RonRolheiser,OMI

Tình trạng mồ côi cha nơi sâu thẳm hiện hữu của chúng ta

Những nhà nhân học cho chúng ta biết rằng, nỗi khao khát cần người cha, một khát mong khắc khoải muốn được cha chúc lành, chính là một trong những nỗi khát mong sâu thẳm nhất trong thế giới thời nay, đặc biệt là ở người nam. Hàng triệu người cảm nhận họ không được cha mình chúc lành. Robert Bly, Robert Moore, Richard Rohr, James Hillman, và nhiều người khác nữa đã cho chúng ta những thấu suốt về điều này.

Chúng ta đau khổ khi không có cha. Tuy nhiên, trong cội nguồn sâu thẳm nhất của nó, đau khổ này khác với đau khổ thiếu vắng thuần túy một lời chúc lành từ người cha thể lý của chúng ta. Chúng ta có khuynh hướng trở nên mồ côi cha theo những cách thâm sâu hơn. Vậy, như thế nào?

Khoảng 25 năm trước đây, triết gia người Pháp Jean-Luc Marion đã viết quyển ‘Thiên Chúa không Hiện hữu’, trong đó ông diễn giải rất thách thức về dụ ngôn người con hoang đàng.

Chúng ta đều biết dụ ngôn này: Người cha có hai đứa con. Đứa con thứ đến tìm người cha mà nói rằng: ‘Cha hãy cho con phần gia tài sẽ là của con.’ Và người cha đã chia gia tài cho anh. Đứa con thứ lấy phần mình, bỏ đi xa, và phung phí tài sản, sống trác táng trụy lạc. Khi đã hết sạch tiền, anh thấy mình rơi vào cảnh đói khát và nhục nhã, rồi anh quyết định về lại nhà cha, dù anh không xứng đáng và anh đã được cha chạy ra chào đón, ôm vào lòng, và đưa về nhà.

Ngang đây, bài học thật rõ ràng: Tình thương của Thiên Chúa quá rộng lớn và đầy thương cảm đến nỗi dù chúng ta có làm gì đi nữa, Ngài vẫn luôn yêu thương chúng ta. Nhiều quyển sách tuyệt vời đã nhấn mạnh điểm này, trong đó có quyển sách kinh điển, Người con hoang đàng trở về của Henri Nouwen.

Nhưng Jean-Luc Marion, với những từ ngữ cụ thể trong bản tiếng Hy Lạp, ông đã nhấn mạnh một yếu tố khác của dụ ngôn này. Bản tiếng Hy Lạp cho thấy đứa con đã đến gặp cha mình để xin một thứ còn hơn cả của cải và tiền bạc. Anh xin cha mình phần gia tài (ousia). Ousia, trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là ‘chân tính’. Anh xin cho mình, một cuộc sống, độc lập tách khỏi cha. Hơn nữa, là một người con và là người thừa kế, anh đã luôn được dùng phần tài sản đúng ra là của anh, nhưng lúc này anh muốn chiếm hữu nó, và chẳng phải hàm ơn ai hết. Anh muốn những gì chính đáng thuộc về anh, nhưng anh muốn nắm giữ chúng độc lập với cha mình, cắt đứt với cha mình, và nó là tài sản của riêng anh, sao cho anh không còn phải thấy hình bóng cha mình trong cách nhìn nhận và sử dụng cuộc đời, cũng như tự do của mình nữa. Và như dụ ngôn đã cho thấy rõ, hệ quả là, khi không còn nhìn nhận hay ý thức ơn ban như đúng một ơn ban, thì sẽ luôn dẫn tới việc sử dụng sai ơn ban đó, đánh mất sự nguyên vẹn, và rồi là hạ giá con người.

Để giải thích cho ngôn ngữ mơ hồ của Marion, tôi xin đưa ra đây những gì ông xem là vấn đề thâm sâu nhất trong câu chuyện này: ‘Đứa con đòi rằng mình không bao giờ phải thỉnh cầu nữa, hay đúng hơn là không bao giờ còn mở tay ra nhận chân tính nữa. … Anh đòi rằng mình phải chiếm hữu nó, quản lý nó, hưởng dùng nó mà không phải đón nhận và truyền giao ơn ban. Đứa con muốn mình không nợ gì cha mình hết, và trên tất cả, là không nợ ơn cha, anh muốn mình không còn có cha nữa, muốn một chân tính không cần cha, không cần ơn ban. … Và chân tính trở thành vật sở hữu hoàn toàn của chỉ riêng anh mà thôi, nghĩa là nó hoàn toàn không thuộc về người cha, tước hết quyền sở hữu của cha, không còn ơn nghĩa gì nữa, và đây chính là ý nghĩa trong việc chiếm hữu chân tính. Từ đó, nảy sinh một hệ quả tức thì: khi tước quyền sở hữu của người cha, một quyền sở hữu trao ơn ban được thành toàn trong chính nó, không thể tách rời, và như thế tước đi quyền sở hữu này cũng là mất đi ơn ban: chiếm hữu mà không có ơn ban, một sự chiếm hữu tự truất quyền sở hữu của nó. Và như thế, anh trở thành một cô nhi không có ơn cha, một bản tính thấy mình rơi vào sự hoang phí.

Vấn đề thực sự của đứa con hoang đàng, không phải là sự thèm khát của cải, cho bằng thèm khát một sự độc lập sai lầm. Anh muốn cuộc sống và tự do cho mình để tận hưởng cuộc đời hoàn toàn theo mình và cho mình, như thế nghĩa là anh đã mang chúng ra khỏi nhà cha mình. Khi làm vậy, anh đã mất cha, và mất luôn cuộc sống và tự do thật sự vì những sự này chỉ có thể có được khi chấp nhận một sự lệ thuộc nhất định. Đó là lý do vì sao Chúa Giêsu nhiều lần nói đi nói lại rằng, Ngài không thể làm gì tự ý mình. Tất cả mọi sự của Ngài và mọi việc Ngài làm đều đến từ Chúa Cha.

Cuộc sống của chúng ta không phải của riêng chúng ta. Cuộc sống của chúng ta là một ơn ban, và luôn luôn cần phải được nhìn nhận như một ơn ban. Chân tính của chúng ta không phải của riêng chúng ta, và như thế không bao giờ được tách rời chân tính đó khỏi nguồn cội, chính là Thiên Chúa, Cha chúng ta. Chúng ta có thể đi vào cuộc sống và tự do của mình, hưởng dùng chúng và những vui thú của chúng, nhưng ngay khi chúng ta tách lìa chúng khỏi nguồn cội, xem chúng như của riêng mình và chỉ riêng mình, thì sẽ xảy đến hoang phí, đói khát và nhục nhã.

Chỉ có sự sống nơi nhà Cha, và khi chúng ta bỏ nhà mà đi, thì chúng ta không còn có cha và phí mất chân tính của mình.

Cách chúng ta phản ứng lại khi bị chỉ trích và phản đối

Có bao giờ chúng ta để ý đến cách mình bộc phát phản ứng trước một đe dọa? Đối diện với mối đe dọa, các bản năng căn bản của chúng ta có khuynh hướng áp đảo, ngay lập tức chúng ta bị cứng đờ, chúng ta bắt đầu đóng tất cả các cánh cửa của sự nồng hậu, nhẹ nhàng, cảm thông có trong người.

Đó là phản ứng tự nhiên, bắt rễ sâu từ trong bản tính của chúng ta. Các nhà sinh học cho chúng ta biết, bất kỳ lúc nào có một việc hay một người đe dọa đến chúng ta, thì theo bản năng, chứng hoang tưởng trong chúng ta trỗi dậy và gây tác động, thúc đẩy chúng ta đến một nơi nguyên khởi bên trong cơ thể mình, cụ thể là, phần “con” trong chúng ta, cái tàn dư sót lại trong sự tiến hóa từ hàng triệu năm trước. Và phần “con” đó là máu lạnh. Và đó cũng là tình trạng khi chúng ta bị đe dọa.

Tôi tin rằng, điều này giúp giải thích nhiều về chứng hoang tưởng và bạo lực trong thế giới ngày nay, cũng như cho những lời cay đắng, hầu như, đang chặn đứng tất cả mọi khả thể đối thoại hữu lý thích đáng cho các căng thẳng của chúng ta hằng ngày trong phạm vi chính trị, kinh tế và giáo hội.

Chúng ta sống trong một thế giới phân cực thật cay đắng. Tất cả chúng ta đều nhìn nhận điều này, và tất cả chúng ta đều thấy rất nhiều hành vi máu lạnh trong giới chính trị, trong chính quyền, trong giới kinh tế, và đáng buồn thay, cũng có cả trong giáo hội chúng ta nữa. Những gì chúng ta thấy trong hầu hết mọi trao đổi hằng ngày, nơi sự bất đồng đóng băng, những lời hùng hồn đanh thép không thực sự mở ra đối thoại chân thành, và lại luôn luôn đối lập với lòng nhân, tử tế, và tôn trọng. Thay vào đó, chúng ta lại thấy chứng hoang tưởng, quỷ hóa những ai bất đồng với mình, nhạo báng các giá trị và thành tâm của đối thủ, kèm theo là một sự tự vệ mù quáng.

Hơn nữa, sự cay đắng và thiếu tôn trọng này, đối nghịch một trời một vực với tất cả những gì trong Tin Mừng và cả những gì cao cả trong chúng ta, nó không ngừng “thần hóa”, nghĩa là kiểu lập luận như thể đó là lệnh truyền của Thiên Chúa, vì chúng ta tin rằng những gì mình làm là vì Thiên Chúa, vì chân lý, vì quê hương, vì người nghèo, vì mẹ thiên nhiên, vì nghệ thuật, vì một sự có giá trị siêu việt. Chúng ta tin như thế là lời biện minh cho việc chúng ta đánh đồng Chúa Giêsu với chuyện tử tế thông thường. Nếu bạn nghi ngờ việc này, bạn chỉ cần mở máy truyền thanh hay truyền hình, bất kỳ kênh nào bình luận về chính trị hay tôn giáo, hoặc bạn nghe các tranh luận tôn giáo và chính trị thời nay. Theo John Shea, chúng ta thành thạo trong việc biện minh hơn là tự thẩm, nhưng rồi, chúng ta có thể thần hóa sự thiếu tôn trọng và thiếu lòng nhân căn bản của mình.

Nhưng khi làm thế, chúng ta xa rời Tin Mừng, xa rời Chúa Giêsu, và xa rời những gì tốt đẹp nhất trong chúng ta. Chúng ta đã được hoạch định để trở nên cao quý hơn cái phần “con” của mình, hơn những bản năng kế thừa từ tổ tiên thượng cổ, những thú săn mồi. Chúng ta được kêu gọi đến với một điều lớn lao hơn, được kêu gọi để đáp trả mối de dọa, bằng những cách cao hơn lối phản ứng mù quáng của bản năng.

Phản ứng của thánh Phaolô với mối đe dọa có thể là gương mẫu cho phản ứng lý tưởng của chúng ta. Ngài đã viết rằng: “Bị nguyền rủa, chúng tôi chúc lành, bị bắt bớ, chúng tôi cam chịu, bị vu khống, chúng tôi đem lời an ủi.” (1Cr 4, 12-13) Và cũng trong phần đầu thư này, thánh Phaolô còn có một lời khuyên khác về việc xử trí làm sao với những chống báng. Ngài khuyên rằng: Hãy sống đủ kiên nhẫn bên trong sự chống báng, không cần phải tự vệ, hãy để Thiên Chúa và lịch sử làm việc đó cho bạn: “Đối với tôi, dù có bị anh em hay toà đời xét xử, tôi cũng chẳng coi là gì. Mà tôi, tôi cũng chẳng tự xét xử lấy mình. Quả thật, tôi không thấy lương tâm áy náy điều gì, nhưng đâu phải vì thế mà tôi đã được kể là người công chính. Đấng xét xử tôi chính là Chúa. Vậy xin anh em đừng vội xét xử điều gì trước kỳ hạn, trước ngày Chúa đến.”

Phải thành thực thừa nhận rằng, thật khó để làm được thế này. Cái tôi bản năng của chúng ta không dễ bị khuất phục. Cũng như mọi người khác, tôi phải chật vật đấu tranh với nó. Mỗi khi tôi nghe hay đọc thấy ai đó bác bỏ những bài giảng và bài viết của tôi và xem đó là dị giáo, nguy hiểm, hay (thậm chí đau lòng hơn nữa là) một thứ nhảm nhí hời hợt, thì cái phần “con” trong tôi lại bừng bừng khuấy động, thực hiện cái phần việc nguyên thủy của nó, và các bản năng tự nhiên của tôi đau lòng thay lại chống lại con đường lớn mà thánh Phaolô đã khôn ngoan chỉ dạy. Bản năng tự nhiên không muốn cố gắng hiểu lập trường của người xem thường chúng ta, cũng không muốn chúc phúc và chịu đựng hay đáp trả một cách nhẹ nhàng. Nó muốn máu. Tôi ngờ rằng bản năng của tất cả mọi người đều như thế. Bản năng tự nhiên không dễ gì tuân theo Tin Mừng.

Nhưng, đó là thử thách, thực sự là một trong những phép thử căn tính của cương vị môn đệ Kitô hữu. Khi chúng ta hướng về cốt lõi của các lời dạy đạo đức của Chúa Giêsu, và tự hỏi, điều gì đã khiến Chúa Giêsu khác hẳn các thầy dạy đạo đức khác? Cụ thể là đòi buộc nào của Ngài là phép thử căn tính cho cương vị môn đệ đích thực?
Tôi cho rằng, tại nơi cốt lõi của các lời Chúa Giêsu dạy, có thách thức này: Tôi có thể yêu thương kẻ thù không? Tôi có thể chúc lành cho người nguyền rủa tôi không? Tôi có thể ước mong điều tốt cho người muốn điều xấu cho tôi không? Tôi có thể thực tâm tha thứ cho người đã đối xử bất công với tôi không? Và có lẽ, quan trọng nhất là, liệu tôi có thể kiên nhẫn khi rơi vào tình huống căng thẳng, đừng vội vàng tự vệ, nhưng hãy để lịch sử và Thiên Chúa làm việc đó, hay không?

Chúng ta rụt rè khi đối diện với sự phong phú của Thiên Chúa

Tuổi trẻ của tôi có những mạnh mẽ và yếu đuối của nó. Tôi lớn lên trong một nông trại ở trung tâm vùng đồng cỏ Canada, thuộc thế hệ nhập cư thứ hai. Gia đình tôi đông người, và nông trại nhỏ giúp chúng tôi đủ sống, mặc dù chỉ đủ mà thôi. Không bao giờ có dư ra đồng nào. Chúng tôi không bao giờ thiếu ăn hay thực sự nghèo túng, nhưng chúng tôi sống thanh đạm. Bạn được cho những gì bạn cần, nhưng hiếm khi có gì dư giả. Bạn chỉ có một phần chia nhất định trong món chính cũng là món duy nhất trong bữa, và một món tráng miệng, vì phải phân chia sao cho mọi người có đủ phần. Và tôi sống hạnh phúc trong hoàn cảnh này, lấy để cho đi, đó chính là ý nghĩa cuộc sống, tôi nhìn nhận rằng tất cả mọi tài nguyên đều có hạn và không nên đòi hỏi hay lấy nhiều hơn những gì cần thiết.

Và một nền tảng như thế củng cố cho tôi: Bạn trưởng thành với nhận thức, không có chuyện không làm mà ăn, bạn cần phải kiếm miếng ăn cho mình. Bạn cũng biết, không được lấy nhiều hơn phần của mình, vì tài nguyên trong thế giới này có hạn và bạn phải chia sẻ chúng với tất cả mọi người. Nếu bạn lấy nhiều hơn phần của mình, thì sẽ không có đủ cho tất cả mọi người. Tài nguyên có hạn, nên nếu ai đó lấy quá nhiều, thì sẽ có người nhận được quá ít.

Nhưng nền giáo dục này cũng có mặt trái của nó: Khi tất cả mọi thứ phải được cân đo đong đếm để bảo đảm đủ cho tất cả mọi người, bạn sẽ sống với nỗi sợ tiềm tàng rằng có thể sẽ không đủ, khi đó bạn dễ dàng rơi vào tâm thức khô kiệt hơn là dồi dào, dễ thuận theo chiều hướng bủn xỉn hơn là rộng rãi.

Một tâm thức khô kiệt hơn là dồi dào sẽ làm cho chúng ta cằn cỗi theo các cách như sau: Thứ nhất, nó làm cho chúng ta có khuynh hướng khi đứng trước sự dồi dào của đời sống, chúng ta trở nên quá rụt rè để không hồ hởi tận hưởng cuộc sống. Với tính tiết kiệm, cuộc sống quá bằng phẳng không có điểm nào nổi bật, và luôn bị ám ảnh tội lỗi khi gặp các sự tốt đẹp trên cuộc đời, đặc biệt là bất kỳ cảm nghiệm xa hoa nào, tương tự như cảm giác khó chịu của các môn đệ Chúa Giêsu khi họ trông thấy tận mắt một phụ nữ hoang đàng đã phung phí khi dùng dầu thơm đắt tiền xức chân Chúa. Trong tâm thức khô kiệt, có một cám dỗ triền miên là lý tưởng hóa sai lầm sự đau khổ và nghèo khó, đồng thời để chúng chiếm mất chỗ của ân sủng và dồi dào là tặng vật thực sự mà Chúa ban cho chúng ta. Và còn méo mó hơn nữa là do mang trong mình một tâm thức khô kiệt nên thường thường chúng ta có một khái niệm về một Thiên Chúa có hạn, và dè sẻn hơn là một Thiên Chúa hoang phí. Nhưng đó không phải là Chúa mà Chúa Giêsu rao giảng.

Tôi xin đưa ra ví dụ, một giáo sư chủng viện quen biết đã kể cho tôi nghe chuyện này: Ông dạy các chủng sinh đã nhiều năm rồi, và những năm gần đây, khi dạy về bí tích hòa giải, câu hỏi các chủng sinh thường đặt cho ông trước hết là: ‘Khi nào con có thể từ chối tha tội? Khi nào con không được ban ơn tha tội?’ Tôi tin rằng sự lo lắng biểu hiện ở đây, không phải là do ý muốn quyền lực, nhưng là một nỗi sợ thực tâm rằng chúng ta nên thận trọng trong việc trao truyền lòng thương xót của Chúa, rằng chúng ta không nên trao ơn này một cách rẻ mạt. Và tôi cũng tin rằng, những gì tiếp sức cho nỗi sợ đó chính là một khái niệm vô thức, cho rằng Thiên Chúa cũng hành động với một tâm thức khô kiệt hơn là dồi dào, và lòng thương xót của Chúa, cũng như tài nguyên của chúng ta, có giới hạn, cần phải cân đong đo đếm hết sức dè sẻn.

Nhưng đó không phải là Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải và thể hiện. Các Tin Mừng đã trình bày một Thiên Chúa phung phí hơn tất cả mọi tiêu chuẩn mà chúng ta không thể tưởng tượng ra nổi. Thiên Chúa trong Tin Mừng, là Đấng gieo hạt, vì Ngài có vô số hạt giống, rãi chúng ở khắp mọi nơi mà không phân biệt rãi ở đâu, trên đường, trong mương, trong bụi gai, trên đất xấu hay trên đất tốt. Hơn nữa, Đấng gieo hạt phung phí đó cũng là Thiên Chúa tạo dựng, là Thượng đế đã tạo dựng và tiếp tục tạo dựng hàng trăm tỉ thiên hà và hàng tỉ tỉ con người. Và Thiên Chúa hoang phí này cho chúng ta một lời mời không bao giờ tận: Hãy đến với nước này, không cần mang theo tiền bạc, không cần công trạng, vì ơn Chúa dồi dào, có sẵn, và cho không như dưỡng khí chúng ta thở.

Tin Mừng thánh Luca kể lại một lần thánh Phêrô, ngay sau khi dành cả đêm lênh đênh trên biển mà không bắt được con cá nào, thì được Chúa bảo hãy cất lưới một lần nữa, và lần này thu được một lưới đầy cá đến nỗi gần chìm cả hai thuyền. Và Phêrô đã sấp mình thú nhận mình là kẻ tội lỗi. Nhưng, đoạn Tin Mừng đã làm rõ rằng, đây không phải là phản ứng đúng đắn trước một sự quá đỗi dồi dào. Phêrô đã sợ hãi không đúng, ông muốn sự quá đỗi dồi dào đó tránh ông ra vì ông bất xứng, trong khi đó những gì Chúa Giêsu muốn ở ông là khi ông đối diện với sự quá đỗi dồi dào đó, là hãy đi vào thế gian và chia sẻ nó với người khác ân sủng không tưởng tượng nổi này.

Sự dồi dào của Thiên Chúa, là để dạy chúng ta rằng, trước ân sủng vô hạn này, chúng ta đừng bao giờ khước từ tha tội cho bất cứ ai.

Nguyện xin Nước Chúa trị đến, nhưng chưa phải lúc này

Một người bạn của tôi thích nói đùa về các nỗ lực đấu tranh của anh trong thời gian trưởng thành. Anh đùa rằng, “Khi 20 tuổi, tôi nghĩ lúc 40 tôi sẽ đủ lớn để từ bỏ những thói xấu của mình. Nhưng khi đến 40, tôi lại cho mình thêm 10 năm nữa, tự hứa đến tuổi 50, tôi sẽ khuất phục được chúng. Ừ thì bây giờ tôi đã quá 50, tôi lại tự hứa lần nữa là đến tuổi 60, tôi sẽ trưởng thành hơn và nghiêm túc hơn, cân nhắc sâu sắc hơn trong đời.”

Thành thật mà nói, hầu hết chúng ta đều tương tự như thế. Chúng ta có ý định tốt, nhưng lại tiếp tục đẩy những việc chúng ta cần thay đổi trôi dần về tương lai: Ừ, tôi cần phải làm việc này, nhưng tôi chưa sẵn sàng. Tôi muốn có thêm thời gian. Một lúc nào đó trong tương lai, tôi sẽ làm mà.

Đây là cảm nghĩ gần như chung cho mọi người, và có nguyên do tốt. Có một áp lực mà chúng ta cảm thức được giữa khao khát muốn trưởng thành với sự trì hoãn luôn mãi cũng như lảng tránh không ngừng việc đó, điều này phản ánh một căng thẳng trong tâm điểm thông điệp của Chúa Giêsu, một căng thẳng giữa những lời hứa của Chúa đã có rồi và những lời hứa đang đến. Nói đơn giản là: Tất cả mọi sự Chúa Giêsu hứa đã có rồi, và vẫn đang đến. Chúng ta đã sống trong một sự sống tái sinh mới, ngay cả khi chúng ta đang chờ đợi sự sống đó đến. Vậy nghịch lý trong này là gì?

Các học giả kinh thánh và thần học gia đã nói cho chúng ta biết rằng tất cả mọi sự Chúa Giêsu đến để ban cho chúng ta (Chúa Trị đến, Nước Thiên Chúa, Thời đại mới, Thời Cánh chung, Công lý trên mặt đất, sự sống mới, sự phục sinh, sự sống bất diệt, thiên đàng), tất cả đều đã có ở đây rồi, nhưng cũng là đang đến. Tất cả có đây rồi, nhưng chưa trọn vẹn. Là một thực tại, nhưng đang chịu áp lực. Và tất cả vẫn đang đến, trong sự viên mãn, vẫn đang đến trong niềm say mê. Tất cả đã ở đây rồi nhưng vẫn cần phải được nhận ra. Ví dụ như, khi Chúa Giêsu nói rằng Ngài đến để ban cho chúng ta sự sống mới, Ngài không đơn thuần nói rằng tương lai của chúng ta là sống trên thiên đàng, nhưng Ngài cũng nói về đời sống chúng ta ở ngay đây, ngay trong hiện tại này. Ngài quả quyết với chúng ta rằng, sự sống mới đã có rồi. Thiên đàng đã khởi đầu rồi.

Chúa Giêsu đã giảng dạy điều này rất rõ ràng, và vấn đề không phải là do những người lắng nghe đã không hiểu Ngài. Họ hiểu, nhưng hầu hết, khước từ thông điệp đó. Họ cũng hết sức mong mỏi Nước Thiên Chúa có ngay đây rồi, nhưng cũng như anh bạn tôi cứ muốn có thêm 10 năm nữa để sống cho chuẩn mực, họ thích đẩy mọi thứ về tương lai hơn. Việc Thiên Chúa trở nên cụ thể trong đời sống, là một chuyện quá kinh hãi với họ.

Gerhard Lohfink, học giả Kinh Thánh nổi tiếng, đã khéo léo trình bày rõ ràng cả sự khước từ trong lòng đối với phần thông điệp này của Ngài, và nguyên do của sự khước từ đó nữa. “Những người nghe Chúa Giêsu thích đẩy mọi thứ về tương lai, và chuyện này chẳng có kết cục tốt. Triều đại Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã rao giảng, không được người ta chấp nhận. Cái “ngay hôm nay” mà Chúa muốn ban, đã bị người từ chối. Và đó, chỉ một điều này thôi, chính là lý do vì sao cái “đã có” trở thành cái “chưa có”. …. Không phải chỉ ở Nazareth, cái “ngay hôm nay” của Tin mừng mới bị chối bỏ. Mà cả về sau, trong lịch sử Giáo hội, đã hết lần này đến lần khác đã chối bỏ và vô hiệu hóa nó. Lý do cũng hệt như nguyên do ở Nazareth ngày trước, có vẻ như đó là do bản chất con người mà Thiên Chúa không thể trở nên cụ thể thiết thực trong đời sống chúng ta. Vì nếu Thiên Chúa trở nên thiết thực, những khát khao và ý niệm của con người bị đe dọa, và những ý niệm thời gian của họ cũng mất giá trị. Chuyện đó không thể xảy ra ngay ngày hôm nay được, vì như thế chúng ta phải thay đổi đời sống ngay tức thì. Bởi thế, có thể để chuyện này ngủ yên, một cách gọn gàng hợp lý, nhưng lại là phi lý.”

Tôi cho rằng tất cả chúng ta đều có thể giống như thế: Thật đáng sợ khi Thiên Chúa trở nên “cụ thể” trong đời mình, điều này khác hẳn với việc Thiên Chúa đơn thuần là một thực thể sẽ trở nên rất thực vào một ngày nào đó. Bởi, nếu Thiên Chúa “cụ thể” ngay lúc này, thì nó có nghĩa là thế giới chúng ta phải thay đổi ngay lúc này và chúng ta không còn được đẩy mọi thứ về tương lai vô định nữa. Điều này không hẳn là một lỗi phạm đức tin, cho bằng là một sự trì hoãn, một trốn tránh, muốn có thêm chút ít thời gian nữa trước khi cần phải sống nghiêm túc. Chúng ta cũng như các vị khách được mời trong dụ ngôn Tiệc cưới. Chúng ta cũng muốn đi dự tiệc, cũng định đi dự tiệc, nhưng trước hết, chúng ta cần phải lo đám cưới của mình, lo công việc và những tham vọng của mình đã. Chúng ta có thể sống nghiêm túc sau. Có thời gian mà. Chúng ta hoàn toàn có ý muốn theo Chúa Giêsu cách nghiêm túc, chỉ là chúng ta muốn có thêm chút thời gian trước khi làm việc đó.
Tôi cho rằng, tất cả chúng ta, đều biết lời kinh nổi tiếng của thánh Âu Tinh. Sau khi trở lại Đạo ở tuổi 25, ngài phải mất 9 năm đấu tranh để cho tính dục hòa hợp với đức tin. Trong suốt 9 năm đó, ngài cầu nguyện thế này: Lạy Chúa, xin cho con thành một Kitô hữu trong sạch … nhưng hãy khoan đã!
Và công trạng của ngài là, khác với chúng ta, ít nhất, cuối cùng ngài đã thôi không đẩy mọi chuyện về tương lai không xác định thêm nữa.

Sợ sự trưởng thành của chính mình

Thể xác và linh hồn chúng ta đều có những tiến trình lão hóa riêng, và chúng không phải lúc nào cũng hợp nhau. Do đó, T.E. Laurence, trong quyển Bảy Cột trụ Khôn ngoan, đã có lời bình luận về một người thế này: ‘Anh ta sợ sự trưởng thành khi nó đến với mình, với suy nghĩ chính chắn và nghệ thuật hoàn thiện, nhưng lại thiếu tính thi vị của tuổi niên thiếu để làm nên một cái kết trọn hảo cho cuộc sống … linh hồn khả diệt trải rộng của anh đang già đi nhanh hơn thể xác, đang chuẩn bị chết trước thể xác, như hầu hết chúng ta đều vậy.’

Tôi ngờ rằng, tất cả chúng ta, ở một mức độ nào đó, đều sợ trưởng thành. Không hẳn là do chúng ta không muốn từ bỏ các thói quen tuổi trẻ, hay sợ những niềm vui của tuổi trưởng thành không bằng những niềm vui tuổi trẻ. Mà tôi tin là có một lý do sâu hơn: Như Laurence đã nói, chúng ta sợ rằng sự trưởng thành của mình sẽ tước mất đi khỏi chúng ta tính thi vị của tuổi trẻ và khiến chúng ta già trước tuổi. Vậy nghĩa là gì?

Đôi khi chúng ta nói về một tâm hồn già bên trong một người trẻ tuổi, và điều này vừa khen vừa chê, mà có lẽ nghiêng về vế sau hơn. Có những lúc, chúng ta nhìn vào một người trẻ với cơ thể đầy sức sống và tràn năng lượng, nhưng lại thấy linh hồn phát triển ngược lại với tuổi trẻ và sinh lực đó, và chúng ta không khỏi tự hỏi rằng liệu sự trưởng thành sớm đó có ngăn cản quy luật đời sống hay không. Và rồi chúng ta có những phản ứng lẫn lộn: Thật là một chàng trai trẻ trưởng thành! Nhưng phải chăng cuộc đời anh quá xám xịt và cằn cỗi trước tuổi?

Nghĩ về điều này, tôi nhớ lại một lời mà Raymond Brown từng nói khi dạy học. Và cần phải lưu ý đến bối cảnh câu nói. Đây không phải là lời nhận định của một chàng trai trẻ vẫn còn đang tìm cách gây dấu ấn trong đời, nhưng là của một người đáng trọng, thành công, và rất chính chắn khiến nhiều người phải ghen tỵ. Gần 70 tuổi, chính chắn tuyệt vời, được mọi người tôn trọng vì đủ điều, từ học vị cho đến tính chính trực, ông là một linh hồn trưởng thành. Và lời nhận định của ông đi ngược lại với nỗi sợ phảng phất rằng có thể sự chính chắn đã tước mất đi một vài thi vị niên thiếu của ông. Lời nhận định của ông có thể nói như sau:

Bạn biết là khi đến một tuổi nào đó, như tôi bây giờ, khi nhìn lại những gì bạn đã làm, đôi khi bạn bối rối lấy làm ngượng về những việc đã làm lúc tuổi trẻ, không phải là những việc đồi bại đâu, nhưng chỉ là những việc, mà lúc này đây, từ quan điểm hiện tại, có vẻ thiếu chính chắn và thiếu suy nghĩ, những việc bây giờ bạn quá khôn ngoan để không liều mạng vướng phải. Lúc nhớ lại chúng, đầu tiên bạn khá bối rối ngại ngùng. Nhưng rồi, cũng lúc đó, bạn cảm thấy tuổi tác và cả sự dè dặt của mình, có khi bạn nhìn lại và bảo: ‘Đó là việc dũng cảm nhất tôi từng làm!’ Tuyệt vời, tôi thật bạo gan! Bây giờ thì tôi e dè hơn nhiều!’

Jane Urquhart, tiểu thuyết gia người Canada, cũng đồng hưởng với cảm nghĩ này. Khi đọc một trong hững quyển sách mình viết cách đây 20 năm, bà nhận xét rằng: ‘Thật hết sức thõa mãn khi có thể lại được thấy mình là cô gái trẻ đã viết những tiểu thuyết này, và biết được rằng những gì có trong đầu cô vẫn còn khuấy động trong tôi.’ Trong lời bình luận trên, có ẩn chứa sự ngưỡng mộ hiện thời (và tôi dám nói là ghen tỵ nữa) với thi vị đã từng thổi bùng trong chính bà khi bà còn trẻ.

Tôi cũng đã có cảm giác tương tự vài năm về trước, khi quyển Quả tim Thao thức của tôi được tái bản, họ đã nhờ tôi cập nhật nó. Tôi đã viết quyển này khi mới trên 20, một người trẻ cô đơn và thao thức, phần nào tìm kiếm vị thế của mình trong đời. Còn bây giờ, gần 25 năm sau, và trưởng thành hơn đôi chút, đôi khi tôi thấy ngượng vì một vài điều tôi đã viết thời đó, nhưng cũng như Raymond Brown, tôi kinh ngạc trước khí lực của mình thời đó, và như Jane Urquhart, thật là tươi mới khi lại được thấy chàng trai trẻ đã viết quyển sách này, được cảm nhận rằng chàng có một thi vị sống động hơn và nhiệt tình hơn là con người nhiều tuổi hơn đang đọc lại trang sách đó.

Một vài người trong chúng ta không bao giờ lớn lên. Cơ thể già đi, nhưng linh hồn vẫn còn mãi thiếu chính chắn, bám chặt vào tuổi dậy thì, sợ trách nhiệm, sợ dấn thân, sợ cơ hội vụt mất, sợ tuổi già, sợ sự chính chắn của chính mình, và không kém quan trọng là, sợ chết. Đây không phải là công thức của hạnh phúc, nhưng là một công thức cho một nỗi sợ hãi, thất vọng, và cay đắng cứ lan dần trong đời. Xét cho cùng, thì ai cũng có cái không trưởng thành, và những gì được xem là dễ thương lúc 20, đa màu sắc tuổi 30, và lập dị vào tuổi 40, sẽ trở thành không chấp nhận được lúc bước vào tuổi 50. Đến một tuổi nào đó, ngay cả thi vị và nhiệt tình cũng không thể bù đắp cho sự thiếu chính chắn. Linh hồn cũng phải lớn lên.

Nhưng với một vài người trong chúng ta, mối nguy lại là chuyện ngược lại, chúng ta già trước tuổi, trở nên già nua trong cơ thể trẻ trung. Chúng ta chính chắn, có trách nhiệm, tận tâm, trông có vẻ già, và đúng mực đạo đức, nhưng lại không có thi vị, nhiệt tình, màu sắc, và hài hước, vốn là những điều cho một người trưởng thành được dịu ngọt và sống động, như loại rượu ngon ủ lâu năm vậy.

Mười bí mật hạnh phúc

Trong 5 năm qua, người ta ngày càng chú tâm nghiên cứu về hạnh phúc con người. Vô số sách xuất bản nói về chủ đề này, và trong số đó không kém nổi bật là quyển Thần thoại Hạnh Phúc của Sonja Lyubomirsky, vốn đã trở nên một kinh thánh thế tục về hạnh phúc và ý nghĩa cuộc đời cho nhiều người. Trong quyển sách mới đây, Tiếng gọi Hạnh phúc, Sidney Callahan đã định lượng phê phán nhiều nghiên cứu trên. Cho dù các nghiên cứu này có đáng giá đến đâu, thì tất cả chúng ta đều nuôi dưỡng ước mơ thầm kín của riêng mình về những điều mang đến hạnh phúc cho mình, và thường ảo tượng này khác rất xa với những gì chúng ta biết là thật. Vậy điều gì sẽ cho chúng ta hạnh phúc?

Trong một bài phỏng vấn mới đây (ngày 29 tháng 7) với tuần báo Viva của Argentina, giáo hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh về chủ đề này, và đưa ra ’10 lời khuyên’ của riêng ngài về hạnh phúc. Vây lời khuyên của giáo hoàng Phanxicô về hạnh phúc, theo cách nói của ngài là ‘để đem lại niềm vui lớn hơn cho cuộc sống’, là gì?

Khi trình bày ở đây, tôi sẽ trung thành với lời của ngài, nhưng do ngài diễn giải khá dài cho mỗi điểm, nên tôi sẽ mạo muội tổng hợp điểm trọng tâm của ngài bằng lời của tôi.

1. Sống và hãy sống

Tất cả chúng ta sẽ sống lâu hơn và hạnh phúc hơn nếu thôi đừng cố gắng sắp đặt cho cuộc sống người khác. Chúa Giêsu đòi buộc chúng ta không được phán xét nhưng hãy sống với áp lực căng thẳng đó và để Thiên Chúa và lịch sử đưa ra phán quyết. Vậy để sống, chúng ta cần sống bằng nhận thức riêng của mình và hãy để người khác cũng được như vậy.

2. Trao ban bản thân cho tha nhân

Hạnh phúc hệ tại ở việc cho đi chính mình. Chúng ta cần cởi mở và quãng đại, vì nếu rút vào bản thân, chúng ta sẽ mắc phải mối nguy quy ngã và sẽ chẳng tìm thấy hạnh phúc vì ‘nước đọng là nước độc.’

3. Hướng đến điềm đạm

Hãy làm việc với lòng tốt, khiêm nhượng, và điềm đạm. Đây là những điều đối chọi với lo lắng và sầu lụy. Điềm đạm không bao giờ gây cao huyết áp. Chúng ta cần phải nỗ lực, phải ý thức để đừng bao giờ để hiện tại gây hoang mang và vội vã quá đáng. Thà trễ còn hơn là căng thăng quá độ.

4. Nghỉ ngơi lành mạnh

Đừng bao giờ bỏ phí thú vui của nghệ thuật, văn học, và chơi đùa với trẻ con. Hãy nhớ rằng Chúa Giêsu đã làm cho người khác chướng mắt vì Ngài có thể tận hưởng cuộc sống với mọi vui thú của nó. Chúng ta không chỉ sống bằng làm việc, cho dù đó có là công việc quan trọng và ý nghĩa đến đâu đi nữa. Ở trên thiên đàng, không có công việc, chỉ có thư thái, chúng ta phải học lấy nghệ thuật và niềm vui của an nhàn, không phải chỉ để chuẩn bị cho thiên đàng mà còn để tận hưởng một phần thiên đàng ngay hiện tại.

5. Ngày chúa nhật phải là ngày nghỉ.

Các công nhân phải được nghỉ ngày chúa nhật, vì ngày chúa nhật là dành cho gia đình. Thành tựu, năng suất, và tiến độ không nên là những thứ mà chúng ta xem trọng nhất, nếu không chúng ta sẽ bắt đầu đem mọi thứ ra mà bán buôn, đời chúng ta, sức khỏe, gia đình, bạn bè, những người xung quanh chúng ta, và những sự tốt đẹp trong đời nữa. Đó là lý do vì sao Thiên Chúa cho chúng ta giới răn giữ ngày Chúa Nhật. Đây không phải là lời khuyên về lối sống, nhưng là một giới răn, cũng hệt như cấm giết người vậy. Hơn nữa, nếu chúng ta là người chủ, thì giới răn này đòi hỏi chúng ta cũng phải cho nhân công của mình có một ngày chúa nhật đúng nghĩa.

6. Tìm những cách mới để tạo việc làm phẩm giá cho người trẻ

Nếu bạn muốn chúc phúc cho một người trẻ, đừng chỉ nói với họ rằng anh ấy, cô ấy thật tuyệt. Đừng chỉ ngưỡng mộ vẻ đẹp và sinh lực của tuổi trẻ. Hãy cho người trẻ công việc của bạn! Hay, ít nhất, hãy tích cực hành động để giúp người đó tìm được một công việc ý nghĩa. Điều này sẽ vừa ban phúc cho người trẻ đó và vừa đem lại niềm hạnh phúc đặc biệt cho đời bạn.

7. Tôn trọng và chăm lo cho tự nhiên

Không khí chúng ta thở ra là không khí chúng ta hít vào. Đây là chân lý đúng cho cả đường thiêng liêng, tâm lý, và sinh thái. Chúng ta không thể nguyên vẹn và hạnh phúc khi Mẹ trái đất đang bị tước đoạt đi sự nguyên vẹn của mình. Chúa Kitô đến để cứu thế giới, chứ không phải chỉ cứu con người trong thế giới. Ơn cứu độ, cũng như hạnh phúc của chúng ta, gắn chặt với cách chúng ta đối xử với trái đất. Thật là vô luân khi tát vào mặt ai đó, và cũng vô luân khi ném những thứ rác thải của chúng ta vào mặt của Mẹ trái đất.

8. Đừng tiêu cực

Nhu cầu cần phải nói xấu ai đó cho thấy một sự thiếu tôn trọng bản thân. Những suy nghĩ tiêu cực nuôi dưỡng bất hạnh và cái nhìn xấu về bản thân mình Còn suy nghĩ tích cực nuôi dưỡng hạnh phúc và sự tự tôn lành mạnh.

9. Đừng chiêu mộ, hãy tôn trọng niềm tin của người khác

Những gì chúng ta trân trọng, và là sự thăng tiến đức tin của mình, chính là ‘nhờ sự lôi cuốn chứ không phải chiêu mộ.’ Vẻ đẹp là điều không ai có thể bàn cãi. Hãy trân quý các giá trị của bạn, nhưng luôn luôn hướng đến người khác với lòng nhân từ, tử tế và tôn trọng.

10. Làm việc vì hòa bình

Hòa bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh, và làm việc vì hòa bình không chỉ là đừng gây bất hòa. Hòa bình, cũng như chiến tranh, phải được tiến hành một cách tích cực, bằng cách làm việc vì công lý, bình đẳng, và quy tụ với tất cả mọi người là gia đình mình. Tiến hành hòa bình là một cuộc đấu tranh không dứt để mở rộng tâm hồn, của mình và của người khác, để nhìn nhận rằng trong nhà Chúa có nhiều chỗ ở và rằng tất cả mọi đức tin, chứ không chỉ đức tin của chúng ta, đều là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc.
Và tôi xin mọi người thứ lỗi nếu có ý tưởng nào của tôi thay thế ý tưởng của Đức Phanxicô.

Bước đi trên mặt nước và chìm nghỉm

Đức tin không phải là chuyện đơn giản có được. Không phải là chuyện chắc như đinh đóng cột. Mà đức tin như thế này: Có lúc bạn bước đi được trên mặt nước, và có lúc bạn chìm nghỉm như cục đá. Đức tin luôn có chỗ cho hoài nghi trước khi phục hồi sự xác quyết, rồi lại đánh mất lần nữa.

Chúng ta thấy điều này phản ánh sinh động trong câu chuyện Tin mừng về thánh Phêrô đi trên mặt nước. Chuyện như thế này: Các môn đệ vừa được chứng kiến một phép lạ lớn, là Chúa Giêsu cho 5000 người ăn từ năm chiếc bánh và hai con cá. Vừa chứng kiến một phép lạ, đức tin của họ đang rất mạnh. Không lâu sau, họ lên thuyền băng qua biển hồ. Nhưng Chúa Giêsu không đi cùng họ. Đi được một quãng, họ rơi vào cơn bão dữ dội và bắt đầu hoang mang. Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với họ. Lúc đầu họ sợ hãi vì tưởng Ngài là ma. Nhưng Ngài trấn an họ, khi từ giữa cơn bão, Ngài nói với họ, Ngài không chỉ là Giêsu mà còn là sự hiện diện của Thiên Chúa.

Ngay lập tức, Phêrô lòng đầy đức tin xin Chúa Giêsu cho ông cũng được đi trên nước như Ngài. Chúa Giêsu bảo ông cứ làm, và Phêrô đầy tự tin ra khỏi thuyền và bắt đầu đi trên mặt nước. Nhưng rồi, khi nhận ra việc mình đang làm là bất tự nhiên, ngay lập tức ông bắt đầu chìm, kêu gào xin cứu, và Chúa Giêsu đưa tay ra vớt ông lên.

Những gì minh trí ở đây là hai tâm điểm trong cảm nghiệm đức tin của chúng ta, cụ thể là, đức tin có lên có xuống, và đức tin mạnh nhất lúc chúng ta không nhầm lẫn đức tin với sức riêng của mình.

Đức tin có lên có xuống. Chúng ta thấy rõ điều này trong chuyện Phêrô đi trên nước. Lúc đầu, ông cảm nhận đức tin thật mạnh và tự tin đặt chân lên mặt biển và bắt đầu bước đi. Nhưng, gần như ngay khi nhận ra việc mình đang làm, ông bắt đầu chìm. Đức tin của chúng ta cũng y hệt như thế, có lúc đức tin cho chúng ta bước trên mặt nước, và có lúc chìm nghỉm. Hình ảnh Tin mừng về thánh Phêrô bước trên mặt nước đã tự nói lên tất cả.

Cho dù có thấy nản chí vì đức tin của mình dao động như thế, chúng ta vẫn có thể thấy an ủi nhờ những lời của Julian thành Norwich. Bà đã viết về một thị kiến của mình rằng: ‘Sau khi ngài cho tôi một niềm vui thiêng liêng tuyệt diệu nhất trong linh hồn: Lòng tôi hoàn toàn là một niềm chắc chắn không phai, được nâng đỡ mạnh mẽ và chẳng chút sợ hãi nào. Cảm giác này thật quá vui mừng và quá thiêng liêng đến nỗi tôi hoàn toàn bình an và thư thái, và chẳng có thứ gì trên đời có thể khiến tôi buồn lòng được. Việc này chỉ kéo dài được một lúc, rồi tôi bị thay đổi, tôi buông mình rơi vào sự buồn sầu lo lắng cho chính đời sống mình, khó chịu với chính mình đến nỗi tôi khó có thể đủ kiên nhẫn để sống. … Và ngay sau đó, Đức Chúa Lòng Lành lại cho tôi lòng thanh thản và nghỉ ngơi trong linh hồn, trong một niềm vui sướng và an toàn, quá hạnh phúc và quá mạnh mẽ đến nỗi không một lo sợ, buồn sầu, đau đớn thể xác nào có thể làm tôi khỗ não. Và rồi tôi lại cảm thấy nỗi đau lần nữa, rồi vui mừng hoan hỉ lại đến, lúc sự này, lúc sự kia, cứ lần này đến lần khác.’ (Quyển Bày tỏ, chương 15)

Julian thành Norwich là một nhà thần nghiệm lừng danh với một đức tin ngoại hạng, nhưng cũng như Phêrô, bà cũng quá dao động giữa việc đi trên mặt nước và chìm nghỉm. Những cảm giác tin chắc của bà đến rồi đi.

Cũng vậy, đức tin tốt nhất là khi chúng ta không nhầm lẫn đức tin với nỗ lực của chính mình. Ví dụ, trong quyển Sự Thánh thiện, Donald Nichol đã chia sẻ chuyện về một nhà truyền giáo người Anh ở châu Phi. Lúc mới đến đây, nhà truyền giáo được mời làm trung gian điều đình giữa hai bộ lạc. Ông chẳng chuẩn bị gì cho việc này, ngơ ngác và hoàn toàn không có kinh nghiệm. Nhưng ông đã dấn thân làm với đức tin, và ngạc nhiên thay, ông đã hòa giải được hai bộ lạc. Sau đó, phấn chấn vì thành công của mình, ông bắt đầu tự cho mình là một người điều đình và bắt đầu thể hiện mình là quan tòa cho các tranh chấp. Nhưng, cho đến bây giờ, những nỗ lực của ông đều vô nghĩa. Và điều thâm thúy là, khi ông không biết mình đang làm gì, nhưng ký thác hoàn toàn vào Chúa, ông có thể đi trên mặt nước, còn ngay khi đắm mình trong thành công, ông chìm nghỉm. Đức tin làm việc như thế. Chúng ta chỉ có thể đi trên mặt nước bao lâu chúng ta không nghĩ là mình đang làm việc này với sức riêng mình.

Nhà thần nghiệm Rumi, một thầy Hồi giáo Sufi, từng viết rằng chúng ta sống với một bí mật thâm sâu mà đôi khi chúng ta biết, rồi lại không biết, rồi lại biết. Đức tin là như thế, có lúc chúng ta đi trên mặt nước, có lúc chúng ta chìm nghỉm, và rồi lại đi trên mặt nước lần nữa.

Luật Nghiệp Quả

Năm 1991, Hollywood cho ra mắt một phim hài tựa đề, Những tay lõi Thành phố (City Slickers) qua tài diễn xuất của Billy Crystal. Xét về một khía cạnh nào đó, đây là một bộ phim đạo đức tuyệt vời, tập trung vào ba người đàn ông trung niên ở New York đang rơi vào khủng hoảng của tuổi trung niên.

Những người vợ quá chán nản với các đức ông chồng, nên đã tặng cho các ông một món quà, là suất tham dự cuộc đua ngựa xuyên New Mexico và Colorado. Và ba chàng thành thị này dấn vào một cuộc đua xuyên vùng hoang dã. Phần hài kịch của bộ phim tập trung vào kỹ thuật cỡi ngựa vớ vẩn, sự ngờ nghệch về ngựa cũng như về vùng hoang dã của ba chàng. Đoạn nghiêm túc nhất là lúc họ nói chuyện với nhau để cố xác định những vật lộn với việc mình ngày càng già đi và những bí ẩn lớn trong đời.

Và một này nọ, khi họ đang bàn về chuyện làm tình, một trong số ba người, Ed, nhân vật ít dè dặt đạo đức nhất, hỏi hai người kia liệu họ có phản bội vợ mình và đi ngoại tình nếu như biết được chắc rằng mình sẽ không bao giờ bị bắt tội hay không. Mitch, nhân vật do Bill Crystal thủ vai, lúc đầu trả lời câu hỏi kiểu tếu táo, chắc chắn rằng đây là chuyện bất khả thi: Bạn luôn luôn bị bắt tội! Tất cả mọi chuyện ngoại tình cuối cùng đều bị lộ. Nhưng Ed nhấn mạnh câu hỏi của mình là: “Nhưng giả sử bạn không bao giờ bị bắt tội. Giả sử bạn có thể giấu được nó suốt. Liệu bạn có lừa vợ mình mà ngoại tình, nếu như chẳng một ai biết được chuyện này, hay không?” Mitch trả lời: “Không, tôi vẫn sẽ không làm!” “Tại sao,” Ed hỏi, “chẳng ai biết mà.” “Nhưng tôi biết,” Mitch trả lời, “và tôi sẽ ghét bản thân mình vì tôi đã làm như thế!”

Có một sự khôn ngoan đạo đức ở trong câu trả lời đó. Đến tận cùng, không một ai làm chuyện gì xấu mà thoát được. Chúng ta luôn luôn bị bắt tội, ít nhất là do chính bản thân mình và do sinh lực đạo đức bên trong hơi thở của chúng ta. Hơn nữa, dù có bị bắt tội hay không, sẽ luôn luôn có hậu quả. Đây là một nguyên tắc đạo đức thâm sâu không trốn tránh được, ghi đậm trong kết cấu của vũ trụ. Và đã được cảm nghiệm vũ trụ của con người chứng thực đúng là thế. Đến cuối cùng, không một ai trốn tội được, cho dù tất cả mọi sự có chứng tỏ điều ngược lại.

Chúng ta thấy chân lý này được cưu mang trong tâm điểm của Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo, và tất cả các tôn giáo Đông phương, với khái niệm thường được gọi là Luật Nghiệp quả. Nghiệp (Karma) là một từ tiếng Phạn nghĩa là hành động hay việc làm, nhưng nó ngụ ý rằng tất cả mọi hành động, mọi việc làm của chúng ta gây nên một từ trường sức mạnh trả ngược lại cho chúng ta, cụ thể là, gieo nhân nào gặt quả ấy. Bởi thế, các chủ tâm và hành động xấu sẽ trả ngược vào chúng ta và gây nên sự bất hạnh, cũng như một chủ tâm và hành động tốt sẽ trả ngược vào chúng ta và cho chúng ta hạnh phúc, bất chấp người khác nhìn thấy và nhận thức về chuyện này như thế nào. Vũ trụ có luật riêng của mình để bảo đảm cho chuyện này.

Chúa Giêsu cũng không lạ gì với khái niệm này. Nó hiện diện khắp trong lời dạy của ngài, và có những lúc được trình bày rất rõ ràng: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy (Lc 6, 8-38)

Về căn bản, Chúa Giêsu đang nói với chúng ta rằng làn khí chúng ta thở ra cũng là làn khí chúng ta hít vào, và đây là sự thật với tất cả mọi tầm mức hiện hữu. Nói đơn giản, nếu chúng ta phát quá nhiều CO2 và CO vào không khí, thì đến cuối cùng chúng ta sẽ thấy mình bị ngột ngạt vì chúng. Và điều này đúng ở mọi mức độ đời sống. Nếu chúng ta thở ra sự chua cay, đến cuối cùng sẽ thấy mình đang hít vào sự chua cay. Nếu chúng ta thở ra sự bất lương, đến cuối cùng sẽ thấy mình đang hít vào sự bất lương. Nếu chúng ta thở ra sự tham lam và keo kiệt, đến cuối cùng sẽ thấy mình hổn hển cần một hơi quảng đại trong cái thế giới ngột ngạt bởi tham lam và keo kiệt. Ngược lại, nếu chúng ta thở ra sự quãng đại, yêu thương, chân thật, và tha thứ, đến cuối cùng, cho dù thế giới quanh mình có bất lương và hèn hạ thế nào đi nữa, chúng ta vẫn thấy đời mình ở trong một thế giới quãng đại, yêu thương, chân thật và tha thứ.

Những gì chúng ta thở ra, đến cuối cùng chính là những gì chúng ta hít vào. Đây là một chân lý không bàn cãi, khắc sâu trong cấu trúc vũ trụ, khắc sâu trong cuộc đời, trong tất cả mọi tôn giáo thật, trong mọi lời dạy của Chúa Giêsu, và trong mọi lương tâm vẫn còn nuôi dưỡng đức tin tốt đẹp.

Tìm kiếm động lực đúng đắn

Đôi khi nhìn sơ qua thì thấy mọi chuyện có vẻ tốt, nhưng nhìn sâu hơn, thì lại thấy hoàn toàn không ổn. Chẳng hạn, chúng ta có thể thấy chuyện này trong dụ ngôn về người con hoang đàng và người anh cả. Xét theo mọi biểu hiện bên ngoài, người anh cả làm tốt mọi chuyện. Anh vâng phục hoàn hảo cha mình, ở lại nhà, và làm mọi việc cha sai bảo. Không như đứa em, anh không hoang phí tài sản của cha cho gái điếm và tiệc tùng. Anh có vẻ là hình mẫu quảng đại và sống đạo đức.

Tuy nhiên, câu chuyện đã hé lộ một cách rõ ràng mọi chuyện rất không tốt. Trong khi cuộc sống của anh tốt theo vẻ bên ngoài, thì trong lòng anh thực sự lại đầy phẫn uất và cay đắng, ghen tỵ với sự vô luân của em mình. Chuyện gì đang xảy ra? Về căn bản, hành động của anh là tốt, nhưng động lực lại sai.

Nhưng, để đừng phán xét anh quá gay gắt, chúng ta cần phải có lòng thành thực mà nhận thức tất cả chúng ta đều đang đấu tranh với chuyện này, ít nhất là khi chúng ta sống đạo đức và quãng đại. Những gì điều khiển lòng cay đắng của người anh cả, chính là cái mà bà Alice Miller đã diễn tả rất tài tình, “tấn kịch của đứa con có phúc”, cụ thể là lòng phẫn uất, thương thân, và chiều hướng đạo đức trong tâm trạng cay đắng chắc chắn đang bủa vây chúng ta, những người không xao lãng bổn phận, những người ở lại nhà, và gánh vác trọng trách gia đình, Giáo hội và cộng đoàn. Đáng buồn thay, thường thì, khi hy sinh đời mình chúng ta lại không có cảm giác vui mừng và sung sướng vì đã được ơn, được có cơ hội và nhận thức đúng đắn để ở lại nhà và phục vụ, mà thay vào đó, là tâm trạng phẫn uất vì gánh nặng đè trên vai mình, vì có quá nhiều người trốn tránh gánh vác, vì có quá nhiều người trên thế giới cứ lu bù ăn chơi trong khi chúng ta cắm cúi sống ngay thẳng. Chúng ta, những người tốt và lương thiện đang đấu tranh vì sự thật và Thiên Chúa, chúng ta hay thấy tấm lòng đạo đức cay đắng đang nhuốm màu và gây hại cho cả lòng đại lượng và hy sinh của chúng ta. Nhưng tôi thông cảm: Thật không dễ để gạt cái tôi sang một bên, để bỏ qua những giấc mơ, tham vọng, tiện nghi, và thoải mái vì Thiên Chúa, sự thật, trách nhiệm, gia đình và cộng đoàn.

Làm sao chúng ta làm được chuyện này? Làm sao chúng ta noi theo được lòng trung tín của người anh cả mà không rơi vào tâm trạng ghen tị, thương thân, và cay đắng của anh? Tìm đâu ra động năng tốt để sống Tin Mừng?

Là Kitô hữu, tất nhiên, chúng ta cần phải nhìn lên Chúa Giêsu. Ngài đã sống một đời sống quảng đại và từ bỏ đến cùng, không bao giờ rơi vào tâm trạng thương thân xuất phát từ việc đã bỏ lỡ một điều gì đó trong đời. Ngài không bao giờ thất vọng hay cay đắng vì đã trao ban đời mình. Và tất nhiên, Ngài cũng không như Hamlet, biến sự từ bỏ của mình thành một bi kịch sống, thành một anh hùng xa cách và đơn độc, nhìn thì hấp dẫn nhưng không đem lại gì. Chúa Giêsu vẫn luôn luôn tự do, nồng ấm, tha thứ, không xét đoán, và sinh hoa trái. Hơn nữa, suốt đời hy sinh, Ngài luôn tỏa ra một niềm vui đánh động những người đương thời. Vậy Ngài đã có bí mật gì?

Câu trả lời mà Tin mừng cho chúng ta nằm trong dụ ngôn người cày ruộng tìm thấy kho báu, cũng như trong dụ ngôn người thương nhân sau nhiều năm tìm kiếm đã tìm ra viên ngọc quý. Trong mỗi dụ ngôn, người đó đều bán hết tất cả những gì mình có để mua kho báu hay viên ngọc. Và điểm cần phải nhấn mạnh trong cả hai dụ ngôn này là, người đó không một giây hối tiếc những gì mình đã từ bỏ, họ hành động khởi phát từ một niềm vui không thể tả vì những gì đã khám phá và những phong phú vô vàn từ đó mà ra. Cả hai đều được đổ đầy niềm vui vì cái đã khám phá ra được, đến nỗi họ không còn chú ý gì đến những gì mình đã từ bỏ.

Chỉ có như thế, thì sự hy sinh bỏ mình mới có ý nghĩa và thực sự sinh hoa trái. Nếu nỗi đau vì những gì đã hy sinh lớn hơn niềm vui vì những gì đã tìm được, cụ thể hơn, nếu chúng ta tập trung vào những gì mình mất đi và từ bỏ hơn là vào những gì mình tìm thấy, thì cuối cùng chúng ta sẽ làm những việc tốt nhưng với động năng xấu, mang thánh giá của người khác và đòi họ trả công cho mình. Và chúng ta sẽ không thể ngăn bản thân mình đừng phán xét, cay đắng, và ghen tỵ trong lòng với những người vô luân.

Đến mức độ chết đi bản thân mình để cho người khác được sống, chúng ta đang dấn vào một nguy cơ dai dẳng là rơi vào kiểu cay đắng chụp lấy chúng ta bất kỳ lúc nào cảm thấy mình đã mất đi điều gì đó trong đời. Đó là mối nguy thường trực, mối nguy nghiêm trọng, trong cương vị môn đệ Kitô hữu và trong đời sống thiêng liêng nói chung. Như thế, trọng tâm của chúng ta phải luôn luôn hướng về kho báu, về viên ngọc quý, về ý nghĩa phong phú và niềm vui đích thực, hoa trái tự nhiên của sự hy sinh thật. Và động năng vui mừng này sẽ cho chúng ta vượt thắng tâm trạng thương thân và ghen tị với những người sống vô đạo đức.

Tự vẫn – đòi lại ký ức của người thân yêu

Mỗi năm, tôi viết một bài về tự vẫn. Hầu như tôi cứ nói lui nói tới một điều, đơn giản vì đó là điều cần nói. Tôi không cần những sáng tạo hay những thấu suốt đặc biệt, tôi chỉ viết về vấn đề tự vẫn vì đó là một nhu cầu khẩn thiết cho bất kỳ ai. Hơn nữa, về phần mình, một linh mục Công giáo và là người viết khảo luận thiêng liêng, tôi thấy điều quan trọng là đưa ra được một điều gì đó để giúp xua đi nhận thức sai lầm mà nhiều người, không phải chỉ trong Giáo hội mà thôi, đang hiểu lầm về nhận định của Giáo hội đối với vấn đề tự vẫn. Nói đơn giản, tôi không phải là chuyên gia, không là người cứu vớt ai được.

Và mỗi năm, có nhiều người tìm đọc bài viết về tự vẫn này. Tôi luôn luôn ngạc nhiên và đôi khi quá phấn khởi với các phản hồi. Trong mười năm trở lại đây, tôi không nghĩ có tuần nào trôi qua mà tôi không nhận được email, thư tín, hay điện thoại từ ai đó đã bị mất người thân vì tự vẫn.

Khi nói về chuyện tự vẫn, ít nhất là với những người ở lại khi người thân yêu của họ đã từ bỏ cuộc đời, thì có những chủ đề cứ phải được nhấn mạnh hết lần này qua lần khác. Theo Margaret Atwood, đôi khi có những điều cần được nói đi và nói lại cho đến khi nó không còn cần được nói đến nữa. Vậy cần phải nói đi nói lại điều gì về tự vẫn? Đó là, trong hầu hết trường hợp, tự vẫn là một chứng bệnh, nghĩa là nó đẩy con người từ bỏ sự sống, đi ngược lại với ý muốn của họ; nó như cơn đột quỵ, như nhồi máu tim, hay ung thư về mặt tinh thần; và những người bị biến thành nạn nhân của chứng bệnh này hầu như luôn là những người rất nhạy cảm, những người vì vô số lý do quá đau khổ nên chẳng ai chạm đến được; còn những người ở lại không nên dành quá nhiều thì giờ đoán non đoán già tự hỏi liệu mình có rơi vào cảnh khốn cùng này không, và cuối cùng, vì lòng nhân từ của Chúa, vì những phân tích kỹ càng về tự vẫn, và vì các linh hồn nhạy cảm đã bị tự vẫn nuốt chửng, chúng ta không nên lo lắng quá mức về ơn cứu độ bất diệt của những người đã rơi vào hố tự vẫn.

Năm nay, được thôi thúc bởi một quyển sách đặc biệt đánh động của bác sĩ tâm thần trị liệu ở Havard, bà Nancy Rapparort, tôi muốn nói thêm một điều cần nói về tự vẫn, cụ thể là, chúng ta, những người ở lại, có phận sự chuộc lại cuộc đời và ký ức của người thân yêu đã chết vì tự vẫn. Như thế nghĩa là gì?

Nghĩa là vẫn có một dấu hằn lớn bao quanh tự vẫn. Vì nhiều lý do, chúng ta thấy thật khó để hiểu và hòa hợp được với tự vẫn. Các cáo phó hiếm khi nói ra chuyện này, mà tìm một kiểu nói trại khác khi nhắc đến nguyên nhân cái chết. Hơn nữa, và phức tạp hơn nữa, là chúng ta, những người ở lại, có khuynh hướng không chỉ chôn cất người đã chết vì tự vẫn, mà còn chôn vùi cả ký ức về người đó nữa. Chúng ta tháo các tầm hình của người đó khỏi tường, cắt xóa các bức ảnh, và luôn im lặng một cách dè dặt khi nói về nguyên do cái chết của họ. Đến cuối cùng, chúng ta không thực sự đối diện với cái chết cũng như con người của họ. Và như thế không phải là một kết thúc lành mạnh, mà chỉ như kiểu hờ hững khép lại một quyển sách vẫn còn rất nhiều thứ chưa được hoàn thành. Như vậy thật bất hạnh, một kiểu chối bỏ. Chúng ta phải làm việc để chuộc lại cuộc đời và ký ức về người thân yêu đã chết vì tự vẫn.

Đây là những gì Nancy đã làm với cuộc đời và ký ức về mẹ mình, người đã chết vì tự vẫn khi cô còn là một đứa trẻ. Sau khi mẹ mình tự vẫn, như nhiều người bị mất người thân vì tự vẫn, cô sống với một bóng tối cứ lảng vảng ám ảnh quanh cái chết của bà. Và bóng tối đó nhuốm màu lên tất cả mọi sự có liên quan đến mẹ cô. Nó cứ quẩn quanh len lỏi đến mức biến việc tự vẫn của mẹ cô thành cái xác định cho cá tính, lòng chính trực, và tình yêu của bà đối với mọi người. Việc tự vẫn, gắn chặt vào nhận thức của chúng ta, gây nên chuyện này, và nó như kiểu phản đề của một tiến trình phong thánh vậy.

Với nền tảng nhận thức này, Nancy chấn chỉnh lại suy nghĩ của mình về việc mẹ tự vẫn, tái hồi lại mối dây gắn bó với bà, và căn bản nhất, là lấy lại ký ức về bà sau khi bà tự vẫn. Những nỗ lực của Nancy cũng tương tự như chuyện của tiểu thuyết gia Mary Gordon, người viết quyển Quanh mẹ tôi (Circling my Mother), đã cố gắng để hiểu thấu chứng bệnh mất trí nhớ Alzheimer cũng như cái chết của mẹ mình. Như Nancy, Mary cũng cố gắng xác định cho đúng sự thu mình và cái chết của người thân yêu, đồng thời lấy lại ký ức về bà cho mình và cho người khác. Sự khác biệt là, với hầu hết mọi người, việc tự vẫn luôn hằn dấu và gây nhiều mất mát hơn chứng bệnh Alzheimer.

Chết vì tự vẫn, là một trong rất ít chuyện, ghi dấu nặng nề trên cuộc đời và ý nghĩa của một người, nên cần có một sự gì đó thực sự mang tính cứu chuộc để nắm bắt cho đúng dấu hằn này. Chúng ta phải làm cho người thân yêu của mình những gì Nancy đã làm cho mẹ cô, cụ thể là, chuộc lại đời sống và ký ức về họ.

Chuyến viếng thăm của nữ thần bóng đêm

Ít có quyển sách nào về linh đạo lão hóa sâu sắc hơn quyển “Uy lực của Đặc tính” của cố tác giả James Hillman. Trớ trêu thay, Hillman lại phê phán hơn là đồng cảm với linh đạo Kitô giáo, nhưng những thấu suốt thông tuệ của ông về kế hoạch của tự nhiên và những quan điểm sắc sảo về linh đạo lão hóa mà ông đem lại thường làm lu mờ các tác phẩm Kitô giáo về vấn đề này.

Hillman mở đầu quyển sách của mình, một đàm luận về bản chất của lão hóa, bằng câu hỏi: Tại sao thiên nhiên lại ấn định mọi sự sao cho loài chúng ta khi sống đến đỉnh cao của trưởng thành, cuối cùng cũng có được một nhận thức chân thực hơn về đời mình, thì cơ thể lại bắt đầu rã rời? Tại sao chúng ta phải chịu vô số những khổ sở thể lý khi già đi? Liệu đây có phải là trò chơi khăm khắc nghiệt mà thiên nhiên đã chủ đích dự định hay không? Thiên nhiên ấp ủ chuyện gì khi để những ốm đau bệnh tật và yếu đuối thể lý của tuổi già chơi trò tàn phá chúng ta suốt ngày đêm?

Và ông trả lời những câu hỏi này bằng một ẩn dụ: Thứ rượu tốt nhất phải già đi và dịu đi trong những thùng cũ rạn nứt. Tất nhiên cần giải nghĩa thêm về hình ảnh này. Tất cả chúng ta đều biết sự khác biệt giữa rượu cũ dịu và rượu mới nồng cần phải ủ thêm. Cái chúng ta không hiểu được ngay lập tức là cách rượu cũ trở nên dịu đến thế, và quá trình nó phải trải qua để loại bỏ cái nồng gắt lúc còn mới.

Như thế, ẩn dụ của Hillman thật sáng suốt: Thân xác thể lý của chúng ta là những thùng chứa để linh hồn chúng ta dịu đi và trưởng thành, và được như thế một cách sâu sắc khi thân xác chúng ta bắt đầu lộ ra những vết rạn nứt hơn là khi nó khỏe mạnh và nguyên vẹn về mặt thể lý, điều này cũng tương tự như những gì John Updike đã viết sau khi ông trải qua cơn bạo bệnh gần chết. Với Updike, có một vài bí ẩn không hé lộ khi chúng ta khỏe mạnh. Với Hillman, có một chiều sâu trưởng thành cũng không hé lộ khi chúng ta khỏe mạnh.

Với nhận thức sáng suốt căn bản này làm nền tảng, Hillman tiếp tục qua từng chương để nắm bắt khía cạnh của lão hóa, khía cạnh của việc mất sự nguyên vẹn của tuổi trẻ, và đưa ra những gì được định để giúp cho linh hồn dịu đi và trưởng thành. Vì những gì ông nói đến là các suy sụp trong cơ thể và sức khỏe của chúng ta, nên chúng ta thấy phần còn lại của quyển sách có vẻ phàm tục và không mấy hấp dẫn.

Ví dụ như, ông bắt đầu một chương sách với câu hỏi: Tại sao, khi già đi, chúng ta không còn ngủ một mạch mà phải thức dậy đi vệ sinh theo tiếng gọi của tự nhiên? Khôn ngoan và dự định của thiên nhiên trong việc này là gì?

Hillman trả lời bằng một chuyện tương tự đầy sáng suốt khác: Trong tu viện, các tu sĩ thức dậy mỗi đêm khi trời còn tối mịt và cử hành nghi lễ “canh thức”. Nếu bạn hỏi vì sao họ không cử hành giờ kinh này vào ban sáng để khỏi phải thức dậy lúc nửa đêm, họ sẽ cho bạn biết giờ kinh đặc biệt này chỉ có thể cử hành vào ban đêm, trong bóng đêm, trong bầu khí đặc biệt của màn đêm. Ban đêm, bóng tối, và các tác nhân u ám khác không thể có được trong giờ ban ngày, trong ánh sáng. Ánh sáng đem lại một bầu khí sáng sủa hơn, và có một số chuyện chúng ta không đối mặt với chúng vào ban ngày, nhưng chỉ vào lúc bóng tối bủa vây lấy chúng ta.

Vậy khi cơ thể lão hóa làm chúng ta thức dậy ban đêm và thuận theo tiếng gọi của tự nhiên, thì điều gì xảy ra? Chúng ta thuận theo tiếng gọi của tự nhiên nhưng lại không chìm vào trong giấc ngủ ngay được. Chúng ta nằm trên giường, cố gắng chìm lại vào giấc ngủ, và khi đó một chuyện không mong muốn và không dự tính xảy đến. Chúng ta được nữ thần bóng đêm Nyx ghé thăm. Và nàng không đến một mình, nhưng đem theo đàn con của mình, là những đắng cay chưa được giải quyết, những hận thù dai dẳng, những hoang tưởng không lường, những bóng ma đầy đe dọa, và một bè lũ những tinh khí tối tăm mà chúng ta vốn thường đẩy lui và tránh mặt được khi ở trong ánh sáng ban ngày. Nhưng bây giờ, trong bóng đêm, không thể ngủ được, chúng ta phải đương đầu với chúng, phải có hòa ước với nữ thần Nyx và con cái nàng, giúp làm dịu đi linh hồn và đào sâu sự trưởng thành chính chắn của mình.

Các tu sĩ biết điều này, nên mỗi đêm, họ đều có buổi hẹn với nữ thần bóng đêm. Tất nhiên họ không gọi giờ kinh canh thức của mình là cuộc gặp với một nữ thần trong thần thoại, nhưng sự khôn ngoan trong lòng của họ phản chiếu từ sự khôn ngoan của tự nhiên. Cả tự nhiên và các tu sĩ đều biết rằng có một số chuyện trong lòng chỉ được hoàn tựu trong bóng tối của màn đêm.

Các tu sĩ có những bí mật đáng để chúng ta tìm hiểu, và cuối cùng thì tự nhiên cũng dạy cho chúng ta điều đó, cho dù chúng ta có muốn học hay không. Đến cuối cùng, tự nhiên biến chúng ta thành các tu sĩ: Cơ thể tuổi già của chúng ta, cuối cùng trở thành gian phòng của một đan sĩ, để ở trong đó, linh hồn chúng ta được đào sâu, được dịu đi, và được trưởng thành, như rượu trở nên ngon ngọt trong những chiếc thùng cũ nứt rạn.

Nhiều khuôn mặt môn đệ

Quyển sách mới “Giêsu thành Nazareth” của học giả Kinh Thánh lừng danh người Đức, Gerhard Lohfink, đã mô tả những cách thức khác nhau trong liên kết với Chúa Giêsu. Không phải ai cũng là tông đồ, không phải ai cũng là môn đệ, và không phải ai đã giúp đỡ cho Chúa Giêsu cũng đi theo Ngài. Nhiều cá nhân khác nhau có cách riêng của mình để theo Chúa Giêsu. Và đây là cách diễn giải của ông:

“Chúng ta hẳn phải thấy qua các Tin Mừng, đặc biệt là Tin Mừng theo thánh Máccô, ngài đã nhìn nhận có rất nhiều kiểu dự phần vào công cuộc của Chúa Giêsu. Có nhóm Mười hai. Có một nhóm mở rộng ra là nhóm môn đệ. Có người dự phần trong đời sống của Chúa Giêsu. Có những người ủng hộ địa phương, mời ngài đến nhà mình. Có những người giúp đỡ Ngài trong những hoàn cảnh cụ thể, dù chỉ là mời một ly nước. Cuối cùng, có những người được hưởng lợi ích từ Chúa Giêsu, và vì thế họ không chống Ngài.”

Rồi Lohfink nhận xét như sau: “Những đường chỉ nối kết xuyên suốt các Tin Mừng không phải là chuyện ngẫu nhiên. …Trong Giáo hội ngày nay, một đám đông không hình thể, chúng ta không thể thấy biểu hiện của tất cả các dạng trên. Đó là bộ khung phức tạp như cơ thể con người. Sự cởi mở của các Tin Mừng, sự cởi mở của Chúa Giêsu là để chúng ta chú ý, chúng ta là người thiếu đức tin khi không thể đón nhận một lối sống môn đệ hay khi hoàn toàn xa lạ với các lối sống môn đệ đó. Dù gì đi nữa, thì Chúa Giêsu cũng đã không bao giờ làm kiểu loại trừ như thế.”

Nếu những gì Lohfink nói là đúng, thì đây là điều quan trọng trong nhận thức về Giáo hội của chúng ta, cả về mặt lý thuyết lẫn thực tế trong các cơ cấu giáo xứ của chúng ta. Nói đơn giản là, rõ ràng chúng ta cũng có những chuyện giống hệt như thời Chúa Giêsu. Khi nhìn vào Giáo hội ngày nay, cụ thể trong phạm vi các giáo xứ, rõ ràng là ngoài thành phần cốt lõi, thành phần cộng đoàn dấn thân, cụ thể là những người tham gia thường xuyên vào đời sống Giáo hội và đón nhận (ít nhất là phần chính yếu của) các tín lý và giáo huấn luân lý của Giáo hội, thì còn có một phần khác nữa, rộng hơn. Giáo hội còn có những nhóm đa dạng, những người ít gắn bó với Giáo hội hơn: những người thỉnh thoảng đi lễ, những người đón nhận một vài giáo lý mà thôi, những vị khách đến thăm nhà thờ, những người không dứt khoát gia nhập nhưng có lòng đồng cảm với Giáo hội và giúp đỡ Giáo hội bằng nhiều cách, và cuối cùng, nhưng không kém quan trọng, là những người gắn bó với Thiên Chúa theo cách riêng của họ, những người có lòng đạo nhưng không theo đạo. Như những gì Lohfink đã đưa ra, những người này đã quy tụ quanh Chúa Giêsu, và “họ không phải là không quan trọng” đối với sứ mạng của Ngài.

Nhưng chúng ta phải cẩn thận trong cách hiểu chuyện này. Điều này không có nghĩa là cương vị môn đệ có nhiều cấp bậc, có số thánh thiện hơn, số khác ít thánh thiện hơn, giống như Tin Mừng trọn vẹn chỉ dành cho một số người nào đó. Nhiều thế kỷ trong lịch sử Giáo hội, linh đạo Kitô giáo đã phải chịu chính sự hiểu lầm này, khi nhìn chung người ta nghĩ rằng các tu sĩ, nữ tu, nhà chiêm niệm, linh mục, và những người tương tự như thế được xem là những người sống trọn vẹn theo Tin Mừng, còn những người khác thì không đáp ứng được lời mời đòi hỏi cao hơn của Chúa Giêsu. Không có kiểu loại trừ như thế. Không bao giờ được chia Giáo hội theo kiểu, hoàn hảo và thiếu hoàn hảo, tốt hơn và tàm tạm, dự phần trọn vẹn và dự phần cục bộ. Toàn bộ Tin Mừng áp dụng cho tất cả mọi người, lời Chúa Giêsu mời gọi mọi người hãy thân thiết với Ngài. Chúa Giêsu không kêu gọi giáo dân theo kiểu cao thấp. Về mặt lý thuyết, cương vị môn đệ Kitô hữu không chấp nhận có phân biệt đẳng cấp, trình độ, tầng lớp, và các mức độ dự phần khác nhau … nhưng trong thực tế lại luôn gần giống như vậy mà thôi, tương tự như trong một chuyện tình vậy. Mỗi người chọn mức độ chìm đắm trong tình yêu, có một số người dấn mình sâu hơn người khác, cho dù về mặt lý thuyết tất cả đều phải yêu bằng hết chiều sâu trọn vẹn của tình yêu.

Và, do bởi lịch sử nhân loại và bởi sự tự do của con người, nên chẳng lạ gì khi mọi chuyện nên như thế. Luôn luôn có vô số biến thể cả về chiều sâu lẫn mức độ dự phần. Mỗi người chúng ta có chuyện đời riêng của mình, với những ơn ban và thương tổn, những thành hình và những biến dạng riêng của mình, nên tất cả chúng ta trưởng thành với những năng lực rất khác nhau trong việc xem xét, nhận thức, yêu thương, đón nhận tình yêu, và trao ban chính mình cho một ai đó hay một sự cao cả nào đó. Không một ai trong chúng ta nên trọn vẹn, và không một ai hoàn toàn trưởng thành. Tất cả chúng ta đều có giới hạn về khả năng. Do đó, xét theo tôn giáo, không thể kỳ vọng một ai đáp lại điều gì một cách trọn vẹn vượt quá mức độ năng lực của người đó, và như thế chắc chắn chúng ta sẽ quy tụ quanh Chúa Giêsu theo nhiều cách khác nhau, dựa vào năng lực nhìn nhận và trao ban bản thân của mình. Dường như, Chúa Giêsu thấy ổn với chuyện này.

Dưới con mắt của Ngài, không có kiểu môn đệ tạm bợ hay môn đệ sáng láng. Và chúng ta cũng không được có kiểu phân loại như thế. Tất cả chúng ta đều quây quần quanh Chúa Giêsu bằng những cách khác nhau của riêng mình, và chúng ta phải cẩn thận đừng phán xét nhau, bởi bè lũ phái Donato và con cái của nó vẫn luôn mãi lởn vởn chực xâu xé.

Robert Moore bàn về sinh lực con người

Ít tư tưởng gia nào có tác động trên tôi sâu sắc như nhà tư tưởng Robert L. Moore. Ông là ai? Ông là học giả đã dành gần 50 năm để nghiên cứu sinh lực con người từ góc nhìn tâm lý, nhân học, và thiêng liêng. Ít học giả nào bằng được ông trong việc nối kết các sinh lực con người, ngay cả khi nó tự đại hoặc thô thiển, với hình ảnh giống với Thiên Chúa ở trong mỗi chúng ta. Ông xứng đáng để chúng ta lắng nghe.

Gần đây, tôi được may mắn dự một Chuyên đề do ông hướng dẫn. Tôi sẽ chia sẻ với các bạn 2 suy tư thấu suốt của ông:

Nỗi lo lắng tăng dần của chúng ta và nhu cầu đóng một “con tàu lớn” để không bị nhận chìm trong đó.

Ngày nay đời sống của chúng ta bị ngập trong lo lắng và điều này giáng xuống các tàn phá về mặt tâm lý cũng như về mặt thánh lễ ở khắp nơi. Chúng ta bị tấn công túi bụi vì “nỗi lo lắng không được chỉnh đốn” và nỗi lo lắng này ngày càng tăng lên trong khi khả năng xử lý nó lại đi xuống. Theo lời Moore, điều này đang gây nên một “bước lùi bộ lạc”, có nghĩa là chúng ta đang thấy gần như khắp nơi có những nhóm túm tụm lại với nhau trong hoang tưởng và tự vệ. Và hệ quả của chuyện này là gì?

Các nghiên cứu cho thấy, khi chúng ta cảm thấy bị đe dọa, thì khả năng lắng nghe nhau bị khóa kín, ngay cả về mặt thể lý. Tóm lại, khi thấy lo lắng, não bộ của chúng ta theo bản năng hướng về một cõi nguyên thủy ban sơ, cụ thể là, về cái phần “con”, phần máu lạnh ở trong chúng ta. Và điều này đi kèm theo một sự thật, chúng ta có ít nguồn mạch văn hóa và thiêng liêng nào để điều hòa nỗi lo lắng của mình. Nhiều nghi lễ cũ trong văn hóa và thiêng liêng của chúng ta nhằm giải quyết nỗi lo lắng, giờ đã bị biến tướng hay mất đi. Do đó, chẳng có gì ngạc nhiên khi chúng ta thấy có quá nhiều hoang tưởng và bạo lực trong thế giới ngày nay. Chúng ta đang bị nhận chìm trong lo lắng và thiếu các nguồn mạch tâm lý lẫn thiêng liêng để giải quyết nó. Theo nhà tư tưởng Moore, điều này có thể được gọi là “trận lụt Noê” của thời đại chúng ta, thế giới đang bị nhận chìm trong lo lắng và chúng ta cần phải học cách đóng cho mình một “con tàu thiêng liêng”.

Nhưng, Moore cảnh báo rằng, chuyện này chẳng dễ dàng gì. Chúng ta vẫn ở rất sâu trong tình trạng chối bỏ, và nghịch lý thay, ở một mức độ nào đó, chối bỏ lại thực sự là một hành động bảo vệ lành mạnh cho chúng ta. Theo Moore, nếu chúng ta đâm xuyên qua sự chối bỏ của mình và các cơ chế phòng vệ của người khác, mà trước đó lại không xây một đền thờ siêu linh nội tâm, thì chúng ta có thể bị rối loạn tinh thần vì có khả năng chúng ta bị các sinh lực nguyên hình của mình chế ngự. Chúng ta cần có cơ chế phòng vệ, ít nhất là trong một khoảng thời gian, để giúp bảo vệ sự ôn hòa lành mạnh của mình. Chủ nghĩa chính thống là một trong những bảo vệ đó: Người ta đang hướng về các cách thức cứng ngắc nhằm cố gắng giữ cho mình được ôn hòa.

Trong nỗi sợ Thiên Chúa, trong những nỗ lực khóa kín Thiên Chúa khỏi đời chúng ta, và trong tâm thức tôn giáo ngây thơ của chúng ta, chúng ta có nhiều cơ chế phòng vệ chống lại “thiêng liêng”, nhưng chuyện này có thể hiểu được. Khi chúng ta đứng trước mặt Chúa và cố gắng vận dụng sinh lực đó, thì chuyện này như việc một người đứng trước sợi dây điện có 200 000 điện thế và cố dùng nó cho cái máy pha cà phê vậy. Đó là một hình ảnh cho nỗ lực cố gắng vận dụng và dung nạp sinh lực của Thiên Chúa vậy. Chúng ta luôn luôn bị đè nén vì sinh lực này, từ bên trong lẫn bên ngoài, và từ trong chúng ta cần phải xây dựng một chén tâm lý, một chén thánh, một đền thờ nội tâm, để giữ lấy một cách có ý thức, các sinh lực của Chúa. Chén tâm lý này cũng là chén Mình Máu Thánh Chúa.

Ngoài ra, chúng ta còn phải đặt ra câu hỏi là: Tại sao trong chúng ta lại có một ngăn trở chống lại nhận thức về sự hiện diện cao cả? Tại sao chúng ta cứ thường chối bỏ nhận thức về Thiên Chúa? Tại sao chúng ta thích đi một mình, không cần Thiên Chúa? Với Moore, đây thực sự là một phần mấu chốt trong mầu nhiệm tội lỗi: Chúng ta thường đóng sầm cánh cửa với Thiên Chúa nhân từ, và thích bóng đêm hơn ánh sáng.

Về sự khác biệt giữa khoa học và thần học:

Sự khác biệt giữa khoa học và thần học là sự khác nhau giữa một động cơ phản lực và động cơ tên lửa. Một động cơ phản lực cần oxy và chỉ có thể bay đến một độ cao nhất định, nó cần phải ở trong bầu khí quyển. Một động cơ tên lửa được tăng sức để có thể bay ra khỏi khí quyển.

Về cách chúng ta dựng đền thờ siêu linh nội tâm:

Tất cả chúng ta đều có những tiềm năng đáng kinh ngạc, nhưng luôn luôn bị hạ thấp. Chúng ta có thể học cách bước đi cho đẹp, học cách sống tao nhã, là vì chúng ta đã ở trong ánh sáng rạng ngời rồi. Trong chúng ta đã có sẵn một lòng thương căn bản, nhưng phải “nhận biết” nó. Chúng ta đã sống trong một tình yêu lớn rồi. Con đường về nhà đã ở sẵn trong nhà rồi. Và như thế, chúng ta cần phải thực sự hoài nghi bất kỳ lúc nào thấy mình cô đơn, vì chúng ta không bao giờ cô đơn. Khi cảm thấy đơn độc là lúc chúng ta đang bị lừa phỉnh đó.

Vậy những bước để đạt đến một cách sống đẹp và có lòng thương là gì? Nói tóm lại là:

Hãy cắt xuyên qua sự chối bỏ của bạn, nhận ra những gì bạn thiếu. Lờ đi “chuyện qua đường” trong đời mình, học cách nắm lấy căng thẳng, cân bằng những đối lập, và cố gắng có ý thức để ở lại trong Hiện hữu Cao cả. Hãy làm những việc này một cách “mãnh liệt thánh thiện”.

Ít ngòi bút thiêng liêng nào có được những kết hợp chiều sâu và cân bằng như Moore. Ông xứng đáng để chúng ta lắng nghe.

Luôn mãi phân tâm

Trong truyền thống Hindu, có một câu chuyện sau: Thượng đế và con người đang đi trên đường. Con người hỏi Thượng đế: “Thế giới này như thế nào?” Thượng đế trả lời: “Ta muốn nói với con, nhưng cổ họng Ta đang khô rát. Ta cần một cốc nước mát. Nếu con có thể đi lấy cho ta một cốc nước mát, Ta sẽ cho con biết thế giới này như thế nào.” Con người đi đến ngôi nhà gần nhất để xin cốc nước. Ông gõ cửa và gặp một phụ nữ trẻ đẹp. Ông xin một cốc nước mát. Cô trả lời: “Tôi sẽ sẵn lòng cho ông, nhưng bây giờ là giờ ăn trưa, tại sao ông không vào đây dùng bữa trước đã.” Người đàn ông làm theo.

Rồi ba mươi năm trôi qua, họ có với nhau 5 mặt con, ông trở thành một thương gia có tiếng, cô là một thành viên đáng trọng trong cộng đồng. Một tối nọ, cả hai đang ở trong nhà thì cơn bão ập đến lật tung nóc nhà. Người đàn ông kêu lên: “Lạy Thượng đế, xin giúp con!” Và trong tâm cơn bão, một giọng vang lên: “Cốc nước mát của ta đâu rồi?”

Câu chuyện này không phải là một phê phán thiêng liêng cho bằng là bài học căn bản về nhân học và linh đạo rằng: Là con người nghĩa là luôn mãi phân tâm. Chúng ta không phải là những người sống với ý thức thiêng liêng một cách điều đặn, thỉnh thoảng mới phân tâm. Nhưng chúng ta là những người sống phân tâm một cách đều đặn và thỉnh thoảng mới có ý thức thiêng liêng. Chúng ta có khuynh hướng sa đà vào những chuyện thông thường của cuộc sống, phải có một cơn bão nào đó để nhờ đó Thiên Chúa đi vào cuộc sống chúng ta.

C.S. Lewis, khi nói về nguyên do vì sao chúng ta có khuynh hướng chỉ hướng lòng về Chúa khi gặp phong ba bão tố, ông đã bình luận như sau: Thiên Chúa luôn luôn nói với chúng ta, nhưng thường thì chúng ta không ý thức, không lắng nghe. Và như thế, nỗi đau chính là máy phóng âm của Thiên Chúa với thế giới điếc đặc này.

Tuy nhiên, không ai trong chúng ta lại muốn kiểu đau đớn này, không ai trong chúng ta muốn có tai ương, suy sụp sức khỏe, hay một cơn bão đến lay chúng ta tỉnh dậy. Chúng ta thích một sự kiện mạnh mẽ tích cực, một phép lạ dù lớn dù nhỏ xảy đến để lay động làm cho chúng ta nhận thức sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời chúng ta. Điều này là vì chúng ta cứ nuôi trong lòng các ảo mộng viễn vông, nếu Thiên Chúa đi vào cuộc đời chúng ta bằng một cách thức kỳ diệu, thì chúng ta sẽ thắng vượt được tình trạng phân tâm của mình và chúng ta sẽ nghiêm túc hơn trong đời sống thiêng liêng. Nhưng chính xác đó là ảo tưởng của các nhân vật trong truyện Lazarô và ông phú hộ, khi người phú hộ giàu có xin tổ phụ Abraham cho phép mình từ cõi chết về để cảnh báo các anh em mình là họ phải thay đổi cách sống nếu không sẽ phải chịu lửa thiêu đau đớn. Lời cầu xin của ông phú hộ thể hiện chính xác một quy kết sai lầm: “Nếu ai đó trở về từ cõi chết, họ sẽ nghe người đó!” Abraham không chấp nhận lô gíc đó. Ông trả lời: “Họ đã có ông Môsê và các ngôn sứ. Nếu họ không chịu nghe các ông, thì họ cũng sẽ chẳng tin đâu cho dù có người trở về từ cõi chết.” Trong câu trả lời này, có một điều không nói ra nhưng hết sức quan trọng, một điều mà chúng ta dễ dàng bỏ sót, đó là Chúa Giêsu đã trở lại từ cõi chết và chúng ta cũng chẳng nghe Ngài. Tại sao chúng ta lại cho rằng mình sẽ lắng nghe một ai đó khác trở về từ cõi chết cơ chứ? Chúng ta quá đỗi bận tâm với những chuyện thông thường trong đời đến nỗi không chú tâm đến người trở về từ cõi chết.

Vì sự thật này mà câu chuyện Hindu mang tính an ủi hơn là khiển trách. Là con người nghĩa là luôn mãi phân tâm khỏi các vấn đề thiêng liêng. Bản chất con người là thế. Bản chất chúng ta là thế. Nhưng khi nhận thức được khuynh hướng phân tâm không ngừng này là một chuyện bình thường thì nó cũng không làm cho chúng ta thấy thoải mái với sự thật này. Không chỉ mình Chúa Giêsu, mà cả các thầy dạy linh đạo cũng đã mạnh mẽ thúc giục chúng ta phải tỉnh dậy, phải chuyển biến để vượt ra khỏi nỗi bận tâm quá mức với các khó khăn của đời sống hàng ngày. Chúa Giêsu đã xin chúng ta đừng quá lo lắng về ăn gì mặc gì cho mình. Ngài đòi hỏi chúng ta phải đọc biết các dấu chỉ thời đại, cụ thể là, nhìn theo ngón tay Thiên Chúa, chiều kích thiêng liêng của mọi sự, trong mọi sự kiện hàng ngày của cuộc sống. Tất cả mọi tác phẩm thiêng liêng cũng đều nói như thế. Ngày nay, nhiều truyền thống thiêng liêng phong phú đòi hỏi chúng ta phải có ý thức, chứ không phải là cứ vô thức bận tâm với đủ chuyện thường nhật trong đời mình.

Nhưng văn học thiêng liêng cũng bảo đảm với chúng ta rằng Thiên Chúa hiểu chúng ta, rằng ân sủng tôn trọng bản chất tự nhiên, rằng Thiên Chúa không lầm khi tạo dựng bản chất con người, và rằng Thiên Chúa không tạo tác nên chúng ta theo kiểu để cho chúng ta thấy mình phân tâm từ bẩm tính và rồi phải đối mặt với cơn thịnh nộ của Thiên Chúa vì đã thuận theo bản tính thân mình. Bản tính con người theo lẽ tự nhiên bị cuốn vào các chuyện của đời sống hàng ngày, và Thiên Chúa đã tạo tác nên bản tính con người như thế.

Vậy thì tôi nghĩ rằng, Thiên Chúa hẳn phải gần giống hình ảnh của một người cha, người ông đầy tình yêu thương, nhìn con cháu mình trong buổi họp mặt gia đình, hạnh phúc vì chúng có cuộc sống thú vị cuốn hút chúng, cũng như hài lòng khi không phải lúc nào mình cũng là tâm điểm chú ý có nhận thức của chúng.

Đừng hà tiện lòng thương xót của Chúa

Ngày nay, vì nhiều lý do, chúng ta đấu tranh mới mong có được tấm lòng quảng đại và hào phóng để tâm hồn mở ra với lòng thương xót của Thiên Chúa.

Khi số người tham dự phụng vụ nhà thờ tiếp tục suy giảm, thì nhiều lãnh đạo và mục tử trong Giáo hội có khuynh hướng xem điều này như một sự cắt tỉa hơn là một bi kịch và họ hành động để giải quyết tình trạng này bằng cách làm cho hình ảnh Thiên Chúa trở nên ít thương xót hơn, thay vì một hình ảnh dễ gần. Chẳng hạn một giáo sư chủng viện tôi quen đã chia sẻ, với 40 năm kinh nghiệm dạy khóa học chuẩn bị cho chủng sinh ban bí tích hòa giải, ngày nay, ông nhận thấy câu hỏi chủng sinh hay hỏi là: “Khi nào con có thể từ chối tha tội?” Thật sự, câu hỏi phải là, con phải thận trọng đến mức như thế nào khi ban lòng thương xót của Thiên Chúa chứ?

Động cơ và lòng tin của họ gần như hoàn toàn chân thành nhưng họ lầm đường. Họ thật lòng e sợ việc chơi trò đánh bạc với ơn Chúa, họ sợ rằng đến cuối cùng những gì họ ban cho người khác chỉ là ơn sủng rẻ tiền.

Phần nào, đây cũng là một động cơ có căn cứ. Nỗi sợ là mình đùa giỡn với ơn Chúa, cùng với những lo âu về chân lý, về tính chính thống, về các kiểu mẫu chung đúng luật, cộng thêm nỗi sợ bị tai tiếng đã làm cho họ làm việc theo khuôn phép dè dặt như vậy. Lòng thương xót luôn luôn được thúc đẩy bởi sự thật. Nhưng đôi khi, các động cơ làm cho chúng ta dè dặt lại không được cao cả đến thế, và nỗi lo lắng về việc trao ban một ân sủng rẻ tiền xuất phát nhiều từ tính nhỏ nhen, sợ sệt, chủ nghĩa lề luật, và cả khao khát (dù vô thức) ham muốn quyền lực.

Nhưng dù cho kiềm giữ lòng thương xót vì những lý do cao cả nào hơn đi chăng nữa, chúng ta vẫn là những mục tử xấu và lầm đường, không chung lòng với Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã rao giảng. Chúa Giêsu đã mặc khải rằng, lòng thương xót của Thiên Chúa ôm lấy hết, không phân biệt người xấu kẻ tốt, người bất xứng hay người xứng đáng, người có đạo hay không có đạo. Một trong những thấu suốt thực sự đáng giật mình mà Chúa Giêsu đã cho chúng ta, chính là việc lòng thương xót của Thiên Chúa, như ánh sáng và hơi ấm mặt trời, không thể không đổ tràn cho tất cả mọi người. Như thế, lòng thương xót của Thiên Chúa luôn luôn tuôn đổ nhưng không, không đòi hỏi, không điều kiện và chung cho hết thảy, lòng thương xót đó vươn ra khỏi mọi tôn giáo, phong tục, trường phái, luận điệu chính trị, chương trình luật định, mọi hệ tư tưởng, và thậm chí là cả tội lỗi.

Và như vậy, về phần chúng ta, đặc biệt là bậc làm cha mẹ, mục tử, giáo viên, giáo lý viên, người cao niên, chúng ta phải liều mình loan báo đặc tính quảng đại của lòng thương xót này. Chúng ta không được dùng lòng thương xót của Chúa như thể nó là của chúng ta, không được cấp phát ơn tha thứ của Chúa như một mặt hàng có giới hạn, không được đặt điều kiện cho tình thương Thiên Chúa như thể Ngài là một bạo chúa bủn xỉn hay một hệ tư tưởng chính trị, và cũng không được chặn bớt con đường đến với Chúa như thể chúng ta là người giữ cổng Thiên Đàng. Chúng ta không phải là người có quyền đó. Nếu chúng ta kềm giữ lòng thương xót của Chúa trong sự thu mình và e ngại của chúng ta, thì chúng ta đang hạn chế lòng thương xót vô bờ của Ngài trong giới hạn tâm trí của chúng ta.

Một điều đáng lưu ý trong các Tin mừng là, các tông đồ, dù có thiện ý nhưng họ thường hay cố gắng loại một số người ra khỏi Chúa Giêsu như thể những người này không xứng đáng vậy, như thể họ xúc phạm đến sự thánh thiện của Chúa hay họ có thể làm vấy bẩn sự nguyên tuyền của Ngài. Vậy nên, họ cứ luôn gắng ngăn trẻ con, gái điếm, người thu thuế, những người bị xem là tội lỗi, và đủ loại người khác chưa học biết đạo, đến gần với Chúa Giêsu. Nhưng, Chúa Giêsu thì luôn luôn gạt ra các cố gắng sai lầm của họ bằng những lời mạnh mẽ: “Hãy để họ đến! Ta muốn họ đến.”

Lúc mới bắt đầu đời mục vụ, tôi sống trong nhà xứ với một linh mục già thánh thiện. Cha đã trên 80 tuổi, mắt gần như đã mù, nổi danh và được kính trọng, nhất là trong vai trò linh mục giải tội Một tối nọ, khi ngồi riêng với cha, tôi hỏi cha: “Nếu được sống lại đời linh mục một lần nữa, cha có muốn làm điều gì khác đi hay không?” Với một người đầy chính trực như cha, tôi hoàn toàn cho rằng không có gì để cha phải hối tiếc. Nhưng câu trả lời của cha đã làm cho tôi bất ngờ. Cha có một nỗi hối tiếc, một hối hận lớn, là: “Nếu tôi được làm lại đời linh mục của mình, tôi sẽ nhẹ nhàng hơn với giáo dân. Tôi sẽ không hà tiện lòng thương xót của Thiên Chúa, hay các bí tích, hay phép tha tội. Tôi sợ là tôi đã quá cứng rắn với giáo dân. Họ đã có quá đủ đau đớn rồi, chứ chẳng cần tôi hay Giáo hội đặt thêm gánh nặng trên vai họ nữa đâu. Đáng ra tôi nên liều lĩnh hơn nữa với lòng thương xót của Chúa!”

Tôi được đánh động bởi lời này, vì chưa đầy một năm trước đây, khi làm các bài thi cuối ở chủng viện, một trong các linh mục kiểm tra tôi đã cảnh báo tôi: “Cẩn thận, đừng có mềm yếu. Chỉ có sự thật mới giải phóng con người. Hãy liều với sự thật hơn là với lòng thương.”

Khi đã cao tuổi như lúc này, tôi ngày càng đổi hướng theo lời khuyên của vị linh mục già. Chúng ta cần liều lĩnh hơn nữa với lòng thương xót của Chúa. Không bao giờ được loại trừ vai trò của công bằng và sự thật, nhưng chúng ta phải liều mình để cho lòng thương xót vô bờ, không điều kiện, không đòi hỏi của Thiên Chúa tuôn đổ một cách tự do.

Nhưng, như các tông đồ xưa, chúng ta, với thiện hướng tốt, cứ luôn mãi cố gắng giữ một số người và một số nhóm người xa khỏi lòng thương xót của Thiên Chúa được ban qua lời, qua bí tích và qua cộng đoàn. Nhưng Chúa không muốn sự bảo vệ của chúng ta. Điều Chúa muốn là, tất cả mọi người, bất kể phẩm hạnh, chính thống, thiếu chuẩn bị, tuổi tác, hay văn hóa, tất cả đều đến với dòng nước vô tận của lòng thương xót Thiên Chúa.

George Eliot đã viết: “Khi thần chết đến, chúng ta không bao giờ hối hận vì đã dịu dàng ân cần nhưng vì đã gay gắt khắc nghiệt.”

Nỗi hối tiếc trong lòng

Trong quyển sách mới đây của mình, Phát kiến của đôi cánh (The Invention of Wings), Sue Monk Kidd mô tả Sarah, nhân vật nữ chính với những mâu thuẫn sâu sắc, một phụ nữ quá nhạy cảm, là con của một chủ nô và được sống trong nhung lụa. Nhưng sự nhạy cảm trong lòng của Sarah sớm vượt trên ý thức đặc quyền của mình và cô đã thực hiện một loạt những chọn lựa khó khăn để thoát ly bản thân khỏi cả tình trạng nô lệ và sự đặc quyền.

Có lẽ khó khăn nhất trong các chọn lựa nan giải của cô chính là việc chọn từ chối một lời cầu hôn. Sarah khắc khoải mong được kết hôn, được làm mẹ, được có con nhưng khi người đàn ông mà cô đã đem lòng yêu suốt nhiều năm trường cuối cùng cũng đến cầu hôn cô, thì trong lòng cô dấy lên một chuyện khó giải quyết và cuối cùng cô đã từ chối. Cô đã lưỡng lự thế nào?

Khi anh chàng Israel cuối cùng cũng đến cầu hôn cô, Sarah hỏi anh, liệu sau khi kết hôn, cô có còn được theo đuổi giấc mơ trở thành một mục sư phái Quaker hay không. Chàng Israel, một người thời đó, chỉ có thể nhìn nhận phụ nữ trong vai trò làm vợ, làm mẹ mà thôi, và anh đã trả lời thẳng. Với anh, chuyện cô vừa hỏi là không thể xảy ra. Ngay lập tức, Sarah trực cảm ngụ ý của câu trả lời này. “Đó chính là cách anh ấy nói rằng mình không thể vừa có anh ấy vừa giữ con người thật của mình được.” Người yêu của cô còn làm mọi chuyện trở nên xấu hơn khi cho rằng mong ước muốn làm mục sư của cô chỉ đơn thuần là một thứ bù đắp, một cái tốt phụ, nếu như cô không đạt được cái tốt nhất chính là hôn nhân. Cô từ chối thẳng lời cầu hôn của anh.

Nhưng dù đó là một sự dứt bỏ cao cả, nó vẫn tiếp tục làm cho cô đau đớn. Suốt đời mình, Sarah thường cảm thấy hối tiếc nhức nhối vì lựa chọn của mình, vì đã để cho các nguyên tắc của mình thắng vượt con tim. Nhưng cuối cùng, cô cũng hòa giải được với các hối tiếc của mình. Khi tham dự lễ cưới của em gái mình, cô càng cảm thấy nhức nhối hơn nữa nỗi cay đắng mất mát của mình, và cô chia sẻ với em mình: “Chị mong ước hôn nhân theo cách đau đớn của một người lãng mạn hóa một đời sống mà mình đã không chọn. Nhưng bây giờ, ngồi đây, chị biết rằng nếu lúc đó chị chấp nhận lời cầu hôn của anh Israel, thì chị cũng sẽ hối tiếc như vậy. Chị đã chọn nỗi hối tiếc rằng chị có thể sống với cái tốt nhất, là thế đó. Chị đã chọn một đời sống thuộc về mình.”

Trong đời, chúng ta luôn luôn có hối tiếc, có hối hận sâu sắc. Thánh Tôma Aquinô đã viết: Tất cả mọi chọn lựa đều là một từ bỏ. Vì lẽ đó, chúng ta thấy thật khó khăn để đưa ra những chọn lựa nan giải, đặc biệt khi nó liên quan đến việc dấn thân lâu dài. Chúng ta muốn những điều đúng đắn, nhưng chúng ta không muốn làm ngơ những điều khác. Chúng ta muốn tất cả chúng!

Nhưng chúng ta không thể có tất cả chúng, cho dù chúng ta có tài năng hay có nhiều dịp may đi chăng nữa, và đôi khi phải mất thật lâu chúng ta mới hiểu được nguyên do vì sao lại thế. Trong truyện trên, có đoạn Sarah, đã 30 tuổi, còn độc thân, thất nghiệp, gần như tách ly khỏi gia đình mình, nản lòng vì các giới hạn xã hội và hạn chế chọn lựa đối với phụ nữ, lúc này, cô đang sống nhờ bạn của mình, Lucretia, một nữ mục sư phái Quaker. Một tối nọ, khi ngồi cùng Lucretia, than thở về những giới hạn trong đời mình, Sarah lên tiếng: “Tại sao Thiên Chúa gieo trong lòng chúng ta nỗi khắc khoải thâm sâu đến thế. … và nếu nó chẳng đi đến đâu?” Sarah lúc này đang thở dài hơn là hỏi, nhưng Lucretia trả lời: “Thiên Chúa đổ đầy trên chúng ta đủ kiểu khắc khoải đi ngược với khuynh hướng của thế giới này, nhưng việc những khắc khoải đó chẳng đi đến đâu, tôi không dám chắc đó là do tay Chúa. … mà tôi nghĩ chúng ta biết việc này là do con người mà ra.”

Với Lucretia, nếu thế giới công bằng, chúng ta sẽ chẳng có những giấc mơ tan vỡ. Cô đúng phần nào, nhiều sai trái trên địa cầu này là do bàn tay chúng ta làm ra. Nhưng xét cho cùng, cội rễ cho sự thất vọng của chúng ta là từ một thứ sâu sắc hơn, ít đáng tội hơn, chính là sự bất xứng của cuộc đời. Đời sống, bên này miền vĩnh cửu, không trọn vẹn. Chúng ta, bên này miền vĩnh cửu, không trọn vẹn. Bên này miền vĩnh cửu, chẳng có gì trọn vẹn. Nói theo Karl Rahner là: Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ vốn có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, trong đời này, tất cả mọi bản hòa âm đều phải chưa trọn.

Lời này có nhiều ý, chứ không chỉ là sự thật đơn thuần (dù không dễ tiếp thu) rằng, chúng ta không thể có tất cả hay làm được tất cả. Đời chúng ta có những giới hạn rất thật, và chúng ta cần phải ngừng việc lôi những thứ chúng ta không có, không đạt được mà hành hạ những gì chúng ta đang có, những gì chúng ta đã đạt được. Dù thời nay người ta nói rất nhiều đến mẫu thuẫn, nhưng không ai hiểu cho hết! Tôi cho rằng, hầu hết chúng ta đều để mình dính đến các hối tiếc kiểu: Tôi đã để cả đời để nuôi dạy con ngoan, con giỏi nhưng bây giờ tôi chẳng có nghề nghiệp gì. Tôi thành công trong công việc, nhưng lại thất bại trong vai trò làm chồng làm cha. Tôi chưa bao giờ kết hôn vì các lý do sai lầm, bây giờ tôi độc thân và cô đơn. Tôi đã hy sinh cuộc sống bình thường vì lý tưởng, nhưng bây giờ tôi nhớ da diết những gì tôi đã từ bỏ. Hay, chúng ta cũng như Sarah: Tôi chưa bao giờ thỏa hiệp được với các nguyên tắc của tôi, nó mang lại cho đời tôi sự cô đơn tàn nhẫn.

Vấn đề không bao giờ là sống với những hối tiếc hay không có hối tiếc. Tất cả mọi người đều có hối tiếc. Nhưng, hy vọng rằng, chúng ta đã chọn được nỗi hối tiếc tốt nhất mình có thể mang trong lòng.