RonRolheiser,OMI

Trưởng thành trong các mối quan hệ và cầu nguyện

Vài năm trước, một người bạn kể cho tôi nghe câu chuyện này: là người được giáo dục trong đạo Công giáo La Mã, cốt yếu là trung thành đi lễ, cố gắng sống đạo đức lương thiện, ở độ tuổi ngoài bốn mươi, anh cảm thấy mình có những nỗi nghi ngờ dằn vặt, không thể nào cầu nguyện, và thậm chí không thể nào (khi chân thành tự vấn) tin vào sự hiện hữu của Chúa.

Lo lắng về chuyện này, anh tìm linh hướng, anh đến gặp một linh mục dòng Tên, một vị linh hướng nổi tiếng. Anh nghĩ mình sẽ được nghe các chỉ bảo quen thuộc về đêm tăm tối của tâm hồn và cách thế những chuyện này sẽ làm đức tin được tinh tuyền, và, vì đã quen thuộc với những lời lẽ như vậy, anh cũng không chờ đợi gì nhiều. Chắc chắn anh không nghĩ mình sẽ nhận một lời khuyên như anh đã nhận.

Cha hướng dẫn dòng Tên không thử giúp anh có bất kỳ một suy tư thần học sâu sắc nào về nỗi nghi ngờ và những đêm tăm tối của đức tin. Thay vào đó, giống như tiên tri E-li-sa đã làm với Na-a-man, người Xi-ri bị hủi, ông cho bạn tôi một lời khuyên nghe chừng quá sức đơn giản, tới nỗi gây khó chịu hơn là đem lại hy vọng: cha dòng Tên chỉ đơn giản nói với anh ta: hãy tự hứa với bản thân là phải ngồi cầu nguyện thinh lặng nửa giờ mỗi ngày, liên tục như vậy trong vòng sáu tháng. Tôi bảo đảm nếu anh bền bỉ làm như vậy, thì sau sáu tháng, anh sẽ khôi phục được lòng tin ở Chúa.

Bạn tôi, cực kỳ bối rối với điều anh cảm thấy đây là lời khuyên quá sức đơn giản, đã phản đối rằng phần lớn nhất trong vấn đề của anh chính là anh không thể cầu nguyện, không thể chuyện nói với vị Chúa mà anh nghĩ vị Chúa đó không hiện hữu: Làm sao tôi có thể cầu nguyện được khi tôi không còn tin có Chúa?

Vị linh mục dòng Tên cương quyết: Cứ làm đi! Hãy nỗ lực vượt bực và ngồi cầu nguyện thinh lặng nửa giờ mỗi ngày, kể cả khi anh cảm thấy mình như đang nói chuyện với bức tường. Đó là lời khuyên thực tế duy nhất mà tôi có thể cho anh.”

Bất chấp nỗi ngờ vực của mình, bạn tôi nghe theo lời khuyên của cha dòng Tên và bền bỉ ngồi cầu nguyện thinh lặng nửa giờ mỗi ngày trong suốt sáu tháng, và sau sáu tháng, anh đã khôi phục cảm thức vào Chúa, cũng như cảm thức vào cầu nguyện.

Tôi tin rằng câu chuyện này nêu bật lên đôi điều quan trọng: Niềm tin của chúng ta về sự hiện hữu của Chúa gắn bó rất lớn đến việc cầu nguyện liên lỉ. Tuy nhiên, và đây là điều nghịch lý, khó mà duy trì được đời sống cầu nguyện, lý do chính là vì đức tin chúng ta thường yếu ớt. Nói đơn giản, cầu nguyện không dễ dàng gì. Chúng ta nói dễ dàng về cầu nguyện, nhưng chúng ta vất vả lắm mới duy trì được cầu nguyện thực sự, lâu dài trong đời sống.

Cầu nguyện chỉ dễ dàng đối với những người mới bắt đầu và những ai đã thành thánh. Suốt những năm tháng dài dằng dặc giữa hai mốc đó, thì cầu nguyện là khó khăn. Tại sao? Bởi vì cầu nguyện có cùng động lực nội tại như tình yêu, mà tình yêu thì chỉ ngọt ngào ở giai đoạn đầu tiên, khi lần đầu tiên chúng ta phải lòng, và ở giai đoạn cuối, khi đã chín chắn. Còn ở giữa hai giai đoạn đó, tình yêu là nỗ lực khó khăn, lòng trung thành bền bỉ, và cần phải có quyết tâm mạnh mẽ hơn hẳn những gì mà thông thường cảm xúc và óc tưởng tượng chúng ta thúc đẩy.

Cầu nguyện cũng y như vậy. Ban đầu khi mới cầu nguyện, cũng giống như khi người trẻ đang yêu, chúng ta có khuynh hướng có một giai đoạn tha thiết, say mê, là thời gian mà cảm xúc và óc tưởng tượng giúp chúng ta cảm thức rằng Chúa tồn tại và Chúa nghe thấy những lời cầu nguyện của mình. Nhưng khi đi sâu hơn và trưởng thành hơn trong mối quan hệ với Chúa, cũng như trong mối quan hệ với một người chúng ta thương yêu, thì thực tại bắt đầu xua tan đi ảo tưởng. Không phải chúng ta bị vỡ mộng về Chúa, mà đúng hơn là chúng ta nhận ra rằng quá nhiều những ý nghĩ và cảm xúc sôi nổi mà trước đây chúng ta tin là về Chúa thật ra là về chính chúng ta. Vỡ mộng là một điều tốt. Đó là xua tan ảo tưởng. Cái mà chúng ta tưởng là cầu nguyện thật ra là một phần của trạng thái mê hoặc về chính chúng ta.

Khi ảo mộng bắt đầu tan vỡ, và đó là thời điểm trưởng thành trong đời sống chúng ta, dễ dàng cho rằng chúng ta bị vỡ mộng về người kia, người mà chúng ta đã phải lòng, hoặc trong trường hợp cầu nguyện là Chúa. Phản ứng dễ dàng nhất là rút lui, từ bỏ, coi toàn bộ sự việc là ảo tưởng, một sai lầm ngay từ đầu. Trong đời sống thiêng liêng, thường đó là lúc chúng ta thôi không cầu nguyện nữa.

Nhưng đó là lúc cần chính điều ngược lại. Điều chúng ta cần làm lúc đó là nỗ lực vượt bậc, làm như chúng ta đã từng làm, nhưng trừ đi những suy nghĩ và cảm xúc sôi nổi, chán ngán, nghi hoặc, và gột bỏ mê hoặc về chính mình. Càng đi sâu vào các mối quan hệ và vào cầu nguyện, chúng ta càng trở nên do dự về bản thân mình, và đây là khởi đầu của sự trưởng thành: Đó là khi tôi nói, tôi không biết làm thế nào để yêu và tôi không biết làm thế nào để cầu nguyện, là tôi bắt đầu hiểu tình yêu và cầu nguyện thật sự là như thế nào.

Vì vậy, chẳng có lời khuyên nào hay hơn là lời khuyên mà vị linh mục dòng Tên nọ đã nói với bạn tôi, người nghĩ rằng mình là kẻ vô thần: Hãy cố gắng vượt bậc! Ngồi xuống khiêm nhường và thinh lặng thật lâu, cho tới khi nào anh có thể bắt đầu nghe thấy một người nào đó khác, chứ không phải chính mình.

Bị giằng co bởi các đại văn hào

Nữ văn sĩ người Anh A.S. Byatt có lẽ là tiểu thuyết gia viết bằng tiếng Anh hàng đầu ngày nay. Chắc chắn một ngày nào đó bà sẽ được trao tặng Giải Nobel văn chương.

Cuốn tiểu thuyết mới nhất của bà, Quyển sách của Trẻ em (The Children’s Book), giống như mọi tiểu thuyết của bà, cô đặc, đầy thách thức, và không dễ đọc. Khó đọc không phải chỉ vì dày (hơn 600 trang) và hòa trộn rất nhiều lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc, chính trị, kinh tế, áp bức, ý thức hệ, thần thoại, tình yêu, tình dục, lạm dụng, cuộc sống gia đình, mà còn vì nó làm đảo lộn một suy nghĩ đã có sẵn. Cuộc sống, như bà dàn ra, không đi theo những đường luân lý rõ ràng, dễ dàng xác định. Bất kỳ nhận thức dễ dãi nào về lịch sử, luân lý, gia đình hay tình dục, đều tan vụn khi bạn đọc bà. Như tất cả các đại văn hào, Byatt đã đảo lộn và kéo căng tâm trí.

Và phải nói điều gì đây về sự đảo lộn này? Có lành mạnh không? Nếu là Ki-tô hữu với những niềm tin đã rõ ràng về cuộc đời, luân lý, tính dục, gia đình, thì có lành mạnh không nếu chúng ta tiếp xúc với loại gây đảo lộn này? Chẳng lẽ chúng ta không nên đọc những loại củng cố đức tin và luân lý sao? Tại sao lại cố tình mò vào hang cọp tri thức và luân lý?

Bởi lẽ, tôi tin rằng, cái hang cọp này chứa đựng một phần chìa khóa dẫn tới luân lý và đức tin trưởng thành.

Một đức tin trưởng thành là một đức tin đã qua thử thách và bất kỳ các nguyên tắc luân lý nào đáng để chúng ta bái ngưỡng đều không được chùn bước trước những cái phức tạp thật sự của đời sống. Quan trọng là chúng ta có được gốc rễ vững chắc và được nuôi dưỡng trong giáo lý đức tin và các nguyên tắc luân lý của mình; nhưng để đạt đến mức độ trưởng thành, chúng ta cũng phải bị/được kéo căng và buộc phải đi qua những miền hoang vắng mà, đặc biệt là ban đầu, có thể có vẻ hỗn độn, bất ổn, và đầy đe dọa. Điều nghịch lý là bất ổn này lại có tính chất nuôi dưỡng. Nếu con tim và trí óc chúng ta rộng mở, chúng ta có thể tìm thấy trong khoảng không gian bất ổn đó đôi điều quan trọng và phong phú, nó sẽ mở rộng và làm giàu về nhân tính lẫn trong đức tin và luân lý của chúng ta.

Đây là cách Byatt đã mô tả trong cuốn Quyển sách của Trẻ em: Philip Warren, một trong những nhân vật của bà, một nghệ sĩ trẻ đầy khát vọng, anh sống trong bảo bọc, thậm chí còn thiếu cả học vấn cơ bản. Được một số nhà bảo trợ giàu có đưa đến Paris, anh nhìn lại mình, một thanh niên non nớt không được giáo dục, đứng trong phòng triển lãm của điêu khắc gia Rodin, chăm chú nhìn tác phẩm của bậc thầy vĩ đại này. Những gì anh nhìn thấy đã phá tung thế giới của anh, nhưng anh cũng cảm nhận một điều gì đó khác:

Những hình thể điêu khắc lớn lao của da thịt và cơ bắp lù lù ẩn hiện. Những khuôn mặt phụ nữ lạnh lẽo thanh tú nổi lên từ đá tảng xù xì, hay ẩn rút trong đó. Đâu đâu cũng thấy một sinh lực khủng khiếp – quằn quại, rướn sức, săn đuổi, chạy trốn, ôm siết, gào thét, nhìn chòng chọc. Phản ứng bản năng đầu tiên của Philip là quay đầu bỏ chạy. Những cái đó là quá sức. Quá mạnh tới mức sẽ hủy hoại anh – khi đối diện với cơn lốc xoáy sáng tạo điêu luyện này, làm sao anh còn có thể tạo ra những hình người lưới mắt cáo và những chai lọ đơn sơ được nữa? Vậy nhưng lại có một thôi thúc ngược lại. Cái này quá tuyệt vời, phản ứng duy nhất trước nó là tạo ra một cái gì đó. Anh suy nghĩ bằng các ngón tay và đôi mắt. Anh liều lĩnh lướt bàn tay trên những hông, những bờ môi, những ngón chân và những món tóc chạm khắc, để cảm thấy cho được chúng đã được tạo ra như thế nào.

Có một bài học ở đây, tôi tin như vậy: Chúng ta phải cẩn trọng về những gì chúng ta cho phép bước vào cuộc đời mình. Đôi khi sinh lực có thể dữ dội đến mức phá hủy, hay tiêu diệt đức tin và luân lý chúng ta. Một tinh thần lành mạnh gắn keo làm cho chúng ta vững chắc, còn phơi ra quá mức trước những gì hoang dã có thể làm cho nó tan vụn ra. Nhưng điều ngược lại cũng đúng: Chúng ta không thể nào che chắn cho đức tin và luân lý của mình bằng cách giam mình trong một căn phòng để được an toàn mà hoàn toàn đoạn tuyệt với tư duy và nghệ thuật, một căn phòng trong đó các nghệ sĩ vĩ đại và nhà văn thế tục bị coi là những mối đe dọa.

Khi học triết ở trường dòng, tôi có hai loại giáo sư: Một nói với tôi rằng, là học viên trường dòng, chúng tôi phải đọc những tư tưởng vĩ đại như Kant, Hegel, Feuerbach, Durkheim, và Marx chỉ để chúng tôi có thể phản bác họ. Loại thứ hai khuyên khác: “Cứ công nhận như vậy, vì đó là những bộ óc có đôi điều để dạy anh, điều gì đó sẽ giúp ích cho anh rất nhiều, ngay cả đối với đức tin của anh. Hãy cẩn trọng, nhưng hãy rộng mở!”

Cẩn trọng, nhưng rộng mở, thật sự đó là chìa khóa: Mọi vương quốc đều cần được bảo vệ. Tin khác đi là ngây thơ. Có những mối nguy hiểm trong việc đơn giản mở rộng lòng mình một cách ngây thơ và bừa bãi với tất cả mọi thứ và bất kỳ thứ gì rực rỡ, tràn đầy năng lượng tình cảm hay căng đầy sức sống. Đôi khi sức mạnh nguyên sơ của nó có thể tràn ngập và chôn vùi chúng ta. Ở xã hội phương Tây ngày nay không phải vì thiếu sinh lực mà chúng ta có vấn đề. Trái lại, ngày nay chuyện quá thường xảy ra là người ta thiếu một điều gì đó để có thể bám víu về mặt luân lý và tín ngưỡng.

Nhưng đôi khi trong giới giáo hội của chúng ta, điều ngược lại là đúng. Chúng ta quá khiếp sợ trước sinh lực, đặc biệt khi nó biểu hiện ra trong nghệ thuật và văn chương. Goethe từng viết: Có nhiều mối nguy hiểm đối với cuộc đời, và sự an toàn là một trong những mối nguy hiểm đó. Có thể việc đọc những cuốn sách như Quyển sách của Trẻ em của A. S. Byatt sẽ khiến chúng ta bị đảo lộn, nhưng có lẽ, trên dặm đời xa thẳm, chúng ta sẽ còn bị đảo lộn hơn nữa nếu không đọc.

Gắng gỏi để sống trong giây phút hiện tại

Trong những năm cuối đời, Thomas Merton đã ẩn cư để cố gắng tìm cô tịch hơn trong đời sống. Nhưng cô tịch là một điều hết sức khó nắm bắt, và ông nhận thấy rằng nó liên tục chạy trốn ông.

Tuy nhiên, một buổi sáng nọ, ông có cảm nhận, ít nhất vào giây phút đó, ông đã tìm thấy nó. Nhưng cái mà ông trực nhận là điều hơi bất ngờ đối với ông. Hóa ra, sự cô tịch không phải là một trạng thái khác nào đó của sự tỉnh thức hay thậm chí một cảm giác thăng hoa nào đó về Chúa hay về tính siêu việt trong đời sống chúng ta. Sự cô tịch, như ông trực nhận, là trung thực trọn vẹn trong chính da thịt mình, trong giây phút hiện tại, cảm nhận tri ân trước sự phong phú bao la chứa đựng trong cuộc sống bình thường của con người. Cô tịch bao gồm sự hiện diện đủ trong chính đời sống của mình để trực nghiệm những gì đang ở đó.

Nhưng nó chẳng dễ dàng. Hiếm khi chúng ta thấy mình thật sự ở trong phút giây hiện tại. Tại sao? Do cái cách chúng ta đã được tạo nên. Chúng ta đã được nạp quá nhiều năng lượng để sống trong thế giới này. Khi Chúa đặt chúng ta vào thế giới này, như tác giả sách Giảng Viên nói, Người đã đặt “phi thời gian tính” vào trái tim chúng ta, vì vậy chúng ta không dễ dàng gì hòa điệu với cuộc sống của chúng ta.

Chúng ta đọc được điều này trong đoạn văn nổi tiếng về giai điệu các mùa trong sách Giảng Viên. Mọi thứ đều có một thời và một mùa để làm, chúng ta được bảo như vậy: Một thời để chào đời, một thời để lìa thế; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây; một thời để giết chết, một thời để chữa lành…, và cứ như vậy. Nhưng sau khi liệt kê cái giai điệu tự nhiên về thời và các mùa này, tác giả kết thúc với những lời sau đây: Chúa đã làm mọi sự hợp thời đúng lúc, nhưng lại đã đặt phi thời gian tính vào trái tim con người để cho con người không đồng điệu với thế gian này từ đầu chí cuối.

Từ trong tiếng Do Thái để diễn tả “phi thời gian tính” là Ha olam, một từ chỉ “vĩnh hằng” và “siêu việt”. Một số bản dịch tiếng Anh đã diễn đạt như thế này: Chúa đã đặt cảm giác về quá khứ và tương lai vào trái tim chúng ta. Có lẽ nói như vậy là cách nắm bắt sự việc tốt nhất, ít nhất là xét cái cách chúng ta thường trực nhận điều đó trong cuộc sống.

Từ trải nghiệm của mình, chúng ta biết ở trong phút giây hiện tại là khó đến mức nào, bởi vì quá khứ và tương lai không để chúng ta yên. Chúng mãi mãi nhuốm màu lên hiện tại. Quá khứ ám ảnh với những bài hát ru và giai điệu mơ hồ nửa quên nửa nhớ thỉnh thoảng vụt lên trong ký ức, với những tình yêu đã tìm thấy được và đã mất, với những vết thương lòng không bao giờ lành da non, và với những nỗi thao thức hoài niệm, tiếc nuối, và mong mỏi níu giữ một điều gì đó đã qua. Quá khứ mãi mãi gieo nỗi bất an vào giây phút hiện tại.

Và tương lai lại cũng len lỏi vào hiện tại, đổ cái bóng lờ mờ của hứa hẹn và đe dọa, luôn luôn đòi chúng ta phải chú ý, luôn luôn gieo lo lắng vào đời sống, và luôn luôn tước đi của chúng ta cái khả năng đơn giản là đắm mình trong hiện tại. Hiện tại mãi mãi bị nhuốm màu bởi ám ảnh, những cơn đau của tâm hồn và trí óc, những nỗi lo lắng mà hầu như chẳng liên quan gì đến với những người đang ở bên cạnh chúng ta.

Các triết gia và thi sĩ đã gọi nó bằng nhiều tên khác nhau: Plato gọi nó là “cơn điên đến từ các thần”; các thi sĩ Hindu gọi nó là “nỗi hoài niệm về cái vô hạn”; Shakespeare nói về “những nỗi khát khao bất diệt”, còn Augustin, mà có lẽ nhiều người biết tới cách nói này của ông nhất, nói rằng nó là một nỗi bất an vô phương cứu chữa mà Chúa đã đặt vào trái tim con người để nó không thể tìm thấy bình an trong bất cứ điều gì ở thấp dưới cái vô hạn và vĩnh hằng: Chúa đã tạo ra chúng con cho chính Chúa, và trái tim chúng con sẽ không bình an chừng nào nó chưa tìm về yên nghỉ bên Chúa.

Và như vậy, rất khó để sống bình an cái phút giây hiện tại của đời sống chúng ta, bình an trong chính con người chúng ta. Nhưng sự “day dứt” này, như T.S. Eliot từng nói, là có mục đích của nó. Henri Nouwen, trong một đoạn văn nổi bật vừa nhận diện những nỗ lực gắng gỏi này vừa nêu mục đích tối thượng của nó, đã nói như sau: Cuộc sống chúng ta là  khoảng thời gian ngắn mong chờ, là thời gian trong đó nỗi buồn và niềm vui trộn lẫn với nhau trong từng giây phút. Có một tính cách buồn bao phủ mọi khoảnh khắc của đời sống chúng ta. Dường như không hề có cái gì là niềm vui tinh khôi trọn vẹn, mà thậm chí trong những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của cuộc hiện sinh, chúng ta vẫn thấy gợn buồn. Trong mọi nỗi hài lòng, đều có sự nhận biết về các giới hạn. Trong mọi thành công đều có nỗi sợ hãi bị tị hiềm. Đằng sau bất cứ nụ cười nào đều có nước mắt. Trong mỗi vòng tay ôm đều có nỗi cô đơn. Trong mọi tình bằng hữu đều có khoảng cách. Và trong mọi dạng thể của ánh sáng, đều có ý thức về bóng tối vây quanh. Nhưng khi ý thức sâu xa rằng mỗi mảnh sự sống đều có một mảnh của sự chết thì ý thức này có thể hướng chúng ta vượt lên trên những giới hạn của cuộc hiện sinh. Nó có thể làm như vậy bằng cách khiến chúng ta mong tới cái ngày trái tim chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui trọn vẹn, một niềm vui mà sẽ không ai tước đi được khỏi chúng ta.

Chúa có thiên vị không?

Chúa có thương một số người nào đó nhiều hơn những người khác không? Chúa có thiên vị không?

Đây là vấn đề tranh cãi từ hàng thế kỷ nay: Liệu có một chủng tộc nào được Chúa chọn? Có phải một số người nào được định trước sẽ lên thiên đường hay  xuống địa ngục không? Có phải Chúa thương người nghèo hơn người giàu? Có phải Chúa thương người có tội hơn người ngay thẳng? Có phải Chúa thương người trinh tiết hơn người lập gia đình? Ít nhất là nhìn bề ngoài, có vẻ như thánh kinh nói rằng Chúa thương một số người hơn những người khác. Nhưng có đúng như vậy không?

Khó mà trả lời được câu hỏi này, vì  phần nào đó là một câu hỏi sai lầm. Thông thường, bất cứ khi nào chúng ta dựng lên những kiểu đối lập như thế (Có phải Chúa thương người này hơn người kia?), thì chúng ta đang lập ra  một lối đi trên một con đường sai:

Ví dụ, khi Chúa Giê-su nói cả thiên đàng vui mừng khi có một người trở lại hơn là vui với chín mươi chín người không cần hối cãi; thì không phải Chúa khẳng định thương người có tội sâu đậm hơn người ngay thẳng. Đối với Chúa Giê-su, khi nói trong hoàn cảnh cụ thể này, là không hề ngụ ý nói tới người ngay thẳng. Chỉ đang nói với kẻ có tội (những người cảm thấy cần phải trở lại) và những người tự cho là mình ngay thẳng (những người có tội nhưng chưa hiểu mình cần ăn năn hối lỗi). Hối cải, ít nhất trong bối cảnh đặc biệt này, không phải là một điều kiện tiên quyết cho đời sống Ki-tô hữu. Không hề có ngụ ý về người ngay thẳng ở đây, chỉ những người có tội, và hành trình Ki-tô luôn luôn là một hành trình của trở lại, một sự quay về ràng, như đàn chiên quay về chuồng. Chúng ta mở lòng ra để nhận tình thương yêu của Chúa bất cứ lúc nào chúng ta nhận ra điều đó. Chúa thật sự thiên vị những kẻ có tội, nhưng những kẻ có tội bao gồm tất cả chúng ta.

Điều này cũng đúng đối với chuyện có phải Chúa thương người nghèo hơn người giàu hay không. Một cách xác quyết, Giê-su nói rằng Chúa ưu ái người nghèo, nhưng như vậy có phải là Chúa thương người giàu ít đi không?

Thêm một lần nữa, chúng ta phải cẩn trọng trong cách chúng ta đặt những phạm trù này tương phản với nhau: nghèo tương phản với giàu. Điều được khẳng định ở đây không phải là khi chúng ta nghèo thì Chúa thương chúng ta hơn so với khi chúng ta giàu. Mà đúng hơn, ý ở đây là Chúa thương chúng ta trong cái nghèo nàn của chúng ta, và khi chúng ta chấp nhận mình nghèo thì dễ dàng mở lòng ra để được yêu thương và dễ dàng bày tỏ lòng biết ơn hơn. Đối với Chúa Giê-su, chỉ có hai loại người: những người nghèo và những người chưa tiếp xúc với cái nghèo nàn của mình. Và cũng không phải là Chúa thích chúng ta nghèo và thương chúng ta hơn khi chúng ta nghèo. Mà đúng ra, chính là khi chúng ta nghèo và tiếp xúc với cái nghèo của mình thì chúng ta dễ dàng mở lòng ra với tình thương hơn, kể cả tình thương của Chúa lẫn tình thương của người khác. Chúa thật sự thiên vị người nghèo, nhưng, giá như chúng ta hiểu đúng tình trạng của mình, rằng những người nghèo bao gồm tất cả chúng ta.

Nguyên tắc này cũng cần được áp dụng đối với các vấn đề chung quanh vấn đề thiêng liêng và vấn đề tình dục. Có phải Chúa thương chúng ta hơn khi chúng ta chưa trọn vẹn về mặt tình dục so với khi trọn vẹn không?   

Phúc âm nhấn mạnh rằng Chúa Giê-su sinh ra từ một trinh nữ, được chôn trong một nấm mồ chưa từng chôn ai, và vì thế, chúng ta được mời gọi để có một trái tim trinh trắng. Bởi điều này mà trên con đường thiêng liêng Ki-tô cũng như trong các truyền thống linh đạo của mọi tôn giáo lớn trên thế giới, từ xưa đến nay vẫn luôn luôn có một dòng tư tưởng cho rằng cách nào đó Chúa ban phước cho những ai sống đời độc thân hơn những người lập gia đình, rằng sự trinh trắng là tình trạng tinh thần được ưu ái hơn. Có phải Chúa thương chúng ta hơn nếu chúng ta là những người trinh trắng?

Chúng ta lại phải cẩn trọng trong cách đặt những phạm trù này tương phản với nhau: trinh trắng và không trinh trắng. Lời dặn ở đây là Chúa thương những gì là trinh trắng trong bản thân chúng ta. Mối quan hệ tương phản ở đây không phải là giữa những ai ngủ một mình và những người không ngủ một mình, mà là giữa những người bảo vệ những gì trinh trắng trong bản thân, và những người không làm như vậy; giữa những người có thể đổ mồ hôi máu để tiếp tục chịu đựng căng thẳng khi sống mà không tuyệt đích thoả mãn (tất cả mọi loại) và những người không làm như vậy. Chính khi chúng ta bảo vệ những gì trinh trắng trong bản thân và khi chúng ta không bỏ qua những giai điệu thầm kín chính đáng của cuộc sống vì những căng thẳng của mình là lúc chúng ta mở lòng ra hơn để tiếp nhận tình thương yêu, tình thương yêu của Chúa và tình thương yêu của con người.
Chúa thật sự thiên vị những người trinh trắng, nhưng, nếu chúng ta sống với lòng khiêm cung và nhẫn nại đúng mực, thì những người trinh trắng đó gồm tất cả chúng ta.

Cũng có thể nói như vậy về việc Chúa Giê-su trân trọng trẻ con như những con người lý tưởng. Không phải Người dạy rằng Chúa thương trẻ con hơn người lớn. Sự tương phản này không phải là giữa trẻ con và người lớn, mà là giữa những ai, giống như trẻ con, biết họ cần được giúp đỡ, và những người vì kiêu căng hay vì tổn thương đã không còn thừa nhận họ cần Chúa hay cần ai khác. Chính khi chúng ta thừa nhận sự thật sâu xa rằng chúng ta không thể tự mình mà đầy đủ thì chúng ta mới mở lòng ra để Chúa và người khác ưu ái. Chúa thật sự thiên vị những ai giống như trẻ con, nhưng, hy vọng là trẻ con bao gồm tất cả chúng ta.

Chúa có đối xử thiên vị hay không? Có, nhưng không phải là giữa những người khác nhau, mà là giữa những trạng thái khác nhau trong chính tâm hồn chúng ta.

Thiên đường của bạn lớn như thế nào?

Một trong những dấu hiệu của trái tim Ki-tô hữu là khát khao hòa hợp, khát khao cuối cùng được hiệp thông với càng nhiều người càng tốt, để mọi người cùng lên thiên đường mà không đòi hỏi họ phải giống như mình mới lên đó được. Đáng buồn thay, chúng ta có khuynh hướng khăng khăng giữ quan niệm ngược lại, mặc dù chúng ta không dễ dàng thừa nhận điều đó.

Tất cả chúng ta đều muốn được coi mình có lòng bao dung, thương yêu quảng đại, đầy tình thương như chúa Giê-su, nhưng chúng ta lại có quá nhiều quan niệm và hành động đi ngược lại điều đó. Tình thương, chân lý và việc thờ phụng thường, một cách vô thức,  căn cứ vào việc coi mình là đúng bằng cách coi người khác là sai. Rất thường xuyên, chúng ta có một câu thần chú vô thức như thế này: tôi chỉ có thể tốt đẹp, nếu người nào khác xấu xa. Tôi chỉ có thể đúng, nếu người nào khác sai. Tín điều của tôi chỉ có thể chân chính, nếu tín điều của người nào khác sai lầm. Tôn giáo của tôi chỉ có thể đúng, nếu tôn giáo của người nào khác sai. Bí tích của tôi chỉ có thể đúng đắn, nếu bí tích của người nào khác sai trái. Và tôi chỉ có thể lên thiên đàng, nếu người nào khác xuống địa ngục.

Chúng ta biện minh cho quan niệm chia rẽ và tâm lý tự tôn đạo đức-tôn giáo này bằng cách viện dẫn nhiều thứ khác nhau: tín điều đúng đắn, tính cần thiết phải có công lý, luân lý chuẩn mực, giáo hội học đúng đắn, thực hành nghi lễ đúng đắn, và nhiều điều khác nữa. Cũng có đôi phần đúng như vậy. Để thiên đường của bạn bao gồm tất cả mọi người không có nghĩa là mọi chân lý, luân lý, và nghi lễ giáo hội phải trở nên tương đối, rằng điều mình tin hay cách mình làm và thờ phụng là không có hệ quả tối hậu nào. Kinh thánh Ki-tô và truyền thống của chúng ta đã cảnh cáo rõ ràng rằng có những điều đúng đắn và sai trái nhất định, có những thái độ và hành động nào đó có thể loại chúng ta ra khỏi Nước Chúa, thiên đàng. Nhưng cũng cùng sách Kinh thánh đó đã nói không kém phần rõ ràng, rằng ý muốn cứu rỗi của Chúa là phổ quát, và khao khát sâu thẳm, kiên định, thiết tha của Chúa là mọi người, tuyệt đối không trừ một ai, bất kể thái độ và hành động của họ như thế nào, cách nào đó họ sẽ được đưa vào nhà Chúa. Dường như Chúa không yên lòng ngồi yên chừng nào mọi người chưa về nhà, chưa ngồi vào cùng một mâm.

Một cách kiên quyết, Giê-su cũng dạy chính điều này. Ví dụ, trong Phúc âm Luca, chương 15, người đã kết hợp ba câu chuyện để nêu ý này: Người chăn cừu rời bỏ 99 con cừu để đi tìm một con đi lạc; người phụ nữ có mười đồng xu, bị mất một đồng, bà không thể nào yên lòng cho tới khi tìm ra được đồng xu đã mất; và người cha mất hai người con trai, một do yếu đuối, một do giận dữ, và ông chỉ yên lòng khi cả hai trở về nhà.

Tôi đặc biệt thích câu chuyện thứ hai, chuyện người phụ nữ bị mất một đồng xu, bởi vì câu chuyện này nói rõ ý đó nhất: Bà có mười đồng xu (mỗi đồng đáng giá mười xu), bị mất một đồng, bà  lùng sục khắp nơi, bật thêm đèn đuốc rà tìm khắp nhà, cuối cùng tìm ra nó; bà vô cùng sung sướng, tổ chức một bữa tiệc mời khắp hàng xóm láng giềng ăn mừng mà rõ ràng là bữa tiệc tốn nhiều hơn giá trị của đồng xu đó. Tại sao lại lùng sục khắp chỉ một đồng xu nhỏ bé như vậy? Và sao lại hết sức vui mừng khi tìm ra nó?

Điều thật sự quan trọng ở đây không phải là giá trị của đồng xu, mà là chuyện mất đi sự toàn vẹn: đối với người Do Thái thời đó, 10 là con số tượng trưng cho toàn vẹn, không phải là số 9. Vì vậy chúng ta có thể kể lại câu chuyện như thế này: Một bà mẹ có mười người con. Chín người con tới thăm bà thường xuyên, chia sẻ cuộc sống hàng ngày với bà, nhưng có một đứa xa lánh, không muốn về nhà, thậm chí không muốn trò chuyện với bà. Người phụ nữ không thể an lòng, bà làm mọi việc có thể nghĩ ra để cố gắng hòa hợp với cô con gái, cuối cùng con gái bà trở về. Họ làm hòa với nhau. Bà hết sức vui mừng, gọi điện thoại cho bạn bè, và tổ chức một bữa tiệc lớn. Gia đình của bà giờ đây lại vẹn toàn!

Ngụ ý này cũng đúng đối với người chăn cừu, anh rời bỏ 99 con cừu để đi tìm một con cừu đi lạc. Đối với người Do Thái thời đó, con số 99 không tượng trưng cho sự toàn vẹn, mà là con số 100. Người chăn cừu giống bà mẹ có đứa con gái xa lánh, anh chỉ yên lòng khi nào gia đình anh được trọn vẹn lại. Chúng ta lại thấy cùng niềm khao khát, tình cảm nồng nàn và nỗi buồn đó ở người Cha của đứa con đi hoang và người con lớn. Ông không thể nghỉ ngơi, không thể yên lòng, cho tới khi cả hai chưa về nhà. Ông hết sức vui mừng khi đứa con ương ngạnh trở về, nhưng câu chuyện kết thúc với việc ông vẫn còn phải đi ra khỏi nhà, cố gắng dỗ dành đứa con lớn quay về, đứa đã bỏ đi vì tức tối. Thiên đường của ông phải có cả hai người con trai của ông.

Thiên đường của chúng ta cũng phải là một thiên đường rộng lớn. Giống như người phụ nữ bị mất một đồng xu, giống như người chăn cừu bị mất một con cừu, và giống như người cha của đứa con đi hoang và người con lớn, chúng ta cũng không nên dễ dàng nghỉ ngơi khi những người khác còn bị chia lìa với chúng ta. Gia đình này chỉ hạnh phúc khi tất cả mọi người đều trở về.

Trên hết, đặc điểm của một đức tin đích thực và một trái tim quảng đại không phải là giáo hội, tín điều và luân lý của chúng ta thanh sạch đến đâu, mà là tấm lòng của chúng ta rộng mở được đến đâu.

Bài học từ trong nỗi cô đơn

Nhiều năm trước, tôi có khuyên một thanh niên, anh có cuộc đấu tranh chống lại nỗi cô đơn gần như ngược đời. Thay vì cố gắng thoát ra, anh lại sợ mất nó. Anh khoảng hơn hai mươi tuổi, yêu một cô gái trẻ tuyệt vời, nhưng cảm thấy bị giằng xé về việc cưới cô ấy, vì anh sợ hôn nhân gây trở ngại cho sự cô đơn của anh, và theo lời anh, nó sẽ làm cho anh trở thành “người hời hợt hơn và mất đi những gì có thể dâng tặng Chúa và thế giới này”.

“Tôi bước vào một căn phòng,” anh nói, và “một cách phản xạ, tôi nhìn quanh để tìm một gương mặt buồn rầu, tìm một người nào đó có dáng vẻ gợi cho thấy cuộc sống có nhiều điều hơn là tiệc tùng và những tin tức nóng hổi về những người nổi tiếng”. Sẽ nguy hiểm nếu ngắn gọn xem trạng thái nặng nề là biểu hiệu của sâu sắc, nhưng trong trường hợp của anh thì điều đó không đúng.

“Có hai hình ảnh đôi co trong lòng tôi,” anh nói. “Cha tôi mất khi tôi mười lăm tuổi. Gia đình tôi sống ở miền quê, ông bị lên cơn đau tim. Chúng tôi vội vàng đưa ông lên xe, mẹ tôi ngồi ôm ông ở băng ghế sau, còn tôi lái xe, mới mười lăm tuổi, và sợ run lên. Cha tôi mất trên đường tới bệnh viện, nhưng ông chết trong vòng tay mẹ tôi. Mặc dù chuyện đó rất buồn, nhưng có một cái gì đó rất đẹp. Lúc nào tôi cũng muốn chết theo kiểu đó, được người tôi yêu ôm trong vòng tay. Dù hình ảnh đó hút tôi một cách mạnh mẽ về phía hôn nhân, nhưng tôi cũng nhìn hình ảnh chúa Giê-su chết đơn độc, bị ruồng bỏ, chẳng trong vòng tay của ai, chỉ trong vòng một điều gì đó cao hơn, và tôi cũng bị thu hút về hướng đó. Hình ảnh đó có một vẻ thanh cao mà tôi không muốn từ bỏ. Đó cũng là một cách chết hay.

Anh sợ sẽ mất đi sự cô đơn của mình dù anh khao khát một cách lành mạnh tình cảm thân mật. Anh không thể nào lý giải được trọn vẹn tại sao anh bị thu hút trước sự cô đơn của chúa Giê-su trên thập giá, trừ việc cảm thấy rằng điều này cách nào đó là một điều cao đẹp, một điều sâu sắc, và là điều sẽ đem lại cho anh chiều sâu và thanh cao.

Trước anh, cũng có nhiều người khác có kinh nghiệm này, kể cả chúa Giê-su. Chẳng hạn triết gia Soren Kierkegaard, khi còn trẻ, cũng với lý do lo sợ như người bạn trẻ của tôi, ông từ chối hôn nhân. Dù đúng dù sai, anh cảm thấy những gì anh có để mang tặng cho thế giới này bắt rễ sâu thẳm trong nỗi đau cô đơn của mình, và chỉ có thể tỏa ra từ cốt lõi đó mà thôi, và, nếu anh bớt cô đơn, thì anh cũng sẽ bớt đi những gì có thể trao tặng. Liệu anh có đúng không?

Hoa trái của đời một người, ví dụ những người như cha Henri Nouwen, rút ra sức mạnh và khả năng hồi phục từ những tác phẩm của họ, xác nhận cho sự thật của trực giác của họ. Nhìn hoa trái của họ, bạn sẽ hiểu họ. Kierkegaard là vị thánh bảo trợ cho những người cô đơn. Nhưng, như anh bạn trẻ của tôi, ông cũng bị giằng xé bởi những gì điều đó gây ra cho ông. Quá ít người hiểu được, và điều này dìm ông vào “nỗi buồn của việc đã hiểu ra một điều gì đó chân thực – và rồi thấy mình bị hiểu lầm.” Ông cũng tự nhận là ông sống trong lời thề “không bao giờ cho phép ai đi vào sâu thẳm trong nội tâm và kết hợp nội tâm sâu sắc với tôi”. Thomas Merton, khi bàn về vấn đề này, đã nói rằng sự thiếu vắng tình cảm thân mật của đời sống hôn nhân trong đời ông đã tạo thành “một khiếm khuyết trong sự khiết tịnh của tôi.” Loại sâu sắc này có được cũng bắt nguồn từ một cái giá nào đó.

Tại sao, bất chấp bất lợi rõ ràng như vậy, mà cô đơn vẫn thu hút nhiều người như Kierkegaard của thế giới chúng ta, với niềm tin rằng đó là chìa khóa dẫn tới sự sâu sắc, lòng lân mẫn, và minh triết? Cô đơn làm gì cho chúng ta?
Điều mà cô đơn làm cho chúng ta, đặc biệt nỗi cô đơn tột cùng, là lay chuyển bản ngã và khiến bản ngã mong manh đến mức không thể duy trì chúng ta theo cách thông thường được nữa. Những gì xảy ra sau đó là chúng ta bắt đầu buông bỏ, cảm thấy chúng ta trở nên không còn vướng mắc, hiểu ra sự nhỏ bé của mình, và biết từ trong sâu xa của bản thể rằng chúng ta cần phải kết liên với một điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân mình thì mới sống sót. Nhưng đó là một trải nghiệm rất đau đớn, và chúng ta có khuynh hướng trốn chạy khỏi nó.

Tuy nhiên, và đây chính là nghịch lý to lớn, trải nghiệm nỗi cô đơn tột cùng này là một trong những đặc cách để tìm ra câu trả lời sâu thẳm cho cuộc đi tìm bản thể và ý nghĩa của chúng ta. Bởi vì nó lay chuyển bản ngã và khiến chúng ta mất phương hướng, nỗi cô đơn khiến chúng ta chạm đến những gì nằm bên dưới bản ngã, đó là tâm hồn, bản thể sâu sắc nhất của chúng ta. Hình ảnh Chúa và sự tương đồng với Chúa nằm ở đó, cũng như năng lượng thanh cao nhất và thiêng liêng nhất của chúng ta cũng ở đó. Đó chính là sự thật trong niềm tin rằng trong nỗi cô đơn có chiều sâu.

Và như thế, bài học là, dù lập gia đình hay không: Đừng chạy trốn cô đơn. Đừng coi đó là kẻ thù. Đừng tìm kiếm  ai khác để chữa chạy nỗi cô đơn của mình. Hãy coi nỗi cô đơn là đặc cách  dẫn tới chiều sâu và lòng lân mẫn.

Đây là lời khuyên của Hafiz, một nhà thơ Ba-tư xưa:

Đừng hàng phục nỗi cô đơn
Nhanh đến vậy
Hãy để nó cứa sâu hơn
Để nó ủ men và thêm hương vị
Vì rất ít người phàm
Và ngay cả hương vị thần thánh làm được
Điều trái tim tôi thiếu vắng đêm nay
Đã làm đôi mắt tôi thêm dịu dàng
Giọng nói tôi
thêm trìu mến,
Nhu cầu có Chúa của tôi
Tuyệt đối
Rõ ràng.

Lòng mộ đạo và sự đúng mực

“Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. … Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. (Mt 6: 5-6)

Không hiểu sao, xưa nay, giáo hội và từng cá nhân chúng ta vẫn chậm chạp trong việc tôn trọng các lời cảnh cáo của chúa Giê-su, rằng không nên tỏ lòng mộ đạo của chúng ta trước công chúng. Vậy mà chúa Giê-su cảnh cáo chúng ta một cách rất rõ ràng và mạnh mẽ, không được thực hiện trước công chúng những hành động riêng tư thầm kín như cầu nguyện, sùng kính và sống khổ hạnh. Hơn nữa, trong lời cảnh cáo này, Chúa không phân biệt liệu đó là hành động phát xuất từ trái tim chân thành hay giả dối. Chân thành hay giả dối không phải là mối quan tâm duy nhất của Người. Nhưng việc bày biện lòng mộ đạo trước công chúng, dù chân thành đến mấy, mới là vấn đề.

Tại sao vậy? Có gì sai trái trong việc bày tỏ lòng mộ đạo trước công chúng? Chẳng lẽ việc đó không truyền cảm hứng cho người khác?

Điều sai trái khi phô bày tình cảm riêng tư của chúng ta ở nơi công cộng có thể được trả lời chỉ với một chữ: thẩm mỹ. Đó là loại nghệ thuật hạ cấp, loại làm cho người khác khó chịu hơn là truyền cảm hứng. Đó là phô bày không lành mạnh. Tại sao?

Bởi vì mộ đạo là cái gì riêng tư mà những gì thuộc lãnh vực riêng tư thì cần có một thái độ đúng mực. Riêng tư là một cái gì sâu lắng tự đáy lòng, giữa đương sự và những gì riêng tư này đòi hỏi cách biểu lộ tình cảm kín đáo.

Chẳng có gì trừu tượng ở đây. Chúng ta ai cũng biết cần làm tình sau cánh cửa khép kín. Sự thầm kín, từ chính bản chất của nó, đòi hỏi kín đáo, riêng tư, đúng mực, một tấm khiên để tránh cái nhìn xoi mói của người khác, một điều mà giáo hội tiên khởi gọi là kỹ luật giữ kín, cái gì vô hình thì đẹp hơn là hữu hình. Đó là lý do vì sao chúng ta cảm thấy không thoải mái khi bắt gặp những người tỏ tình cảm thân mật quá trớn ở nơi công cộng. Phản ứng tức thời của chúng ta là nhìn đi nơi khác, cảm thấy không thoải mái, mong rằng điều này đang không xảy ra trước mắt mình; phản ứng này lành mạnh, vì những gì chúng ta đang thấy là cách phô diễn thiếu lành mạnh, dù tình cảm thân mật giữa hai người là lành mạnh. Không phải  tình yêu có gì sai trái, mà việc phô bày trước công chúng mới thiếu lành mạnh. Tình cảm thân mật riêng tư cần phải thiêng liêng hơn trong việc giữ cho riêng tư tính cách đúng mực của nó.

Điều này cũng đúng với việc cầu nguyện riêng tư, lòng thành kính riêng tư, và lời sám hối riêng tư. Dù chân thành hay không, thì việc phô bày chúng trước công chúng là thiếu lành mạnh. Ai cũng chấp nhận, khi Chúa Giêsu cảnh cáo chúng ta phải ăn năn sám hối, cầu nguyện nơi khuất mắt là Người đang răn chúng ta không được đạo đức giả, không được tự xem là tốt đối với cái tốt đích thực. Nhưng Người cũng răn chúng ta không được phô bày công khai chính cái việc cầu nguyện riêng tư, dù việc này có chân thành đến mấy.

Ví dụ, giáo hội thuở đầu thực hiện cái gọi là kỹ luật giữ kín. Đây là một thông lệ, mà bất cứ tín hữu Ki-tô nào đã được rửa tội và tham dự bí tích Thánh Thể đã bị cấm không được đưa một người bạn chưa được rửa tội đến dự bí tích này, thậm chí không được kể lại cho người khác nghe buổi lễ này. Đây không phải là tạo ra một loại sùng bái bí mật đối với bí tích Thánh Thể, mà để bảo vệ tính cách riêng tư của nó. Đối với họ, bí tích Thánh Thể cũng giống như thể hiện tình yêu, nó phải được làm sau cánh cửa đóng kín.

Tôi may mắn được thấy cha mẹ tôi giữ quan niệm này một cách lành mạnh, cả ở đời sống cầu nguyện lẫn trong mối quan hệ giữa hai người. Mẹ và cha tôi thương yêu nhau sâu đậm và chắc chắn, sau cánh cửa đóng kín, họ làm tình nhiều với nhau. Nhưng họ không bao giờ thể hiện tình cảm thương yêu đó trước mặt người khác. Nói ra chuyện này thì bây giờ các gia đình chỉ mỉm cười, đôi khi chúng tôi cũng thấy cha mẹ ngồi bên nhau, cầm tay nhau, khi họ nghĩ không có ai nhìn thấy. Đời sống cầu nguyện của họ cũng vậy. Cả hai đều có một đức tin sâu sắc, đều sùng đạo, nhưng cả hai đều cẩn thận giữ gìn để việc cầu nguyện và lòng mộ đạo của họ là thầm kín và riêng tư. Cả hai đều có vẻ e dè khi họ thấy lòng mộ đạo hay tình cảm thân mật bị phô bày lộ liễu ở nơi công cộng. Có lẽ đó là lý do tại sao tôi thừa hưởng cái gen dị ứng với việc phô bày lộ liễu lòng mộ đạo.

Nhưng, hầu hết chúng ta đều chưa xem trọng lời răn của chúa Giêsu về chuyện này. Đôi khi lại còn làm ngược lại, đưa chuyện cầu nguyện riêng tư tôn lên như một điều lý tưởng. Một ví dụ: Cách đây vài năm, tôi dự một buổi lễ ngày chúa nhật do vị phụ tá Giám mục làm chủ lễ. Ngay trước khi rước lễ, trước người tham dự hơn 500 người, với tất cả lòngï chân thành và tôn kính, ông giơ hai cánh tay lên bàn thờ, cúi mặt xuống giữa hai cánh tay, và cứ giữ tư thế tôn kính đó trong hơn một phút, trong khi mọi người không biết làm gì hơn là nhìn ông biểu lộ hành vi tôn kính riêng tư đó. Lúc ấy, tôi chỉ thấy khó chịu vì cái việc mà tôi cho là làm không đúng nơi, không đúng lúc, thứ nghệ thuật hạ cấp, nhưng sau đó, tôi còn sửng sốt hơn khi đi ra nhà thờ và nghe người ta bình luận: “Thật là tuyệt vời, nhỉ?” “Đức tin sâu đậm thật!”

Đức tin sâu sắc thì có lẽ đúng. Nhưng tuyệt vời thì không. Hoàn toàn có lý do đúng đắn khi chúng ta nhất thời co rúm lại khi thấy những cử chỉ thân mật lộ liễu quá mức, vốn thật ra là để biểu lộ nhưng xúc cảm sâu kín riêng tư.

Đời sống thiêng liêng và màu thời gian

Thời trẻ, Nikos Kazantzakis, nhà văn nổi tiếng người Hy Lạp, từng nghiền ngẫm để trở thành tu sĩ, và từng để cả một mùa hè đi thăm các tu viện. Nhiều năm sau, khi viết về trải nghiệm này, ông kể lại tỉ mỉ một cuộc chuyện trò tuyệt diệu với một tu sĩ già, Cha Makarios.

Một dịp, anh hỏi vị tu sĩ già: “Thưa Cha Makarios, cha còn vật lộn với quỷ dữ không,?” Vị mục sư già thở dài trả lời: “Hết rồi, con ạ. Giờ cha đã già rồi, và quỷ dữ cũng già theo cha. Nó không còn sức lực… Giờ Cha vật lộn với Chúa.” “Với Chúa!” Kazantzakis kinh ngạc kêu lên. “Cha hy vọng sẽ thắng chứ?” “Cha hy vọng sẽ thua, con ạ,” ông trả lời, “Xương cốt của ta vẫn còn đây, chúng vẫn tiếp tục cự lại ý muốn của ta”.

Ngoài những ý nghĩa khác, câu chuyện này nêu bật thực tế rằng những đấu tranh tinh thần của chúng ta thay đổi khi chúng ta thêm tuổi tác và trải nghiệm cuộc đời. Những đấu tranh thời trẻ không nhất thiết là những đấu tranh tuổi trung niên và tuổi già. Sự chín chắn luôn luôn tiến triển. Mỗi chặng đời lại đòi hỏi chúng ta những điều khác nhau. Nó cũng đúng đối với đời sống thiêng liêng và sứ vụ tông đồ.

Đời sống tinh thần của chúng ta thay đổi ra sao và khi chúng ta ngày một lớn lên, nó đòi hỏi những điều gì mới?

Dựa trên những nhận thức sâu sắc của thánh Gio-an Thánh giá, tôi xin nói rằng có ba giai đoạn nền tảng trong cuộc sống tinh thần của chúng ta, ba cấp độ của sứ vụ tông đồ:

Cấp độ đầu tiên, mà thánh Gio-an Thánh giá gọi là đêm tối của cảm quan, cũng có thể gọi là “Sứ vụ tông đồi cốt yếu”. Về cốt yếu, đây là cuộc đấu tranh để định hình cuộc sống của chúng ta. Cuộc đấu tranh này thật sự bắt đầu ngay khi chúng ta sinh ra, nhưng chỉ trở thành cuộc đấu tranh mang tính chất cá nhân của riêng mình khi đến tuổi dậy thì và bắt đầu chịu sự thúc đẩy của những lực mạnh mẽ bên trong khiến chúng ta tách khỏi gia đình để tạo lập cuộc sống và mái ấm cho riêng mình. Trong thời gian này, chúng ta gắng gỗ gian nan để tìm được chính bản thân, để định hình cuộc đời, để tạo một mái ấm mới cho chính mình. Thời gian này có thể kéo dài nhiều năm trời và có thể không bao giờ thành tựu. Sự thật là, đối với hầu hết mọi người, một số khía cạnh của cuộc đấu tranh này vẫn tiếp tục trong suốt cuộc đời.

Nhưng, với hầu hết mọi người, sẽ tới một lúc điều căn bản này đạt được, khi có cảm giác thoải mái như về lại mái nhà xưa, khi những câu hỏi chính của cuộc đời không còn là: Tôi là ai? Tôi sẽ làm gì với đời mình? Ai thương yêu tôi? Ai sẽ kết hôn với tôi? Tôi nên sống ở đâu? Tôi nên làm gì? Đến một lúc, hầu hết chúng ta đều tìm thấy được một chỗ vượt lên trên những câu hỏi đó: Chúng ta có một mái ấm, một sự nghiệp, một người phối ngẫu hay sự bình yên nhất định với một người phối ngẫu, một ơn gọi, một ý nghĩa, một lý do tốt lành để thức dậy mỗi sớm mai, và một nơi để trở về mỗi tối. Chúng ta đã tìm được đường về lại mái nhà xưa.

Rồi chúng ta bước vào cấp độ thứ hai của sứ vụ tông đồ mà thánh Gio-an Thánh giá gọi là Thuần thục và chúng ta có thể gọi là Sứ vụ tông đồ Sinh sôi. Cốt yếu, đây là cuộc đấu tranh để cho đi cuộc sống của chúng ta. Bấy giờ mối quan tâm chính không phải là chúng ta làm gì với đời mình nữa, mà là cho đi cuộc sống của mình như thế nào để biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn. Đây là những năm tháng sinh sôi  và chúng kéo dài từ khi chúng ta cập bến vào một ơn gọi, một sự nghiệp, một mái ấm, cho tới lúc về hưu. Và những câu hỏi chính trong suốt những năm này phải là những câu hỏi vì người khác: Làm thế nào để tôi cho đi bản thân mình một cách hào phóng và thanh khiết hơn? Làm thế nào để tôi giữ lòng trung tín? Làm thế nào để tôi trụ vững với những cam kết của mình? Làm thế nào để tôi cho đi cuộc sống của mình?

Nhưng đó vẫn chưa phải là những câu hỏi tối hậu: đến một lúc nào đó, nếu chúng ta may mắn có sức khỏe và vẫn còn sống sau khi về hưu, một câu hỏi còn sâu sắc hơn bắt đầu trỗi lên trong ta, một câu hỏi mời chúng ta đến giai đoạn thứ ba của sứ vụ tông đồ. Như Henri Nouwen đã nói: Đến một thời điểm trong cuộc sống chúng ta, câu hỏi không còn là: “Tôi còn có thể làm gì nữa để sống cống hiến?” mà là “Bây giờ tôi có thể sống như thế nào để đến khi chết, cái chết của tôi sẽ là phúc lành tốt đẹp nhất đối với gia đình tôi, đối với giáo hội, và với thế giới này?

Thánh Gio-an Thánh giá gọi giai đoạn này là đêm tối của linh hồn. Chúng ta có thể gọi là Sứ vụ tông đồ Tận căn bởi vì ở giai đoạn này, chúng ta không còn đấu tranh nhiều nữa với việc làm sao để cho đi cuộc sống của chúng ta, mà là làm sao để cho đi cái chết của mình. Lúc bấy giờ vấn đề của chúng ta là: Tôi sống những năm cuối đời mình như thế nào để khi chết đi, cái chết của tôi sẽ gieo phúc lành cho những người thân yêu, giống như cuộc sống của tôi đã làm? Tôi sống những năm còn lại của đời mình như thế nào để khi tôi chết, “máu và nước” – nói như dụ ngôn – sẽ tuôn chảy từ thi thể tôi như từng tuôn chảy từ thi thể của Chúa Giê-su?

Các tài liệu linh hướng của chúng ta hầu như không có cái gì thách thức chúng ta xem xét giai đoạn cuối này của cuộc đời: Làm thế nào để chúng ta chết vì người khác? Tuy nhiên, như Goethe nói về điều này trong bài thơ Nỗi Khao khát Thiêng liêng (The Holy Longing), chính cuộc sống cuối cùng sẽ buộc chúng ta phải nghiền ngẫm việc liệu chúng ta có muốn trở thành “điên cuồng tìm ánh sáng” hay không.

Biên tập lại đời mình

Từ xưa đến nay, các định luật toán học và vật lý vẫn luôn là những điều bất di bất dịch vĩ đại. Chúng có thể tiên liệu được và đáng tin cậy, không có những bất ngờ lạ kỳ. Nhưng giờ đây, các nhà khoa học ngày càng phát hiện, đôi khi các định luật vật lý cũng có những bất ngờ và cho thấy một mức độ tự do khiến chúng ta bối rối. Dường như tự do có mặt khắp mọi nơi.

Các tiểu thuyết gia luôn luôn hiểu điều này. Họ hư cấu lên một nhân vật, bắt đầu viết câu chuyện, và rồi phát hiện ra không phải lúc nào nhân vật này cũng tuân theo những gì họ nghĩ sẵn trong đầu cho nó. Nó trở thành một con người riêng, có thái độ riêng, có cách đi đứng riêng, và hướng câu chuyện đi theo một cách mà tiểu thuyết gia chưa bao giờ nghĩ đến trong đầu. Cuối cùng, phần nào nó độc lập với tác giả, mỗi một nhân vật tự viết nên câu chuyện của riêng mình.

Trong cuốn sách mới Một Triệu Dặm trong Một Ngàn Năm (A Million Miles in a Thousand Years), Donald Miller lấy ý tưởng này và dùng nó để đưa ra một thử thách tuyệt vời, theo đó mỗi người trong chúng ta được mời biên tập lại đời mình để biến câu chuyện đời mình hay hơn và cao đẹp hơn.

Ông làm như vậy thông qua một loạt các bài viết tự sự, trong đó ông tự thách thức mình viết lên một câu chuyện đời hay ho hơn cho bản thân, và sau đó mời mỗi độc giả tự chỉnh lại cuộc đời của chính mình nhằm xây dựng nên một câu chuyện thú vị hơn và cao đẹp hơn, một câu chuyện mà, giống như một bộ phim tuyệt hay, khi kết thúc sẽ khiến khán giả rơi nước mắt và khao khát làm những điều tốt đẹp hơn với đời mình.

Ông mô tả điều này như sau: “Và thế là tôi thì viết tiểu thuyết, còn các nhân vật của tôi thì làm những gì họ muốn, càng ngày tôi càng nhận ra một người nào đó đang viết tôi. Vì vậy tôi bắt đầu lắng nghe Tiếng nói đó, hay đúng hơn, tôi bắt đầu gọi đó là Tiếng nói và chấp nhận đó là Người viết. Tôi thừa nhận rằng một điều gì đó không phải là tôi đang chỉ cho tôi thấy một cách hay hơn. Và khi tôi thừa nhận như vậy, tôi nhận ra rằng Tiếng nói đó, Người viết đó, mà không phải là tôi, đang cố gắng tạo nên một câu chuyện hay hơn, một loạt những trải nghiệm ý nghĩa hơn để tôi có thể nếm trải.”

Lối viết của ông giỏi nhưng dễ đánh lừa. Vì tính chất khác thường như vậy, nên nhiều khi có vẻ ông gần như hời hợt, nhưng, rốt cục, cái bạn có là một sự kết hợp giữa David Sedaris (dí dỏm nhanh trí, giấu mình một cách bông đùa), Annie Lamott (trần tục, thẳng thắn theo cách khiến người khác quy thuận), Kathleen Norris (trực giác xuất sắc, thông minh), Henri Nouwen (cái nhìn trung thực về bản thân), và Ignatius of Loyola (những quy tắc hay để minh định và một chút như là một hướng dẫn về mọi điều). Donald Miller pha trộn tất cả những điều đó lại với nhau.

Thoạt tiên, khi đọc những chương đầu, tôi chỉ để ý tới ngôn ngữ hành văn của ông chứ không để ý đến nội dung. Ông có vẻ như là một người có tài dí dỏm trong kịch vui hơn là một bậc cao niên thông thái. Nhưng rồi một cách từ từ, gần như không nhận thấy – và đó là biệt tài của ông – chiều sâu, lý tưởng, tầm nhìn Ki-tô, trực giác khiến người khác quy thuận, và theo mạch truyện, thách thức thật sự của ông bắt đầu thấm vào, mỗi lúc một trở nên rõ ràng và mời gọi hơn.

Đây là một ví dụ cho cách hành văn lẫn chiều sâu của ông. Trong đoạn văn này, ông chia sẻ cách ông minh định tiếng nói đích thật của Chúa với nhiều tiếng nói không thật do thần kinh kích thích mà ông và hầu như bất kỳ ai khác có thể dễ dàng nhầm với tiếng nói của Chúa:

“Hồi còn nhỏ, cảm thức duy nhất mà tôi có từ Chúa là tội lỗi, một cái gì đó tôi gạt đi, xem như đó là một loại lương tâm quá sức nhạy cảm do giáo dục ở nhà thờ của một vị mục sư áp chế. Nhưng đó không phải là tiếng nói mà tôi đang đề cập. … Tiếng nói thật sự đó yên lặng hơn, nhỏ hơn và dường như biết được một cách không hề nhầm lẫn sự khác nhau giữa đúng và sai, và ranh giới tinh tế giữa cái đẹp đẽ và cái trần tục. Đó không phải là tiếng nói kích động, mà luôn luôn kiên nhẫn, như thể chấp nhận được cả triệu lần làm sai. Cái Tiếng nói mà tôi đang đề cập là một thứ minh triết làm tâm hồn được bình an trong sâu thẳm, nó nói rằng: hãy chớ mở lời; đừng nói như vậy về người đó; hãy tha thứ cho người bạn mà lâu nay mình không nói chuyện; đừng coi người phụ nữ đó như vật sở hữu; ba muốn chỉ cho con thấy hoàng hôn; hãy nhìn ngắm đi và thấy cuộc đời ngắn ngủi biết chừng nào còn các vấn đề của con không xứng đáng khiến con lo lắng đến vậy; hãy mua một chai rượu vang và gọi điện cho người bạn của mình, xem anh ta có đến được không, bởi vì, hãy nhớ rằng anh ta phải có cuộc trò chuyện đó với con gái mình, và bạn cần hỏi anh ta về việc đó.”

Và Tiếng nói đó, ông nói, vẫn luôn luôn bảo chúng ta: “Hãy yêu thích vị trí của mình trong câu chuyện của tôi. Vị trí đó đẹp ở chỗ nó cho biết bạn là quan trọng, và bạn có thể tạo ra vị trí đó kể cả khi tôi là người đã tạo ra bạn.”

Cuối cùng, quyển sách đó là một lời xin lỗi lành mạnh về đức tin, luân lý, lòng tử tế, và Chúa, là loại thử thách mà ngày nay chúng ta thật sự rất cần. Một người bạn cho tôi quyển sách này, bạn tôi có cô con gái khoảng 20 tuổi từ lâu luôn khẳng định mối nghi ngờ về Chúa, và, cũng không kém phần quan trọng, quan niệm bất khả tri về giáo hội. Bạn tôi kể, cô gái trẻ hậu-Kitô này thấy quyển sách đó trên bàn ăn trong bếp, tò mò nhặt lên, và đọc ngấu nghiến từ đầu tới cuối, thừa nhận nó đã thách thức cô rất nhiều.

Một lời xác nhận không đến nỗi tệ!

Suy ngẫm hàng năm của tôi về vấn đề tự tử

Hàng năm tôi đều viết một bài về vấn đề tự tử. Không phải vì đó là chủ đề yêu thích của tôi, nhưng tôi viết vì có quá ít bài viết về vấn đề đau đớn này trên các diễn đàn công luận, cả thế tục lẫn tôn giáo. Tự tử vẫn là một trong những chuyện không thể nào đề cập tới và những người mất đi người thân yêu vì tự tử vẫn đang tìm kiếm, gần như trong vô vọng, bất cứ điều gì có thể đem lại sự thông hiểu và an ủi.

Năm nay, hơn cả những năm trước, tôi đang cố gắng để viết bài này bởi vì gần đây, có một số người đã viết bài cho rằng những gì tôi viết là tô hồng vấn đề này, rằng tôi đưa ra một cách an ủi nguy hiểm và sai trái, và tệ hơn nữa, những gì tôi viết (qua việc làm dịu đi quan điểm cấm kỵ coi tự tử là nỗi tuyệt vọng cuối cùng để chấm dứt thống khổ) đã góp phần làm tăng số vụ tự tử. Tôi đã bị cảnh cáo rằng, với việc làm dịu đi điều cấm kỵ này, anh cho phép người ta được tự sát. Chúa tha thứ điều đó, thì sao lại không làm? Cũng vậy, những tín hữu Công giáo La Mã thường xuyên trích dẫn Giáo lý của Giáo hội Công giáo để bảo vệ họ trước những lời công kích.

Dù vậy, vấn đề này vẫn cần được xem xét: Thực tế phũ phàng là, chỉ riêng ở Hoa kỳ, mỗi giờ có 3-4 vụ tự tử, một ngày có hơn 90 vụ, một năm có hơn 33.000 vụ, và mỗi một cái chết như vậy làm rúng động tận căn nhiều người. Cuối cùng, tất cả mọi người đều bị rúng động. Không người nào sống tiếp cuộc đời mà không bị rúng động, mang vết sẹo trong lòng và cuộc sống của họ đã thay đổi không thể đảo lại sau khi người thân tự tử. Trong tất cả những chuyện này, đa số là thinh lặng đè nén cảm xúc một cách “anh hùng.” Chúng ta hãy không nói về điều đó. Nhưng bên dưới sự đè nén cảm xúc một cách “anh hùng” này là tình trạng mâu thuẫn tư tưởng cay đắng, các bức ảnh bị hạ xuống, ký ức bị xóa mờ, và chúng ta vật vã mong giải thoát khỏi cảm giác tội lỗi, tủi hổ và sợ hãi không thể nào giải quyết được, và không hề kém phần quan trọng, một căn bệnh nào đó của chính cuộc sống. Nếu xảy ra tình trạng đó, thì có thể thật sự trông cậy vào cái gì đây?

Cần nói điều gì về vấn đề tự tử, vượt lên trên những gì tôi đã cố gắng nói rõ trong những bài viết trước đây?

Trước hết, sự sợ hãi mà những người phê phán tôi nêu ra cần được coi là nghiêm túc: Tự tử là một chuyện kinh khủng. Chuyện xã hội và giáo hội cấm kỵ vấn đề đó tận căn, cũng giống như cấm kỵ loạn luân, là có lý do chính đáng. Đó là một hành động kinh khủng mà một khi đã xảy ra thì không thể cứu vãn được. Nó phá hủy, và phá hủy mãi mãi, không chỉ cuộc đời của người làm hành động đó. Chúng ta không bao giờ được tô hồng chuyện tự tử. Đó cũng là lý do tại sao vấn đề đó đã luôn luôn bị đóng khung trong thái độ cấm kỵ kinh khủng này.

Nhưng việc cấm kỵ đó là nhằm cảnh cáo trước khi để nó xảy ra trên thực tế. Nhưng cũng cần phải nói đôi điều sau khi chuyện đó xảy ra. Khi có người tự tay giết mình, những người ở lại quả thật phải gắng gỗ để sống, về mặt thể xác lẫn tinh thần. Cần phải nói đôi điều cho những người ở lại.

Những gì tôi viết về vấn đề tự tử là dành cho những người ở lại, chứ không phải để làm tư liệu tư vấn cho những người đang bị bệnh trầm cảm. Hơn nữa, tôi xin nói rằng không điều gì tôi từng nói về vấn đề tự tử lại đi ngược với những gì được giảng trong sách giáo lý của Giáo hội Công giáo. Những gì sách giáo lý dạy đều nêu rõ lòng thương xót và thông cảm sâu sắc: nhấn mạnh sức nặng của vấn đề, nói rõ đây là hành động đi ngược lại ý Chúa đối với cuộc sống con người, khẳng định tiếp rằng trách nhiệm đối với hành động đó có thể giảm triệt để nếu xét trạng thái tâm lý của một người, và sau đó mời gọi chúng ta tin tưởng vào lòng thông hiểu và thương xót của Chúa. Hơn nữa, trong mục vụ, giáo hội cũng thực hiện chính những điều như tôi đã viết, không hề có ngoại lệ nào.

Tôi nhớ tới trường hợp không thể nào áp dụng được những điều trên. Khi tôi còn là một thiếu niên, một người hàng xóm của chúng tôi tự tử. Vào thời điểm đó, vẫn có một vấn đề tranh cãi đau xót về chuyện tự tử: Có nên chọ họ đầy đủ nghi lễ của nhà thờ và được chôn trong nghĩa trang của nhà thờ hay không? Linh mục của chúng tôi lúc đó là cha Michael Schatz, một người trầm lặng và khiêm nhường, một Hiến Sĩ dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm, đã nhanh chóng xóa tan mọi băn khoăn và làm điều mà Giê-su hẳn cũng sẽ làm: dành trọn vẹn tình thương của Chúa, của Giáo hội, và cộng đoàn cho người tín hữu đầy tổn thương và gia đình đau khổ của anh. Đó cũng là lý do, bên cạnh các lý do khác, đã thúc đẩy tôi làm linh mục ngày hôm nay. Hành xử của cha đã giúp tôi hiểu trái tim của Chúa và tình thương của con người và giáo hội cần phải như thế nào.

Rốt cuộc, vấn đề này rút lại thành một câu hỏi về Thiên Chúa: Nếu Chúa là tình yêu, tình thương và lòng cảm thông trọn vẹn, nếu Chúa là lòng từ bi vô tận và có thể đi xuống địa ngục, như đức tin Ki-tô của chúng ta đã dạy, thì sẽ là một sự lăng nhục đối với bản chất của Chúa và là một sự lăng nhục đối với đức tin của chúng ta nếu cho rằng một vị Chúa như vậy, đời đời, lại gạt một người nào đó ra khỏi dòng sống bởi vì người đó quá mong manh, quá tổn thương, quá bầm dập, quá sức nhạy cảm, hay có lẽ chỉ đơn giản là quá sức mất cân bằng về sinh hóa tới nỗi trong một giây phút trầm cảm hay sợ hãi đã tự sát. Tận thẳm sâu, chúng ta hiểu điều đó. Chúng ta cần phải nói ra.

Chúng ta đang được an toàn trong vòng tay chở che của Chúa, vòng tay ân cần hơn vòng tay của chính chúng ta. Phải tin tưởng vào Chúa, và không ở đâu điều này lại chân thực và thấm thía hơn trong vấn đề tự tử.

Tự ngã, Chúa, và Sứ vụ

Nhà thần học nổi tiếng Hans Urs von Balthasar từng nói rằng chúng ta có thể sống với hai bản ngã – tự ngã và thần ngã.

Chúng ta sống với tự ngã khi chúng ta lấy nguồn sinh khí căn bản từ bản ngã của mình với những thăng trầm mà bản ngã chúng ta trải qua trong cuộc sống, cảm thấy ổn khi mọi việc tốt đẹp, chán nản khi ngược lại. Khi sống với tự ngã, chúng ta dễ dàng bị và thường thường bị thoái chí, cáu giận và chán chường.

Chúng ta sống với Thần Ngã khi chúng ta lấy nguồn sinh khí căn bản từ điều gì đó vượt cao trên bản thân chúng ta, từ Chúa. Khi chúng ta làm được, thì những thăng trầm trong cuộc sống hàng ngày không gây ảnh hưởng quá sâu đậm tới chúng ta, chúng ta ít bị ngã lòng, cáu giận và chán nản hơn vì chúng ta lấy ý nghĩa và sinh khí từ một điều gì vượt cao hơn những biến thiên trong bản ngã chính mình.

Không nơi nào điều này lại đúng hơn trong sứ  vụ, nơi mà chúng ta luôn luôn hoặc là quá tự mãn khi mọi việc diễn tiến tốt đẹp hoặc quá thoái chí và giận dữ khi mọi việc không như ý. Có một câu chuyện trong truyền thuyết thần bí của đạo Hồi minh họa điều này một cách xuất sắc. Câu chuyện có nhiều dị bản nhưng tất cả đều có chung một thông điệp, và đây là phiên bản tôi thấy quen thuộc nhất:

Ngày xửa ngày xưa có một chàng trai trẻ, lòng thành tâm và đầy lý tưởng, chàng trai cảm thấy có tiếng gọi thôi thúc mình rao giảng cho thế giới nghe về thách thức và sự an ủi của Chúa. Vì vậy chàng đi vào rừng sâu và theo học các Trưởng lão. Những người này rèn luyện chàng, và khi cảm thấy chàng đã sẵn sàng, họ đặt tay lên người chàng, chúc lành cho chàng, rồi phái chàng ra đi để rao giảng về thách thức và sự an ủi của Chúa.

Và chàng trai làm như thế này: Mỗi ngày, chàng thường đến một khu phố vào lúc giữa trưa, khi quảng trường khu chợ đông đúc nhất, và rồi kêu to: “Có ai muốn nghe về thách thức và an ủi của Chúa không?” Luôn luôn có một người nào đó, một người già, bước tới và nói: “Có, chúng tôi sẽ nghe anh nói về điều này.” Và vị cao niên đó dẫn chàng trai về nhà, sau bữa cơm tối, một số người họp lại. Nhưng không có nhiều người đến cho lắm, một số người tới muộn, một số về sớm, và chàng trai cảm thấy họ lắng nghe chàng nói chỉ vì lịch sự, mà không thật sự quan tâm. Vì thế, sau những buổi như vậy, chàng trai trẻ thường quay về nơi trú ngụ của mình với tâm trạng trống rỗng, thoái chí, nghĩ rằng đây chắc chắn không phải là những người mà vì họ chàng được mời gọi để làm sứ vụ.

Sự việc cứ vậy trôi đi, trong một thời gian dài, một thời gian ngắn, hay dài ngắn gì đó: hàng ngày, chu trình này cứ tiếp diễn: Chàng đi vào một khu phố, kêu to lên hỏi có ai muốn nghe về thách thức và an ủi của Chúa hay không, rồi luôn luôn có một vị cao niên bước tới và dẫn chàng về nhà; hàng đêm có một nhóm nhỏ tụ tập, một số người đến muộn và một số về sớm, loch sự lắng nghe, đặt ra những câu hỏi lịch sự, và rồi chàng lại quay về với tâm trạng trống rỗng và thoái chí.

Cho tới một ngày nọ, chàng đến một khu phố như mọi khi vẫn đến, kêu to lên như mọi khi vẫn kêu, và một người cao niên bước tới như mọi bận. Nhưng lần này sự việc khác hẳn: thay vì dẫn chàng về nhà mình, bậc cao niên đó dẫn chàng tới quảng trường thành phố, ở đó đã có đặt một bục nói chuyện và rất nhiều ghế ngồi. Tối hôm đó, quảng trường chật kín người, không ai đến muộn cũng không ai về sớm, họ ngồi chăm chú lắng nghe và đặt ra những câu hỏi sâu sắc tới tận đêm khuya.

Trở về nơi trú ngụ đêm đó, chàng cảm thấy tràn trề sinh khí và suốt cả ngày hôm sau, chàng phấn khởi làm việc để chuẩn bị những gì sẽ nói vào buổi tối. Và khi tới quảng trường thành phố tối hôm đó, quang cảnh cũng y như đêm trước, một đám đông lớn đã tụ tập. Nhưng, khi chàng chuẩn bị bước lên bục để nói, thì vị cao niên nọ giật tay áo chàng và nói: “Tối nay một người khác sẽ nói, không phải anh”. Và rồi cũng giống như đêm hôm trước, không có ai tới muộn cũng không ai về sớm, tất cả mọi người đều chăm chú lắng nghe và đặt cho diễn giả những câu hỏi sâu sắc tới tận đêm khuya.

Nhưng chàng trai trẻ cảm thấy trống rỗng và không thể để tâm lắng nghe. Khi buổi nói chuyện kết thúc, chàng quay về nơi trú ngụ, lòng bắt đầu rấm rứt thấy vỡ mộng. Sáng hôm sau, chàng xếp khăn gói với chút đồ đạc ít ỏi của mình, và vừa khi chàng bắt đầu rời thành phố, ngay ven thành, vị cao niên nọ gặp chàng và hỏi: “Tại sao anh lại rời bỏ chúng tôi?” Chàng trai trẻ trả lời: “Có vẻ như các bác không cần tôi rao giảng cho các bác nữa, các bác đã có người khác rồi.”

Vị cao niên nắm tay áo chàng và ôn tồn nói: “Để tôi cho anh một lời khuyên: Cái người đầy tự mãn đêm hôm trước và cái người quá thất vọng đêm hôm qua, cả hai người ấy đều không phải là anh. Hãy ở lại với chúng tôi và hãy để chúng tôi dạy cho anh biết mình là ai.”

Những lời lẽ thông thái, hết sức thông thái, mang ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều so với mức ta tưởng ban đầu.

Thương yêu trong khi bị chống đối

Làm sao bạn giữ được tinh thần tích cực, nuôi hy vọng, đầy tình thương và độ lượng khi bạn đối diện với chống đối, hiểu lầm, thù địch và hiềm hận?

Đây là điều Chúa Giê-su đã làm được và chính phẩm chất đặc biệt đó trong cuộc đời và lời dạy của Người đã trở thành có lẽ là thách thức cá nhân và luân lý lớn nhất cho tất cả chúng ta, những ai cố gắng theo chân thầy. Làm thế nào bạn vẫn giữ đầy tình thương khi đối diện hận thù? Làm thế nào bạn giữ được lòng cảm thông khi đối diện với hiểu lầm? Làm thế nào bạn tiếp tục nồng hậu và tử tế trước thái độ thù địch? Làm thế nào bạn thương yêu kẻ thù khi họ muốn giết bạn?

Gần như mọi bản năng trong chúng ta đều chống lại chúng ta khi xảy ra những trường hợp như thế. Bản năng tự nhiên của chúng ta gần như luôn là tự vệ, thậm chí sợ hãi hoang tưởng, đối chọi với sự xả thân và tha thứ. Cảm thức bẩm sinh trong chúng ta về công bằng đòi hỏi mắt nhìn phải được nhìn lại, một cử chỉ cho đi được nhận tặng vật trở lại, hận thù trả hận thù, ngờ vực đổi lấy ngờ vực, mạng đổi mạng. Mà điều này không chỉ đúng với những chuyện lớn như sự gắng gỏi của chúng ta để vẫn giữ đầy tình thương yêu khi đối diện hiểm họa cái chết. Chúng ta gắng gỏi để giữ thương yêu khi đối diện những điều khó chịu.

Làm sao chúng ta đối xử trước sự chống đối, hiểu lầm, thù địch và hiềm hận đây?

Đôi khi phản ứng của chúng ta là tê liệt. Chúng ta trở nên quá sợ hãi trước việc bị chống đối, hiểu lầm và thù hận tới mức rút về và thu mình lại. Chúng ta giữ lý tưởng của mình nhưng không còn thực hành lý tưởng đó khi có mặt những người chống đối chúng ta. Chúng ta tiếp tục nói về tình thương yêu và hiểu biết, nhưng không nói với kẻ thù của chúng ta (những người chúng ta không hẳn là căm ghét, nhưng giờ đây chúng ta tránh ra xa).

Đôi khi phản ứng của chúng ta lại hoàn toàn ngược lại, có nghĩa là, khi bị chống đối, chúng ta trở nên chai sạn tới mức không cần phải để ý người khác nghĩ về mình như thế nào nữa: Cứ để cho họ nghĩ gì mặc sức! Họ thích thì thích, không thích thì kệ! Vấn đề của kiểu da dày như vậy là ở chỗ khả năng tiếp tục nói những điều đúng đắn và làm những việc đúng đắn của chúng ta tùy thuộc một phần vào một mức độ mù và lãnh cảm nhất định. Chúng ta nghĩ mình không có vấn đề. Người khác mới có vấn đề.

Sự lãnh cảm này đôi khi có một hình thức khó nhận thấy hơn, đó là thái độ hạ cố. Mình nghĩ rằng mình đã bao dung độ lượng đủ để thương yêu người chống đối và căm ghét mình. kể cả khi lòng lân mẫn và thương yêu dựa trên một kiểu tâm lý tự cho mình là ưu tú, có nghĩa là, chúng ta cao hơn về mặt luân lý và tôn giáo so với những người căm ghét ta tới mức chúng ta có thể thương yêu họ mà họ không hề biết: những con người ngu dốt tội nghiệp! Giá như họ hiểu được ra! Đây không phải là tình thương mà là một phức hợp tâm lý cho mình là tốt đẹp hơn, được ngụy trang bằng lớp vỏ lòng lân mẫn và quan tâm. Đó không phải là cách Chúa Giê-su đối xử với những kẻ căm ghét người.

Người đối xử với họ như thế nào? Đối diện với thù hận và bị kẻ thù giết hại, Chúa Giê-su không kinh sợ, cũng không chai sạn hay hạ cố. Người làm gì? Người đi sâu hơn vào tâm hồn sâu thẳm nhất của mình, và từ đó tìm ra sức mạnh để duy trì trái tim ấm áp, thương yêu và tha thứ trước thù hận và giết chóc. Làm sao như vậy được?

Khi Chúa Giê-su bị hành hình, người cầu nguyện: “Xin hãy tha thứ cho họ, họ không biết họ đang làm gì.” Karl Rahner, khi nhận xét về điều này, đã chỉ ra một cách sắc sỏa rằng trên thực tế, những kẻ hành hình người hoàn toàn biết họ đang làm gì. Họ biết họ đang đóng đinh một người vô tội. Vậy thì tại sao Chúa Giê-su nói họ đang hành động không biết gì?

Tình trạng không biết gì của họ, như Karl Rahner chỉ ra, là ở một mức độ sâu hơn: Họ không biết rằng họ được thương yêu nhiều biết bao nhiêu, trong khi Chúa Giê-su biết. Khi Phúc âm tả về nội tâm Chúa Giê-su ở Bữa Tiệc Ly, kinh nói: “Giê-su, biết rằng mình đã đi từ Chúa và đang trở về với Chúa và vì vậy mọi điều đều có thể đối với người, đứng dậy khỏi bàn và cởi áo choàng…”

Giê-su có thể vẫn thương yêu và tha thứ trước thù hận và giết chóc, bởi vì, tận gốc rễ của sự tự biết của Người là việc nhận thức mình là ai, là con của Chúa Cha, và biết mình được thương yêu nhiều đến nhường nào. Người không chai sạn, cũng không cho mình là ưu tú, mà chỉ thấu cảm rằng mình là ai và mình được thương yêu đến nhường nào. Từ nguồn cội đó, người lấy năng lượng cho mình và đủ sức mạnh để thứ tha.

Chúng ta cũng có thể tới được suối nguồn năng lượng mạnh mẽ đó. Như Giê-su, chúng ta cũng là những đứa con của Chúa và cũng được yêu thương sâu sắc như vậy. Như Giê-su, chúng ta cũng có thể tha thứ được như vậy.

Tôi tin rằng rất ít điều gì trong xã hội và giáo hội của chúng ta ngày nay lại cần thiết hơn khả năng thấu hiểu và tha thứ này. Tiếp tục thấu hiểu và thương yêu đích thực người khác trước sự chống đối và hận thù chính là thách thức tối hậu về xã hội, chính trị, giáo hội, luân lý, tôn giáo và nhân văn. Đôi khi người giáo hội cố gắng đưa ra một vấn đề luân lý cụ thể để làm thước đo liệu một người có phải là tín đồ chân chính của Giê-su hay không. Nếu cần phải có một thước đo, thì hãy lấy điều này làm thước đo:

Bạn có thể vẫn thương yêu những ai hiểu lầm mình, những ai chống đối mình, những ai thù địch với mình, những ai căm ghét mình, và những ai đe dọa mình hay không – mà không bị tê liệt, chai sạn hay hạ cố?

Sự lấn lướt của bề ngoài

“Hãy tập trung vào hình ảnh của bạn, vì hình ảnh là tất cả!” Những ngôn từ đó, hay ít nhất là từ ngữ theo nghĩa đó, là đề từ của một quảng cáo nổi tiếng vài năm trước đây. Tôi nhớ mình đã quá sửng sốt trước thông điệp hời hợt và thiếu suy xét như vậy, nhưng chẳng mấy người phản ứng lại, có lẽ vì đề từ đó quá đúng với thời đại của chúng ta.

Chúng ta là chủng người bị ám ảnh bởi bề ngoài, bởi hình ảnh, bởi việc trông có vẻ tốt lành, bởi diện mạo dễ ưa. Đối với chúng ta ngày nay, nhìn chung, trông có vẻ tốt đẹp là quan trọng hơn tốt đẹp thật sự, trông có vẻ khỏe mạnh quan trọng hơn khỏe mạnh thật sự, nói đúng đắn quan trọng hơn làm đúng đắn, có liên hệ với những người đàng hoàng quan trọng hơn làm người đàng hoàng, và được coi là có đạo đức quan trọng hơn có đạo đức thực sự.

Điều đó thể hiện rõ trong việc chúng ta bị ám ảnh bởi diện mạo bên ngoài, việc chúng ta thần thánh hóa những người nổi tiếng, coi trọng qúa mức phong cách và thời trang, và gắng gỏi để được coi là có liên hệ với nhưng điều đúng đắn. Thật đúng hình ảnh là tất cả!

Chúng ta cũng thấy điều đó trong chính trị chẳng hạn: Trong xã hội, ngày ngày hình ảnh lấn lướt thực chất. Luôn luôn vẫn vậy, chúng ta không quan tâm tới chủ trương của một người bằng vẻ bề ngoài của người đó và chúng ta bầu người vào các vị trí công vụ dựa nhiều trên tính cách của họ hơn là trí tuệ và đạo đức. Trong chính trị ngày nay, có hình ảnh đúng đắn, có khả năng được những nguồn lực thích hợp vây quanh mình là quan trọng hơn có thực chất và đạo đức.

Thế giới học thuật cũng không hề kém cạnh: Ví dụ, ngày càng có nhiều trường đại học trao bằng danh dự cho những nhân vật nổi tiếng và những vị cổ xúy cho công bằng. Chuyện đó không có gì sai trái cả, đặc biệt khi ghi công và vinh danh những người đã dành cả đời mình vì công bằng, trừ việc tôi không tin cho lắm rằng những trường đại học cấp những tấm bằng đó thật sự quan tâm nhiều tới người nghèo hay họ tán thành về mặt tri thức những gì mà ngành công nghệ giải trí và thể thao (vốn đã tạo ra những người nổi tiếng đó) đang làm. Nhưng gương mặt của một người nổi tiếng, một Nelson Mandela, một Angelina Jolie, một Meryl Streep, một Michael Jordan, hay một Derek Jeter, thật sự trông rất hay đối với diện mạo trước công chúng của cái trường đại học nào cấp tấm bằng đó: Cứ xem chúng ta ân cần, nhiệt huyết, đẹp đẽ như thế nào!

Không may là nhiều trong số những trường đại học đó không hẳn là những hình mẫu về sự ân cần và công bằng trong đối xử với sinh viên và những người làm việc cho chính họ, nhưng trong cảm nhận của những người bên ngoài, họ rất ân cần chu đáo! Việc trao bằng tiến sĩ cho một ai đó đã công hiến cả đời cho cuộc đấu tranh vì lẽ công bằng, thực ra không giúp ích gì nhiều cho người nghèo, nhưng thật sự cũng làm được điều gì đó cho cái trường đang vinh danh những vị đó.

Nhưng trước khi phán xét quá khắt khe điều này, chúng ta cần phải thừa nhận rằng những gì đang xảy ra trong xã hội cũng đang xảy ra trong chính cuộc sống riêng của mình. Trong cuộc sống của chúng ta, càng ngày vẻ ngoài càng trở nên cái chúng ta quan tâm nhất. Đối với nhiều người trong số chúng ta, việc chúng ta trông như thế nào là điều trên hết, là toàn bộ vấn đề, là duy nhất. Chúng ta có thật sự tốt không thì không quan trọng cho lắm, chỉ là chúng ta có trông có vẻ tốt hay không thôi. Một điều mỉa mai không hề nhỏ là chúng ta quá giận giữ và phẫn uất trước phần ngân sách lớn mà chính phủ chi cho quốc phòng, trong khi ngay bản thân chúng ta an nhiên sống mà không hề nhận biết từng cá nhân mình ra sao, tiêu tiền cho việc phòng vệ bản thân mình – son phấn và thời trang.

Đáng buồn là chúng ta đang phải trả giá đắt cho vấn đề này. Mối bận tâm về vẻ dễ ưa của chúng ta đang đóng đinh chính chúng ta. Càng ngày chúng ta càng thấy bất mãn hơn với chính thân thể của mình, ngay cả khi thân thể ta khỏe mạnh và đang phục vụ chúng ta rất tốt. Hình ảnh khỏe mạnh ta có về bản thân mình ngày nay tùy thuộc nhiều vào việc ta trông có vẻ ổn hơn là thật sự khỏe mạnh. Tình hình quá nhiều người bị chứng biếng ăn, bên cạnh nhiều vấn đề khác, chính là triệu chứng của vấn đề này, và quá nhiều khi việc ăn kiêng và tập thể dục của chúng ta ít liên quan tới sức khỏe hơn là tới vẻ ngoài.

Phải nói rằng không phải tất cả chuyện đó đều xấu cả. Quan tâm tới diện mạo bên ngoài là lành mạnh, cũng như ăn kiêng và tập thể dục là lành mạnh (ít nhất là đa phần như vậy). Chúng ta muốn có vẻ dễ ưa, và thực sự, chúng ta cảm thấy hài lòng về bản thân hơn khi mình thật sự trông dễ ưa. Cảm giác hài lòng về cơ thể và sức khỏe của mình là một điều lành mạnh. Mối quan tâm lành mạnh về việc chúng ta trông như thế nào cần phải không bao giờ bị hạ thấp nhân danh chiều sâu hay tính chất thiêng liêng. Thực ra, một trong những dấu hiệu đầu tiên của trầm cảm lâm sàng là thiếu quan tâm tới bề ngoài.

Điều này cũng đúng với việc chúng ta được người khác cảm nhận như thế nào. Tiếng tốt là điều cần được giữ gìn và bảo vệ. Được coi là tốt là chuyện quan trọng.

Nhưng diện mạo và danh tiếng không bao giờ được thay thế đạo đức, chiều sâu và lòng chính trực, cũng như không bao giờ nên vin vào việc có thực chất và đạo đức để bào chữa cho bề ngoài xấu xí và luộm thuộm. Tuy vậy, tôi cho rằng ngày nay chúng ta đã đánh mất mức cân bằng phù hợp giữa hai điều này, và giờ đây đang ở trong tình trạng nguy hiểm. Nguy hiểm gì?

Khi hình ảnh là tất cả, thì dần dà, bề ngoài bắt đầu có vẻ như chính là đạo đức, sự nổi tiếng bắt đầu có vẻ như là sự cao quý của tâm hồn, và việc trông có vẻ tốt đẹp trở nên quan trọng hơn tốt đẹp thật sự, mà chúng ta không hề hay biết.

Sức mạnh của duy trì nghi thức

Đừng bao giờ đi đường xa với người nào mà lúc nào họ cũng đòi hỏi bạn phải thú vị. Trong cuộc hành trình dài chắc chắn sẽ có đôi khi buồn chán.

Đó là châm ngôn mà Daniel Berrigan đưa ra trong cuốn Cẩm Nang Đường Dài, Commandments for the Long Haul. Câu châm ngôn này chứa đựng một minh triết mà ngày nay không còn thấy trong hôn nhân, cuộc sống gia đình, tình bằng hữu, giáo hội, và đời sống tinh thần của chúng ta.

Thời buổi này, chúng ta thường đóng đinh người khác và bản thân mình với ý tưởng không thể có được là trong các mối quan hệ, gia đình, giáo hội và đời sống cầu nguyện của chúng ta, chúng ta cần phải tỉnh táo, chú tâm, nhiệt tình và về mặt cảm xúc không được hờ hững lúc nào hết. Chúng ta không bao giờ được phép lơ là, chán nản, sốt ruột muốn đổi sang cái gì khác vì bị áp lực và mệt mỏi đè nặng lên cuộc sống. Chúng ta buộc tội lẫn nhau và buộc tội chính mình với những kiểu nhận xét: nhiều khi anh/em quá lơ là, quá mệt mỏi đến nỗi không nghe em/anh nói! Anh/em ở đây mà hồn thì để chỗ khác! Anh/em chán nhà thờ! Anh/em cứ mong cho xong thật chóng! Giờ anh/em không yêu em/anh như thuo ban đầu! Anh/em không còn để tâm vào điều này như trước nữa!

Những nhận xét này chứa đựng một yêu cầu lành mạnh nhưng chúng cũng bộc lộ sự dại dột và thiếu hiểu biết về những gì thật sự duy trì chúng ta trong đời sống hàng ngày. Chúng ta nghe nhau như trâu nghe đàn.

Tôi nói như vậy nghĩa là sao? Sau đây là một ví dụ:

Một nghiên cứu gần đây về hôn nhân cho thấy các cặp vợ chồng nào có thói quen ôm hôn nhau trước khi đi làm, trước khi đi ngủ thì họ hòa hợp hơn những cặp làm như vậy chỉ vì ngẫu hứng hay lúc có tâm trạng. Nghiên cứu này kết luận rằng dù hôn một cách lơ đãng, vội vàng, chiếu lệ hay vì trách nhiệm thì nó vẫn có vai trò rất quan trọng, nghĩa là nói lên lòng chung thủy và cam kết bất chấp thăng trầm trong tình cảm, bất chấp sao lãng và mệt mỏi bất cứ lúc nào. Đó là một nghi thức, một hành động được làm thường xuyên để nói một cách chính xác những gì con
tim và trí óc của chúng ta không thể lúc nào cũng nói được, nghĩa là những phần sâu thẳm nhất trong ta vẫn tha thiết ngay cả trong những lúc chúng ta quá mệt, quá bị phân tâm, quá tức giận, quá chán nản, quá sốt ruột, quá bận tâm, hoặc không trung thành về mặt tình cảm hay trí tuệ để chú tâm và có mặt như đáng ra chúng ta phải vậy. Cử chỉ đó nói lên rằng chúng ta vẫn thương yêu nhau và tha thiết với nhau bất chấp những thay đổi và áp lực không thể tránh khỏi của cuộc sống.

Ngày nay điều này ít khi được hiểu. Việc lý tưởng hóa quá mức về tình yêu, gia đình, giáo hội và cầu nguyện thường xuyên ảnh hưởng tai hại tới thực tế. Văn hóa bình dân làm chúng ta nghĩ rằng tình yêu lúc nào cũng phải lãng mạn, đầy hứng khởi và thú vị, và rằng việc thiếu cảm xúc là dấu hiệu của tình trạng có vấn đề. Các người xướng kinh, các vị hướng dẫn giờ kinh muốn chúng ta nghĩ rằng phải tràn đầy nhiệt tình và cảm xúc trong mỗi buổi lễ, và rằng chúng ta đang có vấn đề nếu thấy mình vô cảm, chán nản, nhìn đồng hồ và cự lại với cảm xúc “chuẩn” buộc phải có trong nhà thờ hay trong lúc cầu nguyện. Đâu đâu chúng ta cũng bị cảnh giác trước mối đe dọa phải làm điều gì đó vì nghĩa vụ, rằng khi những cử chỉ yêu thương, cầu nguyện, nghi thức lễ trở nên lệ thường thì đó là có vấn đề. Tại sao phải làm điều gì đó khi quả tim mình không ở đó?

Phải nói lại là, có đôi chút chính đáng trong những lời cảnh giác đó: Nghĩa vụ và cam kết mà không thật tâm thì cuối cùng không thể duy trì mãi được. Tuy nhiên, bên cạnh việc chấp nhận như vậy, điều quan trọng là chấp nhận và gọi tên cái thực tế rằng bất kỳ mối quan hệ nào trong tình yêu, gia đình, giáo hội hay cầu nguyện đều chỉ có thể duy trì qua thời gian dài nhờ nghi thức và lệ thường. Nghi thức duy trì trái tim, chứ không phải là ngược lại.

Chính sự trung thành với thói quen của cuộc sống hàng ngày chứ không phải tuần trăng mật mới duy trì được một cuộc hôn nhân. Chính sự trung thành với những việc đơn giản như có mặt trong bữa ăn cuối tuần, ăn uống dù qua loa và lơ là, chứ không phải cuộc ăn mừng linh đình hay đại tiệc, mới duy trì đời sống gia đình. Gia đình nào đòi hỏi bữa ăn chung nào cũng phải là một sự kiện mà ai cũng phải tham gia một cách xúc động, khăng khăng gạt ra ngoài áp lực thì giờ và chương trình của mỗi cá nhân thì sớm hay muộn sẽ thấy người nhà mình ngày càng vắng mặt. Mà vì lý do chính đáng: không ai có đủ năng lực để ngày nào cũng dự đại tiệc. Trên thực tế, không một ai, trừ Chúa, lại miễn nhiễm với cơn mệt mỏi, sao nhãng, thờ ơ, và mối bận tậm riêng khiến trái tim khó tỉnh táo, chú tâm và cảm xúc lúc nào cũng đúng điệu đúng lúc. Tình yêu, nói như cách của chương trình Thăng Tiến Hôn Nhân, Marriage Encounter (một tổ chức giúp các cặp vợ chồng cải thiện hôn nhân), được thể hiện trong quyết định.

Điều này cũng đúng đối với cầu nguyện. Người nào chỉ cầu nguyện khi  trái tim và tâm hồn dành trọn vẹn cho cầu nguyện thì sẽ không duy trì việc cầu nguyện được lâu dài. Nhưng, thói quen cầu nguyện, nghi thức, đơn thuần trung thành với hành động đó, một khi nó chứng tỏ cho thấy nó không dính dáng gì đến cảm xúc, tâm trạng thì mới có thể duy trì cầu nguyện suốt cả đời và vượt lên trên những rong ruổi của trí óc và quả  tim.

Theo triết gia Soren Kierkegaard, sự lặp đi lặp lại là cơm ăn hàng ngày của chúng ta.

Các mảnh vụn của năm cái bánh và hai con cá

Sau khi Chúa Giêsu nuôi cho hơn năm ngàn dân với năm cái bánh và hai con cá, Người nhờ các môn đồ đi nhặt các mảnh vụn còn sót vương vãi đây đó trên mặt đất. Họ đã làm theo và nhặt được mười hai thúng bánh vụn.

Gần đây, tôi tham dự một loạt buổi diễn thuyết của nhà thần học Walter Brueggemann. Ông  được kính nể vì tầm hiểu biết Kinh Thánh sâu rộng, ông nuôi dưỡng cử tọa với vài thúng hiểu biết, nhưng có lẽ ông được kính nể sâu sắc hơn vì ông quan tâm đến người nghèo và ông thách thức chúng ta đến với họ với tinh thần công chính và lòng quảng đại. Sau khi ông nuôi ăn đám đông là chúng tôi, đây là một vài mảnh vụn nhặt được:

• Ngày nay có một mối hiểm nguy thật sự là sự riêng tư hóa đức tin quá mức. Giáo hội cần bảo vệ lương tri tập thể nữa chứ không chỉ  lương tri cá nhân.
• Đứng trước quan tổng trấn Phi-la-tô, Chúa Giêsu chuyển vấn đề quyền lực thành vấn đề chân lý. Chân lý sẽ luôn luôn bào mòn những xiềng xích của quyền lực và quyền lực không bao giờ chặn được chân lý. Chân lý là tinh thần làm cho thế giới này hòa điệu với Chúa.
• Khi chân lý ra tay, chúng ta thấy nghèo nàn thành sung túc, cái chết thành sự sống, chiến tranh thành hòa bình, tình trạng đói ăn thành có thực phẩm.
• Nơi ông Mô-sê, chân lý đối đầu với quyền lực; nơi tiên tri Ê-li-a, chân lý không đếm xỉa quyền lực; nơi ông Giô-suê, chân lý chuyển hóa quyền lực.
• Bạn luôn luôn nhận ra một “Pha-ra-ô”: Nếu bạn đã gặp một Pha-ra-ô, thì coi như bạn đã gặp tất cả bọn họ rồi! Pha-ra-ô luôn luôn có những ước muốn xấu xa, tom góp của cải, luôn luôn cần các thùng ngày càng to để chắt nhặt của cải, lúc nào cũng lo âu và càng ngày càng xa Chúa, không để cho Chúa vào nhà. Chúng ta có ác mộng ở đâu?
• Một vị Chúa chân chính luôn luôn hiệp lực chống lại Pha-ra-ô. Rốt cùng, Thiên Chúa chấm dứt cơn khủng hoảng và tái ổn định nó. 
• Rốt cùng, Kinh Thánh nói về nỗi đau thể lý và tình trạng nô lệ đau đớn. Cứu rỗi, giống như khởi đầu cuộc Xuất Hành, luôn luôn bắt đầu bằng tiếng kêu tuyệt vọng và cuối cùng kết thúc trong điệu nhảy hân hoan. Cơ thể bị thương tổn phải cất lên tiếng nói và tiếng nói này phải nói rằng nỗi đau này là không bình thường, không nên chịu đựng nó thêm chút nào nữa. Tình trạng nô lệ đau đớn và một vị Chúa chân chính cuối cùng sẽ vạch cho bạn một con đường xuyên qua biển, nơi đó quân lính của vua Pha-ra-ô không thể đuổi theo. Vì vậy không bao giờ chúng ta được để cho các tật bệnh đau đớn của chúng ta trở thành bình thường, cũng không chấp nhận tình trạng nô lệ chỉ vì nó mang đến an toàn.
• Ngày nay, đối với đa số, hệ thống truyền thông phản ảnh ý thức hệ của vua Pha-ra-ô, ấy vậy mà chúng ta lại sẵn sàng hít thở luồng ý thức đó. Khi chúng ta tắt màn hình một lúc, chúng ta mới cảm thấy tự do hơn.
• Công việc biến đổi của Chúa luôn luôn được giao phó theo ý chí và lòng can đảm còn miễn cưỡng của con người.
• Sách Đệ Nhị Luật là một trong những tài liệu xã hội lớn lao nhất từng được viết ra, nó gắn đức tin với đời sống, kinh tế và công chính. Nó hướng dẫn đức tin luôn luôn hướng về người nghèo, về «bà góa, trẻ mồ côi, người lạ mặt.» Sách Đệ Nhị Luật có thể là tài liệu có tính chất phản kháng nhất của toàn bộ Cựu Ước. Bên cạnh những điều khác, sách này dạy một cách không nhân nhượng rằng cần phải có những khống chế về mặt đạo đức đối với lý thuyết kinh tế cho rằng thị trường phải được hoàn toàn tự do cạnh tranh. Trong đoạn ma quỷ cám dỗ Chúa Giêsu, người trích dẫn Kinh Thánh ba lần và lần nào cũng là một đoạn trong sách Đệ Nhị Luật.
• Sách Đệ Nhị Luật luôn luôn nhắc chúng ta rằng tất cả chúng ta đã từng là nô lệ và chẳng hay ho gì nếu chúng ta lãng quên điều đó. Chúng ta không nên tuyệt đối hóa hiện tại và tưởng tượng rằng xưa nay tình hình vẫn luôn tốt đẹp như hiện tại. Tất cả chúng ta đều phải nhớ mình từ đâu đến, và không chỉ trong các cuộc tranh luận về vấn đề di dân bây giờ.
• Nếu chúng ta không coi trọng lời trong sách Đệ Nhị Luật rằng phải săn sóc người nghèo, thì chúng ta phải đối diện với sách của tiên tri Giê-rê-mi-a, ông quả quyết rằng thế giới mà chúng ta biết đây sẽ đến ngày cáo chung vì nó không thể nào trụ được trong giả dối.
• Đối với tiên tri Giê-rê-mi-a, giúp người nghèo và người gặp khốn khó là nhận biết Chúa.
• Truyền thống tiên tri trong Sách Thánh nhắc chúng ta nhớ là có ba đức hạnh: lòng quảng đại, lòng hiếu khách và tha thứ. Ngược lại, nền văn hóa hiện nay của chúng ta khuyến khích giữ của cải, tự vệ và thù oán.
• Lý luận lớn nhất của chúng ta là: «Nếu tôi sống thời xưa khi mà các vấn đề rõ ràng minh bạch thì tôi cũng sẽ là thánh tử đạo, còn bây giờ, các vấn đề không được rõ ràng như vậy.”
•  Rao giảng công chính ngày càng khó vì xã hội ngày càng bị nạn lo âu trấn áp. Tuy nhiên, nếu chúng ta rao giảng công chính mà xã hội không nghe thì đó là vấn đề của xã hội. Nhưng nếu chúng ta không rao giảng công chính, thì đó là vấn đề của chúng ta.
• Để trả lời cho câu hỏi vì sao đôi khi trong Kinh Thánh có vẻ như cổ vũ cho bạo lực: Vị Chúa trong Kinh Thánh là vị Chúa gom nhặt tất cả các bạo lực bị gán cho Chúa và làm nhân danh Chúa. Còn, trong các nhà thờ chúng ta, chúng ta có tất cả mọi mức độ gom nhặt khác nhau này.
• Các lời cầu nguyện của chúng ta thường quá tôn kính: Chúng ta cần cầu nguyện như ông Mô-sê và nhắc Chúa nhớ những gì Chúa đã hứa với chúng ta.
• Chúng ta là những người duy nhất trong thành phố biết con đường để thoát ra khỏi cơn khủng hoảng này!

Quy về điều cốt yếu

Không lâu sau sinh nhật lần thứ bảy mươi, Morris West viết cuốn tự truyện với nhan đề Nhìn từ Đỉnh. Đỉnh là nhãn quan mà bảy mươi năm cuộc đời đã đem lại cho ông.

Điều ông viết trong cuốn sách đó là một nhãn quan chín chắn phi thường về cuộc đời.

West cho rằng, khi bạn bảy mươi lăm tuổi, từ ngữ bạn dùng cần phải khá đơn giản. Bạn chỉ cần có hai từ thôi: “Cảm ơn!” Lòng biết ơn là dấu hiệu đích thực của một tâm hồn chính chắn đích thực, của một tinh thần lành mạnh. Đừng bao giờ hiểu sai về điều này.

Hơn nữa, đối với ông, lòng biết ơn không dễ mà có được. Như trong cuốn tự truyện kể lại rõ ràng, cuộc đời của ông phải chịu những đau thương và chối bỏ, trong số đó có việc bị loại bỏ bởi chính giáo hội mà ông yêu thương. Như vậy câu chuyện cuộc đời của ông bật lên cho thấy lòng biết ơn phải dựa trên sự tha thứ, trên sự buông bỏ những đau thương, trên việc đừng để quá khứ nhuốm màu chua chát lên hiện tại. Để biết ơn phải tha thứ.

Tất cả chúng ta đều có những nỗi đau, những tổn thương sâu sắc. Không ai bước vào tuổi người lớn – huống hồ tuổi già – mà không bị tổn thương sâu sắc. Alice Miller, nữ tâm lý gia nổi tiếng, đã diễn đạt như thế này: Tất cả chúng ta, từ thuở còn là em bé nằm nôi cho tới khi tự chủ tới mức đủ để viết được tự truyện như ông Morris West, đều đã không được (người khác) yêu thương và trân trọng đầy đủ. Hơn nữa, tất cả chúng ta đều từng trải nghiệm sâu đậm thế nào là chối bỏ hay ngược đãi. Bất công cuộc đời không chừa một ai trong chúng ta. Bà đặt tên cho điều này là bi kịch của đứa trẻ tài năng, nghĩa là, bi kịch của một con người cá biệt, nhạy cảm, thông minh, sâu sắc và tài năng mà trong đời lại chưa bao giờ được thật sự yêu thương đầy đủ, được công nhận đầy đủ, được kính trọng đầy đủ, hay được vinh danh đầy đủ, là người đôi khi bị chối bỏ và bị ngược đãi hết sức. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy mình dễ dàng cảm thấy chua chát hơn là biết ơn, lo nghĩ người khác hại mình hơn là thân ái với người khác, phẫn nộ hơn là ôn hòa dễ chịu.

Chúng ta có thể làm gì đây, làm được gì nữa bên cạnh việc trước tiên thừa nhận rằng chúng ta nuôi trong lòng mối hận với cuộc đời?

Miller cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của tuổi trung niên và tuổi kế đó là phải chịu cái tang, phải dứt khoát. Bà nói, chúng ta phải khóc than cho tới khi nào tất cả nền tảng đời sống chúng ta bị lung lay. Vào một thời điểm nào đó trong đời, vấn đề không còn là “Ta có bị tổn thương không?” nữa, mà là “Tổn thương của ta là gì và làm thế nào để ta có thể vượt lên trên tổn thương đó?” Nó giống như khi mình bị tai nạn xe hơi, phải mang sẹo và bị suy yếu suốt đời. Tai nạn thì đã xảy ra, thương tật thì phải mang, không gì có thể đảo ngược thời gian nữa, vì vậy lựa chọn duy nhất của chúng ta là giữa chua chát hoặc tha thứ, giữa phẫn nộ hoặc làm hòa với cuộc sống, giữa sống tiếp cuộc đời mà luôn miệng nói “giá như” hoặc sống tiếp cuộc đời bằng cố gắng thích thú hít thở khí trời cho dù bước chân đi khập khiễng.

Một ý nghĩa quan trọng trong nhận thức của Do thái giáo và Ki-tô giáo về lễ Xa-bát là trong khi làm lễ mừng, nghỉ ngơi, vui thú và cầu nguyện của lễ Xa-bát chủ yếu vì chính ngày lễ, còn có một chức năng cụ thể là lòng biết ơn. Chúng ta mong muốn được thường xuyên nghỉ ngơi, cầu nguyện, làm lễ mừng và vui hưởng cuộc đời vì đó là những gì chúng ta sẽ tiếp tục làm trên thiên đường, vì khi làm như vậy, chúng ta có thể tìm thấy trong bản thân mình một trái tim thương yêu mà chúng ta cần để thứ tha. 

Thường thường, không phải ngẫu nhiên mà những kỳ nghỉ của chúng ta không thật sự có ích như đáng lý nó phải vậy: chúng ta phải làm việc cật lực và mệt mỏi, chúng ta trông đến ngày nghỉ, có thời gian nghỉ ngơi tách khỏi công việc, thư giãn với bạn bè, uống rượu, tắm nắng. Rồi chúng ta đi nghỉ và thật sự rất thích thú. Nhưng buồn thay, chỉ trong vòng vài ngày hay vài tuần sau khi đi nghỉ về, chúng ta lại thấy mệt mỏi như chưa hề đi nghỉ. Chuyện gì vậy? Tại sao đi nghỉ rồi mà chẳng có tác dụng gì?

Kỳ nghỉ của ta chẳng có tác dụng vì chúng ta chẳng tha thứ được ai. Chúng ta không buông bỏ đi chút nào mối hận trong lòng mình. Cái phần mệt mỏi và căng thẳng nhất của chúng ta vẫn không hề đi nghỉ, không hề buông xả và thư giãn, và cái phần đó chẳng thấy ấm áp lên được nhờ bia rượu và bạn bè. Cái phần đó vẫn lạnh giá, lo lắng, căng thẳng, kiệt lực. Có một sự mỏi mệt không thể nào chữa khỏi bằng giấc ngủ sâu, bằng kỳ nghỉ tuyệt vời hay bằng thời gian vui vẻ bên cốc rượu ngon với những người bạn thân, cái phần mệt mỏi đó từ trong sâu thẳm nhất của chúng ta. Chính cái phần mệt mỏi này đang làm ta đau nhói vì bị tổn thương, đang lạnh lẽo vì không được yêu thương, đang chai lì vì đã bị cứa đau tàn nhẫn, đang đùng đùng oán giận vì bị bỏ rơi và chối từ. Đây là sự mệt mỏi chán ngán tận xương tủy mà một kỳ nghỉ không thể chữa lành, nó chỉ có thể chữa bằng sự thứ tha.

Chỉ có duy nhất một mệnh lệnh tối hậu trong đời: Trước khi chết, chúng ta cần tha thứ. Chúng ta cần tha thứ những ai đã làm tổn thương ta, cần tha thứ bản thân chúng ta đã không hề tốt đẹp hơn những ai làm đau ta, cần tha thứ chính cuộc đời với những gì đời đã giáng lên, và còn nữa, cần tha thứ Chúa trước sự việc rằng đời bất công. Như thế, ta không phải chết đi mà ôm lòng cay đắng và phẫn nộ.

Biết ơn là quả ngọt của cuộc chiến cam go đó.