RonRolheiser,OMI

Chiến đấu với phúc lành của cha tôi

Cha tôi qua đời khi tôi hai mươi ba tuổi, là chủng sinh còn non nớt, còn bỡ ngỡ học hỏi về cuộc đời. Dù ở tuổi nào đi nữa, mồ côi cha cũng là điều khó chịu đựng, và nỗi buồn của tôi còn tăng gấp bội vì lúc đó tôi chỉ mới bắt đầu hiểu và cảm kích cha tôi.

Chỉ sau này tôi mới nhận ra rằng tôi không còn cần tới ông nữa, dù tôi vẫn còn tha thiết mong có ông. Những gì phải trao truyền cho tôi, ông đã trao truyền. Tôi đã nhận được ơn phước của ông, và đó là những gì từ con người thực của ông, và những gì mà rốt cuộc chính là tặng phẩm của cuộc đời ông dành cho tôi.

Tôi hiểu rằng tôi đã nhận được ơn phước của ông. Cuộc đời tôi và hướng đi của tôi đã khiến ông mãn nguyện và tự hào. Như tiếng nói của Chúa Cha cất lên trong lễ rửa tội của Chúa Giêsu, tiếng nói của cha tôi đã nói với tôi: Con là con của cha, người mà cha hoàn toàn mãn nguyện. Đó là tất cả những gì một con người có thể xin được từ cha mình.

Ông đã để lại gì cho tôi và con cháu của ông? Có quá nhiều nên không thể nêu ra hết, nhưng trong số đó có những điều này: Ông là một trong những người thật sự đức độ nhất mà tôi từng biết, người biết kiềm chế bản thân, giữ đạo đức tối đa nhất có thể. Ông không phải là người cho rằng mình chỉ là người, nên nếu vi phạm một vài luật lệ là chuyện bình thường. Ông từng nói với chúng tôi câu bất hủ này: “Ai cũng có thể cho mình thấy nhân tính của họ; nhưng ba cần ai đó cho ba thấy thiên tính!” Ông mong chờ bạn đừng thất bại, sống xứng đáng với những gì mà lòng tin và đức hạnh đòi hỏi ở bạn, và không lấy cớ này cớ nọ. Nếu chúng tôi, những người thân trong gia đình ông, có hấp thụ được điều gì từ sự hiện diện của ông, thì đó chính là bản tính ngoan cường như vậy về đạo đức.

Ngoài ra, ông còn có bản tính đúng mực không hề lay chuyển, gần như là bệnh. Không bao giờ có cơn bộc phát kích động hay điên rồ nào, cũng không hề trầm cảm, không dao động, không cần phải đoán hôm nay ông vui buồn như thế nào. Với bản tính vững vàng như vậy, cộng thêm sự yểm trợ của mẹ tôi, ông đã tạo cho chúng tôi một mái nhà, luôn luôn là cái kén an toàn, một nơi chốn đôi khi tẻ nhạt, nhưng luôn luôn an toàn. Khi nghĩ về mái nhà nơi tôi đã lớn lên, tôi hình dung nó như tổ ấm an toàn, nơi tôi có thể ngồi nhìn ra cơn bão bên ngoài, qua khung cửa sổ ấm áp, bình an.

Vì gia đình chúng tôi đông nên tình yêu thương và chăm chút của ông phải san sẻ với rất nhiều anh chị em khác của tôi. Tôi chưa bao giờ nghĩ về ông như cha “của tôi”, mà luôn là cha “của chúng tôi”. Có lẽ, hơn bất kỳ điều gì khác, điều đó đã giúp tôi thấu hiểu được thách thức đầu tiên trong bài Ca tụng Chúa, đó là Chúa là Cha của “Chúng ta”, một người mà chúng ta chia sẻ với nhiều người khác, chứ không phải là một thực thể của riêng. Ngoài ra, gia đình của cha tôi mở rộng ra không chỉ bao gồm những đứa con ruột của ông. Tôi đã sớm hiểu được rằng không nên cự lại việc ông không thể lúc nào cũng ở bên cạnh chúng tôi, ông có những lý do chính đáng để ông phải đi: công việc, cộng đồng, nhà thờ, bệnh viện, họp hội đồng cố vấn trường học, các hoạt động chính trị. Ông là rường cột của một gia đình rộng lớn hơn gia đình nhỏ của chúng tôi.

Cuối cùng, và nhất là ông đã truyền ngọn lửa mê bóng chày cho các anh chị em tôi, Đây là điểm nổi bật biểu lộ bản năng tự do của ông, nơi tâm hồn ông có thể tận hưởng những giây phút nghỉ ngơi.

Nhưng ơn phước không bao giờ chỉ thuần là phúc lành, cha tôi cũng là con người, và điểm mạnh nhất của một người cũng lại là điểm yếu nhất của người đó. Trong tất cả đường gân thớ thịt thấm đẫm đức hạnh và vững vàng như đá đó, lại có sự kín kẽ mà đôi khi không làm cho ông được uống trọn vẹn niềm vui sống dạt dào. Mỗi cậu con trai đều dõi mắt nhìn theo bước nhảy của cha mình và đánh giá ông một cách vô thức về một vài tính chất của ông: lưỡng lự, uyển chuyển, buông thả, phô trương, tỏ ra đúng mực, vô trách nhiệm. Cha tôi chưa bao giờ uyển chuyển trong bước nhảy của ông, và tôi thừa hưởng bước nhảy này, điều này làm cho tôi cảm thấy xót xa trong tận sâu thẳm. Hồi nhỏ cũng như khi đã lớn, có nhiều khi, trong một thoáng, tôi cảm thấy tôi thà đổi cha tôi lấy một người cha có bước nhảy uyển chuyển hơn, một người nào đó bớt kín kẽ hơn trước niềm vui sống dạt dào.

Và đó là phần nào trong nỗ lực chiến đấu của tôi để thọ nhận đầy đủ phúc lành của cha. Tôi thường nhớ dòng thơ trứ danh của William Blake trong bài Infant Sorrow (Nỗi buồn phiền con trẻ): “Vật lộn trong vòng tay của cha tôi”. Với tôi, câu đó nghĩa là vật lộn với việc đôi khi cha tôi không thể đơn giản buông trôi và thụ hưởng trọn vẹn tặng phẩm của cuộc đời.

Nhưng, nếu như có sự lưỡng lự, thì trong vũ điệu cuộc đời của cha tôi không hề có sự vô trách nhiệm, dù cho đôi khi điều này có nghĩa là đứng hẳn bên ngoài điệu nhảy. Tôi đau buồn ở tang lễ cha tôi, nhưng tôi cũng tự hào nữa, tự hào trước sự kính trọng vô cùng mà mọi người dành cho cha, bởi cách ông đã sống trong cuộc đời này. Ngày đưa tang cha, không hề có ai phán xét bản tính kín kẽ của ông.

Tính tới mồng 5 tháng 1 năm nay, số ngày tôi sống trên cõi đời này đã nhiều hơn số ngày cha tôi sống. Giờ đây tôi đã già hơn ông trước kia. Nhưng tôi vẫn sống trong phước lành của ông, đang nỗ lực một cách có ý thức và vô thức để vươn lên, để vinh danh những gì ông đã trao truyền cho tôi, cha tôi. Và điều đó phần nhiều là tốt đẹp, mặc dù tôi vẫn có những phút giây thấy mình đứng bên ngoài niềm vui sống, kín kẽ, mang vẻ mặt của cha tôi, nhìn một cách ghen tị những ai có bước nhảy uyển chuyển hơn tôi – tôi, mãi mãi là con trai của cha tôi.

Minh định sự thật

Ngày nay, nhiều người trong chúng ta có khuynh hướng rụt rè trước bất kỳ một loại kiến thức nào tự cho là khoa học. Ai dám cãi lại khoa học? Ai dám cãi lại các chuyên gia? Rất ít người dám, và người nào dám cãi thì dễ bị gạt đi, bị coi là lạc hậu hoặc kém hiểu biết.

Vậy là trong cuộc sống chúng ta, chuyên môn tinh thông khách quan thường đứng cao hơn tuệ nhãn đạo đức, thậm chí còn tệ hơn nữa là đơn giản đánh đồng nó với nhận thức đạo đức. Sự thật là sự thật, khoa học chứa đựng sự thật, và khoc học đánh bại những mối quan tâm đạo đức của chúng ta (mà trước những tuyên bố khoa học có thể bị làm cho có vẻ thiển cận và bắt nguồn từ sợ hãi). Vậy nên quan niệm phổ biến là chúng ta cần lắng nghe những người tinh thông khoa học khi nào cần nhận thức về sự thật.

Nhưng liệu có phải vấn đề thật sự đơn giản như vậy không? Và ai thật sự là người tinh thông? Nhờ đâu mà một người trở thành người tinh thông? Một tấm bằng hậu đại học? Là người mẹ chăm sóc nuôi nấng gia đình giỏi? Là nhà nghiên cứu đáng kính? Sống một cuộc đời tốt đẹp? Vững vàng và trung thành? Có nhiều kiểu người tinh thông khác nhau.

Ngoài ra còn có vấn đề lòng chính trực cá nhân, và làm thế nào mà điều này liên quan tới “chuyên môn tinh thông”. Chúng ta sẽ nói như thế nào đây về sự thật của một người có cái nhìn khoa học sâu sắc nhưng sống một cuộc sống thiếu lành mạnh? Cuộc sống riêng tư của một người có ảnh hưởng tới việc nghiên cứu và chuyên môn nghề nghiệp của người đó không?

Nhiều nhà tư tưởng vĩ đại – triết gia, nhà thần học, và cả các nhà khoa học – sẽ khẳng định là có. Sự thật không bao giờ có thể tách rời tuệ nhãn đạo đức vì sự thật và đạo đức thật sự là nền tảng của chân lý. Vì vậy lòng chính trực cá nhân hay việc thiếu lòng chính trực cá nhân ở bất kỳ nhà nghiên cứu hay học giả nào đều ảnh hưởng cách nào đó tới chuyên môn tinh thông của người này, dù điều đó nhìn bên ngoài có thể khó nhận biết? Ảnh hưởng ra sao?

Aristotle chẳng hạn, ông đặt ra khái niệm mà ông gọi là phronesis – tuệ nhãn để nhận định đâu là cứu cánh, đâu là phương tiện; khái niệm này dạy rằng không thể tách rời việc khuyên dạy về sự thật với việc sống đạo đức. Đối với Aristotle, tri thức chân chính, loại tri thức mà cuối cùng khiến bạn trở thành một con người hoàn thiện hơn, không thể bắt nguồn từ một người mà lý thuyết tri thức và đời sống đạo đức cá nhân lại không hòa điệu tận căn với nhau.

Thực sự, Albert Einstein đã nói rằng không thể thực hiện nghiên cứu khoa học mà không nỗ lực rất nhiều để tìm hiểu tự thân. Chúng ta là ai và nhãn quan của chúng ta về thực tại như thế nào sẽ luôn luôn góp phần quyết định cách chúng ta nhìn thế giới và xác lập bất kỳ lý thuyết nào về thế giới. Mà việc chúng ta là ai và nhãn quan của chúng ta về thực tại lại luôn luôn được định hình một phần và chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi cuộc sống đạo đức của chính chúng ta. Cuộc sống đạo đức của chúng ta ảnh hưởng sâu sắc tới các nghiên cứu của chúng ta vì cuộc sống đó góp phần hình thành nhãn quan của chúng ta.

Vị thánh bí ẩn thời trung cổ, Hugo of St. Victor, có một châm ngôn về điều này như sau: Tình yêu là đôi mắt nhìn! Đối với ông, nhãn quan của chúng ta chủ yếu được hình thành bởi hoặc là tình thương hoặc lòng cay đắng vốn luôn luôn nằm trong con người mình. Khi nhìn thế giới với tình thương yêu, chúng ta thấy nó thế này; khi nhìn thế giới với niềm cay đắng, chúng ta thấy nó thế khác. Điều này cũng đúng với mỗi nhà nghiên cứu: Cứ cho rằng toán học vượt lên trên cảm xúc, nhưng cái thực tại mà chúng ta áp dụng toán học đó lại không phải vậy.

Cuối cùng, và không hề kém phần quan trọng, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta rằng chúng ta nhìn thế giới chỉ chính xác trong chừng mực trái tim chúng ta thanh sạch đến đâu. Khi nói như vậy, Người không chỉ nói về việc cần có trái tim trong sạch để nhận thức đúng đắn về mặt tôn giáo, mà Người còn khẳng định rằng sự thanh sạch của trái tim là điều kiện tiên quyết nhằm nhận thức được đúng đắn theo mọi khía cạnh, tôn giáo, đạo đức, đời sống thực tế, và khoa học.

Những gì chúng ta nhìn thấy qua kính hiển vi được nhuốm một phần bởi cảm nhận của chúng ta về cuộc sống nói chung, mà cảm nhận của chúng ta về cuộc sống nói chung lại nhuốm đậm bởi cách chúng ta sống đạo đức như thế nào.

Vậy bài học ở đây là gì?

Bài học ở đây không phải là những gì mà bạn đôi khi nghe thấy từ các giới chủ trương chính thống, ví dụ như chúng ta đừng có nghe các nhà khoa học, các học giả hàn lâm hay các chuyên gia kỹ thuật nữa, mà cần phải cố gắng đấu lại quan điểm của họ bằng cách viện tới Thánh Kinh. Rằng nhiệm vụ của chúng ta không phải là bảo vệ những kết quả nghiên cứu của các học giả đó, rằng đừng nghiên cứu nữa.

Đúng hơn, những bài học là như sau:

Trước hết, kính trọng những kết quả khoa học và nghiên cứu chân chính, kể cả dù không phải lúc nào bạn cũng mê mẩn nguồn gốc tạo ra chúng. Mọi sự thật đều có tác giả duy nhất, là Thượng đế. Thượng đế là nguồn gốc tạo ra Kinh Thánh, và Thượng đế cũng là nguồn gốc của khoa học và các kết quả nghiên cứu khoa học. Hãy chấp nhận sự thật dưới mọi hình thức biểu hiện của nó, nhưng đừng rụt rè trước lời khuyên dạy của những chuyên gia nào tuyên bố mình là khách quan khoa học nhưng không thừa nhận những hạn chế của họ, những phán xét ngầm của riêng họ, những định kiến của riêng họ, đặc biệt khi sự thật đụng chạm tới những vấn đề sức khỏe, nghĩa là về đạo đức và hạnh phúc. Một nhà nghiên cứu giỏi thừa nhận những yếu tố của cuộc tìm kiếm tự thân, là người khiêm tốn khi nói về sự thật.

Tiếp theo, hãy thừa nhận rằng sự tinh thông chuyên môn là uy tín rộng lớn xuất phát từ nhiều giới khác nhau. Có người tinh thông trong khoa học, nhưng cũng có người tinh thông về điều thiện, về tình thương yêu, tình bạn, lòng tử tế, lòng trung thành, hy vọng, kiến tạo hòa bình, về lòng quả cảm, về cầu nguyện, về lòng trung thực, về sự trong trắng, về thẩm mỹ, về đạo hạnh, và về óc hài hước. 

Khi tìm kiếm những vì sao để dẫn dắt cuộc đời của bạn, hãy nhìn cho kỹ và nhìn khắp hết các thiên hà. Đừng nhốt mình vào một góc nhỏ hẹp nào cả. Có rất nhiều vì sao, mỗi một vì sao đều tỏa ra một thứ ánh sáng tinh thông nhất định.

Chạm đến người thân qua Thánh Thể

Hai mươi tám năm về trước, khi bắt đầu viết mục này, tôi viết một bài nhỏ với tiêu đề “Gắn kết và xa rời trong lòng Thánh Thể”. Trong tất cả những bài tôi từng viết, có lẽ bài đó, tôi đã nhận được nhiều hồi âm nhất.

Khái niệm ở đây là gì? Làm thế nào chúng ta có thể gắn kết và rời xa nhau trong lòng Thánh Thể? Đây là những lời cốt yếu:

Hãy tưởng tượng bạn là cha hay mẹ của một đứa con không còn đi nhà thờ nữa, không còn cầu nguyện nữa, không còn giữ luật Hội Thánh nữa, không còn tôn trọng long tin của bạn nữa, thậm chí có lẽ còn công khai nói không biết có Chúa hay không hoặc công khai tuyên bố mình vô thần. Bạn có thể làm gì đây?

Bạn có thể tiếp tục cầu nguyện cho con cái và sống theo niềm tin tôn giáo của mình, hy vọng tấm gương cuộc đời bạn sẽ có sức thuyết phục khi những lời nói của mình không còn tác dụng nữa. Bạn có thể làm như vậy, nhưng vẫn có thể làm được hơn thế.

Bạn có thể tiếp tục thương yêu và tha thứ con mình, và chừng nào chúng còn nhận được tình thương yêu và lòng tha thứ đó thì chúng còn đang nhận được tình thương yêu và thứ tha của Chúa. Sự tiếp xúc của bạn là tiếp xúc của Chúa. Vì bạn là một phần của Thánh Thể, nên khi bạn chạm tới con mình nghĩa là Chúa Kitô đang chạm tới con bạn. Khi bạn yêu thương chúng là khi Chúa Kitô đang yêu thương chúng. Khi bạn tha thứ cho chúng là khi Chúa Kitô  đang tha thứ cho chúng, bởi vì sự tiếp xúc của bạn chính là sự tiếp xúc của giáo hội.

Một phần của điều kỳ diệu Nhập Thể là sự kiện chúng ta có thể làm được cho nhau những gì Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta. Chúa Giêsu trao cho chúng ta quyền năng đó: Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy.… Các con tha thứ cho ai thì người đó sẽ được tha thứ.

Nếu bạn là một phần của Thánh Thể, thì khi bạn tha thứ cho ai, người đó sẽ được tha thứ. Nếu bạn thương yêu ai, người đó sẽ được Chúa Kitô thương yêu, bởi vì Thánh Thể không chỉ là nhiệm thể Chúa Giêsu mà còn là nhiệm thể của tín hữu. Được một tín hữu chạm tới, thương yêu và tha thứ là được Chúa Kitô chạm tới, thương yêu và tha thứ. Địa ngục có lẽ là khi người nào đó tự đặt mình ra hẳn ngoài vòng thương yêu và tha thứ làm cho họ không còn có thể được thương yêu và tha thứ nữa. Và đây không hẳn chỉ là vấn đề khước từ rõ ràng về tôn giáo hay luân lý, mà đúng hơn là vấn đề khước từ tình thương yêu từ cộng đồng những người tha thiết. Nói một cách đơn giản hơn là:

Nếu một người bạn thương yêu đi xa khỏi Giáo hội, không còn tin và giữ đạo, thì chừng nào bạn vẫn thương yêu người đó và vẫn giữ người đó trong tình thương yêu và tha thứ, thì người đó đang chạm tới “mép áo của Chúa Kitô”, đang được ôm vào Thánh Thể, và đang được Thiên Chúa thứ tha, bất chấp mối quan hệ chính thức bên ngoài của người đó với giáo hội như thế nào. Làm sao như vậy?

Họ đang chạm tới Thánh Thể vì sự tiếp xúc của bạn là sự tiếp xúc của Chúa Kitô. Khi bạn chạm tới ai, người đó đang được liên kết với Thánh Thể, trừ phi người đó chủ động khước từ tình thương yêu và sự tha thứ của bạn. Và điều này vẫn đúng kể cả sau khi chết: Nếu một người nào thân thiết với bạn chết đi trong một tình trạng mà ít nhất nhìn bề ngoài là đang không hòa hợp với Giáo hội, thì tình thương yêu và sự tha thứ của bạn sẽ tiếp tục gắn người đó với Thánh Thể và sẽ tiếp tục là niềm tha thứ cho người đó, kể cả sau khi chết.

G.K. Chesterton từng diễn đạt điều này trong một câu chuyện ngụ ngôn như sau: “Một người đàn ông hoàn toàn không đếm xỉa gì tới những chuyện tâm linh chết và xuống địa ngục. Các bạn của anh trên trần gian rất nhớ anh. Vị đại diện kinh doanh của anh tìm xuống tận các cổng địa ngục để xem coi có khả năng nào đem được anh về lại trần gian hay không. Nhưng dù người đó cầu xin để các cánh cửa được mở ra, nhưng các thanh sắt vẫn đóng im ỉm. Linh mục của anh cũng tới và phân trần: “Anh ta không hẳn là người xấu đâu; nếu có thời gian thì chắc hẳn anh ta đã trưởng thành. Xin hay thả anh ta ra!” Cánh cửa vẫn ngoan cố khóa chặt trước mọi lời cầu khẩn. Cuối cùng, mẹ của anh đến, bà không xin thả anh ra. Giọng nhỏ nhẹ, với vẻ nghẹn ngào là lạ, bà nói với Xa-tăng: “Để tôi vào”. Ngay lập tức, hai cánh cửa to lớn mở tung ra. Bởi vì tình thương yêu thấu tận tới cổng địa ngục và cứu rỗi cho người chết.”

Trong nhập thể, Thiên Chúa là bằng xương bằng thịt như con người: trong Chúa Giêsu, trong Thánh Thể và trong tất cả những ai có đức tin chân thành. Sức mạnh và lòng thương vô vàn từ Chúa Giêsu vẫn luôn luôn ở với chúng ta trong thế giới này, nhưng tối thiểu chúng ta phải kích động nó. Chúng ta là Thánh Thể. Những gì Chúa Giêsu làm cho chúng ta, chúng ta có thể làm cho nhau. Tình thương yêu và lòng tha thứ của chúng ta là sợi dây kết nối người thân yêu chúng ta với Chúa, với sự cứu rỗi, với cộng đoàn các thánh, kể cả khi những người thương đó không còn đi trên con đường đức tin nữa.

Quá đẹp để không thể tin là thật được phải không? Vâng, chắc chắn như vậy. Nhưng còn có cách nào khác để nói về huyền nhiệm Nhập Thể!

Nét phong phú của huyền nhiệm Thiên Chúa

G.K. Chesterton từng nói một trong những lý do ông tin vào Ki-tô giáo là vì Ki-tô giáo có đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi. Nếu Ki-tô giáo do người thường dựng nên thì ở trọng tâm của nó hẳn đã không có cái khái niệm khó có thể nắm bắt hay giải thích này được: đó là ý niệm Thiên Chúa tồn tại như nhất thể nhưng lại ở trong ba bản vị.

Chúng ta hiểu Ba Ngôi như thế nào đây? Chúng ta không hiểu được! Thiên Chúa, theo định nghĩa, là không thể nào mô tả được, vượt ra ngoài nhận thức, ngoài sức tưởng tượng, không thể diễn tả được bằng lời. Đức tin của ki-tô hữu vào Thiên Chúa Ba Ngôi càng cho thấy huyền nhiệm về Thiên Chúa phong phú như thế nào, và trải nghiệm của chúng ta về Thiên Chúa luôn luôn phong phú hơn nhận thức và lời lẽ của chúng ta có về Thiên Chúa.

Đây là chuyện hiển nhiên trong lịch sử tôn giáo. Ngay từ thuở hồng hoang, con người đã luôn luôn trải nghiệm Thượng đế và đã tôn thờ Thượng đế. Tuy nhiên, cũng ngay từ thuở ban đầu đó, con người đã có cảm giác rằng Thượng đế là quá sức phong phú và hết-sức-vượt-ra-ngoài bất kỳ một dạng phân loại duy nhất nào, nên không một khái niệm nào của con người có thể phản ảnh hết được. Vì vậy, đa số người cổ xưa theo thuyết đa thần. Họ tin rằng có nhiều vị nam thần và nữ thần. Họ có trải nghiệm về năng lượng thiêng liêng và nhu cầu tán tụng năng lượng thiêng liêng đó trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, có các vị thần nam nữ theo từng lĩnh vực. Vì vậy, họ có các nam thần và nữ thần dành cho từng ước muốn và hoàn cảnh cụ thể, từ chiến tranh, trồng trọt mùa màng, tình dục, tới việc hiểu được vì sao cha không ban phước lành cho con…, luôn luôn có một vị nam thần và nữ thần nào đó để người ta hướng tới.

Đôi khi họ tin vào một thượng đế tối cao duy nhất, là người thống trị hết thảy các vị thần thấp hơn, nhưng họ cũng cảm nhận rằng năng lượng thiêng liêng này là một thực tại quá phong phú tới mức không thể bó hẹp trong một hiện thể duy nhất. Họ cũng tin rằng đôi khi các vị thần gây chiến với nhau. Các vị nam thần và nữ thần cũng thỉnh thoảng dính tới cuộc sống của người trần, dàn xếp những thỏa thuận đặc biệt với người trần, yêu đương, và thậm chí đôi khi còn có con với người trần.

Nhiều trong số những câu chuyện huyền thoại mạnh nhất từng được kể xuất phát từ trải nghiệm về tính chất phong phú vô biên của Thượng đế và sự bất lực của người xưa trong việc diễn đạt theo bất kỳ một nhận thức nào về Thượng đế và hoạt động của Thượng đế. Dù đa thần giáo và các câu chuyện huyền thoại thời cổ đại có nói gì đi nữa về các vị thần nam nữ, thì những cách hành đạo thời cổ đại và các tín điều khó tin của chúng đều cho thấy trải nghiệm của con người về Thượng đế quá phong phú, không thể nào biểu đạt hết, vượt ra ngoài sức tưởng tượng và ngôn ngữ quá đơn giản của con người. Người cổ đại tin rằng những trải nghiệm của họ gợi cho biết có nhiều vị thần hiện hữu.

Sau đó xảy ra một chuyển biến hàng loạt: Do Thái giáo, và ngay sau đó là Ki-tô giáo và Hồi giáo đưa ra một tín điều mạnh và rõ ràng rằng chỉ có một Thượng đế duy nhất. Từ đây, tất cả quyền năng và năng lượng thiêng liêng được nhìn nhận là phát sinh từ một nguồn duy nhất, độc thần, Gia-vê, Cha của chúa Giêsu, Allah. Không còn có vị nam thần hay nữ thần nào nữa.

Nhưng từ thời điểm chúa Giêsu phục sinh, các ki-tô hữu bắt đầu đấu tranh với độc thần giáo. Họ tin rằng chỉ còn một Thiên Chúa duy nhất, nhưng trải nghiệm Thiên Chúa của họ đòi hỏi họ tin rằng Thiên Chúa này bằng cách nào đó là “ba”. Nói một cách đơn giản, khi Chúa Giêsu sống lại, các ki-tô hữu lập tức gán thiên tính cho người, nhưng không coi người là Chúa Cha. Chúa Giêsu được hiểu là Thiên Chúa, nhưng một cách nào đó lại khác so với Chúa Cha. Hơn nữa, trong trải nghiệm này, họ lại cảm nhận một năng lượng thiêng liêng thứ ba mà họ không thể nào đồng nhất hoàn toàn với Chúa Giêsu hay Chúa Cha, đó là Chúa Thánh Thần.

Trải nghiệm này khiến họ thắc mắc và đôi khi lúng túng: Họ là những người độc thần giáo, một mình Thiên Chúa là Thiên Chúa. Vậy nhưng Chúa Giêsu cũng là Thiên Chúa, và Chúa Thánh Thần cũng vậy. Trải nghiệm của họ về ân sủng và hành động của Thượng đế trên thế giới không tương thích với nhận thức quá đơn giản của họ về độc thần.

Thượng đế là nhất thể, vậy nhưng Thượng đế cách nào đó là ba. Làm sao để dung hợp hai điều này? Các kitô hữu phải mất ba trăm năm, cuối cùng mới tìm ra được một thể thức vinh danh được tính phong phú của trải nghiệm Ki-tô về Thiên Chúa. Công đồng Nicea vào năm 325 đã cho chúng ta thể thức đức tin để chúng ta theo ngày nay: Chỉ cóù một Thiên Chúa trong ba bản vị; trừ việc họ viết thể thức đó bằng tiếng Hy Lạp và từ ngữ trong tiếng đó mang nghĩa đen là Thượng đế là một thực thể trong ba quan hệ hiện hữu.

Thể thức này không giúp chúng ta thấy rõ ràng hoàn toàn. Không thể thức nào có thể nắm bắt thực tại về Thượng đế, bởi lẽ Thượng đế quá phong phú, không thể nào nắm bắt được, thậm chí một nửa cũng không được, dù cho bằng trí tưởng tượng, tư tưởng hay từ ngữ. Thượng đế mà vô thần giáo phủ nhận chính là một Thượng đế qua khái niệm, một Thượng đế bó buộc trong một bức tranh. Rốt cuộc, vô thần giáo ít trung thành với trải nghiệm của con người hơn so với đa thần giáo, vốn cảm nhận một cách đúng đắn hơn về các vị thần, nam thần và nữ thần, ẩn trong từng phiến đá.

Điều này hướng chúng ta đến cái gì?

Sự khiêm nhường. Tất cả chúng ta, tín hữu lẫn vô thần, cần phải khiêm nhường hơn khi nói về Thượng đế. Ý niệm về Thượng đế cần được trải rộng chứ không phải thu hẹp sức tưởng tượng. Trải nghiệm thực sự của chúng ta về Thượng đế, cũng giống như đa thần giáo thời cổ xưa, sẽ luôn luôn lấn át hết mọi khái niệm đơn giản quá mức về Thượng đế. Tạ ơn Chúa vì tính phức tạp vi tế của tín điều Ba Ngôi!

Thứ ngôn ngữ sâu sắc hơn

Cách đây một năm, ở ngoại ô thành phố Guatemala, cha Lorenzo Rosebaugh, một nhà truyền giáo dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, bị bắn chết khi đang lái xe với một số nhà truyền giáo khác tới một cuộc họp cộng đoàn. Có lẽ sẽ không bao giờ biết được động cơ thật sự của kẻ giết cha. Mới nhìn qua, sự việc dường như không khác gì một vụ bạo lực cướp của giết người, nhưng với hoàn cảnh cuộc đời của Lorenzo và cuộc chiến đấu trọn đời của cha vì công lý cho người nghèo, thì bất kể ai, tôi cũng không phải là ngoại lệ, đều muốn tin rằng việc cha bị bắn không chỉ là chuyện có mặt không đúng nơi đúng lúc. Có quá nhiều thứ gợi cho thấy đây không đơn thuần là một tai nạn. Nếu không có vấn đề gì khác, cái chết tử thương này một cách nào đó có tính biểu tượng: số phận đã không định đoạt cho Lorenzo chết già trên giường êm ái.

Tôi gặp Lorenzo lần đầu tiên tại nhà dòng mẹ của chúng tôi ở Aix-en-Provence, nước Pháp, cách đây mười năm. Lúc đó cha vừa trở về sau một chuyến đi truyền giáo dài ở châu Mỹ La-tinh, nơi trong nhiều năm cha đã sống với người nghèo trên đường phố của Recife, trên đầu không hề có mái che, không hề có một địa chỉ cố định. Mắc một căn bệnh nghiêm trọng, cha buộc phải trở về Mỹ, rồi cộng đoàn Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm cho phép cha đi nghỉ Xa-bát tại Pháp. Cha tới đó, không nói được một chữ tiếng Pháp nào. Ấy vậy mà khi gặp cha ở đó, chưa đầy một tháng từ ngày bước chân tới, tôi thấy cha đang ngồi trên bậc tam cấp nhà thờ gần khu dân cư của cộng đoàn chúng tôi với hơn chục người vô gia cư xúm quanh. Họ đang chia sẻ thức ăn thuốc hút với nhau và đang trò chuyện gì đó. Trông giống như một cuộc píc-níc trong công viên.

Chuyện này chẳng có gì khác thường, trừ việc cha Lorenzo không nói được một từ tiếng Pháp nào và những người quây quần quanh cha cũng không nói được tiếng Anh, tiếng Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha (những tiếng cha nói được). Vậy nhưng rõ ràng họ có vẻ đang giao tiếp với nhau, và giao tiếp một cách sâu đậm, với cái cách có thể khiến người ngoài ghen tỵ, và Lorenzo là tâm điểm của họ.

Bằng cách nào? Bằng cách nào chúng ta có thể nói với nhau mà vượt lên trên việc giao tiếp bằng những ngôn ngữ thông thường chúng ta biết?

Khi thánh Lu-ca lần đầu tiên mô tả Lễ Hiện Xuống, ông kể cho chúng ta rằng sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, các môn đồ đầu tiên của Chúa Giêsu đi ra ngoài công chúng và bắt đầu nói, và tất cả mọi người, hết thảy mọi người, dù sắc tộc hay ngôn ngữ của họ thế nào, đều nghe  những lời này như nghe bằng ngôn ngữ của họ. Hàng rào ngôn ngữ ngăn cách cũ không còn cản trở việc nghe thấy hay hiểu được. Ngôn ngữ cất lên từ tâm hồn đã vượt lên trên mọi sắc tộc và tiếng mẹ đẻ.

Thật hết sức dễ dàng khi chúng ta đơn giản viết ra điều này như kể lại một chuyện mầu nhiệm, một sự can thiệp của Chúa làm nền tảng đặc biệt để tạo dựng giáo hội. Điều đó cũng có thể đúng, nhưng còn có một ý nghĩa nữa: có những ngôn ngữ ở những cấp độ khác nhau.

Ở cấp độ rõ ràng nhất, ngôn ngữ phụ thuộc vào từ ngữ nói ra, mà lời nói thì luôn luôn phải là một ngôn ngữ cụ thể, ví dụ tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Trung Quốc. Ở cấp độ này, lời nói có một sức mạnh tương đối, nhưng chúng cũng có thể đánh lừa và dối trá. Lời nói không phải lúc nào cũng là tấm gương chính xác phản chiếu trái tim. Hơn nữa, luôn luôn chúng ta không thể nào tìm được lời diễn tả khi ta cần nhất, đặc biệt trong những hoàn cảnh sâu sắc, như khi bi kịch, chết chóc và sự phản bội làm chúng ta câm bặt.

Nhưng chúng ta còn có những thứ ngôn ngữ khác: trên lời nói còn có ngôn ngữ cơ thể. Cơ thể của chúng ta còn có thể diễn tả được nhiều hơn và trung thực hơn lời nói của chúng ta. Qua cơ thể, qua điệu bộ, cử chỉ và từng dáng vẻ của cơ thể, chúng ta nói một cách sâu sắc hơn và chân thực hơn so với khi chúng ta nói bằng lời. 

Và chúng ta vẫn còn một thứ ngôn ngữ sâu sắc hơn nữa: sâu sắc hơn ngôn ngữ cơ thể, chúng ta nói bằng tâm hồn, bằng ngôn ngữ của Chúa Thánh Thần, một thứ ngôn ngữ xuyên qua lời nói và ngôn ngữ của cơ thể chúng ta. Ngôn ngữ của tâm hồn là gì?

Chúa Thánh Thần không chỉ là một bản vị trong Chúa Ba Ngôi, hết sức trừu tượng và bất khả tư nghì. Thánh Kinh nói với chúng ta rằng Chúa Thánh Thần lại rất cụ thể, có thể tư niệm, và hữu hình trong lòng nhân đức, niềm vui, bình an, kiên nhẫn, lòng tốt, đức chịu đựng, trung thành, dịu dàng, và trinh trắng. Dù có mặt hay vắng mặt, tất cả cất tiếng nói với chúng ta to và rõ ràng hơn bất kỳ lời nói hay cử chỉ, điệu bộ nào của chúng ta.

Rốt lại, chúng ta không ai bị ai lừa dối cả. Chúng ta nghe không phải bằng lời nói, không phải bằng cử chỉ điệu bộ, và không phải bằng những gì chúng ta cố tình nói rõ với nhau. Trái tim nghe thấy tiếng trái tim và tâm hồn nhận ra nhau bất cứ khi nào và nơi nào tâm hồn hiển lộ. Vậy nên nhiều người chúng ta say sưa nói về tình thương của chúng ta đối với người nghèo, nhưng người nghèo không nghe thấy chúng ta nói, không hiểu được chúng ta, không tìm lại quanh chúng ta, kể cả khi chúng ta nói một cách hoàn hảo bằng thứ ngôn ngữ mẹ đẻ của họ.

Khi làm việc ở châu Mỹ La-tinh, Lorenzo Rosebaugh chỉ bập bõm nói thứ tiếng Tây Ban Nha sai bét và thứ tiếng Bồ Đào Nha sai bét. Vậy mà người nghèo ở đó cũng nghe được cha và hoàn toàn hiểu những gì cha nói. Cha không hề nói chút tiếng Pháp nào mà cha vẫn có thể ngồi trên bậc tam cấp nhà thờ ở Pháp và quây tụ quanh mình những người vô gia cư chỉ nói được tiếng Pháp – và họ hiểu cha một cách rõ ràng như thể đang nghe ngôn ngữ mẹ đẻ của mình.

Đó là ngôn ngữ của Lễ Hiện Xuống.

Đam mê và trong trắng

Giáo hội thì không hiểu đam mê còn thế gian thì không hiểu trong trắng. Đó là câu châm ngôn mà một người bạn của tôi thích dùng để lý giải tại sao bối cảnh luân lý xung quanh vấn đề tình dục lại như hiện nay, phân cực, không khoan nhượng, đặc biệt không trang bị đủ để mời gọi chúng ta đánh giá đời sống tình dục một cách trung thực.

Tính dục lành mạnh dựa một cách cân bằng trên cả đam mê và trong trắng, nhưng đây là một sự thật mà cả Giáo hội lẫn thế gian còn đang chật vật tranh đấu để chấp nhận. Mỗi bên có xu hướng nhấn mạnh chỉ một trong hai vế.

Ít nhà phân tích nào lập ngôn được rõ ràng và sâu sắc (với hiểu biết thật sự về cả hai vế) như Charles Taylor trong tác phẩm đồ sộ của mình về Văn hoá Tây phương, cuốn Thời đại Thế tục (A Secular Age). Trong chương Thời đại của sự Chân thực (The Age of Authenticity) của cuốn sách, Taylor phân tích rằng cuộc cách mạng tình dục chính xác là một cuộc kiếm tìm chân thực, cho dù cuộc tìm kiếm đó đôi lúc đã bị lạc lối. Ông cho rằng không phải chỉ chủ nghĩa hưởng lạc và tính nổi loạn đã và đang thúc đẩy cuộc cách mạng tình dục và đang thay đổi triệt để cách nghĩ của thế hệ hiện nay về tình dục. Ông nói rằng chúng ta không nên coi cuộc cách mạng tình dục đơn thuần là sự bùng phát của thứ chủ nghĩa hưởng lạc đã trở nên thái quá, như thể thực tại của cuộc cách mạng đó sẽ khớp với ngôn ngữ của Hugh Hefner, ông chủ tạp chí Playboy. Cuộc cách mạng tình dục khởi phát từ những gắng gổ của nền văn hóa chúng ta nhằm làm một số điều. Đó là những điều gì?

Đó là gắng gổ khôi phục sự tốt đẹp của bản thân nhục dục, để khẳng định sự bình đẳng của hai giới, để giải phóng phụ nữ khỏi những vai trò rập khuôn định kiến về giới, để khẳng định tình dục là tự do (lý tưởng phóng đãng), và nhấn mạnh quan niệm rằng tính dục là một phần cốt yếu trong bản sắc của một người (như có thể thấy trong ngôn ngữ nói về sự giải phóng cho người đồng tính). Nội dung cuộc cách mạng tình dục phong phú hơn là các hình ảnh trong tạp chí Playboy hay trong ý niệm đơn giản (mà hiện đang lan tràn trong xã hội chúng ta) rằng tình dục có thể được cắt phăng khỏi mối liên hệ với hôn nhân. Mặc dù chủ nghĩa khoái lạc và nổi loạn thật sự có đóng vai trò, nhưng chuyển biến lớn lao trong tập tục, quan niệm và hiểu biết tình dục của chúng ta bắt nguồn từ nhiều điều hơn là hình ảnh của Hugh Hefner và kích thích tố.
Nhưng, với việc thừa nhận như vậy, sự việc cũng cho thấy rõ ràng rằng giấc mơ về giải phóng tình dục như thể hiện trong đa số văn hóa thời nay đôi khi là ngây ngô. Những gì ban đầu tưởng như giải phóng thì nhanh chóng thành thất bại. Đã quá đủ cay đắng trong các mối quan hệ, quá đủ những cuộc đời tan nát, những vụ cố sát-tự sát, chúng cảnh cáo chúng ta trước sự kiện mà chúng ta thà không chấp nhận, đó là tình dục cắt đứt khỏi mối liên kết được thừa nhận từ lâu với những gì thiêng liêng, với cộng đoàn và cuộc sống cam kết đầu bạc răng long đôi khi hóa ra rất tệ. Tại sao? Liệu có có những khiếm khuyết cố hữu trong luân lý mới về tính dục hay không?

Đối với Taylor, luân lý mới này về tình dục không quá bị khiếm khuyết (ít nhất là ở lý tưởng cao đẹp hơn của nó) so với mức độ ngây ngô của nó. Jacques Maritain từng cho rằng chỉ có hai loại người nghĩ tình yêu là dễ dàng: một là những người trong suốt nhiều năm trời hy sinh đã trở thành thánh, và hai là những người không hề biết mình đang nói về cái gì. Tôi e rằng phần nhiều những gì ta bàn luận ngày nay về tình dục là rơi vào loại thứ hai. Taylor chỉ đơn giản trình bày rằng giấc mơ này thường hóa ra tồi tệ. Tại sao vậy? Vấn đề nằm ở đâu?

Những đứt đoạn gay go và thế tiến thoái lưỡng nan vây bủa cuộc sống tình dục con người và phần lớn bị luân thường đạo lý bỏ mặc hay coi thường, phải tự khẳng định quyền lợi của mình: việc không thể có cách sống thường xuyên phóng đãng, khó duy trì nhục cảm trong một mối quan hệ thật sự thân thiết liên tục, không thể bác bỏ hoàn toàn các vai trò của giới, và những chướng ngại to lớn trong việc nhận diện lại các vấn đề trên, ít nhất trong ngắn hạn. Đó là chưa kể tới việc tán dương sự buông thả tình dục có thể dẫn tới những cung cách mới theo đó người nam có thể coi phụ nữ như đồ vật và lợi dụng họ. Nhiều người đã nhận ra sau bao khó khăn đau khổ rằng có cả mối nguy lẫn giải thoát khi vứt bỏ đi những quy tắc ứng xử của cha mẹ họ.

Tuy nhiên, kể cả xét về thất bại mà người ta đã thừa nhận này, cũng không mấy người tìm tới nhà thờ mong được hướng dẫn cho đời sống tình dục của họ. Tại sao như vậy?
Bởi vì trước đây và hiện nay giáo hội vẫn quá e dè trong việc thể hiện thái độ đánh giá đúng đối với những yếu tố làm nền tảng cho cuộc cách mạng tình dục, vượt lên trên chủ nghĩa khoái lạc và sự nổi loạn tuổi mới lớn,

Trong đa số trường hợp, giáo hội đã bảo vệ sự trong trắng và trinh bạch, và như vậy là đúng, đồng thời, khi đưa ra lời khuyên giải ở mức cố gắng nhất, giáo hội cũng chỉ rõ đam mê thực sự phụ thuộc vào sự trong trắng như thế nào. Nhưng, trong quá nhiều trường hợp, việc bảo vệ đó là hết sức một chiều.
Đây là quan điểm của Taylor:

Người ta đang tìm kiếm những quy tắc luân lý để giúp hướng dẫn về vấn đề tính dục cho bản thân họ và con cái họ. Giáo hội cần đưa ra lời khuyên dạy của mình. Nhưng những lời khuyên dạy này không thể nào đơn giản giống y những quy tắc trước đây, ở mức nội dung liên quan của những nguyên tắc này, ví dụ sự phỉ báng tình dục, kinh hoàng trước người phóng đãng, những vai trò định sẵn cho giới, hay từ chối thảo luận các vấn đề bản sắc. Taylor, mà bản thân là người mộ đạo thường xuyên đi nhà thờ, nói thêm rằng: Thật là bi kịch khi những quy tắc mà giáo hội muốn thuyết phục mọi người theo vẫn còn (ít nhất là có vẻ vậy) bị một vài khiếm khuyết đó, thậm chí đôi khi là tất cả những khiếm khuyết đó.

Tình dục lành mạnh là vừa đam mê vừa trong trắng. Giáo hội và thế gian có thể học hỏi lẫn nhau.

Lực an ủi siêu nhiên

Vài năm trước, tôi có dự một hội thảo bàn về cuộc vật lộn cam go về lòng tin của nhiều thanh niên ngày nay. Một trong những người tham dự hội thảo, một Hiến sĩ trẻ người Canada nói tiếng Pháp, đưa ra bối cảnh này:

“Tôi làm tuyên úy cho sinh viên đại học. Họ có niềm say mê cuộc sống, với sinh lực và sắc màu mà tôi chỉ có thể ghen tị mà thôi. Nhưng thẳm sâu trong tất cả niềm say mê và sinh lực này, tôi để ý thấy họ thiếu niềm hy vọng bởi vì họ không có một lực siêu hình. Họ không có một đường lối lớn, một tầm nhìn  lớn có thể cho họ tầm nhìn vượt lên bối cảnh thăng trầm trong cuộc sống hàng ngày. Khi họ khoẻ mạnh, khi các quan hệ tốt đẹp và cuộc sống suông sẻ thì họ cảm thấy vui tươi và tràn trề hy vọng, nhưng nếu ngược lại thì họ cũng ngược lại. Khi mọi việc không được suông sẻ thì cuộc sống của họ đảo lộn. Họ không có bất kỳ điều gì có thể cho họ một tầm nhìn để vượt lên giây phút hiện tại lúc đó.”

Thực chất, có thể gọi điều anh mô tả là “sự bình an mà thế gian này đem lại cho chúng ta.” Khi Chúa Giê-su nói lời từ biệt, Người so sánh hai loại bình an: một bình an Người để lại cho chúng ta, và một  bình an mà thế gian có thể cho chúng ta. Hai loại đó khác nhau như thế nào?

Loại bình an mà thế gian có thể đem lại cho chúng ta không phải là bình an tiêu cực hay xấu xa. Đó là bình an có thực và là tốt, nhưng nó mong manh và không đủ.

Mong manh vì chúng ta có thể dễ dàng bị mất bình an đó. Bình an, như bình thường chúng ta trải nghiệm trong cuộc sống thường dựa trên cảm giác thấy mình khoẻ mạnh, được thương yêu, được an toàn. Nhưng tất cả đều mong manh. Chúng có thể trở nên hoàn toàn khác chỉ sau một lần đi khám bác sĩ, sau một cơn chóng mặt bất ngờ, những cú đau ngực bất thình lình, bị mất việc, quan hệ đổ vỡ, người thương yêu tự tử, hay nhiều những kiểu phản bội có thể khiến chúng ta choáng váng. Chúng ta gắng hết sức tìm cách bảo đảm sức khoẻ, được an toàn và các mối quan hệ tin cậy của mình, nhưng chúng ta vẫn sống với đầy âu lo vì biết rằng những điều đó luôn luôn mong manh dễ vỡ. Chúng ta sống trong bình an nhưng đầy lo lắng.

Cũng vậy, bình an mà chúng ta trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày không bao giờ đến với chúng ta mà không kèm theo bóng đen của nó. Như Henri Nouwen nói, có một tính chất buồn thâm nhập trong mọi giờ phút của cuộc sống chúng ta, vì vậy kể cả trong những giây phút hạnh phúc nhất của mình vẫn còn thiếu điều gì đó. Trong mọi nỗi hân hoan đều có nhận thức về sự giới hạn. Trong mỗi một thành công đều có nỗi sợ hãi bị ganh ghét. Trong từng mối quan hệ bạn hữu đều có một khoảng cách. Trong từng cái ôm đều có nỗi cô đơn. Trong cuộc đời này không có cái gì là niềm vui hoàn toàn, nguyên vẹn. Trong từng mẩu sự sống đều có phớt màu cái chết. Thế gian này có thể cho chúng ta  bình an, nhưng nó không bao giờ cho chúng ta một cách trọn vẹn.

Chúa Giê-su trao tặng một bình an không mong manh, một bình an vốn đã vượt lên trên sợ hãi và lo lắng, không phụ thuộc vào việc cảm thấy khoẻ mạnh, an toàn và được thương yêu ở thế gian này. Bình an này là gì?

Vào bữa ăn tối cuối cùng lúc Người sắp chết, Chúa Giê su để lại bình an cho chúng ta. Đó là gì? Đó là sự bảo đảm vô điều kiện rằng chúng ta được nối với gốc rễ sự sống theo một cách mà không điều gì, tuyệt nhiên không một điều gì, có thể chia cắt – dù ốm đau bệnh tật, dù bị phản bội, thậm chí kể cả chính tội lỗi của ta. Chúng ta được thương yêu vô điều kiện và được bao bọc bởi chính nguồn sự sống, và không gì có thể thay đổi điều đó. Không gì có thể thay đổi tình yêu vô điều kiện của Chúa dành cho chúng ta.

Đó là lực siêu hình mà chúng ta cần có để giữ hướng nhìn vững vàng qua những thăng trầm trong cuộc sống. Chúng ta giống như các diễn viên trong một vở kịch. Kết cục của câu chuyện đã được viết sẵn, và đó là một kết cục hạnh phúc. Chúng ta biết rằng cuối cùng mình sẽ hân hoan thắng lợi, cũng như biết mình sẽ gặp vài màn gập ghềnh gian khổ trước khi tới kết cục đó. Nếu chúng ta luôn nhớ như vậy, chúng ta có thể bền gan hơn để chịu đựng những thảm kịch chết người đang chờ chúng ta. chúng ta được bảo bọc vô điều kiện bởi chính nguồn sống – chính Chúa.

Nếu đó là sự thật, và đúng là như vậy, thì chúng ta được bảo đảm chắc chắn cho cuộc sống, cho sự toàn vẹn và hạnh phúc vượt lên trên mất mát tuổi thanh xuân, mất mát sức khoẻ, mất thanh danh, bạn bè phản bội, người thương yêu tự tử, và kể cả vượt lên trên những tội lỗi và phản bội của chính chúng ta. Cuối cùng, như Julian vùng Norwich nói, mọi chuyện rồi sẽ ổn, và rồi mọi chuyện đều ổn, mọi cách hiện hữu đều sẽ ổn.

Và chúng ta cần tới sự bảo đảm này. Chúng ta sống trong nỗi âu lo thường trực vì cảm thấy sức khoẻ, an toàn, các mối quan hệ đều mong manh, rằng bình an của chúng ta dễ dàng biến mất. Chúng ta cũng sống trong nỗi hối hận về những tội lỗi và phản bội của mình. Chúng ta sống trong nỗi bứt rứt băn khoăn về những mối quan hệ đã đổ vỡ hay những người thân yêu suy sụp vì cay đắng hay ra đi bằng cách tự tử. Bình an của chúng ta mong manh và đầy lo lắng.

Chúng ta cần nhận thức sâu sắc hơn món quà của Chúa Giê-su trao tặng cho chúng ta trước khi Người từ biệt: Thầy để lại bình an cho các con, một bình an không ai có thể tước mất của các con: Hãy biết rằng các con được thương yêu và bảo bọc vô điều kiện.

Sống trong mối hận của chính mình

Cách đây vài năm, William Young viết một cuốn tiểu thuyết vừa thu hút người đọc vừa là đề tài bàn cãi kịch liệt. Quyển “The Shack” (Căn lều) kể câu chuyện một người đàn ông có đứa con gái nhỏ bị bắt cóc và rồi bị giết hại dã man. Người cha, vật lộn với nỗi phẫn uất cay đắng, nhận được một mẩu nhắn bí ẩn mời ông đi một mình tới căn lều nơi con gái ông từng bị sát hại. Nghĩ rằng sẽ gặp tên sát nhân ở đó, ông chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu khốc liệt. Nhưng tại căn lều, ông lại gặp Chúa.

Những gì diễn ra sau đó là sự khắc họa về Chúa Ba Ngôi một cách hết sức ấm áp và phong phú về mặt thần học. Nhưng Chúa cởi mở tuyệt vời, ấm áp, đầy che chở, nâng niu, thứ tha hết thảy mà nhân vật của William Young gặp có một điều kiện duy nhất, đầy khó khăn và không lay chuyển để được lên thiên đàng: người cha phải tha thứ, không chỉ kẻ đã giết hại con mình, mà là tất cả mọi người, tuyệt đối tất cả không chừa một ai, nếu ông muốn cuối cùng gia nhập cộng đoàn những người được ban ân phước. Ông có thể lên thiên đàng, nhưng nếu ông tiếp tục mang mối hận trong lòng, ông sẽ không lên được.

Dù các phê bình gán cho ông những khiếm khuyết về mặt huấn đức gì đi nữa, ông vẫn hoàn toàn đúng, và đang mạnh mẽ thách thức khi đưa ra quan điểm căn bản này – xả bỏ hiềm hận và cay đắng là điều kiện không lay chuyển để lên thiên đàng. Thật sự, tôi tin chắc rằng trong đời chúng ta sẽ tới một lúc nào đó ta chúng ta chỉ cần giữ lại ba từ trong vốn từ vựng tâm hồn của mình: Tha thứ, tha thứ, tha thứ. Morris West, trong một tự truyện ngắn viết nhân kỷ niệm ngày sinh thứ 75 của mình, đã khẳng định điều này một cách rõ ràng. Ông nói, khi bước tới tuổi 75, bạn chỉ nên giữ lại một cụm từ trong toàn bộ vốn từ của mình mà thôi: Cảm ơn!

Lòng biết ơn là điều trái ngược với hiềm hận và chúng ta có quá ít lòng biết ơn trong đời sống của mình. Thông thường chúng ta hay hiềm hận hơn là biết ơn. Hơn nữa, thậm chí khi chấp nhận hiềm hận, chúng ta lại có xu hướng hợp lý hóa nó bằng một tín điều hay một nguyên cớ nào đó: “Tôi hận, nhưng mà có lý do! Giận của tôi là giận chính đáng, giống như Chúa Giê-su khi Người lật đổ bàn của những buôn bán tiền trong đền thờ!” “Dĩ nhiên tôi giận, nhưng tại sao tôi lại không giận khi cứ phải nhìn những kẻ bảo thủ đã bóp nghẹt tinh thần cởi mở của các thế hệ vừa qua, rồi khăng khăng giữ thái độ thiếu khoan dung trong giáo hội lẫn cả trong đất nước này, họ lại càng không biết đến người nghèo!” “Dĩ nhiên tôi giận, nhưng tại sao tôi lại không giận khi nhìn những kẻ theo chủ nghĩa tự do đang làm những gì với giáo hội và với đất nước này! Cứ nhìn nạn nạo phá thai và hôn nhân đồng tính mà coi!”

Chúng ta cần phải thận trọng khi tự đánh bóng mình lên như vậy: Khác với Chúa Giê-su khi khóc cho thành Giê-ru-sa-lem, nước mắt của chúng ta thường không phải là nước mắt ấm áp của tình thương yêu và đau buồn trước tình trạng chia cắt và hiểu lầm. Nước mắt của chúng ta, nếu thật sự chúng ta có khóc, thường là nước mắt lạnh lẽo của niềm cay đắng và hiềm hận vì cảm thấy bị đối xử không đúng, hay vì cảm thấy phải sống trong giáo hội và xã hội của mình với những người chúng ta coi là xấu bụng, lười biếng, ti tiện, hay đơn giản là dốt nát. Đúng hơn, chúng ta giống như người anh của đứa con hoang đàng, người anh hầu như chỉ làm những điều đúng đắn, thể hiện ra ngoài là trung thành với các nghĩa vụ tôn giáo và luân lý của mình, nhưng bị trói chặt bởi niềm cay đắng và nỗi hiềm hận tận trong sâu thẳm đã khiến cho chúng ta khó có thể, hay thậm chí không thể vui sống, xả bỏ, thứ tha.

Quá ít người trong chúng ta thừa nhận mình mang nhiều nỗi hiềm hận trong lòng, rằng có những góc tâm hồn mình đầy cay đắng và phẫn uất, và rằng vẫn có những con người, những sự việc, sự kiện trong đời mà chúng ta chưa hề tha thứ được.

Do vậy, để ngụy trang nỗi hiềm hận của mình, chúng ta muốn tạo dáng vẻ hào hiệp và lòng tốt rồi phô ra ngoài. Chúng ta có khuynh hướng phô ra với gia đình và bạn bè là chúng ta dễ thương đến độ không tiếc lời khen ngợi một ai đó, và sau đó, gần như trong cùng một câu, chúng ta thóa mạ ai đó, phỉ báng họ, nói xấu ác hoặc châm biếm một ai đó. Khuynh hướng phân chia người khác ra thành “thiên thần” hay “quỷ dữ” chắc chắn là dấu hiệu của nỗi hiềm hận trong lòng. Chúng ta ra vẻ tán dương người nào đó (một việc phô diễn nhằm bày ra cho mọi người thấy chúng ta là người rất dễ thương, hơn là nhằm nêu bật đức hạnh của người kia), và sau đó cay đắng oán thán người này người kia tệ bạc, rằng sao mà chúng ta bao giờ cũng bị dây với những kẻ ngu dốt. Tán dương hay oán thán đều chứng tỏ cùng một điều – chúng ta đang sống trong nỗi hiềm hận.

Lòng trung thực và khiêm tốn rốt cuộc sẽ phải đưa chúng ta đến chỗ thừa nhận điều này. Tất cả chúng ta đều mang những nỗi hiềm hận nào đó; chúng ta không được tự lừa dối mình về điều này. Chúng ta cần can đảm và trung thực để đối diện với sự thật đó.

Có lẽ chúng ta có thể rút ra được một bài học từ những nhóm như Hội Những người nghiện rượu ẩn danh (Alcoholics Anonymous) và giới thiệu mình với nhau, hay với cha giải tội theo cách như sau:

“Tôi tên là Ron, tôi là một người hiềm hận. Tôi hợp lý hóa việc này bằng cách tự nói với mình và người khác rằng nỗi hiềm hận của tôi là có lý, rằng tôi cũng như Chúa Giê-su, đá tung những cái bàn của những buôn bán tiền để làm  sạch nhà Chúa. Nhưng tôi dần dần nhận ra rằng nghĩ như vậy là tự huyễn, đó đơn thuần chỉ là một cách hợp lý hóa các thương tổn của tôi. Càng già, tôi càng nhận ra tôi giống người anh trai của đứa con hoang đàng; tôi đang đứng bên ngoài vòng tay ấm áp, vòng tay cộng đoàn. Nhưng, đáng mừng là giờ đây tôi đang hồi phục.”

Nhục hình của Thập Giá

Khi Chúa Giêsu chảy mồ hôi máu ở vườn Giết-sê-ma-ni, ngài đã xin Chúa Cha cất chén đắng này, chủ yếu Người không chùn bước trước viễn cảnh đau đớn thể xác tàn bạo. Người chùn bước trước viễn cảnh một kiểu đau đớn cụ thể mà thông thường đa số sợ hơn là nỗi đau thể xác. Khi Người hỏi Chúa Cha liệu có nhất thiết phải chết theo cách đó hay không, là Người không ám chỉ đến án tử hình.

Hình phạt đóng đinh trên thập giá do người La Mã chế ra có thêm một ý định khác. Nó ấn định một án tử hình, giết một tội phạm, nhưng ngoài ra nó còn mục đích làm một số điều khác nữa.

Hình phạt đóng đinh trên thập giá nhằm gây ra nỗi đau thể xác cùng cực. Vì vậy, người ta cố tình kéo dài quá trình này trong nhiều giờ đồng hồ và họ tính toán cẩn thận để cường độ đau đớn tăng dần nhưng không làm cho tội phạm bất tỉnh để dịu cơn đau khi bị đóng đinh. Thực tế, đôi khi họ còn cho tội nhân uống rượu vang có trộn moóc-phin, không phải để làm dịu cơn đau, mà để không ngất xỉu vì quá đau, và như vậy họ phải tiếp tục chịu đựng cơn đau đớn đó lâu hơn.

Nhưng hình phạt đóng đinh trên thập giá còn có một ý định khác nữa, thậm chí còn ác độc hơn. Đó là nhằm sỉ nhục tội nhân. Ngoài những chuyện khác, tội nhân còn bị lột truồng trước khi bị treo lên thập giá, để bộ phận sinh dục phơi ra trước dân chúng. Còn nữa, vào giây phút lìa đời, ruột gan của họ sẽ bung ra. Rõ ràng hình phạt đóng đinh trên thập giá nhằm hạ nhục.

Chúng ta xưa nay có xu hướng xem nhẹ khía cạnh này, cả trong giáo huấn lẫn trong nghệ thuật. Như Jurgens Moltmann nói, chúng ta đã trang trí cây thập giá với toàn hoa hồng, toàn những tấm khăn choàng thẩm mỹ và vô trùng. Nhưng trường hợp của chúa Giê-su không phải như vậy. Người bị lột truồng trước công chúng, thân thể người bị hạ nhục trước dân chúng. Điều đó, bên cạnh những điều khác, là lý do hình phạt đóng đinh trên thập giá đã giáng một đòn chí mạng đối với các môn đệ và là lý do tại sao đa số các môn đệ bỏ Chúa Giêsu và phân tán khắp nơi sau sự kiện Chúa bị đóng đinh trên thập giá. Đơn giản các môn đệ này không thấy có mối liên hệ nào giữa kiểu hạ nhục này với vinh quang, thần thánh và chiến thắng.

Một điểm thú vị là có một tương đồng rõ rệt giữa hình phạt đóng đinh trên thập giá gây ra cho cơ thể và những gì mà bản chất tự nhiên làm đối với cơ thể qua tuổi tác, bệnh ung thư, bệnh mất trí nhớ, AIDS, những căn bệnh như Parkinson, Lou Gehrig, Huntington, và những chứng bệnh khác làm hạ thấp con người trước khi cơ thể chết. Chúng phơi bày ra trước mắt mọi người những gì dễ tổn thương nhất bên trong con người. Chúng hạ nhục thân thể.

Tại sao vậy? Đâu là mối liên hệ giữa loại đau đớn này và vinh quang ngày Chuá nhật Phục Sinh? Tại sao, như Phúc âm nói, “trước hết phải chịu đau đớn mới vào vinh quang?”

Bởi vì, điều trớ trêu là, phải chịu bị nhục sâu thẳm nào đó tâm hồn mới có một tầm mức sâu sắc. Bằng cách nào, và tại sao như vậy? Không dễ dàng gì để biện giải một cách duy lý, nhưng chúng ta có thể hiểu được điều này thông qua trải nghiệm:

Hãy dũng cảm và trung thực tự đặt cho mình câu hỏi này: Những trải nghiệm nào trong cuộc đời đã làm cho tôi thành chín chắn? Tôi dám nói rằng, trong hầu hết mọi trường hợp, những trải nghiệm làm bạn trở nên sâu sắc sẽ là những sự cố bạn cảm thấy bị nhục khi phải chấp nhận nó, một bất lực mà bạn không tự bảo vệ mình, một phỉ báng mà bạn không thể tự bào chữa, một lệch lạc của cơ thể hay trí óc đã khiến bạn bị tổn thương, một vụ việc tủi hổ từng xảy đến với bạn, hay một lỗi lầm nào đó bạn đã phạm và bị phơi bày ra trước mắt mọi người các mặt yếu của bạn. Tất cả chúng ta, giống như chúa Giê-su, cách này cách khác, đều đã từng bị treo lên thập giá và bị hạ nhục trước công chúng. Và bị hạ nhục ở mức độ nào thì chúng ta trở nên sâu sắc chính ở mức độ ấy.

Nhưng sự sâu sắc của tâm hồn lại theo nhiều cách khác nhau. Sự sỉ nhục làm chúng ta sâu sắc, nhưng chúng ta có thể sâu sắc hơn về tính cách, về hiểu biết, về lòng độ lượng, vị tha, hay chúng ta cũng có thể phẫn uất, cay đắng, tìm cách trả thù và sát hại sâu sắc hơn. Hình phạt đóng đinh trên thập giá của Chúa Giê-su đã làm trái tim của Chúa giãn nở hơn nhưng giãn nở trong niềm thương cảm, rộng lượng và vị tha. Không phải ai cũng vậy. Nhiều trong số những kẻ sát nhân hàng loạt cũng từng chịu sỉ nhục sâu sắc và điều đó cũng làm cho trái tim họ giãn nở ra nhưng trừ một điều là trong trường hợp của họ, sự sỉ nhục đã khiến họ sâu sắc hơn trong nỗi cay đắng, độc ác, và sát nhân.

Cách đây vài năm, tôi tham dự một khóa hội thảo hè ở Viện Đại học Notre Dame, nơi cộng đoàn Thánh Giá họp lại để làm lễ phong thánh cho vị sáng lập dòng. Suy tư về linh đạo của người sáng lập, một thành viên của cộng đoàn Thánh Giá đã đưa ra thách thức này cho cộng đoàn của anh: Nếu anh sống trong bất kỳ một gia đình nào, sau bất kỳ một khoảng thời gian nào, đến một lúc nào đó, gia đình đó sẽ làm anh tổn thương, và làm anh tổn thương sâu sắc. Nhưng, đây chính là điều quan trọng, cái cách mà anh xử sự với vết thương đó, một cách cay đắng hay với lòng vị tha, nó sẽ quyết định suốt cả phần đời sau đó của anh!

Khi bị phạt đóng đinh trên thập giá, Chúa Giê-su bị hạ nhục, bị phỉ báng, bị đối xử tàn nhẫn. Nỗi đau này đã làm giãn trái tim Người ra một chiều sâu lớn lao. Nhưng khoảng không gian mới giãn ra đó không chứa nỗi cay đắng và phẫn uất. Nó chứa đầy lòng thương cảm và vị tha sâu sắc mà chúng ta vẫn chưa thể nào hiểu được trọn vẹn.

Mặc cảm dày vò

Tôi sinh ra đời với một mặc cảm dày vò. Tôi đã bối rối trong một thời gian rất dài vì những nỗi lo tâm lý này. Xơ Ruth Burrows, tác giả các sách thiêng liêng danh tiếng của dòng Kín, đã mở đầu quyển tự truyện như vậy và, giống như lời mở đầu nổi tiếng trong quyển Tự Thú của thánh Âu-tinh, những lời này nói lên phong cách của một người có suy tư trưởng thành về mặt thiêng liêng.

Một ngày nọ, tôi vào tiệm sách, khi lướt nhìn các tựa đề xem có quyển sách nào thú vị hay không, tôi đọc hàng chữ này trong quyển sách của xơ Burrows. Ngay lập tức, nó cuốn hút tôi và nhiều ý nghĩ chợt đến trong đầu tôi: Đây hẳn là một người từng trải, không quá đơn sơ và mộ đạo nên có thể giúp tôi bước ra khỏi tháp ngà để trở nên người có đời sống thiêng liêng và đạo giáo! Họ sẽ giúp tôi chấp nhận các phức tạp của cuộc đời, hơn thế sẽ chỉ cho tôi biết cách để chỉ muốn một điều mà thôi! Tôi đã không thất vọng. Xơ Burrows là một tác giả ngoại hạng về tôn giáo và đời sống thiêng liêng.

Trước đó tôi cũng đã bắt gặp ý tưởng này nơi cha Henri Nouwen. Cha cũng rất trung thực chấp nhận mình đã có kinh nghiệm dày vò và gọi đó là các xu hướng mâu thuẫn đẩy tâm hồn chúng ta đi các hướng khác nhau.

Cuộc đời không đơn giản: Chúng ta muốn cả điều đúng lẫn điều không đúng. Chúng ta hướng về lòng quảng đại nhưng cũng hướng về phía ích kỷ. Thích trung thực nhưng cũng dễ dàng tìm cách biện minh và nói dối. Một phần trong chúng ta muốn khiêm tốn, không muốn nổi bật, phần khác thì lại tự cao và muốn được biết đến. Chúng ta muốn cầu nguyện nhưng cũng muốn đi chơi. Khao khát chiều sâu tâm hồn nhưng cũng ham vui nhục dục. Chúng ta muốn tận hiến hy sinh, nhưng cũng muốn hưởng đời. Một phần sâu thẳm trong tâm hồn muốn tôn kính quỳ xuống, phần khác lại cố chấp và chống đối. Chúng ta vừa muốn tinh tuyền vừa muốn bừa bãi. Vừa khao khát những gì thuộc về Thiên Chúa vừa chạy theo chuyện trần gian. Như triết gia Kierkegaard nói, thật không dễ để chỉ muốn một điều.

Chúng ta tạo ra khó khăn cho mình khi chấp nhận điều này, nhưng sẽ khó khăn hơn nếu chúng ta không chấp nhận nó.

Như xơ Burrows nói, làm sao chúng ta sống đời sống thiêng liêng đạo giáo đơn giản khi chúng ta sống trong tâm trạng dày vò? Làm sao chỉ cảm nhận các chuyện đúng, trong khi thành thật mà nói, chúng ta cảm nhận rất nhiều chuyện cùng một lúc? Làm sao cảm thấy mình mộ đạo khi có nhiều chuyện trong lòng chúng ta muốn nổi dậy chống đối? Làm sao chối bỏ sự kiện tính dục chúng ta thường có ảnh hưởng trên các quan hệ của chúng ta? Làm sao nói mình yêu thương khi những gì đang cảm nhận là sân hận và phẫn uất? Làm sao chân thật nói những gì chúng ta làm là vì người khác, trong khi phần lớn chúng ta hành động do tham vọng cá nhân? Làm sao phủ nhận việc chúng ta thường xuyên đố kỵ với người khác? Làm sao phủ nhận thỉnh thoảng chúng ta cũng có cảm nhận bất kính gần như báng bổ? Làm sao phủ nhận rất nhiều hành động của chúng ta xuất phát từ tính cố chấp và lòng tự phụ bị tổn thương? Và làm sao tảng lờ sự thật, đáng lý thấy mình vững tin và cầu nguyện, chúng ta thường cảm thấy chán nản, hờ hững và chai đá.  

Nhưng, cảm nhận như vậy, chính nó không làm chúng ta mất đi đời sống thiêng liêng hay đạo giáo. Cảm nhận mình nghịch đạo, giận dữ, tham vọng, tham lam, đố kỵ, có cám dỗ nhục dục, bất kính, và chán nản chứng tỏ chúng ta là người và có cảm xúc lành mạnh. Cốt yếu của một đời sống thiêng liêng lành mạnh là nó phải đương đầu với chính mình trong những chuyện phức tạp này. Phục vụ Chúa ở thế gian không bắt chúng ta phải từ bỏ bản thân hay phủ nhận trải nghiệm riêng của mình. Nó chỉ đòi hỏi chúng ta hợp nhất trải nghiệm chúng ta trong cách chúng ta cho cuộc sống mình cho người khác và cho chính mình.

Thánh Tôma Aquinas đã viết, mục đích thích đáng của trí tuệ và ý chí là sống trọn vẹn con người mình. Lần đầu tiên tôi đọc câu này khi tôi còn là chủng sinh, 19 tuổi, đang nghiên cứu triết học và tôi nhớ nó đã khai mở cho tôi như thế nào khi lần đầu tôi hiểu được ý nghĩa của nó. Tôi như hiểu hơn về bản thân mình, về mối phức tạp dày xé của tôi. Thánh Tôma Aquinas nêu ra câu hỏi: Điều gì thỏa mãn trọn vẹn những khao khát trong lòng chúng ta? Câu trả lời của ngài: Mọi thứ! Vì thế chúng ta không cần phải ngạc nhiên khi thỉnh thoảng chúng ta cảm thấy day dứt và chán nản trong cuộc sống đời này.

Đáng buồn là có một mỉa mai trong tất cả chuyện này: Rất nhiều người muốn trung thực với trải nghiệm của mình, họ lại tự tách ra khỏi tôn giáo, chỉ vì cảm thấy tôn giáo đơn giản hóa mọi sự, tôn giáo không hiểu, và đặc biệt không có khả năng tôn trọng trải nghiệm của họ. Với nhiều người khác, tôn giáo quá đơn giản khi tôn trọng trải nghiệm con người vì tôn giáo không quan tâm đến các phức tạp dày vò của chúng ta. Nhưng thật mỉa mai, cuối cùng thì chỉ có tôn giáo mới là nơi chúng ta được thấu hiểu trọn vẹn.

Tính khẩn thiết của Đại kết

Quê nhà là nơi xuất phát của chúng ta. Thi sĩ Thomas Stearns Eliot đã viết câu này và nó đúng với tất cả chúng ta, xét về mặt tôn giáo cũng như về mặt hiểu biết về giáo phái cụ thể mà chúng ta được nuôi dạy và lớn lên trong đó.

Tôi được sinh ra và giáo dục làm một tín hữu Công giáo La Mã với gốc rễ sâu sắc. Cha mẹ tôi có một đức tin mãnh liệt và họ đã làm cho đức tin đó và việc giữ đạo đóng vai trò trọng tâm trong mọi khía cạnh của cuộc sống chúng tôi. Chúng tôi đi lễ bất cứ lúc nào có thể, đi mỗi ngày nếu có lễ mỗi ngày, đi xưng tội ít nhất hai tuần một lần, mỗi ngày lần chuỗi ở nhà một lần, đọc kinh Angelus chung với nhau ít nhất hai lần mỗi ngày, thuộc nhiều kinh, thuộc lòng sách giáo lý La Mã, treo hình đức giáo hoàng trong nhà, và tin rằng trong tất cả tôn giáo và giáo phái Ki-tô, Công giáo La Mã là đức tin chân chính duy nhất, là tôn giáo duy nhất có giá trị trọn vẹn. Chúng tôi không nghĩ rằng các tín hữu khác, Tin Lành hay tôn giáo khác, sẽ không được lên thiên đàng, nhưng chúng tôi không chắc chắn lắm chuyện đó sẽ như thế nào, nếu xét theo quan niệm của chúng tôi, đó không phải là đức tin chân chính. Vì thế, chúng tôi đã sống trong một nỗi ngờ vực nào đó đối với các giáo phái và tôn giáo khác, yên ổn với chân lý của riêng mình, nhưng luôn thận trọng trong việc hòa nhập với các tôn giáo khác, sợ rằng cách nào đó điều chúng tôi tin là đúng có thể bị phai đi hay bị ô nhiễm, nếu có mối liên hệ tôn giáo với những ai không phải là tín hữu Công giáo La Mã.

Và đó đã là, và vẫn là một nơi tốt đẹp để xuất phát. Tôi hết lòng biết ơn vì đã có  gốc rễ tôn giáo vững vàng và bảo thủ như vậy. Nhưng đã có rất nhiều chuyện đã thay đổi cho tôi kể từ khi tôi còn là một thanh niên tín hữu Công giáo La Mã đầy lý tưởng,  lớn lên trong cộng đồng di dân ở miền thảo nguyên Ca-na-đa. Từ những năm đầu ở chủng viện, các giáo sư của tôi, những học giả chân chính (đa số là linh mục Công giáo La Mã) đã cho tôi tiếp xúc với tác phẩm tuyệt vời của những nhà thần học và học giả kinh thánh Anh giáo và Tin Lành, mà quan niệm sáng suốt và lòng tận tụy của họ đã làm cho tôi hiểu Chúa Giêsu sâu sắc hơn, giúp tôi gắn bó chặt chẽ hơn với đạo của tôi.
 
Những năm sau đó ở chủng viện, trong lớp tôi có các anh chị từ các giáo phái Ki-tô khác, tất cả đều học để làm mục vụ và tất cả đều dấn thân sâu đậm với Chúa Kitô. Tình bạn với họ và lòng tôn trọng đức tin của họ đã không dẫn tôi đến chỗ xa rời Công giáo La Mã để theo giáo phái khác, nhưng thật sự đã làm cho tôi bắt đầu suy nghĩ lại về những gì làm nên đức tin chân chính và tôn giáo chân chính. Điều đó cũng giúp tôi nhận ra rằng những nét tương đồng giữa chúng tôi vì cùng là Ki-tô hữu, chủ yếu đã khiến những khác biệt giữa chúng tôi trở nên không đáng kể.

Sau khi chịu chức, tôi đã dạy và làm mục vụ ở nhiều nước, nhiều viện đại học và chủng viện khác nhau. Tôi đã cùng cầu nguyện, cùng chia sẻ đức tin, cùng diễn thuyết và trở thành bạn thân thiết với nhiều người thuộc nhiều giáo phái tín ngưỡng khác nhau: Anh giáo, Anh giáo ở Mỹ, Tin lành, Duy Phúc âm, Phật giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, và những người thành tâm đi tìm nhân bản. Tôi đã được nuôi dưỡng sâu sắc trong đức tin và trên con đường thiêng liêng của các nhà tư tưởng Anh giáo và Tin lành như C. S. Lewis, Paul Tillich, Dietric Bonhoeffer, Jim Wallis, Jurgen Moltmann, và Alan Jones, cùng nhiều người khác. Ngày nay, bên cạnh cộng đoàn Công giáo La Mã của tôi, bên cạnh những người giúp cho tôi được bền đỗ, bên cạnh các bạn tinh thần trong đức tin, còn có nhiều tín hữu Anh giáo, Tân giáo, Tin Lành, và những người từ nhiều tôn giáo khác. Đức tin và tình bạn của họ đã giúp cho tôi tiếp nhận được cái điều mà Virginia Woofe nói: Tại sao chúng ta lại khắt khe với nhau đến vậy, khi mà cuộc sống đã quá khó khăn với tất cả chúng ta, và khi mà, rốt cuộc, chúng ta đều coi trọng những điều như nhau? Bà nói về việc thiếu lòng lân tuất giữa hai phái, nhưng chắc hẳn bà cũng có thể dễ dàng nói như vậy với việc thiếu lòng lân tuất giữa các giáo phái và tôn giáo khác nhau.

Điều này không ngụ ý rằng mọi tôn giáo là bình đẳng hay mọi giáo phái trong Ki-tô giáo đều là những con đường như nhau dẫn tới Chúa. Không có gì là độc đoán hay hẹp hòi trong việc tin rằng giáo hội của mình là giáo hội đúng đắn, hay tin rằng thuộc về một giáo hội nào đó là chuyện tình cờ của cuộc đời hay đơn giản chỉ là sở thích về một hội thánh. Lòng trung tín sâu sắc với chân lý theo cảm nhận của chính mình là một dấu hiệu của đức tin chân thật.

Nhưng thật sự điều này gợi ra rằng chúng ta phải cởi mở để hướng tới lòng lân mẫn với những ai có giáo hội khác với giáo hội  chúng ta và hướng tới cái hiểu biết rộng lớn hơn về ý nghĩa của việc thuộc về một giáo phái hay tôn giáo cụ thể nào đó. Đôi khi chúng ta cũng phải sám hối về chủ nghĩa độc tôn của mình.
 
Có lẽ trên hết, chúng ta phải cởi mở để hướng tới một hiểu biết sâu sắc hơn về tính  bất khả diễn đạt về Chúa và lòng khiêm nhường mà chúng ta cần có. Tôi vẫn là một tín hữu Công giáo La mã tận tụy, nhưng, cũng giống như tín hữu Tin lành, Gio-an, giờ đây tôi hiểu rằng chúa Giê-su còn có những con chiên khác không cùng chủng loại với tôi. Tôi hân hoan vì điều đó, và cũng hân hoan vì lời của một thi sĩ Ba-tư ở thế kỷ 14, Hafiz:
Anh có cho là kỳ quặc không nếu Hafiz nói, tôi yêu mọi nhà thờ, nhà nguyện và đền điện, mọi nơi thờ phượng bất kể loại nào, vì tôi biết ở những nơi đó, dân chúng đang nói lên những tên gọi khác nhau của vị Thượng Đế duy nhất?

Hiệp cùng các thánh để ca ngợi Chúa

Tất cả chúng ta đều quen thuộc với các điệp khúc trong nhiều bài kinh, bài hát xưa dâng lên Chúa: Hiệp cùng các thánh, chúng con xin dâng lời ca tụng Chúa!

Nhưng chúng ta có một khái niệm sùng kính quá mức về những chuyện này. Chúng ta hình dung, đến một ngày, trên thiên đàng, chúng ta ở trong ca đoàn với Maria, mẹ Chúa Giêsu, cùng với các khuôn mặt trong Thánh Kinh xưa, các thánh tông đồ và tất cả các thánh cùng hát ca ngợi Chúa, cảm thấy mình may mắn được ở đó nếu xét tới sự thua kém của mình về mặt đạo đức và thiêng liêng so với họ. Chúng ta hình dung mình sống đời vĩnh hằng, cảm thấy biết ơn vì được ở cùng hàng ngũ với những người mà tài năng của họ vượt xa chúng ta.

Nhưng đó là chuyện hoang tưởng, hoang đường thuần túy và ngây ngô, đúng hơn là ngây ngô… Hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa có nghĩa là gì?

Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa khi chúng ta là một với họ trong cách chúng ta sống; khi mà, giống như họ, đời sống chúng ta trong sáng, ngay thẳng, có nhân phẩm, không che đậy điều gì xấu xa. Hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa không phải là hát trong nhà thờ, mà là sống trung thực bên ngoài nhà thờ.

Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa khi chúng ta thể hiện lòng thương xót bao la của Chúa; khi, giống như Chúa, chúng ta yêu thương không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, tôn giáo, ý thức hệ, và mọi kiểu khác biệt khác. Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa, khi trái tim chúng ta giống trái tim Chúa, là một ngôi nhà có nhiều phòng. Hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa có nghĩa là có lòng thương xót lân mẫn như lòng Chúa lân mẫn xót thương, là để mặt trời chiếu sáng lên cả người tốt lẫn người xấu, là chúng ta thông cảm với những người có ý kiến chống đối chúng ta.

Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa, khi chúng ta hướng về «bà goá, trẻ mồ côi và những người lạ mặt», khi chúng ta đến với những người yếu đuối, nuôi kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, viếng thăm người bệnh, người bị tù, khi chúng ta nỗ lực vì công chính. Hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa là đổi ngược cái khuynh hướng tự nhiên “mạnh hơn yếu thua” mà thay vào đó là thúc đẩy điều ngược lại, để kẻ yếu được sống sót.

Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa khi chúng ta nỗ lực cho hòa bình, khi trong cả đời sống riêng tư và ngoài công chúng, chúng ta cố gắng thực hiện tính bất bạo lực của Chúa, khi chúng ta không chịu khuất phục trước cái cám dỗ muốn chấm dứt một bạo lực tàn nhẫn bằng một thứ bạo lực khác cao cơ hơn về đạo đức.

Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa khi chúng ta tha thứ cho nhau, đặc biệt khi sự tha thứ này lại được đáp lại bằng một thái độ chua chát dường như chẳng hề xứng đáng để nhận món quà tha thứ của chúng ta. Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa khi chúng ta gặp phải hận thù, giận dữ, hung bạo và cả giết chóc mà, như Chúa, chúng ta không trả đũa, khi chúng ta tha thứ cho kẻ thù.

Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa khi, giống như các thánh, chúng ta cho đi thì giờ, tài năng, và chính cuộc sống của chúng ta với thái độ hy sinh không hề tính toán, khi chúng ta sống cho tha nhân, chấp nhận rằng sự viên mãn cá nhân của chúng ta không phải là mục đích trước hết của đời mình.

Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa khi chúng ta trong sự tri túc lành mạnh, khi không còn cho mình là trung tâm vũ trụ, khi chúng ta thoải mái nhận lấy một vị trí thấp hơn, khi không còn cần nói về mình trong những cuộc nói chuyện.

Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa khi chúng ta làm một với các thánh trong lời cầu nguyện, khi, giống như họ, chúng ta ngước mắt nhìn vượt lên trên chân trời của cái thế giới hiện tại này, để bám rễ trong một thực tại vượt lên trên [những điều nhỏ nhặt của] thế giới này.

Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa khi chúng ta sống trong kiên nhẫn, chịu đựng, khi chúng ta vui vẻ chấp nhận rằng tất cả các bản giao hưởng đều phải còn dang dở và rằng chúng ta phải sống trong sự bất toàn ý muốn, sống với các hụt hẫng của đời sống này mà không than thở nguyện cầu rồi cuộc sống sẽ mở ra giờ huy hoàng của Chúa. 

Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa, khi chúng ta sống trong hy vọng, khi chúng ta xây dựng viễn ảnh và năng lực chúng ta trong lời hứa của Chúa và trong sức mạnh của Chúa mặc khải qua sự sống lại của Chúa Giêsu. Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa khi, giống như Julian vùng Norwich, chúng ta sống trong niềm tin xác quyết, dù còn ở trong bóng tối, rằng cuộc đời chúng ta đã được viết sẵn, rồi mọi sự sẽ tốt, cách nào rồi cũng sẽ tốt.

Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa khi, thay vì sống trong tỵ hiềm, bất mãn, cay đắng, hận thù, mất kiên nhẫn, giận dữ, phân rẽ, thờ ngẫu tượng, không kềm dục, chúng ta sống trong đức ái, vui vẻ, hiền lành, kiên nhẫn, tử tế, trung tín, ôn hòa và khiết tịnh.

Chúng ta hiệp cùng các thánh dâng lời ca ngợi Chúa khi chúng ta sống như họ đã sống.

Nhận nỗi đau bằng trái tim

Vào thời gian đau buồn xé ruột, cha Henri Nouwwen đã viết những lời sau trong quyển nhật ký: Thách thức lớn nhất là sống thấu suốt nỗi đau của mình thay vì nghĩ thấu suốt những nỗi đau. Khóc tốt hơn là lo lắng, cảm nhận nỗi đau tốt hơn là tìm hiểu nỗi đau, để chúng bước vào trong thinh lặng của mình tốt hơn là nói về chúng. Lựa chọn mà anh liên tục đối diện là anh đang đưa nỗi đau của mình tới cái đầu hay tới trái tim.

Một phần chúng ta hiểu chính xác điều cha nói, kể cả khi một phần khác của chúng ta tự nhiên sẽ kháng lại lời khuyên của cha: Trong chúng ta có phần không muốn khóc, không muốn cảm thấy nỗi đau, không muốn đưa nỗi đau của chúng ta tới chỗ thinh lặng, và không muốn đem nỗi đau tới trái tim. Và vậy là, thay vào đó, khi đau buồn, chúng ta lại càng lo lắng và ám ảnh hơn, chúng ta gắng gỗ để tìm hiểu, chúng ta nói liên tu bất tận với người khác, và chúng ta cố gắng giải quyết mọi chuyện bằng cái đầu chứ không để bản thân chúng ta đơn giản cảm nhận nỗi đau bằng trái tim. 

Và đó không phải luôn luôn là chuyện không hay. Với tất cả minh triết của nó, lời khuyên của cha Nouwen cần có một vài dè dặt: Quan trọng là chúng ta cũng đưa nỗi đau của mình lên cái đầu. Trái tim và trí óc cần hài hòa với nhau. Nhưng điều cha Nouwen chỉ ra ở đây là điều mà cha, một con người được phú cho sự mẫn cảm phi thường đối với những gì thuộc về trái tim, đã nhận ra chỉ sau khi trải qua cơn buồn đau tan nát, nghĩa là, chúng ta thường dễ dàng đưa mọi chuyện tới cái đầu hơn là tới trái tim, kể cả khi chúng ta nghĩ rằng mình đâu có làm như vậy.

Chúng ta đưa nỗi đau tới cái đầu và chặn lại dòng nước mắt chữa lành trong tim bằng cách phủ nhận, lý luận giải thích, đổ lỗi, không thừa nhận một cách giản dị và trung thực, và không thừa nhận rằng chính mình đang đau đớn, chính mình bất lực, chính mình yếu đuối, chính mình không phù hợp.

Và tất cả chúng ta đều có rất nhiều dịp làm như vậy: Càng hiểu rõ ràng và nhạy cảm thì chúng ta lại càng bị các nỗi đau hành hạ. Càng trung thực bao nhiêu thì chúng ta càng nhận thức rõ bấy nhiêu về những giới hạn và tính chất không phù hợp của chính bản thân mình. Và càng hào hiệp và thanh khiết bao nhiêu thì chúng ta càng nhận thức rõ về tội lỗi và các phản bội của chúng ta.

Vì vậy lời khuyên của cha Nouwen chứa một thách thức lành mạnh: Khi chúng ta suy sụp vì đau buồn, chúng ta không nên phủ nhận nỗi đau đó, phủ nhận sức mạnh quái ác của nó, hay phủ nhận việc chúng ta bất lực trước nó. Làm như vậy là mạo hiểm biến mình thành chai cứng và cay đắng. Nhưng nếu chúng ta trao cho cơn đau đớn quặn thắt vị trí trung thực của nó, chúng sẽ khơi dòng nước mắt làm cho con tim mềm lại và giãn ra. Sẽ có ích nếu chúng ta nhớ rằng nước mắt là nước muối, cùng một chất với nước của đại dương ban sơ nơi chúng ta khởi thủy. Nước mắt kết nối chúng ta với nguồn gốc của mình và để cho dòng nước ban sơ của sự sống đó lại một lần nữa chảy trong huyết quản chúng ta.

Hơn nữa, khi đưa nỗi đau đến trái tim, khi trung thực thừa nhận sự yếu đuối và bất lực của mình, thì cuối cùng Chúa mới có thể bắt đầu truyền sức mạnh cho chúng ta. Tại sao? Bởi vì chỉ khi chúng ta đã bị suy sụp trong cảnh bất lực hoàn toàn, chỉ khi cuối cùng chúng ta đã ngã quỵ, thì Chúa mới có thể phái thiên thần xuống tiếp sức cho chúng ta, giống như Chúa đã phái thiên thần xuống tiếp sức cho Giê-su trong cơn thống khổ trong vườn Giết-sê-ma-ni.

Một đêm nọ, trước khi bị giết vài tháng, Martin Luther King nhận được một cú điện thoại đe dọa ám sát. Trước đó ông cũng đã từng bị điện thoại như vậy, nhưng vào đêm đó, nó khiến ông hoảng sợ và cảm thấy suy yếu tận xương tủy. Mọi nỗi hoảng sợ ập đến với ông cùng một lúc. Đây là những dòng ông đã viết kể lại chuyện diễn ra tiếp theo đó:

Tôi ra khỏi giường và bắt đầu đi lại trong nhà. Cuối cùng tôi vào bếp hâm bình cà phê. Tôi đã sắp ngã quỵ. Đặt tách cà phê trước mặt mà không hề đụng vào, tôi cố gắng nghĩ tới cách làm sao thoát ra khỏi tình cảnh này mà không tỏ ra hèn nhát. Trong trạng thái kiệt sức này, khi tất cả dũng khí của tôi đã tan biến, tôi quyết định đem các vấn đề ra bày tỏ với Chúa. Tay ôm đầu, tôi quỳ xuống trước cái bàn trong bếp và cầu nguyện to lên. Những từ tôi nói với Chúa vào giữa đêm đó vẫn còn sống động trong tâm trí tôi:

“Con ở đây với một lập trường mà con tin là đúng. Nhưng giờ đây con đang hoảng sợ. Mọi người đang trông chờ con lãnh đạo mà nếu đứng trước họ con  không còn sức mạnh và dũng cảm, thì họ cũng sẽ lung lay. Con nay đang kiệt cùng sức lực. Con không còn gì. Con đã tới lúc không thể nào một mình đối diện được nữa.” Vào giây phút đó, tôi trực nhận sự hiện diện của Đấng Thiêng Liêng như thể trước đó chưa bao giờ tôi từng trực nhận Người.

Trevor Herriot nói, chỉ sau khi hoang mạc đã tàn phá chúng ta, thì thiên thần mới đến và tiếp sức cho chúng ta. Đó là lý do tại sao tốt hơn chúng ta nên cảm nhận nỗi đau của mình hơn là tìm hiểu chúng, tốt hơn là khóc thay vì lo lắng.

Biến nội tâm hỗn loạn thành khu vườn bình an

Gần như mọi truyền thống linh đạo đều có một chỗ đặc biệt dành cho hoang mạc, vùng đất hoang sơ, và những nơi mà chúng ta không được bảo vệ và có thể chịu hiểm họa từ thiên nhiên chưa thuần hóa, các ác thú hoang dã và các thần linh ghê sợ. Quan niệm này có gốc rễ sâu xa trong các tôn giáo cổ xưa lẫn trong chính tâm trí con người.

Chẳnh hạn ở Babylon cổ đại, các vùng đất hoang vu, chưa trồng trọt cấy cày được coi là nơi Chúa chưa hoàn thành công việc tạo tác, còn chứa những thể hỗn loạn vô hình và tiền tạo vật vô thần. Người ta coi đó vừa là cái chưa hoàn tất vừa là nơi các lực lượng nguy hiểm lẩn lút, như ác thú và quỷ dữ. Vì vậy khi nhận một mảnh đất hoang chưa trồng trọt, người dân hiểu rằng phải thực hành các nghi lễ tôn giáo nhất định, nôm na là để tuyên bố mảnh đất đó đã trở thành đất dành cho Chúa, để khai hóa, và được an toàn. Đối với Babylon cổ đại, một khu vườn được trồng trọt là nơi an toàn và thiêng liêng trong khi vùng hoang mạc không cấy cày là nguy hiểm, và theo một nghĩa đen tối là đối nghịch với Chúa.

Trong các nền văn hóa khác cũng có những ý niệm tương tự, coi vùng hoang dã là nơi ở của thần rừng, nhân mã, người khổng lồ độc ác và các linh hồn quỷ dữ. Các câu chuyện hoang đường và cổ tích chứa đầy các hình ảnh này. Trong các câu chuyện cổ tích Âu châu thời Trung cổ lại thêm ý “những khu rừng sâu hút và tăm tối” vào khái niệm này. Đó cũng được coi là nơi hoang vu nguy hiểm, nơi mà các linh hồn xấu xa hay quỷ dữ có thể bắt giữ bạn, hay là nơi mình có thể bị lạc lối không cách gì lần ra được. Những khu rừng sâu hút, tăm tối không phải là nơi bạn nên mạo hiểm mà không có hướng dẫn rành đường.

Nhưng những nơi hoang dã đó cũng được hiểu là sẽ không tồn tại mãi mãi mà Chúa và chúng ta để nguyên như vậy. Ý niệm trong truyền thống linh đạo Ki-tô là chúng ta, những con người có đức tin, sẽ giúp Chúa hoàn tất công việc tạo tác của Người bằng cách thuần hóa những nơi hoang vu này, đẩy lùi tà ma ở đó, và biến nơi hoang vu này thành một khu vườn. Vì vậy Ki-tô giáo đã phát triển ý niệm rằng những người được vũ trang đặc biệt với ánh sáng và sự bảo vệ thiêng liêng, các  nam nữ tu sĩ có thể và nên đi đến những nơi hoang vu này để chuyển vùng hoang dã không an toàn thành khu vườn an toàn. Bên cạnh các lý do khác, điều này giải thích vì sao các nam nữ tu sĩ thường chọn những vùng đất hoang vu để xây tu viện và nhà tu kín.

Nỗi sợ hãi vùng hoang dã không trồng trọt này cũng một phần do nỗi sợ hãi của giáo hội đối với việc truy vấn và khám phá vũ trụ. Galileo trực tiếp hiểu được điều đó. Giáo hội ngày xưa vẫn cảnh cáo: tránh xa khỏi những nơi tối tăm nhất định.

Một cách tinh tế, chúng ta vẫn còn mang cả khái niệm và nỗi sợ hãi này. Ngày nay điều chúng ta sợ hãi không phải là những vùng đất chưa khai phá (bây giờ chúng ta lại thấy chúng là vùng đất bình an và yên tĩnh đầy mời gọi). Mà đúng hơn, đối với nhiều người chúng ta, cái vùng hoang dã, không thuần hóa đó giờ đây hiển hiện nơi những vùng có băng nhóm côn đồ quấy phá trong thành phố, những ngôi nhà đổ nát bị bỏ hoang, những quán rượu của người độc thân, các câu lạc bộ thoát y vũ, các khu có đèn đỏ lờ mờ. Những nơi đó được hiểu là nằm ngoài đời sống có giáo dục của chúng ta, tách biệt hẳn khỏi sự an toàn của gia đình và tôn giáo, những nơi vô thần, nguy hiểm, hoang dã.
Nhưng điều còn khiến chúng ta sợ hãi hơn nữa, là những hoang mạc không thuần hóa ngay trong lòng chúng ta, những miền tối tăm không được khám phá trong chính chúng ta. Giống như người cổ đại, chúng ta sợ những gì có thể đang nằm ẩn nấp ở đó, sợ chúng ta có thể bị tổn thương nếu bước vào đó, các ác thú và quỷ dữ có thể ăn thịt chúng ta, và có thể một cơn cuồng phong hỗn loạn có thể nuốt chửng chúng ta nếu chúng ta mạo hiểm bước vào. Chúng ta cũng sợ những nơi không được khai phá, ngoại trừ nỗi sợ hãi của chúng ta không phải là cho sự an toàn thể lý của mình, mà là cho sự tỉnh táo tinh thần và thánh thiện của chúng ta.

Và nỗi sợ hãi này không phải là không thông minh. Thông minh là không ngây thơ. Trong nhiều thế kỷ, cha mẹ vẫn kể cho con cái nghe những câu chuyện cổ tích rùng rợn về ác quỷ lẩn quất trong các khu rừng tối, chúng đi tìm trẻ con để ăn tươi nuốt sống hay nướng trên bếp lò! Những câu chuyện này kể cho trẻ con không phải là để chúng bị ác mộng, mà đúng hơn là để răn dạy chúng không được ngây thơ về những gì hay những ai mà chúng gặp. Không phải ai cũng đáng tin cậy, và sẽ là thông minh, đặc biệt khi mình còn nhỏ tuổi, dễ bị tổn thương, không được bảo vệ, nếu mình cố kết với nhau tránh xa những nơi tăm tối, và giữ an toàn.

Tuy vậy, đức tin Ki-tô của chúng ta mời gọi chúng ta tới những nơi đó, đối mặt với ác thú hoang dã đang ở đó, và biến các vùng nguy hiểm đó thành vùng đất được trồng trỉa, thành khu vườn an toàn. Rốt cuộc đây là điều mà Giê-su đã làm: người đi đến từng chỗ tăm tối, từ các quán rượu của người độc thân thời người còn sống, cho đến cõi chết và chính địa ngục, rồi chiếu ánh sáng của Chúa và ban phước lành ở đó. Nhưng người không ngây thơ. Người chú ý đến lời khuyên của những câu chuyện cổ tích và không mạo hiểm tới đó một mình. Người bước vào các thế giới ngầm đó, tay người an toàn trong bàn tay Cha, Người không đi một mình. 

Đức tin là để chúng ta không còn sợ hãi, kể cả nỗi sợ hãi những ác thú hoang dã và quỷ dữ lẩn quất trong những hoang mạc của tâm hồn, trái tim và năng lượng chúng ta. Chúng ta phải biến những nơi tăm tối hoang vu đó thành những khu vườn an toàn. Nhưng chúng ta cần chú ý đến những linh tính của chính mình lẫn thiên hướng của những câu chuyện cổ tích: đừng bao giờ mạo hiểm đi vào các khu rừng tối một cách ngây thơ và đi một mình! Hãy bảo đảm rằng bạn đã được trang bị một đức tin vững chãi và bạn đang nắm chặt tay Cha bạn mà đi.

Thách thức của việc chấp nhận vui thú mà không mặc cảm tội lỗi

Nhiều người trong chúng ta phải chịu một tội lỗi manh nha nào đó. Nói một cách đơn giản, chúng ta gắng gỗ làm sao để hưởng vui thú một cách lành mạnh mà không mang mặc cảm tội lỗi, để không cảm thấy tội lỗi mỗi khi mình cảm thấy thoải mái, để không phải xin lỗi về vận may của mình.

Thay vào đó, chúng ta có xu hướng, cho dù chỉ trong tiềm thức, gắn sự sâu sắc và tôn giáo với những gì u ám, buồn bã, tan vỡ, và sầu muộn. Nhân danh sự sâu sắc và tôn giáo, chúng ta khắc kỷ thay vì vui vẻ chấp nhận niềm vui thú. Tôi ngờ rằng, nhiều người chúng ta khổ sở vì không có khả năng sung sướng hưởng thụ hơn các thú vui trần thế của cuộc đời. Thay vào đó chúng ta luôn luôn ôm lấy cảm giác tội lỗi manh nha nào đó về niềm vui thú.

Và vậy là chúng ta có những tiên đề tôn giáo không nói ra nào đó nhưng chúng ta lấy đó làm chuẩn mực để sống theo: Nếu đau đớn hơn thì càng tốt cho anh! Sắc đẹp là niềm sung sướng xa xỉ ngoại đạo. Phúc âm kêu gọi chúng ta khắc khổ về thể xác và tinh thần. Một con người sâu sắc thật sự thì không hoàn toàn hưởng thụ vui thú, đặc biệt là vui thú về thể lý. Dè dặt và lo lắng trước lạc thú là lành mạnh về mặt thiêng liêng. Thách thức của Chúa Giê-su là về chuyện từ bỏ nhiều hơn là về chuyện tận hưởng cuộc sống mà Chúa ban cho chúng ta.

Nhưng mặc cảm tâm lý và tôn giáo này tồn tại trong tất cả các nền văn hóa, chứ không phải chỉ là vấn đề của Ki tô giáo. Quá nhiều người đổ lỗi là truyền thống giáo dục tôn giáo của họ đã gây ra cảm giác tội lỗi, trong khi trên thực tế, gốc rễ của chúng nằm rất sâu xa và bên ngoài tôn giáo. Đây không phải là “chứng loạn thần kinh Ki-tô giáo”; mà là vấn đề của con người. Trong mọi nền văn hóa và mọi tôn giáo, phần lớn những người lớn nhạy cảm đều khổ sở vì một nỗi phiền muộn kinh niên nào đó, tức là, họ thấy khó mà giản dị vui hưởng cuộc sống mà không đồng thời thấy những bóng tối bao phủ niềm vui sướng trong phút chốc đó.

Và vì vậy, giống như những người ngồi quanh bàn với Chúa Giê-su buổi tối nọ khi có người phụ nữ mở lọ dầu thơm đắt tiền đổ lên chân Chúa, khóc lóc bên chân Người và lấy tóc lau chân Người, niềm vui thú không ở với chúng ta một cách thoải mái. Mà thay vào đó, trước một niềm vui thú ban sơ, chúng ta ngại ngùng tránh né, viện lý do này nọ biện giải tại sao chuyện đó không nên xảy ra.

Điều đó thì có thể chấp nhận được, nhưng chúng ta không nên cố gắng giải thích duy lý thái độ dè dặt loạn thần kinh này nhân danh Chúa Giê-su, Ki-tô giáo, tôn giáo, hay chiều sâu tâm hồn. Chúng ta không nên nhầm lẫn giữa Hamlet và Giê-su.

Trong cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình, Những Thanh toán Cuối cùng (Final Payments), Mary Gorden kể câu chuyện của một cô gái trẻ chật vật đấu tranh với chính chứng loạn thần kinh này, tình trạng không có khả năng vui hưởng cuộc sống. Đã chịu khổ trong một quãng đời khó khăn, nỗi u ám và thiếu vắng niềm vui cuộc đời của cô lại càng tăng lên do cách diễn giải của chính cô về linh hướng Công giáo, và đặc biệt bởi Margaret, người phụ nữ mà cô sống chung, một người mà sự khắc khổ, mộ đạo và thiếu vắng niềm vui lại quá dễ dàng được cho là có chiều sâu tâm hồn và tín tâm với Chúa Cứu Thế. Một chiều nọ, sau cuộc cãi cọ chua chát với Margaret, cô khóc lóc chạy lao ra khỏi phòng, thì bỗng nhiên một trực nhận lớn lao lóe lên trong cô:

Đó là một trong những điều kỳ diệu của giáo dục Công giáo khi xung lượng của một vài từ có thể đưa toàn bộ câu chuyện ra ánh sáng với tính cách đột ngộ và sáng rõ đến mức làm say mê. “Người nghèo thì con lúc nào cũng có.” Tôi biết Đức Ki-tô đã nói câu này ở đâu: Ở ngôi nhà của Mác-ta và Ma-ri. Ma-ri mở lọ dầu thơm và xức lên chân Chúa. Dầu cam tùng. Tôi nhớ rồi. Và cô lấy tóc lau chân Chúa. Giu-đa đã quở trách cô: Hắn nói rằng dầu thơm đó phải để bán cho người nghèo. Nhưng thánh Gio-an đã nhận xét: Giu-đa nói vậy chỉ vì hắn giữ túi tiền và là một tên ăn trộm. Và Chúa đã nói với Giu-đa và Ma-ri đang còn quỳ dưới chân Người, tóc của cô xõa xung quanh Người: “Người nghèo thì con lúc nào cũng có: nhưng Thầy thì không phải lúc nào con cũng có.”

Cho đến trước giây phút đó, khi giận dữ đi lên cầu thang tối tăm về căn phòng xấu xí của mình, tôi vẫn chưa hiểu lời nói đó. Đối với tôi, nó dường như biện hộ cho sự thừa mứa quá độ của các ông chủ nhà ngân hàng béo ị và bạo ngược. Nhưng giờ thì tôi đã hiểu. Điều mà Đức Ki-tô nói, điều Người muốn nói, là niềm vui thú làn tóc kia, dầu thơm kia, phải được tận hưởng. Bởi vì cái chết sẽ bất ngờ ập tới cướp đi mạng sống chúng ta chẳng chóng thì chầy. Chúng ta không được cướp đi của chính mình và những người thân yêu của mình niềm sung sướng của những yêu mến cuồng nhiệt. Chúng ta đừng cố đoán trước cái chết bằng cách chối từ không thương yêu những người chúng ta yêu thương để mà đi thương những người nghèo mình không biết mặt.

Và rồi tôi chợt nghĩ, khi đang dò dẫm tìm ánh sáng trong hành lang, rằng tôi đã là một tên ăn trộm. Giống Giu-đa, tôi đã muốn giấu vàng đi, đem vàng ra đếm giữa đêm hôm khuya khoắt, đánh cược món vàng vào một vụ đầu tư an toàn và chết người nào đó. Chính sự nghèo khó của Margaret là thứ tôi muốn đánh cắp, cái an toàn của sự bất lực của cô ta trong việc gợi mở tình thương yêu. Vì vậy, sẽ không bao giờ người ta còn thấy tôi khóc than, như Ma-ri, bên tấm bia mộ khi bình minh ló dạng. … Giờ đây tôi đã biết rằng tôi phải mở lọ dầu thơm đó. Tôi phải mở cuộc đời tôi ra. Giờ đây tôi đã biết rằng tôi phải rời bỏ. Nhưng tôi chưa sẵn sàng, tôi sẽ phải gầy dựng sức mạnh cho mình.
Tôn giáo chân chính đặt ra cho chúng ta một thách thức kép: sẵn sàng từ bỏ cuộc đời – và sẵn sàng tận hưởng cuộc đời!

Kín đáo ăn chay và cầu nguyện

Triết gia David Hume từng phân biệt giữa cái ông gọi là đức hạnh chân thật và cái ông đặt tên là đức hạnh giống tu sĩ. Ông nói, đức hạnh chân thật là những phẩm chất bên trong chúng ta mà có ích cho người khác và bản thân chúng ta. Còn các đức hạnh giống tu sĩ là những phẩm chất không nâng cao đời sống con người, đối với xã hội cũng như bản thân người thực hành những phẩm chất đó. Ông liệt kê các đức hạnh giống tu sĩ như việc sống độc thân, ăn chay, sám hối, hành xác, tiết dục, nhún nhường, thinh lặng và cô tịch. Ông chứng minh những điều đó chẳng đóng góp gì cho xã hội và thậm chí còn làm giảm đi sự tốt lành thịnh vượng của con người. Do vậy, ông quả quyết rằng những điều đó bị chối bỏ bởi “những người hiểu biết”. Điều này xem ra khó nghe đối với người có đạo.

Nhưng những gì tiếp theo đó còn khó nghe hơn. Những người thực hành những đức hạnh giống tu sĩ phải trả một giá đắt, ông nói, sức khỏe của họ không tốt và họ bị loại ra khỏi cộng đồng con người: con người nhiệt tình nông nổi và ảm đạm đó, sau khi chết, có thể có tên ghi trong cuốn lịch, nhưng khi còn sống thì khó có thể được ai chấp nhận vào vòng thân thuộc và vào xã hội, trừ những người cũng mê sảng và chán ngắt như vậy.

Mặc dù điều này nghe tàn nhẫn, nhưng nó mang một lời cảnh cáo lành mạnh, nhắc lại rõ ràng điều Giê-su đã nói khi người cảnh cáo chúng ta phải kín đáo ăn chay, cầu nguyện, đừng có bộ mặt ảm đạm khi tu hành khổ hạnh, bảo đảm rằng lòng mộ đạo của chúng ta không quá lộ liễu trước đông người. Nếu Giê-su có nói rõ ràng về điều gì, thì đây chính là điều người đã nói rõ.
Tại sao? Tại sao chúng ta phải tránh mọi việc phô diễn trước đông người về việc ăn chay, tu hành khổ hạnh và cầu nguyện riêng tư của chúng ta?

Một phần cảnh cáo của Giê-su là chống thói đạo đức giả và giả dối, nhưng còn hơn vậy nữa. Còn có vấn đề về việc chúng ta toát ra như thế nào và chúng ta được cảm nhận ra sao. Khi chúng ta bộc lộ sự khổ hạnh và mộ đạo trước đông người, dù có chân thành đi nữa, thì điều chúng ta muốn toát ra và điều người khác cảm nhận về chúng ta (mà không chỉ là những David Humes của thế giới này) là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Chúng ta có thể bày tỏ đức tin vào Chúa và sự trung tín đối với những gì vượt xa hơn kiếp sống này, nhưng những người khác dễ dàng diễn giải quan điểm và hành động của chúng ta như một  tình trạng yếu đuối, u sầu, phiền muộn, khinh khi những chuyện thông thường, và là một sự bù đắp chẳng-đáng-kể-gì cho việc phải mất đi sức sống.

Và đó chính xác là điều ngược lại với những gì chúng ta cần tỏ ra. Tất cả các đức hạnh giống tu sĩ (mà chúng là những đức hạnh thật sự) nhằm làm cho tâm hồn chúng ta mở ra để tiếp cận thân mật sâu sắc hơn với Chúa và vì vậy, nếu lời cầu nguyện và tu hành khổ hạnh là lành mạnh, thì những gì chúng ta sẽ tỏ ra chính là an mạnh, vui vẻ, thương yêu thế giới này, và cảm nhận những niềm vui bình thường của cuộc sống là phước lành Chúa ban.

Nhưng không dễ gì làm được điều đó. Chúng ta không toát ra được đức tin của mình nơi Chúa và toát ra là đang an mạnh bằng cách chấp nhận một cách không suy xét hay hô hào cổ vũ mọi nỗ lực để vui vẻ của thế giới này, cũng không phải bằng cách gượng cười giả tạo trong khi sâu thẳm bên trong chúng ta đang khó lòng kiểm soát được trầm uất. Chúng ta toát ra đức tin nơi Chúa và an mạnh qua việc toát ra tình thương, bình an và thanh thản. Và chúng ta không thể làm điều đó nếu toát ra sự khinh khi đối với cuộc sống hay đối với cái cách những con người bình thường kiếm tìm hạnh phúc trong cuộc sống này.

Và đó là một thách thức khó khăn, đặc biệt ở thời buổi này. Trong một nền văn hóa như nền văn hóa này, chúng ta dễ dàng nuông chiều bản thân mình, thiểu hiểu biết sâu sắc về sự hy sinh, đắm chìm trong đời sống và bản thân đến mức đánh mất tất cả ý thức về cầu nguyện, và sống không hề tiết dục chút nào, đặc biệt về mặt tình cảm. Bên cạnh những chuyện khác, chúng ta còn thấy điều đó trong căn bệnh bận rộn của mình, trong tình trạng mất khả năng duy trì đời sống cầu nguyện riêng tư, ngày càng mất đi năng lực trung tín với những gì mình cam kết, và với những nỗ lực gắng gỗ chống lại mọi thể loại nghiện ngập: thức ăn, rượu chè, tình dục, thú vui giải trí, công nghệ thông tin. Khiêu dâm trên internet đã là bệnh nghiện lớn nhất của toàn thế giới. Cầu nguyện và ăn chay (ít nhất trong tình cảm) đang thiếu hụt. Những đức hạnh giống tu sĩ giờ đây đang cần có hơn bao giờ hết.

Nhưng chúng ta phải thực hành các đức hạnh đó mà không phô diễn trước đông người, không khinh khi tính chất tốt lành vốn được Chúa ban cho trong mọi thứ của thế giới này, không ám chỉ rằng sự thánh thiện riêng tư là quan trọng đối với chúng ta và với Chúa hơn những điều tốt lành thông thường của thế gian này, và không ngụ ý rằng Chúa không muốn chúng ta vui vẻ với tạo vật của người. Thực hành khổ hạnh và cầu nguyện của chúng ta phải thực chất, nhưng chúng phải toát ra sự an mạnh, chứ không phải là sự bù đắp cho việc không an mạnh.

Và như vậy, một sự an mạnh chứng tỏ sự tốt lành của Chúa, chính xác là điều tôi thấy ở những ai thực hành các đức hạnh giống tu sĩ theo cách lành mạnh. Cầu nguyện và ăn chay, nếu làm đúng đắn, sẽ toát lên sự an mạnh, không phải là khinh khi. Nếu David Hume đã chứng kiến sự an mạnh và tình thương yêu của Giê-su trong việc cầu nguyện và thực hành khổ hạnh của ông thì hẳn là, tôi nghĩ, ông đã viết khác đi về đức hạnh giống tu sĩ.

Vì vậy chúng ta cần xem xét nghiêm túc hơn lời dạy của Giê-su rằng việc thực hành khổ hạnh và cầu nguyện riêng tư phải được làm “trong kín đáo”, đằng sau cánh cửa đóng kín, để vẻ mặt chúng ta bộc lộ ra trước đông người toát lên an mạnh, vui vẻ, thanh thản và thương yêu những điều tốt lành Chúa đã tạo ra, người mà cầu nguyện và thực hành khổ hạnh đã đưa chúng ta đến gần hơn.