RonRolheiser,OMI

Tìm Thiên Chúa giữa rất nhiều tiếng gọi

Chúng ta bị bao vây bởi rất nhiều tiếng gọi. Hiếm có giây phút nào trong đời sống mà chúng ta không có ai hay không có cái gì đang gọi tới, ngay cả trong giấc ngủ, những giấc mơ và những cơn ác mộng cũng bắt chúng ta phải chú ý. Và mỗi một tiếng gọi đều có nhịp điệu và thông điệp riêng của nó. Một số giọng mời gọi chúng ta bước vào, hứa hẹn một cuộc sống tươi đẹp nếu chúng ta làm cái này hay cái nọ, mua sản phẩm này hay ý tưởng kia; một số giọng đe dọa chúng ta. Một số giọng dẫn dắt chúng ta đến gần với thù hận, cay đắng và tức giận, có những giọng khác đòi hỏi chúng ta cố gắng hướng tới thương yêu, lòng biết ơn và tha thứ. Một số tiếng gọi nói với chúng ta rằng chúng đùa cợt và vui nhộn, chứ không phải là chuyện nghiêm túc, lại có những tiếng gọi khác tuyên bố hùng hồn rằng mình là cấp bách và quan trọng, là tiếng gọi của chân lý không thể kỳ kèo, tiếng gọi của Thiên Chúa.

Trong tất cả những tiếng đó, đâu là tiếng gọi của Thiên Chúa? Làm thế nào chúng ta nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa giữa tất cả những giọng đó và khi đang theo những tiếng gọi đó?

Không dễ trả lời. Như Thánh Kinh nói cho chúng ta biết, Thiên Chúa là tác giả của tất cả những gì tốt đẹp, cho dù chúng có mang nhãn tôn giáo hay không. Vì thế, tiếng gọi của Thiên Chúa nằm trong mọi sự vật và sự việc không bộc lộ một liên hệ rõ rệt với đức tin và tôn giáo, cũng giống như tiếng gọi của Thiên Chúa không nằm trong tất cả những sự vật và sự việc giả dạng tôn giáo. Nhưng làm sao chúng ta phân biệt được? 

Chúa Giê-su cho chúng ta một hình ảnh ẩn dụ tuyệt vời để suy ngẫm, nhưng nó chính xác chỉ là một phép ẩn dụ: Người nói với chúng ta rằng Người là “Mục Tử Tốt Lành,” các con chiên của Người sẽ nhận ra tiếng gọi của Người giữa tất cả những tiếng gọi khác. Ban đêm, để bảo vệ và để các con cừu có bầu bạn, các mục tử thường đưa tất cả các đàn cừu của mình vào một bãi quây trên đồng. Sáng hôm sau, họ tách các đàn ra bằng cách cất tiếng gọi các con cừu của đàn mình. Mỗi mục tử  luyện cho những con cừu của mình quen với giọng của mình và chỉ có giọng đó mà thôi. Mục tử thường đi cách xa bãi quây rồi gọi các con cừu, thường là bằng tên riêng của chúng, và rồi chúng sẽ đi theo anh ta. Những con cừu của anh đã quá quen với giọng của anh nên chúng sẽ không đi theo tiếng gọi của người chăn cừu khác, kể cả khi người đó cố lừa chúng (những người chăn cừu thường làm như vậy để ăn cắp cừu của người khác) bằng cách giả giọng chủ. Giống như một đứa bé con, đến một lúc sẽ không thấy thích thú với giọng âu yếm của người trông trẻ nữa mà chỉ muốn và cần giọng của mẹ mình, mỗi con cừu đều nhận ra một cách mật thiết tiếng gọi đang bảo vệ chúng và sẽ không đi theo tiếng gọi khác. 

Chúng ta cũng như vậy: Giữa tất cả những tiếng gọi đang bao quanh và dẫn dụ, làm sao chúng ta phân biệt được nhịp điệu riêng biệt tiếng gọi của Thiên Chúa? Đâu là tiếng gọi của Người Mịc Tử Tốt Lành?

Không hề có câu trả lời dễ dàng và đôi khi điều tốt nhất chúng ta có thể làm được là tin vào linh tính của mình về điều gì đúng điều gì sai. Nhưng có nhiều nguyên tắc từ Chúa Giê-su, Thánh Kinh, và từ những mạch nguồn sâu thẳm của truyền thống Ki-tô của chúng ta vốn có thể giúp ích cho chúng ta. Dưới đây là một loạt các nguyên tắc giúp chúng ta phân biệt được tiếng gọi của Thiên Chúa giữa vô vàn tiếng đang gọi chúng ta. Đâu là nhịp điệu riêng biệt trong tiếng gọi của Người Mục Tử Tốt Lành?- Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra trong những lời thì thầm và giọng khẽ, cũng như trong sấm chớp và bão giông.- Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra ở đâu có vui vẻ, sức khỏe, màu sắc, hài hước và ngay cả ở đâu có chết chóc, đau khổ, nghèo khổ, tinh thần xuống thấp.- Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra trong những gì mời gọi chúng ta tới những gì cao hơn, đặt riêng chúng ta ra để dành cho những công việc, mời gọi chúng ta đến với thần thánh, cũng như trong những gì mời gọi chúng ta đến với lòng khiêm tốn, ngấm sâu trong lòng  nhân đạo, và trong những gì không chịu phỉ báng lòng nhân đạo.- Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra trong những gì có vẻ “xa lạ”, như là kẻ khác, “kẻ xa lạ” trong đời sống chúng ta, cũng như trong tiếng gọi chúng ta về chốn quê nhà thân thuộc.- Tiếng gọi của Thiên Chúa là tiếng gọi thách thức nhất và kéo căng chúng ta nhất, cũng như đó là tiếng gọi duy nhất mà rốt cùng xoa dịu và an ủi chúng ta. – Tiếng gọi của Thiên Chúa bước vào đời chúng ta như là quyền năng lớn lao nhất trong mọi quyền năng, cũng như nó vĩnh viễn nằm trong những gì mong manh dễ bị thương tổn, giống như một đứa bé yếu đuối trên cọng rơm.- Tiếng gọi của Thiên Chúa luôn luôn được nghe thấy theo cách được ưu ái ở nơi người nghèo, cũng như nó báo hiệu cho chúng ta qua giọng của các nghệ sĩ và người trí thức.- Tiếng gọi của Thiên Chúa luôn luôn mời gọi chúng ta sống vượt lên trên mọi nỗi sợ hãi, cũng như nó gợi cảm hứng về nỗi sợ hãi thiêng liêng.- Tiếng gọi của Thiên Chúa luôn luôn được nghe thấy trong quà tặng của Chúa Thánh thần, cũng như nó mời gọi chúng ta đừng bao giờ chối gạt những nỗi phức tạp của thế giới này và của cuộc sống chính mình.- Tiếng gọi của Thiên Chúa luôn luôn được nghe thấy ở bất cứ nơi nào có niềm sung sướng đích thực và lòng biết ơn đích thực, cũng như nó đòi hỏi chúng ta gạt bỏ cái tôi của mình, hy sinh vì nghĩa lớn và thong dong coi mọi chuyện trên trần gian này là tương đối.

Dường như, tiếng gọi của Thiên Chúa vĩnh viễn tìm thấy trong nghịch lý.

Tẩy trần và thăng hoa

Ăn mừng là một chuyện mâu thuẫn, là do có sự tác động lẫn nhau giữa nỗi mong chờ và thành tựu, nỗi khát khao và việc dang dở chưa thành, cái tầm thường và điều đặc biệt, công việc và vui chơi. Cuộc sống và tình yêu phải được ăn mừng theo một nhịp điệu “nhịn đói – tiệc tùng” nào đó. Thời vui chơi sẽ có lợi ích nhất khi đi sau những giây phút làm việc, thời hưởng thụ sẽ càng được tôn lên bởi những thời khát khao, còn thời thân mật sẽ nảy nở từ những thời cô độc. Sự có mặt là tùy thuộc vào sự vắng mặt, sự thân thiết tùy thuộc vào sự cô độc, vui chơi tùy thuộc vào công việc. Kể cả Chúa cũng chỉ nghỉ ngơi sau khi đã làm việc sáu ngày!

Ngày nay chúng ta chật vật vì điều này. Nhiều hội hè tiệc tùng của chúng ta trở nên nhạt nhẽo vì trước đó chưa có thời nhịn đói. Ngày xưa, thường có một kỳ nhịn đói dài trước khi diễn ra một buổi hội hè, và sau đó là một lễ mừng vui vẻ. Ngày nay, chúng ta làm ngược lại, có ăn mừng kéo dài trước khi diễn ra hội hè và sau đó là nhịn đói.

Lấy Giáng sinh làm ví dụ: Mùa Vọng khởi sự cho việc ăn mừng Giáng sinh, thực thế. Các bữa tiệc bắt đầu, đèn hoa trang trí sáng lên, và nhạc Giáng sinh trỗi dậy. Khi cuối cùng lễ Giáng sinh đến, thì chúng ta đã phát ngấy với những điều thích thú của kỳ lễ này, mệt mỏi, bão hòa với những thứ của Giáng sinh, và đã muốn chuyển ngay sang lễ tiếp theo. Vào đúng ngày Nô-en thì chúng ta đã trở lại cuộc sống bình thường. Mùa Giáng sinh trước đây thường kéo dài đến tháng 2. Bây giờ, thực tình mà nói, nó hết hẳn vào ngày 25 tháng 12.
Từ trước đến nay không phải lúc nào cũng như vậy. Trước đây, quá trình từ khởi sự chuẩn bị là hướng tới tiệc tùng, sau đó mới đến ăn mừng. Bây giờ thì tiệc tùng trước, nhịn đói sau. Vì điều đó mà chúng ta nghèo nàn đi. Nếu trước đó không có nhịn đói thì chẳng có được bao nhiêu tính chất thăng hoa trong tiệc tùng ăn mừng. 

Một đồng nghiệp của tôi thích nói rằng xã hội chúng ta ngày nay biết cách mong đợi/thúc đẩy một sự kiện mà không biết cách làm sao để duy trì nó. Điều này cũng chỉ đúng một phần. Rất đúng là chúng ta không biết cách duy trì một điều gì đó; mà chúng ta cũng không biết làm thế nào để mong đợi/thúc đẩy nó. Chúng ta lẫn lộn giữa mong đợi và lễ mừng bởi vì chúng ta thấy khó mà sống trong trạng thái dang dở và căng thẳng của sự chưa xong nếu không tiến tới giải quyết nó. Chuyện mong chờ và nhịn đói không phải là những điểm mạnh của chúng ta; ăn mừng cũng không phải nốt. Bởi vì chúng ta không thể chuẩn bị cho đúng đắn để hướng tới một lễ mừng, nên chúng ta cũng không thể ăn mừng một cách đúng đắn. 

Lễ mừng tồn tại được là nhờ vào mâu thuẫn: để mừng lễ, trước hết chúng ta phải nhịn đói; để đạt đến sự viên mãn thật sự, chúng ta trước hết phải sống trong khiết tịnh; và để nếm mùi vị đặc biệt, trước hết chúng ta phải hiểu vị bình thường. Một khi việc nhịn đói, chuyện đợi chờ dang dở, và nhịp điệu thông thường của cuộc sống bị đi tắt bỏ qua, thì sự mệt mỏi của tinh thần, sự chán nản và thất vọng sẽ thay thế lễ mừng và chúng ta chắc chắn chỉ còn lại cảm giác trống rỗng: “Tất cả là thế thôi sao?” Nhưng đó là vì chúng ta đã đi tắt, đã bỏ qua cả một quá trình. Đôi điều chỉ có thể thăng hoa nếu, trước tiên, có sự tẩy trần. 

Tôi đã lớn tuổi để biết về một thời đại khác. Giống như thời đại của chúng ta, thời đại đó cũng có những sai lầm của nó, nhưng cũng có những mặt mạnh. Một trong những mặt mạnh của nó là niềm tin, và người ta sống, thực hành theo niềm tin đó, rằng lễ mừng là tùy vào việc nhịn đói trước đó, và cái thăng hoa đòi hỏi phải có sự tẩy trần trước đó. Tôi nhớ rất rõ những mùa chay thời thơ ấu. Mùa chay đó mới nghiêm ngặt làm sao! Nhịn đói và từ bỏ: không lễ cưới, không nhảy nhót, rất ít tiệc tùng, rất ít đồ uống, đồ ăn tráng miệng chỉ có vào Chủ nhật, và nói chung là tất cả những thứ tạo nên sự đặc biệt và lễ mừng đều ít hơn. Các nhà thờ trang hoàng toàn bằng màu tím. Sắc màu thì tối thẫm ảm đạm và tâm trạng thì ăn năn hối lỗi, nhưng lễ mừng theo sau đó, Lễ Phục Sinh, thì thật sự là đặc biệt!

Có lẽ đây là nói theo kiểu hoài cổ; xét cho cùng, hồi đó tôi còn nhỏ, ngây thơ và chẳng có gì, và tôi có thể gặp gỡ Phục sinh cũng như những lễ mừng khác với tinh thần háu đói hân hoan. Có thể như vậy, nhưng tính chất đặc biệt quanh những lễ mừng đã chết vì một lý do khác, đó là, chúng ta đã không còn mong đợi chúng một cách đúng đắn nữa. Chúng ta bỏ qua chuyện nhịn đói, sự đợi chờ dang dở, và nỗi mong mỏi bắt buộc phải có trước. Nói nôm na như sau – làm sao Giáng sinh có thể đặc biệt cho được nếu khi chúng ta bước qua ngày 25 tháng 12 với trạng thái kiệt sức sau bao nhiêu tiệc tùng liên hoan hàng tuần trước đó? Làm sao lễ Phục sinh lại đặc biệt cho được khi chúng ta sống mùa chay cũng như bất kỳ mùa nào khác? Thật sự là, làm sao có chuyện bất cứ cái gì cũng có thể thăng hoa khi chúng ta đã đánh mất khả năng tẩy trần?

Ngày nay, tình trạng thiếu vắng sự đặc biệt và thích thú trong đời sống chúng ta một phần lớn là do nhịp điệu này đã gãy đổ. Nói ngắn gọn, Giáng sinh không còn đặc biệt nữa vì chúng ta đã ăn mừng Giáng sinh suốt cả mùa Vọng; đám cưới không còn đặc biệt nữa vì chúng ta đã ngủ với cô dâu, và tất cả các trải nghiệm thường đều nhàm chán nhạt nhẽo, không thể nào làm chúng ta phấn khởi lên được vì chúng ta đã nếm chúng khi chưa đến độ. Trải nghiệm lúc chưa chín muồi là dở chỉ bởi vì nó chưa chín muồi, chẳng vì lý do nào khác. Ăn mừng Giáng sinh suốt mùa Vọng, ăn mừng Phục sinh mà không nhịn đói trước, bỏ qua cái độ chờ mong trong bất kỳ điều gì lĩnh vực gì, thì cũng giống như đã ngủ với cô dâu trước đám cưới, một lỗi về sự khiết tịnh. Tất cả những trải nghiệm chưa chín mùi đều có tác động là vắt kiệt nhiệt tình và những kỳ vọng lớn lao của chúng ta (mà chỉ có thể được dồn từ từ và tăng dần lên thông qua tẩy trần, căng thẳng và đợi chờ đau đớn khó chịu).

Bây giờ là tuần chay. Nếu chúng ta dành mùa này để nhịn đói, để tăng cường độ nỗi chờ mong, để tăng nhiệt độ tâm lý của chúng ta, và để học biết được những điều gì có thể ấp ủ hoài thai trong lò rèn khiết tịnh, thì lễ mừng theo sau sẽ có cơ hội thăng hoa. 

Do hoàn cảnh và nhu cầu

Chúng ta có thể mất tự do vì nhiều lý do, và đôi khi vì những lý do tốt đẹp nhất.

Hãy tưởng tượng kịch bản này: Bạn đang trên đường đến nhà hàng để gặp một người bạn và cùng ăn tối, một lịch trình hoàn toàn chính đáng, nhưng trên đường đi bạn chứng kiến một tai nạn xe hơi. Vài người trong tai nạn này bị thương nặng, bạn là người đầu tiên đến hiện trường. Vào lúc đó, chương trình riêng của bạn – ăn tối với bạn – đành phải gác lại. Bạn đã mất tự do và, do hoàn cảnh và nhu cầu, đã buộc phải nán lại đó và giúp đỡ. Bạn điện thoại gọi xe cứu thương, gọi cảnh sát, và cùng với người bị thương, bạn chờ đội cứu cấp đến. 

Trong suốt thời gian đó, tự do của bạn bị treo. Dĩ nhiên là bạn vẫn có tự do triệt để. Bạn có thể để những người bị thương tự lo liệu và đi đến nhà hàng, nhưng nếu làm như vậy hẳn bạn sẽ đánh mất một phần lòng nhân của mình. Xét về mặt luân lý và hiện sinh, hoàn cảnh và nhu cầu đã lấy đi tự do của bạn. Chúng đã cầm giữ, dành riêng bạn lại, chắc chắn cũng giống y toà giám mục dành riêng một tòa nhà để làm nhà thờ. Tòa nhà đó không dành riêng để làm nhà thờ, nhưng giờ đây nó được thánh hiến và không còn tự do để dùng vào các việc khác. Chúng ta cũng vậy, hoàn cảnh có thể thánh hiến chúng ta và lấy đi sự tự do của mình. 

Trong tâm thức thông thường, thánh hiến là một từ hàm nghĩa những gì liên quan đến nhà thờ và tôn giáo. Chúng ta hiểu có những thứ chắc chắn đã được thánh hiến, được lấy ra khỏi thế giới trần tục và dành riêng cho phụng vụ thiêng liêng tôn nghiêm; ví dụ: các tòa nhà (nhà thờ), những con người (linh mục, thầy trợ tế, sư thầy, sư cô), bàn (bàn thờ), cốc tách (cốc rượu lễ), áo quần (lễ phục và cách ăn vận tôn giáo). Có một vài giá trị chính đáng trong những chuyện này, nhưng nguy hiểm ở đây là chúng ta có xu hướng coi việc thánh hiến là một  tách biệt siêu hình và sùng kính hơn là việc đặt qua một bên để dành cho phụng vụ. Đặt tự do của bạn qua một bên nhằm chấm dứt và giúp đỡ một tai nạn giao thông là không thay đổi lòng nhân đạo của bạn; nó chỉ đình chỉ hoạt động thông thường của bạn. Nó đòi hỏi bạn phục vụ vì tình cờ bạn ở đó, không phải vì bạn quan trọng hơn hay thiêng liêng hơn bất cứ ai khác. 

Đó là trường hợp của ông Mô-sê. Khi Chúa yêu cầu ông đến gặp Pha-ra-ông để xin trả tự do cho người I-xra-en, ông Mô-sê phản đối: Tại sao không phải là anh của con? Anh ấy có tài lãnh đạo giỏi hơn. Con không muốn làm điều đó! Tại sao lại là con? Và Chúa đáp lại lời phản đối đó với lời lẽ như sau: Bởi vì con đã nhìn thấy đau khổ của họ! Đơn giản vậy thôi: Chúa nói với Mô-sê, ông sẽ không quay bước đi vì ông đã thấy nỗi khổ đau của các dân tộc. Vì lý do đó, ông là người được thánh hiến, người không còn được tự do quay bước. Hoàn cảnh và nhu cầu đã thánh hiến ông. 

Chính ý niệm của chúng ta về nhà thờ dựa trên khái niệm này. Từ Ecclesia (Giáo Hội) bắt nguồn từ hai từ Hy Lạp: “Ek Kaleo”. “Ek” là phó từ, có nghĩa là “bên ngoài/ra khỏi” (out of); còn “Kaleo” là động từ, nghĩa là “được gọi/được yêu cầu”. Là thành viên của giáo hội là được/bị “gọi/yêu cầu ra khỏi”. Và cái mà chúng ta được “yêu cầu ra khỏi” là cái mà hẳn sẽ là chương trình thông thường của chúng ta nếu chúng ta không bị buộc phải làm do mình đã rửa tội và do các yêu cầu tự nhiên của sứ vụ tông đồ kèm theo đó. Phép rửa tội và thành viên của giáo hội đã thánh hiến chúng ta. Chúng gọi chúng ta ra và tách riêng chúng ta sang một bên cũng y như việc ông Mô-sê đã nhìn thấy đau khổ của những người It-xra-en nên ông đã không còn tự do để sống một cuộc sống bình thường và cũng y như việc trên đường đi đến nhà hàng, chứng kiến một tai nạn giao thông làm cho chúng ta phải đặt qua một bên kế hoạch đi ăn tối. 

Edward Schillebeeckx từng viết một quyển sách trong đó ông cố gắng giải thích tại sao Giê-su không bao giờ lấy vợ. Ông kiểm tra nhiều giả thiết khác và các động cơ khác nhau có thể có, và ông đi đến kết luận, rốt cuộc, Giê-su không bao giờ lấy vợ bởi vì “về mặt hiện sinh là [ông] không thể” lấy vợ. Về căn cốt, điều Schillebeeckx nói là: Giê-su không bao giờ lấy vợ bởi vì tình thương bao la của người cũng như phạm vi, mức độ những vết thương và nhu cầu của thế giới đơn giản là không bao giờ chừa lại cho người cái tự do để lấy vợ, giống như một người đang trên đường tới chỗ hẹn ăn tối với bạn nhưng chương trình đó đã bị đổi khác vì cô chứng kiến một tai nạn giao thông. Cũng giống như ông Mô-sê, người buộc phải theo một mệnh lệnh của luân lý. Người không lấy vợ, không phải vì người đánh giá rằng sẽ thiêng liêng hơn nếu độc thân, hoặc vì người cần một mức độ trong trắng nhất định mang tính chất sùng kính cho mục vụ. Người không bao giờ lấy vợ vì nhu cầu của thế giới này đơn giản đã đình chỉ cuộc sống bình thường. Người độc thân không phải vì thích như vậy hơn về mặt tình cảm hay vì siêu việt hơn về mặt thiêng liêng, mà vì buộc phải như vậy về mặt luân lý. 

Ngày nay, từ thánh hiến đã mất đi phần lớn ý nghĩa phong phú của nó. Chúng ta đã hạ thấp từ này để gắn với phòng thánh đựng vật dụng thờ phượng và chất đầy hàm nghĩa về sự trong trắng và sùng kính. Nhưng như vậy thì đáng tiếc, vì cả hai, những gì tốt đẹp nhất trong lòng nhân đạo và đức tin của chúng ta mãi mãi cố gắng để thánh hiến chúng ta. Các nhu cầu và các vết thương của thế giới không ngừng yêu cầu chúng ta đình chỉ tự do căn bản của mình, đặt qua một bên các chương trình của riêng mình, để mà phục vụ.

Và, giống Mô-sê, tất cả chúng ta ai cũng đã chứng kiến đủ khổ đau trên thế giới này rồi đến nỗi chúng ta chẳng nên hỏi câu này nữa: “Tại sao lại là tôi?”

Nhân cách xốp mềm và giảm xóc 

Một người bạn của tôi kể câu chuyện này: Hồi còn nhỏ, vào thập niên 1950, anh bị sưng phổi nặng. Gia đình anh sống trong một thị trấn nhỏ không có bệnh viện, cũng không có bác sĩ. Cha anh tuần đó bận công việc xa nhà. Mẹ ở nhà một mình, không điện thoại, không xe ô tô. Sợ hãi và hoàn toàn không có một phương tiện nào, bà đến bên giường bệnh của con, quỳ xuống, gắn tượng thánh Têrêxa Hài Đồng lên áo con và cầu nguyện xin thánh Têrêxa: “Con xin phó thác vào thánh Têrêxa, xin chữa cho con của con. Con sẽ quỳ ở đây cho đến khi nào con của con bớt sốt.”

Hai mẹ con ngủ thiếp đi, anh thì trên giường bệnh, mẹ thì quỳ bên cạnh giường. Khi hai mẹ con tỉnh dậy, con sốt đã hạ.

Bạn tôi kể câu chuyện này, không phải để nói chuyện phép lạ (nhưng ai có thể xét đoán được?) Anh kể để nói lên một điểm khác, đó là, cách mẹ anh, trong tình cảnh mong manh và bất lực, đã quỳ gối và quay sang cầu xin Chúa như một bản năng tự nhiên, và cách làm sao mà ngày nay, kiểu hành động như vậy không còn là bản năng tự nhiên của chúng ta nữa. Ngày nay, trong tình huống như vậy, rất ít người trong chúng ta hành động như mẹ của anh. 

Tại sao lại không như vậy? Bởi vì tính cách của chúng ta đã thay đổi. Charles Taylor, trong cuốn sách xuất sắc Thời Đại Thế Tục (A Secular Age) đã tìm xem thế giới chúng ta đã trở nên thế tục hơn như thế nào, chúng ta đã thay đổi ngày càng nhiều từ nhân cách xốp mềm sang nhân cách giảm xóc ra sao. 

Chúng ta có nhân cách xốp mềm khi tâm thức hàng ngày của mình còn sống trong lo lắng, sợ hãi trước các mối đe dọa từ thiên nhiên hay nơi nào khác (bệnh tật, chết chóc, dịch hại, bão tố, hạn hán, động đất, sấm sét, chiến tranh, các hồn ma quỷ dữ từ thế giới khác, lời nguyền rủa của người xấu, rủi ro, mọi mối đe dọa) có thể xảy đến, mà với chúng, sự tự vệ chủ yếu và thường là duy nhất của chúng ta là sức mạnh từ thế giới bên ngoài (Chúa, thiên thần, các thánh, ông bà tổ tiên đã khuất, những linh hồn hiền từ, bà tiên, vị thần). Tính cách của chúng ta là xốp mềm khi chúng ta bị làm cho mong manh bởi các mối đe dọa mà chỉ có những sức mạnh cao hơn chúng ta cuối cùng mới có thể khuất phục được. Tất cả nguồn lực của con người trong chúng ta và xung quanh chúng ta bị coi là không đủ và bất lực trong việc bảo đảm an toàn cho đời chúng ta. Một phần của niềm tin đó còn là bản thân thế giới tự nhiên, nhưng còn lâu mới chỉ là tự nhiên. Đó là thế giới linh thiêng mà bên dưới bề mặt lẩn quất những linh hồn đủ mọi thể loại tốt có xấu có, và do vậy sống trong đời không chỉ có nghĩa là qua lại với những sự vật thực thể của thế giới mà còn với các linh hồn cả tốt lẫn xấu, những vị mà, ẩn bên trong và đằng sau sự vật, đang can thiệp vào cuộc sống và có thể chúc lành hay nguyền rủa chúng ta. Tôi nhớ hồi còn nhỏ, tôi thường phải rắc nước thánh lên người để cầu được an toàn trong các cơn giông tố. Hồi đó tôi có tính cách xốp mềm. 

Nhân cách giảm xóc lại là nhân cách mà trong đó tâm thức hàng ngày sống trong cái mà Taylor gọi là “nhân văn tự túc.” Chủ nghĩa nhân văn tự túc tin rằng căn bản tự chúng ta, chúng ta đủ sức để xử lý với bóng đêm và các mối đe dọa trong cuộc sống, rằng không có ma hay linh hồn tốt hay xấu gì đang lẩn quất dưới bề mặt sự vật nào cả. Chỉ có những gì chúng ta thấy, và chỉ thế thôi – như vậy cũng đủ rồi. Chúng ta không cần hỗ trợ từ thế giới nào khác. Trong chủ nghĩa nhân văn tự túc, khi gặp giông tố, bạn không cần rắc nước thánh lên mình; bạn đứng thoải mái sau khung cửa sổ an toàn, nhìn tia chớp như đang thưởng thức màn bắn pháo hoa miễn phí. 

Chuyện không sợ hãi không nhất thiết là chuyện xấu. Dĩ nhiên đó là chuyện ảo tưởng, nhưng kể cả như vậy, thì Chúa cũng không muốn chúng ta sống trong nỗi sợ hãi bao trùm. Nói cho cùng, từ ngữ “Phúc âm” có nghĩa là “tin mừng,” không phải là mối đe dọa. Chúa Giêsu đến thế gian này để rũ bỏ nỗi sợ hãi sai lầm cho chúng ta. 

Nhưng, dù nói như vậy, thì niềm tin rằng chúng ta tự xoay xở vẫn là một ảo tưởng và là một mức độ trưởng thành què quặt. Rốt cuộc, chúng ta không hề được an toàn khỏi sấm chớp và bệnh tật, cho dù cánh cửa sổ của chúng ta có tốt đến đâu hay bác sĩ của chúng ta có giỏi đến đâu. Nghĩ rằng mình tự xoay xở được là ngây thơ, một ảo tưởng, một chuyện sống trong vô minh mê muội. Chúng ta không kiểm soát được. Hơn nữa, có một sự non nớt trong niềm tin rằng chúng ta tân tiến hơn rất nhiều và tự do hơn rất nhiều so với ông bà mình, những người sợ sấm chớp và gắn tượng vào áo trẻ con bị đau. Nỗi sợ hãi của ông bà chúng ta truyền lửa cho một phẩm chất quan trọng. Phẩm chất này có thể không phải là tự nguyện mà có, nhưng là điều có thật. Đó là phẩm chất gì?

Robert Bellah từng nhìn vào cách các cộng đoàn và tôn giáo có xu hướng phát triển mạnh trong các cộng đồng dân di cư và đã thách thức chúng ta, những người thế hệ hậu-di-cư, trở nên “những người di cư trong tâm tưởng.” Điều đó cũng đúng trong trường hợp này. Chúng ta cần tiếp xúc được với “nội tâm xốp mềm” của chúng ta, tức là sự mong manh, sự bất lực, sự nhỏ nhoi và không thể tự xoay xở được từ trong sâu thẳm của mình.

Và mục đích của việc đó không phải là để gieo rắc nỗi sợ hãi, mà là gieo lòng biết ơn. Chỉ khi nào chúng ta nhận ra rằng mình không kiểm soát được và rằng đời mình, sự an nguy của mình nằm trong bàn tay của một quyền năng lớn lao và đầy yêu thương cao hơn chúng ta thì chúng ta sẽ nghiêng mình trong niềm biết ơn, cả khi ta đang vui sướng lẫn khi ta đang sợ hãi. 

Một quan niệm Kitô hữu về sự cứu rỗi của những người không Kitô hữu

Người Kitô hữu chúng ta thường buộc phải mang trong lòng mối căng thẳng thật sự về việc chúng ta làm thế nào hiểu được sự cứu rỗi của những người không phải là Kitô hữu bởi vì chúng ta có hai lời dạy dường như trái ngược nhau trong Kinh thánh và truyền thống của chúng ta. 

Một mặt, Chúa Giêsu cho thấy Thiên Chúa là Thiên Chúa vĩnh viễn đúng đắn và công bằng và dứt khoát mong muốn mọi người được cứu rỗi. Mặt khác, chúa Giêsu bảo chúng ta rằng chỉ có Người là con đường, là chân lý, là cuộc sống, và không một ai đi đến Chúa ma không thông qua Người. Và suốt 2000 năm lịch sử, Kitô hữu đã luôn coi những lời này về căn cốt mang ý nghĩa y như vậy. Thế thì chúng ta hiểu ra sao đây? Làm thế nào chúng ta nghiêm túc công nhận cả ý muốn cứu rỗi toàn thế giới của Chúa và niềm tin rằng mọi người ai cần được cứu rỗi đều phải thông qua Chúa Giêsu.

Chẳng có câu trả lời dễ dàng nào cả, dù cả những người bảo thủ triệt để lẫn người tự do triệt để đều muốn tin như vậy. Chúng ta buộc phải mang trong lòng mối căng thẳng đó mà không thể nào giải quyết trọn vẹn. Vì thế, dưới đây là mười nguyên tắc gợi ý để giúp chúng ta mang được nỗi căng thẳng đó trong lòng:

1. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta có thể không tin rằng Thiên Chúa thiên vị một số người mà điều này lại gây hại cho người khác.

2. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta phải tin rằng toàn thể loài người chưa bao giờ thiếu Thiên Chúa Quan Phòng.

3. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta cần e ngại việc phán xét người khác và phải cho phép người khác lẫn bản thân chúng ta cái khả năng “ngu si bất khả thắng bại.”

4. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta có thể không tin rằng Thiên Chúa cách nào đó đã coi việc cứu rỗi những tấm lòng tha thiết và những người nguyện cầu tha thiết trong số hàng tỷ người là không chính đáng và không xứng đáng bởi vì tấm lòng và lời cầu nguyện của họ không mang tính cách Kitô giáo một cách rõ ràng.

5. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta có thể không tin rằng, ở bất cứ thời điểm nào trong lịch sử, đại đa số loài người đang bị loại ra khỏi vòng cứu rỗi bởi vì họ không có mối liên hệ rõ rệt nào với Giêsu hay các nhà thờ Kitô giáo.

6. Xéùt theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta có thể không tin rằng mối liên hệ mang tính lịch sử và chỉ ở bề ngoài với Kitô giáo là quan trọng hơn mối liên hệ mật thiết của mình với Chúa và chúng ta có thể không tin rằng sự cứu rỗi linh hồn chúng ta là quan trọng hơn lòng biết ơn, nồng hậu, khiêm tốn, sẵn sàng hòa giải và rộng mở tấm lòng.

7. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa thì sẽ khôn ngoan nếu tin rằng sự độ lượng của trái tim và những món quà của Chúa Thánh Thần ban tặng cho một con người là vượt thắng mọi thứ bên ngoài về mối liên hệ của chúng ta với Chúa.

8. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa và truyền thống Kitô hữu của chúng ta, chúng ta được yêu cầu tin những chân lý sau đây:

– Toàn bộ bí ẩn về Chúa Kitô là lớn hơn bất cứ điều gì có thể tư nghì trong lịch sử Kitô giáo. Như các giáo lý cổ xưa đã khẳng định, không chỉ có một “Đức Kitô hữu hình” mà còn có “một Đức Kitô vô hình”.

– Tất cả những điều tốt đẹp đều được Thiên Chúa tạo tác và vì vậy tất cả những điều gì đẹp đẽ, bao gồm những gì đẹp đẽ trong các tôn giáo khác, đều đến từ Chúa. Điều này cũng đúng với tất cả những gì là hay, là đúng đắn, là đẹp trong nền văn hóa thế tục.

– Chúa được bộc lộ theo nhiều cách trong lòng tự nhiên, trong lòng lý trí con người, trong lòng lương tâm con người, và trong lòng đời sống chúng ta. 

– Đức Kitô là một cấu trúc trong lòng tạo tác thực thể và bản thân mỗi tạo tác thực thể được thực hiện thông qua Đức Kitô và mang dấu ấn của Người trong cấu trúc và thiết kế của mình.

– Những người không phải là Kitô hữu có thể là những vị thánh.

– Cộng đoàn Kitô hữu hữu hình là một ân sủng hữu hình và là sự cứu rỗi hữu hình: Cộng đoàn này đem lại sự cứu rỗi, ngay bây giờ và ở đây, bằng xương bằng thịt, cho dù không hoàn hảo. Đó là trạng thái cuối cùng đã hiện diện bây giờ để, ít nhất về mặt lý tưởng, trong lòng cộng đoàn đó ai cũng có thể rõ ràng tìm thấy hỗ trợ, giúp đỡ, khẳng định, thách thức, khải thị, minh triết và dâng mừng cần có để đạt đến mức trọn vẹn của cuộc đời.

– Cộng đoàn Kitô hữu hình chỉ định một người niên trưởng và hợp tác với họ để thực hiện quyền niên trưởng này một cách trọn vẹn, nghĩa là, với tư cách là người con của Chúa và là anh/chị em với trọn lòng chân thành.

– Cộng đoàn Kitô hữu hình là một công cụ đặc ân của hòa giải và cứu rỗi. Chúa Giêsu đã yêu cầu cộng đoàn rao giảng về sự cứu rỗi, một cách rõ ràng, với mọi người trên thế gian. Đó là một nơi chốn và trách nhiệm đặc biệt (như Mẹ Maria, mẹ Chúa Giêsu) để mang ý chí cứu rỗi toàn thế giới của Chúa đến chỗ viên thành. Thông qua cộng đoàn, “mọi dân tộc trên trái đất sẽ được chúc phúc.”

9. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, theo Kinh Thánh và truyền thống Kitô giáo của chúng ta, chúng ta có hai lựa chọn thích hợp để có thể hiểu về việc cứu rỗi của những người không phải là Kitô hữu: thuyết bất khả tri về mặt thần học (Đừng suy đoán điều này, hãy để cho Chúa) hay một thuyết mang màu sắc Kitô khẳng định nhiều nét độc đáo trong việc rửa tội (“rửa tội do mong ước” “rửa tội theo huyết thống”) hay trong nhiều cách khác nhau của việc ở trong huyền nhiệm Kitô (Kitô giáo Khuyết danh, huyền nhiệm đức Kitô lớn lao hơn Kitô giáo lịch sử, một đức Kitô hữu hình và vô hình).

10. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, có lẽ là lành mạnh nhất nếu bước lùi hẳn lại vào bên trong nét đẹp và phong phú của huyền nhiệm, và tin rằng, như lời của Kenneth Cragg: “Cần trọn cả thế giới mới hiểu được được trọn Đức Kitô.

Trong niềm biết ơn 

Là người viết chuyên mục, tôi luôn mang trong lòng nỗi sợ nào đó về chuyện viết những gì riêng tư hay phô diễn trong các bài viết hoặc trong suy nghĩ rằng những thăng trầm cảm xúc của mình có hữu ích cho độc giả không. Tôi đã cố gắng tôn trọng nỗi sợ hãi đó. Tuy nhiên, đôi khi, hoàn cảnh khiến tôi phải viết đôi điều riêng tư. Đây là một hoàn cảnh như vậy.

Tôi muốn được bày tỏ lòng biết ơn với tất cả lời cầu nguyện và hỗ trợ cho tôi trong suốt bảy tháng qua khi tôi điều trị bệnh ung thư. Cuối cùng cuộc hành-trình-sa-mạc đó đã chấm dứt với kết quả tốt đẹp. Cách đây một tháng, tôi đã hoàn thành đợt hóa trị cuối cùng, và cách đây hai tuần, sau một loạt các xét nghiệm y khoa, bác sĩ tuyên bố tôi “thoát khỏi ung thư”. Với Chúa, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, và với nhiều người trong số các bạn đã nâng đỡ tôi trong lời cầu nguyện : Tôi xin cảm ơn!

John Updike, trong một bài thơ tên là “Con sốt” từng viết về những gì bệnh tật có thể dạy cho chúng ta:

Tôi đã đem về đây một thông điệp tốt lành từ xứ sở 102 độ:Chúa tồn tại. Trước đây tôi từng nghi ngờ rất nhiều về điều này;Nhưng những cột giường đã nói về Chúa với lòng tín thác vô cùng,Những sợi chỉ trong chiếc chăn của tôi coi chuyện đó là thường,Cái cây ngoài cửa sổ gạt đi mọi lời than vãn.Và tôi đã không ngủ say đến thế trong nhiều năm dài.Giờ đây, khó mà nói các vẻ bề ngoài đã dựng lên một cách đầy biểu tượng như thế nào trên mỗi màng ý thức của tôi; nhưng đó là chân lý đã được biết tới từ lâu,Rằng đôi điều bí mật nấp sau sức khỏe.

Thật sự là đôi điều bí mật nấp sau sức khỏe! Những bí mật nào tôi đã biết khi mất đi sức khỏe?

Khi mới bị chẩn đoán ung thư, tôi kinh ngạc và trong một thời gian, tôi gần như tê cứng và hoảng sợ. Nhưng, sau khi mổ và được điều trị theo liệu trình (sáu tháng hóa trị) và theo chẩn đoán dài hạn (khả năng thành công đối với bệnh), tôi đã thành tâm cầu nguyện để đặt ra một số bước cải hóa mà tôi hy vọng căn bệnh này và việc điều trị gian khổ sẽ áp chế được với tôi. Tôi quyết tâm biến thời gian điều trị thành một ân sủng trong đời mình: tôi sẽ sống chậm lại, không chỉ trong khi điều trị mà còn mãi mãi về sau. Tôi sẽ học cách kiên nhẫn hơn. Tôi sẽ trung thành nghiêm ngặt với thói quen cầu nguyện chiêm nghiệm mỗi ngày. Tôi sẽ không bao giờ coi cuộc sống, tình yêu, tình bạn và sức khỏe là chuyện thường nữa, mà cuối cùng, sau nhiều năm đã đặt quyết tâm và đã thất bại, tôi sẽ bắt đầu sống nhiều hơn trong huyền nhiệm Thiên Chúa và cuộc đời, và sẽ không để năng lượng của tôi bị những yêu cầu của công việc và kế hoạch công việc ngốn nhiều như vậy nữa.

Điều gì đã xảy ra? Những thói quen lâu ngày khó mà bỏ đi, cho dù dưới sức nặng của bệnh tật. Sau sáu tháng điều trị, vào những ngày tâm trạng vui vẻ, tôi cảm thấy đôi chút tiến bộ. Một số quyết tâm đã đơm hoa kết trái, nhưng tôi vẫn còn cách rất xa với những lý tưởng tôi đặt ra cho chính mình. Những thói quen lâu ngày đã lại nhanh chóng phục hồi và chi phối đời sống của tôi.

Nhưng cuộc đời là những gì xảy ra với mình ngay khi mình đang lên kế hoạch cho đời mình, và sự cải hóa cũng vậy. Mắc bệnh ung thư đã dạy tôi một vài bài học khác với những gì tôi đã lên kế hoạch. Quan trọng nhất trong số các bài học này là: giống bất kỳ ai trên thế gian này, tôi vẫn luôn muốn có niềm vui trong đời – tình bạn, tình yêu, ăn mừng vui vẻ. Nhưng, và đây vẫn luôn là khiếm khuyết lớn nhất khi đi tìm những điều đó, tôi vẫn luôn luôn (cho dù vô thức) cảm thấy rằng niềm vui và sự ăn mừng vui vẻ mà tôi khao khát quá đỗi đó chỉ có thể đến với tôi khi cuối cùng tôi thoát hết mọi lo âu, sức ép cảm xúc, áp lực, công việc quá tải, bệnh tật, thất vọng, và đủ mọi kiểu căng thẳng. Chúng ta ấp ủ mối hy vọng hão huyền lạ lùng rằng chỉ khi nào tất cả các hóa đơn đã được thanh toán hết, sức khỏe của chúng ta tuyệt vời, mọi sức ép trong gia đình và tình bạn của mình đã được giải quyết, và chúng ta ở trong một không gian an bình, thoải mái, thì cuối cùng lúc đó chúng ta mới có thể bước trọn vẹn vào đời sống và vui thích với cuộc sống. Trong khi chờ đợi, chúng ta chặn giữ đời mình lại khi mãi mãi gài số, chuẩn bị, và chờ đợi giây phút tuyệt vời đó đến để cuối cùng có thể vui sướng trong đời. 

Trải qua những đợt điều trị ung thư, tôi đã học được đôi điều. Khi khởi sự các đợt điều trị, tôi đã bắt đầu đánh dấu trên lịch – ngày thứ nhất, ngày thứ hai, ngày thứ ba – tôi đang chặn giữ cuộc sống của mình lại một cách có ý thức, đặt bản thân mình vào tư thế chờ đợi, đánh dấu ngày trôi qua hoài cho tới khi – tôi mong ước hão huyền – những đợt điều trị kết thúc và tôi có thể sống một cuộc sống mới. Nhưng, kỳ lạ thay, khi ngày tháng trôi qua, tôi ngạc nhiên thấy mình đang sống trong một trong những thời kỳ giàu có hơn và vui vẻ hơn của đời mình. Giữa nỗi mệt mỏi, những cơn buồn nôn và bệnh về thần kinh, tôi đang tìm ra niềm sung sướng dồi dào với tình bạn, đồng nghiệp, công việc, và thức ăn nước uống (vào những ngày nào tôi thật sự có thể ăn uống được). Kinh ngạc, tôi nhận ra sáu tháng tôi điều trị bệnh ung thư hóa ra là sáu tháng hạnh phúc và đầy ý nghĩa sâu sắc.

Như John Shea nói: Đời sống bao gồm đau khổ. Khi bạn tiêu toàn bộ năng lượng của mình chỉ để vui thích trong cái phần cuộc sống không bao gồm đau khổ, thì bạn sẽ không bước vào cuộc sống bởi vì bạn bị chế ngự bởi đau khổ, ngăn chận và không đức tin. Ung thư đã dạy tôi bài học này, và tôi vô cùng biết ơn điều đó và lời cầu nguyện của các bạn. 

Về khóc than và nhảy múa

Cha Henri Nouwen thường xuất bản một số trang nhật ký của mình dưới tựa đề “Về khóc than và nhảy múa.” Tựa đề này hoàn toàn phù hợp vì phần lớn các trang nhật ký ghi lại theo thứ tự thời gian các cuộc đấu tranh nội tâm của chính cha để diễn đạt công khai những gì đang sôi sục trong lòng, đồng thời cũng tôn trọng bản tính e dè và kín đáo hết sức nhạy cảm khiến cha ngần ngại thể hiện ra ngoài những cảm xúc đó. Vậy là những gì cha viết bộc lộ hiếm có của cả tự do nội tâm lẫn nỗi sợ hãi nội tâm. Suy nghĩ và tình cảm của cha đôi khi bị dằn vặt, nhưng đó là điều khiến chúng trở nên phong phú. Không phải lúc nào cũng dễ dàng có được cân bằng tinh tế như vậy giữa tự biểu đạt lành mạnh và phô trương thiếu lành mạnh, kể cả khi mình là Henri Nouwen, mà có lẽ đặc biệt nếu mình là Henri Nouwen. 

Cuộc đấu tranh để tìm cách biểu lộ bản thân tự do và sâu sắc, nhưng không vượt quá giới hạn để trở nên phô trương thiếu lành mạnh là một nhiệm vụ khó khăn đối với tất cả mọi người. Chúng ta chỉ thấy trong một vài trường hợp hiếm, Giêsu và một số người vĩ đại như Mẹ Têrêxa. Họ có thể vĩ đại mà không khuếch trương và có thể có các bộc lộ công khai những gì sâu kín nhất trong lòng họ mà không làm họ khó chịu hay cảm thấy bất tiện hay ngượng ngùng. Nhưng tài năng đó hiếm thấy; cứ thử tìm ở bất cứ sàn nhảy nào. 

Cách một người khiêu vũ là dấu chỉ cho một kiểu cân bằng mà người đó có thể đạt được về vấn đề này. Đôi khi bạn thấy một người khiêu vũ lành mạnh không e dè kiềm chế bản thân, đồng thời cũng không tập trung quá mức vào bản thân hay buông thả bản thân quá mức. Những bước nhảy của người khiêu vũ lành mạnh bước theo tự nhiên, dễ dàng mà thu hút, bạn nhìn vào và chú ý đến điệu nhảy chứ không phải người nhảy. Hơn nữa, kể cả trong khi nhảy, người khiêu vũ lành mạnh vẫn được dễ nhận ra là một người có nhân cách mà bạn biết, chứ không phải là người không có cá tính, một năng lượng vô danh đang nhảy. Nhưng khó mà nhảy đẹp được. 

Thường thường, bước nhảy của một người được tô màu do cuộc đấu tranh nội tâm và do nơi la bàn nội tâm của người đó đã được ấn định: quá chú ý bản thân, quá cẩn trọng, quá sợ hãi, chúng ta sẽ thấy những bước nhảy dè dặt, ngập ngừng và ngượng ngịu. Trái lại, quá ít ý thức về bản thân thì chúng ta sẽ thấy một bước nhảy tự do và không hề kiềm chế nhưng bộc lộ một kiểu phô trương thiếu lành mạnh. Đôi khi các bước nhảy của chúng ta diễn tả quá ít, nhưng có khi lại diễn tả quá nhiều, chúng ta vượt quá ranh giới khi bước diễn trở thành ra vẻ và người ta thấy một kiểu tự yêu mình, tự buông thả thiếu lành mạnh trong bước nhảy của chúng ta, họ xấu hổ cho chúng ta. 

Và điều này, gắng gỏi để nhảy đẹp, là sự phản chiếu mối căng thẳng khác bên trong chúng ta, là đấu tranh giữa trầm cảm và cao hứng, giữa cảm thấy quá phấn khích hay cảm thấy quá trầm uất. Cũng giống như bước nhảy lành mạnh, tâm lý lành mạnh cũng không dễ đạt được, một tâm lý trong đó năng lượng được buông tự do, không tự yêu hay phô trương thiếu lành mạnh. Vấn đề ở đây là mãi mãi chúng ta bị kéo lên hay trì xuống, bị kích thích quá mức để khuếch trương hay bị hạ thấp giá trị hơn bình thường. Cả hai điều này đều làm cho chúng ta không ổn định. 

Chỉ có những người chín chắn nhất và bình an nhất trong số chúng ta mới không nghiêng ngả quá mức giữa các kiểu tâm trạng và hành động với những khẳng định và phủ nhận mà chúng ta gặp trong đời sống hàng ngày. Trong môi trường sống của chúng ta, gia đình, bạn bè, nơi làm việc, giáo hội và ngay cả trong nhiều mối liên hệ đơn giản không mang tính con người với người khác trong đời sống công cộng, chúng ta vẫn thường xuyên gặp phải hoặc là sự khẳng định hoặc sự phủ nhận theo một kiểu nào đó (một nụ cười, một lời cảm ơn, một lời khen, một cái vỗ nhẹ thân mật trên lưng, một sự công nhận đã làm việc tốt, một cử chỉ thương yêu nào đó, hay ngược lại, một thái độ lạnh lùng, một chuyện làm bẽ mặt, một lời lăng nhục, một lời chỉ trích, một sự coi khinh, hắt hủi). Bất cứ khi nào xảy ra như vậy chúng ta đều bất lực trong việc tự bảo vệ bản thân trước tác động của chúng đối với tâm lý và tình cảm của mình. Nhiều khẳng định thì chúng ta dễ dàng thấy mình tự mãn mà thiếu Chúa và tha nhân. Quá nhiều lạnh lùng và hắt hủi thì chúng ta dễ dàng thấy mình tự ti và thiếu năng lượng tuyệt vời của Chúa trong lòng chúng ta. 

Tôi nói điều này một cách thông cảm. Cuộc sống khó khăn với tất cả, đặc biệt nếu bạn đang cố gắng sống với lòng tôn trọng người khác cũng như với chính mình. Nếu bạn nhạy cảm một cách lành mạnh thì luôn luôn đó là một cuộc đấu tranh: Làm thế nào để bạn tôn trọng, thể hiện và ăn mừng những năng lượng hơn cả mức dồi dào của mình một cách phù hợp mà hoàn toàn tôn trọng người khác và không vượt quá ranh giới đạo đức hay thẩm mỹ? Một công thức chẳng dễ dàng gì. Nếu dành quá ít cho xúc cảm dồi dào thì bạn sẽ thấy mình dè dặt quá mức, cứng lưỡi, chán chường, cằn cỗi, và xử lý mọi việc một cách tức giận; còn nếu dồi dào không kiểm soát quá thì bạn sẽ thể hiện ra theo những cách làm cho bạn và người khác xấu hổ. 

Và như vậy chúng ta cần chấp nhận cuộc đấu tranh này là chuyện đương nhiên và không nên khắt khe quá đối với người khác cũng như đối với mình. Chúng ta là con người và vì vậy cần tha thứ cho nhau và cho chính mình, vì đã cứng ngắt và ngượng nghịu khi nhảy, cũng như tha thứ cho người khác và chính mình vì đã phô diễn trên cùng những sàn nhảy đó. Có rất ít người tự do và hoàn toàn khỏe mạnh trên thế giới này. Không ai nhảy hoàn hảo cả. 

Những con chiên khác không thuộc đàn chúng ta

Tôi lớn lên trong gốc rễ Thiên Chúa giáo La Mã mạnh mẽ, bảo thủ: sách giáo lý vấn đáp Baltimore, thánh lễ bằng tiếng Latinh, lần chuỗi mân côi mỗi ngày, đi lễ mỗi ngày nếu có thể, và những thói quen cầu nguyện sốt sắng. Và tôi biết ơn sâu sắc món quà này. 

Nhưng nền tảng tuyệt vời này lại kèm theo thái độ không tin tưởng với tất cả những cái gì liên quan đến tôn giáo mà không phải là Thiên Chúa giáo La Mã. Tôi được dạy rằng Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã là giáo hội duy nhất chân chính và là con đường duy nhất dẫn tới thiên đàng; được dạy nhiều tới nỗi chúng tôi bị ngăn cản mạnh và ngầm bị cấm không được tham gia bất kỳ buổi lễ nào của nhà thờ Tin Lành. Nói cho đúng thì chúng tôi không cho rằng người Tin Lành và các cộng đoàn tôn giáo khác cuối cùng sẽ bị xuống hỏa ngục, nhưng chúng tôi cũng phải cố gắng một cách khó khăn về chuyện giải thích cho rõ vì sao lại như vậy. Bên cạnh những điều khác, chúng tôi định ra một nơi gọi là Luyện ngục, nơi những người không phải là tín hữu Thiên Chúa giáo La Mã nhưng có lòng chân thành và tâm hồn tốt đẹp sẽ sống đời vĩnh cửu, vui vẻ nhưng không có Chúa. 

Nhưng như T.S. Eliot từng viết: “quê nhà là nơi chúng ta bắt đầu từ đó.” Và quê nhà là một nơi tốt đẹp để bắt đầu từ đó xét về cách chúng ta, những cộng đoàn đức tin, chia tách với nhau, có thể hiểu nhau hơn và hiểu rõ hơn về mối quan hệ cụ thể của từng giáo hội với Chúa Kitô. 

Và thường thì động lực cho chuyện này không đến từ cái nhìn từ kinh thánh và thần học nhiều cho bằng từ những mối liên hệ tổng hòa trong cuộc sống. Khi tương tác với nhau, chúng ta bắt đầu cảm thấy ý nghĩa của vấn đề ai sẽ đến với Chúa và Chúa Kitô là phức tạp hơn rất nhiều so với bất kỳ công thức thần học nào có thể phản ánh. Trong Phúc âm Thánh Gioan (10,16), Chúa Giêsu nói: Ta còn có những chiên khác, không thuộc ràn này. Ta cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng Ta. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử.

Tôi đã hiểu được chân lý của câu đó thông qua trải nghiệm cá nhân. Trong gần bốn mươi năm mục vụ, tôi đã gặp, làm bạn và trở thành bạn đồng hành trong đức tin với những người từ mọi giáo phái và tôn giáo khác nhau: Tin Lành, Tân Giáo, giáo phái Anh, phái Phúc Âm, phái Nhất Thể, các giáo hội tự do nhỏ đủ mọi thể loại, phái Nhân chứng Jehovah, Ấn Giáo, Hồi Giáo và Phật Giáo. Trong tất cả các cộng đoàn giáo phái và tôn gáo này, tôi đã gặp được những vị tu hành, nam và nữ, có đức tin sâu sắc và lòng nhân hậu vô cùng. 

Và điều này đã làm cho tôi tự hỏi về đoạn Phúc âm thánh Mátêô (12: 46-50) khi Người còn đang nói với đám đông thì có kẻ thưa Người rằng: «Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, tìm cách nói chuyện với Thầy”. Người bảo kẻ ấy rằng: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: ” Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi”.

Chúng ta có khuynh hướng cho rằng “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, thế nên đôi khi chúng ta bảo vệ gia đình, sắc tộc, quốc gia, giáo hội mình, kể cả khi họ làm những chuyện sai trái. Điều mà Chúa Giêsu khẳng định là “đức tin quan trọng hơn giọt máu đào”, và thậm chí còn sâu sắc hơn, đức tin còn quan trọng hơn mối liên hệ giáo phái hay tôn giáo. 

Trong thư gửi tín hữu thành Galát, thánh Phaolô cũng đồng ý khi người hỏi câu hỏi: Ai đang sống bên trong Chúa Thánh thần? Những ai thật sự có lòng tin chân thật? Câu trả lời của người là: Những ai mà đời sống của họ bộc lộ ra lòng nhân hậu, vui vẻ, bình an, kiên nhẫn, tốt bụng, thiện lành, trung tín, nhẹ nhàng và khiết tịnh. Sự hiện diện của những đức hạnh này bộc lộ đức tin và Chúa Kitô. Ngược lại, người cảnh báo chúng ta không nên tự lừa dối khi đời sống chúng ta bộc lộ ra, bên cạnh những chuyện khác, ngoại tình, thù hận, óc bè phái, bất hòa và đố kỵ. Những người anh chị em thật sự của chúng ta trong đức tin là những người mà đời sống bộc lộ ra lòng nhân hậu thay vì ích kỷ, lòng thương yêu thay vì hận thù, những tấm lòng rộng lớn thay vì thông cảm một cách chọn lọc, nhẹ nhàng thay vì khắc nghiệt, và tốt bụng thay vì hẹp hòi. Đức hạnh quan trọng hơn bản sắc giáo phái. 

Tôi sẽ mãi mãi là tín hữu Thiên Chúa giáo La Mã, cũng như luôn luôn là thành viên trong gia đình huyết thống của mình, gia đình họ Rolheisers, và tu sĩ dòng tu của tôi, dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm. Tôi đã được rửa tội trong những gia đình này và theo truyền thống này, như sách giáo lý vấn đáp dạy một cách đúng đắn, ghi lại một dấu vết mãi mãi còn đó trong tâm hồn chúng tôi. Những điều đó sẽ luôn luôn là gia đình của tôi; nhưng chúng cũng sẽ không phải là sự trung thành duy nhất của tôi. Tôi cũng có những gia đình khác, không thuộc đàn chiên này, những người không phải là tín hữu Thiên Chúa giáo La Mã, không thuộc dòng họ Rolheisers, không phải là Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Nhưng không vì thế mà tôi kém thương yêu Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã, gia đình huyết thống của tôi, hay dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm. Ngược lại, tôi còn thấy thương yêu hơn. 

Khi Chúa Giêsu hỏi câu: «Ai là mẹ, là anh, là chị, là em của Ta?», Người trả lời bất kỳ ai thực hiện ý Chúa thì đó là người mẹ đích thực, người anh đích thực, người chị đích thực, người em đích thực của tôi. Nhưng, như các tác giả Phúc âm đã hết sức nhấn mạnh, người mẹ huyết thống của người, Maria, là người đầu tiên phù hợp với định nghĩa đó. Vì vậy, không phải là người đã hạ thấp mẹ ruột, mà đã tái lập giá trị và tầm quan trọng của bà ở một mức độ cao hơn. 

Điều này cũng đúng đối với chúng ta trong mối quan hệ với gia đình đức tin trong đó chúng ta đã được rửa tội, kể cả khi chúng ta mở lòng ra và chấp nhận những người khác không cùng đàn chiên với mình. Đức tin quan trọng hơn giọt máu đào và thậm chí còn quan trọng hơn liên hệ tôn giáo. 

Muỗi đốt

Khi ân sủng đến thì không còn lựa chọn nào khác – con người phải nhảy múa thôi.

W.H. Auden viết những lời trên, và tôi nghĩ những lời đẹp đẽ trên là đúng. Khi ân sủng vào một căn phòng thì chúng ta nên bắt đầu nhảy múa, nhưng buồn thay, chúng ta thường để cho một chuyện nhỏ nhặt nào đó, một vết muỗi đốt tí ti làm chúng ta không nhận ra ân sủng đang ở trước mặt mình. 

Tôi nói như vậy một cách thông cảm chứ không chua chát. Ai cũng biết muỗi có thể phá hỏng một chuyến píc-níc. Ví dụ: Bạn đang tổ chức tiệc sinh nhật ở vườn sau nhà, đang píc-níc với gia đình bè bạn. Thời tiết tuyệt vời, mặt trời ấm áp, mọi người ngà ngà dễ chịu, và mọi thứ bên trong và xung quanh bạn đều đáng để bạn vui vẻ và biết ơn. Đây là “lễ Xaba” theo nghĩa kinh thánh: bạn đang ăn mừng cuộc sống, ngày sinh của bạn. Bạn khỏe mạnh, xung quanh là gia đình và bạn bè thương quý mình, bạn đang tận hưởng niềm vui sướng, thư giãn khỏi guồng xoay công việc, và đồ ăn thức uống ngon lành. Ân sủng đã tới và mọi thứ đều tuyệt vời, trừ một thứ, muỗi. Khi chiều xuống, chúng từ đâu bay ra, đốt chỗ này một cú chỗ kia một phát, cho tới khi cuối cùng hầu như ai cũng bị phân tâm và chỉ còn bận bịu canh gác cho phần da thịt bị hở. Rốt cuộc phần lớn những điều vui vẻ và niềm biết ơn như bốc hơi đi mất, và sự khó chịu bị muỗi đốt đã thật sự chấm dứt mọi ý định khiêu vũ. Cuộc píc-níc đã bị phá hỏng vì một loạt các cú đốt tí ti!

Tất cả chúng ta đều có thể đếm được cả trăm tình huống như vậy. Xét tính chất phức tạp và điều bất ngờ xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, những con muỗi kiểu này hay kiểu khác bao giờ cũng có mặt.  Cuộc diễn hành nào cũng hứng một chút mưa, hầu như tình huống nào của cuộc sống cũng có điều gì đó khó chịu, và một yếu tố nào đó thách thức cái ân sủng giản dị trong gần như mọi khoảnh khắc cuộc sống. Cuộc sống hiếm khi nào đến với chúng ta trong trẻo hoàn toàn, không tì vết nào. Đó là lý do tại sao các sách thiêng liêng trước đây nói chúng ta đang “sống trong thung lũng đầy nước mắt này”. Trong cuộc sống, chúng ta chưa bao giờ được một giây phút hoàn toàn trong trẻo và vui vẻ nào. Cái gì cũng có một chút gợn đen, một con muỗi trong cuộc chơi píc-níc.

Và như vậy không phải bao giờ cũng dễ mà khiêu vũ được, kể cả khi ân sủng đang rõ ràng ở trước mặt. Muỗi đốt có thể làm cho chúng ta quên mất chuyện quan trọng một cách dễ dàng, đánh mất đi điều chính yếu, điều đáng ra giúp chúng ta nhìn ra được và ăn mừng ân sủng, chỉ vì một điều khó chịu nhỏ nhoi nào đó. Một điều khó chịu nhỏ nhoi có thể làm cho chúng ta không nhìn thấy được ân sủng lớn lao. 

Ngày nay có một lượng sách thiêng liêng và tâm lý phong phú thách thức chúng ta cố gắng sống trọn vẹn hơn trong phút giây hiện tại, đừng để những cơn đau tim của quá khứ hay những lo lắng của chúng ta về tương lai lừa dụ chúng ta ra khỏi hiện tại quý báu. Nhưng, như tất cả chúng ta biết, nói thì dễ hơn làm. Những yếu tố từ quá khứ của chúng ta – những bài hát ru nửa quên nửa nhớ từ thuở ấu thơ, một gương mặt gần như quên lãng, một mối tình quá khứ, một điều lăng nhục trên sân chơi cách đây đã rất lâu, một bước lỗi lầm vẫn còn ám ảnh chúng ta, và hàng ngàn những điều khác từ quá khứ – đều xâm nhập vào hiện tại của chúng ta. Và cả tương lai nữa – nó phủ bóng lên hiện tại khi chúng ta lo lắng không yên về một quyết định sắp phải làm, một cuộc họp ngày mai phải dự, điều bác sĩ sẽ nói vào lần đi khám tiếp theo, và làm thế nào để xoay xở với các hóa đơn thế chấp tiếp theo của chúng ta. Phút giây hiện tại chẳng bao giờ đến với chúng ta trong trẻo. 

Vậy nên mối thách thức ở đây vẫn vậy, một mối thách thức quan trọng và lành mạnh: Đừng để mấy vết muỗi đốt trong đời bạn làm cho bạn không còn thấy được sự hiện diện lớn lao của ân sủng! Một trong các tác giả thiêng liêng mà tôi yêu thích nhất, David Steidl-Rast nói về thách thức này rất rõ, dù ông nhấn mạnh điều tích cực. Đây là một ví dụ trong những gì ông viết: “Anh nghĩ rằng đây chỉ là một ngày khác trong đời. Nó không chỉ là một ngày khác trong đời: đó là cái ngày duy nhất mà hôm nay anh nhận được. Nó được trao cho anh, đó là một món quà. Đó là món quà duy nhất mà anh đang có lúc này, cách đáp trả duy nhất phù hợp là biết ơn. Nếu anh không làm gì khác ngoài vun xới cách đáp lại như vậy đối với món quà tuyệt vời này, là cái ngày duy nhất này, nếu anh học cách đáp lại như thể đó là ngày đầu tiên trong đời anh và cũng là ngày cuối cùng, thì anh đã trải qua một ngày tốt đẹp.”

Nhưng đó là ân sủng không dễ gì xảy tới, mà phải cầu nguyện sốt sắng để có được. Những con muỗi chắc chắn sẽ xuất hiện ở bất cứ cuộc píc-níc nào trong đời sống chúng ta. Đó là tất định. Thách thức ở đây là làm sao để không đánh mất đi ý thức về sự hiện diện lớn lao hơn của ân sủng chỉ vì những điều khó chịu không quan trọng. 

Giữ được óc hài hước sẽ hữu ích trong những chuyện như thế này: Ngày hôm qua tôi đang cố gắng cởi giày, một động tác đơn giản tôi nhắm mắt làm cả ngàn lần. Tôi tháo một múi dây, và xem cái cách buộc giày thường có, thì không thể nào các mối dây lại không mở ra. Nhưng cách nào đó tôi lại thắt thành một cái nút thắt! Làm sao mà lại như vậy được! Câu trả lời nằm ở một triết lý đơn giản, xưa cũ: trong cái thế giới khó chịu thì không có chuyện gì không thể xảy ra, không có cái gì gọi là có giới hạn, chỉ có những tiềm năng là vô hạn.

Chẳng lấy gì làm ngạc nhiên khi con người ta không phải bao giờ cũng nhảy múa khi có ân sủng. 

Khiết tịnh trong trắng của trái tim và ý định 

Sống khiết tịnh không dễ, không chỉ đối với những người không lập gia đình, mà đối với tất cả mọi người. Kể cả khi tất cả hành động của chúng ta đều thẳng thớm, thì vẫn khó mà sống với một trái tim trinh bạch, một thái độ trinh bạch, và những điều thích thú trinh bạch. Rất khó có được sự trong trắng của trái tim và ý định. 

Tại sao? Khiết tịnh khó bởi vì chúng ta đầy dục tính một cách vô phương cứu chữa trong từng chân tơ kẽ tóc. Mà đó chẳng phải là điều gì xấu. Đó là món quà của Chúa. Không hề là thứ dơ bẩn và đối chọi với đời sống tinh thần của chúng ta, dục tính là món quà lớn lao của Chúa, là ngọn lửa thiêng của Chúa trong lòng chúng ta. Và như thế, nỗi khao khát ái ân là sắc màu có ý thức hoặc sơ khai nằm đằng sau hầu hết mọi hoạt động trong đời sống chúng ta. 

Vì thế cầu nguyện để được khiết tịnh là một chuyện khó, vì cầu nguyện như vậy là xin cho nỗi khao khát tình dục và năng lượng tình dục trong lòng chúng ta nguội đi hay tan biến. Và ai trong chúng ta lại muốn sống cuộc đời vô cảm và vô tính? Chẳng có con người lành mạnh nào muốn điều đó. Như vậy, nếu bạn lành mạnh, thì khó mà chú tâm cầu nguyện xin khiết tịnh, bởi vì trong sâu thẳm, chẳng ai muốn vô cảm với tình dục. 

Nhưng vấn đề không nằm ở chuyện khiết tịnh, mà ở cách chúng ta hiểu về khiết tịnh. Khiết tịnh không có nghĩa là chúng ta trở nên vô cảm với tình dục (mặc dù mãi mãi từ xưa tới giờ và về sau, truyền thống thiêng liêng vẫn chật vật gắng gỏi để không đánh đồng như vậy). Khiết tịnh không phải là chuyện phủ nhận dục tính của chúng ta mà là định hướng nó cho đúng. Khiết tịnh là sự trong trắng của quả tim, tâm hồn trong trắng. Đó mới là ý niệm khiết tịnh trong Kinh thánh. Chúa Giêsu không bảo chúng ta cầu nguyện xin khiết tịnh, mà đề nghị chúng ta cầu nguyện xin “sự trong trắng của trái tim”. Phúc thay cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ gặp được Chúa. Họ cũng hướng dục tính của họ một cách đúng đắn. 

Lòng trong sạch là gì? Lòng trong sạch là quan hệ với người khác và thế giới theo cách tôn kính và trân trọng đầy đủ phẩm chất, giá trị và vận mệnh của mọi người và mọi vật. Lòng trong sạch là nhìn người khác như Chúa nhìn họ. Lòng trong sạch  là chúng ta yêu thương nhau với suy nghĩ về điều tốt của họ (chứ không phải điều tốt của chính chúng ta). Karl Rahner cho rằng chúng ta có lòng trong sạch khi chúng ta nhìn người khác trên một nền trời vô tận, nghĩa là trong tầm nhìn, nơi đó phẩm giá, đặc điểm cá nhân, cuộc sống, ước mơ và dục tính của người đó được nhìn nhận trong bối cảnh lớn lao nhất, kế hoạch vĩnh viễn của Chúa. Tâm trong trắng là ý định trong trắng và tôn trọng đầy đủ trong tình thương yêu. 

Khi chúng ta hiểu khiết tịnh theo nghĩa đó chúng ta mới có thể cầu nguyện dễ dàng hơn. Theo cái hiểu như vậy, chúng ta không cầu nguyện cho năng lượng tình dục của mình bị dập tắt, mà là cầu nguyện để vẫn hoàn toàn dũng mạnh nhưng những năng lượng, ý định và mơ mộng dục tình của mình được chuyển hướng đúng đắn. Chúng ta cũng cầu nguyện để có được một kiểu trưởng thành về mặt con người lẫn tình dục, tôn trọng người khác một cách trọn vẹn. Căn cốt, chúng ta cầu nguyện xin có được một lòng tôn trọng sâu xa hơn, một trưởng thành sâu sắc hơn, và một tình thương yêu trao truyền cuộc sống hơn.

Và đó là sự cầu nguyện hết sức cần thiết trong đời sống chúng ta bởi vì dục tính mạnh mẽ đến nổi thậm chí trong mối quan hệ hôn nhân, tình dục vẫn có thể có ý chí định hướng (intentionality) dù không đủ lớn. Charles Taylor, trong cuốn “Thời đại thế tục” (A Secular Age) tranh luận cái ý rằng tình dục quá dễ bỏ qua đại cục và trở thành bó hẹp, một ý thường bị bỏ qua trong cách hiểu của chúng ta về tình dục: “Không phải tôi đang cố hạ thấp ông cha của mình, bởi vì tôi nghĩ có một sự giằng xé thật sự trong việc cố gắng kết hợp sự viên mãn tình dục và sự sùng đạo trong cuộc sống của một người. Thật ra đây chỉ là một trong những điểm mà theo đó, người ta cảm nhận được một sự giằng xé chung hơn giữa chuyện bay bướm của con người và sự cống hiến với Chúa bộc lộ ra. Việc mối giằng xé này đặc biệt thấy rõ trong mảng tình dục là rất dễ hiểu. Sự viên mãn sâu sắc về tình dục khiến chúng ta chú ý mạnh mẽ tới sự liên hệ giữa vợ chồng; nó gắn chặt chúng ta với cảm thức sở hữu mạnh mẽ những gì được chia sẻ một cách riêng tư. Không phải khi không mà ngày xưa các nhà sư và các vị tu hành ẩn dật coi việc từ bỏ lạc thú tình dục là con đường mở ra để đi tới tình thương rộng lớn hơn của Chúa. [Và] chúng ta cũng không nên ngạc nhiên trước việc có sự giằng xé giữa sự viên mãn và lòng mộ đạo cũng trong một thế giới bị tội lỗi bóp méo, tách rời khỏi Chúa. Nhưng chúng ta phải tránh đừng để điều này biến thành một sự lệch lạc căn bản.” Rốt cuộc đó mãi mãi là cái mà cả thế giới thế tục và truyền thống thiêng liêng Ki-tô (vì thiếu cái hiểu đúng đắn về sự khiết tịnh) phải chật vật để không mắc phải.

Xét cái mãnh lực tình dục bên trong chúng ta, và xét cái mãnh lực của những thôi thúc và khát khao con người nói chung, sống cuộc đời khiết tịnh không dễ gì. Càng khó khăn hơn, và hiếm hơn để có được một tinh thần khiết tịnh, một trái tim khiết tịnh, những cơn mơ mộng khiết tịnh và ý định khiết tịnh. Quả tim chúng ta muốn cái điều nó muốn và gây áp lực bắt chúng ta giả lơ hậu quả. Chúng ta có thể dễ dàng có cảm giác phản kháng nhất định đối với chuyện cầu nguyện được khiết tịnh. Nhưng chủ yếu là do chúng ta không hiểu khiết tịnh một cách đúng đắn: Đó không phải là làm trái tim chết cứng, tước bỏ cảm xúc tình dục của mà là một trưởng thành sâu sắc hơn cho phép các năng lượng tình dục của ta tuôn chảy theo một cách trao truyền cuộc sống hơn. 

Một phương trình ám ảnh

Trong cuốn tiểu thuyết Những Lần Trả Cuối Cùng (Final Payments) Mary Gordon nói rõ về một phương trình từ rất lâu đã ảnh hưởng cả tốt lẫn xấu đến truyền thống thiêng liêng Ki-tô giáo.

Isabel, nhân vật nữ chính của bà là một thiếu nữ có nền tảng Công giáo mạnh, một người cha quá sức nghiêm khắc và một chiều sâu tự nhiên của tâm hồn hợp lại khiến cô trở nên quá sức dè dặt và quá mẫn cảm, nhìn cuộc đời từ bên ngoài, quá ý thức về bản thân và quá suy nghĩ, nói chung, cô khó dễ dàng nhận lời khiêu vũ hay tin tưởng vào bất kỳ một kiểu tiệc tùng vui vẻ nào.

Một buổi tối nọ cô đến dự buổi tiệc của sinh viên đại học, gần như ngay lập tức cô cảm thấy lạc lõng trong không khí bông lơn, bạo dạn trẻ trung, rượu chè và khiêu vũ. Vì thế cô rơi vào thói quen cũ: “Tôi hay tìm kiếm trong số những gương mặt sinh viên đó gương mặt nào mà tôi có thể thương. Tôi thường tìm kiếm điều gì đó riêng biệt, điều gì đó toát lên sự chân thực dưới hình dạng một cái cằm hay đôi mắt, điều gì đó khiến mình tin có một nỗi đau trầm lắng mà các thứ quy củ pháp chế không thể chạm tới được. Nhưng tất cả họ đều có vẻ vui vẻ hoàn toàn, khỏe mạnh đến mức họ chẳng làm tôi quan tâm. Tôi nhận ra mình đang tìm kiếm một người nào đó buồn rầu, và tôi tức giận chính mình vì đã lập ra cái phương trình, cũng là phương trình của cha tôi, phương trình của Giáo hội, phương trình giữa cái giá đau khổ và giá trị.”
Phương trình cân bằng giữa đau khổ và giá trị đó đã tồn tại từ lâu trong truyền thống thiêng liêng và đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến chúng ta một cách tích cực lẫn tiêu cực. Tôi phải thú nhận thường thường nó cũng là phương trình của chính tôi. Giống nhân vật Isabel của Mary Gordon, tôi cũng có xu hướng nhìn quanh phòng tiệc xem có gương mặt nào buồn rầu, trong niềm tin buồn rầu là dấu hiệu của chiều sâu, của thực chất, của sâu sắc. Thỉnh thoảng tôi đúng và một gương mặt mang vẻ buồn rầu thật sự chứa bên trong một nội tâm sâu sắc, nhưng tôi cũng hay sai. Đôi khi buồn rầu chỉ đơn thuần là một dấu chỉ của trầm cảm, rụt rè và tức giận không được thừa nhận. Đồng thời, tôi cũng gặp những người hướng ngoại rất mạnh trong việc biểu lộ sự sung sướng và niềm vui của họ, những người này nội tâm họ thật sâu sắc và không hề hời hợt chút nào. 

Ấy vậy mà cái phương trình đó vẫn ám ảnh tôi, như vẫn ám ảnh truyền thống thiêng liêng Ki-tô giáo bao thế kỷ nay. Vĩnh viễn chúng ta có khuynh hướng quy cho đau khổ và buồn bã là những điều có giá trị và có chiều sâu. Tôi nhớ vị thầy hướng dẫn chủng sinh của tôi đã thách thức chúng tôi với ý kiến cho rằng trong sách thánh không có tình huống nào làm Chúa Giêsu cười to; ý ở đây là trọn chiều sâu của Chúa Giêsu có gốc rễ từ nỗi đau khổ của Người. Cười to hay thoải mái bị cho là hời hợt. Điều này củng cố ý niệm đã được khắc sâu vào tâm trí tôi từ khi tôi còn là một đứa trẻ, lớn lên trong một gia đình và cộng đoàn Công giáo di cư. Chúng tôi gần như được giáo huấn với thành ngữ: Sau tiếng cười là nước mắt! Cái ý ở đây đã rõ ràng: Cười là hời hợt và cốt yếu nó chỉ cố gắng giữ cho thực tế và nỗi buồn nằm trong tầm kiểm soát. Nỗi buồn là cái gì đó có thật, vì vậy đừng bị tiệc tùng đình đám đánh lừa và cười lên mà coi nhẹ chuyện đó. 

Những chuyện này muốn nói lên điều gì? Rõ ràng, có sự thật trong phương trình này. Bất kỳ nhà tâm lý, người hướng dẫn tinh thần, người cố vấn tâm hồn giỏi nào cũng sẽ nói với bạn rằng, thường thường, một tăng tiến và trưởng thành đích thật của tâm hồn khởi từ sự chịu đựng và nỗi đau sâu sắc trong cuộc đời mình. Không hẳn là Chúa không nói rõ ràng với chúng ta khi chúng ta đang vui vẻ và thành công, nhưng chúng ta không có khuynh hướng lắng nghe trong những lúc này. Nỗi đau mới khiến chúng ta chú ý. Như C.S. Lewis từng nói, nỗi đau là cái máy vi âm của Chúa với một thế giới bị điếc. Không thể nào chối cãi, có một sự liên hệ giữa đau khổ với chiều sâu tâm hồn.

Nhưng chúng ta phải cẩn thận để không diễn giải quá nhiều từ ý niệm này. Khi nhìn Chúa Giêsu và nhiều nhân vật phi thường lành mạnh khác, chúng ta thấy chiều sâu tâm hồn cũng dính liền với những phút giây vui sướng và hân hoan của cuộc sống. Chúa Giêsu làm cho mọi người kinh ngạc trước khả năng thấm sâu trong đau khổ và từ bỏ những vui sướng trần tục, cũng như  khả năng tận hưởng trọn vẹn giây phút hiện tại, như trong câu chuyện người phụ nữ xoa dầu thơm đắt tiền lên chân Người. Chiều sâu tâm hồn của Người đến từ cả nỗi đau lẫn hân hoan của Người. Và tôi ngờ rằng lòng biết ơn của Người phát sinh từ niềm vui sướng nhiều hơn là từ khổ đau. 

Trong quyển tiểu thuyết Đời Nhẹ Khôn Kham (The Unbearable Lightness of Being), nhà văn người Séc Milan Kundera đã cân đo phương trình đó: Cái gì có giá trị hơn, sự nặng nề hay nhẹ nhàng? Câu trả lời của ông là: sự nặng nề có thể nghiền nát chúng ta, nhưng nhẹ nhàng có thể không thể nào kham nổi:

“Sự nặng nề của những gánh nặng nghiền nát chúng ta, chúng ta chìm xuống bên dưới, nó ghim chặt chúng ta xuống đất. Nhưng … gánh nặng mà càng nặng, thì cuộc sống chúng ta càng gần gũi hơn với trần thế, trở nên thật và chân thực hơn. Ngược lại, sự thiếu vắng hoàn toàn một gánh nặng khiến con người thành nhẹ hơn không khí, vọt lên cao, rời bỏ trần thế và sự tồn tại trần thế của anh ta, chỉ còn một nửa là thật sự, những biến thái của anh tự do và cũng tầm thường vô nghĩa như vậy.”

Vậy thì chúng ta nên chọn cái gì? Nặng nề hay nhẹ nhàng? … Đó chính là vấn đề. Điều duy nhất chắc chắn là: sự đối lập nhẹ nhàng/nặng nề là điều bí ẩn nhất, mù mờ nhất trên hết thảy.

Thật sự như vậy.

Những quyển sách đã gặp tôi trong năm 2011

Bởi vì thời gian bao giờ cũng hiếm nên tôi cố gắng chọn lọc những gì mình đọc. Nhưng đồng thời, tôi cũng cố giữ một chọn lựa rộng rãi bằng cách đọc tiểu thuyết, các sách thiêng liêng, các chuyên khảo thần học, tự truyện và các khảo luận về các vấn đề tâm lý và nhân loại học. 

Tôi chọn sách bằng cách nào? Tôi đọc các bài đánh giá sách, nghe lời giới thiệu của đồng nghiệp, nhận sách tặng, và thỉnh thoảng tìm tòi ở tiệm sách, nhưng những gì rốt cuộc tôi thật sự đọc thường là kết quả của một kết hợp của nhiều điều ngẫu nhiên hơn là một lựa chọn có nghiên cứu kỹ càng. Những quyển sách chúng ta cần đọc có cách để tìm ra chúng ta. 

Những quyển sách nào đã tìm thấy tôi trong năm vừa qua?

Trong số các tiểu thuyết:

– Tự Do (Freedom) của Jonathan Franzen, là kiểu sách bình luận về văn hóa đương đại theo phong cách John Updike. Quyển này dễ đọc, chứa đựng một thông minh xúc cảm tốt. 

– Chân Dung Dorian Gray (The Picture of Dorian Gray) của Oscar Wilde, tuyệt vời về cả ngôn ngữ lẫn nội dung. Một quyển kinh điển đáng đọc. Trong một nền văn hóa có xu hướng đánh giá vẻ ưa nhìn và trông đẹp mắt, Chân Dung Dorian Gray của Wilde chứa đựng một vài cảnh báo không dễ chịu. 

– Con Đường (The Road) của Cormac McCarthy, một chứng nhân cho niềm thôi thúc nguyên sơ được sống. Đây không phải như Chùm nho Nổi giận (The Grapes of Wrath) của John Steinbeck, nhưng nó cũng chạm đến những nơi chốn tương tự trong lòng chúng ta. 

– Giờ Khắc Tôi Tin Lần Đầu (The Hour I First Believed) của Wally Lamb, dài 200 trang, nhưng cũng giống tất cả các sách của Lamb, có cái nhìn hết sức sâu sắc và phù hợp với nỗ lực cam go để tha thứ và hòa giải của chúng ta. Nhân vật trung tâm của Lamb luôn luôn là một người khó gần với nỗi giận dữ trong lòng, cuối cùng cũng phải quỳ gối xuống để bộc lộ nỗi giận dữ ra với chính mình. 

– Barabbas (Barabbas) của Par Lagerkvist, một tác phẩm đầy sức tưởng tượng về những gì xảy ra sau khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá. 

– Những câu chuyện Brownsville (Brownsville Stories), và Amigoland (Amigoland) của Oscar Casares: nồng ấm, sâu sắc về mặt tình cảm, những câu chuyện hay, với sức thu hút đặc biệt đối với ai sống gần biên giới Mexico.

– Chiếc Bàn Của Con Mèo (The Cat’s Table) của Michael Ondaatje’s, là một trong những tiểu thuyết được đánh giá hay nhất năm 2011, hoàn toàn xứng đáng như vậy.

– Chuyến Tàu Đêm Tới Lisbon (Night Train to Lisbon) của Pascal Mercier, là cuốn tiểu thuyết của bạn, nếu bạn đang tìm một đòn thách thức trí óc.

Trong số các chuyên khảo thiêng liêng và thần học:

– Sự Kinh Ngạc Toàn Triệt (Radical Amazement) của Judy Cannato: Những cái nhìn sáng suốt sâu sắc và lời gợi ý về việc sống trong phút giây hiện tại và nhìn thấy chiều sâu ẩn kín trong đời sống. 

– Trên Trái Đất Cũng Như Trên Thiên Đường (On Earth as it is in Heaven), Minh triết Thiêng liêng Của Phúc Âm Dành Cho Những Người Đi Giảng và Các Giáo Sư Ki-tô giáo (The Spiritual Wisdom of the Gospels for Christian Preachers and Teachers) của John Shea: Nếu bạn không hài lòng với những bài giảng bạn vẫn nghe mỗi chủ nhật thì nên mua quyển này để đọc các bài giảng ngày Chủ nhật. 

– Các Bản Đồ Đức Tin (Faith Maps), Những Người Thám Hiểm Tôn Giáo Từ Newman Đến Joseph Ratzinger (The Religious Explorers from Newman to Joseph Ratzinger) của Michael Paul Gallagher: Những biện giải chính chắn đối với những ai đang mong tìm được những lý do hùng hồn cho niềm hy vọng của mình. 

– Nói Lên Sự Thật – Phúc Âm là Bi Kịch, Hài Kịch Và Truyện Thần Tiên (Telling the Truth – The Gospel as Tragedy, Comedy, and Fairy Tale) của Frederick Buechner: Một tuyệt tác về sức mạnh của ngôn ngữ và ngôn ngữ Phúc Âm.  

– Vị Chúa Tình Dục, Khám Phá Những Mối Liên Hệ Vô Tận Giữa Tình Dục Và Thiêng Liêng (Sex God, Exploring the Endless Connections Between Sexuality and Spirituality), và Nhận Được Tình Yêu, Cuốn Sách Về Thiên Đường, Địa Ngục Và Số Phận Mỗi Người Từng Sống (Love Wins, A Book about Heaven, Hell, and the Fate of every Person who Ever Lived) của Rob Bell, từ ngòi bút của một mục sư trẻ, viết với độ thăng bằng phi thường, cái nhìn sáng suốt sâu sắc và cảm xúc bằng nhau đối với cả Phúc Âm lẫn văn hóa. 

Tự truyện:

– Hai trong số những cuốn gây chấn động mạnh nhất mà tôi đọc trong năm 2011: Các Bài Viết Tưởng Niệm Cha James Gray OSB (Essays in Memory of Father James Gray OSB) của Bush Dweller, do Donald Ward biên tập, và Những Đêm Xanh (Blue Nights) của Joan Didion: Cả hai câu chuyện đều gây chấn động mạnh; câu chuyện thứ nhất về một người ẩn dật, gặp gỡ và khuyên bảo cả thế giới từ túp lều của mình; còn câu chuyện thứ hai là về một phụ nữ gắng gỏi để tìm sự sống trước bao nhiêu cái chết cay đắng. 

Các chuyên khảo thần học và nhân loại học:

– Khám phá Girard (Discovering Girard) của Michael Kirwan, là cuốn giới thiệu của một người không chuyên với những cái nhìn sâu sắc về nhà nhân loại học nổi tiếng René Girard.

– Tự Nhiên và Linh Hồn Con Người, Nuôi Dưỡng Nhất Thể và Cộng Đoàn Trong Một Thế Giới Vỡ Vụn (Nature and the Human Soul, Cultivating Wholeness and Community in a Fragmented World) của Bill Plotkin: Như các cuốn trước, Plotkin đẩy xa thêm những đường biên của dòng chảy tư tưởng thiêng liêng chính, luôn luôn kêu gọi để tự nhiên có một vai trò sâu sắc hơn. 

– Quảng đại và Biết Ơn, Một Bài Thánh Vịnh Triết Lý (Generosity and Gratitude, A Philosophical Psalm) của Dale Schlitt, một triết gia chuyên về Hegel, tặng chúng ta bài thơ tuyệt vời dài 136 trang về lòng biết ơn, cho thấy những cái nhìn sâu sắc sáng suốt thật sự về triết học trừu tượng cũng có thể tràn đầy Chúa như các bài Thánh Vịnh.

Các thể loại khác:

– Nghệ Thuật Kính của Sarah Hall (The Glass Art of Sarah Hall) của John S. Porter, một cuốn sách cực kỳ đẹp với các bức ảnh trên mỗi bàn cà phê và mỗi thư viện. 

– Chống Ung Thư, Một Cách Sống Mới (Anti-Cancer, A New Way of Life) của David Servan-Schreiber. Cuốn sách tôi được tặng khi tôi ở bệnh viện ung thư để bắt đầu hóa trị liệu, bên cạnh nhiều cuốn sách về ung thư mà tôi đã đọc ngấu nghiến trong mấy tháng vừa qua, tôi thấy quyển này thách thức nhất và hữu ích nhất. 

– Dạo bước trên Bàn Xoay: Cuộc sống trên ở Arc (Walking on Rolling Deck: Life on the Arc), Kathleen C. Berken, Jean Vanier viết lời tựa: Berken <http://faithjourneyhope.com/kathy-berken-jean-vanier.html>, một nhà báo đã sống vài năm trong cộng đoàn L’Arche, đưa chúng ta vào một thế giới khác, không có những cảm xúc sai lầm hay lãng mạn ngây thơ. 

Những cuốn sách này đã chạm đến tôi, nhưng, như Thánh Augustino từng nói câu rất nổi tiếng: Liên quan tới sở thích thì chúng ta không nên tranh cãi! Bạn cứ đọc, hay dở tôi không chịu trách nhiệm!

Cầu nguyện để thấy hào quang của Chúa nơi con người

Sự quen thuộc dễ khiến xem thường. Nó cũng ngăn chặn điều bí ẩn của Giáng sinh qua việc nuôi dưỡng một cái nhìn về cuộc sống, cái nhìn không thấy được thiên tính nơi con người. 

Tuy vậy tất cả chúng ta đều dễ mắc căn bệnh vô phương cứu chữa là nhìn hầu hết mọi việc theo một cách quá mức quen thuộc, nghĩa là, theo cách hầu như hoặc thật sự không thấy được nét phong phú và thiêng liêng sâu sắc lung linh dưới bề mặt. G.K. Chesterton, khi chiêm nghiệm về điều này, từng tuyên bố rằng một trong những bí ẩn sâu kín nhất của đời sống là học cách nhìn các sự việc quen thuộc đến chừng nào chúng tỏ ra không quen thuộc trở lại. Alan Jones gọi đó là một quá trình học cách thoát ra những gì quen thuộc. 

Dù dùng từ ngữ gì đi nữa, thách thức vẫn là một: Chúng ta cần học cái bí quyết nhìn thấy điều phi thường bên trong điều bình thường, thấy tính thiêng liêng lung linh ở con người, và nhìn thấy hào quang xung quanh những gương mặt quen thuộc. 

Thomas Merton, trong một bài viết có lẽ nổi tiếng nhất của mình, chia sẻ câu chuyện một lần nọ ông đã có trực nghiệm gần như huyền bí về điều này nơi một trong những tình huống bình thường nhất. Ông sống ở tu viện Trappist, ngoại ô Louisville, tiểu bang Kentucky gần 20 năm, và một ngày nọ, ông cần đi vào Louisville để khám bệnh. Ông đang đứng ở ngã tư đường số 4 và đường Walnut, thì bỗng nhiên những sự bình thường hóa thành phi thường. Mọi người xung quanh ông bắt đầu lung linh với một sức tỏa rạng thiêng liêng sâu đậm. Ông viết, chung quanh tôi, mọi người ai cũng đang đi “tỏa sáng như mặt trời.” Và ông viết thêm: “Rồi như thể tôi đột nhiên nhìn thấy vẻ đẹp bí ẩn của trái tim họ, chiều sâu trái tim họ nơi cả tội ác lẫn ao ước lẫn sự tự tri đều không thể với tới, cốt tủy của thực tại của họ, con người mà mỗi một người đều nằm trong đôi mắt của Chúa. Giá như tất cả họ có thể nhìn thấy chính họ như họ thật sự là. Giá như chúng ta luôn luôn có thể nhìn thấy nhau theo cách đó. Sẽ không còn có chiến tranh, không còn thù hận, không tàn ác, không tham lam… Tôi nghĩ vấn đề lớn lúc đó chúng ta sẽ quỳ xuống và tôn thờ lẫn nhau.”   

Cái nhìn như vậy, thấy thế giới chuyển hóa với vầng hào quang quanh những gương mặt quen thuộc, rốt cuộc là ý nghĩa của Giáng Sinh, ý nghĩa tối hậu sự hiện thân của Chúa, và bí ẩn của việc Chúa đi lại trong hình hài con người. Giáng sinh không phải là ăn mừng ngày sinh của Chúa, mà là ăn mừng sự ra đời tiếp tục của Chúa dưới hình hài con người, sự tiếp nối của thiêng liêng hiện ra ở chỗ tầm thường; Chúa, một hài nhi yếu đuối trong máng cỏ.Nhưng để có cái nhìn như vậy chúng ta cần cầu nguyện. Cầu nguyện là cách chủ yếu bảo vệ chúng ta khỏi sự quen nhờn vốn nuôi dưỡng sự xem thường, và là một trong những cách ít ỏi để theo đó chúng ta có thể bắt đầu nhìn bằng đôi mắt sâu sắc hơn của trái tim. Cầu nguyện là cách nâng trái tim và trí óc mình lên Chúa, nhưng nó cũng là một cách, đôi khi là cách duy nhất mà chúng ta có thể thanh lọc và làm sâu sắc cái nhìn của mình. Trải nghiệm của Merton ở góc đường số 4 và đường Walnut ở Louisville là nhờ đã cầu nguyện qua hàng năm dài.

Giáng sinh chỉ được nhìn thấy bởi sự tinh khiết của trái tim hay khi quả tim chúng ta tinh tuyền. Nhưng khi nhìn thấy được, thì đó là hào quang. John Shea, trong một bài thơ Giáng sinh đặc biệt, mời chúng ta luôn mở lớn mắt để đợi sự hiển thị của thiêng liêng nơi con người. Lời mời của Giáng sinh là lời mời nhìn thấy điều thiêng liêng trong lòng các máng cỏ của chúng ta, thân thể Chúa trên bàn và quanh những bàn ăn trong bếp chúng ta, và vầng hào quang nơi các gương mặt quen thuộc:

Ngay cả khi lễ Giáng sinh, khi các vầng hào quang được các nhóm nghiên cứu khảo sát chất lượng trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, các vầng hào quang cũng khó mà thấy được. Nhìn thấy hào quang thì hơn là thấy một dấu hiệu may mắn. Nó đòi hỏi kỹ năng chuyên tâm, cái hành động đơn giản, như Annie Dillard đã phát hiện.

Đó là cách các hào quang được nhìn, bằng nhìn vào tầm cao cả, bằng làm nhỏ đi các thấp hèn trong các nếp gấp đến vô tận. Tôi không biết điều này khi nhìn các cây thông trang hoàng. Nhưng tôi nhìn thấy nơi người phụ nữ đang bận bịu bày bàn ăn lễ Giáng Sinh, tôi đưa mắt nhìn để bắt gặp ánh hào quang trên gương mặt của bà, để ý đến ánh sáng lung linh dọc suốt thân hình bà. Anh sáng lung linh bên ngoài ánh đèn. … Khi nhìn thấy như vậy, tôi không hiểu vì sao tôi xúc động. Tôi chỉ thấy một tình yêu được làm mới, và đó là sứ vụ của các hào quang, là lý do nó được tặng cho chúng ta.

Tôi không phải là không muốn lưu lại hình ảnh này. Anh hào quang không tồn tại mãi dù nó cho chúng ta thấy nó vượt thời gian. Nhưng khi ánh hào quang tắt, nó không tắt một cách thình lình, nó không bỏ lại chúng ta buồn rầu không có ánh sáng.

Nó lùi lại, giống như khi thiên thần Gabriel rời mẹ Maria và mẹ mang thai.

Sự quen thuộc kéo theo sự coi thường. Đó là điểm yếu tiêu biểu nơi bản chất con người. Và có lẽ đó là điều hơn bất cứ điều gì khác đã ngăn không cho chúng ta thấm nhập vào huyền bí của lễ Giáng Sinh, để nhìn ánh hào quang của Thiên Chúa tỏa rạng dưới bề mặt của những gì đã quá quen thuộc với chúng ta.

Chúa Giêsu đòi hỏi các môn đệ đi theo Chúa cầu nguyện, và khi họ cầu nguyện, Chúa và những người chung quanh Chúa đã biến hình và bắt đầu tỏa ánh hào quang rực rỡ. Chúa mời mỗi người chúng ta hướng về cách cầu nguyện đặc biệt này.

Cầu nguyện để tìm kiếm sự hướng dẫn của Chúa

Trong quyển tự truyện Nỗi cô đơn triền miên (The Long Loneliness), Dorothy Day kể một giai đoạn khó khăn trong đời bà. Lúc đó bà vừa trở lại đạo Ki-tô sau một thời gian dài sống vô thần, rồi bà sinh đứa con gái. Trong thời gian sống vô thần, bà yêu một người đàn ông, là cha của đứa con gái; bà và người đàn ông này – hai người vô thần đã bị vỡ mộng với xã hội chính thống – đã thỏa thuận với nhau sẽ không bao giờ làm đám cưới, như một lời tuyên bố chống lại những quy ước truyền thống của xã hội. 

Nhưng việc bà trở lại đạo đã làm cho cuộc sống của bà bị đảo lộn. Người cha của đứa con ra tối hậu thư; nếu bà rửa tội cho con thì ông chấm dứt mối quan hệ với bà. Dorothy chọn làm lễ rửa tội cho con, nhưng đã trả giá rất đắt. Bà yêu sâu đậm người đàn ông này và hết sức đau đớn khi chia tay. Hơn nữa, vì chuyện trở lại đạo, bà bị cắt đứt khỏi tất cả người quen biết cũ trước đây, làm cho bà đau còn hơn mất bạn tâm giao. Nó làm cho bà mất việc, không nguồn hỗ trợ nuôi con, và không còn mục đích trước đây trong đời. Bà cảm thấy cô đơn và lạc lối một cách đau đớn. 

Việc này làm cho bà phải quỳ gối xuống, theo đúng nghĩa đen. Một ngày nọ, bà đi tàu lửa từ New York đến thủ đô Washington và dành cả ngày hôm đó cầu nguyện ở Thánh Đường Quốc Gia Đức Mẹ Vô Nhiễm. Và, như bà chia sẻ trong quyển tự truyện, lời cầu nguyện của bà hôm đó trực tiếp không e ngại, khiêm tốn và rõ ràng. Thiết yếu, bà lặp đi lặp lại với Chúa, rằng bà lạc lối, bà cần một hướng đi rõ ràng cho cuộc đời, bà cần sự hướng dẫn đó ngay bây giờ, không phải ở một tương lai nào xa xôi cả. Và, như Chúa Giê-su trong Vườn Giếtsêmani, bà lặp đi lặp lại lời cầu nguyện nhiều lần. 

Tối hôm đó, bà đi tàu về nhà, khi bước lên căn hộ của mình, bà thấy ông Peter Maurin đang ngồi đợi trên bậc cấp. Ông mời bà khởi công làm việc cho Catholic Worker. Phần còn lại của câu chuyện đã đi vào lịch sử. 

Những lời cầu nguyện của chúng ta không phải bao giờ cũng được đáp lại nhanh chóng và trực tiếp như vậy, nhưng luôn luôn được đáp lại, như Chúa Giê-su đã đoan chắc với chúng ta, bởi vì Chúa không từ chối Thần Khí cho những ai xin nhận. Nếu chúng ta cầu nguyện xin hướng dẫn và hỗ trợ, chúng ta sẽ nhận được sự hướng dẫn và hỗ trợ. 

Trong Thánh Kinh, chúng ta thấy nhiều ví dụ nổi bật về những người, như Dorothy Day, tìm kiếm sự hướng dẫn của Chúa trong cầu nguyện, đặc biệt khi họ cô độc và sợ hãi lúc đứng trước chấn động lớn nào đó hay sắp phải chịu đau khổ trong đời. Ví dụ, chúng ta thấy nơi các nhà Tiên tri, khi lạc lối trong sa mạc và đứng trước cuộc nổi loạn do chính dân của mình, họ đã lên núi Horeb để xin lời khuyên của Chúa. Và chúng ta thấy điều đó khi Chúa Giê-su cũng lên núi Horeb để cầu nguyện, và cầu nguyện suốt đêm trong nhiều đêm, gắng gỗ để tìm được cả sự hướng dẫn lẫn lòng can đảm mà Người cần để thực hiện sứ mạng của mình. 

Nhìn vào lời cầu nguyện của các nhà Tiên tri, Chúa Giê-su, Dorothy Day và vô số những người khác đã cầu nguyện xin Chúa hướng dẫn, chúng ta thấy lời cầu nguyện của họ, đặc biệt khi họ cảm thấy cô độc và tuyệt vọng nhất, có ba đặc điểm: chân thật, trực tiếp và khiêm nhường. Họ nâng trái tim và trí óc của mình lên Chúa, không phải là trái tim hay trí óc của ai khác. Không hề có chuyện làm ra vẻ, biện minh, hay giấu diếm điểm yếu. Họ để tuôn trào nỗi sợ hãi, sự bất tương xứng, nỗi thèm muốn, rối loạn của họ, như những đứa trẻ con vẫn làm khi cầu xin bàn tay của ai đó giúp đỡ. 

Có một điều tương đương thú vị trong một số câu chuyện thần tiên kinh điển của chúng ta, trong đó nhân vật Chúa thường xuất hiện dưới dạng thiên thần, nàng tiên, con cáo hay con ngựa. Và luôn luôn những ai tiếp cận nhân-vật-Chúa đó với lòng tự tin thái quá, kiêu căng, hay giả tạo, thì họ không nhận được lời khuyên hay phép lạ nào. Ngược lại, ai tiếp cận những nhân-vật-Chúa đó với lòng khiêm nhường và công nhận họ lạc đường trong khi đi tìm kiếm thì họ sẽ được cho lời khuyên và phép lạ. Có một bài học cầu nguyện quan trọng trong đó.

Tất cả chúng ta, vào những thời điểm khác nhau trong cuộc đời, đều có lúc cảm thấy cô đơn, lạc lối, rối loạn, và bị quyến dụ hướng về con đường chết. Những lúc đó, chúng ta cần tới bên Chúa với lời cầu nguyện chân thật không e ngại, trực tiếp và khiêm tốn. Giống như Dorothy Day, chúng ta cần tỏ bày ra và dâng nỗi sợ hãi và bất an có thực của chúng ta lên Chúa, cầu nguyện, lặp đi lặp lại nhiều lần: “Con sợ! Con cảm thấy quá cô đơn và cô lập trong chuyện này! Con không muốn làm điều này! Con hoàn toàn không thích hợp! Con không còn sức lực nào cả! Lòng con tràn đầy giận dữ! Con cay đắng về bao nhiêu là chuyện! Con căm ghét một số chỗ mà luân lý Ki-tô của con đã đưa con tới! Con bị quyến dụ theo những cách mà con quá hổ thẹn không dám nói ra! Con cần được hỗ trợ nhiều hơn mức Người vẫn hỗ trợ cho con! Xin gửi đến cho con một ai đó hay gửi cho con điều gì đó! Nếu Người muốn con tiếp tục con đường này thì Người phải giúp con nhiều hơn nữa! Con cần điều đó ngay bây giờ!”

Và rồi chúng ta cần phải chờ đợi, một cách kiên nhẫn, hướng vọng về. Có lẽ chẳng ông Peter Maurin nào sẽ xuất hiện trước bậc cửa nhà chúng ta vào đêm đó, nhưng, khi sự bất-lực-hoang-mạc đã phát huy tác dụng thì một thiên thần sẽ đến truyền sức mạnh cho chúng ta.

Cầu nguyện để không ngã lòng

Một trong những lý do chúng ta cần cầu nguyện là để không ngã lòng. Ai trong chúng ta cũng đã từng bị ngã lòng. Chúng ta ngã lòng khi thất vọng, mệt mỏi, sợ hãi, và bất lực trước các sỉ nhục của cuộc sống hợp lại để làm tê liệt năng lượng, bẽ gãy khả năng chịu đựng, vắt kiệt lòng can đảm và làm cho chúng ta trầm uất, yếu ớt.

Nữ thi sĩ Jill Alexander Essbaum cho chúng ta một ví dụ thấm thía về điều này trong bài thơ Lễ Phục Sinh. Chiêm nghiệm về niềm vui cần được Lễ Phục Sinh mang đến cho đời sống chúng ta, bà chia sẻ rằng thay vào đó, Lễ Phục Sinh có thể là thời gian thất bại của chúng ta vì việc ăn mừng niềm vui này có thể làm nổi bật thêm những khiếm khuyết trong đời sống của chính chúng ta và làm cho chúng ta cảm thấy: Tất cả những ai tôi từng yêu thương đều sống hạnh phúc nhưng đơn giản họ đi qua khỏi tầm với của tôi.

Và cảm giác này có thể làm chúng ta, hoặc suy sụp trong cay đắng hoặc quỳ xuống cầu nguyện; hy vọng là chúng ta cầu nguyện.

Trong kinh thánh có nhiều ví dụ về các nhân vật nam cũng như nữ, khi họ bị tê liệt do sợ hãi, ngã lòng, hay cô đơn, họ lên núi cao hay quỳ gối cầu nguyện. Tôi xin nêu lên hai ví dụ mang tính minh họa rõ nét.

Chúng ta có một ví dụ về việc cầu nguyện để không ngã lòng nơi tiên tri Êlia khi ông bị đe dọa vì lời nói tiên tri của mình. Êlia là nhà tiên tri chân chính và can đảm, nhưng có một lúc trong quá trình mục vụ, ông cực kỳ nản lòng. Dân của ông không còn nghe thông điệp tiên tri của ông, ông chứng kiến một vài tiên tri bạn phải tử nạn, và thông điệp của ông đã làm cho Jezebel, người phụ nữ quyền lực nhất vương quốc khó chịu, bà phái người đi tìm ông để giết. Để chạy trốn khỏi Jezebel, Êlia lên núi Horeb. Tuy nhiên, khi rút vào hang, ông đối diện với tiếng nói của Chúa, Chúa hỏi ông làm gì ở đây. Êlia thú nhận ông quá phiền muộn, sợ bị mất mạng, và bị ngã lòng. Sau khi thú nhận nỗi sợ hãi, Êlia rút vào hang tối, ngồi bất động trong nỗi sợ hãi và trầm uất. Nhưng qua âm thanh của làn gió dịu nhẹ, Chúa đã quyến dụ ông ra cửa hang, nơi Êlia một lần nữa thú nhận nỗi trầm uất và sợ hãi của mình; nhưng lần này là dưới dạng lời cầu nguyện. Và, qua việc cầu nguyện đó, ông lấy lại sức mạnh của trái tim, ông xuống núi, sẵn sàng đối diện với sứ vụ của mình với tất cả mối nguy hiểm đi kèm, với lòng can đảm và nguồn năng lượng mới mẻ. 

Khi tất cả sức lực tiêu tán hết, Êlia đến bên Chúa với tấm lòng yếu ớt của mình, và hành động đó đã làm mới trái tim ông. 

Chúng ta cũng thấy ví dụ này nơi Chúa Giêsu khi Ngài cầu nguyện ở Vườn Giếtsêmani, đối diện với sự thương khó và cái chết của mình. Đó là lúc suy thoái nhất trong cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giê-su: Dân chúng không còn nghe Người, các cơ quan thẩm quyền tôn giáo đang cấu kết với chính quyền dân sự để giết Người; số ít những môn đồ thân cận, những người còn lắng nghe thông điệp của Người, lại không hiểu được, và Người cảm thấy vô cùng cô độc, “một hòn đá bị ném xa khỏi mọi người”. Vì vậy, để khỏi ngã lòng, Người đã quỳ gối cầu nguyện, cầu nguyện tha thiết đến “đổ mồ hôi máu”, nhưng lời cầu nguyện cuối cùng đã kết thúc trong an ủi, với “một thiên thần từ thiên đường xuống để tăng sức mạnh cho Người”. Người đem trái tim tan nát, bị bội bạc, đầy sợ hãi và bị cô lập đau đớn của mình vào trong cầu nguyện, và Người đã được tiếp sức mạnh, được trao thức ăn cần thiết để có lại được lòng can đảm. 

Và như vậy, Chúa Giê-su tương phản với các tông đồ. Ở chính giây phút đó, họ cũng nản lòng, cô độc và sợ hãi. Nhưng họ đã ngủ quên khi Người cầu nguyện, và giấc ngủ của họ, như  Phúc âm ngụ ý, không chỉ có nghĩa đen. Chúng ta được biết, họ “ngủ quên đơn giản là vì muộn phiền”. Căn cốt, họ quá trầm uất đến nỗi không thể nào thức tỉnh lại trước sức mạnh trọn vẹn của cuộc đời họ. Sự ngã lòng này đã làm họ tê liệt trong sợ hãi, và rốt cuộc khi họ hành động thì họ lại hành động theo những cách trái ngược với những gì Chúa Giê-su đã dạy họ. Họ dùng tới vũ lực rồi chạy trốn. Họ không thể nào đối diện sự thống khổ đang treo lơ lửng như Chúa Giê-su bởi vì họ đã không cầu nguyện như Người cầu nguyện. Họ đã ngã lòng. 

Cho dù chúng ta là ai, giàu đến cỡ nào hay may mắn như thế nào, thì cũng không thể nào sống hết cuộc đời này mà không có lúc này lúc khác cảm thấy bị hiểu lầm một cách cay đắng, bị phiền muộn sâu sắc, ngã quỵ trước mệt mỏi đến tê liệt, và đơn giản là ngã lòng. Chúng ta là con người, và giống như Chúa Giê-su, chúng ta cũng sẽ có những ngày cảm thấy mình như  “một hòn đá bị ném xa ra khỏi mọi người”. Và điều đã bị tê liệt sâu thẳm trong chúng ta cũng chính là điều cao cả nhất trong chúng ta: khả năng tha thứ, khả năng tỏa chiếu trái tim quảng đại, hào hiệp, khả năng thấu cảm và thông hiểu, khả năng vui mừng, và khả năng can đảm của chúng ta. Sợ hãi và nản lòng, giống như Êlia, chúng ta rút vào hang tối lòng mình. 

Nhưng vào những phút giây như vậy, có thể chúng ta hiểu bản thân mình theo cách sau đây:  Giống Êlia, chúng ta đang ở trong hang tối, tê liệt vì đã ngã lòng; nhưng Chúa lại đang ở cửa hang, một cơn gió dịu dàng quyến dụ chúng ta trở ra lại cái nơi mà tất cả những người chúng ta thương yêu đều sẽ quay trở về trong tầm với của mình. 

Cầu nguyện đi tìm một chiều sâu

Bài thứ nhất trong loạt bốn bài mùa Vọng về cầu nguyện

Trong những phút giây chiêm nghiệm sâu đậm, chúng ta cảm nhận tầm quan trọng của cầu nguyện; thế nhưng chúng ta lại gắng gỗ chật vật để cầu nguyện. Cầu nguyện sâu đậm, bền bỉ chẳng dễ dàng đến với chúng ta. Tại sao vậy?

Trước hết, chúng ta gắng gỗ chật vật để sắp xếp thì giờ cầu nguyện. Buổi cầu nguyện chẳng tựu thành được điều gì thực tế cho chúng ta, đó là phí phạm thì giờ xét về mặt phải xoay xở giữa những áp lực và nhiệm vụ của đời sống hàng ngày, và vì thế chúng ta ngại đi tới đó. Thêm vào đó, chúng ta thấy khó mà tin tưởng được buổi cầu kinh thật sự có tác dụng và đưa lại điều gì đó thực tế trong đời sống chúng ta. Ngoài chuyện đó ra, chúng ta chật vật để tập trung cho được khi cố gắng cầu nguyện. Một khi thu xếp ngồi xuống cầu nguyện, thì chẳng mấy chốc chúng ta thấy mình tràn ngập trong những mơ mộng hão huyền, những cuộc chuyện trò lỡ dở, những giai điệu nhớ nhớ quên quên, những vụ đau tim, lịch trình công việc, và những nhiệm vụ đang treo lơ lửng sẽ ùa đến ngay khi chúng ta đứng dậy khỏi nơi cầu nguyện. Cuối cùng, chúng ta chật vật cầu nguyện bởi vì thật sự không biết nên cầu nguyện như thế nào. Có thể chúng ta quen thuộc với nhiều hình thức cầu nguyện khác nhau, từ những buổi cầu kinh sùng đạo cho đến những kiểu thiền định khác nhau, nhưng thông thường chúng ta thiếu tự tin nên không nghĩ rằng cái cách cầu nguyện cụ thể của chính mình, với tất cả những điều làm phân tâm, sao nhãng và sơ suất trong đó, chính là kiểu cầu nguyện một cách sâu đậm.

Một trong những nơi chúng ta có thể nhờ cậy là Phúc âm thánh Luca. Hơn bất cứ Phúc âm nào, Phúc âm thánh Luca là Phúc âm về cầu nguyện. Trong Phúc âm này có nhiều nơi mô tả Chúa Giêsu cầu nguyện nhiều hơn ở tất cả các sách Phúc âm khác cộng lại. Thánh Luca cho chúng ta thấy Chúa Giêsu cầu nguyện trong gần như tất cả trạng huống: Người cầu nguyện khi tràn đầy niềm vui, Người cầu nguyện khi đang trong cơn thống khổ; Người cầu nguyện với những người ở bên cạnh, và Người cầu nguyện khi một mình giữa đêm vắng, xa khỏi mọi mối liên hệ với con người. Người cầu nguyện trên núi, ở nơi thiêng liêng, ở bình địa, nơi cuộc sống bình thường diễn ra. Trong Phúc âm của thánh Luca, Chúa Giêsu cầu nguyện rất nhiều.Và các môn đồ của người hiểu rõ bài học này. Họ cảm nhận rằng chiều sâu và sức mạnh thật sự của Chúa Giêsu được khởi từ cầu nguyện của Người. Họ biết rằng điều khiến Người đặc biệt như vậy, hết sức khác những nhân vật tôn giáo khác như vậy, là vì Người được kết nối ở một nơi sâu sắc nào đó với một quyền năng nằm ngoài thế giới này. Và họ cũng muốn họ được như vậy. Đó là lý do tại sao họ đến gặp Chúa Giêsu và xin: “Xin Chúa dạy cho chúng con cầu nguyện!”

Nhưng chúng ta cần cẩn thận để không bị hiểu sai điều gì đã thu hút họ như vậy và họ mong mỏi gì khi xin Chúa Giêsu dạy họ cầu nguyện. Họ cảm nhận cái mà Chúa Giêsu lấy được từ chiều sâu cầu nguyện của mình trước hết không phải là quyền năng để làm phép lạ hay để làm câm bặt các kẻ thù của mình bằng một kiểu trí thông minh siêu việt nào đó. Điều khiến họ cảm động và điều họ cũng muốn cho cuộc sống của chính mình là chiều sâu và lòng khoan dung độ lượng của tâm hồn Người.

Sức mạnh mà họ khâm phục và mong muốn là sức mạnh của chúa Chúa Giêsu trong yêu thương và tha thứ kẻ thù thay vì làm bẽ mặt và chà đạp họ. Điều họ mong muốn là sức mạnh của Chúa Giêsu để chuyển hóa một không gian, không phải bằng một hành động phép lạ nào đó, mà bằng sự trong trắng và tính chất dễ bị tổn thương như thể khiến mọi người đều hạ vũ khí, cũng như sự có mặt của một đứa bé khiến cho mọi người quan tâm để ý đến cách cư xử và lời nói của mình. Điều họ muốn là sức mạnh từ bỏ cuộc đời trong sự tự hy sinh, kể cả khi có được khả năng đáng ghen tị là tận hưởng những niềm vui thú của cuộc đời mà không bị tội lỗi. Điều họ muốn là sức mạnh tấm lòng quảng đại của Chúa Giêsu, để thương yêu vượt ra bên ngoài dòng tộc mình, và thương yêu người giàu lẫn người nghèo, thương yêu từ trong lòng nhân từ, vui vẻ, bình an, kiên nhẫn, tốt lành, chịu đựng, trung tín, nhẹ nhàng, và trinh bạch, bất chấp mọi thứ trong đời ngăn cản những đức hạnh này. Điều họ mong muốn từ là chiều sâu và lòng bao dung độ lượng trong tâm hồn Chúa Giêsu.

Và họ nhận ra rằng cái sức mạnh này không phải đến từ bên trong Người, mà từ một nguồn cội bên ngoài Người. Họ thấy Người kết nối với một nguồn cội sâu xa thông qua cầu nguyện, thông qua việc liên tục nâng cao lên đến với Chúa vốn ở trong tâm trí Người. Họ thấy điều đó và họ cũng muốn mối-liên-hệ-chiều-sâu đó cho chính mình. Vì vậy họ xin Chúa Giêsu dạy họ cầu nguyện.

Rốt cùng, chúng ta cũng muốn có được chiều sâu và lòng khoan dung độ lượng của Chúa Giêsu trong đời sống của chính mình. Giống như các môn đồ của Chúa Giêsu, chúng ta cũng biết rằng chúng ta chỉ có thể đạt được điều này thông qua cầu nguyện, thông qua tiếp cận một sức mạnh nằm ở bên trong chiều sâu sâu thẳm nhất của tâm hồn mình và vượt ra khỏi tâm hồn mình. Chúng ta cũng biết rằng con đường dẫn đến chiều sâu đó nằm ở cuộc hành trình vào nội tâm, trong im lặng, thông qua cả nỗi đau đớn lẫn thầm lặng, hỗn loạn và bình an, con đường sẽ hiện ra với chúng ta khi ta lắng mình để cầu nguyện. 

Trong những giây phút chiêm nghiệm sâu xa, và những phút giây tuyệt vọng, chúng ta đều cảm thấy cần phải cầu nguyện và cố gắng đi đến chỗ sâu xa đó. Nhưng, vì chúng ta thiếu lòng tin tưởng và thiếu thực hành, nên chúng ta gắng gỗ chật vật để tới đó. Chúng ta không biết cầu nguyện như thế nào hay làm sao để duy trì việc cầu nguyện bền bỉ.

Nhưng như vậy chúng ta đang song hành với các môn đồ của Chúa Giêsu. Và thế là, một khởi đầu tốt sẽ là nhận ra chúng ta cần cái gì và tìm ra nó ở đâu. Chúng ta cần bắt đầu với một lời nài xin khẩn thiết: Xin Chúa dạy cho chúng con cầu nguyện!