RonRolheiser,OMI

Về Nietzsche, Feuerbach và những đêm tối của tâm hồn

Ít người viết được những bài phê bình về đức tin và tôn giáo thấm thía như Friedrich Nietzsche và Ludwig Feuerbach. “Chúa đã chết rồi,” Nietzsche tuyên bố, “và chúng ta là những kẻ ám sát Chúa!” Mà chúng ta ám sát Người – ông nói tiếp, theo những cách tinh vi mà chúng ta hoàn toàn không nhận thấy. 

Nếu nói một cách đơn giản hết sức, thì lời phê bình của họ có thể được hiểu như sau: Đức tin và tôn giáo, nói cho cùng, là những phóng chiếu từ tâm của con người. Chúng ta tin vào Chúa vì chúng ta cần như vậy, đơn thuần và giản đơn là ngày. Chúng ta tạo ra Chúa để phục vụ cho những nhu cầu của riêng mình. Chúng ta cần tin vào Chúa bởi vì nếu không có lòng tin nơi Chúa, chúng ta không thể xử lý được nỗi đau đớn, đổ vỡ, thiếu thốn và những giới hạn trong cuộc sống chúng ta. Chúng ta không đủ nhìn xa trông rộng và can đảm để sống mà không có Chúa; vì vậy mà có thứ thuốc phiện là đức tin và tôn giáo. Chúa và tôn giáo là những thứ thuốc mà chúng ta tạo ra cho bản thân để dìu ta đi qua cơn đau cuộc đời và cho chúng ta hy vọng về một điều gì đó vượt cao hơn. 

Nhưng lời buộc tội này không phải là thách thức chủ yếu của họ. Điều họ thách thức ghê hơn nữa là: Chúng ta tạo ra Chúa vì chúng ta muốn biện bạch cho những lựa chọn của mình bằng cách khoác cho chúng tấm áo choàng thiêng liêng. Chúa không chỉ là loại thuốc phiện vĩ đại mà chúng ta hấp thụ để làm tê liệt cơn đau và nỗi chán chường của mình, mà Chúa đặc biệt là sự biện bạch vĩ đại, sự bào chữa vĩ đại, là sự cho phép thiêng liêng vĩ đại mà chúng ta cần để phục vụ chính mình mà vẫn mang cái ảo tưởng rằng chúng ta đang phục vụ cho một sự nghiệp thiêng liêng và cao cả. 

Chẳng cần nhìn đâu xa cũng hiểu được tại sao họ nói như vậy. Khắp mọi nơi, dường như chúng ta đang thao túng đức tin và tôn giáo vì lợi ích của chính mình. Ai đó từng nhận xét chua cay rằng Chúa đã tạo ra chúng ta giống hình ảnh của chính Người và từ trước đến giờ chúng ta chưa bao giờ ngừng trả cái ơn đó. Đức tin và tôn giáo hiếm khi được thực hiện một cách trong sáng. Chắc chắn trong đó thấy rõ ràng có đôi chút yếu tố con người. 

Chỉ cần nhìn vào vai trò của tôn giáo trong lịch sử thì có thể thấy đầy rẫy bằng chứng cho điều này. Ví dụ, ngày nay chúng ta thấy các hình thức bạo lực được biện hộ nhân danh Chúa, dĩ nhiên rõ ràng nhất là ở Đạo Hồi cực đoan, nhưng khó mà chỉ dừng ở đó. Và chúng ta cũng thấy điều đó trong quá khứ riêng tư của mình. Tất cả chúng ta có xu hướng tìm cách có Chúa theo những điều kiện của mình, theo những kiểu phần lớn là thuận lợi cho chúng ta, và cho phép chúng ta biện bạch cho những quyết định của mình rồi được Chúa và tôn giáo đóng dấu chấp thuận. 

Vậy thì cần nói gì về tất cả những lời này? Tôi ngờ rằng, thánh Gio-an Thánh giá sẽ nói là Nietzsche và Feuerbach đúng 98%. Hầu như luôn luôn chúng ta thao túng Chúa và tôn giáo để cho khớp với những nhu cầu của riêng mình. Nhưng…, và đây chính là chỗ hoàn toàn khác…, chỗ mà Nietzsche và Feuerbach đã sai 2%, và ở 2% đó, Chúa có thể tìm thấy nơi để tuôn chảy một cách trong sáng vào đời chúng ta, và tôn giáo có thể tìm thấy nơi để bắc cầu cho sự có mặt của Chúa và sự thật một cách trong sáng. 

Phải thừa nhận là, về bản chất con người, cho dù thế nào đi nữa, chúng ta luôn luôn cố gắng một cách vô thức để làm Chúa khớp với những nhu cầu riêng của mình. Chúng ta không dễ dàng hay không tự nhiên để Chúa buộc dây và dắt chúng ta đi tới những nơi mình không muốn tới. Chúng ta mong muốn Chúa, tôn giáo, và sự thật, nhưng phải theo những điều kiện của riêng chúng ta. Trong giáo hội cũng vậy, chúng ta cũng có khuynh hướng đó. Các nhà thờ thấy khó mà để Chúa buộc dây và dắt họ đi tới những nơi họ không muốn tới. Tuy nhiên, vào một thời điểm nhất định, Chúa chấm dứt chuyện đó bằng cách liệng từng người một trong chúng ta, hay đôi khi là cả cộng đoàn nhà thờ, vào cái mà các nhà thần bí gọi là “đêm tối của tâm hồn.” Đó là gì?

Điều xảy ra trong “đêm tối của tâm hồn” là cả trí tưởng tượng lẫn trái tim chúng ta trở nên trống rỗng và cạn kiệt mọi suy nghĩ lẫn cảm xúc có ý nghĩa về Chúa. Chúng ta bị đẩy đến chỗ suy sụp không nơi nương tựa và thấy mình lâm vào tình trạng mà mọi nỗ lực nắm bắt Chúa qua trí tưởng tượng hay qua cảm xúc đều vô ích. Dù chúng ta cố gắng đến mấy, thì tất cả những suy nghĩ, cảm xúc và điều bảo đảm chắc chắn trước đây của chúng ta về Chúa, kể cả cảm giác của chúng ta về chính sự tồn tại của Chúa, giờ đây đều trống rỗng và cạn kiệt, và không còn có thể phục vụ chúng ta nữa. Chúng ta bị bỏ lại, cảm giác như mình là người vô thần hay người bất khả tri, ở mức độ suy nghĩ và xúc cảm. 

Nhưng, như Jurgens Moltmann nói, đức tin của chúng ta sẽ bắt đầu ở chính cái nơi mà những người vô thần nghĩ nó phải chấm dứt, trong hương vị của cái không, trong trống rỗng, trong tối tăm, và trong tình trạng hoàn toàn bất lực – không thể tưởng tượng sự tồn tại của Chúa hay cảm thấy sự có mặt của Chúa. Trong trạng thái trống rỗng và bất lực đó, Chúa cuối cùng có thể bắt đầu tuôn chảy vào đời chúng ta một cách trong sáng, vô nhiễm, không bị ảnh hưởng bởi nhu cầu, mong đợi và những gì chúng ta tưởng tượng nên. Chính sự trống rỗng, cạn kiệt và sự bất lực về mặt tưởng tượng và cảm xúc của chúng ta là những gì khiến chúng ta không còn có thể thao túng Chúa nữa. Chúng ta quá yếu ớt đến mức không thể làm nhiễm bẩn dòng chảy của Chúa vào đời mình nữa. Đức tin thật sự và tôn giáo thật sự bắt đầu ở đó. 

Khi chúng ta hoàn toàn cạn kiệt đức tin và những điều bảo đảm an toàn về mặt tôn giáo, Chúa cuối cùng có thể bắt đầu tạo khuôn cho chúng ta theo hình ảnh của Người và tuôn chảy vào đời chúng ta, trong sáng và vô nhiễm. 

Gắng gỗ để hiểu vấn đề tự tử

Gần đây một người bạn của tôi dự đám tang của một người đàn ông vừa tự vẫn. Vào cuối lễ tang, anh trai của người quá cố phát biểu với những người tham dự lễ. Sau khi kể về lòng hào hiệp và mẫn cảm của em mình, và chia sẻ một vài giai thoại để khắc họa cuộc đời của người em, ông chuyển sang nói đôi điều về cái chết của người em. Đây là những gì ông đã nói: 

Khi một người mắc bệnh ung thư, có thể sẽ xảy ra một trong ba điều sau: Có khi bác sĩ có thể điều trị bệnh, và căn bản là chữa lành. Đôi khi các nhà chuyên môn y tế không thể chữa lành căn bệnh nhưng có thể khống chế nó đủ để người bệnh tuy có đau nhưng vẫn có thể sống với căn bệnh này cho đến cuối đời. Tuy nhiên, đôi khi căn bệnh ung thư này thuộc loại vô phương cứu chữa. Tất cả thuốc men và phương cách điều trị trên thế giới đều bất lực, và người đó chết. 

Những kiểu trầm cảm cũng vậy: Đôi khi có thể điều trị được để trên thực tế người bệnh được chữa lành. Đôi khi không thể chữa lành thật sự, nhưng có thể điều trị theo cách mà người đó vẫn có thể sống với căn bệnh đến trọn đời. Và đôi khi, cũng như với các kiểu bệnh ung thư, căn bệnh này là vô phương cứu chữa, không thể chặn đứng lại, không ai có thể can thiệp bằng cách gì hết, hoặc không có cái gì có thể chặn đà tiến triển của nó. Cuối cùng, nó giết người bệnh và không ai có thể làm được điều gì hết. Bệnh trầm cảm của em tôi là thuộc kiểu đó, kiểu cuối cùng. 

Tôi nghĩ rằng lời giải thích đó có thể có ích cho bất cứ ai trong chúng ta từng phải mất mát một người thân vì tự vẫn. Mọi cái chết đều làm chúng ta rúng động, nhưng tự tử bỏ lại chúng ta đằng sau với hàng loạt những vết sẹo về tình cảm, về đạo đức và tôn giáo. Nó để lại một nỗi đau đớn, một tình trạng hỗn loạn, tối tăm, và một nỗi mặc cảm mà có trải qua thì mới hiểu được. Đôi khi chúng ta phủ nhận điều đó, nhưng bao giờ nó cũng tồn tại, bất chấp niềm tin tôn giáo và đạo đức của chúng ta. Thực sự, từ tình trạng tăm tối và mặc cảm, tự tử không chỉ làm chúng ta mất đi người thân yêu, mà còn lấy đi của chúng ta những ký ức chân thực về những người đó. Món quà mà họ đã mang đến trong đời chúng ta không còn được ca ngợi. Chúng ta không bao giờ tự hào nói về cuộc đời của họ nữa. Những bức ảnh của họ bị gỡ khỏi tường, cất sâu trong ngăn tủ để không bao giờ chúng ta mở ra nữa, tên của họ ngày càng ít được nhắc đến trong những lần trò chuyện, và chúng ta hiếm khi nào nói về chuyện họ chết ra sao. Tự tử đã đẩy những người thân yêu ra xa khỏi chúng ta theo nhiều cách hơn mức mà đôi khi chúng ta thừa nhận.

Và không hề có giải pháp nào dễ dàng để thay đổi điều đó, mặc dù có thể bắt đầu bằng cách thông hiểu hơn về vấn đề tự tử. 

Không phải mọi trường hợp tự tử đều cùng một loại. Một số trường hợp tự tử là vì người đó quá kiêu hãnh và trái tim quá cứng rắn nên không muốn sống trên thế gian này. Nhưng tôi phải nói đó là trường hợp ngoại lệ chứ không phải trường hợp tự tử thường gặp. Phần lớn các trường hợp tự tử, và chắc chắn tất cả những trường hợp tôi biết, đều vì lý do ngược lại, nghĩa là người đó mang quá nhiều thương tích và mẫn cảm quá, đến mức không thể bền gan để tiếp tục đối phó với cuộc sống. Trong những trường hợp đó, và đây là đại đa số các trường hợp tự tử, nguyên nhân cái chết có thể được gọi một cách khá chính xác là ung thư – ung thư tình cảm. Cũng như với bệnh ung thư ở thân thể, người chết do tự vẫn bị đưa ra khỏi cuộc sống này trái với ý muốn của họ. Cái chết do tự tử tương đương với bệnh ung thư về tình cảm, cơn đột quỵ tình cảm, cơn đau tim tình cảm. Như vậy, kiểu của nó cũng giống như kiểu của bệnh ung thư, đột quỵ, và những cơn đau tim. Cái chết có thể xảy tới đột ngột hay có thể là kết cục của một quá trình gắng gỗ lâu dài và dần dần khiến người đó sức cùng lực kiệt. Cách nào đi nữa, thì cái chết đó đều không tự nguyện. 

Là con người, chúng ta không phải là những thiên thần hoàn toàn mà cũng không phải là con vật hoàn toàn, mà luôn luôn vừa là thể xác vừa là tinh thần, một tổng thể trọn vẹn của tâm lý và thân thể. Và một trong hai phần, phần nào cũng có thể suy sụp.

Điều này có thể giúp để hiểu được vấn đề tự tử, mặc dù nếu hiểu rõ hơn cũng không hẳn có nghĩa là bóng tối và mặc cảm xung quanh vấn đề này sẽ đơn thuần biến mất. Chúng ta vẫn sẽ mang nhiều cảm giác như trước đây khi đối diện với một cái chết do tự tử: Chúng ta vẫn sẽ cảm thấy đau khổ. Chúng ta vẫn sẽ cảm thấy bị giằng xé và chia rẽ giữa cảm giác tội lỗi và phỏng đoán. Chúng ta vẫn sẽ cảm thấy bứt rứt về cái cách mà người này đã ra đi và vẫn sẽ cảm thấy như đau bệnh khi nói về chuyện người này đã chết như thế nào. Chúng ta vẫn sẽ cảm thấy ngại ca ngợi cuộc đời của người đó theo cái cách mà chúng ta hẳn sẽ ca ngợi nếu người đó chết vì những nguyên nhân tự nhiên. Chúng ta vẫn sẽ đi xuống mồ với những vết thủng đen trong tim. Nỗi đau của cái chết do tự tử để lại dấu vết không thể nào gột sạch trong tâm hồn chúng ta. 

Nhưng ở một cấp độ hiểu biết khác, sẽ có một điều gì đó đột phá và giúp chúng ta xoay xở tốt hơn với tất cả những cảm giác giằng co này, nghĩa là thông cảm và hiểu được một người mà hệ miễn dịch về tình cảm đã suy sụp. Và sự thông hiểu này cùng lúc sẽ đem lại niềm khuây khỏa rằng sự thấu cảm và thông hiểu của Chúa vượt xa thấu cảm và thông hiểu của chúng ta. 

Một thách thức mới

Khi tôi bắt đầu viết bài trên trang web này, tôi có chia sẻ đôi khi tôi sẽ viết một chuyên mục ít nói về cuộc sống riêng tư của tôi. Tôi đã cố gắng tự giới hạn như vậy, và trong 28 năm viết chuyên mục này, có lẽ tôi viết chưa đầy mười bài nói về cuộc đời tôi. Khi tôi viết những bài đó, gần như bao giờ cũng là để chia sẻ với bạn đọc về một biến chuyển quan trọng trong đời tôi. 

Bài này là một trong những bài riêng tư như vậy. Cuộc sống riêng của tôi lần nữa trải qua một chuyển biến quan trọng, mặc dù lần này không liên quan tới công việc mới hay chuyển sang một thành phố khác. Lần này liên quan tới sức khỏe của tôi:

Đầu tháng 5 vừa rồi, tôi đi soi đại tràng định kỳ và bác sĩ phát hiện ra một khối u ác tính trong đại tràng. Tin mừng là nó được phát hiện tương đối sớm, cả trước khi có các triệu chứng. Các bác sĩ xếp lịch cho tôi phẫu thuật vào đầu tháng 6 và đã cắt bỏ vùng bị ảnh hưởng, cùng với một loạt các hạch bạch huyết. 

Cuộc phẫu thuật này, dù khá táo bạo, đã diễn ra rất tốt, nhưng một số hạch bạch huyết đã bị ảnh hưởng, nghĩa là căn bệnh ung thư không hẳn chỉ khu trú hoàn toàn trong khối u. Tôi đã hồi phục tốt sau cuộc phẫu thuật, dù cũng mất vài tuần. Một bác sĩ chuyên khoa ung thư khuyên tôi rằng để cẩn trọng thì phải có điều trị đi liền sau phẫu thuật, nghĩa là phải có hóa trị liệu trong sáu tháng. Ông cũng trấn an tôi rằng chẩn đoán về dài hạn là tốt, nhưng dù vậy, cũng như đối với mọi trường hợp bệnh ung thư, chẳng có gì thật sự chắc chắn cho tới chừng nào nó đã chắc chắn. Chữa lành là rất có thể, nhưng chưa chắc chắn. Tôi sẽ bắt đầu các đợt hóa trị liệu vào đầu tháng 8 và sẽ kinh qua kiểu cảm giác trong sa mạc trong vòng sáu tháng. 

Đây không phải là lời cầu xin được thông cảm. Tôi chia sẻ điều này với các bạn vì người ta thường chia sẻ điều này với gia đình mình, và các bạn là gia đình độc giả của tôi. Tôi sẽ rất cảm kích trước lời cầu nguyện của các bạn, kể cả khi tôi tin tưởng là bạn sẽ không làm tôi ngập lụt trong hộp thư điện tử, thiệp và thư tay. Những gì chúng ta trao cho nhau trong cộng đoàn đức tin, gia đình và bạn bè thì không cần phải nói ra mới là có.Tôi giờ ra sao với tất cả những chuyện này?

Ban đầu, đặc biệt là trước khi cuộc phẫu thuật và những lần soi quang tuyến sau đó cho thấy chính xác hơn giới hạn của khối ung thư, dễ hiểu là tôi khá sợ hãi và hoảng sợ. Những suy nghĩ và nỗi sợ hãi không dễ gì kiểm soát được khi mà lần đi khám bệnh tiếp theo có thể là một bản án tử hình. Dù sao thì, cuối cùng, và không phải chỉ vì tiên liệu bệnh dài hạn cho thấy khá tích cực, tôi đã bắt đầu thấy bình an sâu sắc trong tất cả những điều này. Tôi tin ở Chúa và biết rằng tôi đang ở trong đôi tay an toàn, bất kể điều gì xảy ra đi nữa. Tôi cũng tin tưởng ở các chuyên gia y khoa chữa trị tôi. Họ giỏi tuyệt vời và vô cùng nhân từ. Chuyên môn và kỹ năng của bác sĩ, thật là ân đức cho tất cả chúng ta!

Nhưng sự bình an tâm hồn đó cũng dựa trên nhiều điều tôi nhận ra, những điều mà trước khi mắc bệnh này chỉ là lý thuyết trừu tượng đối với tôi. Một vài điều giờ đây còn thật với tôi hơn nữa: giờ đây tôi biết từ chính trong hiện thể đời mình rằng cuộc đời này mong manh, rằng sức khỏe là quý giá, và có sức khỏe thì cần cảm kích, không nên coi là chuyện bình thường. Tôi cũng biết từ trong hiện thể đời mình rằng chúng ta không thể nào che chắn an toàn cho cuộc sống của chính mình, cho dù mình có cố gắng cẩn thận đến thế nào. Đức tin và hy vọng đang tràn ngập trong cuộc sống của tôi như chưa từng bao giờ mạnh mẽ đến thế.

Tình yêu cũng vậy. Gia đình và bạn bè phần nhiều được coi là bình thường khi chúng ta còn trẻ, sung sức và mang ảo tưởng rằng cái chết không thật sự là chuyện có thật đối với chúng ta. Chúng ta nhận ra rằng gia đình và tình bạn là ân đức sâu sắc biết bao chỉ khi chúng ta hoàn toàn ở trong tình trạng yếu ớt; và cũng phần lớn là chỉ lúc đó chúng ta mới thực sự để những người khác thương yêu mình. 

Và cũng có những bài học sâu sắc cho tôi trong chuyện này: Tôi đã làm việc cật lực trong một thời gian dài, né đạn khi tôi làm việc quá sức và giờ đang bị quá tải. Những năm trước đây, đã từng rất nhiều lần khi làm việc quá sức trong một thời gian kéo dài, tôi hứa với Chúa sẽ sống chậm lại, ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ cụ thể đó. Trên thực tế, thường xuyên, trong lời cầu nguyện rõ ràng, tôi xin Chúa để cho tôi thực hiện chuyện sống chậm lại này theo ý tôi chủ động, chứ không chịu để một tình trạng suy sụp sức khỏe nào đó buộc tôi phải như vậy. Giống như chàng thanh niên Âu-Tinh, tôi cứ cầu nguyện: “Xin cho con chậm lại, nhưng chưa phải là bây giờ!” Cuối cùng, việc tôi được chẩn đoán bị bệnh ung thư đã làm cho tôi cái điều mà tôi không tự làm được cho mình. Lời cầu nguyện của tôi bây giờ là: Cho con đón nhận điều này với lòng biết ơn, và đón nhận như một ân đức!

Bài học cuối cùng: Nếu tôi đứng vững được, khỏe mạnh và tự tin sau đợt hóa trị, tôi hy vọng sẽ có bản lĩnh để không trở lại cuộc đời trước đây, biết ơn đã né được một viên đạn và sẵn sàng cho công việc như bình thường. Thay vào đó, giống như người hủi nọ đi lui để tạ ơn Chúa Giê-su chứ không về với cuộc sống bình thường, tôi đang cầu nguyện là ân đức của trải nghiệm này sẽ là phép giả kim mà tôi từ lâu nay vẫn cần đến để khiến tôi hướng về Chúa Giê-su với lòng hằng biết ơn và hướng về phút giây hiện tại. 

Những điều ẩn kín đối với những người học rộng và thông minh 

Tôi đã sống và làm việc gần trọn quãng đời trưởng thành trong giới hàn lâm, học ở nhiều trường đại học, dạy trong giới đại học, và có bạn bè thân thiết và đồng nghiệp là các vị giáo sư đại học. Thế giới đó như thế nào? Những người sống trong giới hàn lâm đó là những người ra sao?

Có lẽ trải nghiệm của tôi không mang tính điển hình bởi vì phần lớn các học giả mà tôi được theo học và phần lớn các giáo sư thần học cũng như các học giả đồng nghiệp khác của tôi đã trở thành giáo sư và giảng viên đại học với chức năng mục vụ như là một ơn gọi hơn là nghề nghiệp. Vì vậy, thay vì phải chật vật với vấn đề đức tin và giáo hội, họ có động lực trở thành những nhà hàn lâm phục vụ cho đức tin và các cam kết của mình với giáo hội. Xét theo nhiều khía cạnh, những vị giáo sư trong các trường thần học và các trường mục vụ không phải là điển hình của giới hàn lâm. 

Nhưng một nhà hàn lâm là một nhà hàn lâm, và các nghiên cứu đại học và sau đại học, cho dù được thực hiện với động cơ gì, cũng đều có vài tác động tương tự tới con người. Và thế là tôi nghi ngờ xem cái quỹ đạo, trong đó có tôi, là điển hình hơn hay là không điển hình. Mà điển hình là như thế nào?

Các nhà hàn lâm, các học giả, và các vị giáo sư đại học, giống bất kỳ thành phần xã hội nào, đều là một tập hợp phức tạp: Trong các giới đại học, bạn sẽ thấy một số người khiêm tốn, khoan dung, đầy lòng kính tín và thật sự tốt nhất mà bạn từng gặp; cũng vậy, bạn sẽ thấy một số người đầy kiêu ngạo, bo bo thu vén cho mình, phi luân và bất nhẫn nhất trên đời. Thế giới hàn lâm cũng giống như mọi nơi khác. 

Dù sự thật là vậy, từ lâu một câu nói của Chúa Giê-su vẫn ám ảnh tôi, đó là: thường thường, những bí mật sâu kín nhất của cuộc sống và đức tin lại ẩn kín đối với những người học rộng và thông minh, nhưng lại vén mở ra với trẻ con, với những ai có tâm trí ít phức tạp hơn. Tôi không nghi ngờ tính chân thực của câu nói đó; tôi chỉ tự hỏi tại sao. 

Tại sao? Rõ ràng trí tuệ và học vấn là những chuyện tốt. Trí tuệ là món quà Chúa ban cho để tách chúng ta khỏi các loài cầm thú, cơ hội học hành là cái quyền quý giá mà Chúa trao cho ta. Thực sự, tình trạng ngu si và thiếu giáo dục là những điều mà bất kỳ xã hội lành mạnh và bất kỳ cá nhân lành mạnh nào cũng cố gắng vượt thoát ra. Thánh kinh khen ngợi cả minh triết lẫn trí thông minh, và sự lành mạnh của bất kỳ giáo hội nào cũng dựa một phần vào dòng chảy trí tuệ mạnh mẽ trong lòng nó. Trong lịch sử, khi nào giáo hội để cho lòng sùng đạo bình dân, cho dù chân thành, lấn lướt nền thần học sâu sắc thì giáo hội phải trả giá đắt. Chính công cuộc Cải tạo đã thoát thai từ đó, và một trong những điều đầu tiên mà Công đồng Trent giao nhiệm vụ cho Công giáo La Mã là các linh mục phải được đào tạo tốt hơn về mặt trí tuệ. 

Trí tuệ và học hành là những điều tốt. Chúa không ban cho chúng ta trí tuệ rồi bảo chúng ta đừng sử dụng nó. Ngây ngô không phải là một phẩm hạnh và không bao giờ được nhầm lẫn với ngây thơ. Vậy thì tại sao “thông minh và giỏi giang” là điều có thể không giúp cho chúng ta hiểu được những bí ẩn sâu kín nhất của cuộc sống và đức tin?

Lỗi không nằm ở chuyện thông minh và học hành; bản thân cả hai chuyện đó đều tốt, nhưng sai lầm là ở những gì chúng có thể vô tình gây ra cho chúng ta. Trí tuệ và học hành thường có một tác động ngoài dự tính, đó là làm suy yếu đi những gì thuộc về bản tính trẻ thơ trong chúng ta, nghĩa là, chính cái sức mạnh mà chúng đem lại cho cuộc sống chúng ta có thể khiến ta một cách vô thức tự cho rằng mình siêu việt hơn, và khiến chúng ta tin rằng, vì thông minh, nên chúng ta có nhu cầu lẫn có quyền tự tách mình ra khỏi những người khác theo kiểu mà bản tính tự nhiên cần nương tựa của trẻ con không để chúng làm như vậy. Trẻ con không tự lực được cho dù đó là điều chúng mong muốn mãnh liệt. Chúng cần những người khác và chúng biết như vậy. Vì thế, một cách tự nhiên hơn, trẻ con tìm tới và nắm lấy bàn tay ai đó chìa ra. Chúng không có cái khả năng tự lực xa xỉ kia.

Khi chúng ta “học rộng và thông minh” chúng ta có thể quên đi dễ dàng hơn rằng mình cần đến những người khác, và vì vậy không tự nhiên tìm đến nhờ bàn tay giúp đỡ của người khác như cách của một đứa trẻ. Chúng ta dễ tự cách ly bản thân hơn. Khi càng ít nhận thức được tình trạng thiếu thốn của mình thì chúng ta càng dễ bỏ qua những gì mà Chúa và cuộc sống đang mời gọi chúng ta. Chính cái sức mạnh mà trí tuệ và học hành đem lại cho đời sống chúng ta có thể gợi cho chúng ta có cảm giác tự lực sai lầm khiến chúng ta tách mình một cách thiếu lành mạnh ra khỏi người khác và coi mình siêu việt hơn theo cách nào đó. Và lòng tự đại không bao đi một mình, nó luôn luôn đem theo con cái của nó: ngạo mạn, khinh khi, chán nản, bất nhẫn. Tất cả những tính đó là những rủi ro nghề nghiệp cho những người “học rộng và thông minh”, và không cái nào trong số đó giúp hé mở một bí mật sâu kín nào của cuộc sống. 

Nhưng chúng ta phải cẩn thận để không hiểu sai bài học này. Đức tin không yêu cầu chúng ta không được mở mang trí óc. Cả ngu si lẫn ngây ngô đều không ích gì cho đức tin. Những chiều sâu vô hạn không bao giờ bị trí tuệ hữu hạn đe dọa. Và vì vậy, trở nên học rộng và tinh tế không bao giờ là chuyện xấu; chỉ là chuyện xấu nếu chúng ta vẫn kẹt ở đó. Nhiệm vụ ở đây là phải trở nên hậu-tinh tế, nghĩa là, vẫn tràn đầy trí tuệ và luôn học hỏi ngay cả khi chúng ta trở về mang tâm thức trẻ thơ. 

Cuộc chiến đấu nội tâm của chúng ta

Hai điều trái ngược không thể cùng tồn tại trong cùng một chủ thể. Triết gia A-rix-tốt đã viết như vậy và nghe chừng điều đó quá rõ ràng; không thể có cái gì vừa là ánh sáng vừa là bóng tối cùng một lúc. 

Tuy nhiên, xét về những gì đang xảy ra bên trong tâm hồn chúng ta thì dường như những điều trái ngược thật sự có thể cùng tồn tại trong cùng một chủ thể. Bất cứ thời điểm nào, trong lòng mình, chúng ta là sự trộn lẫn giữa ánh sáng và bóng tối, chân thành và giả trá, vô ngã và ái ngã, đức hạnh và suy đồi, ân sủng và tội lỗi, thánh thần và tội phạm. Như cha Henri Nouwen thường nói: Chúng ta muốn là những bậc thánh vĩ đại, nhưng cũng không muốn bỏ lỡ tất cả các cảm giác mà những người tội lỗi trải qua. Và thế là cuộc sống chúng ta không hề đơn giản. 

Chúng ta sống trong ánh sáng lẫn bóng tối trong lòng mình và dường như, trong một thời gian dài, những điều trái ngược thật sự cùng tồn tại trong lòng chúng ta. Tâm chúng ta như một bãi chiến trường, nơi vô ngã và ái ngã, đức hạnh và tội lỗi, cái gì cũng tranh nhau làm chủ. Nhưng cuối cùng, chỉ một cái này hoặc cái kia sẽ bắt đầu làm chủ và tìm cách đánh bật cái kia ra. Đó là lý do tại sao Thánh Gio-an Thánh giá đã chọn câu dụ ngôn triết học này và dùng nó để dạy một bài học cốt lõi về việc đi đến chỗ khiết tịnh của con tim và khiết tịnh của ý định trong đời sống chúng ta. Bởi vì những điều trái ngược không thể nào cùng tồn tại trong lòng chúng ta, nên có điều cần yếu mà chúng ta cần làm. Đó là điều gì? 

Chúng ta cần chuyên cần cầu nguyện. Những điều trái ngược không thể nào cùng tồn tại trong chúng ta như vậy, nếu chúng ta duy trì lòng cầu nguyện chân thành trong đời sống mình để cuối cùng sự thành tâm sẽ đánh bật đi giảo trá, vô ngã sẽ đánh bật ái ngã, và ân sủng sẽ đánh bật tội lỗi. Nếu chúng ta giữ lòng cầu nguyện chân thành, thì về lâu dài, chúng ta sẽ không bao giờ rơi vào lý luận biện hộ cho tội lỗi. Nếu chúng ta duy trì cầu nguyện chân thành trong đời sống thì chúng ta sẽ không bao giờ nhắm mắt làm ngơ trước tội lỗi của mình, và cứ như vậy tới mức chúng ta bắt đầu có những vùng miễn nhiễm về đạo đức trong đời sống của mình. Trung thành với cầu nguyện sẽ bảo đảm chúng ta không bao giờ, về lâu dài, sống đời hai mặt bởi vì những gì lời cầu nguyện đưa vào đời sống chúng ta, một sự có mặt chân chính của Chúa, sẽ không sống chung hòa hợp với ái ngã, tội lỗi, lý luận biện hộ cho tội lỗi, tự huyễn, và giảo trá. Nói nôm na, đến một lúc nào đó trong đời, chúng ta hoặc sẽ thôi cầu nguyện hoặc thôi hành xử tệ hại. Chúng ta sẽ không thể nào sống cả hai thứ trái ngược. Như vậy mối nguy hiểm lớn nhất của chúng ta là ngừng cầu nguyện. 

Và đây là lời khuyên vô cùng hữu dụng: Chúng ta không thể lúc nào cũng kiểm soát được việc mình cảm thấy như thế nào về mọi chuyện. Chúng ta không thể lúc nào cũng kiểm soát được chuyện mình bị quyến dụ ra sao. Và không ai trong chúng ta có sức mạnh để không bao giờ rơi vào tội lỗi. Chuyện chúng ta không có khả năng thực hiện đạo đức mong muốn cho bản thân khiến chúng ta luôn luôn không thể thánh thiện đầy đủ. Có những điều vượt ngoài khả năng của chúng ta.

Nhưng có đôi điều chúng ta có thể kiểm soát, những điều vượt quá con ngựa cảm xúc và cám dỗ bất kham. Chúng ta bị nhiều thứ vây bủa, nhưng chúng ta có thể chuyên cần có mặt để cầu nguyện, theo ý chí của mình, có chủ tâm, với kỷ luật và quyết tâm. Chúng ta có thể cầu nguyện riêng theo kỷ luật chuyên cần trong cuộc sống của mình. Chúng ta có thể hứa với chính mình phải có thói quen cầu nguyện riêng. Và, nếu làm như vậy, thì bất luận sự thực chúng ta sẽ phải chịu một thời gian dài khô khan và chán nản, cuối cùng những gì lời cầu nguyện đưa vào đời sống chúng ta sẽ đánh bật ra các thói quen xấu, những lý luận biện hộ cho tội lỗi, và tội lỗi của chúng ta. Hai điều trái ngược nhau không thể cùng tồn tại trong cùng một chủ thể. Cuối cùng chúng ta hoặc sẽ phải thôi cầu nguyện hoặc sẽ từ bỏ tội lỗi và lý luận biện hộ cho tội lỗi. Không ai có thể vừa cầu nguyện chân thành một cách đều đặn lại vừa nhắm mắt làm ngơ trước tình trạng tội lỗi của mình.  

Vậy thì, nhiệm vụ của chúng ta là duy trì việc cầu nguyện riêng như một thói quen trong cuộc sống, kể cả khi chúng ta không có cái nhìn sâu sắc lẫn không có lòng can đảm để nhìn nhận và giải quyết tất cả các kiểu tiêu chuẩn kép và những điểm mù-đạo-đức trong đời sống của mình. Những gì đi vào đời sống chúng ta qua lời cầu nguyện, mà thường thì khó cảm nhận hơn là dễ thấy, cuối cùng sẽ đánh bật ra (“hóa cứng,” nói theo lời thánh Gio-an Thánh giá) tội lỗi của chúng ta lẫn những lý luận chúng ta biện hộ cho nó.

Điều này gần với lời Ronald Knox từng dạy về phép Thánh thể. Đối với ông, phép Thánh thể là nghi thức có tính cách nâng đỡ, cốt yếu, duy nhất trong đời sống Ki-tô hữu. Tại sao? Bởi vì Knox tin rằng, là Ki-tô hữu, chúng ta chưa bao giờ thật sự sống theo những gì Chúa Kitô yêu cầu. Chúng ta chưa bao giờ thật sự yêu thương kẻ thù mình, chìa má kia ra, chúc phúc cho những ai nguyền rủa chúng ta, sống đời quang minh chính đại trọn vẹn, hay tha thứ cho những ai đã làm chúng ta tổn thương. Nhưng, ông nói, chúng ta đã trung thành với Chúa chủ yếu theo cách: Chúng ta đã trung thành với phép Thánh thể, trung thành với mệnh lệnh duy nhất đó. 

Ngay trước khi từ giã chúng ta, Chúa Giêsu đã ban phép Thánh Thể và yêu cầu chúng ta tiếp tục dâng phép Thánh Thể cho tới khi Người quay trở lại. Hai ngàn năm nay, trong khi chờ đợi sự quay trở lại đó, chúng ta đã trung thành với phép Thánh Thể, dù chúng ta đã trở nên bất trung xét theo các khía cạnh khác. Chúng ta đã tiếp tục dâng phép Thánh Thể, và cuối cùng, hơn bất cứ điều gì khác, đó là điều duy nhất gọi chúng ta, liên tục liên hồi, trở lại với lòng trung tín.

Thói quen cầu nguyện riêng cũng sẽ làm được điều đó cho chúng ta. Bởi vì hai điều trái ngược không thể nào cùng tồn tại trong một chủ thể, cuối cùng chúng ta hoặc sẽ thôi cầu nguyện hoặc chúng ta sẽ không phạm lỗi và lý luận biện hộ cho tội lỗi nữa. Mối nguy hiểm đạo đức lớn nhất trong đời sống là chúng ta ngừng cầu nguyện!

Kích thước trái tim chúng ta

Nhìn chung và đặc biệt là các nhà bình luận tôn giáo thường mô tả trái tim con người là nhỏ nhen, hẹp hòi và nhỏ mọn: Chúng ta hẹp hòi và nhỏ mọn biết bao!

Tôi thấy điều này thật đáng buồn bởi vì các nhà tư tưởng tôn giáo đặc biệt cần phải hiểu biết hơn. Không phải chúng ta được Chúa tạo ra và đặt lên trái đất này với trái tim nhỏ nhen, hẹp hòi và nhỏ mọn. Ngược lại mới đúng. Chúa đưa chúng ta tới thế gian này với những trái tim rộng lớn, những trái tim sâu như thung lũng Grand Canyon. Trái tim con người trong tự thân, khi không bị sợ hãi, tổn thương và hoang tưởng khóa chặt, chính là phản đề của nhỏ mọn. Trái tim con người, như thánh Âu-Tinh mô tả, được lấp đầy không bằng cái gì khác hơn là chính sự vô hạn của nó. Trái tim con người không có gì là nhỏ nhen. 

Nhưng như vậy thì tại sao chúng ta lại quá thường xuyên thấy mình quan hệ với nhau, với thế giới này, và với Chúa thực ra bằng trái tim nhỏ nhen, hẹp hòi và nhỏ mọn?

Vấn đề không phải là kích thước hay những động cơ tự nhiên của trái tim con người, mà là những gì trái tim có khuynh hướng làm khi nó bị tổn thương, sợ hãi, bị coi khinh, hoang tưởng hay tự huyễn hoặc bởi lòng tham và tính ích kỷ. Lúc đó nó đóng chặt lại trước chiều sâu và sự cao cả của chính mình, trở nên hẹp hòi, nhỏ mọn, sợ hãi và ích kỷ. Nhưng hành vi đó là bất bình thường, không phải trái tim con người ở trạng thái bình thường cũng không phải ở trạng thái tốt đẹp nhất. Ở mức bình thường và tốt đẹp nhất, trái tim con người là rộng lớn, hào hiệp, cao cả và biết hy sinh. 

Các tổ phụ xa xưa có một cách biểu đạt đơn giản về cuộc vật lộn của chúng ta ở đây. Họ dạy rằng mỗi người trong chúng ta đều có hai trái tim, hai linh hồn:
Trong mỗi con người, họ khẳng định, đều có một trái tim nhỏ nhen, nhỏ mọn, một pusilla anima. Đây là trái tim mà chúng ta vận hành theo khi cảm thấy bị tổn thương và ngăn cách với những người khác. Đây là trái tim mà trong đó chúng ta bị khó chịu và giận dữ kinh niên, trái tim trong đó chúng ta cảm thấy cuộc đời bất công, trái tim trong đó chúng ta coi những người khác như là mối đe dọa, trái tim trong đó chúng ta cảm thấy ganh tỵ và chua chát, và trái tim trong đó lòng tham, sự thèm khát và lòng ích kỷ đã đột nhập vào. Đó cũng là trái tim muốn tự tách ra khỏi và đứng lên trên những trái tim khác. Và đó là trái tim thường xuyên bị những nhà tư tưởng tôn giáo nói đến nhất khi họ mô tả bản chất con người là nhỏ mọn và tầm thường. 

Nhưng các tổ phụ cũng dạy rằng trong mỗi con người chúng ta cũng có một trái tim khác, một magna anima, một trái tim cao cả, sâu sắc, rộng lớn, hào hiệp và cao thượng. Đây là trái tim mà từ đó chúng ta vận hành theo khi chúng ta ở mức tốt đẹp nhất. Đây là trái tim mà trong đó chúng ta thấy thấu cảm và trắc ẩn. Đây là trái tim trong đó chúng ta cháy rực những lý tưởng cao thượng. Đây là trái tim nơi chúng ta bắt đầu cảm thấy sự hiện diện của Chúa trong đức tin và hy vọng, và có thể vươn ra tới người khác với lòng từ và tha thứ. 

Vì vậy vào một ngày nào đó, vào một thời điểm nào đó, chúng ta có thể cảm thấy giống như Mẹ Tê-rê-xa hay giống một tên khủng bố cay đắng. Chúng ta có thể cảm thấy sẵn lòng hy sinh tính mạng mình vì đạo hoặc cảm thấy sẵn sàng phạm tội. Chúng ta cảm thấy giống hiệp sĩ Đông Ki-sốt cao thượng, cháy rực lý tưởng, hoặc cảm thấy giống như một người yếm thế tuyệt vọng, bằng lòng với bất cứ thứ gì bù đắp và lạc thú ngắn hạn mà cuộc sống có thể ban cho hơn là tin vào những khả năng sâu sắc hơn, hiến dâng tính mạng hơn cho bản thân và người khác. Mọi thứ đều tùy thuộc chúng ta được nối với trái tim nào vào một thời điểm nào đó. 

Nếu điều này đúng thì lời mời gọi của chúng ta đối với người khác khi hướng tới trái tim cao thượng sẽ hiệu quả nhất, thay vì nhấn mạnh lỗi lầm và sự hẹp hòi của họ, chúng ta mời họ cố gắng tiếp cận những gì tốt nhất, cao cả nhất, trong chính bản thân họ. 

Và điều này không phải là một biến thể đơn giản của chân lý hiển nhiên rằng với mật, bạn sẽ thu hút nhiều ong đến hơn là với dấm. Đó là một biến thể của các động lực của lòng ăn năn và chữa lành mà nhà huyền thuật vĩ đại, Gio-an Thánh giá, đã mô tả. Đối với ông, cách hiệu quả nhất hướng tới chữa lành không phải là tập trung vào các lĩnh vực luân lý và thiêng liêng mà chúng ta đặc biệt vật lộn trong đó. Đối với ông, chúng ta chữa lành, lớn lên và cuối cùng làm “chai cứng” các lỗi lầm của mình bằng cách quạt bùng lên ngọn lửa của những gì là đức hạnh, tốt đẹp nhất trong chúng ta. Khi chúng ta thổi bùng lên đức hạnh của mình, những ngọn lửa này cuối cùng sẽ đốt sạch lòng ích kỷ và vết thương của chúng ta. Đức hạnh của chúng ta, khi được thổi bùng thành ngọn lửa, sẽ không chừa lại chỗ nào cho sự tầm thường và nhỏ nhen trong lòng mình. Thổi bùng những gì cao đẹp nhất trong chúng ta cuối cùng sẽ đưa chúng ta ngày càng tiến gần hơn chỗ sống theo trái tim rộng lớn của mình hơn là trái tim nhỏ hẹp.

Không phải mọi thứ đều có thể sửa chữa hay chữa lành, nhưng nó cần được định danh chính xác. Không ở nơi nào điều này quan trọng hơn ở cách chúng ta định danh cả kích thước lẫn những cuộc vật lộn của trái tim con người. Chúng ta không phải là những linh hồn nhỏ mọn thỉnh thoảng làm những chuyện cao cả. Đúng hơn, chúng ta là những linh hồn cao cả mà, buồn thay, thỉnh thoảng làm những chuyện nhỏ mọn.

Vật lộn với sự phức tạp của chúng ta

Trong một cuốn sách gồm các bài giảng có tựa đề “Nói lên sự thật” (Telling the Truth), Frederick Buechner đã thách thức tất cả những người đi giảng và các tác giả thiêng liêng làm sao để nói một cách “trung thực khủng khiếp” về cuộc vật lộn của con người, ngay cả trong bối cảnh đức tin. Đừng bọc đường mọi việc một cách dễ dãi, ông cảnh báo:

“Hãy để người đi giảng nói lên sự thật. Hãy để vị đó nói lên tiếng nói của thinh lặng trong các tin tức của thế giới này, tắt âm thanh, để trong thinh lặng đó chúng ta có thể nghe thấy sự thật bi thương của Phúc âm vốn dĩ có nghĩa là thế giới nơi Chúa vắng mặt là một nơi trống rỗng đen tối và vang động; và sự thật khôi hài của Phúc âm vốn có nghĩa là chính trong chiều sâu của sự vắng mặt này mà Chúa hiện diện theo những cách tưởng như không thể và trong những con người tưởng như không thể như ông bà Sa-ra và A-bra-ham già nua, và có lẽ khi đúng lúc thì cả Phi-la-tô, ông Gióp… và cả bạn lẫn tôi đều cười toáng lên cho tới lúc nước mắt chảy dài trên má. Và cuối cùng hãy để vị đó giảng về bi kịch lan tràn này bằng hài kịch, giảng về ánh sáng lấn át bóng đêm, giảng về cái tầm thường bằng cái phi thường, vì câu chuyện này quá hay đến nỗi không thể không thành hiện thực, bởi lẽ phủ nhận rằng nó không thực có nghĩa là phủ nhận cùng với nó một hơi thở dốc, nhịp đập và nhịp đập gấp của con tim sắp khóc hoặc thậm chí đang khóc, điều mà tôi tin là linh cảm sâu xa nhất về sự thật mà chúng ta có được.”

Khi đọc đoạn đó, tôi nhớ lại một số bài giảng trong giáo xứ khi tôi còn là một cậu bé. Tôi lớn lên trong một cộng đoàn nhỏ, an toàn, gồm những nông dân nhập cư, trong lòng thảo nguyên Canada. Các linh mục trong giáo xứ chúng tôi, những con người tha thiết một cách tuyệt vời, ấy thế mà lại có khuynh hướng giảng cho chúng tôi như thể chúng tôi là một nhóm các gia đình bình dị trong loạt phim truyền hình “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên.” Họ thường nói với chúng tôi là họ rất hài lòng được làm mục vụ cho chúng tôi, những bà con nông dân giản dị, sống cuộc đời không phức tạp, xa hẳn các vấn đề của những vị đang sống trong các đô thị lớn.

Dù còn nhỏ, chẳng tiếp xúc gì nhiều trong cuộc sống, mà không phải lúc nào tôi cũng nuốt trôi những lời đó. Trước hết, tôi không cảm thấy hết sức đơn giản và không phức tạp. Trong sâu thẳm tôi chất chứa nỗi bất an sâu sắc và tôi cảm thấy nhiều chuyện đau đầu nhiều hơn so với phần riêng của mình. Ngay từ hồi đó, cũng như bây giờ, tôi đã cảm thấy rằng cả cuộc đời con người và trái tim con người đều có một chiều sâu luôn luôn phần nào nằm ngoài tầm với của chúng ta. Đồng thời, cho dù cộng đoàn của chúng tôi tuyệt vời như vậy, nó cũng có những phần đổ vỡ, những vụ tự sát, những mối căng thẳng giữa con người với nhau. Bề ngoài, đôi khi chúng tôi trông có vẻ như những ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, nhưng bên dưới, những điều sâu thẳm hơn luôn luôn âm ỉ. Không ai là không có vừa những bí ẩn tuyệt vời lẫn những nỗi ai oán rối rắm phức tạp của cuộc đời. 

Nghệ thuật giỏi là giỏi chính vì nó nhìn nhận sự phức tạp đó một cách nghiêm túc và rọi ánh sáng vào trong đó theo một cách không phải là giải quyết mối căng thẳng này một cách quá dễ dãi. Nghệ thuật tồi lúc nào cũng ủy mị chính vì nó không nhìn nhận sự phức tạp đó một cách nghiêm túc, bằng cách không chịu thừa nhận điều đó hoặc bằng cách giải quyết nó một cách quá dễ dãi. 

Điều này cũng đúng đối với thần học hay và tinh thần thiêng liêng hay. Nó cần phải nhìn nhận một cách nghiêm túc sự phức tạp của trái tim con người. Thánh Tô-ma Đa-canh từng đặt câu hỏi: Đối tượng phù hợp của trí óc và ý chí con người là gì? Theo cách nói thời nay, câu hỏi đó sẽ là: Điều gì sẽ thỏa mãn hoàn toàn từng nỗi đau và nỗi khao khát của chúng ta? Câu trả lời của ông là: Mọi hiện thể, mọi thứ, tất cả những gì tồn tại. Chúng ta sẽ phải biết và cách nào đó phải kết nối về mặt cảm xúc với mọi chuyện thì tâm trí và trái tim bất an của chúng ta mới đi tới chỗ bình an trọn vẹn. Xét điều này là không thể được trong đời này, chúng ta không nên ngây thơ về chuyện cuộc sống của chúng ta sẽ trở thành thường xuyên bất an và phức tạp như thế nào. Món quà vĩ đại trong các tác phẩm của Henri Nouwen là nói cho chúng ta biết về sự phức tạp của chính đời sống của chúng ta và rồi cho phép chúng ta hiểu chuyện đó là bình thường. Chúng ta không hẳn tham lam quá mức, hưởng tình dục quá mức, hay bất an quá mức. Chúng ta chỉ là những con người bình thường, đi đi lại lại với da thịt phàm trần. Đó chính là cuộc đời thật sự! Đó cũng là sự thật rõ ràng trong thánh kinh và phúc âm. Thánh kinh có đầy những câu chuyện về những người tìm thấy Chúa và giúp xây dựng nước Chúa, cho dù cuộc đời của chính họ đầy những hỗn độn, rối rắm, chán chường, phản bội, bất tín, và tội lỗi. Không hề có con người nào đơn giản, miễn nhiễm đối với những mối phức tạp về mặt thiêng liêng, tâm lý, tình dục và quan hệ vốn dĩ vẫn bao vây tất cả chúng ta. 

Và rốt cuộc, đó là điều tốt: Bên cạnh những thứ khác, nó giữ cho chúng ta luôn luôn tỉnh thức, mà thường là trước nỗi sợ hãi và uể oải của chúng ta, và rằng bí ẩn của cuộc đời là vô cùng to lớn, lớn hơn rất nhiều so với những gì mà chúng ta phần lớn thời gian cảm thấy thoải mái. Căn bệnh phức tạp thường hằng của chúng ta ép chúng ta càng hướng gần tới ánh sáng lớn lao hơn. 

Điều cũng quan trọng nữa là sự tỉnh thức và thái độ chấp nhận căn bệnh phức tạp thường hằng của chúng ta có thể là nơi chúng ta cuối cùng sẽ tìm thấy những mối dây thấu cảm và tha thứ: Cuộc đời đối với ai cũng khó khăn cả. Ai ai cũng đau đớn. Chúng ta không cần phải đổ lỗi cho ai hết. Tất cả chúng ta đều bị bao vây bởi cùng những vấn đề. Hiểu và chấp nhận điều đó có thể giúp chúng ta tha thứ cho nhau – và rồi tha thứ bản thân mình. 

Ý nghĩa và Hạnh phúc

Tôi có hạnh phúc không? Đời tôi có hạnh phúc không? Cuộc hôn nhân của tôi có hạnh phúc không? Tôi có hạnh phúc với gia đình tôi không? Tôi có hạnh phúc trong công ăn việc làm hiện nay không? Tôi có hạnh phúc trong giáo hội không? Dưới lớp da của chính mình, tôi có hạnh phúc không?

Đây có phải là những câu hỏi hay đáng để tự hỏi không? Không. Đó là những câu hỏi tra tấn bản thân. Khi đối diện với đời mình, thật tình loại câu hỏi về hạnh phúc này dễ khiến chúng ta rơi nước mắt hơn là an ủi tâm hồn, bởi vì, cho dù cuộc sống chúng ta đang tốt đẹp đến thế nào đi nữa, chẳng ai trong chúng ta sống được cuộc sống trọn vẹn hoàn hảo. Luôn luôn có những giấc mơ không thành. Luôn luôn có những mảng thất vọng. Luôn luôn có căng thẳng. Luôn luôn có những nỗi khát khao chôn chặt. Và luôn luôn, như Karl Rahner đã nói một cách sầu thảm mà thấm thía: chúng ta đang phải chịu nỗi hành hạ của sự thiếu thốn mọi điều có thể đạt được trong khi chúng ta đi đến chỗ biết rằng trên đời này không có bản giao hưởng nào trọn vẹn. Luôn luôn, chúng ta sống đời mình trong nỗi tuyệt vọng lặng câm. Rất nhiều khi không hề dễ dàng cảm thấy hạnh phúc.

Nhưng chúng ta đang tự đặt những câu hỏi sai lầm. Không nên đặt câu hỏi: Tôi có hạnh phúc không? Mà câu hỏi nên là: Đời tôi có ý nghĩa không? Có ý nghĩa gì trong đời sống của tôi không? Có ý nghĩa gì trong cuộc hôn nhân của tôi không? Có ý nghĩa gì trong gia đình tôi không? Có ý nghĩa gì trong công ăn việc làm của tôi không? Có ý nghĩa gì trong giáo hội của tôi không? Chúng ta cần đặt ra những câu hỏi sâu sắc về đời mình xét về mặt ý nghĩa hơn là về hạnh phúc, bởi vì, đại đa số chúng ta đều có một ý niệm phi thực tế, lý tưởng hóa quá mức và sai lầm về hạnh phúc.

Chúng ta có xu hướng đánh đồng hạnh phúc với hai điều: lạc thú và không căng thẳng. Vì vậy chúng ta mơ mộng viễn vông rằng, với mình, để hạnh phúc, chúng ta cần phải ở trong hoàn cảnh không hề có bất kỳ căng thẳng nào vốn thường tràn ngập đời sống chúng ta, những căng thẳng đến từ áp lực, mệt mỏi, rạn nứt giữa con người với nhau, đau đớn trong cơ thể, lo lắng tài chính, chán nản trong công việc, thất vọng trong giáo hội, thất vọng với những đội thể thao ưa thích của chúng ta, và tất cả các chuyện đau đầu và đau tim khác có thể xảy ra. Như vẫn được hình dung một cách hời hợt, hạnh phúc nghĩa là sức khỏe hoàn hảo, những mối quan hệ đáp ứng hoàn hảo, một công việc hoàn hảo, chẳng hề phải lo lắng hay căng thẳng gì trong cuộc sống, không chán nản, và có thì giờ lẫn tiền bạc để hưởng cuộc đời tốt đẹp.

Nhưng đó không phải là điều tạo nên hạnh phúc. Ý nghĩa mới là điều tạo nên hạnh phúc và ý nghĩa không phụ thuộc vào chuyện không bị đau hay không bị căng thẳng trong cuộc sống: Tưởng tượng có người bước đến cạnh Chúa Giêsu khi người đang chết dần trên thập giá và hỏi người: Trên đó ông có hạnh phúc không? Câu trả lời của người, tôi chắc chắn, hẳn sẽ rất rõ ràng: “Không! Và đặc biệt hôm nay tôi không hạnh phúc gì!” Tuy nhiên, nhãn quan này sẽ rất khác nếu như, khi Chúa Giê-su đang bị đóng đinh trên thập giá, có người nào đó bước đến và đặt ra với người câu hỏi này: “Có ý nghĩa gì trong chuyện ông đang làm trên đó không?” Có thể có ý nghĩa sâu sắc trong một sự việc gì đó ngay cả khi không có vui sướng hạnh phúc gì trong cái cách chúng ta hời hợt hình dung về sự việc đó.

Chúng ta hiểu điều này dễ dàng hơn nếu chúng ta nhìn lại những giai đoạn khác nhau trong đời mình. Từ góc độ của chúng ta ngày nay, quay nhìn lại, đôi khi chúng ta thấy những giai đoạn nào đó đầy vất vả khó khăn của cuộc đời, chúng ta phải xoay xở thiếu thốn thật ra lại là thời gian hạnh phúc. Giờ đây chúng ta nhìn lại với lòng trìu mến và niềm ấm áp. Đó là thời gian đầy ý nghĩa mà cái nhìn hiện nay của chúng ta khi trở ngược về trước đã quét dọn rác rến, xóa đi nỗi đau và nhấn mạnh niềm vui. Ngược lại, chúng ta cũng có thể nhìn vào những giai đoạn nào đó trong đời mình, có thể khi đó đời sống chúng ta có lạc thú nhưng giai đoạn đó giờ đây rõ ràng là một thời kỳ bất hạnh. Chúng ta nhìn lại thời đó với cảm giác nặng nề nào đó và thấy hối hận. Hồi đó chúng ta thấy dường như là ánh sáng mà giờ đây lại có vẻ là thời kỳ đen tối.

C.S. Lewis dạy rằng hạnh phúc và bất hạnh chiếu màu sắc ngược thời gian: Nếu cuối đời chúng ta hạnh phúc, thì chúng ta nhận ra rằng từ trước đến giờ chúng ta vẫn luôn luôn hạnh phúc kể cả lúc gian nan, cũng y như nếu cuối đời chúng ta không hạnh phúc thì chúng ta nhận ra rằng lúc nào chúng ta cũng bất hạnh, kể cả những giai đoạn hoan hỷ của đời mình. Nếu rốt cuộc, cuối đời chúng ta có ý nghĩa thì sẽ quyết định đời mình đã hạnh phúc hay bất hạnh. Nhiều người, trong đó có Chúa Giêsu, đã chịu đựng đau đớn lớn lao nhưng đã sống đời hạnh phúc. Đáng buồn là điều trái lại cũng đúng. Hạnh phúc liên quan nhiều đến ý nghĩa hơn là đến vui thú.

Trong quyển tự truyện của mình, Ngạc nhiên trước Niềm vui, C.S. Lewis đã nói với độc giả rằng hành trình đến với Ki-tô giáo của ông không hề dễ dàng. Ông thú nhận, ông là “người trở lại miễn cưỡng nhất trong lịch sử ki-tô giáo.” Nhưng một trong những điều rốt cuộc đưa ông đến gần với Ki-tô giáo chính là việc nhận ra rằng ý nghĩa vượt cao hơn khái niệm thông thường của chúng ta về hạnh phúc. Ông viết, ông đi đến chỗ hiểu rằng sự khe khắt của Chúa tốt lành hơn sự nhẹ nhàng của con người và sự cưỡng chế của Chúa là sự giải phóng của chúng ta.

Tiền không thể mua hạnh phúc. Nó có thể mua lạc thú, nhưng, như cuộc đời cuối cùng đã dạy chúng ta, lạc thú không hẳn là hạnh phúc.

Lắng nghe nhịp tim của Chúa Ki-tô

Câu chuyện về bữa ăn tối cuối cùng trong Phúc âm thánh Gio-an cho chúng ta một hình ảnh bí ẩn tuyệt vời. Thánh sử mô tả vị tông đồ yêu quý tựa đầu vào ngực Chúa Giê-su. Hình ảnh này chứa đựng điều gì? Rất nhiều điều:

Thứ nhất, khi bạn tựa đầu vào ngực người khác, tai của bạn nằm ngay bên trên trái tim người đó, bạn có thể nghe nhịp đập trái tim của họ. Vì vậy, trong hình ảnh của thánh Gio-an, chúng ta thấy vị tông đồ yêu dấu áp tai lên trái tim Chúa Giê-su, lắng nghe nhịp đập trái tim của Chúa, và từ đó nhìn ra thế giới. Đây là hình ảnh tối thượng về sứ vụ tông đồ của thánh Gio-an: Vị tông đồ lý tưởng là người hòa nhịp với nhịp tim của Chúa và nhìn thế giới với âm thanh của nhịp đập đó trong tai mình.

Và còn có một tầng mức thứ hai của hình ảnh này: Đó là biểu tượng của bình an, hình ảnh em bé ngả đầu vào ngực mẹ, hài lòng, thỏa mãn, êm dịu, không căng thẳng, không muốn ở đâu khác hơn nơi này. Đây là hình ảnh của tình mật thiết tối thượng, của sự nhất thể cộng sinh, một mối liên hệ còn sâu sắc hơn cả tình yêu lãng mạn. 

Và đối với thánh Gio-an, đó còn là hình ảnh của bí tích Thánh thể: Điều mà chúng ta thấy trong hình ảnh một người áp tai lên trái tim của Chúa Giê-su, là cái cách mà thánh Gio-an muốn chúng ta hình dung chính mình khi tham dự bí tích Thánh thể, bởi vì, rốt cuộc, đây chính là ý nghĩa của bí tích Thánh thể, dựa đầu vào ngực Chúa Giê-su. Trong phép Thánh thể, Chúa Giê-su dành cho chúng ta, về mặt thực thể, một lồng ngực để dựa đầu vào, để được nuôi dưỡng, để cảm thấy an toàn và vững chãi, và từ đó nhìn ra thế giới.

Cuối cùng, đây còn là hình ảnh về cách chúng ta cần chạm đến Chúa và được Chúa duy trì trong sự cô tịch như thế nào. 

Cha Henri Nouwen từng nói: “Bằng cách chạm vào tâm điểm của sự cô tịch chúng ta, chúng ta cảm thấy mình đã được những bàn tay thương yêu chạm đến.” Sâu thẳm trong lòng mình, giống như một dấu ấn, có một nơi Chúa đã chạm đến, đã vuốt ve và đã hôn chúng ta. Rất lâu trước khi ký ức của chúng ta có thể nhớ được, rất lâu trước khi chúng ta có thể nhớ được đã chạm tới hay đã thương yêu hay hôn ai hay cái gì, hay nhớ được mình đã được ai hay cái gì trên thế gian này chạm tới, đã có một thứ ký ức khác, một ký ức đã được những bàn tay thương yêu nhẹ nhàng chạm đến. Khi áp tai vào trái tim Chúa – vào lồng ngực của những gì tốt lành, chân chính và đẹp đẽ – chúng ta đã nghe một nhịp tim nào đó và chúng ta nhớ mãi, trí nhớ cất giữ ở một nơi ban sơ nào đó, ở một cấp độ vượt lên trên suy nghĩ, rằng mình đã từng được Chúa hôn dịu dàng. 

Tựu trung, đây là điều sâu sắc nhất trong lòng chúng ta. Có một huyền thoại cổ xưa nói rằng khi tạo ra một em bé, Chúa hôn linh hồn của em và hát cho em nghe. Khi vị thiên thần hộ mệnh mang em xuống trần gian để nhập vào thể xác của em, vị đó cũng hát cho em. Huyền thoại này nói rằng nụ hôn và bài hát của Chúa, cũng như bài hát của vị thiên thần, mãi mãi lưu lại trong linh hồn em – để được đánh thức, nâng niu, chia sẻ, và trở thành nền tảng cho tất cả các bài hát của chúng ta. 

Nhưng để cảm nhận được nụ hôn đó, để nghe thấy bài hát đó, cần có sự cô tịch. Bạn không cảm thấy được sự dịu dàng khi trong lòng và tất cả xung quanh bạn đều ồn ào, khó chịu, giận dữ, chua chát, ganh tị, tranh giành, và hoang tưởng. Âm thanh nhịp đập trái tim của Chúa chỉ có thể nghe được trong một cô tịch nào đó và trong sự dịu dàng mà nó mang lại. Thánh Gio-an Thánh giá từng định nghĩa cô tịch là “đem cái nhẹ nhàng hòa hợp với cái nhẹ nhàng.” Đó là cách ông nói về việc chúng ta sẽ bắt đầu nhớ lại cái chạm nguyên thủy của Chúa, khi, qua sự cô tịch, chúng ta dọn dẹp hết khỏi trái tim mình tất cả những gì không nhẹ nhàng, nghĩa là ồn ào, giận dữ, chua chát, và ganh tỵ. Khi chúng ta trở nên nhẹ nhàng, chúng ta sẽ nhớ lại rằng mình đã được đôi tay thương yêu chạm vào, và, giống như vị tông đồ yêu dấu, lúc đó chúng ta sẽ áp tai mình vào nghe nhịp đập trái tim của Chúa.

Vậy, trong mỗi chúng ta đều có một nhà thờ, một nhà nguyện, một nơi thờ phụng, một nơi tôn nghiêm không phải do bàn tay con người tạo nên. Và đó là nơi dịu dàng, nơi trinh trắng, nơi thiêng liêng, nơi không hề có giận dữ, không cảm thấy bị lừa dối, không cần phải tranh giành, và không cần phải bất an. Đó là nơi dịu dàng; nhưng nó có thể bị xâm phạm, bằng việc cam kết với chính mình nhưng lại không tôn trọng chính mình, và đặc biệt, bằng dối trá rồi duy lý hóa và tiếp theo đó là chai sạn, sa đọa và khô cứng của trái tim. Tuy nhiên, trái lại, đó cũng là nơi có thể vẫn không hề bị xâm phạm, thiêng liêng, không bị hề hấn gì kể cả khi bị lạm dụng và xâm hại. 

Chính tại nơi đó, nơi chỉ vào được qua sự cô tịch và dịu dàng của tinh thần, mà chúng ta có được đặc ân tiếp cận với Chúa vì đó là nơi Chúa đã chạm đến chúng ta và nơi mà chúng ta nhớ lại điều đó, cho dù mờ nhạt đến đâu. 

Chúng ta đã từng được chạm đến bằng đôi tay dịu dàng hơn nhiều và đầy thương yêu hơn nhiều so với đôi tay của chính chúng ta. Ký ức về cái chạm đó là một dấu ấn – ấm áp, sâu đậm, dịu dàng. Bước vào miền ký ức đó là dựa vào ngực Chúa, giống như vị tông đồ yêu dấu đã làm tại bữa ăn tối cuối cùng. Từ nơi đó, tai áp trên trái tim của Chúa Ki-tô, chúng ta có cái nhìn chân thật nhất về thế giới của chúng ta. 

Đơn giản hóa từ vựng thiêng liêng của chúng ta

Lúc gần sinh nhật 75 tuổi, Morris West viết một tập các bài tự sự với nhan đề Một cái nhìn từ sườn núi. Trong phần mở đầu quyển sách, ông nói ở tuổi 75, bạn chỉ cần giữ lại một từ duy nhất trong từ vựng thiêng liêng của mình, lòng biết ơn, và đạt đến sự trưởng thành ở chính cái lúc lòng biết ơn bắt đầu đuối đi và đốt cháy vết thương trong cuộc đời bạn. Và ông miêu tả điều đó như thế này: Cuộc đời đã phục vụ cho tôi như cách nó phục vụ cho mọi người, đôi khi tốt đẹp đôi khi tệ hại, nhưng tôi đã học được cách biết ơn những món quà của nó, biết ơn tình yêu đã khởi sự cuộc đời đó và các tình yêu khác mà tôi đã được ban cho một cách hào phóng. 

Tôi đồng ý với West, dù cần phải nói thêm rằng hoa trái của sự trưởng thành là lòng tha thứ. Cũng như khói đi với lửa, tha thứ đi kèm với lòng biết ơn. Lòng biết ơn rốt cuộc là trụ đỡ, là bình nạp nhiên liệu cho mọi đức hạnh chân chính, là nền tảng thật sự của thần thánh, là cội nguồn của chính tình yêu. Và hoa trái chính của nó là lòng tha thứ. Khi chúng ta biết ơn, chúng ta dễ dàng tìm được sức mạnh để tha thứ hơn. 

Tuy nhiên vì lòng biết ơn được xem là một đức tính thì lòng tha thứ cũng là một đức tính về mặt tôn giáo và đạo đức. Như thế, khi về già, chúng ta có thể rút ngắn từ vựng thiêng liêng vào còn ba chữ: Tha thứ, tha thứ, tha thứ! Già và chết với quả tim tha thứ là có tinh thần đạo đức tối thượng. Chúng ta không thể nào bị ru ngủ về vấn đề này. Mọi tín điều và đạo đức trong sáng của trần gian này chẳng làm gì được cho chúng ta nếu quả tim chúng ta còn cay đắng và không thể tha thứ.

Chẳng hạn, chúng ta thấy điều này trong hình dáng buồn rầu người anh của đứa con hoang đàng. Anh đứng cạnh cha, phản đối mình chưa bao giờ đi hoang, chưa bao giờ bất trung, đã ở với gia đình và làm mọi việc nhà. Nhưng, đây chính là vấn đề, anh lại đứng bên ngoài ngôi nhà của cha, không cách nào vui vẻ bước vào, ăn mừng, tiệc tùng, khiêu vũ. Anh làm mọi việc đúng đắn, nhưng với quả tim chua chát nên anh không bước vào ngôi nhà của cha, cũng giống như các chuyến đi lang thang phóng đãng của người em trai đưa nó ra khỏi ngôi nhà của cha. Lòng trung thành về đạo đức và tôn giáo, nếu không bắt rễ sâu xa từ lòng biết ơn và tha thứ, thì còn lâu mới đủ. Những điều này, cũng như tloi và sự bất trung,  làm cho chúng ta ở bên ngoài ngôi nhà của cha. Chúa Giê-su đã kiên quyết dạy chúng ta qua kinh Lạy Cha, một điều kiện không thể nhân nhượng để được lên thiên đàng là sự tha thứ, đặc biệt là tha thứ cho những ai đã làm tổn thương chúng ta. 
Nhưng đấu tranh để tha thứ không phải là chuyện dễ dàng và không bao giờ bị coi là chuyện nhỏ nhặt hay rao giảng một cách hời hợt. Tôi ngờ rằng, đấu tranh để tha thứ là cuộc chiến đấu vĩ đại nhất của chúng ta về mặt tâm lý, luân lý và tôn giáo. Tha thứ không hề dễ dàng. Phần lớn mọi điều trong thâm tâm ta đều chống đối điều này. Khi đã bị đối xử tệ, khi phải chịu bất công, khi một ai đó hay một chuyện gì đó đã đối xử với chúng ta không công bằng, thì cả ngàn cơ chế thực thể và tâm lý trong ta bắt đầu câm bặt, đóng sầm lại, tê cứng, tự vệ, thét gào phản đối, giận dữ và phẫn nộ. Sự tha thứ không phải là điều chúng ta đơn giản muốn mà được và làm được. Như Pascal từng nói, trái tim có những lý lẽ của nó. Nó cũng có những nhịp điệu riêng, nỗi sợ hãi riêng, những điểm cay đắng lạnh lẽo của nó, và nó cần được bảo bọc bản thân nó khỏi bất kỳ điều gì đã từng làm nó tổn thương. 

Hơn nữa, tất cả chúng ta đều từng bị tổn thương. Không ai lớn lên với một trái tim hoàn toàn lành lặn. Theo những cách nho nhỏ hay chấn động lớn, tất cả chúng ta đều từng bị đối xử không công bằng, bị xâm phạm, bị làm tổn thương, bị bỏ quên, không được vinh danh đúng mực, bị gạt qua một bên cách bất công. Tất cả chúng ta đều mang trong mình vết thương, và cùng với những vết thương đó, chúng ta mang theo những nỗi tức giận nhất định, sự chua chát nhất định, và ở một mảng nào đó chúng ta chưa tha thứ. 

Sức mạnh của quyển sách lớn nhất của Henri Nouwen, Người con hoang đàng trở về, chính là đưa ra những góc lạnh lẽo ẩn trong trái tim chúng ta và cuộc chiến đấu vĩ đại cần có để đem hơi ấm và sự tha thứ đến những nơi đó. Rất nhiều những điều nhẹ nhàng hay nặng nề trong lòng chúng ta, hầu như tất cả sắc thái cảm xúc của chúng ta được quyết định một cách vô thức bởi lòng tha thứ hoặc không tha thứ từ bên trong chúng ta. Tha thứ là bí quyết sâu xa để có được niềm vui. Đó cũng là mệnh lệnh tối thượng. 

Andrew Greeley, khi viết một bài phê bình về quyển sách Những tro tàn của Angela của Frank McCourt, đã ca ngợi McCourt là xuất sắc, nhưng lại thách thức ông đã không tha thứ với những lời như sau về vấn đề này: Đương nhiên, cuộc đời của bạn đã không công bằng. Cha bạn là kẻ nát rượu, mẹ bạn không bảo vệ bạn khỏi các tác động tiêu cực của điều đó, bạn lớn lên trong cảnh nghèo kiết xác, chịu đựng một loạt những bất công nho nhỏ trong hệ thống xã hội của Ai-len, trong nhà thờ Ai-len, trong hệ thống giáo dục của Ai-len, và cả thời tiết của Ai-len! Vì vậy, hãy để tôi có vài lời khuyên cho bạn: Trước khi bạn chết, hãy tha thứ. Hãy tha thứ cha bạn đã là kẻ nát rượu, hãy tha thứ mẹ bạn đã không bảo vệ bạn, hãy tha thứ nhà thờ đã hắt hủi bạn theo bất kỳ cách nào đó, hay tha thứ Ai-len vì gió mưa, nghèo đói, các giáo viên xoàng mà nước này gây ra cho bạn, hãy tự tha thứ cho mình vì những thất bại trong chính đời mình, và rồi hãy tha thứ cho Chúa vì đời bất công…, để bạn không chết trong giận dữ và cay đắng bởi vì đó thật sự là mệnh lệnh luân lý tối thượng.

Thật đúng đắn và đầy khó khăn!

Chúa và bạo lực

Chúa là phi bạo lực. Chúa không kê đơn bạo lực để giải quyết vấn đề. Không bao giờ được hợp lý hóa bạo lực nhân danh Chúa. Điều này rõ ràng trong mạc khải Ki-tô. 

Nhưng ngay lập tức câu hỏi dấy lên: Vậy bạo lực trong Thánh kinh gán cho Chúa hay lệnh trực tiếp của Chúa? 

Trong cơn tức giận, không phải Chúa đã xóa sạch toàn bộ loài người, chỉ cứu sống Nô-ê và gia đình ông hay sao? Chẳng phải Chúa đã yêu cầu Ap-ram giết I-sa-ac trên bàn hiến tế hay sao? Chẳng phải các nhà thông thái đã phải thuyết phục Chúa đừng phá hủy It-ra-en vì Chúa đang giận dữ hay sao? Chẳng phải Chúa đã ra lệnh It-ra-en giết người và vật (nam, nữ, trẻ con, và kể cả súc vật) trước khi cho họ đến Miền Đất Hứa hay sao? Chẳng phải là Luật Mosaic, được cho là của Chúa, quy định ném đá phụ nữ ngoại tình cho đến chết hay sao? Chẳng phải Giê-su đã đá tung mấy cái bàn của những người đổi tiền vì tức giận hay sao? Còn những cuộc chiến tranh và xử tử đã được thực hiện nhân danh Chúa suốt hàng thế kỷ qua thì sao? Những người Hồi giáo cực đoan ngày nay, giết hại hàng ngàn người nhân danh Chúa thì sao? Dường như Chúa đã kê đơn và chấp thuận cho nhiều bạo lực và giết chóc từ thời cổ xưa cho tới ngày nay. Làm thế nào chúng ta giải thích được tất cả chuyện bạo lực gán cho Chúa này? 

Cần phải ghi nhớ hai điều sau đây:

Thứ nhất: Khi Thánh kinh nói về việc Chúa bị xúc phạm, nổi giận, muốn trả thù các kẻ thù của mình, hoặc yêu cầu chúng ta giết ai đó nhân danh Chúa, là Thánh kinh đang nói theo ngôn ngữ nhân cách hóa, nghĩa là, đang dùng chính suy nghĩ, cảm xúc và cách phản ứng của chúng ta và phóng chiếu chúng vào Chúa. Chúng ta nổi giận, còn Chúa thì không. Tim chúng ta mong muốn trả thù, trái tim Chúa thì không. Chúng ta đòi những kẻ giết người phải bị xử tử, Chúa thì không. Thánh kinh chứa rất nhiều các dạng nhân cách hóa như vậy, vốn sẽ tạo thành một thuyết thần học tệ hại và nguy hiểm nếu đọc và hiểu một cách máy móc dựa vào ngôn từ. Nếu đọc Thánh kinh một cách máy móc dựa vào ngôn từ thì chúng ta biến Chúa thành vị thần của bộ lạc, tranh chấp với các vị thần khác. 

Khi Thánh kinh nói chúng ta trực nghiệm sự phẫn nộ của Chúa khi phạm tội, thì Thánh kinh không muốn chúng ta tin rằng Chúa thật sự nổi giận và trừng phạt chúng ta. Không cần phải vậy. Hình phạt thật ra đã phôi thai và cố hữu ngay trong bản thân tội lỗi. Khi chúng ta phạm tội, thì chính những hành động của chúng ta đã trừng phạt chúng ta (cũng giống như lạm dụng rượu sẽ làm não bộ mất nước và việc mất nước đó gây ra cơn đau đầu). Có thể chúng ta cảm thấy như thể hình phạt đó đang đến từ Chúa, từ cơn giận của Chúa, từ sự phẫn nộ của Chúa, nhưng chính là chúng ta đang trực nhận cơn phẫn nộ của tự nhiên và của chính chúng ta. Chúa không hề cần phải trừng phạt tội lỗi một cách từ bên ngoài vào như vậy bởi vì tội lỗi đã trừng phạt chính nó. Tự nhiên được kiến tạo như vậy. Có luật nghiệp quả. Tội lỗi chính là hình phạt của chính nó. 

Nhưng ở cấp độ cảm xúc, điều này được coi như thể Chúa đang trừng phạt chúng ta. Tuy vậy, như Chúa Giê-su thể hiện trong việc tha thứ chính những người giết mình và tha thứ cho tất cả những ai đã phản bội người, Chúa tha thứ tội lỗi. Chúa không hề cần phải trả thù hay cần phải thực hiện kiểu công lý xẻo một ký thịt để trả giá cho một ký tội lỗi. Tự nhiên đã làm điều đó. Thực sự, xét cách hiểu đúng đắn về bản chất của Chúa và sự siêu việt, sẽ quá kiêu ngạo về phần chúng ta nếu nghĩ rằng chúng ta có thể “xúc phạm” Chúa.

Thứ hai, điều còn quan trọng hơn là các lời kinh nào gán bạo lực cho Chúa cũng mang khuôn mẫu phổ biến, chúng là lời văn dạy cho chúng ta những điều về các giai điệu sâu thẳm của trái tim con người chứ không nhằm để hiểu một cách máy móc dựa vào từ ngữ. Nếu chỉ dựa vào từ ngữ, thì những lời văn này thường chính là phản đề của sự mặc khải của Chúa. 

Thế nhưng chúng ta làm gì đây với những lời văn trong Knh thánh nói rằng Chúa kê đơn bạo lực? Chẳng hạn, làm thế nào chúng ta có thể diễn giải việc Chúa ra lệnh cho It-ra-en giết tất cả người Ca-na-an khi bước vào Miền Đất Hứa?

Trong các câu chuyện khuôn mẫu, việc giết chóc mang tính ẩn dụ chứ không theo nghĩa đen. Đó là về cái chết trong tim. Lệnh của Chúa phải giết tất cả cư dân vùng Ca-na-an đơn giản chỉ là một phép ẩn dụ mạnh cho điều mà Chúa Giê-su đề cập tới khi Người nói rằng anh phải cho thứ rượu mới vào túi da mới để chất rượu mới này không làm nổ tung thứ da cũ. 

Bất cứ ai từng trải qua chương trình cai nghiện 12 bước đều hiểu ý nghĩa của việc phải giết tất cả người Ca-na-an. Để đi vào vùng đất hứa của tỉnh táo và trụ được trong đó, một điều gì đó khó khăn và mạnh bạo cần phải xảy ra, một điều không thể xảy ra qua những biện pháp nửa vời: Để đi vào vùng đất hứa của tỉnh táo, anh phải trừ khử hết (“giết”) toàn bộ tủ rượu của anh, tất thảy “những người Ca-na-an”: tất cả bia, rượu uyt-ki Scốt-len, rượu ngô, rượu rum, vốt-ca, rượu nho, cô-nhắc, rượu bran-đi, phải đổ hết cho tới giọt rượu cuối cùng. Nếu anh cho phép bản thân uống dù chỉ một lần thì rốt cuộc anh sẽ mất đi tỉnh táo. 

Hầu như mọi lời văn nào trong Kinh thánh gán bạo lực cho Chúa hay đặt vào miệng Chúa lệnh thực hành bạo lực đều phải được đọc theo cùng một cách: Bạo lực và giết chóc đó mang tính ẩn dụ, thậm chí cả khi lời văn đó đang yêu cầu trái tim làm một điều gì đó không thể nào là biện pháp nửa vời.  
Walter Brueggemann từng nhận xét rằng “Chúa đang hồi phục từ tất cả các bạo lực đã gán cho Người và được thực hiện nhân danh Người.” Đã đến lúc Giáo hội bắt đầu một quy trình hồi phục như vậy. 

Mặt kia của Chính thống giáo

Có nhiều cách có thể làm cho hệ thống niềm tin của chúng ta bị mất cân bằng và gây tổn hại cho Chúa và Giáo hội.

Điều gì làm nên một đức tin chính thống, cân bằng, lành mạnh? Từ điển Oxford về Giáo hội Ki-tô định nghĩa chính thống giáo là “niềm tin đúng đắn đối lập với dị giáo.” Định nghĩa này đủ chính xác, nhưng chúng ta có xu hướng suy nghĩ về điều này theo một cách rất phiến diện. 

Theo đa số, dị giáo được hiểu là đi quá xa, vượt qua biên giới tín điều, kéo căng sự thật Ki-tô ra quá mức có thể căng. Như vậy, chính thống giáo nghĩa là ở trong các giới hạn an toàn. 

Điều này mới nghe qua tưởng là đúng, nhưng đó là một cách hiểu phiến diện và đơn giản hóa về chính thống giáo. Chính thống giáo có một chức năng kép: nó bảo bạn có thể đi bao xa, nhưng nó cũng bảo bạn phải đi bao xa. Mà chính phần sau thường bị lãng quên. 

Các dị giáo là nguy hiểm, nhưng mối nguy ở đây có hai mặt. Niềm tin sai lầm vốn không tôn trọng các ranh giới tín điều đúng đắn chắc chắn sẽ đưa tới một tôn giáo tệ hại và cư xử đạo đức tệ hại. Tổn hại thật sự sẽ xảy ra. Các ranh giới tín điều là quan trọng. Nhưng cũng quan trọng không kém nếu chúng ta không giúp gì được cho Chúa, cho đức tin, cho tôn giáo và giáo hội khi đức tin của chúng ta hẹp hòi, mù quáng, cứng nhắc, và thiếu khoan dung. Chủ nghĩa vô thần chắc chắn là loại ký sinh trùng phát sinh từ thứ chủ nghĩa hữu thần tệ hại. Thường thường phản-tôn-giáo đơn giản chỉ là một phản ứng trước tôn giáo tệ hại và vì vậy sự hẹp hòi và thiếu khoan dung có lẽ là thứ kẻ thù ghê gớm đối với tôn giáo hơn so với bất cứ việc vi phạm ranh giới tín điều nào. Tôi ngờ rằng, Chúa, tôn giáo, và giáo hội sẽ bị tổn thương nhiều hơn khi đối diện với lòng hẹp hòi và thiếu khoan dung của một số tín đồ, hơn là khi họ có bất cứ tín điều dị giáo nào. Sự thật chân chính, niềm tin đúng đắn và lòng trung thành thật sự đối với Chúa Giê-su Ki-tô đòi hỏi trái tim chúng ta mở rộng ra để tỏa chiếu tình thương và lòng lân mẫn đối với tất thảy mà Chúa Giê-su là hiện thân. Một mình sự tinh tuyền của tín điều không đủ làm cho chúng ta thành môn đồ của Chúa Giê-su. 

Có thể nói Chúa Giê-su rất rõ ràng về điều này. Bất kỳ ai đọc Phúc âm mà bỏ sót lời Chúa cảnh báo nhắc đi nhắc lại về lòng dạ cứng nhắc, hẹp hòi, thiếu khoan dung, thì người đó chỉ muốn đọc cái gì mình muốn đọc. Đương nhiên, Chúa Giê-su cũng nhắc là phải ở trong giới hạn của đức tin đúng đắn (chủ nghĩa đơn thần và tất cả hàm ý của nó) và luân lý đúng đắn (mười điều răn, thương yêu kẻ thù, tha thứ), nhưng Người cũng nhấn mạnh chúng ta có thể bỏ sót các yêu cầu đích thật của sứ vụ tông đồ nếu chúng ta không đi xa hơn mà chỉ khư khư giữ lời dạy của Người. 

Chính thống giáo chân chính đòi hỏi chúng ta duy trì một mối căng thẳng lớn, giữa ranh giới thật không nên vượt qua với ranh giới và biên giới thật mà bạn phải vượt qua. Bạn có thể không đi quá xa, nhưng bạn cũng phải đi xa đủ. Và đó có thể là một con đường độc hành. Nếu bạn mang trong lòng mối căng thẳng này một cách chân thành, không chịu lùi bước trước bất cứ bên nào, thì chắc chắn bạn sẽ thấy mình có rất ít đồng minh về cả hai phía, nghĩa là, quá tự do đối với những người bảo thủ và quá bảo thủ đối với những người tự do. 

Xin thử đưa ra chỉ một ví dụ: Bạn thấy kiểu chính thống giáo nhiều khổ đau nhưng mang tính Ki-tô trọn vẹn hơn ở một người như Raymond Brown, một học giả thánh kinh nổi tiếng, một nhà tư tưởng trung thành với Công giáo La mã, chịu để mình bị công kích vì các lý do hoàn toàn trái ngược nhau, bởi những người từ cả hai phía của dãy tư tưởng. Ông làm cho người tự do thấy khó chịu vì ông dừng lại trước khi họ nghĩ ông phải dừng và ông làm cho người bảo thủ khó chịu vì ông nêu ra rằng chân lý và tín điều đúng đắn thường kéo căng chúng ta vượt ra ngoài những vùng quen thuộc cũ. 
Và sự căng thẳng này là một mối băn khoăn bẩm sinh lành mạnh, chúng ta sinh ra là để sống điều đó hàng ngày trong đời sống chứ không phải là điều chúng ta có thể giải quyết một lần là xong. Thực ra gốc rễ sâu xa của mối liên hệ này nằm ngay trong chính linh hồn con người. Linh hồn con người, như Tô-ma A-qui-nô đã nói một cách kinh điển, có hai nguyên lý và hai chức năng: Linh hồn là nguyên lý sự sống, năng lượng và lửa bên trong chúng ta, dù cả khi nó cũng là nguyên lý tích hợp, hợp nhất và kết dính. Linh hồn giũa cho chúng ta sống động và có lửa, thậm chí ngay cả khi nó giữ cho chúng ta không bị tiêu tán và rã rời. Một linh hồn lành mạnh vì vậy giữ chúng ta ở trong vòng ranh giới lành mạnh, ngăn chúng ta khỏi bị phân rã, ngay cả khi nó giữ cho chúng ta có lửa, để chúng ta không bị hóa đá và trở nên quá chai sạn đến nỗi không thể bước vào cuộc sống một cách trọn vẹn. Theo nghĩa đó, bản thân linh hồn là một nguyên lý chính thống giáo lành mạnh bên trong chúng ta. Nó giữ chúng ta trong vòng các giới hạn thực ngay cả khi nó đẩy chúng ta hướng về phía các biên giới mới. 

Chúng ta luôn sống trước hai mối nguy hiểm đối lập: sự phân rã hóa và sự chai sạn hóa. Để giữ lành mạnh, chúng ta cần biết những giới hạn của mình và chúng ta cũng cần biết mình phải kéo căng bản thân ra xa bao nhiêu. Bản năng bảo thủ cảnh cáo chúng ta về điều thứ nhất. Bản năng tự do cảnh cáo chúng ta về điều thứ hai. Cả hai bản năng này đều lành mạnh bởi vì cả hai mối nguy hiểm đó đều có thực. 

Goethe, nhà thơ người Đức, từng viết: Cuộc sống có nhiều mối nguy hiểm, và sự an toàn là một trong những mối nguy hiểm đó. Điều này đúng đối với đời sống cá nhân của chúng ta và cũng đúng trong chính thống giáo Ki-tô. Có một mối nguy hiểm trong các giáo điều tệ hại nhưng cũng có một mối nguy không kém trong việc không tỏa chiếu ý chí cứu rỗi phổ quát của Chúa đối với mọi dân tộc, với lòng lân mẫn và thông hiểu đầy đủ. 

Ngày lễ của Mẹ

Trong nhiều năm qua, tôi có thành kiến với Ngày lễ của Mẹ. Tôi không chống lại tư tưởng đó, đây chỉ là mối bực bội cá nhân. Mẹ tôi qua đời cách đây 40 năm, nên chuyện tôi làm ngơ trước Ngày lễ của Mẹ từ trước đến giờ chỉ là thái độ của tôi trước bất công của vũ trụ mà tôi cảm thấy: Mọi người cứ ăn mừng, trừ tôi!

Nhưng thời gian đã chữa lành vết thương và đôi khi làm chúng ta khôn ngoan hơn. Bây giờ, vào Ngày lễ của Mẹ, tôi luôn luôn ý thức về mẹ và tìm thấy các lý do rất hay để ăn mừng. Bạn không cần phải còn sống mới nuôi nấng được một người nào đó, và đó chính là trường hợp mẹ tôi. Chúa Giêsu đã chẳng bảo rằng, chúng ta chỉ tiếp nhận cách tinh tuyền tinh thần của một người nào đó sau khi họ ra đi và tôi biết điều đó đúng. Bốn mươi năm sau cái chết của bà, tôi ý thức mẹ tôi là ai và những gì bà đã cho tôi một cách rõ ràng hơn so với suốt thời thơ ấu của tôi khi bà còn sống và tình mẫu tử của bà như đang hiển hiện ôm tôi.

Những gì anh chị em tôi và tôi giờ đây ý thức rõ ràng hơn so với khi bà còn sống, là chúng tôi rất may mắn. Chúng tôi có được một bà mẹ tốt lành. Đơn giản là như vậy. Trong những điều thiết yếu, bà đã cho chúng tôi những thứ quan trọng: An toàn, bảo bọc, cảm thấy được người khác mong muốn, cảm thấy mình là quý giá, được ăn no, mặc ấm, một cảm nhận rằng cuộc đời là đẹp, và trên hết thảy, cảm thấy chúng tôi luôn luôn ở trong vòng tay của một Chúa đáng tin cậy. 
Dĩ nhiên, chẳng có điều nào trong số đó hoàn hảo. Mẹ tôi không phải là Chúa. Bà có những giới hạn, nguồn năng lượng và nguồn lực nhờ đó bà nuôi dưỡng chúng tôi cũng giới hạn. Gia đình đông người và lúc nào cũng thiếu tiền. Chúng tôi có đủ, nhưng chỉ là đủ mà thôi, không hơn. Chưa bao giờ có dư. Nó cũng đúng nếu nói về sự quan tâm và tình thương bà dành cho mỗi anh chị em chúng tôi. Bà không có thì giờ, năng lực hay niềm vui sướng xa xỉ nào để tuôn tràn lên bất cứ riêng ai trong chúng tôi, dù không ai trong chúng tôi nghĩ rằng bà thương mình như đứa con độc nhất. Tuy vậy, tất cả chúng tôi đều thấy các giới hạn của bà và sống với hệ quả của chúng cho tới hôm nay. 

Nhưng các nỗ lực quá mức thường xuyên của bà cũng là một khiếu đặc biệt của bà: Giống như Chúa Giê-su, bà nhân bánh mì và cá lên gấp bội lần. Cách nào đó bà luôn luôn tìm được đủ mọi thứ, thức ăn, áo quần, sách vở, thêm một cái bánh, một dây ruy-băng hay bất cứ cái gì cho một dịp đặc biệt. Cách nào đó chúng tôi luôn luôn có những thứ chúng tôi cần, cũng giống như cách nào đó bà đã làm cho cái bàn ăn gia đình dài thêm đủ để mọi người cùng ngồi – hàng xóm, giáo viên, linh mục, người bán hàng, hoặc một ông chú sa cơ lỡ vận – người mà cứ tình cờ đến chơi nhà khi gần bữa ăn. Bà tin tưởng rằng rồi lúc nào cũng sẽ đủ, và đúng vậy thật. 

Và bà là một bổ sung hoàn hảo cho cha tôi. Phim trường Hollywood hay dịch vụ hẹn hò Công giáo không thể nào sắp xếp được một cuộc hôn nhân tốt đẹp hơn thế. Họ đã tìm thấy nhau, hai người tri âm tri kỷ, tại một cuộc đi chơi ngoài trời của giáo xứ, tình thương yêu và tôn trọng lẫn nhau của họ là điều mà, có lẽ hơn bất kỳ điều gì khác, đã đem lại cho chúng tôi, những người con của họ, một cảm thức manh nhất về sự an toàn, vững chãi, và đức tin. Cha tôi là kim chỉ nam về đạo đức, bà là trái tim; nhưng họ có thể hoán đổi vai trò này cho nhau và bà có thể đưa ra những thách thức về luân lý còn ông đem đến sự nhạy cảm. Dù cách nào đi nữa, họ đều làm cùng nhau, và khi họ chết, họ để lại đằng sau một gia đình còn quá non trẻ để có thể tự xoay xở một mình, họ đã cho chúng tôi những gì họ cần phải cho, tất cả những công cụ cơ bản để xây dựng cuộc sống của riêng mình và sống một cách sôi nổi, vui vẻ. 

Bà chết vì căn bệnh viêm tụy tạng và đau tim, chỉ ba tháng sau khi bà đã chăm sóc cha tôi trong trận quyết chiến cả năm trời nhưng thất bại với căn bệnh ung thư. Khi cha tôi sắp chết, một người em của tôi và tôi đưa bà ra hiệu để mua một bộ áo mặc cho dịp tang lễ. Bà đã quyết định vung tay mua bộ áo đắt tiền nhất bà chưa từng mua. Khi mặc thử bộ áo, người bán hàng nói: “Bà mặc áo này trông thật tuyệt! Tôi hy vọng bà thích mặc nó!” Mẹ tôi chỉ mặc nó có hai lần, một lần trong đám tang ba tôi, và một lần trong đám tang của bà. Nhận xét trớ trêu của người bán hàng vậy mà đúng. 

Không biết lý do gì, mẹ tôi không thích tên Mathida của mình. Các bà bạn gọi ngắn là Tilly lại càng làm bà không thích! Tôi không biết khi thân mật, ba tôi gọi bà tên gì nhưng tôi nghi là chẳng phải tên nào trong số hai tên này.

Các nhà nhân chủng học cho rằng mẹ của mình là mối dây cộng sinh của chúng ta với cuộc sống. Các bà mẹ phải cho chúng ta biết rằng vũ trụ này muốn có chúng ta, và chúng ta đáng yêu chỉ đơn giản chúng ta là chúng ta, rằng tình yêu thương là không cần gắng gỗ mới có được. Mẹ tôi đôi khi quá bận rộn nên không thể nuôi nấng riêng từng đứa một với cảm giác rằng chúng tôi là duy nhất, là xinh đẹp, là quý giá; nhưng bà đã làm mẹ chúng tôi theo một cách mà chính cuộc sống và vị Chúa tạo dựng cuộc sống đó đã đem lại cho chúng tôi món quà quý giá đó.

Quà tặng là cha Henri Nouwen

Cha Henri Nouwen có lẽ là tác giả thiêng liêng được ưa chuộng nhất của cuối thế kỷ 20 và sách của cha vẫn được chuộng cho đến ngày hôm nay. Hơn bảy triệu quyển sách được bán ra trên khắp thế giới và được dịch ra 30 ngoại ngữ khác nhau. Mười lăm năm sau khi cha chết, lúc nào cũng có một quyển sách của cha đang in.

Rất nhiều chuyện tạo nên tính phổ thông này, ngoài chiều sâu và tính cách học hỏi mà các quyển sách của cha đem lại. Cha đã góp phần rất nhiều để đánh tan các nghi ngờ  tồn tại từ lâu giữa giáo hội Tin Lành và Phúc âm đối với vấn đề thiêng liêng, đánh dấu trong đầu óc dân chúng như một cái gì của Công giáo La mã và đặc biệt là cuộc sống bình thường. Cả hai chuyện, giảng dạy và các bài viết của cha đã góp phần tạo nên một cái gì cho đời sống thiêng liêng của Công giáo La Mã, và nói chung giáo hội Ki-tô và trong chính xã hội thế tục. Chẳng hạn, bà Ngoại trưởng Mỹ, Hilary Clinton, đã tuyên bố quyển sách Người Con Hoang Đàng Trở Về là quyển sách có tác động lớn trong cuộc đời của bà.

Cha viết như một tâm lý gia và một linh mục nhưng các bài viết của cha mang dấu vết của một người đàn ông. Và cha là một người đàn ông phức tạp, luôn luôn bị xâu xé nội tâm, một người thánh thiện tận hiến cuộc đời cho Chúa và một người luôn luôn bị ám ảnh bởi tình thương của một người đàn ông với các khát vọng trần tục, muốn làm lại cuộc đời từ đầu. Cha thích trích dẫn Soren Kierkegaard, người nói làm thánh là người “chỉ muốn một điều”, ngay cả khi cha thừa nhận cha đã phải gắng gỗ ra sao để làm như vậy. Cha thật sự muốn là thánh, nhưng cha còn muốn nhiều điều khác: “Tôi muốn là thánh”, cha từng viết, “nhưng tôi muốn thử hết tất cả cảm giác của những người tội lỗi.” Cha thú nhận trong các bài viết, dao động này đã tác động như thế nào trên cuộc đời cha và đôi khi nó đã làm cho cha không thể nào tự chủ được cuộc đời.

Rốt cùng, cha đã là thánh, nhưng luôn luôn là một vị thánh đang tiếp tục được đào luyện. Cha không bao giờ khớp trọn vẹn với hình ảnh một vị thánh mộ đạo, kể cả khi cha luôn được coi là người của Chúa mang đến cho chúng ta nhiều điều hơn cả ân sủng bình thường và thức ngộ. Việc cha không bao giờ che dấu các yếu đuối của mình lại làm cho cha càng thêm được yêu mến. Các độc giả thấy mình nơi cha vì cha chân thành chia sẻ các gắng gỗ gian nan của cha. Cha kể các yếu đuối, các đấu tranh trong cầu nguyện, và vì thế rất nhiều độc giả nhìn đó như nhìn mình trong gương. Như nhiều người khác, khi đọc sách của cha Henri Nouwen lần đầu, tôi có cảm tưởng như tôi trực diện với chính tôi.

Và cha trau dồi kỹ năng này, chăm chỉ và kỹ lưỡng, Nouwen thường viết đi viết lại sách của cha, có khi hơn năm lần, cố gắng làm cho nó đơn giản hơn. Điều cha tìm kiếm là tiếng nói của trái tim. Vốn được đào tạo để thành nhà tâm lý, nên các bài viết đầu tiên của cha có tính cách giống bài trong lớp. Tuy vậy, khi tiếp tục viết và làm người hướng dẫn thiêng liêng, càng ngày cha càng bỏ đi các thuật ngữ kỹ thuật và hàn lâm, và cố gắng đơn giản tối đa, nhưng không đơn giản hóa quá mức, có chiều sâu nhưng không ủy mị; bộc bạch bản thân nhưng không phô diễn; mang dấu ấn cá nhân sâu sắc, mà vẫn vô cùng phổ quát; và để nhạy cảm với những yếu đuối của con người, kể cả khi cha đang chật vật để vươn tới những gì cao cả hơn. 

Hiếm có nhà văn nào, dù thuộc tôn giáo hay thế tục, gây ảnh hưởng sâu sắc trên tôi như cha Henri Nouwen. Tôi gắng bắt chước cha, biết rằng cái gì bắt chước không bao giờ là cái sáng tạo, và cái gì sáng tạo thì không bao giờ là cái bắt chước. Vì thế tôi cố gắng bắt chước nét đơn giản của cha, viết đi viết lại những chuyện đã viết, cố gắng đơn giản hơn, nhưng không đơn giản hóa quá mức. Giống như cha, tôi tin rằng có một thứ ngôn ngữ của trái tim (mà mỗi thế hệ sáng tạo một cách mới) vượt qua được sự chia cách giữa các học giả hàn lâm và người bình thường, thứ ngôn ngữ có sức mạnh có thể trực tiếp đi vào lòng mỗi người, dù họ có nền tảng và chuyên môn ra sao. Chúa Giê-su làm được điều đó. Cha Nouwen đã tìm cách để nói và viết theo lối thẳng thắn này. Cha không làm hoàn hảo, chẳng ai làm được cả, nhưng cha đã làm điều đó một cách hiệu quả hơn nhiều người. Cha cũng biết đây là một kỹ năng phải được đào luyện, cũng gần giống như việc học một ngôn ngữ. 

Tôi dành tặng cha quyển “Nỗi khát khao thiêng liêng” (The Holy Longing) của mình, với lòng tri ân này: Cha là Kierkegaard của thế hệ chúng tôi. Cha đã giúp chúng tôi cầu nguyện trong khi không biết cầu nguyện ra sao, an tâm trong khi đang xáo động, bình an thanh thản trong khi đang bứt rứt thôi thúc, cảm thấy an lòng khi vẫn bất an, được ánh sáng bao quanh trong khi vẫn ở trong u tối, và để thương yêu khi trong lòng vẫn hồ nghi. 

Nếu có lúc bạn bị dằn vặt trong tình trạng phức tạp của chính mình, dù ước muốn sâu xa của bạn là “chỉ muốn một điều thôi”, có thể bạn sẽ tìm được người hướng dẫn tinh thần và vị thánh bổn mạng là cha Henri Nouwen. Cha động viên chúng ta vượt lên chính bản thân mình, cả khi cha tôn trọng cuộc hành trình đó phức tạp và gian khó ra sao. Cha chỉ cho chúng ta biết làm sao để xích lại gần hơn với Chúa, kể cả khi chúng ta vẫn bị giằng xé bởi những mối dây vướng víu trần tục của chính mình. 

Chúa Sống lại, chứng thực cho lòng trung thành của con người và sự im lặng của Chúa

Đôi khi các nhà thần học cố gắng đơn giản hóa ý nghĩa việc Chúa sống lại bằng cách gói gọn cốt tủy của việc đó vào trong một câu: Trong việc Chúa sống lại, Chúa Cha đã chứng thực cho Chúa Giê-su, cuộc đời, thông điệp, và lòng trung thành của Người. Điều đó có nghĩa là gì?

Chúa Giê-su đi vào thế giới chúng ta qua việc rao giảng đức tin, yêu thương và tha thứ, nhưng thế giới này đã không chấp nhận điều đó. Thay vào đó, họ đóng đinh Người trên thập giá, qua việc đóng đinh, họ như bôi bác thông điệp của Người. Chúng ta thấy điều này rõ ràng nhất khi trên thập giá Chúa Giê-su bị sỉ nhục, chế nhạo, và thách thức: nếu ngươi là con Thiên Chúa thì hãy đi xuống thập giá! Nếu thông điệp của ngươi đúng, thì cứ để Chúa xác minh điều đó ngay bây giờ đi! Nếu lòng trung thành của ngươi không đơn thuần chỉ là sự ngoan cố và ngu si của con người thì tại sao ngươi lại chết trong sỉ nhục?

Và Chúa đáp lại như thế nào trước những lời nhiếc móc đó? Không gì cả, không bình luận, không bào chữa, không biện giải, không trả lời thách thức, chỉ lặng im. Giê-su chết trong im lặng. Cả người lẫn vị Chúa mà Người tin đều không cố gắng lấp khoảng trống đau đớn đó bằng bất kỳ ngôn từ an ủi hay lời giải thích nào thách thức người ta nhìn vào đại cục hay nhìn vào khía cạnh tươi sáng hơn của sự việc. Không gì cả. Chỉ lặng im.

Chúa Giê-su chết trong im lặng, bên trong sự lặng im của Thiên Chúa và bên trong sự vô tri của thế gian. Và chính chúng ta thấy sốc và bé nhỏ trước sự im lặng đó, cũng như chúng ta luôn luôn thấy sốc trước việc dường như quỷ dữ và đau thương đã chiến thắng trên thế giới này. Sự im lặng của Chúa luôn luôn làm chúng ta sốc: trước các lò thiêu người Do Thái, trước các vụ diệt chủng, trước các cuộc chiến tranh dã man và vô nghĩa, trước nạn động đất và sóng thần cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người và làm tan hoang cả đất nước, trước cái chết của vô số con người phải rời bỏ cõi đời này vì ung thư và vì bạo lực, trước việc đôi khi cuộc đời có thể bất công đến thế, và trước sự buông tuồng của những người vô lương tâm có thể cướp đi mạng sống của cả nhiều vùng mà dường như không phải chịu hậu quả gì. Chúa ở đâu trong tất cả tình cảnh này? Câu trả lời của Chúa là gì? 

Câu trả lời của Chúa nằm trong sự phục sinh, trong sự sống lại của Chúa Giê-su và trong sự sống lại mãi mãi của điều thiện trong chính cuộc đời. Nhưng sự phục sinh không nhất thiết là cứu nạn. Chúa không nhất thiết cứu chúng ta khỏi tác động của quỷ dữ và kể cả cái chết. Quỷ dữ làm điều mà nó làm, thiên tai xảy ra như vốn vậy, và những kẻ vô lương tâm có thể cướp bóc thậm chí còn lấy đi ngọn lửa thiêng của cuộc sống. Chúa không can thiệp. Biển Đỏ rẽ đôi không phải là chuyện xảy ra hàng tuần. Chúa để những người thương yêu chịu đựng và chết, cũng như để bạn thân La-da-rô chết, và Chúa Cha để Chúa Giê-su chết. Bù đắp lại, sau đó Chúa nâng chúng ta lên, trong chứng thực sâu sắc và bền vững hơn. Mà sự thật của điều này thậm chí có thể được minh chứng bằng trải nghiệm. 

Dù đôi khi bề ngoài có sao đi nữa, cuối cùng, tình thương yêu thật sự chiến thắng lòng thù hận. Hòa bình thật sự chiến thắng rối ren. Tha thứ thật sự chiến thắng cay đắng. Hy vọng thật sự chiến thắng nhạo báng chua cay. Lòng trung thành thật sự chiến thắng sự ngã lòng. Đức hạnh thật sự chiến thắng tội lỗi. Lương tâm thật sự chiến thắng chai sạn. Sự sống thật sự chiến thắng cái chết. Và điều thiện thật sự chiến thắng điều ác, luôn như vậy. Mohandas K. Gandhi từng viết: “Khi ngã lòng, tôi nhớ rằng suốt chiều dài lịch sử, con đường của sự thật và tình thương luôn luôn thắng. Đã có những kẻ sát nhân và bạo chúa, trong một thời gian họ dường như bất khả chiến bại. Nhưng cuối cùng bao giờ họ cũng sụp đổ. Hãy luôn luôn nghĩ đến điều đó.” 

Chúa sống lại, một cách thuyết phục nhất, đã nêu bật điều này. Chúa là người nói lời cuối cùng. Sự sống lại của Chúa Giê-su chính là lời cuối cùng đó. Từ đống tro tàn của ô nhục, của cái dường như là thua cuộc, thất bại, và cái chết, một sự sống mới, sâu sắc hơn và vĩnh cửu đã mãi mãi tuôn trào. Lòng tin của chúng ta bắt đầu ở chính thời điểm tưởng chừng như lòng tin có thể tắt hẳn, trong cái dường như là im lặng của Chúa trước cái chết của Giê-su. 

Và điều này đòi hỏi chúng ta những gì?

Trước hết, đơn giản là chúng ta tin tưởng điều đó là sự thật. Việc Chúa Giê-su sống lại đòi hỏi chúng ta tin điều mà Gandhi đã quả quyết, đó là, rốt cuộc cái ác sẽ không nói lời cuối cùng. Nó sẽ sụp đổ. Điều thiện cuối cùng sẽ chiến thắng. 

Sâu sắc hơn, điều đó đòi hỏi chúng ta tung con xúc xắc cuộc đời vào lòng tin và sự thật đó: Điều Giê-su dạy là sự thật: Đức hạnh không khờ khạo, kể cả khi nó bị lăng nhục. Tội lỗi và nhạo báng chua cay mới khờ khạo, kể cả khi chúng dường như đang chiến thắng. Ai quỳ gối trước Chúa và trước người khác, trong lương tâm, họ sẽ tìm thấy ý nghĩa và niềm vui, kể cả khi họ bị tước đi các vui thú trần gian. Người nào uống lấy và thao túng năng lượng thiêng liêng mà không có lương tâm sẽ không tìm thấy ý nghĩa và sự sống, dù họ đang hưởng vui thú. Người nào sống trong ngay thẳng, dù thiệt thòi ra sao, sẽ tìm thấy tự do. Người nào gian dối và ngụy tín sẽ thấy mình bị giam hãm trong sự tự thù ghét. Người nào sống trong sự tin tưởng sẽ tìm thấy tình yêu. Sự im lặng của Chúa có thể được tin tưởng, kể cả khi chúng ta chết trong sự im lặng đó. 

Chúng ta có thể sống trong đức tin, lương tâm, tình thương yêu, lòng tha thứ và lòng trung thành dù cho mọi thứ như muốn nói các điều trên không có thực. Những điều đó sẽ đưa chúng ta đến những gì sâu thẳm nhất của sự sống và tình thương yêu bởi vì Chúa chứng thực cho đức hạnh. Chúa chứng thực cho tình thương yêu. Chúa chứng thực cho lương tâm. Chúa chứng thực cho lòng tha thứ. Chúa chứng thực cho lòng trung thành. Chúa chứng thực Chúa Giê-su và sẽ chứng thực cho chúng ta nếu chúng ta giữ lòng trung tín như Chúa Giê-su đã làm. 

Sự Thương khó của Chúa Giê-su theo thánh Gio-an

Mỗi năm vào ngày thứ sáu Tuần thánh, giáo hội chúng ta đều đọc Sự thương khó của Chúa Giê-su theo thánh Gio-an. Như chúng ta biết, phúc âm của thánh Gio-an viết sau các phúc âm khác, có lẽ khoảng bảy mươi năm sau khi Chúa Giê-su chết, các năm tháng này đã cho thánh Gio-an nhiều thì giờ chiêm nghiệm về cái chết của Chúa Giê-su, nêu bật lên một số khía cạnh mà các phúc âm khác không nêu rõ bằng. Những khía cạnh đặc biệt đó là gì?

Lời kể của thánh Gio-an về cái chết của Chúa Giê-su nhấn mạnh đến cuộc xét xử. Phần lớn tập trung vào cuộc xét xử chúa Giê-su và phán quyết cuối cùng là lên án tử hình. Nhưng nó được viết một cách tài tình. Gio-an viết về cuộc xét xử chúa Giê-su theo một cách mà, trong khi Chúa Giê-su là người đang bị xử tội, thì tất cả các người khác đều đang bị xét xử ngoại trừ Ngài. Phi-la-tô đang bị xét xử, các nhà cầm quyền Do Thái đang bị xét xử, các vị tông đồ và môn đệ của Giê-su đang bị xét xử, đám đông đứng xem xử tội đang bị xét xử, và chúng ta những người nghe câu chuyện này bị xét xử. Riêng một mình Chúa Giê-su là không bị xét xử, dù cuộc xử tội của Người là cuộc xử tội của mọi người khác. Vì vậy mà khi Phi-la-tô hỏi Chúa Giê-su: Sự thật là gì? Thì sự im lặng của Chúa Giê-su đã đưa Phi-la-tô ra xét xử bằng cách ném lại sự im lặng cho chính ông, sự thật của chính ông. Với chúng ta cũng vậy. 

Tiếp theo, thánh Gio-an nhấn mạnh vào thiên tính của Chúa Giê-su trong câu chuyện về sự Thương khó của Ngài. Như chúng ta biết, phúc âm của thánh Gio-an nhấn mạnh về sự hiện hữu-trước của Chúa Giê-su với thiên tính của Người nhiều hơn là nhân tính. Điều này soi sáng trong toàn bộ câu chuyện: Trong phúc âm thánh Gio-an, Chúa Giê-su dù đang bị đóng đinh trên thập giá nhưng Người luôn luôn chủ động. Người không hề e sợ, không tỏ vẻ yếu đuối, mang thập giá của chính mình, chết một cách thanh thản và được chôn như một vị vua (với dầu thơm và dầu lô hội, áo liệm ướp hương nhu). Giê-su của thánh Gio-an không cần bất kỳ ông Simon vùng Cyrene nào mang giúp thánh giá, cũng không hề khóc lóc trong đau đớn và bị bỏ rơi. Thánh Gio-an viết sự Thương khó của Chúa từ góc độ thiên tính của Ngài.

Sau đó thánh Gio-an sử dụng một số hình ảnh có tác động mạnh để giúp nhấn mạnh những điểm này. 

Thánh nhân viết Giu-đa và quân lính đến bắt giữ Giê-su mang theo “đèn lồng và đuốc.” Người định nêu một nét khôi hài mạnh mẽ như sau: Giê-su là ánh sáng của thế gian và  không thể không nhận thấy nét khôi hài ở đây, những kẻ chống đối người, những kẻ đến tìm người mà phải tự dẫn đường bằng thứ ánh sáng nhân tạo yếu ớt – đèn lồng và đuốc. Bên cạnh những điều khác, điều này cho thấy bọn họ yêu thích bóng tối hơn ánh sáng và họ biết những gì họ đang làm chỉ làm được ban đêm vì nếu làm dưới ánh sáng mặt trời, chuyện này sẽ bị phơi bày một cách nhục nhã. Những thế lực chống đối Chúa cần phải có lớp che đậy là bóng đêm và ánh sáng nhân tạo. 
Kế đó, vào cuối cuộc xét xử, Phi-la-tô đưa Giê-su ra trước đám đông và hỏi họ có muốn công nhận Người là vua của họ hay không. Bọn họ đáp lại: “Chúng tôi không có vua nào, trừ Xê-da!” Về mặt lịch sử, đối với người theo đạo Do Thái, nói như vậy vào thời Chúa Giê-su là giống như chối bỏ hy vọng của họ về đấng thiên sai. Điều này cũng đúng với chúng ta: Bất cứ khi nào chúng ta không thừa nhận quyền năng của Chúa nơi con người đang bị đóng đinh trên thập giá kia, chúng ta đang chối bỏ hy vọng cứu rỗi của chính mình và công nhận quyền năng của thế gian này, đối với chúng ta, là thực tại sâu sắc nhất. 

Ngoài ra, câu chuyện thương khó của thánh Gio-an nhấn mạnh Chúa Giê-su bị kết án tử hình vào chính ngọ, chính cái giờ trước ngưỡng cửa của lễ Vượt Qua khi các thầy tư tế trong nhà thờ bắt đầu giết cừu tế lễ. Rõ ràng có thể suy luận ra: Giê-su chính là con cừu tế lễ thật sự đã chết để chịu tội. 

Cuối cùng, trong câu chuyện về sự thương khó của thánh Gio-an, sau khi Chúa Giê-su chết, binh lính đến và lấy mũi giáo đâm mạn sườn Người. Ngay lập tức máu và nước chảy ra. Đây là hình ảnh giàu ý nghĩa: Trước hết, nó tượng trưng cho sự ra đời. Khi đứa trẻ chào đời, máu và nước đều chảy ra. Đối với thánh Gio-an, cái chết của chúa Giê-su là sự chào đời của một điều gì đó mới mẻ trong đời sống chúng ta. Đó là điều gì?

Các Ki-tô hữu đôi khi quá vội vàng coi hình ảnh này là ngụ ý về các bí tích của lễ Rửa tội và Thánh thể, dòng máu chảy là tượng trưng cho Thánh thể và dòng nước tượng trưng cho Rửa tội. Có thể điều này thật sự có ý nghĩa, nhưng trước hết có một điều còn quan trọng căn bản hơn hình ảnh đó: Máu tượng trưng cho dòng sự sống trong chúng ta. Nước vừa xoa dịu cơn khát vừa rửa sạch bụi bặm khỏi thân thể chúng ta. Điều mà thánh Gio-an muốn nói qua hình ảnh này là những người chứng kiến cái chết của chúa Giê-su nhận ngay lập tức tình thương mà Giê-su đã thể hiện qua việc chết theo cách đó đã tạo ra một nguồn năng lượng và tự do mới trong cuộc đời của họ. Họ cảm thấy vừa có một nguồn năng lượng vừa là một sự gột rửa, máu và nước, tuôn chảy từ cái chết của Giê-su. Cốt yếu, họ cảm thấy một quyền năng chảy từ cái chết của người vào cuộc đời họ giúp họ sống bớt sợ hơn, ít mặc cảm tội lỗi hơn, nhiều niềm vui hơn, và nhiều ý nghĩa hơn. Điều này vẫn còn đúng với chúng ta ngày nay. 

Câu chuyện thương khó của thánh Gio-an đem tất cả chúng ta ra xét xử và đưa ra một phán quyết giải phóng chúng ta khỏi những xiềng xích sâu xa nhất của mình.