RonRolheiser,OMI

Mọi giọt nước mắt đưa Đấng Cứu Thế đến gần hơn

“Con người luôn luôn thiếu kiên nhẫn, nhưng Thiên Chúa không bao giờ vội vã!” Nikos Kazantzakis đã viết như vậy và chúng nhấn mạnh một sự thật quan trọng: Chúng ta cần phải kiên nhẫn, vô cùng kiên nhẫn, với Thiên Chúa. Chúng ta cần phải để mọi việc tỏ lộ đúng thời điểm của nó, đúng thời điểm của Thiên Chúa.

Nhìn vào lịch sử tôn giáo qua nhiều thế kỷ, chúng ta không thể không bị đánh động bởi sự thật rằng, dường như trước sự mất kiên nhẫn của chúng ta, Thiên Chúa vẫn giữ hạn định thời gian của Ngài. Kinh thánh thường ghi lai sự khắc khoải đến nản lòng, sự bất thành toàn, và sự mất kiên nhẫn của con người. Càng hiếm hơn nữa những lúc Thiên Chúa can thiệp trực tiếp và dứt khoát để giải quyết một căng thẳng cụ thể nào đó của con người. Chúng ta luôn luôn khao khát có Đấng thiên sai đến cất đi đau đớn và báo oán cho những áo bức, nhưng những lời cầu nguyện của chúng ta dường như rơi vào đôi tai điếc đặc.

Và chúng ta thấy trong Kinh thánh luôn luôn có tiếng kêu than đau đớn: Xin đến, lạy Chúa, xin hãy đến! Xin cứu chúng con! Chúng con còn phải chờ bao lâu nữa đây! Lúc nào, lạy Chúa, đến lúc nào! Tại sao không phải ngay bây giờ! Chúng con luôn luôn bồn chồn mất kiên nhẫn, nhưng Chúa lại không vội vã. Tại sao lại thế? Tại sao Chúa dường như hành động quá chậm trễ? Chẳng lẽ Chúa nhẫn tâm nhìn thống khổ của chúng con sao? Tại sao Chúa quá kiên nhẫn, quá thong thả trong dự định, trong khi chúng con ngập chìm trong thống khổ? Tại sao Chúa hành động quá chậm trễ trước sự xao xuyến của nhân loại?

Có những dòng trong văn học huyền bí Do Thái, với phép ẩn dụ, sẽ giúp giải đáp cho câu hỏi này: Tất cả mọi giọt nước mắt đưa Đấng Cứu Thế lại gần hơn! Dường như có một mối dây liên kết bên trong giữa nản lòng và khả năng hạ sinh Đấng thiên sai. Dường như Đấng thiên sai chỉ có thể được sinh ra sau một thời gian dài khắc khoải của con người. Tại sao lại thế?

Việc sinh nở của con người có thể giúp giải đáp câu hỏi này, thời kỳ thai nghén không thể vội vã, có một liên kết phối hợp giữa cơn đau của bà mẹ và sinh linh được chào đời. Việc sinh hạ Chúa Giêsu cũng thế. Mùa Vọng là tiến trình thai nghén không thể đẩy nhanh gấp gáp được. Những giọt nước mắt, nỗi đau, và một mùa dài cầu nguyện là điều cần thiết để tạo nên điều kiện cho dạng thai nghén sẽ đưa Đấng thiên sai đến thế giới của chúng ta. Tại sao lại thế? Vì tình yêu và sự sống thật sự chỉ có thể được sinh ra khi sự kiên nhẫn đau khổ lâu dài đã tạo được một không gian đúng hợp, một cung lòng trinh nữ, để từ đó sự cao cả siêu phàm được hạ sinh. Có lẽ hai ẩn dụ này có thể giúp chúng ta hiểu ra.

Gioan Thánh Giá đã cố gắng giải thích làm thế nào con người phát triển được tình yêu tha nhân, ngài dùng hình ảnh khúc cây bùng cháy thành ngọn lửa trong lò. Khi khúc cây xanh được đặt vào lửa, nó không bùng cháy ngay lập tức. Trước hết, nó cần được làm khô. Sau một lúc lâu nằm trên lửa, nhựa chảy ra và dần dần khúc cây không còn xanh và ẩm nữa. Chỉ khi đạt đến nhiệt độ cháy, nó mới bắt lửa và cháy bùng thành ngọn. Nói theo cách ẩn dụ, trước khi khúc cây bùng cháy thành ngọn, nó phải trải qua một mùa vọng, một sự khô đi, một thời gian nản lòng và khắc khoải. Vậy, động lực để tình yêu thật sinh ra trong cuộc đời chúng ta cũng tiến hành như vậy. Chúng ta có thể bắt lửa với tình yêu chỉ khi chúng ta, những khúc cây xanh ẩm và ích kỷ, được nung khô cho đủ. Và ngọn lửa làm cho chúng ta được nung khô chính là nỗi khát khao chưa trọn.

Pierre Teilhard de Chardin cho chúng ta một ẩn dụ khác, khi ông nói về một điều mà ông gọi là “tăng thêm nhiệt độ siêu linh của chúng ta.” Trong phòng thí nghiệm hóa học, có thể đặt hai chất trong cùng một ống nghiệm và chúng không phản ứng hợp lại với nhau. Những chất đó vẫn tách biệt, không hợp nhất với nhau được. Chỉ sau khi được nung đến một nhiệt độ đủ cao, chúng mới phản ứng hợp lại với nhau. Chúng ta cũng chẳng khác gì thế. Thường thì chỉ khi nhiệt độ siêu linh của chúng ta được tăng đủ, thì mới có phản ứng hợp nhất, chỉ khi nỗi khát khao chưa được đáp lại làm tăng nhiệt độ siêu linh của chúng ta đến mức đủ, thì chúng ta mới có thể chuyển hướng đến sự hòa hợp và hợp nhất. Nói đơn giản, đôi khi chúng ta phải được đẩy đến một cơn sốt cao qua những nản lòng và đau đớn, trước khi sẵn sàng lên đường ra khỏi thói ích kỷ của mình và để mình được đưa vào thông hiệp.

Thomas Halik đã từng nói, người vô thần đơn giản chỉ là một cách nói để nói về người nào không đủ kiên nhẫn với Thiên Chúa. Ông đúng. Thiên Chúa không bao giờ vội vã, và Ngài làm thế vì những lẽ phải. Đấng thiên sai chỉ có thể được sinh ra trong dạ đặc biệt, cụ thể là dạ kiên nhẫn và bằng lòng chờ đợi sao cho mọi sự xảy đến theo hạn định của Thiên Chúa, chứ không phải của chúng ta.

Do đó, theo lý thuyết thì, tất cả mọi giọt lệ sẽ đưa Đấng thiên sai đến gần hơn. Đây không phải là bí ẩn không thể hiểu nổi. Tất cả mọi nản lòng sẽ khiến chúng ta sẵn sàng hơn để yêu thương. Tất cả mọi giọt lệ sẽ khiến chúng ta sẵn sàng hơn để tha thứ. Tất cả mọi mối đau lòng sẽ khiến chúng ta sẵn sàng hơn để tránh xa những tách biệt. Tất cả khát khao chưa trọn sẽ dẫn dắt chúng ta đến với một lời cầu nguyện sâu đậm hơn và chân thành hơn. Và tất cả mọi bứt rứt đau đớn hướng đến một sự thành toàn vốn dường như luôn né tránh chúng ta, nỗi bứt rứt đó sẽ khiến chúng ta đủ nóng nảy để cháy bùng thành ngọn lửa tình yêu.

Và tôi xin đưa thêm một hình ảnh nữa: Khi xác thịt oằn lên rên xiết, sự sống thần linh sẽ đến!

Lòng trung thực thiếu định hướng

Tôi tin chắc bất cứ ai gần gũi với đời sống và các bài viết của triết gia Simone Weil, sẽ đồng ý rằng bà là người có đức tin ngoại hạng. Bà cũng là người tận tâm với người nghèo không lay chuyển. Nhưng, và điều này có vẻ bất thường, bà cũng rõ ràng là người ngoại hạng và không lay chuyển trong việc chống đối giáo hội thể chế. Suốt đời, bà khao khát được rước mình thánh mỗi ngày, dù bà từ chối rửa tội và tham dự vào giáo hội. Tại sao?

Không phải vì các sai trái và sa ngã của giáo hội làm cho bà buồn lòng. Bà là người theo chủ nghĩa hiện thực và chấp nhận rằng tất cả gia đình và thể chế đều có những bất tín, vết nhơ và tội lỗi. Bà không tha thứ cho giáo hội, chính yếu không phải vì các khiếm khuyết của giáo hội. Sự cự lại không khuất phục triệt để giáo hội thể chế của bà, thực sự bắt nguồn từ một nỗi lo âu đặc biệt mà bà cảm nhận khi đối diện với bất kỳ thể chế xã hội nào. Vì bà thấy chủ nghĩa ái quốc thiếu tinh thần phê phán và lòng trung thực thiếu định hướng thường chỉ tạo nên một thể chế bất lực, trong đó, các thành viên, không thể nhìn ra tội lỗi và khiếm khuyết bên trong thể chế của mình. Ví dụ, các công dân yêu nước mãnh liệt có thể mù mắt trước những bất công mà quốc gia họ gây ra, những người sùng đạo sâu đậm có thể bị lòng trung thành với giáo hội của họ đè nén nên họ không còn thấy các lỗi phạm của giáo hội, cũng như có rất nhiều vị thánh đã từng ủng hộ Thập tự chinh và Tòa dị giáo vậy. Weil tin rằng, trung thành một cách mù lòa với quốc gia, giáo hội, gia đình, hay bất kỳ điều gì khác, đã trở thành một dạng thờ ngẫu tượng.

Bà đã đúng. Trung thành một cách mù lòa có thể dễ dàng trở thành thờ ngẫu tượng, cho dù nó thành tâm và có lý lẽ cao đi chăng nữa. Có lẽ sẽ sai lầm khi phê phán lòng trung thành, nhưng chúng ta có thể trung thành quá độ, trung thành đến mức lòng trung thành bịt mắt không cho chúng ta thấy những mối hại thực sự, đôi khi lại do chính tay những người mà chúng ta đang dành trọn lòng trung thành gây ra.

Chúng ta tất cả đều quen với một số câu châm ngôn nào đó, những thứ theo cách của mình, sẽ dùng lòng trung thành đánh lận tất cả mọi chuyện khác: Đất nước của tôi, đúng hoặc sai! Giáo hội, yêu hoặc bỏ! Một bí mật xấu xa của gia đình cần phải giữ kín trong gia đình, chẳng ai có việc gì can dự vào cả! Nhưng những câu châm ngôn kêu gọi lòng trung thành kiểu ngây thơ và thiếu phê phán này, chẳng có gì là khôn ngoan mà cũng không có tính Kitô giáo. Cả sự khôn ngoan nhân loại và cả cương vị môn đệ Kitô hữu đều kêu gọi chúng ta đến với một điều gì đó cao hơn.

Tất cả mọi gia đình, tất cả mọi đất nước và tất cả mọi giáo hội, đều có tội lỗi và khiếm khuyết của mình, nhưng tình yêu và lòng trung thành của chúng ta có nghĩa là, thay vì bịt mắt trước các sai lầm đó, chúng ta phải thách thức bản thân và mọi người trong cộng đồng mình nhìn ra và sửa chữa các tội lỗi và khiếm khuyết đó. Chúng ta có thể học được những bài học từ chương trình Phục hồi 12 bước. Những gì họ đã học qua nhiều năm kinh nghiệm xử lý những biến chứng của mọi loại sự việc, chính là, khi đối mặt với bệnh hoạn, bên trong bất kỳ nhóm hay mối quan hệ nào, thì việc làm mang tính yêu thương nhất chính là đứng lên đương đầu với căn bệnh đó. Không đương đầu có nghĩa là cho phép nó lớn lên. Tình yêu thực sự và lòng trung thành thực sự không được thiếu tính phê phán. Họ không bao giờ nói rằng: Đây là gia đình, đất nước, giáo hội của tôi – đúng hay sai! Thay vào đó, khi mọi thứ đi sai đường, họ bảo chúng ta phải thể hiện tình yêu và trung thành không phải bằng cách bảo vệ nhóm của mình, nhưng là bằng việc đứng lên đối đầu với những gì sai trái.

Thật vậy, đó chính là truyền thống kinh thánh của các ngôn sứ, các ngôn sứ đã làm chính xác như vậy. Họ yêu thương dân mình và trung thành mãnh liệt với truyền thống tôn giáo của mình, nhưng họ không trung thành mù quáng để không phê phán các sai lầm bên trong cộng đồng tôn giáo của mình. Họ không bao giờ bị lòng trung thành sai lầm đè nặng để bịt mắt trước những tội lỗi trong cơ cấu tôn giáo của mình và câm miệng trước những lỗi phạm đó. Họ không bao giờ nói về truyền thống tôn giáo của mình theo kiểu: Yêu hoặc từ bỏ!  Thay vào đó, họ nói: Chúng ta phải thay đổi điều này – và chúng ta phải thay đổi nó vì lòng trung thành và tình yêu.

Chúa Giêsu đã làm như thế. Ngài đã trung thành và trung tín với đạo Do Thái, nhưng Ngài không câm nín trước những lỗi phạm và sai trái của đạo Do Thái thời đó. Vì tình yêu, ngài thách thức tất cả mọi thứ sai trái. Ngài đã dạy, và mạnh mẽ dạy rằng, lòng trung thành tôn giáo mù quáng có thể là thói thờ ngẫu tượng. Ngài cũng sẽ không dạy rằng trung thành và tình yêu nghĩa là không bao giờ phê phán cộng đồng của mình. Thật vậy, Ngài đã phá bỏ những gì được coi là cụ thể về gia đình, đất nước, giáo hội, và Ngài yêu cầu chúng ta phải hiểu việc này theo một cách hiểu cao hơn. Ngài hỏi: Ai là mẹ và là anh chị em của anh em? Và Ngài tiếp tục đưa ra điều này không được xác định bằng huyết thống, quê hương, hay tôn giáo. Gia đình thực sự được tạo lập nên bằng những điều khác, cụ thể là những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa, bất chấp khác biệt huyết thống, quê hương, hay tôn giáo. Từ đó cho thấy, huyết thống, quê hương, và tôn giáo phải được đưa ra phê phán và phản đối bất kỳ lúc nào chúng ngăn chận sự hiệp nhất sâu sắc hơn trong đức tin và công lý.

Một giọt máu đào hơn ao nước lã. Nhưng với Chúa Giêsu, đức tin và công lý còn cao hơn huyết thống, quê hương và giáo hội. Hơn nữa, với Ngài, tình yêu và trung thành xác thật, tự biểu lộ mình qua lòng tận tâm thách thức mọi thứ sai trái, ngay cả khi làm như thế có vẻ là bất trung với cộng đồng, với những gì là của mình.

Tìm kiếm một Lời đầy Hiện thực

Đức tin không phải là điều bạn đạt được. Nếu bạn cố gắng đóng chặt nó xuống, nó sẽ trỗi dậy và ra đi với chiếc đinh. Đức tin hoạt động theo cách này: Có lúc bạn đi trên mặt nước, có lúc bạn chìm nghỉm như tảng đá giữa dòng. Nhà thơ Rumi đã nói, bạn sống với một bí mật sâu thẳm, có lúc bạn biết, có lúc bạn không biết, rồi lại biết. Đôi khi bạn cảm thấy có một sự hiện diện thật sự, đôi khi bạn thấy trống vắng thật sự. Tại sao như vậy?

Vì, giống như tình yêu, đức tin là một cuộc hành trình, luôn mãi thăng trầm, với những giai đoạn luân phiên giữa tha thiết và lãnh đạm, với an ủi và cô quạnh, có những lúc cảm nhận ân sủng Thiên Chúa hiện diện hiển nhiên, có lúc như đêm dài tăm tối khi Thiên Chúa vắng mặt. Đó là một tình trạng lạ lùng: đôi khi bạn thấy mình kết chặt với Chúa, chặt chẽ vô cùng, lúc khác bạn thấy mình như rơi tự do khỏi tất cả những gì an toàn, và rồi khi mọi thứ chạm đáy, một lần nữa, bạn lại cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa.

Tại sao đức tin phải có động lực mơ hồ này? Không phải là Thiên Chúa ác độc, đang đùa giỡn với chúng ta, muốn thử thách lòng trung tín của chúng ta, hay muốn chúng ta phải làm việc gì đó khó khăn để kiếm được ơn cứu độ. Không, những thăng trầm đức tin phải đi cùng với nhịp điệu của đời sống bình thường, đặc biệt là nhịp điệu của tình yêu. Tình yêu cũng như đức tin, có những giai đoạn tha thiết và đêm đen tăm tối. Tất cả chúng ta đều biết, bên trong giao kết lâu dài nào (hôn nhân, gia đình, tình bạn, hay giáo hội), đều có những ngày, những mùa nào đó, khi tâm hồn và tâm trí chúng ta không còn giữ giao kết đó, dù vẫn ở trong nó. Tâm trí và tâm hồn của chúng ta phai mờ đi dần, nhưng chúng ta cảm nghiệm tình yêu, xét cho tận cùng, là một điều không dựa vào tâm trí, cái đầu, hay thậm chí là tâm hồn, quả tim. Có một sự gì đó sâu kín hơn giữ lấy chúng ta, và một lúc nào đó, giữ chúng ta ra ngoài tầm của những suy nghĩ trong tâm trí hay cảm giác trong tâm hồn.

Trong bất kỳ giao kết tình yêu nào được duy trì, thì tâm trí và tâm hồn của chúng ta sẽ phai mờ lúc lên lúc xuống. Đôi khi tha thiết, đôi khi lạnh nhạt. Đức tin cũng hoạt động như vậy. Đôi khi chúng ta cảm nhận và nhận thức thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm trí và tâm hồn, đôi khi cả tâm trí và tâm hồn đều lạnh nhạt và lãnh đạm. Nhưng đức tin là một cái gì thâm sâu hơn là hình dung hay cảm nhận có sự hiện diện của Thiên Chúa. Nhưng làm sao chúng ta đạt đến đó? Chúng ta phải làm gì những khi cảm thấy như thể Thiên Chúa vắng mặt.

Nhà thần nghiệm vĩ đại, Gioan Thánh Giá, đã cho chúng ta lời khuyên này. Nếu bạn muốn tìm ra sự hiện diện của Thiên Chúa một lần nữa vào những lúc bạn cảm thấy Ngài vắng mặt, thì bạn hãy lắng nghe lời tràn đầy hiện thực và chân lý thâm sâu khôn lường.

Gioan Thánh Giá nói thế nghĩa là gì? Làm sao lắng nghe được lời tràn đầy hiện thực và chân lý thâm sâu khôn lường? Làm sao tìm được một lời như thế? Thành thực mà nói, cho dù lời của ngài bùng lên nhiều ý nghĩa trong đầu tôi, nhưng tôi không hoàn toàn chắc về ý của ngài. Sẽ dễ giải nghĩa hơn nếu ngài bảo chúng ta hãy tìm kiếm một cảm nghiệm thâm sâu và đầy thực tế, ví dụ việc sinh một đứa trẻ, chết lặng trước vẻ đẹp khôn lường, hay tan vỡ tâm hồn khi mất mát hay đối diện cái chết. Những dạng cảm nghiệm này có thật, tồn tại thật mà chẳng thể hiểu được, và chúng bật chúng ta vào một nhận thức sâu sắc hơn. Và như thế, nếu Thiên Chúa để cho con người tìm kiếm, thì chẳng phải sẽ tìm thấy Thiên Chúa chính ở nơi đó hay sao?

Nhưng Gioan không hướng dẫn chúng ta đến với cảm nghiệm thiếu chiều sâu, ngài đang yêu cầu chúng ta tìm kiếm một lời hiện thực và thâm sâu. Như thế nghĩa là khi chúng ta dao động và hoài nghi, chúng ta phải săn tìm những bản văn (trong kinh thánh, thần học, linh đạo, hay văn học và thơ ca thế tục) nói với chúng ta theo một cách tái truyền thụ cho chúng ta một nhận thức nền tảng rằng Thiên Chúa hiện hữu và yêu thương chúng ta, và do đó, chúng ta phải sống trong yêu thương và hy vọng. Chẳng phải là vậy hay sao?

Tôi nghĩ đây mới chính là ý của ngài. Thiên Chúa độc nhất, chân thật, tốt lành, và tuyệt mỹ, và như thế lời thật về sự hiệp nhất, sự thật, tốt lành, hay vẻ đẹp phải có sức mạnh giữ vững tâm trí và tâm hồn lay động của chúng ta. Lời thật có thể khiến Ngôi Lời thành xác phàm lần nữa.

Nhưng những lời nào có sức mạnh như thế cho chúng ta? Chúng ta tất cả đều khác nhau, và như thế không phải ai cũng tìm thấy sự thật và thâm sâu theo cách giống nhau. Vì thế, mỗi một người trong chúng ta phải tự thực hiện cuộc tìm kiếm riêng mình, vô cùng riêng của mình.

Về bản thân tôi, có nhiều lời của các tác giả khác nhau đã truyền tải dạng chân lý này cho tôi trong nhiều giai đoạn của cuộc sống. Quyển Câu chuyện một Linh hồn của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã giữ vững tôi trong những khi tôi nao núng. Quyển Chùm nho Phẫn nộ của John Steinbeck, có thể tái định hướng tầm nhìn của tôi để nó được phẳng lặng khi nó bị vẩn đục. Những đoạn văn khác nhau của Karl Rahner, John Shea, Raymond Brown, Henri Nouwen có thể con tàu của tôi được vững vàng khi nó bị chòng chành. Và một vài lời của Dag Hammarskjold có thể làm cho tôi muốn sống sao để phản ánh lại những điều tốt đẹp trong đời hơn nữa.

Nhưng, bằng cách riêng của mình, mỗi chúng ta cần phải tìm kiếm những lời đầy tràn hiện thực và sự thật khôn dò thấu, để khơi lên cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa.

Đương đầu với phẫn uất trong đời mình

Tôi nghĩ rằng nhiều người trong chúng ta biết về tác phẩm của nhà nhân học lừng danh René Girard, và ảnh hưởng từ những thấu suốt của ông trên tác phẩm của học trò mình, Gil Bailie. Với lòng tri ân dành cho họ, tôi xin đưa ra đây một trong những nhận thức sáng suốt của họ, một cái nhìn vô giá về cách chúng ta cố gắng xử lý nỗi phẫn uất trong đời mình.

Khi các phi hành gia đi vào không gian, tàu của họ được trang bị một máy thải khí CO2 từ hơi thở của họ. Nếu chiếc máy này trục trặc, họ sẽ gặp khó khăn như chúng ta thấy trong phim Apollo 13. Du hành trong con tàu không gian chỉ có thể thực hiện nếu có máy liên tục thải khí CO2 mà chúng ta thở ra.

Với cuộc hành trình của con người cũng vậy. Tất cả mọi nhóm người đều liên tục sản xuất khí gas ngột ngạt của phẫn uất và ghen tị. Phẫn uất tồn tại gần như bên trong tất cả gia đình và cộng đồng con người, vì theo Girard, chúng ta thích “bắt chước,” nghĩa là trong các việc, chúng ta luôn muốn cái mà người khác có. Sự thật không thể chối cãi này tạo ra căng thẳng, phẫn uất, ghen tương, và xung đột. Chẳng có gì là ngẫu nhiên khi hai trong Mười Điều Răn có liên quan đến thói ghen tị.

Vậy cỗ máy cố gắng loại bỏ khí CO2 ghen tương và phẫn uất trong đời sống con người là gì? Các nhà nhân học cho chúng ta biết rằng chúng ta tự loại bỏ căng thẳng cho mình bằng con dê tế thần. Con dê gánh hết tội lỗi của dân theo truyền thống Do Thái (Lv 16).Con dê tế thần đó làm việc như thế nào và làm sao nó loại bỏ được căng thẳng?

Có thể hiểu được qua ví dụ này: Hãy tưởng tưởng bạn đang đi ăn trưa với một vài bạn học hay đồng nghiệp. Sẽ có, luôn luôn là như thế, một vài xung khắc cá tính và tình trạng căng thẳng giữa hai người. Tuy vậy chúng ta cũng có thể có một bữa ăn vui vẻ, hòa hợp. Làm sao để được như thế? Đó là nhờ những con dê tế thần, những người vắng mặt, những người mà tất cả chúng ta đều không ưa, chúng ta xem họ là người lập dị khó tính, những người mà chúng ta xem sự hiện diện của họ đem lại tác động tiêu cực và kỳ cục. Và chúng ta nói về họ, về ông chủ dữ dằn, về một bạn học khó tính, về một đồng nghiệp kỳ quái. Khi làm như thế, khi nhấn mạnh sự khác biệt hay cự tuyệt của những người khác đối với chúng ta, chúng ta làm tan biến đi các căng thăng giữa hai người. Đó là đặc tính của con dê bị tế thần. Chúng ta xây dựng mối giao thiệp với nhau bằng cách đẩy căng thẳng giữa chúng ta qua người khác. Khi loại trừ người đó khỏi nhóm mình, chúng ta tạo ra được mối quan hệ với người khác, nhưng như thế, sự hòa hợp giữa chúng ta dựa vào điều mà chúng ta cùng nhau chống lại hơn là dựa vào những gì chúng ta hướng đến.

Tất cả mọi nhóm, cho đến khi đạt được một mức độ trưởng thành nhất định, đều làm như thế cả. Và khi đối diện với căng thẳng trong đời sống riêng của mình, chúng ta cũng làm như thế. Cách xử thế này hoạt động như sau: Một buổi sáng, chúng ta thức dậy và, vì vô số lý do, chúng ta cảm thấy rối bời, nặng trĩu do một đống tạp nhạp chán nản, lo lắng, giận dữ. Vậy chúng ta làm gì đây? Chúng ta tìm một ai đó để đổ lỗi. Luôn luôn chúng ta  nhanh chóng chọn được người (trong gia đình, nơi làm việc, một chính trị gia, hay một giới chức tôn giáo) để trút căng thẳng vào người đó. Một người mà chúng ta xem là khó tính, ngu đần, sai lầm về chính trị, hủ bại về đạo đức, hay xấu xa về mặt tôn giáo, người đó sẽ sớm phải lãnh gánh nặng căng thẳng và phẫn uất của chúng ta.

Hơn nữa, chúng ta không chỉ đẩy căng thẳng về phía một ai đó, mà chúng ta còn luôn “sát tế” nỗi căm phẫn mà chúng ta đang cảm nhận, chúng ta sẽ đẩy căng thẳng và giận dữ của mình về phía người đó không chỉ vì người đó khác chúng ta hay chúng ta xem họ là khó tính, ngu đần, biếng nhác, nhưng chúng ta làm thế, đặc biệt là vì chúng ta cảm thấy mình vượt trội họ về mặt đạo đức, chúng ta đúng, còn họ sai, chúng ta tốt còn họ thì xấu. Như thế phẫn uất mà chúng ta nhắm vào người đó được xem là một phẫn uất thánh thiện và cần thiết vì danh Chúa, vì sự thật và sự thiện, cũng như tất cả những việc hành hình bằng đóng đinh, treo cổ, và rút phép thông công vậy.

Đó là cơ chế thông thường mà con người dùng để tự loại bỏ phẫn uất bên trong cộng đồng và bên trong bản thân mình. Chúa Giêsu đã bị đóng đinh, chính xác là do cộng đồng, họ đã đóng đinh Ngài vì những lý do thánh thiện.

Nhưng, nạn nhân cao nhất kiểu con dê tế thần chính là Chúa Giêsu, Ngài mời chúng ta hướng đến một điều gì đó cao hơn, và Ngài đã làm gương cho chúng ta. Chúa Giêsu loại bỏ căng thẳng bằng cách biến đổi nó hơn là đẩy nó đi. Việc Chúa Giêsu làm có thể xem như tác dụng của một thiết bị lọc nước. Thiết bị lọc nước được cho vào dòng nước bẩn nhiễm hóa chất và độc hại. Nó giữ những thứ không sạch và cho chúng ta dòng nước sạch. Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa, đã lấy đi tội của chúng ta, và thanh lọc chúng ta trong máu của Ngài, chứ không phải bằng phép thuật, chính xác là Ngài đã hấp thụ và biến đổi tội lỗi của chúng ta. Cũng như thiết bị lọc nước, Ngài đón lấy hận thù, giữ nó, biến đổi nó, và trả lại tình yêu, Ngài đón lấy đố kỵ, giữ nó, biến đổi nó, và trả lại nâng đỡ, Ngài đón lấy phẫn uất, giữ nó, biến đổi nó và trả lại thương cảm, và cuối cùng, Ngài đón lấy sát nhân, giữ nó, biến đổi nó, và trả lại tha thứ. Đó là hình mẫu Kitô giáo trong việc xử lý căng thẳng và phẫn uất, đẩy chúng ra khỏi đời sống chúng ta.

Và, như Soren Kierkegaard đã đề nghị, chúng ta không được chỉ ngưỡng mộ những gì Chúa Giêsu đã làm, mà chúng ta phải bắt chước những gì Ngài làm, phải làm như thế.  

Chết trong bàn tay tin yêu

Thật khó để nói lời an ủi khi đứng trước cái chết, dù người quá cố đã sống trọn cuộc đời, sống thọ và ra đi trong bình an. Đặc biệt khó hơn khi người chết còn trẻ, còn cần được chăm sóc nuôi dưỡng, khi họ chết trong hoàn cảnh không được lý tưởng cho lắm.

Là một linh mục, tôi đã nhiều lần chủ lễ các tang lễ của những người chết trẻ vì bệnh tật, tai nạn, hay tự vẫn. Những đám tang như thế luôn luôn buồn thảm và mang tính hoài nghi. Tôi còn nhớ một đám tang như vậy: Một học sinh trung học chết vì tai nạn xe hơi. Gia đình, bạn bè, và bạn học của em lòng đầy thương tiếc đến dự chật kín cả nhà thờ. Mẹ cậu, vẫn còn trẻ, ngồi ở hàng ghế đầu, lòng bà nặng trĩu với nỗi tang thương mất mát của mình, nhưng rõ ràng bà quặn thắt khi nghĩ về đứa con. Và hơn hết, em chỉ là một đứa trẻ, phần nào vẫn còn cần người chăm sóc, vẫn cần mẹ. Và bà mẹ cảm nhận em chết trẻ như thế, theo cách nào đó, cũng đã làm em trở thành em bé mồ côi.

Chẳng có mấy lời có tác dụng trong trường hợp như thế này, nhưng có vài lời mà chúng ta buộc phải nói, ngay cả trong một ngày như thế, khi cái chết vẫn còn trước mặt, khi người ta không cảm được bao nhiêu sự an ủi về mặt tình cảm được. Phải nói gì trước một cái chết như thế?  Đơn giản là cậu bé bây giờ đang ở trong bàn tay yêu thương hơn, âu yếm hơn, dịu hiền hơn, và đáng tin cậy hơn đôi tay của chúng ta, rằng ở bên kia có một người mẹ đón nhận em, săn sóc nuôi dưỡng mà em vẫn còn cần, giống như ở đời này vậy. Không một ai sinh ra mà lại không nằm trên bàn tay ẵm của mẹ cả. Đó chính là hình ảnh mà chúng ta cần phải giữ trước mắt để có thể hình dung cái chết một cách lành mạnh hơn.

Vậy cụ thể hơn, hình ảnh này là gì. Một vài hình ảnh nền tảng và dịu hiền như hình ảnh người mẹ ôm và ru đứa con mới sinh của mình.  Lời bài thánh ca Đêm Thánh Vô Cùng, Silent Night, bài thánh ca Giáng Sinh nổi tiếng nhất mọi thời đã lấy cảm hứng từ hình ảnh này. Joseph Mohr, một linh mục trẻ người Đức, chiều trước lễ Giáng Sinh, đã đi đến một căn nhà tranh trong rừng để rửa tội cho một em bé mới sinh. Khi ông ra về, đứa trẻ ngủ ngon trong lòng mẹ. Ông được đánh động quá đỗi trước hình ảnh đó, trước sự sâu thẳm và bình an của hình ảnh đó, rồi khi trở về nhà xứ, ngay lập tức ông viết nên những dòng lừng danh của bản Đêm Tttt Vô Cùng. Người hướng dẫn dàn nhạc của ông, đã thêm một vài hợp âm guitar cho những dòng này, biến chúng thành những dòng bất hủ. Hình ảnh khuôn mẫu tuyệt đối cho yên bình, an toàn, và bảo đảm chính là hình ảnh em bé sơ sinh ngủ trong lòng mẹ. Hơn nữa, khi một đứa trẻ chào đời, không chỉ có một mình người mẹ háo hức muốn ẵm bồng mà tất cả gia mọi người đều muốn.

Có lẽ chẳng có hình ảnh nào phù hợp, mạnh mẽ, có sức an ủi, và chính xác hơn nữa để minh họa những gì xảy đến với chúng ta khi chết đi và tỉnh dậy trong sự sống bất diệt cho bằng hình ảnh bà mẹ ẵm đứa con mới sinh của mình. Khi qua đời, chúng ta chết trong bàn tay Thiên Chúa, và chắc chắn chúng ta đã được đón nhận với quá đỗi yêu thương, trìu mến, dịu hiền như khi chúng ta được mẹ ẵm trên tay lúc mới sinh. Hơn nữa, chắc chắn ở đó, chúng ta được an toàn hơn khi sinh ra trên thế gian này. Tôi cũng nghĩ, ở đó sẽ có những vị thánh quây quần xung quanh, chờ đến lượt mình để được ẵm em bé mới sinh. Và như thế thật an tâm nếu chúng ta chết trước khi sẵn sàng để chết, khi vẫn còn cần được chăm sóc nuôi nấng, khi vẫn còn cần một người mẹ. Chúng ta đang ở trong đôi bàn tay an toàn, ân cần, và đầy tình chăm sóc.

Đó có thể là niềm an ủi thâm sâu bởi cái chết đẩy tất cả mỗi chúng ta vào tình trạng mồ côi, và mỗi ngày, đều có những người chết trẻ, bất ngờ, thiếu chuẩn bị, những người vẫn còn cần được chăm sóc. Tất cả chúng ta khi qua đời, vẫn còn đang cần một người mẹ, Nhưng đức tin bảo đảm cho chúng ta rằng chúng ta sẽ được sinh ra trong đôi bàn tay đáng tin cậy hơn và được nuôi dưỡng hơn đôi bàn tay của nhân loại.

Tuy nhiên, dù có lẽ sẽ đem lại an ủi, nhưng nó vẫn không thể chấm hết nỗi đau buốt vì mất đi người thân yêu. Chẳng gì cất đi được nỗi đau buồn đó cả, vì chẳng có gì được định để làm việc đó. Cái chết là vết sẹo không phai trong tâm hồn chúng ta vì đó chính là những đau đớn do tình yêu mà ra. Dietrich Bonhoeffer đã nói về điều này như sau: “Không có gì có thể khỏa lấp việc mất đi người chúng ta yêu thương. … Thật vô lý khi nói rằng Thiên Chúa lấp đầy khoảng trống, Thiên Chúa không lấp đầy nó, nhưng ngược lại, ngài vẫn để nó trống rỗng và như thế giúp chúng ta giữ mối giao tình với người đã mất cho dù cái giá của nó là nỗi đau.  … Ký ức của chúng ta, nếu càng nhiều và càng thiết tha, thì sự chia lìa càng nên khó khăn hơn. Nhưng lòng biết ơn biến đổi những nhói buốt trong ký ức thành niềm vui thanh bình. Vẻ đẹp của quá khứ không phải là chiếc gai đâm xé da thịt nhưng chính là tặng vật quý báu.”

Đời sống độc thân

Vũ trụ làm việc có đôi có cặp. Từ các nguyên tử cho đến loài người, sự duy trì nòi giống dựa vào sự kết hợp với người khác. Dường như hạnh phúc cũng từ đó mà ra.

Vậy những người độc thân đi về đâu? Làm sao họ có thể bình thường, duy trì nòi giống, và sống hạnh phúc?

Với nhiều người sống độc thân, cuộc đời này có vẻ bất công. Dường như, tất cả mọi thứ đều được sắp đặt có đôi có cặp, còn họ thì đơn độc. Và đó không phải là vấn đề duy nhất. Một vấn đề nữa, và quá thường xảy ra, là cả giáo hội và xã hội không cho người độc thân những khí cụ mang tính biểu tượng để họ có thể hiểu được tình trạng của mình trên con đường trao truyền sự sống.

Hậu quả là, người độc thân thường thấy họ đứng ngoài cuộc đời, họ là kẻ dị thường, và thiếu một điều gì đó thiết yếu trong đời. Hơn nữa, không như những người kết hôn và khấn khiết tịnh, có quá ít người độc thân thấy rằng họ đã chủ động chọn lựa tình trạng này của mình. Đúng hơn, họ thấy mình bị rơi vào tình trạng cưỡng bức không may. Rất ít người độc thân thấy thanh thản và chấp nhận số phận mình. Thay vào đó, họ xem nó là một điều tạm thời, một điều cần phải vượt qua. Hiếm có người độc thân nào, đặc biệt là người trẻ, thấy mình đang thêm tuổi và chết trong cảnh độc thân – mà lại hạnh phúc. Cảm giác của họ luôn là: Phải thay đổi chuyện này. Tôi không chọn sống thế này. Tôi không thể nhìn mình như thế này cho đến hết đời.

Có nhiều mối nguy thực sự khi mang cảm giác như thế. Thứ nhất, đó là mối nguy không bao giờ sống cho trọn vẹn và vui vẻ cũng như không xem trọng cuộc sống hiện thời của mình, đồng thời họ không bao giờ tích cực chấp nhận thực tại của mình và không bao giờ chấp nhận tinh thần sống phù hợp với cuộc sống thực tế của họ. Đi kèm là mối nguy hoang mang để rồi đơn giản kết hôn vì hôn nhân được xem là liều thuốc bá bệnh và không thể có hạnh phúc nếu ở ngoài hôn nhân.

Phần nào những nỗi sợ này dần dần in sâu. Độc thân mang theo nó một mất mát thực sự. Chối bỏ sẽ chẳng giúp được gì. Lòng mộ đạo quá đáng hay tinh thần Platon, những đường hướng chối bỏ sức mạnh của tình dục không làm nguôi đi xúc cảm của chúng ta hay xóa nhòa được một sự thật mà Thiên Chúa đã phán rằng: Không tốt khi con người sống một mình! Vũ trụ làm việc có đôi có cặp và sống đơn độc là một khác biệt, một mức độ khác biệt hơn những gì chúng ta dám thừa nhận. Thomas Merton, khi nghĩ về tình trạng độc thân của mình, đã nói: “Việc từ chối phụ nữ là lỗi khiết tịnh của tôi. … Và tất cả những gì tôi làm để bù đắp chỉ là những phương cách tuyệt vọng và vô dụng để che đậy mất mát không thể thay thế này, một mất mát mà tôi không chấp nhận trọn vẹn được. … Tôi có thể học chấp nhận trong đầu và trong tình yêu, và nó sẽ không còn là điều “không sửa chữa được.” Thập giá sửa chữa và biến đổi nó. Một đời khiết tịnh bi ai đột nhiên nhận ra mình chỉ toàn là mất mát, và nỗi sợ sự chết sẽ chế ngự lấy mình – những cảm giác đó thật khô cằn, vô dụng, và đáng ghét. Tôi không nói đây là định mệnh của tôi, nhưng trong lời khấn khiết tịnh của tôi, tôi thấy đây là một thực tế luôn luôn có tiềm năng.”

Đời sống độc thân mang theo những mối nguy thực sự của tính thiếu chính chắn và không hạnh phúc.
Nhưng, nghịch lý thay, chấp nhận sự thật này lại là bước đầu tiên để  sống tích cực vượt lên các mối nguy này. Tình dục là một chiều kích của sự nhận thức của chúng ta. Chúng ta ý thức và tự cảm thấy, xét trên mọi mức độ, mình là một đơn tử cô độc, bị tách lìa, khao khát được giao hợp, và nhức nhối tìm sự hợp nhất. Độc thân thực sự là một sai lỗi trong tính nhân bản của chúng ta.

Tuy nhiên, sống độc thân không nhất thiết phải là một đời cằn cỗi, không sinh sôi. Ngày nay, chúng ta thường có cảm nghĩ không có hạnh phúc nếu không có hòa hợp tính dục. Suy nghĩ như thế thật là thiển cận và chẳng đúng chút nào. Tính dục là điều đưa chúng ta đến nối kết, cộng đồng, gia đình, tình bạn, tình yêu, sáng tạo, vui vẻ, và duy trì nòi giống. Chúng ta hạnh hạnh phúc và hạnh phúc hoàn toàn khi có được những sự này trong đời, không căn cứ trên việc chúng ta có ngủ một mình hay không. Đời độc thân cho chúng ta những cơ hội riêng của nó để có những điều này. Thiên Chúa không bao giờ đóng một cánh cửa mà không mở ra vô số cánh cửa khác. Ví dụ như, khi nền văn hóa của chúng ta nhận ra rằng sẽ dễ tìm một người yêu hơn một người bạn, thì nó cũng nhận ra rằng tình dục và việc duy trì nòi giống không đơn giản là chuyện về sinh lý.

Có nhiều cách khác để có đời sống tính dục lành mạnh, để thụ thai và thụ tinh, để được làm cha làm mẹ, để có được một sự thân mật tính dục đầy hứng khởi. Có vô số phương cách để đạt đến tính dục, tình yêu, duy trì nòi giống, gia đình, vui thú, và hân hoan.

Trong thời gian đầu khi bắt tay làm việc mục vụ, có lần tôi làm linh hướng cho một thanh niên đang băn khoăn giữa kết hôn và đi tu. Điều khiến anh lần lữa nhất không dám đi tu chính là một nỗi sợ đặc biệt. “Con luôn sợ làm linh mục, vì đời sống độc thân sẽ có nghĩa là con phải chết trong cô độc. Cha của con mất khi con mới 15 tuổi, nhưng ông được chết trong vòng tay mẹ con. Con chống lại đời độc thân vì con muốn được chết như cha con, trong vòng tay người vợ. Nhưng một ngày nọ, con đang suy niệm về cuộc đời Chúa Kitô, con bỗng thấy được đánh động vì Chúa Giêsu đã chết trong cô độc, Ngài được yêu thương, nhưng không được ai ôm lấy lúc qua đời. Ngài đơn độc, nhưng gắn kết mạnh mẽ với tất cả mọi người theo một cách khác. Con thấy thật bị đánh động, đây cũng có thể là một cách tốt để chết!”

Có thể được thế, nhưng như lời của Merton nghĩa là, nếu trước đó, chúng ta đã được phục hồi và biến đổi nhờ thập giá.

Viện Hàn lâm và Hàng ghế nhà thờ – Mối liên hệ gượng ép giữa Thần học và Giáo lý căn bản hỏi thưa

Luôn luôn có một sự căng thẳng bẩm sinh và lành mạnh giữa thần học và giáo lý căn bản, giữa phân khoa thần học và các hàng ghế dài trong nhà thờ. Các thần học gia và các giám mục thường không mến chuộng nhau. Điều này có thể hiểu được. Tại sao lại thế?

Thần học và giáo lý căn bản có những mục đích khác nhau, cho dù cả hai đều có giá trị và cần thiết.

Về căn bản thì giáo lý căn bản là một nỗ lực để dạy những gì là nền tảng của đức tin. Thật vậy, gốc chữ giáo lý căn bản, catechesis, từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tiếng vọng.” Như thế, giáo lý căn bản không thiên nhiều về việc cố gắng hiểu thấu đức tin, mà đơn giản là “tiếng vọng”, cụ thể là truyền đạt đức tin càng rõ càng tốt. Giáo lý viên căn bản không tìm cách chứng minh nền tảng đức tin, dù họ cố đưa ra các chú giải hay cơ sở hợp lý nhất định cho nó. Giáo lý căn bản không tìm kiếm các khúc mắc về tri thức hay những điều có vẻ mâu thuẫn trong giáo lý, đúng hơn mục tiêu của giáo lý căn bản là dạy chân lý và tín lý cho những ai chưa biết. Và người nghe giáo lý căn bản là người chưa biết đến các chân lý đó, cụ thể là tân tòng, và người mới theo đạo.

Vì thế, theo định nghĩa, thực chất giáo lý căn bản là nỗ lực bảo tồn. Mục tiêu của nó không hướng về việc mở rộng tâm trí tín hữu tìm đến những vùng đất mới, nhưng dạy cho họ biết những điều căn bản, truyền đạt các nguyên lý để suy tư. Giáo lý căn bản cố gắng để xây dựng một nền tảng bên trong con người, chứ không phải để mở rộng nền tảng đó.

Mặt khác, thần học không đơn thuần cố gắng lặp lại đức tin, mà nó tìm cách thấu hiểu và phát biểu đức tin một cách rõ ràng bằng một ngôn ngữ hợp với một tâm trí đầy chất vấn và phê phán. Hơn 900 năm qua, phần đông Kitô giáo đã chấp nhận định nghĩa của thánh Anselm rằng thần học là “tìm cách thấu hiểu đức tin.” Nếu Anselm đúng, thì nhiệm vụ của thần học là thẩm xét theo cách phê phán đức tin Kitô giáo, cả về việc đức tin là gì lẫn nội dung của tín lý Kitô giáo, để có thể đưa ra một cái nhìn về cả đức tin lẫn tín lý, đáp ứng được tất cả mọi câu hỏi có thể được đặt ra do những người hoài nghi cả trong và ngoài giáo hội.

Vì thế, cử tọa của thần học khác với cử tọa của giáo lý căn bản. Về lý thuyết, thần học có ba cử tọa: thứ nhất gồm những người theo đạo đã học giáo lý căn bản và muốn có một tri thức sâu đậm hơn về đức tin, thứ hai là giới hàn lâm nghiên cứu (trường đại học, nghệ thuật, các trung tâm tri thức) nơi đức tin và tín lý thường bị đưa ra chất vấn, và thứ ba là tổng thể nền văn hóa và thế giới mà Kitô giáo phải tự chứng minh cho mình và chứng minh bằng con đường tri thức.

Do đó, về cơ bản, thần học là một nỗ lực tự do trải rộng. Tại sao? Chúng ta không bao giờ nói đến một trường “Đại học Nghệ thuật Bảo thu,” thì thần học cũng vậy, thần học phải mang tính tự do trải rộng. Đây hẳn là một chuyện mang tính nghịch hợp. Như lời kinh điển của hồng y Newman đã nói rõ trong quyển sách bàn về giáo dục của ngài, quyển Khái niệm về Đại học, thì các viện nghiên cứu sâu, các trường đại học, học viện nghệ thuật … vv,  mang trong mình tính tự do trải rộng, cụ thể là, mục đích của chúng là để mở mang con người, để khiến con người bắt tay vào những chất vấn khó khăn và đầy phê phán, để đưa con người đến một tầm mức trưởng thành trong khuôn khổ của họ (ở đây là đức tin và tín lý) để họ không sợ hãi khi phải đối diện với bất kỳ điều gì đang đến, và để giúp họ trở thành những người dẫn đầu trong lĩnh vực của mình. Giáo lý căn bản nhằm tạo một khuôn khổ chính thống, thần học nhằm tạo ra một lãnh đạo có hiểu biết.

Giáo hội cần cả hai. Cần phải nhấn mạnh cả giáo lý căn bản lẫn thần học, quy hướng cả hai về những ai cần học những căn bản đức tin lẫn những ai đang cố để nhận thức đức tin theo lối tri thức. Chúng ta thừa nhận có một căng thẳng bẩm sinh giữa hai điều này. Các hàng ghế ở nhà thờ luôn luôn cảm thấy các thần học gia quá tự do, trong khi các thần học gia lại có khuynh hướng mệt mỏi với hàng ghế nhà thờ, lo rằng các vấn đề hóc búa sẽ không được nhắc đến. Tuy nhiên, không bao giờ được chọn hoặc cái này hoặc cái kia, phải luôn luôn chọn cả hai. Giáo hội cần những người có nền tảng giáo lý  căn bản vững vàng, những người biết rõ những điều cốt yếu trong đức tin, giáo hội cũng cần những người cố gắng để trình bày rõ ràng đức tin đó ở một tầm mức phê phán hơn và không chút sợ hãi hay trốn tránh, nhìn thẳng vào cơn bão dữ dội của những phản đối về mặt tri thức của những người giận dữ giáo hội và mọi kiểu chống đối đức tin.

Tính chính thống là điều quan trọng, nếu nó là đá tảng để giữ bạn thì nó cũng là chiếc lò xo để bạn được bật lên. Một ví dụ, từ chủng viện “seminary” có gốc từ tiếng La Tinh là seminarium, nghĩa là “nhà kính.” Nhà kính không phải là nơi để trồng cây đa, cây sồi. Nhưng là nơi nuôi cây con mềm yếu, non nớt, cần được bảo vệ khỏi môi trường khắc nghiệt bên ngoài. Đó là nơi bảo vệ cây non hay để dưỡng cây quá yếu, nhưng đó không phải là nơi để trồng một cây đại thụ.

Mối liên hệ giữa giáo lý căn bản và thần học nên được xác định theo cách đó. Giáo lý căn bản là seminary, một nơi cần thiết để ươm mầm và bảo vệ những cây còn nhỏ và quá yếu, còn thần học là một nơi ít bảo vệ hơn để đến cuối cùng bạn nuôi lớn được cây đại thụ.

Thánh nhân hay tội nhân?

Cuối cùng, chúng ta là thánh nhân hay tội nhân? Tận sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta là lòng tốt hay ích kỷ? Hay chúng ta là người hai mặt, với hai nguyên lý bẩm sinh, một tốt một xấu, luôn luôn đối nghịch nhau?

Chắc chắn, trong kinh nghiệm của mình, chúng ta cảm nhận có một xung đột. Có một thánh nhân trong chúng ta muốn noi gương những gì cao cả của cuộc sống, và cũng có một cái tôi khác trong chúng ta lại muốn đi trên con đường xấu. Tôi cảm mến lòng chân thành của Henri Nouwen khi cha nói lên xung đột này: “Tôi muốn là thánh nhân nhưng tôi không muốn bỏ lỡ bất kỳ cảm xúc nào của một tội nhân.” Điều này do áp lực lưỡng cực bên trong chúng ta làm cho chúng ta khó thực hiện những lựa chọn luân lý rõ ràng. Chúng ta muốn những điều đúng đắn, nhưng cũng muốn những điều sai trái. Tất cả mọi lựa chọn đều là một sự từ bỏ nên tranh chấp giữa thánh nhân và tội nhân bên trong chúng ta tự nó biểu lộ qua sự bất lực không thể thực hiện những chọn lựa chắc chắn của chúng ta.

Nhưng chúng ta không chỉ cảm thấy áp lực này khi đấu tranh để có một quyết định luân lý rõ ràng, chúng ta còn cảm nhận áp lực này hàng ngày trong các phản ứng liên tục với những tình thế tác động bất lợi cho chúng ta. Nói đơn giản, chúng ta luôn bị giằng co giữa nhỏ nhen và quãng đại, giữa hằn thù và tha thứ, bất cứ lúc nào chúng ta thụ động chịu tác động từ những người khác.

Ví dụ, tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm như sau: chúng ta đang làm việc trong một tâm trạng tốt, nghĩ về những điều yên bình và nhẫn nại, ấp ủ những cảm giác ấm áp, không muốn hại gì ai, rồi một cộng sự không có thiện ý đến, họ khinh thường hay xúc phạm chúng ta theo kiểu nào đó. Trong tích tắc, toàn bộ thế giới nội tâm của chúng ta bị đảo ngược. Một cánh cửa đóng sầm lại, và chúng ta bắt đầu cảm thấy lạnh lẽo hằn học, nghĩ về bất kỳ điều gì ngoại trừ những gì nồng ấm, chúng ta dường như trở thành một con người khác, từ quãng đại thành hằn học, từ thánh nhân thành kẻ mang những cảm xúc giết người để mua vui.

Đâu mới là con người thật của chúng ta? Thực sự chúng ta là gì, thánh nhân với tâm hồn quãng đại, hay tiểu nhân hằn học nhỏ nhen? Dường như, chúng ta là cả hai, thánh nhân và tội nhân, vì lòng tốt và ích kỷ, cả hai đều luân lưu trong con người chúng ta.

Có một điểm hay là không phải lúc nào chúng ta cũng phản ứng giống nhau. Đôi khi bị khinh thường, xúc phạm, thậm chí bị công kích bất công, chúng ta vẫn phản ứng kiên nhẫn, thông hiểu, và tha thứ. Tại sao? Điều gì thay đổi cơ chế hóa học trong con người chúng ta? Tại sao có lúc chúng ta đáp lại sự nhỏ nhen bằng lòng quãng đại, và lúc khác bằng hận thù?

Xét cho cùng, chúng ta không biết được nguyên do, và đó là một phần trong mầu nhiệm tự do của con người. Có những yếu tố nhất định đóng vai trò trong chuyện này: chẳng hạn nếu tâm chúng ta đang tốt thì khi gặp trường hợp chối bỏ, khinh thường, đối xử bất công, chúng ta dễ phản ứng một cách nhẫn nại và thông hiểu với lòng quãng đại hơn. Ngược lại, nếu chúng ta đang mệt mỏi, áp lực, và cảm thấy mình không được yêu thương trân trọng, thì chúng ta dễ phản ứng tiêu cực, lấy hận thù đáp trả hận thù.

Nhưng, có lẽ, tận cùng, có một thực thể sâu sắc hơn nữa đang hoạt động trong tất cả các hành động của chúng ta, một thực thể vượt ngoài cảm xúc của chúng ta. Cách chúng ta phản ứng với một tình huống, hiền hòa hay thù hằn, phần lớn dựa vào một điều gì đó khác hơn. Các Tổ phụ ngày xưa có một khái niệm và đã định danh nó. Họ  tin rằng mỗi chúng ta đều có hai phần hồn, một phần hồn rộng mở và một phần hồn nhỏ nhen, và cách chúng ta phản ứng với bất kỳ hoàn cảnh nào, phần lớn dựa trên phần hồn mà chúng ta suy nghĩ và hành động với nó vào thời điểm đó. Như thế, nếu tôi bị xúc phạm hay bị tổn thương, với phần hồn rộng mở của tôi, thì tôi dễ đáp trả bằng nhẫn nại, thông hiểu và tha thứ. Ngược lại, nếu tôi bị xúc phạm và tổn thương khi phần hồn nhỏ nhen của tôi tác động, thì tôi dễ đáp trả bằng nhỏ nhen, lạnh lùng, và thù hằn. Và theo các Tổ phụ, cả hai phần hồn này hiện diện trong lòng chúng ta, chúng ta vừa quãng đại vừa nhỏ nhen, vừa thánh nhân vừa tội nhân. Thách thức của chúng ta là dùng phần hồn quãng đại nhiều hơn phần hồn nhỏ nhen.

Nhưng chúng ta phải cẩn thận, đừng hiểu điều này theo thuyết nhị nguyên. Khi xác nhận có hai phần hồn, một phần quãng đại và phần kia nhỏ nhen, các Tổ phụ không dạy chúng ta một biến thể của thuyết nhị nguyên cũ, cụ thể cho rằng trong chúng ta có hai nguyên lý bẩm sinh, một tốt một xấu, luôn luôn tranh chấp để giành quyền điều khiển tâm hồn và linh hồn của chúng ta. Dạng tranh chấp này thực sự không diễn ra trong chúng ta, mà chỉ là giữa hai nguyên lý tách biệt này với nhau.

Thánh nhân và tội nhân bên trong chúng ta không phải là những thực thể tách biệt. Đúng hơn, thánh nhân bên trong chúng ta, hay phần hồn quãng đại, không chỉ là cái tôi thực sự của chúng ta, mà đúng ra là cái tôi duy nhất của chúng ta. Tội nhân trong chúng ta, hay phần hồn nhỏ nhen, không phải là một nhân thể riêng biệt hay một thế lực tinh thần riêng biệt cứ đấu tranh mãi với thánh nhân, mà đơn giản đó chỉ là phần bị tổn thương của thánh nhân, một phần của thánh nhân đã bị nguyền rủa và không bao giờ được chúc lành cho đúng.

Và không nên để cái tôi bị tổn thương của chúng ta lại bị quỷ hóa và bị nguyền rủa thêm lần nữa. Đúng hơn, nó cần được đối đãi tốt và được chúc lành- và rồi như thế nó sẽ thôi không nhỏ nhen và thù hằn khi gặp phải nghịch cảnh.

Những lời của chính ngài

Tôi nghĩ rằng nhiều người trong chúng ta đã được nghe những đoạn ngắn trong bài phỏng vấn của giáo hoàng Phanxicô thực hiện cho một loạt nhà xuất bản của Dòng Tên, trong đó có tờ America, tạp chí của Hoa Kỳ. Trong bài phỏng vấn này, giữa nhiều điều, ngài có nói rằng để xử thế khôn ngoan, thì khi nói chuyện, chúng ta đừng lúc nào cũng nhấn mạnh đến các vấn đề đạo đức như phá thai, kết hôn đồng tính, và ngừa thai. Tất nhiên, lời này gây chú ý với giới truyền thông, nhưng trọn bài phỏng vấn rất đáng kinh ngạc vì đã thẳng thắn và bao hàm một loạt suy tư rất rộng giúp chúng ta cảm nhận được sắc thái mà giáo hoàng Phanxicô sẽ vẽ nên triều giáo hoàng của mình. Đây là một vài suy nghĩ của ngài, bằng chính lời ngài nói:

Về lý do vì sao trọng tâm mục vụ của chúng ta phải hướng về việc chữa lành hơn là lặp đi lặp lại các bận tâm đạo đức nào đó,

“Tôi thấy rõ là điều mà giáo hội cần nhất thời này là năng lực chữa lành các tổn thương và sưởi ấm tâm hồn tín hữu, điều này cần đến sự gần gũi khăng khít. Tôi thấy Giáo hội như bệnh viện dã chiến sau trận đánh. Thật vô ích khi hỏi người bị thương liệu anh có cao mỡ, cao đường không, việc đầu tiên là chữa lành thương tích cho anh. Sau đó, chúng ta nói về chuyện cao đường, cao mỡ sau…

Trong chuyến bay trở về từ Rio de Janeiro, tôi nói rằng nếu một người đồng tính có thiện ý và tìm kiếm Thiên Chúa, thì tôi là ai mà kết án họ. Khi nói như thế là tôi đang nói ra những lời dạy trong giáo lý. Tôn giáo có quyền bày tỏ quan điểm của mình để phục vụ dân, nhưng Thiên Chúa, khi tạo dựng, đã ban cho chúng ta tự do: không thể can thiệp về mặt tinh thần và trên đời sống của người khác. Có người đã hỏi tôi với giọng điệu khiêu khích, liệu tôi có chấp thuận tình dục đồng giới hay không. Tôi trả lời với một câu hỏi khác: “Hãy cho tôi biết, khi Chúa nhìn vào một người đồng tính, liệu với tấm lòng yêu thương ngài có hài lòng sự hiện hữu của người này không, hay ngài sẽ loại bỏ và lên án họ?”… Tôi nghĩ đến trường hợp một phụ nữ đã thất bại trong hôn nhân và đã phá thai. Rồi cô tái hôn, giờ đây cô sống hạnh phúc và năm đứa con. Việc phá thai trong quá khứ đè nặng lên lương tâm cô và cô thật tâm hối hận về chuyện đó. Cô muốn sống đời sống kitô hữu. Vậy cha giải tội phải làm gì? Chúng ta không thể chỉ khăng khăng chĩa mũi dùi vào các vấn đề liên quan đến phá thai, hôn nhân đồng tính, và việc sử dụng các phương pháp ngừa thai. Điều này là việc không thể làm được. Tôi đã nói nhiều về những điều này, và đã bị trách móc vì làm như thế. Khi chúng ta nói về các vấn đề này, chúng ta phải nói trong ngữ cảnh của nó. Về vấn đề này, giáo lý của Giáo hội rất rõ ràng, tôi là con của Giáo hội, nhưng lúc nào cũng nói đến những vấn đề này là điều không cần thiết.”

Về vai trò phụ nữ trong giáo hội,

“Phụ nữ đang đặt ra những câu hỏi sâu sắc cần được nói ra… Vì thế, chúng ta phải tìm hiểu sâu hơn nữa vai trò của phụ nữ trong Giáo hội… Thách thức ngày nay là: nghĩ về một vị trí đặc biệt cho phụ nữ, một vị trí thẩm quyền trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong giáo hội.”

Thế nào là suy nghĩ cùng Giáo hội,

“Tất cả mọi tín hữu, xét toàn thể, là không thể sai lầm về các vấn đề đức tin, và dân Chúa thể hiện sự bất khả ngộ qua một ý thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân cùng chung bước với nhau. Đây là những gì mà ngày nay, tôi hiểu là “suy nghĩ cùng giáo hội.” Vì thế, chúng ta không được nghĩ rằng “suy nghĩ cùng Giáo hội” chỉ có nghĩa là suy nghĩ cùng với hàng giáo phẩm của giáo hội.”

Về biểu lộ của một Giáo hội Công giáo rộng lớn,

“Giáo hội mà chúng ta phải suy nghĩ cùng, chính là căn nhà cho tất cả, chứ không phải chỉ là một nhà nguyện nhỏ cho một nhóm nhỏ những người được chọn lọc mà thôi. Chúng ta không được thu nhỏ phạm vi Giáo hội Hoàn vũ thành một cái tổ bảo vệ cho sự tầm thường.”

Về quyết định của giáo hoàng Bênêđictô XVI cho phép cử hành các Thánh lễ theo nghi thức Pius V một cách rộng rãi hơn,

“Tôi nghĩ quyết định này là thận trọng và được thôi thúc do mong ước giúp mọi người có được sự nhạy cảm này. Tuy nhiên điều đáng lo là có nguy cơ lý tưởng hóa Vetus Ordo (sắc lệnh cho phép dùng một cách có giới hạn các thánh lễ tiếng La Tinh) và dẫn đến lạm dụng nó.”

Về khuynh hướng thủ thế, co cụm trước sự thế tục hóa đang phát triển,

“Nếu kitô hữu là người theo thuyết cứu độ vạn vật, hay theo thuyết pháp lý, nếu họ muốn mọi chuyện phải rõ ràng và an toàn, thì người đó không tìm được gì tất. Truyền thống và ký ức về quá khứ phải giúp chúng ta có can đảm mở ra những điểm tiếp xúc mới với Thiên Chúa. Người ngày nay lúc nào cũng tìm giải pháp theo phép tắc, người ao ước có một sự “bảo đảm” quá mức về giáo lý, người ngoan cố tìm cách níu kéo một quá khứ không còn tồn tại – những người đó có cách nhìn đời bất động và hướng nội. Làm như thế thì đức tin chúng ta sẽ trở thành một hệ tư tưởng hệt như những hệ tư tưởng khác… Thật ngạc nhiên khi thấy người ta lên án Roma vì thiếu tính chính thống.”

Có lẽ tốt nhất không nên bình luận thêm gì về những lời này. Những lời của ngài – giáo hoàng Phanxicô – đã tự nói lên, rất rõ ràng về bản thân ngài rồi.

Bài học từ những nẻo đường

Vài năm trước đây, Hollywood có làm một bộ phim về cuộc đi bộ hành hương Camino ở Tây Ban Nha, tựa đề là Những nẻo đường, bộ phim thuật lại câu chuyện của người cha có người con bị chết trong một tai nạn không lâu sau khi anh vừa bắt đầu cuộc hành hương Camino dài năm trăm dặm này. Người cha, do Martin Sheen thủ vai, đã bị đứa con mình ghẻ lạnh, nhưng khi đến Pháp, điểm khởi hành cuộc hành hương của con để nhận tro, ông thấy mình phải hoàn tất chuyến đi của con mình, với hành lý và tro của con, ông lên đường.

Ông không biết chắc vì sao mình lại lên đường, ngoài việc ông cảm thấy có một lý do nào đó, đây là điều ông phải làm cho con trai mình, và điều này, theo cách nào đó, sẽ làm rõ sự ghẻ lạnh mà đứa con đã dành cho ông, và đây cũng là điều ông phải làm để nguôi đi sầu đau trong lòng. Dù đang ở trong tình trạng khủng hoảng và bất mãn xã hội, nhưng trên đường đi, ông được bầu bạn với ba người, mỗi người đi vì một nguyên do khác nhau.

Người đầu tiên là một người đàn ông từ Hà Lan, ông đi để giảm cân, nếu không giảm cân, vợ sẽ ly dị. Người thứ hai là một phụ nữ Canada thuộc Pháp, bề ngoài thì đi để bỏ thuốc lá, nhưng chính ra là để vươn lên sau một quan hệ đổ vỡ. Người thứ ba là nhà văn Ireland, lên đường trong hy vọng vượt lên ‘khối văn học khép kín’ của mình. Như thế câu chuyện tập trung vào bốn người đồng hành không tưởng này, vì mỗi người mang trong đầu một mục tiêu riêng cho chuyến đi này.

Họ bền chí và hoàn thành cuộc hành hương, họ tới được nhà thờ chính tòa Santiago, họ thấy thói quen hàng thế kỷ của vô số khách hành hương khi đến đích đã đánh dấu mốc đến của mình, nhưng rồi họ nhận ra, họ chưa đạt được những gì họ hy vọng. Người đàn ông Hà Lan vẫn chưa giảm được cân nào, cô người Canada – Pháp chưa thể bỏ thuốc lá, nhà văn Ireland nhận ra vấn đề thực sự của mình không phải là khối đá văn giả khép kín của mình, còn người cha trong chuyến hành hương thay cho con, thấy mình làm việc này vì các lý do khác, những lý do của riêng ông thì đúng hơn. Không một ai trong họ có được điều mình muốn, nhưng mỗi người đều có được điều mình cần. Những nẻo đường sự sống làm việc như nẻo đường Camino Santiago. 

Tôi đã học được chính bài học này khi thực hiện cuộc đi bộ Camino một năm trước. Tôi đến đó với một ước mơ trong lòng. Đã sáu tháng trôi qua, sau đợt hóa trị, tôi được hồi sinh cùng nguồn sinh lực mới, đang trong kỳ nghỉ phép, tôi mong đi bộ hết con đường cổ xưa và nổi tiếng này để củng cố sức lực và tinh thần mình. Sức của tôi đã tốt hơn đúng như tôi kỳ vọng trước khi lên đường. Nhưng việc cơ thể mạnh lại là một con đường dài, rất dài so với nhưng gì tôi hình dung.

Và tôi mơ qua chuyến đi này, tôi có thể viết được một tác phẩm nội tâm sâu sắc, đọc một vài quyển sách thần nghiệm cổ điển, pha trộn chiều sâu thần nghiệm với sự huyền bí của tuyến đường cổ xưa này, cũng như sẽ viết được một vài bài báo, và khi trở về sẽ là người chiêm niệm có độ sâu sắc hơn. Tôi mong là thế, nhưng các nẻo đường lại có những hướng khác cho tôi.

Vì mỗi ngày chúng tôi bỏ nhiều thì giờ ở trên đường, nên thực tế tôi không có thì giờ để đọc hay viết báo. Đến tối, thì tôi mệt lử, không còn sức để đào sâu nội tâm. Chính yếu là tôi chỉ muốn đi tắm và ăn một bữa ăn nóng sốt. Quyển sách chính mà tôi mang theo, Đám mây Vô thức vẫn còn ở đáy vali, tôi chưa giở ra trang nào. Tôi thu xếp để mỗi ngày có vài giờ cầu nguyện riêng trên đường, nhưng đây không phải là dạng nội tâm sâu đậm mà tôi tưởng tượng. Tôi đã tưởng tượng về những gì tôi muốn đạt đến, nhưng cũng như các nhân vật trong bộ phim trên, đó không phải là những điều tôi cần.

Con đường dạy tôi một điều khác, sâu sắc hơn, cần thiết hơn và khiêm nhượng hơn. Điều tôi học được từ chuyến đi với ba người bạn thân chính là việc tôi nhận ra tôi là đứa con nít được nuông chiều. Linh mục độc thân, không có những đòi hỏi bắt buộc của hôn nhân, con cái, và gia đình hơn bốn mươi năm qua, tôi nhận ra lối sống và thói quen của mình chỉ tập trung vào cái tôi và chiều theo tính riêng của tôi đến mức như thế nào. Tôi thường nhớ lại những khoảnh khắc đời mình, ít nhất là trong nhịp sống mỗi ngày. Chuyến đi bộ Camino dạy cho tôi biết tôi phải xác định những vấn đề của đời mình, và đó là việc cần thiết cấp bách và nghiêm trọng hơn việc đọc và hiểu quyển Đám mây Vô thức nhiều. Chuyến đi bộ Camino dạy tôi có một số con đường quan trọng, tôi cần phải lớn lên!

Robert Funk đã viết, ân sủng là chuyện âm thầm: Nó gây đau đớn từ bên trong, từ nơi mà chúng ta nghĩ là khó bị tổn thương nhất. Chúng ta lập luận đạo đức để tránh nó, nhưng nó khắc nghiệt hơn những gì chúng ta nghĩ. Và nó lại càng độ lượng hơn chúng ta nghĩ, nhưng nó không bao giờ dễ dãi lúc chúng ta nghĩ nó đáng phải dễ dãi. Cũng như cuộc hành hương đi bộ Camino Santiago vậy.

Khiêm tốn thật

Thật khó để giả vờ khiêm nhượng, nhưng dường như, chúng ta cần phải làm thế.

Ví dụ, một vài lời của Chúa Giêsu về tính khiêm tốn lại đặt ra câu hỏi hơn là cho câu trả lời. Trong dụ ngôn về chọn chỗ trong bàn tiệc, Chúa Giêsu gợi ý chúng ta đừng tìm chỗ cao, kẻo có ai đó quan trọng hơn cũng đến, và mình sẽ bị bẽ mặt khi bị mời xuống chỗ thấp hơn. Chúa bảo, tốt hơn, nên tìm chỗ thấp nhất trước để chủ nhà sẽ đến và mời chúng ta lên chỗ cao hơn, như thế người khác sẽ thấy được tính khiêm nhượng vô cùng của mình. Bất kỳ ai tự hạ mình xuống sẽ được nâng lên, còn ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống. Nhìn sơ qua, dường như chiến lược này dùng để mình được tôn dương mà vẫn tỏ ra mình khiêm nhượng.

Kinh Thánh mời gọi chúng ta đừng xem mình cao hơn người khác, nhưng điều này lại gợi lên một chất vấn: Liệu có ai sống đạo đức và quãng đại tận căn, lại nghĩ rằng mình chẳng có gì tốt hơn người bất cần, ích kỷ, người ác tâm trong liên hệ với Thiên Chúa, tha nhân và thế giới, hay không? Liệu chúng ta có thực sự tin mình chẳng hơn gì người khác? Liệu trong thâm tâm, mẹ Têrêxa có nghĩ mình chẳng có gì tốt hơn người khác? Liệu mẹ có thể thực sự nhìn vào lòng mình mà nói: “Tôi chỉ là một đại tội nhân trên địa cầu này?” Hay, liệu mẹ, và dĩ nhiên là cả chúng ta nữa, đến cuối cùng, giả vờ khiêm nhượng vì chúng ta không nghĩ rằng mình chẳng có gì tốt hơn những kẻ xấu xa nhất trên trái đất này?

Và do đó, chúng ta có thể tự hỏi mình: Chúng ta cho mình không tốt đẹp hơn người khác, nhưng liệu suy nghĩ này chỉ màu mè giả bộ, kiểu chúng ta quả quyết về mình, nhưng hoàn toàn không thật tâm?  Xét cho đến cùng, chẳng phải sự khiêm nhượng của chúng ta thực sự chỉ là một chiến lược để được tôn dương bằng một con đường thâm thúy hơn và được tôn trọng hơn hay sao? Có ai muốn mình bị xem là người kiêu ngạo và đầy cái tôi? Và liệu chúng ta có thể sống khiêm nhượng mà không có chút gì tự hào về điều đó? Liệu chúng ta có thực sự tin rằng mình chẳng có gì tốt đẹp hơn mọi người?

Tôi rất thích cách nhìn sâu sắc của John Shea về vấn đề này. Trong nhật ký của mình, Bede Griffiths thú nhận ông chẳng tốt hơn ai, John Shea đã đặt ra vấn đề là, dựa vào phẩm chất đạo đức và đời sống thiêng liêng của Griffiths, dựa vào chiều sâu cũng như lòng cảm thông được trau dồi qua năm tháng cầu nguyện và sống kỷ luật của mình, liệu Griffiths có thể thực sự tin rằng mình chẳng có gì tốt đẹp hơn bất kỳ ai, hay không? Liệu ông có thực sự không so sánh mình với người khác hay không? Có thể nào không một ai trong chúng ta đi so sánh mình với người khác không?

John Shea cho rằng chìa khóa để giải các câu hỏi này nằm ở việc nhìn kỹ vào ngụ ý của Griffiths khi ông cho rằng mình chẳng tốt hơn ai. Khi Griffiths quả quyết như thế, trọng tâm của ông không nằm ở các hành vi đạo đức của mình hay của bất cứ ai. Xét trên tầm mức hành vi đạo đức, đã là người thì không thể nào tránh được việc so sánh với nhau. Chúng ta, hết thảy, đều có những so sánh, cho dù chúng ta có chối đi nữa. Nhưng cội rễ của khiêm nhượng không nằm ở nơi vị thế của chúng ta, trên hay dưới người khác, xét theo hành vi đạo đức.

Khi Griffiths chân thành nhìn nhận mình và tin rằng mình không tốt đẹp gì hơn bất kỳ ai trên đời này, thì thật sự ông đang nhìn vào bản chất, vào cốt lõi của mình, vào sâu thẳm tâm hồn mình, nơi ông thấy rằng, ông, giống như tất cả mọi người khác trên thế giới này, đều dễ bị tổn thương, đơn độc, sợ hãi, trần trụi, quy ngã, bất xứng, vô vọng, phó mặc cho số phận, và cần đến Thiên Chúa và tha nhân, về những điều này chúng ta tuyệt đối giống tất cả mọi người khác trên trái đất, và như thế, chẳng có gì tốt đẹp hơn ai cả.

Chẳng một ai tự cho mình sự sống, tự giữ sự sống, hay tự cho mình ơn cứu độ. Tất cả chúng ta đều như nhau, bất xứng và bất lực ở đời này. Tính ngẫu nhiên làm chúng ta bằng nhau, từ mẹ Têrêxa cho đến Hitler, và điều mấu chốt cho sự khiêm nhượng chân thật nằm ở việc nhận ra được điều đó. Thật vậy, càng nhạy cảm về đạo đức và tâm lý, chúng ta càng có khả năng nhận ra sự thiếu thốn và đơn độc của mình nơi sự yếu đuối của tất cả mọi người khác. Khi Bede Griffiths tuyên bố rằng ông chẳng tốt đẹp gì hơn bất kỳ ai và ông cần đến lòng thương xót của Chúa như tất cả tội nhân trên trái đất này, thì không phải ông giả vờ khiêm nhượng, cũng như so đo về mặt đạo đức. Nhưng ông đang nói ra một điều gì đó sâu sắc hơn, cụ thể là sự thật, xét cho đến cùng, tất cả chúng ta đều bất lực như nhau, không thể tự ban sự sống cho mình được.

Lời mời gọi sống khiêm nhượng vang vọng rõ ràng và liên tục trong linh đạo Kitô giáo, từ Chúa Giêsu, qua Bede Griffiths, qua mẹ Têrêxa, qua tất cả các nhà linh hướng là: Hãy trở nên như trẻ nhỏ. Hãy chọn lấy chỗ thấp nhất. Đừng bao giờ xem mình tốt đẹp hơn bất kỳ ai. Biết rằng bạn cần lòng thương xót của Chúa, giống như những tội nhân nặng nề nhất trên trái đất này. Tuy nhiên, chúng ta đừng mang lấy nhận thức này bằng cách so sánh mình với người khác, nhưng bằng cách nhận ra sự trần trụi tột cùng của mình khi đứng trước lòng thương xót của Chúa.

Mất gốc

“Nhà là nơi chúng ta bắt đầu từ đó.” T.S. Eliot đã viết như thế và câu này nói lên một cảm nghiệm vừa tự do vừa đau lòng. Phần tôi, tôi xin dẫn ra một câu chuyện của tôi:

Tôi lớn lên trong cộng đồng nhập cư thế hệ thứ hai ở vùng đồng cỏ Canada. Thế hệ ông bà của tôi là những người nhập cư đầu tiên ở vùng đất này và họ tự tay dựng lên tất cả mọi sự, từ căn nhà cho đến ngôi trường, tất cả đều xây từ những gì họ kiếm được, nằm cạnh các con đường hay đường ray xe lửa. Họ làm tốt nhất với những gì có trong tay, trong đầu không mảy may tơ tưởng xây một cái gì bền vững lâu dài.

Vì thế có nhiều căn nhà họ xây mà tôi thấy lúc còn nhỏ, giờ đã biến mất. Trường cấp 2 của tôi đã đóng cửa từ khi tôi còn là sinh viên. Bây giờ cả tòa nhà và khuôn viên đã biến mất. Thay vào đó là những cánh đồng lúa mì, chẳng ai biết trên mảnh đất này đã từng có một ngôi trường. Trường cấp 3 của tôi cũng thế. Nó cũng đã biến mất, cả tòa nhà và khuôn viên cũng đã thành những cánh đồng. Thật sự là, toàn bộ thị trấn đã biến mất.

Sau cấp 3, tôi theo học ở hai chủng viện, và cả hai đều chịu cùng chung số phận, cả hai đều bị bỏ trống nhiều năm rồi bị thiêu rụi. Trường thần học mà tôi đã dạy ở đó suốt 15 năm đầu đời linh mục đã bị phá sập để làm xa lộ, và bây giờ có những dãy nhà mới ở phía đường bên kia. Nông trại nơi tôi lớn lên vẫn còn, dù căn nhà của tôi bây giờ đã bị bỏ hoang, các cánh đồng đã được cho thuê. Chẳng còn ai trong gia đình tôi còn sống ở đó nữa. Có một điều mang tính biểu tượng, là công trình duy nhất từ những ngày thơ ấu của tôi vẫn còn được sử dụng cho đến bây giờ, đó là ngôi thánh đường. Tất cả mọi công trình khác trong ký ức tuổi thanh thiếu niên của tôi đều đã biến mất. Xét theo những gì đã nuôi dưỡng tôi thưở bé, thì tôi đúng là con mồ côi.

Nhưng, tôi không phải là người duy nhất như thế. Thời này, tất cả chúng ta, cách này cách khác, đều là con mồ côi. Từ năm 1970, Alvin Toffler, trong quyển sách Chấn động Tương lai của mình, đã đưa ra sự chóng qua và nhất thời đang ngày càng có vai trò lớn hơn trong việc định hình tâm trí chúng ta, khi sự vật, con người, nơi chốn, kiến thức, các tổ chức đang lướt nhanh trong cuộc đời của chúng ta. Ộng đã viết điều này từ lâu, trước khi công nghệ thông tin tác động triệt để trên cuộc sống chúng ta. Sự chóng qua và nhất thời mà Toffler mô tả vào năm 1970 đã bị hạ giá và trở nên nhỏ bé trước công nghệ thông tin ngày nay. Theo tiêu chuẩn tốc độ đổi thay ngày nay, thì tốc độ thay đổi sự vật, con người, nơi chốn, kiến thức và các tổ chức của thâp niên 1970 chỉ là rùa bò. Ngày nay, càng ngày càng có nhiều công trình thời niên thiếu của chúng ta bị biến mất nhiều hơn nữa.

Vậy thì chúng ta nói được gì về điều này? Liệu sự chóng qua này nói lên điều gì về cuộc sống và thời đại của chúng ta? Nó tốt hay xấu?

Tôi ngờ rằng chúng ta vẫn còn đang tìm tòi. Sự chóng qua và nhất thời không phải là xấu, dù chúng cũng không phải là những điều tốt thiết yếu. Với tôi, có vẻ như, chúng là một gói hỗn hợp, một phúc lành phức hợp. Xét tích cực, chúng cho chúng ta một sự tự do mới. Trong nhiều thế kỷ, con người bị giam hãm quá đỗi trong sự trường tồn ngột ngạt của các sự vật, nơi chốn, và kiến thức của thời đại mình. Họ có sự ổn định, nhưng lại kèm theo tính dửng dưng lạnh lẽo. Tất cả mọi thứ đều được giữ chắc, nhưng quá chắc, có quá ít cánh cửa được mở ra. Sự chóng qua và nhất thời trong cuộc sống cho chúng ta tự do bằng cách cho chúng ta để mình được nuôi dưỡng và hưởng phúc nhờ cội rễ của mình, cho dù cội rễ này không ràng buộc chúng ta.

Nhưng như thế cũng có một chuyện đau lòng. Cứ liên tục thấy những gì quen thuộc biến mất sẽ làm chúng ta đau lòng, đúng là vậy. Về thăm mái nhà xưa, trường học cũ, hàng xóm cũ, hay lần giở những trang sách một thời nuôi dưỡng chúng ta là một chuyện lành mạnh. Vì thế mất đi các sự vật, nơi chốn thời niên thiếu là một chuyện đau lòng.

Nhưng nỗi đau của sự chóng qua và nhất thời trong cuộc sống cũng có thể giúp chúng ta hướng về những gì không thay đổi, cụ thể hơn, đó là đức tin, đức cậy, và đức mến. Các nhân đức này chẳng bao giờ bị san bằng, bị thay thế bởi những cánh đồng, bị hỏa thiêu, bị sung công và phá sập để làm xa lộ, hay bị biến thành lỗi thời. Kinh thánh cho chúng ta thấy, trong thế giới này, chúng ta chẳng có thành đô nào vĩnh cửu, nhưng chúng ta được gắn kết không phân ly với những sự trường tồn bất diệt.

Hàng thế kỷ trước Công nguyên, tác giả sách Giảng viên, Qoheleth đã cảnh báo chúng ta rằng mọi thứ đời này là phù hoa: “Phù hoa nối tiếp phù hoa, hết thảy là phù hoa.” Nhưng ông dùng từ “phù hoa” (vanity) với một nghĩa khác nghĩa chúng ta ngày nay. Với ông, vanity không có nghĩa là “phù phiếm,” một sự ái kỷ tâm lý hay một ưu tư không lành mạnh về hình dáng bên ngoài của chúng ta. Đúng hơn, với ông, “phù hoa” đơn giản chỉ là hư ảo, màn sương đang trôi, sự chóng qua, nhất thời, một sự gì đó biến mất quá nhanh.

Cảm nghiệm cái gì cũng chóng qua có thể làm chúng ta đau lòng, nhưng nó cũng là động lực để cho chúng ta tìm kiếm sâu hơn bên trong tất cả những thứ nhất thời này, để từ đó tìm được một điều trường tồn bất diệt.

Cuộc lữ hành chậm chạp và không thể thấy của Sự Tốt

Thiên Chúa vẽ đường thẳng với những nét cong. Châm ngôn này có vẻ minh triết nhưng liệu nó có đúng hay sâu sắc thật hay không? Liệu lòng thiện có đích thực phát xuất từ sự dữ không? Liệu tình yêu, sự thật, và công chính có xuất phát từ hận thù, dối trá, và bất công hay không? Liệu những đường cong có thật sẽ được làm thẳng lại hay không?

Khi nhìn qua mọi chuyện, thì câu trả lời cho các câu hỏi này sẽ luôn là không, nhưng đức tin không bao giờ dựa vào những biểu hiện thoáng qua bên ngoài. Đức tin, như Jim Wallis đã say sưa nói, không dựa vào sự chứng thực. Đúng hơn, đức tin tìm đến lời Chúa và rồi chờ đợi sự thay đổi hiển nhiên. Đức tin nhìn sâu hơn, dưới bề mặt, các sai lầm dùng để phục vụ cho chân lý.

Chúng ta thấy sự diễn tả sâu sắc này qua bài thơ Suy niệm của nhà thơ Raissa Maritain. Bài thơ tự nó đã có sức thuyết phục nhưng nếu chúng ta biết nguồn gốc của nó, chúng ta sẽ thấy đây là một bài thơ diễn tả đức tin rất mãnh liệt. Không phải là một diễn tả đơn giản về đức tin trong giai đoạn mơ hồ tăm tối. Giai đoạn tăm tối đã thật sự xảy ra trong cuộc đời nhà thơ.

Raissa, một người theo Do Thái giáo trở lại Công giáo, bà luôn luôn giữ một tình yêu sâu đậm, một mối liên hệ với cội rễ Do Thái giáo của mình. Bà tự nhận mình là người Kitô hữu với tâm hồn Do Thái. Năm 1936, khi viết bài thơ này, bà chứng kiến sự lớn mạnh của Adolph Hitler và chủ nghĩa Quốc xã ở Âu châu, bà đã mắt thấy tai nghe những chuyện đau khổ của người Do Thái, trong số đó có bạn bè của bà, đã bị giết, đặc biệt ở Ba Lan, và bà thấy mình đang bị đe dọa, bà nhanh chóng làm giấy tờ cần thiết để rời Pháp sang Mỹ. Thế giới của bà đã sụp đổ, các bạn bè đã chết, và bà đang gấp rút lo cho sự an toàn của mình. Sự dữ đang lan tràn, tất cả quyền thế chính trị và xã hội được người dân tin tưởng, đều như bị sự dữ nghiền nát hoặc bắt tay với nó. Trong hoàn cảnh khốc liệt đó, bà viết bài thơ này:

Bóng tối về, đổ từ muôn vạn hướng;
Dưới cánh đen tổng lãnh thiên thần
Thiêng liêng dự định phô bày hé mở.
Một nghịch lý cùng tận từ tạo hóa:
Trường vĩnh cửu xây qua suốt thời gian,
Mà sự thiện trường tồn có nhờ tay sự dư.õ
Và nhân loại lê chân bước tìm công lý
Qua những đường cong đầy trĩu nặng bất công tàn ác,
Sai lầm hôm nay để phục vụ cho
Chân lý sẽ đến;

Sự thiện, chỉ một ít thôi,
Dường như bất lực, dường như vô phương

Trước những bất hạnh của bao thời đại
Sự thiện, chỉ một ít thôi
Vẫn mãi là hạt giống nuôi mầm
Cho cây bất diệt của Tình yêu.

Sau bảy mươi năm nhìn lại, chúng ta thấy đức tin của bà thật có nền tảng. Bất chấp sự dữ, Thiên Chúa vẫn tiếp tục công trình của Ngài, dự định của Thiên Chúa vẫn tiếp tục được bày tỏ, và những bất hạnh của chúng ta trở thành một phần trong sự thăng tiến tình yêu, sự thật, và công chính. Nếu nhìn sơ bên ngoài, thì điều này gần như không hiển hiện, vì chúng ta cứ mãi chú ý đến những biến chuyển lớn của quyền lực, trong chính trị, xã hội, kinh tế, và tôn giáo. Chúng ta cứ mãi nhìn vào những vĩ nhân và cố đọc ra những hành động của Thiên Chúa nơi họ mà thôi.

Nhưng, rõ ràng như bài thơ của Maritain cho thấy, sự quan phòng của Thiên Chúa thường, gần như luôn luôn, nằm ngoài các sự việc xảy ra một cách rõ ràng trong cấu trúc có vẻ quan trọng của chính trị, xã hội, và giáo hội. Đó là lý do vì sao, sự quan phòng của Thiên Chúa thường không rõ ràng. Sự quan phòng được ẩn dấu, vì Thiên Chúa thường bỏ qua những gì chúng ta chú ý đến.

Quan điểm của Maritain cho rằng dự định thiêng liêng được thể hiện nơi kín đáo trùng với lời giới thiệu của thánh sử Luca về Gioan Tẩy Giả. Cách thánh Luca giới thiệu trước hết là nêu tất cả các nhân vật quan trọng trong giới chính trị lẫn tôn giáo thời đó (Tiberius, Pontius Pilate, Herod, Philip, Lysanias, Annas, và Caiaphas), rồi ngài tiếp rằng lời của Thiên Chúa đã bỏ qua những người đó mà đến với Gioan, một người lập dị không danh tiếng trong hoang mạc. Sẽ rất chấn động nếu chuyện này trở nên hiển nhiên, nếu ngày nay có một cây bút tôn giáo nêu ra tất cả các nhà lãnh đạo quan trọng của thế giới, các giới chức quan trọng trong giáo hội thời này, kể cả giáo hoàng, rồi nói rằng lời Chúa bỏ qua họ hết, thay vào đó lời Chúa đến từ một tu sĩ vô danh trong một tu viện chẳng mấy ai biết. Nhưng rồi chúng ta sẽ không tin, đúng thật, rất khó để tin, và lòng hoài nghi gần như sẽ đóng sầm cánh cửa không cho chúng ta thấy sự quan phòng của Thiên Chúa đang hành động ở những nơi sâu kín hơn.

Như Teilhard de Chardin đã nói, thế giới của chúng ta là cuộc dò dẫm vô biên, cuộc tìm kiếm vô tận chỉ có thể tiến hành với cái giá là rất nhiều thất bại và đau khổ của nhân loại. Nhưng, Teilhard de Chardin cũng cho thấy là đau khổ của chúng ta không vô dụng. Ông quả quyết rằng, trong đau khổ của mình, chúng ta trả cái giá cho quá trình tiến tới và thắng lợi chung của toàn vũ trụ. Những đau khổ của chúng ta, dù bản chất có là gì đi nữa, vẫn là một sự cao quý. Các đau khổ làm thăng tiến thế giới, một thế giới nghiền ná đau khổ và hy sinh chúng.

Dự định thiêng liêng thường ở trong bóng tối, những sai lỗi hôm nay là để phục vụ cho chân lý ngày mai, và sự quan phòng của Thiên Chúa thường bỏ qua các cơ cấu quyền lực. Và như thế, đức tin của chúng ta cần phải nhìn sâu hơn những gì đang xảy ra trước mắt, đức cậy hay niềm hy vọng của chúng ta phải đặt nền tảng trên một điều gì đó cao hơn các tin tức hàng ngày, và đức mến của chúng ta phải bớt đi sợ hãi và hoang mang. Thiên Chúa luôn sống động và hoạt động cách ẩn dấu. Trong những nỗ lực và đau khổ của chúng ta, chẳng có gì vô nghĩa, kể cả những thất bại và lầm lỗi của chúng ta.

Giá trị của người vô thần

Trong công trình nghiên cứu về vô thần của mình, Michael Buckley cho rằng chủ nghĩa vô thần luôn là một vật ký sinh sống nhờ các tín ngưỡng xấu.  Nó sống nhờ tín ngưỡng xấu, chọn lấy và phê phán tín ngưỡng xấu.

Nếu đúng như vậy, thì xét cho cùng, người vô thần đã làm một việc rất tốt cho chúng ta. Họ phê phán tôn giáo xấu, cho chúng ta thấy những điểm mù, những lý luận, những mâu thuẫn, những tiêu chuẩn nước đôi, sự đạo đức giả, thái độ sống luân lý có chọn lọc, chiều hướng mưu cầu quyền lực, những nỗi sợ không lành mạnh, và sự kiêu căng được che đậy của mình. Chủ nghĩa vô thần cho chúng ta thấy cái xà trong mắt mình.

Trong những lúc trung thực nhất, chúng ta thừa nhận chủ nghĩa vô thần là một thách thức cần thiết. Tất nhiên về mặt lý thuyết, chúng ta phải tự nhận thức và tự phê phán đủ để thấy tất cả mọi chuyện cần cho mình, hoặc nếu không thì phải chú tâm đủ vào các ngôn sứ trong đạo mình để nhận ra những khiếm khuyết của mình. Nhưng hiếm khi như vậy, và kết quả là, luôn có những tín ngưỡng xấu và điều này luôn luôn tạo ra sự phủ nhận đối với cả tôn giáo lẫn chủ nghĩa vô thần.

Và chúng ta thấy điều này xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau. Về mặt triết học, tất nhiên, các trình bày mạnh mẽ nhất về vấn đề này là của hai triết gia vô thần nổi tiếng nhất thế kỷ XIX, Ludwig Feuerbach và Fredrick Nietzsche. Những phê phán thực sự của họ về tôn giáo và về chúng ta, những người giữ đạo, có nói đến lập luận cho rằng niềm tin vào Thiên Chúa là thứ “thuốc phiện của quần chúng” và việc đặt trọng tâm vào đời sau đã góp phần làm cho con người bị nô dịch ở đời này, nhưng đó không phải ý chính của họ. Đúng hơn, họ phê phán sâu sắc về các hành động tôn giáo của chúng ta, cụ thể, là việc chúng ta dùng ý niệm Thiên Chúa và tôn giáo để lý luận cho những ham muốn của mình. Với Feuerbach và Nietzsche, Thiên Chúa không làm ra chúng ta theo và giống hình ảnh Ngài, nhưng đúng hơn, chúng ta đã làm Thiên Chúa theo và giống hình ảnh của mình. Với họ, Thiên Chúa là một phóng chiếu từ tâm trí và chúng ta luôn luôn dùng hình tượng phóng chiếu đó để phán định về đạo đức và làm trụ đỡ cho sự thiếu chính chắn, cho ý muốn, cho nỗi sợ và cho những lý luận của chính mình. Với tư cách cá nhân cũng như giáo hội, đơn giản chúng ta dùng ý niệm về Thiên Chúa để làm bất cứ những gì mình muốn, rồi gọi đó là ý Chúa. Rốt cùng, chúng ta không vâng phục bất kỳ uy quyền hay ý muốn nào ngoại trừ uy quyền và ý của riêng mình, có điều loại tôn giáo này lại làm điều này như thử chúng ta làm.

Trong đời sống bình thường của giáo hội, môi trường có ít người đọc Feuerbach và Nietzsche, nhưng chúng ta vẫn có điểm chung với loại phê phán này, dù theo một cách khác, chúng ta cũng chỉ mặt tín ngưỡng xấu. Về mặt văn hóa, chúng ta có những người như Christopher Hitchens và Richard Dawkins, những người giữ cho ngọn dao vô thần được sắc bén và thực tế. Có một sự thật, dù đau lòng, đó là tôn giáo xấu bị những người thân thuộc của chúng ta và ngay cả con cái chúng ta đem ra phê phán. Thời gian gần đây, nhiều phê phán tập trung vào những khủng hoảng xâm phạm tình dục trong giáo hội, nhưng, xuyên suốt nền văn hóa, tôn giáo và các giáo hội của chúng ta đã bị chỉ trích vì các mâu thuẫn, các tăm tối, và lối sống đạo đức có chọn lựa của chúng ta.

Nhiều lời phê phán trong số này gây tổn thương và có vẻ bất công, nhưng rốt cùng, hầu hết đều đúng. Hơn nữa, những nỗ lực bào chữa, biện minh thường chỉ là những lý luận xa vời và không nhìn nhận thiếu sót của mình,  như thế những lời chỉ trích chẳng có giá trị cải thiện nào với chúng ta cả. Tính thủ thế không giúp được gì.

Câu trả lời với chủ nghĩa vô thần và với những phê phán về sai lỗi trong tôn giáo của chúng ta phải bắt đầu từ việc nhận thức nơi nào những điểm này của họ là đúng đắn, dù các lời phê phán đó có vẻ bất công thiên vị và duy lý. Chẳng hạn, một sự bất công của truyền thông không tạo ra bất cứ tội nào hay thiếu sót nào của chúng ta, chính chúng ta mới là người tạo ra.

Câu trả lời cho chủ nghĩa vô thần và các phê phán về đức tin và tôn giáo của chúng ta cần phải được xử lý theo ba bước: Thứ nhất, biết ơn thách thức này. Chúng ta không bao giờ hoàn toàn trung tín trong đức tin, và tốt hơn, nên mở lòng lắng nghe người khác suy nghĩ và nói về chúng ta, hơn là bịt tai lại. Chối bỏ sẽ chẳng giúp được gì. Thứ hai, phải nhận thức, với tinh thần không thủ thế, xem điều gì là đúng và chống lại cám dỗ biện minh cho mình bằng những cách chẳng làm được gì hơn là tạo ra thêm kiểu tín ngưỡng cho người ta phê phán hơn nữa. Khi quá thủ thế trước những lời phê phán, chúng ta chỉ đẩy bản thân và giáo hội của mình vào vô minh, và tệ nhất là, có thể đẩy cả Thiên Chúa vào vô minh.

Cuối cùng, và quan trọng nhất, không bao giờ câu trả lời thật cho tôn giáo xấu là chủ nghĩa thế tục hay chủ nghĩa vô thần, nhưng chính là một tôn giáo tốt hơn! Chúng ta cần kiên vững hơn, cả trong lương tâm tự vấn và cả trong việc sống đạo.

Một tôn giáo tốt hơn là gì? Làm sao chúng ta nhận ra được một tôn giáo tốt hơn? Chúng ta nhận ra chân đạo cũng giống như khi chúng ta nhận ra chân thiện mỹ. Chúng là những điều hiển nhiên, rõ ràng. Nét đẹp và sự tốt lành cần được đón nhận hơn là nhận thức. Chẳng cần ai nói cho chúng ta biết đẹp là thế nào. Nét đẹp cuối cùng cũng được nhận ra. Nó tự tỏ ra. Chân đạo cũng như vậy.

Ngược lại cũng đúng. Tôn giáo xấu cũng tự lộ ra và rốt cùng, lòng chân thật không có chỗ cho tôn giáo xấu.

Chủ nghĩa vô thần là một vật ký sinh sống nhờ tôn giáo xấu. Vậy nên, ngày nay, khi chủ nghĩa vô thần đang công kích vô cùng ác hiểm, có lẽ chúng ta cần xem kỹ thực tế này, nó đang phản ánh gì bên trong tôn giáo.

Tôi có được cứu độ không?

Một kitô hữu thiện tâm đã hỏi Fritz Pearls, nhà tâm lý học lừng danh và can đảm, là liệu ông có được ơn cứu rỗi hay không. Ông trả lời bằng cách nói rằng, tôi vẫn đang cố để tìm xem nên để người ta dùng tôi thế nào đây! Lời vặn lại của ông cũng giống lời của thánh nữ Têrêxa Avila, người đã tuyên bố một khi chúng ta đạt đến đỉnh cao nhất của sự trưởng thành thì chúng ta chỉ còn một câu hỏi là: Tôi sẽ có ích đến đâu? Cả hai đều đúng, và cái nhìn sâu sắc của họ là một đòi hỏi thách thức cần thiết. Chúng ta thường dễ dàng có một quan điểm sai cả về cương vị kitô hữu lẫn sự trưởng thành của con người.
 
Một khi đã trưởng thành, câu hỏi không được đặt ra trong đời chúng ta là: Tôi phải làm gì để vào thiên đàng? Hay, tôi phải làm gì để không vào hỏa ngục? Điều này không có nghĩa là sự lo lắng về ơn cứu độ của chúng ta không quan trọng, hay thiên đàng và hỏa ngục không có thật, mà vấn đề là động cơ sâu xa nhất của chúng ta là phải làm việc cho người khác chứ không cho bản thân mình. Thiết yếu, nếu chúng ta biết tập trung vào nhu cầu của người khác, thì ơn cứu độ của chúng ta sẽ tự nhiên có. Có thể nói, cả Kinh thánh và những tinh hoa khôn ngoan của nhân loại đều cho rằng chúng ta không nên quá tập trung vào việc giúp đỡ người khác mà quên mất nhu cầu của chính mình, nhưng cả hai, cũng như kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô đều nói việc chăm lo bản thân là nghịch lý vì chính lúc chúng ta cho người khác là lúc chúng ta nhận được những gì cần cho cuộc sống của chính mình.

Vì thế mối bận tâm tiên quyết của chúng ta là không nên đặt những loại câu hỏi: Liệu tôi có được cứu độ hay không? Hay thậm chí cả câu: “Liệu tôi có thấy Chúa Giêsu là đấng cứu độ riêng của tôi hay không?” Một lần nữa, cần phải thẩm định lại điều này: Đối với kitô hữu, mối liên hệ riêng tư và xúc cảm với Chúa không phải là điều không quan trọng hay có thể bỏ qua. Thật vậy, trong Tin Mừng, đặc biệt trong Tin mừng thánh Gioan, một mối liên hệ sâu đậm, xúc cảm, và riêng tư với Chúa Giêsu là trọng tâm và mục đích của vai trò môn đệ của kitô hữu. Xét cho cùng, chúng ta không phát triển mối liên hệ với Chúa Giêsu để có được năng lượng và kim chỉ nam đúng đắn để từ đó giúp đỡ người khác, dù nó ở trong mối liên hệ này. Nhưng đúng hơn, chúng ta phát triển  mối liên hệ mật thiết với Chúa Giêsu vì cùng đích của nó là lý do tối hậu để chúng ta trở nên kitô hữu.
Truyền thống giữ đạo của các phái Phúc âm và Công giáo La Mã đã xác nhận điều này là đúng. Không có gì hơn được mối liên hệ riêng tư và đầy xúc cảm với Chúa Giêsu và nếu không có mối liên hệ đó thì quả thật, chúng ta không phải là môn đệ đích thật của Chúa Kitô nữa. Tuy nhiên, chính Chúa Giêsu đã làm nhẹ bớt cách hiểu chính thống cực đoan hay sùng đạo phiến diện của vấn đề này khi Ngài gắn tình yêu mật thiết đối với Ngài và việc yêu tha nhân tóm gọn trong điều răn: Kính mến Đức Chúa Trời và yêu người như mình vậy. Nói đơn giản là qua việc giúp người là chúng ta đã yêu mến Chúa. Cương vị môn đệ kitô hữu không bao giờ hướng về mối quan hệ duy nhất giữa Chúa Giêsu và bản thân, cho dù luôn luôn phải là như thế.

Có một sinh viên hỏi một linh mục bạn của tôi đang dạy ở một đại học đời: “Có bao giờ cha gặp Chúa Giêsu Kitô chưa?” Câu trả lời của cha, chắc chắn có một chút gì đó mệt mỏi: “Có, tôi đã gặp Chúa Giêsu Kitô, cuộc gặp gỡ này đã làm cuộc đời tôi đảo lộn! Có những lúc tôi ước mình chưa từng gặp Ngài!” Trong câu trả lời có vẻ bất kính gói gọn rất đúng những điểm quan trọng, rằng việc gặp gỡ Chúa Giêsu là một cái gì đó cao hơn cuộc gặp gỡ riêng tư, lãng mạn, đầy xúc cảm và an toàn với Ngài, và cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu thì cao hơn là cảm nhận riêng tư trong linh hồn thấy mình được Thiên Chúa yêu thương và bảo bọc.

Một phần không thể nhân nhượng trong việc gặp gỡ Chúa Giêsu chính là việc được sai đi, và không chỉ ra đi tìm con đường thiêng liêng cho riêng mình hay cho mục vụ cá nhân của mình. Sai đi này là được mời gọi vào cộng đoàn, vào giáo hội, và được sai đi cùng với người khác, “mỗi hai người”, để, nói theo ẩn dụ của Nikos Kazantzakis là, “bước theo bước chân đầm đìa máu của Chúa Kitô”, nghĩa là bước đi trong hỗn loạn và thất bại, hiểu lầm và đóng đinh, bối rối và mệt mỏi, bước đi trong bóng tối và dường như Thiên Chúa thì chỉ câm nín, đôi khi lòng dậy lên hoài nghi rằng liệu mình có tìm được một tảng đá gối đầu hay không. Sự thân thiết với Chúa Giêsu gần như không giống gì với sự thân mật trong các phim Hollywood hay trong sách thiêng liêng cá nhân cả. Sự thân thiết này đúng ra gần giống với sự thân thiết của Chúa Giêsu với Chúa Cha khi ngài quyết về Giêrusalem, dù các môn đệ ngăn cản, chấp nhận tất cả mọi khó khăn mà Ngài biết đang chờ sẵn cho mình. Các đội tiên phong của Dòng Tên tóm gọn cương vị môn đệ của mình trong câu này: “Tan nát vì sự sống!” Lời này đã tóm gọn tuyệt vời cả sự thân thiết và ý nghĩa của sự thân thiết.

Thánh Têrêxa Avila đã nói chúng ta trưởng thành trên con đường theo Chúa nếu những hoài nghi và bận tâm của chúng ta không còn quy hướng về mình nữa: Liệu tôi có được cứu độ hay không? Có bao giờ tôi gặp Chúa Giêsu Kitô chưa? Tôi có yêu Chúa Giêsu cho đủ hay không? Những câu hỏi này vẫn luôn có giá trị, nhưng chúng không là trọng tâm của chúng ta. Những câu hỏi thật sự của chúng ta phải là: Tôi sẽ có ích đến đâu?

Fritz Pearls đã họa lại câu này cách đơn giản nhưng sinh động hơn như sau: Người ta sẽ dùng tôi như thế nào đây? Suốt cuộc đời trưởng thành của chúng ta, câu hỏi trên phải lấn át câu hỏi: Liệu tôi có được cứu độ hay không?

Lý luận về sự Phẫn nộ và Căm phẫn của chúng ta về vấn đề đạo đức

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên… Anh em tưởng Thầy đến để mang hòa bình đến cho thế gian sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba.”

Những lời này là một trong những lời dạy bị hiểu lầm nhiều nhất trong Kinh thánh, vì từ thời Chúa Giêsu cho đến thời bây giờ, chúng ta luôn có khả năng che đậy những thiếu sót của lòng nhân, sự thiếu tôn trọng, cũng như những chua cay và ghen ghét của mình bằng chính lời ngôn sứ này, và cho rằng những chia rẽ mà chúng ta gây ra là sự chia rẽ mà chính Chúa Giêsu đã nói đến khi ngài ném lửa vào mặt đất. Nhưng chúng ta sai rồi. Tại sao vậy?

Thứ nhất, lửa mà Chúa Giêsu mong ước đem vào mặt đất không phải là ngọn lửa chia rẽ và phân cực, nhưng là lửa của Thần Khí, lửa trong ngày lễ Hiện xuống, cụ thể là ngọn lửa của lòng nhân ái, niềm vui, hòa bình, tốt lành, thông hiểu và tha thứ. Và ngọn lửa này hợp nhất hơn là chia rẽ. Hơn nữa, để trả lời cho câu hỏi của Chúa:  “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao?” Câu trả lời là: Tuyệt đối đúng, không còn nghi ngờ gì. Chúa Giêsu đến, chính xác là đem hòa bình đến cho trái đất, đúng như lời các thiên thần hát trong ngày Chúa giáng sinh, đúng như cuộc đời rao giảng của Chúa thể hiện, và đúng như chứng tá hùng hồn qua cái chết của Ngài. Chúa Giêsu đến để đem hòa bình cho thế giới, không ai có thể nghi ngờ điều này.

Vậy làm sao sự chia rẽ len vào được? Và tại sao Chúa Giêsu nói rằng con người và giáo lý của Ngài sẽ gây phân cực, ghen ghét, và chia rẽ? Nếu ngọn lửa Chúa Giêsu đem xuống trái đất là để hợp nhất chúng ta, vậy tại sao nó lại thường xuyên gậy chia rẽ?

Không phải thông điệp của Chúa Giêsu gây chia rẽ, mà là cách chúng ta đáp lại thông điệp đó. Chúng ta có thể thấy điều này lúc Chúa giáng sinh. Khi Chúa Giêsu ra đời, có người phản ứng bằng sự hiểu biết và vui mừng, có người phản ứng với sự hiểu lầm và thù ghét. Động lực đó vẫn tiếp diễn qua nhiều thế kỷ cho đến tận ngày nay, không những Chúa Giêsu bị hiểu lầm và bị xem là mối nguy hại cho nhiều người không theo Kitô giáo, mà đặc biệt là khi con người và thông điệp của Chúa bị dùng để biện minh cho sự chia rẽ đầy chua cay và thù ghét giữa các Kitô hữu, cũng như để biện bạch cho sự chua cay luôn luôn là đặc nét của các thảo luận công khai về các vấn đề tôn giáo và đạo đức. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục gây chia rẽ, không phải bởi con người và thông điệp của ngài phiến diện, gây bất hòa, hay đầy thù hận, nhưng là vì chúng ta thường dùng thông điệp và con người của Ngài qua cách hành xử xấu xa như thế.

Và do đó, từ thời Chúa Giêsu cho đến bây giờ, chúng ta luôn lợi dụng Chúa để lý luận cho những mối giận và sợ hãi của chính mình. Tất cả chúng ta đều làm thế, và hệ quả của nó đầy dẫy khắp nơi: từ sự phân cực đầy chua cay trong nền chính trị, cho đến sự hiểu lầm cay đắng giữa các giáo hội, những hùng biện đầy lòng thù ghét trên đài hay truyền hình, những xã luận và blog bêu xấu tất cả những ai không đồng ý với họ, và cả cái cách nói chuyện đầy xét đoán lẫn nhau trong những cuộc phiến đàm trà dư tửu hậu. Chúng ta hết thảy đều đang trút đi nỗi chua cay của mình, và gần như không lành mạnh, nhưng lại làm thế dưới vỏ bọc là đem lửa tình yêu và sự thật đến với trái đất. Tuy nhiên, nói cho đúng sự thật, thì ngọn lửa chúng ta đang mang theo có vẻ giống như ngọn lửa Babel hơn là lửa Thánh Thần. Những ngọn lửa nóng nảy đạo đức của chúng ta luôn luôn đem lại nhiều chia rẽ hơn là hợp nhất.

Chẳng hạn, một vài năm trước đây tôi có dự một buổi gặp mặt các linh mục với nhau, mỗi người hiện diện được mời lên nói cảm nghĩ về nét nổi bật trong công tác mục vụ của mình. Một trong số các linh mục, người có tiền sử gây rắc rối kiểu ấu trĩ với cả giám mục lẫn giáo dân, đã tự tin nói về mình như sau:  “Những gì tôi đóng góp là việc tôi là người kích động! Tôi khuấy động mọi sự! Tôi không để cho người ta thoải mái. Tôi đem lửa của Chúa Kitô đến! Tôi mang trong mình tính ngôn sứ!” Ông ấy khăng khăng cho mình là đúng khi chọn thái độ kích động, gây khó chịu, tạo nên ngọn lửa. Và giám mục của ông quả thật đã phải liên tục nhận các cuộc điện thoại khẳng định điều đó. Nhưng cần phải nghi ngờ tính ngôn sứ của ông. Cách tiếp cận mọi việc và cách nói chuyện của ông quá giống vị diễn giả chủ tọa phiến đàm bị thôi thúc bởi ý thức hệ, một người phân chia thế giới rành mạch giữa thiên thần và ác quỷ, tuyệt đối đúng hoặc tuyệt đối sai, và cũng phân chia quá dễ dãi ai đứng về Thiên Chúa và ai về phe ma quỷ. Kiểu nói chuyện đó gần như chua cay, đầy thù ghét, phiến diện, và gây bất hòa, nhưng lại biện minh cho mình bằng ngọn cờ sự thật và tình yêu, tự cho mình là ngôn sứ.

Daniel Berrigan đã đúng khi cho rằng một ngôn sứ thật phải có lời nguyền yêu thương, chứ không phải lời nguyền chia rẽ. Thật dễ để làm ngược lại điều này, và đúng là chúng ta thường làm thế thật.

Có thể nói rằng, có một ngọn lửa gây chia rẽ, thậm chí cả khi nó cũng là ngọn lửa yêu thương và lửa Thần Khí. Nhưng nó là một ngọn lửa, mọi nơi mọi lúc, đầy tôn trọng, nhân từ, và cởi mở, không bao giờ thúc đẩy chúng ta chua cay, như kiểu của những lời hùng biện về tôn giáo và đạo đức đang đầy dẫy ngày nay.