RonRolheiser,OMI

Robert Moore bàn về sinh lực con người

Ít tư tưởng gia nào có tác động trên tôi sâu sắc như nhà tư tưởng Robert L. Moore. Ông là ai? Ông là học giả đã dành gần 50 năm để nghiên cứu sinh lực con người từ góc nhìn tâm lý, nhân học, và thiêng liêng. Ít học giả nào bằng được ông trong việc nối kết các sinh lực con người, ngay cả khi nó tự đại hoặc thô thiển, với hình ảnh giống với Thiên Chúa ở trong mỗi chúng ta. Ông xứng đáng để chúng ta lắng nghe.

Gần đây, tôi được may mắn dự một Chuyên đề do ông hướng dẫn. Tôi sẽ chia sẻ với các bạn 2 suy tư thấu suốt của ông:

Nỗi lo lắng tăng dần của chúng ta và nhu cầu đóng một “con tàu lớn” để không bị nhận chìm trong đó.

Ngày nay đời sống của chúng ta bị ngập trong lo lắng và điều này giáng xuống các tàn phá về mặt tâm lý cũng như về mặt thánh lễ ở khắp nơi. Chúng ta bị tấn công túi bụi vì “nỗi lo lắng không được chỉnh đốn” và nỗi lo lắng này ngày càng tăng lên trong khi khả năng xử lý nó lại đi xuống. Theo lời Moore, điều này đang gây nên một “bước lùi bộ lạc”, có nghĩa là chúng ta đang thấy gần như khắp nơi có những nhóm túm tụm lại với nhau trong hoang tưởng và tự vệ. Và hệ quả của chuyện này là gì?

Các nghiên cứu cho thấy, khi chúng ta cảm thấy bị đe dọa, thì khả năng lắng nghe nhau bị khóa kín, ngay cả về mặt thể lý. Tóm lại, khi thấy lo lắng, não bộ của chúng ta theo bản năng hướng về một cõi nguyên thủy ban sơ, cụ thể là, về cái phần “con”, phần máu lạnh ở trong chúng ta. Và điều này đi kèm theo một sự thật, chúng ta có ít nguồn mạch văn hóa và thiêng liêng nào để điều hòa nỗi lo lắng của mình. Nhiều nghi lễ cũ trong văn hóa và thiêng liêng của chúng ta nhằm giải quyết nỗi lo lắng, giờ đã bị biến tướng hay mất đi. Do đó, chẳng có gì ngạc nhiên khi chúng ta thấy có quá nhiều hoang tưởng và bạo lực trong thế giới ngày nay. Chúng ta đang bị nhận chìm trong lo lắng và thiếu các nguồn mạch tâm lý lẫn thiêng liêng để giải quyết nó. Theo nhà tư tưởng Moore, điều này có thể được gọi là “trận lụt Noê” của thời đại chúng ta, thế giới đang bị nhận chìm trong lo lắng và chúng ta cần phải học cách đóng cho mình một “con tàu thiêng liêng”.

Nhưng, Moore cảnh báo rằng, chuyện này chẳng dễ dàng gì. Chúng ta vẫn ở rất sâu trong tình trạng chối bỏ, và nghịch lý thay, ở một mức độ nào đó, chối bỏ lại thực sự là một hành động bảo vệ lành mạnh cho chúng ta. Theo Moore, nếu chúng ta đâm xuyên qua sự chối bỏ của mình và các cơ chế phòng vệ của người khác, mà trước đó lại không xây một đền thờ siêu linh nội tâm, thì chúng ta có thể bị rối loạn tinh thần vì có khả năng chúng ta bị các sinh lực nguyên hình của mình chế ngự. Chúng ta cần có cơ chế phòng vệ, ít nhất là trong một khoảng thời gian, để giúp bảo vệ sự ôn hòa lành mạnh của mình. Chủ nghĩa chính thống là một trong những bảo vệ đó: Người ta đang hướng về các cách thức cứng ngắc nhằm cố gắng giữ cho mình được ôn hòa.

Trong nỗi sợ Thiên Chúa, trong những nỗ lực khóa kín Thiên Chúa khỏi đời chúng ta, và trong tâm thức tôn giáo ngây thơ của chúng ta, chúng ta có nhiều cơ chế phòng vệ chống lại “thiêng liêng”, nhưng chuyện này có thể hiểu được. Khi chúng ta đứng trước mặt Chúa và cố gắng vận dụng sinh lực đó, thì chuyện này như việc một người đứng trước sợi dây điện có 200 000 điện thế và cố dùng nó cho cái máy pha cà phê vậy. Đó là một hình ảnh cho nỗ lực cố gắng vận dụng và dung nạp sinh lực của Thiên Chúa vậy. Chúng ta luôn luôn bị đè nén vì sinh lực này, từ bên trong lẫn bên ngoài, và từ trong chúng ta cần phải xây dựng một chén tâm lý, một chén thánh, một đền thờ nội tâm, để giữ lấy một cách có ý thức, các sinh lực của Chúa. Chén tâm lý này cũng là chén Mình Máu Thánh Chúa.

Ngoài ra, chúng ta còn phải đặt ra câu hỏi là: Tại sao trong chúng ta lại có một ngăn trở chống lại nhận thức về sự hiện diện cao cả? Tại sao chúng ta cứ thường chối bỏ nhận thức về Thiên Chúa? Tại sao chúng ta thích đi một mình, không cần Thiên Chúa? Với Moore, đây thực sự là một phần mấu chốt trong mầu nhiệm tội lỗi: Chúng ta thường đóng sầm cánh cửa với Thiên Chúa nhân từ, và thích bóng đêm hơn ánh sáng.

Về sự khác biệt giữa khoa học và thần học:

Sự khác biệt giữa khoa học và thần học là sự khác nhau giữa một động cơ phản lực và động cơ tên lửa. Một động cơ phản lực cần oxy và chỉ có thể bay đến một độ cao nhất định, nó cần phải ở trong bầu khí quyển. Một động cơ tên lửa được tăng sức để có thể bay ra khỏi khí quyển.

Về cách chúng ta dựng đền thờ siêu linh nội tâm:

Tất cả chúng ta đều có những tiềm năng đáng kinh ngạc, nhưng luôn luôn bị hạ thấp. Chúng ta có thể học cách bước đi cho đẹp, học cách sống tao nhã, là vì chúng ta đã ở trong ánh sáng rạng ngời rồi. Trong chúng ta đã có sẵn một lòng thương căn bản, nhưng phải “nhận biết” nó. Chúng ta đã sống trong một tình yêu lớn rồi. Con đường về nhà đã ở sẵn trong nhà rồi. Và như thế, chúng ta cần phải thực sự hoài nghi bất kỳ lúc nào thấy mình cô đơn, vì chúng ta không bao giờ cô đơn. Khi cảm thấy đơn độc là lúc chúng ta đang bị lừa phỉnh đó.

Vậy những bước để đạt đến một cách sống đẹp và có lòng thương là gì? Nói tóm lại là:

Hãy cắt xuyên qua sự chối bỏ của bạn, nhận ra những gì bạn thiếu. Lờ đi “chuyện qua đường” trong đời mình, học cách nắm lấy căng thẳng, cân bằng những đối lập, và cố gắng có ý thức để ở lại trong Hiện hữu Cao cả. Hãy làm những việc này một cách “mãnh liệt thánh thiện”.

Ít ngòi bút thiêng liêng nào có được những kết hợp chiều sâu và cân bằng như Moore. Ông xứng đáng để chúng ta lắng nghe.

Luôn mãi phân tâm

Trong truyền thống Hindu, có một câu chuyện sau: Thượng đế và con người đang đi trên đường. Con người hỏi Thượng đế: “Thế giới này như thế nào?” Thượng đế trả lời: “Ta muốn nói với con, nhưng cổ họng Ta đang khô rát. Ta cần một cốc nước mát. Nếu con có thể đi lấy cho ta một cốc nước mát, Ta sẽ cho con biết thế giới này như thế nào.” Con người đi đến ngôi nhà gần nhất để xin cốc nước. Ông gõ cửa và gặp một phụ nữ trẻ đẹp. Ông xin một cốc nước mát. Cô trả lời: “Tôi sẽ sẵn lòng cho ông, nhưng bây giờ là giờ ăn trưa, tại sao ông không vào đây dùng bữa trước đã.” Người đàn ông làm theo.

Rồi ba mươi năm trôi qua, họ có với nhau 5 mặt con, ông trở thành một thương gia có tiếng, cô là một thành viên đáng trọng trong cộng đồng. Một tối nọ, cả hai đang ở trong nhà thì cơn bão ập đến lật tung nóc nhà. Người đàn ông kêu lên: “Lạy Thượng đế, xin giúp con!” Và trong tâm cơn bão, một giọng vang lên: “Cốc nước mát của ta đâu rồi?”

Câu chuyện này không phải là một phê phán thiêng liêng cho bằng là bài học căn bản về nhân học và linh đạo rằng: Là con người nghĩa là luôn mãi phân tâm. Chúng ta không phải là những người sống với ý thức thiêng liêng một cách điều đặn, thỉnh thoảng mới phân tâm. Nhưng chúng ta là những người sống phân tâm một cách đều đặn và thỉnh thoảng mới có ý thức thiêng liêng. Chúng ta có khuynh hướng sa đà vào những chuyện thông thường của cuộc sống, phải có một cơn bão nào đó để nhờ đó Thiên Chúa đi vào cuộc sống chúng ta.

C.S. Lewis, khi nói về nguyên do vì sao chúng ta có khuynh hướng chỉ hướng lòng về Chúa khi gặp phong ba bão tố, ông đã bình luận như sau: Thiên Chúa luôn luôn nói với chúng ta, nhưng thường thì chúng ta không ý thức, không lắng nghe. Và như thế, nỗi đau chính là máy phóng âm của Thiên Chúa với thế giới điếc đặc này.

Tuy nhiên, không ai trong chúng ta lại muốn kiểu đau đớn này, không ai trong chúng ta muốn có tai ương, suy sụp sức khỏe, hay một cơn bão đến lay chúng ta tỉnh dậy. Chúng ta thích một sự kiện mạnh mẽ tích cực, một phép lạ dù lớn dù nhỏ xảy đến để lay động làm cho chúng ta nhận thức sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời chúng ta. Điều này là vì chúng ta cứ nuôi trong lòng các ảo mộng viễn vông, nếu Thiên Chúa đi vào cuộc đời chúng ta bằng một cách thức kỳ diệu, thì chúng ta sẽ thắng vượt được tình trạng phân tâm của mình và chúng ta sẽ nghiêm túc hơn trong đời sống thiêng liêng. Nhưng chính xác đó là ảo tưởng của các nhân vật trong truyện Lazarô và ông phú hộ, khi người phú hộ giàu có xin tổ phụ Abraham cho phép mình từ cõi chết về để cảnh báo các anh em mình là họ phải thay đổi cách sống nếu không sẽ phải chịu lửa thiêu đau đớn. Lời cầu xin của ông phú hộ thể hiện chính xác một quy kết sai lầm: “Nếu ai đó trở về từ cõi chết, họ sẽ nghe người đó!” Abraham không chấp nhận lô gíc đó. Ông trả lời: “Họ đã có ông Môsê và các ngôn sứ. Nếu họ không chịu nghe các ông, thì họ cũng sẽ chẳng tin đâu cho dù có người trở về từ cõi chết.” Trong câu trả lời này, có một điều không nói ra nhưng hết sức quan trọng, một điều mà chúng ta dễ dàng bỏ sót, đó là Chúa Giêsu đã trở lại từ cõi chết và chúng ta cũng chẳng nghe Ngài. Tại sao chúng ta lại cho rằng mình sẽ lắng nghe một ai đó khác trở về từ cõi chết cơ chứ? Chúng ta quá đỗi bận tâm với những chuyện thông thường trong đời đến nỗi không chú tâm đến người trở về từ cõi chết.

Vì sự thật này mà câu chuyện Hindu mang tính an ủi hơn là khiển trách. Là con người nghĩa là luôn mãi phân tâm khỏi các vấn đề thiêng liêng. Bản chất con người là thế. Bản chất chúng ta là thế. Nhưng khi nhận thức được khuynh hướng phân tâm không ngừng này là một chuyện bình thường thì nó cũng không làm cho chúng ta thấy thoải mái với sự thật này. Không chỉ mình Chúa Giêsu, mà cả các thầy dạy linh đạo cũng đã mạnh mẽ thúc giục chúng ta phải tỉnh dậy, phải chuyển biến để vượt ra khỏi nỗi bận tâm quá mức với các khó khăn của đời sống hàng ngày. Chúa Giêsu đã xin chúng ta đừng quá lo lắng về ăn gì mặc gì cho mình. Ngài đòi hỏi chúng ta phải đọc biết các dấu chỉ thời đại, cụ thể là, nhìn theo ngón tay Thiên Chúa, chiều kích thiêng liêng của mọi sự, trong mọi sự kiện hàng ngày của cuộc sống. Tất cả mọi tác phẩm thiêng liêng cũng đều nói như thế. Ngày nay, nhiều truyền thống thiêng liêng phong phú đòi hỏi chúng ta phải có ý thức, chứ không phải là cứ vô thức bận tâm với đủ chuyện thường nhật trong đời mình.

Nhưng văn học thiêng liêng cũng bảo đảm với chúng ta rằng Thiên Chúa hiểu chúng ta, rằng ân sủng tôn trọng bản chất tự nhiên, rằng Thiên Chúa không lầm khi tạo dựng bản chất con người, và rằng Thiên Chúa không tạo tác nên chúng ta theo kiểu để cho chúng ta thấy mình phân tâm từ bẩm tính và rồi phải đối mặt với cơn thịnh nộ của Thiên Chúa vì đã thuận theo bản tính thân mình. Bản tính con người theo lẽ tự nhiên bị cuốn vào các chuyện của đời sống hàng ngày, và Thiên Chúa đã tạo tác nên bản tính con người như thế.

Vậy thì tôi nghĩ rằng, Thiên Chúa hẳn phải gần giống hình ảnh của một người cha, người ông đầy tình yêu thương, nhìn con cháu mình trong buổi họp mặt gia đình, hạnh phúc vì chúng có cuộc sống thú vị cuốn hút chúng, cũng như hài lòng khi không phải lúc nào mình cũng là tâm điểm chú ý có nhận thức của chúng.

Đừng hà tiện lòng thương xót của Chúa

Ngày nay, vì nhiều lý do, chúng ta đấu tranh mới mong có được tấm lòng quảng đại và hào phóng để tâm hồn mở ra với lòng thương xót của Thiên Chúa.

Khi số người tham dự phụng vụ nhà thờ tiếp tục suy giảm, thì nhiều lãnh đạo và mục tử trong Giáo hội có khuynh hướng xem điều này như một sự cắt tỉa hơn là một bi kịch và họ hành động để giải quyết tình trạng này bằng cách làm cho hình ảnh Thiên Chúa trở nên ít thương xót hơn, thay vì một hình ảnh dễ gần. Chẳng hạn một giáo sư chủng viện tôi quen đã chia sẻ, với 40 năm kinh nghiệm dạy khóa học chuẩn bị cho chủng sinh ban bí tích hòa giải, ngày nay, ông nhận thấy câu hỏi chủng sinh hay hỏi là: “Khi nào con có thể từ chối tha tội?” Thật sự, câu hỏi phải là, con phải thận trọng đến mức như thế nào khi ban lòng thương xót của Thiên Chúa chứ?

Động cơ và lòng tin của họ gần như hoàn toàn chân thành nhưng họ lầm đường. Họ thật lòng e sợ việc chơi trò đánh bạc với ơn Chúa, họ sợ rằng đến cuối cùng những gì họ ban cho người khác chỉ là ơn sủng rẻ tiền.

Phần nào, đây cũng là một động cơ có căn cứ. Nỗi sợ là mình đùa giỡn với ơn Chúa, cùng với những lo âu về chân lý, về tính chính thống, về các kiểu mẫu chung đúng luật, cộng thêm nỗi sợ bị tai tiếng đã làm cho họ làm việc theo khuôn phép dè dặt như vậy. Lòng thương xót luôn luôn được thúc đẩy bởi sự thật. Nhưng đôi khi, các động cơ làm cho chúng ta dè dặt lại không được cao cả đến thế, và nỗi lo lắng về việc trao ban một ân sủng rẻ tiền xuất phát nhiều từ tính nhỏ nhen, sợ sệt, chủ nghĩa lề luật, và cả khao khát (dù vô thức) ham muốn quyền lực.

Nhưng dù cho kiềm giữ lòng thương xót vì những lý do cao cả nào hơn đi chăng nữa, chúng ta vẫn là những mục tử xấu và lầm đường, không chung lòng với Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã rao giảng. Chúa Giêsu đã mặc khải rằng, lòng thương xót của Thiên Chúa ôm lấy hết, không phân biệt người xấu kẻ tốt, người bất xứng hay người xứng đáng, người có đạo hay không có đạo. Một trong những thấu suốt thực sự đáng giật mình mà Chúa Giêsu đã cho chúng ta, chính là việc lòng thương xót của Thiên Chúa, như ánh sáng và hơi ấm mặt trời, không thể không đổ tràn cho tất cả mọi người. Như thế, lòng thương xót của Thiên Chúa luôn luôn tuôn đổ nhưng không, không đòi hỏi, không điều kiện và chung cho hết thảy, lòng thương xót đó vươn ra khỏi mọi tôn giáo, phong tục, trường phái, luận điệu chính trị, chương trình luật định, mọi hệ tư tưởng, và thậm chí là cả tội lỗi.

Và như vậy, về phần chúng ta, đặc biệt là bậc làm cha mẹ, mục tử, giáo viên, giáo lý viên, người cao niên, chúng ta phải liều mình loan báo đặc tính quảng đại của lòng thương xót này. Chúng ta không được dùng lòng thương xót của Chúa như thể nó là của chúng ta, không được cấp phát ơn tha thứ của Chúa như một mặt hàng có giới hạn, không được đặt điều kiện cho tình thương Thiên Chúa như thể Ngài là một bạo chúa bủn xỉn hay một hệ tư tưởng chính trị, và cũng không được chặn bớt con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng Thiên Đàng. Chúng ta không phải là người có quyền đó. Nếu chúng ta kềm giữ lòng thương xót của Chúa trong sự thu mình và e ngại của chúng ta, thì chúng ta đang hạn chế lòng thương xót vô bờ của Ngài trong giới hạn tâm trí của chúng ta.

Một điều đáng lưu ý trong các Tin mừng là, các tông đồ, dù có thiện ý nhưng họ thường hay cố gắng loại một số người ra khỏi Chúa Giêsu như thể những người này không xứng đáng vậy, như thể họ xúc phạm đến sự thánh thiện của Chúa hay họ có thể làm vấy bẩn sự nguyên tuyền của Ngài. Vậy nên, họ cứ luôn gắng ngăn trẻ con, gái điếm, người thu thuế, những người bị xem là tội lỗi, và đủ loại người khác chưa học biết đạo, đến gần với Chúa Giêsu. Nhưng, Chúa Giêsu thì luôn luôn gạt ra các cố gắng sai lầm của họ bằng những lời mạnh mẽ: “Hãy để họ đến! Ta muốn họ đến.”

Lúc mới bắt đầu đời mục vụ, tôi sống trong nhà xứ với một linh mục già thánh thiện. Cha đã trên 80 tuổi, mắt gần như đã mù, nổi danh và được kính trọng, nhất là trong vai trò linh mục giải tội Một tối nọ, khi ngồi riêng với cha, tôi hỏi cha: “Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có muốn làm điều gì khác đi hay không?” Với một người đầy chính trực như cha, tôi hoàn toàn cho rằng không có gì để cha phải hối tiếc. Nhưng câu trả lời của cha đã làm cho tôi bất ngờ. Cha có một nỗi hối tiếc, một hối hận lớn, là: “Nếu tôi được làm lại đời linh mục của mình, tôi sẽ nhẹ nhàng hơn với giáo dân. Tôi sẽ không hà tiện lòng thương xót của Thiên Chúa, hay các bí tích, hay phép tha tội. Tôi sợ là tôi đã quá cứng rắn với giáo dân. Họ đã có quá đủ đau đớn rồi, chứ chẳng cần tôi hay Giáo hội đặt thêm gánh nặng trên vai họ nữa đâu. Đáng ra tôi nên liều lĩnh hơn nữa với lòng thương xót của Chúa!”

Tôi được đánh động bởi lời này, vì chưa đầy một năm trước đây, khi làm các bài thi cuối ở chủng viện, một trong các linh mục kiểm tra tôi đã cảnh báo tôi: “Cẩn thận, đừng có mềm yếu. Chỉ có sự thật mới giải phóng con người. Hãy liều với sự thật hơn là với lòng thương.”

Khi đã cao tuổi như lúc này, tôi ngày càng đổi hướng theo lời khuyên của vị linh mục già. Chúng ta cần liều lĩnh hơn nữa với lòng thương xót của Chúa. Không bao giờ được loại trừ vai trò của công bằng và sự thật, nhưng chúng ta phải liều mình để cho lòng thương xót vô bờ, không điều kiện, không đòi hỏi của Thiên Chúa tuôn đổ một cách tự do.

Nhưng, như các tông đồ xưa, chúng ta, với thiện hướng tốt, cứ luôn mãi cố gắng giữ một số người và một số nhóm người xa khỏi lòng thương xót của Thiên Chúa được ban qua lời, qua bí tích và qua cộng đoàn. Nhưng Chúa không muốn sự bảo vệ của chúng ta. Điều Chúa muốn là, tất cả mọi người, bất kể phẩm hạnh, chính thống, thiếu chuẩn bị, tuổi tác, hay văn hóa, tất cả đều đến với dòng nước vô tận của lòng thương xót Thiên Chúa.

George Eliot đã viết: “Khi thần chết đến, chúng ta không bao giờ hối hận vì đã dịu dàng ân cần nhưng vì đã gay gắt khắc nghiệt.”

Nỗi hối tiếc trong lòng

Trong quyển sách mới đây của mình, Phát kiến của đôi cánh (The Invention of Wings), Sue Monk Kidd mô tả Sarah, nhân vật nữ chính với những mâu thuẫn sâu sắc, một phụ nữ quá nhạy cảm, là con của một chủ nô và được sống trong nhung lụa. Nhưng sự nhạy cảm trong lòng của Sarah sớm vượt trên ý thức đặc quyền của mình và cô đã thực hiện một loạt những chọn lựa khó khăn để thoát ly bản thân khỏi cả tình trạng nô lệ và sự đặc quyền.

Có lẽ khó khăn nhất trong các chọn lựa nan giải của cô chính là việc chọn từ chối một lời cầu hôn. Sarah khắc khoải mong được kết hôn, được làm mẹ, được có con nhưng khi người đàn ông mà cô đã đem lòng yêu suốt nhiều năm trường cuối cùng cũng đến cầu hôn cô, thì trong lòng cô dấy lên một chuyện khó giải quyết và cuối cùng cô đã từ chối. Cô đã lưỡng lự thế nào?

Khi anh chàng Israel cuối cùng cũng đến cầu hôn cô, Sarah hỏi anh, liệu sau khi kết hôn, cô có còn được theo đuổi giấc mơ trở thành một mục sư phái Quaker hay không. Chàng Israel, một người thời đó, chỉ có thể nhìn nhận phụ nữ trong vai trò làm vợ, làm mẹ mà thôi, và anh đã trả lời thẳng. Với anh, chuyện cô vừa hỏi là không thể xảy ra. Ngay lập tức, Sarah trực cảm ngụ ý của câu trả lời này. “Đó chính là cách anh ấy nói rằng mình không thể vừa có anh ấy vừa giữ con người thật của mình được.” Người yêu của cô còn làm mọi chuyện trở nên xấu hơn khi cho rằng mong ước muốn làm mục sư của cô chỉ đơn thuần là một thứ bù đắp, một cái tốt phụ, nếu như cô không đạt được cái tốt nhất chính là hôn nhân. Cô từ chối thẳng lời cầu hôn của anh.

Nhưng dù đó là một sự dứt bỏ cao cả, nó vẫn tiếp tục làm cho cô đau đớn. Suốt đời mình, Sarah thường cảm thấy hối tiếc nhức nhối vì lựa chọn của mình, vì đã để cho các nguyên tắc của mình thắng vượt con tim. Nhưng cuối cùng, cô cũng hòa giải được với các hối tiếc của mình. Khi tham dự lễ cưới của em gái mình, cô càng cảm thấy nhức nhối hơn nữa nỗi cay đắng mất mát của mình, và cô chia sẻ với em mình: “Chị mong ước hôn nhân theo cách đau đớn của một người lãng mạn hóa một đời sống mà mình đã không chọn. Nhưng bây giờ, ngồi đây, chị biết rằng nếu lúc đó chị chấp nhận lời cầu hôn của anh Israel, thì chị cũng sẽ hối tiếc như vậy. Chị đã chọn nỗi hối tiếc rằng chị có thể sống với cái tốt nhất, là thế đó. Chị đã chọn một đời sống thuộc về mình.”

Trong đời, chúng ta luôn luôn có hối tiếc, có hối hận sâu sắc. Thánh Tôma Aquinô đã viết: Tất cả mọi chọn lựa đều là một từ bỏ. Vì lẽ đó, chúng ta thấy thật khó khăn để đưa ra những chọn lựa nan giải, đặc biệt khi nó liên quan đến việc dấn thân lâu dài. Chúng ta muốn những điều đúng đắn, nhưng chúng ta không muốn làm ngơ những điều khác. Chúng ta muốn tất cả chúng!

Nhưng chúng ta không thể có tất cả chúng, cho dù chúng ta có tài năng hay có nhiều dịp may đi chăng nữa, và đôi khi phải mất thật lâu chúng ta mới hiểu được nguyên do vì sao lại thế. Trong truyện trên, có đoạn Sarah, đã 30 tuổi, còn độc thân, thất nghiệp, gần như tách ly khỏi gia đình mình, nản lòng vì các giới hạn xã hội và hạn chế chọn lựa đối với phụ nữ, lúc này, cô đang sống nhờ bạn của mình, Lucretia, một nữ mục sư phái Quaker. Một tối nọ, khi ngồi cùng Lucretia, than thở về những giới hạn trong đời mình, Sarah lên tiếng: “Tại sao Thiên Chúa gieo trong lòng chúng ta nỗi khắc khoải thâm sâu đến thế. … và nếu nó chẳng đi đến đâu?” Sarah lúc này đang thở dài hơn là hỏi, nhưng Lucretia trả lời: “Thiên Chúa đổ đầy trên chúng ta đủ kiểu khắc khoải đi ngược với khuynh hướng của thế giới này, nhưng việc những khắc khoải đó chẳng đi đến đâu, tôi không dám chắc đó là do tay Chúa. … mà tôi nghĩ chúng ta biết việc này là do con người mà ra.”

Với Lucretia, nếu thế giới công bằng, chúng ta sẽ chẳng có những giấc mơ tan vỡ. Cô đúng phần nào, nhiều sai trái trên địa cầu này là do bàn tay chúng ta làm ra. Nhưng xét cho cùng, cội rễ cho sự thất vọng của chúng ta là từ một thứ sâu sắc hơn, ít đáng tội hơn, chính là sự bất xứng của cuộc đời. Đời sống, bên này miền vĩnh cửu, không trọn vẹn. Chúng ta, bên này miền vĩnh cửu, không trọn vẹn. Bên này miền vĩnh cửu, chẳng có gì trọn vẹn. Nói theo Karl Rahner là: Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ vốn có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, trong đời này, tất cả mọi bản hòa âm đều phải chưa trọn.

Lời này có nhiều ý, chứ không chỉ là sự thật đơn thuần (dù không dễ tiếp thu) rằng, chúng ta không thể có tất cả hay làm được tất cả. Đời chúng ta có những giới hạn rất thật, và chúng ta cần phải ngừng việc lôi những thứ chúng ta không có, không đạt được mà hành hạ những gì chúng ta đang có, những gì chúng ta đã đạt được. Dù thời nay người ta nói rất nhiều đến mẫu thuẫn, nhưng không ai hiểu cho hết! Tôi cho rằng, hầu hết chúng ta đều để mình dính đến các hối tiếc kiểu: Tôi đã để cả đời để nuôi dạy con ngoan, con giỏi nhưng bây giờ tôi chẳng có nghề nghiệp gì. Tôi thành công trong công việc, nhưng lại thất bại trong vai trò làm chồng làm cha. Tôi chưa bao giờ kết hôn vì các lý do sai lầm, bây giờ tôi độc thân và cô đơn. Tôi đã hy sinh cuộc sống bình thường vì lý tưởng, nhưng bây giờ tôi nhớ da diết những gì tôi đã từ bỏ. Hay, chúng ta cũng như Sarah: Tôi chưa bao giờ thỏa hiệp được với các nguyên tắc của tôi, nó mang lại cho đời tôi sự cô đơn tàn nhẫn.

Vấn đề không bao giờ là sống với những hối tiếc hay không có hối tiếc. Tất cả mọi người đều có hối tiếc. Nhưng, hy vọng rằng, chúng ta đã chọn được nỗi hối tiếc tốt nhất mình có thể mang trong lòng.

Lòng kiên nhẫn đã cạn

Cách đây 30 năm, trước khi có vụ cướp máy bay ngày 11 tháng 9 năm 2001, trước vụ giấu bom trong giày, và trước khi có các kiểu khủng bố máy bay khác thì việc di chuyển bằng đường hàng không rất đơn giản. Bạn không cần phải bỏ giày để kiểm tra an ninh, bạn có thể đem chất lỏng theo mình, và nếu bạn có đem theo laptop hay các thiết bị điện tử khác, bạn chẳng phải lấy chúng ra khỏi xách hành lý của mình, cánh cửa phòng lái cũng chẳng phải bọc thép, và người ta cũng ít hoang tưởng về vấn đề an ninh hơn. Bạn thậm chí còn được gặp các phi công nữa.

Tôi nhớ một lần cách đây 30 năm, khi tôi gặp anh phi công thì anh đang thoải mái nói chuyện với một hành khách khác. Đó là chuyến bay sớm từ Dublin đến Luân Đôn, loại thông thường và không có khoang hạng thương gia. Tôi đang ngồi hàng ghế đầu ở giữa, và ngay hàng ghế bên kia là một phụ nữ trung niên, bà nhanh chóng tỏ ra cho biết mình sợ đi máy bay. Không lâu sau khi chúng tôi ngồi vào ghế, bà gọi tiếp viên hàng không và nói với cô rằng gia đình bà bảo bà nên đi máy bay, nhưng bà đang sợ chết khiếp và không muốn ở lại trên máy bay. Cô tiếp viên nhẹ nhàng cố gắng làm bà yên lòng, rằng tất cả mọi chuyện đều an toàn, thực sự trên máy bay còn an toàn hơn trên mặt đất nữa. Nhưng một người bị nỗi sợ ám ảnh thì họ chẳng dễ gì nghe theo lô gíc. Bà yên lòng được vài phút, chỉ vì máy bay chưa cất cánh và bà đang ngồi cách cánh cửa 5 mét, lúc đó vẫn đang còn mở.

Nhưng khi cánh cửa đóng lại và máy bay bắt đầu chạy lùi, thì bà bắt đầu bồn chồn hoang mang hơn. Cô tiếp viên lại đến và xoa dịu bà, nhờ đó có hiệu quả trong vài phút. Bà dần dần bình tĩnh và máy bay đi vào đường băng chuẩn bị cất cánh. Bất ngờ, bà rơi vào tâm trạng hốt hoảng hoàn toàn, hét gọi tiếp viên xin cho mình xuống máy bay gấp. Cô tiếp viên, đã hai lần không thể trấn an bà đành phải mở cửa phòng lái để nói chuyện với phi công, và trong vòng một phút, viên phi công xuất hiện, bắt đầu nói chuyện với người phụ nữ đang hoảng hốt.

Ông có vẻ là nhà tư vấn chuyên nghiệp, với lòng kiên nhẫn và cảm thông dành cho bà khách. Ông cầm tay bà, nhẹ nhàng trấn an: “Cảm giác này của bà rất bình thường! Nhiều người có nhiều nỗi sợ khác nhau. Bà tuyệt đối an toàn ở đây. Tôi đã lái đường bay này bằng chính chiếc máy bay này vô số lần rồi, tôi bảo đảm nó an toàn. Gia đình bà sẽ chờ bà ở Luân Đôn, bà tưởng tượng xem họ sẽ vui đến như thế nào khi thấy bà xuống máy bay! Và một khi bà đã làm được chuyện này rồi, bà sẽ không còn sợ bay nữa đâu. Đích thân tôi sẽ hộ tống bà bước xuống máy bay ở Luôn Đôn!”

Những lời của ông phi công như có phép màu, bà khách dịu lại và gật đầu ra dấu sẵn sàng. Đúng, bà đang chuẩn bị sẵn sàng để bay. Viên phi công về lại phòng, và tôi ngồi đó cảm phục sự kiên nhẫn của ông.

Nhưng chứng ám ảnh sợ vẫn còn đó. Chỉ vài phút sau, khi máy bay chuẩn bị cất cánh, bà lại lên cơn kích động, lần này còn tệ hơn lần trước. Tiếp viên đến ngay và nhanh chóng vào phòng lái nói cho phi công biết chuyện này. Không ai bước ra nói lời nào hết, và cánh cửa phòng lái đóng lại, máy bay chuyển hướng chầm chậm về lại cửa sân bay. Khi đến nơi, viên phi công tuyên bố rằng chúng tôi phải về sân bay vì có một hành khách ở trong “tình trạng khẩn cấp” nhưng chúng tôi sẽ không phải ở lâu lại đây. Cầu thang máy bay cập đến và cửa máy bay được mở ra. Cô tiếp viên mở cửa phòng lái và tôi nghe tiếng viên phi công, rất rõ ràng. Bất bình, phẫn nộ, với một giọng cứng rắn, ông nói với tiếp viên: Đưa bà ta ra! Chỉ cần đưa bà ta ra khỏi máy bay! Sự kiên nhẫn, ân cần, nồng hậu, và cảm thông của ông ấy đã không còn nữa. Ông đã cố gắng mà chẳng được gì. Bà khách đã có cơ hội để làm quen với máy bay. Và giờ đây đã hết rồi. Đưa bà ta ra! Chỉ cần đưa bà ta ra khỏi máy bay!

Tất cả chúng tôi đều cảm thông với sự mất kiên nhẫn của viên phi công. Chúng tôi cũng mất hết kiên nhẫn với bà này rồi. Chúng tôi cần phải bay đúng lịch trình của mình. Không thể nói là viên phi công đã không cố gắng. Ông đã hết kiên nhẫn, đã chịu hết nổi, thế là đủ rồi. Việc ông làm có thể hiểu được và đáng chấp nhận. Ông đã làm tốt, thực sự là tốt… nhưng đến cuối cùng, vẫn không đủ.

Cuối cùng ông đã mệt mỏi với chuyện này, mà Kinh thánh lại bảo chúng ta là không bao giờ được mệt mỏi nản lòng khi làm những chuyện đúng đắn. Tất nhiên, chúng ta gần như không có đủ sức mạnh để làm được như thế. Hầu hết chúng ta chỉ làm điều đúng đắn cho đến khi sự kiên nhẫn của chúng ta bị rút cạn, và rồi lúc đó là: Chỉ cần đưa bà ta ra khỏi máy bay!

Cái nhìn về thế gian

Dường như, Chúa Giêsu có những cảm xúc lẫn lộn đối với thế gian. Ngài yêu thế gian, bỏ mạng vì thế gian, và đòi hỏi chúng ta phải yêu thế gian, có những khi Ngài lên án nó gay gắt và tuyên bố rõ ràng rằng nó đối nghịch với Ngài.

Vậy chúng ta phải có thái độ thế nào đây? Chúng ta sẽ nhìn thế gian này như thế nào? Liệu cái nhìn của chúng ta sẽ là phán xét hay cảm thông? Chúng ta có cảm thương mà khóc cho thế gian như Chúa Giêsu đã khóc cho thành Giêrusalem, hay chúng ta cố hết sức giữ mình xa khỏi cái thế gian theo thói thường bán đứng Thiên Chúa và đóng đinh Đức Kitô của mình? Chúng ta có quá mềm mỏng hay quá cứng rắn với thế gian của mình hay không?

Có lẽ trước hết, chúng ta phải hỏi rằng: Chính xác thì cái gì cấu thành nên thế gian? Có phải là cái phần thế giới đối nghịch với Giáo hội: là chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa vô thần hiếu chiến, và một con số lớn những người đào thoát khỏi Giáo hội ở nhiều nơi trên thế giới không? Hay, đó là cái phần thế giới có vẻ lãnh đạm với Giáo hội: là nền văn hóa pop, công nghiệp giải trí, công nghiệp thể thao, của giới học thuật chủ đạo, các bài xã luận trên những nhật báo chính? Hay, vì một lẽ là chính những người đầy lòng đạo đã đạo diễn việc đóng đinh Chúa Giêsu, nên cái thế gian chống lại Chúa Kitô chính là các tôn giáo: Các Kitô hữu chủ nghĩa chính thống cực đoan, Hồi giáo cực đoan, các loại đức tin lầm lạc đủ kiểu?

Câu hỏi này thật không dễ trả lời. Theo tôi thì, cái thế gian đối nghịch với Chúa Kitô, được cấu thành bởi tất cả những gì vừa kể trên: khắc nghiệt, lãnh đạm, và lầm lạc. Tất cả đan kết với nhau trong thế giới hiện nay và giúp xây lên một bóng tối mà Ngôi Lời Ánh Sáng đã cố gắng xuyên thấu. Nhưng bóng tối đó có cái mâu thuẫn nội tại của nó. Trong cái tôn giáo khắc nghiệt, có vẻ lãnh đạm, và lầm lạc đó, chúng ta cũng có thể thấy được đủ màu ánh sáng. Bóng tối, tự nó, không là nguyên tuyền, và như thế điều này khiến chúng ta bối rối khi tìm xem mình nên nhìn thế gian như thế nào.

Kinh Thánh bảo đảm với chúng ta rằng Thiên Chúa là tác giả của tất cả những gì tốt lành. Bởi thế, tất cả những gì trong thế giới chúng ta tỏa ra sự sống, sự thiện, lành mạnh, quảng đại, đức tin, thông tuệ, màu sắc và khôn ngoan đều đến từ Thiên Chúa, cho dẫu nó có đang nằm ở đâu đi chăng nữa. Vì vậy, khi nhìn vào thế giới của mình, chúng ta có lẽ sẽ thiển cận và dễ dàng phân tách nó ra làm hai phần, tốt và xấu. Khi làm thế, cuối cùng, chúng ta đang đặt Thiên Chúa đối nghịch với Thiên Chúa, và taọ nên một thứ vô thần. Theo lời quả quyết khôn ngoan của Michael Buckley, thì chủ nghĩa vô thần luôn luôn là ký sinh của tôn giáo xấu. Xem sự hiện diện Thiên Chúa trong thế giới như là chuyện trắng đen rõ rệt, đó là tôn giáo xấu.

Vậy chúng ta phải nhìn thế giới như thế nào, phải nhìn cái thành phố chúng ta đang sống như thế nào? Chúng ta phải nhìn thành phố này theo đúng cách mà Chúa Giêsu đã nhìn thành phố của Ngài, thành phố Giêrusalem, khi Ngài khóc cho nó, với lòng thương và phán xét như nhau. Tôi thấy gì khi nhìn vào thành phố tôi đang sống và những thành phố khác mà tôi đã sống? Trước hết, tôi thấy tất cả mọi người tôi yêu thương đang sống ở đó. Thành phố, và cả thế giới, chẳng phải là một khái niệm trừu tượng. Nói đến thành phố và nói đến thế gian, cũng là nói đến những người mà chúng ta yêu thương, và như thế nó phức hợp lành mạnh cả lòng thương và phán xét của chúng ta. Nếu tôi tin rằng thế gian là một nơi xấu xa, thì còn những người tôi yêu thương, tôi nói gì về họ đây? Và điều gì cho tôi khác biệt với thế gian đây? Vẫn cần phải có một sự phán xét nhất định: Liệu thế giới của chúng ta tốt hay xấu?

Một mặt, khi nhìn vào thế giới ngày nay, tôi thấy ở nhiều nơi, rất nhiều việc tốt, một thế giới bừng bừng đầy sinh lực, màu sắc, vui vẻ, và ham muốn lành mạnh sự sống và siêu việt. Tôi thấy đa số mọi người đều tốt bụng, ngay chính, quảng đại và khao khát hòa bình. Tôi thấy trí tuệ và sự khôn khéo tuyệt vời. Tôi thấy một lòng kiêu hãnh lành mạnh và các quan tâm lành mạnh (đôi khi hơi quá) về sức khỏe và thân thể. Và một điều nữa rất quan trọng, là tôi thấy một thế giới, hầu như nơi nào, cũng đang tăng tiến lòng độ lượng vượt qua những khác biệt sắc tộc, giới tính, và tôn giáo.

Mặt khác, tôi cũng thấy một thế giới thường nông cạn, tự quy, và không biết hy sinh nhiều. Tôi thấy một thế giới mà người giàu không quan tâm đủ đến người nghèo. Tôi thấy một thế giới vô trách nhiệm về tính dục. Tôi thấy một thế giới đang dần đâm đầu thành con nghiện công nghệ thông tin mà không có chút phản ứng phê phán nào về việc này. Tôi thấy một thế giới đang có chiều hướng không lành mạnh ngả về hệ tư tưởng, sự thổi phồng và mốt tức thời, một thế giới sống quá chăm vào cái hiện tại hơn là vào hy vọng, một thế giới thấy thật khó để trẻ con lớn lên, và thật khó để chấp nhận việc mình già đi và sẽ chết, và một thế giới không vượt khỏi cái tự đại thiếu thời mà nắm lấy của thừa kế đức tin của mình.

Vậy những thành phố của chúng ta ra làm sao? Tốt hay xấu? Những thành phố của chính chúng ta, cũng như thành phố Giêrusalem dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, gần như tốt lành, ngay thật, nhưng phải vật lộn bởi không chịu để Thiên Chúa giúp mình.

Dag Hammarskjold bàn về tính dục và dục vọng

Dục vọng xác thịt biểu lộ sự cô đơn của linh hồn.

Dag Hammarskjold, cựu Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, đã viết những lời này và chúng đã nêu bật phần ý thức thâm sâu hơn của dục vọng. Và với Hammarskjold, thấu suốt này không chỉ là lời nói suông. Ông đã từng biết đến cô đơn và khát vọng không trọn vẹn.

Khi ngày càng nhiều bài viết của ông được chuyển dịch sang tiếng Anh, chúng ta càng thấy rõ hơn rằng Dag Hammarskjold vừa là một con người hết mực chính trực và vừa có chiều sâu tâm linh vô cùng. Ông nên như thế cũng là hợp lẽ. Cha ông, từng giữ chức thủ tướng Thụy Điển, là một chính khách lớn đầy chính trực, không chút thỏa hiệp, và mẹ ông là một phụ nữ nồng hậu và có chiều sâu tâm linh. Hammarskjold thừa kế những tinh túy của hai người, và nhờ đó, ông trở thành, vừa là một chính khách hiếm có, vừa là một ngòi bút tâm linh lớn. Nhưng không phải mọi sự trong đời ông đều được trọn vẹn.

Trong sự nghiệp, ông xử lý những vấn đề hệ trọng của thế giới và cống hiến đến giọt mồ hôi cuối cùng, nhưng những quãng đời khác, ông lại không được trọn vẹn như vậy. Khi còn trẻ, ông đã mất người phụ nữ mà ông yêu hết lòng vào tay người khác, và điều này đã để lại một vết thương không bao giờ lành trong ông. Ông không bao giờ hẹn hò hay có ý muốn kết hôn lần nữa. Ông khao khát được kết hôn, nhưng cũng như hàng triệu người khác, vì đủ mọi lẽ, nó chẳng bao giờ thành sự. Theo lời của người viết tiểu sử cho ông, Walter Lipsey, thì ông «bị chiếu bí hơn là đi chiếu bí».

Hammarskjold, trong những bài viết của mình, thường suy tư về «chiếu bí» này và về lỗ hổng nó để lại trong đời ông. Ông thành thực đến héo hon về nỗi đau này và về cách ông cố gắng vật lộn với nó. Một mặt, ông nói rõ ràng rằng đây là một nỗi đau không thể loại bỏ không thể làm lơ, mặt khác, ông lại có thể tái định hướng nó theo cách nào đó, thăng hoa nó thành một vòng tay ôm rộng lớn hơn, thành một chiếc giường tân hôn khác.

«Tôi thấy đau đớn, khát khao được chia sẻ cái ôm (vợ chồng), được hòa lẫn vào nhau, được sẻ chia trong sự gặp gỡ này. Một khao khát giống như ham muốn xác thịt, nhưng lại hướng đến địa cầu, nước nôi, bầu trời, và được đáp lại bằng tiếng thì thầm của hàng cây, mùi hương của đất, làm mơn trớn của gió, cùng vòng ôm của nước và ánh sáng.» Như thế có là thỏa mãn hay không? Không hẳn, nhưng nó đem lại sự bình an nhất định: «Hài lòng? Không, không, không – nhưng là khoan khoái, nghỉ ngơi, trong lúc đợi chờ».

Cả trong cách ông cảm nghiệm nỗi đau không trọn của mình và trong cách ông cố gắng tái định hướng những khao khát này, chúng ta thấy cảm giác của ông tương tự với cảm giác của Thomas Merton. Merton từng được một ký giả hỏi xem ông nghĩ gì về đời độc thân. Merton trả lời rằng «độc thân là địa ngục», nó kết án người ta phải sống trong sự cô đơn mà chính Thiên Chúa cũng lên án (Không tốt khi con người sống một mình), và thực sự đó là một cách sống đầy nguy hiểm bởi nó là một cách sống bất thường. Nhưng rồi Merton tiếp tục nói rằng, chỉ bởi nó bất thường và nguy hiểm, không có nghĩa là nó không thể sinh sôi tuyệt diệu và đem lại sự sống, cả cho những người sống độc thân lẫn cho những ai sống quanh người đó. Và điều này chắc chắn đúng trong trường hợp của Merton, cũng như với Hammarskjold. Cả hai đã mang thêm nhiều sinh khí cho địa cầu này.

Hơn nữa, với nỗi khao khát đêm tân hôn, Merton đã thăng hoa nó theo cách giống hệt Hammarskjold: «Tôi quyết định hôn phối với sự thinh lặng của cánh rừng. Hơi ấm kín đáo ngọt ngào của toàn thế giới sẽ phải là hôn thê của tôi. Từ hơi ấm kín đáo đó, là một bí mật chỉ nghe thấy được trong thinh lặng, nhưng đó là cội rễ của tất cả bí mật đang thì thầm trên môi mọi tình nhân đang tình tự khắp cùng thế giới.»

Cả Hammarskjold và Merton đều khao khát sự thân mật sâu đậm riêng tư đó, cũng như khao khát cái ôm tình dục quyện chặt hai con người với nhau, một điều mà họ đã bị khước từ vì vị thế một thời của họ, cũng như bị khước từ với hàng triệu người trong chúng ta vì đủ kiểu hoàn cảnh và cưỡng bách khác nhau. Merton đã chọn, một cách ý thức cân nhắc, bỏ qua sự hòa hợp tính dục để giữ lời thề dòng tu, và Hammarskjold cũng đã chọn như thế, bởi hoàn cảnh. Đến cuối cùng, hiệu ứng vẫn như nhau. Cả hai đều cố gắng thăng hoa nhu cầu và khao khát muốn thân mật bẩm tính của mình, bằng cách, theo lời họ là, hôn phối với thế giới và tình tự theo một cách ít cá thể hơn.

Nhiều người đã kết hôn, đã được hưởng cái chiều sâu độc nhất vô nhị của sự thân mật giữa hai con người mà Hammarskjold và Merton khao khát, nhưng tôi cho rằng, họ cũng mơ hồ khao khát được tìm thấy trong sự thân mật tính dục của mình một cái ôm rộng lớn hơn mà hai nhân vật trên từng nói đến.

Các tư tưởng gia đã luôn luôn nghiền ngẫm vấn đề riêng mà chung này, mối quan hệ qua lại giữa cá thể và toàn thể, bởi đây không chỉ là vấn đề lý thuyết suông trong siêu hình học để các triết gia tung hứng, nhưng nó còn là một chướng ngại không thể tách rời bên trong áp lực áp bức của tính dục trong những tình nhân đang tình tự với nhau khắp thế giới.

Ngày của mẹ

Có một câu châm ngôn cổ cho chúng ta lời chỉ dạy khôn ngoan, nhưng gần như không thể làm theo được. Hãy khôn ngoan trong việc chọn cha mẹ!

Nói thì dễ, làm thì khó, nhưng câu châm ngôn này có nhiều ý nghĩa. Chúng ta không hoàn toàn là chính mình. Chúng ta còn là sản phẩm do tay cha mẹ, những người không chỉ cho chúng ta bộ gen di truyền, mà tập hợp phức tạp những gì của họ trong chúng ta và cách họ liên kết với chúng ta và với thế giới cũng góp phần định hình nhân bản và tính cách của chúng ta nữa. Khi trưởng thành, chúng ta vừa tự do vừa tê liệt về mặt cảm xúc khi suy nghĩ về chính xác những gì mình đã thừa kế được từ cha mẹ. Họ định hình chúng ta.

Ngày hôm nay, ngày của mẹ, khi tôi nghĩ về mẹ mình và gen di truyền được thừa kế từ mẹ, tôi nhận ra rằng cha mẹ đã định hình nên tôi. Mẹ tôi đã mất 43 năm trước, nhưng dấu ấn của mẹ vẫn còn ghi đậm nơi đây, nơi anh chị em tôi, và nơi tôi. Vậy ngoài những đặc thù thể lý, mẹ còn cho tôi gì nữa?

Những gì mẹ cho tôi không phải là tự nhiên mà có. Với sự giúp đỡ của cha tôi, mẹ đã nuôi nấng cả một gia đình đông con, và dù cuộc hôn nhân của họ thật lãng mạn, nhưng gần hết thời gian của họ, họ đã phải xoay xở vật lộn với vấn đề tiền bạc, thời gian, sức lực để lo toan cho cả nhà. Những gì mẹ phải làm luôn luôn hầu như vượt quá sức của mẹ. Nhưng bằng cách nào đó, mẹ luôn luôn xoay xở được, luôn luôn tìm được cách để tăng tiến mọi việc, tăng sức tăng thời gian để cho chúng tôi ăn, mặc, và làm tròn vai trò người mẹ.

Mẹ thường không có thời gian, sức lực hay kiên nhẫn để cho chúng tôi tình cảm và sự nồng ấm mật thiết mà một đứa trẻ hết sức mong đợi và cần đến, dù thực sự, tự bản chất, mẹ là người ấm áp và ân cần. Quá nhiều việc phải làm đè nặng lên mẹ một áp lực nên nhiều khi mẹ không thể cầu toàn và chú tâm thật nhiều được. Và mẹ cũng không phải là một bà mẹ trên phim, lúc nào cũng ăn mặc đẹp đẽ và biểu lộ tình cảm hoàn hảo, nhưng thành thật mà nói, mẹ đã cho chúng tôi điều quan trọng nhất đối với một gia đình, chính là sự an toàn và bảo đảm. Nhu cầu lớn nhất, che khuất tất cả mọi nhu cầu khác, chính là mong muốn được cảm thấy an toàn và bảo đảm.

Mẹ tôi thường chia trí với nhiều việc khác nhau, nên không thể chú ý đến chúng tôi cũng như không biểu lộ tình cảm trọn vẹn được, nhưng mẹ cho chúng tôi những gì chúng tôi cần hơn tất cả, là sự an toàn và bảo đảm. Mẹ cho chúng tôi một mái nhà và một mái ấm luôn luôn vững chãi và chừng mực – đôi khi cũng hơi ồn ào một chút. Trong môi trường đó, chúng tôi luôn được an toàn. Thời thơ ấu, không một ai cho tôi được điều gì phong phú hay to lớn hơn thế nữa.

Hơn nữa, trong tất cả mọi việc, khi phải xoay xở để lo toan và phải đối phó với những việc chẳng đặng đừng, mẹ đã dạy cho chúng tôi biết một điều quan trọng nữa là, bạn không cần phải chờ cho đến khi thanh toán hết hóa đơn, sức khỏe sung mãn, có đủ thời gian rảnh rỗi, và chẳng có những việc đau đầu đang chờ, nghĩa là không cần phải chờ cho đến khi mọi việc hoàn hảo để có thể hưởng dùng thời khắc hiện tại. Mẹ tôi biết cách để hưởng giây phút hiện tại. Mọi ngày lễ, sinh nhật, hay ngày chúa nhật, đều là dịp để có một bữa ăn đặc biệt và mừng lễ đặc biệt cho dù có việc gì khó khăn có thể xảy ra đi chăng nữa. Và có lẽ, quan trọng hơn tất cả, mẹ tôi vô cùng có trách nhiệm trong việc trao truyền đức tin cho tôi, và dù cha tôi cùng chung tay, nhưng mẹ tôi chính là người thúc đẩy tôi mở lòng ra với ơn gọi linh mục.

Các nhà nhân học nghiên cứu các nghi lễ khai tâm trong nhiều nền văn hóa khác nhau đã cho chúng ta biết rằng các quy trình khai tâm cần thiết để biến đổi một đứa trẻ thành một người trưởng thành, đều cần phải nhấn mạnh vào bốn chân lý rõ ràng này: Đời của bạn không phải của riêng bạn. Cuộc sống đầy gian khó. Bạn sẽ chết. Đời của bạn không phải là cho bạn.

Nền văn hóa và Giáo hội của mẹ tôi đã ghi khắc không thể phai mờ những chân lý này trong bà. Với thế hệ của bà, đặc biệt khi bạn sống ở vùng nông thôn và nghèo, thì cuộc sống thật khó khăn và đòi hỏi đạo đức phải cao. Nhiều người chết trẻ. Và đặc nét thế hệ của mẹ tôi là gia đình, Giáo hội, người đồng loại và quê hương có thể đòi hỏi, và bổn phận của bạn là trao ban đời sống mình mà không chút ích kỷ hay than van. Thật ích kỷ khi nghĩ về mình trên hết. Mẹ tôi đã thấm nhuần đặc tính đó và rồi bà truyền cho chúng tôi, đặc biệt là chân lý rằng đời của bạn không phải là cho bạn. Những sự thật khác nữa như, cuộc sống là khó khăn và bạn sẽ chết, sẽ tự lên tiếng với bạn, nhưng từ lúc bạn còn là đứa trẻ cho đến khi trưởng thành, thông điệp gởi đến bạn rất rõ ràng: Đời của bạn không phải của riêng bạn. Đời của bạn không phải là cho bạn. Các nhà nhân học có lẽ nên nghiên cứu cách nhìn và cách sống khai tâm của mẹ tôi.

Không bà mẹ nào hoàn hảo, mẹ tôi cũng vậy. Mẹ có những sai lầm và tôi cũng còn nhớ nhiều sai lầm của mẹ bên cạnh nhiều điều tốt mẹ đã làm cho tôi. Nhưng khi nghĩ về mẹ mình, tôi chỉ cảm thấy thật tốt lành và biết ơn mà thôi. Tôi đã chọn mẹ cho mình một cách khôn ngoan đó!

Hành trình qua bản chất tự nhiên, niềm khao khát và tâm hồn

Bản chất tự nhiên, dục vọng, và tâm hồn – chúng ta hiếm khi hòa hợp được chúng với nhau. Nhưng chúng lại liên kết chúng không tách nhau được đến mức cách chúng ta vận dụng cái này sẽ xác định sắc thái sâu sắc cho cái kia, và thực sự, có thể định nghĩa linh đạo là những gì chúng ta làm để hợp nhất ba sự này trong đời mình.

Gần đây các ngòi bút thiêng liêng trứ danh như Annie Dillard, Kathleen Norris, Bill Plotkin, và Belden Lane đã đưa ra một cách hết sức thuyết phục rằng bản chất thể lý tác động sâu sắc đến linh hồn, cũng như cách chúng ta điều khiển các dục vọng của mình sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến cách chúng ta đối xử với tự nhiên. Sẽ là ngây thơ, khi tìm cách tách rời linh đạo ra khỏi tự nhiên và khao khát. Trong quyển sách mới xuất bản, Con đường là Thế: Cuộc Hành hương Đồng cỏ qua Tự nhiên, Dục vọng, và Linh hồn (The Road Is How: A Prairie Pilgrimage through Nature, Desire and Soul), văn sĩ người Canada, Trevor Herriot đã tụ hợp các gốc này lại với nhau và kêu gọi hãy hòa hợp với tự nhiên, với niềm khát khao và với linh hồn hơn nữa.

Tựa đề đã phản ánh nội dung quyển sách. Herriot đi bộ hành hương qua vùng đồng cỏ Saskatchewan, một mảnh đất ghi dấu chân trâu bò suốt hàng trăm năm nay, rồi qua chuyến đi, ông để tự nhiên và dục vọng lên tiếng với tâm hồn mình. Kết quả là một ký sự phi thường, một quyển sách có tinh thần đạo đức sâu đậm.

Là một nhà tự nhiên học, Herriot tham dự nhiều dự án đối thoại khác nhau về việc cứu lấy giống chim đồng cỏ để bảo tồn mặt cỏ lịch sử một thời này. Nhưng không có gì lạ khi một trong những chủ đề tâm điểm của ông là mối liên hệ mà ông cảm nhận qua trực giác giữa tự nhiên và linh hồn. “Tôi lo lắng về những gì sẽ xảy đến nếu chúng ta tách rời phần hồn khỏi đời sống thể xác và văn hóa, mà cả hai đều liên kết với đất đai, khí hậu và những điều khác của nơi này nữa.” Và cả chúng ta cũng nên lo lắng vì: “Thời nay, chúng ta thấy những xe tải chở bột đi ngang qua và nhận thấy có điều gì đó trong chúng ta và trong địa cầu này đang bị xâm hại khi thực phẩm được trồng lên rồi bị tiêu thụ mà thiếu sự thân thiện, quan tâm và tôn trọng. Các phong trào cổ vũ thức ăn địa phương và đồ ăn chậm đang cho chúng ta thấy cách chúng ta tạo nên, phân phối, chuẩn bị, và ăn thức ăn là một việc quan trọng đối với sức khỏe, chuyển hóa của cơ thể chúng ta cho đến trái đất này. Bước tiếp theo phải là nhận ra được rằng, nguồn sinh lực đưa phấn hoa vào nhụy rồi nảy nên hạt, một khi được đưa vào cơ thể chúng ta, cũng cần được nâng niu. Cách chúng ta đáp lại khát khao muốn hợp nhất, kết nối và sinh hoa trái, một cảm giác rất sâu sắc nhưng thường được diễn đạt quá nông cạn, sẽ quyết định giá trị của những trao đổi giữa người với người”.

Từ đó, ông tiến thêm một bước ngắn suy tư về tính dục và dục vọng. Herriot cho rằng “có một nỗi buồn xuất phát từ việc lạm dụng sinh lực tính dục, một dạng phần nào tuyệt vọng mà nếu chúng ta thinh lặng đủ, có thể nghe thấy tiếng của nó đang văng vẳng.” Tóm lại, với ông, cách chúng ta đối xử với cơ thể mình, với bạn đời, với người khác giới, sẽ góp phần xác định cách chúng ta đối xử với tự nhiên. Và ngược lại cũng vậy, cách chúng ta đối đãi với tự nhiên sẽ góp phần xác định cách chúng ta đối xử với cơ thể mình, với bạn đời, người yêu và người khác giới. “Trong một thế giới đắm chìm trong thứ tình dục công nghiệp và phi nhân, nơi hiếm có mối liên hệ và sự âu yếm thực sự, thì liệu chúng ta có nhận thức được rằng trong bản thân và trong địa cầu này đang có nhiều thứ bị xâm hại do thiếu vắng thân tình, quan tâm và tôn trọng, hay không? Chúng ta có học được rằng bất kỳ biểu lộ năng lực tính dục nào của chúng ta đều sẽ, hoặc nối kết, hoặc chia rẽ, chúng ta với thế giới quanh mình và với linh hồn mình, hay không? Chúng ta đang khám phá ra rằng chúng ta phải quản lý những sinh lực của tự nhiên trong gốc hydrocarbon hay trong cây cối và sinh vật sống, rồi từ đó thăng tiến cách thức đón nhận hoa trái của địa cầu, nhưng chúng ta phải vật lộn để nhìn ra trách nhiệm hàng đầu của mình đối với sự phát triển dù nhỏ nhưng tích tụ lại thì vô cùng quan trọng của các năng lượng mà chúng ta đã nắm bắt và truyền dẫn, và đó như một lời đáp cho những khát khao muốn kết nối, hòa nhập và sinh hoa trái của chúng ta. Học để quản lý cách chúng ta tự mình sinh hoa trái trên phương diện một hữu thể tâm linh/tính dục với đầy đủ những khát khao thú tính và những khát khao thiên thần, có lẽ là điều quan trọng đối với cuộc lữ hành của nhân loại, quan trọng hơn những gì chúng ta hiểu được.” Đây không phải là những lời dễ nuốt, đối với cả những người cấp tiến lẫn bảo thủ.

Cũng như quyển sách cách đây cả mấy chục năm của Allan Bloom, Cận cảnh tư duy Mỹ (The Closing of the American Mind), thì quyển sách này của Herriot cũng chịu nhiều chỉ trích dữ dội từ cả hai phái bảo thủ và cấp tiến trong tôn giáo cũng như trong tư tưởng. Những người bảo thủ tôn giáo sẽ thấy khó chịu vì quan điểm tính dục của ông, nhưng tôi e rằng nhiều người tự do thế tục cũng sẽ khó chịu y như thế bởi Herriot xem họ cũng chẳng khác gì những người đối lập cánh hữu. Và cách nhìn nhận của Herriot về linh hồn, giáo hội, lịch sử Kitô giáo, chế độ gia trưởng, chủ nghĩa nữ quyền, giới tính, đồng tính, và sự nóng lên toàn cầu, tất cả cũng đều bị chỉ trích từ cả hai phía như vậy. Những Kitô hữu bảo thủ sẽ thấy mình bị kéo đến những nơi mình không muốn, và những người theo chủ nghĩa thế tục sẽ cứ mãi nghĩ xem liệu có ai nữa, như Herriot, một người mà họ xem là đồng minh, sẽ nói về linh hồn, linh đạo, dục vọng, và trinh tiết theo kiểu mà với họ là ngây thơ, nhưng lại truyền tải những sự thật vô cùng phức tạp và thường gây nên căng thẳng như thế này.

James Hillman thường nói biếm rằng: “Một triệu chứng sẽ đau đớn nhất khi nó chẳng biết chỗ của mình ở đâu.” Con đường biết là thế (The Road Knows How) sẽ cho chúng ta biết những triệu chứng vốn rất nhiều của chúng ta, đang ở đâu.

Chấp nhận sự thật, bất chấp nhãn hiệu của nó

Khi là chủng sinh, tôi có hai loại giáo sư: Một, do họ trung thành mãnh liệt với tất cả những gì thuộc Kitô giáo và Công giáo, nên dù họ để cho chúng tôi đọc các nhà tư tưởng thế tục nhưng ý định của họ luôn luôn là để cho chúng tôi thấy những tư tưởng đó là sai lầm. Theo lời họ thì, bổn phận trau dồi tri thức của một chủng sinh Công giáo như chúng tôi là làm sao để có thể bảo vệ đạo Công giáo chống lại đủ kiểu phê phán đặt nền tảng trên những tác phẩm của những nhà tư tưởng mang tính thế tục, và đôi khi còn bài Kitô giáo nữa, để từ đó giữ vững đức tin và dạy cho người khác cách thoát khỏi ảnh hưởng của họ. Loại giáo sư thứ hai lại có cách tiếp cận khác: Họ để chúng tôi đọc những nhà tư tưởng thế tục lớn, bất chấp những người đó phê phán chua cay Kitô giáo và Công giáo, nhưng ý định của các giáo sư này là để chúng tôi có thể học hỏi từ họ một cách tích cực. Các giáo sư nói rằng, những nhà tư tưởng này là những đầu óc vĩ đại, và dù họ có đồng tình với Kitô giáo hay không, chúng ta vẫn có điều gì đó để học hỏi từ họ. Đừng đọc theo kiểu chỉ trích, nhưng hãy đọc với ý học hỏi.

Thời gian đầu trong chủng viện, vì còn chưa vững về mặt tri thức, nên tôi có chiều hướng ngả về cách tiếp cận tự vệ của nhóm giáo sư thứ nhất và đọc các nhà tư tưởng thế tục trong tinh thần chống đối. Bây giờ tôi phì cười khi nghĩ đến chàng trai trẻ đầy lý tưởng nhưng lại ngây thơ và sợ hãi về mặt tri thức là tôi thời đó, một cậu bé 19 tuổi đang cố gắng tìm những điểm yếu trong lập luận của những nhà như Nietzsche, Feuerbach, Marx, Freud, Durkheim, và Lenin. Tôi tưởng tượng mình là David chống lại Goliath. Bây giờ nhìn lại thời đó, tôi có vẻ dại dột và tự đại quá, nhưng tôi vẫn thích cái cậu bé 19 tuổi đang dấn mình vào trận chiến đó.

Về sau, chính xác là do một vài nhận thức sáng suốt đáng giá của một vài trong số các nhà tư tưởng thế tục vĩ đại đó đã bắt đầu xâm nhập vào đầu tôi cho dù tôi cố kháng cự, và tôi bắt đầu ngày càng hướng về cách tiếp cận của nhóm giáo sư thứ hai, những người mời gọi chúng tôi học hỏi từ những thấu suốt của những nhà tư tưởng này, bất chấp cái nhãn hiệu của họ ra sao. Bây giờ đã lớn tuổi, cả tuổi đời lẫn tuổi linh mục, tôi thấy mình ngày càng phong phú và dễ đồng cảm hơn với việc giữ mình trung tín với sự thật bất chấp nó đến từ đâu. Vì thế, bây giờ tôi thấy mình đang uống nước từ đủ nguồn giếng tri thức, đặc biệt là từ các tiểu thuyết gia và tiểu luận gia thế tục, năng lực phê phán của tôi tỉnh táo như người lính đang đứng gác, nhưng cùng với đó là một lòng thèm khát những nhận thức sáng suốt mà các ngòi bút này chiếu rọi vào đời sống và linh hồn. Tôi không còn đọc với ý định cố gắng chứng tỏ người đó sai lầm, cho dù tác giả đó có là người bài Kitô giáo đi nữa. Tôi có quá nhiều điều để học.

Đôi khi, lúc sợ mình đi xuống về mặt chính thống, chúng ta quên mất rằng nhiều thần học gia lớn trong truyền thống Kitô đã không e ngại khi nghiền ngẫm các nhà tư tưởng ngoại giáo, đào sâu những nhận thức sáng suốt của họ để tìm ra sự thật, và rồi kết hợp chúng với đức tin của mình: Thánh Âu Tinh đã làm thế với tư tưởng Platon. Thánh Tôma Aquinô với Aristotle, dù phải đối diện với những chỉ trích đáng kể từ Giáo hội. Ngược đời thay, nhiều thế kỷ về sau, giờ đây chúng ta đang xem những phạm trù triết học mà họ đã rút ra từ tư tưởng ngoại giáo là tiêu chuẩn hết mực cho tính chính thống.

Gần đây, thần học giải phóng, cũng đã làm như thế với chủ nghĩa Marx, cũng như chủ nghĩa nữ quyền cũng đã rút ra nhiều điều từ luận thuyết xã hội thế tục. Nhưng những ảnh hưởng này bị chủ nghĩa chính thống dò xét với sự ngờ vực lẫn cật lực bác bỏ. Ai dám nói Chúa Giêsu từng làm chuyện tương tự? Ngài đã lấy các dụ ngôn và chuyện kể đang có trong nền văn hóa của mình và sửa đổi để hợp với các lời giảng của mình. Hơn nữa, Ngài đã dạy, dạy rõ, rằng chúng ta phải tôn vinh sự thật, dù thấy ở đâu và dù ai nắm nó đi nữa.

Nhưng như thế chẳng phải là thuyết hổ lốn hay sao? Nếu một người hấp thụ những chân lý từ các nguồn thế tục và ngoại giáo đa dạng, rồi hòa hợp chúng với đức tin Kitô giáo, thì làm sao tránh bị xem là người theo tinh thần hổ lốn đây?

Rút ra chân lý từ nhiều nguồn không phải là thuyết hổ lốn. Thuyết hổ lốn kết hợp các nhận thức sáng suốt lượm lặt được từ mọi ngóc ngách mà thiếu phê phán và lại mâu thuẫn với nhau. Nhưng chúng ta đừng nhầm lẫn căng thẳng với mâu thuẫn. Căng thẳng không nhất thiết là biểu hiện của mâu thuẫn, mà thường là ngược lại: Đức tin thực sự đủ khiêm nhượng để đón nhận sự thật, cho dù nó xuất phát từ đâu đi nữa, cho dù nó có gây căng thẳng và cho dù nó có thuộc tôn giáo hay hệ tư tưởng nào đi chăng nữa. Những trí tuệ và tâm hồn lớn đủ rộng để chứa và giữ nhiều mơ hồ và căng thẳng. Và những người thực sự thờ phượng Thiên Chúa sẽ chấp nhận sự tốt lành và sự thật của Thiên Chúa, bất kể biểu hiện, bất kể sự phiền phức về mặt tôn giáo và đạo đức mà nó sẽ gây nên.

Thiên Chúa là Đấng tạo thành tất cả mọi sự thiện và sự thật! Bởi thế, không một tôn giáo, giáo hội, nền văn hóa, triết gia, hay một hệ tư tưởng nào nắm hết mọi chân lý, chúng ta phải cởi mở nhìn nhận và đón nhận sự thiện và sự thật từ nhiều nguồn khác nhau, và chúng ta phải cởi mở với những căng thẳng và mơ hồ mà chuyện này đem lại cho cuộc sống chúng ta.

Sự hiện diện thinh lặng của Thiên Chúa trong đời chúng ta

Thi sĩ Rumi cho rằng chúng ta sống với một bí mật sâu kín mà có lúc chúng ta biết, có lúc chúng ta không.

Và điều này sẽ giúp chúng ta hiểu nhiều về đức tin của mình. Một trong những lý do vì sao chúng ta phải vật lộn với đức tin, chính là vì sự hiện diện của Thiên Chúa trong chúng ta và trong thế giới của chúng ta, hiếm khi rõ ràng, mạnh mẽ như một chuyện không thể bác bỏ. Thiên Chúa không hành động như thế. Mà sự hiện diện của Thiên Chúa, trước những nản lòng và mất kiên nhẫn của chúng ta, là một sự gì đó lặng lẽ và dường như bất lực bên trong chúng ta. Hiếm khi sự hiện diện đó bùng lên dữ dội.

Vì không hiểu đủ về chuyện này, chúng ta có khuynh hướng hiểu lầm những động lực của đức tin và rồi thấy mình theo thói quen đang cố gắng đặt đức tin của mình trên một điều gì đó ồn ào, rõ ràng, mạnh mẽ hơn. Chúng ta luôn tìm kiếm một điều gì đó vượt ngoài cái mà Thiên Chúa đã đặt trong chúng ta. Nhưng chúng ta phải nhận biết, từ cách Thiên Chúa đến với thế giới này trong hình hài em bé, rằng đức tin của chúng ta cần phải đặt nền tảng trên một điều gì đó lặng lẽ và không kịch tính. Như chúng ta biết, Chúa Giêsu sinh ra trong đời, không một uy quyền hay báo hiệu ầm ĩ nào, Ngài là một em bé nằm bất lực trong máng cỏ, như bất kỳ đứa bé nào trên đời. Việc hạ sinh của Ngài chẳng có gì đặc biệt dưới con mắt người đời. Rồi, trong đời sứ mạng của mình, Ngài chẳng bao giờ làm phép lạ để chứng tỏ thiên tính của mình, nhưng chỉ làm phép lạ vì lòng thương hay để bày tỏ về Thiên Chúa mà thôi. Chúa Giêsu không bao giờ dùng quyền năng thiêng liêng để cố gắng chứng tỏ Thiên Chúa tồn tại, bất chấp những hoài nghi của dân chúng. Đời rao giảng của Ngài, cũng như việc hạ sinh của Ngài, không phải là những nỗ lực cố gắng chứng minh Thiên Chúa hiện hữu. Nhưng là để dạy cho chúng ta biết Thiên Chúa như thế nào và Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô điều kiện.

Hơn nữa, lời dạy của Chúa Giêsu về sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời chúng ta cũng làm rõ rằng sự hiện diện này gần như lặng lẽ và dấu kín, như cái cây lớn dần trong thinh lặng khi chúng ta đang ngủ, như men làm dậy bột mà chúng ta không thấy được, như mùa hè biến cây khô cằn nên xanh tốt, như một cây cải con khiến chúng ta bất ngờ khi thấy nó lớn lên cao đến chừng nào, như một người tha thứ cho kẻ thù của mình vậy. Dường như, Thiên Chúa hành động theo những cách thinh lặng và khuất khỏi tầm mắt chúng ta. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu là hiện thân, không rõ ràng mạnh mẽ cũng không bừng bừng bùng nổ.

Qua việc này, đây là một bài học đức tin quan trọng cho chúng ta. Nói đơn giản là, Thiên Chúa ở trong chúng ta, sâu bên trong, nhưng theo một cách gần như không tồn tại, gần như không cảm được, gần như chẳng thấy, và dễ bị lờ đi. Nhưng, trong khi sự hiện diện đó không bao giờ quá đỗi mạnh mẽ, nhưng lại mang trong mình một mệnh lệnh nhẹ nhàng nhưng không dứt, một cưỡng bách hướng đến một sự cao cả hơn, đang mời gọi chúng ta hòa mình vào. Và nếu chúng ta hòa mình vào, thì nó sẽ tuôn trào trong chúng ta một dòng chảy bất tận, hướng dẫn, nuôi dưỡng, lấp đầy chúng ta bằng sinh lực vô biên.

Điều này rất quan trọng để hiểu được đức tin. Thiên Chúa đặt để trong chúng ta một lời mời, hoàn toàn tôn trọng tự do của chúng ta, không bao giờ áp đặt cũng không bao giờ từ bỏ. Điều này ở trong chúng ta, như một trẻ bé bất lực nằm trong máng cỏ, nhẹ nhàng vẫy tay với chúng ta, nhưng không thể tự mình bắt chúng ta phải nắm lấy.

Ví dụ như C.S. Lewis, khi giải thích vì sao cuối cùng ông trở thành «một người trở lại ngoan cố nhất trong lịch sử Kitô giáo» (theo lời của ông), đã viết rằng, trong suốt nhiều năm, ông đã có thể bác bỏ được một tiếng nói bên trong bản thân, vì tiếng đó gần như không tồn tại, gần như không cảm được, và hầu như bị lờ đi. Mặt khác, khi nhìn lại quá khứ, ông nhận ra rằng tiếng đó luôn luôn có đó, một thôi thúc nhẹ nhàng nhưng không ngớt, ra hiệu cho ông hãy lấy từ nó một sự gì đó mà đến cuối cùng ông nhận ra đó là một mệnh lệnh nhẹ nhàng nhưng không nhượng bộ, và vô cùng khẩn thiết, một «cưỡng bách», mà nếu ông tuân theo, sẽ đưa ông đến với tự do.

Ruth Burrows, nữ tu dòng Carmen và là nhà thần nghiệm người Anh, đã mô tả một cảm nghiệm tương tự trong tự thuật của mình, Trước mặt Thiên Chúa hằng sống. Bà ghi lại tuổi thanh xuân, mô tả tính lửng lơ và thiếu cuốn hút trong đời sống đạo của mình. Nhưng cuối cùng, bà không chỉ nghiêm túc về đường sống đạo mà còn trở thành một nữ tu dòng Carmen. Chuyện gì đã xảy ra? Một ngày nọ, trong nhà nguyện, gần như đi ngược lại với ý muốn của mình, và được thúc đẩy bởi một loạt hoàn cảnh tình cờ, bà đã mở lòng mình với tiếng gọi bên trong, mà lâu nay bà đã lờ đi vì nó nằm trong lòng bà nhưng gần như không tồn tại, gần như không cảm được, và hầu như không thấy được. Nhưng một khi đã chạm đến, thì nó tuôn trào ra như một cái gì thâm sâu nhất và thật nhất trong bà, rồi định hướng để bà đi theo nó suốt đời. Cũng như C.S. Lewis, bà cũng đã từng mở lòng mình với tiếng đó, cảm được đó là một cưỡng bách tinh thần không nhượng bộ mở con người mình ra với tự do vô hạn.

Tại sao Thiên Chúa không tỏ mình với chúng ta một cách trực tiếp và uy quyền hơn, để làm cho đức tin của chúng ta được dễ dàng hơn? Đó là một câu hỏi, mà phần nào, không thể có câu trả lời thỏa mãn hoàn toàn. Nhưng câu trả lời mà chúng ta có, nằm trong việc hiểu được đường lối Thiên Chúa biểu lộ Ngài trong đời chúng ta và trong thế giới chúng ta. Không như hầu hết mọi sự khác vốn luôn cố gắng lôi kéo sự chú ý của chúng ta, Thiên Chúa không bao giờ cố gắng để chiếm lấy chúng ta. Thiên Chúa, hơn bất kỳ ai khác, tôn trọng tự do của chúng ta. Vì lẽ đó, Thiên Chúa ở mọi nơi, trong chúng ta và quanh chúng ta, gần như không cảm được, hầu như không thấy, và dễ dàng bị lờ đi, như một thôi thúc nhẹ nhàng lặng lẽ, nhưng nếu bắt lấy được, thì sẽ là dòng suối bất tận tuôn trào tình yêu và sinh lực.

Viết lại cuộc xử án của chúng ta

Khi kể về cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu, Thánh Kinh tập trung rất nhiều vào cuộc xử án Ngài, mô tả dài và chi tiết.

Và mô tả đó thật vô cùng sâu cay. Chúa Giêsu bị xử án, nhưng lại được viết ra như thể, tất cả mọi người đang bị xử án, chứ không phải Ngài. Các nhà cầm quyền Do Thái, những người đã lên kế hoạch bắt Ngài đang bị xử án vì lòng ghen tức và bất lương của họ. Nhà cầm quyền Rôma, những người nắm quyền quyết định trong vụ này, đang bị xử án vì sự mù quáng về đạo của họ. Các đồng bạn và những người đương thời của Chúa Giêsu đang bị xử án vì sự yếu đuối và phản bội của họ. Những người thách Chúa Giêsu thể hiện quyền năng thiêng liêng của mình để xuống khỏi thập giá, họ bị xử án vì đức tin thiển cận của họ. Và, cuối cùng nhưng không phải nhẹ tội, là chính mỗi chúng ta đang bị xử án vì sự yếu hèn, ghen tương, mù quáng tôn giáo và đức tin thiển cận của mình. Đoạn viết về cuộc xử án Chúa Giêsu đọc ra như một bản kể tội phản bội của chúng ta.

Gần đây, Giáo hội đã cố để giúp chúng ta nắm bắt được điều này bằng cách đọc các đoạn Thương khó trong ngày Lễ Lá và ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Ngày nay, trong nhiều nhà thờ, bản Thương khó được đọc theo cách phân vai, một người kể chuyện, một người đóng vai Chúa Giêsu, vài người khác đóng vai những người tham dự trong việc bắt giữ và xử án Chúa, và cả cộng đoàn đọc to lời của đám đông. Làm thế này không thể nào hợp lý hơn được nữa, vì một cộng đoàn trong bất kỳ giáo hội Kitô nào, và chúng ta, từng người trong cộng đoàn đó, bằng hành động hay lời nói, theo vô số cách khác nhau, đang họa lại hoàn hảo những hành động và lời nói của những người đương thời với Chúa Giêsu cùng với sự yếu hèn, phản bội, ghen tức, mù quáng tôn giáo, và đức tin sai lầm. Chúng ta cũng vô số lần lên tiếng buộc tội Chúa Giêsu bằng chính lối sống của mình.

Ví dụ như, đây là cách chúng ta làm thế trong lời nói: Trong trình thuật theo thánh Matêô, trong cuộc xử án, Philatô ra trước mặt dân, những người chỉ mới năm ngày trước đã tung hô Chúa Giêsu là vua, nói với họ rằng, theo thông lệ vào ngày lễ Vượt qua, ông sẽ thả một tù phạm Do Thái. Lúc đó, trong tù có một tên sát nhân hết sức bỉ ổi là Barabbas. Philatô hỏi đám đông: «Ta sẽ tha cho ai, Giêsu thành Nazareth hay Barabbas» Đám đông la lên: «Barabbas!» Philatô mới hỏi họ: «Vậy ta sẽ làm gì với Giêsu thành Nazareth?» Đám đông đáp lời: «Dẫn hắn đi. Đóng đinh hắn!» Chúng ta có thể làm một phép ngoại suy rất rõ ràng thế này: Trong mọi lựa chọn luân lý của mình, lớn hay nhỏ, xét cho cùng, câu hỏi mà chúng ta phải đối diện cũng là câu mà Philatô đã hỏi đám dân: Ta sẽ thả ai cho các người, Giêsu hay Barabbas? Lòng nhân từ hay thói bạo lực? Bỏ mình hay quy kỷ?

Cũng đám dân đó đã nói với Philatô rằng: «Chúng tôi chẳng có vua nào cả, ngoại trừ Ceasar!» Khi nói thế, họ đang chối bỏ niềm hi vọng của mình về Đấng Messiah để đổi lấy sự an toàn tạm thời. Chúng ta cũng nói như thế, mỗi khi, vì lợi lộc của mình, chúng ta bán rẻ những lý tưởng cao hơn, và chọn lấy cái thứ yếu.

Cũng vậy, quá thường xuyên, chúng ta lặp lại những lời của đám dân đang thách Chúa Giêsu bị treo trên thập giá bằng những lời: «Nếu ngươi là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá, cứu lấy chúng ta, và cứu cả ngươi nữa.» Chúng ta cũng nói như thế bất cứ lúc nào chúng ta cầu nguyện như thể đang thẩm xét sư hiện hữu và tốt lành của Thiên Chúa, nếu chúng ta có một câu trả lời theo ý mình thì đó là Chúa yêu chúng ta, còn không, chúng ta sẽ bắt đầu hoài nghi Ngài.

Dĩ nhiên, cũng như vậy với hành động của chúng ta: Như các môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta có xu hướng ở bên Ngài khi mọi chuyện tốt đẹp, khi cám dỗ không quá mạnh, và không phải đối diện với những đe dọa thực sự, trực tiếp đến mình. Nhưng cũng như môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta có khuynh hướng chối bỏ và phản bội khi mọi chuyện trở nên khó khăn và nguy hiểm. Hơn nữa, như các người có quyền đến bắt Chúa Giêsu với đèn đuốc sáng, chúng ta cũng thường thích soi rọi ánh sáng của mình lên Đấng là Ánh sáng của mọi Ánh sáng, và như những người đến bắt Chúa Giêsu, chúng ta có khuynh hướng mang theo gậy gộc và gươm giáo, sẵn sàng giao tranh, khi đến gặp Vua Hòa bình.

Nói chung, khi đọc trình thuật về Cuộc Thương khó và Cái chết của Chúa Giêsu, khuynh hướng bộc phát của chúng ta là lên án gay gắt những người dự phần trong việc bắt giữ, xử án, và kết án Ngài: Làm sao họ không nhìn ra được mình đang làm gì? Tại sao họ quá mù quáng và ghen tức như thế? Làm sao họ chọn lấy một bảo đảm sai lầm thay vì chốn nương ẩn vĩnh hằng bên Chúa? Làm sao họ chọn một kẻ sát nhân thay vì Đấng Messiah? Làm sao mà các môn đệ quá dễ dàng chối bỏ Chúa?

Đã qua hơn 2000 năm, nhưng chẳng có nhiều thay đổi đâu. Chọn lựa của những người trong cuộc xử án và kết án Chúa Giêsu, cũng chính là những chọn lựa mà chúng ta đưa ra ngày hôm nay. Và gần như mọi ngày, chúng ta chẳng làm gì tốt đẹp hơn họ, vì, với sự mù quáng và tư lợi, chúng ta vẫn và quá thường xuyên, nói rằng: Dẫn hắn đi. Đóng đinh hắn vào thập giá! Thế đó.

Vườn Cây Dầu

Cách đây vài năm, diễn viên Mel Gibson đạo diễn và sản xuất một bộ phim được công chúng đặc biệt hưởng ứng. Với tựa đề, Cuộc Thương khó của Chúa Kitô, bộ phim khắc họa lại cuộc vượt qua của Chúa Giêsu, từ vườn Cây Dầu cho đến cái chết trên Núi Sọ, tác giả nhấn mạnh đến các đau đớn thể xác của Ngài. Bộ phim thể hiện sống động từng chi tiết các đau đớn mà một người bị đóng đinh thập giá phải chịu, khi bị đánh, bị tra tấn, và bị sỉ nhục.

Trong khi hầu hết các phái trong Giáo hội tán thưởng bộ phim, cho rằng cuối cùng thì cũng có người làm một bộ phim khắc họa thật về những đau đớn của Chúa Giêsu, thì nhiều học giả Kinh thánh và nhiều ngòi bút thiêng liêng khác lại lên tiếng chỉ trích. Tại sao lại thế? Có gì sai khi chiếu một bộ phim dài với chi tiết sống động, những máu me của việc đóng đinh thập giá, vốn thực sự rất hãi hùng?

Có gì sai (hay nhẹ hơn là không hợp) khi đây chính là những gì mà Kinh thánh đã không ghi lại về cái chết của Chúa Giêsu. Tất cả bốn Tin mừng đều cố gắng không tập trung vào đau đớn thể xác của Chúa Giêsu. Các mô tả trong Tin Mừng về những đau đớn thể xác của Ngài đều hết sức ngắn gọn: «Họ treo ngài giữa hai phạm nhân.» Philatô cho «đánh đòn Đức Giêsu rồi giao ngài cho người ta đem đi đóng đinh.» Tại sao lại rút gọn như thế? Tại sao không mô tả chi tiết?

Lý do mà các tác giả tin mừng không tập trung vào những đau đớn thể xác của Chúa Giêsu là họ muốn chúng ta tập trung vào một điều khác, cụ thể là những đau đớn trong cảm xúc và tinh thần của Ngài. Cuộc thương khó của Chúa Giêsu, xét theo chiều sâu thực sự, là một tấn kịch tinh thần, chứ không phải tấn kịch thể lý, là đau khổ của một người đang yêu, chứ không phải đau đớn của một vận động viên.

Do đó, chúng ta thấy khi Chúa Giêsu tiên liệu cuộc khổ nạn của mình, những gì Ngài lo lắng không phải là đòn roi hay mũi đinh đóng vào tay mình. Mà Ngài đau đớn và lo lắng cho sự cô độc mình sẽ phải đối diện, cho kết cuộc bị những người đã nói yêu mến Ngài phản bội và bỏ rơi, và cho tình cảnh, theo cách diễn đạt của Gil Bailie là, «bị tất cả loại bỏ.»

Như thế cuộc thương khó của Chúa Giêsu rõ ràng là một tấn kịch tình yêu. Nó bắt đầu với mồ hôi máu đổ ra trong vườn Cây Dầu, và kết thúc với việc mai táng Ngài trong vườn. Chúa Giêsu đang đổ mồ hôi máu trong vườn, chứ không phải trên đấu trường. Vậy, việc ở trong vườn, có gì đặc biệt?

Về mặt tượng hình, vườn không phải là nơi trồng rau và dĩ nhiên cũng không phải là nơi trồng hoa. Vườn là nơi của những người yêu nhau, là nơi cảm nhận hạnh phúc, nơi uống rượu, nơi Adong và Evà đã trần truồng mà chẳng biết, nơi người ta yêu nhau.

Và các tác giả Phúc Âm đặt khởi đầu và kết thúc cuộc thương khó của Chúa Giêsu trong vườn để nhấn mạnh rằng, Chúa Giêsu, một người đang yêu (chứ không phải Chúa Giêsu Vua, Pháp sư, hay Ngôn sứ), đang trải qua tấn kịch này. Và chính xác tấn kịch này là gì? Khi Chúa Giêsu đổ mồ hôi máu trong vườn và van xin Chúa Cha đừng bắt Ngài «uống chén này», thì lựa chọn thực sự của Ngài không phải là: Ta sẽ để mình phải chết hay sẽ dùng đến sức mạnh thần thiêng để cứu mạng mình? Nhưng đúng hơn, lựa chọn của Ngài là: «Ta sẽ chết cách nào? Ta sẽ chết trong giận dữ, cay đắng, và không tha thứ, hay Ta sẽ chết với một tấm lòng nồng ấm thứ tha?»

Tất nhiên, chúng ta biết Chúa Giêsu đã đi qua tấn kịch này như thế nào, Ngài đã chọn lấy lòng bao dung và tha thứ cho những người hành hình mình, và trong toàn bộ những u ám đó, Ngài vẫn giữ vững những gì Ngài đã giảng dạy trong suốt đời rao giảng, chính là tình yêu, tình thương, và tha thứ sẽ tuyết đối chiến thắng.

Hơn nữa, những gì Chúa Giêsu đã làm trong tấn kịch tâm hồn này là những gì chúng ta phải noi theo hơn là đơn thuần ngưỡng mộ, vì tấn kịch này cũng hoàn toàn là tấn kịch tình thương trong đời chúng ta với vô vàn cách thể hiện khác nhau. Cụ thể là:

Đến cuối đời, chúng ta sẽ chết thế nào đây? Lòng chúng ta sẽ giận dữ, bám víu, bất dung, và cay đắng vì sự bất công của cuộc đời? Hay, lòng chúng ta sẽ khoan dung, biết ơn, cảm thông, nồng ấm, như tấm lòng Chúa Giêsu khi Ngài thưa với Chúa Cha là xin theo ý Cha đừng theo ý Con?

Hơn nữa, đây không phải là chọn lựa cốt yếu và duy nhất mà chúng ta phải đối diện trong giờ chết, nhưng là chọn lựa chúng ta phải đối diện hằng ngày, nhiều lần mỗi ngày. Biết bao lần khi va chạm hàng ngày với người khác, với gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, và cả xã hội nói chung, chúng ta đã phải chịu những lạnh lùng, hiểu lầm, bất công, và cả bạo hành chủ ý nữa. Từ sự lãnh đạm của một thành viên trong gia đình trước lòng tốt của chúng ta, cho đến một lời bình luận ác ý chủ tâm làm tổn thương chúng ta, đến một sự bất công hết sức ở nơi làm việc, đến việc bị thành kiến và xúc phạm, và bàn ăn, nơi làm việc, phòng họp, và cả trên đường, tất cả đều là những nơi chúng ta cảm nghiệm hàng ngày, ít hay nhiều, những gì Chúa Giêsu đã trải qua trong vườn Cây Dầu, cảm giác, bị tất cả loại trừ. Trong bóng đêm đó chúng ta có đi theo ánh sáng của mình? Đối diện với những thù ghét đó, chúng ta có theo tiếng gọi của tình yêu hay không?

Đó đích thực là tấn kịch trong Cuộc Thương khó của Chúa Kitô, và ở đó những đòn roi, đinh nhọn không phải là tâm điểm.

Nhu cầu phải chia sẻ sự giàu có của mình với người nghèo

Chúng ta cần phải cho đi của cải của mình để có thể sống lành mạnh. Của cải tích trữ luôn luôn làm hủ bại những người khư khư giữ nó. Bất kỳ tặng vật nào không được chia sẻ đều sẽ lên men chua thối. Nếu chúng ta không quãng đại với những ơn ích của mình thì rồi chúng ta sẽ trở nên ghen tỵ trong cay đắng và cuối cùng là trở nên chua chát và đố kỵ.

Những châm ngôn trên đều nói lên cùng một lời cảnh báo là chúng ta chỉ có thể lành mạnh nếu biết chia sẻ của cải giàu có của mình với người khác. Điều này nhắc cho chúng ta biết mình phải biết trao tặng cho người nghèo, không phải vì lý do đơn giản là họ cần chúng, dù họ cần thật, nhưng là nếu không làm thế, chúng ta sẽ không thể sống lành mạnh được. Khi trao tặng cho người nghèo, thì đó là lúc chúng ta thực thi cả lòng nhân lẫn công lý, nhưng đó cũng mang lại lợi ích riêng lành mạnh cho mình, cụ thể chúng ta sẽ không sống lành mạnh hay hạnh phúc nếu không chia sẻ sự giàu có, dưới mọi hình thức, của chúng ta với người nghèo. Sự thật này ghi đậm bên trong cảm nghiệm của mỗi người và trong tất cả mọi truyền thống đức tin và đạo đức đích thực.

Ví dụ: Từ kinh nghiệm, chúng ta biết rằng khi trao tặng những gì mình có cho người khác, chúng ta cảm nghiệm được một niềm vui trong cuộc sống, còn khi ích kỷ thu tích hay canh giữ các sở hữu của mình thì chúng ta sẽ ngày càng lo lắng và bồn chồn đến hoang tưởng. Văn hóa của người da đỏ ở Mỹ luôn luôn đề cao nhận thức này, thể hiện trong lễ Potlatch của họ, nghĩa là dù họ tin rằng tất cả mọi người đều có quyền tư hữu, nhưng có một giới hạn thực tế cho mức độ tư hữu đó. Một khi tài sản của mình đạt đến một mức độ nhất định, chúng ta cần phải bắt đầu trao tặng nó đi, không phải vì người khác cần nó, nhưng vì sự lành mạnh và hạnh phúc của chúng ta sẽ bắt đầu lụi tàn nếu chúng ta cứ khư khư tích trữ tất cả của cải đó cho riêng mình.

Linh đạo Do Thái giáo cũng có quan niệm tương tự: Nhiều lần lặp đi lặp lại trong Thánh Kinh Do Thái, nói rằng khi một lãnh đạo tôn giáo hay một ngôn sứ nói cho dân Do Thái biết rằng họ là dân được chọn, là một quốc gia được chúc phúc đặc biệt, thì đều luôn luôn đi kèm lời nhắc nhở rằng, phúc lành này không chỉ cho riêng dân Do Thái mà thôi, nhưng là, qua họ, mà cho tất cả mọi dân trên mặt đất nữa. Trong linh đạo Do Thái, phúc lành luôn luôn là để tuôn đổ qua người nhận mà làm phong phú cho những người khác nữa. Đạo Hindu, Phật giáo, và Hồi giáo, theo cách riêng của mình, cũng xác nhận quan niệm này, cụ thể là chỉ khi trao tặng một số ơn ban của mình, chúng ta mới có thể giữ cho mình được lành mạnh.

Chúa Giêsu và Tin Mừng, tất nhiên cũng dạy chân lý này, hết lần này đến lần khác và không nhân nhượng. Ví dụ như trong Tin mừng theo thánh Luca, với lời dạy của Chúa Giêsu là con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Trời, Ngài cũng khen ngợi những người giàu biết sống quãng đại và chỉ lên án những người giàu bủn xỉn. Với thánh Luca, lòng quãng đại là mấu chốt để sống lành mạnh và là chìa khóa vào thiên đàng. Trong Tin Mừng theo thánh Matthêu, khi đưa ra các câu hỏi trong cuộc phán xét cuối cùng, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một tiêu chuẩn trọn vẹn về những gì chúng ta phải trao ban cho người nghèo: Con có cho kẻ đói ăn? Con có cho kẻ khát uống? Con có cho kẻ trần truồng áo mặc? Cuối cùng, và thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa, trong chuyện bà góa bỏ hai đồng cuối cùng của mình vào hòm tiền, Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta không chỉ đem cho người nghèo những của dư thừa, nhưng là cho những gì là thiết yếu sinh nhai của chúng ta. Các Tin Mừng và trọn cả Thánh Kinh đều mạnh mẽ lên tiếng đòi hỏi chúng phải trao tặng cho người nghèo, không phải vì họ cần của từ thiện của chúng ta, dù họ cần thật, nhưng là vì trao tặng là cách duy nhất để chúng ta giữ mình được lành mạnh.

Chúng ta cũng thấy cùng một thông điệp này, kiên quyết và lặp đi lặp lại, trong huấn giáo xã hội của Giáo hội Công giáo.

Từ Tông thư Tân Sự (Rerum Novarum) của giáo hoàng Lêô XIII năm 1891, cho đến tông thư Niềm vui Tin mừng (Evangelii Gaudium) mới đây của giáo hoàng Phanxicô, chúng ta đều nghe cùng một điệp khúc. Trong khi chúng ta có quyền về mặt luân lý để tư hữu, thì quyền đó không phải là tuyệt đối và nó chịu ảnh hưởng bởi một số điều khác, cụ thể là, chúng ta chỉ có quyền dư dả khi tất cả mọi người khác đều có được những gì thiết yếu cho cuộc sống. Vì thế, khi nhìn đến người nghèo luôn luôn phải đi kèm với nhìn lại của dư dả của chúng ta. Hơn nữa, Huấn giáo Xã hội Công giáo cũng cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa tạo thành địa cầu cho tất cả mọi người và sự thật này cũng giới hạn cách chúng ta xác định những gì thực sự là của sở hữu riêng của mình. Nói cho đúng, chúng ta là những người quản lý của cải của mình, hơn là chủ nhân của chúng. Và tất nhiên, ẩn bên trong tất cả những điều này là một nhận thức rằng chúng ta có thể sống đạo đức và lành mạnh chỉ khi biết đặt quyền tư hữu của mình liên đới với bức tranh lớn hơn bao gồm cả những người nghèo nữa.

Chúng ta, luôn luôn, cần phải cho đi của cải của mình để có thể sống lành mạnh. Người nghèo cần chúng ta, nhưng chúng ta cũng cần họ nữa. Và như Chúa Giêsu đã nói rất rõ ràng rằng chúng ta sẽ được phán xét dựa theo những gì đã làm với người nghèo, thì như thế họ chính là giấy thông hành cho chúng ta vào thiên đàng. Và họ cũng là giấy thông hành cho chúng ta có được sự lành mạnh. Sự lành mạnh của chúng ta phụ thuộc vào việc chúng ta chia sẻ của sung túc của mình như thế nào.

Cầu nguyện trong rên xiết

“Khi chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, thì Thần Khí cầu nguyện qua chúng ta, bằng những tiếng rên xiết khôn tả”.

Thánh Phaolô đã viết những lời này, và chúng chứa đựng cả một mặc khải quá đỗi kinh ngạc và một an ủi tuyệt diệu, cụ thể là có một lời cầu nguyện bên sâu tâm hồn, vượt ngoài ý thức và không lệ thuộc vào những nỗ lực chủ tâm của chúng ta. Vậy lời cầu nguyện vô thức này là gì? Đó chính là khát khao bẩm tính sâu lắng trong tâm hồn chúng ta, luôn cháy bỏng, mãi mãi chán nản, và chỉ cảm được qua tiếng rên xiết của thể xác và linh hồn, thinh lặng nài xin quyền uy vũ trụ, chứ không chỉ của mình Thiên Chúa, hãy để cho mọi sự được thành toàn.

Tôi xin đưa ra một ví dụ: Vài năm về trước, bạn tôi mua một căn nhà bỏ hoang không có người ở trong nhiều năm. Lối đi bị rạn nứt và một cây tre, cao khoảng một mét, ngoi lên qua lớp đá lót đường. Bạn tôi hạ cây tre, chặt tận gốc và để cố diệt hẳn, bạn tôi tưới chất độc vào rễ cây để diệt sạch những gì còn lại, rải sỏi và phủ một lớp bê tông đắp dày lên. Nhưng cái cây nhỏ đó không dễ dàng chịu thua. Hai năm sau, mặt đường bắt đầu bị nhô lên khi cây tre ngoi đầu lên một lần nữa. Sức sống mãnh liệt của nó vẫn mò mẫm ngoi lên và vươn ra, bất chấp lớp xi-măng bao phủ.

Đời sống, tất cả mọi đời sống, đều có những áp lực nội tại vô cùng mạnh mẽ, không dễ gì triệt tiêu. Nó cứ thôi thúc không ngừng nghỉ và mò mẫm đi đến đích của mình, bất chấp mọi trở lực. Đôi khi trở lực không giết chết nó. Có những cơn bão mà chúng ta không vượt qua được. Nhưng chúng ta thắng vượt hầu hết những gì cuộc đời ném vào và nguyên tắc sống sâu bên trong vẫn mạnh mẽ và quyết liệt, cho dù bên ngoài chúng ta thấy nản lòng, các giấc mơ dần dần tan vỡ bịt miệng chúng ta trong tuyệt vọng câm lặng, đến mức đời sống cầu nguyện của chúng ta càng ngày càng ít hơn những gì chúng ta thực sự cảm nhận.

Chính qua trạng thái nản lòng đó, Thần Khí cầu nguyện, thăm thẳm, thinh lặng, trong tiếng rên xiết khôn tả. Trong những đấu tranh, khắc khoải, những giấc mơ tan vỡ, những giọt nước mắt, trong mộng ảo mà chúng ta lao mình vào, và trong cả những khát khao tính dục của mình, Thần Khí Thiên Chúa cầu thay nguyện giúp chúng ta, làm nên linh hồn và nguyên tắc sống của chúng ta. Như sức sống bẩm sinh trong cây tre trên, sức sống mạnh mẽ cũng đang mò mẫm hoạt động trong chúng ta, đẩy chúng ta tiến tới và vượt ra ngoài, cuối cùng là bật tung lớp xi-măng đè trên chúng ta. Đó là sự thật, và tất nhiên, cũng là niềm hoan hỉ của chúng ta. Thần Khí cũng cầu nguyện qua lòng biết ơn của chúng ta, cả khi chúng ta ý thức và không ý thức về nó.

Những lời cầu nguyện thâm sâu nhất gần như không phải là những lời chúng ta cầu nguyện trong nhà nguyện riêng hay trong nhà thờ. Những lời cầu nguyện thâm sâu nhất được thầm thì trong lòng tri ân lặng lẽ và nước mắt âm thầm. Một người say sưa ca tụng danh Chúa và một người cay đắng nguyền rủa tên Ngài trong thù hận, theo cách thức rên xiết khác nhau, về căn bản, đều là cầu nguyện.

Chúng ta có thể rút ra nhiều bài học từ điều này. Thứ nhất, từ đây chúng ta học cách tha thứ cho cuộc đời với những chán chường của nó, và học cách để mình biết kiên nhẫn với đời và với bản thân hơn. Ai trong chúng ta không than vãn về những áp lực và chán chường trong cuộc đời đã đưa đẩy chúng ta ra xa, không cho chúng ta tận hưởng trọn vẹn niềm vui cuộc sống, tận hưởng mùi thơm của bông hoa, của những giờ phút trong gia đình, những cuộc vui với bạn bè, những giây phút yên thắm một mình, những lời cầu nguyện sâu đậm? Vì thế chúng ta luôn tìm cách để làm chậm lại, để tìm một nơi yên bình trong cuộc sống áp lực này để cầu nguyện. Nhưng sau khi vấp ngã hết lần này đến lần khác, cuối cùng chúng ta tuyệt vọng trong việc đi tìm một nơi yên tĩnh để chiêm niệm. Dù phải tiếp tục tìm kiếm, chúng ta vẫn có thể sống với niềm an ủi rằng, sâu bên trong những chán chường khi không thể tìm được một khoảng không yên tĩnh, đã là lời cầu nguyện rồi. Trong những tiếng rên xiết do sự bất xứng của chúng ta, Thần Khí đã cầu nguyện qua thể xác và linh hồn của chúng ta bằng một cách thâm sâu khôn tả.

Một trong những định nghĩa lâu đời và kinh điển nhất về cầu nguyện là: Cầu nguyện là «nâng lòng trí lên với Chúa.» Chúng ta thường thất bại khi cố gắng cầu nguyện chung hay riêng, đúng nghĩa thật sự nâng lòng trí lên với Chúa. Vì sao? Vì thật sự lòng trí chúng ta, song song với lòng biết ơn và những ý nghĩ tốt đẹp của chúng ta, không phải là thứ mà chúng ta thường gắn với lời cầu nguyện. Chán nản, cay đắng, ghen tỵ, sắc dục, nguyền rủa, lười biếng, và những tuyệt vọng câm nín của chúng ta thường bị xem là đối nghịch với cầu nguyện, những thứ cần phải vượt qua để có thể cầu nguyện.

Nhưng những gì sâu sắc hơn không nằm hời hợt bên ngoài: Những chán nản, khát khao, dục vọng, ghen tỵ, và những ảo mộng thoát ly thực tế, những thứ chúng ta hổ thẹn không dám đưa vào lời cầu nguyện, thực sự lại là những gì nâng lòng trí chúng ta lên với Chúa một cách thành thật nhất mà chúng ta không bao giờ có thể chủ tâm làm được.

Những đêm đen tăm tối sẽ cho chúng ta những gì

Sau khi qua đời, nhật ký của mẹ Têrêxa đã tiết lộ nhiều chuyện gây sốc, cụ thể trong suốt sáu mươi năm cuối đời, nghĩa là từ tuổi 27 cho đến lúc qua đời ở tuổi 87, mẹ đã cố gắng hình dung một Thiên Chúa hiện hữu nhưng không có trải nghiệm xúc cảm nào về nhiệm thể lẫn sự hiện diện của Thiên Chúa. Nhưng, suốt những năm tháng này, mọi sự trong đời mẹ vẫn nở hoa và lan tỏa một tinh thần vị tha, buông bỏ, tận hiến trong đức tin một cách khác thường, có thể nói là hàng trăm triệu người mới có một.

Xét bên ngoài, điều này có vẻ phi lý, thậm chí là nghịch lý, nhưng trong đó, hai điểm, cảm nhận Thiên Chúa vắng mặt và tinh thần buông bỏ phi thường không phải là không dính với nhau. Ngược lại. Điểm thứ hai, chính xác, là dựa trên điểm thứ nhất, sự bất lực không thể cảm nhận Thiên Chúa, héo hon trong cảm thức đức tin, đêm đen đang lớn lên trong tâm hồn, chính là lý do vì sao đức tin của mẹ quá nguyên tuyền và hành động của mẹ quá vô vị lợi như vây. Tóm lại, khi tất cả những cảm xúc mãnh liệt không có và trí tưởng tượng bất lực không thể tạo nên những hình ảnh về Thiên Chúa và khái niệm về sự hiện hữu của Ngài, thì mẹ không thể vận dụng cảm thức của mình có về Thiên Chúa, không tái định hình nó sao cho hợp với nhu cầu riêng của mình. Mẹ phải đón nhận Thiên Chúa theo cách của Ngài, chứ không phải theo cách của mình. Sự héo hon trong đức tin của mẹ chính là điều làm cho đức tin đó nên nguyên tuyền. Việc Thiên Chúa dường như vắng mặt cũng giúp bảo đảm cho sự vắng mặt cái tôi của chính mẹ.

Để hiểu được trọn vẹn những điều trên, có lẽ cần đối chiếu mẹ Têrêxa, trong sự héo hon các cảm thức đức tin và tác động của việc này lên đời mẹ, với vô số những nhân vật tôn giáo nổi danh, trong quá khứ và hiện tại, những người, đáng buồn thay, lại thường tỏa ra một hình ảnh ngược lại. Họ bừng lên một đức tin mạnh mẽ đầy cảm xúc, nhắc đi nhắc lại rằng Thiên Chúa quá đỗi hiện thực trong đời họ và họ nhận thức được sự hiện diện của Chúa Giêsu sâu đậm đến thế nào. Và thật sự không có lý do gì để nghi ngờ sự thành tâm và chân thực của họ, vì họ có một lòng nhiệt thành đang cuồn cuộn chảy trong lòng họ. Nhưng, họ không giống mẹ Têrêxa, vì lời giảng và đời sống của họ thường phô ra quá nhiều cái tôi, ái kỷ, viễn tượng, dùng tôn giáo và Chúa cho lợi ích riêng của mình. Nói một cách công tâm không ác ý, thì chúng ta, và thực sự là cả thế giới, không bao giờ nhầm lẫn mẹ Têrêxa với các nhà giáo, các ngòi bút tôn giáo nổi tiếng. Chúng ta thấy trong lòng nhiệt thành tôn giáo của họ có quá nhiều cái tôi, và thấy cảm thức tôn giáo của họ lại làm lợi cho họ. Nực cười là, quá nhiều nhà giáo và ngòi bút tôn giáo nổi tiếng, khoe khoang có một đức tin mạnh mẽ hơn đức tin của mẹ Têrêxa, nhưng cảm thức về Thiên Chúa của họ khi thể hiện ra trong đời sống thì ít có tinh thần vị tha.

Ludwig Feuerbach và Friedrich Nietzsche đã viết những dòng phê phán có lẽ là thâm thúy nhất về tôn giáo và cảm thức tôn giáo. Lý lẽ của họ là tất cả mọi cảm thức tôn giáo xét cho cùng đều là phóng chiếu của con người, và chúng ta tạo nên một Thiên Chúa theo hình tượng và giống với chúng ta, rồi sử dụng hình ảnh đó vì lợi ích của mình. Với hai triết gia này, tất cả mọi cảm thức tôn giáo xét tận cùng chỉ là thứ mà chúng ta tự tạo ra vì lợi ích của mình. Trong quan điểm của họ, tất cả mọi cảm thức tôn giáo, luôn có một yếu tố vận dụng, lý luận, và không lương thiện, dù người đó bị bịt mắt không nhận thấy được. Những người đó tin chắc, chính Thiên Chúa, bằng cách nào đó, đặt để những gì đang xảy ra trong tâm hồn họ, dù những gì đang có trong tâm hồn họ thực ra gần như chính là lòng tư lợi, và đó là lý do vì sao chúng ta quá thường phải chứng kiến một sự trái ngược đáng buồn giữa lòng sốt sắng mộ đạo bên trong nhiều người chúng ta với thói tư lợi xét đến cùng đang lạm dụng lòng đạo đó.

Vậy thì chúng ta nói được gì về điều này? Tôi đoán là Nietzsche và Feuerbach đúng đến 95%. Tuy nhiên họ sai 5% và 5% đó chính là sự khác biệt. Nhiều bằng chứng cho thấy 95% thời gian chúng ta lạm dụng cảm thức Thiên Chúa để phục vụ cho lợi ích của riêng mình. Tuy nhiên, Thiên Chúa sắp đặt mọi sự sao cho chúng ta không thể lúc nào cũng làm thế. Khuynh hướng của chúng ta là dựng nên một Thiên Chúa để phục vụ cho tư lợi của mình, và Thiên Chúa chỉnh đốn nó bằng cách gởi đến cho chúng ta, như Ngài đã làm với mẹ Têrêxa, những đêm đem tan nát của linh hồn, cụ thể là thời gian khô cằn trong tưởng tượng và cảm xúc, đơn giản là chúng ta không thể tưởng tượng và cảm xúc về sự Thiên Chúa hay tình yêu Ngài dành cho chúng ta. Trong khi chúng ta, bằng cách nào đó, vẫn tiếp tục «nhận biết» Thiên Chúa với một mức độ thấp hơn, thì trí tưởng tượng và xúc cảm của chúng ta bị triệt tiêu hoàn toàn. Và khi điều này xảy ra, chúng ta thấy mình bất lực không thể vận dụng cảm thức về Thiên Chúa, như thế chắc chắn không thể dùng nó để tư lợi cho mình. Rồi Thiên Chúa có thể đi vào tâm hồn chúng ta một cách nguyên tuyền, khi cái tôi, tính ái kỷ, và ích kỷ của chúng ta giờ đây đã không thể tự tô màu cho cảm thức này.

Leonard Cohen đã viết lên dòng trứ danh này: Mọi thứ đều có vết rạn, nhưng qua đó ánh sáng mới lọt vào! Vì chúng ta không thể cự lại cái thói lạm dụng đức tin và cảm thức tôn giáo để phục vụ cho tư lợi của mình, nên Thiên Chúa cuối cùng đã cho nó một điểm dừng. Như đã làm với mẹ Têrêxa, Thiên Chúa gởi cho chúng ta những đêm đen tan nát để thanh luyện chúng ta, khi chúng ta không tự làm được.