RonRolheiser,OMI

Sự kháng cự có tính cách ngoại giáo của chúng ta đối với đời sau

Đôi khi đang dâng thánh lễ hay đứng trên bục giảng, tôi lướt nhìn những khuôn mặt ở hàng ghế đầu. Những gương mặt đó nói lên gì? Một vài người thiết tha, chú ý, tập trung vào phụng vụ đang diễn ra, nhưng một số không nhỏ, đặc biệt các bạn trẻ, tỏ ra chán chường, tham dự thánh lễ vì bổn phận, chịu đựng, có thể diễn tả như sau: ‘Tôi phải ở nhà thờ bây giờ, dù tôi ước sao mình ở một chỗ nào khác’. Tất nhiên, những phản ứng này dễ hiểu. Xét cho cùng, tất cả chúng ta đều là con người, với đầy tính xác thịt, và khi cố gắng tập trung vào thế giới tâm linh hay vào những gì có liên quan đến tính xác thịt, tính khả tử, và hy sinh, thì chúng ta, hầu hết mọi lần, đều mong hiện thực đời này sẽ thắng vượt lời hứa đời sau.

Thỉnh thoảng khi nhìn các khuôn mặt đang chăm chú nhìn tôi trong nhà thờ, tôi thấy mình được nhắc để nhớ cảnh văn sĩ Virginia Woolf mô tả trong quyển tiểu thuyết Con sóng (The Waves) của bà. Đó là cảnh một nhà nguyện ở một trường nội trú Anh quốc, với một ông từ đang mở lời huấn đức cho các học viên trong một buổi phụng vụ. Ông này không được các học viên tôn trọng lắm, nhưng đó không phải là lý do sâu xa nhất để cho sinh viên Neville lơ là lời của ông và lơ là cả buổi phụng vụ nói chung. Trong anh, có một điều gì đó đang phản kháng, không chỉ là chống lại những lời của ông từ, người mà anh chẳng tôn trọng gì, nhưng còn là chống lại mỗi một lời ông từ đó đang nói ra. Điểm mấu chốt là, lòng của Neville quá nồng nhiệt để có thể chấp nhận được bất kỳ lời nói nào về sự bất tất, đạo đức, bỏ mình, thập giá, thinh lặng hay bất kỳ lời nào khác, dòng máu trẻ trung của anh đang âm thầm chảy về hướng đối lập, là sức lực, tuổi trẻ, tình dục, tình anh em, địa vị, danh tiếng, và thú vui.

Vì thế anh tìm cách lảng đi. Anh không muốn nhìn thấy khuôn mặt của ông từ, không muốn nghe tiếng ông, không muốn nghe về Thiên Chúa, chẳng muốn nghe về đời sau, chẳng muốn bị nhắc nhở về tính khả tử của con người, cũng không muốn nghe chuyện hy sinh bỏ mình. Như con nghiện, anh cần một liều thuốc chữa cháy, và trong trường hợp này phải là một thứ gì đó rất mạnh đủ để là tôn giáo, đủ mạnh để dính với sự sống bất diệt của đời sau, một điều gì đó đáng ngưỡng mộ mà anh biết đâu đó mình cần để trao cho người khác. Và anh biết chính xác anh phải nhìn về đâu. Anh dính chặt con mắt và sự ngưỡng mộ của mình về một người cũng ở trong nhà nguyện đó, đó là một người trai trẻ tên là Percival, mà theo tâm trí tuổi trẻ của Neville, đó mới thật là hiện thân thực sự cho sự sống và đó mới đáng cho mình tôn sùng. Và đây là lời mô tả của Woolf:

“Neville nói: “Khi cất lời cầu nguyện, kẻ thô lỗ đó xâm phạm tự do của tôi. Không có óc tưởng tượng nên những lời ông nói cứ như đá lạnh đập vào đầu, trong khi chiếc thánh giá mạ vàng của ông cứ vung vẩy trên áo. Những lời nói uy quyền đã bị hủy hoại bởi những người xướng lên nó. Tôi xem thường và giễu vào cái tôn giáo buồn bã này, vào những nhân vật nhút nhát, rầu rĩ, đúng hơn là những người tái nhợt như xác chết và bị tổn thương. … Còn bây giờ, tôi sẽ quay qua vờ như để gãi đùi. Tôi sẽ thấy Percival. Anh ấy đang ngồi đó, nổi bật lên khỏi đám giá áo túi cơm nhỏ bé. Anh ấy thở có vẻ nặng nề qua chiếc mũi thẳng. Đôi mắt xanh và vô hồn lạ lùng của anh đầy cả sự lãnh đạm ngoại giáo. Anh ấy mới thật là một ông từ đáng ngưỡng mộ. Anh ấy sẽ lấy roi mà đánh phạt những cậu bé mắc lỗi. Anh ấy sẽ dùng những câu tiếng La Tinh khi nói về những điểm đáng ghi nhớ. Anh ấy chẳng nhìn cái gì, chẳng nghe cái gì. Anh ấy tách biệt hẳn khỏi tất cả chúng tôi trong một vũ trụ ngoại giáo của riêng anh ấy. Nhưng nhìn xem cái cách anh đặt tay ra phía sau lưng. Với cử chỉ như thế, người ta sẽ mến mộ anh mãi suốt đời mất thôi.””

Tôi trích lại mô tả này với lòng thông cảm không nhỏ vì tôi đã từng là cậu trai Neville đó, ngồi trong một buổi phụng vụ, nhưng lòng thì đầy phản kháng, âm thầm hướng ngoại, và hướng nội trong cam chịu, vì tôi không muốn nghe hay nhận biết bất kỳ điều gì, mà theo tâm trí tôi là, không tôn vinh hiện thực mà tôi cảm nhận rành rành trong máu mình. Tôi không muốn ai nhắc tôi rằng sức khỏe của tôi thật mong manh, rằng tuổi trẻ của tôi đang trôi qua, rằng đời này không phải là trọng tâm cuộc sống, và chúng ta không nên nghĩ quá nhiều về tình dục. Tôi đã không muốn nghe về đạo đức, rằng tất cả chúng ta rồi sẽ chết, tôi không muốn nghe về thập giá, hay nghe rằng chúng ta chỉ có thể sống bằng việc chết đi, và tôi không muốn bị người ta bảo phải chú tâm vào đời sau, trong khi cái tôi muốn là đời này. Tôi chấp nhận Giáo hội là quan trọng, đúng, nhưng với tôi, sân vận động còn thực tế và hấp dẫn hơn nhiều. Và cũng như cậu Neville, tôi cũng có những Percival của mình, đó là các bạn đồng trang lứa, một vài thần tượng thể thao, và một vài ngôi sao điện ảnh với thân hình thật đáng thèm muốn và những cử chỉ hoàn hảo, họ đúng là sự sống, là sự bất diệt mà đương nhiên tôi rất khao khát, và họ là những người dường như không có những giới hạn như của tôi.

Nhưng, tôi nghĩ, Thiên Chúa thích dạng phản kháng tuổi trẻ này, và Ngài dựng lên nó trong chúng ta. Vì sao? Bởi, sự kháng cự càng mạnh, sự hòa hợp cuối cùng càng tràn trề sung mãn.

Đấu tranh để có lòng cảm thông và quảng đại

Trong cuộc sống bình thường hàng ngày, chúng ta thường để cho mình quá bận tâm đến những vấn đề của mình nên khó hoà hợp với người khác khi họ không có những giá trị và phẩm chất mà chúng ta tự gán cho mình. Tóm lại, thật khó để chúng ta sống cảm thông thật sự, vì chúng ta luôn héo mòn với những nhức nhối trong lòng và những bực phiền trong đầu của riêng mình. Chúng ta hãy nhìn vào nhận thức sáng suốt của hai nhà trí thức lừng danh, một người về triết học và người kia về tâm lý học.

Như chúng ta biết, René Descartes, triết gia người Pháp đã có câu nói nổi tiếng, rằng tất cả suy tư thật sự đều phải được bắt đầu với kinh nghiệm riêng của mình. “Tôi suy tư, vì thế, tôi hiện hữu”. Lập luận của ông như sau: Bỏ qua tất cả các hoài nghi, thì sự gì là điều duy nhất mà bạn có thể biết chắc là nó có thật? Câu trả lời của ông là: Tâm trí của bạn. Bạn biết tâm trí của bạn là có thật, vì bạn đang ở trong tâm trí đó. Bạn có thật, bạn có thể chắc chắn như thế, nhưng cũng có thể là bạn đang tưởng tượng hay đang mơ thì sao. Nhiều thế kỷ sau, Sigmund Freud, trong một hướng khác, về cơ bản, cũng đã đạt đến một kết luận tương tự. Theo Freud, chúng ta luôn luôn quá bận tâm lo lắng đến độ không thể nhìn ra cuộc sống của những người khác cũng thật như cuộc sống của mình vậy.

Nếu thật như thế, và chắc chắn điều này có điểm đúng, thì chẳng có gì ngạc nhiên khi chúng ta phải đấu tranh chật vật để có được lòng cảm thông và quảng đại chân thật, vì cả hai, chính xác là năng lực có thể hòa hợp các đau buồn và vấn đề của người khác với những đau buồn và vấn đề của mình theo một mức độ hiện thực và quan trọng tương đương. Nhưng thật khó để làm được thế: Thật khó để cho người khác mà không tư lợi. Thật khó để có những động cơ hoàn toàn thuần túy trong việc phục vụ tha nhân. Thật khó để hiểu đau buồn của người khác hệt như hiểu nỗi đau của mình. Thật khó để hoàn toàn vị tha. Và … đặc biệt thật khó để vượt qua điều này!

Tại sao lại thế? Thông cảm và thấu cảm không phải là bản chất của chúng ta hay sao? Thông cảm và thấu cảm là bản chất của chúng ta, nhưng cũng như các thứ khác, chúng trộn lẫn với nhiều thứ khác nữa. Vậy đó là những thứ gì?

Thứ nhất, thông cảm và thấu cảm trộn lẫn với những bản năng sinh tồn căn bản hơn của chúng ta. Chúng ta không được sinh ra với lòng rộng lượng và cảm thông, chúng ta sinh ra trong thiếu thốn, đói khát, và mang thiên hướng bản năng là phải sinh tồn. Khi mới sinh, chúng ta quá đỗi thèm khát sinh tồn, rằng chúng ta phải lớn lên và được người khác công nhận. Tự nhiên đưa chúng ta vào đời theo cách như thế để chắc chắn rằng chúng ta sẽ làm những gì cần thiết để sinh tồn, và chính điều này đã làm suy giảm đi nhiều lòng cảm thông. Hơn nữa, không chỉ là do tự nhiên, mà những trải nghiệm đầu đời của chúng ta cũng sớm gây hại cho năng lực cảm thông của chúng ta. Đơn giản là, chẳng ai trong chúng ta yêu một cách trong trắng và trọn vẹn, và rất lâu trước khi trưởng thành, tất cả chúng ta đã đánh mất sự toàn vẹn của mình rồi. Khi đã trưởng thành, tất cả chúng ta, ở một mức mức độ nào đó, bị tổn thương, sợ hãi, và từ đó đi theo thói quen thu vén cho mình, và chính vì thế, chúng làm yếu đi lòng cảm thông.

Nó làm theo cách này: Chúng ta đến với thế giới này với một khả năng thích nghi mạnh mẽ. Khi còn thơ ấu, tất cả mọi bản năng trong chúng ta vận động vì sự sống và vì thế, một cách vô thức, chúng ta làm bất kỳ việc gì để được tiếp tục sống và dung nạp bất kỳ thứ gì (thức ăn, chỗ ở, áo quần, ngôn ngữ, môi trường) mà chúng ta cần dung nạp vì mục đích duy nhất là được tiếp tục sống. Việc dung nạp làm khi còn nhỏ, giúp bảo đảm sự sinh tồn nhưng cũng gây vết thương cho chúng ta và làm cho chúng ta về sau khó có được lòng thương cảm thật sự.

Vậy chuyện này, chúng ta có thể làm gì được đây? Không có câu trả lời dễ dàng nào cho vấn đề này, cả về mặt tâm lý lẫn thiêng liêng, và dù có câu trả lời, chúng cũng chẳng hữu dụng gì. Chúng ta đang phải đối mặt với những bản năng thâm căn cố đế và sẽ không dao động chỉ vì chúng ta chỉ hiểu nó về mặt lý thuyết. Và chúng ta còn phải xử trí với những vết thương cần được chữa lành bằng tâm hồn nữa. Xét cho cùng, điều sẽ chữa lành và mở rộng tâm hồn chúng ta với lòng thông cảm và quãng đại đích thực chính là cảm nghiệm về một tình yêu chân thật, không vụ lợi. Nhưng chúng ta không thể làm cho người khác thương mình theo cách này và chúng ta đấu tranh dữ dội để cảm nhận tình yêu Chúa dành cho chúng ta khi người khác không thương chúng ta theo cách này. Hơn nữa, chúng ta kẹt trong vòng luẩn quẩn, vết thương cần được chữa lành bằng tình yêu lại chính là những điều khiến người khác khó thương chúng ta. Câu trả lời vẫn là tình yêu. Tình yêu sẽ cho chúng ta nên trọn vẹn, nhưng chúng ta không thể muốn tình yêu này cho bản thân mình. Vậy chúng ta phải làm gì?

Trước hết, chúng ta chấn nhận mình có vấn đề này, chấp nhận sự không vẹn toàn, chấp nhận tổn thương của mình, chấp nhận mình quá bận tâm lo lắng cho mình, và chấp nhận sự thiếu cảm thông của mình. Đó là bước khởi đầu. Rồi, chúng ta có thể khiêm tốn nhờ người khác giúp đỡ, gia đình, bạn bè, các nhóm trị liệu, các liệu pháp. Thật tâm yêu cầu xin giúp đỡ, thường sẽ có ích cho chúng ta. Đi kèm đó, chúng ta nên thường xuyên đi đến với người túng thiếu (đủ loại) và đặt mình vào những thiếu thốn của họ, điều này sẽ giúp chúng ta thấm nhập vào phép thanh tẩy của lòng cảm thông và rộng lượng. Chỉ có một ít điều có sức mạnh kéo được chúng ta ra khỏi các tổn thương của mình và giúp chúng ta sống quên mình, trong đó có việc đối diện với những người túng quẫn. Cuối cùng, chúng ta cần phải tìm kiếm sự trợ lực từ Thiên Chúa bằng cầu nguyện, cậy vào sự toàn vẹn của Thiên Chúa, xin Chúa làm cho chúng ta những việc mà chúng ta không thể tự làm cho mình, cụ thể là xin cho chúng ta nhìn ra người khác cũng hiện hữu thật như chúng ta.

Thánh thiện, toàn vẹn và trầm cảm

Vẻ bên ngoài có thể dễ dàng lừa phỉnh chúng ta, và thường là thế. Đó là sự thật xảy ra trong đời sống nhân loại, và tôn giáo cũng không ngoại lệ.

Vài năm về trước, tôi sống trong một chủng viện với một chủng sinh trẻ tuổi, xét theo bề ngoài, có lẽ anh là ứng viên lý tưởng cho chức linh mục và công tác mục vụ. Anh thông minh, tận tụy, chăm cầu nguyện, chuyên chú vào việc học, và quan tâm sâu đậm đến người nghèo, dường như anh đã vượt ra khỏi những lo toan thế tục thường có. Anh không thích uống bia, bàn chuyện bóng đá, tán gẫu, thóc mách, hay lãng phí thời gian với các chủng sinh khác. Trong khi người khác làm những chuyện phiếm này, thì anh vào nhà nguyện, thư viện, bàn học, bận rộn với những việc hệ trọng hơn. Hơn nữa, anh luôn nhã nhặn và lịch sự vô cùng, chẳng nói nặng lời, chửi thề, hay có lời đùa cay độc nào. Anh làm toàn những việc đúng đắn.

Nhưng không ai sống chung với anh, kể cả tôi, xem anh là tháùnh. Anh là một thanh niên ngay thật, nhưng không phải là người hạnh phúc. Tại sao lại không? Vì, trong khi bề ngoài mọi thứ anh làm đều đúng đắn, nhưng cái chất tỏa ra từ con người anh lại không phải là sinh khí mà là suy sụp. Khi bước vào một căn phòng, dường như anh làm khô cằn sinh khí trong căn phòng đó. Anh làm mọi chuyện điều đúng, nhưng sinh khí của anh lại không ổn. Các chủng sinh khác, với đủ lo toan trần tục của họ, họ đủ tốt bụng và nhạy bén để nhận ra anh cần được giúp đỡ, và họ đóng vai người Samari nhân hậu, thay nhau đến ngồi với anh, hy vọng anh sẽ vui hơn đôi chút. Cha giám đốc chủng viện cũng nhận ra vấn đề và gởi anh đến một nhà tâm lý, ông bảo anh đang ở trên bờ vực của chứng trầm cảm và tốt nhất anh nên rời chủng viện, ít ra là trong một thời gian. Chàng trai trẻ đã rời chủng viện, cuối cùng anh phục hồi được sức khỏe, và bây giờ, anh là người tăng truyền sinh khí mạnh mẽ cho người khác.

Đây không phải là một ví dụ ít gặp. Một trong những đấu tranh chúng ta thường đối diện trong vấn đề nhận thức tôn giáo chính là việc chúng ta dễ dàng nhầm lẫn trầm cảm với thánh thiện, ủy mị với sùng mến, cứng nhắc với chính thống, bè phái hẹp hòi với trung kiên, áp chế tính dục với sự toàn vẹn, và việc phủ nhận sự phức tạp của con người với tính kiên định. Trầm cảm có thể được nhận là thánh thiện, bởi người đang rơi vào trầm cảm sẽ có vẻ như không bận tâm đến những thôi thúc bình thường của những say mê mang tính thế tục của chúng ta. Tính ủy mị luôn luôn có chiều hướng được xem là sùng mến, và tự biến mình thành lòng sùng kính. Sự cứng nhắc luôn che đậy mình thành người nhiệt thành quan tâm đến chân lý và tính chính thống, cũng như thói bè phái hẹp hòi luôn tỏ ra mình có lòng trung kiên mãnh liệt, và sự áp chế tính dục cũng như sự phủ nhận tính phức tạp của con người, đặc biệt là sự phức tạp về mặt tính dục, thường đội lốt qua sự toàn vẹn và kiên định. Trầm cảm, ủy mị, sợ sệt, cứng nhắc, bè phái, áp chế, và chối bỏ, những thứ này thích ẩn mình sau những đức tính cao quý.

Tôi nói ra các điều này với lòng thông cảm. Vì không một ai trong chúng ta tránh được những đấu tranh này. Nhưng, khi nhận thức được, chúng ta đừng để bị lừa phỉnh vì sự thánh thiện giả. Trầm cảm, ủy mị, sợ sệt, hẹp hòi, cứng nhắc, và áp chế, chúng triệt tiêu sinh khí. Còn sự thánh thiện, chính thống, trung kiên, toàn vẹn, và kiên định thật sự, thì đem lại sinh khí, và bạn sẽ không phải khó khăn đón nhận hay cảm thấy tội lỗi vì dòng máu trong bạn đang tràn đầy một luồng sinh khi dào dạt. Thánh thiện thật sự cho bạn tự do và cho bạn cảm thấy tốt về nhân tính của mình, bất kể bạn ra sao. Thánh thiện thật sự lôi cuốn và chiếu tỏa sự sống, nó không vô thức nài nỉ bạn phải chơi trò người Samari nhân hậu để lôi kéo nó ra.

Chúng ta thấy rõ nơi gương mẹ Têrêxa. Như chúng ta biết, trong nhật ký của mình, sáu năm cuối đời, mẹ đã sống trong đêm đen sâu thẳm đau khổ của tâm hồn. Trong sáu năm cuối đời đó, mẹ đã phải đấu tranh nội tâm để tâm hồn được bình an, nhưng từ mẹ lại tỏa ra toàn những điều ngược lại. Mẹ mang đầy sinh khí cho người khác. Mẹ thắp sáng căn phòng với một bóng đèn cực sáng. Mẹ không chỉ làm toàn những việc tốt, mà còn tỏa ra một sinh khí đem lại sự sống nữa.

Và xét cho cùng, đó là cách chúng ta cần phải phân biệt được sự thánh thiện thật, sùng mến thật, chính thống thật, trung kiên thật, và toàn vẹn thật trước những thứ đội lốt giả tạo. Sự thánh thiện thật đem lại sinh khí, trầm cảm tước mất sinh khí. Sùng mến thật như một hình ảnh đẹp lôi cuốn bạn, còn ủy mị khiến bạn khó chịu muốn nhắm mắt lại cho khuất mắt. Tính chính thống thật khiến bạn muốn ôm lấy cả thế giới, còn tính cứng nhắc khiến bạn thấy sợ sệt và nhỏ nhen. Trung kiên thật khiến bạn đứng lên bảo vệ cho những người thân yêu, còn óc bè phái hẹp hòi làm cho bạn thành kẻ mù quáng. Sự toàn vẹn thật phải đứng ra đối mặt với khối hỗn độn tối tăm của nhân sinh và sự phức tạp của tính dục, còn áp chế và chối bỏ chỉ khiến bạn rụt lại sợ sệt trước những góc tối đó mà thôi.

Và chúng ta có hai đòi hỏi song hành cần phải làm: Thứ nhất, vì điều này can hệ với cuộc đời mình, nên chúng ta phải thành thật và dũng cảm đối diện với những hỗn loạn của riêng mình và nhận ra thiên hướng cố hữu của mình là đánh lận những yếu đuối thành nhân đức. Thứ hai, như nhà thơ William Stafford nói, chúng ta phải chắc chắn chúng ta không đi theo lầm ngôi sao dẫn đường đời mình.

Cấp bách phải nên một trong Chúa Kitô

Hơn một ngàn năm qua, các Kitô hữu đã không có được niềm vui là có được một gia đình quanh Chúa Kitô. Dù trước đó, đã có những căng thẳng trong các cộng đoàn Kitô giáo, nhưng đến năm 1054 mới xảy ra sự chia rẽ chính thức, tạo nên hai cộng đoàn Kitô giáo chính thức, là Giáo hội Chính thống Đông phương và Giáo hội Công giáo Tây phương. Rồi, cuộc Kháng cách vào thế kỷ XVI đã tăng thêm chia rẽ bên trong Giáo hội Tây phương, và thế giới Kitô giáo càng phân mảnh hơn nữa. Ngày nay, có hơn trăm phái Kitô giáo, và đáng buồn thay, nhiều phái chẳng thân thiện gì với nhau.

Sự chia rẽ và hiểu lầm, là những chuyện có thể hiểu được, và thế nào cũng có, làm người thì phải chấp nhận như vậy. Không có cộng đồng nào không có căng thẳng vì thế đôi khi các Kitô hữu không hòa hợp với nhau không phải là chuyện tai tiếng gì to tát lắm. Nhưng điều xấu là chúng ta đã trở nên thoải mái, thậm chí là tự mãn thiển cận về việc mình không hòa hợp với người khác. Điều xấu chính là chúng ta không còn khao khát muốn được nên một và chúng ta chỉ ở trong cộng đồng riêng của mình, không còn nhớ đến nhau nữa. Thực tế thì tất cả các giáo hội thời nay không còn bận tâm đến những ai không có cùng phụng vụ chung với mình, dù người anh chị em tách biệt đó thuộc về một phái khác hay có khi cùng phái với mình. Một điển hình là, khi giảng dạy cho các chủng sinh Công giáo La Mã thời nay, tôi thấy họ dửng dưng với vấn đề đại kết. Đối với nhiều chủng sinh ngày nay, đây không phải là một vấn đề đáng quan tâm đặc biệt. Đáng buồn thay, điều này cũng đúng đối với hầu hết mọi Kitô hữu trong mọi phái.

Nhưng tính dửng dưng này về bản chất là đi ngược với tinh thần Kitô. Hợp nhất nên một là điều Chúa Giêsu canh cánh trong lòng. Ngài muốn tất cả con cái của Ngài ngồi cùng một bàn, như trong dụ ngôn này:

Một người đàn bà có mười đồng xu và đánh mất một đồng. Bà quá đỗi lo lắng và bồn chồn, bà đi tìm ráo riết đồng xu bị mất, bà thắp đèn, tìm dưới bàn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được. Cuối cùng bà tìm thấy đồng xu đó. Bà vui như phát cuồng, gọi tất cả hàng xóm đến và tổ chức một bữa tiệc để ăn mừng, tốn kém hơn rất nhiều giá trị đồng xu bà mất. (Lc 15, 8-9)

Tại sao lại quá đỗi lo lắng khi mất đi, và quá đỗi vui mừng khi tìm được một đồng xu vốn chẳng có giá trị bao nhiêu? Câu trả lời nằm ở tính biểu tượng của nó: Trong văn hóa Do Thái, số 9 không phải là số toàn vẹn, số 10 mới là con số toàn vẹn. Nỗi bồn chồn khi đánh mất và niềm vui khi tìm thấy, không quan trọng ở giá trị của đồng xu, nhưng ở giá trị của sự toàn vẹn, một sự toàn vẹn quan trọng trong đời của bà đã bị rạn vỡ, một tập hợp quý báu đã không còn toàn vẹn. Từ đó, có thể kể lại dụ ngôn trên như thế này:

Một phụ nữ có mười người con. Mối quan hệ của bà với chín trong mười đứa con thật tốt đẹp, nhưng lại có một đứa con bị xa lánh. Chín đứa con này của bà đều đặn ngồi chung bàn ăn gia đình, nhưng đứa con kia thì không. Bà không thể để tình trạng này tiếp diễn, bà cần đứa con bị xa lánh đó ngồi chung bàn với chín người con kia. Bà cố gắng tìm đủ mọi cách để hòa hợp với con mình, và rồi một ngày, phép lạ xảy ra, điều bà muốn đã thành sự thật. Đứa con đó trở về lại với gia đình. Bây giờ, gia đình của bà đã được nên trọn vẹn, tất cả mọi người đều ngồi cùng bàn với nhau. Người phụ nữ quá đỗi vui mừng, đi rút hết tiền tiết kiệm, và tổ chức một bữa tiệc xa hoa để mừng sự toàn vẹn này.

Đức tin Kitô giáo đòi hỏi chúng ta, phải như người phụ nữ đó, nghĩa là cần phải biết bồn chồn lo lắng, phải thắp đèn tìm kiếm, cho đến khi Giáo hội lại được nên một. Chín không phải là con số toàn vẹn. Và con số những người trong giáo hội riêng của chúng ta cũng như vậy. Công giáo La Mã không phải là một con số toàn vẹn. Tin Lành không phải là một con số toàn vẹn. Các Giáo hội phái Phúc âm không phải là một con số toàn vẹn. Các Giáo hội Chính thống không phải là một con số toàn vẹn. Không một phái Kitô giáo nào là một con số toàn vẹn. Phải hợp cùng với nhau, chúng ta mới làm nên một con số toàn vẹn.

Do đó, chúng ta phải tự chất vấn những câu hỏi không mấy dễ chịu: Ai không cùng đi lễ với chúng ta? Ai cảm thấy khó chịu khi phụng vụ chung với chúng ta? Chúng ta có thoải mái khi có quá nhiều người không đến dự lễ trong nhà thờ của chúng ta nữa hay không?
Đáng buồn thay, ngày nay, có quá nhiều người trong chúng ta cảm thấy thoải mái với những giáo hội, vốn rất, cực kỳ rất, không toàn vẹn. Đôi khi, trong những lúc thiếu suy nghĩ hơn, chúng ta lại vui vì sự bất toàn vẹn này: “Dù sao, họ không phải là Kitô hữu thật! Chúng ta sẽ tốt hơn khi không có họ! Cứ như thế này sẽ bình yên hơn! Giáo hội của chúng ta sẽ nguyên tuyền hơn, thành tín hơn khi không có họ! Chúng ta là thành phần chân chính nhất của đạo!”

Nhưng nếu không có niềm khát khao tốt lành hướng đến sự toàn vẹn này thì chúng ta sẽ bị tha hóa, tha hóa cả lòng chân thành lẫn tư cách môn đệ Chúa Giêsu của chúng ta. Chúng ta là những người biết yêu thương cách chính chắn, và là môn đệ thật của Chúa Giêsu, khi, và chỉ khi chúng ta, học như Chúa Giêsu, luôn luôn khóc thương vì những “con chiên khác không ở trong ràn này”, và khi chúng ta như người phụ nữ mất đồng xu, không thể chợp mắt cho đến khi lục tung hết mọi ngóc ngách trong nhà, miệt mài tìm kiếm cho bằng được những gì đã mất. Cả chúng ta nữa, chúng ta phải khát khao tìm kiếm sự toàn vẹn đã mất của mình.

Thiên Chúa bất bạo lực

Trong quyển sách minh triết sâu sắc của mình, quyển Vén màn bạo lực, Gil Bailie viết cho chúng ta đọc một phần đáng kinh ngạc trong tập nhật ký của thuyền trưởng James Cook, nhà khoa học và nhà thám hiểm lừng danh người Anh. Năm 1777, khi đến hòn đảo Tahiti, một ngày nọ, ông được Tộc trưởng bộ lạc ở đây mời đến xem nghi lễ sát tế một người đàn ông để họ dâng lên thần Eatooa. Sát tế người đàn ông này trong hy vọng thần Eatooa sẽ nâng đỡ bộ lạc trong cuộc chiến sắp xảy ra. Cook, dù thân thiện với sắc tộc này, ông không thể giấu giếm sự ghê tởm với hành động mà ông xem là vừa man rợ vừa mê tín. Sau đó, trong một buổi nói chuyện với tộc trưởng, qua người thông dịch, ông nói rằng, nếu việc này xảy ra tại Anh quốc, người ta sẽ treo cổ ai đã làm những việc này.

Đối với ông, ý tưởng giết một ai đó để xoa dịu Thượng đế là một việc ghê tởm. Nhưng, có một điểm thật sâu cay trong chuyện này, mà khi làm rõ ra, chúng ta mới thấy rằng, chúng ta chưa bao giờ ngưng việc giết người dưới danh nghĩa Thiên Chúa, chúng ta chỉ thay đổi tên gọi mà thôi. Thổ dân gọi đó là sát tế, chúng ta gọi đó là án tử hình. Trong cả hai trường hợp, đều có người phải chết, vì chúng ta thấy rằng Thiên Chúa cần và muốn cái chết này xảy ra vì một lý do thần thánh nào đó.

Tất cả mọi người, cho đến tận ngày hôm nay, đều đã luôn luôn gây nên những chuyện bạo lực với danh nghĩa Thiên Chúa, và tin rằng bạo lực đó không chỉ hợp lý mà thật sự còn là điều Thiên Chúa đòi buộc. Lập luận của việc này là, Thiên Chúa cần chúng ta làm những việc bạo lực này cho Ngài.  Vì thế, trong các nền văn hóa cổ thường hay có việc giết người để tế thần. Ở thời Trung cổ, Giáo hội Kitô có Tòa dị giáo, họ tin Chúa muốn chúng ta giết những người vi phạm giáo lý. Ngày nay, chúng ta thấy một dạng mới của tâm thức này trong các nhóm Hồi giáo cực đoan, họ  tin Thượng Đế muốn những người vô đạo bất kể loại nào đều phải chết để nhằm làm trong sạch tôn giáo.

Chúng ta đã và đang luôn luôn bào chữa cho việc giết người và đủ loại bạo lực khác bằng danh nghĩa Thiên Chúa, và chúng ta thường trưng ra các bản văn trong Kinh thánh, có vẻ như nói rằng Thiên Chúa hạ lệnh dùng bạo lực dưới danh nghĩa của Ngài. Nhưng, chúng ta đã sai. Dù có nhiều bản văn, xét qua có vẻ ngụ ý như Thiên Chúa ra lệnh dùng bạo lực (nhưng về bản chất chúng là kiểu biểu tượng và theo thuyết nhân cách thần, không thể dùng để biện hộ cho cách suy diễn như thế được), nhưng chúng ta sẽ thấy, nếu đọc Kinh thánh từ đầu cho đến cuối, một mặc khải tiệm tiến (hay ít nhất, về phần chúng ta, là một nhận thức tiệm tiến) về sự bất bạo lực của Thiên Chúa, một mặc khải kết lại trong Chúa Giêsu, Đấng đã chứng tỏ một Thiên Chúa triệt để bất bạo lực. Ý niệm sai lầm của chúng ta về Thiên Chúa trong Cựu Ước, một Đấng dường như đã ra lệnh hủy diệt đến cùng nhiều dân tộc, ý niệm này thực sự quá ban sơ và mê tín khi đặt cạnh khái niệm về Cha của Chúa Giêsu, Đấng đã gởi con mình đến thế gian trong hình hài một hài nhi yếu ớt, và rồi để Ngài bất lực chết trước mặt một đoàn dân đang cất giọng nhạo cười. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải là Đấng tuyệt không có bạo lực, và Ngài còn yêu cầu chúng ta đừng làm những chuyện bạo lực dưới danh Ngài.

Tôi xin đưa ra một ví dụ: Trong Tin mừng theo thánh Gioan (8, 2-11) có kể câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang tội ngoại tình. Thánh Gioan kể lại câu chuyện như sau: Một đám đông những người ngoan đạo đưa cô đến với Chúa Giêsu và bảo Ngài rằng họ đã bắt quả tang cô phạm tội ngoại tình, và ông Môsê  (người trung gian cao nhất của Chúa) đã ra lệnh cho họ rằng, với tội này, cô phải bị ném đá đến chết. Về phần mình, Chúa Giêsu chẳng nói gì, mà chỉ ngồi xuống, bắt đầu lấy ngón tay viết trên mặt đất. Rồi, ngước lên, Ngài bảo họ rằng: “Ai trong các ngươi không có tội, thì hãy lấy đá ném trước đi!” Rồi ngài lại ngồi xuống và lại lấy tay viết trên cát. Thật không thể tin được, họ đã hiểu được ý Ngài, mà vứt đá đi rồi bỏ về.

Chuyện gì đã xảy ra? Điểm mấu chốt để giải thích chuyện này là ở việc Chúa Giêsu lấy ngón tay viết trên mặt đất. Ai viết bằng ngón tay mình? Ai viết hai lần? Chính là Thiên Chúa. Và sự được Thiên Chúa viết bằng ngón tay và viết hai lần, chính là Mười Điều răn, và Ngài đã phải viết lần thứ hai vì lần thứ nhất ông Môsê đã “phá vỡ” nó. Từ đỉnh núi đi xuống, ông mang theo hai phiến đá giới răn, ông thấy dân đang thờ ngẫu tượng và trong cơn kích động vì lòng đạo và luân lý, ông đập vỡ hai tảng đá giới răn lên con bò vàng và lên đầu dân. Môsê là người đầu tiên phá vỡ giới răn và ông phá vỡ nó về mặt thể lý, ông nghĩ rằng cần phải thực thi bạo lực vì Thiên Chúa. Rồi, khi đã phá vỡ hai phiến đá giới răn, ông phải lên núi một lần nữa, và xin Thiên Chúa viết lại, nhưng trước khi viết lại cho ông, Thiên Chúa truyền cho ông một mệnh lệnh nghiêm khắc: Đừng đập lên đầu dân bằng Mười điều răn! Đừng bạo lực dưới danh nghĩa của Ta!  Những người muốn ném đá người phụ nữ phạm tội ngoại tình, đã hiểu ra được động thái của Chúa Giêsu. Còn ông Môsê, người trung gian của họ thì lại hiểu sai.

Dù thế, chúng ta quá thường, bằng nhiều kiểu cách khác nhau, vẫn cứ ném đá lên đầu người khác bằng giới răn, và mang niềm tin sai lầm rằng Thiên Chúa muốn sự bạo lực đó.

Mối nguy của tự khẳng định

Với tốc độ và sự thay đổi của thế giới ngày nay, với đại dương thông tin mà kỹ thuật công nghệ mới đem lại, cũng như sự thay đổi quá nhanh các kiến thức trong đời, cùng với sự chuyên môn hóa và phân mảng hóa ngày càng cao trong ngành giáo dục cao cấp, cộng thêm sự phức tạp ngày càng tăng của cuộc sống, đôi khi, mà thường là sau khi bạn đưa ra một ý kiến về chuyện gì đó, bạn sẽ nghe người khác nói: Nhưng tôi thì biết gì? Câu hỏi cho đúng là: Chúng ta thì biết gì?

Xét sơ qua, thì câu này nghe có vẻ khiêm tốn và, nếu thành thật hơn thì mô tả này có một mức độ khiêm tốn nào đó, nhưng kiểu thừa nhận này nói lên một cái gì đáng buồn: Tôi thì biết gì? Thật vậy, chúng ta có thể biết được cái gì trong đống phức tạp và xảo biện của thế giới này?

Đúng, chúng ta có thể biết quan niệm của mình, biết tâm điểm tinh thần của mình, biết tâm hồn mình, và tâm điểm thiêng liêng của mình. Xét cho cùng, chúng ta có thể biết những gì chân thật và quý giá nhất đối với mình, và đây chính là kiến thức quan trọng nhất đối với tất cả mọi người. Chúng ta có thể biết những gì là tột cùng quan trọng. Bên cạnh hiểu biết mơ hồ mà chúng ta có về Thiên Chúa, thì hiểu biết về quan niệm của mình, về tâm điểm tinh thần của mình, chính là điều quan trọng nhất trong số những gì chúng ta đã nhận thức được. Thật vậy, nhận thức về tâm điểm riêng của mình chính là được gắn chặt mật thiết với nhận biết về Thiên Chúa.

Đây là điều mà chúng ta cần nhấn mạnh thời nay, vì có quá nhiều thế lực quanh và trong chúng ta đang hợp nhau để xô đẩy chúng ta xa khỏi tâm thái tỉnh thức, ra khỏi sự chú tâm vào tâm điểm thâm sâu nhất của mình, có nghĩa chúng đang đẩy chúng ta ra khỏi sự gắn kết với bản chất thật của mình. Khi chân thành thú nhận, chúng ta phải công nhận rằng thật quá khó để thật sự thành tâm và thật quá khó để hành động theo trọng tâm của mình, để không bị cuốn theo các hệ tư tưởng, các dư luận, kiểu cách đương thời, những mốt, hay những khái niệm có sẵn về chính mình mà những người xung quanh bơm cho chúng ta. Thường thì thái độ và hành động của chúng ta không thực sự phản ánh con người chúng ta. Đúng hơn, nó phản ánh hình ảnh của bạn bè chúng ta, những trang báo và trang mạng chúng ta vừa đọc, cũng như các bản tin và bài nói chuyện trên đài mà chúng ta thích nghe. Cũng thế, chúng ta thường tự nhận thức mình như một con người mà gia đình, bạn học, đồng nghiệp, bạn bè đã nhận định hơn là chính thực tại thâm sâu nhất trong chúng ta. Ngay từ thơ ấu, chúng ta đã hấp thụ những ý niệm về mình: “Con là đứa sáng sủa! Con là đứa ngu ngốc! Con nổi loạn! Con nhút nhát! Con ích kỷ! Con sợ sệt! Con chậm chạp! Con suy nghĩ nhanh! Con là kẻ thất bại! Con tệ hại! Con tốt! Số con sẽ tốt! Số con sẽ xấu!

Và như thế thách thức của chúng ta là phải nhận thức và hòa mình hơn vào quan niệm riêng, trọng tâm thiêng liêng riêng của mình, để gắn kết hơn với những gì, cho đến tận cùng, là chân thật và quý giá nhất đối với chúng ta. Một phần không nhỏ của việc này là đòi hỏi phải chống lại việc tự xác định mình, chống lại việc tự họa bản thân mình và hành động theo hình mẫu mà chúng ta tự thu vén cho bản thân, nghĩ mình là người sáng láng, ngu ngốc, nổi loạn, nhút nhát, ích kỷ, rộng lượng, người xấu, người tốt, người thành công, người thất bại, hay một người cần phải thốt lên rằng: “Nhưng tôi thì biết gì?” Để làm được như thế, chúng ta phải trả một giá thế nào đây?

Trước tiên, phải coi lại và chọn lọc cả lòng từ bi và hận thù của chúng ta. Chúng ta tôn trọng một số việc và người nào đó, giận ghét một số việc và người nào đó khác, lý do không phải họ hợp hay chống với những gì quý giá nhất của chúng ta, nhưng vì họ hợp hay chống với hình ảnh chúng ta có về mình. Khi đó, chúng ta không chỉ đánh mất cái tôi thật sự của mình, mà con đánh mất tính cá biệt của mình. Trớ trêu thay, các hệ tư tưởng, dư luận, kiểu cách đương thời, suy nghĩ bè nhóm, các hình ảnh cường điệu, cuối cùng, chúng sẽ chôn chặt chúng ta trong biển vô danh, đánh đồng. Nói theo câu chữ của René Girard là: Khi khao khát muốn được khác biệt, cuối cùng, điều không tránh khỏi là chúng ta kết thúc ở cùng một biển sâu thẳm! Chỉ cần nhìn vào mốt đương thời, kiểu đội mũ ngược là thấy sự thật này.

Làm sao chúng ta có thể tự xác định bản thân cho đúng, để không bị trệch đường, làm cho chúng ta không còn nhận thức được ánh sáng riêng của mình! Dạng tự xác định nào có thể giúp chúng ta thoát khỏi các hệ tư tưởng? Làm sao để khi nghĩ về mình, chúng ta không bị hình ảnh đã được hấp thụ trong thời thơ ấu áp đặt lên chúng ta khi chúng ta đã trưởng thành, để, nói như ông William Stafford nói, chúng ta đủ lành mạnh để một cái nhún vai tầm thường, một lời nói bội bạc nhỏ sẽ không thể phá đi sức khỏe mỏng manh của mình, đẩy các lỗi lầm khủng khiếp thời thơ ấu cuốn ngập lại chúng ta về qua lối đó?

Không dễ có câu trả lời cho điều này, nhưng tôi có một gợi ý: Vào thời đầu khi đi rao giảng, khi dân chúng đang thắc mắc hỏi Gioan Tẩy Giả là ai, họ đến hỏi ông: “Ông là ai?” Họ hỏi tiếp: “Ông là Đức Kitô? Ông là tiên tri Êlia? Ông là ngôn sứ?” Thánh Gioan trả lời, tôi không là ai trong số các người này. “Vậy thì ông là ai?” họ gặng hỏi cho bằng được. Gioan trả lời: “Tôi là tiếng vang trong hoang mạc!” Chỉ có thế thôi, không hơn khơng kém!

Đó chính là hình ảnh tự khẳng định lành mạnh và khiêm tốn thật sự, không một góc khuất buồn bã nào.

Mười quyển sách yêu thích của tôi năm 2013

Thị hiếu thì không tranh cãi. De gustibus non est disputandum. Câu nói nổi tiếng của thánh Augustino đã khoá mọi tranh cãi, thị hiếu là chủ quan, những gì người này yêu thích không nhất thiết người kia phải thích theo. Vì thế, tôi xin giới thiệu những quyển sách sau đây. Trong số những quyển sách tôi đọc năm 2013, có 10 quyển đặc biệt nhất. Và, không chắc thị hiếu của bạn có giống của tôi hay không, tôi cũng xin mạn phép đưa ra đây.

Trong số các tiểu thuyết đã đọc, tôi đề cử:

Tập truyện – Thân gởi cuộc đời (Dear Life), của Alice Munro: Loại truyện này sẽ không mang lại cảm giác thoải mái về mặt đạo đức cho bạn nhưng nó sẽ làm cho đầu óc bạn được mở mang. Đạo đức là bản chất mọi sự. Munro có lẽ đã đặt tên cho những truyện này là – Thế là thế đó! Nhờ xuất bản tiểu thuyết này, bà đã đoạt giải Nobel Văn học, và chẳng ai ở Canada ngạc nhiên vì điều này.

Hành vi Trốn tránh (Flight Behavior), của Barbara Kingsolver là tiểu thuyết nói về việc trái đất nóng lên, đây không phải là chuyện ai cũng hứng thú, nhưng mọi người sẽ học được nhiều điều từ nó. Ngoài thông điệp đạo đức gởi gắm, một điều còn quan trọng hơn, đó là ánh đèn chớp tác giả rọi chiếu vào cuộc sống bình thường. Chuyện được kể từ góc nhìn của một bà mẹ trẻ, bị vướng trong cảnh đói nghèo, nản chí vì thiếu học, thiếu cơ hội lựa chọn, Kingsolver đã khéo léo đưa ra trần trụi một trái tim con người, với cả những cám dỗ và nhân đức.

Mái ấm (Home), của Toni Morrison. Morrison là một tác giả không dễ đọc và những dòng truyện của bà không phải lúc nào cũng dễ theo dõi, nhưng ngòi bút của bà thật nghệ thuật, hay nhất, và ngôn ngữ của bà truyền tải một màu sắc và cảm giác mà ít tiểu thuyết gia nào bì kịp. Thật không công bằng khi chưa có giải Nobel Văn học cho bà.

Về loại sách tự truyện và lịch sử, tôi đọc những quyển sau:

Hammarskjold, Một cuộc đời (Hammarskjold, A Life), của Roger Lipsey. Lipsey dùng cả núi tư liệu từ các bài báo và thư từ trao đổi của Dag Hammarskjold đã cho thấy Hammarskjold là tất cả những gì được ngụ ý trong quyển Markings, và còn hơn nữa. Hammarskjold, vừa trong tư cách là người của công chúng, vừa trong đời sống riêng của mình, đã cố gắng noi theo những gì cao cả trong đời. Quyển sách dày 800 trang về một tâm hồn cao thượng thật đáng bỏ công để đọc.

Kinh hãi thiêng liêng, Raissa Maritain, Sức lôi cuốn của Đau khổ và cuộc Phục hưng Công giáo ở Pháp quốc (1905-1944) (Sacred Dread, Raissa Maritain, the Allure of Suffering and the French Catholic Revival), của Brenna Moore. Quyển này không dễ đọc, nhưng nếu ai quan tâm đến thế giới của Maritains, Leon Bloy, Charles Peguy, và cuộc Phục hưng Công giáo ở Pháp vào đầu thế kỷ XX sẽ có được một cái nhìn rõ ràng sâu sắc hơn về thế giới đó.

Thập giá vùng hoang vu (Cross in the Wilderness), của Kay Cronin. Đây là một quyển sách cũ, xuất bản năm 1960, bây giờ chỉ tìm được ở thư viện mà thôi. Với quyển này, Cronin lần theo lịch sử của các nhà truyền giáo dòng Hiến sĩ đã đến Oregon và Columbia thuộc Anh và đã xây các nhà thờ ở đây. Tôi thật sự được tiếp thêm sức mạnh nhờ những tấm gương quên mình và lòng dũng cảm của họ và những gì họ đã làm được. Nhiều người trong số họ là những trí thức Pháp, được gởi đến vùng đất hoang mà không được chuẩn bị gì nhiều, họ đã sống sót nhờ vào lý tưởng, bền gan vững chí và đức tin, trong khi họ không có nhà ở, không có gì để ăn, không có bác sĩ săn sóc. Đọc chuyện của họ làm cho tôi, hơn bao giờ hết, thấy tự hào vì mình là một tu sĩ Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ.

Người con gái đi tìm cha, Người bí ẩn (The Shadow Man, A Daughter’s Search of Her Father), của Mary Gordon. Chúng ta chỉ hiểu được mình khi hiểu được cha mẹ mình và cách mà các đức tính và sự yếu đuối của họ đã định hình tâm hồn chúng ta. Mary Gordon, giỏi hơn hầu hết mọi người, đã có thể làm được việc đó. Nhiều người trong chúng ta đã đọc quyển sách thông tuệ bà viết về mẹ mình, quyển Xoay quanh Mẹ tôi (Circling my Mother). Quyển này, bà cũng làm như thế về cha mình. Cách bà hiểu cha mình sẽ giúp chúng ta hiểu được người cha của chính chúng ta.

Về sách thiêng liêng, tôi xin giới thiệu nhiều hơn:

Sự an ủi trong Đường lối thiêng liêng mãnh liệt của Cảnh vật, Hoang mạc và Đồi núi (The Solace of Fierce Landscapes, Desert and Mountain Spirituality), của Belden C. Lane. Quyển này gần với dòng văn của quyển Mánh lới tâm hồn (Soulcraft) của Bill Plotkins. Tác giả cho chúng ta hiểu rõ về vai trò quan trọng của địa lý trong việc định hình tâm hồn chúng ta, và cũng nói qua về cách chúng ta có thể tự đặt chính mình một cách có chủ đích hơn vào khung cảnh đó. Với Lane, linh đạo không phải là một việc có thể thực hiện trong các trung tâm cầu nguyện gắn máy lạnh. Mà phải là trong tự nhiên, hoang mạc, trong cơn gió và mặt trời để gột rửa tâm hồn và thể xác chúng ta.

Tái khám phá các giá trị – về Phố Wall, Phố Chính, và Con phố của bạn, Kim chỉ nam luân lý cho nền Kinh tế mới (Rediscovering Values – On Wall Street, Main Street, and Your Street, A Moral Compass for the New Economy), của Jim Wallis. Quyển sách này là một lời cảnh báo: Nó sẽ làm cho bạn khó chịu nếu bạn là người bảo thủ về mặt tài chính, nhưng nếu như thế, bạn hẳn sẽ muốn đi vào thách thức này. Wallis gần như là kiểu “Dorothy Day” của thế hệ chúng ta.

Công dân của Thế giới, Đau khổ và Đoàn kết trong thế kỷ XXI (Citizen of the World, Suffering and Solidarity in the 21st Century), của Donald H. Dunson và James A. Dunson. Socrate đã nói, trước tiên và trên hết, ông là công dân của thế giới, sau đó, mới đến là công dân của thành phố Athens. Làm sao chúng ta mở rộng quả tim và lòng biết ơn để sống một tinh thần công dân rộng lớn hơn sắc tộc, quốc tịch, lịch sử, địa lý, tư lợi, và quan hệ tự nhiên của mình? Donald và James Dunson cố để trả lời cho câu hỏi này, và họ đã làm với một sắc thái phi thường. Quyển sách này là một kim chỉ nam đạo đức chân thật, đúng là lời ngôn sứ. Các ngôn sứ tốt không phỉ nhổ bạn vì tội lỗi, mà họ làm cho bạn muốn trở nên một con người tốt đẹp hơn.

Một lần nữa, tôi xin nói: “Thị hiếu thì không tranh cãi.” De gustibus non est disputandum.

Giáng Sinh – Những gốc gác tối sáng và những hệ quả tối sáng

Nếu có ai chưa bao giờ nghe kể về Chúa Giêsu đến hỏi chúng ta về nguồn gốc của Ngài, tôi nghi rằng chúng ta sẽ bắt đầu kể chuyện truyền tin và việc sinh hạ, rồi kết thúc bằng chuyện sống lại và lên trời. Kể như thế cũng là tóm tắt được cuộc đời của Ngài, nhưng đó không phải là cách Tin mừng bắt đầu hay kết thúc câu chuyện. Câu chuyện về Chúa Giêsu và ý nghĩa của Giáng Sinh chỉ có thể hiểu được khi xem lại gốc gác của Ngài, gia phả và cách mà câu chuyện của Ngài vẫn tiếp diễn trong lịch sử. Thật vậy, đó là cách mà Tin mừng kể lại câu chuyện đời Ngài.

Tin mừng thánh Gioan bắt đầu bằng cách kể lại nguồn gốc bất diệt của Ngài trong Thiên Chúa trước khi Ngài ra đời. Với Gioan, gia phả của Ngài chỉ có ba thành viên: Ba Ngôi Thiên Chúa: Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Tin mừng theo thánh Maccô không đưa ra phả hệ nào, chỉ bắt đầu bằng lời rao giảng công khai của Chúa Giêsu, và cũng không có kết thúc câu chuyện đời Ngài. Với Maccô, câu chuyện của Chúa Giêsu vẫn còn tiếp diễn. Hai thánh sử Matthêu và Luca đưa ra một gia phả dài, gốc gác của Ngài. Chúng ta thường có khuynh hướng bỏ qua danh sách phả hệ dài dòng với những tên khó đọc này, với chúng ta, nó chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng, học giả kinh thánh lừng danh Raymond Brown đã nhiều lần nhấn mạnh, chúng ta sẽ không thực sự hiểu câu chuyện Chúa Giêsu nếu không hiểu được tại sao gia phả với danh sách tên tuổi dài dòng này lại được xem là quan trọng.

Nhìn vào danh sách tỉ mỉ các tên cổ, chúng ta học biết được cái gì? Abraham là cha của Issac, Issac là cha của Giacóp, Giacóp là cha của Giuđa, Giuđa là cha của Perez và Zerah, con của bà Tamar, Perez là cha của Hezon, Hezon là cha của Ram, Ram là cha của Amminabab… và còn nữa, còn nữa. Giữa những giá trị khác, gia phả tìm gốc gác Chúa Giêsu cho chúng ta biết câu chuyện thật cuộc đời của Ngài không bị xuyên tạc bởi bất kỳ ai muốn tin rằng gốc gác con người của Chúa Giêsu là hoàn toàn không tì vết, chẳng dính chút tội hay yếu đuối nào. Chúa Giêsu không được sinh ra từ một gia tộc với các tổ tiên hoàn toàn thánh thiện. Đúng hơn, gia tộc của Ngài có cả tội nhân lẫn thánh nhân. Trong các tổ tiên của Ngài, có kẻ nói dối, ngoại tình, sát nhân, đoạt quyền, đàn bà mưu hiểm, quân vương độc ác, viên chức giáo hội thối nát, và đủ mọi tội lỗi. Các thể chế tôn giáo quanh Ngài cũng vậy. Lịch sử tôn giáo của Do Thái giáo, môi trường Chúa Giêsu được sinh ra, cũng có cả ân sủng và tội lỗi, với các thể chế tôn giáo phụng sự Thiên Chúa và phụng sự cả cho ý muốn con người nữa.

Vậy, với tất cả những điều này, chúng ta học ở đây điều gì? Đó là: Cả những con người và thể chế mà từ đó Chúa Giêsu sinh ra, đều pha trộn vừa ân sủng vừa tội lỗi, một pha trộn trao truyền sự che chở của Thiên Chúa và lại cũng hợp lý hóa ân sủng đó cho lợi ích riêng của mình. Nhưng, chính từ hỗn hợp này, Chúa Giêsu được sinh ra. Với những ai sùng đạo, đúng là tai tiếng khi phải chấp nhận không phải tất cả mọi sự nảy sinh ra Giáng Sinh đều tinh tuyền. Và những chuyện xảy ra nối tiếp trong đời Chúa cũng vậy. Sứ mạng nơi trần thế của Ngài phần nào cũng được định hình và đẩy mạnh bằng thói tư lợi của các giới chức tôn giáo thời đó, bằng sự cự tuyệt của các nhà cầm quyền thế tục, và bằng nỗi sợ hãi và bất tín của các môn đệ của Ngài. Và điều này tiếp diễn suốt hai ngàn năm lịch sử cho đến tận bây giờ. Chúa Giêsu tiếp tục nhập thế trong suốt nhiều thế kỷ không phải chỉ nhờ các thánh nhân và giáo hội chân chính. Gia phả nối tiếp Chúa Giêsu cũng là một danh sách dài thánh nhân và tội nhân, với các vị tử đạo và những kẻ âm mưu ích kỷ, với nhân đức cũng như phản bội.

Nhận ra và chấp nhận điều này sẽ không dẫn chúng ta đến thói châm biếm, để nghi ngờ bản chất của Chúa Giêsu hay nghi ngờ tính chính đáng của Giáo hội vì những dối trá, tội lỗi, bất tín, và những việc ngu ngốc thường gặp nơi những con người và thể chế Giáo hội tạo nên gia phả nối tiếp của Chúa Giêsu, những thành viên tạo thành gia đình của Ngài. Đức tin có thể điều hòa được tội lỗi và bất tín. Giáng Sinh cũng vậy.

Giáng Sinh có những gốc gác tranh tối tranh sáng và những hệ quả tranh tối tranh sáng. Giacóp đã trộm quyền trưởng nam của anh mình, Giuđa đã ngủ với con dâu của mình, Đavid đã phạm tội ngoại tình và còn mưu sát để lấp liếm tội đó, Giáo hội đã lập nên Tòa dị giáo và giết người còn nhiều hơn số người đã tử đạo trong thời sơ khai, Giáo hội đã có những giáo hoàng buôn bán phép xá giải và dâm loạn, các Giáo hội, bất chấp tính công giáo và thánh thiện của mình, đã luôn luôn hẹp hòi và ưu đãi tầng lớp có quyền, cũng như chưa bao giờ bỏ được thói tư lợi, và còn những vụ xâm phạm tình dục đã xảy ra nữa.

Nhưng mầu nhiệm tinh tuyền của Chúa Giêsu, Chúa Kitô, và của Giáo hội, theo cách nào đó, vẫn chiếu tỏa bất chấp tất cả những điều này, và trớ trêu thay, lại là bởi tất cả những điều này. Như hạt giống chôn sâu, dù là qua những người như chúng ta và qua những Giáo hội như chúng ta, ơn Chúa vẫn biểu lộ thiên tính bất chấp gần như tất cả mọi sự. Và Thiên Chúa, Đấng đã viết nên Giáng Sinh bằng những dòng cong queo, cũng viết tiếp chuyện nối tiếp bằng những dòng cong queo nữa, mà một trong những dòng đó chính là cuộc đời chúng ta.

Tỉnh thức

Trong quyển tự truyện Nói với Greco (Report to Greco) của mình, Nikos Kazantzakis kể lại cuộc nói chuyện của ông với một tu sĩ lớn tuổi. Khi còn trẻ, Kazantzakis có viếng thăm một tu viện và ông rất mến mộ một tu sĩ khổ hạnh lừng danh sống ở đó, cha Makarios. Nhưng sau nhiều lần gặp gỡ vị tu sĩ cao niên này, ông có những cảm giác vui buồn lẫn lộn. Phong cách sống khổ hạnh của vị tu sĩ đã chạm đến xu hướng lãng mạn tôn giáo của Kazantzakis, nhưng nó lại không hợp với ông. Ông muốn có phong cách lãng mạn nhưng theo một lối dễ chịu hơn. Và đây là cuộc đàm đạo mà Kazantzakis đã ghi lại:

– Cha ạ, cha sống một đời thật nghiêm nhặt. Con cũng muốn mình được cứu rỗi. Liệu có cách nào khác nữa không thưa cha?

– Dễ chịu hơn ư? Với nụ cười cảm thông, vị tu sĩ khổ hạnh hỏi.

– Nhân bản hơn, thưa cha.

– Một, chỉ có một.

– Là gì vậy?

– Trỗi dậy. Để trèo lên một loạt bước phải trèo. Từ cái bụng no đến cái bụng đói, từ cổ họng sảng khoái đến khát khô, từ vui mừng đến đau khổ. Thiên Chúa ở đó, nơi đỉnh chóp của cơn đói, cơn khát, và đau khổ, ma quỷ ở đó, nơi đỉnh chóp của đời sống thoải mái dễ chịu. Con chọn đi.

– Con vẫn còn trẻ. Thế giới này lại thật kỳ diệu. Con còn có thời gian để chọn lựa mà.

Vươn tay ra, vị khổ tu già chạm vào đầu gối tôi và nói:

– Tỉnh dậy đi, con của ta. Tỉnh dậy trước khi cái chết đánh thức con dậy.

Tôi sầm mặt xuống và nói:

– Con vẫn còn trẻ.

Sự chết thích người trẻ. Địa ngục thích người trẻ. Đời sống như một cây nến được thắp lên, dễ dàng bị dập tắt. Hãy cẩn thận, tỉnh dậy đi con!

Tỉnh dậy! Tỉnh dậy trước khi cái chết đánh thức con dậy. Nói một cách ít văn vẻ hơn, đó chính là chủ đề chủ đạo thực sự trong Tin Mừng. Chúa Giêsu luôn luôn bảo chúng ta tỉnh dậy, tỉnh thức, thận trọng, cảnh giác với một thực tại sâu xa hơn. Như thế nghĩa là gì? Chúng ta ngủ vùi vào sự chết như thế nào? Chúng ta tỉnh dậy và tỉnh thức như thế nào?

Chúng ta ngủ vùi? Tất cả chúng ta đều biết, thật rất khó để ý thức trọn vẹn giây phút hiện tại mình đang sống, để không ngủ quên trước những phong phú của cuộc sống chúng ta. Những xao nhãng và lo lắng của đời sống hàng ngày đã bào mòn chúng ta đến đỗi chúng ta có thói quen cho rằng những gì quý báu nhất với mình, từ sức khỏe, những kỳ diệu trong tư tưởng, tình yêu và tình bạn, và tặng vật sự sống này nữa, tất cả là chuyện đương nhiên. Theo Robert Moore, trong đời sống hàng ngày, chúng ta không những chỉ thiếu chiêm niệm và lòng biết ơn, mà theo thói quen, chúng ta còn kèm thêm cho mình một chút phẫn uất, một khủng hoảng kinh niên. Chúng ta ngủ vùi, rất ngủ vùi, cả với Thiên Chúa và với đời mình.

Làm sao để tỉnh dậy đây? Thời nay, thị trường sách có một kho văn phẩm đủ loại nói về các lời khuyên để sống giây phút hiện tại cũng như cách tỉnh thức với kho tàng nội tâm phong phú của mình. Dù có nhiều văn phẩm hay, nhưng chỉ có một số ít có hiệu quả. Nó mời gọi chúng ta sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng, nhưng đơn giản, chúng ta không thể làm như thế. Việc giữ chủ đích và nhận thức này trong suốt một thời gian dài là chuyện bất khả thi. Một nhận thức về cái chết sẽ đến, sẽ thức tỉnh chúng ta dậy, một cơn đột quỵ, đau tim, hay ung thư cũng vậy, nhưng nhận thức này chỉ duy trì trong một thời gian ngắn, nó không thể duy trì trong hai mươi, ba, bốn năm mươi năm. Không ai có thể duy trì nhận thức này luôn mãi. Không ai trong chúng ta có thể sống bảy tám mươi năm cuộc đời mà ngày nào cũng xem là ngày cuối cùng của mình. Hay là chúng ta có thể?

Sự khôn ngoan thiêng liêng cho chúng ta một câu trả lời khác: Chúng ta có thể và không thể: Một mặt, những xao nhãng, bận tâm, và áp lực hàng ngày sẽ luôn luôn có cách tác động trên chúng ta, và chúng ta, chịu tác động, sẽ ngủ quên trước những gì sâu sắc hơn và quan trọng hơn trong đời mình. Nhưng vì lý do này, tất cả mọi truyền thống tâm linh lớn đều có các nghi thức hằng ngày nhắc đi nhắc lại để giúp chúng ta tỉnh thức, giống như đồng hồ reo báo thức khi chúng ta cần.

Vì lý do này, chúng ta cần bắt đầu mỗi ngày sống bằng lời cầu nguyện. Nếu một sáng nào đó chúng ta không cầu nguyện, thì không có nghĩa là chúng ta phải chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, nhưng chúng ta có khuynh hướng lỡ mất buổi sáng đó, và mất nhiều giờ cho đến tận trưa, chúng ta kẹt trong đống tạp nhạp tâm hồn mình. Cầu nguyện trước bữa ăn cũng như vậy. Khi chúng ta không biết ơn trước khi ăn, chúng ta không làm Chúa buồn lòng, nhưng chúng ta lỡ mất cơ hội làm cho bữa ăn của mình được phong phú. Kinh phụng vụ và Phép Thánh Thể cũng có mục đích đó. Chúng gọi chúng ta ra khỏi cơn ngủ mê.

Không ai trong chúng ta có thể sống mọi ngày như ngày cuối cùng của mình. Những thương tâm, đau đầu, xao nhãng, bận rộn của cuộc sống luôn luôn đẩy chúng ta vào cơn ngủ vùi. Chuyện đó có thể tha thứ được, vì con người là vậy. Nhưng chắc chắn một điều, chúng ta có các nghi thức thiêng liêng, các đồng hồ báo thức cho tâm hồn, để giúp chúng ta tỉnh thức, để chúng ta đừng chỉ bị thức tỉnh khi phải đối diện với cơn đau tim, đột quỵ, ung thư, hay cái chết.

Mọi giọt nước mắt đưa Đấng Cứu Thế đến gần hơn

“Con người luôn luôn thiếu kiên nhẫn, nhưng Thiên Chúa không bao giờ vội vã!” Nikos Kazantzakis đã viết như vậy và chúng nhấn mạnh một sự thật quan trọng: Chúng ta cần phải kiên nhẫn, vô cùng kiên nhẫn, với Thiên Chúa. Chúng ta cần phải để mọi việc tỏ lộ đúng thời điểm của nó, đúng thời điểm của Thiên Chúa.

Nhìn vào lịch sử tôn giáo qua nhiều thế kỷ, chúng ta không thể không bị đánh động bởi sự thật rằng, dường như trước sự mất kiên nhẫn của chúng ta, Thiên Chúa vẫn giữ hạn định thời gian của Ngài. Kinh thánh thường ghi lai sự khắc khoải đến nản lòng, sự bất thành toàn, và sự mất kiên nhẫn của con người. Càng hiếm hơn nữa những lúc Thiên Chúa can thiệp trực tiếp và dứt khoát để giải quyết một căng thẳng cụ thể nào đó của con người. Chúng ta luôn luôn khao khát có Đấng thiên sai đến cất đi đau đớn và báo oán cho những áo bức, nhưng những lời cầu nguyện của chúng ta dường như rơi vào đôi tai điếc đặc.

Và chúng ta thấy trong Kinh thánh luôn luôn có tiếng kêu than đau đớn: Xin đến, lạy Chúa, xin hãy đến! Xin cứu chúng con! Chúng con còn phải chờ bao lâu nữa đây! Lúc nào, lạy Chúa, đến lúc nào! Tại sao không phải ngay bây giờ! Chúng con luôn luôn bồn chồn mất kiên nhẫn, nhưng Chúa lại không vội vã. Tại sao lại thế? Tại sao Chúa dường như hành động quá chậm trễ? Chẳng lẽ Chúa nhẫn tâm nhìn thống khổ của chúng con sao? Tại sao Chúa quá kiên nhẫn, quá thong thả trong dự định, trong khi chúng con ngập chìm trong thống khổ? Tại sao Chúa hành động quá chậm trễ trước sự xao xuyến của nhân loại?

Có những dòng trong văn học huyền bí Do Thái, với phép ẩn dụ, sẽ giúp giải đáp cho câu hỏi này: Tất cả mọi giọt nước mắt đưa Đấng Cứu Thế lại gần hơn! Dường như có một mối dây liên kết bên trong giữa nản lòng và khả năng hạ sinh Đấng thiên sai. Dường như Đấng thiên sai chỉ có thể được sinh ra sau một thời gian dài khắc khoải của con người. Tại sao lại thế?

Việc sinh nở của con người có thể giúp giải đáp câu hỏi này, thời kỳ thai nghén không thể vội vã, có một liên kết phối hợp giữa cơn đau của bà mẹ và sinh linh được chào đời. Việc sinh hạ Chúa Giêsu cũng thế. Mùa Vọng là tiến trình thai nghén không thể đẩy nhanh gấp gáp được. Những giọt nước mắt, nỗi đau, và một mùa dài cầu nguyện là điều cần thiết để tạo nên điều kiện cho dạng thai nghén sẽ đưa Đấng thiên sai đến thế giới của chúng ta. Tại sao lại thế? Vì tình yêu và sự sống thật sự chỉ có thể được sinh ra khi sự kiên nhẫn đau khổ lâu dài đã tạo được một không gian đúng hợp, một cung lòng trinh nữ, để từ đó sự cao cả siêu phàm được hạ sinh. Có lẽ hai ẩn dụ này có thể giúp chúng ta hiểu ra.

Gioan Thánh Giá đã cố gắng giải thích làm thế nào con người phát triển được tình yêu tha nhân, ngài dùng hình ảnh khúc cây bùng cháy thành ngọn lửa trong lò. Khi khúc cây xanh được đặt vào lửa, nó không bùng cháy ngay lập tức. Trước hết, nó cần được làm khô. Sau một lúc lâu nằm trên lửa, nhựa chảy ra và dần dần khúc cây không còn xanh và ẩm nữa. Chỉ khi đạt đến nhiệt độ cháy, nó mới bắt lửa và cháy bùng thành ngọn. Nói theo cách ẩn dụ, trước khi khúc cây bùng cháy thành ngọn, nó phải trải qua một mùa vọng, một sự khô đi, một thời gian nản lòng và khắc khoải. Vậy, động lực để tình yêu thật sinh ra trong cuộc đời chúng ta cũng tiến hành như vậy. Chúng ta có thể bắt lửa với tình yêu chỉ khi chúng ta, những khúc cây xanh ẩm và ích kỷ, được nung khô cho đủ. Và ngọn lửa làm cho chúng ta được nung khô chính là nỗi khát khao chưa trọn.

Pierre Teilhard de Chardin cho chúng ta một ẩn dụ khác, khi ông nói về một điều mà ông gọi là “tăng thêm nhiệt độ siêu linh của chúng ta.” Trong phòng thí nghiệm hóa học, có thể đặt hai chất trong cùng một ống nghiệm và chúng không phản ứng hợp lại với nhau. Những chất đó vẫn tách biệt, không hợp nhất với nhau được. Chỉ sau khi được nung đến một nhiệt độ đủ cao, chúng mới phản ứng hợp lại với nhau. Chúng ta cũng chẳng khác gì thế. Thường thì chỉ khi nhiệt độ siêu linh của chúng ta được tăng đủ, thì mới có phản ứng hợp nhất, chỉ khi nỗi khát khao chưa được đáp lại làm tăng nhiệt độ siêu linh của chúng ta đến mức đủ, thì chúng ta mới có thể chuyển hướng đến sự hòa hợp và hợp nhất. Nói đơn giản, đôi khi chúng ta phải được đẩy đến một cơn sốt cao qua những nản lòng và đau đớn, trước khi sẵn sàng lên đường ra khỏi thói ích kỷ của mình và để mình được đưa vào thông hiệp.

Thomas Halik đã từng nói, người vô thần đơn giản chỉ là một cách nói để nói về người nào không đủ kiên nhẫn với Thiên Chúa. Ông đúng. Thiên Chúa không bao giờ vội vã, và Ngài làm thế vì những lẽ phải. Đấng thiên sai chỉ có thể được sinh ra trong dạ đặc biệt, cụ thể là dạ kiên nhẫn và bằng lòng chờ đợi sao cho mọi sự xảy đến theo hạn định của Thiên Chúa, chứ không phải của chúng ta.

Do đó, theo lý thuyết thì, tất cả mọi giọt lệ sẽ đưa Đấng thiên sai đến gần hơn. Đây không phải là bí ẩn không thể hiểu nổi. Tất cả mọi nản lòng sẽ khiến chúng ta sẵn sàng hơn để yêu thương. Tất cả mọi giọt lệ sẽ khiến chúng ta sẵn sàng hơn để tha thứ. Tất cả mọi mối đau lòng sẽ khiến chúng ta sẵn sàng hơn để tránh xa những tách biệt. Tất cả khát khao chưa trọn sẽ dẫn dắt chúng ta đến với một lời cầu nguyện sâu đậm hơn và chân thành hơn. Và tất cả mọi bứt rứt đau đớn hướng đến một sự thành toàn vốn dường như luôn né tránh chúng ta, nỗi bứt rứt đó sẽ khiến chúng ta đủ nóng nảy để cháy bùng thành ngọn lửa tình yêu.

Và tôi xin đưa thêm một hình ảnh nữa: Khi xác thịt oằn lên rên xiết, sự sống thần linh sẽ đến!

Lòng trung thực thiếu định hướng

Tôi tin chắc bất cứ ai gần gũi với đời sống và các bài viết của triết gia Simone Weil, sẽ đồng ý rằng bà là người có đức tin ngoại hạng. Bà cũng là người tận tâm với người nghèo không lay chuyển. Nhưng, và điều này có vẻ bất thường, bà cũng rõ ràng là người ngoại hạng và không lay chuyển trong việc chống đối giáo hội thể chế. Suốt đời, bà khao khát được rước mình thánh mỗi ngày, dù bà từ chối rửa tội và tham dự vào giáo hội. Tại sao?

Không phải vì các sai trái và sa ngã của giáo hội làm cho bà buồn lòng. Bà là người theo chủ nghĩa hiện thực và chấp nhận rằng tất cả gia đình và thể chế đều có những bất tín, vết nhơ và tội lỗi. Bà không tha thứ cho giáo hội, chính yếu không phải vì các khiếm khuyết của giáo hội. Sự cự lại không khuất phục triệt để giáo hội thể chế của bà, thực sự bắt nguồn từ một nỗi lo âu đặc biệt mà bà cảm nhận khi đối diện với bất kỳ thể chế xã hội nào. Vì bà thấy chủ nghĩa ái quốc thiếu tinh thần phê phán và lòng trung thực thiếu định hướng thường chỉ tạo nên một thể chế bất lực, trong đó, các thành viên, không thể nhìn ra tội lỗi và khiếm khuyết bên trong thể chế của mình. Ví dụ, các công dân yêu nước mãnh liệt có thể mù mắt trước những bất công mà quốc gia họ gây ra, những người sùng đạo sâu đậm có thể bị lòng trung thành với giáo hội của họ đè nén nên họ không còn thấy các lỗi phạm của giáo hội, cũng như có rất nhiều vị thánh đã từng ủng hộ Thập tự chinh và Tòa dị giáo vậy. Weil tin rằng, trung thành một cách mù lòa với quốc gia, giáo hội, gia đình, hay bất kỳ điều gì khác, đã trở thành một dạng thờ ngẫu tượng.

Bà đã đúng. Trung thành một cách mù lòa có thể dễ dàng trở thành thờ ngẫu tượng, cho dù nó thành tâm và có lý lẽ cao đi chăng nữa. Có lẽ sẽ sai lầm khi phê phán lòng trung thành, nhưng chúng ta có thể trung thành quá độ, trung thành đến mức lòng trung thành bịt mắt không cho chúng ta thấy những mối hại thực sự, đôi khi lại do chính tay những người mà chúng ta đang dành trọn lòng trung thành gây ra.

Chúng ta tất cả đều quen với một số câu châm ngôn nào đó, những thứ theo cách của mình, sẽ dùng lòng trung thành đánh lận tất cả mọi chuyện khác: Đất nước của tôi, đúng hoặc sai! Giáo hội, yêu hoặc bỏ! Một bí mật xấu xa của gia đình cần phải giữ kín trong gia đình, chẳng ai có việc gì can dự vào cả! Nhưng những câu châm ngôn kêu gọi lòng trung thành kiểu ngây thơ và thiếu phê phán này, chẳng có gì là khôn ngoan mà cũng không có tính Kitô giáo. Cả sự khôn ngoan nhân loại và cả cương vị môn đệ Kitô hữu đều kêu gọi chúng ta đến với một điều gì đó cao hơn.

Tất cả mọi gia đình, tất cả mọi đất nước và tất cả mọi giáo hội, đều có tội lỗi và khiếm khuyết của mình, nhưng tình yêu và lòng trung thành của chúng ta có nghĩa là, thay vì bịt mắt trước các sai lầm đó, chúng ta phải thách thức bản thân và mọi người trong cộng đồng mình nhìn ra và sửa chữa các tội lỗi và khiếm khuyết đó. Chúng ta có thể học được những bài học từ chương trình Phục hồi 12 bước. Những gì họ đã học qua nhiều năm kinh nghiệm xử lý những biến chứng của mọi loại sự việc, chính là, khi đối mặt với bệnh hoạn, bên trong bất kỳ nhóm hay mối quan hệ nào, thì việc làm mang tính yêu thương nhất chính là đứng lên đương đầu với căn bệnh đó. Không đương đầu có nghĩa là cho phép nó lớn lên. Tình yêu thực sự và lòng trung thành thực sự không được thiếu tính phê phán. Họ không bao giờ nói rằng: Đây là gia đình, đất nước, giáo hội của tôi – đúng hay sai! Thay vào đó, khi mọi thứ đi sai đường, họ bảo chúng ta phải thể hiện tình yêu và trung thành không phải bằng cách bảo vệ nhóm của mình, nhưng là bằng việc đứng lên đối đầu với những gì sai trái.

Thật vậy, đó chính là truyền thống kinh thánh của các ngôn sứ, các ngôn sứ đã làm chính xác như vậy. Họ yêu thương dân mình và trung thành mãnh liệt với truyền thống tôn giáo của mình, nhưng họ không trung thành mù quáng để không phê phán các sai lầm bên trong cộng đồng tôn giáo của mình. Họ không bao giờ bị lòng trung thành sai lầm đè nặng để bịt mắt trước những tội lỗi trong cơ cấu tôn giáo của mình và câm miệng trước những lỗi phạm đó. Họ không bao giờ nói về truyền thống tôn giáo của mình theo kiểu: Yêu hoặc từ bỏ!  Thay vào đó, họ nói: Chúng ta phải thay đổi điều này – và chúng ta phải thay đổi nó vì lòng trung thành và tình yêu.

Chúa Giêsu đã làm như thế. Ngài đã trung thành và trung tín với đạo Do Thái, nhưng Ngài không câm nín trước những lỗi phạm và sai trái của đạo Do Thái thời đó. Vì tình yêu, ngài thách thức tất cả mọi thứ sai trái. Ngài đã dạy, và mạnh mẽ dạy rằng, lòng trung thành tôn giáo mù quáng có thể là thói thờ ngẫu tượng. Ngài cũng sẽ không dạy rằng trung thành và tình yêu nghĩa là không bao giờ phê phán cộng đồng của mình. Thật vậy, Ngài đã phá bỏ những gì được coi là cụ thể về gia đình, đất nước, giáo hội, và Ngài yêu cầu chúng ta phải hiểu việc này theo một cách hiểu cao hơn. Ngài hỏi: Ai là mẹ và là anh chị em của anh em? Và Ngài tiếp tục đưa ra điều này không được xác định bằng huyết thống, quê hương, hay tôn giáo. Gia đình thực sự được tạo lập nên bằng những điều khác, cụ thể là những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa, bất chấp khác biệt huyết thống, quê hương, hay tôn giáo. Từ đó cho thấy, huyết thống, quê hương, và tôn giáo phải được đưa ra phê phán và phản đối bất kỳ lúc nào chúng ngăn chận sự hiệp nhất sâu sắc hơn trong đức tin và công lý.

Một giọt máu đào hơn ao nước lã. Nhưng với Chúa Giêsu, đức tin và công lý còn cao hơn huyết thống, quê hương và giáo hội. Hơn nữa, với Ngài, tình yêu và trung thành xác thật, tự biểu lộ mình qua lòng tận tâm thách thức mọi thứ sai trái, ngay cả khi làm như thế có vẻ là bất trung với cộng đồng, với những gì là của mình.

Tìm kiếm một Lời đầy Hiện thực

Đức tin không phải là điều bạn đạt được. Nếu bạn cố gắng đóng chặt nó xuống, nó sẽ trỗi dậy và ra đi với chiếc đinh. Đức tin hoạt động theo cách này: Có lúc bạn đi trên mặt nước, có lúc bạn chìm nghỉm như tảng đá giữa dòng. Nhà thơ Rumi đã nói, bạn sống với một bí mật sâu thẳm, có lúc bạn biết, có lúc bạn không biết, rồi lại biết. Đôi khi bạn cảm thấy có một sự hiện diện thật sự, đôi khi bạn thấy trống vắng thật sự. Tại sao như vậy?

Vì, giống như tình yêu, đức tin là một cuộc hành trình, luôn mãi thăng trầm, với những giai đoạn luân phiên giữa tha thiết và lãnh đạm, với an ủi và cô quạnh, có những lúc cảm nhận ân sủng Thiên Chúa hiện diện hiển nhiên, có lúc như đêm dài tăm tối khi Thiên Chúa vắng mặt. Đó là một tình trạng lạ lùng: đôi khi bạn thấy mình kết chặt với Chúa, chặt chẽ vô cùng, lúc khác bạn thấy mình như rơi tự do khỏi tất cả những gì an toàn, và rồi khi mọi thứ chạm đáy, một lần nữa, bạn lại cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa.

Tại sao đức tin phải có động lực mơ hồ này? Không phải là Thiên Chúa ác độc, đang đùa giỡn với chúng ta, muốn thử thách lòng trung tín của chúng ta, hay muốn chúng ta phải làm việc gì đó khó khăn để kiếm được ơn cứu độ. Không, những thăng trầm đức tin phải đi cùng với nhịp điệu của đời sống bình thường, đặc biệt là nhịp điệu của tình yêu. Tình yêu cũng như đức tin, có những giai đoạn tha thiết và đêm đen tăm tối. Tất cả chúng ta đều biết, bên trong giao kết lâu dài nào (hôn nhân, gia đình, tình bạn, hay giáo hội), đều có những ngày, những mùa nào đó, khi tâm hồn và tâm trí chúng ta không còn giữ giao kết đó, dù vẫn ở trong nó. Tâm trí và tâm hồn của chúng ta phai mờ đi dần, nhưng chúng ta cảm nghiệm tình yêu, xét cho tận cùng, là một điều không dựa vào tâm trí, cái đầu, hay thậm chí là tâm hồn, quả tim. Có một sự gì đó sâu kín hơn giữ lấy chúng ta, và một lúc nào đó, giữ chúng ta ra ngoài tầm của những suy nghĩ trong tâm trí hay cảm giác trong tâm hồn.

Trong bất kỳ giao kết tình yêu nào được duy trì, thì tâm trí và tâm hồn của chúng ta sẽ phai mờ lúc lên lúc xuống. Đôi khi tha thiết, đôi khi lạnh nhạt. Đức tin cũng hoạt động như vậy. Đôi khi chúng ta cảm nhận và nhận thức thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm trí và tâm hồn, đôi khi cả tâm trí và tâm hồn đều lạnh nhạt và lãnh đạm. Nhưng đức tin là một cái gì thâm sâu hơn là hình dung hay cảm nhận có sự hiện diện của Thiên Chúa. Nhưng làm sao chúng ta đạt đến đó? Chúng ta phải làm gì những khi cảm thấy như thể Thiên Chúa vắng mặt.

Nhà thần nghiệm vĩ đại, Gioan Thánh Giá, đã cho chúng ta lời khuyên này. Nếu bạn muốn tìm ra sự hiện diện của Thiên Chúa một lần nữa vào những lúc bạn cảm thấy Ngài vắng mặt, thì bạn hãy lắng nghe lời tràn đầy hiện thực và chân lý thâm sâu khôn lường.

Gioan Thánh Giá nói thế nghĩa là gì? Làm sao lắng nghe được lời tràn đầy hiện thực và chân lý thâm sâu khôn lường? Làm sao tìm được một lời như thế? Thành thực mà nói, cho dù lời của ngài bùng lên nhiều ý nghĩa trong đầu tôi, nhưng tôi không hoàn toàn chắc về ý của ngài. Sẽ dễ giải nghĩa hơn nếu ngài bảo chúng ta hãy tìm kiếm một cảm nghiệm thâm sâu và đầy thực tế, ví dụ việc sinh một đứa trẻ, chết lặng trước vẻ đẹp khôn lường, hay tan vỡ tâm hồn khi mất mát hay đối diện cái chết. Những dạng cảm nghiệm này có thật, tồn tại thật mà chẳng thể hiểu được, và chúng bật chúng ta vào một nhận thức sâu sắc hơn. Và như thế, nếu Thiên Chúa để cho con người tìm kiếm, thì chẳng phải sẽ tìm thấy Thiên Chúa chính ở nơi đó hay sao?

Nhưng Gioan không hướng dẫn chúng ta đến với cảm nghiệm thiếu chiều sâu, ngài đang yêu cầu chúng ta tìm kiếm một lời hiện thực và thâm sâu. Như thế nghĩa là khi chúng ta dao động và hoài nghi, chúng ta phải săn tìm những bản văn (trong kinh thánh, thần học, linh đạo, hay văn học và thơ ca thế tục) nói với chúng ta theo một cách tái truyền thụ cho chúng ta một nhận thức nền tảng rằng Thiên Chúa hiện hữu và yêu thương chúng ta, và do đó, chúng ta phải sống trong yêu thương và hy vọng. Chẳng phải là vậy hay sao?

Tôi nghĩ đây mới chính là ý của ngài. Thiên Chúa độc nhất, chân thật, tốt lành, và tuyệt mỹ, và như thế lời thật về sự hiệp nhất, sự thật, tốt lành, hay vẻ đẹp phải có sức mạnh giữ vững tâm trí và tâm hồn lay động của chúng ta. Lời thật có thể khiến Ngôi Lời thành xác phàm lần nữa.

Nhưng những lời nào có sức mạnh như thế cho chúng ta? Chúng ta tất cả đều khác nhau, và như thế không phải ai cũng tìm thấy sự thật và thâm sâu theo cách giống nhau. Vì thế, mỗi một người trong chúng ta phải tự thực hiện cuộc tìm kiếm riêng mình, vô cùng riêng của mình.

Về bản thân tôi, có nhiều lời của các tác giả khác nhau đã truyền tải dạng chân lý này cho tôi trong nhiều giai đoạn của cuộc sống. Quyển Câu chuyện một Linh hồn của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã giữ vững tôi trong những khi tôi nao núng. Quyển Chùm nho Phẫn nộ của John Steinbeck, có thể tái định hướng tầm nhìn của tôi để nó được phẳng lặng khi nó bị vẩn đục. Những đoạn văn khác nhau của Karl Rahner, John Shea, Raymond Brown, Henri Nouwen có thể con tàu của tôi được vững vàng khi nó bị chòng chành. Và một vài lời của Dag Hammarskjold có thể làm cho tôi muốn sống sao để phản ánh lại những điều tốt đẹp trong đời hơn nữa.

Nhưng, bằng cách riêng của mình, mỗi chúng ta cần phải tìm kiếm những lời đầy tràn hiện thực và sự thật khôn dò thấu, để khơi lên cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa.

Đương đầu với phẫn uất trong đời mình

Tôi nghĩ rằng nhiều người trong chúng ta biết về tác phẩm của nhà nhân học lừng danh René Girard, và ảnh hưởng từ những thấu suốt của ông trên tác phẩm của học trò mình, Gil Bailie. Với lòng tri ân dành cho họ, tôi xin đưa ra đây một trong những nhận thức sáng suốt của họ, một cái nhìn vô giá về cách chúng ta cố gắng xử lý nỗi phẫn uất trong đời mình.

Khi các phi hành gia đi vào không gian, tàu của họ được trang bị một máy thải khí CO2 từ hơi thở của họ. Nếu chiếc máy này trục trặc, họ sẽ gặp khó khăn như chúng ta thấy trong phim Apollo 13. Du hành trong con tàu không gian chỉ có thể thực hiện nếu có máy liên tục thải khí CO2 mà chúng ta thở ra.

Với cuộc hành trình của con người cũng vậy. Tất cả mọi nhóm người đều liên tục sản xuất khí gas ngột ngạt của phẫn uất và ghen tị. Phẫn uất tồn tại gần như bên trong tất cả gia đình và cộng đồng con người, vì theo Girard, chúng ta thích “bắt chước,” nghĩa là trong các việc, chúng ta luôn muốn cái mà người khác có. Sự thật không thể chối cãi này tạo ra căng thẳng, phẫn uất, ghen tương, và xung đột. Chẳng có gì là ngẫu nhiên khi hai trong Mười Điều Răn có liên quan đến thói ghen tị.

Vậy cỗ máy cố gắng loại bỏ khí CO2 ghen tương và phẫn uất trong đời sống con người là gì? Các nhà nhân học cho chúng ta biết rằng chúng ta tự loại bỏ căng thẳng cho mình bằng con dê tế thần. Con dê gánh hết tội lỗi của dân theo truyền thống Do Thái (Lv 16).Con dê tế thần đó làm việc như thế nào và làm sao nó loại bỏ được căng thẳng?

Có thể hiểu được qua ví dụ này: Hãy tưởng tưởng bạn đang đi ăn trưa với một vài bạn học hay đồng nghiệp. Sẽ có, luôn luôn là như thế, một vài xung khắc cá tính và tình trạng căng thẳng giữa hai người. Tuy vậy chúng ta cũng có thể có một bữa ăn vui vẻ, hòa hợp. Làm sao để được như thế? Đó là nhờ những con dê tế thần, những người vắng mặt, những người mà tất cả chúng ta đều không ưa, chúng ta xem họ là người lập dị khó tính, những người mà chúng ta xem sự hiện diện của họ đem lại tác động tiêu cực và kỳ cục. Và chúng ta nói về họ, về ông chủ dữ dằn, về một bạn học khó tính, về một đồng nghiệp kỳ quái. Khi làm như thế, khi nhấn mạnh sự khác biệt hay cự tuyệt của những người khác đối với chúng ta, chúng ta làm tan biến đi các căng thăng giữa hai người. Đó là đặc tính của con dê bị tế thần. Chúng ta xây dựng mối giao thiệp với nhau bằng cách đẩy căng thẳng giữa chúng ta qua người khác. Khi loại trừ người đó khỏi nhóm mình, chúng ta tạo ra được mối quan hệ với người khác, nhưng như thế, sự hòa hợp giữa chúng ta dựa vào điều mà chúng ta cùng nhau chống lại hơn là dựa vào những gì chúng ta hướng đến.

Tất cả mọi nhóm, cho đến khi đạt được một mức độ trưởng thành nhất định, đều làm như thế cả. Và khi đối diện với căng thẳng trong đời sống riêng của mình, chúng ta cũng làm như thế. Cách xử thế này hoạt động như sau: Một buổi sáng, chúng ta thức dậy và, vì vô số lý do, chúng ta cảm thấy rối bời, nặng trĩu do một đống tạp nhạp chán nản, lo lắng, giận dữ. Vậy chúng ta làm gì đây? Chúng ta tìm một ai đó để đổ lỗi. Luôn luôn chúng ta  nhanh chóng chọn được người (trong gia đình, nơi làm việc, một chính trị gia, hay một giới chức tôn giáo) để trút căng thẳng vào người đó. Một người mà chúng ta xem là khó tính, ngu đần, sai lầm về chính trị, hủ bại về đạo đức, hay xấu xa về mặt tôn giáo, người đó sẽ sớm phải lãnh gánh nặng căng thẳng và phẫn uất của chúng ta.

Hơn nữa, chúng ta không chỉ đẩy căng thẳng về phía một ai đó, mà chúng ta còn luôn “sát tế” nỗi căm phẫn mà chúng ta đang cảm nhận, chúng ta sẽ đẩy căng thẳng và giận dữ của mình về phía người đó không chỉ vì người đó khác chúng ta hay chúng ta xem họ là khó tính, ngu đần, biếng nhác, nhưng chúng ta làm thế, đặc biệt là vì chúng ta cảm thấy mình vượt trội họ về mặt đạo đức, chúng ta đúng, còn họ sai, chúng ta tốt còn họ thì xấu. Như thế phẫn uất mà chúng ta nhắm vào người đó được xem là một phẫn uất thánh thiện và cần thiết vì danh Chúa, vì sự thật và sự thiện, cũng như tất cả những việc hành hình bằng đóng đinh, treo cổ, và rút phép thông công vậy.

Đó là cơ chế thông thường mà con người dùng để tự loại bỏ phẫn uất bên trong cộng đồng và bên trong bản thân mình. Chúa Giêsu đã bị đóng đinh, chính xác là do cộng đồng, họ đã đóng đinh Ngài vì những lý do thánh thiện.

Nhưng, nạn nhân cao nhất kiểu con dê tế thần chính là Chúa Giêsu, Ngài mời chúng ta hướng đến một điều gì đó cao hơn, và Ngài đã làm gương cho chúng ta. Chúa Giêsu loại bỏ căng thẳng bằng cách biến đổi nó hơn là đẩy nó đi. Việc Chúa Giêsu làm có thể xem như tác dụng của một thiết bị lọc nước. Thiết bị lọc nước được cho vào dòng nước bẩn nhiễm hóa chất và độc hại. Nó giữ những thứ không sạch và cho chúng ta dòng nước sạch. Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa, đã lấy đi tội của chúng ta, và thanh lọc chúng ta trong máu của Ngài, chứ không phải bằng phép thuật, chính xác là Ngài đã hấp thụ và biến đổi tội lỗi của chúng ta. Cũng như thiết bị lọc nước, Ngài đón lấy hận thù, giữ nó, biến đổi nó, và trả lại tình yêu, Ngài đón lấy đố kỵ, giữ nó, biến đổi nó, và trả lại nâng đỡ, Ngài đón lấy phẫn uất, giữ nó, biến đổi nó và trả lại thương cảm, và cuối cùng, Ngài đón lấy sát nhân, giữ nó, biến đổi nó, và trả lại tha thứ. Đó là hình mẫu Kitô giáo trong việc xử lý căng thẳng và phẫn uất, đẩy chúng ra khỏi đời sống chúng ta.

Và, như Soren Kierkegaard đã đề nghị, chúng ta không được chỉ ngưỡng mộ những gì Chúa Giêsu đã làm, mà chúng ta phải bắt chước những gì Ngài làm, phải làm như thế.  

Chết trong bàn tay tin yêu

Thật khó để nói lời an ủi khi đứng trước cái chết, dù người quá cố đã sống trọn cuộc đời, sống thọ và ra đi trong bình an. Đặc biệt khó hơn khi người chết còn trẻ, còn cần được chăm sóc nuôi dưỡng, khi họ chết trong hoàn cảnh không được lý tưởng cho lắm.

Là một linh mục, tôi đã nhiều lần chủ lễ các tang lễ của những người chết trẻ vì bệnh tật, tai nạn, hay tự vẫn. Những đám tang như thế luôn luôn buồn thảm và mang tính hoài nghi. Tôi còn nhớ một đám tang như vậy: Một học sinh trung học chết vì tai nạn xe hơi. Gia đình, bạn bè, và bạn học của em lòng đầy thương tiếc đến dự chật kín cả nhà thờ. Mẹ cậu, vẫn còn trẻ, ngồi ở hàng ghế đầu, lòng bà nặng trĩu với nỗi tang thương mất mát của mình, nhưng rõ ràng bà quặn thắt khi nghĩ về đứa con. Và hơn hết, em chỉ là một đứa trẻ, phần nào vẫn còn cần người chăm sóc, vẫn cần mẹ. Và bà mẹ cảm nhận em chết trẻ như thế, theo cách nào đó, cũng đã làm em trở thành em bé mồ côi.

Chẳng có mấy lời có tác dụng trong trường hợp như thế này, nhưng có vài lời mà chúng ta buộc phải nói, ngay cả trong một ngày như thế, khi cái chết vẫn còn trước mặt, khi người ta không cảm được bao nhiêu sự an ủi về mặt tình cảm được. Phải nói gì trước một cái chết như thế?  Đơn giản là cậu bé bây giờ đang ở trong bàn tay yêu thương hơn, âu yếm hơn, dịu hiền hơn, và đáng tin cậy hơn đôi tay của chúng ta, rằng ở bên kia có một người mẹ đón nhận em, săn sóc nuôi dưỡng mà em vẫn còn cần, giống như ở đời này vậy. Không một ai sinh ra mà lại không nằm trên bàn tay ẵm của mẹ cả. Đó chính là hình ảnh mà chúng ta cần phải giữ trước mắt để có thể hình dung cái chết một cách lành mạnh hơn.

Vậy cụ thể hơn, hình ảnh này là gì. Một vài hình ảnh nền tảng và dịu hiền như hình ảnh người mẹ ôm và ru đứa con mới sinh của mình.  Lời bài thánh ca Đêm Thánh Vô Cùng, Silent Night, bài thánh ca Giáng Sinh nổi tiếng nhất mọi thời đã lấy cảm hứng từ hình ảnh này. Joseph Mohr, một linh mục trẻ người Đức, chiều trước lễ Giáng Sinh, đã đi đến một căn nhà tranh trong rừng để rửa tội cho một em bé mới sinh. Khi ông ra về, đứa trẻ ngủ ngon trong lòng mẹ. Ông được đánh động quá đỗi trước hình ảnh đó, trước sự sâu thẳm và bình an của hình ảnh đó, rồi khi trở về nhà xứ, ngay lập tức ông viết nên những dòng lừng danh của bản Đêm Tttt Vô Cùng. Người hướng dẫn dàn nhạc của ông, đã thêm một vài hợp âm guitar cho những dòng này, biến chúng thành những dòng bất hủ. Hình ảnh khuôn mẫu tuyệt đối cho yên bình, an toàn, và bảo đảm chính là hình ảnh em bé sơ sinh ngủ trong lòng mẹ. Hơn nữa, khi một đứa trẻ chào đời, không chỉ có một mình người mẹ háo hức muốn ẵm bồng mà tất cả gia mọi người đều muốn.

Có lẽ chẳng có hình ảnh nào phù hợp, mạnh mẽ, có sức an ủi, và chính xác hơn nữa để minh họa những gì xảy đến với chúng ta khi chết đi và tỉnh dậy trong sự sống bất diệt cho bằng hình ảnh bà mẹ ẵm đứa con mới sinh của mình. Khi qua đời, chúng ta chết trong bàn tay Thiên Chúa, và chắc chắn chúng ta đã được đón nhận với quá đỗi yêu thương, trìu mến, dịu hiền như khi chúng ta được mẹ ẵm trên tay lúc mới sinh. Hơn nữa, chắc chắn ở đó, chúng ta được an toàn hơn khi sinh ra trên thế gian này. Tôi cũng nghĩ, ở đó sẽ có những vị thánh quây quần xung quanh, chờ đến lượt mình để được ẵm em bé mới sinh. Và như thế thật an tâm nếu chúng ta chết trước khi sẵn sàng để chết, khi vẫn còn cần được chăm sóc nuôi nấng, khi vẫn còn cần một người mẹ. Chúng ta đang ở trong đôi bàn tay an toàn, ân cần, và đầy tình chăm sóc.

Đó có thể là niềm an ủi thâm sâu bởi cái chết đẩy tất cả mỗi chúng ta vào tình trạng mồ côi, và mỗi ngày, đều có những người chết trẻ, bất ngờ, thiếu chuẩn bị, những người vẫn còn cần được chăm sóc. Tất cả chúng ta khi qua đời, vẫn còn đang cần một người mẹ, Nhưng đức tin bảo đảm cho chúng ta rằng chúng ta sẽ được sinh ra trong đôi bàn tay đáng tin cậy hơn và được nuôi dưỡng hơn đôi bàn tay của nhân loại.

Tuy nhiên, dù có lẽ sẽ đem lại an ủi, nhưng nó vẫn không thể chấm hết nỗi đau buốt vì mất đi người thân yêu. Chẳng gì cất đi được nỗi đau buồn đó cả, vì chẳng có gì được định để làm việc đó. Cái chết là vết sẹo không phai trong tâm hồn chúng ta vì đó chính là những đau đớn do tình yêu mà ra. Dietrich Bonhoeffer đã nói về điều này như sau: “Không có gì có thể khỏa lấp việc mất đi người chúng ta yêu thương. … Thật vô lý khi nói rằng Thiên Chúa lấp đầy khoảng trống, Thiên Chúa không lấp đầy nó, nhưng ngược lại, ngài vẫn để nó trống rỗng và như thế giúp chúng ta giữ mối giao tình với người đã mất cho dù cái giá của nó là nỗi đau.  … Ký ức của chúng ta, nếu càng nhiều và càng thiết tha, thì sự chia lìa càng nên khó khăn hơn. Nhưng lòng biết ơn biến đổi những nhói buốt trong ký ức thành niềm vui thanh bình. Vẻ đẹp của quá khứ không phải là chiếc gai đâm xé da thịt nhưng chính là tặng vật quý báu.”

Đời sống độc thân

Vũ trụ làm việc có đôi có cặp. Từ các nguyên tử cho đến loài người, sự duy trì nòi giống dựa vào sự kết hợp với người khác. Dường như hạnh phúc cũng từ đó mà ra.

Vậy những người độc thân đi về đâu? Làm sao họ có thể bình thường, duy trì nòi giống, và sống hạnh phúc?

Với nhiều người sống độc thân, cuộc đời này có vẻ bất công. Dường như, tất cả mọi thứ đều được sắp đặt có đôi có cặp, còn họ thì đơn độc. Và đó không phải là vấn đề duy nhất. Một vấn đề nữa, và quá thường xảy ra, là cả giáo hội và xã hội không cho người độc thân những khí cụ mang tính biểu tượng để họ có thể hiểu được tình trạng của mình trên con đường trao truyền sự sống.

Hậu quả là, người độc thân thường thấy họ đứng ngoài cuộc đời, họ là kẻ dị thường, và thiếu một điều gì đó thiết yếu trong đời. Hơn nữa, không như những người kết hôn và khấn khiết tịnh, có quá ít người độc thân thấy rằng họ đã chủ động chọn lựa tình trạng này của mình. Đúng hơn, họ thấy mình bị rơi vào tình trạng cưỡng bức không may. Rất ít người độc thân thấy thanh thản và chấp nhận số phận mình. Thay vào đó, họ xem nó là một điều tạm thời, một điều cần phải vượt qua. Hiếm có người độc thân nào, đặc biệt là người trẻ, thấy mình đang thêm tuổi và chết trong cảnh độc thân – mà lại hạnh phúc. Cảm giác của họ luôn là: Phải thay đổi chuyện này. Tôi không chọn sống thế này. Tôi không thể nhìn mình như thế này cho đến hết đời.

Có nhiều mối nguy thực sự khi mang cảm giác như thế. Thứ nhất, đó là mối nguy không bao giờ sống cho trọn vẹn và vui vẻ cũng như không xem trọng cuộc sống hiện thời của mình, đồng thời họ không bao giờ tích cực chấp nhận thực tại của mình và không bao giờ chấp nhận tinh thần sống phù hợp với cuộc sống thực tế của họ. Đi kèm là mối nguy hoang mang để rồi đơn giản kết hôn vì hôn nhân được xem là liều thuốc bá bệnh và không thể có hạnh phúc nếu ở ngoài hôn nhân.

Phần nào những nỗi sợ này dần dần in sâu. Độc thân mang theo nó một mất mát thực sự. Chối bỏ sẽ chẳng giúp được gì. Lòng mộ đạo quá đáng hay tinh thần Platon, những đường hướng chối bỏ sức mạnh của tình dục không làm nguôi đi xúc cảm của chúng ta hay xóa nhòa được một sự thật mà Thiên Chúa đã phán rằng: Không tốt khi con người sống một mình! Vũ trụ làm việc có đôi có cặp và sống đơn độc là một khác biệt, một mức độ khác biệt hơn những gì chúng ta dám thừa nhận. Thomas Merton, khi nghĩ về tình trạng độc thân của mình, đã nói: “Việc từ chối phụ nữ là lỗi khiết tịnh của tôi. … Và tất cả những gì tôi làm để bù đắp chỉ là những phương cách tuyệt vọng và vô dụng để che đậy mất mát không thể thay thế này, một mất mát mà tôi không chấp nhận trọn vẹn được. … Tôi có thể học chấp nhận trong đầu và trong tình yêu, và nó sẽ không còn là điều “không sửa chữa được.” Thập giá sửa chữa và biến đổi nó. Một đời khiết tịnh bi ai đột nhiên nhận ra mình chỉ toàn là mất mát, và nỗi sợ sự chết sẽ chế ngự lấy mình – những cảm giác đó thật khô cằn, vô dụng, và đáng ghét. Tôi không nói đây là định mệnh của tôi, nhưng trong lời khấn khiết tịnh của tôi, tôi thấy đây là một thực tế luôn luôn có tiềm năng.”

Đời sống độc thân mang theo những mối nguy thực sự của tính thiếu chính chắn và không hạnh phúc.
Nhưng, nghịch lý thay, chấp nhận sự thật này lại là bước đầu tiên để  sống tích cực vượt lên các mối nguy này. Tình dục là một chiều kích của sự nhận thức của chúng ta. Chúng ta ý thức và tự cảm thấy, xét trên mọi mức độ, mình là một đơn tử cô độc, bị tách lìa, khao khát được giao hợp, và nhức nhối tìm sự hợp nhất. Độc thân thực sự là một sai lỗi trong tính nhân bản của chúng ta.

Tuy nhiên, sống độc thân không nhất thiết phải là một đời cằn cỗi, không sinh sôi. Ngày nay, chúng ta thường có cảm nghĩ không có hạnh phúc nếu không có hòa hợp tính dục. Suy nghĩ như thế thật là thiển cận và chẳng đúng chút nào. Tính dục là điều đưa chúng ta đến nối kết, cộng đồng, gia đình, tình bạn, tình yêu, sáng tạo, vui vẻ, và duy trì nòi giống. Chúng ta hạnh hạnh phúc và hạnh phúc hoàn toàn khi có được những sự này trong đời, không căn cứ trên việc chúng ta có ngủ một mình hay không. Đời độc thân cho chúng ta những cơ hội riêng của nó để có những điều này. Thiên Chúa không bao giờ đóng một cánh cửa mà không mở ra vô số cánh cửa khác. Ví dụ như, khi nền văn hóa của chúng ta nhận ra rằng sẽ dễ tìm một người yêu hơn một người bạn, thì nó cũng nhận ra rằng tình dục và việc duy trì nòi giống không đơn giản là chuyện về sinh lý.

Có nhiều cách khác để có đời sống tính dục lành mạnh, để thụ thai và thụ tinh, để được làm cha làm mẹ, để có được một sự thân mật tính dục đầy hứng khởi. Có vô số phương cách để đạt đến tính dục, tình yêu, duy trì nòi giống, gia đình, vui thú, và hân hoan.

Trong thời gian đầu khi bắt tay làm việc mục vụ, có lần tôi làm linh hướng cho một thanh niên đang băn khoăn giữa kết hôn và đi tu. Điều khiến anh lần lữa nhất không dám đi tu chính là một nỗi sợ đặc biệt. “Con luôn sợ làm linh mục, vì đời sống độc thân sẽ có nghĩa là con phải chết trong cô độc. Cha của con mất khi con mới 15 tuổi, nhưng ông được chết trong vòng tay mẹ con. Con chống lại đời độc thân vì con muốn được chết như cha con, trong vòng tay người vợ. Nhưng một ngày nọ, con đang suy niệm về cuộc đời Chúa Kitô, con bỗng thấy được đánh động vì Chúa Giêsu đã chết trong cô độc, Ngài được yêu thương, nhưng không được ai ôm lấy lúc qua đời. Ngài đơn độc, nhưng gắn kết mạnh mẽ với tất cả mọi người theo một cách khác. Con thấy thật bị đánh động, đây cũng có thể là một cách tốt để chết!”

Có thể được thế, nhưng như lời của Merton nghĩa là, nếu trước đó, chúng ta đã được phục hồi và biến đổi nhờ thập giá.

Viện Hàn lâm và Hàng ghế nhà thờ – Mối liên hệ gượng ép giữa Thần học và Giáo lý căn bản hỏi thưa

Luôn luôn có một sự căng thẳng bẩm sinh và lành mạnh giữa thần học và giáo lý căn bản, giữa phân khoa thần học và các hàng ghế dài trong nhà thờ. Các thần học gia và các giám mục thường không mến chuộng nhau. Điều này có thể hiểu được. Tại sao lại thế?

Thần học và giáo lý căn bản có những mục đích khác nhau, cho dù cả hai đều có giá trị và cần thiết.

Về căn bản thì giáo lý căn bản là một nỗ lực để dạy những gì là nền tảng của đức tin. Thật vậy, gốc chữ giáo lý căn bản, catechesis, từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tiếng vọng.” Như thế, giáo lý căn bản không thiên nhiều về việc cố gắng hiểu thấu đức tin, mà đơn giản là “tiếng vọng”, cụ thể là truyền đạt đức tin càng rõ càng tốt. Giáo lý viên căn bản không tìm cách chứng minh nền tảng đức tin, dù họ cố đưa ra các chú giải hay cơ sở hợp lý nhất định cho nó. Giáo lý căn bản không tìm kiếm các khúc mắc về tri thức hay những điều có vẻ mâu thuẫn trong giáo lý, đúng hơn mục tiêu của giáo lý căn bản là dạy chân lý và tín lý cho những ai chưa biết. Và người nghe giáo lý căn bản là người chưa biết đến các chân lý đó, cụ thể là tân tòng, và người mới theo đạo.

Vì thế, theo định nghĩa, thực chất giáo lý căn bản là nỗ lực bảo tồn. Mục tiêu của nó không hướng về việc mở rộng tâm trí tín hữu tìm đến những vùng đất mới, nhưng dạy cho họ biết những điều căn bản, truyền đạt các nguyên lý để suy tư. Giáo lý căn bản cố gắng để xây dựng một nền tảng bên trong con người, chứ không phải để mở rộng nền tảng đó.

Mặt khác, thần học không đơn thuần cố gắng lặp lại đức tin, mà nó tìm cách thấu hiểu và phát biểu đức tin một cách rõ ràng bằng một ngôn ngữ hợp với một tâm trí đầy chất vấn và phê phán. Hơn 900 năm qua, phần đông Kitô giáo đã chấp nhận định nghĩa của thánh Anselm rằng thần học là “tìm cách thấu hiểu đức tin.” Nếu Anselm đúng, thì nhiệm vụ của thần học là thẩm xét theo cách phê phán đức tin Kitô giáo, cả về việc đức tin là gì lẫn nội dung của tín lý Kitô giáo, để có thể đưa ra một cái nhìn về cả đức tin lẫn tín lý, đáp ứng được tất cả mọi câu hỏi có thể được đặt ra do những người hoài nghi cả trong và ngoài giáo hội.

Vì thế, cử tọa của thần học khác với cử tọa của giáo lý căn bản. Về lý thuyết, thần học có ba cử tọa: thứ nhất gồm những người theo đạo đã học giáo lý căn bản và muốn có một tri thức sâu đậm hơn về đức tin, thứ hai là giới hàn lâm nghiên cứu (trường đại học, nghệ thuật, các trung tâm tri thức) nơi đức tin và tín lý thường bị đưa ra chất vấn, và thứ ba là tổng thể nền văn hóa và thế giới mà Kitô giáo phải tự chứng minh cho mình và chứng minh bằng con đường tri thức.

Do đó, về cơ bản, thần học là một nỗ lực tự do trải rộng. Tại sao? Chúng ta không bao giờ nói đến một trường “Đại học Nghệ thuật Bảo thu,” thì thần học cũng vậy, thần học phải mang tính tự do trải rộng. Đây hẳn là một chuyện mang tính nghịch hợp. Như lời kinh điển của hồng y Newman đã nói rõ trong quyển sách bàn về giáo dục của ngài, quyển Khái niệm về Đại học, thì các viện nghiên cứu sâu, các trường đại học, học viện nghệ thuật … vv,  mang trong mình tính tự do trải rộng, cụ thể là, mục đích của chúng là để mở mang con người, để khiến con người bắt tay vào những chất vấn khó khăn và đầy phê phán, để đưa con người đến một tầm mức trưởng thành trong khuôn khổ của họ (ở đây là đức tin và tín lý) để họ không sợ hãi khi phải đối diện với bất kỳ điều gì đang đến, và để giúp họ trở thành những người dẫn đầu trong lĩnh vực của mình. Giáo lý căn bản nhằm tạo một khuôn khổ chính thống, thần học nhằm tạo ra một lãnh đạo có hiểu biết.

Giáo hội cần cả hai. Cần phải nhấn mạnh cả giáo lý căn bản lẫn thần học, quy hướng cả hai về những ai cần học những căn bản đức tin lẫn những ai đang cố để nhận thức đức tin theo lối tri thức. Chúng ta thừa nhận có một căng thẳng bẩm sinh giữa hai điều này. Các hàng ghế ở nhà thờ luôn luôn cảm thấy các thần học gia quá tự do, trong khi các thần học gia lại có khuynh hướng mệt mỏi với hàng ghế nhà thờ, lo rằng các vấn đề hóc búa sẽ không được nhắc đến. Tuy nhiên, không bao giờ được chọn hoặc cái này hoặc cái kia, phải luôn luôn chọn cả hai. Giáo hội cần những người có nền tảng giáo lý  căn bản vững vàng, những người biết rõ những điều cốt yếu trong đức tin, giáo hội cũng cần những người cố gắng để trình bày rõ ràng đức tin đó ở một tầm mức phê phán hơn và không chút sợ hãi hay trốn tránh, nhìn thẳng vào cơn bão dữ dội của những phản đối về mặt tri thức của những người giận dữ giáo hội và mọi kiểu chống đối đức tin.

Tính chính thống là điều quan trọng, nếu nó là đá tảng để giữ bạn thì nó cũng là chiếc lò xo để bạn được bật lên. Một ví dụ, từ chủng viện “seminary” có gốc từ tiếng La Tinh là seminarium, nghĩa là “nhà kính.” Nhà kính không phải là nơi để trồng cây đa, cây sồi. Nhưng là nơi nuôi cây con mềm yếu, non nớt, cần được bảo vệ khỏi môi trường khắc nghiệt bên ngoài. Đó là nơi bảo vệ cây non hay để dưỡng cây quá yếu, nhưng đó không phải là nơi để trồng một cây đại thụ.

Mối liên hệ giữa giáo lý căn bản và thần học nên được xác định theo cách đó. Giáo lý căn bản là seminary, một nơi cần thiết để ươm mầm và bảo vệ những cây còn nhỏ và quá yếu, còn thần học là một nơi ít bảo vệ hơn để đến cuối cùng bạn nuôi lớn được cây đại thụ.