RonRolheiser,OMI

Vua Hêrôđê và các đạo sĩ – Một thử thách trong mùa Giáng Sinh

Mùa Giáng Sinh 2012

Câu chuyện Giáng Sinh chắc chắn là một trong những câu chuyện ý nghĩa nhất từng được kể. Nó ghi lại một biến cố hạ sinh được dùng để làm mốc thời gian nhân loại. Hơn nữa, cách thuật chuyện của nó đã thổi bùng lên biết bao tưởng tượng mơ mộng trong suốt 2000 năm qua. Nhưng điều này không phải lúc nào cũng tốt. Ngoài việc gợi nên những tưởng tượng theo kiểu huyền thoại, câu chuyện Giáng Sinh, trong trí tưởng tượng Kitô giáo, thường đóng một vai trò tâm điểm trong Tin Mừng, vốn thực sự không phải của nó. Nhưng khi nhìn vào sự phong phú của câu chuyện Giáng Sinh thì như thế cũng chẳng có gì là lạ.

Trong những tường thuật đầy ý nghĩa, câu chuyện Giáng sinh còn có nhiều tiểu tường thuật phức tạp đan xen lẫn nhau, và mỗi một trong số đó đều chứa đầy những biểu tượng hình mẫu nguyên tính của riêng chúng. Một trong số những tiểu tường thuật này, vốn đầy hình tượng nguyên mẫu, chính là câu chuyện về vua Hêrôđê và các đạo sĩ.

Trong Tin Mừng theo thánh Matêô, chúng ta thấy cách phản ứng của nhiều người khác nhau khi đón nhận tin Chúa Giêsu hạ sinh. Thánh sử đã tạo nên được một sự tương phản mang tính hình mẫu mạnh mẽ, giữa chúc phúc và nguyền rủa, giữa hành động của những đạo sĩ khi mang lễ vật đến đặt dưới chân vị quân vương mới là Hài Đồng, và hành động của vua Hêrôđê khi muốn tìm giết Ngài.

Hết thảy chúng ta đều đã quen thuộc với câu chuyện này bởi nó đã được họa lại trong nhiều bài hát, biểu tượng, và những dẫn giải khác. Chúa Giêsu được sinh ra trong truyền thống tôn giáo là Do Thái giáo, và việc hạ sinh của Ngài được loan báo đến cộng đồng đức tin Do Thái giáo theo những cách phù hợp với đức tin vốn có của họ, cụ thể là với các thiên thần và những mặc khải siêu nhiên. Nhưng trong truyền thống tôn giáo này, để cho người ta nhận thấy sự hạ sinh của Ngài này, còn cần thêm những dấu chỉ bên ngoài khác nữa, đó là qua tự nhiên, chiêm tinh thuật và những ngôi sao. Các đạo sĩ đã thấy một vì sao lạ xuất hiện trên bầu trời và bắt đầu theo dấu nó, nhưng họ không biết chính xác vì sao lạ này sẽ dẫn họ đến đâu.
Trong khi theo dấu ngôi sao, họ đã gặp vua Hêrôđê, người ngay khi được người ta báo cho biết là một vị vua vừa được hạ sinh, đã nảy sinh ngay ác tâm trong lòng. Ông nhờ các đạo sĩ tìm Hài Nhi và báo cho ông biết, để ông cũng có thể đến và triều bái Người. Và chúng ta đều biết toàn bộ câu chuyện là thế này:

Các đạo sĩ theo dấu ngôi sao, tìm thấy vị vua mới là Chúa Hài Đồng, và đặt lễ vật dưới chân Ngài ngay khi mới gặp thấy. Rồi tiếp theo họ làm gì? Chúng ta có đủ ngụy tác khác nhau về chuyến trở về của họ, nhưng chúng, dù hay nhưng không hữu ích. Chúng ta không biết chuyện gì xảy ra với họ về sau, và đó chính xác là điểm mấu chốt ở đây. Việc họ biến đi như những người vô danh chính là phần cốt yếu trong lễ vật của họ. Chúng ta có thể hiểu họ tan biến đi vì bây giờ họ, có thể, tan biến đi được rồi. Họ đã đặt lễ vật dưới chân của Tân vương và giờ có thể giao phó mọi thứ an toàn trong tay Ngài. Ngôi sao của Ngài đã chiếm trọn các ngôi sao của họ. Họ không còn đấu tranh cho vị thế cũ của mình nữa, mà giờ đây họ hạnh phúc giao chúng trong tay Ngài. Cũng như ông già Simêon, họ đã có thể hạnh phúc lên đường mà hát vang: Giờ đây, lạy Chúa, xin để tôi tớ Ngài ra đi! Chúng con có thể nhắm mắt! Chúng con đang được ở trong đôi bàn tay yên bình!

Còn Hêrôđê, ông ta mới trái ngược làm sao! Tin báo về vị vua mới hạ sinh đã khiến ông ta kinh hãi rụng rời bởi chính ông ta là một vị vua. Vinh quang và hào quang giờ đây sẽ chiếu rọi trên vị vua mới và rời bỏ ông ta mãi mãi. Vậy, ông ta đã phản ứng thế nào? Không những không đặt những gì mình có dưới chân vị vua mới như lễ vật, mà ông còn rắp tâm giết Ngài. Hơn nữa, để chắc chắn, ông còn hạ lệnh giết tất cả bé trai trong toàn vùng. Hành động này đáng để viết ra cả một quyển sách nhân học. Hành động thú tính của ông ta cho thấy không phải chỉ loài cá mới ăn thịt con của mình! Nhưng điểm thiết thực trong hành động này chính là sự tương phản giữa các đạo sĩ với Hêrôđê: Các đạo sĩ nhìn thấy sinh mệnh mới đó như một lời hứa và chúc phúc, còn

Đây là một câu chuyện phong phú cho chúng ta một thử thách mạnh mẽ, đó là: Tôi phản ứng thế nào trước một sinh mệnh mới, đặc biệt là một sinh mệnh đe dọa tôi, sẽ lấy đi những gì là vẻ vang, hào quang, và tâng bốc của tôi? Liệu tôi có thể làm giống như các đạo sĩ, đặt lễ vật của tôi dưới chân Ngài và ra đi vào hư không, thậm chí là chết, hài lòng rằng thế giới này giờ được trao phó trong bàn tay tốt lành, dù đó không phải là bàn tay của tôi? Hay tôi sẽ làm như Hêrôđêe, cảm thấy sinh mệnh đó là mối đe dọa và cố gắng thủ tiêu, vì sợ vận mệnh người đó sẽ phủ lấp đi ánh hào quang số mệnh của tôi?

Chúc phúc cho một ai đó là cho đi một sự gì đó trong sinh mệnh riêng của mình, để cho hành trình tương lai người khác có thể được phong phú hơn, và đó chính là hành động của các bậc cha mẹ tốt lành dành cho con cái họ, của các thầy giáo tốt dành cho học sinh của họ, của các người bảo hộ tốt cho người được trao phó cho họ, của những cha xứ tốt lành dành cho giáo dân của họ, của những chính trị gia tốt dành cho quê hương họ, và của những bậc huynh trưởng tốt dành cho những người trẻ. Họ cho đi một sự gì đó trong sinh mệnh riêng mình để củng cố cho người khác. Đó chính là những gì mà các đạo sĩ đã làm cho Chúa Giêsu.

Vậy chúng ta sẽ hành động ra sao khi một ngôi sao mới xuất hiện bắt đầu phủ lấp đi ánh sáng của chúng ta?

Trong bàn tay an toàn hơn bàn tay chúng ta

Một trong những công việc trong chức vụ linh mục của tôi là chủ lễ và giảng lễ trong các tang lễ. Không bao giờ là một công việc dễ dàng. Các chân lý sâu xa trong đức tin của chúng ta có thể mang tác dụng an ủi trong nhiều dịp nhưng lại thường không mang nhiều tác dụng khi cái chết đang sờ sờ trước mặt. Về sau, có thể sẽ có tác dụng, nhưng ngay tại tang lễ, nỗi đau thường quá lớn đến nỗi những lời đức tin dường như mất hút vào trong đó và thực sự chẳng gây được tác động an ủi gì mấy. Chỉ khi làm đúng cách và đúng lúc với nỗi sầu khổ của con người, những lời đó mới mang lại được tác động trọn vẹn.
Một câu an ủi mà tôi thường dùng ở đám tang là: Bây giờ anh ấy đã ở trong bàn tay an toàn hơn bàn tay chúng ta. Cô ấy giờ đây đang ở trong bàn tay êm ái hơn bàn tay chúng ta.

Lẽ thật trong những lời này có thể gây hiệu lực an ủi đặc biệt khi người nằm xuống còn trẻ, người vẫn còn cần đến bàn tay trần thế của cha mẹ và là người mà chúng ta mong được thế chỗ cho họ vì người đó quá trẻ để phải rời chúng ta xuống lòng đất cô quạnh. Và cũng như thế với một người chết không được trọn vẹn, chết do tự vẫn hay tai nạn vô lý. Chúng ta có một nỗi sợ nói không nên lời, và đó luôn luôn là những câu như, đáng ra phải cho thêm một ít thời gian nữa, đáng ra chúng ta phải làm thêm điều gì đó, đáng ra phải thận trọng hơn, nâng đỡ hơn, và rồi chúng ta lo lắng sợ người mình yêu thương phải xa rời trần thế một cách bất hạnh. Cuối cùng, chúng ta lo lắng như vậy cho những ai đã chết mà lúc còn sống dường như chưa bao giờ dứt ra khỏi những hoàn cảnh cực kỳ tồi tệ và chán nản, rồi chúng ta ước sao bằng cách nào đó mình có thể làm gì đó để thay đổi mọi chuyện được tốt hơn. Trong mỗi trường hợp như trên, chẳng gì an ủi hơn một niềm tin rằng người thân yêu này giờ đây đang được ở trong vòng tay đáng tin cậy hơn và êm ái hơn chúng ta nhiều.

Nhưng liệu đây chỉ đơn giản là một mong ước, một tiếng huýt sáo trong đêm để cho chúng ta can đảm hơn thôi sao? Chúng ta nói nhăng cuội về sự công bình của Chúa để xoa dịu mình hay sao?

Nếu chúng ta tin vào Chúa Giêsu, thì không phải như thế! Tất cả mọi điều Chúa Giêsu mặc khải về Thiên Chúa bảo đảm với chúng ta bàn tay Thiên Chúa êm ái hơn và đáng tin cậy hơn bàn tay chúng ta nhiều. Thiên Chúa là cha của đứa con hoang đàng, Ngài thông hiểu và thông cảm hơn cả chúng ta đối với bản thân mình. Chúng ta cũng thấy trong dụ ngôn này, Thiên Chúa không đứng đó chờ đợi chúng ta trở lại và tạ lỗi sau những trác táng và phụ bạc, mà Ngài chạy đến để gặp chúng ta, và chẳng đòi chúng ta phải tạ lỗi. Còn trong câu chuyện con chiên lạc, chúng ta cũng thấy dù chúng ta phạm tội, Thiên Chúa không để mặc chúng ta phải tự ý thức lấy và rồi trở về ăn năn hối hận, mà Ngài bỏ chín mươi chín con chiên khác, lên đường tìm kiếm chúng ta, lòng đầy lo lắng, khắc khoải, và sẵn sàng đưa chúng ta về nhà dù chúng ta vẫn còn mang thân tội lỗi.
Chúa Giêsu cũng bảo đảm với chúng ta rằng Thiên Chúa không chỉ cho chúng ta một cơ hội mà là đến bảy mươi lần bảy, và có thể nói là vô số cơ hội. Chúng ta không hủy hoại vĩnh viễn cuộc sống của mình khi phạm một lỗi lầm hay thậm chí cứ phạm lỗi đó một cách không thể bào chữa hết lần này đến lần khác. Cuối cùng, nơi lời từ biệt trong thư gởi giáo đoàn Rôma, thánh Phaolô  tông đồ đã cam đoan với chúng ta rằng, dù chúng ta chẳng bao giờ có thể uốn nắn trọn vẹn đời sống của mình, thì chẳng có vấn đề gì hết, bởi đến cuối cùng, chẳng có gì, tuyệt đối chẳng có gì có thể tách chúng ta khỏi tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa. Và như thế, trong đời này và đời sau, chúng ta đều được ở trong một vòng tay êm ái hơn và đáng tin cậy hơn vòng tay của chính chúng ta.

Thiên Chúa không phải một Thiên Chúa trừng phạt, mà là một Thiên Chúa tha thứ. Thiên Chúa không phải là Đấng ghi chép lại tội trạng của chúng ta mà Ngài xóa sạch chúng cho chúng ta. Thiên Chúa không đòi chúng ta phải hoàn hảo, mà Ngài cần chúng ta có một tấm lòng ăn năn một khi chúng ta thiếu sót. Thiên Chúa không chỉ cho chúng ta một cơ hội, mà Ngài cho chúng ta vô số cơ hội như thế. Thiên Chúa không chờ chúng ta tự ý thức được sau khi đã sa ngã, nhưng Ngài đi tìm chúng ta, với tấm lòng đầy thông hiểu và quan tâm lo lắng. Thiên Chúa không tính toán và dè sẻn với những tặng vật Ngài ban, mà là một Thiên Chúa phung phí gieo rắc hạt giống ở khắp mọi nơi bất kể xứng đáng hay không. Thiên Chúa không bất lực trước tội lỗi và cái chết, mà Ngài là Đấng có thể cho kẻ chết sống dậy và chuộc lại những gì là tội lỗi và tuyệt vọng. Thiên Chúa không độc đoán và biến động hay thay đổi, mà là Đấng tuyệt đối giữ lời hứa và lòng tốt của Ngài. Thiên Chúa không câm lặng và cũng không bất lực trước sự phức tạp của chúng ta, mà Ngài là Đấng tạo nên hố sâu của vũ trụ và những nơi thầm kín sâu nhất trong lòng người.

Xét tận cùng, Thiên Chúa không phải là Đấng không thể bảo vệ chúng ta, mà là một Thiên Chúa với đôi tay và lời hứa đáng tin cậy hơn tất cả những gì chúng ta cậy dựa vào mình.

Trân trọng sự phức tạp của cuộc sống

Trong một bài giảng mới đây, tôi có nêu lên việc Chúa Giêsu gây sốc về cả hai khả năng, khả năng vui hưởng trọn vẹn cuộc sống và khả năng buông bỏ chính cuộc sống đó. Trong một buổi tiệc sang trọng, có một phụ nữ dùng dầu thơm lau chân Ngài với tất cả lòng thương mến, chủ nhà tỏ ra khó chịu nhưng Ngài nói cho ông biết, Ngài vui hưởng giây phút này mà không thấy có gì là tội, và Ngài cũng đã nói với họ, bí quyết sâu đậm nhất của đời sống là từ bỏ hoàn toàn trong sự tự hiến, không vương vấn ích kỷ nghĩ cho bản thân mình.

Sau bài giảng, một thanh niên đến gặp tôi và chất vấn về điểm đầu tiên: Làm sao Chúa Giêsu lại buông mình để hưởng thụ và hoan lạc như vậy? Tôi trả lời: Chính ở cái phần kia, phần năng lực từ bỏ đã làm cho Ngài làm được như vậy. Cả hai điều này dựa lẫn nhau, như hai chiếc cánh vậy. Chúa Giêsu có một năng lực đáng kinh ngạc để vui hưởng cuộc sống vì Ngài cũng mang trong mình một năng lực đáng kinh ngạc như vậy, từ bỏ chính đời sống đó. Và điều này cũng đúng với những khía cạnh khác trong đời sống và sứ vụ của Ngài: Chúa có thể lên án tội lỗi, nhưng lại thương tội nhân; cực kỳ chân tình với những người theo Ngài, nhưng cũng làm họ sốc khi thấy tình thương lớn lao Ngài dành cho những người không thuộc nhóm này; và Ngài có thể làm mọi chuyện với một mức độ tự do tối thượng mà chưa từng một ai có được, và Ngài hiểu Ngài không làm điều gì cho chính bản thân Ngài.

Và dạng phức tạp này, dạng năng lực kéo những thứ tương phản lại với nhau trong một áp lực lành mạnh, là một trong những dấu chỉ của sự cao cả vĩ đại. Các vĩ nhân làm đúng như vậy. Tôi xin đưa ra vài ví dụ:
Dorothy Day, người sẽ sớm được phong thánh, là tượng trưng chính xác cho lý lẽ này: bà vừa quan tâm đến một đòi hỏi không nhân nhượng mang tính Phúc âm đối với công bình xã hội, bà vừa quan tâm đến một đòi hỏi không nhân nhượng mang tính Phúc âm đối với các đức hạnh và việc giữ đạo. Bà vừa cấp tiến vừa mộ đạo. Thường thường người ta ít thấy ai vừa dẫn đầu đoàn biểu tình vừa lần hạt. Nhưng Dorothy làm cả hai. Đa số chúng ta không làm được. Chúng ta chỉ có thể làm được một trong hai việc này mà thôi.

Các tác phẩm của Pierre Teilhard de Chardin tiếp tục gây cảm hứng theo kiểu phân chia này cũng vì một lẽ tương tự. Ông có năng lực để cùng lúc kéo lại với nhau hai tình yêu gần như đối nghịch nhau. Ông nói là ông được sinh ra với hai tình yêu  nhạy cảm và không phai mờ được: Một tình yêu dành cho Thiên Chúa và nhận thức về một thế giới ngoài thế giới này mà ông chẳng bao giờ có thể phản bội, đồng thời ông cũng có một tình yêu ngang như thế dành cho thế giới vật chất với các vẻ đẹp và hiện thực của nó. Với ông, cả hai đều là những sự thể thực không chối bỏ, cả hai đều khiến ông kinh ngạc, và ông cố gắng để sống sao cho đừng phản bội bên nào, cho dù nó sẽ tạo ra áp lực trong đời sống của ông. Nhưng điều này lại mang lại cho tác phẩm của ông một chiều sâu hiếm có. Hầu hết các tác giả khác, thế tục hay tôn giáo, chỉ tôn trọng một trong hai cực này và phỉ báng cực kia.

Chúng ta cũng thấy kiểu phức tạp này trong các tác phẩm của thánh Têrêxa Hài Đồng. Một mặt, bà hoàn toàn chú trọng đến những sự không thuộc đời này, với cái nhìn của một người xem thế gian này là phù du, mong manh, ít giá trị. Tuy nhiên, mặt khác, bà lại tỏ ra gắn kết gần như một cách không lành mạnh với những thứ tốt đẹp của thế giới này, yêu gia đình, yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp. Bà có thể viết những trang hùng hồn về ước mong được chết và bỏ lại sau lưng cuốn phim mờ ảo mà chúng ta gọi là cuộc đời, đồng thời bà thấy khó chịu vô cùng nếu mỗi ngày không nhận những lời tình cảm của gia đình bà. Bà không thấy mâu thuẫn vì không có gì là mâu thuẫn. Khi được gắn với nhau, thì cả hai mong ước đều lành mạnh.

Thánh Augustine cũng cho chúng ta một ví dụ tương tự. Ngài viết hơn sáu ngàn trang bản thảo, trong những trang này, có những trang ngài đề cập đến những cảm xúc tiêu cực về tình dục, một kinh nghiệm đã giúp ngài trở lại; có những trang ngài nói đến những điều cốt lõi của hầu hết thần học chính thống phương Tây cho đến tận mười bảy thế kỷ sau. Ngài có thể chịu rất nhiều áp lực. Đáng buồn thay, chúng ta không được như ngài, thay vào đó chúng ta chỉ bốc và chọn cho mình những phần những mảnh suy tư của ngài để rồi làm tổn hại đến nhãn quan tổng thể của ngài.

Carlo Carretto, ngòi bút thiêng liêng người Ý vừa mới mất gần đây, cũng cho thấy ông có khả năng gắn kết những chân lý tưởng như đối nghịch nhau dưới áp lực. Thật hiếm khi được thấy trong cùng một con người kết hợp lòng mộ đạo với tinh thần bài đạo, trung thành mãnh liệt với giáo hội và phê phán giáo hội cũng mãnh liệt. Đối với ông, hai điều này dựa vào nhau. Mỗi một điều được lành mạnh là nhờ có điều kia hiện diện bên cạnh nó.

Những tư tưởng lớn và những con người vĩ đại trân trọng sự phức tạp một cách đúng đắn. Rõ ràng nhất là nơi Chúa Giêsu. Nơi Ngài là toàn bộ chân lý trong toàn bộ phức tạp của nó. Đáng tiếc thay, chúng ta, những môn đệ của Chúa Giêsu lại không xứng đáng với Ngài. Đó chính là lý do vì sao ngày nay lại có đến hàng trăm phái Kitô giáo khác nhau. Đó cũng là lý do vì sao có những phái tự do và bảo thủ cả trong giáo hội lẫn ngoài xã hội của chúng ta. Chúng ta cảm thấy dễ khi mang những những phần nho nhỏ của chân lý hơn là phải chịu áp lực để trung thành với toàn cảnh rộng lớn hơn của chân lý đó.

Nhưng sự đơn giản và trong sáng không phải lúc nào cũng là bạn hữu của chúng ta.

Làm việc quá mức, mới đầu là tốt lành, kết cuộc là chạy trốn 

Có những mối nguy hại khi làm việc quá mức, dù việc làm hay động cơ của nó có cao đẹp thế nào đi chăng nữa. Các hướng dẫn thiêng liêng, bắt đầu từ Chúa Giêsu, đã luôn luôn cảnh báo về những nguy hại của thói tham công tiếc việc. Biết bao nhiêu bà vợ, trẻ con trong gia đình, biết bao nhiêu bạn bè, biết bao nhiêu người trong cộng đồng mong muốn người họ yêu thương chú tâm đến họ nhiều hơn thay vì cứ mải vùi đầu vào công việc.

Nhưng thật khó để tránh cho mình không rơi vào cảnh bận bịu quá mức và lao tâm khổ trí vì công việc, đặc biệt trong những năm tháng chúng ta dồi dào sinh lực, có những trách nhiệm nuôi nấng con cái, trả các khoản vay, điều hành giáo hội cũng như các tổ chức, đang ngày càng đè nặng hơn trên đôi vai chúng ta. Nếu bạn là một người nhạy cảm, bạn sẽ đấu tranh không ngừng để những áp lực này không đè nặng trên bạn. Về điểm này, Henry Nouwen mô tả đời sống của chúng ta như cái vali bị nhồi nhét quá nhiều. Luôn luôn có việc phải làm, luôn luôn phải gọi điện thoại, phải gặp một ai đó, phải trả biên lai, phải kiểm tra một cái gì đó trên internet, phải đi khóa vòi nước bị hở, phải tuân theo thêm một đòi hỏi từ giáo hội hay xã hội, phải đi mua thêm thứ đồ gì đó. Các đòi hỏi của đời sống cứ triền miên không dứt và chúng ta luôn nhận thấy vẫn còn có môt trách nhiệm gì đó mà chúng ta cần phải thực hiện. Một ngày của chúng ta quá ngắn để làm cho hết những việc đó.

Và rồi chúng ta lao vào công việc. Khởi đầu là một ý muốn tốt đẹp và vô hại, nhưng rồi nó biến qua thành một thứ khác. Đầu tiên, chúng ta làm hết mình vì những đòi hỏi của cuộc sống buộc chúng ta phải làm như vậy, nhưng dần dần chúng ta gắn chặt với chúng, phục vụ tha nhân ngày càng ít mà thỏa mãn cá nhân ngày càng nhiều.

Đầu tiên, chúng ta thường thường mù quáng về điểm này, công việc sớm trở thành như một lối thoát. Chúng ta luôn bận tâm bận trí, chúng ta có đủ lời để bào chữa và lý luận cố hữu sao cho khỏi đối diện với các mối mối quan hệ trong gia đình, giáo hội hay với Thiên Chúa. Áp lực liên tục của công việc và trách nhiệm là gánh nặng nhưng lại là tấm chắn tối hậu của chúng ta. Chúng ta không thấy được hương hoa cuộc sống nhưng cũng không đối diện với những điều sâu sắc nơi phần chìm của bề mặt cuộc sống. Chúng ta có thể tránh né những vấn đề chưa giải quyết trong các mối quan hệ và trong tâm hệ mình. Chúng ta có một lời bào chữa hoàn hảo! Đó là chúng ta quá bận rộn.

Thường thì xã hội lại cổ võ cho xu hướng thoát ly này của chúng ta. Với những thói nghiện khác, hẳn chúng ta đã phải đi gặp bác sĩ rồi, nhưng với thói nghiện công việc, thường thường chúng ta lại được ngưỡng mộ nếu nghiện nặng và được tuyên dương vì chính sự ích kỷ này: Nếu tôi ăn uống quá độ, nghiện chất kích thích, tôi bị người ta khó chịu và thương hại, nhưng nếu tôi làm việc quá độ đến đỗi thờ ơ với những cấp bách lớn lao và quan trọng của cuộc sống, người ta lại nói với tôi: “Hẳn bạn thật tuyệt vời! Bạn tận tụy quá mức!” Hội chứng nghiện công việc là một thói nghiện mà nhờ nó chúng ta được tuyên dương.

Ngoài việc nó cho chúng ta một lối không lành mạnh để thoát khỏi những vấn đề quan trọng mà đáng ra chúng ta phải giải quyết, thói làm việc quá mức còn gây nên một mối nguy lớn khác. Chúng ta càng vùi đầu vào công việc thì càng dấn sâu vào mối nguy xem ý nghĩa đời sống dựa trên công việc hơn là dựa trên các quan hệ của mình. Khi càng chìm đắm trong công việc, thì các mối quan hệ của chúng ta càng sứt mẻ nhiều hơn, và rồi ý nghĩa đời sống ngày càng phụ thuộc vào công việc hơn là quan hệ. Vô số cây bút thiêng liêng đã nêu lên các mối nguy trong thói tham công tiếc việc, một điểm không nhỏ trong số đó là càng ngày chúng ta càng khó tìm ra ý nghĩa đời sống ở bất cứ nơi nào khác ngoài công việc. Những thói quen cũ rất khó bị phá vỡ. Nếu chúng ta đã dành nhiều năm để xây dựng bản sắc của mình qua cách làm việc cật lực và được yêu mến do tính cách nhà nghề hay lòng tận tụy của mình, thì thật khó để chúng ta thay đổi và tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời từ bất cứ điều gì khác. 

Các ngòi bút thiêng liêng kinh điển đều nhất loạt lưu ý về mối nguy trong sự làm việc quá mức và thói tham công tiếc việc. Thật vậy, Chúa Giêsu đã lưu ý Martha khi cô mải mê với những việc cần làm để dọn bữa ăn rồi phàn nàn Maria không chịu giúp cô. Câu trả lời của Chúa thật bất ngờ, thay vì trách Maria lười biếng và khen Martha tận tụy, Chúa Giêsu lại nói Maria đã chọn phần tốt hơn, và rồi trong lúc đó và trong bối cảnh đó, tính lười biếng của Maria lại thắng sự bận rộn của Martha. Tại sao vậy? Bởi đôi khi trong đời sống có những điều quan trọng hơn cả công việc, cho dù đó là công việc cao quý và cần thiết để thể hiện lòng hiếu khách và để chuẩn bị bữa ăn cho mọi người.

Thói lười biếng hẳn là do ma quỷ, nhưng bận rộn không phải lúc nào cũng là một đức tính tốt. 

Vài suy nghĩ lạc quan về một chủ đề rất nghiêm túc

Một vài năm trước đây, tôi có người bạn chuẩn bị sinh đứa con đầu lòng. Dù rất hạnh phúc vì sắp được làm mẹ, nhưng cô thú thật, cô rất lo cho việc sinh nở, đau đớn, có thể nguy hiểm, và những chuyện mình chưa biết. Nhưng cô tự an ủi với suy nghĩ: Hàng trăm triệu phụ nữ đã sinh con và rồi ra cũng mẹ tròn con vuông. Chắc chắn nếu nhiều người làm được thì cô cũng làm được. 

Đôi lúc tôi cũng áp dụng suy nghĩ này khi nghĩ về cái chết. Chết là chủ đề nản chí, rối bời và nặng nề nhất đối với tất cả chúng ta, dù đôi khi chúng ta có vẻ như có can đảm đối diện với nó. Khi chúng ta nói mình không sợ chết, hầu hết chúng ta nói như thì thầm trong bóng tối, dù vậy, chúng ta nói về nó dễ hơn khi nó còn là một chuyện trừu tượng xa vời, một chuyện thuộc về tương lai mập mờ vô định. Kể cả tôi, chắc chắn tôi cũng nghĩ đến nó âm thầm trong bóng tối. Nhưng tại sao lại không nghĩ đến nó? Thà như vậy còn hơn là chối bỏ nó.

Nên tôi thích cách bạn tôi lý luận để can đảm đối diện với cơn đau và những chuyện chưa biết: Hàng trăm triệu phụ nữ đã làm được, tôi cũng làm được! Còn về cái chết, thì có rất nhiều lý do để tự an ủi, hàng tỉ tỉ người đã làm được, tất cả mọi người, kể cả tôi, cũng sẽ làm được. Và một trăm năm sau, ai trong chúng ta đọc những hàng chữ này cũng sẽ làm được!

Và như thế, thỉnh thoảng tôi nhìn công bằng theo cách này: Hàng tỉ tỉ người đã làm được, cả đàn ông, đàn bà và trẻ con. Một số người đã già, số khác còn trẻ, một số có chuẩn bị, số khác thì không, có người vui đón nhận, có người kháng cự đau đớn, nhiều người chết tự nhiên, có người chết chết vì bị hành hung, có người chết trong tình thương của gia đình thân thương, có người chết cô đơn không có ai ấp ủ, có người chết bình yên, có người khóc do sợ sệt, có người chết thọ, có người chết yểu trong tuổi thanh xuân, có khi còn quá sớm. Có người phải chịu nhiều năm mất trí vô ý nghĩa trước khi chết đến độ người chung quanh tự hỏi vì sao Thiên Chúa và tự nhiên bất nhẫn để họ phải sống mòn như vậy, có người chết lúc còn sức khỏe và mọi chuyện đang tốt, có người chết trong đức tin và hy vọng, có người chết trong bóng đêm và tuyệt vọng, có người chết với lòng biết ơn, có người lại ôm mối hận khi qua đời, có người chết trong lòng tôn giáo và giáo hội của họ, có người không ở trong giáo hội khi chết, có người chết lành như Mẹ Têrêxa, có người chết dữ như Hitler. Nhưng dù thế nào đi nữa, ai cũng thực hiện bước cuối cùng đó của cuộc đời, một bước vô định nhất trong mọi thứ vô định. Dường như có thể thu xếp được công bằng. Chẳng ai từ thế giới bên kia đi trở lại thế giới này để kể những câu chuyện khủng khiếp về cái chết cả (tất cả những bộ phim kinh dị về ma và những ngôi nhà ma đều hư cấu từ đầu đến cuối).

Tôi cho rằng hầu hết mọi người đều có chung cảm nghiệm như tôi khi nghĩ về cái chết, đặc biệt là những người tôi từng quen biết mà nay họ đã chết. Nỗi đau buồn ban đầu sẽ tan biến và thay vào đó là cảm nhận cho rằng chết là đúng, người chết giờ này đang tốt đẹp, theo một cách lạ lùng nào đó, cái chết tẩy sạch mọi thứ. Và cuối cùng, chúng ta cảm thấy tốt khi nghĩ về những người thân yêu đã qua đời, nghĩ về cái chết nói chung, thậm chí dù họ có chết không được hoàn hảo như chết trong giận dữ, chết yểu, chết với tội lỗi hoặc tự vẫn. Dù gì đi nữa, cái chết đã tẩy sạch mọi thứ và điều còn ở lại là ý thức khởi phát, một trực giác chắc chắn giờ đây, dù họ ở đâu thì cũng ở trong một tình trạng tốt hơn và yên ổn hơn chúng ta.

Khi còn là một chủng sinh trẻ, chúng tôi có dịch một đoạn luận của Cicero về tuổi già và cái chết từ tiếng La Tinh sang tiếng Anh. Lúc đó tôi mới mười tám tuổi, nhưng rất ấn tượng với suy tư của Cicero về nguyên do tại sao chúng ta không nên sợ chết. Ông thuộc phái Khắc kỷ, nhưng đến cuối cùng, cách ông ít sợ hãi cái chết có điều gì đó giống với cách đón nhận việc sinh nở của bạn tôi: Vì đây là một việc ai cũng làm, nên tôi cũng làm được!

Tôi đã làm mất bài luận về Cicero từ lâu rồi, nên phải tìm lại nó trên Internet. Và tôi xin đưa ra đây câu then chốt trong bài: “Không nên lo ngại về cái chết! Bởi rõ ràng nếu nó tiêu diệt hoàn toàn linh hồn thì tác động của cái chết chẳng có gì đáng kể, và thậm chí còn đáng mong đợi, nếu nó đưa linh hồn đến một nơi bất diệt. Nhưng điều mà tôi lo ngại nhất chính là, liệu sau khi chết tôi có buộc phải sống một kiếp chẳng vui chẳng buồn hay không?”

Đức tin của chúng ta cho biết rằng nhờ lòng nhân từ của Thiên Chúa mà chúng ta tin tưởng, thì chỉ có một điều duy nhất chờ đợi chúng ta, đó là niềm vui hạnh phúc. Và hiện giờ, chúng ta đã trực cảm được nó rồi.

Tính dục – Tiềm năng và hoạch định

Tất cả chúng ta đều có một năng tính tình dục mạnh mẽ, triền miên và đáng kinh ngạc, đây là một phần trong hoạch định giữa Thiên Chúa và tự nhiên. Tính dục nằm ngay trong bản năng chẳng khác gì hít thở và luôn luôn hiện diện trong đời sống chúng ta.

Văn chương tôn giáo có xu hướng ngây thơ và chối bỏ sức mạnh của tính dục, như thể nó là một nét thứ yếu có thể gạt ra bên lề cuộc lữ hành của linh hồn, và thậm chí còn cho rằng có thể loại bỏ nó hoàn toàn. Không thể như vậy. Tính dục sẽ luôn bắt chúng ta phải cảm nhận nó dù có ý thức hay trong vô thức. Bản năng tính dục tự nhiên luôn mạnh mẽ trong con người ta đặc biệt là nơi các thanh niên. Nó lấp đầy cơ thể trẻ trung với các kích thích tố mạnh mẽ, ngay trước khi đương sự có được sự chính chắn về cảm tính và lý trí để nhận thức đúng đắn và truyền dẫn sáng tạo nguồn sinh lực này. Sự hung bạo, hoặc là bất thường, của bản tính tự nhiên cho con người có một cơ thể phát triển đầy đủ trước khi có được trưởng thành về cảm tính và lý trí. Do đó, tồn tại nhiều mối nguy về thể lý lẫn đạo đức nơi một đứa trẻ đang lớn nhưng lại mang một thân xác người lớn trọn vẹn.

Ngày nay, mọi chuyện phức tạp hơn khi chúng ta dậy thì sớm hơn nhưng lại kết hôn muộn hơn. Và gần như quy chuẩn trong mọi nền văn hóa, trẻ em dậy thì lúc mười một hoặc mười hai tuổi, và hai mươi năm sau mới kết hôn. Tình trạng này đặt ra một vấn đề cấp bách và rõ ràng: Làm sao kìm nén tính dục của về mặt cảm tính cũng như đạo đức suốt năm tháng dài đó? Việc chiến đấu để trung thành giữ các giới răn sẽ dẫn con người đi đến đâu?

Chúng ta phải thừa nhận rằng, ở điểm này, bản tính tự nhiên dường như quá mạnh bạo, nhưng nó có những góc cạnh riêng của nó. Sự áp chế của nó là để đưa chúng ta vào giòng di truyền giống loài, tất cả các kích thích tố mạnh mẽ đó đổ vào thân thể thanh niên của chúng ta theo vô vàn đường dẫn để nung nóng cảm xúc, tất cả đều cùng một mục đich, muốn chúng ta sinh sôi nảy nở, duy trì chính chúng ta và giống nòi đến thiên thu vạn đại. Trên điểm này, bản tính tự nhiên hoàn toàn không nhượng bộ: Ở mọi tầm mức hiện hữu của chúng ta (thể lý, cảm tính, tâm lý, tinh thần) luôn có một áp lực mang tên tính dục để đưa chúng ta hòa vào tổng thể di truyền của loài người. Vì thế khi bạn thấy một chàng trai hay một cô gái phô trương tính dục của mình thì bạn vừa cảm thông vừa thông hiểu, vì bạn đã có một thời như thế, bản tính tự nhiên là đưa chàng trai hay cô gái đó hòa nhập vào giòng di truyền của loài người mà thôi. Đó là cách thức và thiên hướng của tính dục, và chính ở đó, Thiên Chúa hoạch định ý định thâm sâu của Ngài. 

Tất nhiên, việc hòa vào giòng di truyền loài người mang một ý nghĩa cao hơn việc sinh ra một đứa trẻ, dù việc này được ghi khắc sâu đậm và cực kỳ cưỡng bách trong mọi ngóc ngách của chúng ta, nó chỉ bị bỏ qua khi đối diện với những mối nguy lớn về tâm lý và đạo đức. Có những cách khác để có trẻ con, dù những cách đó không dễ dàng chấp nhận. Trẻ con phải sinh ra từ xác thịt. Nhưng sự thành toàn triển nở của tính dục và đời sống sinh sôi có những dạng nảy sinh sự sống khác. Chúng ta đã từng nghe câu: Sinh con, trồng cây, viết sách. Có nhiều cách khác nhau để hòa vào nhập vào giòng di truyền, và tất cả chúng ta đều biết có những người dù không có con cái, cũng chẳng trồng cây hay viết được quyển sách nào, nhưng lại là những con người sinh sôi kỳ diệu nhất. Thật vậy, điều này được chứng thực trong lời hứa độc thân khiết tịnh. Tính dục tự nó cũng mang trong mình một chiều kích tinh thần mạnh mẽ. 

Nhưng một khi đã đồng ý về tính dục như vậy, thì chúng ta đừng bao giờ ngây ngô về sức mạnh khủng khiếp nhưng mù quáng của nó. Xử trí làm sao với sức mạnh nhục dục bất kham của tính dục chính là gốc rễ cho nhiều đấu tranh tâm lý và tinh thần sâu sắc nhất của chúng ta. Tính dục mang trên mình nhiều vỏ bọc, nhưng áp lực nó gây nên luôn nhắm đến một mục tiêu, đó là: Tự nhiên và Thiên Chúa giữ một áp lực bất kham trên chúng ta để đưa chúng ta vào giòng di truyền của nhân loại, nghĩa là luôn mở rộng đời sống của chúng ta cho một sự thể lớn hơn chính bản thân chúng ta và luôn nhìn nhận một sự thật rằng mục đích thực sự của chúng ta là đi vào tình thân mật với người khác, với vũ trụ và với Thiên Chúa. Chẳng có gì ngạc nhiên quá mức khi chúng ta nhận thấy tính dục của mình quá lớn đến nỗi khiến chúng ta muốn làm tình với toàn thế giới này. Nhưng đó chẳng phải là mục đích thực sự của chúng ta hay sao?

Nhưng tính dục cũng trút cơn tàn phá xuống đời sống giáo hội của nhiều người. Chẳng có gì phải giấu diếm khi ngày nay một trong những nguyên do chính khiến nhiều người trẻ và thậm chí cả những người cao niên, đã không đi nhà thờ thường xuyên, phải đấu tranh cách này hay cách khác với tính dục và với những gì giáo hội nhìn nhận tình trạng hiện thời của họ. Tôi không có ý nói là chúng ta và các giáo hội nên thay đổi những giới răn về tính dục, nhưng có hai điều chúng ta nên làm: Thứ nhất, chúng ta nên nhận thức thực tế hơn về sức mạnh hung bạo của tính dục trong đời sống và nên hợp nhất sự phức tạp mang tên tính dục vào trong linh đạo của chúng ta. Thứ hai, chúng ta nên cảm thông và nhạy cảm về mặt mục vụ hơn đối với những vấn đề có liên quan đến tính dục.

Tính dục là một ngọn lửa thiêng liêng. Nó xuất phát từ Thiên Chúa và được phân tán đi khắp nơi, hiện diện mạnh mẽ trong mọi tạo vật. Từ chối nó không phải là điều hữu ích của chúng ta ở đây.

Luyện ngục lần đầu tiên con mở mắt cho trọn

Bạn hãy tưởng tượng, khi bạn sinh ra cho đến khi lớn lên, bạn chưa từng thấy ánh sáng hay màu sắc. Rồi với khoa học kỳ diệu, các bác sĩ chữa cho bạn được thấy. Bạn cảm nhận điều gì ngay lập tức khi bạn mở mắt ra? Kinh ngạc? Hoang mang? Say sưa? Đau đớn? Hay là tổng hợp các cảm xúc khó tả này?

Bây giờ thì chúng ta biết câu trả lời này. Loại giải phẫu này đã được thực hiện và chúng ta đã được nghe một vài phản ứng của các bệnh nhân khi họ được mở mắt và được thấy ánh sáng, màu sắc lần đầu tiên trong đời. Những cảm giác của họ lúc đó sẽ làm chúng ta vô cùng ngạc nhiên. Tôi đưa ra đây lời của J.Z Young, một chuyên gia trong ngành chức năng não bộ mô tả như sau:

“Khi được mở mắt, bệnh nhân chỉ rất ít hoặc hoàn toàn không vui thú gì, thật vậy, họ đối diện với cảm nghiệm đầu tiên này trong đau đớn. Trước mắt họ chỉ là một đống hỗn độn ánh sáng và màu sắc quay vòng vòng. Rõ ràng là với thị giác, họ gần như không thể cầm nắm đồ vật, nhận diện và gọi tên chúng. Họ không có khái niệm về không gian và vật thể, cho dù họ đã biết và xác định được tất cả mọi vật này bằng xúc giác. Có thể bạn sẽ nói ‘Tất nhiên, họ phải mất chút thì giờ để học cách nhận biết chúng bằng thị giác.” Nhưng cái thì giờ đó không phải là một chút, mà là rất dài, có khi mất cả hàng nhiều năm. Bộ não của họ không được huấn luyện để tuân theo nguyên lý của thị giác. Chúng ta không ý thức được là có những nguyên lý như vậy, chúng ta nghĩ, chúng ta thấy, chúng ta nói là chuyện tự nhiên. Nhưng sự thật là suốt thời thơ ấu, chúng ta đã được học một loạt những nguyên lý như vậy.” (Xem: Emilie Griffin, Souls in Full Flight, p. 143-144) 

Có lẽ những gì tôi vừa nói ở trên sẽ cho chúng ta một hình ảnh hữu ích tương đương với luyện ngục của Đạo Công giáo La Mã. Có thể nào chúng ta hiểu được luyện ngục chúng ta chịu sau khi chết theo cách này hay không, cụ thể là xem luyện ngục như việc mở mắt và mở lòng chúng ta với ánh sáng và tình yêu quá toàn vẹn khiến chúng ta phải tái tiếp thu và tái nhận thức trong đau đớn hệt như người được chữa sáng ở trên, hay không? Luyện ngục chính là lúc chúng ta được Thiên Chúa ôm trọn và trong hơi ấm cùng ánh sáng của Ngài, tất cả những khái niệm trần tục về tình yêu và hiểu biết của chúng ta trở nên quá tầm thường bé nhỏ, hệt như người mù bẩm sinh được mở mắt nhìn đời, chúng ta phải đau đớn đấu tranh trong ánh sáng quá đỗi huyền diệu đó để đập tan đến tận nền móng và xây dựng lại một cách sống động toàn bộ lối suy nghĩ và yêu thương của chúng ta, có thể hiểu như vậy hay không? Liệu có thể hiểu luyện ngục không phải là sự thiếu vắng Thiên Chúa hay một dạng trừng phạt và trả nợ cho tội chúng ta phạm, mà là những gì xảy đến khi chúng ta được ôm trọn say sưa trong vòng tay Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu trọn hảo và Chân lý toàn vẹn, hay không?

Quả thật, có phải là ba nhân đức đối thần, tin, cậy, mến, đã cố để đưa chúng ta đến đời sống như thế hay sao? Có  phải đức tin là một nhận thức vượt trên những gì chúng ta có thể xác định được hay không? Có phải đức cậy là neo giữ chúng ta vào một sự vượt ngoài những gì chúng ta có thể tự mình điều khiển và bảo đảm hay không? Và chẳng phải đức mến là vươn mình ra ngoài những gì vốn nâng đỡ chúng ta hay không?

Khi mô tả về thân phận con người trên trần thế, thánh Phaolô đã nói rằng, ở đây, trong đời này, chúng ta chỉ nhìn thấy “qua một tấm gương mờ tối” nhưng ở đời sau, chúng ta sẽ được thấy “mặt đối mặt”. Khi mô tả tình trạng trần thế hiện thời của chúng ta, rõ ràng ngài đã nhấn mạnh một sự mù tối nhất định, một bóng đêm thời còn phôi thai, và sự bất lực không thể thực sự nhìn thấy mọi vật như chính bản chất thực của chúng. Và một điểm quan trọng nữa phải lưu ý đó là những lời trên, ngài đã nói trong văn cảnh muốn chỉ cho chúng ta rằng ngay trong đời này, đức tin, đức cậy, đức mến giúp chúng ta dần dần khai mở khởi tấm mạng mù tối đó.

Dĩ nhiên chỉ có những nghi vấn, gây bối rối cho cả Tin Lành lẫn Công giáo. Nhiều người Tin Lành và phái Phúc Âm bác bỏ hoàn toàn khái niệm luyện ngục, vì theo Kinh Thánh thì chỉ có hai nơi bất diệt là thiên đàng và địa ngục. Ngược lại, nhiều người Công giáo La Mã lại thấy không ổn khi người ta không nhìn nhận luyện ngục là một nơi hay một tình trạng tách biệt với thiên đàng. Nhưng khi nhận thức luyện ngục như một cách mở ra toàn vẹn cho đôi mắt và tâm hồn, đến đỗi làm cho chúng ta tái nhận thức vạn vật trong đau đớn, khi đó chúng ta có thể có được một khái niệm dễ chấp nhận hơn đối với cả Tin Lành và phái Phúc Âm, đồng thời cũng giúp thay đổi quan điểm phần nào sai lầm về luyện ngục của các tín hữu Công giáo La Mã.Luyện ngục thực sự chỉ có được nhờ tình yêu, vì chỉ khi nào chúng ta cảm nhận được vòng tay ôm trọn thực sự của tình yêu, lúc đó chúng ta mới nhận ra được tội lỗi của mình, và lần đầu tiên trong đời, dấn mình vào trong năng quyền để thắng vượt khỏi tội lỗi đó. Duy chỉ ánh sáng mới xua tan bóng đêm và chỉ có tình yêu mới xóa bỏ tội lỗi.
Thánh nữ Têrêxa thành Lisieux đã cầu nguyện như thế này: ‘‘Xin hãy phạt con bằng một nụ hôn!’’ Chỉ có vòng tay ôm trọn của tình yêu hoàn hảo mới là luyện ngục đích thực của tội lỗi, vì chỉ khi được nằm trọn trong tình yêu, chúng ta mới thực sự nhận thức được tội của mình, và chỉ khi đó chúng ta mới có được khát mong, năng thị, và sức mạnh để sống trong tình yêu và chân lý. Nhưng khi thả mình vào trong tình yêu và ánh sáng đó, thì luôn luôn, chúng ta sẽ cảm nhận được cùng lúc say mê và hoang mang, ngây ngất và rối bời, thần kỳ và tận khổ, hân hoan và đau đớn. Thật vậy, chính đó mới là luyện ngục.

Hãy sống bớt sợ hãi 

Chúng ta sống quá sợ hãi Thiên Chúa. Sự sợ hãi có nhiều khía cạnh, từ mê tín ngây ngô, sợ bị áp chế vì quá thận trọng, sợ đầy tính trí tuệ vì quá cầu kỳ. Cuối cùng, tất cả chúng ta đều đấu tranh để giữ tin rằng Thiên Chúa là người cuối cùng mà chúng ta phải cảm thấy sợ hãi. Nhưng mỗi người theo cách riêng của mình, ai cũng chống chọi với nỗi sợ Thiên Chúa. 

Tất nhiên là có nỗi sợ lành mạnh, không chỉ sợ Chúa mà còn sợ bất cứ ai chúng ta yêu. Kinh Thánh nói cho chúng ta biết rằng “kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của trí khôn ngoan”, nhưng sợ, trong trường hợp này không được hiểu theo nghĩa sợ trừng phạt hay sợ độc đoán. Kính sợ Thiên Chúa theo ý thức lành mạnh về cơ bản là niềm sợ trong tình yêu, sợ không được sống với sự tôn sùng và kính trọng thích đáng với người mà chúng ta yêu, ấy là, sợ xâm phạm vào cái ranh giới thích đáng của tình yêu. Tuy nhiên, kính sợ không phải là sợ lửa địa ngục, như người ta vẫn thường hiểu như thế. Sợ hãi đối nghịch với lòng tin và là dấu chỉ cho thấy tình yêu của chúng ta có vấn đề. Chúng ta không sợ điều mà chúng ta yêu và điều thật sự yêu chúng ta.

Toàn bộ cốt lõi của đức tin Kitô giáo mời gọi chúng ta hướng đến Chúa trong sự thân mật hơn là sợ hãi. Thật vậy, trong Kinh Thánh, gần như mọi lần Thiên Chúa xuất hiện trong đời sống bình thường, dù qua thiên thần, một hiện tượng đặc biệt, hay qua Đức Kitô Phục Sinh, lời đầu tiên luôn luôn là: “Đừng sợ!” Tiêu chuẩn thông thường để xác định một lời xuất phát từ tình yêu, đó là việc xoa dịu nỗi sợ chứ không phải làm tăng nỗi sợ.

Ý thức như thế, tôi muốn đưa ra mười nguyên tắc, bắt nguồn từ chính con người và những mặc khải của Chúa Giêsu, và tôi hy vọng nó có thể giúp các bạn có được cái nhìn tinh tuyền về Thiên Chúa, để nhờ đó đức tin chúng ta sẽ loại bỏ nỗi sợ thay vì tăng cường nó.

Tôi xin mở đầu bằng một câu chuyện, mặc dù là một chuyện có thật, nhưng các bạn có thể dùng như một dụ ngôn để trình bày và làm nổi bật nhiều nỗi sợ vô ý thức về Thiên Chúa: Sợ rằng Thiên Chúa không thông hiểu và thông cảm như chúng ta. Sợ rằng Thiên Chúa không quãng đại bằng chúng ta. Sợ rằng Thiên Chúa không hiểu được tâm can con người và không thể phân biệt được giữa tình trạng bị tổn thương với sự lạnh nhạt, giữa non nớt và tội lỗi. Sợ rằng Thiên Chúa chỉ cho chúng ta một cơ hội và không chấp nhận bất kỳ sơ suất lầm lỗi và bội ước nào của chúng ta. Sợ rằng Thiên Chúa không tôn trọng cá tính nhân bản của chúng ta, rằng Thiên Chúa đã tạo thành chúng ta theo một kiểu nhưng lại muốn chúng ta, để được cứu rỗi, thì phải sống theo kiểu khác. Sợ rằng Thiên Chúa như một bạo chúa nhỏ nhen, e ngại những thành quả của chúng ta đe dọa Ngài. Sợ rằng Thiên Chúa, như một lãnh tụ mỏng manh, e ngại những hoài nghi và thắc mắc của chúng ta lật đổ Ngài. Sợ rằng Thiên Chúa không thể đứng vững trước những dò xét trí thức và văn hóa của chúng ta, và theo cách nào đó cần được tách biệt ra và được bảo vệ như một kẻ học việc lóng ngóng vậy. Sợ rằng, so với chúng ta, thì Thiên Chúa thiếu quan tâm đến cuộc sống của chúng ta, và thiếu lo lắng cho ơn cứu rỗi và cho những người thân thuộc của chúng ta. Và một điều nữa, là sợ rằng, cũng như chúng ta, Thiên Chúa cũng bất lực trước sự bất lực về đạo đức như chúng ta. 

Và đây là câu chuyện dụ ngôn của tôi: Một vài năm trước, tôi đi dự đám tang của một người bạn trẻ, mất vì tai nạn giao thông. Vào giờ chết của anh, nhìn bề ngoài, thì mối liên hệ với giáo hội và giáo lý rất kém: Anh không đi nhà thờ thường xuyên, chung sống với bạn gái chưa có hôn thú, chẳng quan tâm mấy đến người nghèo hay các vấn đề lớn của cộng đồng, đơn giản, anh dự phần vào giáo hội và giáo lý một cách khá là nghèo nàn. Nhưng tất cả người quen biết anh đều nhận thức được sự tốt đẹp căn bản và tâm hồn tuyệt vời của anh. Anh chẳng có chút gì gọi là ác tâm và hẳn thiên đàng sẽ bớt lung linh hơn nếu anh không được ở đó. Sau khi các nghi thức an táng được cử hành, một trong những người dì của anh nói với tôi: “Nó thật là một người tốt, nếu tôi là người quản cổng Thiên Đàng, chắc chắn tôi sẽ cho nó vào.” Tôi cũng quả quyết với cô, là chắc chắn, Thiên Chúa cũng cảm thấy như thế, bởi sự hiểu biết và lòng bao dung của Ngài hoàn toàn vượt xa chúng ta.

Vậy còn mười nguyên tắc để mời gọi chúng ta sống bớt sợ hãi hơn là gì? 

1. Sự thấu suốt và hiểu biết của Thiên Chúa vượt trên chúng ta.

2. Sự cảm thông và tha thứ của Thiên Chúa vượt trên chúng ta.

3. Thiên Chúa tôn trọng tự nhiên, tôn trọng bản chất con người và thiên hướng bẩm tính của chúng ta.

4. Thiên Chúa là người cha nhân từ, chứ không phải người cha dọa nạt

5. Thiên Chúa có thể giải quyết những vấn nạn, hoài nghi và giận dữ của chúng ta.

6. Thiên Chúa dò thấy tâm tư và có thể phân ra được khác biệt giữa tổn thương và ác tâm.

7. Thiên Chúa cho chúng ta không chỉ một cơ hội, và khi chúng ta đóng lại một cánh cửa, Ngài luôn mở ra một cánh cửa khác.

8. Thiên Chúa khao khát cho chúng ta và những người chúng ta yêu thương được cứu độ, và Ngài còn khao khát điều này hơn chúng ta nữa.

9. Thiên Chúa là Đấng tạo thành những gì tốt đẹp.

10. Thiên Chúa có thể, và thật sự đã, xuống tận địa ngục để cứu chúng ta.

“Tình yêu không biết đến sợ hãi, trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt, và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo.” (1 Ga 4, 18)

Không bao giờ để bị nản chí 

Có một câu thành ngữ Na Uy như thế này: Anh hùng hệ tại ở chỗ bám chặt thêm một phút nữa.

Khi tôi còn học tiểu học, một trong những câu chuyện thuộc môn văn, có tựa đề như thế, và nó kể về một cậu bé bị rơi vào tảng băng khi đang trượt tuyết, em phải bám lấy gờ khối băng, lạnh lẽo và đơn độc chẳng có một ai giúp. Treo trên khối băng như thế là một tình trạng tuyệt vọng, và nhiều lần cậu chỉ muốn lơi tay, vì thấy sẽ chẳng có ai đến cứu mình. Nhưng cậu vẫn cố giữ, dù trong đầu vẫn còn đấu tranh với nó về chuyện này. Cuối cùng, khi dường như tất cả mọi hy vọng tan biến, cậu gắng giữ thêm một phút nữa, và rồi sau đó có người xuất hiện giúp cậu. Đây là một câu chuyện đơn giản, và bài học của nó cũng vậy: Cậu bé này sống sót nhờ cậu dũng cảm và có sức mạnh để giữ chặt thêm một phút nữa. Người giải cứu sẽ đến ngay khi bạn vừa từ bỏ, vì thế hãy giữ can đảm và chờ đợi thêm một phút nữa.

Đây là một câu chuyện anh hùng về mặt thể lý, và nó thể hiện được rõ ràng ngụ ý của nó, anh hùng thường cốt tại chỗ giữ vững đủ lâu, bám lấy khi dường như mọi thứ là vô vọng, chịu đựng cái lạnh và đơn độc trong lúc chờ đợi một ngày mới.Kinh Thánh cũng dạy nhiều về tính anh hùng như thế: Trong thư thứ hai gởi Giáo đoàn Thesalonica, thánh Phaolô kết một lời khuyên dài và đầy thách thức bằng câu: Con đừng sờn lòng nản chí làm điều thiện. Và trong thư gởi tín hữu Galat, ngài gần như cũng nói ra câu thành ngữ Na Uy trên: Khi làm điều thiện chúng ta đừng nản chí, vì đến mùa chúng ta sẽ được gặt, nếu không sờn lòng.

Nghe thì có vẽ đơn giản, nhưng nó là điểm mấu chốt cho nhiều nỗ lực tinh thần của chúng ta. Chúng ta bỏ cuộc quá sớm, chấp nhận quá sớm, và không để cho sự đơn độc đi hết con đường của nó. Đơn giản là chúng ta không chịu đựng áp lực đủ lâu.

Tất cả chúng ta đều từng có những áp lực trong cuộc sống: áp lực gia đình, bạn bè, công sở, giáo hội, cộng đoàn, trong câu chuyện với những người chung quanh, trong chính trị và những sự kiện khác nữa. Và chúng ta những người có tâm, chúng ta còn mang áp lực phải kiên nhẫn, tôn trọng, tử tế, và chịu đựng trong một thời gian! Rồi, đến một lúc nào đó, chúng ta thấy mình chạm đến giới hạn, mệt mỏi với hành động sao cho đúng đắn, cảm thấy có gì đó nhói đau trong lòng, và nghe một tiếng nói nội tâm vang lên: Đủ rồi! Tôi đã theo cái này quá lâu rồi! Tôi sẽ không chịu đựng thêm chút nào nữa! Và rồi, khác với cậu bé treo trên vách đá kia, chúng ta bỏ đi. Chúng ta gạt qua một bên kiên nhẫn, tôn trọng, tử tế, và chịu đựng, hoặc bằng cách trút mọi thứ ra hay đơn giản trốn chạy hoàn cảnh với cảm giác như thoát nợ. Trong cả hai cách, chúng ta đều từ chối không chịu sống dưới áp lực thêm phút nào nữa.   

Nhưng chính lúc chúng ta phải chọn lựa giữa từ bỏ và bám vững, giữa chống đỡ với áp lực hay thoát nó, chính đó là thời điểm mang tính mấu chốt xác định cá tính: dũng khí, cao thượng, vô cùng trưởng thành, và tâm hồn thánh thiện thường thể hiện với những câu hỏi sau đây: Chúng ta có thể chống đỡ được bao nhiêu áp lực đây? Sự kiên trì chịu đựng của chúng ta đến được mức nào? Chúng ta có thể chịu đựng được bao nhiêu đây? Những bậc cha mẹ trưởng thành chịu đựng nhiều áp lực trong việc nuôi dạy con cái. Các thầy cô trưởng thành chịu nhiều áp lực khi cố gắng mở mang đầu óc và tâm hồn học sinh. Những bạn bè trưởng thành phải chịu nhiều áp lực để trung thành với bạn mình. Các người trẻ phải chống đỡ với nhiều áp lực tình dục trong thời gian tiền hôn nhân. Những Kitô hữu trưởng thành chịu nhiều áp lực khi thấy những non nớt và tội phạm của giáo hội. Người ta đúng thật cao thượng khi họ có thể tiến bước với kiên nhẫn, tôn trọng, tử tế, và chịu đựng giữa những xô đẩy và áp lực bất công, và không bao giờ mệt mỏi khi làm điều đúng đắn.

Tất nhiên, chúng ta vẫn được cho biết rằng: Mang lấy áp lực không có nghĩa là bị lạm dụng. Những đặc tính cao thượng và sự thánh thiện tâm hồn thách thức sự lạm dụng hơn là đồng thuận và hỗ trợ nó. Đôi khi, dưới danh nghĩa của đức hạnh và trung kiên, chúng ta lại ủng hộ việc chấp nhận lạm dụng, nhưng như thế là đối nghịch với những gì Chúa Giêsu đã làm. Ngài đã yêu, đã thách thức, và chịu áp lực để xóa tội cho thế gian. Nhờ trải nghiệm xót xa lâu dài, chúng ta biết rằng bất kể ý định của chúng ta có cao thượng thế nào, nếu chúng ta chấp nhận lạm dụng thay vì đứng lên thách thức nó, thì chúng ta chẳng xóa tội, mà lại còn tăng sức cho nó.

Nhưng tất cả những điều này chẳng dễ dàng gì. Đó là con đường đơn độc kéo dài, với nhiều cám dỗ xúi chúng ta bỏ cuộc . Nhưng nếu bạn bền chí và không bao giờ mệt mỏi đối với hành động đúng đắn, thì lúc lìa đời, những người biết bạn sẽ hạnh phúc và biết ơn vì bạn đã tiếp tục tin tưởng vào họ ngay cả khi họ mất tin tưởng vào chính mình.

Kiêu ngạo một cách tinh vi

Một trong những đặc tính tuyệt vời nhất của con trẻ là sự chân thật trong cảm xúc của chúng. Chúng không giấu diếm cảm xúc hay mong muốn của mình. Chúng không tinh vi. Khi muốn điều gì, đơn giản là chúng đòi. Chúng kêu la, chúng khóc thét. Chúng vồ lấy đồ từ tay người khác. Và chúng không hổ thẹn vì những hành động này. Chúng chẳng xin lỗi vì tính ích kỷ và cũng không che đậy nó.

Khi lớn lên, chúng ta điều khiển cảm xúc chuẩn mực hơn, và bỏ gần hết những kiểu cách trên. Nhưng chúng ta cũng trở nên thiếu chân thật hơn về cảm xúc. Sự ích kỷ và lỗi phạm của chúng ta bớt thô thiển hơn, nhưng, chúng là cố hữu vĩnh viễn, không bao giờ thật sự biến mất. Chúng chỉ trở nên tinh vi hơn mà thôi.

Từ xa xưa, giáo hội đã định danh cho những ích kỷ và lỗi phạm với cái tên “bảy mối tội đầu”: kiêu ngạo, ghen tỵ, nóng giận, lười biếng, tham lam, ham muốn và dâm dục. Khi ở dạng thô thiển nhất của nó, các tính xấu này thể hiện thật rõ ràng. Nhưng ở dạng tinh vi hơn thì sao? Ở những người được cho là trưởng thành, thì chúng thể hiện như thế nào? Chẳng phải là nhiều ngòi bút thiêng liêng lớn, đã viết nhiều khảo luận, với mức độ sắc sảo khác nhau, về cái mà họ gọi là những lỗi phạm tôn giáo của những người đã bước qua sự cải hoá ban đầu đó sao? Và chẳng phải đôi khi thật đáng để chúng ta chân thành nhìn lại mình, tự hỏi làm cách nào mà chúng ta đã biến những lỗi phạm thô thiển nhất thời trẻ con thành những lỗi phạm tinh vi hơn của người lớn, hay sao? Ví dụ như, trong đời sống của mình, tính kiêu ngạo biểu hiện theo những cách tinh vi hơn, như thế nào?

Cái cách mà tính kiêu ngạo tồn tại trong tuổi trưởng thành của chúng ta, được Chúa Giêsu mô tả rõ ràng nhất trong dụ ngôn nổi tiếng về người Biệt phái và người Thu thuế. Người Biệt phái, nhân vật xấu trong dụ ngôn này, tự hào mình trưởng thành về mặt thiêng liêng và nhân bản. Đó là kiêu ngạo tinh vi mà hầu như chúng ta không thể tránh khỏi. Khi chúng ta đã trưởng thành về mặt đạo đức và tôn giáo, thì gần như chúng ta không thể đem mình ra để so với những kẻ đang còn đấu tranh trong chuyện này và cũng không thể không rơi vào tình trạng thiển cận tự mãn, không thích họ, khinh thường họ đang ở trong tình trạng đó. Nhiều ngòi bút thiêng liêng đã thường mô tả lỗi phạm trên như thế này: Kiêu ngạo nơi những người trưởng thành nằm ở dạng chối bỏ sự nhỏ bé của mình trước mặt Chúa, và từ chối nhận thức cho đúng mối tương quan với tha nhân. Và đó chính là chối bỏ việc chấp nhận thân phận thấp hèn của mình, cụ thể là từ chối nhận thức rằng chúng ta đang đứng trước mặt Chúa và tha nhân với đôi bàn tay trắng và rằng tất cả những gì chúng ta có và đạt được đều là nhờ ơn Chúa, hơn là do nỗ lực riêng của chúng ta.

Khi chúng ta trưởng thành, tính kiêu ngạo thường trá hình dưới lớp vỏ khiêm tốn, vốn là một chiến lược để được đề cao nhiều hơn. Làm như vậy là áp dụng lời mời gọi của Chúa Giêsu: Bất kỳ ai muốn nên người đứng đầu phải làm người rốt hết và phục vụ cho tất cả anh em mình! Rồi khi chúng ta ở vị trí rốt hết và xắn tay phục vụ, chúng ta không thể thoát được cảm giác tự cho mình rất tốt, nuôi dưỡng trong lòng một nhận thức thầm kín, tính khiêm tốn của mình là yếu tố ưu việt và là cái gì đó, nhờ nó mà sau này mình sẽ được người khác nhận ra và  ngưỡng mộ.

Cũng vậy, khi chúng ta trưởng thành, kiêu ngạo có khuôn mặt tinh vi như sau: Chúng ta sẽ bắt đầu làm những điều đúng đắn cho những nguyên do đúng đắn, mặc dù thường thì đó cách chúng ta tự dối gạt mình, vì xét cho cùng, chúng ta bắt tay làm điều tốt là chỉ để phục vụ cho tính kiêu ngạo của mình mà thôi. Động cơ để chúng ta rộng lượng thường là do mong muốn được cảm thấy mình tốt, hơn là do tình thương đích thực dành cho tha nhân. Ví dụ, nhiều lần trong suốt thời linh mục của tôi, tôi đã nung nấu ý muốn dọn vào nội thành sống giữa những người nghèo, xem đó là dấu chỉ cho sự dấn thân của tôi với công bằng xã hội. Một cha linh hướng đã chỉ ra cho tôi rằng, ít nhất, trong trường hợp của tôi, việc dọn đến đó chắc chắn sẽ làm lợi cho tôi hơn là cho người nghèo. Dọn đến đó ở với họ sẽ làm cho tôi thấy tốt đẹp, nâng cao vị thế của tôi giữa linh mục đoàn, và là dấu ấn tuyệt vời trong lý lịch của tôi, nhưng sẽ chẳng sinh ích nhiều cho người nghèo, trừ phi tôi biết thay đổi tận căn bản thân mình. Xét cho cùng thì hành động đó của tôi sẽ phục vụ cho tính kiêu ngạo của tôi hơn là cho người nghèo.

Bà Ruth Burrows cảnh báo rằng động lực kiêu ngạo này có trong các động cơ cầu nguyện và sống độ lượng của chúng ta. Vì thế, bà viết: “Cái cách chúng ta lo lắng cho việc mất linh hồn, không biết cầu nguyện, cho những rối trí, những ý nghĩ ngu ngốc và những cám dỗ mà chúng ta không thể tránh được…., không phải vì sợ Chúa bị lừa dối, Ngài không thể bị lừa dối, lý do thật sự là chúng ta không được quá đỗi tốt đẹp theo mức mà chúng ta mong muốn.” 

Và sự kiêu ngạo tinh vi, luôn luôn kèm theo nó một phán định hạ giá về người khác. Điều này chúng ta thấy rõ nhất trong khoảng thời gian ngắn sau khi chúng ta trở lại; khi một người trẻ sốt sắng, vừa mới trở lại, mới bước đầu dấn thân phục vụ và công bằng, vẫn còn vương vấn cảm giác của thời kỳ nồng nhiệt ban đầu, sẽ nghĩ rằng chỉ có họ mới biết cách để nối kết với tha nhân, với Chúa Giêsu, và với người nghèo. Nhiệt tình này thật đáng ngưỡng mộ, nhưng sự kiêu ngạo luôn sản sinh ra hai thứ xấu xa cùng lúc, đó là kiêu căng ngạo mạn và cảm giác ưu việt.  

Kiêu ngạo gắn chặt bất phân với bản chất chúng ta, và phần nào nó là thứ lành mạnh, nhưng chúng ta buộc phải đấu tranh cả đời để giữ nó được lành mạnh.

Não trạng cục bộ và nỗi sợ: Bất xứng với Kitô giáo

Trong quyển sách mới nhất, bao gồm một loạt bài tiểu luận của mình, với tựa đề “Khi tôi còn nhỏ, tôi đọc sách”, Marilynne Robinson có viết một bài tựa đề là “Tình yêu cao vời.” Bà khởi đầu bài đó với tự thuật nói lên niềm tin Kitô hữu thâm sâu và lâu bền, cùng với nỗi băn khoăn và kinh hãi ngày càng sâu sắc về mầu nhiệm Thiên Chúa. Một vài nỗi sợ mà bà nhắc tới có liên quan đến những hiện thực thời nay trong nhiều giáo hội và nơi nhiều người trong chúng ta, cụ thể là những hình thức mới của vấn đề cục bộ và nỗi sợ đang làm xuống cấp, biến Thiên Chúa cao vời của chúng ta thành một “Thần Linh riêng” hay một kiểu “thần Baal địa phương” của riêng chúng ta mà thôi.

Bà xác nhận một thực tế, chúng ta quá thường xuyên khẩn cầu Thiên Chúa của mọi nước, mọi nhà, và mọi người, như thể là một Thiên Chúa của riêng nước chúng ta, nhà chúng ta, và mỗi người chúng ta. Bà trích dẫn ra nhiều ví dụ về điều này, bao gồm việc bà thấy buồn lòng khi các Kitô hữu chân thành lại không chịu thừa nhận sự chân chính nơi người khác. Bà viết, “Tôi phải thừa nhận rằng những người không đồng tình với quan điểm Kitô giáo của, họ vẫn là những Kitô hữu, rằng chúng ta là những thành viên trong cùng một mái nhà chung. Tôi thú nhận, đã biết bao nhiêu lần tôi thấy thật khó khăn để làm được như vậy. Trở ngại này, một phần phát xuất từ một thực tế là tôi có đủ lý do để tin rằng họ sẽ không hành xử rộng lượng như thế đối với tôi.” Bà đã nói đúng, một quan điểm như thế không xứng đáng với Thiên Chúa, với tinh thần Kitô, và với những gì tốt nhất trong chúng ta. Thực sự, nhận thức của chúng ta không đến nỗi như thế, nhưng chúng ta thường không hành động theo đó, và rồi chúng ta đáng được chỉ mặt đặt tên theo cái mà Freud gọi là “chủ nghĩa vị kỷ từ những khác biệt nhỏ.” 

Và gốc rễ của điều này chính là nỗi sợ, sợ nhiều chuyện. Một trong những nỗi sợ này là sợ thế giới thế tục hóa, và cảm nhận này đã đẩy chúng ta quá thiên về những gì thuộc di sản Giáo hội và các giá trị đạo đức của mình. Tôi trích ra đây lời của bà Robinson: “Những người này thấy chủ nghĩa thế tục như xồng xộc đến để đẩy tôn giáo ra ngoài rìa, hoặc vô hiệu hóa hoàn toàn, và vì tinh thần Kitô, họ muốn các chính khách nói lên những lời tuyên xưng đức tin, muốn các thương gia, vào những ngày lễ, treo các biểu ngữ nói chính xác đó là lễ gì chứ không đơn giản viết loa qua “Mừng lễ.”

Tuy nhiên, bà Robinson không tin tưởng vào việc viện đến các chính khách để bảo vệ Kitô giáo. Tại sao ư? Bởi vì “trong thời sơ khai của mình, đất nước này (Hoa Kỳ) tràn ngập dân cư là những người trốn tránh sự bách hại về tôn giáo của các giáo hội quyền thế, cho dù đó là phái Tin Lành Pháp quốc, Giáo hội Trưởng lão của Scotland, phái Giáo đoàn ở Anh quốc, hay giáo hội Anh giáo.” Bà còn nói thêm, “Bởi các anh hùng trong đạo của tôi thường hay chết đau đớn dưới các chế độ đó. Tôi không luyến tiếc gì cái thế giới thời chưa thế tục hóa này, những người ủng hộ một ‘quốc gia Kitô giáo’, nếu như biết nhìn lại đôi chút về lịch sử truyền thống của chính họ, thì hẳn cũng sẽ làm như tôi vậy.”

Bà cho rằng, việc chúng ta sợ sự thế tục hóa, có điều gì đó thật mỉa mai vô cùng: Chúng ta sợ sự thế tục hóa bởi vì chúng ta, thực sự đã chủ quan hóa định kiến to lớn chống lại Kitô giáo, cụ thể, là chúng ta tin rằng đức tin và Kitô giáo không thể chống lại nổi sự dò xét của một nền văn hóa tri thức đã được tinh vi hóa. Và nỗi sợ đó là gốc rễ của chủ nghĩa bài tri thức, vốn đang nổi bật trong nhiều nhóm tôn giáo và giáo hội hiện nay. Bao nhiêu phần trong nỗi lo sợ cho Kitô giáo của chúng ta có thể là do thành kiến này? Tại sao chúng ta quá sợ hãi thế giới của mình và sợ cả tri thức thế tục hóa nữa?

Bà Robinson khẳng định rằng, nỗi sợ này sản sinh ra một tư tưởng đối kháng không xứng với Kitô giáo. Nỗi sợ và tâm thức đối kháng đang thành một xu thế lấn át trong các nhóm tôn giáo hiện nay, và lại còn được xem như là dấu chỉ của đức tin và trung tín. Như thế là lành mạnh ư? Không. Không sợ cũng không đối kháng, bà cho rằng “là Kitô hữu, một suy nghĩ nhỏ như thế này cũng không có, một hành động loại này cũng không có, như thế mới xứng đáng là người Kitô.” Hơn nữa, “nếu niềm tin vào Chúa Kitô là điều cần thiết để đạt đến sự sống đời đời, thì tất cả những ai gọi mình là Kitô hữu, hay bất kỳ tổ chức nào tự gọi mình là giáo hội, đều phải làm vẻ vang cho đức tin, hay ít nhất là đừng làm đức tin bị khó dễ hay bị người ta ghét bỏ. Biến Thiên Chúa thành một thần linh riêng, hay một kiểu thần Baal địa phương, là một hành động phá hoại và đáng hổ thẹn.”

Bà thêm rằng, sợ hãi và đối kháng chẳng làm được gì để người ta tôn trọng Kitô giáo và các giáo hội của chúng ta, và với chừng mực mà chúng ta gắn kết chúng với Kitô giáo, thì chúng ta có nguy cơ bôi xấu Kitô giáo dưới mắt người đời. Nhưng trong bầu khí thời nay, ai nói như vậy bị xem là người không yêu đạo. Chúng ta không phải quan tâm xem thế gian nghĩ gì. Nhưng đó là thế giới mà chúng ta cố gắng biến đổi nó. Và vì thế, chúng ta cần phải cẩn trọng để không trình bày Kitô giáo như một thứ vô phẩm cách, bài ngoại, một thứ không xứng đáng với Thiên Chúa cao vời toàn hữu của chúng ta.Nếu như chúng ta tin rằng Kitô giáo là sự thật thâm sâu nhất và tin rằng Chúa Kitô sẽ ở với chúng ta đến ngày tận thế, thì tại làm sao chúng ta lại sợ hãi như thế? Câu cuối cùng trong bài của bà tóm gọn lại thách thức mà ngày nay chúng ta cần phải cấp thiết nắm lấy. “Kitô giáo là một trình thuật quá lớn lao không thể hạ giá mà đem phục vụ cho những ý muốn hạn hẹp hay bị hạn chế thành lệ thuộc trong những câu chuyện thấp kém hơn. Đặc biệt, lòng sùng kính không được bị hạ thấp thành não trạng cục bộ, bực bội hay sợ sệt.”

Ý chí thôi không đủ

John Shea viết một bài thơ in dấu vết của thánh Gioan Batít. Bài thơ bắt đầu khi thánh Gioan đang ở trong tù, nghe điệu nhảy trên đầu mình và biết rằng, sau điệu nhảy là ông sẽ bị chặt đầu. Kỳ lạ thay, ông không quá xao động. Vua Hérode đang muốn cho cô con gái của bà Hérodias nữa vương quốc của mình và Gioan cảm nhận ông cũng có thể chết trong chuyện này, dù ông chỉ là một người dở dang. Vì sao ông cảm thấy ông là người dở dang? Vì bài thơ nói như vậy, ông chỉ là vị tiên tri dở dang, chỉ làm lưng chừng công việc của mình. Và thánh Gioan nghĩ như sau:

Tôi có thể tố cáo một vị vua, nhưng tôi không thể tấn phong vua nào.Tôi có thể tước quyền lực của một ngẫu tượng nhưng tôi không thể vén mở một Thiên Chúa thật.Tôi có thể rửa sạch tâm hồn trong cát nhưng tôi không thể mặc nó lại cho trắng.Tôi có thể uống Lời Chúa như uống mật ong nhưng tôi không thể cột giây giày cho Người.Tôi có thể lên án tội nhưng tôi không thể mang lấy nó. 
Đó là Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian.

Thánh Gioan Batít ý thức được sức mạnh và sự bất lực của mình. Ông có thể nói cho biết cái gì có thể làm và không thể làm, nhưng sau đó thì ông bất lực, không tạo được một sức mạnh cần thiết nào để sửa chữa lỗi lầm.

Thực chất đó là những gì chúng ta làm trong tất cả mọi trạng huống khi chúng ta phê phán một chuyện gì. Chúng ta thường sôi nổi và khúc chiết khi nói về những chuyện tiêu cực. Giống như thánh Gioan-Batít, không được đánh giá thấp sự đóng góp này. Các Phúc Âm nói cho chúng ta biết, bên cạnh Chúa Giêsu, không có ai quan trọng hơn thánh Gioan Batít. Nhưng cũng như thánh Gioan, chỉ phê phán thôi thì chỉ mới làm một nửa việc, nói tiên tri nửa chừng: Ông có thể tố cáo một vị vua, đưa ra những điểm sai, ông có thể rửa tâm hồn trong cát, bằng cách tẩy sạch các lớp mòn, dơ bẫn tích tụ, nhưng rốt cùng, ông không thể nào sửa được gì. Cần phải có một chuyện khác. Chuyện gì?

Ai đã thử vượt lên tình trạng nghiện thì có thể trả lời câu hỏi này. Có một cái đầu sáng suốt, tầm nhìn sáng suốt cái gì phải làm, một quyết tâm sắt son bỏ thói quen xấu, chỉ mới đi nửa đường, mới giai đoạn đầu, tuy quan trọng nhưng chỉ mới khai mào. Phần sắp tới mới là khó nhất: Tìm đâu và và cách nào để hỗ trợ sức lực cần thiết để thay đổi tư cách và bỏ thói quen xấu? Ai đã từ bỏ được tình trạng nghiện sẽ nói cho bạn biết rằng, cuối cùng, họ không dựa trên ý chí, hay ít nhất không dựa chỉ một mình ý chí mà thôi. Ơn sủng và cộng đồng rất cần thiết và cuối cùng đó là những gì một một mình ý chí thôi, không thể làm được.

Trong các Phúc Âm, có một đoạn Chúa Giêsu nói con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Trời. Các tông đồ kinh ngạc, thánh Phêrô trả lời:Nếu như vậy thì không thể được! Chúa Giêsu  bằng lòng câu trả lời này và nói thêm: Sự gì không được với loài người nhưng với Thiên Chúa thì sẽ được. Ai phục hồi được sau khi bị nghiện thì sẽ hiểu chính xác Chúa Giêsu muốn nói gì. Họ có kinh nghiệm: Họ biết họ không thể nào bỏ được vật gây nghiện – nhưng họ bỏ được, không phải do ý chí riêng của họ, nhưng do sức mạnh bên trên, ơn sủng. 

Các Phúc Âm nói về điều này như một lễ rửa tội và nói đến hai loại phép rửa: phép rửa của thánh Gioan và phép rửa của Chúa Giêsu, họ nói thêm rằng phép rửa thánh Gioan là sự chuẩn bị cho phép rửa Chúa Giêsu. Phép rửa của thánh Gioan là phép rửa nào? Đó là phép rửa của lòng ăn năn, ý thức mình đã làm chuyện xấu và quyết tâm rõ ràng cần phải sửa lại hạnh kiểm. Phép rửa của Chúa Giêsu là phép rửa gì? Là đi vào trong ơn sủng và cộng đồng, cho chúng ta sức mạnh nội tâm để làm những gì mà nếu chúng ta chỉ dựa trên ý chí, chúng ta không thể làm được.

Nhưng làm sao điều này thực hiện được? Ơn sủng là một loại phép mầu? Không, không phải phép mầu. Tất cả năng lực tâm sinh lý, xýc cảm và thiêng liêng thì, tự bản chất, nó vượt quá tầm hiểu biết theo hiện tượng. Nói theo cách khác, điều đó có nghĩa chúng ta không thể nào hiểu được bộ máy nội tâm. Mỗi năng lực có một huyền bí. Nhưng những gì chúng ta có thể kiểm chứng, đó là kết quả của nó: các thành quả của năng lực thiêng liêng. Ơn sủng làm việc. Nó được xác nhận trong kinh nghiệm nội tâm của hàng ngàn người (kể cả những người vô thần) họ tìm năng lực nội tâm không từ chính họ nhưng lại cho họ phương cách để thực hiện vượt trên ý chí của họ. Bạn cứ tìm hỏi bất cứ ai đã được cai nghiện về vấn đề này.

Khổ thay, rất nhiều trong chúng ta, là những tín hữu trung kiên, không phải lúc nào cũng hiểu bài học này. Chúng ta luôn luôn cố gắng sống theo phép rửa của thánh Gioan, có nghĩa là chỉ dựa trên ý chí. Sống như thế, chúng ta là những nhà phê phán tài tình, nhưng đa phần, chúng ta lại bất lực không thể nào thay đổi chính cuộc sống của mình. Những gì chúng ta đi tìm, và thật sự là chúng ta rất cần, đó là thấm sâu trong phép rửa của Chúa Giêsu, đó là cộng đồng và ơn sủng.

Tiếng cười như là đức tin

Khi tôi còn là chủng sinh ở dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, vị phó giám đốc phụ trách chủng sinh, một người chân thành nhưng nghiêm nghị quá mức, cảnh cáo chúng tôi về những chuyện nhẹ dạ trong đời sống bằng cách nói với chúng tôi rằng trong Kinh Thánh không có chi tiết nào cho thấy Đức Giêsu đã cười to. Tôi là một chủng sinh thành tín, nhưng dù thế, tôi cũng thấy điều này không ổn. Tôi rà đi rà lại Phúc âm, cố gắng chứng minh ông nói sai, nhưng phát hiện ra rằng, về mặt kỹ thuật, ông nói đúng. Nhưng có phải là ông đúng không?

Vài năm sau, trong thời gian tôi ở chủng viện, tôi đọc một cuốn sách của Peter Berger có tên là Tin Đồn của các Thiên Thần (A Rumor of Angels), trong đó ông cố gắng chỉ ra nhiều chỗ khác nhau trong kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta, khi mà, như ông nói, chúng ta có những lời gợi ý của đấng thiêng liêng, những tin đồn của các thiên thần, ám chỉ rằng trải nghiệm đời thường chứa đựng nhiều hơn mức đời thường, rằng Chúa có ở đó. 

Một trải nghiệm như thế, ông trình bày, là khi người mẹ đang dỗ đứa con đang bị cơn hoảng sợ giữa đêm, dùng lời lẽ và cử chỉ vỗ về để đứa bé an lòng, không còn sợ hãi vì mọi thứ đều ổn, thế giới nằm trong trật tự. Khi nói những lời lẽ đó, nếu người mẹ thật sự nghĩ như vậy, và thường là vậy, thì trên thực tế, người mẹ đang ngầm đọc kinh Tin Kính.

Một sự gợi ý như vậy nữa của đấng thiêng liêng trong trải nghiệm đời thường, Berger nói, là hiện tượng tiếng cười. Trong tiếng cười, ông trình bày, chúng ta trực cảm sự siêu nghiệm: chuyện chúng ta có thể cười trong bất kỳ tình huống nào cho thấy có điều gì đó trong ta vượt lên hoàn cảnh đó, siêu nghiệm so với nó. Trong tiếng cười, Berger tin rằng chúng ta có tin đồn của các thiên thần. 

Karl Rahner đồng ý, và nêu rằng tiếng cười cho thấy chúng ta đang thoải mái với thực tại và do vậy với Chúa. Tiếng cười ca ngợi Chúa vì chúng nói trước cho chúng ta biết trạng thái của chúng ta nơi thiên đường khi chúng ta sẽ tràn ngập niềm vui. Chú giải về Tám Mối Phước Thật trong Phúc âm thánh Luca khi Chúa Giêsu nói, phúc thay cho những ai đang khóc, vì họ sẽ cười, Rahner nói rằng điều mà Chúa Giêsu nói cho thấy niềm vui là trạng thái cuối cùng, sẽ không chỉ lau khô dòng nước mắt và đem tới bình an, mà còn đem ta tới với tiếng cười nữa – “tới sự say sưa của niềm vui”. Đây là lời của Người: “Nhưng rồi con sẽ cười.” Đó là điều được viết ra. Và bởi vì Từ của Chúa cũng phải viện đến từ ngữ của con người để biểu đạt những gì mà một ngày nào đó rồi sẽ xảy ra khi mọi điều rồi sẽ xảy ra – có nghĩa là tại sao một điều thần bí vĩnh cửu cũng ẩn mật, nhưng có thật trong đời sống hàng ngày, đó là lý do tại sao tiếng cười của đời sống hàng ngày thể hiện cho thấy một người đang thoải mái với thực tại, thậm chí trước tất cả những gì mà sự bằng lòng toàn năng và vĩnh cửu trong đó kẻ được cứu chuộc một ngày nào đó sẽ nói Amen với tất cả những gì họ đã làm và cho phép xảy ra. Tiếng cười là ngợi ca Chúa bởi vì nó báo hiệu sự ngợi ca vĩnh cửu về Chúa vào chung cuộc, khi những ai phải khóc than trên trái đất này rồi sẽ cười lên. 

Nhưng liệu điều này có hời hợt không? Sự lạc quan của con người tự thay thế cho hy vọng? Một tinh thần lạc quan giả mạo làm thần học? Lời tuyên bố ngây thơ rằng nếu tôi vui thì Chúa đang ở cùng tôi? Thực sự, trong Phúc Âm, ở đâu ghi lại chi tiết Giê-su cười to?

Sự nghiên cứu học thuật hay về kinh thánh từ lâu đã nói rằng nếu đi tìm một đoạn văn bản nào để chứng minh một ý nào đó là đúng hay là sai thì đó không phải là cách tiếp cận hay đối với Kinh Thánh. Những lời dạy của Kinh Thánh sẽ được lượm lặt tốt nhất nếu nhìn vào bản Thánh Kinh như một tổng thể. Và nếu chúng ta làm như vậy trong trường hợp này, tôi tin rằng chúng ta sẽ thấy cả Peter Berger và Karl Rahner đều đúng. Như Rahner chỉ ra, Đức Giêsu dạy rằng tiếng cười sẽ là một phần của trạng thái cuối cùng trên thiên đường. Con rồi sẽ cười to! Nhưng, vượt lên trên điều đó, thông điệp của Đức Giêsu xét toàn thể là mời gọi chúng ta đến với niềm vui, một niềm vui mà không ai có thể tước đi của chúng ta, và tiếng cười là sự biểu đạt hân hoan ngập tràn của niềm vui đó. Đó là đỉnh cao, là chóp đỉnh, là châu báu tột vời của trạng thái cuối cùng của chúng ta trên thiên đàng. 

Vì vậy mà trong tiếng cười, chúng ta thật sự có tin đồn của các thiên thần và chúng ta thật sự trực cảm sự siêu nghiệm của mình. Trong tiếng cười chúng ta thật sự bộc lộ rằng mình đang thoải mái với hiện tại, và thoải mái với Chúa. Trong tiếng cười, chúng ta khẳng định, một cách to rõ ràng, vui vẻ, và với cả thế giới, câu thần chú của Julian vùng Norwich rằng, rốt cuộc, mọi chuyện đều ổn, và rồi mọi chuyện đều ổn, và mọi cách thức hiện sinh đều ổn – cho dù thế giới chúng ta ngày nay không ở trong trạng thái đó. 

Vị phó Giám đốc phụ trách các chủng sinh của chúng tôi là một người tuyệt vời, chân thành, nhẹ nhàng, và nghiêm nghị quá mức. Sự khinh suất không phải là bản tính của ông, và tiếng cười không phải là thể thức ông ưa chuộng để ngầm đọc kinh Tin Kính. Ông thể hiện đức tin sâu sắc của mình theo những cách thức khác, với niềm tin rằng tiếng cười không phải là tin đồn duy nhất của các thiên thần trong đời thường.

Nhưng đó là một trong những gợi ý của đấng thiêng liêng trong lòng đời sống con người. Tiếng cười, khi  lành mạnh, khi không bị cưỡng ép hay khắc chế, thì như Rahner nói, là “một sự say sưa của niềm vui”, niềm vui của trạng thái cuối cùng của chúng ta. Vì vậy khi cười to chúng ta cũng đang đọc kinh Tin Kính. 

Chỉ câu trả lời đúng thôi thì chưa đủ 

Chỉ sự thật thôi thì chưa đủ. Nó cần cân bằng với những thuộc tính tiên nghiệm khác của Chúa: tính duy nhất, lòng tốt, và vẻ đẹp.

Điều đó nghe như trừu tượng, nhưng nó chính xác có nghĩa rằng đôi khi chúng ta có thể có tất cả các câu trả lời đúng nhưng chúng ta vẫn có thể sai. Làm sao như vậy? Nếu chúng ta hành động trong sự thật thì làm sao chúng ta lại có thể sai?

Cái bẫy đầu tiên là như thế này: Có thể chúng ta đang hành động dựa trên sự thật, và trên thực tế, có thể chúng ta đang làm tất cả những điều đúng, nhưng năng lượng của chúng ta có thể sai. T.S. Eliot từng nói một câu rất nổi tiếng: “Cám dỗ cuối cùng là sự bội tín lớn nhất: làm việc tốt vì lý do sai trái.” Chúng ta có thể thấy điều đang bị đe dọa ở đây bằng cách nhìn vào thái độ của người anh trong câu chuyện người con hoang đàng. Nhìn bề ngoài, sự tận tụy của anh đối với người cha không có gì chê trách. Anh đã tuyên bố, đời anh không có gì đáng chê trách, anh là mẫu hình của lòng hiếu thảo. Anh giữ tất cả các điều răn, chưa bao giờ bỏ nhà ra đi, làm mọi việc cha sai bảo. Điều trớ trêu là anh không nhận ra, anh không ở nhà cha mình, anh đang đứng bên ngoài và được cha anh nhẹ nhàng mời vào. Điều gì giữ anh đứng bên ngoài trong khi xét cho cùng, anh làm mọi việc đúng đắn? Sự cay đắng và giận dữ. Hành động của anh là đúng. Nhưng trái tim của anh lại sai. Cay đắng và giận dữ không phải là loại năng lượng để nạp nhiên liệu cho chân lý. Chúng ta có thể trung thành trong từng đường tơ kẽ tóc nhưng vẫn thấy mình đứng bên ngoài ngôi nhà của Chúa, bên ngoài cộng đồng, bên ngoài lễ mừng chỉ vì chúng ta mang một trái tim cay đắng. Lòng biết ơn là loại năng lượng mà rốt cục cần để nạp nhiên liệu cho chân lý.  
Giống như người anh trong câu chuyện người con hoang đàng, chúng ta có thể làm mọi điều đúng, nhưng một cách nào đó, chúng ta lại sai. Và chỗ mà điều này đặc biệt quan trọng xét về mặt thách thức, là nỗ lực của chúng ta, về mặt cá nhân cũng như về mặt giáo hội để đem lại chân lý, những câu trả lời đúng cho những người xung quanh chúng ta, dù đó là những đứa con đã thôi không đi nhà thờ hay toàn xã hội nơi chúng ta sống. Nếu trong việc chúng ta nói lên sự thật mà có những yếu tố của sự đặc tuyển, kiêu căng, bất kính, thiếu thông hiểu, hay tệ hơn, răn dạy một cách cay đắng, thì chân lý của chúng ta sẽ không được nghe thấy, không phải vì chân lý của chúng ta sai mà bởi vì năng lượng của chúng ta sai. 

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu nói với chúng ta bằng “dụ ngôn để nói lên chân lý.” Chân lý không phải là cái búa tạ; nó là lời mời mà chúng ta phải trao cho người khác một cách đầy tôn trọng. 

Và vẫn còn một cái bẫy tiềm tàng thứ hai nữa: Chúng ta có thể có câu trả lời đúng và năng lượng đúng, nhưng lại hiểu sai về câu trả lời đó. Chẳng hạn, chúng ta có thể thấy trường hợp này trong Phúc âm của Mác-cô khi Chúa Giêsu hỏi các môn đồ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Phêrô trả lời: “Thầy là Đức Kitô, đấng Thiên Sai.”Nhưng ngay lập tức, Đức Giêsu liền cấm ngặt các ông không được nói với ai về Người và sau đó ông bị quở trách: “Xatan, lui lại đàng sau Thầy!” Tại sao? Chẳng lẽ ông không đúng sao?

Câu trả lời của Phêrô là đúng, Chúa Giêsu là Đức Kitô, nhưng cái hiểu của ông về ý nghĩa của điều đó chủ yếu là sai. Đối với thánh Phêrô, khái niệm một Thiên Sai hàm ý một quyền năng thế gian và đặc biệt là đặc quyền thế gian, trong khi đó với Đức Giêsu điều đó mang ý nghĩa của sự đau khổ và chết. Thánh Phêrô có câu trả lời đúng, nhưng lại có cái hiểu sai về câu trả lời đó. Một số học giả suy đoán rằng đó chính là lý do thực sự đằng sau cái gọi là “bí mật thiên sai” trong Phúc âm, khi Đức Giêsu liên tiếp yêu cầu các môn đồ không được để lộ danh tính của Người. Sự miễn cưỡng của Người trong việc để các môn đồ loan truyền rộng rãi Người là ai là dựa trên việc Người sợ rằng trước khi Người phục sinh và Hạ trần, họ không thể hiểu chính xác danh tính của Người và sẽ luôn luôn rao giảng một thông điệp sai lầm. 

Chúng ta có thể có các câu trả lời đúng mà chúng ta vẫn sai bởi vì chúng ta mang loại năng lượng sai đi kèm với những câu trả lời đó hoặc vì chúng ta có cái hiểu sai lầm về các câu trả lời đó. Ghi nhớ nằm lòng điều đó là việc hay, đặc biệt khi chúng ta ở trong vai trò của một nhà tiên tri về mặt tôn giáo hoặc luân lý hay xã hội. Rất có thể chúng ta có dòng nước sự sống, chân lý giải phóng mọi người, và sự nghiệp chân chính, nhưng không một ai, ngoại trừ những người cùng tâm ý, đồng ý tiếp nhận điều đó từ chúng ta nếu năng lượng của chúng ta sai lầm hoặc cái hiểu của chúng ta về chân lý đó sai lầm. Dễ dàng giải thích duy lý rằng đó là vì chúng ta là người tiên tri, là kẻ trung thành còn lại, là những chiến binh cuối cùng của chân lý vẫn còn đứng vững, nên người ta mới không nghe chúng ta và vì sao chúng ta bị căm ghét. Nhưng, thường thì người ta không lắng nghe chúng ta bởi vì chúng ta đang lầm lạc, đặc tuyển, không thấu cảm, quá sức không có tình, chứ chẳng phải vì chúng ta là những chiến binh của chân lý hay công lý. 

Và vì thế chúng ta cần khiêm cung và cẩn thận chú ý lời răn dạy của Chúa Giêsu về việc canh giữ “bí mật thiên sai” và “nói chân lý của mình qua các câu chuyện dụ ngôn”. Nói ngắn gọn, chúng ta cần phải luôn luôn lo lắng kẻo một năng lượng sai lầm đằng sau chân lý của chúng ta hay một cái hiểu sai về chân lý đó khiến chúng ta bị bật ra khỏi sứ vụ tông đồ đến mức Chúa Giêsu phải quở mắng với những lời lẽ: “Xatan, lui lại đàng sau Thầy!”

Ba cấp độ của sứ vụ tông đồ Kitô

Nikos Kazantzakis từng nói rằng có ba loại linh hồn và ba kiểu người cầu nguyện:

Con là chiếc cung trong tay Người, Chúa ơi, xin hãy kéo con, nếu không con sẽ mục nát.Xin đừng kéo con quá mức, Cúa ơi, con sẽ gãy mất.Hãy kéo con hơn mức bình thường, Chúa ơi, ai thèm quan tâm nếu con có gãy đi chăng nữa! 

Khi tôi nhìn vào cuộc đời, tôi cũng thấy có ba cuộc tranh đấu lớn lao, không phải là khác so với những cuộc tranh đấu mà Kazantzakis đã gọi tên. Và mỗi cuộc đấu tranh đó tương ứng với một cấp độ trong sứ vụ tông đồ Kitô. Những cuộc tranh đấu lớn lao đó là gì, và những cấp độ tông đồ đó là gì? Có ba giai đoạn chính trong hành trình con người và hành trình tâm linh của chúng ta:

Sứ vụ Tông đồ Căn cốt – Cuộc tranh đấu để thu vén đời mình. Sứ vụ Tông đồ Tạo sinh – Cuộc tranh đấu để trao hiến cuộc đời mình.Sứ vụ Tông đồ Triệt để – Cuộc tranh đấu để trao hiến cái chết của mình, 

Sứ vụ Tông đồ Căn cốt và cuộc tranh đấu để thu vén đời mình là nhiệm vụ đầu tiên trong đời. Bắt đầu với hơi thở đầu tiên, chúng ta nỗ lực chật vật để tìm cho được một bản sắc và từ đó tìm thấy sự viên mãn và bình an. Chúng ta sinh ra trong bệnh viện và sớm được đưa về nhà là nơi có cha mẹ, có gia đình và một nơi của chính mình. Giai đoạn này, thời thơ ấu, theo ý Chúa và ý của tự nhiên là thời gian an toàn. Khi là đứa trẻ, những cuộc tranh đấu quan trọng của chúng ta vẫn chưa bắt đầu. Nhưng điều đó sẽ thay đổi hẳn vào tuổi dậy thì. 

Nói nôm na, Chúa và tự nhiên thiết kế tuổi dậy thì để thúc đẩy chúng ta ra khỏi nhà mình để đi tìm một ngôi nhà mà chúng ta tự xây lên. Và thường tuổi đó đã hoàn thành tốt công việc đó. Nó giáng vào ta sự rối loạn và sự mãnh liệt, thổi bay tuổi thơ của ta đi và thúc chúng ta đi ra, bất an, thúc đẩy bởi tính dục, tràn đầy những ước mơ to tát, nhưng tinh thần thì rối rắm và bất an, tìm kiếm một quê nhà mới, một quê nhà mà ta tự xây cho chính mình. Cuộc tranh đấu này, từ chỗ bị thúc đẩy một cách bất an ra khỏi quê nhà đầu tiên của mình đến chỗ tìm thấy một nơi để lại gọi là quê nhà, là cuộc hành trình của sứ vụ Tông đồ Căn cốt.

Thông thường chúng ta thật sự lại tìm thấy quê nhà của mình. Vào một thời điểm nào đó, chúng ta cập bến. Chúng ta thấy mình “ở nhà” lần nữa, nghĩa là, với một nơi để sống của chính ta, một công việc, một sự nghiệp, một nghề nghiệp, người chồng hay vợ, con cái, tài sản, một loạt các trách nhiệm, và một địa vị và bản sắc nhất định. Vào lúc đó, cuộc tranh đấu căn bản trong đời ta thay đổi, mặc dù có thể mất nhiều năm ta mới ý thức được và chấp nhận điều đó. Câu hỏi của chúng ta lúc đó không còn là: “Làm thế nào ta thu vén đời mình?” mà đúng hơn đã thành: “Làm thế nào ta có thể trao hiến đời mình một cách sâu sắc hơn, hào phóng hơn và ý nghĩa hơn?” Vào lúc đó, chúng ta bước vào giai đoạn hai của sứ vụ tông đồ. 

Sứ vụ Tông đồ Tạo sinh và cuộc tranh đấu để trao hiến cuộc đời mình là một giai đoạn mà phần lớn mọi người bắt đầu vào một lúc nào đó trong độ tuổi hai mươi hoặc ba mươi, mặc dù một số người mất nhiều thời gian hơn để vượt qua ngưỡng đó. Hơn nữa, chuyện vượt qua đó không bao giờ thuần túy và trọn vẹn, cuộc tranh đấu để tìm bản sắc của mình và sự viên mãn cá nhân chưa bao giờ kết thúc một cách hoàn toàn; nhưng vào một thời điểm nhất định, chúng ta bắt đầu sống vì người khác nhiều hơn là vì chính mình. Sứ vụ Tông đồ Tạo sinh bắt đầu vào lúc đó, và đối với phần lớn chúng ta, nó sẽ là giai đoạn dài nhất trong đời. Trong suốt những năm đó, đời ta có nhiệm vụ rõ ràng: làm sao ta trao hiến đời mình một cách thuần khiết hơn, hào phóng hơn, tạo sinh hơn?

Nhưng làm những người lớn trách nhiệm, điều hành gia đình, nhà thờ và công việc của thế giới không phải là giai đoạn cuối cùng trong đời ta. Chúng ta vẫn phải chết; nhiệm vụ gây ám ảnh lớn hơn hết thảy. Và vậy là cơ sở mặc định của chúng ta lại phải dịch chuyển một lần nữa: Đến một thời điểm trong đời, câu hỏi thật sự của ta không còn là: “Tôi vẫn có thể làm gì để đời mình đóng góp được?” mà câu hỏi trở thành “Giờ đây tôi có thể sống như thế nào để cái chết của tôi sẽ là một sự chúc phúc tốt lành nhất cho gia đình tôi, giáo hội của tôi và thế giới này?”

Sứ vụ tông đồ triệt để và cuộc tranh đấu để trao hiến cái chết của mình là giai đoạn cuối cùng của cuộc đời: là Kitô hữu, chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã sống và đã chết vì chúng ta, rằng Người đã trao cho chúng ta cả sự sống và cái chết của Người. Nhưng chúng ta thường không phân biệt được rằng có hai hướng rõ ràng và tách biệt ở đây: Chúa Giêsu trao cho chúng ta sự sống của Người theo một hướng, và trao cho ta cái chết của Người theo một hướng khác. Người trao sự sống của Người cho ta thông qua sự chủ động, thông qua các hành động tạo sinh của Người cho chúng ta; và Người trao cái chết thông qua sự thụ động, thông qua việc tiếp nhận bằng tình thương yêu sự bất lực, sự nhỏ bé, những nỗi sỉ nhục, và nỗi cô đơn của cái chết. 

Giống Chúa Giêsu, chúng ta cũng sinh ra là để trao hiến đời mình một cách hào phóng và không vị kỷ, nhưng chúng ta sinh ra cũng là để rời bỏ hành tinh này theo một cách mà sự tiêu biến và cái chết của chúng ta là món quà cuối cùng, và có lẽ lớn lao nhất, cho thế giới. Không cần phải nói, điều đó chẳng dễ dàng gì. Đi với sứ mệnh tông đồ đằng sau vị thầy sẽ đòi hỏi chúng ta cuối cùng cũng phải đổ mồ hôi máu và cảm thấy “cách xa mọi người một quãng đá quăng”. Cuộc tranh đấu này, để trao hiến cái chết của mình, như khi ta đã từng trao hiến đời sống của mình, làm nên sứ vụ Tông đồ Triệt để.

Khi chúng ta nhìn vào những yêu cầu của sứ vụ tông đồ, chúng ta thấy rằng không có kích thước mẫu cho tất cả mọi người.

Người Pharisêu, bình chậu, ấm đồng, quy tắc thực hành nghi lễ, cốc tách và mèo

Vài năm trước, tôi dự một buổi họp ở nhà thờ để bàn về các quy tắc thực hành nghi lễ. Cuộc họp bàn luận rất sôi nổi và có phần nóng nảy về một số vấn đề: cộng đoàn nên đứng hay quỳ khi dâng Mình Thánh Chúa? Cách nào là cách tôn kính nhất để rước lễ? Có nên cho phép giáo dân rửa cốc tách sau khi rước lễ không?

Đến một lúc, một phụ nữ phát biểu một cách lễ độ, mời chúng tôi tự hỏi mình: “Nếu là Giêsu thì Người sẽ làm gì?” Vị chủ tọa buổi họp, lúc đó đã mất hết kiên nhẫn trước tình trạng bất đồng trong phòng, khó chịu đáp lại: “Giêsu chẳng liên quan gì tới chuyện này. Chúng ta đang bàn về các phép tắc nghi lễ!” Những lời đó vừa nói ra thì chính vị này, cách sao đó, cũng đã thấy mình nói không ổn. Chúng tôi cũng nhận thấy như vậy, và từ đó về sau, cũng đã có nhiều dịp nhắc cho người tốt bụng này về chuyện lỡ lời đó; nhưng thật lòng, nhận xét của ông thể hiện cảm nghĩ của 95% người trong phòng họp lúc đó. 

Cho phép tôi kể câu chuyện thứ hai để minh họa cùng một điểm: tôi tham gia ban giảng huấn thần học, ban này giúp hơn một trăm thanh niên chuẩn bị chịu chức, và đang giúp vài trăm giáo dân khác đào sâu đời sống thiêng liêng, chuẩn bị cho họ đi phục vụ ở nhiều sứ vụ khác nhau. Ai còn có thể đòi hỏi một nhiệm vụ nào cao cả hơn nữa? Nhưng tính chất thiêng liêng của nhiệm vụ này không phải bao giờ cũng thể hiện lên hàng đầu. Vài năm trước, chúng tôi đến dự một cuộc họp Quản trị và hai vấn đề nổi bật trong chương trình nghị sự là “cốc tách và mèo hoang”: Trường của chúng tôi, không có sự nhất trí hoàn toàn, đang từng bước chấm dứt việc sử dụng loại cốc dùng một lần rồi bỏ. Ngoài ra, chúng tôi cũng tranh luận liệu có để ngỏ khuôn viên nhà trường thành nơi cư trú và bảo tồn cho những chú mèo hoang hay không. Khi vị Hiệu trưởng Thần học giới thiệu chương trình nghị sự, ông hỏi: “Làm sao lại như thế này? Chúng ta là một học viện thần học đào tạo con người để làm mục vụ – mà những vấn đề hệ trọng trong nghị trình lại là “cốc tách và mèo hoang” ư?

Điều mà hai câu chuyện này dạy chúng ta là, chúng ta vậy mà cũng lấn cấn với những vấn đề mà ngày xưa các Kinh sư Do thái và những người Pharisêu thời Chúa Giêsu đã gặp phải. Và tôi có thiện hướng tốt khi nói điều này. Chúng ta là con người và lúc nào chúng ta cũng quên mất cái nhìn toàn cảnh, cũng như các Kinh sư Do thái và những người Pharisêu. Chúa Giêsu thường quở trách họ, như Người đã nói, “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm” và do đó đã chú ý quá mức tới các nghi lễ “rửa cốc tách, bình và ấm đồng.” Lý do quở trách đó nhìn chung cũng đúng đối với chúng ta. Chúng ta cũng có khuynh hướng đánh mất điều then chốt vì những điều lẻ tẻ.

Điều gì then chốt? Điều răn lớn lao của Chúa, mà Chúa Giêsu đã quở trách các Kinh sư Do Thái giáo và các Pharisêu là đã đánh mất lời mời thương yêu Chúa trên tất thảy mọi thứ và thương yêu người láng giềng như chính mình. Đó là luật then chốt, lớn lao, duy nhất. Nhưng để áp dụng luật đó trong cuộc sống thực tế, chúng ta cần nhiều luật phụ trợ, về mọi chuyện từ phép tắc thực hành nghi lễ cho đến cốc tách và mèo. Và những luật đó là tốt, chừng nào chúng không bao giờ tách biệt, tự trị, và bất thuận điều lớn lao duy nhất là thương yêu Chúa và người láng giềng.

Trong xã hội lẫn trong giáo hội, chúng ta đã làm ra nhiều luật: luật dân sự, luật hình sự, luật nhà thờ, giáo luật, luật nghi lễ, và mọi thể loại luật và hướng dẫn trong gia đình, nơi làm việc. Sẽ ngây thơ nếu tin rằng, lý tưởng là chúng ta có thể sống không cần đến luật. Thánh Augustine từng đề xuất là chúng ta có thể sống không có luật: “Hãy thương yêu và cứ làm điều gì con muốn!” Nhưng, tình thương yêu, như ngài định nghĩa trong bối cảnh này, là mức cao nhất của tình thương yêu tha nhân. Nói cách khác, nếu anh đã là thánh thì anh không cần tới luật. Buồn thay, thế giới chúng ta, các giáo hội chúng ta, và chính chúng ta, không đạt được tiêu chuẩn đó. Chúng ta vẫn cần tới luật. 

Nhưng các luật của chúng ta, hết thảy các luật, và ở mọi mức độ, đều không được tạo ra để đứng riêng rẽ, để có quyền tự trị của chúng. Chúng phải quy thuận và phục tùng một điều then chốt, và điều then chốt đó là luật vĩ đại duy nhất vốn biến tất cả những điều khác trở nên tương đối: Hãy thương yêu Chúa hơn tất thảy mọi điều và thương yêu người láng giềng như chính mình. 

Có một nguyên tắc then chốt trong mọi thần học luân lý mà phần nào chứa đựng điều này – nguyên tắc Epikeia (phát xuất từ tiếng Hy Lạp, epieikes, nghĩa là hợp lẽ phải). Luật lệ làm ra là để hợp lý và là để tuân thủ theo một cách thức không xâm phạm lẽ phải và lẽ thường hợp lý. Epikeia là điều mà Thánh Phaolô đã nghĩ khi ngài dạy rằng chữ nghĩa của luật thì giết trong khi tinh thần của luật mới mang lại cuộc sống. Về căn cốt, điều mà Epikeia đòi hỏi ở chúng ta là, khi chúng ta áp dụng một luật nhất định vào bất kỳ tình huống nào của cuộc sống, chúng ta đều tự hỏi mình rằng: “Nếu người đề ra luật này ở đây, xét ý định của luật đó, thì người đó sẽ muốn ta làm gì trong tình huống này?” Câu hỏi này sẽ đưa luật đó trở về với cái then chốt của nó, về với ý định thiêng liêng của nó, tinh thần của nó, và đảm bảo rằng tất cả những bất đồng của chúng ta về những bình, ấm đồng, quy tắc thực hành nghi lễ, cốc tách và mèo sẽ vẫn trung thành với câu hỏi: “Nếu là Chúa Giêsu thì Chúa Giêsu sẽ làm gì?”