RonRolheiser,OMI

Hãy sống bớt sợ hãi 

Chúng ta sống quá sợ hãi Thiên Chúa. Sự sợ hãi có nhiều khía cạnh, từ mê tín ngây ngô, sợ bị áp chế vì quá thận trọng, sợ đầy tính trí tuệ vì quá cầu kỳ. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều đấu tranh để giữ tin rằng Thiên Chúa là người cuối cùng mà chúng ta phải cảm thấy sợ hãi. Nhưng mỗi người theo cách riêng của mình, ai cũng chống chọi với nỗi sợ Thiên Chúa. 

Tất nhiên là có nỗi sợ lành mạnh, không chỉ sợ Chúa mà còn sợ bất cứ ai chúng ta yêu. Kinh Thánh nói cho chúng ta biết rằng “kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của trí khôn ngoan”, nhưng sợ, trong trường hợp này không được hiểu theo nghĩa sợ trừng phạt hay sợ độc đoán. Kính sợ Thiên Chúa theo ý thức lành mạnh về cơ bản là niềm sợ trong tình yêu, sợ không được sống với sự tôn sùng và kính trọng thích đáng với người mà chúng ta yêu, ấy là, sợ xâm phạm vào cái ranh giới thích đáng của tình yêu. Tuy nhiên, kính sợ không phải là sợ lửa địa ngục, như người ta vẫn thường hiểu như thế. Sợ hãi đối nghịch với lòng tin và là dấu chỉ cho thấy tình yêu của chúng ta có vấn đề. Chúng ta không sợ điều mà chúng ta yêu và điều thật sự yêu chúng ta.

Toàn bộ cốt lõi của đức tin Kitô giáo mời gọi chúng ta hướng đến Chúa trong sự thân mật hơn là sợ hãi. Thật vậy, trong Kinh Thánh, gần như mọi lần Thiên Chúa xuất hiện trong đời sống bình thường, dù qua thiên thần, một hiện tượng đặc biệt, hay qua Đức Kitô Phục Sinh, lời đầu tiên luôn luôn là: “Đừng sợ!” Tiêu chuẩn thông thường để xác định một lời xuất phát từ tình yêu, đó là việc xoa dịu nỗi sợ chứ không phải làm tăng nỗi sợ.

Ý thức như thế, tôi muốn đưa ra mười nguyên tắc, bắt nguồn từ chính con người và những mặc khải của Chúa Giêsu, và tôi hy vọng nó có thể giúp các bạn có được cái nhìn tinh tuyền về Thiên Chúa, để nhờ đó đức tin chúng ta sẽ loại bỏ nỗi sợ thay vì tăng cường nó.

Tôi xin mở đầu bằng một câu chuyện, mặc dù là một chuyện có thật, nhưng các bạn có thể dùng như một dụ ngôn để trình bày và làm nổi bật nhiều nỗi sợ vô ý thức về Thiên Chúa: Sợ rằng Thiên Chúa không thông hiểu và thông cảm như chúng ta. Sợ rằng Thiên Chúa không quãng đại bằng chúng ta. Sợ rằng Thiên Chúa không hiểu được tâm can con người và không thể phân biệt được giữa tình trạng bị tổn thương với sự lạnh nhạt, giữa non nớt và tội lỗi. Sợ rằng Thiên Chúa chỉ cho chúng ta một cơ hội và không chấp nhận bất kỳ sơ suất lầm lỗi và bội ước nào của chúng ta. Sợ rằng Thiên Chúa không tôn trọng cá tính nhân bản của chúng ta, rằng Thiên Chúa đã tạo thành chúng ta theo một kiểu nhưng lại muốn chúng ta, để được cứu rỗi, thì phải sống theo kiểu khác. Sợ rằng Thiên Chúa như một bạo chúa nhỏ nhen, e ngại những thành quả của chúng ta đe dọa Ngài. Sợ rằng Thiên Chúa, như một lãnh tụ mỏng manh, e ngại những hoài nghi và thắc mắc của chúng ta lật đổ Ngài. Sợ rằng Thiên Chúa không thể đứng vững trước những dò xét trí thức và văn hóa của chúng ta, và theo cách nào đó cần được tách biệt ra và được bảo vệ như một kẻ học việc lóng ngóng vậy. Sợ rằng, so với chúng ta, thì Thiên Chúa thiếu quan tâm đến cuộc sống của chúng ta, và thiếu lo lắng cho ơn cứu rỗi và cho những người thân thuộc của chúng ta. Và một điều nữa, là sợ rằng, cũng như chúng ta, Thiên Chúa cũng bất lực trước sự bất lực về đạo đức như chúng ta. 

Và đây là câu chuyện dụ ngôn của tôi: Một vài năm trước, tôi đi dự đám tang của một người bạn trẻ, mất vì tai nạn giao thông. Vào giờ chết của anh, nhìn bề ngoài, thì mối liên hệ với giáo hội và giáo lý rất kém: Anh không đi nhà thờ thường xuyên, chung sống với bạn gái chưa có hôn thú, chẳng quan tâm mấy đến người nghèo hay các vấn đề lớn của cộng đồng, đơn giản, anh dự phần vào giáo hội và giáo lý một cách khá là nghèo nàn. Nhưng tất cả người quen biết anh đều nhận thức được sự tốt đẹp căn bản và tâm hồn tuyệt vời của anh. Anh chẳng có chút gì gọi là ác tâm và hẳn thiên đàng sẽ bớt lung linh hơn nếu anh không được ở đó. Sau khi các nghi thức an táng được cử hành, một trong những người dì của anh nói với tôi: “Nó thật là một người tốt, nếu tôi là người quản cổng Thiên Đàng, chắc chắn tôi sẽ cho nó vào.” Tôi cũng quả quyết với cô, là chắc chắn, Thiên Chúa cũng cảm thấy như thế, bởi sự hiểu biết và lòng bao dung của Ngài hoàn toàn vượt xa chúng ta.

Vậy còn mười nguyên tắc để mời gọi chúng ta sống bớt sợ hãi hơn là gì? 

1. Sự thấu suốt và hiểu biết của Thiên Chúa vượt trên chúng ta.

2. Sự cảm thông và tha thứ của Thiên Chúa vượt trên chúng ta.

3. Thiên Chúa tôn trọng tự nhiên, tôn trọng bản chất con người và thiên hướng bẩm tính của chúng ta.

4. Thiên Chúa là người cha nhân từ, chứ không phải người cha dọa nạt

5. Thiên Chúa có thể giải quyết những vấn nạn, hoài nghi và giận dữ của chúng ta.

6. Thiên Chúa dò thấy tâm tư và có thể phân ra được khác biệt giữa tổn thương và ác tâm.

7. Thiên Chúa cho chúng ta không chỉ một cơ hội, và khi chúng ta đóng lại một cánh cửa, Ngài luôn mở ra một cánh cửa khác.

8. Thiên Chúa khao khát cho chúng ta và những người chúng ta yêu thương được cứu độ, và Ngài còn khao khát điều này hơn chúng ta nữa.

9. Thiên Chúa là Đấng tạo thành những gì tốt đẹp.

10. Thiên Chúa có thể, và thật sự đã, xuống tận địa ngục để cứu chúng ta.

“Tình yêu không biết đến sợ hãi, trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt, và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo.” (1 Ga 4, 18)

Không bao giờ để bị nản chí 

Có một câu thành ngữ Na Uy như thế này: Anh hùng hệ tại ở chỗ bám chặt thêm một phút nữa.

Khi tôi còn học tiểu học, một trong những câu chuyện thuộc môn văn, có tựa đề như thế, và nó kể về một cậu bé bị rơi vào tảng băng khi đang trượt tuyết, em phải bám lấy gờ khối băng, lạnh lẽo và đơn độc chẳng có một ai giúp. Treo trên khối băng như thế là một tình trạng tuyệt vọng, và nhiều lần cậu chỉ muốn lơi tay, vì thấy sẽ chẳng có ai đến cứu mình. Nhưng cậu vẫn cố giữ, dù trong đầu vẫn còn đấu tranh với nó về chuyện này. Cuối cùng, khi dường như tất cả mọi hy vọng tan biến, cậu gắng giữ thêm một phút nữa, và rồi sau đó có người xuất hiện giúp cậu. Đây là một câu chuyện đơn giản, và bài học của nó cũng vậy: Cậu bé này sống sót nhờ cậu dũng cảm và có sức mạnh để giữ chặt thêm một phút nữa. Người giải cứu sẽ đến ngay khi bạn vừa từ bỏ, vì thế hãy giữ can đảm và chờ đợi thêm một phút nữa.

Đây là một câu chuyện anh hùng về mặt thể lý, và nó thể hiện được rõ ràng ngụ ý của nó, anh hùng thường cốt tại chỗ giữ vững đủ lâu, bám lấy khi dường như mọi thứ là vô vọng, chịu đựng cái lạnh và đơn độc trong lúc chờ đợi một ngày mới.Kinh Thánh cũng dạy nhiều về tính anh hùng như thế: Trong thư thứ hai gởi Giáo đoàn Thesalonica, thánh Phaolô kết một lời khuyên dài và đầy thách thức bằng câu: Con đừng sờn lòng nản chí làm điều thiện. Và trong thư gởi tín hữu Galat, ngài gần như cũng nói ra câu thành ngữ Na Uy trên: Khi làm điều thiện chúng ta đừng nản chí, vì đến mùa chúng ta sẽ được gặt, nếu không sờn lòng.

Nghe thì có vẽ đơn giản, nhưng nó là điểm mấu chốt cho nhiều nỗ lực tinh thần của chúng ta. Chúng ta bỏ cuộc quá sớm, chấp nhận quá sớm, và không để cho sự đơn độc đi hết con đường của nó. Đơn giản là chúng ta không chịu đựng áp lực đủ lâu.

Tất cả chúng ta đều từng có những áp lực trong cuộc sống: áp lực gia đình, bạn bè, công sở, giáo hội, cộng đoàn, trong câu chuyện với những người chung quanh, trong chính trị và những sự kiện khác nữa. Và chúng ta những người có tâm, chúng ta còn mang áp lực phải kiên nhẫn, tôn trọng, tử tế, và chịu đựng trong một thời gian! Rồi, đến một lúc nào đó, chúng ta thấy mình chạm đến giới hạn, mệt mỏi với hành động sao cho đúng đắn, cảm thấy có gì đó nhói đau trong lòng, và nghe một tiếng nói nội tâm vang lên: Đủ rồi! Tôi đã theo cái này quá lâu rồi! Tôi sẽ không chịu đựng thêm chút nào nữa! Và rồi, khác với cậu bé treo trên vách đá kia, chúng ta bỏ đi. Chúng ta gạt qua một bên kiên nhẫn, tôn trọng, tử tế, và chịu đựng, hoặc bằng cách trút mọi thứ ra hay đơn giản trốn chạy hoàn cảnh với cảm giác như thoát nợ. Trong cả hai cách, chúng ta đều từ chối không chịu sống dưới áp lực thêm phút nào nữa.   

Nhưng chính lúc chúng ta phải chọn lựa giữa từ bỏ và bám vững, giữa chống đỡ với áp lực hay thoát nó, chính đó là thời điểm mang tính mấu chốt xác định cá tính: dũng khí, cao thượng, vô cùng trưởng thành, và tâm hồn thánh thiện thường thể hiện với những câu hỏi sau đây: Chúng ta có thể chống đỡ được bao nhiêu áp lực đây? Sự kiên trì chịu đựng của chúng ta đến được mức nào? Chúng ta có thể chịu đựng được bao nhiêu đây? Những bậc cha mẹ trưởng thành chịu đựng nhiều áp lực trong việc nuôi dạy con cái. Các thầy cô trưởng thành chịu nhiều áp lực khi cố gắng mở mang đầu óc và tâm hồn học sinh. Những bạn bè trưởng thành phải chịu nhiều áp lực để trung thành với bạn mình. Các người trẻ phải chống đỡ với nhiều áp lực tình dục trong thời gian tiền hôn nhân. Những Kitô hữu trưởng thành chịu nhiều áp lực khi thấy những non nớt và tội phạm của giáo hội. Người ta đúng thật cao thượng khi họ có thể tiến bước với kiên nhẫn, tôn trọng, tử tế, và chịu đựng giữa những xô đẩy và áp lực bất công, và không bao giờ mệt mỏi khi làm điều đúng đắn.

Tất nhiên, chúng ta vẫn được cho biết rằng: Mang lấy áp lực không có nghĩa là bị lạm dụng. Những đặc tính cao thượng và sự thánh thiện tâm hồn thách thức sự lạm dụng hơn là đồng thuận và hỗ trợ nó. Đôi khi, dưới danh nghĩa của đức hạnh và trung kiên, chúng ta lại ủng hộ việc chấp nhận lạm dụng, nhưng như thế là đối nghịch với những gì Chúa Giêsu đã làm. Ngài đã yêu, đã thách thức, và chịu áp lực để xóa tội cho thế gian. Nhờ trải nghiệm xót xa lâu dài, chúng ta biết rằng bất kể ý định của chúng ta có cao thượng thế nào, nếu chúng ta chấp nhận lạm dụng thay vì đứng lên thách thức nó, thì chúng ta chẳng xóa tội, mà lại còn tăng sức cho nó.

Nhưng tất cả những điều này chẳng dễ dàng gì. Đó là con đường đơn độc kéo dài, với nhiều cám dỗ xúi chúng ta bỏ cuộc . Nhưng nếu bạn bền chí và không bao giờ mệt mỏi đối với hành động đúng đắn, thì lúc lìa đời, những người biết bạn sẽ hạnh phúc và biết ơn vì bạn đã tiếp tục tin tưởng vào họ ngay cả khi họ mất tin tưởng vào chính mình.

Kiêu ngạo một cách tinh vi

Một trong những đặc tính tuyệt vời nhất của con trẻ là sự chân thật trong cảm xúc của chúng. Chúng không giấu diếm cảm xúc hay mong muốn của mình. Chúng không tinh vi. Khi muốn điều gì, đơn giản là chúng đòi. Chúng kêu la, chúng khóc thét. Chúng vồ lấy đồ từ tay người khác. Và chúng không hổ thẹn vì những hành động này. Chúng chẳng xin lỗi vì tính ích kỷ và cũng không che đậy nó.

Khi lớn lên, chúng ta điều khiển cảm xúc chuẩn mực hơn, và bỏ gần hết những kiểu cách trên. Nhưng chúng ta cũng trở nên thiếu chân thật hơn về cảm xúc. Sự ích kỷ và lỗi phạm của chúng ta bớt thô thiển hơn, nhưng, chúng là cố hữu vĩnh viễn, không bao giờ thật sự biến mất. Chúng chỉ trở nên tinh vi hơn mà thôi.

Từ xa xưa, giáo hội đã định danh cho những ích kỷ và lỗi phạm với cái tên “bảy mối tội đầu”: kiêu ngạo, ghen tỵ, nóng giận, lười biếng, tham lam, ham muốn và dâm dục. Khi ở dạng thô thiển nhất của nó, các tính xấu này thể hiện thật rõ ràng. Nhưng ở dạng tinh vi hơn thì sao? Ở những người được cho là trưởng thành, thì chúng thể hiện như thế nào? Chẳng phải là nhiều ngòi bút thiêng liêng lớn, đã viết nhiều khảo luận, với mức độ sắc sảo khác nhau, về cái mà họ gọi là những lỗi phạm tôn giáo của những người đã bước qua sự cải hoá ban đầu đó sao? Và chẳng phải đôi khi thật đáng để chúng ta chân thành nhìn lại mình, tự hỏi làm cách nào mà chúng ta đã biến những lỗi phạm thô thiển nhất thời trẻ con thành những lỗi phạm tinh vi hơn của người lớn, hay sao? Ví dụ như, trong đời sống của mình, tính kiêu ngạo biểu hiện theo những cách tinh vi hơn, như thế nào?

Cái cách mà tính kiêu ngạo tồn tại trong tuổi trưởng thành của chúng ta, được Chúa Giêsu mô tả rõ ràng nhất trong dụ ngôn nổi tiếng về người Biệt phái và người Thu thuế. Người Biệt phái, nhân vật xấu trong dụ ngôn này, tự hào mình trưởng thành về mặt thiêng liêng và nhân bản. Đó là kiêu ngạo tinh vi mà hầu như chúng ta không thể tránh khỏi. Khi chúng ta đã trưởng thành về mặt đạo đức và tôn giáo, thì gần như chúng ta không thể đem mình ra để so với những kẻ đang còn đấu tranh trong chuyện này và cũng không thể không rơi vào tình trạng thiển cận tự mãn, không thích họ, khinh thường họ đang ở trong tình trạng đó. Nhiều ngòi bút thiêng liêng đã thường mô tả lỗi phạm trên như thế này: Kiêu ngạo nơi những người trưởng thành nằm ở dạng chối bỏ sự nhỏ bé của mình trước mặt Chúa, và từ chối nhận thức cho đúng mối tương quan với tha nhân. Và đó chính là chối bỏ việc chấp nhận thân phận thấp hèn của mình, cụ thể là từ chối nhận thức rằng chúng ta đang đứng trước mặt Chúa và tha nhân với đôi bàn tay trắng và rằng tất cả những gì chúng ta có và đạt được đều là nhờ ơn Chúa, hơn là do nỗ lực riêng của chúng ta.

Khi chúng ta trưởng thành, tính kiêu ngạo thường trá hình dưới lớp vỏ khiêm tốn, vốn là một chiến lược để được đề cao nhiều hơn. Làm như vậy là áp dụng lời mời gọi của Chúa Giêsu: Bất kỳ ai muốn nên người đứng đầu phải làm người rốt hết và phục vụ cho tất cả anh em mình! Rồi khi chúng ta ở vị trí rốt hết và xắn tay phục vụ, chúng ta không thể thoát được cảm giác tự cho mình rất tốt, nuôi dưỡng trong lòng một nhận thức thầm kín, tính khiêm tốn của mình là yếu tố ưu việt và là cái gì đó, nhờ nó mà sau này mình sẽ được người khác nhận ra và  ngưỡng mộ.

Cũng vậy, khi chúng ta trưởng thành, kiêu ngạo có khuôn mặt tinh vi như sau: Chúng ta sẽ bắt đầu làm những điều đúng đắn cho những nguyên do đúng đắn, mặc dù thường thì đó cách chúng ta tự dối gạt mình, vì xét cho cùng, chúng ta bắt tay làm điều tốt là chỉ để phục vụ cho tính kiêu ngạo của mình mà thôi. Động cơ để chúng ta rộng lượng thường là do mong muốn được cảm thấy mình tốt, hơn là do tình thương đích thực dành cho tha nhân. Ví dụ, nhiều lần trong suốt thời linh mục của tôi, tôi đã nung nấu ý muốn dọn vào nội thành sống giữa những người nghèo, xem đó là dấu chỉ cho sự dấn thân của tôi với công bằng xã hội. Một cha linh hướng đã chỉ ra cho tôi rằng, ít nhất, trong trường hợp của tôi, việc dọn đến đó chắc chắn sẽ làm lợi cho tôi hơn là cho người nghèo. Dọn đến đó ở với họ sẽ làm cho tôi thấy tốt đẹp, nâng cao vị thế của tôi giữa linh mục đoàn, và là dấu ấn tuyệt vời trong lý lịch của tôi, nhưng sẽ chẳng sinh ích nhiều cho người nghèo, trừ phi tôi biết thay đổi tận căn bản thân mình. Xét cho cùng thì hành động đó của tôi sẽ phục vụ cho tính kiêu ngạo của tôi hơn là cho người nghèo.

Bà Ruth Burrows cảnh báo rằng động lực kiêu ngạo này có trong các động cơ cầu nguyện và sống độ lượng của chúng ta. Vì thế, bà viết: “Cái cách chúng ta lo lắng cho việc mất linh hồn, không biết cầu nguyện, cho những rối trí, những ý nghĩ ngu ngốc và những cám dỗ mà chúng ta không thể tránh được…., không phải vì sợ Chúa bị lừa dối, Ngài không thể bị lừa dối, lý do thật sự là chúng ta không được quá đỗi tốt đẹp theo mức mà chúng ta mong muốn.” 

Và sự kiêu ngạo tinh vi, luôn luôn kèm theo nó một phán định hạ giá về người khác. Điều này chúng ta thấy rõ nhất trong khoảng thời gian ngắn sau khi chúng ta trở lại; khi một người trẻ sốt sắng, vừa mới trở lại, mới bước đầu dấn thân phục vụ và công bằng, vẫn còn vương vấn cảm giác của thời kỳ nồng nhiệt ban đầu, sẽ nghĩ rằng chỉ có họ mới biết cách để nối kết với tha nhân, với Chúa Giêsu, và với người nghèo. Nhiệt tình này thật đáng ngưỡng mộ, nhưng sự kiêu ngạo luôn sản sinh ra hai thứ xấu xa cùng lúc, đó là kiêu căng ngạo mạn và cảm giác ưu việt.  

Kiêu ngạo gắn chặt bất phân với bản chất chúng ta, và phần nào nó là thứ lành mạnh, nhưng chúng ta buộc phải đấu tranh cả đời để giữ nó được lành mạnh.

Não trạng cục bộ và nỗi sợ: Bất xứng với Kitô giáo

Trong quyển sách mới nhất, bao gồm một loạt bài tiểu luận của mình, với tựa đề “Khi tôi còn nhỏ, tôi đọc sách”, Marilynne Robinson có viết một bài tựa đề là “Tình yêu cao vời.” Bà khởi đầu bài đó với tự thuật nói lên niềm tin Kitô hữu thâm sâu và lâu bền, cùng với nỗi băn khoăn và kinh hãi ngày càng sâu sắc về mầu nhiệm Thiên Chúa. Một vài nỗi sợ mà bà nhắc tới có liên quan đến những hiện thực thời nay trong nhiều giáo hội và nơi nhiều người trong chúng ta, cụ thể là những hình thức mới của vấn đề cục bộ và nỗi sợ đang làm xuống cấp, biến Thiên Chúa cao vời của chúng ta thành một “Thần Linh riêng” hay một kiểu “thần Baal địa phương” của riêng chúng ta mà thôi.

Bà xác nhận một thực tế, chúng ta quá thường xuyên khẩn cầu Thiên Chúa của mọi nước, mọi nhà, và mọi người, như thể là một Thiên Chúa của riêng nước chúng ta, nhà chúng ta, và mỗi người chúng ta. Bà trích dẫn ra nhiều ví dụ về điều này, bao gồm việc bà thấy buồn lòng khi các Kitô hữu chân thành lại không chịu thừa nhận sự chân chính nơi người khác. Bà viết, “Tôi phải thừa nhận rằng những người không đồng tình với quan điểm Kitô giáo của, họ vẫn là những Kitô hữu, rằng chúng ta là những thành viên trong cùng một mái nhà chung. Tôi thú nhận, đã biết bao nhiêu lần tôi thấy thật khó khăn để làm được như vậy. Trở ngại này, một phần phát xuất từ một thực tế là tôi có đủ lý do để tin rằng họ sẽ không hành xử rộng lượng như thế đối với tôi.” Bà đã nói đúng, một quan điểm như thế không xứng đáng với Thiên Chúa, với tinh thần Kitô, và với những gì tốt nhất trong chúng ta. Thực sự, nhận thức của chúng ta không đến nỗi như thế, nhưng chúng ta thường không hành động theo đó, và rồi chúng ta đáng được chỉ mặt đặt tên theo cái mà Freud gọi là “chủ nghĩa vị kỷ từ những khác biệt nhỏ.” 

Và gốc rễ của điều này chính là nỗi sợ, sợ nhiều chuyện. Một trong những nỗi sợ này là sợ thế giới thế tục hóa, và cảm nhận này đã đẩy chúng ta quá thiên về những gì thuộc di sản Giáo hội và các giá trị đạo đức của mình. Tôi trích ra đây lời của bà Robinson: “Những người này thấy chủ nghĩa thế tục như xồng xộc đến để đẩy tôn giáo ra ngoài rìa, hoặc vô hiệu hóa hoàn toàn, và vì tinh thần Kitô, họ muốn các chính khách nói lên những lời tuyên xưng đức tin, muốn các thương gia, vào những ngày lễ, treo các biểu ngữ nói chính xác đó là lễ gì chứ không đơn giản viết loa qua “Mừng lễ.”

Tuy nhiên, bà Robinson không tin tưởng vào việc viện đến các chính khách để bảo vệ Kitô giáo. Tại sao ư? Bởi vì “trong thời sơ khai của mình, đất nước này (Hoa Kỳ) tràn ngập dân cư là những người trốn tránh sự bách hại về tôn giáo của các giáo hội quyền thế, cho dù đó là phái Tin Lành Pháp quốc, Giáo hội Trưởng lão của Scotland, phái Giáo đoàn ở Anh quốc, hay giáo hội Anh giáo.” Bà còn nói thêm, “Bởi các anh hùng trong đạo của tôi thường hay chết đau đớn dưới các chế độ đó. Tôi không luyến tiếc gì cái thế giới thời chưa thế tục hóa này, những người ủng hộ một ‘quốc gia Kitô giáo’, nếu như biết nhìn lại đôi chút về lịch sử truyền thống của chính họ, thì hẳn cũng sẽ làm như tôi vậy.”

Bà cho rằng, việc chúng ta sợ sự thế tục hóa, có điều gì đó thật mỉa mai vô cùng: Chúng ta sợ sự thế tục hóa bởi vì chúng ta, thực sự đã chủ quan hóa định kiến to lớn chống lại Kitô giáo, cụ thể, là chúng ta tin rằng đức tin và Kitô giáo không thể chống lại nổi sự dò xét của một nền văn hóa tri thức đã được tinh vi hóa. Và nỗi sợ đó là gốc rễ của chủ nghĩa bài tri thức, vốn đang nổi bật trong nhiều nhóm tôn giáo và giáo hội hiện nay. Bao nhiêu phần trong nỗi lo sợ cho Kitô giáo của chúng ta có thể là do thành kiến này? Tại sao chúng ta quá sợ hãi thế giới của mình và sợ cả tri thức thế tục hóa nữa?

Bà Robinson khẳng định rằng, nỗi sợ này sản sinh ra một tư tưởng đối kháng không xứng với Kitô giáo. Nỗi sợ và tâm thức đối kháng đang thành một xu thế lấn át trong các nhóm tôn giáo hiện nay, và lại còn được xem như là dấu chỉ của đức tin và trung tín. Như thế là lành mạnh ư? Không. Không sợ cũng không đối kháng, bà cho rằng “là Kitô hữu, một suy nghĩ nhỏ như thế này cũng không có, một hành động loại này cũng không có, như thế mới xứng đáng là người Kitô.” Hơn nữa, “nếu niềm tin vào Chúa Kitô là điều cần thiết để đạt đến sự sống đời đời, thì tất cả những ai gọi mình là Kitô hữu, hay bất kỳ tổ chức nào tự gọi mình là giáo hội, đều phải làm vẻ vang cho đức tin, hay ít nhất là đừng làm đức tin bị khó dễ hay bị người ta ghét bỏ. Biến Thiên Chúa thành một thần linh riêng, hay một kiểu thần Baal địa phương, là một hành động phá hoại và đáng hổ thẹn.”

Bà thêm rằng, sợ hãi và đối kháng chẳng làm được gì để người ta tôn trọng Kitô giáo và các giáo hội của chúng ta, và với chừng mực mà chúng ta gắn kết chúng với Kitô giáo, thì chúng ta có nguy cơ bôi xấu Kitô giáo dưới mắt người đời. Nhưng trong bầu khí thời nay, ai nói như vậy bị xem là người không yêu đạo. Chúng ta không phải quan tâm xem thế gian nghĩ gì. Nhưng đó là thế giới mà chúng ta cố gắng biến đổi nó. Và vì thế, chúng ta cần phải cẩn trọng để không trình bày Kitô giáo như một thứ vô phẩm cách, bài ngoại, một thứ không xứng đáng với Thiên Chúa cao vời toàn hữu của chúng ta.Nếu như chúng ta tin rằng Kitô giáo là sự thật thâm sâu nhất và tin rằng Chúa Kitô sẽ ở với chúng ta đến ngày tận thế, thì tại làm sao chúng ta lại sợ hãi như thế? Câu cuối cùng trong bài của bà tóm gọn lại thách thức mà ngày nay chúng ta cần phải cấp thiết nắm lấy. “Kitô giáo là một trình thuật quá lớn lao không thể hạ giá mà đem phục vụ cho những ý muốn hạn hẹp hay bị hạn chế thành lệ thuộc trong những câu chuyện thấp kém hơn. Đặc biệt, lòng sùng kính không được bị hạ thấp thành não trạng cục bộ, bực bội hay sợ sệt.”

Ý chí thôi không đủ

John Shea viết một bài thơ in dấu vết của thánh Gioan Batít. Bài thơ bắt đầu khi thánh Gioan đang ở trong tù, nghe điệu nhảy trên đầu mình và biết rằng, sau điệu nhảy là ông sẽ bị chặt đầu. Kỳ lạ thay, ông không quá xao động. Vua Hérode đang muốn cho cô con gái của bà Hérodias nữa vương quốc của mình và Gioan cảm nhận ông cũng có thể chết trong chuyện này, dù ông chỉ là một người dở dang. Vì sao ông cảm thấy ông là người dở dang? Vì bài thơ nói như vậy, ông chỉ là vị tiên tri dở dang, chỉ làm lưng chừng công việc của mình. Và thánh Gioan nghĩ như sau:

Tôi có thể tố cáo một vị vua, nhưng tôi không thể tấn phong vua nào.Tôi có thể tước quyền lực của một ngẫu tượng nhưng tôi không thể vén mở một Thiên Chúa thật.Tôi có thể rửa sạch tâm hồn trong cát nhưng tôi không thể mặc nó lại cho trắng.Tôi có thể uống Lời Chúa như uống mật ong nhưng tôi không thể cột giây giày cho Người.Tôi có thể lên án tội nhưng tôi không thể mang lấy nó. 
Đó là Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian.

Thánh Gioan Batít ý thức được sức mạnh và sự bất lực của mình. Ông có thể nói cho biết cái gì có thể làm và không thể làm, nhưng sau đó thì ông bất lực, không tạo được một sức mạnh cần thiết nào để sửa chữa lỗi lầm.

Thực chất đó là những gì chúng ta làm trong tất cả mọi trạng huống khi chúng ta phê phán một chuyện gì. Chúng ta thường sôi nổi và khúc chiết khi nói về những chuyện tiêu cực. Giống như thánh Gioan-Batít, không được đánh giá thấp sự đóng góp này. Các Phúc Âm nói cho chúng ta biết, bên cạnh Chúa Giêsu, không có ai quan trọng hơn thánh Gioan Batít. Nhưng cũng như thánh Gioan, chỉ phê phán thôi thì chỉ mới làm một nửa việc, nói tiên tri nửa chừng: Ông có thể tố cáo một vị vua, đưa ra những điểm sai, ông có thể rửa tâm hồn trong cát, bằng cách tẩy sạch các lớp mòn, dơ bẫn tích tụ, nhưng rốt cùng, ông không thể nào sửa được gì. Cần phải có một chuyện khác. Chuyện gì?

Ai đã thử vượt lên tình trạng nghiện thì có thể trả lời câu hỏi này. Có một cái đầu sáng suốt, tầm nhìn sáng suốt cái gì phải làm, một quyết tâm sắt son bỏ thói quen xấu, chỉ mới đi nửa đường, mới giai đoạn đầu, tuy quan trọng nhưng chỉ mới khai mào. Phần sắp tới mới là khó nhất: Tìm đâu và và cách nào để hỗ trợ sức lực cần thiết để thay đổi tư cách và bỏ thói quen xấu? Ai đã từ bỏ được tình trạng nghiện sẽ nói cho bạn biết rằng, cuối cùng, họ không dựa trên ý chí, hay ít nhất không dựa chỉ một mình ý chí mà thôi. Ơn sủng và cộng đồng rất cần thiết và cuối cùng đó là những gì một một mình ý chí thôi, không thể làm được.

Trong các Phúc Âm, có một đoạn Chúa Giêsu nói con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Trời. Các tông đồ kinh ngạc, thánh Phêrô trả lời:Nếu như vậy thì không thể được! Chúa Giêsu  bằng lòng câu trả lời này và nói thêm: Sự gì không được với loài người nhưng với Thiên Chúa thì sẽ được. Ai phục hồi được sau khi bị nghiện thì sẽ hiểu chính xác Chúa Giêsu muốn nói gì. Họ có kinh nghiệm: Họ biết họ không thể nào bỏ được vật gây nghiện – nhưng họ bỏ được, không phải do ý chí riêng của họ, nhưng do sức mạnh bên trên, ơn sủng. 

Các Phúc Âm nói về điều này như một lễ rửa tội và nói đến hai loại phép rửa: phép rửa của thánh Gioan và phép rửa của Chúa Giêsu, họ nói thêm rằng phép rửa thánh Gioan là sự chuẩn bị cho phép rửa Chúa Giêsu. Phép rửa của thánh Gioan là phép rửa nào? Đó là phép rửa của lòng ăn năn, ý thức mình đã làm chuyện xấu và quyết tâm rõ ràng cần phải sửa lại hạnh kiểm. Phép rửa của Chúa Giêsu là phép rửa gì? Là đi vào trong ơn sủng và cộng đồng, cho chúng ta sức mạnh nội tâm để làm những gì mà nếu chúng ta chỉ dựa trên ý chí, chúng ta không thể làm được.

Nhưng làm sao điều này thực hiện được? Ơn sủng là một loại phép mầu? Không, không phải phép mầu. Tất cả năng lực tâm sinh lý, xýc cảm và thiêng liêng thì, tự bản chất, nó vượt quá tầm hiểu biết theo hiện tượng. Nói theo cách khác, điều đó có nghĩa chúng ta không thể nào hiểu được bộ máy nội tâm. Mỗi năng lực có một huyền bí. Nhưng những gì chúng ta có thể kiểm chứng, đó là kết quả của nó: các thành quả của năng lực thiêng liêng. Ơn sủng làm việc. Nó được xác nhận trong kinh nghiệm nội tâm của hàng ngàn người (kể cả những người vô thần) họ tìm năng lực nội tâm không từ chính họ nhưng lại cho họ phương cách để thực hiện vượt trên ý chí của họ. Bạn cứ tìm hỏi bất cứ ai đã được cai nghiện về vấn đề này.

Khổ thay, rất nhiều trong chúng ta, là những tín hữu trung kiên, không phải lúc nào cũng hiểu bài học này. Chúng ta luôn luôn cố gắng sống theo phép rửa của thánh Gioan, có nghĩa là chỉ dựa trên ý chí. Sống như thế, chúng ta là những nhà phê phán tài tình, nhưng đa phần, chúng ta lại bất lực không thể nào thay đổi chính cuộc sống của mình. Những gì chúng ta đi tìm, và thật sự là chúng ta rất cần, đó là thấm sâu trong phép rửa của Chúa Giêsu, đó là cộng đồng và ơn sủng.

Tiếng cười như là đức tin

Khi tôi còn là chủng sinh ở dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, vị phó giám đốc phụ trách chủng sinh, một người chân thành nhưng nghiêm nghị quá mức, cảnh cáo chúng tôi về những chuyện nhẹ dạ trong đời sống bằng cách nói với chúng tôi rằng trong Kinh Thánh không có chi tiết nào cho thấy Đức Giêsu đã cười to. Tôi là một chủng sinh thành tín, nhưng dù thế, tôi cũng thấy điều này không ổn. Tôi rà đi rà lại Phúc âm, cố gắng chứng minh ông nói sai, nhưng phát hiện ra rằng, về mặt kỹ thuật, ông nói đúng. Nhưng có phải là ông đúng không?

Vài năm sau, trong thời gian tôi ở chủng viện, tôi đọc một cuốn sách của Peter Berger có tên là Tin Đồn của các Thiên Thần (A Rumor of Angels), trong đó ông cố gắng chỉ ra nhiều chỗ khác nhau trong kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta, khi mà, như ông nói, chúng ta có những lời gợi ý của đấng thiêng liêng, những tin đồn của các thiên thần, ám chỉ rằng trải nghiệm đời thường chứa đựng nhiều hơn mức đời thường, rằng Chúa có ở đó. 

Một trải nghiệm như thế, ông trình bày, là khi người mẹ đang dỗ đứa con đang bị cơn hoảng sợ giữa đêm, dùng lời lẽ và cử chỉ vỗ về để đứa bé an lòng, không còn sợ hãi vì mọi thứ đều ổn, thế giới nằm trong trật tự. Khi nói những lời lẽ đó, nếu người mẹ thật sự nghĩ như vậy, và thường là vậy, thì trên thực tế, người mẹ đang ngầm đọc kinh Tin Kính.

Một sự gợi ý như vậy nữa của đấng thiêng liêng trong trải nghiệm đời thường, Berger nói, là hiện tượng tiếng cười. Trong tiếng cười, ông trình bày, chúng ta trực cảm sự siêu nghiệm: chuyện chúng ta có thể cười trong bất kỳ tình huống nào cho thấy có điều gì đó trong ta vượt lên hoàn cảnh đó, siêu nghiệm so với nó. Trong tiếng cười, Berger tin rằng chúng ta có tin đồn của các thiên thần. 

Karl Rahner đồng ý, và nêu rằng tiếng cười cho thấy chúng ta đang thoải mái với thực tại và do vậy với Chúa. Tiếng cười ca ngợi Chúa vì chúng nói trước cho chúng ta biết trạng thái của chúng ta nơi thiên đường khi chúng ta sẽ tràn ngập niềm vui. Chú giải về Tám Mối Phước Thật trong Phúc âm thánh Luca khi Chúa Giêsu nói, phúc thay cho những ai đang khóc, vì họ sẽ cười, Rahner nói rằng điều mà Chúa Giêsu nói cho thấy niềm vui là trạng thái cuối cùng, sẽ không chỉ lau khô dòng nước mắt và đem tới bình an, mà còn đem ta tới với tiếng cười nữa – “tới sự say sưa của niềm vui”. Đây là lời của Người: “Nhưng rồi con sẽ cười.” Đó là điều được viết ra. Và bởi vì Từ của Chúa cũng phải viện đến từ ngữ của con người để biểu đạt những gì mà một ngày nào đó rồi sẽ xảy ra khi mọi điều rồi sẽ xảy ra – có nghĩa là tại sao một điều thần bí vĩnh cửu cũng ẩn mật, nhưng có thật trong đời sống hàng ngày, đó là lý do tại sao tiếng cười của đời sống hàng ngày thể hiện cho thấy một người đang thoải mái với thực tại, thậm chí trước tất cả những gì mà sự bằng lòng toàn năng và vĩnh cửu trong đó kẻ được cứu chuộc một ngày nào đó sẽ nói Amen với tất cả những gì họ đã làm và cho phép xảy ra. Tiếng cười là ngợi ca Chúa bởi vì nó báo hiệu sự ngợi ca vĩnh cửu về Chúa vào chung cuộc, khi những ai phải khóc than trên trái đất này rồi sẽ cười lên. 

Nhưng liệu điều này có hời hợt không? Sự lạc quan của con người tự thay thế cho hy vọng? Một tinh thần lạc quan giả mạo làm thần học? Lời tuyên bố ngây thơ rằng nếu tôi vui thì Chúa đang ở cùng tôi? Thực sự, trong Phúc Âm, ở đâu ghi lại chi tiết Giê-su cười to?

Sự nghiên cứu học thuật hay về kinh thánh từ lâu đã nói rằng nếu đi tìm một đoạn văn bản nào để chứng minh một ý nào đó là đúng hay là sai thì đó không phải là cách tiếp cận hay đối với Kinh Thánh. Những lời dạy của Kinh Thánh sẽ được lượm lặt tốt nhất nếu nhìn vào bản Thánh Kinh như một tổng thể. Và nếu chúng ta làm như vậy trong trường hợp này, tôi tin rằng chúng ta sẽ thấy cả Peter Berger và Karl Rahner đều đúng. Như Rahner chỉ ra, Đức Giêsu dạy rằng tiếng cười sẽ là một phần của trạng thái cuối cùng trên thiên đường. Con rồi sẽ cười to! Nhưng, vượt lên trên điều đó, thông điệp của Đức Giêsu xét toàn thể là mời gọi chúng ta đến với niềm vui, một niềm vui mà không ai có thể tước đi của chúng ta, và tiếng cười là sự biểu đạt hân hoan ngập tràn của niềm vui đó. Đó là đỉnh cao, là chóp đỉnh, là châu báu tột vời của trạng thái cuối cùng của chúng ta trên thiên đàng. 

Vì vậy mà trong tiếng cười, chúng ta thật sự có tin đồn của các thiên thần và chúng ta thật sự trực cảm sự siêu nghiệm của mình. Trong tiếng cười chúng ta thật sự bộc lộ rằng mình đang thoải mái với hiện tại, và thoải mái với Chúa. Trong tiếng cười, chúng ta khẳng định, một cách to rõ ràng, vui vẻ, và với cả thế giới, câu thần chú của Julian vùng Norwich rằng, rốt cuộc, mọi chuyện đều ổn, và rồi mọi chuyện đều ổn, và mọi cách thức hiện sinh đều ổn – cho dù thế giới chúng ta ngày nay không ở trong trạng thái đó. 

Vị phó Giám đốc phụ trách các chủng sinh của chúng tôi là một người tuyệt vời, chân thành, nhẹ nhàng, và nghiêm nghị quá mức. Sự khinh suất không phải là bản tính của ông, và tiếng cười không phải là thể thức ông ưa chuộng để ngầm đọc kinh Tin Kính. Ông thể hiện đức tin sâu sắc của mình theo những cách thức khác, với niềm tin rằng tiếng cười không phải là tin đồn duy nhất của các thiên thần trong đời thường.

Nhưng đó là một trong những gợi ý của đấng thiêng liêng trong lòng đời sống con người. Tiếng cười, khi  lành mạnh, khi không bị cưỡng ép hay khắc chế, thì như Rahner nói, là “một sự say sưa của niềm vui”, niềm vui của trạng thái cuối cùng của chúng ta. Vì vậy khi cười to chúng ta cũng đang đọc kinh Tin Kính. 

Chỉ câu trả lời đúng thôi thì chưa đủ 

Chỉ sự thật thôi thì chưa đủ. Nó cần cân bằng với những thuộc tính tiên nghiệm khác của Chúa: tính duy nhất, lòng tốt, và vẻ đẹp.

Điều đó nghe như trừu tượng, nhưng nó chính xác có nghĩa rằng đôi khi chúng ta có thể có tất cả các câu trả lời đúng nhưng chúng ta vẫn có thể sai. Làm sao như vậy? Nếu chúng ta hành động trong sự thật thì làm sao chúng ta lại có thể sai?

Cái bẫy đầu tiên là như thế này: Có thể chúng ta đang hành động dựa trên sự thật, và trên thực tế, có thể chúng ta đang làm tất cả những điều đúng, nhưng năng lượng của chúng ta có thể sai. T.S. Eliot từng nói một câu rất nổi tiếng: “Cám dỗ cuối cùng là sự bội tín lớn nhất: làm việc tốt vì lý do sai trái.” Chúng ta có thể thấy điều đang bị đe dọa ở đây bằng cách nhìn vào thái độ của người anh trong câu chuyện người con hoang đàng. Nhìn bề ngoài, sự tận tụy của anh đối với người cha không có gì chê trách. Anh đã tuyên bố, đời anh không có gì đáng chê trách, anh là mẫu hình của lòng hiếu thảo. Anh giữ tất cả các điều răn, chưa bao giờ bỏ nhà ra đi, làm mọi việc cha sai bảo. Điều trớ trêu là anh không nhận ra, anh không ở nhà cha mình, anh đang đứng bên ngoài và được cha anh nhẹ nhàng mời vào. Điều gì giữ anh đứng bên ngoài trong khi xét cho cùng, anh làm mọi việc đúng đắn? Sự cay đắng và giận dữ. Hành động của anh là đúng. Nhưng trái tim của anh lại sai. Cay đắng và giận dữ không phải là loại năng lượng để nạp nhiên liệu cho chân lý. Chúng ta có thể trung thành trong từng đường tơ kẽ tóc nhưng vẫn thấy mình đứng bên ngoài ngôi nhà của Chúa, bên ngoài cộng đồng, bên ngoài lễ mừng chỉ vì chúng ta mang một trái tim cay đắng. Lòng biết ơn là loại năng lượng mà rốt cục cần để nạp nhiên liệu cho chân lý.  
Giống như người anh trong câu chuyện người con hoang đàng, chúng ta có thể làm mọi điều đúng, nhưng một cách nào đó, chúng ta lại sai. Và chỗ mà điều này đặc biệt quan trọng xét về mặt thách thức, là nỗ lực của chúng ta, về mặt cá nhân cũng như về mặt giáo hội để đem lại chân lý, những câu trả lời đúng cho những người xung quanh chúng ta, dù đó là những đứa con đã thôi không đi nhà thờ hay toàn xã hội nơi chúng ta sống. Nếu trong việc chúng ta nói lên sự thật mà có những yếu tố của sự đặc tuyển, kiêu căng, bất kính, thiếu thông hiểu, hay tệ hơn, răn dạy một cách cay đắng, thì chân lý của chúng ta sẽ không được nghe thấy, không phải vì chân lý của chúng ta sai mà bởi vì năng lượng của chúng ta sai. 

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu nói với chúng ta bằng “dụ ngôn để nói lên chân lý.” Chân lý không phải là cái búa tạ; nó là lời mời mà chúng ta phải trao cho người khác một cách đầy tôn trọng. 

Và vẫn còn một cái bẫy tiềm tàng thứ hai nữa: Chúng ta có thể có câu trả lời đúng và năng lượng đúng, nhưng lại hiểu sai về câu trả lời đó. Chẳng hạn, chúng ta có thể thấy trường hợp này trong Phúc âm của Mác-cô khi Chúa Giêsu hỏi các môn đồ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Phêrô trả lời: “Thầy là Đức Kitô, đấng Thiên Sai.”Nhưng ngay lập tức, Đức Giêsu liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người và sau đó ông bị quở trách: “Xatan, lui lại đàng sau Thầy!” Tại sao? Chẳng lẽ ông không đúng sao?

Câu trả lời của Phêrô là đúng, Chúa Giêsu là Đức Kitô, nhưng cái hiểu của ông về ý nghĩa của điều đó chủ yếu là sai. Đối với thánh Phêrô, khái niệm một Thiên Sai hàm ý một quyền năng thế gian và đặc biệt là đặc quyền thế gian, trong khi đó với Đức Giêsu điều đó mang ý nghĩa của sự đau khổ và chết. Thánh Phêrô có câu trả lời đúng, nhưng lại có cái hiểu sai về câu trả lời đó. Một số học giả suy đoán rằng đó chính là lý do thực sự đằng sau cái gọi là “bí mật thiên sai” trong Phúc âm, khi Đức Giêsu liên tiếp yêu cầu các môn đồ không được để lộ danh tính của Người. Sự miễn cưỡng của Người trong việc để các môn đồ loan truyền rộng rãi Người là ai là dựa trên việc Người sợ rằng trước khi Người phục sinh và Hạ trần, họ không thể hiểu chính xác danh tính của Người và sẽ luôn luôn rao giảng một thông điệp sai lầm. 

Chúng ta có thể có các câu trả lời đúng mà chúng ta vẫn sai bởi vì chúng ta mang loại năng lượng sai đi kèm với những câu trả lời đó hoặc vì chúng ta có cái hiểu sai lầm về các câu trả lời đó. Ghi nhớ nằm lòng điều đó là việc hay, đặc biệt khi chúng ta ở trong vai trò của một nhà tiên tri về mặt tôn giáo hoặc luân lý hay xã hội. Rất có thể chúng ta có dòng nước sự sống, chân lý giải phóng mọi người, và sự nghiệp chân chính, nhưng không một ai, ngoại trừ những người cùng tâm ý, đồng ý tiếp nhận điều đó từ chúng ta nếu năng lượng của chúng ta sai lầm hoặc cái hiểu của chúng ta về chân lý đó sai lầm. Dễ dàng giải thích duy lý rằng đó là vì chúng ta là người tiên tri, là kẻ trung thành còn lại, là những chiến binh cuối cùng của chân lý vẫn còn đứng vững, nên người ta mới không nghe chúng ta và vì sao chúng ta bị căm ghét. Nhưng, thường thì người ta không lắng nghe chúng ta bởi vì chúng ta đang lầm lạc, đặc tuyển, không thấu cảm, quá sức không có tình, chứ chẳng phải vì chúng ta là những chiến binh của chân lý hay công lý. 

Và vì thế chúng ta cần khiêm cung và cẩn thận chú ý lời răn dạy của Chúa Giêsu về việc canh giữ “bí mật thiên sai” và “nói chân lý của mình qua các câu chuyện dụ ngôn”. Nói ngắn gọn, chúng ta cần phải luôn luôn lo lắng kẻo một năng lượng sai lầm đằng sau chân lý của chúng ta hay một cái hiểu sai về chân lý đó khiến chúng ta bị bật ra khỏi sứ vụ tông đồ đến mức Chúa Giêsu phải quở mắng với những lời lẽ: “Xatan, lui lại đàng sau Thầy!”

Ba cấp độ của sứ vụ tông đồ Kitô

Nikos Kazantzakis từng nói rằng có ba loại linh hồn và ba kiểu người cầu nguyện:

Con là chiếc cung trong tay Người, Chúa ơi, xin hãy kéo con, nếu không con sẽ mục nát.Xin đừng kéo con quá mức, Cúa ơi, con sẽ gãy mất.Hãy kéo con hơn mức bình thường, Chúa ơi, ai thèm quan tâm nếu con có gãy đi chăng nữa! 

Khi tôi nhìn vào cuộc đời, tôi cũng thấy có ba cuộc tranh đấu lớn lao, không phải là khác so với những cuộc tranh đấu mà Kazantzakis đã gọi tên. Và mỗi cuộc đấu tranh đó tương ứng với một cấp độ trong sứ vụ tông đồ Kitô. Những cuộc tranh đấu lớn lao đó là gì, và những cấp độ tông đồ đó là gì? Có ba giai đoạn chính trong hành trình con người và hành trình tâm linh của chúng ta:

Sứ vụ Tông đồ Căn cốt – Cuộc tranh đấu để thu vén đời mình. Sứ vụ Tông đồ Tạo sinh – Cuộc tranh đấu để trao hiến cuộc đời mình.Sứ vụ Tông đồ Triệt để – Cuộc tranh đấu để trao hiến cái chết của mình, 

Sứ vụ Tông đồ Căn cốt và cuộc tranh đấu để thu vén đời mình là nhiệm vụ đầu tiên trong đời. Bắt đầu với hơi thở đầu tiên, chúng ta nỗ lực chật vật để tìm cho được một bản sắc và từ đó tìm thấy sự viên mãn và bình an. Chúng ta sinh ra trong bệnh viện và sớm được đưa về nhà là nơi có cha mẹ, có gia đình và một nơi của chính mình. Giai đoạn này, thời thơ ấu, theo ý Chúa và ý của tự nhiên là thời gian an toàn. Khi là đứa trẻ, những cuộc tranh đấu quan trọng của chúng ta vẫn chưa bắt đầu. Nhưng điều đó sẽ thay đổi hẳn vào tuổi dậy thì. 

Nói nôm na, Chúa và tự nhiên thiết kế tuổi dậy thì để thúc đẩy chúng ta ra khỏi nhà mình để đi tìm một ngôi nhà mà chúng ta tự xây lên. Và thường tuổi đó đã hoàn thành tốt công việc đó. Nó giáng vào ta sự rối loạn và sự mãnh liệt, thổi bay tuổi thơ của ta đi và thúc chúng ta đi ra, bất an, thúc đẩy bởi tính dục, tràn đầy những ước mơ to tát, nhưng tinh thần thì rối rắm và bất an, tìm kiếm một quê nhà mới, một quê nhà mà ta tự xây cho chính mình. Cuộc tranh đấu này, từ chỗ bị thúc đẩy một cách bất an ra khỏi quê nhà đầu tiên của mình đến chỗ tìm thấy một nơi để lại gọi là quê nhà, là cuộc hành trình của sứ vụ Tông đồ Căn cốt.

Thông thường chúng ta thật sự lại tìm thấy quê nhà của mình. Vào một thời điểm nào đó, chúng ta cập bến. Chúng ta thấy mình “ở nhà” lần nữa, nghĩa là, với một nơi để sống của chính ta, một công việc, một sự nghiệp, một nghề nghiệp, người chồng hay vợ, con cái, tài sản, một loạt các trách nhiệm, và một địa vị và bản sắc nhất định. Vào lúc đó, cuộc tranh đấu căn bản trong đời ta thay đổi, mặc dù có thể mất nhiều năm ta mới ý thức được và chấp nhận điều đó. Câu hỏi của chúng ta lúc đó không còn là: “Làm thế nào ta thu vén đời mình?” mà đúng hơn đã thành: “Làm thế nào ta có thể trao hiến đời mình một cách sâu sắc hơn, hào phóng hơn và ý nghĩa hơn?” Vào lúc đó, chúng ta bước vào giai đoạn hai của sứ vụ tông đồ. 

Sứ vụ Tông đồ Tạo sinh và cuộc tranh đấu để trao hiến cuộc đời mình là một giai đoạn mà phần lớn mọi người bắt đầu vào một lúc nào đó trong độ tuổi hai mươi hoặc ba mươi, mặc dù một số người mất nhiều thời gian hơn để vượt qua ngưỡng đó. Hơn nữa, chuyện vượt qua đó không bao giờ thuần túy và trọn vẹn, cuộc tranh đấu để tìm bản sắc của mình và sự viên mãn cá nhân chưa bao giờ kết thúc một cách hoàn toàn; nhưng vào một thời điểm nhất định, chúng ta bắt đầu sống vì người khác nhiều hơn là vì chính mình. Sứ vụ Tông đồ Tạo sinh bắt đầu vào lúc đó, và đối với phần lớn chúng ta, nó sẽ là giai đoạn dài nhất trong đời. Trong suốt những năm đó, đời ta có nhiệm vụ rõ ràng: làm sao ta trao hiến đời mình một cách thuần khiết hơn, hào phóng hơn, tạo sinh hơn?

Nhưng làm những người lớn trách nhiệm, điều hành gia đình, nhà thờ và công việc của thế giới không phải là giai đoạn cuối cùng trong đời ta. Chúng ta vẫn phải chết; nhiệm vụ gây ám ảnh lớn hơn hết thảy. Và vậy là cơ sở mặc định của chúng ta lại phải dịch chuyển một lần nữa: Đến một thời điểm trong đời, câu hỏi thật sự của ta không còn là: “Tôi vẫn có thể làm gì để đời mình đóng góp được?” mà câu hỏi trở thành “Giờ đây tôi có thể sống như thế nào để cái chết của tôi sẽ là một sự chúc phúc tốt lành nhất cho gia đình tôi, giáo hội của tôi và thế giới này?”

Sứ vụ tông đồ triệt để và cuộc tranh đấu để trao hiến cái chết của mình là giai đoạn cuối cùng của cuộc đời: là Kitô hữu, chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã sống và đã chết vì chúng ta, rằng Người đã trao cho chúng ta cả sự sống và cái chết của Người. Nhưng chúng ta thường không phân biệt được rằng có hai hướng rõ ràng và tách biệt ở đây: Chúa Giêsu trao cho chúng ta sự sống của Người theo một hướng, và trao cho ta cái chết của Người theo một hướng khác. Người trao sự sống của Người cho ta thông qua sự chủ động, thông qua các hành động tạo sinh của Người cho chúng ta; và Người trao cái chết thông qua sự thụ động, thông qua việc tiếp nhận bằng tình thương yêu sự bất lực, sự nhỏ bé, những nỗi sỉ nhục, và nỗi cô đơn của cái chết. 

Giống Chúa Giêsu, chúng ta cũng sinh ra là để trao hiến đời mình một cách hào phóng và không vị kỷ, nhưng chúng ta sinh ra cũng là để rời bỏ hành tinh này theo một cách mà sự tiêu biến và cái chết của chúng ta là món quà cuối cùng, và có lẽ lớn lao nhất, cho thế giới. Không cần phải nói, điều đó chẳng dễ dàng gì. Đi với sứ mệnh tông đồ đằng sau vị thầy sẽ đòi hỏi chúng ta cuối cùng cũng phải đổ mồ hôi máu và cảm thấy “cách xa mọi người một quãng đá quăng”. Cuộc tranh đấu này, để trao hiến cái chết của mình, như khi ta đã từng trao hiến đời sống của mình, làm nên sứ vụ Tông đồ Triệt để.

Khi chúng ta nhìn vào những yêu cầu của sứ vụ tông đồ, chúng ta thấy rằng không có kích thước mẫu cho tất cả mọi người.

Người Pharisêu, bình chậu, ấm đồng, quy tắc thực hành nghi lễ, cốc tách và mèo

Vài năm trước, tôi dự một buổi họp ở nhà thờ để bàn về các quy tắc thực hành nghi lễ. Cuộc họp bàn luận rất sôi nổi và có phần nóng nảy về một số vấn đề: cộng đoàn nên đứng hay quỳ khi dâng Mình Thánh Chúa? Cách nào là cách tôn kính nhất để rước lễ? Có nên cho phép giáo dân rửa cốc tách sau khi rước lễ không?

Đến một lúc, một phụ nữ phát biểu một cách lễ độ, mời chúng tôi tự hỏi mình: “Nếu là Giêsu thì Người sẽ làm gì?” Vị chủ tọa buổi họp, lúc đó đã mất hết kiên nhẫn trước tình trạng bất đồng trong phòng, khó chịu đáp lại: “Giêsu chẳng liên quan gì tới chuyện này. Chúng ta đang bàn về các phép tắc nghi lễ!” Những lời đó vừa nói ra thì chính vị này, cách sao đó, cũng đã thấy mình nói không ổn. Chúng tôi cũng nhận thấy như vậy, và từ đó về sau, cũng đã có nhiều dịp nhắc cho người tốt bụng này về chuyện lỡ lời đó; nhưng thật lòng, nhận xét của ông thể hiện cảm nghĩ của 95% người trong phòng họp lúc đó. 

Cho phép tôi kể câu chuyện thứ hai để minh họa cùng một điểm: tôi tham gia ban giảng huấn thần học, ban này giúp hơn một trăm thanh niên chuẩn bị chịu chức, và đang giúp vài trăm giáo dân khác đào sâu đời sống thiêng liêng, chuẩn bị cho họ đi phục vụ ở nhiều sứ vụ khác nhau. Ai còn có thể đòi hỏi một nhiệm vụ nào cao cả hơn nữa? Nhưng tính chất thiêng liêng của nhiệm vụ này không phải bao giờ cũng thể hiện lên hàng đầu. Vài năm trước, chúng tôi đến dự một cuộc họp Quản trị và hai vấn đề nổi bật trong chương trình nghị sự là “cốc tách và mèo hoang”: Trường của chúng tôi, không có sự nhất trí hoàn toàn, đang từng bước chấm dứt việc sử dụng loại cốc dùng một lần rồi bỏ. Ngoài ra, chúng tôi cũng tranh luận liệu có để ngỏ khuôn viên nhà trường thành nơi cư trú và bảo tồn cho những chú mèo hoang hay không. Khi vị Hiệu trưởng Thần học giới thiệu chương trình nghị sự, ông hỏi: “Làm sao lại như thế này? Chúng ta là một học viện thần học đào tạo con người để làm mục vụ – mà những vấn đề hệ trọng trong nghị trình lại là “cốc tách và mèo hoang” ư?

Điều mà hai câu chuyện này dạy chúng ta là, chúng ta vậy mà cũng lấn cấn với những vấn đề mà ngày xưa các Kinh sư Do thái và những người Pharisêu thời Chúa Giêsu đã gặp phải. Và tôi có thiện hướng tốt khi nói điều này. Chúng ta là con người và lúc nào chúng ta cũng quên mất cái nhìn toàn cảnh, cũng như các Kinh sư Do thái và những người Pharisêu. Chúa Giêsu thường quở trách họ, như Người đã nói, “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm” và do đó đã chú ý quá mức tới các nghi lễ “rửa cốc tách, bình và ấm đồng.” Lý do quở trách đó nhìn chung cũng đúng đối với chúng ta. Chúng ta cũng có khuynh hướng đánh mất điều then chốt vì những điều lẻ tẻ.

Điều gì then chốt? Điều răn lớn lao của Chúa, mà Chúa Giêsu đã quở trách các Kinh sư Do Thái giáo và các Pharisêu là đã đánh mất lời mời thương yêu Chúa trên tất thảy mọi thứ và thương yêu người láng giềng như chính mình. Đó là luật then chốt, lớn lao, duy nhất. Nhưng để áp dụng luật đó trong cuộc sống thực tế, chúng ta cần nhiều luật phụ trợ, về mọi chuyện từ phép tắc thực hành nghi lễ cho đến cốc tách và mèo. Và những luật đó là tốt, chừng nào chúng không bao giờ tách biệt, tự trị, và bất thuận điều lớn lao duy nhất là thương yêu Chúa và người láng giềng.

Trong xã hội lẫn trong giáo hội, chúng ta đã làm ra nhiều luật: luật dân sự, luật hình sự, luật nhà thờ, giáo luật, luật nghi lễ, và mọi thể loại luật và hướng dẫn trong gia đình, nơi làm việc. Sẽ ngây thơ nếu tin rằng, lý tưởng là chúng ta có thể sống không cần đến luật. Thánh Augustine từng đề xuất là chúng ta có thể sống không có luật: “Hãy thương yêu và cứ làm điều gì con muốn!” Nhưng, tình thương yêu, như ngài định nghĩa trong bối cảnh này, là mức cao nhất của tình thương yêu tha nhân. Nói cách khác, nếu anh đã là thánh thì anh không cần tới luật. Buồn thay, thế giới chúng ta, các giáo hội chúng ta, và chính chúng ta, không đạt được tiêu chuẩn đó. Chúng ta vẫn cần tới luật. 

Nhưng các luật của chúng ta, hết thảy các luật, và ở mọi mức độ, đều không được tạo ra để đứng riêng rẽ, để có quyền tự trị của chúng. Chúng phải quy thuận và phục tùng một điều then chốt, và điều then chốt đó là luật vĩ đại duy nhất vốn biến tất cả những điều khác trở nên tương đối: Hãy thương yêu Chúa hơn tất thảy mọi điều và thương yêu người láng giềng như chính mình. 

Có một nguyên tắc then chốt trong mọi thần học luân lý mà phần nào chứa đựng điều này – nguyên tắc Epikeia (phát xuất từ tiếng Hy Lạp, epieikes, nghĩa là hợp lẽ phải). Luật lệ làm ra là để hợp lý và là để tuân thủ theo một cách thức không xâm phạm lẽ phải và lẽ thường hợp lý. Epikeia là điều mà Thánh Phaolô đã nghĩ khi ngài dạy rằng chữ nghĩa của luật thì giết trong khi tinh thần của luật mới mang lại cuộc sống. Về căn cốt, điều mà Epikeia đòi hỏi ở chúng ta là, khi chúng ta áp dụng một luật nhất định vào bất kỳ tình huống nào của cuộc sống, chúng ta đều tự hỏi mình rằng: “Nếu người đề ra luật này ở đây, xét ý định của luật đó, thì người đó sẽ muốn ta làm gì trong tình huống này?” Câu hỏi này sẽ đưa luật đó trở về với cái then chốt của nó, về với ý định thiêng liêng của nó, tinh thần của nó, và đảm bảo rằng tất cả những bất đồng của chúng ta về những bình, ấm đồng, quy tắc thực hành nghi lễ, cốc tách và mèo sẽ vẫn trung thành với câu hỏi: “Nếu là Chúa Giêsu thì Chúa Giêsu sẽ làm gì?”

Những mệnh lệnh tuyệt đối

Có một câu châm ngôn nổi tiếng mà tôi sẽ diễn đạt một cách tế nhị hơn cách biểu đạt thường gặp của nó. Câu đó như thế này: Bất cứ khi nào bạn nói với chính mình rằng bạn nên làm điều gì, thì bạn trả một giá đắt. Ngụ ý ở đây là chúng ta mãi mãi tưởng nhầm cái tiếng nói loạn thần là tiếng nói của lương tâm và tự buộc mình vào những bổn phận sai lầm mà chúng tước đi cả sự tự do lẫn chính chắn của chúng ta. Có đúng như vậy không? Vừa có vừa không. Câu châm ngôn này nghe thì hay hơn mức thực sự của nó. Nó nói rằng không nên có bất cứ điều “nên” nào trong đời ta; nhưng bản thân phát biểu đó cũng tự mâu thuẫn. 

Nhưng nó vẫn cần được thừa nhận ở mặt đáng được thừa nhận. Có minh triết trong bản chất của nó, mặc dù nó được diễn đạt bằng sự tinh tế của một cái búa tạ. Nó có sự thách thức tích cực như thế này:

Nhiều lần chúng ta cảm thấy có một nghĩa vụ ray rứt trong lòng (“Tôi buộc phải làm điều này! Tôi nên làm điều kia!”), mệnh lệnh đó không đến từ Chúa hay chân lý mà từ một giọng nói nào đó khác đang được nghe nhầm thành giọng của Chúa. Nói một cách kỹ thuật hơn, phần lớn giọng nói mà chúng ta nghe thấy từ bên trong đòi hỏi chúng ta làm một điều gì đó về mặt tâm lý và cảm xúc hơn là đạo đức hay tôn giáo. Chúng không nói với ta điều đúng hay sai, hay những gì Chúa muốn từ chúng ta, chúng chỉ nói với ta những gì chúng ta cảm thấy về những điều nhất định. Ví dụ: một cảm giác tội lỗi không chỉ ra cho chúng ta biết rằng ta đã làm điều gì đó sai trái, nó chỉ nói chúng ta cảm thấy thế nào về điều chúng ta đã làm, và cảm xúc đó có thể lành mạnh hoặc không lành mạnh. Có lẽ chúng ta chẳng làm điều gì sai trái cả, chúng ta chỉ bị tổn thương và loạn thần. Nỗi phiền muộn và ăn năn là những dấu chỉ tốt hơn về luân lý so với bất kỳ cảm giác có tội nào.Vậy những cảm giác về nghĩa vụ và có tội này đến từ đâu? Chúng đến từ bản năng và từ quá trình giáo dục, từ di truyền và xã hội, từ vô thức và từ các vết thương lòng. Những người theo các trường phái tâm lý của Freud, Jung hay Hillman đưa ra các cách giải thích khác nhau, nhưng tất cả đều đồng ý với nhau về một điều chính yếu, đó là, nhiều tiếng nói bên trong nói về điều đúng và sai, đòi hỏi chúng ta làm điều này hay điều kia không hề là giọng nói luân lý hay tôn giáo gì cả. Rất có thể chúng có những điều quan trọng để dạy cho chúng ta, nhưng nếu chúng ta coi đó là tiếng nói của Chúa và luân lý, rốt cuộc chúng ta sẽ hành xử từ một cái gì đó chứ không phải là Chúa và lương tâm. Đa số những điều “nên” mà chúng ta cảm thấy trong lòng lại không hề là tiếng nói của lương tâm. 

Nhưng, dù có nói như vậy, vẫn cần nói thêm những phẩm chất quan trọng: Nói nôm na, đôi khi tiếng nói về nghĩa vụ mà chúng ta cảm thấy trong lòng là tiếng nói mang tính luân lý và tôn giáo sâu sắc, là tiếng nói của Chúa. Những tiếng nói giả cất lên từ bên trong nhưng những tiếng nói thật cũng vậy. Ví dụ, C.S. Lewis, khi mô tả việc trở lại của chính mình, chia sẻ chuyện ông đã không muốn trở thành người Ki-tô hữu như thế nào nhưng một điều gì đó bên trong ông nói với ông rằng ông phải trở thành người Ki-tô hữu. Cho dù là “người trở lại miễn cưỡng nhất trong lịch sử Ki-tô”, vào một thời điểm trong cuộc đời, ông nhận ra rằng “sự cưỡng bách của Chúa” chính là sự giải phóng của ông. Ông trở thành Ki-tô hữu bởi vì, ngược đời thay, trong giây phút tự do thật sự, ông đi đến chỗ biết rằng ông không có sự lựa chọn nào khác về mặt hiện sinh trừ phi khuất phục trước một điều gì đó, sự cưỡng bách của Chúa, vốn thể hiện ra với ông như một nghĩa vụ. 

“Sự cưỡng bách của Chúa” chính xác là một điều “nên” chân thực và sâu sắc trong lòng chúng ta, và nghịch lý lớn lao nhất là khi chúng ta phục tùng nó thì chúng ta trở nên tự do hơn và chính chắn hơn. Nó cũng là điều mang lại niềm vui vào cuộc đời ta. Chẳng phải tình cờ mà quyển sách trong đó Lewis mô tả trải nghiệm này được đặt tên là “Kinh ngạc bởi Niềm vui” (Surprised by Joy.)

Có một nghịch lý lớn lao nằm ở tâm điểm cuộc sống nhưng lại khó chấp nhận, đó là, tự do nằm trong sự tuân phục, sự chính chắn nằm trong sự phục tùng, và niềm vui nằm trong việc chấp nhận bổn phận và nghĩa vụ. Chúa Giêsu đã dạy rõ ràng và là hiện thân của nghịch lý này: Người là con người bằng xương bằng thịt tự do nhất từng bước đi trên địa cầu này, ấy vậy mà người luôn luôn nhấn mạnh rằng người chẳng hề tự mình làm một điều gì, rằng mọi điều Người làm là vâng theo lời Cha. Người là hình mẫu cho sự chính chắn của con người, thậm chí cả khi cuộc đời của Người là cuộc đời trong đó Người thường xuyên từ bỏ ý chí của chính mình. Và người cũng thoát khỏi mọi tôn giáo sai lầm, luân lý sai lầm, tội lỗi sai lầm, kể cả khi người luôn luôn tuân theo những mệnh lệnh luân lý và tôn giáo từ sâu thẳm linh hồn mình và trong lòng truyền thống tôn giáo của chính mình. 

Simone Weil, nữ triết gia phi thường và huyền bí, người canh giữ sự tự do của mình một cách sâu sắc đến nỗi, cho dù bà tin vào chân lý Chúa Cứu thế, bà đã chống lại việc rửa tội vì bà không biết chắc chắn cái giáo hội hữu hình trên trái đất xứng đáng với loại tin tưởng này có hiểu được rõ rằng điều bà mong muốn và cần tột bậc là tuân phục, bất chấp sự kháng cự mãnh liệt của bản năng. Bà từng nói, chúng ta dành cả đời mình để tìm kiếm một người nào đó hay một điều gì đó lớn lao hơn bản thân mình, chúng ta vênh váo và trở nên lố bịch, thậm chí với chính bản thân mình. Bà nói đúng.

Chúng ta cần thôi vâng theo những tiếng nói giả trong lòng mình. Không được nhầm lẫn sự loạn thần với lương tâm. Nhưng, dù nói như vậy, vẫn có đôi điều “nên” mà chúng ta nên làm!

Quan niệm của chúng ta về của cải

Người giàu đang trở nên giàu hơn, và gần như chúng ta ngạc nhiên trên cả ngạc nhiên về mức độ giàu có đó.

Hàng ngày, báo chí, truyền hình, internet đưa tin về các khoản bồi hoàn tài chính mà thậm chí chỉ cách đây một thế hệ đã là chuyện không thể nào tưởng tượng nổi: các ủy viên hội đồng quản trị công ty nhận các khoản tiền thưởng hàng trăm triệu đô la, một vận động viên ký một hợp đồng trị giá một trăm triệu đô-la, những ngôi sao của thế giới tiêu khiển ký các hợp đồng hàng chục triệu đô, những người trong ngành công nghệ thông tin kiếm hàng tỷ, và những kẻ tầm thường khắp nơi tham gia vào câu lạc bộ triệu phú. 

Và phản ứng của chúng ta là gì? Khó nói. Chúng ta thể hiện sự công phẫn và phản đối rằng như thế là lệch lạc, thậm chí chúng ta còn nuôi dưỡng lòng tị hiềm chẳng lấy gì làm kín đáo: Ước gì đó là mình!

Chúng ta ngưỡng mộ những người giàu và người nổi tiếng, người trong trắng và giản dị, và cuối cùng, cho dù có ghen tị, chúng ta dành cho họ cái mà họ có quyền được hưởng: Tốt cho họ thôi! Họ đã vất vả vì điều đó. Họ có tài. Họ xứng đáng với tất cả những gì họ được!

Nhưng chúng ta cần nhìn nhận chuyện giàu có như thế nào từ nhãn quan đức tin? Chúa Giêsu cảnh báo rằng của cải là nguy hiểm, nguy hiểm đối với tâm hồn và nguy hiểm đối với xã hội. Vậy thì chúng ta nên quan niệm như thế nào về việc có của cải, vừa liên quan đến những người rất giàu vừa liên quan đến chúng ta?

Đầu tiên, cần tránh một số điều: Trước hết, chúng ta không bao giờ được lý tưởng hóa cái nghèo và coi của cải là thứ tự nó xấu xa. Chúa là giàu có, không phải là nghèo khổ, và thiên đàng sẽ không phải là một nơi nghèo khổ. Nghèo khổ là một điều phải được vượt qua và xóa bỏ. Người nghèo không thích bị nghèo. Tiếp theo, chúng ta phải tránh chuyện chính trị hóa quá vội vàng cả cái nghèo lẫn của cải. Lăng kính của chúng ta phải luôn luôn là lăng kính luân lý hơn là chính trị, mặc dù rõ ràng là cả của cải lẫn cái nghèo đều có những hệ quả chính trị to lớn. Cuối cùng, trước khi tấn công chuyện thủ hữu của cải, chúng ta phải bảo đảm rằng mình không đang lên mặt dạy đời một cách chua chát, vốn chẳng hơn sự tị hiềm là mấy, cho dù có mang lớp vỏ luân lý gì đi nữa. 

Những nguyên tắc nào cần dẫn dắt chúng ta trong quan niệm về của cải?

Ẩn sau mọi thứ khác, chúng ta phải luôn luôn nhớ lời cảnh báo của Chúa Giêsu rằng việc thủ hữu của cải là nguy hiểm, rằng đối với một người giàu thì khó bước vào thiên đàng. Hơn nữa, lời cảnh báo đó phải là một trợ lực lớn lao giúp chúng ta chấp nhận một số nguyên tắc khác:

Trước hết: việc thủ hữu của cải tự nó không phải là điều xấu; chính cách chúng ta sử dụng của cải như thế nào và những gì nó có thể gây ra cho trái tim chúng ta mới có thể xấu. Chúa Giêsu đã phân biệt giữa người giàu hào phóng và người giàu bủn xỉn. Loại người đầu là tốt bởi vì họ bắt chước Chúa, loại người thứ hai là xấu. Khi chúng ta hào phóng, đặc biệt theo cách phi thường, thì của cải không đóng kín trái tim chúng ta. Nhưng điều ngược lại cũng đúng. Tất cả những sự bủn xỉn, keo kiệt, tất cả những gì thiếu vắng sự hào phóng đều đóng kín trái tim ta theo những cách khiến khó bước vào thiên đàng, hoặc là một cộng đồng con người thật sự, nói theo nghĩa thuần khiết con người. 

Và như vậy, thách thức cho tất cả chúng ta, những người giàu theo bất kỳ cách nào, là tiếp tục cho đi của cải của mình. Chúng ta cần làm như vậy, không phải bởi vì người nghèo cần những gì chúng ta cho họ, mặc dù họ cần thật; nhưng chúng ta cần làm như vậy để chúng ta được lành mạnh. Từ thiện, theo mọi kiểu, là về sự lành mạnh của người trao tặng hơn là về sự lành mạnh của người đón nhận. Người giàu hào phóng có thể thừa kế nước trời, người nghèo bủn xỉn thì không thể. Người nghèo là chiếc vé của mọi người để đến thiên đàng – và để đến với sự lành mạnh của con người. 

Cuối cùng, cả điều này nữa cũng phải luôn được ghi nhớ trong tâm khảm khi chúng ta nhìn nhận của cải, cả của chính mình lẫn của những người rất giàu. Những gì chúng ta có không phải là của riêng mình, mà nó được trao cho chúng ta với lòng tín thác. Chúa là người chủ sở hữu duy nhất của tất cả những gì hiện hữu và thế giới đúng ra là thuộc về tất cả mọi người. Những gì chúng ta coi là của riêng mình, tài sản cá nhân của mình, là những gì đã được trao cho chúng ta với lòng tín thác, để phục vụ cho điều tốt đẹp của mọi người. Nó không thật sự của chúng ta. 

Hơn nữa, chúng ta cần nhớ rằng không phải chỉ có sự khéo léo và nỗ lực vất vả của riêng mình đem lại cho ta những gì ta coi là của riêng mình. Những thành quả lao động của chúng ta cũng là thành quả lao động của những người khác. Chúng ta quá dễ dàng quên mất điều đó. Đây là cách nói của Bill Gates cha: “Xã hội có một phần lớn lao trong của cải của người giàu có. Điều này cắm rễ không chỉ trong hầu hết các truyền thống tôn giáo, mà còn trong việc kê khai trung thực về đầu tư lớn lao của xã hội vào việc tạo ra nền tảng màu mỡ để sản sinh ra của cải. Đạo Do Thái, đạo Ki-tô, và đạo Hồi, tất cả đều khẳng định quyền sở hữu cá nhân và quyền tư hữu, nhưng có những giới hạn luân lý đối với sở hữu cá nhân tuyệt đối về của cải và tài sản. Mỗi truyền thống đều khẳng định rằng chúng ta không phải là những cá nhân riêng lẻ mà là tồn tại trong cộng đồng – một cộng đồng có quyền đòi hỏi chúng ta. Cái ý niệm “nó hoàn toàn là của tôi” là vi phạm những lời dạy và những truyền thống này. Phần của xã hội trong của cải tích lũy của cá nhân … cắm rễ trong sự thừa nhận những đầu tư trực tiếp và gián tiếp của xã hội vào thành công của cá nhân. Nói cách khác, chúng ta không tự mình đến được đó.” (Những người ở trọ, Tháng 1-tháng 2, 2003)

Thật sự, chẳng ai trong chúng ta tự mình mà đến được đó. Nếu chúng ta nhớ điều đó thì chúng ta sẽ hào phóng được một cách dễ dàng hơn. 

Câu trả lời tối hậu đối với bạo lực

Năm ngoái một bộ phim Pháp được công chiếu có tiêu đề “Về Chúa và Con người” mà tờ New York Times cho rằng đây “có lẽ là bộ phim hay nhất từng có về nguyện ước Ki-tô.”
Dựa trên một câu chuyện có thật, bộ phim kể về chuyện năm 1996, một nhóm khủng bố Hồi giáo bắt cóc một cộng đồng nhỏ các tu sĩ dòng Trappe từ tu viện xa xôi của họ ở miền Bắc nước Ăng-giê-ri, giam giữ họ và cuối cùng giết họ. Nhưng bộ phim này nói về điều sâu sắc hơn những sự kiện trần trụi đó. Nó tập trung vào chuyện từng tu sĩ này, những con người bình thường không hề có tham vọng tử vì đạo, đã phải chấp nhận chuyện có thể tử vì đạo như thế nào. Mỗi một tu sĩ có cuộc đấu tranh riêng của mình, và đối với nhiều người trong số họ, đó là cuộc đấu tranh lớn lao. Bộ phim lên đến cao trào với cảnh “Bữa ăn tối cuối cùng” khi máy quay phim quay cận cảnh kỹ lưỡng khuôn mặt của từng vị tu sĩ. Mỗi gương mặt thể hiện cả niềm vui lẫn nỗi thống khổ trong sự nhận ra một cách vô thức của chính người đó rằng mình sẽ sớm phải chết, thế nhưng, bởi vì những gì người đó đã nỗ lực trải qua và chấp nhận trong linh hồn mình, cái chết sẽ là một chiến thắng như thế nào. 

Trong câu chuyện, có một lúc, khi các vị tu sĩ bắt đầu thấy rõ rằng, đến một lúc nào đó, bạo lực chính trị và quân sự xung quanh họ sẽ xâm lấn vào tu viện, phim cho chúng ta xem một cảnh rất xúc động, những chiếc máy bay trực thăng lượn vù vù trên ngôi làng nhỏ và tu viện của họ, các cánh quạt ầm ầm như điềm báo cho những tiếng trống trận. Trong khi những tiếng đập chiến tranh này át hầu hết mọi âm thanh khác, các vị tu sĩ đáp lại bằng cách vào nhà nguyện, mặc lễ phục, nắm tay nhau và hát những bài hát nhẹ nhàng của lòng tin tưởng và ca ngợi Chúa, và khán giả chúng ta ngây người trước sự tương phản đó: những bài hát nhẹ nhàng của lòng tin tưởng trước binh khí chiến tranh đang lượn vù vù. Trong hai thứ đó, cái nào có quyền năng lớn hơn?

Trong các kinh Phúc âm cũng có một cảnh tương tự như vậy khi mô tả về sự ra đời của Chúa Giêsu. Một thế giới đầy bạo lực, dưới bàn tay quân sự khắc nghiệt của Đế chế La Mã, đang kiếm tìm một câu trả lời từ cao xanh. Và Chúa đã đáp lại bằng điều gì: Một em bé yếu ớt ngủ trong máng lừa. Đứa bé này rốt cuộc sẽ chiến thắng như thế nào? Sự nhẹ nhàng và nhu mì thừa kế thế gian này như thế nào?

Có thể lô-gic của điều này hơi gượng ép, nhưng chúa Giê-su đã ám chỉ một câu trả lời cho câu hỏi đó trong cách Người đáp lại các môn đồ khi họ hỏi tại sao họ không có quyền năng xua đuổi quỷ, trong khi Chúa Giêsu có thể xua đuổi chúng được. Câu trả lời của Chúa Giêsu mang tính ẩn dụ nhưng sâu sắc. Về căn cốt, Người trả lời  rằng “những con quỷ” bị xua đuổi không phải thông qua một quyền năng thần bí siêu việt, mà thông qua một quyền năng đạo đức siêu việt, nghĩa là, bởi một sức mạnh được tạo ra từ bên trong một người nào đó khi người đó nuôi dưỡng đầy đủ lòng chính trực, lòng biết ơn, tình thương yêu, sự trong trắng và sự nhẹ nhàng riêng, và giữ tất cả những điều đó một cách trung kiên trước mọi thử thách cám dỗ, kể cả bạo lực. Sự nuôi dưỡng những điều này trong lòng một người sẽ kết nối người đó với nguồn mọi Sinh Linh tối hậu, Quyền năng Tối hậu, thứ quyền năng mà Giêsu gọi là “Cha” của mình. Và thứ quyền năng đó, chỉ thứ quyền năng đó, cuối cùng mới đứng vững; mọi thứ khác, kể cả những phương tiện quân sự tinh vi nhất cuối cùng phải lùi bước trước tuổi già, mục ruỗng, lỗi thời, và chết chóc. Những chiếc máy bay trực thăng đang lượn vù vù trên đầu những vị tu sĩ đang hát thánh vịnh kia giờ đây nằm trong các bãi rác, bài thánh vịnh của các vị tu sĩ vẫn tiếp tục. 

Điều đó không dễ gì chấp nhận được. Cám dỗ muôn đời là cố gắng đánh bại bạo lực với một thứ bạo lực siêu việt hơn về mặt luân lý, cái kiểu chúng ta thấy ở đoạn kết các bộ phim tẩy trần trong đó người anh hùng dùng súng áp chế được những kẻ xấu bằng cách phô diễn cơ bắp nhiều hơn, hỏa lực nhiều hơn và chính xác hơn bọn xấu kia. Quỷ dữ rồi thì bị xua đi bằng một thứ bạo lực siêu việt hơn. Nhưng đó không phải là cách của Giêsu hay Phúc âm; cũng không phải là cách của những vị tu sĩ dòng Trappe tử vì đạo ở Ăng-giê-ri. Đối diện với bạo lực sắp diễn ra, hành động đầu tiên của chúng ta là không nên tìm cách huy động một thứ bạo lực siêu việt hơn. Không. Như những vị tu sĩ tử vì đạo kia, chúng ta nắm tay nhau và hát những hát tình thương và tin tưởng. Hoặc, để thay đổi hình ảnh một chút, giống như ba chàng thanh niên trong Sách Đanien, chúng ta hát những bài thánh ca, kể cả khi chúng ta đang bước đi giữa những ngọn lửa nóng gấp bảy lần so với bình thường. 

Chấp nhận cách đáp lại bạo lực như thế này thật sự không phải là loại đi khả năng tự vệ được biện minh về mặt đạo đức hay khả năng một cuộc chiến tranh chính nghĩa. Thế giới này phức tạp, đạo đức phức tạp, mà chúng ta không phải bao giờ cũng ở vào cùng một tình thế trong đời sống của mình, trong đức tin của mình, và trong lòng tin tưởng vào Chúa của chúng ta. Một kích thước không thể vừa cho tất cả. Và, trong “Về Chúa và Con người”, mỗi vị tu sĩ đã phải tự đưa ra quyết định đau đớn nhưng thích hợp của mình để đáp lại bạo lực. Mỗi chúng ta cũng vậy. 

Đây không phải là một tiêu chí cho mọi quyết định luân lý về tự vệ và chiến tranh (mặc dù, không kể tới hoàn cảnh cụ thể, chúng ta nên luôn luôn tin vào câu châm ngôn rằng bạo lực luôn luôn nảy sinh ra bạo lực nhiều hơn) mà là một lời mời, lời mời gọi để bắt đầu vun xới trong lòng chúng ta một kiểu “cầu nguyện và ăn chay” xua đi mọi quỷ dữ, kể cả bạo lực. Lời mời gọi này là bắt đầu nuôi dưỡng từ sâu thẳm bên trong mình lòng chính trực, biết ơn, thương yêu, trong trắng và nhẹ nhàng riêng, và giữ tất cả những điều đó một cách trung kiên trước mọi thách thức cám dỗ, kể cả bạo lực. 

Trong nghịch lý có đức hạnh 

Có một số câu phương ngôn cổ nói rằng đức hạnh và chân lý nằm ở giữa, giữa hai thái cực. Điều này được gọi là “phương kế hành động vàng (ôn hòa)” và được biểu đạt trong những cụm từ như “Đức hạnh thì ở xa các thái cực – In medio stat virtus” và “Đạo trung dung – Aurea mediocritas.” 

Nhưng ý nghĩa của nó có thể bị dễ dàng hiểu sai và cho rằng đức hạnh và chân lý được tìm thấy trong mẫu số chung nhỏ nhất, trong sự tầm thường. Thực ra đó là cách dịch nghĩa thô thiển cho cụm từ aurea mediocritas, nghĩa là sự tầm thường là vàng.

Tuy nhiên, điều mà những câu phương ngôn này thật sự nói tới không phải là một sự tầm thường nào đó để cố gắng tránh những rìa thô thiển của hai thái cực bằng cách khoanh lại trong một trung tâm xói mòn nào đó. Mà đúng hơn, chúng nói với ta rằng đức hạnh và chân lý nằm trong nghịch lý, trong việc mang sự thật của cả hai phía và sống trong lòng mối căng thẳng của tình trạng thiếu rõ ràng đó. Đức hạnh và chân lý không được tìm thấy bằng cách chọn “thế này/thế kia” hoặc chọn một chốn trung dung tẻ nhạt nào đó không có sự sắc sảo để cho hai bên phải khó chịu. Đức hạnh và chân lý nằm trong việc sống trong tình trạng “vừa thế này/vừa thế kia”, nghĩa là chứa đựng và cân bằng cái chân lý nằm trong cả hai thái cực.

Và không ở đâu điều này đúng hơn trong nhận thức tôn giáo, nghĩa là, trong vấn đề làm thế nào chúng ta nhận ra tiếng nói của Chúa trong đời mình. Tiếng Chúa thì thầm hay như sấm dậy? Tiếng Chúa nói trong đau đớn hay chúc lành? Chúa gọi chúng ta ra khỏi thế gian này hay dấn thân hơn vào thế gian? Chúa gọi chúng ta qua những gì thoải mái và thân thuộc hay vào những miền đất xa lạ? Chúa khuấy động hay an ủi chúng ta? Chúa được nhận ra trong những phép màu hay trong sự bất lực? Chúa nói thông qua người giàu hay thông qua kẻ nghèo, thông qua người có giáo dục hay người không có giáo dục? Tiếng Chúa làm chúng ta sợ hãi hay khiến chúng ta hết sợ? Tiếng Chúa nghe được nhiều hơn qua lòng mộ đạo hay đả phá tín ngưỡng? Chúa yêu cầu chúng ta từ bỏ những lạc thú của thế gian này hay hưởng thụ chúng?

Tiếng của Chúa là trong tất cả những điều đó. Nó được nghe thấy trong nghịch lý:

Tiếng Chúa được nhận ra trong tiếng thì thầm và lời êm nhẹ, cũng như nó được nhận ra cả trong sấm chớp. Chúa nói với tiên tri Êlia trong làn gió mát nhẹ nhàng, nhưng nói với vua Pharaô qua các cơn bệnh dịch.

Tiếng Chúa được nhận ra ở bất kỳ nơi nào có sự sống, niềm vui, sức khỏe, sắc màu, và sự hài hước, cũng như nó được nhận ra bất cứ nơi nào ta thấy có cái chết, đau đớn, nghèo nàn, và ngã lòng. Chúa có mặt như nhau vào Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh và ngày Chúa nhật Phục sinh. 

Tiếng Chúa được nhận ra trong những gì mời gọi chúng ta đến với điều cao hơn, đến những nơi cắt đặt riêng cho một nhiệm vụ, đến những gì mời gọi chúng ta vào đời sống thiêng liêng, cũng như gọi chúng ta đến với địa vị hèn mọn, mời gọi chúng ta hòa cá thể của mình vào nhân loại, và khước từ tất cả những gì phỉ báng tính nhân bản của chúng ta. Tiếng Chúa gọi ta ra khỏi những gì đơn thuần là con người cũng như mời gọi chúng ta khiêm nhường nhận lấy chỗ của mình giữa loài người. 

Tiếng Chúa được nhận ra trong những gì xem ra “xa lạ”, “kẻ lạ” trong đời sống chúng ta, cũng như được nhận ra trong những tiếng nói thân thuộc sâu sắc nhất gọi chúng ta về nhà. Tiếng Chúa đưa ta vượt lên trên bất kỳ thứ ngôn ngữ nào chúng ta biết cũng như khi chúng ta nhận ra nó một cách sâu sắc nhất trong tiếng mẹ đẻ của ta. 

Tiếng Chúa là tiếng thách thức chúng ta nhất, cũng như nó là tiếng duy nhất và tối hậu an ủi và xoa dịu chúng ta. Tiếng Chúa khuấy động những người thoải mái và xoa dịu những người đang bị khuấy động, nhưng nó cũng xoa dịu những người thoải mái và khuấy động những kẻ đang bị khuấy động.

Tiếng Chúa bước vào đời chúng ta như thể quyền năng vĩ đại nhất của mọi quyền năng, cũng như nó vĩnh viễn nằm trong tính dễ bị tổn thương, giống như đứa bé yếu ớt nằm trên cọng rơm. Tiếng Chúa tạo ra vũ trụ và giữ cho nó tồn tại, cũng như nó nằm trong thế giới của chúng ta và yếu đuối như một em bé sơ sinh. 

Tiếng Chúa được nghe thấy như một đặc ân đối với người nghèo, cũng như nó ra hiệu cho chúng ta qua tiếng nói của người nghệ sĩ và trí thức. Chúa ở trong người nghèo, cũng như ở nơi người nghệ sĩ và trí thức khi họ giúp vén mở những thuộc tính siêu nghiệm của Chúa. Tiếng Chúa mời gọi chúng ta sống vượt lên trên mọi nỗi sợ hãi, cũng như nó truyền cảm hứng về nỗi sợ hãi thiêng liêng. Khi Chúa xuất hiện trong lịch sử loài người, những lời nói đầu tiên của Người luôn luôn là: “Đừng sợ!” Sự có mặt của Chúa là để xóa tan mọi nỗi sợ hãi, cũng như mời gọi chúng ta sống trong “nỗi sợ hãi thiêng liêng”, trong sự tôn kính và trinh bạch giúp tạo ra một thế giới mà trong đó không ai phải sợ bất cứ điều gì. 

Tiếng Chúa được nhận ra trong lòng những món quà của Chúa Thánh thần, cũng như nó mời gọi chúng ta đừng bao giờ phủ nhận những điều phức tạp của thế giới mình và của chính đời sống của mình. 

Tiếng Chúa luôn luôn được nghe thấy ở bất kỳ nơi nào có niềm vui và lòng biết ơn đích thực, cũng như khi nó yêu cầu chúng ta khước từ bản thân mình, tự chết đi, và tương đối hóa mọi điều của thế gian này.

Dĩ nhiên, để chấp nhận điều này cũng có nghĩa là chấp nhận sống với sự không rõ ràng, phức tạp, không biết được, và rất nhiều kiên nhẫn. Tiếng Chúa lúc đó sẽ không còn rõ ràng như bản năng nền tảng mà chúng ta mong muốn, nhưng nó sẽ tự do vừa an ủi vừa thách thức chúng ta như chưa bao giờ từng như thế. 

Một bài học trong tình huống không ngờ tới

Giá như! Chúng ta thường xuyên nghe những câu nói đầy hối hận cay đắn: Giá như! Giá như tôi để ý trước! Giá như tôi chú ý hơn! Giá như tôi có thể gặp lại người đó, thậm chí chỉ năm phút thôi! Giá như ngay lúc đó tôi không có mặt ở đó! Giá như cơn bão không xảy ra ngay khi tôi đang ở trên xa lộ! Giá như tôi không uống thêm ly đó! Giá như tôi rời bữa tiệc sớm hơn mười phút! Giá như!

Tất cả chúng ta đều sống với những nỗi hối hận nhất định và với cái biết cay đắng rằng giá như mình đã để ý hơn hoặc kiên nhẫn hơn hoặc dũng cảm hơn hoặc yêu thương hơn ở một thời điểm nhất định thì cuộc sống của chúng ta hẳn sẽ rất khác. Giá như chúng ta có thể có lại những phút giây nhất định của đời sống mình, để làm lại khác hẳn.

Gần đây tôi có một phút giây như vậy. Đó chẳng phải là một giây phút trong đại cục lớn lao gì, nhưng theo cái cách nhỏ nhoi của nó, nó thật sự chứa đựng tất cả sức công phá của niềm hối hận cay đắng chất chứa mà chúng ta cảm thấy khi chúng ta nói: Giá như!

Chuyện gì xảy ra? Tôi bị mất một chiếc va-li (trong đó có hộ chiếu, Thẻ Xanh, máy tính xách tay, các quyển nhật ký cá nhân và các kế hoạch trong hai năm qua, và rất nhiều giấy tờ và hình ảnh cá nhân) khi tôi đang mua vé tàu điện ngầm ở Đường Tàu Điện Ngầm London. Tôi là người du hành có kinh nghiệm và thường mang chứng hoang tưởng về chuyện cảnh giác với hành lý, nhưng, như bất kỳ ai từng mất một cái ví hay va-li (hay, chắc chắc còn bi thảm hơn, mất một đứa bé) ở một nơi công cộng đều biết, chỉ mất một vài giây thiếu chú ý là thảm họa giáng xuống.

Trong trường hợp của tôi, chuyện xảy ra như thế này: Tôi chỉ vừa bước xuống khỏi tàu sau khi phát biểu tại một hội nghị, và trong khi chăn giữ kỹ lưỡng ba món hành lý của mình như thể chăn chiên, tôi đi một cầu thang cuốn để xuống tàu điện ngầm. Tôi đang tìm cách mua vé tàu điện ngầm mà cái máy tự động thì không hợp tác, và chỉ cần sự phân tâm nhỏ đó, trong một khoảng thời gian có lẽ chỉ một phút: tôi không nghĩ tới các hành lý của mình. Khi tôi nhìn xuống để xách, thì va-li của tôi đã biến mất. Mất một lúc tôi mới nhận ra điều gì đã xảy ra, và khi tôi chạy đi tìm nhân viên an ninh, tim tôi rơi tõm vào cái ý thức đầy đau đớn là chuyện đã quá muộn rồi, tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy được những gì ở trong cái va-li đó nữa. Khi tôi ngồi với viên cảnh sát, làm bản tường thuật về vụ việc, tôi cứ vô tình tự nói mãi với mình: Giá như! Giá như tôi không bị mất tập trung! Giá như tôi giữ hộ chiếu và thẻ xanh bên mình! Giá như tôi có thể vặn ngược đồng hồ cho chạy lại 10 phút đó của đời mình! Giá như! 

Tất cả chúng ta ai cũng từng trải qua như vậy, theo những cách lớn nhỏ khác nhau!

Bài học là gì? Tôi, hay bất kỳ ai, có thể học hỏi được điều gì từ những phút giây như thế?

Trước hết, chúng ta cần học cách nhìn nhận mọi việc trong cái nhìn toàn cảnh. Đôi khi một giây phút bất cẩn có những hậu quả to lớn không thể nào thay đổi được, như trường hợp mất một đứa bé hay một tai nạn nghiêm trọng cướp đi mạng sống; nhưng trong trường hợp của tôi, nó chỉ có nghĩa là mất vài vật dụng cá nhân, một ít tiền, và một thời gian gần hai ngày (đến các Đại sứ quán để làm lại hộ chiếu và thẻ xanh). Đó là một điều bất tiện khó chịu mà xét trong đại cục thì căn bản chỉ như một vết muỗi đốt. Trước lúc chết, chắc tôi cũng chẳng nhớ gì tới vụ việc này. Nhưng vào thời điểm đó, chẳng dễ dàng gì mà nhìn nhận được như vậy. Trong chính giây phút đó, ta dễ dàng đánh mất góc nhìn toàn cảnh.

Thứ hai, những vụ việc như thế này là nhằm dạy lòng kiên nhẫn. Dục tốc bất đạt! Nó cũng khiến ta nhất thời bất cẩn và gây ra các sự cố. Điều đó đã xảy ra với tôi bởi vì lúc đó tôi hấp tấp. Tôi đã muốn mua vé ở quầy khách hàng, nhưng ở đó có cả dãy người đang đợi, và, mặc dù tôi chẳng có lịch làm việc gì cấp bách, tôi vẫn quá thiếu kiên nhẫn nên không thể xếp hàng đợi. Tôi cố tiết kiệm năm phút, và sự thiếu kiên nhẫn đó cuối cùng làm tôi mất gần hai ngày xếp hàng tại các Đại sứ quán và văn phòng Di trú, bên cạnh những thứ khác. Hy vọng bài học này thấm thía. 

Cuối cùng, những vụ việc như thế này là nhằm dạy chúng ta thừa nhận và tha thứ cho những việc bất ngờ. Về mặt triết lý, việc bất ngờ có nghĩa là chúng ta sống với những giới hạn và những điều bất toàn, khác với Chúa độc lập và hoàn hảo. Đối với chúng ta, bất cứ ai trong chúng ta đều sẽ có những giây phút sao lãng, bất cẩn, rủi ro, thiếu kiên nhẫn một cách ngu ngốc, và lầm lẫn đạo đức. Triết gia Leibnitz đã nói điều nổi tiếng này – chúng ta không sống trong những vũ trụ toàn hảo khả dĩ.

Như vậy, luôn luôn sẽ có những cái ví bị mất, những va-li bị đánh cắp, những vật quý gia truyền bị làm vỡ, và, tệ hơn nhiều, những tai nạn bi thảm dẫn tới mất mát những đứa trẻ và những mạng sống. Cũng đôi khi sẽ có những giây phút bất cẩn về mặt đạo đức mà chúng ta sẽ thấy hối hận cay đắng. Chúng ta không phải là Chúa. Chúng ta gặp nhiều điều không ngờ. 

Vì vậy nếu lần tới có ai đó vô tình đánh rơi và làm bể cái bình hoa vô giá của bạn, thì đừng đáp lại bằng cái cau mày trừng phạt kiểu như nói: Làm sao anh có thể vụng về đến thế! Anh đã làm một việc kinh khủng! Thay vào đó, hãy làm cho ông già Leibnitz tự hào, hãy trao một nụ cười đầy hiểu biết kiểu như nói: Giờ thì anh cũng có điều không ngờ tới! 

Kiên nhẫn với Thiên Chúa 

Có một câu cách ngôn nói rằng người vô thần đơn giản chỉ là người không thể hiểu hình ảnh ẩn dụ. Thomas Halik, nhà văn người Séc, thì cho rằng người vô thần là người không đủ kiên nhẫn với Thượng đế.

Câu đó có nhiều phần đúng. Lòng kiên nhẫn với Thượng đế có lẽ là cuộc chiến đấu đức tin lớn lao nhất của chúng ta. Dường như Thượng đế chẳng bao giờ vội vã vì thế chúng ta sống với lòng kiên nhẫn, nó có thể thử thách đức tin mạnh mẽ nhất và trái tim kiên cường nhất.

Như tất cả chúng ta đều có thể chứng thực, cuộc sống không phải không có các nỗi chán chường cay đắng và đau đớn dày vò trái tim. Tất cả chúng ta đều sống với nhiều nỗi đau và căng thẳng không giải quyết được. Ai trong chúng ta mà không từng nếm qua đau ốm bệnh tật, thất bại nhiều kiểu khác nhau về mặt cá nhân cũng như công việc, một kiểu sỉ nhục nào đó, một biểu đạt không đầy đủ của bản thân, những nỗi mất mát người thân làm khô héo tâm hồn, một kiểu khát khao trong thất vọng, và nỗi đau bứt rứt vì bất toàn của cuộc sống? Trong cuộc sống này, chẳng hề có niềm vui trong trẻo, thuần khiết; đúng hơn mọi thứ đều đi kèm với bóng đen của nó. Thật sự trong chừng mực nào đó, chúng ta sống trong thung lũng nước mắt.

Chúng ta được tạo ra để tìm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc thuần khiết chẳng bao giờ tìm tới chúng ta. Dường như công lý cũng thế. Chúa Giêsu hứa rằng ai theo Người sẽ được phần thưởng nhưng dường như phần lớn không được như vậy. Những người hung hăng nhất trong số chúng ta thường tin vậy. Có một phim hoạt hình khét tiếng về Ziggy có cảnh Ziggy đang cầu nguyện với Thượng đế như sau: tôi chỉ muốn Ngài biết là những kẻ nhu mì vẫn bị đánh tơi tả dưới này. Dường như thường thường là như vậy. Vậy thì Chúa ở đâu? Đâu là sự thật trong lời Chúa hứa ai theo Người sẽ được phần thưởng trên trái đất này?

Trước sự bất công dai dẳng trên toàn cầu, chúng ta hoặc sống trong nỗi kiên nhẫn chịu đựng với Chúa hoặc chúng ta đi đến chỗ tin rằng những lời hứa của Chúa lẫn sự tồn tại của Chúa đều là những điều không đúng sự thật.

Khi Chúa chết trên thập giá, một số người đứng xem châm chọc Người và thách thức thông điệp của Người với lời lẽ như sau: Nếu ngươi là con Thiên Chúa, thì để Thiên Chúa đến cứu ngươi đi! Về căn cốt, điều đó nghĩa là: nếu Thiên Chúa là có thật và nếu thông điệp của ngươi là chân thật, thì hãy chứng minh ngay bây giờ đi! Điều này cũng đúng với Chúa Giêsu trước cái chết của ông Ladarô. Căn cốt, Người đang bị thách thức: nếu ngươi sở hữu quyền năng của Thiên Chúa trên thế gian này và ngươi thương yêu người đàn ông này, thì tại sao ngươi không cứu ông ta khỏi chết? Chúa Giêsu để Ladarô chết! Và cộng đoàn tín đồ đầu tiên, ngay sau lễ Chúa về trời, đã đau đớn đấu tranh với câu hỏi đó – Giêsu là Chúa và là người thương yêu chúng ta – vậy tại sao Người để chúng ta chết?

Mỗi người trong chúng ta đều đặt câu hỏi đó theo cách riêng của mình, vì điều chúng ta muốn là một vị Chúa cứu nạn cho chúng ta, can thiệp tích cực vì công lý và điều thiện trên thế gian này, người hành động một cách có thể nhận thấy được trong cuộc sống này, và người không để chúng ta đau ốm và chết đi. Không ai trong chúng ta muốn một vị Chúa đòi hỏi chúng ta sống trong kiên nhẫn cả đời, dựa trên lời hứa rằng cuối cùng, dù đó là khi nào đi chăng nữa, tình yêu và công lý cũng sẽ chiến thắng, mọi nước mắt sẽ khô, và mọi chuyện cuối cùng đều tốt đẹp. Chúng ta muốn sự sống, tình yêu, công lý và sự hưởng thụ ngay bây giờ, không phải ở một tương lai xa xôi và chỉ sau khi đã sống một cuộc đời đầy đau thương. Chúa, như một câu ngạn ngữ cổ Do Thái đã nói, không bao giờ vội vàng!

Và thế là chúng ta sống với nỗi nôn nóng với Chúa, cả bộc lộ ra lẫn không được bộc lộ ra. Có vẻ như, những người vô thần, ở một thời điểm nhất định, chỉ đơn giản là từ bỏ cuộc chơi, và, về căn bản, họ nói thế này: tôi đã thấy đủ rồi; tôi đã chờ đợi đủ rồi; mà như vậy lại chưa đủ! Tôi sẽ không bao giờ đợi Chúa nữa! Nhưng nếu vô thần chỉ là một cách khác để nói rằng tôi không bao giờ đợi Chúa nữa, thì điều ngược lại cũng đúng: Đức tin chỉ là một cách nói khác: Tôi sẽ chờ đợi Chúa. Nếu vô thần là thiếu kiên nhẫn, thì đức tin là kiên nhẫn. 

Tác giả thiêng liêng người Ý, Carlo Carretto, sau khi dành trọn hai mươi năm đi tu trong cô độc ở sa mạc Sahara, khi hỏi ông điều gì là điều duy nhất ông cảm thấy Chúa hay nói với ông trong im lặng lâu dài và sâu sắc, ông nghe thấy Chúa nói gì với thế giới? Câu trả lời của ông là: Chúa bảo chúng ta cứ chờ đợi, cứ kiên nhẫn!

Tại sao lại cần lòng kiên nhẫn lớn lao như vậy? Chẳng lẽ Chúa muốn thử chúng ta? Chẳng lẽ Chúa muốn xem chúng ta thật sự có đức tin xứng đáng với phần thưởng lớn lao hay không? Không. Chúa chẳng cần phải bày ra trò chơi đó, và chúng ta cũng không cần. Không phải là Chúa muốn thử thách lòng kiên nhẫn chúng ta. Sự cần thiết cho lòng kiên nhẫn phát sinh từ những giai điệu bẩm sinh bên trong bản thân cuộc sống và bản thân tình yêu thương. Chúng cần mở ra, như những bông hoa và cuộc thai nghén, theo nhịp bẩm sinh riêng của chúng và theo thời gian phù hợp riêng của chúng. Chúng ta không thể vội vàng trong những chuyện đó, cho dù nỗi thiếu kiên nhẫn hay nỗi khó chịu của chúng ta lớn như thế nào đi nữa..

Chúng ta cũng không thể vội vàng với Chúa bởi vì chính lịch thời gian của Người bảo vệ chúng ta, để chúng ta không bị sinh non trên con đường tăng trưởng tình yêu và cuộc sống vỉnh cữu.

Những tiếng gọi mạnh mẽ từ bên trong

Trong rất nhiều tiếng nói đang kêu gọi chúng ta, thật khó để phân định được đâu là tiếng nói của chân lý. Thậm chí còn khó phân định được khi nào thì chúng ta thật sự chân thành: Thật sự tôi là ai? Cái gì phù hợp đích thực với lợi ích tốt đẹp nhất của tôi? Trong số nhiều tiếng gọi tôi nghe thấy, đâu là tiếng gọi mà cuối cùng sẽ mang tôi đến với cuộc đời? Đâu là tiếng nói của Chúa trong đời tôi?

Vô số tiếng gọi từ bên ngoài đang tấn công chúng ta không ngưng nghỉ: bảng thông báo tin tức, truyền hình, báo chí, internet, ý thức hệ, tôn giáo, nghệ thuật, văn hóa bình dân, thời trang, chiến dịch quảng cáo, sức hút của những người nổi tiếng, và nhiều thứ khác. Nhưng thường thì chúng ta cũng không khó khăn mấy để nhận ra mình đang bị những tiếng gọi này tấn công túi bụi, những tiếng gọi này đều có những yêu cầu giới hạn của nó. Mỗi thứ mỗi yêu cầu: chúng muốn túi tiền, lá phiếu, sự yểm trợ, lòng thông cảm, lòng trung thành, chú ý, tham gia, ngưỡng mộ của chúng ta, hay một điều gì đó khác từ chúng ta. Tinh tế không phải là phẩm chất của chúng và thường chúng ta cũng không ngây thơ đến mức nghĩ rằng chúng hết sức lưu tâm đến lợi ích tốt đẹp nhất của ta; mặc dù trong một số trường hợp, như tôn giáo, nghệ thuật và thời trang, những biểu đạt tốt đẹp nhất của chúng là để cho chúng ta hưởng lợi. Nhưng chúng ta không dễ gì bị thuyết phục bởi những tiếng gọi từ bên ngoài. 

Chỗ mà chúng ta ngây thơ hơn là với những tiếng gọi và những tiếng nói từ bên trong tự cho là đang nêu lên chân lý. Bởi vì những tiếng nói này nằm trong lòng chúng ta nên điều tự nhiên là chúng ta nghĩ chúng rất quan tâm đến những lợi ích tốt đẹp nhất của chúng ta, rằng chúng nói vì ta, rằng chúng là tiếng nói của chân lý. 

Những tiếng nói tấn công chúng ta từ bên trong, cũng như tiếng nói từ bên ngoài, là gì? Đây là một số ví dụ nổi bật:

Tiếng nói của vĩ cuồng cá nhân, bản ngã, tư lợi, và biếng nhác. Bản chất của chúng ta không phải là vì người khác. Do các bản năng tự nhiên của mình, chúng ta đến thế giới này với bản năng cố hữu là tự kiêu, coi mình là trung tâm, tự yêu mình, và quan tâm trước và trên hết đến an lạc, vui thú và tiện nghi của chính mình. Khi trưởng thành, chúng ta biết rằng tiếng nói tư lợi không hẳn là tiếng nói gọi chúng ta đến với cuộc đời; nhưng, ở phía bên này của vĩnh cửu, tiếng nói đó không bao giờ tắt và luôn luôn vẫn còn trong lòng chúng ta như là một tiếng nói sẵn sàng át đi tất cả các tiếng nói khác.  
Tiếng nói của vết thương và nỗi tức giận. Không ai lớn lên mà không hề va chạm. Đây không phải là chuyện liệu chúng ta bị tổn thương hay không, nhưng vết thương này là gì, và ở đâu. Tiếng nói của tổn thương luôn luôn cất lên trong lòng chúng ta, vừa vi tế vừa không vi tế, thôi thúc chúng ta bất kính, thấy mình bị coi thường, bị xúc phạm, tức giận và hằn học. Chẳng ai miễn nhiễm được. Tiếng nói này mãi mãi nói với chúng ta rằng bệnh đa nghi, chứ không phải niềm ăn năn hối hận, là cái sẽ dẫn dắt chúng ta đến với cuộc đời.  
Tiếng nói của trầm cảm về mặt cảm xúc và tâm lý. Trầm cảm dễ ngụy trang dưới tấm áo của lòng vị tha, tâm hồn sâu sắc, đời sống thiêng liêng, và do đó nó có thể lừa bằng cách làm cho chúng ta tin rằng tinh thần trì trệ như thế này mới tạo nên cuộc sống, trong khi thật sự nó đã rút hết sức lực và sự sống của cơ thể và tâm hồn chúng ta. Thường thường tiếng nói của trầm cảm hay bị nhầm với tiếng nói của tôn giáo vì nó có vẻ như vinh danh cho khắc khổ, những chuyện của một thế giới khác và là bước thử thách, trong khi thực tế không phải vậy.  
Tiếng nói của ủy mị và sùng tín. Ủy mị và sùng tín rất dễ bị nhầm với thấu cảm đích thực và tận hiến đích thực. Nhưng có một khác biệt rất dễ nhận ra: Trong thấu cảm đích thực và tận hiến đích thực, những giọt nước mắt khóc là khóc cho người khác, còn trong ủy mị và sùng tín, những giọt nước mắt khóc là khóc cho chính mình. 

Tiếng nói của nỗi ám ảnh, của những “thiên thần” và “quỷ dữ” bên trong. Có một tranh cãi từ xưa về chuyện điều gì ảnh hưởng tối thượng lên hành vi của chúng ta: do bản tính hay do giáo dưỡng? Gen di truyền hay môi trường? Một số nhà tư tưởng, trong đó có James Hillman, sẽ cho rằng điều ảnh hưởng nhất đến hành vi chúng ta không phải là bản tính cũng không phải là giáo dưỡng, mà do những “tay ma lanh” (daimon) bên trong tấn công chúng ta, gây ám ảnh, tước mất tự do của chúng ta. Bất kỳ ai đã từng yêu trong bất lực và tuyệt vọng đều nhận ra chính xác những gì “quỷ dữ” hay “thiên thần” bên trong có thể làm được. Có một số ít lực lượng làm tê liệt đời sống chúng ta và có một số ít tiếng nói có thể khiến cho chúng ta tin sâu sắc rằng một người nào đó (và chỉ duy nhất người này) mới có thể mang chúng ta đến với cuộc sống. Nếu bạn là người lãng mạn, tiếng nói này sẽ vừa là nguồn năng lượng lớn nhất vừa là nguồn gây phiền muộn lớn nhất đời; và như kinh nghiệm cay đắng cho thấy, không phải lúc nào nó cũng là tiếng nói của cuộc đời.  
Tiếng nói của mô thức tâm lý, gen, sắc tộc và giới tính. Máu thì đậm hơn nước lã, và đó là một thứ tiếng nói rất mạnh mẽ trong lòng chúng ta mà chẳng bao giờ hoàn toàn im lặng. Chúng ta không đến thế giới này như tấm giấy ảnh trinh trắng trên đó chưa từng in gì. Đúng hơn, chúng ta bước vào cuộc đời với một tiềm năng ADN mạnh mẽ, cả ở trong cơ thể lẫn trong tâm hồn, trong đó nhiều điều đã được in dấu đậm không thể nào xóa được. ADN của chúng ta, về mặt cơ thể lẫn tâm lý, vẫn luôn luôn là tiếng nói mạnh mẽ bên trong, và, giống như tiếng nói của chứng vĩ cuồng cá nhân, không phải lúc nào nó cũng hết lòng quan tâm đến lợi ích tốt đẹp nhất của chúng ta.

Chẳng có câu trả lời dễ dàng nào thích đáng để đối xử với những tiếng nói bên trong này chúng ta, nhưng, theo lời James Hillman, một triệu chứng sẽ gây đau đớn nhất khi không biết nó thuộc về cái gì!