RonRolheiser,OMI

Thiên Chúa: Thánh Thiêng, Nhưng Cũng Hài Hước, Hóm Hỉnh và Quyến Rũ

Thiên Chúa là đối tượng của mọi ước muốn, dù ước muốn của chúng ta có vẻ trần tục và không thánh thiện đến đâu. Mọi điều chúng ta khao khát đều nằm trong Thiên Chúa. Cả Chúa Giêsu và các Thánh vịnh đều nói với chúng ta điều này.

Thiên Chúa là đối tượng của mọi ước muốn và chỉ trong Thiên Chúa, những khao khát sâu xa nhất của chúng ta mới được thỏa mãn. Chúng ta bày tỏ điều này trong lời cầu nguyện của mình, có lẽ không bao giờ ý thức được điều chúng ta đang nói: Suốt đêm trường, linh hồn con khát khao Chúa. Chỉ mình Ngài, lạy Chúa, mới có thể lấp đầy trái tim con. Chúng ta nói những lời đó, nhưng liệu có thật sự là Thiên Chúa mà chúng ta khát khao trong đêm tối và khao khát trong những ước muốn của mình? Chúng ta có thực sự tin rằng Thiên Chúa là đối tượng của mọi ước mong của chúng ta không?

Khi chúng ta nhìn vào những gì đẹp đẽ, đầy sức sống, hấp dẫn, quyến rũ và thú vị trên trái đất, chúng ta có thực sự nghĩ và tin rằng điều này được chứa đựng một cách phong phú hơn vô hạn trong Thiên Chúa và trong cuộc sống mà Thiên Chúa mời gọi chúng ta không? Chúng ta có thực sự tin rằng những niềm vui trên trời sẽ vượt xa những lạc thú trần gian và rằng, ngay cả trong thế giới này, những niềm vui của đức hạnh còn cao quý hơn những cảm giác tội lỗi không?

Thật không dễ để tin điều này bởi vì chúng ta bẩm sinh đã phải vật lộn với việc hướng sự chú ý có ý thức của mình về phía Thiên Chúa. Thường thì chúng ta thấy việc thực hành tôn giáo và cầu nguyện giống như một sự gián đoạn cuộc sống hơn là một sự thâm nhập vào nó, giống như một bổn phận hơn là một niềm vui, giống như một sự khổ hạnh hơn là một niềm vui thích, và giống như một điều gì đó đưa chúng ta rời xa cuộc sống thực hơn là một điều gì đó giúp chúng ta đi vào chiều sâu của nó.

Hơn nữa, nếu thành thật, chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta thường thầm ghen tị với những người liều lĩnh sử dụng năng lượng thiêng liêng cho niềm vui riêng của họ. Nhiều người trong chúng ta kiên trì làm tròn bổn phận cam kết với một điều cao cả hơn; nhưng, giống như người anh cả trong dụ ngôn “Người Con Hoang Đàng”, quá thường xuyên phục vụ Thiên Chúa vì nghĩa vụ và cảm thấy cay đắng vì nhiều người khác không làm như vậy. Bên này cõi vĩnh hằng, đức hạnh thường ghen tị với tội lỗi, và (nói thật) điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực tình dục.

Một phần điều này là tự nhiên và là một dấu hiệu của sức khỏe, xét đến thực tế thô sơ về thể chất của chúng ta và sức nặng của khoảnh khắc hiện tại. Những điều này tự nhiên áp đặt lên chúng ta một cách có thể làm cho những điều thuộc về Thiên Chúa và linh hồn trở nên trừu tượng và không thật. Đó đơn giản là thân phận con người và chắc chắn Thiên Chúa hiểu rõ điều đó. Chỉ trong những khoảnh khắc huyền nhiệm, được ban ân sủng nhất định, chúng ta mới thực sự vượt lên trên điều này.

Vì vậy, có thể hữu ích khi làm rõ hơn điều mà chúng ta tuyên xưng trong đức tin nhưng lại khó tin tưởng vào thực tế, đó là, tất cả những gì chúng ta thấy hấp dẫn, đẹp đẽ, không thể cưỡng lại, quyến rũ và thú vị trên trái đất này đều được tìm thấy đầy đủ hơn bên trong Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của chúng.

Nếu chúng ta tin rằng Thiên Chúa là tác giả của mọi điều tốt lành, thì Thiên Chúa đẹp hơn bất kỳ ngôi sao điện ảnh nào, thông minh hơn nhà khoa học hay triết gia lỗi lạc nhất, hóm hỉnh và hài hước hơn diễn viên hài giỏi nhất, sáng tạo hơn bất kỳ nghệ sĩ, nhà văn hay nhà đổi mới nào, tinh tế hơn người uyên bác nhất trên trái đất, tràn đầy sức sống và tinh nghịch hơn bất kỳ đứa trẻ nào, năng động hơn bất kỳ ngôi sao nhạc rock nào, và, không kém phần quan trọng, quyến rũ và hấp dẫn về mặt tình dục hơn bất kỳ người nào trên trái đất.

Chúng ta thường không nghĩ về Thiên Chúa theo cách này, nhưng sự thật đó được cho biết trong Kinh Thánh và được hệ thống hóa trong tín điều Kitô giáo, nơi mà về cơ bản, chúng ta được dạy rằng Thiên Chúa là Một, Chân, Thiện, Mỹ và là tác giả và nguồn gốc tối hậu của tất cả những gì là duy nhất, tốt lành, chân thật, và đẹp đẽ. Điều đó có nghĩa là Thiên Chúa cũng hóm hỉnh, vui tươi và quyến rũ. Mọi điều quyến rũ trên trái đất đều nằm trong Thiên Chúa.

Nhưng biết điều đó không làm mất đi sức quyến rũ của những điều trần thế, và cũng không nên như vậy. Vô số điều có thể làm chúng ta choáng ngợp: một người đẹp, một hoàng hôn, một bản nhạc, một tác phẩm nghệ thuật, sự hăng hái của tuổi trẻ, sự tinh nghịch của một đứa trẻ, sự ngây thơ của một em bé, sự hóm hỉnh của ai đó, cảm giác thân mật, cảm giác hoài niệm, một ly rượu vang vào một buổi tối thích hợp, một sự rung động trong đời sống tình dục của chúng ta, hoặc, sâu sắc nhất trong tất cả, một cảm giác mơ hồ về sự độc đáo và quý giá của chính sự sống con người.

Chúng ta cần tôn vinh những điều này và tạ ơn Thiên Chúa về món quà, ngay cả khi chúng ta nhận thức rằng tất cả những điều này được tìm thấy phong phú hơn trong Thiên Chúa và chúng ta không mất gì khi đức hạnh, tôn giáo hoặc lời khấn yêu cầu chúng ta hy sinh những điều này vì một điều cao cả hơn. Chính Chúa Giêsu hứa rằng bất cứ điều gì chúng ta từ bỏ vì điều cao cả hơn sẽ được ban lại cho chúng ta gấp trăm lần. Biết điều này, chúng ta có thể sống cuộc đời mình tận hưởng trọn vẹn những gì thuộc về đất và trần thế. Những vẻ đẹp và niềm vui của cuộc sống này là một món quà từ Thiên Chúa, có ý nghĩa để được tận hưởng. Hơn nữa, bằng cách nhận thức về nguồn gốc của chúng, chúng ta cũng có thể đủ tự do để chấp nhận những giới hạn rất thực mà cuộc sống đặt ra cho những ước muốn của chúng ta. Tốt hơn nữa, chúng ta không cần sợ hãi cái chết vì những gì chúng ta mất đi sẽ bị lu mờ gấp trăm lần bởi những gì chúng ta đạt được.

Thầy ra đi thì tốt hơn cho anh em

“Thầy ra đi thì tốt hơn cho anh em!” – Đây là một trong những lời trăn trối của Chúa Giêsu vào đêm trước khi Người bước vào cuộc khổ nạn.

Làm sao lại có thể nói rằng “tốt hơn cho chúng ta” khi một người chúng ta hết mực yêu thương rời đi? Điều này chỉ có lý nếu mối quan hệ đó đang bất hòa hoặc gây tổn hại. Nhưng làm sao điều đó lại đúng trong trường hợp chúng ta yêu thương ai đó sâu sắc và sẽ đau đớn khi thiếu vắng họ?

Biến cố Thăng thiên của Chúa Giêsu mang đến một lời câu trả lời thật sâu sắc . Người nói với các môn đệ rằng Người đi thì tốt hơn cho họ, vì nếu Người không đi, họ sẽ không thể nhận được Thánh Thần của Người. Tại sao lại thế? Tại sao Người phải đi để những người yêu mến Người có thể nhận được Thánh Thần ?

Điều này liên quan đến mầu nhiệm về sự hiện diện và sự vắng mặt. Chúng ta mang đến cho người khác điều gì đó bằng sự hiện diện của mình, nhưng chúng ta cũng để lại điều gì đó cho họ trong sự vắng mặt của mình. Nói tóm lại, điều chúng ta để lại trong sự vắng mặt là một không gian mới, trong đó họ có thể đón nhận con người chúng ta một cách thuần khiết hơn. Điều này nghe có vẻ trừu tượng cách vô vọng, nhưng chúng ta đều kinh nghiệm điều này trong cuộc sống thường ngày.

Đây là một ví dụ: Hãy hình dung một cô gái trẻ, được cha mẹ hết mực yêu thương, vừa tốt nghiệp trung học và rời nhà để đi học đại học, hoặc học nghề, hoặc bắt đầu một công việc. Những năm tháng tuổi thơ của cô đã kết thúc vĩnh viễn và cô cảm nhận được điều đó, cũng như cha mẹ cô. Cả hai phía đều đau đớn và buồn phiền. Cô có lẽ sẽ không nói ra thành lời, nhưng nếu có thể, cô sẽ nói với cha mẹ mình những gì Chúa Giêsu đã nói với những người thân yêu của Người khi Người nói lời từ biệt: “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em.”

Chỉ khác là, đối với cô, những lời đó sẽ nghe như thế này: “Con đi thì tốt hơn cho cha mẹ (và cho con); nếu không, con sẽ mãi mãi là đứa con bé bỏng của cha mẹ và sẽ không thể trao tặng cha mẹ sự hiện diện của một người trưởng thành. Con cần phải đi để sự vắng mặt của con tạo ra không gian cho con trở về với cha mẹ như một người trưởng thành.”

Đó là mầu nhiệm của sự hiện diện và sự vắng mặt. Đây cũng chính là mầu nhiệm về sự thăng thiên của Chúa Giêsu, cách thế một thần khí mới có thể được nhận ra và đón nhận chỉ sau khi có một sự vắng mặt, một sự ra đi.

Điều này được thể hiện mạnh mẽ trong đoạn Tin Mừng theo Thánh Gioan, khi bà Maria Mađalêna gặp Chúa Giêsu phục sinh vào sáng Chúa Nhật Phục Sinh. Ban đầu, Maria không nhận ra Người; nhưng, sau khi nhận ra, phản ứng tức thì của Maria là ôm lấy Người một cái ôm quen thuộc. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã ngăn bà lại: “Đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Cha Thầy và Cha anh em.”

Tại sao? Tại sao Chúa Giêsu dường như không muốn nhận một cái ôm quen thuộc từ một người bạn lâu năm?

Sự do dự này chính xác là do sự quen thuộc. Bà Maria muốn chào đón Chúa Giêsu cũ của bà trở về, nhưng đây không phải là Chúa Giêsu cũ của bà. Đây là Đấng Kitô phục sinh, Đấng giờ đây có điều gì đó mới mẻ để trao tặng bà. Điều Chúa Giêsu nhẹ nhàng nói với bà khi Người yêu cầu bà đừng “bám víu” vào Người là nếu bà tiếp tục bám víu vào con người cũ của Người, vào cách bà từng có Người, bà sẽ không thể đón nhận sự hiện diện mới của Người và những gì Người đang mang đến cho bà.

Việc Maria Mađalêna cố gắng ôm lấy Chúa Giêsu phục sinh giống như những bậc cha mẹ yêu thương, sau khi đau đớn nhớ nhung cô con gái nay đã trưởng thành khi cô vắng nhà, chào đón cô về nhà bằng một cái ôm và những lời: “Con gái bé bỏng của chúng ta đã về nhà rồi!” Nghe những lời này, cô con gái, dù có nói ra hay không, cũng sẽ cần nhẹ nhàng nói: “Nếu cha mẹ bám víu vào đứa con bé bỏng mà cha mẹ từng có, cha mẹ sẽ không thể đón nhận những điều quý giá mà cô con gái trưởng thành của cha mẹ giờ đây có thể mang lại.”

Động lực này, tức cách mà sự vắng mặt đau đớn của người chúng ta yêu thương có thể biến đổi sự hiện diện của họ để họ giờ đây có thể nuôi dưỡng chúng ta một cách sâu sắc hơn, là bản chất của mầu nhiệm thăng thiên, sự thăng thiên của Chúa Giêsu và của chính chúng ta.

Dù vậy, thật khó để không bám víu. Khi chúng ta chứng kiến những người xung quanh thay đổi, lớn lên, rời đi và trở thành một điều gì đó khác với cách chúng ta luôn biết và yêu thương họ, giống như bà Maria Mađalêna, điều đó có thể khiến chúng ta vừa khóc trong niềm vui vừa hối tiếc: vui vì thấy con gái bé bỏng của chúng ta giờ đã là một người phụ nữ trưởng thành đầy sức sống; hối tiếc vì chúng ta đã mất cô ấy theo cách chúng ta từng có cô ấy như một cô bé xinh đẹp.

“Thầy ra đi thì tốt hơn cho anh em.” Chúa Giêsu đã nói những lời đó vào đêm trước khi Người chịu chết. Tôi đã ở bên giường bệnh của cả cha và mẹ tôi. Gia đình chúng tôi đã níu giữ lấy họ. Chúng tôi không thể tin rằng họ ra đi thì tốt hơn cho chúng tôi. Đã năm mươi năm trôi qua kể từ khi họ qua đời và, dù sự ra đi của họ đau đớn đến mấy, giờ đây chúng tôi nhận ra rằng họ có thể cho chúng tôi điều mà chúng tôi không thể nhận được từ họ trước khi họ ra đi.

Xét Lại Động Cơ Của Chúng Ta

Nhân vật chính trong vở kịch Murder in the Cathedral của T.S. Eliot là Thomas a Beckett – một giám mục, người theo mọi vẻ bề ngoài đều là một vị thánh. Ông cực kỳ trung thực, rộng lượng đến mức hy sinh, và là người bảo vệ đức tin đã chịu chết vì đạo. Tuy nhiên, vào một thời điểm nào đó trước khi tử đạo, ông nhận ra rằng có thể mình chưa phân biệt rõ giữa cám dỗ và ân sủng.
Nhiều người trong chúng ta quen thuộc với lời diễn tả nổi tiếng của ông:
Cám dỗ cuối cùng là sự phản bội lớn nhất:

Làm điều đúng vì lý do sai…
Vì những ai phục vụ cho đại nghĩa
Có thể biến đại nghĩa thành công cụ cho chính mình.

Vậy đâu là cám dỗ có thể dễ bị nhầm lẫn với ân sủng?

Nói đơn giản, chúng ta có thể đang làm rất nhiều việc tốt – nhưng với động cơ sai. Hơn nữa, điều này có thể rất tinh vi, đặc biệt nơi những người phục vụ cho “đại nghĩa,” bởi như T.S. Eliot nhấn mạnh, chúng ta rất dễ biến đại nghĩa ấy thành phương tiện phục vụ chính mình.

Làm thế nào chúng ta lại có thể khiến đại nghĩa phục vụ mình? Làm sao lại có thể làm điều tốt nhưng vì lý do sai?

Ví dụ: Tôi có thể đang làm rất nhiều điều tốt – giúp đỡ người khác, phục vụ mục đích của Thiên Chúa nơi trần gian. Tôi có thể quảng đại đến mức chấp nhận hy sinh như một vị tử đạo. Nhưng nếu lý do chính tôi làm tất cả những điều đó là vì chúng khiến tôi được ngưỡng mộ, cảm thấy đạo đức và chính trực, được khen ngợi, để lại một cái tên tốt đẹp sau này – thì sao?

Những câu hỏi ấy đi sâu vào ranh giới giữa cám dỗ và ân sủng. Tôi có thể làm điều đúng đắn, và dù không phải vì lý do xấu, tôi vẫn chủ yếu đang làm cho bản thân mình. Tôi có thể đang khiến đại nghĩa phục vụ tôi nhiều hơn là tôi phục vụ đại nghĩa.

Cha Dòng Tên quá cố Michael J. Buckley – một trong những người hướng dẫn tâm linh quan trọng trong đời tôi – từng thúc giục chúng ta phải can đảm xét mình một cách đau đớn: Tôi làm điều này để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân – hay đang làm để mình cảm thấy và trông có vẻ tốt đẹp?

Trong quyển sách Bạn Tìm Gì Thế? – Những Câu Hỏi của Đức Giêsu Như Một Thách Đố và Lời Hứa, Buckley viết:

“Bằng hàng ngàn cách khác nhau, những người phục vụ cho đại nghĩa có thể khiến đại nghĩa ấy quay lại phục vụ họ. Điều này có thể vô cùng tinh tế. Đôi khi chỉ một sự lệch nhẹ ở bước khởi đầu của một hành động hay một đời sống cũng có thể dẫn đến một chuyển hướng sâu sắc nhưng không được nhận ra: lòng nhiệt thành che giấu một tham vọng ngấm ngầm nhưng tàn nhẫn. Tham vọng ấy được giấu kỹ vì ban đầu nó có vẻ giống với lòng nhiệt thành – dù thật ra hai điều này hoàn toàn đối lập. Khao khát đạt được một điều gì đó có thể trộn lẫn giữa giá trị nội tại của một dự án với hào quang phản chiếu từ thành quả đạt được.”

Là một linh mục đã phục vụ hơn 50 năm, tôi thấy đây là một lăng kính đầy thách thức để nhìn lại chính mình và hành trình mục vụ ấy. Tôi đã phục vụ cho đại nghĩa bao nhiêu – và tôi đã, trong vô thức, biến nó phục vụ cho chính mình bao nhiêu? Ai là người “được lợi” hơn: Thiên Chúa và Hội Thánh – hay tôi và danh tiếng của mình?

Tất nhiên, động cơ là điều rất khó nhận diện, và trong cuộc đời này, động cơ hiếm khi nào hoàn toàn thuần khiết. Ta là một hỗn hợp phức tạp của nhiều động lực – có cái phục vụ người khác, có cái phục vụ chính mình – và như Buckley nhấn mạnh, ban đầu chúng trông rất giống nhau. Hơn nữa, có những lời dạy của Đức Giêsu dường như cho thấy rằng đôi khi việc làm đúng điều còn quan trọng hơn động cơ rõ ràng đằng sau nó.

Chẳng hạn, Đức Giêsu nói: “Không phải những ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy” (Mt 7,21). Và trong bài học về việc phán xét cuối cùng, Đức Giêsu dạy rằng chúng ta sẽ bị xét xử dựa trên cách ta đối xử với người nghèo – “Điều gì các con làm cho một trong những người bé mọn nhất này, là làm cho chính Ta” (Mt 25). Điều đáng chú ý là cả nhóm được thưởng lẫn bị phạt đều không ý thức rõ việc mình làm. Họ được xét xử hoàn toàn dựa trên hành động.

Vậy, liệu ta có thể đang làm điều đúng với lý do sai? Và nếu đúng là ta làm như vậy – vì muốn được ngưỡng mộ, được kính trọng, được tiếng tốt hay cảm thấy tự hào – thì điều đó có nghiêm trọng không? Nó có làm giảm hoặc phá hủy giá trị của điều tốt ta đang làm? Khao khát được công nhận, có danh tiếng tốt và cảm thấy dễ chịu về bản thân – có thật sự đối nghịch với lòng vị tha? Hay cả hai có thể đồng hành? Thiên Chúa đánh giá ta nhiều hơn dựa vào động cơ – hay dựa vào hành động?

Tôi đang phục vụ cho đại nghĩa – hay đang khiến đại nghĩa phục vụ mình?
Đó là một câu hỏi sống còn để tự xét mình.

Tại sao? Vì chúng ta rất dễ mù quáng trước sự giả hình của chính mình – cũng như rất dễ khắt khe quá mức với bản thân.

Đức Giêsu – Kiểm Lại Cảm Xúc Của Chúng Ta

Có một cảnh cảm động trong loạt phim The Chosen mà bất kể phản ứng của ta thế nào, cũng mời gọi ta suy gẫm sâu xa.

Cảnh phim như sau: Trước khi chữa lành mẹ vợ của Phêrô khỏi cơn sốt, Đức Giêsu có một cuộc trò chuyện riêng với vợ của Phêrô. Người bắt đầu bằng cách nói rằng Người biết họ là một đôi vợ chồng rất gần gũi và yêu thương nhau, rồi bày tỏ sự cảm thông với cô vì việc Người kêu gọi Phêrô đã thực chất rút anh ra khỏi mái ấm gia đình. Sau đó, với giọng nhẹ nhàng, Người hỏi cô cảm thấy thế nào về điều này. Câu trả lời của cô bảo đảm với Người rằng – dù có đau đớn – cô (như chồng mình) sẵn sàng hy sinh.

Cảnh này, ngoài những khía cạnh khác, cho thấy một thực tế rằng khi một người (như Phêrô) từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu, thì người đó không phải là người duy nhất trả giá. Những người thân yêu quanh họ cũng phải hy sinh. Các bà vợ của các tông đồ đã đánh đổi điều gì khi Đức Giêsu kêu gọi chồng họ?

Hơn nữa, tình tiết này (dù là hư cấu trong phim) cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn rằng Đức Giêsu không vô cảm trước những “cuộc đóng đinh tình cảm” mà đôi khi chúng ta phải chịu để đáp lại tiếng gọi của Người. Cảnh này là một bảo đảm rằng Đức Giêsu thấu hiểu – và ban cho chúng ta một “giấy phép thiêng liêng” – để không phải cảm thấy tội lỗi vì những đau đớn tình cảm ta trải qua.

Chắc chắn sẽ có nhiều người nghi ngờ giá trị của cảnh phim này vì nó không có cơ sở lịch sử rõ ràng. Chúng ta không biết liệu Đức Giêsu có thực sự từng có cuộc trò chuyện như thế với vợ Phêrô hay với vợ của bất kỳ tông đồ nào không.
Nhưng câu hỏi ở đây không phải là cảnh đó có đúng sự thật lịch sử hay không. Điều quan trọng là: Đức Giêsu chắc chắn không phải là người vô tâm hay thờ ơ trước nỗi đau của những người bị các tông đồ rời bỏ để theo Người.

Thông thường, chúng ta tránh đặt câu hỏi này vì quá thường xuyên hiểu một cách quá đen trắng các lời dạy của Chúa Giêsu về việc phải từ bỏ cha mẹ, vợ con để theo Người. Chẳng hạn, có lúc Đức Giêsu nói: “Ai đến với tôi mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi.” (Lc 14,25-27). Một đoạn khác còn nghe có vẻ lạnh lùng hơn: “Người bảo một người khác: ‘Hãy theo tôi.’ Người ấy thưa: ‘Thưa Thầy, xin cho phép con về chôn cha trước đã.’ Nhưng Đức Giêsu đáp: ‘Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ; còn anh, hãy đi loan báo Nước Thiên Chúa.’ Người khác lại nói: ‘Thưa Thầy, con xin theo Thầy, nhưng xin cho phép con từ biệt gia đình trước đã.’ Đức Giêsu trả lời: ‘Ai đã tra tay vào cày mà còn ngoái lại đằng sau, thì không xứng đáng với Nước Thiên Chúa.’” (Lc 9,60-62)

Rất dễ hiểu sai những lời này nếu ta tiếp cận chúng theo nghĩa đen. Hình ảnh mà Đức Giêsu dùng thật mạnh mẽ, dứt khoát, và tưởng chừng như vô cảm. Nhưng đây chỉ là hình ảnh – không phải những chỉ dẫn tâm linh được hiểu một cách cứng nhắc. Những lựa chọn cảm xúc đau đớn mà ta phải đưa ra để trung thành với Tin Mừng quả thật có thể được gọi là đóng đinh tình cảm. Khi chọn Đức Giêsu, ta cũng chọn thập giá – và nơi đó có cái chết thật sự, có nỗi đau thật sự, mà không thể làm nhẹ đi bằng lời lẽ.

Tuy nhiên – và điều này rất quan trọng – những chọn lựa để từ bỏ chính mình và sống hy sinh không được thực hiện ở mức độ tâm lý hay cảm xúc. Chúng được quyết định ở mức sâu hơn – ở bình diện luân lý – nơi có một tiếng nói sâu thẳm hơn cả cảm xúc hay suy nghĩ chi phối. Chính vì thế, khi Đức Giêsu nói “ai không từ bỏ gia đình mình thì không thể theo Thầy,” Người đang hướng về cốt lõi luân lý trong ta – nơi ta chọn giữa đúng và sai, giữa ý nghĩa và sự trống rỗng. Người không lên án cảm xúc. Người cũng không kêu gọi chúng ta sống trong một sự dửng dưng cảm xúc phi nhân.

Khi kêu gọi chúng ta từ bỏ mọi sự để làm môn đệ, Đức Giêsu không hề làm ngơ trước nỗi đau tâm lý và tình cảm mà điều đó gây ra. Khi mời gọi ta vác thập giá và bước theo Người, Đức Giêsu biết rằng đó là một cuộc đóng đinh cảm xúc. Nhưng trong khi trao cho ta lời mời gọi ấy, Người cũng đồng thời cho phép chúng ta được cảm nhận nỗi đau ấy mà không thấy tội lỗi vì điều đó. Người không kêu gọi một thứ “khổ hạnh cảm xúc” lạnh lẽo và phi nhân – một thái độ mà trong đó, vì yêu Chúa, ta không được phép cảm thấy đau buồn vì mất đi những mối quan hệ thân thiết hay tự do quý giá.

Giống như Đức Giêsu trong phim The Chosen, nhẹ nhàng hỏi vợ Phêrô xem cảm xúc của cô thế nào khi Người yêu cầu gia đình họ hy sinh, Đức Giêsu cũng hỏi từng người chúng ta: Con sẵn sàng từ bỏ, nhưng trái tim con đang cảm thấy gì?
Người mời gọi ta bước vào con đường từ bỏ chính mình – và cùng lúc đó, Người cúi xuống, nhân từ hỏi:

“Cảm xúc của con lúc này ra sao?”

ĐỨC TIN – VƯỢT QUA CÁI ĐẦU VÀ TRÁI TIM

C.S. Lewis, một trong những nhà biện giáo Kitô giáo vĩ đại nhất, đã không trở thành người Kitô hữu một cách dễ dàng hay không chút kháng cự. Ông trưởng thành trong một thái độ hoài nghi và thiên về thuyết bất khả tri. Đức tin và Đức Kitô không phải là điều tự nhiên thu hút ông. Tuy nhiên, ông luôn giữ cho mình sự thành thật tận căn khi lắng nghe những tiếng nói sâu thẳm nhất trong nội tâm, và vào một thời điểm nhất định, ông nhận ra rằng Đức Kitô và giáo huấn của Người có một sức hút mãnh liệt đến mức khiến ông không còn tự do để chối từ. Với lương tâm ngay thẳng, ông buộc phải trở thành một người Kitô hữu.

Nhiều người trong chúng ta từng nghe những lời ông viết vào đêm đầu tiên khi ông quỳ gối và trao mình cho niềm tin vào Đức Kitô. Sau một cuộc tản bộ dài và một cuộc trò chuyện tôn giáo với J.R.R. Tolkien (người đồng nghiệp của ông tại Đại học Oxford), ông kể lại rằng ông đã quỳ xuống và dâng mình cho đức tin. Nhưng như chính ông thừa nhận, đây không phải là một hành động quỳ gối dễ dàng: “Tôi quỳ xuống như một kẻ cải đạo miễn cưỡng nhất trong lịch sử Kitô giáo.” Quả thật, không phải là hình ảnh mà người ta thường nghĩ đến khi nói đến “lửa mến ban đầu” của đức tin.

Nhưng ông tiếp tục chia sẻ lý do tại sao, bất chấp mọi sự do dự tự nhiên, ông lại quyết định trở thành một người tin: “Vì tôi đã nhận ra rằng sự khắc nghiệt của Thiên Chúa còn nhân từ hơn sự dịu dàng của con người, và sự cưỡng ép của Thiên Chúa chính là sự giải thoát của chúng ta.” Vậy, sự cưỡng ép của Thiên Chúa là gì?

Sau đây là một ví dụ. Trong Tin Mừng Gioan, có một sự kiện nổi tiếng mà ở đó Phêrô – cũng như C.S. Lewis – là một người môn đệ miễn cưỡng. Câu chuyện là thế này:

Chúa Giêsu vừa đồng hóa chính mình với Bánh Hằng Sống và kết thúc bài giảng bằng lời tuyên bố rằng nếu không ăn thịt và uống máu Người, thì không thể có sự sống nơi họ. Dễ hiểu khi giáo huấn này gây hoang mang và khó tiếp nhận với người nghe; đến mức Tin Mừng ghi rằng đám đông đã bỏ đi, vừa đi vừa nói: “Lời này chói tai quá!” Sau đó, khi mọi người đã rút lui, Chúa Giêsu quay sang các môn đệ và hỏi: “Còn anh em, anh em cũng muốn bỏ đi sao?” Phêrô đã không trả lời một cách hào hứng hay dứt khoát. Ông chỉ đáp: “Bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai bây giờ?” Tuy nhiên – và đây là một trong những khoảnh khắc rạng ngời nhất của Phêrô trong các sách Tin Mừng – ông tiếp thêm: “Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời.”

Nếu ta phân tích kỹ câu trả lời của Phêrô, thì nội dung thật ra là thế này: Phêrô vừa nghe một giáo huấn mà ông không hiểu, và phần ông hiểu thì ông lại không thích. Trong khoảnh khắc đó, Đức Giêsu dường như hoàn toàn trái ngược với chân lý và sự sống. Cả lý trí lẫn con tim của Phêrô đều kháng cự. Nhưng sâu hơn cả lý trí và con tim, vẫn còn một phần nào đó trong ông biết rằng – bất chấp sự chống đối bên trong – giáo huấn này sẽ mang lại sự sống.

Vào thời điểm ấy, Phêrô – như C.S. Lewis – là một “tông đồ miễn cưỡng.” Thế nhưng ông vẫn trao phó đời mình cho Đức Kitô, dù đầu óc và con tim ông còn nghi ngờ. Tại sao? Vì ông đã nghiệm ra rằng “sự cưỡng ép của Thiên Chúa chính là sự giải thoát của chúng ta.”

Tôi còn nhớ có lần xem một cuộc phỏng vấn với cha Daniel Berrigan. Người dẫn chương trình hỏi: “Thưa cha, đức tin của cha đặt ở đâu? Ở cái đầu hay ở trái tim?” Cha Berrigan trả lời một cách rất dí dỏm nhưng sâu sắc: “Đức tin hiếm khi nằm ở cái đầu, và còn hiếm hơn nữa khi nằm ở con tim. Đức tin nằm ở… cái mông của bạn!” Rồi cha giải thích thêm: “Ai từng sống một cam kết dài lâu sẽ hiểu: sẽ có những lúc đầu óc không còn trong cuộc, trái tim không còn cảm xúc gì, nhưng bạn vẫn ở lại trong đó, bởi vì bạn biết rằng con đường dẫn đến sự sống là ở lại trong cam kết đó.”

Cuối cùng, điều gì là đủ đáng tin để ta dâng cả đời mình cho nó? Tôi tin rằng chúng ta không thể trả lời câu hỏi này chỉ bằng lý trí hay cảm xúc. Không phải đầu óc hay con tim là bất xứng, nhưng thực tế cho thấy chúng không luôn phản ánh điều sâu thẳm nhất trong ta. Sự cưỡng ép của Thiên Chúa nằm dưới cả tư duy và cảm xúc. Đầu óc nói cho ta điều hợp lý nên làm. Trái tim cho ta biết điều ta khao khát. Nhưng có một tiếng nói sâu hơn – nói điều ta phải làm.

Tiếng nói sâu thẳm nhất của Thiên Chúa trong lòng ta không phải lúc nào cũng hòa thuận với cái đầu hay trái tim. Đó chính là sự cưỡng ép thánh thiêng – có thể biến ta thành “kẻ cải đạo miễn cưỡng nhất trong lịch sử Kitô giáo,” có thể khiến ta đứng trước mặt Đức Giêsu mà thấy Người như phản ngược với chân lý và sự sống, có thể làm ta thất vọng tột cùng trước sự bất trung triền miên nơi Hội Thánh, và dẫu thế – ta vẫn thốt lên: “Bỏ Thầy, con biết theo ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.”

Hoài nghi, thất vọng và không hiểu biết không phải là nhân đức. Nhưng đôi khi chính chúng lại dẫn ta đến điểm mấu chốt, nơi ta buộc phải quyết định: trước điều gì, cuối cùng, ta phải quỳ gối?

NGHỊCH LÝ, SỰ CÓ VẺ MÂU THUẪN VÀ CĂNG THẲNG

Tư tưởng của một số nhân vật vĩ đại và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử – như Chúa Giêsu, thánh Augustinô, Socrates, Aristote và nhiều người khác – đôi khi dường như đầy những mâu thuẫn. Họ đôi lúc có vẻ như tự mâu thuẫn với chính mình. Không phải lúc nào chúng ta cũng dễ dàng nhận ra cách mọi điều trong giáo huấn của họ gắn kết và tương hợp với nhau.

Chính vì thế mà các tôn giáo và triết thuyết lớn trên thế giới thường dễ bị giải thích theo nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, với chiều sâu và bề rộng trong giáo huấn của Chúa Giêsu, Kitô giáo đặc biệt dễ dàng mở ra cho những lối hiểu đa dạng. Không phải ngẫu nhiên mà trong Kitô giáo có hàng trăm hệ phái, cùng vô số kiểu linh đạo và phụng vụ khác nhau. Giáo huấn của Chúa Giêsu phong phú đến mức dường như không ai có thể mang trọn vẹn như một bậc thầy. Thay vào đó, mỗi người chúng ta chọn lấy một vài phần, cố gắng giữ cho chúng có phần nào nhất quán, và rốt cuộc lại trở nên thu hẹp hơn nhiều so với Người Thầy.

Có người từng nói đùa rằng: Tính nhất quán là sản phẩm của một trí óc nhỏ hẹp, còn sự không nhất quán lại là dấu hiệu của một trí tuệ lớn. Điều đó có phần đúng, dù cần được hiểu cho đúng. Chẳng hạn, đôi khi chúng ta đạt được một thứ gọi là “tính nhất quán” – một cái nhìn dường như không có mâu thuẫn nội tại nào – nhưng phải trả giá đắt: đó là sự thu hẹp, loại trừ, phiến diện, nghèo nàn và giản lược hóa. Dù người ta có nói gì đi nữa, thì phân biệt chủng tộc, cực đoan, bảo thủ mù quáng, hay chủ nghĩa dân tộc quá khích đều là những lập trường “nhất quán”. Tuy nhiên, sự nhất quán đó dựa trên một tổng hợp quá hẹp, đến mức bỏ qua và coi thường nhiều khía cạnh quan trọng của cuộc sống.

Ngược lại, đôi khi cái có vẻ như là mâu thuẫn thực ra lại là một nỗ lực giữ nhiều chân lý quan trọng trong một tổng hợp cao hơn. Người ấy có vẻ mâu thuẫn, nhưng thật ra đang cố giữ những chân lý tưởng như đối nghịch trong một sự căng thẳng sáng tạo. Ai thực hiện kiểu “tung hứng” này thường sẽ cảm thấy áp lực lớn, nhưng (nói theo ẩn dụ) họ cũng sẽ thấy mình không có “động mạch bị tắc” và có “buồng phổi khoẻ mạnh”, máu lưu thông đến mọi phần của con người họ, và họ có thể hít thở nguồn khí sự sống từ bất cứ môi trường nào mình hiện diện.

Chúa Giêsu là một người như thế. Người nắm giữ những chân lý quan trọng trong sự căng thẳng sáng tạo, và vì thế, hầu như ai cũng hiểu lầm Người. Người làm chướng tai gai mắt cả hai phía cả tôn giáo và ý thức hệ. Giáo huấn của Người nghiêng về “cả hai/ và” hơn là “hoặc cái này/ hoặc cái kia”. Chúng ta thì lại chật vật với điều đó. Dễ dàng hơn khi chỉ chọn một vài chân lý để mang theo, thay vì cố gắng ôm lấy tất cả.

Vậy đâu là những chân lý tưởng chừng mâu thuẫn mà Chúa Giêsu đã giữ và sống trong sự căng thẳng sáng tạo? Sau đây là mười cặp chân lý tiêu biểu – được chọn bởi vì một đời sống thiêng liêng lành mạnh luôn cần giữ cả hai mặt:
1/ Ý thức mạnh mẽ về cá nhân, chú trọng đến sự chính trực và cầu nguyện riêng tư – nhưng đồng thời gắn liền với cam kết vững chắc với cộng đồng, gia đình, xã hội, Giáo hội và công bằng xã hội.

2/ Khả năng lành mạnh để thưởng thức cuộc sống và tận hưởng mà không thấy tội lỗi, đồng thời làm bạn với khả năng khổ chế và từ bỏ cũng lành mạnh không kém.

3/ Sự tự tin và khả năng tự khẳng định trong việc sử dụng những tài năng Thiên Chúa ban – nhưng luôn giữ được khiêm tốn và thói quen xóa mình.
4/ Cái nhìn tiên tri, cảm thông với những gì ở ngoài trung tâm, với người bị gạt ra bên lề, cất lên tiếng nói cho người bị loại trừ – trong khi vẫn biết trân trọng tổ chức, bảo vệ trật tự và vun trồng điều thiêng liêng trong gia đình, Giáo hội và truyền thống.

5/ Luôn cởi mở với cái mới, cái lạ, cái gây khó chịu, khuynh hướng cấp tiến – đồng thời bám rễ vững vàng nơi những giá trị bảo tồn, quen thuộc, mang lại nhịp điệu và sự ổn định.

6/ Hướng nhìn vào điều thiêng liêng, Thiên Chúa và cõi vĩnh hằng, nhưng đồng thời yêu mến thế giới này, niềm vui, thành tựu và khoảnh khắc hiện tại của nó.

7/ Niềm đam mê đối với tính dục và sự khẳng định điều tốt lành và trần thế của nó, cùng với sự bảo vệ mạnh mẽ cho đức khiết tịnh và lòng tôn kính.

8/ Tầm nhìn về cộng đồng thế giới, mở rộng khỏi biên giới nơi ta sinh ra, ôm lấy người xa lạ, người khác biệt – nhưng vẫn trung thành sâu sắc với gia đình, cội nguồn và lòng hiếu khách tại gia.

9/ Hy vọng và lý tưởng vượt lên trên thực tế, tin vào lời hứa của Thiên Chúa hơn là bản tin buổi tối, không để sự thật Phục Sinh bị bóp nghẹt bởi biến cố lịch sử – nhưng gắn liền với tinh thần hiện thực, có phương pháp, và sẵn sàng góp phần lao động cụ thể.

10/ Hướng đến đời sau, đến cuộc sống sau cái chết, ý thức rằng nơi đây không phải là quê hương vĩnh viễn – nhưng đồng thời gìn giữ giá trị và vẻ đẹp của cuộc sống trần thế này.

Chúa Giêsu đã nắm giữ tất cả những điều này trong một tổng hợp duy nhất – và Người đã phải trả giá: sự hiểu lầm. Câu hỏi đặt ra là: chúng ta có sẵn sàng trả giá đó để thể hiện một cách đầy đủ hơn chân dung của Đức Kitô không?

Một lời cảnh tỉnh cần thiết

Một tu sĩ dòng Biển Đức chia sẻ câu chuyện này với tôi. Trong những năm đầu đời tu, tu sĩ bị phẫn uất vì cần bất cứ gì cũng phải xin phép Đan viện phụ. “Tôi nghĩ làm vậy thật ngốc. Một người trưởng thành như tôi, muốn một cái áo mới cũng phải xin phép bề trên. Tôi thấy mình như trẻ con vậy”.

Nhưng khi lớn thêm vài tuổi, cái nhìn của người tu sĩ khác đi. “Tôi không chắc lắm về mọi lý do, dù tôi chắc chắn chuyện này có liên quan đến ân sủng. Nhưng đến một ngày, tôi thấy ‘chuyện cái gì cũng phải xin’ có một khôn ngoan sâu sắc. Chúng ta chẳng sở hữu gì cả, chẳng có gì mặc định là của chúng ta cả. Tất cả đều là ơn ban. Nên về mặt lý thuyết, phải xin tất cả mọi thứ, chứ không lấy như thể chúng ta có quyền. Chúng ta cần biết ơn Thiên Chúa và vũ trụ vì mọi sự đã được ban cho chúng ta. Bây giờ khi tôi cần một cái gì đó cần xin phép, tôi không còn cảm thấy mình là con nít. Thay vào đó, tôi cảm thấy mình hòa hợp thích đáng hơn với cách thức điều hành mọi sự trong vũ trụ theo ơn ban mà trong đó không một ai có quyền tối hậu trên cái gì”.

Điều mà tu sĩ này hiểu ra chính là nguyên tắc nền tảng cho mọi linh đạo, mọi luân lý, và mỗi một điều răn, cụ thể là tất cả mọi sự đến với chúng ta như một tặng vật, chứ chẳng có gì là của chúng ta. Chúng ta nên biết ơn Thiên Chúa và vũ trụ vì cho chúng ta những gì chúng ta có, và chúng ta cẩn thận đừng đòi thêm như thể mình có quyền.

Nhưng điều này rất trái ngược với cái tôi bản năng và văn hóa của chúng ta. Trong cả hai điều này có những tiếng nói mạnh mẽ bảo chúng ta nếu không thể lấy được điều mình muốn thì mình là kẻ yếu đuối, yếu đuối theo cả hai nghĩa. Thứ nhất là tính cách yếu đuối, quá hèn nhát không dám giành lấy cuộc đời. Thứ hai, là bị sự dè dặt của tôn giáo và luân lý làm cho yếu đuối, không thể giành lấy một cách thích đáng và sống cho thật trọn vẹn. Những tiếng nói này bảo chúng ta phải lớn lên, vì trong chúng ta có quá nhiều thứ sợ hãi và ấu trĩ, vì chúng ta là đứa trẻ bị những thế lực mê tín giam giữ.

Chính bởi những tiếng nói như vậy mà ngày nay, trong một văn hóa tự nhận là kitô hữu và luân lý, những nhân vật chính trị và xã hội lại hoàn toàn thật lòng tin, cho rằng sự cảm thông là sự yếu đuối của con người.

Chúng ta cần một lời cảnh tỉnh quan trọng.

Tiếng của Chúa Giêsu là phản đề hoàn toàn đối với những tiếng nói này. Cảm thông là nhân đức gần như tối hậu của con người, là phản đề của sự yếu đuối. Chúa Giêsu nhìn vào những gì là dứt khoát, hùng hổ và tích lũy trong xã hội chúng ta, cho dù chúng được ngưỡng mộ đến như thế nào, Ngài cũng sẽ nói rõ rằng đó không phải là ý nghĩa của việc đến bàn tiệc ở tâm điểm vương quốc Thiên Chúa. Chúa Giêsu sẽ không có chung sự ngưỡng mộ của chúng ta dành cho những người giàu có và nổi tiếng vốn quá thường xuyên giành lấy, như thể họ có quyền, tài sản và địa vị quá mức của mình. Khi nói rằng người giàu vào nước trời còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim, có lẽ Chúa Giêsu sẽ làm rõ hơn khi nói thêm: “Dĩ nhiên trừ khi người giàu giống như trẻ con, xin phép vũ trụ, cộng đoàn và Thiên Chúa khi muốn một chiếc áo mới!”

Khi tôi ở nhà tập, linh mục phụ trách tập viện đã cố gây cho chúng tôi ấn tượng về ý nghĩa của sự khó nghèo đời tu, ngài bảo chúng tôi viết mấy chữ la-tinh: ad usum, để bạn dùng trong mỗi quyển sách được phát. Dù quyển sách này được giao cho chúng tôi dùng riêng, nhưng chúng tôi không sở hữu nó. Nó chỉ được để cho chúng tôi dùng, quyền sở hữu thì ở người nào đó khác. Rồi chúng tôi được dạy, điều này cũng đúng với bất kỳ vật gì được giao cho chúng tôi dùng riêng, từ bàn chải đánh răng cho đến chiếc áo mặc trên người. Chúng không thật sự là của chúng tôi, mà chỉ đơn thuần được giao cho chúng tôi dùng.

Một tập sinh thời đó cùng tôi, sau này đã rời dòng và bây giờ là bác sĩ, anh vẫn là bạn thân của tôi, anh chia sẻ với tôi, dù bây giờ là bác sĩ, anh vẫn viết mấy chữ ad usum trong mọi quyển sách của anh. Lý luận của anh: “Tôi không ở dòng tu. Tôi không có lời khấn khó nghèo, nhưng tôi thấy khi ở thế giới này, nguyên tắc linh mục dạy chúng tôi thật xác đáng không khác gì khi ở tập viện. Chúng ta chẳng sở hữu gì hết. Những quyển sách này không hẳn là của tôi. Chúng được giao cho tôi, tạm thời, để tôi dùng. Chẳng có gì hoàn toàn thuộc về bất kỳ ai. Và tốt nhất là đừng bao giờ quên điều đó”.

Bất kể chúng ta giàu có, uy lực và trưởng thành đến thế nào, thì trong chuyện xin phép để mua một chiếc áo mới luôn có một điều gì đó thật lành mạnh. Nó giữ chúng ta hòa hợp với sự thật rằng vũ trụ thuộc về tất cả mọi người, và tối hậu là thuộc về Thiên Chúa. Mọi thứ đến với chúng ta đều là tặng vật, cho nên chúng ta đừng bao giờ mặc định xem cái gì là của mình, mà hãy mặc định xem là đã được ban cho!

Nhìn thấy mùa xuân và lễ Phục Sinh

Ở tuổi hai mấy, tôi đã học một năm ở Đại học San Francisco. Lúc đó, tôi vừa chịu chức và đang học thạc sĩ thần học. Chúa nhật Phục sinh năm đó là một ngày xuân nắng rực rỡ cực đẹp, nhưng tâm trạng tôi lại không vui. Tôi đang ở rất xa quê nhà, xa gia đình và cộng đồng của tôi, tôi nhớ nhà và cô độc. Hầu hết các bạn thân của tôi, các sinh viên thạc sĩ thần học đều đã về nhà mừng lễ Phục sinh với gia đình. Tôi nhớ nhà và cô đơn, hơn thế nữa, tôi còn có bị nhức nhối và ám ảnh bẩm tại của tuổi trẻ, cùng với những khắc khoải tuổi trẻ. Tâm trạng của tôi chẳng ăn nhập gì với mùa xuân và lễ Phục sinh.

Chiều hôm đó, tôi đi dạo trong bầu khí mùa xuân, dưới ánh mặt trời, và với sự thật là lễ Phục sinh không làm tôi vui lên mấy, lại còn làm xúc tác cho một cảm thức cô đơn sâu đậm hơn. Nhưng đi dạo cũng có nhiều kiểu. Như nhà văn Leonard Cohen nói, cái gì cũng có những kẽ hở, và qua đó ánh sáng len vào. Tôi cần một chút thức tỉnh và cuối cùng tôi đã có được. Ở cổng vào công viên, tôi thấy một người mù ăn xin, ông để tấm bảng: Đang mùa xuân mà tôi bị mù! Sự mỉa mai này cũng đúng với tôi. Tôi cũng đang mù như ông! Vì trong mắt tôi, cảnh vật hôm nay cũng chẳng khác gì ngày Thứ sáu Tuần thánh, trời như đang mưa và lạnh lẽo. Tôi đã phí phạm ngày xuân đầy nắng và ngày lễ Phục sinh.

Sau này khi hồi tưởng tôi mới nhận ra đó là khoảnh khắc ân sủng, nhưng lúc đó, nó không thay đổi được tâm trạng của tôi. Tôi tiếp tục đi dạo trong khắc khoải, cuối cùng tôi về nhà ăn tối. Trong năm học đó, tôi là tuyên úy sống tại chỗ trong một tu viện có nhà lưu trú cho thanh niên, và luật của nhà là tuyên úy ăn một mình trong phòng ăn riêng. Cho nên, dù không đúng với toa bác sĩ khuyên cho một thanh niên khắc khoải và nhớ nhà, tôi đã ăn bữa tối chúa nhật Phục sinh một mình.

Nhưng sự phục sinh đã đến với tôi ngày chúa nhật Phục sinh đó, dù có hơi muộn. Tôi và hai sinh viên cao học khác hẹn gặp nhau ở biển ban tối, đốt lửa và ăn mừng đêm Phục sinh theo kiểu của chúng tôi. Thế là khi trời chập tối, tôi đi xe buýt đến biển và gặp các bạn (một nữ tu và một linh mục). Chúng tôi đốt lửa trại (thời đó vẫn còn hợp pháp), ngồi đó trong vài tiếng, và cuối cùng thú nhận với nhau mình đã có ngày lễ Phục sinh thảm não. Ngọn lửa đã đem lại cho chúng tôi phúc lành mà ngọn lửa đêm Vọng Phục sinh hôm trước chưa làm được. Tôi đã phá vỡ lời nguyền khắc khoải và tự quy vốn đã bịt mắt tôi khỏi tất cả những gì nằm ngoài bản thân. Khi chúng tôi ngồi nhìn ngọn lửa và nói đủ chuyện trên trời dưới đất, tâm trạng của tôi bắt đầu thay đổi, khắc khoải lắng xuống, nặng nề được cất đi. Tôi bắt đầu cảm nhận mùa xuân và lễ Phục sinh.

Trong trình thuật phục sinh, thánh Gioan kể câu chuyện của người môn đệ yêu dấu, vào buổi sáng ngày Phục sinh đã chạy đến mộ Chúa Giêsu và hé nhìn vào đó. Ngài thấy mộ trống không, áo quần được xếp gọn gàng. Nhưng vì ngài là một môn đệ nhìn bằng đôi mắt yêu thương, nên ngài hiểu ý nghĩa chuyện này, ngài nắm bắt được thực tế của sự phục sinh và biết rằng Chúa Giêsu đã sống lại. Ngài đã thấy mùa xuân. Ngài đã hiểu được bằng chính mắt mình.

Thánh Hugo St. Victor có câu nói trứ danh: Tình yêu là đôi mắt. Khi nhìn bằng tình yêu, chúng ta không chỉ nhìn thẳng và rõ ràng, mà còn thấy được chiều sâu và ý nghĩa. Nói ngược lại cũng đúng. Sau khi Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, có người thấy được Ngài và có người không thấy được Ngài, cũng đều có lý do cả. Tình yêu là đôi mắt. Những ai tìm kiếm sự sống qua đôi mắt tình yêu, như bà Maria Mácđala tìm Chúa Giêsu trong vườn và sáng ngày Phục sinh, họ thấy mùa xuân và sự phục sinh. Bất kỳ dạng đôi mắt nào khác đều mù lòa trước mùa xuân.

Khi tôi đi dạo chiều lễ Phục sinh năm đó ở San Francisco, tôi không phải là bà Maria Mácđala đi tìm Chúa Giêsu trong vườn, cũng không phải người môn đệ yêu dấu được thôi thúc bởi tình yêu để chạy đến nhìn vào mộ Chúa Giêsu. Trong sự khắc khoải tuổi trẻ của tôi, hầu như tôi chỉ đi tìm tôi, hầu như tôi chỉ gặp cái tôi âu lo của tôi. Và đó là mù lòa. Khi bị kẹt trong bản thân, chúng ta mù lòa, chúng ta không thấy mùa xuân lẫn sự phục sinh. Tôi đã học được bài học đó, không phải trong nhà thờ hay lớp học, mà trong một ngày chúa nhật Phục sinh khắc khoải và cô đơn ở San Francisco, khi tôi gặp người ăn xin mù, rồi về nhà ăn bữa tối lễ Phục sinh một mình.

Phục sinh: siêu tuyến truyện tối hậu

Vài năm trước, khi đang trình bày ở một hội nghị tại trường của chúng tôi, linh mục trẻ Pierre-Olivier Tremblay đến từ Québec đã chia sẻ một câu chuyện.

Tôi đã có vài năm làm việc với người trẻ và tôi để ý thấy một điều nơi nhiều người trẻ. Đó là họ trẻ trung và tràn đầy năng lượng, ước mơ, hy vọng và sinh lực, làm cho chúng ta thấy ở gần họ thật tuyệt. Tuy nhiều sinh lực, nhưng ít người tỏa ra họ có nhiều hy vọng. Họ thiếu hy vọng vì họ thiếu một siêu tuyến truyện. Họ chỉ có những câu chuyện riêng, và khi mọi chuyện tốt đẹp thì sinh lực và tinh thần của họ được nâng cao, nhưng khi họ gặp chuyện bất ổn (chia tay người yêu, người thân qua đời, mắc bệnh nặng) họ chẳng có gì để bám víu vì họ không nhận thức đời mình trong bối cảnh của một câu chuyện lớn hơn, một siêu tuyến truyện. Họ chỉ nhận thức bản thân trong những câu chuyện cá nhân riêng của họ – nó không bao giờ là căn cứ cho hy vọng.

Một siêu tuyến truyện, một câu chuyện lớn hơn mà chúng ta cần hiểu câu chuyện của mình ở trong đó, là gì? Và làm thế nào nó là nền tảng cho hy vọng?

Tôi có một ví dụ: Linh mục Pierre Teilhard de Chardin vừa là nhà khoa học tầm mức thế giới, vừa là nhà thần nghiệm kitô giáo. Là nhà khoa học và là người của đức tin, ngài dự định trình bày rõ ràng một tổng hợp thần học sẽ đưa dự định thần thiêng trong sự tiến hóa của vũ trụ và dự định thần thiêng trong việc Thiên Chúa nhập thể trong Chúa Giêsu Kitô vào trong một thị kiến hòa hợp.

Và ngài đã trình bày rõ ràng một thị kiến, trong đó một tín hữu kitô có thể bao hàm hòa hợp các thuyết khoa học về nguồn gốc của vũ trụ, sự tiến hóa trong 15 triệu năm, mục đích và vai trò của Chúa Kitô trong lịch sử, cách lịch sử vũ trụ và lịch sử đức tin cuối cùng sẽ lên đến cực điểm (Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Êphêsô) lúc thời gian đến hồi viên mãn, khi Thiên Chúa, qua Chúa Kitô đưa tất cả mọi sự nên một với Ngài. Vào ngày đó, sự thiện sẽ thắng sự dữ, tình yêu sẽ thắng chia rẽ, hòa bình sẽ thắng hỗn loạn, vị tha sẽ thắng ích kỷ, trìu mến sẽ thắng bạo tàn, và tha thứ sẽ thắng báo thù.

Khi Linh mục trình bày thị kiến này ở một hội thảo, một đồng nghiệp đã thách thức ngài: “Cha tin rằng sự thiện cuối cùng sẽ thắng sự dữ, vậy nếu chúng ta cho trái đất nổ tung bằng bom nguyên tử, thì thị kiến của cha sẽ như thế nào?” Linh mục Teilhard trả lời: “Nếu chúng ta cho trái đất nổ tung bằng bom nguyên tử, thì sẽ là bước lùi hai triệu năm, nhưng sự thiện sẽ thắng sự dữ, không phải vì tôi ước mong như vậy, nhưng vì Thiên Chúa đã hứa như vậy, và trong sự kiện phục sinh, Thiên Chúa đã cho thấy Ngài có quyền năng để thực hiện lời hứa đó.”

Linh mục nói đúng. Ngoại trừ sự phục sinh, chúng ta chẳng có một bảo đảm nào cho bất cứ chuyện gì. Dối trá, bất công, bạo lực có vẻ cuối cùng sẽ chiến thắng. Hỗn loạn, bạo tàn và cái chết có lẽ sẽ nắm quyền định đoạt. Vào ngày Chúa Giêsu chết, mọi chuyện rõ ràng có vẻ như thế.

Tuy nhiên, sự phục sinh của Chúa Giêsu là lời định đoạt của Thiên Chúa về chuyện này. Trong sự phục sinh, Thiên Chúa bảo đảm với chúng ta dù có thế nào đi chăng nữa, cho dù sự dữ có vẻ chiếm ưu thế đến đâu đi nữa, cho dù đôi khi sự ngây thơ, tốt lành và trìu mến có vẻ bất lực thế nào đi nữa, cho dù thế gian đóng đinh Chúa Kitô bao nhiêu lần đi nữa, cho dù chúng ta cho nổ tung thế giới bằng bom nguyên tử bao nhiêu lần đi nữa, cho dù mọi chuyện có vô vọng đến thế nào đi nữa, thì cái kết câu chuyện của chúng ta đã được viết sẵn và đó là cái kết có hậu, một cái kết ngất ngây.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta (như lời của Julian thành Norwich): “Đến cuối cùng, tất cả sẽ tốt đẹp, và tất cả sẽ tốt đẹp, và mọi hiện sinh sẽ tốt đẹp”.

Sự phục sinh, là khi Thiên Chúa để Chúa Giêsu chịu đóng đinh trỗi dậy theo một cách có thật, hoàn vũ và hữu hình, chứ không chỉ là một đảo chiều trong ý thức của các môn đệ Chúa Giêsu, đó chính là nền tảng không những chỉ mang lại hy vọng cho chúng ta mà còn cho đức tin của chúng ta. Như thánh Phaolô nói, nếu không có phục sinh thì chúng ta là những kẻ ngu muội nhất. Nhưng nếu Chúa Giêsu đã phục sinh, thì mọi điều chúng ta tin và mọi điều chúng ta hy vọng, cùng chiến thắng vĩnh viễn của sự thiện, tình yêu, hiệp nhất, trìu mến và niềm vui trên tất cả những gì đã đàn áp, đều được bảo đảm. Sự phục sinh của Chúa Giêsu, chỉ một điều này thôi, chính là nền tảng cho mọi hy vọng, cả cho chúng ta và cho vũ trụ.

Sự phục sinh là siêu tuyến truyện tối hậu. Đây là câu chuyện lớn hơn, chúng ta cần đặt câu chuyện cá nhân của mình vào trong đó. Khi Pierre-Olivier Tremblay (bây giờ là giám mục ở Québec) nhận xét nơi những người trẻ cùng làm việc với ngài, họ có một sinh lực rất mạnh, nhưng lại ít hy vọng, vì họ thiếu một siêu tuyến truyện để đặt câu chuyện riêng của họ vào, siêu tuyến truyện linh mục nói đến là tuyến truyện về Chúa Giêsu phục sinh từ cõi chết.

Dù già hay trẻ, những câu chuyện cá nhân riêng của chúng ta đều không đủ. Chúng ta cần hiểu mình (và hiểu vũ trụ) bên trong siêu tuyến truyện phục sinh.

Phim Người Được Chọn

Tôi chắc chắn nhiều người đã biết loạt phim truyền hình The Chosen (Người Được Chọn) về cuộc đời Chúa Giêsu. Phim phát hành từ năm 2019, đã ra rạp, đã phát trên mạng và đã có hơn 200 triệu người xem. Phim được dịch ra 50 ngôn ngữ và có 13 triệu người theo dõi trên mạng xã hội, với khoảng 30% khán giả không phải là tín hữu kitô.

Phim được được nhà sản xuất Dallas Jenkins dàn dựng, ông là tín hữu kitô phái Phúc âm với sự hiểu biết về đại kết và liên tôn rất sâu đậm. Jonathan Roumie, người công giáo La-mã sốt sắng, đóng vai Chúa Giêsu. Chúa Giêsu trong phim có cái gì đó khác với Chúa Giêsu chúng ta thường thấy trong các minh họa và các phim khác. Trong phim này, đạo diễn giới thiệu một Chúa Giêsu gần gũi và dễ gần và vì thế có một tác dụng rất hữu ích.

Đó là tác dụng nào? Linh mục Dòng Tên Joe Hoover viết trên báo America: “Tôi được rửa tội, là tín hữu kitô đã 53 năm, học trường công giáo và ở Dòng Tên đã 30 năm… loạt phim The Chosen đem lại cho tôi nhận thức, gắn kết với cuộc đời Chúa Kitô và các môn đệ mà tôi không có được ở bất cứ đâu khác. Không có bài giảng, không có lời tán tụng thần học, không có bằng thạc sĩ, không có lớp học về thánh Gioan, Thánh Máccô hay Thánh Luca, không có hội thảo linh đạo, không có khóa tĩnh tâm Kinh Thánh 30 ngày nào, nhưng bộ phim đã tái hiện Kinh Thánh, làm cho Đức Kitô và dân của Ngài trở nên rất thật và dễ gần với tôi.”

Tôi cũng cảm thấy như vậy. Người Được Chọn cũng có ảnh hưởng tương tự như vậy trên tôi. Như linh mục Joe Hoover, tôi được rửa tội khi mới sinh, được dạy theo truyền thống công giáo La-mã, là tu sĩ của một hội dòng, có bằng cấp thần học, đã dự nhiều khóa hội thảo về linh đạo, đã nghiên cứu Phúc âm dưới sự hướng dẫn của một vài học giả có tầm vóc thế giới, nhưng loạt phim này cho tôi thấy gương mặt của Chúa Giêsu mà tôi không thấy được trong những gì tôi đã từng học, nó giúp tôi nhiều trong việc cầu nguyện và trong tương quan với Chúa Kitô.

Về căn bản, đó là những gì bộ phim Người Được Chọn mang lại cho tôi, giới thiệu một Chúa Giêsu mà tôi muốn ở bên cạnh Ngài. Có phải tất cả chúng ta đều muốn ở bên cạnh Ngài đó không? Đúng như vậy, nhưng nếu chúng ta thành thật với chính mình, thì Chúa Giêsu thường được giới thiệu không phải là người chúng ta muốn dành nhiều thì giờ để ngồi riêng với Ngài, là người chúng ta cảm thấy thoải mái, tự nhiên không cần phải màu mè gì.

Nhìn chung trong các phim, Chúa Giêsu thường bị cho là thiếu hơi ấm tình người, xa cách, nghiêm nghị, thoát tục, quá sùng kính, có ánh mắt làm chúng ta cảm thấy áy náy vì tội của mình mà Chúa bị đóng đinh. Chúa Giêsu đó cũng không vui, gần như Chúa không bao giờ đem nụ cười đến với thế gian, không bao giờ đem sự nhẹ nhàng vào giữa mọi người. Ngài không phải là Chúa Giêsu mà chúng ta thấy thoải mái khi ở bên cạnh Ngài.

Đáng tiếc thay, đó lại là Chúa Giêsu thường thấy trong các bài giảng, bài giáo lý, trong các khóa thần học và trong linh đạo bình dân. Chúa Giêsu chúng ta thấy ở đó, với mọi chân lý và mặc khải Ngài đem lại cho thế gian, thường vẫn quá thần thánh và quá sùng kính để chúng ta có thể thoải mái ở bên cạnh theo kiểu con người. Ngài là Chúa Giêsu chúng ta ngưỡng mộ, có khi còn ái mộ, người mà chúng ta tin tưởng đủ để dâng cả tâm hồn cho những điều lớn lao. Nhưng Ngài cũng là Chúa Giêsu mà chúng ta không cảm thấy thoải mái khi ở gần, người chúng ta sẽ không chọn để ngồi bên cạnh trong bàn ăn, để cùng đi nghỉ mát, người quá cách biệt với chúng ta đến nỗi chúng ta dễ dàng xem Ngài là người thầy đáng kính hơn là người bạn thân thiết, lại càng không phải là người yêu để chúng ta gắn kết tâm hồn.

Tôi nói vậy không phải để nhân bản hóa Chúa Giêsu (như thỉnh thoảng thời nay người ta vẫn thường làm) bằng cách biến Ngài thành người tử tế rao giảng về tình yêu nhưng không nói lên chân lý bất di bất dịch của Thiên Chúa. Phim Người Được Chọn không làm vậy. Hoàn toàn không.

Phim Người Được Chọn giới thiệu một Chúa Giêsu với sự thần thánh mà chúng ta không bao giờ nghi ngờ, dù Ngài nồng hậu và cuốn hút, Ngài có một nhân tính làm chúng ta cảm thấy thoải mái khi ở bên Ngài, thực sự là lôi cuốn chúng ta vào sự hiện diện của Ngài. Khi xem Người Được Chọn, khán giả không bao giờ có khoảnh khắc nào hoài nghi về chuyện Chúa Giêsu có mối liên kết đặc biệt và bất khả phân ly với Chúa Cha, Ngài cho chúng ta chân lý và sự mặc khải của Thiên Chúa một cách toàn vẹn, không suy suyển. Nhưng Chúa Giêsu này cũng đem lại cho chúng ta nụ cười của Thiên Chúa, sự nồng hậu, sự chúc phúc của Thiên Chúa trên cuộc đời vốn thường xuyên thiếu vắng những điều này.

Nhà thần nghiệm Julian thành Norwich đã mô tả Thiên Chúa: Thiên Chúa ngồi trên trời, hoàn toàn buông thả, gương mặt Ngài như một bản hòa âm tuyệt diệu.

Người Được Chọn cho chúng ta thấy được khuôn mặt thư thái của Thiên Chúa nhưng tiếc thay, chúng ta lại quá hiếm khi được thấy.

Tìm Chúa Giêsu trong hoàng hôn của kitô giáo

Ngày nay, chúng ta cảm nghiệm Chúa Giêsu ở đâu trong một thế giới dường như quá chật kín với những bận tâm riêng của mình nên chẳng có chỗ nào cho Ngài?

Linh mục Tomas Halik, cây viết thiêng liêng trong quyển sách gần đây Hoàng hôn của kitô giáo đã khuyên: “Khi thế giới ngày càng có ít chỗ rõ ràng cho Chúa Giêsu, chúng ta cần tìm kiếm Ngài hơn nữa trong những nơi mà Ngài ẩn danh. Chúng ta hãy tìm Ngài ‘bằng tiếng Ngài’ như Maria Mácđala, chúng ta tìm Ngài nơi những người lạ trên đường như các môn đệ trên đường Ê-mau, chúng ta tìm Ngài nơi những vết thương của thế giới như tông đồ Tôma, chúng ta tìm Ngài khi Ngài đi qua những cánh cửa đóng kín vì sợ hãi, chúng ta tìm Ngài nơi Ngài mang đến ơn tha thứ và những khởi đầu mới.”

Lời mời gọi ở đây là chúng ta phản ứng tốt hơn với những dấu chỉ của thời đại, vì chúng ta đang sống trong cái mà cha Halik gọi là “hoàng hôn của kitô giáo”.

Hoàng hôn của kitô giáo là gì?

Cha Halik phân biệt ba giai đoạn trong lịch sử kitô giáo: Buổi sáng kitô giáo là thời trước năm 1500, thời tiền hiện đại, thời trước thế tục hóa. Buổi trưa của kitô giáo là thời thế tục hóa và hiện đại hóa, căn bản là từ thế kỷ 19 đến thế hệ chúng ta. Hoàng hôn kitô giáo là thời chúng ta ngày nay, thời hậu hiện đại, khi chúng ta đang chứng kiến sự đổ vỡ của nhiều nơi trên thế giới đã từng có ảnh hưởng trên đức tin và tôn giáo. Và theo cha Halik, ảnh hưởng của những chuyện này chính là đức tin kitô giáo bây giờ đã vượt quá những hình thức tôn giáo trước đây.

Ồ! Một phát biểu thật táo bạo! Tuy nhiên, điều mà cha Halik đề xuất không phải là đức tin đang chết, kitô giáo đang chết, hay là các giáo hội đang chết. Đúng hơn, theo cha, kitô giáo ngày nay thấy mình đang phần nào vô gia cư về văn hóa, ở một thời mà quá nhiều cấu trúc xã hội từng nâng đỡ kitô giáo đang sụp đổ, vì thế đức tin kitô giáo cần tìm một hình dạng mới, một mái nhà mới, các phương thức diễn tả mới, các vai trò xã hội và văn hóa mới, và các đồng minh mới.

Và làm sao để làm được? Chúng ta không biết. Nhưng cha Halik gợi ý: kitô giáo sẽ không đánh mất căn tính và trở thành đức tin không tôn giáo như mọi người sợ. Kitô giáo sẽ không tan rã thành một linh đạo mơ hồ, không có giáo lý, không có ranh giới và theo kiểu riêng tư. Thay vào đó, hy vọng chính tinh thần tích cực và đa dạng vốn làm cho nhiều kitô hữu sợ hãi (ngược đời thay) lại là thời kỳ thai nghén của kitô giáo tương lai.

Theo cha Halik, những thách thức kitô giáo đối diện ngày nay đang mời gọi chúng ta đưa đức tin vào một không gian mới, như thánh Phaolô đã làm khi đưa kitô giáo ra khỏi những ranh giới của do thái giáo thời đó. Cha Halik giải thích: “Tôi tin kitô giáo của thời sau, trên tất cả sẽ là một cộng đồng của một diễn tả mới và sâu sắc hơn về hai nguồn mặc khải thần thánh là Kinh thánh và truyền thống, nhất là về tiếng Chúa trong những dấu chỉ thời đại.”

Làm sao để có được? Đó chính là đề nghị của quyển sách này. Từng chương một đặt ra những khả thể về cách chúng ta có thể đọc những dấu chỉ thời đại một cách can đảm hơn, đồng thời thay vì làm giảm nhẹ bất kỳ thực chất nào của đức tin kitô giáo thì chúng ta đọc những dấu chỉ của thời đại dẫn dắt chúng ta đi vào một nhận thức sâu sắc hơn cả về Kinh thánh và truyền thống, nhất là để chúng ta có thể hợp nhất Chúa Kitô của sự tiến hóa vũ trụ với Chúa Giêsu Phục sinh một cách hòa hợp hơn; và nhận ra cả hai đều không chỉ hiện diện trong những điều rõ ràng nơi đức tin và nơi việc thờ phượng mà còn hiện diện ẩn danh trong sự tiến hóa của nền văn hóa và xã hội chúng ta.

Như vậy, chúng ta cần tìm kiếm Chúa Giêsu Kitô, không chỉ nơi các sách thánh, giáo hội, việc thờ phượng, lớp giáo lý và sự thông công kitô giáo rõ ràng của chúng ta, dù chúng dĩ nhiên là những nơi đáng để tìm kiếm. Nhưng, như Maria Mácđala, chúng ta cần nhận ra tiếng Ngài nơi người canh gác nghĩa địa; nơi các môn đệ trên đường Êmau, khi không còn có câu trả lời, chúng ta cần nhận ra sự hiện diện của Ngài nơi người lạ nói những lời làm cho lòng chúng ta bừng cháy; như Tôma kém tin, chúng ta cần vượt qua những hoài nghi của mình về sự sống lại của Chúa bằng cách chạm đến vết thương của Ngài nơi những người nghèo và người đau khổ; như cộng đoàn đầu tiên của Chúa Giêsu đã khép mình sau cánh cửa đóng kín vì sợ hãi, chúng ta cần nhận ra Ngài mỗi khi có điều gì đó bất ngờ len vào nỗi sợ rối ren của chúng ta để đem lại bình an, và chúng ta cần nhận ra sự hiện diện của Ngài bên trong chúng ta mỗi khi chúng ta nhận được ơn tha thứ và được tăng sức để khởi đầu lần nữa. Đây không phải là một thời để chết, mà là thời kairos, thời chúng ta được mời gọi mở đôi mắt để nhận ra Chúa Kitô theo cách thức mới, thời Chúa đang đi cùng chúng ta theo những cách thức chúng ta chưa quen.

U sầu và tâm hồn

Thường thì không ai trong chúng ta thích buồn, nặng nề hay trầm cảm. Nhìn chung, chúng ta thích ánh nắng hơn bóng tối, hớn hở hơn u sầu. Chính vì thế, chúng ta có khuynh hướng làm đủ mọi việc có thể để đánh tan u sầu, để nặng nề và buồn bã tạm xa khỏi mình. Hầu như lúc nào chúng ta cũng chạy trốn những cảm xúc làm đau buồn hay đe dọa chúng ta.

Hầu như chúng ta xem buồn bã, u ám, hoài niệm, cô đơn, u uất, bồn chồn, hối tiếc, mất mát, sợ chết, sợ những góc tối trong tâm hồn, nặng nề tâm hồn là những hệ quả tiêu cực tác động đến tâm hồn chúng ta. Tuy nhiên, những cảm xúc này có mặt tích cực giúp chúng ta giữ mối liên kết với tâm hồn.

Đơn giản, chúng giúp chúng ta liên kết với những phần trong tâm hồn thường không được chúng ta chú ý đến. Tâm hồn chúng ta sâu sắc và phức tạp, khi chúng ta muốn nghe những gì tâm hồn nói, chúng ta cần nghe trong mọi tâm trạng cuộc sống, nhất là khi chúng ta thấy buồn và chênh vênh. Trong buồn bã và u sầu, tâm hồn nói với chúng ta những điều mà chúng ta thường điếc đặc, vì thế chúng ta nên xét mặt tích cực của u sầu.

Tiếc là, thời nay, chúng ta xem buồn bã và nặng nề tâm hồn làm tổn hại đến sức khỏe, sức sống, xem đây là tình trạng không lành mạnh – nhưng thường thì không phải vậy. Trong nhiều sách y khoa thời Trung cổ và Phục hưng, u sầu được xem là một ơn cho tâm hồn, ơn chúng ta cần vượt qua trong những thời điểm then chốt để có thêm chiều sâu và cảm thông. Dĩ nhiên, ở đây chúng ta không nói đến trầm cảm lâm sàng, vốn thực sự là một tổn hại cho sức khỏe, nhưng là các trầm cảm khác thấm nhập vào tâm hồn chúng ta, kéo chúng ta đi xuống.

Vì sao chúng ta cần trải qua một vài dạng u sầu nào đó để được trưởng thành sâu sắc hơn?

Thánh Thomas Moore đã viết một thấu suốt sâu sắc về cách chúng ta cần cẩn thận lắng nghe các xung lực và nhu cầu của tâm hồn: “Trầm cảm cho chúng ta những phẩm chất rất giá trị mà chúng ta cần để trở nên con người trọn vẹn. Nó cho chúng ta sức nặng khi chúng ta quá xem nhẹ đời mình. Nó cho chúng ta một mức độ trầm trọng. Nó cũng làm chúng ta già đi, để chúng ta phát triển một cách thích hợp, không giả vờ làm mình trẻ hơn tuổi thật. Nó làm chúng ta lớn lên và cho chúng ta một loạt cảm xúc, tính cách chúng ta cần để đương đầu với sự nghiêm trọng của cuộc đời. Trong hình ảnh của các văn bản y khoa, các phép chữa bệnh thời Phục hưng, trầm cảm được mô tả là người đội chiếc mũ rộng vành, đứng trong bóng tối, tay ôm đầu.”

Milan Kundera, nhà văn người Czech, trong tác phẩm kinh điển, Đời nhẹ khôn kham, đã vọng lại lời của Thánh Thomas Moore. Têrêxa, nhân vật nữ chính đã đấu tranh để hòa giải với cuộc đời khi cuộc đời quá nhẹ nhàng, quá sáng sủa, quá tầm phào, khi cuộc đời dường như thiếu vắng sự lo lắng gợi lên bóng tối, gợi lên cái chết. Vì thế Têrêxa luôn thấy nhu cầu cần một sự trầm trọng, một sự nặng nề ra hiệu để thấy cuộc đời không chỉ đơn giản là những chuyện hớn hở, thoải mái tốt đẹp. Với Têrêxa, nhẹ nhàng tương đương với nông cạn.

Trong nhiều văn hóa, và thực sự trong mọi tôn giáo lớn, các giai đoạn u sầu và buồn bã được xem là những con đường cần thiết chúng ta phải đi để đào sâu nhận thức và có được đồng cảm. Và đó có phải là một phần rất quan trọng trong việc trải qua Mầu nhiệm Vượt qua trong kitô giáo đó sao? Chính Chúa Giêsu khi chuẩn bị làm của lễ tối hậu cho tình yêu, Ngài đã phải đau đớn chấp nhận không có con đường đến niềm vui Ngày Chúa nhật Phục sinh nếu không có sự nặng nề của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày thứ Sáu tốt lành. Làm sao ngày thứ Sáu tốt lành có thể tốt, nếu u sầu, buồn bã và nặng nề tâm hồn là những dấu hiệu nói rằng chúng ta có gì đó không ổn?

Vì thế chúng ta nên nhìn vào những giai đoạn buồn bã và nặng nề trong đời mình như thế nào? Chúng ta nên xử lý u sầu và những hệ lụy của nó như thế nào?

Trước hết, điều quan trọng là xem u sầu (dù ở dưới dạng nào) là một điều bình thường, có khả năng làm cho đời mình lành mạnh. Nặng nề tâm hồn không nhất thiết là dấu chỉ bên trong chúng ta có gì đó không ổn. Đúng hơn, và hầu như thường xuyên, đó là khi tâm hồn chúng ta kêu gào đòi chúng ta chú ý, muốn được lắng nghe, cố giữ chúng ta theo một cách sâu sắc hơn, và nói như Thánh Thomas Moore đã nói: đó là cố làm chúng ta sâu sắc hơn theo một cách đúng đắn.

Nhưng để được như vậy, chúng ta cần chống lại hai cám dỗ đối lập, cụ thể là đánh tan buồn bã hoặc đắm chìm vào buồn bã. Chúng ta cần cho u sầu một thời hạn thỏa đáng, chỉ vậy thôi. Làm sao chúng ta có thể làm được? Tâm lý gia người Mỹ James Hillman cho chúng ta lời khuyên: “Làm gì với nặng nề của tâm hồn? Hãy cho nó vào vali và đem theo mình. Giữ nó gần mình, nhưng kiềm chế, sẵn sàng dùng nhưng đừng để nó chiếm lấy mình.”

Những lời này giúp chúng ta hiểu hơn về thách thức của Chúa Giêsu dành cho chúng ta: Nếu các con muốn làm môn đệ của Thầy, hãy vác thập giá hằng ngày và theo Thầy.

Con người Chúa Giêsu và mầu nhiệm Chúa Kitô

Tôi được nuôi dạy theo tinh thần Công giáo La-mã, tôi hấp thụ đặc tính của Công giáo La-mã. Vào chủng viện, lấy bằng thần học, dạy thần học ở Đại học vài năm tôi mới bắt đầu phân biệt “Chúa Giêsu” và “Chúa Kitô”. Trước đó, với tôi, cả hai luôn là một, đồng nhất, Chúa Giêsu Kitô.

Trong tâm trí tôi, Chúa Giêsu Kitô là một người, là ngôi hai trong Ba Ngôi, đã mặc lấy xác phàm nhập thể và vẫn là Thiên Chúa của chúng ta, Đấng biện hộ cho chúng ta và là bạn của chúng ta trên trời. Khi cầu nguyện, nói chuyện hay trong các liên hệ, tôi không phân biệt giữa Chúa Giêsu và Chúa Kitô. Trong nhiều năm viết bài, tôi đơn giản dùng “Chúa Giêsu” và “Chúa Kitô” luân phiên nhau.

Dần dà qua nhiều năm, chuyện này đã có thay đổi và tôi bắt đầu phân biệt rõ hơn giữa Chúa Giêsu và Chúa Kitô. Chuyện này bắt đầu từ một nhận thức sâu hơn về những gì mà các Phúc âm và thánh Phaolô nói rằng thực tại của Chúa Kitô là mầu nhiệm lớn lao hơn Chúa Giêsu trong lịch sử, mặc dù ngài luôn lấy Chúa Giêsu làm tâm điểm. Tôi càng thấy rõ hơn sự phân biệt và tầm quan trọng này lúc tôi bắt đầu kết nối hơn với những người phái Phúc âm, cả sinh viên và đồng nghiệp.

Trong tinh thần thông công đức tin với các nhóm phái Phúc âm khác nhau, tôi bắt đầu thấy có một trong những khác biệt về giáo hội học giữa phái Phúc âm và Công giáo La mã. Người Công giáo La-mã chúng ta dù không lờ Chúa Giêsu nhưng rất chú trọng vào Chúa Kitô, còn phái Phúc âm thì dù không lờ Chúa Kitô, nhưng lại rất chú trọng vào Chúa Giêsu.

Cách chúng ta hiểu Hội thánh, hiểu Phép Thánh Thể, hiểu lời mời gọi hàng đầu của các Phúc âm, tất cả đều phủ bóng qua cách chúng ta hiểu chính mình trong mối quan hệ với Chúa Giêsu và Chúa Kitô.

Đâu là điểm quan trọng cần thiết trong chuyện này?

Đâu là điểm khác biệt giữa nói “Chúa Giêsu” và nói “Chúa Kitô”? Có khác biệt nào giữa cầu nguyện với Chúa Giêsu và cầu nguyện với Chúa Kitô, giữa liên hệ với Chúa Giêsu hay liên hệ với Chúa Kitô không?

Có một khác biệt, và là khác biệt quan trọng. Chúa Kitô không phải là tên khác của Chúa Giêsu, kiểu như Jack Smith, Susan Parker, hay Giêsu Kitô. Dù chúng ta dùng hai tên này với nhau là đúng, và chúng ta thường dùng trong lời cầu nguyện (Chúng con nguyện xin nhờ danh Giêsu Kitô, Chúa chúng con), nhưng có một phân biệt quan trọng.

Chúa Giêsu là một nhân vị, là ngôi thứ hai trong Ba Ngôi, nhân vị thánh thiêng đã nhập thể, và là nhân vị kêu gọi chúng ta mật thiết diện đối diện với Ngài. Chúa Kitô là mầu nhiệm mà chúng ta là một phần trong đó. Mầu nhiệm Chúa Kitô bao gồm con người Chúa Giêsu, nhưng cũng bao gồm cả chúng ta. Chúng ta không phải là một phần thân thể Chúa Giêsu, nhưng chúng ta là một phần thân thể Chúa Kitô.

Là tín hữu kitô, chúng ta tin rằng Chúa Giêsu là thân thể của Chúa Kitô, rằng Phép Thánh Thể là thân thể của Chúa Kitô, và khi được rửa tội chúng ta cũng là thân thể của Chúa Kitô. Thánh Phaolô nói rõ: chúng ta, cộng đoàn kitô hữu, là thân thể Chúa Kitô trên địa cầu, cũng như Chúa Giêsu và Phép Thánh Thể là thân thể Chúa Kitô. Và thánh Phaolô nói theo nghĩa đen. Chúng ta (cộng đoàn kitô) không giống như một thân thể, hay một thân thể huyền bí, ẩn dụ, cũng không đại diện hay thay thế thân thể Chúa Kitô. Thay vào đó, chúng ta là thân thể Chúa Kitô trên địa cầu, mang lại xác thịt vật chất cho Thiên Chúa trên mặt đất.

Đây là ngụ ý cho cương vị môn đệ kitô hữu. Chúa Giêsu là một nhân vị, một nhân vị mời gọi chúng ta mật thiết diện đối diện với Ngài (và cũng là điều mà phái Phúc âm xem là mục đích của cương vị môn đệ kitô hữu). Chúa Kitô là một phần của một mầu nhiệm lớn hơn, bao gồm Chúa Giêsu, nhưng cũng bao gồm mỗi một người chúng ta. Trong mầu nhiệm này, chúng ta được kêu gọi nên mật thiết không chỉ với Chúa Giêsu, mà còn với nhau và với vạn vật thụ tạo. Trong Chúa Kitô, mục đích của cương vị môn đệ kitô hữu là hiệp thông sự sống với Chúa Giêsu, với nhau, và với vạn vật thụ tạo (bởi mầu nhiệm Chúa Kitô cũng mang tính hoàn vũ).

Tôi xin có một gợi ý, dù có thể sẽ thành đơn giản hóa quá mức: Người Công giáo La-mã và phái Phúc âm có thể học hỏi từ nhau về chuyện này.

Người Công giáo La-mã chúng ta học từ các anh chị em phái Phúc âm cách để chú trọng nhiều vào Chúa Giêsu cũng như chúng ta đang chú trọng vào Chúa Kitô, để như phái Phúc âm, chúng ta có thể nhận rõ hơn (như trong Phúc âm Thánh Gioan) rằng ở trọng tâm cương vị môn đệ kitô hữu là lời mời gọi mật thiết diện đối diện với một nhân vị, Chúa Giêsu (chứ không chỉ với một mầu nhiệm).

Ngược lại, phái Phúc âm có thể học hỏi từ người Công giáo La -mã để chú trọng nhiều vào Chúa Kitô như vào Chúa Giêsu, và như vậy xác định cương vị môn đệ một cách rộng lớn hơn sự mật thiết cá nhân với Chúa Giêsu, và định nghĩa Giáo hội một cách rộng lớn hơn sự thông công đơn giản. Liên hệ với Chúa Kitô hướng chúng ta về Phép Thánh Thể như một sự kiện chung. Cũng vậy, nó cũng ngụ ý rằng chúng ta xem cương vị môn đệ kitô hữu không chỉ là lời mời gọi đến với sự mật thiết với Chúa Giêsu, mà còn là sáp nhập vào thân thể Hội thánh không chỉ bao gồm Chúa Giêsu mà còn bao gồm cả cộng đoàn những người tin như bản chất của thân thể này.

Chúng ta có thể học hỏi từ nhau để nghiêm túc hơn với cả Chúa Giêsu và Chúa Kitô.

Trừ quỷ bằng thinh lặng

Kinh Thánh tường thuật câu chuyện các môn đệ của Chúa Giêsu không thể trừ được một con quỷ. Khi họ hỏi Chúa Giêsu tại sao lại như vậy, Ngài trả lời có những con quỷ không thể trục xuất bằng lời cầu nguyện. Con quỷ Chúa Giêsu nói đến trong chuyện này đã nhập vào một người câm điếc.

Tôi muốn nêu tên một con quỷ khác có vẻ cũng không thể bị trục xuất bằng lời cầu nguyện, đó là con quỷ luôn phá hoại các mối liên hệ cá nhân, gia đình, cộng đồng và Giáo hội của chúng ta bằng hiểu lầm và chia rẽ, làm chúng ta mãi mãi khó khăn trong việc hiệp thông mang sự sống đến cho người khác.

Chúng ta cần lời cầu nguyện đặc biệt nào để trục xuất con quỷ này? Đó là lời cầu nguyện thinh lặng chung, gần giống với lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker.

Lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker là gì?

Tôi xin nói qua về lịch sử Quaker: Quaker là một nhóm các giáo phái Tin Lành, với các thành viên gọi nhau là giáo hữu, nhưng họ thường được gọi là Quaker vì một tuyên bố lừng danh của nhà sáng lập George Fox (1624-1691). Chuyện kể rằng trước mặt một vài quan chức chính quyền đang cố uy hiếp ông, ông cầm quyển Kinh Thánh lên và nói: Đây là lời của Thiên Chúa, hãy run rẩy đi! (run rẩy = quake).

Với những người Quakers, nhất là ở thời kỳ đầu, việc cầu nguyện chung của họ chủ yếu là ngồi lại với nhau trong thinh lặng, chờ Thiên Chúa phán với họ. Họ thinh lặng ngồi, chờ quyền năng Thiên Chúa đến và cho họ điều gì đó mà họ không thể tự đem lại cho mình, cụ thể là sự hiệp thông thực sự để cùng nhau vượt lên các chia rẽ đang chia cách họ. Dù họ ngồi riêng từng người, nhưng lời cầu nguyện của họ là chung một cách triệt để. Họ ngồi đó như một thân thể duy nhất, cùng nhau chờ Thiên Chúa cho họ sự hiệp nhất mà họ không thể tự đem lại cho mình.

Có lẽ đây là việc mà tín hữu kitô giáo chúng ta có thể thực hành hôm nay, khi thấy mình bất lực trước sự chia rẽ ở khắp nơi (trong gia đình, giáo hội và đất nước)? Suy cho cùng, tín hữu kitô chúng ta là một cộng đồng trong Thân thể Chúa Kitô, một cơ thể hữu cơ duy nhất, và khoảng cách vật chất không thật sự phân chia chúng ta được, vì thế có lẽ tín hữu kitô chúng ta nên bắt đầu cầu nguyện thường xuyên, ngồi lại với nhau trong thinh lặng của phái Quaker, như một cộng đồng, thinh lặng ngồi đó, cùng nhau chờ đợi, chờ Thiên Chúa đến và cho chúng ta sự hiệp thông mà chúng ta không không đủ sức để mang lại cho mình.

Về mặt thực tế, làm thế nào để được như vậy? Tôi xin đề nghị: mỗi ngày, chúng ta dành một thời gian để ngồi thinh lặng, một mình hoặc lý tưởng nhất là với người khác, trong một thời gian cố định (15 hoặc 20 phút), với dự định trước hết không phải là nuôi dưỡng sự mật thiết với Thiên Chúa (như trong việc suy niệm riêng), nhưng ngồi với nhau trong sự hiệp thông với tất cả mọi người trong Thân thể Chúa Kitô (và với tất cả những ai thiện tâm ở khắp nơi) để xin Thiên Chúa đến và cho chúng ta sự hiệp thông vượt lên chia rẽ.

Đây cũng có thể là một nghi thức mạnh mẽ cho hôn nhân và gia đình. Có lẽ một trong những liệu pháp chữa lành nhất trong hôn nhân chính là hai người thường xuyên ngồi lại với nhau trong thinh lặng, xin Thiên Chúa cho họ điều mà họ không thể tự cho mình, cụ thể là hiểu nhau vượt lên căng thẳng của cuộc sống hằng ngày. Tôi nhớ hồi nhỏ, gia đình tôi lần hạt chung với nhau mỗi tối, và nghi thức này cũng có hiệu quả như lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker, xoa dịu các căng thẳng tích tụ trong ngày, làm gia đình chúng tôi bình an hơn.

Tôi gọi đây là lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker, nhưng có nhiều dạng suy niệm và chiêm niệm khác nhau cũng có cùng ý này. Chẳng hạn Thánh Eugene de Mazenod nhà sáng lập Dòng Hiến sĩ đã để lại cho chúng tôi lời cầu nguyện gọi là Hương nguyện Oraison. Ý nghĩa của việc cầu nguyện này là: các Hiến sĩ phải sống với nhau trong cùng một cộng đoàn, nhưng chúng tôi là Hội dòng trải rộng trên 60 quốc gia trên thế giới. Làm sao chúng tôi có thể hiệp thông với nhau bất chấp khoảng cách?

Bằng lời cầu nguyện Oraison. Thánh Eugene khuyên chúng tôi dành nửa tiếng mỗi ngày để ngồi trong thinh lặng, một thời gian để không chỉ hiệp thông với Thiên Chúa, mà còn hiệp thông với mọi Hiến sĩ trên toàn thế giới. Cũng giống như lời cầu nguyện Thinh lặng Quaker, đây là lời cầu nguyện mà mỗi người ngồi một mình, trong thinh lặng, nhưng hiệp thông, xin Thiên Chúa hình thành nên sự hiệp thông nối kết mọi khoảng cách và khác biệt. Khi Chúa Giêsu nói có những con quỷ không thể bị trục xuất bằng lời cầu nguyện, là Ngài đang nói về chuyện này. Có lẽ con quỷ được nhắc đến cụ thể nhất chính là con quỷ hiểu lầm và chia rẽ. Chúng ta đều biết mình bất lực thế nào trong việc trục xuất nó. Ngồi lại với nhau trong thinh lặng chung, xin Thiên Chúa làm cho chúng ta một điều vượt quá sức chúng ta, như vậy có thể trừ đi con quỷ hiểu lầm và chia rẽ.

Đêm tối tâm hồn

Có những lúc thế giới chúng ta như bị đảo lộn. Đã có ai chưa có cảm giác này không? “Tôi đang suy sụp! Chuyện này quá sức tôi! Trái tim tôi đã tan nát! Tôi thấy mọi thứ đều phản bội tôi! Chẳng có gì hợp lý nữa! Cuộc sống đảo lộn hết cả rồi!”

Chúa Giêsu có một hình ảnh chung cho chuyện này. Trong Tin Mừng, Ngài nói thế giới sẽ có ngày kết thúc: “Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống và các quyền lực trên trời bị lay chuyển”. Khi Chúa Giêsu nói lời này, Ngài không nói nhiều về những đại biến động của vũ trụ, nhưng Ngài nói về những biến động to lớn của tâm hồn. Đôi khi thế giới nội tâm chúng ta chấn động, đảo lộn, tối tăm ngay giữa ban ngày, như một trận động đất mạnh trong lòng, chúng ta cảm nghiệm thế giới này sắp chấm dứt.

Tuy nhiên, trong cơn biến động này, Chúa Giêsu khẳng định một chuyện: có một điều chắc chắn, đó là lời hứa trung tín của Ngài. Lời hứa trung tín của Thiên Chúa không thay đổi, khi chúng ta vỡ mộng là lúc chúng ta có cơ hội để thấy những gì là thực chất, vĩnh cửu và giá trị cuộc đời chúng ta. Vì thế, ít nhất khi thế giới chúng ta tin tưởng bị đảo lộn, đó là lúc chúng ta có cơ hội để lớn lên, để bớt ích kỷ và để thấy hiện thực một cách rõ ràng hơn.

Thần nghiệm kitô giáo gọi đây là “đêm tối tâm hồn”, các nhà thần nghiệm diễn giải như thể đây là cách Thiên Chúa chủ động lật nhào thế giới, cố ý tạo đau thương để thanh lọc và thanh tẩy chúng ta.

Thánh Gioan Thánh giá, nhà thần nghiệm Tây Ban Nha đã mô tả: “Thiên Chúa cho chúng ta các thời nồng cháy rồi lấy chúng đi. Trong thời nồng cháy, Chúa cho chúng ta an ủi, hoan lạc và an toàn trong các mối quan hệ, trong lời cầu nguyện và trong công việc (có khi là với những đam mê và căng thẳng đáng kể). Đây là ơn Chúa ban và để chúng ta hưởng dùng. Nhưng Thánh Gioan còn nói, đến một thời điểm nào đó, Chúa lấy đi hoan lạc và an ủi, chúng ta sẽ trải nghiệm đêm tối tâm hồn, nơi chúng ta đã từng cảm nhận sự bừng cháy, đam mê, an ủi và an toàn, bây giờ chúng ta chỉ thấy khô khan, chán chường, vỡ mộng, bất an. Với Thánh Gioan Thánh giá, mọi trăng mật đều có hồi kết.

Vì sao? Vì sao Chúa làm như vậy? Vì sao trăng mật không tồn tại mãi mãi?

Vì cuối cùng, dù không phải từ đầu, nó ngăn chúng ta không nhìn thẳng được. Ban đầu, mọi cảm giác đều tuyệt vời khi chúng ta bắt đầu yêu, khi chúng ta bắt đầu cầu nguyện sâu lắng, khi chúng ta vừa tìm được chỗ đứng trên thế giới. Đây là các chặng đường trong kế hoạch, trong con đường của Chúa để chúng ta tiến tới. Đam mê và an ủi chúng ta cảm nhận dẫn dắt chúng ta đi ra khỏi bản thân, ra khỏi nỗi sợ hãi và ích kỷ. Nhưng đến cuối cùng, chính những cảm giác vui thích này tự nó trở thành vấn đề, vì chúng ta nán lại với chúng, thay vì hướng đến điều ở đằng sau chúng.

Tuần trăng mật thì tuyệt vời, nhưng trong tuần trăng mật chúng ta chỉ yêu chuyện đang yêu và mọi sinh lực tuyệt vời của nó tạo ra, thay vì chúng ta yêu con người ở sau những cảm xúc này. Đức tin và cầu nguyện cũng vậy. Khi mới bắt đầu sốt sắng cầu nguyện, chúng ta thường yêu trải nghiệm của việc cầu nguyện và những gì nó đem lại hơn là yêu Chúa. Trong bất kỳ tuần trăng mật nào, dù căng thẳng hay tinh tuyền như thế nào, thì những cảm xúc này vẫn phần nào thuộc về chính bản thân chúng ta thay vì thuần túy về người chúng ta nghĩ mình đang yêu. Đáng buồn thay, đây là lý do vì sao một tuần trăng mật nồng ấm và đam mê cuối cùng lại thành mối quan hệ lạnh lùng vô cảm.

Khi chúng ta chưa được thanh tẩy, một thanh tẩy nhờ đêm tối tâm hồn của sự vỡ mộng, chúng ta vẫn còn quá mải mê tìm kiếm chính mình trong tình yêu và trong bất kỳ một chuyện gì khác. Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu từng cảnh báo: “Hãy cẩn thận, đừng tìm bản thân nơi tình yêu, vì như thế cuối cùng bạn sẽ có trái tim tan nát!” Nếu hiểu được vậy, thì chúng ta sẽ bớt đi những lần trái tim tan nát. Thêm nữa, trước khi được thanh tẩy nhờ vỡ mộng, hầu hết những giọt nước mắt rơi, dù đau đớn và mất mát đến đâu, thì chúng vẫn hướng về chúng ta nhiều hơn là hướng về con người hay hoàn cảnh mà theo lẽ chúng ta phải khóc thương.

Trong những chuyện này đều có cả tốt lẫn xấu. Xấu là hầu hết mọi điều chúng ta cảm nhận là quý báu, đến một ngày sẽ bị lấy ra khỏi tay chúng ta. Tất cả đều sẽ bị đóng đinh lên thập giá, kể cả các cảm giác an toàn và nồng ấm. Nhưng tốt là tất cả chúng đều được trả lại cho chúng ta, một cách sâu sắc hơn, thuần khiết hơn, và thậm chí đam mê hơn trước.

Điều mà đêm tối tâm hồn, đại biến động của trái tim làm: chính là nó lấy đi tất cả những gì có vẻ vững chãi để cuối cùng chúng ta rơi tự do, không thể bám víu vào bất kỳ điều gì từng nâng đỡ chúng ta. Nhưng trong cú rơi này, chúng ta đến gần hơn với thềm đá, với Thiên Chúa, với hiện thực, với chân lý, với tình yêu và với người khác, theo cách chúng ta vượt lên được ảo tưởng, ích kỷ, tình yêu tự quy đang mạo nhận là vị tha. Sau khi vỡ mộng chúng ta mới thấy được rõ ràng, sau khi trái tim tan nát, tâm hồn chúng ta mới được thanh tẩy, sau khi tuần trăng mật đã qua thì tình yêu đích thực mới đến.

Tình yêu và đức tin là sự trung tín

Cách đây vai năm, một người bạn của tôi có lời cầu hôn không được lãng mạn cho lắm với hôn thê của mình. Anh đã ngoài 40, đã thất tình nhiều lần đến tỉnh người, anh công nhận anh có lỗi trong một vài lần, kết quả của những cảm xúc xáo trộn bất ngờ. Bây giờ anh đã ngoài 40, anh đấu tranh để ảo tưởng về tình yêu và lãng mạn không bị tan vỡ, anh gặp một cô anh rất tôn trọng, rất ái mộ, là người anh cảm thấy mình có thể xây dựng cuộc sống với cô. Nhưng anh không tự tin nên anh cầu hôn khá khiêm tốn.

Cơ bản lời cầu hôn của anh như thế này: Anh muốn ngỏ lời cầu hôn, nhưng anh phải nói rõ ra hết. Anh không giả vờ mình biết tình yêu là gì. Trong đời, có lúc anh tưởng mình biết, nhưng anh đã thấy cảm xúc của anh và của người kia ngược nhau, thường làm anh mất tự tin vào nhận thức tình yêu của mình. Nên, anh thú thật, anh sẽ không thể hứa mãi mãi yêu em. Nhưng anh có thể hứa anh mãi mãi chung thủy với em, sẽ luôn tôn trọng em, sẽ luôn làm hết sức có thể để ở bên em, để cùng em tiến xa hơn trong ước mơ, anh sẽ luôn là người chồng trung thực cố gắng xây dựng cuộc sống chung. Anh không thể bảo đảm cảm giác của anh sẽ như thế nào, nhưng anh hứa anh sẽ không phản bội sự chung thủy của em.

Đây không phải là lời cầu hôn chúng ta thấy trong các phim truyện, các tiểu thuyết lãng mạn, hầu hết các lời cầu hôn này dựa trên niềm tin ngây thơ rằng đam mê và phấn khích chúng ta cảm nghiệm ban đầu sẽ tồn tại mãi mãi. Lời cầu hôn của anh là lời cầu hôn chính chắn, không hứa hẹn ngây thơ điều mà mình không làm được.

Hơn nữa, ngoài việc hướng về một nhận thức trưởng thành hơn về tình yêu, lời cầu hôn này là hình ảnh tốt của một đường hướng đức tin. Xét cho cùng, đức tin hướng về sự trung tín trong hành động hơn là về sự nồng nhiệt của cảm xúc. Tôi xin đưa ra ví dụ:

Một mùa hè nọ khi tôi còn ở chủng viện, một bạn học của tôi đi tĩnh tâm 30 ngày. Mục đích của anh là cố gắng có đức tin sốt sắng, như vậy sẽ sưởi ấm lòng anh hơn. Anh đã có kinh nghiệm của một đức tin “khắc kỷ”, một linh cảm về thực tế và tình yêu của Thiên Chúa, nhưng lại không diễn tả được cảm xúc nồng ấm an toàn về sự hiện hữu và tình yêu của Ngài. Anh thú nhận, anh thiếu cảm mến, bừng cháy, cảm xúc và nồng ấm trong đức tin và bây giờ anh đi tìm kiếm chúng.

Đi tĩnh tâm về, anh vẫn khắc kỷ, nhưng có thay đổi. Anh nói: “Tôi chẳng hề đạt được cái tôi muốn, nhưng tôi lại có được điều khác. Tôi đã học cách chấp nhận rằng đức tin của tôi có lẽ sẽ luôn mãi khắc kỷ, và tôi cũng học được như vậy là ổn. Tôi không nhất thiết phải có những cảm giác nồng ấm và đầy hình tượng về đức tin của mình. Tôi không cần đầy cảm xúc và bừng cháy. Tôi chỉ cần trung tín trong hành động, không phản bội những gì tôi tin. Với tôi bây giờ, đức tin có nghĩa tôi cần sống một đời nhân ái, tôn trọng, nhẫn nại, khiết tịnh, và độ lượng. Tôi chỉ cần làm vậy thôi, không cần lúc nào cũng cảm nhận nó.”

Đức tin và tình yêu quá dễ bị đồng nhất với cảm xúc, đam mê, nhiệt huyết, cảm mến và lãng mạn. Những cảm giác đó là một phần của huyền nhiệm tình yêu, một phần mà chúng ta muốn đón lấy và thưởng thức. Nhưng dù những cảm xúc đó có tuyệt đẹp như thế nào, thì như những gì chúng ta đã trải nghiệm, chúng cũng mong manh và thoáng qua. Thế giới chúng ta có thể thay đổi trong 15 giây khi chúng ta phải lòng yêu hoặc hết yêu. Đam mê và tình cảm lãng mạn là một phần của tình yêu và đức tin, dù không phải là phần thâm sâu nhất, và không phải là phần mà chúng ta có thể kiểm soát.

Do đó, dù không lãng mạn, nhưng tôi thích cách tiếp cận trong lời cầu hôn của bạn tôi, nhất là khi áp dụng vào đức tin. Với một số người trong chúng ta, đức tin sẽ không bao giờ, mặc dù cũng có một vài thời kỳ ngắn, là một điều gì đó thổi bùng ngọn lửa cảm xúc và tràn đầy nồng cháy trong chúng ta. Chúng ta biết cảm xúc thoáng qua như thế nào rồi.

Như bạn của tôi đã làm với đức tin “khắc kỷ” của anh, có lẽ một vài người trong chúng ta cũng phải xác định một đức tin nói với Thiên Chúa, người khác và chính bản thân mình rằng: “Tôi không bảo đảm ngày nào cũng sẽ cảm thấy như vậy. Tôi không thể hứa sẽ luôn có sự say mê cảm xúc trong đức tin, nhưng tôi có thể hứa mình sẽ luôn trung tín, sẽ luôn hành động với sự tôn trọng, sẽ luôn làm hết sức có thể, hết mức mà những yếu đuối của con người cho phép, để giúp đỡ người khác và Thiên Chúa.”

Tình yêu và đức tin được thể hiện trong sự trung tín hơn là trong cảm xúc. Chúng ta không thể bảo đảm về cảm giác của mình sau này, nhưng chúng ta có thể sống trong quyết tâm sắt đá không bao giờ phản bội điều mình đã tin!