RonRolheiser,OMI

Khiết tịnh trong trắng của trái tim và ý định 

Sống khiết tịnh không dễ, không chỉ đối với những người không lập gia đình, mà đối với tất cả mọi người. Kể cả khi tất cả hành động của chúng ta đều thẳng thớm, thì vẫn khó mà sống với một trái tim trinh bạch, một thái độ trinh bạch, và những điều thích thú trinh bạch. Rất khó có được sự trong trắng của trái tim và ý định. 

Tại sao? Khiết tịnh khó bởi vì chúng ta đầy dục tính một cách vô phương cứu chữa trong từng chân tơ kẽ tóc. Mà đó chẳng phải là điều gì xấu. Đó là món quà của Chúa. Không hề là thứ dơ bẩn và đối chọi với đời sống tinh thần của chúng ta, dục tính là món quà lớn lao của Chúa, là ngọn lửa thiêng của Chúa trong lòng chúng ta. Và như thế, nỗi khao khát ái ân là sắc màu có ý thức hoặc sơ khai nằm đằng sau hầu hết mọi hoạt động trong đời sống chúng ta. 

Vì thế cầu nguyện để được khiết tịnh là một chuyện khó, vì cầu nguyện như vậy là xin cho nỗi khao khát tình dục và năng lượng tình dục trong lòng chúng ta nguội đi hay tan biến. Và ai trong chúng ta lại muốn sống cuộc đời vô cảm và vô tính? Chẳng có con người lành mạnh nào muốn điều đó. Như vậy, nếu bạn lành mạnh, thì khó mà chú tâm cầu nguyện xin khiết tịnh, bởi vì trong sâu thẳm, chẳng ai muốn vô cảm với tình dục. 

Nhưng vấn đề không nằm ở chuyện khiết tịnh, mà ở cách chúng ta hiểu về khiết tịnh. Khiết tịnh không có nghĩa là chúng ta trở nên vô cảm với tình dục (mặc dù mãi mãi từ xưa tới giờ và về sau, truyền thống thiêng liêng vẫn chật vật gắng gỏi để không đánh đồng như vậy). Khiết tịnh không phải là chuyện phủ nhận dục tính của chúng ta mà là định hướng nó cho đúng. Khiết tịnh là sự trong trắng của quả tim, tâm hồn trong trắng. Đó mới là ý niệm khiết tịnh trong Kinh thánh. Chúa Giêsu không bảo chúng ta cầu nguyện xin khiết tịnh, mà đề nghị chúng ta cầu nguyện xin “sự trong trắng của trái tim”. Phúc thay cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ gặp được Chúa. Họ cũng hướng dục tính của họ một cách đúng đắn. 

Lòng trong sạch là gì? Lòng trong sạch là quan hệ với người khác và thế giới theo cách tôn kính và trân trọng đầy đủ phẩm chất, giá trị và vận mệnh của mọi người và mọi vật. Lòng trong sạch là nhìn người khác như Chúa nhìn họ. Lòng trong sạch  là chúng ta yêu thương nhau với suy nghĩ về điều tốt của họ (chứ không phải điều tốt của chính chúng ta). Karl Rahner cho rằng chúng ta có lòng trong sạch khi chúng ta nhìn người khác trên một nền trời vô tận, nghĩa là trong tầm nhìn, nơi đó phẩm giá, đặc điểm cá nhân, cuộc sống, ước mơ và dục tính của người đó được nhìn nhận trong bối cảnh lớn lao nhất, kế hoạch vĩnh viễn của Chúa. Tâm trong trắng là ý định trong trắng và tôn trọng đầy đủ trong tình thương yêu. 

Khi chúng ta hiểu khiết tịnh theo nghĩa đó chúng ta mới có thể cầu nguyện dễ dàng hơn. Theo cái hiểu như vậy, chúng ta không cầu nguyện cho năng lượng tình dục của mình bị dập tắt, mà là cầu nguyện để vẫn hoàn toàn dũng mạnh nhưng những năng lượng, ý định và mơ mộng dục tình của mình được chuyển hướng đúng đắn. Chúng ta cũng cầu nguyện để có được một kiểu trưởng thành về mặt con người lẫn tình dục, tôn trọng người khác một cách trọn vẹn. Căn cốt, chúng ta cầu nguyện xin có được một lòng tôn trọng sâu xa hơn, một trưởng thành sâu sắc hơn, và một tình thương yêu trao truyền cuộc sống hơn.

Và đó là sự cầu nguyện hết sức cần thiết trong đời sống chúng ta bởi vì dục tính mạnh mẽ đến nổi thậm chí trong mối quan hệ hôn nhân, tình dục vẫn có thể có ý chí định hướng (intentionality) dù không đủ lớn. Charles Taylor, trong cuốn “Thời đại thế tục” (A Secular Age) tranh luận cái ý rằng tình dục quá dễ bỏ qua đại cục và trở thành bó hẹp, một ý thường bị bỏ qua trong cách hiểu của chúng ta về tình dục: “Không phải tôi đang cố hạ thấp ông cha của mình, bởi vì tôi nghĩ có một sự giằng xé thật sự trong việc cố gắng kết hợp sự viên mãn tình dục và sự sùng đạo trong cuộc sống của một người. Thật ra đây chỉ là một trong những điểm mà theo đó, người ta cảm nhận được một sự giằng xé chung hơn giữa chuyện bay bướm của con người và sự cống hiến với Chúa bộc lộ ra. Việc mối giằng xé này đặc biệt thấy rõ trong mảng tình dục là rất dễ hiểu. Sự viên mãn sâu sắc về tình dục khiến chúng ta chú ý mạnh mẽ tới sự liên hệ giữa vợ chồng; nó gắn chặt chúng ta với cảm thức sở hữu mạnh mẽ những gì được chia sẻ một cách riêng tư. Không phải khi không mà ngày xưa các nhà sư và các vị tu hành ẩn dật coi việc từ bỏ lạc thú tình dục là con đường mở ra để đi tới tình thương rộng lớn hơn của Chúa. [Và] chúng ta cũng không nên ngạc nhiên trước việc có sự giằng xé giữa sự viên mãn và lòng mộ đạo cũng trong một thế giới bị tội lỗi bóp méo, tách rời khỏi Chúa. Nhưng chúng ta phải tránh đừng để điều này biến thành một sự lệch lạc căn bản.” Rốt cuộc đó mãi mãi là cái mà cả thế giới thế tục và truyền thống thiêng liêng Ki-tô (vì thiếu cái hiểu đúng đắn về sự khiết tịnh) phải chật vật để không mắc phải.

Xét cái mãnh lực tình dục bên trong chúng ta, và xét cái mãnh lực của những thôi thúc và khát khao con người nói chung, sống cuộc đời khiết tịnh không dễ gì. Càng khó khăn hơn, và hiếm hơn để có được một tinh thần khiết tịnh, một trái tim khiết tịnh, những cơn mơ mộng khiết tịnh và ý định khiết tịnh. Quả tim chúng ta muốn cái điều nó muốn và gây áp lực bắt chúng ta giả lơ hậu quả. Chúng ta có thể dễ dàng có cảm giác phản kháng nhất định đối với chuyện cầu nguyện được khiết tịnh. Nhưng chủ yếu là do chúng ta không hiểu khiết tịnh một cách đúng đắn: Đó không phải là làm trái tim chết cứng, tước bỏ cảm xúc tình dục của mà là một trưởng thành sâu sắc hơn cho phép các năng lượng tình dục của ta tuôn chảy theo một cách trao truyền cuộc sống hơn. 

Một phương trình ám ảnh

Trong cuốn tiểu thuyết Những Lần Trả Cuối Cùng (Final Payments) Mary Gordon nói rõ về một phương trình từ rất lâu đã ảnh hưởng cả tốt lẫn xấu đến truyền thống thiêng liêng Ki-tô giáo.

Isabel, nhân vật nữ chính của bà là một thiếu nữ có nền tảng Công giáo mạnh, một người cha quá sức nghiêm khắc và một chiều sâu tự nhiên của tâm hồn hợp lại khiến cô trở nên quá sức dè dặt và quá mẫn cảm, nhìn cuộc đời từ bên ngoài, quá ý thức về bản thân và quá suy nghĩ, nói chung, cô khó dễ dàng nhận lời khiêu vũ hay tin tưởng vào bất kỳ một kiểu tiệc tùng vui vẻ nào.

Một buổi tối nọ cô đến dự buổi tiệc của sinh viên đại học, gần như ngay lập tức cô cảm thấy lạc lõng trong không khí bông lơn, bạo dạn trẻ trung, rượu chè và khiêu vũ. Vì thế cô rơi vào thói quen cũ: “Tôi hay tìm kiếm trong số những gương mặt sinh viên đó gương mặt nào mà tôi có thể thương. Tôi thường tìm kiếm điều gì đó riêng biệt, điều gì đó toát lên sự chân thực dưới hình dạng một cái cằm hay đôi mắt, điều gì đó khiến mình tin có một nỗi đau trầm lắng mà các thứ quy củ pháp chế không thể chạm tới được. Nhưng tất cả họ đều có vẻ vui vẻ hoàn toàn, khỏe mạnh đến mức họ chẳng làm tôi quan tâm. Tôi nhận ra mình đang tìm kiếm một người nào đó buồn rầu, và tôi tức giận chính mình vì đã lập ra cái phương trình, cũng là phương trình của cha tôi, phương trình của Giáo hội, phương trình giữa cái giá đau khổ và giá trị.”
Phương trình cân bằng giữa đau khổ và giá trị đó đã tồn tại từ lâu trong truyền thống thiêng liêng và đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến chúng ta một cách tích cực lẫn tiêu cực. Tôi phải thú nhận thường thường nó cũng là phương trình của chính tôi. Giống nhân vật Isabel của Mary Gordon, tôi cũng có xu hướng nhìn quanh phòng tiệc xem có gương mặt nào buồn rầu, trong niềm tin buồn rầu là dấu hiệu của chiều sâu, của thực chất, của sâu sắc. Thỉnh thoảng tôi đúng và một gương mặt mang vẻ buồn rầu thật sự chứa bên trong một nội tâm sâu sắc, nhưng tôi cũng hay sai. Đôi khi buồn rầu chỉ đơn thuần là một dấu chỉ của trầm cảm, rụt rè và tức giận không được thừa nhận. Đồng thời, tôi cũng gặp những người hướng ngoại rất mạnh trong việc biểu lộ sự sung sướng và niềm vui của họ, những người này nội tâm họ thật sâu sắc và không hề hời hợt chút nào. 

Ấy vậy mà cái phương trình đó vẫn ám ảnh tôi, như vẫn ám ảnh truyền thống thiêng liêng Ki-tô giáo bao thế kỷ nay. Vĩnh viễn chúng ta có khuynh hướng quy cho đau khổ và buồn bã là những điều có giá trị và có chiều sâu. Tôi nhớ vị thầy hướng dẫn chủng sinh của tôi đã thách thức chúng tôi với ý kiến cho rằng trong sách thánh không có tình huống nào làm Chúa Giêsu cười to; ý ở đây là trọn chiều sâu của Chúa Giêsu có gốc rễ từ nỗi đau khổ của Người. Cười to hay thoải mái bị cho là hời hợt. Điều này củng cố ý niệm đã được khắc sâu vào tâm trí tôi từ khi tôi còn là một đứa trẻ, lớn lên trong một gia đình và cộng đoàn Công giáo di cư. Chúng tôi gần như được giáo huấn với thành ngữ: Sau tiếng cười là nước mắt! Cái ý ở đây đã rõ ràng: Cười là hời hợt và cốt yếu nó chỉ cố gắng giữ cho thực tế và nỗi buồn nằm trong tầm kiểm soát. Nỗi buồn là cái gì đó có thật, vì vậy đừng bị tiệc tùng đình đám đánh lừa và cười lên mà coi nhẹ chuyện đó. 

Những chuyện này muốn nói lên điều gì? Rõ ràng, có sự thật trong phương trình này. Bất kỳ nhà tâm lý, người hướng dẫn tinh thần, người cố vấn tâm hồn giỏi nào cũng sẽ nói với bạn rằng, thường thường, một tăng tiến và trưởng thành đích thật của tâm hồn khởi từ sự chịu đựng và nỗi đau sâu sắc trong cuộc đời mình. Không hẳn là Chúa không nói rõ ràng với chúng ta khi chúng ta đang vui vẻ và thành công, nhưng chúng ta không có khuynh hướng lắng nghe trong những lúc này. Nỗi đau mới khiến chúng ta chú ý. Như C.S. Lewis từng nói, nỗi đau là cái máy vi âm của Chúa với một thế giới bị điếc. Không thể nào chối cãi, có một sự liên hệ giữa đau khổ với chiều sâu tâm hồn.

Nhưng chúng ta phải cẩn thận để không diễn giải quá nhiều từ ý niệm này. Khi nhìn Chúa Giêsu và nhiều nhân vật phi thường lành mạnh khác, chúng ta thấy chiều sâu tâm hồn cũng dính liền với những phút giây vui sướng và hân hoan của cuộc sống. Chúa Giêsu làm cho mọi người kinh ngạc trước khả năng thấm sâu trong đau khổ và từ bỏ những vui sướng trần tục, cũng như  khả năng tận hưởng trọn vẹn giây phút hiện tại, như trong câu chuyện người phụ nữ xoa dầu thơm đắt tiền lên chân Người. Chiều sâu tâm hồn của Người đến từ cả nỗi đau lẫn hân hoan của Người. Và tôi ngờ rằng lòng biết ơn của Người phát sinh từ niềm vui sướng nhiều hơn là từ khổ đau. 

Trong quyển tiểu thuyết Đời Nhẹ Khôn Kham (The Unbearable Lightness of Being), nhà văn người Séc Milan Kundera đã cân đo phương trình đó: Cái gì có giá trị hơn, sự nặng nề hay nhẹ nhàng? Câu trả lời của ông là: sự nặng nề có thể nghiền nát chúng ta, nhưng nhẹ nhàng có thể không thể nào kham nổi:

“Sự nặng nề của những gánh nặng nghiền nát chúng ta, chúng ta chìm xuống bên dưới, nó ghim chặt chúng ta xuống đất. Nhưng … gánh nặng mà càng nặng, thì cuộc sống chúng ta càng gần gũi hơn với trần thế, trở nên thật và chân thực hơn. Ngược lại, sự thiếu vắng hoàn toàn một gánh nặng khiến con người thành nhẹ hơn không khí, vọt lên cao, rời bỏ trần thế và sự tồn tại trần thế của anh ta, chỉ còn một nửa là thật sự, những biến thái của anh tự do và cũng tầm thường vô nghĩa như vậy.”

Vậy thì chúng ta nên chọn cái gì? Nặng nề hay nhẹ nhàng? … Đó chính là vấn đề. Điều duy nhất chắc chắn là: sự đối lập nhẹ nhàng/nặng nề là điều bí ẩn nhất, mù mờ nhất trên hết thảy.

Thật sự như vậy.

Những quyển sách đã gặp tôi trong năm 2011

Bởi vì thời gian bao giờ cũng hiếm nên tôi cố gắng chọn lọc những gì mình đọc. Nhưng đồng thời, tôi cũng cố giữ một chọn lựa rộng rãi bằng cách đọc tiểu thuyết, các sách thiêng liêng, các chuyên khảo thần học, tự truyện và các khảo luận về các vấn đề tâm lý và nhân loại học. 

Tôi chọn sách bằng cách nào? Tôi đọc các bài đánh giá sách, nghe lời giới thiệu của đồng nghiệp, nhận sách tặng, và thỉnh thoảng tìm tòi ở tiệm sách, nhưng những gì rốt cuộc tôi thật sự đọc thường là kết quả của một kết hợp của nhiều điều ngẫu nhiên hơn là một lựa chọn có nghiên cứu kỹ càng. Những quyển sách chúng ta cần đọc có cách để tìm ra chúng ta. 

Những quyển sách nào đã tìm thấy tôi trong năm vừa qua?

Trong số các tiểu thuyết:

– Tự Do (Freedom) của Jonathan Franzen, là kiểu sách bình luận về văn hóa đương đại theo phong cách John Updike. Quyển này dễ đọc, chứa đựng một thông minh xúc cảm tốt. 

– Chân Dung Dorian Gray (The Picture of Dorian Gray) của Oscar Wilde, tuyệt vời về cả ngôn ngữ lẫn nội dung. Một quyển kinh điển đáng đọc. Trong một nền văn hóa có xu hướng đánh giá vẻ ưa nhìn và trông đẹp mắt, Chân Dung Dorian Gray của Wilde chứa đựng một vài cảnh báo không dễ chịu. 

– Con Đường (The Road) của Cormac McCarthy, một chứng nhân cho niềm thôi thúc nguyên sơ được sống. Đây không phải như Chùm nho Nổi giận (The Grapes of Wrath) của John Steinbeck, nhưng nó cũng chạm đến những nơi chốn tương tự trong lòng chúng ta. 

– Giờ Khắc Tôi Tin Lần Đầu (The Hour I First Believed) của Wally Lamb, dài 200 trang, nhưng cũng giống tất cả các sách của Lamb, có cái nhìn hết sức sâu sắc và phù hợp với nỗ lực cam go để tha thứ và hòa giải của chúng ta. Nhân vật trung tâm của Lamb luôn luôn là một người khó gần với nỗi giận dữ trong lòng, cuối cùng cũng phải quỳ gối xuống để bộc lộ nỗi giận dữ ra với chính mình. 

– Barabbas (Barabbas) của Par Lagerkvist, một tác phẩm đầy sức tưởng tượng về những gì xảy ra sau khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá. 

– Những câu chuyện Brownsville (Brownsville Stories), và Amigoland (Amigoland) của Oscar Casares: nồng ấm, sâu sắc về mặt tình cảm, những câu chuyện hay, với sức thu hút đặc biệt đối với ai sống gần biên giới Mexico.

– Chiếc Bàn Của Con Mèo (The Cat’s Table) của Michael Ondaatje’s, là một trong những tiểu thuyết được đánh giá hay nhất năm 2011, hoàn toàn xứng đáng như vậy.

– Chuyến Tàu Đêm Tới Lisbon (Night Train to Lisbon) của Pascal Mercier, là cuốn tiểu thuyết của bạn, nếu bạn đang tìm một đòn thách thức trí óc.

Trong số các chuyên khảo thiêng liêng và thần học:

– Sự Kinh Ngạc Toàn Triệt (Radical Amazement) của Judy Cannato: Những cái nhìn sáng suốt sâu sắc và lời gợi ý về việc sống trong phút giây hiện tại và nhìn thấy chiều sâu ẩn kín trong đời sống. 

– Trên Trái Đất Cũng Như Trên Thiên Đường (On Earth as it is in Heaven), Minh triết Thiêng liêng Của Phúc Âm Dành Cho Những Người Đi Giảng và Các Giáo Sư Ki-tô giáo (The Spiritual Wisdom of the Gospels for Christian Preachers and Teachers) của John Shea: Nếu bạn không hài lòng với những bài giảng bạn vẫn nghe mỗi chủ nhật thì nên mua quyển này để đọc các bài giảng ngày Chủ nhật. 

– Các Bản Đồ Đức Tin (Faith Maps), Những Người Thám Hiểm Tôn Giáo Từ Newman Đến Joseph Ratzinger (The Religious Explorers from Newman to Joseph Ratzinger) của Michael Paul Gallagher: Những biện giải chính chắn đối với những ai đang mong tìm được những lý do hùng hồn cho niềm hy vọng của mình. 

– Nói Lên Sự Thật – Phúc Âm là Bi Kịch, Hài Kịch Và Truyện Thần Tiên (Telling the Truth – The Gospel as Tragedy, Comedy, and Fairy Tale) của Frederick Buechner: Một tuyệt tác về sức mạnh của ngôn ngữ và ngôn ngữ Phúc Âm.  

– Vị Chúa Tình Dục, Khám Phá Những Mối Liên Hệ Vô Tận Giữa Tình Dục Và Thiêng Liêng (Sex God, Exploring the Endless Connections Between Sexuality and Spirituality), và Nhận Được Tình Yêu, Cuốn Sách Về Thiên Đường, Địa Ngục Và Số Phận Mỗi Người Từng Sống (Love Wins, A Book about Heaven, Hell, and the Fate of every Person who Ever Lived) của Rob Bell, từ ngòi bút của một mục sư trẻ, viết với độ thăng bằng phi thường, cái nhìn sáng suốt sâu sắc và cảm xúc bằng nhau đối với cả Phúc Âm lẫn văn hóa. 

Tự truyện:

– Hai trong số những cuốn gây chấn động mạnh nhất mà tôi đọc trong năm 2011: Các Bài Viết Tưởng Niệm Cha James Gray OSB (Essays in Memory of Father James Gray OSB) của Bush Dweller, do Donald Ward biên tập, và Những Đêm Xanh (Blue Nights) của Joan Didion: Cả hai câu chuyện đều gây chấn động mạnh; câu chuyện thứ nhất về một người ẩn dật, gặp gỡ và khuyên bảo cả thế giới từ túp lều của mình; còn câu chuyện thứ hai là về một phụ nữ gắng gỏi để tìm sự sống trước bao nhiêu cái chết cay đắng. 

Các chuyên khảo thần học và nhân loại học:

– Khám phá Girard (Discovering Girard) của Michael Kirwan, là cuốn giới thiệu của một người không chuyên với những cái nhìn sâu sắc về nhà nhân loại học nổi tiếng René Girard.

– Tự Nhiên và Linh Hồn Con Người, Nuôi Dưỡng Nhất Thể và Cộng Đoàn Trong Một Thế Giới Vỡ Vụn (Nature and the Human Soul, Cultivating Wholeness and Community in a Fragmented World) của Bill Plotkin: Như các cuốn trước, Plotkin đẩy xa thêm những đường biên của dòng chảy tư tưởng thiêng liêng chính, luôn luôn kêu gọi để tự nhiên có một vai trò sâu sắc hơn. 

– Quảng đại và Biết Ơn, Một Bài Thánh Vịnh Triết Lý (Generosity and Gratitude, A Philosophical Psalm) của Dale Schlitt, một triết gia chuyên về Hegel, tặng chúng ta bài thơ tuyệt vời dài 136 trang về lòng biết ơn, cho thấy những cái nhìn sâu sắc sáng suốt thật sự về triết học trừu tượng cũng có thể tràn đầy Chúa như các bài Thánh Vịnh.

Các thể loại khác:

– Nghệ Thuật Kính của Sarah Hall (The Glass Art of Sarah Hall) của John S. Porter, một cuốn sách cực kỳ đẹp với các bức ảnh trên mỗi bàn cà phê và mỗi thư viện. 

– Chống Ung Thư, Một Cách Sống Mới (Anti-Cancer, A New Way of Life) của David Servan-Schreiber. Cuốn sách tôi được tặng khi tôi ở bệnh viện ung thư để bắt đầu hóa trị liệu, bên cạnh nhiều cuốn sách về ung thư mà tôi đã đọc ngấu nghiến trong mấy tháng vừa qua, tôi thấy quyển này thách thức nhất và hữu ích nhất. 

– Dạo bước trên Bàn Xoay: Cuộc sống trên ở Arc (Walking on Rolling Deck: Life on the Arc), Kathleen C. Berken, Jean Vanier viết lời tựa: Berken <http://faithjourneyhope.com/kathy-berken-jean-vanier.html>, một nhà báo đã sống vài năm trong cộng đoàn L’Arche, đưa chúng ta vào một thế giới khác, không có những cảm xúc sai lầm hay lãng mạn ngây thơ. 

Những cuốn sách này đã chạm đến tôi, nhưng, như Thánh Augustino từng nói câu rất nổi tiếng: Liên quan tới sở thích thì chúng ta không nên tranh cãi! Bạn cứ đọc, hay dở tôi không chịu trách nhiệm!

Cầu nguyện để thấy hào quang của Chúa nơi con người

Sự quen thuộc dễ khiến xem thường. Nó cũng ngăn chặn điều bí ẩn của Giáng sinh qua việc nuôi dưỡng một cái nhìn về cuộc sống, cái nhìn không thấy được thiên tính nơi con người. 

Tuy vậy tất cả chúng ta đều dễ mắc căn bệnh vô phương cứu chữa là nhìn hầu hết mọi việc theo một cách quá mức quen thuộc, nghĩa là, theo cách hầu như hoặc thật sự không thấy được nét phong phú và thiêng liêng sâu sắc lung linh dưới bề mặt. G.K. Chesterton, khi chiêm nghiệm về điều này, từng tuyên bố rằng một trong những bí ẩn sâu kín nhất của đời sống là học cách nhìn các sự việc quen thuộc đến chừng nào chúng tỏ ra không quen thuộc trở lại. Alan Jones gọi đó là một quá trình học cách thoát ra những gì quen thuộc. 

Dù dùng từ ngữ gì đi nữa, thách thức vẫn là một: Chúng ta cần học cái bí quyết nhìn thấy điều phi thường bên trong điều bình thường, thấy tính thiêng liêng lung linh ở con người, và nhìn thấy hào quang xung quanh những gương mặt quen thuộc. 

Thomas Merton, trong một bài viết có lẽ nổi tiếng nhất của mình, chia sẻ câu chuyện một lần nọ ông đã có trực nghiệm gần như huyền bí về điều này nơi một trong những tình huống bình thường nhất. Ông sống ở tu viện Trappist, ngoại ô Louisville, tiểu bang Kentucky gần 20 năm, và một ngày nọ, ông cần đi vào Louisville để khám bệnh. Ông đang đứng ở ngã tư đường số 4 và đường Walnut, thì bỗng nhiên những sự bình thường hóa thành phi thường. Mọi người xung quanh ông bắt đầu lung linh với một sức tỏa rạng thiêng liêng sâu đậm. Ông viết, chung quanh tôi, mọi người ai cũng đang đi “tỏa sáng như mặt trời.” Và ông viết thêm: “Rồi như thể tôi đột nhiên nhìn thấy vẻ đẹp bí ẩn của trái tim họ, chiều sâu trái tim họ nơi cả tội ác lẫn ao ước lẫn sự tự tri đều không thể với tới, cốt tủy của thực tại của họ, con người mà mỗi một người đều nằm trong đôi mắt của Chúa. Giá như tất cả họ có thể nhìn thấy chính họ như họ thật sự là. Giá như chúng ta luôn luôn có thể nhìn thấy nhau theo cách đó. Sẽ không còn có chiến tranh, không còn thù hận, không tàn ác, không tham lam… Tôi nghĩ vấn đề lớn lúc đó chúng ta sẽ quỳ xuống và tôn thờ lẫn nhau.”   

Cái nhìn như vậy, thấy thế giới chuyển hóa với vầng hào quang quanh những gương mặt quen thuộc, rốt cuộc là ý nghĩa của Giáng Sinh, ý nghĩa tối hậu sự hiện thân của Chúa, và bí ẩn của việc Chúa đi lại trong hình hài con người. Giáng sinh không phải là ăn mừng ngày sinh của Chúa, mà là ăn mừng sự ra đời tiếp tục của Chúa dưới hình hài con người, sự tiếp nối của thiêng liêng hiện ra ở chỗ tầm thường; Chúa, một hài nhi yếu đuối trong máng cỏ.Nhưng để có cái nhìn như vậy chúng ta cần cầu nguyện. Cầu nguyện là cách chủ yếu bảo vệ chúng ta khỏi sự quen nhờn vốn nuôi dưỡng sự xem thường, và là một trong những cách ít ỏi để theo đó chúng ta có thể bắt đầu nhìn bằng đôi mắt sâu sắc hơn của trái tim. Cầu nguyện là cách nâng trái tim và trí óc mình lên Chúa, nhưng nó cũng là một cách, đôi khi là cách duy nhất mà chúng ta có thể thanh lọc và làm sâu sắc cái nhìn của mình. Trải nghiệm của Merton ở góc đường số 4 và đường Walnut ở Louisville là nhờ đã cầu nguyện qua hàng năm dài.

Giáng sinh chỉ được nhìn thấy bởi sự tinh khiết của trái tim hay khi quả tim chúng ta tinh tuyền. Nhưng khi nhìn thấy được, thì đó là hào quang. John Shea, trong một bài thơ Giáng sinh đặc biệt, mời chúng ta luôn mở lớn mắt để đợi sự hiển thị của thiêng liêng nơi con người. Lời mời của Giáng sinh là lời mời nhìn thấy điều thiêng liêng trong lòng các máng cỏ của chúng ta, thân thể Chúa trên bàn và quanh những bàn ăn trong bếp chúng ta, và vầng hào quang nơi các gương mặt quen thuộc:

Ngay cả khi lễ Giáng sinh, khi các vầng hào quang được các nhóm nghiên cứu khảo sát chất lượng trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, các vầng hào quang cũng khó mà thấy được. Nhìn thấy hào quang thì hơn là thấy một dấu hiệu may mắn. Nó đòi hỏi kỹ năng chuyên tâm, cái hành động đơn giản, như Annie Dillard đã phát hiện.

Đó là cách các hào quang được nhìn, bằng nhìn vào tầm cao cả, bằng làm nhỏ đi các thấp hèn trong các nếp gấp đến vô tận. Tôi không biết điều này khi nhìn các cây thông trang hoàng. Nhưng tôi nhìn thấy nơi người phụ nữ đang bận bịu bày bàn ăn lễ Giáng Sinh, tôi đưa mắt nhìn để bắt gặp ánh hào quang trên gương mặt của bà, để ý đến ánh sáng lung linh dọc suốt thân hình bà. Anh sáng lung linh bên ngoài ánh đèn. … Khi nhìn thấy như vậy, tôi không hiểu vì sao tôi xúc động. Tôi chỉ thấy một tình yêu được làm mới, và đó là sứ vụ của các hào quang, là lý do nó được tặng cho chúng ta.

Tôi không phải là không muốn lưu lại hình ảnh này. Anh hào quang không tồn tại mãi dù nó cho chúng ta thấy nó vượt thời gian. Nhưng khi ánh hào quang tắt, nó không tắt một cách thình lình, nó không bỏ lại chúng ta buồn rầu không có ánh sáng.

Nó lùi lại, giống như khi thiên thần Gabriel rời mẹ Maria và mẹ mang thai.

Sự quen thuộc kéo theo sự coi thường. Đó là điểm yếu tiêu biểu nơi bản chất con người. Và có lẽ đó là điều hơn bất cứ điều gì khác đã ngăn không cho chúng ta thấm nhập vào huyền bí của lễ Giáng Sinh, để nhìn ánh hào quang của Thiên Chúa tỏa rạng dưới bề mặt của những gì đã quá quen thuộc với chúng ta.

Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ đi theo Chúa cầu nguyện, và khi họ cầu nguyện, Chúa và những người chung quanh Chúa đã biến hình và bắt đầu tỏa ánh hào quang rực rỡ. Chúa mời mỗi người chúng ta hướng về cách cầu nguyện đặc biệt này.

Cầu nguyện để tìm kiếm sự hướng dẫn của Chúa

Trong quyển tự truyện Nỗi cô đơn triền miên (The Long Loneliness), Dorothy Day kể một giai đoạn khó khăn trong đời bà. Lúc đó bà vừa trở lại đạo Ki-tô sau một thời gian dài sống vô thần, rồi bà sinh đứa con gái. Trong thời gian sống vô thần, bà yêu một người đàn ông, là cha của đứa con gái; bà và người đàn ông này – hai người vô thần đã bị vỡ mộng với xã hội chính thống – đã thỏa thuận với nhau sẽ không bao giờ làm đám cưới, như một lời tuyên bố chống lại những quy ước truyền thống của xã hội. 

Nhưng việc bà trở lại đạo đã làm cho cuộc sống của bà bị đảo lộn. Người cha của đứa con ra tối hậu thư; nếu bà rửa tội cho con thì ông chấm dứt mối quan hệ với bà. Dorothy chọn làm lễ rửa tội cho con, nhưng đã trả giá rất đắt. Bà yêu sâu đậm người đàn ông này và hết sức đau đớn khi chia tay. Hơn nữa, vì chuyện trở lại đạo, bà bị cắt đứt khỏi tất cả người quen biết cũ trước đây, làm cho bà đau còn hơn mất bạn tâm giao. Nó làm cho bà mất việc, không nguồn hỗ trợ nuôi con, và không còn mục đích trước đây trong đời. Bà cảm thấy cô đơn và lạc lối một cách đau đớn. 

Việc này làm cho bà phải quỳ gối xuống, theo đúng nghĩa đen. Một ngày nọ, bà đi tàu lửa từ New York đến thủ đô Washington và dành cả ngày hôm đó cầu nguyện ở Thánh Đường Quốc Gia Đức Mẹ Vô Nhiễm. Và, như bà chia sẻ trong quyển tự truyện, lời cầu nguyện của bà hôm đó trực tiếp không e ngại, khiêm tốn và rõ ràng. Thiết yếu, bà lặp đi lặp lại với Chúa, rằng bà lạc lối, bà cần một hướng đi rõ ràng cho cuộc đời, bà cần sự hướng dẫn đó ngay bây giờ, không phải ở một tương lai nào xa xôi cả. Và, như Chúa Giê-su trong Vườn Giếtsêmani, bà lặp đi lặp lại lời cầu nguyện nhiều lần. 

Tối hôm đó, bà đi tàu về nhà, khi bước lên căn hộ của mình, bà thấy ông Peter Maurin đang ngồi đợi trên bậc cấp. Ông mời bà khởi công làm việc cho Catholic Worker. Phần còn lại của câu chuyện đã đi vào lịch sử. 

Những lời cầu nguyện của chúng ta không phải bao giờ cũng được đáp lại nhanh chóng và trực tiếp như vậy, nhưng luôn luôn được đáp lại, như Chúa Giê-su đã đoan chắc với chúng ta, bởi vì Chúa không từ chối Thần Khí cho những ai xin nhận. Nếu chúng ta cầu nguyện xin hướng dẫn và hỗ trợ, chúng ta sẽ nhận được sự hướng dẫn và hỗ trợ. 

Trong Thánh Kinh, chúng ta thấy nhiều ví dụ nổi bật về những người, như Dorothy Day, tìm kiếm sự hướng dẫn của Chúa trong cầu nguyện, đặc biệt khi họ cô độc và sợ hãi lúc đứng trước chấn động lớn nào đó hay sắp phải chịu đau khổ trong đời. Ví dụ, chúng ta thấy nơi các nhà Tiên tri, khi lạc lối trong sa mạc và đứng trước cuộc nổi loạn do chính dân của mình, họ đã lên núi Horeb để xin lời khuyên của Chúa. Và chúng ta thấy điều đó khi Chúa Giê-su cũng lên núi Horeb để cầu nguyện, và cầu nguyện suốt đêm trong nhiều đêm, gắng gỗ để tìm được cả sự hướng dẫn lẫn lòng can đảm mà Người cần để thực hiện sứ mạng của mình. 

Nhìn vào lời cầu nguyện của các nhà Tiên tri, Chúa Giê-su, Dorothy Day và vô số những người khác đã cầu nguyện xin Chúa hướng dẫn, chúng ta thấy lời cầu nguyện của họ, đặc biệt khi họ cảm thấy cô độc và tuyệt vọng nhất, có ba đặc điểm: chân thật, trực tiếp và khiêm nhường. Họ nâng trái tim và trí óc của mình lên Chúa, không phải là trái tim hay trí óc của ai khác. Không hề có chuyện làm ra vẻ, biện minh, hay giấu diếm điểm yếu. Họ để tuôn trào nỗi sợ hãi, sự bất tương xứng, nỗi thèm muốn, rối loạn của họ, như những đứa trẻ con vẫn làm khi cầu xin bàn tay của ai đó giúp đỡ. 

Có một điều tương đương thú vị trong một số câu chuyện thần tiên kinh điển của chúng ta, trong đó nhân vật Chúa thường xuất hiện dưới dạng thiên thần, nàng tiên, con cáo hay con ngựa. Và luôn luôn những ai tiếp cận nhân-vật-Chúa đó với lòng tự tin thái quá, kiêu căng, hay giả tạo, thì họ không nhận được lời khuyên hay phép lạ nào. Ngược lại, ai tiếp cận những nhân-vật-Chúa đó với lòng khiêm nhường và công nhận họ lạc đường trong khi đi tìm kiếm thì họ sẽ được cho lời khuyên và phép lạ. Có một bài học cầu nguyện quan trọng trong đó.

Tất cả chúng ta, vào những thời điểm khác nhau trong cuộc đời, đều có lúc cảm thấy cô đơn, lạc lối, rối loạn, và bị quyến dụ hướng về con đường chết. Những lúc đó, chúng ta cần tới bên Chúa với lời cầu nguyện chân thật không e ngại, trực tiếp và khiêm tốn. Giống như Dorothy Day, chúng ta cần tỏ bày ra và dâng nỗi sợ hãi và bất an có thực của chúng ta lên Chúa, cầu nguyện, lặp đi lặp lại nhiều lần: “Con sợ! Con cảm thấy quá cô đơn và cô lập trong chuyện này! Con không muốn làm điều này! Con hoàn toàn không thích hợp! Con không còn sức lực nào cả! Lòng con tràn đầy giận dữ! Con cay đắng về bao nhiêu là chuyện! Con căm ghét một số chỗ mà luân lý Ki-tô của con đã đưa con tới! Con bị quyến dụ theo những cách mà con quá hổ thẹn không dám nói ra! Con cần được hỗ trợ nhiều hơn mức Người vẫn hỗ trợ cho con! Xin gửi đến cho con một ai đó hay gửi cho con điều gì đó! Nếu Người muốn con tiếp tục con đường này thì Người phải giúp con nhiều hơn nữa! Con cần điều đó ngay bây giờ!”

Và rồi chúng ta cần phải chờ đợi, một cách kiên nhẫn, hướng vọng về. Có lẽ chẳng ông Peter Maurin nào sẽ xuất hiện trước bậc cửa nhà chúng ta vào đêm đó, nhưng, khi sự bất-lực-hoang-mạc đã phát huy tác dụng thì một thiên thần sẽ đến truyền sức mạnh cho chúng ta.

Cầu nguyện để không ngã lòng

Một trong những lý do chúng ta cần cầu nguyện là để không ngã lòng. Ai trong chúng ta cũng đã từng bị ngã lòng. Chúng ta ngã lòng khi thất vọng, mệt mỏi, sợ hãi, và bất lực trước các sỉ nhục của cuộc sống hợp lại để làm tê liệt năng lượng, bẽ gãy khả năng chịu đựng, vắt kiệt lòng can đảm và làm cho chúng ta trầm uất, yếu ớt.

Nữ thi sĩ Jill Alexander Essbaum cho chúng ta một ví dụ thấm thía về điều này trong bài thơ Lễ Phục Sinh. Chiêm nghiệm về niềm vui cần được Lễ Phục Sinh mang đến cho đời sống chúng ta, bà chia sẻ rằng thay vào đó, Lễ Phục Sinh có thể là thời gian thất bại của chúng ta vì việc ăn mừng niềm vui này có thể làm nổi bật thêm những khiếm khuyết trong đời sống của chính chúng ta và làm cho chúng ta cảm thấy: Tất cả những ai tôi từng yêu thương đều sống hạnh phúc nhưng đơn giản họ đi qua khỏi tầm với của tôi.

Và cảm giác này có thể làm chúng ta, hoặc suy sụp trong cay đắng hoặc quỳ xuống cầu nguyện; hy vọng là chúng ta cầu nguyện.

Trong kinh thánh có nhiều ví dụ về các nhân vật nam cũng như nữ, khi họ bị tê liệt do sợ hãi, ngã lòng, hay cô đơn, họ lên núi cao hay quỳ gối cầu nguyện. Tôi xin nêu lên hai ví dụ mang tính minh họa rõ nét.

Chúng ta có một ví dụ về việc cầu nguyện để không ngã lòng nơi tiên tri Êlia khi ông bị đe dọa vì lời nói tiên tri của mình. Êlia là nhà tiên tri chân chính và can đảm, nhưng có một lúc trong quá trình mục vụ, ông cực kỳ nản lòng. Dân của ông không còn nghe thông điệp tiên tri của ông, ông chứng kiến một vài tiên tri bạn phải tử nạn, và thông điệp của ông đã làm cho Jezebel, người phụ nữ quyền lực nhất vương quốc khó chịu, bà phái người đi tìm ông để giết. Để chạy trốn khỏi Jezebel, Êlia lên núi Horeb. Tuy nhiên, khi rút vào hang, ông đối diện với tiếng nói của Chúa, Chúa hỏi ông làm gì ở đây. Êlia thú nhận ông quá phiền muộn, sợ bị mất mạng, và bị ngã lòng. Sau khi thú nhận nỗi sợ hãi, Êlia rút vào hang tối, ngồi bất động trong nỗi sợ hãi và trầm uất. Nhưng qua âm thanh của làn gió dịu nhẹ, Chúa đã quyến dụ ông ra cửa hang, nơi Êlia một lần nữa thú nhận nỗi trầm uất và sợ hãi của mình; nhưng lần này là dưới dạng lời cầu nguyện. Và, qua việc cầu nguyện đó, ông lấy lại sức mạnh của trái tim, ông xuống núi, sẵn sàng đối diện với sứ vụ của mình với tất cả mối nguy hiểm đi kèm, với lòng can đảm và nguồn năng lượng mới mẻ. 

Khi tất cả sức lực tiêu tán hết, Êlia đến bên Chúa với tấm lòng yếu ớt của mình, và hành động đó đã làm mới trái tim ông. 

Chúng ta cũng thấy ví dụ này nơi Chúa Giêsu khi Ngài cầu nguyện ở Vườn Giếtsêmani, đối diện với sự thương khó và cái chết của mình. Đó là lúc suy thoái nhất trong cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giê-su: Dân chúng không còn nghe Người, các cơ quan thẩm quyền tôn giáo đang cấu kết với chính quyền dân sự để giết Người; số ít những môn đồ thân cận, những người còn lắng nghe thông điệp của Người, lại không hiểu được, và Người cảm thấy vô cùng cô độc, “một hòn đá bị ném xa khỏi mọi người”. Vì vậy, để khỏi ngã lòng, Người đã quỳ gối cầu nguyện, cầu nguyện tha thiết đến “đổ mồ hôi máu”, nhưng lời cầu nguyện cuối cùng đã kết thúc trong an ủi, với “một thiên thần từ thiên đường xuống để tăng sức mạnh cho Người”. Người đem trái tim tan nát, bị bội bạc, đầy sợ hãi và bị cô lập đau đớn của mình vào trong cầu nguyện, và Người đã được tiếp sức mạnh, được trao thức ăn cần thiết để có lại được lòng can đảm. 

Và như vậy, Chúa Giê-su tương phản với các tông đồ. Ở chính giây phút đó, họ cũng nản lòng, cô độc và sợ hãi. Nhưng họ đã ngủ quên khi Người cầu nguyện, và giấc ngủ của họ, như  Phúc âm ngụ ý, không chỉ có nghĩa đen. Chúng ta được biết, họ “ngủ quên đơn giản là vì muộn phiền”. Căn cốt, họ quá trầm uất đến nỗi không thể nào thức tỉnh lại trước sức mạnh trọn vẹn của cuộc đời họ. Sự ngã lòng này đã làm họ tê liệt trong sợ hãi, và rốt cuộc khi họ hành động thì họ lại hành động theo những cách trái ngược với những gì Chúa Giê-su đã dạy họ. Họ dùng tới vũ lực rồi chạy trốn. Họ không thể nào đối diện sự thống khổ đang treo lơ lửng như Chúa Giê-su bởi vì họ đã không cầu nguyện như Người cầu nguyện. Họ đã ngã lòng. 

Cho dù chúng ta là ai, giàu đến cỡ nào hay may mắn như thế nào, thì cũng không thể nào sống hết cuộc đời này mà không có lúc này lúc khác cảm thấy bị hiểu lầm một cách cay đắng, bị phiền muộn sâu sắc, ngã quỵ trước mệt mỏi đến tê liệt, và đơn giản là ngã lòng. Chúng ta là con người, và giống như Chúa Giê-su, chúng ta cũng sẽ có những ngày cảm thấy mình như  “một hòn đá bị ném xa ra khỏi mọi người”. Và điều đã bị tê liệt sâu thẳm trong chúng ta cũng chính là điều cao cả nhất trong chúng ta: khả năng tha thứ, khả năng tỏa chiếu trái tim quảng đại, hào hiệp, khả năng thấu cảm và thông hiểu, khả năng vui mừng, và khả năng can đảm của chúng ta. Sợ hãi và nản lòng, giống như Êlia, chúng ta rút vào hang tối lòng mình. 

Nhưng vào những phút giây như vậy, có thể chúng ta hiểu bản thân mình theo cách sau đây:  Giống Êlia, chúng ta đang ở trong hang tối, tê liệt vì đã ngã lòng; nhưng Chúa lại đang ở cửa hang, một cơn gió dịu dàng quyến dụ chúng ta trở ra lại cái nơi mà tất cả những người chúng ta thương yêu đều sẽ quay trở về trong tầm với của mình. 

Cầu nguyện đi tìm một chiều sâu

Bài thứ nhất trong loạt bốn bài mùa Vọng về cầu nguyện

Trong những phút giây chiêm nghiệm sâu đậm, chúng ta cảm nhận tầm quan trọng của cầu nguyện; thế nhưng chúng ta lại gắng gỗ chật vật để cầu nguyện. Cầu nguyện sâu đậm, bền bỉ chẳng dễ dàng đến với chúng ta. Tại sao vậy?

Trước hết, chúng ta gắng gỗ chật vật để sắp xếp thì giờ cầu nguyện. Buổi cầu nguyện chẳng tựu thành được điều gì thực tế cho chúng ta, đó là phí phạm thì giờ xét về mặt phải xoay xở giữa những áp lực và nhiệm vụ của đời sống hàng ngày, và vì thế chúng ta ngại đi tới đó. Thêm vào đó, chúng ta thấy khó mà tin tưởng được buổi cầu kinh thật sự có tác dụng và đưa lại điều gì đó thực tế trong đời sống chúng ta. Ngoài chuyện đó ra, chúng ta chật vật để tập trung cho được khi cố gắng cầu nguyện. Một khi thu xếp ngồi xuống cầu nguyện, thì chẳng mấy chốc chúng ta thấy mình tràn ngập trong những mơ mộng hão huyền, những cuộc chuyện trò lỡ dở, những giai điệu nhớ nhớ quên quên, những vụ đau tim, lịch trình công việc, và những nhiệm vụ đang treo lơ lửng sẽ ùa đến ngay khi chúng ta đứng dậy khỏi nơi cầu nguyện. Cuối cùng, chúng ta chật vật cầu nguyện bởi vì thật sự không biết nên cầu nguyện như thế nào. Có thể chúng ta quen thuộc với nhiều hình thức cầu nguyện khác nhau, từ những buổi cầu kinh sùng đạo cho đến những kiểu thiền định khác nhau, nhưng thông thường chúng ta thiếu tự tin nên không nghĩ rằng cái cách cầu nguyện cụ thể của chính mình, với tất cả những điều làm phân tâm, sao nhãng và sơ suất trong đó, chính là kiểu cầu nguyện một cách sâu đậm.

Một trong những nơi chúng ta có thể nhờ cậy là Phúc âm thánh Luca. Hơn bất cứ Phúc âm nào, Phúc âm thánh Luca là Phúc âm về cầu nguyện. Trong Phúc âm này có nhiều nơi mô tả Chúa Giêsu cầu nguyện nhiều hơn ở tất cả các sách Phúc âm khác cộng lại. Thánh Luca cho chúng ta thấy Chúa Giêsu cầu nguyện trong gần như tất cả trạng huống: Người cầu nguyện khi tràn đầy niềm vui, Người cầu nguyện khi đang trong cơn thống khổ; Người cầu nguyện với những người ở bên cạnh, và Người cầu nguyện khi một mình giữa đêm vắng, xa khỏi mọi mối liên hệ với con người. Người cầu nguyện trên núi, ở nơi thiêng liêng, ở bình địa, nơi cuộc sống bình thường diễn ra. Trong Phúc âm của thánh Luca, Chúa Giêsu cầu nguyện rất nhiều.Và các môn đồ của người hiểu rõ bài học này. Họ cảm nhận rằng chiều sâu và sức mạnh thật sự của Chúa Giêsu được khởi từ cầu nguyện của Người. Họ biết rằng điều khiến Người đặc biệt như vậy, hết sức khác những nhân vật tôn giáo khác như vậy, là vì Người được kết nối ở một nơi sâu sắc nào đó với một quyền năng nằm ngoài thế giới này. Và họ cũng muốn họ được như vậy. Đó là lý do tại sao họ đến gặp Chúa Giêsu và xin: “Xin Chúa dạy cho chúng con cầu nguyện!”

Nhưng chúng ta cần cẩn thận để không bị hiểu sai điều gì đã thu hút họ như vậy và họ mong mỏi gì khi xin Chúa Giêsu dạy họ cầu nguyện. Họ cảm nhận cái mà Chúa Giêsu lấy được từ chiều sâu cầu nguyện của mình trước hết không phải là quyền năng để làm phép lạ hay để làm câm bặt các kẻ thù của mình bằng một kiểu trí thông minh siêu việt nào đó. Điều khiến họ cảm động và điều họ cũng muốn cho cuộc sống của chính mình là chiều sâu và lòng khoan dung độ lượng của tâm hồn Người.

Sức mạnh mà họ khâm phục và mong muốn là sức mạnh của chúa Chúa Giêsu trong yêu thương và tha thứ kẻ thù thay vì làm bẽ mặt và chà đạp họ. Điều họ mong muốn là sức mạnh của Chúa Giêsu để chuyển hóa một không gian, không phải bằng một hành động phép lạ nào đó, mà bằng sự trong trắng và tính chất dễ bị tổn thương như thể khiến mọi người đều hạ vũ khí, cũng như sự có mặt của một đứa bé khiến cho mọi người quan tâm để ý đến cách cư xử và lời nói của mình. Điều họ muốn là sức mạnh từ bỏ cuộc đời trong sự tự hy sinh, kể cả khi có được khả năng đáng ghen tị là tận hưởng những niềm vui thú của cuộc đời mà không bị tội lỗi. Điều họ muốn là sức mạnh tấm lòng quảng đại của Chúa Giêsu, để thương yêu vượt ra bên ngoài dòng tộc mình, và thương yêu người giàu lẫn người nghèo, thương yêu từ trong lòng nhân từ, vui vẻ, bình an, kiên nhẫn, tốt lành, chịu đựng, trung tín, nhẹ nhàng, và trinh bạch, bất chấp mọi thứ trong đời ngăn cản những đức hạnh này. Điều họ mong muốn từ là chiều sâu và lòng bao dung độ lượng trong tâm hồn Chúa Giêsu.

Và họ nhận ra rằng cái sức mạnh này không phải đến từ bên trong Người, mà từ một nguồn cội bên ngoài Người. Họ thấy Người kết nối với một nguồn cội sâu xa thông qua cầu nguyện, thông qua việc liên tục nâng cao lên đến với Chúa vốn ở trong tâm trí Người. Họ thấy điều đó và họ cũng muốn mối-liên-hệ-chiều-sâu đó cho chính mình. Vì vậy họ xin Chúa Giêsu dạy họ cầu nguyện.

Rốt cùng, chúng ta cũng muốn có được chiều sâu và lòng khoan dung độ lượng của Chúa Giêsu trong đời sống của chính mình. Giống như các môn đồ của Chúa Giêsu, chúng ta cũng biết rằng chúng ta chỉ có thể đạt được điều này thông qua cầu nguyện, thông qua tiếp cận một sức mạnh nằm ở bên trong chiều sâu sâu thẳm nhất của tâm hồn mình và vượt ra khỏi tâm hồn mình. Chúng ta cũng biết rằng con đường dẫn đến chiều sâu đó nằm ở cuộc hành trình vào nội tâm, trong im lặng, thông qua cả nỗi đau đớn lẫn thầm lặng, hỗn loạn và bình an, con đường sẽ hiện ra với chúng ta khi ta lắng mình để cầu nguyện. 

Trong những giây phút chiêm nghiệm sâu xa, và những phút giây tuyệt vọng, chúng ta đều cảm thấy cần phải cầu nguyện và cố gắng đi đến chỗ sâu xa đó. Nhưng, vì chúng ta thiếu lòng tin tưởng và thiếu thực hành, nên chúng ta gắng gỗ chật vật để tới đó. Chúng ta không biết cầu nguyện như thế nào hay làm sao để duy trì việc cầu nguyện bền bỉ.

Nhưng như vậy chúng ta đang song hành với các môn đồ của Chúa Giêsu. Và thế là, một khởi đầu tốt sẽ là nhận ra chúng ta cần cái gì và tìm ra nó ở đâu. Chúng ta cần bắt đầu với một lời nài xin khẩn thiết: Xin Chúa dạy cho chúng con cầu nguyện!

Lòng thấu cảm cho thế giới

Có một câu chuyện, có lẽ được thêu dệt hơn là sự thực, về một vị thị trưởng của một thành phố lớn Mỹ vào cuối thập niên 1960. Hồi đó thành phố của ông trải qua thời gian không mấy tốt đẹp: đối diện với tình trạng phá sản tài chính, tỷ lệ tội phạm leo thang, hệ thống giao thông công cộng không còn an toàn về đêm, con sông cung cấp nguồn nước uống bị ô nhiễm nghiêm trọng, không khí tràn ngập mối căng thẳng chủng tộc, và hầu như tuần nào cũng có đình công và các cuộc xuống đường phản đối. 

Chuyện kể lại vào một buổi chiều thứ sáu, vị thị trưởng bay trong một chiếc trực thăng trên bầu trời thành phố. Khi âm thanh huyên náo của giao thông giờ tan tầm đang bóp nghẹt hầu như tất cả mọi thứ khác thì ông nhìn xuống cái dường như là một mớ hỗn loạn lúc nhúc và nói với một trong những người trợ lý của mình: “Chẳng phải hay sao, nếu có một cái bơm để chúng ta có thể xả sạch toàn bộ mớ hỗn độn này ra đại dương!”

Lúc đó thấy ông có vẻ như khôi hài, nhưng tôi e là đôi khi chúng ta cũng suy nghĩ một cách âm thầm như vậy về thế giới của mình. Rất thường khi chúng ta và nhà thờ của mình coi thế giới này đúng là một mớ hỗn độn, bị vướng mắc vào những chuyện tầm thường hóa dại dột, là tự đắm chìm, tự yêu mình, thiển cận, không còn có nh&77919;ng giá trị đòi hỏi sự hy sinh nữa, tôn thờ danh vọng, nghiện hàng hóa vật chất, và chống-nhà-thờ và chống-Ki tô. Thật sự, điểm chung của các nhà thờ của chúng ta ngày nay là coi thế giới này như kẻ thù của chúng ta. 

Và, không hề cảm thấy đau đớn về điều đó, chúng ta lại thấy sung sướng và chính đáng khi khoái trá chứng kiến sự sụp đổ của nó: thế giới này đang nhận lấy những gì nó đáng phải nhận! Không còn Chúa, chính là hình phạt của chính nó! Đó chính là cái mà nó phải nhận lấy vì không chịu lắng nghe chúng ta! Trong chuyện này, thái độ của chúng ta là cái ngược lại với thái độ của Chúa Giêsu về thế giới. 

Chúa Giêsu đã thương yêu thế giới. Thật thế ư? Đúng vậy. Đó là điều Phúc âm dạy ư? Đúng thế. 

Đây là mô tả của Phúc âm về phản ứng của Chúa Giêsu đối với cái thế giới đã chối bỏ Người: Khi Chúa Giêsu đến gần thành Giêrusalem và nhìn thấy thành phố này, người khóc cho thành phố và nói: “Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được.” Chúa Giêsu nhìn thấy những gì xảy ra khi con người cố tìm cách sống không có Chúa, trong hỗn độn, đau đớn, thương tâm, và, không hề vui mừng khi thấy thế giới không thu xếp ổn thỏa, trái tim Người đau đớn trong thấu cảm: Giá như các người có thể thấy được các người đang làm những gì!

Nhìn vào một thế giới đang suy sụp chính bởi vì chỉ quan tâm tới mình, Chúa Giêsu đã đáp lại với lòng thấu cảm, chứ không khoái trá; với sự thông hiểu, chứ không phán xét; với nỗi thương tâm, chứ không xát muối vào vết thương; và với nước mắt, chứ không phải rũ bỏ đi cho nhẹ lòng. 

Những cha mẹ và bạn bè lòng tràn tình thương yêu hiểu chính xác những gì Chúa Giêsu cảm thấy trong giây phút người rơi lệ vì thành phố Giêrusalem. 

Đó là điều mà người cha, người mẹ nao lòng với trái tim tan nát khi thấy con cái mình cuốn theo những lựa chọn sai lầm và những hành vi tự hủy hoại, và khóc thầm khi lời lẽ cứ tự nhiên thốt ra: Giá như con có thể thấy được điều con đang làm! Giá như ba/mẹ có thể làm được điều gì đó để con tránh được những tổn hại mà con đang gây ra đời mình vì mù quáng như vậy! Giá như con có thể nhận ra được những gì đem đến bình an! Nhưng con không thể nào thấy được, và điều đó làm đau lòng cha/mẹ!

Điều này cũng đúng giữa những người bạn với nhau. Những người bạn chân chính không sung sướng và khoái trá khi bạn mình có những chọn lựa tồi tệ và đời họ bắt đầu tan vỡ. Mà họ khóc, xen lẫn với niềm thấu cảm lo lắng, đau lòng, với những van nài, và cầu nguyện. Tình thương yêu chân thực là thấu cảm, và lòng thấu cảm là không bao giờ khoái trá trước sự rơi rụng của người khác. 

Đức tin Ki-tô của chúng ta đòi hỏi chúng ta có tình thương yêu thật sự đối với thế giới này. Thế giới này không phải là kẻ thù của chúng ta. Đó là đứa con ương ngạnh, là người bạn thân thương đang làm cho lòng chúng ta tan nát. Có thể khó mà thấy được và chấp nhận được điều đó trên thực tế khi thế giới thường hung hăng và xấc xược với chúng ta, khi nó nổi xung với chúng ta, khi nó phán xét chúng ta một cách sai lầm, và khi nó bắt chúng ta giơ đầu chịu báng. Nhưng đó chính là những gì mà những đứa con khổ sở thường gây ra cho cha mẹ và bạn bè khi chúng đưa ra những lựa chọn sai lầm và phải gánh chịu hậu quả. Chúng quy kết và đổ lỗi sang người khác. Có thể chúng ta cảm thấy như vậy rất bất công, nhưng thái độ của Chúa Giêsu đối với những ai chối bỏ Người và đóng đinh Người trên thập giá đã mời gọi chúng ta mở lòng thấu cảm vượt lên trên chuyện đó. 

Kathleen Norris nói rằng, khi thế giới chống đối chúng ta, chúng ta nhìn nó như cách chúng ta nhìn đứa con gái 17 tuổi giận dữ xử sự với cha mẹ nó. Trong giây phút giận dữ đó của đứa con gái, cha mẹ dường như đã trở thành cái cột thu lôi (một nơi an toàn) để cô bé xổ ra cơn giận dữ và trút lỗi lên đó. Nhưng thấm ngậm điều này chính là chức năng tình thương yêu của người trưởng thành. Bậc làm cha mẹ tốt không phản ứng lại với cơn giận dữ của một đứa con đang tuổi thanh niên bằng cách tuyên bố nó là kẻ thù. Mà họ phản ứng như Chúa Giêsu đã phản ứng, là nhỏ lệ vì con. 

Hơn nữa, lòng thấu cảm thật sự cho thế giới không chỉ dựa trên lòng thông cảm chín chắn. Bản thân lòng thông cảm chín chắn lại dựa trên việc nhìn thấy thế giới như chính nó một cách rõ ràng hơn. Đứa con gái 17 tuổi đang hung hăng và nổi xung trước cha mẹ nó không phải là một người tồi tệ, chỉ là cô bé chưa trưởng thành hết mà thôi. 

Điều đó cũng đúng cho thế giới của chúng ta: Nó không phải là chỗ tồi tệ; chỉ là còn lâu nữa nó mới là một nơi hoàn thiện và trưởng thành.

Thương yêu vượt lên trên ngây thơ và lãng mạn

Nhiều năm trước, một vị trong Giáo vụ đoàn mà tôi biết đã thách thức giáo đoàn của mình phải mở rộng cánh cửa và tấm lòng một cách trọn vẹn hơn với người nghèo. Ban đầu, giáo đoàn đáp lại nhiệt tình và một số chương trình được thực hiện, tích cực mời gọi mọi người từ những vùng ít ưu đãi hơn về kinh tế, kể cả những người vô gia cư đến nhà thờ của họ. 

Nhưng tâm lý lãng mạn đã sớm phai khi các tách cà phê và những món đồ nho nhỏ khác bắt đầu biến mất, một số xách tay bị mất cắp, còn nhà thờ và không gian hội họp thì không còn được sạch sẽ và rối tung lên. Một số thành viên trong giáo đoàn bắt đầu than phiền và yêu cầu chấm dứt chuyện thử nghiệm này: “Đây không phải là điều chúng ta trông đợi! Nhà thờ chúng ta không còn sạch sẽ và an toàn nữa rồi! Chúng ta muốn đến với những người này và đây là những gì chúng ta nhận về! Quá sức lộn xộn đến mức không thể tiếp tục được nữa!”

Nhưng vị mục sư vẫn kiên quyết giữ vững ý kiến, chỉ ra rằng những điều họ trông đợi là ngây thơ, và những gì họ đang trực nghiệm chính là một phần trong cái giá của việc đến với người nghèo, và rằng Chúa Giêsu đoan chắc với chúng ta rằng bản chất của thương yêu là không an toàn và rối tung, và điều đó không chỉ đúng trong chuyện đến với người nghèo mà trong chuyện đến với bất cứ ai. 

Chúng ta thích nghĩ về bản thân mình là người hòa nhã và đầy tình thương yêu, nhưng, sự thực là điều đó dựa trên một quan niệm quá sức ngây thơ và quá sức lãng mạn về tình yêu. Chúng ta không thật sự yêu thương như Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta khi Người nói rằng: Hãy thương yêu nhau như Ta đã thương yêu con! Phần sau của câu nói này mới là khó: Chúa Giêsu không nói, hãy thương yêu nhau tùy theo nhịp điệu tự nhiên của quả tim; cũng không nói, hãy thương yêu nhau như cách xã hội định nghĩa tình thương yêu, mà là: hãy thương yêu nhau như Ta đã thương yêu con!

Và, phần nhiều, chúng ta đã không làm như vậy:

– Chúng ta đã không thương yêu kẻ thù của mình, cũng không đưa má kia ra để chấp nhận những người thù ghét chúng ta. Chúng ta đã không cầu nguyện cho những ai chống đối chúng ta. 

– Chúng ta đã không tha thứ người nào làm tổn thương mình, cũng không tha thứ cho những ai đã sát hại những người yêu quý của chúng ta. Trong nỗi đau của mình, chúng ta đã không cầu xin Chúa tha thứ cho chính những người đang làm chúng ta đau đớn vì họ không thật sự nhận thức được điều mà họ đang làm. 

– Chúng ta đã không rộng lượng mà bỏ lòng tự ái khi bị coi nhẹ hay phớt lờ, lúc đó chúng ta cũng không để cho hiểu biết và lòng cảm thông thay thế nỗi chua chát và khao khát bỏ cuộc của chúng ta. Chúng ta đã không xả bỏ nỗi hậm hực của mình. 

– Chúng ta đã không để cho bản thân mình dễ bị tổn thương đến mức có thể bị xúc phạm và khước từ khi chúng ta ngỏ lời thương yêu. Chúng ta đã không bỏ được nỗi sợ hãi bị người khác hiểu lầm, hoặc trông không tốt đẹp, hoặc không tỏ ra mạnh mẽ và có thể kiểm soát mọi chuyện. Chúng ta chưa hề dám đi chân trần, dám thương yêu mà không có sự bảo đảm chắc chắn.

– Chúng ta đã không mở lòng mình ra đủ để bắt chước sự chấp nhận không phân biệt và phổ quát của Chúa Giêsu, chúng ta cũng không thể mở rộng trái tim để coi mọi người là anh chị em, bất kể chủng tộc, màu da hay tôn giáo. Chúng ta vẫn chưa thôi nuôi dưỡng cái bí mật âm thầm rằng cuộc sống của chúng ta và của những người thân yêu của chúng ta là đáng quý hơn cuộc sống của những người khác trên thế giới. 

– Chúng ta vẫn chưa lựa chọn người nghèo, chưa mời người nghèo đến ngồi cùng bàn với chúng ta, và vẫn chưa bỏ được khuynh hướng muốn ở bên những người hấp dẫn và có ảnh hưởng. 

– Chúng ta vẫn chưa hy sinh bản thân mình trọn vẹn tới mức mất đi tất cả vì lợi ích của người khác. Chúng ta vẫn chưa thật sự đặt cuộc sống của mình xuống vì bạn bè mình, mà đặc biệt là vì kẻ thù của mình. Chúng ta vẫn chưa sẵn sàng chết vì chính những người chống đối và đang cố gắng đóng đinh chúng ta trên thập giá. 

– Chúng ta vẫn chưa thương yêu với ý định thanh khiết trong lòng, không tìm cách tìm kiếm bản thân trong các mối quan hệ. Chúng ta không để cho trái tim tan vỡ mà muốn xâm phạm trái tim người khác, cho dù theo cách tinh tế. 

– Chúng ta chưa đi trong kiên nhẫn, trao cho kẻ khác trọn vẹn không gian mà họ cần để tương liên với chúng ta theo mệnh lệnh nội tâm của chính họ. Chúng ta vẫn chưa sẵn lòng đổ mồ hôi máu một cách kiên nhẫn để giữ lòng trung tín. Chúng ta chưa chờ đợi kiên nhẫn, theo thời gian lành của Chúa, để được Chúa phán xét về đúng và sai. 

– Chúng ta chưa chống lại bản năng thôi thúc tự nhiên của mình về phán xét người khác, về gán cho các động lực. Chúng ta chưa nhường để Chúa phán xét. 

– Cuối cùng, không kém phần quan trọng, chúng ta chưa thương yêu và tha thứ cho bản thân, để biết rằng không nên để lỗi lầm của mình làm hàng rào ngăn cách chúng ta và Chúa. Chúng ta vẫn chưa tin đủ vào lòng thương yêu của Chúa để luôn luôn bắt đầu lại từ đầu trong lòng bao dung vô biên của Chúa. 

– Chúng ta chưa thương yêu như Chúa Giêsu thương yêu. 

Sau khi Raissa vợ ông chết, Jacques Maritain biên tập quyển nhật ký của bà. Trong Lời tựa của cuốn sách đó, ông mô tả cuộc chiến đấu của bà với căn bệnh đã cướp sinh mạng của bà. Bị kiệt sức và không thể nào nói được, bà đã chiến đấu kịch liệt đến những ngày cuối cùng của cuộc đời. Sự đau đớn chịu đựng của bà đã vừa thử thách vừa làm cho đức tin của chính Maritain trưởng thành. Hết sức tỉnh táo nhờ chứng kiến những đau đớn của vợ, Maritain viết: Chỉ có hai loại người nghĩ rằng tình thương yêu là dễ dàng: các vị thánh, những người qua nhiều năm dài hy sinh đã tạo được một thói quen đức hạnh, và những người ngây thơ không biết mình đang nói cái gì.

Cô đơn – Nỗi thống khổ rốt cùng

Khi là một chủng sinh 22 tuổi, tôi may mắn có một trải nghiệm độc đáo loại trải nghiệm trong sa mạc. Tôi ngồi bên các anh em của tôi nhiều tuần trong căn phòng ở khu vực dành riêng cho những người không còn chữa trị chỉ chờ chết, tôi nhìn cha tôi chết. 

Cha tôi còn trẻ, 62 tuổi, và còn khỏe mạnh cho tới khi căn bệnh ung thư tụy tạng đốn ngã. Ông là người có đức tin, và ông đem niềm tin đó vào cuộc chiến đấu cuối cùng của mình. Ông không sợ hãi Chúa, Đấng mà ông phụng sự suốt đời, cũng không sợ hãi đời sống sau khi chết, đời sống mà đức tin của ông đoan chắc là tràn đầy niềm vui. Nhưng ông không thể nào xa lìa cuộc đời một cách dễ dàng, đôi khi ông vật lộn gần như là cay đắng để không đầu hàng. Trong lòng ông có một nỗi buồn sâu sắc, cuối cùng thì đã êm ả hơn là cay đắng trong những tuần cuối cuộc đời. Ông đã không muốn chết. 

Nhưng nỗi buồn của ông không bắt rễ từ nỗi sợ hãi cái chết, sợ Chúa, hay sợ đời sống sau khi chết. Nỗi buồn của ông liên quan tới chuyện phải rời khỏi thế giới này, rời bỏ vợ con, cộng đoàn, những giấc mơ cho những năm tháng sẽ nghỉ hưu, và chính niềm yêu thích cuộc sống của ông. Ông buồn bã trước sự thật cay đắng rằng mình đang chết trong khi tất cả chúng tôi và cuộc sống vẫn tiếp tục, mà không có ông. 

Gần đây tôi nhớ lại điều này khi đọc một bài báo trên Tạp chí American Magazine của Sidney Callahan, trong đó bà chia sẻ về nỗi sợ chết của chính mình. Đây là phần nổi bật nhất trong bài viết: 

Nhưng những mất mát ít nghiêm trọng hơn cũng thấm vào nỗi sợ chết của tôi. Nỗi buồn kinh khủng trỗi lên khi nghĩ tới chuyện từ bỏ vai diễn của mình trong vở kịch cuộc đời vẫn tiếp diễn hàng ngày. Vòng láng giềng thân hữu và tình thương yêu gia đình mình (kể cả con chó yêu quý của tôi) kết chặt chúng ta vào với thế giới cụ thể và xinh đẹp của chúng ta. Bắt câu chuyện này gián đoạn là một viễn cảnh đau lòng trong khi chúng ta có thể tiếp tục mãi mãi. Khi cuộc sống của anh là một bữa tiệc được Chúa chúc phúc bây giờ và ở đây, thì rời khỏi chỗ của mình trên bàn tiệc là chuyện khó khăn – cho dù là để đi tới một cuộc ăn mừng huy hoàng hơn. Khi chết, chúng ta chắc chắn sẽ bước vào một cuộc hiện sinh mới mẻ, không thể nào tưởng tượng nỗi, giống như một bào thai được sinh ra. Cho dù có những điều kỳ diệu được hứa hẹn trong cái thế giới sắp tới đó, tôi vẫn sợ hãi thấy mình giống y như bào thai hài lòng sung sướng trong dạ ấm áp không muốn ra ngoài. 

Trước khi chê đoạn văn đó là cảm xúc non nớt hay không phải là thiêng liêng, chúng ta nên xem xét kỹ nỗi sợ chết của chính Chúa Giêsu. Phúc âm trình bày về nỗi thống khổ của người, “mồ hôi máu” của Người, như là một bi kịch đạo đức hơn là một bi kịch về thể xác. Đó là Giêsu trong bản chất con người, là một người thương yêu, người đang toát mồ hôi trước cái chết của mình. Khi mô tả cái chết của Người, họ đã nêu bật nỗi cô đơn kinh khủng, tình trạng bị cô lập, là “một hòn đá bị ném xa khỏi tất cả mọi người”, và cảm giác bị bỏ rơi. Nỗi đau đớn mà Người thể hiện trong Vườn Cây Dầu không phải là nỗi lo sợ về cơn đau đớn thể xác sắp tới, mà là nỗi lo sợ về việc sắp bị bỏ rơi, về việc mất chỗ của mình ở bàn ăn, tình trạng bị cô lập về tình cảm và luân lý, bị chết một mình, chết trong hiểu lầm, chết như một kẻ vô danh tiểu tốt. 

Suy ngẫm về điều này có thể có ích vì nhiều lẽ. 

Thứ nhất, hiểu sâu sắc hơn về điều này có thể giúp chúng ta nhận ra và xử lý một cách cởi mở hơn với một vài nỗi sợ hãi của chúng ta về cái chết. Chúng ta cần cho phép bản thân mình được buồn rầu khi nghĩ về cái chết. Đồng thời, hiểu điều này sâu sắc hơn có thể giúp chúng ta tự chuẩn bị cho nỗi cô đơn khi mà một ngày nào đó tất cả chúng ta đều sẽ phải đối diện. Như Martin Luther đã nói: Anh sẽ chết một mình. Tốt hơn là anh nên tin một mình. 

Tiếp đến, hiểu điều này sâu sắc hơn có thể cứu chúng ta khỏi việc nói lên những phán xét đơn giản quá mức về cách những người khác ứng xử như thế nào với cái chết. Quá thường xuyên là những suy nghĩ đơn giản quá mức rằng nếu người nào có đức tin thật sự thì người đó sẽ có thể rời bỏ cuộc sống dễ dàng và chết thanh thản. Điều đó đúng, nhưng cần có rất nhiều điều kiện: Như Iris Murdoch từng viết: “Một người lính bình thường chết không sợ hãi, Chúa Giêsu chết đầy sợ hãi!” Chúa Giêsu, như câu chuyện về cái chết của Người trong Phúc âm thánh Mác-cô đã kể rõ, đã không trải qua một quá trình chết, quá trình buông bỏ cách thanh thản. Người đối diện cái chết bằng đức tin và lòng can đảm, nhưng cũng đối diện nó với nỗi buồn sâu sắc, sự tranh đấu kịch liệt, gần như cay đắng, và dường như là đêm tối ở trọng tâm đức tin của mình. Những con người lành mạnh, những người yêu cuộc sống, thấy khó mà từ bỏ chỗ của mình ở những chiếc bàn của thế gian này. Chẳng hề ngạc nhiên là Chúa đã phải gắng gỗ như thế!Cuối cùng, và cũng trớ trêu thay là chúng ta cần hiểu điều này sâu sắc hơn mới có thể giúp chúng ta bước vào cuộc đời một cách sâu sắc hơn. Chúa Giêsu đã nói chúng ta phải đánh mất sự sống mới có sự sống. Bên cạnh nhiều ý nghĩa khác, điều này có nghĩa là chấp nhận một ngày nào đó chúng ta sẽ mất chỗ của mình nơi những cái bàn của thế gian này. Và sự chấp nhận đó có thể đem lại cho chúng ta thái độ cảm kích sâu sắc hơn đối với những cái bàn gia đình, cộng đoàn, và những cái bàn của niềm vui thích mà giờ đây chúng ta đang ngồi quanh trong thế giới cụ thể và xinh đẹp này. 

Cuộc sống và tình thương yêu là quý giá, ở cả hai bên bờ vĩnh cửu. Nỗi sợ hãi của chúng ta về việc mất chỗ của mình trong cuộc sống và tình yêu là một nỗi sợ hãi lành mạnh, thiêng liêng.

Tình yêu, lòng tin và nghi thức

Chẳng dễ gì để duy trì được tình yêu, ít nhất cũng không thể duy trì thường xuyên cảm xúc thiết tha sôi nổi. Hiểu lầm, khó chịu, mệt mỏi, ghen tuông, tổn thương, tính khí khác biệt, sự quen thuộc nuôi dưỡng khinh nhờn, và sự chán ngán luôn luôn bào mòn cảm xúc và xúc động của chúng ta, và chẳng mấy chốc, sự thiết tha sôi nổi nhường chỗ cho cái đều đều tẻ nhạt, thói quen trở thành nếp cũ chán ngắt, và tình yêu dường như biến mất. Nhưng chúng ta dễ dàng hiểu sai điều đó. 

Trước hết, chỉ vì mặt ngoài một mối quan hệ có vẻ bị hiểu lầm, khó chịu và tổn thương làm cho u ám không có nghĩa là chúng ta không thương yêu nhau. Tình thương yêu nằm ở một nơi bên dưới những cơn thăng trầm của sự khó chịu và tẻ nhạt. Anh có thể sẵn sàng chết vì một người nào đó, thậm chí ngay ở thời điểm anh đang sôi lên vì giận người ta. 

John Shea, trong một loạt các bài giảng xuất sắc được Nhà xuất bản Liturgical phát hành, đưa ra một ví dụ tuyệt vời cho chúng ta. Ông kể câu chuyện một người phụ nữ đưa người mẹ già yếu của mình về để giúp bà khi bà đang trong quá trình hồi phục từ một cơn đột quỵ. Người con gái chịu khó chăm sóc chu đáo từng nhu cầu của mẹ; nhưng, có một lúc, một cuộc cãi vả kinh khủng nổ ra – xung quanh một chuyện vặt vãnh về một quả trứng luộc chín quá mức. Giữa cuộc khẩu chiến kịch liệt, bà mẹ đột nhiên hỏi cô con gái: “Thế thì tại sao con lại làm tất cả những việc này cho mẹ?”Sau này, người con gái kể lại, cô trả lời bằng cách liệt kê một loạt lý do: Tôi lo cho bà; tôi muốn bà bình phục; tôi cảm thấy dường như hồi trẻ tôi đã lơ là với bà. Tôi cần chứng tỏ cho bà thấy là tôi mạnh mẽ. Tôi cần giúp bà sẵn sàng về nhà một mình trở lại; sẵn sàng đối diện với tuổi già, vân vân. Bản thân tôi cũng thấy ngạc nhiên. Tôi có thể viện dẫn lý do cả đêm cũng chưa hết. Cả mẹ tôi cũng kinh ngạc. “
Vớ vẩn,” bà nói khi tôi liệt kê xong.

“Vớ vẩn ư?” Tôi la lên. Như thể bà đã mắc sai lầm thật sự khi nhận xét như vậy. 

“Đúng, vớ vẩn,” bà lại nói lần nữa, nhưng giọng hơi nhỏ đi. Và tôi chợt hiểu trước âm sắc ngày càng nhỏ đi đó. Rồi bà nói tiếp: “Con không cần phải viện tất cả những lý do này. Chúng ta thương yêu nhau. Thế là đủ.”

Khó chịu, giận dữ, chán nản trong một mối quan hệ không hẳn có nghĩa là tình thương yêu đã chết, như câu chuyện trên đã chứng tỏ. Tình thương yêu nằm ở một chỗ sâu xa hơn. Nhưng làm sao chúng ta chạm tới được chỗ đó trong những cảm xúc dưới mức nhẹ nhàng bình thường?

Chúng ta làm được điều đó thông qua các nghi thức. Đời sống chung của chúng ta trong mọi kiểu cộng đồng đều được duy trì thông qua các nghi thức lớn nhỏ chúng ta gắn bó với nhau, giữ chúng ta tôn trọng nhau, và để chúng ta kiên nhẫn chờ đợi qua suốt những cơn thăng trầm của cuộc sống chung. Ví dụ, đôi khi chúng ta chào nhau một cách nồng nhiệt thật sự, và cũng đôi khi việc chào hỏi của chúng ta khó có thể che giấu được sự khó chịu hay chán chường. Nhưng chúng ta vẫn chào hỏi nhau. Nói “chào buổi sáng” là một hành động thuộc về nghi thức, một hành động quan trọng. Nó nói lên rằng chúng ta vẫn thương nhau và quan tâm tới nhau, kể cả khi đó không phải chính xác là những gì chúng ta có thể đang cảm thấy vào một ngày nào đó. Điều này cũng đúng với những cái hôn chiếu lệ vội vàng trên má khi chúng ta chào hay tạm biệt nhau, ôm nhau theo lệ, làm dấu hòa bình trong nhà thờ, và (đặc biệt) là việc chúng ta cam kết ngồi lại với nhau vào những thời điểm thường lệ để ăn cơm và những lần tụ họp khác. Đó là những nghi thức quan trọng, dùng hành động và cam kết của chúng ta để nói lên những gì mà cảm xúc của chúng ta đôi khi không thể nói lên, đó là: “mẹ/ba/em/anh thương con/anh/em! Mẹ/ba/em/anh có mặt ở đây cho con/anh/em đây, kể cả khi cả hai chúng ta đều mệt mỏi, đều quá sức quen thuộc với nhau, quá bận rộn, và quá khó chịu vì những điều khác biệt của nhau đến mức không còn thấy thiết tha trong tình cảm của chúng ta lúc này nữa.” 
Nghi thức nói thay cho tình thương yêu, kể cả khi nó luôn luôn cần được tình thương yêu làm nền tảng bên dưới. 

Điều này cũng đúng đối với đức tin. Trong đức tin, cũng y như trong tình yêu, vừa có bề mặt lẫn có nền tảng bên dưới. Thực tại sâu xa hơn nằm trong cái nền tảng bên dưới, và chúng ta cần sẵn sàng chuẩn bị cho rất nhiều những đổi thay ở trên bề mặt. 

Trong cuộc hành trình đức tin của chúng ta, sẽ có những phút giây thiết tha sôi nổi, cảm xúc nồng nhiệt, bình an ấm áp; nhưng sẽ cũng có từng giai đoạn, những giai đoạn dài, đôi khi là những giai đoạn cay đắng, khi trên bề mặt chúng ta chỉ cảm thấy khô khan, chán chường, thấy như Chúa vắng mặt, và thậm chí còn chán ghét những thứ gì của Chúa và của đức tin. Điều này không hẳn có nghĩa là chúng ta thiếu nỗ lực hay chúng ta đang chịu đau khổ trong đức tin vì quá quen thuộc dẫn tới khinh nhờn. Chúng ta có thể, như Chesterton đã gợi ý một cách cổ điển, cố gắng nhìn vào mọi điều quen thuộc cho tới khi nào chúng lại trông chẳng còn vẻ quen thuộc nữa, nhưng, như những nhà huyền bí đoan chắc với chúng ta, chuyện đó không phải lúc nào cũng giải quyết được vấn đề. 

Đức tin, giống như tình yêu, cần phải được duy trì thông qua nghi thức, thông qua những việc làm mang tính nghi thức cho phép sự cam kết và hành động của của chúng ta nói lên cái điều mà không phải lúc nào chúng ta cũng có thể nói ra bằng lời và bằng cảm xúc được. Và truyền thống đức tin của chúng ta có sẵn những nghi thức đó cho chúng ta: đọc kinh, dự Bí tích Thánh thể, cầu nguyện trong nhà thờ, lần chuỗi, cầu nguyện theo các sách kinh khác nhau, ngồi cầu nguyện chú tâm lặng lẽ, và, quan trọng hơn hết thảy, đơn giản là có mặt thường xuyên ở nhà thờ. Tất cả những điều đó nói lên điều mà người mẹ trong câu chuyện trên nói với con gái: Bên dưới tất cả những điều này, là chúng ta thương yêu nhau. Thế là đủ!

Giới báo chí Thiên Chúa giáo mất đi một người bạn

Không một cộng đồng nào được nói vụng về về cái chết của mình! Đó là câu nói của nhà nhân loại học nổi tiếng Mircea Eliade, và tôi dùng câu đó để kính viếng Otto Herschan, một nhà xuất bản Thiên Chúa giáo lâu năm, qua đời vào ngày 12 tháng 7 ở tuổi 84. 

Trong nhiều năm ông là chủ bút và là Giám đốc Điều hành của một số các tuần báo Thiên Chúa giáo tầm quốc gia, bao gồm tờ Người đưa tin Thiên Chúa giáo (Catholic Herald) ở Anh, tờ Nhà quan sát Thiên Chúa giáo Scotland (Scottish Catholic Observer in Scotland), và tờ Irish Catholic ở Ai-len. Ông đem lại một nền tảng thú vị vào báo chí Thiên Chúa giáo.

Ông sinh ra ở Áo và khi lên 10 tuổi, cùng với mẹ, ông đến tỵ nạn tại nước Anh khi xảy ra Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Cha của ông, người đưa vợ mình và Otto lên con tàu Tốc hành Phương Đông (Orient Express) để tới Luân Đôn ngay trước khi ông qua đời, là một sĩ quan quân đội Áo, và trong những chương đầu tiên tự truyện của Otto, quyển Làn khói thiêng, ông mô tả những phiên tòa xét xử Thiên Chúa giáo ở Áo khi nước này dần rơi vào vòng kiểm soát của phát xít Đức.

Khi tới nước Anh, Otto được các cha dòng Biển Đức giáo dục trong trường dòng ở Herefordshire, Belmont Abbey. Sau khi tốt nghiệp, ông làm một thời gian ngắn trong ngành kế toán và quảng cáo, trước khi ghi tên học đại học, nhưng vì không đủ tiền nên ông buộc phải bỏ học sau một năm. Sau đó Otto hướng sức lực sang nhà hát, làm việc ở Nhà hát Boltons, câu lạc bộ kịch nghệ nổi tiếng nhất của Luân Đôn trong thập niên 1940. Ông làm việc ở đó trong nhiều vai trò: người vẽ phông cảnh, diễn các vai lẻ, và cuối cùng là trở thành người quản lý nhà hát, là vị quản lý nhà hát trẻ nhất Luân Đôn, mới ở tuổi 21. Các khó khăn tài chính đã buộc Nhà hát Boltons phải đóng cửa vào năm 1950. Sau đó ông làm việc cho truyền hình trong một thời gian, giúp sáng lập ra đài truyền hình thương mại đầu tiên ở nước Anh. 

Điều này lại đưa ông trở về với nhà hát, nơi mà vào năm 1954, trong một buổi gây quỹ, ông đã gặp vị chủ tịch tờ báo Catholic Herald, ông này mời ông đảm nhiệm công việc quản lý tờ báo. Ông phản đối, nói rằng mình chẳng hề biết gì về chuyện điều hành một tờ báo, và ông nhận được câu trả lời: “Như thế có khi lại là khởi đầu tốt ấy chứ!” Thế là ông trở thành Giám đốc Điều hành tờ Catholic Herald trong gần 50 năm.

Với tầm nhìn và dưới sự dẫn dắt của ông, tờ Catholic Herald đã phát triển từ chỗ chỉ phục vụ một số lượng độc giả nhỏ, khép kín mà với họ, việc mua một tờ báo được coi như là một hành động mộ đạo, trở thành một tờ tuần báo Thiên Chúa giáo tầm cỡ quốc gia và quốc tế, có mặt trên các sạp báo trong toàn bộ thế giới nói tiếng Anh. Ông tuyển mộ những nhà báo tài năng từ giới báo chí thế tục, và Catholic Herald trở thành tờ báo năng nổ và được rất nhiều người tìm đọc. Là chủ bút của một số tờ báo Thiên Chúa giáo trong và sau thời gian Vatican II, ông luôn luôn có thể giữ cho tờ báo của mình đứng vững được trên cái ranh giới mong manh giữa hai ý thức hệ tự do và bảo thủ. Luôn luôn, người ta coi báo của ông là quá tự do đối với những người bảo thủ và quá bảo thủ đối với những người tự do. Vậy không phải là lời phê bình dở.

Là người xuất bản có ngân sách rất eo hẹp, Otto có tài phát hiện những nhà báo trẻ tài năng, thuê họ làm biên tập viên cho tờ báo của ông, sau đó vài năm, ông hết lòng chúc phúc cho họ khi họ chuyển sang những công việc có lương bổng cao hơn trong giới báo chí thế tục. Theo cách đó, ông đã giúp tạo dựng sự nghiệp cho nhiều nhà báo trẻ rất xuất sắc; nhưng đem lại lợi ích cho cả hai, những biên tập viên trẻ trung thiết tha cầu tiến mong được khởi nghiệp trong ngành báo chí và báo chí Thiên Chúa giáo hưởng lợi từ tài năng của họ. Trong những năm làm nghề báo, ông phát triển tình bằng hữu keo sơn với những vị lãnh đạo giáo hội ở khắp nơi, trong đó có Tổng giám mục Denis Hurley của Nam Phi và Hồng y Giáo chủ Franz Konig của Vienna.Tôi gặp Otto lần đầu tiên vào năm 1990, khi ông tuyển tôi viết chuyên mục định kỳ cho tờ báo của ông, và suốt 20 năm từ đó trở đi, tôi đã có một tình bạn tuyệt vời với ông và Marie vợ ông. Dù là người khiêm tốn và dễ gần, ông luôn luôn có chút phi thường. Ông làm không khí thêm sinh động. Ông yêu cuộc sống, yêu công việc, yêu vợ sâu đậm, và đặc biệt yêu thích những bữa ăn tối kéo dài tới khuya, đậm đà hơn bởi rượu ngon, chuyện trò việc đạo, châm chọc, trêu đùa và tình bằng hữu được thêm hương vị qua những điếu xì gà ngon. Thời gian ngừng trôi trong những bữa tối như thế, liếc nhìn đồng hồ đeo tay là điều cấm kỵ, cọng thêm phải trả giá cho những bữa tối đó bằng sự mệt mỏi cả ngày hôm sau, thì anh cũng biết là, trong suốt những giờ đồng hồ ngồi bên bàn ăn với nhau như vậy, anh đang làm điều mà anh được mong làm trong suốt đời mình, đó là thưởng thức tình bạn, tình thương, thức ăn, trêu đùa, và chuyện trò việc đạo với nhau. Tôi luôn luôn nâng niu ký ức về những bữa ăn tối như vậy tại nhiều câu lạc bộ khác nhau của Otto, cũng như những giây phút với đôi vợ chồng dành thời gian cả ngày lái xe qua miền đồng quê nước Anh giữa mùa hè, cửa sổ xe hơi mở rộng, khói tẩu thuốc lá và xì gà phì phèo tỏa khắp, và cặp mắt Otto xem xét khắp cảnh quan, tìm ra những cảnh đẹp và kiếm xem có thể có quán rượu nào hay không. Không một cộng đồng nào được nói vụng về về cái chết của mình! Và vì thế, là điều quan trọng khi nói rằng khi Otto Herschan qua đời, giáo hội và thế giới này đã mất đi một người lịch lãm, một người bạn tốt, một người thông thái, một người mà, giống như Chúa Giêsu, đã cố gắng hội tụ những người có niềm tin khác nhau ngồi chung lại một bàn, bàn của tình bằng hữu và đức tin. 

Chúa và Tình dục

Thế giới chúng ta nghĩ rằng đã hiểu tình dục. Thật ra là không hiểu. Hơn nữa, thế giới này còn bắt đầu phớt lờ và thậm chí còn khinh khi cách nhìn nhận của người Ki-tô hữu đối với tình dục. 

Và bây giờ chúng ta đang trả giá cho điều đó, mà phần lớn là không nhận thấy: Tình dục, nếu vượt ra ngoài các giới hạn đúng mực của nó, lòng tôn trọng, cam kết vô điều kiện, và tình thương yêu, thì chẳng mang đến điều gì vui vẻ cho cuộc sống chúng ta, chỉ làm cho chúng ta phân lẻ và cô đơn hơn. Một phần những gì đang xảy ra với chúng ta được diễn tả trong ca từ ám ảnh của bài hát “Chiếc áo mưa xanh trứ danh” của Leonard Cohen, trong đó một người đàn ông nhắc nhở bạn mình về những hậu quả của việc anh ăn nằm với một phụ nữ mà anh ta không cam kết nghiêm túc: Anh đối xử với người phụ nữ nào đó như thể là bông tuyết rơi qua đời anh; và khi cô về nhà, cô chẳng phải là vợ của ai cả. Tình dục dễ dãi: một bông tuyết của đời ta. Được cho đi một cách lông bông nhẹ dạ.

Có quá nhiều tình dục trong văn hóa, nhưng điều đó chẳng đem lại được mái ấm cho ai, mái ấm nơi người ta cảm thấy được tôn trọng hoàn toàn, được an toàn vô điều kiện, có thể là chính mình, thoải mái và tự tin rằng niềm vui của câu chuyện làm tình của họ đang khiến cho trái tim họ lớn lao hơn, dịu dàng hơn, đầy lòng biết ơn hơn, đầy niềm vui hơn. 

Với đôi lời mở đầu như vậy, tôi xin được giới thiệu quyển sách “Vị Thần Tình dục” của Rob Bell. Ông là mục sư của một nhà thờ Ki-tô giáo ở Michigan và ông viết những điều, trước nay người khác cũng đã cố gắng viết nhưng hiếm khi hay được. Điều ông làm là coi trọng cái sức mạnh thô, tính chất nhục dục và sự phức tạp đến mức mụ mị của tình dục và đặt nó vào góc nhìn nhân loại học, của Kinh thánh và của Ki-tô hữu vốn coi trọng một cách đúng mức cả tính phàm tục lẫn tính thiêng liêng của tình dục. Khác với nhiều tác giả Ki-tô, ông thừa nhận tính chất phức tạp trong tình dục của chúng ta mà không chối bỏ, không phỉ báng, hay bao bọc bằng lớp vỏ sùng đạo. Nhưng, khác với phần lớn tác giả thế tục vốn thật sự thừa nhận tác động trọn vẹn của tính chất phức tạp tình dục của chúng ta nhưng lại không thấy được ý nghĩa sâu xa hơn của nó, ông kết hợp chặt chẽ tính chất phàm tục và tính chất thiêng liêng của tình dục thành một quan điểm mà tức thì thấy ngay được vừa phàm tục vừa thiêng liêng. Đây là một ví dụ về cái nhìn sâu sắc đó của ông: 

Đối với quá nhiều người trong chúng ta, tình dục là cuộc kiếm tìm một cái gì đó chúng ta còn thiếu, cuộc săn lùng không ngơi nghỉ một sự chấp thuận yêu thương vô điều kiện; và thế là chúng ta đi từ mối quan hệ này sang mối quan hệ khác, tìm kiếm điều đó. Nhưng, như Bell nói: Tình dục không phải là kiếm tìm cái gì đó còn đang thiếu. Nó là sự thể hiện của cái gì đó đã được tìm thấy. Nó là sự tuôn tràn, là sự tiến tới đỉnh cao của điều mà một người đàn ông và một người đàn bà đã tìm thấy ở nhau. Đó là sự tôn vinh cái điều sống động rõ ràng đang xảy ra giữa hai người với nhau.

Theo quan điểm của Bell, tình dục trong giới hạn đúng mức của nó (cam kết vô điều kiện, lòng tôn trọng và tình thương yêu) là để đối lập với tính chất tan vỡ của đời sống chúng ta và sự phân lẻ của thế giới chúng ta. Cái “nhất thể” biểu hiện trong sự ăn nằm là nhằm để mang cái “nhất thể” vào thế giới này: Người đàn ông và người phụ nữ đã trao bản thân họ cho nhau này là để đem lại cho thế giới một tia hy vọng, một sự hiển bày của Chúa, một mẩu “nhất thể” trên trái đất. Có phải đó là nguồn gốc cho cụm từ “làm tình” xuất hiện hay không? Ý thức được rằng một điều gì đó huyền nhiệm xảy ra trong tình dục, một điều gì đó tốt lành và cần phải được tạo ra? Một điều gì đó được đưa vào thế giới, trao tặng cho thế giới này. Cùng nhau, người đàn ông và người đàn bà này là tốt đẹp cho sự an lành của toàn thế giới này theo một cách thức huyền nhiệm sâu sắc nào đó. 

Bell nói rõ ràng về tính chất thiêng liêng của tình dục và điều đó thực ra củng cố sức khống chế không khoan nhượng của tình dục như thế nào: Trên thiên đường chúng ta sẽ được thấu hiểu trọn vẹn … Đó chính là điều mà người ta khao khát trong tình dục, chẳng phải vậy hay sao? Được thấu hiểu mà vẫn được thương yêu, vẫn được nâng niu và chấp thuận. Chẳng phải tình dục trong sự biểu hiện chân thực, vui tươi nhất, trong trắng nhất và lớn lao nhất của nó chính là một phút giây của vĩnh cửu hay sao?

Hơn nữa, ông không hề viễn vông và ngây thơ về những gì mà sức mạnh khống chế của tình dục có thể gây ra với chúng ta và nó có thể để lại những dấu vết hối hận đối với lòng trong trắng của chúng ta lẫn trên tấm áo choàng rửa tội của mình. Ông quả quyết với chúng ta rằng Chúa biết tình dục có sức mạnh đến mức nào và vì vậy đã lường trước những rủi ro nhất định. Quyển sách của ông kết thúc với một câu chuyện về một cuộc hôn nhân đáng ao ước của một cặp vợ chồng lý tưởng, nhưng vài năm sau đó họ đã chia tay: Tôi kết lại quyển sách này với câu chuyện như vậy bởi vì cuộc đời không hề thẳng hàng thẳng lối. Mà đau lòng. Rủi ro. Không phải bao giờ mọi chuyện cũng giải quyết ổn thỏa. Đôi khi chẳng hề có một lối mở nào cả. Đôi khi mọi chuyện tan tành và chúng ta tự hỏi liệu có có bất kỳ ý nghĩa gì trong bất kỳ điều gì trong số đó hay không. Chúng ta những muốn đóng chặt lòng mình, phong kín bốn bề trái tim, và nghiến răng đi tiếp, tự hứa rằng đừng bao giờ mở lòng ra như vậy một lần nào nữa. Nhưng chúng ta phải tin rằng chúng ta có thể hồi phục từ bất kỳ chuyện gì. Tôi phải tin rằng Chúa có thể sắp đặt cho bất cứ điều gì – bất kỳ ai – tìm lại với nhau. Tôi phải tin rằng vị Chúa mà Giê-su mời gọi chúng ta đặt lòng tin tưởng vào là tốt lành như lời Chúa nói. Thương yêu… Tha thứ… Khoan dung… Đầy lòng nhân từ…. 

Vấn đề với tình dục là giáo hội không coi trọng đam mê đúng mức, trong khi thế giới lại không coi trọng sự trinh bạch đúng mức. Tình dục lành mạnh đặt nền tảng trên sự cộng hưởng của cả hai, đam mê và trinh bạch, sự phàm tục và tính thiêng liêng. Quyển sách của Rob Bell tôn vinh sự cộng hưởng đó. 

Bức chân dung của Dorian Gray và của nền văn hóa chúng ta

Cách đây gần một thế kỷ, Oscar Wilde viết quyển tiểu thuyết nổi tiếng có tên là Bức chân dung của Dorian Gray. Tiểu thuyết mở đầu như thế này:

Basil Hallward, một họa sĩ, vừa hòan thành bức chân dung một chàng trai trẻ có tướng mạo đẹp đẽ phi thường, Dorian Gray. Ngay khi ông vừa hồn thành bức vẽ, Ngài Henry Wotton trẻ tuổi thông minh, một người bất chấp đạo đức, đi vào phòng, kinh ngạc trước bức tranh, và tán tụng Dorian về tướng mạo đẹp đẽ của chàng. Dorian, rất khiêm nhường vào tuổi đó, nói với Ngài Henry rằng tướng mạo đẹp đẽ đó hầu như chẳng có ý nghĩa gì với mình cả. Nhưng Ngài Henry thách thức Dorian làm sao để biến tướng mạo đẹp đẽ của mình phải mang ý nghĩa nào đó, vừa bởi vì đó là điều có thực vừa bởi vì nó là cái nhất thời, thống qua. 

Đây là lời của vị quý tộc này đối với chàng trai trẻ Dorian Gray: Anh có một gương mặt đẹp tuyệt vời, anh Gray ạ. Đừng có cau mày. Thật sự anh có gương mặt đẹp tuyệt vời. Và Vẻ đẹp là một hình thức của Thiên tài, mà thực ra còn cao hơn cả Thiên tài, bởi vì nó không cần lời giải thích. Đó là một trong những sự thực vĩ đại của thế giới này, cũng giống như ánh mặt trời, mùa xuân, hay hình ảnh sáng chiếu trên mặt nước đêm đen của quả cầu bạc mà chúng ta gọi là mặt trăng. Nó không thể nào bị nghi vấn. Nó có cái quyền chủ quyền thiêng liêng. Nó biến những ai có nó trở thành những bông hồng. Anh cười ư? A! Khi nào mất nó thì anh sẽ không cười được… Người ta đôi khi nói rằng Vẻ đẹp chỉ là hời hợt. Có thể như vậy. Nhưng ít nhất nó không hời hợt đến mức như Suy nghĩ. Đối với tôi, Vẻ đẹp là kỳ quan của mọi kỳ quan. Chỉ những người nông cạn mới không phán xét qua bề ngồi. Bí ẩn đích thực của thế giới này là những cái nhìn thấy, không phải là những cái không nhìn thấy… Đúng, ông Gray, thánh thần đã tốt đối với anh. Nhưng những gì thánh thần cho thì họ cũng nhanh chóng lấy đi. Anh chỉ có ít năm để sống thật sự, hồn tồn và trọn vẹn. Khi tuổi trẻ đi qua, vẻ đẹp của anh cũng đi theo, và rồi thình lình anh sẽ thấy chẳng còn lại chiến thắng nào cho anh cả, hay phải tự hài lòng với những chiến thắng nhỏ mọn mà ký ức về quá khứ lại càng khiến cho những chiến thắng đó chua chát hơn cả thất bại. Từng tháng trôi qua, vẻ đẹp héo tàn dần dẫn anh tới gần hơn với một cái gì đó chết chóc. Thời gian ghen tức với anh, và gây chiến với làn da trắng hồng của anh. Anh sẽ trở nên tái xám, má hĩp, mắt mờ. Anh sẽ phải chịu đựng kinh khủng… A! hãy sống thực cái tuổi trẻ của mình khi còn đang có nó. Đừng phí hồi những ngày hoàng kim của mình vào chuyện lắng nghe những điều tẻ nhạt, cố gắng cải thiện thất bại vô vọng hay bỏ phí đời mình cho những kẻ ngu dốt, tầm thường và thô tục. Đó là những mục đích ủy mị, những lý tưởng sai lầm của thời đại chúng ta. Hãy sống đi! Hãy sống cái sức sống tuyệt vời trong anh! Đừng tự bỏ lỡ điều gì. Hãy luôn luôn kiếm tìm những xúc cảm mới. Đừng có sợ hãi gì cả… Một chủ nghĩa hưởng lạc mới, đó là cái mà thế kỷ chúng ta đang cần. Có thể anh sẽ là một biểu tượng hữu hình cho nó. Với tính cách của anh, thì chẳng có gì anh không thể làm được. Thế giới này thuộc về anh trong một thời gian mà thôi…

Một chủ nghĩa hưởng lạc mới – đó là cái mà thế kỷ chúng ta đang cần. Oscar Wilde đã tiên đốn điều này từ cách đây gần một thế kỷ, và dường như đó chính là cái mà chúng ta đã tiến hĩa trong thế giới phương Tây này. Vẻ hình thể, vẻ ngồi nhìn đẹp, có một thân thể gọn gàng khỏe mạnh, gợi tình, trẻ mãi và được người ta hâm mộ mình về hình thể, đó là mối bận tâm ám ảnh lớn lao với phần lớn nền văn hĩa chúng ta. Hầu hết mọi người trong nền văn hĩa chúng ta, có lẽ không phải trong lý thuyết và chắc chắn là trong những lựa chọn đời thực của chúng ta, sẽ đồng ý với Ngài Henry khi ông nói: bí ẩn đích thực của thế giới này là những cái nhìn thấy được, không phải là những cái không nhìn thấy. Vẻ ngồi ưa nhìn có xu hướng đánh bạt tất cả. Không phải điều này hồn tồn xấu. Hời hợt thay truyền thống thiêng liêng nào đi hạ thấp giá trị của thân thể. Chúng ta không phải như các thiên thần, không phải là những cái hồn không xác, mà là những sinh vật có cả thân xác lẫn tinh thần, và cả hai đều quan trọng đối với sức khỏe tinh thần của chúng ta. Chúa không tạo ra chúng ta để chúng ta đi trên hành tinh này một cách thờ ơ trước những vẻ ngồi của cơ thể chúng ta, lành lùng về tình dục, và chẳng ngĩ ngàng gì đến sức khỏe cơ thể của chúng ta. Trên thực tế, thờ ơ với sức khỏe và vẻ ngồi thân thể chúng ta là một trong những dấu hiệu của trầm cảm lâm sàng. Trẻ trung, khỏe mạnh và hấp dẫn về mặt tình dục là điều để mà thích thú, một trong những niềm hoan lạc mà Chúa dành cho chúng ta. Không có đức hạnh gì trong chuyện trông tiều tụy và cảm thấy ảo não. 

Vì thế: lành mạnh thể chất là điều tốt về tinh thần. Cố gắng để giữ cho thân thể chúng ta hấp dẫn là điều tốt về tinh thần. Cảm thấy lành mạnh về dục tình của chúng ta là điều tốt về tinh thần. Nhưng đó là những phương tiện, không phải là mục đích. Tuổi trẻ, sức khỏe, và sự hấp dẫn tình dục không phải là cái quyền chủ quyền thiêng liêng như Ngài Henry và phần nhiều xã hội đương đại của chúng ta nghĩ. Bản thân chúng không phải là mục đích tự thân, mà chỉ là một phần trong cuộc hành trình của chúng ta để đạt tới sự trưởng thành, lòng vị tha, và hạnh phúc. Chúng không phải là mục đích của cuộc hành trình.

Khi chúng ta thật sự biến chúng thành mục đích của cuộc hành trình của mình, thì chẳng mấy chốc chúng ta sẽ nếm mùi cay đắng mà Ngài Henry đã nói với chàng thanh niên Dorian: thình lình anh sẽ thấy chẳng còn lại chiến thắng nào cho anh cả, hoặc phải tự hài lòng với những chiến thắng nhỏ mọn mà ký ức về quá khứ lại càng khiến cho những chiến thắng đó chua chát hơn cả thất bại.

Sự quý giá và niềm vui của con số toàn vẹn

Ngày nay chúng ta không còn gắn cho các con số nhiều ý nghĩa biểu tượng cho lắm. Một số ít tàn tích vẫn còn từ những thời kỳ xa xưa, phần lớn là mê tín, ví dụ như nhìn thấy số 7 là may mắn còn số 13 là không may. Với chúng ta, phần lớn các con số chẳng có ý nghĩa gì cụ thể.

Trước đây thì chưa bao giờ như vậy. Thời Chúa tại thế, người ta thường gắn các con số với ý nghĩa sâu sắc. Chẳng hạn, trong kinh thánh, các con số 40, 10, 12 và 100 có ý nghĩa tượng trưng rất lớn. Chẳng hạn con số 40 mang ý nghĩa về thời lượng cần để một cái gì đó có thể chín muồi, thành tựu, trong khi các con số 10, 12 và 100 chỉ tính chất toàn vẹn nhất định cần để có thể nhận được ân sủng một cách đúng đắn.

Biết được người xưa gán những ý nghĩa đặc biệt trong những con số nhất định là điều cốt yếu để hiểu được một câu chuyện rất khó, và thường bị quên lãng, trong Phúc âm, đó là câu chuyện ngụ ngôn về một người phụ nữ với 10 đồng xu (Luke, 15, 8-10). Nếu không hiểu được ý nghĩa tượng trưng của các con số, thì câu chuyện này mất hết ý nghĩa.

Đây là câu chuyện ngụ ngôn trong Kinh thánh: Một  phụ nữ có 10 đồng xu, bà bị mất một đồng. Bà cực kỳ lo lắng, bất an và tìm kiếm đồng tiền bị mất này một cách điên cuồng, không chịu ngưng nghỉ, thắp đèn đuốc, tìm khắp các gầm bàn, và quét mọi nơi mọi chỗ trên nền nhà. Cuối cùng bà tìm thấy đồng xu và niềm sung sướng của bà cũng lên đến tột độ như nỗi khó chịu khi mất nó. Bà vui sướng như điên, gọi cả những người hàng xóm đến chia vui, và tổ chức một bữa tiệc ăn mừng mà còn tốn kém gấp nhiều lần giá trị cái đồng xu bà bị mất trước đó.

Tại sao lại lo lắng và rồi sung sướng đến như vậy trước việc mất đi rồi tìm lại được một đồng xu mà giá trị của nó chỉ là 10 cent? Câu trả lời nằm ở ý nghĩa biểu tượng của các con số: trong văn hóa của bà, 9 không phải là con số toàn vẹn; 10 mới là con số toàn vẹn. Nỗi lo lắng của người phụ nữ khi mất đồng xu lẫn niềm sung sướng của bà khi tìm thấy lại chẳng liên quan gì đến giá trị của đồng xu này. Mà là ở giá trị của sự toàn vẹn. Một sự toàn vẹn nào đó trong cuộc đời của bà đã bị rạn vỡ và chỉ có việc tìm thấy lại đồng xu đó mới khôi phục được sự toàn vẹn đó. Về căn cốt, câu chuyện ngụ ngôn có ý thế này:

Một người mẹ có 10 người con và gia đình bà được tạo thành từ đó. Với 9 người con, bà có mối quan hệ tốt đẹp, nhưng một trong những người con gái của bà lại xa lánh bà và gia đình. Người con nào cũng thường đến thăm bà, ăn cơm chung với cả nhà, chỉ trừ người con gái này. Người mẹ không thể nào yên lòng trong cảnh đó; bà cần đứa con gái xa lạ đó quay về cùng cả nhà. Bà tìm đủ mọi cách để hàn gắn với con gái, và một ngày, như một phép màu trong muôn một, điều đó đã xảy ra. Con gái làm hòa với mẹ và trở về lại gia đình. Cả gia đình lại toàn vẹn, ai ai cũng trở về ngồi ăn chung một bàn. Người mẹ vui mừng khôn tả, bà rút hết tất cả tiền tiết kiệm của mình trong ngân hàng, tổ chức một bữa tiệc hào phóng để ăn mừng cái ân huệ lớn lao là gia đình bà lại được toàn vẹn.

Ở đây có một bài học quan trọng: Giống như người mẹ đó, chúng ta hẳn sẽ bồn chồn, không thể ngơi nghỉ, sẽ thắp đèn đốt đuốc đi tìm, cho đến khi tất cả người thân của mình, những người trong nhà thờ và cộng đoàn của mình lại quây quần hòa hợp, và những người không còn ngồi chung bàn với mình lại quay về nhập hội. 9 không phải là con số toàn vẹn…, và con số thông thường trong gia đình chúng ta hay trong các bàn Thánh thể cũng vậy. Chúng ta cần phải luôn bất an: Ai đang không ngồi chung bàn với chúng ta? Ai không còn đến nhà thờ cùng chúng ta nữa? Ai cảm thấy khó chịu với việc thờ phượng của chúng ta? Ai không còn cùng chúng ta trò chuyện về luân lý và chính trị nữa? Và quan trọng hơn hết thảy, chúng ta có thoải mái trước sự tình quá nhiều người giờ đây không thể nào cùng tham gia với chúng ta trong gia đình, ở bàn Thánh Thể, luận bàn luân lý hay chính trị?

Đáng buồn là, ngày nay, quá nhiều người trong chúng ta cảm thấy thoải mái trong gia đình, nhà thờ, và cộng đoàn khi cách xa sự toàn vẹn, rất xa. Đôi khi, trong những phút giây hời hợt, chúng ta thậm chí còn vui mừng vì chuyện đó: “Thật nhẹ cả người! Nếu không thích thì đừng tới! Cô ta dù thế nào đi nữa cũng không phải là tín hữu Thiên chúa giáo thực thụ! Các quan điểm của anh ta thật quá hẹp hòi và mù quáng, cho nên càng tốt nếu anh không ở đây! Không có cái ngữ ấy thì chúng ta còn tốt đẹp hơn! Như thế này càng bình an! Không có cô ta, gia đình hay giáo hội của chúng ta còn thanh khiết và trung tín hơn!”

Nhưng chính thái độ này và tình trạng thiếu ước ao lành mạnh đối với sự toàn vẹn, hơn bất kỳ điều gì khác, giải thích tình trạng buồn bã và khắt khe mà biểu hiện quá sức rõ ràng ở khắp nơi trong gia đình, giáo hội và giới chính trị chúng ta ngày nay. Khác với Chúa Giêsu, người mà trái tim đau với ý muốn cứu rỗi thế giới và cầu nguyện trong nước mắt cho “những con chiên không ở trong cùng đàn chiên này”, và khác với người phụ nữ bị mất một đồng xu, không chịu đi ngủ chừng nào lật tung mọi ngóc ngách của căn nhà để điên cuồng tìm kiếm đồng xu bị mất, chúng ta tự hài lòng với chỉ 9 đồng xu, một bộ bất toàn, thay vì khao khát kiếm tìm sự toàn vẹn đã mất đó, để cuối cùng đem về lại cho chúng ta sự trọn vẹn và niềm vui.

Những hình ảnh vô thức ảnh hưởng sâu sắc tới chúng ta 

Trong số tất cả những câu chuyện lớn lao trên thế giới, những câu chuyện phổ biến nhất, nổi tiếng nhất, và vĩnh viễn hấp dẫn, là những chuyện về các vị anh hùng. Những câu chuyện này mô tả một người nào đó, nam hay nữ (dù thường là nam), phải trải qua hành trình hiểm nguy, đau khổ, bị chống đối, hiểu lầm và xúc phạm, để đạt được một mục đích cao đẹp nào đó. 

Những thể loại chuyện như vậy có khắp mọi nơi trong thần thoại cổ điển, trong thánh kinh, tiểu thuyết anh hùng ca, và phim ảnh bình dân. Chi tiết của các câu chuyện này rất khác nhau, nhưng chúng đều có một mô thức chung: Vì những lý do cao cả, nam hay nữ anh hùng này phải đi xuống thế giới tối tăm của khổ đau, chịu đựng khổ đau đó, thường là bị hiểu lầm và chống đối trầm trọng, để cuối cùng vươn lên trong chiến thắng, trở thành người chinh phục, vị anh hùng, đối tượng để ngưỡng mộ, và là một người mà giờ đây cách nào đó đã đứng cao hơn những người khác nhờ thành tựu này. Đồng thời, một điều rất quan trọng, trong các thần thoại và câu chuyện như thế, thế giới trở nên tốt đẹp hơn và cách nào đó đã được cứu rỗi nhờ lòng dũng cảm, tinh thần sẵn sàng gánh chịu đau đớn, hiểu lầm, cách ly và bị hạ nhục của vị anh hùng này.

Phổ biến nhất, trong những câu chuyện này, người nam hay người nữ anh hùng đạt được một chiến công nào đó trên thế giới, một chiến thắng trong chiến tranh hay thể thao; nhưng, ở một cấp độ sâu sắc hơn, nhiều câu chuyện trong số này muốn nói về cuộc hành trình nội tâm và tinh thần của một người. Trong thần thoại, điều này được diễn đạt là cuộc săn tìm “chén thánh”, và cuối cùng “chén thánh” là điều gì đó tìm thấy vào cuối cuộc hành trình nội tâm, nghĩa là sự chính chắn và thánh thiện hiếm hoi của con người. 

Trong cuốn sách mới của mình, Tự nhiên và Tâm hồn Con người (Nature and the Human Soul), Bill Plotkin chiêm nghiệm về việc cách hiểu của chúng ta về vấn đề này bây giờ đã bị méo mó tệ hại như thế nào, trên thực tế là tệ hại đến mức mà, đối với văn hóa của chúng ta, “chén thánh” được hình dung không hơn hào quang của chuyện trở thành thần tượng của tuổi “teen”.

Ông viết như thế này: trong những thập niên gần đây, văn hóa bình dân đã làm suy yếu hình thức chính chắn của hành trình người anh huong, phá hỏng nó bằng hình ảnh kỳ khôi của thanh thiếu niên vị kỷ. Tất cả chúng ta đều quá quen thuộc với mô thức câu chuyện của Hollywood: vị nam hay nữ anh hùng quả cảm – từ John Wayne đến James Bond, từ Siêu nhân đến Chú chuột Hùng mạnh, từ Người Dơi đến Người Đàn bà Điện tử – không tiếc mạng sống, sức khỏe hay tài sản của mình, trong thể thao, chinh chiến, điệp vụ hay một nhiệm vụ bất khả thi nào đó, để cứu lấy thời gian, hay cứu một thiếu nữ, hay cứu hành tinh này, và nhận về những phần thưởng chiến thắng và khen ngợi cá nhân. Trong cách biểu đạt non nớt này về cuộc hành trình của người anh hùng, nhân vật chính tìm cách đánh lừa cái chết và trở nên “người hùng” hoặc phô trương lòng tự tôn, giống kiểu của một biểu tượng người nổi tiếng hay một thần tượng tuổi “teen” hơn là người đã trưởng thành. Người hùng thiếu niên này trở về với vài vết trầy xước nhưng căn bản vẫn không thay đổi gì. Mặc dù người ta thường lấy làm vui thích, nhưng đó chỉ là câu chuyện Ngục tối và Rồng ác, chứ không phải hành trình của một vị anh hùng chính chắn. 

Con đường đi đến sự trưởng thành đích thực của người nam hay người nữ đều khác hẳn chủ nghĩa anh hùng vị thành niên, thường là kiểu nam tính vai u thịt bắp. Vị nam anh hùng trưởng thành đã lâm vào thế giới tối tăm, trải qua một trận bại chiến quyết định đối với tính cách thiếu niên (một cái chết tâm lý hay tổn thương tâm lý nặng nề), đã đón nhận thiên khải về vị trí chân chính của mình trên thế gian, và khiêm tốn trở về với nhân dân của mình, sẵn sàng phục vụ nhãn quan của mình. Điều này cũng đúng hoàn toàn với vị nữ anh hùng. 

Cuộc hành trình của vị anh hùng có ý nghĩa chuyển hóa từ thiếu niên sang người trưởng thành, để biến một người thành Người Lớn, và điều này được thành tựu không hẳn bằng cách chinh phục những kẻ xâm lược xa lạ, đánh bại những kẻ xấu bằng sức mạnh cơ bắp, hay bằng cách đoạt được Giải thưởng Hàn lâm viện hay một cúp vô địch. Quá thường xuyên, những cuộc chinh phục kiểu đó có tác dụng ngược lại, đó là đậm thêm tính vị kỷ, coi mình là trung tâm mọi việc, và khóa chặt con người lại, thậm chí còn khóa kín hơn trong tình trạng chưa trưởng thành, bằng cách tăng cường kiểu mơ mộng hão của thiếu niên là trở thành một vị anh hùng đứng tách biệt và cao hơn. 

Điều cần để giết chết tính cách thiếu niên chính là bị đánh bại hay bị làm nhục, khiến cho tính chất thiếu chính chắn của những giấc mộng hão thiếu thời của chúng ta bị vỡ toang, bị phô bày ra, những giấc mộng hão mà trong đó chúng ta luôn luôn là siêu sao, là thần tượng được hâm mộ, vị anh hùng chinh phục, người sáng giá hơn và hùng mạnh hơn người khác, và là người mà bằng cách nào đó miễn nhiễm ốm đau, cái chết và những yếu đuối đời thường của con người. Một hành trình của vị anh hùng chân chính, hành trình chuyển hóa chúng ta từ lòng tự tôn và vị kỷ không lành mạnh trở thành khiêm nhường và hào hiệp lành mạnh, sẽ luôn luôn là một cuộc hành trình quá hải, trong đó chúng ta, giống như Chúa, uống ly sỉ nhục, mà vẫn không vì thế trở nên cay đắng hay tuyệt vọng. Một vị anh hùng chân chính thường giống một người ông hay người bà nói năng nhỏ nhẹ, dịu dàng và khiêm nhường (người mà mỗi một nếp nhăn đều là một câu chuyện về nỗ lực, nỗi lo lắng, muộn phiền, và nước mắt), hơn là một người đang vẻ vang sung sướng giương cao cúp vô địch thể thao hay giải thưởng Viện hàn lâm.  

Trong văn hóa ngày nay của chúng ta, những người nổi tiếng là những vị thánh mới – và các tạp chí, chương trình truyền hình, trang mạng internet đầy ảnh của họ và những chi tiết sâu kín của đời sống họ giờ là thức ăn tinh thần của thời đại chúng ta – đối với nhiều bộ phận lớn trong nền văn hóa của ta. Tình hình là như vậy, cả hay và dở; nhưng chúng ta cần nhận ra mình đang chịu ảnh hưởng sâu sắc như thế nào bởi những hình ảnh thiếu niên này hơn là lòng nhân chính chắn.