RonRolheiser,OMI

Thánh nhân hay tội nhân?

Cuối cùng, chúng ta là thánh nhân hay tội nhân? Tận sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta là lòng tốt hay ích kỷ? Hay chúng ta là người hai mặt, với hai nguyên lý bẩm sinh, một tốt một xấu, luôn luôn đối nghịch nhau?

Chắc chắn, trong kinh nghiệm của mình, chúng ta cảm nhận có một xung đột. Có một thánh nhân trong chúng ta muốn noi gương những gì cao cả của cuộc sống, và cũng có một cái tôi khác trong chúng ta lại muốn đi trên con đường xấu. Tôi cảm mến lòng chân thành của Henri Nouwen khi cha nói lên xung đột này: “Tôi muốn là thánh nhân nhưng tôi không muốn bỏ lỡ bất kỳ cảm xúc nào của một tội nhân.” Điều này do áp lực lưỡng cực bên trong chúng ta làm cho chúng ta khó thực hiện những lựa chọn luân lý rõ ràng. Chúng ta muốn những điều đúng đắn, nhưng cũng muốn những điều sai trái. Tất cả mọi lựa chọn đều là một sự từ bỏ nên tranh chấp giữa thánh nhân và tội nhân bên trong chúng ta tự nó biểu lộ qua sự bất lực không thể thực hiện những chọn lựa chắc chắn của chúng ta.

Nhưng chúng ta không chỉ cảm thấy áp lực này khi đấu tranh để có một quyết định luân lý rõ ràng, chúng ta còn cảm nhận áp lực này hàng ngày trong các phản ứng liên tục với những tình thế tác động bất lợi cho chúng ta. Nói đơn giản, chúng ta luôn bị giằng co giữa nhỏ nhen và quãng đại, giữa hằn thù và tha thứ, bất cứ lúc nào chúng ta thụ động chịu tác động từ những người khác.

Ví dụ, tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm như sau: chúng ta đang làm việc trong một tâm trạng tốt, nghĩ về những điều yên bình và nhẫn nại, ấp ủ những cảm giác ấm áp, không muốn hại gì ai, rồi một cộng sự không có thiện ý đến, họ khinh thường hay xúc phạm chúng ta theo kiểu nào đó. Trong tích tắc, toàn bộ thế giới nội tâm của chúng ta bị đảo ngược. Một cánh cửa đóng sầm lại, và chúng ta bắt đầu cảm thấy lạnh lẽo hằn học, nghĩ về bất kỳ điều gì ngoại trừ những gì nồng ấm, chúng ta dường như trở thành một con người khác, từ quãng đại thành hằn học, từ thánh nhân thành kẻ mang những cảm xúc giết người để mua vui.

Đâu mới là con người thật của chúng ta? Thực sự chúng ta là gì, thánh nhân với tâm hồn quãng đại, hay tiểu nhân hằn học nhỏ nhen? Dường như, chúng ta là cả hai, thánh nhân và tội nhân, vì lòng tốt và ích kỷ, cả hai đều luân lưu trong con người chúng ta.

Có một điểm hay là không phải lúc nào chúng ta cũng phản ứng giống nhau. Đôi khi bị khinh thường, xúc phạm, thậm chí bị công kích bất công, chúng ta vẫn phản ứng kiên nhẫn, thông hiểu, và tha thứ. Tại sao? Điều gì thay đổi cơ chế hóa học trong con người chúng ta? Tại sao có lúc chúng ta đáp lại sự nhỏ nhen bằng lòng quãng đại, và lúc khác bằng hận thù?

Xét cho cùng, chúng ta không biết được nguyên do, và đó là một phần trong mầu nhiệm tự do của con người. Có những yếu tố nhất định đóng vai trò trong chuyện này: chẳng hạn nếu tâm chúng ta đang tốt thì khi gặp trường hợp chối bỏ, khinh thường, đối xử bất công, chúng ta dễ phản ứng một cách nhẫn nại và thông hiểu với lòng quãng đại hơn. Ngược lại, nếu chúng ta đang mệt mỏi, áp lực, và cảm thấy mình không được yêu thương trân trọng, thì chúng ta dễ phản ứng tiêu cực, lấy hận thù đáp trả hận thù.

Nhưng, có lẽ, tận cùng, có một thực thể sâu sắc hơn nữa đang hoạt động trong tất cả các hành động của chúng ta, một thực thể vượt ngoài cảm xúc của chúng ta. Cách chúng ta phản ứng với một tình huống, hiền hòa hay thù hằn, phần lớn dựa vào một điều gì đó khác hơn. Các Tổ phụ ngày xưa có một khái niệm và đã định danh nó. Họ  tin rằng mỗi chúng ta đều có hai phần hồn, một phần hồn rộng mở và một phần hồn nhỏ nhen, và cách chúng ta phản ứng với bất kỳ hoàn cảnh nào, phần lớn dựa trên phần hồn mà chúng ta suy nghĩ và hành động với nó vào thời điểm đó. Như thế, nếu tôi bị xúc phạm hay bị tổn thương, với phần hồn rộng mở của tôi, thì tôi dễ đáp trả bằng nhẫn nại, thông hiểu và tha thứ. Ngược lại, nếu tôi bị xúc phạm và tổn thương khi phần hồn nhỏ nhen của tôi tác động, thì tôi dễ đáp trả bằng nhỏ nhen, lạnh lùng, và thù hằn. Và theo các Tổ phụ, cả hai phần hồn này hiện diện trong lòng chúng ta, chúng ta vừa quãng đại vừa nhỏ nhen, vừa thánh nhân vừa tội nhân. Thách thức của chúng ta là dùng phần hồn quãng đại nhiều hơn phần hồn nhỏ nhen.

Nhưng chúng ta phải cẩn thận, đừng hiểu điều này theo thuyết nhị nguyên. Khi xác nhận có hai phần hồn, một phần quãng đại và phần kia nhỏ nhen, các Tổ phụ không dạy chúng ta một biến thể của thuyết nhị nguyên cũ, cụ thể cho rằng trong chúng ta có hai nguyên lý bẩm sinh, một tốt một xấu, luôn luôn tranh chấp để giành quyền điều khiển tâm hồn và linh hồn của chúng ta. Dạng tranh chấp này thực sự không diễn ra trong chúng ta, mà chỉ là giữa hai nguyên lý tách biệt này với nhau.

Thánh nhân và tội nhân bên trong chúng ta không phải là những thực thể tách biệt. Đúng hơn, thánh nhân bên trong chúng ta, hay phần hồn quãng đại, không chỉ là cái tôi thực sự của chúng ta, mà đúng ra là cái tôi duy nhất của chúng ta. Tội nhân trong chúng ta, hay phần hồn nhỏ nhen, không phải là một nhân thể riêng biệt hay một thế lực tinh thần riêng biệt cứ đấu tranh mãi với thánh nhân, mà đơn giản đó chỉ là phần bị tổn thương của thánh nhân, một phần của thánh nhân đã bị nguyền rủa và không bao giờ được chúc lành cho đúng.

Và không nên để cái tôi bị tổn thương của chúng ta lại bị quỷ hóa và bị nguyền rủa thêm lần nữa. Đúng hơn, nó cần được đối đãi tốt và được chúc lành- và rồi như thế nó sẽ thôi không nhỏ nhen và thù hằn khi gặp phải nghịch cảnh.

Những lời của chính ngài

Tôi nghĩ rằng nhiều người trong chúng ta đã được nghe những đoạn ngắn trong bài phỏng vấn của giáo hoàng Phanxicô thực hiện cho một loạt nhà xuất bản của Dòng Tên, trong đó có tờ America, tạp chí của Hoa Kỳ. Trong bài phỏng vấn này, giữa nhiều điều, ngài có nói rằng để xử thế khôn ngoan, thì khi nói chuyện, chúng ta đừng lúc nào cũng nhấn mạnh đến các vấn đề đạo đức như phá thai, kết hôn đồng tính, và ngừa thai. Tất nhiên, lời này gây chú ý với giới truyền thông, nhưng trọn bài phỏng vấn rất đáng kinh ngạc vì đã thẳng thắn và bao hàm một loạt suy tư rất rộng giúp chúng ta cảm nhận được sắc thái mà giáo hoàng Phanxicô sẽ vẽ nên triều giáo hoàng của mình. Đây là một vài suy nghĩ của ngài, bằng chính lời ngài nói:

Về lý do vì sao trọng tâm mục vụ của chúng ta phải hướng về việc chữa lành hơn là lặp đi lặp lại các bận tâm đạo đức nào đó,

“Tôi thấy rõ là điều mà giáo hội cần nhất thời này là năng lực chữa lành các tổn thương và sưởi ấm tâm hồn tín hữu, điều này cần đến sự gần gũi khăng khít. Tôi thấy Giáo hội như bệnh viện dã chiến sau trận đánh. Thật vô ích khi hỏi người bị thương liệu anh có cao mỡ, cao đường không, việc đầu tiên là chữa lành thương tích cho anh. Sau đó, chúng ta nói về chuyện cao đường, cao mỡ sau…

Trong chuyến bay trở về từ Rio de Janeiro, tôi nói rằng nếu một người đồng tính có thiện ý và tìm kiếm Thiên Chúa, thì tôi là ai mà kết án họ. Khi nói như thế là tôi đang nói ra những lời dạy trong giáo lý. Tôn giáo có quyền bày tỏ quan điểm của mình để phục vụ dân, nhưng Thiên Chúa, khi tạo dựng, đã ban cho chúng ta tự do: không thể can thiệp về mặt tinh thần và trên đời sống của người khác. Có người đã hỏi tôi với giọng điệu khiêu khích, liệu tôi có chấp thuận tình dục đồng giới hay không. Tôi trả lời với một câu hỏi khác: “Hãy cho tôi biết, khi Chúa nhìn vào một người đồng tính, liệu với tấm lòng yêu thương ngài có hài lòng sự hiện hữu của người này không, hay ngài sẽ loại bỏ và lên án họ?”… Tôi nghĩ đến trường hợp một phụ nữ đã thất bại trong hôn nhân và đã phá thai. Rồi cô tái hôn, giờ đây cô sống hạnh phúc và năm đứa con. Việc phá thai trong quá khứ đè nặng lên lương tâm cô và cô thật tâm hối hận về chuyện đó. Cô muốn sống đời sống kitô hữu. Vậy cha giải tội phải làm gì? Chúng ta không thể chỉ khăng khăng chĩa mũi dùi vào các vấn đề liên quan đến phá thai, hôn nhân đồng tính, và việc sử dụng các phương pháp ngừa thai. Điều này là việc không thể làm được. Tôi đã nói nhiều về những điều này, và đã bị trách móc vì làm như thế. Khi chúng ta nói về các vấn đề này, chúng ta phải nói trong ngữ cảnh của nó. Về vấn đề này, giáo lý của Giáo hội rất rõ ràng, tôi là con của Giáo hội, nhưng lúc nào cũng nói đến những vấn đề này là điều không cần thiết.”

Về vai trò phụ nữ trong giáo hội,

“Phụ nữ đang đặt ra những câu hỏi sâu sắc cần được nói ra… Vì thế, chúng ta phải tìm hiểu sâu hơn nữa vai trò của phụ nữ trong Giáo hội… Thách thức ngày nay là: nghĩ về một vị trí đặc biệt cho phụ nữ, một vị trí thẩm quyền trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong giáo hội.”

Thế nào là suy nghĩ cùng Giáo hội,

“Tất cả mọi tín hữu, xét toàn thể, là không thể sai lầm về các vấn đề đức tin, và dân Chúa thể hiện sự bất khả ngộ qua một ý thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân cùng chung bước với nhau. Đây là những gì mà ngày nay, tôi hiểu là “suy nghĩ cùng giáo hội.” Vì thế, chúng ta không được nghĩ rằng “suy nghĩ cùng Giáo hội” chỉ có nghĩa là suy nghĩ cùng với hàng giáo phẩm của giáo hội.”

Về biểu lộ của một Giáo hội Công giáo rộng lớn,

“Giáo hội mà chúng ta phải suy nghĩ cùng, chính là căn nhà cho tất cả, chứ không phải chỉ là một nhà nguyện nhỏ cho một nhóm nhỏ những người được chọn lọc mà thôi. Chúng ta không được thu nhỏ phạm vi Giáo hội Hoàn vũ thành một cái tổ bảo vệ cho sự tầm thường.”

Về quyết định của giáo hoàng Bênêđictô XVI cho phép cử hành các Thánh lễ theo nghi thức Pius V một cách rộng rãi hơn,

“Tôi nghĩ quyết định này là thận trọng và được thôi thúc do mong ước giúp mọi người có được sự nhạy cảm này. Tuy nhiên điều đáng lo là có nguy cơ lý tưởng hóa Vetus Ordo (sắc lệnh cho phép dùng một cách có giới hạn các thánh lễ tiếng La Tinh) và dẫn đến lạm dụng nó.”

Về khuynh hướng thủ thế, co cụm trước sự thế tục hóa đang phát triển,

“Nếu kitô hữu là người theo thuyết cứu độ vạn vật, hay theo thuyết pháp lý, nếu họ muốn mọi chuyện phải rõ ràng và an toàn, thì người đó không tìm được gì tất. Truyền thống và ký ức về quá khứ phải giúp chúng ta có can đảm mở ra những điểm tiếp xúc mới với Thiên Chúa. Người ngày nay lúc nào cũng tìm giải pháp theo phép tắc, người ao ước có một sự “bảo đảm” quá mức về giáo lý, người ngoan cố tìm cách níu kéo một quá khứ không còn tồn tại – những người đó có cách nhìn đời bất động và hướng nội. Làm như thế thì đức tin chúng ta sẽ trở thành một hệ tư tưởng hệt như những hệ tư tưởng khác… Thật ngạc nhiên khi thấy người ta lên án Roma vì thiếu tính chính thống.”

Có lẽ tốt nhất không nên bình luận thêm gì về những lời này. Những lời của ngài – giáo hoàng Phanxicô – đã tự nói lên, rất rõ ràng về bản thân ngài rồi.

Bài học từ những nẻo đường

Vài năm trước đây, Hollywood có làm một bộ phim về cuộc đi bộ hành hương Camino ở Tây Ban Nha, tựa đề là Những nẻo đường, bộ phim thuật lại câu chuyện của người cha có người con bị chết trong một tai nạn không lâu sau khi anh vừa bắt đầu cuộc hành hương Camino dài năm trăm dặm này. Người cha, do Martin Sheen thủ vai, đã bị đứa con mình ghẻ lạnh, nhưng khi đến Pháp, điểm khởi hành cuộc hành hương của con để nhận tro, ông thấy mình phải hoàn tất chuyến đi của con mình, với hành lý và tro của con, ông lên đường.

Ông không biết chắc vì sao mình lại lên đường, ngoài việc ông cảm thấy có một lý do nào đó, đây là điều ông phải làm cho con trai mình, và điều này, theo cách nào đó, sẽ làm rõ sự ghẻ lạnh mà đứa con đã dành cho ông, và đây cũng là điều ông phải làm để nguôi đi sầu đau trong lòng. Dù đang ở trong tình trạng khủng hoảng và bất mãn xã hội, nhưng trên đường đi, ông được bầu bạn với ba người, mỗi người đi vì một nguyên do khác nhau.

Người đầu tiên là một người đàn ông từ Hà Lan, ông đi để giảm cân, nếu không giảm cân, vợ sẽ ly dị. Người thứ hai là một phụ nữ Canada thuộc Pháp, bề ngoài thì đi để bỏ thuốc lá, nhưng chính ra là để vươn lên sau một quan hệ đổ vỡ. Người thứ ba là nhà văn Ireland, lên đường trong hy vọng vượt lên ‘khối văn học khép kín’ của mình. Như thế câu chuyện tập trung vào bốn người đồng hành không tưởng này, vì mỗi người mang trong đầu một mục tiêu riêng cho chuyến đi này.

Họ bền chí và hoàn thành cuộc hành hương, họ tới được nhà thờ chính tòa Santiago, họ thấy thói quen hàng thế kỷ của vô số khách hành hương khi đến đích đã đánh dấu mốc đến của mình, nhưng rồi họ nhận ra, họ chưa đạt được những gì họ hy vọng. Người đàn ông Hà Lan vẫn chưa giảm được cân nào, cô người Canada – Pháp chưa thể bỏ thuốc lá, nhà văn Ireland nhận ra vấn đề thực sự của mình không phải là khối đá văn giả khép kín của mình, còn người cha trong chuyến hành hương thay cho con, thấy mình làm việc này vì các lý do khác, những lý do của riêng ông thì đúng hơn. Không một ai trong họ có được điều mình muốn, nhưng mỗi người đều có được điều mình cần. Những nẻo đường sự sống làm việc như nẻo đường Camino Santiago. 

Tôi đã học được chính bài học này khi thực hiện cuộc đi bộ Camino một năm trước. Tôi đến đó với một ước mơ trong lòng. Đã sáu tháng trôi qua, sau đợt hóa trị, tôi được hồi sinh cùng nguồn sinh lực mới, đang trong kỳ nghỉ phép, tôi mong đi bộ hết con đường cổ xưa và nổi tiếng này để củng cố sức lực và tinh thần mình. Sức của tôi đã tốt hơn đúng như tôi kỳ vọng trước khi lên đường. Nhưng việc cơ thể mạnh lại là một con đường dài, rất dài so với nhưng gì tôi hình dung.

Và tôi mơ qua chuyến đi này, tôi có thể viết được một tác phẩm nội tâm sâu sắc, đọc một vài quyển sách thần nghiệm cổ điển, pha trộn chiều sâu thần nghiệm với sự huyền bí của tuyến đường cổ xưa này, cũng như sẽ viết được một vài bài báo, và khi trở về sẽ là người chiêm niệm có độ sâu sắc hơn. Tôi mong là thế, nhưng các nẻo đường lại có những hướng khác cho tôi.

Vì mỗi ngày chúng tôi bỏ nhiều thì giờ ở trên đường, nên thực tế tôi không có thì giờ để đọc hay viết báo. Đến tối, thì tôi mệt lử, không còn sức để đào sâu nội tâm. Chính yếu là tôi chỉ muốn đi tắm và ăn một bữa ăn nóng sốt. Quyển sách chính mà tôi mang theo, Đám mây Vô thức vẫn còn ở đáy vali, tôi chưa giở ra trang nào. Tôi thu xếp để mỗi ngày có vài giờ cầu nguyện riêng trên đường, nhưng đây không phải là dạng nội tâm sâu đậm mà tôi tưởng tượng. Tôi đã tưởng tượng về những gì tôi muốn đạt đến, nhưng cũng như các nhân vật trong bộ phim trên, đó không phải là những điều tôi cần.

Con đường dạy tôi một điều khác, sâu sắc hơn, cần thiết hơn và khiêm nhượng hơn. Điều tôi học được từ chuyến đi với ba người bạn thân chính là việc tôi nhận ra tôi là đứa con nít được nuông chiều. Linh mục độc thân, không có những đòi hỏi bắt buộc của hôn nhân, con cái, và gia đình hơn bốn mươi năm qua, tôi nhận ra lối sống và thói quen của mình chỉ tập trung vào cái tôi và chiều theo tính riêng của tôi đến mức như thế nào. Tôi thường nhớ lại những khoảnh khắc đời mình, ít nhất là trong nhịp sống mỗi ngày. Chuyến đi bộ Camino dạy cho tôi biết tôi phải xác định những vấn đề của đời mình, và đó là việc cần thiết cấp bách và nghiêm trọng hơn việc đọc và hiểu quyển Đám mây Vô thức nhiều. Chuyến đi bộ Camino dạy tôi có một số con đường quan trọng, tôi cần phải lớn lên!

Robert Funk đã viết, ân sủng là chuyện âm thầm: Nó gây đau đớn từ bên trong, từ nơi mà chúng ta nghĩ là khó bị tổn thương nhất. Chúng ta lập luận đạo đức để tránh nó, nhưng nó khắc nghiệt hơn những gì chúng ta nghĩ. Và nó lại càng độ lượng hơn chúng ta nghĩ, nhưng nó không bao giờ dễ dãi lúc chúng ta nghĩ nó đáng phải dễ dãi. Cũng như cuộc hành hương đi bộ Camino Santiago vậy.

Khiêm tốn thật

Thật khó để giả vờ khiêm nhượng, nhưng dường như, chúng ta cần phải làm thế.

Ví dụ, một vài lời của Chúa Giêsu về tính khiêm tốn lại đặt ra câu hỏi hơn là cho câu trả lời. Trong dụ ngôn về chọn chỗ trong bàn tiệc, Chúa Giêsu gợi ý chúng ta đừng tìm chỗ cao, kẻo có ai đó quan trọng hơn cũng đến, và mình sẽ bị bẽ mặt khi bị mời xuống chỗ thấp hơn. Chúa bảo, tốt hơn, nên tìm chỗ thấp nhất trước để chủ nhà sẽ đến và mời chúng ta lên chỗ cao hơn, như thế người khác sẽ thấy được tính khiêm nhượng vô cùng của mình. Bất kỳ ai tự hạ mình xuống sẽ được nâng lên, còn ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống. Nhìn sơ qua, dường như chiến lược này dùng để mình được tôn dương mà vẫn tỏ ra mình khiêm nhượng.

Kinh Thánh mời gọi chúng ta đừng xem mình cao hơn người khác, nhưng điều này lại gợi lên một chất vấn: Liệu có ai sống đạo đức và quãng đại tận căn, lại nghĩ rằng mình chẳng có gì tốt hơn người bất cần, ích kỷ, người ác tâm trong liên hệ với Thiên Chúa, tha nhân và thế giới, hay không? Liệu chúng ta có thực sự tin mình chẳng hơn gì người khác? Liệu trong thâm tâm, mẹ Têrêxa có nghĩ mình chẳng có gì tốt hơn người khác? Liệu mẹ có thể thực sự nhìn vào lòng mình mà nói: “Tôi chỉ là một đại tội nhân trên địa cầu này?” Hay, liệu mẹ, và dĩ nhiên là cả chúng ta nữa, đến cuối cùng, giả vờ khiêm nhượng vì chúng ta không nghĩ rằng mình chẳng có gì tốt hơn những kẻ xấu xa nhất trên trái đất này?

Và do đó, chúng ta có thể tự hỏi mình: Chúng ta cho mình không tốt đẹp hơn người khác, nhưng liệu suy nghĩ này chỉ màu mè giả bộ, kiểu chúng ta quả quyết về mình, nhưng hoàn toàn không thật tâm?  Xét cho đến cùng, chẳng phải sự khiêm nhượng của chúng ta thực sự chỉ là một chiến lược để được tôn dương bằng một con đường thâm thúy hơn và được tôn trọng hơn hay sao? Có ai muốn mình bị xem là người kiêu ngạo và đầy cái tôi? Và liệu chúng ta có thể sống khiêm nhượng mà không có chút gì tự hào về điều đó? Liệu chúng ta có thực sự tin rằng mình chẳng có gì tốt đẹp hơn mọi người?

Tôi rất thích cách nhìn sâu sắc của John Shea về vấn đề này. Trong nhật ký của mình, Bede Griffiths thú nhận ông chẳng tốt hơn ai, John Shea đã đặt ra vấn đề là, dựa vào phẩm chất đạo đức và đời sống thiêng liêng của Griffiths, dựa vào chiều sâu cũng như lòng cảm thông được trau dồi qua năm tháng cầu nguyện và sống kỷ luật của mình, liệu Griffiths có thể thực sự tin rằng mình chẳng có gì tốt đẹp hơn bất kỳ ai, hay không? Liệu ông có thực sự không so sánh mình với người khác hay không? Có thể nào không một ai trong chúng ta đi so sánh mình với người khác không?

John Shea cho rằng chìa khóa để giải các câu hỏi này nằm ở việc nhìn kỹ vào ngụ ý của Griffiths khi ông cho rằng mình chẳng tốt hơn ai. Khi Griffiths quả quyết như thế, trọng tâm của ông không nằm ở các hành vi đạo đức của mình hay của bất cứ ai. Xét trên tầm mức hành vi đạo đức, đã là người thì không thể nào tránh được việc so sánh với nhau. Chúng ta, hết thảy, đều có những so sánh, cho dù chúng ta có chối đi nữa. Nhưng cội rễ của khiêm nhượng không nằm ở nơi vị thế của chúng ta, trên hay dưới người khác, xét theo hành vi đạo đức.

Khi Griffiths chân thành nhìn nhận mình và tin rằng mình không tốt đẹp gì hơn bất kỳ ai trên đời này, thì thật sự ông đang nhìn vào bản chất, vào cốt lõi của mình, vào sâu thẳm tâm hồn mình, nơi ông thấy rằng, ông, giống như tất cả mọi người khác trên thế giới này, đều dễ bị tổn thương, đơn độc, sợ hãi, trần trụi, quy ngã, bất xứng, vô vọng, phó mặc cho số phận, và cần đến Thiên Chúa và tha nhân, về những điều này chúng ta tuyệt đối giống tất cả mọi người khác trên trái đất, và như thế, chẳng có gì tốt đẹp hơn ai cả.

Chẳng một ai tự cho mình sự sống, tự giữ sự sống, hay tự cho mình ơn cứu độ. Tất cả chúng ta đều như nhau, bất xứng và bất lực ở đời này. Tính ngẫu nhiên làm chúng ta bằng nhau, từ mẹ Têrêxa cho đến Hitler, và điều mấu chốt cho sự khiêm nhượng chân thật nằm ở việc nhận ra được điều đó. Thật vậy, càng nhạy cảm về đạo đức và tâm lý, chúng ta càng có khả năng nhận ra sự thiếu thốn và đơn độc của mình nơi sự yếu đuối của tất cả mọi người khác. Khi Bede Griffiths tuyên bố rằng ông chẳng tốt đẹp gì hơn bất kỳ ai và ông cần đến lòng thương xót của Chúa như tất cả tội nhân trên trái đất này, thì không phải ông giả vờ khiêm nhượng, cũng như so đo về mặt đạo đức. Nhưng ông đang nói ra một điều gì đó sâu sắc hơn, cụ thể là sự thật, xét cho đến cùng, tất cả chúng ta đều bất lực như nhau, không thể tự ban sự sống cho mình được.

Lời mời gọi sống khiêm nhượng vang vọng rõ ràng và liên tục trong linh đạo Kitô giáo, từ Chúa Giêsu, qua Bede Griffiths, qua mẹ Têrêxa, qua tất cả các nhà linh hướng là: Hãy trở nên như trẻ nhỏ. Hãy chọn lấy chỗ thấp nhất. Đừng bao giờ xem mình tốt đẹp hơn bất kỳ ai. Biết rằng bạn cần lòng thương xót của Chúa, giống như những tội nhân nặng nề nhất trên trái đất này. Tuy nhiên, chúng ta đừng mang lấy nhận thức này bằng cách so sánh mình với người khác, nhưng bằng cách nhận ra sự trần trụi tột cùng của mình khi đứng trước lòng thương xót của Chúa.

Mất gốc

“Nhà là nơi chúng ta bắt đầu từ đó.” T.S. Eliot đã viết như thế và câu này nói lên một cảm nghiệm vừa tự do vừa đau lòng. Phần tôi, tôi xin dẫn ra một câu chuyện của tôi:

Tôi lớn lên trong cộng đồng nhập cư thế hệ thứ hai ở vùng đồng cỏ Canada. Thế hệ ông bà của tôi là những người nhập cư đầu tiên ở vùng đất này và họ tự tay dựng lên tất cả mọi sự, từ căn nhà cho đến ngôi trường, tất cả đều xây từ những gì họ kiếm được, nằm cạnh các con đường hay đường ray xe lửa. Họ làm tốt nhất với những gì có trong tay, trong đầu không mảy may tơ tưởng xây một cái gì bền vững lâu dài.

Vì thế có nhiều căn nhà họ xây mà tôi thấy lúc còn nhỏ, giờ đã biến mất. Trường cấp 2 của tôi đã đóng cửa từ khi tôi còn là sinh viên. Bây giờ cả tòa nhà và khuôn viên đã biến mất. Thay vào đó là những cánh đồng lúa mì, chẳng ai biết trên mảnh đất này đã từng có một ngôi trường. Trường cấp 3 của tôi cũng thế. Nó cũng đã biến mất, cả tòa nhà và khuôn viên cũng đã thành những cánh đồng. Thật sự là, toàn bộ thị trấn đã biến mất.

Sau cấp 3, tôi theo học ở hai chủng viện, và cả hai đều chịu cùng chung số phận, cả hai đều bị bỏ trống nhiều năm rồi bị thiêu rụi. Trường thần học mà tôi đã dạy ở đó suốt 15 năm đầu đời linh mục đã bị phá sập để làm xa lộ, và bây giờ có những dãy nhà mới ở phía đường bên kia. Nông trại nơi tôi lớn lên vẫn còn, dù căn nhà của tôi bây giờ đã bị bỏ hoang, các cánh đồng đã được cho thuê. Chẳng còn ai trong gia đình tôi còn sống ở đó nữa. Có một điều mang tính biểu tượng, là công trình duy nhất từ những ngày thơ ấu của tôi vẫn còn được sử dụng cho đến bây giờ, đó là ngôi thánh đường. Tất cả mọi công trình khác trong ký ức tuổi thanh thiếu niên của tôi đều đã biến mất. Xét theo những gì đã nuôi dưỡng tôi thưở bé, thì tôi đúng là con mồ côi.

Nhưng, tôi không phải là người duy nhất như thế. Thời này, tất cả chúng ta, cách này cách khác, đều là con mồ côi. Từ năm 1970, Alvin Toffler, trong quyển sách Chấn động Tương lai của mình, đã đưa ra sự chóng qua và nhất thời đang ngày càng có vai trò lớn hơn trong việc định hình tâm trí chúng ta, khi sự vật, con người, nơi chốn, kiến thức, các tổ chức đang lướt nhanh trong cuộc đời của chúng ta. Ộng đã viết điều này từ lâu, trước khi công nghệ thông tin tác động triệt để trên cuộc sống chúng ta. Sự chóng qua và nhất thời mà Toffler mô tả vào năm 1970 đã bị hạ giá và trở nên nhỏ bé trước công nghệ thông tin ngày nay. Theo tiêu chuẩn tốc độ đổi thay ngày nay, thì tốc độ thay đổi sự vật, con người, nơi chốn, kiến thức và các tổ chức của thâp niên 1970 chỉ là rùa bò. Ngày nay, càng ngày càng có nhiều công trình thời niên thiếu của chúng ta bị biến mất nhiều hơn nữa.

Vậy thì chúng ta nói được gì về điều này? Liệu sự chóng qua này nói lên điều gì về cuộc sống và thời đại của chúng ta? Nó tốt hay xấu?

Tôi ngờ rằng chúng ta vẫn còn đang tìm tòi. Sự chóng qua và nhất thời không phải là xấu, dù chúng cũng không phải là những điều tốt thiết yếu. Với tôi, có vẻ như, chúng là một gói hỗn hợp, một phúc lành phức hợp. Xét tích cực, chúng cho chúng ta một sự tự do mới. Trong nhiều thế kỷ, con người bị giam hãm quá đỗi trong sự trường tồn ngột ngạt của các sự vật, nơi chốn, và kiến thức của thời đại mình. Họ có sự ổn định, nhưng lại kèm theo tính dửng dưng lạnh lẽo. Tất cả mọi thứ đều được giữ chắc, nhưng quá chắc, có quá ít cánh cửa được mở ra. Sự chóng qua và nhất thời trong cuộc sống cho chúng ta tự do bằng cách cho chúng ta để mình được nuôi dưỡng và hưởng phúc nhờ cội rễ của mình, cho dù cội rễ này không ràng buộc chúng ta.

Nhưng như thế cũng có một chuyện đau lòng. Cứ liên tục thấy những gì quen thuộc biến mất sẽ làm chúng ta đau lòng, đúng là vậy. Về thăm mái nhà xưa, trường học cũ, hàng xóm cũ, hay lần giở những trang sách một thời nuôi dưỡng chúng ta là một chuyện lành mạnh. Vì thế mất đi các sự vật, nơi chốn thời niên thiếu là một chuyện đau lòng.

Nhưng nỗi đau của sự chóng qua và nhất thời trong cuộc sống cũng có thể giúp chúng ta hướng về những gì không thay đổi, cụ thể hơn, đó là đức tin, đức cậy, và đức mến. Các nhân đức này chẳng bao giờ bị san bằng, bị thay thế bởi những cánh đồng, bị hỏa thiêu, bị sung công và phá sập để làm xa lộ, hay bị biến thành lỗi thời. Kinh thánh cho chúng ta thấy, trong thế giới này, chúng ta chẳng có thành đô nào vĩnh cửu, nhưng chúng ta được gắn kết không phân ly với những sự trường tồn bất diệt.

Hàng thế kỷ trước Công nguyên, tác giả sách Giảng viên, Qoheleth đã cảnh báo chúng ta rằng mọi thứ đời này là phù hoa: “Phù hoa nối tiếp phù hoa, hết thảy là phù hoa.” Nhưng ông dùng từ “phù hoa” (vanity) với một nghĩa khác nghĩa chúng ta ngày nay. Với ông, vanity không có nghĩa là “phù phiếm,” một sự ái kỷ tâm lý hay một ưu tư không lành mạnh về hình dáng bên ngoài của chúng ta. Đúng hơn, với ông, “phù hoa” đơn giản chỉ là hư ảo, màn sương đang trôi, sự chóng qua, nhất thời, một sự gì đó biến mất quá nhanh.

Cảm nghiệm cái gì cũng chóng qua có thể làm chúng ta đau lòng, nhưng nó cũng là động lực để cho chúng ta tìm kiếm sâu hơn bên trong tất cả những thứ nhất thời này, để từ đó tìm được một điều trường tồn bất diệt.

Cuộc lữ hành chậm chạp và không thể thấy của Sự Tốt

Thiên Chúa vẽ đường thẳng với những nét cong. Châm ngôn này có vẻ minh triết nhưng liệu nó có đúng hay sâu sắc thật hay không? Liệu lòng thiện có đích thực phát xuất từ sự dữ không? Liệu tình yêu, sự thật, và công chính có xuất phát từ hận thù, dối trá, và bất công hay không? Liệu những đường cong có thật sẽ được làm thẳng lại hay không?

Khi nhìn qua mọi chuyện, thì câu trả lời cho các câu hỏi này sẽ luôn là không, nhưng đức tin không bao giờ dựa vào những biểu hiện thoáng qua bên ngoài. Đức tin, như Jim Wallis đã say sưa nói, không dựa vào sự chứng thực. Đúng hơn, đức tin tìm đến lời Chúa và rồi chờ đợi sự thay đổi hiển nhiên. Đức tin nhìn sâu hơn, dưới bề mặt, các sai lầm dùng để phục vụ cho chân lý.

Chúng ta thấy sự diễn tả sâu sắc này qua bài thơ Suy niệm của nhà thơ Raissa Maritain. Bài thơ tự nó đã có sức thuyết phục nhưng nếu chúng ta biết nguồn gốc của nó, chúng ta sẽ thấy đây là một bài thơ diễn tả đức tin rất mãnh liệt. Không phải là một diễn tả đơn giản về đức tin trong giai đoạn mơ hồ tăm tối. Giai đoạn tăm tối đã thật sự xảy ra trong cuộc đời nhà thơ.

Raissa, một người theo Do Thái giáo trở lại Công giáo, bà luôn luôn giữ một tình yêu sâu đậm, một mối liên hệ với cội rễ Do Thái giáo của mình. Bà tự nhận mình là người Kitô hữu với tâm hồn Do Thái. Năm 1936, khi viết bài thơ này, bà chứng kiến sự lớn mạnh của Adolph Hitler và chủ nghĩa Quốc xã ở Âu châu, bà đã mắt thấy tai nghe những chuyện đau khổ của người Do Thái, trong số đó có bạn bè của bà, đã bị giết, đặc biệt ở Ba Lan, và bà thấy mình đang bị đe dọa, bà nhanh chóng làm giấy tờ cần thiết để rời Pháp sang Mỹ. Thế giới của bà đã sụp đổ, các bạn bè đã chết, và bà đang gấp rút lo cho sự an toàn của mình. Sự dữ đang lan tràn, tất cả quyền thế chính trị và xã hội được người dân tin tưởng, đều như bị sự dữ nghiền nát hoặc bắt tay với nó. Trong hoàn cảnh khốc liệt đó, bà viết bài thơ này:

Bóng tối về, đổ từ muôn vạn hướng;
Dưới cánh đen tổng lãnh thiên thần
Thiêng liêng dự định phô bày hé mở.
Một nghịch lý cùng tận từ tạo hóa:
Trường vĩnh cửu xây qua suốt thời gian,
Mà sự thiện trường tồn có nhờ tay sự dư.õ
Và nhân loại lê chân bước tìm công lý
Qua những đường cong đầy trĩu nặng bất công tàn ác,
Sai lầm hôm nay để phục vụ cho
Chân lý sẽ đến;

Sự thiện, chỉ một ít thôi,
Dường như bất lực, dường như vô phương

Trước những bất hạnh của bao thời đại
Sự thiện, chỉ một ít thôi
Vẫn mãi là hạt giống nuôi mầm
Cho cây bất diệt của Tình yêu.

Sau bảy mươi năm nhìn lại, chúng ta thấy đức tin của bà thật có nền tảng. Bất chấp sự dữ, Thiên Chúa vẫn tiếp tục công trình của Ngài, dự định của Thiên Chúa vẫn tiếp tục được bày tỏ, và những bất hạnh của chúng ta trở thành một phần trong sự thăng tiến tình yêu, sự thật, và công chính. Nếu nhìn sơ bên ngoài, thì điều này gần như không hiển hiện, vì chúng ta cứ mãi chú ý đến những biến chuyển lớn của quyền lực, trong chính trị, xã hội, kinh tế, và tôn giáo. Chúng ta cứ mãi nhìn vào những vĩ nhân và cố đọc ra những hành động của Thiên Chúa nơi họ mà thôi.

Nhưng, rõ ràng như bài thơ của Maritain cho thấy, sự quan phòng của Thiên Chúa thường, gần như luôn luôn, nằm ngoài các sự việc xảy ra một cách rõ ràng trong cấu trúc có vẻ quan trọng của chính trị, xã hội, và giáo hội. Đó là lý do vì sao, sự quan phòng của Thiên Chúa thường không rõ ràng. Sự quan phòng được ẩn dấu, vì Thiên Chúa thường bỏ qua những gì chúng ta chú ý đến.

Quan điểm của Maritain cho rằng dự định thiêng liêng được thể hiện nơi kín đáo trùng với lời giới thiệu của thánh sử Luca về Gioan Tẩy Giả. Cách thánh Luca giới thiệu trước hết là nêu tất cả các nhân vật quan trọng trong giới chính trị lẫn tôn giáo thời đó (Tiberius, Pontius Pilate, Herod, Philip, Lysanias, Annas, và Caiaphas), rồi ngài tiếp rằng lời của Thiên Chúa đã bỏ qua những người đó mà đến với Gioan, một người lập dị không danh tiếng trong hoang mạc. Sẽ rất chấn động nếu chuyện này trở nên hiển nhiên, nếu ngày nay có một cây bút tôn giáo nêu ra tất cả các nhà lãnh đạo quan trọng của thế giới, các giới chức quan trọng trong giáo hội thời này, kể cả giáo hoàng, rồi nói rằng lời Chúa bỏ qua họ hết, thay vào đó lời Chúa đến từ một tu sĩ vô danh trong một tu viện chẳng mấy ai biết. Nhưng rồi chúng ta sẽ không tin, đúng thật, rất khó để tin, và lòng hoài nghi gần như sẽ đóng sầm cánh cửa không cho chúng ta thấy sự quan phòng của Thiên Chúa đang hành động ở những nơi sâu kín hơn.

Như Teilhard de Chardin đã nói, thế giới của chúng ta là cuộc dò dẫm vô biên, cuộc tìm kiếm vô tận chỉ có thể tiến hành với cái giá là rất nhiều thất bại và đau khổ của nhân loại. Nhưng, Teilhard de Chardin cũng cho thấy là đau khổ của chúng ta không vô dụng. Ông quả quyết rằng, trong đau khổ của mình, chúng ta trả cái giá cho quá trình tiến tới và thắng lợi chung của toàn vũ trụ. Những đau khổ của chúng ta, dù bản chất có là gì đi nữa, vẫn là một sự cao quý. Các đau khổ làm thăng tiến thế giới, một thế giới nghiền ná đau khổ và hy sinh chúng.

Dự định thiêng liêng thường ở trong bóng tối, những sai lỗi hôm nay là để phục vụ cho chân lý ngày mai, và sự quan phòng của Thiên Chúa thường bỏ qua các cơ cấu quyền lực. Và như thế, đức tin của chúng ta cần phải nhìn sâu hơn những gì đang xảy ra trước mắt, đức cậy hay niềm hy vọng của chúng ta phải đặt nền tảng trên một điều gì đó cao hơn các tin tức hàng ngày, và đức mến của chúng ta phải bớt đi sợ hãi và hoang mang. Thiên Chúa luôn sống động và hoạt động cách ẩn dấu. Trong những nỗ lực và đau khổ của chúng ta, chẳng có gì vô nghĩa, kể cả những thất bại và lầm lỗi của chúng ta.

Giá trị của người vô thần

Trong công trình nghiên cứu về vô thần của mình, Michael Buckley cho rằng chủ nghĩa vô thần luôn là một vật ký sinh sống nhờ các tín ngưỡng xấu.  Nó sống nhờ tín ngưỡng xấu, chọn lấy và phê phán tín ngưỡng xấu.

Nếu đúng như vậy, thì xét cho cùng, người vô thần đã làm một việc rất tốt cho chúng ta. Họ phê phán tôn giáo xấu, cho chúng ta thấy những điểm mù, những lý luận, những mâu thuẫn, những tiêu chuẩn nước đôi, sự đạo đức giả, thái độ sống luân lý có chọn lọc, chiều hướng mưu cầu quyền lực, những nỗi sợ không lành mạnh, và sự kiêu căng được che đậy của mình. Chủ nghĩa vô thần cho chúng ta thấy cái xà trong mắt mình.

Trong những lúc trung thực nhất, chúng ta thừa nhận chủ nghĩa vô thần là một thách thức cần thiết. Tất nhiên về mặt lý thuyết, chúng ta phải tự nhận thức và tự phê phán đủ để thấy tất cả mọi chuyện cần cho mình, hoặc nếu không thì phải chú tâm đủ vào các ngôn sứ trong đạo mình để nhận ra những khiếm khuyết của mình. Nhưng hiếm khi như vậy, và kết quả là, luôn có những tín ngưỡng xấu và điều này luôn luôn tạo ra sự phủ nhận đối với cả tôn giáo lẫn chủ nghĩa vô thần.

Và chúng ta thấy điều này xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau. Về mặt triết học, tất nhiên, các trình bày mạnh mẽ nhất về vấn đề này là của hai triết gia vô thần nổi tiếng nhất thế kỷ XIX, Ludwig Feuerbach và Fredrick Nietzsche. Những phê phán thực sự của họ về tôn giáo và về chúng ta, những người giữ đạo, có nói đến lập luận cho rằng niềm tin vào Thiên Chúa là thứ “thuốc phiện của quần chúng” và việc đặt trọng tâm vào đời sau đã góp phần làm cho con người bị nô dịch ở đời này, nhưng đó không phải ý chính của họ. Đúng hơn, họ phê phán sâu sắc về các hành động tôn giáo của chúng ta, cụ thể, là việc chúng ta dùng ý niệm Thiên Chúa và tôn giáo để lý luận cho những ham muốn của mình. Với Feuerbach và Nietzsche, Thiên Chúa không làm ra chúng ta theo và giống hình ảnh Ngài, nhưng đúng hơn, chúng ta đã làm Thiên Chúa theo và giống hình ảnh của mình. Với họ, Thiên Chúa là một phóng chiếu từ tâm trí và chúng ta luôn luôn dùng hình tượng phóng chiếu đó để phán định về đạo đức và làm trụ đỡ cho sự thiếu chính chắn, cho ý muốn, cho nỗi sợ và cho những lý luận của chính mình. Với tư cách cá nhân cũng như giáo hội, đơn giản chúng ta dùng ý niệm về Thiên Chúa để làm bất cứ những gì mình muốn, rồi gọi đó là ý Chúa. Rốt cùng, chúng ta không vâng phục bất kỳ uy quyền hay ý muốn nào ngoại trừ uy quyền và ý của riêng mình, có điều loại tôn giáo này lại làm điều này như thử chúng ta làm.

Trong đời sống bình thường của giáo hội, môi trường có ít người đọc Feuerbach và Nietzsche, nhưng chúng ta vẫn có điểm chung với loại phê phán này, dù theo một cách khác, chúng ta cũng chỉ mặt tín ngưỡng xấu. Về mặt văn hóa, chúng ta có những người như Christopher Hitchens và Richard Dawkins, những người giữ cho ngọn dao vô thần được sắc bén và thực tế. Có một sự thật, dù đau lòng, đó là tôn giáo xấu bị những người thân thuộc của chúng ta và ngay cả con cái chúng ta đem ra phê phán. Thời gian gần đây, nhiều phê phán tập trung vào những khủng hoảng xâm phạm tình dục trong giáo hội, nhưng, xuyên suốt nền văn hóa, tôn giáo và các giáo hội của chúng ta đã bị chỉ trích vì các mâu thuẫn, các tăm tối, và lối sống đạo đức có chọn lựa của chúng ta.

Nhiều lời phê phán trong số này gây tổn thương và có vẻ bất công, nhưng rốt cùng, hầu hết đều đúng. Hơn nữa, những nỗ lực bào chữa, biện minh thường chỉ là những lý luận xa vời và không nhìn nhận thiếu sót của mình,  như thế những lời chỉ trích chẳng có giá trị cải thiện nào với chúng ta cả. Tính thủ thế không giúp được gì.

Câu trả lời với chủ nghĩa vô thần và với những phê phán về sai lỗi trong tôn giáo của chúng ta phải bắt đầu từ việc nhận thức nơi nào những điểm này của họ là đúng đắn, dù các lời phê phán đó có vẻ bất công thiên vị và duy lý. Chẳng hạn, một sự bất công của truyền thông không tạo ra bất cứ tội nào hay thiếu sót nào của chúng ta, chính chúng ta mới là người tạo ra.

Câu trả lời cho chủ nghĩa vô thần và các phê phán về đức tin và tôn giáo của chúng ta cần phải được xử lý theo ba bước: Thứ nhất, biết ơn thách thức này. Chúng ta không bao giờ hoàn toàn trung tín trong đức tin, và tốt hơn, nên mở lòng lắng nghe người khác suy nghĩ và nói về chúng ta, hơn là bịt tai lại. Chối bỏ sẽ chẳng giúp được gì. Thứ hai, phải nhận thức, với tinh thần không thủ thế, xem điều gì là đúng và chống lại cám dỗ biện minh cho mình bằng những cách chẳng làm được gì hơn là tạo ra thêm kiểu tín ngưỡng cho người ta phê phán hơn nữa. Khi quá thủ thế trước những lời phê phán, chúng ta chỉ đẩy bản thân và giáo hội của mình vào vô minh, và tệ nhất là, có thể đẩy cả Thiên Chúa vào vô minh.

Cuối cùng, và quan trọng nhất, không bao giờ câu trả lời thật cho tôn giáo xấu là chủ nghĩa thế tục hay chủ nghĩa vô thần, nhưng chính là một tôn giáo tốt hơn! Chúng ta cần kiên vững hơn, cả trong lương tâm tự vấn và cả trong việc sống đạo.

Một tôn giáo tốt hơn là gì? Làm sao chúng ta nhận ra được một tôn giáo tốt hơn? Chúng ta nhận ra chân đạo cũng giống như khi chúng ta nhận ra chân thiện mỹ. Chúng là những điều hiển nhiên, rõ ràng. Nét đẹp và sự tốt lành cần được đón nhận hơn là nhận thức. Chẳng cần ai nói cho chúng ta biết đẹp là thế nào. Nét đẹp cuối cùng cũng được nhận ra. Nó tự tỏ ra. Chân đạo cũng như vậy.

Ngược lại cũng đúng. Tôn giáo xấu cũng tự lộ ra và rốt cùng, lòng chân thật không có chỗ cho tôn giáo xấu.

Chủ nghĩa vô thần là một vật ký sinh sống nhờ tôn giáo xấu. Vậy nên, ngày nay, khi chủ nghĩa vô thần đang công kích vô cùng ác hiểm, có lẽ chúng ta cần xem kỹ thực tế này, nó đang phản ánh gì bên trong tôn giáo.

Tôi có được cứu độ không?

Một kitô hữu thiện tâm đã hỏi Fritz Pearls, nhà tâm lý học lừng danh và can đảm, là liệu ông có được ơn cứu rỗi hay không. Ông trả lời bằng cách nói rằng, tôi vẫn đang cố để tìm xem nên để người ta dùng tôi thế nào đây! Lời vặn lại của ông cũng giống lời của thánh nữ Têrêxa Avila, người đã tuyên bố một khi chúng ta đạt đến đỉnh cao nhất của sự trưởng thành thì chúng ta chỉ còn một câu hỏi là: Tôi sẽ có ích đến đâu? Cả hai đều đúng, và cái nhìn sâu sắc của họ là một đòi hỏi thách thức cần thiết. Chúng ta thường dễ dàng có một quan điểm sai cả về cương vị kitô hữu lẫn sự trưởng thành của con người.
 
Một khi đã trưởng thành, câu hỏi không được đặt ra trong đời chúng ta là: Tôi phải làm gì để vào thiên đàng? Hay, tôi phải làm gì để không vào hỏa ngục? Điều này không có nghĩa là sự lo lắng về ơn cứu độ của chúng ta không quan trọng, hay thiên đàng và hỏa ngục không có thật, mà vấn đề là động cơ sâu xa nhất của chúng ta là phải làm việc cho người khác chứ không cho bản thân mình. Thiết yếu, nếu chúng ta biết tập trung vào nhu cầu của người khác, thì ơn cứu độ của chúng ta sẽ tự nhiên có. Có thể nói, cả Kinh thánh và những tinh hoa khôn ngoan của nhân loại đều cho rằng chúng ta không nên quá tập trung vào việc giúp đỡ người khác mà quên mất nhu cầu của chính mình, nhưng cả hai, cũng như kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô đều nói việc chăm lo bản thân là nghịch lý vì chính lúc chúng ta cho người khác là lúc chúng ta nhận được những gì cần cho cuộc sống của chính mình.

Vì thế mối bận tâm tiên quyết của chúng ta là không nên đặt những loại câu hỏi: Liệu tôi có được cứu độ hay không? Hay thậm chí cả câu: “Liệu tôi có thấy Chúa Giêsu là đấng cứu độ riêng của tôi hay không?” Một lần nữa, cần phải thẩm định lại điều này: Đối với kitô hữu, mối liên hệ riêng tư và xúc cảm với Chúa không phải là điều không quan trọng hay có thể bỏ qua. Thật vậy, trong Tin Mừng, đặc biệt trong Tin mừng thánh Gioan, một mối liên hệ sâu đậm, xúc cảm, và riêng tư với Chúa Giêsu là trọng tâm và mục đích của vai trò môn đệ của kitô hữu. Xét cho cùng, chúng ta không phát triển mối liên hệ với Chúa Giêsu để có được năng lượng và kim chỉ nam đúng đắn để từ đó giúp đỡ người khác, dù nó ở trong mối liên hệ này. Nhưng đúng hơn, chúng ta phát triển  mối liên hệ mật thiết với Chúa Giêsu vì cùng đích của nó là lý do tối hậu để chúng ta trở nên kitô hữu.
Truyền thống giữ đạo của các phái Phúc âm và Công giáo La Mã đã xác nhận điều này là đúng. Không có gì hơn được mối liên hệ riêng tư và đầy xúc cảm với Chúa Giêsu và nếu không có mối liên hệ đó thì quả thật, chúng ta không phải là môn đệ đích thật của Chúa Kitô nữa. Tuy nhiên, chính Chúa Giêsu đã làm nhẹ bớt cách hiểu chính thống cực đoan hay sùng đạo phiến diện của vấn đề này khi Ngài gắn tình yêu mật thiết đối với Ngài và việc yêu tha nhân tóm gọn trong điều răn: Kính mến Đức Chúa Trời và yêu người như mình vậy. Nói đơn giản là qua việc giúp người là chúng ta đã yêu mến Chúa. Cương vị môn đệ kitô hữu không bao giờ hướng về mối quan hệ duy nhất giữa Chúa Giêsu và bản thân, cho dù luôn luôn phải là như thế.

Có một sinh viên hỏi một linh mục bạn của tôi đang dạy ở một đại học đời: “Có bao giờ cha gặp Chúa Giêsu Kitô chưa?” Câu trả lời của cha, chắc chắn có một chút gì đó mệt mỏi: “Có, tôi đã gặp Chúa Giêsu Kitô, cuộc gặp gỡ này đã làm cuộc đời tôi đảo lộn! Có những lúc tôi ước mình chưa từng gặp Ngài!” Trong câu trả lời có vẻ bất kính gói gọn rất đúng những điểm quan trọng, rằng việc gặp gỡ Chúa Giêsu là một cái gì đó cao hơn cuộc gặp gỡ riêng tư, lãng mạn, đầy xúc cảm và an toàn với Ngài, và cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu thì cao hơn là cảm nhận riêng tư trong linh hồn thấy mình được Thiên Chúa yêu thương và bảo bọc.

Một phần không thể nhân nhượng trong việc gặp gỡ Chúa Giêsu chính là việc được sai đi, và không chỉ ra đi tìm con đường thiêng liêng cho riêng mình hay cho mục vụ cá nhân của mình. Sai đi này là được mời gọi vào cộng đoàn, vào giáo hội, và được sai đi cùng với người khác, “mỗi hai người”, để, nói theo ẩn dụ của Nikos Kazantzakis là, “bước theo bước chân đầm đìa máu của Chúa Kitô”, nghĩa là bước đi trong hỗn loạn và thất bại, hiểu lầm và đóng đinh, bối rối và mệt mỏi, bước đi trong bóng tối và dường như Thiên Chúa thì chỉ câm nín, đôi khi lòng dậy lên hoài nghi rằng liệu mình có tìm được một tảng đá gối đầu hay không. Sự thân thiết với Chúa Giêsu gần như không giống gì với sự thân mật trong các phim Hollywood hay trong sách thiêng liêng cá nhân cả. Sự thân thiết này đúng ra gần giống với sự thân thiết của Chúa Giêsu với Chúa Cha khi ngài quyết về Giêrusalem, dù các môn đệ ngăn cản, chấp nhận tất cả mọi khó khăn mà Ngài biết đang chờ sẵn cho mình. Các đội tiên phong của Dòng Tên tóm gọn cương vị môn đệ của mình trong câu này: “Tan nát vì sự sống!” Lời này đã tóm gọn tuyệt vời cả sự thân thiết và ý nghĩa của sự thân thiết.

Thánh Têrêxa Avila đã nói chúng ta trưởng thành trên con đường theo Chúa nếu những hoài nghi và bận tâm của chúng ta không còn quy hướng về mình nữa: Liệu tôi có được cứu độ hay không? Có bao giờ tôi gặp Chúa Giêsu Kitô chưa? Tôi có yêu Chúa Giêsu cho đủ hay không? Những câu hỏi này vẫn luôn có giá trị, nhưng chúng không là trọng tâm của chúng ta. Những câu hỏi thật sự của chúng ta phải là: Tôi sẽ có ích đến đâu?

Fritz Pearls đã họa lại câu này cách đơn giản nhưng sinh động hơn như sau: Người ta sẽ dùng tôi như thế nào đây? Suốt cuộc đời trưởng thành của chúng ta, câu hỏi trên phải lấn át câu hỏi: Liệu tôi có được cứu độ hay không?

Lý luận về sự Phẫn nộ và Căm phẫn của chúng ta về vấn đề đạo đức

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên… Anh em tưởng Thầy đến để mang hòa bình đến cho thế gian sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba.”

Những lời này là một trong những lời dạy bị hiểu lầm nhiều nhất trong Kinh thánh, vì từ thời Chúa Giêsu cho đến thời bây giờ, chúng ta luôn có khả năng che đậy những thiếu sót của lòng nhân, sự thiếu tôn trọng, cũng như những chua cay và ghen ghét của mình bằng chính lời ngôn sứ này, và cho rằng những chia rẽ mà chúng ta gây ra là sự chia rẽ mà chính Chúa Giêsu đã nói đến khi ngài ném lửa vào mặt đất. Nhưng chúng ta sai rồi. Tại sao vậy?

Thứ nhất, lửa mà Chúa Giêsu mong ước đem vào mặt đất không phải là ngọn lửa chia rẽ và phân cực, nhưng là lửa của Thần Khí, lửa trong ngày lễ Hiện xuống, cụ thể là ngọn lửa của lòng nhân ái, niềm vui, hòa bình, tốt lành, thông hiểu và tha thứ. Và ngọn lửa này hợp nhất hơn là chia rẽ. Hơn nữa, để trả lời cho câu hỏi của Chúa:  “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao?” Câu trả lời là: Tuyệt đối đúng, không còn nghi ngờ gì. Chúa Giêsu đến, chính xác là đem hòa bình đến cho trái đất, đúng như lời các thiên thần hát trong ngày Chúa giáng sinh, đúng như cuộc đời rao giảng của Chúa thể hiện, và đúng như chứng tá hùng hồn qua cái chết của Ngài. Chúa Giêsu đến để đem hòa bình cho thế giới, không ai có thể nghi ngờ điều này.

Vậy làm sao sự chia rẽ len vào được? Và tại sao Chúa Giêsu nói rằng con người và giáo lý của Ngài sẽ gây phân cực, ghen ghét, và chia rẽ? Nếu ngọn lửa Chúa Giêsu đem xuống trái đất là để hợp nhất chúng ta, vậy tại sao nó lại thường xuyên gậy chia rẽ?

Không phải thông điệp của Chúa Giêsu gây chia rẽ, mà là cách chúng ta đáp lại thông điệp đó. Chúng ta có thể thấy điều này lúc Chúa giáng sinh. Khi Chúa Giêsu ra đời, có người phản ứng bằng sự hiểu biết và vui mừng, có người phản ứng với sự hiểu lầm và thù ghét. Động lực đó vẫn tiếp diễn qua nhiều thế kỷ cho đến tận ngày nay, không những Chúa Giêsu bị hiểu lầm và bị xem là mối nguy hại cho nhiều người không theo Kitô giáo, mà đặc biệt là khi con người và thông điệp của Chúa bị dùng để biện minh cho sự chia rẽ đầy chua cay và thù ghét giữa các Kitô hữu, cũng như để biện bạch cho sự chua cay luôn luôn là đặc nét của các thảo luận công khai về các vấn đề tôn giáo và đạo đức. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục gây chia rẽ, không phải bởi con người và thông điệp của ngài phiến diện, gây bất hòa, hay đầy thù hận, nhưng là vì chúng ta thường dùng thông điệp và con người của Ngài qua cách hành xử xấu xa như thế.

Và do đó, từ thời Chúa Giêsu cho đến bây giờ, chúng ta luôn lợi dụng Chúa để lý luận cho những mối giận và sợ hãi của chính mình. Tất cả chúng ta đều làm thế, và hệ quả của nó đầy dẫy khắp nơi: từ sự phân cực đầy chua cay trong nền chính trị, cho đến sự hiểu lầm cay đắng giữa các giáo hội, những hùng biện đầy lòng thù ghét trên đài hay truyền hình, những xã luận và blog bêu xấu tất cả những ai không đồng ý với họ, và cả cái cách nói chuyện đầy xét đoán lẫn nhau trong những cuộc phiến đàm trà dư tửu hậu. Chúng ta hết thảy đều đang trút đi nỗi chua cay của mình, và gần như không lành mạnh, nhưng lại làm thế dưới vỏ bọc là đem lửa tình yêu và sự thật đến với trái đất. Tuy nhiên, nói cho đúng sự thật, thì ngọn lửa chúng ta đang mang theo có vẻ giống như ngọn lửa Babel hơn là lửa Thánh Thần. Những ngọn lửa nóng nảy đạo đức của chúng ta luôn luôn đem lại nhiều chia rẽ hơn là hợp nhất.

Chẳng hạn, một vài năm trước đây tôi có dự một buổi gặp mặt các linh mục với nhau, mỗi người hiện diện được mời lên nói cảm nghĩ về nét nổi bật trong công tác mục vụ của mình. Một trong số các linh mục, người có tiền sử gây rắc rối kiểu ấu trĩ với cả giám mục lẫn giáo dân, đã tự tin nói về mình như sau:  “Những gì tôi đóng góp là việc tôi là người kích động! Tôi khuấy động mọi sự! Tôi không để cho người ta thoải mái. Tôi đem lửa của Chúa Kitô đến! Tôi mang trong mình tính ngôn sứ!” Ông ấy khăng khăng cho mình là đúng khi chọn thái độ kích động, gây khó chịu, tạo nên ngọn lửa. Và giám mục của ông quả thật đã phải liên tục nhận các cuộc điện thoại khẳng định điều đó. Nhưng cần phải nghi ngờ tính ngôn sứ của ông. Cách tiếp cận mọi việc và cách nói chuyện của ông quá giống vị diễn giả chủ tọa phiến đàm bị thôi thúc bởi ý thức hệ, một người phân chia thế giới rành mạch giữa thiên thần và ác quỷ, tuyệt đối đúng hoặc tuyệt đối sai, và cũng phân chia quá dễ dãi ai đứng về Thiên Chúa và ai về phe ma quỷ. Kiểu nói chuyện đó gần như chua cay, đầy thù ghét, phiến diện, và gây bất hòa, nhưng lại biện minh cho mình bằng ngọn cờ sự thật và tình yêu, tự cho mình là ngôn sứ.

Daniel Berrigan đã đúng khi cho rằng một ngôn sứ thật phải có lời nguyền yêu thương, chứ không phải lời nguyền chia rẽ. Thật dễ để làm ngược lại điều này, và đúng là chúng ta thường làm thế thật.

Có thể nói rằng, có một ngọn lửa gây chia rẽ, thậm chí cả khi nó cũng là ngọn lửa yêu thương và lửa Thần Khí. Nhưng nó là một ngọn lửa, mọi nơi mọi lúc, đầy tôn trọng, nhân từ, và cởi mở, không bao giờ thúc đẩy chúng ta chua cay, như kiểu của những lời hùng biện về tôn giáo và đạo đức đang đầy dẫy ngày nay.

Đạo đức trong chua cay – Mối nguy của những người tốt lành và thành tín.

Trong một tuyệt tác viết về ân sủng, Piet Fransen đề nghị chúng ta làm một trắc nghiệm xem mình hiểu về ân sủng đến mức như thế nào bằng cách  xem phản ứng của chúng ta với câu chuyện sau:

Hãy tưởng tượng một người, suốt đời hoàn toàn không quan tâm gì đến Thiên Chúa hay đạo đức. Ông ích kỷ, chối bỏ hết mọi giới răn, mọi chuyện tôn giáo, căn bản ông chỉ mưu cầu khoái lạc cho riêng mình với rượu, tình dục, ca hát. Rồi, chỉ vài giờ trước khi chết, ông hối hận vì sự vô trách nhiệm của mình, chân thành xưng tội, đón nhận các bí tích của Giáo hội, và chết với sự trở lại này.

Phản ứng bộc phát của chúng ta với câu chuyện này là gì? Chẳng phải là tuyệt vời khi ông được ơn trở lại trước khi chết không? Hay, suy nghĩ của chúng ta là: Kẻ ăn mày may mắn! Ông ra đi cùng với ơn đó! Ông có đủ mọi khoái lạc mà vẫn vào thiên đàng!

Nếu chúng ta có cảm giác này, dù chỉ một lúc, thì có nghĩa chúng ta chưa bao giờ hiểu được sâu sắc khái niệm ân sủng. Đúng hơn, chúng ta như người anh của đứa con hoang đàng, chúng ta vẫn xem cuộc sống ngoài căn nhà của Chúa vẫn trọn vẹn hơn cuộc sống trong nhà Chúa, chúng ta vẫn làm những việc tốt lành nhưng vì bổn phận cay đắng, trong lòng thầm ghen với những người vô đạo đức. Nhưng, nếu thật như thế, chúng ta hẳn phải muốn tốt cho mình. Đây là một mối nguy riêng của những người tốt lành và thành tín.

Chính Chúa Giêsu đã chỉ ra điều này trong dụ ngôn về những người làm công trong vườn nho. Dụ ngôn này nhắm để trả lời một câu hỏi của thánh Phêrô. Thay mặt các môn đệ khác, thánh Phêrô hỏi Chúa Giêsu họ sẽ được phần thưởng nào cho lòng trung tín của họ. Chúa Giêsu trả lời bằng cách kể cho họ nghe câu chuyện về người chủ vườn nho giàu có và rộng rãi, ông ra chợ từ sáng sớm để kiếm người làm việc cho mình. Ông mướn vài người buổi sáng sớm, hứa cho họ tiền lương cao, rồi tiếp theo lại mướn thêm những người khác, mỗi nhóm vào làm việc cách nhau vào giờ, và đến cuối ngày chỉ một giờ trước khi hết việc, ông lại mướn vài người khác nữa. Rồi ông bảo người quản lý trả cho tất cả mọi người một ngày công. Điều này làm cho những người đã làm suốt ngày cảm thấy có cái gì chua cay trong lòng. Họ kiện: “Thế này là không công bằng! Chúng tôi làm việc cả ngày, chịu nắng nôi thiêu đốt, còn nhóm làm cuối cùng chỉ làm có một giờ mà thôi. Như thế là bất công khi họ nhận tiền lương giống chúng tôi!” Người chủ vườn rộng rãi, rõ ràng là hình ảnh của Thiên Chúa, nhẹ nhàng trả lời: “Bạn à, bạn đã chẳng đồng ý với mức lương này rồi hay sao? Đồng lương này không xứng hay sao? Hay bạn đang ghen tỵ và nổi giận vì tôi quá hào phóng?”

Chúng ta nên nhớ câu chuyện này là câu trả lời của Chúa Giêsu cho thánh Phêrô… và, qua đó, cũng là cho tất cả người ngay lành đang chịu đựng nắng nôi cực nhọc về mặt đạo đức và tôn giáo. Và Chúa Giêsu cam đoan với chúng ta rằng, chúng ta sẽ được nhận lãnh rất nhiều khi làm việc đổ mồ hôi như thế. Nhưng, dụ ngôn cũng nói rõ, ở đó có một cái bẫy: Đơn giản là, chúng ta sẽ được th&4432;ởng thiên đàng, và đó là tuyệt vời vinh phúc, nhưng, có một cái bẫy, là chúng ta có thể có mọi thứ nhưng chẳng vui vẻ hưởng dùng được cái gì, vì chúng ta đang chăm chăm xem người khác sẽ được nhận lãnh bao nhiêu!

Thỉnh thoảng trong những buổi giảng tĩnh tâm cho các linh mục và tu sĩ, tôi nhấn mạnh điểm này một cách sinh động hơn. Tôi muốn họ cân nhắc một kịch bản như thế này: Hãy tưởng tượng, bạn sống cả đời trung tín với lời khấn độc thân, cũng là một hình thức chịu nắng nôi thiêu đốt, khi bạn lên thiên đàng, người đầu tiên bạn gặp là ông Hugh Hefner, người sáng lập tạp chí khiêu dâm Playboy. Quá sốc, bạn kiện lên Chúa: “Làm sao mà ông này lại ở đây? Thật là bất công, cuộc sống của ông và cuộc sống của con!” Và Thiên Chúa, người chủ vườn quá đỗi rộng rãi, nhẹ nhàng trả lời: “Con à, chẳng lẽ con không đồng ý cuộc sống độc thân sao, chẳng lẽ thiên đàng không phải là nơi tuyệt diệu cho con hay sao? Hay bạn đang ghen tỵ và nổi giận vì cha đã quá hào phóng?” Và phản ứng của những bậc thánh đích thực sẽ rất khác biệt, như người cha nhân hậu, họ sẽ vui sướng chạy đến ôm người đó và nói: “Tôi quá sức vui mừng khi anh đã làm được điều này!”

Thomas Halik, văn sỹ người Tiệp, cho rằng một trong những lý do mà nhiều người trên thế giới quay lưng với các giáo hội là vì họ thấy chúng ta là những “người đạo đức đầy lòng chua cay”, người anh cả của đứa em oang đàng, chỉ biết giữ đạo, giữ đức hạnh vì bổn phận, nhưng trong lòng chua cay, và vì lòng ghen tỵ che giấu trong lòng, đi chỉ trích những ai không sống như mình. Hơn trăm năm trước, Nietzsche đã lên tiếng tố cáo gần như thế.

Đáng buồn thay, lời tố cáo này đúng, và không chỉ là đúng một chút mà thôi. Chúng ta quá thường xuyên là người đạo đức đầy lòng chua cay, ngấm ngầm ghen tỵ với những người vô luân và phê phán thế giới này vì lòng mình đầy chua cay. Đó chính là mối nguy riêng của những người tốt lành và trung tín. Thánh Phêrô và các tông đồ tiên khởi đã phải đấu tranh với chuyện này. Như thế thì làm sao chúng ta tránh được mối nguy đó?

Chúng ta không thể tránh khỏi tình trạng nguy hiểm này, nhưng chúng ta cần phải thành tâm nhìn nhận rằng, cho dù chúng ta có thật sự tốt lành và thành tín, thì còn lâu chúng ta mới là những vị thánh cho trọn.

Sự cần thiết phải cho người nghèo

Chúng ta cần phải cho người nghèo, không phải vì họ cần, dù họ cần thật, nhưng vì chúng ta cần cho người nghèo để giữ cho mình được lành mạnh. Đó là một chân lý đặt nền tảng trên Kinh thánh, luôn luôn dạy chúng ta rằng cho người nghèo  là điều chúng ta cần làm cho chính sự lành mạnh của bản thân mình.

Chúng ta thấy chân lý này có mặt trong nhiều tôn giáo và nhiều nền văn hóa. Chẳng hạn ở một số người thiểu số ở Bắc Mỹ thực hành một hạnh mà họ gọi là potlach. Đây là một lễ hội đôi khi được thực hành khi làm đám cưới hay khi một đứa bé ra đời, khi đó những người giàu tặng quà cho cả cộng đồng. Mục đích đầu tiên của tục lệ này là để bảo đảm một sự phân bố tài sản, nhưng cũng để canh chừng cho người giàu có một cuộc sống lành mạnh, để họ đừng quá lo lắng tích lũy quá nhiều tài sản. Người ta tin rằng, cái gì quá mức sẽ có hại cho đương sự. Đây là một niềm tin còn mãi trong hầu hết mọi nền văn hóa.

Trong Kitô giáo, chúng ta trân trọng niềm tin này, luôn luôn khuyến khích việc cho người nghèo, từ lâu chúng ta xem việc bác ái là một đức hạnh, và đúng như vậy. Từ thiện là một nhân đức, nhưng đối với Kitô hữu, có lẽ đó là một bổn phận hơn là nhân đức nữa. Khi xem lại bộ Luật Môsê trong Kinh thánh, chúng ta thấy luật quy định mức độ chính xác phải cho người nghèo là bao nhiêu. Khái niệm này có nghĩa là việc cho người nghèo là một bổn phận, chứ không phải là một chọn lựa đạo đức có thể thương thảo. Đơn giản, Luật Môsê buộc mọi người, về mặt pháp lý, phải cho người nghèo.

Kinh thánh có rất nhiều minh chứng về việc này. Chẳng hạn, chúng ta xem các giáo huấn và luật dạy sau đây:

Trước hết, Luật Môsê quả quyết rằng tất cả những gì chúng ta có đều thuộc về Thiên Chúa chứ không thực sự là của chúng ta. Chúng ta chỉ là người quản lý và bảo vệ của cải đó mà thôi. Vì lòng Chúa thương, chúng ta được hưởng dùng nó, nhưng xét tận cùng, nó không phải là của chúng ta. (Lv 25: 23)

Mỗi bảy năm, phải trả tự do cho tất cả các nô lệ, và mỗi người được đem theo mình của cải ông chủ cho, sao cho đủ dùng để sống tự lập. (Đnl 15: 14)

Mỗi bảy năm, tất cả các khoản nợ phải được hủy bỏ (nghĩa nguyên gốc của “luật về những giới hạn”).

Mỗi bảy năm, đất đai phải được để không, đất đai có thời kỳ Sabbath của nó. Trong năm đó, chủ đất không những không được gieo bất cứ hạt giống nào, mà còn không được gặt bất kỳ thứ gì trên đất đó. Người nghèo được thu gặt hoa quả trên đồng ruộng và vườn nho trong năm đó.

Và, mọi chủ đất, luôn luôn, bị cấm thu gặt các góc ruộng của mình, để những góc đó cho người nghèo thu hoạch.

Cuối cùng, nhưng căn bản hơn hết, là mỗi năm mươi năm, tất cả mọi đất đai phải được trả về thị tộc hay gia tộc chủ sở hữu gốc của nó. “Quyền chiếm hữu” có một giới hạn thời gian nhất định. Mọi thứ không phải là của bạn mãi mãi.

Hơn nữa, khi làm tất cả điều này bạn không được xem là đạo đức, mà đó là luật, là nghĩa vụ pháp lý.

Và phía sau những luật này, có một ý nghĩa kép. Một mặt, các luật này được thi hành cốt để giữ sự lành mạnh cho những ai biết cho người nghèo, mặt khác, cũng là một cố gắng để bảo đảm cho người nghèo, để họ không trở nên quá túng quẫn đến mức phải trộm cắp những gì họ cần để duy trì sự sống.

Xã hội chúng ta cần phải học nhiều về những điều này. Phần lớn chúng ta là người quãng đại và có lòng từ thiện. Chúng ta cho đi một phần thặng dư của mình, dù cho các chuyên gia chuyên nghiên cứu về người vô gia cư cho rằng làm như thế không có ích gì, nhưng tâm hồn chúng ta vẫn bị đánh động bởi những người đang nài xin chúng ta trên đường và chúng ta vẫn tiếp tục cho họ tiền (dù chúng ta không tin  lời họ nói cần tiền mua đồ ăn hay tìm chỗ ở). Phần đông quả tim chúng ta vẫn ở đúng chỗ của nó.

Nhưng chúng ta có khuynh hướng xem việc này là một việc mà chúng ta làm hoàn toàn là cho người khác, không nhận ra việc đó là một việc lành mạnh cho chính mình. Hơn nữa, chúng ta có xu hướng xem đây là một nhân đức hơn là nghĩa vụ, là việc từ thiện hơn là công bằng. Và có lẽ vì lý do này, cho dù tâm hồn và lòng quảng đại của chúng ta có tốt đến đâu đi nữa, thì khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, trong nền văn hóa của chúng ta và trong toàn thể thế giới, vẫn cứ rộng ra mãi. Hàng triệu triệu người vẫn tiếp tục bị bỏ mặc mà không được quyền lợi từ luật cho phép thu lượm những góc nhỏ trong khối tài sản của chúng ta hay được tha nợ mỗi bảy năm một lần.

Chúng ta cho người nghèo vì họ cần, đúng là vậy, nhưng chúng ta cần phải cho vì nếu chúng ta không cho, chúng ta sẽ không lành mạnh. Và chúng ta phải thấy việc cho không phải là việc từ thiện mà là nghĩa vụ, công bằng, như một cái gì chúng ta đang nợ.

Truyện kể rằng, trên giường hấp hối, thánh Vincent de Paul đã thách thức các môn đệ của mình về việc này: Cho thì phúc hơn nhận, và nó cũng dễ làm hơn nữa!

Cố gắng để hiểu được Tự vẫn

Buồn thay, thời nay vẫn còn nhiều người chết vì tự tử. Rất ít người không bị tác động sâu sắc do cái chết tự vẫn của người thân yêu. Chỉ riêng ở Mỹ, hàng năm có hơn ba mươi ba ngàn vụ tự tử. Tính trung bình có chín mươi tự tử mỗi ngày,  ba đến bốn người mỗi giờ.

Dù vậy, phần lớn vẫn còn hiểu lầm về việc tự vẫn, người thân, người bị bỏ lại thường rơi vào tình trạng đau buồn, đặc biệt có tính cách hủy hoại. Trong các cái chết, có lẽ tự vẫn để lại tác hại nặng nề nhất cho người còn sống. Tại sao vậy?

Tự vẫn tác động mạnh đến chúng ta vì bao chung quanh nó là một điều cấm kỵ tuyệt đối. Dù ý thức hay vô thức, trong suy nghĩ chung, người ta vẫn cho tự vẫn là hành động tuyệt vọng tột cùng, một điều xấu xa tột cùng mà một người có thể làm. Chúng ta không ngạc nhiên về để này, vì tự vẫn là chống lại bản chất thâm sâu nhất trong chúng ta, là ý chí sống. Do đó, dù được thông hiểu và thương cảm, tự vẫn vẫn để lại một nỗi hổ thẹn và mơ hồ nào đó nơi người ở lại. Cũng vậy, thường thường hơn, nó hủy hoại ký ức về người đã chết. Những bức ảnh của người đó dần dần biến mất khỏi bức tường phòng, và chúng ta dè dặt hoặc bưng bít khi nói về cái chết đó. Không có gì ngạc nhiên ở đây: Tự vẫn là một cấm kỵ tuyệt đối.

Vậy chúng ta nói được gì về tự vẫn? Làm sao chúng ta có thể hiểu được tự vẫn một cách cảm thông hơn?

Hiểu được tự vẫn để cảm thông hơn nhưng cũng không loại bỏ được nỗi nhức nhối, vì không có gì có thể làm được điều này ngoại trừ thời gian nhưng, có một số điều để về lâu dài có thể chữa lành và giữ ký ức về người đã chết.

– Trong hầu hết trường hợp, tự tử là một chứng bệnh, không phải là một hành vi cố ý. Người chết theo kiểu này, là chết ngược lại với ý muốn của họ, giống như những người nhảy ra khỏi tòa Tháp đôi ngày 11/9/2001, sau khi chiếc máy bay khủng bố đâm vào và làm cho tòa nhà bốc lửa. Họ nhảy ra chỉ để chết, chắc chắn sẽ chết, nhưng họ làm thế vì họ đang bị thiêu sống.  Chết do tự vẫn, cũng gần giống với chết do ung thư, đột quỵ, đau tim, đặc biệt trong trường hợp tự vẫn, đó là ung thư về xúc cảm, đột quỵ về xúc cảm, hay đau tim về xúc cảm.

Một điều nữa cần được khám phá đầy đủ hơn, đó là tiềm năng vai trò cơ chế sinh hóa trong việc tự vẫn. Từ khi có nhiều vụ trầm cảm có khuynh hướng tự tử được chữa trị bằng thuốc, nên rõ ràng các vụ tự gây ra do sự mất cân bằng sinh hóa, giống như các chứng bệnh khác đã giết chết chúng ta.

– Những người chết theo cách này hầu hết là những người nhạy cảm. Hiếm khi do ngang ngược, một hành vi khinh dễ. Có những trường hợp, như Hitler chẳng hạn, quá kiêu ngạo để chấp nhận sự bất ngờ của số phận con người, đã tự giết mình vì sự kiêu căng đó, nhưng đó là một dạng rất khác của tự vẫn, không phải là dạng nơi phần lớn người thân yêu chúng ta. Thường thì cảm nghiệm của chúng ta về họ chẳng có khác gì hơn là họ kiêu ngạo. Nhưng chính xác hơn, họ đã quá bầm dập đến mức không chạm vào được nữa, họ đã mang một vết thương quá sâu đến mức chúng ta không thể hiểu được hay thực sự giúp gì được. Thật vậy, thường thì qua một thời gian đủ sau cái chết của họ, khi nhìn lại, chúng ta sẽ thấy được vài điều về vết thương của họ, một điều mà chúng ta không nhìn rõ khi họ còn sống. Như thế việc họ tự vẫn không còn gây ngạc nhiên nữa.

– Cuối cùng, chúng ta không cần phải quá lo về ơn cứu độ đời đời của người chết do tự vẫn. Sự thông hiểu và lòng thương xót của Thiên Chúa đổ tràn vô hạn trên chúng ta. Những người thân yêu đã chết của chúng ta đang ở trong một bàn tay an toàn hơn bàn tay chúng ta. Nếu chúng ta, với sự giới hạn của mình, có thể chạm đến nỗi bi kịch này với sự thông hiểu và thương yêu, thì chúng ta sẽ thấy nhẹ lòng với sự thật rằng, với tình yêu bao la và sâu thẳm của Thiên Chúa, người đã chết vì tự vẫn, ngược lại, sẽ tìm thấy một lòng thương xót còn sâu sắc hơn của chúng ta, và phán quyết của Ngài sẽ chạm đến những động cơ sâu sắc nhất trong quả tim những người đó.

Hơn nữa, dù có yêu thương, chúng ta chẳng làm được gì thêm cho người đã mất, trong khi đó, tình yêu Thiên Chúa, như Kinh thánh đảm bảo và đã được bày tỏ qua việc Chúa Giêsu sống lại, thì lại không như thế. Với người thân yêu của mình, đôi khi chúng ta thấy mình thật vô dụng không làm được gì, không có kế hoạch hay sức lực để làm gì, chỉ biết đứng ngoài cánh cửa lớn bị khóa kín bởi nỗi sợ hãi, thương tích, bệnh hoạn, hay cô đơn.  Hầu hết những người chết vì tự tử bị khóa trong căn phòng riêng biệt do vết thương dai dẳng của họ mà chúng ta không chạm đến và bản thân họ cũng bất lực không làm được. Dù có nỗ lực đến đâu chúng ta vẫn không thể xuyên thấu được vào cái địa ngục tách biệt đó. Nhưng, như đã thấy trong những lần hiện ra sau phục sinh của Chúa Giêsu, tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa không bất lực vô vọng trước những cánh cửa đóng kín. Tình yêu Thiên Chúa không đứng ngoài, gõ cửa trong vô vọng, mà lại đi thẳng qua cánh cửa khóa kín, đứng bên trong giữa đám hỗn độn sợ hãi và cô đơn, và truyền đi khí an bình. Với những người thân yêu đã chết vì tự vẫn của chúng ta cũng như thế. Chúng ta thấy mình bất lực, nhưng Thiên Chúa thì lại có thể, và làm được, Ngài đi qua cánh cửa lòng khóa kín, rồi khi vào đó, Ngài sẽ thổi sự an bình vào trong con tim rối bời đau đớn.

Than van và than khóc

Karl Rogers đã từng nói, điều riêng tư nhất của chúng ta cũng là điều phổ biến chung nhất. Ông tin rằng những cảm giác riêng tư mà chúng ta hổ thẹn không dám nói trước mọi người, thì mỉa mai thay, lại là cảm giác mà nếu chúng ta nói lên sẽ hòa chung một cách sâu lắng nhất vào trong cảm nghiệm của người khác.

Nhưng không phải lúc nào nó cũng đúng với những giọt nước mắt của chúng ta. Đôi khi những giọt nước mắt riêng tư của chúng ta chỉ là những giọt nước mắt cho riêng mình, không đồng điệu với cảm giác của người khác, làm cho họ khó chịu một cách không lành mạnh. Tại sao không phải tất cả mọi giọt nước mắt của chúng ta đều gợi được lòng thông cảm?

Vì không phải tất cả mọi giọt nước mắt đều giống nhau, có một sự khác biệt giữa than khóc và than van. Than khóc thì lành mạnh, than van thì không.

Khi đối diện với mất mát, than khóc sẽ hữu ích vì giúp mình biểu lộ được xúc cảm trọn vẹn. Hơn nữa, khi than khóc, chúng ta bày tỏ một nỗi buồn không chỉ cho mất mát và đau đớn riêng, mà cách nào đó còn cho nỗi đau buồn của cả thế giới này. Mất mát làm chúng ta khóc chỉ là chuyện riêng tư, chẳng hạn cái chết của người thân yêu, nhưng, nếu nếu nỗi đau buồn của chúng ta quy hướng về sự mất mát đó hơn là về bản thân mình, thì than khóc của chúng ta sẽ được cảm thông sâu sắc. Nỗi đau buồn sâu đậm như thế là buồn cho một tình trạng ai ai cũng có, sẽ liên kết chúng ta với thế giới, nơi mà sự chết và mất mát không trừ một ai. Rốt cùng, ai cũng mang một nỗi buồn chung.

Than van, mặt khác gần như chỉ là than thân trách phận. Không như than khóc, than van không tập trung vào những gì đã mất, đã rơi vào thảm kịch, mà chủ yếu chỉ khóc thương cho chính bản thân mình, cho nỗi đau, van nài người khác thương cảm mình. Than van là bày vết thương riêng ra cho mọi người thấy để mong họ thương cảm, như đứa trẻ chìa cái đầu gối bầm tím cho mẹ mình vậy. Chúng ta tội cho đứa trẻ bị bầm tím, chúng ta không nên chướng tai gai mắt với nó, nhưng với người lớn thì chuyện lại không như vậy.

Chúng ta rơi nước mắt vì những lý do khác nhau và khóc cũng theo nhiều kiểu khác nhau. Trong tất cả mọi giọt nước mắt lăn xuống, đều có một câu hỏi: ‘Tôi đang khóc cho ai, cho người khác hay cho chính mình? Vì sao tôi khóc, vì cảm thương ai đó, chuyện gì đó, hay chỉ vì thương thân mình?’

Một câu hỏi không dễ trả lời vì giọt nước mắt của chúng ta luôn luôn có cả lòng vị tha lẫn vị kỷ. Hiếm khi giọt nước mắt của chúng ta thuần khiết, thoát được thương thân trách phận, hiếm khi nước mắt chúng ta giống như nước mắt Chúa Giêsu khóc cho thành Giêrusalem hay nước mắt Đức Mẹ khóc dưới chân thập giá Chúa. Những giọt nước mắt của chúng ta có thể noi lên lòng thương cảm nhưng chúng cũng có thể buộc tội chúng ta. Ví dụ như, thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu đã nói, khi khóc vì thất tình, chúng ta thường khóc cho bản thân mình, hơn là cho người kia. Những giọt nước mắt như thế là thật, nhưng hầu như không có gì cao cả. Trong một ý tưởng tương tự, Antoine Vergote, nhà tâm lý học lừng danh, cho rằng nước mắt chúng ta khóc khi có lỗi vì đã làm điều sai trái thường là giọt nước mắt thương mình hơn là dấu chỉ của lòng hối lỗi thật sự. Ông cho rằng, sự hối hận thật lòng sẽ gợi lên một điều gì đó trong chúng ta, là nỗi buồn. Điều phân biệt nỗi buồn với tội lỗi là khi buồn rầu, chúng ta khóc vì đã làm điều gì đó gây tổn thương cho người khác. Còn giọt nước mắt tội lỗi, chỉ là chúng ta đang khóc vì đang có cảm giác tồi tệ mà thôi.

Sự khác biệt giữa than van và than khóc thường cũng thấy được nơi cách biểu lộ của chúng. Than van lúc nào cũng có tính chất phô bày, quá tình cảm, gây khó chịu cho người chứng kiến. Nó không giữ được đủ mức tôn trọng. Bản chất, đó là một cách diễn tả dở! Gần như tất cả chúng ta đều có cảm nhận này khi đi dự tang lễ, dù là dịp đau thương buồn phiền, nhưng có những người khóc quá thô thiển, quá biểu diễn nên chúng ta có cảm tưởng như đang bị xâm phạm đời sống riêng tư. Chúng ta cảm thấy khó chịu cho người đang khóc như thế.

Đôi khi chúng ta cũng có cảm nhận này, dù đỡ hơn đôi chút, khi xem các tác phẩm nghệ thuật nửa mùa, bài hát, phim ảnh, hay tiểu thuyết, đơn giản chúng mô tả nỗi buồn quá thô thiển, quá mùi mẫn, hay quá ấu trĩ nên chúng ta không thấy có được một chỗ nào để quan sát, để cảm nhận. Một lần nữa, cái sai là thiếy thẩm mỹ, và cư xử tệ hại.  Nghệ thuật nửa mùa chỉ khiến chúng ta nhắm mắt lại để đừng thấy bực mình, hoặc nó khiến chúng ta thấy ngọt đớn mà thôi. Đó là đặc tính thứ hai của than van, hơn cả tính thương thân trách phận, nó còn là một thứ nghệ thuật tệ hại.

Và như thế, chúng ta nên cẩn thận khi khóc trước mặt người khác và những thất vọng chúng ta gào thét cho mọi người nghe. Tất nhiên, không có giọt nước mắt nào của chúng ta thuần khiết, chúng ta luôn luôn khóc cho bản thân mình. Những phản kháng của chúng ta cũng vậy, luôn luôn có tư lợi trong đó. Nhưng khi chấp nhận nó, chúng ta nên cố gắng than khóc hơn là than van, để khi bày tỏ nỗi buồn hay căm phẫn trước mặt người khác, những giọt nước mắt hay cơn giận của chúng ta phải được biểu hiện trong thông cảm hơn là than thân.

Karl Rogers đã đúng: Điều riêng tư nhất của chúng ta cũng là điều phổ biến nhất. Nó cũng đúng với những nỗi buồn sâu thẳm, đau khổ dai dẳng, các nỗi thất vọng, cũng như các giọt nước mắt than khóc của chúng ta. Nhưng khi than van, thì nó không còn đúng được như thế nữa.

Tại sao có cảm giác đức tin tựa như hoài nghi và tăm tối

Thiên Chúa là Đấng không thể mô tả được. Đây là sự thật phổ quát, được mọi người chấp nhận trong tín lý kitô giáo và trong tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới. Điều này có nghĩa là gì?

Về căn bản, có nghĩa là Thiên Chúa cao vượt ngoài tầm mức chúng ta, không giống chúng ta, ở một mức độ hoàn toàn khác biệt chúng ta. Cụ thể hơn, có nghĩa không thể nắm bắt Thiên Chúa bằng suy nghĩ, tưởng tượng, hay ngôn từ. Bất kỳ khái niệm, hình tượng, hay ngôn từ nào mà chúng ta dùng để nói về Thiên Chúa, dù có tốt đến đâu vẫn không đủ, và tệ nhất là rơi vào thói thờ ngẫu tượng. Thiên Chúa luôn vượt quá những gì chúng ta có thể suy nghĩ, phát ngôn, hay tưởng tượng.

Nhưng chúng ta có những suy nghĩ, hình tượng và ngôn từ về Thiên Chúa và trong số này, đa số xuất phát từ Kinh Thánh. Vậy cái gì làm nên hình tượng thần học và truyền thống Kinh Thánh của chúng ta về Thiên Chúa? Chúng không chính xác và thỏa đáng hay sao? Nói ngắn gọn, là không. Theo bà Annie Dillard, những khái niệm và ngôn từ về Thiên Chúa được trao ban cho chúng ta qua Kinh thánh và truyền thống giáo hội đơn thuần chỉ là những từ ngữ mà chúng ta được phép dùng để không rơi vào tội thờ ngẫu tượng. Chúng ta không bao giờ được cho rằng chúng chính xác và thỏa đáng, tự thân Kinh thánh đã nói rõ như thế. Khi không hiểu được điều này, chúng ta bị rối loạn mơ hồ giữa đức tin và hoài nghi.

Vì không nắm bắt thiết thực và chấp nhận rằng Thiên Chúa là khôn tả, nên chúng ta thường lầm lẫn đức tin với tưởng tượng. Nói đơn giản, chúng ta nghĩ rằng có thể hình tượng và khái niệm được Thiên Chúa, nên cảm thấy mình có một đức tin đến mức có thể hình dung được hiện hữu của Thiên Chúa và nhân thể của Ngài. Ngược lại, chúng ta thấy mình rơi vào hoài nghi và thuyết bất khả tri, khi không thể hình dung được những điều này. Và rồi chúng ta ngây thơ xác định đức tin bằng cái khả năng có thể tạo ra được một tưởng tượng và cảm giác hợp lý về Thiên Chúa, và ngược lại.

Nhưng, vì Thiên Chúa là khôn tả, nên chúng ta chẳng bao giờ có thể hình dung được sự hiện hữu cũng như nhân thể của Ngài. Để định nghĩa, đây là một việc bất khả thi. Trong cố gắng nắm bắt sự vô hạn, chúng ta chỉ có những khái niệm hữu hạn, và rồi tất cả mọi năng lực của con người đều bất lực trong việc khái niệm hóa Thiên Chúa, việc này cũng như việc cố gắng nghĩ về một con số lớn nhất có thể đếm được.

Liệu điều này có nghĩa là đức tin đi ngược lại với lý luận con người không? Không. Đức tin không phủ nhận lý luận của con người, đơn giản đức tin khiến lý luận trở nên quá nhỏ bé, gần giống như cách mà công thức tinh vi phức tạp trong vật lý học thiên thể hiện thời vượt hẳn số học căn bản và cũng như cách ánh sáng chói chang của mặt trời giữa trưa át đi ánh sáng nhỏ bé của một ngọn nến vậy. Hơn nữa, dù có ích, nhưng những so sánh trên vẫn còn khập khiễng và chưa đủ. Cũng không thể hình dung hiện hữu và nhân thể của Thiên Chúa như thể một Siêu nhân tối thượng, một người như chúng ta, ngoài trừ vĩ đại tột cùng mà thôi. Hình dung Thiên Chúa như thế vẫn đặt Ngài vào mức độ hữu hạn, vẫn xem Ngài là một tạo vật, cho dù đó có là một Siêu nhân tối thượng đi chăng nữa, thì vẫn có thể hình dung được, khái niệm được, không phải là không thể tả nổi, và như thế là giống như một con số mà chúng ta vẫn có thể đếm tới được. Nhưng, Thiên Chúa không phải là một thực thể mà chúng ta có thể đếm nổi. Hiện hữu và nhân thể của Thiên Chúa không bao giờ chúng ta có thể khái niệm nổi.

Hơn nữa, điều này cũng đúng khi chúng ta nhận thức về tình yêu Thiên Chúa. Tình yêu của Ngài cũng vượt quá tưởng tượng và năng lực khái niệm của chúng ta. Vũ trụ của chúng ta, dù hữu hạn, vẫn bao la và phi thường đến nỗi tưởng tượng của chúng ta bất lực khi cố đơn giản phác họa lại thế giới hữu hạn này. Thêm nữa, chỉ trên một hành tinh, là trái đất này, chúng ta đã có hàng tỷ tỷ người, mỗi một người đều có tâm hồn và ý nghĩa quý giá riêng. Làm sao chúng ta có thể hình dung được Thiên Chúa, Đấng theo cách nào đó, nhận biết và yêu thương toàn bộ những con người này một cách mật thiết? Không, chúng ta không thể! Tâm trí và tâm hồn chúng ta đon giản không thể vươn xa đến thế được, bất kể chúng đã vươn xa đủ để hỏi rằng: Tại sao một Thiên Chúa vô hạn lại không nên tạo một vũ trụ rộng lớn không tưởng tưởng nổi và hàng tỷ tỷ con ngườ để yêu thương và chia sẻ sự tạo dựng này? Và tại sao một Thiên Chúa vô hạn lại đột nhiên bảo (sau khi đã tạo thành chúng ta) rằng: “Vậy là đủ! Ta giờ đã có đủ con người như Ta muốn!”

Thiên Chúa làm cho tâm trí, tâm hồn và tưởng tượng của chúng ta trở nên u mê. Không thể nào khác được. Bất kỳ Thiên Chúa mà chúng ta có thể hiểu thấu được, không còn là Thiên Chúa nữa. Thiên Chúa không phải là một Siêu nhân tối thượng, giống chúng ta, chỉ có điều lớn hơn, mạnh hơn và quyền năng hơn. Sự vô hạn, chính xác bởi vì nó vô hạn, nên chúng ta không thể nắm bắt và định nghĩa được, dù là định nghĩa hiện hữu, hay nhân thể, hay năng lực yêu thương của vô hạn đó. Chúng ta chỉ biết cái hữu hạn, nhưng chúng ta không thể nghĩ ra được cái vô hạn.

Vì thế, có những lúc trong đời, có cảm giác đức tin biến thành tăm tối, niềm tin thành hoài nghi, và nhân thể cũng như hiện hữu của Thiên Chúa giống như chẳng là gì, như một sự trống rỗng, vô thực, vô hữu. Tâm trí và tâm hồn chúng ta, đến một lúc nào đó, sẽ trở nên khô cằn và trống rỗng khi cứ cố hình tượng hay cảm nhận Thiên Chúa, không phải vì  Thiên Chúa không tồn tại hay ít hiện hữu hơn thế giới vật lý này, nhưng vì Thiên Chúa quá bao la, quá thực, quá cao vượt hơn tất cả mọi minh trí khác, và vì thực thể của Thiên Chúa sẽ phủ lấp tất cả mọi sự đến mức tự gây ấn tượng rằng hiện hữu đó thậm chí còn không tồn tại.

Trong đức tin, chúng ta nhận biết Thiên Chúa như thế này: Là một ánh sáng quá rực rỡ đến mức cảm nhận như bóng tối, là một tình yêu quá bao la đến mức cảm nhận như dửng dưng, một thực thể quá thật đến mức cảm nhân không có gì.

Nghiện tiện nghi thoải mái

Năm mươi năm về trước, Kay Cronin viết quyển Thập giá nơi vùng Hoang vu, bà kể chuyện năm 1847, một nhóm nhỏ nhà truyền giáo dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ, từ Pháp đến vùng Tây Bắc Mỹ, sau một vài sự cố cay đắng ở tiểu bang Washington và Oregon, họ rời vùng ven biển để lên Canada và giúp thành lập nhà thờ Công giáo La Mã ở Vancouver và nhiều vùng quan trọng khác ở bang British Columbia, cực tây Canada.

Chắc chắn với đôi chút quá lý tưởng hóa và thánh hóa, bà mô tả họ là những người rắn rỏi, hết sức tận tâm, hoàn toàn không quan tâm đến sự thoải mái và sức khỏe của mình. Xa quê hương yêu dấu khi còn trẻ, biết rằng sẽ có thể không bao giờ gặp lại người thân, họ chấp nhận sống cuộc sống đầy nguy hiểm, từ yếu tố khắc nghiệt của nơi sinh sống đến mối đe dọa mạng sống từ các bộ lạc thổ dân, các thế lực chính quyền khác nhau cũng như lính đánh thuê không tín nhiệm họ vì đủ mọi lý do. Họ bị đe dọa nhiều lần, bị đuổi ra khỏi nhiều sứ mạng khác nhau, vài người trong số họ bị bắt cóc một thời gian, nhiều ngôi nhà và trụ sở của họ bị thiêu rụi. Họ luôn luôn sống trên bờ vực của nguy hiểm, không bao giờ được an toàn, không bao giờ dứt đe dọa.

Hơn nữa, họ không màng đến việc làm cho mình được tiện nghi. Họ sống trong các túp lều bằng gỗ và đất bùn, ăn thức ăn sơ sài, đôi khi chẳng có gì ăn. Gần như không biết đến bác sĩ là ai, hiếm khi có được thức ăn vệ sinh, thường khi đi đây đó, họ sống cảnh màn trời chiếu đất, không nơi che mưa, che lạnh, vì sống như thế nên nhiều người bị thấp khớp, bị đau yếu khi còn quá trẻ. Thêm nữa, họ không bao giờ bám gốc ở một nơi, không nơi nào họ có được tiện nghi, có bạn bè hay có người quen để giúp đỡ, để có tiện nghi. Họ có đức tin, có Thiên Chúa, có nhau và một chút gì đó.

Nhưng họ có thể vượt qua tất cả, không than thân trách phận. Họ viết những bức thư đầy tích cực và lý tưởng gởi cho dòng mẹ ở Pháp và cho gia đình, họ có quyển sổ ghi chép công việc, gần như họ chỉ viết toàn chuyện vui, những thành công khiêm tốn sứ vụ của họ, hiếm khi họ than vãn về những khó khăn nhà cửa, thức ăn hay tình trạng nay đây mai đó của họ.

Cũng cùng một dòng truyền giáo Hiến sĩ Đức Mẹ, thành viên cùng một gia đình tôn giáo như họ, dĩ nhiên tôi rất tự hào khi đọc câu chuyện của họ. Tôi tự hào về tất cả những gì họ làm, đúng là thế. Họ đã bỏ mình cho đến chết.

Nói vậy nhưng khi đọc chuyện của họ, tôi thấy mình không xứng đáng. Nhìn sự hy sinh tiện nghi tận căn của họ, tôi thấy như tôi đang nhìn vào tấm gương, nó làm cho tôi bị chấn động mạnh và xấu hổ. Nhìn lại mình, tôi thấy tôi mang chứng nghiện tiện nghi và an toàn. Tôi không muốn trải qua những gì họ đã trải qua: Tôi muốn có thức ăn bổ dưỡng, nước sạch, vệ sinh đầy đủ, nghỉ ngơi thường xuyên, có bác sĩ tốt, cập nhật tin tức, được du lịch, liên lạc thường xuyên với gia đình, bạn bè, thỉnh thoảng đi tĩnh tâm, nghỉ hè, bồi dưỡng giáo dục, và nhất là được an toàn. Tôi muốn là một nhà truyền giáo tận tâm nhưng tôi cũng muốn được thoải mái và an toàn.

Một điều an ủi đôi chút cho tôi là thời nay khác nhiều so với thời các nhà truyền giáo Pháp ngày xưa khi họ đặt chân đến vùng Tây Bắc giáp Thái Bình Dương này. Ít nhất là trong một thời gian dài, tôi sẽ không làm việc được nếu tôi không có chỗ ở, thức ăn, vệ sinh đàng hoàng, được học hỏi và tiếp nhận thông tin, được nghỉ ngơi thường xuyên, được giải trí lành mạnh. Đời tôi và sứ mạng của tôi là cuộc chạy đua đường dài, không phải chạy nước rút, nên chăm sóc thích đáng bản thân là chuyện tốt chứ không phải chuyện xấu.

Dù sao lý luận thì dễ, nghiện tiện nghi và an toàn cũng dễ. Khi suy nghĩ về sứ mạng truyền giáo của mình, thánh Phaolô cho biết, nhiều ít, ngài thấy thoải mái với những gì ngài được đối xử. Tôi cũng thích nghĩ như thế về cuộc sống riêng của tôi, và nó cũng đúng cho hầu hết chúng ta, càng sống thoải mái chừng nào thì chúng ta càng có xu hướng tự bảo vệ mình trong sự sung túc chừng đó.

Thomas Merton đã nói, điều ông sợ trong đời không phải là phản bội tận cùng ơn gọi của mình, mà là một chuỗi “những phản bội nho nhỏ” đưa đến một dạng thức khác của sự chết. Và đó cũng là hiểm họa tôi e sợ, cho tôi và cho cả nền văn hóa chúng ta.

Là một đứa con của nền văn hóa này, tôi tin rằng, chúng ta dễ dàng bị nghiện sự tiện nghi và an toàn. Một khi đã lớn lên và quen với sự an toàn, thức ăn ngon, nước sạch, vệ sinh đầy đủ, bác sĩ giỏi, thuốc men tốt, thường xuyên được giải trí, được cập nhật thông tin lập tức, giao thiệp thường xuyên với người thân yêu, được giáo dục không giới hạn, được có dịp phục hồi sinh lực, cũng như các tiện nghi tuyệt vời khác, lúc đó mối nguy hại sẽ hiện ra lớn hơn, đến mức chúng ta sẽ không dễ, hay hoàn toàn không thể bỏ được bất kỳ cái nào trong các thứ trên. Hậu quả là, cuối cùng chúng ta vẫn là người tốt, không có hành động phản bội lớn nào, nhưng cũng không có hy sinh nào lớn hết, chẳng những không thể từ bỏ đời mình cho bạn hữu mà còn không thể từ bỏ được ngay cả sự tiện nghi thoải mái của mình nữa.

Raissa và Jacques Maritain và Công cuộc Tân Phúc âm hóa

“Giáo hội đã thánh hóa các cảm xúc cực mạnh, chúc lành cho những điên cuồng, xưng tụng các rối loạn tâm trí, Giáo hội đã đi trong con đường đó và gần như chẳng có gì chặn tôi mở cánh cửa của giáo hội. Chẳng có gì có thể.” 

Đây là lời của một tri thức trẻ, anh Maurice Sachs, ngay sau khi anh vừa trở lại đạo Công giáo vào đầu thế kỷ XX, và những lời này diễn tả những gì quan trọng nhất đã đưa anh đến với đạo, cụ thể là thần nghiệm, các nghi thức bí tích, các cách cầu nguyện, lòng mộ đạo và gần như về phần lớn những gì linh đạo Công giáo La Mã nói về những chuyện phía bên kia của những gì có thể hiểu được theo lý tính. Trong ký ức của mình, Sachs mô tả những yếu tố thần nghiệm, bí tích, và mộ đạo như những “tia nắng” và thấy chúng là một chọn lựa tận căn để đối phó với chủ nghĩa duy lý hẹp hòi đã lan tràn khắp môi trường tri thức thời này và là điều làm cho anh ngột ngạt.

Mười chín tuổi Maurice Sachs mới rửa tội, bà Raissa Maritain đã tác động mạnh trên cuộc lữ hành đến với đạo Công giáo của anh, bà theo đạo Do Thái và đã trở lại Kitô giáo. Bà và người chồng nổi tiếng Jacques của mình đã gặp nhau tại đại học Sorbonne, Paris vào đầu thập niên 1990. Lúc đó, cả hai đều theo thuyết bất khả tri, bà chẳng biết gì về di sản Do Thái giáo, ông chẳng biết gì về gốc rễ Kitô giáo của mình. Là người không tín ngưỡng, cả hai đến Sorbonne để nghiên cứu sâu về khoa học và chủ nghĩa duy lý. Nhưng những gì họ thấy đã làm cho họ thất vọng não nề và đập tan ảo tưởng của họ. Họ cảm thấy ngột ngạt. Trí óc và tâm hồn họ muốn một điều gì đó cao hơn khoa học và lý luận thuần túy, rồi họ sớm rời Sorbonne, không chắc mình đang tìm kiếm gì, nhưng gần như chắc thế giới lý luận suông sẽ chẳng bao giờ làm cho họ thỏa mãn được.

Họ bắt đầu tìm kiếm một chọn lựa khác và điều này dẫn họ đến hai nhà trí thức độc lập, không theo khuôn phép xã hội, Leon Bloy và Charles Peguy, cả hai đều bị giới trí thức thời đó khinh thị thấy rõ, vì họ yêu mến thần nghiệm và mộ đạo quá đỗi. Cuối cùng Leon Bloy đưa họ đến với Giáo hội, là cha đỡ đầu rửa tội cho Raissa, và một trong những điều mà ông đã đưa vào cuộc đời họ, một điều căn bản đi ngược với tất cả những gì họ đã gặp ở Sorbonne, đó là thần nghiệm và lòng mộ đạo sốt sắng. Những điều này, mạnh mẽ hơn cả tín lý kitô giáo, đã đưa vợ chồng Maritain vào giáo hội.
Không lâu sau khi trở thành kitô hữu, Raissa và Jacques bị giới tri thức ruồng bỏ, họ bắt đầu tổ chức những cuộc thảo luận hàng tuần tại căn nhà ở ngoại ô Paris. Trong thời gian này, họ đọc sách của thánh Tôma Aquinô, tầm nhìn sâu sắc của ngài đã tác động mạnh trên họ, tạo cho họ một khung tri thức nội tâm kết hợp với thần nghiệm, bí tích, và lòng mộ đạo. Giờ đây, họ cảm thấy sẵn sàng để cố vấn cho người khác và sớm quy tụ được một nhóm lớn các văn nghệ sĩ trí thức, nhiều người trong số đó cuối cùng đã rửa tội. 

Họ đã đem lại điều gì cho những người này, những điều mà đời sống văn hóa và tri thức của Paris thời đó không thể có được? Làm sao họ đưa tri thức và chủ nghĩa hoài nghi vào trong giáo hội được? Họ đã mang lại cho giới văn nghệ sĩ trí thức một tầm nhìn đức tin, linh đạo kitô giáo và giáo hội, họ nói với cả quả tim và cái đầu không theo cách duy lý kiểu trường đại học cũng không sùng đạo quá đáng như những người thời đó. Tầm nhìn đức tin của họ vừa nhắm đến quả tim vừa nhắm đến cái đầu. Nó vừa có lòng mộ đạo sâu đậm vừa có tri thức cao, một công thức kết hợp hiếm có.
Ngày nay, trong lòng giáo hội, chúng ta đang đấu tranh để có thể đem lại được chính tầm nhìn này, một tầm nhìn nuôi dưỡng cả quả tim và cả cái đầu. Chúng ta có xu hướng bỏ cái này lấy cái kia.

Các nhóm tự do có khuynh hướng đưa tầm nhìn đức tin và giáo hội về sự tôn trọng đúng đắn dành cho lý luận nhưng thường không dành chỗ cho sự “thánh hóa các cảm xúc cực mạnh, chúc lành cho những điên cuồng.” Hậu quả là, chúng ta mất nhiều người trẻ như anh Maurice Sachs, những người không tin tưởng vào tầm nhìn đức tin quá phê phán, họ muốn đức tin tập trung hầu hết vào lòng sốt sắng và sự minh bạch của giáo lý. Họ không muốn một chủ nghĩa phê phán học thuật cầm đầu giáo hội và chi phối các thực thể giáo hội đó. Và vì họ thấy giới học thuật không tôn trọng tính tôn giáo của mình, nên họ nhìn giới này như ông bà Maritain đã nhìn các giáo sư duy lý ở đại học Sorbonne, thế giới của những người miệt mài trong duy lý và không có ngọn lửa nhiệt tâm trong lòng.

Nhưng có một mặt trái gần như hoàn hảo cho điều này: Nhóm những người sợ và khinh giới chủ nghĩa học thuật phê phán, họ muốn tạo một tầm nhìn đức tin có chỗ cho lòng sốt sắng và minh bạch về giáo lý, nhưng họ lại thiếu thông cảm và mở vòng tay để đón nhận một tinh thần suy tư như thế. Trong khi nhiều người trẻ như Maurice Sachs, được lôi cuốn bởi dạng Công giáo này, thì hàng triệu người khác lại thấy nó quá ngột ngạt, quá hẹp hòi về tri thức, quá sợ sệt, quá yếu đuối, quá thu mình, quá tự vệ để có thể chấp nhận được. Quá nhiều người đã bỏ giáo hội ra đi và nhiều người khác đơn thuần chịu đựng giáo hội thay vì có được hứng khởi trong đó.

Và chúng ta có thể rút ra được một bài học từ Raissa and Jacques Maritain trong cuộc tìm kiếm một công thức thích hợp cho công cuộc Tân Phúc âm hóa. Chúng ta vừa cần một thần học phê phán, nghiêm khắc vừa cần một lòng sốt mến dịu dàng và nồng ấm.