RonRolheiser,OMI

Các biên giới xao động của đời sống chúng ta 

Trong vòng năm năm qua, ít có quyển sách nào được nể trọng nhiều như quyển “Thời đại thế tục” (A Secular Age) của Charles Taylor.  

Được nể trọng như vậy là xứng đáng. Xét trong lịch sử rối rắm của cuộc sống thế tục, không có một nghiên cứu thực chứng nào lần ra được quá trình tiến hóa của nó, mà nếu có, thì phân tích của Taylor có thể xứng tầm với tích cách nổi bật này. Diễn tả sâu sắc với ngôn từ lịch sử, triết học, văn chương, thần học và thiêng liêng. Taylor có một mạch nguồn sâu thẳm để thấm đẫm trong đó và đưa ra phân tích này. Theo chỗ tôi biết, hiếm có học giả nào đưa một kiến thức sâu rộng như vậy vào lĩnh vực lịch sử và đức tin. Taylor thú nhận rằng cá nhân ông là người của đức tin, nhưng cố gắng không để niềm tin của mình ảnh hưởng lên nghiên cứu, một điều mà bất kỳ ai, dù là người có đức tin hay không, đều có thể mắc phải. Rất ít nhà bình luận, kể cả những người phê phán quyển sách này, buộc tội ông về chuyện đó. Nhìn chung, ông khách quan như bản tin buổi tối, tường thuật những gì xảy ra mà không khen cũng không buồn trước những chuyện đó. 

Và điều ông đã lần tìm ra là câu chuyện trọng đại, cách thế nào chúng ta, trong lịch sử, đã chuyển từ một nền văn hóa và một tâm thế mà trong đó hầu như không thể không tin vào Chúa sang một tình trạng như chúng ta ngày nay, tức là, một tình trạng trong đó đức tin vào Chúa đơn giản chỉ là một lựa chọn bên cạnh các lựa chọn khác và trên thực tế thường không phải là một lựa chọn có tính cách lấn lướt. Cho đến khi tính chất hiện đại triển nở trọn vẹn (và đối với nhiều người trong số chúng ta, điều này chỉ mới thật sự diễn ra trong vòng hai thế hệ qua), chúng ta vẫn sống trong cái mà Taylor gọi là một tâm thức “thẩm thấu” hơn là tâm thức “che chắn.” Một tâm thức thẩm thấu có tính cách thần bí tự nhiên hơn. Một tâm thức che chắn là cái mà Karl Rahner nghĩ tới khi ông nói, chúng ta rồi sẽ sớm tới một thời kỳ khi chúng ta sẽ là người thần bí hoặc là người không có đức tin. 

Một tâm thức thẩm thấu chính là thẩm thấu đối với sự bất lực trong việc bảo vệ mình với các thần linh và thiên thần, quỷ dữ và mê tín, tôn giáo tốt và tôn giáo xấu. Chúng ta không cần phải nhìn ngược lại quá khứ xa xăm mới nhớ được cái lúc chúng ta thường làm dấu thánh giá và dùng nước thánh khi trời giông bão. Cái thế giới khác kia, dù được hiểu như thế nào đi nữa, thì đều có thể khiến chúng ta quỳ gối. Không phải lúc nào chúng ta cũng thích thú trước việc thế lực siêu nhiên có thể len lỏi xuyên qua các tường thành phòng thủ của chúng ta, nhưng chúng ta khá bất lực trong chuyện ngăn chặn nó. 

Một tâm thức che chắn chính là một tâm thức được che chắn khỏi thiên thần và quỷ dữ, khỏi tôn giáo tốt cũng như xấu, khỏi bị len vào. Ngày nay, thay vì sợ sệt trước cơn giông tố, chúng ta thích thú coi đó như màn đốt pháo hoa, cảm thấy khá an toàn và vững tâm đằng sau cửa kính hiện đại. Chúng ta được che chắn hơn rất nhiều khỏi cái thế giới kia và không để nó xâm nhập vào tâm thức mình. Điều này khiến cho tâm thức thế tục (một nhận thức mà, phần lớn, không cảm thấy có nhu cầu có ý thức nào về việc kết nối sự tồn tại, duy trì, ý nghĩa và cố gắng hạnh phúc của mình với bất kỳ điều gì vượt lên trên chính nó và thế giới) là một lựa chọn thật sự của chúng ta và khiến cho đức tin trở thành điều chúng ta chọn lựa thay vì được ban cho. 

Nhưng, như câu văn nổi tiếng của Leonard Cohen: Mọi thứ đều có kẽ hở. Bởi thế ánh sáng mới lọt vào. Trong tâm thức che chắn, thế tục của chúng ta cũng có một kẽ hở. Taylor gọi đó là “những biên giới xao động của hiện đại.” Có những điều nhất định mà chúng ta không thể che chắn được cho mình, và đó không chỉ là mất mát, trầm cảm và nỗi sợ chết. Những điều đó đôi khi có thể, và thật sự làm rung động những nền tảng vững chắc của đời sống chúng ta và khiến chúng ta phải sụp xuống một cách bất lực. Nhưng chúng ta cũng có thể quỳ gối vì những lý do ngược lại: tình thương, vẻ đẹp, niềm hy vọng, và niềm vui cũng có thể xuyên qua lớp vỏ che chắn của chúng ta và khiến chúng ta vỡ toang ra đón nhận một ý nghĩa mới vượt lên trên những gì thế giới này có thể đem lại cho chúng ta. Có sự xáo động và mong manh ở cả hai tiền tuyến, ở cái tiền tuyến đe dọa và làm chúng ta sợ hãi và ở cái tiền tuyến vẫy gọi chúng ta tới những hy vọng sâu sắc hơn. 

Đây là cách nói của Taylor: Ýnghĩa là ở chỗ có đôi điều thôi thúc hơn. Rất nhiều người cảm thấy điều đó: trong những lúc chiêm nghiệm về cuộc đời mình; trong những phút giây thư giãn với thiên nhiên; trong những lúc đau thương và mất mát; dữ dội và bất ngờ. Thời đại của chúng ta còn lâu mới an định vào trạng thái thoải mái của việc không tin. Mặc dù nhiều cá nhân thật sự an định được như vậy, và cũng có nhiều người có vẻ an định được nếu nhìn bề ngoài, sự bất an vẫn tiếp tục lộ ra. Liệu có thể khác đi chăng? 

Thời đại thế tục có đặc nét như người bị tâm thần phân liệt, hay nếu đỡ hơn, thì cũng là căng thẳng rốt ráo. Con người có vẻ như giữ được một khoảng cách chắc nịch với tôn giáo, ấy vậy mà họ vẫn rất xúc động khi biết có những con người có đức tin tận hiến, như Mẹ Têrêxa. Cái thế giới không đức tin, vốn từng rất không thích đức giáo hoàng Pi-ô XII, lại hết sức kinh ngạc trước Gio-an XXIII. Một vị Giáo hoàng chỉ ăn nói như Ki-tô hữu, và các chống đối xa xưa bị tan biến. Điều đó chứng tỏ, dù nhiều người không muốn theo đức tin lại muốn nghe thông điệp của Giê-su, muốn thông điệp đó được tuyên bố rộng rãi. Nghịch lý này thể hiện rõ ràng trong phản ứng trước vị Giáo hoàng quá cố vừa qua. Bài giảng trước công chúng của đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô về tình thương yêu, về hòa bình thế giới, về công lý kinh tế quốc tế đã làm nhiều người cảm phục. Họ chấn động trước việc những điều này được nói ra. 

Có thể không phải Chúa bao giờ cũng hiện lộ rõ ràng trong thế giới chúng ta, nhưng trong những nỗi sợ hãi và niềm hy vọng sâu kín nhất của mình, chúng ta vẫn giữ danh thiếp của người. 

Gốc rễ của tha thứ

Một trong những tiểu thuyết đầu tay của James Carroll, ông khắc họa hình ảnh buốt nhói này: Một người đàn ông trẻ ở trong phòng hộ sinh chứng kiến vợ mình sinh con. Đó là một ca sinh nở khó khăn, người vợ có nguy cơ tử vong. Khi đứng đó chứng kiến, anh bị giằng xé sâu sắc: Anh yêu vợ, cầm tay vợ, cầu nguyện đến phát cuồng sao cho vợ đừng chết. Tuy vậy, sự sắp chào đời của đứa con và mối nguy vợ chết cọng lại làm anh nhận thức sâu sắc rằng, trong sâu thẳm tâm hồn, anh vẫn chưa tha thứ cho vợ vì đã có lần cô phản bội anh. Anh đã từng nói với cô là anh tha thứ cô, nhưng giờ đây, vào chính giây phút nguy kịch tột cùng này, anh nhận thức sâu xa trong tim, anh vẫn chưa thể nào dịu được nỗi đau và anh vẫn chưa thực sự tha thứ cho cô. Trong khi vợ anh mong manh giữa hai bờ sống-chết, anh thấy trên gương mặt cô một sự căng thẳng cực độ, một chiến đấu để cho ra đời một sinh linh dù cô đang tuyệt vọng chống chọi để sống. Nỗi đau đớn cực độ càng làm nổi bật những đường nét hằn sâu trên gương mặt cô và anh nhìn thấy ở đó một cuộc chiến đấu kép – để sinh nở và để không bị chết.

 
Khi nhìn thấy vậy, trong thâm tâm anh mới có thể tha thứ cho cô. Điều làm anh thay đổi không phải là lòng thương xót đơn thuần mà là một sự thấu cảm có được nhờ một thấu thị đặc biệt. Cuộc chiến đấu của vợ để sinh nở, trong khi vật lộn để sống sót, mà tình trạng đau đớn của cô đã càng làm nổi rõ hơn, giống như một tia sáng chiếu trên toàn bộ đời cô, giúp giải thích mọi điều, kể cả sự phản bội của cô. 

Đối với tất cả chúng ta cũng vậy: bản năng sâu thẳm nhất trong mỗi chúng ta là bản năng sống, để không bị hóa đá, không bị tan ra từng mảnh, chống chọi lại mọi trở lực để còn được sống. Gắn chặt với bản năng đó là một áp lực bẩm sinh, ở mọi cấp độ thân thể và tâm hồn, đối với việc cho ra đời một sinh linh, làm hạt giống của mình bất diệt, để lại một đứa trẻ của mình, làm ra một tạo tác, cùng với Chúa tạo ra một cái gì đó. Cái áp lực kép này là điều chính yếu nằm đằng sau hầu hết mọi việc chúng ta làm, bắt đầu nhuốm màu lên mọi động cơ của chúng ta và tạo nên cái hoàn cảnh sâu xa mà chúng ta dựa trên đó để hành động. Nó mời gọi chúng ta đến với đức hạnh cũng như đến với tội lỗi. Cuộc chống chọi để còn được sống và để cho ra đời một sinh linh là nền tảng của cả sự anh hùng lẫn bội tín của chúng ta. 

Mà điều đó biểu lộ trên gương mặt chúng ta. Nó tạo nên những đường nét sâu sắc hơn trong vẻ mặt chúng ta. Gương mặt chúng ta rốt cuộc bộc lộ ra chúng ta như thế nào, trên bề mặt lẫn trong sâu thẳm. Có thể đó là một ý nghĩ đáng sợ: biết điều đó chẳng giúp an lòng gì, rốt cuộc, chúng ta không thể nào che giấu sự nhỏ mọn, lòng tham, dục vọng, tự đại, nỗi tức giận, cay đắng của mình, cho dù chúng ta có lờ đờ hay thờ ơ đến mấy. Tất cả bộc lộ ra hết, trên diện mạo. Như Jean-Paul Sartre từng khẳng định, chúng ta tạo ra gương mặt của chính mình, và sau tuổi 40, cái con người bên dưới của chúng ta, đức hạnh lẫn tội lỗi, bắt đầu lấn át những đường nét do gen quy định xét theo cái mà người khác thấy trên gương mặt chúng ta. Người ta bắt đầu thấy chúng ta là ai. Mà không phải những tế bào mỡ hay nếp nhăn nói lên nhiều điều nhất. Sự ích kỷ, lòng ngạo mạn và niềm cay đắng lúc bấy giờ không còn khôn khéo nữa, sau bốn mươi tuổi! 

Oscar Wilde, trong tác phẩm “Bức chân dung Dorian Gray”, đã nêu điểm này một cách mạnh mẽ. Nhân vật nam chính của ông, Dorian, một chàng trai trẻ hết sức đẹp trai, thuê một danh họa vẽ chân dung mình, và bức họa là một kiệt tác. Ai ai cũng đều choáng ngợp trước vẻ đẹp của bức tranh. Nhưng, mà đây là điều oái ăm, bức chân dung này được vẽ khi Dorian còn trẻ, trong trắng, có trái tim hiền lành và tốt đẹp. Gương mặt chàng trong bức tranh đẹp là vì những phẩm chất đó, chứ không chỉ vì vẻ điển trai phi thường của chàng. Điều này về sau càng chứng tỏ rõ ràng hơn, khi Wilde, trong một tình tiết có hơi hướng vừa thần diệu vừa là thỏa thuận với quỷ dữ, đã để cho gương mặt của Dorian trong bức tranh thay đổi, theo đó khi Dorian trở nên phù phiếm, đầy dục vọng, ngạo mạn và tàn nhẫn, bức hình cũng thay đổi và bắt đầu bộc lộ sự phù phiếm, dục vọng, ngạo mạn và tàn nhẫn của anh. Dorian giấu biệt bức tranh và chỉ thảng hoặc, trong nỗi ân hận thoáng qua hay lúc chua cay hết sức, anh mới nhìn tới nó. Và anh ta thấy trong gương mặt thay đổi đó trạng trái tâm hồn mình. 

Điều này đúng với tất cả chúng ta. Gương mặt thay đổi của chúng ta cho thấy trạng thái tâm hồn mình. Nhưng điều này không đáng sợ như mới nghe qua. Trừ phi trong nhiều năm dài thiếu trung thực chúng ta đã đi lầm đường lạc lối tới mức phạm phải cái mà Phúc âm gọi là tội lỗi không thể tha thứ đối với Chúa Thánh thần, những đường nét của vẻ đẹp sâu thẳm nhất của chúng ta vẫn còn nguyên không suy suyễn. Bên dưới những gì do gen quy định đang lão hóa, bên dưới những tế bào mỡ và nếp nhăn, bên dưới lòng tham và những mối bận tâm mà tội lỗi đã nhuốm lên gương mặt chúng ta, bên dưới niềm cay đắng sau mỗi lần chúng ta bị hắt hủi, bên dưới cái vẻ bề ngoài đang cố gắng giấu biệt những điểm yếu và sự bội tín của chúng ta, và kể cả ẩn sâu dưới những đức hạnh và nỗi thống khổ thầm lặng của chúng ta, là sự căng thẳng mà nhân vật người đàn ông trẻ của James Carroll nhìn thấy ở vợ mình khi cô đang gắng gỗ để sinh nở dù cô đang chống chọi để không bị chết. 
Cuộc chiến đó tạo thành nét sâu sắc nhất trên gương mặt con người. Nhìn thấy điều đó có thể đưa đến lòng tha thứ.

Thương yêu kẻ thù chúng ta

Lorenzo Rosebaugh, tu sĩ đồng môn dòng Hiến sĩ bị bắn chết ở Guatemala cách đây hai năm, có lần chia sẻ tại một buổi họp dòng lời khuyên mà Daniel Beriggan từng khuyên ông. Khi suy ngẫm về một hành động bất phục tùng dân sự để phản đối chiến tranh Việt Nam, Berrigan đã khuyên Lorenzo: Nếu anh làm điều này mà không khỏi cảm thấy chua chát, thì đừng làm! Hãy chỉ làm điều đó khi nào anh có thể làm với một trái tim dịu ngọt! Hãy làm điều đó chỉ khi nào anh có thể chắc chắn rằng rốt cục anh sẽ không căm ghét những người bắt anh!

Điều đó quả là khó khăn; nhưng, rốt cuộc, đó là thách thức tột cùng, nghĩa là, không căm ghét những ai chống đối chúng ta, không căm ghét kẻ thù của mình, vẫn mang lòng độ lượng và tha thứ khi đối diện với hiểu lầm, chống đối cay chua, tỵ hiềm, tức giận, thù hận, ngược đãi, và thậm chí bị cái chết đe dọa.

Làm môn đồ của Giê-su có nghĩa là, một lúc nào đó, chúng ta sẽ bị căm ghét. Chúng ta sẽ có kẻ thù. Nó đã xảy ra với Chúa Giêsu và ngài cũng đoan chắc nó cũng sẽ xảy ra với chúng ta.

Và Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta một tấm gương mà chúng ta cần để trả lời với kẻ thù của chúng ta. Khi thánh kinh kể rằng Chúa Giê-su cứu chuộc con người khỏi tội lỗi, nó không chỉ có nghĩa rằng khi dâng cái chết của mình lên Chúa Cha như một hy sinh trong một hành động vĩnh viễn, Người đã chuộc lại tội lỗi chúng ta. Nó cũng chỉ ra cách sống của Người và bằng cách nào mà, như Người đã cho thấy, sự tha thứ và thương yêu kẻ thù có thể cứu chuộc tội lỗi, bằng cách hóa giải nó. Hành động thương yêu vĩ đại của Chúa Giê-su, như Kierkegaard từng nói, là để làm theo chứ không chỉ để thán phục.

Nhưng làm sao chúng ta làm vậy được? Dường như chúng ta không biết làm thế nào để thương yêu kẻ thù, chúng ta không có sức mạnh để tha thứ. Chúng ta rao giảng đó là lý tưởng và ngây thơ tin rằng mình đang làm điều đó. Nhưng, phần lớn, chúng ta không làm. Chúng ta không thật sự thương yêu và tha thứ những ai chống đối mình. Quá thường xuyên chúng ta ngờ vực, bất kính, chua cay, coi kẻ khác như quỷ dữ, và dùng ngôn ngữ ám hại đối với nhau. Nếu trong đời sống của chúng ta có nhiều tình thương yêu và tha thứ cho kẻ thù, thì điều này chẳng hề rõ ràng chút nào, ở ngoài đời cũng như ở nhà thờ. Như Ronald Knox từng nói, là Ki-tô hữu, chúng ta chưa bao giờ thật sự nghiêm túc tiếp nhận thách thức của Chúa Giê-su rằng hãy yêu thương kẻ thù và chìa má kia ra.

Tôi nói điều này với lòng lân mẫn. Chúng ta cần được giúp đỡ. Ngạn ngữ cổ nói đúng: Mắc lỗi là con người, tha thứ là thánh. Vậy chúng ta bắt đầu bằng cách nào đây?

Có thể chúng ta bắt đầu bằng cách vừa thừa nhận thất bại của chúng ta vừa thừa nhận sự bất lực của mình, với tư cách cá nhân cũng như giáo hội. Chúng ta chẳng mấy thương yêu hay tha thứ cho ai khi bị chống đối. Tiếp đó, chúng ta cần nêu bật tính chất chưa trưởng thành này và tầm quan trọng của thất bại đó trong khi chúng ta rao giảng và giảng dạy. Thương yêu kẻ thù mình là một phép thử tôn giáo và luân lý thật sự! Chúng ta không có quyền gọi bất kỳ ai là “Ki-tô hữu quán cà-phê” (cafeteria Christian – “Ki-tô hữu hời hợt”) hay một tín đồ nửa vời của Chúa Kitô trừ phi, trước tiên hết, chúng ta, chính chúng ta, là những người độ lượng, có thái độ tôn trọng, thương yêu và tha thứ khi đối diện với bất kỳ ai chống đối chúng ta. Chúng ta, tất cả chúng ta, hãy bắt đầu ở chỗ khiêm tốn thừa nhận rằng: Chúng ta chẳng giống Chúa Giê-su là bao khi đối diện với sự chống đối.

Sau đó, có lẽ điều quan trọng trên hết thảy, chúng ta cần tìm cách được giúp đỡ, gần giống như cách hoạt động của Hội Những người nghiện rượu Ẩn danh (Alcoholics’ Anonymous). Nếu đơn lẻ, chúng ta không có đủ sức mạnh để thương được những ai căm ghét chúng ta. Chúng ta cần tới ơn trên và cộng đoàn, quyền năng của Chúa và sự hỗ trợ của những người khác, để duy trì được điều khó khăn nhất trong mọi điều tỉnh táo, đó là, bước đi trong một khối sức mạnh vững bền mà vẫn giúp chúng ta giữ được tình nồng ấm, độ lượng, tha thứ, thương yêu và vui vẻ ngay khi đối diện với hiểu lầm, tỵ hiềm, chống đối, cay chua, đe dọa và giết chóc.

Về mặt cá nhân mà nói, tôi coi đây là thách thức lớn nhất của đời mình, về mặt đạo đức lẫn con người. Làm thế nào để thương yêu được kẻ thù: Làm thế nào để tôi không để cho một ánh nhìn ghen tức khiến tim mình lạnh giá? Làm thế nào để tôi không để cho một lời nói chua chát làm hỏng một ngày của tôi? Làm thế nào để tôi không coi những người khác như quỷ dữ khi họ chống đối tôi? Làm thế nào để tôi vẫn giữ lòng lân mẫn khi tôi bị hiểu lầm? Làm thế nào để tôi vẫn giữ được nồng ấm khi đối diện với chua cay? Làm thế nào để tôi không chào thua trong căn bệnh sợ hoang tưởng khi cảm thấy mình bị đe dọa? Làm thế nào để tôi tha thứ được cho một người không cần tôi tha thứ? Làm thế nào để ngăn không cho chính bản thân tôi đóng sầm cánh cửa lòng mình khi đối diện với lạnh lùng và chối bỏ? Làm thế nào để tôi tha thứ cho những người khác khi chính trái tim tôi đang chua chát thấy tội nghiệp cho bản thân mình? Làm thế nào để tôi thật sự thương yêu và tha thứ như Giê-su đã làm?

Tôi vẫn thường tự hỏi làm sao mà Chúa Giê-su làm được điều đó. Làm thế nào mà người giữ được cõi lòng bình an, trái tim nồng ấm, lời nói độ lượng, cuộc sống vui vẻ, nỗ lực bền bỉ, khả năng biết ơn, và vui tính khi đối diện với hiểu lầm, tỵ hiềm, căm thù và đe dọa giết?
Người làm điều đó bằng cách thừa nhận rằng đó là, và duy nhất là, mối thách thức quan trọng nhất cuộc đời và sứ mệnh của Người, và, dưới sức nặng của mệnh lệnh đó, bằng cách quỳ gối xuống và xin Ơn trên giúp đỡ, Người có thể làm cho chúng ta những gì mà chúng ta không thể làm được cho chính mình.

Một lời biện giải tôn giáo đương đại

Một trong những lý do vì sao ngày nay chúng ta ít thấy một lời biện giải tốt cho Ki-tô giáo là bởi vì quá nhiều những chuyên gia thần học xuất sắc nhất của chúng ta viết ở một trình độ mang đậm tính hàn lâm tới nỗi một người bình thường trong giáo hội khó mà thật sự tiếp cận được những tư tưởng của họ. Hiếm gặp các nhà biện giải như C.S. Lewis và G.K. Chesterton. Ngày nay chúng ta có những nhà tư tưởng vĩ đại về thần học, nhưng không may là tác phẩm của nhiều người trong số này không được đọc một cách có lợi lạc bên ngoài khung cảnh hàn lâm.

Trong bối cảnh như vậy, tôi xin giới thiệu cuốn sách rất hữu ích, cuốn Faith-Maps (Những bản đồ đức tin), vừa mới xuất bản của Michael Paul Gallagher, một giáo sư dòng Tên ở Viện đại học Gregorian ở Rome. Gallagher có một quá trình đào tạo văn chương, điều này giúp ông nhạy cảm với thể loại ngôn ngữ có thể giao tiếp với một tâm trí bình dân mà vẫn duy trì được thứ ngôn ngữ của chiều sâu và tâm hồn. Đó là tài năng mà ông đưa vào quyển sách này.    

Trong cuốn Faith-Maps, Gallagher chọn ra mười nhà tư tưởng Ki-tô tinh yếu (John Henry Newman, Maurice Blondel, Karl Rahner, Hans Urs von Balthasar, Bernard Lonergan, Flannery O’Connor, Dorothee Soelle, Charles Taylor, Pieranglo Sequeri, và Đức Giáo Hoàng Benedict XVI) rồi viết một chương vắn tắt về từng người, trong đó ông giải thích cốt lõi của nhận thức chủ yếu của họ bằng ngôn ngữ không chuyên. Hơn nữa, ông làm điều này với một mục đích biện giải nhất định, nghĩa là, tìm cách viết sao cho mỗi một người đều đưa ra một thách thức rõ ràng, ngắn gọn đối với thế hệ chúng ta, đặc biệt theo cái cách liên quan tới gắng gỗ của chúng ta với đức tin và nhà thờ. Và trong khi làm điều này, Gallagher đã chứng tỏ mình là một vị thầy vừa tài năng vừa công tâm: Ông trình bày những khái niệm cốt lõi của các nhà tư tưởng này theo cái cách mà những người không chuyên có thể tiếp cận được, ít nhất cũng là phần lớn, và theo một cách không rơi vào một trong hai biên kiến tự do hay bảo thủ.

Tôi chân thành giới thiệu cuốn sách này cho tất cả những ai muốn làm quen với những nhà tư tưởng vĩ đại này và những người sẵn sàng chịu để mình phải gắng sức đôi chút về mặt trí óc. Tôi đặc biệt giới thiệu nó với người nào đang phải chật vật xoay xở về mặt trí óc với đức tin của mình. Đây là một quyển sách về biện giải tôn giáo cho người trưởng thành.

Cho phép tôi nêu ra một ví dụ về thiên tài của Gallagher trong tuyển tập các nhà tư tưởng này, và thách thức: Khi vạch ra một số chủ đề quan trọng trong tư tưởng của Han Urs von Balthasar, ông viết:

“‘Sự đổi hướng của chủ thể” đã có ảnh hưởng lấn át trong tư duy hiện đại. Trong phạm vi Balthasar gắng gạn lọc những điều thái quá của trường phái này và đề xuất “sự trở về của khách thể”, trước tác của ông chất vấn những mặc định đã bám rễ sâu xa trong văn hóa quanh ta và thậm chí cả trong việc sống đời sống đức tin của chúng ta. Dưới ảnh hưởng của quá trình đào tạo văn chương của tôi  (tương tự Balthasar) và sau đó là trong cuộc cách mạng văn hóa mà đời sống tôn giáo kinh qua vào thập niên 1960, 1970, đời sống thiêng liêng của tôi chắc chắn đã trở nên chủ quan hơn. Một cách thầm lặng, toàn bộ truyền thống tu nghiêm nhặt bị gạt sang một bên, không chỉ theo nghĩa từ bỏ những khắc khổ bên ngoài, mà còn cho phép việc đạt được ước nguyện bản thân thay thế cho sự hy sinh bản thân như một giá trị cốt lõi. Thế hệ chúng ta đã khám phá ra sự tự thể hiện và tính dễ xúc động. Tất cả những điều này gây hào hứng và đáng để có, tuy vậy, khi suy nghĩ lại, chúng có nguy cơ bị phiến diện. Một cách gần như không nhận thấy, chúng đã đi tới chỗ sống theo một thu xếp với các ưu tiên mới, theo khía cạnh chủ quan của tôn giáo mạnh hơn khía cạnh khách quan. Thậm chí việc cầu nguyện mà cũng thường chịu sự đánh giá theo mặt trải nghiệm (ban đầu là sự tái đánh giá tích cực đối với một khía cạnh bị bỏ quên). “Tôi cảm thấy như thế nào” trở thành miếng giấy quỳ để kiểm tra sự tăng tiến.

Nếu tôi thừa nhận rằng tri giác mới này đã ảnh hưởng tới đời sống thiêng liêng, thì việc đọc Balthasar đã làm bật lên những vấn đề rắc rối nhưng quan trọng. Việc ông nhấn mạnh vào “tính khách quan” đã mời gọi tôi phải dành chỗ cho sự tôn thờ và vâng lời Chúa. Điều này đã phá tan tấm kính khuyếch đại của chủ nghĩa chủ quan. Ngôn ngữ đức tin của ông đã khiến tôi nhớ lại rằng vinh quang của Chúa là vĩ đại hơn bất kỳ sự đáp lại có thể có nào của tôi. Niềm vinh quang tỏa chiếu trên gương mặt của Chúa Kitô này thật sự là một lời kêu gọi “nhân loại thức tỉnh hoàn toàn” (nói như Iranaeus) nhưng vinh quang đó vượt lên trên sự hoàn thiện do mình tự đo đếm, bởi vì đó là hào quang của Chúa Giêsu bị đóng đinh cũng như Chúa Sống lại. Nó bao trùm lên tôi giống như một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại, khiến tôi xúc động, nhưng luôn luôn là chính nó, không phải phụ thuộc vào tôi mới có được sức mạnh và vẻ đẹp của nó. Theo từ ngữ của Balthasar (ở một trong rất nhiều chỗ ông viện ra trải nghiệm đối với nghệ thuật tương tự như trải nghiệm với đức tin): “‘sự độc đáo của một tác phẩm nghệ thuật’ chỉ có thể được cảm thụ ‘bằng cái ấn tượng nó tạo ra, người xem thấy đây là một tác phẩm trọn hảo không thể nào khác đi được, một cảm giác thoải mái hoàn toàn, làm tràn ngập người xem, làm cho họ phải thốt lên: chỉ có thể đến thế mà thôi!’

Một lời biện giải tốt là phải giúp có thể tiếp cận được các tư tưởng sâu sắc, mà không khiến những tư tưởng đó mất đi giá trị. Nó phải khiến mọi chuyện trở nên đơn giản mà không phải là đơn giản hóa quá mức. Các nhà thần học hàn lâm thường  chật vật trong khả năng làm cho dễ tiếp cận của phương trình này, trong khi các tác giả linh hướng được chuộng, các giáo lý viên và các linh mục đi giảng thì chật vật với việc làm sao giữ được phần giá trị sâu sắc. Chẳng mấy ai có thể làm được cả hai. Michael Paul Gallagher đã làm được cả hai trong cuốn sách này. Faith-Maps chạm tới những mạch giếng ngầm sâu xa của mười nhà tư tưởng tinh yếu, rút tỉa được phần nào tinh chất vàng ròng của họ, và phô bày chúng ra theo cái cách dễ thấy hơn đối với những con mắt không chuyên, thách thức chúng ta phải hiểu đức tin của mình một cách sâu sắc hơn, và cho chúng ta một kho tàng quý báu các khái niệm để làm được điều đó.

Được cứu chuộc nhờ sự hy sinh của một người

Chúng ta được cứu chuộc nhờ cái chết của Chúa Giê-su! Mọi Ki-tô hữu đều tin điều đó. Đó là nguyên lý trọng tâm đức tin của Ki-tô hữu và là trọng tâm của hầu hết mọi hệ thống biểu tượng Ki-tô. Cái chết của Chúa Giê-su trên thập giá đã vĩnh viễn thay đổi lịch sử. Trên thực tế, chúng ta lấy mốc đó để đo thời gian. Tác động của cái chết này đã ghi dấu trên thế giới tới mức, không lâu sau khi Người chết, thế giới bắt đầu đo thời gian bằng Người. Chúng ta hiện đang ở năm thứ 2011 kể từ sau khi Chúa Giê-su ra đời.

Nhưng làm sao như vậy được? Làm sao cái chết của một người có thể dội lên lịch sử, đi về trước, lùi lại đàng sau theo thời gian, cách nào đó vượt lên trên thời gian, để có tác động tới tất cả quá khứ, hiện tại và tương lai cùng một lúc, như thể cái chết đó mãi mãi xảy ra ở thời điểm hiện tại? Liệu có phải điều này đơn giản chỉ là một chuyện bí ẩn hay siêu hình trong Thánh Thần mà không phải để cho chúng ta hiểu trong bất kỳ phạm trù thông thường nào của chúng ta?

Tôi tin, quá thường xuyên chúng ta nhận được câu trả lời đơn giản như thế này: Đó là mầu nhiệm. Cứ tin vậy đi. Bạn không cần phải hiểu.

Và trong đó cũng chứa sự thông thái. Việc chúng ta được rửa sạch bằng máu của Chúa như thế nào là điều chúng ta hiểu bằng trực giác nhiều hơn là bằng đầu. Chúng ta biết chân lý của nó, dù không hiểu nó. Trên thực tế chúng ta biết chân lý đó thật sâu sắc đến nỗi chúng ta giao phó toàn bộ cuộc đời mình cho nó. Ngày nay tôi sẽ không là linh mục và sứ vụ viên của Phúc âm nếu tôi không tin chúng ta được cứu chuộc nhờ cái chết của Chúa Giê-su. Nhưng làm sao để giải thích chuyện đó?

Trong cuộc kiếm tìm với tư cách nhà thần học và đơn giản là trong nỗ lực tìm cách hợp nhất đức tin Ki-tô giáo của tôi, tôi đã đi tìm các khái niệm, các lý thuyết tưởng tượng, và một ngôn ngữ để theo đó hiểu được và giải thích điều này: bằng cách nào cái chết của một người cách đây 2000 năm lại có thể là một hành động cứu chuộc chúng ta ngày nay? Một trong những điều giúp cho cuộc tìm kiếm của tôi, đó là lời khuyên từ Edward Schillebeeckx trong cuốn sách gây chấn động của ông về Giê-su như Bí tích của Chúa, chỉ đơn giản nói rằng chúng ta không có siêu hình học gì để theo đó giải thích điều này. C.H. Dodd, mà tôi sẽ trích dẫn sau đây, chỉ đơn giản nói, “Ở đây có nhiều điều hơn mức có thể kể hết dựa trên tầm mức lịch sử hay con người. Chúa ở trong đó.” Một phần của chuyện này là mầu nhiệm.

Nhưng, khi chấp nhận những giới hạn đó, tôi muốn đưa ra ở đây hai đoạn, một của Thomas Keating và một của C.H. Dodd, mà ít nhất đối với tôi là hữu ích trong việc cố gắng hiểu đôi điều mà phần lớn là không thể diễn đạt bằng lời. Cái nhìn sâu sắc của Keating mang tính chất mầu nhiệm và nên thơ nhiều hơn, nhưng gây ấn tượng sâu sắc tuyệt vời; đoạn của Dodd mang tính cách lý luận hiện tượng hơn, nhưng cũng không kém phần hữu ích:

Thomas Keating đưa ra nhận xét đáp lại một câu hỏi: Chúng ta đã bao giờ thật sự hiểu bằng cách nào chúng ta được cứu chuộc nhờ cái chết của Giê-su cách đây hai thiên niên kỷ chưa?

Sách Thánh đưa ra các gương mẫu về những nhân vật đã thật sự có cái nhìn sâu sắc đối với điều này – chẳng hạn Maria vùng Bê-ta-ni, xức dầu thơm cho Chúa Giê-su ở nhà ông Simon, người bị hủi. Khi đập vỡ lọ thạch cao tuyết hoa đựng nước hoa rất đắt tiền và xức cho Chúa Giê-su, và khiến cả căn nhà tràn ngập mùi hương tuyệt diệu đó, dường như cô đã trực cảm điều Chúa Giê-su sẽ làm trên thánh giá. Các nhà chức trách đã sửa soạn để giết người. Điều tượng trưng qua hành động hào hiệp của cô là ý nghĩa sâu sắc nhất về lòng thương khó và cái chết của Chúa Giê-su. Nhiệm thể Chúa Kitô là lọ chứa chất nước hoa quý giá nhất của mọi thời gian, đó là Chúa Thánh thần. Nó sẽ phải bị đập vỡ ra để Chúa Thánh thần mới tuôn đổ ra trên toàn bộ nhân loại – quá khứ, hiện tại và tương lai – với sự hào hiệp vô biên. Chừng nào thân thể đó còn chưa bị đập vỡ trên thánh giá, thì trọn vẹn món quà của Thượng đế nơi Chúa và những khả năng chuyển hóa của nó đối với nhân loại vẫn không thể nào được biết tới hay đoán trước dù xa xăm.

C.H.Dodd miêu tả cái chết của Chúa Giê-su đã dội trong lịch sử như thế nào bằng những câu chữ sau: Ở đây có nhiều điều hơn mức có thể kể hết trên cấp độ lịch sử hay con người. Chúa ở trong đó. Mục đích sáng tạo của Chúa là tiếp tục vĩnh viễn trong thế giới này của Người. Điều đó gặp phải ý chí ương ngạnh của con người. Nếu ở bất kỳ thời điểm nào lịch sử loài ngoài cần trở nên hoàn toàn quy thuận Chúa, hoàn toàn trong sáng trước chương trình hoạch định của Chúa – thì từ thời điểm đó mục đích sáng tạo đó sẽ phát huy tác dụng với sức mạnh chưa từng thấy. Đó chính là những gì sự quy phục hoàn toàn đối với Chúa Giê-su sẽ tạo ra. Trong bản chất con người và lịch sử loài người, con người đã tạo ra một thời điểm hoàn toàn quy thuận đối với ý Chúa, và hoàn toàn trong sáng đối với ý định của Người. Khi chúng ta quay về giây phút đó, nó sẽ trở thành thời đương đại và chúng ta sẽ được mở ngỏ ra với nguồn năng lượng sáng tạo sẽ vĩnh viễn hoạt động để tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa. Sự phục tùng Chúa là sự giải phóng sức mạnh sáng tạo để hoàn thiện đời sống con người. Một quyết định do một con người vĩ đại đưa ra có thể thay đổi mọi mặt của cuộc sống, đối với hiện tại và với tất cả những gì sau đó.

Mọi hành động luân lý của chúng ta đều để lại dấu vết, và đôi khi, nếu hành động luân lý đó tương đương với việc tách nguyên tử thì tác dụng của nó sẽ tiếp tục mãi mãi về sau. Cái chết của Giê-su đã tách nguyên tử luân lý.

Về tâm thức được chúc phúc và bị nguyền rủa

Có một câu chuyện cổ Phật giáo với đại ý như sau: Ngày nọ khi vị Phật đang ngồi dưới gốc cây, một người lính trẻ ăn mặc chỉnh tề đi ngang, nhìn vị Phật, để ý cân nặng và vẻ mập mạp của vị đó, anh nói: “Ông trông như con lợn!” Vị Phật bình thản ngước nhìn người lính và nói: “Còn anh giống như Thượng đế!” Ngạc nhiên trước nhận xét đó, người lính hỏi vị Phật: “Tại sao ông nói tôi giống Thượng đế?” Vị Phật trả lời: “À, chúng ta không thật sự nhìn thấy những gì bên ngoài chúng ta, chúng ta nhìn thấy những gì bên trong chúng ta và phóng chiếu nó ra bên ngoài. Tôi ngồi ở gốc cây này cả ngày và tôi nghĩ về Thượng đế, cho nên khi tôi nhìn ra, tôi thấy như vậy. Còn anh, chắc hẳn anh đang nghĩ về những thứ khác!”

Có một chân lý hiển nhiên trong triết lý cho rằng cái cách chúng ta cảm nhận và phán xét chịu ảnh hưởng sâu sắc và nhuốm màu nội tâm của chính mình. Đó là lý do tại sao không bao giờ có thể hoàn toàn khách quan, và tại sao năm người cùng chứng kiến một sự việc, nhìn thấy cùng một sự vật, lại có năm câu chuyện rất khác nhau về những gì xảy ra. Thánh Tôma Aquinas đã thể hiện điều đó trong một phương ngôn nổi tiếng: Bất cứ cái gì được tiếp nhận là được tiếp nhận theo phương thức của kẻ tiếp nhận nó.

Nếu điều đó đúng, và quả thật là như vậy, thì như câu chuyện cổ Phật giáo cho thấy, cách chúng ta cảm nhận về người khác nói lên rất nhiều về những gì đang diễn ra bên trong chúng ta. Bên cạnh những thứ khác, nó cho thấy liệu chúng ta đang vận hành trên một tâm thức được chúc phúc hay một tâm thức bị nguyền rủa.

Chúng ta hãy bắt đầu với một tâm thức tích cực, được chúc phúc: Chúng ta thấy tâm thức đó ở Giê-su, trong cái cách người cảm nhận và cách người phán xét. Tâm thức của người là một tâm thức được chúc phúc. Phúc âm mô tả, trong lễ rửa tội của Người, tầng trời mở ra và giọng Chúa Cha vang lên: “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về con.” Và, dường như, trọn đời, Chúa Giêsu luôn ý thức theo cách nào đó lời Chúa Cha đã nói với Người: “Con là con được chúc phúc của Ta!” Vì vậy, Người có thể nhìn ra thế giới và nói rằng: “Con được chúc phúc khi con là người nghèo, hay khi con bị ngược đãi, hay đang bị đau đớn theo bất kỳ cách gì. Con luôn luôn được chúc phúc, bất kể hoàn cảnh cuộc sống của con ra sao.” Người biết chính người được chúc phúc, cảm thấy điều đó, và bởi vậy, có thể vận hành trên một tâm thức được chúc phúc, một tâm thức có thể nhìn ra và thấy những người khác và thế giới được chúc phúc.

Buồn thay, đối với nhiều người trong số chúng ta, sự thật lại ngược lại: Chúng ta cảm nhận những người khác và thế giới không thông qua một tâm thức được chúc phúc mà thông qua một tâm thức bị nguyền rủa. Chúng ta đã bị nguyền rủa và bởi vì vậy, chúng ta nguyền rủa người khác, theo bất cứ cách tế vi nào.

Một lời nguyền rủa là gì? Một lời nguyền rủa không phải là một ngôn ngữ màu mè tuôn ra khỏi miệng ta khi chúng ta bị kẹt giao thông hay khi chúng ta đánh trái bóng đi trật hướng. Có thể cái mà chúng ta nói lúc đó là mất mỹ cảm và rất thô tục, nhưng đó không phải là một lời nguyền rủa. Một lời nguyền rủa còn độc hại hơn.

Nguyền rủa là điều mình làm khi nhìn người mình không thích và nghĩ hoặc nói thế này: “Tao ước gì mày không ở đây! Tao căm ghét sự có mặt của mày! Tao ước gì mày cút đi!” Nguyền rủa là điều chúng ta làm khi cáu bẳn trước những tiếng kêu vui sướng của một đứa trẻ và nói: “Câm miệng! Đừng làm ta khó chịu!” Nguyền rủa là điều chúng ta làm khi chúng ta nhìn vào một ai đó và nghĩ hay nói rằng: “Thật là một đứa ngu độn! Một tên đần!”

Nguyền rủa là cái chúng ta làm bất kỳ khi nào chúng ta nhìn vào một người khác một cách xét nét và nghĩ hay nói rằng: “Ông nghĩ ông là ai! Ông nghĩ ông là nghệ sĩ à! Ông nghĩ ông tài giỏi hả! Ông chẳng tài năng gì sất, ông đầy tự cao tự đại!” Hãy để ý rằng trong mỗi ví dụ trên, những gì được nói chính là phản đề của những gì Chúa cha đã nói với Giê-su trong lễ rửa tội: “Con là con được chúc phúc của Ta, con đẹp lòng Ta mọi đàng!”

Nếu bất kỳ ai trong số chúng ta có thể chiếu lại cuộc đời mình như một cuốn phim, chúng ta sẽ thấy vô số lần, đặc biệt hồi còn trẻ, chúng ta bị nguyền rủa một cách vi tế, khi chúng ta nghe thấy hay trực cảm thấy những từ: Câm miệng! Mày nghĩ mày là ai! Cút đi! Chẳng ai muốn mày ở đây! Mày chẳng quan trọng đến mức ấy! Mày ngu ngốc! Mày tự cao tự đại! Tất cả những lúc đó là lúc năng lượng và lòng nhiệt thành của chúng ta bị coi là mối đe dọa, và chúng ta thật sự bị chà đạp.

Và kết quả tồn dư trong lòng chúng ta là nỗi hổ nhục, trầm uất, và một tâm thức bị nguyền rủa. Khác với Giê-su, chúng ta không nhìn thấy người khác và thế giới như được chúc phúc. Thay vào đó, giống như anh lính trẻ nhìn vào vị Phật béo ngồi ở gốc cây, lời phán xét tự phát của chúng ta tức thì và chết người: “Ông trông như con lợn!”

Bất cứ cái gì được tiếp nhận là được tiếp nhận theo phương thức của kẻ tiếp nhận nó. Những lời phán xét khắc nghiệt của chúng ta đối với người khác nói ít về họ nhưng lại nói nhiều về chúng ta. Sự tiêu cực của chúng ta đối với người khác và thế giới chủ yếu bộc lộ ra chúng ta đã bị bầm dập, tổn thương, hổ thẹn và trầm uất như thế nào – và bản thân chúng ta đã ít khi nghe thấy ai nói với mình: “Ta hài lòng về con!”

Theo Chúa Giêsu, theo nghĩa đen hay nghĩa bóng?

Môi trường làm việc của tôi ở trong giới nhà thờ, phần lớn những người tôi gặp ở đó là trung thực, nhiệt tâm, và đa số, họ toát ra một đức tin sâu đậm. Đa số những người đến nhà thờ không phải là người giả nhân giả nghĩa. Nhưng điều tôi thật sự thấy lo âu trong giới này là quá nhiều người trong số chúng ta lại có thể chua chát, giận dữ, nhỏ mọn, xét nét, đặc biệt trong chính các giá trị mà chúng ta coi trọng nhất.

Chính cha Henri Nouwen là người đầu tiên nêu lên điều đó. Cha buồn rầu nhận xét trong số những người thật sự giận dữ, chua chát và bị ý thức hệ lôi đi mà cha biết đến thì cha đã gặp trong giới nhà thờ và ở cương vị mục vụ. Trong giới nhà thờ, đôi khi dường như ai cũng giận dữ về một điều gì đó. Hơn nữa, ở môi trường này, thật quá dễ dàng biện lý cho nỗi tức giận của mình nhân danh lời tiên tri, như là một nỗi đam mê lành mạnh đối với chân lý và đạo đức.

Lô-gic của chuyện đó là: Vì tôi tha thiết quan ngại tới một vấn đề đạo đức, giáo hội hay công lý quan trọng, nên tôi không có lỗi nếu ở chừng mực nào đó tôi rối trí, tức giận, tự cho là ưu tú, và xét nét tiêu cực, bởi vì tôi có thể biện lý rằng sự nghiệp về mặt đạo đức hay tín điều của tôi quan trọng tới mức có thể biện minh cho sự nhỏ mọn của mình: Tôi cần phải tức giận và khắc nghiệt như thế này bởi vì chân lý đó quan trọng đến thế cơ mà!

Và thế là chúng ta biện minh cho nỗi tức giận của mình bằng cách khoác cho nó một cái vẻ tiên tri, trong lòng tự cho mình là chiến binh của Chúa, của chân lý và đạo đức khi mà thực ra chúng ta phần lớn chỉ đang khó khăn chống chọi với những vết thương, nỗi bất an và sợ hãi của chính mình. Vì thế, chúng ta thường nhìn vào người khác, thậm chí cả toàn bộ nhà thờ gồm những con người tha thiết cố gắng sống phúc âm, thay vì thấy các anh chị em cũng đang gắng gỗ, như chúng ta, để theo bước Giê-su, chúng ta lại nhìn thấy “những người lầm lỗi”, “những kẻ tương đối chủ nghĩa nguy hiểm”, “những kẻ ngoại đạo thời đại mới”, “những tên dị hợm tôn giáo”, hoặc là – lúc chúng ta độ lượng hơn – “những linh hồn lầm lạc tội nghiệp”. Nhưng không bao giờ chúng ta nhìn xem kiểu xét nét như vậy đang nói lên điều gì về chính mình, về chính tình trạng sức khỏe tinh thần của mình và việc theo chân Giê-su của chính mình.

Xin đừng hiểu nhầm ý tôi: Chân lý thì không tương đối, các vấn đề luân lý là quan trọng, và sự thật đúng đắn và luân lý đích thực, cũng giống như các vương quốc bị bao vây liên miên, cần được bảo vệ. Không phải mọi lời phán xét luân lý nào cũng đồng đều, các nhà thờ cũng vậy.

Nhưng điều chân lý đó không phủ đầu mọi thứ khác, cũng không là lý do để chúng ta biện lý cho nỗi tức giận của mình. Chúng ta phải bảo vệ chân lý, bảo vệ những ai không thể tự vệ, và kiên trung trong những truyền thống của nhà thờ chúng ta. Nhưng những sự thật và luân lý đúng đắn không nhất thiết làm chúng ta trở thành tông đồ của Giê-su. Điều gì khiến chúng ta trở thành tông đồ của Giê-su?

Những gì khiến chúng ta trở thành vị tông đồ chân chính của Giê-su là sống trong Tinh thần của Người, trong Thần Khí, và đây không phải là điều gì trừu tượng hay mơ hồ. Nếu có ai đó muốn tìm một công thức duy nhất để xác định ai là Ki-tô hữu ai không, người đó có thể đọc Thư gởi cho tín hữu thành Ga-lát, chương 5. Trong đó, Thánh Phao-lô bảo chúng ta rằng chúng ta có thể sống căn cứ theo tinh thần của xác phàm hay Thần Khí.

Chúng ta sống theo tinh thần của xác phàm khi chúng ta sống trong giận dữ, chua chát, xét nét láng giềng của mình, với óc bè phái, và không vị tha. Khi đời sống chúng ta có những tính chất như vậy thì chúng ta không nên tự lừa dối rằng chúng ta đang sống trong Thần Khí.
Ngược lại, chúng ta sống trong Thần Khí khi đời sống chúng ta nổi bật lên bằng lòng bác ái, vui vẻ, bình an, thiện tâm, chịu đựng, bền lòng, hiền lành và khiết tịnh. Nếu đời sống chúng ta không có những tính chất đó, thì chúng ta không nên tự huyễn rằng mình đang ở bên trong Tinh thần của Chúa, bất kể niềm đam mê đối với sự thật, tín điều hay công lý của chúng ta là gì.

Có thể nói như thế này là tàn nhẫn, nhưng không nói ra thì còn tàn nhẫn hơn, nhưng đôi khi tôi lại thấy lòng khoan dung, niềm vui, bình an, kiên nhẫn, thiện tâm và hiền lành trong số những người theo thuyết Nhất vị luận, Thời đại Mới, hay Baha’i (mà thường bị các giáo hội khác phán xét là không có chính kiến rõ ràng và chẳng đại diện cho điều gì cả) còn nhiều hơn so với những người nào trong số chúng ta đứng lên hô hào đanh thép cho những vấn đề đạo đức và giáo hội nào đó nhưng thường là hẹp hòi và chua chát trong suy nghĩ của mình. Nếu được lựa chọn người hàng xóm, hay sâu sắc hơn, lựa chọn người mà tôi muốn được chia sẻ đời đời, đôi khi tôi khá bị giằng co: ai là bạn đồng hành đức tin thật sự của tôi? Con người quá khích giận dữ đang xung trận vì Giê-su hay vì chính nghĩa đó, hay linh hồn hiền lành hơn mà bị dán nhãn hiệu không có chính kiến rõ ràng hay “thời đại mới”? Xét cho cùng, ai là Ki-tô hữu thật sự?

Tôi tin rằng, chúng ta cần tự phê bình nhiều hơn về nỗi tức giận, những phán xét khắt khe, tính nhỏ mọn, sự bài xích, và sự khinh thị của chúng ta đối với những con đường luân lý và giáo hội khác. Như T.S. Eliot từng nói: Cám dỗ cuối cùng và là tội bội tín ghê gớm nhất là làm một điều đúng vì một lý do sai lầm. Chúng ta có thể có sự thật và những luân lý đúng đắn đứng về phía mình. Nhưng nỗi giận dữ và những phán xét khắc nghiệt của chúng ta đối với những ai không cùng chia sẻ sự thật và luân lý với mình hoàn toàn có thể khiến chúng ta đứng ngoài ngôi nhà của Cha, giống như người anh trai trong câu chuyện người con hoang đàng, cay chua trước lòng nhân từ của Chúa lẫn cay chua với những ai đang được nhận lòng nhân từ đó.

Đóng một con tàu lớn

Nếu con có thể bình tâm khi tất cả chung quanh con
Đều mất hết lý trí trí và đổ lỗi cho con.

Các bạn sẽ nhận ra câu trên đây là dòng đầu của bài thơ nổi tiếng của Rudyard Kipling, bài Nếu, và dòng thơ này hiệu nghiệm như bất kỳ lời kinh nào, là chìa khóa để hiểu được câu chuyện Nô-ê và chiếc tàu lớn.

Câu chuyện đó có ý nghĩa gì? Chúng ta có thật sự muốn tin rằng tại một thời điểm nhất định của lịch sử, cả quả đất đều bị ngập lụt và một người duy nhất, Nô-ê, đã sáng suốt thấy trước điều đó và đã đóng một con tàu trên đó ông chở một con đực và một con cái của tất cả các loài trên trái đất để cứu chúng khỏi bị diệt chủng? Rõ ràng câu chuyện này không phải để hiểu theo nghĩa đen, rằng đã có một sự kiện cụ thể như vậy trong lịch sử hành tinh này. Giống như nhiều câu chuyện thánh kinh khác về khởi nguyên lịch sử, nó không phải một cuộn phim lịch sử về những gì đã diễn ra, mà đúng hơn là một câu chuyện từ trái tim con người, một câu chuyện còn chân thật hơn cả sự thật ở chỗ nó xảy đi xảy lại trong đời sống chúng ta. Nó xảy ra như thế nào? Ý nghĩa của câu chuyện về Nô-ê và chiếc tàu lớn là gì?

Có thể viết lại câu chuyện này như sau: Cứ lâu lâu lại có một thời điểm trong lịch sử khi trái đất còn lại quá ít tầm nhìn, đức tin, lý tưởng, đức đoan chính và lòng khoan dung đến nỗi thế giới đứng trước mối nguy thật sự là sẽ chìm, sẽ chết ngộp, và sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến cho mọi điều quý giá đều bị hủy diệt. Nhưng có một người duy nhất, bất chấp tất cả những gì đang diễn ra xung quanh, sẽ vẫn hướng về những gì cao cả hơn, giữ trọn vẹn đức tin, bảo toàn sự sống, và không chịu đánh đổi lòng khoan dung và đức đoan chính. Cuối cùng trái đất sẽ chết ngộp trong hỗn loạn, nhưng nhờ có tầm nhìn, lý tưởng, đức tin, đức đoan chính của con người duy nhất này mà một vốc sự sống, vốn vẫn chứa tất cả những gì quý giá, sẽ được bảo tồn và lại có cơ hội phát triển.

Con tàu lớn của Nô-ê là con tàu của đức tin, tầm nhìn, lý tưởng, đức đoan chính và lòng khoan dung. Những đức hạnh này cho chúng ta khả năng vượt lên tình trạng hỗn loạn nhấn chìm mọi thứ. Hơn nữa, đức đoan chính, lòng khoan dung, đức tin và tầm nhìn của chúng ta chứa đựng mọi thứ quý giá cần được bảo vệ và được tạo cơ hội tiếp tục tồn tại.

Có nhiều cách khác nhau để đóng con tàu lớn này. Đây là một cách:

Daniel Berrigan thích cảnh báo như thế này: Hãy thận trọng, hãy thận trọng, nếu không nền văn hóa sẽ nuốt trọn anh! Dễ bị nuốt trọn và chết ngộp bởi nền văn hóa của chúng ta. Đó là một kiểu thuốc phiện. Nhận thấy điều này, vào một lúc trong cuộc đời, Daniel Berigan đã chọn làm việc toàn thời gian trong một bệnh viện dành cho người hấp hối. Anh có những động cơ lẫn lộn: một mặt, anh tha thiết muốn giúp những bệnh nhân hấp hối bằng bất cứ cách nào có thể, về thân thể cũng như tâm linh. Mặt khác, anh muốn làm việc với những người hấp hối vì anh nhận thấy rằng họ, những người sắp chết, chính xác do họ không còn nơi chốn ý nghĩa nào trong nền văn hóa và trong tương lai, nên có thể đem lại cho anh một tầm nhìn đầy đặc ân về nền văn hóa và về thế giới của chúng ta. Nói nôm na: Khi bạn nhìn nền văn hóa và thế giới của mình qua con mắt của người sắp chết, mọi việc sẽ khoác lên một vẻ rất khác và rất nhiều những điều thiêu đốt đời sống bình thường (làm thân thể, trí óc và quả tim chúng ta mệt mỏi khi mưu cầu chúng) bấy giờ phơi ra như những điều thứ yếu và không đáng phải dành tất cả sự chú ý và năng lượng như chúng đang được dành cho.

Đối với Daniel Berigan, đóng một con tàu lớn là nhằm chăm sóc những người hấp hối để được trao cho đức tin và tầm nhìn nhằm không bị chết đuối trong nền văn hóa của chúng ta.

Và như thế chúng ta có thể diễn lời của Rudyard Kipling như sau:

Nếu con có thể giữ đức tin khi tất cả xung quanh con mất đức tin, nhưng con và bình tâm cới cảm nghĩ rằng số đông có sức mạnh, rằng mọi người khác đang theo bén gót, rằng hàng triệu triệu người không thể sai lầm;

Nếu con có thể tiếp tục dành sự kính trọng cho những người khác khi tất cả mọi người xung quanh con coi đó là yếu đuối, và sự bất kính được coi là sức mạnh và là niềm đam mê tìm chân lý;

Nếu con có thể vẫn tử tế và tiếp tục cư xử đàng hoàng khi tất cả mọi người xung quanh con coi lòng tử tế là kỳ quặc, còn sự thô bỉ và lỗ mãng được biểu dương là tinh tế;

Nếu con có thể sống trong nỗi căng thẳng khi tất cả mọi người xung quanh con đều nhượng bộ vì người ta cho rằng tốt hơn là để quỷ dữ lấy đi ngày mai hơn là sống căng thẳng hôm nay;

Nếu con có thể không chịu chấp nhận điều tốt nhì khi tất cả mọi người xung quanh con đều chấp nhận rằng đó là tất cả những gì cuộc sống đem lại được;

Nếu con có thể gắn lòng khoan dung với sự đam mê khi tất cả mọi người xung quanh con đều coi đó là ngây thơ và bất khả;

Nếu con có thể sắp xếp mừng lễ Xa-ba giữa những áp lực cuộc sống khi đối với tất cả mọi người xung quanh con những áp lực đó đã bắt đầu định đoạt mọi mặt đời sống;

Và, nếu con có thể gánh chịu thậm chí còn nhiều thua thiệt hơn với lòng khoan dung và tha thứ, thương yêu và tha thứ những ai căm ghét con, khi tất cả mọi người xung quanh con đang cổ xúy lấy oán báo oán;

Thì, chắc chắn cũng y như Nô-ê, con đã đóng một con tàu lớn!

Gắng mừng lễ Xa-bát giữa những đòi hỏi của điện thoại và máy tính

Một diễn viên hài kịch gần đây châm biếm rằng các công nghệ thông tin ngày nay đã rất hiệu quả trong việc biến nhiều thứ trở nên lỗi thời, nhất là các cuốn danh bạ điện thoại và sự tử tế của con người. Điều này cũng đúng đối với tất cả mọi người.

Các công nghệ thông tin ngày nay (internet, thư điện tử, các chương trình phần mềm như Facebook, điện thoại di động, IPhone, máy tính bỏ túi, và những thứ tương tự) đã giúp chúng ta thành những con người được thông tin đầy đủ nhất, hiệu quả nhất và có thể dễ liên lạc với nhau hơn bao giờ hết. Giờ đây chúng ta có khả năng – mọi ngày, hàng ngày – tiếp cận thông tin về những sự kiện thế giới, tin tức thế giới, nguyên cả những thư viện thông tin, và những tường thuật chi tiết về những gì gia đình và bạn bè chúng ta đang làm vào bất cứ lúc nào. Đó là mặt tích cực của phương trình.

Điều ít tuyệt vời hơn là những gì chuyện này đang làm đối với đời sống chúng ta, cái cách nó thay đổi những kỳ vọng của chúng ta, và tước mất cái khả năng giản dị là dừng lại, tắt máy đi, và những điều tương tự. Khi hàng ngày, chúng ta càng cuốn mình nhiều trong các cuộc điện thoại di động, gửi tin nhắn, thư điện tử, Facebook, và internet nói chung, chúng ta bắt đầu sống với kỳ vọng rằng mình phải luôn luôn chú ý đến mọi thứ đang diễn ra trên thế giới và trong đời sống của gia đình và bạn bè. Điều kỳ vọng vừa được nói ra vừa thầm nghĩ đó là chúng ta phải luôn luôn có sẵn đó – và những người khác cũng vậy. Trước đây chúng ta thường gửi cho nhau những mẩu giấy nhắn và thư tay, và chờ hồi âm trong vòng vài ngày, vài tuần hay vài tháng. Giờ đây thì ta kỳ vọng nhận được hồi âm trong vòng vài phút hoặc vài giờ, và chúng ta cảm thấy mất kiên nhẫn với những người nào không đáp ứng kỳ vọng này, và thâm tâm chúng ta cảm thấy tội lỗi nếu chúng ta không đáp ứng được điều đó.

Và thế là, hàng ngày, chúng ta càng trở nên nô lệ hơn cũng như ép buộc hơn trong việc sử dụng điện thoại di động và internet. Đối với nhiều người trong số chúng ta, giờ đây thực sự không thể ngơi ra được ngày nào, đừng nói là ngơi được vài tuần, để đi nghỉ lễ hay nghỉ ngơi thật sự. Thay vào đó là chịu áp lực phải thường xuyên kiểm tra tin nhắn trên di động, email, tin nhắn trên điện thoại cố định, và những thứ tương tự; và gia đình, bạn bè và đồng nghiệp của chúng ta thì đích thị là kỳ vọng chúng ta đều đặn kiểm tra những thứ đó. Sẽ là tội-ác-trong-ngày nếu như bất cứ lúc nào không sẵn đó, không gọi được, hay không liên hệ được.

Nhưng nhịp điệu thời gian như Chúa đã thiết kế là để trao cho chúng ta, một cách đều đặn, hàng tuần, một thời gian nhất định để tách khỏi vòng xoay, một “thời gian nghỉ Xa-bát” nhất định khi cuộc sống thường nhật, những áp lực thường nhật, công việc thường nhật và những kỳ vọng thường nhật được xếp lại, và chúng ta cho phép bản thân được dừng lại, được tắt các thứ máy móc đi, và nghỉ ngơi. Ngày nay, không nơi nào mà điều này phù hợp và cấp bách hơn là nơi sử dụng điện thoại, máy tính xách tay, và máy tính để bàn. Hơn bất cứ thứ gì khác, chúng tạo thành nếp thường, công việc nô lệ, những câu thúc và âu lo mà chính lời răn thực hành lễ Xa-ba thiêng liêng yêu cầu chúng ta phải bứt ra.

Tôi biết có hai vợ chồng nọ làm việc trong nhà thờ. Vì cả hai đều làm mục vụ, nên họ làm việc vào các sáng chủ nhật và thường là qua cả buổi chiều nữa. Vì vậy họ bắt đầu lễ Xa-ba vào cuối buổi chiều chủ nhật. Bà mô tả công việc như sau: Chúng tôi bắt đầu lễ Xa-ba vào 4 giờ chiều (16h) ngày chủ nhật và khởi sự một cách tượng trưng bằng cách rút dây điện máy tính, tắt điện thoại di động, rút dây nối máy điện thoại ở nhà, và tắt tất cả các máy móc thông tin mà chúng tôi có. Trong vòng 29 giờ đồng hồ tiếp theo chúng tôi không nghe, không gọi bất cứ cuộc điện thoại nào. Chúng tôi đang chay tịnh về mạng, bất khả liên hệ, tách khỏi guồng xoay, không có mặt. Vào 9 giờ tối (21h) thứ hai chúng tôi kết thúc lễ Xa-ba cũng theo cách tượng trưng như khi bắt đầu: chấm dứt kỳ chay tịnh về mạng, bật lại các máy điện thoại và máy tính, và bắt đầu trả lời các tin nhắn trên điện thoại. Chúng tôi trở lại guồng để bắt đầu một tuần mới. Đôi khi chuyện tự “biến mất” như thế này khiến gia đình và bạn bè chúng tôi khó chịu, nhưng nếu chúng ta muốn mừng lễ Xa-ba, trước cuộc sống đầy áp lực của mình, thì chuyện tách khỏi tất cả như vậy là điều duy nhất quan trọng mà chúng ta phải làm. Hoặc như vậy, hoặc làm việc 7 ngày một tuần!

Khi tôi còn trẻ, cả nhà thờ lẫn nền văn hóa của chúng ta vẫn còn coi trọng khái niệm lễ Xa-bát (đối với Ki-tô hữu, đặc biệt trong nghĩa không làm việc vào ngày chủ nhật). Câu hỏi luôn luôn được nhiều người đặt ra là: Anh được phép làm gì và không làm gì vào ngày chủ nhật? Phần lớn tập trung vào những thể loại lao động chân tay khác nhau: Anh có thể làm vườn vào ngày chủ nhật không? Anh hái táo vào ngày chủ nhật không? Ngày nay, tôi ít lo lắng về chuyện làm vườn hay hái táo vào ngày chủ nhật. Vấn đề quan trọng hơn là: Liệu chúng ta có thể dứt ra khỏi guồng xoay của máy điện thoại và máy tính vào chủ nhật và thật sự sẵn sàng để mừng lễ Xa-bát hay không?

Lễ Xa-bát, như Wayne Muller nói với chúng ta, là thời gian tách khỏi guồng xoay, thời gian khi chúng ta ngơi tay cày để Chúa và quả đất lo mọi chuyện, trong khi chúng ta uống rượu, chỉ đôi lúc, để nghỉ ngơi và để lòng dào dạt. Ngày nay lưỡi cày đó hẳn là điện thoại di động và máy tính.

Cách đây mấy thế kỷ, nhà thơ thần bí Rumi viết: “Tôi đã sống ở đây quá lâu, ai cũng có thể gặp tôi!” Chẳng phải tất cả chúng ta đều như vậy sao?

Hành hạ con mèo

Tám mươi lăm năm trước, G.K. Chesterton nhìn vào xã hội ông đang sống và thấy những điều làm ông phiền muộn. Đây là nhận xét của ông:

Vào buổi chiều khi đứa trẻ quá mệt mỏi với chuyện “giả vờ”; khi nó chán làm một tên cướp hay một tên mọi rợ thanh cao. Đó là lúc nó hành hạ con mèo. Đến một thời điểm trong nếp sống nhàm chán của một nền văn minh thứ trật, khi con người mệt mỏi với chuyện giỡn chơi thần thoại, cái cây là cô dâu, mặt trăng làm tình với chàng trai. Hiệu ứng của tình trạng chán ngắt này giống nhau ở khắp mọi nơi; nó có trong mọi chuyện nghiện ma túy và nghiện rượu, cũng như trong mọi hình thức kích liều. Con người đi kiếm những tội ác lạ lùng hơn hoặc những cảnh khiêu dâm kinh khủng hơn để làm chất kích thích cho giác quan đã chai sạn của mình. Họ chạy theo các tôn giáo điên rồ cũng vì lý do đó. Họ ráng đâm chọc các dây thần kinh của mình để có cảm giác đang sống, như thể bằng con dao của các tư tế Baal. Họ mộng du và cố gắng tỉnh dậy bằng cơn ác mộng.

Chesterton quả là thiên tài! Tôi đã đọc đoạn trên từ nhiều năm trước và chưa bao giờ quên được. Kể cả khi người ta không hoàn toàn đồng ý với đánh giá của ông, cũng không ai có thể tranh cãi với cách diễn đạt của ông. Hơn nữa, không cần phải gắng sức tưởng tượng mới thấy được bằng chứng của điều mà ông đang diễn đạt trong nền văn hóa của chính chúng ta ngày nay. Có đầy rẫy các ví dụ đáng chú ý: buôn lậu ma túy là một trong những ngành kinh doanh lớn nhất thế giới, khiêu dâm trên internet là căn bệnh nghiện lớn nhất trên thế giới, lạm dụng rượu tràn lan khắp nơi, các vận động viên và những nhân vật nổi tiếng trong làng giải trí khoe khoang rằng họ đã ngủ với hàng ngàn người, thậm chí còn khoe ra vào các trung tâm cai nghiện như cơm bữa, những người nổi tiếng xuất hiện ở các bữa tiệc, mang valy đầy cô-ca-in, và những tên buôn lậu ma túy tìm thị trường ngay nơi các em học sinh tiểu học của chúng ta. Rõ ràng nhiều người trong số chúng ta ngày nay cũng đang cố gắng đâm dây thần kinh của mình để có cảm giác đang sống bằng cách tăng liều mạnh.

Nhưng chúng ta không cần nhìn vào cuộc sống của những người giàu và nổi tiếng mới thấy được chuyện đó. Không ai trong số chúng ta miễn nhiễm. Chúng ta chỉ làm chuyện đó một cách vi tế hơn. Chẳng hạn như chúng ta gắng gỏi chống lại bệnh nghiện công nghệ thông tin. Không phải internet và vô số các chương trình, điện thoại, thiết bị và game liên quan tới internet là xấu xa. Chúng chẳng xấu xa gì. Thực ra chúng ta là thế hệ hết sức may mắn có được điều kiện tiếp cận thông tin và tiếp cận lẫn nhau ngay lập tức và liên tục. Các điện thoại thông minh chưa từng thấy, những chương trình internet hay hơn, và những thứ như Facebook cũng không phải là vấn đề. Vấn đề là làm sao sử dụng chúng theo cách không bị nghiện, vừa ở cái cách chúng ta đáp lại áp lực phải liên tục mua những công nghệ mới hơn hẳn, nhanh hơn hẳn, hào nhoáng và mạnh hơn, lẫn trong chuyện chúng ta không thể để chúng kiểm soát đời mình. Chúng ta cũng không ngừng chán những gì mình đang có và cách nào đó cũng tìm cách tăng liều mạnh để đâm chọc dây thần kinh làm cho chúng ta có cảm giác đang sống.

Bất cứ khi nào điều này xảy ra, chúng ta bắt đầu mất kiểm soát đối với đời mình và thấy mình đang ở trong guồng xoay nguy hiểm mà trong đó chúng ta bắt đầu mất đi cảm giác vui sống thật sự.

Antoine Vergote, nhà tâm lý học nổi tiếng người Bỉ, có một câu thần chú như sau: Quá mức là cái thay thế cho thưởng thức thật sự. Chúng ta đi tới chỗ quá mức trong mọi chuyện vì chúng ta không còn có thể giản dị thưởng thức chúng nữa. Chính khi chúng ta không còn thích ăn thì ăn quá mức; không còn thích uống thì uống quá mức; không còn thích tiệc tùng thì để mọi việc vượt khỏi tầm kiểm soát; không còn thích môn thể thao đơn giản thì cần các loại thể thao cực đoan; không còn đơn giản thích hương vị sô-cô-la thì ta cố ăn tất cả sô-cô-la trên thế giới. Nguyên lý này cũng đúng, thật ra còn đúng hơn nữa, đối với tình dục.

Hơn nữa, quá mức không chỉ là cái thay thế cho thưởng thức; nó còn chính là điều rút kiệt mọi sự thích thú khỏi đời sống chúng ta. Người nào đã cai nghiện được đều sẽ bảo chúng ta như vậy. Khi quá mức thì hết thích thú, và cũng hết tự do. Thay vào đó là thèm muốn không chế ngự được. Bấy giờ chúng ta bắt đầu kiếm tìm một thứ không phải vì nó sẽ đem lại thích thú, mà vì chúng ta bị thôi thúc phải có nó. Quá mức là cái thay thế sự thích thú vì nó không đem lại sự thích thú thật sự, mà nó đẩy chúng ta tới chỗ càng quá mức hơn, một điều gì đó cực đoan hơn, với hy vọng rồi thì sự thích thú mà chúng ta đang mong tìm được cuối cùng sẽ tới. Đó là điều mà những hình ảnh ẩn dụ của Chesterton – hành hạ con mèo và đâm chọc dây thần kinh để có cảm giác đang sống – diễn đạt.

Câu trả lời là gì? Sống giản dị hơn. Nhưng chuyện này nói thì dễ hơn làm. Chúng ta sống trong áp lực không ngừng, từ trong chính bản thân và từ bên ngoài. Cái áp lực đòi tăng liều mạnh này là liên tục khôn nguôi. Nhưng đây chính xác là lúc chúng ta phải áp dụng một thứ khắc kỷ cố tình, có chủ tâm và cứng cỏi hơn. Nói theo lời của Mary Jo Leddy, đôi khi chúng ta bắt buộc phải nói ra, thật sự nghĩ vậy, và thực hành điều này trong cuộc sống: Như vậy đủ rồi. Tôi có đủ rồi. Tôi đủ rồi. Đời sống đủ rồi. Tôi cần thích thú những gì tôi đang có với lòng biết ơn.

Hành hạ con mèo

Các nhà đại tiên tri Do Thái, những bậc tiền bối của Đức Giê-su, đã nghĩ ra một câu thần chú đại ý là: Chất lượng đức tin của bạn sẽ được đánh giá qua chất lượng công lý trong xứ sở và chất lượng công lý trong xứ sở sẽ được đánh giá qua việc “những bà góa, những trẻ mồ côi, và những người xa lạ” (các hình ảnh trong kinh thánh chỉ ba nhóm dễ bị tổn thương nhất trong xã hội) sinh sống như thế nào khi bạn còn sống.

Chúa Giê-su hẳn sẽ không phản đối. Trong Phúc âm thánh Mát-thêu, khi nói đến việc phán xét cuối cùng, Người nói với chúng ta rằng, trước hết, lời phán xét này sẽ không liên quan tới chuyện giáo điều đúng đắn, thần học hay, việc đi lễ nhà thờ, hay kể cả lòng thương xót cá nhân và luân lý về tình dục, mà là về chuyện chúng ta đối xử với người nghèo như thế nào. Không ai lên thiên đàng mà không có thư giới thiệu của người nghèo. Đức Giê-su và những vị đại tiên tri trong kinh thánh đã nói rõ điều đó.

Điều này cũng đã được nêu rõ trong các thông điệp xã hội của Giáo hội Công giáo La Mã trong vòng 150 năm qua, và gần đây nhất là trong các thông điệp xã hội của Đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô đệ nhị. Chúng ta cũng thấy điều này trong truyền thống tiên tri của mọi Giáo hội Ki-tô giáo và ở một vài cá nhân ki-tô hữu vĩ đại đã chạm đến đời sống chúng ta trong thế kỷ qua: Mẹ Têrêxa, bà Dorothy Day, ông Oscar Romero, Thomas Merton, Martin Luther King, William Stringfellow, bà Catherine Doherty, và những người khác. Chúng ta cũng nhận thấy thách thức này trong chính thế hệ của mình trong hoạt động và tác phẩm của những người như Giám mục Tutu, ông Nelson Mandela, Jean Vanier, Henri Nouwen, Daniel Berrigan, Bryan Hehir, và Jim Wallis.

Hiển nhiên, thách thức đối với công lý này không phủ nhận những bổn phận tôn giáo và luân lý khác, nhưng nó thật sự luôn luôn là một nguyên tắc nền tảng, không thể tranh cãi: Chúng ta sẽ bị phán xét qua cách chúng ta đối xử với nhóm người dễ bị tổn thương nhất (“các bà góa, trẻ mồ côi, những người xa lạ”) khi chúng ta còn sống và giữ đạo của mình. Đây là một thách thức mạnh mẽ.

Thỉnh thoảng ca lên các chân lý của mình cũng là một chuyện có ích, vừa để giai điệu và lời hát khắc sâu các từ ngữ không thể xóa nhòa vào tâm khảm của chúng ta, vừa để cho chính lời tụng ca đó giúp tăng lòng dũng cảm và quyết tâm của mình. Đây là một số bài ngợi ca công lý:

– Chúng ta cần đốt ngọn lửa lên một lần nữa bởi vì niềm hy vọng chúng ta không còn suông sẻ dễ dàng. Chúng ta sống trong một nền văn hóa của nỗi tuyệt vọng, nơi mà ngày Lễ Hiện Xuống không còn được coi là chuyện tự nhiên nữa. Chúng ta phải từ chối đừng để Chúa Thánh Thần thành một mẩu tài sản riêng, nhưng phải là một tinh thần đáng kể. (Mary Jo Leddy).

– Nhìn Chúa trên Thập giá, tôi chết khiếp trước dòng máu chảy xuống từ bàn tay thiêng liêng của Người. Tôi thấy nhói lên nỗi buồn sâu xa khi nghĩ rằng dòng máu này đang rơi xuống trên mặt đất mà không ai buồn gom nó lại. Tôi quyết tâm giữ tinh thần dưới chân Thập giá và hứng những giọt sương đó. Tôi nguyện sẽ dành đời mình để gom chúng lại. (Têrêxa Hài Đồng Giêsu)

– Lương của công việc là tiền.
Lương của tiền là muốn nhiều tiền hơn.
Lương của nhiều tiền hơn là cạnh tranh khắc nghiệt.
Lương của cạnh tranh khắc nghiệt là – thế giới chúng ta đang sống. (D.H. Lawrence)

– Có Bảy Tội Xã hội:
Chính trị vô nguyên tắc
Của cải không từ lao động
Buôn bán vô đạo đức
Lạc thú không lương tâm
Giáo dục mà không nuôi chí khí
Khoa học không nhân văn
Thờ phụng mà không hy sinh (Mohandas Gandhi)
– Sức mạnh không có lòng trắc ẩn là bạo lực
Lòng trắc ẩn không công lý là ủy mị
Công lý không có tình thương là Mác-xít chủ nghĩa
Và… tình thương không có công lý là vớ vẩn! (Cardinal Sin)

– Giờ thì không, nhưng có thể:
Chúng ta không nói bằng ngôn ngữ, mà bằng thổ ngữ khó hiểu.
Chúng ta không có tôn giáo, mà có mê tín.
Chúng ta không có văn hoá, mà có nếp nghĩ sai lầm.
Chúng ta không sáng tạo nghệ thuật, chỉ làm đồ thủ công.
Chúng ta không phải là con người, chỉ là nhân lực.
Chúng ta không có gương mặt, chỉ có vũ khí.
Chúng ta không có tên, chỉ có những con số.
Chúng ta không góp mặt trong lịch sử của thế giới, mà trong góc thông tin ở báo địa phương của cảnh sát.
Những kẻ vô danh, người không đáng bằng những viên đạn bắn họ. (Edward Galeano, Những kẻ vô danh).

– Trong giản đồ vạn vật của thế giới, luật định rằng kẻ mạnh nhất thì sống sót.

Trong giản đồ của Chúa, luật định rằng kẻ yếu nhất thì sống sót. (Alphonse Keuter).

– Không thể tạo ra được thế giới nào không có người vô tội chịu đau khổ, nhưng có thể tạo ra một thế giới trong đó có ít hơn những người vô tội chịu đau khổ. (Bryan Hehir)

– Chúng tôi không muốn tiền của các người; chúng tôi có thể ăn trộm tiền của các người khi chúng tôi cần. Chúng tôi muốn các người dẫn chúng tôi trở về với Chúa, và cho chúng tôi công ăn việc làm. (Một thủ lĩnh Băng đảng nói với một nhóm các lãnh đạo giáo hội và doanh nghiệp)

– Mất mát cũng là một nơi chốn. (Christina Crawford)

– Bạn có thể nói rằng, nếu bạn đang đi trên các nẻo đường cuộc sống những ngày này, và tìm kiếm một phần nhỏ của Chúa hay tìm một thánh thần nào đó để hướng dẫn đời bạn, thì bạn cần nhìn xuống. Bởi vì nếu tìm Chúa trong những ngày này, thì phải tìm ở những điều nhỏ nhoi. Đó là những thứ sát mặt đất. Thậm chí còn có thể nằm dưới mặt đất. Tìm kiếm Chúa, những ngày này đòi hỏi sẵn sàng tìm kỹ những điều nhỏ bé, đòi hỏi đi xuống. Nhìn xuống. Nhìn xuống. Nhìn xuống. (thơ Aztec)

Tung xúc xắc vào Phúc âm

Họ đã không hiểu chuyện các ổ bánh mì! Phúc âm đã dùng lời lẽ đó để nói về đám đông mà Chúa Giê-su đã cho ăn một cách thần kỳ với năm ổ bánh mì và hai con cá. Họ đã ăn, nhưng họ không hiểu gì. Họ không hiểu điều gì?

Câu chuyện như sau: Chúa Giê-su đã giảng cho đám đông, hàng ngàn người. Nhưng họ đến từ nơi xa, và sau đó, trong một thời gian dài họ đã không có thức ăn. Họ đói, đói tới nỗi trên thực tế họ không đủ sức về lại làng quê cũ. Các vị tông đồ đến gần Chúa Giê-su hỏi liệu có nên tới các thành phố lân cận để mua thức ăn cho đám đông này không. Chúa Giê-su nói họ hãy xoay xở để cho những người này ăn. Các tông đồ phản đối vì họ có quá ít thức ăn, hầu như không có gì. Chúa Giê-su hỏi họ thật sự có được gì. Họ trả lời: “Chỉ năm ổ bánh và hai con cá.” Và họ hỏi: Chừng đó thì đâu có đủ cho quá nhiều người như vậy?
Phương trình ở đây thật là vô phương giải quyết: quá ít thức ăn, quá nhiều người.

Vậy là Chúa Giê-su bảo họ đem bánh và cá tới cho Người. Người làm phép thức ăn và bảo các tông đồ phân phát cho hàng ngàn người đang đói. Chúng ta đã biết phần tiếp theo của câu chuyện: Các tông đồ phát thức ăn, mọi người ăn thỏa thích, sau đó gom được mười hai bao vụn thức ăn còn lại. Đám đông lấy làm cảm kích, đến mức, ngày hôm sau họ theo Chúa Giê-su đi quanh hồ, hy vọng lại được ăn như thế. Về phần mình, Chúa Giê-su thấy buồn vì họ chưa hiểu: Họ đã không hiểu chuyện các ổ bánh mì.

Họ không hiểu điều gì? Có hai điều:

Thứ nhất: Mới đầu khi các tông đồ đến gần Chúa Giê-su hỏi liệu có nên đi vào các thành phố lân cận để mua bánh mì hay không, câu hỏi của họ để lộ ra họ không biết họ đang ở cạnh bánh mì của cuộc sống. Họ đang ở cạnh cái vốn là đối tượng của mọi cơn đói của thế giới, và, là cái không giới hạn, vô tận, với cái hào phóng của nó. Ấy vậy mà họ còn muốn ra đi để mua thức ăn ở một nơi khác. Bài học là: Khi bạn đang ở cạnh bánh mì cuộc sống thì không cần phải đi mua thức ăn nữa, hay mua bất kỳ cái gì, ở bất kỳ đâu! Bạn đã có mọi thứ mình cần để thỏa mãn mọi kiểu đói khát. Mong muốn đi nơi khác để mua thức ăn của các vị tông đồ đã để lộ ra việc họ chưa hiểu được điều này. Họ đã không thấy cái điều phi lý, điều mỉa mai trong yêu cầu của mình: Chúa Giê-su chính là bánh mì của cuộc sống, là thức ăn cho sự sống của thế giới, mà họ còn hỏi người liệu họ có cần đi nơi nào khác để mua cái cần để cho đám đông ăn.

Điều thứ hai họ không hiểu là ý nghĩa của phương trình này: quá ít thức ăn, quá nhiều người. Chỉ vài ổ bánh nhỏ nhoi và ít con cá là không thể nào đủ để cả ngàn người ăn. Đúng là đi ngược lại với suy nghĩ thông thường nếu bày ra những thức ăn ít ỏi một cách thảm hại như vậy trước số lượng quá đông người như thế kia. Làm thế nào năm ổ bánh mì và hai con cá lại đủ cho đám đông hàng ngàn người ăn no?

Đôi khi các nhà thuyết pháp thiện ý đã cố gắng giải thích ý nghĩa bằng cách nói rằng lời mời cùng chia sẻ của Chúa Giê-su là gom nguồn thức ăn mà mỗi người mang theo và giấu riêng, và khi ai cũng chia sẻ những gì mình có, thì ai cũng được ăn và có đủ thức ăn. Cách giảng như vậy cũng có bài học hay của nó, nhưng mấu chốt của câu chuyện lại chính ở tính chênh lệch vô phương giải quyết của phương trình này. Cốt yếu, những nguồn lực của Phúc âm dường như luôn luôn nhỏ bé tới mức vô phương giải quyết so với quyền lực của thế giới, cơn đói của thế giới, tội lỗi của thế giới, và những nguồn lực mà tự chính thế giới dường như đem lại.

Năm ổ bánh mì và hai con cá mà đủ ăn cho đám đông hàng ngàn người là dụ ngôn của Phúc âm tương đương với câu chuyện nổi tiếng trong kinh Do Thái về chàng chăn cừu trẻ Đa-vít, đứng trước kẻ khổng lồ Gô-li-át: Một chàng trai trẻ, chân trần, cầm một thứ đồ chơi của con trai – một cây ná, đứng trước một kẻ khổng lồ, một chiến binh được huấn luyện, mình bọc giáp sắt, có quân hầu đi theo mang vũ khí cho mình, cũng là một phương trình quá chênh lệch đến mức vô phương giải quyết: quyền lực quá ít ỏi như vậy mà chống lại sức mạnh quá lớn như thế kia. Nhưng chàng trai trẻ đã thắng bởi vì Chúa đứng về phía cậu. Câu chuyện mấy ổ bánh mì và cá cũng như vậy.

Chúng ta cần hiểu điều gì trong chuyện mấy ổ bánh mì? Chúng ta cần hiểu rằng chúng ta đang ở cạnh bánh mì của cuộc sống, mọi thứ chúng ta cần để cho thế giới này ăn thì ta đã có. Chúng ta không cần phải đi đâu để mua gì cả. Chúng ta đã có mọi nguồn lực; mặc dù bề ngoài những nguồn lực đó bao giờ cũng sẽ có vẻ quá nhỏ bé, vô phương, ít ỏi, vô nghĩa, lạc quan rởm. Nhìn bề ngoài, điều bất di bất dịch là chúng ta sẽ trông giống như Đa-vít đứng trước Gô-li-át, yếu ớt và thảm hại, không xứng với trọng trách đánh bại một tên khổng lồ hay nuôi ăn một thế giới đói khát, tham lam.

Thách thức ở đây là tung xúc xắc vào thực tại Phúc âm. Phúc âm có tác dụng!

Nó xứng với trọng trách này, vừa nuôi ăn cho thế giới vừa đánh bại kẻ khổng lồ. Chỉ cần chúng ta tin tưởng nó.

Lối tu khổ hạnh của áp lực và bổn phận

Mấy tuần vừa qua là những tuần nhiều áp lực nhất trong đời tôi. Tôi đã cố gắng cân bằng áp lực của việc dạy một khóa học liên thông ba giờ mỗi ngày, các bổn phận của một người quản lý, một loạt các tình huống cấp bách liên quan tới cái chết của hai vợ chồng người bạn thân của tôi, bên cạnh đó là cố gắng duy trì đời sống cầu nguyện, và suốt thời gian đó tôi lại còn bị chứng cảm siêu vi nặng. Một giai đoạn đầy áp lực.

Tất cả chúng ta đều có những thời kỳ tương tự như vậy trong đời, có khi kéo dài hàng năm, chứ không chỉ vài tuần. Đôi khi áp lực cuộc sống đẩy chúng ta vào những guồng xoay không hề ngưng nghỉ chút nào, ít nhất là như vậy trong một lúc. Điều xảy ra trong thời gian này là chúng ta có xu hướng tự trách mình đã để bản thân vướng vào tình thế đó. Bạn bè và các vị linh hướng lại hay xúm vào la mắng chúng ta không chịu chăm sóc bản thân tốt hơn, không biết từ chối trước các đề nghị, không có kỷ luật để thu xếp lịch cầu nguyện, tập luyện và thư giãn một cách đều đặn cho cuộc sống của mình.

Họ đòi hỏi như vậy cũng không phải là không có giá trị. Chúng ta thật sự cần phải tự chăm sóc bản thân, và không phải lúc nào việc đáp lại mọi nhu cầu xảy đến cũng là một đức hạnh tốt. Nhưng, đã nói đi thì cũng phải nói lại rằng, đôi khi, mà có lẽ là phần lớn thời gian, áp lực cuộc sống, các nghĩa vụ và các đòi hỏi vốn tước đi của chúng ta sự thảnh thơi, nghỉ ngơi, thời gian dành cho cầu nguyện chung, không hẳn là chuyện tệ hại. Cũng có việc ăn chay và cầu nguyện, do bắt buộc.

Phúc âm đã chẳng cho chúng ta biết, Chúa Giêsu từng vào sa mạc bốn mươi ngày đêm, nhịn ăn, nhịn bất cứ chất dinh dưỡng nào. Người chay tịnh. Chính yếu, điều này nói lên người tự tước đi các tiện nghi, các hỗ trợ cho cuộc sống của một người bình thường. Người tự nguyện chịu khổ hạnh nhằm chuyển hóa bản thân vào một tầng mức sâu hơn về hiểu biết, thương yêu, về trưởng thành (mục đích của mọi hình thức tu khổ hạnh tự nguyện). Người chủ động vào sa mạc.

Tuy vậy, đôi khi sa mạc lại đi tìm chúng ta. Trong cuộc sống, bất cứ lúc nào chúng ta chịu nhiều áp lực, đến nỗi không còn điều kiện hỗ trợ cho các tiện nghi bình thường, thì có nghĩa chúng ta cũng đang ở trong sa mạc, chúng ta có cơ hội dùng tình trạng thiếu thốn này như một kiểu tu khổ hạnh để giúp chúng ta chuyển hóa qua một tầng mức sâu đậm hơn về lòng thông cảm, tình thương yêu, về mức độ trưởng thành; ngoại trừ trong trường hợp chúng ta, đây là tu khổ hạnh bắt buộc chứ không được lựa chọn.

Các truyền thống tâm linh trước đây cố gắng dạy điều này qua một khái niệm mà họ gọi là sống thực hiện các bổn phận của tình trạng mình. Nói một cách nôm na, ý tưởng là như vậy: Chúa đặt chúng ta trên mặt đất này không chỉ để chúng ta thảnh thơi vui thú, mà còn để phụng sự tha nhân, để trao trọn cuộc đời chúng ta trong bổn phận không vị kỷ. Vì trên thực tế, niềm hạnh phúc riêng tư, tình trạng bất khả xâm phạm riêng tư của chúng ta không phải là mục tiêu tối thượng của chúng ta. Một khi chấp nhận điều này, một khi trao trọn đời mình cho phục vụ, thì bổn phận thiên bẩm của hôn nhân, gia đình, nghề nghiệp, nhà thờ, xã hội, giúp tha nhân, đôi khi sẽ cuốn hút chúng ta theo những cách mà trong một thời gian dài, có thể tước đi sự tự do, thảnh thơi, nghỉ ngơi, ngay cả thời gian cầu nguyện lý tưởng nhất chúng ta có thể cầu nguyện. Nhưng việc đáp lại bổn phận đó cũng là một kiểu tu khổ hạnh, dù là bắt buộc, nó cũng có thể giúp cho chúng ta chính những điều mà các buổi cầu nguyện riêng tư, tự nguyện ăn chay có thể làm được, đó là đẩy chúng ta vượt lên cuộc sống vị kỷ.

Trong Thánh kinh, điều này được thể hiện qua lời Chúa Giêsu nói với thánh Phê-rô ở đoạn cuối Phúc âm thánh Gio-an: Sau khi thánh Phê-rô ba lần khẳng định tình thương và cam kết của ông, Chúa Giêsu quay qua ông và nói: Lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải giang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn. Điều Chúa Giêsu nói với thánh Phê-rô là những bổn phận giờ đây phải đi theo lời cam kết của đức tin và tình yêu, sẽ tước đi không chỉ niềm thảnh thơi và những kế hoạch riêng cho đời mình, mà chung cuộc, cũng sẽ tước đi sự tự do và chính cuộc sống của ngài. Bổn phận có thể làm như vậy, và thường làm như vậy.

Tôi có biết một bà, mà bây giờ con cái đã lớn, một lần nọ, bà thú nhận với tôi, khi các con ở tuổi lẫm chẫm biết đi, có những lúc bà không có thì giờ để đi vệ sinh, đừng nói đến thì giờ để thư giãn, cầu nguyện hay ngồi yên một mình. Bây giờ, bà là một trong những người vị tha nhất, cầu nguyện nhiều nhất mà tôi biết. Rõ ràng thời gian bà ở trong sa mạc là thời gian bà ở nhà, chân kẹp trong lửa bổn phận, buộc phải chay tịnh, không thảnh thơi bình thường, thời gian này đã làm cho bà cái điều mà sa mạc làm cho Chúa Giêsu và điều mà sợi giây ép buộc đã làm cho thánh Phê-rô.
 
Những áp lực không mong muốn, nỗi mệt mỏi không thể nào giải quyết, các bổn phận ngập tràn lịch làm việc, nếu chúng ta vui vẻ chấp nhận thì chúng có thể có tác dụng như cái móc khổ hạnh, ép buộc chúng ta, đưa chúng ta, dù dường như nó muốn chống lại ý muốn chúng ta, đến những nơi chốn sâu sắc hơn, trưởng thành hơn.

Con cái trong vòng chăm sóc của chúng ta

Cuốn tiểu thuyết của Margaret Laurence, A Jest of God (Lời chế nhạo của Chúa) kể chuyện về hai chị em nọ: Rachel, một cô ở tuổi trung tuần, độc thân, không con cái, là giáo viên tiểu học tài năng. Người kia là bà mẹ nội trợ, dành trọn thì giờ chăm sóc con cái.

Năm tháng trôi qua mà Rachel vẫn không có đứa con ruột nào, nỗi thất vọng của cô ngày càng tăng. Ngày nào cũng như ngày nào, cô làm vi&77879;c với trẻ con nhưng chúng không phải là con ruột của cô. Chúng vào lớp cô, học với cô, đi qua cuộc đời cô, nhưng rồi chúng lên lớp và sống một cuộc sống cách xa với cuộc sống của cô. Cô đau khổ sâu xa trước tính chất thoáng qua này, sự thiếu thốn không nắm một cái gì trong tay. Gần như tất cả mọi điều trong nội tâm cô đều gào thét làm sao có cho được đứa con ruột, những đứa con sẽ không đơn thuần đi qua cuộc đời cô.

Một ngày nọ cô kể nỗi thất vọng của mình với em gái, thổ lộ rằng cô đau đớn xiết bao khi thấy bọn trẻ đi qua cuộc đời mình, mỗi năm lại một nhóm khác, và chúng không bao giờ thật sự là con ruột của mình.

Em cô không hoàn toàn thông cảm với cô. Em cô nói với cô, thật ra, làm cha mẹ cũng giống vậy. Con cái của mình cũng đi qua đời mình và sống đời riêng của chúng, cách xa mình. Chúng cũng không bao giờ thật sự là con cái của mình, một người mà mình sở hữu. Bọn trẻ không bao giờ thật sự là của mình, cho dù mình có là cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, hay thầy cô giáo của chúng. Chúng có cuộc đời riêng của chúng, cuộc đời mà mình không sở hữu.

Có vài sự thật quan trọng trong đó: Bọn trẻ không bao giờ thật sự là của chính chúng ta. Chúng được trao cho chúng ta, với lòng tin tưởng, trong một thời gian, đúng ra là trong một thời gian ngắn, mà khi đó chúng ta được yêu cầu làm cha mẹ, làm thầy cô giáo, làm cố vấn, làm mục sư, làm cô dì chú bác, làm người bảo trợ của chúng, nhưng rốt cuộc chúng không phải là của chúng ta. Cuộc đời của chúng thuộc về chính chúng, và thuộc về Chúa. Nhận ra được điều này vừa đầy khó khăn, vừa an ủi chúng ta.

Khó khăn xem ra còn rõ ràng hơn: Nếu chúng ta chấp nhận điều đó, thì với tư cách là cha mẹ, thầy cô giáo, người bảo trợ, có thể chúng ta sẽ ít thao túng hơn. Chúng ta có thể ít xem đứa trẻ như một vệ tinh trong quỹ đạo của riêng mình, hay như một người mà cuộc sống phải được nhào nặn như chúng ta hình dung và giống chúng ta.

Thay vào đó, nếu chúng ta chấp nhận chúng là những con người của chính bản thân chúng, thì chúng ta sẽ có thể đem lại tình thương yêu, nâng đỡ và hướng dẫn một cách ít bị vướng mắc ràng buộc hơn.

Còn an ủi thì không rõ ràng cho lắm, nhưng chính là điều tôi muốn nói ở đây: Nếu chúng ta chấp nhận bọn trẻ không thật sự là của riêng chúng ta, thì chúng ta sẽ nhận ra chúng ta không hề đơn độc trong việc nuôi dạy chúng. Tại sao như vậy?
Bọn trẻ không phải là của riêng chúng ta, mà là con cái của Chúa. Rốt cuộc, chúng ta chỉ là những người bảo trợ chúng mà thôi, tất cả chúng ta đều vậy. Chúa là người cha người mẹ đích thực, và Chúa thương yêu, chăm sóc lo lắng cho chúng hơn rất nhiều so với chúng ta thương yêu, chăm sóc lo lắng cho chúng. Bạn không bao giờ là người cha, người mẹ đơn thân, kể cả khi bạn đang một mình một bóng làm cha làm mẹ. Chúa luôn ở bên, thương yêu, chăm sóc, trìu mến, lo lắng, cố gắng truyền đạt những giá trị, cố gắng đánh thức tình thương yêu, lo lắng không biết bọn trẻ đang giao du với ai, quan tâm tới những gì chúng đang xem trên mạng, và cũng thao thức mất ngủ nhiều đêm như bạn. Nỗi lo lắng của Chúa lớn hơn rất nhiều so với nỗi lo lắng của chúng ta.

Hơn nữa Chúa có khả năng chạm tới được trái tim của con trẻ và phá vỡ lớp phân ly để đến được với con trẻ theo cái cách mà bạn là cha mẹ thường không thể làm được. Con cái của bạn có thể không chịu lắng nghe bạn, quay lưng với bạn, phủ nhận các giá trị của bạn, và rời xa mọi điều bạn bênh vực; nhưng chúng vẫn luôn luôn có một người cha người mẹ khác, là Chúa, mà chúng không thể rời xa. Chúa có thể chạm tới những nơi chốn, kể cả chính địa ngục, mà chúng ta không thể chạm tới. Chúa luôn luôn ở đó, với tình thương yêu còn nhẫn nại và nỗi quan tâm ao ước còn mạnh mẽ hơn chúng ta. Từ đó chúng ta có thể thêm dũng cảm và an ủi. Con cái của chúng ta luôn luôn được bao bọc bởi tình thương, mối quan tâm, lo lắng, và một lời mời gọi thức tỉnh trước tình yêu, mà lớn hơn rất nhiều so với bất kỳ điều gì chúng ta có thể mang lại. Chúa là người cha người mẹ thực thụ và có những khả năng mà chúng ta không có.

Điều này đặc biệt quan trọng và có sức an ủi nếu chúng ta từng mất con một cách bi thảm, vì tai nạn đáng ra đã có thể ngăn chặn, vì tự tử, vì ma túy hay rượu, hay vì một nhóm bạn bè có lối sống mà cuối cùng đã dẫn tới cái chết, và với tư cách của người làm cha làm mẹ, hay người bảo trợ, bạn cảm thấy tội lỗi và tự trách mình: Tại sao tôi thất bại thê thảm như vậy trong chuyện này? Tôi phải chịu bao nhiêu phần trách nhiệm trong chuyện buồn này?

Một lần nữa, sẽ có ích nếu chúng ta tự nhắc nhở rằng cả trước đây và bây giờ, chúng ta không phải là những người cha người mẹ duy nhất ở đây, và khi người con này chết đi, dù trong tình huống bi thảm đến mấy, thì người con đó đã được đón nhận bởi những đôi tay êm ái hơn, được bao bọc trong niềm thông cảm sâu sắc hơn và được chào đón vào vòng tay cha mẹ thương yêu hơn nhiều so với chúng ta. Con của chúng ta đã rời khỏi vòng chăm sóc dưỡng dục, rời khỏi vòng chu cấp không đầy đủ về mọi mặt của chúng ta, để sống với một người cha và một người mẹ có thể mang lại sự bảo vệ, hướng dẫn và niềm vui mà chúng ta không bao giờ có thể mang lại một cách trọn vẹn.

Những cuốn sách đã gặp tôi trong năm 2010

Việc tôi chọn đọc những gì cũng có đôi lý do. Tôi xem các bài bình luận sách, cố gắng để ý những gì mà bạn bè và đồng nghiệp nhắc tới khi bàn luận văn chương, và tôi cố ý đặt ra cho mình một thực đơn cân bằng giữa các sách thiêng liêng, tiểu thuyết, chuyên luận tri thức và các sách tiểu sử chọn lọc. Tuy vậy, hàng năm luôn luôn có những quyển sách hay nhất tôi đọc được là do tình cờ bắt gặp. Tôi tin vào thuyết cho rằng những sách bạn phải đọc vào một thời điểm nhất định sẽ tự tìm gặp bạn.

Năm nay những quyển nào đã tìm gặp tôi? Dưới đây là một số quyển nổi bật:

Trong số những tiểu thuyết tôi đã đọc có:

•    The Secret Scripture (Bài kinh bí mật) của Sebastian Barry, một trước tác xuất sắc. Độ căng tăng từ từ, nhưng thật bõ công chờ đợi, và ngôn ngữ của quyển này thật tài hoa.
•    The Lacuna (Chỗ khuyết) của Barbara Kingsolver, giống thể thức của nhiều tác phẩm khác của Kingsolver, là tiểu thuyết lịch sử, trong đó thiên tài kể chuyện của Kingsolver hiển hiện khắp mọi nơi.
•    A Mercy (Điều may mắn) của Toni Morrison. Morrison đã đoạt giải thưởng Nobel văn chương, và quyển này, giống các tác phẩm khác của bà, cho thấy tại sao bà đoạt giải. Không phải lúc nào cũng dễ đọc, sách của bà chưa bao giờ dễ đọc, nhưng nhiều đoạn văn bà xây dựng như những bức tranh để xem đi xem lại nhiều lần.
•    The Children’s Book (Quyển sách của Trẻ em) của A.S. Byatt. Byatt có lẽ là tiểu thuyết gia hàng đầu viết bằng tiếng Anh ngày nay và chắc chắn một ngày nào đó sẽ đoạt giải Nobel văn chương. The Children’s Book, giống mọi tác phẩm của bà, đậm đặc và không dễ đọc, không phải chỉ vì nó dày hơn 600 trang, mà bởi vì nó pha trộn lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc, chính trị, kinh tế, áp bức, ý thức hệ, huyền thoại, tình yêu, tình dục, lạm dụng, và đời sống gia đình theo một cách làm đảo lộn một tâm trí đã yên vị. Cuộc sống, như bà trải ra, không đi theo những đường lối luân lý rõ ràng và dễ dàng xác định. Mọi quan niệm dễ dàng về lịch sử, luân lý, gia đình hay tình dục sẽ đảo lộn khi bạn đọc bà.
•    Point Omega (Điểm Omega) của Don DeLillo. Nếu bạn muốn tìm một quyển sách giáo khoa về chủ nghĩa hậu hiện đại, thì đây là quyển sách bạn cần.
•    Brooklyn (Brooklyn) của Colm Toibin. Câu chuyện về một phụ nữ trẻ di cư từ Ai-len đến New York hai mươi năm trước. Cốt truyện này đã từng được người khác kể, nhưng không phải lúc nào cũng nồng hậu như cách kể của Toibin.
•    Santuary Line (Lối tôn nghiêm) của Jane Urquhart. Tôi chưa bao giờ thất vọng khi đọc một quyển sách nào của Jane Urquhart, tôi cũng không thất vọng với quyển này dù đôi khi cũng có. Theo thể thức một cuốn nhật ký chầm chậm, đầy khó khăn của một phụ nữ trẻ, nó để dành mối căng thẳng chính và mọi khai mở cho đến phút cuối, và khi đó, tài năng kể chuyện đặc biệt của Urquhart tuôn trào.

Trong số các tập chuyên luận có:

•        Circling My Mother (Vẽ vòng tròn mẹ tôi) của Mary Gordon.  Một tập truyện ngắn xuất sắc về mẹ mình của một trong những tiểu thuyết gia xuất sắc nhất của Mỹ. Có lẽ đây là quyển tôi thích nhất trong cả năm nay.

•       A Million Miles in a Thousand Years  (Một triệu dặm trong một ngàn năm) của Donald Miller. Một lời biện giải tuyệt vời về đức tin và nỗi khát khao về một điều cao hơn vị ngọt đơn giản của cuộc đời. Xin giới thiệu đến các bậc cha mẹ để trao cho quý vị những đứa con trong độ tuổi đại học của quý vị.

•       The Dance of the Dissident Daughter, A Woman’s Journey from Christian Tradition to the Sacred Feminine (Điệu nhảy của người con gái chống đối: Hành trình của một phụ nữ từ Truyền thống Ki-tô đến Phụ nữ dâng hiến) của Sue Monk Kidd. Một bản tường thuật rất, rất thách thức kể tại sao một phụ nữ có đức tin và cam kết Ki-tô sâu sắc, một nhà văn có tài, đã rời bỏ nhà thờ. 

Trong số những sách thiêng liêng tôi đọc năm nay, có hai quyển nổi bật:

•       The Structure of Waiting (Cấu trúc của chờ đợi) của W.H. Vanstone. Một nghiên cứu sâu sắc và thật sự xuất sắc về sự Thương Khó của Giê-su và điều có có thể dạy chúng ta về sự chờ đợi. Quyển sách này đã ảnh hưởng sâu sắc tới cha Henri Nouwen.

•       Soulcraft, Crossing into the Mysteries of Nature and Psyche (Chiếc bè tâm hồn, Băng qua những Bí ẩn của Tự nhiên và Tâm hệ) của Bill Plotkin. Được viết bởi một nhà tự nhiên học hơn là từ quan điểm đức tin, quyển sách này có thể khiến một số người khó chịu, nhưng nó chứa đựng nhiều cái nhìn sâu sắc về tâm lý (và những câu chuyện chứng thực về chuyển hóa nội tâm) mà tôi tin là có thể rất hữu ích trong việc tìm hiểu hành trình của tâm hồn.

Cuối cùng là một vài truyện tiểu sử và tự truyện:

•       Under My Skin, Volume One of my Autobiography to 1949 (Dưới làn da của tôi, Tập một của Tự truyện đến năm 1949), và Walking in the Shade, 1949-1962, Volume Two of my Autobiography (Bước đi dưới bóng che, 1949-1962, Tập hai của Tự truyện) của Doris Lessing. Hai tập đầu tự truyện của Lessing đã xứng đáng đem giải Nobel văn chương về cho bà. Hai tập này không chỉ kể lại chuyện của Lessing, mà còn đem lại cho người đọc hương vị văn hóa và chính trị của Anh và Phi châu trong gần một thế kỷ. Một “Nhật ký Anne Frank” của người lớn. 

•      Catherine of Sienna, A Passionate Life (Catherine Sienna, một cuộc đời đam mê) của Don Brophy. Nếu bạn gần như không biết gì về Catherrine Sienna, mà tôi cũng không biết gì khi mua quyển này, thì đây là khởi đầu phù hợp. Đây là truyện tiểu sử mới nhất của một phụ nữ thật sự đặc biệt
•       Small Beneath the Sky (Nhỏ bé dưới bầu trời) của Lorna Crozier.  Có thể tôi có thiên kiến vì tác giả quê vùng Saskatchewan (gốc gác tôi cũng ở đó) và đặt bối cảnh câu chuyện của bà ở đó, nhưng đây là một tác phẩm hay, mà, bên cạnh những điều khác, cho thấy các thảo nguyên đã giúp định hình tâm hồn như thế nào.

•       I Remember Nothing and Other Reflections (Tôi không hề nhớ điều gì và những chiêm nghiệm khác) của Nora Ephron. Tác giả của quyển When Harry Met Sally (Khi Harry gặp Sally) nay đã gần bảy mươi và kể rất thông minh dí dỏm về chuyện già. Vượt lên trên tài hóm hỉnh và hành văn tinh tế, quyển sách này là một thách thức tuyệt vời đối với bệnh vĩ cuồng sâu kín của chúng ta vốn thích tự che giấu bằng vẻ nghiêm túc long trọng.

Sở thích thì không có gì để tranh cãi (De gustibus non est disputantum).

Ý nghĩa phong phú của Giáng sinh

Giáng sinh có ý nghĩa gì? Giáng sinh giống như viên kim cương được gọt giũa hoàn hảo, xoay trong ánh mặt trời, lấp lánh chiếu những tia sáng long lanh. Đây chỉ là một số ý nghĩa của Giáng sinh:

•    Một bé gái bốn tuổi tỉnh giấc giữa đêm khuya và hoảng sợ vì nghĩ rằng trong phòng em đang có rất nhiều ma quỷ và quái vật. Kinh hoàng, cô bé chạy sang phòng ngủ của ba mẹ. Mẹ cô bé đưa em trở về phòng và sau khi lau nước mắt cho em, cam đoan với em rằng ở trong phòng an toàn: “Con không việc chi phải sợ. Khi mẹ đi ra khỏi phòng, không phải con sẽ ở trong phòng một mình. Chúa sẽ ở đây bên con!” “Con biết là Chúa sẽ ở đây,” cô bé cự lại, “nhưng con cần một ai đó trong phòng này mà có da có thịt.” Từ đó Ngôi Lời đã trở thành xương thịt và ở lại trong chúng ta. Ga 1, 14

•           Chúa không ở trong các tu viện, mà ở trong mái ấm gia đình chúng ta. Bất cứ ở đâu bạn thấy có chồng có vợ, đó là chỗ bạn tìm thấy Chúa; bất cứ ở đâu có trẻ con, có những săn sóc nho nhỏ, có nấu nướng, có cãi nhau, có làm hòa, ở đó cũng có Chúa. Vị Chúa mà tôi đang nói, vị chúa trong nhà, không phải vị chúa tu viện, mới là Chúa thật. Nikos Kazantzakis

•            Mỗi năm cuộc đời cứ tròn rồi khuyết. Mỗi giai đoạn cuộc đời đều đến rồi đi. Mỗi khía cạnh cuộc đời sinh ra rồi biến mất. Mỗi giây phút tốt lành rồi cũng sẽ chỉ là ký ức. Mỗi giai đoạn sống rồi đều tuôn chảy qua kẽ ngón tay và biến mất. Mỗi niềm hy vọng rồi cũng tắt ngấm và mỗi cơ hội cuối cùng rồi cũng lại quay về hong khô đất sét. Cho đến khi Giáng sinh quay trở lại. Khi đó chúng ta được mời gọi ở cấp độ sâu sắc nhất, sâu thẳm nhất trong vô thức, ít được nhận biết nhất để bắt đầu sống trở lại. Giáng sinh đưa chúng ta quay trở lại từng nan hoa của bánh xe cuộc đời để bắt đầu lại từ đầu: nhận thức những gì đã qua trước đây, ý thức rằng không gì tồn tại mãi mãi, nhưng tràn đầy hy vọng rằng lần này, rốt cuộc, chúng ta có thể học biết được cần có cái gì để sống hay ho, triển nở tròn đầy tâm hồn và linh khí, và đi đúng đường. Joan Chittister

•            Sau khi người mẹ đã mỉm cười với em bé một thời gian dài, bé con bắt đầu mỉm cười lại với mẹ; người mẹ đã đánh thức tình yêu trong trái tim em bé, và khi đánh thức tình yêu trong trái tim con, người mẹ cũng đánh thức luôn sự nhận ra người mẹ của con. Cũng như vậy, Chúa đánh thức chính Người dưới dạng thể tình thương yêu trước chúng ta. Tình thương yêu tỏa chiếu ra từ Chúa và kết tinh thành ánh sáng thương yêu trong trái tim chúng ta. Hans Urs Von Balthasar

•           Lúc Giáng sinh, với sự chào đời tràn đầy ân phúc, Chúa nói với thế gian: “Thầy đang ở đây. Thầy đang ở bên các con. Thầy là cuộc sống của các con. … Đừng sợ mình được hạnh phúc. Mãi mãi về sau kể từ khi thầy khóc, niềm vui là mức chuẩn sống thật sự phù hợp hơn nỗi lo lắng và muộn phiền của những ai nghĩ rằng họ không còn hy vọng. … Thực tại này, sự kỳ diệu của tình yêu bao la, sức mạnh không gì so sánh được của Thầy, Thầy đã an định trong cái máng cỏ lạnh lẽo của thế giới các con. Thầy đang ở đó! Thầy không bao giờ đi khỏi thế giới này nữa. Kể cả khi các con không nhìn thấy thầy. Thầy đang ở đó. Hãy thắp nến lên! Những cây nến có quyền tồn tại nhiều hơn tất cả bóng đêm. Đây là Giáng sinh. Giáng sinh còn mãi.” Karl Rahner

•            Kể cả trong Giáng sinh, khi các nhóm tiêu điểm thử nghiệm trước các vầng hào quang để đưa vào các chiến dịch tiếp thị hàng loạt, người ta cũng khó mà nhìn ra các vầng hào quang này. … Đây là cách để nhìn ra hào quang – nhìn vào cái rộng lớn, ghép những cái nhỏ thành từng cụm vô hạn. Tôi không biết làm như vậy bằng cách chăm chú nhìn cây cối đang rung rinh trong ánh sáng. Đúng ra là có một phụ nữ, đang bận rộn cạnh bàn tiệc Giáng sinh, và tôi ngước nhìn để bắt gặp một tia sáng ngời lên trên gương mặt nàng, để ý thấy những đường cong ánh sáng trượt trên dáng người nàng. Nàng tỏa rạng át cả ngọn nến. Mọi tiếng ồn trong căn phòng biến khỏi tai tôi và sự thinh lặng làm thị giác tôi bén nhạy hơn. Khi điều này xảy ra, tôi không bị phấn khích quá mức. Tôi chỉ đơn thuần để cho tình thương yêu được làm mới lại, vì đó là sứ mệnh của hào quang, lý do tại sao chúng ta nhận được hào quang. … Nhưng khi vầng hào quang tàn lụi, chúng không thình lình biến mất và bỏ lại chúng ta trong cảnh tranh tối tranh sáng. Chúng rút đi, như khi thiên thần Gabriel rời Maria, để lại bào thai trong dạ Maria cho chúng ta. John Shea.

•           Một số Tổ phụ Giáo hội so sánh Giê-su với hình ảnh một ca sĩ có giọng hát mạnh mẽ và cao độ hoàn hảo, cùng hát trong một ca đoàn đang chuyệch choạc và rồi đã thay đổi hoàn toàn ca đoàn đó. Không phải Giê-su đưa chúng ta một loạt các bài hát khác hẳn để hát, mà Người giúp chúng ta biểu diễn những bài chuẩn của mình theo một cách hoàn toàn mới và đẹp đẽ hơn. Richard McBrien

•            Chúa nhập thể không có nghĩa Chúa cứu chúng ta khỏi bị những đau đớn của cuộc đời này. Nó có nghĩa rằng Chúa-đang-ở-bên-chúng-ta. Đối với ki tô hữu, cũng như với mọi người khác, sẽ có một thời lạnh lẽo, có một thời cô đơn, một thời đau ốm, một thời chán ngán, một thời ta sẽ chết. Giáng sinh không đem cho chúng ta một cái thang để ta bắc lên trèo ra khỏi phận người. Nó đưa cho chúng ta một mũi khoan để chúng ta khoan rồi đào sâu vào tâm điểm của mọi sự đang hiện hữu, và ở đó chúng ta thấy thần khí lung linh.  Avery Dulles

•            Tìm kiếm Chúa những ngày này đòi hỏi sẵn sàng đào sâu tìm hiểu những điều nhỏ bé. Aztec Poem.