RonRolheiser,OMI

Xin bớt tự vệ

Ngày nay, tín hữu chúng ta ngày càng ngả theo chiều hướng tự vệ hơn là dám mạo hiểm chịu đóng đinh cho thế gian. Chúng ta làm việc này với thiện hướng tốt, nhưng thiện hướng tốt không đứng vững, vì hành động của chúng ta đi ngược lại với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu yêu mến thế gian đến nỗi để chính mình bị đóng đinh trên thập giá hơn là tự bảo vệ mình để thoát khỏi nó.

Ngày nay khuynh hướng tự vệ đầy dẫy trong các giáo hội, dù không phải là nó không có nguyên do hợp lý. Gần như mọi nơi trên thế giới, giáo hội đang bị vây hãm theo nhiều kiểu, hoặc do ngược đãi thực sự, hoặc do đơn thuần do bất kính, nhận thức sai lầm hay đối xử bất công. Nền văn hóa thế tục hóa mang trong mình một tâm thức chống Kitô giáo và chống hàng giáo sĩ, nhiều tín hữu cảm thấy điều này chính là thứ định kiến cuối cùng được chấp nhận về mặt lý thuyết trong nền văn hóa của chúng ta.

Và ý nghĩ này chẳng hoang tưởng chút nào. Thực sự là có như vậy. Nền văn hóa thế tục có những đặc tính tốt của nó, nhưng nó cũng bao hàm một thứ gì đó thiếu chính chắn và tự đại đối với di sản Do Thái – Kitô giáo. Không khác gì cảm giác của một đứa trẻ dậy thì khi lần đầu tiên cảm nhận được sức mạnh của mình, nền văn hóa thế tục cũng có thể phê phán quá mức và đối xử bất công đầy chua cay với những gì là nguồn cội của nó. Những đứa trẻ dậy thì thường rất khắc nghiệt với cha mẹ và nền văn hóa thế tục cũng thường rất khắc nghiệt với di sản Do Thái – Kitô giáo của nó.

Vì thế, tôi có thể hiểu được tại sao thời nay, quá nhiều lãnh đạo cũng như các thành viên tận tụy trong giáo hội ngày càng thủ thế hơn. Tuy nhiên, dù hiểu được bản chất ẩn khuất trong điều này, tôi vẫn không thể đồng ý với phản ứng như thế, cụ thể là khuynh hướng co cụm phòng thủ, đóng chặt mọi lối vào dù là nhỏ nhất, và xem nền văn hóa của chúng ta là một địch thủ chống lại những gì chúng ta cần tự vệ hơn là xem nó như một thế giới mà Chúa Giêsu đã dùng cái chết để chuộc lấy và là điều mà chúng ta được mời gọi hãy đến để yêu thương và cứu lấy nó. Tại sao sự tự vệ này sai lầm, do bởi tất cả những nguyên do dường như chúng ta được mời gọi để làm vậy hay sao?

Điều sai lầm trong khuynh hướng tự vệ của chúng ta là vì nó thật sự đối lập với những gì Chúa Giêsu đã làm.  Chúng ta thấy điều này suốt trọn Tin Mừng. Các môn đệ của Chúa Giêsu luôn mãi cố để bảo vệ Ngài khỏi những nhóm khác nhau, những người mà họ cho là không xứng đáng đứng trước Ngài, và Chúa Giêsu thì luôn làm rõ rằng Ngài không cần hay không muốn được bảo vệ: “Hãy để họ đến với ta!” chính là một trong những câu hay nói của Chúa.

Thêm vào đó, và quan trọng hơn nữa, các môn đệ cố gắng đế bảo vệ Ngài khỏi những người và những việc mà họ cho là nguy hại đến Ngài.  Do đó, họ cố gắng thuyết phục Ngài đừng chấp nhận chịu đóng đinh thập giá, và thực thế, lúc Ngài bị bắt, họ dùng gươm để cố bảo vệ Ngài. Khi Ngài sắp bị bắt, họ hỏi Ngài: Chúng con nên dùng vũ lực để bảo vệ Thầy hay không? Chúng con có nên tuốt gươm khỏi vỏ hay không? Đáng buồn thay, họ không đợi Ngài trả lời, khi cố gắng bảo vệ Chúa, Phêrô đã rút gươm, chặt đứt tai một trong số những kẻ đang bắt Chúa Giêsu.

Vậy Chúa Giêsu đã phản ứng thế nào trước nỗ lực bảo vệ này? Chúa đã nói: Không được làm thế! Nhưng chúng ta không biết Chúa nói với giọng như thế nào. Giận dữ và quở trách dữ dội? Hay thất vọng vì thấy Phêrô, tảng đá của Chúa, giáo hoàng tương lai đã hiểu lầm đến tệ hại những gì Chúa muốn nói? Hay, với giọng buồn của một bà mẹ khi bảo con mình đừng đánh nhau nữa, dù lúc đó sự cam chịu trong giọng nói của bà cho bà biết chúng sẽ chẳng bao giờ làm như thế?  Cho dù với giọng như thế nào, thông điệp trong đó vẫn rất rõ ràng: Những môn đệ tiên khởi của Chúa không hiểu được một trong những điều cốt yếu về Thầy mình. Chúa Giêsu đã dành trọn cuộc đời rao giảng của mình để chữa lành, trong đó có chữa tai cho kẻ điếc được nghe, và trong đêm cuối cùng trên thế gian này, trưởng tông đồ của Ngài lại đi cắt tai kẻ khác để cố bảo vệ Ngài.

Bài học cho chúng ta thật thâm thúy thay: Việc Chúa Giêsu chữa lành các đôi tai thể hiện mong ước được đối thoại của Ngài, còn hành động cắt lìa tai của Phêrô lại thể hiện ý muốn chấm dứt đối thoại. Trọn con người và thông điệp của Chúa Giêsu đã thể hiện và rao giảng cho sự yếu đuối sẵn sàng chịu tổn thương và chấp nhận triệt để thập giá hơn là tự vệ, còn các môn đệ của Ngài, ngay lần đầu gặp thù địch, đã đáp trả bằng bạo lực và tự vệ.

Chúng ta không được quên bài học này: Tất cả mọi sự đều cho thấy Chúa Giêsu rao giảng về sự sẵn sàng chấp nhận tổn thương hơn là tự vệ. Chúa sinh ra máng lừa, một máng đựng thức ăn, nơi gia súc đến để ăn, và đến cuối đời, Chúa đặt mình trên bàn, “thịt hằng sống cho thế gian”, để thế gian ăn lấy Ngài, những lời đầu tiên của Ngài là kêu gọi sám hối, thay đổi tâm thức, như thế là đối lập với hoang tưởng kình địch, và cuối cùng, Ngài phú mình chịu đóng đinh hơn là tự vệ. Đó là lời đáp của Chúa Giêsu với thế gian, một thế gian hiểu lầm và đối xử tàn tệ với Ngài. Ngài mở rộng cánh tay trong sự yếu đuối dễ tổn thương hơn là nắm chặt nắm đấm để tự vệ.

Và theo đúng lý tưởng của Chúa, đó là cách chúng ta nên đáp trả khi thế gian bất công với chúng ta. Không như Phêrô, người theo bản năng đã rút gươm ra khỏi vỏ mà chẳng nhớ gì đến lời dạy của Chúa Giêsu, chúng ta không nên để một mối đe dọa bên ngoài xóa sạch những gì là tâm điểm trong con người và giáo lý của Chúa Giêsu, cũng như đừng đáp trả bằng một lối đi ngược lại Tin Mừng, một kiểu thù địch đáp trả thù địch, thiếu chính chắn đáp trả thiếu chính chắn.

Bình đá cứng và thùng mềm mại hơn

Trong tiểu thuyết “Một tháng toàn ngày Chúa nhật” của John Updike, ông mô tả nhân vật linh mục Quản xứ bị xuống chức, dù ông là người phải đấu tranh với chính mình về đức tin, nhưng lại cực lực phê phán người trợ lý trẻ của mình, xem đức tin và thần học của anh là thứ ẻo lả và kém cỏi. Ông mô tả người trợ lý trẻ như sau:

Những gì anh ta có là một thứ “thần học khập khiễng, một pha trộn hoàn toàn tạp nham kiểu Jung-Zen, loại thần nhiệm vừa hồn vừa xác, nấu thành nồi lẩu nhạt nhẽo những thứ vô vị của Tillich, Jasper, Bultmann, thức ăn được dọn ra trong chiếc chén rẻ tiền là món dĩ hòa vi quý của thế hệ anh ta.” Tất nhiên cha xứ không vướng vào tâät nào ở trên, ông dị ứng vì thứ lẩu không hợp quan điểm mỹ học của ông. Theo ông, là thế này: “Hãy dùng những bình đá nguyên gốc, nếu không thì đừng dùng gì hết!”

Nghe thì thật hay và sáng suốt, và đúng như vậy. Nhưng nếu làm như thế thì có khôn ngoan không, hay chỉ đơn thuần là một trong những thứ có vẻ sáng suốt nhưng không khôn ngoan? Tôi thú nhận, có một thời tôi đã tóm lấy các phát biểu kiểu này và làm theo nó. Tôi cũng đã nuôi dưỡng thái độ: Hãy dùng bình cũ, bằng đá, rắn chắc. Đừng đem đến cho tôi thói dĩ hòa vi quý, kiểu ngồi lại với nhau thành nhóm nhỏ, cầm tay nhau và quả quyết mình yêu thương nhau!

Nhưng, khi đã có tuổi, tôi ngày càng hoài nghi bản thân tôi thời trẻ, hoài nghi cả một số điều khôn ngoan của thế hệ chúng tôi. Người ta cho vào đầu chúng tôi quá nhiều bình đá như thế, và rồi tôn giáo, chính trị, kinh tế, và thái độ của chúng tôi đều phản ánh từ đó mà ra. Chúng tôi được dạy phải khăng khăng và thuần nhất trong giáo lý, không khoan nhượng, phải trung thành với những gì có nơi mình, không chấp nhận bất kỳ điều gì không do tự mình tìm ra, tự hào về những chỉ trích nặng nề mà mình đã phải chịu. Chúng tôi cũng được dạy để tự bản chất không tin tưởng bất kỳ thứ gì có vẻ êm ái, những thứ không làm mà có, và những thứ không đến từ một chiếc bình trông rắn chắc.

Và phần nổi của chuyện này là: Nói chung, chúng tôi lớn lên, mạnh mẽ, độc lập, rắn rỏi, bản lĩnh, không tìm kiếm bất kỳ của rơi vãi nào cả về vật chất lẫn tinh thần. Chúng tôi không tin tưởng vào những hành vi mang tính quả quyết, hay việc cầm tay nhau, hay việc quá thường xuyên nói với nhau những câu như “Tôi thương bạn”. Chúng tôi học cách đào sâu nội tâm, tìm cách làm cho mình rắn rỏi hơn. Những chiếc bình đá được nuôi dưỡng theo cách này.

Nhưng vẻ ngoài rắn rỏi, tố chất không nhân nhượng, và niềm kiêu hãnh vì không bao giờ lấy những gì không do bàn tay lao động của mình làm ra, nhưng những thứ đó cũng có một mặt tối ẩn khuất của chúng. Chúng tôi có khuynh hướng công kích và cạnh tranh khiến chúng tôi khó chúc phúc cho ai, đặc biệt cho những người trẻ tài năng hơn mình. Chúng tôi thiên về ghen tỵ, không dễ bỏ cái vị trí trung tâm của mình, và chúng tôi hẹp hòi, quá dễ dàng rơi vào chủ nghĩa ái quốc sai lầm, kỳ thị chủng tộc, giới tính, cũng như nhiều dạng kiêu căng tự đại khác.

Gần đây, tôi nghe bài phỏng vấn một phụ nữ trẻ trên đài, cô đã là mẹ, cô chia sẻ hằng ngày cô gọi điện thoại cho mẹ, được mẹ cô nói lời yêu thương và cô hy vọng, cô cũng sẽ nói như vậy với đứa con còn nhỏ của mình. Phản ứng bộc phát của tôi là phản đối: Quá mật ngọt! Thật là một thế hệ được nuông chiều đến hư hỏng! Một phụ nữ trưởng thành vẫn cần loại khẳng định yêu thương này của mẹ! Tôi không lớn lên theo kiểu như thế! Thế hệ của tôi không lớn lên theo kiểu như thế! Thật ủy mị sướt mướt!

Vì không tin gì nơi tính ủy mị đa cảm này nên chúng tôi không thấy điều gì tốt ở đây, trong lời nói cũng như việc làm. Và vì do rắn rỏi và khinh thường tính đa cảm, chúng tôi thấy thật khó để khẳng định tình yêu và chúc phúc cho người khác. 

Vì thế, tôi nhìn vào những dòng trên của Updike với cái nhìn phê phán (vẫn giữ trong lòng rằng đây chỉ là những lời nói của một nhân vật hư cấu và chẳng cần phải suy ngẫm thái độ của Updike trong đó). Tôi nhận ra những dòng này thật sáng suốt và tôi tôn trọng ý nghĩa ẩn sâu bên trong chúng. Xét cho cùng, chúng bắt nguồn từ một cảm thức tinh tế, một ước vọng có được một mỹ học đúng đắn, kèm theo là sự khinh thị đối với bất kỳ thứ gì sướt mướt và đa cảm, một thứ suy nghĩ cố gắng nhận nhầm rằng mình đủ sâu sắc. Tất cả chúng ta có thể cảm được tại sao nhân vật linh mục Quản xứ của Updike lại có cảm nhận như thế, vì tất cả chúng ta đều có một phẫn nộ giống nhau khi thấy loại nước giải khát rẻ tiền khoa mép tự cho mình là rượu thượng hạng. Tất cả chúng ta đều có những chiếc bình đá ưa thích riêng của mình.

Nhưng khi nhận ra điều này, chúng ta cũng cần công nhận rằng Tillich, Jasper, Jung và thuyết thần nghiệm khó có thể là một thứ nước giải khát chua ngọt rẻ tiền. Và, quan trọng hơn, chúng ta cũng phải công nhận rằng nơi những người cảm thấy cần đến với những nhóm nhỏ, gặp gỡ và cầm tay nhau, cũng như nơi những người trẻ thấy cần phải gọi điện cho mẹ mỗi ngày để được mẹ nói những lời yêu thương, ở nơi họ, chúng ta thường thấy một tấm lòng ấm áp nồng hậu của tình yêu Thiên Chúa, mà tấm lòng này lại chẳng thấy rõ nơi một số nhóm ưu tú của chúng ta, những người thích lấy nguồn sống từ những chiếc bình đá, nhức nhối muốn tìm một mỹ học cao hơn, cảm thấy bị xúc phạm vì các tiêu chuẩn sống gần như đang bị xuống giá, lại còn mong tính chính thống được thuần nhất hơn, và rồi cũng như nhân vật Quản xứ trong truyện của Updike, có những phán xét chua cay đối với đồng bạn mình.

Những bài học đạo đức kiểu chua cay, cho dù nguồn gốc phẫn nộ của chúng có căn cứ đến đâu đi nữa, vẫn luôn phát sinh ra nhiều dạng và luôn lộ rõ bộ mặt thật của chúng trong sự vắng bóng tình nồng ấm và trong bất lực không có khả năng chúc phúc cho người khác.

Đấu tranh với tính thế tục

Chúng ta sống trong một nền văn hóa thế tục cao độ.  Thường thì điều này đưa đến cho chúng ta một trong ba phản ứng mà người Kitô hữu đấu tranh để sống đức tin trong bối cảnh như thế:

Thứ nhất, ngày càng đông các Kitô hữu thuộc đủ mọi phái càng ngày càng xem tính thế tục là địch thủ chứ không phải là đồng minh của đức tin và các giáo hội. Theo quan điểm của họ, tính thế tục là mối đe dọa đối với tôn giáo và đạo đức, như thế dưới danh nghĩa của tự do và mở mang trí tuệ, nó dần dần bóp nghẹt tự do Kitô giáo. Với họ, tính thế tục mang trong mình sự áp đặt của luật tương đối, và có thể gọi nó là “thời hậu Kitô giáo” và “nền văn hóa của sự chết”.

Nhóm thứ hai đơn thuần tự thích nghi với nền văn hóa này, và không mảy may có một chút nào phê phán. Họ điều chỉnh đức tin dựa vào văn hóa, và điều chỉnh văn hóa dựa vào đức tin sao cho phù hợp với hoàn cảnh của mình. Đối với họ, đức tin gần như trở nên một di sản văn hóa, một đặc nét hơn là một tôn giáo, dù hiện nay tâm thức này không còn mù quáng nhiều như lúc đầu mới xuất hiện. Những đấu tranh của nhóm này khi mạnh mẽ lại càng tệ hơn, khơi dậy không những các chất vấn bất diệt về linh hồn, mà còn chất vấn về đặc tính Kitô – Do Thái giáo trong cốt lõi của nền văn hóa và trong từng cá nhân. Vậy nên họ chọn những giá trị từ cả truyền thống Kitô – Do Thái giáo và cả nền văn hóa thế tục rồi pha trộn chúng trong một kết hợp mới, và dường như chẳng bận tâm gì về tôn giáo cho lắm trong sự pha trộn này.  

Nhóm thứ ba có cách tiếp cận có vẻ khác hơn: Những người như Charles Taylor, Louis Dupre, Kathleen Norris, và thế hệ trước đó như Karl Rahner, xem thế tục là một gói hỗn hợp, một nền văn hóa cưu mang cả sự sống lẫn sự chết, một nền văn hóa theo cách nào đó là một sự tiến tới và sự thanh lọc cho các giá trị đạo đức và tôn giáo, nhưng theo một cách khác, nó cũng ngày càng thụt lùi về đạo đức và tôn giáo. Tầm quan trọng chính yếu trong quan điểm này nằm ở ý niệm rằng nền văn hóa thế tục, tính thế tục là đứa con phát sinh từ Do Thái giáo và Kitô giáo. Do Thái – Kitô giáo, ít nhất cũng là như thế đối với nhiều người, đã làm phát sinh tư tưởng của René Descartes, những nguyên lý của Thời đại Ánh Sáng, cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Scotland, cách mạng Hoa Kỳ, và như thế cũng là nguồn gốc của dân chủ, của sự tách ly giáo hội với nhà nước, và của những nguyên lý nâng đỡ nhiều cho tính thế tục, cụ thể là chúng ta đồng ý tổ chức đời sống xã hội trên nguyên tắc đồng thuận dựa trên lý lẽ hơn là trên nền tảng uy quyền thiêng liêng (tất nhiên cái thứ hai có nghĩa cho phép uy quyền thiêng liêng tác động trên sự đồng thuận lý tính).

Trong quan điểm này, đối lập với thế tục không phải là giáo hội, mà là nhóm khủng bố Taliban hoặc bất kỳ quan điểm nào cho rằng đời sống của dân chúng phải quy phục uy quyền thiêng liêng bất chấp sự đồng thuận lý tính. Như thế, tính thế tục có vẻ như con cái trong nhà hơn là kẻ thù của chúng ta. Tuy nhiên, nếu thật như thế, thì tại sao tính thế tục lại thường thể hiện một thái độ quá chua cay và quá phê phán đối với các giáo hội Kitô giáo? Điều này dường như là một mâu thuẫn, nhưng sự chống Kitô giáo này của tính thế tục cũng giống như trường hợp trẻ con mới lớn có thái độ cay nghiệt và phê phán quá đáng đối với cha mẹ, cụ thể là ở độ tuổi này, trẻ con thường tự đại và thiếu chính chắn. Nhưng một đứa trẻ dậy thì tự đại và thiếu chính chắn không phải là một người xấu, nó chỉ chưa phát triển đủ thôi.

Khi xem xét tính thế tục từ quan điểm này, điều quan trọng là phải nhấn mạnh ngang bằng nhau vừa nền tảng đạo đức vừa nền tảng tôn giáo vốn đã bị mất hoặc được thu hoạch thêm trong tính thế tục. Chúng ta có thể thấy được cả hai điều này, ví dụ như khi nhìn vào nền văn hóa thế tục mạnh mẽ của Hà Lan: Một mặt, ít người đi lễ và giữ đạo, cùng với sự chấp nhận và hợp pháp hóa việc phá thai, dùng thuốc nghiền, mại dâm, và khiêu dâm; nhưng mặt khác, đây là một xã hội quan tâm đến người nghèo tốt hơn bất kỳ một xã hội nào khác, và cho thấy, họ rất độ lượng, hòa bình, và bình đẳng giới tính. Không thể xem đây là những thành tựu tôn giáo và đạo đức nhỏ nhặt được.

Vậy quan điểm của tôi thế nào đây? Gần như nhóm thứ ba này và niềm tin của họ, cho rằng tính thế tục không phải là kẻ thù nhưng là kẻ nối tiếp và tính thế tục mang trong mình cả dòng chảy sự sống rất sinh ích lẫn con lạch của sự chết đang bóp nghẹt loài người. Một mặt, từ nó, tôi nhận được sự sáng tạo, màu sắc sinh động của cuộc sống, sự cởi mở và năng lượng sinh ích, và nhiều lúc nó giúp tôi đè nén đi cái xu hướng Đức vốn phần nào xám xịt và trầm cảm. Tôi cũng được nâng đỡ thường xuyên vì lòng quãng đại thực sự và lòng tốt chân thành nơi những người tôi gặp gỡ. Và còn một điều quan trọng nữa, tôi gặt hái được những lợi ích đáng kinh ngạc của nó – tự do, bảo vệ các quyền của tôi, tính riêng tư, cơ hội học hành, chăm sóc y tế tuyệt vời, thông tin khoa học, tiếp cận thông tin, những dịp mang đậm tính văn hóa cởi mở và đầy vui thú, nước sạch, thực phẩm dồi dào, và một điều nữa không kém quan trọng, đó là sự tự do để thực hành đức tin và tôn giáo của tôi.

Xét ngược lại, tôi cũng nhận ra những yếu tố sự chết của nó: Việc chấp nhận phá thai, người nghèo bị cô lập, đòi hỏi cái chết êm dịu, phân biệt chủng tộc kéo dài, vô trách nhiệm về hành vi tính dục quá phổ biến, nghiện văn hóa phẩm khiêu dâm ngày càng nặng, và một sự tầm thường hóa cũng như thiển cận cứ tăng dần lên mãi. Như những gì mà truyền hình thực tế biểu lộ nền văn hóa của chúng ta, tôi ngày càng thất vọng về chiều sâu của nền văn hóa này.

Là người kế thừa trưởng thành của René Descartes, tôi hít thở bầu khí thế tục, một bầu khí rất hỗn hợp, vừa trong lành vừa ô nhiễm, và tôi thấy mình đang bị giằng co giữa hy vọng và sợ hãi, giữa thoải mái và khó chịu, giữa việc bảo vệ và phê phán sự thế tục hóa này.

Những con số bảy may mắn

Từ Kinh Thánh cho đến sòng bạc, con số 7 thường được xem là con số may mắn, hoàn hảo và kỳ diệu. Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy tha thứ bảy mươi lần bảy cho những ai lỗi phạm đến mình. Rõ ràng Ngài có ý muốn bảo chúng ta tha thứ đến vô cùng. Sách Sáng Thế nói về bảy ngày tạo dựng, Kinh Thánh nói về bảy tổng lãnh thiên thần, và Sách Khải Huyền nói về Bảy dấu niêm phong Mặc Khải. Kinh Thánh đầy dẫy con số bảy. Phải mất vài trang để liệt kê ra cho hết.

Những gì có trong Kinh Thánh Kitô giáo cũng có trong các văn hóa khác. Có bảy phúc thần trong thần thoại Nhật Bản, các Phật tử tin rằng khi mới hạ sinh, Đức Phật bước bảy bước. Trong đạo Do Thái, có bảy ngày than khóc, buổi giảng kinh hàng tuần cũng được chia thành bảy phần riêng biệt, có bảy phúc lành được đọc lên trong đám cưới Do Thái, tân lang và tân nương mừng hạnh phúc trong vòng bảy ngày, và có bảy cảm xúc căn bản hướng đến Thiên Chúa. Trong truyền thống Hồi giáo, có bảy thiên đàng bảy thế gian, bảy ngọn lửa trong địa ngục, bảy cửa lên thiên dàng, và bảy cửa xuống địa ngục.

Và còn có nhiều điều có liên hệ với con số 7: Có bảy châu lục trên thế giới, bảy màu cầu vồng, bảy ngày trong tuần, bảy nốt nhạc căn bản, bảy ngôi sao trong chòm Đại Hùng, và bảy thiên thể thấy được bằng mắt thường.  Số bảy là mã điện thoại ở Nga. Ở Bắc Mỹ, các giải bóng chuyền, bóng rỗ, và hockey chính đều chia cuộc đua vô địch thành loạt bảy trận, và nhiều vận động viên ưu tú chọn số bảy làm con số áo, kể cả Mickey Mantle. Các sòng bạc cũng rất thích con số 7. Xếp được một hàng số bảy là cách chơi của rất nhiều trò may rủi.

Chúa Giêsu, Đạo Do Thái, Hồi giáo, Phật giáo, tự nhiên, cách xếp tuần, mã điện thoại của Nga, các giải thể thao chính, Mickey Mantle, và các sòng bạc – và bây giờ là một điều khác nữa! Chẳng tình cờ khi người ta dùng rất nhiều số bảy:

Ví dụ như: chúng ta có đủ kiểu số bảy trong thần học và trong giáo hội:

Thần học Kitô giáo nói về bảy Ơn Chúa Thánh Thần: Khôn ngoan, Hiểu biết, Lo liệu, Sức mạnh, Thông minh, Đạo đức, và Kính sợ Thiên Chúa. Về Bảy mối tội đầu: Kiêu ngạo, Ghen tỵ, Giận dữ, Biếng nhác, Tham lam, Ham ăn, và Dâm dục; cũng như về bảy nhân đức tương ứng: Khiêm nhường, Rộng rãi, Nhẫn nhịn, Siêng năng, Nhân từ, Tiết độ, và Trong sạch. Giáo hội cũng nói về bảy lời cuối cùng của Chúa Giêsu: “Xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”; “Thật, ta bảo thật, hôm nay, ngươi sẽ được ở cùng ta trên thiên đàng”; “Lạy Cha, con xin phú linh hồn trong tay Cha”; “Thưa bà, này đây là con bà…  Đây là mẹ con”; “Lạy Cha, sao Cha bỏ con?”; “Ta khát”; “Mọi sự đã hoàn tất”.

Mohandas Gandhi cũng nói về bảy Tội lỗi của xã hội: Chính trị không nguyên tắc, không làm mà có ăn, buôn bán vô đạo đức, hưởng lạc vô lương tri, tri thức thiếu nhân cách, khoa học thiếu nhân đạo, và tôn kính Thượng đế mà không chịu hy sinh. Và về điều này, Công giáo La Mã cũng đã có Bảy Luận đề về Huấn Giáo Xã hội của Giáo hội Công giáo: Mạng sống và phẩm giá con người; yêu cầu đối với gia đình, cộng đồng, và bổn phận; quyền và trách nhiệm; chọn người nghèo và người cô thế; giá trị của lao động và quyền của người lao động; tình đoàn kết; và chăm lo cho những gì được Thiên Chúa tạo dựng.

Giáo hội Công giáo La Mã có Bảy Bí tích: rửa tội, thêm sức, Thánh Thể, giải tội, xức dầu bệnh nhân, truyền chức thánh, và hôn phối. Bảy Việc thương người: Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho kẻ cơ nhỡ trú ngụ, thăm viếng người ốm, thăm viếng tù nhân, và chôn xác kẻ chết. Và kèm theo là Bảy Việc thương người phần hồn: Sửa dạy kẻ ngu muội, lấy lời lành mà khuyên người, răn bảo kẻ có tội, nhịn kẻ mất lòng ta, tha kẻ dễ ta, yên ủi kẻ âu lo, và cầu cho kẻ sống và kẻ chết. Hơn nữa, Giáo hội Công giáo La Mã còn tôn kính Bảy sự thương khó Đức Mẹ: Lời tiên tri của ông Simeon, chạy nạn đến Ai Cập, lạc mất Chúa Giêsu trong đền thánh, gặp Chúa Giêsu trên đường Núi Sọ, Chúa Giêsu chết trên thập giá, nhận xác Chúa Giêsu trong tay, chôn cất Chúa Giêsu vào huyệt đá.
 
Và tất nhiên, vẫn chưa hết, chúng ta còn có Bảy Kỳ quan thế giới, dù bây giờ người ta đang tranh cãi nhau xem chính xác nên chọn cái nào làm kỳ quan: Một số đồng ý với danh sách cũ, Bảy kỳ quan của thế giới cổ đại, số khác lại ủng hộ Bảy kỳ quan của thế giới hiện đại, số khác lại nói về Bảy kỳ quan của thế giới Đương đại, và số khác nữa lại nhất quyết rằng những kỳ quan thật sự của thế giới này được dựng nên bởi tự nhiên và liệt kê ra Bảy kỳ quan Tự nhiên của thế giới.

Vậy đâu là danh sách xác đáng đây? Những cái nào mới đúng là Bảy kỳ quan thế giới?

Gần đây trên Internet có xuất hiện câu chuyện thế này: Một giảng viên yêu cầu các học sinh nêu tên Bảy kỳ quan thế giới. Một số, chắc chắn có nhờ vào các phương tiện điện tử, nhanh chóng đưa ra những danh sách khác nhau. Tuy nhiên, một cô gái trẻ, không dùng đến những tìm kiếm trên mạng như thế, đã tự viết ra danh sách của mình. Bảy kỳ quan thế giới, theo kết luận của cô là: nhìn, cảm, nếm, ngửi, sờ, thở và yêu. Tôi tin rằng, danh sách đó, thắng vượt tất cả mọi danh sách khác và chứa đựng đủ tất cả bí tích thiêng liêng.

Phục Sinh mặc khải Thiên Chúa là Đấng Cứu Chuộc, chứ không phải Người Giải Cứu

Trước khi nghiêm túc suy nghĩ về Chúa Giêsu, trước hết bạn hãy xem thử mình kỳ vọng đến đâu! 

Câu nói trên của Daniel Berrigan đã đúng đắn cảnh báo chúng ta rằng đức tin vào Chúa Giêsu và sự phục sinh sẽ chẳng cứu chúng ta khỏi những nhục nhã, đau đớn và cái chết trong đời này. Đức tin không phải là phương tiện để làm vậy. Chúa Giêsu không cho bằng hữu mình có ngoại lệ, cũng như Chúa Cha cũng không cho Chúa Giêsu có ngoại lệ. Dù điều này thể hiện rõ ràng nhất trong sự phục sinh của Chúa Giêsu, nhưng nó cũng xuyên suốt cả Tin Mừng. Để hiểu được, chúng ta nên so sánh sự phục sinh của Chúa Giêsu với điều mà chính Ngài đã làm khi đưa Ladarô từ cõi chết sống lại.

Câu chuyện về Ladarô đặt ra rất nhiều chất vấn.  Thánh Gioan Tông đồ thuật lại như sau: Câu chuyện giới thiệu gia đình Ladarô, hai chị em Mácta và Maria rất thân thiết với Chúa Giêsu. Vì thế chúng ta dễ thấy sốc khi Chúa Giêsu gần như lơ là trước bệnh tật của Ladarô và lời mời Ngài đến chữa bệnh cho ông. Câu chuyện như thế này:

Chị em của Ladarô, Mácta và Maria nhắn Chúa Giêsu rằng “người Ngài thương đang lâm bệnh”, ngụ ý xin Chúa đến  chữa lành cho ông. Nhưng Chúa Giêsu hành động thật kỳ lạ. Ngài không vội lên đường, thay vào đó, Chúa vẫn ở lại chỗ cũ thêm hai ngày nữa, trong khi Ladarô đang chết dần. Sau khi ông đã chết, Ngài mới dự định đến thăm ông. Khi đến làng nơi Ladarô ở, Ngài gặp Mácta rồi Maria. Cả hai chị em đều lần lượt hỏi Ngài: “Tại sao lại vậy?”  Nếu Ngài yêu thương người này, sao Ngài không đến để cứu anh ấy khỏi chết? Thật sự, câu hỏi của Maria còn ngụ ý nhiều hơn nữa: “Tại sao lại vậy” Tại sao Thiên Chúa dường như luôn luôn vắng mặt khi những người tốt gặp hoàn cảnh khó khăn? Tại sao Thiên Chúa không giải cứu những người Ngài yêu mến và cứu họ thoát khỏi đau đớn và cái chết?

Trong câu trả lời, Chúa Giêsu không biện giải một lý thuyết nào. Thay vào đó Ngài hỏi xác Ladarô ở đâu, họ đưa Ngài đến, và ở đó, bên phần mộ, Chúa khóc thương và rồi cho người bạn đã chết của mình được sống lại.  Vậy tại sao lúc đầu Ngài lại để cho ông chết đi? Câu chuyện này đưa ra một chất vấn: Tại sao lại vậy? Tại sao Chúa Giêsu không vội vàng đến cứu Ladarô dù Ngài rất thương ông?

Lời đáp cho câu hỏi này dạy cho chúng ta một bài học rất quan trọng về Chúa Giêsu, về Thiên Chúa, và đức tin, cụ thể rằng Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa giải cứu chúng ta, nhưng đúng hơn là một Thiên Chúa cứu chuộc chúng ta. Thiên Chúa không thường can thiệp để cứu chúng ta khỏi những sỉ nhục, đau đớn, cái chết, nhưng đúng hơn, Ngài chuộc lại những sỉ nhục, đau đớn và cái chết đó về sau.

Nói đơn giản, Chúa Giêsu đã hành động với Ladarô chính xác theo cách mà Thiên Chúa, Cha Ngài hành động với Ngài. Chúa Cha yêu thương Chúa Giêsu sâu đậm và mật thiết, nhưng Chúa Cha không giải cứu Ngài khỏi sỉ nhục, đau đớn và cái chết. Trong giờ cùng cực nhất, khi chịu sỉ nhục, thống khổ, và chết trên cây thập giá, Chúa Giêsu bị đám đông chế nhạo: “Nếu Thiên Chúa là cha ngươi, hãy để Ngài cứu ngươi đi!” Nhưng chẳng ai đến giải cứu Ngài cả. Thay vào đó, Chúa Giêsu đã chết trong sỉ nhục và đau đớn. Thiên Chúa Cha chỉ cho Ngài sống dậy sau khi đã nhận lấy cái chết.

Đây là một trong những mặc khải mấu chốt của biến cố phục sinh: Chúng ta được Thiên Chúa cứu chuộc, chứ không phải giải cứu.

Thật vậy, câu chuyện cho ông Ladarô sống lại trong Tin Mừng theo thánh Gioan, ngụ ý trả lời cho câu hỏi nhức nhối của thế hệ Kitô hữu đầu tiên: Họ biết Chúa Giêsu bằng xương bằng thịt, họ đã thân thiết gần gũi với Ngài, đã tận mắt thấy Ngài chữa lành cho dân chúng và còn cho cả kẻ chết sống lại, vậy tại sao Ngài để cho họ phải chết? Tại sao Chúa Giêsu không giải cứu họ?

Phải mất một thời gian, các Kitô hữu tiên khởi mới hiểu được rằng Chúa Giêsu không dành ngoại lệ cho bằng hữu của mình, cũng như Chúa Cha đã không cho Ngài ngoại lệ nào. Vậy, cũng như chúng ta, họ đấu tranh với sự thật rằng có thể một người có đức tin sâu sắc chân thật, và được Thiên Chúa yêu thương, vẫn phải chịu đựng sỉ nhục, đau đớn và cái chết như mọi người khác. Thiên Chúa không cất đau khổ và cái chết khỏi Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu cũng không cất những đau khổ này cho chúng ta.

Đó chính là một trong những mặc khải chính yếu của phục sinh và là một trong những điều mà chúng ta thường hiểu lầm nhiều nhất. Chúng ta luôn mãi xác định trong đức tin, và cứ rao giảng về một Thiên Chúa giải cứu, một Thiên Chúa hứa sẽ ban ngoại lệ đặc biệt cho những ai có đức tin chân thật: Tin thật vào Chúa Giêsu, rồi bạn sẽ không còn phải chịu những sỉ nhục và đau khổ đời này nữa. Tin thật vào Chúa Giêsu, mọi chuyện tốt đẹp sẽ đến với bạn! Tin vào sự phục sinh, và cuộc đời của bạn sẽ đầy ánh rực rỡ cầu vồng!

Là thế ư! Nhưng Chúa Giêsu không bao giờ hứa giải cứu chúng ta, cho chúng ta ta được ngoại lệ, được miễn nhiễm với ung thư, hay không phải chết. Đúng ra, Ngài hứa rằng, đến cuối cùng, từ đau khổ sẽ xuất hiện sự cứu chuộc, bào chữa, miễn xá, và rồi sẽ là sự sống bất diệt. Nhưng đó là đến cuối cùng, còn bây giờ, trong những chương đầu và giữa của đời mình, chúng ta vẫn phải có những sỉ nhục, đau đớn, và cái chết hệt như những gì mà mọi người khác chịu.

Cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu mặc khải một Thiên Chúa cứu chuộc chứ không phải một Thiên Chúa giải cứu.

Cầu nguyện trong cơn khủng hoảng

Làm sao chúng ta dâng lên Chúa những giây phút đen tối nhất, khủng hoảng nhất? Làm sao chúng ta cầu nguyện khi đang ở trong trạng thái cô đơn cùng cực nhất, vô vọng nhất, và cả cuộc đời chúng ta dường như đang sụp đổ?

Chúng ta có thể học ở Chúa Giêsu, cách Ngài cầu nguyện đêm trước ngày Chúa bị tử nạn trong vườn Giếtsêmani, ngày đen tối nhất cuộc đời Ngài. Đêm đã khuya, Chúa vừa dùng xong bữa ăn cuối cùng với những người bạn thân thiết nhất, và Ngài có một giờ để chuẩn bị để đối diện với cái chết đang đến. Nhân tính của Ngài rên xiết, và Chúa thấy chính mình đang nằm sấp mặt trên đất, xin được thoát khỏi sự khủng khiếp này. Và Tin Mừng mô tả như sau:

Chúa Giêsu đi ra xa khỏi các môn đệ, khoảng một tầm ném đá, và sấp mình xuống đất mà cầu nguyện. “Abba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, nếu Cha muốn, xin hãy cất chén này khỏi con. Nhưng xin theo ý Cha, đừng theo ý con.” Và Ngài trở lại, thấy các môn đệ đang say ngủ. Nên Ngài lại đi vào vườn lần nữa, đau đớn cầu nguyện khẩn thiết hơn nữa, và mồ hôi Ngài đổ xuống đất như những giọt máu.  Khi chỗi dậy, Ngài về lại với các môn đệ, thấy các ông vẫn ngủ, lòng Ngài đau buồn cùng cực. “Tại sao các con lại ngủ? Hãy dậy và cầu nguyện để đừng sa chước cám dỗ.” Và Ngài đi cầu nguyện lần thứ ba, một thiên thần đến và tăng sức cho Ngài, rồi Ngài đứng dậy mạnh mẽ đối diện với những gì sẽ đến.

Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong vườn Giếtsêmani có thể là lời cầu nguyện mẫu để chúng ta biết cách cầu nguyện khi ở trong cơn khủng hoảng. Qua lời cầu nguyện của Chúa, chúng ta có thể nhấn mạnh bảy điểm, mỗi điểm cho chúng ta những điều kiện để biết cách cầu nguyện trong những lúc đen tối nhất đời mình:

1. Lời cầu nguyện xuất phát từ tâm hồn cô đơn của Chúa: Tin Mừng nhấn mạnh điều này khi mô tả việc cầu nguyện diễn ra trong một khu vườn (hình ảnh tượng trưng cho tình yêu) và cả trong việc Chúa đi xa khỏi các môn đệ yêu dấu một tầm ném đá vì các ông không đủ sức lĩnh hội những gì Ngài đang trải qua. Trong cơn khủng hoảng sâu sắc nhất của mình, chúng ta luôn luôn cô độc trong đau đớn, xa khỏi mọi người trong một tầm ném đá. Lời cầu nguyện sâu đậm sẽ phát đi từ đó.

2.  Cầu nguyện với tâm tình mật thiết: Chúa Giêsu bắt đầu cầu nguyện bằng tiếng gọi Cha Ngài, “Abba”, tiếng gọi thân mật nhất có thể, tiếng một đứa con nhỏ sẽ nói lên khi ngồi trong lòng  cha mình. Trong những giờ tăm tối nhất, chúng ta phải biết thân mật với Thiên Chúa.

3. Cầu nguyện từ tấm lòng chân thành trọn vẹn: Theo Kinh viện, cầu nguyện được định nghĩa là “nâng tâm trí và tâm hồn lên cùng Thiên Chúa”. Chúa Giêsu đã làm như thế, và làm một cách triệt để, với lòng chân thật cháy bỏng. Ngài xin Chúa Cha cất khỏi thống khổ này, xin cho Ngài một lối thoát. Nhân tính của Ngài run rẩy sợ hãi trước bổn phận này, và Ngài xin được giải thoát. Đó chính là lời cầu nguyện trung thực và chân thật nhất.

4. Cầu nguyện từ sự bất lực hoàn toàn: Ngài nằm dài trên đất, chẳng ảo tưởng chút gì về sức mạnh của bản thân. Trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, có lời van xin rằng nếu Thiên Chúa làm điều này với Ngài, thì Người phải cho Ngài sức mạnh để thực hiện nó.

5. Cầu nguyện từ sự mở lòng, bất chấp sự kháng cự trong bản thân mình: Thậm chí khi run rẩy đến rúm người trước điều sắp phải trải qua, và xin được giải thoát, Chúa Giêsu vẫn trao cho Chúa Cha quyền quyết định tuyệt đối trên tự do của Ngài. Lời cầu nguyện của Ngài mở lòng để đón nhận thánh ý của Chúa Cha, nếu đó là điều tuyệt đối Ngài phải làm.

6. Cầu nguyện liên lĩ: Chúa Giêsu lặp lại lời cầu nguyện trên nhiều lần, và càng lúc càng khẩn thiết, mồ hôi máu của Ngài không chỉ đổ một lần, nhưng nhiều lần.

7. Cầu nguyện là sự biến đổi: Cuối cùng, một thiên thần (sức mạnh thiêng liêng) đến và tăng sức cho Ngài, rồi dựa vào một sức mạnh mới đến từ ngoài bản thân, Ngài tự phú mình cho điều mà Chúa Cha muốn Ngài trải qua. Nhưng sức mạnh đó chỉ có thể tuôn chảy trong Ngài sau khi, qua sự bất lực của mình, Ngài đã không cậy dựa vào sức mình. Chỉ sau khi đã trải qua sa mạc lòng khô khốc chúng ta mới mở lòng để sức mạnh Thiên Chúa tuôn đổ vào mình.

Trong quyển sách “Tiến bước tới tự do”, Martin Luther King đã kể lại chuyện một đêm nọ, sau khi bị dọa giết, ông đã hoang mang, hoảng sợ, và cũng không khác gì Chúa Giêsu trong vườn Giếtsêmani, ông đã nằm rạp xuống sàn trong nỗi sợ, cô đơn và bất lực – rồi cầu nguyện. Ông cảm nhận lời cầu nguyện đêm đó như tiếng van nài xin Thiên Chúa cho ông tìm được phương thế đường đường chính chính để thoát khỏi tình trạng này, nhưng Thiên Chúa muốn một điều gì đó khác nơi ông. Và đây là những lời cầu nguyện của ông trong đêm đó:

“Nhưng giờ con sợ hãi. Người ta tìm đến nhờ con lãnh đạo, và nếu con đứng lên dẫn đầu họ mà trong con chẳng có sức mạnh và can đảm, thì họ cũng sẽ nao núng. Con đã cạn kiệt sức lực rồi. Con chẳng còn gì nữa. Đã đến lúc mà con phải tự mình đơn độc đối mặt với nó.”  Rồi ông nói thêm: “Chính lúc đó, con cảm nghiệm được sự hiện diện của Đấng Chí Thánh, một trải nghiệm con chưa có bao giờ.” Một thiên thần đã đến bên ông.

Khi cầu nguyện thật tâm, thì cho dù nỗi đau của chúng ta có thế nào đi nữa, thiên thần của Thiên Chúa sẽ luôn luôn đến bên chúng ta.

Những đòi hỏi thiết yếu để trở thành môn đệ trưởng thành

Trong quyển tiểu sử của mình, Morris West cho rằng, ở một độ tuổi nhất định nào đó của cuộc đời, tự điển tâm linh của chúng ta đơn giản chỉ còn ba câu: Cám ơn! Cám ơn! Cám ơn! Ông đúng nếu chúng ta hiểu trọn vẹn thế nào là sống với tấm lòng biết ơn. Biết ơn là đức hạnh cao nhất, là nền tảng cho các thứ hạnh khác, kể cả tình yêu. Và nó còn đồng nghĩa với thánh thiện.

Biết ơn không chỉ là điều xác định sự thánh thiện, mà còn xác định cả sự trưởng thành. Chúng ta trưởng thành khi đạt đến mức độ biết sống biết ơn. Nhưng điều gì sẽ cho chúng ta được như thế? Điều gì cho chúng ta một sự trưởng thành nhân bản sâu sắc hơn? Tôi muốn nêu ra đây mười đòi hỏi chính yếu cả trong sự trưởng thành nhân bản lẫn trưởng thành Kitô giáo:

1. Sẵn sàng đảm nhận hơn nữa những phức tạp đời sống với lòng cảm thông: Trong cuộc sống, có rất ít điều trắng đen hoặc đơn giản là xấu tốt rõ ràng, kể cả trong tâm hồn và động cơ của chúng ta. Sự trưởng thành làm cho chúng ta nhìn nhận, thông hiểu và chấp nhận sự phức tạp này với lòng cảm thông để, như Chúa Giêsu, chúng ta khóc những giọt nước mắt thông hiểu cho những đô hội hỗn loạn và những tâm hồn phức tạp của chính chúng ta.  

2. Ghen tương, giận dữ, chua cay, thù ghét phải được biến đổi, không ăn miếng trả miếng. Bất kỳ nỗi đau hay áp lực nào không được biến đổi, thì chúng sẽ được chúng ta lan truyền tiếp. Khi đối diện với ghen tương, giận dữ, chua cay, thù ghét, chúng ta phải như người lọc nước, giữ độc tố bên trong, chỉ để cho giòng nước tinh khiết chảy ra ngoài, chứ đừng làm như sợi dây điện, cứ để điện năng xuyên qua mà không lọc.

3. Hãy mềm dẻo chịu đựng hơn là để tâm hồn chai cứng: Chịu đựng và khiêm nhường luôn có trong chúng ta, nhưng cách chúng ta đáp trả, tha thứ hay chua cay, sẽ định rõ mức độ trưởng thành và chân tướng của chúng ta. Đây có lẽ là phép thử cao nhất cho đạo đức của chúng ta: Liệu lòng khiêm tốn của tôi sẽ làm mềm dịu hay chai cứng tâm hồn tôi đây?

4. Tha thứ: Đến cuối cùng, chỉ có một điều kiện để được vào thiên đàng (cũng như để sống trong cộng đồng nhân loại), chính là sự tha thứ. Có lẽ trong nửa sau cuộc đời mình, việc khiến chúng ta phải đấu tranh nhiều nhất chính là hành động tha thứ: tha thứ cho những ai đã làm chúng ta tổn thương, tha thứ cho bản thân vì những khiếm khuyết, và tha thứ cho Thiên Chúa vì dường như Ngài đã bất công để chúng ta kiệt lực khi đối diện với thế giới này. Trong tất cả, đòi hỏi đạo đức lớn nhất chính là đừng để mình chết đi với một tâm hồn chua cay và bất dung.

5. Sống biết ơn: Là một vị thánh nghĩa là được kích động bởi lòng biết ơn, không hơn không kém. Đừng để ai lừa mình với tư tưởng cho rằng lòng sốt sắng với chân lý, với giáo hội, và ngay cả với Thiên Chúa có thể cao hơn hay ít ra cũng ngang với đòi hỏi không nhân nhượng là chúng ta phải luôn luôn biết sống trong tâm tình biết ơn. Thánh thiện là sống biết ơn. Không có lòng biết ơn, chúng ta sẽ thấy mình đang làm những điều đúng cho những động cơ sai lầm.

6. Chúc phúc hơn là chúc dữ: Chúng ta trưởng thành khi chúng ta khẳng định mình bằng điều mà chúng ta hướng đến hơn là điều mà chúng ta chống lại và đặc biệt sự trưởng thành của chúng ta được đánh dấu khi chúng ta, như Chúa Giêsu, biết tìm đến tha nhân và nhìn họ với cặp mắt chúc lành (“Xin Chúa chúc lành cho bạn!”) hơn là chúc dữ (“Bạn nghĩ bạn là ai vậy”?) Có khả năng khen ngợi hơn là phê phán là dấu hiệu cho thấy mức độ trưởng thành của mỗi người.

7. Sống minh bạch và lương thiện: Chúng ta khơng bình thường khi khư khư ôm giữ các bí mật bệnh hoạn nhất của mình, nhưng chúng ta sẽ sống lành mạnh khi chúng ta sống lương thiện. Như Martin Luther đã từng nói, chúng ta cần “phạm tội một cách dũng cảm và chân thật”.  Sự trưởng thành không có nghĩa là chúng ta trở nên hoàn hảo hay vô tội, nhưng có nghĩa là chúng ta sống chân thật.

8. Cầu nguyện bằng cảm xúc lẫn theo nghi thức: Nguồn năng lượng chúng ta cần để cho mình sống trong lòng biết ơn và tha thứ không nằm ở sức mạnh của ý chí nhưng ở ân sủng và cộng đoàn. Chúng ta được vậy là nhờ cầu nguyện. Chúng ta trưởng thành khi biết mình bất lực và biết nhờ đến sức mạnh Thiên Chúa, cũng như khi biết cầu nguyện với tha thân để cho toàn thế giới cũng sẽ cầu nguyện như vậy.

9. Mở rộng vòng tay hơn bao giờ hết: Chúng ta trưởng thành khi định nghĩa được ai là gia đình mình (Ai là anh chị em tôi?) theo một cách đại kết, liên tôn, không phân biệt tư tưởng, không kỳ thị. Chúng ta chỉ trưởng thành khi biết thương xót như Thiên Chúa giàu lòng thương xót, mặt trời chiếu cho cả người mình thích và không thích. Đến một lúc, chúng ta phải thay thế các áp phích cổ động yêu thương bằng những cái chậu cái khăn để cùng tắm chung một dòng nước.

10.  Hãy ở đúng vị thế của mình, và để Thiên Chúa bảo vệ bạn: Xét tận cùng, tất cả chúng ta đều yếu ớt, chỉ nhờ vào may rủi, và vô vọng, không bảo vệ những người chúng ta yêu mến, và cả chính chúng ta nữa. Chúng ta không thể bảo đảm sự sống, an toàn, ơn cứu rỗi, hay sự tha thứ cho chính mình hay cho những người mình yêu thương. Sự trưởng thành dựa trên việc chấp nhận sự thật này hơn là cứ mãi lo lắng về nó. Chúng ta chỉ có thể làm hết sức mình, bất kể quãng đời nào, vị thế nào, giới hạn hay khiếm khuyết của mình, và tin rằng như vậy là đủ, tin rằng nếu chúng ta ngã xuống nơi chiến điểm của mình, trong chân thật, trong khi đang làm nhiệm vụ được giao, thì chính Thiên Chúa sẽ lo cho phần còn lại.

Thiên Chúa là một bậc cha mẹ yêu thương vô vàn, tràn đầy thông hiểu, và hoàn toàn cảm thông. Chúng ta trưởng thành và tự do thoát khỏi những lo lắng sai lầm, khi chúng ta hiểu được và tin tưởng sự thật đó.

Vinh danh một Thiên Chúa Phong phú và Hoang phí

Có một xu hướng đáng lo trong lòng các giáo hội ngày nay. Đơn giản là, chúng ta đang thấy các giáo hội của chúng ta càng ngày càng thu hẹp. Càng ngày các giáo hội càng đòi hỏi một sự thuần nhất và độc quyền mà Chúa Giêsu không đòi hỏi trong Tin Mừng.  

Thật vậy, từ “gồm cả- inclusivity” thường bị loại bỏ ngay và thường bị xem như một phần của cái gọi là  “Tôi là người sống tâm linh nhưng không có tôn giáo”, xem như việc bao gồm là một kiểu tầm thường, một kiểu giống như phong trào New-Age, hơn là một đòi hỏi trọng tâm của chính tinh thần môn đệ Kitô giáo.

Gồm cả nghĩa là gì? Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc xem xét từ “Công giáo”.  Đối lập với “Công giáo” không phải là “Tin Lành”. Đối lập với “Công giáo” là hẹp hòi, loại trừ, và mang não trạng chọn lọc quá đáng. Đối lập với “Công giáo” là khẳng định đức tin kiểu gia tộc của chúng ta một cách quá sức hẹp hòi. “Công giáo” nghĩa đúng là rộng rãi, và cho tất cả mọi người. Là hiện thân cho vòng tay của một Thiên Chúa phong phú và hoang phí, đấng ban mặt trời để chiếu tỏa trên tất cả mọi người, không phân biệt kẻ xấu người tốt. Chúa Giêsu đã xác định điều này khi ngài nói: “Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở.” Trái tim Thiên Chúa rộng rãi, dư dật, hào phóng đến mức phung phí, mở ra ôm lấy mọi người, một quả tim săn sóc cho “những con chiên không thuộc đàn này”. Là người “Công giáo” là phải noi theo gương đó.

Trong Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu lưu tâm đến chuyện bao gồm mọi người nhiều hơn cả chuyện thuần nhất và xứng đáng. Ngài kết giao và dùng bữa với các tội nhân mà không đòi hỏi họ phải có các điều kiện đạo đức cần có để được xem là xứng đáng đứng trước mặt Ngài. Các môn đệ của Ngài, cũng như các giáo hữu chân thành tốt bụng ngày nay, vì xem họ không xứng đáng nên luôn luôn muốn đẩy họ ra khỏi Chúa, nhưng Chúa Giêsu luôn luôn phản đối, nói rằng Ngài không cần kiểu bảo vệ đó, và Ngài thực sự muốn tất cả họ đến với Ngài: Hãy để họ đến cùng Ta! Thật vậy, lời mời gọi đó của Chúa Giêsu vẫn còn: Hãy để họ, tất cả họ đến với Ta! 

Chúng ta cần phải rộng rãi hơn nữa. Tôi nhấn mạnh điều này vì ngày nay gia đình đức tin của chúng ta đang co rút lại, thay vì tiếc cho lòng thương cảm đã mất tính toàn vẹn, chúng ta lại thầm vui mừng vì điều đó. Thật là thoát nợ: dù gì thì họ chẳng còn là Kitô hữu thật sự nữa! Hay, nói theo kiểu một vài nhà bình luận Công Giáo, họ là những tín hữu Công giáo kiểu tùy tiện, chọn phần nào trong Tin Mừng họ thích và biến Đạo Công Giáo phong phú thành một kiểu Công Giáo hời hợt.

Một đánh giá như thế, mặc dù thật tâm và có ý hướng tốt, nhưng nó cần được xem xét lại ở hai điểm lớn này: Điểm thứ nhất, một đánh giá như thế làm cho người phát ngôn nó dễ bị công kích hơn. Ai là người Công giáo thật sự và giữ đạo trọn vẹn trong thực tế? Vài năm về trước, ban giám hiệu của một trường Công giáo Roma có nhờ tôi viết định nghĩa cho cái gọi là “người Công giáo thực”. Tôi trăn trở với việc này, xem xét các định nghĩa cổ điển và cuối cùng rút ra được một ít quy luật gọi là. Và tôi mở đầu định nghĩa đó bằng câu mở đầu: Chỉ có Chúa Giêsu và Mẹ Maria là hai người Công giáo trọn vẹn. Tất cả mọi người khác, không trừ một ai, đều không được như vậy. Chúng ta tất cả đều là những tín hữu Công giáo kiểu tùy tiện. Tất cả chúng ta điều thiếu sót, khiếm khuyết, và cách nào đó, tất cả đều sống Tin Mừng theo ý riêng mình. Tôi xin đưa ra ví dụ nổi bật nhất: Nhiều người trong chúng ta nặng về việc đi lễ và giữ đạo đức theo lối riêng, còn những đòi hỏi không khoan nhượng nhằm thực thi công chính theo Tin Mừng thì chúng ta không xem trọng. Ai là người gần Chúa Giêsu hơn? Ai là người Công giáo kiểu tùy tiện? 

Câu trả lời nằm trong lương tâm thầm kín của mỗi người. Nhưng chúng ta biết rằng chẳng một ai trong chúng ta hoàn toàn đúng cả. Tất cả chúng ta còn đứng vững là nhờ sự tha thứ của Thiên Chúa và nhờ sự nhẫn nại của cộng đoàn giáo hội mà chúng ta đang sống.

Điểm thứ hai là: Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta là một Thiên Chúa phong phú vô hạn. Ngài chẳng thiếu thốn, chẳng dè xẻn lòng thương bao giờ. Như trong dụ ngôn Người gieo hạt, Thiên Chúa đã thỏa tay gieo hạt trên mọi loại đất – đất xấu, đất thường, đất tốt, đất thượng hạng. Thiên Chúa làm như thế vì tình yêu và lòng thương xót của Ngài vô hạn. Dường như Thiên Chúa chẳng bao giờ lo lắng về việc một ai đó sẽ phải đón nhận những ơn ban quá nghèo nàn mà họ không đáng phải nhận. Cũng vậy, Chúa Giêsu đoan chắc với chúng ta rằng Thiên Chúa đó thật hoang phí: Cũng như người cha nhân hậu của hai anh em người  con hoang đàng, vòng tay Thiên Chúa ôm cả người lỗi lầm non nớt lẫn người già dặn nhưng còn cay đắng, hận thù. Một tôn giáo tốt đẹp cần phải trân trọng những điều như thế.

Ngày nay, ở cả hai phía tư duy, cả bảo thủ lẫn cấp tiến, tất cả chúng ta đều cần tự nhắc nhở rằng, thế nào là sống trong vòng tay của một Thiên Chúa “Công giáo” phong phú và hào phóng. Trong nhiều nghĩa khác nhau, có một nghĩa là luôn mãi mở lòng để bao gồm mọi người càng ngày càng rộng hơn. Vậy quả tim chúng ta rộng lượng đến như thế nào? 

Tính loại trừ có thể ngụy trang dưới lớp bọc của sự thâm sâu và lòng khắc khoải chân lý; nhưng rồi nó sẽ tự bóc trần, vì nó không thể nào giải quyết được tính mập mờ và tách biệt, tê cứng và hãi sợ, như thử Thiên Chúa và Chúa Giêsu cần chúng ta bảo vệ. Quan trọng hơn nữa, nó quá thường tự lột mặt mình vì nó thiếu lòng thương thực sự cho những ai nằm ngoài nhóm của nó, và như thế, nó đã không tôn kính Thiên Chúa của chính nó, một Thiên Chúa dư dật và hoang phí.

Vượt thắng lo âu

Lo âu, giống như tất cả mọi áp lực khác, nuốt chúng ta theo nhiều mức độ khác nhau. Xét sơ qua, thì chúng ta lo lắng về nhiều thứ. Nhưng xét sâu hơn, chúng ta lo lắng theo  kiểu nhuốm lên hầu hết mọi việc chúng ta làm. Trong số những gì gọi là động cơ, chiều hướng của chúng ta, có quá nhiều thứ chỉ là một nỗ lực vô thức để giải phóng mình ra khỏi lo âu. Chúng ta luôn luôn nuôi hy vọng có thể tự giải thoát mình khỏi các lo âu bằng các thành tựu, thành công, bảo đảm tài chính, danh tiếng, những gì để lại cho đời, kể cả bằng quyền thế và tình dục. Chúng ta nuôi dưỡng một niềm tin sâu kín rằng nếu gom đúng những thứ trên, thì cuộc sống  sẽ có được chân giá trị mà chúng ta cần để được cảm thấy an toàn và vô lo.

Nhưng rồi kinh nghiệm đã sớm dạy cho chúng ta thấy rằng những thứ này, dù bản thân chúng là tốt, vẫn chẳng phải là phương thuốc cho chúng ta. Sự thật là, chúng có thể và thường thường làm cho chúng ta càng lo âu hơn. Ngay khi có được tài chính bảo đảm, chúng ta lo làm sao để giữ được nó, ngay khi có quyền lực thì chúng ta luôn canh chừng trong nỗi sợ sẽ mất quyền lực. Cũng vậy, thành công có thể nhanh chóng trở thành một khối u vì chúng ta có khuynh hướng bẩm sinh đồng nhất giá trị bản thân với các thành tựu của mình và điều này luôn luôn tạo áp lực buộc chúng ta phải làm một việc quan trọng nào đó vì sợ mình sẽ không còn là người cao giá nữa. Còn tình dục, trừ phi nó thuộc về một mối quan hệ vô điều kiện và thật tâm, nếu không nó sẽ chỉ là thuốc phiện, cũng cùng độ nghiện và vô dụng như mọi thứ gây nghiện khác. Tình dục, cũng như thành tựu và danh tiếng, sẽ không chế ngự được những con quái vật sâu thẳm bên trong chúng ta.

Chúng ta luôn mãi cố gắng để tự cho mình trọn vẹn nhưng chúng ta không làm được. Chúng ta không thể tự biện hộ cho mình được. Chúng ta không thể tự làm cho mình bất diệt. Chúng ta không thể viết tên của mình lên trời được. Chỉ có tình yêu mới giải thoát chúng ta ra khỏi lo âu, và thực sự chỉ có một dạng tình yêu mới cho chúng ta có được giá trị thật. Chỉ có tình yêu của Thiên Chúa mới có thể viết tên chúng ta lên trời? Vậy phép tính chúng ta cần có là gì?

Một vài năm trước, tôi có dự một tuần tĩnh tâm dưới sự hướng dẫn của cha Robert Michel, một Hiến sĩ truyền giáo vùng Canada Pháp ngữ. Cha bắt đầu cuộc tĩnh tâm bằng những lời sau: “Tôi muốn mang lại cho các bạn một cuộc tĩnh tâm thật đơn giản. Tôi muốn bày cho các bạn một cách đặc biệt để cầu nguyện. Tôi muốn bày các bạn cách cầu nguyện sao cho trong lời cầu nguyện của các bạn, sẽ có đôi lần, dù không hẳn là trong tuần này, nhưng một lúc nào đó, bạn sẽ mở lòng mình ra để cái tôi sâu thẳm của bạn sẽ được nghe tiếng Chúa nói rằng: ‘Ta yêu con!’ Bởi vì trước khi bạn nghe được tiếng này bên trong tâm hồn bạn thì trước đó, đối với bạn chẳng có gì là đủ. Bạn sẽ tìm kiếm điều này điều kia, chạy qua chỗ này chỗ nọ, cố gắng đủ kiểu, nhưng sẽ thấy chẳng có gì thích đáng cả. Sau khi bạn nghe được lời nói đó từ Thiên Chúa, bạn sẽ có được chân giá trị, bạn sẽ tìm thấy điều mà bao lâu nay bạn tìm kiếm. Chỉ sau khi nghe được những lời trên, cuối cùng bạn mới được giải thoát  khỏi nỗi lo âu của mình.”

Trong một nền văn hóa quá dễ dàng sa vào những ngụy biện sai lầm, thì có thể sẽ có những cám dỗ xui khiến chúng ta loại bỏ những lời trên vì xem chúng là ngây thơ, quá mộ đạo, hay nhạy cảm; nhưng về bản chất, những gì mà lời đó mời gọi chúng ta cũng chính là điều mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta qua Tin Mừng theo thánh Gioan.

Như chúng ta biết, theo Tin Mừng thánh Gioan, Chúa Giêsu thể hiện rất ít nhân tính của Ngài. Từ đầu đến cuối, thánh Gioan đều mô tả Ngài đầy những nét thiêng liêng. Và, trong Tin Mừng đó, lời đầu tiên thốt ra từ miệng Chúa Giêsu là một lời mời gọi: “Các con tìm gì?”  Rồi từ đó, toàn bộ Tin Mừng thánh Gioan cố gắng trả lời câu hỏi đó: Chúng ta đang tìm gì? Xuyên suốt Tin Mừng thánh Gioan, Chúa Giêsu bảo với chúng ta rằng chúng ta đang kiếm tìm nhiều thứ: Nước hằng sống giải được cơn khát sâu nhất và chẳng cần uống thêm lần nào nữa, một chân lý sẽ giải thoát chúng ta, một sự tái sinh vào điều gì đó cao hơn, một ánh sáng chiếu tỏa muôn đời. Nhưng những hình ảnh dường như có vẻ trừu tượng.  Vậy cốt lõi thực sự bên trong của chúng là gì?

Tin Mừng thánh Gioan cuối cùng cũng trả lời điều này rất rõ ràng. Đến gần cuối Tin Mừng (thực sự đây có lẽ là đoạn kết nguyên gốc trong Tin Mừng thánh Gioan), chúng ta thấy một cuộc gặp gỡ cảm động của Chúa Giêsu và Maria Mađalêna sau biến cố Phục Sinh. Diễn ra trong một khu vườn, hình ảnh tượng trưng cho nơi phát xuất tình yêu: Maria, mang theo dầu thơm để xức xác Chúa, bà đi tìm Chúa Giêsu lúc rạng sáng ngày Phục Sinh. Bà gặp được Ngài, nhưng không nhận ra ngài. Cho rằng Ngài là người làm vườn, bà hỏi Ngài liệu bà có thể tìm thấy xác Chúa Giêsu ở đâu. Chúa Giêsu trả lời bằng đúng câu hỏi đã khởi đầu Tin Mừng này: “Con tìm gì?” Rồi, trước khi bà trả lời, Ngài đã cho bà một câu trả lời sâu sắc cho câu hỏi đó: Ngài yêu thương gọi tên bà: “Maria”.  Trong khẳng định tình yêu vô cùng đặc biệt đó (cha Robert mời gọi chúng tôi cầu nguyện xin điều này), Ngài viết tên bà lên trời. Ngài cho bà chân giá trị, và chữa lành nỗi lo âu của bà.

Bởi tình yêu cần có qua có lại, lời khẳng định đó cần được đáp trả nồng ấm. Và… có một mối nguy trong việc này: Nói theo lời Simone Weil là: “Sự kết hợp tinh thần thâm sâu sẽ tốt cho kẻ tốt, và xấu cho kẻ xấu. Thiên Chúa mời gọi tất cả ma quỷ vào thiên đàng, nhưng với chúng, đó là địa ngục.”  Còn với chúng ta, ý muốn Thiên Chúa chính là thiên đàng!

Lo âu

Một người bạn của tôi thích đùa theo kiểu tự cho mình là người cực kỳ ích kỷ, thỉnh thoảng anh bông đùa: “Cuộc đời thật khó khăn vì tôi phải đối phó với tính chất trọng đại của tôi!” Khôi hài thay, những đối phó cùng cực nhất trong cuộc sống chính là ngược lại: Chúng ta luôn luôn phải đối phó với sự bé nhỏ vô cùng của mình! Chúng ta luôn luôn sợ rằng mình chẳng là gì, không có gì là lâu dài, không bất diệt. Chúng ta sợ rằng, rốt cùng chúng ta sẽ biến mất hoàn toàn.

Chúa Giêsu gọi điều này là mối lo và thường khuyên chúng ta phải chống lại nỗi lo này. Một điểm đáng lưu ý là theo Chúa Giêsu, tương phản với đức tin không phải là hoài nghi hay vô thần, mà là lo âu, một nỗi sợ có thật, một bất an nhất định. Vậy cụ thể hơn, nỗi sợ này là gì?

Ở một mức độ nào đó, Chúa Giêsu đã nói rõ điều này. Ngài nói chúng ta quá lo âu về những nhu cầu thể xác, thức ăn, thức uống, áo quần, nhà cửa. Cũng vậy, chúng ta quá lo lắng về việc sẽ được người khác đón nhận như thế nào, về thanh danh của mình, về sự tôn trọng của cộng đồng. Chúng ta thấy lời cảnh báo này khi Chúa khuyên chúng ta nên học theo các bông huệ ngoài đồng trong việc tín thác vào Thiên Chúa và kèm theo đó là lời khuyên đừng làm việc gì để được người khác xem là tốt. Nhưng chúng ta lại luôn luôn lo lắng về những điều này, tất cả không chừa ai, và nỗi sợ này là một thứ không cần thiết và không lành mạnh. Hoạch định của tự nhiên và Thiên Chúa là để chúng ta có những bản năng này, dù Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy vượt lên trên nó.

Sâu hơn nữa, ngoài những bận lòng cho các nhu cầu thể xác và thanh danh, chúng ta còn nuôi dưỡng một nỗi sợ sâu sắc hơn nhiều. Chúng ta sợ về giá trị thật của mình. Chúng ta sợ rằng đến cuối cùng chúng ta thực sự chỉ là (mượn lời của tác giả sách Giảng viên) phù hoa, ảo vật, một thứ gì đó vô thực cuốn bay theo gió. Đó chính là mối lo âu tận cùng của chúng ta và chúng ta thấy được điều này nơi loài vật, trong một cách thức bất di bất dịch và thường thường là hung bạo trong việc truyền giống để trường tồn. Chúng ta cũng có cùng xu thế bất di bất dịch (và đôi khi hung bạo) hướng đến sự bất diệt đó khi tìm cách duy trì nòi giống. Nhưng, đối với loài người, chúng ta làm việc này dưới nhiều hình thức: Trồng cây. Sinh con. Viết sách. Chính yếu là để lại một dấu tích còn mãi trên địa cầu này. Bảo đảm cho sự bất tử của riêng mình. Để chắc chắn là mình không bị quên.

Chúng ta luôn luôn lo lắng về giá trị và sự bất diệt của mình, luôn cố gắng tạo cho mình điều này. Nhưng, như Chúa Giêsu đã thường nhẹ nhàng chỉ ra, chúng ta không thể tự mình làm được việc này. Không thành công, không tượng đài, không danh tiếng, không cây trồng, không con cái, và cũng không có quyển sách nào có thể cho nỗi lo âu về giá trị thật và sự bất diệt trong chúng ta được thanh thản tuyệt đối. Chỉ Thiên Chúa có thể làm được như thế. Chúng ta thấy trong Tin Mừng, có lần Chúa Giêsu đã nhẹ nhàng nhắc về điều này khi các môn đệ, lòng phấn chấn, về kể cho Chúa Giêsu nghe các thành công trong sứ vụ và chia sẻ với Ngài những điều phi thường họ đã làm được. Ngài chia sẻ niềm vui với họ, nhưng rồi, nhẹ nhàng nhắc họ điều cốt yếu rằng: Sự an ủi thực sự không nằm ở thành công, ngay cả khi đó là thành công trong việc làm vì Nước Trời. Sự an ủi thực sự nằm trong việc nhận biết rằng “tên của chúng con đã được ghi trên trời,” rằng Thiên Chúa đã trìu mến đặt mỗi người chúng ta vào lòng ưu ái của Ngài. Sự an ủi thực sự nằm trong việc nhận ra rằng chúng ta không buộc phải tạo ra giá trị thật và sự bất diệt của riêng mình. Thiên Chúa đã làm điều đó cho chúng ta.

Nhưng vì lo lắng và sợ hãi, theo lời thánh Phaolô, chúng ta cố gắng “khoác lác”, tự tạo cho mình một dấu tích bất diệt trên hành tinh này. Linh đạo Tin Lành xưa, cũng học theo thánh Phaolô, nói rằng chúng ta, bằng những nỗ lực bất diệt hóa bản thân, mãi mãi cố gắng để “biện hộ cho chính mình” bằng cách để lại tên mình trên trời.

Làm sao chúng ta có thể vượt thắng được điều này? Nơi đâu chúng ta có thể tìm thấy niềm tin để nhờ đó từ bỏ nỗi sợ và lo âu, đặc biệt là để vượt thắng được áp lực không ngừng bên trong chúng ta, muốn tạo một loại bất diệt riêng cho chính mình?
Chỉ tình yêu mới giải thoát chúng ta khỏi nỗi sợ. Và nỗi sợ thâm sâu nhất chỉ có thể bị đẩy lùi nhờ tình yêu sâu sắc nhất. Để từ bỏ lo âu và nhu cầu muốn tạo ra giá trị và sự bất diệt cho riêng mình, chúng ta cần nhận ra một tình yêu vô điều kiện. Tình yêu vô điều kiện, dù đến từ Thiên Chúa hay tha nhân, đều đem lại cho chúng ta giá trị và sự bất diệt. Gabriel Marcel đã từng nói, yêu ai là nói với người đó: Bạn, ít nhất bạn sẽ chẳng bao giờ chết!

Nhưng tình yêu vô điều kiện, một khía cạnh của vĩnh cửu, không phải là điều chúng ta dễ dàng tìm thấy. Thiên Chúa yêu chúng ta vô điều kiện, nhưng hầu như, chúng ta quá bị tổn thương (về cảm xúc, về tâm lý, và tinh thần) để có thể nắm vững một cách sống còn điều này. Đơn giản là thật khó để tin rằng Thiên Chúa yêu chúng ta khi dường như chẳng một ai làm như thế và rồi chúng ta cứ phải cố gắng để tự yêu mình. Chẳng lạ gì khi chúng ta cứ mãi lo lắng, biến lo lắng thành thói quen và luôn cố gắng cách nào đó tìm cho được tình yêu bằng cách làm cho mình thật tốt và xuất chúng.

Vậy điều gì chữa lành cho chúng ta? Điều sẽ chữa được nỗi sợ và lo âu chính là sự quy phục sâu sắc hơn đối với tình yêu trong sự thân thiết với những người chúng ta yêu mến trên thế gian này và với Thiên Chúa. Nhưng sự quy phục này đòi hỏi chúng ta phải mạo hiểm nhiều. Vậy mối nguy hiểm chúng ta phải đối mặt là gì đây?

(Xin mời các bạn xem phần tiếp theo ở bài sau.)

Đặt trọng tâm vào Thiên Chúa có nghĩa là gì?

Vài năm trước đây, tôi có tham dự một hội nghị tôn giáo, và được nghe một trong số các diễn giả, vốn rất có tiếng và được tôn trọng trong lãnh vực hoạt động cho người nghèo bình luận như sau: “Tôi không phải là thần học gia, nên tôi không biết ý nghĩa của việc làm từ thiện về mặt thần học như thế nào, nhưng tôi dựa trên nền tảng sau để hoạt động: Tôi làm việc với người nghèo. Phần nào đó, tôi làm việc này vì tình nhân loại, vì bản tính thương xót tự nhiên của tôi; nhưng tận cùng, động lực của tôi ở Đức Kitô. Tôi làm việc với người nghèo vì tôi là Kitô hữu. Tuy nhiên, tôi có thể làm việc như thế suốt hai hay ba năm mà không bao giờ nhắc đến Đức Kitô vì tôi tin rằng Thiên Chúa đủ cao cả để không đòi hỏi Ngài phải luôn luôn là tâm điểm lương thức của chúng ta.”

Thiên Chúa không đòi hỏi Ngài là trọng tâm lương thức của chúng ta! Có đúng vậy không? Rõ ràng lời nói này cần được làm rõ và uyển chuyển hơn. Một mặt, khi nghe lời này, chúng ta cảm thấy được nhẹ lòng, được giải thoát, vì đúng thật, gần như đa số thời gian, chúng ta không đặt Thiên Chúa vào trọng tâm chú ý của mình, và một sự thật bất di bất dịch là sẽ chẳng bao giờ chúng ta làm được như thế. Nhưng mặt khác, sự khuây khỏa chúng ta cảm nhận khi nghe những câu này lại bùng lên mạnh mẽ khi đối diện với những thách thức rõ ràng khi đọc sách thánh, các sách của giáo hội, và các ngòi bút thiêng liêng, họ cảnh báo chúng ta đừng đánh mất chính mình trong các tham vọng, dự án, lo toan, khoái lạc, và xao nhãng của thế gian này, mà hãy quy hướng đời sống lu mờ này về một chân trời rộng lớn hơn là Thiên Chúa và vĩnh cửu. Vô số các ngòi bút thiêng liêng đã cảnh báo chúng ta rằng thật nguy hiểm khi đắm chìm quá độ trong thế gian đến đỗi không còn thấy được điều gì vượt trên nó nữa. Chúa Giêsu cũng cảnh báo chúng ta về mối nguy này.

Và tất cả chúng ta đều biết có rất nhiều người có vẻ quá chìm đắm trong đời này, trong hôn nhân, gia đình, công việc, giải trí, thể thao, những bận tâm thường nhật của họ, đến đỗi dường như họ hoàn toàn không cho Thiên Chúa là trọng tâm lương thức của bất kỳ sự kiện quan trọng nào trong đời sống hàng ngày của họ. Thật sự, đôi khi, những người này cũng không đến nhà thờ, và thường rất ít khi đọc kinh hay cầu nguyện.

Nhưng, lạ thay, họ là những người tốt, những người có một đời sống về căn bản (đôi khi rất) là lương thiện, rộng lượng, tốt lành, nồng ấm, quan tâm đến người khác. Hơn nữa, họ thường ngay thẳng, tế nhị, đáng là người bạn muốn đồng bàn, dù dường như suốt cuộc sống, họ thuần túy thuộc về thế gian, họ không nghĩ gì đến những điều trừu tượng hay tôn giáo. Một buổi hội họp gia đình tốt đẹp, một chiến thắng của đội nhà, một bữa ăn ngon miệng với bạn bè, một ngày làm việc lành mạnh, vậy là đủ ngoài mong đợi. Lương thức của họ hướng đến những chuyện thế gian, với các vui thú và buồn sầu của nó. Để xoay chuyển lương thức của họ, cần có một ý niệm rõ ràng về Thiên Chúa đến trong đời họ. Nhưng với những người này, đa số là người tốt, thì nhận thức căn bản của họ là theo thuyết bất khả tri.

Điều này tệ như thế nào? Có giảm một cách nguy hiểm tầm nhận thức của họ không? Kiểu chú tâm hướng một phía về đời này bóp nghẹt hay biến lời Chúa thành hời hợt và xa lạ sẽ tệ như thế nào? Liệu chúng ta có đang  lũ lượt xuống địa ngục vì không ý thức để chú tâm hơn về Thiên Chúa và vì chúng ta không thể có tính tôn giáo rõ ràng hơn, hay không?

Bạn sẽ biết được điều đó khi nhìn vào hoa trái của họ! Chúa Giêsu đã nói như thế và chúng ta phải lấy đó làm tiêu chuẩn ở đây: Nếu đời sống nội tâm của họ lương thiện, rộng lượng, tốt lành, nồng ấm, lành mạnh, biết khắc khoải, có trí tuệ và tính hài hước làm tươi đẹp đời sống, thì làm sao họ có thể không hòa hợp với các điều của Thiên Chúa được? Ngoài ra, chúng ta cần phải tự hỏi chính mình: Nếu chúng ta sinh ra trong thế giới này với một lực hút mạnh mẽ bẩm sinh về những sự ở thế gian này, nếu bản chất lương thức (nguyên bản) của chúng ta muốn tương hợp với chuyện đời hơn là linh hồn, và gần như mọi người đều như vậy, thì như thế, làm sao chúng ta nhận ra được ý muốn của Đấng tạo dựng nên chúng ta? Vậy, trong việc bản năng tự nhiên đưa chúng ta gần như chú tâm hết vào đời này, ngay cả khi đức tin cho chúng ta một cái nhìn vượt ngoài thế gian này, thì Thiên Chúa muốn bày tỏ điều gì?

Có lẽ Thiên Chúa đủ cao cả để không đòi hỏi hay mong muốn chúng ta luôn luôn có ý thức chú tâm đến Ngài. Có lẽ Thiên Chúa muốn chúng ta vui thú trong khi sống ở thế gian này, vui hưởng trải nghiệm tình yêu, tình bạn, tình gia đình, ăn uống, xem đội bóng yêu thích của mình đoạt cúp. Có lẽ Thiên Chúa, mượn lời của Yogi Berra, muốn chúng ta có đôi lần chỉ cần được ngồi lại và thưởng thức một trận đấu! Có lẽ Thiên Chúa giống như người ông ân phúc, có thể, khi vui hưởng quà tặng cuộc sống cũng là một cách cầu nguyện mộc mạc, và có lẽ có nhiều cách ít vô tư hơn để chúng ta có thể nhận biết Thiên Chúa.

Giống như người phụ nữ tôi nhắc ở trên, tôi cũng không biết những chuyện này có ý nghĩa gì về mặt thần họïc, nhưng chúng cần được nói lên.

Cầu nguyện là thiêng liêng và cân đối

Những năm làm việc sinh ích của chúng ta là một cuộc đua đường dài chứ không phải cuộc đua nước rút, do đó sẽ khó giữ vững tính mềm mại, lòng quãng đại và kiên nhẫn khi phải đi qua những lúc mệt mỏi, thử thách, cám dỗ vây quanh chúng ta trong suốt đời sống người lớn. Khi phải dựa hoàn toàn vào chính mình, chỉ tin vào sức mạnh của ý chí, chúng ta thường bị mệt nhọc, sức chịu đựng đi xuống, làm việc nửa vời, cả trong sự chính chắn và kỷ luật của mình. Chúng ta cần một hỗ trợ từ bên ngoài, từ một nơi nào đó nằm ngoài hỗ trợ của con người, và hỗ trợ đó sẽ nâng đỡ chúng ta. Chúng ta cần sự giúp đỡ của Thiên Chúa, một sức mạnh khởi xuất từ một điều gì đó cao hơn sức mạnh của con người. Chúng ta cần cầu nguyện.
Nhưng thường thường chúng ta nghĩ về cầu nguyện là lòng mộ đạo hơn là một cái gì thực tế. Hiếm khi chúng ta hiểu cho thấu cầu nguyện thật ra là một vấn đề sống chết đối với chúng ta. Chúng ta cần cầu nguyện không phải vì Chúa cần lời cầu nguyện, nhưng nếu không cầu nguyện, chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy một cái gì kiên định trong đời sống của mình. Đơn giản, nếu không  cầu nguyện, chúng ta sẽ luôn luôn hoặc sống quá nhiều về bản thân hoặc quá thiếu sinh lực, nói cách khác, hoặc tự mãn hoặc chán nản. Tại sao vậy? Mổ xẻ vấn đề này, chúng ta sẽ thấy gì?

Dù hiểu theo tất cả những gì tốt đẹp nhất trong truyền thống Kitô giáo hay không, cầu nguyện mang đến cho chúng ta hai điều cùng một lúc: Nối kết chúng ta với sinh lực thiêng liêng và cho chúng ta nhận thức, năng lực này không phải của chúng ta, nó đến từ một nơi khác, và có lẽ chúng ta chẳng bao giờ xác định được. Với tác động của nó, cầu nguyện sẽ đổ đầy sinh lực thiêng liêng cho chúng ta, cùng lúc nó cho chúng ta biết sinh lực này không phải của chúng ta, sinh lực này hoạt động trong chúng ta, nhưng không phải do chính chúng ta. Để lành mạnh, chúng ta cần cả hai: Nếu mất nối kết với sinh lực thiêng liêng, chúng ta sẽ cạn kiệt sinh lực, nản lòng và thấy trống rỗng. Ngược lại, nếu để sinh lực thiêng liêng tuôn chảy mà không cần xác định chính xác nó là gì, cứ nghĩ nó là của mình, thì từ đó chúng ta thành người tự đại, tự mãn, tự cho mình là quan trọng và kiêu ngạo, rồi từ đó sẽ ích kỷ và hư mất. 

Để làm sáng tỏ điều này, Robert Moore đã minh họa một hình ảnh rất hữu ích, một chiến đấu cơ nhỏ cần được tiếp năng lượng trong lúc bay. Chúng ta từng xem các đoạn phim ngắn, chiếu cảnh một chiến cơ được tiếp nhiên liệu trong khi bay. Tàu mẹ với dự trữ nhiên liệu khổng lồ, bay trên tàu con. Tàu con phải bay đủ gần tàu mẹ để vòi xăng từ tàu mẹ nối được với tàu con và đổ đầy nhiên liệu cho nó. Nếu không làm được cách nối này, tàu con sẽ cạn nhiên liệu và sẽ rớt. Ngược lại, nếu nó bay thẳng vào và nhập một với tàu mẹ, thì nó sẽ cháy.

Một vài hình ảnh trên nói lên được tầm quan trọng của cầu nguyện trong đời sống chúng ta. Không có cầu nguyện, mãi mãi chúng ta sẽ chỉ thấy mình giao động chập chờn giữa cạn kiệt sinh lực và quá nhiều cái tôi. Nếu không nối kết với sinh lực thiêng liêng, chúng ta sẽ như phi cơ cạn xăng. Nếu nối kết với sinh lực thiêng liêng theo kiểu đồng nhất vào đó, chúng ta sẽ hủy hoại chính mình.

Cầu nguyện sâu đậm vừa thêm sinh lực vừa làm trụ nâng đỡ chúng ta. Chúng ta có thể thấy điều này nơi mẹ Têrêxa, người thiết tha với sinh lực sáng tạo nhưng luôn luôn xác định rõ ràng, sinh lực này không xuất phát từ mình, mà chính từ Thiên Chúa, mẹ chỉ là tạo vật khiêm hèn mà thôi. Thiếu cầu nguyện sẽ tạo ra hai dạng tương phản với mẹ Têrêxa. Một mặt, nó làm cho những người đầy sinh lực sáng tạo trở nên cực kỳ tài năng và hăng hái, nhưng đồng thời cũng đầy cái tôi và tự đại; hay ngược lại, nó làm cho người ta cảm thấy trống rỗng và tẻ nhạt, không phát ra được sinh lực tích cực nào. Không có cầu nguyện, chúng ta sẽ luôn luôn chao qua chao về giữa hai trạng thái tự đại và nản lòng. 

Vì thế, là người nhạy cảm, nếu trong đời sống, tôi không cầu nguyện một cách trung thực, tôi sẽ sống trong khủng hoảng thường xuyên, ngại rằng nếu tôi bám lấy và hành động trên sinh lực của mình sẽ làm cho người khác nghĩ rằng tôi chỉ biết nghĩ đến cái tôi của mình. Vì là người nhạy cảm, tôi không chấp nhận như thế, nên tôi chôn vùi các sinh lực tốt nhất của mình với llối suy nghĩ vô thức rằng nản lòng thì tốt hơn là bị cho là ích kỷ. Nhưng Chúa Giêsu, trong dụ ngôn kể về các tài năng, đã cảnh báo mạnh mẽ về cái giá phải trả khi chôn vùi tài năng của mình, cụ thể là, những gì chúng ta phải trả là sự trống rỗng, giận dữ, và thiếu vui tươi trong cuộc sống. Thường thường, khi chúng ta dò sâu xuống bên dưới các giận dữ, ghen tương, chúng ta sẽ thấy nơi đó có một tài năng bị chôn vùi đang cay đắng vì  bị đè nén. Đức hạnh có được nhờ đè nén sinh lực sẽ dẫn đến nỗi chua cay mà thôi.

Ngược lại, nếu tôi không quan tâm đến việc người khác nghĩ tôi là người ích kỷ, cuộc sống tôi cũng chẳng biết cầu nguyện thực sự là gì, thì tôi sẽ để những dòng sinh lực thiêng liêng chảy tự do trong tôi, và tôi sẽ đồng nhất mình với chúng như thể chúng là của tôi, là tài năng của tôi và tặng vật của riêng tôi, kết cục tâm hồn tôi sẽ đầy cái tôi và tự đại, và rồi những người xung quanh sẽ mong tôi sớm gặp khủng hoảng!

Không có cầu nguyện, mãi mãi chúng ta sẽ hoặc cạn kiệt sinh lực hoặc mang trong mình quá nhiều cái tôi, chỉ vậy mà thôi.

Đại kết, đòi hỏi bị lãng quên của chúng ta

Trong khi nói lời từ biệt vào đêm trước ngày tử nạn, Chúa Giêsu bảo những kẻ đi theo Người “có những con chiên khác không thuộc đàn này” và những kẻ đang ở cùng Ngài vào lúc đó sẽ không phải là những kẻ duy nhất theo Ngài. Và Ngài cũng rất nghiêm túc nói rằng Ngài mong mỏi được hợp nhất cách khẩn thiết và sâu sắc với những người khác giống như những ai đang ở chung phòng này với Ngài.

Giữa những điều khác nữa, thì điều này có nghĩa là bất kể chúng ta thuộc phái Kitô giáo riêng biệt nào, chúng ta vẫn không phải là những môn đệ duy nhất của Đức Kitô, và chúng ta chẳng có quyền nào để đòi Ngài yêu thương chúng ta hơn hàng triệu người khác vốn không cùng phái với chúng ta.  Hơn nữa, việc là một môn đệ của Chúa Giêsu, có nghĩa chúng ta giống như Ngài, khao khát và cầu nguyện mong được hợp nhất với những ai đang tách ly với chúng ta. Thực sự, sự phân biệt giữa các Kitô hữu, bị chia ra thành hơn cả trăm phái tách biệt, và trong những phái này, chúng ta còn chia tách hơn và cay đắng hơn do hệ tư tưởng khác nhau và sống không tin tưởng lẫn nhau, chính những điều này có lẽ là tiếng xấu lớn nhất mà Kitô giáo đã và đang hứng chịu trong thế giới này.

Xét chung, dù có những ý định tốt lớn lao và các nỗ lực thật tâm trong những năm gần đây, chúng ta vẫn đang không cầu nguyện cho nhau và không tìm đến nhau với tấm lòng thật sự. Ngày nay, mối liên hệ giữa các phái Kitô giáo, thường là mối liên hệ ngay chính trong lòng các phái này nữa, đang mang đậm sự tái thủ thế hơn là cởi mở, nghi ngờ hơn là tin tưởng, bất kính hơn là tôn trọng, ác tâm hơn là cảm thông, và thiếu tình thân ái hơn là nhã nhặn và độ lượng. Cũng vậy, thật đáng buồn khi thay vì khao khát đại kết và cởi mở, các giáo hội của chúng ta lại đầy thiển cận và tự mãn có thể diễn tả là: “Chúng tôi có chân lý. Chúng tôi không cần bạn!”

Là Kitô hữu, ai là anh chị em thật của chúng ta? Có phải là những người đang ở trong phái riêng biệt cụ thể với chúng ta đó hay sao? Có lẽ đúng, dù có lẽ không! Trong sứ vụ của Chúa Giêsu, có đôi lần, Ngài đang nói chuyện với một nhóm người, và có một người tiến đến mà nói với Ngài rằng mẹ và thân thuộc của Ngài đang ở bên ngoài nhóm này, và muốn được gặp Ngài. Chúa Giêsu trả lời với một ý sâu xa hơn: Trong mỗi trường hợp, Ngài trả lời với một chất vấn khác nhau: “Ai là mẹ ta? Ai là anh chị em ta?” Và Ngài trả lời câu hỏi của mình như sau: “Những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa là mẹ, và anh chị em ta.”

Trong một xã hội dựa hoàn toàn trên huyết thống, thì câu này thật gây sửng sốt. Một giọt máu đào hơn ao nước lã, nhưng Chúa Giêsu quả quyết rằng, đức tin còn hơn huyết thống. Đức tin là nền tảng thực sự cho gia đình. Đức tin thắng vượt huyết thống. Hơn nữa, chẳng có gì là vô lý, khi câu này còn ngụ ý đức tin cũng thắng vượt luôn tính bè phái. Là Kitô hữu, ai là anh chị em thật của bạn? Người đồng bạn theo Công giáo Roma? Người đồng bạn theo Giáo hội Trưởng lão? Người đồng bạn theo phái Luther? Người đồng bạn theo phái Baptist? Người đồng bạn theo phái Phúc Âm? Người đồng bạn theo phái Giám Lý? Người đồng bạn theo Anh giáo hay Tân giáo? Rõ ràng, với Chúa Giêsu, người anh chị em thật chính là người nghe một cách sâu sắc nhất lời của Thiên Chúa và tuân giữ chúng, bất kể người đó theo phái nào. Cương vị môn đệ Kitô hữu được xác định bằng con tim hơn là bằng tấm danh thiếp hội viên một giáo hội riêng lẻ cụ thể nào đó.

Điều này tạo nên một đòi hỏi không bàn cãi gắn liền với cương vị môn đệ Kitô hữu của chúng ta: Chúng ta cần biểu lộ khao khát của Chúa Giêsu, muốn được đi vào mật thiết với tất cả mọi người mang đức tin chân thật, và cuối cùng là để tất cả mọi hành động của chúng ta khi hướng đến những người nằm ngoài nhóm tôn giáo của mình phải luôn thể hiện được sự tôn trọng, rộng lượng, và thân ái, và đó chính là dấu chỉ thật cho thấy chúng ta khao khát được hiệp nhất với họ.

Sự tôn trọng, rộng lượng, và thân ái thật sự chỉ có thể có được nhờ vào sự khiêm hạ, nghĩa là tin rằng giáo hội của chúng ta, dù theo phái nào đi nữa, vẫn không nắm trong tay toàn bộ chân lý, rằng chúng ta không phải không có mắc lỗi và mắc tội, và chúng ta không phải là người trung tín hoàn toàn với Tin mừng. Tất cả chúng ta, tất cả các giáo hội Kitô giáo đang trên cuộc lữ hành hướng đến viên mãn, hướng đến một nhận thức hoàn toàn về chân lý, và hướng đến một sự trung tín thật tâm và căn bản với những gì mà Chúa Giêsu đã đòi hỏi chúng ta phải có. Không một ai trong chúng ta đã đạt đến mức độ đó. Tất cả chúng ta vẫn đang trên đường lữ hành đến với những gì chúng ta đã được kêu gọi.

Rồi như thế, bất kể thuộc phái nào, bổn phận chung đích thực của chúng ta không phải là cố gắng để thắng thế hòng cải đạo hay mở mắt cho người khác thấy chúng ta đúng hơn họ. Nhưng, bổn phận trước hết của chúng ta là biến cải ngay trong lòng phái của mình. Bổn phận trước hết, nói riêng là từng cá nhân, nói chung là các giáo hội, chính là cố gắng trung tín hơn với Tin mừng. Nếu chúng ta làm như thế, đến cuối cùng, chúng ta sẽ đến với nhau, như một giáo hội duy nhất dưới Đức Kitô, bởi khi đi sâu hơn vào mầu nhiệm Đức Kitô và tiến sâu hơn vào sự mật thiết với Chúa Giêsu, chúng ta sẽ (mượn một cụm từ đẹp của Avery Dulles) “dần dần quy về một mối”, để cuối cùng sẽ gặp nhau tai một tâm điểm duy nhất và một người duy nhất, Chúa Giêsu Kitô.

Kenneth Cragg, sau nhiều năm truyền giáo cho người Hồi giáo, đã nói rằng cần toàn bộ các giáo hội Kitô giáo để có thể đưa ra được một biểu lộ trọn vẹn về một Đức Kitô trọn vẹn. Rõ ràng, tất cả chúng ta vẫn cần phải trải lòng mình ra với mọi người.

Trí tuệ bên trong tiến trình lão hóa

Điều gì mà Thiên Chúa và bản chất tự nhiên có trong đầu khi họ tạo nên tiến trình lão hóa? Tại sao ngay khi năng lực tinh thần, sự trưởng thành và tự do xúc cảm của chúng ta đạt đến cao điểm, thì cơ thể này lại bắt đầu đi xuống?

Dĩ nhiên, đức tin của chúng ta, vốn có vai trò mở ra cho chúng ta một quan điểm vượt ngoài đời sống sinh lý, đã đôi chút giải thích cho những câu hỏi này, dù không phải lúc nào nó cũng nói với chúng ta trong một ngôn ngữ cho chúng ta nắm bắt được những suy tưởng sâu xa hơn về những gì đang xảy đến cho chúng ta trong tiến trình lão hóa. Đôi khi một quan điểm thế tục có thể hữu ích và nó đúng trong trường hợp này.

James Hillman, trong một quyển sách thông tuệ về lão hóa có tựa đề, Mãnh lực của Tính Cách và Sự Sống Đời Đời (The Force of Character and Lasting Life), đã đưa ra những câu hỏi sau. Điều gì Thiên Chúa và bản chất tự nhiên đã nghĩ đến khi tạo nên tiến trình lão hóa? Và ông trả lời bằng một ẩn dụ: Loại rượu tốt nhất phải cũ, phải già đi trong những thùng rượu cũ rạn nứt. Những năm cuối đời là những năm làm dịu linh hồn, và gần như tất cả mọi thứ bên trong cơ thể sinh lý của chúng ta đều hội tụ lại để bảo đảm cho mọi việc sẽ được như thế. Linh hồn phải được già đi một cách đúng đắn trước khi rời bỏ gian trần này. Ông quả quyết rằng có một trí tuệ bên trong đời sống, và trí tuệ đó dự tính sự lão hóa cũng như sự tăng trưởng thời trai trẻ.  Thật là một sai lầm to lớn khi cho rằng dấu hiệu của việc lão hóa là triệu chứng của cái chết hơn là những khởi đầu để chúng ta bước vào một đời sống khác. Mỗi  sự đi xuống về mặt sinh lý (từ lý do vì sao nửa đêm phải dậy vào phòng tắm, cho đến lý do vì sao da nhăn nheo và khô đi) đều được thiết kế để đưa linh hồn đến trưởng thành. Và chúng làm việc không ngừng, không thương xót, không có sự đồng ý của chúng ta.

Hillman quả quyết rằng tiến trình lão hóa thậm chí còn biến chúng ta thành tu sĩ và thực sự đó mới là kế hoạch của tiến trình này, hệt như thời kỳ dậy thì, nó bơm quá nhiều kích thích tố vào cơ thể và lái chúng ta có xu hướng muốn bỏ nhà đi bụi. Và một lần nữa, Thiên Chúa có dự phần vào kế hoạch này. Lão hóa không phải lúc nào cũng dễ chịu hay dễ dàng, nhưng đó là một nhịp điệu và một lý lẽ của tiến trình con người. Lão hóa đảo ngược những gì nguyên thô của sinh lý. Cuối cùng linh hồn thắng thế thể xác và đi đến nắm vai trò chủ đạo; Hillman viết: “Chúng ta có thể hình tượng lão hóa như một biến đổi về thẩm mỹ hơn là về sinh lý. Người già giống như những hình tượng xuất hiện để chuyển đổi đời sống sinh lý thành đời sống của trí tưởng và nghệ thuật. Người già trở nên những đại diện mang tính truyền tiếp và cực kỳ đáng nhớ, cũng như là những yếu tố trong hoạt động văn minh hóa, mỗi người già là một nhân vật giá trị độc nhất không thể thay thế. Lão hóa đúng là một dạng nghệ thuật, có phải thế không?’  

Nói rộng hơn, khi chúng ta có tuổi, trách nhiệm của chúng ta không phải là sản xuất, mà là suy tư, không phải hữu dụng mà cá tính. Hillman nói thêm: “Những năm trung niên dùng để hoàn thành mọi thứ, trong khi đó phần đời sau dùng để cân nhắc xem xét điều gì đã được hoàn thành và hoàn thành như thế nào.” Phần đời trước có chức năng sản xuất, có nghĩa là chúng ta cho đi đời sống của mình, phần đời sau có chức năng của sự chết, có nghĩa là chúng ta cho đi cái chết của mình.

Và tiến trình lão hóa lại đưa ra một loạt những câu hỏi thứ hai: Giá trị nào mà người cao tuổi vốn có trong những năm tháng xây dựng thời trẻ của họ, giờ đã bị qua đi? Thật sự, thì cũng cùng câu hỏi như thế sẽ được đặt ra cho những ai, khi xét theo tư duy thực dụng, là không thể hữu dụng và sinh ích: Giá trị của những người mắc bệnh Alzheimer là gì? Với những người vẫn tiếp tục sống nhờ vào thuốc giảm đau khi chẳng còn cơ hội phục hồi hay tiến triển gì và khi họ đã biến mất khỏi ý nghĩ của chúng ta, giá trị của họ là gì? Với những người, do ngăn trở về tinh thần hay thể lý, nên xét theo tiêu chuẩn thông thường, họ không thể đóng góp được gì, vậy giá trị cuộc đời họ là gì?

Một lần nữa, những thấu suốt của Hillman đã có giá trị bổ sung cho những quan điểm vốn đã được trao cho chúng ta qua đức tin. Với Hillman, điều mà lão hóa và tật nguyền mang đến cho thế giới chính là đặc tính. Và đặc tính đó không chỉ cho họ. Họ còn giúp truyền đặc tính cho những người khác nữa. Vì thế, Hillman đã viết: “Hữu dụng là một thước đo quá nông cạn cho sự hữu ích, và khuyết tật đã bị ép quá mức để gán nó vào khái niệm bất lực. Một bà già có thể vẫn có ích, đơn giản vì bà là người được quý trọng vì chính nhân cách của bà. Cũng như một hòn đá ở đáy sông, bà chẳng làm gì ngoài sự có mặt ở đó và giữ vị trí của mình, nhưng khi dòng sông có bà, sự hiện diện của bà gây ảnh hưởng làm thay đổi dòng chảy của dòng sông. Một ông già với sự hiện diện nhỏ bé của mình, đóng vai trò như một đặc tính trong các chuyện của gia đình và lân cận. Ông được tôn trọng, là một gương mẫu, đơn giản qua sự hiện diện của ông. Đặc tính của ông đem lại nhiều phẩm chất đặc biệt cho mọi việc, cũng như thêm vào sự phức hợp và chiều sâu cho mọi sự qua việc làm sống lại quá khứ và những người đã khuất nơi mình. Khi tất cả những người cao niên đều vào viện dưỡng lão sống, thì dòng sông chảy quá nhẹ nhàng. Chẳng còn những tảng đá ngăn dòng. Và như thế sẽ thiếu đi các đặc tính.

Lão hóa và tật nguyền cần được tôn trọng về khía cạnh thẩm mỹ. Chúng ta là một nền văn hóa vốn làm tất cả mọi thứ để chối bỏ, trì hoãn, và che đậy sự lão hóa. Chúng ta đưa người già đến những nơi biệt lập, cách xa dòng chảy chính của đời sống, giấu kín họ, và chẳng còn tảng đá nào ngăn dòng để chúng ta phải cố giải quyết. Chúng ta cũng là một nền văn hóa bắt đầu nói ngày càng nhiều hơn về cái chết êm dịu, và xác định giá trị thuần túy chỉ bằng lợi ích. Nếu Hillman đúng, và nếu ông đúng hơn chúng ta về việc này, thì chúng ta đang trả một giá đắt cho nó, chúng ta đang ngày càng mất đi đặc tính và màu sắc của cuộc sống.

Một Thiên Chúa không thể mô tả

Nicholas Lash, trong một  bài tiểu luận sáng suốt đầy sâu sắc về vấn đề Thiên Chúa và vô tín ngưỡng, đã đề xuất rằng Thiên Chúa mà người vô thần bác bỏ thường là một biểu tượng sai lầm xuất phát từ chính trí tưởng tượng của họ: “Điều chúng ta cần làm không gì hơn là lưu ý, hầu hết những người đương thời với chúng ta vẫn thấy rõ ràng chủ nghĩa vô thần không chỉ có khả năng xuất hiện nhưng còn lan rộng và nó có nhiều điểm để bình luận cả về mặt trí thức lẫn đạo đức. Điều này có vẻ hợp lý nếu, tự cho là vô thần, thì họ sẽ không quan tâm, có tồn tại ‘một dạng không có thân xác’, ‘bất tử, tự do, có khả năng làm được mọi thứ, biết mọi điều’ và là ‘đối tượng đúng đắn đáng để cho con người thờ phượng và vâng lời, đấng tạo dựng và duy trì vũ trụ này.’ Tuy nhiên, nếu chúng ta dùng từ ‘Thiên Chúa’ để ngụ ý về mầu nhiệm, được hiện thân trong Đức Kitô, truyền cho mọi thứ từ hư vô thành an bình, thì tất cả mọi thứ phải gắn kết với Thiên Chúa trong mọi bước đi, mọi phần hiện hữu của mình, cho dù chúng có lưu ý và tin tưởng như thế hay không. Chủ nghĩa vô thần, nếu nó chủ trương chẳng có gì dính dáng đến Thiên Chúa, thì như thế, nó tự mâu thuẫn và nếu nó tiến triển hợp lẽ, thì rồi nó sẽ tự hủy hoại chính nó mà thôi.”

Tôi tin là cái nhìn sâu sắc của Lash rất quan trọng, đây không chỉ là quan điểm đầu tiên và tốt nhất để chúng ta đối thoại với người vô thần, mà còn cho chúng ta hiểu về chính đức tin của mình. Định nghĩa đầu tiên của giáo lý Kitô về Thiên Chúa, Ngài là Đấng không thể tả được, có nghĩa không thể có một ý niệm về Thiên Chúa và rằng tất cả mọi ngôn ngữ của chúng ta đều không đủ khả năng tả cho đúng về Ngài.  Đây không phải là một giáo lý trừu tượng khó hiểu. Có lẽ hơn bất kỳ điều gì khác, việc không thể hiểu được điều này chính là nguyên do tại sao chúng ta xung đột với đức tin và chống lại để tránh né những đòi hỏi của đức tin. Vậy, vấn đề ở đây là gì?

Một cách tự nhiên, tất cả chúng ta cố gắng để tạo ra một hình ảnh nào đó về Thiên Chúa và cố gắng hình tượng sự hiện hữu của Ngài. Vấn đề là, khi cố làm như thế, chúng ta giới hạn mình trong hai mục đích đó mà thôi, và cả hai đều không tốt.

Một mặt, chúng ta thường đi đến kết luận với hình tượng Thiên Chúa như một siêu nhân, một con người như chúng ta, ngoại trừ sự siêu việt vô cùng về mọi mặt. Chúng ta hình tượng Thiên Chúa như một siêu anh hùng, thần thánh, toàn tri và toàn năng, nhưng cuối cùng vẫn giống chúng ta, nghĩa là một ai đó mà chúng ta có thể hình tượng và phác họa, có thể định nghĩa, gán cho một gương mặt và có thể đo đếm được. Dù nó tự nhiên và không thể tránh khỏi, nhưng lại làm cho chúng ta, dù thật tâm đến đâu, vẫn luôn luôn có một thần tượng, một quan điểm sai lầm, một Thiên Chúa được tạo nên từ chính trí tưởng tượng chúng ta và giống chúng ta, mà vì thế, đó là Thiên Chúa dễ dàng bị những người vô thần bác bỏ cách thích đáng.

Mặt khác, đôi khi chúng ta cố để dựng nên một hình ảnh Thiên Chúa và hình tượng cho giống sự hiện hữu của Ngài, như thế lại tạo ra một vấn đề khác: Chúng ta trở nên khô khan và trống rỗng, cũng như bất lực chẳng thể hình dung Thiên Chúa hay hình tượng sự hiện hữu của Ngài. Rồi cuối cùng chúng ta hoặc trở nên một kiểu vô thần hoặc e sợ không dám xem xét đức tin của mình, bởi một cách vô thức, chúng ta đã tiếp thu niềm tin của chủ nghĩa vô thần rằng đức tin là ngây thơ, không thể đứng vững trước những chất vấn nghiêm khắc.

Khi điều này xảy đến với chúng ta, khi chúng ta cố gắng để hình tượng sự hiện hữu của Thiên Chúa rồi kết quả là con số không, thì thất bại đó không phải là thất bại về đức tin mà là thất bại về trí hình tượng của chúng ta. Thực sự chúng ta không dấn sâu trong chủ nghĩa vô thần, nhưng đúng hơn, chúng ta ở trong sự không thể diễn tả nổi của Thiên Chúa, một ‘đám mây vô thức’, một ‘đêm tối của tâm hồn’. Chúng ta không phải là những người vô thần. Chúng ta chỉ cảm nhận đúng những gì của chúng ta. Vấn đề không phải là Thiên Chúa không hiện hữu hay đã biến mất. Mà đúng hơn là chính sự không thể tả được cả Thiên Chúa đã đặt Ngài nằm ngoài tầm với của năng lực tưởng tượng của chúng ta. Tâm trí của chúng ta bị khuất phục. Thiên Chúa vẫn thực, vẫn ở đó, nhưng những hình tượng hạn chế của chúng ta thực sự trở thành con số không khi cố để họa lại một sự vô hạn, điều này cũng tương tự như khi chúng ta cố gắng hình dung ra con số cao nhất có thể đếm được, cuối cùng chỉ là bất lực. Sự vô hạn không thể bị hạn chế bởi hình tượng. Nó không có nền mà cũng không có trần, không khởi đầu và không kết thúc. Trí tưởng của con người không thể xử lý sự vô hạn được.

Thiên Chúa là vô hạn, và như thế, có thể xác định là không thể hình tượng và khái niệm hóa được Ngài. Và cũng như thế đối với sự hiện hữu của Thiên Chúa. Không thể hình dung được sự hiện hữu của Ngài. Tuy nhiên, việc chúng ta không thể hình tượng Thiên Chúa rất khác với việc nói rằng chúng ta không thể biết Thiên Chúa. Vẫn có thể biết Chúa, dù thậm chí không thể hình tượng được Ngài. Vậy bằng cách

Tất cả chúng ta đều biết có rất nhiều điều chúng ta không thể hình tượng, khái niệm hay trình bày rõ ràng. Bên trong chúng ta có vài điều mà các nhà thần nghiệm gọi là ‘tri thức mờ tối,’ cụ thể là một ý thức bên trong mang tính trực giác còn phôi thai mà chúng ta biết và hiểu ở một mức độ nằm ngoài những gì chúng ta có thể hình dung và diễn tả. Và đây không phải là một kiểu tài năng kỳ lạ huyền bí mà các thầy đồng bóng thường tự nhận vơ cho mình. Ngược lại, đây chính là tảng đá nền của chúng ta, một nền tảng chắc chắn mà chúng ta chạm đến trong những lúc chân thành nhất và sâu sắc nhất của mình, một nơi bên trong chúng ta mà chúng ta, lúc tốt đẹp nhất, đặt nền tảng đời sống của mình lên đó.

Thiên Chúa là sự không thể diễn tả được, không thể hình dung được, và vượt ngoài khái niệm hay ngôn ngữ. Đức tin của chúng ta cho chúng ta rút ngắn lại điều này trong một lúc và từ đó hình tượng Thiên Chúa như một siêu anh hùng được thần tượng hóa. Nhưng đến cuối cùng, cái giếng này cũng cạn khô và rồi tâm trí hạn chế của chúng ta nhận biết sự vô hạn chỉ trong bóng tối, không một hình tượng nào, và rồi tâm hồn hạn chế của chúng ta cảm nhận được tình yêu vô hạn chỉ trong sự thật mờ tối mà thôi.

Cầu nguyện giữ chúng ta không đi vào đám đông

Gần như trong tất cả các tiểu thuyết của mình, Milan Kundera biểu lộ một sự khó chịu cực kỳ và không chấp nhận tất cả mọi dạng hệ tư tưởng, khoa ngôn, và xu hướng nhất thời, những thứ gây nên kiểu suy nghĩ nhóm hoặc kích động đám đông. Ông nghi ngờ các khẩu hiệu, biểu tình và diễu hành dưới mọi hình thức, bất kể với lý do gì. Ông gọi tất cả những thứ này là cuộc diễu hành khổng lồ, và trong suy nghĩ của ông, tất cả chúng, không chừa cái nào, luôn luôn dẫn đến bạo động. Kundera thích các nghệ sĩ vì họ có khuynh hướng tránh xa lý lẽ và động cơ, họ muốn vẽ và viết hơn là đi diễu hành.

Có những động cơ đáng để chiến đấu, và có những bất công và nỗi đau trong thế giới này đòi hỏi chúng ta phải dấn sâu hơn, xa hơn cái mong muốn viết và vẽ của mình. Vậy mà, phán xét khắc nghiệt của Kundera về mọi kiểu diễu hành và biểu tình, hay nói cách khác là cuộc diễu hành khổng lồ, vẫn là một lời cảnh báo công tâm. Tại sao?

Vì trong những giây phút suy nghĩ nhiều hơn, chúng ta biết khó đến như thế nào nếu không nắm được một hệ tư tưởng, khoa ngôn, xu hướng nhất thời, kiểu suy nghĩ nhóm, và kích động đám đông, để không trở nên ngu xuẩn mất tỉnh táo. Chúng ta cũng biết thật khó để nhận ra những gì chúng ta thật sự nghĩ gì và tin, khi đối lập với những gì mà quỹ đạo văn hóa đang vây hãm chúng ta. Thật khó để tránh được những kiểu thức đương thời.

Nhưng còn khó hơn nữa khi chúng ta muốn xây một nền tảng cho chính mình dựa trên một cái gì đó thâm sâu hơn, hay muốn được bén rễ nơi một quan điểm nằm ngoài cái mà Thomas Hardy đã từng gọi là đám đông điên loạn. Làm sao chúng ta có được nền tảng là một chiều sâu sẽ giải thoát chúng ta khỏi những hệ tư tưởng, khoa ngôn, xu hướng nhất thời, kiểu suy nghĩ nhóm, và kích động đám đông đầy tinh vi vốn đang làm băng hoại mọi nền văn hóa?

Trong Tin mừng thánh Luca, các môn đệ cảm nhận Chúa Giêsu lấy sự khôn ngoan, điềm tĩnh, sức mạnh, và năng lực từ một sự gì đó nằm ngoài Ngài, có nghĩa là Ngài đặt bản thân nơi một sự gì đó vượt ngoài những cạm bẫy và đe dọa của giây phút hiện tại. Họ cảm nhận được Ngài tìm thấy sự thâm sâu đó nơi cầu nguyện. Họ cũng muốn được nối kết với chiều sâu và sức mạnh đó, và họ nhận ra chính lời cầu nguyện là con đường, và là con đường duy nhất cho họ. Rồi họ xin Chúa Giêsu dạy họ cách để cầu nguyện. Ngài đã dạy họ điều gì? Làm sao để chúng ta có thể cầu nguyện theo cách xây dựng nền tảng của chúng ta trên một sự gì đó thật sự vượt ngoài những ái kỷ cá nhân và tập thể?

Một cách ẩn dụ, chúng ta có thể thấy được con đường đó qua đoạn Kinh Thánh ghi lại cái chết tử đạo của thánh Stephano như sau:

Một đám đông những con người, dù lầm lạc nhưng rất thật tâm, được thúc đẩy bởi lòng mộ đạo, nhưng lại bị ảnh hưởng bởi kích động đám đông, đã cùng nhau ném đá Stephano đến chết. Đây là đoạn Kinh Thánh mô tả việc này: “Khi nghe những lời ấy, lòng họ giận điên lên, và họ nghiến răng căm thù ông Stephano. Được đầy ơn Thánh Thần, ông đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa, và thấy Đức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa. Ông nói: ‘Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa.’ Họ liền kêu lớn tiếng, bịt tai lại và nhất tề xông vào ông rồi lôi ra ngoài thành mà ném đá.” (Cv 7: 54-58)
Cái chết của Stephano là thật, nhưng mô tả về cái chết của ngài đầy những ẩn dụ cho chúng ta thấy cầu nguyện và không cầu nguyện có ý nghĩa như thế nào.

Vậy không cầu nguyện là như thế nào? Đám đông, cho dù mộ đạo và thật tâm, nhưng lại không cầu nguyện. Đoạn Kinh Thánh đã nói rõ: Họ nhìn vào Stephano với ánh mắt hiểu lầm và đầy căm ghét. Hơn nữa, ngay lúc đó, thông điệp tình yêu của ngài là một sự thật khó chịu nên họ bịt tai không thèm nghe. Và chính lúc đó họ đang nằm trong gọng kềm của sự kích động đám đông. Họ không thấy trời đang mở ra, mà chỉ thấy một con người rất bình thường mà họ đang căm ghét,và họ không ở trong tay Thánh Thần mà lại ở trọn trong sự điều khiển của kích động. Đó là lý do vì sao họ không bao giờ nhìn được xa hơn cái nhìn giận dữ chua cay nhắm vào Stephano. Trong thời điểm đó, họ chỉ biết có họ, và họ chỉ thấy được những gì thuộc về trần thế này và những điều này là những điều không nằm trong lời cầu nguyện. Dù chúng ta có mộ đạo đến đâu đi nữa, khi không cầu nguyện, chúng ta sẽ làm như những gì vừa kể trên. Thật sự, đôi khi, việc cầu nguyện chung dù chân thành nhưng cũng chẳng hơn gì việc dấn sâu vào tính ái kỷ nhóm và bị nô lệ hóa thành một đám đông điên loạn. Con mắt của chúng ta vẫn chỉ nhìn vào nhau chứ không nhìn về Thiên Chúa.

Trái lại, Stephano có cầu nguyện. Đoạn Kinh Thánh mô tả ông đang hướng mắt lên trời (một ẩn dụ chứ không phải là mô tả hình tượng) và ông cứ đăm đăm nhìn trời và thấy cửa trời mở ra. Cái nhìn của ông vượt ngoài đám đông, vượt ngoài thời khắc, vượt ngoài tầm nhìn của con người, vượt ngoài căm ghét, và vượt ngoài nỗi sợ trước cái chết của chính mình. Ông nhìn vào một cái gì cao vượt hơn đám đông và thời khắc hiện tại. Chính điều này, và chỉ có điều này, mới là cầu nguyện.
Tôi cùng chia sẻ với Kundera nỗi sợ về cuộc diễu hành khổng lồ và việc tôi cũng như gần hết mọi người khác, sẽ thật quá dễ dàng và mù quáng dấn bước vào đó. Kundera cảm thấy nghệ thuật có thể giúp chúng ta đặt nền tảng ở một nơi nằm ngoài đám đông điên loạn. Tôi sẽ thêm vào một sự sẽ còn hữu ích hơn thế nữa, đó chính là cầu nguyện.