RonRolheiser,OMI

Đơn giản hóa từ vựng thiêng liêng của chúng ta

Lúc gần sinh nhật 75 tuổi, Morris West viết một tập các bài tự sự với nhan đề Một cái nhìn từ sườn núi. Trong phần mở đầu quyển sách, ông nói ở tuổi 75, bạn chỉ cần giữ lại một từ duy nhất trong từ vựng thiêng liêng của mình, lòng biết ơn, và đạt đến sự trưởng thành ở chính cái lúc lòng biết ơn bắt đầu đuối đi và đốt cháy vết thương trong cuộc đời bạn. Và ông miêu tả điều đó như thế này: Cuộc đời đã phục vụ cho tôi như cách nó phục vụ cho mọi người, đôi khi tốt đẹp đôi khi tệ hại, nhưng tôi đã học được cách biết ơn những món quà của nó, biết ơn tình yêu đã khởi sự cuộc đời đó và các tình yêu khác mà tôi đã được ban cho một cách hào phóng. 

Tôi đồng ý với West, dù cần phải nói thêm rằng hoa trái của sự trưởng thành là lòng tha thứ. Cũng như khói đi với lửa, tha thứ đi kèm với lòng biết ơn. Lòng biết ơn rốt cuộc là trụ đỡ, là bình nạp nhiên liệu cho mọi đức hạnh chân chính, là nền tảng thật sự của thần thánh, là cội nguồn của chính tình yêu. Và hoa trái chính của nó là lòng tha thứ. Khi chúng ta biết ơn, chúng ta dễ dàng tìm được sức mạnh để tha thứ hơn. 

Tuy nhiên vì lòng biết ơn được xem là một đức tính thì lòng tha thứ cũng là một đức tính về mặt tôn giáo và đạo đức. Như thế, khi về già, chúng ta có thể rút ngắn từ vựng thiêng liêng vào còn ba chữ: Tha thứ, tha thứ, tha thứ! Già và chết với quả tim tha thứ là có tinh thần đạo đức tối thượng. Chúng ta không thể nào bị ru ngủ về vấn đề này. Mọi tín điều và đạo đức trong sáng của trần gian này chẳng làm gì được cho chúng ta nếu quả tim chúng ta còn cay đắng và không thể tha thứ.

Chẳng hạn, chúng ta thấy điều này trong hình dáng buồn rầu người anh của đứa con hoang đàng. Anh đứng cạnh cha, phản đối mình chưa bao giờ đi hoang, chưa bao giờ bất trung, đã ở với gia đình và làm mọi việc nhà. Nhưng, đây chính là vấn đề, anh lại đứng bên ngoài ngôi nhà của cha, không cách nào vui vẻ bước vào, ăn mừng, tiệc tùng, khiêu vũ. Anh làm mọi việc đúng đắn, nhưng với quả tim chua chát nên anh không bước vào ngôi nhà của cha, cũng giống như các chuyến đi lang thang phóng đãng của người em trai đưa nó ra khỏi ngôi nhà của cha. Lòng trung thành về đạo đức và tôn giáo, nếu không bắt rễ sâu xa từ lòng biết ơn và tha thứ, thì còn lâu mới đủ. Những điều này, cũng như tloi và sự bất trung,  làm cho chúng ta ở bên ngoài ngôi nhà của cha. Chúa Giê-su đã kiên quyết dạy chúng ta qua kinh Lạy Cha, một điều kiện không thể nhân nhượng để được lên thiên đàng là sự tha thứ, đặc biệt là tha thứ cho những ai đã làm tổn thương chúng ta. 
Nhưng đấu tranh để tha thứ không phải là chuyện dễ dàng và không bao giờ bị coi là chuyện nhỏ nhặt hay rao giảng một cách hời hợt. Tôi ngờ rằng, đấu tranh để tha thứ là cuộc chiến đấu vĩ đại nhất của chúng ta về mặt tâm lý, luân lý và tôn giáo. Tha thứ không hề dễ dàng. Phần lớn mọi điều trong thâm tâm ta đều chống đối điều này. Khi đã bị đối xử tệ, khi phải chịu bất công, khi một ai đó hay một chuyện gì đó đã đối xử với chúng ta không công bằng, thì cả ngàn cơ chế thực thể và tâm lý trong ta bắt đầu câm bặt, đóng sầm lại, tê cứng, tự vệ, thét gào phản đối, giận dữ và phẫn nộ. Sự tha thứ không phải là điều chúng ta đơn giản muốn mà được và làm được. Như Pascal từng nói, trái tim có những lý lẽ của nó. Nó cũng có những nhịp điệu riêng, nỗi sợ hãi riêng, những điểm cay đắng lạnh lẽo của nó, và nó cần được bảo bọc bản thân nó khỏi bất kỳ điều gì đã từng làm nó tổn thương. 

Hơn nữa, tất cả chúng ta đều từng bị tổn thương. Không ai lớn lên với một trái tim hoàn toàn lành lặn. Theo những cách nho nhỏ hay chấn động lớn, tất cả chúng ta đều từng bị đối xử không công bằng, bị xâm phạm, bị làm tổn thương, bị bỏ quên, không được vinh danh đúng mực, bị gạt qua một bên cách bất công. Tất cả chúng ta đều mang trong mình vết thương, và cùng với những vết thương đó, chúng ta mang theo những nỗi tức giận nhất định, sự chua chát nhất định, và ở một mảng nào đó chúng ta chưa tha thứ. 

Sức mạnh của quyển sách lớn nhất của Henri Nouwen, Người con hoang đàng trở về, chính là đưa ra những góc lạnh lẽo ẩn trong trái tim chúng ta và cuộc chiến đấu vĩ đại cần có để đem hơi ấm và sự tha thứ đến những nơi đó. Rất nhiều những điều nhẹ nhàng hay nặng nề trong lòng chúng ta, hầu như tất cả sắc thái cảm xúc của chúng ta được quyết định một cách vô thức bởi lòng tha thứ hoặc không tha thứ từ bên trong chúng ta. Tha thứ là bí quyết sâu xa để có được niềm vui. Đó cũng là mệnh lệnh tối thượng. 

Andrew Greeley, khi viết một bài phê bình về quyển sách Những tro tàn của Angela của Frank McCourt, đã ca ngợi McCourt là xuất sắc, nhưng lại thách thức ông đã không tha thứ với những lời như sau về vấn đề này: Đương nhiên, cuộc đời của bạn đã không công bằng. Cha bạn là kẻ nát rượu, mẹ bạn không bảo vệ bạn khỏi các tác động tiêu cực của điều đó, bạn lớn lên trong cảnh nghèo kiết xác, chịu đựng một loạt những bất công nho nhỏ trong hệ thống xã hội của Ai-len, trong nhà thờ Ai-len, trong hệ thống giáo dục của Ai-len, và cả thời tiết của Ai-len! Vì vậy, hãy để tôi có vài lời khuyên cho bạn: Trước khi bạn chết, hãy tha thứ. Hãy tha thứ cha bạn đã là kẻ nát rượu, hãy tha thứ mẹ bạn đã không bảo vệ bạn, hãy tha thứ nhà thờ đã hắt hủi bạn theo bất kỳ cách nào đó, hay tha thứ Ai-len vì gió mưa, nghèo đói, các giáo viên xoàng mà nước này gây ra cho bạn, hãy tự tha thứ cho mình vì những thất bại trong chính đời mình, và rồi hãy tha thứ cho Chúa vì đời bất công…, để bạn không chết trong giận dữ và cay đắng bởi vì đó thật sự là mệnh lệnh luân lý tối thượng.

Thật đúng đắn và đầy khó khăn!

Chúa và bạo lực

Chúa là phi bạo lực. Chúa không kê đơn bạo lực để giải quyết vấn đề. Không bao giờ được hợp lý hóa bạo lực nhân danh Chúa. Điều này rõ ràng trong mạc khải Ki-tô. 

Nhưng ngay lập tức câu hỏi dấy lên: Vậy bạo lực trong Thánh kinh gán cho Chúa hay lệnh trực tiếp của Chúa? 

Trong cơn tức giận, không phải Chúa đã xóa sạch toàn bộ loài người, chỉ cứu sống Nô-ê và gia đình ông hay sao? Chẳng phải Chúa đã yêu cầu Ap-ram giết I-sa-ac trên bàn hiến tế hay sao? Chẳng phải các nhà thông thái đã phải thuyết phục Chúa đừng phá hủy It-ra-en vì Chúa đang giận dữ hay sao? Chẳng phải Chúa đã ra lệnh It-ra-en giết người và vật (nam, nữ, trẻ con, và kể cả súc vật) trước khi cho họ đến Miền Đất Hứa hay sao? Chẳng phải là Luật Mosaic, được cho là của Chúa, quy định ném đá phụ nữ ngoại tình cho đến chết hay sao? Chẳng phải Giê-su đã đá tung mấy cái bàn của những người đổi tiền vì tức giận hay sao? Còn những cuộc chiến tranh và xử tử đã được thực hiện nhân danh Chúa suốt hàng thế kỷ qua thì sao? Những người Hồi giáo cực đoan ngày nay, giết hại hàng ngàn người nhân danh Chúa thì sao? Dường như Chúa đã kê đơn và chấp thuận cho nhiều bạo lực và giết chóc từ thời cổ xưa cho tới ngày nay. Làm thế nào chúng ta giải thích được tất cả chuyện bạo lực gán cho Chúa này? 

Cần phải ghi nhớ hai điều sau đây:

Thứ nhất: Khi Thánh kinh nói về việc Chúa bị xúc phạm, nổi giận, muốn trả thù các kẻ thù của mình, hoặc yêu cầu chúng ta giết ai đó nhân danh Chúa, là Thánh kinh đang nói theo ngôn ngữ nhân cách hóa, nghĩa là, đang dùng chính suy nghĩ, cảm xúc và cách phản ứng của chúng ta và phóng chiếu chúng vào Chúa. Chúng ta nổi giận, còn Chúa thì không. Tim chúng ta mong muốn trả thù, trái tim Chúa thì không. Chúng ta đòi những kẻ giết người phải bị xử tử, Chúa thì không. Thánh kinh chứa rất nhiều các dạng nhân cách hóa như vậy, vốn sẽ tạo thành một thuyết thần học tệ hại và nguy hiểm nếu đọc và hiểu một cách máy móc dựa vào ngôn từ. Nếu đọc Thánh kinh một cách máy móc dựa vào ngôn từ thì chúng ta biến Chúa thành vị thần của bộ lạc, tranh chấp với các vị thần khác. 

Khi Thánh kinh nói chúng ta trực nghiệm sự phẫn nộ của Chúa khi phạm tội, thì Thánh kinh không muốn chúng ta tin rằng Chúa thật sự nổi giận và trừng phạt chúng ta. Không cần phải vậy. Hình phạt thật ra đã phôi thai và cố hữu ngay trong bản thân tội lỗi. Khi chúng ta phạm tội, thì chính những hành động của chúng ta đã trừng phạt chúng ta (cũng giống như lạm dụng rượu sẽ làm não bộ mất nước và việc mất nước đó gây ra cơn đau đầu). Có thể chúng ta cảm thấy như thể hình phạt đó đang đến từ Chúa, từ cơn giận của Chúa, từ sự phẫn nộ của Chúa, nhưng chính là chúng ta đang trực nhận cơn phẫn nộ của tự nhiên và của chính chúng ta. Chúa không hề cần phải trừng phạt tội lỗi một cách từ bên ngoài vào như vậy bởi vì tội lỗi đã trừng phạt chính nó. Tự nhiên được kiến tạo như vậy. Có luật nghiệp quả. Tội lỗi chính là hình phạt của chính nó. 

Nhưng ở cấp độ cảm xúc, điều này được coi như thể Chúa đang trừng phạt chúng ta. Tuy vậy, như Chúa Giê-su thể hiện trong việc tha thứ chính những người giết mình và tha thứ cho tất cả những ai đã phản bội người, Chúa tha thứ tội lỗi. Chúa không hề cần phải trả thù hay cần phải thực hiện kiểu công lý xẻo một ký thịt để trả giá cho một ký tội lỗi. Tự nhiên đã làm điều đó. Thực sự, xét cách hiểu đúng đắn về bản chất của Chúa và sự siêu việt, sẽ quá kiêu ngạo về phần chúng ta nếu nghĩ rằng chúng ta có thể “xúc phạm” Chúa.

Thứ hai, điều còn quan trọng hơn là các lời kinh nào gán bạo lực cho Chúa cũng mang khuôn mẫu phổ biến, chúng là lời văn dạy cho chúng ta những điều về các giai điệu sâu thẳm của trái tim con người chứ không nhằm để hiểu một cách máy móc dựa vào từ ngữ. Nếu chỉ dựa vào từ ngữ, thì những lời văn này thường chính là phản đề của sự mặc khải của Chúa. 

Thế nhưng chúng ta làm gì đây với những lời văn trong Knh thánh nói rằng Chúa kê đơn bạo lực? Chẳng hạn, làm thế nào chúng ta có thể diễn giải việc Chúa ra lệnh cho It-ra-en giết tất cả người Ca-na-an khi bước vào Miền Đất Hứa?

Trong các câu chuyện khuôn mẫu, việc giết chóc mang tính ẩn dụ chứ không theo nghĩa đen. Đó là về cái chết trong tim. Lệnh của Chúa phải giết tất cả cư dân vùng Ca-na-an đơn giản chỉ là một phép ẩn dụ mạnh cho điều mà Chúa Giê-su đề cập tới khi Người nói rằng anh phải cho thứ rượu mới vào túi da mới để chất rượu mới này không làm nổ tung thứ da cũ. 

Bất cứ ai từng trải qua chương trình cai nghiện 12 bước đều hiểu ý nghĩa của việc phải giết tất cả người Ca-na-an. Để đi vào vùng đất hứa của tỉnh táo và trụ được trong đó, một điều gì đó khó khăn và mạnh bạo cần phải xảy ra, một điều không thể xảy ra qua những biện pháp nửa vời: Để đi vào vùng đất hứa của tỉnh táo, anh phải trừ khử hết (“giết”) toàn bộ tủ rượu của anh, tất thảy “những người Ca-na-an”: tất cả bia, rượu uyt-ki Scốt-len, rượu ngô, rượu rum, vốt-ca, rượu nho, cô-nhắc, rượu bran-đi, phải đổ hết cho tới giọt rượu cuối cùng. Nếu anh cho phép bản thân uống dù chỉ một lần thì rốt cuộc anh sẽ mất đi tỉnh táo. 

Hầu như mọi lời văn nào trong Kinh thánh gán bạo lực cho Chúa hay đặt vào miệng Chúa lệnh thực hành bạo lực đều phải được đọc theo cùng một cách: Bạo lực và giết chóc đó mang tính ẩn dụ, thậm chí cả khi lời văn đó đang yêu cầu trái tim làm một điều gì đó không thể nào là biện pháp nửa vời.  
Walter Brueggemann từng nhận xét rằng “Chúa đang hồi phục từ tất cả các bạo lực đã gán cho Người và được thực hiện nhân danh Người.” Đã đến lúc Giáo hội bắt đầu một quy trình hồi phục như vậy. 

Mặt kia của Chính thống giáo

Có nhiều cách có thể làm cho hệ thống niềm tin của chúng ta bị mất cân bằng và gây tổn hại cho Chúa và Giáo hội.

Điều gì làm nên một đức tin chính thống, cân bằng, lành mạnh? Từ điển Oxford về Giáo hội Ki-tô định nghĩa chính thống giáo là “niềm tin đúng đắn đối lập với dị giáo.” Định nghĩa này đủ chính xác, nhưng chúng ta có xu hướng suy nghĩ về điều này theo một cách rất phiến diện. 

Theo đa số, dị giáo được hiểu là đi quá xa, vượt qua biên giới tín điều, kéo căng sự thật Ki-tô ra quá mức có thể căng. Như vậy, chính thống giáo nghĩa là ở trong các giới hạn an toàn. 

Điều này mới nghe qua tưởng là đúng, nhưng đó là một cách hiểu phiến diện và đơn giản hóa về chính thống giáo. Chính thống giáo có một chức năng kép: nó bảo bạn có thể đi bao xa, nhưng nó cũng bảo bạn phải đi bao xa. Mà chính phần sau thường bị lãng quên. 

Các dị giáo là nguy hiểm, nhưng mối nguy ở đây có hai mặt. Niềm tin sai lầm vốn không tôn trọng các ranh giới tín điều đúng đắn chắc chắn sẽ đưa tới một tôn giáo tệ hại và cư xử đạo đức tệ hại. Tổn hại thật sự sẽ xảy ra. Các ranh giới tín điều là quan trọng. Nhưng cũng quan trọng không kém nếu chúng ta không giúp gì được cho Chúa, cho đức tin, cho tôn giáo và giáo hội khi đức tin của chúng ta hẹp hòi, mù quáng, cứng nhắc, và thiếu khoan dung. Chủ nghĩa vô thần chắc chắn là loại ký sinh trùng phát sinh từ thứ chủ nghĩa hữu thần tệ hại. Thường thường phản-tôn-giáo đơn giản chỉ là một phản ứng trước tôn giáo tệ hại và vì vậy sự hẹp hòi và thiếu khoan dung có lẽ là thứ kẻ thù ghê gớm đối với tôn giáo hơn so với bất cứ việc vi phạm ranh giới tín điều nào. Tôi ngờ rằng, Chúa, tôn giáo, và giáo hội sẽ bị tổn thương nhiều hơn khi đối diện với lòng hẹp hòi và thiếu khoan dung của một số tín đồ, hơn là khi họ có bất cứ tín điều dị giáo nào. Sự thật chân chính, niềm tin đúng đắn và lòng trung thành thật sự đối với Chúa Giê-su Ki-tô đòi hỏi trái tim chúng ta mở rộng ra để tỏa chiếu tình thương và lòng lân mẫn đối với tất thảy mà Chúa Giê-su là hiện thân. Một mình sự tinh tuyền của tín điều không đủ làm cho chúng ta thành môn đồ của Chúa Giê-su. 

Có thể nói Chúa Giê-su rất rõ ràng về điều này. Bất kỳ ai đọc Phúc âm mà bỏ sót lời Chúa cảnh báo nhắc đi nhắc lại về lòng dạ cứng nhắc, hẹp hòi, thiếu khoan dung, thì người đó chỉ muốn đọc cái gì mình muốn đọc. Đương nhiên, Chúa Giê-su cũng nhắc là phải ở trong giới hạn của đức tin đúng đắn (chủ nghĩa đơn thần và tất cả hàm ý của nó) và luân lý đúng đắn (mười điều răn, thương yêu kẻ thù, tha thứ), nhưng Người cũng nhấn mạnh chúng ta có thể bỏ sót các yêu cầu đích thật của sứ vụ tông đồ nếu chúng ta không đi xa hơn mà chỉ khư khư giữ lời dạy của Người. 

Chính thống giáo chân chính đòi hỏi chúng ta duy trì một mối căng thẳng lớn, giữa ranh giới thật không nên vượt qua với ranh giới và biên giới thật mà bạn phải vượt qua. Bạn có thể không đi quá xa, nhưng bạn cũng phải đi xa đủ. Và đó có thể là một con đường độc hành. Nếu bạn mang trong lòng mối căng thẳng này một cách chân thành, không chịu lùi bước trước bất cứ bên nào, thì chắc chắn bạn sẽ thấy mình có rất ít đồng minh về cả hai phía, nghĩa là, quá tự do đối với những người bảo thủ và quá bảo thủ đối với những người tự do. 

Xin thử đưa ra chỉ một ví dụ: Bạn thấy kiểu chính thống giáo nhiều khổ đau nhưng mang tính Ki-tô trọn vẹn hơn ở một người như Raymond Brown, một học giả thánh kinh nổi tiếng, một nhà tư tưởng trung thành với Công giáo La mã, chịu để mình bị công kích vì các lý do hoàn toàn trái ngược nhau, bởi những người từ cả hai phía của dãy tư tưởng. Ông làm cho người tự do thấy khó chịu vì ông dừng lại trước khi họ nghĩ ông phải dừng và ông làm cho người bảo thủ khó chịu vì ông nêu ra rằng chân lý và tín điều đúng đắn thường kéo căng chúng ta vượt ra ngoài những vùng quen thuộc cũ. 
Và sự căng thẳng này là một mối băn khoăn bẩm sinh lành mạnh, chúng ta sinh ra là để sống điều đó hàng ngày trong đời sống chứ không phải là điều chúng ta có thể giải quyết một lần là xong. Thực ra gốc rễ sâu xa của mối liên hệ này nằm ngay trong chính linh hồn con người. Linh hồn con người, như Tô-ma A-qui-nô đã nói một cách kinh điển, có hai nguyên lý và hai chức năng: Linh hồn là nguyên lý sự sống, năng lượng và lửa bên trong chúng ta, dù cả khi nó cũng là nguyên lý tích hợp, hợp nhất và kết dính. Linh hồn giũa cho chúng ta sống động và có lửa, thậm chí ngay cả khi nó giữ cho chúng ta không bị tiêu tán và rã rời. Một linh hồn lành mạnh vì vậy giữ chúng ta ở trong vòng ranh giới lành mạnh, ngăn chúng ta khỏi bị phân rã, ngay cả khi nó giữ cho chúng ta có lửa, để chúng ta không bị hóa đá và trở nên quá chai sạn đến nỗi không thể bước vào cuộc sống một cách trọn vẹn. Theo nghĩa đó, bản thân linh hồn là một nguyên lý chính thống giáo lành mạnh bên trong chúng ta. Nó giữ chúng ta trong vòng các giới hạn thực ngay cả khi nó đẩy chúng ta hướng về phía các biên giới mới. 

Chúng ta luôn sống trước hai mối nguy hiểm đối lập: sự phân rã hóa và sự chai sạn hóa. Để giữ lành mạnh, chúng ta cần biết những giới hạn của mình và chúng ta cũng cần biết mình phải kéo căng bản thân ra xa bao nhiêu. Bản năng bảo thủ cảnh cáo chúng ta về điều thứ nhất. Bản năng tự do cảnh cáo chúng ta về điều thứ hai. Cả hai bản năng này đều lành mạnh bởi vì cả hai mối nguy hiểm đó đều có thực. 

Goethe, nhà thơ người Đức, từng viết: Cuộc sống có nhiều mối nguy hiểm, và sự an toàn là một trong những mối nguy hiểm đó. Điều này đúng đối với đời sống cá nhân của chúng ta và cũng đúng trong chính thống giáo Ki-tô. Có một mối nguy hiểm trong các giáo điều tệ hại nhưng cũng có một mối nguy không kém trong việc không tỏa chiếu ý chí cứu rỗi phổ quát của Chúa đối với mọi dân tộc, với lòng lân mẫn và thông hiểu đầy đủ. 

Ngày lễ của Mẹ

Trong nhiều năm qua, tôi có thành kiến với Ngày lễ của Mẹ. Tôi không chống lại tư tưởng đó, đây chỉ là mối bực bội cá nhân. Mẹ tôi qua đời cách đây 40 năm, nên chuyện tôi làm ngơ trước Ngày lễ của Mẹ từ trước đến giờ chỉ là thái độ của tôi trước bất công của vũ trụ mà tôi cảm thấy: Mọi người cứ ăn mừng, trừ tôi!

Nhưng thời gian đã chữa lành vết thương và đôi khi làm chúng ta khôn ngoan hơn. Bây giờ, vào Ngày lễ của Mẹ, tôi luôn luôn ý thức về mẹ và tìm thấy các lý do rất hay để ăn mừng. Bạn không cần phải còn sống mới nuôi nấng được một người nào đó, và đó chính là trường hợp mẹ tôi. Chúa Giêsu đã chẳng bảo rằng, chúng ta chỉ tiếp nhận cách tinh tuyền tinh thần của một người nào đó sau khi họ ra đi và tôi biết điều đó đúng. Bốn mươi năm sau cái chết của bà, tôi ý thức mẹ tôi là ai và những gì bà đã cho tôi một cách rõ ràng hơn so với suốt thời thơ ấu của tôi khi bà còn sống và tình mẫu tử của bà như đang hiển hiện ôm tôi.

Những gì anh chị em tôi và tôi giờ đây ý thức rõ ràng hơn so với khi bà còn sống, là chúng tôi rất may mắn. Chúng tôi có được một bà mẹ tốt lành. Đơn giản là như vậy. Trong những điều thiết yếu, bà đã cho chúng tôi những thứ quan trọng: An toàn, bảo bọc, cảm thấy được người khác mong muốn, cảm thấy mình là quý giá, được ăn no, mặc ấm, một cảm nhận rằng cuộc đời là đẹp, và trên hết thảy, cảm thấy chúng tôi luôn luôn ở trong vòng tay của một Chúa đáng tin cậy. 
Dĩ nhiên, chẳng có điều nào trong số đó hoàn hảo. Mẹ tôi không phải là Chúa. Bà có những giới hạn, nguồn năng lượng và nguồn lực nhờ đó bà nuôi dưỡng chúng tôi cũng giới hạn. Gia đình đông người và lúc nào cũng thiếu tiền. Chúng tôi có đủ, nhưng chỉ là đủ mà thôi, không hơn. Chưa bao giờ có dư. Nó cũng đúng nếu nói về sự quan tâm và tình thương bà dành cho mỗi anh chị em chúng tôi. Bà không có thì giờ, năng lực hay niềm vui sướng xa xỉ nào để tuôn tràn lên bất cứ riêng ai trong chúng tôi, dù không ai trong chúng tôi nghĩ rằng bà thương mình như đứa con độc nhất. Tuy vậy, tất cả chúng tôi đều thấy các giới hạn của bà và sống với hệ quả của chúng cho tới hôm nay. 

Nhưng các nỗ lực quá mức thường xuyên của bà cũng là một khiếu đặc biệt của bà: Giống như Chúa Giê-su, bà nhân bánh mì và cá lên gấp bội lần. Cách nào đó bà luôn luôn tìm được đủ mọi thứ, thức ăn, áo quần, sách vở, thêm một cái bánh, một dây ruy-băng hay bất cứ cái gì cho một dịp đặc biệt. Cách nào đó chúng tôi luôn luôn có những thứ chúng tôi cần, cũng giống như cách nào đó bà đã làm cho cái bàn ăn gia đình dài thêm đủ để mọi người cùng ngồi – hàng xóm, giáo viên, linh mục, người bán hàng, hoặc một ông chú sa cơ lỡ vận – người mà cứ tình cờ đến chơi nhà khi gần bữa ăn. Bà tin tưởng rằng rồi lúc nào cũng sẽ đủ, và đúng vậy thật. 

Và bà là một bổ sung hoàn hảo cho cha tôi. Phim trường Hollywood hay dịch vụ hẹn hò Công giáo không thể nào sắp xếp được một cuộc hôn nhân tốt đẹp hơn thế. Họ đã tìm thấy nhau, hai người tri âm tri kỷ, tại một cuộc đi chơi ngoài trời của giáo xứ, tình thương yêu và tôn trọng lẫn nhau của họ là điều mà, có lẽ hơn bất kỳ điều gì khác, đã đem lại cho chúng tôi, những người con của họ, một cảm thức manh nhất về sự an toàn, vững chãi, và đức tin. Cha tôi là kim chỉ nam về đạo đức, bà là trái tim; nhưng họ có thể hoán đổi vai trò này cho nhau và bà có thể đưa ra những thách thức về luân lý còn ông đem đến sự nhạy cảm. Dù cách nào đi nữa, họ đều làm cùng nhau, và khi họ chết, họ để lại đằng sau một gia đình còn quá non trẻ để có thể tự xoay xở một mình, họ đã cho chúng tôi những gì họ cần phải cho, tất cả những công cụ cơ bản để xây dựng cuộc sống của riêng mình và sống một cách sôi nổi, vui vẻ. 

Bà chết vì căn bệnh viêm tụy tạng và đau tim, chỉ ba tháng sau khi bà đã chăm sóc cha tôi trong trận quyết chiến cả năm trời nhưng thất bại với căn bệnh ung thư. Khi cha tôi sắp chết, một người em của tôi và tôi đưa bà ra hiệu để mua một bộ áo mặc cho dịp tang lễ. Bà đã quyết định vung tay mua bộ áo đắt tiền nhất bà chưa từng mua. Khi mặc thử bộ áo, người bán hàng nói: “Bà mặc áo này trông thật tuyệt! Tôi hy vọng bà thích mặc nó!” Mẹ tôi chỉ mặc nó có hai lần, một lần trong đám tang ba tôi, và một lần trong đám tang của bà. Nhận xét trớ trêu của người bán hàng vậy mà đúng. 

Không biết lý do gì, mẹ tôi không thích tên Mathida của mình. Các bà bạn gọi ngắn là Tilly lại càng làm bà không thích! Tôi không biết khi thân mật, ba tôi gọi bà tên gì nhưng tôi nghi là chẳng phải tên nào trong số hai tên này.

Các nhà nhân chủng học cho rằng mẹ của mình là mối dây cộng sinh của chúng ta với cuộc sống. Các bà mẹ phải cho chúng ta biết rằng vũ trụ này muốn có chúng ta, và chúng ta đáng yêu chỉ đơn giản chúng ta là chúng ta, rằng tình yêu thương là không cần gắng gỗ mới có được. Mẹ tôi đôi khi quá bận rộn nên không thể nuôi nấng riêng từng đứa một với cảm giác rằng chúng tôi là duy nhất, là xinh đẹp, là quý giá; nhưng bà đã làm mẹ chúng tôi theo một cách mà chính cuộc sống và vị Chúa tạo dựng cuộc sống đó đã đem lại cho chúng tôi món quà quý giá đó.

Quà tặng là cha Henri Nouwen

Cha Henri Nouwen có lẽ là tác giả thiêng liêng được ưa chuộng nhất của cuối thế kỷ 20 và sách của cha vẫn được chuộng cho đến ngày hôm nay. Hơn bảy triệu quyển sách được bán ra trên khắp thế giới và được dịch ra 30 ngoại ngữ khác nhau. Mười lăm năm sau khi cha chết, lúc nào cũng có một quyển sách của cha đang in.

Rất nhiều chuyện tạo nên tính phổ thông này, ngoài chiều sâu và tính cách học hỏi mà các quyển sách của cha đem lại. Cha đã góp phần rất nhiều để đánh tan các nghi ngờ  tồn tại từ lâu giữa giáo hội Tin Lành và Phúc âm đối với vấn đề thiêng liêng, đánh dấu trong đầu óc dân chúng như một cái gì của Công giáo La mã và đặc biệt là cuộc sống bình thường. Cả hai chuyện, giảng dạy và các bài viết của cha đã góp phần tạo nên một cái gì cho đời sống thiêng liêng của Công giáo La Mã, và nói chung giáo hội Ki-tô và trong chính xã hội thế tục. Chẳng hạn, bà Ngoại trưởng Mỹ, Hilary Clinton, đã tuyên bố quyển sách Người Con Hoang Đàng Trở Về là quyển sách có tác động lớn trong cuộc đời của bà.

Cha viết như một tâm lý gia và một linh mục nhưng các bài viết của cha mang dấu vết của một người đàn ông. Và cha là một người đàn ông phức tạp, luôn luôn bị xâu xé nội tâm, một người thánh thiện tận hiến cuộc đời cho Chúa và một người luôn luôn bị ám ảnh bởi tình thương của một người đàn ông với các khát vọng trần tục, muốn làm lại cuộc đời từ đầu. Cha thích trích dẫn Soren Kierkegaard, người nói làm thánh là người “chỉ muốn một điều”, ngay cả khi cha thừa nhận cha đã phải gắng gỗ ra sao để làm như vậy. Cha thật sự muốn là thánh, nhưng cha còn muốn nhiều điều khác: “Tôi muốn là thánh”, cha từng viết, “nhưng tôi muốn thử hết tất cả cảm giác của những người tội lỗi.” Cha thú nhận trong các bài viết, dao động này đã tác động như thế nào trên cuộc đời cha và đôi khi nó đã làm cho cha không thể nào tự chủ được cuộc đời.

Rốt cùng, cha đã là thánh, nhưng luôn luôn là một vị thánh đang tiếp tục được đào luyện. Cha không bao giờ khớp trọn vẹn với hình ảnh một vị thánh mộ đạo, kể cả khi cha luôn được coi là người của Chúa mang đến cho chúng ta nhiều điều hơn cả ân sủng bình thường và thức ngộ. Việc cha không bao giờ che dấu các yếu đuối của mình lại làm cho cha càng thêm được yêu mến. Các độc giả thấy mình nơi cha vì cha chân thành chia sẻ các gắng gỗ gian nan của cha. Cha kể các yếu đuối, các đấu tranh trong cầu nguyện, và vì thế rất nhiều độc giả nhìn đó như nhìn mình trong gương. Như nhiều người khác, khi đọc sách của cha Henri Nouwen lần đầu, tôi có cảm tưởng như tôi trực diện với chính tôi.

Và cha trau dồi kỹ năng này, chăm chỉ và kỹ lưỡng, Nouwen thường viết đi viết lại sách của cha, có khi hơn năm lần, cố gắng làm cho nó đơn giản hơn. Điều cha tìm kiếm là tiếng nói của trái tim. Vốn được đào tạo để thành nhà tâm lý, nên các bài viết đầu tiên của cha có tính cách giống bài trong lớp. Tuy vậy, khi tiếp tục viết và làm người hướng dẫn thiêng liêng, càng ngày cha càng bỏ đi các thuật ngữ kỹ thuật và hàn lâm, và cố gắng đơn giản tối đa, nhưng không đơn giản hóa quá mức, có chiều sâu nhưng không ủy mị; bộc bạch bản thân nhưng không phô diễn; mang dấu ấn cá nhân sâu sắc, mà vẫn vô cùng phổ quát; và để nhạy cảm với những yếu đuối của con người, kể cả khi cha đang chật vật để vươn tới những gì cao cả hơn. 

Hiếm có nhà văn nào, dù thuộc tôn giáo hay thế tục, gây ảnh hưởng sâu sắc trên tôi như cha Henri Nouwen. Tôi gắng bắt chước cha, biết rằng cái gì bắt chước không bao giờ là cái sáng tạo, và cái gì sáng tạo thì không bao giờ là cái bắt chước. Vì thế tôi cố gắng bắt chước nét đơn giản của cha, viết đi viết lại những chuyện đã viết, cố gắng đơn giản hơn, nhưng không đơn giản hóa quá mức. Giống như cha, tôi tin rằng có một thứ ngôn ngữ của trái tim (mà mỗi thế hệ sáng tạo một cách mới) vượt qua được sự chia cách giữa các học giả hàn lâm và người bình thường, thứ ngôn ngữ có sức mạnh có thể trực tiếp đi vào lòng mỗi người, dù họ có nền tảng và chuyên môn ra sao. Chúa Giê-su làm được điều đó. Cha Nouwen đã tìm cách để nói và viết theo lối thẳng thắn này. Cha không làm hoàn hảo, chẳng ai làm được cả, nhưng cha đã làm điều đó một cách hiệu quả hơn nhiều người. Cha cũng biết đây là một kỹ năng phải được đào luyện, cũng gần giống như việc học một ngôn ngữ. 

Tôi dành tặng cha quyển “Nỗi khát khao thiêng liêng” (The Holy Longing) của mình, với lòng tri ân này: Cha là Kierkegaard của thế hệ chúng tôi. Cha đã giúp chúng tôi cầu nguyện trong khi không biết cầu nguyện ra sao, an tâm trong khi đang xáo động, bình an thanh thản trong khi đang bứt rứt thôi thúc, cảm thấy an lòng khi vẫn bất an, được ánh sáng bao quanh trong khi vẫn ở trong u tối, và để thương yêu khi trong lòng vẫn hồ nghi. 

Nếu có lúc bạn bị dằn vặt trong tình trạng phức tạp của chính mình, dù ước muốn sâu xa của bạn là “chỉ muốn một điều thôi”, có thể bạn sẽ tìm được người hướng dẫn tinh thần và vị thánh bổn mạng là cha Henri Nouwen. Cha động viên chúng ta vượt lên chính bản thân mình, cả khi cha tôn trọng cuộc hành trình đó phức tạp và gian khó ra sao. Cha chỉ cho chúng ta biết làm sao để xích lại gần hơn với Chúa, kể cả khi chúng ta vẫn bị giằng xé bởi những mối dây vướng víu trần tục của chính mình. 

Chúa Sống lại, chứng thực cho lòng trung thành của con người và sự im lặng của Chúa

Đôi khi các nhà thần học cố gắng đơn giản hóa ý nghĩa việc Chúa sống lại bằng cách gói gọn cốt tủy của việc đó vào trong một câu: Trong việc Chúa sống lại, Chúa Cha đã chứng thực cho Chúa Giê-su, cuộc đời, thông điệp, và lòng trung thành của Người. Điều đó có nghĩa là gì?

Chúa Giê-su đi vào thế giới chúng ta qua việc rao giảng đức tin, yêu thương và tha thứ, nhưng thế giới này đã không chấp nhận điều đó. Thay vào đó, họ đóng đinh Người trên thập giá, qua việc đóng đinh, họ như bôi bác thông điệp của Người. Chúng ta thấy điều này rõ ràng nhất khi trên thập giá Chúa Giê-su bị sỉ nhục, chế nhạo, và thách thức: nếu ngươi là con Thiên Chúa thì hãy đi xuống thập giá! Nếu thông điệp của ngươi đúng, thì cứ để Chúa xác minh điều đó ngay bây giờ đi! Nếu lòng trung thành của ngươi không đơn thuần chỉ là sự ngoan cố và ngu si của con người thì tại sao ngươi lại chết trong sỉ nhục?

Và Chúa đáp lại như thế nào trước những lời nhiếc móc đó? Không gì cả, không bình luận, không bào chữa, không biện giải, không trả lời thách thức, chỉ lặng im. Giê-su chết trong im lặng. Cả người lẫn vị Chúa mà Người tin đều không cố gắng lấp khoảng trống đau đớn đó bằng bất kỳ ngôn từ an ủi hay lời giải thích nào thách thức người ta nhìn vào đại cục hay nhìn vào khía cạnh tươi sáng hơn của sự việc. Không gì cả. Chỉ lặng im.

Chúa Giê-su chết trong im lặng, bên trong sự lặng im của Thiên Chúa và bên trong sự vô tri của thế gian. Và chính chúng ta thấy sốc và bé nhỏ trước sự im lặng đó, cũng như chúng ta luôn luôn thấy sốc trước việc dường như quỷ dữ và đau thương đã chiến thắng trên thế giới này. Sự im lặng của Chúa luôn luôn làm chúng ta sốc: trước các lò thiêu người Do Thái, trước các vụ diệt chủng, trước các cuộc chiến tranh dã man và vô nghĩa, trước nạn động đất và sóng thần cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người và làm tan hoang cả đất nước, trước cái chết của vô số con người phải rời bỏ cõi đời này vì ung thư và vì bạo lực, trước việc đôi khi cuộc đời có thể bất công đến thế, và trước sự buông tuồng của những người vô lương tâm có thể cướp đi mạng sống của cả nhiều vùng mà dường như không phải chịu hậu quả gì. Chúa ở đâu trong tất cả tình cảnh này? Câu trả lời của Chúa là gì? 

Câu trả lời của Chúa nằm trong sự phục sinh, trong sự sống lại của Chúa Giê-su và trong sự sống lại mãi mãi của điều thiện trong chính cuộc đời. Nhưng sự phục sinh không nhất thiết là cứu nạn. Chúa không nhất thiết cứu chúng ta khỏi tác động của quỷ dữ và kể cả cái chết. Quỷ dữ làm điều mà nó làm, thiên tai xảy ra như vốn vậy, và những kẻ vô lương tâm có thể cướp bóc thậm chí còn lấy đi ngọn lửa thiêng của cuộc sống. Chúa không can thiệp. Biển Đỏ rẽ đôi không phải là chuyện xảy ra hàng tuần. Chúa để những người thương yêu chịu đựng và chết, cũng như để bạn thân La-da-rô chết, và Chúa Cha để Chúa Giê-su chết. Bù đắp lại, sau đó Chúa nâng chúng ta lên, trong chứng thực sâu sắc và bền vững hơn. Mà sự thật của điều này thậm chí có thể được minh chứng bằng trải nghiệm. 

Dù đôi khi bề ngoài có sao đi nữa, cuối cùng, tình thương yêu thật sự chiến thắng lòng thù hận. Hòa bình thật sự chiến thắng rối ren. Tha thứ thật sự chiến thắng cay đắng. Hy vọng thật sự chiến thắng nhạo báng chua cay. Lòng trung thành thật sự chiến thắng sự ngã lòng. Đức hạnh thật sự chiến thắng tội lỗi. Lương tâm thật sự chiến thắng chai sạn. Sự sống thật sự chiến thắng cái chết. Và điều thiện thật sự chiến thắng điều ác, luôn như vậy. Mohandas K. Gandhi từng viết: “Khi ngã lòng, tôi nhớ rằng suốt chiều dài lịch sử, con đường của sự thật và tình thương luôn luôn thắng. Đã có những kẻ sát nhân và bạo chúa, trong một thời gian họ dường như bất khả chiến bại. Nhưng cuối cùng bao giờ họ cũng sụp đổ. Hãy luôn luôn nghĩ đến điều đó.” 

Chúa sống lại, một cách thuyết phục nhất, đã nêu bật điều này. Chúa là người nói lời cuối cùng. Sự sống lại của Chúa Giê-su chính là lời cuối cùng đó. Từ đống tro tàn của ô nhục, của cái dường như là thua cuộc, thất bại, và cái chết, một sự sống mới, sâu sắc hơn và vĩnh cửu đã mãi mãi tuôn trào. Lòng tin của chúng ta bắt đầu ở chính thời điểm tưởng chừng như lòng tin có thể tắt hẳn, trong cái dường như là im lặng của Chúa trước cái chết của Giê-su. 

Và điều này đòi hỏi chúng ta những gì?

Trước hết, đơn giản là chúng ta tin tưởng điều đó là sự thật. Việc Chúa Giê-su sống lại đòi hỏi chúng ta tin điều mà Gandhi đã quả quyết, đó là, rốt cuộc cái ác sẽ không nói lời cuối cùng. Nó sẽ sụp đổ. Điều thiện cuối cùng sẽ chiến thắng. 

Sâu sắc hơn, điều đó đòi hỏi chúng ta tung con xúc xắc cuộc đời vào lòng tin và sự thật đó: Điều Giê-su dạy là sự thật: Đức hạnh không khờ khạo, kể cả khi nó bị lăng nhục. Tội lỗi và nhạo báng chua cay mới khờ khạo, kể cả khi chúng dường như đang chiến thắng. Ai quỳ gối trước Chúa và trước người khác, trong lương tâm, họ sẽ tìm thấy ý nghĩa và niềm vui, kể cả khi họ bị tước đi các vui thú trần gian. Người nào uống lấy và thao túng năng lượng thiêng liêng mà không có lương tâm sẽ không tìm thấy ý nghĩa và sự sống, dù họ đang hưởng vui thú. Người nào sống trong ngay thẳng, dù thiệt thòi ra sao, sẽ tìm thấy tự do. Người nào gian dối và ngụy tín sẽ thấy mình bị giam hãm trong sự tự thù ghét. Người nào sống trong sự tin tưởng sẽ tìm thấy tình yêu. Sự im lặng của Chúa có thể được tin tưởng, kể cả khi chúng ta chết trong sự im lặng đó. 

Chúng ta có thể sống trong đức tin, lương tâm, tình thương yêu, lòng tha thứ và lòng trung thành dù cho mọi thứ như muốn nói các điều trên không có thực. Những điều đó sẽ đưa chúng ta đến những gì sâu thẳm nhất của sự sống và tình thương yêu bởi vì Chúa chứng thực cho đức hạnh. Chúa chứng thực cho tình thương yêu. Chúa chứng thực cho lương tâm. Chúa chứng thực cho lòng tha thứ. Chúa chứng thực cho lòng trung thành. Chúa chứng thực Chúa Giê-su và sẽ chứng thực cho chúng ta nếu chúng ta giữ lòng trung tín như Chúa Giê-su đã làm. 

Sự Thương khó của Chúa Giê-su theo thánh Gio-an

Mỗi năm vào ngày thứ sáu Tuần thánh, giáo hội chúng ta đều đọc Sự thương khó của Chúa Giê-su theo thánh Gio-an. Như chúng ta biết, phúc âm của thánh Gio-an viết sau các phúc âm khác, có lẽ khoảng bảy mươi năm sau khi Chúa Giê-su chết, các năm tháng này đã cho thánh Gio-an nhiều thì giờ chiêm nghiệm về cái chết của Chúa Giê-su, nêu bật lên một số khía cạnh mà các phúc âm khác không nêu rõ bằng. Những khía cạnh đặc biệt đó là gì?

Lời kể của thánh Gio-an về cái chết của Chúa Giê-su nhấn mạnh đến cuộc xét xử. Phần lớn tập trung vào cuộc xét xử chúa Giê-su và phán quyết cuối cùng là lên án tử hình. Nhưng nó được viết một cách tài tình. Gio-an viết về cuộc xét xử chúa Giê-su theo một cách mà, trong khi Chúa Giê-su là người đang bị xử tội, thì tất cả các người khác đều đang bị xét xử ngoại trừ Ngài. Phi-la-tô đang bị xét xử, các nhà cầm quyền Do Thái đang bị xét xử, các vị tông đồ và môn đệ của Giê-su đang bị xét xử, đám đông đứng xem xử tội đang bị xét xử, và chúng ta những người nghe câu chuyện này bị xét xử. Riêng một mình Chúa Giê-su là không bị xét xử, dù cuộc xử tội của Người là cuộc xử tội của mọi người khác. Vì vậy mà khi Phi-la-tô hỏi Chúa Giê-su: Sự thật là gì? Thì sự im lặng của Chúa Giê-su đã đưa Phi-la-tô ra xét xử bằng cách ném lại sự im lặng cho chính ông, sự thật của chính ông. Với chúng ta cũng vậy. 

Tiếp theo, thánh Gio-an nhấn mạnh vào thiên tính của Chúa Giê-su trong câu chuyện về sự Thương khó của Ngài. Như chúng ta biết, phúc âm của thánh Gio-an nhấn mạnh về sự hiện hữu-trước của Chúa Giê-su với thiên tính của Người nhiều hơn là nhân tính. Điều này soi sáng trong toàn bộ câu chuyện: Trong phúc âm thánh Gio-an, Chúa Giê-su dù đang bị đóng đinh trên thập giá nhưng Người luôn luôn chủ động. Người không hề e sợ, không tỏ vẻ yếu đuối, mang thập giá của chính mình, chết một cách thanh thản và được chôn như một vị vua (với dầu thơm và dầu lô hội, áo liệm ướp hương nhu). Giê-su của thánh Gio-an không cần bất kỳ ông Simon vùng Cyrene nào mang giúp thánh giá, cũng không hề khóc lóc trong đau đớn và bị bỏ rơi. Thánh Gio-an viết sự Thương khó của Chúa từ góc độ thiên tính của Ngài.

Sau đó thánh Gio-an sử dụng một số hình ảnh có tác động mạnh để giúp nhấn mạnh những điểm này. 

Thánh nhân viết Giu-đa và quân lính đến bắt giữ Giê-su mang theo “đèn lồng và đuốc.” Người định nêu một nét khôi hài mạnh mẽ như sau: Giê-su là ánh sáng của thế gian và  không thể không nhận thấy nét khôi hài ở đây, những kẻ chống đối người, những kẻ đến tìm người mà phải tự dẫn đường bằng thứ ánh sáng nhân tạo yếu ớt – đèn lồng và đuốc. Bên cạnh những điều khác, điều này cho thấy bọn họ yêu thích bóng tối hơn ánh sáng và họ biết những gì họ đang làm chỉ làm được ban đêm vì nếu làm dưới ánh sáng mặt trời, chuyện này sẽ bị phơi bày một cách nhục nhã. Những thế lực chống đối Chúa cần phải có lớp che đậy là bóng đêm và ánh sáng nhân tạo. 
Kế đó, vào cuối cuộc xét xử, Phi-la-tô đưa Giê-su ra trước đám đông và hỏi họ có muốn công nhận Người là vua của họ hay không. Bọn họ đáp lại: “Chúng tôi không có vua nào, trừ Xê-da!” Về mặt lịch sử, đối với người theo đạo Do Thái, nói như vậy vào thời Chúa Giê-su là giống như chối bỏ hy vọng của họ về đấng thiên sai. Điều này cũng đúng với chúng ta: Bất cứ khi nào chúng ta không thừa nhận quyền năng của Chúa nơi con người đang bị đóng đinh trên thập giá kia, chúng ta đang chối bỏ hy vọng cứu rỗi của chính mình và công nhận quyền năng của thế gian này, đối với chúng ta, là thực tại sâu sắc nhất. 

Ngoài ra, câu chuyện thương khó của thánh Gio-an nhấn mạnh Chúa Giê-su bị kết án tử hình vào chính ngọ, chính cái giờ trước ngưỡng cửa của lễ Vượt Qua khi các thầy tư tế trong nhà thờ bắt đầu giết cừu tế lễ. Rõ ràng có thể suy luận ra: Giê-su chính là con cừu tế lễ thật sự đã chết để chịu tội. 

Cuối cùng, trong câu chuyện về sự thương khó của thánh Gio-an, sau khi Chúa Giê-su chết, binh lính đến và lấy mũi giáo đâm mạn sườn Người. Ngay lập tức máu và nước chảy ra. Đây là hình ảnh giàu ý nghĩa: Trước hết, nó tượng trưng cho sự ra đời. Khi đứa trẻ chào đời, máu và nước đều chảy ra. Đối với thánh Gio-an, cái chết của chúa Giê-su là sự chào đời của một điều gì đó mới mẻ trong đời sống chúng ta. Đó là điều gì?

Các Ki-tô hữu đôi khi quá vội vàng coi hình ảnh này là ngụ ý về các bí tích của lễ Rửa tội và Thánh thể, dòng máu chảy là tượng trưng cho Thánh thể và dòng nước tượng trưng cho Rửa tội. Có thể điều này thật sự có ý nghĩa, nhưng trước hết có một điều còn quan trọng căn bản hơn hình ảnh đó: Máu tượng trưng cho dòng sự sống trong chúng ta. Nước vừa xoa dịu cơn khát vừa rửa sạch bụi bặm khỏi thân thể chúng ta. Điều mà thánh Gio-an muốn nói qua hình ảnh này là những người chứng kiến cái chết của chúa Giê-su nhận ngay lập tức tình thương mà Giê-su đã thể hiện qua việc chết theo cách đó đã tạo ra một nguồn năng lượng và tự do mới trong cuộc đời của họ. Họ cảm thấy vừa có một nguồn năng lượng vừa là một sự gột rửa, máu và nước, tuôn chảy từ cái chết của Giê-su. Cốt yếu, họ cảm thấy một quyền năng chảy từ cái chết của người vào cuộc đời họ giúp họ sống bớt sợ hơn, ít mặc cảm tội lỗi hơn, nhiều niềm vui hơn, và nhiều ý nghĩa hơn. Điều này vẫn còn đúng với chúng ta ngày nay. 

Câu chuyện thương khó của thánh Gio-an đem tất cả chúng ta ra xét xử và đưa ra một phán quyết giải phóng chúng ta khỏi những xiềng xích sâu xa nhất của mình. 

Các biên giới xao động của đời sống chúng ta 

Trong vòng năm năm qua, ít có quyển sách nào được nể trọng nhiều như quyển “Thời đại thế tục” (A Secular Age) của Charles Taylor.  

Được nể trọng như vậy là xứng đáng. Xét trong lịch sử rối rắm của cuộc sống thế tục, không có một nghiên cứu thực chứng nào lần ra được quá trình tiến hóa của nó, mà nếu có, thì phân tích của Taylor có thể xứng tầm với tích cách nổi bật này. Diễn tả sâu sắc với ngôn từ lịch sử, triết học, văn chương, thần học và thiêng liêng. Taylor có một mạch nguồn sâu thẳm để thấm đẫm trong đó và đưa ra phân tích này. Theo chỗ tôi biết, hiếm có học giả nào đưa một kiến thức sâu rộng như vậy vào lĩnh vực lịch sử và đức tin. Taylor thú nhận rằng cá nhân ông là người của đức tin, nhưng cố gắng không để niềm tin của mình ảnh hưởng lên nghiên cứu, một điều mà bất kỳ ai, dù là người có đức tin hay không, đều có thể mắc phải. Rất ít nhà bình luận, kể cả những người phê phán quyển sách này, buộc tội ông về chuyện đó. Nhìn chung, ông khách quan như bản tin buổi tối, tường thuật những gì xảy ra mà không khen cũng không buồn trước những chuyện đó. 

Và điều ông đã lần tìm ra là câu chuyện trọng đại, cách thế nào chúng ta, trong lịch sử, đã chuyển từ một nền văn hóa và một tâm thế mà trong đó hầu như không thể không tin vào Chúa sang một tình trạng như chúng ta ngày nay, tức là, một tình trạng trong đó đức tin vào Chúa đơn giản chỉ là một lựa chọn bên cạnh các lựa chọn khác và trên thực tế thường không phải là một lựa chọn có tính cách lấn lướt. Cho đến khi tính chất hiện đại triển nở trọn vẹn (và đối với nhiều người trong số chúng ta, điều này chỉ mới thật sự diễn ra trong vòng hai thế hệ qua), chúng ta vẫn sống trong cái mà Taylor gọi là một tâm thức “thẩm thấu” hơn là tâm thức “che chắn.” Một tâm thức thẩm thấu có tính cách thần bí tự nhiên hơn. Một tâm thức che chắn là cái mà Karl Rahner nghĩ tới khi ông nói, chúng ta rồi sẽ sớm tới một thời kỳ khi chúng ta sẽ là người thần bí hoặc là người không có đức tin. 

Một tâm thức thẩm thấu chính là thẩm thấu đối với sự bất lực trong việc bảo vệ mình với các thần linh và thiên thần, quỷ dữ và mê tín, tôn giáo tốt và tôn giáo xấu. Chúng ta không cần phải nhìn ngược lại quá khứ xa xăm mới nhớ được cái lúc chúng ta thường làm dấu thánh giá và dùng nước thánh khi trời giông bão. Cái thế giới khác kia, dù được hiểu như thế nào đi nữa, thì đều có thể khiến chúng ta quỳ gối. Không phải lúc nào chúng ta cũng thích thú trước việc thế lực siêu nhiên có thể len lỏi xuyên qua các tường thành phòng thủ của chúng ta, nhưng chúng ta khá bất lực trong chuyện ngăn chặn nó. 

Một tâm thức che chắn chính là một tâm thức được che chắn khỏi thiên thần và quỷ dữ, khỏi tôn giáo tốt cũng như xấu, khỏi bị len vào. Ngày nay, thay vì sợ sệt trước cơn giông tố, chúng ta thích thú coi đó như màn đốt pháo hoa, cảm thấy khá an toàn và vững tâm đằng sau cửa kính hiện đại. Chúng ta được che chắn hơn rất nhiều khỏi cái thế giới kia và không để nó xâm nhập vào tâm thức mình. Điều này khiến cho tâm thức thế tục (một nhận thức mà, phần lớn, không cảm thấy có nhu cầu có ý thức nào về việc kết nối sự tồn tại, duy trì, ý nghĩa và cố gắng hạnh phúc của mình với bất kỳ điều gì vượt lên trên chính nó và thế giới) là một lựa chọn thật sự của chúng ta và khiến cho đức tin trở thành điều chúng ta chọn lựa thay vì được ban cho. 

Nhưng, như câu văn nổi tiếng của Leonard Cohen: Mọi thứ đều có kẽ hở. Bởi thế ánh sáng mới lọt vào. Trong tâm thức che chắn, thế tục của chúng ta cũng có một kẽ hở. Taylor gọi đó là “những biên giới xao động của hiện đại.” Có những điều nhất định mà chúng ta không thể che chắn được cho mình, và đó không chỉ là mất mát, trầm cảm và nỗi sợ chết. Những điều đó đôi khi có thể, và thật sự làm rung động những nền tảng vững chắc của đời sống chúng ta và khiến chúng ta phải sụp xuống một cách bất lực. Nhưng chúng ta cũng có thể quỳ gối vì những lý do ngược lại: tình thương, vẻ đẹp, niềm hy vọng, và niềm vui cũng có thể xuyên qua lớp vỏ che chắn của chúng ta và khiến chúng ta vỡ toang ra đón nhận một ý nghĩa mới vượt lên trên những gì thế giới này có thể đem lại cho chúng ta. Có sự xáo động và mong manh ở cả hai tiền tuyến, ở cái tiền tuyến đe dọa và làm chúng ta sợ hãi và ở cái tiền tuyến vẫy gọi chúng ta tới những hy vọng sâu sắc hơn. 

Đây là cách nói của Taylor: Ýnghĩa là ở chỗ có đôi điều thôi thúc hơn. Rất nhiều người cảm thấy điều đó: trong những lúc chiêm nghiệm về cuộc đời mình; trong những phút giây thư giãn với thiên nhiên; trong những lúc đau thương và mất mát; dữ dội và bất ngờ. Thời đại của chúng ta còn lâu mới an định vào trạng thái thoải mái của việc không tin. Mặc dù nhiều cá nhân thật sự an định được như vậy, và cũng có nhiều người có vẻ an định được nếu nhìn bề ngoài, sự bất an vẫn tiếp tục lộ ra. Liệu có thể khác đi chăng? 

Thời đại thế tục có đặc nét như người bị tâm thần phân liệt, hay nếu đỡ hơn, thì cũng là căng thẳng rốt ráo. Con người có vẻ như giữ được một khoảng cách chắc nịch với tôn giáo, ấy vậy mà họ vẫn rất xúc động khi biết có những con người có đức tin tận hiến, như Mẹ Têrêxa. Cái thế giới không đức tin, vốn từng rất không thích đức giáo hoàng Pi-ô XII, lại hết sức kinh ngạc trước Gio-an XXIII. Một vị Giáo hoàng chỉ ăn nói như Ki-tô hữu, và các chống đối xa xưa bị tan biến. Điều đó chứng tỏ, dù nhiều người không muốn theo đức tin lại muốn nghe thông điệp của Giê-su, muốn thông điệp đó được tuyên bố rộng rãi. Nghịch lý này thể hiện rõ ràng trong phản ứng trước vị Giáo hoàng quá cố vừa qua. Bài giảng trước công chúng của đức giáo hoàng Gio-an Phao-lô về tình thương yêu, về hòa bình thế giới, về công lý kinh tế quốc tế đã làm nhiều người cảm phục. Họ chấn động trước việc những điều này được nói ra. 

Có thể không phải Chúa bao giờ cũng hiện lộ rõ ràng trong thế giới chúng ta, nhưng trong những nỗi sợ hãi và niềm hy vọng sâu kín nhất của mình, chúng ta vẫn giữ danh thiếp của người. 

Gốc rễ của tha thứ

Một trong những tiểu thuyết đầu tay của James Carroll, ông khắc họa hình ảnh buốt nhói này: Một người đàn ông trẻ ở trong phòng hộ sinh chứng kiến vợ mình sinh con. Đó là một ca sinh nở khó khăn, người vợ có nguy cơ tử vong. Khi đứng đó chứng kiến, anh bị giằng xé sâu sắc: Anh yêu vợ, cầm tay vợ, cầu nguyện đến phát cuồng sao cho vợ đừng chết. Tuy vậy, sự sắp chào đời của đứa con và mối nguy vợ chết cọng lại làm anh nhận thức sâu sắc rằng, trong sâu thẳm tâm hồn, anh vẫn chưa tha thứ cho vợ vì đã có lần cô phản bội anh. Anh đã từng nói với cô là anh tha thứ cô, nhưng giờ đây, vào chính giây phút nguy kịch tột cùng này, anh nhận thức sâu xa trong tim, anh vẫn chưa thể nào dịu được nỗi đau và anh vẫn chưa thực sự tha thứ cho cô. Trong khi vợ anh mong manh giữa hai bờ sống-chết, anh thấy trên gương mặt cô một sự căng thẳng cực độ, một chiến đấu để cho ra đời một sinh linh dù cô đang tuyệt vọng chống chọi để sống. Nỗi đau đớn cực độ càng làm nổi bật những đường nét hằn sâu trên gương mặt cô và anh nhìn thấy ở đó một cuộc chiến đấu kép – để sinh nở và để không bị chết.

 
Khi nhìn thấy vậy, trong thâm tâm anh mới có thể tha thứ cho cô. Điều làm anh thay đổi không phải là lòng thương xót đơn thuần mà là một sự thấu cảm có được nhờ một thấu thị đặc biệt. Cuộc chiến đấu của vợ để sinh nở, trong khi vật lộn để sống sót, mà tình trạng đau đớn của cô đã càng làm nổi rõ hơn, giống như một tia sáng chiếu trên toàn bộ đời cô, giúp giải thích mọi điều, kể cả sự phản bội của cô. 

Đối với tất cả chúng ta cũng vậy: bản năng sâu thẳm nhất trong mỗi chúng ta là bản năng sống, để không bị hóa đá, không bị tan ra từng mảnh, chống chọi lại mọi trở lực để còn được sống. Gắn chặt với bản năng đó là một áp lực bẩm sinh, ở mọi cấp độ thân thể và tâm hồn, đối với việc cho ra đời một sinh linh, làm hạt giống của mình bất diệt, để lại một đứa trẻ của mình, làm ra một tạo tác, cùng với Chúa tạo ra một cái gì đó. Cái áp lực kép này là điều chính yếu nằm đằng sau hầu hết mọi việc chúng ta làm, bắt đầu nhuốm màu lên mọi động cơ của chúng ta và tạo nên cái hoàn cảnh sâu xa mà chúng ta dựa trên đó để hành động. Nó mời gọi chúng ta đến với đức hạnh cũng như đến với tội lỗi. Cuộc chống chọi để còn được sống và để cho ra đời một sinh linh là nền tảng của cả sự anh hùng lẫn bội tín của chúng ta. 

Mà điều đó biểu lộ trên gương mặt chúng ta. Nó tạo nên những đường nét sâu sắc hơn trong vẻ mặt chúng ta. Gương mặt chúng ta rốt cuộc bộc lộ ra chúng ta như thế nào, trên bề mặt lẫn trong sâu thẳm. Có thể đó là một ý nghĩ đáng sợ: biết điều đó chẳng giúp an lòng gì, rốt cuộc, chúng ta không thể nào che giấu sự nhỏ mọn, lòng tham, dục vọng, tự đại, nỗi tức giận, cay đắng của mình, cho dù chúng ta có lờ đờ hay thờ ơ đến mấy. Tất cả bộc lộ ra hết, trên diện mạo. Như Jean-Paul Sartre từng khẳng định, chúng ta tạo ra gương mặt của chính mình, và sau tuổi 40, cái con người bên dưới của chúng ta, đức hạnh lẫn tội lỗi, bắt đầu lấn át những đường nét do gen quy định xét theo cái mà người khác thấy trên gương mặt chúng ta. Người ta bắt đầu thấy chúng ta là ai. Mà không phải những tế bào mỡ hay nếp nhăn nói lên nhiều điều nhất. Sự ích kỷ, lòng ngạo mạn và niềm cay đắng lúc bấy giờ không còn khôn khéo nữa, sau bốn mươi tuổi! 

Oscar Wilde, trong tác phẩm “Bức chân dung Dorian Gray”, đã nêu điểm này một cách mạnh mẽ. Nhân vật nam chính của ông, Dorian, một chàng trai trẻ hết sức đẹp trai, thuê một danh họa vẽ chân dung mình, và bức họa là một kiệt tác. Ai ai cũng đều choáng ngợp trước vẻ đẹp của bức tranh. Nhưng, mà đây là điều oái ăm, bức chân dung này được vẽ khi Dorian còn trẻ, trong trắng, có trái tim hiền lành và tốt đẹp. Gương mặt chàng trong bức tranh đẹp là vì những phẩm chất đó, chứ không chỉ vì vẻ điển trai phi thường của chàng. Điều này về sau càng chứng tỏ rõ ràng hơn, khi Wilde, trong một tình tiết có hơi hướng vừa thần diệu vừa là thỏa thuận với quỷ dữ, đã để cho gương mặt của Dorian trong bức tranh thay đổi, theo đó khi Dorian trở nên phù phiếm, đầy dục vọng, ngạo mạn và tàn nhẫn, bức hình cũng thay đổi và bắt đầu bộc lộ sự phù phiếm, dục vọng, ngạo mạn và tàn nhẫn của anh. Dorian giấu biệt bức tranh và chỉ thảng hoặc, trong nỗi ân hận thoáng qua hay lúc chua cay hết sức, anh mới nhìn tới nó. Và anh ta thấy trong gương mặt thay đổi đó trạng trái tâm hồn mình. 

Điều này đúng với tất cả chúng ta. Gương mặt thay đổi của chúng ta cho thấy trạng thái tâm hồn mình. Nhưng điều này không đáng sợ như mới nghe qua. Trừ phi trong nhiều năm dài thiếu trung thực chúng ta đã đi lầm đường lạc lối tới mức phạm phải cái mà Phúc âm gọi là tội lỗi không thể tha thứ đối với Chúa Thánh thần, những đường nét của vẻ đẹp sâu thẳm nhất của chúng ta vẫn còn nguyên không suy suyễn. Bên dưới những gì do gen quy định đang lão hóa, bên dưới những tế bào mỡ và nếp nhăn, bên dưới lòng tham và những mối bận tâm mà tội lỗi đã nhuốm lên gương mặt chúng ta, bên dưới niềm cay đắng sau mỗi lần chúng ta bị hắt hủi, bên dưới cái vẻ bề ngoài đang cố gắng giấu biệt những điểm yếu và sự bội tín của chúng ta, và kể cả ẩn sâu dưới những đức hạnh và nỗi thống khổ thầm lặng của chúng ta, là sự căng thẳng mà nhân vật người đàn ông trẻ của James Carroll nhìn thấy ở vợ mình khi cô đang gắng gỗ để sinh nở dù cô đang chống chọi để không bị chết. 
Cuộc chiến đó tạo thành nét sâu sắc nhất trên gương mặt con người. Nhìn thấy điều đó có thể đưa đến lòng tha thứ.

Thương yêu kẻ thù chúng ta

Lorenzo Rosebaugh, tu sĩ đồng môn dòng Hiến sĩ bị bắn chết ở Guatemala cách đây hai năm, có lần chia sẻ tại một buổi họp dòng lời khuyên mà Daniel Beriggan từng khuyên ông. Khi suy ngẫm về một hành động bất phục tùng dân sự để phản đối chiến tranh Việt Nam, Berrigan đã khuyên Lorenzo: Nếu anh làm điều này mà không khỏi cảm thấy chua chát, thì đừng làm! Hãy chỉ làm điều đó khi nào anh có thể làm với một trái tim dịu ngọt! Hãy làm điều đó chỉ khi nào anh có thể chắc chắn rằng rốt cục anh sẽ không căm ghét những người bắt anh!

Điều đó quả là khó khăn; nhưng, rốt cuộc, đó là thách thức tột cùng, nghĩa là, không căm ghét những ai chống đối chúng ta, không căm ghét kẻ thù của mình, vẫn mang lòng độ lượng và tha thứ khi đối diện với hiểu lầm, chống đối cay chua, tỵ hiềm, tức giận, thù hận, ngược đãi, và thậm chí bị cái chết đe dọa.

Làm môn đồ của Giê-su có nghĩa là, một lúc nào đó, chúng ta sẽ bị căm ghét. Chúng ta sẽ có kẻ thù. Nó đã xảy ra với Chúa Giêsu và ngài cũng đoan chắc nó cũng sẽ xảy ra với chúng ta.

Và Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta một tấm gương mà chúng ta cần để trả lời với kẻ thù của chúng ta. Khi thánh kinh kể rằng Chúa Giê-su cứu chuộc con người khỏi tội lỗi, nó không chỉ có nghĩa rằng khi dâng cái chết của mình lên Chúa Cha như một hy sinh trong một hành động vĩnh viễn, Người đã chuộc lại tội lỗi chúng ta. Nó cũng chỉ ra cách sống của Người và bằng cách nào mà, như Người đã cho thấy, sự tha thứ và thương yêu kẻ thù có thể cứu chuộc tội lỗi, bằng cách hóa giải nó. Hành động thương yêu vĩ đại của Chúa Giê-su, như Kierkegaard từng nói, là để làm theo chứ không chỉ để thán phục.

Nhưng làm sao chúng ta làm vậy được? Dường như chúng ta không biết làm thế nào để thương yêu kẻ thù, chúng ta không có sức mạnh để tha thứ. Chúng ta rao giảng đó là lý tưởng và ngây thơ tin rằng mình đang làm điều đó. Nhưng, phần lớn, chúng ta không làm. Chúng ta không thật sự thương yêu và tha thứ những ai chống đối mình. Quá thường xuyên chúng ta ngờ vực, bất kính, chua cay, coi kẻ khác như quỷ dữ, và dùng ngôn ngữ ám hại đối với nhau. Nếu trong đời sống của chúng ta có nhiều tình thương yêu và tha thứ cho kẻ thù, thì điều này chẳng hề rõ ràng chút nào, ở ngoài đời cũng như ở nhà thờ. Như Ronald Knox từng nói, là Ki-tô hữu, chúng ta chưa bao giờ thật sự nghiêm túc tiếp nhận thách thức của Chúa Giê-su rằng hãy yêu thương kẻ thù và chìa má kia ra.

Tôi nói điều này với lòng lân mẫn. Chúng ta cần được giúp đỡ. Ngạn ngữ cổ nói đúng: Mắc lỗi là con người, tha thứ là thánh. Vậy chúng ta bắt đầu bằng cách nào đây?

Có thể chúng ta bắt đầu bằng cách vừa thừa nhận thất bại của chúng ta vừa thừa nhận sự bất lực của mình, với tư cách cá nhân cũng như giáo hội. Chúng ta chẳng mấy thương yêu hay tha thứ cho ai khi bị chống đối. Tiếp đó, chúng ta cần nêu bật tính chất chưa trưởng thành này và tầm quan trọng của thất bại đó trong khi chúng ta rao giảng và giảng dạy. Thương yêu kẻ thù mình là một phép thử tôn giáo và luân lý thật sự! Chúng ta không có quyền gọi bất kỳ ai là “Ki-tô hữu quán cà-phê” (cafeteria Christian – “Ki-tô hữu hời hợt”) hay một tín đồ nửa vời của Chúa Kitô trừ phi, trước tiên hết, chúng ta, chính chúng ta, là những người độ lượng, có thái độ tôn trọng, thương yêu và tha thứ khi đối diện với bất kỳ ai chống đối chúng ta. Chúng ta, tất cả chúng ta, hãy bắt đầu ở chỗ khiêm tốn thừa nhận rằng: Chúng ta chẳng giống Chúa Giê-su là bao khi đối diện với sự chống đối.

Sau đó, có lẽ điều quan trọng trên hết thảy, chúng ta cần tìm cách được giúp đỡ, gần giống như cách hoạt động của Hội Những người nghiện rượu Ẩn danh (Alcoholics’ Anonymous). Nếu đơn lẻ, chúng ta không có đủ sức mạnh để thương được những ai căm ghét chúng ta. Chúng ta cần tới ơn trên và cộng đoàn, quyền năng của Chúa và sự hỗ trợ của những người khác, để duy trì được điều khó khăn nhất trong mọi điều tỉnh táo, đó là, bước đi trong một khối sức mạnh vững bền mà vẫn giúp chúng ta giữ được tình nồng ấm, độ lượng, tha thứ, thương yêu và vui vẻ ngay khi đối diện với hiểu lầm, tỵ hiềm, chống đối, cay chua, đe dọa và giết chóc.

Về mặt cá nhân mà nói, tôi coi đây là thách thức lớn nhất của đời mình, về mặt đạo đức lẫn con người. Làm thế nào để thương yêu được kẻ thù: Làm thế nào để tôi không để cho một ánh nhìn ghen tức khiến tim mình lạnh giá? Làm thế nào để tôi không để cho một lời nói chua chát làm hỏng một ngày của tôi? Làm thế nào để tôi không coi những người khác như quỷ dữ khi họ chống đối tôi? Làm thế nào để tôi vẫn giữ lòng lân mẫn khi tôi bị hiểu lầm? Làm thế nào để tôi vẫn giữ được nồng ấm khi đối diện với chua cay? Làm thế nào để tôi không chào thua trong căn bệnh sợ hoang tưởng khi cảm thấy mình bị đe dọa? Làm thế nào để tôi tha thứ được cho một người không cần tôi tha thứ? Làm thế nào để ngăn không cho chính bản thân tôi đóng sầm cánh cửa lòng mình khi đối diện với lạnh lùng và chối bỏ? Làm thế nào để tôi tha thứ cho những người khác khi chính trái tim tôi đang chua chát thấy tội nghiệp cho bản thân mình? Làm thế nào để tôi thật sự thương yêu và tha thứ như Giê-su đã làm?

Tôi vẫn thường tự hỏi làm sao mà Chúa Giê-su làm được điều đó. Làm thế nào mà người giữ được cõi lòng bình an, trái tim nồng ấm, lời nói độ lượng, cuộc sống vui vẻ, nỗ lực bền bỉ, khả năng biết ơn, và vui tính khi đối diện với hiểu lầm, tỵ hiềm, căm thù và đe dọa giết?
Người làm điều đó bằng cách thừa nhận rằng đó là, và duy nhất là, mối thách thức quan trọng nhất cuộc đời và sứ mệnh của Người, và, dưới sức nặng của mệnh lệnh đó, bằng cách quỳ gối xuống và xin Ơn trên giúp đỡ, Người có thể làm cho chúng ta những gì mà chúng ta không thể làm được cho chính mình.

Một lời biện giải tôn giáo đương đại

Một trong những lý do vì sao ngày nay chúng ta ít thấy một lời biện giải tốt cho Ki-tô giáo là bởi vì quá nhiều những chuyên gia thần học xuất sắc nhất của chúng ta viết ở một trình độ mang đậm tính hàn lâm tới nỗi một người bình thường trong giáo hội khó mà thật sự tiếp cận được những tư tưởng của họ. Hiếm gặp các nhà biện giải như C.S. Lewis và G.K. Chesterton. Ngày nay chúng ta có những nhà tư tưởng vĩ đại về thần học, nhưng không may là tác phẩm của nhiều người trong số này không được đọc một cách có lợi lạc bên ngoài khung cảnh hàn lâm.

Trong bối cảnh như vậy, tôi xin giới thiệu cuốn sách rất hữu ích, cuốn Faith-Maps (Những bản đồ đức tin), vừa mới xuất bản của Michael Paul Gallagher, một giáo sư dòng Tên ở Viện đại học Gregorian ở Rome. Gallagher có một quá trình đào tạo văn chương, điều này giúp ông nhạy cảm với thể loại ngôn ngữ có thể giao tiếp với một tâm trí bình dân mà vẫn duy trì được thứ ngôn ngữ của chiều sâu và tâm hồn. Đó là tài năng mà ông đưa vào quyển sách này.    

Trong cuốn Faith-Maps, Gallagher chọn ra mười nhà tư tưởng Ki-tô tinh yếu (John Henry Newman, Maurice Blondel, Karl Rahner, Hans Urs von Balthasar, Bernard Lonergan, Flannery O’Connor, Dorothee Soelle, Charles Taylor, Pieranglo Sequeri, và Đức Giáo Hoàng Benedict XVI) rồi viết một chương vắn tắt về từng người, trong đó ông giải thích cốt lõi của nhận thức chủ yếu của họ bằng ngôn ngữ không chuyên. Hơn nữa, ông làm điều này với một mục đích biện giải nhất định, nghĩa là, tìm cách viết sao cho mỗi một người đều đưa ra một thách thức rõ ràng, ngắn gọn đối với thế hệ chúng ta, đặc biệt theo cái cách liên quan tới gắng gỗ của chúng ta với đức tin và nhà thờ. Và trong khi làm điều này, Gallagher đã chứng tỏ mình là một vị thầy vừa tài năng vừa công tâm: Ông trình bày những khái niệm cốt lõi của các nhà tư tưởng này theo cái cách mà những người không chuyên có thể tiếp cận được, ít nhất cũng là phần lớn, và theo một cách không rơi vào một trong hai biên kiến tự do hay bảo thủ.

Tôi chân thành giới thiệu cuốn sách này cho tất cả những ai muốn làm quen với những nhà tư tưởng vĩ đại này và những người sẵn sàng chịu để mình phải gắng sức đôi chút về mặt trí óc. Tôi đặc biệt giới thiệu nó với người nào đang phải chật vật xoay xở về mặt trí óc với đức tin của mình. Đây là một quyển sách về biện giải tôn giáo cho người trưởng thành.

Cho phép tôi nêu ra một ví dụ về thiên tài của Gallagher trong tuyển tập các nhà tư tưởng này, và thách thức: Khi vạch ra một số chủ đề quan trọng trong tư tưởng của Han Urs von Balthasar, ông viết:

“‘Sự đổi hướng của chủ thể” đã có ảnh hưởng lấn át trong tư duy hiện đại. Trong phạm vi Balthasar gắng gạn lọc những điều thái quá của trường phái này và đề xuất “sự trở về của khách thể”, trước tác của ông chất vấn những mặc định đã bám rễ sâu xa trong văn hóa quanh ta và thậm chí cả trong việc sống đời sống đức tin của chúng ta. Dưới ảnh hưởng của quá trình đào tạo văn chương của tôi  (tương tự Balthasar) và sau đó là trong cuộc cách mạng văn hóa mà đời sống tôn giáo kinh qua vào thập niên 1960, 1970, đời sống thiêng liêng của tôi chắc chắn đã trở nên chủ quan hơn. Một cách thầm lặng, toàn bộ truyền thống tu nghiêm nhặt bị gạt sang một bên, không chỉ theo nghĩa từ bỏ những khắc khổ bên ngoài, mà còn cho phép việc đạt được ước nguyện bản thân thay thế cho sự hy sinh bản thân như một giá trị cốt lõi. Thế hệ chúng ta đã khám phá ra sự tự thể hiện và tính dễ xúc động. Tất cả những điều này gây hào hứng và đáng để có, tuy vậy, khi suy nghĩ lại, chúng có nguy cơ bị phiến diện. Một cách gần như không nhận thấy, chúng đã đi tới chỗ sống theo một thu xếp với các ưu tiên mới, theo khía cạnh chủ quan của tôn giáo mạnh hơn khía cạnh khách quan. Thậm chí việc cầu nguyện mà cũng thường chịu sự đánh giá theo mặt trải nghiệm (ban đầu là sự tái đánh giá tích cực đối với một khía cạnh bị bỏ quên). “Tôi cảm thấy như thế nào” trở thành miếng giấy quỳ để kiểm tra sự tăng tiến.

Nếu tôi thừa nhận rằng tri giác mới này đã ảnh hưởng tới đời sống thiêng liêng, thì việc đọc Balthasar đã làm bật lên những vấn đề rắc rối nhưng quan trọng. Việc ông nhấn mạnh vào “tính khách quan” đã mời gọi tôi phải dành chỗ cho sự tôn thờ và vâng lời Chúa. Điều này đã phá tan tấm kính khuyếch đại của chủ nghĩa chủ quan. Ngôn ngữ đức tin của ông đã khiến tôi nhớ lại rằng vinh quang của Chúa là vĩ đại hơn bất kỳ sự đáp lại có thể có nào của tôi. Niềm vinh quang tỏa chiếu trên gương mặt của Chúa Kitô này thật sự là một lời kêu gọi “nhân loại thức tỉnh hoàn toàn” (nói như Iranaeus) nhưng vinh quang đó vượt lên trên sự hoàn thiện do mình tự đo đếm, bởi vì đó là hào quang của Chúa Giêsu bị đóng đinh cũng như Chúa Sống lại. Nó bao trùm lên tôi giống như một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại, khiến tôi xúc động, nhưng luôn luôn là chính nó, không phải phụ thuộc vào tôi mới có được sức mạnh và vẻ đẹp của nó. Theo từ ngữ của Balthasar (ở một trong rất nhiều chỗ ông viện ra trải nghiệm đối với nghệ thuật tương tự như trải nghiệm với đức tin): “‘sự độc đáo của một tác phẩm nghệ thuật’ chỉ có thể được cảm thụ ‘bằng cái ấn tượng nó tạo ra, người xem thấy đây là một tác phẩm trọn hảo không thể nào khác đi được, một cảm giác thoải mái hoàn toàn, làm tràn ngập người xem, làm cho họ phải thốt lên: chỉ có thể đến thế mà thôi!’

Một lời biện giải tốt là phải giúp có thể tiếp cận được các tư tưởng sâu sắc, mà không khiến những tư tưởng đó mất đi giá trị. Nó phải khiến mọi chuyện trở nên đơn giản mà không phải là đơn giản hóa quá mức. Các nhà thần học hàn lâm thường  chật vật trong khả năng làm cho dễ tiếp cận của phương trình này, trong khi các tác giả linh hướng được chuộng, các giáo lý viên và các linh mục đi giảng thì chật vật với việc làm sao giữ được phần giá trị sâu sắc. Chẳng mấy ai có thể làm được cả hai. Michael Paul Gallagher đã làm được cả hai trong cuốn sách này. Faith-Maps chạm tới những mạch giếng ngầm sâu xa của mười nhà tư tưởng tinh yếu, rút tỉa được phần nào tinh chất vàng ròng của họ, và phô bày chúng ra theo cái cách dễ thấy hơn đối với những con mắt không chuyên, thách thức chúng ta phải hiểu đức tin của mình một cách sâu sắc hơn, và cho chúng ta một kho tàng quý báu các khái niệm để làm được điều đó.

Được cứu chuộc nhờ sự hy sinh của một người

Chúng ta được cứu chuộc nhờ cái chết của Chúa Giê-su! Mọi Ki-tô hữu đều tin điều đó. Đó là nguyên lý trọng tâm đức tin của Ki-tô hữu và là trọng tâm của hầu hết mọi hệ thống biểu tượng Ki-tô. Cái chết của Chúa Giê-su trên thập giá đã vĩnh viễn thay đổi lịch sử. Trên thực tế, chúng ta lấy mốc đó để đo thời gian. Tác động của cái chết này đã ghi dấu trên thế giới tới mức, không lâu sau khi Người chết, thế giới bắt đầu đo thời gian bằng Người. Chúng ta hiện đang ở năm thứ 2011 kể từ sau khi Chúa Giê-su ra đời.

Nhưng làm sao như vậy được? Làm sao cái chết của một người có thể dội lên lịch sử, đi về trước, lùi lại đàng sau theo thời gian, cách nào đó vượt lên trên thời gian, để có tác động tới tất cả quá khứ, hiện tại và tương lai cùng một lúc, như thể cái chết đó mãi mãi xảy ra ở thời điểm hiện tại? Liệu có phải điều này đơn giản chỉ là một chuyện bí ẩn hay siêu hình trong Thánh Thần mà không phải để cho chúng ta hiểu trong bất kỳ phạm trù thông thường nào của chúng ta?

Tôi tin, quá thường xuyên chúng ta nhận được câu trả lời đơn giản như thế này: Đó là mầu nhiệm. Cứ tin vậy đi. Bạn không cần phải hiểu.

Và trong đó cũng chứa sự thông thái. Việc chúng ta được rửa sạch bằng máu của Chúa như thế nào là điều chúng ta hiểu bằng trực giác nhiều hơn là bằng đầu. Chúng ta biết chân lý của nó, dù không hiểu nó. Trên thực tế chúng ta biết chân lý đó thật sâu sắc đến nỗi chúng ta giao phó toàn bộ cuộc đời mình cho nó. Ngày nay tôi sẽ không là linh mục và sứ vụ viên của Phúc âm nếu tôi không tin chúng ta được cứu chuộc nhờ cái chết của Chúa Giê-su. Nhưng làm sao để giải thích chuyện đó?

Trong cuộc kiếm tìm với tư cách nhà thần học và đơn giản là trong nỗ lực tìm cách hợp nhất đức tin Ki-tô giáo của tôi, tôi đã đi tìm các khái niệm, các lý thuyết tưởng tượng, và một ngôn ngữ để theo đó hiểu được và giải thích điều này: bằng cách nào cái chết của một người cách đây 2000 năm lại có thể là một hành động cứu chuộc chúng ta ngày nay? Một trong những điều giúp cho cuộc tìm kiếm của tôi, đó là lời khuyên từ Edward Schillebeeckx trong cuốn sách gây chấn động của ông về Giê-su như Bí tích của Chúa, chỉ đơn giản nói rằng chúng ta không có siêu hình học gì để theo đó giải thích điều này. C.H. Dodd, mà tôi sẽ trích dẫn sau đây, chỉ đơn giản nói, “Ở đây có nhiều điều hơn mức có thể kể hết dựa trên tầm mức lịch sử hay con người. Chúa ở trong đó.” Một phần của chuyện này là mầu nhiệm.

Nhưng, khi chấp nhận những giới hạn đó, tôi muốn đưa ra ở đây hai đoạn, một của Thomas Keating và một của C.H. Dodd, mà ít nhất đối với tôi là hữu ích trong việc cố gắng hiểu đôi điều mà phần lớn là không thể diễn đạt bằng lời. Cái nhìn sâu sắc của Keating mang tính chất mầu nhiệm và nên thơ nhiều hơn, nhưng gây ấn tượng sâu sắc tuyệt vời; đoạn của Dodd mang tính cách lý luận hiện tượng hơn, nhưng cũng không kém phần hữu ích:

Thomas Keating đưa ra nhận xét đáp lại một câu hỏi: Chúng ta đã bao giờ thật sự hiểu bằng cách nào chúng ta được cứu chuộc nhờ cái chết của Giê-su cách đây hai thiên niên kỷ chưa?

Sách Thánh đưa ra các gương mẫu về những nhân vật đã thật sự có cái nhìn sâu sắc đối với điều này – chẳng hạn Maria vùng Bê-ta-ni, xức dầu thơm cho Chúa Giê-su ở nhà ông Simon, người bị hủi. Khi đập vỡ lọ thạch cao tuyết hoa đựng nước hoa rất đắt tiền và xức cho Chúa Giê-su, và khiến cả căn nhà tràn ngập mùi hương tuyệt diệu đó, dường như cô đã trực cảm điều Chúa Giê-su sẽ làm trên thánh giá. Các nhà chức trách đã sửa soạn để giết người. Điều tượng trưng qua hành động hào hiệp của cô là ý nghĩa sâu sắc nhất về lòng thương khó và cái chết của Chúa Giê-su. Nhiệm thể Chúa Kitô là lọ chứa chất nước hoa quý giá nhất của mọi thời gian, đó là Chúa Thánh thần. Nó sẽ phải bị đập vỡ ra để Chúa Thánh thần mới tuôn đổ ra trên toàn bộ nhân loại – quá khứ, hiện tại và tương lai – với sự hào hiệp vô biên. Chừng nào thân thể đó còn chưa bị đập vỡ trên thánh giá, thì trọn vẹn món quà của Thượng đế nơi Chúa và những khả năng chuyển hóa của nó đối với nhân loại vẫn không thể nào được biết tới hay đoán trước dù xa xăm.

C.H.Dodd miêu tả cái chết của Chúa Giê-su đã dội trong lịch sử như thế nào bằng những câu chữ sau: Ở đây có nhiều điều hơn mức có thể kể hết trên cấp độ lịch sử hay con người. Chúa ở trong đó. Mục đích sáng tạo của Chúa là tiếp tục vĩnh viễn trong thế giới này của Người. Điều đó gặp phải ý chí ương ngạnh của con người. Nếu ở bất kỳ thời điểm nào lịch sử loài ngoài cần trở nên hoàn toàn quy thuận Chúa, hoàn toàn trong sáng trước chương trình hoạch định của Chúa – thì từ thời điểm đó mục đích sáng tạo đó sẽ phát huy tác dụng với sức mạnh chưa từng thấy. Đó chính là những gì sự quy phục hoàn toàn đối với Chúa Giê-su sẽ tạo ra. Trong bản chất con người và lịch sử loài người, con người đã tạo ra một thời điểm hoàn toàn quy thuận đối với ý Chúa, và hoàn toàn trong sáng đối với ý định của Người. Khi chúng ta quay về giây phút đó, nó sẽ trở thành thời đương đại và chúng ta sẽ được mở ngỏ ra với nguồn năng lượng sáng tạo sẽ vĩnh viễn hoạt động để tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa. Sự phục tùng Chúa là sự giải phóng sức mạnh sáng tạo để hoàn thiện đời sống con người. Một quyết định do một con người vĩ đại đưa ra có thể thay đổi mọi mặt của cuộc sống, đối với hiện tại và với tất cả những gì sau đó.

Mọi hành động luân lý của chúng ta đều để lại dấu vết, và đôi khi, nếu hành động luân lý đó tương đương với việc tách nguyên tử thì tác dụng của nó sẽ tiếp tục mãi mãi về sau. Cái chết của Giê-su đã tách nguyên tử luân lý.

Về tâm thức được chúc phúc và bị nguyền rủa

Có một câu chuyện cổ Phật giáo với đại ý như sau: Ngày nọ khi vị Phật đang ngồi dưới gốc cây, một người lính trẻ ăn mặc chỉnh tề đi ngang, nhìn vị Phật, để ý cân nặng và vẻ mập mạp của vị đó, anh nói: “Ông trông như con lợn!” Vị Phật bình thản ngước nhìn người lính và nói: “Còn anh giống như Thượng đế!” Ngạc nhiên trước nhận xét đó, người lính hỏi vị Phật: “Tại sao ông nói tôi giống Thượng đế?” Vị Phật trả lời: “À, chúng ta không thật sự nhìn thấy những gì bên ngoài chúng ta, chúng ta nhìn thấy những gì bên trong chúng ta và phóng chiếu nó ra bên ngoài. Tôi ngồi ở gốc cây này cả ngày và tôi nghĩ về Thượng đế, cho nên khi tôi nhìn ra, tôi thấy như vậy. Còn anh, chắc hẳn anh đang nghĩ về những thứ khác!”

Có một chân lý hiển nhiên trong triết lý cho rằng cái cách chúng ta cảm nhận và phán xét chịu ảnh hưởng sâu sắc và nhuốm màu nội tâm của chính mình. Đó là lý do tại sao không bao giờ có thể hoàn toàn khách quan, và tại sao năm người cùng chứng kiến một sự việc, nhìn thấy cùng một sự vật, lại có năm câu chuyện rất khác nhau về những gì xảy ra. Thánh Tôma Aquinas đã thể hiện điều đó trong một phương ngôn nổi tiếng: Bất cứ cái gì được tiếp nhận là được tiếp nhận theo phương thức của kẻ tiếp nhận nó.

Nếu điều đó đúng, và quả thật là như vậy, thì như câu chuyện cổ Phật giáo cho thấy, cách chúng ta cảm nhận về người khác nói lên rất nhiều về những gì đang diễn ra bên trong chúng ta. Bên cạnh những thứ khác, nó cho thấy liệu chúng ta đang vận hành trên một tâm thức được chúc phúc hay một tâm thức bị nguyền rủa.

Chúng ta hãy bắt đầu với một tâm thức tích cực, được chúc phúc: Chúng ta thấy tâm thức đó ở Giê-su, trong cái cách người cảm nhận và cách người phán xét. Tâm thức của người là một tâm thức được chúc phúc. Phúc âm mô tả, trong lễ rửa tội của Người, tầng trời mở ra và giọng Chúa Cha vang lên: “Đây là con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về con.” Và, dường như, trọn đời, Chúa Giêsu luôn ý thức theo cách nào đó lời Chúa Cha đã nói với Người: “Con là con được chúc phúc của Ta!” Vì vậy, Người có thể nhìn ra thế giới và nói rằng: “Con được chúc phúc khi con là người nghèo, hay khi con bị ngược đãi, hay đang bị đau đớn theo bất kỳ cách gì. Con luôn luôn được chúc phúc, bất kể hoàn cảnh cuộc sống của con ra sao.” Người biết chính người được chúc phúc, cảm thấy điều đó, và bởi vậy, có thể vận hành trên một tâm thức được chúc phúc, một tâm thức có thể nhìn ra và thấy những người khác và thế giới được chúc phúc.

Buồn thay, đối với nhiều người trong số chúng ta, sự thật lại ngược lại: Chúng ta cảm nhận những người khác và thế giới không thông qua một tâm thức được chúc phúc mà thông qua một tâm thức bị nguyền rủa. Chúng ta đã bị nguyền rủa và bởi vì vậy, chúng ta nguyền rủa người khác, theo bất cứ cách tế vi nào.

Một lời nguyền rủa là gì? Một lời nguyền rủa không phải là một ngôn ngữ màu mè tuôn ra khỏi miệng ta khi chúng ta bị kẹt giao thông hay khi chúng ta đánh trái bóng đi trật hướng. Có thể cái mà chúng ta nói lúc đó là mất mỹ cảm và rất thô tục, nhưng đó không phải là một lời nguyền rủa. Một lời nguyền rủa còn độc hại hơn.

Nguyền rủa là điều mình làm khi nhìn người mình không thích và nghĩ hoặc nói thế này: “Tao ước gì mày không ở đây! Tao căm ghét sự có mặt của mày! Tao ước gì mày cút đi!” Nguyền rủa là điều chúng ta làm khi cáu bẳn trước những tiếng kêu vui sướng của một đứa trẻ và nói: “Câm miệng! Đừng làm ta khó chịu!” Nguyền rủa là điều chúng ta làm khi chúng ta nhìn vào một ai đó và nghĩ hay nói rằng: “Thật là một đứa ngu độn! Một tên đần!”

Nguyền rủa là cái chúng ta làm bất kỳ khi nào chúng ta nhìn vào một người khác một cách xét nét và nghĩ hay nói rằng: “Ông nghĩ ông là ai! Ông nghĩ ông là nghệ sĩ à! Ông nghĩ ông tài giỏi hả! Ông chẳng tài năng gì sất, ông đầy tự cao tự đại!” Hãy để ý rằng trong mỗi ví dụ trên, những gì được nói chính là phản đề của những gì Chúa cha đã nói với Giê-su trong lễ rửa tội: “Con là con được chúc phúc của Ta, con đẹp lòng Ta mọi đàng!”

Nếu bất kỳ ai trong số chúng ta có thể chiếu lại cuộc đời mình như một cuốn phim, chúng ta sẽ thấy vô số lần, đặc biệt hồi còn trẻ, chúng ta bị nguyền rủa một cách vi tế, khi chúng ta nghe thấy hay trực cảm thấy những từ: Câm miệng! Mày nghĩ mày là ai! Cút đi! Chẳng ai muốn mày ở đây! Mày chẳng quan trọng đến mức ấy! Mày ngu ngốc! Mày tự cao tự đại! Tất cả những lúc đó là lúc năng lượng và lòng nhiệt thành của chúng ta bị coi là mối đe dọa, và chúng ta thật sự bị chà đạp.

Và kết quả tồn dư trong lòng chúng ta là nỗi hổ nhục, trầm uất, và một tâm thức bị nguyền rủa. Khác với Giê-su, chúng ta không nhìn thấy người khác và thế giới như được chúc phúc. Thay vào đó, giống như anh lính trẻ nhìn vào vị Phật béo ngồi ở gốc cây, lời phán xét tự phát của chúng ta tức thì và chết người: “Ông trông như con lợn!”

Bất cứ cái gì được tiếp nhận là được tiếp nhận theo phương thức của kẻ tiếp nhận nó. Những lời phán xét khắc nghiệt của chúng ta đối với người khác nói ít về họ nhưng lại nói nhiều về chúng ta. Sự tiêu cực của chúng ta đối với người khác và thế giới chủ yếu bộc lộ ra chúng ta đã bị bầm dập, tổn thương, hổ thẹn và trầm uất như thế nào – và bản thân chúng ta đã ít khi nghe thấy ai nói với mình: “Ta hài lòng về con!”

Theo Chúa Giêsu, theo nghĩa đen hay nghĩa bóng?

Môi trường làm việc của tôi ở trong giới nhà thờ, phần lớn những người tôi gặp ở đó là trung thực, nhiệt tâm, và đa số, họ toát ra một đức tin sâu đậm. Đa số những người đến nhà thờ không phải là người giả nhân giả nghĩa. Nhưng điều tôi thật sự thấy lo âu trong giới này là quá nhiều người trong số chúng ta lại có thể chua chát, giận dữ, nhỏ mọn, xét nét, đặc biệt trong chính các giá trị mà chúng ta coi trọng nhất.

Chính cha Henri Nouwen là người đầu tiên nêu lên điều đó. Cha buồn rầu nhận xét trong số những người thật sự giận dữ, chua chát và bị ý thức hệ lôi đi mà cha biết đến thì cha đã gặp trong giới nhà thờ và ở cương vị mục vụ. Trong giới nhà thờ, đôi khi dường như ai cũng giận dữ về một điều gì đó. Hơn nữa, ở môi trường này, thật quá dễ dàng biện lý cho nỗi tức giận của mình nhân danh lời tiên tri, như là một nỗi đam mê lành mạnh đối với chân lý và đạo đức.

Lô-gic của chuyện đó là: Vì tôi tha thiết quan ngại tới một vấn đề đạo đức, giáo hội hay công lý quan trọng, nên tôi không có lỗi nếu ở chừng mực nào đó tôi rối trí, tức giận, tự cho là ưu tú, và xét nét tiêu cực, bởi vì tôi có thể biện lý rằng sự nghiệp về mặt đạo đức hay tín điều của tôi quan trọng tới mức có thể biện minh cho sự nhỏ mọn của mình: Tôi cần phải tức giận và khắc nghiệt như thế này bởi vì chân lý đó quan trọng đến thế cơ mà!

Và thế là chúng ta biện minh cho nỗi tức giận của mình bằng cách khoác cho nó một cái vẻ tiên tri, trong lòng tự cho mình là chiến binh của Chúa, của chân lý và đạo đức khi mà thực ra chúng ta phần lớn chỉ đang khó khăn chống chọi với những vết thương, nỗi bất an và sợ hãi của chính mình. Vì thế, chúng ta thường nhìn vào người khác, thậm chí cả toàn bộ nhà thờ gồm những con người tha thiết cố gắng sống phúc âm, thay vì thấy các anh chị em cũng đang gắng gỗ, như chúng ta, để theo bước Giê-su, chúng ta lại nhìn thấy “những người lầm lỗi”, “những kẻ tương đối chủ nghĩa nguy hiểm”, “những kẻ ngoại đạo thời đại mới”, “những tên dị hợm tôn giáo”, hoặc là – lúc chúng ta độ lượng hơn – “những linh hồn lầm lạc tội nghiệp”. Nhưng không bao giờ chúng ta nhìn xem kiểu xét nét như vậy đang nói lên điều gì về chính mình, về chính tình trạng sức khỏe tinh thần của mình và việc theo chân Giê-su của chính mình.

Xin đừng hiểu nhầm ý tôi: Chân lý thì không tương đối, các vấn đề luân lý là quan trọng, và sự thật đúng đắn và luân lý đích thực, cũng giống như các vương quốc bị bao vây liên miên, cần được bảo vệ. Không phải mọi lời phán xét luân lý nào cũng đồng đều, các nhà thờ cũng vậy.

Nhưng điều chân lý đó không phủ đầu mọi thứ khác, cũng không là lý do để chúng ta biện lý cho nỗi tức giận của mình. Chúng ta phải bảo vệ chân lý, bảo vệ những ai không thể tự vệ, và kiên trung trong những truyền thống của nhà thờ chúng ta. Nhưng những sự thật và luân lý đúng đắn không nhất thiết làm chúng ta trở thành tông đồ của Giê-su. Điều gì khiến chúng ta trở thành tông đồ của Giê-su?

Những gì khiến chúng ta trở thành vị tông đồ chân chính của Giê-su là sống trong Tinh thần của Người, trong Thần Khí, và đây không phải là điều gì trừu tượng hay mơ hồ. Nếu có ai đó muốn tìm một công thức duy nhất để xác định ai là Ki-tô hữu ai không, người đó có thể đọc Thư gởi cho tín hữu thành Ga-lát, chương 5. Trong đó, Thánh Phao-lô bảo chúng ta rằng chúng ta có thể sống căn cứ theo tinh thần của xác phàm hay Thần Khí.

Chúng ta sống theo tinh thần của xác phàm khi chúng ta sống trong giận dữ, chua chát, xét nét láng giềng của mình, với óc bè phái, và không vị tha. Khi đời sống chúng ta có những tính chất như vậy thì chúng ta không nên tự lừa dối rằng chúng ta đang sống trong Thần Khí.
Ngược lại, chúng ta sống trong Thần Khí khi đời sống chúng ta nổi bật lên bằng lòng bác ái, vui vẻ, bình an, thiện tâm, chịu đựng, bền lòng, hiền lành và khiết tịnh. Nếu đời sống chúng ta không có những tính chất đó, thì chúng ta không nên tự huyễn rằng mình đang ở bên trong Tinh thần của Chúa, bất kể niềm đam mê đối với sự thật, tín điều hay công lý của chúng ta là gì.

Có thể nói như thế này là tàn nhẫn, nhưng không nói ra thì còn tàn nhẫn hơn, nhưng đôi khi tôi lại thấy lòng khoan dung, niềm vui, bình an, kiên nhẫn, thiện tâm và hiền lành trong số những người theo thuyết Nhất vị luận, Thời đại Mới, hay Baha’i (mà thường bị các giáo hội khác phán xét là không có chính kiến rõ ràng và chẳng đại diện cho điều gì cả) còn nhiều hơn so với những người nào trong số chúng ta đứng lên hô hào đanh thép cho những vấn đề đạo đức và giáo hội nào đó nhưng thường là hẹp hòi và chua chát trong suy nghĩ của mình. Nếu được lựa chọn người hàng xóm, hay sâu sắc hơn, lựa chọn người mà tôi muốn được chia sẻ đời đời, đôi khi tôi khá bị giằng co: ai là bạn đồng hành đức tin thật sự của tôi? Con người quá khích giận dữ đang xung trận vì Giê-su hay vì chính nghĩa đó, hay linh hồn hiền lành hơn mà bị dán nhãn hiệu không có chính kiến rõ ràng hay “thời đại mới”? Xét cho cùng, ai là Ki-tô hữu thật sự?

Tôi tin rằng, chúng ta cần tự phê bình nhiều hơn về nỗi tức giận, những phán xét khắt khe, tính nhỏ mọn, sự bài xích, và sự khinh thị của chúng ta đối với những con đường luân lý và giáo hội khác. Như T.S. Eliot từng nói: Cám dỗ cuối cùng và là tội bội tín ghê gớm nhất là làm một điều đúng vì một lý do sai lầm. Chúng ta có thể có sự thật và những luân lý đúng đắn đứng về phía mình. Nhưng nỗi giận dữ và những phán xét khắc nghiệt của chúng ta đối với những ai không cùng chia sẻ sự thật và luân lý với mình hoàn toàn có thể khiến chúng ta đứng ngoài ngôi nhà của Cha, giống như người anh trai trong câu chuyện người con hoang đàng, cay chua trước lòng nhân từ của Chúa lẫn cay chua với những ai đang được nhận lòng nhân từ đó.

Đóng một con tàu lớn

Nếu con có thể bình tâm khi tất cả chung quanh con
Đều mất hết lý trí trí và đổ lỗi cho con.

Các bạn sẽ nhận ra câu trên đây là dòng đầu của bài thơ nổi tiếng của Rudyard Kipling, bài Nếu, và dòng thơ này hiệu nghiệm như bất kỳ lời kinh nào, là chìa khóa để hiểu được câu chuyện Nô-ê và chiếc tàu lớn.

Câu chuyện đó có ý nghĩa gì? Chúng ta có thật sự muốn tin rằng tại một thời điểm nhất định của lịch sử, cả quả đất đều bị ngập lụt và một người duy nhất, Nô-ê, đã sáng suốt thấy trước điều đó và đã đóng một con tàu trên đó ông chở một con đực và một con cái của tất cả các loài trên trái đất để cứu chúng khỏi bị diệt chủng? Rõ ràng câu chuyện này không phải để hiểu theo nghĩa đen, rằng đã có một sự kiện cụ thể như vậy trong lịch sử hành tinh này. Giống như nhiều câu chuyện thánh kinh khác về khởi nguyên lịch sử, nó không phải một cuộn phim lịch sử về những gì đã diễn ra, mà đúng hơn là một câu chuyện từ trái tim con người, một câu chuyện còn chân thật hơn cả sự thật ở chỗ nó xảy đi xảy lại trong đời sống chúng ta. Nó xảy ra như thế nào? Ý nghĩa của câu chuyện về Nô-ê và chiếc tàu lớn là gì?

Có thể viết lại câu chuyện này như sau: Cứ lâu lâu lại có một thời điểm trong lịch sử khi trái đất còn lại quá ít tầm nhìn, đức tin, lý tưởng, đức đoan chính và lòng khoan dung đến nỗi thế giới đứng trước mối nguy thật sự là sẽ chìm, sẽ chết ngộp, và sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, khiến cho mọi điều quý giá đều bị hủy diệt. Nhưng có một người duy nhất, bất chấp tất cả những gì đang diễn ra xung quanh, sẽ vẫn hướng về những gì cao cả hơn, giữ trọn vẹn đức tin, bảo toàn sự sống, và không chịu đánh đổi lòng khoan dung và đức đoan chính. Cuối cùng trái đất sẽ chết ngộp trong hỗn loạn, nhưng nhờ có tầm nhìn, lý tưởng, đức tin, đức đoan chính của con người duy nhất này mà một vốc sự sống, vốn vẫn chứa tất cả những gì quý giá, sẽ được bảo tồn và lại có cơ hội phát triển.

Con tàu lớn của Nô-ê là con tàu của đức tin, tầm nhìn, lý tưởng, đức đoan chính và lòng khoan dung. Những đức hạnh này cho chúng ta khả năng vượt lên tình trạng hỗn loạn nhấn chìm mọi thứ. Hơn nữa, đức đoan chính, lòng khoan dung, đức tin và tầm nhìn của chúng ta chứa đựng mọi thứ quý giá cần được bảo vệ và được tạo cơ hội tiếp tục tồn tại.

Có nhiều cách khác nhau để đóng con tàu lớn này. Đây là một cách:

Daniel Berrigan thích cảnh báo như thế này: Hãy thận trọng, hãy thận trọng, nếu không nền văn hóa sẽ nuốt trọn anh! Dễ bị nuốt trọn và chết ngộp bởi nền văn hóa của chúng ta. Đó là một kiểu thuốc phiện. Nhận thấy điều này, vào một lúc trong cuộc đời, Daniel Berigan đã chọn làm việc toàn thời gian trong một bệnh viện dành cho người hấp hối. Anh có những động cơ lẫn lộn: một mặt, anh tha thiết muốn giúp những bệnh nhân hấp hối bằng bất cứ cách nào có thể, về thân thể cũng như tâm linh. Mặt khác, anh muốn làm việc với những người hấp hối vì anh nhận thấy rằng họ, những người sắp chết, chính xác do họ không còn nơi chốn ý nghĩa nào trong nền văn hóa và trong tương lai, nên có thể đem lại cho anh một tầm nhìn đầy đặc ân về nền văn hóa và về thế giới của chúng ta. Nói nôm na: Khi bạn nhìn nền văn hóa và thế giới của mình qua con mắt của người sắp chết, mọi việc sẽ khoác lên một vẻ rất khác và rất nhiều những điều thiêu đốt đời sống bình thường (làm thân thể, trí óc và quả tim chúng ta mệt mỏi khi mưu cầu chúng) bấy giờ phơi ra như những điều thứ yếu và không đáng phải dành tất cả sự chú ý và năng lượng như chúng đang được dành cho.

Đối với Daniel Berigan, đóng một con tàu lớn là nhằm chăm sóc những người hấp hối để được trao cho đức tin và tầm nhìn nhằm không bị chết đuối trong nền văn hóa của chúng ta.

Và như thế chúng ta có thể diễn lời của Rudyard Kipling như sau:

Nếu con có thể giữ đức tin khi tất cả xung quanh con mất đức tin, nhưng con và bình tâm cới cảm nghĩ rằng số đông có sức mạnh, rằng mọi người khác đang theo bén gót, rằng hàng triệu triệu người không thể sai lầm;

Nếu con có thể tiếp tục dành sự kính trọng cho những người khác khi tất cả mọi người xung quanh con coi đó là yếu đuối, và sự bất kính được coi là sức mạnh và là niềm đam mê tìm chân lý;

Nếu con có thể vẫn tử tế và tiếp tục cư xử đàng hoàng khi tất cả mọi người xung quanh con coi lòng tử tế là kỳ quặc, còn sự thô bỉ và lỗ mãng được biểu dương là tinh tế;

Nếu con có thể sống trong nỗi căng thẳng khi tất cả mọi người xung quanh con đều nhượng bộ vì người ta cho rằng tốt hơn là để quỷ dữ lấy đi ngày mai hơn là sống căng thẳng hôm nay;

Nếu con có thể không chịu chấp nhận điều tốt nhì khi tất cả mọi người xung quanh con đều chấp nhận rằng đó là tất cả những gì cuộc sống đem lại được;

Nếu con có thể gắn lòng khoan dung với sự đam mê khi tất cả mọi người xung quanh con đều coi đó là ngây thơ và bất khả;

Nếu con có thể sắp xếp mừng lễ Xa-ba giữa những áp lực cuộc sống khi đối với tất cả mọi người xung quanh con những áp lực đó đã bắt đầu định đoạt mọi mặt đời sống;

Và, nếu con có thể gánh chịu thậm chí còn nhiều thua thiệt hơn với lòng khoan dung và tha thứ, thương yêu và tha thứ những ai căm ghét con, khi tất cả mọi người xung quanh con đang cổ xúy lấy oán báo oán;

Thì, chắc chắn cũng y như Nô-ê, con đã đóng một con tàu lớn!

Gắng mừng lễ Xa-bát giữa những đòi hỏi của điện thoại và máy tính

Một diễn viên hài kịch gần đây châm biếm rằng các công nghệ thông tin ngày nay đã rất hiệu quả trong việc biến nhiều thứ trở nên lỗi thời, nhất là các cuốn danh bạ điện thoại và sự tử tế của con người. Điều này cũng đúng đối với tất cả mọi người.

Các công nghệ thông tin ngày nay (internet, thư điện tử, các chương trình phần mềm như Facebook, điện thoại di động, IPhone, máy tính bỏ túi, và những thứ tương tự) đã giúp chúng ta thành những con người được thông tin đầy đủ nhất, hiệu quả nhất và có thể dễ liên lạc với nhau hơn bao giờ hết. Giờ đây chúng ta có khả năng – mọi ngày, hàng ngày – tiếp cận thông tin về những sự kiện thế giới, tin tức thế giới, nguyên cả những thư viện thông tin, và những tường thuật chi tiết về những gì gia đình và bạn bè chúng ta đang làm vào bất cứ lúc nào. Đó là mặt tích cực của phương trình.

Điều ít tuyệt vời hơn là những gì chuyện này đang làm đối với đời sống chúng ta, cái cách nó thay đổi những kỳ vọng của chúng ta, và tước mất cái khả năng giản dị là dừng lại, tắt máy đi, và những điều tương tự. Khi hàng ngày, chúng ta càng cuốn mình nhiều trong các cuộc điện thoại di động, gửi tin nhắn, thư điện tử, Facebook, và internet nói chung, chúng ta bắt đầu sống với kỳ vọng rằng mình phải luôn luôn chú ý đến mọi thứ đang diễn ra trên thế giới và trong đời sống của gia đình và bạn bè. Điều kỳ vọng vừa được nói ra vừa thầm nghĩ đó là chúng ta phải luôn luôn có sẵn đó – và những người khác cũng vậy. Trước đây chúng ta thường gửi cho nhau những mẩu giấy nhắn và thư tay, và chờ hồi âm trong vòng vài ngày, vài tuần hay vài tháng. Giờ đây thì ta kỳ vọng nhận được hồi âm trong vòng vài phút hoặc vài giờ, và chúng ta cảm thấy mất kiên nhẫn với những người nào không đáp ứng kỳ vọng này, và thâm tâm chúng ta cảm thấy tội lỗi nếu chúng ta không đáp ứng được điều đó.

Và thế là, hàng ngày, chúng ta càng trở nên nô lệ hơn cũng như ép buộc hơn trong việc sử dụng điện thoại di động và internet. Đối với nhiều người trong số chúng ta, giờ đây thực sự không thể ngơi ra được ngày nào, đừng nói là ngơi được vài tuần, để đi nghỉ lễ hay nghỉ ngơi thật sự. Thay vào đó là chịu áp lực phải thường xuyên kiểm tra tin nhắn trên di động, email, tin nhắn trên điện thoại cố định, và những thứ tương tự; và gia đình, bạn bè và đồng nghiệp của chúng ta thì đích thị là kỳ vọng chúng ta đều đặn kiểm tra những thứ đó. Sẽ là tội-ác-trong-ngày nếu như bất cứ lúc nào không sẵn đó, không gọi được, hay không liên hệ được.

Nhưng nhịp điệu thời gian như Chúa đã thiết kế là để trao cho chúng ta, một cách đều đặn, hàng tuần, một thời gian nhất định để tách khỏi vòng xoay, một “thời gian nghỉ Xa-bát” nhất định khi cuộc sống thường nhật, những áp lực thường nhật, công việc thường nhật và những kỳ vọng thường nhật được xếp lại, và chúng ta cho phép bản thân được dừng lại, được tắt các thứ máy móc đi, và nghỉ ngơi. Ngày nay, không nơi nào mà điều này phù hợp và cấp bách hơn là nơi sử dụng điện thoại, máy tính xách tay, và máy tính để bàn. Hơn bất cứ thứ gì khác, chúng tạo thành nếp thường, công việc nô lệ, những câu thúc và âu lo mà chính lời răn thực hành lễ Xa-ba thiêng liêng yêu cầu chúng ta phải bứt ra.

Tôi biết có hai vợ chồng nọ làm việc trong nhà thờ. Vì cả hai đều làm mục vụ, nên họ làm việc vào các sáng chủ nhật và thường là qua cả buổi chiều nữa. Vì vậy họ bắt đầu lễ Xa-ba vào cuối buổi chiều chủ nhật. Bà mô tả công việc như sau: Chúng tôi bắt đầu lễ Xa-ba vào 4 giờ chiều (16h) ngày chủ nhật và khởi sự một cách tượng trưng bằng cách rút dây điện máy tính, tắt điện thoại di động, rút dây nối máy điện thoại ở nhà, và tắt tất cả các máy móc thông tin mà chúng tôi có. Trong vòng 29 giờ đồng hồ tiếp theo chúng tôi không nghe, không gọi bất cứ cuộc điện thoại nào. Chúng tôi đang chay tịnh về mạng, bất khả liên hệ, tách khỏi guồng xoay, không có mặt. Vào 9 giờ tối (21h) thứ hai chúng tôi kết thúc lễ Xa-ba cũng theo cách tượng trưng như khi bắt đầu: chấm dứt kỳ chay tịnh về mạng, bật lại các máy điện thoại và máy tính, và bắt đầu trả lời các tin nhắn trên điện thoại. Chúng tôi trở lại guồng để bắt đầu một tuần mới. Đôi khi chuyện tự “biến mất” như thế này khiến gia đình và bạn bè chúng tôi khó chịu, nhưng nếu chúng ta muốn mừng lễ Xa-ba, trước cuộc sống đầy áp lực của mình, thì chuyện tách khỏi tất cả như vậy là điều duy nhất quan trọng mà chúng ta phải làm. Hoặc như vậy, hoặc làm việc 7 ngày một tuần!

Khi tôi còn trẻ, cả nhà thờ lẫn nền văn hóa của chúng ta vẫn còn coi trọng khái niệm lễ Xa-bát (đối với Ki-tô hữu, đặc biệt trong nghĩa không làm việc vào ngày chủ nhật). Câu hỏi luôn luôn được nhiều người đặt ra là: Anh được phép làm gì và không làm gì vào ngày chủ nhật? Phần lớn tập trung vào những thể loại lao động chân tay khác nhau: Anh có thể làm vườn vào ngày chủ nhật không? Anh hái táo vào ngày chủ nhật không? Ngày nay, tôi ít lo lắng về chuyện làm vườn hay hái táo vào ngày chủ nhật. Vấn đề quan trọng hơn là: Liệu chúng ta có thể dứt ra khỏi guồng xoay của máy điện thoại và máy tính vào chủ nhật và thật sự sẵn sàng để mừng lễ Xa-bát hay không?

Lễ Xa-bát, như Wayne Muller nói với chúng ta, là thời gian tách khỏi guồng xoay, thời gian khi chúng ta ngơi tay cày để Chúa và quả đất lo mọi chuyện, trong khi chúng ta uống rượu, chỉ đôi lúc, để nghỉ ngơi và để lòng dào dạt. Ngày nay lưỡi cày đó hẳn là điện thoại di động và máy tính.

Cách đây mấy thế kỷ, nhà thơ thần bí Rumi viết: “Tôi đã sống ở đây quá lâu, ai cũng có thể gặp tôi!” Chẳng phải tất cả chúng ta đều như vậy sao?