ đạc ít ỏi của mình, và vừa khi chàng bắt đầu rời thành phố, ngay ven thành, vị cao niên nọ gặp chàng và hỏi: “Tại sao anh lại rời bỏ chúng tôi?” Chàng trai trẻ trả lời: “Có vẻ như các bác không cần tôi rao giảng cho các bác nữa, các bác đã có người khác rồi.”

Vị cao niên nắm tay áo chàng và ôn tồn nói: “Để tôi cho anh một lời khuyên: Cái người đầy tự mãn đêm hôm trước và cái người quá thất vọng đêm hôm qua, cả hai người ấy đều không phải là anh. Hãy ở lại với chúng tôi và hãy để chúng tôi dạy cho anh biết mình là ai.”

Những lời lẽ thông thái, hết sức thông thái, mang ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều so với mức ta tưởng ban đầu.

Thương yêu trong khi bị chống đối

Làm sao bạn giữ được tinh thần tích cực, nuôi hy vọng, đầy tình thương và độ lượng khi bạn đối diện với chống đối, hiểu lầm, thù địch và hiềm hận?

Đây là điều Chúa Giê-su đã làm được và chính phẩm chất đặc biệt đó trong cuộc đời và lời dạy của Người đã trở thành có lẽ là thách thức cá nhân và luân lý lớn nhất cho tất cả chúng ta, những ai cố gắng theo chân thầy. Làm thế nào bạn vẫn giữ đầy tình thương khi đối diện hận thù? Làm thế nào bạn giữ được lòng cảm thông khi đối diện với hiểu lầm? Làm thế nào bạn tiếp tục nồng hậu và tử tế trước thái độ thù địch? Làm thế nào bạn thương yêu kẻ thù khi họ muốn giết bạn?

Gần như mọi bản năng trong chúng ta đều chống lại chúng ta khi xảy ra những trường hợp như thế. Bản năng tự nhiên của chúng ta gần như luôn là tự vệ, thậm chí sợ hãi hoang tưởng, đối chọi với sự xả thân và tha thứ. Cảm thức bẩm sinh trong chúng ta về công bằng đòi hỏi mắt nhìn phải được nhìn lại, một cử chỉ cho đi được nhận tặng vật trở lại, hận thù trả hận thù, ngờ vực đổi lấy ngờ vực, mạng đổi mạng. Mà điều này không chỉ đúng với những chuyện lớn như sự gắng gỏi của chúng ta để vẫn giữ đầy tình thương yêu khi đối diện hiểm họa cái chết. Chúng ta gắng gỏi để giữ thương yêu khi đối diện những điều khó chịu.

Làm sao chúng ta đối xử trước sự chống đối, hiểu lầm, thù địch và hiềm hận đây?

Đôi khi phản ứng của chúng ta là tê liệt. Chúng ta trở nên quá sợ hãi trước việc bị chống đối, hiểu lầm và thù hận tới mức rút về và thu mình lại. Chúng ta giữ lý tưởng của mình nhưng không còn thực hành lý tưởng đó khi có mặt những người chống đối chúng ta. Chúng ta tiếp tục nói về tình thương yêu và hiểu biết, nhưng không nói với kẻ thù của chúng ta (những người chúng ta không hẳn là căm ghét, nhưng giờ đây chúng ta tránh ra xa).

Đôi khi phản ứng của chúng ta lại hoàn toàn ngược lại, có nghĩa là, khi bị chống đối, chúng ta trở nên chai sạn tới mức không cần phải để ý người khác nghĩ về mình như thế nào nữa: Cứ để cho họ nghĩ gì mặc sức! Họ thích thì thích, không thích thì kệ! Vấn đề của kiểu da dày như vậy là ở chỗ khả năng tiếp tục nói những điều đúng đắn và làm những việc đúng đắn của chúng ta tùy thuộc một phần vào một mức độ mù và lãnh cảm nhất định. Chúng ta nghĩ mình không có vấn đề. Người khác mới có vấn đề.

Sự lãnh cảm này đôi khi có một hình thức khó nhận thấy hơn, đó là thái độ hạ cố. Mình nghĩ rằng mình đã bao dung độ lượng đủ để thương yêu người chống đối và căm ghét mình. kể cả khi lòng lân mẫn và thương yêu dựa trên một kiểu tâm lý tự cho mình là ưu tú, có nghĩa là, chúng ta cao hơn về mặt luân lý và tôn giáo so với những người căm ghét ta tới mức chúng ta có thể thương yêu họ mà họ không hề biết: những con người ngu dốt tội nghiệp! Giá như họ hiểu được ra! Đây không phải là tình thương mà là một phức hợp tâm lý cho mình là tốt đẹp hơn, được ngụy trang bằng lớp vỏ lòng lân mẫn và quan tâm. Đó không phải là cách Chúa Giê-su đối xử với những kẻ căm ghét người.

Người đối xử với họ như thế nào? Đối diện với thù hận và bị kẻ thù giết hại, Chúa Giê-su không kinh sợ, cũng không chai sạn hay hạ cố. Người làm gì? Người đi sâu hơn vào tâm hồn sâu thẳm nhất của mình, và từ đó tìm ra sức mạnh để duy trì trái tim ấm áp, thương yêu và tha thứ trước thù hận và giết chóc. Làm sao như vậy được?

Khi Chúa Giê-su bị hành hình, người cầu nguyện: “Xin hãy tha thứ cho họ, họ không biết họ đang làm gì.” Karl Rahner, khi nhận xét về điều này, đã chỉ ra một cách sắc sỏa rằng trên thực tế, những kẻ hành hình người hoàn toàn biết họ đang làm gì. Họ biết họ đang đóng đinh một người vô tội. Vậy thì tại sao Chúa Giê-su nói họ đang hành động không biết gì?

Tình trạng không biết gì của họ, như Karl Rahner chỉ ra, là ở một mức độ sâu hơn: Họ không biết rằng họ được thương yêu nhiều biết bao nhiêu, trong khi Chúa Giê-su biết. Khi Phúc âm tả về nội tâm Chúa Giê-su ở Bữa Tiệc Ly, kinh nói: “Giê-su, biết rằng mình đã đi từ Chúa và đang trở về với Chúa và vì vậy mọi điều đều có thể đối với người, đứng dậy khỏi bàn và cởi áo choàng…”

Giê-su có thể vẫn thương yêu và tha thứ trước thù hận và giết chóc, bởi vì, tận gốc rễ của sự tự biết của Người là việc nhận thức mình là ai, là con của Chúa Cha, và biết mình được thương yêu nhiều đến nhường nào. Người không chai sạn, cũng không cho mình là ưu tú, mà chỉ thấu cảm rằng mình là ai và mình được thương yêu đến nhường nào. Từ nguồn cội đó, người lấy năng lượng cho mình và đủ sức mạnh để thứ tha.

Chúng ta cũng có thể tới được suối nguồn năng lượng mạnh mẽ đó. Như Giê-su, chúng ta cũng là những đứa con của Chúa và cũng được yêu thương sâu sắc như vậy. Như Giê-su, chúng ta cũng có thể tha thứ được như vậy.

Tôi tin rằng rất ít điều gì trong xã hội và giáo hội của chúng ta ngày nay lại cần thiết hơn khả năng thấu hiểu và tha thứ này. Tiếp tục thấu hiểu và thương yêu đích thực người khác trước sự chống đối và hận thù chính là thách thức tối hậu về xã hội, chính trị, giáo hội, luân lý, tôn giáo và nhân văn. Đôi khi người giáo hội cố gắng đưa ra một vấn đề luân lý cụ thể để làm thước đo liệu một người có phải là tín đồ chân chính của Giê-su hay không. Nếu cần phải có một thước đo, thì hãy lấy điều này làm thước đo:

Bạn có thể vẫn thương yêu những ai hiểu lầm mình, những ai chống đối mình, những ai thù địch với mình, những ai căm ghét mình, và những ai đe dọa mình hay không – mà không bị tê liệt, chai sạn hay hạ cố?

Sự lấn lướt của bề ngoài

“Hãy tập trung vào hình ảnh của bạn, vì hình ảnh là tất cả!” Những ngôn từ đó, hay ít nhất là từ ngữ theo nghĩa đó, là đề từ của một quảng cáo nổi tiếng vài năm trước đây. Tôi nhớ mình đã quá sửng sốt trước thông điệp hời hợt và thiếu suy xét như vậy, nhưng chẳng mấy người phản ứng lại, có lẽ vì đề từ đó quá đúng với thời đại của chúng ta.

Chúng ta là chủng người bị ám ảnh bởi bề ngoài, bởi hình ảnh, bởi việc trông có vẻ tốt lành, bởi diện mạo dễ ưa. Đối với chúng ta ngày nay, nhìn chung, trông có vẻ tốt đẹp là quan trọng hơn tốt đẹp thật sự, trông có vẻ khỏe mạnh quan trọng hơn khỏe mạnh thật sự, nói đúng đắn quan trọng hơn làm đúng đắn, có liên hệ với những người đàng hoàng quan trọng hơn làm người đàng hoàng, và được coi là có đạo đức quan trọng hơn có đạo đức thực sự.

Điều đó thể hiện rõ trong việc chúng ta bị ám ảnh bởi diện mạo bên ngoài, việc chúng ta thần thánh hóa những người nổi tiếng, coi trọng qúa mức phong cách và thời trang, và gắng gỏi để được coi là có liên hệ với nhưng điều đúng đắn. Thật đúng hình ảnh là tất cả!

Chúng ta cũng thấy điều đó trong chính trị chẳng hạn: Trong xã hội, ngày ngày hình ảnh lấn lướt thực chất. Luôn luôn vẫn vậy, chúng ta không quan tâm tới chủ trương của một người bằng vẻ bề ngoài của người đó và chúng ta bầu người vào các vị trí công vụ dựa nhiều trên tính cách của họ hơn là trí tuệ và đạo đức. Trong chính trị ngày nay, có hình ảnh đúng đắn, có khả năng được những nguồn lực thích hợp vây quanh mình là quan trọng hơn có thực chất và đạo đức.

Thế giới học thuật cũng không hề kém cạnh: Ví dụ, ngày càng có nhiều trường đại học trao bằng danh dự cho những nhân vật nổi tiếng và những vị cổ xúy cho công bằng. Chuyện đó không có gì sai trái cả, đặc biệt khi ghi công và vinh danh những người đã dành cả đời mình vì công bằng, trừ việc tôi không tin cho lắm rằng những trường đại học cấp những tấm bằng đó thật sự quan tâm nhiều tới người nghèo hay họ tán thành về mặt tri thức những gì mà ngành công nghệ giải trí và thể thao (vốn đã tạo ra những người nổi tiếng đó) đang làm. Nhưng gương mặt của một người nổi tiếng, một Nelson Mandela, một Angelina Jolie, một Meryl Streep, một Michael Jordan, hay một Derek Jeter, thật sự trông rất hay đối với diện mạo trước công chúng của cái trường đại học nào cấp tấm bằng đó: Cứ xem chúng ta ân cần, nhiệt huyết, đẹp đẽ như thế nào!

Không may là nhiều trong số những trường đại học đó không hẳn là những hình mẫu về sự ân cần và công bằng trong đối xử với sinh viên và những người làm việc cho chính họ, nhưng trong cảm nhận của những người bên ngoài, họ rất ân cần chu đáo! Việc trao bằng tiến sĩ cho một ai đó đã công hiến cả đời cho cuộc đấu tranh vì lẽ công bằng, thực ra không giúp ích gì nhiều cho người nghèo, nhưng thật sự cũng làm được điều gì đó cho cái trường đang vinh danh những vị đó.

Nhưng trước khi phán xét quá khắt khe điều này, chúng ta cần phải thừa nhận rằng những gì đang xảy ra trong xã hội cũng đang xảy ra trong chính cuộc sống riêng của mình. Trong cuộc sống của chúng ta, càng ngày vẻ ngoài càng trở nên cái chúng ta quan tâm nhất. Đối với nhiều người trong số chúng ta, việc chúng ta trông như thế nào là điều trên hết, là toàn bộ vấn đề, là duy nhất. Chúng ta có thật sự tốt không thì không quan trọng cho lắm, chỉ là chúng ta có trông có vẻ tốt hay không thôi. Một điều mỉa mai không hề nhỏ là chúng ta quá giận giữ và phẫn uất trước phần ngân sách lớn mà chính phủ chi cho quốc phòng, trong khi ngay bản thân chúng ta an nhiên sống mà không hề nhận biết từng cá nhân mình ra sao, tiêu tiền cho việc phòng vệ bản thân mình – son phấn và thời trang.

Đáng buồn là chúng ta đang phải trả giá đắt cho vấn đề này. Mối bận tâm về vẻ dễ ưa của chúng ta đang đóng đinh chính chúng ta. Càng ngày chúng ta càng thấy bất mãn hơn với chính thân thể của mình, ngay cả khi thân thể ta khỏe mạnh và đang phục vụ chúng ta rất tốt. Hình ảnh khỏe mạnh ta có về bản thân mình ngày nay tùy thuộc nhiều vào việc ta trông có vẻ ổn hơn là thật sự khỏe mạnh. Tình hình quá nhiều người bị chứng biếng ăn, bên cạnh nhiều vấn đề khác, chính là triệu chứng của vấn đề này, và quá nhiều khi việc ăn kiêng và tập thể dục của chúng ta ít liên quan tới sức khỏe hơn là tới vẻ ngoài.

Phải nói rằng không phải tất cả chuyện đó đều xấu cả. Quan tâm tới diện mạo bên ngoài là lành mạnh, cũng như ăn kiêng và tập thể dục là lành mạnh (ít nhất là đa phần như vậy). Chúng ta muốn có vẻ dễ ưa, và thực sự, chúng ta cảm thấy hài lòng về bản thân hơn khi mình thật sự trông dễ ưa. Cảm giác hài lòng về cơ thể và sức khỏe của mình là một điều lành mạnh. Mối quan tâm lành mạnh về việc chúng ta trông như thế nào cần phải không bao giờ bị hạ thấp nhân danh chiều sâu hay tính chất thiêng liêng. Thực ra, một trong những dấu hiệu đầu tiên của trầm cảm lâm sàng là thiếu quan tâm tới bề ngoài.

Điều này cũng đúng với việc chúng ta được người khác cảm nhận như thế nào. Tiếng tốt là điều cần được giữ gìn và bảo vệ. Được coi là tốt là chuyện quan trọng.

Nhưng diện mạo và danh tiếng không bao giờ được thay thế đạo đức, chiều sâu và lòng chính trực, cũng như không bao giờ nên vin vào việc có thực chất và đạo đức để bào chữa cho bề ngoài xấu xí và luộm thuộm. Tuy vậy, tôi cho rằng ngày nay chúng ta đã đánh mất mức cân bằng phù hợp giữa hai điều này, và giờ đây đang ở trong tình trạng nguy hiểm. Nguy hiểm gì?

Khi hình ảnh là tất cả, thì dần dà, bề ngoài bắt đầu có vẻ như chính là đạo đức, sự nổi tiếng bắt đầu có vẻ như là sự cao quý của tâm hồn, và việc trông có vẻ tốt đẹp trở nên quan trọng hơn tốt đẹp thật sự, mà chúng ta không hề hay biết.

Sức mạnh của duy trì nghi thức

Đừng bao giờ đi đường xa với người nào mà lúc nào họ cũng đòi hỏi bạn phải thú vị. Trong cuộc hành trình dài chắc chắn sẽ có đôi khi buồn chán.

Đó là châm ngôn mà Daniel Berrigan đưa ra trong cuốn Cẩm Nang Đường Dài, Commandments for the Long Haul. Câu châm ngôn này chứa đựng một minh triết mà ngày nay không còn thấy trong hôn nhân, cuộc sống gia đình, tình bằng hữu, giáo hội, và đời sống tinh thần của chúng ta.

Thời buổi này, chúng ta thường đóng đinh người khác và bản thân mình với ý tưởng không thể có được là trong các mối quan hệ, gia đình, giáo hội và đời sống cầu nguyện của chúng ta, chúng ta cần phải tỉnh táo, chú tâm, nhiệt tình và về mặt cảm xúc không được hờ hững lúc nào hết. Chúng ta không bao giờ được phép lơ là, chán nản, sốt ruột muốn đổi sang cái gì khác vì bị áp lực và mệt mỏi đè nặng lên cuộc sống. Chúng ta buộc tội lẫn nhau và buộc tội chính mình với những kiểu nhận xét: nhiều khi anh/em quá lơ là, quá mệt mỏi đến nỗi không nghe em/anh nói! Anh/em ở đây mà hồn thì để chỗ khác! Anh/em chán nhà thờ! Anh/em cứ mong cho xong thật chóng! Giờ anh/em không yêu em/anh như thuo ban đầu! Anh/em không còn để tâm vào điều này như trước nữa!

Những nhận xét này chứa đựng một yêu cầu lành mạnh nhưng chúng cũng bộc lộ sự dại dột và thiếu hiểu biết về những gì thật sự duy trì chúng ta trong đời sống hàng ngày. Chúng ta nghe nhau như trâu nghe đàn.

Tôi nói như vậy nghĩa là sao? Sau đây là một ví dụ:

Một nghiên cứu gần đây về hôn nhân cho thấy các cặp vợ chồng nào có thói quen ôm hôn nhau trước khi đi làm, trước khi đi ngủ thì họ hòa hợp hơn những cặp làm như vậy chỉ vì ngẫu hứng hay lúc có tâm trạng. Nghiên cứu này kết luận rằng dù hôn một cách lơ đãng, vội vàng, chiếu lệ hay vì trách nhiệm thì nó vẫn có vai trò rất quan trọng, nghĩa là nói lên lòng chung thủy và cam kết bất chấp thăng trầm trong tình cảm, bất chấp sao lãng và mệt mỏi bất cứ lúc nào. Đó là một nghi thức, một hành động được làm thường xuyên để nói một cách chính xác những gì con
tim và trí óc của chúng ta không thể lúc nào cũng nói được, nghĩa là những phần sâu thẳm nhất trong ta vẫn tha thiết ngay cả trong những lúc chúng ta quá mệt, quá bị phân tâm, quá tức giận, quá chán nản, quá sốt ruột, quá bận tâm, hoặc không trung thành về mặt tình cảm hay trí tuệ để chú tâm và có mặt như đáng ra chúng ta phải vậy. Cử chỉ đó nói lên rằng chúng ta vẫn thương yêu nhau và tha thiết với nhau bất chấp những thay đổi và áp lực không thể tránh khỏi của cuộc sống.

Ngày nay điều này ít khi được hiểu. Việc lý tưởng hóa quá mức về tình yêu, gia đình, giáo hội và cầu nguyện thường xuyên ảnh hưởng tai hại tới thực tế. Văn hóa bình dân làm chúng ta nghĩ rằng tình yêu lúc nào cũng phải lãng mạn, đầy hứng khởi và thú vị, và rằng việc thiếu cảm xúc là dấu hiệu của tình trạng có vấn đề. Các người xướng kinh, các vị hướng dẫn giờ kinh muốn chúng ta nghĩ rằng phải tràn đầy nhiệt tình và cảm xúc trong mỗi buổi lễ, và rằng chúng ta đang có vấn đề nếu thấy mình vô cảm, chán nản, nhìn đồng hồ và cự lại với cảm xúc “chuẩn” buộc phải có trong nhà thờ hay trong lúc cầu nguyện. Đâu đâu chúng ta cũng bị cảnh giác trước mối đe dọa phải làm điều gì đó vì nghĩa vụ, rằng khi những cử chỉ yêu thương, cầu nguyện, nghi thức lễ trở nên lệ thường thì đó là có vấn đề. Tại sao phải làm điều gì đó khi quả tim mình không ở đó?

Phải nói lại là, có đôi chút chính đáng trong những lời cảnh giác đó: Nghĩa vụ và cam kết mà không thật tâm thì cuối cùng không thể duy trì mãi được. Tuy nhiên, bên cạnh việc chấp nhận như vậy, điều quan trọng là chấp nhận và gọi tên cái thực tế rằng bất kỳ mối quan hệ nào trong tình yêu, gia đình, giáo hội hay cầu nguyện đều chỉ có thể duy trì qua thời gian dài nhờ nghi thức và lệ thường. Nghi thức duy trì trái tim, chứ không phải là ngược lại.

Chính sự trung thành với thói quen của cuộc sống hàng ngày chứ không phải tuần trăng mật mới duy trì được một cuộc hôn nhân. Chính sự trung thành với những việc đơn giản như có mặt trong bữa ăn cuối tuần, ăn uống dù qua loa và lơ là, chứ không phải cuộc ăn mừng linh đình hay đại tiệc, mới duy trì đời sống gia đình. Gia đình nào đòi hỏi bữa ăn chung nào cũng phải là một sự kiện mà ai cũng phải tham gia một cách xúc động, khăng khăng gạt ra ngoài áp lực thì giờ và chương trình của mỗi cá nhân thì sớm hay muộn sẽ thấy người nhà mình ngày càng vắng mặt. Mà vì lý do chính đáng: không ai có đủ năng lực để ngày nào cũng dự đại tiệc. Trên thực tế, không một ai, trừ Chúa, lại miễn nhiễm với cơn mệt mỏi, sao nhãng, thờ ơ, và mối bận tậm riêng khiến trái tim khó tỉnh táo, chú tâm và cảm xúc lúc nào cũng đúng điệu đúng lúc. Tình yêu, nói như cách của chương trình Thăng Tiến Hôn Nhân, Marriage Encounter (một tổ chức giúp các cặp vợ chồng cải thiện hôn nhân), được thể hiện trong quyết định.

Điều này cũng đúng đối với cầu nguyện. Người nào chỉ cầu nguyện khi  trái tim và tâm hồn dành trọn vẹn cho cầu nguyện thì sẽ không duy trì việc cầu nguyện được lâu dài. Nhưng, thói quen cầu nguyện, nghi thức, đơn thuần trung thành với hành động đó, một khi nó chứng tỏ cho thấy nó không dính dáng gì đến cảm xúc, tâm trạng thì mới có thể duy trì cầu nguyện suốt cả đời và vượt lên trên những rong ruổi của trí óc và quả  tim.

Theo triết gia Soren Kierkegaard, sự lặp đi lặp lại là cơm ăn hàng ngày của chúng ta.

Các mảnh vụn của năm cái bánh và hai con cá

Sau khi Chúa Giêsu nuôi cho hơn năm ngàn dân với năm cái bánh và hai con cá, Người nhờ các môn đồ đi nhặt các mảnh vụn còn sót vương vãi đây đó trên mặt đất. Họ đã làm theo và nhặt được mười hai thúng bánh vụn.

Gần đây, tôi tham dự một loạt buổi diễn thuyết của nhà thần học Walter Brueggemann. Ông  được kính nể vì tầm hiểu biết Kinh Thánh sâu rộng, ông nuôi dưỡng cử tọa với vài thúng hiểu biết, nhưng có lẽ ông được kính nể sâu sắc hơn vì ông quan tâm đến người nghèo và ông thách thức chúng ta đến với họ với tinh thần công chính và lòng quảng đại. Sau khi ông nuôi ăn đám đông là chúng tôi, đây là một vài mảnh vụn nhặt được:

• Ngày nay có một mối hiểm nguy thật sự là sự riêng tư hóa đức tin quá mức. Giáo hội cần bảo vệ lương tri tập thể nữa chứ không chỉ  lương tri cá nhân.
• Đứng trước quan tổng trấn Phi-la-tô, Chúa Giêsu chuyển vấn đề quyền lực thành vấn đề chân lý. Chân lý sẽ luôn luôn bào mòn những xiềng xích của quyền lực và quyền lực không bao giờ chặn được chân lý. Chân lý là tinh thần làm cho thế giới này hòa điệu với Chúa.
• Khi chân lý ra tay, chúng ta thấy nghèo nàn thành sung túc, cái chết thành sự sống, chiến tranh thành hòa bình, tình trạng đói ăn thành có thực phẩm.
• Nơi ông Mô-sê, chân lý đối đầu với quyền lực; nơi tiên tri Ê-li-a, chân lý không đếm xỉa quyền lực; nơi ông Giô-suê, chân lý chuyển hóa quyền lực.
• Bạn luôn luôn nhận ra một “Pha-ra-ô”: Nếu bạn đã gặp một Pha-ra-ô, thì coi như bạn đã gặp tất cả bọn họ rồi! Pha-ra-ô luôn luôn có những ước muốn xấu xa, tom góp của cải, luôn luôn cần các thùng ngày càng to để chắt nhặt của cải, lúc nào cũng lo âu và càng ngày càng xa Chúa, không để cho Chúa vào nhà. Chúng ta có ác mộng ở đâu?
• Một vị Chúa chân chính luôn luôn hiệp lực chống lại Pha-ra-ô. Rốt cùng, Thiên Chúa chấm dứt cơn khủng hoảng và tái ổn định nó. 
• Rốt cùng, Kinh Thánh nói về nỗi đau thể lý và tình trạng nô lệ đau đớn. Cứu rỗi, giống như khởi đầu cuộc Xuất Hành, luôn luôn bắt đầu bằng tiếng kêu tuyệt vọng và cuối cùng kết thúc trong điệu nhảy hân hoan. Cơ thể bị thương tổn phải cất lên tiếng nói và tiếng nói này phải nói rằng nỗi đau này là không bình thường, không nên chịu đựng nó thêm chút nào nữa. Tình trạng nô lệ đau đớn và một vị Chúa chân chính cuối cùng sẽ vạch cho bạn một con đường xuyên qua biển, nơi đó quân lính của vua Pha-ra-ô không thể đuổi theo. Vì vậy không bao giờ chúng ta được để cho các tật bệnh đau đớn của chúng ta trở thành bình thường, cũng không chấp nhận tình trạng nô lệ chỉ vì nó mang đến an toàn.
• Ngày nay, đối với đa số, hệ thống truyền thông phản ảnh ý thức hệ của vua Pha-ra-ô, ấy vậy mà chúng ta lại sẵn sàng hít thở luồng ý thức đó. Khi chúng ta tắt màn hình một lúc, chúng ta mới cảm thấy tự do hơn.
• Công việc biến đổi của Chúa luôn luôn được giao phó theo ý chí và lòng can đảm còn miễn cưỡng của con người.
• Sách Đệ Nhị Luật là một trong những tài liệu xã hội lớn lao nhất từng được viết ra, nó gắn đức tin với đời sống, kinh tế và công chính. Nó hướng dẫn đức tin luôn luôn hướng về người nghèo, về «bà góa, trẻ mồ côi, người lạ mặt.» Sách Đệ Nhị Luật có thể là tài liệu có tính chất phản kháng nhất của toàn bộ Cựu Ước. Bên cạnh những điều khác, sách này dạy một cách không nhân nhượng rằng cần phải có những khống chế về mặt đạo đức đối với lý thuyết kinh tế cho rằng thị trường phải được hoàn toàn tự do cạnh tranh. Trong đoạn ma quỷ cám dỗ Chúa Giêsu, người trích dẫn Kinh Thánh ba lần và lần nào cũng là một đoạn trong sách Đệ Nhị Luật.
• Sách Đệ Nhị Luật luôn luôn nhắc chúng ta rằng tất cả chúng ta đã từng là nô lệ và chẳng hay ho gì nếu chúng ta lãng quên điều đó. Chúng ta không nên tuyệt đối hóa hiện tại và tưởng tượng rằng xưa nay tình hình vẫn luôn tốt đẹp như hiện tại. Tất cả chúng ta đều phải nhớ mình từ đâu đến, và không chỉ trong các cuộc tranh luận về vấn đề di dân bây giờ.
• Nếu chúng ta không coi trọng lời trong sách Đệ Nhị Luật rằng phải săn sóc người nghèo, thì chúng ta phải đối diện với sách của tiên tri Giê-rê-mi-a, ông quả quyết rằng thế giới mà chúng ta biết đây sẽ đến ngày cáo chung vì nó không thể nào trụ được trong giả dối.
• Đối với tiên tri Giê-rê-mi-a, giúp người nghèo và người gặp khốn khó là nhận biết Chúa.
• Truyền thống tiên tri trong Sách Thánh nhắc chúng ta nhớ là có ba đức hạnh: lòng quảng đại, lòng hiếu khách và tha thứ. Ngược lại, nền văn hóa hiện nay của chúng ta khuyến khích giữ của cải, tự vệ và thù oán.
• Lý luận lớn nhất của chúng ta là: «Nếu tôi sống thời xưa khi mà các vấn đề rõ ràng minh bạch thì tôi cũng sẽ là thánh tử đạo, còn bây giờ, các vấn đề không được rõ ràng như vậy.”
•  Rao giảng công chính ngày càng khó vì xã hội ngày càng bị nạn lo âu trấn áp. Tuy nhiên, nếu chúng ta rao giảng công chính mà xã hội không nghe thì đó là vấn đề của xã hội. Nhưng nếu chúng ta không rao giảng công chính, thì đó là vấn đề của chúng ta.
• Để trả lời cho câu hỏi vì sao đôi khi trong Kinh Thánh có vẻ như cổ vũ cho bạo lực: Vị Chúa trong Kinh Thánh là vị Chúa gom nhặt tất cả các bạo lực bị gán cho Chúa và làm nhân danh Chúa. Còn, trong các nhà thờ chúng ta, chúng ta có tất cả mọi mức độ gom nhặt khác nhau này.
• Các lời cầu nguyện của chúng ta thường quá tôn kính: Chúng ta cần cầu nguyện như ông Mô-sê và nhắc Chúa nhớ những gì Chúa đã hứa với chúng ta.
• Chúng ta là những người duy nhất trong thành phố biết con đường để thoát ra khỏi cơn khủng hoảng này!

Quy về điều cốt yếu

Không lâu sau sinh nhật lần thứ bảy mươi, Morris West viết cuốn tự truyện với nhan đề Nhìn từ Đỉnh. Đỉnh là nhãn quan mà bảy mươi năm cuộc đời đã đem lại cho ông.

Điều ông viết trong cuốn sách đó là một nhãn quan chín chắn phi thường về cuộc đời.

West cho rằng, khi bạn bảy mươi lăm tuổi, từ ngữ bạn dùng cần phải khá đơn giản. Bạn chỉ cần có hai từ thôi: “Cảm ơn!” Lòng biết ơn là dấu hiệu đích thực của một tâm hồn chính chắn đích thực, của một tinh thần lành mạnh. Đừng bao giờ hiểu sai về điều này.

Hơn nữa, đối với ông, lòng biết ơn không dễ mà có được. Như trong cuốn tự truyện kể lại rõ ràng, cuộc đời của ông phải chịu những đau thương và chối bỏ, trong số đó có việc bị loại bỏ bởi chính giáo hội mà ông yêu thương. Như vậy câu chuyện cuộc đời của ông bật lên cho thấy lòng biết ơn phải dựa trên sự tha thứ, trên sự buông bỏ những đau thương, trên việc đừng để quá khứ nhuốm màu chua chát lên hiện tại. Để biết ơn phải tha thứ.

Tất cả chúng ta đều có những nỗi đau, những tổn thương sâu sắc. Không ai bước vào tuổi người lớn – huống hồ tuổi già – mà không bị tổn thương sâu sắc. Alice Miller, nữ tâm lý gia nổi tiếng, đã diễn đạt như thế này: Tất cả chúng ta, từ thuở còn là em bé nằm nôi cho tới khi tự chủ tới mức đủ để viết được tự truyện như ông Morris West, đều đã không được (người khác) yêu thương và trân trọng đầy đủ. Hơn nữa, tất cả chúng ta đều từng trải nghiệm sâu đậm thế nào là chối bỏ hay ngược đãi. Bất công cuộc đời không chừa một ai trong chúng ta. Bà đặt tên cho điều này là bi kịch của đứa trẻ tài năng, nghĩa là, bi kịch của một con người cá biệt, nhạy cảm, thông minh, sâu sắc và tài năng mà trong đời lại chưa bao giờ được thật sự yêu thương đầy đủ, được công nhận đầy đủ, được kính trọng đầy đủ, hay được vinh danh đầy đủ, là người đôi khi bị chối bỏ và bị ngược đãi hết sức. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy mình dễ dàng cảm thấy chua chát hơn là biết ơn, lo nghĩ người khác hại mình hơn là thân ái với người khác, phẫn nộ hơn là ôn hòa dễ chịu.

Chúng ta có thể làm gì đây, làm được gì nữa bên cạnh việc trước tiên thừa nhận rằng chúng ta nuôi trong lòng mối hận với cuộc đời?

Miller cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của tuổi trung niên và tuổi kế đó là phải chịu cái tang, phải dứt khoát. Bà nói, chúng ta phải khóc than cho tới khi nào tất cả nền tảng đời sống chúng ta bị lung lay. Vào một thời điểm nào đó trong đời, vấn đề không còn là “Ta có bị tổn thương không?” nữa, mà là “Tổn thương của ta là gì và làm thế nào để ta có thể vượt lên trên tổn thương đó?” Nó giống như khi mình bị tai nạn xe hơi, phải mang sẹo và bị suy yếu suốt đời. Tai nạn thì đã xảy ra, thương tật thì phải mang, không gì có thể đảo ngược thời gian nữa, vì vậy lựa chọn duy nhất của chúng ta là giữa chua chát hoặc tha thứ, giữa phẫn nộ hoặc làm hòa với cuộc sống, giữa sống tiếp cuộc đời mà luôn miệng nói “giá như” hoặc sống tiếp cuộc đời bằng cố gắng thích thú hít thở khí trời cho dù bước chân đi khập khiễng.

Một ý nghĩa quan trọng trong nhận thức của Do thái giáo và Ki-tô giáo về lễ Xa-bát là trong khi làm lễ mừng, nghỉ ngơi, vui thú và cầu nguyện của lễ Xa-bát chủ yếu vì chính ngày lễ, còn có một chức năng cụ thể là lòng biết ơn. Chúng ta mong muốn được thường xuyên nghỉ ngơi, cầu nguyện, làm lễ mừng và vui hưởng cuộc đời vì đó là những gì chúng ta sẽ tiếp tục làm trên thiên đường, vì khi làm như vậy, chúng ta có thể tìm thấy trong bản thân mình một trái tim thương yêu mà chúng ta cần để thứ tha. 

Thường thường, không phải ngẫu nhiên mà những kỳ nghỉ của chúng ta không thật sự có ích như đáng lý nó phải vậy: chúng ta phải làm việc cật lực và mệt mỏi, chúng ta trông đến ngày nghỉ, có thời gian nghỉ ngơi tách khỏi công việc, thư giãn với bạn bè, uống rượu, tắm nắng. Rồi chúng ta đi nghỉ và thật sự rất thích thú. Nhưng buồn thay, chỉ trong vòng vài ngày hay vài tuần sau khi đi nghỉ về, chúng ta lại thấy mệt mỏi như chưa hề đi nghỉ. Chuyện gì vậy? Tại sao đi nghỉ rồi mà chẳng có tác dụng gì?

Kỳ nghỉ của ta chẳng có tác dụng vì chúng ta chẳng tha thứ được ai. Chúng ta không buông bỏ đi chút nào mối hận trong lòng mình. Cái phần mệt mỏi và căng thẳng nhất của chúng ta vẫn không hề đi nghỉ, không hề buông xả và thư giãn, và cái phần đó chẳng thấy ấm áp lên được nhờ bia rượu và bạn bè. Cái phần đó vẫn lạnh giá, lo lắng, căng thẳng, kiệt lực. Có một sự mỏi mệt không thể nào chữa khỏi bằng giấc ngủ sâu, bằng kỳ nghỉ tuyệt vời hay bằng thời gian vui vẻ bên cốc rượu ngon với những người bạn thân, cái phần mệt mỏi đó từ trong sâu thẳm nhất của chúng ta. Chính cái phần mệt mỏi này đang làm ta đau nhói vì bị tổn thương, đang lạnh lẽo vì không được yêu thương, đang chai lì vì đã bị cứa đau tàn nhẫn, đang đùng đùng oán giận vì bị bỏ rơi và chối từ. Đây là sự mệt mỏi chán ngán tận xương tủy mà một kỳ nghỉ không thể chữa lành, nó chỉ có thể chữa bằng sự thứ tha.

Chỉ có duy nhất một mệnh lệnh tối hậu trong đời: Trước khi chết, chúng ta cần tha thứ. Chúng ta cần tha thứ những ai đã làm tổn thương ta, cần tha thứ bản thân chúng ta đã không hề tốt đẹp hơn những ai làm đau ta, cần tha thứ chính cuộc đời với những gì đời đã giáng lên, và còn nữa, cần tha thứ Chúa trước sự việc rằng đời bất công. Như thế, ta không phải chết đi mà ôm lòng cay đắng và phẫn nộ.

Biết ơn là quả ngọt của cuộc chiến cam go đó.

Chiến đấu với phúc lành của cha tôi

Cha tôi qua đời khi tôi hai mươi ba tuổi, là chủng sinh còn non nớt, còn bỡ ngỡ học hỏi về cuộc đời. Dù ở tuổi nào đi nữa, mồ côi cha cũng là điều khó chịu đựng, và nỗi buồn của tôi còn tăng gấp bội vì lúc đó tôi chỉ mới bắt đầu hiểu và cảm kích cha tôi.

Chỉ sau này tôi mới nhận ra rằng tôi không còn cần tới ông nữa, dù tôi vẫn còn tha thiết mong có ông. Những gì phải trao truyền cho tôi, ông đã trao truyền. Tôi đã nhận được ơn phước của ông, và đó là những gì từ con người thực của ông, và những gì mà rốt cuộc chính là tặng phẩm của cuộc đời ông dành cho tôi.

Tôi hiểu rằng tôi đã nhận được ơn phước của ông. Cuộc đời tôi và hướng đi của tôi đã khiến ông mãn nguyện và tự hào. Như tiếng nói của Chúa Cha cất lên trong lễ rửa tội của Chúa Giêsu, tiếng nói của cha tôi đã nói với tôi: Con là con của cha, người mà cha hoàn toàn mãn nguyện. Đó là tất cả những gì một con người có thể xin được từ cha mình.

Ông đã để lại gì cho tôi và con cháu của ông? Có quá nhiều nên không thể nêu ra hết, nhưng trong số đó có những điều này: Ông là một trong những người thật sự đức độ nhất mà tôi từng biết, người biết kiềm chế bản thân, giữ đạo đức tối đa nhất có thể. Ông không phải là người cho rằng mình chỉ là người, nên nếu vi phạm một vài luật lệ là chuyện bình thường. Ông từng nói với chúng tôi câu bất hủ này: “Ai cũng có thể cho mình thấy nhân tính của họ; nhưng ba cần ai đó cho ba thấy thiên tính!” Ông mong chờ bạn đừng thất bại, sống xứng đáng với những gì mà lòng tin và đức hạnh đòi hỏi ở bạn, và không lấy cớ này cớ nọ. Nếu chúng tôi, những người thân trong gia đình ông, có hấp thụ được điều gì từ sự hiện diện của ông, thì đó chính là bản tính ngoan cường như vậy về đạo đức.

Ngoài ra, ông còn có bản tính đúng mực không hề lay chuyển, gần như là bệnh. Không bao giờ có cơn bộc phát kích động hay điên rồ nào, cũng không hề trầm cảm, không dao động, không cần phải đoán hôm nay ông vui buồn như thế nào. Với bản tính vững vàng như vậy, cộng thêm sự yểm trợ của mẹ tôi, ông đã tạo cho chúng tôi một mái nhà, luôn luôn là cái kén an toàn, một nơi chốn đôi khi tẻ nhạt, nhưng luôn luôn an toàn. Khi nghĩ về mái nhà nơi tôi đã lớn lên, tôi hình dung nó như tổ ấm an toàn, nơi tôi có thể ngồi nhìn ra cơn bão bên ngoài, qua khung cửa sổ ấm áp, bình an.

Vì gia đình chúng tôi đông nên tình yêu thương và chăm chút của ông phải san sẻ với rất nhiều anh chị em khác của tôi. Tôi chưa bao giờ nghĩ về ông như cha “của tôi”, mà luôn là cha “của chúng tôi”. Có lẽ, hơn bất kỳ điều gì khác, điều đó đã giúp tôi thấu hiểu được thách thức đầu tiên trong bài Ca tụng Chúa, đó là Chúa là Cha của “Chúng ta”, một người mà chúng ta chia sẻ với nhiều người khác, chứ không phải là một thực thể của riêng. Ngoài ra, gia đình của cha tôi mở rộng ra không chỉ bao gồm những đứa con ruột của ông. Tôi đã sớm hiểu được rằng không nên cự lại việc ông không thể lúc nào cũng ở bên cạnh chúng tôi, ông có những lý do chính đáng để ông phải đi: công việc, cộng đồng, nhà thờ, bệnh viện, họp hội đồng cố vấn trường học, các hoạt động chính trị. Ông là rường cột của một gia đình rộng lớn hơn gia đình nhỏ của chúng tôi.

Cuối cùng, và nhất là ông đã truyền ngọn lửa mê bóng chày cho các anh chị em tôi, Đây là điểm nổi bật biểu lộ bản năng tự do của ông, nơi tâm hồn ông có thể tận hưởng những giây phút nghỉ ngơi.

Nhưng ơn phước không bao giờ chỉ thuần là phúc lành, cha tôi cũng là con người, và điểm mạnh nhất của một người cũng lại là điểm yếu nhất của người đó. Trong tất cả đường gân thớ thịt thấm đẫm đức hạnh và vững vàng như đá đó, lại có sự kín kẽ mà đôi khi không làm cho ông được uống trọn vẹn niềm vui sống dạt dào. Mỗi cậu con trai đều dõi mắt nhìn theo bước nhảy của cha mình và đánh giá ông một cách vô thức về một vài tính chất của ông: lưỡng lự, uyển chuyển, buông thả, phô trương, tỏ ra đúng mực, vô trách nhiệm. Cha tôi chưa bao giờ uyển chuyển trong bước nhảy của ông, và tôi thừa hưởng bước nhảy này, điều này làm cho tôi cảm thấy xót xa trong tận sâu thẳm. Hồi nhỏ cũng như khi đã lớn, có nhiều khi, trong một thoáng, tôi cảm thấy tôi thà đổi cha tôi lấy một người cha có bước nhảy uyển chuyển hơn, một người nào đó bớt kín kẽ hơn trước niềm vui sống dạt dào.

Và đó là phần nào trong nỗ lực chiến đấu của tôi để thọ nhận đầy đủ phúc lành của cha. Tôi thường nhớ dòng thơ trứ danh của William Blake trong bài Infant Sorrow (Nỗi buồn phiền con trẻ): “Vật lộn trong vòng tay của cha tôi”. Với tôi, câu đó nghĩa là vật lộn với việc đôi khi cha tôi không thể đơn giản buông trôi và thụ hưởng trọn vẹn tặng phẩm của cuộc đời.

Nhưng, nếu như có sự lưỡng lự, thì trong vũ điệu cuộc đời của cha tôi không hề có sự vô trách nhiệm, dù cho đôi khi điều này có nghĩa là đứng hẳn bên ngoài điệu nhảy. Tôi đau buồn ở tang lễ cha tôi, nhưng tôi cũng tự hào nữa, tự hào trước sự kính trọng vô cùng mà mọi người dành cho cha, bởi cách ông đã sống trong cuộc đời này. Ngày đưa tang cha, không hề có ai phán xét bản tính kín kẽ của ông.

Tính tới mồng 5 tháng 1 năm nay, số ngày tôi sống trên cõi đời này đã nhiều hơn số ngày cha tôi sống. Giờ đây tôi đã già hơn ông trước kia. Nhưng tôi vẫn sống trong phước lành của ông, đang nỗ lực một cách có ý thức và vô thức để vươn lên, để vinh danh những gì ông đã trao truyền cho tôi, cha tôi. Và điều đó phần nhiều là tốt đẹp, mặc dù tôi vẫn có những phút giây thấy mình đứng bên ngoài niềm vui sống, kín kẽ, mang vẻ mặt của cha tôi, nhìn một cách ghen tị những ai có bước nhảy uyển chuyển hơn tôi – tôi, mãi mãi là con trai của cha tôi.

Minh định sự thật

Ngày nay, nhiều người trong chúng ta có khuynh hướng rụt rè trước bất kỳ một loại kiến thức nào tự cho là khoa học. Ai dám cãi lại khoa học? Ai dám cãi lại các chuyên gia? Rất ít người dám, và người nào dám cãi thì dễ bị gạt đi, bị coi là lạc hậu hoặc kém hiểu biết.

Vậy là trong cuộc sống chúng ta, chuyên môn tinh thông khách quan thường đứng cao hơn tuệ nhãn đạo đức, thậm chí còn tệ hơn nữa là đơn giản đánh đồng nó với nhận thức đạo đức. Sự thật là sự thật, khoa học chứa đựng sự thật, và khoc học đánh bại những mối quan tâm đạo đức của chúng ta (mà trước những tuyên bố khoa học có thể bị làm cho có vẻ thiển cận và bắt nguồn từ sợ hãi). Vậy nên quan niệm phổ biến là chúng ta cần lắng nghe những người tinh thông khoa học khi nào cần nhận thức về sự thật.

Nhưng liệu có phải vấn đề thật sự đơn giản như vậy không? Và ai thật sự là người tinh thông? Nhờ đâu mà một người trở thành người tinh thông? Một tấm bằng hậu đại học? Là người mẹ chăm sóc nuôi nấng gia đình giỏi? Là nhà nghiên cứu đáng kính? Sống một cuộc đời tốt đẹp? Vững vàng và trung thành? Có nhiều kiểu người tinh thông khác nhau.

Ngoài ra còn có vấn đề lòng chính trực cá nhân, và làm thế nào mà điều này liên quan tới “chuyên môn tinh thông”. Chúng ta sẽ nói như thế nào đây về sự thật của một người có cái nhìn khoa học sâu sắc nhưng sống một cuộc sống thiếu lành mạnh? Cuộc sống riêng tư của một người có ảnh hưởng tới việc nghiên cứu và chuyên môn nghề nghiệp của người đó không?

Nhiều nhà tư tưởng vĩ đại – triết gia, nhà thần học, và cả các nhà khoa học – sẽ khẳng định là có. Sự thật không bao giờ có thể tách rời tuệ nhãn đạo đức vì sự thật và đạo đức thật sự là nền tảng của chân lý. Vì vậy lòng chính trực cá nhân hay việc thiếu lòng chính trực cá nhân ở bất kỳ nhà nghiên cứu hay học giả nào đều ảnh hưởng cách nào đó tới chuyên môn tinh thông của người này, dù điều đó nhìn bên ngoài có thể khó nhận biết? Ảnh hưởng ra sao?

Aristotle chẳng hạn, ông đặt ra khái niệm mà ông gọi là phronesis – tuệ nhãn để nhận định đâu là cứu cánh, đâu là phương tiện; khái niệm này dạy rằng không thể tách rời việc khuyên dạy về sự thật với việc sống đạo đức. Đối với Aristotle, tri thức chân chính, loại tri thức mà cuối cùng khiến bạn trở thành một con người hoàn thiện hơn, không thể bắt nguồn từ một người mà lý thuyết tri thức và đời sống đạo đức cá nhân lại không hòa điệu tận căn với nhau.

Thực sự, Albert Einstein đã nói rằng không thể thực hiện nghiên cứu khoa học mà không nỗ lực rất nhiều để tìm hiểu tự thân. Chúng ta là ai và nhãn quan của chúng ta về thực tại như thế nào sẽ luôn luôn góp phần quyết định cách chúng ta nhìn thế giới và xác lập bất kỳ lý thuyết nào về thế giới. Mà việc chúng ta là ai và nhãn quan của chúng ta về thực tại lại luôn luôn được định hình một phần và chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi cuộc sống đạo đức của chính chúng ta. Cuộc sống đạo đức của chúng ta ảnh hưởng sâu sắc tới các nghiên cứu của chúng ta vì cuộc sống đó góp phần hình thành nhãn quan của chúng ta.

Vị thánh bí ẩn thời trung cổ, Hugo of St. Victor, có một châm ngôn về điều này như sau: Tình yêu là đôi mắt nhìn! Đối với ông, nhãn quan của chúng ta chủ yếu được hình thành bởi hoặc là tình thương hoặc lòng cay đắng vốn luôn luôn nằm trong con người mình. Khi nhìn thế giới với tình thương yêu, chúng ta thấy nó thế này; khi nhìn thế giới với niềm cay đắng, chúng ta thấy nó thế khác. Điều này cũng đúng với mỗi nhà nghiên cứu: Cứ cho rằng toán học vượt lên trên cảm xúc, nhưng cái thực tại mà chúng ta áp dụng toán học đó lại không phải vậy.

Cuối cùng, và không hề kém phần quan trọng, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta rằng chúng ta nhìn thế giới chỉ chính xác trong chừng mực trái tim chúng ta thanh sạch đến đâu. Khi nói như vậy, Người không chỉ nói về việc cần có trái tim trong sạch để nhận thức đúng đắn về mặt tôn giáo, mà Người còn khẳng định rằng sự thanh sạch của trái tim là điều kiện tiên quyết nhằm nhận thức được đúng đắn theo mọi khía cạnh, tôn giáo, đạo đức, đời sống thực tế, và khoa học.

Những gì chúng ta nhìn thấy qua kính hiển vi được nhuốm một phần bởi cảm nhận của chúng ta về cuộc sống nói chung, mà cảm nhận của chúng ta về cuộc sống nói chung lại nhuốm đậm bởi cách chúng ta sống đạo đức như thế nào.

Vậy bài học ở đây là gì?

Bài học ở đây không phải là những gì mà bạn đôi khi nghe thấy từ các giới chủ trương chính thống, ví dụ như chúng ta đừng có nghe các nhà khoa học, các học giả hàn lâm hay các chuyên gia kỹ thuật nữa, mà cần phải cố gắng đấu lại quan điểm của họ bằng cách viện tới Thánh Kinh. Rằng nhiệm vụ của chúng ta không phải là bảo vệ những kết quả nghiên cứu của các học giả đó, rằng đừng nghiên cứu nữa.

Đúng hơn, những bài học là như sau:

Trước hết, kính trọng những kết quả khoa học và nghiên cứu chân chính, kể cả dù không phải lúc nào bạn cũng mê mẩn nguồn gốc tạo ra chúng. Mọi sự thật đều có tác giả duy nhất, là Thượng đế. Thượng đế là nguồn gốc tạo ra Kinh Thánh, và Thượng đế cũng là nguồn gốc của khoa học và các kết quả nghiên cứu khoa học. Hãy chấp nhận sự thật dưới mọi hình thức biểu hiện của nó, nhưng đừng rụt rè trước lời khuyên dạy của những chuyên gia nào tuyên bố mình là khách quan khoa học nhưng không thừa nhận những hạn chế của họ, những phán xét ngầm của riêng họ, những định kiến của riêng họ, đặc biệt khi sự thật đụng chạm tới những vấn đề sức khỏe, nghĩa là về đạo đức và hạnh phúc. Một nhà nghiên cứu giỏi thừa nhận những yếu tố của cuộc tìm kiếm tự thân, là người khiêm tốn khi nói về sự thật.

Tiếp theo, hãy thừa nhận rằng sự tinh thông chuyên môn là uy tín rộng lớn xuất phát từ nhiều giới khác nhau. Có người tinh thông trong khoa học, nhưng cũng có người tinh thông về điều thiện, về tình thương yêu, tình bạn, lòng tử tế, lòng trung thành, hy vọng, kiến tạo hòa bình, về lòng quả cảm, về cầu nguyện, về lòng trung thực, về sự trong trắng, về thẩm mỹ, về đạo hạnh, và về óc hài hước. 

Khi tìm kiếm những vì sao để dẫn dắt cuộc đời của bạn, hãy nhìn cho kỹ và nhìn khắp hết các thiên hà. Đừng nhốt mình vào một góc nhỏ hẹp nào cả. Có rất nhiều vì sao, mỗi một vì sao đều tỏa ra một thứ ánh sáng tinh thông nhất định.

Chạm đến người thân qua Thánh Thể

Hai mươi tám năm về trước, khi bắt đầu viết mục này, tôi viết một bài nhỏ với tiêu đề “Gắn kết và xa rời trong lòng Thánh Thể”. Trong tất cả những bài tôi từng viết, có lẽ bài đó, tôi đã nhận được nhiều hồi âm nhất.

Khái niệm ở đây là gì? Làm thế nào chúng ta có thể gắn kết và rời xa nhau trong lòng Thánh Thể? Đây là những lời cốt yếu:

Hãy tưởng tượng bạn là cha hay mẹ của một đứa con không còn đi nhà thờ nữa, không còn cầu nguyện nữa, không còn giữ luật Hội Thánh nữa, không còn tôn trọng long tin của bạn nữa, thậm chí có lẽ còn công khai nói không biết có Chúa hay không hoặc công khai tuyên bố mình vô thần. Bạn có thể làm gì đây?

Bạn có thể tiếp tục cầu nguyện cho con cái và sống theo niềm tin tôn giáo của mình, hy vọng tấm gương cuộc đời bạn sẽ có sức thuyết phục khi những lời nói của mình không còn tác dụng nữa. Bạn có thể làm như vậy, nhưng vẫn có thể làm được hơn thế.

Bạn có thể tiếp tục thương yêu và tha thứ con mình, và chừng nào chúng còn nhận được tình thương yêu và lòng tha thứ đó thì chúng còn đang nhận được tình thương yêu và thứ tha của Chúa. Sự tiếp xúc của bạn là tiếp xúc của Chúa. Vì bạn là một phần của Thánh Thể, nên khi bạn chạm tới con mình nghĩa là Chúa Kitô đang chạm tới con bạn. Khi bạn yêu thương chúng là khi Chúa Kitô đang yêu thương chúng. Khi bạn tha thứ cho chúng là khi Chúa Kitô  đang tha thứ cho chúng, bởi vì sự tiếp xúc của bạn chính là sự tiếp xúc của giáo hội.

Một phần của điều kỳ diệu Nhập Thể là sự kiện chúng ta có thể làm được cho nhau những gì Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta. Chúa Giêsu trao cho chúng ta quyền năng đó: Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy.… Các con tha thứ cho ai thì người đó sẽ được tha thứ.

Nếu bạn là một phần của Thánh Thể, thì khi bạn tha thứ cho ai, người đó sẽ được tha thứ. Nếu bạn thương yêu ai, người đó sẽ được Chúa Kitô thương yêu, bởi vì Thánh Thể không chỉ là nhiệm thể Chúa Giêsu mà còn là nhiệm thể của tín hữu. Được một tín hữu chạm tới, thương yêu và tha thứ là được Chúa Kitô chạm tới, thương yêu và tha thứ. Địa ngục có lẽ là khi người nào đó tự đặt mình ra hẳn ngoài vòng thương yêu và tha thứ làm cho họ không còn có thể được thương yêu và tha thứ nữa. Và đây không hẳn chỉ là vấn đề khước từ rõ ràng về tôn giáo hay luân lý, mà đúng hơn là vấn đề khước từ tình thương yêu từ cộng đồng những người tha thiết. Nói một cách đơn giản hơn là:

Nếu một người bạn thương yêu đi xa khỏi Giáo hội, không còn tin và giữ đạo, thì chừng nào bạn vẫn thương yêu người đó và vẫn giữ người đó trong tình thương yêu và tha thứ, thì người đó đang chạm tới “mép áo của Chúa Kitô”, đang được ôm vào Thánh Thể, và đang được Thiên Chúa thứ tha, bất chấp mối quan hệ chính thức bên ngoài của người đó với giáo hội như thế nào. Làm sao như vậy?

Họ đang chạm tới Thánh Thể vì sự tiếp xúc của bạn là sự tiếp xúc của Chúa Kitô. Khi bạn chạm tới ai, người đó đang được liên kết với Thánh Thể, trừ phi người đó chủ động khước từ tình thương yêu và sự tha thứ của bạn. Và điều này vẫn đúng kể cả sau khi chết: Nếu một người nào thân thiết với bạn chết đi trong một tình trạng mà ít nhất nhìn bề ngoài là đang không hòa hợp với Giáo hội, thì tình thương yêu và sự tha thứ của bạn sẽ tiếp tục gắn người đó với Thánh Thể và sẽ tiếp tục là niềm tha thứ cho người đó, kể cả sau khi chết.

G.K. Chesterton từng diễn đạt điều này trong một câu chuyện ngụ ngôn như sau: “Một người đàn ông hoàn toàn không đếm xỉa gì tới những chuyện tâm linh chết và xuống địa ngục. Các bạn của anh trên trần gian rất nhớ anh. Vị đại diện kinh doanh của anh tìm xuống tận các cổng địa ngục để xem coi có khả năng nào đem được anh về lại trần gian hay không. Nhưng dù người đó cầu xin để các cánh cửa được mở ra, nhưng các thanh sắt vẫn đóng im ỉm. Linh mục của anh cũng tới và phân trần: “Anh ta không hẳn là người xấu đâu; nếu có thời gian thì chắc hẳn anh ta đã trưởng thành. Xin hay thả anh ta ra!” Cánh cửa vẫn ngoan cố khóa chặt trước mọi lời cầu khẩn. Cuối cùng, mẹ của anh đến, bà không xin thả anh ra. Giọng nhỏ nhẹ, với vẻ nghẹn ngào là lạ, bà nói với Xa-tăng: “Để tôi vào”. Ngay lập tức, hai cánh cửa to lớn mở tung ra. Bởi vì tình thương yêu thấu tận tới cổng địa ngục và cứu rỗi cho người chết.”

Trong nhập thể, Thiên Chúa là bằng xương bằng thịt như con người: trong Chúa Giêsu, trong Thánh Thể và trong tất cả những ai có đức tin chân thành. Sức mạnh và lòng thương vô vàn từ Chúa Giêsu vẫn luôn luôn ở với chúng ta trong thế giới này, nhưng tối thiểu chúng ta phải kích động nó. Chúng ta là Thánh Thể. Những gì Chúa Giêsu làm cho chúng ta, chúng ta có thể làm cho nhau. Tình thương yêu và lòng tha thứ của chúng ta là sợi dây kết nối người thân yêu chúng ta với Chúa, với sự cứu rỗi, với cộng đoàn các thánh, kể cả khi những người thương đó không còn đi trên con đường đức tin nữa.

Quá đẹp để không thể tin là thật được phải không? Vâng, chắc chắn như vậy. Nhưng còn có cách nào khác để nói về huyền nhiệm Nhập Thể!

Nét phong phú của huyền nhiệm Thiên Chúa

G.K. Chesterton từng nói một trong những lý do ông tin vào Ki-tô giáo là vì Ki-tô giáo có đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi. Nếu Ki-tô giáo do người thường dựng nên thì ở trọng tâm của nó hẳn đã không có cái khái niệm khó có thể nắm bắt hay giải thích này được: đó là ý niệm Thiên Chúa tồn tại như nhất thể nhưng lại ở trong ba bản vị.

Chúng ta hiểu Ba Ngôi như thế nào đây? Chúng ta không hiểu được! Thiên Chúa, theo định nghĩa, là không thể nào mô tả được, vượt ra ngoài nhận thức, ngoài sức tưởng tượng, không thể diễn tả được bằng lời. Đức tin của ki-tô hữu vào Thiên Chúa Ba Ngôi càng cho thấy huyền nhiệm về Thiên Chúa phong phú như thế nào, và trải nghiệm của chúng ta về Thiên Chúa luôn luôn phong phú hơn nhận thức và lời lẽ của chúng ta có về Thiên Chúa.

Đây là chuyện hiển nhiên trong lịch sử tôn giáo. Ngay từ thuở hồng hoang, con người đã luôn luôn trải nghiệm Thượng đế và đã tôn thờ Thượng đế. Tuy nhiên, cũng ngay từ thuở ban đầu đó, con người đã có cảm giác rằng Thượng đế là quá sức phong phú và hết-sức-vượt-ra-ngoài bất kỳ một dạng phân loại duy nhất nào, nên không một khái niệm nào của con người có thể phản ảnh hết được. Vì vậy, đa số người cổ xưa theo thuyết đa thần. Họ tin rằng có nhiều vị nam thần và nữ thần. Họ có trải nghiệm về năng lượng thiêng liêng và nhu cầu tán tụng năng lượng thiêng liêng đó trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, có các vị thần nam nữ theo từng lĩnh vực. Vì vậy, họ có các nam thần và nữ thần dành cho từng ước muốn và hoàn cảnh cụ thể, từ chiến tranh, trồng trọt mùa màng, tình dục, tới việc hiểu được vì sao cha không ban phước lành cho con…, luôn luôn có một vị nam thần và nữ thần nào đó để người ta hướng tới.

Đôi khi họ tin vào một thượng đế tối cao duy nhất, là người thống trị hết thảy các vị thần thấp hơn, nhưng họ cũng cảm nhận rằng năng lượng thiêng liêng này là một thực tại quá phong phú tới mức không thể bó hẹp trong một hiện thể duy nhất. Họ cũng tin rằng đôi khi các vị thần gây chiến với nhau. Các vị nam thần và nữ thần cũng thỉnh thoảng dính tới cuộc sống của người trần, dàn xếp những thỏa thuận đặc biệt với người trần, yêu đương, và thậm chí đôi khi còn có con với người trần.

Nhiều trong số những câu chuyện huyền thoại mạnh nhất từng được kể xuất phát từ trải nghiệm về tính chất phong phú vô biên của Thượng đế và sự bất lực của người xưa trong việc diễn đạt theo bất kỳ một nhận thức nào về Thượng đế và hoạt động của Thượng đế. Dù đa thần giáo và các câu chuyện huyền thoại thời cổ đại có nói gì đi nữa về các vị thần nam nữ, thì những cách hành đạo thời cổ đại và các tín điều khó tin của chúng đều cho thấy trải nghiệm của con người về Thượng đế quá phong phú, không thể nào biểu đạt hết, vượt ra ngoài sức tưởng tượng và ngôn ngữ quá đơn giản của con người. Người cổ đại tin rằng những trải nghiệm của họ gợi cho biết có nhiều vị thần hiện hữu.

Sau đó xảy ra một chuyển biến hàng loạt: Do Thái giáo, và ngay sau đó là Ki-tô giáo và Hồi giáo đưa ra một tín điều mạnh và rõ ràng rằng chỉ có một Thượng đế duy nhất. Từ đây, tất cả quyền năng và năng lượng thiêng liêng được nhìn nhận là phát sinh từ một nguồn duy nhất, độc thần, Gia-vê, Cha của chúa Giêsu, Allah. Không còn có vị nam thần hay nữ thần nào nữa.

Nhưng từ thời điểm chúa Giêsu phục sinh, các ki-tô hữu bắt đầu đấu tranh với độc thần giáo. Họ tin rằng chỉ còn một Thiên Chúa duy nhất, nhưng trải nghiệm Thiên Chúa của họ đòi hỏi họ tin rằng Thiên Chúa này bằng cách nào đó là “ba”. Nói một cách đơn giản, khi Chúa Giêsu sống lại, các ki-tô hữu lập tức gán thiên tính cho người, nhưng không coi người là Chúa Cha. Chúa Giêsu được hiểu là Thiên Chúa, nhưng một cách nào đó lại khác so với Chúa Cha. Hơn nữa, trong trải nghiệm này, họ lại cảm nhận một năng lượng thiêng liêng thứ ba mà họ không thể nào đồng nhất hoàn toàn với Chúa Giêsu hay Chúa Cha, đó là Chúa Thánh Thần.

Trải nghiệm này khiến họ thắc mắc và đôi khi lúng túng: Họ là những người độc thần giáo, một mình Thiên Chúa là Thiên Chúa. Vậy nhưng Chúa Giêsu cũng là Thiên Chúa, và Chúa Thánh Thần cũng vậy. Trải nghiệm của họ về ân sủng và hành động của Thượng đế trên thế giới không tương thích với nhận thức quá đơn giản của họ về độc thần.

Thượng đế là nhất thể, vậy nhưng Thượng đế cách nào đó là ba. Làm sao để dung hợp hai điều này? Các kitô hữu phải mất ba trăm năm, cuối cùng mới tìm ra được một thể thức vinh danh được tính phong phú của trải nghiệm Ki-tô về Thiên Chúa. Công đồng Nicea vào năm 325 đã cho chúng ta thể thức đức tin để chúng ta theo ngày nay: Chỉ cóù một Thiên Chúa trong ba bản vị; trừ việc họ viết thể thức đó bằng tiếng Hy Lạp và từ ngữ trong tiếng đó mang nghĩa đen là Thượng đế là một thực thể trong ba quan hệ hiện hữu.

Thể thức này không giúp chúng ta thấy rõ ràng hoàn toàn. Không thể thức nào có thể nắm bắt thực tại về Thượng đế, bởi lẽ Thượng đế quá phong phú, không thể nào nắm bắt được, thậm chí một nửa cũng không được, dù cho bằng trí tưởng tượng, tư tưởng hay từ ngữ. Thượng đế mà vô thần giáo phủ nhận chính là một Thượng đế qua khái niệm, một Thượng đế bó buộc trong một bức tranh. Rốt cuộc, vô thần giáo ít trung thành với trải nghiệm của con người hơn so với đa thần giáo, vốn cảm nhận một cách đúng đắn hơn về các vị thần, nam thần và nữ thần, ẩn trong từng phiến đá.

Điều này hướng chúng ta đến cái gì?

Sự khiêm nhường. Tất cả chúng ta, tín hữu lẫn vô thần, cần phải khiêm nhường hơn khi nói về Thượng đế. Ý niệm về Thượng đế cần được trải rộng chứ không phải thu hẹp sức tưởng tượng. Trải nghiệm thực sự của chúng ta về Thượng đế, cũng giống như đa thần giáo thời cổ xưa, sẽ luôn luôn lấn át hết mọi khái niệm đơn giản quá mức về Thượng đế. Tạ ơn Chúa vì tính phức tạp vi tế của tín điều Ba Ngôi!

Thứ ngôn ngữ sâu sắc hơn

Cách đây một năm, ở ngoại ô thành phố Guatemala, cha Lorenzo Rosebaugh, một nhà truyền giáo dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, bị bắn chết khi đang lái xe với một số nhà truyền giáo khác tới một cuộc họp cộng đoàn. Có lẽ sẽ không bao giờ biết được động cơ thật sự của kẻ giết cha. Mới nhìn qua, sự việc dường như không khác gì một vụ bạo lực cướp của giết người, nhưng với hoàn cảnh cuộc đời của Lorenzo và cuộc chiến đấu trọn đời của cha vì công lý cho người nghèo, thì bất kể ai, tôi cũng không phải là ngoại lệ, đều muốn tin rằng việc cha bị bắn không chỉ là chuyện có mặt không đúng nơi đúng lúc. Có quá nhiều thứ gợi cho thấy đây không đơn thuần là một tai nạn. Nếu không có vấn đề gì khác, cái chết tử thương này một cách nào đó có tính biểu tượng: số phận đã không định đoạt cho Lorenzo chết già trên giường êm ái.

Tôi gặp Lorenzo lần đầu tiên tại nhà dòng mẹ của chúng tôi ở Aix-en-Provence, nước Pháp, cách đây mười năm. Lúc đó cha vừa trở về sau một chuyến đi truyền giáo dài ở châu Mỹ La-tinh, nơi trong nhiều năm cha đã sống với người nghèo trên đường phố của Recife, trên đầu không hề có mái che, không hề có một địa chỉ cố định. Mắc một căn bệnh nghiêm trọng, cha buộc phải trở về Mỹ, rồi cộng đoàn Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm cho phép cha đi nghỉ Xa-bát tại Pháp. Cha tới đó, không nói được một chữ tiếng Pháp nào. Ấy vậy mà khi gặp cha ở đó, chưa đầy một tháng từ ngày bước chân tới, tôi thấy cha đang ngồi trên bậc tam cấp nhà thờ gần khu dân cư của cộng đoàn chúng tôi với hơn chục người vô gia cư xúm quanh. Họ đang chia sẻ thức ăn thuốc hút với nhau và đang trò chuyện gì đó. Trông giống như một cuộc píc-níc trong công viên.

Chuyện này chẳng có gì khác thường, trừ việc cha Lorenzo không nói được một từ tiếng Pháp nào và những người quây quần quanh cha cũng không nói được tiếng Anh, tiếng Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha (những tiếng cha nói được). Vậy nhưng rõ ràng họ có vẻ đang giao tiếp với nhau, và giao tiếp một cách sâu đậm, với cái cách có thể khiến người ngoài ghen tỵ, và Lorenzo là tâm điểm của họ.

Bằng cách nào? Bằng cách nào chúng ta có thể nói với nhau mà vượt lên trên việc giao tiếp bằng những ngôn ngữ thông thường chúng ta biết?

Khi thánh Lu-ca lần đầu tiên mô tả Lễ Hiện Xuống, ông kể cho chúng ta rằng sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, các môn đồ đầu tiên của Chúa Giêsu đi ra ngoài công chúng và bắt đầu nói, và tất cả mọi người, hết thảy mọi người, dù sắc tộc hay ngôn ngữ của họ thế nào, đều nghe  những lời này như nghe bằng ngôn ngữ của họ. Hàng rào ngôn ngữ ngăn cách cũ không còn cản trở việc nghe thấy hay hiểu được. Ngôn ngữ cất lên từ tâm hồn đã vượt lên trên mọi sắc tộc và tiếng mẹ đẻ.

Thật hết sức dễ dàng khi chúng ta đơn giản viết ra điều này như kể lại một chuyện mầu nhiệm, một sự can thiệp của Chúa làm nền tảng đặc biệt để tạo dựng giáo hội. Điều đó cũng có thể đúng, nhưng còn có một ý nghĩa nữa: có những ngôn ngữ ở những cấp độ khác nhau.

Ở cấp độ rõ ràng nhất, ngôn ngữ phụ thuộc vào từ ngữ nói ra, mà lời nói thì luôn luôn phải là một ngôn ngữ cụ thể, ví dụ tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Trung Quốc. Ở cấp độ này, lời nói có một sức mạnh tương đối, nhưng chúng cũng có thể đánh lừa và dối trá. Lời nói không phải lúc nào cũng là tấm gương chính xác phản chiếu trái tim. Hơn nữa, luôn luôn chúng ta không thể nào tìm được lời diễn tả khi ta cần nhất, đặc biệt trong những hoàn cảnh sâu sắc, như khi bi kịch, chết chóc và sự phản bội làm chúng ta câm bặt.

Nhưng chúng ta còn có những thứ ngôn ngữ khác: trên lời nói còn có ngôn ngữ cơ thể. Cơ thể của chúng ta còn có thể diễn tả được nhiều hơn và trung thực hơn lời nói của chúng ta. Qua cơ thể, qua điệu bộ, cử chỉ và từng dáng vẻ của cơ thể, chúng ta nói một cách sâu sắc hơn và chân thực hơn so với khi chúng ta nói bằng lời. 

Và chúng ta vẫn còn một thứ ngôn ngữ sâu sắc hơn nữa: sâu sắc hơn ngôn ngữ cơ thể, chúng ta nói bằng tâm hồn, bằng ngôn ngữ của Chúa Thánh Thần, một thứ ngôn ngữ xuyên qua lời nói và ngôn ngữ của cơ thể chúng ta. Ngôn ngữ của tâm hồn là gì?

Chúa Thánh Thần không chỉ là một bản vị trong Chúa Ba Ngôi, hết sức trừu tượng và bất khả tư nghì. Thánh Kinh nói với chúng ta rằng Chúa Thánh Thần lại rất cụ thể, có thể tư niệm, và hữu hình trong lòng nhân đức, niềm vui, bình an, kiên nhẫn, lòng tốt, đức chịu đựng, trung thành, dịu dàng, và trinh trắng. Dù có mặt hay vắng mặt, tất cả cất tiếng nói với chúng ta to và rõ ràng hơn bất kỳ lời nói hay cử chỉ, điệu bộ nào của chúng ta.

Rốt lại, chúng ta không ai bị ai lừa dối cả. Chúng ta nghe không phải bằng lời nói, không phải bằng cử chỉ điệu bộ, và không phải bằng những gì chúng ta cố tình nói rõ với nhau. Trái tim nghe thấy tiếng trái tim và tâm hồn nhận ra nhau bất cứ khi nào và nơi nào tâm hồn hiển lộ. Vậy nên nhiều người chúng ta say sưa nói về tình thương của chúng ta đối với người nghèo, nhưng người nghèo không nghe thấy chúng ta nói, không hiểu được chúng ta, không tìm lại quanh chúng ta, kể cả khi chúng ta nói một cách hoàn hảo bằng thứ ngôn ngữ mẹ đẻ của họ.

Khi làm việc ở châu Mỹ La-tinh, Lorenzo Rosebaugh chỉ bập bõm nói thứ tiếng Tây Ban Nha sai bét và thứ tiếng Bồ Đào Nha sai bét. Vậy mà người nghèo ở đó cũng nghe được cha và hoàn toàn hiểu những gì cha nói. Cha không hề nói chút tiếng Pháp nào mà cha vẫn có thể ngồi trên bậc tam cấp nhà thờ ở Pháp và quây tụ quanh mình những người vô gia cư chỉ nói được tiếng Pháp – và họ hiểu cha một cách rõ ràng như thể đang nghe ngôn ngữ mẹ đẻ của mình.

Đó là ngôn ngữ của Lễ Hiện Xuống.

Đam mê và trong trắng

Giáo hội thì không hiểu đam mê còn thế gian thì không hiểu trong trắng. Đó là câu châm ngôn mà một người bạn của tôi thích dùng để lý giải tại sao bối cảnh luân lý xung quanh vấn đề tình dục lại như hiện nay, phân cực, không khoan nhượng, đặc biệt không trang bị đủ để mời gọi chúng ta đánh giá đời sống tình dục một cách trung thực.

Tính dục lành mạnh dựa một cách cân bằng trên cả đam mê và trong trắng, nhưng đây là một sự thật mà cả Giáo hội lẫn thế gian còn đang chật vật tranh đấu để chấp nhận. Mỗi bên có xu hướng nhấn mạnh chỉ một trong hai vế.

Ít nhà phân tích nào lập ngôn được rõ ràng và sâu sắc (với hiểu biết thật sự về cả hai vế) như Charles Taylor trong tác phẩm đồ sộ của mình về Văn hoá Tây phương, cuốn Thời đại Thế tục (A Secular Age). Trong chương Thời đại của sự Chân thực (The Age of Authenticity) của cuốn sách, Taylor phân tích rằng cuộc cách mạng tình dục chính xác là một cuộc kiếm tìm chân thực, cho dù cuộc tìm kiếm đó đôi lúc đã bị lạc lối. Ông cho rằng không phải chỉ chủ nghĩa hưởng lạc và tính nổi loạn đã và đang thúc đẩy cuộc cách mạng tình dục và đang thay đổi triệt để cách nghĩ của thế hệ hiện nay về tình dục. Ông nói rằng chúng ta không nên coi cuộc cách mạng tình dục đơn thuần là sự bùng phát của thứ chủ nghĩa hưởng lạc đã trở nên thái quá, như thể thực tại của cuộc cách mạng đó sẽ khớp với ngôn ngữ của Hugh Hefner, ông chủ tạp chí Playboy. Cuộc cách mạng tình dục khởi phát từ những gắng gổ của nền văn hóa chúng ta nhằm làm một số điều. Đó là những điều gì?

Đó là gắng gổ khôi phục sự tốt đẹp của bản thân nhục dục, để khẳng định sự bình đẳng của hai giới, để giải phóng phụ nữ khỏi những vai trò rập khuôn định kiến về giới, để khẳng định tình dục là tự do (lý tưởng phóng đãng), và nhấn mạnh quan niệm rằng tính dục là một phần cốt yếu trong bản sắc của một người (như có thể thấy trong ngôn ngữ nói về sự giải phóng cho người đồng tính). Nội dung cuộc cách mạng tình dục phong phú hơn là các hình ảnh trong tạp chí Playboy hay trong ý niệm đơn giản (mà hiện đang lan tràn trong xã hội chúng ta) rằng tình dục có thể được cắt phăng khỏi mối liên hệ với hôn nhân. Mặc dù chủ nghĩa khoái lạc và nổi loạn thật sự có đóng vai trò, nhưng chuyển biến lớn lao trong tập tục, quan niệm và hiểu biết tình dục của chúng ta bắt nguồn từ nhiều điều hơn là hình ảnh của Hugh Hefner và kích thích tố.
Nhưng, với việc thừa nhận như vậy, sự việc cũng cho thấy rõ ràng rằng giấc mơ về giải phóng tình dục như thể hiện trong đa số văn hóa thời nay đôi khi là ngây ngô. Những gì ban đầu tưởng như giải phóng thì nhanh chóng thành thất bại. Đã quá đủ cay đắng trong các mối quan hệ, quá đủ những cuộc đời tan nát, những vụ cố sát-tự sát, chúng cảnh cáo chúng ta trước sự kiện mà chúng ta thà không chấp nhận, đó là tình dục cắt đứt khỏi mối liên kết được thừa nhận từ lâu với những gì thiêng liêng, với cộng đoàn và cuộc sống cam kết đầu bạc răng long đôi khi hóa ra rất tệ. Tại sao? Liệu có có những khiếm khuyết cố hữu trong luân lý mới về tính dục hay không?

Đối với Taylor, luân lý mới này về tình dục không quá bị khiếm khuyết (ít nhất là ở lý tưởng cao đẹp hơn của nó) so với mức độ ngây ngô của nó. Jacques Maritain từng cho rằng chỉ có hai loại người nghĩ tình yêu là dễ dàng: một là những người trong suốt nhiều năm trời hy sinh đã trở thành thánh, và hai là những người không hề biết mình đang nói về cái gì. Tôi e rằng phần nhiều những gì ta bàn luận ngày nay về tình dục là rơi vào loại thứ hai. Taylor chỉ đơn giản trình bày rằng giấc mơ này thường hóa ra tồi tệ. Tại sao vậy? Vấn đề nằm ở đâu?

Những đứt đoạn gay go và thế tiến thoái lưỡng nan vây bủa cuộc sống tình dục con người và phần lớn bị luân thường đạo lý bỏ mặc hay coi thường, phải tự khẳng định quyền lợi của mình: việc không thể có cách sống thường xuyên phóng đãng, khó duy trì nhục cảm trong một mối quan hệ thật sự thân thiết liên tục, không thể bác bỏ hoàn toàn các vai trò của giới, và những chướng ngại to lớn trong việc nhận diện lại các vấn đề trên, ít nhất trong ngắn hạn. Đó là chưa kể tới việc tán dương sự buông thả tình dục có thể dẫn tới những cung cách mới theo đó người nam có thể coi phụ nữ như đồ vật và lợi dụng họ. Nhiều người đã nhận ra sau bao khó khăn đau khổ rằng có cả mối nguy lẫn giải thoát khi vứt bỏ đi những quy tắc ứng xử của cha mẹ họ.

Tuy nhiên, kể cả xét về thất bại mà người ta đã thừa nhận này, cũng không mấy người tìm tới nhà thờ mong được hướng dẫn cho đời sống tình dục của họ. Tại sao như vậy?
Bởi vì trước đây và hiện nay giáo hội vẫn quá e dè trong việc thể hiện thái độ đánh giá đúng đối với những yếu tố làm nền tảng cho cuộc cách mạng tình dục, vượt lên trên chủ nghĩa khoái lạc và sự nổi loạn tuổi mới lớn,

Trong đa số trường hợp, giáo hội đã bảo vệ sự trong trắng và trinh bạch, và như vậy là đúng, đồng thời, khi đưa ra lời khuyên giải ở mức cố gắng nhất, giáo hội cũng chỉ rõ đam mê thực sự phụ thuộc vào sự trong trắng như thế nào. Nhưng, trong quá nhiều trường hợp, việc bảo vệ đó là hết sức một chiều.
Đây là quan điểm của Taylor:

Người ta đang tìm kiếm những quy tắc luân lý để giúp hướng dẫn về vấn đề tính dục cho bản thân họ và con cái họ. Giáo hội cần đưa ra lời khuyên dạy của mình. Nhưng những lời khuyên dạy này không thể nào đơn giản giống y những quy tắc trước đây, ở mức nội dung liên quan của những nguyên tắc này, ví dụ sự phỉ báng tình dục, kinh hoàng trước người phóng đãng, những vai trò định sẵn cho giới, hay từ chối thảo luận các vấn đề bản sắc. Taylor, mà bản thân là người mộ đạo thường xuyên đi nhà thờ, nói thêm rằng: Thật là bi kịch khi những quy tắc mà giáo hội muốn thuyết phục mọi người theo vẫn còn (ít nhất là có vẻ vậy) bị một vài khiếm khuyết đó, thậm chí đôi khi là tất cả những khiếm khuyết đó.

Tình dục lành mạnh là vừa đam mê vừa trong trắng. Giáo hội và thế gian có thể học hỏi lẫn nhau.

Lực an ủi siêu nhiên

Vài năm trước, tôi có dự một hội thảo bàn về cuộc vật lộn cam go về lòng tin của nhiều thanh niên ngày nay. Một trong những người tham dự hội thảo, một Hiến sĩ trẻ người Canada nói tiếng Pháp, đưa ra bối cảnh này:

“Tôi làm tuyên úy cho sinh viên đại học. Họ có niềm say mê cuộc sống, với sinh lực và sắc màu mà tôi chỉ có thể ghen tị mà thôi. Nhưng thẳm sâu trong tất cả niềm say mê và sinh lực này, tôi để ý thấy họ thiếu niềm hy vọng bởi vì họ không có một lực siêu hình. Họ không có một đường lối lớn, một tầm nhìn  lớn có thể cho họ tầm nhìn vượt lên bối cảnh thăng trầm trong cuộc sống hàng ngày. Khi họ khoẻ mạnh, khi các quan hệ tốt đẹp và cuộc sống suông sẻ thì họ cảm thấy vui tươi và tràn trề hy vọng, nhưng nếu ngược lại thì họ cũng ngược lại. Khi mọi việc không được suông sẻ thì cuộc sống của họ đảo lộn. Họ không có bất kỳ điều gì có thể cho họ một tầm nhìn để vượt lên giây phút hiện tại lúc đó.”

Thực chất, có thể gọi điều anh mô tả là “sự bình an mà thế gian này đem lại cho chúng ta.” Khi Chúa Giê-su nói lời từ biệt, Người so sánh hai loại bình an: một bình an Người để lại cho chúng ta, và một  bình an mà thế gian có thể cho chúng ta. Hai loại đó khác nhau như thế nào?

Loại bình an mà thế gian có thể đem lại cho chúng ta không phải là bình an tiêu cực hay xấu xa. Đó là bình an có thực và là tốt, nhưng nó mong manh và không đủ.

Mong manh vì chúng ta có thể dễ dàng bị mất bình an đó. Bình an, như bình thường chúng ta trải nghiệm trong cuộc sống thường dựa trên cảm giác thấy mình khoẻ mạnh, được thương yêu, được an toàn. Nhưng tất cả đều mong manh. Chúng có thể trở nên hoàn toàn khác chỉ sau một lần đi khám bác sĩ, sau một cơn chóng mặt bất ngờ, những cú đau ngực bất thình lình, bị mất việc, quan hệ đổ vỡ, người thương yêu tự tử, hay nhiều những kiểu phản bội có thể khiến chúng ta choáng váng. Chúng ta gắng hết sức tìm cách bảo đảm sức khoẻ, được an toàn và các mối quan hệ tin cậy của mình, nhưng chúng ta vẫn sống với đầy âu lo vì biết rằng những điều đó luôn luôn mong manh dễ vỡ. Chúng ta sống trong bình an nhưng đầy lo lắng.

Cũng vậy, bình an mà chúng ta trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày không bao giờ đến với chúng ta mà không kèm theo bóng đen của nó. Như Henri Nouwen nói, có một tính chất buồn thâm nhập trong mọi giờ phút của cuộc sống chúng ta, vì vậy kể cả trong những giây phút hạnh phúc nhất của mình vẫn còn thiếu điều gì đó. Trong mọi nỗi hân hoan đều có nhận thức về sự giới hạn. Trong mỗi một thành công đều có nỗi sợ hãi bị ganh ghét. Trong từng mối quan hệ bạn hữu đều có một khoảng cách. Trong từng cái ôm đều có nỗi cô đơn. Trong cuộc đời này không có cái gì là niềm vui hoàn toàn, nguyên vẹn. Trong từng mẩu sự sống đều có phớt màu cái chết. Thế gian này có thể cho chúng ta  bình an, nhưng nó không bao giờ cho chúng ta một cách trọn vẹn.

Chúa Giê-su trao tặng một bình an không mong manh, một bình an vốn đã vượt lên trên sợ hãi và lo lắng, không phụ thuộc vào việc cảm thấy khoẻ mạnh, an toàn và được thương yêu ở thế gian này. Bình an này là gì?

Vào bữa ăn tối cuối cùng lúc Người sắp chết, Chúa Giê su để lại bình an cho chúng ta. Đó là gì? Đó là sự bảo đảm vô điều kiện rằng chúng ta được nối với gốc rễ sự sống theo một cách mà không điều gì, tuyệt nhiên không một điều gì, có thể chia cắt – dù ốm đau bệnh tật, dù bị phản bội, thậm chí kể cả chính tội lỗi của ta. Chúng ta được thương yêu vô điều kiện và được bao bọc bởi chính nguồn sự sống, và không gì có thể thay đổi điều đó. Không gì có thể thay đổi tình yêu vô điều kiện của Chúa dành cho chúng ta.

Đó là lực siêu hình mà chúng ta cần có để giữ hướng nhìn vững vàng qua những thăng trầm trong cuộc sống. Chúng ta giống như các diễn viên trong một vở kịch. Kết cục của câu chuyện đã được viết sẵn, và đó là một kết cục hạnh phúc. Chúng ta biết rằng cuối cùng mình sẽ hân hoan thắng lợi, cũng như biết mình sẽ gặp vài màn gập ghềnh gian khổ trước khi tới kết cục đó. Nếu chúng ta luôn nhớ như vậy, chúng ta có thể bền gan hơn để chịu đựng những thảm kịch chết người đang chờ chúng ta. chúng ta được bảo bọc vô điều kiện bởi chính nguồn sống – chính Chúa.

Nếu đó là sự thật, và đúng là như vậy, thì chúng ta được bảo đảm chắc chắn cho cuộc sống, cho sự toàn vẹn và hạnh phúc vượt lên trên mất mát tuổi thanh xuân, mất mát sức khoẻ, mất thanh danh, bạn bè phản bội, người thương yêu tự tử, và kể cả vượt lên trên những tội lỗi và phản bội của chính chúng ta. Cuối cùng, như Julian vùng Norwich nói, mọi chuyện rồi sẽ ổn, và rồi mọi chuyện đều ổn, mọi cách hiện hữu đều sẽ ổn.

Và chúng ta cần tới sự bảo đảm này. Chúng ta sống trong nỗi âu lo thường trực vì cảm thấy sức khoẻ, an toàn, các mối quan hệ đều mong manh, rằng bình an của chúng ta dễ dàng biến mất. Chúng ta cũng sống trong nỗi hối hận về những tội lỗi và phản bội của mình. Chúng ta sống trong nỗi bứt rứt băn khoăn về những mối quan hệ đã đổ vỡ hay những người thân yêu suy sụp vì cay đắng hay ra đi bằng cách tự tử. Bình an của chúng ta mong manh và đầy lo lắng.

Chúng ta cần nhận thức sâu sắc hơn món quà của Chúa Giê-su trao tặng cho chúng ta trước khi Người từ biệt: Thầy để lại bình an cho các con, một bình an không ai có thể tước mất của các con: Hãy biết rằng các con được thương yêu và bảo bọc vô điều kiện.