RonRolheiser,OMI

Không có chỗ trong quán trọ

Mẹ Maria sinh hạ một người con trai, lần đầu tiên bà sinh con. Bà quấn lót cho con và đặt con ngủ trong máng lừa vì không có chỗ trong quán trọ.

Trong câu chuyện Giáng sinh, xưa nay chúng ta luôn dèm và lên án người chủ quán trọ đã đuổi mẹ Maria và thánh Giu-se, làm cho họ không còn nơi trú ngụ nào khác ngoài chuồng bò. Và bài học chúng ta rút ra từ câu chuyện này là chúng ta cần hào hiệp hơn trong cuộc sống, đừng bận rộn và ham công tiếc việc tới mức “không có chỗ trong quán trọ”, có nghĩa là không còn chỗ nào trong cuộc sống bận rộn của chúng ta để vị thiên sai có thể ra đời, để có được Giáng sinh.

Có đôi phần đúng như vậy, nhưng các học giả cho rằng còn có một bài học sâu sắc hơn về sự việc Giê-su sinh ra trong máng cỏ vì không có chỗ trong quán trọ. Điều được nhấn mạnh ở đây không hẳn là chuyện người chủ quán trọ thiếu lòng hào hiệp, mà đúng hơn là việc Giê-su được sinh ra bên ngoài thành phố, bên ngoài những gì là tiện nghi, bên ngoài những lời hoan hô chúc tụng và danh vọng, bên ngoài việc được thừa nhận bởi những người giàu và mạnh, và ngoài sự chú ý của thế giới hàng ngày này. Giê-su được sinh ra trong tình trạng vô danh, nghèo khổ, hoàn toàn không ai chú ý, chỉ trừ gia đình và Chúa.

Việc người bị thành phố khước từ cũng báo trước cái chết của người. Quãng đời trên thế gian này của Giê-su cũng kết thúc như cách nó bắt đầu. Người sẽ là một người xa lạ, một kẻ ngoài rìa, bị đóng đinh trên thập giá bên ngoài thành phố y như khi sinh ra bên ngoài thành phố.

Thomas Merton từng viết một bài tuyệt vời về vấn đề này: Trong cái thế giới này, cái quán trọ ồn ào này, hoàn toàn không có chỗ nào cho Người, Chúa đã tới mà không hề được mời gọi. Nhưng bởi vì Người không thể cư xử như ở nhà mình trong đó, bởi vì Người lạc lõng trong đó, ấy vậy mà vẫn phải ở trong đó, nên chốn của Người là ở bên những ai không được dành cho chỗ nào. Chốn của người là ở bên cạnh những ai không được thuộc về, những người bị quyền lực khước từ bởi vì họ bị coi là kẻ yếu, những người không đưọc ai tin, những người không có nhân vị, những người bị tra tấn, bị đánh bom, bị xử tử. Đối với những ai không được dành cho một nơi chốn, thì Chúa hiện diện trên thế giới này. Người có mặt một cách bí ẩn trong những ai mà dường như không có gì dành cho họ ngoại trừ những gì tệ hại nhất của thế gian này.

Giê-su sinh ra trên thế giới này mà không ai hay biết, ở bên ngoài thành phố, bên ngoài tất cả những nhân vật và sự kiện dường như quan trọng vào thời điểm đó. Hai ngàn năm sau, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của sự ra đời này, nhưng vào lúc đó, hầu như không ai nhận ra. Hiểu ý nghĩa đằng sau điều đó có thể giúp chúng ta có một nhãn quan sâu, những người mà trong cuộc sống, mãi mãi cảm thấy là những người bên rìa, không ai hay biết, vô danh, sống trong một thời đại bé nhỏ, thành phố bé nhỏ, những con người mang tính chất ngẫu nhiên tình cờ đối với hành động lớn và đại cuộc. Ảnh chân dung và câu chuyện của chúng ta sẽ không bao giờ xuất hiện ở tạp chí TIME hay báo PEOPLE. Tên của chúng ta chẳng bao giờ trưng lên được đèn đuốc chiếu sáng, và số của chúng ta là sống và rồi chết đi cơ bản là trong tình trạng vô danh, không ai biết, ngoài cái vòng nhỏ hẹp bạn bè người thân của chúng ta.

Phần lớn chúng ta sẽ sống một cuộc đời ẩn mật bình lặng, nơi thôn quê, nơi thành phố nhỏ bé, trong những vùng thành phố không ai biết, ngắm nhìn các sự kiện lớn của thế giới từ bên ngoài và luôn luôn nhìn thấy một người nào khác chứ không phải chúng ta ở trung tâm mọi việc. Dường như bản thân chúng ta sẽ mãi mãi không được biết tới, và các tài năng đóng góp của chúng ta thì sẽ không ai công nhận, có lẽ ngay cả những người trong gia đình mình. Sẽ không bao giờ có chỗ trong quán trọ cho chúng ta. Chúng ta sẽ sống, làm việc, tạo sự sống, sinh con đẻ cái trong những nơi chốn khiêm nhường hạ tiện hơn nhiều.

Và, có lẽ đau đớn nhất là chúng ta sẽ phải chịu đựng nỗi chán chường vì không thể biểu lộ năng lực và tài năng thiên bẩm của mình ra với thế giới, mà thay vào đó là phải nhìn thấy bản giao hưởng, giai điệu thâm trầm sâu sắc trong lòng mình, chẳng bao giờ chúng tìm thấy cách biểu hiện thỏa đáng ở thế giới bên ngoài. Những giấc mơ và những kho tàng sâu sắc nhất của chúng ta sẽ không bao giờ tìm được cho chúng một sân khấu ở trần gian này. Dường như sẽ không bao giờ có chỗ trong quán trọ cho những gì ưu tú nhất trong chúng ta. Những kho tàng sâu xa nhất của chúng ta, giống như sự ra đời của chúa Giê-su trên thế giới này, sẽ luôn luôn ở ngoài bìa, bị chết đi mà không có cách nào thổ lộ – như Iris Murdoch từng gọi. Nghệ thuật cũng có những liệt sĩ, và không nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau của sự biểu lộ bản thể không trọn vẹn.

Mẹ Maria sinh hạ chúa Giê-su trong máng cỏ vì không có chỗ cho họ trong quán trọ. Đây là lời chú giải không phải chỉ về sự bận rộn và thiếu hào hiệp của một chủ quán trọ nào đó xa xưa. Đây là câu chuyện về những gì sâu thẳm nhất trong cuộc đời con người. Cốt tủy, điều câu chuyện muốn nói là không phải những người ở tâm điểm mọi sự, kẻ có quyền lực, người giàu, người nổi tiếng, lãnh đạo chính phủ, những ngôi sao của thế giới giải trí, những vị lãnh đạo tập đoàn công ty, học giả hay viện sĩ, là người rốt cùng ở tâm điểm của cuộc sống. Những gì sâu sắc nhất và có ý nghĩa nhất của cuộc sống nằm ở chốn vô danh, những người có quyền lực không chú ý tới, được dịu dàng quấn trong đức tin, bên ngoài thành phố.

Khao khát, ước ao và hình ảnh của Chúa

“Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa.”  “Suốt đêm trường, hồn con khao khát Chúa.”

Tất cả chúng ta đều đã nghe và cầu nguyện với lời thánh vịnh này, trong những giây phút chiêm nghiệm sâu đậm, chúng ta đã thật sự nói lên như vậy, nhưng phần lớn, trái tim chúng ta làm ngược lại. Chúng ta không thật sự, ít nhất không phải là trong những suy nghĩ và cảm xúc có ý thức sâu hơn của chúng ta, đã khao khát Chúa một cách mãnh liệt, và hằng đêm vào giờ đi ngủ, linh hồn chúng ta thường thao thức vì một người nào đó chứ không phải là Chúa. Nhưng chúng ta không cần phải xin lỗi vì điều này.

Chúng ta là những con người, không phải là thiên thần, và cả thiên tư và bản năng chúng ta đều kết hợp lại để hướng mối quan tâm và ước muốn của chúng ta về thế gian trần tục này. Hơn nữa, những khát khao của chúng ta thì bao la và pha tạp. Chúng ta ước mong đến ray rứt rất nhiều điều, mặc dù những khao khát mãnh liệt nhất của chúng ta phần lớn liên quan tới mong mỏi có bạn tâm tình và tới sự viên mãn về cảm xúc và tình dục.

Những khao khát đó, ít nhất khi thoạt nhìn, thường không có vẻ thiêng liêng hay hướng thượng gì cả. Trên thực tế, có vẻ còn ngược lại. Những gì chúng ta khao khát một cách vô cùng mãnh liệt và những gì linh hồn hằng đêm thao thức hướng về, phần lớn là hường về một người nào đó hay một điều gì đó trần tục và mang tính dục tình hơn là những gì chúng ta gắn với Chúa. Ví dụ, khi thấy một người đẹp mê hồn hay khi cảm nghiệm một sức hút tình dục mạnh mẽ, trong lòng chúng ta cảm thấy gì trước hào quang rực rỡ đó? Lúc đó linh hồn chúng ta thao thức vì ai? Chúng ta khao khát điều gì?

Chúng ta không dám gắn những gì cảm thấy lúc đó với tình cảm thiêng liêng mà chúng ta thể hiện trong các bài thánh ca và cầu nguyện của mình. Và chính vì vậy mà chúng ta trở nên nghèo nàn đi, cả về mặt tôn giáo lẫn con người. Trước hết, niềm ao ước đó, vốn không hề thiếu lành mạnh, trên thực tế là một dấu hiệu của tình trạng sức khỏe bình thường. Cái đẹp là để được tôn vinh; chúng ta phải cảm thấy sức hút và sức lôi cuốn mạnh mẽ đó, kể cả phần tình dục. Dĩ nhiên, cái đẹp còn là để được tôn trọng và không bị xâm phạm. Khả năng tôn vinh cái đẹp của chúng ta là một dấu hiệu của tình trạng sức khỏe bình thường, và khả năng không xâm phạm cái đẹp đó của chúng ta là một phép thử tình trạng sức khỏe đó, dù đó không phải là điều muốn nói ở đây.
 
Điều muốn nói ở đây là, dù có ý thức hay trong tiềm thức, chúng ta đều hiểu những sức hút trần tục và dục tình mạnh mẽ này đưa chúng ta ra xa khỏi Chúa và là điều chúng ta cần từ bỏ nhằm tiến tới được gần Chúa hơn. Ao ước của chúng ta đối với Chúa và những ước ao trần tục và dục tình của chúng ta được coi là hai kẻ đối nghịch, không thể nào tương thích với nhau, đòi hỏi chúng ta chỉ được chọn một trong hai. Quan niệm sai lầm đó làm hại chúng ta nhiều hơn chúng ta tưởng.

Tại sao? Bởi vì mọi thứ đẹp và hấp dẫn, dù có trần tục và gợi tình, đều được bao hàm trong Chúa. Chúa là vị sáng thế của tất cả những gì đẹp đẽ, hấp dẫn, đầy sắc màu, gợi tình, thông thái dí dỏm, tài giỏi và thông minh. Tất cả những gì thu hút chúng ta trên trần gian này, kể cả vẻ đẹp quyến rũ chúng ta về mặt tình dục, cũng đều được thấy bên trong Chúa, và những điều hấp dẫn và khao khát của chúng ta đối với vẻ đẹp đó trên trần gian này, rốt cùng, là khao khát Chúa. Linh hồn của chúng ta cần thao thức ở một cấp độ sâu sắc hơn.

Đó là những gì mà nhiều bậc thánh và nhà thần bí trực nhận khi họ cảm thấy một khao khát mãnh liệt muốn hiệp thông với Chúa. Tất cả những gì đẹp và hấp dẫn được thấy bên trong Chúa, và được thấy ở đó dưới một dạng thức vượt quá hiện nghiệm của chúng ta ở đây. Các bậc thánh và các nhà thần bí trực cảm đúng rằng Chúa là thú vị hơn, đẹp đẽ hơn, gợi tình hơn bất kỳ ai hay bất kỳ điều gì trên thế gian này. Vì vậy khao khát Chúa của họ thật sự có thể được ví như một con hươu đang khao khát uống nước từ một dòng suối mát lành. Chúng ta cũng trực nghiệm những khao khát đó với cùng mức độ mãnh liệt như vậy, trừ việc chúng ta chưa bao giờ gắn những cảm xúc đó với Chúa, mặc dù chúng ta nên gắn như vậy. Nỗi ray rứt thiết tha mà chúng ta cảm nhận trong lòng trong nỗi ám ảnh, trong ước muốn dục tình mãnh liệt, và trước một vẻ đẹp choáng ngợp, rốt cùng, là lòng mong mỏi Chúa, bởi vì mọi thứ chúng ta khao khát, cho dù rất con người, xác thịt, hay đầy dục tình, đều ở trong Chúa, vị sáng tạo ra tất cả những gì tốt đẹp. Linh hồn của chúng ta cũng khát khao Chúa và thao thức hằng đêm vì Chúa, mặc dù phần lớn là chúng ta không nhận thức được điều đó.

Nhưng chúng ta chưa bao giờ thật sự nhận ra điều này. Nếu chúng ta nhận ra, thì, giống như các bậc thánh và nhà thần bí ngày xưa, chúng ta sẽ chịu cái ám ảnh về Chúa, thay vì chỉ bị ám ảnh bởi những gì chúng ta thấy là hấp dẫn trên thế gian này. Một số người trong chúng ta chịu ám ảnh bởi cái đẹp, một số chịu ám ảnh với việc tìm một người tri kỷ, một số bị ám ảnh bởi tình dục, một số chịu ám ảnh bởi chân lý, một số chịu ám ảnh bởi công lý, và một số trong chúng ta chịu ám ảnh bởi năng lượng, màu sắc và lạc thú của thế gian này. Nhưng rất ít người trong chúng ta chịu ám ảnh về Chúa, hay kể cả là quan tâm nhiều đến Chúa, người sáng tạo ra vẻ đẹp, dục tình, tình thân thiết, chân lý, công lý, năng lượng, sắc màu và lạc thú.

Tại sao chúng ta không quan tâm mong muốn nhiều hơn đến Người Duy Nhất mà tất cả những chuyện khác chỉ là hình ảnh phản chiếu nhợt nhạt của Người?

Đồng Trinh sinh hạ

Truyền thống ki-tô luôn luôn nhấn mạnh đến việc Chúa Giêsu được sinh ra do một trinh nữ. Đấng Thiên sai chỉ được sinh ra từ dạ người đồng trinh. Đương nhiên lý do chính cho sự nhấn mạnh này là để nêu bật Chúa Giêsu không có người cha thế gian và việc Ngài được sinh ra là do Thần Khí.

Nhưng cũng có một nghĩa thứ hai, ít được nói đến trong Thánh Kinh. Thường thường trong nghĩa này, ý tưởng cho rằng Chúa Giêsu sinh từ một trinh nữ vì dục tính là cái gì không tinh khiết, quá phàm tục so với một sự việc thiêng liêng như vậy. Thiêng liêng phải được tách bạch ra khỏi cái gì phàm tục. Không những Chúa Giêsu được sinh ra từ một trinh nữ, vì Người không có cha trần thế, mà Người còn được sinh ra từ trinh nữ vì sự sinh ra này đòi hỏi phải tinh tuyền, mà theo định nghĩa, tinh tuyền là loại trừ dục tính. Khái niệm của chúng ta về đồng trinh sinh hạ đã chịu sự thấm nhuần của lòng mộ đạo, mà với tất cả lý do có thể có, không thể nào chấp nhận dục tính đi với thiêng liêng.

Có cái gì sai ở đây? Vượt ra ngoài sự chê bai cái tốt đẹp do Chúa ban của dục tính, ở đây thiếu một trong những khía cạnh chủ yếu của sự mặc khải trong việc đồng trinh sinh hạ. Có một thách đố mang tính luân lý trong việc đồng trinh sinh hạ, một điều gì đó mời gọi bắt chước hơn là thờ phượng.

Truyền thống kitô nhấn mạnh đến đồng trinh sinh hạ (cũng như nhấn mạnh đến hầm mộ chưa từng chôn ai, nấm mộ trinh khiết đi đôi với tử cung còn trinh) không phải vì truyền thống cho rằng dục tính là không tinh khiết và quá thế tục nên không thể sinh ra một cái gì thiêng liêng.

Ngược lại, ngoài khía cạnh nhấn mạnh Chúa Giêsu không có cha trần thế, truyền thống ki-tô muốn nhấn mạnh đến quả tim và tâm hồn cần có một khoảng không gian linh thiêng để một cái gì đó có tính cách linh thiêng có thể được sinh ra. Vấn đề ở đây không phải là chuyện độc thân thay vì dục tính, nhưng là kiên nhẫn thay vì hấp tấp, tôn trọng thay vì không tôn trọng, chấp nhận sống trong căng thẳng thay vì đầu hàng và bù đắp cho một ước muốn không được đáp ứng. Quả tim tinh khiết sẽ để cho tình yêu đi theo tiếng gọi của nó chứ không lèo lái nó. Quả tim tinh khiết để cho quà tặng là quà tặng chứ không cưỡng bức nó, dù theo cách tinh vi đến đâu đi nữa. Quả tim tinh khiết chấp nhận đau khổ của khiết tịnh thay vì ngủ với cô dâu trước ngày cưới. Rốt cuộc, đó là điều tạo nên khoảng không gian tinh tuyền, là khoảng không gian trong đó Chúa có thể sinh ra.

Cách đây ba mươi năm, trong ý hướng muốn diễn tả điều này, tôi viết một bài thơ có đầu đề là Đồng trinh sinh hạ. Bây giờ tôi mắc cỡ bởi vì lý tưởng của tuổi thanh xuân trong bài thơ này, nhưng, trong những ngày đẹp đẽ của tôi, tôi lại nhận lấy lời khuyên từ những dòng thơ của chàng trai trẻ năm nào:

Đồng trinh sinh hạ

Nghịch lý đời đời, đặc biệt cho cả hai Đấng Cha và Con
Những vị đã kết hợp đặc biệt minh triết con người từ điều kỳ diệu.
Một trinh nữ sinh hạ
Không phải ra một chủng tử vô sinh
Mà là một Đấng Cứu Thế.

Đồng trinh thì liên quan gì tới việc hạ sinh? Không gì cả!
Khi minh triết phí phạm lời lẽ để đi mông lung
tìm một sự thật sẽ không giải thoát chúng ta.

Đồng trinh và không ăn nằm: quả tim chưa trọn đủ và thân xác,
Vật lộn với một vị Chúa không có thịt da
Người không để xác thịt gặp xác thịt
cảm thấy đớn đau, vẫn mong chờ sự trọn đủ
Để tránh hiếm muộn, một tội lỗi thật sự không thể tha thứ chống lại tinh thần của sự sống
Nhưng hiếm muộn đã mang thai lòng khao khát cái tinh thần đã ngủ với Thiên Chúa trong đêm
đã mang thai tinh thần cứu thế – những ai đã kiên nhẫn đợi chờ và thà một mình khóc thầm
hơn là làm hư món quà
vì thiếu kiên nhẫn.

Chỉ dạ của các trinh nữ mới cưu mang được Đấng Cứu Thế
vì chỉ các trinh nữ mới sống một mình trong chờ đợi
chờ đợi một chàng hôn phu
khuya khoắt, đã sau mười một giờ đêm, không còn hy vọng gì.
Không nản lòng, dạ người trinh nữ vẫn chờ đợi
Khước từ tất cả những người tình giả dối và tất cả nôn nóng
cái đòi hỏi xác thịt trên xác thịt và
một Xứ sở thần tiên theo điều kiện của con người

Đấng Cứu Thế chỉ được sinh hạ
từ trong dạ người trinh nữ
từ trong kiên nhẫn của người trinh nữ
cái làm cho
Thiên Chúa là Thiên Chúa

tình yêu là quà tặng.

Ronald Rolheiser, OMI
14, tháng mười hai, 1981

Tại sao là dạ người trinh nữ mới sinh ra Đấng Thiên sai? Tại sao có ám ảnh về sự tinh tuyền trong truyền thống ki-tô? Bởi vì, tất cả chúng ta đều quá biết, cuộc sống chúng ta đầy những chuyện không tinh khiết: hấp tấp, không tôn trọng, bất kính, lèo lái, khắc kỷ, vĩ cuồng, và tất cả chúng ta cũng đều biết, trong ma trận đó, không đấng thiên sai có thể được thụ thai.

Cách ứng xử khi đứng trước Mất mát, Đau buồn và Ám ảnh

Chúng ta có thể nói gì khi đứng trước các mất mát sâu đậm, đau buồn không thể an ủi hay nỗi ám ảnh không thể nguôi ngoai?

Hồi còn là sinh viên sau đại học ở Louvain, một lần nọ tôi đặt câu hỏi đó với nhà tâm lý học nổi tiếng Antoine Vergote: “Khi ông mất một người thân yêu, vì họ chết hay vì người đó đối với ông đang chết dần chết mòn theo một cách nào đó, thì ông có thể làm gì? Ông có thể nói gì để giúp họ trong tình cảnh đó?”

Câu trả lời của ông là những lời thận trọng: “Khi một người đang đau buồn trước một mất mát sâu đậm, có một khoảng thời gian mà tâm lý học thấy mình khá vô dụng. Nỗi đau trước cái chết hay nỗi đau của việc mất người thân sâu đậm có thể gây ra tình trạng tê liệt mà người khác không dễ dàng chạm tới và giải tỏa được. Ở đây tâm lý học chấp nhận các giới hạn của nó. Đôi khi tôi nghĩ rằng lúc đó các thi sĩ và tiểu thuyết gia có ích hơn tâm lý học. Nhưng, kể cả khi đó, các nhà thơ và tiểu thuyết gia có thể đưa ra tri kiến sâu sắc nào đó, nhưng tôi không dám chắc là có ai có thể làm được gì nhiều để xoa dịu nỗi đau. Trong đời có một vài chuyện mà đứng trước nó, chúng ta đơn thuần là bất lực.”

Tôi tin đó là một câu trả lời thông thái và thực tế. Cái chết của một người thân yêu, hay thậm chí nỗi đau đớn của ám ảnh không thể nguôi ngoai, có thể khiến chúng ta ngã quỵ, thật sự là như vậy, và như tác giả của sách Than Khóc nói, nó khiến chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài “úp miệng vào bụi đất, và chờ đợi!” Đôi khi, trong một thời gian, nỗi đau mất mát quá sâu đậm và ám ảnh tới nỗi không một cách chữa bệnh nào, không một liệu pháp nào, không một từ ngữ tôn giáo an ủi nào có thể giúp gì được cho chúng ta.

Tôi nhớ, cách đây hai mươi lăm năm, tôi ngồi bên cạnh một người bạn bị thất tình. Anh ngỏ lời cầu hôn và bị từ chối một cách dứt khoát. Anh suy sụp hoàn toàn. Mấy ngày sau đó, anh thật khó khăn để làm các công việc của cuộc sống bình thường, phải gắng gỗ ăn, gắng gỗ ngủ, gắng gỗ làm việc. Một số các bạn bè chúng tôi thay nhau ngồi với anh, nghe nỗi sầu thảm của anh, cố gắng làm anh khuây khỏa bằng cách đưa anh đi coi phim, nhưng cũng chẳng hiệu quả gì trong việc kéo anh ra khỏi cơn trầm cảm và ám ảnh của anh. Cuối cùng, dĩ nhiên, anh bắt đầu từ từ ra khỏi vòng kềm tỏa của sự chú tâm quá mức đó, và, dù vẫn còn lúc lên lúc xuống, anh có thể lấy lại tự do và nghị lực của mình. Nhưng đã có một khoảng thời gian mà chúng tôi, những người bạn của anh, không thể làm bất kỳ điều gì cho anh ngoài việc ở bên cạnh.

Mình có thể nói gì đối với người đang vật lộn với nỗi đớn đau sâu đậm hay đang ở trong vòng thao túng của cơn ám ảnh tình cảm không được đáp đền? Chúng ta có những câu châm ngôn không phải không giá trị: Cuộc sống phải tiếp tục. Mỗi buổi sáng sẽ mở ra một ngày mới và cuối cùng thời gian sẽ chữa lành mọi chuyện. Hãy cũng nhớ rằng bạn, anh, chị, em… không đơn độc; bạn, anh, chị, em… có gia đình và bạn bè làm chỗ dựa. Vượt lên trên tất cả, bạn còn có đức tin. Chúa sẽ giúp bạn vượt qua chặng đường này.

Tất cả điều đó đều đúng và quan trọng, nhưng không đặc biệt có tác dụng an ủi hay giúp ích trong giai đoạn quá sức đau buồn. Tôi nhớ đã viết một loạt nhiều lá thư liên tiếp cho một phụ nữ có chồng tự tử, bà hoàn toàn suy sụp trước cái chết đó, nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ có hạnh phúc nữa. Lúc nào tôi cũng nhắc đi nhắc lại những lời này với bà: “Rồi tình hình sẽ tốt đẹp hơn – nhưng không phải ngay bây giờ! Thời gian sẽ chữa lành, nhưng không thể vội vàng đẩy nhanh nhịp độ. Chị sẽ thấy tốt đẹp hơn, nhưng sẽ mất thời gian!”

Ngoài điều đó ra, liệu có cái gì thực tế mà chúng ta có thể đem lại cho người đang đau buồn vô hạn hay đang trong vòng thao túng của cơn ám ảnh tình cảm cay đắng không?

Năm 1936, khi em gái Marguerite-Marie mất, trong một bức thư, Pierre Teilhard de Chardin viết những dòng sau đây: “Tôi cảm thấy từ đây có một khoảng trống lớn lao trong cuộc đời tôi – hay đúng hơn là trong thế giới xung quanh tôi – một khoảng trống lớn mà tôi sẽ ngày càng cảm nhận rõ hơn… Cách duy nhất để khiến cuộc sống trở lại mức có thể chịu đựng được là thương yêu và tôn thờ tha thiết cái điều mà, nằm bên dưới mọi thứ, chỉ đạo và dẫn dắt cuộc sống

Antoine Vergote cho rằng đôi khi thời gian, chỉ duy nhất thời gian, mới có thể chữa lành, và trong khi chưa lành được thì lựa chọn thực sự duy nhất là gắng chịu đựng cái không thể chịu đựng, gắng nhấc bàn chân này lên trước bàn chân kia, một cách vững mạnh, một cách nhẫn nại, cắn răng chịu đựng nỗi đau một cách đúng đắn tới thềm chúng ta có thể cắn răng chịu được, trong khi chờ thời gian rốt cuộc làm được phép màu của nó, với tâm thế rằng không gì có thể rút ngắn được quy trình này.

Nhưng Teilhard cho rằng có đôi điều có thể giúp khiến cái không thể chịu đựng thành có thể chịu đựng được, đó là nỗ lực cố ý, có ý thức để thương yêu và tôn thờ tha thiết.

Chúng ta làm vậy bằng cách nào? Không dễ dàng gì. Nhưng chúng ta làm vậy khi mà, bất chấp nỗi ám ảnh đang làm chúng ta què quặt, bất an, hụt hẫng, cay đắng, lo lắng, chúng ta để khía cạnh cao quý và rộng lượng của mình làm tiếng nói sâu thẳm bên trong nỗi cảm thông và hành động của chúng ta. Khi chúng ta bị ngã quỵ vì mất mát và hụt hẫng, thì điều tốt nhất, điều duy nhất có ích mà chúng ta có thể làm là quỳ gối trong tâm thế xuôi tay bất lực trước một vị Chúa có thể giúp chúng ta, và thổ lộ nỗi lòng mình với bất kỳ ai có thể nâng đỡ chúng ta. 

Vô thần và Đức tin

Cách của Chúa không phải là cách của chúng ta! Điều này thật sự là đúng hơn chúng ta thường nghĩ.

Chúa là bất khả tư nghì. Có nghĩa là không thể nào nắm bắt Chúa trong suy nghĩ hay hình dung Chúa trong tưởng tượng của chúng ta. Chân lý này là một trong những điều đầu tiên mà giáo hội khẳng định trong hiểu biết về Chúa, được coi là một tín điều ở Công đồng Lateran IV, năm 1215, rằng, về mặt siêu hình học, Chúa rất khác so với bất kỳ điều gì chúng ta biết hay tưởng tượng, đến nỗi tất cả mọi khái niệm và ngôn ngữ của chúng ta có về Chúa đều luôn luôn phiến diện chứ không đầy đủ. Có thể biết Chúa, nhưng không bao giờ có thể hình dung hay nắm bắt Chúa trong suy nghĩ.

Tại sao không? Tại sao chúng ta không bao giờ có thể hình dung hình ảnh Chúa hay nói về Chúa một cách đầy đủ?

Bởi vì Chúa là vô hạn mà trí óc chúng ta thì hữu hạn. Theo định nghĩa, sự vô hạn không bao giờ có thể đặt vào bất kỳ khuôn khổ nào. Điều này nghe có vẻ trừu tượng, nhưng không phải vậy. Chẳng hạn: Bạn cố tưởng tượng con số nào lớn nhất bạn có thể đếm được. Ngay lập tức bạn nhận ra rằng đó là điều không thể, bởi vì các con số là vô hạn, và bao giờ cũng còn một con số lớn hơn con số mình nghĩ ra. Không thể nào nghĩ ra được con số nào lớn nhất. Điều này thậm chí còn đúng hơn đối với bất kỳ hình ảnh nào mà chúng ta cố gắng tưởng tượng để hình thành một hình ảnh về Chúa và cái cách chúng ta cố gắng hình dung về sự tồn tại của Chúa. Chúa là vô hạn mà sự vô hạn thì không thể nào nắm bắt được hay hình dung được trong bất kỳ suy nghĩ hữu hạn nào.

Hiểu được vậy là điều rất quan trọng, không phải để bảo vệ một luận điểm lý thuyết nào đó, mà để chúng ta hiểu được về đức tin. Chúng ta có xu hướng đánh đồng đức tin yếu với sự tưởng tượng yếu, cũng y như việc chúng ta có khuynh hướng đánh đồng vô thần với việc thiếu khả năng hình dung về sự hiện diện của Chúa.

Chẳng hạn, hãy hình dung hai cảnh khác nhau trong cuộc sống của bạn: Trường hợp thứ nhất: bạn vừa trải nhiệm phút thăng hoa tôn giáo. Thông qua cầu nguyện hay một trải nghiệm tôn giáo hay trải nghiệm con người, bạn có một cảm tưởng mạnh mẽ về Chúa ngay trong thực tại. Ở giây phút cụ thể đó, bạn cảm thấy chắc chắn Chúa tồn tại, và có một cảm nhận rõ rành rành rằng Chúa có thực. Đức tin của bạn mãnh liệt. Không chừng bạn có thể đi trên mặt nước được! Rồi tưởng tượng một lúc khác: Bạn nằm trên giường, trăn trở, bứt rứt, thấy xung quanh hỗn loạn, đăm đăm nhìn vào đêm tối, không thể nào hình dung về sự tồn tại của Chúa, và không thể nào coi mình là có đức tin. Dù cố gắng mấy đi nữa, bạn cũng không thể nào gợi lên bất kỳ cảm nhận nào rằng Chúa tồn tại. Bạn cảm thấy mình là người vô thần.

Liệu điều đó hàm ý trong trường hợp đầu bạn có đức tin mạnh, còn trường hợp thứ hai thì đức tin yếu hay không? Không. Nó có nghĩa là ở lúc này bạn có một sự tưởng tượng mạnh mẽ còn lúc kia bạn có sự tưởng tượng yếu. Đức tin vào Chúa không được nhầm lẫn với khả năng tưởng tượng ra hay không tưởng tượng ra sự tồn tại của Chúa. Sự vô hạn không thể bị đặt vào bất kỳ khuôn khổ nào của sự tưởng tượng. Có thể biết Chúa, nhưng không thể hình dung một hình ảnh về Chúa. Có thể trải nghiệm Chúa, nhưng không thể tưởng tượng ra Chúa.

Nicholas Lash, trong một bài viết hết sức sâu sắc về Chúa và đức tin, cho rằng vị Chúa mà người vô thần chối bỏ, rất nhiều khi chỉ là một ngẫu tượng của trí tưởng tượng của chúng ta: Chúng ta chẳng cần làm gì nhiều nhặn, chỉ cần để ý là phần lớn những người cùng thời vẫn thấy “hiển nhiên” rằng chủ nghĩa vô thần không những là chuyện có thể, mà còn lan tràn, và về mặt trí tuệ lẫn đạo đức, nó có nhiều điều đáng được khen ngợi. Điều đó có thể đáng hoan nghênh nếu vô thần là không tin có “một người không có cơ thể” mà “bất tử, tự do, có thể làm bất cứ điều gì, biết bất cứ điều gì” và “chính là đối tượng đúng đắn để con người thờ phụng và tuân theo, vị sáng tạo và duy trì vũ trụ.” Tuy nhiên, nếu chúng ta nói “Chúa” theo nghĩa là sự bí ẩn, thể hiện trong Chúa Kitô, từ không thành có, thì mọi thứ, mọi sự vật đều liên quan đến Chúa trong từng chuyển động và từng mảnh hiện thể của mình, dù chúng/họ có để ý điều đó và có cho là như vậy hay không. Chủ nghĩa vô thần, nếu có nghĩa là coi không liên quan gì tới Chúa, là tự mâu thuẫn chính mình, và nếu nó thành công thì sẽ tự diệt.

Thomas Aquinas có một câu mà nhiều người biết đến: Chúa là hiển nhiên/tự bản thân đã rõ ràng không cần chứng minh, mặc dù không phải là hiển nhiên đối với chúng ta. Một cha dòng Hiến sĩ bạn tôi có cách diễn đạt  điều này ít mang tính triết học hơn. Ông thích nói rằng: “Chúa, theo như tôi hiểu, là không dễ hiểu.” Điều đó đúng với tất cả chúng ta, theo những cách sâu sắc hơn ta tưởng.

Khi nhà tiên tri I-sa-ia thấy Chúa trong thị kiến, tất cả những gì ông có thể làm là lắp bắp những từ: Thánh, thánh, thánh, Chúa là Chúa của các đạo binh! Nhưng chúng ta hiểu nhầm ý ông muốn nói bởi vì chúng ta hiểu “thánh” theo sắc thái luân lý của từ này, là đức hạnh. Tuy nhiên, I-sa-ia nói từ đó theo sắc thái siêu hình của nó, nghĩa là nói tới sự siêu việt, tính chất khác của Chúa, sự khác biệt của Chúa so với chúng ta, tính chất bất khả tư nghì của Chúa. Cốt yếu, ông nói rằng: Khác, hoàn toàn khác, hoàn toàn bất khả tư nghì, là Thiên Chúa các đạo binh!

Việc chấp nhận rằng Chúa là bất khả tư nghì và rằng tất cả suy nghĩ của chúng ta và những kiến tạo tưởng tượng của chúng ta về Chúa là phiến diện sẽ giúp ích chúng ta theo hai cách: Chúng ta thôi không đánh đồng đức tin với khả năng tưởng tượng của mình, và, quan trọng hơn, chúng ta thôi không tạo ra Chúa theo tưởng tượng của riêng mình và giống mình.

Tìm người để xưng tội

Có lẽ hơn hết thảy, trong vô thức, chúng ta đều mong tìm được một cha giải tội, một người mà chúng ta có thể trải lòng ra, hoàn toàn không hề giấu diếm điều gì, giải bày hết các hoang mang trong lòng, thừa nhận tội lỗi của mình mà không e ngại. Sâu bên trong cuộc kiếm tìm người tri âm của chúng ta là kiếm tìm một người để xưng tội. Nhưng tìm một cha giải tội tốt không phải là chuyện dễ dàng. Trong cuốn tiểu thuyết mới nhất Brooklyn, tác giả Colm Toibin đưa ra một trong những lý do như sau:

Nhân vật chính, Eilis, một cô gái trẻ người Dublin, đến New York và phải lòng chàng trai Tony. Sau vài tháng yêu nhau, Eilis phải trở về Ireland vì em gái Rose của cô qua đời. Cảm thấy bất an và sợ rằng Eilis sẽ không quay lại, Tony thuyết phục cô kết hôn theo thủ tục dân sự với anh trước khi đi.

Trở lại Dublin, ở với mẹ, đau buồn trước cái chết của người em gái và phải trì hoãn việc trở lại New York vì đám cưới của một người bạn, Eilis được chàng trai Jim Farrell đeo đuổi, cô hẹn hò nhiều lần với anh mà không nói với anh về người chồng Mỹ của mình. Nhưng cô bị ám ảnh bởi việc giấu diếm này và đau khổ không biết nên xử sự ra sao. Điều cô tha thiết muốn làm nhất là nói cho anh biết bí mật, giải bày mớ rối rắm trong lòng mình, để anh là người nghe cô xưng tội, và nhờ anh giúp cô giải quyết chuyện này, nhưng sự ngây thơ trong trắng của anh khiến cô ngần ngại. Toibin viết: Liệu cô có thể nào nói cho Jim biết những gì cô đã làm chỉ trước đó một thời gian ngắn ở Brooklyn? Người ly hôn duy nhất mà ai trong thành phố đó cũng biết là Elizabeth Taylor và có lẽ vài siêu sao màn bạc khác. Cũng có thể giải thích được với Jim nguồn cơn khiến cô đi tới hôn nhân, nhưng anh là một người chưa từng bao giờ sống ở đâu khác ngoài Dublin. Cô nghĩ, sự ngây thơ và lịch duyệt của anh, hai đức tính khiến người ta cảm thấy dễ chịu khi gần bên anh, thật ra có thể lại là những hạn chế, đặc biệt nếu nêu ra điều gì đó chưa từng nghe nói đến và ngoài sức suy nghĩ hay trải nghiệm của anh như chuyện ly hôn. Cô nghĩ, tốt nhất là gạt toàn bộ chuyện này ra khỏi tâm trí.

Doris Lessing từng nhận xét về George Eliot rằng Eliot chắc hẳn sẽ viết hay hơn, sâu sắc hơn, nếu bà không quá đức hạnh như vậy. Dường như sự ngây thơ có thể là những hạn chế, điều cản trở thông cảm và thấu hiểu, như cả Eilis và Doris Lessing đều lo sợ. Nhưng có đúng như vậy không?

Ngày nay có cả một luồng tư tưởng phổ biến mạnh mẽ cho rằng đúng như vậy. Bạn sẽ thấy những dạng thô của điều này ở chủ nghĩa khắc kỷ trong văn hóa của chúng ta về sự trinh bạch và ngây thơ trong trắng, mà cả hai đều được đồng nhất một cách giản đơn quá mức với ngây thơ khờ khạo và chưa trưởng thành. Trên thực tế, việc thiếu kinh nghiệm tình dục được đặc biệt coi là khờ khạo nhất trong những sự ngây thơ khờ khạo. Phổ biến nhất là con tính đơn giản đánh đồng trải nghiệm với “việc từng hẹn hò quanh quất” và đánh đồng “từng hẹn hò quanh quất” với việc hiểu đời. Các sách giáo lý xưa của chúng ta dạy rằng khi A-đam và E-và ăn trái cấm, tâm trí họ trở nên tăm tối. Suy nghĩ phổ thông ngày nay nhấn mạnh rằng lúc đó họ lại sáng mắt ra, cái trải nghiệm đó, dù đúng đắn hay không, là cái làm cho họ mở mang tâm trí. Từ đó, người ta dễ dàng có suy nghĩ rằng con người lý tưởng để nghe xưng tội, con người hiểu đời, là một người nào đó “từng hẹn hò quanh quất”.

Nhưng chúng ta không thật sự tin điều đó. Tại sao vậy? Bởi vì những gì chúng ta tìm kiếm trong vô thức ở một người để xưng tội chứng tỏ điều ngược lại. Trong khi tìm kiếm một người để xưng tội (không nhất thiết là một người nghe xưng tội theo nghĩa bí tích), không phải là chúng ta đi tìm một ông bạn nhậu, một tay đồng lõa phạm tội, một người sẽ không phê phán chúng ta bởi vì đời họ cũng rối rắm và xáo trộn y như đời chúng ta. Khi kiếm tìm một người để xưng tội, một cách có ý thức hay vô thức, chúng ta đang đi tìm một người mà sự thông hiểu và chấp nhận của người đó sẽ đưa chúng ta tới một chỗ khác, vượt qua tình trạng rối rắm và yếu ớt của chúng ta. Trong sâu thẳm chúng ta biết rằng tội lỗi của chúng ta sẽ không được chữa lành bằng tội lỗi của một người khác, mà thay vào đó, nó cần phải tiếp xúc được với một điều gì đó ngây thơ hơn, giống Chúa hơn, giống như tấm lòng khoan dung của người cha đối với đứa con trai hoang đàng.
Nhưng không phải kiểu ngây thơ nào cũng vượt qua được thử thách này. Sự ngần ngại của Eilis trong việc thổ lộ những dằn vặt của mình trước sự ngây thơ của Jim Farrell thật ra có thể lại là một quyết định đúng đắn. Có một loại ngây thơ mà, vì nó cố tình không nhìn thấy ở một điểm nào đó, nên miễn nhiễm một cách không lành mạnh đối với những điều phức tạp. Nhưng cũng có một loại ngây thơ – đó là loại chúng ta kiếm tìm trong vô thức – thật sự vượt qua được thử thách này.

Một lần nọ, một chủng sinh trẻ đau đầu với các vấn đề tình dục viết thư cho Têrêxa Lisieux để tìm lời khuyên. Anh nói bóng gió tới các vấn đề của mình nhưng lại bảo bà: “Nếu tôi chia sẻ với bà những gì tôi đang thật sự vất vả chống đỡ, tôi sợ rằng bà sẽ bị sốc nặng và cảm thấy chướng tai gai mắt quá rồi sẽ không viết thư trả lời tôi.” Têrêxa viết đáp lại: “Nếu anh nghĩ như vậy, thì thật sự anh không hiểu tôi rồi!”

Cha xứ d’Ars là một người hết sức giản dị và vô cùng ngây thơ trong trắng. Ấy vậy mà trong khi còn sống, ông có lẽ là người được nhiều người mong muốn gặp để xưng tội nhất. Chúng ta khao khát chính một người như vậy để xưng tội, một người mà với họ chúng ta có thể thoải mái giải bày tâm tư phức tạp của mình, nhưng người đó không mắc những tội lỗi như chúng ta.

Những dạng vi tế của việc tôn thờ ngẫu tượng

Đôi khi trong những giây phút trầm tư hơn, tôi buộc phải tự hỏi: Có phải tôi thật sự mong muốn Chúa không, hay chỉ quan tâm đến những chuyện thuộc về Chúa? Có phải tôi muốn giảng dạy, diễn thuyết và viết về Chúa nhiều hơn là tiếp xúc đích thực với Chúa – chỉ Chúa và tôi, trong cầu nguyện và thinh lặng? Có phải tôi thích làm những chuyện về Chúa và tôn giáo hơn là ẩn mình và thinh lặng trong sự hiện diện của Chúa?

Những câu trả lời cho các câu hỏi này cần phải dễ dàng và rõ ràng. Nhìn bề mặt, rõ ràng có vẻ tôi mong muốn Chúa: Tôi cố gắng cầu nguyện thường xuyên. Tôi là linh mục dâng thánh lễ mỗi ngày. Tôi là nhà thần học và nhà văn, lúc nào cũng diễn thuyết và viết về Chúa. Tôi dành trọn đời tôi để làm những chuyện thuộc về Chúa; nhưng, dù với tất cả những chuyện này, không nhất thiết Chúa phải là trọng tâm chú ý thật sự của những hoạt động này. Trọn trọng tâm chú ý có thể dễ dàng ở chỗ khác.

Có thể tất cả chúng ta đều nên tự hỏi câu này: Trong những hoạt động rõ ràng là tôn giáo của chúng ta, có phải chúng ta thật sự muốn có mối quan hệ với Thiên Chúa và với Giê-su không, hay, nếu trung thực nhìn nhận, có phải chúng ta quan tâm làm sao để có nghi thức phụng vụ tốt, thần học tốt, linh hướng hay, trải nghiệm tôn giáo hay, kiếm tìm cầu nguyện giỏi, hoạt động mục vụ, các dự án thành công ở nhà thờ, bảo vệ luân lý tốt, có hướng giải quyết tốt cho các vấn đề công chính, làm dễ dàng việc giữ đạo, hay không? Không phải những điều đó không tốt, những điều đó thật sự tốt, nhưng nghịch lý thay, chúng có thể chính là cách để chúng ta tránh khỏi phải đối diện với tiếng gọi sâu thẳm, đòi hỏi chúng ta có mối quan hệ mật thiết với Chúa. 

C.S. Lewis thích mô tả cuộc vật lộn của chúng ta trong vấn đề này và ông gọi nó bằng chính bản chất thường gặp của nó: tôn thờ ngẫu tượng, hiến dâng cả bản thân mình cho một điều gì đó chỉ là như Chúa, trái với việc hiến dâng bản thân mình cho chính Chúa. Ông mô tả như sau:

Trong quyển sách Cuộc ly dị vĩ đại (The great divorce), Lewis tưởng tượng mười cảnh trong đó người chết được một “thiên thần” gặp ở thế giới bên kia, thiên thần này cố gắng dỗ dành người mới qua đời đồng ý để thiên thần nắm tay dẫn vào thiên đường. Để vào được thiên đường, trong mọi trường hợp, chỉ có một điều kiện duy nhất và đơn giản: Bạn chỉ việc tin tưởng vị thiên thần và để bản thân mình được đưa đi!

Một trong những cảnh này, Lewis hình dung cuộc đối thoại giữa một trong các vị thiên thần này với một họa sĩ danh tiếng vừa mới qua đời. Vị thiên thần cố gắng thuyết phục ông vào thiên đường, bằng cách tả các cảnh đẹp tuyệt vời của thiên đường. Ban đầu ông họa sĩ phấn khích và háo hức lắm, nghĩ tới mình sẽ vẽ được các kiệt tác, nhưng ông đâm ra kháng cự và nổi giận khi biết một khi lên thiên đường, chẳng còn ai cần đến ông để vẽ vời và ông cũng chẳng có nhu cầu vẽ vời gì nữa. Thay vào đó, ông chỉ việc đơn giản ở trong lòng thiên đường và tận hưởng thiên đường. Vì thế ông từ chối không vào thiên đường, thà chọn ở lại nơi ông có thể vẽ thiên đường hơn là ở trong thiên đường. Ông phản đối vị thiên thần, lý lẽ là, với tư cách nghệ sĩ, hội họa tự nó là cứu cánh, “vẽ là để vẽ.” Vị thiên thần đáp: Mực, dây cat-gút và màu ở dưới thế là cần thiết, nhưng chúng cũng chính là chất kích thích nguy hiểm. Trừ phi có ân huệ của Thiên Chúa, mỗi nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ đều bị kéo ra xa khỏi tình yêu của những điều mà quý vị đó sáng tác, mà chỉ yêu thích cái việc kể, cho đến khi, chìm sâu trong Địa Ngục sâu thẳm, họ không thể quan tâm mong muốn Chúa mà chỉ để ý đến những gì họ nói về Người. Và…, như ông biết đó, họ không dừng lại ở việc quan tâm đến màu vẽ. Họ chìm sâu hơn – trở nên quan tâm tới cá tính của mình, và rồi chẳng quan tâm tới cái gì khác ngoài tiếng tăm của mình.

Điều mà vị thiên thần này nói về các nghệ sĩ thì cũng cần nên nói với các nhà thần học, tác giả linh đạo, linh mục, giám mục, mục sư, trợ tế, thầy sáu, nhân viên mục vụ, người cổ xúy công bằng xã hội, tất cả mọi dạng người chống đối về luân lý, những vị chủ trì các khóa tu, những vị hướng dẫn linh thao, những nhà lãnh đạo nhóm cầu nguyện, và kể cả những ai đang tích cực và sẵn lòng kiếm tìm chiều sâu trải nghiệm trong cầu nguyện. Mối nguy hiểm luôn luôn là, giống như ông họa sĩ kia thích và cần vẽ cái đẹp hơn là đơn thuần thể nhập với cái đẹp, chúng ta cũng sẽ biến hoạt động tôn giáo mà chúng ta đang làm trở thành cứu cánh trong chính nó hơn là giữ mối quan tâm thật sự và trọng tâm chú ý của chúng ta vào Chúa.

Và điều trớ trêu là các hoạt động tôn giáo, giống như nghệ thuật, có thể là một trong những mối nguy hiểm còn lớn hơn thuộc loại tôn thờ ngẫu tượng này. Chính những vị đi giảng tài năng, nhà thần học vĩ đại, vị tư tế xuất sắc, vị mục sư được công chúng cực kỳ yêu mến, vị giám mục hoặc người quản lý có năng lực tuyệt vời mới là những người sẽ phải gắng gỏi khó khăn nhất để tránh mối nguy hiểm này. Như Lewis nói: Anh biến thành quỷ dữ không phải từ chuột bọ hay chí rận dơ bẩn, mà từ những vị tổng lãnh thiên thần xấu xa. Ngụy tôn giáo của thèm khát thì đê tiện hơn là ngụy tôn giáo đối với tình mẫu tử, lòng ái quốc hay yêu nghệ thuật; nhưng thèm khát thì khó trở thành một tôn giáo.

Mỗi khi chúng ta cầu nguyện, làm mục vụ, hay làm bất cứ điều gì mang tính cách tôn giáo, chúng ta nên tự hỏi: Việc này thật sự là về ai và về điều gì?

Không chạy theo đám đông

Trong Phúc âm, từ “đám đông” gần như luôn luôn được sử dụng với ngụ ý chê bai, thường xuyên đến mức lúc nào nhắc tới nó thì bạn liên tưởng đến tính từ “vô tâm”.

Đám đông không có tâm trí. Họ được châm ngòi và thôi thúc bởi bất kỳ loại năng lượng gì đang phổ biến, đang phóng đại, thói thời thượng, đua đòi theo ý thức hệ, hay trong cơn cuồng loạn. Trong Phúc âm, loại năng lượng này được gọi là “sự kinh ngạc”. Rất nhiều trường hợp khi Chúa Giê-su nói hoặc làm điều gì gây ngạc nhiên cho đám đông, thì hầu như bao giờ cũng có câu này theo sau: “và đám đông kinh ngạc.” Hiếm khi đó là một điều hay.
Tại sao? Có vấn đề gì sai trái hay nguy hiểm về năng-lượng-đám-đông này?

Năng-lượng-đám-đông nguy hiểm bởi vì, trong hầu hết mọi trường hợp, nó không suy nghĩ. Nó chỉ đơn thuần là dẫn và truyền đi năng lượng chứ không suy xét và chuyển hóa năng lượng. Một hình ảnh minh họa thích hợp cho năng-lượng-đám-đông, sự kinh ngạc theo nghĩa trong kinh thánh, là sợi dây điện. Sợi dây điện đơn thuần là để tải năng lượng đi qua. Nó không phân biệt loại năng lượng đó tốt lành hay có tính hủy diệt. Nó là vật dẫn thuần túy. Bất cứ cái gì đi vào thì chính cái đó đi ra.

Các đám đông có xu hướng hành xử giống nhau. Họ để năng lượng đi qua mình mà không phân biệt và suy xét năng lượng đó tốt hay xấu. Ví dụ, chúng ta thường nói bị/được cuốn theo vào một loại năng lượng nào đó. Đôi khi đó là năng lượng tốt, khi đám đông được cuốn theo một loại năng lượng tích cực, giúp xây dựng cộng đồng. Ví dụ, trong mấy tuần qua, dân chúng trên thế giới cuốn theo cuộc giải cứu những người thợ mỏ bị mắc kẹt dưới hầm mỏ ở Chi-lê, và năng lượng chung đó đã giúp tạo ra một cộng đồng xuyên qua ranh giới các quốc gia, sắc tộc, tôn giáo và chính trị. Chúng ta cũng thấy hầu hết các năng-lượng-đám-đông tích cực xung quanh các sự kiện thể thao chẳng hạn như Giải Vô địch Bóng đá Thế giới World Cup, giải Vô địch Bóng chày Thế giới World Series of Baseball, hay nhiều giải quần vợt.

Nhưng hầu hết năng lượng của đám đông mang tính cách tiêu cực, năng lượng của ý thức hệ, của chủ nghĩa nguyên giáo, phân biệt chủng tộc, thói thời thượng, và sự phóng đại. Năng-lượng-đám-đông là năng lượng thúc đẩy cưỡng bức tập thể. Đó cũng là năng lượng đằng sau việc Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá. Vấn đề sáng tỏ khi nhìn đám đông đó trước và trong cuộc đóng đinh trên thập giá. Năm ngày trước khi bị đóng đinh, Chúa Giê-su bước vào thành Jerusalem và đám đông cuồng nhiệt hô vang lời tán tụng, muốn tôn người lên làm vua của họ. Năm ngày sau, hầu như chẳng có gì thay đổi, cũng cùng đám đông đó la hét: “Đóng đinh hắn vào thập giá! Đóng đinh hắn vào thập giá!” Đám đông hay thay đổi vì đám đông không suy nghĩ. Họ chỉ đơn thuần truyền tải bất cứ năng lượng gì đang bao phủ họ.

Phúc âm kể câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình và bị đám đông nhiệt tình dẫn đến gặp Chúa Giê-su, ở đây chúng ta thấy một minh họa trọn vẹn nhất cho loại năng lượng không suy xét, nguy hiểm của đám đông tương phản với loại năng lượng có suy xét của cá nhân. Câu chuyện kể đám đông dẫn người phụ nữ tới trước mặt Chúa Giê-su và yêu cầu Ngài phải đồng ý với họ về mặt luân lý rằng phải ném đá bà ta cho đến chết. Nhưng Giê-su, với lời thách thức nổi tiếng, bảo họ rằng: “Ai thấy mình không có tội thì ném trước.” Phản ứng của họ là: “Họ bỏ đi, từng người một, đầu tiên là người lớn tuổi nhất.” Một đám đông vô tâm, bị cuốn theo cơn bốc đồng về luân lý, đã đem người phụ nữ tới trước mặt Chúa Giê-su. Nhưng họ bỏ đi với tư cách cá nhân, từng người một, không còn bị cuốn đi trong cơn bốc đồng kinh ngạc đó nữa.

Tuy nhiên, cần phân biệt hết sức rõ ràng giữa kinh ngạc với ngưỡng mộ (wonder) và thán phục (awe). Ngưỡng mộ và thán phục là phản đề của kinh ngạc. Trong kinh ngạc, năng lượng chảy xuyên qua bạn. Trong ngưỡng mộ và thán phục, năng lượng làm bạn sững sờ, tê liệt, và giữ chặt bạn lại. Danh hài George Carlin châm biếm một cách sắc sảo về sự khác biệt này: Khi giải thích tại sao ông vốn nghi ngờ phần lớn những người “tái sinh”, Carlin đã châm chọc như sau – rất nhiều người biết đến lời nổi tiếng này: “Tôi không tin những người tái sinh vì họ nói quá nhiều. Khi tôi sinh ra tôi choáng váng tới mức không thể nào nói được gì trong hai năm liền! Khi một người có một trải nghiệm tâm linh đủ mạnh mẽ để khiến họ im bặt trong vài năm, thì tôi mới tin họ!”

Có một thách thức trong những lời đó: Hãy ý thức về loại năng lượng phát ra từ đám đông. Hãy ý thức về các thói thời thượng. Hãy ý thức về mọi thể loại cường điệu. Hãy ý thức về những người cổ vũ cho cả phe tự do lẫn phe bảo thủ. Hãy ý thức về bất cứ đám đông nào muốn ném đá một ai đó cho tới chết nhân danh Chúa.

Hãy nghĩ lại tất cả những lần đóng đinh người khác trên thập giá mà bạn đã tham gia, và hãy nhớ lại, sau đó, khi tỉnh táo và nhìn nhận rõ ràng trong một bầu không khí khác, bạn đã tự hỏi mình: Làm sao mình lại có thể sai lầm đến vậy? Tàn nhẫn đến vậy? Ngu dại đến vậy? Hãy đọc lại những câu chuyện trên báo chí và trên internet về những thanh niên có tâm tốt, đàng hoàng, bị cuốn theo năng lượng đám đông, đã tấn công qua mạng (cyber-bully) một người nào đó đến mức người đó phải tự vẫn. Hãy suy nghĩ, trong mỗi trường hợp, nhiều người có trách nhiệm cuối cùng đã bỏ đi như thế nào, từng người một, tỉnh táo hơn nhiều và suy xét chính chắn hơn nhiều so với khi họ bị cuốn đi trong năng lượng vô tâm của đám đông.

Sau đó, có lẽ, một cách nhẹ nhàng hơn, bạn hãy bày ra những bức ảnh cũ chụp các kiểu tóc, kiểu áo quần của bạn qua nhiều năm, thì bạn sẽ có tất cả những lời nhắc nhở cần thiết rằng năng lượng của phút giây đó dễ thay đổi và vô tâm đến như thế nào.

Xoay xở với “Mặc cảm Ca-in”

Trong những trang đầu Thánh kinh, chúng ta được đọc một loạt những câu chuyện mô tả thân phận con người và  lý do tại sao sự việc lại như vậy. Câu chuyện quen thuộc nhất là câu chuyện ông A-đam và bà E-và ăn trái cấm, chúng ta gọi đó là câu chuyện “tội tổ tông”.

Nhưng sau câu chuyện đó là một loạt những câu chuyện khác, không nổi tiếng bằng, nhưng cũng không hề kém phần rọi sáng. Một trong những chuyện đó là Ca-in và A-ben, được coi là những người con đầu tiên của A-đam và E-và. Câu chuyện đó có thể viết lại như sau:

Ngày xửa ngày xưa có hai anh em sinh đôi: người em tên là A-ben. Hồi nhỏ cậu luôn tươi cười vui vẻ, dáng vẻ và tính tình đều dễ thương. Với tài năng thiên bẩm, bất cứ điều gì cậu làm đều vừa lòng cha mẹ và thầy cô giáo. Ở trường cậu ngoan và học giỏi, giỏi cả các môn thể thao, âm nhạc và giỏi kết bạn. Mọi thứ với cậu đều dễ dàng. Được mọi người yêu mến và như thể sinh ra để lãnh đạo, được chọn làm lớp trưởng, A-ben nhận học bổng vào học ở một trường đại học danh tiếng, tốt nghiệp nhất lớp, cưới một cô gái tuyệt vời, xứng đôi với anh về cả dáng vẻ đẹp đẽ và tính tình dễ thương, có một công việc với mức lương hậu hĩ, liên tục được thăng chức, và đoạt phần thưởng “Người Đàn Ông Của Năm” vì những công tác từ thiện và nhân đức của mình. Anh hoàn toàn xứng đáng là người được kính trọng và thương yêu nhất trong cộng đồng. Làn khói ngát hương thơm từ đức hy sinh của anh luôn tỏa bay tới tận thiên đường!

Người anh tên là Ca-in và bạn chính là người anh. Bạn sinh ra là khóc la cả ngày, dáng vẻ không đẹp đẽ bằng và tâm tính cũng bứt rứt khó chịu hơn. Hồi nhỏ bạn bị đau bụng và ban đỏ suốt, nên bạn không phải là người con được mẹ thương yêu nhất. Chẳng có việc gì là dễ dàng với bạn, học hành cũng không, thể thao cũng không, âm nhạc cũng không, kết bạn cũng không nốt. Ở trường bạn bị châm chọc, trên sân chơi thì bị bắt nạt, cho nên đôi khi đi học là cả một cơn ác mộng đối với bạn, nhưng rốt cuộc bạn cũng tốt nghiệp được, hạng gần bét lớp.
Chẳng có việc gì bạn làm mà vừa lòng được ai, nhất là ba mẹ và thầy cô giáo. Hiền thê trong mơ của bạn chẳng bao giờ xuất hiện, và bạn liều nhắm mắt đưa chân vào một cuộc hôn nhân mà hôn nhân này làm cho thần kinh bạn bị tê liệt hơn là mang lại sức sống. Chẳng hề có thăng chức hay giải thưởng “người đàn ông của năm” gì cho bạn cả. Làn khói của đức hy sinh của bạn cách nào đó dường như chẳng bao giờ bay lên cao! Chua chát và phẫn uất bắt đầu nhen nhóm trong tâm trí bạn, đặc biệt khi nhìn người em A-ben sinh đôi của mình, người dường như sống một cuộc đời chẳng cần nỗ lực gì mà vẫn rất nhẹ nhàng thanh cao.

Không ai bị bắn bằng đạn thật trước khi bị lãnh đạn bằng lời nói, và không ai bị lãnh đạn bằng lời nói trước khi bị lãnh đạn bằng suy nghĩ. Bạn bắt đầu giết A-ben trong suy nghĩ: “Hắn ta nghĩ hắn là ai chứ? Hắn nghĩ hắn quá sức tài năng, thông minh! Tốt số đến thế là cùng, như thể sinh ra đã được ngậm thìa vàng trong miệng. Không có cái gì hắn có mà xứng đáng cả! Hắn là một tên đạo đức giả, một kẻ ra vẻ ta đây, một tay bịp bợm, sống nhởn nhơ trong cái bong bóng nhỏ nhoi đầy may mắn! Hắn chẳng hiểu gì đời! Thật là bất công! Mình căm ghét hắn ta!”
Mang những suy nghĩ như vậy trong đầu, chắc chắn chúng ta giết người khác như Ca-in đã giết A-ben. Và, như A-ben, chúng ta cũng mang vết thương trong lòng vì điều đó. Cũng y như những người cùng thời với Ca-in đã nhìn thấy dấu máu của người em bị giết còn vương trên tay Ca-in, những người cùng thời với chúng ta nhìn thấy nỗi ghen tức của Ca-in trong mắt chúng ta, và nghe thấy trong những lời đối thoại của chúng ta. Có một kiểu ghen tức giết người, và người ta tránh xa chúng ta khi họ thấy chúng ta có hơi hướng của nỗi ghen tức đó, như vậy làm cho chúng ta càng cô đơn hơn, càng bị gạt ra ngoài hơn, càng cay đắng hơn, càng ghen tức hơn, càng bị tổn thương mặc cảm hơn, và càng cô độc hơn trong nỗi phẫn uất của chính bản thân mình.

Nhưng đó là thân phận của con người. Tất cả chúng ta, chỉ trừ phi chúng ta được phúc lành phi thường và có bản năng thiên phú, chúng ta thảy đều bị “mặc cảm Ca-in” giày vò. Trong tim chúng ta có đôi phần ghen tức và cay đắng của Ca-in, trên tay chúng ta vương đôi vết máu. Giống Ca-in, chúng ta cũng đã từng giết chóc do tỵ hiềm và cay đắng.

Việc thừa nhận mặc cảm này trong bản thân mời gọi chúng ta chuyển hóa, chứ không phải ngã lòng. Những lời đầu tiên chúa Giê-su nói trong Phúc âm là: Hãy ăn năn hối cải và tin vào Tin mừng! Bản dịch tiếng Anh không nắm bắt được cốt tủy của lời mời gọi đó. Từ mà chúa Giê-su đã dùng cho từ “sám hối” là một từ tiếng Hy Lạp – metanoia: theo nghĩa đen: meta (bên trên) và nous (tâm trí). Chúa Giê-su mời gọi chúng ta nuôi dưỡng một khối óc và con tim rộng mở hơn, một khối óc và con tim vượt cao hơn cái chúng ta hiện mang với đầy hiềm hận và cay đắng. Và từ metanoia cũng là một từ chơi chữ để đối ngược với paranoia, chứng sợ hoang tưởng. Cảm nghiệm metanoia là trở nên không-sợ-hoang-tưởng, non-paranoid. Từ căn cốt, lời mời gọi rõ ràng của chúa Giê-su đối với chúng ta có thể được diễn tả là: Hãy đừng sợ hãi hoang tưởng và tin rằng đó là tin mừng!

Nhưng làm được vậy không hề dễ dàng. Cởi bỏ được nỗi ngờ vực, niềm cay đắng, sự phẫn uất, và cảm giác rằng đời bất công với chúng ta, chính là yêu cầu khó khăn nhất trên hết thảy về mặt tâm lý và đạo đức trong đời sống chúng ta. Rốt cuộc, không phải tình dục, lòng tham, bất công, hay thiếu cầu nguyện và tôn giáo trong đời sống làm chúng ta cách trở với Chúa và cộng đoàn. Mà chướng ngại thật sự chính là tâm lý sợ hoang tưởng, nỗi cay đắng, ngờ vực, và “Mặc cảm Ca-in” của chúng ta.

Và như vậy trong đêm tối mịt mùng của ngờ vực và xa lánh do ghét bỏ, có một lời mời gọi, có lẽ là lời mời gọi quan trọng nhất trong đời chúng ta: Hãy kêu lên nhờ giúp đỡ!

Trưởng thành trong các mối quan hệ và cầu nguyện

Vài năm trước, một người bạn kể cho tôi nghe câu chuyện này: là người được giáo dục trong đạo Công giáo La Mã, cốt yếu là trung thành đi lễ, cố gắng sống đạo đức lương thiện, ở độ tuổi ngoài bốn mươi, anh cảm thấy mình có những nỗi nghi ngờ dằn vặt, không thể nào cầu nguyện, và thậm chí không thể nào (khi chân thành tự vấn) tin vào sự hiện hữu của Chúa.

Lo lắng về chuyện này, anh tìm linh hướng, anh đến gặp một linh mục dòng Tên, một vị linh hướng nổi tiếng. Anh nghĩ mình sẽ được nghe các chỉ bảo quen thuộc về đêm tăm tối của tâm hồn và cách thế những chuyện này sẽ làm đức tin được tinh tuyền, và, vì đã quen thuộc với những lời lẽ như vậy, anh cũng không chờ đợi gì nhiều. Chắc chắn anh không nghĩ mình sẽ nhận một lời khuyên như anh đã nhận.

Cha hướng dẫn dòng Tên không thử giúp anh có bất kỳ một suy tư thần học sâu sắc nào về nỗi nghi ngờ và những đêm tăm tối của đức tin. Thay vào đó, giống như tiên tri E-li-sa đã làm với Na-a-man, người Xi-ri bị hủi, ông cho bạn tôi một lời khuyên nghe chừng quá sức đơn giản, tới nỗi gây khó chịu hơn là đem lại hy vọng: cha dòng Tên chỉ đơn giản nói với anh ta: hãy tự hứa với bản thân là phải ngồi cầu nguyện thinh lặng nửa giờ mỗi ngày, liên tục như vậy trong vòng sáu tháng. Tôi bảo đảm nếu anh bền bỉ làm như vậy, thì sau sáu tháng, anh sẽ khôi phục được lòng tin ở Chúa.

Bạn tôi, cực kỳ bối rối với điều anh cảm thấy đây là lời khuyên quá sức đơn giản, đã phản đối rằng phần lớn nhất trong vấn đề của anh chính là anh không thể cầu nguyện, không thể chuyện nói với vị Chúa mà anh nghĩ vị Chúa đó không hiện hữu: Làm sao tôi có thể cầu nguyện được khi tôi không còn tin có Chúa?

Vị linh mục dòng Tên cương quyết: Cứ làm đi! Hãy nỗ lực vượt bực và ngồi cầu nguyện thinh lặng nửa giờ mỗi ngày, kể cả khi anh cảm thấy mình như đang nói chuyện với bức tường. Đó là lời khuyên thực tế duy nhất mà tôi có thể cho anh.”

Bất chấp nỗi ngờ vực của mình, bạn tôi nghe theo lời khuyên của cha dòng Tên và bền bỉ ngồi cầu nguyện thinh lặng nửa giờ mỗi ngày trong suốt sáu tháng, và sau sáu tháng, anh đã khôi phục cảm thức vào Chúa, cũng như cảm thức vào cầu nguyện.

Tôi tin rằng câu chuyện này nêu bật lên đôi điều quan trọng: Niềm tin của chúng ta về sự hiện hữu của Chúa gắn bó rất lớn đến việc cầu nguyện liên lỉ. Tuy nhiên, và đây là điều nghịch lý, khó mà duy trì được đời sống cầu nguyện, lý do chính là vì đức tin chúng ta thường yếu ớt. Nói đơn giản, cầu nguyện không dễ dàng gì. Chúng ta nói dễ dàng về cầu nguyện, nhưng chúng ta vất vả lắm mới duy trì được cầu nguyện thực sự, lâu dài trong đời sống.

Cầu nguyện chỉ dễ dàng đối với những người mới bắt đầu và những ai đã thành thánh. Suốt những năm tháng dài dằng dặc giữa hai mốc đó, thì cầu nguyện là khó khăn. Tại sao? Bởi vì cầu nguyện có cùng động lực nội tại như tình yêu, mà tình yêu thì chỉ ngọt ngào ở giai đoạn đầu tiên, khi lần đầu tiên chúng ta phải lòng, và ở giai đoạn cuối, khi đã chín chắn. Còn ở giữa hai giai đoạn đó, tình yêu là nỗ lực khó khăn, lòng trung thành bền bỉ, và cần phải có quyết tâm mạnh mẽ hơn hẳn những gì mà thông thường cảm xúc và óc tưởng tượng chúng ta thúc đẩy.

Cầu nguyện cũng y như vậy. Ban đầu khi mới cầu nguyện, cũng giống như khi người trẻ đang yêu, chúng ta có khuynh hướng có một giai đoạn tha thiết, say mê, là thời gian mà cảm xúc và óc tưởng tượng giúp chúng ta cảm thức rằng Chúa tồn tại và Chúa nghe thấy những lời cầu nguyện của mình. Nhưng khi đi sâu hơn và trưởng thành hơn trong mối quan hệ với Chúa, cũng như trong mối quan hệ với một người chúng ta thương yêu, thì thực tại bắt đầu xua tan đi ảo tưởng. Không phải chúng ta bị vỡ mộng về Chúa, mà đúng hơn là chúng ta nhận ra rằng quá nhiều những ý nghĩ và cảm xúc sôi nổi mà trước đây chúng ta tin là về Chúa thật ra là về chính chúng ta. Vỡ mộng là một điều tốt. Đó là xua tan ảo tưởng. Cái mà chúng ta tưởng là cầu nguyện thật ra là một phần của trạng thái mê hoặc về chính chúng ta.

Khi ảo mộng bắt đầu tan vỡ, và đó là thời điểm trưởng thành trong đời sống chúng ta, dễ dàng cho rằng chúng ta bị vỡ mộng về người kia, người mà chúng ta đã phải lòng, hoặc trong trường hợp cầu nguyện là Chúa. Phản ứng dễ dàng nhất là rút lui, từ bỏ, coi toàn bộ sự việc là ảo tưởng, một sai lầm ngay từ đầu. Trong đời sống thiêng liêng, thường đó là lúc chúng ta thôi không cầu nguyện nữa.

Nhưng đó là lúc cần chính điều ngược lại. Điều chúng ta cần làm lúc đó là nỗ lực vượt bậc, làm như chúng ta đã từng làm, nhưng trừ đi những suy nghĩ và cảm xúc sôi nổi, chán ngán, nghi hoặc, và gột bỏ mê hoặc về chính mình. Càng đi sâu vào các mối quan hệ và vào cầu nguyện, chúng ta càng trở nên do dự về bản thân mình, và đây là khởi đầu của sự trưởng thành: Đó là khi tôi nói, tôi không biết làm thế nào để yêu và tôi không biết làm thế nào để cầu nguyện, là tôi bắt đầu hiểu tình yêu và cầu nguyện thật sự là như thế nào.

Vì vậy, chẳng có lời khuyên nào hay hơn là lời khuyên mà vị linh mục dòng Tên nọ đã nói với bạn tôi, người nghĩ rằng mình là kẻ vô thần: Hãy cố gắng vượt bậc! Ngồi xuống khiêm nhường và thinh lặng thật lâu, cho tới khi nào anh có thể bắt đầu nghe thấy một người nào đó khác, chứ không phải chính mình.

Bị giằng co bởi các đại văn hào

Nữ văn sĩ người Anh A.S. Byatt có lẽ là tiểu thuyết gia viết bằng tiếng Anh hàng đầu ngày nay. Chắc chắn một ngày nào đó bà sẽ được trao tặng Giải Nobel văn chương.

Cuốn tiểu thuyết mới nhất của bà, Quyển sách của Trẻ em (The Children’s Book), giống như mọi tiểu thuyết của bà, cô đặc, đầy thách thức, và không dễ đọc. Khó đọc không phải chỉ vì dày (hơn 600 trang) và hòa trộn rất nhiều lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc, chính trị, kinh tế, áp bức, ý thức hệ, thần thoại, tình yêu, tình dục, lạm dụng, cuộc sống gia đình, mà còn vì nó làm đảo lộn một suy nghĩ đã có sẵn. Cuộc sống, như bà dàn ra, không đi theo những đường luân lý rõ ràng, dễ dàng xác định. Bất kỳ nhận thức dễ dãi nào về lịch sử, luân lý, gia đình hay tình dục, đều tan vụn khi bạn đọc bà. Như tất cả các đại văn hào, Byatt đã đảo lộn và kéo căng tâm trí.

Và phải nói điều gì đây về sự đảo lộn này? Có lành mạnh không? Nếu là Ki-tô hữu với những niềm tin đã rõ ràng về cuộc đời, luân lý, tính dục, gia đình, thì có lành mạnh không nếu chúng ta tiếp xúc với loại gây đảo lộn này? Chẳng lẽ chúng ta không nên đọc những loại củng cố đức tin và luân lý sao? Tại sao lại cố tình mò vào hang cọp tri thức và luân lý?

Bởi lẽ, tôi tin rằng, cái hang cọp này chứa đựng một phần chìa khóa dẫn tới luân lý và đức tin trưởng thành.

Một đức tin trưởng thành là một đức tin đã qua thử thách và bất kỳ các nguyên tắc luân lý nào đáng để chúng ta bái ngưỡng đều không được chùn bước trước những cái phức tạp thật sự của đời sống. Quan trọng là chúng ta có được gốc rễ vững chắc và được nuôi dưỡng trong giáo lý đức tin và các nguyên tắc luân lý của mình; nhưng để đạt đến mức độ trưởng thành, chúng ta cũng phải bị/được kéo căng và buộc phải đi qua những miền hoang vắng mà, đặc biệt là ban đầu, có thể có vẻ hỗn độn, bất ổn, và đầy đe dọa. Điều nghịch lý là bất ổn này lại có tính chất nuôi dưỡng. Nếu con tim và trí óc chúng ta rộng mở, chúng ta có thể tìm thấy trong khoảng không gian bất ổn đó đôi điều quan trọng và phong phú, nó sẽ mở rộng và làm giàu về nhân tính lẫn trong đức tin và luân lý của chúng ta.

Đây là cách Byatt đã mô tả trong cuốn Quyển sách của Trẻ em: Philip Warren, một trong những nhân vật của bà, một nghệ sĩ trẻ đầy khát vọng, anh sống trong bảo bọc, thậm chí còn thiếu cả học vấn cơ bản. Được một số nhà bảo trợ giàu có đưa đến Paris, anh nhìn lại mình, một thanh niên non nớt không được giáo dục, đứng trong phòng triển lãm của điêu khắc gia Rodin, chăm chú nhìn tác phẩm của bậc thầy vĩ đại này. Những gì anh nhìn thấy đã phá tung thế giới của anh, nhưng anh cũng cảm nhận một điều gì đó khác:

Những hình thể điêu khắc lớn lao của da thịt và cơ bắp lù lù ẩn hiện. Những khuôn mặt phụ nữ lạnh lẽo thanh tú nổi lên từ đá tảng xù xì, hay ẩn rút trong đó. Đâu đâu cũng thấy một sinh lực khủng khiếp – quằn quại, rướn sức, săn đuổi, chạy trốn, ôm siết, gào thét, nhìn chòng chọc. Phản ứng bản năng đầu tiên của Philip là quay đầu bỏ chạy. Những cái đó là quá sức. Quá mạnh tới mức sẽ hủy hoại anh – khi đối diện với cơn lốc xoáy sáng tạo điêu luyện này, làm sao anh còn có thể tạo ra những hình người lưới mắt cáo và những chai lọ đơn sơ được nữa? Vậy nhưng lại có một thôi thúc ngược lại. Cái này quá tuyệt vời, phản ứng duy nhất trước nó là tạo ra một cái gì đó. Anh suy nghĩ bằng các ngón tay và đôi mắt. Anh liều lĩnh lướt bàn tay trên những hông, những bờ môi, những ngón chân và những món tóc chạm khắc, để cảm thấy cho được chúng đã được tạo ra như thế nào.

Có một bài học ở đây, tôi tin như vậy: Chúng ta phải cẩn trọng về những gì chúng ta cho phép bước vào cuộc đời mình. Đôi khi sinh lực có thể dữ dội đến mức phá hủy, hay tiêu diệt đức tin và luân lý chúng ta. Một tinh thần lành mạnh gắn keo làm cho chúng ta vững chắc, còn phơi ra quá mức trước những gì hoang dã có thể làm cho nó tan vụn ra. Nhưng điều ngược lại cũng đúng: Chúng ta không thể nào che chắn cho đức tin và luân lý của mình bằng cách giam mình trong một căn phòng để được an toàn mà hoàn toàn đoạn tuyệt với tư duy và nghệ thuật, một căn phòng trong đó các nghệ sĩ vĩ đại và nhà văn thế tục bị coi là những mối đe dọa.

Khi học triết ở trường dòng, tôi có hai loại giáo sư: Một nói với tôi rằng, là học viên trường dòng, chúng tôi phải đọc những tư tưởng vĩ đại như Kant, Hegel, Feuerbach, Durkheim, và Marx chỉ để chúng tôi có thể phản bác họ. Loại thứ hai khuyên khác: “Cứ công nhận như vậy, vì đó là những bộ óc có đôi điều để dạy anh, điều gì đó sẽ giúp ích cho anh rất nhiều, ngay cả đối với đức tin của anh. Hãy cẩn trọng, nhưng hãy rộng mở!”

Cẩn trọng, nhưng rộng mở, thật sự đó là chìa khóa: Mọi vương quốc đều cần được bảo vệ. Tin khác đi là ngây thơ. Có những mối nguy hiểm trong việc đơn giản mở rộng lòng mình một cách ngây thơ và bừa bãi với tất cả mọi thứ và bất kỳ thứ gì rực rỡ, tràn đầy năng lượng tình cảm hay căng đầy sức sống. Đôi khi sức mạnh nguyên sơ của nó có thể tràn ngập và chôn vùi chúng ta. Ở xã hội phương Tây ngày nay không phải vì thiếu sinh lực mà chúng ta có vấn đề. Trái lại, ngày nay chuyện quá thường xảy ra là người ta thiếu một điều gì đó để có thể bám víu về mặt luân lý và tín ngưỡng.

Nhưng đôi khi trong giới giáo hội của chúng ta, điều ngược lại là đúng. Chúng ta quá khiếp sợ trước sinh lực, đặc biệt khi nó biểu hiện ra trong nghệ thuật và văn chương. Goethe từng viết: Có nhiều mối nguy hiểm đối với cuộc đời, và sự an toàn là một trong những mối nguy hiểm đó. Có thể việc đọc những cuốn sách như Quyển sách của Trẻ em của A. S. Byatt sẽ khiến chúng ta bị đảo lộn, nhưng có lẽ, trên dặm đời xa thẳm, chúng ta sẽ còn bị đảo lộn hơn nữa nếu không đọc.

Gắng gỏi để sống trong giây phút hiện tại

Trong những năm cuối đời, Thomas Merton đã ẩn cư để cố gắng tìm cô tịch hơn trong đời sống. Nhưng cô tịch là một điều hết sức khó nắm bắt, và ông nhận thấy rằng nó liên tục chạy trốn ông.

Tuy nhiên, một buổi sáng nọ, ông có cảm nhận, ít nhất vào giây phút đó, ông đã tìm thấy nó. Nhưng cái mà ông trực nhận là điều hơi bất ngờ đối với ông. Hóa ra, sự cô tịch không phải là một trạng thái khác nào đó của sự tỉnh thức hay thậm chí một cảm giác thăng hoa nào đó về Chúa hay về tính siêu việt trong đời sống chúng ta. Sự cô tịch, như ông trực nhận, là trung thực trọn vẹn trong chính da thịt mình, trong giây phút hiện tại, cảm nhận tri ân trước sự phong phú bao la chứa đựng trong cuộc sống bình thường của con người. Cô tịch bao gồm sự hiện diện đủ trong chính đời sống của mình để trực nghiệm những gì đang ở đó.

Nhưng nó chẳng dễ dàng. Hiếm khi chúng ta thấy mình thật sự ở trong phút giây hiện tại. Tại sao? Do cái cách chúng ta đã được tạo nên. Chúng ta đã được nạp quá nhiều năng lượng để sống trong thế giới này. Khi Chúa đặt chúng ta vào thế giới này, như tác giả sách Giảng Viên nói, Người đã đặt “phi thời gian tính” vào trái tim chúng ta, vì vậy chúng ta không dễ dàng gì hòa điệu với cuộc sống của chúng ta.

Chúng ta đọc được điều này trong đoạn văn nổi tiếng về giai điệu các mùa trong sách Giảng Viên. Mọi thứ đều có một thời và một mùa để làm, chúng ta được bảo như vậy: Một thời để chào đời, một thời để lìa thế; một thời để trồng cây, một thời để nhổ cây; một thời để giết chết, một thời để chữa lành…, và cứ như vậy. Nhưng sau khi liệt kê cái giai điệu tự nhiên về thời và các mùa này, tác giả kết thúc với những lời sau đây: Chúa đã làm mọi sự hợp thời đúng lúc, nhưng lại đã đặt phi thời gian tính vào trái tim con người để cho con người không đồng điệu với thế gian này từ đầu chí cuối.

Từ trong tiếng Do Thái để diễn tả “phi thời gian tính” là Ha olam, một từ chỉ “vĩnh hằng” và “siêu việt”. Một số bản dịch tiếng Anh đã diễn đạt như thế này: Chúa đã đặt cảm giác về quá khứ và tương lai vào trái tim chúng ta. Có lẽ nói như vậy là cách nắm bắt sự việc tốt nhất, ít nhất là xét cái cách chúng ta thường trực nhận điều đó trong cuộc sống.

Từ trải nghiệm của mình, chúng ta biết ở trong phút giây hiện tại là khó đến mức nào, bởi vì quá khứ và tương lai không để chúng ta yên. Chúng mãi mãi nhuốm màu lên hiện tại. Quá khứ ám ảnh với những bài hát ru và giai điệu mơ hồ nửa quên nửa nhớ thỉnh thoảng vụt lên trong ký ức, với những tình yêu đã tìm thấy được và đã mất, với những vết thương lòng không bao giờ lành da non, và với những nỗi thao thức hoài niệm, tiếc nuối, và mong mỏi níu giữ một điều gì đó đã qua. Quá khứ mãi mãi gieo nỗi bất an vào giây phút hiện tại.

Và tương lai lại cũng len lỏi vào hiện tại, đổ cái bóng lờ mờ của hứa hẹn và đe dọa, luôn luôn đòi chúng ta phải chú ý, luôn luôn gieo lo lắng vào đời sống, và luôn luôn tước đi của chúng ta cái khả năng đơn giản là đắm mình trong hiện tại. Hiện tại mãi mãi bị nhuốm màu bởi ám ảnh, những cơn đau của tâm hồn và trí óc, những nỗi lo lắng mà hầu như chẳng liên quan gì đến với những người đang ở bên cạnh chúng ta.

Các triết gia và thi sĩ đã gọi nó bằng nhiều tên khác nhau: Plato gọi nó là “cơn điên đến từ các thần”; các thi sĩ Hindu gọi nó là “nỗi hoài niệm về cái vô hạn”; Shakespeare nói về “những nỗi khát khao bất diệt”, còn Augustin, mà có lẽ nhiều người biết tới cách nói này của ông nhất, nói rằng nó là một nỗi bất an vô phương cứu chữa mà Chúa đã đặt vào trái tim con người để nó không thể tìm thấy bình an trong bất cứ điều gì ở thấp dưới cái vô hạn và vĩnh hằng: Chúa đã tạo ra chúng con cho chính Chúa, và trái tim chúng con sẽ không bình an chừng nào nó chưa tìm về yên nghỉ bên Chúa.

Và như vậy, rất khó để sống bình an cái phút giây hiện tại của đời sống chúng ta, bình an trong chính con người chúng ta. Nhưng sự “day dứt” này, như T.S. Eliot từng nói, là có mục đích của nó. Henri Nouwen, trong một đoạn văn nổi bật vừa nhận diện những nỗ lực gắng gỏi này vừa nêu mục đích tối thượng của nó, đã nói như sau: Cuộc sống chúng ta là  khoảng thời gian ngắn mong chờ, là thời gian trong đó nỗi buồn và niềm vui trộn lẫn với nhau trong từng giây phút. Có một tính cách buồn bao phủ mọi khoảnh khắc của đời sống chúng ta. Dường như không hề có cái gì là niềm vui tinh khôi trọn vẹn, mà thậm chí trong những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của cuộc hiện sinh, chúng ta vẫn thấy gợn buồn. Trong mọi nỗi hài lòng, đều có sự nhận biết về các giới hạn. Trong mọi thành công đều có nỗi sợ hãi bị tị hiềm. Đằng sau bất cứ nụ cười nào đều có nước mắt. Trong mỗi vòng tay ôm đều có nỗi cô đơn. Trong mọi tình bằng hữu đều có khoảng cách. Và trong mọi dạng thể của ánh sáng, đều có ý thức về bóng tối vây quanh. Nhưng khi ý thức sâu xa rằng mỗi mảnh sự sống đều có một mảnh của sự chết thì ý thức này có thể hướng chúng ta vượt lên trên những giới hạn của cuộc hiện sinh. Nó có thể làm như vậy bằng cách khiến chúng ta mong tới cái ngày trái tim chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui trọn vẹn, một niềm vui mà sẽ không ai tước đi được khỏi chúng ta.

Chúa có thiên vị không?

Chúa có thương một số người nào đó nhiều hơn những người khác không? Chúa có thiên vị không?

Đây là vấn đề tranh cãi từ hàng thế kỷ nay: Liệu có một chủng tộc nào được Chúa chọn? Có phải một số người nào được định trước sẽ lên thiên đường hay  xuống địa ngục không? Có phải Chúa thương người nghèo hơn người giàu? Có phải Chúa thương người có tội hơn người ngay thẳng? Có phải Chúa thương người trinh tiết hơn người lập gia đình? Ít nhất là nhìn bề ngoài, có vẻ như thánh kinh nói rằng Chúa thương một số người hơn những người khác. Nhưng có đúng như vậy không?

Khó mà trả lời được câu hỏi này, vì  phần nào đó là một câu hỏi sai lầm. Thông thường, bất cứ khi nào chúng ta dựng lên những kiểu đối lập như thế (Có phải Chúa thương người này hơn người kia?), thì chúng ta đang lập ra  một lối đi trên một con đường sai:

Ví dụ, khi Chúa Giê-su nói cả thiên đàng vui mừng khi có một người trở lại hơn là vui với chín mươi chín người không cần hối cãi; thì không phải Chúa khẳng định thương người có tội sâu đậm hơn người ngay thẳng. Đối với Chúa Giê-su, khi nói trong hoàn cảnh cụ thể này, là không hề ngụ ý nói tới người ngay thẳng. Chỉ đang nói với kẻ có tội (những người cảm thấy cần phải trở lại) và những người tự cho là mình ngay thẳng (những người có tội nhưng chưa hiểu mình cần ăn năn hối lỗi). Hối cải, ít nhất trong bối cảnh đặc biệt này, không phải là một điều kiện tiên quyết cho đời sống Ki-tô hữu. Không hề có ngụ ý về người ngay thẳng ở đây, chỉ những người có tội, và hành trình Ki-tô luôn luôn là một hành trình của trở lại, một sự quay về ràng, như đàn chiên quay về chuồng. Chúng ta mở lòng ra để nhận tình thương yêu của Chúa bất cứ lúc nào chúng ta nhận ra điều đó. Chúa thật sự thiên vị những kẻ có tội, nhưng những kẻ có tội bao gồm tất cả chúng ta.

Điều này cũng đúng đối với chuyện có phải Chúa thương người nghèo hơn người giàu hay không. Một cách xác quyết, Giê-su nói rằng Chúa ưu ái người nghèo, nhưng như vậy có phải là Chúa thương người giàu ít đi không?

Thêm một lần nữa, chúng ta phải cẩn trọng trong cách chúng ta đặt những phạm trù này tương phản với nhau: nghèo tương phản với giàu. Điều được khẳng định ở đây không phải là khi chúng ta nghèo thì Chúa thương chúng ta hơn so với khi chúng ta giàu. Mà đúng hơn, ý ở đây là Chúa thương chúng ta trong cái nghèo nàn của chúng ta, và khi chúng ta chấp nhận mình nghèo thì dễ dàng mở lòng ra để được yêu thương và dễ dàng bày tỏ lòng biết ơn hơn. Đối với Chúa Giê-su, chỉ có hai loại người: những người nghèo và những người chưa tiếp xúc với cái nghèo nàn của mình. Và cũng không phải là Chúa thích chúng ta nghèo và thương chúng ta hơn khi chúng ta nghèo. Mà đúng ra, chính là khi chúng ta nghèo và tiếp xúc với cái nghèo của mình thì chúng ta dễ dàng mở lòng ra với tình thương hơn, kể cả tình thương của Chúa lẫn tình thương của người khác. Chúa thật sự thiên vị người nghèo, nhưng, giá như chúng ta hiểu đúng tình trạng của mình, rằng những người nghèo bao gồm tất cả chúng ta.

Nguyên tắc này cũng cần được áp dụng đối với các vấn đề chung quanh vấn đề thiêng liêng và vấn đề tình dục. Có phải Chúa thương chúng ta hơn khi chúng ta chưa trọn vẹn về mặt tình dục so với khi trọn vẹn không?   

Phúc âm nhấn mạnh rằng Chúa Giê-su sinh ra từ một trinh nữ, được chôn trong một nấm mồ chưa từng chôn ai, và vì thế, chúng ta được mời gọi để có một trái tim trinh trắng. Bởi điều này mà trên con đường thiêng liêng Ki-tô cũng như trong các truyền thống linh đạo của mọi tôn giáo lớn trên thế giới, từ xưa đến nay vẫn luôn luôn có một dòng tư tưởng cho rằng cách nào đó Chúa ban phước cho những ai sống đời độc thân hơn những người lập gia đình, rằng sự trinh trắng là tình trạng tinh thần được ưu ái hơn. Có phải Chúa thương chúng ta hơn nếu chúng ta là những người trinh trắng?

Chúng ta lại phải cẩn trọng trong cách đặt những phạm trù này tương phản với nhau: trinh trắng và không trinh trắng. Lời dặn ở đây là Chúa thương những gì là trinh trắng trong bản thân chúng ta. Mối quan hệ tương phản ở đây không phải là giữa những ai ngủ một mình và những người không ngủ một mình, mà là giữa những người bảo vệ những gì trinh trắng trong bản thân, và những người không làm như vậy; giữa những người có thể đổ mồ hôi máu để tiếp tục chịu đựng căng thẳng khi sống mà không tuyệt đích thoả mãn (tất cả mọi loại) và những người không làm như vậy. Chính khi chúng ta bảo vệ những gì trinh trắng trong bản thân và khi chúng ta không bỏ qua những giai điệu thầm kín chính đáng của cuộc sống vì những căng thẳng của mình là lúc chúng ta mở lòng ra hơn để tiếp nhận tình thương yêu, tình thương yêu của Chúa và tình thương yêu của con người.
Chúa thật sự thiên vị những người trinh trắng, nhưng, nếu chúng ta sống với lòng khiêm cung và nhẫn nại đúng mực, thì những người trinh trắng đó gồm tất cả chúng ta.

Cũng có thể nói như vậy về việc Chúa Giê-su trân trọng trẻ con như những con người lý tưởng. Không phải Người dạy rằng Chúa thương trẻ con hơn người lớn. Sự tương phản này không phải là giữa trẻ con và người lớn, mà là giữa những ai, giống như trẻ con, biết họ cần được giúp đỡ, và những người vì kiêu căng hay vì tổn thương đã không còn thừa nhận họ cần Chúa hay cần ai khác. Chính khi chúng ta thừa nhận sự thật sâu xa rằng chúng ta không thể tự mình mà đầy đủ thì chúng ta mới mở lòng ra để Chúa và người khác ưu ái. Chúa thật sự thiên vị những ai giống như trẻ con, nhưng, hy vọng là trẻ con bao gồm tất cả chúng ta.

Chúa có đối xử thiên vị hay không? Có, nhưng không phải là giữa những người khác nhau, mà là giữa những trạng thái khác nhau trong chính tâm hồn chúng ta.

Thiên đường của bạn lớn như thế nào?

Một trong những dấu hiệu của trái tim Ki-tô hữu là khát khao hòa hợp, khát khao cuối cùng được hiệp thông với càng nhiều người càng tốt, để mọi người cùng lên thiên đường mà không đòi hỏi họ phải giống như mình mới lên đó được. Đáng buồn thay, chúng ta có khuynh hướng khăng khăng giữ quan niệm ngược lại, mặc dù chúng ta không dễ dàng thừa nhận điều đó.

Tất cả chúng ta đều muốn được coi mình có lòng bao dung, thương yêu quảng đại, đầy tình thương như chúa Giê-su, nhưng chúng ta lại có quá nhiều quan niệm và hành động đi ngược lại điều đó. Tình thương, chân lý và việc thờ phụng thường, một cách vô thức,  căn cứ vào việc coi mình là đúng bằng cách coi người khác là sai. Rất thường xuyên, chúng ta có một câu thần chú vô thức như thế này: tôi chỉ có thể tốt đẹp, nếu người nào khác xấu xa. Tôi chỉ có thể đúng, nếu người nào khác sai. Tín điều của tôi chỉ có thể chân chính, nếu tín điều của người nào khác sai lầm. Tôn giáo của tôi chỉ có thể đúng, nếu tôn giáo của người nào khác sai. Bí tích của tôi chỉ có thể đúng đắn, nếu bí tích của người nào khác sai trái. Và tôi chỉ có thể lên thiên đàng, nếu người nào khác xuống địa ngục.

Chúng ta biện minh cho quan niệm chia rẽ và tâm lý tự tôn đạo đức-tôn giáo này bằng cách viện dẫn nhiều thứ khác nhau: tín điều đúng đắn, tính cần thiết phải có công lý, luân lý chuẩn mực, giáo hội học đúng đắn, thực hành nghi lễ đúng đắn, và nhiều điều khác nữa. Cũng có đôi phần đúng như vậy. Để thiên đường của bạn bao gồm tất cả mọi người không có nghĩa là mọi chân lý, luân lý, và nghi lễ giáo hội phải trở nên tương đối, rằng điều mình tin hay cách mình làm và thờ phụng là không có hệ quả tối hậu nào. Kinh thánh Ki-tô và truyền thống của chúng ta đã cảnh cáo rõ ràng rằng có những điều đúng đắn và sai trái nhất định, có những thái độ và hành động nào đó có thể loại chúng ta ra khỏi Nước Chúa, thiên đàng. Nhưng cũng cùng sách Kinh thánh đó đã nói không kém phần rõ ràng, rằng ý muốn cứu rỗi của Chúa là phổ quát, và khao khát sâu thẳm, kiên định, thiết tha của Chúa là mọi người, tuyệt đối không trừ một ai, bất kể thái độ và hành động của họ như thế nào, cách nào đó họ sẽ được đưa vào nhà Chúa. Dường như Chúa không yên lòng ngồi yên chừng nào mọi người chưa về nhà, chưa ngồi vào cùng một mâm.

Một cách kiên quyết, Giê-su cũng dạy chính điều này. Ví dụ, trong Phúc âm Luca, chương 15, người đã kết hợp ba câu chuyện để nêu ý này: Người chăn cừu rời bỏ 99 con cừu để đi tìm một con đi lạc; người phụ nữ có mười đồng xu, bị mất một đồng, bà không thể nào yên lòng cho tới khi tìm ra được đồng xu đã mất; và người cha mất hai người con trai, một do yếu đuối, một do giận dữ, và ông chỉ yên lòng khi cả hai trở về nhà.

Tôi đặc biệt thích câu chuyện thứ hai, chuyện người phụ nữ bị mất một đồng xu, bởi vì câu chuyện này nói rõ ý đó nhất: Bà có mười đồng xu (mỗi đồng đáng giá mười xu), bị mất một đồng, bà  lùng sục khắp nơi, bật thêm đèn đuốc rà tìm khắp nhà, cuối cùng tìm ra nó; bà vô cùng sung sướng, tổ chức một bữa tiệc mời khắp hàng xóm láng giềng ăn mừng mà rõ ràng là bữa tiệc tốn nhiều hơn giá trị của đồng xu đó. Tại sao lại lùng sục khắp chỉ một đồng xu nhỏ bé như vậy? Và sao lại hết sức vui mừng khi tìm ra nó?

Điều thật sự quan trọng ở đây không phải là giá trị của đồng xu, mà là chuyện mất đi sự toàn vẹn: đối với người Do Thái thời đó, 10 là con số tượng trưng cho toàn vẹn, không phải là số 9. Vì vậy chúng ta có thể kể lại câu chuyện như thế này: Một bà mẹ có mười người con. Chín người con tới thăm bà thường xuyên, chia sẻ cuộc sống hàng ngày với bà, nhưng có một đứa xa lánh, không muốn về nhà, thậm chí không muốn trò chuyện với bà. Người phụ nữ không thể an lòng, bà làm mọi việc có thể nghĩ ra để cố gắng hòa hợp với cô con gái, cuối cùng con gái bà trở về. Họ làm hòa với nhau. Bà hết sức vui mừng, gọi điện thoại cho bạn bè, và tổ chức một bữa tiệc lớn. Gia đình của bà giờ đây lại vẹn toàn!

Ngụ ý này cũng đúng đối với người chăn cừu, anh rời bỏ 99 con cừu để đi tìm một con cừu đi lạc. Đối với người Do Thái thời đó, con số 99 không tượng trưng cho sự toàn vẹn, mà là con số 100. Người chăn cừu giống bà mẹ có đứa con gái xa lánh, anh chỉ yên lòng khi nào gia đình anh được trọn vẹn lại. Chúng ta lại thấy cùng niềm khao khát, tình cảm nồng nàn và nỗi buồn đó ở người Cha của đứa con đi hoang và người con lớn. Ông không thể nghỉ ngơi, không thể yên lòng, cho tới khi cả hai chưa về nhà. Ông hết sức vui mừng khi đứa con ương ngạnh trở về, nhưng câu chuyện kết thúc với việc ông vẫn còn phải đi ra khỏi nhà, cố gắng dỗ dành đứa con lớn quay về, đứa đã bỏ đi vì tức tối. Thiên đường của ông phải có cả hai người con trai của ông.

Thiên đường của chúng ta cũng phải là một thiên đường rộng lớn. Giống như người phụ nữ bị mất một đồng xu, giống như người chăn cừu bị mất một con cừu, và giống như người cha của đứa con đi hoang và người con lớn, chúng ta cũng không nên dễ dàng nghỉ ngơi khi những người khác còn bị chia lìa với chúng ta. Gia đình này chỉ hạnh phúc khi tất cả mọi người đều trở về.

Trên hết, đặc điểm của một đức tin đích thực và một trái tim quảng đại không phải là giáo hội, tín điều và luân lý của chúng ta thanh sạch đến đâu, mà là tấm lòng của chúng ta rộng mở được đến đâu.

Bài học từ trong nỗi cô đơn

Nhiều năm trước, tôi có khuyên một thanh niên, anh có cuộc đấu tranh chống lại nỗi cô đơn gần như ngược đời. Thay vì cố gắng thoát ra, anh lại sợ mất nó. Anh khoảng hơn hai mươi tuổi, yêu một cô gái trẻ tuyệt vời, nhưng cảm thấy bị giằng xé về việc cưới cô ấy, vì anh sợ hôn nhân gây trở ngại cho sự cô đơn của anh, và theo lời anh, nó sẽ làm cho anh trở thành “người hời hợt hơn và mất đi những gì có thể dâng tặng Chúa và thế giới này”.

“Tôi bước vào một căn phòng,” anh nói, và “một cách phản xạ, tôi nhìn quanh để tìm một gương mặt buồn rầu, tìm một người nào đó có dáng vẻ gợi cho thấy cuộc sống có nhiều điều hơn là tiệc tùng và những tin tức nóng hổi về những người nổi tiếng”. Sẽ nguy hiểm nếu ngắn gọn xem trạng thái nặng nề là biểu hiệu của sâu sắc, nhưng trong trường hợp của anh thì điều đó không đúng.

“Có hai hình ảnh đôi co trong lòng tôi,” anh nói. “Cha tôi mất khi tôi mười lăm tuổi. Gia đình tôi sống ở miền quê, ông bị lên cơn đau tim. Chúng tôi vội vàng đưa ông lên xe, mẹ tôi ngồi ôm ông ở băng ghế sau, còn tôi lái xe, mới mười lăm tuổi, và sợ run lên. Cha tôi mất trên đường tới bệnh viện, nhưng ông chết trong vòng tay mẹ tôi. Mặc dù chuyện đó rất buồn, nhưng có một cái gì đó rất đẹp. Lúc nào tôi cũng muốn chết theo kiểu đó, được người tôi yêu ôm trong vòng tay. Dù hình ảnh đó hút tôi một cách mạnh mẽ về phía hôn nhân, nhưng tôi cũng nhìn hình ảnh chúa Giê-su chết đơn độc, bị ruồng bỏ, chẳng trong vòng tay của ai, chỉ trong vòng một điều gì đó cao hơn, và tôi cũng bị thu hút về hướng đó. Hình ảnh đó có một vẻ thanh cao mà tôi không muốn từ bỏ. Đó cũng là một cách chết hay.

Anh sợ sẽ mất đi sự cô đơn của mình dù anh khao khát một cách lành mạnh tình cảm thân mật. Anh không thể nào lý giải được trọn vẹn tại sao anh bị thu hút trước sự cô đơn của chúa Giê-su trên thập giá, trừ việc cảm thấy rằng điều này cách nào đó là một điều cao đẹp, một điều sâu sắc, và là điều sẽ đem lại cho anh chiều sâu và thanh cao.

Trước anh, cũng có nhiều người khác có kinh nghiệm này, kể cả chúa Giê-su. Chẳng hạn triết gia Soren Kierkegaard, khi còn trẻ, cũng với lý do lo sợ như người bạn trẻ của tôi, ông từ chối hôn nhân. Dù đúng dù sai, anh cảm thấy những gì anh có để mang tặng cho thế giới này bắt rễ sâu thẳm trong nỗi đau cô đơn của mình, và chỉ có thể tỏa ra từ cốt lõi đó mà thôi, và, nếu anh bớt cô đơn, thì anh cũng sẽ bớt đi những gì có thể trao tặng. Liệu anh có đúng không?

Hoa trái của đời một người, ví dụ những người như cha Henri Nouwen, rút ra sức mạnh và khả năng hồi phục từ những tác phẩm của họ, xác nhận cho sự thật của trực giác của họ. Nhìn hoa trái của họ, bạn sẽ hiểu họ. Kierkegaard là vị thánh bảo trợ cho những người cô đơn. Nhưng, như anh bạn trẻ của tôi, ông cũng bị giằng xé bởi những gì điều đó gây ra cho ông. Quá ít người hiểu được, và điều này dìm ông vào “nỗi buồn của việc đã hiểu ra một điều gì đó chân thực – và rồi thấy mình bị hiểu lầm.” Ông cũng tự nhận là ông sống trong lời thề “không bao giờ cho phép ai đi vào sâu thẳm trong nội tâm và kết hợp nội tâm sâu sắc với tôi”. Thomas Merton, khi bàn về vấn đề này, đã nói rằng sự thiếu vắng tình cảm thân mật của đời sống hôn nhân trong đời ông đã tạo thành “một khiếm khuyết trong sự khiết tịnh của tôi.” Loại sâu sắc này có được cũng bắt nguồn từ một cái giá nào đó.

Tại sao, bất chấp bất lợi rõ ràng như vậy, mà cô đơn vẫn thu hút nhiều người như Kierkegaard của thế giới chúng ta, với niềm tin rằng đó là chìa khóa dẫn tới sự sâu sắc, lòng lân mẫn, và minh triết? Cô đơn làm gì cho chúng ta?
Điều mà cô đơn làm cho chúng ta, đặc biệt nỗi cô đơn tột cùng, là lay chuyển bản ngã và khiến bản ngã mong manh đến mức không thể duy trì chúng ta theo cách thông thường được nữa. Những gì xảy ra sau đó là chúng ta bắt đầu buông bỏ, cảm thấy chúng ta trở nên không còn vướng mắc, hiểu ra sự nhỏ bé của mình, và biết từ trong sâu xa của bản thể rằng chúng ta cần phải kết liên với một điều gì đó lớn lao hơn chính bản thân mình thì mới sống sót. Nhưng đó là một trải nghiệm rất đau đớn, và chúng ta có khuynh hướng trốn chạy khỏi nó.

Tuy nhiên, và đây chính là nghịch lý to lớn, trải nghiệm nỗi cô đơn tột cùng này là một trong những đặc cách để tìm ra câu trả lời sâu thẳm cho cuộc đi tìm bản thể và ý nghĩa của chúng ta. Bởi vì nó lay chuyển bản ngã và khiến chúng ta mất phương hướng, nỗi cô đơn khiến chúng ta chạm đến những gì nằm bên dưới bản ngã, đó là tâm hồn, bản thể sâu sắc nhất của chúng ta. Hình ảnh Chúa và sự tương đồng với Chúa nằm ở đó, cũng như năng lượng thanh cao nhất và thiêng liêng nhất của chúng ta cũng ở đó. Đó chính là sự thật trong niềm tin rằng trong nỗi cô đơn có chiều sâu.

Và như thế, bài học là, dù lập gia đình hay không: Đừng chạy trốn cô đơn. Đừng coi đó là kẻ thù. Đừng tìm kiếm  ai khác để chữa chạy nỗi cô đơn của mình. Hãy coi nỗi cô đơn là đặc cách  dẫn tới chiều sâu và lòng lân mẫn.

Đây là lời khuyên của Hafiz, một nhà thơ Ba-tư xưa:

Đừng hàng phục nỗi cô đơn
Nhanh đến vậy
Hãy để nó cứa sâu hơn
Để nó ủ men và thêm hương vị
Vì rất ít người phàm
Và ngay cả hương vị thần thánh làm được
Điều trái tim tôi thiếu vắng đêm nay
Đã làm đôi mắt tôi thêm dịu dàng
Giọng nói tôi
thêm trìu mến,
Nhu cầu có Chúa của tôi
Tuyệt đối
Rõ ràng.

Lòng mộ đạo và sự đúng mực

“Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. … Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. (Mt 6: 5-6)

Không hiểu sao, xưa nay, giáo hội và từng cá nhân chúng ta vẫn chậm chạp trong việc tôn trọng các lời cảnh cáo của chúa Giê-su, rằng không nên tỏ lòng mộ đạo của chúng ta trước công chúng. Vậy mà chúa Giê-su cảnh cáo chúng ta một cách rất rõ ràng và mạnh mẽ, không được thực hiện trước công chúng những hành động riêng tư thầm kín như cầu nguyện, sùng kính và sống khổ hạnh. Hơn nữa, trong lời cảnh cáo này, Chúa không phân biệt liệu đó là hành động phát xuất từ trái tim chân thành hay giả dối. Chân thành hay giả dối không phải là mối quan tâm duy nhất của Người. Nhưng việc bày biện lòng mộ đạo trước công chúng, dù chân thành đến mấy, mới là vấn đề.

Tại sao vậy? Có gì sai trái trong việc bày tỏ lòng mộ đạo trước công chúng? Chẳng lẽ việc đó không truyền cảm hứng cho người khác?

Điều sai trái khi phô bày tình cảm riêng tư của chúng ta ở nơi công cộng có thể được trả lời chỉ với một chữ: thẩm mỹ. Đó là loại nghệ thuật hạ cấp, loại làm cho người khác khó chịu hơn là truyền cảm hứng. Đó là phô bày không lành mạnh. Tại sao?

Bởi vì mộ đạo là cái gì riêng tư mà những gì thuộc lãnh vực riêng tư thì cần có một thái độ đúng mực. Riêng tư là một cái gì sâu lắng tự đáy lòng, giữa đương sự và những gì riêng tư này đòi hỏi cách biểu lộ tình cảm kín đáo.

Chẳng có gì trừu tượng ở đây. Chúng ta ai cũng biết cần làm tình sau cánh cửa khép kín. Sự thầm kín, từ chính bản chất của nó, đòi hỏi kín đáo, riêng tư, đúng mực, một tấm khiên để tránh cái nhìn xoi mói của người khác, một điều mà giáo hội tiên khởi gọi là kỹ luật giữ kín, cái gì vô hình thì đẹp hơn là hữu hình. Đó là lý do vì sao chúng ta cảm thấy không thoải mái khi bắt gặp những người tỏ tình cảm thân mật quá trớn ở nơi công cộng. Phản ứng tức thời của chúng ta là nhìn đi nơi khác, cảm thấy không thoải mái, mong rằng điều này đang không xảy ra trước mắt mình; phản ứng này lành mạnh, vì những gì chúng ta đang thấy là cách phô diễn thiếu lành mạnh, dù tình cảm thân mật giữa hai người là lành mạnh. Không phải  tình yêu có gì sai trái, mà việc phô bày trước công chúng mới thiếu lành mạnh. Tình cảm thân mật riêng tư cần phải thiêng liêng hơn trong việc giữ cho riêng tư tính cách đúng mực của nó.

Điều này cũng đúng với việc cầu nguyện riêng tư, lòng thành kính riêng tư, và lời sám hối riêng tư. Dù chân thành hay không, thì việc phô bày chúng trước công chúng là thiếu lành mạnh. Ai cũng chấp nhận, khi Chúa Giêsu cảnh cáo chúng ta phải ăn năn sám hối, cầu nguyện nơi khuất mắt là Người đang răn chúng ta không được đạo đức giả, không được tự xem là tốt đối với cái tốt đích thực. Nhưng Người cũng răn chúng ta không được phô bày công khai chính cái việc cầu nguyện riêng tư, dù việc này có chân thành đến mấy.

Ví dụ, giáo hội thuở đầu thực hiện cái gọi là kỹ luật giữ kín. Đây là một thông lệ, mà bất cứ tín hữu Ki-tô nào đã được rửa tội và tham dự bí tích Thánh Thể đã bị cấm không được đưa một người bạn chưa được rửa tội đến dự bí tích này, thậm chí không được kể lại cho người khác nghe buổi lễ này. Đây không phải là tạo ra một loại sùng bái bí mật đối với bí tích Thánh Thể, mà để bảo vệ tính cách riêng tư của nó. Đối với họ, bí tích Thánh Thể cũng giống như thể hiện tình yêu, nó phải được làm sau cánh cửa đóng kín.

Tôi may mắn được thấy cha mẹ tôi giữ quan niệm này một cách lành mạnh, cả ở đời sống cầu nguyện lẫn trong mối quan hệ giữa hai người. Mẹ và cha tôi thương yêu nhau sâu đậm và chắc chắn, sau cánh cửa đóng kín, họ làm tình nhiều với nhau. Nhưng họ không bao giờ thể hiện tình cảm thương yêu đó trước mặt người khác. Nói ra chuyện này thì bây giờ các gia đình chỉ mỉm cười, đôi khi chúng tôi cũng thấy cha mẹ ngồi bên nhau, cầm tay nhau, khi họ nghĩ không có ai nhìn thấy. Đời sống cầu nguyện của họ cũng vậy. Cả hai đều có một đức tin sâu sắc, đều sùng đạo, nhưng cả hai đều cẩn thận giữ gìn để việc cầu nguyện và lòng mộ đạo của họ là thầm kín và riêng tư. Cả hai đều có vẻ e dè khi họ thấy lòng mộ đạo hay tình cảm thân mật bị phô bày lộ liễu ở nơi công cộng. Có lẽ đó là lý do tại sao tôi thừa hưởng cái gen dị ứng với việc phô bày lộ liễu lòng mộ đạo.

Nhưng, hầu hết chúng ta đều chưa xem trọng lời răn của chúa Giêsu về chuyện này. Đôi khi lại còn làm ngược lại, đưa chuyện cầu nguyện riêng tư tôn lên như một điều lý tưởng. Một ví dụ: Cách đây vài năm, tôi dự một buổi lễ ngày chúa nhật do vị phụ tá Giám mục làm chủ lễ. Ngay trước khi rước lễ, trước người tham dự hơn 500 người, với tất cả lòngï chân thành và tôn kính, ông giơ hai cánh tay lên bàn thờ, cúi mặt xuống giữa hai cánh tay, và cứ giữ tư thế tôn kính đó trong hơn một phút, trong khi mọi người không biết làm gì hơn là nhìn ông biểu lộ hành vi tôn kính riêng tư đó. Lúc ấy, tôi chỉ thấy khó chịu vì cái việc mà tôi cho là làm không đúng nơi, không đúng lúc, thứ nghệ thuật hạ cấp, nhưng sau đó, tôi còn sửng sốt hơn khi đi ra nhà thờ và nghe người ta bình luận: “Thật là tuyệt vời, nhỉ?” “Đức tin sâu đậm thật!”

Đức tin sâu sắc thì có lẽ đúng. Nhưng tuyệt vời thì không. Hoàn toàn có lý do đúng đắn khi chúng ta nhất thời co rúm lại khi thấy những cử chỉ thân mật lộ liễu quá mức, vốn thật ra là để biểu lộ nhưng xúc cảm sâu kín riêng tư.