RonRolheiser,OMI

Vinh danh một Thiên Chúa Phong phú và Hoang phí

Có một xu hướng đáng lo trong lòng các giáo hội ngày nay. Đơn giản là, chúng ta đang thấy các giáo hội của chúng ta càng ngày càng thu hẹp. Càng ngày các giáo hội càng đòi hỏi một sự thuần nhất và độc quyền mà Chúa Giêsu không đòi hỏi trong Tin Mừng.  

Thật vậy, từ “gồm cả- inclusivity” thường bị loại bỏ ngay và thường bị xem như một phần của cái gọi là  “Tôi là người sống tâm linh nhưng không có tôn giáo”, xem như việc bao gồm là một kiểu tầm thường, một kiểu giống như phong trào New-Age, hơn là một đòi hỏi trọng tâm của chính tinh thần môn đệ Kitô giáo.

Gồm cả nghĩa là gì? Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc xem xét từ “Công giáo”.  Đối lập với “Công giáo” không phải là “Tin Lành”. Đối lập với “Công giáo” là hẹp hòi, loại trừ, và mang não trạng chọn lọc quá đáng. Đối lập với “Công giáo” là khẳng định đức tin kiểu gia tộc của chúng ta một cách quá sức hẹp hòi. “Công giáo” nghĩa đúng là rộng rãi, và cho tất cả mọi người. Là hiện thân cho vòng tay của một Thiên Chúa phong phú và hoang phí, đấng ban mặt trời để chiếu tỏa trên tất cả mọi người, không phân biệt kẻ xấu người tốt. Chúa Giêsu đã xác định điều này khi ngài nói: “Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở.” Trái tim Thiên Chúa rộng rãi, dư dật, hào phóng đến mức phung phí, mở ra ôm lấy mọi người, một quả tim săn sóc cho “những con chiên không thuộc đàn này”. Là người “Công giáo” là phải noi theo gương đó.

Trong Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu lưu tâm đến chuyện bao gồm mọi người nhiều hơn cả chuyện thuần nhất và xứng đáng. Ngài kết giao và dùng bữa với các tội nhân mà không đòi hỏi họ phải có các điều kiện đạo đức cần có để được xem là xứng đáng đứng trước mặt Ngài. Các môn đệ của Ngài, cũng như các giáo hữu chân thành tốt bụng ngày nay, vì xem họ không xứng đáng nên luôn luôn muốn đẩy họ ra khỏi Chúa, nhưng Chúa Giêsu luôn luôn phản đối, nói rằng Ngài không cần kiểu bảo vệ đó, và Ngài thực sự muốn tất cả họ đến với Ngài: Hãy để họ đến cùng Ta! Thật vậy, lời mời gọi đó của Chúa Giêsu vẫn còn: Hãy để họ, tất cả họ đến với Ta! 

Chúng ta cần phải rộng rãi hơn nữa. Tôi nhấn mạnh điều này vì ngày nay gia đình đức tin của chúng ta đang co rút lại, thay vì tiếc cho lòng thương cảm đã mất tính toàn vẹn, chúng ta lại thầm vui mừng vì điều đó. Thật là thoát nợ: dù gì thì họ chẳng còn là Kitô hữu thật sự nữa! Hay, nói theo kiểu một vài nhà bình luận Công Giáo, họ là những tín hữu Công giáo kiểu tùy tiện, chọn phần nào trong Tin Mừng họ thích và biến Đạo Công Giáo phong phú thành một kiểu Công Giáo hời hợt.

Một đánh giá như thế, mặc dù thật tâm và có ý hướng tốt, nhưng nó cần được xem xét lại ở hai điểm lớn này: Điểm thứ nhất, một đánh giá như thế làm cho người phát ngôn nó dễ bị công kích hơn. Ai là người Công giáo thật sự và giữ đạo trọn vẹn trong thực tế? Vài năm về trước, ban giám hiệu của một trường Công giáo Roma có nhờ tôi viết định nghĩa cho cái gọi là “người Công giáo thực”. Tôi trăn trở với việc này, xem xét các định nghĩa cổ điển và cuối cùng rút ra được một ít quy luật gọi là. Và tôi mở đầu định nghĩa đó bằng câu mở đầu: Chỉ có Chúa Giêsu và Mẹ Maria là hai người Công giáo trọn vẹn. Tất cả mọi người khác, không trừ một ai, đều không được như vậy. Chúng ta tất cả đều là những tín hữu Công giáo kiểu tùy tiện. Tất cả chúng ta điều thiếu sót, khiếm khuyết, và cách nào đó, tất cả đều sống Tin Mừng theo ý riêng mình. Tôi xin đưa ra ví dụ nổi bật nhất: Nhiều người trong chúng ta nặng về việc đi lễ và giữ đạo đức theo lối riêng, còn những đòi hỏi không khoan nhượng nhằm thực thi công chính theo Tin Mừng thì chúng ta không xem trọng. Ai là người gần Chúa Giêsu hơn? Ai là người Công giáo kiểu tùy tiện? 

Câu trả lời nằm trong lương tâm thầm kín của mỗi người. Nhưng chúng ta biết rằng chẳng một ai trong chúng ta hoàn toàn đúng cả. Tất cả chúng ta còn đứng vững là nhờ sự tha thứ của Thiên Chúa và nhờ sự nhẫn nại của cộng đoàn giáo hội mà chúng ta đang sống.

Điểm thứ hai là: Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta là một Thiên Chúa phong phú vô hạn. Ngài chẳng thiếu thốn, chẳng dè xẻn lòng thương bao giờ. Như trong dụ ngôn Người gieo hạt, Thiên Chúa đã thỏa tay gieo hạt trên mọi loại đất – đất xấu, đất thường, đất tốt, đất thượng hạng. Thiên Chúa làm như thế vì tình yêu và lòng thương xót của Ngài vô hạn. Dường như Thiên Chúa chẳng bao giờ lo lắng về việc một ai đó sẽ phải đón nhận những ơn ban quá nghèo nàn mà họ không đáng phải nhận. Cũng vậy, Chúa Giêsu đoan chắc với chúng ta rằng Thiên Chúa đó thật hoang phí: Cũng như người cha nhân hậu của hai anh em người  con hoang đàng, vòng tay Thiên Chúa ôm cả người lỗi lầm non nớt lẫn người già dặn nhưng còn cay đắng, hận thù. Một tôn giáo tốt đẹp cần phải trân trọng những điều như thế.

Ngày nay, ở cả hai phía tư duy, cả bảo thủ lẫn cấp tiến, tất cả chúng ta đều cần tự nhắc nhở rằng, thế nào là sống trong vòng tay của một Thiên Chúa “Công giáo” phong phú và hào phóng. Trong nhiều nghĩa khác nhau, có một nghĩa là luôn mãi mở lòng để bao gồm mọi người càng ngày càng rộng hơn. Vậy quả tim chúng ta rộng lượng đến như thế nào? 

Tính loại trừ có thể ngụy trang dưới lớp bọc của sự thâm sâu và lòng khắc khoải chân lý; nhưng rồi nó sẽ tự bóc trần, vì nó không thể nào giải quyết được tính mập mờ và tách biệt, tê cứng và hãi sợ, như thử Thiên Chúa và Chúa Giêsu cần chúng ta bảo vệ. Quan trọng hơn nữa, nó quá thường tự lột mặt mình vì nó thiếu lòng thương thực sự cho những ai nằm ngoài nhóm của nó, và như thế, nó đã không tôn kính Thiên Chúa của chính nó, một Thiên Chúa dư dật và hoang phí.

Vượt thắng lo âu

Lo âu, giống như tất cả mọi áp lực khác, nuốt chúng ta theo nhiều mức độ khác nhau. Xét sơ qua, thì chúng ta lo lắng về nhiều thứ. Nhưng xét sâu hơn, chúng ta lo lắng theo  kiểu nhuốm lên hầu hết mọi việc chúng ta làm. Trong số những gì gọi là động cơ, chiều hướng của chúng ta, có quá nhiều thứ chỉ là một nỗ lực vô thức để giải phóng mình ra khỏi lo âu. Chúng ta luôn luôn nuôi hy vọng có thể tự giải thoát mình khỏi các lo âu bằng các thành tựu, thành công, bảo đảm tài chính, danh tiếng, những gì để lại cho đời, kể cả bằng quyền thế và tình dục. Chúng ta nuôi dưỡng một niềm tin sâu kín rằng nếu gom đúng những thứ trên, thì cuộc sống  sẽ có được chân giá trị mà chúng ta cần để được cảm thấy an toàn và vô lo.

Nhưng rồi kinh nghiệm đã sớm dạy cho chúng ta thấy rằng những thứ này, dù bản thân chúng là tốt, vẫn chẳng phải là phương thuốc cho chúng ta. Sự thật là, chúng có thể và thường thường làm cho chúng ta càng lo âu hơn. Ngay khi có được tài chính bảo đảm, chúng ta lo làm sao để giữ được nó, ngay khi có quyền lực thì chúng ta luôn canh chừng trong nỗi sợ sẽ mất quyền lực. Cũng vậy, thành công có thể nhanh chóng trở thành một khối u vì chúng ta có khuynh hướng bẩm sinh đồng nhất giá trị bản thân với các thành tựu của mình và điều này luôn luôn tạo áp lực buộc chúng ta phải làm một việc quan trọng nào đó vì sợ mình sẽ không còn là người cao giá nữa. Còn tình dục, trừ phi nó thuộc về một mối quan hệ vô điều kiện và thật tâm, nếu không nó sẽ chỉ là thuốc phiện, cũng cùng độ nghiện và vô dụng như mọi thứ gây nghiện khác. Tình dục, cũng như thành tựu và danh tiếng, sẽ không chế ngự được những con quái vật sâu thẳm bên trong chúng ta.

Chúng ta luôn mãi cố gắng để tự cho mình trọn vẹn nhưng chúng ta không làm được. Chúng ta không thể tự biện hộ cho mình được. Chúng ta không thể tự làm cho mình bất diệt. Chúng ta không thể viết tên của mình lên trời được. Chỉ có tình yêu mới giải thoát chúng ta ra khỏi lo âu, và thực sự chỉ có một dạng tình yêu mới cho chúng ta có được giá trị thật. Chỉ có tình yêu của Thiên Chúa mới có thể viết tên chúng ta lên trời? Vậy phép tính chúng ta cần có là gì?

Một vài năm trước, tôi có dự một tuần tĩnh tâm dưới sự hướng dẫn của cha Robert Michel, một Hiến sĩ truyền giáo vùng Canada Pháp ngữ. Cha bắt đầu cuộc tĩnh tâm bằng những lời sau: “Tôi muốn mang lại cho các bạn một cuộc tĩnh tâm thật đơn giản. Tôi muốn bày cho các bạn một cách đặc biệt để cầu nguyện. Tôi muốn bày các bạn cách cầu nguyện sao cho trong lời cầu nguyện của các bạn, sẽ có đôi lần, dù không hẳn là trong tuần này, nhưng một lúc nào đó, bạn sẽ mở lòng mình ra để cái tôi sâu thẳm của bạn sẽ được nghe tiếng Chúa nói rằng: ‘Ta yêu con!’ Bởi vì trước khi bạn nghe được tiếng này bên trong tâm hồn bạn thì trước đó, đối với bạn chẳng có gì là đủ. Bạn sẽ tìm kiếm điều này điều kia, chạy qua chỗ này chỗ nọ, cố gắng đủ kiểu, nhưng sẽ thấy chẳng có gì thích đáng cả. Sau khi bạn nghe được lời nói đó từ Thiên Chúa, bạn sẽ có được chân giá trị, bạn sẽ tìm thấy điều mà bao lâu nay bạn tìm kiếm. Chỉ sau khi nghe được những lời trên, cuối cùng bạn mới được giải thoát  khỏi nỗi lo âu của mình.”

Trong một nền văn hóa quá dễ dàng sa vào những ngụy biện sai lầm, thì có thể sẽ có những cám dỗ xui khiến chúng ta loại bỏ những lời trên vì xem chúng là ngây thơ, quá mộ đạo, hay nhạy cảm; nhưng về bản chất, những gì mà lời đó mời gọi chúng ta cũng chính là điều mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta qua Tin Mừng theo thánh Gioan.

Như chúng ta biết, theo Tin Mừng thánh Gioan, Chúa Giêsu thể hiện rất ít nhân tính của Ngài. Từ đầu đến cuối, thánh Gioan đều mô tả Ngài đầy những nét thiêng liêng. Và, trong Tin Mừng đó, lời đầu tiên thốt ra từ miệng Chúa Giêsu là một lời mời gọi: “Các con tìm gì?”  Rồi từ đó, toàn bộ Tin Mừng thánh Gioan cố gắng trả lời câu hỏi đó: Chúng ta đang tìm gì? Xuyên suốt Tin Mừng thánh Gioan, Chúa Giêsu bảo với chúng ta rằng chúng ta đang kiếm tìm nhiều thứ: Nước hằng sống giải được cơn khát sâu nhất và chẳng cần uống thêm lần nào nữa, một chân lý sẽ giải thoát chúng ta, một sự tái sinh vào điều gì đó cao hơn, một ánh sáng chiếu tỏa muôn đời. Nhưng những hình ảnh dường như có vẻ trừu tượng.  Vậy cốt lõi thực sự bên trong của chúng là gì?

Tin Mừng thánh Gioan cuối cùng cũng trả lời điều này rất rõ ràng. Đến gần cuối Tin Mừng (thực sự đây có lẽ là đoạn kết nguyên gốc trong Tin Mừng thánh Gioan), chúng ta thấy một cuộc gặp gỡ cảm động của Chúa Giêsu và Maria Mađalêna sau biến cố Phục Sinh. Diễn ra trong một khu vườn, hình ảnh tượng trưng cho nơi phát xuất tình yêu: Maria, mang theo dầu thơm để xức xác Chúa, bà đi tìm Chúa Giêsu lúc rạng sáng ngày Phục Sinh. Bà gặp được Ngài, nhưng không nhận ra ngài. Cho rằng Ngài là người làm vườn, bà hỏi Ngài liệu bà có thể tìm thấy xác Chúa Giêsu ở đâu. Chúa Giêsu trả lời bằng đúng câu hỏi đã khởi đầu Tin Mừng này: “Con tìm gì?” Rồi, trước khi bà trả lời, Ngài đã cho bà một câu trả lời sâu sắc cho câu hỏi đó: Ngài yêu thương gọi tên bà: “Maria”.  Trong khẳng định tình yêu vô cùng đặc biệt đó (cha Robert mời gọi chúng tôi cầu nguyện xin điều này), Ngài viết tên bà lên trời. Ngài cho bà chân giá trị, và chữa lành nỗi lo âu của bà.

Bởi tình yêu cần có qua có lại, lời khẳng định đó cần được đáp trả nồng ấm. Và… có một mối nguy trong việc này: Nói theo lời Simone Weil là: “Sự kết hợp tinh thần thâm sâu sẽ tốt cho kẻ tốt, và xấu cho kẻ xấu. Thiên Chúa mời gọi tất cả ma quỷ vào thiên đàng, nhưng với chúng, đó là địa ngục.”  Còn với chúng ta, ý muốn Thiên Chúa chính là thiên đàng!

Lo âu

Một người bạn của tôi thích đùa theo kiểu tự cho mình là người cực kỳ ích kỷ, thỉnh thoảng anh bông đùa: “Cuộc đời thật khó khăn vì tôi phải đối phó với tính chất trọng đại của tôi!” Khôi hài thay, những đối phó cùng cực nhất trong cuộc sống chính là ngược lại: Chúng ta luôn luôn phải đối phó với sự bé nhỏ vô cùng của mình! Chúng ta luôn luôn sợ rằng mình chẳng là gì, không có gì là lâu dài, không bất diệt. Chúng ta sợ rằng, rốt cùng chúng ta sẽ biến mất hoàn toàn.

Chúa Giêsu gọi điều này là mối lo và thường khuyên chúng ta phải chống lại nỗi lo này. Một điểm đáng lưu ý là theo Chúa Giêsu, tương phản với đức tin không phải là hoài nghi hay vô thần, mà là lo âu, một nỗi sợ có thật, một bất an nhất định. Vậy cụ thể hơn, nỗi sợ này là gì?

Ở một mức độ nào đó, Chúa Giêsu đã nói rõ điều này. Ngài nói chúng ta quá lo âu về những nhu cầu thể xác, thức ăn, thức uống, áo quần, nhà cửa. Cũng vậy, chúng ta quá lo lắng về việc sẽ được người khác đón nhận như thế nào, về thanh danh của mình, về sự tôn trọng của cộng đồng. Chúng ta thấy lời cảnh báo này khi Chúa khuyên chúng ta nên học theo các bông huệ ngoài đồng trong việc tín thác vào Thiên Chúa và kèm theo đó là lời khuyên đừng làm việc gì để được người khác xem là tốt. Nhưng chúng ta lại luôn luôn lo lắng về những điều này, tất cả không chừa ai, và nỗi sợ này là một thứ không cần thiết và không lành mạnh. Hoạch định của tự nhiên và Thiên Chúa là để chúng ta có những bản năng này, dù Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy vượt lên trên nó.

Sâu hơn nữa, ngoài những bận lòng cho các nhu cầu thể xác và thanh danh, chúng ta còn nuôi dưỡng một nỗi sợ sâu sắc hơn nhiều. Chúng ta sợ về giá trị thật của mình. Chúng ta sợ rằng đến cuối cùng chúng ta thực sự chỉ là (mượn lời của tác giả sách Giảng viên) phù hoa, ảo vật, một thứ gì đó vô thực cuốn bay theo gió. Đó chính là mối lo âu tận cùng của chúng ta và chúng ta thấy được điều này nơi loài vật, trong một cách thức bất di bất dịch và thường thường là hung bạo trong việc truyền giống để trường tồn. Chúng ta cũng có cùng xu thế bất di bất dịch (và đôi khi hung bạo) hướng đến sự bất diệt đó khi tìm cách duy trì nòi giống. Nhưng, đối với loài người, chúng ta làm việc này dưới nhiều hình thức: Trồng cây. Sinh con. Viết sách. Chính yếu là để lại một dấu tích còn mãi trên địa cầu này. Bảo đảm cho sự bất tử của riêng mình. Để chắc chắn là mình không bị quên.

Chúng ta luôn luôn lo lắng về giá trị và sự bất diệt của mình, luôn cố gắng tạo cho mình điều này. Nhưng, như Chúa Giêsu đã thường nhẹ nhàng chỉ ra, chúng ta không thể tự mình làm được việc này. Không thành công, không tượng đài, không danh tiếng, không cây trồng, không con cái, và cũng không có quyển sách nào có thể cho nỗi lo âu về giá trị thật và sự bất diệt trong chúng ta được thanh thản tuyệt đối. Chỉ Thiên Chúa có thể làm được như thế. Chúng ta thấy trong Tin Mừng, có lần Chúa Giêsu đã nhẹ nhàng nhắc về điều này khi các môn đệ, lòng phấn chấn, về kể cho Chúa Giêsu nghe các thành công trong sứ vụ và chia sẻ với Ngài những điều phi thường họ đã làm được. Ngài chia sẻ niềm vui với họ, nhưng rồi, nhẹ nhàng nhắc họ điều cốt yếu rằng: Sự an ủi thực sự không nằm ở thành công, ngay cả khi đó là thành công trong việc làm vì Nước Trời. Sự an ủi thực sự nằm trong việc nhận biết rằng “tên của chúng con đã được ghi trên trời,” rằng Thiên Chúa đã trìu mến đặt mỗi người chúng ta vào lòng ưu ái của Ngài. Sự an ủi thực sự nằm trong việc nhận ra rằng chúng ta không buộc phải tạo ra giá trị thật và sự bất diệt của riêng mình. Thiên Chúa đã làm điều đó cho chúng ta.

Nhưng vì lo lắng và sợ hãi, theo lời thánh Phaolô, chúng ta cố gắng “khoác lác”, tự tạo cho mình một dấu tích bất diệt trên hành tinh này. Linh đạo Tin Lành xưa, cũng học theo thánh Phaolô, nói rằng chúng ta, bằng những nỗ lực bất diệt hóa bản thân, mãi mãi cố gắng để “biện hộ cho chính mình” bằng cách để lại tên mình trên trời.

Làm sao chúng ta có thể vượt thắng được điều này? Nơi đâu chúng ta có thể tìm thấy niềm tin để nhờ đó từ bỏ nỗi sợ và lo âu, đặc biệt là để vượt thắng được áp lực không ngừng bên trong chúng ta, muốn tạo một loại bất diệt riêng cho chính mình?
Chỉ tình yêu mới giải thoát chúng ta khỏi nỗi sợ. Và nỗi sợ thâm sâu nhất chỉ có thể bị đẩy lùi nhờ tình yêu sâu sắc nhất. Để từ bỏ lo âu và nhu cầu muốn tạo ra giá trị và sự bất diệt cho riêng mình, chúng ta cần nhận ra một tình yêu vô điều kiện. Tình yêu vô điều kiện, dù đến từ Thiên Chúa hay tha nhân, đều đem lại cho chúng ta giá trị và sự bất diệt. Gabriel Marcel đã từng nói, yêu ai là nói với người đó: Bạn, ít nhất bạn sẽ chẳng bao giờ chết!

Nhưng tình yêu vô điều kiện, một khía cạnh của vĩnh cửu, không phải là điều chúng ta dễ dàng tìm thấy. Thiên Chúa yêu chúng ta vô điều kiện, nhưng hầu như, chúng ta quá bị tổn thương (về cảm xúc, về tâm lý, và tinh thần) để có thể nắm vững một cách sống còn điều này. Đơn giản là thật khó để tin rằng Thiên Chúa yêu chúng ta khi dường như chẳng một ai làm như thế và rồi chúng ta cứ phải cố gắng để tự yêu mình. Chẳng lạ gì khi chúng ta cứ mãi lo lắng, biến lo lắng thành thói quen và luôn cố gắng cách nào đó tìm cho được tình yêu bằng cách làm cho mình thật tốt và xuất chúng.

Vậy điều gì chữa lành cho chúng ta? Điều sẽ chữa được nỗi sợ và lo âu chính là sự quy phục sâu sắc hơn đối với tình yêu trong sự thân thiết với những người chúng ta yêu mến trên thế gian này và với Thiên Chúa. Nhưng sự quy phục này đòi hỏi chúng ta phải mạo hiểm nhiều. Vậy mối nguy hiểm chúng ta phải đối mặt là gì đây?

(Xin mời các bạn xem phần tiếp theo ở bài sau.)

Đặt trọng tâm vào Thiên Chúa có nghĩa là gì?

Vài năm trước đây, tôi có tham dự một hội nghị tôn giáo, và được nghe một trong số các diễn giả, vốn rất có tiếng và được tôn trọng trong lãnh vực hoạt động cho người nghèo bình luận như sau: “Tôi không phải là thần học gia, nên tôi không biết ý nghĩa của việc làm từ thiện về mặt thần học như thế nào, nhưng tôi dựa trên nền tảng sau để hoạt động: Tôi làm việc với người nghèo. Phần nào đó, tôi làm việc này vì tình nhân loại, vì bản tính thương xót tự nhiên của tôi; nhưng tận cùng, động lực của tôi ở Đức Kitô. Tôi làm việc với người nghèo vì tôi là Kitô hữu. Tuy nhiên, tôi có thể làm việc như thế suốt hai hay ba năm mà không bao giờ nhắc đến Đức Kitô vì tôi tin rằng Thiên Chúa đủ cao cả để không đòi hỏi Ngài phải luôn luôn là tâm điểm lương thức của chúng ta.”

Thiên Chúa không đòi hỏi Ngài là trọng tâm lương thức của chúng ta! Có đúng vậy không? Rõ ràng lời nói này cần được làm rõ và uyển chuyển hơn. Một mặt, khi nghe lời này, chúng ta cảm thấy được nhẹ lòng, được giải thoát, vì đúng thật, gần như đa số thời gian, chúng ta không đặt Thiên Chúa vào trọng tâm chú ý của mình, và một sự thật bất di bất dịch là sẽ chẳng bao giờ chúng ta làm được như thế. Nhưng mặt khác, sự khuây khỏa chúng ta cảm nhận khi nghe những câu này lại bùng lên mạnh mẽ khi đối diện với những thách thức rõ ràng khi đọc sách thánh, các sách của giáo hội, và các ngòi bút thiêng liêng, họ cảnh báo chúng ta đừng đánh mất chính mình trong các tham vọng, dự án, lo toan, khoái lạc, và xao nhãng của thế gian này, mà hãy quy hướng đời sống lu mờ này về một chân trời rộng lớn hơn là Thiên Chúa và vĩnh cửu. Vô số các ngòi bút thiêng liêng đã cảnh báo chúng ta rằng thật nguy hiểm khi đắm chìm quá độ trong thế gian đến đỗi không còn thấy được điều gì vượt trên nó nữa. Chúa Giêsu cũng cảnh báo chúng ta về mối nguy này.

Và tất cả chúng ta đều biết có rất nhiều người có vẻ quá chìm đắm trong đời này, trong hôn nhân, gia đình, công việc, giải trí, thể thao, những bận tâm thường nhật của họ, đến đỗi dường như họ hoàn toàn không cho Thiên Chúa là trọng tâm lương thức của bất kỳ sự kiện quan trọng nào trong đời sống hàng ngày của họ. Thật sự, đôi khi, những người này cũng không đến nhà thờ, và thường rất ít khi đọc kinh hay cầu nguyện.

Nhưng, lạ thay, họ là những người tốt, những người có một đời sống về căn bản (đôi khi rất) là lương thiện, rộng lượng, tốt lành, nồng ấm, quan tâm đến người khác. Hơn nữa, họ thường ngay thẳng, tế nhị, đáng là người bạn muốn đồng bàn, dù dường như suốt cuộc sống, họ thuần túy thuộc về thế gian, họ không nghĩ gì đến những điều trừu tượng hay tôn giáo. Một buổi hội họp gia đình tốt đẹp, một chiến thắng của đội nhà, một bữa ăn ngon miệng với bạn bè, một ngày làm việc lành mạnh, vậy là đủ ngoài mong đợi. Lương thức của họ hướng đến những chuyện thế gian, với các vui thú và buồn sầu của nó. Để xoay chuyển lương thức của họ, cần có một ý niệm rõ ràng về Thiên Chúa đến trong đời họ. Nhưng với những người này, đa số là người tốt, thì nhận thức căn bản của họ là theo thuyết bất khả tri.

Điều này tệ như thế nào? Có giảm một cách nguy hiểm tầm nhận thức của họ không? Kiểu chú tâm hướng một phía về đời này bóp nghẹt hay biến lời Chúa thành hời hợt và xa lạ sẽ tệ như thế nào? Liệu chúng ta có đang  lũ lượt xuống địa ngục vì không ý thức để chú tâm hơn về Thiên Chúa và vì chúng ta không thể có tính tôn giáo rõ ràng hơn, hay không?

Bạn sẽ biết được điều đó khi nhìn vào hoa trái của họ! Chúa Giêsu đã nói như thế và chúng ta phải lấy đó làm tiêu chuẩn ở đây: Nếu đời sống nội tâm của họ lương thiện, rộng lượng, tốt lành, nồng ấm, lành mạnh, biết khắc khoải, có trí tuệ và tính hài hước làm tươi đẹp đời sống, thì làm sao họ có thể không hòa hợp với các điều của Thiên Chúa được? Ngoài ra, chúng ta cần phải tự hỏi chính mình: Nếu chúng ta sinh ra trong thế giới này với một lực hút mạnh mẽ bẩm sinh về những sự ở thế gian này, nếu bản chất lương thức (nguyên bản) của chúng ta muốn tương hợp với chuyện đời hơn là linh hồn, và gần như mọi người đều như vậy, thì như thế, làm sao chúng ta nhận ra được ý muốn của Đấng tạo dựng nên chúng ta? Vậy, trong việc bản năng tự nhiên đưa chúng ta gần như chú tâm hết vào đời này, ngay cả khi đức tin cho chúng ta một cái nhìn vượt ngoài thế gian này, thì Thiên Chúa muốn bày tỏ điều gì?

Có lẽ Thiên Chúa đủ cao cả để không đòi hỏi hay mong muốn chúng ta luôn luôn có ý thức chú tâm đến Ngài. Có lẽ Thiên Chúa muốn chúng ta vui thú trong khi sống ở thế gian này, vui hưởng trải nghiệm tình yêu, tình bạn, tình gia đình, ăn uống, xem đội bóng yêu thích của mình đoạt cúp. Có lẽ Thiên Chúa, mượn lời của Yogi Berra, muốn chúng ta có đôi lần chỉ cần được ngồi lại và thưởng thức một trận đấu! Có lẽ Thiên Chúa giống như người ông ân phúc, có thể, khi vui hưởng quà tặng cuộc sống cũng là một cách cầu nguyện mộc mạc, và có lẽ có nhiều cách ít vô tư hơn để chúng ta có thể nhận biết Thiên Chúa.

Giống như người phụ nữ tôi nhắc ở trên, tôi cũng không biết những chuyện này có ý nghĩa gì về mặt thần họïc, nhưng chúng cần được nói lên.

Cầu nguyện là thiêng liêng và cân đối

Những năm làm việc sinh ích của chúng ta là một cuộc đua đường dài chứ không phải cuộc đua nước rút, do đó sẽ khó giữ vững tính mềm mại, lòng quãng đại và kiên nhẫn khi phải đi qua những lúc mệt mỏi, thử thách, cám dỗ vây quanh chúng ta trong suốt đời sống người lớn. Khi phải dựa hoàn toàn vào chính mình, chỉ tin vào sức mạnh của ý chí, chúng ta thường bị mệt nhọc, sức chịu đựng đi xuống, làm việc nửa vời, cả trong sự chính chắn và kỷ luật của mình. Chúng ta cần một hỗ trợ từ bên ngoài, từ một nơi nào đó nằm ngoài hỗ trợ của con người, và hỗ trợ đó sẽ nâng đỡ chúng ta. Chúng ta cần sự giúp đỡ của Thiên Chúa, một sức mạnh khởi xuất từ một điều gì đó cao hơn sức mạnh của con người. Chúng ta cần cầu nguyện.
Nhưng thường thường chúng ta nghĩ về cầu nguyện là lòng mộ đạo hơn là một cái gì thực tế. Hiếm khi chúng ta hiểu cho thấu cầu nguyện thật ra là một vấn đề sống chết đối với chúng ta. Chúng ta cần cầu nguyện không phải vì Chúa cần lời cầu nguyện, nhưng nếu không cầu nguyện, chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy một cái gì kiên định trong đời sống của mình. Đơn giản, nếu không  cầu nguyện, chúng ta sẽ luôn luôn hoặc sống quá nhiều về bản thân hoặc quá thiếu sinh lực, nói cách khác, hoặc tự mãn hoặc chán nản. Tại sao vậy? Mổ xẻ vấn đề này, chúng ta sẽ thấy gì?

Dù hiểu theo tất cả những gì tốt đẹp nhất trong truyền thống Kitô giáo hay không, cầu nguyện mang đến cho chúng ta hai điều cùng một lúc: Nối kết chúng ta với sinh lực thiêng liêng và cho chúng ta nhận thức, năng lực này không phải của chúng ta, nó đến từ một nơi khác, và có lẽ chúng ta chẳng bao giờ xác định được. Với tác động của nó, cầu nguyện sẽ đổ đầy sinh lực thiêng liêng cho chúng ta, cùng lúc nó cho chúng ta biết sinh lực này không phải của chúng ta, sinh lực này hoạt động trong chúng ta, nhưng không phải do chính chúng ta. Để lành mạnh, chúng ta cần cả hai: Nếu mất nối kết với sinh lực thiêng liêng, chúng ta sẽ cạn kiệt sinh lực, nản lòng và thấy trống rỗng. Ngược lại, nếu để sinh lực thiêng liêng tuôn chảy mà không cần xác định chính xác nó là gì, cứ nghĩ nó là của mình, thì từ đó chúng ta thành người tự đại, tự mãn, tự cho mình là quan trọng và kiêu ngạo, rồi từ đó sẽ ích kỷ và hư mất. 

Để làm sáng tỏ điều này, Robert Moore đã minh họa một hình ảnh rất hữu ích, một chiến đấu cơ nhỏ cần được tiếp năng lượng trong lúc bay. Chúng ta từng xem các đoạn phim ngắn, chiếu cảnh một chiến cơ được tiếp nhiên liệu trong khi bay. Tàu mẹ với dự trữ nhiên liệu khổng lồ, bay trên tàu con. Tàu con phải bay đủ gần tàu mẹ để vòi xăng từ tàu mẹ nối được với tàu con và đổ đầy nhiên liệu cho nó. Nếu không làm được cách nối này, tàu con sẽ cạn nhiên liệu và sẽ rớt. Ngược lại, nếu nó bay thẳng vào và nhập một với tàu mẹ, thì nó sẽ cháy.

Một vài hình ảnh trên nói lên được tầm quan trọng của cầu nguyện trong đời sống chúng ta. Không có cầu nguyện, mãi mãi chúng ta sẽ chỉ thấy mình giao động chập chờn giữa cạn kiệt sinh lực và quá nhiều cái tôi. Nếu không nối kết với sinh lực thiêng liêng, chúng ta sẽ như phi cơ cạn xăng. Nếu nối kết với sinh lực thiêng liêng theo kiểu đồng nhất vào đó, chúng ta sẽ hủy hoại chính mình.

Cầu nguyện sâu đậm vừa thêm sinh lực vừa làm trụ nâng đỡ chúng ta. Chúng ta có thể thấy điều này nơi mẹ Têrêxa, người thiết tha với sinh lực sáng tạo nhưng luôn luôn xác định rõ ràng, sinh lực này không xuất phát từ mình, mà chính từ Thiên Chúa, mẹ chỉ là tạo vật khiêm hèn mà thôi. Thiếu cầu nguyện sẽ tạo ra hai dạng tương phản với mẹ Têrêxa. Một mặt, nó làm cho những người đầy sinh lực sáng tạo trở nên cực kỳ tài năng và hăng hái, nhưng đồng thời cũng đầy cái tôi và tự đại; hay ngược lại, nó làm cho người ta cảm thấy trống rỗng và tẻ nhạt, không phát ra được sinh lực tích cực nào. Không có cầu nguyện, chúng ta sẽ luôn luôn chao qua chao về giữa hai trạng thái tự đại và nản lòng. 

Vì thế, là người nhạy cảm, nếu trong đời sống, tôi không cầu nguyện một cách trung thực, tôi sẽ sống trong khủng hoảng thường xuyên, ngại rằng nếu tôi bám lấy và hành động trên sinh lực của mình sẽ làm cho người khác nghĩ rằng tôi chỉ biết nghĩ đến cái tôi của mình. Vì là người nhạy cảm, tôi không chấp nhận như thế, nên tôi chôn vùi các sinh lực tốt nhất của mình với llối suy nghĩ vô thức rằng nản lòng thì tốt hơn là bị cho là ích kỷ. Nhưng Chúa Giêsu, trong dụ ngôn kể về các tài năng, đã cảnh báo mạnh mẽ về cái giá phải trả khi chôn vùi tài năng của mình, cụ thể là, những gì chúng ta phải trả là sự trống rỗng, giận dữ, và thiếu vui tươi trong cuộc sống. Thường thường, khi chúng ta dò sâu xuống bên dưới các giận dữ, ghen tương, chúng ta sẽ thấy nơi đó có một tài năng bị chôn vùi đang cay đắng vì  bị đè nén. Đức hạnh có được nhờ đè nén sinh lực sẽ dẫn đến nỗi chua cay mà thôi.

Ngược lại, nếu tôi không quan tâm đến việc người khác nghĩ tôi là người ích kỷ, cuộc sống tôi cũng chẳng biết cầu nguyện thực sự là gì, thì tôi sẽ để những dòng sinh lực thiêng liêng chảy tự do trong tôi, và tôi sẽ đồng nhất mình với chúng như thể chúng là của tôi, là tài năng của tôi và tặng vật của riêng tôi, kết cục tâm hồn tôi sẽ đầy cái tôi và tự đại, và rồi những người xung quanh sẽ mong tôi sớm gặp khủng hoảng!

Không có cầu nguyện, mãi mãi chúng ta sẽ hoặc cạn kiệt sinh lực hoặc mang trong mình quá nhiều cái tôi, chỉ vậy mà thôi.

Đại kết, đòi hỏi bị lãng quên của chúng ta

Trong khi nói lời từ biệt vào đêm trước ngày tử nạn, Chúa Giêsu bảo những kẻ đi theo Người “có những con chiên khác không thuộc đàn này” và những kẻ đang ở cùng Ngài vào lúc đó sẽ không phải là những kẻ duy nhất theo Ngài. Và Ngài cũng rất nghiêm túc nói rằng Ngài mong mỏi được hợp nhất cách khẩn thiết và sâu sắc với những người khác giống như những ai đang ở chung phòng này với Ngài.

Giữa những điều khác nữa, thì điều này có nghĩa là bất kể chúng ta thuộc phái Kitô giáo riêng biệt nào, chúng ta vẫn không phải là những môn đệ duy nhất của Đức Kitô, và chúng ta chẳng có quyền nào để đòi Ngài yêu thương chúng ta hơn hàng triệu người khác vốn không cùng phái với chúng ta.  Hơn nữa, việc là một môn đệ của Chúa Giêsu, có nghĩa chúng ta giống như Ngài, khao khát và cầu nguyện mong được hợp nhất với những ai đang tách ly với chúng ta. Thực sự, sự phân biệt giữa các Kitô hữu, bị chia ra thành hơn cả trăm phái tách biệt, và trong những phái này, chúng ta còn chia tách hơn và cay đắng hơn do hệ tư tưởng khác nhau và sống không tin tưởng lẫn nhau, chính những điều này có lẽ là tiếng xấu lớn nhất mà Kitô giáo đã và đang hứng chịu trong thế giới này.

Xét chung, dù có những ý định tốt lớn lao và các nỗ lực thật tâm trong những năm gần đây, chúng ta vẫn đang không cầu nguyện cho nhau và không tìm đến nhau với tấm lòng thật sự. Ngày nay, mối liên hệ giữa các phái Kitô giáo, thường là mối liên hệ ngay chính trong lòng các phái này nữa, đang mang đậm sự tái thủ thế hơn là cởi mở, nghi ngờ hơn là tin tưởng, bất kính hơn là tôn trọng, ác tâm hơn là cảm thông, và thiếu tình thân ái hơn là nhã nhặn và độ lượng. Cũng vậy, thật đáng buồn khi thay vì khao khát đại kết và cởi mở, các giáo hội của chúng ta lại đầy thiển cận và tự mãn có thể diễn tả là: “Chúng tôi có chân lý. Chúng tôi không cần bạn!”

Là Kitô hữu, ai là anh chị em thật của chúng ta? Có phải là những người đang ở trong phái riêng biệt cụ thể với chúng ta đó hay sao? Có lẽ đúng, dù có lẽ không! Trong sứ vụ của Chúa Giêsu, có đôi lần, Ngài đang nói chuyện với một nhóm người, và có một người tiến đến mà nói với Ngài rằng mẹ và thân thuộc của Ngài đang ở bên ngoài nhóm này, và muốn được gặp Ngài. Chúa Giêsu trả lời với một ý sâu xa hơn: Trong mỗi trường hợp, Ngài trả lời với một chất vấn khác nhau: “Ai là mẹ ta? Ai là anh chị em ta?” Và Ngài trả lời câu hỏi của mình như sau: “Những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa là mẹ, và anh chị em ta.”

Trong một xã hội dựa hoàn toàn trên huyết thống, thì câu này thật gây sửng sốt. Một giọt máu đào hơn ao nước lã, nhưng Chúa Giêsu quả quyết rằng, đức tin còn hơn huyết thống. Đức tin là nền tảng thực sự cho gia đình. Đức tin thắng vượt huyết thống. Hơn nữa, chẳng có gì là vô lý, khi câu này còn ngụ ý đức tin cũng thắng vượt luôn tính bè phái. Là Kitô hữu, ai là anh chị em thật của bạn? Người đồng bạn theo Công giáo Roma? Người đồng bạn theo Giáo hội Trưởng lão? Người đồng bạn theo phái Luther? Người đồng bạn theo phái Baptist? Người đồng bạn theo phái Phúc Âm? Người đồng bạn theo phái Giám Lý? Người đồng bạn theo Anh giáo hay Tân giáo? Rõ ràng, với Chúa Giêsu, người anh chị em thật chính là người nghe một cách sâu sắc nhất lời của Thiên Chúa và tuân giữ chúng, bất kể người đó theo phái nào. Cương vị môn đệ Kitô hữu được xác định bằng con tim hơn là bằng tấm danh thiếp hội viên một giáo hội riêng lẻ cụ thể nào đó.

Điều này tạo nên một đòi hỏi không bàn cãi gắn liền với cương vị môn đệ Kitô hữu của chúng ta: Chúng ta cần biểu lộ khao khát của Chúa Giêsu, muốn được đi vào mật thiết với tất cả mọi người mang đức tin chân thật, và cuối cùng là để tất cả mọi hành động của chúng ta khi hướng đến những người nằm ngoài nhóm tôn giáo của mình phải luôn thể hiện được sự tôn trọng, rộng lượng, và thân ái, và đó chính là dấu chỉ thật cho thấy chúng ta khao khát được hiệp nhất với họ.

Sự tôn trọng, rộng lượng, và thân ái thật sự chỉ có thể có được nhờ vào sự khiêm hạ, nghĩa là tin rằng giáo hội của chúng ta, dù theo phái nào đi nữa, vẫn không nắm trong tay toàn bộ chân lý, rằng chúng ta không phải không có mắc lỗi và mắc tội, và chúng ta không phải là người trung tín hoàn toàn với Tin mừng. Tất cả chúng ta, tất cả các giáo hội Kitô giáo đang trên cuộc lữ hành hướng đến viên mãn, hướng đến một nhận thức hoàn toàn về chân lý, và hướng đến một sự trung tín thật tâm và căn bản với những gì mà Chúa Giêsu đã đòi hỏi chúng ta phải có. Không một ai trong chúng ta đã đạt đến mức độ đó. Tất cả chúng ta vẫn đang trên đường lữ hành đến với những gì chúng ta đã được kêu gọi.

Rồi như thế, bất kể thuộc phái nào, bổn phận chung đích thực của chúng ta không phải là cố gắng để thắng thế hòng cải đạo hay mở mắt cho người khác thấy chúng ta đúng hơn họ. Nhưng, bổn phận trước hết của chúng ta là biến cải ngay trong lòng phái của mình. Bổn phận trước hết, nói riêng là từng cá nhân, nói chung là các giáo hội, chính là cố gắng trung tín hơn với Tin mừng. Nếu chúng ta làm như thế, đến cuối cùng, chúng ta sẽ đến với nhau, như một giáo hội duy nhất dưới Đức Kitô, bởi khi đi sâu hơn vào mầu nhiệm Đức Kitô và tiến sâu hơn vào sự mật thiết với Chúa Giêsu, chúng ta sẽ (mượn một cụm từ đẹp của Avery Dulles) “dần dần quy về một mối”, để cuối cùng sẽ gặp nhau tai một tâm điểm duy nhất và một người duy nhất, Chúa Giêsu Kitô.

Kenneth Cragg, sau nhiều năm truyền giáo cho người Hồi giáo, đã nói rằng cần toàn bộ các giáo hội Kitô giáo để có thể đưa ra được một biểu lộ trọn vẹn về một Đức Kitô trọn vẹn. Rõ ràng, tất cả chúng ta vẫn cần phải trải lòng mình ra với mọi người.

Trí tuệ bên trong tiến trình lão hóa

Điều gì mà Thiên Chúa và bản chất tự nhiên có trong đầu khi họ tạo nên tiến trình lão hóa? Tại sao ngay khi năng lực tinh thần, sự trưởng thành và tự do xúc cảm của chúng ta đạt đến cao điểm, thì cơ thể này lại bắt đầu đi xuống?

Dĩ nhiên, đức tin của chúng ta, vốn có vai trò mở ra cho chúng ta một quan điểm vượt ngoài đời sống sinh lý, đã đôi chút giải thích cho những câu hỏi này, dù không phải lúc nào nó cũng nói với chúng ta trong một ngôn ngữ cho chúng ta nắm bắt được những suy tưởng sâu xa hơn về những gì đang xảy đến cho chúng ta trong tiến trình lão hóa. Đôi khi một quan điểm thế tục có thể hữu ích và nó đúng trong trường hợp này.

James Hillman, trong một quyển sách thông tuệ về lão hóa có tựa đề, Mãnh lực của Tính Cách và Sự Sống Đời Đời (The Force of Character and Lasting Life), đã đưa ra những câu hỏi sau. Điều gì Thiên Chúa và bản chất tự nhiên đã nghĩ đến khi tạo nên tiến trình lão hóa? Và ông trả lời bằng một ẩn dụ: Loại rượu tốt nhất phải cũ, phải già đi trong những thùng rượu cũ rạn nứt. Những năm cuối đời là những năm làm dịu linh hồn, và gần như tất cả mọi thứ bên trong cơ thể sinh lý của chúng ta đều hội tụ lại để bảo đảm cho mọi việc sẽ được như thế. Linh hồn phải được già đi một cách đúng đắn trước khi rời bỏ gian trần này. Ông quả quyết rằng có một trí tuệ bên trong đời sống, và trí tuệ đó dự tính sự lão hóa cũng như sự tăng trưởng thời trai trẻ.  Thật là một sai lầm to lớn khi cho rằng dấu hiệu của việc lão hóa là triệu chứng của cái chết hơn là những khởi đầu để chúng ta bước vào một đời sống khác. Mỗi  sự đi xuống về mặt sinh lý (từ lý do vì sao nửa đêm phải dậy vào phòng tắm, cho đến lý do vì sao da nhăn nheo và khô đi) đều được thiết kế để đưa linh hồn đến trưởng thành. Và chúng làm việc không ngừng, không thương xót, không có sự đồng ý của chúng ta.

Hillman quả quyết rằng tiến trình lão hóa thậm chí còn biến chúng ta thành tu sĩ và thực sự đó mới là kế hoạch của tiến trình này, hệt như thời kỳ dậy thì, nó bơm quá nhiều kích thích tố vào cơ thể và lái chúng ta có xu hướng muốn bỏ nhà đi bụi. Và một lần nữa, Thiên Chúa có dự phần vào kế hoạch này. Lão hóa không phải lúc nào cũng dễ chịu hay dễ dàng, nhưng đó là một nhịp điệu và một lý lẽ của tiến trình con người. Lão hóa đảo ngược những gì nguyên thô của sinh lý. Cuối cùng linh hồn thắng thế thể xác và đi đến nắm vai trò chủ đạo; Hillman viết: “Chúng ta có thể hình tượng lão hóa như một biến đổi về thẩm mỹ hơn là về sinh lý. Người già giống như những hình tượng xuất hiện để chuyển đổi đời sống sinh lý thành đời sống của trí tưởng và nghệ thuật. Người già trở nên những đại diện mang tính truyền tiếp và cực kỳ đáng nhớ, cũng như là những yếu tố trong hoạt động văn minh hóa, mỗi người già là một nhân vật giá trị độc nhất không thể thay thế. Lão hóa đúng là một dạng nghệ thuật, có phải thế không?’  

Nói rộng hơn, khi chúng ta có tuổi, trách nhiệm của chúng ta không phải là sản xuất, mà là suy tư, không phải hữu dụng mà cá tính. Hillman nói thêm: “Những năm trung niên dùng để hoàn thành mọi thứ, trong khi đó phần đời sau dùng để cân nhắc xem xét điều gì đã được hoàn thành và hoàn thành như thế nào.” Phần đời trước có chức năng sản xuất, có nghĩa là chúng ta cho đi đời sống của mình, phần đời sau có chức năng của sự chết, có nghĩa là chúng ta cho đi cái chết của mình.

Và tiến trình lão hóa lại đưa ra một loạt những câu hỏi thứ hai: Giá trị nào mà người cao tuổi vốn có trong những năm tháng xây dựng thời trẻ của họ, giờ đã bị qua đi? Thật sự, thì cũng cùng câu hỏi như thế sẽ được đặt ra cho những ai, khi xét theo tư duy thực dụng, là không thể hữu dụng và sinh ích: Giá trị của những người mắc bệnh Alzheimer là gì? Với những người vẫn tiếp tục sống nhờ vào thuốc giảm đau khi chẳng còn cơ hội phục hồi hay tiến triển gì và khi họ đã biến mất khỏi ý nghĩ của chúng ta, giá trị của họ là gì? Với những người, do ngăn trở về tinh thần hay thể lý, nên xét theo tiêu chuẩn thông thường, họ không thể đóng góp được gì, vậy giá trị cuộc đời họ là gì?

Một lần nữa, những thấu suốt của Hillman đã có giá trị bổ sung cho những quan điểm vốn đã được trao cho chúng ta qua đức tin. Với Hillman, điều mà lão hóa và tật nguyền mang đến cho thế giới chính là đặc tính. Và đặc tính đó không chỉ cho họ. Họ còn giúp truyền đặc tính cho những người khác nữa. Vì thế, Hillman đã viết: “Hữu dụng là một thước đo quá nông cạn cho sự hữu ích, và khuyết tật đã bị ép quá mức để gán nó vào khái niệm bất lực. Một bà già có thể vẫn có ích, đơn giản vì bà là người được quý trọng vì chính nhân cách của bà. Cũng như một hòn đá ở đáy sông, bà chẳng làm gì ngoài sự có mặt ở đó và giữ vị trí của mình, nhưng khi dòng sông có bà, sự hiện diện của bà gây ảnh hưởng làm thay đổi dòng chảy của dòng sông. Một ông già với sự hiện diện nhỏ bé của mình, đóng vai trò như một đặc tính trong các chuyện của gia đình và lân cận. Ông được tôn trọng, là một gương mẫu, đơn giản qua sự hiện diện của ông. Đặc tính của ông đem lại nhiều phẩm chất đặc biệt cho mọi việc, cũng như thêm vào sự phức hợp và chiều sâu cho mọi sự qua việc làm sống lại quá khứ và những người đã khuất nơi mình. Khi tất cả những người cao niên đều vào viện dưỡng lão sống, thì dòng sông chảy quá nhẹ nhàng. Chẳng còn những tảng đá ngăn dòng. Và như thế sẽ thiếu đi các đặc tính.

Lão hóa và tật nguyền cần được tôn trọng về khía cạnh thẩm mỹ. Chúng ta là một nền văn hóa vốn làm tất cả mọi thứ để chối bỏ, trì hoãn, và che đậy sự lão hóa. Chúng ta đưa người già đến những nơi biệt lập, cách xa dòng chảy chính của đời sống, giấu kín họ, và chẳng còn tảng đá nào ngăn dòng để chúng ta phải cố giải quyết. Chúng ta cũng là một nền văn hóa bắt đầu nói ngày càng nhiều hơn về cái chết êm dịu, và xác định giá trị thuần túy chỉ bằng lợi ích. Nếu Hillman đúng, và nếu ông đúng hơn chúng ta về việc này, thì chúng ta đang trả một giá đắt cho nó, chúng ta đang ngày càng mất đi đặc tính và màu sắc của cuộc sống.

Một Thiên Chúa không thể mô tả

Nicholas Lash, trong một  bài tiểu luận sáng suốt đầy sâu sắc về vấn đề Thiên Chúa và vô tín ngưỡng, đã đề xuất rằng Thiên Chúa mà người vô thần bác bỏ thường là một biểu tượng sai lầm xuất phát từ chính trí tưởng tượng của họ: “Điều chúng ta cần làm không gì hơn là lưu ý, hầu hết những người đương thời với chúng ta vẫn thấy rõ ràng chủ nghĩa vô thần không chỉ có khả năng xuất hiện nhưng còn lan rộng và nó có nhiều điểm để bình luận cả về mặt trí thức lẫn đạo đức. Điều này có vẻ hợp lý nếu, tự cho là vô thần, thì họ sẽ không quan tâm, có tồn tại ‘một dạng không có thân xác’, ‘bất tử, tự do, có khả năng làm được mọi thứ, biết mọi điều’ và là ‘đối tượng đúng đắn đáng để cho con người thờ phượng và vâng lời, đấng tạo dựng và duy trì vũ trụ này.’ Tuy nhiên, nếu chúng ta dùng từ ‘Thiên Chúa’ để ngụ ý về mầu nhiệm, được hiện thân trong Đức Kitô, truyền cho mọi thứ từ hư vô thành an bình, thì tất cả mọi thứ phải gắn kết với Thiên Chúa trong mọi bước đi, mọi phần hiện hữu của mình, cho dù chúng có lưu ý và tin tưởng như thế hay không. Chủ nghĩa vô thần, nếu nó chủ trương chẳng có gì dính dáng đến Thiên Chúa, thì như thế, nó tự mâu thuẫn và nếu nó tiến triển hợp lẽ, thì rồi nó sẽ tự hủy hoại chính nó mà thôi.”

Tôi tin là cái nhìn sâu sắc của Lash rất quan trọng, đây không chỉ là quan điểm đầu tiên và tốt nhất để chúng ta đối thoại với người vô thần, mà còn cho chúng ta hiểu về chính đức tin của mình. Định nghĩa đầu tiên của giáo lý Kitô về Thiên Chúa, Ngài là Đấng không thể tả được, có nghĩa không thể có một ý niệm về Thiên Chúa và rằng tất cả mọi ngôn ngữ của chúng ta đều không đủ khả năng tả cho đúng về Ngài.  Đây không phải là một giáo lý trừu tượng khó hiểu. Có lẽ hơn bất kỳ điều gì khác, việc không thể hiểu được điều này chính là nguyên do tại sao chúng ta xung đột với đức tin và chống lại để tránh né những đòi hỏi của đức tin. Vậy, vấn đề ở đây là gì?

Một cách tự nhiên, tất cả chúng ta cố gắng để tạo ra một hình ảnh nào đó về Thiên Chúa và cố gắng hình tượng sự hiện hữu của Ngài. Vấn đề là, khi cố làm như thế, chúng ta giới hạn mình trong hai mục đích đó mà thôi, và cả hai đều không tốt.

Một mặt, chúng ta thường đi đến kết luận với hình tượng Thiên Chúa như một siêu nhân, một con người như chúng ta, ngoại trừ sự siêu việt vô cùng về mọi mặt. Chúng ta hình tượng Thiên Chúa như một siêu anh hùng, thần thánh, toàn tri và toàn năng, nhưng cuối cùng vẫn giống chúng ta, nghĩa là một ai đó mà chúng ta có thể hình tượng và phác họa, có thể định nghĩa, gán cho một gương mặt và có thể đo đếm được. Dù nó tự nhiên và không thể tránh khỏi, nhưng lại làm cho chúng ta, dù thật tâm đến đâu, vẫn luôn luôn có một thần tượng, một quan điểm sai lầm, một Thiên Chúa được tạo nên từ chính trí tưởng tượng chúng ta và giống chúng ta, mà vì thế, đó là Thiên Chúa dễ dàng bị những người vô thần bác bỏ cách thích đáng.

Mặt khác, đôi khi chúng ta cố để dựng nên một hình ảnh Thiên Chúa và hình tượng cho giống sự hiện hữu của Ngài, như thế lại tạo ra một vấn đề khác: Chúng ta trở nên khô khan và trống rỗng, cũng như bất lực chẳng thể hình dung Thiên Chúa hay hình tượng sự hiện hữu của Ngài. Rồi cuối cùng chúng ta hoặc trở nên một kiểu vô thần hoặc e sợ không dám xem xét đức tin của mình, bởi một cách vô thức, chúng ta đã tiếp thu niềm tin của chủ nghĩa vô thần rằng đức tin là ngây thơ, không thể đứng vững trước những chất vấn nghiêm khắc.

Khi điều này xảy đến với chúng ta, khi chúng ta cố gắng để hình tượng sự hiện hữu của Thiên Chúa rồi kết quả là con số không, thì thất bại đó không phải là thất bại về đức tin mà là thất bại về trí hình tượng của chúng ta. Thực sự chúng ta không dấn sâu trong chủ nghĩa vô thần, nhưng đúng hơn, chúng ta ở trong sự không thể diễn tả nổi của Thiên Chúa, một ‘đám mây vô thức’, một ‘đêm tối của tâm hồn’. Chúng ta không phải là những người vô thần. Chúng ta chỉ cảm nhận đúng những gì của chúng ta. Vấn đề không phải là Thiên Chúa không hiện hữu hay đã biến mất. Mà đúng hơn là chính sự không thể tả được cả Thiên Chúa đã đặt Ngài nằm ngoài tầm với của năng lực tưởng tượng của chúng ta. Tâm trí của chúng ta bị khuất phục. Thiên Chúa vẫn thực, vẫn ở đó, nhưng những hình tượng hạn chế của chúng ta thực sự trở thành con số không khi cố để họa lại một sự vô hạn, điều này cũng tương tự như khi chúng ta cố gắng hình dung ra con số cao nhất có thể đếm được, cuối cùng chỉ là bất lực. Sự vô hạn không thể bị hạn chế bởi hình tượng. Nó không có nền mà cũng không có trần, không khởi đầu và không kết thúc. Trí tưởng của con người không thể xử lý sự vô hạn được.

Thiên Chúa là vô hạn, và như thế, có thể xác định là không thể hình tượng và khái niệm hóa được Ngài. Và cũng như thế đối với sự hiện hữu của Thiên Chúa. Không thể hình dung được sự hiện hữu của Ngài. Tuy nhiên, việc chúng ta không thể hình tượng Thiên Chúa rất khác với việc nói rằng chúng ta không thể biết Thiên Chúa. Vẫn có thể biết Chúa, dù thậm chí không thể hình tượng được Ngài. Vậy bằng cách

Tất cả chúng ta đều biết có rất nhiều điều chúng ta không thể hình tượng, khái niệm hay trình bày rõ ràng. Bên trong chúng ta có vài điều mà các nhà thần nghiệm gọi là ‘tri thức mờ tối,’ cụ thể là một ý thức bên trong mang tính trực giác còn phôi thai mà chúng ta biết và hiểu ở một mức độ nằm ngoài những gì chúng ta có thể hình dung và diễn tả. Và đây không phải là một kiểu tài năng kỳ lạ huyền bí mà các thầy đồng bóng thường tự nhận vơ cho mình. Ngược lại, đây chính là tảng đá nền của chúng ta, một nền tảng chắc chắn mà chúng ta chạm đến trong những lúc chân thành nhất và sâu sắc nhất của mình, một nơi bên trong chúng ta mà chúng ta, lúc tốt đẹp nhất, đặt nền tảng đời sống của mình lên đó.

Thiên Chúa là sự không thể diễn tả được, không thể hình dung được, và vượt ngoài khái niệm hay ngôn ngữ. Đức tin của chúng ta cho chúng ta rút ngắn lại điều này trong một lúc và từ đó hình tượng Thiên Chúa như một siêu anh hùng được thần tượng hóa. Nhưng đến cuối cùng, cái giếng này cũng cạn khô và rồi tâm trí hạn chế của chúng ta nhận biết sự vô hạn chỉ trong bóng tối, không một hình tượng nào, và rồi tâm hồn hạn chế của chúng ta cảm nhận được tình yêu vô hạn chỉ trong sự thật mờ tối mà thôi.

Cầu nguyện giữ chúng ta không đi vào đám đông

Gần như trong tất cả các tiểu thuyết của mình, Milan Kundera biểu lộ một sự khó chịu cực kỳ và không chấp nhận tất cả mọi dạng hệ tư tưởng, khoa ngôn, và xu hướng nhất thời, những thứ gây nên kiểu suy nghĩ nhóm hoặc kích động đám đông. Ông nghi ngờ các khẩu hiệu, biểu tình và diễu hành dưới mọi hình thức, bất kể với lý do gì. Ông gọi tất cả những thứ này là cuộc diễu hành khổng lồ, và trong suy nghĩ của ông, tất cả chúng, không chừa cái nào, luôn luôn dẫn đến bạo động. Kundera thích các nghệ sĩ vì họ có khuynh hướng tránh xa lý lẽ và động cơ, họ muốn vẽ và viết hơn là đi diễu hành.

Có những động cơ đáng để chiến đấu, và có những bất công và nỗi đau trong thế giới này đòi hỏi chúng ta phải dấn sâu hơn, xa hơn cái mong muốn viết và vẽ của mình. Vậy mà, phán xét khắc nghiệt của Kundera về mọi kiểu diễu hành và biểu tình, hay nói cách khác là cuộc diễu hành khổng lồ, vẫn là một lời cảnh báo công tâm. Tại sao?

Vì trong những giây phút suy nghĩ nhiều hơn, chúng ta biết khó đến như thế nào nếu không nắm được một hệ tư tưởng, khoa ngôn, xu hướng nhất thời, kiểu suy nghĩ nhóm, và kích động đám đông, để không trở nên ngu xuẩn mất tỉnh táo. Chúng ta cũng biết thật khó để nhận ra những gì chúng ta thật sự nghĩ gì và tin, khi đối lập với những gì mà quỹ đạo văn hóa đang vây hãm chúng ta. Thật khó để tránh được những kiểu thức đương thời.

Nhưng còn khó hơn nữa khi chúng ta muốn xây một nền tảng cho chính mình dựa trên một cái gì đó thâm sâu hơn, hay muốn được bén rễ nơi một quan điểm nằm ngoài cái mà Thomas Hardy đã từng gọi là đám đông điên loạn. Làm sao chúng ta có được nền tảng là một chiều sâu sẽ giải thoát chúng ta khỏi những hệ tư tưởng, khoa ngôn, xu hướng nhất thời, kiểu suy nghĩ nhóm, và kích động đám đông đầy tinh vi vốn đang làm băng hoại mọi nền văn hóa?

Trong Tin mừng thánh Luca, các môn đệ cảm nhận Chúa Giêsu lấy sự khôn ngoan, điềm tĩnh, sức mạnh, và năng lực từ một sự gì đó nằm ngoài Ngài, có nghĩa là Ngài đặt bản thân nơi một sự gì đó vượt ngoài những cạm bẫy và đe dọa của giây phút hiện tại. Họ cảm nhận được Ngài tìm thấy sự thâm sâu đó nơi cầu nguyện. Họ cũng muốn được nối kết với chiều sâu và sức mạnh đó, và họ nhận ra chính lời cầu nguyện là con đường, và là con đường duy nhất cho họ. Rồi họ xin Chúa Giêsu dạy họ cách để cầu nguyện. Ngài đã dạy họ điều gì? Làm sao để chúng ta có thể cầu nguyện theo cách xây dựng nền tảng của chúng ta trên một sự gì đó thật sự vượt ngoài những ái kỷ cá nhân và tập thể?

Một cách ẩn dụ, chúng ta có thể thấy được con đường đó qua đoạn Kinh Thánh ghi lại cái chết tử đạo của thánh Stephano như sau:

Một đám đông những con người, dù lầm lạc nhưng rất thật tâm, được thúc đẩy bởi lòng mộ đạo, nhưng lại bị ảnh hưởng bởi kích động đám đông, đã cùng nhau ném đá Stephano đến chết. Đây là đoạn Kinh Thánh mô tả việc này: “Khi nghe những lời ấy, lòng họ giận điên lên, và họ nghiến răng căm thù ông Stephano. Được đầy ơn Thánh Thần, ông đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa, và thấy Đức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa. Ông nói: ‘Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa.’ Họ liền kêu lớn tiếng, bịt tai lại và nhất tề xông vào ông rồi lôi ra ngoài thành mà ném đá.” (Cv 7: 54-58)
Cái chết của Stephano là thật, nhưng mô tả về cái chết của ngài đầy những ẩn dụ cho chúng ta thấy cầu nguyện và không cầu nguyện có ý nghĩa như thế nào.

Vậy không cầu nguyện là như thế nào? Đám đông, cho dù mộ đạo và thật tâm, nhưng lại không cầu nguyện. Đoạn Kinh Thánh đã nói rõ: Họ nhìn vào Stephano với ánh mắt hiểu lầm và đầy căm ghét. Hơn nữa, ngay lúc đó, thông điệp tình yêu của ngài là một sự thật khó chịu nên họ bịt tai không thèm nghe. Và chính lúc đó họ đang nằm trong gọng kềm của sự kích động đám đông. Họ không thấy trời đang mở ra, mà chỉ thấy một con người rất bình thường mà họ đang căm ghét,và họ không ở trong tay Thánh Thần mà lại ở trọn trong sự điều khiển của kích động. Đó là lý do vì sao họ không bao giờ nhìn được xa hơn cái nhìn giận dữ chua cay nhắm vào Stephano. Trong thời điểm đó, họ chỉ biết có họ, và họ chỉ thấy được những gì thuộc về trần thế này và những điều này là những điều không nằm trong lời cầu nguyện. Dù chúng ta có mộ đạo đến đâu đi nữa, khi không cầu nguyện, chúng ta sẽ làm như những gì vừa kể trên. Thật sự, đôi khi, việc cầu nguyện chung dù chân thành nhưng cũng chẳng hơn gì việc dấn sâu vào tính ái kỷ nhóm và bị nô lệ hóa thành một đám đông điên loạn. Con mắt của chúng ta vẫn chỉ nhìn vào nhau chứ không nhìn về Thiên Chúa.

Trái lại, Stephano có cầu nguyện. Đoạn Kinh Thánh mô tả ông đang hướng mắt lên trời (một ẩn dụ chứ không phải là mô tả hình tượng) và ông cứ đăm đăm nhìn trời và thấy cửa trời mở ra. Cái nhìn của ông vượt ngoài đám đông, vượt ngoài thời khắc, vượt ngoài tầm nhìn của con người, vượt ngoài căm ghét, và vượt ngoài nỗi sợ trước cái chết của chính mình. Ông nhìn vào một cái gì cao vượt hơn đám đông và thời khắc hiện tại. Chính điều này, và chỉ có điều này, mới là cầu nguyện.
Tôi cùng chia sẻ với Kundera nỗi sợ về cuộc diễu hành khổng lồ và việc tôi cũng như gần hết mọi người khác, sẽ thật quá dễ dàng và mù quáng dấn bước vào đó. Kundera cảm thấy nghệ thuật có thể giúp chúng ta đặt nền tảng ở một nơi nằm ngoài đám đông điên loạn. Tôi sẽ thêm vào một sự sẽ còn hữu ích hơn thế nữa, đó chính là cầu nguyện.

Vua Hêrôđê và các đạo sĩ – Một thử thách trong mùa Giáng Sinh

Mùa Giáng Sinh 2012

Câu chuyện Giáng Sinh chắc chắn là một trong những câu chuyện ý nghĩa nhất từng được kể. Nó ghi lại một biến cố hạ sinh được dùng để làm mốc thời gian nhân loại. Hơn nữa, cách thuật chuyện của nó đã thổi bùng lên biết bao tưởng tượng mơ mộng trong suốt 2000 năm qua. Nhưng điều này không phải lúc nào cũng tốt. Ngoài việc gợi nên những tưởng tượng theo kiểu huyền thoại, câu chuyện Giáng Sinh, trong trí tưởng tượng Kitô giáo, thường đóng một vai trò tâm điểm trong Tin Mừng, vốn thực sự không phải của nó. Nhưng khi nhìn vào sự phong phú của câu chuyện Giáng Sinh thì như thế cũng chẳng có gì là lạ.

Trong những tường thuật đầy ý nghĩa, câu chuyện Giáng sinh còn có nhiều tiểu tường thuật phức tạp đan xen lẫn nhau, và mỗi một trong số đó đều chứa đầy những biểu tượng hình mẫu nguyên tính của riêng chúng. Một trong số những tiểu tường thuật này, vốn đầy hình tượng nguyên mẫu, chính là câu chuyện về vua Hêrôđê và các đạo sĩ.

Trong Tin Mừng theo thánh Matêô, chúng ta thấy cách phản ứng của nhiều người khác nhau khi đón nhận tin Chúa Giêsu hạ sinh. Thánh sử đã tạo nên được một sự tương phản mang tính hình mẫu mạnh mẽ, giữa chúc phúc và nguyền rủa, giữa hành động của những đạo sĩ khi mang lễ vật đến đặt dưới chân vị quân vương mới là Hài Đồng, và hành động của vua Hêrôđê khi muốn tìm giết Ngài.

Hết thảy chúng ta đều đã quen thuộc với câu chuyện này bởi nó đã được họa lại trong nhiều bài hát, biểu tượng, và những dẫn giải khác. Chúa Giêsu được sinh ra trong truyền thống tôn giáo là Do Thái giáo, và việc hạ sinh của Ngài được loan báo đến cộng đồng đức tin Do Thái giáo theo những cách phù hợp với đức tin vốn có của họ, cụ thể là với các thiên thần và những mặc khải siêu nhiên. Nhưng trong truyền thống tôn giáo này, để cho người ta nhận thấy sự hạ sinh của Ngài này, còn cần thêm những dấu chỉ bên ngoài khác nữa, đó là qua tự nhiên, chiêm tinh thuật và những ngôi sao. Các đạo sĩ đã thấy một vì sao lạ xuất hiện trên bầu trời và bắt đầu theo dấu nó, nhưng họ không biết chính xác vì sao lạ này sẽ dẫn họ đến đâu.
Trong khi theo dấu ngôi sao, họ đã gặp vua Hêrôđê, người ngay khi được người ta báo cho biết là một vị vua vừa được hạ sinh, đã nảy sinh ngay ác tâm trong lòng. Ông nhờ các đạo sĩ tìm Hài Nhi và báo cho ông biết, để ông cũng có thể đến và triều bái Người. Và chúng ta đều biết toàn bộ câu chuyện là thế này:

Các đạo sĩ theo dấu ngôi sao, tìm thấy vị vua mới là Chúa Hài Đồng, và đặt lễ vật dưới chân Ngài ngay khi mới gặp thấy. Rồi tiếp theo họ làm gì? Chúng ta có đủ ngụy tác khác nhau về chuyến trở về của họ, nhưng chúng, dù hay nhưng không hữu ích. Chúng ta không biết chuyện gì xảy ra với họ về sau, và đó chính xác là điểm mấu chốt ở đây. Việc họ biến đi như những người vô danh chính là phần cốt yếu trong lễ vật của họ. Chúng ta có thể hiểu họ tan biến đi vì bây giờ họ, có thể, tan biến đi được rồi. Họ đã đặt lễ vật dưới chân của Tân vương và giờ có thể giao phó mọi thứ an toàn trong tay Ngài. Ngôi sao của Ngài đã chiếm trọn các ngôi sao của họ. Họ không còn đấu tranh cho vị thế cũ của mình nữa, mà giờ đây họ hạnh phúc giao chúng trong tay Ngài. Cũng như ông già Simêon, họ đã có thể hạnh phúc lên đường mà hát vang: Giờ đây, lạy Chúa, xin để tôi tớ Ngài ra đi! Chúng con có thể nhắm mắt! Chúng con đang được ở trong đôi bàn tay yên bình!

Còn Hêrôđê, ông ta mới trái ngược làm sao! Tin báo về vị vua mới hạ sinh đã khiến ông ta kinh hãi rụng rời bởi chính ông ta là một vị vua. Vinh quang và hào quang giờ đây sẽ chiếu rọi trên vị vua mới và rời bỏ ông ta mãi mãi. Vậy, ông ta đã phản ứng thế nào? Không những không đặt những gì mình có dưới chân vị vua mới như lễ vật, mà ông còn rắp tâm giết Ngài. Hơn nữa, để chắc chắn, ông còn hạ lệnh giết tất cả bé trai trong toàn vùng. Hành động này đáng để viết ra cả một quyển sách nhân học. Hành động thú tính của ông ta cho thấy không phải chỉ loài cá mới ăn thịt con của mình! Nhưng điểm thiết thực trong hành động này chính là sự tương phản giữa các đạo sĩ với Hêrôđê: Các đạo sĩ nhìn thấy sinh mệnh mới đó như một lời hứa và chúc phúc, còn

Đây là một câu chuyện phong phú cho chúng ta một thử thách mạnh mẽ, đó là: Tôi phản ứng thế nào trước một sinh mệnh mới, đặc biệt là một sinh mệnh đe dọa tôi, sẽ lấy đi những gì là vẻ vang, hào quang, và tâng bốc của tôi? Liệu tôi có thể làm giống như các đạo sĩ, đặt lễ vật của tôi dưới chân Ngài và ra đi vào hư không, thậm chí là chết, hài lòng rằng thế giới này giờ được trao phó trong bàn tay tốt lành, dù đó không phải là bàn tay của tôi? Hay tôi sẽ làm như Hêrôđêe, cảm thấy sinh mệnh đó là mối đe dọa và cố gắng thủ tiêu, vì sợ vận mệnh người đó sẽ phủ lấp đi ánh hào quang số mệnh của tôi?

Chúc phúc cho một ai đó là cho đi một sự gì đó trong sinh mệnh riêng của mình, để cho hành trình tương lai người khác có thể được phong phú hơn, và đó chính là hành động của các bậc cha mẹ tốt lành dành cho con cái họ, của các thầy giáo tốt dành cho học sinh của họ, của các người bảo hộ tốt cho người được trao phó cho họ, của những cha xứ tốt lành dành cho giáo dân của họ, của những chính trị gia tốt dành cho quê hương họ, và của những bậc huynh trưởng tốt dành cho những người trẻ. Họ cho đi một sự gì đó trong sinh mệnh riêng mình để củng cố cho người khác. Đó chính là những gì mà các đạo sĩ đã làm cho Chúa Giêsu.

Vậy chúng ta sẽ hành động ra sao khi một ngôi sao mới xuất hiện bắt đầu phủ lấp đi ánh sáng của chúng ta?

Trong bàn tay an toàn hơn bàn tay chúng ta

Một trong những công việc trong chức vụ linh mục của tôi là chủ lễ và giảng lễ trong các tang lễ. Không bao giờ là một công việc dễ dàng. Các chân lý sâu xa trong đức tin của chúng ta có thể mang tác dụng an ủi trong nhiều dịp nhưng lại thường không mang nhiều tác dụng khi cái chết đang sờ sờ trước mặt. Về sau, có thể sẽ có tác dụng, nhưng ngay tại tang lễ, nỗi đau thường quá lớn đến nỗi những lời đức tin dường như mất hút vào trong đó và thực sự chẳng gây được tác động an ủi gì mấy. Chỉ khi làm đúng cách và đúng lúc với nỗi sầu khổ của con người, những lời đó mới mang lại được tác động trọn vẹn.
Một câu an ủi mà tôi thường dùng ở đám tang là: Bây giờ anh ấy đã ở trong bàn tay an toàn hơn bàn tay chúng ta. Cô ấy giờ đây đang ở trong bàn tay êm ái hơn bàn tay chúng ta.

Lẽ thật trong những lời này có thể gây hiệu lực an ủi đặc biệt khi người nằm xuống còn trẻ, người vẫn còn cần đến bàn tay trần thế của cha mẹ và là người mà chúng ta mong được thế chỗ cho họ vì người đó quá trẻ để phải rời chúng ta xuống lòng đất cô quạnh. Và cũng như thế với một người chết không được trọn vẹn, chết do tự vẫn hay tai nạn vô lý. Chúng ta có một nỗi sợ nói không nên lời, và đó luôn luôn là những câu như, đáng ra phải cho thêm một ít thời gian nữa, đáng ra chúng ta phải làm thêm điều gì đó, đáng ra phải thận trọng hơn, nâng đỡ hơn, và rồi chúng ta lo lắng sợ người mình yêu thương phải xa rời trần thế một cách bất hạnh. Cuối cùng, chúng ta lo lắng như vậy cho những ai đã chết mà lúc còn sống dường như chưa bao giờ dứt ra khỏi những hoàn cảnh cực kỳ tồi tệ và chán nản, rồi chúng ta ước sao bằng cách nào đó mình có thể làm gì đó để thay đổi mọi chuyện được tốt hơn. Trong mỗi trường hợp như trên, chẳng gì an ủi hơn một niềm tin rằng người thân yêu này giờ đây đang được ở trong vòng tay đáng tin cậy hơn và êm ái hơn chúng ta nhiều.

Nhưng liệu đây chỉ đơn giản là một mong ước, một tiếng huýt sáo trong đêm để cho chúng ta can đảm hơn thôi sao? Chúng ta nói nhăng cuội về sự công bình của Chúa để xoa dịu mình hay sao?

Nếu chúng ta tin vào Chúa Giêsu, thì không phải như thế! Tất cả mọi điều Chúa Giêsu mặc khải về Thiên Chúa bảo đảm với chúng ta bàn tay Thiên Chúa êm ái hơn và đáng tin cậy hơn bàn tay chúng ta nhiều. Thiên Chúa là cha của đứa con hoang đàng, Ngài thông hiểu và thông cảm hơn cả chúng ta đối với bản thân mình. Chúng ta cũng thấy trong dụ ngôn này, Thiên Chúa không đứng đó chờ đợi chúng ta trở lại và tạ lỗi sau những trác táng và phụ bạc, mà Ngài chạy đến để gặp chúng ta, và chẳng đòi chúng ta phải tạ lỗi. Còn trong câu chuyện con chiên lạc, chúng ta cũng thấy dù chúng ta phạm tội, Thiên Chúa không để mặc chúng ta phải tự ý thức lấy và rồi trở về ăn năn hối hận, mà Ngài bỏ chín mươi chín con chiên khác, lên đường tìm kiếm chúng ta, lòng đầy lo lắng, khắc khoải, và sẵn sàng đưa chúng ta về nhà dù chúng ta vẫn còn mang thân tội lỗi.
Chúa Giêsu cũng bảo đảm với chúng ta rằng Thiên Chúa không chỉ cho chúng ta một cơ hội mà là đến bảy mươi lần bảy, và có thể nói là vô số cơ hội. Chúng ta không hủy hoại vĩnh viễn cuộc sống của mình khi phạm một lỗi lầm hay thậm chí cứ phạm lỗi đó một cách không thể bào chữa hết lần này đến lần khác. Cuối cùng, nơi lời từ biệt trong thư gởi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô  tông đồ đã cam đoan với chúng ta rằng, dù chúng ta chẳng bao giờ có thể uốn nắn trọn vẹn đời sống của mình, thì chẳng có vấn đề gì hết, bởi đến cuối cùng, chẳng có gì, tuyệt đối chẳng có gì có thể tách chúng ta khỏi tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa. Và như thế, trong đời này và đời sau, chúng ta đều được ở trong một vòng tay êm ái hơn và đáng tin cậy hơn vòng tay của chính chúng ta.

Thiên Chúa không phải một Thiên Chúa trừng phạt, mà là một Thiên Chúa tha thứ. Thiên Chúa không phải là Đấng ghi chép lại tội trạng của chúng ta mà Ngài xóa sạch chúng cho chúng ta. Thiên Chúa không đòi chúng ta phải hoàn hảo, mà Ngài cần chúng ta có một tấm lòng ăn năn một khi chúng ta thiếu sót. Thiên Chúa không chỉ cho chúng ta một cơ hội, mà Ngài cho chúng ta vô số cơ hội như thế. Thiên Chúa không chờ chúng ta tự ý thức được sau khi đã sa ngã, nhưng Ngài đi tìm chúng ta, với tấm lòng đầy thông hiểu và quan tâm lo lắng. Thiên Chúa không tính toán và dè sẻn với những tặng vật Ngài ban, mà là một Thiên Chúa phung phí gieo rắc hạt giống ở khắp mọi nơi bất kể xứng đáng hay không. Thiên Chúa không bất lực trước tội lỗi và cái chết, mà Ngài là Đấng có thể cho kẻ chết sống dậy và chuộc lại những gì là tội lỗi và tuyệt vọng. Thiên Chúa không độc đoán và biến động hay thay đổi, mà là Đấng tuyệt đối giữ lời hứa và lòng tốt của Ngài. Thiên Chúa không câm lặng và cũng không bất lực trước sự phức tạp của chúng ta, mà Ngài là Đấng tạo nên hố sâu của vũ trụ và những nơi thầm kín sâu nhất trong lòng người.

Xét tận cùng, Thiên Chúa không phải là Đấng không thể bảo vệ chúng ta, mà là một Thiên Chúa với đôi tay và lời hứa đáng tin cậy hơn tất cả những gì chúng ta cậy dựa vào mình.

Trân trọng sự phức tạp của cuộc sống

Trong một bài giảng mới đây, tôi có nêu lên việc Chúa Giêsu gây sốc về cả hai khả năng, khả năng vui hưởng trọn vẹn cuộc sống và khả năng buông bỏ chính cuộc sống đó. Trong một buổi tiệc sang trọng, có một phụ nữ dùng dầu thơm lau chân Ngài với tất cả lòng thương mến, chủ nhà tỏ ra khó chịu nhưng Ngài nói cho ông biết, Ngài vui hưởng giây phút này mà không thấy có gì là tội, và Ngài cũng đã nói với họ, bí quyết sâu đậm nhất của đời sống là từ bỏ hoàn toàn trong sự tự hiến, không vương vấn ích kỷ nghĩ cho bản thân mình.

Sau bài giảng, một thanh niên đến gặp tôi và chất vấn về điểm đầu tiên: Làm sao Chúa Giêsu lại buông mình để hưởng thụ và hoan lạc như vậy? Tôi trả lời: Chính ở cái phần kia, phần năng lực từ bỏ đã làm cho Ngài làm được như vậy. Cả hai điều này dựa lẫn nhau, như hai chiếc cánh vậy. Chúa Giêsu có một năng lực đáng kinh ngạc để vui hưởng cuộc sống vì Ngài cũng mang trong mình một năng lực đáng kinh ngạc như vậy, từ bỏ chính đời sống đó. Và điều này cũng đúng với những khía cạnh khác trong đời sống và sứ vụ của Ngài: Chúa có thể lên án tội lỗi, nhưng lại thương tội nhân; cực kỳ chân tình với những người theo Ngài, nhưng cũng làm họ sốc khi thấy tình thương lớn lao Ngài dành cho những người không thuộc nhóm này; và Ngài có thể làm mọi chuyện với một mức độ tự do tối thượng mà chưa từng một ai có được, và Ngài hiểu Ngài không làm điều gì cho chính bản thân Ngài.

Và dạng phức tạp này, dạng năng lực kéo những thứ tương phản lại với nhau trong một áp lực lành mạnh, là một trong những dấu chỉ của sự cao cả vĩ đại. Các vĩ nhân làm đúng như vậy. Tôi xin đưa ra vài ví dụ:
Dorothy Day, người sẽ sớm được phong thánh, là tượng trưng chính xác cho lý lẽ này: bà vừa quan tâm đến một đòi hỏi không nhân nhượng mang tính Phúc âm đối với công bình xã hội, bà vừa quan tâm đến một đòi hỏi không nhân nhượng mang tính Phúc âm đối với các đức hạnh và việc giữ đạo. Bà vừa cấp tiến vừa mộ đạo. Thường thường người ta ít thấy ai vừa dẫn đầu đoàn biểu tình vừa lần hạt. Nhưng Dorothy làm cả hai. Đa số chúng ta không làm được. Chúng ta chỉ có thể làm được một trong hai việc này mà thôi.

Các tác phẩm của Pierre Teilhard de Chardin tiếp tục gây cảm hứng theo kiểu phân chia này cũng vì một lẽ tương tự. Ông có năng lực để cùng lúc kéo lại với nhau hai tình yêu gần như đối nghịch nhau. Ông nói là ông được sinh ra với hai tình yêu  nhạy cảm và không phai mờ được: Một tình yêu dành cho Thiên Chúa và nhận thức về một thế giới ngoài thế giới này mà ông chẳng bao giờ có thể phản bội, đồng thời ông cũng có một tình yêu ngang như thế dành cho thế giới vật chất với các vẻ đẹp và hiện thực của nó. Với ông, cả hai đều là những sự thể thực không chối bỏ, cả hai đều khiến ông kinh ngạc, và ông cố gắng để sống sao cho đừng phản bội bên nào, cho dù nó sẽ tạo ra áp lực trong đời sống của ông. Nhưng điều này lại mang lại cho tác phẩm của ông một chiều sâu hiếm có. Hầu hết các tác giả khác, thế tục hay tôn giáo, chỉ tôn trọng một trong hai cực này và phỉ báng cực kia.

Chúng ta cũng thấy kiểu phức tạp này trong các tác phẩm của thánh Têrêxa Hài Đồng. Một mặt, bà hoàn toàn chú trọng đến những sự không thuộc đời này, với cái nhìn của một người xem thế gian này là phù du, mong manh, ít giá trị. Tuy nhiên, mặt khác, bà lại tỏ ra gắn kết gần như một cách không lành mạnh với những thứ tốt đẹp của thế giới này, yêu gia đình, yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp. Bà có thể viết những trang hùng hồn về ước mong được chết và bỏ lại sau lưng cuốn phim mờ ảo mà chúng ta gọi là cuộc đời, đồng thời bà thấy khó chịu vô cùng nếu mỗi ngày không nhận những lời tình cảm của gia đình bà. Bà không thấy mâu thuẫn vì không có gì là mâu thuẫn. Khi được gắn với nhau, thì cả hai mong ước đều lành mạnh.

Thánh Augustine cũng cho chúng ta một ví dụ tương tự. Ngài viết hơn sáu ngàn trang bản thảo, trong những trang này, có những trang ngài đề cập đến những cảm xúc tiêu cực về tình dục, một kinh nghiệm đã giúp ngài trở lại; có những trang ngài nói đến những điều cốt lõi của hầu hết thần học chính thống phương Tây cho đến tận mười bảy thế kỷ sau. Ngài có thể chịu rất nhiều áp lực. Đáng buồn thay, chúng ta không được như ngài, thay vào đó chúng ta chỉ bốc và chọn cho mình những phần những mảnh suy tư của ngài để rồi làm tổn hại đến nhãn quan tổng thể của ngài.

Carlo Carretto, ngòi bút thiêng liêng người Ý vừa mới mất gần đây, cũng cho thấy ông có khả năng gắn kết những chân lý tưởng như đối nghịch nhau dưới áp lực. Thật hiếm khi được thấy trong cùng một con người kết hợp lòng mộ đạo với tinh thần bài đạo, trung thành mãnh liệt với giáo hội và phê phán giáo hội cũng mãnh liệt. Đối với ông, hai điều này dựa vào nhau. Mỗi một điều được lành mạnh là nhờ có điều kia hiện diện bên cạnh nó.

Những tư tưởng lớn và những con người vĩ đại trân trọng sự phức tạp một cách đúng đắn. Rõ ràng nhất là nơi Chúa Giêsu. Nơi Ngài là toàn bộ chân lý trong toàn bộ phức tạp của nó. Đáng tiếc thay, chúng ta, những môn đệ của Chúa Giêsu lại không xứng đáng với Ngài. Đó chính là lý do vì sao ngày nay lại có đến hàng trăm phái Kitô giáo khác nhau. Đó cũng là lý do vì sao có những phái tự do và bảo thủ cả trong giáo hội lẫn ngoài xã hội của chúng ta. Chúng ta cảm thấy dễ khi mang những những phần nho nhỏ của chân lý hơn là phải chịu áp lực để trung thành với toàn cảnh rộng lớn hơn của chân lý đó.

Nhưng sự đơn giản và trong sáng không phải lúc nào cũng là bạn hữu của chúng ta.

Làm việc quá mức, mới đầu là tốt lành, kết cuộc là chạy trốn 

Có những mối nguy hại khi làm việc quá mức, dù việc làm hay động cơ của nó có cao đẹp thế nào đi chăng nữa. Các hướng dẫn thiêng liêng, bắt đầu từ Chúa Giêsu, đã luôn luôn cảnh báo về những nguy hại của thói tham công tiếc việc. Biết bao nhiêu bà vợ, trẻ con trong gia đình, biết bao nhiêu bạn bè, biết bao nhiêu người trong cộng đồng mong muốn người họ yêu thương chú tâm đến họ nhiều hơn thay vì cứ mải vùi đầu vào công việc.

Nhưng thật khó để tránh cho mình không rơi vào cảnh bận bịu quá mức và lao tâm khổ trí vì công việc, đặc biệt trong những năm tháng chúng ta dồi dào sinh lực, có những trách nhiệm nuôi nấng con cái, trả các khoản vay, điều hành giáo hội cũng như các tổ chức, đang ngày càng đè nặng hơn trên đôi vai chúng ta. Nếu bạn là một người nhạy cảm, bạn sẽ đấu tranh không ngừng để những áp lực này không đè nặng trên bạn. Về điểm này, Henry Nouwen mô tả đời sống của chúng ta như cái vali bị nhồi nhét quá nhiều. Luôn luôn có việc phải làm, luôn luôn phải gọi điện thoại, phải gặp một ai đó, phải trả biên lai, phải kiểm tra một cái gì đó trên internet, phải đi khóa vòi nước bị hở, phải tuân theo thêm một đòi hỏi từ giáo hội hay xã hội, phải đi mua thêm thứ đồ gì đó. Các đòi hỏi của đời sống cứ triền miên không dứt và chúng ta luôn nhận thấy vẫn còn có môt trách nhiệm gì đó mà chúng ta cần phải thực hiện. Một ngày của chúng ta quá ngắn để làm cho hết những việc đó.

Và rồi chúng ta lao vào công việc. Khởi đầu là một ý muốn tốt đẹp và vô hại, nhưng rồi nó biến qua thành một thứ khác. Đầu tiên, chúng ta làm hết mình vì những đòi hỏi của cuộc sống buộc chúng ta phải làm như vậy, nhưng dần dần chúng ta gắn chặt với chúng, phục vụ tha nhân ngày càng ít mà thỏa mãn cá nhân ngày càng nhiều.

Đầu tiên, chúng ta thường thường mù quáng về điểm này, công việc sớm trở thành như một lối thoát. Chúng ta luôn bận tâm bận trí, chúng ta có đủ lời để bào chữa và lý luận cố hữu sao cho khỏi đối diện với các mối mối quan hệ trong gia đình, giáo hội hay với Thiên Chúa. Áp lực liên tục của công việc và trách nhiệm là gánh nặng nhưng lại là tấm chắn tối hậu của chúng ta. Chúng ta không thấy được hương hoa cuộc sống nhưng cũng không đối diện với những điều sâu sắc nơi phần chìm của bề mặt cuộc sống. Chúng ta có thể tránh né những vấn đề chưa giải quyết trong các mối quan hệ và trong tâm hệ mình. Chúng ta có một lời bào chữa hoàn hảo! Đó là chúng ta quá bận rộn.

Thường thì xã hội lại cổ võ cho xu hướng thoát ly này của chúng ta. Với những thói nghiện khác, hẳn chúng ta đã phải đi gặp bác sĩ rồi, nhưng với thói nghiện công việc, thường thường chúng ta lại được ngưỡng mộ nếu nghiện nặng và được tuyên dương vì chính sự ích kỷ này: Nếu tôi ăn uống quá độ, nghiện chất kích thích, tôi bị người ta khó chịu và thương hại, nhưng nếu tôi làm việc quá độ đến đỗi thờ ơ với những cấp bách lớn lao và quan trọng của cuộc sống, người ta lại nói với tôi: “Hẳn bạn thật tuyệt vời! Bạn tận tụy quá mức!” Hội chứng nghiện công việc là một thói nghiện mà nhờ nó chúng ta được tuyên dương.

Ngoài việc nó cho chúng ta một lối không lành mạnh để thoát khỏi những vấn đề quan trọng mà đáng ra chúng ta phải giải quyết, thói làm việc quá mức còn gây nên một mối nguy lớn khác. Chúng ta càng vùi đầu vào công việc thì càng dấn sâu vào mối nguy xem ý nghĩa đời sống dựa trên công việc hơn là dựa trên các quan hệ của mình. Khi càng chìm đắm trong công việc, thì các mối quan hệ của chúng ta càng sứt mẻ nhiều hơn, và rồi ý nghĩa đời sống ngày càng phụ thuộc vào công việc hơn là quan hệ. Vô số cây bút thiêng liêng đã nêu lên các mối nguy trong thói tham công tiếc việc, một điểm không nhỏ trong số đó là càng ngày chúng ta càng khó tìm ra ý nghĩa đời sống ở bất cứ nơi nào khác ngoài công việc. Những thói quen cũ rất khó bị phá vỡ. Nếu chúng ta đã dành nhiều năm để xây dựng bản sắc của mình qua cách làm việc cật lực và được yêu mến do tính cách nhà nghề hay lòng tận tụy của mình, thì thật khó để chúng ta thay đổi và tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời từ bất cứ điều gì khác. 

Các ngòi bút thiêng liêng kinh điển đều nhất loạt lưu ý về mối nguy trong sự làm việc quá mức và thói tham công tiếc việc. Thật vậy, Chúa Giêsu đã lưu ý Martha khi cô mải mê với những việc cần làm để dọn bữa ăn rồi phàn nàn Maria không chịu giúp cô. Câu trả lời của Chúa thật bất ngờ, thay vì trách Maria lười biếng và khen Martha tận tụy, Chúa Giêsu lại nói Maria đã chọn phần tốt hơn, và rồi trong lúc đó và trong bối cảnh đó, tính lười biếng của Maria lại thắng sự bận rộn của Martha. Tại sao vậy? Bởi đôi khi trong đời sống có những điều quan trọng hơn cả công việc, cho dù đó là công việc cao quý và cần thiết để thể hiện lòng hiếu khách và để chuẩn bị bữa ăn cho mọi người.

Thói lười biếng hẳn là do ma quỷ, nhưng bận rộn không phải lúc nào cũng là một đức tính tốt. 

Vài suy nghĩ lạc quan về một chủ đề rất nghiêm túc

Một vài năm trước đây, tôi có người bạn chuẩn bị sinh đứa con đầu lòng. Dù rất hạnh phúc vì sắp được làm mẹ, nhưng cô thú thật, cô rất lo cho việc sinh nở, đau đớn, có thể nguy hiểm, và những chuyện mình chưa biết. Nhưng cô tự an ủi với suy nghĩ: Hàng trăm triệu phụ nữ đã sinh con và rồi ra cũng mẹ tròn con vuông. Chắc chắn nếu nhiều người làm được thì cô cũng làm được. 

Đôi lúc tôi cũng áp dụng suy nghĩ này khi nghĩ về cái chết. Chết là chủ đề nản chí, rối bời và nặng nề nhất đối với tất cả chúng ta, dù đôi khi chúng ta có vẻ như có can đảm đối diện với nó. Khi chúng ta nói mình không sợ chết, hầu hết chúng ta nói như thì thầm trong bóng tối, dù vậy, chúng ta nói về nó dễ hơn khi nó còn là một chuyện trừu tượng xa vời, một chuyện thuộc về tương lai mập mờ vô định. Kể cả tôi, chắc chắn tôi cũng nghĩ đến nó âm thầm trong bóng tối. Nhưng tại sao lại không nghĩ đến nó? Thà như vậy còn hơn là chối bỏ nó.

Nên tôi thích cách bạn tôi lý luận để can đảm đối diện với cơn đau và những chuyện chưa biết: Hàng trăm triệu phụ nữ đã làm được, tôi cũng làm được! Còn về cái chết, thì có rất nhiều lý do để tự an ủi, hàng tỉ tỉ người đã làm được, tất cả mọi người, kể cả tôi, cũng sẽ làm được. Và một trăm năm sau, ai trong chúng ta đọc những hàng chữ này cũng sẽ làm được!

Và như thế, thỉnh thoảng tôi nhìn công bằng theo cách này: Hàng tỉ tỉ người đã làm được, cả đàn ông, đàn bà và trẻ con. Một số người đã già, số khác còn trẻ, một số có chuẩn bị, số khác thì không, có người vui đón nhận, có người kháng cự đau đớn, nhiều người chết tự nhiên, có người chết chết vì bị hành hung, có người chết trong tình thương của gia đình thân thương, có người chết cô đơn không có ai ấp ủ, có người chết bình yên, có người khóc do sợ sệt, có người chết thọ, có người chết yểu trong tuổi thanh xuân, có khi còn quá sớm. Có người phải chịu nhiều năm mất trí vô ý nghĩa trước khi chết đến độ người chung quanh tự hỏi vì sao Thiên Chúa và tự nhiên bất nhẫn để họ phải sống mòn như vậy, có người chết lúc còn sức khỏe và mọi chuyện đang tốt, có người chết trong đức tin và hy vọng, có người chết trong bóng đêm và tuyệt vọng, có người chết với lòng biết ơn, có người lại ôm mối hận khi qua đời, có người chết trong lòng tôn giáo và giáo hội của họ, có người không ở trong giáo hội khi chết, có người chết lành như Mẹ Têrêxa, có người chết dữ như Hitler. Nhưng dù thế nào đi nữa, ai cũng thực hiện bước cuối cùng đó của cuộc đời, một bước vô định nhất trong mọi thứ vô định. Dường như có thể thu xếp được công bằng. Chẳng ai từ thế giới bên kia đi trở lại thế giới này để kể những câu chuyện khủng khiếp về cái chết cả (tất cả những bộ phim kinh dị về ma và những ngôi nhà ma đều hư cấu từ đầu đến cuối).

Tôi cho rằng hầu hết mọi người đều có chung cảm nghiệm như tôi khi nghĩ về cái chết, đặc biệt là những người tôi từng quen biết mà nay họ đã chết. Nỗi đau buồn ban đầu sẽ tan biến và thay vào đó là cảm nhận cho rằng chết là đúng, người chết giờ này đang tốt đẹp, theo một cách lạ lùng nào đó, cái chết tẩy sạch mọi thứ. Và cuối cùng, chúng ta cảm thấy tốt khi nghĩ về những người thân yêu đã qua đời, nghĩ về cái chết nói chung, thậm chí dù họ có chết không được hoàn hảo như chết trong giận dữ, chết yểu, chết với tội lỗi hoặc tự vẫn. Dù gì đi nữa, cái chết đã tẩy sạch mọi thứ và điều còn ở lại là ý thức khởi phát, một trực giác chắc chắn giờ đây, dù họ ở đâu thì cũng ở trong một tình trạng tốt hơn và yên ổn hơn chúng ta.

Khi còn là một chủng sinh trẻ, chúng tôi có dịch một đoạn luận của Cicero về tuổi già và cái chết từ tiếng La Tinh sang tiếng Anh. Lúc đó tôi mới mười tám tuổi, nhưng rất ấn tượng với suy tư của Cicero về nguyên do tại sao chúng ta không nên sợ chết. Ông thuộc phái Khắc kỷ, nhưng đến cuối cùng, cách ông ít sợ hãi cái chết có điều gì đó giống với cách đón nhận việc sinh nở của bạn tôi: Vì đây là một việc ai cũng làm, nên tôi cũng làm được!

Tôi đã làm mất bài luận về Cicero từ lâu rồi, nên phải tìm lại nó trên Internet. Và tôi xin đưa ra đây câu then chốt trong bài: “Không nên lo ngại về cái chết! Bởi rõ ràng nếu nó tiêu diệt hoàn toàn linh hồn thì tác động của cái chết chẳng có gì đáng kể, và thậm chí còn đáng mong đợi, nếu nó đưa linh hồn đến một nơi bất diệt. Nhưng điều mà tôi lo ngại nhất chính là, liệu sau khi chết tôi có buộc phải sống một kiếp chẳng vui chẳng buồn hay không?”

Đức tin của chúng ta cho biết rằng nhờ lòng nhân từ của Thiên Chúa mà chúng ta tin tưởng, thì chỉ có một điều duy nhất chờ đợi chúng ta, đó là niềm vui hạnh phúc. Và hiện giờ, chúng ta đã trực cảm được nó rồi.

Tính dục – Tiềm năng và hoạch định

Tất cả chúng ta đều có một năng tính tình dục mạnh mẽ, triền miên và đáng kinh ngạc, đây là một phần trong hoạch định giữa Thiên Chúa và tự nhiên. Tính dục nằm ngay trong bản năng chẳng khác gì hít thở và luôn luôn hiện diện trong đời sống chúng ta.

Văn chương tôn giáo có xu hướng ngây thơ và chối bỏ sức mạnh của tính dục, như thể nó là một nét thứ yếu có thể gạt ra bên lề cuộc lữ hành của linh hồn, và thậm chí còn cho rằng có thể loại bỏ nó hoàn toàn. Không thể như vậy. Tính dục sẽ luôn bắt chúng ta phải cảm nhận nó dù có ý thức hay trong vô thức. Bản năng tính dục tự nhiên luôn mạnh mẽ trong con người ta đặc biệt là nơi các thanh niên. Nó lấp đầy cơ thể trẻ trung với các kích thích tố mạnh mẽ, ngay trước khi đương sự có được sự chính chắn về cảm tính và lý trí để nhận thức đúng đắn và truyền dẫn sáng tạo nguồn sinh lực này. Sự hung bạo, hoặc là bất thường, của bản tính tự nhiên cho con người có một cơ thể phát triển đầy đủ trước khi có được trưởng thành về cảm tính và lý trí. Do đó, tồn tại nhiều mối nguy về thể lý lẫn đạo đức nơi một đứa trẻ đang lớn nhưng lại mang một thân xác người lớn trọn vẹn.

Ngày nay, mọi chuyện phức tạp hơn khi chúng ta dậy thì sớm hơn nhưng lại kết hôn muộn hơn. Và gần như quy chuẩn trong mọi nền văn hóa, trẻ em dậy thì lúc mười một hoặc mười hai tuổi, và hai mươi năm sau mới kết hôn. Tình trạng này đặt ra một vấn đề cấp bách và rõ ràng: Làm sao kìm nén tính dục của về mặt cảm tính cũng như đạo đức suốt năm tháng dài đó? Việc chiến đấu để trung thành giữ các giới răn sẽ dẫn con người đi đến đâu?

Chúng ta phải thừa nhận rằng, ở điểm này, bản tính tự nhiên dường như quá mạnh bạo, nhưng nó có những góc cạnh riêng của nó. Sự áp chế của nó là để đưa chúng ta vào giòng di truyền giống loài, tất cả các kích thích tố mạnh mẽ đó đổ vào thân thể thanh niên của chúng ta theo vô vàn đường dẫn để nung nóng cảm xúc, tất cả đều cùng một mục đich, muốn chúng ta sinh sôi nảy nở, duy trì chính chúng ta và giống nòi đến thiên thu vạn đại. Trên điểm này, bản tính tự nhiên hoàn toàn không nhượng bộ: Ở mọi tầm mức hiện hữu của chúng ta (thể lý, cảm tính, tâm lý, tinh thần) luôn có một áp lực mang tên tính dục để đưa chúng ta hòa vào tổng thể di truyền của loài người. Vì thế khi bạn thấy một chàng trai hay một cô gái phô trương tính dục của mình thì bạn vừa cảm thông vừa thông hiểu, vì bạn đã có một thời như thế, bản tính tự nhiên là đưa chàng trai hay cô gái đó hòa nhập vào giòng di truyền của loài người mà thôi. Đó là cách thức và thiên hướng của tính dục, và chính ở đó, Thiên Chúa hoạch định ý định thâm sâu của Ngài. 

Tất nhiên, việc hòa vào giòng di truyền loài người mang một ý nghĩa cao hơn việc sinh ra một đứa trẻ, dù việc này được ghi khắc sâu đậm và cực kỳ cưỡng bách trong mọi ngóc ngách của chúng ta, nó chỉ bị bỏ qua khi đối diện với những mối nguy lớn về tâm lý và đạo đức. Có những cách khác để có trẻ con, dù những cách đó không dễ dàng chấp nhận. Trẻ con phải sinh ra từ xác thịt. Nhưng sự thành toàn triển nở của tính dục và đời sống sinh sôi có những dạng nảy sinh sự sống khác. Chúng ta đã từng nghe câu: Sinh con, trồng cây, viết sách. Có nhiều cách khác nhau để hòa vào nhập vào giòng di truyền, và tất cả chúng ta đều biết có những người dù không có con cái, cũng chẳng trồng cây hay viết được quyển sách nào, nhưng lại là những con người sinh sôi kỳ diệu nhất. Thật vậy, điều này được chứng thực trong lời hứa độc thân khiết tịnh. Tính dục tự nó cũng mang trong mình một chiều kích tinh thần mạnh mẽ. 

Nhưng một khi đã đồng ý về tính dục như vậy, thì chúng ta đừng bao giờ ngây ngô về sức mạnh khủng khiếp nhưng mù quáng của nó. Xử trí làm sao với sức mạnh nhục dục bất kham của tính dục chính là gốc rễ cho nhiều đấu tranh tâm lý và tinh thần sâu sắc nhất của chúng ta. Tính dục mang trên mình nhiều vỏ bọc, nhưng áp lực nó gây nên luôn nhắm đến một mục tiêu, đó là: Tự nhiên và Thiên Chúa giữ một áp lực bất kham trên chúng ta để đưa chúng ta vào giòng di truyền của nhân loại, nghĩa là luôn mở rộng đời sống của chúng ta cho một sự thể lớn hơn chính bản thân chúng ta và luôn nhìn nhận một sự thật rằng mục đích thực sự của chúng ta là đi vào tình thân mật với người khác, với vũ trụ và với Thiên Chúa. Chẳng có gì ngạc nhiên quá mức khi chúng ta nhận thấy tính dục của mình quá lớn đến nỗi khiến chúng ta muốn làm tình với toàn thế giới này. Nhưng đó chẳng phải là mục đích thực sự của chúng ta hay sao?

Nhưng tính dục cũng trút cơn tàn phá xuống đời sống giáo hội của nhiều người. Chẳng có gì phải giấu diếm khi ngày nay một trong những nguyên do chính khiến nhiều người trẻ và thậm chí cả những người cao niên, đã không đi nhà thờ thường xuyên, phải đấu tranh cách này hay cách khác với tính dục và với những gì giáo hội nhìn nhận tình trạng hiện thời của họ. Tôi không có ý nói là chúng ta và các giáo hội nên thay đổi những giới răn về tính dục, nhưng có hai điều chúng ta nên làm: Thứ nhất, chúng ta nên nhận thức thực tế hơn về sức mạnh hung bạo của tính dục trong đời sống và nên hợp nhất sự phức tạp mang tên tính dục vào trong linh đạo của chúng ta. Thứ hai, chúng ta nên cảm thông và nhạy cảm về mặt mục vụ hơn đối với những vấn đề có liên quan đến tính dục.

Tính dục là một ngọn lửa thiêng liêng. Nó xuất phát từ Thiên Chúa và được phân tán đi khắp nơi, hiện diện mạnh mẽ trong mọi tạo vật. Từ chối nó không phải là điều hữu ích của chúng ta ở đây.

Luyện ngục lần đầu tiên con mở mắt cho trọn

Bạn hãy tưởng tượng, khi bạn sinh ra cho đến khi lớn lên, bạn chưa từng thấy ánh sáng hay màu sắc. Rồi với khoa học kỳ diệu, các bác sĩ chữa cho bạn được thấy. Bạn cảm nhận điều gì ngay lập tức khi bạn mở mắt ra? Kinh ngạc? Hoang mang? Say sưa? Đau đớn? Hay là tổng hợp các cảm xúc khó tả này?

Bây giờ thì chúng ta biết câu trả lời này. Loại giải phẫu này đã được thực hiện và chúng ta đã được nghe một vài phản ứng của các bệnh nhân khi họ được mở mắt và được thấy ánh sáng, màu sắc lần đầu tiên trong đời. Những cảm giác của họ lúc đó sẽ làm chúng ta vô cùng ngạc nhiên. Tôi đưa ra đây lời của J.Z Young, một chuyên gia trong ngành chức năng não bộ mô tả như sau:

“Khi được mở mắt, bệnh nhân chỉ rất ít hoặc hoàn toàn không vui thú gì, thật vậy, họ đối diện với cảm nghiệm đầu tiên này trong đau đớn. Trước mắt họ chỉ là một đống hỗn độn ánh sáng và màu sắc quay vòng vòng. Rõ ràng là với thị giác, họ gần như không thể cầm nắm đồ vật, nhận diện và gọi tên chúng. Họ không có khái niệm về không gian và vật thể, cho dù họ đã biết và xác định được tất cả mọi vật này bằng xúc giác. Có thể bạn sẽ nói ‘Tất nhiên, họ phải mất chút thì giờ để học cách nhận biết chúng bằng thị giác.” Nhưng cái thì giờ đó không phải là một chút, mà là rất dài, có khi mất cả hàng nhiều năm. Bộ não của họ không được huấn luyện để tuân theo nguyên lý của thị giác. Chúng ta không ý thức được là có những nguyên lý như vậy, chúng ta nghĩ, chúng ta thấy, chúng ta nói là chuyện tự nhiên. Nhưng sự thật là suốt thời thơ ấu, chúng ta đã được học một loạt những nguyên lý như vậy.” (Xem: Emilie Griffin, Souls in Full Flight, p. 143-144) 

Có lẽ những gì tôi vừa nói ở trên sẽ cho chúng ta một hình ảnh hữu ích tương đương với luyện ngục của Đạo Công giáo La Mã. Có thể nào chúng ta hiểu được luyện ngục chúng ta chịu sau khi chết theo cách này hay không, cụ thể là xem luyện ngục như việc mở mắt và mở lòng chúng ta với ánh sáng và tình yêu quá toàn vẹn khiến chúng ta phải tái tiếp thu và tái nhận thức trong đau đớn hệt như người được chữa sáng ở trên, hay không? Luyện ngục chính là lúc chúng ta được Thiên Chúa ôm trọn và trong hơi ấm cùng ánh sáng của Ngài, tất cả những khái niệm trần tục về tình yêu và hiểu biết của chúng ta trở nên quá tầm thường bé nhỏ, hệt như người mù bẩm sinh được mở mắt nhìn đời, chúng ta phải đau đớn đấu tranh trong ánh sáng quá đỗi huyền diệu đó để đập tan đến tận nền móng và xây dựng lại một cách sống động toàn bộ lối suy nghĩ và yêu thương của chúng ta, có thể hiểu như vậy hay không? Liệu có thể hiểu luyện ngục không phải là sự thiếu vắng Thiên Chúa hay một dạng trừng phạt và trả nợ cho tội chúng ta phạm, mà là những gì xảy đến khi chúng ta được ôm trọn say sưa trong vòng tay Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu trọn hảo và Chân lý toàn vẹn, hay không?

Quả thật, có phải là ba nhân đức đối thần, tin, cậy, mến, đã cố để đưa chúng ta đến đời sống như thế hay sao? Có  phải đức tin là một nhận thức vượt trên những gì chúng ta có thể xác định được hay không? Có phải đức cậy là neo giữ chúng ta vào một sự vượt ngoài những gì chúng ta có thể tự mình điều khiển và bảo đảm hay không? Và chẳng phải đức mến là vươn mình ra ngoài những gì vốn nâng đỡ chúng ta hay không?

Khi mô tả về thân phận con người trên trần thế, thánh Phaolô đã nói rằng, ở đây, trong đời này, chúng ta chỉ nhìn thấy “qua một tấm gương mờ tối” nhưng ở đời sau, chúng ta sẽ được thấy “mặt đối mặt”. Khi mô tả tình trạng trần thế hiện thời của chúng ta, rõ ràng ngài đã nhấn mạnh một sự mù tối nhất định, một bóng đêm thời còn phôi thai, và sự bất lực không thể thực sự nhìn thấy mọi vật như chính bản chất thực của chúng. Và một điểm quan trọng nữa phải lưu ý đó là những lời trên, ngài đã nói trong văn cảnh muốn chỉ cho chúng ta rằng ngay trong đời này, đức tin, đức cậy, đức mến giúp chúng ta dần dần khai mở khởi tấm mạng mù tối đó.

Dĩ nhiên chỉ có những nghi vấn, gây bối rối cho cả Tin Lành lẫn Công giáo. Nhiều người Tin Lành và phái Phúc Âm bác bỏ hoàn toàn khái niệm luyện ngục, vì theo Kinh Thánh thì chỉ có hai nơi bất diệt là thiên đàng và địa ngục. Ngược lại, nhiều người Công giáo La Mã lại thấy không ổn khi người ta không nhìn nhận luyện ngục là một nơi hay một tình trạng tách biệt với thiên đàng. Nhưng khi nhận thức luyện ngục như một cách mở ra toàn vẹn cho đôi mắt và tâm hồn, đến đỗi làm cho chúng ta tái nhận thức vạn vật trong đau đớn, khi đó chúng ta có thể có được một khái niệm dễ chấp nhận hơn đối với cả Tin Lành và phái Phúc Âm, đồng thời cũng giúp thay đổi quan điểm phần nào sai lầm về luyện ngục của các tín hữu Công giáo La Mã.Luyện ngục thực sự chỉ có được nhờ tình yêu, vì chỉ khi nào chúng ta cảm nhận được vòng tay ôm trọn thực sự của tình yêu, lúc đó chúng ta mới nhận ra được tội lỗi của mình, và lần đầu tiên trong đời, dấn mình vào trong năng quyền để thắng vượt khỏi tội lỗi đó. Duy chỉ ánh sáng mới xua tan bóng đêm và chỉ có tình yêu mới xóa bỏ tội lỗi.
Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux đã cầu nguyện như thế này: ‘‘Xin hãy phạt con bằng một nụ hôn!’’ Chỉ có vòng tay ôm trọn của tình yêu hoàn hảo mới là luyện ngục đích thực của tội lỗi, vì chỉ khi được nằm trọn trong tình yêu, chúng ta mới thực sự nhận thức được tội của mình, và chỉ khi đó chúng ta mới có được khát mong, năng thị, và sức mạnh để sống trong tình yêu và chân lý. Nhưng khi thả mình vào trong tình yêu và ánh sáng đó, thì luôn luôn, chúng ta sẽ cảm nhận được cùng lúc say mê và hoang mang, ngây ngất và rối bời, thần kỳ và tận khổ, hân hoan và đau đớn. Thật vậy, chính đó mới là luyện ngục.