RonRolheiser,OMI

Trong nghịch lý có đức hạnh 

Có một số câu phương ngôn cổ nói rằng đức hạnh và chân lý nằm ở giữa, giữa hai thái cực. Điều này được gọi là “phương kế hành động vàng (ôn hòa)” và được biểu đạt trong những cụm từ như “Đức hạnh thì ở xa các thái cực – In medio stat virtus” và “Đạo trung dung – Aurea mediocritas.” 

Nhưng ý nghĩa của nó có thể bị dễ dàng hiểu sai và cho rằng đức hạnh và chân lý được tìm thấy trong mẫu số chung nhỏ nhất, trong sự tầm thường. Thực ra đó là cách dịch nghĩa thô thiển cho cụm từ aurea mediocritas, nghĩa là sự tầm thường là vàng.

Tuy nhiên, điều mà những câu phương ngôn này thật sự nói tới không phải là một sự tầm thường nào đó để cố gắng tránh những rìa thô thiển của hai thái cực bằng cách khoanh lại trong một trung tâm xói mòn nào đó. Mà đúng hơn, chúng nói với ta rằng đức hạnh và chân lý nằm trong nghịch lý, trong việc mang sự thật của cả hai phía và sống trong lòng mối căng thẳng của tình trạng thiếu rõ ràng đó. Đức hạnh và chân lý không được tìm thấy bằng cách chọn “thế này/thế kia” hoặc chọn một chốn trung dung tẻ nhạt nào đó không có sự sắc sảo để cho hai bên phải khó chịu. Đức hạnh và chân lý nằm trong việc sống trong tình trạng “vừa thế này/vừa thế kia”, nghĩa là chứa đựng và cân bằng cái chân lý nằm trong cả hai thái cực.

Và không ở đâu điều này đúng hơn trong nhận thức tôn giáo, nghĩa là, trong vấn đề làm thế nào chúng ta nhận ra tiếng nói của Chúa trong đời mình. Tiếng Chúa thì thầm hay như sấm dậy? Tiếng Chúa nói trong đau đớn hay chúc lành? Chúa gọi chúng ta ra khỏi thế gian này hay dấn thân hơn vào thế gian? Chúa gọi chúng ta qua những gì thoải mái và thân thuộc hay vào những miền đất xa lạ? Chúa khuấy động hay an ủi chúng ta? Chúa được nhận ra trong những phép màu hay trong sự bất lực? Chúa nói thông qua người giàu hay thông qua kẻ nghèo, thông qua người có giáo dục hay người không có giáo dục? Tiếng Chúa làm chúng ta sợ hãi hay khiến chúng ta hết sợ? Tiếng Chúa nghe được nhiều hơn qua lòng mộ đạo hay đả phá tín ngưỡng? Chúa yêu cầu chúng ta từ bỏ những lạc thú của thế gian này hay hưởng thụ chúng?

Tiếng của Chúa là trong tất cả những điều đó. Nó được nghe thấy trong nghịch lý:

Tiếng Chúa được nhận ra trong tiếng thì thầm và lời êm nhẹ, cũng như nó được nhận ra cả trong sấm chớp. Chúa nói với tiên tri Êlia trong làn gió mát nhẹ nhàng, nhưng nói với vua Pharaô qua các cơn bệnh dịch.

Tiếng Chúa được nhận ra ở bất kỳ nơi nào có sự sống, niềm vui, sức khỏe, sắc màu, và sự hài hước, cũng như nó được nhận ra bất cứ nơi nào ta thấy có cái chết, đau đớn, nghèo nàn, và ngã lòng. Chúa có mặt như nhau vào Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh và ngày Chúa nhật Phục sinh. 

Tiếng Chúa được nhận ra trong những gì mời gọi chúng ta đến với điều cao hơn, đến những nơi cắt đặt riêng cho một nhiệm vụ, đến những gì mời gọi chúng ta vào đời sống thiêng liêng, cũng như gọi chúng ta đến với địa vị hèn mọn, mời gọi chúng ta hòa cá thể của mình vào nhân loại, và khước từ tất cả những gì phỉ báng tính nhân bản của chúng ta. Tiếng Chúa gọi ta ra khỏi những gì đơn thuần là con người cũng như mời gọi chúng ta khiêm nhường nhận lấy chỗ của mình giữa loài người. 

Tiếng Chúa được nhận ra trong những gì xem ra “xa lạ”, “kẻ lạ” trong đời sống chúng ta, cũng như được nhận ra trong những tiếng nói thân thuộc sâu sắc nhất gọi chúng ta về nhà. Tiếng Chúa đưa ta vượt lên trên bất kỳ thứ ngôn ngữ nào chúng ta biết cũng như khi chúng ta nhận ra nó một cách sâu sắc nhất trong tiếng mẹ đẻ của ta. 

Tiếng Chúa là tiếng thách thức chúng ta nhất, cũng như nó là tiếng duy nhất và tối hậu an ủi và xoa dịu chúng ta. Tiếng Chúa khuấy động những người thoải mái và xoa dịu những người đang bị khuấy động, nhưng nó cũng xoa dịu những người thoải mái và khuấy động những kẻ đang bị khuấy động.

Tiếng Chúa bước vào đời chúng ta như thể quyền năng vĩ đại nhất của mọi quyền năng, cũng như nó vĩnh viễn nằm trong tính dễ bị tổn thương, giống như đứa bé yếu ớt nằm trên cọng rơm. Tiếng Chúa tạo ra vũ trụ và giữ cho nó tồn tại, cũng như nó nằm trong thế giới của chúng ta và yếu đuối như một em bé sơ sinh. 

Tiếng Chúa được nghe thấy như một đặc ân đối với người nghèo, cũng như nó ra hiệu cho chúng ta qua tiếng nói của người nghệ sĩ và trí thức. Chúa ở trong người nghèo, cũng như ở nơi người nghệ sĩ và trí thức khi họ giúp vén mở những thuộc tính siêu nghiệm của Chúa. Tiếng Chúa mời gọi chúng ta sống vượt lên trên mọi nỗi sợ hãi, cũng như nó truyền cảm hứng về nỗi sợ hãi thiêng liêng. Khi Chúa xuất hiện trong lịch sử loài người, những lời nói đầu tiên của Người luôn luôn là: “Đừng sợ!” Sự có mặt của Chúa là để xóa tan mọi nỗi sợ hãi, cũng như mời gọi chúng ta sống trong “nỗi sợ hãi thiêng liêng”, trong sự tôn kính và trinh bạch giúp tạo ra một thế giới mà trong đó không ai phải sợ bất cứ điều gì. 

Tiếng Chúa được nhận ra trong lòng những món quà của Chúa Thánh thần, cũng như nó mời gọi chúng ta đừng bao giờ phủ nhận những điều phức tạp của thế giới mình và của chính đời sống của mình. 

Tiếng Chúa luôn luôn được nghe thấy ở bất kỳ nơi nào có niềm vui và lòng biết ơn đích thực, cũng như khi nó yêu cầu chúng ta khước từ bản thân mình, tự chết đi, và tương đối hóa mọi điều của thế gian này.

Dĩ nhiên, để chấp nhận điều này cũng có nghĩa là chấp nhận sống với sự không rõ ràng, phức tạp, không biết được, và rất nhiều kiên nhẫn. Tiếng Chúa lúc đó sẽ không còn rõ ràng như bản năng nền tảng mà chúng ta mong muốn, nhưng nó sẽ tự do vừa an ủi vừa thách thức chúng ta như chưa bao giờ từng như thế. 

Một bài học trong tình huống không ngờ tới

Giá như! Chúng ta thường xuyên nghe những câu nói đầy hối hận cay đắn: Giá như! Giá như tôi để ý trước! Giá như tôi chú ý hơn! Giá như tôi có thể gặp lại người đó, thậm chí chỉ năm phút thôi! Giá như ngay lúc đó tôi không có mặt ở đó! Giá như cơn bão không xảy ra ngay khi tôi đang ở trên xa lộ! Giá như tôi không uống thêm ly đó! Giá như tôi rời bữa tiệc sớm hơn mười phút! Giá như!

Tất cả chúng ta đều sống với những nỗi hối hận nhất định và với cái biết cay đắng rằng giá như mình đã để ý hơn hoặc kiên nhẫn hơn hoặc dũng cảm hơn hoặc yêu thương hơn ở một thời điểm nhất định thì cuộc sống của chúng ta hẳn sẽ rất khác. Giá như chúng ta có thể có lại những phút giây nhất định của đời sống mình, để làm lại khác hẳn.

Gần đây tôi có một phút giây như vậy. Đó chẳng phải là một giây phút trong đại cục lớn lao gì, nhưng theo cái cách nhỏ nhoi của nó, nó thật sự chứa đựng tất cả sức công phá của niềm hối hận cay đắng chất chứa mà chúng ta cảm thấy khi chúng ta nói: Giá như!

Chuyện gì xảy ra? Tôi bị mất một chiếc va-li (trong đó có hộ chiếu, Thẻ Xanh, máy tính xách tay, các quyển nhật ký cá nhân và các kế hoạch trong hai năm qua, và rất nhiều giấy tờ và hình ảnh cá nhân) khi tôi đang mua vé tàu điện ngầm ở Đường Tàu Điện Ngầm London. Tôi là người du hành có kinh nghiệm và thường mang chứng hoang tưởng về chuyện cảnh giác với hành lý, nhưng, như bất kỳ ai từng mất một cái ví hay va-li (hay, chắc chắc còn bi thảm hơn, mất một đứa bé) ở một nơi công cộng đều biết, chỉ mất một vài giây thiếu chú ý là thảm họa giáng xuống.

Trong trường hợp của tôi, chuyện xảy ra như thế này: Tôi chỉ vừa bước xuống khỏi tàu sau khi phát biểu tại một hội nghị, và trong khi chăn giữ kỹ lưỡng ba món hành lý của mình như thể chăn chiên, tôi đi một cầu thang cuốn để xuống tàu điện ngầm. Tôi đang tìm cách mua vé tàu điện ngầm mà cái máy tự động thì không hợp tác, và chỉ cần sự phân tâm nhỏ đó, trong một khoảng thời gian có lẽ chỉ một phút: tôi không nghĩ tới các hành lý của mình. Khi tôi nhìn xuống để xách, thì va-li của tôi đã biến mất. Mất một lúc tôi mới nhận ra điều gì đã xảy ra, và khi tôi chạy đi tìm nhân viên an ninh, tim tôi rơi tõm vào cái ý thức đầy đau đớn là chuyện đã quá muộn rồi, tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy được những gì ở trong cái va-li đó nữa. Khi tôi ngồi với viên cảnh sát, làm bản tường thuật về vụ việc, tôi cứ vô tình tự nói mãi với mình: Giá như! Giá như tôi không bị mất tập trung! Giá như tôi giữ hộ chiếu và thẻ xanh bên mình! Giá như tôi có thể vặn ngược đồng hồ cho chạy lại 10 phút đó của đời mình! Giá như! 

Tất cả chúng ta ai cũng từng trải qua như vậy, theo những cách lớn nhỏ khác nhau!

Bài học là gì? Tôi, hay bất kỳ ai, có thể học hỏi được điều gì từ những phút giây như thế?

Trước hết, chúng ta cần học cách nhìn nhận mọi việc trong cái nhìn toàn cảnh. Đôi khi một giây phút bất cẩn có những hậu quả to lớn không thể nào thay đổi được, như trường hợp mất một đứa bé hay một tai nạn nghiêm trọng cướp đi mạng sống; nhưng trong trường hợp của tôi, nó chỉ có nghĩa là mất vài vật dụng cá nhân, một ít tiền, và một thời gian gần hai ngày (đến các Đại sứ quán để làm lại hộ chiếu và thẻ xanh). Đó là một điều bất tiện khó chịu mà xét trong đại cục thì căn bản chỉ như một vết muỗi đốt. Trước lúc chết, chắc tôi cũng chẳng nhớ gì tới vụ việc này. Nhưng vào thời điểm đó, chẳng dễ dàng gì mà nhìn nhận được như vậy. Trong chính giây phút đó, ta dễ dàng đánh mất góc nhìn toàn cảnh.

Thứ hai, những vụ việc như thế này là nhằm dạy lòng kiên nhẫn. Dục tốc bất đạt! Nó cũng khiến ta nhất thời bất cẩn và gây ra các sự cố. Điều đó đã xảy ra với tôi bởi vì lúc đó tôi hấp tấp. Tôi đã muốn mua vé ở quầy khách hàng, nhưng ở đó có cả dãy người đang đợi, và, mặc dù tôi chẳng có lịch làm việc gì cấp bách, tôi vẫn quá thiếu kiên nhẫn nên không thể xếp hàng đợi. Tôi cố tiết kiệm năm phút, và sự thiếu kiên nhẫn đó cuối cùng làm tôi mất gần hai ngày xếp hàng tại các Đại sứ quán và văn phòng Di trú, bên cạnh những thứ khác. Hy vọng bài học này thấm thía. 

Cuối cùng, những vụ việc như thế này là nhằm dạy chúng ta thừa nhận và tha thứ cho những việc bất ngờ. Về mặt triết lý, việc bất ngờ có nghĩa là chúng ta sống với những giới hạn và những điều bất toàn, khác với Chúa độc lập và hoàn hảo. Đối với chúng ta, bất cứ ai trong chúng ta đều sẽ có những giây phút sao lãng, bất cẩn, rủi ro, thiếu kiên nhẫn một cách ngu ngốc, và lầm lẫn đạo đức. Triết gia Leibnitz đã nói điều nổi tiếng này – chúng ta không sống trong những vũ trụ toàn hảo khả dĩ.

Như vậy, luôn luôn sẽ có những cái ví bị mất, những va-li bị đánh cắp, những vật quý gia truyền bị làm vỡ, và, tệ hơn nhiều, những tai nạn bi thảm dẫn tới mất mát những đứa trẻ và những mạng sống. Cũng đôi khi sẽ có những giây phút bất cẩn về mặt đạo đức mà chúng ta sẽ thấy hối hận cay đắng. Chúng ta không phải là Chúa. Chúng ta gặp nhiều điều không ngờ. 

Vì vậy nếu lần tới có ai đó vô tình đánh rơi và làm bể cái bình hoa vô giá của bạn, thì đừng đáp lại bằng cái cau mày trừng phạt kiểu như nói: Làm sao anh có thể vụng về đến thế! Anh đã làm một việc kinh khủng! Thay vào đó, hãy làm cho ông già Leibnitz tự hào, hãy trao một nụ cười đầy hiểu biết kiểu như nói: Giờ thì anh cũng có điều không ngờ tới! 

Kiên nhẫn với Thiên Chúa 

Có một câu cách ngôn nói rằng người vô thần đơn giản chỉ là người không thể hiểu hình ảnh ẩn dụ. Thomas Halik, nhà văn người Séc, thì cho rằng người vô thần là người không đủ kiên nhẫn với Thượng đế.

Câu đó có nhiều phần đúng. Lòng kiên nhẫn với Thượng đế có lẽ là cuộc chiến đấu đức tin lớn lao nhất của chúng ta. Dường như Thượng đế chẳng bao giờ vội vã vì thế chúng ta sống với lòng kiên nhẫn, nó có thể thử thách đức tin mạnh mẽ nhất và trái tim kiên cường nhất.

Như tất cả chúng ta đều có thể chứng thực, cuộc sống không phải không có các nỗi chán chường cay đắng và đau đớn dày vò trái tim. Tất cả chúng ta đều sống với nhiều nỗi đau và căng thẳng không giải quyết được. Ai trong chúng ta mà không từng nếm qua đau ốm bệnh tật, thất bại nhiều kiểu khác nhau về mặt cá nhân cũng như công việc, một kiểu sỉ nhục nào đó, một biểu đạt không đầy đủ của bản thân, những nỗi mất mát người thân làm khô héo tâm hồn, một kiểu khát khao trong thất vọng, và nỗi đau bứt rứt vì bất toàn của cuộc sống? Trong cuộc sống này, chẳng hề có niềm vui trong trẻo, thuần khiết; đúng hơn mọi thứ đều đi kèm với bóng đen của nó. Thật sự trong chừng mực nào đó, chúng ta sống trong thung lũng nước mắt.

Chúng ta được tạo ra để tìm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc thuần khiết chẳng bao giờ tìm tới chúng ta. Dường như công lý cũng thế. Chúa Giêsu hứa rằng ai theo Người sẽ được phần thưởng nhưng dường như phần lớn không được như vậy. Những người hung hăng nhất trong số chúng ta thường tin vậy. Có một phim hoạt hình khét tiếng về Ziggy có cảnh Ziggy đang cầu nguyện với Thượng đế như sau: tôi chỉ muốn Ngài biết là những kẻ nhu mì vẫn bị đánh tơi tả dưới này. Dường như thường thường là như vậy. Vậy thì Chúa ở đâu? Đâu là sự thật trong lời Chúa hứa ai theo Người sẽ được phần thưởng trên trái đất này?

Trước sự bất công dai dẳng trên toàn cầu, chúng ta hoặc sống trong nỗi kiên nhẫn chịu đựng với Chúa hoặc chúng ta đi đến chỗ tin rằng những lời hứa của Chúa lẫn sự tồn tại của Chúa đều là những điều không đúng sự thật.

Khi Chúa chết trên thập giá, một số người đứng xem châm chọc Người và thách thức thông điệp của Người với lời lẽ như sau: Nếu ngươi là con Thiên Chúa, thì để Thiên Chúa đến cứu ngươi đi! Về căn cốt, điều đó nghĩa là: nếu Thiên Chúa là có thật và nếu thông điệp của ngươi là chân thật, thì hãy chứng minh ngay bây giờ đi! Điều này cũng đúng với Chúa Giêsu trước cái chết của ông Ladarô. Căn cốt, Người đang bị thách thức: nếu ngươi sở hữu quyền năng của Thiên Chúa trên thế gian này và ngươi thương yêu người đàn ông này, thì tại sao ngươi không cứu ông ta khỏi chết? Chúa Giêsu để Ladarô chết! Và cộng đoàn tín đồ đầu tiên, ngay sau lễ Chúa về trời, đã đau đớn đấu tranh với câu hỏi đó – Giêsu là Chúa và là người thương yêu chúng ta – vậy tại sao Người để chúng ta chết?

Mỗi người trong chúng ta đều đặt câu hỏi đó theo cách riêng của mình, vì điều chúng ta muốn là một vị Chúa cứu nạn cho chúng ta, can thiệp tích cực vì công lý và điều thiện trên thế gian này, người hành động một cách có thể nhận thấy được trong cuộc sống này, và người không để chúng ta đau ốm và chết đi. Không ai trong chúng ta muốn một vị Chúa đòi hỏi chúng ta sống trong kiên nhẫn cả đời, dựa trên lời hứa rằng cuối cùng, dù đó là khi nào đi chăng nữa, tình yêu và công lý cũng sẽ chiến thắng, mọi nước mắt sẽ khô, và mọi chuyện cuối cùng đều tốt đẹp. Chúng ta muốn sự sống, tình yêu, công lý và sự hưởng thụ ngay bây giờ, không phải ở một tương lai xa xôi và chỉ sau khi đã sống một cuộc đời đầy đau thương. Chúa, như một câu ngạn ngữ cổ Do Thái đã nói, không bao giờ vội vàng!

Và thế là chúng ta sống với nỗi nôn nóng với Chúa, cả bộc lộ ra lẫn không được bộc lộ ra. Có vẻ như, những người vô thần, ở một thời điểm nhất định, chỉ đơn giản là từ bỏ cuộc chơi, và, về căn bản, họ nói thế này: tôi đã thấy đủ rồi; tôi đã chờ đợi đủ rồi; mà như vậy lại chưa đủ! Tôi sẽ không bao giờ đợi Chúa nữa! Nhưng nếu vô thần chỉ là một cách khác để nói rằng tôi không bao giờ đợi Chúa nữa, thì điều ngược lại cũng đúng: Đức tin chỉ là một cách nói khác: Tôi sẽ chờ đợi Chúa. Nếu vô thần là thiếu kiên nhẫn, thì đức tin là kiên nhẫn. 

Tác giả thiêng liêng người Ý, Carlo Carretto, sau khi dành trọn hai mươi năm đi tu trong cô độc ở sa mạc Sahara, khi hỏi ông điều gì là điều duy nhất ông cảm thấy Chúa hay nói với ông trong im lặng lâu dài và sâu sắc, ông nghe thấy Chúa nói gì với thế giới? Câu trả lời của ông là: Chúa bảo chúng ta cứ chờ đợi, cứ kiên nhẫn!

Tại sao lại cần lòng kiên nhẫn lớn lao như vậy? Chẳng lẽ Chúa muốn thử chúng ta? Chẳng lẽ Chúa muốn xem chúng ta thật sự có đức tin xứng đáng với phần thưởng lớn lao hay không? Không. Chúa chẳng cần phải bày ra trò chơi đó, và chúng ta cũng không cần. Không phải là Chúa muốn thử thách lòng kiên nhẫn chúng ta. Sự cần thiết cho lòng kiên nhẫn phát sinh từ những giai điệu bẩm sinh bên trong bản thân cuộc sống và bản thân tình yêu thương. Chúng cần mở ra, như những bông hoa và cuộc thai nghén, theo nhịp bẩm sinh riêng của chúng và theo thời gian phù hợp riêng của chúng. Chúng ta không thể vội vàng trong những chuyện đó, cho dù nỗi thiếu kiên nhẫn hay nỗi khó chịu của chúng ta lớn như thế nào đi nữa..

Chúng ta cũng không thể vội vàng với Chúa bởi vì chính lịch thời gian của Người bảo vệ chúng ta, để chúng ta không bị sinh non trên con đường tăng trưởng tình yêu và cuộc sống vỉnh cữu.

Những tiếng gọi mạnh mẽ từ bên trong

Trong rất nhiều tiếng nói đang kêu gọi chúng ta, thật khó để phân định được đâu là tiếng nói của chân lý. Thậm chí còn khó phân định được khi nào thì chúng ta thật sự chân thành: Thật sự tôi là ai? Cái gì phù hợp đích thực với lợi ích tốt đẹp nhất của tôi? Trong số nhiều tiếng gọi tôi nghe thấy, đâu là tiếng gọi mà cuối cùng sẽ mang tôi đến với cuộc đời? Đâu là tiếng nói của Chúa trong đời tôi?

Vô số tiếng gọi từ bên ngoài đang tấn công chúng ta không ngưng nghỉ: bảng thông báo tin tức, truyền hình, báo chí, internet, ý thức hệ, tôn giáo, nghệ thuật, văn hóa bình dân, thời trang, chiến dịch quảng cáo, sức hút của những người nổi tiếng, và nhiều thứ khác. Nhưng thường thì chúng ta cũng không khó khăn mấy để nhận ra mình đang bị những tiếng gọi này tấn công túi bụi, những tiếng gọi này đều có những yêu cầu giới hạn của nó. Mỗi thứ mỗi yêu cầu: chúng muốn túi tiền, lá phiếu, sự yểm trợ, lòng thông cảm, lòng trung thành, chú ý, tham gia, ngưỡng mộ của chúng ta, hay một điều gì đó khác từ chúng ta. Tinh tế không phải là phẩm chất của chúng và thường chúng ta cũng không ngây thơ đến mức nghĩ rằng chúng hết sức lưu tâm đến lợi ích tốt đẹp nhất của ta; mặc dù trong một số trường hợp, như tôn giáo, nghệ thuật và thời trang, những biểu đạt tốt đẹp nhất của chúng là để cho chúng ta hưởng lợi. Nhưng chúng ta không dễ gì bị thuyết phục bởi những tiếng gọi từ bên ngoài. 

Chỗ mà chúng ta ngây thơ hơn là với những tiếng gọi và những tiếng nói từ bên trong tự cho là đang nêu lên chân lý. Bởi vì những tiếng nói này nằm trong lòng chúng ta nên điều tự nhiên là chúng ta nghĩ chúng rất quan tâm đến những lợi ích tốt đẹp nhất của chúng ta, rằng chúng nói vì ta, rằng chúng là tiếng nói của chân lý. 

Những tiếng nói tấn công chúng ta từ bên trong, cũng như tiếng nói từ bên ngoài, là gì? Đây là một số ví dụ nổi bật:

Tiếng nói của vĩ cuồng cá nhân, bản ngã, tư lợi, và biếng nhác. Bản chất của chúng ta không phải là vì người khác. Do các bản năng tự nhiên của mình, chúng ta đến thế giới này với bản năng cố hữu là tự kiêu, coi mình là trung tâm, tự yêu mình, và quan tâm trước và trên hết đến an lạc, vui thú và tiện nghi của chính mình. Khi trưởng thành, chúng ta biết rằng tiếng nói tư lợi không hẳn là tiếng nói gọi chúng ta đến với cuộc đời; nhưng, ở phía bên này của vĩnh cửu, tiếng nói đó không bao giờ tắt và luôn luôn vẫn còn trong lòng chúng ta như là một tiếng nói sẵn sàng át đi tất cả các tiếng nói khác.  
Tiếng nói của vết thương và nỗi tức giận. Không ai lớn lên mà không hề va chạm. Đây không phải là chuyện liệu chúng ta bị tổn thương hay không, nhưng vết thương này là gì, và ở đâu. Tiếng nói của tổn thương luôn luôn cất lên trong lòng chúng ta, vừa vi tế vừa không vi tế, thôi thúc chúng ta bất kính, thấy mình bị coi thường, bị xúc phạm, tức giận và hằn học. Chẳng ai miễn nhiễm được. Tiếng nói này mãi mãi nói với chúng ta rằng bệnh đa nghi, chứ không phải niềm ăn năn hối hận, là cái sẽ dẫn dắt chúng ta đến với cuộc đời.  
Tiếng nói của trầm cảm về mặt cảm xúc và tâm lý. Trầm cảm dễ ngụy trang dưới tấm áo của lòng vị tha, tâm hồn sâu sắc, đời sống thiêng liêng, và do đó nó có thể lừa bằng cách làm cho chúng ta tin rằng tinh thần trì trệ như thế này mới tạo nên cuộc sống, trong khi thật sự nó đã rút hết sức lực và sự sống của cơ thể và tâm hồn chúng ta. Thường thường tiếng nói của trầm cảm hay bị nhầm với tiếng nói của tôn giáo vì nó có vẻ như vinh danh cho khắc khổ, những chuyện của một thế giới khác và là bước thử thách, trong khi thực tế không phải vậy.  
Tiếng nói của ủy mị và sùng tín. Ủy mị và sùng tín rất dễ bị nhầm với thấu cảm đích thực và tận hiến đích thực. Nhưng có một khác biệt rất dễ nhận ra: Trong thấu cảm đích thực và tận hiến đích thực, những giọt nước mắt khóc là khóc cho người khác, còn trong ủy mị và sùng tín, những giọt nước mắt khóc là khóc cho chính mình. 

Tiếng nói của nỗi ám ảnh, của những “thiên thần” và “quỷ dữ” bên trong. Có một tranh cãi từ xưa về chuyện điều gì ảnh hưởng tối thượng lên hành vi của chúng ta: do bản tính hay do giáo dưỡng? Gen di truyền hay môi trường? Một số nhà tư tưởng, trong đó có James Hillman, sẽ cho rằng điều ảnh hưởng nhất đến hành vi chúng ta không phải là bản tính cũng không phải là giáo dưỡng, mà do những “tay ma lanh” (daimon) bên trong tấn công chúng ta, gây ám ảnh, tước mất tự do của chúng ta. Bất kỳ ai đã từng yêu trong bất lực và tuyệt vọng đều nhận ra chính xác những gì “quỷ dữ” hay “thiên thần” bên trong có thể làm được. Có một số ít lực lượng làm tê liệt đời sống chúng ta và có một số ít tiếng nói có thể khiến cho chúng ta tin sâu sắc rằng một người nào đó (và chỉ duy nhất người này) mới có thể mang chúng ta đến với cuộc sống. Nếu bạn là người lãng mạn, tiếng nói này sẽ vừa là nguồn năng lượng lớn nhất vừa là nguồn gây phiền muộn lớn nhất đời; và như kinh nghiệm cay đắng cho thấy, không phải lúc nào nó cũng là tiếng nói của cuộc đời.  
Tiếng nói của mô thức tâm lý, gen, sắc tộc và giới tính. Máu thì đậm hơn nước lã, và đó là một thứ tiếng nói rất mạnh mẽ trong lòng chúng ta mà chẳng bao giờ hoàn toàn im lặng. Chúng ta không đến thế giới này như tấm giấy ảnh trinh trắng trên đó chưa từng in gì. Đúng hơn, chúng ta bước vào cuộc đời với một tiềm năng ADN mạnh mẽ, cả ở trong cơ thể lẫn trong tâm hồn, trong đó nhiều điều đã được in dấu đậm không thể nào xóa được. ADN của chúng ta, về mặt cơ thể lẫn tâm lý, vẫn luôn luôn là tiếng nói mạnh mẽ bên trong, và, giống như tiếng nói của chứng vĩ cuồng cá nhân, không phải lúc nào nó cũng hết lòng quan tâm đến lợi ích tốt đẹp nhất của chúng ta.

Chẳng có câu trả lời dễ dàng nào thích đáng để đối xử với những tiếng nói bên trong này chúng ta, nhưng, theo lời James Hillman, một triệu chứng sẽ gây đau đớn nhất khi không biết nó thuộc về cái gì!

Những điều chúng ta hiểu sai về tự tử

Hàng năm tôi đều viết một bài về tự tử vì có quá nhiều người phải sống trong nỗi đau mất mát một người thân yêu theo cách đó. Hiếm có tuần nào mà tôi không nhận được một bức thư tay, một thư điện tử hay một cuộc điện thoại từ một người nào đó vừa mới mất một người thân vì họ tự tử. Trong gần như mọi trường hợp, có một nỗi buồn bã kèm theo là thật sự chẳng có mấy tài liệu gì, dù là tôn giáo hay thế tục, để giúp an ủi những người ở lại đầy đau thương mất mát đó. Một người bạn của tôi, người mà suốt trong những năm dài tối tăm phải tìm cách sống vượt lên nỗi đau mất người chồng do tự tử, một ngày nọ dự định viết một quyển sách để cố gắng an ủi những người ở lại đầy đau thương. Có một nhu cầu ghê gớm đối với chỉ một quyển sách như vậy.

Khi một người gần gũi với chúng ta chết vì tự tử, chúng ta sống với một nỗi đau chứa nhiều hoang mang (“Tại sao?), tội lỗi (chúng ta hẳn vẫn có thể làm được điều gì?”), hiểu lầm (“Đây là dạng tuyệt vọng tột bậc”) và – nếu chúng ta có tín ngưỡng – cả những nỗi ray rứt tôn giáo sâu sắc (“Làm thế nào mà Chúa lại đối xử như vậy với một người như thế? Số mệnh vĩnh cửu của người đó sẽ ra sao”)

Cần nói điều gì về chuyện tự tử? với rủi ro là lặp lại những gì tôi đã viết năm này sang năm khác:

Trước hết, đó là một căn bệnh, một chuyện mà trong hầu hết trường hợp đã đem một người ra khỏi cuộc đời này trái với ý muốn của người đó, căn bệnh về cảm xúc tương đương với bệnh ung thư, một cơn đột quỵ, hay một cơn đau tim. Thứ hai là, chúng ta, những người thân yêu còn ở lại, không nên dành thời gian và năng lượng không đáng để đoán mò xem mình đã hắt hủi người đó ra sao, chúng ta hẳn đã nên để ý điều gì, và điều gì chúng ta hẳn vẫn có thể làm được để ngăn chặn việc tự tử đó. Tự tử là một căn bệnh, và cũng như những căn bệnh thân thể thuần túy, chúng ta yêu thương một người nhưng vẫn không thể cứu người đó khỏi chết. Chúa cũng yêu thương người này, và giống chúng ta, Người cũng không thể can thiệp vào tự do của người đó. Cuối cùng, chúng ta không nên quá lo lắng về chuyện làm thế nào Chúa gặp được người thân yêu của ta ở bên kia thế giới. Tình thương yêu của Chúa, khác với tình thương yêu của chúng ta, có thể đi qua những cánh cửa khóa chặt, đi xuống địa ngục, và thở những hơi thở an bình ở những nơi chúng ta không thể. Phần lớn những người chết do tự tử sẽ thức dậy ở phía bên kia và thấy Đức Ki-tô đang đứng bên trong căn phòng khóa kín của họ, bên trong trái tim hỗn loạn của họ, thở ra hơi thở bình an và nhẹ nhàng nói: “Cầu mong con yên nghỉ!”

Nhưng mỗi năm tôi cũng nhận rất nhiều thư phê phán nói rằng tôi đang coi nhẹ vấn đề tự tử bằng cách giảm nhẹ mức độ cấm kỵ tối hậu của nó và do đó khiến cho người ta dễ dàng thực hiện chuyện đó hơn: Chẳng phải bản thân G.K. Chesterton đã từng nói, khi giết chính mình, anh đã lăng nhục từng bông hoa một trên trái đất này? Thế thì chuyện này là sao?

Chesterton nói đúng, khi tự tử thật sự là một hành động tuyệt vọng trong đó một người tự giết mình. Nhưng trong hầu hết các trường hợp tự tử, tôi ngờ rằng điều đó không đúng bởi vì có một sự khác biệt lớn lao giữa chuyện là nạn nhân của tự tử và chuyện giết bản thân mình. 

Trong tự tử, một người, do bệnh tật theo bất cứ kiểu gì, bị đem ra khỏi cuộc đời ngoài ý muốn của người đó. Nhiều người trong chúng ta đã biết những người thân yêu chết vì tự tử và chúng ta biết rằng trong gần như mọi trường hợp, người đó là phản đề của kẻ ích kỷ, kẻ tự yêu bản thân mình, kẻ quá mức kiêu ngạo, chai lì, người không chịu thay đổi và từ chối chấp nhận vị trí của mình trong một tình trạng hèn kém và đổ vỡ, vì tự hào. Thường là ngược lại. Người chết bằng tự tử đó có các vấn đề độc hại như ung thư bởi vì người đó quá nhạy cảm, quá tổn thương, quá non nớt, và đã mang đầy thương tích đến nỗi không thể có được độ gan lì cần thiết để chịu được nhiều cú đấm của cuộc đời. Tôi nhớ một lời nhận xét mà một lần tôi nghe thấy trong một lễ tang. Chúng tôi vừa chôn cất một chàng trai, một người đã tự tử do chịu đựng quá sức bệnh trầm cảm. Vị linh mục đã thuyết giảng rất tệ, ám chỉ rằng vụ tự tử này cách nào đó là lỗi lầm của riêng chàng trai, và tự tử bao giờ cũng là hành động tuyệt vọng tột bậc. Trong buổi tiếp tân theo sau đó, một người hàng xóm của chàng trai đã đứng lên và bày tỏ bất mãn với lời thuyết giảng của vị linh mục: “Có rất nhiều người trên thế giới này cần phải tự giết mình, nhưng họ sẽ chẳng bao giờ làm vậy! Nhưng người con trai này là người cuối cùng trên thế giới phải giết mình; anh là người nhạy cảm nhất tôi từng gặp!” Quá đúng.

Giết mình là chuyện khác. Đó là cách mà một số kẻ như Hitler ra khỏi cuộc đời này. Trên thực tế, Hitler đúng là đã giết bản thân mình. Trong trường hợp như vậy, người đó không phải là quá nhạy cảm, quá khiêm tốn, quá mang nhiều thương tích đến nỗi không chạm đến được những người khác và được người khác chạm đến. Mà là trái lại. Người đó quá tự hào đến nỗi không thể chấp nhận vị trí của mình trong một thế giới mà rốt cuộc đòi hỏi sự khiêm cung từ tất cả mọi người.

Có một khoảng cách xa vô tận giữa một hành động thực hiện vì yếu đuối và một hành động thực hiện vì sức mạnh. Cũng vậy, có một sự phân biệt tuyệt đối rõ ràng giữa chuyện quá tổn thương đến nỗi không thể tiếp tục tiếp xúc cuộc đời với chuyện quá tự hào không thể tiếp tục chấp nhận vị trí của mình trong cuộc đời đó. Chỉ hành động sau mới phạm đến đạo đức, lăng nhục các bông hoa, và thách thức lòng lành của Chúa. 

Khát khao cô tịch 

Tám trăm năm trước, nhà thơ Rumi đã viết: Điều tôi muốn làm là vọt ra khỏi con người tôi và ngồi tách hẳn ra. Tôi đã sống quá lâu ở nơi người ta có thể tìm tới.

Chẳng phải điều đó đúng với tất cả chúng ta hay sao, đặc biệt ngày nay! Đời sống của chúng ta thường xuyên giống như cái va li bị nhét quá tải. Gần như lúc nào chúng ta cũng cũng bận rộn, cũng đầy áp lực, còn một cú điện thoại phải gọi, còn một tin phải nhắn, một e-mail phải gởi đi, một chuyến thăm còn chờ, một nhiệm vụ chưa làm. Mãi mãi chúng ta lo lắng về những thứ chúng ta vẫn còn để đó chưa làm, về người mà chúng ta đã làm cho họ thất vọng, về những kỳ vọng không được đáp ứng.

Hơn nữa, trong mọi chuyện này, bao giờ người khác cũng có thể tìm tới được với chúng ta. Chúng ta chẳng có hòn đảo tĩnh lặng nào để trốn, chẳng có nơi ẩn náu cô tịch nào. Khi nào người khác cũng tìm được chúng ta. Một nửa thế giới có số điện thoại liên hệ với chúng ta và chúng ta chịu áp lực phải có mặt ở đó bất cứ khi nào. Rất thường xuyên chúng ta cảm thấy mình như đang ở trong guồng lao dịch mà chúng ta khao khát thoát ra. Và giữa tất cả trận đồ bận túi bụi, áp lực, ồn ào và mệt mỏi đó, chúng ta khao khát cô tịch, khao khát một tĩnh lặng nào đó, một hòn đảo bình yên nơi chấm dứt mọi áp lực và tiếng ồn để đơn giản chúng ta có thể ngồi xuống nghỉ ngơi. 

Đó là ước ao lành mạnh. Tâm hồn chúng ta đang lên tiếng. Giống như thân thể, tâm hồn cũng liên tục cố gắng báo cho chúng ta biết nó muốn gì. Nó cần cô tịch. Nhưng tìm cô tịch thì chẳng dễ dàng. Tại sao?

Cô tịch là thứ khó nắm bắt, nó cần tìm chúng ta hơn chúng ta tìm nó. Chúng ta có khuynh hướng hình dung cô tịch một cách rất ngây ngô, như một cái gì đó chúng ta có thể “đắm mình trong đó” như đắm mình trong bồn nước ấm. Chúng ta có xu hướng hình dung cô tịch như sau: Chúng ta bận rộn, đầy áp lực, và mệt mỏi. Cuối cuần chúng ta có dịp thoát được áp lực này. Thuê một căn nhà nhỏ, có đầy đủ mọi thứ, lò sưởi, khu rừng ẩn mật. Chúng ta đem theo thức ăn, rượu vang, vài đĩa nhạc nhẹ và chúng ta để điện thoại, iPad hay máy tính xách tay ở nhà. Đây sẽ là một cuối tuần tĩnh lặng, thời gian để uống rượu vang bên lò sưởi và lắng nghe chim hót, một thời cô tịch.

Nhưng sự cô tịch không thể được lập trình dễ dàng như vậy. Chúng ta có thể thiết lập những điều kiện tối ưu cho nó, nhưng điều đó không bảo đảm rằng chúng ta sẽ tìm thấy nó. Nó phải tìm thấy ta, hoặc, nói chính xác hơn, một điều nào đó bên trong ta phải được đánh thức cho nó có mặt. Tôi xin chia sẻ một trải nghiệm của bản thân như sau:

Vài năm trước, khi còn dạy thần học ở một trường đại học, tôi thu xếp để sống ở tu viện Xi-tô hai tháng hè. Tôi đi tìm cô tịch, tìm cách sống chậm lại. Tôi vừa xong một học kỳ đầy áp lực, vừa dạy, vừa đảm nhiệm công việc hành chánh, tổ chức các buổi nói chuyện và hội thảo, và cố gắng viết đôi chút nữa. Tôi đã tưởng tượng ra hình ảnh gần-như-ngọt ngào về những gì sẽ gặp tôi ở tu viện đó. Tôi sẽ có hai tháng tuyệt vời trong cô tịch: Tôi sẽ đốt lò sưởi trong phòng, ngồi yên lặng bên cạnh. Tôi sẽ thinh lặng đi dạo trong khu rừng đằng sau tu viện. Tôi sẽ ngồi trên chiếc ghế đu ven hồ và châm tẩu hút. Tôi sẽ thưởng thức món ăn ngon lành, ăn trong yên lặng, tai nghe một thầy đọc to giọng một đoạn trong sách thánh, và tuyệt vời nhất, tôi sẽ cùng các thầy cầu nguyện – cùng hát trong ca đoàn, dâng thánh lễ, và cùng họ thiền tọa tĩnh lặng trong nhà nguyện an bình. 

Tôi đến tu viện vào giữa chiều, vội vàng dỡ đồ đạc ra, và ngay lập tức bắt tay vào làm những việc trên. Đến chiều muộn tôi đã “phạt sạch”, giống như bãi cỏ đợi để được cắt từ lâu: Tôi đã châm lò sưởi và ngồi cạnh. Tôi đã đi dạo trong rừng, đã ngồi trên chiếc ghế đu cạnh hồ hút tẩu thuốc, đã cùng với các thầy hợp ca trong giờ kinh chiều, đã ngồi thiền với họ nửa giờ sau đó, đã ăn tối ngon lành trong im lặng, và rồi lại cùng với họ hát trong buổi lễ cuối ngày. Đến giờ đi ngủ trong buổi tối đầu tiên thì tôi đã làm xong tất cả mọi thứ mà tôi ao ước nó sẽ đem lại cho mình một sự cô tịch nào đó, và tôi đi ngủ mà lòng không yên, nhấp nhỏm lo lắng rồi đây không biết làm sao sống qua được hai tháng không ti vi, không báo chí, không điện thoại, không gặp gỡ bạn bè, và không những công việc đều đặn để làm xao lãng bản thân. Tôi đã làm tất cả những hoạt động cô tịch đúng đắn mà không tìm thấy cô tịch, thay vào đó tôi lại thấy bất an. Mất vài tuần cơ thể và tâm trí tôi mới chậm lại đủ để tôi tìm được yên tĩnh căn bản trước khi tôi có thể bắt đầu nhấm nháp bờ rìa của cô tịch. 
Cô tịch không phải là cái gì chúng ta có thể vặn một cái là chảy ra ngay như nước máy. Nó cần một cơ thể và tâm trí chậm lại để chú ý tới phút giây hiện tại. Chúng ta ở trong cô tịch khi, như Merton nói, chúng ta trọn vẹn nếm được vị của nước đang uống, cảm nhận được hơi ấm của tấm chăn đang đắp, và yên tĩnh đủ để hài lòng với bản thể chính mình. Chúng ta thường không làm được điều đó, cho dù nỗ lực thiết tha, nhưng chúng ta cần tiếp tục những khởi đầu mới mẻ. 

Cuộc đời do thần cảm thúc đẩy

Mysticism (thần cảm) là một từ kỳ lạ. Ít người trong chúng ta liên hệ thần cảm với trải nghiệm bình thường, đặc biệt với trải nghiệm của chính chúng ta. nhìn chung được coi như là một điều kỳ lạ, một điều dị thường, một loại ý thức đặc biệt chỉ trao cho những người ưu tú nhất trong đời sống thiêng liêng, một điều dành cho các vận động viên thiêng liêng, hay cho những viễn cảnh huyền cảm, những trạng thái khác của ý thức, kiểu trò chơi “rắn và thang” (bạn phải trả lời cho đúng câu hỏi, nếu không bạn sẽ bị tụt thang đi lại từ đầu) trong đời sống thiêng liêng.

Nhưng thần cảm không phải là phi thường, dị thường, huyền cảm, mà là một trải nghiệm bình thường, quan trọng được trao cho tất cả chúng ta. 

Thần cảm là gì? Ruth Burrows, nữ tu sĩ dòng Kín người Anh, định nghĩa như sau: Thần cảm là được Chúa chạm đến một cách sâu thẳm hơn ngôn ngữ, suy nghĩ, tưởng tượng và cảm nhận. Đó là biết Chúa và bản thân chúng ta vượt lên trên suy nghĩ và cảm nhận rõ ràng. 

Nhưng làm sao điều này lại có thể xảy ra? Làm sao chúng ta biết được điều gì đó vượt lên trên khả năng chúng ta nói về nó, tưởng tượng về nó hay thậm chí cảm nhận nó rõ ràng?

Có lẽ mô tả sau đây của Ruth Burrows về một trải nghiệm làm biến đổi cuộc đời của bà có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn: Trong cuốn tự truyện Trước Cuộc Sống Có Chúa (Before the Living God), bà chia sẻ câu chuyện sau: Khi còn là thiếu nữ trẻ 18,19 tuổi, một hôm bà ngồi trong nhà nguyện, bà ở đó không phải vì mục đích cầu nguyện gì cụ thể, mà vì bị phạt phải ngồi ở đó, vì đã hành xử cá biệt trong một chuyến đi chơi dã ngoại của lớp. Khi ngồi một mình trong nhà nguyện, bà trải qua một điều thần cảm, không phải có thiên thần hiện đến hay có một viễn tượng đặc biệt nào đó hay một trạng thái ý thức khác nào. Ngược lại: ngồi trong nhà nguyện đó bà có một giây phút trong sáng hiếm hoi, giản dị, đầy đặc ân, đặt nền móng sâu sắc trong tự thân và trong hiện tại, nơi mà, vào giây phút đó, bà tiếp xúc với cái sâu sắc nhất và chân thực nhất trong lòng mình và với cái sâu sắc nhất và chân thực nhất trong lòng thực tại. Và, lúc đó, bà biết, vượt lên trên những ngôn từ rõ ràng, sức tưởng tượng và cảm nhận, một điều gì đó về thực tại của Chúa và một điều gì đó về bản thể chân thực nhất của mình. Trải nghiệm này đã biến đổi cuộc đời bà. Trong giây phút đó, bà biết bà phải làm gì, và trái với phần lớn khí chất của bà, bà trở thành một nữ tu chiêm nghiệm – và cuối cùng, tất nhiên, một phụ nữ với tầm sáng suốt tâm linh đã hướng dẫn cho rất nhiều người trong số chúng ta. 

C.S. Lewis, khi chia sẻ về việc ông trở lại đạo, mô tả một điều tương tự, mặc dù trải nghiệm của ông là một trải nghiệm kéo dài hơn và kết tinh thành một giây phút trong sáng đầy đặc ân, và giây phút đó đã khiến ông tiếp xúc với những gì sâu sắc nhất và chân thực nhất trong lòng mình và trong bản thân thực tại. 

Tả lại trong cuốn tự truyện Kinh Ngạc Trước Niềm Vui (Surprised by Joy) về giây phút đầu tiên ông quỳ xuống tiếp nhận Chúa Kitô, ông kể rằng, đối với ông, giây phút đó chẳng hề có chút mê ly nào cả. Đúng hơn, ông quỳ xuống như một “kẻ trở lại đạo miễn cưỡng nhất trong toàn bộ lịch sử Kitô giáo”. Nhưng ông quỳ xuống bởi vì, như ông miêu tả: “Tôi đã đi đến chỗ nhận ra rằng sự khắc nghiệt của Chúa còn tốt hơn sự dịu dàng của con người, và sự cưỡng bách của Chúa là sự giải phóng cho chúng ta.”

Lewis hiểu sự cưỡng bách của Chúa như thế nào? Cũng rất giống cách bà Ruth Burrows hiểu về trải nghiệm thần cảm, nghĩa là giây phút trong trẻo giản đơn khi chúng ta chạm đến và đi tới chỗ nhận ra cái gì sâu sắc nhất và chân thực nhất trong lòng mình và trong bản thân thực tại, và trong sự trong trẻo đó, chúng ta biết điều gì mình phải làm – ngược lại với những gì mà trí thông minh của chúng ta nghĩ rằng nếu làm thì mới khôn ngoan hay những gì mà trái tim chúng ta xúc động muốn làm. Lewis trở thành Kitô hữu vì ông chạm với trải nghiệm này từ trọng tâm thần cảm của mình và nó nói với ông điều ông phải làm. 

Vậy cái gì tạo nên trọng tâm thần cảm của chúng ta? Bernard Lonergan gọi đó là những nguyên lý đầu tiên – tính toàn thể, chân lý, tính thiện, và cái đẹp – trong tâm hồn con người. Henri Nouwen gọi đó là “mối tình đầu”, nghĩa là cái ký ức xa mờ về một lần từng được yêu thương và vuốt ve bởi đôi bàn tay dịu dàng hơn bất cứ đôi bàn tay nào chúng ta từng gặp trên thế gian này, ký ức trong tiềm thức về việc đã cùng với Chúa trước khi chúng ta sinh ra đời. Một số nhà thần cảm gọi đó là ký ức ban đầu về cái hôn của Chúa khi người thổi linh hồn vào thân thể chúng ta. 

Phần lớn chúng ta không biết gọi tên nó là gì, nhưng chúng ta nói về điều gì đó như là “reo lên sự thực” hoặc “không reo lên sự thực”. Nhưng một cái gì đó reo lên sự thực hay không reo lên sự thực với điều gì? Chúng ta có mang một loại “chuông” nào đó trong lòng chúng ta hay không? Trên thực tế chúng ta có. Chúng ta gọi đó là lương tâm/ý thức, trung tâm sâu sắc nhất của chúng ta, trung tâm luân lý của chúng ta, trung tâm này nói với chúng ta những gì chúng ta phải làm, hoặc đó là một nơi trong lòng ta khao khát một người bạn tâm giao, nhưng chúng ta đều biết có một nơi trong lòng chúng ta, một nơi chúng ta chạm đến trong những phút giây thành thực nhất của mình, nơi chúng ta biết đến kiểu các nguyên lý đầu tiên, manh nha nhớ đến nụ hôn của Chúa, và biết chúng ta cần làm gì để chân thực với chính mình. 

Khi chúng ta tiếp xúc với trung tâm sâu sắc này và hành động theo những thôi thúc và mệnh lệnh của nó, thì, như Ruth Burrows và C.S. Lewis, chúng ta đang sống một cuộc đời do thần cảm thúc đẩy. 

Ngày của Cha

Hàng năm chúng ta đều kỷ niệm “Ngày của Cha”, ngày mà chúng ta được mời gọi để nói lên lòng biết ơn với người cha. Đối với một số người đây là chuyện dễ dàng vì họ có một người cha tốt, đối với một số người khác, đây là điều khó khăn: Làm sao mình biết biết ơn người cha khi cha của mình phần lớn thời gian vắng mặt trong cuộc đời hoặc ngược đãi mình?

Đáng buồn thay, thế giới của chúng ta có quá nhiều người cha vắng mặt và ngược đãi. Vì vậy, nhiều người trong chúng ta đi suốt cuộc đời trong cố gắng chật vật, dù vô thức, để tìm cho được thăng bằng lành mạnh giữa tự do và kỷ luật. Thay vào đó chúng ta luôn luôn giao động giữa một bên là quá khắt khe với bản thân và một bên là quá dễ dãi với bản thân. 

Hơn nữa, nếu chúng ta có một người cha vắng mặt hoặc ngược đãi, chúng ta có khuynh hướng sống, luôn luôn đi tìm – một cách vô thức – một điều gì đó đã không được trao cho, đó là sự chấp thuận của người cha. Điều này khiến chúng ta rụt rè, thường giận dữ, và đói khát hình ảnh một người cha. 

Nỗi đói khát này, đói khát được người cha hay một ai đó đại diện cho ông để khẳng định và chúc phúc cho mình, có lẽ đó là cơn đói sâu sắc nhất trên thế giới ngày nay, đặc biệt đối với phái nam. Rất ít người trong cuộc đời được cha ruột hay hình ảnh một người cha khẳng định và chúc phúc.

Một người cha là như thế nào? Các nhà nhân loại học cho chúng ta biết hình mẫu người cha có những phẩm chất này: Ông là người thu xếp để tạo trật tự, cáng đáng, nuôi sống và chúc phúc cho gia đình. Điều đó có nghĩa gì?

Trước tiên, ông phải là cội nguồn của trật tự chứ không phải của rối loạn. Một người cha tốt sống theo cách mà gia đình ông cảm thấy yên ổn, an toàn khi có ông bên cạnh. Một người cha tồi, qua việc ông vắng mặt, không đáng tin cậy, hoặc ngược đãi đã làm cho gia đình cảm thấy bất ổn. Ví dụ, người cha có gốc là rối loạn khi ông không chung thủy, nghiện rượu, hoặc đang mang một thói nghiện ngập nào đó. Khi đó, cách hành xử của ông sẽ không lường trước được, lúc nào các con cũng đoán xem ông có về nhà hay không – nếu về thì tâm trạng của ông lúc đó sẽ như thế nào. Dần dà, tính chất khó lường này sẽ thấm vào con cái, đến một lúc chúng cảm thấy cha mình là nguồn gốc của mất trật tự, của hỗn loạn. Ngược lại, một người cha tốt, kể cả khi gia đình ông coi ông là chán ngắt và tẻ nhạt, sẽ làm cho gia đình cảm thấy an toàn và an ổn.

Thêm nữa, người cha tốt gánh vác gia đình hơn là đòi hỏi gia đình gánh vác ông. Người  cha tốt là người lớn, người có tuổi đáng kính, chứ không phải là anh chị em hay là một đứa trẻ (xét về hành vi) mãi mãi đòi hỏi gia đình phải gánh vác mình. Một người cha tốt không để vấn đề và mối lo, những chuyện đau lòng và mệt mỏi của riêng mình, thành tâm điểm chú ý của cả gia đình. Thay vào đó ông vượt lên chuyện mệt mỏi và đau lòng của riêng mình để tập trung vào những chuyện đau lòng, đau đầu của gia đình. 

Vượt lên trên điều đó, một người cha tốt nuôi dưỡng gia đình chứ không bắt gia đình nuôi dưỡng ông. Không đòi hỏi, cho dù vi tế và vô thức, con cái phải mang lại ý nghĩa, sự hài lòng và vinh quang cho ông. Thay vào đó ông quan tâm nhiều hơn đến việc con cái và gia đình tìm thấy được ý nghĩa, sự hài lòng và hạnh phúc trong chính cuộc đời của họ. Những người cha người mẹ tốt nuôi dưỡng con cái mình; những người cha người mẹ tồi bắt con cái phải nuôi dưỡng mình. 

Cuối cùng, một người cha tốt khẳng định và ngưỡng mộ con cái thay vì đòi hỏi chúng khẳng định và ngưỡng mộ ông. Một người cha tốt tỏ ra cho con thấy ông tự hào về chúng chứ không ghen ngược lại về tài năng và thành tựu của chúng. Ông không đòi hỏi con cái nói lên lòng tự hào của chúng về ông. Daniel Berrigan, trong cuốn tự truyện chính chắn viết hồi cuối đời, chia sẻ ông đã phải gắng gỏi chật vật ra sao với nhiều vấn đề trong suốt cuộc đời, đặc biệt với vấn đề thẩm quyền, vì ông thiếu lời chúc lành của người cha. Chẳng hạn, ông thường thấy sợ không dám nói với cha tin vui là ông vừa xuất bản một cuốn sách vì sợ cha ông ghen tỵ. Sau khi kể điều đó, ông hỏi độc giả: Có kinh ngạc gì không trước chuyện ông đã luôn ranh mãnh và nghi ngờ mọi hình bóng thẩm quyền trong suốt cuộc đời người lớn của mình? Sự vắng bóng lời chúc lành của người cha làm cho tâm hồn của chúng ta co lại. 

Có lẽ hình ảnh này có thể giúp ích ở đây: Khi con bò mẹ sinh con, con bê non rơi ra khỏi tử cung trong tình trạng bị bó chặt, cứng đơ, toàn thân bị quấn trong bọc nhau giống như keo dính. Nhưng Tự nhiên đã tính đến chuyện này và đã ban cho bò mẹ bản năng đúng đắn. Ngay lập tức, bò mẹ quay ra phía sau và liếm cái bọc bó chặt đó khỏi thân bê con cho kỳ hết. Ngay khi được liếm xong, bê con đứng dậy, dò dẫm và bắt đầu tự đi được. 

Con người chúng ta cũng sinh ra trong tình trạng tương tự. Chúng ta cũng bước vào cuộc đời  trong tình trạng bị bó chặt, nhưng trong trường hợp chúng ta, sự bó chặt không hẳn là về mặt thân thể. Đó là sự bó chặt sâu hơn và phức tạp hơn nhiều – và cha mẹ là người xóa bỏ tình trạng đó bằng cách thu xếp để tạo trật tự, gánh vác, nuôi dưỡng và chúc lành cho chúng ta. Không người cha nào làm được điều đó một cách hoàn hảo, nhưng nếu cha của bạn đã làm điều đó thậm chí chỉ được một nửa mức thỏa đáng, thì bạn hãy bày tỏ lòng biết ơn, và bạn nên biết là bạn được phước lành!

Vượt lên trên những thói quen xấu

Tất cả chúng ta đều có những khiếm khuyết, những điểm yếu, những chỗ mà chúng ta “đi tắt” về mặt luân lý, những điểm tối, những bệnh nghiện bí mật và không-bí-mật-cho-lắm. Khi chân thật với lòng mình, chúng ta đều thấy thánh Phaolô đã nói rất đúng: “Điều tốt tôi muốn làm thì tôi chẳng bao giờ làm; điều xấu tôi không muốn làm thì đó chính là điều tôi làm.” Chẳng ai trong chúng ta là toàn thiện, là bậc thánh từ đầu chí cuối cả. Bao giờ cũng có điều gì đó mà chúng ta đang phải chật vật xoay xở: giận, chua chát, hằn học, ích kỷ, lười biếng, hay thiếu kiềm chế bản thân (nặng hay nhẹ) về tình dục, thức ăn, thức uống, hay vui chơi. 

Và đối với phần lớn chúng ta, kinh nghiệm đã nói cho chúng ta hiểu, rất khó bỏ thói quen xấu. Trên thực tế, nhiều khi chúng ta còn không thể nào tập trung được ý chỉ để từ bỏ chúng, chúng đã thấm quá sâu vào chúng ta. Năm này qua năm khác, chúng ta xưng cùng một tội, cũng như các quyết tâm phải thực hiện mỗi khi Năm Mới về, chúng ta chẳng bao giờ thực hiện. Và mỗi năm chúng ta lại nói với bác sĩ dứt khoát năm nay sẽ giảm cân, tập thể dục nhiều hơn, ăn kiêng cử hơn. Cách nào đó mà chuyện này chẳng bao giờ chúng ta làm được cả, vì các thói quen của chúng ta, như Aristotle nói, đã trở thành bản năng thứ hai – mà bản năng thì chẳng dễ dàng thay đổi.

Vậy làm thế nào chúng ta thay đổi được? Làm thế nào chúng ta vượt lên trên những thói quen xấu đã nhiễm quá sâu?

Thánh Gioan Thánh giá, nhà thần bí người Tây Ban Nha, gợi ý về hai con đường có thể hữu ích. Cả hai con đường xem trọng đến sự yếu đuối của con người và sức mạnh không chịu khuất phục của thói quen xấu bên trong chúng ta. 

Đây là lời khuyên thứ nhất: Rất khó làm bật rễ một thói quen xấu bằng cách tấn công nó trực diện. Khi làm như vậy, thường thì rút cục chúng ta tập trung một cách thiếu lành mạnh vào chính thói quen đó, nản lòng vì tính chất không khoan nhượng của nó, và lại bị nguy ở chỗ có thể làm xấu thêm tác động của nó đối với đời sống của chúng ta. Chiến lược tốt hơn là “đốt” (từ của người) những thói quen xấu của chúng ta bằng cách tập trung vào những gì tốt đẹp trong cuộc sống của mình và làm tăng trưởng các đức hạnh tới khi nào chúng “đốt sạch” những thói quen xấu của chúng ta. 

Đó không những là ẩn dụ của lòng mộ đạo mà còn là một chiến lược lành mạnh. Tác dụng của nó như sau: Chẳng hạn bạn tưởng tượng đang vật lộn với những chuyện nhỏ nhen và cơn giận bất cứ khi nào bạn thấy mình bị coi thường. Không có quyết tâm chân thành nào trên thế gian này có thể ngăn chận bạn quy phục trước xu hướng đó, và cha giải tội hay vị hướng dẫn tinh thần cho bạn sẽ nói với bạn, thay vì tập trung bỏ thói quen đó, thì nên tập trung phát triển một trong những điểm mạnh đạo đức của bạn; ví dụ lòng quảng đại. Lòng quảng đại của bạn càng lớn thì tâm hồn bạn càng mở rộng và tốt lành hơn cho đến một lúc trong cuộc đời, đơn giản tâm hồn bạn không còn chỗ cho những hờn dỗi trẻ con và những điều nhỏ nhặt. Lòng độ lượng của bạn cuối cùng sẽ đốt cháy những điều nhỏ nhen của bạn. Chiến lược này có thể có ích đối với mọi khiếm khuyết và bệnh nghiện của chúng ta. 

Lời khuyên thứ hai như sau: Hãy cố gắng đưa cái bản năng nằm ẩn sau thói quen xấu của mình lên một tình yêu cao hơn. Điều đó có nghĩa là gì?

Chúng ta bắt đầu đưa một bản năng đằng sau một thói xấu lên một tình yêu cao hơn bằng cách tự đặt câu hỏi: Tại sao? Tại sao, rút cục, tôi bị lôi kéo như thế này? Tại sao, rút cục, tôi cảm thấy hằn học, nhỏ mọn, tức giận, thèm khát, lười nhác, hay cần ăn cần uống quá độ như vậy? Rút cục, khuynh hướng này bắt rễ từ đâu?

Câu trả lời có thể làm chúng ta ngạc nhiên. Luôn luôn gốc rễ sâu xa nhất của cái khuynh hướng về một thói quen xấu là tình yêu. Bản năng này hầu như luôn luôn bắt rễ từ tình yêu. Hãy phân tích những mộng ước của mình. Trong những cơn mộng đó chúng ta phần lớn là cao thượng, tốt đẹp, rộng lượng, quảng đại, toàn thiện, và đầy yêu thương, kể cả khi trong đời sống thực chúng ta có lúc nhỏ mọn, chua cay, ích kỷ, giải đãi, và bao che nuôi dưỡng cho nhiều kiểu bệnh nghiện. Chúng ta có những thái độ và thói quen xấu này không phải vì chúng ta không được tình yêu thúc đẩy, mà bởi vì, ở chính cái điểm cụ thể này, tình yêu của chúng ta bị rối loạn, bị tổn thương, bị chua cay, vô kỷ luật, hoặc tự coi mình là trung tâm. Nhưng nó vẫn là tình yêu, năng lượng tốt nhất trong mọi năng lượng, chính là ngọn lửa của hình ảnh Chúa và tính chất giống Chúa bên trong chúng ta. 

Và như vậy chúng ta bắt đầu nhổ rễ một thói quen xấu trong đời sống bằng cách, trước tiên, nhận diện và trân trọng cái năng lượng nằm đằng sau nó và châm lửa cho nó. Tiếp đến chúng ta cần đưa năng lượng này vào một khuôn khổ tình yêu cao hơn, một tầm nhìn rộng rãi hơn, ít ích kỷ hơn, trân trọng hơn, có trật tự hơn. Và đó chính là điều rất khác việc phỉ báng hay đè nén bản năng đó. Khi chúng ta phỉ báng hay đè nén một bản năng thì việc đó chỉ càng làm tăng quyền lực của nó đối với chúng ta, và rất thường xuyên nó làm cho cái bản năng kia càng tàn phá đời chúng ta ghê gớm hơn nữa. Thêm nữa, khi chúng ta phỉ báng hay đè nén một bản năng nằm đằng sau một thói quen xấu, thì thực ra chúng ta đang chống lại sức khỏe của chính mình, và sau đó chúng ta vật lộn, có lẽ chỉ trong tiềm thức nhưng không hề có ngoại lệ nào, để làm sao có đủ ý chí mà xóa bỏ thói quen xấu đó đi. Năng lượng phải được trân trọng, kể cả khi chúng ta đang chật vật để đưa nó vào kỷ luật và đưa nó vào một khuôn khổ lành mạnh hơn.

Vậy, rốt cuộc làm thế nào để chúng ta bỏ được các thói quen xấu? Chúng ta làm điều đó bằng cách trân trọng những năng lượng tiếp lửa cho các thói quen đó và bằng cách đưa những năng lượng đó vào một tình yêu cao hơn. 

Bao giờ cũng có một điều gì đó!

Một người bạn của tôi nói đùa rằng khi mình chết, bà muốn khắc câu sau trên bia mộ của bà: Bao giờ cũng có một điều gì đó!

Và bao giờ cũng có điều gì đó thật! Tất cả chúng ta đều thấu hiểu sự chán ngán của bà. Chẳng thể nào khác, bao giờ cũng có một điều gì đó, không lớn thì nhỏ, phủ bóng đen và cách nào đó làm cho chúng ta không trọn vẹn bước vào phút giây hiện tại và tận hưởng sự phong phú của nó. Bao giờ cũng có một nỗi thấp thỏm, lo âu nào đó về một điều gì đó chúng ta hẳn đã nên làm hoặc phải nên làm, một hóa đơn nào đó chưa thanh toán, một mối lo ngại nào đó về những gì chúng ta cần đối diện ngày mai, một cơn đau đầu dai dẳng, một nỗi lo lắng về sức khỏe của mình hay của người khác, một vết thương vẫn còn nhức nhối, hay một nỗi khao khát mong chờ ai đó còn đang vắng mặt và điều đó làm chúng ta bớt vui. Bao giờ cũng có điều gì đó, một mất mát, một nỗi đau, một thắc thỏm, một cay đắng, ghen tuông, ám ảnh nào đó, hay một cơn đau đầu, mà vĩnh viễn nó tước mất đi niềm vui của phút giây hiện tại.

Cha Henri Nouwen từng diễn đạt điều đó một cách rất giản dị và sâu sắc: “Đời sống chúng ta,” ông viết, “là thời gian mà nỗi buồn và niềm vui hôn nhau từng giây phút. Có một mức độ buồn phiền bàng bạc trong mọi giây phút của đời sống chúng ta. Dường như không hề có niềm vui trong trẻo dứt khoát, mà ngay trong những giây phút hạnh phúc nhất của cuộc hiện sinh, chúng ta cũng cảm nhận một thoáng buồn. Trong mọi điều toại nguyện đều có cảm nhận những giới hạn. Trong mọi thành công đều có nỗi sợ bị ghen tị. Đằng sau mỗi nụ cười đều có nước mắt. Trong mọi cái ôm ghì đều có nỗi cô đơn. Trong mọi tình bạn đều có khoảng cách. Và trong mọi thể dạng của ánh sáng đều có hiện diện của bóng tối bao quanh.” Bao giờ cũng có một điều gì đó!

Chúa Giêsu diễn đạt điều này theo cách riêng của Người. Phúc âm kể lại sự việc, thánh Phêrô đến hỏi Người, ai theo Người sẽ nhận được phần thưởng gì. Chúa Giêsu trả lời, bất cứ ai từ bỏ cha, mẹ, vợ chồng, con cái, nhà cửa đất đai để trở thành môn đồ của Người thì sẽ nhận lại những thứ đó (cha mẹ, vợ chồng, con cái nhà cửa đất đai) gấp trăm lần hơn! Nhưng rồi Người nói thêm một mệnh đề khá buồn: “nhưng không phải là không khổ não.” Bao giờ cũng có một điều gì đó, nỗi căng thẳng, ghen tị, một bức hại nào đó – có thể xóa đi tất cả nhận thức hoặc yêu thích những điều gấp trăm lần này. Trên thực tế, Chúa Giêsu nói chúng ta có thể có mọi thứ – mà lại chẳng thấy sung sướng gì! Tại sao? Bởi vì bao giờ cũng có điều gì đó thâm nhập vào phút giây hiện tại làm chúng ta đánh mất cái nhìn bao quát và do đó đánh mất sự phong phú cũng như niềm vui trong đời sống mình.

Trong Phúc âm thánh Luca, Chúa Giêsu nói cụ thể cái điều gì đó thường là lòng ghen tị. Chúng ta có mọi thứ mà không thấy sung sướng vì chúng ta đang ghen tị với những gì người khác có. Đúng thật. Chúng ta thường xuyên dè bỉu cuộc sống và tài năng của mình, không thấy và không thưởng thức hương vị phong phú của cuộc sống, chỉ vì chúng ta còn muốn làm một người nào đó khác, một người nào đó giàu có và nổi tiếng, một người nổi bật. Cuộc sống của chúng ta phong phú, nhưng chúng ta không hài lòng với cuộc sống đó bởi vì chúng ta còn muốn những gì người khác có.

Văn chương ngày nay, trong lãnh vực tôn giáo cũng như thế tục, có một lượng sách báo phong phú cố gắng thách thức chúng ta đừng để bồn chồn, phiền muộn, tị hiềm, lo lắng cản trở không cho chúng ta trọn vẹn bước vào phút giây hiện tại. Phần lớn sách vở đó là tốt vì nó đưa ra thách thức đúng đắn. Tuy nhiên, đôi khi một số tác giả tạo cho chúng ta ấn tượng, nếu chúng ta tập trung chú ý và nỗ lực thực hiện một số kỹ thuật, thì chúng ta sẽ làm được dễ dàng. Không hề! Bước trọn vào phút giây hiện tại, thật sự bước trọn vào đó mà không bị sao nhãng vì những chuyện đau tim và đau đầu là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất về mặt tâm lý và thiêng liêng của đời sống.

Đời sống chúng ta phong phú, và điều đó đúng với mọi người, không chỉ đối với người giàu và người nổi tiếng. Ở đỉnh cao danh vọng, nhà thơ Rainer Marie Rilke, nhận được một lá thư của một chàng thanh niên, than vãn rằng anh ta muốn trở thành nhà thơ nhưng bị kìm kẹp vì anh sống ở một thị trấn nhỏ, nơi chẳng có bao giờ xảy ra một chuyện gì lý thú hay đáng chú ý cả. Rilke viết lại cho anh ta, nói rằng nếu cuộc sống của anh dường như nghèo nàn đối với anh thì có lẽ rốt cuộc, anh chẳng phải là nhà thơ gì sất, vì anh không thể nào nhặt ra được các nét phong phú trong cuộc sống của mình. Trải nghiệm của mỗi người là chất liệu của thi ca. Chẳng có cuộc sống nào lại không phong phú; nhưng phần lớn chúng ta bị cản trở không thể bước vào sự phong phú của cuộc sống mình và chẳng bao giờ có thể thưởng thức được cái trăm lần hơn đó … bởi vì bao giờ cũng có điều gì đó.

Thách thức ở đây là có mặt với sự phong phú bên trong cuộc sống của chính mình, và điều đó có nghĩa là học cách ăn mừng cái tạm thời, cái bất toàn. Điều đó có nghĩa là học cách làm sao để đến được bữa đại tiệc nằm ở trái tim cuộc sống, kể cả khi cuộc sống của mình chưa hoàn toàn lành mạnh và hoàn hảo. Và một phần của điều đó có nghĩa là chấp nhận nó thật khó khăn, nghĩa là tận hưởng những lúc chúng ta thật sự đến được đó, tha thứ việc chúng ta phần lớn đã không đến được, và khắc trên tấm bia mộ của chúng ta câu: Bao giờ cũng có một điều gì đó!

Kẽ nứt của chiếc bình

Có một câu của Leonard Cohen được rất nhiều người trích dẫn, ngụ ý rằng chỗ nào ta bị đổ vỡ chính là nơi bắt đầu sự cứu chuộc cho ta: Mọi thứ đều có kẽ nứt, nhờ vậy mà ánh sáng lọt vào.

Đúng như vậy, một vết thương nghiêm trọng thường chính là nơi minh triết tuôn vào đời sống chúng ta, và tình trạng yếu ớt thường xuyên chế ngự chúng ta giữ cho chúng ta nhận thức được chúng ta cần tới ân sủng. Nhưng đó mới là một nửa của phương trình. Một khiếm khuyết, trong khi giữ cho chúng ta khiêm nhường thì nó cũng có thể làm cho chúng ta cảm thấy tầm thường và buồn chán. Thánh Gioan Thánh Giá giải thích qua hình ảnh sau: 

Nếu một kẽ nứt nhỏ trong một cái bình bị để như vậy mà không được sửa chữa, thì rồi sẽ hư hại đến mức có thể khiến chất lỏng trong bình rỉ ra hết… Cũng vậy, khiếm khuyết này sẽ dẫn đến khiếm khuyết khác, và cứ thế tiếp tục. Hiếm khi thấy có người nào lơ là trong chuyện chế ngự một ham muốn mà lại không có nhiều ham muốn khác phát sinh cũng từ chính điểm yếu và khiếm khuyết gây ra do nỗi thèm khát ban đầu. Bởi thế, những người đó cứ mãi ngả nghiêng. Chúng ta đã chứng kiến nhiều người, mà Chúa đã ưu ái ban cho nhiều tiến bộ trong chuyện cắt bỏ vướng víu và có tự do, lại rơi rụng không còn hạnh phúc và an ổn trong các bài thực hành thiêng liêng, và kết cục là mất hết mọi thứ, đơn giản chỉ vì họ bắt đầu tự cho phép mình đắm chìm trong những chuyện trò và mối quan hệ bè bạn dưới cái vỏ tốt đẹp, những dính mắc hời hợt. Bởi vì chính qua những mối trói buộc này mà dần dần họ mất hết sự cô tịch thiêng liêng cũng như tinh thần và niềm vui của Chúa. Tất cả chuyện này xảy ra bởi vì họ không chịu chấm dứt sự thỏa mãn và thú vui cho các giác quan ban đầu để duy trì bản thân họ trong sự cô tịch cho Chúa. (Đi lên Đỉnh Carmel, Quyển I, Chương 11).

Mặc dù đoạn trên được đặc biệt viết cho các vị nam nữ tu hành suy tư với một lời cảnh báo đừng “dính mắc với chuyện trò và mối quan hệ bè bạn” nghe kỳ cục và không lành mạnh đối với chúng ta, có một phần trong chúng ta hiểu chính xác ông muốn nói điều gì: những nghiện ngập, những bất trung, và những rơi rụng của chúng ta khỏi ân sủng luôn luôn bắt đầu ở chính cái điểm mà ông đã chỉ tới, đó là, trong những thú vui và thỏa mãn ban đầu, một mức độ chòng ghẹo và chơi đùa với lửa mà, mặc dù bản thân việc đó không phải là tội lỗi, rốt cuộc lại đưa đường dẫn lối để chúng ta bị sa lầy về tình cảm và luân lý, tước đi hạnh phúc và bình an, và tai hại hơn hết thảy là buộc chúng ta phải giấu diếm, dối trá và không còn minh bạch. 

Và thậm chí cả khi lỗi lầm này không lớn, nó vẫn chặn không cho chúng ta trưởng thành sâu sắc hơn và có niềm hạnh phúc sâu sắc hơn. Thánh Gioan có một câu phương ngôn rằng, rốt cuộc, chuyện một con chim bị cột bằng một cái xích nặng hay một sợi dây nhẹ chẳng có gì quan trọng – trong cả hai trường hợp, con chim đều không thể bay được. Vì thế, ông mạnh mẽ cảnh báo chúng ta đừng dễ dãi với bất kỳ khiếm khuyết hay tật nghiện ngập nào của mình bằng cách lý luận rằng khiếm khuyết hay tật nghiện đó không nghiêm trọng gì cho lắm và về căn bản chúng ta vẫn là những con người tốt, cho dù có điểm yếu. Cho dù bị cột bằng dây xích nặng hay một sợi chỉ mảnh, chúng ta đều không thể bay được. 

Nếu chúng ta trở nên thấy thoải mái với một tật nghiện ngập hay khiếm khuyết của bản thân, chúng ta sẽ thấy mình cũng bị nghèo đi theo một cách khác: nó sẽ tước đi của ta niềm hạnh phúc thật sự. Triết gia người Pháp Leon Bloy nói rằng xét cho cùng, chỉ có duy nhất một nỗi buồn mang tính người, đích thực, đó là không làm thánh! Điều đó có thể nghe như một luân lý quá mức sùng đạo, nhưng, cũng như với câu trích dẫn ở trên của thánh Gioan Thánh giá, có một phần trong chúng ta hiểu chính xác Bloy đang nói điều gì. Những tật nghiện ngập, những sự bất trung của chúng ta, và những thói chìm đắm nuông chiều bản thân thiếu lành mạnh của chúng ta rất có thể sẽ đem lại cho ta khoái lạc nào đó (mặc dù, chẳng mấy chốc lạc thú đó đã hóa thành thôi thúc khó chịu) nhưng chúng chẳng bao giờ đem lại niềm vui cho chúng ta. Chúng đem lại nỗi buồn. Niềm vui không phải là một với khoái lạc, và, thực sự, chúng ta đang nói về những khoái lạc buồn bã. Có thể có rất nhiều khoái lạc trong đời sống chúng ta ngay cả khi trái tim chúng ta buồn bã và lương tâm trĩu nặng.

Niềm vui đích thực là một cái gì đó vượt lên trên lạc thú và có thể cùng tồn tại với sự từ bỏ và niềm đau. Đúng hơn, nó phụ thuộc vào lòng trung thực, minh bạch, và lòng biết ơn, những dấu ấn thật sự của sự thánh thiện. Khi chúng ta trung thực xem xét trải nghiệm của mình, chúng ta biết chân lý đó. Nếu bất kỳ ai trong chúng ta tự hỏi mình: Tôi từng hạnh phúc thật sự nhất trong đời khi nào? Câu trả lời trung thực chắc chắn sẽ là: Tôi đã hạnh phúc nhất và bình an nhất vào những lúc tôi trung tính, trung thực, hoàn toàn minh bạch, khi tất cả mọi điều mọi việc đều bày ra, và tôi không có gì để giấu diếm, kể cả khi tôi chưa hề hoàn hảo. 

Không ai hoàn hảo cả, nhưng chúng ta không bao giờ được trở nên thấy thoải mái với khiếm khuyết của mình và biện bạch cho chúng bởi vì chúng không có gì trầm trọng hay bởi vì chúng ta có thể che giấu chúng. Nếu một kẽ nứt nhỏ trong chiếc bình cứ bị để như vậy mà không được sửa chữa, thì rồi sẽ hư hại đến mức có thể khiến chất lỏng trong bình rỉ ra hết. Kết quả cuối cùng sẽ không phải là chúng ta trở thành những con người xấu xa. Không. Chúng ta vẫn như vậy, tốt và vững vàng trong sự tầm thường của mình. Nhưng sự lớn lao sẽ rời bỏ chúng ta và chúng ta sẽ luôn luôn mang nặng nỗi buồn của người lớn, đó là, không phải là thánh.

Mặt trời Bão tố Hoang dã Sa mạc và Linh đạo

Vài năm trước đây, dưới sự hướng dẫn của một vị hướng dẫn dòng Tên xuất sắc, tôi đi linh thao 30 ngày theo Các Bài Tập Linh Thao của Thánh I-Nhã. Vào tuần thứ ba của khóa kinh thao, có một bài suy niệm về nỗi thống khổ của Chúa Giêsu trong vườn Giếtsêmani. Với tất cả khả năng của tôi, tôi cố gắng suy niệm và đến gặp linh mục hướng dẫn để thảo luận về kết quả. Ông không hài lòng và yêu cầu tôi làm lại. Tôi làm theo, báo lại với ông, và lại thấy ông không vừa ý. Tôi bối rối không hiểu chính xác là ông muốn tôi đạt điều gì thông qua bài suy gẩm này, dù tôi thấy rõ ràng là mình đang còn thiếu điều gì đó. Ông cứ cố gắng giải thích cho tôi rằng Thánh I-Nhã có một khái niệm mà theo đó linh thao viên phải vận dụng những suy gẩm của mình và “áp dụng vào các giác quan”, cách nào đó, tôi không đạt được phần đó.

Cuối cùng ông hỏi tôi: “Khi suy gẩm, ông ngồi trong nhà nguyện có điều hòa dễ chịu phải không?” Câu trả lời của tôi là đúng vậy. “À” vị hướng dẫn dòng Tên thông thái này trả lời, “hèn gì ông không thể hình dung cho đúng các giác quan. Làm sao ông có thể thật sự cảm nhận như Chúa Giêsu cảm nhận nỗi thống khổ của mình trong vườn nếu ông ngồi ấm áp, dễ chịu, an toàn và thoải mái trong căn phòng có điều hòa?” Ông khuyên tôi làm lại, nhưng làm vào đêm khuya, ngoài trời, trong màn đêm lạnh giá, chịu các yếu t&77889; tự nhiên, và có lẽ thậm chí còn hơi sợ sệt với những gì tôi có thể gặp phải về mặt thực thể ở ngoài trời đó nữa. 

Ông đã nêu lên một điểm hay, không chỉ cho nỗ lực gắng gỗ chật vật của tôi với bài linh thao này, mà về một trong những khiếm khuyết cơ bản của linh đạo đương đại. Nói đơn giản: Những nỗ lực cầu nguyện và đi tìm con đường thiêng liêng của chúng ta không móc nối được với tự nhiên. Dù với tất cả thiện hướng và cố gắng hết mình, chúng ta vẫn quá lý thuyết suông, cố gắng quá nhiều để biến đổi tâm hồn trong khi thân thể thì ngồi ấm áp, an toàn và không góp phần vào. Các yếu tố thực thể của tự nhiên và thân thể đóng một vai trò quá nhỏ bé trong nỗ lực trưởng thành về mặt tâm linh của chúng ta. 

Đây là điểm phê phán chủ yếu mà Bill Plotkin, một tiếng nói quan trọng mới mẻ trong linh đạo, nêu lên về những gì ông thấy đang xảy ra trong phần lớn linh đạo Ki-tô ngày nay. Từ các chương trình ở nhà thờ đến các trung tâm tĩnh tâm, cho tới nỗ lực kiếm tìm linh đạo mà tín hữu chủ tâm theo đuổi hơn, Plotkin đều thấy có quá ít liên hệ với tự nhiên, với mặt trời, bão tố, thiên nhiên hoang dã, và sa mạc mà chính Chúa Giêsu tìm tới. 

Plotkin, người không nhìn từ một nhãn quan Ki-tô giáo rõ rệt nhưng đồng cảm với nhãn quan đó, điều hành một trung tâm hoang dã từ đó ông hướng dẫn những người đang tìm kiếm linh đạo. Một trong những điều mà trung tâm ông đem lại là  tìm kiếm sự hoang dã. Mọi người có quyền chọn đi ra thiên nhiên hoang dã một mình trong vài ngày, chỉ mang theo rất ít vật dụng cần thiết để tự bảo vệ mình khỏi những gì họ có thể gặp phải. Mặc dù tuân thủ những phép cẩn trọng khôn ngoan và sự thận trọng không phải bị bỏ qua một cách vô trách nhiệm, nhưng những người theo đuổi những cuộc tìm kiếm này thường vẫn thấy mình khá dễ bị tổn thương trước những yếu tố tự nhiên và chống chọi với một mức độ sợ hãi lành mạnh.

Và những nỗ lực kiếm tìm này hiệu quả chủ yếu bởi chính như vậy. Sự chuyển hóa thật sự thường xảy ra và phần nhiều là nhờ vào cuộc chiến đấu mà người đi tìm phải dấy lên trước nỗi sợ hãi và những yếu tố thực thể. Quyển Soulcraft (tạm dịch: Xảo thuật rèn luyện tâm hồn) của Plotkin ghi lại nhiều lời kể đầy thuyết phục của nhiều người, họ chia sẻ những gì họ đã trải nghiệm trong hoang dã – thật sự bị phơi ra và thật sự sợ hãi – điều đó đã dẫn tới sự chuyển hóa thật sự trong cuộc đời. Để điều gì đó thật sự thì nó phải là cái có thực!

Chúa Giêsu biết điều đó và thực hiện “cuộc kiếm tìm hoang dã” của mình, 40 ngày cô độc trong sa mạc, nơi mà như Phúc Âm nói cho chúng ta biết, Người một mình chiến đấu với “những quái vật hoang dã”. Chúng ta cũng đọc thấy những chuyện trong Phúc Âm kể lại Người đã thức cả đêm ngoài trời như thế nào, một mình, và cầu nguyện. Không phải tự nhiên mà cuộc vật lộn nội tâm của Người về chuyện hy sinh mạng sống diễn ra trong vườn chứ không phải trong nhà thờ có máy điều hòa. Những nhà thờ đẹp đẽ có năng lực chuyển hóa nhưng mặt trời, bão tố, thiên nhiên hoang dã và sa mạc cũng vậy. Tìm đến cả hai là điều tốt, vậy mà gần đây linh đạo Ki-tô đã quá xao lãng cái thứ hai. 

Và không chỉ những thứ trong thiên nhiên mới làm chúng ta tơi tả và làm chúng ta sợ hãi, một nỗi sợ hãi mà chúng ta cần tự phơi mình ra. Ít thứ trong đời có thể khơi dậy được niềm vui mà chúng ta có thể trải nghiệm bằng cách tận hưởng thiên nhiên. Như bài Chúc tụng trong sách Đanien (3: 57-88) đã dâng mừng một cách hết sức tuyệt vời, nhiều điều trong tự nhiên nuôi dưỡng tâm hồn và làm tâm hồn chúng ta tràn đầy sức sống: mặt trời, trăng sao, gió lửa, sức nóng, cái lạnh và giá rét, những hạt sương, cơn mưa, băng tuyết, ánh sáng và bóng tối, tia chớp và những đám mây, núi đồi, dòng sông và biển cả, cây cối và động vật. Mỗi một cái đó đều có thể khởi lên những ký ức đặc biệt và những niềm vui đặc biệt, nếu chúng ta tỉnh thức nắm bắt chúng. 

Chúng ta cần phải để tự nhiên chạm đến cơ thể và tinh thần của mình nhiều hơn, vừa cho sức khỏe tâm linh lẫn sức khỏe nói chung của chúng ta. Để điều gì đó thật sự thì nó phải là cái có thực!

Tân Phúc Âm Hóa

Gần đây có một cách diễn đạt mới trong vựng từ thần học và giáo hội của chúng ta. Ngày nay người ta nói nhiều tới quá trình Tân Phúc Âm Hóa (New Evangelization). Thật ra Đức Giáo hoàng đã triệu tập một Đại hội trong vòng một tháng ở Rome trong năm nay để cố gắng vạch ra một tầm nhìn và chiến lược rõ ràng cho nỗ lực đó. 

Tân Phúc Âm Hóa nghĩa là gì? Nói nôm na, hàng triệu người, đặc biệt ở thế giới Phương Tây, về danh nghĩa là Ki-tô hữu, xuất thân từ nền tảng Ki-tô, quen thuộc với Ki-tô giáo, tin rằng họ biết và hiểu Ki-tô giáo, nhưng giờ không còn thực hành đức tin đó một cách ý nghĩa nữa. Họ đã nghe nói tới Chúa Kitô và Phúc âm, thậm chí có thể tự đánh giá mình cao hơn thực tế về mặt đức tin, rằng họ biết và hiểu ý nghĩa những điều đó. Bất kể họ thế nào đi nữa. Cho dù họ có những khiếm khuyết gì đi nữa trong việc hiểu một đức tin mà họ không còn thực tập, họ vẫn cho rằng mình đã được phúc âm hóa, và việc họ không thực tập nữa là một quyết định đã được xem xét kỹ. Thái độ của họ đối với Ki-tô giáo về căn bản là: Tôi biết nó là gì rồi. Tôi đã thử thực tập rồi. Và nó không phải dành cho tôi!

Và thế là bây giờ chẳng còn nghĩa lý gì để nói về chuyện cố gắng truyền bá Phúc âm cho những người như vậy theo cùng cái cách mà chúng ta ngụ ý khi nói về việc đem Phúc âm đến với một người nào đó lần đầu tiên. Chính xác hơn, đó là truyền bá Phúc âm mới, một nỗ lực đem Phúc âm đến với những người và với một nền văn hóa chủ yếu đã được định hình bởi Phúc âm, theo một nghĩa nào đó đã quen thuộc quá mức với nó, nhưng thật ra chưa thật sự xem xét nó kỹ. Tân Phúc Âm Hóa cố gắng đưa Phúc âm đến với những người vốn đã là Ki-tô hữu nhưng giờ đây không còn thực hành như những Ki-tô hữu nữa. 

Làm như thế nào đây? Làm thế nào để Phúc âm được tươi mới nơi những người đã thấy nó cũ mèm? Làm sao chúng ta, như G. K. Chesterton nói, giúp người ta nhìn vào những điều quen thuộc cho tới khi trông nó lại mới mẻ? Làm thế nào chúng ta cố gắng Ki-tô hữu hóa một người vốn đã là Ki-tô hữu?

Chẳng có câu trả lời đơn giản nào. Như thể chúng ta chưa cố gắng làm điều đó trong hơn một thế hệ qua. Những bậc phụ huynh băn khoăn đã và đang cố gắng làm điều đó với con cái mình. Những vị mục sư băn khoăn đã và đang cố gắng làm điều đó với giáo dân của mình. Những vị giám mục băn khoăn đã và đang cố gắng làm điều đó với các giáo phận của mình. Những tác giả thiêng liêng băn khoăn, kể cả tác giả bài này, đã và đang cố gắng làm điều đó với độc giả của mình. Và một Giáo hội băn khoăn xét như một tổng thể đã và đang cố gắng làm điều đó với cả thế giới. Liệu chúng ta có thể làm thêm được gì nữa?

Quan điểm của tôi là chúng ta đã bắt tay vào một nỗ lực gắng gỏi bơi ngược dòng dài lâu, một nỗ lực đòi hỏi đức tin vào sức mạnh và chân lý của những gì chúng ta tin tưởng và một lòng kiên nhẫn cam go, dài lâu. Chúa Kitô, đức tin, và nhà thờ sẽ tiếp tục tồn tại. Luôn luôn như vậy. Cuối cùng, hòn đá luôn luôn sẽ lăn khỏi hầm mộ và Chúa Kitô luôn luôn sẽ sống lại, nhưng chúng ta cũng phải làm phần việc của mình. Những phần việc đó là gì?

Tôi tin là tầm nhìn mà chúng ta cần khi cố gắng vươn ra Phúc âm hóa những người vốn đã được truyền bá Phúc âm cần bao gồm những nguyên tắc này:

1. Chúng ta cần phải gọi tên rõ ràng nhiệm vụ này, thừa nhận tính cấp bách của nó, và đặt bản thân chúng ta vào trung tâm của mệnh lệnh cuối cùng của Chúa Giêsu: Đi khắp thế giới và tuyển các môn đồ.

2. Chúng ta cần nỗ lực thổi bùng lên lại ngọn lửa tưởng tượng lãng mạn về đức tin của mình. Gần đây chúng ta đã quạt giỏi hơn ngọn lửa trong sức tưởng tượng thần học của mình, nhưng vẫn còn quá sức chật vật trong việc làm cho người khác khác phải lòng đức tin của chúng ta. 

3. Chúng ta cần nhấn mạnh cả lối dạy theo hỏi đáp lẫn thần học. Cần tập trung vào cả những người đang cố gắng học những yếu chỉ trong đức tin của họ lẫn những người đang cố gắng tìm ra ý nghĩa về mặt trí thức của đức tin của họ. 

4. Chúng ta cần nhiều cách tiếp cận khác nhau. Không có cách tiếp cận duy nhất nào đến được với tất cả mọi người. Người ta chỉ đi tới chỗ nào họ tìm thấy thức ăn phù hợp. 

5. Chúng ta cần hấp dẫn chất lý tưởng hóa của con người, đặc biệt là giới trẻ. Cần thu phục nhân tâm bằng cách gắn Phúc âm với tất cả những gì tốt đẹp nhất trong họ, để vẻ đẹp của Phúc âm trò chuyện với vẻ đẹp bên trong của con người. 

6. Chúng ta cần Phúc âm hóa vượt lên trên bất kỳ ý thức hệ của bên tả hay bên hữu nào. Cần vượt thoát khỏi những phạm trù tự do và bảo thủ để vươn tới những phạm trù yêu thương, cái đẹp và chân lý. 

7. Chúng ta cần duy trì cách tiếp cận “Thiên Chúa giáo” rộng rãi. Không phải chúng ta gắng đưa người ta gia nhập một nhóm bè phái, theo chủ nghĩa thuần túy, còm cõi, ít ỏi, mà là bước vào một ngôi nhà với nhiều căn phòng. 

8. Chúng ta cần rao giảng cả tự do của Phúc âm lẫn lời mời gọi của Phúc âm về sự trưởng thành. Chúng ta cần cưỡng lại cám dỗ rao giảng Phúc âm kiểu đe dọa hay hạ thấp người khác, kể cả khi chúng ta giảng Phúc âm kiểu yêu cầu một sự tuân phục tự do và chính chắn.

9. Ngày nay, trong một thời đại của bất ổn và những phản bội xảy ra quá thường xuyên, chúng ta cần phải là một bằng chứng đặc biệt cho lòng trung thành. 

10. Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần tập trung vào những chuyện thiết yếu – lòng kính trọng, từ thiện và biết ơn. Chính nghĩa không bao giờ biện minh được cho sự bất kính.

Chúng ta cần nỗ lực để thu phục những trái tim, chứ không phải làm chúng chai sạn. 

Sức mạnh của sự yếu ớt

Có nhiều loại sức mạnh và nhiều loại thẩm quyền. Có sức mạnh quân sự, sức mạnh cơ bắp, sức mạnh chính trị, sức mạnh kinh tế, sức mạnh đạo đức, sức mạnh mê hoặc, và sức mạnh tâm lý, bên cạnh nhiều thứ khác. Sức mạnh thẩm quyền cũng có nhiều loại: chúng ta có thể bị ép buộc một cách chua chát phải phục tùng những yêu cầu nhất định, hoặc chúng ta có thể được thuyết phục một cách nhẹ nhàng để chấp nhận chúng. Sức mạnh và thẩm quyền hoàn toàn không cùng một loại. 

Tưởng tượng có bốn người trong một căn phòng: người thứ nhất là nhà độc tài đầy quyền lực cai trị một đất nước. Lời nói của ông sai khiến được những đạo quân và tính khí thất thường của ông khiến thuộc hạ khiếp sợ. Ông thi triển một thứ quyền lực dã man. Ngồi cạnh ông là một vận động viên tài năng với sức vóc đang ở đỉnh cao, có độ nhanh nhẹn và sức mạnh ít ai bì kịp. Kỹ năng của anh là một thứ sức mạnh thanh nhã mà vì thế anh được nhiều người ngưỡng mộ và ghen tỵ. Người thứ ba là một ngôi sao nhạc rock, âm nhạc và sức mê hoặc của cô có thể làm khán giả nhiễm điện và khi cô ở trong phòng nào thì căn phòng đó đầy năng lượng xúc động. Tên cô xuất hiện đầy trên các bảng quảng cáo điện tử và tên tuổi cô thân thuộc với mỗi một gia đình. Đó lại là một kiểu sức mạnh khác nữa. Cuối cùng, trong căn phòng đó có một em bé mới sinh, nằm trong nôi, gần như em không có chút quyền năng hay sức mạnh gì, thậm chí còn không có khả năng yêu cầu cái gì mình cần. Trong số đó, rốt cuộc ai là người có quyền lực mạnh nhất?

Trớ trêu thay, đứa bé rốt cuộc lại có sức mạnh lớn lao nhất. Người vận động viên có thể nghiền nát nó, nhà độc tài có thể giết nó, và ngôi sao nhạc rock có thể lấn át nó với hào quang chói lọi của mình, nhưng đứa bé lại có một kiểu sức mạnh khác. Bé có thể chạm tới những quả tim theo một cách mà nhà độc tài, người vận động viên hay ngôi sao nhạc rock không thể làm được. Sự hiện diện ngây thơ, không lời nói, không cần tới sức mạnh thực thể, có thể chuyển hóa cả căn phòng và chuyển hóa con tim theo cái cách mà mọi súng ống, cơ bắp và sức mê hoặc đều không thể. Chúng ta cẩn trọng với ngôn ngữ và hành động của mình khi ở cạnh một đứa bé, trong khi ở cạnh các vận động viên và các ngôi sao nhạc rock thì chúng ta ít cẩn trọng hơn nhiều. Tình trạng yếu ớt của một đứa bé chạm ở một nơi sâu thẳm hơn thuộc về đạo đức.

Và đó là cái cách mà chúng ta tìm thấy và trải nghiệm sức mạnh của Chúa trên thế gian này khi thỉnh thoảng chúng ta đứng trước nỗi thất vọng chán chường của mình, đó cũng là cách mà Chúa Giêsu được coi là có sức mạnh khi còn tại thế. Tất cả Phúc âm đều nói rõ điều đó, từ đầu đến cuối. Giêsu sinh ra là một em bé yếu ớt, và khi chết thì bị đóng đinh treo lơ lửng bất lực trên thánh giá trong khi những người xung quanh chế nhạo tình trạng bất lực của Người. Ấy vậy mà cả sự ra đời lẫn cái chết của người đã biểu hiện một kiểu sức mạnh mà dựa trên đó chúng ta rốt cuộc có thể xây đắp cuộc đời mình. 

Phúc âm mô tả sức mạnh và thẩm quyền của Chúa Giêsu chính xác là theo cách đó. Trong tiếng Hy Lạp, ngôn ngữ sơ khai của Phúc âm, chúng ta thấy ba từ chỉ sức mạnh hay thẩm quyền. Chúng ta dễ dàng nhận ra hai từ đầu tiên: năng lượng và xung động. Có sức mạnh trong năng lượng, sức mạnh thể chất và cơ bắp, cũng như có sức mạnh trong xung động, trong thuốc nổ, và trong việc có sức mạnh để tạo ra năng lượng. Nhưng khi Phúc âm nói Chúa Giêsu “có sức mạnh lớn lao” và có sức mạnh vượt lên trên sức mạnh của các nhân vật tôn giáo khác, thì Phúc âm không dùng những từ nghị lực/năng lượng hay xung động. Lúc đó Phúc âm dùng một từ thứ ba, EXOUSIA, mà có thể được hiểu đúng nhất là theo nghĩa DỄ BỊ TỔN THƯƠNG (vulnerability). Sức mạnh thực sự của Chúa Giêsu bắt rễ từ sự dễ bị tổn thương nhất định, giống như tình trạng yếu ớt của một đứa bé. 

Khái niệm này không dễ gì nắm bắt bởi vì suy nghĩ của chúng ta về quyền năng/sức mạnh thường gắn với cái ngược lại, nghĩa là, gắn với cái khái niệm rằng sức mạnh nằm ở khả năng áp đảo người khác, chứ không để người khác áp đảo. Ấy vậy mà chúng ta hiểu được điều này, ít nhất cũng hiểu hơi hơi, trong trải nghiệm của mình với những em bé, chúng có thể áp đảo chúng ta chính do tình trạng yếu ớt của nó. Cạnh một đứa bé, như hầu hết mọi cha mẹ đều biết, chúng ta không chỉ dè chừng ngôn ngữ của mình và cố gắng không cãi cọ chua cay; mà chúng ta còn cố gắng làm sao trở thành người tốt hơn, nhiều thương yêu hơn. Nói một cách ẩn dụ, một đứa bé có quyền năng của một câu thần chú. Nó có thể bắt giữ những con quỷ tự tôn và ích kỷ trong chúng ta. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu có thể bắt giữ những con quỷ nhất định nào đó mà những người khác không bắt được. 

Và đó là lý do tại sao sức mạnh của Chúa vĩnh viễn ở trong thế giới chúng ta và trong đời sống của chúng ta, đang yêu cầu chúng ta kiên nhẫn. Đức Giêsu Kitô, như Annie Dillard nói, luôn luôn được tìm thấy trong đời sống chúng ta như khi Người được tìm thấy lúc ban đầu – một đứa trẻ yếu ớt bất lực trong máng cỏ – phải được chăm bẵm mới lớn lên. Nhưng vĩnh viễn chúng ta vẫn muốn một điều gì đó khác, nghĩa là một vị Chúa sẽ tới dọn dẹp thế giới này và thỏa mãn cơn khát công lý của chúng ta bằng cách thể hiện ra một kiểu sức mạnh cơ bắp thô thiển nào đó và nện vào đầu người này người kia. Chúng ta mất kiên nhẫn với sức mạnh đạo đức thầm lặng vốn đòi hỏi lòng kiên nhẫn vô hạn và một tầm nhìn lâu dài. Chúng ta muốn có người hùng, một người với những khẩu súng tóe lửa như kiểu vị siêu anh hùng Hollywood nhưng có trái tim của Mẹ Têrêxa. Súng ống của thế giới bắn tan ác quỷ đi, đó là cái mà chúng ta muốn từ vị Chúa của mình, chứ không phải sức mạnh của một đứa bé nằm im bặt và yếu ớt trước những thế lực tàn bạo của thời đại chúng ta. Giống như người Israel đối diện với người Philistine, chúng ta ngần ngại không chịu phái một đứa bé chăn cừu đi chống lại một tên khổng lồ được bọc trong giáp sắt từ đầu đến chân. Chúng ta muốn quyền năng thần thánh thể hiện trong sắt thép, cơ bắp, súng ống và sức mê hoặc.

Thiên Chúa, lòng thân tình và bình an sẽ không được tìm thấy theo cách đó.

Một cái nhìn trần thế về sự hiệp thông các thánh 

Trong tự truyện của mình, Nikos Kazantzakis kể lại câu chuyện đằng sau tác phẩm nổi tiếng của ông, Zorba the Greek (tên sách tiếng Việt: Alexis Zorba – con người hoan lạc, dịch giả Dương Tường). Zorba một phần là hư cấu, một phần là chuyện thực.

Sau khi cố gắng bất thành để viết một cuốn sách về Nietzsche, Kazantzakis bị sụp đổ tinh thần và trở về đảo Crete, quê hương của ông để  dưỡng sức. Ở đó ông gặp một con người với nguồn năng lượng và sức sống không thể nào ngờ nổi. Nhân vật Zorba trong cuốn sách trên là dựa vào cuộc đời của người đàn ông này; chưa bao giờ trong đời Kazantzakis bị cuốn hút như vậy trước sức sống và cuộc đời của một con người khác. Nhưng cửa tử đã không chiều lòng người. Cuối cùng Zorba chết, và cái chết của Zorba đã làm Kazantzakis tan vỡ mọi ảo mộng: Làm thế nào một sức sống phi thường như vậy lại có thể chết? Mà điều gì xảy ra với sức sống đó? Có phải nó đơn thuần là biến mất đi như thể chưa từng bao giờ tồn tại? Khi cái chết đến, điều gì xảy ra với tất cả những sắc màu, năng lượng, sức sống, tình yêu và óc hài hước hiện thân nơi con người?

Kazantzakis viết Zorba the Greek là nhằm cố gắng đem lại phần nào sự bất tử cho cái nguồn năng lượng tuyệt vời mà một người đàn ông phi thường hiện thân. Zorba không thể nào chết. Điều đó tạo nên một tác phẩm lớn và một bộ phim lớn, nhưng liệu điều đó có thật sự tạo nên sự bất tử? Có phải việc đơn thuần nhớ về một ai đó hay ăn mừng cuộc sống của người đó là khiến người đó vẫn còn sống? Và khi một người chết đi, điều gì xảy ra với nguồn năng lượng, mạch sống, tình yêu, sắc màu và óc hài hước tuyệt vời và độc nhất vô nhị hiện thân nơi một người trong suốt cuộc đời họ sống?

Cách đây vài ngày, tôi tham dự một lễ cầu hồn cho một phụ nữ tôi chưa gặp bao giờ. Sau buổi lễ cầu nguyện chính thức, người thân trong gia đình chia sẻ vài ký ức về người đã khuất. Những chuyện kể đó tuyệt vời, nồng nàn, dí dỏm, đầy màu sắc và rất hài hước. Khi họ kể những câu chuyện đó, bà như sống lại trước mắt mọi người có mặt trong nhà thờ. Tất cả chúng tôi ai cũng mỉm cười và cười to, và nỗi buồn rầu trước sự ra đi của bà trong giây lát (và có lẽ là mãi mãi) được khỏa lấp vì màu sắc và sức sống của bà lần nữa lại sống động đối với chúng tôi. Mà chúng tôi không chỉ nhớ đến bà ấy. Chúng tôi lúc đó nhắc với nhau rằng bà ấy vẫn còn bên chúng tôi. 

Điều đó cũng đúng với tất cả những ai đã chết. Họ vẫn còn ở bên chúng ta không chỉ trong ký ức. Và không phải chỉ là một linh hồn được gột rửa sạch nào đó của họ, trong trẻo sau cái chết, mới ở lại. Sắc màu riêng của họ cũng ở lại: Chẳng hạn, tôi nghĩ về gia đình của chính mình. Chúng tôi đã phải khóc than trước sự mất mát ra đi của nhiều thành viên gia đình, nhưng chúng tôi không những đã được nuôi dưỡng bởi sự hiến tặng từ cuộc đời và đức hạnh của mỗi một người dành cho chúng tôi, mà chúng tôi vẫn còn được dưỡng dục bởi sắc màu riêng mà mỗi người hiện thân. Họ vẫn ở cạnh chúng tôi, và sắc màu của họ cũng vậy. Những câu chuyện kể từ đời này sang đời khác của gia đình chúng tôi chứa đầy hình ảnh những người đã mất: những câu chuyện về cách kết hợp độc đáo của ba tôi giữa Kinh An Bình và Luật của Murphy trong một câu cảm thán quá khích: “Ngay bây giờ!”; về chuyện mẹ tôi không thể nào tìm ra được chỗ để bắt đầu một câu chuyện mà không trước hết quay về Sách Sáng Thế – “Từ ban đầu”; về chuyện người chị quá cố của tôi yêu thích sô-cô-la và cũng thích đập bẹp những cái gì phồng lên; về chuyện anh trai tôi có thiên hướng giảng giải cho cả hành tinh này về công bằng xã hội; về chuyện anh rể quá cố của tôi thích nấu xúc xích và rồi cười cợt hỏi về tình trạng thẩm mỹ của cặp dây móc quần của mọi người; và về ông chú quá cố có thói quen châm một điếu thuốc rồi ánh mắt lấp lánh tia lém lỉnh như thể mào đầu cho một câu chuyện cực kỳ tinh quái. Còn nhiều còn nhiều nữa bởi vì những câu chuyện về sắc màu cá tính trong cuộc đời những người thân yêu của chúng ta thì cứ còn nhiều mãi. 

Vậy thì khi chết, chuyện gì xảy ra với nguồn năng lượng, mạch sống, sắc màu và sự hài hước độc đáo mà một người là hiện thân? Alfred North Whitehead cho rằng những điều đó đã trở thành bất tử trong “bản thể tất nhiên” của Chúa. Pierre Teilhard de Chardin đoan chắc với chúng ta rằng không có gì mất đi và mọi thứ theo một cách nào đó sẽ được bảo toàn, cho tới tận cuộc đời những con vật nuôi trong nhà của chúng ta. Giáo lý Ki-tô của chúng ta về sự Hiệp thông các Thánh bảo rằng những người thân yêu của chúng ta vẫn còn sống và một ngày nào đó chúng ta và họ sẽ lại tương ngộ trùng phùng. 

Tôi không nghi ngờ sự thật trong những lời quả quyết đó, nhưng có thể nghe hơi trừu tượng khi trái tim chúng ta buồn phiền và đau đớn trước ký ức về một người thân yêu đã mất. Vẫn sống trong ký ức của chúng ta chưa phải là một hình thức đầy đủ của sự bất tử, còn vẫn sống trong ký ức của Chúa có thể có vẻ quá trừu tượng nên không thể ủi an được mấy. Tôi không nghi ngờ rằng những người thân yêu của chúng ta vẫn sống trong “bản thể tất nhiên” của Chúa hay họ vẫn sống trong sự hiệp thông các thánh, nhưng tôi tin rằng có một điều gì đó hơn thế nữa, dựa trên cách những ký ức của chúng ta về sắc màu riêng của họ đang tác động và nuôi dưỡng chúng ta ở bên này.

Tôi tin rằng những gì mà họ đã hiện thân một cách tuyệt vời và riêng trên trần gian này vẫn tiếp diễn, tiếp tục ở phía bên kia. Tôi ngờ rằng có nhiều hơn là mây trắng, đàn hạc và các thiên thần bay lượn trên thiên đường, nhưng thiên đường đó đầy dí dỏm, sắc màu và hài hước, và đầy những câu chuyện cực kỳ tinh quái bởi vì bất cứ khi nào chúng ta nhớ lại những điều đó về những người thân yêu đã mất, ký ức về họ lại trở nên ấm áp và nuôi dưỡng chúng ta. 

Sống trong ánh sáng

Cách đây vài năm, có một người đàn ông đến xin tôi làm cha øi hướng dẫn thiêng liêng cho ông. Ông ấy ngoài bốn mươi và gần như mọi chuyện chung quanh ông chứng tỏ ông là người mạnh khỏe. Khi chúng tôi ngồi xuống nói chuyện, tôi có nói cho ông biết, tôi thấy mọi thứ xung quanh ông có vẻ đang tốt đẹp. Ông mỉm cười và trả lời rằng, đúng, bây giờ thì đúng như vậy, nhưng trước đây không thì không vậy. Hạnh phúc của ông có câu chuyện riêng của nó… và cả tiền sử của nó. Đây là câu chuyện ông kể:

“Trong đời tôi, không phải khi nào bản thân tôi và mọi thứ xung quanh đều êm đẹp; thực tế là, để được như ngày hôm nay là cả một nỗ lực khó khăn chật vật lâu dài của tôi. Hơn 20 mươi năm nay, từ lúc tôi rời trường phổ thông trung học cho đến cách đây ba năm, tôi đã vật lộn với hai chứng nghiện: nghiện rượu và nghiện tình dục. Tôi kiểm soát được chúng ở mức đủ để về căn bản, tôi có thể giấu không cho gia đình, bạn bè và đồng nghiệp biết. Tôi cũng không bao giờ hành xử lộ liễu nguy hiểm gì cho lắm. Tôi nghiện, nhưng vẫn kiểm soát được đời mình một cách tốt đẹp. Vấn đề là tôi sống hai mặt – một mặt là cuộc sống với gia đình, bạn bè và mặt kia là cuộc sống lén lút (rượu, sách báo phim ảnh khiêu dâm, các quán rượu với gái). Tôi chưa bỏ việc ngày nào và luôn luôn hoàn thành công việc ở mức chuyên nghiệp cao, nhưng cuộc sống của tôi dần dần bắt đầu dính chặt hơn với hai thứ nghiện đó – giấu diếm, nói dối về những gì tôi làm, dữ tợn bảo vệ những thứ riêng tư của tôi, phẫn nộ với bất cứ điều gì hay bất cứ ai đứng ngáng giữa tôi và hai thứ tôi nghiện, và ngày nào tôi cũng bất ổn, tính toán xem tối đến sẽ đi đâu. Tôi làm việc nghiêm chỉnh và giữ các mối quan hệ nghiêm chỉnh, nhưng tâm trí tôi, và sự quan tâm chú ý thật sự của tôi cứ nhắm vào một thứ khác, những thứ tôi nghiện, chuyện tôi muốn và sắp làm. 

Tôi không biết rõ điều gì đã châm ngòi khởi sự, nhưng có một loạt các sự kiện giáng xuống cùng một lúc (cái chết của cha tôi, một vài lần suýt chút bị lộ, một vài chuyện rất nhục nhã, và một vài giây phút sáng tỏ may mắn khi tôi nhận thấy cả cái đạo đức giả của mình lẫn con đường cụt mà mình đang đi), cách đây ba năm tôi tham dự một khóa tu ở một tu viện và thu hết can đảm để nói chuyện rất lâu với cha tu viện trưởng. Cha gợi ý tôi nên tham gia hai chương trình phục hồi, một là về rượu và một về tình dục. Tôi theo lời khuyên của cha, và tất cả những gì tôi có thể nói là, điều đó đã xoay chuyển hẳn cuộc đời tôi. Tôi bây giờ đã “tỉnh táo” được ba năm và nói đúng nhất là bây giờ “tôi đã lại thấy được màu sắc.” Không có điều gì mang lại cảm giác tuyệt vời hơn là được trung thực chính đáng! Tôi chưa bao giờ hạnh phúc như thế này. Tôi giờ đang sống trong ánh sáng!”

Chúng ta được mời gọi sống trong ánh sáng, nhưng chúng ta có xu hướng lãng mạn quá sức về việc sống trong ánh sáng. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng sống trong ánh sáng có nghĩa là cần phải có một kiểu ánh sáng đặc biệt trong lòng chúng ta, một ánh hào quang thiêng liêng lấp lánh trong lương tâm, một niềm vui óng ánh trong lòng khiến lúc nào chúng ta cũng muốn ngợi ca Chúa, một không gian ánh sáng thiêng liêng quanh suy nghĩ của chúng ta. Nhưng đó là chuyện không thật. Sống trong ánh sáng nghĩa là gì?

Sống trong ánh sáng nghĩa là sống trong trung thực, trong sáng và giản dị, minh bạch, không có mảng tối bí mật giấu diếm nào.

Mọi chương trình chuyển hóa và phục hồi xứng đáng với tên gọi này đều đặt cơ sở trên việc đưa chúng ta trở về với loại trung thực chính đáng này. Chúng ta có được tình trạng khỏe mạnh về tâm trí chính xác là bằng cách quét phăng đi những bí mật ghê tởm nhất của mình và đưa chúng ra ánh sáng. Sống tiết độ là sống trong sự trung thực chính đáng và minh bạch, chứ không phải sống không có bất kỳ hóa chất nào, không cờ bạc hay thói quen tình dục. Chính chuyện giấu diếm điều gì đó, chuyện nói dối, không trung thực không chính đáng, lừa lọc, hay những phẫn uất mà chúng ta ấp ủ đối với những người đứng ngáng đường giữa ta và các thứ nghiện của ta, mới gây ra tổn hại thật sự tới chúng ta và những người chúng ta thương yêu. 

Tình trạng khỏe mạnh về tâm trí là ở sự trung thực chính đáng và sự minh bạch, vì thế chúng ta sống trong ánh sáng khi chúng ta sẵn sàng mở ngỏ mọi mảng trong cuộc sống, cuộc đời mình cho những ai cần tin tưởng chúng ta xem xét.

Sống trong ánh sáng nghĩa là luôn luôn có thể nói cho những người chúng ta yêu thương biết là ta đang ở đâu và đang làm gì.Sống trong ánh sáng là không phải lo lắng ai đó sẽ truy ra được những trang web nào ta đã truy cập vào.Sống trong ánh sáng là không chột dạ bồn chồn khi ai đó trong gia đình mình thấy tủ hồ sơ của mình không khóa.Sống trong ánh sáng là có thể để cho những người chung sống với ta nghe những gì trong điện thoại di động của ta, thấy những gì trong hộp thư điện tử của ta, và biết những ai trong danh sách gọi nhanh của chúng ta.Sống trong ánh sáng là có một người nghe ta thổ lộ và có thể nói với người đó về chuyện gì chúng ta đang gắng gỏi chật vật mà không phải giấu diếm điều gì.Sống trong ánh sáng là sống theo cách mà, đối với những ai biết ta, cuộc sống, cuộc đời ta giống như một quyển sách để mở.