RonRolheiser,OMI

Mười đấu tranh chủ yếu đức tin của thời đại chúng ta.

Đôi khi cái hành động đơn giản là gọi tên điều gì đó lại là chuyện vô cùng hữu ích. Khi chúng ta chưa thể đặt tên cho một điều gì thì chúng ta bất lực hơn trước tác động của nó, vì không thật sự hiểu được điều gì đang xảy ra với chúng ta. 

Chẳng hạn, nhiều người trong số chúng ta quen thuộc với cuốn Giáo Hội Tương Lai: Mười Xu hướng đang Cách mạng hóa Giáo Hội Thiên Chúa Giáo của chúng ta như thế nào (The Future Church: How Ten Trends are Revolutionalizing the Catholic Church) của tác giả John Allen. Những điều ông gọi tên trong cuốn sách này, kể cả khi chúng không trực tiếp ảnh hưởng đến chúng ta, vẫn giúp định hình chúng ta tốt hơn. Là ký giả đi khắp toàn cầu trong tư cách nhà phân tích Vatican cho cả đài truyền hình CNN và National Catholic Reporter, ông John Allen có thể cho chúng ta một tầm nhìn lớn rộng, toàn cầu về các vấn đề của giáo hội so với bất kỳ cái nhìn chung nào vốn chịu ảnh hưởng nhiều do bãi lầy cảm xúc từ các vấn đề địa phương và quốc gia của chúng ta. Những vấn đề đau đầu tại địa phương của mình có thể làm cho chúng ta không nhìn thấy được những mối quan ngại rộng lớn hơn của cả hành tinh; nhưng ngay khi trực diện với các mối lo và nỗi đau của những người khác thì chúng ta có thể đặt các mối lo và nỗi đau của chính mình vào một tầm nhìn khác lành mạnh hơn. Cái khuôn khổ tham chiếu toàn cầu của John Allen, như thể hiện trong các siêu xu thế mà ông gọi tên trong cuốn sách, giúp chúng ta đặt những mối quan ngại giáo hội của mình vào một quan điểm lành mạnh hơn. 

Và tôi cũng cố gắng thử đặt tên đôi điều như sau: Vài năm trước, trong một cuộc phỏng vấn, John Allen đề nghị tôi liệt kê một danh sách những điều mà tôi coi là mười đấu tranh chủ yếu về đức tin và giáo hội của thời đại chúng ta. Tôi coi đề nghị đó là một thử thách lành mạnh và danh sách sau đây, chắc chắn ít mang quan điểm toàn cầu hơn mười xu thế của Allen (Tôi sợ rằng tầm nhìn của tôi nói nhiều cho văn hóa phương Tây và văn hóa thế tục hơn là cho thế giới nói chung), là cố gắng chỉ của riêng tôi để gọi tên những đấu tranh khó khăn chủ yếu về mặt đức tin và giáo hội mà chúng ta phải xử lý ngày hôm nay.

Mười đấu tranh khó khăn chủ yếu về đức tin và giáo hội của thời đại chúng ta, ít nhất thể hiện ở những nơi mà phần thế tục hóa nhiều hơn trên thế giới chúng ta, là gì?

1. Đấu tranh với tính chất vô thần trong ý thức hàng ngày của chúng ta, nghĩa là khó khăn để có cảm thức thiết yếu về Chúa trong một nền văn hóa thế tục, mà xét cả mặt tốt lẫn xấu, là thuốc phiện hạng mạnh nhất từng xâm nhập trên quả địa cầu này… Nỗ lực đấu tranh để có ý thức về Chúa ở bên ngoài giáo hội và các tổ chức tôn giáo có tôn chỉ rõ rệt.

2. Đấu tranh để sống trong các cộng đoàn tan rã, chia rẽ và phân cực cao độ, mà bản thân chúng ta là những người bị tổn thương, làm sao mang trong mình mối căng thẳng đó mà không bất nhẫn và không giáng trả lại mối căng thẳng đó qua các hình thức cụ thể… Nỗ lực đấu tranh bên trong cái tôi bị thương tổn của chính mình để làm người chữa lành và người đem an lạc hơn là để bản thân mình góp thêm vào mối căng thẳng đó. 

3. Đấu tranh để sống, thương yêu và tha thứ vượt lên trên các ý thức hệ có tính lây lan mà chúng ta hít thở mỗi ngày, nghĩa là, nỗ lực đấu tranh để có lòng chân thành đích thật, để biết một cách chân thật và đi theo chính trái tim và khối óc của mình vượt lên trên những gì đã được cánh tả cánh hữu kê đơn sẵn cho chúng ta… đấu tranh khó khăn để không trở thành kẻ tự do cũng không thành người bảo thủ, mà là những con người của lòng trắc ẩn đích thật.

4. Đấu tranh với tính dục của mình mà không cứng nhắc quá đáng cũng không vô trách nhiệm, đấu tranh chật vật để có tính dục lành mạnh, vừa tôn trọng phù hợp, vừa vui thích phù hợp trong cái quyền năng to lớn này.. đấu tranh khó khăn với tính dục của mình theo một cách vừa rạng tỏa sự trinh bạch lẫn niềm đam mê.

5. Đấu tranh để có tính nội tâm và cầu nguyện trong một nền văn hóa với cơn khát triền miên thông tin và các trò giải trí, đã gần như tạo nên sự thông đồng chống lại chiều sâu và sự cô độc, che mờ sự yên lặng trên thế giới chúng ta… đấu tranh chật vật để hướng tầm mắt của mình vượt ra ngoài các màn hình số để tới một chân trời sâu sắc hơn.

6. Đấu tranh chật vật để xử lý một cách lành mạnh với những “con rồng” của mỗi cá nhân, đó là vĩ cuồng, tham vọng, bất an đã thành bệnh lý, trong lòng một nền văn hóa mà mỗi ngày vẫn kích thích quá mức những điều đó, nỗ lực chật vật để xử lý lành mạnh một cách xác quyết lẫn phủ nhận.. nỗ lực chật vật trong lòng một môi trường bất an và bị kích thích quá mức để tìm ra và thường xuyên duy trì được mức cân bằng tinh tế giữa trầm cảm và hưng cảm. 

7. Đấu tranh để không bị kích hoạt bởi bệnh tưởng, sợ hãi, hẹp hòi và bảo hộ quá mức trước chủ nghĩa khủng bố và phức cảm siêu cường.. nỗ lực chật vật để không để cho nhu cầu được rõ ràng và an toàn của chúng  ta đè bẹp lòng trắc ẩn và chân lý.

8. Đấu tranh khó khăn với nỗi cô đơn đạo đức trong lòng tôn giáo, văn hóa, chính trị và luân lý… nỗ lực chật vật để tìm người bạn lòng, người gặp gỡ ta và ngủ với ta trong trọng tâm luân lý của ta.

9. Đấu tranh để gắn đức tin với công lý… chật vật để có được một thư giới thiệu của người nghèo, để liên kết phúc âm về mặt thể chế với đường phố, để vẫn ở bên phía những người nghèo.

10. Đấu tranh vì cộng đoàn và nhà thờ, nỗ lực chật vật trong lòng một nền văn hóa của cái tôi quá mức để tìm được ranh giới lành mạnh giữa cá nhân và cộng đoàn, thiêng liêng và giáo hội…, nỗ lực chật vật trong tư cách những đứa con người lớn của sự Khai Sáng để vừa trưởng thành và tha thiết, thiêng liêng và gắn với giáo hội.

Một danh sách kiểu này có giá trị gì? Đặt tên cho sự việc và đặt tên chính xác cho chúng là chuyện quan trọng; mặc dù, phải thừa nhận là, tự cái việc đơn thuần đặt tên cho một căn bệnh thì không thể chữa lành bệnh. Tuy nhiên, như James Hillman từng phát biểu một cách thông thái, một triệu chứng bệnh sẽ gây đau đớn khó chịu nhất khi ta không biết nó thuộc loại gì. 

Mùa xuân và lễ Phục Sinh

Hồi tôi ngoài 20, tôi học một năm ở Viện Đại học San Francisco. Lúc đó tôi vừa chịu chức làm linh mục và đang học gần xong cao học về thần học. Ngày chủ nhật Lễ Phục sinh năm đó là một ngày mùa xuân nắng ấm đẹp tuyệt vời, nhưng tâm trạng tôi thì không theo nắng ấm. Tôi đang xa nhà, xa gia đình, xa cộng đoàn, tôi nhớ nhà và cô đơn. Gần như tất cả bạn bè tôi quen thân trong suốt năm học và các sinh viên cao học thần học đều về với gia đình dịp lễ Phục sinh. Tôi nhớ nhà và cô đơn, hơn thế nữa, tôi đang ấp ủ những vẩn vơ mơ mộng của tuổi trẻ và lòng dạ cứ không yên. Tâm trạng của tôi còn lâu mới là tâm trạng của mùa xuân và của lễ Phục sinh.

Chiều hôm đó tôi đi dạo nhưng không khí mùa xuân, nắng ấm và lễ Phục sinh chẳng làm tôi vui, nếu có chăng thì chúng chỉ làm tôi cảm thấy cô độc thêm mà thôi. Nhưng có nhiều cách khác nhau để tỉnh dậy. Như Leonard Cohen nói, cái gì cũng có một kẽ nứt và ánh sáng sẽ lọt vào. Tôi chỉ cần một chút tỉnh thức nhỏ thôi và tôi đã có. Hôm đó tôi thấy một người ăn mày đang ngồi ở lối vào công viên với một tấm biển để trước mặt: Bây giờ là mùa xuân mà tôi lại bị mù! Tôi như thấy điều oái ăm đó nơi tôi: Tôi cũng mù như ông ấy! Với những gì tôi đang thấy thì cũng y như ngày Thứ sáu tuần thánh, mưa và lạnh lẽo. Còn ánh nắng, mùa xuân và lễ Phục sinh thì tôi đã phí hoài.

Đó là giây phút ân sủng, và từ đó, rất nhiều lần tôi nhớ lại giây phút này, nhưng lúc đó thì tâm trạng tôi không hề thay đổi. Tôi tiếp tục đi bộ, vẫn bứt rứt và rồi tôi về nhà ăn tối. Trong suốt năm học đó, tôi là tuyên úy cho nhà dòng, dòng có một ký túc xá thanh niên bên cạnh và luật của nơi này là tuyên úy phải ăn một mình, trong phòng ăn riêng của mình. Vì thế, dù chuyện ăn riêng một mình chắc bác sĩ sẽ không kê đơn cho một thanh niên đang bứt rứt, đang nhớ nhà, vậy mà tôi vẫn phải ăn một mình vào tối chủ nhật Phục sinh đó. 

Nhưng sự sống dậy đã đến với tôi vào ngày Chủ nhật Phục sinh năm đó, dù hơi muộn: Trước đó, hai sinh viên cao học khác và tôi đã lên kế hoạch sẽ gặp nhau trên bãi biển khi đêm xuống, đốt một đống lửa lớn, và sẽ mừng lễ Vọng theo kiểu riêng của chúng tôi. Thế là, ngay trước khi trời xẩm tối, tôi đi xe buýt đến bãi biển và gặp hai bạn của tôi (một nữ tu và một linh mục). Chúng tôi châm một đống lửa lớn (hồi đó vẫn được phép làm như vậy), ngồi quanh đống lửa trong vài giờ, và cuối cùng thú nhận với nhau rằng mỗi đứa đều có một ngày lễ Phục sinh buồn. Ngọn lửa đó đã làm cho chúng tôi điều mà lời chúc lành của ngọn lửa đêm vọng Phục sinh đã không làm được. Nó làm sống dậy trong chúng tôi cảm thức về năng lượng và một sự tươi mới vốn ở trong chính trái tim cuộc sống. Khi chúng tôi nhìn ngọn lửa và trò chuyện linh tinh trên trời dưới đất, tâm trạng tôi bắt đầu chuyển biến, tôi bớt bứt rứt, và tâm trạng nặng nề như được cất dỡ. Tôi bắt đầu cảm thấy mùa xuân và lễ Phục sinh. 

Trong Phúc âm của thánh Gioan về việc Chúa sống lại, ông kể chuyện vào buổi sáng đầu tiên của Phục sinh, Người Môn Đồ Đức Giêsu Thương Mến chạy đến mộ Người và ghé mắt nhìn vào. Ông thấy hầm mộ trống và tất cả những gì còn lại là băng vải liệm đã được xếp gọn. Và, bởi vì ông là người môn đồ nhìn với đôi mắt của tình thương yêu, nên ông hiểu ý nghĩa của tất cả những điều đó, ông hiểu được sự phục sinh và biết rằng Chúa Giêsu đã sống lại. Ông thấy được mùa xuân. Ông hiểu được bằng đôi mắt của mình. 

Hugo của Thánh Vícto từng nói một câu nổi tiếng: Tình yêu là mắt nhìn. Khi chúng ta nhìn với tình yêu thì chúng ta không chỉ thấy thẳng và rõ, chúng ta còn nhìn thấy được chiều sâu và ý nghĩa. Điều ngược lại cũng đúng. Chẳng phải tự nhiên mà sau khi Chúa Giêsu sống lại, một số người có thể thấy, một số khác không thể thấy. Tình yêu là mắt nhìn. Những ai kiếm tìm cuộc sống qua đôi mắt của tình thương, như Mary Magdala kiếm tìm Giê-su trong Vườn vào sáng Chủ nhật Phục sinh, thì thấy được mùa xuân và sự sống lại. Nếu nhìn bằng bất kỳ loại mắt nào khác thì chúng ta mù ngay giữa mùa xuân.

Khi tôi đi dạo vào buổi chiều mùa xuân Phục sinh đó ở San Francisco cách đây bao nhiêu năm, tôi không phải là Mary Magdala đang đi tìm Chúa trong khu vườn, cũng không phải là Người Môn Đồ Yêu Dấu với ngọn lửa thương yêu nung nấu đang chạy đi để nhìn qua khe vào hầm mộ của Chúa Giêsu. Trong nỗi bất an thời thanh niên, lúc đó tôi đang đi kiếm tìm chính tôi, và tôi chỉ gặp được cái tôi đang lo lắng của mình. Đó cũng là một loại mù. 

Không có đôi mắt của tình thương yêu thì chúng ta mù, không thấy mùa xuân lẫn sự sống lại. Tôi đã học được bài học thần học đó, không phải trong nhà thờ hay trong lớp học mà vào một ngày chủ nhật Phục sinh cô đơn ở San Francisco khi tôi tình cờ gặp người ăn xin mù rồi đi về nhà và ăn bữa ăn tối Phục sinh một mình.

Cách xa mọi người một tầm quăng đá 

Chân lý tìm thấy chúng ta theo nhiều con đường khác nhau. Đôi khi chúng ta biết được ý nghĩa điều gì đó không phải trong lớp học mà trong phòng bệnh viện.

Vài năm trước, tôi đến bệnh viện thăm một người sắp chết vì ung thư. Ông sắp chết nhưng tinh thần vững, dù không có ai chết mà dễ dàng được. Ông cảm thấy cô đơn tận cùng dù chung quanh ông toàn những người thương yêu thương ông sâu đậm. Ông mô tả như sau: “Tôi có người vợ tuyệt vời và những đứa con tuyệt vời, rất nhiều người thân và bè bạn. Gần như phút nào cũng có người nắm bàn tay tôi, nhưng … Tôi vẫn cách xa mọi người một tầm quăng đá. Tôi đang chết dần còn họ thì không. Tôi đang bước vào một nơi mà họ không thể nào đến. Đang chết dần, cô đơn một cách khủng khiếp.”

Ông đã mượn một câu trong Phúc âm thánh Luca, câu Chúa Giêsu nói với các môn đệ ở vườn Giếtsêmani đêm trước khi chết. Người mời họ cùng cầu nguyện với mình trong khi Người cố gắng chiến đấu để có sức mạnh đối diện với cái chết; nhưng, như thánh Luca nói thêm một cách khó hiểu, khi Người đổ mồ hôi máu, người cách xa họ “một tầm quăng đá.”

Một tầm quăng đá thì cách bao xa? Đủ xa để anh bị bỏ lại ở một nơi không ai có thể với tới. Cũng như khi chúng ta sinh ra một mình từ lòng mẹ, chúng ta cũng sẽ rời trần gian này một mình. Giêsu, cũng giống người đàn ông tôi vừa kể, cũng đối diện với cái chết, biết rằng mọi người thương yêu mình, nhưng ông cũng biết, một khi đứng trước cái chết, ông sẽ đi vào một nơi, ở đó ông hg cô độc, một mình.  

Và việc nhấn mạnh tính chất một mình này thật sự là một trong những điểm chủ yếu trong các bài Thương Khó. Khi mô tả cái chết của Chúa Giêsu, có lẽ hơn bất cứ điều gì, các Phúc âm muốn chúng ta tập trung chú ý tới sự cô độc của Người, việc Người bị bỏ rơi, cách xa tất cả mọi người một tầm quăng đá. 

Tôi chắc chắn nhiều người trong chúng ta đã xem bộ phim nổi tiếng Sự Thương Khó của Chúa Giêsu của Mel Gibson. Mặc dù bộ phim chắc chắn là một tác phẩm nghệ thuật xứng đáng, nhưng nó lại làm chúng ta xao lãng chứ không có ích xét về mặt giúp có thể hiểu được sự thương khó của Giêsu. Tại sao vậy? Vì bộ phim này quá nhấn mạnh tới nỗi đau đớn thể xác của Chúa Giêsu, chính là điều mà các Phúc âm không làm. Đúng hơn, các Phúc âm cố tình giảm đi những gì Chúa Giêsu phải chịu về mặt thể xác vì muốn chúng ta tập trung chú ý vào một điều khác, đó là nỗi đau đớn về mặt tinh thần và tình cảm của Người, đặc biệt là cảm giác bị bỏ rơi, cô đơn, không có một hỗ trợ sâu sắc nào của người chung quanh trong thời điểm cùng cực này của cuộc đời, và sự thiếu vắng này càng nặng nề hơn trước điều dường như là sự vắng mặt của Thien Chúa. Trong giờ khắc cô đơn nhất, Chúa Giêsu không có một người bạn tâm tình nào, không có một nguồn an ủi thiêng liêng nào. Theo từ dùng của Gil Bailie, người là kẻ-vô-danh-tiểu-tốt. Không còn cảm giác bị bỏ rơi nào sâu đậm hơn thế nữa.

Và chính trong nỗi cô độc thống thiết đó mà Chúa Giêsu đã tiếp tục hiến dâng với lòng tin tưởng, tình thương yêu, lòng vị tha, và đức tin. Dễ dàng tin vào tình yêu khi chúng ta cảm thấy được thương yêu; dễ dàng tha thứ cho kẻ khác khi họ biết ơn chúng ta; và dễ dàng tin vào Chúa khi chúng ta cảm thấy sự hiện diện của Chúa một cách mạnh mẽ. Điều khó khăn, “phép thử”, chỉ đến khi tình thương yêu của con người và niềm an ủi thiêng liêng đều sụp đổ, khi chúng ta thấy vây quanh mình là hiểu lầm, bỏ rơi, thất tín, căm thù và nghi kỵ, đặc biệt vào giờ phút cô đơn nhất của chúng ta, đúng vào giây phút cuộc đời tăm tối. Lúc đó chúng ta đáp lại như thế nào?

Liệu tình thương yêu, lòng tin tưởng, lòng vị tha và đức tin trong tim chúng ta có sụp đổ không khi những trụ cột tình cảm thường khi vẫn chống đỡ chúng ta sụp đổ? Liệu chúng ta có tha thứ cho kẻ đang làm chúng ta đau khổ khi người đó nghĩ chính chúng ta gây ra vấn đề? Liệu chúng ta có tiếp tục yêu thương một người thù hận chúng ta hay không? Liệu chúng ta có thể tiếp tục tin vào lòng tin tưởng khi bất cứ nơi nào xung quanh chúng ta đều nếm trải sự phản bội? Liệu chúng ta có thể để cho đôi tay và trái tim của mình mở ra, kéo căng ra và đóng đinh trên thập giá được hay không khi chúng ta đang sợ hãi? Liệu chúng ta có thể vẫn giữ đức tin nơi Chúa hay không khi mỗi một cảm xúc trong lòng đều nói rằng Chúa đã bỏ rơi ta? Liệu chúng ta còn trao gửi linh hồn mình hay không khi cảm thấy tuyệt nhiên không có một hỗ trợ thiêng liêng hay của con người nào? Trái tim chúng ta sẽ nằm ở đâu khi chúng ta cách xa mọi người “một tầm quăng đá”?

Chính điều đó, chứ không phải khả năng chịu đựng nhục hình đóng đinh, mới là phép thử thật sự bên trong sự thương khó của Chúa Giêsu. Nỗi thống khổ của Chúa Giêsu ở Vườn Giếtsêmani không phải là đau khổ về chuyện để mình bị giết chết hay chuyện Người sẽ viện đến quyền năng thiêng liêng và thoát được. Người ý thức mình sắp chết. Câu hỏi đối với người, đúng hơn là, sẽ chết như thế nào: Liệu người có thể tiếp tục hiến mình cho Chúa và cho chân lý mà trước đó Người đã biết, trong khi bây giờ điều đó dường như đã bị mọi thứ xung quanh làm đảo ngược hoàn toàn? Liệu người có thể giữ được lòng tin? Linh hốn Người sẽ như thế nào khi Người trút linh hồn? Linh hồn đó sẽ đầy lòng biết ơn hay chua chát? Xả bỏ hay ôm mối thù? Đầy thương yêu hay đầy thù hận? Tín thác hay hoảng loạn? Tràn đầy hy vọng hay tuyệt vọng?

Và đó cũng sẽ là phép thử của chúng ta vào giờ cuối. Rồi một ngày mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ phải “trút” linh hồn mình. Trong lòng kẻ-vô-danh-tiểu-tốt lúc đó, trái tim chúng ta sẽ nồng ấm hay chua chát đây? 

Nỗi sợ thiêng liêng và không thiêng liêng

Không phải nỗi sợ nào khi được tạo ra cũng bằng nhau, ít nhất là về mặt tôn giáo. Có nỗi sợ lành mạnh và tốt đẹp, một dấu hiệu của sự trưởng thành và tình thương yêu. Cũng có nỗi sợ xấu, chặn lại sự trưởng thành và tình thương yêu. Nhưng cần giải thích điều này rõ hơn.

Trong các giới tôn giáo có nhiều hiểu lầm về nỗi sợ, đặc biệt xung quanh phần Thánh Kinh nói rằng nỗi sợ Chúa là khởi nguồn của minh triết. Những đoạn kinh văn như vậy, cũng như tôn giáo nói chung, quá thường xuyên bị sử dụng để nhân danh Chúa mà khơi lên một nỗi sợ hãi không lành mạnh trong lòng con người. Chúng ta cần sống trong “nỗi sợ thiêng liêng”, nhưng nỗi sợ thiêng liêng là một loại sợ rất đặc biệt mà chúng ta không nên nhầm với những nỗi sợ hãi như chúng ta thường hiểu.

“Nỗi sợ thiêng liêng” là gì? Loại nỗi sợ nào là lành mạnh? Loại nỗi sợ nào làm khởi lên minh triết?

Nỗi sợ thiêng liêng là nỗi sợ của tình thương yêu, nghĩa là, loại nỗi sợ được tình thương yêu truyền cảm hứng. Đó là nỗi sợ dựa trên sự tôn kính và kính trọng đối với một người hay một sự vật mà chúng ta thương yêu. Khi chúng ta thương yêu đích thực một người nào chúng ta sẽ sống trong một mối băn khoăn lành mạnh, một nỗi lo lắng để hành động của chúng ta không bao giờ làm người đó thất vọng, hoặc xâm phạm hay thiếu tôn trọng người đó. Chúng ta sống trong nỗi sợ thiêng liêng khi chúng ta băn khoăn làm sao để không phản bội lòng tin hay lo lắng chuyện thiếu tôn trọng một ai đó. Nhưng điều đó rất khác so với chuyện sợ hãi một ai hay sợ hãi chuyện bị trừng phạt.

Quyền lực xấu hay thẩm quyền xấu bắt buộc người khác sợ hãi chúng. Chúa không bao giờ là loại quyền lực hay thẩm quyền đó. Chúa bước vào trần gian chúng ta như một em bé yếu đuối và quyền năng của Chúa cũng theo cách đó. Trẻ con không đe dọa ai, mà chúng gợi cảm hứng về nỗi sợ thiêng liêng. Chúng ta cẩn trọng trong lời nói và hành động của mình khi ở cạnh trẻ con không phải vì chúng đe dọa chúng ta, mà đúng hơn là chính tính chất yếu đuối và sự ngây thơ vô tội của chúng đã gợi lên một nỗi lo trong chúng ta khiến chúng ta muốn là những gì tốt đẹp nhất khi ở cạnh chúng. 

Phúc âm là để gợi lên loại nỗi sợ đó. Chúa là Tình Thương, là quyền năng nhân từ, là uy quyền độ lượng, không phải là một người nào đó để sợ hãi. Thực ra [nếu thế gian này ai cũng đáng sợ hãi thì] Chúa là người cuối cùng trên thế gian này mà chúng ta phải sợ. Chúa Giê-su đến để dỡ bỏ nỗi sợ hãi cho chúng ta. Hầu như bất kỳ mặc khải nào trong Thánh Kinh (khi Chúa xuất hiện) đều bắt đầu với những từ sau: “Đừng sợ!” Những gì làm chúng ta hoảng sợ không đến từ Chúa. 

Trong sách thánh Do Thái, trong sách Cựu ước Ki-tô, vua David được xem như người lĩnh hội điều này tốt nhất. Trong số tất cả nhân vật trong Cựu ước, kể cả các vị Mô-sê và các nhà tiên tri vĩ đại, David được mô tả như nhân vật hiện thân rõ rệt nhất cho cái gọi là bước đi trên mặt đất này trong hình ảnh và đồng dạng với Chúa, thậm chí ngay cả khi ông phạm vào lòng tin tưởng đó rất nặng. Cho dù có tội lỗi lớn, nhưng chính David, chứ không phải các vị các nhà tiên tri hay ông Mô-sê, là dòng dõi của Chúa Giê-su. David chính là hình ảnh Chúa Kitô trong Cựu ước. Ông bước đi trong nỗi sợ thiêng liêng đối với Chúa, mà không bao giờ trong nỗi sợ hãi không lành mạnh.

Chỉ xin dẫn ra một ví dụ nổi bật: Sách các Vì Vua kể lại một câu chuyện, ngày nọ David đang cùng binh lính từ chiến trường trở về. Đoàn quân của ông đói lả. Thức ăn duy nhất còn lại là bánh mì trong đền thờ. David hỏi xin bánh mì đó và được đáp là bánh đó chỉ được duy nhất sử dụng bởi các thầy tế trong nghi lễ thiêng liêng. Ông trả lời thầy tư tế đại ý thế này: “Ta là Vua, do Chúa đặt ở đây để hành động một cách có trách nhiệm nhân danh người. Chúng ta thông thường không hỏi xin bánh mì của điện thờ, nhưng đây là ngoại lệ, là một vấn đề cấp bách, binh lính cần bánh mì, và Chúa hẳn muốn chúng ta làm điều đó một cách có trách nhiệm.” Và thế là ông lấy bánh mì trên điện thờ và cho quân lính ăn. Trong Phúc âm, Chúa Giê-su khen ngợi hành động này của David và yêu cầu chúng ta bắt chước như vậy, người nói với chúng ta rằng chúng ta không phải được tạo ra cho Lễ Xa-bát, mà là Lễ Xa-bát được tạo ra cho chúng ta. 

Một người mẹ trẻ kể cho tôi nghe câu chuyện này: Đứa con trai 6 tuổi của cô vừa mới đi học. Cô dạy cậu bé quỳ xuống cạnh giường hàng đêm trước khi đi ngủ và đọc vài kinh buổi tối. Một đêm nọ, chỉ sau khi bắt đầu đi học một thời gian ngắn, cậu bé nhảy phóc lên giường khi chưa quỳ xuống đọc kinh. Ngạc nghiên, cô hỏi con: “Con không cầu nguyện gì nữa hay sao?” Cậu trả lời: “Không, con không cầu nguyện. Cô giáo con ở trường nói với chúng con là chúng con không phải cầu nguyện. Cô nói là chúng con phải nói chuyện với Chúa… mà tối nay con mệt và chẳng có gì để nói cả!”

Giống Vua David, cậu bé cũng đã phân biệt được thế nào thật sự là đứa trẻ của Chúa và Chúa đúng thật không phải là một luật lệ để tuân theo mà là một sự hiện diện bao dung mong muốn một mối quan hệ thương yêu lẫn nhau, một mối quan hệ của nỗi sợ thiêng liêng. 

Tìm Thiên Chúa giữa rất nhiều tiếng gọi

Chúng ta bị bao vây bởi rất nhiều tiếng gọi. Hiếm có giây phút nào trong đời sống mà chúng ta không có ai hay không có cái gì đang gọi tới, ngay cả trong giấc ngủ, những giấc mơ và những cơn ác mộng cũng bắt chúng ta phải chú ý. Và mỗi một tiếng gọi đều có nhịp điệu và thông điệp riêng của nó. Một số giọng mời gọi chúng ta bước vào, hứa hẹn một cuộc sống tươi đẹp nếu chúng ta làm cái này hay cái nọ, mua sản phẩm này hay ý tưởng kia; một số giọng đe dọa chúng ta. Một số giọng dẫn dắt chúng ta đến gần với thù hận, cay đắng và tức giận, có những giọng khác đòi hỏi chúng ta cố gắng hướng tới thương yêu, lòng biết ơn và tha thứ. Một số tiếng gọi nói với chúng ta rằng chúng đùa cợt và vui nhộn, chứ không phải là chuyện nghiêm túc, lại có những tiếng gọi khác tuyên bố hùng hồn rằng mình là cấp bách và quan trọng, là tiếng gọi của chân lý không thể kỳ kèo, tiếng gọi của Thiên Chúa.

Trong tất cả những tiếng đó, đâu là tiếng gọi của Thiên Chúa? Làm thế nào chúng ta nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa giữa tất cả những giọng đó và khi đang theo những tiếng gọi đó?

Không dễ trả lời. Như Thánh Kinh nói cho chúng ta biết, Thiên Chúa là tác giả của tất cả những gì tốt đẹp, cho dù chúng có mang nhãn tôn giáo hay không. Vì thế, tiếng gọi của Thiên Chúa nằm trong mọi sự vật và sự việc không bộc lộ một liên hệ rõ rệt với đức tin và tôn giáo, cũng giống như tiếng gọi của Thiên Chúa không nằm trong tất cả những sự vật và sự việc giả dạng tôn giáo. Nhưng làm sao chúng ta phân biệt được? 

Chúa Giê-su cho chúng ta một hình ảnh ẩn dụ tuyệt vời để suy ngẫm, nhưng nó chính xác chỉ là một phép ẩn dụ: Người nói với chúng ta rằng Người là “Mục Tử Tốt Lành,” các con chiên của Người sẽ nhận ra tiếng gọi của Người giữa tất cả những tiếng gọi khác. Ban đêm, để bảo vệ và để các con cừu có bầu bạn, các mục tử thường đưa tất cả các đàn cừu của mình vào một bãi quây trên đồng. Sáng hôm sau, họ tách các đàn ra bằng cách cất tiếng gọi các con cừu của đàn mình. Mỗi mục tử  luyện cho những con cừu của mình quen với giọng của mình và chỉ có giọng đó mà thôi. Mục tử thường đi cách xa bãi quây rồi gọi các con cừu, thường là bằng tên riêng của chúng, và rồi chúng sẽ đi theo anh ta. Những con cừu của anh đã quá quen với giọng của anh nên chúng sẽ không đi theo tiếng gọi của người chăn cừu khác, kể cả khi người đó cố lừa chúng (những người chăn cừu thường làm như vậy để ăn cắp cừu của người khác) bằng cách giả giọng chủ. Giống như một đứa bé con, đến một lúc sẽ không thấy thích thú với giọng âu yếm của người trông trẻ nữa mà chỉ muốn và cần giọng của mẹ mình, mỗi con cừu đều nhận ra một cách mật thiết tiếng gọi đang bảo vệ chúng và sẽ không đi theo tiếng gọi khác. 

Chúng ta cũng như vậy: Giữa tất cả những tiếng gọi đang bao quanh và dẫn dụ, làm sao chúng ta phân biệt được nhịp điệu riêng biệt tiếng gọi của Thiên Chúa? Đâu là tiếng gọi của Người Mịc Tử Tốt Lành?

Không hề có câu trả lời dễ dàng và đôi khi điều tốt nhất chúng ta có thể làm được là tin vào linh tính của mình về điều gì đúng điều gì sai. Nhưng có nhiều nguyên tắc từ Chúa Giê-su, Thánh Kinh, và từ những mạch nguồn sâu thẳm của truyền thống Ki-tô của chúng ta vốn có thể giúp ích cho chúng ta. Dưới đây là một loạt các nguyên tắc giúp chúng ta phân biệt được tiếng gọi của Thiên Chúa giữa vô vàn tiếng đang gọi chúng ta. Đâu là nhịp điệu riêng biệt trong tiếng gọi của Người Mục Tử Tốt Lành?- Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra trong những lời thì thầm và giọng khẽ, cũng như trong sấm chớp và bão giông.- Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra ở đâu có vui vẻ, sức khỏe, màu sắc, hài hước và ngay cả ở đâu có chết chóc, đau khổ, nghèo khổ, tinh thần xuống thấp.- Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra trong những gì mời gọi chúng ta tới những gì cao hơn, đặt riêng chúng ta ra để dành cho những công việc, mời gọi chúng ta đến với thần thánh, cũng như trong những gì mời gọi chúng ta đến với lòng khiêm tốn, ngấm sâu trong lòng  nhân đạo, và trong những gì không chịu phỉ báng lòng nhân đạo.- Tiếng gọi của Thiên Chúa được nhận ra trong những gì có vẻ “xa lạ”, như là kẻ khác, “kẻ xa lạ” trong đời sống chúng ta, cũng như trong tiếng gọi chúng ta về chốn quê nhà thân thuộc.- Tiếng gọi của Thiên Chúa là tiếng gọi thách thức nhất và kéo căng chúng ta nhất, cũng như đó là tiếng gọi duy nhất mà rốt cùng xoa dịu và an ủi chúng ta. – Tiếng gọi của Thiên Chúa bước vào đời chúng ta như là quyền năng lớn lao nhất trong mọi quyền năng, cũng như nó vĩnh viễn nằm trong những gì mong manh dễ bị thương tổn, giống như một đứa bé yếu đuối trên cọng rơm.- Tiếng gọi của Thiên Chúa luôn luôn được nghe thấy theo cách được ưu ái ở nơi người nghèo, cũng như nó báo hiệu cho chúng ta qua giọng của các nghệ sĩ và người trí thức.- Tiếng gọi của Thiên Chúa luôn luôn mời gọi chúng ta sống vượt lên trên mọi nỗi sợ hãi, cũng như nó gợi cảm hứng về nỗi sợ hãi thiêng liêng.- Tiếng gọi của Thiên Chúa luôn luôn được nghe thấy trong quà tặng của Chúa Thánh thần, cũng như nó mời gọi chúng ta đừng bao giờ chối gạt những nỗi phức tạp của thế giới này và của cuộc sống chính mình.- Tiếng gọi của Thiên Chúa luôn luôn được nghe thấy ở bất cứ nơi nào có niềm sung sướng đích thực và lòng biết ơn đích thực, cũng như nó đòi hỏi chúng ta gạt bỏ cái tôi của mình, hy sinh vì nghĩa lớn và thong dong coi mọi chuyện trên trần gian này là tương đối.

Dường như, tiếng gọi của Thiên Chúa vĩnh viễn tìm thấy trong nghịch lý.

Tẩy trần và thăng hoa

Ăn mừng là một chuyện mâu thuẫn, là do có sự tác động lẫn nhau giữa nỗi mong chờ và thành tựu, nỗi khát khao và việc dang dở chưa thành, cái tầm thường và điều đặc biệt, công việc và vui chơi. Cuộc sống và tình yêu phải được ăn mừng theo một nhịp điệu “nhịn đói – tiệc tùng” nào đó. Thời vui chơi sẽ có lợi ích nhất khi đi sau những giây phút làm việc, thời hưởng thụ sẽ càng được tôn lên bởi những thời khát khao, còn thời thân mật sẽ nảy nở từ những thời cô độc. Sự có mặt là tùy thuộc vào sự vắng mặt, sự thân thiết tùy thuộc vào sự cô độc, vui chơi tùy thuộc vào công việc. Kể cả Chúa cũng chỉ nghỉ ngơi sau khi đã làm việc sáu ngày!

Ngày nay chúng ta chật vật vì điều này. Nhiều hội hè tiệc tùng của chúng ta trở nên nhạt nhẽo vì trước đó chưa có thời nhịn đói. Ngày xưa, thường có một kỳ nhịn đói dài trước khi diễn ra một buổi hội hè, và sau đó là một lễ mừng vui vẻ. Ngày nay, chúng ta làm ngược lại, có ăn mừng kéo dài trước khi diễn ra hội hè và sau đó là nhịn đói.

Lấy Giáng sinh làm ví dụ: Mùa Vọng khởi sự cho việc ăn mừng Giáng sinh, thực thế. Các bữa tiệc bắt đầu, đèn hoa trang trí sáng lên, và nhạc Giáng sinh trỗi dậy. Khi cuối cùng lễ Giáng sinh đến, thì chúng ta đã phát ngấy với những điều thích thú của kỳ lễ này, mệt mỏi, bão hòa với những thứ của Giáng sinh, và đã muốn chuyển ngay sang lễ tiếp theo. Vào đúng ngày Nô-en thì chúng ta đã trở lại cuộc sống bình thường. Mùa Giáng sinh trước đây thường kéo dài đến tháng 2. Bây giờ, thực tình mà nói, nó hết hẳn vào ngày 25 tháng 12.
Từ trước đến nay không phải lúc nào cũng như vậy. Trước đây, quá trình từ khởi sự chuẩn bị là hướng tới tiệc tùng, sau đó mới đến ăn mừng. Bây giờ thì tiệc tùng trước, nhịn đói sau. Vì điều đó mà chúng ta nghèo nàn đi. Nếu trước đó không có nhịn đói thì chẳng có được bao nhiêu tính chất thăng hoa trong tiệc tùng ăn mừng. 

Một đồng nghiệp của tôi thích nói rằng xã hội chúng ta ngày nay biết cách mong đợi/thúc đẩy một sự kiện mà không biết cách làm sao để duy trì nó. Điều này cũng chỉ đúng một phần. Rất đúng là chúng ta không biết cách duy trì một điều gì đó; mà chúng ta cũng không biết làm thế nào để mong đợi/thúc đẩy nó. Chúng ta lẫn lộn giữa mong đợi và lễ mừng bởi vì chúng ta thấy khó mà sống trong trạng thái dang dở và căng thẳng của sự chưa xong nếu không tiến tới giải quyết nó. Chuyện mong chờ và nhịn đói không phải là những điểm mạnh của chúng ta; ăn mừng cũng không phải nốt. Bởi vì chúng ta không thể chuẩn bị cho đúng đắn để hướng tới một lễ mừng, nên chúng ta cũng không thể ăn mừng một cách đúng đắn. 

Lễ mừng tồn tại được là nhờ vào mâu thuẫn: để mừng lễ, trước hết chúng ta phải nhịn đói; để đạt đến sự viên mãn thật sự, chúng ta trước hết phải sống trong khiết tịnh; và để nếm mùi vị đặc biệt, trước hết chúng ta phải hiểu vị bình thường. Một khi việc nhịn đói, chuyện đợi chờ dang dở, và nhịp điệu thông thường của cuộc sống bị đi tắt bỏ qua, thì sự mệt mỏi của tinh thần, sự chán nản và thất vọng sẽ thay thế lễ mừng và chúng ta chắc chắn chỉ còn lại cảm giác trống rỗng: “Tất cả là thế thôi sao?” Nhưng đó là vì chúng ta đã đi tắt, đã bỏ qua cả một quá trình. Đôi điều chỉ có thể thăng hoa nếu, trước tiên, có sự tẩy trần. 

Tôi đã lớn tuổi để biết về một thời đại khác. Giống như thời đại của chúng ta, thời đại đó cũng có những sai lầm của nó, nhưng cũng có những mặt mạnh. Một trong những mặt mạnh của nó là niềm tin, và người ta sống, thực hành theo niềm tin đó, rằng lễ mừng là tùy vào việc nhịn đói trước đó, và cái thăng hoa đòi hỏi phải có sự tẩy trần trước đó. Tôi nhớ rất rõ những mùa chay thời thơ ấu. Mùa chay đó mới nghiêm ngặt làm sao! Nhịn đói và từ bỏ: không lễ cưới, không nhảy nhót, rất ít tiệc tùng, rất ít đồ uống, đồ ăn tráng miệng chỉ có vào Chủ nhật, và nói chung là tất cả những thứ tạo nên sự đặc biệt và lễ mừng đều ít hơn. Các nhà thờ trang hoàng toàn bằng màu tím. Sắc màu thì tối thẫm ảm đạm và tâm trạng thì ăn năn hối lỗi, nhưng lễ mừng theo sau đó, Lễ Phục Sinh, thì thật sự là đặc biệt!

Có lẽ đây là nói theo kiểu hoài cổ; xét cho cùng, hồi đó tôi còn nhỏ, ngây thơ và chẳng có gì, và tôi có thể gặp gỡ Phục sinh cũng như những lễ mừng khác với tinh thần háu đói hân hoan. Có thể như vậy, nhưng tính chất đặc biệt quanh những lễ mừng đã chết vì một lý do khác, đó là, chúng ta đã không còn mong đợi chúng một cách đúng đắn nữa. Chúng ta bỏ qua chuyện nhịn đói, sự đợi chờ dang dở, và nỗi mong mỏi bắt buộc phải có trước. Nói nôm na như sau – làm sao Giáng sinh có thể đặc biệt cho được nếu khi chúng ta bước qua ngày 25 tháng 12 với trạng thái kiệt sức sau bao nhiêu tiệc tùng liên hoan hàng tuần trước đó? Làm sao lễ Phục sinh lại đặc biệt cho được khi chúng ta sống mùa chay cũng như bất kỳ mùa nào khác? Thật sự là, làm sao có chuyện bất cứ cái gì cũng có thể thăng hoa khi chúng ta đã đánh mất khả năng tẩy trần?

Ngày nay, tình trạng thiếu vắng sự đặc biệt và thích thú trong đời sống chúng ta một phần lớn là do nhịp điệu này đã gãy đổ. Nói ngắn gọn, Giáng sinh không còn đặc biệt nữa vì chúng ta đã ăn mừng Giáng sinh suốt cả mùa Vọng; đám cưới không còn đặc biệt nữa vì chúng ta đã ngủ với cô dâu, và tất cả các trải nghiệm thường đều nhàm chán nhạt nhẽo, không thể nào làm chúng ta phấn khởi lên được vì chúng ta đã nếm chúng khi chưa đến độ. Trải nghiệm lúc chưa chín muồi là dở chỉ bởi vì nó chưa chín muồi, chẳng vì lý do nào khác. Ăn mừng Giáng sinh suốt mùa Vọng, ăn mừng Phục sinh mà không nhịn đói trước, bỏ qua cái độ chờ mong trong bất kỳ điều gì lĩnh vực gì, thì cũng giống như đã ngủ với cô dâu trước đám cưới, một lỗi về sự khiết tịnh. Tất cả những trải nghiệm chưa chín mùi đều có tác động là vắt kiệt nhiệt tình và những kỳ vọng lớn lao của chúng ta (mà chỉ có thể được dồn từ từ và tăng dần lên thông qua tẩy trần, căng thẳng và đợi chờ đau đớn khó chịu).

Bây giờ là tuần chay. Nếu chúng ta dành mùa này để nhịn đói, để tăng cường độ nỗi chờ mong, để tăng nhiệt độ tâm lý của chúng ta, và để học biết được những điều gì có thể ấp ủ hoài thai trong lò rèn khiết tịnh, thì lễ mừng theo sau sẽ có cơ hội thăng hoa. 

Do hoàn cảnh và nhu cầu

Chúng ta có thể mất tự do vì nhiều lý do, và đôi khi vì những lý do tốt đẹp nhất.

Hãy tưởng tượng kịch bản này: Bạn đang trên đường đến nhà hàng để gặp một người bạn và cùng ăn tối, một lịch trình hoàn toàn chính đáng, nhưng trên đường đi bạn chứng kiến một tai nạn xe hơi. Vài người trong tai nạn này bị thương nặng, bạn là người đầu tiên đến hiện trường. Vào lúc đó, chương trình riêng của bạn – ăn tối với bạn – đành phải gác lại. Bạn đã mất tự do và, do hoàn cảnh và nhu cầu, đã buộc phải nán lại đó và giúp đỡ. Bạn điện thoại gọi xe cứu thương, gọi cảnh sát, và cùng với người bị thương, bạn chờ đội cứu cấp đến. 

Trong suốt thời gian đó, tự do của bạn bị treo. Dĩ nhiên là bạn vẫn có tự do triệt để. Bạn có thể để những người bị thương tự lo liệu và đi đến nhà hàng, nhưng nếu làm như vậy hẳn bạn sẽ đánh mất một phần lòng nhân của mình. Xét về mặt luân lý và hiện sinh, hoàn cảnh và nhu cầu đã lấy đi tự do của bạn. Chúng đã cầm giữ, dành riêng bạn lại, chắc chắn cũng giống y toà giám mục dành riêng một tòa nhà để làm nhà thờ. Tòa nhà đó không dành riêng để làm nhà thờ, nhưng giờ đây nó được thánh hiến và không còn tự do để dùng vào các việc khác. Chúng ta cũng vậy, hoàn cảnh có thể thánh hiến chúng ta và lấy đi sự tự do của mình. 

Trong tâm thức thông thường, thánh hiến là một từ hàm nghĩa những gì liên quan đến nhà thờ và tôn giáo. Chúng ta hiểu có những thứ chắc chắn đã được thánh hiến, được lấy ra khỏi thế giới trần tục và dành riêng cho phụng vụ thiêng liêng tôn nghiêm; ví dụ: các tòa nhà (nhà thờ), những con người (linh mục, thầy trợ tế, sư thầy, sư cô), bàn (bàn thờ), cốc tách (cốc rượu lễ), áo quần (lễ phục và cách ăn vận tôn giáo). Có một vài giá trị chính đáng trong những chuyện này, nhưng nguy hiểm ở đây là chúng ta có xu hướng coi việc thánh hiến là một  tách biệt siêu hình và sùng kính hơn là việc đặt qua một bên để dành cho phụng vụ. Đặt tự do của bạn qua một bên nhằm chấm dứt và giúp đỡ một tai nạn giao thông là không thay đổi lòng nhân đạo của bạn; nó chỉ đình chỉ hoạt động thông thường của bạn. Nó đòi hỏi bạn phục vụ vì tình cờ bạn ở đó, không phải vì bạn quan trọng hơn hay thiêng liêng hơn bất cứ ai khác. 

Đó là trường hợp của ông Mô-sê. Khi Chúa yêu cầu ông đến gặp Pha-ra-ông để xin trả tự do cho người I-xra-en, ông Mô-sê phản đối: Tại sao không phải là anh của con? Anh ấy có tài lãnh đạo giỏi hơn. Con không muốn làm điều đó! Tại sao lại là con? Và Chúa đáp lại lời phản đối đó với lời lẽ như sau: Bởi vì con đã nhìn thấy đau khổ của họ! Đơn giản vậy thôi: Chúa nói với Mô-sê, ông sẽ không quay bước đi vì ông đã thấy nỗi khổ đau của các dân tộc. Vì lý do đó, ông là người được thánh hiến, người không còn được tự do quay bước. Hoàn cảnh và nhu cầu đã thánh hiến ông. 

Chính ý niệm của chúng ta về nhà thờ dựa trên khái niệm này. Từ Ecclesia (Giáo Hội) bắt nguồn từ hai từ Hy Lạp: “Ek Kaleo”. “Ek” là phó từ, có nghĩa là “bên ngoài/ra khỏi” (out of); còn “Kaleo” là động từ, nghĩa là “được gọi/được yêu cầu”. Là thành viên của giáo hội là được/bị “gọi/yêu cầu ra khỏi”. Và cái mà chúng ta được “yêu cầu ra khỏi” là cái mà hẳn sẽ là chương trình thông thường của chúng ta nếu chúng ta không bị buộc phải làm do mình đã rửa tội và do các yêu cầu tự nhiên của sứ vụ tông đồ kèm theo đó. Phép rửa tội và thành viên của giáo hội đã thánh hiến chúng ta. Chúng gọi chúng ta ra và tách riêng chúng ta sang một bên cũng y như việc ông Mô-sê đã nhìn thấy đau khổ của những người It-xra-en nên ông đã không còn tự do để sống một cuộc sống bình thường và cũng y như việc trên đường đi đến nhà hàng, chứng kiến một tai nạn giao thông làm cho chúng ta phải đặt qua một bên kế hoạch đi ăn tối. 

Edward Schillebeeckx từng viết một quyển sách trong đó ông cố gắng giải thích tại sao Giê-su không bao giờ lấy vợ. Ông kiểm tra nhiều giả thiết khác và các động cơ khác nhau có thể có, và ông đi đến kết luận, rốt cuộc, Giê-su không bao giờ lấy vợ bởi vì “về mặt hiện sinh là [ông] không thể” lấy vợ. Về căn cốt, điều Schillebeeckx nói là: Giê-su không bao giờ lấy vợ bởi vì tình thương bao la của người cũng như phạm vi, mức độ những vết thương và nhu cầu của thế giới đơn giản là không bao giờ chừa lại cho người cái tự do để lấy vợ, giống như một người đang trên đường tới chỗ hẹn ăn tối với bạn nhưng chương trình đó đã bị đổi khác vì cô chứng kiến một tai nạn giao thông. Cũng giống như ông Mô-sê, người buộc phải theo một mệnh lệnh của luân lý. Người không lấy vợ, không phải vì người đánh giá rằng sẽ thiêng liêng hơn nếu độc thân, hoặc vì người cần một mức độ trong trắng nhất định mang tính chất sùng kính cho mục vụ. Người không bao giờ lấy vợ vì nhu cầu của thế giới này đơn giản đã đình chỉ cuộc sống bình thường. Người độc thân không phải vì thích như vậy hơn về mặt tình cảm hay vì siêu việt hơn về mặt thiêng liêng, mà vì buộc phải như vậy về mặt luân lý. 

Ngày nay, từ thánh hiến đã mất đi phần lớn ý nghĩa phong phú của nó. Chúng ta đã hạ thấp từ này để gắn với phòng thánh đựng vật dụng thờ phượng và chất đầy hàm nghĩa về sự trong trắng và sùng kính. Nhưng như vậy thì đáng tiếc, vì cả hai, những gì tốt đẹp nhất trong lòng nhân đạo và đức tin của chúng ta mãi mãi cố gắng để thánh hiến chúng ta. Các nhu cầu và các vết thương của thế giới không ngừng yêu cầu chúng ta đình chỉ tự do căn bản của mình, đặt qua một bên các chương trình của riêng mình, để mà phục vụ.

Và, giống Mô-sê, tất cả chúng ta ai cũng đã chứng kiến đủ khổ đau trên thế giới này rồi đến nỗi chúng ta chẳng nên hỏi câu này nữa: “Tại sao lại là tôi?”

Nhân cách xốp mềm và giảm xóc 

Một người bạn của tôi kể câu chuyện này: Hồi còn nhỏ, vào thập niên 1950, anh bị sưng phổi nặng. Gia đình anh sống trong một thị trấn nhỏ không có bệnh viện, cũng không có bác sĩ. Cha anh tuần đó bận công việc xa nhà. Mẹ ở nhà một mình, không điện thoại, không xe ô tô. Sợ hãi và hoàn toàn không có một phương tiện nào, bà đến bên giường bệnh của con, quỳ xuống, gắn tượng thánh Têrêxa Hài Đồng lên áo con và cầu nguyện xin thánh Têrêxa: “Con xin phó thác vào thánh Têrêxa, xin chữa cho con của con. Con sẽ quỳ ở đây cho đến khi nào con của con bớt sốt.”

Hai mẹ con ngủ thiếp đi, anh thì trên giường bệnh, mẹ thì quỳ bên cạnh giường. Khi hai mẹ con tỉnh dậy, con sốt đã hạ.

Bạn tôi kể câu chuyện này, không phải để nói chuyện phép lạ (nhưng ai có thể xét đoán được?) Anh kể để nói lên một điểm khác, đó là, cách mẹ anh, trong tình cảnh mong manh và bất lực, đã quỳ gối và quay sang cầu xin Chúa như một bản năng tự nhiên, và cách làm sao mà ngày nay, kiểu hành động như vậy không còn là bản năng tự nhiên của chúng ta nữa. Ngày nay, trong tình huống như vậy, rất ít người trong chúng ta hành động như mẹ của anh. 

Tại sao lại không như vậy? Bởi vì tính cách của chúng ta đã thay đổi. Charles Taylor, trong cuốn sách xuất sắc Thời Đại Thế Tục (A Secular Age) đã tìm xem thế giới chúng ta đã trở nên thế tục hơn như thế nào, chúng ta đã thay đổi ngày càng nhiều từ nhân cách xốp mềm sang nhân cách giảm xóc ra sao. 

Chúng ta có nhân cách xốp mềm khi tâm thức hàng ngày của mình còn sống trong lo lắng, sợ hãi trước các mối đe dọa từ thiên nhiên hay nơi nào khác (bệnh tật, chết chóc, dịch hại, bão tố, hạn hán, động đất, sấm sét, chiến tranh, các hồn ma quỷ dữ từ thế giới khác, lời nguyền rủa của người xấu, rủi ro, mọi mối đe dọa) có thể xảy đến, mà với chúng, sự tự vệ chủ yếu và thường là duy nhất của chúng ta là sức mạnh từ thế giới bên ngoài (Chúa, thiên thần, các thánh, ông bà tổ tiên đã khuất, những linh hồn hiền từ, bà tiên, vị thần). Tính cách của chúng ta là xốp mềm khi chúng ta bị làm cho mong manh bởi các mối đe dọa mà chỉ có những sức mạnh cao hơn chúng ta cuối cùng mới có thể khuất phục được. Tất cả nguồn lực của con người trong chúng ta và xung quanh chúng ta bị coi là không đủ và bất lực trong việc bảo đảm an toàn cho đời chúng ta. Một phần của niềm tin đó còn là bản thân thế giới tự nhiên, nhưng còn lâu mới chỉ là tự nhiên. Đó là thế giới linh thiêng mà bên dưới bề mặt lẩn quất những linh hồn đủ mọi thể loại tốt có xấu có, và do vậy sống trong đời không chỉ có nghĩa là qua lại với những sự vật thực thể của thế giới mà còn với các linh hồn cả tốt lẫn xấu, những vị mà, ẩn bên trong và đằng sau sự vật, đang can thiệp vào cuộc sống và có thể chúc lành hay nguyền rủa chúng ta. Tôi nhớ hồi còn nhỏ, tôi thường phải rắc nước thánh lên người để cầu được an toàn trong các cơn giông tố. Hồi đó tôi có tính cách xốp mềm. 

Nhân cách giảm xóc lại là nhân cách mà trong đó tâm thức hàng ngày sống trong cái mà Taylor gọi là “nhân văn tự túc.” Chủ nghĩa nhân văn tự túc tin rằng căn bản tự chúng ta, chúng ta đủ sức để xử lý với bóng đêm và các mối đe dọa trong cuộc sống, rằng không có ma hay linh hồn tốt hay xấu gì đang lẩn quất dưới bề mặt sự vật nào cả. Chỉ có những gì chúng ta thấy, và chỉ thế thôi – như vậy cũng đủ rồi. Chúng ta không cần hỗ trợ từ thế giới nào khác. Trong chủ nghĩa nhân văn tự túc, khi gặp giông tố, bạn không cần rắc nước thánh lên mình; bạn đứng thoải mái sau khung cửa sổ an toàn, nhìn tia chớp như đang thưởng thức màn bắn pháo hoa miễn phí. 

Chuyện không sợ hãi không nhất thiết là chuyện xấu. Dĩ nhiên đó là chuyện ảo tưởng, nhưng kể cả như vậy, thì Chúa cũng không muốn chúng ta sống trong nỗi sợ hãi bao trùm. Nói cho cùng, từ ngữ “Phúc âm” có nghĩa là “tin mừng,” không phải là mối đe dọa. Chúa Giêsu đến thế gian này để rũ bỏ nỗi sợ hãi sai lầm cho chúng ta. 

Nhưng, dù nói như vậy, thì niềm tin rằng chúng ta tự xoay xở vẫn là một ảo tưởng và là một mức độ trưởng thành què quặt. Rốt cuộc, chúng ta không hề được an toàn khỏi sấm chớp và bệnh tật, cho dù cánh cửa sổ của chúng ta có tốt đến đâu hay bác sĩ của chúng ta có giỏi đến đâu. Nghĩ rằng mình tự xoay xở được là ngây thơ, một ảo tưởng, một chuyện sống trong vô minh mê muội. Chúng ta không kiểm soát được. Hơn nữa, có một sự non nớt trong niềm tin rằng chúng ta tân tiến hơn rất nhiều và tự do hơn rất nhiều so với ông bà mình, những người sợ sấm chớp và gắn tượng vào áo trẻ con bị đau. Nỗi sợ hãi của ông bà chúng ta truyền lửa cho một phẩm chất quan trọng. Phẩm chất này có thể không phải là tự nguyện mà có, nhưng là điều có thật. Đó là phẩm chất gì?

Robert Bellah từng nhìn vào cách các cộng đoàn và tôn giáo có xu hướng phát triển mạnh trong các cộng đồng dân di cư và đã thách thức chúng ta, những người thế hệ hậu-di-cư, trở nên “những người di cư trong tâm tưởng.” Điều đó cũng đúng trong trường hợp này. Chúng ta cần tiếp xúc được với “nội tâm xốp mềm” của chúng ta, tức là sự mong manh, sự bất lực, sự nhỏ nhoi và không thể tự xoay xở được từ trong sâu thẳm của mình.

Và mục đích của việc đó không phải là để gieo rắc nỗi sợ hãi, mà là gieo lòng biết ơn. Chỉ khi nào chúng ta nhận ra rằng mình không kiểm soát được và rằng đời mình, sự an nguy của mình nằm trong bàn tay của một quyền năng lớn lao và đầy yêu thương cao hơn chúng ta thì chúng ta sẽ nghiêng mình trong niềm biết ơn, cả khi ta đang vui sướng lẫn khi ta đang sợ hãi. 

Một quan niệm Kitô hữu về sự cứu rỗi của những người không Kitô hữu

Người Kitô hữu chúng ta thường buộc phải mang trong lòng mối căng thẳng thật sự về việc chúng ta làm thế nào hiểu được sự cứu rỗi của những người không phải là Kitô hữu bởi vì chúng ta có hai lời dạy dường như trái ngược nhau trong Kinh thánh và truyền thống của chúng ta. 

Một mặt, Chúa Giêsu cho thấy Thiên Chúa là Thiên Chúa vĩnh viễn đúng đắn và công bằng và dứt khoát mong muốn mọi người được cứu rỗi. Mặt khác, chúa Giêsu bảo chúng ta rằng chỉ có Người là con đường, là chân lý, là cuộc sống, và không một ai đi đến Chúa ma không thông qua Người. Và suốt 2000 năm lịch sử, Kitô hữu đã luôn coi những lời này về căn cốt mang ý nghĩa y như vậy. Thế thì chúng ta hiểu ra sao đây? Làm thế nào chúng ta nghiêm túc công nhận cả ý muốn cứu rỗi toàn thế giới của Chúa và niềm tin rằng mọi người ai cần được cứu rỗi đều phải thông qua Chúa Giêsu.

Chẳng có câu trả lời dễ dàng nào cả, dù cả những người bảo thủ triệt để lẫn người tự do triệt để đều muốn tin như vậy. Chúng ta buộc phải mang trong lòng mối căng thẳng đó mà không thể nào giải quyết trọn vẹn. Vì thế, dưới đây là mười nguyên tắc gợi ý để giúp chúng ta mang được nỗi căng thẳng đó trong lòng:

1. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta có thể không tin rằng Thiên Chúa thiên vị một số người mà điều này lại gây hại cho người khác.

2. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta phải tin rằng toàn thể loài người chưa bao giờ thiếu Thiên Chúa Quan Phòng.

3. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta cần e ngại việc phán xét người khác và phải cho phép người khác lẫn bản thân chúng ta cái khả năng “ngu si bất khả thắng bại.”

4. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta có thể không tin rằng Thiên Chúa cách nào đó đã coi việc cứu rỗi những tấm lòng tha thiết và những người nguyện cầu tha thiết trong số hàng tỷ người là không chính đáng và không xứng đáng bởi vì tấm lòng và lời cầu nguyện của họ không mang tính cách Kitô giáo một cách rõ ràng.

5. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta có thể không tin rằng, ở bất cứ thời điểm nào trong lịch sử, đại đa số loài người đang bị loại ra khỏi vòng cứu rỗi bởi vì họ không có mối liên hệ rõ rệt nào với Giêsu hay các nhà thờ Kitô giáo.

6. Xéùt theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta có thể không tin rằng mối liên hệ mang tính lịch sử và chỉ ở bề ngoài với Kitô giáo là quan trọng hơn mối liên hệ mật thiết của mình với Chúa và chúng ta có thể không tin rằng sự cứu rỗi linh hồn chúng ta là quan trọng hơn lòng biết ơn, nồng hậu, khiêm tốn, sẵn sàng hòa giải và rộng mở tấm lòng.

7. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa thì sẽ khôn ngoan nếu tin rằng sự độ lượng của trái tim và những món quà của Chúa Thánh Thần ban tặng cho một con người là vượt thắng mọi thứ bên ngoài về mối liên hệ của chúng ta với Chúa.

8. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa và truyền thống Kitô hữu của chúng ta, chúng ta được yêu cầu tin những chân lý sau đây:

– Toàn bộ bí ẩn về Chúa Kitô là lớn hơn bất cứ điều gì có thể tư nghì trong lịch sử Kitô giáo. Như các giáo lý cổ xưa đã khẳng định, không chỉ có một “Đức Kitô hữu hình” mà còn có “một Đức Kitô vô hình”.

– Tất cả những điều tốt đẹp đều được Thiên Chúa tạo tác và vì vậy tất cả những điều gì đẹp đẽ, bao gồm những gì đẹp đẽ trong các tôn giáo khác, đều đến từ Chúa. Điều này cũng đúng với tất cả những gì là hay, là đúng đắn, là đẹp trong nền văn hóa thế tục.

– Chúa được bộc lộ theo nhiều cách trong lòng tự nhiên, trong lòng lý trí con người, trong lòng lương tâm con người, và trong lòng đời sống chúng ta. 

– Đức Kitô là một cấu trúc trong lòng tạo tác thực thể và bản thân mỗi tạo tác thực thể được thực hiện thông qua Đức Kitô và mang dấu ấn của Người trong cấu trúc và thiết kế của mình.

– Những người không phải là Kitô hữu có thể là những vị thánh.

– Cộng đoàn Kitô hữu hữu hình là một ân sủng hữu hình và là sự cứu rỗi hữu hình: Cộng đoàn này đem lại sự cứu rỗi, ngay bây giờ và ở đây, bằng xương bằng thịt, cho dù không hoàn hảo. Đó là trạng thái cuối cùng đã hiện diện bây giờ để, ít nhất về mặt lý tưởng, trong lòng cộng đoàn đó ai cũng có thể rõ ràng tìm thấy hỗ trợ, giúp đỡ, khẳng định, thách thức, khải thị, minh triết và dâng mừng cần có để đạt đến mức trọn vẹn của cuộc đời.

– Cộng đoàn Kitô hữu hình chỉ định một người niên trưởng và hợp tác với họ để thực hiện quyền niên trưởng này một cách trọn vẹn, nghĩa là, với tư cách là người con của Chúa và là anh/chị em với trọn lòng chân thành.

– Cộng đoàn Kitô hữu hình là một công cụ đặc ân của hòa giải và cứu rỗi. Chúa Giêsu đã yêu cầu cộng đoàn rao giảng về sự cứu rỗi, một cách rõ ràng, với mọi người trên thế gian. Đó là một nơi chốn và trách nhiệm đặc biệt (như Mẹ Maria, mẹ Chúa Giêsu) để mang ý chí cứu rỗi toàn thế giới của Chúa đến chỗ viên thành. Thông qua cộng đoàn, “mọi dân tộc trên trái đất sẽ được chúc phúc.”

9. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, theo Kinh Thánh và truyền thống Kitô giáo của chúng ta, chúng ta có hai lựa chọn thích hợp để có thể hiểu về việc cứu rỗi của những người không phải là Kitô hữu: thuyết bất khả tri về mặt thần học (Đừng suy đoán điều này, hãy để cho Chúa) hay một thuyết mang màu sắc Kitô khẳng định nhiều nét độc đáo trong việc rửa tội (“rửa tội do mong ước” “rửa tội theo huyết thống”) hay trong nhiều cách khác nhau của việc ở trong huyền nhiệm Kitô (Kitô giáo Khuyết danh, huyền nhiệm đức Kitô lớn lao hơn Kitô giáo lịch sử, một đức Kitô hữu hình và vô hình).

10. Xét theo thần học của chúng ta về Thiên Chúa, có lẽ là lành mạnh nhất nếu bước lùi hẳn lại vào bên trong nét đẹp và phong phú của huyền nhiệm, và tin rằng, như lời của Kenneth Cragg: “Cần trọn cả thế giới mới hiểu được được trọn Đức Kitô.

Trong niềm biết ơn 

Là người viết chuyên mục, tôi luôn mang trong lòng nỗi sợ nào đó về chuyện viết những gì riêng tư hay phô diễn trong các bài viết hoặc trong suy nghĩ rằng những thăng trầm cảm xúc của mình có hữu ích cho độc giả không. Tôi đã cố gắng tôn trọng nỗi sợ hãi đó. Tuy nhiên, đôi khi, hoàn cảnh khiến tôi phải viết đôi điều riêng tư. Đây là một hoàn cảnh như vậy.

Tôi muốn được bày tỏ lòng biết ơn với tất cả lời cầu nguyện và hỗ trợ cho tôi trong suốt bảy tháng qua khi tôi điều trị bệnh ung thư. Cuối cùng cuộc hành-trình-sa-mạc đó đã chấm dứt với kết quả tốt đẹp. Cách đây một tháng, tôi đã hoàn thành đợt hóa trị cuối cùng, và cách đây hai tuần, sau một loạt các xét nghiệm y khoa, bác sĩ tuyên bố tôi “thoát khỏi ung thư”. Với Chúa, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, và với nhiều người trong số các bạn đã nâng đỡ tôi trong lời cầu nguyện : Tôi xin cảm ơn!

John Updike, trong một bài thơ tên là “Con sốt” từng viết về những gì bệnh tật có thể dạy cho chúng ta:

Tôi đã đem về đây một thông điệp tốt lành từ xứ sở 102 độ:Chúa tồn tại. Trước đây tôi từng nghi ngờ rất nhiều về điều này;Nhưng những cột giường đã nói về Chúa với lòng tín thác vô cùng,Những sợi chỉ trong chiếc chăn của tôi coi chuyện đó là thường,Cái cây ngoài cửa sổ gạt đi mọi lời than vãn.Và tôi đã không ngủ say đến thế trong nhiều năm dài.Giờ đây, khó mà nói các vẻ bề ngoài đã dựng lên một cách đầy biểu tượng như thế nào trên mỗi màng ý thức của tôi; nhưng đó là chân lý đã được biết tới từ lâu,Rằng đôi điều bí mật nấp sau sức khỏe.

Thật sự là đôi điều bí mật nấp sau sức khỏe! Những bí mật nào tôi đã biết khi mất đi sức khỏe?

Khi mới bị chẩn đoán ung thư, tôi kinh ngạc và trong một thời gian, tôi gần như tê cứng và hoảng sợ. Nhưng, sau khi mổ và được điều trị theo liệu trình (sáu tháng hóa trị) và theo chẩn đoán dài hạn (khả năng thành công đối với bệnh), tôi đã thành tâm cầu nguyện để đặt ra một số bước cải hóa mà tôi hy vọng căn bệnh này và việc điều trị gian khổ sẽ áp chế được với tôi. Tôi quyết tâm biến thời gian điều trị thành một ân sủng trong đời mình: tôi sẽ sống chậm lại, không chỉ trong khi điều trị mà còn mãi mãi về sau. Tôi sẽ học cách kiên nhẫn hơn. Tôi sẽ trung thành nghiêm ngặt với thói quen cầu nguyện chiêm nghiệm mỗi ngày. Tôi sẽ không bao giờ coi cuộc sống, tình yêu, tình bạn và sức khỏe là chuyện thường nữa, mà cuối cùng, sau nhiều năm đã đặt quyết tâm và đã thất bại, tôi sẽ bắt đầu sống nhiều hơn trong huyền nhiệm Thiên Chúa và cuộc đời, và sẽ không để năng lượng của tôi bị những yêu cầu của công việc và kế hoạch công việc ngốn nhiều như vậy nữa.

Điều gì đã xảy ra? Những thói quen lâu ngày khó mà bỏ đi, cho dù dưới sức nặng của bệnh tật. Sau sáu tháng điều trị, vào những ngày tâm trạng vui vẻ, tôi cảm thấy đôi chút tiến bộ. Một số quyết tâm đã đơm hoa kết trái, nhưng tôi vẫn còn cách rất xa với những lý tưởng tôi đặt ra cho chính mình. Những thói quen lâu ngày đã lại nhanh chóng phục hồi và chi phối đời sống của tôi.

Nhưng cuộc đời là những gì xảy ra với mình ngay khi mình đang lên kế hoạch cho đời mình, và sự cải hóa cũng vậy. Mắc bệnh ung thư đã dạy tôi một vài bài học khác với những gì tôi đã lên kế hoạch. Quan trọng nhất trong số các bài học này là: giống bất kỳ ai trên thế gian này, tôi vẫn luôn muốn có niềm vui trong đời – tình bạn, tình yêu, ăn mừng vui vẻ. Nhưng, và đây vẫn luôn là khiếm khuyết lớn nhất khi đi tìm những điều đó, tôi vẫn luôn luôn (cho dù vô thức) cảm thấy rằng niềm vui và sự ăn mừng vui vẻ mà tôi khao khát quá đỗi đó chỉ có thể đến với tôi khi cuối cùng tôi thoát hết mọi lo âu, sức ép cảm xúc, áp lực, công việc quá tải, bệnh tật, thất vọng, và đủ mọi kiểu căng thẳng. Chúng ta ấp ủ mối hy vọng hão huyền lạ lùng rằng chỉ khi nào tất cả các hóa đơn đã được thanh toán hết, sức khỏe của chúng ta tuyệt vời, mọi sức ép trong gia đình và tình bạn của mình đã được giải quyết, và chúng ta ở trong một không gian an bình, thoải mái, thì cuối cùng lúc đó chúng ta mới có thể bước trọn vẹn vào đời sống và vui thích với cuộc sống. Trong khi chờ đợi, chúng ta chặn giữ đời mình lại khi mãi mãi gài số, chuẩn bị, và chờ đợi giây phút tuyệt vời đó đến để cuối cùng có thể vui sướng trong đời. 

Trải qua những đợt điều trị ung thư, tôi đã học được đôi điều. Khi khởi sự các đợt điều trị, tôi đã bắt đầu đánh dấu trên lịch – ngày thứ nhất, ngày thứ hai, ngày thứ ba – tôi đang chặn giữ cuộc sống của mình lại một cách có ý thức, đặt bản thân mình vào tư thế chờ đợi, đánh dấu ngày trôi qua hoài cho tới khi – tôi mong ước hão huyền – những đợt điều trị kết thúc và tôi có thể sống một cuộc sống mới. Nhưng, kỳ lạ thay, khi ngày tháng trôi qua, tôi ngạc nhiên thấy mình đang sống trong một trong những thời kỳ giàu có hơn và vui vẻ hơn của đời mình. Giữa nỗi mệt mỏi, những cơn buồn nôn và bệnh về thần kinh, tôi đang tìm ra niềm sung sướng dồi dào với tình bạn, đồng nghiệp, công việc, và thức ăn nước uống (vào những ngày nào tôi thật sự có thể ăn uống được). Kinh ngạc, tôi nhận ra sáu tháng tôi điều trị bệnh ung thư hóa ra là sáu tháng hạnh phúc và đầy ý nghĩa sâu sắc.

Như John Shea nói: Đời sống bao gồm đau khổ. Khi bạn tiêu toàn bộ năng lượng của mình chỉ để vui thích trong cái phần cuộc sống không bao gồm đau khổ, thì bạn sẽ không bước vào cuộc sống bởi vì bạn bị chế ngự bởi đau khổ, ngăn chận và không đức tin. Ung thư đã dạy tôi bài học này, và tôi vô cùng biết ơn điều đó và lời cầu nguyện của các bạn. 

Về khóc than và nhảy múa

Cha Henri Nouwen thường xuất bản một số trang nhật ký của mình dưới tựa đề “Về khóc than và nhảy múa.” Tựa đề này hoàn toàn phù hợp vì phần lớn các trang nhật ký ghi lại theo thứ tự thời gian các cuộc đấu tranh nội tâm của chính cha để diễn đạt công khai những gì đang sôi sục trong lòng, đồng thời cũng tôn trọng bản tính e dè và kín đáo hết sức nhạy cảm khiến cha ngần ngại thể hiện ra ngoài những cảm xúc đó. Vậy là những gì cha viết bộc lộ hiếm có của cả tự do nội tâm lẫn nỗi sợ hãi nội tâm. Suy nghĩ và tình cảm của cha đôi khi bị dằn vặt, nhưng đó là điều khiến chúng trở nên phong phú. Không phải lúc nào cũng dễ dàng có được cân bằng tinh tế như vậy giữa tự biểu đạt lành mạnh và phô trương thiếu lành mạnh, kể cả khi mình là Henri Nouwen, mà có lẽ đặc biệt nếu mình là Henri Nouwen. 

Cuộc đấu tranh để tìm cách biểu lộ bản thân tự do và sâu sắc, nhưng không vượt quá giới hạn để trở nên phô trương thiếu lành mạnh là một nhiệm vụ khó khăn đối với tất cả mọi người. Chúng ta chỉ thấy trong một vài trường hợp hiếm, Giêsu và một số người vĩ đại như Mẹ Têrêxa. Họ có thể vĩ đại mà không khuếch trương và có thể có các bộc lộ công khai những gì sâu kín nhất trong lòng họ mà không làm họ khó chịu hay cảm thấy bất tiện hay ngượng ngùng. Nhưng tài năng đó hiếm thấy; cứ thử tìm ở bất cứ sàn nhảy nào. 

Cách một người khiêu vũ là dấu chỉ cho một kiểu cân bằng mà người đó có thể đạt được về vấn đề này. Đôi khi bạn thấy một người khiêu vũ lành mạnh không e dè kiềm chế bản thân, đồng thời cũng không tập trung quá mức vào bản thân hay buông thả bản thân quá mức. Những bước nhảy của người khiêu vũ lành mạnh bước theo tự nhiên, dễ dàng mà thu hút, bạn nhìn vào và chú ý đến điệu nhảy chứ không phải người nhảy. Hơn nữa, kể cả trong khi nhảy, người khiêu vũ lành mạnh vẫn được dễ nhận ra là một người có nhân cách mà bạn biết, chứ không phải là người không có cá tính, một năng lượng vô danh đang nhảy. Nhưng khó mà nhảy đẹp được. 

Thường thường, bước nhảy của một người được tô màu do cuộc đấu tranh nội tâm và do nơi la bàn nội tâm của người đó đã được ấn định: quá chú ý bản thân, quá cẩn trọng, quá sợ hãi, chúng ta sẽ thấy những bước nhảy dè dặt, ngập ngừng và ngượng ngịu. Trái lại, quá ít ý thức về bản thân thì chúng ta sẽ thấy một bước nhảy tự do và không hề kiềm chế nhưng bộc lộ một kiểu phô trương thiếu lành mạnh. Đôi khi các bước nhảy của chúng ta diễn tả quá ít, nhưng có khi lại diễn tả quá nhiều, chúng ta vượt quá ranh giới khi bước diễn trở thành ra vẻ và người ta thấy một kiểu tự yêu mình, tự buông thả thiếu lành mạnh trong bước nhảy của chúng ta, họ xấu hổ cho chúng ta. 

Và điều này, gắng gỏi để nhảy đẹp, là sự phản chiếu mối căng thẳng khác bên trong chúng ta, là đấu tranh giữa trầm cảm và cao hứng, giữa cảm thấy quá phấn khích hay cảm thấy quá trầm uất. Cũng giống như bước nhảy lành mạnh, tâm lý lành mạnh cũng không dễ đạt được, một tâm lý trong đó năng lượng được buông tự do, không tự yêu hay phô trương thiếu lành mạnh. Vấn đề ở đây là mãi mãi chúng ta bị kéo lên hay trì xuống, bị kích thích quá mức để khuếch trương hay bị hạ thấp giá trị hơn bình thường. Cả hai điều này đều làm cho chúng ta không ổn định. 

Chỉ có những người chín chắn nhất và bình an nhất trong số chúng ta mới không nghiêng ngả quá mức giữa các kiểu tâm trạng và hành động với những khẳng định và phủ nhận mà chúng ta gặp trong đời sống hàng ngày. Trong môi trường sống của chúng ta, gia đình, bạn bè, nơi làm việc, giáo hội và ngay cả trong nhiều mối liên hệ đơn giản không mang tính con người với người khác trong đời sống công cộng, chúng ta vẫn thường xuyên gặp phải hoặc là sự khẳng định hoặc sự phủ nhận theo một kiểu nào đó (một nụ cười, một lời cảm ơn, một lời khen, một cái vỗ nhẹ thân mật trên lưng, một sự công nhận đã làm việc tốt, một cử chỉ thương yêu nào đó, hay ngược lại, một thái độ lạnh lùng, một chuyện làm bẽ mặt, một lời lăng nhục, một lời chỉ trích, một sự coi khinh, hắt hủi). Bất cứ khi nào xảy ra như vậy chúng ta đều bất lực trong việc tự bảo vệ bản thân trước tác động của chúng đối với tâm lý và tình cảm của mình. Nhiều khẳng định thì chúng ta dễ dàng thấy mình tự mãn mà thiếu Chúa và tha nhân. Quá nhiều lạnh lùng và hắt hủi thì chúng ta dễ dàng thấy mình tự ti và thiếu năng lượng tuyệt vời của Chúa trong lòng chúng ta. 

Tôi nói điều này một cách thông cảm. Cuộc sống khó khăn với tất cả, đặc biệt nếu bạn đang cố gắng sống với lòng tôn trọng người khác cũng như với chính mình. Nếu bạn nhạy cảm một cách lành mạnh thì luôn luôn đó là một cuộc đấu tranh: Làm thế nào để bạn tôn trọng, thể hiện và ăn mừng những năng lượng hơn cả mức dồi dào của mình một cách phù hợp mà hoàn toàn tôn trọng người khác và không vượt quá ranh giới đạo đức hay thẩm mỹ? Một công thức chẳng dễ dàng gì. Nếu dành quá ít cho xúc cảm dồi dào thì bạn sẽ thấy mình dè dặt quá mức, cứng lưỡi, chán chường, cằn cỗi, và xử lý mọi việc một cách tức giận; còn nếu dồi dào không kiểm soát quá thì bạn sẽ thể hiện ra theo những cách làm cho bạn và người khác xấu hổ. 

Và như vậy chúng ta cần chấp nhận cuộc đấu tranh này là chuyện đương nhiên và không nên khắt khe quá đối với người khác cũng như đối với mình. Chúng ta là con người và vì vậy cần tha thứ cho nhau và cho chính mình, vì đã cứng ngắt và ngượng nghịu khi nhảy, cũng như tha thứ cho người khác và chính mình vì đã phô diễn trên cùng những sàn nhảy đó. Có rất ít người tự do và hoàn toàn khỏe mạnh trên thế giới này. Không ai nhảy hoàn hảo cả. 

Những con chiên khác không thuộc đàn chúng ta

Tôi lớn lên trong gốc rễ Thiên Chúa giáo La Mã mạnh mẽ, bảo thủ: sách giáo lý vấn đáp Baltimore, thánh lễ bằng tiếng Latinh, lần chuỗi mân côi mỗi ngày, đi lễ mỗi ngày nếu có thể, và những thói quen cầu nguyện sốt sắng. Và tôi biết ơn sâu sắc món quà này. 

Nhưng nền tảng tuyệt vời này lại kèm theo thái độ không tin tưởng với tất cả những cái gì liên quan đến tôn giáo mà không phải là Thiên Chúa giáo La Mã. Tôi được dạy rằng Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã là giáo hội duy nhất chân chính và là con đường duy nhất dẫn tới thiên đàng; được dạy nhiều tới nỗi chúng tôi bị ngăn cản mạnh và ngầm bị cấm không được tham gia bất kỳ buổi lễ nào của nhà thờ Tin Lành. Nói cho đúng thì chúng tôi không cho rằng người Tin Lành và các cộng đoàn tôn giáo khác cuối cùng sẽ bị xuống hỏa ngục, nhưng chúng tôi cũng phải cố gắng một cách khó khăn về chuyện giải thích cho rõ vì sao lại như vậy. Bên cạnh những điều khác, chúng tôi định ra một nơi gọi là Luyện ngục, nơi những người không phải là tín hữu Thiên Chúa giáo La Mã nhưng có lòng chân thành và tâm hồn tốt đẹp sẽ sống đời vĩnh cửu, vui vẻ nhưng không có Chúa. 

Nhưng như T.S. Eliot từng viết: “quê nhà là nơi chúng ta bắt đầu từ đó.” Và quê nhà là một nơi tốt đẹp để bắt đầu từ đó xét về cách chúng ta, những cộng đoàn đức tin, chia tách với nhau, có thể hiểu nhau hơn và hiểu rõ hơn về mối quan hệ cụ thể của từng giáo hội với Chúa Kitô. 

Và thường thì động lực cho chuyện này không đến từ cái nhìn từ kinh thánh và thần học nhiều cho bằng từ những mối liên hệ tổng hòa trong cuộc sống. Khi tương tác với nhau, chúng ta bắt đầu cảm thấy ý nghĩa của vấn đề ai sẽ đến với Chúa và Chúa Kitô là phức tạp hơn rất nhiều so với bất kỳ công thức thần học nào có thể phản ánh. Trong Phúc âm Thánh Gioan (10,16), Chúa Giêsu nói: Ta còn có những chiên khác, không thuộc ràn này. Ta cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng Ta. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử.

Tôi đã hiểu được chân lý của câu đó thông qua trải nghiệm cá nhân. Trong gần bốn mươi năm mục vụ, tôi đã gặp, làm bạn và trở thành bạn đồng hành trong đức tin với những người từ mọi giáo phái và tôn giáo khác nhau: Tin Lành, Tân Giáo, giáo phái Anh, phái Phúc Âm, phái Nhất Thể, các giáo hội tự do nhỏ đủ mọi thể loại, phái Nhân chứng Jehovah, Ấn Giáo, Hồi Giáo và Phật Giáo. Trong tất cả các cộng đoàn giáo phái và tôn gáo này, tôi đã gặp được những vị tu hành, nam và nữ, có đức tin sâu sắc và lòng nhân hậu vô cùng. 

Và điều này đã làm cho tôi tự hỏi về đoạn Phúc âm thánh Mátêô (12: 46-50) khi Người còn đang nói với đám đông thì có kẻ thưa Người rằng: «Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, tìm cách nói chuyện với Thầy”. Người bảo kẻ ấy rằng: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: ” Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi”.

Chúng ta có khuynh hướng cho rằng “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, thế nên đôi khi chúng ta bảo vệ gia đình, sắc tộc, quốc gia, giáo hội mình, kể cả khi họ làm những chuyện sai trái. Điều mà Chúa Giêsu khẳng định là “đức tin quan trọng hơn giọt máu đào”, và thậm chí còn sâu sắc hơn, đức tin còn quan trọng hơn mối liên hệ giáo phái hay tôn giáo. 

Trong thư gửi tín hữu thành Galát, thánh Phaolô cũng đồng ý khi người hỏi câu hỏi: Ai đang sống bên trong Chúa Thánh thần? Những ai thật sự có lòng tin chân thật? Câu trả lời của người là: Những ai mà đời sống của họ bộc lộ ra lòng nhân hậu, vui vẻ, bình an, kiên nhẫn, tốt bụng, thiện lành, trung tín, nhẹ nhàng và khiết tịnh. Sự hiện diện của những đức hạnh này bộc lộ đức tin và Chúa Kitô. Ngược lại, người cảnh báo chúng ta không nên tự lừa dối khi đời sống chúng ta bộc lộ ra, bên cạnh những chuyện khác, ngoại tình, thù hận, óc bè phái, bất hòa và đố kỵ. Những người anh chị em thật sự của chúng ta trong đức tin là những người mà đời sống bộc lộ ra lòng nhân hậu thay vì ích kỷ, lòng thương yêu thay vì hận thù, những tấm lòng rộng lớn thay vì thông cảm một cách chọn lọc, nhẹ nhàng thay vì khắc nghiệt, và tốt bụng thay vì hẹp hòi. Đức hạnh quan trọng hơn bản sắc giáo phái. 

Tôi sẽ mãi mãi là tín hữu Thiên Chúa giáo La Mã, cũng như luôn luôn là thành viên trong gia đình huyết thống của mình, gia đình họ Rolheisers, và tu sĩ dòng tu của tôi, dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm. Tôi đã được rửa tội trong những gia đình này và theo truyền thống này, như sách giáo lý vấn đáp dạy một cách đúng đắn, ghi lại một dấu vết mãi mãi còn đó trong tâm hồn chúng tôi. Những điều đó sẽ luôn luôn là gia đình của tôi; nhưng chúng cũng sẽ không phải là sự trung thành duy nhất của tôi. Tôi cũng có những gia đình khác, không thuộc đàn chiên này, những người không phải là tín hữu Thiên Chúa giáo La Mã, không thuộc dòng họ Rolheisers, không phải là Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Nhưng không vì thế mà tôi kém thương yêu Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã, gia đình huyết thống của tôi, hay dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm. Ngược lại, tôi còn thấy thương yêu hơn. 

Khi Chúa Giêsu hỏi câu: «Ai là mẹ, là anh, là chị, là em của Ta?», Người trả lời bất kỳ ai thực hiện ý Chúa thì đó là người mẹ đích thực, người anh đích thực, người chị đích thực, người em đích thực của tôi. Nhưng, như các tác giả Phúc âm đã hết sức nhấn mạnh, người mẹ huyết thống của người, Maria, là người đầu tiên phù hợp với định nghĩa đó. Vì vậy, không phải là người đã hạ thấp mẹ ruột, mà đã tái lập giá trị và tầm quan trọng của bà ở một mức độ cao hơn. 

Điều này cũng đúng đối với chúng ta trong mối quan hệ với gia đình đức tin trong đó chúng ta đã được rửa tội, kể cả khi chúng ta mở lòng ra và chấp nhận những người khác không cùng đàn chiên với mình. Đức tin quan trọng hơn giọt máu đào và thậm chí còn quan trọng hơn liên hệ tôn giáo. 

Muỗi đốt

Khi ân sủng đến thì không còn lựa chọn nào khác – con người phải nhảy múa thôi.

W.H. Auden viết những lời trên, và tôi nghĩ những lời đẹp đẽ trên là đúng. Khi ân sủng vào một căn phòng thì chúng ta nên bắt đầu nhảy múa, nhưng buồn thay, chúng ta thường để cho một chuyện nhỏ nhặt nào đó, một vết muỗi đốt tí ti làm chúng ta không nhận ra ân sủng đang ở trước mặt mình. 

Tôi nói như vậy một cách thông cảm chứ không chua chát. Ai cũng biết muỗi có thể phá hỏng một chuyến píc-níc. Ví dụ: Bạn đang tổ chức tiệc sinh nhật ở vườn sau nhà, đang píc-níc với gia đình bè bạn. Thời tiết tuyệt vời, mặt trời ấm áp, mọi người ngà ngà dễ chịu, và mọi thứ bên trong và xung quanh bạn đều đáng để bạn vui vẻ và biết ơn. Đây là “lễ Xaba” theo nghĩa kinh thánh: bạn đang ăn mừng cuộc sống, ngày sinh của bạn. Bạn khỏe mạnh, xung quanh là gia đình và bạn bè thương quý mình, bạn đang tận hưởng niềm vui sướng, thư giãn khỏi guồng xoay công việc, và đồ ăn thức uống ngon lành. Ân sủng đã tới và mọi thứ đều tuyệt vời, trừ một thứ, muỗi. Khi chiều xuống, chúng từ đâu bay ra, đốt chỗ này một cú chỗ kia một phát, cho tới khi cuối cùng hầu như ai cũng bị phân tâm và chỉ còn bận bịu canh gác cho phần da thịt bị hở. Rốt cuộc phần lớn những điều vui vẻ và niềm biết ơn như bốc hơi đi mất, và sự khó chịu bị muỗi đốt đã thật sự chấm dứt mọi ý định khiêu vũ. Cuộc píc-níc đã bị phá hỏng vì một loạt các cú đốt tí ti!

Tất cả chúng ta đều có thể đếm được cả trăm tình huống như vậy. Xét tính chất phức tạp và điều bất ngờ xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, những con muỗi kiểu này hay kiểu khác bao giờ cũng có mặt.  Cuộc diễn hành nào cũng hứng một chút mưa, hầu như tình huống nào của cuộc sống cũng có điều gì đó khó chịu, và một yếu tố nào đó thách thức cái ân sủng giản dị trong gần như mọi khoảnh khắc cuộc sống. Cuộc sống hiếm khi nào đến với chúng ta trong trẻo hoàn toàn, không tì vết nào. Đó là lý do tại sao các sách thiêng liêng trước đây nói chúng ta đang “sống trong thung lũng đầy nước mắt này”. Trong cuộc sống, chúng ta chưa bao giờ được một giây phút hoàn toàn trong trẻo và vui vẻ nào. Cái gì cũng có một chút gợn đen, một con muỗi trong cuộc chơi píc-níc.

Và như vậy không phải bao giờ cũng dễ mà khiêu vũ được, kể cả khi ân sủng đang rõ ràng ở trước mặt. Muỗi đốt có thể làm cho chúng ta quên mất chuyện quan trọng một cách dễ dàng, đánh mất đi điều chính yếu, điều đáng ra giúp chúng ta nhìn ra được và ăn mừng ân sủng, chỉ vì một điều khó chịu nhỏ nhoi nào đó. Một điều khó chịu nhỏ nhoi có thể làm cho chúng ta không nhìn thấy được ân sủng lớn lao. 

Ngày nay có một lượng sách thiêng liêng và tâm lý phong phú thách thức chúng ta cố gắng sống trọn vẹn hơn trong phút giây hiện tại, đừng để những cơn đau tim của quá khứ hay những lo lắng của chúng ta về tương lai lừa dụ chúng ta ra khỏi hiện tại quý báu. Nhưng, như tất cả chúng ta biết, nói thì dễ hơn làm. Những yếu tố từ quá khứ của chúng ta – những bài hát ru nửa quên nửa nhớ từ thuở ấu thơ, một gương mặt gần như quên lãng, một mối tình quá khứ, một điều lăng nhục trên sân chơi cách đây đã rất lâu, một bước lỗi lầm vẫn còn ám ảnh chúng ta, và hàng ngàn những điều khác từ quá khứ – đều xâm nhập vào hiện tại của chúng ta. Và cả tương lai nữa – nó phủ bóng lên hiện tại khi chúng ta lo lắng không yên về một quyết định sắp phải làm, một cuộc họp ngày mai phải dự, điều bác sĩ sẽ nói vào lần đi khám tiếp theo, và làm thế nào để xoay xở với các hóa đơn thế chấp tiếp theo của chúng ta. Phút giây hiện tại chẳng bao giờ đến với chúng ta trong trẻo. 

Vậy nên mối thách thức ở đây vẫn vậy, một mối thách thức quan trọng và lành mạnh: Đừng để mấy vết muỗi đốt trong đời bạn làm cho bạn không còn thấy được sự hiện diện lớn lao của ân sủng! Một trong các tác giả thiêng liêng mà tôi yêu thích nhất, David Steidl-Rast nói về thách thức này rất rõ, dù ông nhấn mạnh điều tích cực. Đây là một ví dụ trong những gì ông viết: “Anh nghĩ rằng đây chỉ là một ngày khác trong đời. Nó không chỉ là một ngày khác trong đời: đó là cái ngày duy nhất mà hôm nay anh nhận được. Nó được trao cho anh, đó là một món quà. Đó là món quà duy nhất mà anh đang có lúc này, cách đáp trả duy nhất phù hợp là biết ơn. Nếu anh không làm gì khác ngoài vun xới cách đáp lại như vậy đối với món quà tuyệt vời này, là cái ngày duy nhất này, nếu anh học cách đáp lại như thể đó là ngày đầu tiên trong đời anh và cũng là ngày cuối cùng, thì anh đã trải qua một ngày tốt đẹp.”

Nhưng đó là ân sủng không dễ gì xảy tới, mà phải cầu nguyện sốt sắng để có được. Những con muỗi chắc chắn sẽ xuất hiện ở bất cứ cuộc píc-níc nào trong đời sống chúng ta. Đó là tất định. Thách thức ở đây là làm sao để không đánh mất đi ý thức về sự hiện diện lớn lao hơn của ân sủng chỉ vì những điều khó chịu không quan trọng. 

Giữ được óc hài hước sẽ hữu ích trong những chuyện như thế này: Ngày hôm qua tôi đang cố gắng cởi giày, một động tác đơn giản tôi nhắm mắt làm cả ngàn lần. Tôi tháo một múi dây, và xem cái cách buộc giày thường có, thì không thể nào các mối dây lại không mở ra. Nhưng cách nào đó tôi lại thắt thành một cái nút thắt! Làm sao mà lại như vậy được! Câu trả lời nằm ở một triết lý đơn giản, xưa cũ: trong cái thế giới khó chịu thì không có chuyện gì không thể xảy ra, không có cái gì gọi là có giới hạn, chỉ có những tiềm năng là vô hạn.

Chẳng lấy gì làm ngạc nhiên khi con người ta không phải bao giờ cũng nhảy múa khi có ân sủng. 

Khiết tịnh trong trắng của trái tim và ý định 

Sống khiết tịnh không dễ, không chỉ đối với những người không lập gia đình, mà đối với tất cả mọi người. Kể cả khi tất cả hành động của chúng ta đều thẳng thớm, thì vẫn khó mà sống với một trái tim trinh bạch, một thái độ trinh bạch, và những điều thích thú trinh bạch. Rất khó có được sự trong trắng của trái tim và ý định. 

Tại sao? Khiết tịnh khó bởi vì chúng ta đầy dục tính một cách vô phương cứu chữa trong từng chân tơ kẽ tóc. Mà đó chẳng phải là điều gì xấu. Đó là món quà của Chúa. Không hề là thứ dơ bẩn và đối chọi với đời sống tinh thần của chúng ta, dục tính là món quà lớn lao của Chúa, là ngọn lửa thiêng của Chúa trong lòng chúng ta. Và như thế, nỗi khao khát ái ân là sắc màu có ý thức hoặc sơ khai nằm đằng sau hầu hết mọi hoạt động trong đời sống chúng ta. 

Vì thế cầu nguyện để được khiết tịnh là một chuyện khó, vì cầu nguyện như vậy là xin cho nỗi khao khát tình dục và năng lượng tình dục trong lòng chúng ta nguội đi hay tan biến. Và ai trong chúng ta lại muốn sống cuộc đời vô cảm và vô tính? Chẳng có con người lành mạnh nào muốn điều đó. Như vậy, nếu bạn lành mạnh, thì khó mà chú tâm cầu nguyện xin khiết tịnh, bởi vì trong sâu thẳm, chẳng ai muốn vô cảm với tình dục. 

Nhưng vấn đề không nằm ở chuyện khiết tịnh, mà ở cách chúng ta hiểu về khiết tịnh. Khiết tịnh không có nghĩa là chúng ta trở nên vô cảm với tình dục (mặc dù mãi mãi từ xưa tới giờ và về sau, truyền thống thiêng liêng vẫn chật vật gắng gỏi để không đánh đồng như vậy). Khiết tịnh không phải là chuyện phủ nhận dục tính của chúng ta mà là định hướng nó cho đúng. Khiết tịnh là sự trong trắng của quả tim, tâm hồn trong trắng. Đó mới là ý niệm khiết tịnh trong Kinh thánh. Chúa Giêsu không bảo chúng ta cầu nguyện xin khiết tịnh, mà đề nghị chúng ta cầu nguyện xin “sự trong trắng của trái tim”. Phúc thay cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ gặp được Chúa. Họ cũng hướng dục tính của họ một cách đúng đắn. 

Lòng trong sạch là gì? Lòng trong sạch là quan hệ với người khác và thế giới theo cách tôn kính và trân trọng đầy đủ phẩm chất, giá trị và vận mệnh của mọi người và mọi vật. Lòng trong sạch là nhìn người khác như Chúa nhìn họ. Lòng trong sạch  là chúng ta yêu thương nhau với suy nghĩ về điều tốt của họ (chứ không phải điều tốt của chính chúng ta). Karl Rahner cho rằng chúng ta có lòng trong sạch khi chúng ta nhìn người khác trên một nền trời vô tận, nghĩa là trong tầm nhìn, nơi đó phẩm giá, đặc điểm cá nhân, cuộc sống, ước mơ và dục tính của người đó được nhìn nhận trong bối cảnh lớn lao nhất, kế hoạch vĩnh viễn của Chúa. Tâm trong trắng là ý định trong trắng và tôn trọng đầy đủ trong tình thương yêu. 

Khi chúng ta hiểu khiết tịnh theo nghĩa đó chúng ta mới có thể cầu nguyện dễ dàng hơn. Theo cái hiểu như vậy, chúng ta không cầu nguyện cho năng lượng tình dục của mình bị dập tắt, mà là cầu nguyện để vẫn hoàn toàn dũng mạnh nhưng những năng lượng, ý định và mơ mộng dục tình của mình được chuyển hướng đúng đắn. Chúng ta cũng cầu nguyện để có được một kiểu trưởng thành về mặt con người lẫn tình dục, tôn trọng người khác một cách trọn vẹn. Căn cốt, chúng ta cầu nguyện xin có được một lòng tôn trọng sâu xa hơn, một trưởng thành sâu sắc hơn, và một tình thương yêu trao truyền cuộc sống hơn.

Và đó là sự cầu nguyện hết sức cần thiết trong đời sống chúng ta bởi vì dục tính mạnh mẽ đến nổi thậm chí trong mối quan hệ hôn nhân, tình dục vẫn có thể có ý chí định hướng (intentionality) dù không đủ lớn. Charles Taylor, trong cuốn “Thời đại thế tục” (A Secular Age) tranh luận cái ý rằng tình dục quá dễ bỏ qua đại cục và trở thành bó hẹp, một ý thường bị bỏ qua trong cách hiểu của chúng ta về tình dục: “Không phải tôi đang cố hạ thấp ông cha của mình, bởi vì tôi nghĩ có một sự giằng xé thật sự trong việc cố gắng kết hợp sự viên mãn tình dục và sự sùng đạo trong cuộc sống của một người. Thật ra đây chỉ là một trong những điểm mà theo đó, người ta cảm nhận được một sự giằng xé chung hơn giữa chuyện bay bướm của con người và sự cống hiến với Chúa bộc lộ ra. Việc mối giằng xé này đặc biệt thấy rõ trong mảng tình dục là rất dễ hiểu. Sự viên mãn sâu sắc về tình dục khiến chúng ta chú ý mạnh mẽ tới sự liên hệ giữa vợ chồng; nó gắn chặt chúng ta với cảm thức sở hữu mạnh mẽ những gì được chia sẻ một cách riêng tư. Không phải khi không mà ngày xưa các nhà sư và các vị tu hành ẩn dật coi việc từ bỏ lạc thú tình dục là con đường mở ra để đi tới tình thương rộng lớn hơn của Chúa. [Và] chúng ta cũng không nên ngạc nhiên trước việc có sự giằng xé giữa sự viên mãn và lòng mộ đạo cũng trong một thế giới bị tội lỗi bóp méo, tách rời khỏi Chúa. Nhưng chúng ta phải tránh đừng để điều này biến thành một sự lệch lạc căn bản.” Rốt cuộc đó mãi mãi là cái mà cả thế giới thế tục và truyền thống thiêng liêng Ki-tô (vì thiếu cái hiểu đúng đắn về sự khiết tịnh) phải chật vật để không mắc phải.

Xét cái mãnh lực tình dục bên trong chúng ta, và xét cái mãnh lực của những thôi thúc và khát khao con người nói chung, sống cuộc đời khiết tịnh không dễ gì. Càng khó khăn hơn, và hiếm hơn để có được một tinh thần khiết tịnh, một trái tim khiết tịnh, những cơn mơ mộng khiết tịnh và ý định khiết tịnh. Quả tim chúng ta muốn cái điều nó muốn và gây áp lực bắt chúng ta giả lơ hậu quả. Chúng ta có thể dễ dàng có cảm giác phản kháng nhất định đối với chuyện cầu nguyện được khiết tịnh. Nhưng chủ yếu là do chúng ta không hiểu khiết tịnh một cách đúng đắn: Đó không phải là làm trái tim chết cứng, tước bỏ cảm xúc tình dục của mà là một trưởng thành sâu sắc hơn cho phép các năng lượng tình dục của ta tuôn chảy theo một cách trao truyền cuộc sống hơn. 

Một phương trình ám ảnh

Trong cuốn tiểu thuyết Những Lần Trả Cuối Cùng (Final Payments) Mary Gordon nói rõ về một phương trình từ rất lâu đã ảnh hưởng cả tốt lẫn xấu đến truyền thống thiêng liêng Ki-tô giáo.

Isabel, nhân vật nữ chính của bà là một thiếu nữ có nền tảng Công giáo mạnh, một người cha quá sức nghiêm khắc và một chiều sâu tự nhiên của tâm hồn hợp lại khiến cô trở nên quá sức dè dặt và quá mẫn cảm, nhìn cuộc đời từ bên ngoài, quá ý thức về bản thân và quá suy nghĩ, nói chung, cô khó dễ dàng nhận lời khiêu vũ hay tin tưởng vào bất kỳ một kiểu tiệc tùng vui vẻ nào.

Một buổi tối nọ cô đến dự buổi tiệc của sinh viên đại học, gần như ngay lập tức cô cảm thấy lạc lõng trong không khí bông lơn, bạo dạn trẻ trung, rượu chè và khiêu vũ. Vì thế cô rơi vào thói quen cũ: “Tôi hay tìm kiếm trong số những gương mặt sinh viên đó gương mặt nào mà tôi có thể thương. Tôi thường tìm kiếm điều gì đó riêng biệt, điều gì đó toát lên sự chân thực dưới hình dạng một cái cằm hay đôi mắt, điều gì đó khiến mình tin có một nỗi đau trầm lắng mà các thứ quy củ pháp chế không thể chạm tới được. Nhưng tất cả họ đều có vẻ vui vẻ hoàn toàn, khỏe mạnh đến mức họ chẳng làm tôi quan tâm. Tôi nhận ra mình đang tìm kiếm một người nào đó buồn rầu, và tôi tức giận chính mình vì đã lập ra cái phương trình, cũng là phương trình của cha tôi, phương trình của Giáo hội, phương trình giữa cái giá đau khổ và giá trị.”
Phương trình cân bằng giữa đau khổ và giá trị đó đã tồn tại từ lâu trong truyền thống thiêng liêng và đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến chúng ta một cách tích cực lẫn tiêu cực. Tôi phải thú nhận thường thường nó cũng là phương trình của chính tôi. Giống nhân vật Isabel của Mary Gordon, tôi cũng có xu hướng nhìn quanh phòng tiệc xem có gương mặt nào buồn rầu, trong niềm tin buồn rầu là dấu hiệu của chiều sâu, của thực chất, của sâu sắc. Thỉnh thoảng tôi đúng và một gương mặt mang vẻ buồn rầu thật sự chứa bên trong một nội tâm sâu sắc, nhưng tôi cũng hay sai. Đôi khi buồn rầu chỉ đơn thuần là một dấu chỉ của trầm cảm, rụt rè và tức giận không được thừa nhận. Đồng thời, tôi cũng gặp những người hướng ngoại rất mạnh trong việc biểu lộ sự sung sướng và niềm vui của họ, những người này nội tâm họ thật sâu sắc và không hề hời hợt chút nào. 

Ấy vậy mà cái phương trình đó vẫn ám ảnh tôi, như vẫn ám ảnh truyền thống thiêng liêng Ki-tô giáo bao thế kỷ nay. Vĩnh viễn chúng ta có khuynh hướng quy cho đau khổ và buồn bã là những điều có giá trị và có chiều sâu. Tôi nhớ vị thầy hướng dẫn chủng sinh của tôi đã thách thức chúng tôi với ý kiến cho rằng trong sách thánh không có tình huống nào làm Chúa Giêsu cười to; ý ở đây là trọn chiều sâu của Chúa Giêsu có gốc rễ từ nỗi đau khổ của Người. Cười to hay thoải mái bị cho là hời hợt. Điều này củng cố ý niệm đã được khắc sâu vào tâm trí tôi từ khi tôi còn là một đứa trẻ, lớn lên trong một gia đình và cộng đoàn Công giáo di cư. Chúng tôi gần như được giáo huấn với thành ngữ: Sau tiếng cười là nước mắt! Cái ý ở đây đã rõ ràng: Cười là hời hợt và cốt yếu nó chỉ cố gắng giữ cho thực tế và nỗi buồn nằm trong tầm kiểm soát. Nỗi buồn là cái gì đó có thật, vì vậy đừng bị tiệc tùng đình đám đánh lừa và cười lên mà coi nhẹ chuyện đó. 

Những chuyện này muốn nói lên điều gì? Rõ ràng, có sự thật trong phương trình này. Bất kỳ nhà tâm lý, người hướng dẫn tinh thần, người cố vấn tâm hồn giỏi nào cũng sẽ nói với bạn rằng, thường thường, một tăng tiến và trưởng thành đích thật của tâm hồn khởi từ sự chịu đựng và nỗi đau sâu sắc trong cuộc đời mình. Không hẳn là Chúa không nói rõ ràng với chúng ta khi chúng ta đang vui vẻ và thành công, nhưng chúng ta không có khuynh hướng lắng nghe trong những lúc này. Nỗi đau mới khiến chúng ta chú ý. Như C.S. Lewis từng nói, nỗi đau là cái máy vi âm của Chúa với một thế giới bị điếc. Không thể nào chối cãi, có một sự liên hệ giữa đau khổ với chiều sâu tâm hồn.

Nhưng chúng ta phải cẩn thận để không diễn giải quá nhiều từ ý niệm này. Khi nhìn Chúa Giêsu và nhiều nhân vật phi thường lành mạnh khác, chúng ta thấy chiều sâu tâm hồn cũng dính liền với những phút giây vui sướng và hân hoan của cuộc sống. Chúa Giêsu làm cho mọi người kinh ngạc trước khả năng thấm sâu trong đau khổ và từ bỏ những vui sướng trần tục, cũng như  khả năng tận hưởng trọn vẹn giây phút hiện tại, như trong câu chuyện người phụ nữ xoa dầu thơm đắt tiền lên chân Người. Chiều sâu tâm hồn của Người đến từ cả nỗi đau lẫn hân hoan của Người. Và tôi ngờ rằng lòng biết ơn của Người phát sinh từ niềm vui sướng nhiều hơn là từ khổ đau. 

Trong quyển tiểu thuyết Đời Nhẹ Khôn Kham (The Unbearable Lightness of Being), nhà văn người Séc Milan Kundera đã cân đo phương trình đó: Cái gì có giá trị hơn, sự nặng nề hay nhẹ nhàng? Câu trả lời của ông là: sự nặng nề có thể nghiền nát chúng ta, nhưng nhẹ nhàng có thể không thể nào kham nổi:

“Sự nặng nề của những gánh nặng nghiền nát chúng ta, chúng ta chìm xuống bên dưới, nó ghim chặt chúng ta xuống đất. Nhưng … gánh nặng mà càng nặng, thì cuộc sống chúng ta càng gần gũi hơn với trần thế, trở nên thật và chân thực hơn. Ngược lại, sự thiếu vắng hoàn toàn một gánh nặng khiến con người thành nhẹ hơn không khí, vọt lên cao, rời bỏ trần thế và sự tồn tại trần thế của anh ta, chỉ còn một nửa là thật sự, những biến thái của anh tự do và cũng tầm thường vô nghĩa như vậy.”

Vậy thì chúng ta nên chọn cái gì? Nặng nề hay nhẹ nhàng? … Đó chính là vấn đề. Điều duy nhất chắc chắn là: sự đối lập nhẹ nhàng/nặng nề là điều bí ẩn nhất, mù mờ nhất trên hết thảy.

Thật sự như vậy.

Những quyển sách đã gặp tôi trong năm 2011

Bởi vì thời gian bao giờ cũng hiếm nên tôi cố gắng chọn lọc những gì mình đọc. Nhưng đồng thời, tôi cũng cố giữ một chọn lựa rộng rãi bằng cách đọc tiểu thuyết, các sách thiêng liêng, các chuyên khảo thần học, tự truyện và các khảo luận về các vấn đề tâm lý và nhân loại học. 

Tôi chọn sách bằng cách nào? Tôi đọc các bài đánh giá sách, nghe lời giới thiệu của đồng nghiệp, nhận sách tặng, và thỉnh thoảng tìm tòi ở tiệm sách, nhưng những gì rốt cuộc tôi thật sự đọc thường là kết quả của một kết hợp của nhiều điều ngẫu nhiên hơn là một lựa chọn có nghiên cứu kỹ càng. Những quyển sách chúng ta cần đọc có cách để tìm ra chúng ta. 

Những quyển sách nào đã tìm thấy tôi trong năm vừa qua?

Trong số các tiểu thuyết:

– Tự Do (Freedom) của Jonathan Franzen, là kiểu sách bình luận về văn hóa đương đại theo phong cách John Updike. Quyển này dễ đọc, chứa đựng một thông minh xúc cảm tốt. 

– Chân Dung Dorian Gray (The Picture of Dorian Gray) của Oscar Wilde, tuyệt vời về cả ngôn ngữ lẫn nội dung. Một quyển kinh điển đáng đọc. Trong một nền văn hóa có xu hướng đánh giá vẻ ưa nhìn và trông đẹp mắt, Chân Dung Dorian Gray của Wilde chứa đựng một vài cảnh báo không dễ chịu. 

– Con Đường (The Road) của Cormac McCarthy, một chứng nhân cho niềm thôi thúc nguyên sơ được sống. Đây không phải như Chùm nho Nổi giận (The Grapes of Wrath) của John Steinbeck, nhưng nó cũng chạm đến những nơi chốn tương tự trong lòng chúng ta. 

– Giờ Khắc Tôi Tin Lần Đầu (The Hour I First Believed) của Wally Lamb, dài 200 trang, nhưng cũng giống tất cả các sách của Lamb, có cái nhìn hết sức sâu sắc và phù hợp với nỗ lực cam go để tha thứ và hòa giải của chúng ta. Nhân vật trung tâm của Lamb luôn luôn là một người khó gần với nỗi giận dữ trong lòng, cuối cùng cũng phải quỳ gối xuống để bộc lộ nỗi giận dữ ra với chính mình. 

– Barabbas (Barabbas) của Par Lagerkvist, một tác phẩm đầy sức tưởng tượng về những gì xảy ra sau khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá. 

– Những câu chuyện Brownsville (Brownsville Stories), và Amigoland (Amigoland) của Oscar Casares: nồng ấm, sâu sắc về mặt tình cảm, những câu chuyện hay, với sức thu hút đặc biệt đối với ai sống gần biên giới Mexico.

– Chiếc Bàn Của Con Mèo (The Cat’s Table) của Michael Ondaatje’s, là một trong những tiểu thuyết được đánh giá hay nhất năm 2011, hoàn toàn xứng đáng như vậy.

– Chuyến Tàu Đêm Tới Lisbon (Night Train to Lisbon) của Pascal Mercier, là cuốn tiểu thuyết của bạn, nếu bạn đang tìm một đòn thách thức trí óc.

Trong số các chuyên khảo thiêng liêng và thần học:

– Sự Kinh Ngạc Toàn Triệt (Radical Amazement) của Judy Cannato: Những cái nhìn sáng suốt sâu sắc và lời gợi ý về việc sống trong phút giây hiện tại và nhìn thấy chiều sâu ẩn kín trong đời sống. 

– Trên Trái Đất Cũng Như Trên Thiên Đường (On Earth as it is in Heaven), Minh triết Thiêng liêng Của Phúc Âm Dành Cho Những Người Đi Giảng và Các Giáo Sư Ki-tô giáo (The Spiritual Wisdom of the Gospels for Christian Preachers and Teachers) của John Shea: Nếu bạn không hài lòng với những bài giảng bạn vẫn nghe mỗi chủ nhật thì nên mua quyển này để đọc các bài giảng ngày Chủ nhật. 

– Các Bản Đồ Đức Tin (Faith Maps), Những Người Thám Hiểm Tôn Giáo Từ Newman Đến Joseph Ratzinger (The Religious Explorers from Newman to Joseph Ratzinger) của Michael Paul Gallagher: Những biện giải chính chắn đối với những ai đang mong tìm được những lý do hùng hồn cho niềm hy vọng của mình. 

– Nói Lên Sự Thật – Phúc Âm là Bi Kịch, Hài Kịch Và Truyện Thần Tiên (Telling the Truth – The Gospel as Tragedy, Comedy, and Fairy Tale) của Frederick Buechner: Một tuyệt tác về sức mạnh của ngôn ngữ và ngôn ngữ Phúc Âm.  

– Vị Chúa Tình Dục, Khám Phá Những Mối Liên Hệ Vô Tận Giữa Tình Dục Và Thiêng Liêng (Sex God, Exploring the Endless Connections Between Sexuality and Spirituality), và Nhận Được Tình Yêu, Cuốn Sách Về Thiên Đường, Địa Ngục Và Số Phận Mỗi Người Từng Sống (Love Wins, A Book about Heaven, Hell, and the Fate of every Person who Ever Lived) của Rob Bell, từ ngòi bút của một mục sư trẻ, viết với độ thăng bằng phi thường, cái nhìn sáng suốt sâu sắc và cảm xúc bằng nhau đối với cả Phúc Âm lẫn văn hóa. 

Tự truyện:

– Hai trong số những cuốn gây chấn động mạnh nhất mà tôi đọc trong năm 2011: Các Bài Viết Tưởng Niệm Cha James Gray OSB (Essays in Memory of Father James Gray OSB) của Bush Dweller, do Donald Ward biên tập, và Những Đêm Xanh (Blue Nights) của Joan Didion: Cả hai câu chuyện đều gây chấn động mạnh; câu chuyện thứ nhất về một người ẩn dật, gặp gỡ và khuyên bảo cả thế giới từ túp lều của mình; còn câu chuyện thứ hai là về một phụ nữ gắng gỏi để tìm sự sống trước bao nhiêu cái chết cay đắng. 

Các chuyên khảo thần học và nhân loại học:

– Khám phá Girard (Discovering Girard) của Michael Kirwan, là cuốn giới thiệu của một người không chuyên với những cái nhìn sâu sắc về nhà nhân loại học nổi tiếng René Girard.

– Tự Nhiên và Linh Hồn Con Người, Nuôi Dưỡng Nhất Thể và Cộng Đoàn Trong Một Thế Giới Vỡ Vụn (Nature and the Human Soul, Cultivating Wholeness and Community in a Fragmented World) của Bill Plotkin: Như các cuốn trước, Plotkin đẩy xa thêm những đường biên của dòng chảy tư tưởng thiêng liêng chính, luôn luôn kêu gọi để tự nhiên có một vai trò sâu sắc hơn. 

– Quảng đại và Biết Ơn, Một Bài Thánh Vịnh Triết Lý (Generosity and Gratitude, A Philosophical Psalm) của Dale Schlitt, một triết gia chuyên về Hegel, tặng chúng ta bài thơ tuyệt vời dài 136 trang về lòng biết ơn, cho thấy những cái nhìn sâu sắc sáng suốt thật sự về triết học trừu tượng cũng có thể tràn đầy Chúa như các bài Thánh Vịnh.

Các thể loại khác:

– Nghệ Thuật Kính của Sarah Hall (The Glass Art of Sarah Hall) của John S. Porter, một cuốn sách cực kỳ đẹp với các bức ảnh trên mỗi bàn cà phê và mỗi thư viện. 

– Chống Ung Thư, Một Cách Sống Mới (Anti-Cancer, A New Way of Life) của David Servan-Schreiber. Cuốn sách tôi được tặng khi tôi ở bệnh viện ung thư để bắt đầu hóa trị liệu, bên cạnh nhiều cuốn sách về ung thư mà tôi đã đọc ngấu nghiến trong mấy tháng vừa qua, tôi thấy quyển này thách thức nhất và hữu ích nhất. 

– Dạo bước trên Bàn Xoay: Cuộc sống trên ở Arc (Walking on Rolling Deck: Life on the Arc), Kathleen C. Berken, Jean Vanier viết lời tựa: Berken <http://faithjourneyhope.com/kathy-berken-jean-vanier.html>, một nhà báo đã sống vài năm trong cộng đoàn L’Arche, đưa chúng ta vào một thế giới khác, không có những cảm xúc sai lầm hay lãng mạn ngây thơ. 

Những cuốn sách này đã chạm đến tôi, nhưng, như Thánh Augustino từng nói câu rất nổi tiếng: Liên quan tới sở thích thì chúng ta không nên tranh cãi! Bạn cứ đọc, hay dở tôi không chịu trách nhiệm!