RonRolheiser,OMI

Phim Người Được Chọn

Tôi chắc chắn nhiều người đã biết loạt phim truyền hình The Chosen (Người Được Chọn) về cuộc đời Chúa Giêsu. Phim phát hành từ năm 2019, đã ra rạp, đã phát trên mạng và đã có hơn 200 triệu người xem. Phim được dịch ra 50 ngôn ngữ và có 13 triệu người theo dõi trên mạng xã hội, với khoảng 30% khán giả không phải là tín hữu kitô.

Phim được được nhà sản xuất Dallas Jenkins dàn dựng, ông là tín hữu kitô phái Phúc âm với sự hiểu biết về đại kết và liên tôn rất sâu đậm. Jonathan Roumie, người công giáo La-mã sốt sắng, đóng vai Chúa Giêsu. Chúa Giêsu trong phim có cái gì đó khác với Chúa Giêsu chúng ta thường thấy trong các minh họa và các phim khác. Trong phim này, đạo diễn giới thiệu một Chúa Giêsu gần gũi và dễ gần và vì thế có một tác dụng rất hữu ích.

Đó là tác dụng nào? Linh mục Dòng Tên Joe Hoover viết trên báo America: “Tôi được rửa tội, là tín hữu kitô đã 53 năm, học trường công giáo và ở Dòng Tên đã 30 năm… loạt phim The Chosen đem lại cho tôi nhận thức, gắn kết với cuộc đời Chúa Kitô và các môn đệ mà tôi không có được ở bất cứ đâu khác. Không có bài giảng, không có lời tán tụng thần học, không có bằng thạc sĩ, không có lớp học về thánh Gioan, Thánh Máccô hay Thánh Luca, không có hội thảo linh đạo, không có khóa tĩnh tâm Kinh Thánh 30 ngày nào, nhưng bộ phim đã tái hiện Kinh Thánh, làm cho Đức Kitô và dân của Ngài trở nên rất thật và dễ gần với tôi.”

Tôi cũng cảm thấy như vậy. Người Được Chọn cũng có ảnh hưởng tương tự như vậy trên tôi. Như linh mục Joe Hoover, tôi được rửa tội khi mới sinh, được dạy theo truyền thống công giáo La-mã, là tu sĩ của một hội dòng, có bằng cấp thần học, đã dự nhiều khóa hội thảo về linh đạo, đã nghiên cứu Phúc âm dưới sự hướng dẫn của một vài học giả có tầm vóc thế giới, nhưng loạt phim này cho tôi thấy gương mặt của Chúa Giêsu mà tôi không thấy được trong những gì tôi đã từng học, nó giúp tôi nhiều trong việc cầu nguyện và trong tương quan với Chúa Kitô.

Về căn bản, đó là những gì bộ phim Người Được Chọn mang lại cho tôi, giới thiệu một Chúa Giêsu mà tôi muốn ở bên cạnh Ngài. Có phải tất cả chúng ta đều muốn ở bên cạnh Ngài đó không? Đúng như vậy, nhưng nếu chúng ta thành thật với chính mình, thì Chúa Giêsu thường được giới thiệu không phải là người chúng ta muốn dành nhiều thì giờ để ngồi riêng với Ngài, là người chúng ta cảm thấy thoải mái, tự nhiên không cần phải màu mè gì.

Nhìn chung trong các phim, Chúa Giêsu thường bị cho là thiếu hơi ấm tình người, xa cách, nghiêm nghị, thoát tục, quá sùng kính, có ánh mắt làm chúng ta cảm thấy áy náy vì tội của mình mà Chúa bị đóng đinh. Chúa Giêsu đó cũng không vui, gần như Chúa không bao giờ đem nụ cười đến với thế gian, không bao giờ đem sự nhẹ nhàng vào giữa mọi người. Ngài không phải là Chúa Giêsu mà chúng ta thấy thoải mái khi ở bên cạnh Ngài.

Đáng tiếc thay, đó lại là Chúa Giêsu thường thấy trong các bài giảng, bài giáo lý, trong các khóa thần học và trong linh đạo bình dân. Chúa Giêsu chúng ta thấy ở đó, với mọi chân lý và mặc khải Ngài đem lại cho thế gian, thường vẫn quá thần thánh và quá sùng kính để chúng ta có thể thoải mái ở bên cạnh theo kiểu con người. Ngài là Chúa Giêsu chúng ta ngưỡng mộ, có khi còn ái mộ, người mà chúng ta tin tưởng đủ để dâng cả tâm hồn cho những điều lớn lao. Nhưng Ngài cũng là Chúa Giêsu mà chúng ta không cảm thấy thoải mái khi ở gần, người chúng ta sẽ không chọn để ngồi bên cạnh trong bàn ăn, để cùng đi nghỉ mát, người quá cách biệt với chúng ta đến nỗi chúng ta dễ dàng xem Ngài là người thầy đáng kính hơn là người bạn thân thiết, lại càng không phải là người yêu để chúng ta gắn kết tâm hồn.

Tôi nói vậy không phải để nhân bản hóa Chúa Giêsu (như thỉnh thoảng thời nay người ta vẫn thường làm) bằng cách biến Ngài thành người tử tế rao giảng về tình yêu nhưng không nói lên chân lý bất di bất dịch của Thiên Chúa. Phim Người Được Chọn không làm vậy. Hoàn toàn không.

Phim Người Được Chọn giới thiệu một Chúa Giêsu với sự thần thánh mà chúng ta không bao giờ nghi ngờ, dù Ngài nồng hậu và cuốn hút, Ngài có một nhân tính làm chúng ta cảm thấy thoải mái khi ở bên Ngài, thực sự là lôi cuốn chúng ta vào sự hiện diện của Ngài. Khi xem Người Được Chọn, khán giả không bao giờ có khoảnh khắc nào hoài nghi về chuyện Chúa Giêsu có mối liên kết đặc biệt và bất khả phân ly với Chúa Cha, Ngài cho chúng ta chân lý và sự mặc khải của Thiên Chúa một cách toàn vẹn, không suy suyển. Nhưng Chúa Giêsu này cũng đem lại cho chúng ta nụ cười của Thiên Chúa, sự nồng hậu, sự chúc phúc của Thiên Chúa trên cuộc đời vốn thường xuyên thiếu vắng những điều này.

Nhà thần nghiệm Julian thành Norwich đã mô tả Thiên Chúa: Thiên Chúa ngồi trên trời, hoàn toàn buông thả, gương mặt Ngài như một bản hòa âm tuyệt diệu.

Người Được Chọn cho chúng ta thấy được khuôn mặt thư thái của Thiên Chúa nhưng tiếc thay, chúng ta lại quá hiếm khi được thấy.

Tìm Chúa Giêsu trong hoàng hôn của kitô giáo

Ngày nay, chúng ta cảm nghiệm Chúa Giêsu ở đâu trong một thế giới dường như quá chật kín với những bận tâm riêng của mình nên chẳng có chỗ nào cho Ngài?

Linh mục Tomas Halik, cây viết thiêng liêng trong quyển sách gần đây Hoàng hôn của kitô giáo đã khuyên: “Khi thế giới ngày càng có ít chỗ rõ ràng cho Chúa Giêsu, chúng ta cần tìm kiếm Ngài hơn nữa trong những nơi mà Ngài ẩn danh. Chúng ta hãy tìm Ngài ‘bằng tiếng Ngài’ như Maria Mácđala, chúng ta tìm Ngài nơi những người lạ trên đường như các môn đệ trên đường Ê-mau, chúng ta tìm Ngài nơi những vết thương của thế giới như tông đồ Tôma, chúng ta tìm Ngài khi Ngài đi qua những cánh cửa đóng kín vì sợ hãi, chúng ta tìm Ngài nơi Ngài mang đến ơn tha thứ và những khởi đầu mới.”

Lời mời gọi ở đây là chúng ta phản ứng tốt hơn với những dấu chỉ của thời đại, vì chúng ta đang sống trong cái mà cha Halik gọi là “hoàng hôn của kitô giáo”.

Hoàng hôn của kitô giáo là gì?

Cha Halik phân biệt ba giai đoạn trong lịch sử kitô giáo: Buổi sáng kitô giáo là thời trước năm 1500, thời tiền hiện đại, thời trước thế tục hóa. Buổi trưa của kitô giáo là thời thế tục hóa và hiện đại hóa, căn bản là từ thế kỷ 19 đến thế hệ chúng ta. Hoàng hôn kitô giáo là thời chúng ta ngày nay, thời hậu hiện đại, khi chúng ta đang chứng kiến sự đổ vỡ của nhiều nơi trên thế giới đã từng có ảnh hưởng trên đức tin và tôn giáo. Và theo cha Halik, ảnh hưởng của những chuyện này chính là đức tin kitô giáo bây giờ đã vượt quá những hình thức tôn giáo trước đây.

Ồ! Một phát biểu thật táo bạo! Tuy nhiên, điều mà cha Halik đề xuất không phải là đức tin đang chết, kitô giáo đang chết, hay là các giáo hội đang chết. Đúng hơn, theo cha, kitô giáo ngày nay thấy mình đang phần nào vô gia cư về văn hóa, ở một thời mà quá nhiều cấu trúc xã hội từng nâng đỡ kitô giáo đang sụp đổ, vì thế đức tin kitô giáo cần tìm một hình dạng mới, một mái nhà mới, các phương thức diễn tả mới, các vai trò xã hội và văn hóa mới, và các đồng minh mới.

Và làm sao để làm được? Chúng ta không biết. Nhưng cha Halik gợi ý: kitô giáo sẽ không đánh mất căn tính và trở thành đức tin không tôn giáo như mọi người sợ. Kitô giáo sẽ không tan rã thành một linh đạo mơ hồ, không có giáo lý, không có ranh giới và theo kiểu riêng tư. Thay vào đó, hy vọng chính tinh thần tích cực và đa dạng vốn làm cho nhiều kitô hữu sợ hãi (ngược đời thay) lại là thời kỳ thai nghén của kitô giáo tương lai.

Theo cha Halik, những thách thức kitô giáo đối diện ngày nay đang mời gọi chúng ta đưa đức tin vào một không gian mới, như thánh Phaolô đã làm khi đưa kitô giáo ra khỏi những ranh giới của do thái giáo thời đó. Cha Halik giải thích: “Tôi tin kitô giáo của thời sau, trên tất cả sẽ là một cộng đồng của một diễn tả mới và sâu sắc hơn về hai nguồn mặc khải thần thánh là Kinh thánh và truyền thống, nhất là về tiếng Chúa trong những dấu chỉ thời đại.”

Làm sao để có được? Đó chính là đề nghị của quyển sách này. Từng chương một đặt ra những khả thể về cách chúng ta có thể đọc những dấu chỉ thời đại một cách can đảm hơn, đồng thời thay vì làm giảm nhẹ bất kỳ thực chất nào của đức tin kitô giáo thì chúng ta đọc những dấu chỉ của thời đại dẫn dắt chúng ta đi vào một nhận thức sâu sắc hơn cả về Kinh thánh và truyền thống, nhất là để chúng ta có thể hợp nhất Chúa Kitô của sự tiến hóa vũ trụ với Chúa Giêsu Phục sinh một cách hòa hợp hơn; và nhận ra cả hai đều không chỉ hiện diện trong những điều rõ ràng nơi đức tin và nơi việc thờ phượng mà còn hiện diện ẩn danh trong sự tiến hóa của nền văn hóa và xã hội chúng ta.

Như vậy, chúng ta cần tìm kiếm Chúa Giêsu Kitô, không chỉ nơi các sách thánh, giáo hội, việc thờ phượng, lớp giáo lý và sự thông công kitô giáo rõ ràng của chúng ta, dù chúng dĩ nhiên là những nơi đáng để tìm kiếm. Nhưng, như Maria Mácđala, chúng ta cần nhận ra tiếng Ngài nơi người canh gác nghĩa địa; nơi các môn đệ trên đường Êmau, khi không còn có câu trả lời, chúng ta cần nhận ra sự hiện diện của Ngài nơi người lạ nói những lời làm cho lòng chúng ta bừng cháy; như Tôma kém tin, chúng ta cần vượt qua những hoài nghi của mình về sự sống lại của Chúa bằng cách chạm đến vết thương của Ngài nơi những người nghèo và người đau khổ; như cộng đoàn đầu tiên của Chúa Giêsu đã khép mình sau cánh cửa đóng kín vì sợ hãi, chúng ta cần nhận ra Ngài mỗi khi có điều gì đó bất ngờ len vào nỗi sợ rối ren của chúng ta để đem lại bình an, và chúng ta cần nhận ra sự hiện diện của Ngài bên trong chúng ta mỗi khi chúng ta nhận được ơn tha thứ và được tăng sức để khởi đầu lần nữa. Đây không phải là một thời để chết, mà là thời kairos, thời chúng ta được mời gọi mở đôi mắt để nhận ra Chúa Kitô theo cách thức mới, thời Chúa đang đi cùng chúng ta theo những cách thức chúng ta chưa quen.

U sầu và tâm hồn

Thường thì không ai trong chúng ta thích buồn, nặng nề hay trầm cảm. Nhìn chung, chúng ta thích ánh nắng hơn bóng tối, hớn hở hơn u sầu. Chính vì thế, chúng ta có khuynh hướng làm đủ mọi việc có thể để đánh tan u sầu, để nặng nề và buồn bã tạm xa khỏi mình. Hầu như lúc nào chúng ta cũng chạy trốn những cảm xúc làm đau buồn hay đe dọa chúng ta.

Hầu như chúng ta xem buồn bã, u ám, hoài niệm, cô đơn, u uất, bồn chồn, hối tiếc, mất mát, sợ chết, sợ những góc tối trong tâm hồn, nặng nề tâm hồn là những hệ quả tiêu cực tác động đến tâm hồn chúng ta. Tuy nhiên, những cảm xúc này có mặt tích cực giúp chúng ta giữ mối liên kết với tâm hồn.

Đơn giản, chúng giúp chúng ta liên kết với những phần trong tâm hồn thường không được chúng ta chú ý đến. Tâm hồn chúng ta sâu sắc và phức tạp, khi chúng ta muốn nghe những gì tâm hồn nói, chúng ta cần nghe trong mọi tâm trạng cuộc sống, nhất là khi chúng ta thấy buồn và chênh vênh. Trong buồn bã và u sầu, tâm hồn nói với chúng ta những điều mà chúng ta thường điếc đặc, vì thế chúng ta nên xét mặt tích cực của u sầu.

Tiếc là, thời nay, chúng ta xem buồn bã và nặng nề tâm hồn làm tổn hại đến sức khỏe, sức sống, xem đây là tình trạng không lành mạnh – nhưng thường thì không phải vậy. Trong nhiều sách y khoa thời Trung cổ và Phục hưng, u sầu được xem là một ơn cho tâm hồn, ơn chúng ta cần vượt qua trong những thời điểm then chốt để có thêm chiều sâu và cảm thông. Dĩ nhiên, ở đây chúng ta không nói đến trầm cảm lâm sàng, vốn thực sự là một tổn hại cho sức khỏe, nhưng là các trầm cảm khác thấm nhập vào tâm hồn chúng ta, kéo chúng ta đi xuống.

Vì sao chúng ta cần trải qua một vài dạng u sầu nào đó để được trưởng thành sâu sắc hơn?

Thánh Thomas Moore đã viết một thấu suốt sâu sắc về cách chúng ta cần cẩn thận lắng nghe các xung lực và nhu cầu của tâm hồn: “Trầm cảm cho chúng ta những phẩm chất rất giá trị mà chúng ta cần để trở nên con người trọn vẹn. Nó cho chúng ta sức nặng khi chúng ta quá xem nhẹ đời mình. Nó cho chúng ta một mức độ trầm trọng. Nó cũng làm chúng ta già đi, để chúng ta phát triển một cách thích hợp, không giả vờ làm mình trẻ hơn tuổi thật. Nó làm chúng ta lớn lên và cho chúng ta một loạt cảm xúc, tính cách chúng ta cần để đương đầu với sự nghiêm trọng của cuộc đời. Trong hình ảnh của các văn bản y khoa, các phép chữa bệnh thời Phục hưng, trầm cảm được mô tả là người đội chiếc mũ rộng vành, đứng trong bóng tối, tay ôm đầu.”

Milan Kundera, nhà văn người Czech, trong tác phẩm kinh điển, Đời nhẹ khôn kham, đã vọng lại lời của Thánh Thomas Moore. Têrêxa, nhân vật nữ chính đã đấu tranh để hòa giải với cuộc đời khi cuộc đời quá nhẹ nhàng, quá sáng sủa, quá tầm phào, khi cuộc đời dường như thiếu vắng sự lo lắng gợi lên bóng tối, gợi lên cái chết. Vì thế Têrêxa luôn thấy nhu cầu cần một sự trầm trọng, một sự nặng nề ra hiệu để thấy cuộc đời không chỉ đơn giản là những chuyện hớn hở, thoải mái tốt đẹp. Với Têrêxa, nhẹ nhàng tương đương với nông cạn.

Trong nhiều văn hóa, và thực sự trong mọi tôn giáo lớn, các giai đoạn u sầu và buồn bã được xem là những con đường cần thiết chúng ta phải đi để đào sâu nhận thức và có được đồng cảm. Và đó có phải là một phần rất quan trọng trong việc trải qua Mầu nhiệm Vượt qua trong kitô giáo đó sao? Chính Chúa Giêsu khi chuẩn bị làm của lễ tối hậu cho tình yêu, Ngài đã phải đau đớn chấp nhận không có con đường đến niềm vui Ngày Chúa nhật Phục sinh nếu không có sự nặng nề của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày thứ Sáu tốt lành. Làm sao ngày thứ Sáu tốt lành có thể tốt, nếu u sầu, buồn bã và nặng nề tâm hồn là những dấu hiệu nói rằng chúng ta có gì đó không ổn?

Vì thế chúng ta nên nhìn vào những giai đoạn buồn bã và nặng nề trong đời mình như thế nào? Chúng ta nên xử lý u sầu và những hệ lụy của nó như thế nào?

Trước hết, điều quan trọng là xem u sầu (dù ở dưới dạng nào) là một điều bình thường, có khả năng làm cho đời mình lành mạnh. Nặng nề tâm hồn không nhất thiết là dấu chỉ bên trong chúng ta có gì đó không ổn. Đúng hơn, và hầu như thường xuyên, đó là khi tâm hồn chúng ta kêu gào đòi chúng ta chú ý, muốn được lắng nghe, cố giữ chúng ta theo một cách sâu sắc hơn, và nói như Thánh Thomas Moore đã nói: đó là cố làm chúng ta sâu sắc hơn theo một cách đúng đắn.

Nhưng để được như vậy, chúng ta cần chống lại hai cám dỗ đối lập, cụ thể là đánh tan buồn bã hoặc đắm chìm vào buồn bã. Chúng ta cần cho u sầu một thời hạn thỏa đáng, chỉ vậy thôi. Làm sao chúng ta có thể làm được? Tâm lý gia người Mỹ James Hillman cho chúng ta lời khuyên: “Làm gì với nặng nề của tâm hồn? Hãy cho nó vào vali và đem theo mình. Giữ nó gần mình, nhưng kiềm chế, sẵn sàng dùng nhưng đừng để nó chiếm lấy mình.”

Những lời này giúp chúng ta hiểu hơn về thách thức của Chúa Giêsu dành cho chúng ta: Nếu các con muốn làm môn đệ của Thầy, hãy vác thập giá hằng ngày và theo Thầy.

Con người Chúa Giêsu và mầu nhiệm Chúa Kitô

Tôi được nuôi dạy theo tinh thần Công giáo La-mã, tôi hấp thụ đặc tính của Công giáo La-mã. Vào chủng viện, lấy bằng thần học, dạy thần học ở Đại học vài năm tôi mới bắt đầu phân biệt “Chúa Giêsu” và “Chúa Kitô”. Trước đó, với tôi, cả hai luôn là một, đồng nhất, Chúa Giêsu Kitô.

Trong tâm trí tôi, Chúa Giêsu Kitô là một người, là ngôi hai trong Ba Ngôi, đã mặc lấy xác phàm nhập thể và vẫn là Thiên Chúa của chúng ta, Đấng biện hộ cho chúng ta và là bạn của chúng ta trên trời. Khi cầu nguyện, nói chuyện hay trong các liên hệ, tôi không phân biệt giữa Chúa Giêsu và Chúa Kitô. Trong nhiều năm viết bài, tôi đơn giản dùng “Chúa Giêsu” và “Chúa Kitô” luân phiên nhau.

Dần dà qua nhiều năm, chuyện này đã có thay đổi và tôi bắt đầu phân biệt rõ hơn giữa Chúa Giêsu và Chúa Kitô. Chuyện này bắt đầu từ một nhận thức sâu hơn về những gì mà các Phúc âm và thánh Phaolô nói rằng thực tại của Chúa Kitô là mầu nhiệm lớn lao hơn Chúa Giêsu trong lịch sử, mặc dù ngài luôn lấy Chúa Giêsu làm tâm điểm. Tôi càng thấy rõ hơn sự phân biệt và tầm quan trọng này lúc tôi bắt đầu kết nối hơn với những người phái Phúc âm, cả sinh viên và đồng nghiệp.

Trong tinh thần thông công đức tin với các nhóm phái Phúc âm khác nhau, tôi bắt đầu thấy có một trong những khác biệt về giáo hội học giữa phái Phúc âm và Công giáo La mã. Người Công giáo La-mã chúng ta dù không lờ Chúa Giêsu nhưng rất chú trọng vào Chúa Kitô, còn phái Phúc âm thì dù không lờ Chúa Kitô, nhưng lại rất chú trọng vào Chúa Giêsu.

Cách chúng ta hiểu Hội thánh, hiểu Phép Thánh Thể, hiểu lời mời gọi hàng đầu của các Phúc âm, tất cả đều phủ bóng qua cách chúng ta hiểu chính mình trong mối quan hệ với Chúa Giêsu và Chúa Kitô.

Đâu là điểm quan trọng cần thiết trong chuyện này?

Đâu là điểm khác biệt giữa nói “Chúa Giêsu” và nói “Chúa Kitô”? Có khác biệt nào giữa cầu nguyện với Chúa Giêsu và cầu nguyện với Chúa Kitô, giữa liên hệ với Chúa Giêsu hay liên hệ với Chúa Kitô không?

Có một khác biệt, và là khác biệt quan trọng. Chúa Kitô không phải là tên khác của Chúa Giêsu, kiểu như Jack Smith, Susan Parker, hay Giêsu Kitô. Dù chúng ta dùng hai tên này với nhau là đúng, và chúng ta thường dùng trong lời cầu nguyện (Chúng con nguyện xin nhờ danh Giêsu Kitô, Chúa chúng con), nhưng có một phân biệt quan trọng.

Chúa Giêsu là một nhân vị, là ngôi thứ hai trong Ba Ngôi, nhân vị thánh thiêng đã nhập thể, và là nhân vị kêu gọi chúng ta mật thiết diện đối diện với Ngài. Chúa Kitô là mầu nhiệm mà chúng ta là một phần trong đó. Mầu nhiệm Chúa Kitô bao gồm con người Chúa Giêsu, nhưng cũng bao gồm cả chúng ta. Chúng ta không phải là một phần thân thể Chúa Giêsu, nhưng chúng ta là một phần thân thể Chúa Kitô.

Là tín hữu kitô, chúng ta tin rằng Chúa Giêsu là thân thể của Chúa Kitô, rằng Phép Thánh Thể là thân thể của Chúa Kitô, và khi được rửa tội chúng ta cũng là thân thể của Chúa Kitô. Thánh Phaolô nói rõ: chúng ta, cộng đoàn kitô hữu, là thân thể Chúa Kitô trên địa cầu, cũng như Chúa Giêsu và Phép Thánh Thể là thân thể Chúa Kitô. Và thánh Phaolô nói theo nghĩa đen. Chúng ta (cộng đoàn kitô) không giống như một thân thể, hay một thân thể huyền bí, ẩn dụ, cũng không đại diện hay thay thế thân thể Chúa Kitô. Thay vào đó, chúng ta là thân thể Chúa Kitô trên địa cầu, mang lại xác thịt vật chất cho Thiên Chúa trên mặt đất.

Đây là ngụ ý cho cương vị môn đệ kitô hữu. Chúa Giêsu là một nhân vị, một nhân vị mời gọi chúng ta mật thiết diện đối diện với Ngài (và cũng là điều mà phái Phúc âm xem là mục đích của cương vị môn đệ kitô hữu). Chúa Kitô là một phần của một mầu nhiệm lớn hơn, bao gồm Chúa Giêsu, nhưng cũng bao gồm mỗi một người chúng ta. Trong mầu nhiệm này, chúng ta được kêu gọi nên mật thiết không chỉ với Chúa Giêsu, mà còn với nhau và với vạn vật thụ tạo. Trong Chúa Kitô, mục đích của cương vị môn đệ kitô hữu là hiệp thông sự sống với Chúa Giêsu, với nhau, và với vạn vật thụ tạo (bởi mầu nhiệm Chúa Kitô cũng mang tính hoàn vũ).

Tôi xin có một gợi ý, dù có thể sẽ thành đơn giản hóa quá mức: Người Công giáo La-mã và phái Phúc âm có thể học hỏi từ nhau về chuyện này.

Người Công giáo La-mã chúng ta học từ các anh chị em phái Phúc âm cách để chú trọng nhiều vào Chúa Giêsu cũng như chúng ta đang chú trọng vào Chúa Kitô, để như phái Phúc âm, chúng ta có thể nhận rõ hơn (như trong Phúc âm Thánh Gioan) rằng ở trọng tâm cương vị môn đệ kitô hữu là lời mời gọi mật thiết diện đối diện với một nhân vị, Chúa Giêsu (chứ không chỉ với một mầu nhiệm).

Ngược lại, phái Phúc âm có thể học hỏi từ người Công giáo La -mã để chú trọng nhiều vào Chúa Kitô như vào Chúa Giêsu, và như vậy xác định cương vị môn đệ một cách rộng lớn hơn sự mật thiết cá nhân với Chúa Giêsu, và định nghĩa Giáo hội một cách rộng lớn hơn sự thông công đơn giản. Liên hệ với Chúa Kitô hướng chúng ta về Phép Thánh Thể như một sự kiện chung. Cũng vậy, nó cũng ngụ ý rằng chúng ta xem cương vị môn đệ kitô hữu không chỉ là lời mời gọi đến với sự mật thiết với Chúa Giêsu, mà còn là sáp nhập vào thân thể Hội thánh không chỉ bao gồm Chúa Giêsu mà còn bao gồm cả cộng đoàn những người tin như bản chất của thân thể này.

Chúng ta có thể học hỏi từ nhau để nghiêm túc hơn với cả Chúa Giêsu và Chúa Kitô.

Trừ quỷ bằng thinh lặng

Kinh Thánh tường thuật câu chuyện các môn đệ của Chúa Giêsu không thể trừ được một con quỷ. Khi họ hỏi Chúa Giêsu tại sao lại như vậy, Ngài trả lời có những con quỷ không thể trục xuất bằng lời cầu nguyện. Con quỷ Chúa Giêsu nói đến trong chuyện này đã nhập vào một người câm điếc.

Tôi muốn nêu tên một con quỷ khác có vẻ cũng không thể bị trục xuất bằng lời cầu nguyện, đó là con quỷ luôn phá hoại các mối liên hệ cá nhân, gia đình, cộng đồng và Giáo hội của chúng ta bằng hiểu lầm và chia rẽ, làm chúng ta mãi mãi khó khăn trong việc hiệp thông mang sự sống đến cho người khác.

Chúng ta cần lời cầu nguyện đặc biệt nào để trục xuất con quỷ này? Đó là lời cầu nguyện thinh lặng chung, gần giống với lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker.

Lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker là gì?

Tôi xin nói qua về lịch sử Quaker: Quaker là một nhóm các giáo phái Tin Lành, với các thành viên gọi nhau là giáo hữu, nhưng họ thường được gọi là Quaker vì một tuyên bố lừng danh của nhà sáng lập George Fox (1624-1691). Chuyện kể rằng trước mặt một vài quan chức chính quyền đang cố uy hiếp ông, ông cầm quyển Kinh Thánh lên và nói: Đây là lời của Thiên Chúa, hãy run rẩy đi! (run rẩy = quake).

Với những người Quakers, nhất là ở thời kỳ đầu, việc cầu nguyện chung của họ chủ yếu là ngồi lại với nhau trong thinh lặng, chờ Thiên Chúa phán với họ. Họ thinh lặng ngồi, chờ quyền năng Thiên Chúa đến và cho họ điều gì đó mà họ không thể tự đem lại cho mình, cụ thể là sự hiệp thông thực sự để cùng nhau vượt lên các chia rẽ đang chia cách họ. Dù họ ngồi riêng từng người, nhưng lời cầu nguyện của họ là chung một cách triệt để. Họ ngồi đó như một thân thể duy nhất, cùng nhau chờ Thiên Chúa cho họ sự hiệp nhất mà họ không thể tự đem lại cho mình.

Có lẽ đây là việc mà tín hữu kitô giáo chúng ta có thể thực hành hôm nay, khi thấy mình bất lực trước sự chia rẽ ở khắp nơi (trong gia đình, giáo hội và đất nước)? Suy cho cùng, tín hữu kitô chúng ta là một cộng đồng trong Thân thể Chúa Kitô, một cơ thể hữu cơ duy nhất, và khoảng cách vật chất không thật sự phân chia chúng ta được, vì thế có lẽ tín hữu kitô chúng ta nên bắt đầu cầu nguyện thường xuyên, ngồi lại với nhau trong thinh lặng của phái Quaker, như một cộng đồng, thinh lặng ngồi đó, cùng nhau chờ đợi, chờ Thiên Chúa đến và cho chúng ta sự hiệp thông mà chúng ta không không đủ sức để mang lại cho mình.

Về mặt thực tế, làm thế nào để được như vậy? Tôi xin đề nghị: mỗi ngày, chúng ta dành một thời gian để ngồi thinh lặng, một mình hoặc lý tưởng nhất là với người khác, trong một thời gian cố định (15 hoặc 20 phút), với dự định trước hết không phải là nuôi dưỡng sự mật thiết với Thiên Chúa (như trong việc suy niệm riêng), nhưng ngồi với nhau trong sự hiệp thông với tất cả mọi người trong Thân thể Chúa Kitô (và với tất cả những ai thiện tâm ở khắp nơi) để xin Thiên Chúa đến và cho chúng ta sự hiệp thông vượt lên chia rẽ.

Đây cũng có thể là một nghi thức mạnh mẽ cho hôn nhân và gia đình. Có lẽ một trong những liệu pháp chữa lành nhất trong hôn nhân chính là hai người thường xuyên ngồi lại với nhau trong thinh lặng, xin Thiên Chúa cho họ điều mà họ không thể tự cho mình, cụ thể là hiểu nhau vượt lên căng thẳng của cuộc sống hằng ngày. Tôi nhớ hồi nhỏ, gia đình tôi lần hạt chung với nhau mỗi tối, và nghi thức này cũng có hiệu quả như lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker, xoa dịu các căng thẳng tích tụ trong ngày, làm gia đình chúng tôi bình an hơn.

Tôi gọi đây là lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker, nhưng có nhiều dạng suy niệm và chiêm niệm khác nhau cũng có cùng ý này. Chẳng hạn Thánh Eugene de Mazenod nhà sáng lập Dòng Hiến sĩ đã để lại cho chúng tôi lời cầu nguyện gọi là Hương nguyện Oraison. Ý nghĩa của việc cầu nguyện này là: các Hiến sĩ phải sống với nhau trong cùng một cộng đoàn, nhưng chúng tôi là Hội dòng trải rộng trên 60 quốc gia trên thế giới. Làm sao chúng tôi có thể hiệp thông với nhau bất chấp khoảng cách?

Bằng lời cầu nguyện Oraison. Thánh Eugene khuyên chúng tôi dành nửa tiếng mỗi ngày để ngồi trong thinh lặng, một thời gian để không chỉ hiệp thông với Thiên Chúa, mà còn hiệp thông với mọi Hiến sĩ trên toàn thế giới. Cũng giống như lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker, đây là lời cầu nguyện mà mỗi người ngồi một mình, trong thinh lặng, nhưng hiệp thông, xin Thiên Chúa hình thành nên sự hiệp thông nối kết mọi khoảng cách và khác biệt. Khi Chúa Giêsu nói có những con quỷ không thể bị trục xuất bằng lời cầu nguyện, là Ngài đang nói về chuyện này. Có lẽ con quỷ được nhắc đến cụ thể nhất chính là con quỷ hiểu lầm và chia rẽ. Chúng ta đều biết mình bất lực thế nào trong việc trục xuất nó. Ngồi lại với nhau trong thinh lặng chung, xin Thiên Chúa làm cho chúng ta một điều vượt quá sức chúng ta, như vậy có thể trừ đi con quỷ hiểu lầm và chia rẽ.

Đêm tối tâm hồn

Có những lúc thế giới chúng ta như bị đảo lộn. Đã có ai chưa có cảm giác này không? “Tôi đang suy sụp! Chuyện này quá sức tôi! Trái tim tôi đã tan nát! Tôi thấy mọi thứ đều phản bội tôi! Chẳng có gì hợp lý nữa! Cuộc sống đảo lộn hết cả rồi!”

Chúa Giêsu có một hình ảnh chung cho chuyện này. Trong Tin Mừng, Ngài nói thế giới sẽ có ngày kết thúc: “Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển”. Khi Chúa Giêsu nói lời này, Ngài không nói nhiều về những đại biến động của vũ trụ, nhưng Ngài nói về những biến động to lớn của tâm hồn. Đôi khi thế giới nội tâm chúng ta chấn động, đảo lộn, tối tăm ngay giữa ban ngày, như một trận động đất mạnh trong lòng, chúng ta cảm nghiệm thế giới này sắp chấm dứt.

Tuy nhiên, trong cơn biến động này, Chúa Giêsu khẳng định một chuyện: có một điều chắc chắn, đó là lời hứa trung tín của Ngài. Lời hứa trung tín của Thiên Chúa không thay đổi, khi chúng ta vỡ mộng là lúc chúng ta có cơ hội để thấy những gì là thực chất, vĩnh cửu và giá trị cuộc đời chúng ta. Vì thế, ít nhất khi thế giới chúng ta tin tưởng bị đảo lộn, đó là lúc chúng ta có cơ hội để lớn lên, để bớt ích kỷ và để thấy hiện thực một cách rõ ràng hơn.

Thần nghiệm kitô giáo gọi đây là “đêm tối tâm hồn”, các nhà thần nghiệm diễn giải như thể đây là cách Thiên Chúa chủ động lật nhào thế giới, cố ý tạo đau thương để thanh lọc và thanh tẩy chúng ta.

Thánh Gioan Thánh giá, nhà thần nghiệm Tây Ban Nha đã mô tả: “Thiên Chúa cho chúng ta các thời nồng cháy rồi lấy chúng đi. Trong thời nồng cháy, Chúa cho chúng ta an ủi, hoan lạc và an toàn trong các mối quan hệ, trong lời cầu nguyện và trong công việc (có khi là với những đam mê và căng thẳng đáng kể). Đây là ơn Chúa ban và để chúng ta hưởng dùng. Nhưng Thánh Gioan còn nói, đến một thời điểm nào đó, Chúa lấy đi hoan lạc và an ủi, chúng ta sẽ trải nghiệm đêm tối tâm hồn, nơi chúng ta đã từng cảm nhận sự bừng cháy, đam mê, an ủi và an toàn, bây giờ chúng ta chỉ thấy khô khan, chán chường, vỡ mộng, bất an. Với Thánh Gioan Thánh giá, mọi trăng mật đều có hồi kết.

Vì sao? Vì sao Chúa làm như vậy? Vì sao trăng mật không tồn tại mãi mãi?

Vì cuối cùng, dù không phải từ đầu, nó ngăn chúng ta không nhìn thẳng được. Ban đầu, mọi cảm giác đều tuyệt vời khi chúng ta bắt đầu yêu, khi chúng ta bắt đầu cầu nguyện sâu lắng, khi chúng ta vừa tìm được chỗ đứng trên thế giới. Đây là các chặng đường trong kế hoạch, trong con đường của Chúa để chúng ta tiến tới. Đam mê và an ủi chúng ta cảm nhận dẫn dắt chúng ta đi ra khỏi bản thân, ra khỏi nỗi sợ hãi và ích kỷ. Nhưng đến cuối cùng, chính những cảm giác vui thích này tự nó trở thành vấn đề, vì chúng ta nán lại với chúng, thay vì hướng đến điều ở đằng sau chúng.

Tuần trăng mật thì tuyệt vời, nhưng trong tuần trăng mật chúng ta chỉ yêu chuyện đang yêu và mọi sinh lực tuyệt vời của nó tạo ra, thay vì chúng ta yêu con người ở sau những cảm xúc này. Đức tin và cầu nguyện cũng vậy. Khi mới bắt đầu sốt sắng cầu nguyện, chúng ta thường yêu trải nghiệm của việc cầu nguyện và những gì nó đem lại hơn là yêu Chúa. Trong bất kỳ tuần trăng mật nào, dù căng thẳng hay tinh tuyền như thế nào, thì những cảm xúc này vẫn phần nào thuộc về chính bản thân chúng ta thay vì thuần túy về người chúng ta nghĩ mình đang yêu. Đáng buồn thay, đây là lý do vì sao một tuần trăng mật nồng ấm và đam mê cuối cùng lại thành mối quan hệ lạnh lùng vô cảm.

Khi chúng ta chưa được thanh tẩy, một thanh tẩy nhờ đêm tối tâm hồn của sự vỡ mộng, chúng ta vẫn còn quá mải mê tìm kiếm chính mình trong tình yêu và trong bất kỳ một chuyện gì khác. Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu từng cảnh báo: “Hãy cẩn thận, đừng tìm bản thân nơi tình yêu, vì như thế cuối cùng bạn sẽ có trái tim tan nát!” Nếu hiểu được vậy, thì chúng ta sẽ bớt đi những lần trái tim tan nát. Thêm nữa, trước khi được thanh tẩy nhờ vỡ mộng, hầu hết những giọt nước mắt rơi, dù đau đớn và mất mát đến đâu, thì chúng vẫn hướng về chúng ta nhiều hơn là hướng về con người hay hoàn cảnh mà theo lẽ chúng ta phải khóc thương.

Trong những chuyện này đều có cả tốt lẫn xấu. Xấu là hầu hết mọi điều chúng ta cảm nhận là quý báu, đến một ngày sẽ bị lấy ra khỏi tay chúng ta. Tất cả đều sẽ bị đóng đinh lên thập giá, kể cả các cảm giác an toàn và nồng ấm. Nhưng tốt là tất cả chúng đều được trả lại cho chúng ta, một cách sâu sắc hơn, thuần khiết hơn, và thậm chí đam mê hơn trước.

Điều mà đêm tối tâm hồn, đại biến động của trái tim làm: chính là nó lấy đi tất cả những gì có vẻ vững chãi để cuối cùng chúng ta rơi tự do, không thể bám víu vào bất kỳ điều gì từng nâng đỡ chúng ta. Nhưng trong cú rơi này, chúng ta đến gần hơn với thềm đá, với Thiên Chúa, với hiện thực, với chân lý, với tình yêu và với người khác, theo cách chúng ta vượt lên được ảo tưởng, ích kỷ, tình yêu tự quy đang mạo nhận là vị tha. Sau khi vỡ mộng chúng ta mới thấy được rõ ràng, sau khi trái tim tan nát, tâm hồn chúng ta mới được thanh tẩy, sau khi tuần trăng mật đã qua thì tình yêu đích thực mới đến.

Tình yêu và đức tin là sự trung tín

Cách đây vai năm, một người bạn của tôi có lời cầu hôn không được lãng mạn cho lắm với hôn thê của mình. Anh đã ngoài 40, đã thất tình nhiều lần đến tỉnh người, anh công nhận anh có lỗi trong một vài lần, kết quả của những cảm xúc xáo trộn bất ngờ. Bây giờ anh đã ngoài 40, anh đấu tranh để ảo tưởng về tình yêu và lãng mạn không bị tan vỡ, anh gặp một cô anh rất tôn trọng, rất ái mộ, là người anh cảm thấy mình có thể xây dựng cuộc sống với cô. Nhưng anh không tự tin nên anh cầu hôn khá khiêm tốn.

Cơ bản lời cầu hôn của anh như thế này: Anh muốn ngỏ lời cầu hôn, nhưng anh phải nói rõ ra hết. Anh không giả vờ mình biết tình yêu là gì. Trong đời, có lúc anh tưởng mình biết, nhưng anh đã thấy cảm xúc của anh và của người kia ngược nhau, thường làm anh mất tự tin vào nhận thức tình yêu của mình. Nên, anh thú thật, anh sẽ không thể hứa mãi mãi yêu em. Nhưng anh có thể hứa anh mãi mãi chung thủy với em, sẽ luôn tôn trọng em, sẽ luôn làm hết sức có thể để ở bên em, để cùng em tiến xa hơn trong ước mơ, anh sẽ luôn là người chồng trung thực cố gắng xây dựng cuộc sống chung. Anh không thể bảo đảm cảm giác của anh sẽ như thế nào, nhưng anh hứa anh sẽ không phản bội sự chung thủy của em.

Đây không phải là lời cầu hôn chúng ta thấy trong các phim truyện, các tiểu thuyết lãng mạn, hầu hết các lời cầu hôn này dựa trên niềm tin ngây thơ rằng đam mê và phấn khích chúng ta cảm nghiệm ban đầu sẽ tồn tại mãi mãi. Lời cầu hôn của anh là lời cầu hôn chính chắn, không hứa hẹn ngây thơ điều mà mình không làm được.

Hơn nữa, ngoài việc hướng về một nhận thức trưởng thành hơn về tình yêu, lời cầu hôn này là hình ảnh tốt của một đường hướng đức tin. Xét cho cùng, đức tin hướng về sự trung tín trong hành động hơn là về sự nồng nhiệt của cảm xúc. Tôi xin đưa ra ví dụ:

Một mùa hè nọ khi tôi còn ở chủng viện, một bạn học của tôi đi tĩnh tâm 30 ngày. Mục đích của anh là cố gắng có đức tin sốt sắng, như vậy sẽ sưởi ấm lòng anh hơn. Anh đã có kinh nghiệm của một đức tin “khắc kỷ”, một linh cảm về thực tế và tình yêu của Thiên Chúa, nhưng lại không diễn tả được cảm xúc nồng ấm an toàn về sự hiện hữu và tình yêu của Ngài. Anh thú nhận, anh thiếu cảm mến, bừng cháy, cảm xúc và nồng ấm trong đức tin và bây giờ anh đi tìm kiếm chúng.

Đi tĩnh tâm về, anh vẫn khắc kỷ, nhưng có thay đổi. Anh nói: “Tôi chẳng hề đạt được cái tôi muốn, nhưng tôi lại có được điều khác. Tôi đã học cách chấp nhận rằng đức tin của tôi có lẽ sẽ luôn mãi khắc kỷ, và tôi cũng học được như vậy là ổn. Tôi không nhất thiết phải có những cảm giác nồng ấm và đầy hình tượng về đức tin của mình. Tôi không cần đầy cảm xúc và bừng cháy. Tôi chỉ cần trung tín trong hành động, không phản bội những gì tôi tin. Với tôi bây giờ, đức tin có nghĩa tôi cần sống một đời nhân ái, tôn trọng, nhẫn nại, khiết tịnh, và độ lượng. Tôi chỉ cần làm vậy thôi, không cần lúc nào cũng cảm nhận nó.”

Đức tin và tình yêu quá dễ bị đồng nhất với cảm xúc, đam mê, nhiệt huyết, cảm mến và lãng mạn. Những cảm giác đó là một phần của huyền nhiệm tình yêu, một phần mà chúng ta muốn đón lấy và thưởng thức. Nhưng dù những cảm xúc đó có tuyệt đẹp như thế nào, thì như những gì chúng ta đã trải nghiệm, chúng cũng mong manh và thoáng qua. Thế giới chúng ta có thể thay đổi trong 15 giây khi chúng ta phải lòng yêu hoặc hết yêu. Đam mê và tình cảm lãng mạn là một phần của tình yêu và đức tin, dù không phải là phần thâm sâu nhất, và không phải là phần mà chúng ta có thể kiểm soát.

Do đó, dù không lãng mạn, nhưng tôi thích cách tiếp cận trong lời cầu hôn của bạn tôi, nhất là khi áp dụng vào đức tin. Với một số người trong chúng ta, đức tin sẽ không bao giờ, mặc dù cũng có một vài thời kỳ ngắn, là một điều gì đó thổi bùng ngọn lửa cảm xúc và tràn đầy nồng cháy trong chúng ta. Chúng ta biết cảm xúc thoáng qua như thế nào rồi.

Như bạn của tôi đã làm với đức tin “khắc kỷ” của anh, có lẽ một vài người trong chúng ta cũng phải xác định một đức tin nói với Thiên Chúa, người khác và chính bản thân mình rằng: “Tôi không bảo đảm ngày nào cũng sẽ cảm thấy như vậy. Tôi không thể hứa sẽ luôn có sự say mê cảm xúc trong đức tin, nhưng tôi có thể hứa mình sẽ luôn trung tín, sẽ luôn hành động với sự tôn trọng, sẽ luôn làm hết sức có thể, hết mức mà những yếu đuối của con người cho phép, để giúp đỡ người khác và Thiên Chúa.”

Tình yêu và đức tin được thể hiện trong sự trung tín hơn là trong cảm xúc. Chúng ta không thể bảo đảm về cảm giác của mình sau này, nhưng chúng ta có thể sống trong quyết tâm sắt đá không bao giờ phản bội điều mình đã tin!

Vật lộn với tình yêu

Vài năm trước, tôi có quen một mục sư của Hội thánh Trưởng Lão, mục sư thách thức giáo đoàn của mình mở rộng cửa nhà và tâm hồn trọn vẹn hơn nữa cho người nghèo. Ban đầu, giáo đoàn rất nhiệt tình, họ thực hiện một vài chương trình để mời những người gặp khó khăn về kinh tế, những người vô gia cư đến gặp họ.

Nhưng loại lãng mạn này đã nhanh chóng tan biến, khi chiếc tách cà phê, khi các vật dụng bắt đầu biến mất, khi vài chiếc túi bị trộm, nhà thờ và nơi hội họp thường bừa bộn và đầy đất cát. Giáo dân bắt đầu than phiền, họ xin chấm dứt loại thử nghiệm này: “Chúng ta đâu dự trù sẽ gặp những cảnh như thế này! Nhà thờ không còn an toàn, không còn sạch sẽ! Chúng ta muốn đến với họ, để rồi nhận lại như thế này! Lộn xộn quá rồi, không thể tiếp tục được nữa!”

Nhưng mục sư vẫn kiên định, mục sư cho họ biết mong chờ của họ là ngây thơ, chính xác những gì họ chịu đựng là cái giá để đến với người nghèo và chính Chúa Giêsu đã khẳng định: tình yêu là không an toàn và lộn xộn, không chỉ trong việc đến với người nghèo mà cả những khi chúng ta muốn đến với bất cứ ai.

Chúng ta muốn nghĩ mình tử tế và yêu thương, nhưng sự thật cho thấy, giả định đó thường dựa trên một khái niệm ngây thơ về tình yêu. Chúng ta vật lộn để yêu thương khi Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đến với tình yêu, mời gọi chúng ta “yêu thương như Thầy đã yêu thương anh em”. “Yêu thương như Thầy đã yêu thương anh em” là cả một thách thức. Chúa Giêsu không nói chúng ta hãy yêu thương nhau theo phản ứng tự phát của mình, cũng không yêu thương nhau theo tiêu chuẩn của xã hội. Nhưng: “Yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”

Và hầu như lúc nào chúng ta cũng phải vật lộn để làm được như thế.

  • Chúng ta vật lộn để yêu thương kẻ thù, để chìa má kia ra, để vươn ra và ôm lấy những người ghét chúng ta. Chúng ta vật lộn để cầu nguyện cho những người đối nghịch mình.
  • Chúng ta vật lộn để tha thứ cho những ai làm tổn thương chúng ta, cho những kẻ giết hại người thân của mình. Chúng ta vật lộn để xin Chúa tha thứ cho những người làm hại chúng ta. Chúng ta vật lộn để tin rằng họ không biết việc họ làm, như Chúa Giêsu đã tin.
  • Chúng ta vật lộn để có tấm lòng quảng đại và hành xử cao thượng khi bị xem thường hay khi bị bỏ lơ, chúng ta đấu tranh để thông hiểu và cảm thông, thay thế cho cay đắng và thôi thúc chỉ muốn rút lui. Chúng ta vật lộn để buông bỏ những căm tức này.
  • Chúng ta vật lộn để trở nên dễ bị tổn thương, để liều mình chịu bị sỉ nhục, để nói lời yêu thương. * Chúng ta vật lộn để từ bỏ nỗi sợ bị hiểu lầm, bị cho là không giỏi, không mạnh mẽ, không nắm được tình thế. Chúng ta vật lộn để trần trụi bước tới, để yêu thương không phòng vệ.
  • Chúng ta vật lộn để mở lòng, để noi gương Chúa, để ôm tất cả vào lòng không phân biệt như Chúa Giêsu đã ôm, mở lòng để thấy mọi người là anh em, bất kẻ chủng tộc, màu da hay tôn giáo. Chúng ta vật lộn để không nghĩ cuộc đời của chúng ta, của những người thân yêu thì quý hơn cuộc đời của người khác.
  • Chúng ta vật lộn để chọn lựa ưu tiên là chọn lựa dành cho người nghèo, để đưa người nghèo vào bàn ăn với mình, để từ bỏ khuynh hướng ưu tiên dành cho những người hấp dẫn và có ảnh hưởng.
  • Chúng ta vật lộn để hy sinh bản thân đến mức có thể chịu mất hết tất cả vì người khác, để thực sự đánh đổi tính mạng vì bằng hữu – và cho cả kẻ thù. Chúng ta vật lộn để sẵn sàng chết cho những người chống đối và đang cố đóng đinh chúng ta lên thập giá.
  • Chúng ta vật lộn để yêu thương với một tâm hồn thuần khiết, để không lẳng lặng tìm kiếm bản thân trong các mối quan hệ. Chúng ta vật lộn để sống khiết tịnh, để hoàn toàn tôn trọng và không xâm phạm đến ai.
  • Chúng ta vật lộn để bước đi trong nhẫn nại, để cho người khác nơi chốn trọn vẹn họ cần để liên hệ với chúng ta theo ý họ muốn. Chúng ta vật lộn để đổ máu cho sự trung tín. Chúng ta vật lộn để trong nhẫn nại và theo thời điểm thích hợp của Thiên Chúa, chờ đợi phán quyết đúng sai của Ngài.
  • Chúng ta vật lộn để chống lại thôi thúc tự nhiên là phán xét người khác, vật lộn để không quy kết nguyên do. Chúng ta vật lộn để biết rằng phán xét là việc của Thiên Chúa.
  • Cuối cùng và không kém quan trọng, chúng ta vật lộn để yêu thương và tha thứ cho chính mình, biết rằng không có sai lầm nào của chúng ta cản trở chúng ta và Thiên Chúa đến với nhau. Chúng ta vật lộn để tin tưởng rằng tình yêu là đủ, và chúng ta luôn mãi được ở trong lòng thương xót vô hạn của Thiên Chúa.

Đúng, tình yêu là một cuộc vật lộn.

Cái tôi thao thức

Trong những năm cuối đời, Thomas Merton sống ở một ẩn viện bên ngoài tu viện, hy vọng được cô tịch thêm, nhưng cô tịch là một điều viển vông, và nó cứ mãi chạy trốn ngài.

Rồi một sáng nọ, trong một khoảnh khắc, ngài nhận thấy mình đã tìm thấy cô tịch. Tuy nhiên, điều ngài trải nghiệm đã làm cho ngài ngạc nhiên. Hóa ra, cô tịch không phải là một tình trạng ý thức được biến đổi hay là một nhận thức cao hơn về Thiên Chúa và sự siêu việt trong cuộc đời chúng ta. Theo những gì ngài trải nghiệm, thì cô tịch đơn giản là bình an trong chính mình, ý thức một cách tri ân và hít lấy một cách bình an sự phong phú vô vàn trong cuộc đời mình. Cô tịch hệ tại ở việc thân mật ngủ với trải nghiệm của mình, bình an trong đó, ý thức sự phong phú và kỳ diệu của nó.

Nhưng đâu dễ như vậy. Hiếm được như vậy lắm. Chúng ta hiếm khi thấy mình bình an với thời khắc hiện tại trong bản thân mình. Vì sao? Vì chúng ta được dựng nên như vậy. Chúng ta quá hăng hái so với thế giới này. Khi Thiên Chúa đặt chúng ta vào thế giới này, thì như sách Giảng viên đã nói, Ngài đặt sự “vô tận” vào lòng chúng ta và vì thế chúng ta không dễ bình an với cuộc sống của mình.

Chẳng hạn như, trong đoạn về nhịp điệu các mùa trong sách Giảng viên. Tất cả mọi sự đều có thời điểm và thời của nó. Một thời để sinh, một thời để chết, một thời để gieo, một thời để gặt, một thời để giết, một thời để chữa… cứ thế mà tiếp. Rồi sau khi đưa ra nhịp điệu tự nhiên của thời gian và các mùa, tác giả kết lại bằng những lời này: Thiên Chúa đã làm mọi sự hợp thời đúng lúc, nhưng Thiên Chúa đã đưa sự vô tận vào tâm hồn con người, nên từ đầu đến cuối, chúng ta cứ lạc nhịp với thời gian và các thời.

“Vô tận” trong tiếng Do thái là Olam, một từ có cùng ý với “vĩnh cửu” và “siêu việt”. Một vài bản dịch tiếng Anh viết như sau: Thiên Chúa đã đặt ý thức về quá khứ và tương lai vào lòng chúng ta.Có lẽ lối diễn đạt rõ nhất cho điều này chính là cách chúng ta thường trải nghiệm điều này trong đời mình. Chúng ta biết từ kinh nghiệm rằng thật khó để bình an trong thời khắc hiện tại, bởi vì quá khứ và tương lai không để chúng ta yên. Chúng luôn mãi nhuốm màu lên quá khứ.

Quá khứ ám ảnh chúng ta với những lời ru và giai điệu mà chúng ta nửa nhớ nửa quên, khơi lên trong chúng ta những ký ức về tình yêu tìm thấy và đánh mất, về những vết thương chẳng bao giờ lành, và những cảm giác mơ hồ về những hoài niệm, hối tiếc và mong muốn bám vào một thứ gì đó từng có. Quá khứ luôn mãi gieo thao thức vào thời khắc hiện tại.

Còn tương lai? Nó cũng xuyên thấu vào hiện tại, ló dạng lên như một lời hứa và mối đe dọa, luôn mãi đòi chúng ta phải chú ý, luôn mãi gieo lo lắng vào cuộc đời chúng ta, luôn mãi tước đi năng lực nghỉ ngơi trong hiện tại của chúng ta.

Hiện tại luôn bị nhuốm màu của những nỗi ám ảnh, mối thương tâm, mối lao tâm và lo lắng vốn chẳng mấy liên quan đến những người đang ngồi cùng bàn với chúng ta bây giờ.

Các triết gia và thi sĩ đã đặt nhiều tên cho chuyện này. Platon gọi nói là “cơn điên đến từ các vị thần”, các nhà thơ Hinđu gọi đó là “hoài niệm về vô tận”, Shakespeare nói về “khao khát bất diệt”, Thánh Augustinô có định nghĩa có lẽ là lừng danh hơn tất cả, ngài gọi đó là thao thức không thể xóa bỏ Thiên Chúa đặt vào lòng con người để con người không thể nào tìm được mái ấm nếu mái ấm đó không vô tận và vĩnh cửu – “Lạy Chúa, Ngài đã tạo chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài”.

Và thế là, rất hiếm khi chúng ta hiện diện bình an trong đời, hay thoải mái trong chính mình. Nhưng như T.S. Eliot từng nói, “sự dằn vặt” này có một ý định thiêng liêng với chủ ý của Thiên Chúa.

Linh mục Henri Nouwen, trong một đoạn văn phi thường, đã xác định sự vật lộn này và mục đích của nó: “Cuộc đời chúng ta là một thời gian ngắn sống trong kỳ vọng, một thời gian mà nỗi buồn và niềm vui quấn lấy nhau trong mỗi một khoảnh khắc. Có chất buồn thấm đẫm mọi thời khắc đời sống. Dường như chẳng điều gì là vui thú trọn vẹn hoàn toàn, nhưng thậm chí trong cả những thời khắc hạnh phúc nhất của hiện hữu này chúng ta vẫn cảm nhận một thoáng đượm màu buồn. Trong mọi thỏa mãn, vẫn nhận thức được giới hạn, Trong mọi thành công vẫn có nỗi sợ bị ganh ghét. Phía sau nụ cười là giọt nước mắt. Trong mọi vòng tay ôm, vẫn có sự cô đơn. Trong mọi tình bạn, vẫn có ngăn cách. Và trong tất cả những gì rạng rỡ, vẫn nhận thấy bóng tối quanh mình. Nhưng trải nghiệm thân mật này, với mỗi một chút của sự sống được chạm đến bởi một chút của cái chết, có thể hướng chúng ta vượt quá những giới hạn hiện sinh. Nó có thể làm thế bằng cách khiến chúng ta nhìn quá kỳ vọng để hướng đến ngày mà lòng chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui toàn vẹn, một niềm vui mà không ai lấy được của chúng ta”.

Tâm hồn thao thức của chúng ta giữ chúng ta khỏi quên mất ngọn lửa thiêng liêng trong mình.

Chúa Giêsu và người nghèo

Tôi là thế hệ nhập cư thứ hai lớn lên ở miền hẻo lánh của vùng đồng cỏ Canada. Gia đình chúng tôi là gia đình của người nông dân nghèo, vừa đủ sống, có những gì cần thiết để sống, nhưng hiếm khi có gì hơn thế. Cha mẹ có lòng bác ái quá mức và cố truyền cho chúng tôi lòng bác ái này. Tuy nhiên, vì gia đình chúng tôi nghèo nên cũng dễ hiểu khi chúng tôi chẳng có mấy tầm nhìn về công bằng xã hội. Chúng tôi nghèo mà.

Lớn lên như thế tâm hồn có thể ghi khắc một số bản năng và thái độ nào đó vừa tốt vừa xấu. Về mặt tích cực, từ nhỏ bạn nghĩ mình phải làm việc chăm chỉ, không có gì là miễn phí, phải tự lo cho mình và ai cũng phải làm như vậy. Mỉa mai thay, đức tính này có thể bịt mắt bạn khỏi một vài chân lý chính yếu liên quan đến người nghèo.

Tôi có thể làm chứng cho chuyện này. Phải mất nhiều năm, phải nhiều lần đến nhiều biên giới vì công việc, phải nhiều lần tận mắt chứng kiến những người không có những điều thiết yếu căn bản trong đời, cũng phải mất vô số giờ ở các lớp thần học, tôi mới ý thức được một vài chân lý trong Kinh Thánh, trong Kitô giáo về người nghèo.

Bây giờ tôi phải đấu tranh để sống với những chân lý này, nhưng ít ra, tôi chấp nhận đó là những chân lý bắt buộc cho người tín hữu kitô, dù họ thuộc phái nào hay xu hướng chính trị nào. Tóm lại, là kitô hữu, chúng ta được giao một mệnh lệnh bắt buộc là đến người nghèo với lòng cảm thông và công lý. Hơn thế nữa, mệnh lệnh này mang tính bắt buộc hệt như các điều răn, và được thể hiện rõ ràng khắp nơi trong Kinh Thánh.

Căn bản của mệnh lệnh đó như sau:

  • Các ngôn sứ lớn của Do Thái đã đặt ra khẩu quyết: Mức độ đức tin của bạn sẽ được phán xét dựa vào mức độ công lý ở vùng của bạn, và mức độ công lý ở vùng của bạn sẽ luôn được phán xét dựa trên cách “cô nhi, góa phụ và ngoại kiều sống như thế nào” (quy ước Kinh Thánh để nói về những người yếu đuối và dễ bị tổn thương nhất trong xã hội).
  • Chúa Giêsu không chỉ xác nhận, mà còn đào sâu điều này, Ngài đồng nhất chính Ngài với người nghèo. (“Ai trong các con làm điều nhỏ nhất cho những người này, là đang làm cho Thầy”.) Ngài bảo chúng ta sẽ được phán xét đời đời dựa trên cách chúng ta đối đãi với người nghèo.
  • Hơn thế nữa, trong cả Cựu Ước và Tân ước, điều này đặc biệt đúng với cách chúng ta đối xử với ngoại kiều, khách lạ và người nhập cư. Cách chúng ta đối xử với họ thực sự chính là cách chúng ta đối xử với Chúa Giêsu.
  • Hãy nhớ Chúa Giêsu đã xác định sứ mạng của mình bằng những lời này: Mang Tin Mừng đến cho người nghèo khó. Do đó, bất kỳ giáo lý, việc giảng dạy hay chính sách chính phủ nào không phải là Tin Mừng cho người nghèo thì không mang tinh thần của Chúa Giêsu hay Tin Mừng.

Cũng vậy, hầu hết chúng ta từ nhỏ được dạy để tin rằng mình có quyền sở hữu bất kỳ điều gì mà mình có được cách ngay chính, qua lao công hay thừa kế hợp pháp. Dù tài sản đó có lớn bao nhiêu chăng nữa, miễn là chúng ta không gian lận để có thì đó là của chúng ta. Nhìn chung, niềm tin này được tôn trọng tuyệt đối trong pháp luật của các nước dân chủ, và chúng ta thường tin rằng nó được kitô giáo phê chuẩn về mặt đạo đức. Nhưng thực ra không phải vậy, chúng ta có thể thấy được những chân lý này trong Kinh Thánh:

  • Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người. Dưới mắt Thiên Chúa, không ai được thiên vị hay ưu ái, và

Thiên Chúa dựng nên trái đất và muôn vật cho toàn thể nhân loại. Do đó, theo lẽ công bằng, những thứ được tạo dựng phải chia đều cho mọi người.

  • Của cải và sở hữu phải được hiểu là những thứ để chúng ta quản lý hơn là chiếm giữ tuyệt đối.
  • Không một người nào hay quốc gia nào nên dư thừa khi những người khác hay quốc gia khác không có những gì thiết yếu cho cuộc sống.
  • Tất cả mọi người đều có nghĩa vụ xoa dịu người nghèo.
  • Việc lên án bất công là một khía cạnh miễn bàn cãi trong cương vị môn đệ của chúng ta.
  • Trong mọi tình huống, ở đâu có bất công, đàn áp, nghèo đói, thì Thiên Chúa không trung lập. Thiên Chúa muốn có hành động chống lại tất cả mọi sự và mọi người đang gây bất công và cái chết.

Những nguyên tắc này rất mạnh, mạnh đến nỗi dễ để tin rằng Chúa Giêsu thực sự đang yêu cầu chúng ta làm như vậy. Thật vậy, nếu xét một cách nghiêm túc, thì những nguyên tắc này sẽ chấn động đến tận căn bản cuộc sống và trật tự xã hội chúng ta. Sẽ không còn là chuyện làm ăn như thường lệ.

Tôi xin đưa ra một ví dụ: trên thế giới có gần 45 triệu người tị nạn, hầu hết họ đang tìm cách băng qua biên giới để vào một quốc gia mới. Với nhiều quốc gia thời nay, nếu lời “chào đón khách lạ” trong Kinh Thánh là cứ mở biên giới và chào đón bất kỳ ai muốn vào, thì có thực tế không? Đơn giản là không thực tế và thiết thực về mặt xã hội, khi xét đến tác động thực tế của nó đối với sự thoải mái và an ninh của chúng ta.

Trong khi điều này có lẽ là mặc nhiên, nhưng chuyện sự thực dụng cần thiết về mặt xã hội và chính trị khi đối xử với “cô nhi, góa phụ và ngoại kiều” có khoác lên tinh thần của Chúa Giêsu và Kinh Thánh không thì lại không mặc nhiên. Và như thế là đi ngược lại với Chúa Giêsu. Dù chuyện có làm phiền đến an ninh và sự thoải mái của chúng ta hay không, thì Thiên Chúa luôn ở mặt dưới của lịch sử, luôn ở về phía người nghèo.

Đại kết: mệnh lệnh khẩn thiết cho sự toàn vẹn trong nhiệm thể Chúa Kitô

Trong hơn một ngàn năm, tín hữu kitô đã không trải nghiệm được niềm vui khi là một gia đình trong Chúa Kitô. Dù trong các cộng đoàn kitô hữu thời tiên khởi đã có những căng thẳng, nhưng đến năm 1054 sự phân ly chính thức mới xuất hiện: thiết lập hai cộng đồng Kitô chính thức, Giáo hội Chính thống Đông phương và Giáo hội Công giáo Tây phương. Rồi với cuộc Kháng cách vào thế kỷ 16, lại có thêm một phân ly trong lòng Giáo hội Tây phương, và Kitô giáo lại phân mảnh hơn nữa. Ngày nay, có hàng trăm phái kitô giáo, nhưng đáng buồn thay, nhiều phái chẳng thân thiện với nhau.

Sự chia rẽ và hiểu lầm, là những chuyện có thể hiểu được, thế nào cũng có, là con người chúng ta phải chấp nhận như vậy. Không có cộng đồng nào mà không có căng thẳng, nên chẳng phải là chuyện tai quái gì khi có lúc các tín hữu kitô không hòa hợp với nhau. Nhưng chuyện tai quái là chúng ta trong các giáo hội tách biệt đã trở nên thoải mái, thậm chí là thiển cận tự mãn, với sự thật rằng chúng ta không hòa hợp nhau, không còn khao khát đến sự toàn vẹn và không còn nhớ nhung nhau.

Trong hầu hết các Giáo hội thời nay gần như không mấy ai quan tâm đến chuyện mình cùng thờ phượng với ai. Chẳng hạn khi dạy các chủng sinh công giáo, tôi cảm nhận có một lãnh đạm nào đó về vấn đề đại kết. Với nhiều chủng sinh thời nay, đây không phải là một mối bận tâm đặc biệt. Không phải chỉ các chủng sinh công giáo nhưng chuyện này cũng đúng với hầu hết trong mọi giáo phái khác.

Nhưng về bản chất dạng lãnh đạm này đi ngược với tinh thần Kitô. Hợp nhất nên một là điều canh cánh trong lòng Chúa Giêsu. Ngài muốn mọi môn đệ ngồi cùng một bàn, như trong dụ ngôn này.

Một bà có mười đồng xu và để lạc mất một đồng. Bà lo lắng quét nhà tìm cho được đồng xu bị mất. Cuối cùng, khi tìm được đồng xu, bà vui sướng mời bạn bạn bè hàng xóm lại, mở bữa tiệc chắc chắn tiêu nhiều tiền hơn giá trị của đồng xu bị mất. (Lc 15, 8-10)

Tại sao lại lo lắng và vui mừng đến vậy khi mất và tìm được một đồng xu mà giá trị có lẽ cũng chẳng bao nhiêu? Nhưng vấn đề không phải là giá trị của đồng xu, mà là một điều khác. Trong văn hóa của bà, chín thì không trọn vẹn, mười mới trọn vẹn. Cả sự lo lắng của bà khi mất đồng xu và niềm vui khi tìm được, đều liên quan đến sự toàn vẹn. Một sự toàn vẹn trong đời bà đã bị phân rã và một loạt mối quan hệ quý báu đã không còn trọn vẹn.

Sự thật, dụ ngôn này có thể được viết lại như thế này. Một người phụ nữ có mười người con. Bà có quan hệ tốt đẹp với chín người con, nhưng có một người con gái ghẻ lạnh. Chín người con kia thường xuyên về nhà ăn cơm chung, nhưng đứa con gái ghẻ lạnh thì không. Bà không chịu nổi tình trạng này, bà mất bình an. Bà muốn đứa con gái ghẻ lạnh hòa nhập với chín người con kia. Bà tìm đủ mọi cách để giảng hòa với cô con gái, rồi một ngày, nhờ một phép lạ vô cùng, chuyện đã thành sự. Cô con gái trở về với gia đình. Cả gia đình lại trọn vẹn, mọi người tề tựu đủ ở bàn ăn. Bà vui mừng khôn xiết, lấy hết tiền tiết kiệm và tổ chức bữa tiệc linh đình để mừng ngày đoàn tụ.

Đức tin Kitô đòi hỏi điều này, như người phụ nữ, chúng ta cần lo lắng, chịu khó thắp đèn tìm kiếm theo nghĩa bóng và tìm cách làm cho Giáo hội trọn vẹn trở lại. Chín không phải là con số toàn vẹn. Và con số những người trong giáo hội riêng của chúng ta cũng giống vậy. Công giáo Rôma không phải là một con số toàn vẹn. Tin Lành cũng không. Các Giáo hội Phái Phúc âm cũng không. Giáo hội Chính Thống cũng không phải là một con số toàn vẹn. Không một phái kitô giáo nào là một con số trọn vẹn. Cùng nhau, chúng ta làm nên một con số kitô giáo toàn vẹn, mà đó vẫn chưa phải là một con số đức tin toàn vẹn.

Và do đó, chúng ta phải bận tâm về những câu hỏi này: Ai không còn đi nhà thờ với chúng ta? Ai không thoải mái khi thờ phượng cùng chúng ta? Làm sao chúng ta có thể thoải mái khi quá nhiều người không còn đồng bàn với chúng ta?

Đáng buồn thay, ngày nay nhiều người trong chúng ta cảm thấy thoải mái trong những gì họ không toàn vẹn. Đôi khi, trong những khoảnh khắc thiếu suy tư, chúng ta còn vui mừng vì chuyện này: “Nhưng những người khác đâu phải là tín hữu kitô đích thực! Không có họ thì tốt hơn, hội thánh sẽ thuần khiết và thành tín hơn nếu không có họ! Chúng ta là những người đích thực còn sót lại!”

Nhưng sự thiếu vắng khao khát toàn vẹn này thỏa hiệp hóa việc chúng ta đi theo Chúa Giêsu và cả sự trưởng thành nhân bản căn bản của chúng ta. Chúng ta là những con người trưởng thành và yêu thương, là những môn đệ thực sự của Chúa Giêsu, chỉ khi nào chúng ta như Chúa Giêsu mà rơi nước mắt vì “những con chiên không thuộc đàn này”. Khi nào chúng ta mới như người phụ nữ mất đồng xu, không thể ngủ yên cho đến khi đã lật tung mọi ngóc ngách trong nhà để tìm kiếm cái bị thất lạc. Chúng ta cũng cần tha thiết tìm kiếm sự toàn vẹn đã mất đi – và có lẽ sẽ không thể bình an cho đến khi tìm được nó.

Lời mời gọi đến với điều cao hơn

Tội là gì? Không đi lễ ngày Chúa nhật là tội ư? Gian lận thuế là tội? Say xỉn là tội? Nuôi thù hận là tội? Thủ dâm là tội? Không chung thủy trong hôn nhân là tội?

Trong một thời gian quá dài, các nhà giảng thuyết, các nhà giáo lý, giáo lý viên, hàng giáo phẩm và các thần học gia luân lý đã quá tập trung vào tội lỗi. Quả thật là có tội, nhưng nó không nên là trọng tâm của chúng ta khi muốn hiểu ý nghĩa của việc sống đời sống người tín hữu kitô đạo đức. Chúng ta nên nắm bắt từ lời của Chúa Giêsu.

Trong Bài giảng trên núi (Mt 5) Chúa Giêsu giảng, “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn”. Về cơ bản, ý Chúa Giêsu là: Thầy không đến để loại bỏ Mười Điều răn, Thầy đến để mời gọi anh em đến với một điều cao hơn.

Tiếc là chúng ta có khuynh hướng nghĩ về đời sống đạo đức theo kiểu giữ Mười Điều răn và tránh tội. Cái mà chúng ta gọi là “thần học luân lý” tập trung vào các vấn đề luân lý, về đúng và sai. Nhưng Chúa Giêsu, thầy dạy luân lý, lại không nói như vậy. Trong Bài giảng trên núi (có lẽ là bộ luật luân lý lớn nhất) chú trọng vào lời mời gọi đến với một điều cao hơn. Bài giảng trên núi giả định chúng ta đã sống những điều căn bản của luân lý là Mười Điều răn rồi, thế nên Bài giảng mời gọi chúng ta đến với một điều gì đó vượt trên những điều căn bản này, cụ thể là trở nên người lớn và giúp thế giới gánh vác sự căng thẳng của nó.

Chúa Giêsu không cho chúng ta một thần học luân lý theo kiểu kinh điển hay phổ biến. Thay vào đó, Ngài mời gọi chúng ta vào một tinh thần môn đệ sâu sắc hơn nữa (vốn là mục tiêu của thần học luân lý, giáo lý học và việc học giáo lý).

Đây là ví dụ của một lời mời nằm ở trung tâm Bài giảng trên núi. Chúa Giêsu mời chúng ta đến với “một nhân đức sâu sắc hơn của kinh sư và Biệt phái”. Chúng ta dễ bỏ lỡ ý chính ở đây, hầu như chúng ta luôn có khuynh hướng cho rằng Chúa Giêsu đang nói đến sự giả hình của kinh sư và Biệt phái. Không phải. Hầu hết kinh sư và Biệt phái là những người tốt, lương thiện thành tâm, thực hành đức hạnh. Với họ, sống đạo đức và ngoan đạo là giữ Mười Điều răn (không sót điều nào) và trở nên người vô cùng công bằng với mọi người, là nên người chính nghĩa.

Vậy họ thiếu điều gì? Nếu tôi là một người giữ hết các Điều răn, công bằng và chính nghĩa khi ứng xử với tha nhân, vậy tôi thiếu gì về mặt luân lý? Tại sao như vậy vẫn chưa đủ?

Câu trả lời của Chúa Giêsu đưa chúng ta vượt xa hơn Mười Điều răn và các yêu cầu về chính nghĩa. Ngài mời gọi chúng ta đến với một điều vượt cao hơn.

Ngài chỉ ra rằng yêu cầu của chính nghĩa vẫn cho phép chúng ta ghét kẻ thù, nguyền rủa ai nguyền rủa chúng ta, và giết người (mắt đền mắt). Ngài mời gọi chúng ta đến với một điều vượt lên trên, cụ thể là yêu thương người ghét ta, chúc phúc cho ai nguyền rủa ta và tha thứ cho ai làm tổn thương ta. Đây là thực chất của thần học luân lý. Và hãy nhớ, nó đến với chúng ta như lời mời, mời gọi chúng ta luôn đến với điều cao hơn. Nó không bận tâm đến chuyện cái gì là tội và cái gì không. Thay vào đó, nó là lời mời gọi tích cực vẫy gọi chúng ta đến với một điều cao hơn, vượt ngoài những xung động tự nhiên, vượt lên trên một người chỉ giữ các điều răn và tránh tội.

Tôi nhớ có lần nghe bài giảng của Michael Hines quá cố, ông cho chúng ta một hình ảnh về Thiên Chúa luôn mãi mời gọi chúng ta đến với một điều cao hơn: Cứ hình dung một người mẹ đang mời gọi đứa con tập đi. Bà ngồi xổm trên nền trước mặt đứa trẻ, cách một sải tay, những đầu ngón tay của bà chỉ cách đầu ngón tay con mình mấy phân, bà nhẹ nhàng dỗ đứa trẻ mạo hiểm tiến tới một bước, khi đứa trẻ đi bước đó rồi, bà rụt tay lại mấy phân, lại nhẹ nhàng dỗ đứa trẻ mạo hiểm tiến thêm bước nữa. Thế là đứa trẻ đi qua hết phòng.

Đây là hình ảnh chúng ta cần cho tinh thần môn đệ kitô hữu và thần học luân lý. Bận tâm trên hết của chúng ta không nên là chuyện “đây có phải là tội hay không”. Không đi lễ ngày Chúa nhật là tội ư? Có những suy nghĩ dâm dục là tội? Nuôi thù hận là tội ư?

Thay vào đó, câu hỏi mà chúng ta cần đặt ra cho mình là tôi được mời gọi đến với điều gì? Tôi cần vươn lên đến với điều cao hơn trong chuyện gì? Tôi có yêu thương vượt quá những xung động tự nhiên của mình không? Và cụ thể hơn: Tôi có yêu thương những người ghét tôi không? Tôi có chúc phúc cho người nguyền rủa tôi không? Tôi có tha thứ cho kẻ giết người không?

Thầy không đến để loại bỏ Mười Điều răn, Thầy đến để mời gọi anh em đến với một điều cao hơn – và cứ thế từng bước Ngài đưa chúng ta như đứa trẻ tập đi đi qua hết phòng.

Nói dối và tội phạm đến Thần Khí

Không có gì nguy hiểm về mặt tâm lý lẫn luân lý cho bằng nói dối, phủ nhận sự thật. Chúa Giêsu cảnh cáo, chúng ta có thể phạm một tội không thể tha thứ (nguyên văn lời Ngài) khi phạm đến Thần Khí.

Đó là tội gì? Vì sao không thể tha thứ? Tội này liên kết như thế nào với việc không nói thật?

Và đây là bối cảnh khi Chúa Giêsu nói lời cảnh báo này. Ngài vừa trừ quỷ, có vài người chứng kiến chuyện này họ tin theo giáo lý của họ, chỉ có những ai đến từ Thiên Chúa mới có thể trừ quỷ. Nhưng họ ghét Chúa Giêsu, nên việc Ngài trừ quỷ là một sự thật khó chịu với họ, khó chịu đến mức họ chọn phủ nhận những gì họ vừa tận mắt chứng kiến. Thế là, trái với mọi điều họ đã biết là có thật, họ khẳng định Chúa Giêsu trừ quỷ nhờ phép của quỷ vương Beelzebub. Họ dư biết không phải vậy. Họ biết mình đang phủ nhận sự thật.

Phản ứng đầu tiên của Chúa Giêsu là cố làm cho họ thấy họ nói dối. Ngài viện đến logic, Ngài lập luận nếu quỷ Beelzebub lại đi trừ quỷ, thì có phải là nhà Satan tự chia rẽ và cuối cùng nó sẽ sụp đổ. Nhưng họ cứ khăng khăng với lời phủ nhận của họ. Lúc đó, trong bối cảnh cụ thể này, Chúa Giêsu nói lời cảnh cáo về mối nguy phạm một tội không thể tha thứ: phạm đến Thần Khí.

Về căn bản, lời cảnh cáo này là gì?

Những người Chúa Giêsu nhắm đến đã phủ nhận một hiện thực mà họ vừa thấy tận mắt, chỉ vì quá khó để họ tiếp nhận sự thật ấy. Cho nên họ phủ nhận sự thật, họ hoàn toàn ý thức mình đang nói dối.

Lời nói dối đầu tiên của chúng ta không nguy hiểm đến vậy, vì chúng ta vẫn còn biết mình đang nói dối. Nguy cơ là nếu chúng ta cứ khăng khăng với lời nói dối ấy và tiếp tục phủ nhận (và nói dối), thì chúng ta đi đến mức độ tin vào lời nói dối, xem nó là sự thật, và xem sự thật là giả dối. Lúc đó, sự xuyên tạc được xem là nhân đức, và như thế tội này trở nên không thể tha thứ, không phải vì sự tha thứ không được ban nhưng vì chúng ta không còn tin mình cần được tha thứ, không muốn tha thứ hay mở lòng để đón nhận tha thứ.

Theo bất cứ cách nào, mỗi khi chúng ta nói dối, chúng ta phủ nhận sự thật là chúng ta bắt đầu nhốt lương tâm lại, và nếu chúng ta cứ nhất quyết làm, thì cuối cùng (không nói quá) chúng ta làm tâm hồn bị biến thái đến nỗi với chúng ta, giả dối trông như sự thật, bóng tối trông như ánh sáng, và địa ngục trông như thiên đàng.

Địa ngục chưa bao giờ là một bất ngờ kinh khủng với những người hạnh phúc và căn bản thành thật. Địa ngục chỉ phát triển trọn vẹn qua sự thiếu thành thật lâu dài, được duy trì khi chúng ta phủ nhận hiện thực quá lâu đến nỗi xem sự thiếu thành thật là sự thật. Không có ai trong địa ngục ăn năn và mong sao mình có một cơ hội khác để sống và chết đi cho tốt đẹp. Nếu có người ở trong địa ngục, thì người đó, bất kể bản thân đang thống khổ, lại cảm thấy xem thường và khinh thị sự ngây thơ của những người thành thật đang ở thiên đàng.

Và tại sao đó là tội “phạm đến Thần Khí”?

Trong thư Thánh Phaolô gởi tín hữu thành Galát, ngài đưa ra hai con đường căn bản để chúng ta sống. Chúng ta có thể sống ngoài Thần Khí. Và chúng ta sống như thế mỗi khi chúng ta sống dâm bôn, thờ quấy, hận thù, bất hòa, chia rẽ, và không thành thật. Chính nói dối đẩy chúng ta đến đó. Ngược lại, chúng ta sống trong Thần Khí khi chúng ta sống trong bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Và chúng ta được như thế mỗi khi chúng ta thành thật. Do đó, mỗi khi nói dối, mỗi khi phủ nhận hiện thực, mỗi khi phủ nhận sự thật, là chúng ta (hoàn toàn và thực tế) đang bước ra khỏi Thần Khí và phạm thượng vì khinh thị Thần Khí.

Satan là vua dối trá. Chính vì thế mà nguy cơ lớn nhất trong thế giới chúng ta chính là khối lượng lời nói dối, tin giả, tin sai sự thật, phủ nhận thẳng thừng mỗi khi chúng ta thấy sự thật không hợp với ý thích của mình, phủ nhận hiện thực hiện diện gần như khắp nơi. Chẳng có gì mang tính hủy hoại và nguy hiểm cho sức khỏe linh hồn, cho khả năng tạo cộng đồng giữa chúng ta, cho tương lai của hành tinh, cho ý thức của chính chúng ta cho bằng thẳng thừng phủ nhận sự thật.

Khi sự thật bị phủ nhận: khi sự thật lịch sử bị viết lại để xóa bỏ một sự thật đau lòng, khi có người cho rằng chuyện bạn tận mắt chứng kiến không xảy ra, khi có người bảo cuộc diệt chủng Do Thái không xảy ra, khi có người bảo ở đất nước này chưa hề có chế độ nô lệ, khi có người nói không có trẻ em chết ở Sandy Hook, thì như vậy không chỉ là không tôn trọng hàng triệu người, mà con nhạo báng với ý thức của cả một văn hóa.

Khi có chuyện gì đó xảy ra rồi sau đó bị phủ nhận, thì đó không chỉ là giễu cợt với sự thật, mà còn gieo tai họa cho ý thức chúng ta, đặc biệt với người nói dối.

An lòng với việc thiếu sự công nhận

Không có mấy điều khiến chúng ta khao khát cho bằng sự thể hiện bản thân và sự công nhận. Chúng ta có nhu cầu không thể kìm nén muốn thể hiện bản thân, muốn được người khác biết đến, công nhận, thông hiểu, nhìn nhận chúng ta là độc nhất vô nhị, có thiên tư và quan trọng. Một tâm hồn không được biết đến, không được cảm kích trong sâu thẳm cõi lòng, một tâm hồn thiếu thể hiện và thiếu công nhận đầy đủ ý nghĩa, thì có chiều hướng dằn vặt, nản lòng và cay đắng. Và sự thật là, thể hiện bản thân là việc khó, thể hiện trọn vẹn bản thân lại càng là việc bất khả thi.

Đến tận cùng, với hầu hết chúng ta, cho dù sống ở đâu hay đã thành tựu được những gì, thì cuộc sống của chúng ta vẫn luôn bé hơn nhu cầu và ước mơ của chúng ta. Trong những lúc mơ mộng hão huyền, mỗi chúng ta đều muốn trở thành nhà văn lừng danh, vũ công kiều diễm, vận động viên, ngôi sao điện ảnh được ái mộ, cô gái được lên bìa tạp chí, học giả trứ danh, người đoạt giải Nobel, cái tên tuổi quốc tế, nhưng đến tận cùng, hầu hết chúng ta vẫn là người vô danh, sống giữa những người vô danh khác.

Và như thế, cuộc sống chúng ta có vẻ quá nhỏ với chúng ta. Chúng ta cảm thấy bản thân thật phi thường mà luôn mãi bị giam trong sự tầm thường, kể cả khi trong chúng ta có điều gì đó vẫn đang tìm cách thể hiện, vẫn đang đi tìm để được công nhận, kể cả khi có vẻ như điều gì đó quý báu trong chúng ta đang sống và chết đi một cách vô ích. Sự thật, khi nhìn từ góc nhìn của thế giới này, thì phần nhiều những gì quý báu, độc nhất vô nhị và phong phú, có vẻ đều đang sống và chết đi vô ích. Chỉ có một số hiếm người được thỏa lòng về chuyện thể hiện bản thân và được công nhận.

Có một sự tử đạo nhất định trong vấn đề này. Triết gia Ai-len Iris Murdoch (1919-1999) đã nói: “Nghệ thuật có những người tử đạo, và trong số họ không ít người vẫn kiên quyết giữ thinh lặng”. Thiếu sự thể hiện bản thân, dù là do tự chọn hay bị hoàn cảnh áp đặt, chính là một cái chết thực sự, nhưng giống như mọi cái chết, chúng ta có thể hiểu và cảm kích nó theo những cách khác nhau.

Nếu buồn bã đón nhận nó như một bi kịch, thì sẽ dẫn đến tâm trạng cay đắng và tan vỡ. Tuy nhiên, nếu hiểu và cảm kích nó trong đức tin như lời mời trở thành một tế bào ẩn mình trong Thân thể Chúa Kitô và gia đình nhân loại, ẩn danh cung cấp sự nuôi dưỡng và sức mạnh cho toàn bộ thân thể, thì nó có thể dẫn đến sự nghỉ ngơi, tri ân và một ý thức về tầm quan trọng sẽ chặt phăng những gốc rễ của nản lòng, thất vọng, trầm cảm và cay đắng.

Tôi nói vậy vì phần lớn những gì mang lại sự sống và nuôi dưỡng chúng ta trong đời đâu phải đến từ những người giàu có và nổi tiếng, những người vô cùng thành đạt, những người ghi danh sử sách. Như tác giả George Eliot đưa ra, chúng ta không cần làm những việc vĩ đại để lại dấu ấn trong lịch sử nhân loại, vì “sự thiện đang lớn lên của thế giới phụ thuộc một phần vào những hành động không có ý nghĩa lịch sử, và những điều không mấy ghê gớm với bạn và tôi, phân nửa là do những người sống cuộc đời thành tín và ẩn mình và an nghỉ ở những phần mộ không ai thăm viếng”.

Một câu rất hay. Lịch sử ủng hộ điều này. Ví dụ như Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu sống suốt đời vô danh trong tu viện nhỏ ẩn mình ở vùng quê nước Pháp, khi ngài chết năm 24 tuổi, có lẽ chẳng có hơn trăm người quen biết ngài. Theo cách chúng ta đánh giá trong thế giới này, thì ngài ít thành công, chẳng có thành tựu nào nổi bật hay cống hiến nào rõ rệt. Thánh Thánh Têrêxa vào tu viện khi 15 tuổi, sống ẩn dật ở đây cho đến khi qua đời, làm những việc vặt ở bếp, ở phòng giặt, ngoài vườn. Vật hữu hình duy nhất mà thánh nữ để lại là quyển nhật ký riêng với nhiều lỗi chính tả, kể lại câu chuyện gia đình mình, thời thơ ấu, và những gì đã trải qua trong những tháng cuối đời được chăm sóc giảm nhẹ trước khi qua đời.

Nhưng những gì ngài để lại là những gì bây giờ đã làm cho ngài thành nhân vật nổi tiếng thế giới, cả trong và ngoài thế giới đức tin. Nhật ký riêng của ngài, Câu chuyện của một Tâm hồn đã chạm đến hàng triệu cuộc đời, dù viết sai chính tả được các nữ tu chỉnh lại sau khi ngài qua đời.

Điều làm cho quyển nhật ký nhỏ của thánh nữ có sức mạnh độc nhất vô nhị chính là là câu chuyện ngài kể lại cuộc sống riêng tư của ngài trong bao nhiêu năm tháng đó, khi ngài ẩn mình và vô danh, khi ngài là đứa trẻ hay một nữ tu. Những gì thánh nữ ghi lại trong câu chuyện về linh hồn mình là khi ngài hoàn toàn ý thức được sự độc nhất vô nhị và quý báu của mình, thánh nữ sẵn lòng trao hết trong đức tin, vì ngài tin thiên tư và tài năng của mình là làm việc thầm lặng (và mạnh mẽ) bên trong thân thể mầu nhiệm (nhưng có thực và hữu cơ), Thân thể Chúa Kitô và nhân loại. Thánh nữ hiểu bản thân mình là một tế bào trong một cơ thể sống, trao đi những gì quý báu và độc nhất vô nhị trong mình vì sự tốt đẹp của thế giới.

Sự vô danh cho chúng ta lời mời gọi này. Người ta không thể có tác phẩm nghệ thuật nào vĩ đại hơn thế để trao cho thế giới.

Chúa Giêsu cũng nói như vậy. Ngài bảo chúng ta hãy làm việc lành trong bí mật, đừng để tay trái (cùng hàng xóm và thế giới) biết việc tay phải làm.

Mười quyển sách sách hàng đầu của tôi năm 2024

Hé lộ đầy đủ, tôi không đọc hết. Với cuộc sống bận rộn đầy áp lực, tôi chỉ có một ít thì giờ ngắn để đọc bất cứ thứ gì không liên quan trực tiếp đến công việc của tôi, nhưng tôi cố gắng trung thành với kỷ luật tôi tự đặt cho tôi nhiều năm nay, mỗi ngày đọc từ 8 đến 10 trang một quyển sách (không tính tạp chí và báo), một năm cộng lại tôi cũng đọc được vài ngàn trang.

Trong số những trang này, tôi sẽ giới thiệu 10 quyển sách nào? Và đây là danh sách của tôi.

Những quyển sách tâm linh: mỗi quyển đều có ý nghĩa riêng của nó:

Richard Gaillardetz, Tôi còn thở, tôi còn hy vọng – Bí ẩn về cái chết
(While I Breathe I hope – A Mystagogy of Dying), được Grace Mariette Agoli biên tập. Đây là quyển sách ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất trong năm qua. Richard Gaillardez là thần học gia nổi tiếng tại Đại học Boston, qua đời vì bệnh ung thư tháng 11 năm 2023. Quyển sách là những suy ngẫm trong những tháng cuối đời của ông, một đức tin đáng chú ý và đáng nể trọng. Ông không để hụt giờ chết nhưng xem đây như một ơn. Quyển sách là một phần của ơn này.

Mark Joseph Williams, Dòng suối ân sủng (Torrent of Grace), hành trình chữa lành của một tín hữu công giáo sống sót sau khi bị giáo sĩ lạm dụng, ông giải quyết vấn đề theo con đường tha thứ và hòa giải sau nhiều năm bị tổn thương. Ông kể câu chuyện của ông nhưng không tạo cảm giác tội lỗi cho những người liên hệ, ông để lại cho tất cả mọi người, đặc biệt cho Giáo hội một thử thách cần thiết. Quý độc giả nên đọc câu chuyện chữa lành này.

John Mark Comer, Thực hành Con đường: Ở với Chúa Giêsu, Trở nên giống Ngài, Làm như Ngài đã làm (Practicing the Way: Be with Jesus, Become like Him, Do as He Did). Tín hữu Tin lành, John Mark Comer có khuynh hướng đại kết rộng rãi và có cái nhìn sâu sắc về thần học. Đây là quyển sách xuất sắc, một hướng dẫn thực tế để đào sâu tinh thần môn đệ kitô của bất kỳ ai, bất kể giáo phái nào.

Mirabai Starr, Chủ nghĩa thần bí thông thường, Cuộc sống của bạn như vùng đất thiêng liêng (Ordinary Mysticism, Your Life As Sacred Ground). Mirabai Starr là tín hữu, là nhà thần bí dù bà không chính thức tuyên xưng bà thuộc tôn giáo nào. Bà đưa ra cụm từ Tôi là người tâm linh nhưng không tôn giáo, theo nghĩa bình thường. Và vì bà không nói về bất kỳ tôn giáo hay giáo phái nào, nên lời nói của bà mang lại điều gì đó cho bất kỳ ai thuộc bất kỳ tôn giáo hay giáo phái nào.

Peter Halldorf, Yêu Giáo hội của người anh em như Giáo hội của chính mình – Tuyên ngôn về sự hiệp nhất các kitô hữu (To Love Your Neighbor’s Church As Your Own – A Manifest for Christian Unity). Peter Halldorf là tín hữu Luther Tin lành, Chính thống Đông phương. Một Giám mục Nghi lễ Đông phương tặng cho tôi quyển sách này trong cuộc Họp Đại kết mùa hè vừa qua. Tác giả phác thảo một tầm nhìn sâu sắc và sâu rộng về đại kết và hiệp nhất kitô giáo hơn hầu hết các sách tôi đã đọc. Quyển sách nhỏ này là một kho báu.

Brian Swimme & Monica DeRaspe-Bolles, Câu chuyện về Noosphere. Có lẽ mang tính khoa học hơn là tâm linh, quyển sách rất dễ đọc sẽ giúp quý độc giả hiểu nguồn gốc vũ trụ và cách các nguồn gốc này phù hợp hoàn toàn với tầm nhìn kitô giáo.

Raymond E. Brown, Mỗi năm theo mùa, tôi đọc lại các sách của tác giả Raymond Brown về Mùa Vọng, Lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh, Lễ Phục Sinh và Lễ Hiện Xuống. Mỗi quyển chỉ 90 trang nhưng đây là một khóa học Kinh thánh chính.

Donna Freitas, Ước mơ, Tôi đã đánh mất đức tin như thế nào và Vì sao tôi muốn tìm lại đức tin (Wishful Thinking, How I Lost My Faith and Why I Want to Find It). Freitas được biết đến với những quyển sách trong lãnh vực tình dục, bà viết hồi ký về cuộc đấu tranh của chính bà với đức tin và cuộc đấu tranh đó đã trở nên phức tạp như thế nào do trải nghiệm cá nhân của bà khi bà bị một linh mục lạm dụng tình dục. Điều làm cho quyển sách khác với những quyển sách khác thuộc loại này là cụm từ thứ hai trong tiêu đề “Vì sao tôi muốn tìm lại đức tin”.

Trong số những quyển sách học thuật, tôi khuyên quý độc giả nên đọc quyển này:

William T. Cavanaugh, Công dụng của việc thờ ngẫu tượng (The Uses of Idolatry). Thần học gia Charles Taylor trong tác phẩm kinh điển Thời đại Thế tục (A Secular Age) đã nói về việc chúng ta hiện đang sống trong thời của vỡ mộng, chúng ta không còn nhìn thấy bất cứ điều gì đằng sau thực tế thực nghiệm. Tác giả khẳng định, chúng ta không có thiên thần, không có linh hồn, không có ác quỷ, không có thần thánh, chỉ có thực tế kinh nghiệm. Theo ông, chúng ta sống kiểu “nhân cách đệm”, có nghĩa thế giới linh hồn và ma quỷ không còn ảnh hưởng đến chúng ta nữa. Hậu quả là chủ nghĩa bất khả tri và vô thần bây giờ trở thành những lựa chọn dễ dàng. Tác giả Cavanaugh phản đối lập luận này, ông cho rằng chúng ta không hề thất vọng. Đúng hơn chúng ta chỉ đơn giản bị mê hoặc bởi những linh hồn, ác quỷ và thần thánh (theo kinh nghiệm) khác nhau. Ông tin, vấn đề của chúng ta không phải là chủ nghĩa vô thần, nhưng là thờ ngẫu tượng. Đơn giản chúng ta thờ những vị thần mới và sợ những con quỷ mới. Điều thú vị này là một điều đáng đọc, mặc dù không phải là chuyện dễ dàng.

Còn tiểu thuyết thì đây không phải là năm thành công của tôi, tôi vừa không có thì giờ để đọc, vừa thất vọng với nhiều quyển sách tôi đã đọc. Nhưng những quyển sách này nổi bật:

Anne Michaels, Held. Được đề cử giải Booker năm nay, đây là tác phẩm văn học xuất sắc nhất của Anne Michaels, dù cốt truyện không phải lúc nào cũng dễ theo dõi. Nhưng Anne Michaels luôn đáng đọc.

Và tất cả lựa chọn sách đều dựa theo châm ngôn nổi tiếng của Thánh Augustinô: Thị hiếu không phải để tranh cãi.

Chúa Kitô ra đời ở Bê-lem – xoa dịu hay quấy rầy

Tôi chưa bao giờ có cảm giác thoải mái với các bạn gởi thiệp Giáng sinh với lời chúc mừng: Mong bình an của Chúa Kitô quấy rầy bạn! Chẳng lẽ chúng ta không thể có một ngày trong năm để hạnh phúc và ăn mừng mà không làm cho cái tôi vốn đã không hạnh phúc của mình bị lay động vì mặc cảm tội lỗi hay sao? Chẳng lẽ Giáng Sinh không phải là thời gian để chúng ta có thể tận hưởng cảm giác trở lại thời thơ ấu sao? Hơn thế nữa, như thần học gia Karl Rahner đã nói, chẳng lẽ Giáng Sinh không phải là lúc Thiên Chúa cho phép chúng ta được hạnh phúc hay sao? Vậy tại sao lại không?

Chuyện này phức tạp đấy. Giáng Sinh là thời gian mà Thiên Chúa cho phép chúng ta được hạnh phúc, khi Ngài phán: Hãy xoa dịu dân Ta. Hãy khuây khỏa! Hãy nói những lời làm khuây khỏa!

Nhưng Giáng Sinh còn là thời gian nêu bật sự thật đáng buồn, khi Thiên Chúa sinh vào thế giới chúng ta cách đây hai ngàn năm, trong các căn nhà bình thường thời đó. Chẳng có căn nào dành chỗ cho Ngài. Chẳng có chỗ cho Thiên Chúa trong nhà trọ. Cuộc sống bận rộn và những lo âu thực tế làm cho người dân không thể nào cho Ngài một nơi để ra đời. Và chuyện đó vẫn chưa thay đổi. Vậy nên, có những lý do tốt để chúng ta bị quấy rầy.

Nhưng trước hết, hãy nói về sự khuây khỏa: Vài năm trước, tôi dự một hội nghị giáo phận. Người điều hành chia chúng tôi thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm đều được giao cùng một câu hỏi: Thông điệp quan trọng nhất mà Giáo hội cần nói với thế giới thời nay là gì?

Mỗi nhóm nêu ra một vài thách thức quan trọng về tâm linh và đạo đức. “Chúng ta cần thách thức xã hội hướng đến sự công bằng hơn!” “Chúng ta cần thách thức thế giới có đức tin thật và không nhầm lẫn lời Thiên Chúa với ý muốn của chúng ta”. “Chúng ta cần thách thức thế giới hướng đến một đặc nét tình dục có trách nhiệm hơn”. Tuyệt vời, đó đều là những thách thức cần thiết. Nhưng không nhóm nào nói: “Chúng ta cần nói với thế giới về sự an ủi của Thiên Chúa!”

Đúng là trên thế giới có đầy bất công, bạo lực, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, tham lam, ích kỷ, tình dục vô trách nhiệm, đức tin tự quy; nhưng hầu hết người trưởng thành trên thế giới chúng ta cũng đang sống trong đau đớn, lo lắng, thất vọng, mất mát, trầm cảm và mặc cảm tội lỗi không nguôi. Nhìn đâu cũng thấy những tâm hồn nặng trĩu. Hơn nữa, nhiều người đang sống với nỗi đau và thất vọng, họ không thấy Thiên Chúa và Giáo hội là câu trả lời cho nỗi đau của họ, thay vào đó lại là nguồn cơn cho nỗi đau đó.

Vậy nên, khi rao giảng lời Thiên Chúa, các Giáo hội chúng ta cần cam đoan với thế giới về tình yêu của Thiên Chúa, về sự bận tâm và tha thứ của Thiên Chúa. Có lẽ trước khi làm bất kỳ việc nào khác, lời của Thiên Chúa là để làm khuây khỏa chúng ta, quả thật lời của Thiên Chúa là nguồn tối hậu cho mọi khuây khỏa của chúng ta. Chỉ khi chúng ta biết sự khuây khỏa của Thiên Chúa thì thế giới mới cởi mở hơn để đón nhận các thách thức kèm theo.

Và một thách thức nổi bật là chừa chỗ cho Chúa Kitô trong quán trọ, cụ thể là mở lòng mình, nhà mình, thế giới mình cho Chúa Kitô có thể đến và cư ngụ, cho dù việc đó có bất tiện đến thế nào cho chúng ta. Với khoảng cách 2000 năm xa xôi, chúng ta quá dễ dàng đưa ra phán xét gay gắt về những người ở thời Chúa Giêsu, họ không biết Đức Mẹ và Thánh Giuse cưu mang điều gì, không biết chừa chỗ cho Chúa Giêsu ra đời. Sao họ có thể đui mù đến vậy?

Nhưng phán xét đó vẫn có thể đúng với chúng ta. Chúng ta có chừa chỗ cho Chúa trong nhà trọ của mình không.

Khi một sinh linh ra đời, người đó chiếm một không gian mà trước đó chưa là của ai. Đôi khi người mới này được chào đón nồng nhiệt, được đưa vào một không gian đầy yêu thương và mọi người xung quanh vui mừng vì cuộc xâm chiếm mới này. Nhưng không phải khi nào cũng vậy, đôi khi, như trường hợp Chúa Giêsu, không có chỗ cho người mới này, và sự hiện diện mới này không được chào đón.

Chúng ta đang thấy chuyện này ngày nay (và nó sẽ cấu thành sự phán xét của chúng ta đối với thế hệ này) nơi sự lưỡng lự của gần như toàn thế giới, trong việc đón nhận người di dân, trong việc chừa chỗ trong nhà trọ cho họ. Nếu Chúa Kitô là người nghèo, là khách lạ, và các Phúc âm nói với chúng ta như thế, vậy chắc chắn Chúa Kitô là người di dân. Ngày nay, có hơn 50 triệu người tị nạn trên toàn thế giới, những người chẳng được ai đón nhận. Vì sao vậy?

Chúng ta không phải là kẻ xấu, gần như lúc nào chúng ta cũng vô cùng rộng lượng. Nhưng để làn sóng di dân này đi vào cuộc sống của chúng ta thì chúng ta thấy phiền toái. Cuộc sống chúng ta sẽ phải thay đổi. Chúng ta sẽ mất đi một vài tiện nghi, một vài điều quen thuộc, và mất phần nào an ninh.

Chúng ta không phải là người xấu, cũng không phải là những chủ quán trọ cách đây 2000 năm đã không biết gì, đã đuổi Đức Mẹ và Thánh Giuse. Tôi luôn thầm cảm thông họ. Có lẽ vì tôi vẫn đang vô tri làm chính việc họ đã làm. Sự thoải mái và an ninh thường làm cho tôi nói: “Nhà trọ hết chỗ rồi”.

Nếu hiểu được hoàn cảnh méo mó thời Chúa Kitô sinh ra thì chúng ta không thể không thấy tâm tư bối rối. Và tôi mong sao nó cũng có thể đem lại sự khuây khỏa sâu sắc.