RonRolheiser,OMI

Nhu cầu phải chia sẻ sự giàu có của mình với người nghèo

Chúng ta cần phải cho đi của cải của mình để có thể sống lành mạnh. Của cải tích trữ luôn luôn làm hủ bại những người khư khư giữ nó. Bất kỳ tặng vật nào không được chia sẻ đều sẽ lên men chua thối. Nếu chúng ta không quãng đại với những ơn ích của mình thì rồi chúng ta sẽ trở nên ghen tỵ trong cay đắng và cuối cùng là trở nên chua chát và đố kỵ.

Những châm ngôn trên đều nói lên cùng một lời cảnh báo là chúng ta chỉ có thể lành mạnh nếu biết chia sẻ của cải giàu có của mình với người khác. Điều này nhắc cho chúng ta biết mình phải biết trao tặng cho người nghèo, không phải vì lý do đơn giản là họ cần chúng, dù họ cần thật, nhưng là nếu không làm thế, chúng ta sẽ không thể sống lành mạnh được. Khi trao tặng cho người nghèo, thì đó là lúc chúng ta thực thi cả lòng nhân lẫn công lý, nhưng đó cũng mang lại lợi ích riêng lành mạnh cho mình, cụ thể chúng ta sẽ không sống lành mạnh hay hạnh phúc nếu không chia sẻ sự giàu có, dưới mọi hình thức, của chúng ta với người nghèo. Sự thật này ghi đậm bên trong cảm nghiệm của mỗi người và trong tất cả mọi truyền thống đức tin và đạo đức đích thực.

Ví dụ: Từ kinh nghiệm, chúng ta biết rằng khi trao tặng những gì mình có cho người khác, chúng ta cảm nghiệm được một niềm vui trong cuộc sống, còn khi ích kỷ thu tích hay canh giữ các sở hữu của mình thì chúng ta sẽ ngày càng lo lắng và bồn chồn đến hoang tưởng. Văn hóa của người da đỏ ở Mỹ luôn luôn đề cao nhận thức này, thể hiện trong lễ Potlatch của họ, nghĩa là dù họ tin rằng tất cả mọi người đều có quyền tư hữu, nhưng có một giới hạn thực tế cho mức độ tư hữu đó. Một khi tài sản của mình đạt đến một mức độ nhất định, chúng ta cần phải bắt đầu trao tặng nó đi, không phải vì người khác cần nó, nhưng vì sự lành mạnh và hạnh phúc của chúng ta sẽ bắt đầu lụi tàn nếu chúng ta cứ khư khư tích trữ tất cả của cải đó cho riêng mình.

Linh đạo Do Thái giáo cũng có quan niệm tương tự: Nhiều lần lặp đi lặp lại trong Thánh Kinh Do Thái, nói rằng khi một lãnh đạo tôn giáo hay một ngôn sứ nói cho dân Do Thái biết rằng họ là dân được chọn, là một quốc gia được chúc phúc đặc biệt, thì đều luôn luôn đi kèm lời nhắc nhở rằng, phúc lành này không chỉ cho riêng dân Do Thái mà thôi, nhưng là, qua họ, mà cho tất cả mọi dân trên mặt đất nữa. Trong linh đạo Do Thái, phúc lành luôn luôn là để tuôn đổ qua người nhận mà làm phong phú cho những người khác nữa. Đạo Hindu, Phật giáo, và Hồi giáo, theo cách riêng của mình, cũng xác nhận quan niệm này, cụ thể là chỉ khi trao tặng một số ơn ban của mình, chúng ta mới có thể giữ cho mình được lành mạnh.

Chúa Giêsu và Tin Mừng, tất nhiên cũng dạy chân lý này, hết lần này đến lần khác và không nhân nhượng. Ví dụ như trong Tin mừng theo thánh Luca, với lời dạy của Chúa Giêsu là con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Trời, Ngài cũng khen ngợi những người giàu biết sống quãng đại và chỉ lên án những người giàu bủn xỉn. Với thánh Luca, lòng quãng đại là mấu chốt để sống lành mạnh và là chìa khóa vào thiên đàng. Trong Tin Mừng theo thánh Matthêu, khi đưa ra các câu hỏi trong cuộc phán xét cuối cùng, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một tiêu chuẩn trọn vẹn về những gì chúng ta phải trao ban cho người nghèo: Con có cho kẻ đói ăn? Con có cho kẻ khát uống? Con có cho kẻ trần truồng áo mặc? Cuối cùng, và thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa, trong chuyện bà góa bỏ hai đồng cuối cùng của mình vào hòm tiền, Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta không chỉ đem cho người nghèo những của dư thừa, nhưng là cho những gì là thiết yếu sinh nhai của chúng ta. Các Tin Mừng và trọn cả Thánh Kinh đều mạnh mẽ lên tiếng đòi hỏi chúng phải trao tặng cho người nghèo, không phải vì họ cần của từ thiện của chúng ta, dù họ cần thật, nhưng là vì trao tặng là cách duy nhất để chúng ta giữ mình được lành mạnh.

Chúng ta cũng thấy cùng một thông điệp này, kiên quyết và lặp đi lặp lại, trong huấn giáo xã hội của Giáo hội Công giáo.

Từ Tông thư Tân Sự (Rerum Novarum) của giáo hoàng Lêô XIII năm 1891, cho đến tông thư Niềm vui Tin mừng (Evangelii Gaudium) mới đây của giáo hoàng Phanxicô, chúng ta đều nghe cùng một điệp khúc. Trong khi chúng ta có quyền về mặt luân lý để tư hữu, thì quyền đó không phải là tuyệt đối và nó chịu ảnh hưởng bởi một số điều khác, cụ thể là, chúng ta chỉ có quyền dư dả khi tất cả mọi người khác đều có được những gì thiết yếu cho cuộc sống. Vì thế, khi nhìn đến người nghèo luôn luôn phải đi kèm với nhìn lại của dư dả của chúng ta. Hơn nữa, Huấn giáo Xã hội Công giáo cũng cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa tạo thành địa cầu cho tất cả mọi người và sự thật này cũng giới hạn cách chúng ta xác định những gì thực sự là của sở hữu riêng của mình. Nói cho đúng, chúng ta là những người quản lý của cải của mình, hơn là chủ nhân của chúng. Và tất nhiên, ẩn bên trong tất cả những điều này là một nhận thức rằng chúng ta có thể sống đạo đức và lành mạnh chỉ khi biết đặt quyền tư hữu của mình liên đới với bức tranh lớn hơn bao gồm cả những người nghèo nữa.

Chúng ta, luôn luôn, cần phải cho đi của cải của mình để có thể sống lành mạnh. Người nghèo cần chúng ta, nhưng chúng ta cũng cần họ nữa. Và như Chúa Giêsu đã nói rất rõ ràng rằng chúng ta sẽ được phán xét dựa theo những gì đã làm với người nghèo, thì như thế họ chính là giấy thông hành cho chúng ta vào thiên đàng. Và họ cũng là giấy thông hành cho chúng ta có được sự lành mạnh. Sự lành mạnh của chúng ta phụ thuộc vào việc chúng ta chia sẻ của sung túc của mình như thế nào.

Cầu nguyện trong rên xiết

“Khi chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải, thì Thần Khí cầu nguyện qua chúng ta, bằng những tiếng rên xiết khôn tả”.

Thánh Phaolô đã viết những lời này, và chúng chứa đựng cả một mặc khải quá đỗi kinh ngạc và một an ủi tuyệt diệu, cụ thể là có một lời cầu nguyện bên sâu tâm hồn, vượt ngoài ý thức và không lệ thuộc vào những nỗ lực chủ tâm của chúng ta. Vậy lời cầu nguyện vô thức này là gì? Đó chính là khát khao bẩm tính sâu lắng trong tâm hồn chúng ta, luôn cháy bỏng, mãi mãi chán nản, và chỉ cảm được qua tiếng rên xiết của thể xác và linh hồn, thinh lặng nài xin quyền uy vũ trụ, chứ không chỉ của mình Thiên Chúa, hãy để cho mọi sự được thành toàn.

Tôi xin đưa ra một ví dụ: Vài năm về trước, bạn tôi mua một căn nhà bỏ hoang không có người ở trong nhiều năm. Lối đi bị rạn nứt và một cây tre, cao khoảng một mét, ngoi lên qua lớp đá lót đường. Bạn tôi hạ cây tre, chặt tận gốc và để cố diệt hẳn, bạn tôi tưới chất độc vào rễ cây để diệt sạch những gì còn lại, rải sỏi và phủ một lớp bê tông đắp dày lên. Nhưng cái cây nhỏ đó không dễ dàng chịu thua. Hai năm sau, mặt đường bắt đầu bị nhô lên khi cây tre ngoi đầu lên một lần nữa. Sức sống mãnh liệt của nó vẫn mò mẫm ngoi lên và vươn ra, bất chấp lớp xi-măng bao phủ.

Đời sống, tất cả mọi đời sống, đều có những áp lực nội tại vô cùng mạnh mẽ, không dễ gì triệt tiêu. Nó cứ thôi thúc không ngừng nghỉ và mò mẫm đi đến đích của mình, bất chấp mọi trở lực. Đôi khi trở lực không giết chết nó. Có những cơn bão mà chúng ta không vượt qua được. Nhưng chúng ta thắng vượt hầu hết những gì cuộc đời ném vào và nguyên tắc sống sâu bên trong vẫn mạnh mẽ và quyết liệt, cho dù bên ngoài chúng ta thấy nản lòng, các giấc mơ dần dần tan vỡ bịt miệng chúng ta trong tuyệt vọng câm lặng, đến mức đời sống cầu nguyện của chúng ta càng ngày càng ít hơn những gì chúng ta thực sự cảm nhận.

Chính qua trạng thái nản lòng đó, Thần Khí cầu nguyện, thăm thẳm, thinh lặng, trong tiếng rên xiết khôn tả. Trong những đấu tranh, khắc khoải, những giấc mơ tan vỡ, những giọt nước mắt, trong mộng ảo mà chúng ta lao mình vào, và trong cả những khát khao tính dục của mình, Thần Khí Thiên Chúa cầu thay nguyện giúp chúng ta, làm nên linh hồn và nguyên tắc sống của chúng ta. Như sức sống bẩm sinh trong cây tre trên, sức sống mạnh mẽ cũng đang mò mẫm hoạt động trong chúng ta, đẩy chúng ta tiến tới và vượt ra ngoài, cuối cùng là bật tung lớp xi-măng đè trên chúng ta. Đó là sự thật, và tất nhiên, cũng là niềm hoan hỉ của chúng ta. Thần Khí cũng cầu nguyện qua lòng biết ơn của chúng ta, cả khi chúng ta ý thức và không ý thức về nó.

Những lời cầu nguyện thâm sâu nhất gần như không phải là những lời chúng ta cầu nguyện trong nhà nguyện riêng hay trong nhà thờ. Những lời cầu nguyện thâm sâu nhất được thầm thì trong lòng tri ân lặng lẽ và nước mắt âm thầm. Một người say sưa ca tụng danh Chúa và một người cay đắng nguyền rủa tên Ngài trong thù hận, theo cách thức rên xiết khác nhau, về căn bản, đều là cầu nguyện.

Chúng ta có thể rút ra nhiều bài học từ điều này. Thứ nhất, từ đây chúng ta học cách tha thứ cho cuộc đời với những chán chường của nó, và học cách để mình biết kiên nhẫn với đời và với bản thân hơn. Ai trong chúng ta không than vãn về những áp lực và chán chường trong cuộc đời đã đưa đẩy chúng ta ra xa, không cho chúng ta tận hưởng trọn vẹn niềm vui cuộc sống, tận hưởng mùi thơm của bông hoa, của những giờ phút trong gia đình, những cuộc vui với bạn bè, những giây phút yên thắm một mình, những lời cầu nguyện sâu đậm? Vì thế chúng ta luôn tìm cách để làm chậm lại, để tìm một nơi yên bình trong cuộc sống áp lực này để cầu nguyện. Nhưng sau khi vấp ngã hết lần này đến lần khác, cuối cùng chúng ta tuyệt vọng trong việc đi tìm một nơi yên tĩnh để chiêm niệm. Dù phải tiếp tục tìm kiếm, chúng ta vẫn có thể sống với niềm an ủi rằng, sâu bên trong những chán chường khi không thể tìm được một khoảng không yên tĩnh, đã là lời cầu nguyện rồi. Trong những tiếng rên xiết do sự bất xứng của chúng ta, Thần Khí đã cầu nguyện qua thể xác và linh hồn của chúng ta bằng một cách thâm sâu khôn tả.

Một trong những định nghĩa lâu đời và kinh điển nhất về cầu nguyện là: Cầu nguyện là «nâng lòng trí lên với Chúa.» Chúng ta thường thất bại khi cố gắng cầu nguyện chung hay riêng, đúng nghĩa thật sự nâng lòng trí lên với Chúa. Vì sao? Vì thật sự lòng trí chúng ta, song song với lòng biết ơn và những ý nghĩ tốt đẹp của chúng ta, không phải là thứ mà chúng ta thường gắn với lời cầu nguyện. Chán nản, cay đắng, ghen tỵ, sắc dục, nguyền rủa, lười biếng, và những tuyệt vọng câm nín của chúng ta thường bị xem là đối nghịch với cầu nguyện, những thứ cần phải vượt qua để có thể cầu nguyện.

Nhưng những gì sâu sắc hơn không nằm hời hợt bên ngoài: Những chán nản, khát khao, dục vọng, ghen tỵ, và những ảo mộng thoát ly thực tế, những thứ chúng ta hổ thẹn không dám đưa vào lời cầu nguyện, thực sự lại là những gì nâng lòng trí chúng ta lên với Chúa một cách thành thật nhất mà chúng ta không bao giờ có thể chủ tâm làm được.

Những đêm đen tăm tối sẽ cho chúng ta những gì

Sau khi qua đời, nhật ký của mẹ Têrêxa đã tiết lộ nhiều chuyện gây sốc, cụ thể trong suốt sáu mươi năm cuối đời, nghĩa là từ tuổi 27 cho đến lúc qua đời ở tuổi 87, mẹ đã cố gắng hình dung một Thiên Chúa hiện hữu nhưng không có trải nghiệm xúc cảm nào về nhiệm thể lẫn sự hiện diện của Thiên Chúa. Nhưng, suốt những năm tháng này, mọi sự trong đời mẹ vẫn nở hoa và lan tỏa một tinh thần vị tha, buông bỏ, tận hiến trong đức tin một cách khác thường, có thể nói là hàng trăm triệu người mới có một.

Xét bên ngoài, điều này có vẻ phi lý, thậm chí là nghịch lý, nhưng trong đó, hai điểm, cảm nhận Thiên Chúa vắng mặt và tinh thần buông bỏ phi thường không phải là không dính với nhau. Ngược lại. Điểm thứ hai, chính xác, là dựa trên điểm thứ nhất, sự bất lực không thể cảm nhận Thiên Chúa, héo hon trong cảm thức đức tin, đêm đen đang lớn lên trong tâm hồn, chính là lý do vì sao đức tin của mẹ quá nguyên tuyền và hành động của mẹ quá vô vị lợi như vây. Tóm lại, khi tất cả những cảm xúc mãnh liệt không có và trí tưởng tượng bất lực không thể tạo nên những hình ảnh về Thiên Chúa và khái niệm về sự hiện hữu của Ngài, thì mẹ không thể vận dụng cảm thức của mình có về Thiên Chúa, không tái định hình nó sao cho hợp với nhu cầu riêng của mình. Mẹ phải đón nhận Thiên Chúa theo cách của Ngài, chứ không phải theo cách của mình. Sự héo hon trong đức tin của mẹ chính là điều làm cho đức tin đó nên nguyên tuyền. Việc Thiên Chúa dường như vắng mặt cũng giúp bảo đảm cho sự vắng mặt cái tôi của chính mẹ.

Để hiểu được trọn vẹn những điều trên, có lẽ cần đối chiếu mẹ Têrêxa, trong sự héo hon các cảm thức đức tin và tác động của việc này lên đời mẹ, với vô số những nhân vật tôn giáo nổi danh, trong quá khứ và hiện tại, những người, đáng buồn thay, lại thường tỏa ra một hình ảnh ngược lại. Họ bừng lên một đức tin mạnh mẽ đầy cảm xúc, nhắc đi nhắc lại rằng Thiên Chúa quá đỗi hiện thực trong đời họ và họ nhận thức được sự hiện diện của Chúa Giêsu sâu đậm đến thế nào. Và thật sự không có lý do gì để nghi ngờ sự thành tâm và chân thực của họ, vì họ có một lòng nhiệt thành đang cuồn cuộn chảy trong lòng họ. Nhưng, họ không giống mẹ Têrêxa, vì lời giảng và đời sống của họ thường phô ra quá nhiều cái tôi, ái kỷ, viễn tượng, dùng tôn giáo và Chúa cho lợi ích riêng của mình. Nói một cách công tâm không ác ý, thì chúng ta, và thực sự là cả thế giới, không bao giờ nhầm lẫn mẹ Têrêxa với các nhà giáo, các ngòi bút tôn giáo nổi tiếng. Chúng ta thấy trong lòng nhiệt thành tôn giáo của họ có quá nhiều cái tôi, và thấy cảm thức tôn giáo của họ lại làm lợi cho họ. Nực cười là, quá nhiều nhà giáo và ngòi bút tôn giáo nổi tiếng, khoe khoang có một đức tin mạnh mẽ hơn đức tin của mẹ Têrêxa, nhưng cảm thức về Thiên Chúa của họ khi thể hiện ra trong đời sống thì ít có tinh thần vị tha.

Ludwig Feuerbach và Friedrich Nietzsche đã viết những dòng phê phán có lẽ là thâm thúy nhất về tôn giáo và cảm thức tôn giáo. Lý lẽ của họ là tất cả mọi cảm thức tôn giáo xét cho cùng đều là phóng chiếu của con người, và chúng ta tạo nên một Thiên Chúa theo hình tượng và giống với chúng ta, rồi sử dụng hình ảnh đó vì lợi ích của mình. Với hai triết gia này, tất cả mọi cảm thức tôn giáo xét tận cùng chỉ là thứ mà chúng ta tự tạo ra vì lợi ích của mình. Trong quan điểm của họ, tất cả mọi cảm thức tôn giáo, luôn có một yếu tố vận dụng, lý luận, và không lương thiện, dù người đó bị bịt mắt không nhận thấy được. Những người đó tin chắc, chính Thiên Chúa, bằng cách nào đó, đặt để những gì đang xảy ra trong tâm hồn họ, dù những gì đang có trong tâm hồn họ thực ra gần như chính là lòng tư lợi, và đó là lý do vì sao chúng ta quá thường phải chứng kiến một sự trái ngược đáng buồn giữa lòng sốt sắng mộ đạo bên trong nhiều người chúng ta với thói tư lợi xét đến cùng đang lạm dụng lòng đạo đó.

Vậy thì chúng ta nói được gì về điều này? Tôi đoán là Nietzsche và Feuerbach đúng đến 95%. Tuy nhiên họ sai 5% và 5% đó chính là sự khác biệt. Nhiều bằng chứng cho thấy 95% thời gian chúng ta lạm dụng cảm thức Thiên Chúa để phục vụ cho lợi ích của riêng mình. Tuy nhiên, Thiên Chúa sắp đặt mọi sự sao cho chúng ta không thể lúc nào cũng làm thế. Khuynh hướng của chúng ta là dựng nên một Thiên Chúa để phục vụ cho tư lợi của mình, và Thiên Chúa chỉnh đốn nó bằng cách gởi đến cho chúng ta, như Ngài đã làm với mẹ Têrêxa, những đêm đem tan nát của linh hồn, cụ thể là thời gian khô cằn trong tưởng tượng và cảm xúc, đơn giản là chúng ta không thể tưởng tượng và cảm xúc về sự Thiên Chúa hay tình yêu Ngài dành cho chúng ta. Trong khi chúng ta, bằng cách nào đó, vẫn tiếp tục «nhận biết» Thiên Chúa với một mức độ thấp hơn, thì trí tưởng tượng và xúc cảm của chúng ta bị triệt tiêu hoàn toàn. Và khi điều này xảy ra, chúng ta thấy mình bất lực không thể vận dụng cảm thức về Thiên Chúa, như thế chắc chắn không thể dùng nó để tư lợi cho mình. Rồi Thiên Chúa có thể đi vào tâm hồn chúng ta một cách nguyên tuyền, khi cái tôi, tính ái kỷ, và ích kỷ của chúng ta giờ đây đã không thể tự tô màu cho cảm thức này.

Leonard Cohen đã viết lên dòng trứ danh này: Mọi thứ đều có vết rạn, nhưng qua đó ánh sáng mới lọt vào! Vì chúng ta không thể cự lại cái thói lạm dụng đức tin và cảm thức tôn giáo để phục vụ cho tư lợi của mình, nên Thiên Chúa cuối cùng đã cho nó một điểm dừng. Như đã làm với mẹ Têrêxa, Thiên Chúa gởi cho chúng ta những đêm đen tan nát để thanh luyện chúng ta, khi chúng ta không tự làm được.

Đối diện với Đấng tạo thành chúng ta

Một này nào đó con sẽ phải đối diện với Đấng tạo thành con! Chúng ta, ai cũng đã từng nghe qua câu này. Sẽ đến lúc đứng một mình trước mặt Thiên Chúa, chúng ta không còn nơi nào để trốn tránh, không viện lý lẽ, cũng không bào chữa cho những yếu đối và tội lỗi của mình. Chúng ta sẽ đứng đó dưới ánh sáng soi rọi, trần trụi và phơi bày hết, tất cả những gì đã làm, xấu có tốt có, sẽ phơi bày ra hết. Viễn cảnh này, có vẻ làm cho tất cả chúng ta cảm thấy có cái gì đó không tươi sáng.

Nhưng chúng ta có thể gạt viễn cảnh này ra khỏi đầu để sống những ngày còn lại của mình. Chúng ta biết ngày nào đó mình sẽ đối diện nó, tất cả không chừa một ai, nhưng để đến ngày đó là một chặng đường dài, còn bây giờ, chúng ta tự để mình yên ổn trong những lần lữa và yếu đuối của bản thân. Thời điểm để đối diện hoàn toàn với bản thân và với Đấng Tạo hóa, để đứng dưới ánh sáng soi rọi của ngày phán xét, sẽ chỉ đến khi chúng ta chết.

Nhưng, tại sao lại chờ đến khi chết? Tại sao lại phải sống với quá nhiều nỗi sợ không cần thiết? Tại sao lại phải lẩn trốn phán xét của Thiên Chúa? Tại sao lại trì hoãn việc buông mình vào lòng thương xót và bình an của Chúa?

Sự phán xét soi rọi linh hồn chúng ta phải được thực hiện hằng ngày, chứ không phải chỉ giây phút dằn vặt cuối đời? Chúng ta phải để bản thân, với tất cả những phức tạp và yếu đuối của mình, vào trong ánh sáng trọn vẹn của Thiên Chúa, mỗi ngày. Làm sao để được như thế?

Có nhiều cách để làm được, dù tất cả chúng đều phải dựa vào một điều duy nhất, rõ ra là, đặt mình trung thực hết mức trước mặt Chúa. Thật ra chúng ta đối diện với ánh sáng phán xét của Thiên Chúa bất kỳ lúc nào chúng ta chân thành cầu nguyện. Chân thành cầu nguyện sẽ đưa chúng ta vào ánh sáng soi rọi đó. Trong các truyền thống cầu nguyện lớn, một dạng cầu nguyện đặc biệt, chiêm niệm, được cho là hữu ích nhất trong việc này, khi cầu nguyện không lời, không hình ảnh, cầu nguyện trong thinh lặng, tập trung hết vào cầu nguyện.

Có nhiều phương pháp chiêm niệm khác nhau. Nhưng từ các Tổ phụ sa mạc, đến tác giả quyển Đám mây vô thức, đến Thomas Merton, John Main, Thomas Keating, Laurence Freeman và nhiều người khác, đều mời gọi chúng ta bổ sung thêm phương thức cầu nguyện chiêm niệm, một cách cầu nguyện không hình ảnh, không lời, không tập trung vào những suy tư thánh thiện, và cũng không hướng về cảm nhận đức tin nồng cháy.

Làm sao cầu nguyện được như vậy? Chúng ta chiêm niệm bằng cách thinh lặng đặt mình vào trong sự hiện diện của Thiên Chúa và không giấu diếm bất kỳ chuyện gì về mình. Một mô tả về những khác biệt giữa cầu nguyện chiêm niệm và những kiểu cầu nguyện khác có lẽ sẽ làm sáng tỏ cho chúng ta về điểm này.

Bình thường, những dạng cầu nguyện suy niệm về căn bản là như sau: Bạn bắt đầu cầu nguyện, tìm một nơi yên tĩnh, ngồi hay quỳ, làm một hành động có ý thức để mặc niệm, tập trung vào một bản văn hay một suy nghĩ tạo cảm hứng, bắt đầu suy niệm với những lời này, cố gắng nghe những gì đang nói bên trong mình, kết nối rõ ràng các chất vấn hay nhận thức đang khơi ra, và rồi kết nối tất cả điều này với mối liên hệ giữa bạn với Thiên Chúa, bằng một lòng yêu mến, tôn thờ, chúc tụng và cầu xin. Trong dạng cầu nguyện này, tâm điểm tập trung của bạn là một lời hay một nhận thức gợi cảm hứng, phản ứng mà cảm hứng này khơi lên trong bạn, và đáp trả của bạn với Chúa theo cảm hứng đó. Nhưng đây chính là điểm yếu, các câu chữ, hình ảnh, cảm giác trong dạng cầu nguyện này, dù tốt, nhưng vẫn là một loại ngụy trang che chắn cho bạn để bạn không bị phơi bày trần trụi trước mặt Chúa, nó giống như khi chúng ta nói chuyện, nói đủ chuyện, những chuyện tốt, nhưng lại tránh nói đến những vấn đề thực sự.

Ngược lại, chiêm niệm là cầu nguyện không hình ảnh, không lời. Có thể nói như sau: Bạn bắt đầu cầu nguyện, tìm nơi yên tĩnh, ngồi hay quỳ, và làm một hành động có ý thức để đơn giản đặt mình trước mặt Chúa. Rồi đơn giản là mình, không có hình ảnh, bản văn, đàm thoại, lý luận, hay bất kỳ cảm giác thiêng liêng nào về Chúa Giêsu, về Đức Mẹ, về các thánh, về các ảnh tượng hay các ý niệm linh hứng dùng để che chắn cho bạn khỏi bị trần trụi trước mặt Thiên Chúa. Chiêm niệm đưa bạn vào trong sự hiện diện của Thiên Chúa, không một bảo vệ nào, không che dấu bất kỳ điều gì. Thinh lặng và không có đối thoại khi cầu nguyện sẽ để bạn trần trụi phơi bày, như cây cối dưới ánh mặt trời, thinh lặng nhận ánh sáng.

Chúng ta phải đối diện với Thiên Chúa như thế trong mỗi ngày sống, chứ không phải chỉ lúc chết. Vậy nên, mỗi ngày, chúng ta hãy để ra một ít thời gian đặt mình vào trong sự hiện diện của Thiên Chúa, không dùng bất cứ bản văn, hình ảnh nào, và ở đó, chúng ta trần trụi, lột bỏ hết mọi sự, thinh lặng, phơi bày, không giấu diếm điều gì, hoàn toàn phơi mình, đơn giản ngồi đó, đối diện trọn vẹn trước sự phán xét và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Làm như thế, chúng ta sẽ tránh được cuộc chạm trán dằn vặt giờ chết, và quan trọng hơn nữa, chúng ta sẽ bắt đầu, ngay bây giờ và ngay nơi này, tận hưởng trọn vẹn vòng ôm yêu thương của Thiên Chúa.

Con người đấu tranh với sinh lực tính dục

Giáo hội luôn luôn đấu tranh với tính dục, và tất cả mọi người, ai ai cũng vậy. Không có bất kỳ nền văn hóa nào, dù là tôn giáo hay thế tục, tiền hiện đại hay hiện đại, hậu hiện đại, hay hậu tôn giáo, thể hiện được một đặc nét tính dục thực sự lành mạnh. Tất cả mọi giáo hội và mọi nền văn hóa đều đấu tranh với tiềm năng tính dục bao trùm này, và nếu sự đấu tranh này không thể hiện nơi tín ngưỡng về tính dục thì cũng ở trong thực hành của tín ngưỡng đó. Nền văn hóa thế tục nhìn vào giáo hội và lên án giáo hội là cứng nhắc và chống đối ái tình. Điều này đúng phần nào đó, nhưng Giáo hội cũng có thể phản đối rất đúng rằng sự dè dặt về tính dục của mình bắt rễ từ sự thật rằng Giáo hội là một trong những tiếng nói ít ỏi vẫn còn đang kêu gọi mọi người có trách nhiệm về tính dục. Cũng vậy, Giáo hội có lẽ sẽ thách thức bất kỳ nền văn hóa nào tuyên bố có bằng chứng rằng mình đã có được chìa khóa cho tính dục lành mạnh. Không một nền văn hóa nào có thể tuyên bố được như vậy. Tất cả mọi người đều phải đấu tranh chật vật với nó.

Một phần của đấu tranh này là sự bất tương hợp dường như có sẵn trong bẩm tính giữa cái mà Charles Taylor gọi là «sự thành tựu tính dục và lòng đạo», giữa «việc thành tựu những khát khao cao nhất của chúng ta với sự tôn trọng dành cho những tập hợp trọn vẹn của tất cả những đáp ứng của nhân loại.»

Trong quyển sách «Thời đại thế tục» (A Secular Age) của mình, Taylor cho rằng thực sự có một căng thẳng khi cố gắng kết hợp thỏa mãn tính dục với lòng đạo đức, điều này thể hiện một căng thẳng chung giữa sự phồn thịnh của con người với lòng tận hiến cho Thiên Chúa. Ông nói thêm: «Và hoàn toàn dễ hiểu khi căng thẳng này đặc biệt hiển nhiên trong phạm vi tính dục. Mãnh liệt và sâu đậm trong việc đáp ứng tính dục sẽ là uy lực hướng chúng ta đến một sự giao hợp giữa hai người, nó mạnh mẽ gắn chặt chúng ta vào những gì hai người chia sẻ riêng với nhau. …Và việc này không phải là có tác động gì như các tu sĩ và ẩn tu thời xa xưa cho rằng từ bỏ tính dục là mở ra con đường đến với tình yêu bao la hơn của Thiên Chúa. …Bây giờ, sự căng thẳng giữa đáp ứng và lòng mộ đạo không còn làm cho chúng ta ngạc nhiên trong thế giới bị méo mó bởi tội lỗi này … nhưng chúng ta phải tránh không được biến điều này thành một xung khắc căn bản.»

Làm sao chúng ta tránh được điều này? Làm sao để chúng ta không đẩy sự đáp ứng tính dục thành việc chống lại sự thánh thiện? Làm sao để chúng ta có thể vừa tính dục mạnh mẽ và vừa đầy lòng đạo?

Trong quyển sách sắp xuất bản của mình Con đường ra sao, Hành trình thảo nguyên đi qua Tự nhiên, Khao khát và Linh hồn (The Road is How, A Prairie Pilgrimage through Nature, Desire and Soul), Trevor Herriot cho rằng sự đáp ứng của con người và lòng tận hiến cho Thiên Chúa, tính dục và thánh thiện, có thể đến với nhau theo một con đường tôn trọng đúng đắn cho cả hai. Làm sao để được như thế? Tác giả không dùng ngôn từ, một thứ vừa quá tôn kính vừa quá hạn chế, ông đưa ra cho chúng ta một hình ảnh thể hiện ý nghĩa của sự trong trắng với gốc thật sự của nó. Cũng như cách Annie Dillard đã dùng trong quyển Thánh thiện vững vàng (Holy The Firm), Herriot rút ra một khái niệm nhất định về trong trắng từ những nhịp điệu của tự nhiên rồi đưa những nhịp điệu này vào hình mẫu về cách thức mà chúng ta nên liên hệ với tự nhiên và tha nhân. Và với Herriot, những giai điệu này mang một ánh sáng chỉ đường cho cách thức chúng ta nên liên hệ trong tính dục. Herriot viết:

«Ngày nay, khi thấy các xe tải chở bột đi ngang qua, chúng ta thấy có điều gì đó trong chúng ta và trong địa cầu này đang bị xâm hại khi thực phẩm được trồng lên rồi bị tiêu thụ mà thiếu thân tình, thiếu quan tâm và thiếu tôn trọng. Các phong trào cổ vũ thức ăn địa phương và đồ ăn chậm đang cho chúng ta thấy cách chúng ta tạo nên, phân phối, chuẩn bị, và ăn thức ăn là một việc quan trọng đối với sức khỏe, trong sự trao đổi giữa cơ thể với địa cầu. Rồi có lẽ chúng ta sẽ nhận ra, nguồn năng lượng đưa phấn hoa vào nhụy hoa và nảy sinh nên hạt, một khi được đưa vào cơ thể chúng ta, cũng cần được chắt chiu. Cách chúng ta đáp lại khát khao muốn hợp nhất, kết nối và sinh hoa trái, một cảm giác rất sâu sắc nhưng thường diễn ra quá nông cạn, sẽ quyết định giá trị của những trao đổi giữa người với người. …

Trong một thế giới chìm trong một thứ tình dục công nghiệp hóa và phi nhân, nơi hiếm có mối liên hệ thực sự, một tình thân dịu ngọt, thì liệu chúng ta có cảm được một điều gì đó trong chúng ta và trong địa cầu đang bị xâm hại cũng do thiếu thân tình, thiếu quan tâm và thiếu tôn trọng, hay không? Chúng ta có học được rằng bất kỳ biểu lộ năng lực tính dục nào của chúng ta đều sẽ, hoặc nối kết, hoặc chia rẽ chúng ta với thế giới quanh mình và với linh hồn mình, hay không? Chúng ta đang khám phá ra rằng chúng ta phải quản lý những sinh lực của tự nhiên trong gốc hydrocarbon hay trong cây cối và sinh vật sống, rồi từ đó thăng tiến các cách thức đón nhận hoa trái của địa cầu, nhưng chúng ta phải đấu tranh để nhận ra trách nhiệm hàng đầu của mình đối với các phát triển dù nhỏ nhưng tích tụ lại thì vô cùng quan trọng cho năng lượng mà chúng ta đã nắm bắt và truyền dẫn, câu trả lời cho những khát khao muốn kết nối, hòa nhập và sinh hoa trái của chúng ta. Học để quản lý cách chúng ta tự mình sinh hoa trái trong tư cách một hữu thể tâm linh/tính dục với đầy đủ khát khao thú tính và khát khao thiêng liêng, có lẽ đó là điều quan trọng đối với cuộc lữ hành của nhân loại, quan trọng hơn những gì chúng ta hiểu được.»

Sự trong trắng, theo hình ảnh của Charles Taylor, Annie Dillard, và Trevor Herriot, luôn là sự bảo vệ tính dục một cách đúng đắn, là chiếc áo trắng tôn vinh cô dâu, là khí cụ dung hợp những khát vọng cao nhất của chúng ta với sự tôn trọng cá thể đối với đáp ứng trọn vẹn của nhân loại, và một điều nữa không kém quan trọng, nó là con đường hướng dẫn đáng tin để chúng ta đạt đến và truyền đi những sinh lực tính dục của mình với thân tình, quan tâm, và tôn trọng.

Thách đố đích thực trong sáng tạo – hoà mình trong bài hát

Có ba loại người trình diễn: Loại thứ nhất, khi hát hay nhảy một bài, họ tự thỏa mãn bản thân mình. Loại thứ hai, khi trình diễn, họ thỏa mãn cho khán giả. Và loại thứ ba, khi đứng trên sân khấu là họ đang thỏa mãn cho chính bài hát, bài nhảy, vở kịch đó.

Dĩ nhiên không khó để nhận định xem trong cả ba, ai là người trình diễn hay nhất. Tất nhiên là người thỏa mãn cho bài hát, tôn trọng bài hát và họ có thêm sinh lực từ một nguồn sâu sắc hơn. Và người đó làm được như thế là do họ thấm nhập và truyền tải nguồn sinh lực của bài hát thay vì thấm nhập và truyền tải sinh lực của riêng mình hay của khán giả. Một nghệ sĩ điêu luyện, dù là ca sĩ, nhà văn, họa sĩ, vũ công, thợ thủ công, thợ mộc, hay người làm vườn, đều thấm nhập vào những sinh lực sâu đậm, trọng tâm của sự vật sự việc và rút lấy từ đó để tạo nên một điều gì đó thuộc về Thiên Chúa, cụ thể một điều gì đó chân thực, tốt lành và đẹp đẽ. Xét cho cùng, sự thật trong tất cả mọi nghệ thuật là sự sáng tạo không phải là việc con người tạo ra được một điều gì đó. Mà ý nghĩa của sáng tạo là nên một, nên một với chân thiện mỹ.

Điều này đúng với tất cả mọi sáng tạo và nghệ thuật, và cũng đúng với tất cả mọi huấn từ, giáo lý, giảng dạy, và việc phúc âm hóa tốt đẹp. Đến tận cùng, tất cả mọi sự phải quy hướng về chân thiện mỹ, về Thiên Chúa, chứ không phải về bản thân mình hay khán giả của mình.

Và có nhiều nguyên do làm cho điều này thật quan trọng. Một nguyên do không nhỏ đó là trên thực tế, nhiều người trong chúng ta ngần ngại diễn tả sự sáng tạo của mình, sợ mình không chuyên nghiệp, thiếu kỹ năng để đáp ứng cho đúng tiêu chuẩn do người khác đặt ra. Và do đó, chúng ta không viết thơ, viết nhạc, tiểu thuyết, không vẽ tranh, khắc tượng, không khiêu vũ, làm đồ mộc, trồng hoa hay làm vườn, vì chúng ta sợ các tác phẩm của mình sẽ quá thiếu chuyên nghiệp để đủ tiêu chuẩn xuất bản hay trình bày cho người khác công nhận và tán thưởng. Và như thế, gần như luôn luôn, chúng ta câm thin thít và giấu đi tài năng sáng tạo của mình vì chúng ta không thể làm được những tuyệt phẩm. Chúng ta tự trừng phạt mình bằng lối suy nghĩ: Nếu chẳng ai xuất bản, thì viết làm gì. Nếu không ai mua nó, thì vẽ ra làm gì. Nếu không ai ái mộ nó, thì làm ra nó để làm gì.

Nhưng đó là một quan điểm sai lầm về sáng tạo. Chúng ta sáng tạo điều này điều kia, không phải vì chúng ta sẽ công bố và nhận được lời khen ngợi hay tiền bạc. Chúng ta sáng tạo, vì, sự sáng tạo, dù là dạng nào đi nữa, sẽ cho chúng ta đi vào trọng tâm sâu xa của một sinh lực tâm điểm của sự vật sự việc. Khi sáng tạo, chúng ta hòa mình vào trong sinh lực của Thiên Chúa, giúp truyền tải các giá trị siêu việt của Thiên Chúa là: chân, thiện, mỹ. Xét cho cùng, điều quan trọng không phải là việc tác phẩm của chúng ta được thừa nhận, công bố, hay đem lại tiền tài danh tiếng. Sáng tạo tự nó là phần thưởng rồi. Khi bạn hành động giống Thiên Chúa, bạn sẽ cảm nhận giống Thiên Chúa, hay ít nhất, bạn sẽ cảm nhận được nguồn sinh lực thiêng liêng tuyệt diệu.

Hơn nữa, sinh lực mà chúng ta cảm nhận được trong sáng tạo, dù đó là nỗ lực cá nhân và không chuyên đi nữa, vẫn sẽ giúp làm dịu đi những ngọn lửa ghen tị và thù hằn trong lòng chúng ta. Michael Ondaatje, tác giả quyển Bệnh nhân người Anh (The English Patient), trong quyển tiểu thuyết mới đây của mình, quyển Anil’s Ghost, đã cho chúng ta một minh họa về điều này. Ông mô tả Ananda, một nghệ sĩ vừa chỉnh sửa một bức tượng. Khi hoàn tất công việc, Ananda hài lòng và tự hào nhìn tác phẩm mình vừa làm xong, và dù không có đạo, anh thấy lòng mình tràn đầy một nguồn sinh lực thần thánh. “Là một người thợ, anh không vinh danh sự cao cả của đức tin. Nhưng anh biết nếu anh không làm một người thợ, anh sẽ thành một con quỷ mất thôi. Chiến tranh bao quanh anh đang dựng nên những con quỷ.” Ghen tị và thù hằn làm cho sáng tạo bị hụt hẫng. Nếu chúng ta không sáng tạo một điều gì đó, thì chúng ta đang làm hỏng một điều gì đó. Nếu chúng ta không sáng tạo, sớm hay muộn, chúng ta sẽ trở nên chua cay. Vậy thì, làm sao để chúng ta trở nên sáng tạo?

Nhà thơ William Stafford đã chia sẻ một vài việc ông làm hằng ngày, và lấy đó làm một thách thức cho các sinh viên của mình: Thức dậy mỗi buổi sáng, và trước khi làm bất kỳ việc gì, hãy viết một bài thơ. Rất thường thì các sinh viên sẽ phản đối: Làm sao thầy làm được thế? Người ta không thể lúc nào cũng sáng tạo được? Stafford trả lời: Hạ tiêu chuẩn của các bạn xuống đi!

Ông đúng trong chuyện này. Chúng ta không nên khóa kín nguồn sinh lực sáng tạo của mình vì không thấy có cảm hứng đặc biệt, hay vì chẳng có gì để chúng ta nỗ lực cho nghiêm túc, hay vì không ai xuất bản các tác phẩm đó, hay vì tác phẩm của chúng ta có vẻ không chuyên, bị xếp vào loại thứ phẩm. Chúng ta không viết văn, viết nhạc, vẽ tranh, khiêu vũ, làm đồ mỹ nghệ, đồ mộc, hay làm vườn, để mong nỗ lực của mình sẽ được mọi người biết đến và phê bình tán thưởng. Chúng ta làm những việc này vì cái hồn của chúng, và để được đi vào điệu nhảy thần thánh, kết nối chúng ta với tâm điểm của mọi sự.

Đôi khi chúng ta không thể cứu cả thế giới, nhưng chúng ta có thể cứu được sự lành mạnh của mình và giúp đưa Thiên Chúa đến với thế giới bằng việc vun đắp tâm hồn mình.

Tiền bạc dưới con mắt của tôn giáo

Không một ai, dù là cá nhân hay tổ chức, nắm trọn con đường đến với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã làm quá rõ ràng điều này.

Ví dụ trong câu chuyện Chúa Giêsu tẩy uế đền thờ bằng cách lật tung các bàn đổi tiền. Việc này thường được dùng để biện minh cho những cuồng nộ và bạo lực được làm dưới danh Chúa. Luôn luôn là thế, khi có người quả quyết Thiên Chúa bất bạo lực, thì họ sẽ gặp phản ứng: “Vậy việc Chúa Giêsu đuổi những người đổi tiền ra khỏi đền thờ thì sao?” “Vậy Chúa Giêsu nổi nóng, nổi giận thì sao?”

Dù các câu hỏi này có hợp lý gì đi nữa, thì chuyện Chúa Giêsu tẩy uế đền thờ vẫn có một dụng ý sâu xa hơn. Điều này đặc biệt rõ ràng trong Tin mừng theo thánh Gioan, khi sự kiện này được đặt trong bối cảnh Chúa Giêsu đang thay thế một loạt những tục lệ tôn giáo cũ bằng một cách thức Kitô mới. Ví dụ như, ngay trước sự kiện tẩy uế đền thờ, ở tiệc cưới Cana, Chúa Giêsu đã thay thế một tục lệ tôn giáo cũ (khi bước vào nhà một người Do Thái, bạn phải thanh tẩy bằng một loạt các nghi lễ tẩy uế trước khi ngồi vào bàn) bằng một cách thức Kitô mới tự thanh tẩy bản thân để được ngồi vào bàn tiệc thiên quốc (với các Kitô hữu thì rượu của cộng đoàn Kitô giáo, rượu của Phép Thánh Thể, giờ đây sẽ thanh tẩy để bạn có thể ngồi vào bàn tiệc nước trời).

Việc tẩy uế đền thờ cần được hiểu trong bối cảnh đó: Chúa Giêsu đang thay thế việc thực hành tôn giáo cũ bằng một cách thức Kitô mới, và Ngài đang mặc khải một điều rất quan trọng về Thiên Chúa khi làm như thế. Diễn tả theo ẩn dụ như sau: Chúa Giêsu đang thay thế loại tiền tệ tôn giáo cũ bằng một loại tiền tệ tôn giáo mới. Đó vừa là một phép ẩn dụ vừa là một bài học:

Chúng ta tất cả đều quen thuộc với sự kiện này: Chúa Giêsu đi vào khu vực đền thờ, nơi những người đổi tiền đặt bàn của họ, Ngài lật tung bàn, đuổi hết những người đổi tiền và nói rằng: “Đem hết tất cả những thứ này khỏi đây, và đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán.”

Nhưng phải hiểu chuyện này một cách cẩn thận. Xét sơ qua, bản văn này có vẻ rõ ràng là như vậy, nhưng đàng sau lại đầy tính hình tượng vi tế (cho dù ý nghĩa thật rõ ràng đi nữa). Chúng ta khơi mở ý nghĩa của chuyện này thế nào đây?

Điều quan trọng là phải nhận ra những người đổi tiền đó đang làm một công việc cần thiết. Dân chúng từ nhiều nơi đổ về Giêrusalem để cử hành việc thờ phượng trong đền thờ. Họ đem theo đồng tiền của nước mình, và khi đến đền thờ, họ phải đổi sang đồng tiền Do Thái để có thể mua những con vật (bồ câu, cừu, dê) dùng làm lễ tế. Những người đổi tiền làm công việc này, cũng như nhân viên ngân hàng bây giờ, khi bạn ra nước ngoài, bước xuống máy bay là phải đến quầy đổi tiền để có tiền nước đó dùng.

Tất nhiên, trong số những người đổi tiền đó, có một số người thiếu lương thiện, nhưng đó không phải là lý do Chúa Giêsu phản ứng mạnh quá đỗi như vậy. Và cũng không phải là Ngài thấy bị xúc phạm quá đáng khi việc đổi chác xảy ra tại một nơi thiêng liêng như thế. Khi Chúa Giêsu nói, “đem hết những thứ này ra khỏi đây và đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán”, là Ngài đang dạy một điều, vượt trên yêu cầu phải sống lương thiện, và cũng vượt trên yêu cầu không được buôn bán trong đền thờ. Sâu xa hơn, là “đừng biến nhà Cha Ta thành nơi buôn bán” phải hiểu như sau: “Khi đến thờ phượng Thiên Chúa, ngươi không cần phải đổi tiền của mình qua bất kỳ tiền tệ nào khác. Ngươi có thể thờ phượng Thiên Chúa bằng tiền tệ của mình, bằng đồng tiền của mình. Không một ai, không một cá nhân, không một đền thờ, không một Giáo hội, không một tổ chức nào, tuyệt đối là không một điều gì, được phép đứng giữa ngươi và Thiên Chúa mà nói rằng: “Anh phải đi qua tôi mới được!”’

Đó là một lời dạy mạnh mẽ và sẽ không hợp lắm với nhiều người trong chúng ta. Ngay lập tức, họ sẽ bật ra câu hỏi: “Vậy giáo hội thì sao? Giáo hội không cần thiết cho ơn cứu độ sao?” Câu hỏi đó thậm chí càng đau lòng hơn nữa, khi thời này, nhiều người nói thẳng ra họ không cần đến Giáo hội: “Tôi có lòng đạo, nhưng không theo tôn giáo.”

Cứ cho là có một nguy cơ trong việc khẳng định và nhấn mạnh lời dạy này của Chúa Giêsu, nhưng, và đây là điểm mấu chốt, lời dạy này không hướng đến những người vào thời đó đang mở miệng nói: “Tôi có lòng đạo, nhưng không theo tôn giáo.” Đúng hơn, lời dạy này nhắm đến những cá nhân có tôn giáo và các tổ chức tôn giáo đang nghĩ rằng con đường đến với Thiên Chúa phải đi qua con đường dẫn cụ thể (con đường đó đang nằm trong tay họ). Tất cả mọi đồng tiền tôn giáo đều phải được đổi sang đồng tiền tôn giáo riêng của họ, vì họ nghĩ rằng, họ nắm con đường đến với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã cố gắng thanh tẩy chúng ta khỏi bất kỳ thái độ hay hành động nào mang suy nghĩ như thế.

Điều này không bác bỏ sự chính đáng hay cần thiết của Giáo hội cũng như những người phục vụ trong Giáo hội. Thiên Chúa làm việc qua Giáo hội và các thừa tác viên của Giáo hội. Nhưng điều này bác bỏ bất kỳ tính chính đáng nào khi người ta cho rằng Giáo hội và các thừa tác viên của mình mới nắm con đường đến với Thiên Chúa.

Không một ai nắm giữ con đường đến với Thiên Chúa, và nếu Chúa đã từng nổi nóng thì đó là vì đôi khi chúng ta tin rằng con đường đến với Ngài đang hoàn toàn nằm trong tay mình.

Sự kháng cự có tính cách ngoại giáo của chúng ta đối với đời sau

Đôi khi đang dâng thánh lễ hay đứng trên bục giảng, tôi lướt nhìn những khuôn mặt ở hàng ghế đầu. Những gương mặt đó nói lên gì? Một vài người thiết tha, chú ý, tập trung vào phụng vụ đang diễn ra, nhưng một số không nhỏ, đặc biệt các bạn trẻ, tỏ ra chán chường, tham dự thánh lễ vì bổn phận, chịu đựng, có thể diễn tả như sau: ‘Tôi phải ở nhà thờ bây giờ, dù tôi ước sao mình ở một chỗ nào khác’. Tất nhiên, những phản ứng này dễ hiểu. Xét cho cùng, tất cả chúng ta đều là con người, với đầy tính xác thịt, và khi cố gắng tập trung vào thế giới tâm linh hay vào những gì có liên quan đến tính xác thịt, tính khả tử, và hy sinh, thì chúng ta, hầu hết mọi lần, đều mong hiện thực đời này sẽ thắng vượt lời hứa đời sau.

Thỉnh thoảng khi nhìn các khuôn mặt đang chăm chú nhìn tôi trong nhà thờ, tôi thấy mình được nhắc để nhớ cảnh văn sĩ Virginia Woolf mô tả trong quyển tiểu thuyết Con sóng (The Waves) của bà. Đó là cảnh một nhà nguyện ở một trường nội trú Anh quốc, với một ông từ đang mở lời huấn đức cho các học viên trong một buổi phụng vụ. Ông này không được các học viên tôn trọng lắm, nhưng đó không phải là lý do sâu xa nhất để cho sinh viên Neville lơ là lời của ông và lơ là cả buổi phụng vụ nói chung. Trong anh, có một điều gì đó đang phản kháng, không chỉ là chống lại những lời của ông từ, người mà anh chẳng tôn trọng gì, nhưng còn là chống lại mỗi một lời ông từ đó đang nói ra. Điểm mấu chốt là, lòng của Neville quá nồng nhiệt để có thể chấp nhận được bất kỳ lời nói nào về sự bất tất, đạo đức, bỏ mình, thập giá, thinh lặng hay bất kỳ lời nào khác, dòng máu trẻ trung của anh đang âm thầm chảy về hướng đối lập, là sức lực, tuổi trẻ, tình dục, tình anh em, địa vị, danh tiếng, và thú vui.

Vì thế anh tìm cách lảng đi. Anh không muốn nhìn thấy khuôn mặt của ông từ, không muốn nghe tiếng ông, không muốn nghe về Thiên Chúa, chẳng muốn nghe về đời sau, chẳng muốn bị nhắc nhở về tính khả tử của con người, cũng không muốn nghe chuyện hy sinh bỏ mình. Như con nghiện, anh cần một liều thuốc chữa cháy, và trong trường hợp này phải là một thứ gì đó rất mạnh đủ để là tôn giáo, đủ mạnh để dính với sự sống bất diệt của đời sau, một điều gì đó đáng ngưỡng mộ mà anh biết đâu đó mình cần để trao cho người khác. Và anh biết chính xác anh phải nhìn về đâu. Anh dính chặt con mắt và sự ngưỡng mộ của mình về một người cũng ở trong nhà nguyện đó, đó là một người trai trẻ tên là Percival, mà theo tâm trí tuổi trẻ của Neville, đó mới thật là hiện thân thực sự cho sự sống và đó mới đáng cho mình tôn sùng. Và đây là lời mô tả của Woolf:

“Neville nói: “Khi cất lời cầu nguyện, kẻ thô lỗ đó xâm phạm tự do của tôi. Không có óc tưởng tượng nên những lời ông nói cứ như đá lạnh đập vào đầu, trong khi chiếc thánh giá mạ vàng của ông cứ vung vẩy trên áo. Những lời nói uy quyền đã bị hủy hoại bởi những người xướng lên nó. Tôi xem thường và giễu vào cái tôn giáo buồn bã này, vào những nhân vật nhút nhát, rầu rĩ, đúng hơn là những người tái nhợt như xác chết và bị tổn thương. … Còn bây giờ, tôi sẽ quay qua vờ như để gãi đùi. Tôi sẽ thấy Percival. Anh ấy đang ngồi đó, nổi bật lên khỏi đám giá áo túi cơm nhỏ bé. Anh ấy thở có vẻ nặng nề qua chiếc mũi thẳng. Đôi mắt xanh và vô hồn lạ lùng của anh đầy cả sự lãnh đạm ngoại giáo. Anh ấy mới thật là một ông từ đáng ngưỡng mộ. Anh ấy sẽ lấy roi mà đánh phạt những cậu bé mắc lỗi. Anh ấy sẽ dùng những câu tiếng La Tinh khi nói về những điểm đáng ghi nhớ. Anh ấy chẳng nhìn cái gì, chẳng nghe cái gì. Anh ấy tách biệt hẳn khỏi tất cả chúng tôi trong một vũ trụ ngoại giáo của riêng anh ấy. Nhưng nhìn xem cái cách anh đặt tay ra phía sau lưng. Với cử chỉ như thế, người ta sẽ mến mộ anh mãi suốt đời mất thôi.””

Tôi trích lại mô tả này với lòng thông cảm không nhỏ vì tôi đã từng là cậu trai Neville đó, ngồi trong một buổi phụng vụ, nhưng lòng thì đầy phản kháng, âm thầm hướng ngoại, và hướng nội trong cam chịu, vì tôi không muốn nghe hay nhận biết bất kỳ điều gì, mà theo tâm trí tôi là, không tôn vinh hiện thực mà tôi cảm nhận rành rành trong máu mình. Tôi không muốn ai nhắc tôi rằng sức khỏe của tôi thật mong manh, rằng tuổi trẻ của tôi đang trôi qua, rằng đời này không phải là trọng tâm cuộc sống, và chúng ta không nên nghĩ quá nhiều về tình dục. Tôi đã không muốn nghe về đạo đức, rằng tất cả chúng ta rồi sẽ chết, tôi không muốn nghe về thập giá, hay nghe rằng chúng ta chỉ có thể sống bằng việc chết đi, và tôi không muốn bị người ta bảo phải chú tâm vào đời sau, trong khi cái tôi muốn là đời này. Tôi chấp nhận Giáo hội là quan trọng, đúng, nhưng với tôi, sân vận động còn thực tế và hấp dẫn hơn nhiều. Và cũng như cậu Neville, tôi cũng có những Percival của mình, đó là các bạn đồng trang lứa, một vài thần tượng thể thao, và một vài ngôi sao điện ảnh với thân hình thật đáng thèm muốn và những cử chỉ hoàn hảo, họ đúng là sự sống, là sự bất diệt mà đương nhiên tôi rất khao khát, và họ là những người dường như không có những giới hạn như của tôi.

Nhưng, tôi nghĩ, Thiên Chúa thích dạng phản kháng tuổi trẻ này, và Ngài dựng lên nó trong chúng ta. Vì sao? Bởi, sự kháng cự càng mạnh, sự hòa hợp cuối cùng càng tràn trề sung mãn.

Đấu tranh để có lòng cảm thông và quảng đại

Trong cuộc sống bình thường hàng ngày, chúng ta thường để cho mình quá bận tâm đến những vấn đề của mình nên khó hoà hợp với người khác khi họ không có những giá trị và phẩm chất mà chúng ta tự gán cho mình. Tóm lại, thật khó để chúng ta sống cảm thông thật sự, vì chúng ta luôn héo mòn với những nhức nhối trong lòng và những bực phiền trong đầu của riêng mình. Chúng ta hãy nhìn vào nhận thức sáng suốt của hai nhà trí thức lừng danh, một người về triết học và người kia về tâm lý học.

Như chúng ta biết, René Descartes, triết gia người Pháp đã có câu nói nổi tiếng, rằng tất cả suy tư thật sự đều phải được bắt đầu với kinh nghiệm riêng của mình. “Tôi suy tư, vì thế, tôi hiện hữu”. Lập luận của ông như sau: Bỏ qua tất cả các hoài nghi, thì sự gì là điều duy nhất mà bạn có thể biết chắc là nó có thật? Câu trả lời của ông là: Tâm trí của bạn. Bạn biết tâm trí của bạn là có thật, vì bạn đang ở trong tâm trí đó. Bạn có thật, bạn có thể chắc chắn như thế, nhưng cũng có thể là bạn đang tưởng tượng hay đang mơ thì sao. Nhiều thế kỷ sau, Sigmund Freud, trong một hướng khác, về cơ bản, cũng đã đạt đến một kết luận tương tự. Theo Freud, chúng ta luôn luôn quá bận tâm lo lắng đến độ không thể nhìn ra cuộc sống của những người khác cũng thật như cuộc sống của mình vậy.

Nếu thật như thế, và chắc chắn điều này có điểm đúng, thì chẳng có gì ngạc nhiên khi chúng ta phải đấu tranh chật vật để có được lòng cảm thông và quảng đại chân thật, vì cả hai, chính xác là năng lực có thể hòa hợp các đau buồn và vấn đề của người khác với những đau buồn và vấn đề của mình theo một mức độ hiện thực và quan trọng tương đương. Nhưng thật khó để làm được thế: Thật khó để cho người khác mà không tư lợi. Thật khó để có những động cơ hoàn toàn thuần túy trong việc phục vụ tha nhân. Thật khó để hiểu đau buồn của người khác hệt như hiểu nỗi đau của mình. Thật khó để hoàn toàn vị tha. Và … đặc biệt thật khó để vượt qua điều này!

Tại sao lại thế? Thông cảm và thấu cảm không phải là bản chất của chúng ta hay sao? Thông cảm và thấu cảm là bản chất của chúng ta, nhưng cũng như các thứ khác, chúng trộn lẫn với nhiều thứ khác nữa. Vậy đó là những thứ gì?

Thứ nhất, thông cảm và thấu cảm trộn lẫn với những bản năng sinh tồn căn bản hơn của chúng ta. Chúng ta không được sinh ra với lòng rộng lượng và cảm thông, chúng ta sinh ra trong thiếu thốn, đói khát, và mang thiên hướng bản năng là phải sinh tồn. Khi mới sinh, chúng ta quá đỗi thèm khát sinh tồn, rằng chúng ta phải lớn lên và được người khác công nhận. Tự nhiên đưa chúng ta vào đời theo cách như thế để chắc chắn rằng chúng ta sẽ làm những gì cần thiết để sinh tồn, và chính điều này đã làm suy giảm đi nhiều lòng cảm thông. Hơn nữa, không chỉ là do tự nhiên, mà những trải nghiệm đầu đời của chúng ta cũng sớm gây hại cho năng lực cảm thông của chúng ta. Đơn giản là, chẳng ai trong chúng ta yêu một cách trong trắng và trọn vẹn, và rất lâu trước khi trưởng thành, tất cả chúng ta đã đánh mất sự toàn vẹn của mình rồi. Khi đã trưởng thành, tất cả chúng ta, ở một mức mức độ nào đó, bị tổn thương, sợ hãi, và từ đó đi theo thói quen thu vén cho mình, và chính vì thế, chúng làm yếu đi lòng cảm thông.

Nó làm theo cách này: Chúng ta đến với thế giới này với một khả năng thích nghi mạnh mẽ. Khi còn thơ ấu, tất cả mọi bản năng trong chúng ta vận động vì sự sống và vì thế, một cách vô thức, chúng ta làm bất kỳ việc gì để được tiếp tục sống và dung nạp bất kỳ thứ gì (thức ăn, chỗ ở, áo quần, ngôn ngữ, môi trường) mà chúng ta cần dung nạp vì mục đích duy nhất là được tiếp tục sống. Việc dung nạp làm khi còn nhỏ, giúp bảo đảm sự sinh tồn nhưng cũng gây vết thương cho chúng ta và làm cho chúng ta về sau khó có được lòng thương cảm thật sự.

Vậy chuyện này, chúng ta có thể làm gì được đây? Không có câu trả lời dễ dàng nào cho vấn đề này, cả về mặt tâm lý lẫn thiêng liêng, và dù có câu trả lời, chúng cũng chẳng hữu dụng gì. Chúng ta đang phải đối mặt với những bản năng thâm căn cố đế và sẽ không dao động chỉ vì chúng ta chỉ hiểu nó về mặt lý thuyết. Và chúng ta còn phải xử trí với những vết thương cần được chữa lành bằng tâm hồn nữa. Xét cho cùng, điều sẽ chữa lành và mở rộng tâm hồn chúng ta với lòng thông cảm và quãng đại đích thực chính là cảm nghiệm về một tình yêu chân thật, không vụ lợi. Nhưng chúng ta không thể làm cho người khác thương mình theo cách này và chúng ta đấu tranh dữ dội để cảm nhận tình yêu Chúa dành cho chúng ta khi người khác không thương chúng ta theo cách này. Hơn nữa, chúng ta kẹt trong vòng luẩn quẩn, vết thương cần được chữa lành bằng tình yêu lại chính là những điều khiến người khác khó thương chúng ta. Câu trả lời vẫn là tình yêu. Tình yêu sẽ cho chúng ta nên trọn vẹn, nhưng chúng ta không thể muốn tình yêu này cho bản thân mình. Vậy chúng ta phải làm gì?

Trước hết, chúng ta chấn nhận mình có vấn đề này, chấp nhận sự không vẹn toàn, chấp nhận tổn thương của mình, chấp nhận mình quá bận tâm lo lắng cho mình, và chấp nhận sự thiếu cảm thông của mình. Đó là bước khởi đầu. Rồi, chúng ta có thể khiêm tốn nhờ người khác giúp đỡ, gia đình, bạn bè, các nhóm trị liệu, các liệu pháp. Thật tâm yêu cầu xin giúp đỡ, thường sẽ có ích cho chúng ta. Đi kèm đó, chúng ta nên thường xuyên đi đến với người túng thiếu (đủ loại) và đặt mình vào những thiếu thốn của họ, điều này sẽ giúp chúng ta thấm nhập vào phép thanh tẩy của lòng cảm thông và rộng lượng. Chỉ có một ít điều có sức mạnh kéo được chúng ta ra khỏi các tổn thương của mình và giúp chúng ta sống quên mình, trong đó có việc đối diện với những người túng quẫn. Cuối cùng, chúng ta cần phải tìm kiếm sự trợ lực từ Thiên Chúa bằng cầu nguyện, cậy vào sự toàn vẹn của Thiên Chúa, xin Chúa làm cho chúng ta những việc mà chúng ta không thể tự làm cho mình, cụ thể là xin cho chúng ta nhìn ra người khác cũng hiện hữu thật như chúng ta.

Thánh thiện, toàn vẹn và trầm cảm

Vẻ bên ngoài có thể dễ dàng lừa phỉnh chúng ta, và thường là thế. Đó là sự thật xảy ra trong đời sống nhân loại, và tôn giáo cũng không ngoại lệ.

Vài năm về trước, tôi sống trong một chủng viện với một chủng sinh trẻ tuổi, xét theo bề ngoài, có lẽ anh là ứng viên lý tưởng cho chức linh mục và công tác mục vụ. Anh thông minh, tận tụy, chăm cầu nguyện, chuyên chú vào việc học, và quan tâm sâu đậm đến người nghèo, dường như anh đã vượt ra khỏi những lo toan thế tục thường có. Anh không thích uống bia, bàn chuyện bóng đá, tán gẫu, thóc mách, hay lãng phí thời gian với các chủng sinh khác. Trong khi người khác làm những chuyện phiếm này, thì anh vào nhà nguyện, thư viện, bàn học, bận rộn với những việc hệ trọng hơn. Hơn nữa, anh luôn nhã nhặn và lịch sự vô cùng, chẳng nói nặng lời, chửi thề, hay có lời đùa cay độc nào. Anh làm toàn những việc đúng đắn.

Nhưng không ai sống chung với anh, kể cả tôi, xem anh là tháùnh. Anh là một thanh niên ngay thật, nhưng không phải là người hạnh phúc. Tại sao lại không? Vì, trong khi bề ngoài mọi thứ anh làm đều đúng đắn, nhưng cái chất tỏa ra từ con người anh lại không phải là sinh khí mà là suy sụp. Khi bước vào một căn phòng, dường như anh làm khô cằn sinh khí trong căn phòng đó. Anh làm mọi chuyện điều đúng, nhưng sinh khí của anh lại không ổn. Các chủng sinh khác, với đủ lo toan trần tục của họ, họ đủ tốt bụng và nhạy bén để nhận ra anh cần được giúp đỡ, và họ đóng vai người Samari nhân hậu, thay nhau đến ngồi với anh, hy vọng anh sẽ vui hơn đôi chút. Cha giám đốc chủng viện cũng nhận ra vấn đề và gởi anh đến một nhà tâm lý, ông bảo anh đang ở trên bờ vực của chứng trầm cảm và tốt nhất anh nên rời chủng viện, ít ra là trong một thời gian. Chàng trai trẻ đã rời chủng viện, cuối cùng anh phục hồi được sức khỏe, và bây giờ, anh là người tăng truyền sinh khí mạnh mẽ cho người khác.

Đây không phải là một ví dụ ít gặp. Một trong những đấu tranh chúng ta thường đối diện trong vấn đề nhận thức tôn giáo chính là việc chúng ta dễ dàng nhầm lẫn trầm cảm với thánh thiện, ủy mị với sùng mến, cứng nhắc với chính thống, bè phái hẹp hòi với trung kiên, áp chế tính dục với sự toàn vẹn, và việc phủ nhận sự phức tạp của con người với tính kiên định. Trầm cảm có thể được nhận là thánh thiện, bởi người đang rơi vào trầm cảm sẽ có vẻ như không bận tâm đến những thôi thúc bình thường của những say mê mang tính thế tục của chúng ta. Tính ủy mị luôn luôn có chiều hướng được xem là sùng mến, và tự biến mình thành lòng sùng kính. Sự cứng nhắc luôn che đậy mình thành người nhiệt thành quan tâm đến chân lý và tính chính thống, cũng như thói bè phái hẹp hòi luôn tỏ ra mình có lòng trung kiên mãnh liệt, và sự áp chế tính dục cũng như sự phủ nhận tính phức tạp của con người, đặc biệt là sự phức tạp về mặt tính dục, thường đội lốt qua sự toàn vẹn và kiên định. Trầm cảm, ủy mị, sợ sệt, cứng nhắc, bè phái, áp chế, và chối bỏ, những thứ này thích ẩn mình sau những đức tính cao quý.

Tôi nói ra các điều này với lòng thông cảm. Vì không một ai trong chúng ta tránh được những đấu tranh này. Nhưng, khi nhận thức được, chúng ta đừng để bị lừa phỉnh vì sự thánh thiện giả. Trầm cảm, ủy mị, sợ sệt, hẹp hòi, cứng nhắc, và áp chế, chúng triệt tiêu sinh khí. Còn sự thánh thiện, chính thống, trung kiên, toàn vẹn, và kiên định thật sự, thì đem lại sinh khí, và bạn sẽ không phải khó khăn đón nhận hay cảm thấy tội lỗi vì dòng máu trong bạn đang tràn đầy một luồng sinh khi dào dạt. Thánh thiện thật sự cho bạn tự do và cho bạn cảm thấy tốt về nhân tính của mình, bất kể bạn ra sao. Thánh thiện thật sự lôi cuốn và chiếu tỏa sự sống, nó không vô thức nài nỉ bạn phải chơi trò người Samari nhân hậu để lôi kéo nó ra.

Chúng ta thấy rõ nơi gương mẹ Têrêxa. Như chúng ta biết, trong nhật ký của mình, sáu năm cuối đời, mẹ đã sống trong đêm đen sâu thẳm đau khổ của tâm hồn. Trong sáu năm cuối đời đó, mẹ đã phải đấu tranh nội tâm để tâm hồn được bình an, nhưng từ mẹ lại tỏa ra toàn những điều ngược lại. Mẹ mang đầy sinh khí cho người khác. Mẹ thắp sáng căn phòng với một bóng đèn cực sáng. Mẹ không chỉ làm toàn những việc tốt, mà còn tỏa ra một sinh khí đem lại sự sống nữa.

Và xét cho cùng, đó là cách chúng ta cần phải phân biệt được sự thánh thiện thật, sùng mến thật, chính thống thật, trung kiên thật, và toàn vẹn thật trước những thứ đội lốt giả tạo. Sự thánh thiện thật đem lại sinh khí, trầm cảm tước mất sinh khí. Sùng mến thật như một hình ảnh đẹp lôi cuốn bạn, còn ủy mị khiến bạn khó chịu muốn nhắm mắt lại cho khuất mắt. Tính chính thống thật khiến bạn muốn ôm lấy cả thế giới, còn tính cứng nhắc khiến bạn thấy sợ sệt và nhỏ nhen. Trung kiên thật khiến bạn đứng lên bảo vệ cho những người thân yêu, còn óc bè phái hẹp hòi làm cho bạn thành kẻ mù quáng. Sự toàn vẹn thật phải đứng ra đối mặt với khối hỗn độn tối tăm của nhân sinh và sự phức tạp của tính dục, còn áp chế và chối bỏ chỉ khiến bạn rụt lại sợ sệt trước những góc tối đó mà thôi.

Và chúng ta có hai đòi hỏi song hành cần phải làm: Thứ nhất, vì điều này can hệ với cuộc đời mình, nên chúng ta phải thành thật và dũng cảm đối diện với những hỗn loạn của riêng mình và nhận ra thiên hướng cố hữu của mình là đánh lận những yếu đuối thành nhân đức. Thứ hai, như nhà thơ William Stafford nói, chúng ta phải chắc chắn chúng ta không đi theo lầm ngôi sao dẫn đường đời mình.

Cấp bách phải nên một trong Chúa Kitô

Hơn một ngàn năm qua, các Kitô hữu đã không có được niềm vui là có được một gia đình quanh Chúa Kitô. Dù trước đó, đã có những căng thẳng trong các cộng đoàn Kitô giáo, nhưng đến năm 1054 mới xảy ra sự chia rẽ chính thức, tạo nên hai cộng đoàn Kitô giáo chính thức, là Giáo hội Chính thống Đông phương và Giáo hội Công giáo Tây phương. Rồi, cuộc Kháng cách vào thế kỷ XVI đã tăng thêm chia rẽ bên trong Giáo hội Tây phương, và thế giới Kitô giáo càng phân mảnh hơn nữa. Ngày nay, có hơn trăm phái Kitô giáo, và đáng buồn thay, nhiều phái chẳng thân thiện gì với nhau.

Sự chia rẽ và hiểu lầm, là những chuyện có thể hiểu được, và thế nào cũng có, làm người thì phải chấp nhận như vậy. Không có cộng đồng nào không có căng thẳng vì thế đôi khi các Kitô hữu không hòa hợp với nhau không phải là chuyện tai tiếng gì to tát lắm. Nhưng điều xấu là chúng ta đã trở nên thoải mái, thậm chí là tự mãn thiển cận về việc mình không hòa hợp với người khác. Điều xấu chính là chúng ta không còn khao khát muốn được nên một và chúng ta chỉ ở trong cộng đồng riêng của mình, không còn nhớ đến nhau nữa. Thực tế thì tất cả các giáo hội thời nay không còn bận tâm đến những ai không có cùng phụng vụ chung với mình, dù người anh chị em tách biệt đó thuộc về một phái khác hay có khi cùng phái với mình. Một điển hình là, khi giảng dạy cho các chủng sinh Công giáo La Mã thời nay, tôi thấy họ dửng dưng với vấn đề đại kết. Đối với nhiều chủng sinh ngày nay, đây không phải là một vấn đề đáng quan tâm đặc biệt. Đáng buồn thay, điều này cũng đúng đối với hầu hết mọi Kitô hữu trong mọi phái.

Nhưng tính dửng dưng này về bản chất là đi ngược với tinh thần Kitô. Hợp nhất nên một là điều Chúa Giêsu canh cánh trong lòng. Ngài muốn tất cả con cái của Ngài ngồi cùng một bàn, như trong dụ ngôn này:

Một người đàn bà có mười đồng xu và đánh mất một đồng. Bà quá đỗi lo lắng và bồn chồn, bà đi tìm ráo riết đồng xu bị mất, bà thắp đèn, tìm dưới bàn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được. Cuối cùng bà tìm thấy đồng xu đó. Bà vui như phát cuồng, gọi tất cả hàng xóm đến và tổ chức một bữa tiệc để ăn mừng, tốn kém hơn rất nhiều giá trị đồng xu bà mất. (Lc 15, 8-9)

Tại sao lại quá đỗi lo lắng khi mất đi, và quá đỗi vui mừng khi tìm được một đồng xu vốn chẳng có giá trị bao nhiêu? Câu trả lời nằm ở tính biểu tượng của nó: Trong văn hóa Do Thái, số 9 không phải là số toàn vẹn, số 10 mới là con số toàn vẹn. Nỗi bồn chồn khi đánh mất và niềm vui khi tìm thấy, không quan trọng ở giá trị của đồng xu, nhưng ở giá trị của sự toàn vẹn, một sự toàn vẹn quan trọng trong đời của bà đã bị rạn vỡ, một tập hợp quý báu đã không còn toàn vẹn. Từ đó, có thể kể lại dụ ngôn trên như thế này:

Một phụ nữ có mười người con. Mối quan hệ của bà với chín trong mười đứa con thật tốt đẹp, nhưng lại có một đứa con bị xa lánh. Chín đứa con này của bà đều đặn ngồi chung bàn ăn gia đình, nhưng đứa con kia thì không. Bà không thể để tình trạng này tiếp diễn, bà cần đứa con bị xa lánh đó ngồi chung bàn với chín người con kia. Bà cố gắng tìm đủ mọi cách để hòa hợp với con mình, và rồi một ngày, phép lạ xảy ra, điều bà muốn đã thành sự thật. Đứa con đó trở về lại với gia đình. Bây giờ, gia đình của bà đã được nên trọn vẹn, tất cả mọi người đều ngồi cùng bàn với nhau. Người phụ nữ quá đỗi vui mừng, đi rút hết tiền tiết kiệm, và tổ chức một bữa tiệc xa hoa để mừng sự toàn vẹn này.

Đức tin Kitô giáo đòi hỏi chúng ta, phải như người phụ nữ đó, nghĩa là cần phải biết bồn chồn lo lắng, phải thắp đèn tìm kiếm, cho đến khi Giáo hội lại được nên một. Chín không phải là con số toàn vẹn. Và con số những người trong giáo hội riêng của chúng ta cũng như vậy. Công giáo La Mã không phải là một con số toàn vẹn. Tin Lành không phải là một con số toàn vẹn. Các Giáo hội phái Phúc âm không phải là một con số toàn vẹn. Các Giáo hội Chính thống không phải là một con số toàn vẹn. Không một phái Kitô giáo nào là một con số toàn vẹn. Phải hợp cùng với nhau, chúng ta mới làm nên một con số toàn vẹn.

Do đó, chúng ta phải tự chất vấn những câu hỏi không mấy dễ chịu: Ai không cùng đi lễ với chúng ta? Ai cảm thấy khó chịu khi phụng vụ chung với chúng ta? Chúng ta có thoải mái khi có quá nhiều người không đến dự lễ trong nhà thờ của chúng ta nữa hay không?
Đáng buồn thay, ngày nay, có quá nhiều người trong chúng ta cảm thấy thoải mái với những giáo hội, vốn rất, cực kỳ rất, không toàn vẹn. Đôi khi, trong những lúc thiếu suy nghĩ hơn, chúng ta lại vui vì sự bất toàn vẹn này: “Dù sao, họ không phải là Kitô hữu thật! Chúng ta sẽ tốt hơn khi không có họ! Cứ như thế này sẽ bình yên hơn! Giáo hội của chúng ta sẽ nguyên tuyền hơn, thành tín hơn khi không có họ! Chúng ta là thành phần chân chính nhất của đạo!”

Nhưng nếu không có niềm khát khao tốt lành hướng đến sự toàn vẹn này thì chúng ta sẽ bị tha hóa, tha hóa cả lòng chân thành lẫn tư cách môn đệ Chúa Giêsu của chúng ta. Chúng ta là những người biết yêu thương cách chính chắn, và là môn đệ thật của Chúa Giêsu, khi, và chỉ khi chúng ta, học như Chúa Giêsu, luôn luôn khóc thương vì những “con chiên khác không ở trong ràn này”, và khi chúng ta như người phụ nữ mất đồng xu, không thể chợp mắt cho đến khi lục tung hết mọi ngóc ngách trong nhà, miệt mài tìm kiếm cho bằng được những gì đã mất. Cả chúng ta nữa, chúng ta phải khát khao tìm kiếm sự toàn vẹn đã mất của mình.

Thiên Chúa bất bạo lực

Trong quyển sách minh triết sâu sắc của mình, quyển Vén màn bạo lực, Gil Bailie viết cho chúng ta đọc một phần đáng kinh ngạc trong tập nhật ký của thuyền trưởng James Cook, nhà khoa học và nhà thám hiểm lừng danh người Anh. Năm 1777, khi đến hòn đảo Tahiti, một ngày nọ, ông được Tộc trưởng bộ lạc ở đây mời đến xem nghi lễ sát tế một người đàn ông để họ dâng lên thần Eatooa. Sát tế người đàn ông này trong hy vọng thần Eatooa sẽ nâng đỡ bộ lạc trong cuộc chiến sắp xảy ra. Cook, dù thân thiện với sắc tộc này, ông không thể giấu giếm sự ghê tởm với hành động mà ông xem là vừa man rợ vừa mê tín. Sau đó, trong một buổi nói chuyện với tộc trưởng, qua người thông dịch, ông nói rằng, nếu việc này xảy ra tại Anh quốc, người ta sẽ treo cổ ai đã làm những việc này.

Đối với ông, ý tưởng giết một ai đó để xoa dịu Thượng đế là một việc ghê tởm. Nhưng, có một điểm thật sâu cay trong chuyện này, mà khi làm rõ ra, chúng ta mới thấy rằng, chúng ta chưa bao giờ ngưng việc giết người dưới danh nghĩa Thiên Chúa, chúng ta chỉ thay đổi tên gọi mà thôi. Thổ dân gọi đó là sát tế, chúng ta gọi đó là án tử hình. Trong cả hai trường hợp, đều có người phải chết, vì chúng ta thấy rằng Thiên Chúa cần và muốn cái chết này xảy ra vì một lý do thần thánh nào đó.

Tất cả mọi người, cho đến tận ngày hôm nay, đều đã luôn luôn gây nên những chuyện bạo lực với danh nghĩa Thiên Chúa, và tin rằng bạo lực đó không chỉ hợp lý mà thật sự còn là điều Thiên Chúa đòi buộc. Lập luận của việc này là, Thiên Chúa cần chúng ta làm những việc bạo lực này cho Ngài.  Vì thế, trong các nền văn hóa cổ thường hay có việc giết người để tế thần. Ở thời Trung cổ, Giáo hội Kitô có Tòa dị giáo, họ tin Chúa muốn chúng ta giết những người vi phạm giáo lý. Ngày nay, chúng ta thấy một dạng mới của tâm thức này trong các nhóm Hồi giáo cực đoan, họ  tin Thượng Đế muốn những người vô đạo bất kể loại nào đều phải chết để nhằm làm trong sạch tôn giáo.

Chúng ta đã và đang luôn luôn bào chữa cho việc giết người và đủ loại bạo lực khác bằng danh nghĩa Thiên Chúa, và chúng ta thường trưng ra các bản văn trong Kinh thánh, có vẻ như nói rằng Thiên Chúa hạ lệnh dùng bạo lực dưới danh nghĩa của Ngài. Nhưng, chúng ta đã sai. Dù có nhiều bản văn, xét qua có vẻ ngụ ý như Thiên Chúa ra lệnh dùng bạo lực (nhưng về bản chất chúng là kiểu biểu tượng và theo thuyết nhân cách thần, không thể dùng để biện hộ cho cách suy diễn như thế được), nhưng chúng ta sẽ thấy, nếu đọc Kinh thánh từ đầu cho đến cuối, một mặc khải tiệm tiến (hay ít nhất, về phần chúng ta, là một nhận thức tiệm tiến) về sự bất bạo lực của Thiên Chúa, một mặc khải kết lại trong Chúa Giêsu, Đấng đã chứng tỏ một Thiên Chúa triệt để bất bạo lực. Ý niệm sai lầm của chúng ta về Thiên Chúa trong Cựu Ước, một Đấng dường như đã ra lệnh hủy diệt đến cùng nhiều dân tộc, ý niệm này thực sự quá ban sơ và mê tín khi đặt cạnh khái niệm về Cha của Chúa Giêsu, Đấng đã gởi con mình đến thế gian trong hình hài một hài nhi yếu ớt, và rồi để Ngài bất lực chết trước mặt một đoàn dân đang cất giọng nhạo cười. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải là Đấng tuyệt không có bạo lực, và Ngài còn yêu cầu chúng ta đừng làm những chuyện bạo lực dưới danh Ngài.

Tôi xin đưa ra một ví dụ: Trong Tin mừng theo thánh Gioan (8, 2-11) có kể câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang tội ngoại tình. Thánh Gioan kể lại câu chuyện như sau: Một đám đông những người ngoan đạo đưa cô đến với Chúa Giêsu và bảo Ngài rằng họ đã bắt quả tang cô phạm tội ngoại tình, và ông Môsê  (người trung gian cao nhất của Chúa) đã ra lệnh cho họ rằng, với tội này, cô phải bị ném đá đến chết. Về phần mình, Chúa Giêsu chẳng nói gì, mà chỉ ngồi xuống, bắt đầu lấy ngón tay viết trên mặt đất. Rồi, ngước lên, Ngài bảo họ rằng: “Ai trong các ngươi không có tội, thì hãy lấy đá ném trước đi!” Rồi ngài lại ngồi xuống và lại lấy tay viết trên cát. Thật không thể tin được, họ đã hiểu được ý Ngài, mà vứt đá đi rồi bỏ về.

Chuyện gì đã xảy ra? Điểm mấu chốt để giải thích chuyện này là ở việc Chúa Giêsu lấy ngón tay viết trên mặt đất. Ai viết bằng ngón tay mình? Ai viết hai lần? Chính là Thiên Chúa. Và sự được Thiên Chúa viết bằng ngón tay và viết hai lần, chính là Mười Điều răn, và Ngài đã phải viết lần thứ hai vì lần thứ nhất ông Môsê đã “phá vỡ” nó. Từ đỉnh núi đi xuống, ông mang theo hai phiến đá giới răn, ông thấy dân đang thờ ngẫu tượng và trong cơn kích động vì lòng đạo và luân lý, ông đập vỡ hai tảng đá giới răn lên con bò vàng và lên đầu dân. Môsê là người đầu tiên phá vỡ giới răn và ông phá vỡ nó về mặt thể lý, ông nghĩ rằng cần phải thực thi bạo lực vì Thiên Chúa. Rồi, khi đã phá vỡ hai phiến đá giới răn, ông phải lên núi một lần nữa, và xin Thiên Chúa viết lại, nhưng trước khi viết lại cho ông, Thiên Chúa truyền cho ông một mệnh lệnh nghiêm khắc: Đừng đập lên đầu dân bằng Mười điều răn! Đừng bạo lực dưới danh nghĩa của Ta!  Những người muốn ném đá người phụ nữ phạm tội ngoại tình, đã hiểu ra được động thái của Chúa Giêsu. Còn ông Môsê, người trung gian của họ thì lại hiểu sai.

Dù thế, chúng ta quá thường, bằng nhiều kiểu cách khác nhau, vẫn cứ ném đá lên đầu người khác bằng giới răn, và mang niềm tin sai lầm rằng Thiên Chúa muốn sự bạo lực đó.

Mối nguy của tự khẳng định

Với tốc độ và sự thay đổi của thế giới ngày nay, với đại dương thông tin mà kỹ thuật công nghệ mới đem lại, cũng như sự thay đổi quá nhanh các kiến thức trong đời, cùng với sự chuyên môn hóa và phân mảng hóa ngày càng cao trong ngành giáo dục cao cấp, cộng thêm sự phức tạp ngày càng tăng của cuộc sống, đôi khi, mà thường là sau khi bạn đưa ra một ý kiến về chuyện gì đó, bạn sẽ nghe người khác nói: Nhưng tôi thì biết gì? Câu hỏi cho đúng là: Chúng ta thì biết gì?

Xét sơ qua, thì câu này nghe có vẻ khiêm tốn và, nếu thành thật hơn thì mô tả này có một mức độ khiêm tốn nào đó, nhưng kiểu thừa nhận này nói lên một cái gì đáng buồn: Tôi thì biết gì? Thật vậy, chúng ta có thể biết được cái gì trong đống phức tạp và xảo biện của thế giới này?

Đúng, chúng ta có thể biết quan niệm của mình, biết tâm điểm tinh thần của mình, biết tâm hồn mình, và tâm điểm thiêng liêng của mình. Xét cho cùng, chúng ta có thể biết những gì chân thật và quý giá nhất đối với mình, và đây chính là kiến thức quan trọng nhất đối với tất cả mọi người. Chúng ta có thể biết những gì là tột cùng quan trọng. Bên cạnh hiểu biết mơ hồ mà chúng ta có về Thiên Chúa, thì hiểu biết về quan niệm của mình, về tâm điểm tinh thần của mình, chính là điều quan trọng nhất trong số những gì chúng ta đã nhận thức được. Thật vậy, nhận thức về tâm điểm riêng của mình chính là được gắn chặt mật thiết với nhận biết về Thiên Chúa.

Đây là điều mà chúng ta cần nhấn mạnh thời nay, vì có quá nhiều thế lực quanh và trong chúng ta đang hợp nhau để xô đẩy chúng ta xa khỏi tâm thái tỉnh thức, ra khỏi sự chú tâm vào tâm điểm thâm sâu nhất của mình, có nghĩa chúng đang đẩy chúng ta ra khỏi sự gắn kết với bản chất thật của mình. Khi chân thành thú nhận, chúng ta phải công nhận rằng thật quá khó để thật sự thành tâm và thật quá khó để hành động theo trọng tâm của mình, để không bị cuốn theo các hệ tư tưởng, các dư luận, kiểu cách đương thời, những mốt, hay những khái niệm có sẵn về chính mình mà những người xung quanh bơm cho chúng ta. Thường thì thái độ và hành động của chúng ta không thực sự phản ánh con người chúng ta. Đúng hơn, nó phản ánh hình ảnh của bạn bè chúng ta, những trang báo và trang mạng chúng ta vừa đọc, cũng như các bản tin và bài nói chuyện trên đài mà chúng ta thích nghe. Cũng thế, chúng ta thường tự nhận thức mình như một con người mà gia đình, bạn học, đồng nghiệp, bạn bè đã nhận định hơn là chính thực tại thâm sâu nhất trong chúng ta. Ngay từ thơ ấu, chúng ta đã hấp thụ những ý niệm về mình: “Con là đứa sáng sủa! Con là đứa ngu ngốc! Con nổi loạn! Con nhút nhát! Con ích kỷ! Con sợ sệt! Con chậm chạp! Con suy nghĩ nhanh! Con là kẻ thất bại! Con tệ hại! Con tốt! Số con sẽ tốt! Số con sẽ xấu!

Và như thế thách thức của chúng ta là phải nhận thức và hòa mình hơn vào quan niệm riêng, trọng tâm thiêng liêng riêng của mình, để gắn kết hơn với những gì, cho đến tận cùng, là chân thật và quý giá nhất đối với chúng ta. Một phần không nhỏ của việc này là đòi hỏi phải chống lại việc tự xác định mình, chống lại việc tự họa bản thân mình và hành động theo hình mẫu mà chúng ta tự thu vén cho bản thân, nghĩ mình là người sáng láng, ngu ngốc, nổi loạn, nhút nhát, ích kỷ, rộng lượng, người xấu, người tốt, người thành công, người thất bại, hay một người cần phải thốt lên rằng: “Nhưng tôi thì biết gì?” Để làm được như thế, chúng ta phải trả một giá thế nào đây?

Trước tiên, phải coi lại và chọn lọc cả lòng từ bi và hận thù của chúng ta. Chúng ta tôn trọng một số việc và người nào đó, giận ghét một số việc và người nào đó khác, lý do không phải họ hợp hay chống với những gì quý giá nhất của chúng ta, nhưng vì họ hợp hay chống với hình ảnh chúng ta có về mình. Khi đó, chúng ta không chỉ đánh mất cái tôi thật sự của mình, mà con đánh mất tính cá biệt của mình. Trớ trêu thay, các hệ tư tưởng, dư luận, kiểu cách đương thời, suy nghĩ bè nhóm, các hình ảnh cường điệu, cuối cùng, chúng sẽ chôn chặt chúng ta trong biển vô danh, đánh đồng. Nói theo câu chữ của René Girard là: Khi khao khát muốn được khác biệt, cuối cùng, điều không tránh khỏi là chúng ta kết thúc ở cùng một biển sâu thẳm! Chỉ cần nhìn vào mốt đương thời, kiểu đội mũ ngược là thấy sự thật này.

Làm sao chúng ta có thể tự xác định bản thân cho đúng, để không bị trệch đường, làm cho chúng ta không còn nhận thức được ánh sáng riêng của mình! Dạng tự xác định nào có thể giúp chúng ta thoát khỏi các hệ tư tưởng? Làm sao để khi nghĩ về mình, chúng ta không bị hình ảnh đã được hấp thụ trong thời thơ ấu áp đặt lên chúng ta khi chúng ta đã trưởng thành, để, nói như ông William Stafford nói, chúng ta đủ lành mạnh để một cái nhún vai tầm thường, một lời nói bội bạc nhỏ sẽ không thể phá đi sức khỏe mỏng manh của mình, đẩy các lỗi lầm khủng khiếp thời thơ ấu cuốn ngập lại chúng ta về qua lối đó?

Không dễ có câu trả lời cho điều này, nhưng tôi có một gợi ý: Vào thời đầu khi đi rao giảng, khi dân chúng đang thắc mắc hỏi Gioan Tẩy Giả là ai, họ đến hỏi ông: “Ông là ai?” Họ hỏi tiếp: “Ông là Đức Kitô? Ông là tiên tri Êlia? Ông là ngôn sứ?” Thánh Gioan trả lời, tôi không là ai trong số các người này. “Vậy thì ông là ai?” họ gặng hỏi cho bằng được. Gioan trả lời: “Tôi là tiếng vang trong hoang mạc!” Chỉ có thế thôi, không hơn khơng kém!

Đó chính là hình ảnh tự khẳng định lành mạnh và khiêm tốn thật sự, không một góc khuất buồn bã nào.

Mười quyển sách yêu thích của tôi năm 2013

Thị hiếu thì không tranh cãi. De gustibus non est disputandum. Câu nói nổi tiếng của thánh Augustino đã khoá mọi tranh cãi, thị hiếu là chủ quan, những gì người này yêu thích không nhất thiết người kia phải thích theo. Vì thế, tôi xin giới thiệu những quyển sách sau đây. Trong số những quyển sách tôi đọc năm 2013, có 10 quyển đặc biệt nhất. Và, không chắc thị hiếu của bạn có giống của tôi hay không, tôi cũng xin mạn phép đưa ra đây.

Trong số các tiểu thuyết đã đọc, tôi đề cử:

Tập truyện – Thân gởi cuộc đời (Dear Life), của Alice Munro: Loại truyện này sẽ không mang lại cảm giác thoải mái về mặt đạo đức cho bạn nhưng nó sẽ làm cho đầu óc bạn được mở mang. Đạo đức là bản chất mọi sự. Munro có lẽ đã đặt tên cho những truyện này là – Thế là thế đó! Nhờ xuất bản tiểu thuyết này, bà đã đoạt giải Nobel Văn học, và chẳng ai ở Canada ngạc nhiên vì điều này.

Hành vi Trốn tránh (Flight Behavior), của Barbara Kingsolver là tiểu thuyết nói về việc trái đất nóng lên, đây không phải là chuyện ai cũng hứng thú, nhưng mọi người sẽ học được nhiều điều từ nó. Ngoài thông điệp đạo đức gởi gắm, một điều còn quan trọng hơn, đó là ánh đèn chớp tác giả rọi chiếu vào cuộc sống bình thường. Chuyện được kể từ góc nhìn của một bà mẹ trẻ, bị vướng trong cảnh đói nghèo, nản chí vì thiếu học, thiếu cơ hội lựa chọn, Kingsolver đã khéo léo đưa ra trần trụi một trái tim con người, với cả những cám dỗ và nhân đức.

Mái ấm (Home), của Toni Morrison. Morrison là một tác giả không dễ đọc và những dòng truyện của bà không phải lúc nào cũng dễ theo dõi, nhưng ngòi bút của bà thật nghệ thuật, hay nhất, và ngôn ngữ của bà truyền tải một màu sắc và cảm giác mà ít tiểu thuyết gia nào bì kịp. Thật không công bằng khi chưa có giải Nobel Văn học cho bà.

Về loại sách tự truyện và lịch sử, tôi đọc những quyển sau:

Hammarskjold, Một cuộc đời (Hammarskjold, A Life), của Roger Lipsey. Lipsey dùng cả núi tư liệu từ các bài báo và thư từ trao đổi của Dag Hammarskjold đã cho thấy Hammarskjold là tất cả những gì được ngụ ý trong quyển Markings, và còn hơn nữa. Hammarskjold, vừa trong tư cách là người của công chúng, vừa trong đời sống riêng của mình, đã cố gắng noi theo những gì cao cả trong đời. Quyển sách dày 800 trang về một tâm hồn cao thượng thật đáng bỏ công để đọc.

Kinh hãi thiêng liêng, Raissa Maritain, Sức lôi cuốn của Đau khổ và cuộc Phục hưng Công giáo ở Pháp quốc (1905-1944) (Sacred Dread, Raissa Maritain, the Allure of Suffering and the French Catholic Revival), của Brenna Moore. Quyển này không dễ đọc, nhưng nếu ai quan tâm đến thế giới của Maritains, Leon Bloy, Charles Peguy, và cuộc Phục hưng Công giáo ở Pháp vào đầu thế kỷ XX sẽ có được một cái nhìn rõ ràng sâu sắc hơn về thế giới đó.

Thập giá vùng hoang vu (Cross in the Wilderness), của Kay Cronin. Đây là một quyển sách cũ, xuất bản năm 1960, bây giờ chỉ tìm được ở thư viện mà thôi. Với quyển này, Cronin lần theo lịch sử của các nhà truyền giáo dòng Hiến sĩ đã đến Oregon và Columbia thuộc Anh và đã xây các nhà thờ ở đây. Tôi thật sự được tiếp thêm sức mạnh nhờ những tấm gương quên mình và lòng dũng cảm của họ và những gì họ đã làm được. Nhiều người trong số họ là những trí thức Pháp, được gởi đến vùng đất hoang mà không được chuẩn bị gì nhiều, họ đã sống sót nhờ vào lý tưởng, bền gan vững chí và đức tin, trong khi họ không có nhà ở, không có gì để ăn, không có bác sĩ săn sóc. Đọc chuyện của họ làm cho tôi, hơn bao giờ hết, thấy tự hào vì mình là một tu sĩ Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ.

Người con gái đi tìm cha, Người bí ẩn (The Shadow Man, A Daughter’s Search of Her Father), của Mary Gordon. Chúng ta chỉ hiểu được mình khi hiểu được cha mẹ mình và cách mà các đức tính và sự yếu đuối của họ đã định hình tâm hồn chúng ta. Mary Gordon, giỏi hơn hầu hết mọi người, đã có thể làm được việc đó. Nhiều người trong chúng ta đã đọc quyển sách thông tuệ bà viết về mẹ mình, quyển Xoay quanh Mẹ tôi (Circling my Mother). Quyển này, bà cũng làm như thế về cha mình. Cách bà hiểu cha mình sẽ giúp chúng ta hiểu được người cha của chính chúng ta.

Về sách thiêng liêng, tôi xin giới thiệu nhiều hơn:

Sự an ủi trong Đường lối thiêng liêng mãnh liệt của Cảnh vật, Hoang mạc và Đồi núi (The Solace of Fierce Landscapes, Desert and Mountain Spirituality), của Belden C. Lane. Quyển này gần với dòng văn của quyển Mánh lới tâm hồn (Soulcraft) của Bill Plotkins. Tác giả cho chúng ta hiểu rõ về vai trò quan trọng của địa lý trong việc định hình tâm hồn chúng ta, và cũng nói qua về cách chúng ta có thể tự đặt chính mình một cách có chủ đích hơn vào khung cảnh đó. Với Lane, linh đạo không phải là một việc có thể thực hiện trong các trung tâm cầu nguyện gắn máy lạnh. Mà phải là trong tự nhiên, hoang mạc, trong cơn gió và mặt trời để gột rửa tâm hồn và thể xác chúng ta.

Tái khám phá các giá trị – về Phố Wall, Phố Chính, và Con phố của bạn, Kim chỉ nam luân lý cho nền Kinh tế mới (Rediscovering Values – On Wall Street, Main Street, and Your Street, A Moral Compass for the New Economy), của Jim Wallis. Quyển sách này là một lời cảnh báo: Nó sẽ làm cho bạn khó chịu nếu bạn là người bảo thủ về mặt tài chính, nhưng nếu như thế, bạn hẳn sẽ muốn đi vào thách thức này. Wallis gần như là kiểu “Dorothy Day” của thế hệ chúng ta.

Công dân của Thế giới, Đau khổ và Đoàn kết trong thế kỷ XXI (Citizen of the World, Suffering and Solidarity in the 21st Century), của Donald H. Dunson và James A. Dunson. Socrate đã nói, trước tiên và trên hết, ông là công dân của thế giới, sau đó, mới đến là công dân của thành phố Athens. Làm sao chúng ta mở rộng quả tim và lòng biết ơn để sống một tinh thần công dân rộng lớn hơn sắc tộc, quốc tịch, lịch sử, địa lý, tư lợi, và quan hệ tự nhiên của mình? Donald và James Dunson cố để trả lời cho câu hỏi này, và họ đã làm với một sắc thái phi thường. Quyển sách này là một kim chỉ nam đạo đức chân thật, đúng là lời ngôn sứ. Các ngôn sứ tốt không phỉ nhổ bạn vì tội lỗi, mà họ làm cho bạn muốn trở nên một con người tốt đẹp hơn.

Một lần nữa, tôi xin nói: “Thị hiếu thì không tranh cãi.” De gustibus non est disputandum.

Giáng Sinh – Những gốc gác tối sáng và những hệ quả tối sáng

Nếu có ai chưa bao giờ nghe kể về Chúa Giêsu đến hỏi chúng ta về nguồn gốc của Ngài, tôi nghi rằng chúng ta sẽ bắt đầu kể chuyện truyền tin và việc sinh hạ, rồi kết thúc bằng chuyện sống lại và lên trời. Kể như thế cũng là tóm tắt được cuộc đời của Ngài, nhưng đó không phải là cách Tin mừng bắt đầu hay kết thúc câu chuyện. Câu chuyện về Chúa Giêsu và ý nghĩa của Giáng Sinh chỉ có thể hiểu được khi xem lại gốc gác của Ngài, gia phả và cách mà câu chuyện của Ngài vẫn tiếp diễn trong lịch sử. Thật vậy, đó là cách mà Tin mừng kể lại câu chuyện đời Ngài.

Tin mừng thánh Gioan bắt đầu bằng cách kể lại nguồn gốc bất diệt của Ngài trong Thiên Chúa trước khi Ngài ra đời. Với Gioan, gia phả của Ngài chỉ có ba thành viên: Ba Ngôi Thiên Chúa: Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Tin mừng theo thánh Maccô không đưa ra phả hệ nào, chỉ bắt đầu bằng lời rao giảng công khai của Chúa Giêsu, và cũng không có kết thúc câu chuyện đời Ngài. Với Maccô, câu chuyện của Chúa Giêsu vẫn còn tiếp diễn. Hai thánh sử Matthêu và Luca đưa ra một gia phả dài, gốc gác của Ngài. Chúng ta thường có khuynh hướng bỏ qua danh sách phả hệ dài dòng với những tên khó đọc này, với chúng ta, nó chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng, học giả kinh thánh lừng danh Raymond Brown đã nhiều lần nhấn mạnh, chúng ta sẽ không thực sự hiểu câu chuyện Chúa Giêsu nếu không hiểu được tại sao gia phả với danh sách tên tuổi dài dòng này lại được xem là quan trọng.

Nhìn vào danh sách tỉ mỉ các tên cổ, chúng ta học biết được cái gì? Abraham là cha của Issac, Issac là cha của Giacóp, Giacóp là cha của Giuđa, Giuđa là cha của Perez và Zerah, con của bà Tamar, Perez là cha của Hezon, Hezon là cha của Ram, Ram là cha của Amminabab… và còn nữa, còn nữa. Giữa những giá trị khác, gia phả tìm gốc gác Chúa Giêsu cho chúng ta biết câu chuyện thật cuộc đời của Ngài không bị xuyên tạc bởi bất kỳ ai muốn tin rằng gốc gác con người của Chúa Giêsu là hoàn toàn không tì vết, chẳng dính chút tội hay yếu đuối nào. Chúa Giêsu không được sinh ra từ một gia tộc với các tổ tiên hoàn toàn thánh thiện. Đúng hơn, gia tộc của Ngài có cả tội nhân lẫn thánh nhân. Trong các tổ tiên của Ngài, có kẻ nói dối, ngoại tình, sát nhân, đoạt quyền, đàn bà mưu hiểm, quân vương độc ác, viên chức giáo hội thối nát, và đủ mọi tội lỗi. Các thể chế tôn giáo quanh Ngài cũng vậy. Lịch sử tôn giáo của Do Thái giáo, môi trường Chúa Giêsu được sinh ra, cũng có cả ân sủng và tội lỗi, với các thể chế tôn giáo phụng sự Thiên Chúa và phụng sự cả cho ý muốn con người nữa.

Vậy, với tất cả những điều này, chúng ta học ở đây điều gì? Đó là: Cả những con người và thể chế mà từ đó Chúa Giêsu sinh ra, đều pha trộn vừa ân sủng vừa tội lỗi, một pha trộn trao truyền sự che chở của Thiên Chúa và lại cũng hợp lý hóa ân sủng đó cho lợi ích riêng của mình. Nhưng, chính từ hỗn hợp này, Chúa Giêsu được sinh ra. Với những ai sùng đạo, đúng là tai tiếng khi phải chấp nhận không phải tất cả mọi sự nảy sinh ra Giáng Sinh đều tinh tuyền. Và những chuyện xảy ra nối tiếp trong đời Chúa cũng vậy. Sứ mạng nơi trần thế của Ngài phần nào cũng được định hình và đẩy mạnh bằng thói tư lợi của các giới chức tôn giáo thời đó, bằng sự cự tuyệt của các nhà cầm quyền thế tục, và bằng nỗi sợ hãi và bất tín của các môn đệ của Ngài. Và điều này tiếp diễn suốt hai ngàn năm lịch sử cho đến tận bây giờ. Chúa Giêsu tiếp tục nhập thế trong suốt nhiều thế kỷ không phải chỉ nhờ các thánh nhân và giáo hội chân chính. Gia phả nối tiếp Chúa Giêsu cũng là một danh sách dài thánh nhân và tội nhân, với các vị tử đạo và những kẻ âm mưu ích kỷ, với nhân đức cũng như phản bội.

Nhận ra và chấp nhận điều này sẽ không dẫn chúng ta đến thói châm biếm, để nghi ngờ bản chất của Chúa Giêsu hay nghi ngờ tính chính đáng của Giáo hội vì những dối trá, tội lỗi, bất tín, và những việc ngu ngốc thường gặp nơi những con người và thể chế Giáo hội tạo nên gia phả nối tiếp của Chúa Giêsu, những thành viên tạo thành gia đình của Ngài. Đức tin có thể điều hòa được tội lỗi và bất tín. Giáng Sinh cũng vậy.

Giáng Sinh có những gốc gác tranh tối tranh sáng và những hệ quả tranh tối tranh sáng. Giacóp đã trộm quyền trưởng nam của anh mình, Giuđa đã ngủ với con dâu của mình, Đavid đã phạm tội ngoại tình và còn mưu sát để lấp liếm tội đó, Giáo hội đã lập nên Tòa dị giáo và giết người còn nhiều hơn số người đã tử đạo trong thời sơ khai, Giáo hội đã có những giáo hoàng buôn bán phép xá giải và dâm loạn, các Giáo hội, bất chấp tính công giáo và thánh thiện của mình, đã luôn luôn hẹp hòi và ưu đãi tầng lớp có quyền, cũng như chưa bao giờ bỏ được thói tư lợi, và còn những vụ xâm phạm tình dục đã xảy ra nữa.

Nhưng mầu nhiệm tinh tuyền của Chúa Giêsu, Chúa Kitô, và của Giáo hội, theo cách nào đó, vẫn chiếu tỏa bất chấp tất cả những điều này, và trớ trêu thay, lại là bởi tất cả những điều này. Như hạt giống chôn sâu, dù là qua những người như chúng ta và qua những Giáo hội như chúng ta, ơn Chúa vẫn biểu lộ thiên tính bất chấp gần như tất cả mọi sự. Và Thiên Chúa, Đấng đã viết nên Giáng Sinh bằng những dòng cong queo, cũng viết tiếp chuyện nối tiếp bằng những dòng cong queo nữa, mà một trong những dòng đó chính là cuộc đời chúng ta.

Tỉnh thức

Trong quyển tự truyện Nói với Greco (Report to Greco) của mình, Nikos Kazantzakis kể lại cuộc nói chuyện của ông với một tu sĩ lớn tuổi. Khi còn trẻ, Kazantzakis có viếng thăm một tu viện và ông rất mến mộ một tu sĩ khổ hạnh lừng danh sống ở đó, cha Makarios. Nhưng sau nhiều lần gặp gỡ vị tu sĩ cao niên này, ông có những cảm giác vui buồn lẫn lộn. Phong cách sống khổ hạnh của vị tu sĩ đã chạm đến xu hướng lãng mạn tôn giáo của Kazantzakis, nhưng nó lại không hợp với ông. Ông muốn có phong cách lãng mạn nhưng theo một lối dễ chịu hơn. Và đây là cuộc đàm đạo mà Kazantzakis đã ghi lại:

– Cha ạ, cha sống một đời thật nghiêm nhặt. Con cũng muốn mình được cứu rỗi. Liệu có cách nào khác nữa không thưa cha?

– Dễ chịu hơn ư? Với nụ cười cảm thông, vị tu sĩ khổ hạnh hỏi.

– Nhân bản hơn, thưa cha.

– Một, chỉ có một.

– Là gì vậy?

– Trỗi dậy. Để trèo lên một loạt bước phải trèo. Từ cái bụng no đến cái bụng đói, từ cổ họng sảng khoái đến khát khô, từ vui mừng đến đau khổ. Thiên Chúa ở đó, nơi đỉnh chóp của cơn đói, cơn khát, và đau khổ, ma quỷ ở đó, nơi đỉnh chóp của đời sống thoải mái dễ chịu. Con chọn đi.

– Con vẫn còn trẻ. Thế giới này lại thật kỳ diệu. Con còn có thời gian để chọn lựa mà.

Vươn tay ra, vị khổ tu già chạm vào đầu gối tôi và nói:

– Tỉnh dậy đi, con của ta. Tỉnh dậy trước khi cái chết đánh thức con dậy.

Tôi sầm mặt xuống và nói:

– Con vẫn còn trẻ.

Sự chết thích người trẻ. Địa ngục thích người trẻ. Đời sống như một cây nến được thắp lên, dễ dàng bị dập tắt. Hãy cẩn thận, tỉnh dậy đi con!

Tỉnh dậy! Tỉnh dậy trước khi cái chết đánh thức con dậy. Nói một cách ít văn vẻ hơn, đó chính là chủ đề chủ đạo thực sự trong Tin Mừng. Chúa Giêsu luôn luôn bảo chúng ta tỉnh dậy, tỉnh thức, thận trọng, cảnh giác với một thực tại sâu xa hơn. Như thế nghĩa là gì? Chúng ta ngủ vùi vào sự chết như thế nào? Chúng ta tỉnh dậy và tỉnh thức như thế nào?

Chúng ta ngủ vùi? Tất cả chúng ta đều biết, thật rất khó để ý thức trọn vẹn giây phút hiện tại mình đang sống, để không ngủ quên trước những phong phú của cuộc sống chúng ta. Những xao nhãng và lo lắng của đời sống hàng ngày đã bào mòn chúng ta đến đỗi chúng ta có thói quen cho rằng những gì quý báu nhất với mình, từ sức khỏe, những kỳ diệu trong tư tưởng, tình yêu và tình bạn, và tặng vật sự sống này nữa, tất cả là chuyện đương nhiên. Theo Robert Moore, trong đời sống hàng ngày, chúng ta không những chỉ thiếu chiêm niệm và lòng biết ơn, mà theo thói quen, chúng ta còn kèm thêm cho mình một chút phẫn uất, một khủng hoảng kinh niên. Chúng ta ngủ vùi, rất ngủ vùi, cả với Thiên Chúa và với đời mình.

Làm sao để tỉnh dậy đây? Thời nay, thị trường sách có một kho văn phẩm đủ loại nói về các lời khuyên để sống giây phút hiện tại cũng như cách tỉnh thức với kho tàng nội tâm phong phú của mình. Dù có nhiều văn phẩm hay, nhưng chỉ có một số ít có hiệu quả. Nó mời gọi chúng ta sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng, nhưng đơn giản, chúng ta không thể làm như thế. Việc giữ chủ đích và nhận thức này trong suốt một thời gian dài là chuyện bất khả thi. Một nhận thức về cái chết sẽ đến, sẽ thức tỉnh chúng ta dậy, một cơn đột quỵ, đau tim, hay ung thư cũng vậy, nhưng nhận thức này chỉ duy trì trong một thời gian ngắn, nó không thể duy trì trong hai mươi, ba, bốn năm mươi năm. Không ai có thể duy trì nhận thức này luôn mãi. Không ai trong chúng ta có thể sống bảy tám mươi năm cuộc đời mà ngày nào cũng xem là ngày cuối cùng của mình. Hay là chúng ta có thể?

Sự khôn ngoan thiêng liêng cho chúng ta một câu trả lời khác: Chúng ta có thể và không thể: Một mặt, những xao nhãng, bận tâm, và áp lực hàng ngày sẽ luôn luôn có cách tác động trên chúng ta, và chúng ta, chịu tác động, sẽ ngủ quên trước những gì sâu sắc hơn và quan trọng hơn trong đời mình. Nhưng vì lý do này, tất cả mọi truyền thống tâm linh lớn đều có các nghi thức hằng ngày nhắc đi nhắc lại để giúp chúng ta tỉnh thức, giống như đồng hồ reo báo thức khi chúng ta cần.

Vì lý do này, chúng ta cần bắt đầu mỗi ngày sống bằng lời cầu nguyện. Nếu một sáng nào đó chúng ta không cầu nguyện, thì không có nghĩa là chúng ta phải chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, nhưng chúng ta có khuynh hướng lỡ mất buổi sáng đó, và mất nhiều giờ cho đến tận trưa, chúng ta kẹt trong đống tạp nhạp tâm hồn mình. Cầu nguyện trước bữa ăn cũng như vậy. Khi chúng ta không biết ơn trước khi ăn, chúng ta không làm Chúa buồn lòng, nhưng chúng ta lỡ mất cơ hội làm cho bữa ăn của mình được phong phú. Kinh phụng vụ và Phép Thánh Thể cũng có mục đích đó. Chúng gọi chúng ta ra khỏi cơn ngủ mê.

Không ai trong chúng ta có thể sống mọi ngày như ngày cuối cùng của mình. Những thương tâm, đau đầu, xao nhãng, bận rộn của cuộc sống luôn luôn đẩy chúng ta vào cơn ngủ vùi. Chuyện đó có thể tha thứ được, vì con người là vậy. Nhưng chắc chắn một điều, chúng ta có các nghi thức thiêng liêng, các đồng hồ báo thức cho tâm hồn, để giúp chúng ta tỉnh thức, để chúng ta đừng chỉ bị thức tỉnh khi phải đối diện với cơn đau tim, đột quỵ, ung thư, hay cái chết.