RonRolheiser,OMI

Than van và than khóc

Karl Rogers đã từng nói, điều riêng tư nhất của chúng ta cũng là điều phổ biến chung nhất. Ông tin rằng những cảm giác riêng tư mà chúng ta hổ thẹn không dám nói trước mọi người, thì mỉa mai thay, lại là cảm giác mà nếu chúng ta nói lên sẽ hòa chung một cách sâu lắng nhất vào trong cảm nghiệm của người khác.

Nhưng không phải lúc nào nó cũng đúng với những giọt nước mắt của chúng ta. Đôi khi những giọt nước mắt riêng tư của chúng ta chỉ là những giọt nước mắt cho riêng mình, không đồng điệu với cảm giác của người khác, làm cho họ khó chịu một cách không lành mạnh. Tại sao không phải tất cả mọi giọt nước mắt của chúng ta đều gợi được lòng thông cảm?

Vì không phải tất cả mọi giọt nước mắt đều giống nhau, có một sự khác biệt giữa than khóc và than van. Than khóc thì lành mạnh, than van thì không.

Khi đối diện với mất mát, than khóc sẽ hữu ích vì giúp mình biểu lộ được xúc cảm trọn vẹn. Hơn nữa, khi than khóc, chúng ta bày tỏ một nỗi buồn không chỉ cho mất mát và đau đớn riêng, mà cách nào đó còn cho nỗi đau buồn của cả thế giới này. Mất mát làm chúng ta khóc chỉ là chuyện riêng tư, chẳng hạn cái chết của người thân yêu, nhưng, nếu nếu nỗi đau buồn của chúng ta quy hướng về sự mất mát đó hơn là về bản thân mình, thì than khóc của chúng ta sẽ được cảm thông sâu sắc. Nỗi đau buồn sâu đậm như thế là buồn cho một tình trạng ai ai cũng có, sẽ liên kết chúng ta với thế giới, nơi mà sự chết và mất mát không trừ một ai. Rốt cùng, ai cũng mang một nỗi buồn chung.

Than van, mặt khác gần như chỉ là than thân trách phận. Không như than khóc, than van không tập trung vào những gì đã mất, đã rơi vào thảm kịch, mà chủ yếu chỉ khóc thương cho chính bản thân mình, cho nỗi đau, van nài người khác thương cảm mình. Than van là bày vết thương riêng ra cho mọi người thấy để mong họ thương cảm, như đứa trẻ chìa cái đầu gối bầm tím cho mẹ mình vậy. Chúng ta tội cho đứa trẻ bị bầm tím, chúng ta không nên chướng tai gai mắt với nó, nhưng với người lớn thì chuyện lại không như vậy.

Chúng ta rơi nước mắt vì những lý do khác nhau và khóc cũng theo nhiều kiểu khác nhau. Trong tất cả mọi giọt nước mắt lăn xuống, đều có một câu hỏi: ‘Tôi đang khóc cho ai, cho người khác hay cho chính mình? Vì sao tôi khóc, vì cảm thương ai đó, chuyện gì đó, hay chỉ vì thương thân mình?’

Một câu hỏi không dễ trả lời vì giọt nước mắt của chúng ta luôn luôn có cả lòng vị tha lẫn vị kỷ. Hiếm khi giọt nước mắt của chúng ta thuần khiết, thoát được thương thân trách phận, hiếm khi nước mắt chúng ta giống như nước mắt Chúa Giêsu khóc cho thành Giêrusalem hay nước mắt Đức Mẹ khóc dưới chân thập giá Chúa. Những giọt nước mắt của chúng ta có thể noi lên lòng thương cảm nhưng chúng cũng có thể buộc tội chúng ta. Ví dụ như, thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu đã nói, khi khóc vì thất tình, chúng ta thường khóc cho bản thân mình, hơn là cho người kia. Những giọt nước mắt như thế là thật, nhưng hầu như không có gì cao cả. Trong một ý tưởng tương tự, Antoine Vergote, nhà tâm lý học lừng danh, cho rằng nước mắt chúng ta khóc khi có lỗi vì đã làm điều sai trái thường là giọt nước mắt thương mình hơn là dấu chỉ của lòng hối lỗi thật sự. Ông cho rằng, sự hối hận thật lòng sẽ gợi lên một điều gì đó trong chúng ta, là nỗi buồn. Điều phân biệt nỗi buồn với tội lỗi là khi buồn rầu, chúng ta khóc vì đã làm điều gì đó gây tổn thương cho người khác. Còn giọt nước mắt tội lỗi, chỉ là chúng ta đang khóc vì đang có cảm giác tồi tệ mà thôi.

Sự khác biệt giữa than van và than khóc thường cũng thấy được nơi cách biểu lộ của chúng. Than van lúc nào cũng có tính chất phô bày, quá tình cảm, gây khó chịu cho người chứng kiến. Nó không giữ được đủ mức tôn trọng. Bản chất, đó là một cách diễn tả dở! Gần như tất cả chúng ta đều có cảm nhận này khi đi dự tang lễ, dù là dịp đau thương buồn phiền, nhưng có những người khóc quá thô thiển, quá biểu diễn nên chúng ta có cảm tưởng như đang bị xâm phạm đời sống riêng tư. Chúng ta cảm thấy khó chịu cho người đang khóc như thế.

Đôi khi chúng ta cũng có cảm nhận này, dù đỡ hơn đôi chút, khi xem các tác phẩm nghệ thuật nửa mùa, bài hát, phim ảnh, hay tiểu thuyết, đơn giản chúng mô tả nỗi buồn quá thô thiển, quá mùi mẫn, hay quá ấu trĩ nên chúng ta không thấy có được một chỗ nào để quan sát, để cảm nhận. Một lần nữa, cái sai là thiếy thẩm mỹ, và cư xử tệ hại.  Nghệ thuật nửa mùa chỉ khiến chúng ta nhắm mắt lại để đừng thấy bực mình, hoặc nó khiến chúng ta thấy ngọt đớn mà thôi. Đó là đặc tính thứ hai của than van, hơn cả tính thương thân trách phận, nó còn là một thứ nghệ thuật tệ hại.

Và như thế, chúng ta nên cẩn thận khi khóc trước mặt người khác và những thất vọng chúng ta gào thét cho mọi người nghe. Tất nhiên, không có giọt nước mắt nào của chúng ta thuần khiết, chúng ta luôn luôn khóc cho bản thân mình. Những phản kháng của chúng ta cũng vậy, luôn luôn có tư lợi trong đó. Nhưng khi chấp nhận nó, chúng ta nên cố gắng than khóc hơn là than van, để khi bày tỏ nỗi buồn hay căm phẫn trước mặt người khác, những giọt nước mắt hay cơn giận của chúng ta phải được biểu hiện trong thông cảm hơn là than thân.

Karl Rogers đã đúng: Điều riêng tư nhất của chúng ta cũng là điều phổ biến nhất. Nó cũng đúng với những nỗi buồn sâu thẳm, đau khổ dai dẳng, các nỗi thất vọng, cũng như các giọt nước mắt than khóc của chúng ta. Nhưng khi than van, thì nó không còn đúng được như thế nữa.

Tại sao có cảm giác đức tin tựa như hoài nghi và tăm tối

Thiên Chúa là Đấng không thể mô tả được. Đây là sự thật phổ quát, được mọi người chấp nhận trong tín lý kitô giáo và trong tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới. Điều này có nghĩa là gì?

Về căn bản, có nghĩa là Thiên Chúa cao vượt ngoài tầm mức chúng ta, không giống chúng ta, ở một mức độ hoàn toàn khác biệt chúng ta. Cụ thể hơn, có nghĩa không thể nắm bắt Thiên Chúa bằng suy nghĩ, tưởng tượng, hay ngôn từ. Bất kỳ khái niệm, hình tượng, hay ngôn từ nào mà chúng ta dùng để nói về Thiên Chúa, dù có tốt đến đâu vẫn không đủ, và tệ nhất là rơi vào thói thờ ngẫu tượng. Thiên Chúa luôn vượt quá những gì chúng ta có thể suy nghĩ, phát ngôn, hay tưởng tượng.

Nhưng chúng ta có những suy nghĩ, hình tượng và ngôn từ về Thiên Chúa và trong số này, đa số xuất phát từ Kinh Thánh. Vậy cái gì làm nên hình tượng thần học và truyền thống Kinh Thánh của chúng ta về Thiên Chúa? Chúng không chính xác và thỏa đáng hay sao? Nói ngắn gọn, là không. Theo bà Annie Dillard, những khái niệm và ngôn từ về Thiên Chúa được trao ban cho chúng ta qua Kinh thánh và truyền thống giáo hội đơn thuần chỉ là những từ ngữ mà chúng ta được phép dùng để không rơi vào tội thờ ngẫu tượng. Chúng ta không bao giờ được cho rằng chúng chính xác và thỏa đáng, tự thân Kinh thánh đã nói rõ như thế. Khi không hiểu được điều này, chúng ta bị rối loạn mơ hồ giữa đức tin và hoài nghi.

Vì không nắm bắt thiết thực và chấp nhận rằng Thiên Chúa là khôn tả, nên chúng ta thường lầm lẫn đức tin với tưởng tượng. Nói đơn giản, chúng ta nghĩ rằng có thể hình tượng và khái niệm được Thiên Chúa, nên cảm thấy mình có một đức tin đến mức có thể hình dung được hiện hữu của Thiên Chúa và nhân thể của Ngài. Ngược lại, chúng ta thấy mình rơi vào hoài nghi và thuyết bất khả tri, khi không thể hình dung được những điều này. Và rồi chúng ta ngây thơ xác định đức tin bằng cái khả năng có thể tạo ra được một tưởng tượng và cảm giác hợp lý về Thiên Chúa, và ngược lại.

Nhưng, vì Thiên Chúa là khôn tả, nên chúng ta chẳng bao giờ có thể hình dung được sự hiện hữu cũng như nhân thể của Ngài. Để định nghĩa, đây là một việc bất khả thi. Trong cố gắng nắm bắt sự vô hạn, chúng ta chỉ có những khái niệm hữu hạn, và rồi tất cả mọi năng lực của con người đều bất lực trong việc khái niệm hóa Thiên Chúa, việc này cũng như việc cố gắng nghĩ về một con số lớn nhất có thể đếm được.

Liệu điều này có nghĩa là đức tin đi ngược lại với lý luận con người không? Không. Đức tin không phủ nhận lý luận của con người, đơn giản đức tin khiến lý luận trở nên quá nhỏ bé, gần giống như cách mà công thức tinh vi phức tạp trong vật lý học thiên thể hiện thời vượt hẳn số học căn bản và cũng như cách ánh sáng chói chang của mặt trời giữa trưa át đi ánh sáng nhỏ bé của một ngọn nến vậy. Hơn nữa, dù có ích, nhưng những so sánh trên vẫn còn khập khiễng và chưa đủ. Cũng không thể hình dung hiện hữu và nhân thể của Thiên Chúa như thể một Siêu nhân tối thượng, một người như chúng ta, ngoài trừ vĩ đại tột cùng mà thôi. Hình dung Thiên Chúa như thế vẫn đặt Ngài vào mức độ hữu hạn, vẫn xem Ngài là một tạo vật, cho dù đó có là một Siêu nhân tối thượng đi chăng nữa, thì vẫn có thể hình dung được, khái niệm được, không phải là không thể tả nổi, và như thế là giống như một con số mà chúng ta vẫn có thể đếm tới được. Nhưng, Thiên Chúa không phải là một thực thể mà chúng ta có thể đếm nổi. Hiện hữu và nhân thể của Thiên Chúa không bao giờ chúng ta có thể khái niệm nổi.

Hơn nữa, điều này cũng đúng khi chúng ta nhận thức về tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu của Ngài cũng vượt quá tưởng tượng và năng lực khái niệm của chúng ta. Vũ trụ của chúng ta, dù hữu hạn, vẫn bao la và phi thường đến nỗi tưởng tượng của chúng ta bất lực khi cố đơn giản phác họa lại thế giới hữu hạn này. Thêm nữa, chỉ trên một hành tinh, là trái đất này, chúng ta đã có hàng tỷ tỷ người, mỗi một người đều có tâm hồn và ý nghĩa quý giá riêng. Làm sao chúng ta có thể hình dung được Thiên Chúa, Đấng theo cách nào đó, nhận biết và yêu thương toàn bộ những con người này một cách mật thiết? Không, chúng ta không thể! Tâm trí và tâm hồn chúng ta đon giản không thể vươn xa đến thế được, bất kể chúng đã vươn xa đủ để hỏi rằng: Tại sao một Thiên Chúa vô hạn lại không nên tạo một vũ trụ rộng lớn không tưởng tưởng nổi và hàng tỷ tỷ con ngườ để yêu thương và chia sẻ sự tạo dựng này? Và tại sao một Thiên Chúa vô hạn lại đột nhiên bảo (sau khi đã tạo thành chúng ta) rằng: “Vậy là đủ! Ta giờ đã có đủ con người như Ta muốn!”

Thiên Chúa làm cho tâm trí, tâm hồn và tưởng tượng của chúng ta trở nên u mê. Không thể nào khác được. Bất kỳ Thiên Chúa mà chúng ta có thể hiểu thấu được, không còn là Thiên Chúa nữa. Thiên Chúa không phải là một Siêu nhân tối thượng, giống chúng ta, chỉ có điều lớn hơn, mạnh hơn và quyền năng hơn. Sự vô hạn, chính xác bởi vì nó vô hạn, nên chúng ta không thể nắm bắt và định nghĩa được, dù là định nghĩa hiện hữu, hay nhân thể, hay năng lực yêu thương của vô hạn đó. Chúng ta chỉ biết cái hữu hạn, nhưng chúng ta không thể nghĩ ra được cái vô hạn.

Vì thế, có những lúc trong đời, có cảm giác đức tin biến thành tăm tối, niềm tin thành hoài nghi, và nhân thể cũng như hiện hữu của Thiên Chúa giống như chẳng là gì, như một sự trống rỗng, vô thực, vô hữu. Tâm trí và tâm hồn chúng ta, đến một lúc nào đó, sẽ trở nên khô cằn và trống rỗng khi cứ cố hình tượng hay cảm nhận Thiên Chúa, không phải vì  Thiên Chúa không tồn tại hay ít hiện hữu hơn thế giới vật lý này, nhưng vì Thiên Chúa quá bao la, quá thực, quá cao vượt hơn tất cả mọi minh trí khác, và vì thực thể của Thiên Chúa sẽ phủ lấp tất cả mọi sự đến mức tự gây ấn tượng rằng hiện hữu đó thậm chí còn không tồn tại.

Trong đức tin, chúng ta nhận biết Thiên Chúa như thế này: Là một ánh sáng quá rực rỡ đến mức cảm nhận như bóng tối, là một tình yêu quá bao la đến mức cảm nhận như dửng dưng, một thực thể quá thật đến mức cảm nhân không có gì.

Nghiện tiện nghi thoải mái

Năm mươi năm về trước, Kay Cronin viết quyển Thập giá nơi vùng Hoang vu, bà kể chuyện năm 1847, một nhóm nhỏ nhà truyền giáo dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ, từ Pháp đến vùng Tây Bắc Mỹ, sau một vài sự cố cay đắng ở tiểu bang Washington và Oregon, họ rời vùng ven biển để lên Canada và giúp thành lập nhà thờ Công giáo La Mã ở Vancouver và nhiều vùng quan trọng khác ở bang British Columbia, cực tây Canada.

Chắc chắn với đôi chút quá lý tưởng hóa và thánh hóa, bà mô tả họ là những người rắn rỏi, hết sức tận tâm, hoàn toàn không quan tâm đến sự thoải mái và sức khỏe của mình. Xa quê hương yêu dấu khi còn trẻ, biết rằng sẽ có thể không bao giờ gặp lại người thân, họ chấp nhận sống cuộc sống đầy nguy hiểm, từ yếu tố khắc nghiệt của nơi sinh sống đến mối đe dọa mạng sống từ các bộ lạc thổ dân, các thế lực chính quyền khác nhau cũng như lính đánh thuê không tín nhiệm họ vì đủ mọi lý do. Họ bị đe dọa nhiều lần, bị đuổi ra khỏi nhiều sứ mạng khác nhau, vài người trong số họ bị bắt cóc một thời gian, nhiều ngôi nhà và trụ sở của họ bị thiêu rụi. Họ luôn luôn sống trên bờ vực của nguy hiểm, không bao giờ được an toàn, không bao giờ dứt đe dọa.

Hơn nữa, họ không màng đến việc làm cho mình được tiện nghi. Họ sống trong các túp lều bằng gỗ và đất bùn, ăn thức ăn sơ sài, đôi khi chẳng có gì ăn. Gần như không biết đến bác sĩ là ai, hiếm khi có được thức ăn vệ sinh, thường khi đi đây đó, họ sống cảnh màn trời chiếu đất, không nơi che mưa, che lạnh, vì sống như thế nên nhiều người bị thấp khớp, bị đau yếu khi còn quá trẻ. Thêm nữa, họ không bao giờ bám gốc ở một nơi, không nơi nào họ có được tiện nghi, có bạn bè hay có người quen để giúp đỡ, để có tiện nghi. Họ có đức tin, có Thiên Chúa, có nhau và một chút gì đó.

Nhưng họ có thể vượt qua tất cả, không than thân trách phận. Họ viết những bức thư đầy tích cực và lý tưởng gởi cho dòng mẹ ở Pháp và cho gia đình, họ có quyển sổ ghi chép công việc, gần như họ chỉ viết toàn chuyện vui, những thành công khiêm tốn sứ vụ của họ, hiếm khi họ than vãn về những khó khăn nhà cửa, thức ăn hay tình trạng nay đây mai đó của họ.

Cũng cùng một dòng truyền giáo Hiến sĩ Đức Mẹ, thành viên cùng một gia đình tôn giáo như họ, dĩ nhiên tôi rất tự hào khi đọc câu chuyện của họ. Tôi tự hào về tất cả những gì họ làm, đúng là thế. Họ đã bỏ mình cho đến chết.

Nói vậy nhưng khi đọc chuyện của họ, tôi thấy mình không xứng đáng. Nhìn sự hy sinh tiện nghi tận căn của họ, tôi thấy như tôi đang nhìn vào tấm gương, nó làm cho tôi bị chấn động mạnh và xấu hổ. Nhìn lại mình, tôi thấy tôi mang chứng nghiện tiện nghi và an toàn. Tôi không muốn trải qua những gì họ đã trải qua: Tôi muốn có thức ăn bổ dưỡng, nước sạch, vệ sinh đầy đủ, nghỉ ngơi thường xuyên, có bác sĩ tốt, cập nhật tin tức, được du lịch, liên lạc thường xuyên với gia đình, bạn bè, thỉnh thoảng đi tĩnh tâm, nghỉ hè, bồi dưỡng giáo dục, và nhất là được an toàn. Tôi muốn là một nhà truyền giáo tận tâm nhưng tôi cũng muốn được thoải mái và an toàn.

Một điều an ủi đôi chút cho tôi là thời nay khác nhiều so với thời các nhà truyền giáo Pháp ngày xưa khi họ đặt chân đến vùng Tây Bắc giáp Thái Bình Dương này. Ít nhất là trong một thời gian dài, tôi sẽ không làm việc được nếu tôi không có chỗ ở, thức ăn, vệ sinh đàng hoàng, được học hỏi và tiếp nhận thông tin, được nghỉ ngơi thường xuyên, được giải trí lành mạnh. Đời tôi và sứ mạng của tôi là cuộc chạy đua đường dài, không phải chạy nước rút, nên chăm sóc thích đáng bản thân là chuyện tốt chứ không phải chuyện xấu.

Dù sao lý luận thì dễ, nghiện tiện nghi và an toàn cũng dễ. Khi suy nghĩ về sứ mạng truyền giáo của mình, thánh Phaolô cho biết, nhiều ít, ngài thấy thoải mái với những gì ngài được đối xử. Tôi cũng thích nghĩ như thế về cuộc sống riêng của tôi, và nó cũng đúng cho hầu hết chúng ta, càng sống thoải mái chừng nào thì chúng ta càng có xu hướng tự bảo vệ mình trong sự sung túc chừng đó.

Thomas Merton đã nói, điều ông sợ trong đời không phải là phản bội tận cùng ơn gọi của mình, mà là một chuỗi “những phản bội nho nhỏ” đưa đến một dạng thức khác của sự chết. Và đó cũng là hiểm họa tôi e sợ, cho tôi và cho cả nền văn hóa chúng ta.

Là một đứa con của nền văn hóa này, tôi tin rằng, chúng ta dễ dàng bị nghiện sự tiện nghi và an toàn. Một khi đã lớn lên và quen với sự an toàn, thức ăn ngon, nước sạch, vệ sinh đầy đủ, bác sĩ giỏi, thuốc men tốt, thường xuyên được giải trí, được cập nhật thông tin lập tức, giao thiệp thường xuyên với người thân yêu, được giáo dục không giới hạn, được có dịp phục hồi sinh lực, cũng như các tiện nghi tuyệt vời khác, lúc đó mối nguy hại sẽ hiện ra lớn hơn, đến mức chúng ta sẽ không dễ, hay hoàn toàn không thể bỏ được bất kỳ cái nào trong các thứ trên. Hậu quả là, cuối cùng chúng ta vẫn là người tốt, không có hành động phản bội lớn nào, nhưng cũng không có hy sinh nào lớn hết, chẳng những không thể từ bỏ đời mình cho bạn hữu mà còn không thể từ bỏ được ngay cả sự tiện nghi thoải mái của mình nữa.

Raissa và Jacques Maritain và Công cuộc Tân Phúc âm hóa

“Giáo hội đã thánh hóa các cảm xúc cực mạnh, chúc lành cho những điên cuồng, xưng tụng các rối loạn tâm trí, Giáo hội đã đi trong con đường đó và gần như chẳng có gì chặn tôi mở cánh cửa của giáo hội. Chẳng có gì có thể.” 

Đây là lời của một tri thức trẻ, anh Maurice Sachs, ngay sau khi anh vừa trở lại đạo Công giáo vào đầu thế kỷ XX, và những lời này diễn tả những gì quan trọng nhất đã đưa anh đến với đạo, cụ thể là thần nghiệm, các nghi thức bí tích, các cách cầu nguyện, lòng mộ đạo và gần như về phần lớn những gì linh đạo Công giáo La Mã nói về những chuyện phía bên kia của những gì có thể hiểu được theo lý tính. Trong ký ức của mình, Sachs mô tả những yếu tố thần nghiệm, bí tích, và mộ đạo như những “tia nắng” và thấy chúng là một chọn lựa tận căn để đối phó với chủ nghĩa duy lý hẹp hòi đã lan tràn khắp môi trường tri thức thời này và là điều làm cho anh ngột ngạt.

Mười chín tuổi Maurice Sachs mới rửa tội, bà Raissa Maritain đã tác động mạnh trên cuộc lữ hành đến với đạo Công giáo của anh, bà theo đạo Do Thái và đã trở lại Kitô giáo. Bà và người chồng nổi tiếng Jacques của mình đã gặp nhau tại đại học Sorbonne, Paris vào đầu thập niên 1990. Lúc đó, cả hai đều theo thuyết bất khả tri, bà chẳng biết gì về di sản Do Thái giáo, ông chẳng biết gì về gốc rễ Kitô giáo của mình. Là người không tín ngưỡng, cả hai đến Sorbonne để nghiên cứu sâu về khoa học và chủ nghĩa duy lý. Nhưng những gì họ thấy đã làm cho họ thất vọng não nề và đập tan ảo tưởng của họ. Họ cảm thấy ngột ngạt. Trí óc và tâm hồn họ muốn một điều gì đó cao hơn khoa học và lý luận thuần túy, rồi họ sớm rời Sorbonne, không chắc mình đang tìm kiếm gì, nhưng gần như chắc thế giới lý luận suông sẽ chẳng bao giờ làm cho họ thỏa mãn được.

Họ bắt đầu tìm kiếm một chọn lựa khác và điều này dẫn họ đến hai nhà trí thức độc lập, không theo khuôn phép xã hội, Leon Bloy và Charles Peguy, cả hai đều bị giới trí thức thời đó khinh thị thấy rõ, vì họ yêu mến thần nghiệm và mộ đạo quá đỗi. Cuối cùng Leon Bloy đưa họ đến với Giáo hội, là cha đỡ đầu rửa tội cho Raissa, và một trong những điều mà ông đã đưa vào cuộc đời họ, một điều căn bản đi ngược với tất cả những gì họ đã gặp ở Sorbonne, đó là thần nghiệm và lòng mộ đạo sốt sắng. Những điều này, mạnh mẽ hơn cả tín lý kitô giáo, đã đưa vợ chồng Maritain vào giáo hội.
Không lâu sau khi trở thành kitô hữu, Raissa và Jacques bị giới tri thức ruồng bỏ, họ bắt đầu tổ chức những cuộc thảo luận hàng tuần tại căn nhà ở ngoại ô Paris. Trong thời gian này, họ đọc sách của thánh Tôma Aquinô, tầm nhìn sâu sắc của ngài đã tác động mạnh trên họ, tạo cho họ một khung tri thức nội tâm kết hợp với thần nghiệm, bí tích, và lòng mộ đạo. Giờ đây, họ cảm thấy sẵn sàng để cố vấn cho người khác và sớm quy tụ được một nhóm lớn các văn nghệ sĩ trí thức, nhiều người trong số đó cuối cùng đã rửa tội. 

Họ đã đem lại điều gì cho những người này, những điều mà đời sống văn hóa và tri thức của Paris thời đó không thể có được? Làm sao họ đưa tri thức và chủ nghĩa hoài nghi vào trong giáo hội được? Họ đã mang lại cho giới văn nghệ sĩ trí thức một tầm nhìn đức tin, linh đạo kitô giáo và giáo hội, họ nói với cả quả tim và cái đầu không theo cách duy lý kiểu trường đại học cũng không sùng đạo quá đáng như những người thời đó. Tầm nhìn đức tin của họ vừa nhắm đến quả tim vừa nhắm đến cái đầu. Nó vừa có lòng mộ đạo sâu đậm vừa có tri thức cao, một công thức kết hợp hiếm có.
Ngày nay, trong lòng giáo hội, chúng ta đang đấu tranh để có thể đem lại được chính tầm nhìn này, một tầm nhìn nuôi dưỡng cả quả tim và cả cái đầu. Chúng ta có xu hướng bỏ cái này lấy cái kia.

Các nhóm tự do có khuynh hướng đưa tầm nhìn đức tin và giáo hội về sự tôn trọng đúng đắn dành cho lý luận nhưng thường không dành chỗ cho sự “thánh hóa các cảm xúc cực mạnh, chúc lành cho những điên cuồng.” Hậu quả là, chúng ta mất nhiều người trẻ như anh Maurice Sachs, những người không tin tưởng vào tầm nhìn đức tin quá phê phán, họ muốn đức tin tập trung hầu hết vào lòng sốt sắng và sự minh bạch của giáo lý. Họ không muốn một chủ nghĩa phê phán học thuật cầm đầu giáo hội và chi phối các thực thể giáo hội đó. Và vì họ thấy giới học thuật không tôn trọng tính tôn giáo của mình, nên họ nhìn giới này như ông bà Maritain đã nhìn các giáo sư duy lý ở đại học Sorbonne, thế giới của những người miệt mài trong duy lý và không có ngọn lửa nhiệt tâm trong lòng.

Nhưng có một mặt trái gần như hoàn hảo cho điều này: Nhóm những người sợ và khinh giới chủ nghĩa học thuật phê phán, họ muốn tạo một tầm nhìn đức tin có chỗ cho lòng sốt sắng và minh bạch về giáo lý, nhưng họ lại thiếu thông cảm và mở vòng tay để đón nhận một tinh thần suy tư như thế. Trong khi nhiều người trẻ như Maurice Sachs, được lôi cuốn bởi dạng Công giáo này, thì hàng triệu người khác lại thấy nó quá ngột ngạt, quá hẹp hòi về tri thức, quá sợ sệt, quá yếu đuối, quá thu mình, quá tự vệ để có thể chấp nhận được. Quá nhiều người đã bỏ giáo hội ra đi và nhiều người khác đơn thuần chịu đựng giáo hội thay vì có được hứng khởi trong đó.

Và chúng ta có thể rút ra được một bài học từ Raissa and Jacques Maritain trong cuộc tìm kiếm một công thức thích hợp cho công cuộc Tân Phúc âm hóa. Chúng ta vừa cần một thần học phê phán, nghiêm khắc vừa cần một lòng sốt mến dịu dàng và nồng ấm.

Những lời chiêm niệm then chốt

Gần đây tôi có dự một buổi ở Hội Suy niệm trong Ý thức, với James Finley là diễn giả chính. Ông là chuyên gia trong lãnh vực này. Ông đã có gần bốn mươi năm kinh nghiệm chuyên gia trị liệu, là diễn giả được nhiều nơi mời, đã viết nhiều và sâu sắc về chủ đề chiêm niệm, và khi còn trẻ có theo học mấy năm với Thomas Merton. Ông biết mình nói gì.

Tôi muốn chia sẻ ở đây vài tư tưởng sáng suốt của ông bằng cách sắp đặt những câu then chốt, mỗi câu, khi đứng riêng tự nó đã có một giá trị, nhưng khi phối với nhau, cũng thể hiện một vài ánh sáng trên bản chất Thiên Chúa, bản chất chiêm niệm và các đấu tranh của chúng ta trong đức tin cũng như chiêm niệm.

Đây là một vài quan điểm của Finley:

Các nhà thần nghiệm là chứng nhân cho bản chất thiêng liêng hoàn hảo của hiện hữu con người, cho sự việc, rằng chúng ta được yêu thương vô bờ và được tồn tại nhờ tình yêu, có những lúc chúng ta thoáng thấy và cảm nghiệm điều này trong đời mình. Nhà thần nghiệm là người đã được biến đổi nhờ trải nghiệm đó.
  
Chúng ta lo lắng là do không cảm nhận được tình yêu của Chúa ở trong lòng mình.
  
Tại sao chúng ta mất quá nhiều giờ để tách mình ra khỏi gia tài phong phú của cuộc sống mình, như thử mình là người ngoài cuộc, đứng bên ngoài căn nhà nhìn vào qua cửa sổ? Hoặc tệ hơn, tại sao chúng ta ở trong nhà nhưng lại rơi vào trạng thái tâm thần, nghĩ mình đang sống ở ngoài? Chúng ta phải làm gì để tỉnh khỏi cơn mê này trước khi từ giã cuộc đời?

Đời sống chúng ta thường xuyên chịu áp lực, do đó nhiệm vụ mãi mãi sẽ là: Giữa cuộc sống đầy áp lực của mình, làm sao chúng ta tặng cho mình một tình yêu, để tình yêu đó ôm trọn chúng ta?  Chúng ta không thể tạo ra giây phút ân sủng, nhưng có thể làm để đặt mình vào vị thế mà ở đó, chúng ta ít kháng cự nhất, để từ đó giây phút ân sủng đó có thể chiếm trọn chúng ta.

Suy niệm trong ý thức không khó tìm, nhưng đừng chạy trốn nó mới là chuyện khó.

Suy niệm trong ý thức là thấy sự việc theo bản chất của nó. Là nghỉ ngơi trong Chúa. Đi sâu vào suy niệm trong ý thức là ngồi như “đứa trẻ chưa biết gì,” trong một khoảng thời gian “vô niệm.”

Khi ngồi yên chúng ta học được an bình. Chiêm niệm tùy thuộc vào lòng trung tín. Nếu bạn trung thành với việc bạn làm, thì việc bạn làm sẽ trung thành với bạn.

Có một vài nguyên tắc đơn giản cho việc thực hành chiêm niệm. Ngồi yên. Ngồi thẳng. Nhắm hay khép hờ mắt. Thở chậm sâu tự nhiên. Để tay thoải mái. Rồi sẵn sàng, mở rộng lòng, và tỉnh thức: Đừng bám cũng như đừng loại bất kỳ điều gì đến trong suy nghĩ của bạn. Khi một suy nghĩ xuất hiện, cứ để nó xuất hiện, nếu nó kéo dài, cứ để nó kéo dài, nếu nó qua đi, cứ để nó qua đi, nhưng đừng để ý nghĩ đó kéo bạn theo.  Cử động chầm chậm và nhẹ nhàng trong khi cầu nguyện – đừng thô bạo với sự yên bình của cơ thể.

Một bài tập nên theo: Vào phòng ngay trước khi mặt trời lặn, lý do duy nhất là để được ở đó với Chúa khi hoàng hôn xuống. Đừng vướng bận bất kỳ việc gì trong đầu trừ việc nhìn ráng chiều. Ngồi đúng một giờ trọn. Ngồi trong sức mạnh tối thượng của buổi cuối ngày. Ngồi trong sự tuân phục triệt để ánh sáng chập choạng. Bạn sẽ biết được cô tịch.

Những người thường xuyên cầu nguyện thì không cầu nguyện giỏi… nhưng họ trở nên người nhờ cậy Thiên Chúa để làm cho lời cầu nguyện của họ được nên tốt. Và những người thường xuyên cầu nguyện, sẽ như tất cả những người khác, tiếp tục trải nghiệm nỗi buồn và cái chết, nhưng nỗi buồn và cái chết không còn là bạo chúa hành hạ họ.

Có một sự khác biệt giữa “dịu ngọt” tâm hồn và “an ủi” tâm hồn. “Dịu ngọt” là cảm giác tốt đẹp khi cầu nguyện, “an ủi” là cảm nhận tâm hồn bạn được mở rộng (và vì thế có thể đau khổ).

Tôi trích lại đây lời của Gabriel Marcel: Chúng ta biết mình yêu ai đó khi thoáng thấy nơi người đó một điều gì quá đẹp đến có thể chết được.

Còn thánh Têrêxa Avila nói:

– Khi bạn chạm đến mức cao nhất của trưởng thành nhân bản, bạn sẽ chỉ có một câu hỏi:  Tôi sẽ có ích đến đâu.
– Tình yêu nghĩa là hai người ngồi trong phòng và nói chuyện với nhau. Dù cả hai đều chẳng biết nói gì, nhưng đều nhận biết nhau.

Tại sao Phật tử nói về “vô niệm” khi nói đến quan niệm về Thượng đế? Họ nói như vậy để nhắc đến sự tối đơn giản của Thượng đế, nghĩa là một Thượng đế có trước tất cả mọi dấu hiệu nhận biết về Ngài. “Vô niệm” là đứng trước sự khôn tả thấu của Thiên Chúa, hoàn toàn bị chiếm trọn bởi một sự quá trọn vẹn.

Làm sao chúng ta có thể giúp đỡ cho những ai đang đau khổ, nếu chúng ta cảm thấy mình bất lực không làm được chuyện đó? Khi người ta chia sẻ sự yếu đuối mong manh và nỗi đau của mình với người biết lắng nghe thật sự, thì chính người lắng nghe đang hé mở “viên ngọc quý” trong chính tâm hồn họ.

Và vẫn còn nữa:

Lòng quảng đại của Đấng Vô Hạn là vô hạn. Giữa những chuyện khác, lời này có nghĩa chúng ta phải trao ban chính mình cho một sự chính truyền quảng đại.

Không để cho Thiên Chúa biết mình là giữ quá nhiều chuyện cho riêng mình!

Với Thiên Chúa, chỉ một chút chân thành là đi được cả một con đường dài!

Đấu tranh để có lời chúc lành của cha

Khi học cấp hai, chúng tôi phải học thuộc lòng một số bài thơ của William Blake. Chúng tôi chẳng hiểu gì nhiều nhưng chúng có vần điệu quá hay, lại dễ nhớ nên nó vẫn còn trong đầu tôi đến ngày hôm nay.

Một trong các bài thơ đó có bài Nỗi buồn Trẻ con:

    Mẹ tôi rên rỉ! cha tôi khóc.
    Tôi lao vào thế giới hiểm nguy này.
    Bất lực, trần truồng, khóc ầm ĩ
    Như con quỷ núp trong bóng mây

    Vùng vẫy trong tay cha
    Giãy đạp phá lớp tã
    Mệt và nản, thôi tôi nghĩ tốt nhất
    Nên làm nũng trên ngực mẹ cho rồi.

Tất cả mọi quyển sách về nhân loại học, tâm lý học, và thiêng liêng có thể tóm trong bài thơ này: chúng ta đấu tranh để được cha chúc phúc, vui buồn lẫn lộn khi bị xa mẹ, lòng quặn thắt, sự trầm cảm không thể tránh khỏi khi trưởng thành, và tác động của nó trên đời sống tinh thần của chúng ta. Chỉ vài chữ ẩn dưới vài câu vần điệu đơn giản, Blake đã nắm trọn vấn đề; nhưng, như đã thú nhận, lúc còn nhỏ dù có học thuộc lòng, tôi cũng không thấy được chút gì trong đó cả. 

Vài năm về trước, sau một buổi giảng lễ, tôi nhớ lại bài thơ này. Phúc Âm chúa nhật hôm đó nói về phép rửa của Chúa Giêsu: Chúa Giêsu đến sông Giocđan để thánh Gioan làm phép rửa. Thánh Gioan nhận Ngài xuống nước, và khi ra khỏi mặt nước (hình ảnh của sự sinh ra đời), thì trời mở ra, và tiếng Chúa Cha phán: “Này là con ta yêu dấu, ta hài lòng về con!”

Điểm mà tôi nhắm đến trong bài giảng hôm đó khá thẳng thắn: Tôi chỉ đơn giản nói là khi chúng ta được rửa tội, Chúa Cha cũng nói những lời như thế với mỗi người chúng ta: “Này là con ta yêu dấu, ta hài lòng về con!” Bài giảng của tôi như thế là bảo đảm về ngôn từ, nhưng không phải. Ngay sau khi lễ kết thúc, một thanh niên đến gặp tôi, bực dọc và tỏ ra rất khó chịu về bài giảng của tôi. Anh chia sẻ, anh vừa được bảo lãnh tại ngoại, và đang chờ tuyên án. Anh đi lễ chúa nhật hôm đó để cố chuẩn bị sẵn sàng đối diện với những gì sắp đến, nhưng tác dụng của buổi lễ lại đi ngược với hy vọng của anh. Nó làm anh thêm tức giận và kích động, đặc biệt là bài giảng của tôi. Và anh trình bày sự thất vọng của mình như sau: “Tôi ghét bài giảng của cha vì nó không thật! Chưa có ai hài lòng về các việc tôi làm, nhất là cha tôi!”

Không có gì ngẫu nhiên khi chàng trai này sắp vào tù; anh không được cha anh chúc phúc. Cũng như nhân vật trong bài thơ của Blake, anh “vùng vẫy” trong tay cha mình. Cha anh, không như Thiên Chúa, không như Chúa Cha, không bao giờ chúc lành cho anh, có nghĩa là không bao giờ hiện diện đủ hay thực sự quan tâm đến anh, và ông cũng không đủ khả năng để vui mừng trước nhân cách và năng lực của đứa con trai, do đó anh không phải là một mối lo, cũng chẳng là nỗi thất vọng của ông. Về căn bản, người con trai này chưa bao giờ là nguồn vui chính cho người cha, và đó là một thiếu thốn đau lòng.

Thèm khát được người cha chúc phúc có lẽ là nỗi thèm khát sâu đậm nhất của thế giới ngày nay. Ngày nay, câu này đúng cả về mặt thiêng liêng lẫn nhân bản, và sự thật này quá hiển nhiên, bằng chứng là chúng ta thấy rõ nơi ngôn ngữ cơ thể của mọi người, đặc biệt là ở nam giới khi được nghe nhắc về điều này.

Và điều gì xảy ra khi chúng ta không được cha mình chúc lành đủ? Gần như các hệ quả của nó nằm ẩn dưới bề mặt và không quy lỗi cho người cha, trừ khi người ta đạt đến ở một mức độ ý thức nào đó và nhận ra mình bị thương tổn đến chừng nào. Đa phần sự thiếu vắng lời chúc lành của người cha chưa được cảm nhận rõ, một cơn khát, một quặn thắt tâm hồn, thiếu  niềm vui, một cảm nhận mình chưa bao giờ đủ tốt. Cảm giác này thường biểu lộ qua sự giận dữ, không tin tưởng bậc thẩm quyền, và ở một tình trạng khủng hoảng nhẹ thường đưa con người đến các hình thức khác nhau của trầm cảm, ám ảnh về thành tựu, và cả tình dục, thứ có vẻ là thuốc chữa bá bệnh cho họ. Nó cũng có thể có một tác động tiêu cực nghiêm trọng về mặt tôn giáo. Theo tư tưởng của Freud có một tiền đề cho rằng phần lớn những cơn giận dữ trút xuống thể chế tôn giáo chính là cơn giận nhắm đến người cha hay những người đóng vai trò người cha trong đời bạn. Điều này giúp giải thích tại sao quá nhiều người có ít hoặc chẳng có bất kỳ một mối liên hệ ý nghĩa nào với các tôn giáo có tổ chức, lại nổi cơn giận dữ với tôn giáo và các giáo hội.

Vậy giải pháp là gì? Làm sao đẩy cơn quặn thắt tâm can này ra khỏi tâm hồn chúng ta, nếu như chúng ta không được cha mình chúc lành cho đủ?

Linh đạo Kitô giáo dạy chúng ta phải đón nhận bằng cách trao ban. Như lời Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô, khi cho là lúc nhận. Chúng ta không thể tự làm cho mình hạnh phúc, nhưng có thể làm cho người khác hạnh phúc. Do đó, chúng ta không thể buộc bất kỳ ai chúc phúc cho mình, nhưng chúng ta có thể chúc phúc cho người khác. Sự viên mãn và hạnh phúc nằm ở đó. Nói một cách đơn giản, khi hành động như Thiên Chúa, chúng ta bắt đầu cảm nhận như Thiên Chúa… và Thiên Chúa không bao giờ phải khốn khổ vì giận dữ và khủng hoảng như thế.

Andrew Greeley – An nghỉ ngàn thu

Vào cuối thập niên 1960, khi còn là một chủng sinh trẻ, tôi rất say mê các bài viết của linh mục Andrew Greeley ở Chicago, cha viết rất nhiều sách về linh hướng đại chúng. Tôi thấy cách tiếp cận của cha làm tươi mới con người đến kỳ lạ, vì, ít nhất theo ý tôi, cha đã thương thảo với những cuộc đấu tranh thiêng liêng triền miên của chúng ta theo một cách vừa hiện thực vừa đầy hy vọng hơn hầu hết các tác phẩm tôn giáo tôi từng biết cho đến lúc đó. Cha là chiếc bánh thiêng liêng tôi cần, khi đi tĩnh tâm để khấn trọn, tôi đem theo hai quyển sách của cha. Cha đã giúp tôi nhận định để có một quyết định.

Tuần trước, cha qua đời ở tuổi 85, sau một thời gian bệnh nặng vì bị té vào năm 2008. Có lẽ, kỳ vĩ là từ đúng nhất để mô tả các thành quả của cha, vừa cả hai lãnh vực viết lách và giảng dạy. Cha đã viết hơn 120 quyển sách, nhiều quyển mang tính học thuật, và vô số bài báo cũng như tiểu luận cho các báo thế tục cũng như tôn giáo. Trong toàn bộ tác phẩm, có lẽ cha nổi tiếng nhất trong thể loại tiểu thuyết, với số phát hành mà hầu hết các văn sĩ phải ganh tỵ. Vì công trình đồ sộ và được nhiều người biết đến, nên hay có những châm biếm trong lãnh vực học thuật cũng như tôn giáo, kiểu: “Chưa có suy nghĩ nào của Andrew Greeley mà chưa được xuất bản!” Tôi ở cả hai lãnh vực này nên có thể cam đoan ganh tỵ không phải là chuyện lạ gì trong đó. Người ta không ưa Greeley, hơn bất cứ lý do nào khác, có lẽ là do cha đã làm được rất nhiều việc, chứ không phải vì khối lượng tác phẩm đồ sộ để lại như nhiều người trong số chúng ta nghĩ.

Nhưng cũng có những lý do khác khiến cha bị chỉ trích, một trong những lý do đó là nét đặc biệt và phần khác là do cá tính của cha. Người bảo thủ thì cho rằng bất kính và quá tự do. Buồn cười thay, người tự do lại không thích cha vì cho rằng cha quá sùng đạo, quá bảo thủ. Và rồi còn do cá tính của cha. Cha không dung thứ cho những ai ngu ngốc chỉ trích cha một cách dễ dàng. Chỉ trích Andrew Greeley là dấn thân vào một cuộc chiến. Không ai có thể núp trong bụi rậm an toàn để chọc phá cha được. Cha lôi họ ra và thách thức một cuộc chiến công khai với họ. Đó không phải là cách để sống dễ dãi với tất cả mọi người.

Vì tôi lúc nào cũng là một trong những người ủng hộ cha, nên tôi không bao giờ đương đầu với cha. Khi các tiểu thuyết của cha chung chung bị chỉ trích “hời hợt và tồi” và  “có hại cho đức tin Công giáo,” tôi đã đứng về phía cha, lên tiếng bảo vệ như sau: “Không ai bỏ giáo hội vì đọc tiểu thuyết của Andrew Greeley, nhưng có nhiều người ở lại với giáo hội nhờ đọc tiểu thuyết của cha.”  Greeley thấy câu này trên một bài báo của tôi, cha viết thư cho tôi, muốn tôi cho phép cha đăng câu này trên trang bìa các tiểu thuyết sắp tới của cha, và cha thường làm như vậy.

Lập luận bảo vệ của tôi: Những than phiền thường thấy nhất là: “tồi và sặc mùi tính dục.” Ngược lại thì đúng hơn. Với tư cách là tác phẩm văn học, các tiểu thuyết của cha còn bị thử thách hơn, vì quá sùng đạo và thường là những biện giáo cho Công giáo không được kín đáo lắm. Bất cứ ai đọc cho đúng tiểu thuyết của cha cũng thấy đây là một người sốt sắng sâu sắc, quá yêu mến giáo hội mình, và không tinh vi đủ khi bảo vệ giáo hội. Hơn nữa, cha luôn luôn xem tính dục như một điều gì thiêng liêng. Các chỉ trích không chấp nhận như thế nhưng đặc nét của cha khi viết về tính dục rất gần với tinh thần của đức giáo hoàng Gioan Phaolô II và quyển Thần học về Thân xác của ngài. Ngoài ra, sức mạnh của các tiểu thuyết của cha nằm ở việc kể chuyện. Không một ai, kể cả chính cha Greeley, lại lẫn lộn văn phong của cha với văn phong của Toni Morrison hay John Steinbeck, cha là một người kể chuyện tuyệt vời, và hầu hết tiểu thuyết của cha đều kể rất hay.

Tôi không thể tự nhận mình là bạn của cha được, dù thỉnh thoảng có trao đổi thư từ, nhưng chúng tôi chỉ gặp nhau đúng một lần. Khoảng một năm trước tai nạn định mệnh của cha, khi cha còn giảng dạy tiết mùa đông ở Arizona, tôi đến Tucson để diễn thuyết, cha mời tôi ăn tối tại nhà hàng Mexico yêu thích của cha. Chúng tôi nói chuyện về thần học và văn học, nhưng gần như cha chỉ chia sẻ về lòng mến mộ dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ là cộng đoàn của tôi, và hồng y Francis George ở Chicago của cha, cũng thuộc Dòng chúng tôi. Cha cũng nói về đội bóng chày Chicago Bulls, đội cha ngưỡng mộ. Tôi mời cha đến thăm trường chúng tôi, nhưng cha từ chối, cha nói đến tuổi này cha cố tránh đi máy bay hết sức có thể. Tôi rời nhà hàng, lòng cảm kích vì đã có dịp gặp một con người phi thường, và là người mà tôi nợ một món nợ ân nghĩa quá lớn.

Nhà nhân chủng học Mircea Elieade đã bình luận “không cộng đồng nào được làm hỏng cái chết của mình.” Một lời cảnh báo đúng. Một nhân vật Công giáo lớn đã qua đời, và chúng ta, bạn bè cũng như người phê phán cha, cần phải nhận ra những gì cha đã đem lại cho chúng ta. Như các nhà biện giáo kitô giáo trước cha là Tolkien, Lewis, và Chesterton, cha cũng đã gắng cố để đem lại cho niềm hy vọng bên trong chúng ta một lý lẽ để dựa vào, và cha đã thành công trong việc này, thành công tuyệt vời.

Luôn luôn vội vàng

Vội vàng là kẻ thù của chúng ta. Vội vàng làm chúng ta căng thẳng, tăng huyết áp, mất kiên nhẫn, dễ gặp tai nạn, và nghiêm trọng nhất là che mắt không cho chúng ta thấy nhu cầu của người khác. Thường thường, vội vàng không phải là tính tốt, dù có thiện hướng tốt đi nữa cũng không nên vội vàng.

Năm 1970, Đại học Princeton tiến hành một vài nghiên cứu với các chủng sinh xem liệu sự dấn thân giúp đỡ tha nhân có thật sự làm nên một cái gì khác biệt cho họ trong hoàn cảnh thực tế hay không. Chương trình của họ là: Họ sẽ phỏng vấn một chủng sinh trong văn phòng, khi buổi phỏng vấn vừa kết thúc, họ yêu cầu chủng sinh đó ngay lập tức đi đến một phòng học được chỉ định ở phía bên kia sân trường để giảng bài cho lớp. Nhưng họ luôn sắp đặp một khoảng thời gian sít sao giữa thời điểm buổi phỏng vấn kết thúc và thời điểm chủng sinh đó phải có mặt ở lớp học, để buộc anh ta phải vội vã. Trên đường đi, mỗi chủng sinh sẽ gặp một diễn viên đóng giả người đang cùng quẫn (gần giống với cảnh người Samari nhân hậu trong Phúc Âm). Thử nghiệm này là để xem liệu các chủng sinh có dừng lại và giúp đỡ người kia hay không. Và kết quả thế nào?

Các bạn có thể đoán rằng, là một chủng sinh dấn thân phục vụ, hẳn họ sẽ thiên về dừng lại với người đau khổ đó hơn những người khác. Nhưng lại không như thế. Việc là một chủng sinh dường như chẳng có tác động gì trên cách đối xử của họ trong trường hợp này. Chỉ có một điểm duy nhất là: Họ sẽ dừng lại và giúp người hay không, gần như dựa trên việc họ có vội vã hay không. Nếu bị áp lực thời gian, họ sẽ không dừng lại, nếu không bị áp lực, họ sẽ dễ dừng lại hơn.

Từ thí nghiệm này, những người thực hiện đã rút ta một vài kết luận như sau: Thứ nhất, đạo đức trở thành một thứ xa xỉ khi tốc độ cuộc sống hàng ngày tăng lên, thứ hai, do áp lực thời gian, chúng ta có khuynh hướng không nhìn ra những tình huống đang đập vào mắt mình là một tình huống mang tính đạo đức.  Về căn bản, càng vội vã, chúng ta càng khó dừng lại và giúp đỡ những ai đang cần đến mình. Gấp rút và vội vã, có lẽ hơn bất kỳ điều gì khác, đã ngăn chặn không cho chúng ta trở thành người Samari nhân hậu.

Chúng ta biết điều này từ kinh nghiệm riêng của mình. Cố gắng để có thì giờ cho gia đình, để cầu nguyện, để giúp đỡ người khác đã chiếm phần lớn thì giờ rồi. Chúng ta lúc nào cũng quá bận rộn, quá vội vã, quá bị chi phối, và nhiều áp lực nên không thể dừng lại để giúp người khác. Tôi quen một nữ văn sĩ, bà nói khi chết, điều bà sẽ hối tiếc nhất trong đời không phải là vi phạm các điều răn, nhưng là việc biết bao nhiêu lần bà đã bỏ mặc con cái để lao vào viết lách. Cũng gần như thế, chúng ta có khuynh hướng đổ lỗi cho hệ tư tưởng thế tục vì những đổ vỡ gia đình trong xã hội ngày nay, trong khi đó, thật sự, có lẽ căng thẳng lớn nhất trong tất cả gia đình là do công việc, nó bắt chúng ta phải chịu một áp lực triền miên, luôn trong tư thế vội vã, và bỏ bê con cái vì áp lực công việc.

Đương nhiên tôi biết rõ điều này qua kinh nghiệm riêng của tôi. Tôi luôn luôn bị áp lực, luôn luôn vội vã, luôn luôn quá nhiều việc, và khi chăm vào công việc, lúc nào tôi cũng gạt mọi thứ đang cần tôi chú ý qua một bên. Là linh mục, tôi có thể biện minh việc mục vụ đang làm là rất quan trọng. Mục vụ nghĩa là gắn vào một việc cao hơn lịch làm việc riêng của mình, nhưng sâu xa hơn, tôi biết rõ  đây chỉ là biện luận thôi.  Đôi khi tôi biện luận quá hợp lý cho sự bận rộn vội vã của mình, tự trấn an mình rằng tôi như thế là hợp lý. Nó có trong máu của tôi. Cả cha mẹ tôi đều có lối hăng hái nỗ lực như thế. Cha mẹ tôi thật tuyệt vời, đạo đức, đầy tình yêu thương, nhưng lúc nào họ cũng tham công tiếc việc. Đáp lại quá nhiều đòi hỏi trong đời gây nên một tính cách lẫn lộn.

Không phải ngẫu nhiên mà các cây viết thiêng liêng cổ điển, những người chưa biết đến nghiên cứu của Đại học Princeton, đã cảnh báo về mối nguy của tham công tiếc việc. Thật vật, mối nguy của gấp rút, vội vã đã được Kinh Thánh viết ngay những trang đầu tiên, khi Thiên Chúa mời gọi chúng ta phải giữ triệt để ngày Xa-bát. Khi vội vã, chúng ta ít thấy được những gì ở ngoài lịch trình riêng của mình.

Gấp rút vội vã có mặt tích cực là có thể đối chọi được với biếng nhác trì trệ. Một con người cật lực là người luôn trong tư thế vội vã, ít nhất là như thế, họ không bị vật vã chờ cho hết ngày giờ. Họ luôn có mục tiêu. Và thường thường gấp rút vội vã có thể tạo nên một người làm việc hiệu quả, được công nhận và được ngưỡng mộ vì những thành quả của mình, cho dù họ bỏ mặc con cái để lao đầu vào công việc đi nữa. Tôi cũng có kinh nghiệm như thế: Tôi được công nhận nhiều trong công việc, dù tôi phải thừa nhận áp lực và sự vội vã đó đã nhiều lần ngăn không cho tôi làm người Samari nhân hậu.

Có thể nói vội vã tạo vấp váp. Nó cũng bịt mắt mình trong những việc nhân bản và thiêng liêng làm cho lòng thương cảm của chúng ta bị giới hạn nghiêm trọng.

Mùa Thường Niên

Trong quyển sách nhỏ với tựa đề Âm nhạc của Thinh lặng, David Steindl-Rast đã nhấn mạnh mỗi giờ trong ngày có điểm sáng và tính chất đặc biệt của nó đến như thế nào, và cách chúng ta chú tấm đến giây phút hiện tại khi chúng ta nhận ra và tôn trọng các “tác nhân đặc biệt” ẩn dấu trong mỗi giờ đó. Ông ấy đúng. Mỗi giờ trong ngày và mỗi mùa trong năm đều có một điều gì đó đặc biệt cho chúng ta, nhưng thường thường chúng ta không ứng trực để tiếp nhận tặng vật đó.

Có những mùa đặc biệt trong năm, chúng ta nắm bắt tặng vật đó dễ hơn. Dù đôi lúc do áp lực hay xao nhãng, chúng ta không chú tâm đến mùa cao điểm như mùa Giáng Sinh hay Phục Sinh, nhưng chúng ta đều biết các mùa này đặc biệt và có những “tác nhân” trong đó đang đòi chúng ta phải đón nhận. Khi có ai nói: “Năm nay tôi quá mệt và có quá nhiều áp lực nên không nghĩ đến lễ Giáng Sinh. Tôi bỏ lỡ dịp Giáng Sinh năm nay rồi!” là chúng ta hiểu ý nghĩa của câu này.

Và điều này không chỉ đúng với những mùa đặc biệt như Giáng Sinh và Phục Sinh. Nó cũng đúng, và có lẽ đặc biệt đúng với mùa mà chúng ta gọi là Mùa Thường Niên. Mỗi năm lịch Giáo hội để ra hơn ba mươi tuần cho cái gọi là “Mùa Thường Niên,” một mùa để chúng ta gặp gỡ các tác nhân hàng ngày, điều đặn, quen thuộc, đoán trước được và bình thường. Như những mùa lễ cao điểm, mùa này cũng có nghĩa là cho đời sống chúng ta một nét phong phú đặc biệt.

Nhưng chúng ta lại dễ dàng bỏ qua mùa này cũng như mục đích của nó.  Khái niệm “Mùa Thường Niên” nghe có vẻ quá nhẹ cho dù chính chúng ta lại mong mỏi một cách vô thức ý nghĩa đích thực nó mang đến. Chúng ta có một “thời gian bình thường” nhỏ bé nhưng thật quý báu trong đời mình. Khi đời sống bị nhiều áp lực hơn, mệt mỏi hơn, bồn chồn hơn, có lẽ hơn bất kỳ điều gì, chúng ta mong mỏi có một “thời gian bình thường” im ắng, đều đặn, tĩnh mịch, và ở một nơi xa cách khỏi nhịp điệu hối hả của đời sống. Đối với nhiều người trong chúng ta, cụm từ “thời gian bình thường” sẽ làm chúng ta thở dài hỏi: “Đó là gì thế? Lần cuối tôi có một ‘thời gian bình thường’ trong đời là lúc nào?” Với nhiều người trong chúng ta, “thời gian bình thường” gần như có nghĩa là hối hả và áp lực, là “vòng quay bất tận,” là “cái cối xay.”

Nhiều thứ trong đời hợp lại chống “thời gian bình thường” này, không chỉ sự bận rộn cướp đi thời gian thư thái của chúng ta, mà còn những đau buồn, ám ảnh, mất sức khỏe, hay những gián đoạn khác, tất cả chúng như cười vào nhịp điệu cũng như công việc theo nếp, cướp đi ý thức về “thời gian bình thường” của chúng ta.” Đó chính là nguyên nhân suy sụp của người trưởng thành.

Tôi ngờ rằng, nhiều người trong chúng ta sẽ thấy khi còn nhỏ chúng ta nhìn khác hẳn về chuyện này. Khi còn nhỏ, tôi thường thấy chán. Gần như lúc nào, tôi cũng mong có một cái gì mới, một ai đến thăm nhà, một mùa đặc biệt để mừng lễ (sinh nhật, Giáng Sinh, Năm mới, Phục Sinh), hay gần như bất cứ chuyện gì lay tôi ra khỏi nếp sống thường nhật của “thời gian bình thường.” Nhưng đó là vì đối với một đứa trẻ, thời gian trôi quá chậm, Khi bạn bảy tuổi, một năm là cả một phần bảy cuộc đời bạn. Nó quá dài. Lúc trung niên và già hơn nữa, một năm chỉ là một mảnh nhỏ trong đời và thời gian trôi nhanh, quá nhanh đến nỗi khi đến một mức nào đó, có lúc bạn sẽ bắt đầu mong các dịp đặc biệt qua nhanh, khách về nhanh, các chuyện quấy rầy khuất mắt, để bạn chóng trở về nhịp sống bình thường. Nếp cũ chắc chắn là chán, nhưng chúng ta ngủ ngon hơn khi cuộc sống theo nề theo nếp bình thường.

Ngày nay, văn chương tôn giáo lẫn thế tục đều nói đến những khó khăn để tập trung vào giây phút hiện tại và trong việc gặp gỡ “hiện tại trần trụi” theo cách nói của Richard Rohr, hay “các tác nhân của một giờ” theo cách nói của David Steindl-Rast. Những gì văn chương nêu ra khác nhau về nội dung và ý nghĩa, nhưng cùng chung một điểm: Cực kỳ khó để chú tâm vào giây phút hiện tại, để thật sự ở trong hiện tại. Không dễ để sống trong “thời gian bình thường.”

Có một thành ngữ Trung Hoa vừa có ý chúc phúc vừa có ý nguyền rủa. Bạn có thể chúc cho ai đó: “Chúc bạn sống những giây phút lý thú!”  Với một đứa trẻ, chúc như thế nghĩa là chúc lành, bởi đời sống cứ lặp đi lặp lại theo nếp. Thời gian trôi thật chậm trong suy nghĩ một đứa trẻ. Hầu hết trẻ con đã có đủ thời gian bình thường rồi.

Tuy nhiên, đối với hầu hết chúng ta là người lớn, thì đó lại là lời nguyền hơn là chúc phúc. Những áp lực, buồn phiền, đau bệnh, mất mát, đòi hỏi, và những việc chen vào tưởng như không dứt đang bủa vây đời sống chúng ta, dù có lẽ chúng không được xem là “giây phút lý thú,” nhưng thực sự chúng đối chọi với nếp sống bình thường, điều đặn, đoán trước được và bình thường Và chúng tước đoạt “thời gian bình thường” khỏi chúng ta.

Giáo hội muốn chúng ta hãy chú tâm vào những mùa khác nhau của năm. Mùa Vọng, Mùa Chay, Mùa Giáng Sinh, Mùa Phục Sinh, Lễ Thăng Thiên, và Lễ Hiện Xuống. Ngày hôm nay, tôi xin nói rằng, cần phải đòi hỏi chúng ta chú tâm đặc biệt đến Mùa Thường Niên – “thời gian thông thường.” Thất bại trong việc chú tâm vào thời gian này có lẽ là thiếu sót phụng vụ lớn nhất của chúng ta đó.

Chọn lựa căn bản của chúng ta

Vài năm trước đây, khi tôi tham dự một hội nghị, diễn giả chính đã thách thức thính giả như sau: Ông chỉ ra rằng, tất cả chúng ta là thành viên của những cộng đoàn khác nhau: chúng ta sống trong gia đình, là thành phần của cộng đoàn giáo hội, có đồng nghiệp cùng làm việc, có nhóm bạn, và cũng là một phần của cộng đồng công dân rộng lớn hơn nữa. Trong mỗi một cộng đoàn như thế, sẽ có lúc chúng ta bị tổn thương, bị lợi dụng, bị đối xử bất công, không được tôn trọng. Tất cả chúng ta sẽ bị tổn thương. Đó là chuyện dĩ nhiên. Và ông thách thức: tuy thế, cách chúng ta xử lý tổn thương đó với chua cay hay tha thứ, sẽ xác định hương vị cuộc đời chúng ta và định rõ chúng ta sẽ là dạng người nào.

Đau khổ và sỉ nhục luôn có trong chúng ta và có nhiều nữa là đằng khác, nhưng cách chúng ta ứng xử với chúng sẽ quyết định mức độ trưởng thành và chân tướng của chúng ta. Đau khổ và sỉ nhục sẽ làm mềm mại hoặc làm chai cứng tâm hồn. Động lực đó hoạt động như thế này:

Không có được chiều sâu tâm hồn nếu không có đau khổ. Từ lâu, kinh nghiệm của nhân loại đã dạy chúng ta như thế. Chính yếu chúng ta có được chiều sâu là nhờ đau khổ, đặc biệt qua dạng đau khổ kèm theo sỉ nhục. Liệu có ai trong chúng ta tự hỏi mình: Điều gì đã làm cho tôi có chiều sâu tâm hồn? Điều gì đã mở rộng tâm hồn tôi với một nhận thức và hiểu biết sâu sắc hơn? Hầu như câu trả lời luôn luôn là một, nhưng lại là điều mà chúng ta xấu hổ không nói, đó là: chúng ta bị bắt nạt như một đứa trẻ, bị xâm phạm theo cách nào đó, một thứ gì đó ở ngoại hình khiến chúng ta thấy mình tầm thường, chúng ta nói giọng bị nặng, chúng ta luôn luôn bị cho ra rìa cách nào đó, chúng ta có một vấn đề nặng nề, chúng ta vụng về trong giao tiếp xã hội, còn nhiều điều nữa, nhưng quả thật mọi chuyện luôn như nhau: Mức để đạt được chiều sâu cũng là mức mà chúng ta bị sỉ nhục, cả hai dính nhau không phân ly.

Nhưng chiều sâu tâm hồn không phải tất thảy đều như nhau. Sự sỉ nhục cho chúng ta chiều sâu, nhưng nó có thể theo nhiều cách rất khác nhau: Nó có thể cho chúng ta được sâu sắc trong nhận thức, cảm thương, và tha thứ hay nó có thể làm cho chúng ta chìm sâu trong phẫn uất, chua cay, và căm thù. Thanh niên đã bắn vào bạn học của mình ở bang Columbine và thanh niên đã xả súng bắn hạ các sinh viên ở Đại Học Công Nghệ Virginia, chắc chắn đã phải chịu quá mức chịu đựng những sỉ nhục trong đời, và nó đã cho họ sự sâu sắc. Đáng buồn thay, trong trường hợp của họ, nó cho họ sự sâu sắc trong giận dữ, chua cay, và giết người.

Chúng ta thấy được một sự tương phản nơi Chúa Giêsu trong cách Ngài ứng xử với thập giá. Như chúng ta biết, đóng đinh thập giá là cách người La Mã dùng để lên án tử hình, nhưng họ còn nghĩ hơn thế nhiều. Đóng đinh thập giá còn được làm với hai mục đích  khác, gây đau đớn tối đa hết mức có thể và sỉ nhục tối đa một cách công khai với người chịu án.

Khi chuẩn bị đối diện với án đóng đinh thập giá và sự sỉ nhục tủi hổ của nó, Chúa Giêsu đã co rúm người trước thử thách này, và cầu xin Chúa Cha liệu có cách nào khác để đi vào chiều sâu của Ngày Chúa Nhật Phục Sinh mà không trải qua sỉ nhục của Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hay không. Cuối cùng, Ngài chấp nhận, nhưng chấp nhận sau khi đổ mồ hôi máu, rằng không còn cách nào khác ngoài việc chịu đựng sỉ nhục đóng đinh trên thập giá. Nhưng chúng ta chỉ thấy được bài học thật nếu chúng ta hiểu được những gì đang khốn đốn nơi bờ vực khi Chúa Giêsu chọn lựa như thế. Chọn lựa phức tạp mà Chúa đã chọn không phải là chọn lựa kiểu: Liệu tôi chấp nhận chết hay tôi viện đến quyền năng thần thánh để tự do thoát khỏi? Chúa Giêsu đã bị kết án tử hình và Ngài thấy tuyệt vọng như bất cứ ai trong hoàn cảnh đó. Dùng đến quyền năng thần thánh để giải thoát mình hay không, chuyện này không phải là vấn đề Chúa dằn vặt. Vấn đề cũng không phải là chết hay không chết. Vấn đề là chết như thế nào. Chọn lựa của Chúa Giêsu là: Tôi chết trong chua cay hay trong yêu thương? Tôi sẽ chết với quả tim chai đá hay tâm hồn mềm dịu? Tôi chết trong oán giận hay trong tha thứ?

Chúng ta đều biết Ngài đã chọn cách nào. Sự sỉ nhục đã đưa Ngài đến những chiều sâu tận cùng, nhưng đó là những chiều sâu của cảm thông, yêu thương, và tha thứ.

Đó chính là vấn đề luôn mãi bên bờ vực lâm nguy trong sự chính chắn trưởng thành và hướng đến tương lai của chúng ta. Khi bị sỉ nhục, liệu chúng ta phó mình cho chua cay hay yêu thương, oán giận hay tha thứ, chai đá quả tim hay mềm dịu tâm hồn? Và chúng ta phải thực hiện chọn lựa đó mỗi ngày: Mỗi lần chúng ta thấy mình bị sỉ nhục, bị phớt lờ, bị lợi dụng, bị xem thường, bị công kích bất công, bị xâm phạm hay bị vu khống, lúc đó chúng ta đang ở làn ranh giữa oán hận và tha thứ, chua cay và yêu thương. Mỗi một chọn lựa sẽ xác định cả sự chính chắn trưởng thành và hạnh phúc của chúng ta.

Và cuối cùng, cũng như Chúa Giêsu, tất cả chúng ta sẽ phải đối diện với chọn lựa tối hậu: Khi đối diện với sự từ bỏ thế gian và cái chết, liệu chúng ta sẽ chọn lựa ra đi và chết với một quả tim lạnh lẽo hay một tâm hồn nồng ấm?

Phần thưởng của lối sống độc thân

Gần đây Frank Bruni có viết một bài bình luận ngắn trên tờ New York Times với tựa đề Những cái giá của Độc thân. Bài viết này dù có tính khiêu khích nhưng lại công tâm. Bruni gần như đặt ra một loạt câu hỏi khó và cấp thiết. Nhìn vào một loạt những tai tiếng tình dục đã làm nhơ uế hàng linh mục Công giáo La Mã trong nhiều năm qua, Bruni cho rằng đã đến lúc để tái thẩm định đời sống độc thân với một cái nhìn chân thật và dũng cảm đồng thời hãy tự hỏi chính mình rằng liệu mặt trái của đời sống này có lớn hơn những lợi ích tiềm tàng của nó hay không. Thật sự thì Bruni không cân đo rạch ròi lắm về vấn đề này, ông chỉ nêu ra rằng độc thân, khi sống theo lời khấn sẽ mang lại nhiều nguy hại hơn là khi tự nguyện sống bình thường như thế. Đến gần cuối bài, ông viết như sau: “Văn hóa độc thân mang mối nguy hại là ngăn trở sự phát triển (tính dục) và biến các xung lực tính dục thành những thứ lệch lạc và lén lút. Nó hạ giá một quan hệ căn bản và có lẽ là không thể cưỡng lại được của con người. Có ai tự hỏi rằng liệu có một số linh mục cố để có được quan hệ đó dù là trong lén lút, khinh suất, và đôi khi là theo những cách rất tiêu cực, hay không?’

Đó không phải là một câu hỏi thiếu tôn trọng, nhưng là một câu hỏi cấp thiết mà chúng ta cần phải dũng cảm dối diện: Liệu độc thân có thực sự là một tình trạng bất thường của con người hay không? Liệu nó có mang nguy cơ ngăn cản phát triển tính dục hay không?

Thomas Merton đã từng được một nhà báo hỏi rằng độc thân là thế nào. Tôi cho rằng câu trả lời của ông sẽ làm kinh ngạc những ai mộ đạo vì ông tán thành quan điểm của Bruni. Ông trả lời như sau: “Độc thân là địa ngục! Bạn sống trong cô đơn mà chính Thiên Chúa đã từng lên án khi Ngài nói: ‘Không tốt khi sống một mình!’”  Tuy nhiên, khi chấp nhận điều này, Merton cũng ngay lập tức nói rằng độc thân dù không phải là tình trạng của con người trong dự định của Đấng Tạo Hóa, vẫn không có nghĩa là nó không thể mang tính sinh sôi và nảy nở tuyệt vời, và có lẽ sự nảy nở độc nhất vô nhị của nó chính là điều nó thể hiện một cách đặc biệt và bất thường đến như thế nào.

Xét về căn bản, điều Merton có ý muốn nói, độc thân là bất thường và buộc bạn phải sống một tình trạng không theo ý của Đấng Tạo Hóa, nhưng bất chấp sự bất thường, và cũng có thể là do chính sự bất thường này, mà độc thân có thể sinh sôi vô cùng, cả cho người đó và cho những ai chung quanh họ.

Tôi biết điều này đúng, vô số người khác cũng vậy, là một Kitô hữu và một con người, tôi đã được giáo dục sâu sắc nhờ đời sống của những người độc thân theo lời khấn, nhờ vô số linh mục, nữ tu, và tu sĩ những người mà đời sống của họ đã ăn sâu vào tôi, và ‘sự bất thường’ đích thực đã làm họ sinh hoa trái diệu kỳ.

Hơn nữa, bất thường có sức hấp dẫn riêng của nó: Khi là một linh mục trẻ, tôi làm linh hướng cho một thanh niên đang lo không biết có nên gia nhập Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ của chúng tôi, hay nên kết hôn. Đó là một quyết định đầy phức tạp, vì anh ấy muốn cả hai. Và dù trong nhận thức anh có một điều gì đó quá lãng mạn viễn vông khi nghĩ về cả hai điều này nhưng anh cũng có một mức độ chính chắn lạ thường.  Đây là những gì anh ấy bày tỏ về vấn đề tiến thoái lưỡng nan của mình:

Tôi là con cả trong gia đình và chúng tôi sống ở nông thôn. Khi  mười lăm tuổi, một tối nọ ngay trước bữa chiều, bố tôi, lúc đó vẫn còn trẻ, bị một cơn đau tim. Chẳng thể gọi được chiếc xe cấp cứu nào. Chúng tôi đưa ông ấy vào xe và mẹ tôi ngồi ở băng ghế sau để giữ ông, còn tôi, một thiếu niên đang hoảng loạn, lái xe đến bệnh viện cách đó 15 dặm. Bố tôi chết trước khi đến được bệnh viện. Thật là đau đớn, nhưng cũng có nét đẹp trong đó. Bố tôi đã chết trên tay mẹ tôi. Vẻ đẹp thương tâm đó đã khắc sâu vào lòng tôi. Trong ý nghĩ, trong tưởng tượng, tôi luôn luôn muốn được chết trong tay vợ mình. Và đối với tôi, điều ngần ngại lớn nhất khi muốn gia nhập Dòng và làm linh mục chính là đời sống độc thân. Nếu làm một linh mục, tôi sẽ không được chết trong tay bất kỳ ai. Tôi sẽ chết như những người độc thân khác!

Rồi một ngày, khi cầu nguyện, cố để nhận thức cho rõ chuyện này, tôi lại thấy được một điều khác: Chúa Giêsu không chết trong tay của người bạn đời, Ngài chết cách khác, cô đơn và lẻ loi. Tôi luôn luôn lo về sự cô đơn của đời sống độc thân, và luôn luôn bị cuốn hút bởi những người như Soren Kierkegaard, Mother Theresa, Dorothy Day, Thomas Merton, Jean Vanier, và Daniel Berrigan, những người không chết trong vòng tay của một người bạn đời. Trong cách chết đó, cũng có một vẻ đẹp thực sự!

Bruni đã đúng khi cảnh báo rằng độc thân là bất thường và đầy nguy hại. Nó có mối nguy ngăn trở phát triển tính dục và đặc biệt là hạ giá một mối quan hệ nhân bản căn bản và có lẽ là không thể cưỡng lại. Một trong những tín điều nhân học căn bản mà Kinh thánh dạy cho chúng ta nằm trong câu chuyện Thiên Chúa tạo ra cặp cha mẹ đầu tiên và lời của Ngài: Không tốt (và nguy hiểm) khi con người sống một mình! Độc thân buộc người ta sống trong cô đơn mà chính Thiên Chúa đã lên án, nhưng cũng chính trong đời sống độc thân mà Chúa Giêsu đã chết vì chúng ta, một cái chết có lẽ là sinh ích nhất trong lịch sử nhân loại.

Bạo dạn với Thiên Chúa

Vài năm trước đây, một cô đã chia sẻ câu chuyện này tại một buổi họp. Cô có một đứa con trai sáu tuổi được cô chỉ dẫn để cháu biết cầu nguyện. Một trong những thói quen cô dạy là mỗi tối quỳ gối bên giường và nói to lên lời cầu nguyện, sau đó kết thúc lời cầu nguyện bằng lời cầu “chúc lành cho cha mẹ, ông bà.” Một hôm, không lâu sau khi bắt đầu dạy như thế, cô đưa cậu bé vào phòng để nghe nó cầu nguyện và để ru nó ngủ. Nhưng lúc đáng ra cậu bé quỳ gối cạnh giường và đọc lời cầu nguyện thì cậu từ chối và chui thẳng lên giường. Mẹ hỏi: “Có chuyện gì vậy? Con không cầu nguyện nữa à?” Cậu bé thưa với vẻ điềm tĩnh đáng kinh ngạc: “Không, con không cầu nguyện nữa. Xơ ở trường dạy chúng con rằng chúng con không cần phải cầu nguyện, bà nói là chúng con nên nói chuyện với Chúa… mà tối nay con mệt và không có gì để nói cả!”

Chuyện này làm tôi nhớ lại câu chuyện về vua Đavid trong Kinh Thánh. Một sáng nọ, vua cùng vài người lính trở về từ chiến trận, ông đến đền thờ, mệt lử và đói, nhưng thức ăn duy nhất ở đó là bánh thánh, mà theo luật đạo Do Thái, chỉ có các tư tế mới được ăn trong nghi lễ. Vua hỏi vị thượng tế về số bánh này và bị cự tuyệt rằng không được ăn bánh này như thức ăn thường. Đavid trả lời rằng vua biết thế, nhưng do hoàn cảnh và do Đức Vua được trao quyền quyết định thay Thiên Chúa trên mặt đất, nên vua ra lệnh vị thượng tế đem bánh lại cho mình.

Truyền thống Thánh Kinh bình luận về chuyện này như sau. Vua được ca ngợi vì đã làm một việc tốt, vua biết Đức Chúa đủ nhiều để hiểu Chúa muốn bánh đó được dùng cho những mục đích ngoại lệ trong hoàn cảnh như thế. Vua được ca ngợi bởi có một đức tin trưởng thành, không câu nệ lề luật quá đáng, không từ bỏ phán định đúng đắn của mình do sợ hãi hay do lòng mộ đạo, và vua biết Thiên Chúa đủ nhiều để biết rằng Ngài không phải là một luật để tuân theo nhưng là một sự hiện diện đầy yêu thương chỉ bảo và đổ tràn đầy sinh khí và sinh lực cho chúng ta. Chúa Giêsu cũng ca ngợi vua Đavid vì hành động này khi dân chúng phàn nàn các môn đệ của Ngài bứt bông lúa trong ngày Sabbath. Ngài nhắc tới hành động vua Đavid đã cho lính đói lả ăn bánh đã được làm phép và cho đó là một hành động của một hiểu biết sâu sắc, nghĩa là khi làm một việc tưởng như phạm thượng, nhưng thực sự thì vua David lại đang biểu lộ tấm lòng mật thiết với Thiên Chúa, cho nên những lời chỉ trích xuất phát từ nỗi sợ sệt nhắm vào vua lại phản tác dụng và tự chỉ ra chúng chỉ là những lời xuẩn ngốc.

Một trong những điều xác định một tình bạn trưởng thành chính là sự gần gũi và thân thiết, những việc tạo nên một mối liên hệ thẳng thắn hơn là một mối liên hệ sợ sệt. Trong mối liên hệ trưởng thành, không có chỗ cho lòng sùng mộ hèn nhát hay tôn kính sai lầm. Thay vào đó, chúng ta phải táo bạo với người bạn thân vì chúng ta biết ý nhau, hoàn toàn tin tưởng nhau, và ở một mức độ quan hệ nào đó, chúng ta không e ngại khi hỏi xin điều gì, không  thấy xấu hổ khi bày tỏ hết về bản thân, sẵn sàng chọc ghẹo nghịch ngợm, và (như vua David) chúng ta có thể suy diễn một cách có trách nhiệm suy nghĩ của người kia. Khi ở trong một mối liên hệ trưởng thành với ai đó, chúng ta thoải mái và dễ chịu với người đó.

Đó cũng là những đặc tính của một đức tin trưởng thành và một một mối liên hệ trưởng thành với Thiên Chúa. Theo thánh Gioan Thánh Giá, càng tiến sâu trong mối quan hệ với Thiên Chúa, đức tin của chúng ta càng trưởng thành, càng bạo dạn, càng gần hơn với Ngài. Như vua David và như cậu bé nhỏ tôi vừa kể trên, lòng sùng mộ một cách sợ sệt đã được thay thế bằng một tình gần gũi lành mạnh. Và đây sẽ chẳng phải là kiểu gần gũi sinh khinh dễ, thứ chỉ nhằm lợi dụng người kia. Đây là kiểu gần gũi với nền tảng là thân thiết, nghĩa là vừa giữ lòng tôn trọng, không bao giờ lợi dụng người kia, vừa dễ dàng vui vẻ dễ chịu hơn là sợ sệt và sốt sắng quá với người kia.

Nhưng, nếu thật như thế, thì chúng ta phải làm thế nào với một sự thật rằng Kinh Thánh đã dạy chúng ta “lòng kính sợ Đức Chúa là khởi đầu của khôn ngoan” và thêm một điều nữa là các truyền thống tôn giáo luôn luôn xem lòng mộ đạo là một đức tính tốt? Sợ hại và mộ đạo có ngăn trở “bạo dạn” với Thiên Chúa hay không? Liệu vua Đavid có sai lầm khi bạo gan diễn giải ý định của Thiên Chúa.

Có một nỗi sợ và một lòng sùng mến lành mạnh trong tôn giáo, nhưng sẽ không được lành mạnh như thế trong một mối liên hệ đầy sợ sệt, chiếu luật, ngại ngùng, quá sốt sắng, hay quá nghiêm trọng. Nỗi sợ và sùng mến lành mạnh trong tôn giáo biểu lộ chính chúng trong một mối liên hệ thẳng thắn.  
Chúng ta đừng để mình bị phờ phỉnh bởi nỗi sợ và sùng mộ. Nỗi sợ thường ngụy trang bằng sự tôn kính trong tôn giáo.  Sùng mộ có thể dễ dàng biến mình thành lắng sâu trong tôn giáo. Nhưng tình mật thiết chân thật vạch mặt cả hai. Một mối liên hệ lành mạnh phải thẳng thắn, bạo dạn, không sợ sệt, thanh thản, vui thú, và hóm hỉnh. Và đặc biệt càng phải như thế trong mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa.

Xem lại cẩm nang để đi đường dài

Hai mươi lăm năm trước, tôi có viết một bài với tựa đề, Cẩm nang để đi Đường dài. Gần đây khi đọc lại, tôi mừng vì sau một phần tư thế kỷ, các nguyên tắc này của tôi vẫn chưa thay đổi, chỉ có thêm sắc thái khác mà thôi. Tôi vẫn đưa ra những lời khuyên hệt như thế, xem lại chúng với một chút hoài niệm, có sửa đổi vài điểm, nhưng một lần nữa, tôi hoàn toàn đồng ý với nó.

1. Sống biết ơn… đừng bao giờ vô tâm khi nhận được tặng vật!
Hãy cự lại tính bi quan và những điều sai quấy. Là thánh, có nghĩa là được sưởi ấm trong lòng biết ơn, không hơn không kém. Lời khen cao nhất bạn có thể tặng cho người trao quà, đó là bạn tận hưởng món quà đó. Bạn nợ đấng Tạo Hóa một việc chính là hãy hưởng dùng mọi sự,  hãy sống hạnh phúc nhất có thể. Đời sống không chỉ là một bài kiểm tra, nó còn có giá trị hơn thế. Hãy thêm câu này vào lời cầu nguyện thường ngày của bạn: Xin cho chúng con lương thực hằng ngày, và cho chúng con hưởng dùng mà không vướng tội.

2. Đừng ngây thơ về Thiên Chúa… Thiên Chúa sẽ sắp đặt mọi thứ đầy đủ không sót điều gì!
Thiên Chúa không muốn là một phần cuộc sống của bạn, Ngài muốn là tất cả cuộc sống đó. Đừng tin bất cứ lời nào nói về sự an ủi của tôn giáo. Đức tin thắt lưng cho bạn và đưa bạn đi đến nơi bạn không muốn đến. Hãy chấp nhận rằng đức hạnh sẽ liên tục nhắc nhở cho bạn về những gì bạn bỏ lỡ trong đời. Hãy nhận lời khuyên này của Daniel Berrigan: “Trước khi chú tâm về Chúa Giêsu, trước hết, hãy xét mình, xem nội tâm mình tốt đẹp được đến đâu!”

3. Hãy tiến bước khi có thể… hay ít nhất cố dấn lên trước dù chỉ một bước!
Hãy nhìn những gì trong tầm mắt bạn, vậy là đủ để bước tiếp. Biết trước mắt là một thời gian dài mập mờ. Hãy thấy đủ với cuộc sống thường nhật. Không cần thiết lúc nào cũng phải đầy hứng thú. Một điều an ủi cho bạn là Chúa Giêsu từng khóc, các vị thánh từng phạm tội, và thánh Phêrô đã từng phản bội. Giữ vững đạo đức như một kẻ ương bướng cũng được, điều duy nhất hủy hoại các giấc mơ chính là thỏa hiệp. Hãy thường xuyên bắt đầu lại. Trong mắt Thiên Chúa, chẳng ai lỗi thời cả; và trong việc hoán cải, chẳng có gì gọi là quá trễ. Hãy biết rằng có hai kiểu bóng tối bạn có thể rơi vào: bóng tối sợ hãi của hoang tưởng sẽ đem lại buồn sầu, và bóng tối phôi thai của hoán cải sẽ đem lại sự sống.

4. Cầu nguyện… để Thiên Chúa kết chặt với bạn!
Đừng tin ý kiến của đám đông. Hãy tin tưởng vào lời cầu nguyện. Việc cầu nguyện sẽ cho bạn được đặt mình trên nền tảng một điều gì đó thâm sâu hơn. Hãy sẵn sàng chết đi một ít để được gắn bó với Thiên Chúa vì Ngài đã chết để được gắn bó với bạn. Hãy để tâm hồn mình là nơi giọt nước mắt của Thiên Chúa và của con cái Ngài hòa vào nhau thành những giọt nước mắt hy vọng.

5. Hãy yêu… nếu cuộc đời đủ rộng cho tình yêu đó, và thật sự nó đủ rộng như thế!
Hãy tạo một không gian cho tình yêu trong đời bạn. Hãy nuôi dưỡng tình yêu đó một cách ý thức. Biết rằng yêu bao nhiêu cũng không vừa. Yêu mến chuyện thế gian chỉ có thể là một tình yêu sai lầm. Hãy nói điều này với người bạn yêu: “Ít nhất, bạn sẽ chẳng bao giờ chết!” Hãy biết rằng, trên đời chỉ có hai bi kịch khốn khổ: Không yêu, và không nói cho người bạn yêu rằng bạn yêu họ biết bao.

6. Chấp nhận bản thân bạn… và đừng sợ bạn không hoàn hảo!
Hãy chấp nhận những giới hạn của con người. Chỉ có Thiên Chúa mới hoàn hảo. Nếu bạn yếu đuối, cô đơn, không có người để nương tựa, và không có câu trả lời cho những vấn đề của bạn, vậy thì; hãy lắng nghe. Chấp nhận những khó khăn của cuộc sống không trọn hảo. Có nhiều kiểu tử đạo. Hãy nhận ra kiểu riêng của bạn. Nếu bạn chết vì một lý do cao cả thì sẽ có một cái gì đó để bạn sống với nó!

7. Đừng có làm một cái xác di động… hãy dấn bước, đừng để dòng đời xô đẩy!
Hãy chấp nhận cái chết hằng ngày. Đừng nắm cuộc đời như vật sỡ hữu riêng của mình. Thói sỡ hữu giết chết niềm vui hưởng dùng, giết chết các mối liên hệ, và thậm chí giết chết cả bạn nữa. Hãy sống biết ơn. Hãy nhớ những cái chết của bạn, hãy đòi cho được sự tái sinh, hãy khóc cho những mất mát, để những gì đã cũ qua đi, và đón nhận lấy sinh khí cho cuộc đời hiện thực bạn đang sống. Hãy dẹp bỏ những mơ mộng hão huyền, chúng chỉ làm khổ bạn mà thôi. Hãy nhớ rằng thật khó để phân biệt được thời khắc chết đi và thời khắc tái sinh.

8. Đừng sống quá nghiêm khắc… hãy thường tự cho mình là một kẻ điên!
Tiếng cười của Thiên Chúa lấp đầy trống vắng trong mộ phần của chúng ta. Hãy nhớ rằng, sống nặng nề thật dễ, nhưng sống nhẹ nhàng mới khó. Tiếng cười là công kích trực tiếp đối với thực chất, giá trị, và khắt nghiệt của hỏa ngục. Đừng nhầm lẫn giữa giễu cợt và cười đùa. Hãy cười với người ta, chứ đừng cười vào người ta. Hãy cười và cho mình nên khờ dại, điên rồ cũng tốt như một giấc ngủ say vậy.

9. Hãy gắn bó với gia đình … bạn đang đi chơi dã ngoại với cả nhóm!
Đừng đi một mình. Hãy chống lại cám dỗ rằng cho rằng, hãy sống tâm linh nhưng đừng theo tôn giáo. Hãy thường xuyên “tái sinh” trong cộng đoàn. Chấp nhận rằng phải có những mối dây ràng buộc. Hành trình của bạn bao gồm cả gia đình, giáo hội, tổ quốc, và toàn thể nhân loại. Đừng bị quyến rũ bởi miếng mồi mang tên tự do tuyệt đối. Tự do và ý nghĩa cuộc đời nằm ở chỗ biết vâng phục trong cộng đoàn: cộng đoàn hạ thấp và giảm giá cái tôi, đặt bạn vào luyện ngục, và cuối cùng là thiên đàng.

10. Đừng sợ sống yếu đuối… sự cứu chuộc nằm ở những giọt nước mắt!
Toàn bộ giáo lý của Chúa Giêsu có thể đưa vào trong một từ: Chịu đựng. Nếu quá tim bạn không dịu đi thì cuối cùng đầu óc bạn sẽ yếu. Sự khắc nghiệt chỉ làm mọi chuyện xấu đi. Sự mềm dịu sẽ nâng mọi chuyện lên. Con chim bay được là vì nó mềm mại. Tảng đá không nhấc lên được vì nó cứng. Sự mỏng manh chính là sức mạnh. Tính nhạy cảm xác định tâm hồn. Sự dịu dàng xác định tình yêu. Nước mắt là nước muối, giọt nước nguồn gốc của chúng ta. 

Xin bớt tự vệ

Ngày nay, tín hữu chúng ta ngày càng ngả theo chiều hướng tự vệ hơn là dám mạo hiểm chịu đóng đinh cho thế gian. Chúng ta làm việc này với thiện hướng tốt, nhưng thiện hướng tốt không đứng vững, vì hành động của chúng ta đi ngược lại với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu yêu mến thế gian đến nỗi để chính mình bị đóng đinh trên thập giá hơn là tự bảo vệ mình để thoát khỏi nó.

Ngày nay khuynh hướng tự vệ đầy dẫy trong các giáo hội, dù không phải là nó không có nguyên do hợp lý. Gần như mọi nơi trên thế giới, giáo hội đang bị vây hãm theo nhiều kiểu, hoặc do ngược đãi thực sự, hoặc do đơn thuần do bất kính, nhận thức sai lầm hay đối xử bất công. Nền văn hóa thế tục hóa mang trong mình một tâm thức chống Kitô giáo và chống hàng giáo sĩ, nhiều tín hữu cảm thấy điều này chính là thứ định kiến cuối cùng được chấp nhận về mặt lý thuyết trong nền văn hóa của chúng ta.

Và ý nghĩ này chẳng hoang tưởng chút nào. Thực sự là có như vậy. Nền văn hóa thế tục có những đặc tính tốt của nó, nhưng nó cũng bao hàm một thứ gì đó thiếu chính chắn và tự đại đối với di sản Do Thái – Kitô giáo. Không khác gì cảm giác của một đứa trẻ dậy thì khi lần đầu tiên cảm nhận được sức mạnh của mình, nền văn hóa thế tục cũng có thể phê phán quá mức và đối xử bất công đầy chua cay với những gì là nguồn cội của nó. Những đứa trẻ dậy thì thường rất khắc nghiệt với cha mẹ và nền văn hóa thế tục cũng thường rất khắc nghiệt với di sản Do Thái – Kitô giáo của nó.

Vì thế, tôi có thể hiểu được tại sao thời nay, quá nhiều lãnh đạo cũng như các thành viên tận tụy trong giáo hội ngày càng thủ thế hơn. Tuy nhiên, dù hiểu được bản chất ẩn khuất trong điều này, tôi vẫn không thể đồng ý với phản ứng như thế, cụ thể là khuynh hướng co cụm phòng thủ, đóng chặt mọi lối vào dù là nhỏ nhất, và xem nền văn hóa của chúng ta là một địch thủ chống lại những gì chúng ta cần tự vệ hơn là xem nó như một thế giới mà Chúa Giêsu đã dùng cái chết để chuộc lấy và là điều mà chúng ta được mời gọi hãy đến để yêu thương và cứu lấy nó. Tại sao sự tự vệ này sai lầm, do bởi tất cả những nguyên do dường như chúng ta được mời gọi để làm vậy hay sao?

Điều sai lầm trong khuynh hướng tự vệ của chúng ta là vì nó thật sự đối lập với những gì Chúa Giêsu đã làm.  Chúng ta thấy điều này suốt trọn Tin Mừng. Các môn đệ của Chúa Giêsu luôn mãi cố để bảo vệ Ngài khỏi những nhóm khác nhau, những người mà họ cho là không xứng đáng đứng trước Ngài, và Chúa Giêsu thì luôn làm rõ rằng Ngài không cần hay không muốn được bảo vệ: “Hãy để họ đến với ta!” chính là một trong những câu hay nói của Chúa.

Thêm vào đó, và quan trọng hơn nữa, các môn đệ cố gắng đế bảo vệ Ngài khỏi những người và những việc mà họ cho là nguy hại đến Ngài.  Do đó, họ cố gắng thuyết phục Ngài đừng chấp nhận chịu đóng đinh thập giá, và thực thế, lúc Ngài bị bắt, họ dùng gươm để cố bảo vệ Ngài. Khi Ngài sắp bị bắt, họ hỏi Ngài: Chúng con nên dùng vũ lực để bảo vệ Thầy hay không? Chúng con có nên tuốt gươm khỏi vỏ hay không? Đáng buồn thay, họ không đợi Ngài trả lời, khi cố gắng bảo vệ Chúa, Phêrô đã rút gươm, chặt đứt tai một trong số những kẻ đang bắt Chúa Giêsu.

Vậy Chúa Giêsu đã phản ứng thế nào trước nỗ lực bảo vệ này? Chúa đã nói: Không được làm thế! Nhưng chúng ta không biết Chúa nói với giọng như thế nào. Giận dữ và quở trách dữ dội? Hay thất vọng vì thấy Phêrô, tảng đá của Chúa, giáo hoàng tương lai đã hiểu lầm đến tệ hại những gì Chúa muốn nói? Hay, với giọng buồn của một bà mẹ khi bảo con mình đừng đánh nhau nữa, dù lúc đó sự cam chịu trong giọng nói của bà cho bà biết chúng sẽ chẳng bao giờ làm như thế?  Cho dù với giọng như thế nào, thông điệp trong đó vẫn rất rõ ràng: Những môn đệ tiên khởi của Chúa không hiểu được một trong những điều cốt yếu về Thầy mình. Chúa Giêsu đã dành trọn cuộc đời rao giảng của mình để chữa lành, trong đó có chữa tai cho kẻ điếc được nghe, và trong đêm cuối cùng trên thế gian này, trưởng tông đồ của Ngài lại đi cắt tai kẻ khác để cố bảo vệ Ngài.

Bài học cho chúng ta thật thâm thúy thay: Việc Chúa Giêsu chữa lành các đôi tai thể hiện mong ước được đối thoại của Ngài, còn hành động cắt lìa tai của Phêrô lại thể hiện ý muốn chấm dứt đối thoại. Trọn con người và thông điệp của Chúa Giêsu đã thể hiện và rao giảng cho sự yếu đuối sẵn sàng chịu tổn thương và chấp nhận triệt để thập giá hơn là tự vệ, còn các môn đệ của Ngài, ngay lần đầu gặp thù địch, đã đáp trả bằng bạo lực và tự vệ.

Chúng ta không được quên bài học này: Tất cả mọi sự đều cho thấy Chúa Giêsu rao giảng về sự sẵn sàng chấp nhận tổn thương hơn là tự vệ. Chúa sinh ra máng lừa, một máng đựng thức ăn, nơi gia súc đến để ăn, và đến cuối đời, Chúa đặt mình trên bàn, “thịt hằng sống cho thế gian”, để thế gian ăn lấy Ngài, những lời đầu tiên của Ngài là kêu gọi sám hối, thay đổi tâm thức, như thế là đối lập với hoang tưởng kình địch, và cuối cùng, Ngài phú mình chịu đóng đinh hơn là tự vệ. Đó là lời đáp của Chúa Giêsu với thế gian, một thế gian hiểu lầm và đối xử tàn tệ với Ngài. Ngài mở rộng cánh tay trong sự yếu đuối dễ tổn thương hơn là nắm chặt nắm đấm để tự vệ.

Và theo đúng lý tưởng của Chúa, đó là cách chúng ta nên đáp trả khi thế gian bất công với chúng ta. Không như Phêrô, người theo bản năng đã rút gươm ra khỏi vỏ mà chẳng nhớ gì đến lời dạy của Chúa Giêsu, chúng ta không nên để một mối đe dọa bên ngoài xóa sạch những gì là tâm điểm trong con người và giáo lý của Chúa Giêsu, cũng như đừng đáp trả bằng một lối đi ngược lại Tin Mừng, một kiểu thù địch đáp trả thù địch, thiếu chính chắn đáp trả thiếu chính chắn.

Bình đá cứng và thùng mềm mại hơn

Trong tiểu thuyết “Một tháng toàn ngày Chúa nhật” của John Updike, ông mô tả nhân vật linh mục Quản xứ bị xuống chức, dù ông là người phải đấu tranh với chính mình về đức tin, nhưng lại cực lực phê phán người trợ lý trẻ của mình, xem đức tin và thần học của anh là thứ ẻo lả và kém cỏi. Ông mô tả người trợ lý trẻ như sau:

Những gì anh ta có là một thứ “thần học khập khiễng, một pha trộn hoàn toàn tạp nham kiểu Jung-Zen, loại thần nhiệm vừa hồn vừa xác, nấu thành nồi lẩu nhạt nhẽo những thứ vô vị của Tillich, Jasper, Bultmann, thức ăn được dọn ra trong chiếc chén rẻ tiền là món dĩ hòa vi quý của thế hệ anh ta.” Tất nhiên cha xứ không vướng vào tâät nào ở trên, ông dị ứng vì thứ lẩu không hợp quan điểm mỹ học của ông. Theo ông, là thế này: “Hãy dùng những bình đá nguyên gốc, nếu không thì đừng dùng gì hết!”

Nghe thì thật hay và sáng suốt, và đúng như vậy. Nhưng nếu làm như thế thì có khôn ngoan không, hay chỉ đơn thuần là một trong những thứ có vẻ sáng suốt nhưng không khôn ngoan? Tôi thú nhận, có một thời tôi đã tóm lấy các phát biểu kiểu này và làm theo nó. Tôi cũng đã nuôi dưỡng thái độ: Hãy dùng bình cũ, bằng đá, rắn chắc. Đừng đem đến cho tôi thói dĩ hòa vi quý, kiểu ngồi lại với nhau thành nhóm nhỏ, cầm tay nhau và quả quyết mình yêu thương nhau!

Nhưng, khi đã có tuổi, tôi ngày càng hoài nghi bản thân tôi thời trẻ, hoài nghi cả một số điều khôn ngoan của thế hệ chúng tôi. Người ta cho vào đầu chúng tôi quá nhiều bình đá như thế, và rồi tôn giáo, chính trị, kinh tế, và thái độ của chúng tôi đều phản ánh từ đó mà ra. Chúng tôi được dạy phải khăng khăng và thuần nhất trong giáo lý, không khoan nhượng, phải trung thành với những gì có nơi mình, không chấp nhận bất kỳ điều gì không do tự mình tìm ra, tự hào về những chỉ trích nặng nề mà mình đã phải chịu. Chúng tôi cũng được dạy để tự bản chất không tin tưởng bất kỳ thứ gì có vẻ êm ái, những thứ không làm mà có, và những thứ không đến từ một chiếc bình trông rắn chắc.

Và phần nổi của chuyện này là: Nói chung, chúng tôi lớn lên, mạnh mẽ, độc lập, rắn rỏi, bản lĩnh, không tìm kiếm bất kỳ của rơi vãi nào cả về vật chất lẫn tinh thần. Chúng tôi không tin tưởng vào những hành vi mang tính quả quyết, hay việc cầm tay nhau, hay việc quá thường xuyên nói với nhau những câu như “Tôi thương bạn”. Chúng tôi học cách đào sâu nội tâm, tìm cách làm cho mình rắn rỏi hơn. Những chiếc bình đá được nuôi dưỡng theo cách này.

Nhưng vẻ ngoài rắn rỏi, tố chất không nhân nhượng, và niềm kiêu hãnh vì không bao giờ lấy những gì không do bàn tay lao động của mình làm ra, nhưng những thứ đó cũng có một mặt tối ẩn khuất của chúng. Chúng tôi có khuynh hướng công kích và cạnh tranh khiến chúng tôi khó chúc phúc cho ai, đặc biệt cho những người trẻ tài năng hơn mình. Chúng tôi thiên về ghen tỵ, không dễ bỏ cái vị trí trung tâm của mình, và chúng tôi hẹp hòi, quá dễ dàng rơi vào chủ nghĩa ái quốc sai lầm, kỳ thị chủng tộc, giới tính, cũng như nhiều dạng kiêu căng tự đại khác.

Gần đây, tôi nghe bài phỏng vấn một phụ nữ trẻ trên đài, cô đã là mẹ, cô chia sẻ hằng ngày cô gọi điện thoại cho mẹ, được mẹ cô nói lời yêu thương và cô hy vọng, cô cũng sẽ nói như vậy với đứa con còn nhỏ của mình. Phản ứng bộc phát của tôi là phản đối: Quá mật ngọt! Thật là một thế hệ được nuông chiều đến hư hỏng! Một phụ nữ trưởng thành vẫn cần loại khẳng định yêu thương này của mẹ! Tôi không lớn lên theo kiểu như thế! Thế hệ của tôi không lớn lên theo kiểu như thế! Thật ủy mị sướt mướt!

Vì không tin gì nơi tính ủy mị đa cảm này nên chúng tôi không thấy điều gì tốt ở đây, trong lời nói cũng như việc làm. Và vì do rắn rỏi và khinh thường tính đa cảm, chúng tôi thấy thật khó để khẳng định tình yêu và chúc phúc cho người khác. 

Vì thế, tôi nhìn vào những dòng trên của Updike với cái nhìn phê phán (vẫn giữ trong lòng rằng đây chỉ là những lời nói của một nhân vật hư cấu và chẳng cần phải suy ngẫm thái độ của Updike trong đó). Tôi nhận ra những dòng này thật sáng suốt và tôi tôn trọng ý nghĩa ẩn sâu bên trong chúng. Xét cho cùng, chúng bắt nguồn từ một cảm thức tinh tế, một ước vọng có được một mỹ học đúng đắn, kèm theo là sự khinh thị đối với bất kỳ thứ gì sướt mướt và đa cảm, một thứ suy nghĩ cố gắng nhận nhầm rằng mình đủ sâu sắc. Tất cả chúng ta có thể cảm được tại sao nhân vật linh mục Quản xứ của Updike lại có cảm nhận như thế, vì tất cả chúng ta đều có một phẫn nộ giống nhau khi thấy loại nước giải khát rẻ tiền khoa mép tự cho mình là rượu thượng hạng. Tất cả chúng ta đều có những chiếc bình đá ưa thích riêng của mình.

Nhưng khi nhận ra điều này, chúng ta cũng cần công nhận rằng Tillich, Jasper, Jung và thuyết thần nghiệm khó có thể là một thứ nước giải khát chua ngọt rẻ tiền. Và, quan trọng hơn, chúng ta cũng phải công nhận rằng nơi những người cảm thấy cần đến với những nhóm nhỏ, gặp gỡ và cầm tay nhau, cũng như nơi những người trẻ thấy cần phải gọi điện cho mẹ mỗi ngày để được mẹ nói những lời yêu thương, ở nơi họ, chúng ta thường thấy một tấm lòng ấm áp nồng hậu của tình yêu Thiên Chúa, mà tấm lòng này lại chẳng thấy rõ nơi một số nhóm ưu tú của chúng ta, những người thích lấy nguồn sống từ những chiếc bình đá, nhức nhối muốn tìm một mỹ học cao hơn, cảm thấy bị xúc phạm vì các tiêu chuẩn sống gần như đang bị xuống giá, lại còn mong tính chính thống được thuần nhất hơn, và rồi cũng như nhân vật Quản xứ trong truyện của Updike, có những phán xét chua cay đối với đồng bạn mình.

Những bài học đạo đức kiểu chua cay, cho dù nguồn gốc phẫn nộ của chúng có căn cứ đến đâu đi nữa, vẫn luôn phát sinh ra nhiều dạng và luôn lộ rõ bộ mặt thật của chúng trong sự vắng bóng tình nồng ấm và trong bất lực không có khả năng chúc phúc cho người khác.

Đấu tranh với tính thế tục

Chúng ta sống trong một nền văn hóa thế tục cao độ.  Thường thì điều này đưa đến cho chúng ta một trong ba phản ứng mà người Kitô hữu đấu tranh để sống đức tin trong bối cảnh như thế:

Thứ nhất, ngày càng đông các Kitô hữu thuộc đủ mọi phái càng ngày càng xem tính thế tục là địch thủ chứ không phải là đồng minh của đức tin và các giáo hội. Theo quan điểm của họ, tính thế tục là mối đe dọa đối với tôn giáo và đạo đức, như thế dưới danh nghĩa của tự do và mở mang trí tuệ, nó dần dần bóp nghẹt tự do Kitô giáo. Với họ, tính thế tục mang trong mình sự áp đặt của luật tương đối, và có thể gọi nó là “thời hậu Kitô giáo” và “nền văn hóa của sự chết”.

Nhóm thứ hai đơn thuần tự thích nghi với nền văn hóa này, và không mảy may có một chút nào phê phán. Họ điều chỉnh đức tin dựa vào văn hóa, và điều chỉnh văn hóa dựa vào đức tin sao cho phù hợp với hoàn cảnh của mình. Đối với họ, đức tin gần như trở nên một di sản văn hóa, một đặc nét hơn là một tôn giáo, dù hiện nay tâm thức này không còn mù quáng nhiều như lúc đầu mới xuất hiện. Những đấu tranh của nhóm này khi mạnh mẽ lại càng tệ hơn, khơi dậy không những các chất vấn bất diệt về linh hồn, mà còn chất vấn về đặc tính Kitô – Do Thái giáo trong cốt lõi của nền văn hóa và trong từng cá nhân. Vậy nên họ chọn những giá trị từ cả truyền thống Kitô – Do Thái giáo và cả nền văn hóa thế tục rồi pha trộn chúng trong một kết hợp mới, và dường như chẳng bận tâm gì về tôn giáo cho lắm trong sự pha trộn này.  

Nhóm thứ ba có cách tiếp cận có vẻ khác hơn: Những người như Charles Taylor, Louis Dupre, Kathleen Norris, và thế hệ trước đó như Karl Rahner, xem thế tục là một gói hỗn hợp, một nền văn hóa cưu mang cả sự sống lẫn sự chết, một nền văn hóa theo cách nào đó là một sự tiến tới và sự thanh lọc cho các giá trị đạo đức và tôn giáo, nhưng theo một cách khác, nó cũng ngày càng thụt lùi về đạo đức và tôn giáo. Tầm quan trọng chính yếu trong quan điểm này nằm ở ý niệm rằng nền văn hóa thế tục, tính thế tục là đứa con phát sinh từ Do Thái giáo và Kitô giáo. Do Thái – Kitô giáo, ít nhất cũng là như thế đối với nhiều người, đã làm phát sinh tư tưởng của René Descartes, những nguyên lý của Thời đại Ánh Sáng, cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Scotland, cách mạng Hoa Kỳ, và như thế cũng là nguồn gốc của dân chủ, của sự tách ly giáo hội với nhà nước, và của những nguyên lý nâng đỡ nhiều cho tính thế tục, cụ thể là chúng ta đồng ý tổ chức đời sống xã hội trên nguyên tắc đồng thuận dựa trên lý lẽ hơn là trên nền tảng uy quyền thiêng liêng (tất nhiên cái thứ hai có nghĩa cho phép uy quyền thiêng liêng tác động trên sự đồng thuận lý tính).

Trong quan điểm này, đối lập với thế tục không phải là giáo hội, mà là nhóm khủng bố Taliban hoặc bất kỳ quan điểm nào cho rằng đời sống của dân chúng phải quy phục uy quyền thiêng liêng bất chấp sự đồng thuận lý tính. Như thế, tính thế tục có vẻ như con cái trong nhà hơn là kẻ thù của chúng ta. Tuy nhiên, nếu thật như thế, thì tại sao tính thế tục lại thường thể hiện một thái độ quá chua cay và quá phê phán đối với các giáo hội Kitô giáo? Điều này dường như là một mâu thuẫn, nhưng sự chống Kitô giáo này của tính thế tục cũng giống như trường hợp trẻ con mới lớn có thái độ cay nghiệt và phê phán quá đáng đối với cha mẹ, cụ thể là ở độ tuổi này, trẻ con thường tự đại và thiếu chính chắn. Nhưng một đứa trẻ dậy thì tự đại và thiếu chính chắn không phải là một người xấu, nó chỉ chưa phát triển đủ thôi.

Khi xem xét tính thế tục từ quan điểm này, điều quan trọng là phải nhấn mạnh ngang bằng nhau vừa nền tảng đạo đức vừa nền tảng tôn giáo vốn đã bị mất hoặc được thu hoạch thêm trong tính thế tục. Chúng ta có thể thấy được cả hai điều này, ví dụ như khi nhìn vào nền văn hóa thế tục mạnh mẽ của Hà Lan: Một mặt, ít người đi lễ và giữ đạo, cùng với sự chấp nhận và hợp pháp hóa việc phá thai, dùng thuốc nghiền, mại dâm, và khiêu dâm; nhưng mặt khác, đây là một xã hội quan tâm đến người nghèo tốt hơn bất kỳ một xã hội nào khác, và cho thấy, họ rất độ lượng, hòa bình, và bình đẳng giới tính. Không thể xem đây là những thành tựu tôn giáo và đạo đức nhỏ nhặt được.

Vậy quan điểm của tôi thế nào đây? Gần như nhóm thứ ba này và niềm tin của họ, cho rằng tính thế tục không phải là kẻ thù nhưng là kẻ nối tiếp và tính thế tục mang trong mình cả dòng chảy sự sống rất sinh ích lẫn con lạch của sự chết đang bóp nghẹt loài người. Một mặt, từ nó, tôi nhận được sự sáng tạo, màu sắc sinh động của cuộc sống, sự cởi mở và năng lượng sinh ích, và nhiều lúc nó giúp tôi đè nén đi cái xu hướng Đức vốn phần nào xám xịt và trầm cảm. Tôi cũng được nâng đỡ thường xuyên vì lòng quãng đại thực sự và lòng tốt chân thành nơi những người tôi gặp gỡ. Và còn một điều quan trọng nữa, tôi gặt hái được những lợi ích đáng kinh ngạc của nó – tự do, bảo vệ các quyền của tôi, tính riêng tư, cơ hội học hành, chăm sóc y tế tuyệt vời, thông tin khoa học, tiếp cận thông tin, những dịp mang đậm tính văn hóa cởi mở và đầy vui thú, nước sạch, thực phẩm dồi dào, và một điều nữa không kém quan trọng, đó là sự tự do để thực hành đức tin và tôn giáo của tôi.

Xét ngược lại, tôi cũng nhận ra những yếu tố sự chết của nó: Việc chấp nhận phá thai, người nghèo bị cô lập, đòi hỏi cái chết êm dịu, phân biệt chủng tộc kéo dài, vô trách nhiệm về hành vi tính dục quá phổ biến, nghiện văn hóa phẩm khiêu dâm ngày càng nặng, và một sự tầm thường hóa cũng như thiển cận cứ tăng dần lên mãi. Như những gì mà truyền hình thực tế biểu lộ nền văn hóa của chúng ta, tôi ngày càng thất vọng về chiều sâu của nền văn hóa này.

Là người kế thừa trưởng thành của René Descartes, tôi hít thở bầu khí thế tục, một bầu khí rất hỗn hợp, vừa trong lành vừa ô nhiễm, và tôi thấy mình đang bị giằng co giữa hy vọng và sợ hãi, giữa thoải mái và khó chịu, giữa việc bảo vệ và phê phán sự thế tục hóa này.