RonRolheiser,OMI

Những điều chúng ta hiểu sai về tự tử

Hàng năm tôi đều viết một bài về tự tử vì có quá nhiều người phải sống trong nỗi đau mất mát một người thân yêu theo cách đó. Hiếm có tuần nào mà tôi không nhận được một bức thư tay, một thư điện tử hay một cuộc điện thoại từ một người nào đó vừa mới mất một người thân vì họ tự tử. Trong gần như mọi trường hợp, có một nỗi buồn bã kèm theo là thật sự chẳng có mấy tài liệu gì, dù là tôn giáo hay thế tục, để giúp an ủi những người ở lại đầy đau thương mất mát đó. Một người bạn của tôi, người mà suốt trong những năm dài tối tăm phải tìm cách sống vượt lên nỗi đau mất người chồng do tự tử, một ngày nọ dự định viết một quyển sách để cố gắng an ủi những người ở lại đầy đau thương. Có một nhu cầu ghê gớm đối với chỉ một quyển sách như vậy.

Khi một người gần gũi với chúng ta chết vì tự tử, chúng ta sống với một nỗi đau chứa nhiều hoang mang (“Tại sao?), tội lỗi (chúng ta hẳn vẫn có thể làm được điều gì?”), hiểu lầm (“Đây là dạng tuyệt vọng tột bậc”) và – nếu chúng ta có tín ngưỡng – cả những nỗi ray rứt tôn giáo sâu sắc (“Làm thế nào mà Chúa lại đối xử như vậy với một người như thế? Số mệnh vĩnh cửu của người đó sẽ ra sao”)

Cần nói điều gì về chuyện tự tử? với rủi ro là lặp lại những gì tôi đã viết năm này sang năm khác:

Trước hết, đó là một căn bệnh, một chuyện mà trong hầu hết trường hợp đã đem một người ra khỏi cuộc đời này trái với ý muốn của người đó, căn bệnh về cảm xúc tương đương với bệnh ung thư, một cơn đột quỵ, hay một cơn đau tim. Thứ hai là, chúng ta, những người thân yêu còn ở lại, không nên dành thời gian và năng lượng không đáng để đoán mò xem mình đã hắt hủi người đó ra sao, chúng ta hẳn đã nên để ý điều gì, và điều gì chúng ta hẳn vẫn có thể làm được để ngăn chặn việc tự tử đó. Tự tử là một căn bệnh, và cũng như những căn bệnh thân thể thuần túy, chúng ta yêu thương một người nhưng vẫn không thể cứu người đó khỏi chết. Chúa cũng yêu thương người này, và giống chúng ta, Người cũng không thể can thiệp vào tự do của người đó. Cuối cùng, chúng ta không nên quá lo lắng về chuyện làm thế nào Chúa gặp được người thân yêu của ta ở bên kia thế giới. Tình thương yêu của Chúa, khác với tình thương yêu của chúng ta, có thể đi qua những cánh cửa khóa chặt, đi xuống địa ngục, và thở những hơi thở an bình ở những nơi chúng ta không thể. Phần lớn những người chết do tự tử sẽ thức dậy ở phía bên kia và thấy Đức Ki-tô đang đứng bên trong căn phòng khóa kín của họ, bên trong trái tim hỗn loạn của họ, thở ra hơi thở bình an và nhẹ nhàng nói: “Cầu mong con yên nghỉ!”

Nhưng mỗi năm tôi cũng nhận rất nhiều thư phê phán nói rằng tôi đang coi nhẹ vấn đề tự tử bằng cách giảm nhẹ mức độ cấm kỵ tối hậu của nó và do đó khiến cho người ta dễ dàng thực hiện chuyện đó hơn: Chẳng phải bản thân G.K. Chesterton đã từng nói, khi giết chính mình, anh đã lăng nhục từng bông hoa một trên trái đất này? Thế thì chuyện này là sao?

Chesterton nói đúng, khi tự tử thật sự là một hành động tuyệt vọng trong đó một người tự giết mình. Nhưng trong hầu hết các trường hợp tự tử, tôi ngờ rằng điều đó không đúng bởi vì có một sự khác biệt lớn lao giữa chuyện là nạn nhân của tự tử và chuyện giết bản thân mình. 

Trong tự tử, một người, do bệnh tật theo bất cứ kiểu gì, bị đem ra khỏi cuộc đời ngoài ý muốn của người đó. Nhiều người trong chúng ta đã biết những người thân yêu chết vì tự tử và chúng ta biết rằng trong gần như mọi trường hợp, người đó là phản đề của kẻ ích kỷ, kẻ tự yêu bản thân mình, kẻ quá mức kiêu ngạo, chai lì, người không chịu thay đổi và từ chối chấp nhận vị trí của mình trong một tình trạng hèn kém và đổ vỡ, vì tự hào. Thường là ngược lại. Người chết bằng tự tử đó có các vấn đề độc hại như ung thư bởi vì người đó quá nhạy cảm, quá tổn thương, quá non nớt, và đã mang đầy thương tích đến nỗi không thể có được độ gan lì cần thiết để chịu được nhiều cú đấm của cuộc đời. Tôi nhớ một lời nhận xét mà một lần tôi nghe thấy trong một lễ tang. Chúng tôi vừa chôn cất một chàng trai, một người đã tự tử do chịu đựng quá sức bệnh trầm cảm. Vị linh mục đã thuyết giảng rất tệ, ám chỉ rằng vụ tự tử này cách nào đó là lỗi lầm của riêng chàng trai, và tự tử bao giờ cũng là hành động tuyệt vọng tột bậc. Trong buổi tiếp tân theo sau đó, một người hàng xóm của chàng trai đã đứng lên và bày tỏ bất mãn với lời thuyết giảng của vị linh mục: “Có rất nhiều người trên thế giới này cần phải tự giết mình, nhưng họ sẽ chẳng bao giờ làm vậy! Nhưng người con trai này là người cuối cùng trên thế giới phải giết mình; anh là người nhạy cảm nhất tôi từng gặp!” Quá đúng.

Giết mình là chuyện khác. Đó là cách mà một số kẻ như Hitler ra khỏi cuộc đời này. Trên thực tế, Hitler đúng là đã giết bản thân mình. Trong trường hợp như vậy, người đó không phải là quá nhạy cảm, quá khiêm tốn, quá mang nhiều thương tích đến nỗi không chạm đến được những người khác và được người khác chạm đến. Mà là trái lại. Người đó quá tự hào đến nỗi không thể chấp nhận vị trí của mình trong một thế giới mà rốt cuộc đòi hỏi sự khiêm cung từ tất cả mọi người.

Có một khoảng cách xa vô tận giữa một hành động thực hiện vì yếu đuối và một hành động thực hiện vì sức mạnh. Cũng vậy, có một sự phân biệt tuyệt đối rõ ràng giữa chuyện quá tổn thương đến nỗi không thể tiếp tục tiếp xúc cuộc đời với chuyện quá tự hào không thể tiếp tục chấp nhận vị trí của mình trong cuộc đời đó. Chỉ hành động sau mới phạm đến đạo đức, lăng nhục các bông hoa, và thách thức lòng lành của Chúa. 

Khát khao cô tịch 

Tám trăm năm trước, nhà thơ Rumi đã viết: Điều tôi muốn làm là vọt ra khỏi con người tôi và ngồi tách hẳn ra. Tôi đã sống quá lâu ở nơi người ta có thể tìm tới.

Chẳng phải điều đó đúng với tất cả chúng ta hay sao, đặc biệt ngày nay! Đời sống của chúng ta thường xuyên giống như cái va li bị nhét quá tải. Gần như lúc nào chúng ta cũng cũng bận rộn, cũng đầy áp lực, còn một cú điện thoại phải gọi, còn một tin phải nhắn, một e-mail phải gởi đi, một chuyến thăm còn chờ, một nhiệm vụ chưa làm. Mãi mãi chúng ta lo lắng về những thứ chúng ta vẫn còn để đó chưa làm, về người mà chúng ta đã làm cho họ thất vọng, về những kỳ vọng không được đáp ứng.

Hơn nữa, trong mọi chuyện này, bao giờ người khác cũng có thể tìm tới được với chúng ta. Chúng ta chẳng có hòn đảo tĩnh lặng nào để trốn, chẳng có nơi ẩn náu cô tịch nào. Khi nào người khác cũng tìm được chúng ta. Một nửa thế giới có số điện thoại liên hệ với chúng ta và chúng ta chịu áp lực phải có mặt ở đó bất cứ khi nào. Rất thường xuyên chúng ta cảm thấy mình như đang ở trong guồng lao dịch mà chúng ta khao khát thoát ra. Và giữa tất cả trận đồ bận túi bụi, áp lực, ồn ào và mệt mỏi đó, chúng ta khao khát cô tịch, khao khát một tĩnh lặng nào đó, một hòn đảo bình yên nơi chấm dứt mọi áp lực và tiếng ồn để đơn giản chúng ta có thể ngồi xuống nghỉ ngơi. 

Đó là ước ao lành mạnh. Tâm hồn chúng ta đang lên tiếng. Giống như thân thể, tâm hồn cũng liên tục cố gắng báo cho chúng ta biết nó muốn gì. Nó cần cô tịch. Nhưng tìm cô tịch thì chẳng dễ dàng. Tại sao?

Cô tịch là thứ khó nắm bắt, nó cần tìm chúng ta hơn chúng ta tìm nó. Chúng ta có khuynh hướng hình dung cô tịch một cách rất ngây ngô, như một cái gì đó chúng ta có thể “đắm mình trong đó” như đắm mình trong bồn nước ấm. Chúng ta có xu hướng hình dung cô tịch như sau: Chúng ta bận rộn, đầy áp lực, và mệt mỏi. Cuối cuần chúng ta có dịp thoát được áp lực này. Thuê một căn nhà nhỏ, có đầy đủ mọi thứ, lò sưởi, khu rừng ẩn mật. Chúng ta đem theo thức ăn, rượu vang, vài đĩa nhạc nhẹ và chúng ta để điện thoại, iPad hay máy tính xách tay ở nhà. Đây sẽ là một cuối tuần tĩnh lặng, thời gian để uống rượu vang bên lò sưởi và lắng nghe chim hót, một thời cô tịch.

Nhưng sự cô tịch không thể được lập trình dễ dàng như vậy. Chúng ta có thể thiết lập những điều kiện tối ưu cho nó, nhưng điều đó không bảo đảm rằng chúng ta sẽ tìm thấy nó. Nó phải tìm thấy ta, hoặc, nói chính xác hơn, một điều nào đó bên trong ta phải được đánh thức cho nó có mặt. Tôi xin chia sẻ một trải nghiệm của bản thân như sau:

Vài năm trước, khi còn dạy thần học ở một trường đại học, tôi thu xếp để sống ở tu viện Xi-tô hai tháng hè. Tôi đi tìm cô tịch, tìm cách sống chậm lại. Tôi vừa xong một học kỳ đầy áp lực, vừa dạy, vừa đảm nhiệm công việc hành chánh, tổ chức các buổi nói chuyện và hội thảo, và cố gắng viết đôi chút nữa. Tôi đã tưởng tượng ra hình ảnh gần-như-ngọt ngào về những gì sẽ gặp tôi ở tu viện đó. Tôi sẽ có hai tháng tuyệt vời trong cô tịch: Tôi sẽ đốt lò sưởi trong phòng, ngồi yên lặng bên cạnh. Tôi sẽ thinh lặng đi dạo trong khu rừng đằng sau tu viện. Tôi sẽ ngồi trên chiếc ghế đu ven hồ và châm tẩu hút. Tôi sẽ thưởng thức món ăn ngon lành, ăn trong yên lặng, tai nghe một thầy đọc to giọng một đoạn trong sách thánh, và tuyệt vời nhất, tôi sẽ cùng các thầy cầu nguyện – cùng hát trong ca đoàn, dâng thánh lễ, và cùng họ thiền tọa tĩnh lặng trong nhà nguyện an bình. 

Tôi đến tu viện vào giữa chiều, vội vàng dỡ đồ đạc ra, và ngay lập tức bắt tay vào làm những việc trên. Đến chiều muộn tôi đã “phạt sạch”, giống như bãi cỏ đợi để được cắt từ lâu: Tôi đã châm lò sưởi và ngồi cạnh. Tôi đã đi dạo trong rừng, đã ngồi trên chiếc ghế đu cạnh hồ hút tẩu thuốc, đã cùng với các thầy hợp ca trong giờ kinh chiều, đã ngồi thiền với họ nửa giờ sau đó, đã ăn tối ngon lành trong im lặng, và rồi lại cùng với họ hát trong buổi lễ cuối ngày. Đến giờ đi ngủ trong buổi tối đầu tiên thì tôi đã làm xong tất cả mọi thứ mà tôi ao ước nó sẽ đem lại cho mình một sự cô tịch nào đó, và tôi đi ngủ mà lòng không yên, nhấp nhỏm lo lắng rồi đây không biết làm sao sống qua được hai tháng không ti vi, không báo chí, không điện thoại, không gặp gỡ bạn bè, và không những công việc đều đặn để làm xao lãng bản thân. Tôi đã làm tất cả những hoạt động cô tịch đúng đắn mà không tìm thấy cô tịch, thay vào đó tôi lại thấy bất an. Mất vài tuần cơ thể và tâm trí tôi mới chậm lại đủ để tôi tìm được yên tĩnh căn bản trước khi tôi có thể bắt đầu nhấm nháp bờ rìa của cô tịch. 
Cô tịch không phải là cái gì chúng ta có thể vặn một cái là chảy ra ngay như nước máy. Nó cần một cơ thể và tâm trí chậm lại để chú ý tới phút giây hiện tại. Chúng ta ở trong cô tịch khi, như Merton nói, chúng ta trọn vẹn nếm được vị của nước đang uống, cảm nhận được hơi ấm của tấm chăn đang đắp, và yên tĩnh đủ để hài lòng với bản thể chính mình. Chúng ta thường không làm được điều đó, cho dù nỗ lực thiết tha, nhưng chúng ta cần tiếp tục những khởi đầu mới mẻ. 

Cuộc đời do thần cảm thúc đẩy

Mysticism (thần cảm) là một từ kỳ lạ. Ít người trong chúng ta liên hệ thần cảm với trải nghiệm bình thường, đặc biệt với trải nghiệm của chính chúng ta. nhìn chung được coi như là một điều kỳ lạ, một điều dị thường, một loại ý thức đặc biệt chỉ trao cho những người ưu tú nhất trong đời sống thiêng liêng, một điều dành cho các vận động viên thiêng liêng, hay cho những viễn cảnh huyền cảm, những trạng thái khác của ý thức, kiểu trò chơi “rắn và thang” (bạn phải trả lời cho đúng câu hỏi, nếu không bạn sẽ bị tụt thang đi lại từ đầu) trong đời sống thiêng liêng.

Nhưng thần cảm không phải là phi thường, dị thường, huyền cảm, mà là một trải nghiệm bình thường, quan trọng được trao cho tất cả chúng ta. 

Thần cảm là gì? Ruth Burrows, nữ tu sĩ dòng Kín người Anh, định nghĩa như sau: Thần cảm là được Chúa chạm đến một cách sâu thẳm hơn ngôn ngữ, suy nghĩ, tưởng tượng và cảm nhận. Đó là biết Chúa và bản thân chúng ta vượt lên trên suy nghĩ và cảm nhận rõ ràng. 

Nhưng làm sao điều này lại có thể xảy ra? Làm sao chúng ta biết được điều gì đó vượt lên trên khả năng chúng ta nói về nó, tưởng tượng về nó hay thậm chí cảm nhận nó rõ ràng?

Có lẽ mô tả sau đây của Ruth Burrows về một trải nghiệm làm biến đổi cuộc đời của bà có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn: Trong cuốn tự truyện Trước Cuộc Sống Có Chúa (Before the Living God), bà chia sẻ câu chuyện sau: Khi còn là thiếu nữ trẻ 18,19 tuổi, một hôm bà ngồi trong nhà nguyện, bà ở đó không phải vì mục đích cầu nguyện gì cụ thể, mà vì bị phạt phải ngồi ở đó, vì đã hành xử cá biệt trong một chuyến đi chơi dã ngoại của lớp. Khi ngồi một mình trong nhà nguyện, bà trải qua một điều thần cảm, không phải có thiên thần hiện đến hay có một viễn tượng đặc biệt nào đó hay một trạng thái ý thức khác nào. Ngược lại: ngồi trong nhà nguyện đó bà có một giây phút trong sáng hiếm hoi, giản dị, đầy đặc ân, đặt nền móng sâu sắc trong tự thân và trong hiện tại, nơi mà, vào giây phút đó, bà tiếp xúc với cái sâu sắc nhất và chân thực nhất trong lòng mình và với cái sâu sắc nhất và chân thực nhất trong lòng thực tại. Và, lúc đó, bà biết, vượt lên trên những ngôn từ rõ ràng, sức tưởng tượng và cảm nhận, một điều gì đó về thực tại của Chúa và một điều gì đó về bản thể chân thực nhất của mình. Trải nghiệm này đã biến đổi cuộc đời bà. Trong giây phút đó, bà biết bà phải làm gì, và trái với phần lớn khí chất của bà, bà trở thành một nữ tu chiêm nghiệm – và cuối cùng, tất nhiên, một phụ nữ với tầm sáng suốt tâm linh đã hướng dẫn cho rất nhiều người trong số chúng ta. 

C.S. Lewis, khi chia sẻ về việc ông trở lại đạo, mô tả một điều tương tự, mặc dù trải nghiệm của ông là một trải nghiệm kéo dài hơn và kết tinh thành một giây phút trong sáng đầy đặc ân, và giây phút đó đã khiến ông tiếp xúc với những gì sâu sắc nhất và chân thực nhất trong lòng mình và trong bản thân thực tại. 

Tả lại trong cuốn tự truyện Kinh Ngạc Trước Niềm Vui (Surprised by Joy) về giây phút đầu tiên ông quỳ xuống tiếp nhận Chúa Kitô, ông kể rằng, đối với ông, giây phút đó chẳng hề có chút mê ly nào cả. Đúng hơn, ông quỳ xuống như một “kẻ trở lại đạo miễn cưỡng nhất trong toàn bộ lịch sử Kitô giáo”. Nhưng ông quỳ xuống bởi vì, như ông miêu tả: “Tôi đã đi đến chỗ nhận ra rằng sự khắc nghiệt của Chúa còn tốt hơn sự dịu dàng của con người, và sự cưỡng bách của Chúa là sự giải phóng cho chúng ta.”

Lewis hiểu sự cưỡng bách của Chúa như thế nào? Cũng rất giống cách bà Ruth Burrows hiểu về trải nghiệm thần cảm, nghĩa là giây phút trong trẻo giản đơn khi chúng ta chạm đến và đi tới chỗ nhận ra cái gì sâu sắc nhất và chân thực nhất trong lòng mình và trong bản thân thực tại, và trong sự trong trẻo đó, chúng ta biết điều gì mình phải làm – ngược lại với những gì mà trí thông minh của chúng ta nghĩ rằng nếu làm thì mới khôn ngoan hay những gì mà trái tim chúng ta xúc động muốn làm. Lewis trở thành Kitô hữu vì ông chạm với trải nghiệm này từ trọng tâm thần cảm của mình và nó nói với ông điều ông phải làm. 

Vậy cái gì tạo nên trọng tâm thần cảm của chúng ta? Bernard Lonergan gọi đó là những nguyên lý đầu tiên – tính toàn thể, chân lý, tính thiện, và cái đẹp – trong tâm hồn con người. Henri Nouwen gọi đó là “mối tình đầu”, nghĩa là cái ký ức xa mờ về một lần từng được yêu thương và vuốt ve bởi đôi bàn tay dịu dàng hơn bất cứ đôi bàn tay nào chúng ta từng gặp trên thế gian này, ký ức trong tiềm thức về việc đã cùng với Chúa trước khi chúng ta sinh ra đời. Một số nhà thần cảm gọi đó là ký ức ban đầu về cái hôn của Chúa khi người thổi linh hồn vào thân thể chúng ta. 

Phần lớn chúng ta không biết gọi tên nó là gì, nhưng chúng ta nói về điều gì đó như là “reo lên sự thực” hoặc “không reo lên sự thực”. Nhưng một cái gì đó reo lên sự thực hay không reo lên sự thực với điều gì? Chúng ta có mang một loại “chuông” nào đó trong lòng chúng ta hay không? Trên thực tế chúng ta có. Chúng ta gọi đó là lương tâm/ý thức, trung tâm sâu sắc nhất của chúng ta, trung tâm luân lý của chúng ta, trung tâm này nói với chúng ta những gì chúng ta phải làm, hoặc đó là một nơi trong lòng ta khao khát một người bạn tâm giao, nhưng chúng ta đều biết có một nơi trong lòng chúng ta, một nơi chúng ta chạm đến trong những phút giây thành thực nhất của mình, nơi chúng ta biết đến kiểu các nguyên lý đầu tiên, manh nha nhớ đến nụ hôn của Chúa, và biết chúng ta cần làm gì để chân thực với chính mình. 

Khi chúng ta tiếp xúc với trung tâm sâu sắc này và hành động theo những thôi thúc và mệnh lệnh của nó, thì, như Ruth Burrows và C.S. Lewis, chúng ta đang sống một cuộc đời do thần cảm thúc đẩy. 

Ngày của Cha

Hàng năm chúng ta đều kỷ niệm “Ngày của Cha”, ngày mà chúng ta được mời gọi để nói lên lòng biết ơn với người cha. Đối với một số người đây là chuyện dễ dàng vì họ có một người cha tốt, đối với một số người khác, đây là điều khó khăn: Làm sao mình biết biết ơn người cha khi cha của mình phần lớn thời gian vắng mặt trong cuộc đời hoặc ngược đãi mình?

Đáng buồn thay, thế giới của chúng ta có quá nhiều người cha vắng mặt và ngược đãi. Vì vậy, nhiều người trong chúng ta đi suốt cuộc đời trong cố gắng chật vật, dù vô thức, để tìm cho được thăng bằng lành mạnh giữa tự do và kỷ luật. Thay vào đó chúng ta luôn luôn giao động giữa một bên là quá khắt khe với bản thân và một bên là quá dễ dãi với bản thân. 

Hơn nữa, nếu chúng ta có một người cha vắng mặt hoặc ngược đãi, chúng ta có khuynh hướng sống, luôn luôn đi tìm – một cách vô thức – một điều gì đó đã không được trao cho, đó là sự chấp thuận của người cha. Điều này khiến chúng ta rụt rè, thường giận dữ, và đói khát hình ảnh một người cha. 

Nỗi đói khát này, đói khát được người cha hay một ai đó đại diện cho ông để khẳng định và chúc phúc cho mình, có lẽ đó là cơn đói sâu sắc nhất trên thế giới ngày nay, đặc biệt đối với phái nam. Rất ít người trong cuộc đời được cha ruột hay hình ảnh một người cha khẳng định và chúc phúc.

Một người cha là như thế nào? Các nhà nhân loại học cho chúng ta biết hình mẫu người cha có những phẩm chất này: Ông là người thu xếp để tạo trật tự, cáng đáng, nuôi sống và chúc phúc cho gia đình. Điều đó có nghĩa gì?

Trước tiên, ông phải là cội nguồn của trật tự chứ không phải của rối loạn. Một người cha tốt sống theo cách mà gia đình ông cảm thấy yên ổn, an toàn khi có ông bên cạnh. Một người cha tồi, qua việc ông vắng mặt, không đáng tin cậy, hoặc ngược đãi đã làm cho gia đình cảm thấy bất ổn. Ví dụ, người cha có gốc là rối loạn khi ông không chung thủy, nghiện rượu, hoặc đang mang một thói nghiện ngập nào đó. Khi đó, cách hành xử của ông sẽ không lường trước được, lúc nào các con cũng đoán xem ông có về nhà hay không – nếu về thì tâm trạng của ông lúc đó sẽ như thế nào. Dần dà, tính chất khó lường này sẽ thấm vào con cái, đến một lúc chúng cảm thấy cha mình là nguồn gốc của mất trật tự, của hỗn loạn. Ngược lại, một người cha tốt, kể cả khi gia đình ông coi ông là chán ngắt và tẻ nhạt, sẽ làm cho gia đình cảm thấy an toàn và an ổn.

Thêm nữa, người cha tốt gánh vác gia đình hơn là đòi hỏi gia đình gánh vác ông. Người  cha tốt là người lớn, người có tuổi đáng kính, chứ không phải là anh chị em hay là một đứa trẻ (xét về hành vi) mãi mãi đòi hỏi gia đình phải gánh vác mình. Một người cha tốt không để vấn đề và mối lo, những chuyện đau lòng và mệt mỏi của riêng mình, thành tâm điểm chú ý của cả gia đình. Thay vào đó ông vượt lên chuyện mệt mỏi và đau lòng của riêng mình để tập trung vào những chuyện đau lòng, đau đầu của gia đình. 

Vượt lên trên điều đó, một người cha tốt nuôi dưỡng gia đình chứ không bắt gia đình nuôi dưỡng ông. Không đòi hỏi, cho dù vi tế và vô thức, con cái phải mang lại ý nghĩa, sự hài lòng và vinh quang cho ông. Thay vào đó ông quan tâm nhiều hơn đến việc con cái và gia đình tìm thấy được ý nghĩa, sự hài lòng và hạnh phúc trong chính cuộc đời của họ. Những người cha người mẹ tốt nuôi dưỡng con cái mình; những người cha người mẹ tồi bắt con cái phải nuôi dưỡng mình. 

Cuối cùng, một người cha tốt khẳng định và ngưỡng mộ con cái thay vì đòi hỏi chúng khẳng định và ngưỡng mộ ông. Một người cha tốt tỏ ra cho con thấy ông tự hào về chúng chứ không ghen ngược lại về tài năng và thành tựu của chúng. Ông không đòi hỏi con cái nói lên lòng tự hào của chúng về ông. Daniel Berrigan, trong cuốn tự truyện chính chắn viết hồi cuối đời, chia sẻ ông đã phải gắng gỏi chật vật ra sao với nhiều vấn đề trong suốt cuộc đời, đặc biệt với vấn đề thẩm quyền, vì ông thiếu lời chúc lành của người cha. Chẳng hạn, ông thường thấy sợ không dám nói với cha tin vui là ông vừa xuất bản một cuốn sách vì sợ cha ông ghen tỵ. Sau khi kể điều đó, ông hỏi độc giả: Có kinh ngạc gì không trước chuyện ông đã luôn ranh mãnh và nghi ngờ mọi hình bóng thẩm quyền trong suốt cuộc đời người lớn của mình? Sự vắng bóng lời chúc lành của người cha làm cho tâm hồn của chúng ta co lại. 

Có lẽ hình ảnh này có thể giúp ích ở đây: Khi con bò mẹ sinh con, con bê non rơi ra khỏi tử cung trong tình trạng bị bó chặt, cứng đơ, toàn thân bị quấn trong bọc nhau giống như keo dính. Nhưng Tự nhiên đã tính đến chuyện này và đã ban cho bò mẹ bản năng đúng đắn. Ngay lập tức, bò mẹ quay ra phía sau và liếm cái bọc bó chặt đó khỏi thân bê con cho kỳ hết. Ngay khi được liếm xong, bê con đứng dậy, dò dẫm và bắt đầu tự đi được. 

Con người chúng ta cũng sinh ra trong tình trạng tương tự. Chúng ta cũng bước vào cuộc đời  trong tình trạng bị bó chặt, nhưng trong trường hợp chúng ta, sự bó chặt không hẳn là về mặt thân thể. Đó là sự bó chặt sâu hơn và phức tạp hơn nhiều – và cha mẹ là người xóa bỏ tình trạng đó bằng cách thu xếp để tạo trật tự, gánh vác, nuôi dưỡng và chúc lành cho chúng ta. Không người cha nào làm được điều đó một cách hoàn hảo, nhưng nếu cha của bạn đã làm điều đó thậm chí chỉ được một nửa mức thỏa đáng, thì bạn hãy bày tỏ lòng biết ơn, và bạn nên biết là bạn được phước lành!

Vượt lên trên những thói quen xấu

Tất cả chúng ta đều có những khiếm khuyết, những điểm yếu, những chỗ mà chúng ta “đi tắt” về mặt luân lý, những điểm tối, những bệnh nghiện bí mật và không-bí-mật-cho-lắm. Khi chân thật với lòng mình, chúng ta đều thấy thánh Phaolô đã nói rất đúng: “Điều tốt tôi muốn làm thì tôi chẳng bao giờ làm; điều xấu tôi không muốn làm thì đó chính là điều tôi làm.” Chẳng ai trong chúng ta là toàn thiện, là bậc thánh từ đầu chí cuối cả. Bao giờ cũng có điều gì đó mà chúng ta đang phải chật vật xoay xở: giận, chua chát, hằn học, ích kỷ, lười biếng, hay thiếu kiềm chế bản thân (nặng hay nhẹ) về tình dục, thức ăn, thức uống, hay vui chơi. 

Và đối với phần lớn chúng ta, kinh nghiệm đã nói cho chúng ta hiểu, rất khó bỏ thói quen xấu. Trên thực tế, nhiều khi chúng ta còn không thể nào tập trung được ý chỉ để từ bỏ chúng, chúng đã thấm quá sâu vào chúng ta. Năm này qua năm khác, chúng ta xưng cùng một tội, cũng như các quyết tâm phải thực hiện mỗi khi Năm Mới về, chúng ta chẳng bao giờ thực hiện. Và mỗi năm chúng ta lại nói với bác sĩ dứt khoát năm nay sẽ giảm cân, tập thể dục nhiều hơn, ăn kiêng cử hơn. Cách nào đó mà chuyện này chẳng bao giờ chúng ta làm được cả, vì các thói quen của chúng ta, như Aristotle nói, đã trở thành bản năng thứ hai – mà bản năng thì chẳng dễ dàng thay đổi.

Vậy làm thế nào chúng ta thay đổi được? Làm thế nào chúng ta vượt lên trên những thói quen xấu đã nhiễm quá sâu?

Thánh Gioan Thánh giá, nhà thần bí người Tây Ban Nha, gợi ý về hai con đường có thể hữu ích. Cả hai con đường xem trọng đến sự yếu đuối của con người và sức mạnh không chịu khuất phục của thói quen xấu bên trong chúng ta. 

Đây là lời khuyên thứ nhất: Rất khó làm bật rễ một thói quen xấu bằng cách tấn công nó trực diện. Khi làm như vậy, thường thì rút cục chúng ta tập trung một cách thiếu lành mạnh vào chính thói quen đó, nản lòng vì tính chất không khoan nhượng của nó, và lại bị nguy ở chỗ có thể làm xấu thêm tác động của nó đối với đời sống của chúng ta. Chiến lược tốt hơn là “đốt” (từ của người) những thói quen xấu của chúng ta bằng cách tập trung vào những gì tốt đẹp trong cuộc sống của mình và làm tăng trưởng các đức hạnh tới khi nào chúng “đốt sạch” những thói quen xấu của chúng ta. 

Đó không những là ẩn dụ của lòng mộ đạo mà còn là một chiến lược lành mạnh. Tác dụng của nó như sau: Chẳng hạn bạn tưởng tượng đang vật lộn với những chuyện nhỏ nhen và cơn giận bất cứ khi nào bạn thấy mình bị coi thường. Không có quyết tâm chân thành nào trên thế gian này có thể ngăn chận bạn quy phục trước xu hướng đó, và cha giải tội hay vị hướng dẫn tinh thần cho bạn sẽ nói với bạn, thay vì tập trung bỏ thói quen đó, thì nên tập trung phát triển một trong những điểm mạnh đạo đức của bạn; ví dụ lòng quảng đại. Lòng quảng đại của bạn càng lớn thì tâm hồn bạn càng mở rộng và tốt lành hơn cho đến một lúc trong cuộc đời, đơn giản tâm hồn bạn không còn chỗ cho những hờn dỗi trẻ con và những điều nhỏ nhặt. Lòng độ lượng của bạn cuối cùng sẽ đốt cháy những điều nhỏ nhen của bạn. Chiến lược này có thể có ích đối với mọi khiếm khuyết và bệnh nghiện của chúng ta. 

Lời khuyên thứ hai như sau: Hãy cố gắng đưa cái bản năng nằm ẩn sau thói quen xấu của mình lên một tình yêu cao hơn. Điều đó có nghĩa là gì?

Chúng ta bắt đầu đưa một bản năng đằng sau một thói xấu lên một tình yêu cao hơn bằng cách tự đặt câu hỏi: Tại sao? Tại sao, rút cục, tôi bị lôi kéo như thế này? Tại sao, rút cục, tôi cảm thấy hằn học, nhỏ mọn, tức giận, thèm khát, lười nhác, hay cần ăn cần uống quá độ như vậy? Rút cục, khuynh hướng này bắt rễ từ đâu?

Câu trả lời có thể làm chúng ta ngạc nhiên. Luôn luôn gốc rễ sâu xa nhất của cái khuynh hướng về một thói quen xấu là tình yêu. Bản năng này hầu như luôn luôn bắt rễ từ tình yêu. Hãy phân tích những mộng ước của mình. Trong những cơn mộng đó chúng ta phần lớn là cao thượng, tốt đẹp, rộng lượng, quảng đại, toàn thiện, và đầy yêu thương, kể cả khi trong đời sống thực chúng ta có lúc nhỏ mọn, chua cay, ích kỷ, giải đãi, và bao che nuôi dưỡng cho nhiều kiểu bệnh nghiện. Chúng ta có những thái độ và thói quen xấu này không phải vì chúng ta không được tình yêu thúc đẩy, mà bởi vì, ở chính cái điểm cụ thể này, tình yêu của chúng ta bị rối loạn, bị tổn thương, bị chua cay, vô kỷ luật, hoặc tự coi mình là trung tâm. Nhưng nó vẫn là tình yêu, năng lượng tốt nhất trong mọi năng lượng, chính là ngọn lửa của hình ảnh Chúa và tính chất giống Chúa bên trong chúng ta. 

Và như vậy chúng ta bắt đầu nhổ rễ một thói quen xấu trong đời sống bằng cách, trước tiên, nhận diện và trân trọng cái năng lượng nằm đằng sau nó và châm lửa cho nó. Tiếp đến chúng ta cần đưa năng lượng này vào một khuôn khổ tình yêu cao hơn, một tầm nhìn rộng rãi hơn, ít ích kỷ hơn, trân trọng hơn, có trật tự hơn. Và đó chính là điều rất khác việc phỉ báng hay đè nén bản năng đó. Khi chúng ta phỉ báng hay đè nén một bản năng thì việc đó chỉ càng làm tăng quyền lực của nó đối với chúng ta, và rất thường xuyên nó làm cho cái bản năng kia càng tàn phá đời chúng ta ghê gớm hơn nữa. Thêm nữa, khi chúng ta phỉ báng hay đè nén một bản năng nằm đằng sau một thói quen xấu, thì thực ra chúng ta đang chống lại sức khỏe của chính mình, và sau đó chúng ta vật lộn, có lẽ chỉ trong tiềm thức nhưng không hề có ngoại lệ nào, để làm sao có đủ ý chí mà xóa bỏ thói quen xấu đó đi. Năng lượng phải được trân trọng, kể cả khi chúng ta đang chật vật để đưa nó vào kỷ luật và đưa nó vào một khuôn khổ lành mạnh hơn.

Vậy, rốt cuộc làm thế nào để chúng ta bỏ được các thói quen xấu? Chúng ta làm điều đó bằng cách trân trọng những năng lượng tiếp lửa cho các thói quen đó và bằng cách đưa những năng lượng đó vào một tình yêu cao hơn. 

Bao giờ cũng có một điều gì đó!

Một người bạn của tôi nói đùa rằng khi mình chết, bà muốn khắc câu sau trên bia mộ của bà: Bao giờ cũng có một điều gì đó!

Và bao giờ cũng có điều gì đó thật! Tất cả chúng ta đều thấu hiểu sự chán ngán của bà. Chẳng thể nào khác, bao giờ cũng có một điều gì đó, không lớn thì nhỏ, phủ bóng đen và cách nào đó làm cho chúng ta không trọn vẹn bước vào phút giây hiện tại và tận hưởng sự phong phú của nó. Bao giờ cũng có một nỗi thấp thỏm, lo âu nào đó về một điều gì đó chúng ta hẳn đã nên làm hoặc phải nên làm, một hóa đơn nào đó chưa thanh toán, một mối lo ngại nào đó về những gì chúng ta cần đối diện ngày mai, một cơn đau đầu dai dẳng, một nỗi lo lắng về sức khỏe của mình hay của người khác, một vết thương vẫn còn nhức nhối, hay một nỗi khao khát mong chờ ai đó còn đang vắng mặt và điều đó làm chúng ta bớt vui. Bao giờ cũng có điều gì đó, một mất mát, một nỗi đau, một thắc thỏm, một cay đắng, ghen tuông, ám ảnh nào đó, hay một cơn đau đầu, mà vĩnh viễn nó tước mất đi niềm vui của phút giây hiện tại.

Cha Henri Nouwen từng diễn đạt điều đó một cách rất giản dị và sâu sắc: “Đời sống chúng ta,” ông viết, “là thời gian mà nỗi buồn và niềm vui hôn nhau từng giây phút. Có một mức độ buồn phiền bàng bạc trong mọi giây phút của đời sống chúng ta. Dường như không hề có niềm vui trong trẻo dứt khoát, mà ngay trong những giây phút hạnh phúc nhất của cuộc hiện sinh, chúng ta cũng cảm nhận một thoáng buồn. Trong mọi điều toại nguyện đều có cảm nhận những giới hạn. Trong mọi thành công đều có nỗi sợ bị ghen tị. Đằng sau mỗi nụ cười đều có nước mắt. Trong mọi cái ôm ghì đều có nỗi cô đơn. Trong mọi tình bạn đều có khoảng cách. Và trong mọi thể dạng của ánh sáng đều có hiện diện của bóng tối bao quanh.” Bao giờ cũng có một điều gì đó!

Chúa Giêsu diễn đạt điều này theo cách riêng của Người. Phúc âm kể lại sự việc, thánh Phêrô đến hỏi Người, ai theo Người sẽ nhận được phần thưởng gì. Chúa Giêsu trả lời, bất cứ ai từ bỏ cha, mẹ, vợ chồng, con cái, nhà cửa đất đai để trở thành môn đồ của Người thì sẽ nhận lại những thứ đó (cha mẹ, vợ chồng, con cái nhà cửa đất đai) gấp trăm lần hơn! Nhưng rồi Người nói thêm một mệnh đề khá buồn: “nhưng không phải là không khổ não.” Bao giờ cũng có một điều gì đó, nỗi căng thẳng, ghen tị, một bức hại nào đó – có thể xóa đi tất cả nhận thức hoặc yêu thích những điều gấp trăm lần này. Trên thực tế, Chúa Giêsu nói chúng ta có thể có mọi thứ – mà lại chẳng thấy sung sướng gì! Tại sao? Bởi vì bao giờ cũng có điều gì đó thâm nhập vào phút giây hiện tại làm chúng ta đánh mất cái nhìn bao quát và do đó đánh mất sự phong phú cũng như niềm vui trong đời sống mình.

Trong Phúc âm thánh Luca, Chúa Giêsu nói cụ thể cái điều gì đó thường là lòng ghen tị. Chúng ta có mọi thứ mà không thấy sung sướng vì chúng ta đang ghen tị với những gì người khác có. Đúng thật. Chúng ta thường xuyên dè bỉu cuộc sống và tài năng của mình, không thấy và không thưởng thức hương vị phong phú của cuộc sống, chỉ vì chúng ta còn muốn làm một người nào đó khác, một người nào đó giàu có và nổi tiếng, một người nổi bật. Cuộc sống của chúng ta phong phú, nhưng chúng ta không hài lòng với cuộc sống đó bởi vì chúng ta còn muốn những gì người khác có.

Văn chương ngày nay, trong lãnh vực tôn giáo cũng như thế tục, có một lượng sách báo phong phú cố gắng thách thức chúng ta đừng để bồn chồn, phiền muộn, tị hiềm, lo lắng cản trở không cho chúng ta trọn vẹn bước vào phút giây hiện tại. Phần lớn sách vở đó là tốt vì nó đưa ra thách thức đúng đắn. Tuy nhiên, đôi khi một số tác giả tạo cho chúng ta ấn tượng, nếu chúng ta tập trung chú ý và nỗ lực thực hiện một số kỹ thuật, thì chúng ta sẽ làm được dễ dàng. Không hề! Bước trọn vào phút giây hiện tại, thật sự bước trọn vào đó mà không bị sao nhãng vì những chuyện đau tim và đau đầu là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất về mặt tâm lý và thiêng liêng của đời sống.

Đời sống chúng ta phong phú, và điều đó đúng với mọi người, không chỉ đối với người giàu và người nổi tiếng. Ở đỉnh cao danh vọng, nhà thơ Rainer Marie Rilke, nhận được một lá thư của một chàng thanh niên, than vãn rằng anh ta muốn trở thành nhà thơ nhưng bị kìm kẹp vì anh sống ở một thị trấn nhỏ, nơi chẳng có bao giờ xảy ra một chuyện gì lý thú hay đáng chú ý cả. Rilke viết lại cho anh ta, nói rằng nếu cuộc sống của anh dường như nghèo nàn đối với anh thì có lẽ rốt cuộc, anh chẳng phải là nhà thơ gì sất, vì anh không thể nào nhặt ra được các nét phong phú trong cuộc sống của mình. Trải nghiệm của mỗi người là chất liệu của thi ca. Chẳng có cuộc sống nào lại không phong phú; nhưng phần lớn chúng ta bị cản trở không thể bước vào sự phong phú của cuộc sống mình và chẳng bao giờ có thể thưởng thức được cái trăm lần hơn đó … bởi vì bao giờ cũng có điều gì đó.

Thách thức ở đây là có mặt với sự phong phú bên trong cuộc sống của chính mình, và điều đó có nghĩa là học cách ăn mừng cái tạm thời, cái bất toàn. Điều đó có nghĩa là học cách làm sao để đến được bữa đại tiệc nằm ở trái tim cuộc sống, kể cả khi cuộc sống của mình chưa hoàn toàn lành mạnh và hoàn hảo. Và một phần của điều đó có nghĩa là chấp nhận nó thật khó khăn, nghĩa là tận hưởng những lúc chúng ta thật sự đến được đó, tha thứ việc chúng ta phần lớn đã không đến được, và khắc trên tấm bia mộ của chúng ta câu: Bao giờ cũng có một điều gì đó!

Kẽ nứt của chiếc bình

Có một câu của Leonard Cohen được rất nhiều người trích dẫn, ngụ ý rằng chỗ nào ta bị đổ vỡ chính là nơi bắt đầu sự cứu chuộc cho ta: Mọi thứ đều có kẽ nứt, nhờ vậy mà ánh sáng lọt vào.

Đúng như vậy, một vết thương nghiêm trọng thường chính là nơi minh triết tuôn vào đời sống chúng ta, và tình trạng yếu ớt thường xuyên chế ngự chúng ta giữ cho chúng ta nhận thức được chúng ta cần tới ân sủng. Nhưng đó mới là một nửa của phương trình. Một khiếm khuyết, trong khi giữ cho chúng ta khiêm nhường thì nó cũng có thể làm cho chúng ta cảm thấy tầm thường và buồn chán. Thánh Gioan Thánh Giá giải thích qua hình ảnh sau: 

Nếu một kẽ nứt nhỏ trong một cái bình bị để như vậy mà không được sửa chữa, thì rồi sẽ hư hại đến mức có thể khiến chất lỏng trong bình rỉ ra hết… Cũng vậy, khiếm khuyết này sẽ dẫn đến khiếm khuyết khác, và cứ thế tiếp tục. Hiếm khi thấy có người nào lơ là trong chuyện chế ngự một ham muốn mà lại không có nhiều ham muốn khác phát sinh cũng từ chính điểm yếu và khiếm khuyết gây ra do nỗi thèm khát ban đầu. Bởi thế, những người đó cứ mãi ngả nghiêng. Chúng ta đã chứng kiến nhiều người, mà Chúa đã ưu ái ban cho nhiều tiến bộ trong chuyện cắt bỏ vướng víu và có tự do, lại rơi rụng không còn hạnh phúc và an ổn trong các bài thực hành thiêng liêng, và kết cục là mất hết mọi thứ, đơn giản chỉ vì họ bắt đầu tự cho phép mình đắm chìm trong những chuyện trò và mối quan hệ bè bạn dưới cái vỏ tốt đẹp, những dính mắc hời hợt. Bởi vì chính qua những mối trói buộc này mà dần dần họ mất hết sự cô tịch thiêng liêng cũng như tinh thần và niềm vui của Chúa. Tất cả chuyện này xảy ra bởi vì họ không chịu chấm dứt sự thỏa mãn và thú vui cho các giác quan ban đầu để duy trì bản thân họ trong sự cô tịch cho Chúa. (Đi lên Đỉnh Carmel, Quyển I, Chương 11).

Mặc dù đoạn trên được đặc biệt viết cho các vị nam nữ tu hành suy tư với một lời cảnh báo đừng “dính mắc với chuyện trò và mối quan hệ bè bạn” nghe kỳ cục và không lành mạnh đối với chúng ta, có một phần trong chúng ta hiểu chính xác ông muốn nói điều gì: những nghiện ngập, những bất trung, và những rơi rụng của chúng ta khỏi ân sủng luôn luôn bắt đầu ở chính cái điểm mà ông đã chỉ tới, đó là, trong những thú vui và thỏa mãn ban đầu, một mức độ chòng ghẹo và chơi đùa với lửa mà, mặc dù bản thân việc đó không phải là tội lỗi, rốt cuộc lại đưa đường dẫn lối để chúng ta bị sa lầy về tình cảm và luân lý, tước đi hạnh phúc và bình an, và tai hại hơn hết thảy là buộc chúng ta phải giấu diếm, dối trá và không còn minh bạch. 

Và thậm chí cả khi lỗi lầm này không lớn, nó vẫn chặn không cho chúng ta trưởng thành sâu sắc hơn và có niềm hạnh phúc sâu sắc hơn. Thánh Gioan có một câu phương ngôn rằng, rốt cuộc, chuyện một con chim bị cột bằng một cái xích nặng hay một sợi dây nhẹ chẳng có gì quan trọng – trong cả hai trường hợp, con chim đều không thể bay được. Vì thế, ông mạnh mẽ cảnh báo chúng ta đừng dễ dãi với bất kỳ khiếm khuyết hay tật nghiện ngập nào của mình bằng cách lý luận rằng khiếm khuyết hay tật nghiện đó không nghiêm trọng gì cho lắm và về căn bản chúng ta vẫn là những con người tốt, cho dù có điểm yếu. Cho dù bị cột bằng dây xích nặng hay một sợi chỉ mảnh, chúng ta đều không thể bay được. 

Nếu chúng ta trở nên thấy thoải mái với một tật nghiện ngập hay khiếm khuyết của bản thân, chúng ta sẽ thấy mình cũng bị nghèo đi theo một cách khác: nó sẽ tước đi của ta niềm hạnh phúc thật sự. Triết gia người Pháp Leon Bloy nói rằng xét cho cùng, chỉ có duy nhất một nỗi buồn mang tính người, đích thực, đó là không làm thánh! Điều đó có thể nghe như một luân lý quá mức sùng đạo, nhưng, cũng như với câu trích dẫn ở trên của thánh Gioan Thánh giá, có một phần trong chúng ta hiểu chính xác Bloy đang nói điều gì. Những tật nghiện ngập, những sự bất trung của chúng ta, và những thói chìm đắm nuông chiều bản thân thiếu lành mạnh của chúng ta rất có thể sẽ đem lại cho ta khoái lạc nào đó (mặc dù, chẳng mấy chốc lạc thú đó đã hóa thành thôi thúc khó chịu) nhưng chúng chẳng bao giờ đem lại niềm vui cho chúng ta. Chúng đem lại nỗi buồn. Niềm vui không phải là một với khoái lạc, và, thực sự, chúng ta đang nói về những khoái lạc buồn bã. Có thể có rất nhiều khoái lạc trong đời sống chúng ta ngay cả khi trái tim chúng ta buồn bã và lương tâm trĩu nặng.

Niềm vui đích thực là một cái gì đó vượt lên trên lạc thú và có thể cùng tồn tại với sự từ bỏ và niềm đau. Đúng hơn, nó phụ thuộc vào lòng trung thực, minh bạch, và lòng biết ơn, những dấu ấn thật sự của sự thánh thiện. Khi chúng ta trung thực xem xét trải nghiệm của mình, chúng ta biết chân lý đó. Nếu bất kỳ ai trong chúng ta tự hỏi mình: Tôi từng hạnh phúc thật sự nhất trong đời khi nào? Câu trả lời trung thực chắc chắn sẽ là: Tôi đã hạnh phúc nhất và bình an nhất vào những lúc tôi trung tính, trung thực, hoàn toàn minh bạch, khi tất cả mọi điều mọi việc đều bày ra, và tôi không có gì để giấu diếm, kể cả khi tôi chưa hề hoàn hảo. 

Không ai hoàn hảo cả, nhưng chúng ta không bao giờ được trở nên thấy thoải mái với khiếm khuyết của mình và biện bạch cho chúng bởi vì chúng không có gì trầm trọng hay bởi vì chúng ta có thể che giấu chúng. Nếu một kẽ nứt nhỏ trong chiếc bình cứ bị để như vậy mà không được sửa chữa, thì rồi sẽ hư hại đến mức có thể khiến chất lỏng trong bình rỉ ra hết. Kết quả cuối cùng sẽ không phải là chúng ta trở thành những con người xấu xa. Không. Chúng ta vẫn như vậy, tốt và vững vàng trong sự tầm thường của mình. Nhưng sự lớn lao sẽ rời bỏ chúng ta và chúng ta sẽ luôn luôn mang nặng nỗi buồn của người lớn, đó là, không phải là thánh.

Mặt trời Bão tố Hoang dã Sa mạc và Linh đạo

Vài năm trước đây, dưới sự hướng dẫn của một vị hướng dẫn dòng Tên xuất sắc, tôi đi linh thao 30 ngày theo Các Bài Tập Linh Thao của Thánh I-Nhã. Vào tuần thứ ba của khóa kinh thao, có một bài suy niệm về nỗi thống khổ của Chúa Giêsu trong vườn Giếtsêmani. Với tất cả khả năng của tôi, tôi cố gắng suy niệm và đến gặp linh mục hướng dẫn để thảo luận về kết quả. Ông không hài lòng và yêu cầu tôi làm lại. Tôi làm theo, báo lại với ông, và lại thấy ông không vừa ý. Tôi bối rối không hiểu chính xác là ông muốn tôi đạt điều gì thông qua bài suy gẩm này, dù tôi thấy rõ ràng là mình đang còn thiếu điều gì đó. Ông cứ cố gắng giải thích cho tôi rằng Thánh I-Nhã có một khái niệm mà theo đó linh thao viên phải vận dụng những suy gẩm của mình và “áp dụng vào các giác quan”, cách nào đó, tôi không đạt được phần đó.

Cuối cùng ông hỏi tôi: “Khi suy gẩm, ông ngồi trong nhà nguyện có điều hòa dễ chịu phải không?” Câu trả lời của tôi là đúng vậy. “À” vị hướng dẫn dòng Tên thông thái này trả lời, “hèn gì ông không thể hình dung cho đúng các giác quan. Làm sao ông có thể thật sự cảm nhận như Chúa Giêsu cảm nhận nỗi thống khổ của mình trong vườn nếu ông ngồi ấm áp, dễ chịu, an toàn và thoải mái trong căn phòng có điều hòa?” Ông khuyên tôi làm lại, nhưng làm vào đêm khuya, ngoài trời, trong màn đêm lạnh giá, chịu các yếu t&77889; tự nhiên, và có lẽ thậm chí còn hơi sợ sệt với những gì tôi có thể gặp phải về mặt thực thể ở ngoài trời đó nữa. 

Ông đã nêu lên một điểm hay, không chỉ cho nỗ lực gắng gỗ chật vật của tôi với bài linh thao này, mà về một trong những khiếm khuyết cơ bản của linh đạo đương đại. Nói đơn giản: Những nỗ lực cầu nguyện và đi tìm con đường thiêng liêng của chúng ta không móc nối được với tự nhiên. Dù với tất cả thiện hướng và cố gắng hết mình, chúng ta vẫn quá lý thuyết suông, cố gắng quá nhiều để biến đổi tâm hồn trong khi thân thể thì ngồi ấm áp, an toàn và không góp phần vào. Các yếu tố thực thể của tự nhiên và thân thể đóng một vai trò quá nhỏ bé trong nỗ lực trưởng thành về mặt tâm linh của chúng ta. 

Đây là điểm phê phán chủ yếu mà Bill Plotkin, một tiếng nói quan trọng mới mẻ trong linh đạo, nêu lên về những gì ông thấy đang xảy ra trong phần lớn linh đạo Ki-tô ngày nay. Từ các chương trình ở nhà thờ đến các trung tâm tĩnh tâm, cho tới nỗ lực kiếm tìm linh đạo mà tín hữu chủ tâm theo đuổi hơn, Plotkin đều thấy có quá ít liên hệ với tự nhiên, với mặt trời, bão tố, thiên nhiên hoang dã, và sa mạc mà chính Chúa Giêsu tìm tới. 

Plotkin, người không nhìn từ một nhãn quan Ki-tô giáo rõ rệt nhưng đồng cảm với nhãn quan đó, điều hành một trung tâm hoang dã từ đó ông hướng dẫn những người đang tìm kiếm linh đạo. Một trong những điều mà trung tâm ông đem lại là  tìm kiếm sự hoang dã. Mọi người có quyền chọn đi ra thiên nhiên hoang dã một mình trong vài ngày, chỉ mang theo rất ít vật dụng cần thiết để tự bảo vệ mình khỏi những gì họ có thể gặp phải. Mặc dù tuân thủ những phép cẩn trọng khôn ngoan và sự thận trọng không phải bị bỏ qua một cách vô trách nhiệm, nhưng những người theo đuổi những cuộc tìm kiếm này thường vẫn thấy mình khá dễ bị tổn thương trước những yếu tố tự nhiên và chống chọi với một mức độ sợ hãi lành mạnh.

Và những nỗ lực kiếm tìm này hiệu quả chủ yếu bởi chính như vậy. Sự chuyển hóa thật sự thường xảy ra và phần nhiều là nhờ vào cuộc chiến đấu mà người đi tìm phải dấy lên trước nỗi sợ hãi và những yếu tố thực thể. Quyển Soulcraft (tạm dịch: Xảo thuật rèn luyện tâm hồn) của Plotkin ghi lại nhiều lời kể đầy thuyết phục của nhiều người, họ chia sẻ những gì họ đã trải nghiệm trong hoang dã – thật sự bị phơi ra và thật sự sợ hãi – điều đó đã dẫn tới sự chuyển hóa thật sự trong cuộc đời. Để điều gì đó thật sự thì nó phải là cái có thực!

Chúa Giêsu biết điều đó và thực hiện “cuộc kiếm tìm hoang dã” của mình, 40 ngày cô độc trong sa mạc, nơi mà như Phúc Âm nói cho chúng ta biết, Người một mình chiến đấu với “những quái vật hoang dã”. Chúng ta cũng đọc thấy những chuyện trong Phúc Âm kể lại Người đã thức cả đêm ngoài trời như thế nào, một mình, và cầu nguyện. Không phải tự nhiên mà cuộc vật lộn nội tâm của Người về chuyện hy sinh mạng sống diễn ra trong vườn chứ không phải trong nhà thờ có máy điều hòa. Những nhà thờ đẹp đẽ có năng lực chuyển hóa nhưng mặt trời, bão tố, thiên nhiên hoang dã và sa mạc cũng vậy. Tìm đến cả hai là điều tốt, vậy mà gần đây linh đạo Ki-tô đã quá xao lãng cái thứ hai. 

Và không chỉ những thứ trong thiên nhiên mới làm chúng ta tơi tả và làm chúng ta sợ hãi, một nỗi sợ hãi mà chúng ta cần tự phơi mình ra. Ít thứ trong đời có thể khơi dậy được niềm vui mà chúng ta có thể trải nghiệm bằng cách tận hưởng thiên nhiên. Như bài Chúc tụng trong sách Đanien (3: 57-88) đã dâng mừng một cách hết sức tuyệt vời, nhiều điều trong tự nhiên nuôi dưỡng tâm hồn và làm tâm hồn chúng ta tràn đầy sức sống: mặt trời, trăng sao, gió lửa, sức nóng, cái lạnh và giá rét, những hạt sương, cơn mưa, băng tuyết, ánh sáng và bóng tối, tia chớp và những đám mây, núi đồi, dòng sông và biển cả, cây cối và động vật. Mỗi một cái đó đều có thể khởi lên những ký ức đặc biệt và những niềm vui đặc biệt, nếu chúng ta tỉnh thức nắm bắt chúng. 

Chúng ta cần phải để tự nhiên chạm đến cơ thể và tinh thần của mình nhiều hơn, vừa cho sức khỏe tâm linh lẫn sức khỏe nói chung của chúng ta. Để điều gì đó thật sự thì nó phải là cái có thực!

Tân Phúc Âm Hóa

Gần đây có một cách diễn đạt mới trong vựng từ thần học và giáo hội của chúng ta. Ngày nay người ta nói nhiều tới quá trình Tân Phúc Âm Hóa (New Evangelization). Thật ra Đức Giáo hoàng đã triệu tập một Đại hội trong vòng một tháng ở Rome trong năm nay để cố gắng vạch ra một tầm nhìn và chiến lược rõ ràng cho nỗ lực đó. 

Tân Phúc Âm Hóa nghĩa là gì? Nói nôm na, hàng triệu người, đặc biệt ở thế giới Phương Tây, về danh nghĩa là Ki-tô hữu, xuất thân từ nền tảng Ki-tô, quen thuộc với Ki-tô giáo, tin rằng họ biết và hiểu Ki-tô giáo, nhưng giờ không còn thực hành đức tin đó một cách ý nghĩa nữa. Họ đã nghe nói tới Chúa Kitô và Phúc âm, thậm chí có thể tự đánh giá mình cao hơn thực tế về mặt đức tin, rằng họ biết và hiểu ý nghĩa những điều đó. Bất kể họ thế nào đi nữa. Cho dù họ có những khiếm khuyết gì đi nữa trong việc hiểu một đức tin mà họ không còn thực tập, họ vẫn cho rằng mình đã được phúc âm hóa, và việc họ không thực tập nữa là một quyết định đã được xem xét kỹ. Thái độ của họ đối với Ki-tô giáo về căn bản là: Tôi biết nó là gì rồi. Tôi đã thử thực tập rồi. Và nó không phải dành cho tôi!

Và thế là bây giờ chẳng còn nghĩa lý gì để nói về chuyện cố gắng truyền bá Phúc âm cho những người như vậy theo cùng cái cách mà chúng ta ngụ ý khi nói về việc đem Phúc âm đến với một người nào đó lần đầu tiên. Chính xác hơn, đó là truyền bá Phúc âm mới, một nỗ lực đem Phúc âm đến với những người và với một nền văn hóa chủ yếu đã được định hình bởi Phúc âm, theo một nghĩa nào đó đã quen thuộc quá mức với nó, nhưng thật ra chưa thật sự xem xét nó kỹ. Tân Phúc Âm Hóa cố gắng đưa Phúc âm đến với những người vốn đã là Ki-tô hữu nhưng giờ đây không còn thực hành như những Ki-tô hữu nữa. 

Làm như thế nào đây? Làm thế nào để Phúc âm được tươi mới nơi những người đã thấy nó cũ mèm? Làm sao chúng ta, như G. K. Chesterton nói, giúp người ta nhìn vào những điều quen thuộc cho tới khi trông nó lại mới mẻ? Làm thế nào chúng ta cố gắng Ki-tô hữu hóa một người vốn đã là Ki-tô hữu?

Chẳng có câu trả lời đơn giản nào. Như thể chúng ta chưa cố gắng làm điều đó trong hơn một thế hệ qua. Những bậc phụ huynh băn khoăn đã và đang cố gắng làm điều đó với con cái mình. Những vị mục sư băn khoăn đã và đang cố gắng làm điều đó với giáo dân của mình. Những vị giám mục băn khoăn đã và đang cố gắng làm điều đó với các giáo phận của mình. Những tác giả thiêng liêng băn khoăn, kể cả tác giả bài này, đã và đang cố gắng làm điều đó với độc giả của mình. Và một Giáo hội băn khoăn xét như một tổng thể đã và đang cố gắng làm điều đó với cả thế giới. Liệu chúng ta có thể làm thêm được gì nữa?

Quan điểm của tôi là chúng ta đã bắt tay vào một nỗ lực gắng gỏi bơi ngược dòng dài lâu, một nỗ lực đòi hỏi đức tin vào sức mạnh và chân lý của những gì chúng ta tin tưởng và một lòng kiên nhẫn cam go, dài lâu. Chúa Kitô, đức tin, và nhà thờ sẽ tiếp tục tồn tại. Luôn luôn như vậy. Cuối cùng, hòn đá luôn luôn sẽ lăn khỏi hầm mộ và Chúa Kitô luôn luôn sẽ sống lại, nhưng chúng ta cũng phải làm phần việc của mình. Những phần việc đó là gì?

Tôi tin là tầm nhìn mà chúng ta cần khi cố gắng vươn ra Phúc âm hóa những người vốn đã được truyền bá Phúc âm cần bao gồm những nguyên tắc này:

1. Chúng ta cần phải gọi tên rõ ràng nhiệm vụ này, thừa nhận tính cấp bách của nó, và đặt bản thân chúng ta vào trung tâm của mệnh lệnh cuối cùng của Chúa Giêsu: Đi khắp thế giới và tuyển các môn đồ.

2. Chúng ta cần nỗ lực thổi bùng lên lại ngọn lửa tưởng tượng lãng mạn về đức tin của mình. Gần đây chúng ta đã quạt giỏi hơn ngọn lửa trong sức tưởng tượng thần học của mình, nhưng vẫn còn quá sức chật vật trong việc làm cho người khác khác phải lòng đức tin của chúng ta. 

3. Chúng ta cần nhấn mạnh cả lối dạy theo hỏi đáp lẫn thần học. Cần tập trung vào cả những người đang cố gắng học những yếu chỉ trong đức tin của họ lẫn những người đang cố gắng tìm ra ý nghĩa về mặt trí thức của đức tin của họ. 

4. Chúng ta cần nhiều cách tiếp cận khác nhau. Không có cách tiếp cận duy nhất nào đến được với tất cả mọi người. Người ta chỉ đi tới chỗ nào họ tìm thấy thức ăn phù hợp. 

5. Chúng ta cần hấp dẫn chất lý tưởng hóa của con người, đặc biệt là giới trẻ. Cần thu phục nhân tâm bằng cách gắn Phúc âm với tất cả những gì tốt đẹp nhất trong họ, để vẻ đẹp của Phúc âm trò chuyện với vẻ đẹp bên trong của con người. 

6. Chúng ta cần Phúc âm hóa vượt lên trên bất kỳ ý thức hệ của bên tả hay bên hữu nào. Cần vượt thoát khỏi những phạm trù tự do và bảo thủ để vươn tới những phạm trù yêu thương, cái đẹp và chân lý. 

7. Chúng ta cần duy trì cách tiếp cận “Thiên Chúa giáo” rộng rãi. Không phải chúng ta gắng đưa người ta gia nhập một nhóm bè phái, theo chủ nghĩa thuần túy, còm cõi, ít ỏi, mà là bước vào một ngôi nhà với nhiều căn phòng. 

8. Chúng ta cần rao giảng cả tự do của Phúc âm lẫn lời mời gọi của Phúc âm về sự trưởng thành. Chúng ta cần cưỡng lại cám dỗ rao giảng Phúc âm kiểu đe dọa hay hạ thấp người khác, kể cả khi chúng ta giảng Phúc âm kiểu yêu cầu một sự tuân phục tự do và chính chắn.

9. Ngày nay, trong một thời đại của bất ổn và những phản bội xảy ra quá thường xuyên, chúng ta cần phải là một bằng chứng đặc biệt cho lòng trung thành. 

10. Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần tập trung vào những chuyện thiết yếu – lòng kính trọng, từ thiện và biết ơn. Chính nghĩa không bao giờ biện minh được cho sự bất kính.

Chúng ta cần nỗ lực để thu phục những trái tim, chứ không phải làm chúng chai sạn. 

Sức mạnh của sự yếu ớt

Có nhiều loại sức mạnh và nhiều loại thẩm quyền. Có sức mạnh quân sự, sức mạnh cơ bắp, sức mạnh chính trị, sức mạnh kinh tế, sức mạnh đạo đức, sức mạnh mê hoặc, và sức mạnh tâm lý, bên cạnh nhiều thứ khác. Sức mạnh thẩm quyền cũng có nhiều loại: chúng ta có thể bị ép buộc một cách chua chát phải phục tùng những yêu cầu nhất định, hoặc chúng ta có thể được thuyết phục một cách nhẹ nhàng để chấp nhận chúng. Sức mạnh và thẩm quyền hoàn toàn không cùng một loại. 

Tưởng tượng có bốn người trong một căn phòng: người thứ nhất là nhà độc tài đầy quyền lực cai trị một đất nước. Lời nói của ông sai khiến được những đạo quân và tính khí thất thường của ông khiến thuộc hạ khiếp sợ. Ông thi triển một thứ quyền lực dã man. Ngồi cạnh ông là một vận động viên tài năng với sức vóc đang ở đỉnh cao, có độ nhanh nhẹn và sức mạnh ít ai bì kịp. Kỹ năng của anh là một thứ sức mạnh thanh nhã mà vì thế anh được nhiều người ngưỡng mộ và ghen tỵ. Người thứ ba là một ngôi sao nhạc rock, âm nhạc và sức mê hoặc của cô có thể làm khán giả nhiễm điện và khi cô ở trong phòng nào thì căn phòng đó đầy năng lượng xúc động. Tên cô xuất hiện đầy trên các bảng quảng cáo điện tử và tên tuổi cô thân thuộc với mỗi một gia đình. Đó lại là một kiểu sức mạnh khác nữa. Cuối cùng, trong căn phòng đó có một em bé mới sinh, nằm trong nôi, gần như em không có chút quyền năng hay sức mạnh gì, thậm chí còn không có khả năng yêu cầu cái gì mình cần. Trong số đó, rốt cuộc ai là người có quyền lực mạnh nhất?

Trớ trêu thay, đứa bé rốt cuộc lại có sức mạnh lớn lao nhất. Người vận động viên có thể nghiền nát nó, nhà độc tài có thể giết nó, và ngôi sao nhạc rock có thể lấn át nó với hào quang chói lọi của mình, nhưng đứa bé lại có một kiểu sức mạnh khác. Bé có thể chạm tới những quả tim theo một cách mà nhà độc tài, người vận động viên hay ngôi sao nhạc rock không thể làm được. Sự hiện diện ngây thơ, không lời nói, không cần tới sức mạnh thực thể, có thể chuyển hóa cả căn phòng và chuyển hóa con tim theo cái cách mà mọi súng ống, cơ bắp và sức mê hoặc đều không thể. Chúng ta cẩn trọng với ngôn ngữ và hành động của mình khi ở cạnh một đứa bé, trong khi ở cạnh các vận động viên và các ngôi sao nhạc rock thì chúng ta ít cẩn trọng hơn nhiều. Tình trạng yếu ớt của một đứa bé chạm ở một nơi sâu thẳm hơn thuộc về đạo đức.

Và đó là cái cách mà chúng ta tìm thấy và trải nghiệm sức mạnh của Chúa trên thế gian này khi thỉnh thoảng chúng ta đứng trước nỗi thất vọng chán chường của mình, đó cũng là cách mà Chúa Giêsu được coi là có sức mạnh khi còn tại thế. Tất cả Phúc âm đều nói rõ điều đó, từ đầu đến cuối. Giêsu sinh ra là một em bé yếu ớt, và khi chết thì bị đóng đinh treo lơ lửng bất lực trên thánh giá trong khi những người xung quanh chế nhạo tình trạng bất lực của Người. Ấy vậy mà cả sự ra đời lẫn cái chết của người đã biểu hiện một kiểu sức mạnh mà dựa trên đó chúng ta rốt cuộc có thể xây đắp cuộc đời mình. 

Phúc âm mô tả sức mạnh và thẩm quyền của Chúa Giêsu chính xác là theo cách đó. Trong tiếng Hy Lạp, ngôn ngữ sơ khai của Phúc âm, chúng ta thấy ba từ chỉ sức mạnh hay thẩm quyền. Chúng ta dễ dàng nhận ra hai từ đầu tiên: năng lượng và xung động. Có sức mạnh trong năng lượng, sức mạnh thể chất và cơ bắp, cũng như có sức mạnh trong xung động, trong thuốc nổ, và trong việc có sức mạnh để tạo ra năng lượng. Nhưng khi Phúc âm nói Chúa Giêsu “có sức mạnh lớn lao” và có sức mạnh vượt lên trên sức mạnh của các nhân vật tôn giáo khác, thì Phúc âm không dùng những từ nghị lực/năng lượng hay xung động. Lúc đó Phúc âm dùng một từ thứ ba, EXOUSIA, mà có thể được hiểu đúng nhất là theo nghĩa DỄ BỊ TỔN THƯƠNG (vulnerability). Sức mạnh thực sự của Chúa Giêsu bắt rễ từ sự dễ bị tổn thương nhất định, giống như tình trạng yếu ớt của một đứa bé. 

Khái niệm này không dễ gì nắm bắt bởi vì suy nghĩ của chúng ta về quyền năng/sức mạnh thường gắn với cái ngược lại, nghĩa là, gắn với cái khái niệm rằng sức mạnh nằm ở khả năng áp đảo người khác, chứ không để người khác áp đảo. Ấy vậy mà chúng ta hiểu được điều này, ít nhất cũng hiểu hơi hơi, trong trải nghiệm của mình với những em bé, chúng có thể áp đảo chúng ta chính do tình trạng yếu ớt của nó. Cạnh một đứa bé, như hầu hết mọi cha mẹ đều biết, chúng ta không chỉ dè chừng ngôn ngữ của mình và cố gắng không cãi cọ chua cay; mà chúng ta còn cố gắng làm sao trở thành người tốt hơn, nhiều thương yêu hơn. Nói một cách ẩn dụ, một đứa bé có quyền năng của một câu thần chú. Nó có thể bắt giữ những con quỷ tự tôn và ích kỷ trong chúng ta. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu có thể bắt giữ những con quỷ nhất định nào đó mà những người khác không bắt được. 

Và đó là lý do tại sao sức mạnh của Chúa vĩnh viễn ở trong thế giới chúng ta và trong đời sống của chúng ta, đang yêu cầu chúng ta kiên nhẫn. Đức Giêsu Kitô, như Annie Dillard nói, luôn luôn được tìm thấy trong đời sống chúng ta như khi Người được tìm thấy lúc ban đầu – một đứa trẻ yếu ớt bất lực trong máng cỏ – phải được chăm bẵm mới lớn lên. Nhưng vĩnh viễn chúng ta vẫn muốn một điều gì đó khác, nghĩa là một vị Chúa sẽ tới dọn dẹp thế giới này và thỏa mãn cơn khát công lý của chúng ta bằng cách thể hiện ra một kiểu sức mạnh cơ bắp thô thiển nào đó và nện vào đầu người này người kia. Chúng ta mất kiên nhẫn với sức mạnh đạo đức thầm lặng vốn đòi hỏi lòng kiên nhẫn vô hạn và một tầm nhìn lâu dài. Chúng ta muốn có người hùng, một người với những khẩu súng tóe lửa như kiểu vị siêu anh hùng Hollywood nhưng có trái tim của Mẹ Têrêxa. Súng ống của thế giới bắn tan ác quỷ đi, đó là cái mà chúng ta muốn từ vị Chúa của mình, chứ không phải sức mạnh của một đứa bé nằm im bặt và yếu ớt trước những thế lực tàn bạo của thời đại chúng ta. Giống như người Israel đối diện với người Philistine, chúng ta ngần ngại không chịu phái một đứa bé chăn cừu đi chống lại một tên khổng lồ được bọc trong giáp sắt từ đầu đến chân. Chúng ta muốn quyền năng thần thánh thể hiện trong sắt thép, cơ bắp, súng ống và sức mê hoặc.

Thiên Chúa, lòng thân tình và bình an sẽ không được tìm thấy theo cách đó.

Một cái nhìn trần thế về sự hiệp thông các thánh 

Trong tự truyện của mình, Nikos Kazantzakis kể lại câu chuyện đằng sau tác phẩm nổi tiếng của ông, Zorba the Greek (tên sách tiếng Việt: Alexis Zorba – con người hoan lạc, dịch giả Dương Tường). Zorba một phần là hư cấu, một phần là chuyện thực.

Sau khi cố gắng bất thành để viết một cuốn sách về Nietzsche, Kazantzakis bị sụp đổ tinh thần và trở về đảo Crete, quê hương của ông để  dưỡng sức. Ở đó ông gặp một con người với nguồn năng lượng và sức sống không thể nào ngờ nổi. Nhân vật Zorba trong cuốn sách trên là dựa vào cuộc đời của người đàn ông này; chưa bao giờ trong đời Kazantzakis bị cuốn hút như vậy trước sức sống và cuộc đời của một con người khác. Nhưng cửa tử đã không chiều lòng người. Cuối cùng Zorba chết, và cái chết của Zorba đã làm Kazantzakis tan vỡ mọi ảo mộng: Làm thế nào một sức sống phi thường như vậy lại có thể chết? Mà điều gì xảy ra với sức sống đó? Có phải nó đơn thuần là biến mất đi như thể chưa từng bao giờ tồn tại? Khi cái chết đến, điều gì xảy ra với tất cả những sắc màu, năng lượng, sức sống, tình yêu và óc hài hước hiện thân nơi con người?

Kazantzakis viết Zorba the Greek là nhằm cố gắng đem lại phần nào sự bất tử cho cái nguồn năng lượng tuyệt vời mà một người đàn ông phi thường hiện thân. Zorba không thể nào chết. Điều đó tạo nên một tác phẩm lớn và một bộ phim lớn, nhưng liệu điều đó có thật sự tạo nên sự bất tử? Có phải việc đơn thuần nhớ về một ai đó hay ăn mừng cuộc sống của người đó là khiến người đó vẫn còn sống? Và khi một người chết đi, điều gì xảy ra với nguồn năng lượng, mạch sống, tình yêu, sắc màu và óc hài hước tuyệt vời và độc nhất vô nhị hiện thân nơi một người trong suốt cuộc đời họ sống?

Cách đây vài ngày, tôi tham dự một lễ cầu hồn cho một phụ nữ tôi chưa gặp bao giờ. Sau buổi lễ cầu nguyện chính thức, người thân trong gia đình chia sẻ vài ký ức về người đã khuất. Những chuyện kể đó tuyệt vời, nồng nàn, dí dỏm, đầy màu sắc và rất hài hước. Khi họ kể những câu chuyện đó, bà như sống lại trước mắt mọi người có mặt trong nhà thờ. Tất cả chúng tôi ai cũng mỉm cười và cười to, và nỗi buồn rầu trước sự ra đi của bà trong giây lát (và có lẽ là mãi mãi) được khỏa lấp vì màu sắc và sức sống của bà lần nữa lại sống động đối với chúng tôi. Mà chúng tôi không chỉ nhớ đến bà ấy. Chúng tôi lúc đó nhắc với nhau rằng bà ấy vẫn còn bên chúng tôi. 

Điều đó cũng đúng với tất cả những ai đã chết. Họ vẫn còn ở bên chúng ta không chỉ trong ký ức. Và không phải chỉ là một linh hồn được gột rửa sạch nào đó của họ, trong trẻo sau cái chết, mới ở lại. Sắc màu riêng của họ cũng ở lại: Chẳng hạn, tôi nghĩ về gia đình của chính mình. Chúng tôi đã phải khóc than trước sự mất mát ra đi của nhiều thành viên gia đình, nhưng chúng tôi không những đã được nuôi dưỡng bởi sự hiến tặng từ cuộc đời và đức hạnh của mỗi một người dành cho chúng tôi, mà chúng tôi vẫn còn được dưỡng dục bởi sắc màu riêng mà mỗi người hiện thân. Họ vẫn ở cạnh chúng tôi, và sắc màu của họ cũng vậy. Những câu chuyện kể từ đời này sang đời khác của gia đình chúng tôi chứa đầy hình ảnh những người đã mất: những câu chuyện về cách kết hợp độc đáo của ba tôi giữa Kinh An Bình và Luật của Murphy trong một câu cảm thán quá khích: “Ngay bây giờ!”; về chuyện mẹ tôi không thể nào tìm ra được chỗ để bắt đầu một câu chuyện mà không trước hết quay về Sách Sáng Thế – “Từ ban đầu”; về chuyện người chị quá cố của tôi yêu thích sô-cô-la và cũng thích đập bẹp những cái gì phồng lên; về chuyện anh trai tôi có thiên hướng giảng giải cho cả hành tinh này về công bằng xã hội; về chuyện anh rể quá cố của tôi thích nấu xúc xích và rồi cười cợt hỏi về tình trạng thẩm mỹ của cặp dây móc quần của mọi người; và về ông chú quá cố có thói quen châm một điếu thuốc rồi ánh mắt lấp lánh tia lém lỉnh như thể mào đầu cho một câu chuyện cực kỳ tinh quái. Còn nhiều còn nhiều nữa bởi vì những câu chuyện về sắc màu cá tính trong cuộc đời những người thân yêu của chúng ta thì cứ còn nhiều mãi. 

Vậy thì khi chết, chuyện gì xảy ra với nguồn năng lượng, mạch sống, sắc màu và sự hài hước độc đáo mà một người là hiện thân? Alfred North Whitehead cho rằng những điều đó đã trở thành bất tử trong “bản thể tất nhiên” của Chúa. Pierre Teilhard de Chardin đoan chắc với chúng ta rằng không có gì mất đi và mọi thứ theo một cách nào đó sẽ được bảo toàn, cho tới tận cuộc đời những con vật nuôi trong nhà của chúng ta. Giáo lý Ki-tô của chúng ta về sự Hiệp thông các Thánh bảo rằng những người thân yêu của chúng ta vẫn còn sống và một ngày nào đó chúng ta và họ sẽ lại tương ngộ trùng phùng. 

Tôi không nghi ngờ sự thật trong những lời quả quyết đó, nhưng có thể nghe hơi trừu tượng khi trái tim chúng ta buồn phiền và đau đớn trước ký ức về một người thân yêu đã mất. Vẫn sống trong ký ức của chúng ta chưa phải là một hình thức đầy đủ của sự bất tử, còn vẫn sống trong ký ức của Chúa có thể có vẻ quá trừu tượng nên không thể ủi an được mấy. Tôi không nghi ngờ rằng những người thân yêu của chúng ta vẫn sống trong “bản thể tất nhiên” của Chúa hay họ vẫn sống trong sự hiệp thông các thánh, nhưng tôi tin rằng có một điều gì đó hơn thế nữa, dựa trên cách những ký ức của chúng ta về sắc màu riêng của họ đang tác động và nuôi dưỡng chúng ta ở bên này.

Tôi tin rằng những gì mà họ đã hiện thân một cách tuyệt vời và riêng trên trần gian này vẫn tiếp diễn, tiếp tục ở phía bên kia. Tôi ngờ rằng có nhiều hơn là mây trắng, đàn hạc và các thiên thần bay lượn trên thiên đường, nhưng thiên đường đó đầy dí dỏm, sắc màu và hài hước, và đầy những câu chuyện cực kỳ tinh quái bởi vì bất cứ khi nào chúng ta nhớ lại những điều đó về những người thân yêu đã mất, ký ức về họ lại trở nên ấm áp và nuôi dưỡng chúng ta. 

Sống trong ánh sáng

Cách đây vài năm, có một người đàn ông đến xin tôi làm cha øi hướng dẫn thiêng liêng cho ông. Ông ấy ngoài bốn mươi và gần như mọi chuyện chung quanh ông chứng tỏ ông là người mạnh khỏe. Khi chúng tôi ngồi xuống nói chuyện, tôi có nói cho ông biết, tôi thấy mọi thứ xung quanh ông có vẻ đang tốt đẹp. Ông mỉm cười và trả lời rằng, đúng, bây giờ thì đúng như vậy, nhưng trước đây không thì không vậy. Hạnh phúc của ông có câu chuyện riêng của nó… và cả tiền sử của nó. Đây là câu chuyện ông kể:

“Trong đời tôi, không phải khi nào bản thân tôi và mọi thứ xung quanh đều êm đẹp; thực tế là, để được như ngày hôm nay là cả một nỗ lực khó khăn chật vật lâu dài của tôi. Hơn 20 mươi năm nay, từ lúc tôi rời trường phổ thông trung học cho đến cách đây ba năm, tôi đã vật lộn với hai chứng nghiện: nghiện rượu và nghiện tình dục. Tôi kiểm soát được chúng ở mức đủ để về căn bản, tôi có thể giấu không cho gia đình, bạn bè và đồng nghiệp biết. Tôi cũng không bao giờ hành xử lộ liễu nguy hiểm gì cho lắm. Tôi nghiện, nhưng vẫn kiểm soát được đời mình một cách tốt đẹp. Vấn đề là tôi sống hai mặt – một mặt là cuộc sống với gia đình, bạn bè và mặt kia là cuộc sống lén lút (rượu, sách báo phim ảnh khiêu dâm, các quán rượu với gái). Tôi chưa bỏ việc ngày nào và luôn luôn hoàn thành công việc ở mức chuyên nghiệp cao, nhưng cuộc sống của tôi dần dần bắt đầu dính chặt hơn với hai thứ nghiện đó – giấu diếm, nói dối về những gì tôi làm, dữ tợn bảo vệ những thứ riêng tư của tôi, phẫn nộ với bất cứ điều gì hay bất cứ ai đứng ngáng giữa tôi và hai thứ tôi nghiện, và ngày nào tôi cũng bất ổn, tính toán xem tối đến sẽ đi đâu. Tôi làm việc nghiêm chỉnh và giữ các mối quan hệ nghiêm chỉnh, nhưng tâm trí tôi, và sự quan tâm chú ý thật sự của tôi cứ nhắm vào một thứ khác, những thứ tôi nghiện, chuyện tôi muốn và sắp làm. 

Tôi không biết rõ điều gì đã châm ngòi khởi sự, nhưng có một loạt các sự kiện giáng xuống cùng một lúc (cái chết của cha tôi, một vài lần suýt chút bị lộ, một vài chuyện rất nhục nhã, và một vài giây phút sáng tỏ may mắn khi tôi nhận thấy cả cái đạo đức giả của mình lẫn con đường cụt mà mình đang đi), cách đây ba năm tôi tham dự một khóa tu ở một tu viện và thu hết can đảm để nói chuyện rất lâu với cha tu viện trưởng. Cha gợi ý tôi nên tham gia hai chương trình phục hồi, một là về rượu và một về tình dục. Tôi theo lời khuyên của cha, và tất cả những gì tôi có thể nói là, điều đó đã xoay chuyển hẳn cuộc đời tôi. Tôi bây giờ đã “tỉnh táo” được ba năm và nói đúng nhất là bây giờ “tôi đã lại thấy được màu sắc.” Không có điều gì mang lại cảm giác tuyệt vời hơn là được trung thực chính đáng! Tôi chưa bao giờ hạnh phúc như thế này. Tôi giờ đang sống trong ánh sáng!”

Chúng ta được mời gọi sống trong ánh sáng, nhưng chúng ta có xu hướng lãng mạn quá sức về việc sống trong ánh sáng. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng sống trong ánh sáng có nghĩa là cần phải có một kiểu ánh sáng đặc biệt trong lòng chúng ta, một ánh hào quang thiêng liêng lấp lánh trong lương tâm, một niềm vui óng ánh trong lòng khiến lúc nào chúng ta cũng muốn ngợi ca Chúa, một không gian ánh sáng thiêng liêng quanh suy nghĩ của chúng ta. Nhưng đó là chuyện không thật. Sống trong ánh sáng nghĩa là gì?

Sống trong ánh sáng nghĩa là sống trong trung thực, trong sáng và giản dị, minh bạch, không có mảng tối bí mật giấu diếm nào.

Mọi chương trình chuyển hóa và phục hồi xứng đáng với tên gọi này đều đặt cơ sở trên việc đưa chúng ta trở về với loại trung thực chính đáng này. Chúng ta có được tình trạng khỏe mạnh về tâm trí chính xác là bằng cách quét phăng đi những bí mật ghê tởm nhất của mình và đưa chúng ra ánh sáng. Sống tiết độ là sống trong sự trung thực chính đáng và minh bạch, chứ không phải sống không có bất kỳ hóa chất nào, không cờ bạc hay thói quen tình dục. Chính chuyện giấu diếm điều gì đó, chuyện nói dối, không trung thực không chính đáng, lừa lọc, hay những phẫn uất mà chúng ta ấp ủ đối với những người đứng ngáng đường giữa ta và các thứ nghiện của ta, mới gây ra tổn hại thật sự tới chúng ta và những người chúng ta thương yêu. 

Tình trạng khỏe mạnh về tâm trí là ở sự trung thực chính đáng và sự minh bạch, vì thế chúng ta sống trong ánh sáng khi chúng ta sẵn sàng mở ngỏ mọi mảng trong cuộc sống, cuộc đời mình cho những ai cần tin tưởng chúng ta xem xét.

Sống trong ánh sáng nghĩa là luôn luôn có thể nói cho những người chúng ta yêu thương biết là ta đang ở đâu và đang làm gì.Sống trong ánh sáng là không phải lo lắng ai đó sẽ truy ra được những trang web nào ta đã truy cập vào.Sống trong ánh sáng là không chột dạ bồn chồn khi ai đó trong gia đình mình thấy tủ hồ sơ của mình không khóa.Sống trong ánh sáng là có thể để cho những người chung sống với ta nghe những gì trong điện thoại di động của ta, thấy những gì trong hộp thư điện tử của ta, và biết những ai trong danh sách gọi nhanh của chúng ta.Sống trong ánh sáng là có một người nghe ta thổ lộ và có thể nói với người đó về chuyện gì chúng ta đang gắng gỏi chật vật mà không phải giấu diếm điều gì.Sống trong ánh sáng là sống theo cách mà, đối với những ai biết ta, cuộc sống, cuộc đời ta giống như một quyển sách để mở. 

Mười đấu tranh chủ yếu đức tin của thời đại chúng ta.

Đôi khi cái hành động đơn giản là gọi tên điều gì đó lại là chuyện vô cùng hữu ích. Khi chúng ta chưa thể đặt tên cho một điều gì thì chúng ta bất lực hơn trước tác động của nó, vì không thật sự hiểu được điều gì đang xảy ra với chúng ta. 

Chẳng hạn, nhiều người trong số chúng ta quen thuộc với cuốn Giáo Hội Tương Lai: Mười Xu hướng đang Cách mạng hóa Giáo Hội Thiên Chúa Giáo của chúng ta như thế nào (The Future Church: How Ten Trends are Revolutionalizing the Catholic Church) của tác giả John Allen. Những điều ông gọi tên trong cuốn sách này, kể cả khi chúng không trực tiếp ảnh hưởng đến chúng ta, vẫn giúp định hình chúng ta tốt hơn. Là ký giả đi khắp toàn cầu trong tư cách nhà phân tích Vatican cho cả đài truyền hình CNN và National Catholic Reporter, ông John Allen có thể cho chúng ta một tầm nhìn lớn rộng, toàn cầu về các vấn đề của giáo hội so với bất kỳ cái nhìn chung nào vốn chịu ảnh hưởng nhiều do bãi lầy cảm xúc từ các vấn đề địa phương và quốc gia của chúng ta. Những vấn đề đau đầu tại địa phương của mình có thể làm cho chúng ta không nhìn thấy được những mối quan ngại rộng lớn hơn của cả hành tinh; nhưng ngay khi trực diện với các mối lo và nỗi đau của những người khác thì chúng ta có thể đặt các mối lo và nỗi đau của chính mình vào một tầm nhìn khác lành mạnh hơn. Cái khuôn khổ tham chiếu toàn cầu của John Allen, như thể hiện trong các siêu xu thế mà ông gọi tên trong cuốn sách, giúp chúng ta đặt những mối quan ngại giáo hội của mình vào một quan điểm lành mạnh hơn. 

Và tôi cũng cố gắng thử đặt tên đôi điều như sau: Vài năm trước, trong một cuộc phỏng vấn, John Allen đề nghị tôi liệt kê một danh sách những điều mà tôi coi là mười đấu tranh chủ yếu về đức tin và giáo hội của thời đại chúng ta. Tôi coi đề nghị đó là một thử thách lành mạnh và danh sách sau đây, chắc chắn ít mang quan điểm toàn cầu hơn mười xu thế của Allen (Tôi sợ rằng tầm nhìn của tôi nói nhiều cho văn hóa phương Tây và văn hóa thế tục hơn là cho thế giới nói chung), là cố gắng chỉ của riêng tôi để gọi tên những đấu tranh khó khăn chủ yếu về mặt đức tin và giáo hội mà chúng ta phải xử lý ngày hôm nay.

Mười đấu tranh khó khăn chủ yếu về đức tin và giáo hội của thời đại chúng ta, ít nhất thể hiện ở những nơi mà phần thế tục hóa nhiều hơn trên thế giới chúng ta, là gì?

1. Đấu tranh với tính chất vô thần trong ý thức hàng ngày của chúng ta, nghĩa là khó khăn để có cảm thức thiết yếu về Chúa trong một nền văn hóa thế tục, mà xét cả mặt tốt lẫn xấu, là thuốc phiện hạng mạnh nhất từng xâm nhập trên quả địa cầu này… Nỗ lực đấu tranh để có ý thức về Chúa ở bên ngoài giáo hội và các tổ chức tôn giáo có tôn chỉ rõ rệt.

2. Đấu tranh để sống trong các cộng đoàn tan rã, chia rẽ và phân cực cao độ, mà bản thân chúng ta là những người bị tổn thương, làm sao mang trong mình mối căng thẳng đó mà không bất nhẫn và không giáng trả lại mối căng thẳng đó qua các hình thức cụ thể… Nỗ lực đấu tranh bên trong cái tôi bị thương tổn của chính mình để làm người chữa lành và người đem an lạc hơn là để bản thân mình góp thêm vào mối căng thẳng đó. 

3. Đấu tranh để sống, thương yêu và tha thứ vượt lên trên các ý thức hệ có tính lây lan mà chúng ta hít thở mỗi ngày, nghĩa là, nỗ lực đấu tranh để có lòng chân thành đích thật, để biết một cách chân thật và đi theo chính trái tim và khối óc của mình vượt lên trên những gì đã được cánh tả cánh hữu kê đơn sẵn cho chúng ta… đấu tranh khó khăn để không trở thành kẻ tự do cũng không thành người bảo thủ, mà là những con người của lòng trắc ẩn đích thật.

4. Đấu tranh với tính dục của mình mà không cứng nhắc quá đáng cũng không vô trách nhiệm, đấu tranh chật vật để có tính dục lành mạnh, vừa tôn trọng phù hợp, vừa vui thích phù hợp trong cái quyền năng to lớn này.. đấu tranh khó khăn với tính dục của mình theo một cách vừa rạng tỏa sự trinh bạch lẫn niềm đam mê.

5. Đấu tranh để có tính nội tâm và cầu nguyện trong một nền văn hóa với cơn khát triền miên thông tin và các trò giải trí, đã gần như tạo nên sự thông đồng chống lại chiều sâu và sự cô độc, che mờ sự yên lặng trên thế giới chúng ta… đấu tranh chật vật để hướng tầm mắt của mình vượt ra ngoài các màn hình số để tới một chân trời sâu sắc hơn.

6. Đấu tranh chật vật để xử lý một cách lành mạnh với những “con rồng” của mỗi cá nhân, đó là vĩ cuồng, tham vọng, bất an đã thành bệnh lý, trong lòng một nền văn hóa mà mỗi ngày vẫn kích thích quá mức những điều đó, nỗ lực chật vật để xử lý lành mạnh một cách xác quyết lẫn phủ nhận.. nỗ lực chật vật trong lòng một môi trường bất an và bị kích thích quá mức để tìm ra và thường xuyên duy trì được mức cân bằng tinh tế giữa trầm cảm và hưng cảm. 

7. Đấu tranh để không bị kích hoạt bởi bệnh tưởng, sợ hãi, hẹp hòi và bảo hộ quá mức trước chủ nghĩa khủng bố và phức cảm siêu cường.. nỗ lực chật vật để không để cho nhu cầu được rõ ràng và an toàn của chúng  ta đè bẹp lòng trắc ẩn và chân lý.

8. Đấu tranh khó khăn với nỗi cô đơn đạo đức trong lòng tôn giáo, văn hóa, chính trị và luân lý… nỗ lực chật vật để tìm người bạn lòng, người gặp gỡ ta và ngủ với ta trong trọng tâm luân lý của ta.

9. Đấu tranh để gắn đức tin với công lý… chật vật để có được một thư giới thiệu của người nghèo, để liên kết phúc âm về mặt thể chế với đường phố, để vẫn ở bên phía những người nghèo.

10. Đấu tranh vì cộng đoàn và nhà thờ, nỗ lực chật vật trong lòng một nền văn hóa của cái tôi quá mức để tìm được ranh giới lành mạnh giữa cá nhân và cộng đoàn, thiêng liêng và giáo hội…, nỗ lực chật vật trong tư cách những đứa con người lớn của sự Khai Sáng để vừa trưởng thành và tha thiết, thiêng liêng và gắn với giáo hội.

Một danh sách kiểu này có giá trị gì? Đặt tên cho sự việc và đặt tên chính xác cho chúng là chuyện quan trọng; mặc dù, phải thừa nhận là, tự cái việc đơn thuần đặt tên cho một căn bệnh thì không thể chữa lành bệnh. Tuy nhiên, như James Hillman từng phát biểu một cách thông thái, một triệu chứng bệnh sẽ gây đau đớn khó chịu nhất khi ta không biết nó thuộc loại gì. 

Mùa xuân và lễ Phục Sinh

Hồi tôi ngoài 20, tôi học một năm ở Viện Đại học San Francisco. Lúc đó tôi vừa chịu chức làm linh mục và đang học gần xong cao học về thần học. Ngày chủ nhật Lễ Phục sinh năm đó là một ngày mùa xuân nắng ấm đẹp tuyệt vời, nhưng tâm trạng tôi thì không theo nắng ấm. Tôi đang xa nhà, xa gia đình, xa cộng đoàn, tôi nhớ nhà và cô đơn. Gần như tất cả bạn bè tôi quen thân trong suốt năm học và các sinh viên cao học thần học đều về với gia đình dịp lễ Phục sinh. Tôi nhớ nhà và cô đơn, hơn thế nữa, tôi đang ấp ủ những vẩn vơ mơ mộng của tuổi trẻ và lòng dạ cứ không yên. Tâm trạng của tôi còn lâu mới là tâm trạng của mùa xuân và của lễ Phục sinh.

Chiều hôm đó tôi đi dạo nhưng không khí mùa xuân, nắng ấm và lễ Phục sinh chẳng làm tôi vui, nếu có chăng thì chúng chỉ làm tôi cảm thấy cô độc thêm mà thôi. Nhưng có nhiều cách khác nhau để tỉnh dậy. Như Leonard Cohen nói, cái gì cũng có một kẽ nứt và ánh sáng sẽ lọt vào. Tôi chỉ cần một chút tỉnh thức nhỏ thôi và tôi đã có. Hôm đó tôi thấy một người ăn mày đang ngồi ở lối vào công viên với một tấm biển để trước mặt: Bây giờ là mùa xuân mà tôi lại bị mù! Tôi như thấy điều oái ăm đó nơi tôi: Tôi cũng mù như ông ấy! Với những gì tôi đang thấy thì cũng y như ngày Thứ sáu tuần thánh, mưa và lạnh lẽo. Còn ánh nắng, mùa xuân và lễ Phục sinh thì tôi đã phí hoài.

Đó là giây phút ân sủng, và từ đó, rất nhiều lần tôi nhớ lại giây phút này, nhưng lúc đó thì tâm trạng tôi không hề thay đổi. Tôi tiếp tục đi bộ, vẫn bứt rứt và rồi tôi về nhà ăn tối. Trong suốt năm học đó, tôi là tuyên úy cho nhà dòng, dòng có một ký túc xá thanh niên bên cạnh và luật của nơi này là tuyên úy phải ăn một mình, trong phòng ăn riêng của mình. Vì thế, dù chuyện ăn riêng một mình chắc bác sĩ sẽ không kê đơn cho một thanh niên đang bứt rứt, đang nhớ nhà, vậy mà tôi vẫn phải ăn một mình vào tối chủ nhật Phục sinh đó. 

Nhưng sự sống dậy đã đến với tôi vào ngày Chủ nhật Phục sinh năm đó, dù hơi muộn: Trước đó, hai sinh viên cao học khác và tôi đã lên kế hoạch sẽ gặp nhau trên bãi biển khi đêm xuống, đốt một đống lửa lớn, và sẽ mừng lễ Vọng theo kiểu riêng của chúng tôi. Thế là, ngay trước khi trời xẩm tối, tôi đi xe buýt đến bãi biển và gặp hai bạn của tôi (một nữ tu và một linh mục). Chúng tôi châm một đống lửa lớn (hồi đó vẫn được phép làm như vậy), ngồi quanh đống lửa trong vài giờ, và cuối cùng thú nhận với nhau rằng mỗi đứa đều có một ngày lễ Phục sinh buồn. Ngọn lửa đó đã làm cho chúng tôi điều mà lời chúc lành của ngọn lửa đêm vọng Phục sinh đã không làm được. Nó làm sống dậy trong chúng tôi cảm thức về năng lượng và một sự tươi mới vốn ở trong chính trái tim cuộc sống. Khi chúng tôi nhìn ngọn lửa và trò chuyện linh tinh trên trời dưới đất, tâm trạng tôi bắt đầu chuyển biến, tôi bớt bứt rứt, và tâm trạng nặng nề như được cất dỡ. Tôi bắt đầu cảm thấy mùa xuân và lễ Phục sinh. 

Trong Phúc âm của thánh Gioan về việc Chúa sống lại, ông kể chuyện vào buổi sáng đầu tiên của Phục sinh, Người Môn Đồ Đức Giêsu Thương Mến chạy đến mộ Người và ghé mắt nhìn vào. Ông thấy hầm mộ trống và tất cả những gì còn lại là băng vải liệm đã được xếp gọn. Và, bởi vì ông là người môn đồ nhìn với đôi mắt của tình thương yêu, nên ông hiểu ý nghĩa của tất cả những điều đó, ông hiểu được sự phục sinh và biết rằng Chúa Giêsu đã sống lại. Ông thấy được mùa xuân. Ông hiểu được bằng đôi mắt của mình. 

Hugo của Thánh Vícto từng nói một câu nổi tiếng: Tình yêu là mắt nhìn. Khi chúng ta nhìn với tình yêu thì chúng ta không chỉ thấy thẳng và rõ, chúng ta còn nhìn thấy được chiều sâu và ý nghĩa. Điều ngược lại cũng đúng. Chẳng phải tự nhiên mà sau khi Chúa Giêsu sống lại, một số người có thể thấy, một số khác không thể thấy. Tình yêu là mắt nhìn. Những ai kiếm tìm cuộc sống qua đôi mắt của tình thương, như Mary Magdala kiếm tìm Giê-su trong Vườn vào sáng Chủ nhật Phục sinh, thì thấy được mùa xuân và sự sống lại. Nếu nhìn bằng bất kỳ loại mắt nào khác thì chúng ta mù ngay giữa mùa xuân.

Khi tôi đi dạo vào buổi chiều mùa xuân Phục sinh đó ở San Francisco cách đây bao nhiêu năm, tôi không phải là Mary Magdala đang đi tìm Chúa trong khu vườn, cũng không phải là Người Môn Đồ Yêu Dấu với ngọn lửa thương yêu nung nấu đang chạy đi để nhìn qua khe vào hầm mộ của Chúa Giêsu. Trong nỗi bất an thời thanh niên, lúc đó tôi đang đi kiếm tìm chính tôi, và tôi chỉ gặp được cái tôi đang lo lắng của mình. Đó cũng là một loại mù. 

Không có đôi mắt của tình thương yêu thì chúng ta mù, không thấy mùa xuân lẫn sự sống lại. Tôi đã học được bài học thần học đó, không phải trong nhà thờ hay trong lớp học mà vào một ngày chủ nhật Phục sinh cô đơn ở San Francisco khi tôi tình cờ gặp người ăn xin mù rồi đi về nhà và ăn bữa ăn tối Phục sinh một mình.

Cách xa mọi người một tầm quăng đá 

Chân lý tìm thấy chúng ta theo nhiều con đường khác nhau. Đôi khi chúng ta biết được ý nghĩa điều gì đó không phải trong lớp học mà trong phòng bệnh viện.

Vài năm trước, tôi đến bệnh viện thăm một người sắp chết vì ung thư. Ông sắp chết nhưng tinh thần vững, dù không có ai chết mà dễ dàng được. Ông cảm thấy cô đơn tận cùng dù chung quanh ông toàn những người thương yêu thương ông sâu đậm. Ông mô tả như sau: “Tôi có người vợ tuyệt vời và những đứa con tuyệt vời, rất nhiều người thân và bè bạn. Gần như phút nào cũng có người nắm bàn tay tôi, nhưng … Tôi vẫn cách xa mọi người một tầm quăng đá. Tôi đang chết dần còn họ thì không. Tôi đang bước vào một nơi mà họ không thể nào đến. Đang chết dần, cô đơn một cách khủng khiếp.”

Ông đã mượn một câu trong Phúc âm thánh Luca, câu Chúa Giêsu nói với các môn đệ ở vườn Giếtsêmani đêm trước khi chết. Người mời họ cùng cầu nguyện với mình trong khi Người cố gắng chiến đấu để có sức mạnh đối diện với cái chết; nhưng, như thánh Luca nói thêm một cách khó hiểu, khi Người đổ mồ hôi máu, người cách xa họ “một tầm quăng đá.”

Một tầm quăng đá thì cách bao xa? Đủ xa để anh bị bỏ lại ở một nơi không ai có thể với tới. Cũng như khi chúng ta sinh ra một mình từ lòng mẹ, chúng ta cũng sẽ rời trần gian này một mình. Giêsu, cũng giống người đàn ông tôi vừa kể, cũng đối diện với cái chết, biết rằng mọi người thương yêu mình, nhưng ông cũng biết, một khi đứng trước cái chết, ông sẽ đi vào một nơi, ở đó ông hg cô độc, một mình.  

Và việc nhấn mạnh tính chất một mình này thật sự là một trong những điểm chủ yếu trong các bài Thương Khó. Khi mô tả cái chết của Chúa Giêsu, có lẽ hơn bất cứ điều gì, các Phúc âm muốn chúng ta tập trung chú ý tới sự cô độc của Người, việc Người bị bỏ rơi, cách xa tất cả mọi người một tầm quăng đá. 

Tôi chắc chắn nhiều người trong chúng ta đã xem bộ phim nổi tiếng Sự Thương Khó của Chúa Giêsu của Mel Gibson. Mặc dù bộ phim chắc chắn là một tác phẩm nghệ thuật xứng đáng, nhưng nó lại làm chúng ta xao lãng chứ không có ích xét về mặt giúp có thể hiểu được sự thương khó của Giêsu. Tại sao vậy? Vì bộ phim này quá nhấn mạnh tới nỗi đau đớn thể xác của Chúa Giêsu, chính là điều mà các Phúc âm không làm. Đúng hơn, các Phúc âm cố tình giảm đi những gì Chúa Giêsu phải chịu về mặt thể xác vì muốn chúng ta tập trung chú ý vào một điều khác, đó là nỗi đau đớn về mặt tinh thần và tình cảm của Người, đặc biệt là cảm giác bị bỏ rơi, cô đơn, không có một hỗ trợ sâu sắc nào của người chung quanh trong thời điểm cùng cực này của cuộc đời, và sự thiếu vắng này càng nặng nề hơn trước điều dường như là sự vắng mặt của Thien Chúa. Trong giờ khắc cô đơn nhất, Chúa Giêsu không có một người bạn tâm tình nào, không có một nguồn an ủi thiêng liêng nào. Theo từ dùng của Gil Bailie, người là kẻ-vô-danh-tiểu-tốt. Không còn cảm giác bị bỏ rơi nào sâu đậm hơn thế nữa.

Và chính trong nỗi cô độc thống thiết đó mà Chúa Giêsu đã tiếp tục hiến dâng với lòng tin tưởng, tình thương yêu, lòng vị tha, và đức tin. Dễ dàng tin vào tình yêu khi chúng ta cảm thấy được thương yêu; dễ dàng tha thứ cho kẻ khác khi họ biết ơn chúng ta; và dễ dàng tin vào Chúa khi chúng ta cảm thấy sự hiện diện của Chúa một cách mạnh mẽ. Điều khó khăn, “phép thử”, chỉ đến khi tình thương yêu của con người và niềm an ủi thiêng liêng đều sụp đổ, khi chúng ta thấy vây quanh mình là hiểu lầm, bỏ rơi, thất tín, căm thù và nghi kỵ, đặc biệt vào giờ phút cô đơn nhất của chúng ta, đúng vào giây phút cuộc đời tăm tối. Lúc đó chúng ta đáp lại như thế nào?

Liệu tình thương yêu, lòng tin tưởng, lòng vị tha và đức tin trong tim chúng ta có sụp đổ không khi những trụ cột tình cảm thường khi vẫn chống đỡ chúng ta sụp đổ? Liệu chúng ta có tha thứ cho kẻ đang làm chúng ta đau khổ khi người đó nghĩ chính chúng ta gây ra vấn đề? Liệu chúng ta có tiếp tục yêu thương một người thù hận chúng ta hay không? Liệu chúng ta có thể tiếp tục tin vào lòng tin tưởng khi bất cứ nơi nào xung quanh chúng ta đều nếm trải sự phản bội? Liệu chúng ta có thể để cho đôi tay và trái tim của mình mở ra, kéo căng ra và đóng đinh trên thập giá được hay không khi chúng ta đang sợ hãi? Liệu chúng ta có thể vẫn giữ đức tin nơi Chúa hay không khi mỗi một cảm xúc trong lòng đều nói rằng Chúa đã bỏ rơi ta? Liệu chúng ta còn trao gửi linh hồn mình hay không khi cảm thấy tuyệt nhiên không có một hỗ trợ thiêng liêng hay của con người nào? Trái tim chúng ta sẽ nằm ở đâu khi chúng ta cách xa mọi người “một tầm quăng đá”?

Chính điều đó, chứ không phải khả năng chịu đựng nhục hình đóng đinh, mới là phép thử thật sự bên trong sự thương khó của Chúa Giêsu. Nỗi thống khổ của Chúa Giêsu ở Vườn Giếtsêmani không phải là đau khổ về chuyện để mình bị giết chết hay chuyện Người sẽ viện đến quyền năng thiêng liêng và thoát được. Người ý thức mình sắp chết. Câu hỏi đối với người, đúng hơn là, sẽ chết như thế nào: Liệu người có thể tiếp tục hiến mình cho Chúa và cho chân lý mà trước đó Người đã biết, trong khi bây giờ điều đó dường như đã bị mọi thứ xung quanh làm đảo ngược hoàn toàn? Liệu người có thể giữ được lòng tin? Linh hốn Người sẽ như thế nào khi Người trút linh hồn? Linh hồn đó sẽ đầy lòng biết ơn hay chua chát? Xả bỏ hay ôm mối thù? Đầy thương yêu hay đầy thù hận? Tín thác hay hoảng loạn? Tràn đầy hy vọng hay tuyệt vọng?

Và đó cũng sẽ là phép thử của chúng ta vào giờ cuối. Rồi một ngày mỗi một người trong chúng ta cũng sẽ phải “trút” linh hồn mình. Trong lòng kẻ-vô-danh-tiểu-tốt lúc đó, trái tim chúng ta sẽ nồng ấm hay chua chát đây? 

Nỗi sợ thiêng liêng và không thiêng liêng

Không phải nỗi sợ nào khi được tạo ra cũng bằng nhau, ít nhất là về mặt tôn giáo. Có nỗi sợ lành mạnh và tốt đẹp, một dấu hiệu của sự trưởng thành và tình thương yêu. Cũng có nỗi sợ xấu, chặn lại sự trưởng thành và tình thương yêu. Nhưng cần giải thích điều này rõ hơn.

Trong các giới tôn giáo có nhiều hiểu lầm về nỗi sợ, đặc biệt xung quanh phần Thánh Kinh nói rằng nỗi sợ Chúa là khởi nguồn của minh triết. Những đoạn kinh văn như vậy, cũng như tôn giáo nói chung, quá thường xuyên bị sử dụng để nhân danh Chúa mà khơi lên một nỗi sợ hãi không lành mạnh trong lòng con người. Chúng ta cần sống trong “nỗi sợ thiêng liêng”, nhưng nỗi sợ thiêng liêng là một loại sợ rất đặc biệt mà chúng ta không nên nhầm với những nỗi sợ hãi như chúng ta thường hiểu.

“Nỗi sợ thiêng liêng” là gì? Loại nỗi sợ nào là lành mạnh? Loại nỗi sợ nào làm khởi lên minh triết?

Nỗi sợ thiêng liêng là nỗi sợ của tình thương yêu, nghĩa là, loại nỗi sợ được tình thương yêu truyền cảm hứng. Đó là nỗi sợ dựa trên sự tôn kính và kính trọng đối với một người hay một sự vật mà chúng ta thương yêu. Khi chúng ta thương yêu đích thực một người nào chúng ta sẽ sống trong một mối băn khoăn lành mạnh, một nỗi lo lắng để hành động của chúng ta không bao giờ làm người đó thất vọng, hoặc xâm phạm hay thiếu tôn trọng người đó. Chúng ta sống trong nỗi sợ thiêng liêng khi chúng ta băn khoăn làm sao để không phản bội lòng tin hay lo lắng chuyện thiếu tôn trọng một ai đó. Nhưng điều đó rất khác so với chuyện sợ hãi một ai hay sợ hãi chuyện bị trừng phạt.

Quyền lực xấu hay thẩm quyền xấu bắt buộc người khác sợ hãi chúng. Chúa không bao giờ là loại quyền lực hay thẩm quyền đó. Chúa bước vào trần gian chúng ta như một em bé yếu đuối và quyền năng của Chúa cũng theo cách đó. Trẻ con không đe dọa ai, mà chúng gợi cảm hứng về nỗi sợ thiêng liêng. Chúng ta cẩn trọng trong lời nói và hành động của mình khi ở cạnh trẻ con không phải vì chúng đe dọa chúng ta, mà đúng hơn là chính tính chất yếu đuối và sự ngây thơ vô tội của chúng đã gợi lên một nỗi lo trong chúng ta khiến chúng ta muốn là những gì tốt đẹp nhất khi ở cạnh chúng. 

Phúc âm là để gợi lên loại nỗi sợ đó. Chúa là Tình Thương, là quyền năng nhân từ, là uy quyền độ lượng, không phải là một người nào đó để sợ hãi. Thực ra [nếu thế gian này ai cũng đáng sợ hãi thì] Chúa là người cuối cùng trên thế gian này mà chúng ta phải sợ. Chúa Giê-su đến để dỡ bỏ nỗi sợ hãi cho chúng ta. Hầu như bất kỳ mặc khải nào trong Thánh Kinh (khi Chúa xuất hiện) đều bắt đầu với những từ sau: “Đừng sợ!” Những gì làm chúng ta hoảng sợ không đến từ Chúa. 

Trong sách thánh Do Thái, trong sách Cựu ước Ki-tô, vua David được xem như người lĩnh hội điều này tốt nhất. Trong số tất cả nhân vật trong Cựu ước, kể cả các vị Mô-sê và các nhà tiên tri vĩ đại, David được mô tả như nhân vật hiện thân rõ rệt nhất cho cái gọi là bước đi trên mặt đất này trong hình ảnh và đồng dạng với Chúa, thậm chí ngay cả khi ông phạm vào lòng tin tưởng đó rất nặng. Cho dù có tội lỗi lớn, nhưng chính David, chứ không phải các vị các nhà tiên tri hay ông Mô-sê, là dòng dõi của Chúa Giê-su. David chính là hình ảnh Chúa Kitô trong Cựu ước. Ông bước đi trong nỗi sợ thiêng liêng đối với Chúa, mà không bao giờ trong nỗi sợ hãi không lành mạnh.

Chỉ xin dẫn ra một ví dụ nổi bật: Sách các Vì Vua kể lại một câu chuyện, ngày nọ David đang cùng binh lính từ chiến trường trở về. Đoàn quân của ông đói lả. Thức ăn duy nhất còn lại là bánh mì trong đền thờ. David hỏi xin bánh mì đó và được đáp là bánh đó chỉ được duy nhất sử dụng bởi các thầy tế trong nghi lễ thiêng liêng. Ông trả lời thầy tư tế đại ý thế này: “Ta là Vua, do Chúa đặt ở đây để hành động một cách có trách nhiệm nhân danh người. Chúng ta thông thường không hỏi xin bánh mì của điện thờ, nhưng đây là ngoại lệ, là một vấn đề cấp bách, binh lính cần bánh mì, và Chúa hẳn muốn chúng ta làm điều đó một cách có trách nhiệm.” Và thế là ông lấy bánh mì trên điện thờ và cho quân lính ăn. Trong Phúc âm, Chúa Giê-su khen ngợi hành động này của David và yêu cầu chúng ta bắt chước như vậy, người nói với chúng ta rằng chúng ta không phải được tạo ra cho Lễ Xa-bát, mà là Lễ Xa-bát được tạo ra cho chúng ta. 

Một người mẹ trẻ kể cho tôi nghe câu chuyện này: Đứa con trai 6 tuổi của cô vừa mới đi học. Cô dạy cậu bé quỳ xuống cạnh giường hàng đêm trước khi đi ngủ và đọc vài kinh buổi tối. Một đêm nọ, chỉ sau khi bắt đầu đi học một thời gian ngắn, cậu bé nhảy phóc lên giường khi chưa quỳ xuống đọc kinh. Ngạc nghiên, cô hỏi con: “Con không cầu nguyện gì nữa hay sao?” Cậu trả lời: “Không, con không cầu nguyện. Cô giáo con ở trường nói với chúng con là chúng con không phải cầu nguyện. Cô nói là chúng con phải nói chuyện với Chúa… mà tối nay con mệt và chẳng có gì để nói cả!”

Giống Vua David, cậu bé cũng đã phân biệt được thế nào thật sự là đứa trẻ của Chúa và Chúa đúng thật không phải là một luật lệ để tuân theo mà là một sự hiện diện bao dung mong muốn một mối quan hệ thương yêu lẫn nhau, một mối quan hệ của nỗi sợ thiêng liêng.