RonRolheiser,OMI

Tôi có được cứu độ không?

Một kitô hữu thiện tâm đã hỏi Fritz Pearls, nhà tâm lý học lừng danh và can đảm, là liệu ông có được ơn cứu rỗi hay không. Ông trả lời bằng cách nói rằng, tôi vẫn đang cố để tìm xem nên để người ta dùng tôi thế nào đây! Lời vặn lại của ông cũng giống lời của thánh nữ Têrêxa Avila, người đã tuyên bố một khi chúng ta đạt đến đỉnh cao nhất của sự trưởng thành thì chúng ta chỉ còn một câu hỏi là: Tôi sẽ có ích đến đâu? Cả hai đều đúng, và cái nhìn sâu sắc của họ là một đòi hỏi thách thức cần thiết. Chúng ta thường dễ dàng có một quan điểm sai cả về cương vị kitô hữu lẫn sự trưởng thành của con người.
 
Một khi đã trưởng thành, câu hỏi không được đặt ra trong đời chúng ta là: Tôi phải làm gì để vào thiên đàng? Hay, tôi phải làm gì để không vào hỏa ngục? Điều này không có nghĩa là sự lo lắng về ơn cứu độ của chúng ta không quan trọng, hay thiên đàng và hỏa ngục không có thật, mà vấn đề là động cơ sâu xa nhất của chúng ta là phải làm việc cho người khác chứ không cho bản thân mình. Thiết yếu, nếu chúng ta biết tập trung vào nhu cầu của người khác, thì ơn cứu độ của chúng ta sẽ tự nhiên có. Có thể nói, cả Kinh thánh và những tinh hoa khôn ngoan của nhân loại đều cho rằng chúng ta không nên quá tập trung vào việc giúp đỡ người khác mà quên mất nhu cầu của chính mình, nhưng cả hai, cũng như kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô đều nói việc chăm lo bản thân là nghịch lý vì chính lúc chúng ta cho người khác là lúc chúng ta nhận được những gì cần cho cuộc sống của chính mình.

Vì thế mối bận tâm tiên quyết của chúng ta là không nên đặt những loại câu hỏi: Liệu tôi có được cứu độ hay không? Hay thậm chí cả câu: “Liệu tôi có thấy Chúa Giêsu là đấng cứu độ riêng của tôi hay không?” Một lần nữa, cần phải thẩm định lại điều này: Đối với kitô hữu, mối liên hệ riêng tư và xúc cảm với Chúa không phải là điều không quan trọng hay có thể bỏ qua. Thật vậy, trong Tin Mừng, đặc biệt trong Tin mừng thánh Gioan, một mối liên hệ sâu đậm, xúc cảm, và riêng tư với Chúa Giêsu là trọng tâm và mục đích của vai trò môn đệ của kitô hữu. Xét cho cùng, chúng ta không phát triển mối liên hệ với Chúa Giêsu để có được năng lượng và kim chỉ nam đúng đắn để từ đó giúp đỡ người khác, dù nó ở trong mối liên hệ này. Nhưng đúng hơn, chúng ta phát triển  mối liên hệ mật thiết với Chúa Giêsu vì cùng đích của nó là lý do tối hậu để chúng ta trở nên kitô hữu.
Truyền thống giữ đạo của các phái Phúc âm và Công giáo La Mã đã xác nhận điều này là đúng. Không có gì hơn được mối liên hệ riêng tư và đầy xúc cảm với Chúa Giêsu và nếu không có mối liên hệ đó thì quả thật, chúng ta không phải là môn đệ đích thật của Chúa Kitô nữa. Tuy nhiên, chính Chúa Giêsu đã làm nhẹ bớt cách hiểu chính thống cực đoan hay sùng đạo phiến diện của vấn đề này khi Ngài gắn tình yêu mật thiết đối với Ngài và việc yêu tha nhân tóm gọn trong điều răn: Kính mến Đức Chúa Trời và yêu người như mình vậy. Nói đơn giản là qua việc giúp người là chúng ta đã yêu mến Chúa. Cương vị môn đệ kitô hữu không bao giờ hướng về mối quan hệ duy nhất giữa Chúa Giêsu và bản thân, cho dù luôn luôn phải là như thế.

Có một sinh viên hỏi một linh mục bạn của tôi đang dạy ở một đại học đời: “Có bao giờ cha gặp Chúa Giêsu Kitô chưa?” Câu trả lời của cha, chắc chắn có một chút gì đó mệt mỏi: “Có, tôi đã gặp Chúa Giêsu Kitô, cuộc gặp gỡ này đã làm cuộc đời tôi đảo lộn! Có những lúc tôi ước mình chưa từng gặp Ngài!” Trong câu trả lời có vẻ bất kính gói gọn rất đúng những điểm quan trọng, rằng việc gặp gỡ Chúa Giêsu là một cái gì đó cao hơn cuộc gặp gỡ riêng tư, lãng mạn, đầy xúc cảm và an toàn với Ngài, và cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu thì cao hơn là cảm nhận riêng tư trong linh hồn thấy mình được Thiên Chúa yêu thương và bảo bọc.

Một phần không thể nhân nhượng trong việc gặp gỡ Chúa Giêsu chính là việc được sai đi, và không chỉ ra đi tìm con đường thiêng liêng cho riêng mình hay cho mục vụ cá nhân của mình. Sai đi này là được mời gọi vào cộng đoàn, vào giáo hội, và được sai đi cùng với người khác, “mỗi hai người”, để, nói theo ẩn dụ của Nikos Kazantzakis là, “bước theo bước chân đầm đìa máu của Chúa Kitô”, nghĩa là bước đi trong hỗn loạn và thất bại, hiểu lầm và đóng đinh, bối rối và mệt mỏi, bước đi trong bóng tối và dường như Thiên Chúa thì chỉ câm nín, đôi khi lòng dậy lên hoài nghi rằng liệu mình có tìm được một tảng đá gối đầu hay không. Sự thân thiết với Chúa Giêsu gần như không giống gì với sự thân mật trong các phim Hollywood hay trong sách thiêng liêng cá nhân cả. Sự thân thiết này đúng ra gần giống với sự thân thiết của Chúa Giêsu với Chúa Cha khi ngài quyết về Giêrusalem, dù các môn đệ ngăn cản, chấp nhận tất cả mọi khó khăn mà Ngài biết đang chờ sẵn cho mình. Các đội tiên phong của Dòng Tên tóm gọn cương vị môn đệ của mình trong câu này: “Tan nát vì sự sống!” Lời này đã tóm gọn tuyệt vời cả sự thân thiết và ý nghĩa của sự thân thiết.

Thánh Têrêxa Avila đã nói chúng ta trưởng thành trên con đường theo Chúa nếu những hoài nghi và bận tâm của chúng ta không còn quy hướng về mình nữa: Liệu tôi có được cứu độ hay không? Có bao giờ tôi gặp Chúa Giêsu Kitô chưa? Tôi có yêu Chúa Giêsu cho đủ hay không? Những câu hỏi này vẫn luôn có giá trị, nhưng chúng không là trọng tâm của chúng ta. Những câu hỏi thật sự của chúng ta phải là: Tôi sẽ có ích đến đâu?

Fritz Pearls đã họa lại câu này cách đơn giản nhưng sinh động hơn như sau: Người ta sẽ dùng tôi như thế nào đây? Suốt cuộc đời trưởng thành của chúng ta, câu hỏi trên phải lấn át câu hỏi: Liệu tôi có được cứu độ hay không?

Lý luận về sự Phẫn nộ và Căm phẫn của chúng ta về vấn đề đạo đức

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên… Anh em tưởng Thầy đến để mang hòa bình đến cho thế gian sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba.”

Những lời này là một trong những lời dạy bị hiểu lầm nhiều nhất trong Kinh thánh, vì từ thời Chúa Giêsu cho đến thời bây giờ, chúng ta luôn có khả năng che đậy những thiếu sót của lòng nhân, sự thiếu tôn trọng, cũng như những chua cay và ghen ghét của mình bằng chính lời ngôn sứ này, và cho rằng những chia rẽ mà chúng ta gây ra là sự chia rẽ mà chính Chúa Giêsu đã nói đến khi ngài ném lửa vào mặt đất. Nhưng chúng ta sai rồi. Tại sao vậy?

Thứ nhất, lửa mà Chúa Giêsu mong ước đem vào mặt đất không phải là ngọn lửa chia rẽ và phân cực, nhưng là lửa của Thần Khí, lửa trong ngày lễ Hiện xuống, cụ thể là ngọn lửa của lòng nhân ái, niềm vui, hòa bình, tốt lành, thông hiểu và tha thứ. Và ngọn lửa này hợp nhất hơn là chia rẽ. Hơn nữa, để trả lời cho câu hỏi của Chúa:  “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao?” Câu trả lời là: Tuyệt đối đúng, không còn nghi ngờ gì. Chúa Giêsu đến, chính xác là đem hòa bình đến cho trái đất, đúng như lời các thiên thần hát trong ngày Chúa giáng sinh, đúng như cuộc đời rao giảng của Chúa thể hiện, và đúng như chứng tá hùng hồn qua cái chết của Ngài. Chúa Giêsu đến để đem hòa bình cho thế giới, không ai có thể nghi ngờ điều này.

Vậy làm sao sự chia rẽ len vào được? Và tại sao Chúa Giêsu nói rằng con người và giáo lý của Ngài sẽ gây phân cực, ghen ghét, và chia rẽ? Nếu ngọn lửa Chúa Giêsu đem xuống trái đất là để hợp nhất chúng ta, vậy tại sao nó lại thường xuyên gậy chia rẽ?

Không phải thông điệp của Chúa Giêsu gây chia rẽ, mà là cách chúng ta đáp lại thông điệp đó. Chúng ta có thể thấy điều này lúc Chúa giáng sinh. Khi Chúa Giêsu ra đời, có người phản ứng bằng sự hiểu biết và vui mừng, có người phản ứng với sự hiểu lầm và thù ghét. Động lực đó vẫn tiếp diễn qua nhiều thế kỷ cho đến tận ngày nay, không những Chúa Giêsu bị hiểu lầm và bị xem là mối nguy hại cho nhiều người không theo Kitô giáo, mà đặc biệt là khi con người và thông điệp của Chúa bị dùng để biện minh cho sự chia rẽ đầy chua cay và thù ghét giữa các Kitô hữu, cũng như để biện bạch cho sự chua cay luôn luôn là đặc nét của các thảo luận công khai về các vấn đề tôn giáo và đạo đức. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục gây chia rẽ, không phải bởi con người và thông điệp của ngài phiến diện, gây bất hòa, hay đầy thù hận, nhưng là vì chúng ta thường dùng thông điệp và con người của Ngài qua cách hành xử xấu xa như thế.

Và do đó, từ thời Chúa Giêsu cho đến bây giờ, chúng ta luôn lợi dụng Chúa để lý luận cho những mối giận và sợ hãi của chính mình. Tất cả chúng ta đều làm thế, và hệ quả của nó đầy dẫy khắp nơi: từ sự phân cực đầy chua cay trong nền chính trị, cho đến sự hiểu lầm cay đắng giữa các giáo hội, những hùng biện đầy lòng thù ghét trên đài hay truyền hình, những xã luận và blog bêu xấu tất cả những ai không đồng ý với họ, và cả cái cách nói chuyện đầy xét đoán lẫn nhau trong những cuộc phiến đàm trà dư tửu hậu. Chúng ta hết thảy đều đang trút đi nỗi chua cay của mình, và gần như không lành mạnh, nhưng lại làm thế dưới vỏ bọc là đem lửa tình yêu và sự thật đến với trái đất. Tuy nhiên, nói cho đúng sự thật, thì ngọn lửa chúng ta đang mang theo có vẻ giống như ngọn lửa Babel hơn là lửa Thánh Thần. Những ngọn lửa nóng nảy đạo đức của chúng ta luôn luôn đem lại nhiều chia rẽ hơn là hợp nhất.

Chẳng hạn, một vài năm trước đây tôi có dự một buổi gặp mặt các linh mục với nhau, mỗi người hiện diện được mời lên nói cảm nghĩ về nét nổi bật trong công tác mục vụ của mình. Một trong số các linh mục, người có tiền sử gây rắc rối kiểu ấu trĩ với cả giám mục lẫn giáo dân, đã tự tin nói về mình như sau:  “Những gì tôi đóng góp là việc tôi là người kích động! Tôi khuấy động mọi sự! Tôi không để cho người ta thoải mái. Tôi đem lửa của Chúa Kitô đến! Tôi mang trong mình tính ngôn sứ!” Ông ấy khăng khăng cho mình là đúng khi chọn thái độ kích động, gây khó chịu, tạo nên ngọn lửa. Và giám mục của ông quả thật đã phải liên tục nhận các cuộc điện thoại khẳng định điều đó. Nhưng cần phải nghi ngờ tính ngôn sứ của ông. Cách tiếp cận mọi việc và cách nói chuyện của ông quá giống vị diễn giả chủ tọa phiến đàm bị thôi thúc bởi ý thức hệ, một người phân chia thế giới rành mạch giữa thiên thần và ác quỷ, tuyệt đối đúng hoặc tuyệt đối sai, và cũng phân chia quá dễ dãi ai đứng về Thiên Chúa và ai về phe ma quỷ. Kiểu nói chuyện đó gần như chua cay, đầy thù ghét, phiến diện, và gây bất hòa, nhưng lại biện minh cho mình bằng ngọn cờ sự thật và tình yêu, tự cho mình là ngôn sứ.

Daniel Berrigan đã đúng khi cho rằng một ngôn sứ thật phải có lời nguyền yêu thương, chứ không phải lời nguyền chia rẽ. Thật dễ để làm ngược lại điều này, và đúng là chúng ta thường làm thế thật.

Có thể nói rằng, có một ngọn lửa gây chia rẽ, thậm chí cả khi nó cũng là ngọn lửa yêu thương và lửa Thần Khí. Nhưng nó là một ngọn lửa, mọi nơi mọi lúc, đầy tôn trọng, nhân từ, và cởi mở, không bao giờ thúc đẩy chúng ta chua cay, như kiểu của những lời hùng biện về tôn giáo và đạo đức đang đầy dẫy ngày nay.

Đạo đức trong chua cay – Mối nguy của những người tốt lành và thành tín.

Trong một tuyệt tác viết về ân sủng, Piet Fransen đề nghị chúng ta làm một trắc nghiệm xem mình hiểu về ân sủng đến mức như thế nào bằng cách  xem phản ứng của chúng ta với câu chuyện sau:

Hãy tưởng tượng một người, suốt đời hoàn toàn không quan tâm gì đến Thiên Chúa hay đạo đức. Ông ích kỷ, chối bỏ hết mọi giới răn, mọi chuyện tôn giáo, căn bản ông chỉ mưu cầu khoái lạc cho riêng mình với rượu, tình dục, ca hát. Rồi, chỉ vài giờ trước khi chết, ông hối hận vì sự vô trách nhiệm của mình, chân thành xưng tội, đón nhận các bí tích của Giáo hội, và chết với sự trở lại này.

Phản ứng bộc phát của chúng ta với câu chuyện này là gì? Chẳng phải là tuyệt vời khi ông được ơn trở lại trước khi chết không? Hay, suy nghĩ của chúng ta là: Kẻ ăn mày may mắn! Ông ra đi cùng với ơn đó! Ông có đủ mọi khoái lạc mà vẫn vào thiên đàng!

Nếu chúng ta có cảm giác này, dù chỉ một lúc, thì có nghĩa chúng ta chưa bao giờ hiểu được sâu sắc khái niệm ân sủng. Đúng hơn, chúng ta như người anh của đứa con hoang đàng, chúng ta vẫn xem cuộc sống ngoài căn nhà của Chúa vẫn trọn vẹn hơn cuộc sống trong nhà Chúa, chúng ta vẫn làm những việc tốt lành nhưng vì bổn phận cay đắng, trong lòng thầm ghen với những người vô đạo đức. Nhưng, nếu thật như thế, chúng ta hẳn phải muốn tốt cho mình. Đây là một mối nguy riêng của những người tốt lành và thành tín.

Chính Chúa Giêsu đã chỉ ra điều này trong dụ ngôn về những người làm công trong vườn nho. Dụ ngôn này nhắm để trả lời một câu hỏi của thánh Phêrô. Thay mặt các môn đệ khác, thánh Phêrô hỏi Chúa Giêsu họ sẽ được phần thưởng nào cho lòng trung tín của họ. Chúa Giêsu trả lời bằng cách kể cho họ nghe câu chuyện về người chủ vườn nho giàu có và rộng rãi, ông ra chợ từ sáng sớm để kiếm người làm việc cho mình. Ông mướn vài người buổi sáng sớm, hứa cho họ tiền lương cao, rồi tiếp theo lại mướn thêm những người khác, mỗi nhóm vào làm việc cách nhau vào giờ, và đến cuối ngày chỉ một giờ trước khi hết việc, ông lại mướn vài người khác nữa. Rồi ông bảo người quản lý trả cho tất cả mọi người một ngày công. Điều này làm cho những người đã làm suốt ngày cảm thấy có cái gì chua cay trong lòng. Họ kiện: “Thế này là không công bằng! Chúng tôi làm việc cả ngày, chịu nắng nôi thiêu đốt, còn nhóm làm cuối cùng chỉ làm có một giờ mà thôi. Như thế là bất công khi họ nhận tiền lương giống chúng tôi!” Người chủ vườn rộng rãi, rõ ràng là hình ảnh của Thiên Chúa, nhẹ nhàng trả lời: “Bạn à, bạn đã chẳng đồng ý với mức lương này rồi hay sao? Đồng lương này không xứng hay sao? Hay bạn đang ghen tỵ và nổi giận vì tôi quá hào phóng?”

Chúng ta nên nhớ câu chuyện này là câu trả lời của Chúa Giêsu cho thánh Phêrô… và, qua đó, cũng là cho tất cả người ngay lành đang chịu đựng nắng nôi cực nhọc về mặt đạo đức và tôn giáo. Và Chúa Giêsu cam đoan với chúng ta rằng, chúng ta sẽ được nhận lãnh rất nhiều khi làm việc đổ mồ hôi như thế. Nhưng, dụ ngôn cũng nói rõ, ở đó có một cái bẫy: Đơn giản là, chúng ta sẽ được th&4432;ởng thiên đàng, và đó là tuyệt vời vinh phúc, nhưng, có một cái bẫy, là chúng ta có thể có mọi thứ nhưng chẳng vui vẻ hưởng dùng được cái gì, vì chúng ta đang chăm chăm xem người khác sẽ được nhận lãnh bao nhiêu!

Thỉnh thoảng trong những buổi giảng tĩnh tâm cho các linh mục và tu sĩ, tôi nhấn mạnh điểm này một cách sinh động hơn. Tôi muốn họ cân nhắc một kịch bản như thế này: Hãy tưởng tượng, bạn sống cả đời trung tín với lời khấn độc thân, cũng là một hình thức chịu nắng nôi thiêu đốt, khi bạn lên thiên đàng, người đầu tiên bạn gặp là ông Hugh Hefner, người sáng lập tạp chí khiêu dâm Playboy. Quá sốc, bạn kiện lên Chúa: “Làm sao mà ông này lại ở đây? Thật là bất công, cuộc sống của ông và cuộc sống của con!” Và Thiên Chúa, người chủ vườn quá đỗi rộng rãi, nhẹ nhàng trả lời: “Con à, chẳng lẽ con không đồng ý cuộc sống độc thân sao, chẳng lẽ thiên đàng không phải là nơi tuyệt diệu cho con hay sao? Hay bạn đang ghen tỵ và nổi giận vì cha đã quá hào phóng?” Và phản ứng của những bậc thánh đích thực sẽ rất khác biệt, như người cha nhân hậu, họ sẽ vui sướng chạy đến ôm người đó và nói: “Tôi quá sức vui mừng khi anh đã làm được điều này!”

Thomas Halik, văn sỹ người Tiệp, cho rằng một trong những lý do mà nhiều người trên thế giới quay lưng với các giáo hội là vì họ thấy chúng ta là những “người đạo đức đầy lòng chua cay”, người anh cả của đứa em oang đàng, chỉ biết giữ đạo, giữ đức hạnh vì bổn phận, nhưng trong lòng chua cay, và vì lòng ghen tỵ che giấu trong lòng, đi chỉ trích những ai không sống như mình. Hơn trăm năm trước, Nietzsche đã lên tiếng tố cáo gần như thế.

Đáng buồn thay, lời tố cáo này đúng, và không chỉ là đúng một chút mà thôi. Chúng ta quá thường xuyên là người đạo đức đầy lòng chua cay, ngấm ngầm ghen tỵ với những người vô luân và phê phán thế giới này vì lòng mình đầy chua cay. Đó chính là mối nguy riêng của những người tốt lành và trung tín. Thánh Phêrô và các tông đồ tiên khởi đã phải đấu tranh với chuyện này. Như thế thì làm sao chúng ta tránh được mối nguy đó?

Chúng ta không thể tránh khỏi tình trạng nguy hiểm này, nhưng chúng ta cần phải thành tâm nhìn nhận rằng, cho dù chúng ta có thật sự tốt lành và thành tín, thì còn lâu chúng ta mới là những vị thánh cho trọn.

Sự cần thiết phải cho người nghèo

Chúng ta cần phải cho người nghèo, không phải vì họ cần, dù họ cần thật, nhưng vì chúng ta cần cho người nghèo để giữ cho mình được lành mạnh. Đó là một chân lý đặt nền tảng trên Kinh thánh, luôn luôn dạy chúng ta rằng cho người nghèo  là điều chúng ta cần làm cho chính sự lành mạnh của bản thân mình.

Chúng ta thấy chân lý này có mặt trong nhiều tôn giáo và nhiều nền văn hóa. Chẳng hạn ở một số người thiểu số ở Bắc Mỹ thực hành một hạnh mà họ gọi là potlach. Đây là một lễ hội đôi khi được thực hành khi làm đám cưới hay khi một đứa bé ra đời, khi đó những người giàu tặng quà cho cả cộng đồng. Mục đích đầu tiên của tục lệ này là để bảo đảm một sự phân bố tài sản, nhưng cũng để canh chừng cho người giàu có một cuộc sống lành mạnh, để họ đừng quá lo lắng tích lũy quá nhiều tài sản. Người ta tin rằng, cái gì quá mức sẽ có hại cho đương sự. Đây là một niềm tin còn mãi trong hầu hết mọi nền văn hóa.

Trong Kitô giáo, chúng ta trân trọng niềm tin này, luôn luôn khuyến khích việc cho người nghèo, từ lâu chúng ta xem việc bác ái là một đức hạnh, và đúng như vậy. Từ thiện là một nhân đức, nhưng đối với Kitô hữu, có lẽ đó là một bổn phận hơn là nhân đức nữa. Khi xem lại bộ Luật Môsê trong Kinh thánh, chúng ta thấy luật quy định mức độ chính xác phải cho người nghèo là bao nhiêu. Khái niệm này có nghĩa là việc cho người nghèo là một bổn phận, chứ không phải là một chọn lựa đạo đức có thể thương thảo. Đơn giản, Luật Môsê buộc mọi người, về mặt pháp lý, phải cho người nghèo.

Kinh thánh có rất nhiều minh chứng về việc này. Chẳng hạn, chúng ta xem các giáo huấn và luật dạy sau đây:

Trước hết, Luật Môsê quả quyết rằng tất cả những gì chúng ta có đều thuộc về Thiên Chúa chứ không thực sự là của chúng ta. Chúng ta chỉ là người quản lý và bảo vệ của cải đó mà thôi. Vì lòng Chúa thương, chúng ta được hưởng dùng nó, nhưng xét tận cùng, nó không phải là của chúng ta. (Lv 25: 23)

Mỗi bảy năm, phải trả tự do cho tất cả các nô lệ, và mỗi người được đem theo mình của cải ông chủ cho, sao cho đủ dùng để sống tự lập. (Đnl 15: 14)

Mỗi bảy năm, tất cả các khoản nợ phải được hủy bỏ (nghĩa nguyên gốc của “luật về những giới hạn”).

Mỗi bảy năm, đất đai phải được để không, đất đai có thời kỳ Sabbath của nó. Trong năm đó, chủ đất không những không được gieo bất cứ hạt giống nào, mà còn không được gặt bất kỳ thứ gì trên đất đó. Người nghèo được thu gặt hoa quả trên đồng ruộng và vườn nho trong năm đó.

Và, mọi chủ đất, luôn luôn, bị cấm thu gặt các góc ruộng của mình, để những góc đó cho người nghèo thu hoạch.

Cuối cùng, nhưng căn bản hơn hết, là mỗi năm mươi năm, tất cả mọi đất đai phải được trả về thị tộc hay gia tộc chủ sở hữu gốc của nó. “Quyền chiếm hữu” có một giới hạn thời gian nhất định. Mọi thứ không phải là của bạn mãi mãi.

Hơn nữa, khi làm tất cả điều này bạn không được xem là đạo đức, mà đó là luật, là nghĩa vụ pháp lý.

Và phía sau những luật này, có một ý nghĩa kép. Một mặt, các luật này được thi hành cốt để giữ sự lành mạnh cho những ai biết cho người nghèo, mặt khác, cũng là một cố gắng để bảo đảm cho người nghèo, để họ không trở nên quá túng quẫn đến mức phải trộm cắp những gì họ cần để duy trì sự sống.

Xã hội chúng ta cần phải học nhiều về những điều này. Phần lớn chúng ta là người quãng đại và có lòng từ thiện. Chúng ta cho đi một phần thặng dư của mình, dù cho các chuyên gia chuyên nghiên cứu về người vô gia cư cho rằng làm như thế không có ích gì, nhưng tâm hồn chúng ta vẫn bị đánh động bởi những người đang nài xin chúng ta trên đường và chúng ta vẫn tiếp tục cho họ tiền (dù chúng ta không tin  lời họ nói cần tiền mua đồ ăn hay tìm chỗ ở). Phần đông quả tim chúng ta vẫn ở đúng chỗ của nó.

Nhưng chúng ta có khuynh hướng xem việc này là một việc mà chúng ta làm hoàn toàn là cho người khác, không nhận ra việc đó là một việc lành mạnh cho chính mình. Hơn nữa, chúng ta có xu hướng xem đây là một nhân đức hơn là nghĩa vụ, là việc từ thiện hơn là công bằng. Và có lẽ vì lý do này, cho dù tâm hồn và lòng quảng đại của chúng ta có tốt đến đâu đi nữa, thì khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, trong nền văn hóa của chúng ta và trong toàn thể thế giới, vẫn cứ rộng ra mãi. Hàng triệu triệu người vẫn tiếp tục bị bỏ mặc mà không được quyền lợi từ luật cho phép thu lượm những góc nhỏ trong khối tài sản của chúng ta hay được tha nợ mỗi bảy năm một lần.

Chúng ta cho người nghèo vì họ cần, đúng là vậy, nhưng chúng ta cần phải cho vì nếu chúng ta không cho, chúng ta sẽ không lành mạnh. Và chúng ta phải thấy việc cho không phải là việc từ thiện mà là nghĩa vụ, công bằng, như một cái gì chúng ta đang nợ.

Truyện kể rằng, trên giường hấp hối, thánh Vincent de Paul đã thách thức các môn đệ của mình về việc này: Cho thì phúc hơn nhận, và nó cũng dễ làm hơn nữa!

Cố gắng để hiểu được Tự vẫn

Buồn thay, thời nay vẫn còn nhiều người chết vì tự tử. Rất ít người không bị tác động sâu sắc do cái chết tự vẫn của người thân yêu. Chỉ riêng ở Mỹ, hàng năm có hơn ba mươi ba ngàn vụ tự tử. Tính trung bình có chín mươi tự tử mỗi ngày,  ba đến bốn người mỗi giờ.

Dù vậy, phần lớn vẫn còn hiểu lầm về việc tự vẫn, người thân, người bị bỏ lại thường rơi vào tình trạng đau buồn, đặc biệt có tính cách hủy hoại. Trong các cái chết, có lẽ tự vẫn để lại tác hại nặng nề nhất cho người còn sống. Tại sao vậy?

Tự vẫn tác động mạnh đến chúng ta vì bao chung quanh nó là một điều cấm kỵ tuyệt đối. Dù ý thức hay vô thức, trong suy nghĩ chung, người ta vẫn cho tự vẫn là hành động tuyệt vọng tột cùng, một điều xấu xa tột cùng mà một người có thể làm. Chúng ta không ngạc nhiên về để này, vì tự vẫn là chống lại bản chất thâm sâu nhất trong chúng ta, là ý chí sống. Do đó, dù được thông hiểu và thương cảm, tự vẫn vẫn để lại một nỗi hổ thẹn và mơ hồ nào đó nơi người ở lại. Cũng vậy, thường thường hơn, nó hủy hoại ký ức về người đã chết. Những bức ảnh của người đó dần dần biến mất khỏi bức tường phòng, và chúng ta dè dặt hoặc bưng bít khi nói về cái chết đó. Không có gì ngạc nhiên ở đây: Tự vẫn là một cấm kỵ tuyệt đối.

Vậy chúng ta nói được gì về tự vẫn? Làm sao chúng ta có thể hiểu được tự vẫn một cách cảm thông hơn?

Hiểu được tự vẫn để cảm thông hơn nhưng cũng không loại bỏ được nỗi nhức nhối, vì không có gì có thể làm được điều này ngoại trừ thời gian nhưng, có một số điều để về lâu dài có thể chữa lành và giữ ký ức về người đã chết.

– Trong hầu hết trường hợp, tự tử là một chứng bệnh, không phải là một hành vi cố ý. Người chết theo kiểu này, là chết ngược lại với ý muốn của họ, giống như những người nhảy ra khỏi tòa Tháp đôi ngày 11/9/2001, sau khi chiếc máy bay khủng bố đâm vào và làm cho tòa nhà bốc lửa. Họ nhảy ra chỉ để chết, chắc chắn sẽ chết, nhưng họ làm thế vì họ đang bị thiêu sống.  Chết do tự vẫn, cũng gần giống với chết do ung thư, đột quỵ, đau tim, đặc biệt trong trường hợp tự vẫn, đó là ung thư về xúc cảm, đột quỵ về xúc cảm, hay đau tim về xúc cảm.

Một điều nữa cần được khám phá đầy đủ hơn, đó là tiềm năng vai trò cơ chế sinh hóa trong việc tự vẫn. Từ khi có nhiều vụ trầm cảm có khuynh hướng tự tử được chữa trị bằng thuốc, nên rõ ràng các vụ tự gây ra do sự mất cân bằng sinh hóa, giống như các chứng bệnh khác đã giết chết chúng ta.

– Những người chết theo cách này hầu hết là những người nhạy cảm. Hiếm khi do ngang ngược, một hành vi khinh dễ. Có những trường hợp, như Hitler chẳng hạn, quá kiêu ngạo để chấp nhận sự bất ngờ của số phận con người, đã tự giết mình vì sự kiêu căng đó, nhưng đó là một dạng rất khác của tự vẫn, không phải là dạng nơi phần lớn người thân yêu chúng ta. Thường thì cảm nghiệm của chúng ta về họ chẳng có khác gì hơn là họ kiêu ngạo. Nhưng chính xác hơn, họ đã quá bầm dập đến mức không chạm vào được nữa, họ đã mang một vết thương quá sâu đến mức chúng ta không thể hiểu được hay thực sự giúp gì được. Thật vậy, thường thì qua một thời gian đủ sau cái chết của họ, khi nhìn lại, chúng ta sẽ thấy được vài điều về vết thương của họ, một điều mà chúng ta không nhìn rõ khi họ còn sống. Như thế việc họ tự vẫn không còn gây ngạc nhiên nữa.

– Cuối cùng, chúng ta không cần phải quá lo về ơn cứu độ đời đời của người chết do tự vẫn. Sự thông hiểu và lòng thương xót của Thiên Chúa đổ tràn vô hạn trên chúng ta. Những người thân yêu đã chết của chúng ta đang ở trong một bàn tay an toàn hơn bàn tay chúng ta. Nếu chúng ta, với sự giới hạn của mình, có thể chạm đến nỗi bi kịch này với sự thông hiểu và thương yêu, thì chúng ta sẽ thấy nhẹ lòng với sự thật rằng, với tình yêu bao la và sâu thẳm của Thiên Chúa, người đã chết vì tự vẫn, ngược lại, sẽ tìm thấy một lòng thương xót còn sâu sắc hơn của chúng ta, và phán quyết của Ngài sẽ chạm đến những động cơ sâu sắc nhất trong quả tim những người đó.

Hơn nữa, dù có yêu thương, chúng ta chẳng làm được gì thêm cho người đã mất, trong khi đó, tình yêu Thiên Chúa, như Kinh thánh đảm bảo và đã được bày tỏ qua việc Chúa Giêsu sống lại, thì lại không như thế. Với người thân yêu của mình, đôi khi chúng ta thấy mình thật vô dụng không làm được gì, không có kế hoạch hay sức lực để làm gì, chỉ biết đứng ngoài cánh cửa lớn bị khóa kín bởi nỗi sợ hãi, thương tích, bệnh hoạn, hay cô đơn.  Hầu hết những người chết vì tự tử bị khóa trong căn phòng riêng biệt do vết thương dai dẳng của họ mà chúng ta không chạm đến và bản thân họ cũng bất lực không làm được. Dù có nỗ lực đến đâu chúng ta vẫn không thể xuyên thấu được vào cái địa ngục tách biệt đó. Nhưng, như đã thấy trong những lần hiện ra sau phục sinh của Chúa Giêsu, tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa không bất lực vô vọng trước những cánh cửa đóng kín. Tình yêu Thiên Chúa không đứng ngoài, gõ cửa trong vô vọng, mà lại đi thẳng qua cánh cửa khóa kín, đứng bên trong giữa đám hỗn độn sợ hãi và cô đơn, và truyền đi khí an bình. Với những người thân yêu đã chết vì tự vẫn của chúng ta cũng như thế. Chúng ta thấy mình bất lực, nhưng Thiên Chúa thì lại có thể, và làm được, Ngài đi qua cánh cửa lòng khóa kín, rồi khi vào đó, Ngài sẽ thổi sự an bình vào trong con tim rối bời đau đớn.

Than van và than khóc

Karl Rogers đã từng nói, điều riêng tư nhất của chúng ta cũng là điều phổ biến chung nhất. Ông tin rằng những cảm giác riêng tư mà chúng ta hổ thẹn không dám nói trước mọi người, thì mỉa mai thay, lại là cảm giác mà nếu chúng ta nói lên sẽ hòa chung một cách sâu lắng nhất vào trong cảm nghiệm của người khác.

Nhưng không phải lúc nào nó cũng đúng với những giọt nước mắt của chúng ta. Đôi khi những giọt nước mắt riêng tư của chúng ta chỉ là những giọt nước mắt cho riêng mình, không đồng điệu với cảm giác của người khác, làm cho họ khó chịu một cách không lành mạnh. Tại sao không phải tất cả mọi giọt nước mắt của chúng ta đều gợi được lòng thông cảm?

Vì không phải tất cả mọi giọt nước mắt đều giống nhau, có một sự khác biệt giữa than khóc và than van. Than khóc thì lành mạnh, than van thì không.

Khi đối diện với mất mát, than khóc sẽ hữu ích vì giúp mình biểu lộ được xúc cảm trọn vẹn. Hơn nữa, khi than khóc, chúng ta bày tỏ một nỗi buồn không chỉ cho mất mát và đau đớn riêng, mà cách nào đó còn cho nỗi đau buồn của cả thế giới này. Mất mát làm chúng ta khóc chỉ là chuyện riêng tư, chẳng hạn cái chết của người thân yêu, nhưng, nếu nếu nỗi đau buồn của chúng ta quy hướng về sự mất mát đó hơn là về bản thân mình, thì than khóc của chúng ta sẽ được cảm thông sâu sắc. Nỗi đau buồn sâu đậm như thế là buồn cho một tình trạng ai ai cũng có, sẽ liên kết chúng ta với thế giới, nơi mà sự chết và mất mát không trừ một ai. Rốt cùng, ai cũng mang một nỗi buồn chung.

Than van, mặt khác gần như chỉ là than thân trách phận. Không như than khóc, than van không tập trung vào những gì đã mất, đã rơi vào thảm kịch, mà chủ yếu chỉ khóc thương cho chính bản thân mình, cho nỗi đau, van nài người khác thương cảm mình. Than van là bày vết thương riêng ra cho mọi người thấy để mong họ thương cảm, như đứa trẻ chìa cái đầu gối bầm tím cho mẹ mình vậy. Chúng ta tội cho đứa trẻ bị bầm tím, chúng ta không nên chướng tai gai mắt với nó, nhưng với người lớn thì chuyện lại không như vậy.

Chúng ta rơi nước mắt vì những lý do khác nhau và khóc cũng theo nhiều kiểu khác nhau. Trong tất cả mọi giọt nước mắt lăn xuống, đều có một câu hỏi: ‘Tôi đang khóc cho ai, cho người khác hay cho chính mình? Vì sao tôi khóc, vì cảm thương ai đó, chuyện gì đó, hay chỉ vì thương thân mình?’

Một câu hỏi không dễ trả lời vì giọt nước mắt của chúng ta luôn luôn có cả lòng vị tha lẫn vị kỷ. Hiếm khi giọt nước mắt của chúng ta thuần khiết, thoát được thương thân trách phận, hiếm khi nước mắt chúng ta giống như nước mắt Chúa Giêsu khóc cho thành Giêrusalem hay nước mắt Đức Mẹ khóc dưới chân thập giá Chúa. Những giọt nước mắt của chúng ta có thể noi lên lòng thương cảm nhưng chúng cũng có thể buộc tội chúng ta. Ví dụ như, thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu đã nói, khi khóc vì thất tình, chúng ta thường khóc cho bản thân mình, hơn là cho người kia. Những giọt nước mắt như thế là thật, nhưng hầu như không có gì cao cả. Trong một ý tưởng tương tự, Antoine Vergote, nhà tâm lý học lừng danh, cho rằng nước mắt chúng ta khóc khi có lỗi vì đã làm điều sai trái thường là giọt nước mắt thương mình hơn là dấu chỉ của lòng hối lỗi thật sự. Ông cho rằng, sự hối hận thật lòng sẽ gợi lên một điều gì đó trong chúng ta, là nỗi buồn. Điều phân biệt nỗi buồn với tội lỗi là khi buồn rầu, chúng ta khóc vì đã làm điều gì đó gây tổn thương cho người khác. Còn giọt nước mắt tội lỗi, chỉ là chúng ta đang khóc vì đang có cảm giác tồi tệ mà thôi.

Sự khác biệt giữa than van và than khóc thường cũng thấy được nơi cách biểu lộ của chúng. Than van lúc nào cũng có tính chất phô bày, quá tình cảm, gây khó chịu cho người chứng kiến. Nó không giữ được đủ mức tôn trọng. Bản chất, đó là một cách diễn tả dở! Gần như tất cả chúng ta đều có cảm nhận này khi đi dự tang lễ, dù là dịp đau thương buồn phiền, nhưng có những người khóc quá thô thiển, quá biểu diễn nên chúng ta có cảm tưởng như đang bị xâm phạm đời sống riêng tư. Chúng ta cảm thấy khó chịu cho người đang khóc như thế.

Đôi khi chúng ta cũng có cảm nhận này, dù đỡ hơn đôi chút, khi xem các tác phẩm nghệ thuật nửa mùa, bài hát, phim ảnh, hay tiểu thuyết, đơn giản chúng mô tả nỗi buồn quá thô thiển, quá mùi mẫn, hay quá ấu trĩ nên chúng ta không thấy có được một chỗ nào để quan sát, để cảm nhận. Một lần nữa, cái sai là thiếy thẩm mỹ, và cư xử tệ hại.  Nghệ thuật nửa mùa chỉ khiến chúng ta nhắm mắt lại để đừng thấy bực mình, hoặc nó khiến chúng ta thấy ngọt đớn mà thôi. Đó là đặc tính thứ hai của than van, hơn cả tính thương thân trách phận, nó còn là một thứ nghệ thuật tệ hại.

Và như thế, chúng ta nên cẩn thận khi khóc trước mặt người khác và những thất vọng chúng ta gào thét cho mọi người nghe. Tất nhiên, không có giọt nước mắt nào của chúng ta thuần khiết, chúng ta luôn luôn khóc cho bản thân mình. Những phản kháng của chúng ta cũng vậy, luôn luôn có tư lợi trong đó. Nhưng khi chấp nhận nó, chúng ta nên cố gắng than khóc hơn là than van, để khi bày tỏ nỗi buồn hay căm phẫn trước mặt người khác, những giọt nước mắt hay cơn giận của chúng ta phải được biểu hiện trong thông cảm hơn là than thân.

Karl Rogers đã đúng: Điều riêng tư nhất của chúng ta cũng là điều phổ biến nhất. Nó cũng đúng với những nỗi buồn sâu thẳm, đau khổ dai dẳng, các nỗi thất vọng, cũng như các giọt nước mắt than khóc của chúng ta. Nhưng khi than van, thì nó không còn đúng được như thế nữa.

Tại sao có cảm giác đức tin tựa như hoài nghi và tăm tối

Thiên Chúa là Đấng không thể mô tả được. Đây là sự thật phổ quát, được mọi người chấp nhận trong tín lý kitô giáo và trong tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới. Điều này có nghĩa là gì?

Về căn bản, có nghĩa là Thiên Chúa cao vượt ngoài tầm mức chúng ta, không giống chúng ta, ở một mức độ hoàn toàn khác biệt chúng ta. Cụ thể hơn, có nghĩa không thể nắm bắt Thiên Chúa bằng suy nghĩ, tưởng tượng, hay ngôn từ. Bất kỳ khái niệm, hình tượng, hay ngôn từ nào mà chúng ta dùng để nói về Thiên Chúa, dù có tốt đến đâu vẫn không đủ, và tệ nhất là rơi vào thói thờ ngẫu tượng. Thiên Chúa luôn vượt quá những gì chúng ta có thể suy nghĩ, phát ngôn, hay tưởng tượng.

Nhưng chúng ta có những suy nghĩ, hình tượng và ngôn từ về Thiên Chúa và trong số này, đa số xuất phát từ Kinh Thánh. Vậy cái gì làm nên hình tượng thần học và truyền thống Kinh Thánh của chúng ta về Thiên Chúa? Chúng không chính xác và thỏa đáng hay sao? Nói ngắn gọn, là không. Theo bà Annie Dillard, những khái niệm và ngôn từ về Thiên Chúa được trao ban cho chúng ta qua Kinh thánh và truyền thống giáo hội đơn thuần chỉ là những từ ngữ mà chúng ta được phép dùng để không rơi vào tội thờ ngẫu tượng. Chúng ta không bao giờ được cho rằng chúng chính xác và thỏa đáng, tự thân Kinh thánh đã nói rõ như thế. Khi không hiểu được điều này, chúng ta bị rối loạn mơ hồ giữa đức tin và hoài nghi.

Vì không nắm bắt thiết thực và chấp nhận rằng Thiên Chúa là khôn tả, nên chúng ta thường lầm lẫn đức tin với tưởng tượng. Nói đơn giản, chúng ta nghĩ rằng có thể hình tượng và khái niệm được Thiên Chúa, nên cảm thấy mình có một đức tin đến mức có thể hình dung được hiện hữu của Thiên Chúa và nhân thể của Ngài. Ngược lại, chúng ta thấy mình rơi vào hoài nghi và thuyết bất khả tri, khi không thể hình dung được những điều này. Và rồi chúng ta ngây thơ xác định đức tin bằng cái khả năng có thể tạo ra được một tưởng tượng và cảm giác hợp lý về Thiên Chúa, và ngược lại.

Nhưng, vì Thiên Chúa là khôn tả, nên chúng ta chẳng bao giờ có thể hình dung được sự hiện hữu cũng như nhân thể của Ngài. Để định nghĩa, đây là một việc bất khả thi. Trong cố gắng nắm bắt sự vô hạn, chúng ta chỉ có những khái niệm hữu hạn, và rồi tất cả mọi năng lực của con người đều bất lực trong việc khái niệm hóa Thiên Chúa, việc này cũng như việc cố gắng nghĩ về một con số lớn nhất có thể đếm được.

Liệu điều này có nghĩa là đức tin đi ngược lại với lý luận con người không? Không. Đức tin không phủ nhận lý luận của con người, đơn giản đức tin khiến lý luận trở nên quá nhỏ bé, gần giống như cách mà công thức tinh vi phức tạp trong vật lý học thiên thể hiện thời vượt hẳn số học căn bản và cũng như cách ánh sáng chói chang của mặt trời giữa trưa át đi ánh sáng nhỏ bé của một ngọn nến vậy. Hơn nữa, dù có ích, nhưng những so sánh trên vẫn còn khập khiễng và chưa đủ. Cũng không thể hình dung hiện hữu và nhân thể của Thiên Chúa như thể một Siêu nhân tối thượng, một người như chúng ta, ngoài trừ vĩ đại tột cùng mà thôi. Hình dung Thiên Chúa như thế vẫn đặt Ngài vào mức độ hữu hạn, vẫn xem Ngài là một tạo vật, cho dù đó có là một Siêu nhân tối thượng đi chăng nữa, thì vẫn có thể hình dung được, khái niệm được, không phải là không thể tả nổi, và như thế là giống như một con số mà chúng ta vẫn có thể đếm tới được. Nhưng, Thiên Chúa không phải là một thực thể mà chúng ta có thể đếm nổi. Hiện hữu và nhân thể của Thiên Chúa không bao giờ chúng ta có thể khái niệm nổi.

Hơn nữa, điều này cũng đúng khi chúng ta nhận thức về tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu của Ngài cũng vượt quá tưởng tượng và năng lực khái niệm của chúng ta. Vũ trụ của chúng ta, dù hữu hạn, vẫn bao la và phi thường đến nỗi tưởng tượng của chúng ta bất lực khi cố đơn giản phác họa lại thế giới hữu hạn này. Thêm nữa, chỉ trên một hành tinh, là trái đất này, chúng ta đã có hàng tỷ tỷ người, mỗi một người đều có tâm hồn và ý nghĩa quý giá riêng. Làm sao chúng ta có thể hình dung được Thiên Chúa, Đấng theo cách nào đó, nhận biết và yêu thương toàn bộ những con người này một cách mật thiết? Không, chúng ta không thể! Tâm trí và tâm hồn chúng ta đon giản không thể vươn xa đến thế được, bất kể chúng đã vươn xa đủ để hỏi rằng: Tại sao một Thiên Chúa vô hạn lại không nên tạo một vũ trụ rộng lớn không tưởng tưởng nổi và hàng tỷ tỷ con ngườ để yêu thương và chia sẻ sự tạo dựng này? Và tại sao một Thiên Chúa vô hạn lại đột nhiên bảo (sau khi đã tạo thành chúng ta) rằng: “Vậy là đủ! Ta giờ đã có đủ con người như Ta muốn!”

Thiên Chúa làm cho tâm trí, tâm hồn và tưởng tượng của chúng ta trở nên u mê. Không thể nào khác được. Bất kỳ Thiên Chúa mà chúng ta có thể hiểu thấu được, không còn là Thiên Chúa nữa. Thiên Chúa không phải là một Siêu nhân tối thượng, giống chúng ta, chỉ có điều lớn hơn, mạnh hơn và quyền năng hơn. Sự vô hạn, chính xác bởi vì nó vô hạn, nên chúng ta không thể nắm bắt và định nghĩa được, dù là định nghĩa hiện hữu, hay nhân thể, hay năng lực yêu thương của vô hạn đó. Chúng ta chỉ biết cái hữu hạn, nhưng chúng ta không thể nghĩ ra được cái vô hạn.

Vì thế, có những lúc trong đời, có cảm giác đức tin biến thành tăm tối, niềm tin thành hoài nghi, và nhân thể cũng như hiện hữu của Thiên Chúa giống như chẳng là gì, như một sự trống rỗng, vô thực, vô hữu. Tâm trí và tâm hồn chúng ta, đến một lúc nào đó, sẽ trở nên khô cằn và trống rỗng khi cứ cố hình tượng hay cảm nhận Thiên Chúa, không phải vì  Thiên Chúa không tồn tại hay ít hiện hữu hơn thế giới vật lý này, nhưng vì Thiên Chúa quá bao la, quá thực, quá cao vượt hơn tất cả mọi minh trí khác, và vì thực thể của Thiên Chúa sẽ phủ lấp tất cả mọi sự đến mức tự gây ấn tượng rằng hiện hữu đó thậm chí còn không tồn tại.

Trong đức tin, chúng ta nhận biết Thiên Chúa như thế này: Là một ánh sáng quá rực rỡ đến mức cảm nhận như bóng tối, là một tình yêu quá bao la đến mức cảm nhận như dửng dưng, một thực thể quá thật đến mức cảm nhân không có gì.

Nghiện tiện nghi thoải mái

Năm mươi năm về trước, Kay Cronin viết quyển Thập giá nơi vùng Hoang vu, bà kể chuyện năm 1847, một nhóm nhỏ nhà truyền giáo dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ, từ Pháp đến vùng Tây Bắc Mỹ, sau một vài sự cố cay đắng ở tiểu bang Washington và Oregon, họ rời vùng ven biển để lên Canada và giúp thành lập nhà thờ Công giáo La Mã ở Vancouver và nhiều vùng quan trọng khác ở bang British Columbia, cực tây Canada.

Chắc chắn với đôi chút quá lý tưởng hóa và thánh hóa, bà mô tả họ là những người rắn rỏi, hết sức tận tâm, hoàn toàn không quan tâm đến sự thoải mái và sức khỏe của mình. Xa quê hương yêu dấu khi còn trẻ, biết rằng sẽ có thể không bao giờ gặp lại người thân, họ chấp nhận sống cuộc sống đầy nguy hiểm, từ yếu tố khắc nghiệt của nơi sinh sống đến mối đe dọa mạng sống từ các bộ lạc thổ dân, các thế lực chính quyền khác nhau cũng như lính đánh thuê không tín nhiệm họ vì đủ mọi lý do. Họ bị đe dọa nhiều lần, bị đuổi ra khỏi nhiều sứ mạng khác nhau, vài người trong số họ bị bắt cóc một thời gian, nhiều ngôi nhà và trụ sở của họ bị thiêu rụi. Họ luôn luôn sống trên bờ vực của nguy hiểm, không bao giờ được an toàn, không bao giờ dứt đe dọa.

Hơn nữa, họ không màng đến việc làm cho mình được tiện nghi. Họ sống trong các túp lều bằng gỗ và đất bùn, ăn thức ăn sơ sài, đôi khi chẳng có gì ăn. Gần như không biết đến bác sĩ là ai, hiếm khi có được thức ăn vệ sinh, thường khi đi đây đó, họ sống cảnh màn trời chiếu đất, không nơi che mưa, che lạnh, vì sống như thế nên nhiều người bị thấp khớp, bị đau yếu khi còn quá trẻ. Thêm nữa, họ không bao giờ bám gốc ở một nơi, không nơi nào họ có được tiện nghi, có bạn bè hay có người quen để giúp đỡ, để có tiện nghi. Họ có đức tin, có Thiên Chúa, có nhau và một chút gì đó.

Nhưng họ có thể vượt qua tất cả, không than thân trách phận. Họ viết những bức thư đầy tích cực và lý tưởng gởi cho dòng mẹ ở Pháp và cho gia đình, họ có quyển sổ ghi chép công việc, gần như họ chỉ viết toàn chuyện vui, những thành công khiêm tốn sứ vụ của họ, hiếm khi họ than vãn về những khó khăn nhà cửa, thức ăn hay tình trạng nay đây mai đó của họ.

Cũng cùng một dòng truyền giáo Hiến sĩ Đức Mẹ, thành viên cùng một gia đình tôn giáo như họ, dĩ nhiên tôi rất tự hào khi đọc câu chuyện của họ. Tôi tự hào về tất cả những gì họ làm, đúng là thế. Họ đã bỏ mình cho đến chết.

Nói vậy nhưng khi đọc chuyện của họ, tôi thấy mình không xứng đáng. Nhìn sự hy sinh tiện nghi tận căn của họ, tôi thấy như tôi đang nhìn vào tấm gương, nó làm cho tôi bị chấn động mạnh và xấu hổ. Nhìn lại mình, tôi thấy tôi mang chứng nghiện tiện nghi và an toàn. Tôi không muốn trải qua những gì họ đã trải qua: Tôi muốn có thức ăn bổ dưỡng, nước sạch, vệ sinh đầy đủ, nghỉ ngơi thường xuyên, có bác sĩ tốt, cập nhật tin tức, được du lịch, liên lạc thường xuyên với gia đình, bạn bè, thỉnh thoảng đi tĩnh tâm, nghỉ hè, bồi dưỡng giáo dục, và nhất là được an toàn. Tôi muốn là một nhà truyền giáo tận tâm nhưng tôi cũng muốn được thoải mái và an toàn.

Một điều an ủi đôi chút cho tôi là thời nay khác nhiều so với thời các nhà truyền giáo Pháp ngày xưa khi họ đặt chân đến vùng Tây Bắc giáp Thái Bình Dương này. Ít nhất là trong một thời gian dài, tôi sẽ không làm việc được nếu tôi không có chỗ ở, thức ăn, vệ sinh đàng hoàng, được học hỏi và tiếp nhận thông tin, được nghỉ ngơi thường xuyên, được giải trí lành mạnh. Đời tôi và sứ mạng của tôi là cuộc chạy đua đường dài, không phải chạy nước rút, nên chăm sóc thích đáng bản thân là chuyện tốt chứ không phải chuyện xấu.

Dù sao lý luận thì dễ, nghiện tiện nghi và an toàn cũng dễ. Khi suy nghĩ về sứ mạng truyền giáo của mình, thánh Phaolô cho biết, nhiều ít, ngài thấy thoải mái với những gì ngài được đối xử. Tôi cũng thích nghĩ như thế về cuộc sống riêng của tôi, và nó cũng đúng cho hầu hết chúng ta, càng sống thoải mái chừng nào thì chúng ta càng có xu hướng tự bảo vệ mình trong sự sung túc chừng đó.

Thomas Merton đã nói, điều ông sợ trong đời không phải là phản bội tận cùng ơn gọi của mình, mà là một chuỗi “những phản bội nho nhỏ” đưa đến một dạng thức khác của sự chết. Và đó cũng là hiểm họa tôi e sợ, cho tôi và cho cả nền văn hóa chúng ta.

Là một đứa con của nền văn hóa này, tôi tin rằng, chúng ta dễ dàng bị nghiện sự tiện nghi và an toàn. Một khi đã lớn lên và quen với sự an toàn, thức ăn ngon, nước sạch, vệ sinh đầy đủ, bác sĩ giỏi, thuốc men tốt, thường xuyên được giải trí, được cập nhật thông tin lập tức, giao thiệp thường xuyên với người thân yêu, được giáo dục không giới hạn, được có dịp phục hồi sinh lực, cũng như các tiện nghi tuyệt vời khác, lúc đó mối nguy hại sẽ hiện ra lớn hơn, đến mức chúng ta sẽ không dễ, hay hoàn toàn không thể bỏ được bất kỳ cái nào trong các thứ trên. Hậu quả là, cuối cùng chúng ta vẫn là người tốt, không có hành động phản bội lớn nào, nhưng cũng không có hy sinh nào lớn hết, chẳng những không thể từ bỏ đời mình cho bạn hữu mà còn không thể từ bỏ được ngay cả sự tiện nghi thoải mái của mình nữa.

Raissa và Jacques Maritain và Công cuộc Tân Phúc âm hóa

“Giáo hội đã thánh hóa các cảm xúc cực mạnh, chúc lành cho những điên cuồng, xưng tụng các rối loạn tâm trí, Giáo hội đã đi trong con đường đó và gần như chẳng có gì chặn tôi mở cánh cửa của giáo hội. Chẳng có gì có thể.” 

Đây là lời của một tri thức trẻ, anh Maurice Sachs, ngay sau khi anh vừa trở lại đạo Công giáo vào đầu thế kỷ XX, và những lời này diễn tả những gì quan trọng nhất đã đưa anh đến với đạo, cụ thể là thần nghiệm, các nghi thức bí tích, các cách cầu nguyện, lòng mộ đạo và gần như về phần lớn những gì linh đạo Công giáo La Mã nói về những chuyện phía bên kia của những gì có thể hiểu được theo lý tính. Trong ký ức của mình, Sachs mô tả những yếu tố thần nghiệm, bí tích, và mộ đạo như những “tia nắng” và thấy chúng là một chọn lựa tận căn để đối phó với chủ nghĩa duy lý hẹp hòi đã lan tràn khắp môi trường tri thức thời này và là điều làm cho anh ngột ngạt.

Mười chín tuổi Maurice Sachs mới rửa tội, bà Raissa Maritain đã tác động mạnh trên cuộc lữ hành đến với đạo Công giáo của anh, bà theo đạo Do Thái và đã trở lại Kitô giáo. Bà và người chồng nổi tiếng Jacques của mình đã gặp nhau tại đại học Sorbonne, Paris vào đầu thập niên 1990. Lúc đó, cả hai đều theo thuyết bất khả tri, bà chẳng biết gì về di sản Do Thái giáo, ông chẳng biết gì về gốc rễ Kitô giáo của mình. Là người không tín ngưỡng, cả hai đến Sorbonne để nghiên cứu sâu về khoa học và chủ nghĩa duy lý. Nhưng những gì họ thấy đã làm cho họ thất vọng não nề và đập tan ảo tưởng của họ. Họ cảm thấy ngột ngạt. Trí óc và tâm hồn họ muốn một điều gì đó cao hơn khoa học và lý luận thuần túy, rồi họ sớm rời Sorbonne, không chắc mình đang tìm kiếm gì, nhưng gần như chắc thế giới lý luận suông sẽ chẳng bao giờ làm cho họ thỏa mãn được.

Họ bắt đầu tìm kiếm một chọn lựa khác và điều này dẫn họ đến hai nhà trí thức độc lập, không theo khuôn phép xã hội, Leon Bloy và Charles Peguy, cả hai đều bị giới trí thức thời đó khinh thị thấy rõ, vì họ yêu mến thần nghiệm và mộ đạo quá đỗi. Cuối cùng Leon Bloy đưa họ đến với Giáo hội, là cha đỡ đầu rửa tội cho Raissa, và một trong những điều mà ông đã đưa vào cuộc đời họ, một điều căn bản đi ngược với tất cả những gì họ đã gặp ở Sorbonne, đó là thần nghiệm và lòng mộ đạo sốt sắng. Những điều này, mạnh mẽ hơn cả tín lý kitô giáo, đã đưa vợ chồng Maritain vào giáo hội.
Không lâu sau khi trở thành kitô hữu, Raissa và Jacques bị giới tri thức ruồng bỏ, họ bắt đầu tổ chức những cuộc thảo luận hàng tuần tại căn nhà ở ngoại ô Paris. Trong thời gian này, họ đọc sách của thánh Tôma Aquinô, tầm nhìn sâu sắc của ngài đã tác động mạnh trên họ, tạo cho họ một khung tri thức nội tâm kết hợp với thần nghiệm, bí tích, và lòng mộ đạo. Giờ đây, họ cảm thấy sẵn sàng để cố vấn cho người khác và sớm quy tụ được một nhóm lớn các văn nghệ sĩ trí thức, nhiều người trong số đó cuối cùng đã rửa tội. 

Họ đã đem lại điều gì cho những người này, những điều mà đời sống văn hóa và tri thức của Paris thời đó không thể có được? Làm sao họ đưa tri thức và chủ nghĩa hoài nghi vào trong giáo hội được? Họ đã mang lại cho giới văn nghệ sĩ trí thức một tầm nhìn đức tin, linh đạo kitô giáo và giáo hội, họ nói với cả quả tim và cái đầu không theo cách duy lý kiểu trường đại học cũng không sùng đạo quá đáng như những người thời đó. Tầm nhìn đức tin của họ vừa nhắm đến quả tim vừa nhắm đến cái đầu. Nó vừa có lòng mộ đạo sâu đậm vừa có tri thức cao, một công thức kết hợp hiếm có.
Ngày nay, trong lòng giáo hội, chúng ta đang đấu tranh để có thể đem lại được chính tầm nhìn này, một tầm nhìn nuôi dưỡng cả quả tim và cả cái đầu. Chúng ta có xu hướng bỏ cái này lấy cái kia.

Các nhóm tự do có khuynh hướng đưa tầm nhìn đức tin và giáo hội về sự tôn trọng đúng đắn dành cho lý luận nhưng thường không dành chỗ cho sự “thánh hóa các cảm xúc cực mạnh, chúc lành cho những điên cuồng.” Hậu quả là, chúng ta mất nhiều người trẻ như anh Maurice Sachs, những người không tin tưởng vào tầm nhìn đức tin quá phê phán, họ muốn đức tin tập trung hầu hết vào lòng sốt sắng và sự minh bạch của giáo lý. Họ không muốn một chủ nghĩa phê phán học thuật cầm đầu giáo hội và chi phối các thực thể giáo hội đó. Và vì họ thấy giới học thuật không tôn trọng tính tôn giáo của mình, nên họ nhìn giới này như ông bà Maritain đã nhìn các giáo sư duy lý ở đại học Sorbonne, thế giới của những người miệt mài trong duy lý và không có ngọn lửa nhiệt tâm trong lòng.

Nhưng có một mặt trái gần như hoàn hảo cho điều này: Nhóm những người sợ và khinh giới chủ nghĩa học thuật phê phán, họ muốn tạo một tầm nhìn đức tin có chỗ cho lòng sốt sắng và minh bạch về giáo lý, nhưng họ lại thiếu thông cảm và mở vòng tay để đón nhận một tinh thần suy tư như thế. Trong khi nhiều người trẻ như Maurice Sachs, được lôi cuốn bởi dạng Công giáo này, thì hàng triệu người khác lại thấy nó quá ngột ngạt, quá hẹp hòi về tri thức, quá sợ sệt, quá yếu đuối, quá thu mình, quá tự vệ để có thể chấp nhận được. Quá nhiều người đã bỏ giáo hội ra đi và nhiều người khác đơn thuần chịu đựng giáo hội thay vì có được hứng khởi trong đó.

Và chúng ta có thể rút ra được một bài học từ Raissa and Jacques Maritain trong cuộc tìm kiếm một công thức thích hợp cho công cuộc Tân Phúc âm hóa. Chúng ta vừa cần một thần học phê phán, nghiêm khắc vừa cần một lòng sốt mến dịu dàng và nồng ấm.

Những lời chiêm niệm then chốt

Gần đây tôi có dự một buổi ở Hội Suy niệm trong Ý thức, với James Finley là diễn giả chính. Ông là chuyên gia trong lãnh vực này. Ông đã có gần bốn mươi năm kinh nghiệm chuyên gia trị liệu, là diễn giả được nhiều nơi mời, đã viết nhiều và sâu sắc về chủ đề chiêm niệm, và khi còn trẻ có theo học mấy năm với Thomas Merton. Ông biết mình nói gì.

Tôi muốn chia sẻ ở đây vài tư tưởng sáng suốt của ông bằng cách sắp đặt những câu then chốt, mỗi câu, khi đứng riêng tự nó đã có một giá trị, nhưng khi phối với nhau, cũng thể hiện một vài ánh sáng trên bản chất Thiên Chúa, bản chất chiêm niệm và các đấu tranh của chúng ta trong đức tin cũng như chiêm niệm.

Đây là một vài quan điểm của Finley:

Các nhà thần nghiệm là chứng nhân cho bản chất thiêng liêng hoàn hảo của hiện hữu con người, cho sự việc, rằng chúng ta được yêu thương vô bờ và được tồn tại nhờ tình yêu, có những lúc chúng ta thoáng thấy và cảm nghiệm điều này trong đời mình. Nhà thần nghiệm là người đã được biến đổi nhờ trải nghiệm đó.
  
Chúng ta lo lắng là do không cảm nhận được tình yêu của Chúa ở trong lòng mình.
  
Tại sao chúng ta mất quá nhiều giờ để tách mình ra khỏi gia tài phong phú của cuộc sống mình, như thử mình là người ngoài cuộc, đứng bên ngoài căn nhà nhìn vào qua cửa sổ? Hoặc tệ hơn, tại sao chúng ta ở trong nhà nhưng lại rơi vào trạng thái tâm thần, nghĩ mình đang sống ở ngoài? Chúng ta phải làm gì để tỉnh khỏi cơn mê này trước khi từ giã cuộc đời?

Đời sống chúng ta thường xuyên chịu áp lực, do đó nhiệm vụ mãi mãi sẽ là: Giữa cuộc sống đầy áp lực của mình, làm sao chúng ta tặng cho mình một tình yêu, để tình yêu đó ôm trọn chúng ta?  Chúng ta không thể tạo ra giây phút ân sủng, nhưng có thể làm để đặt mình vào vị thế mà ở đó, chúng ta ít kháng cự nhất, để từ đó giây phút ân sủng đó có thể chiếm trọn chúng ta.

Suy niệm trong ý thức không khó tìm, nhưng đừng chạy trốn nó mới là chuyện khó.

Suy niệm trong ý thức là thấy sự việc theo bản chất của nó. Là nghỉ ngơi trong Chúa. Đi sâu vào suy niệm trong ý thức là ngồi như “đứa trẻ chưa biết gì,” trong một khoảng thời gian “vô niệm.”

Khi ngồi yên chúng ta học được an bình. Chiêm niệm tùy thuộc vào lòng trung tín. Nếu bạn trung thành với việc bạn làm, thì việc bạn làm sẽ trung thành với bạn.

Có một vài nguyên tắc đơn giản cho việc thực hành chiêm niệm. Ngồi yên. Ngồi thẳng. Nhắm hay khép hờ mắt. Thở chậm sâu tự nhiên. Để tay thoải mái. Rồi sẵn sàng, mở rộng lòng, và tỉnh thức: Đừng bám cũng như đừng loại bất kỳ điều gì đến trong suy nghĩ của bạn. Khi một suy nghĩ xuất hiện, cứ để nó xuất hiện, nếu nó kéo dài, cứ để nó kéo dài, nếu nó qua đi, cứ để nó qua đi, nhưng đừng để ý nghĩ đó kéo bạn theo.  Cử động chầm chậm và nhẹ nhàng trong khi cầu nguyện – đừng thô bạo với sự yên bình của cơ thể.

Một bài tập nên theo: Vào phòng ngay trước khi mặt trời lặn, lý do duy nhất là để được ở đó với Chúa khi hoàng hôn xuống. Đừng vướng bận bất kỳ việc gì trong đầu trừ việc nhìn ráng chiều. Ngồi đúng một giờ trọn. Ngồi trong sức mạnh tối thượng của buổi cuối ngày. Ngồi trong sự tuân phục triệt để ánh sáng chập choạng. Bạn sẽ biết được cô tịch.

Những người thường xuyên cầu nguyện thì không cầu nguyện giỏi… nhưng họ trở nên người nhờ cậy Thiên Chúa để làm cho lời cầu nguyện của họ được nên tốt. Và những người thường xuyên cầu nguyện, sẽ như tất cả những người khác, tiếp tục trải nghiệm nỗi buồn và cái chết, nhưng nỗi buồn và cái chết không còn là bạo chúa hành hạ họ.

Có một sự khác biệt giữa “dịu ngọt” tâm hồn và “an ủi” tâm hồn. “Dịu ngọt” là cảm giác tốt đẹp khi cầu nguyện, “an ủi” là cảm nhận tâm hồn bạn được mở rộng (và vì thế có thể đau khổ).

Tôi trích lại đây lời của Gabriel Marcel: Chúng ta biết mình yêu ai đó khi thoáng thấy nơi người đó một điều gì quá đẹp đến có thể chết được.

Còn thánh Têrêxa Avila nói:

– Khi bạn chạm đến mức cao nhất của trưởng thành nhân bản, bạn sẽ chỉ có một câu hỏi:  Tôi sẽ có ích đến đâu.
– Tình yêu nghĩa là hai người ngồi trong phòng và nói chuyện với nhau. Dù cả hai đều chẳng biết nói gì, nhưng đều nhận biết nhau.

Tại sao Phật tử nói về “vô niệm” khi nói đến quan niệm về Thượng đế? Họ nói như vậy để nhắc đến sự tối đơn giản của Thượng đế, nghĩa là một Thượng đế có trước tất cả mọi dấu hiệu nhận biết về Ngài. “Vô niệm” là đứng trước sự khôn tả thấu của Thiên Chúa, hoàn toàn bị chiếm trọn bởi một sự quá trọn vẹn.

Làm sao chúng ta có thể giúp đỡ cho những ai đang đau khổ, nếu chúng ta cảm thấy mình bất lực không làm được chuyện đó? Khi người ta chia sẻ sự yếu đuối mong manh và nỗi đau của mình với người biết lắng nghe thật sự, thì chính người lắng nghe đang hé mở “viên ngọc quý” trong chính tâm hồn họ.

Và vẫn còn nữa:

Lòng quảng đại của Đấng Vô Hạn là vô hạn. Giữa những chuyện khác, lời này có nghĩa chúng ta phải trao ban chính mình cho một sự chính truyền quảng đại.

Không để cho Thiên Chúa biết mình là giữ quá nhiều chuyện cho riêng mình!

Với Thiên Chúa, chỉ một chút chân thành là đi được cả một con đường dài!

Đấu tranh để có lời chúc lành của cha

Khi học cấp hai, chúng tôi phải học thuộc lòng một số bài thơ của William Blake. Chúng tôi chẳng hiểu gì nhiều nhưng chúng có vần điệu quá hay, lại dễ nhớ nên nó vẫn còn trong đầu tôi đến ngày hôm nay.

Một trong các bài thơ đó có bài Nỗi buồn Trẻ con:

    Mẹ tôi rên rỉ! cha tôi khóc.
    Tôi lao vào thế giới hiểm nguy này.
    Bất lực, trần truồng, khóc ầm ĩ
    Như con quỷ núp trong bóng mây

    Vùng vẫy trong tay cha
    Giãy đạp phá lớp tã
    Mệt và nản, thôi tôi nghĩ tốt nhất
    Nên làm nũng trên ngực mẹ cho rồi.

Tất cả mọi quyển sách về nhân loại học, tâm lý học, và thiêng liêng có thể tóm trong bài thơ này: chúng ta đấu tranh để được cha chúc phúc, vui buồn lẫn lộn khi bị xa mẹ, lòng quặn thắt, sự trầm cảm không thể tránh khỏi khi trưởng thành, và tác động của nó trên đời sống tinh thần của chúng ta. Chỉ vài chữ ẩn dưới vài câu vần điệu đơn giản, Blake đã nắm trọn vấn đề; nhưng, như đã thú nhận, lúc còn nhỏ dù có học thuộc lòng, tôi cũng không thấy được chút gì trong đó cả. 

Vài năm về trước, sau một buổi giảng lễ, tôi nhớ lại bài thơ này. Phúc Âm chúa nhật hôm đó nói về phép rửa của Chúa Giêsu: Chúa Giêsu đến sông Giocđan để thánh Gioan làm phép rửa. Thánh Gioan nhận Ngài xuống nước, và khi ra khỏi mặt nước (hình ảnh của sự sinh ra đời), thì trời mở ra, và tiếng Chúa Cha phán: “Này là con ta yêu dấu, ta hài lòng về con!”

Điểm mà tôi nhắm đến trong bài giảng hôm đó khá thẳng thắn: Tôi chỉ đơn giản nói là khi chúng ta được rửa tội, Chúa Cha cũng nói những lời như thế với mỗi người chúng ta: “Này là con ta yêu dấu, ta hài lòng về con!” Bài giảng của tôi như thế là bảo đảm về ngôn từ, nhưng không phải. Ngay sau khi lễ kết thúc, một thanh niên đến gặp tôi, bực dọc và tỏ ra rất khó chịu về bài giảng của tôi. Anh chia sẻ, anh vừa được bảo lãnh tại ngoại, và đang chờ tuyên án. Anh đi lễ chúa nhật hôm đó để cố chuẩn bị sẵn sàng đối diện với những gì sắp đến, nhưng tác dụng của buổi lễ lại đi ngược với hy vọng của anh. Nó làm anh thêm tức giận và kích động, đặc biệt là bài giảng của tôi. Và anh trình bày sự thất vọng của mình như sau: “Tôi ghét bài giảng của cha vì nó không thật! Chưa có ai hài lòng về các việc tôi làm, nhất là cha tôi!”

Không có gì ngẫu nhiên khi chàng trai này sắp vào tù; anh không được cha anh chúc phúc. Cũng như nhân vật trong bài thơ của Blake, anh “vùng vẫy” trong tay cha mình. Cha anh, không như Thiên Chúa, không như Chúa Cha, không bao giờ chúc lành cho anh, có nghĩa là không bao giờ hiện diện đủ hay thực sự quan tâm đến anh, và ông cũng không đủ khả năng để vui mừng trước nhân cách và năng lực của đứa con trai, do đó anh không phải là một mối lo, cũng chẳng là nỗi thất vọng của ông. Về căn bản, người con trai này chưa bao giờ là nguồn vui chính cho người cha, và đó là một thiếu thốn đau lòng.

Thèm khát được người cha chúc phúc có lẽ là nỗi thèm khát sâu đậm nhất của thế giới ngày nay. Ngày nay, câu này đúng cả về mặt thiêng liêng lẫn nhân bản, và sự thật này quá hiển nhiên, bằng chứng là chúng ta thấy rõ nơi ngôn ngữ cơ thể của mọi người, đặc biệt là ở nam giới khi được nghe nhắc về điều này.

Và điều gì xảy ra khi chúng ta không được cha mình chúc lành đủ? Gần như các hệ quả của nó nằm ẩn dưới bề mặt và không quy lỗi cho người cha, trừ khi người ta đạt đến ở một mức độ ý thức nào đó và nhận ra mình bị thương tổn đến chừng nào. Đa phần sự thiếu vắng lời chúc lành của người cha chưa được cảm nhận rõ, một cơn khát, một quặn thắt tâm hồn, thiếu  niềm vui, một cảm nhận mình chưa bao giờ đủ tốt. Cảm giác này thường biểu lộ qua sự giận dữ, không tin tưởng bậc thẩm quyền, và ở một tình trạng khủng hoảng nhẹ thường đưa con người đến các hình thức khác nhau của trầm cảm, ám ảnh về thành tựu, và cả tình dục, thứ có vẻ là thuốc chữa bá bệnh cho họ. Nó cũng có thể có một tác động tiêu cực nghiêm trọng về mặt tôn giáo. Theo tư tưởng của Freud có một tiền đề cho rằng phần lớn những cơn giận dữ trút xuống thể chế tôn giáo chính là cơn giận nhắm đến người cha hay những người đóng vai trò người cha trong đời bạn. Điều này giúp giải thích tại sao quá nhiều người có ít hoặc chẳng có bất kỳ một mối liên hệ ý nghĩa nào với các tôn giáo có tổ chức, lại nổi cơn giận dữ với tôn giáo và các giáo hội.

Vậy giải pháp là gì? Làm sao đẩy cơn quặn thắt tâm can này ra khỏi tâm hồn chúng ta, nếu như chúng ta không được cha mình chúc lành cho đủ?

Linh đạo Kitô giáo dạy chúng ta phải đón nhận bằng cách trao ban. Như lời Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô, khi cho là lúc nhận. Chúng ta không thể tự làm cho mình hạnh phúc, nhưng có thể làm cho người khác hạnh phúc. Do đó, chúng ta không thể buộc bất kỳ ai chúc phúc cho mình, nhưng chúng ta có thể chúc phúc cho người khác. Sự viên mãn và hạnh phúc nằm ở đó. Nói một cách đơn giản, khi hành động như Thiên Chúa, chúng ta bắt đầu cảm nhận như Thiên Chúa… và Thiên Chúa không bao giờ phải khốn khổ vì giận dữ và khủng hoảng như thế.

Andrew Greeley – An nghỉ ngàn thu

Vào cuối thập niên 1960, khi còn là một chủng sinh trẻ, tôi rất say mê các bài viết của linh mục Andrew Greeley ở Chicago, cha viết rất nhiều sách về linh hướng đại chúng. Tôi thấy cách tiếp cận của cha làm tươi mới con người đến kỳ lạ, vì, ít nhất theo ý tôi, cha đã thương thảo với những cuộc đấu tranh thiêng liêng triền miên của chúng ta theo một cách vừa hiện thực vừa đầy hy vọng hơn hầu hết các tác phẩm tôn giáo tôi từng biết cho đến lúc đó. Cha là chiếc bánh thiêng liêng tôi cần, khi đi tĩnh tâm để khấn trọn, tôi đem theo hai quyển sách của cha. Cha đã giúp tôi nhận định để có một quyết định.

Tuần trước, cha qua đời ở tuổi 85, sau một thời gian bệnh nặng vì bị té vào năm 2008. Có lẽ, kỳ vĩ là từ đúng nhất để mô tả các thành quả của cha, vừa cả hai lãnh vực viết lách và giảng dạy. Cha đã viết hơn 120 quyển sách, nhiều quyển mang tính học thuật, và vô số bài báo cũng như tiểu luận cho các báo thế tục cũng như tôn giáo. Trong toàn bộ tác phẩm, có lẽ cha nổi tiếng nhất trong thể loại tiểu thuyết, với số phát hành mà hầu hết các văn sĩ phải ganh tỵ. Vì công trình đồ sộ và được nhiều người biết đến, nên hay có những châm biếm trong lãnh vực học thuật cũng như tôn giáo, kiểu: “Chưa có suy nghĩ nào của Andrew Greeley mà chưa được xuất bản!” Tôi ở cả hai lãnh vực này nên có thể cam đoan ganh tỵ không phải là chuyện lạ gì trong đó. Người ta không ưa Greeley, hơn bất cứ lý do nào khác, có lẽ là do cha đã làm được rất nhiều việc, chứ không phải vì khối lượng tác phẩm đồ sộ để lại như nhiều người trong số chúng ta nghĩ.

Nhưng cũng có những lý do khác khiến cha bị chỉ trích, một trong những lý do đó là nét đặc biệt và phần khác là do cá tính của cha. Người bảo thủ thì cho rằng bất kính và quá tự do. Buồn cười thay, người tự do lại không thích cha vì cho rằng cha quá sùng đạo, quá bảo thủ. Và rồi còn do cá tính của cha. Cha không dung thứ cho những ai ngu ngốc chỉ trích cha một cách dễ dàng. Chỉ trích Andrew Greeley là dấn thân vào một cuộc chiến. Không ai có thể núp trong bụi rậm an toàn để chọc phá cha được. Cha lôi họ ra và thách thức một cuộc chiến công khai với họ. Đó không phải là cách để sống dễ dãi với tất cả mọi người.

Vì tôi lúc nào cũng là một trong những người ủng hộ cha, nên tôi không bao giờ đương đầu với cha. Khi các tiểu thuyết của cha chung chung bị chỉ trích “hời hợt và tồi” và  “có hại cho đức tin Công giáo,” tôi đã đứng về phía cha, lên tiếng bảo vệ như sau: “Không ai bỏ giáo hội vì đọc tiểu thuyết của Andrew Greeley, nhưng có nhiều người ở lại với giáo hội nhờ đọc tiểu thuyết của cha.”  Greeley thấy câu này trên một bài báo của tôi, cha viết thư cho tôi, muốn tôi cho phép cha đăng câu này trên trang bìa các tiểu thuyết sắp tới của cha, và cha thường làm như vậy.

Lập luận bảo vệ của tôi: Những than phiền thường thấy nhất là: “tồi và sặc mùi tính dục.” Ngược lại thì đúng hơn. Với tư cách là tác phẩm văn học, các tiểu thuyết của cha còn bị thử thách hơn, vì quá sùng đạo và thường là những biện giáo cho Công giáo không được kín đáo lắm. Bất cứ ai đọc cho đúng tiểu thuyết của cha cũng thấy đây là một người sốt sắng sâu sắc, quá yêu mến giáo hội mình, và không tinh vi đủ khi bảo vệ giáo hội. Hơn nữa, cha luôn luôn xem tính dục như một điều gì thiêng liêng. Các chỉ trích không chấp nhận như thế nhưng đặc nét của cha khi viết về tính dục rất gần với tinh thần của đức giáo hoàng Gioan Phaolô II và quyển Thần học về Thân xác của ngài. Ngoài ra, sức mạnh của các tiểu thuyết của cha nằm ở việc kể chuyện. Không một ai, kể cả chính cha Greeley, lại lẫn lộn văn phong của cha với văn phong của Toni Morrison hay John Steinbeck, cha là một người kể chuyện tuyệt vời, và hầu hết tiểu thuyết của cha đều kể rất hay.

Tôi không thể tự nhận mình là bạn của cha được, dù thỉnh thoảng có trao đổi thư từ, nhưng chúng tôi chỉ gặp nhau đúng một lần. Khoảng một năm trước tai nạn định mệnh của cha, khi cha còn giảng dạy tiết mùa đông ở Arizona, tôi đến Tucson để diễn thuyết, cha mời tôi ăn tối tại nhà hàng Mexico yêu thích của cha. Chúng tôi nói chuyện về thần học và văn học, nhưng gần như cha chỉ chia sẻ về lòng mến mộ dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ là cộng đoàn của tôi, và hồng y Francis George ở Chicago của cha, cũng thuộc Dòng chúng tôi. Cha cũng nói về đội bóng chày Chicago Bulls, đội cha ngưỡng mộ. Tôi mời cha đến thăm trường chúng tôi, nhưng cha từ chối, cha nói đến tuổi này cha cố tránh đi máy bay hết sức có thể. Tôi rời nhà hàng, lòng cảm kích vì đã có dịp gặp một con người phi thường, và là người mà tôi nợ một món nợ ân nghĩa quá lớn.

Nhà nhân chủng học Mircea Elieade đã bình luận “không cộng đồng nào được làm hỏng cái chết của mình.” Một lời cảnh báo đúng. Một nhân vật Công giáo lớn đã qua đời, và chúng ta, bạn bè cũng như người phê phán cha, cần phải nhận ra những gì cha đã đem lại cho chúng ta. Như các nhà biện giáo kitô giáo trước cha là Tolkien, Lewis, và Chesterton, cha cũng đã gắng cố để đem lại cho niềm hy vọng bên trong chúng ta một lý lẽ để dựa vào, và cha đã thành công trong việc này, thành công tuyệt vời.

Luôn luôn vội vàng

Vội vàng là kẻ thù của chúng ta. Vội vàng làm chúng ta căng thẳng, tăng huyết áp, mất kiên nhẫn, dễ gặp tai nạn, và nghiêm trọng nhất là che mắt không cho chúng ta thấy nhu cầu của người khác. Thường thường, vội vàng không phải là tính tốt, dù có thiện hướng tốt đi nữa cũng không nên vội vàng.

Năm 1970, Đại học Princeton tiến hành một vài nghiên cứu với các chủng sinh xem liệu sự dấn thân giúp đỡ tha nhân có thật sự làm nên một cái gì khác biệt cho họ trong hoàn cảnh thực tế hay không. Chương trình của họ là: Họ sẽ phỏng vấn một chủng sinh trong văn phòng, khi buổi phỏng vấn vừa kết thúc, họ yêu cầu chủng sinh đó ngay lập tức đi đến một phòng học được chỉ định ở phía bên kia sân trường để giảng bài cho lớp. Nhưng họ luôn sắp đặp một khoảng thời gian sít sao giữa thời điểm buổi phỏng vấn kết thúc và thời điểm chủng sinh đó phải có mặt ở lớp học, để buộc anh ta phải vội vã. Trên đường đi, mỗi chủng sinh sẽ gặp một diễn viên đóng giả người đang cùng quẫn (gần giống với cảnh người Samari nhân hậu trong Phúc Âm). Thử nghiệm này là để xem liệu các chủng sinh có dừng lại và giúp đỡ người kia hay không. Và kết quả thế nào?

Các bạn có thể đoán rằng, là một chủng sinh dấn thân phục vụ, hẳn họ sẽ thiên về dừng lại với người đau khổ đó hơn những người khác. Nhưng lại không như thế. Việc là một chủng sinh dường như chẳng có tác động gì trên cách đối xử của họ trong trường hợp này. Chỉ có một điểm duy nhất là: Họ sẽ dừng lại và giúp người hay không, gần như dựa trên việc họ có vội vã hay không. Nếu bị áp lực thời gian, họ sẽ không dừng lại, nếu không bị áp lực, họ sẽ dễ dừng lại hơn.

Từ thí nghiệm này, những người thực hiện đã rút ta một vài kết luận như sau: Thứ nhất, đạo đức trở thành một thứ xa xỉ khi tốc độ cuộc sống hàng ngày tăng lên, thứ hai, do áp lực thời gian, chúng ta có khuynh hướng không nhìn ra những tình huống đang đập vào mắt mình là một tình huống mang tính đạo đức.  Về căn bản, càng vội vã, chúng ta càng khó dừng lại và giúp đỡ những ai đang cần đến mình. Gấp rút và vội vã, có lẽ hơn bất kỳ điều gì khác, đã ngăn chặn không cho chúng ta trở thành người Samari nhân hậu.

Chúng ta biết điều này từ kinh nghiệm riêng của mình. Cố gắng để có thì giờ cho gia đình, để cầu nguyện, để giúp đỡ người khác đã chiếm phần lớn thì giờ rồi. Chúng ta lúc nào cũng quá bận rộn, quá vội vã, quá bị chi phối, và nhiều áp lực nên không thể dừng lại để giúp người khác. Tôi quen một nữ văn sĩ, bà nói khi chết, điều bà sẽ hối tiếc nhất trong đời không phải là vi phạm các điều răn, nhưng là việc biết bao nhiêu lần bà đã bỏ mặc con cái để lao vào viết lách. Cũng gần như thế, chúng ta có khuynh hướng đổ lỗi cho hệ tư tưởng thế tục vì những đổ vỡ gia đình trong xã hội ngày nay, trong khi đó, thật sự, có lẽ căng thẳng lớn nhất trong tất cả gia đình là do công việc, nó bắt chúng ta phải chịu một áp lực triền miên, luôn trong tư thế vội vã, và bỏ bê con cái vì áp lực công việc.

Đương nhiên tôi biết rõ điều này qua kinh nghiệm riêng của tôi. Tôi luôn luôn bị áp lực, luôn luôn vội vã, luôn luôn quá nhiều việc, và khi chăm vào công việc, lúc nào tôi cũng gạt mọi thứ đang cần tôi chú ý qua một bên. Là linh mục, tôi có thể biện minh việc mục vụ đang làm là rất quan trọng. Mục vụ nghĩa là gắn vào một việc cao hơn lịch làm việc riêng của mình, nhưng sâu xa hơn, tôi biết rõ  đây chỉ là biện luận thôi.  Đôi khi tôi biện luận quá hợp lý cho sự bận rộn vội vã của mình, tự trấn an mình rằng tôi như thế là hợp lý. Nó có trong máu của tôi. Cả cha mẹ tôi đều có lối hăng hái nỗ lực như thế. Cha mẹ tôi thật tuyệt vời, đạo đức, đầy tình yêu thương, nhưng lúc nào họ cũng tham công tiếc việc. Đáp lại quá nhiều đòi hỏi trong đời gây nên một tính cách lẫn lộn.

Không phải ngẫu nhiên mà các cây viết thiêng liêng cổ điển, những người chưa biết đến nghiên cứu của Đại học Princeton, đã cảnh báo về mối nguy của tham công tiếc việc. Thật vật, mối nguy của gấp rút, vội vã đã được Kinh Thánh viết ngay những trang đầu tiên, khi Thiên Chúa mời gọi chúng ta phải giữ triệt để ngày Xa-bát. Khi vội vã, chúng ta ít thấy được những gì ở ngoài lịch trình riêng của mình.

Gấp rút vội vã có mặt tích cực là có thể đối chọi được với biếng nhác trì trệ. Một con người cật lực là người luôn trong tư thế vội vã, ít nhất là như thế, họ không bị vật vã chờ cho hết ngày giờ. Họ luôn có mục tiêu. Và thường thường gấp rút vội vã có thể tạo nên một người làm việc hiệu quả, được công nhận và được ngưỡng mộ vì những thành quả của mình, cho dù họ bỏ mặc con cái để lao đầu vào công việc đi nữa. Tôi cũng có kinh nghiệm như thế: Tôi được công nhận nhiều trong công việc, dù tôi phải thừa nhận áp lực và sự vội vã đó đã nhiều lần ngăn không cho tôi làm người Samari nhân hậu.

Có thể nói vội vã tạo vấp váp. Nó cũng bịt mắt mình trong những việc nhân bản và thiêng liêng làm cho lòng thương cảm của chúng ta bị giới hạn nghiêm trọng.

Mùa Thường Niên

Trong quyển sách nhỏ với tựa đề Âm nhạc của Thinh lặng, David Steindl-Rast đã nhấn mạnh mỗi giờ trong ngày có điểm sáng và tính chất đặc biệt của nó đến như thế nào, và cách chúng ta chú tấm đến giây phút hiện tại khi chúng ta nhận ra và tôn trọng các “tác nhân đặc biệt” ẩn dấu trong mỗi giờ đó. Ông ấy đúng. Mỗi giờ trong ngày và mỗi mùa trong năm đều có một điều gì đó đặc biệt cho chúng ta, nhưng thường thường chúng ta không ứng trực để tiếp nhận tặng vật đó.

Có những mùa đặc biệt trong năm, chúng ta nắm bắt tặng vật đó dễ hơn. Dù đôi lúc do áp lực hay xao nhãng, chúng ta không chú tâm đến mùa cao điểm như mùa Giáng Sinh hay Phục Sinh, nhưng chúng ta đều biết các mùa này đặc biệt và có những “tác nhân” trong đó đang đòi chúng ta phải đón nhận. Khi có ai nói: “Năm nay tôi quá mệt và có quá nhiều áp lực nên không nghĩ đến lễ Giáng Sinh. Tôi bỏ lỡ dịp Giáng Sinh năm nay rồi!” là chúng ta hiểu ý nghĩa của câu này.

Và điều này không chỉ đúng với những mùa đặc biệt như Giáng Sinh và Phục Sinh. Nó cũng đúng, và có lẽ đặc biệt đúng với mùa mà chúng ta gọi là Mùa Thường Niên. Mỗi năm lịch Giáo hội để ra hơn ba mươi tuần cho cái gọi là “Mùa Thường Niên,” một mùa để chúng ta gặp gỡ các tác nhân hàng ngày, điều đặn, quen thuộc, đoán trước được và bình thường. Như những mùa lễ cao điểm, mùa này cũng có nghĩa là cho đời sống chúng ta một nét phong phú đặc biệt.

Nhưng chúng ta lại dễ dàng bỏ qua mùa này cũng như mục đích của nó.  Khái niệm “Mùa Thường Niên” nghe có vẻ quá nhẹ cho dù chính chúng ta lại mong mỏi một cách vô thức ý nghĩa đích thực nó mang đến. Chúng ta có một “thời gian bình thường” nhỏ bé nhưng thật quý báu trong đời mình. Khi đời sống bị nhiều áp lực hơn, mệt mỏi hơn, bồn chồn hơn, có lẽ hơn bất kỳ điều gì, chúng ta mong mỏi có một “thời gian bình thường” im ắng, đều đặn, tĩnh mịch, và ở một nơi xa cách khỏi nhịp điệu hối hả của đời sống. Đối với nhiều người trong chúng ta, cụm từ “thời gian bình thường” sẽ làm chúng ta thở dài hỏi: “Đó là gì thế? Lần cuối tôi có một ‘thời gian bình thường’ trong đời là lúc nào?” Với nhiều người trong chúng ta, “thời gian bình thường” gần như có nghĩa là hối hả và áp lực, là “vòng quay bất tận,” là “cái cối xay.”

Nhiều thứ trong đời hợp lại chống “thời gian bình thường” này, không chỉ sự bận rộn cướp đi thời gian thư thái của chúng ta, mà còn những đau buồn, ám ảnh, mất sức khỏe, hay những gián đoạn khác, tất cả chúng như cười vào nhịp điệu cũng như công việc theo nếp, cướp đi ý thức về “thời gian bình thường” của chúng ta.” Đó chính là nguyên nhân suy sụp của người trưởng thành.

Tôi ngờ rằng, nhiều người trong chúng ta sẽ thấy khi còn nhỏ chúng ta nhìn khác hẳn về chuyện này. Khi còn nhỏ, tôi thường thấy chán. Gần như lúc nào, tôi cũng mong có một cái gì mới, một ai đến thăm nhà, một mùa đặc biệt để mừng lễ (sinh nhật, Giáng Sinh, Năm mới, Phục Sinh), hay gần như bất cứ chuyện gì lay tôi ra khỏi nếp sống thường nhật của “thời gian bình thường.” Nhưng đó là vì đối với một đứa trẻ, thời gian trôi quá chậm, Khi bạn bảy tuổi, một năm là cả một phần bảy cuộc đời bạn. Nó quá dài. Lúc trung niên và già hơn nữa, một năm chỉ là một mảnh nhỏ trong đời và thời gian trôi nhanh, quá nhanh đến nỗi khi đến một mức nào đó, có lúc bạn sẽ bắt đầu mong các dịp đặc biệt qua nhanh, khách về nhanh, các chuyện quấy rầy khuất mắt, để bạn chóng trở về nhịp sống bình thường. Nếp cũ chắc chắn là chán, nhưng chúng ta ngủ ngon hơn khi cuộc sống theo nề theo nếp bình thường.

Ngày nay, văn chương tôn giáo lẫn thế tục đều nói đến những khó khăn để tập trung vào giây phút hiện tại và trong việc gặp gỡ “hiện tại trần trụi” theo cách nói của Richard Rohr, hay “các tác nhân của một giờ” theo cách nói của David Steindl-Rast. Những gì văn chương nêu ra khác nhau về nội dung và ý nghĩa, nhưng cùng chung một điểm: Cực kỳ khó để chú tâm vào giây phút hiện tại, để thật sự ở trong hiện tại. Không dễ để sống trong “thời gian bình thường.”

Có một thành ngữ Trung Hoa vừa có ý chúc phúc vừa có ý nguyền rủa. Bạn có thể chúc cho ai đó: “Chúc bạn sống những giây phút lý thú!”  Với một đứa trẻ, chúc như thế nghĩa là chúc lành, bởi đời sống cứ lặp đi lặp lại theo nếp. Thời gian trôi thật chậm trong suy nghĩ một đứa trẻ. Hầu hết trẻ con đã có đủ thời gian bình thường rồi.

Tuy nhiên, đối với hầu hết chúng ta là người lớn, thì đó lại là lời nguyền hơn là chúc phúc. Những áp lực, buồn phiền, đau bệnh, mất mát, đòi hỏi, và những việc chen vào tưởng như không dứt đang bủa vây đời sống chúng ta, dù có lẽ chúng không được xem là “giây phút lý thú,” nhưng thực sự chúng đối chọi với nếp sống bình thường, điều đặn, đoán trước được và bình thường Và chúng tước đoạt “thời gian bình thường” khỏi chúng ta.

Giáo hội muốn chúng ta hãy chú tâm vào những mùa khác nhau của năm. Mùa Vọng, Mùa Chay, Mùa Giáng Sinh, Mùa Phục Sinh, Lễ Thăng Thiên, và Lễ Hiện Xuống. Ngày hôm nay, tôi xin nói rằng, cần phải đòi hỏi chúng ta chú tâm đặc biệt đến Mùa Thường Niên – “thời gian thông thường.” Thất bại trong việc chú tâm vào thời gian này có lẽ là thiếu sót phụng vụ lớn nhất của chúng ta đó.

Chọn lựa căn bản của chúng ta

Vài năm trước đây, khi tôi tham dự một hội nghị, diễn giả chính đã thách thức thính giả như sau: Ông chỉ ra rằng, tất cả chúng ta là thành viên của những cộng đoàn khác nhau: chúng ta sống trong gia đình, là thành phần của cộng đoàn giáo hội, có đồng nghiệp cùng làm việc, có nhóm bạn, và cũng là một phần của cộng đồng công dân rộng lớn hơn nữa. Trong mỗi một cộng đoàn như thế, sẽ có lúc chúng ta bị tổn thương, bị lợi dụng, bị đối xử bất công, không được tôn trọng. Tất cả chúng ta sẽ bị tổn thương. Đó là chuyện dĩ nhiên. Và ông thách thức: tuy thế, cách chúng ta xử lý tổn thương đó với chua cay hay tha thứ, sẽ xác định hương vị cuộc đời chúng ta và định rõ chúng ta sẽ là dạng người nào.

Đau khổ và sỉ nhục luôn có trong chúng ta và có nhiều nữa là đằng khác, nhưng cách chúng ta ứng xử với chúng sẽ quyết định mức độ trưởng thành và chân tướng của chúng ta. Đau khổ và sỉ nhục sẽ làm mềm mại hoặc làm chai cứng tâm hồn. Động lực đó hoạt động như thế này:

Không có được chiều sâu tâm hồn nếu không có đau khổ. Từ lâu, kinh nghiệm của nhân loại đã dạy chúng ta như thế. Chính yếu chúng ta có được chiều sâu là nhờ đau khổ, đặc biệt qua dạng đau khổ kèm theo sỉ nhục. Liệu có ai trong chúng ta tự hỏi mình: Điều gì đã làm cho tôi có chiều sâu tâm hồn? Điều gì đã mở rộng tâm hồn tôi với một nhận thức và hiểu biết sâu sắc hơn? Hầu như câu trả lời luôn luôn là một, nhưng lại là điều mà chúng ta xấu hổ không nói, đó là: chúng ta bị bắt nạt như một đứa trẻ, bị xâm phạm theo cách nào đó, một thứ gì đó ở ngoại hình khiến chúng ta thấy mình tầm thường, chúng ta nói giọng bị nặng, chúng ta luôn luôn bị cho ra rìa cách nào đó, chúng ta có một vấn đề nặng nề, chúng ta vụng về trong giao tiếp xã hội, còn nhiều điều nữa, nhưng quả thật mọi chuyện luôn như nhau: Mức để đạt được chiều sâu cũng là mức mà chúng ta bị sỉ nhục, cả hai dính nhau không phân ly.

Nhưng chiều sâu tâm hồn không phải tất thảy đều như nhau. Sự sỉ nhục cho chúng ta chiều sâu, nhưng nó có thể theo nhiều cách rất khác nhau: Nó có thể cho chúng ta được sâu sắc trong nhận thức, cảm thương, và tha thứ hay nó có thể làm cho chúng ta chìm sâu trong phẫn uất, chua cay, và căm thù. Thanh niên đã bắn vào bạn học của mình ở bang Columbine và thanh niên đã xả súng bắn hạ các sinh viên ở Đại Học Công Nghệ Virginia, chắc chắn đã phải chịu quá mức chịu đựng những sỉ nhục trong đời, và nó đã cho họ sự sâu sắc. Đáng buồn thay, trong trường hợp của họ, nó cho họ sự sâu sắc trong giận dữ, chua cay, và giết người.

Chúng ta thấy được một sự tương phản nơi Chúa Giêsu trong cách Ngài ứng xử với thập giá. Như chúng ta biết, đóng đinh thập giá là cách người La Mã dùng để lên án tử hình, nhưng họ còn nghĩ hơn thế nhiều. Đóng đinh thập giá còn được làm với hai mục đích  khác, gây đau đớn tối đa hết mức có thể và sỉ nhục tối đa một cách công khai với người chịu án.

Khi chuẩn bị đối diện với án đóng đinh thập giá và sự sỉ nhục tủi hổ của nó, Chúa Giêsu đã co rúm người trước thử thách này, và cầu xin Chúa Cha liệu có cách nào khác để đi vào chiều sâu của Ngày Chúa Nhật Phục Sinh mà không trải qua sỉ nhục của Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hay không. Cuối cùng, Ngài chấp nhận, nhưng chấp nhận sau khi đổ mồ hôi máu, rằng không còn cách nào khác ngoài việc chịu đựng sỉ nhục đóng đinh trên thập giá. Nhưng chúng ta chỉ thấy được bài học thật nếu chúng ta hiểu được những gì đang khốn đốn nơi bờ vực khi Chúa Giêsu chọn lựa như thế. Chọn lựa phức tạp mà Chúa đã chọn không phải là chọn lựa kiểu: Liệu tôi chấp nhận chết hay tôi viện đến quyền năng thần thánh để tự do thoát khỏi? Chúa Giêsu đã bị kết án tử hình và Ngài thấy tuyệt vọng như bất cứ ai trong hoàn cảnh đó. Dùng đến quyền năng thần thánh để giải thoát mình hay không, chuyện này không phải là vấn đề Chúa dằn vặt. Vấn đề cũng không phải là chết hay không chết. Vấn đề là chết như thế nào. Chọn lựa của Chúa Giêsu là: Tôi chết trong chua cay hay trong yêu thương? Tôi sẽ chết với quả tim chai đá hay tâm hồn mềm dịu? Tôi chết trong oán giận hay trong tha thứ?

Chúng ta đều biết Ngài đã chọn cách nào. Sự sỉ nhục đã đưa Ngài đến những chiều sâu tận cùng, nhưng đó là những chiều sâu của cảm thông, yêu thương, và tha thứ.

Đó chính là vấn đề luôn mãi bên bờ vực lâm nguy trong sự chính chắn trưởng thành và hướng đến tương lai của chúng ta. Khi bị sỉ nhục, liệu chúng ta phó mình cho chua cay hay yêu thương, oán giận hay tha thứ, chai đá quả tim hay mềm dịu tâm hồn? Và chúng ta phải thực hiện chọn lựa đó mỗi ngày: Mỗi lần chúng ta thấy mình bị sỉ nhục, bị phớt lờ, bị lợi dụng, bị xem thường, bị công kích bất công, bị xâm phạm hay bị vu khống, lúc đó chúng ta đang ở làn ranh giữa oán hận và tha thứ, chua cay và yêu thương. Mỗi một chọn lựa sẽ xác định cả sự chính chắn trưởng thành và hạnh phúc của chúng ta.

Và cuối cùng, cũng như Chúa Giêsu, tất cả chúng ta sẽ phải đối diện với chọn lựa tối hậu: Khi đối diện với sự từ bỏ thế gian và cái chết, liệu chúng ta sẽ chọn lựa ra đi và chết với một quả tim lạnh lẽo hay một tâm hồn nồng ấm?

Phần thưởng của lối sống độc thân

Gần đây Frank Bruni có viết một bài bình luận ngắn trên tờ New York Times với tựa đề Những cái giá của Độc thân. Bài viết này dù có tính khiêu khích nhưng lại công tâm. Bruni gần như đặt ra một loạt câu hỏi khó và cấp thiết. Nhìn vào một loạt những tai tiếng tình dục đã làm nhơ uế hàng linh mục Công giáo La Mã trong nhiều năm qua, Bruni cho rằng đã đến lúc để tái thẩm định đời sống độc thân với một cái nhìn chân thật và dũng cảm đồng thời hãy tự hỏi chính mình rằng liệu mặt trái của đời sống này có lớn hơn những lợi ích tiềm tàng của nó hay không. Thật sự thì Bruni không cân đo rạch ròi lắm về vấn đề này, ông chỉ nêu ra rằng độc thân, khi sống theo lời khấn sẽ mang lại nhiều nguy hại hơn là khi tự nguyện sống bình thường như thế. Đến gần cuối bài, ông viết như sau: “Văn hóa độc thân mang mối nguy hại là ngăn trở sự phát triển (tính dục) và biến các xung lực tính dục thành những thứ lệch lạc và lén lút. Nó hạ giá một quan hệ căn bản và có lẽ là không thể cưỡng lại được của con người. Có ai tự hỏi rằng liệu có một số linh mục cố để có được quan hệ đó dù là trong lén lút, khinh suất, và đôi khi là theo những cách rất tiêu cực, hay không?’

Đó không phải là một câu hỏi thiếu tôn trọng, nhưng là một câu hỏi cấp thiết mà chúng ta cần phải dũng cảm dối diện: Liệu độc thân có thực sự là một tình trạng bất thường của con người hay không? Liệu nó có mang nguy cơ ngăn cản phát triển tính dục hay không?

Thomas Merton đã từng được một nhà báo hỏi rằng độc thân là thế nào. Tôi cho rằng câu trả lời của ông sẽ làm kinh ngạc những ai mộ đạo vì ông tán thành quan điểm của Bruni. Ông trả lời như sau: “Độc thân là địa ngục! Bạn sống trong cô đơn mà chính Thiên Chúa đã từng lên án khi Ngài nói: ‘Không tốt khi sống một mình!’”  Tuy nhiên, khi chấp nhận điều này, Merton cũng ngay lập tức nói rằng độc thân dù không phải là tình trạng của con người trong dự định của Đấng Tạo Hóa, vẫn không có nghĩa là nó không thể mang tính sinh sôi và nảy nở tuyệt vời, và có lẽ sự nảy nở độc nhất vô nhị của nó chính là điều nó thể hiện một cách đặc biệt và bất thường đến như thế nào.

Xét về căn bản, điều Merton có ý muốn nói, độc thân là bất thường và buộc bạn phải sống một tình trạng không theo ý của Đấng Tạo Hóa, nhưng bất chấp sự bất thường, và cũng có thể là do chính sự bất thường này, mà độc thân có thể sinh sôi vô cùng, cả cho người đó và cho những ai chung quanh họ.

Tôi biết điều này đúng, vô số người khác cũng vậy, là một Kitô hữu và một con người, tôi đã được giáo dục sâu sắc nhờ đời sống của những người độc thân theo lời khấn, nhờ vô số linh mục, nữ tu, và tu sĩ những người mà đời sống của họ đã ăn sâu vào tôi, và ‘sự bất thường’ đích thực đã làm họ sinh hoa trái diệu kỳ.

Hơn nữa, bất thường có sức hấp dẫn riêng của nó: Khi là một linh mục trẻ, tôi làm linh hướng cho một thanh niên đang lo không biết có nên gia nhập Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ của chúng tôi, hay nên kết hôn. Đó là một quyết định đầy phức tạp, vì anh ấy muốn cả hai. Và dù trong nhận thức anh có một điều gì đó quá lãng mạn viễn vông khi nghĩ về cả hai điều này nhưng anh cũng có một mức độ chính chắn lạ thường.  Đây là những gì anh ấy bày tỏ về vấn đề tiến thoái lưỡng nan của mình:

Tôi là con cả trong gia đình và chúng tôi sống ở nông thôn. Khi  mười lăm tuổi, một tối nọ ngay trước bữa chiều, bố tôi, lúc đó vẫn còn trẻ, bị một cơn đau tim. Chẳng thể gọi được chiếc xe cấp cứu nào. Chúng tôi đưa ông ấy vào xe và mẹ tôi ngồi ở băng ghế sau để giữ ông, còn tôi, một thiếu niên đang hoảng loạn, lái xe đến bệnh viện cách đó 15 dặm. Bố tôi chết trước khi đến được bệnh viện. Thật là đau đớn, nhưng cũng có nét đẹp trong đó. Bố tôi đã chết trên tay mẹ tôi. Vẻ đẹp thương tâm đó đã khắc sâu vào lòng tôi. Trong ý nghĩ, trong tưởng tượng, tôi luôn luôn muốn được chết trong tay vợ mình. Và đối với tôi, điều ngần ngại lớn nhất khi muốn gia nhập Dòng và làm linh mục chính là đời sống độc thân. Nếu làm một linh mục, tôi sẽ không được chết trong tay bất kỳ ai. Tôi sẽ chết như những người độc thân khác!

Rồi một ngày, khi cầu nguyện, cố để nhận thức cho rõ chuyện này, tôi lại thấy được một điều khác: Chúa Giêsu không chết trong tay của người bạn đời, Ngài chết cách khác, cô đơn và lẻ loi. Tôi luôn luôn lo về sự cô đơn của đời sống độc thân, và luôn luôn bị cuốn hút bởi những người như Soren Kierkegaard, Mother Theresa, Dorothy Day, Thomas Merton, Jean Vanier, và Daniel Berrigan, những người không chết trong vòng tay của một người bạn đời. Trong cách chết đó, cũng có một vẻ đẹp thực sự!

Bruni đã đúng khi cảnh báo rằng độc thân là bất thường và đầy nguy hại. Nó có mối nguy ngăn trở phát triển tính dục và đặc biệt là hạ giá một mối quan hệ nhân bản căn bản và có lẽ là không thể cưỡng lại. Một trong những tín điều nhân học căn bản mà Kinh thánh dạy cho chúng ta nằm trong câu chuyện Thiên Chúa tạo ra cặp cha mẹ đầu tiên và lời của Ngài: Không tốt (và nguy hiểm) khi con người sống một mình! Độc thân buộc người ta sống trong cô đơn mà chính Thiên Chúa đã lên án, nhưng cũng chính trong đời sống độc thân mà Chúa Giêsu đã chết vì chúng ta, một cái chết có lẽ là sinh ích nhất trong lịch sử nhân loại.