RonRolheiser,OMI

Tầm quan trọng của nội tâm và riêng tư

Về mặt dấn thân cho công bằng xã hội, không bao giờ là đòi hỏi quá mức đối với chúng ta. Một lời kêu gọi then chốt, không thỏa hiệp, từ chính Chúa Giêsu là đòi hỏi chúng ta phải vươn ra đến với người nghèo, người bị loại trừ, những người mà xã hội xem là người lỗi thời.

Do đó, các vấn đề công bằng mang tầm vóc lớn khắp toàn cầu luôn chiếm lấy tâm trí chúng ta. Liệu chúng ta có thể là tín hữu Kitô tốt hay thậm chí là người tử tế, nếu như không để tin tức hàng ngày tẩy luyện trong tâm hồn chúng ta? Đa số dân chúng trên thế giới vẫn đang sống trong cảnh thiếu đói, hàng ngàn người chết vì siêu vi khuẩn Ebola và các chứng bệnh khác, vô số mạng sống bị xâu xé trong chiến tranh và bạo lực, và chúng ta, vẫn luôn là một thế giới đang mải miết trên con đường dài đương đầu thực tế với những tâm thức kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, phá thai. Đây là những vấn đề đạo đức chính yếu và chúng ta không thể đơn giản bỏ qua chúng để ẩn tránh vào thế giới riêng của mình.

Nhưng, chính đây là những vấn đề quá to lớn và quan trọng, nên chúng ta có thể có ấn tượng rằng các vấn đề đạo đức khác, những chuyện đạo đức riêng của mình, không quan trọng bằng. Với những vấn đề vĩ mô trên thế giới, chúng ta, thật dễ để kết luận rằng chuyện chúng ta sống ra sao nơi góc sâu kín nhất trong thế giới riêng của mình, chẳng là chuyện đáng để ý.

Những quan tâm đạo đức nhỏ bé, và riêng tư của chúng ta có thể là rất nhỏ nhặt khi so với các vấn đề của cả thế giới. Nhưng liệu chúng ta có thực sự tin rằng Thiên Chúa bận lòng nhiều về việc chúng ta có đọc kinh ban sáng hay không, có đàm tiếu về đồng nghiệp, giữ một vài mối ác cảm, hay thiếu trung thực trong đời sống tính dục của mình, hay không? Liệu Thiên Chúa có thực sự quan tâm đến những chuyện này hay không?

Có. Thiên Chúa quan tâm vì chúng ta quan tâm. Bất chấp các vấn đề lớn toàn cầu, những vấn đề nội tâm riêng tư của chúng ta thường là những gì xây dựng hay phá vỡ hạnh phúc của chúng ta, chưa nói đến tác động trên tính cách và các quan hệ thân thiết của chúng ta nữa. Xét tận cùng, đây không phải là những bận tâm nhỏ nhặt chút nào. Vì chúng làm nên những điều lớn lao. Đạo đức xã hội đơn thuần là một phản ánh của đạo đức cá nhân. Những gì chúng ta thấy trên bức tranh toàn cầu, đơn thuần là một phóng chiếu từ tâm hồn con người.

Khi không xử lý được những cái tôi, tham lam, dục vọng, và ích kỷ bên trong nơi sâu kín riêng tư của tâm hồn, thì thật ngây thơ khi nghĩ rằng chúng ta có thể xử lý được những vấn đề tầm mức toàn cầu. Làm sao chúng ta có thể xây dựng một thế giới công bằng yêu thương, nếu chúng ta không thể, trước hết thuần hóa được tính ích kỷ bên trong chúng ta? Chuyện toàn cầu sẽ không thể sáng sủa bao lâu khi chúng ta vẫn nghĩ rằng sự mờ mịt trong đời sống riêng của mình chẳng thành vấn đề. Cái toàn cầu đơn thuần là phản ảnh của cái riêng tư. Theo tôi, nếu không nhận ra được điều này, không thấy được con voi chình ình trong phòng, thì chúng ta thất bại trong việc đem lại công bằng cho địa cầu.

Hành động xã hội mà không có đạo đức riêng cũng như không dựa trên linh đạo thiêng liêng, nhưng chỉ đơn thuần mang tính chính trị, dùng quyền để đối quyền, thì hành động đó chỉ tự xem nó là quan trọng nhưng không so sánh được với sự biến đổi thực sự. Nước Thiên Chúa không làm như thế. Nước Trời làm việc qua sự hoán cải, và hoán cải thực sự chính là một hành động tuyệt đối riêng tư. Carlos Castaneda, nhà thần nghiệm châu Mỹ đã viết rằng: “Tôi đến từ châu Mỹ La tinh nơi các nhà trí thức luôn nói về cách mạng xã hội và chính trị, và cũng là nơi bom đạn thường nổ ra. Nhưng chẳng thay đổi được gì nhiều. Để đánh bom một tòa nhà chỉ cần một chút liều mạng, nhưng để thôi không ghen tỵ hay để đi vào thinh lặng nội tâm, bạn phải làm lại bản thân mình. Và chính đây là nơi biến đổi thực sự khởi đầu.”

Thomas Merton cũng có nhận định tương tự. Trong thập niên 1960, khi rất nhiều nhà trí thức dấn thân vào các công cuộc đấu tranh xã hội đủ loại, Merton vẫn ở trong một tu viện, (có vẻ) xa với trận tiền thực sự. Bị châm chích về sự ẩn cư trong tu viện của mình, Merton thừa nhận rằng, với những người ngoài, thì việc tập trung chủ yếu vào cuộc chiến với con quỷ riêng của mình “hẳn là một thứ vặt vãnh.” Nhưng, ông vẫn tin rằng ông đang chiến đấu trong cuộc chiến thực sự: cuộc chiến thay đổi tâm hồn. Khi thay đổi một tâm hồn, bạn đã giúp đem lại một thay đổi đạo đức mang tính cơ cấu và vững bền trên địa cầu này. Tất cả mọi việc khác đơn thuần là việc một sức mạnh này cố gắng thế chỗ một sức mạnh khác.

Đạo đức riêng tư và tất cả những chuyện kèm theo – cầu nguyện riêng, nỗ lực để chân thành và minh bạch trong những chuyện dù là nhỏ nhất và kín đáo nhất của mình – chính là cốt lõi bắt nguồn cội rễ của tất cả mọi đạo đức. Jan Walgrave, khi nói về tầm quan trọng xã hội của thần nghiệm, đã cho rằng: “Bằng cách phân tách một nguyên tử duy nhất, bạn có thể tạo ra nhiều năng lượng hơn cả bằng cách gò cương mọi nguồn lực nước và gió trên trái đất. Đây chính là những gì mà Chúa Giêsu, Đức Phật và tiên tri Mohammed đã làm. Họ chiết xuất nguyên tử tình yêu nội tâm. Và nguồn năng lượng khổng lồ tuôn trào.” Gioan Thánh Giá, khi dạy về tầm quan trọng sống còn của tính thành thật trong những chuyện nhỏ, đã nói rằng: “Chẳng có gì khác biệt khi trói một con chim bằng dây thừng nặng hay bằng sợi dây mảnh, vì cả hai đều không làm nó bay được.”

Đạo đức cá nhân không phải là chuyện không quan trọng, một thứ xa xỉ chúng ta không lo nổi, một đức tính ủy mị, một thứ ngáng đường của lòng tận tụy lo cho công bằng xã hội. Nhưng, đạo đức riêng chính là nơi thâm sâu mà hạt nguyên tử đạo đức có thể bùng phát.

Hiểu và trân trọng những khác biêt của chúng ta

Thường thì chúng ta thấy ân sủng và phúc lành của Thiên Chúa nơi những gì hiệp nhất chúng ta. Chúng ta vốn tự nhiên thấy ơn sủng khi cảm nghiệm được một mối liên kết tinh thần mạnh mẽ với những người, giáo hội và đức tin nhất định. Và theo kinh thánh, đây chính là những gì định hình nên gia đình.

Nhưng, nếu những gì phân tách chúng ta, khiến cho những con người, giáo hội và đức tin trở nên xa lạ với chúng ta, cũng là một ân sủng, một sự khác biệt mà Thiên Chúa đã tiền định? Liệu chúng ta có thể nghĩ về sự khác biệt của mình, cũng như sự hiệp nhất, cũng là một ân sủng từ Thiên Chúa, hay không? Hầu hết tôn giáo, kể cả Kitô giáo, đều trả lời là có.

Cả trong kinh thánh của Do Thái giáo và Kitô giáo đều có những chủ đề nhất quán mạnh mẽ và lặp đi lặp lại rằng thông điệp của Thiên Chúa nói với chúng ta thường đến qua những người lạ, người ngoại kiều, người khác với chúng ta, từ một nguồn mà chúng ta không bao giờ nghĩ sẽ nghe được tiếng Chúa từ đó. Thêm vào đó, là khái niệm rằng khi Thiên Chúa lên tiếng, chúng ta thường cảm nghiệm một sự kinh ngạc, một sự không ngờ đến, một sự không dễ gì ăn khớp với những kỳ vọng thông thường của chúng ta về cách Thiên Chúa hành động và cách chúng ta nhận biết Ngài. Chuyện này có lý do của nó. Nói đơn giản, khi chúng ta nghĩ mình đang nghe tiếng Chúa trong những gì quen thuộc thoải mái và an toàn, thì luôn có cám dỗ muốn biến dạng thông điệp này theo hình tượng và sao cho giống chúng ta. Bởi thế mà Thiên Chúa thường đến với chúng ta thông qua những gì mà chúng ta không quen.

Hơn nữa, những gì quen thuộc thì dễ chịu và an toàn cho chúng ta, nhưng, như đã biết, sự tăng tiến biến đổi thực sự gần như chỉ xảy đến khi chúng ta, như Sarah và Abraham, bị buộc phải đặt chân ở một nơi xa lạ và đáng sợ, bị tước mất toàn bộ những gì dễ chịu và an toàn. Đức Chúa bảo Sarah và Abraham hãy đặt chân đến một vùng đất mà ‘ngươi không biết ngươi đang đi đâu.’ Sự tăng tiến thực sự xảy đến và ân sủng thực sự bước vào khi chúng ta phải đương đầu với những gì không phải mình, xa lạ và khác biệt Theo lời thánh Gioan Thánh Giá thì, hãy học để hiểu bằng cách không hiểu hơn là hiểu. Những gì tối tăm, xa lạ, đáng sợ và không được mời, sẽ mở mang chúng ta theo những cách mà những gì quen thuộc và an toàn không thể đem lại. Thiên Chúa gởi lời đến trần gian qua các ‘thiên thần,’ những thực thể không quen thuộc với chúng ta.

Nếu thật là thế, thì sự khác biệt của chúng ta cũng là một ơn Chúa. Như thế, nhìn mọi sự theo một cách khác không có nghĩa là chúng ta không nhìn đúng sự đó. Và cũng như thế, các ý niệm khác về Thiên Chúa và cách nói khác về Thiên Chúa không có nghĩa là chúng ta đang nói về một Thiên Chúa khác. Cũng đúng như thế với giáo hội của chúng ta, khi có những khái niệm khác về ý nghĩa của giáo hội, không nhất thiết nghĩa là không có sự hiệp nhất thâm sâu bên trong sự đa dạng của chúng ta. Tương tự, cách chúng ta nhìn nhận sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Phép Thánh Thể, cách chúng ta hình dung Chúa Kitô thực sự hiện diện trong bánh và rượu, có thể có nhiều dạng hiểu khác và có thể được trình bày theo nhiều cách khác, nhưng không có nghĩa là chúng ta đang nói về những sự thực khác.

Thánh Gioan Phaolô II, trong một buổi hội liên tôn, đã từng nhận định rằng, ‘có những khác biệt phản chiếu sự phong phú thiêng liêng của Thiên Chúa với các dân tộc.’ Christian de Cherge, sau một đời đối thoại với Hồi giáo, đã cho rằng những khác biệt của chúng ta có một ‘chức năng cận bí tích’ nghĩa là, chúng giúp đưa nhục thể thực sự của trần gian này đến với sự phong phú của Thiên Chúa, Đấng không thể tả nổi và không bao giờ gói gọi trong bất kỳ diễn dạt nào.

Như thế, những khác biệt của chúng ta là một phần của mầu nhiệm hiệp nhất của chính chúng ta. Sự hiệp nhất thực sự, vốn cần phải phản ánh sự phong phú của Thiên Chúa, không tồn tại trong sự đồng nhất và đồng hóa, nhưng chỉ trong sự hòa hợp nhiều ơn khác nhau và sự phong phú, như một bình hoa đẹp với các loại hoa khác nhau cắm chung trong bình. Các khác biệt hợp lý của chúng ta bắt rễ sâu trong cùng một Thiên Chúa.

Chúng ta thấy điều này ở mọi khoảng sống trong đời mình, từ cách đón nhận các di dân vào nước mình, cách chúng ta giải quyết các cá tính khác biệt trong gia đình và nơi làm việc, cho đến cách đối đãi với các phái Kitô giáo và các tôn giáo khác. Không chạy theo thuyết hổ lốn ngây thơ và không chối bỏ vị thế đúng đắn của nhận thức, nhưng vẫn cần phải nhìn nhận rằng, các khác biệt của chúng ta, được hiểu là biểu lộ sự hiệp nhất thâm sâu hơn mà chúng ta chưa thể nhận thức được, sẽ mở chúng ta ra một cách trọn vẹn hơn với mầu nhiệm không dò thấu, không tả được, quá thâm sâu của Thiên Chúa, và đồng thời cũng ngăn không để chúng ta thần tượng hóa các tư tưởng, truyền thống tôn giáo, các cách hiểu đức tin, hay các thần học và hệ tư tưởng của mình. Hơn nữa, chấp nhận rằng các khác biệt là dự định của Thiên Chúa, và là sự hiện diện của ơn Chúa trong đời, sẽ ngăn chúng ta không tự tạo chân tính của mình, đặc biệt là chân tính tôn giáo, dựa trên nền tảng là mâu thuẫn với người khác và nhu cầu không lành mạnh là luôn mãi khẳng định sự độc nhất và chân lý của mình chống lại những gì khác biệt.

Thiên Chúa yêu thương chúng ta như nhau. Do đó, các khác biệt phải được hiểu là một phần của mầu nhiệm hiệp nhất, và phải giúp chúng ta giữ mình khiêm nhượng và thành tâm cho đủ để không chối bỏ vị trí đúng đắn của người khác trước mặt Chúa.

Mười quyển sách hàng đầu của tôi trong năm 2014

Thật tiếc là năm nay do áp lực công việc và việc muc vụ đã giới hạn thời gian đọc không được nhiều như tôi mong muốn. Nhưng, với tính nghiện sách và biết rằng không có những thấu suốt và hứng khởi từ sách vở, tôi sẽ luôn bị đình trệ về mặt tinh thần và sáng tạo, nên hầu như ngày nào tôi cũng chắt chiu một khoảng thời gian để đọc sách. Và do việc mục vụ cũng như tính cách của mình, tôi thích đọc nhiều loại sách: từ tiểu thuyết, tiểu sử, các bài phê bình, cho đến các sách về Kinh thánh, thần học và linh đạo.

Và đây là tâm thức của tôi về việc đọc sách một cách thích đáng: Trong những năm đầu ở Đại học, tôi được giới thiệu cho một vài tiểu thuyết rất hay. Và tôi nhận thấy, nếu không có các tác phẩm văn học tuyệt vời, thì đời tôi sẽ cằn cỗi biết bao. Từ lúc đó, đã 40 năm trôi qua, tôi không bao giờ không có một quyển tiểu thuyết mở sẵn trong tầm tay. Các tiểu thuyết gia xuất sắc có những thấu suốt khiến các nhà tâm lý học và văn học thiêng liêng phải ghen tỵ, họ khơi lên tưởng tượng và hiểu biết về cảm xúc theo các cách riêng thường mà các sách hàn lâm không có. Cũng vậy, tôi luôn để mở một quyển tiểu sử hay khảo luận trong tầm tay. Những sách này mở mang tầm hiểu biết của tôi, cũng như thắt chặt trí tưởng tượng và tâm hồn tôi. Cuối cùng là các sách thần học và linh đạo, tốt cho tâm tính và ơn gọi của tôi. Tôi đọc những sách này với niềm say mê, nhưng cũng là một nguồn để phát triển chuyên ngành cho mình.

Vậy nên với những món ngon này, tôi xin đưa ra 10 quyển sách hàng đầu mà tôi đã đọc trong năm 2014.

Về tiểu thuyết, tôi đặc biệt giới thiệu 4 quyển này:

  • Mọi ánh sáng mà chúng ta không thể thấy [All the Light We Cannot See] của Anthony Doerr. Đây không chỉ là một trong những quyển sách hàng đầu tôi đã đọc trong năm qua, mà đây còn là một tác phẩm văn học Anh cổ điển ngoại hạng, với tôi đây là một trong những tiểu thuyết hay nhất tôi từng đọc. Nói đơn giản, đây là một quyển sách tuyệt vời, không phải như kiểu Nhật ký Anne Frank, nhưng là một câu chuyện đánh động lòng người gần như vậy.
  • Lila của Marilynne Robinson. Robinson lấy một vài nhân vật từ quyển Gilead (2004) và thêm vào một cô gái trẻ lạc lối tên là Lila, qua Lila, chúng ta có một bản ghi âm gần với sự cô đơn và đức tin. Bên cạnh chiều sâu xúc cảm và văn điệu hoàn hảo, Robinson cũng cho chúng ta một biện giáo về cảm thương và lòng thương xót của Thiên Chúa có thể làm cho đức tin trở nên khả tín hơn với những người hoài nghi ở thời này.
  • Phát minh Đôi cánh [The Invention of Wings] của Sue Monk Kidd. Đây là một tiểu thuyết lịch sử rất mạnh về tội nộ lệ và thành kiến giới tính. Phản ánh lại trình thuật cứu độ của Kitô giáo, với sự thiện chiến thắng sau cùng, nhưng phải nhờ đến máu tử đạo được đổ ra. Sue Monk Kidd luôn là tác giả đáng đọc, nhưng quyển này thật ngoại hạng, ngay cả so với các tiểu thuyết gia ngang tầm với bà.
  • Hạ địa [The Lowland] của Jhumpa Lahire. Như nhiều tiểu thuyết của Lahire, quyển này cũng lấy bối cảnh đặc thù của di dân từ Ấn Độ đến Hoa Kỳ, nhưng điểm nhấn mà quyển này soi vào quan hệ nhân sinh giúp lột trần những đấu tranh rất chung của nhân loại.

Trong các sách tiểu sử, có 2 quyển đặc biệt với tôi.

  • Con đường là Cách thức, Hành hương Đồng cỏ qua Tự nhiên, Khao khát, và Linh hồn [The Road is How, A Prairie Pilgrimage through Nature, Desire and Soul] của Trevor Herriot. Nội dung đi theo tiêu đề quyển sách. Herriot làm một chuyến rảo bộ hành hương qua vùng đồng cỏ Saskatchewan, một mảnh đất in dấu trâu bò trong nhiều thế kỷ, và để tự nhiên cùng khao khát lên tiếng với linh hồn mình. Kết quả từ đó là một biên sử phi thường, một quyển sách tinh thần sâu sắc về tự nhiên, bản tính con người, tính dục, đức tin, và khao khát.
  • Theo chân Mẹ, Tâm thần con trẻ khám phá Bí ẩn về Việc Mẹ mình tự vẫn [In Her Wake, A Child Psychiatrist Explores the Mystery of Her Mother’s Suicide] của Nancy Rappaport. Trong quyển này, Nancy Rappaport làm những gì mà tất cả chúng ta làm khi mất đi một người thân yêu vì tự vẫn, cụ thể là, tìm hiểu chuyện đời người đó và làm rõ những mạch chuyện, phục hồi ký ức về người đó.

Trong các sách thần học và linh đạo, tôi đề xuất:

  • Hành hương [A Pilgrimage] của James Martin. Đây là quyển tuyệt nhất của James Martin, cho chúng ta một Kitô học lành mạnh, cân bằng và tốt đẹp, theo một cách rất dễ tiếp cận với người đọc. Uyên thâm nhưng dễ gần với tất cả mọi người.
  • Học cách Bước đi trong Bóng tối [Learning to Walk in the Dark] của Barbara Brown Taylor. Quyển này của bà đã được lên trang bìa tạp chí TIME, thật xứng đáng. Taylor đem lại một thấu suốt về đêm tối linh hồn, cho những ai không thể, và sẽ không, đọc các sách thần học quá chuyên ngành.
  • Giêsu thành Nazareth, Ngài muốn gì, Ngài là ai [Jesus of Nazareth, What He Wanted, Who He Was] của Gerhard Lohfink. Đây là quyển sách uyên thâm, dù khá dễ đọc đối với những người không chuyên ngành. Quyển này kết hợp kiến thức học giả vững chắc, thấu suốt sáng tạo, cân bằng tốt, và sự tận tâm với đức tin Kitô giáo.
  • Christian de Cherge, Thần học Hy vọng [Christian de Cherge, A Theology of Hope] của Christian Salenson. Christian de Cherge là đan viện phụ của cộng đoàn dòng Xitô, và đã tử đạo ở Algeria năm 1996. Quyển này thu thập các bài viết quan trọng của ngài, đặc biệt là vấn đề quan hệ Kitô giáo với các tôn giáo khác, nhất là với Hồi giáo. Đức tin được xây trên máu các bậc tử đạo. Đối thoại Liên tôn trong tương lai có thể được xây dựng trên máu và ngòi bút của vị tử đạo này. Một quyển sách ngoại hạng cho chúng ta thấy đức tin và chí khí đặc biệt của đan phụ Christian de Cherge.

Mong sao trong năm 2015 nhiều quyển sách hay sẽ tìm đến gặp bạn.

Sẵn sàng cho Giáng Sinh

Nhiều người bước vào lễ Giáng Sinh một cách mệt mỏi, bận rộn, xao lãng, và bị vắt kiệt với đủ mọi ánh đèn, ca nhạc, và ăn mừng Giáng sinh. Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị cho Giáng Sinh, nhưng với nhiều người trong chúng ta, đây không phải là thời gian chuẩn bị để Chúa Kitô có thể sinh ra lần nữa một cách sâu đậm trong đời sống mình. Thay vào đó, việc chuẩn bị cho Giáng Sinh, hầu như là để chuẩn bị cho các buổi ăn mừng với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp. Những ngày hướng đến Giáng Sinh hiếm khi được yên bình. Thay vào đó, chúng ta cứ hối hả vội vã lo trang trí, mua quà, gởi thiệp, chuẩn bị đồ ăn, và dự các liên hoan Giáng Sinh. Hơn nữa, khi Giáng Sinh về, chúng ta đã chán ngấy các bài hát Giáng Sinh, đã nghe chúng cả trong các điệu nhạc giật gân trong các trung tâm mua sắm, trong nhà hàng, quảng trường, và trên đài phát thanh.

Và rồi Giáng Sinh đến với chúng ta trong một không gian chật chội và mệt mỏi, chứ không thư thái và yên bình. Thật vậy, đôi khi mùa Giáng Sinh như bài kiểm tra sức chịu đựng hơn là thời gian vui vẻ thực sự. Hơn nữa, và còn nghiêm trọng hơn, nếu chúng ta thành thật với bản thân, chúng ta phải công nhận, trong khi chuẩn bị chúng ta ít chừa chỗ cho việc thiêng liêng, cho Chúa Kitô sinh ra một cách sâu đậm trong lòng mình. Thời gian chuẩn bị thường dành để chuẩn bị nhà cửa hơn là chuẩn bị tâm hồn, mua sắm hơn là cầu nguyện, tiệc tùng hơn là chay tịnh chuẩn bị cho đại lễ. Mùa Vọng thời nay có lẽ là để ăn mừng trước hơn là chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh.

Và kết quả là, như các chủ trọ đã không còn phòng cho Đức Mẹ và thánh Giuse trong mùa Giáng Sinh, chúng ta cũng thường “không còn phòng” không còn chỗ trong đời mình cho sự tái giáng sinh thiêng liêng. Lòng chúng ta thì tốt, chúng ta muốn Giáng Sinh tái sinh chúng ta về đường thiêng liêng, nhưng cuộc sống của chúng ta quá nhiều áp lực, quá nhiều hoạt động và quá mệt mỏi, đến nỗi chúng ta không còn sinh lực thực sự để làm cho Giáng Sinh trở nên thời gian đặc biệt để canh tân tâm hồn mình. Tinh thần Giáng Sinh vẫn ở trong chúng ta, vẫn thật, nhưng như đứa trẻ trong nôi bị bỏ bê đang chờ được bồng ẵm. Và chúng ta muốn bồng đứa trẻ lên, nhưng lại không bao giờ đến gần cái nôi cả.

Vậy thì chúng ta thật tệ biết bao?

Điều này thách thức chúng ta hãy nhìn vào chính mình, nhưng không đến nỗi xấu như nhiều chỉ trích lòng đạo thường hay nói đâu. Dự lễ Giáng Sinh với một cuộc sống quá bận rộn và quá lơ là việc dành chỗ cho Chúa Kitô, không biến chúng ta thành người xấu. Như thế không có nghĩa chúng ta là những kẻ ngoại đạo vô tâm. Và cũng không có nghĩa là Chúa Kitô đã chết trong lòng chúng ta. Chúng ta không xấu xa, mất đức tin và ngoại đạo chỉ vì chúng ta hướng đến Giáng Sinh theo thói quen một cách quá lơ là, quá bận rộn, quá áp lực và quá mệt mỏi đến nỗi không thể có một nỗ lực ý thức để làm cho đại lễ này trở thành dịp để canh tân linh hồn thực sự trong đời mình. Tình trạng thờ ơ đường thiêng liêng của chúng ta định rõ chúng ta là con người hơn là thiên thần, trần tục hơn là thuần khiết, và duy cảm hơn là duy thiêng. Tôi cho rằng Chúa hoàn toàn hiểu tình trạng này của chúng ta.

Thực sự, tất cả mọi người đều đấu tranh với điều này theo nhiều cách. Không ai hoàn hảo, không ai dành trọn không gian của đời mình cho Chúa Kitô, ngay cả trong thời gian Giáng Sinh. Điều này sẽ cho chúng ta đôi chút an ủi. Nhưng cũng cho chúng ta một thách thức cấp thiết. Trong cuộc sống bận rộn và lơ đãng của chúng ta, có quá ít chỗ cho Chúa Kitô! Chúng ta phải hành động dọn đôi chỗ cho Chúa Kitô, khi làm cho Giáng Sinh thành một thời gian phục hồi linh hồn và canh tân đời sống.

Làm sao chúng ta làm được chuyện này?

Trong những ngày cận kề Giáng Sinh, chúng ta cố gắng làm đủ mọi chuyện cần thiết để sẵn sàng cho tất cả những gì cần có trong nhà, trong nhà thờ, và nơi làm việc. Chúng ta đi mua quà, gởi thiệp, treo đèn và trang trí, soạn thực đơn, mua đồ ăn, dự đủ tiệc liên hoan Giáng Sinh ở nơi làm việc, nhà thờ và nhà bạn bè. Điều này, cộng thêm vào áp lực sẵn có trong cuộc sống, thường làm cho chúng ta nghĩ: Tôi sẽ không làm được! Tôi sẽ không sẵn sàng! Tôi sẽ không sẵn sàng cho Giáng Sinh! Đây là cảm giác chung của mọi người.
Nhưng, sẵn sàng cho Giáng Sinh, làm mọi việc cần làm, không phải là hoàn tất các việc chúng ta đã lên danh sách như mua quà, gởi thiệp, thức ăn, các bổn phận xã hội. Ngay cả khi danh sách những việc cần làm chỉ mới xong được một nửa, nhưng nếu bạn đi lễ nhà thờ ngày Giáng Sinh, nếu bạn ngồi được trong bàn ăn với gia đình vào ngày Giáng Sinh, và nếu bạn thăm hỏi hàng xóm và đồng bạn với đôi chút nồng hậu hơn, thì điều này không có nghĩa là bạn lơ là, mệt mỏi, quá tải, và không suy nghĩ rõ về Chúa Giêsu, và có nghĩa là bạn đã làm trọn những việc để đón Giáng Sinh rồi đó.

Đi viếng, xem lại đi viếng

Chúng ta đã quá quen câu chuyện Đức Mẹ đi viếng bà thánh Isave trong Thánh Kinh. Đây là chuyện ở phần đầu Phúc âm theo thánh Luca. Đức Mẹ và người bà con Isave đều đang mang thai, họ gặp nhau. Một người mang Chúa Giêsu, một người mang thánh Gioan Tẩy giả. Tin Mừng muốn chúng ta nhận ra rằng cả hai việc thụ thai này đều là bất khả thi về mặt sinh học, một người thụ thai khi vẫn là trinh nữ, và người kia thụ thai khi đã son sẻ quá lâu. Vậy nên, rõ ràng đây là một việc thiêng liêng. Nói đơn giản, mỗi người đều mang một ơn trọng từ trời, và mỗi người đang mang một phần lời hứa thiêng liêng rằng rồi đến một ngày hòa bình của Thiên Chúa sẽ thiết lập trên địa cầu.

Nhưng cả Đức Mẹ lẫn Isave đều ý thức nhận ra mối liên kết thiêng liêng giữa hai đứa trẻ mà họ đang mang. Tin Mừng cho chúng ta biết đây là “hai người bà con,” cả hai đứa trẻ và hai bà mẹ, nhưng Tin mừng muốn chúng ta suy nghĩ xa hơn về mặt huyết thống. Họ là bà con, cũng như Chúa Kitô và tất cả những gì thiêng liêng là bà con vậy. Đây là một trong những ý nghĩa của khái niệm Đi viếng.

Đức Mẹ và bà Isave gặp nhau, cả hai đều mang thai thiêng liêng. Mỗi người đều mang trong mình đứa trẻ từ trời, một người mang Chúa Kitô và người kia mang ngôn sứ độc nhất, người bà con của Chúa Kitô. Và khi họ gặp nhau, có một chuyện đáng phải chú ý. Người bà con của Chúa Kitô trong bụng mẹ, không có một nhận thức rõ ràng, đã nhảy lên vui sướng khi Chúa Kitô đến thăm và phản ứng đó đã làm cho dạ mang Chúa Kitô trỗi lên bài ca Ngợi khen.

Có nhiều điều trong hình ảnh này: Người bà con của Chúa Kitô vô thức nhảy lên vui sướng khi Chúa đến thăm, và phản ứng đó khơi dậy bài Ngợi khen từ lòng người nữ mang Chúa Kitô. Christian de Cherge, đan viện phụ dòng Xitô, tử đạo ở Algeria năm 1996, đã cho rằng, đây là điểm mấu chốt để chúng ta, những Kitô hữu, được định gặp gỡ các tôn giáo khác trên thế giới. Ngài thấy hình ảnh này soi sáng cho luận thuyết này:

Kitô giáo đang mang Chúa Kitô và các tôn giáo khác cũng đang mang một sự thiêng liêng, một “người bà con” thiêng liêng, một người dẫn hướng đến Chúa Kitô. Nhưng tất cả đều đang trong tình trạng vô thức, chúng ta không thực sự nắm bắt được mối dây này, liên kết này giữa những gì chúng ta mang trong lòng với những gì trong lòng người khác. Nhưng khi đứng trước người khác, người không có cùng đức tin Kitô như chúng ta, nhưng thành tâm và theo đúng đức tin của mình, chúng ta sẽ nhận ra mối quan hệ này, dù là vô thức. Trong cuộc gặp gỡ đó, chúng ta sẽ thấy được mối liên kết: Những gì chúng ta mang trong lòng sẽ làm cho lòng người khác có một sự gì đó nhảy lên vui mừng, và điều này sẽ cho chúng ta cất lên lời Ngợi khen, như Đức Mẹ lúc xưa vậy, và chúng ta sẽ muốn ở lại với người khác để cùng nâng đỡ nhau.

Và chúng ta cần sự nâng đỡ đó, như người khác cũng vậy. Đan viện phụ Christian de Cherge đã nói: “Chúng ta biết rằng những người chúng ta đến gặp cũng như Isave vậy: họ mang trong mình một thông điệp từ Thiên Chúa. Giáo hội chúng ta không bảo cho chúng ta biết và cũng không biết chính xác mối liên kết giữa Tin Mừng mà chúng ta mang trong lòng với thông điệp đem lại sự sống cho người khác. … Chúng ta có lẽ chẳng bao giờ biết đích xác mối liên kết này là gì, nhưng chúng ta biết rằng người khác cũng đang mang một thông điệp từ Thiên Chúa. Vậy chúng ta phải làm gì? Chứng tá nào trong việc này? Sứ mạng nào cho chúng ta? … Hãy xem, khi Đức Mẹ đến nhà, chính Isave đã mở lời trước. Hay là Đức Mẹ? …. Chắc hẳn Đức Mẹ đã nói rằng: “Bình an, Bình an ở cùng chị.” Và lời chào đơn giản này đã thổi bùng sinh lực cho một sự gì đó, một người nào đó, bên trong bà Isave. Và trong sự rung động này, sẽ thốt ra lời. … Đây chính là Tin Mừng, không phải là toàn bộ Tin Mừng, nhưng là điều có thể thoáng thấy Tin Mừng ngay lúc này.”

Đan viện phụ Christian de Cherge nói thêm: “Đến cuối cùng, nếu chú tâm thì khi chúng ta gặp người khác với tấm lòng tận tâm và khao khát được gặp họ, cần đến họ, cần những lời họ nói với mình, thì có lẽ người kia sẽ nói với chúng ta một điều gì đó liên kết với những gì chúng ta đang mang trong lòng, một điều gì đó bày tỏ sự đồng lòng với chúng ta … cho chúng ta mở rộng Phép Thánh Thể của mình.”

Chúng ta cần nhau, tất cả mọi người mọi người trên địa cầu đều cần nhau, Kitô hữu và không Kitô, Do Thái và Hồi giáo, Tin Lành và Công giáo La Mã, phái Phúc âm và phái Độc vị, những người theo thuyết bất khả tri và vô thần thành tâm, chúng ta cần đến nhau để hiểu được mặc khải của Thiên Chúa. Không một ai hiểu trọn vẹn mà không nhờ người khác. Do đó, mối quan hệ qua lại của chúng ta với người khác không chỉ phát xuất từ lòng nhiệt thành với sự thật chúng ta đã nhận, nhưng còn từ sự thiếu thốn những sự thật khác nữa. Không có người khác, không nhận ra người khác cũng đang mang tính thiêng liêng, thì chúng ta sẽ không thể thực sự cất lên lời Ngợi khen. Không có nhau, không một ai trong chúng ta có thể đọc được Kinh nguyện Thánh Thể rằng “máu này đổ ra cho nhiều người được tha tội.”

Vinh danh tài năng và đáng kính

Với những ai không phải là người Canada, có lẽ cái tên này chẳng nói lên gì, nhưng, tuần qua, Canada đã mất một trong những biểu tượng văn hóa vĩ đại của mình, Jean Beliveau, một nhà thể thao lừng danh. Ông qua đời, và tất cả người Canada, kể cả những người xa xứ đã khóc thương tiếc cho sự ra đi của ông.

Jean Beliveau còn hơn cả một vận động viên, dù chắc chắn ông là vận động viên cả triệu người mới có một. Kỷ lục các thành tích của ông gần như không thể tin nổi. Ông chơi trong Giải Băng cầu Vô địch Quốc gia (hockey) trong 20 mùa giải, và có được 10 chức vô địch. Về sau, với vai trò điều hành, ông góp phần đem về thêm 7 chức vô địch khác. Hãy tưởng tượng, có ai, trong bất kỳ môn thể thao nào ở mức độ cao nhất, lại giành được 17 chức vô địch.

Nhưng đây không phải là những gì làm nên sự vĩ đại của ông, cũng như không phải là lý do cả đất nước yêu mến ông và biến ông thành một biểu tượng quốc gia. Nhưng chính trong thái độ đáng mến của ông, cách hành xử ngoại hạng cả trong và ngoài sân đấu. 17 chức vô địch thật phi thường, nhưng thành tựu thực sự của ông chính là sự tôn trọng mà tất cả mọi người dành cho ông, cả trong và ngoài sân đấu. Tôi không biết bất kỳ vận động viên chuyên nghiệp nào, ở bất kỳ môn nào lại có được sự tôn trọng như ông đã có. Thật vậy, rất lâu sau khi ông giải nghệ, thủ tướng Canada đã mời ông làm Toàn quyền Canada, một chức vị chỉ dành cho những người mà toàn quốc xem như biểu tượng của sự hiệp nhất, phẩm giá và vinh dự. Ông đã nhã nhặn từ chối.

Điều gì đã khiến ông trở nên độc nhất vô nhị? Cũng có các vận động viên và ngôi sao ca nhạc lừng lẫy nhưng biết khiêm tốn và đáng mến. Điều gì khiến ông khác hẳn phần còn lại? Sự vĩ đại là một sự không thể nắm bắt rõ ràng được, thật khó để có thể chính xác đưa ra điều gì làm cho người đó nổi bật như thế? Vậy tại sao lại là Jean Beliveau? Xét cho cùng, ông chỉ là một nhà thể thao chơi hockey. Vậy điều gì khiến cho ông có được một sự tôn trọng quá phi thường?

Nhà tâm thần học Ba Lan lừng danh, Kasmir Dabrowski, có một thuyết gợi nhiều suy tư về sự trưởng thành của con người, và điều gì đã làm cho con người được sự trưởng thành đó. Theo ông, chúng ta lớn lên bằng sự đổ vỡ, bằng việc khụy gối do các cơn khủng hoảng đã gặp nên đã thúc đẩy chúng ta vươn lên khỏi các lề thói tầm thường và sự non nớt của mình. Richard Rohr gọi điều này là ngã lên [không phải ngã xuống]. Chúng ta trưởng thành hơn qua thất bại, trở nên kiêu ngạo vì thành công. Hầu như đúng là thế. Thành công hủy hoại đời sống còn hơn là do thất bại.

Nhưng như thế có hợp lý hay không? Lớn lên nhờ thành công không phải hợp lý hơn sao? Thành công khơi gợi lên lòng biết ơn trong lòng chúng ta và làm cho chúng ta quảng đại, độ lượng hơn không phải sao? Một vài người đã hỏi Dabrowski câu hỏi trên, và đây là câu trả lời của ông: “Anh đúng, thành công sẽ làm chúng ta trở nên biết ơn và độ lượng hơn, đó là cách lý tưởng để lớn lên … ngoại trừ một việc, là trong suốt 40 năm kinh nghiệm hành nghề, tôi chưa bao giờ thấy mọi chuyện diễn ra như thế. Cách này chỉ xảy ra với những trường hợp đặc biệt, cực hiếm … và tôi tin rằng, đây là những gì làm nên một con người vĩ đại.” Một người vĩ đại là người mà, thành công sẽ mở rộng tâm hồn hơn là thả lỏng cái tôi.

Khi Jean Beliveau bước chân vào Băng cầu Quốc gia, ông là người cao nhất, có kỹ thuật nhất, đáng mến nhất, và đẹp trai nhất giải. Thật không phải là những thiên khiếu bình thường. Ông có đôi chút giống Vua Saul khi mới được phong vương lúc còn trẻ. Trong số các con của Benjamin, có một người tên là Saul, một người trẻ tuổi đẹp trai. Trong tất cả dân Israel, không ai đẹp trai hơn ông, khi đứng, ông cao hơn bất kỳ ai. Nhưng, đáng buồn thay, tất cả mọi thiên khiếu và thành công đó không làm cho Saul trở nên một vị vua tốt. Nhưng lại hủy hoại ông. Bám chặt một cách sai lầm vào thiên phú của mình, ông đã biến đời mình thành bi kịch. Chiều cao, đẹp trai và sự đáng mến của ông, làm cho ông ghen tỵ trước thiên khiếu của người khác, và ông trở nên hoang tưởng, hằn học, để rồi cuối cùng tự kết liễu cuộc sống mình. Câu chuyện của Saul là một trong những bi kịch lớn nhất từng được viết ra: đáng buồn thay, nó vẫn được viết đi viết lại trong cuộc đời của những tài năng lớn. Thiên phú đến cùng với những nguy cơ của nó. Thiên phú và thành công, dễ dàng thổi phồng cái tôi cũng như dễ dàng mở rộng linh hồn.

Đáng buồn thay, ngày nay, chúng ta thấy điều này nơi rất nhiều người, không phải chỉ trong thể thao nơi cái tôi và cảm xúc riêng thường được hợp lý hóa và được xem như một phẩm chất đáng ao ước của một vận động viên, đây được xem là một tính tốt hơn là một tính xấu, vì một tên khệnh khạng bạo dạn và ngông ngạo sẽ góp phần hù dọa đối thủ, giúp thắng trận, và làm cho cả thế giới phải dán mắt theo dõi. Nó làm nên màu cờ sắc áo, tiếng tăm, có nhiều người hâm mộ, nổi tiếng và danh vọng. Màu cờ sắc áo và tiếng tăm lớn hơn cá tính, và kiêu ngạo có thể góp phần đem lại thắng lợi.

Do thế, tôi thật mừng vì đã có một thời buổi khác hẳn, khi các vận động viên và hầu hết mọi người phải thấy ngại về cái tôi và thói tự tâng bốc mình. Tôi mừng là khi tôi còn nhỏ, đam mê thể thao, và thần tượng các vận động viên, đã có một ngôi sao là Jean Beliveau, người tránh các thói kiêu căng, làm dáng, khệnh khạng, mắng nhiếc đối thủ, và tự tâng bốc mình một cách thô bỉ, để chơi với một sự đáng mến và khiêm tốn, làm cho mọi người ngưỡng mộ một cách đúng đắn, dù ông vẫn thắng trận.

Tự hiến và Thánh Thể

Năm 1996, các người Hồi giáo cực đoan đã giết hại gần như cả cộng đoàn dòng Xitô ở Atlas, Algeria. Qua bộ phim Thần và Nhân [Of Gods and Men], chúng ta biết đến câu chuyện này và cũng biết đến đức tin và lòng dũng cảm phi thường của các tu sĩ này, đặc biệt là đan viện phụ Christian de Cherge, khi đối diện với cái chết. Thật vậy, những dòng cuối cùng của đan phụ Christian de Cherge đã cho thấy một đức tin và tình yêu thương thực sự phi thường.

Chẳng hạn như, vài tháng trước khi chết, khi đã cảm nhận được những gì sẽ giáng xuống cho mình, ngài viết một lá thư cho gia đình, trong đó ngài tha thứ cho những kẻ sát nhân và hy vọng rằng về sau sẽ được gặp họ trên thiên đàng, để đều được chung phần ánh sáng trước nhan Chúa. Và sau khi gặp mặt đối mặt với tên cầm đầu nhóm khủng bố, người vừa chặt đầu 9 người xong, ngài cầu nguyện: “Xin tước hết vũ khí của con, xin tước hết vũ khí của họ.”

Trong nhật ký đã được công bố của mình, ngài chia sẻ câu chuyện sau: Vào sáng được rước lễ lần đầu, ngài bảo mẹ, ngài thực sự không hiểu mình đang làm gì khi nhận Mình Thánh. Mẹ ngài đơn giản trả lời: “Con sẽ hiểu về sau.” Nhật ký của ngài tiếp tục theo dấu ngài đào sâu nhận thức về Mình Thánh Chúa suốt cả đời, đặc biệt là trong liên hệ với Hồi giáo và một sự kiện phi thường trong đời ngài. Đây là một sự kiện phi thường:

Từ tháng 7 năm 1959 đến tháng 1 năm 1961, Christian là sĩ quan phục vụ trong quân lực Pháp ở Algeria. Khi tại ngũ, ngài làm bạn với một người Hồi giáo tên là Mohammed, anh có gia đình, tính tình đơn sơ, và là một tín hữu Hồi giáo nhiệt thành. Họ sớm có một tình thân sâu đậm. Một ngày nọ, trong một cuộc giao tranh, Christian bị quân đội Algeria bắt giữ. Bạn Mohammed can thiệp và thuyết phục những người bắt giữ rằng Christian rất đồng cảm với đại nghĩa của họ. Christian được thả, nhưng ngày hôm sau, Mohammed bị giết, một hành động trả đủa cho việc anh góp phần trả tự do cho Christian.

Hành động quên mình của người bạn Hồi giáo, đã trao cả mạng mình vì Christian đã ghi một dấu ấn không bao giờ phai trong lòng ngài. Và đây cũng có thể là lý do làm cho ngài khi là đan sĩ đã suy nghĩ và quyết định trở lại Algeria để sống đoàn kết với cộng đoàn Hồi giáo tại Atlas, và ở đó cho đến khi chết. Nhưng sự tự hiến này còn đào sâu nhận thức của ngài về Mình Thánh Chúa.

Mẹ của ngài đã nói: “Con sẽ hiểu về sau,” và bây giờ ngài đã hiểu: Mình Thánh Chúa không chỉ là sự hiện diện của Chúa Giêsu, nhưng còn là hiện diện cái chết hy sinh của Ngài cho chúng ta. Chúa Giêsu đã chết cho chúng ta “và cho nhiều người”, và người bạn Mohammed cũng vậy. Ông đã hiến cái chết của mình cho người khác, hy sinh này vừa noi gương vừa thông phần vào cái chết của Chúa Giêsu. Do đó, với Christian, mỗi khi cử hành Phép Thánh Thể, ngài cũng cử hành ơn hy sinh của Mohammed cho mình. Bạn của ngài cũng đã đổ máu “vì nhiều người.”

Hy sinh của Mohammed giúp Christian nhận ra và cảm kích sâu đậm hơn hy sinh của Chúa Giêsu, vì ngài tin rằng, trong Phép Thánh Thể, hy sinh của Chúa Giêsu và của bạn mình đều chân thực và đem lại hiện thực này. Christian tin rằng hy sinh của Chúa Kitô bao gồm sự hy sinh trong mọi hành động hy sinh, và do đó, hy sinh của bạn ngài là một phần hy sinh của Chúa Kitô.

Ngài đúng. Trong mọi cử hành Phép Thánh Thể, chúng ta tưởng nhớ ơn mà Chúa Giêsu đã ban từ cái chết của Ngài, nhưng cũng tưởng nhớ ơn hy sinh của tất cả những ai đã noi gương yêu thương quên mình và hy sinh của Chúa Giêsu. Trong Phép Thánh Thể, hy sinh của Chúa Kitô mà chúng ta tưởng nhớ, cũng bao gồm hy sinh của tất cả những người đã chết “vì nhiều người khác,” dù họ làm trong vô thức.

Phép Thánh Thể là một mầu nhiệm khó nắm bắt với vô số chiều sâu và mức độ ý nghĩa. Chúng ta không bao giờ có thể nắm bắt trọn vẹn được. Nhưng chúng ta có bạn đồng hành: Khi Chúa Giêsu lập Phép Thánh Thể trong bữa tiệc ly, các tông đồ cũng không thực sự hiểu được việc Chúa đang làm, thể hiện qua việc Phêrô không chịu cho Chúa rửa chân mình. Hành động phản đối của Phêrô cho thấy rõ ràng rằng ngài không hiểu ý của Chúa Giêsu trong việc lập Phép Thánh Thể. Và những lời của Chúa Giêsu với thánh Phêrô và các tông đồ cũng là lời mà mẹ của Christian de Cherge nói với ngài, khi ngài bảo là mình không hiểu về Mình Thánh Chúa: “Về sau, con sẽ hiểu.”

Khi tôi rước lễ lần đầu, tôi có một hiểu biết con nít về Mình Thánh Chúa. Lúc 7 tuổi, đã được học giáo lý, tôi tin rằng tôi đang rước thân thể thực sự của Chúa Giêsu, và tin rằng trong thánh lễ khi bánh rượu được thánh hóa, là chúng tôi đang mừng lễ hy sinh Chúa Giêsu sẽ mở toang cánh cửa thiên đàng cho chúng tôi. Sau 60 năm với vô số bằng cấp thần học, bây giờ tôi biết rằng, những gì tôi hiểu về Phép Thánh Thể lúc còn nhỏ là đúng, nhưng tôi cũng biết rằng, khi hai sự này, là sự hiện diện thật của Chúa Kitô và hy sinh của Chúa Kitô dành cho chúng ta, được mở ra, thì chúng ta thấy mình chìm trong một mầu nhiệm không tả nổi, trong đó tất cả những ai yêu thương chúng ta cũng là một phần của Hiện diện Thực sự.

Vậy nên, cứ tiếp tục đến với Phép Thánh Thể, và biết rằng về sau chúng ta sẽ hiểu.

Hai nhà thờ, hai nơi thánh, hai đấu tranh

Chúa đã cho chúng ta hai nhà thờ, một có thể thấy được ở bất kỳ đâu, và một ở những nơi được chọn. Một số chúng ta thích một trong hai nhà thờ này, và đương cự với nhà thờ còn lại, nhưng cả hai đều là nơi thánh, nơi để tìm thấy Chúa và thờ phượng Ngài.

Khi nghĩ đến nhà thờ, hầu hết mọi người đều nghĩ đến một tòa nhà, một nhà thờ chính tòa, một đền thánh, miếu điện, hội đường, đền thờ, hay đất thánh. Người Công giáo La Mã có lẽ sẽ nghĩ về Vương cung Thánh đường thánh Phêrô ở Roma hay một nhà thờ chính tòa nổi tiếng, hay nhà thờ giáo xứ của mình. Người Anh giáo và Tân giáo có lẽ sẽ nghĩ về nhà thờ chính tòa thánh Phaolô ở Luân Đôn, hay nhà thờ địa phương của mình, và người Hồi giáo sẽ nghĩ về Mecca hay đền thờ trong vùng mình. Đây đều là nhà thờ, là nơi thánh dành riêng, nơi Thiên Chúa gặp gỡ chúng ta. Đây là một dạng nhà thờ, một tòa nhà hay một địa điểm thần thiêng. Nhưng nền tảng cho khái niệm này là gì?

Trong sách Sáng Thế, chúng ta thấy Giacóp đã mộng thấy một cầu thang nối liền đất với trời, và các thiên thần lên lên xuống xuống trên thang ấy. Từ giấc mơ, Giacóp nhận ra rằng ông đã có được một cảm nghiệm rất đặc ân, về cầu nối giữa trời và đất. Không muốn để mất cảm nghiệm này, cũng như cả nơi đặc biệt mà ông ngả đầu để mơ giấc mơ này, ông dựng một cột đá, như một bàn thờ, để đánh dấu nơi đó, một điểm cụ thể hữu hình, nơi ông thấy có liên kết đặc biệt giữa trời và đất, để sau này ông tìm lại được đường về nơi đặc ân này. Đó là công trình nhà thờ đầu tiên, và xét tận cùng, cũng là ý nghĩa của tất cả mọi nhà thờ, miếu điện, đền thánh, đền thờ, và đất thánh. Đó là một địa điểm đặc ân, nơi cầu thang nối liền đất với trời, với các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống. Đó là một nơi đặc biệt để người ta có thể đến mà cầu nguyện.

Nhưng, còn có một dạng nhà thờ thứ hai, chẳng quan hệ gì với các công trình, nhà thờ, miếu điện, đền thánh, hay đất thánh cả. Đây là nhà thờ mà Chúa Giêsu đã mặc khải với người phụ nữ thành Samari trong Tin mừng thánh Gioan. Hầu hết chúng ta đều biết câu chuyện giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ này. Bà đã thú nhận là thấy mơ hồ rối rắm về vấn đề các nhà thờ. Bà nói với Chúa Giêsu là bà sống trong một thế giới bất đồng về việc đâu là nơi thờ phượng thật sự, đâu là nơi có cầu thang thực sự nối liền trời và đất. Người Do Thái bảo bà nơi thờ phượng đích thực, nhà thờ thực sự, là đền thờ Giêrusalem, nhưng người dân Samari của bà, lại bảo bà rằng nơi đáng để đến thờ phượng phải là Núi Gerizim. Vậy đâu mới là nơi đúng để thờ phượng?

Chúa Giêsu nói với bà, chẳng nhất thiết phải thờ phượng ở cả hai nơi đó. Nhưng, hãy thờ phượng nơi đền thờ thật sự, nơi thánh thật sự, nơi đặc ân thực sự có cầu thang nối giữa trời và đất với các thiên thần lên lên xuống xuống, và nơi đó ở ngay trong lòng bà. Nhà thờ thực sự không phải lúc nào cũng là một công trình hay đất thánh, nhưng là mảnh đất lương tâm và linh hồn bên trong con người, nơi chúng ta có thể đi vào mà không cần phải chu du đến Thánh địa, Roma, Luân Đôn, Salt Lake, Mecca, Lộ Đức, hay các nhà thờ lân cận. Cầu thang với các thiên thần lên lên xuống xuống nối liền trời và đất, có thể thấy được ở khắp mọi nơi, tự bản chất là một thánh đường, ở ngay trong lòng chúng ta.

Do đó, Chúa cho chúng ta hai nhà thờ thật sự: một ở ngoài chúng ta, hữu hình và cụ thể, một ở trong lòng chúng ta, thiêng liêng và vô hình. Tất nhiên, lý tưởng là tất cả chúng ta thờ phượng toàn tâm ở cả hai nơi, bên ngoài là ở các công trình nhà thờ, và bên trong là nơi lương tâm và tâm hồn mình. Nhưng, tiếc là không phải lúc nào cũng được vậy. Ngày nay tất các các tôn giáo chính và cả các phái Kitô giáo đều có một sự căng thẳng trong giáo hội, giữa những người xem nhà thờ, trên hết, mà cũng có thể là duy nhất, là việc tham dự trong một công trình nhà thờ (nếu bạn không đến nhà thờ, bạn không phải là tín hữu đích thực!) với những người, dù có thể vô thức, xem nhà thờ là việc thờ phượng và chân thành trong lương tâm và linh hồn mình (tôi có đời sống tâm linh nhưng không theo đạo!)

Cả hai đều đúng, cả hai đều sai, và đều cần phải mở rộng nhận thức của mình về Giáo hội. Chúa cho chúng ta hai nhà thờ, và cả hai đều quan trọng để sống còn. Tôi biết có những người bạn tốt của tôi, đang đấu tranh với đời sống thiêng liêng nội tâm. Họ hiểu được ý nghĩa của các công trình nhà thờ, đất thánh, và những điều này thực sự đã đặt nền tảng cho đời sống đạo của họ. Họ có thể kết hiệp với công trình và tổ chức nhà thờ, nơi có các phụng vụ thánh, họ có thể thấy cầu thang của Giacóp ở nơi này. Ngược lại, có những bạn tốt của tôi, có đời sống thiêng liêng nội tâm phong phú, nhưng lại đấu tranh với nhà thờ hữu hình. Họ xem đây là những tổ chức, địa điểm nhân trần quá dễ dãi, và đôi khi còn có vẻ là thờ ngẫu tượng. Với họ đường lên trời, phải là qua con người, họ đương cự không chấp nhận việc cầu thang của Giacóp ở trong những sự cụ thể, bất toàn này.

Cả hai đều cần phải học lấy từ người kia, và nắm bắt sâu sắc hơn mối quan hệ qua lại của hai nhà thờ mà Chúa đã cho chúng ta.

Ngày càng ít người đi nhà thờ – lỗi tại ai?

Chẳng còn gì giấu diếm về việc sụt giảm trầm trọng số người đi lễ nhà thờ. Hơn nữa, sự sụt giảm đang diễn ra trong Giáo hội không song song với sự lan tràn của chủ nghĩa vô thần và thuyết bất khả tri. Chính xác thì, ngày càng nhiều người nhận mình có đời sống tâm linh nhưng không theo tôn giáo, đầy đức tin nhưng không đến nhà thờ. Tại sao lại có cuộc đào thoát lớn này trong các Giáo hội?

Nội bộ các nhóm tôn giáo có khuynh hướng đổ lỗi chyện này lên chủ nghĩa thế tục. Nhiều người lập luận rằng, văn hóa thế tục có lẽ là thứ thuốc phiện mạnh nhất từng hoành hành trên địa cầu này, nó vừa tốt vừa xấu. Nó nuốt chửng chúng ta trong những hứa hẹn đầy cám dỗ về thiên đàng ngay đời này. Trong thế giới thế tục hóa, mưu cầu một cuộc sống sung túc đơn giản gần như cuốn bay tất cả mọi khát khao tôn giáo thâm sâu hơn. Điều đánh chú ý vì đây cũng là điểm chính mà các nhóm Hồi giáo cực đoan phê phán nền văn hóa Tây phương. Với họ, đây là thứ thuốc phiện, một khi đã uống vào, thì vô phương cứu chữa. Đó là lý do vì sao họ muốn giữ giới trẻ tránh xa ảnh hưởng Tây phương.

Nhưng liệu điều này có đúng không? Văn hóa thế tục là kẻ địch ư? Liệu chúng ta, những người đi nhà thờ, có phải là dấu tích đích thực cuối cùng của Thiên Chúa và chân lý còn tồn tại, những người ngôn sứ và bị loại ra ngoài rìa của một xã hội nông cạn, không tôn giáo, và vô đạo? Nhiều người, kể cả tôi, sẽ cho rằng lập luận này đi quá xa, quá đơn giản. Xã hội thế tục, có thể nông cạn, không tôn giáo, vô đạo, và có đủ bằng chứng để nói như thế, nhưng, bên dưới sự nông cạn và sự dị ứng bản chất của nó với các Giáo hội, là một khao khát tôn giáo thực sự vẫn đang âm ỉ cháy, và các Giáo hội phải tự hỏi mình: Tại sao không còn nhiều người tìm đến chúng ta khi họ đối diện với các khao khát tôn giáo của họ? Tại sao quá nhiều người tìm đường thiêng liêng không có hứng thú nhìn về những gì Giáo hội đang mời gọi? Tại sao, thay vào đó, họ lại hướng về mọi sự, ngoại trừ Giáo hội? Tại sao, quả thật, có quá nhiều người mang thái độ này: «Giáo hội chẳng làm gì mời gọi tôi: Tôi thấy nó chán ngán, không phù hợp, cứ luẩn quẩn với những chuyện nhỏ nhặt của mình, và chẳng chút hy vọng gì có thể bắt nhịp với cuộc sống của tôi cả.»

Chắc chắn, chủ nghĩa thế tục, phần nào có lỗi, nhưng chính các Giáo hội chúng ta cũng có lỗi. Có câu châm ngôn rằng: Tất cả mọi chủ nghĩa vô thần là một ký sinh trên chủ nghĩa hữu thần tồi tệ. Lập luận này cũng đúng khi bàn về các thái độ người ta dành cho Giáo hội: Các thái độ xấu nhắm đến Giáo hội, được nuôi dưỡng, bởi những việc làm xấu của Giáo hội.

Học giả Do Thái lừng danh, giáo sĩ Abraham Joshua Heschel, hẳn cũng đồng ý như thế. Trong quyển sách Thiên Chúa Tìm kiếm Con người [God In Search of Man], của mình, ông viết: «Việc đổ lỗi cho khoa học thế tục và triết học phản tôn giáo về sự lu mờ của tôn giáo trong xã hội hiện đại, đã thành một lề thói. Phải thành thật mà nhận, chính tôn giáo có lỗi cho thất bại của mình. Tôn giáo suy thoái, không phải vì bị bác bẻ, nhưng là vì nó trở nên không phù hợp, ù lì, ngột ngạt, và vô vị. Khi đức tin hoàn toàn bị thay thế bởi tín lý, thờ phượng theo quy chuẩn, yêu thương theo thói quen, khi cuộc khủng hoảng thời nay bị lờ đi vì ánh hào quang quá khứ, khi đức tin trở thành của gia truyền thay vì suối nguồn sống động, khi tôn giáo chỉ lên tiếng bằng thẩm quyền thay vì tiếng nói say mê, thì lúc đó, thông điệp của tôn giáo trở nên vô nghĩa.»

Tiểu thuyết gia Marilynne Robinson, người tận tâm và đồng cảm sâu sắc với giáo hội, cũng đồng ý với Heschel. Với bà, trong Giáo hội ngày nay, chúng ta không tỏa ra sự vô biên của Thiên Chúa và mầu nhiệm lớn hơn Giáo hội chính là Chúa Kitô. Thay vào đó, chúng ta, dù có thiện ý, quá gò bó mầu nhiệm Chúa Kitô vào trong tinh thần co cụm, phẫn uất, sợ hãi, và tự vệ. Đây là một trong những nguyên do chính khiến chúng ta bị cho ra rìa. Bà cho rằng, Kitô giáo «là một trình thuật quá vĩ đại nên không thể bị hạ giá phục vụ cho bất kỳ lợi ích hạn hẹp nào, hay được bảo đảm bởi bất kỳ truyện kể kém cỏi hơn nào.» Bà tin rằng, chính thái độ hẹp hòi của chúng ta đã bôi xấu thông điệp Kitô giáo và khiến cho Giáo hội, vì những lý do chính đáng, bị loại ra ngoài rìa: «Một tinh thần Kitô giáo mất phẩm chất, ngu dân và bài ngoại đã đóng lại con đường đến với Giáo hội của nhiều người.» Bà cho rằng, đổ lỗi cho thế gian về các vấn đề của chúng ta, chẳng có ích gì để khiến cho thế giới tôn trọng tôn giáo và tôn trọng Kitô giáo cả. Sự sút giảm số lưông người đi nhà thờ, phần lớn là do lỗi của chúng ta, vì chúng ta quá thường không thể hiện được một Giáo hội với vòng tay ôm đầy cảm thương, và chúng ta không thực sự xác định được những sinh lực thật sự đang bừng bừng bên trong con người. Với Robinson, thế giới thế tục, tự bản chất, không vô tôn giáo. Nhưng nó thấy Giáo hội chúng ta thật tự quy, không thông hiểu, và không đồng cảm với các khát khao, các thương tích, và nhu cầu của thế giới này. Và do đó, thách thức của thế giới thế tục đối với chúng ta, những người đi nhà thờ là: «Tất cả những ai tự nhận mình là Kitô hữu, bất kỳ tổ chức nào nhận mình là Giáo hội, phải có trách nhiệm, giữ giá trị cho đức tin, ít nhất là đừng ngăn trở hay bôi nhọ đức tin. Biến Thiên Chúa thành một thần riêng, thành một thần Baal riêng, chính là ngăn trở và bôi nhọ.»

Vài năm về trước, tôi có nghe một mục sự phái Phúc âm trình bày vấn đề này như sau: Là những Giáo hội Kitô giáo, chúng ta có nước hằng sống, thứ nước mà Chúa Kitô đã hứa là dập hết mọi ngọn lửa và giải hết mọi cơn khát. Nhưng vấn đề là: Chúng ta không đem nước hằng sống đến nơi đang bùng lửa. Chúng ta cứ rảy nước lung tung đủ mọi nơi, ngoại trừ nơi đang bốc cháy!

Ông ấy đã nói đúng. Để trả lời cho cuộc đại đào thoát khỏi các Giáo hội của chúng ta, đừng đổ lỗi cho nền văn hóa, nhưng hãy làm cho Giáo hội trở nên tốt đẹp hơn.

Chiến sự thiêng liêng

Văn học thiêng liêng luôn nhấn mạnh đến cuộc chiến căn bản nguyên sơ giữa thiện và ác, và nhìn chung đây được xem là chiến tranh, trận chiến thiêng liêng. Do đó, là Kitô hữu, chúng ta được cảnh báo phải cảnh giác với các thế lực của Satan và các thế lực sự dữ khác. Chúng ta phải chiến đấu với những thế lực này không chỉ bằng lời cầu nguyện, sự thận trọng đạo đức riêng, nhưng còn bằng tất cả các phương tiện khác, từ nước thánh, trừ tà, cho đến việc theo giáo lý mà tránh xa tất cả những gì liên quan đến huyền bí, dị thường, giả kim, chiêm tinh, duy linh, khiêu dâm, quỷ thuật, tà thuật, và cầu cơ. Với Kitô hữu, những thứ này được xem là những cánh cửa mở ngỏ nguy hiểm, nơi các ác thần có thể đi vào đời sống và gây hại cho chúng ta.

Và Kinh Thánh dường như cũng cảnh báo chúng ta đề phòng những thứ này. Kinh thánh dạy chúng ta rằng thế giới của chúng ta sẽ đến sự viên mãn và thành toàn, khi Chúa Kitô chiến thắng tất cả mọi thế lực đối nghịch với Thiên Chúa. Và để điều này hoàn thiện, Chúa Kitô trước hết phải đánh bại và tiêu diệt sự chết, bóng tối, sự dữ, các thế lực địa ngục, uy quyền của Satan, và đủ loại «ngai vị, thống trị, vương quyền, và thế lực.»

Vậy, cụ thể, thì những thế lực này là gì và đến cuối cùng Chúa Kitô chiến thắng chúng thế nào? Làm sao chúng ta nhận thức được trận chiến đang diễn ra?

Chúng ta thấy được rõ ràng hơn về cách sự chết bị đánh bại: Chúng ta tin rằng, sự phục sinh của Chúa Giêsu và của chúng ta, chính là sự chiến thắng của trận chiến này. Còn về Satan và địa ngục, mỗi người chúng ta có một khái niệm riêng, nhưng khái niệm chung của các Kitô hữu chúng ta là có một niềm tin, tin rằng những sự này sẽ không bị chế ngự hoàn toàn, nhưng vẫn tiếp tục tồn tại, song song và đối nghịch với Thiên Chúa và thiên đàng, đến tận muôn đời. Dù không phải cho toàn thể mọi người, nhưng đây là niềm tin chung của các Kitô hữu. Luôn có các thần học gia và nhà thần nghiệm tin rằng chiến thắng hoàn toàn của Chúa Kitô sẽ đến khi chính Satan hoán cải và trở về thiên đàng cùng với tất cả mọi người đang ở trong địa ngục. Họ tin rằng, tình yêu Thiên Chúa, quá mạnh mẽ, đến nỗi sau cùng, không một ai, kể cả Satan, còn chống lại Ngài. Đến cuối cùng, tình yêu sẽ chiếm lấy mọi người, và Chúa Kitô sẽ chiến thắng hoàn toàn khi địa ngục trở nên trống rỗng.

Nhưng vẫn còn những thứ mà kinh thánh gọi là «ngai vị, thống trị, vương quyền, và thế lực.» Liệu đây có phải đơn thuần là cách ám chỉ Satan và các thế lực của nó? Hay những điều này nói đến những thế lực thần linh khác mà nhiều người tin là đang ẩn trong những sự huyền bí, dị thường, giả kim, chiêm tinh, duy linh, khiêu dâm, quỷ thuật, tà thuật, và cầu cơ Làm sao chúng ta khái niệm hóa được những thế lực ác thần này?

Khi chúng ta không bác bỏ chúng như những điều thuần túy hoang đường, thì mỗi người chúng ta khái niệm hóa chúng theo vài cách khác nhau, thường là bằng những hình ảnh trong sách Khải Huyền và các tác phẩm hội họa Kitô giáo suốt nhiều thế kỷ trước. Và chúng ta họa hình một kiểu chiến sự thiêng liêng đang xảy ra bên dưới tất cả mọi sự, một trận đấu thần linh giữa sự thiện và sự ác, một chiến trận đến cuối cùng, Chúa Kitô sẽ chiến thắng khi đánh bại và tiêu diệt tất cả mọi thế lực ác thần, cũng gần giống với trận chiến nguyên thủy mà Tổng lãnh thiên thần Michael lúc ban đầu đánh bại Satan và ném nó khỏi thiên đàng.

Nhưng đó chỉ là những hình ảnh khuôn mẫu, không phải là thực họa nhưng là để chỉ cho chúng ta hướng đến một điều thâm sâu hơn. Vậy, những «ngai vị, thống trị, vương quyền, và thế lực» đối nghịch với Chúa Kitô, thực sự là gì, và chúng phải bị đánh bại thế nào? Làm sao chúng ta khái niệm hóa chiến sự thiêng liêng đang diễn ra bên dưới tất cả mọi sự này?

Chiến sự thiêng liêng này được mô tả trong Kinh Thánh và trong tất cả linh đạo đích thực, ít nói đến huyền bí và trừ tà, nhưng là nói về các ác tâm như ái kỷ, tham lam, giận dữ, cay đắng, thù ghét, dục vọng, tổn thương, ác cảm và kiêu ngạo. Đây là những «ngai vị, thống trị, vương quyền, và thế lực» thực sự, đối nghịch với Chúa Kitô. Và chiến đấu chống lại chúng là trận chiến thực sự giữa sự thiện và sự ác.

Chiến sự thiêng liêng đích thực phải là thế này: Trong thế giới chúng ta, và trong mỗi chúng ta, có một trận chiến dữ dội dấy lên, chiến tranh giữa sự thiện và sự ác, và đối thủ là đây: Thù ghét đấu với yêu thương, giận dữ đấu với nhẫn nại, tham lam đấu với quãng đại, cay đắng đấu với khoan dung, ghen tương đấu với ngưỡng mộ, chọn lựa ở lại trong vết thương của mình đấu với sự chữa lành, giữ những ác cảm của mình đấu với lòng tha thứ, cái tôi và ái kỷ đấu với lòng cảm thông và tính cộng đoàn, cuối cùng là sự tự ghét mình trong cay đắng đấu với việc đón nhận tình yêu và vòng tay vô điều kiện của Thiên Chúa. Chứng hoang tưởng đang dấy chiến tranh với tâm thức biết thay đổi. Đây là chiến tranh thực sự đang diễn ra, trên thế giới và trong mỗi một chúng ta.

Thù ghét, giận dữ, hoang tưởng, tham lam, cay đắng, dục vọng, ghen tương, bất dung, và tự căm thù bản thân chính là những «ngai vị, thống trị, vương quyền, và thế lực» mà kinh thánh đã cảnh báo cho chúng ta. Bởi thế, chiến thắng cuối cùng của Chúa Kitô sẽ đến khi những thế lực này quy phục hết, khi chúng ta cuối cùng tìm được bình an trong sự thiện, với tình yêu, tin tưởng, với bản thân, với tha nhân, với chuyện đời của mình, cùng những sai lầm, những người đã làm chúng ta tổn thương, những người chúng ta đã xúc phạm, với những thiếu sót của mình, và cả sự bất nhẫn của chúng ta với Thiên Chúa.

Trong lúc đó, chiến sự thiêng liêng, đã từ nguyên thủy đang dấy lên khắp cùng mọi nơi.

Mang lấy thập giá của mình

Trong các lời dạy của Chúa Giêsu, chúng ta thấy có lời mời có vẻ khó nghe này: Ai muốn làm môn đệ Ta, phải từ bỏ chính mình, mang thập giá mình hàng ngày, và theo Ta. Ai tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và ai mất mạng sống mình vì Ta sẽ tìm được mạng sống ấy.

Tôi ngờ rằng không ai trong chúng ta hiểu nổi câu này có nghĩa gì và muốn chúng ta đánh đổi bằng điều gì, nhưng tôi cũng ngờ nhiều người trong chúng ta hiểu lầm ý của Chúa Giêsu và rồi đấu tranh một cách không lành mạnh với lời mời này. Vậy, cụ thể thì Chúa Giêsu muốn nói gì?

Để trả lời, tôi muốn mượn đến một vài suy nghĩ thấu suốt của tác giả James Martin trong quyển sách Chúa Giêsu, Đường lữ hành (Jesus, A Pilgrimage). Tác giả cho rằng, mang lấy thập giá mình hàng ngày và từ bỏ mạng sống mình để tìm được sự sống thâm sâu hơn, mang 6 ý nghĩa đầy thấm nhập là:

Thứ nhất, chấp nhận đau khổ là một phần cuộc sống chúng ta. Chấp nhận thập giá của mình và từ bỏ mạng sống mình nghĩa là, đến một thời điểm, chúng ta phải hòa thuận với sự thật không thể thay đổi rằng, thất vọng, nản lòng, đau đớn, bất hạnh, bệnh tật, bất công, buồn đau, và cái chết là một phần cuộc sống chúng ta và phải tuyệt đối chấp nhận chúng mà không cay đắng. Bao lâu chúng ta còn nuôi quan niệm rằng đau đớn trong đời là một thứ chúng ta không cần phải chấp nhận, thì theo lẽ thường, chúng ta sẽ thấy mình đầy cay đắng, cay đắng vì đã không đón nhận thập giá.

Thứ hai, mang thánh giá và từ bỏ mạng sống mình, nghĩa là trong đau khổ của mình, chúng ta không nên đẩy bất kỳ cay đắng nào sang những người chung quanh mình. Chúng ta có khuynh hướng này rất mạnh, gần như đó là bản năng tự nhiên, là bắt người khác đau khổ khi mình đau khổ. Nếu tôi không hạnh phúc, tôi sẽ làm sao để dứt khoát những người quanh tôi cũng không hạnh phúc! Điều này không có nghĩa là chúng ta không thể chia sẻ nỗi đau của mình với người khác. Nhưng, có một cách lành mạnh để làm việc này, khi chúng ta chia sẻ nỗi đau của mình nhưng vẫn để cho người khác tự do, chứ không phải kiểu chia sẻ không lành mạnh, tinh vi cố gắng làm cho người khác không hạnh phúc chỉ vì chúng ta đang không hạnh phúc. Có một khác biệt giữa tiếng rên xiết lành mạnh dưới gánh nặng đau đớn và tiếng rên rỉ không lành mạnh chỉ thương thân trách phận và cay đắng. Thập giá cho chúng ta làm điều đầu, chứ không phải điều sau. Chúa Giêsu đã rên xiết dưới gánh nặng thập giá, nhưng từ môi miệng và thân xác đẫm roi đòn của Ngài không có những kiểu thương thân trách phận, rên rỉ hay cay đắng.

Điều thứ ba, đi theo đường thánh giá của Chúa Giêsu, nghĩa là chúng ta phải chấp nhận một vài cái chết khác đến trước cái chết thể lý, nghĩa là chúng ta được mời gọi hãy để một vài phần của mình chết đi. Khi Chúa Giêsu mời gọi chúng ta chết đi để tìm được sự sống, thì trước hết, ngài không phải nói về cái chết thể lý. Nếu chúng ta sống trưởng thành, sẽ có vô số cái chết khác mà chúng ta phải trải qua trước khi chết về thể lý. Sự trưởng thành và cương vị môn đệ Kitô hữu là không ngừng cụ thể hóa những cái chết của mình, xác nhận những khai sinh của mình, khóc than cho mất mát, và để những gì đã chết qua đi, đón nhận tinh thần mới cho đời sống mới mà chúng ta đang sống. Đây là những giai đoạn của mầu nhiệm phục sinh, và những giai đoạn trưởng thành. Có những cái chết mỗi ngày.

Và thứ tư, lời của Chúa Giêsu nghĩa là chúng ta phải chờ đợi phục sinh, nghĩa là phải biết tất cả mọi hòa âm trong cuộc đời này vẫn còn dang dở. Sách Châm ngôn cho chúng ta biết rằng đôi khi giữa những đau đớn, điều tốt nhất chúng ta có thể làm được là vùi miệng vào bụi đất và chờ đợi. Bất kỳ nhận thức thực sự nào về thập giá đều đồng ý như vậy. Có quá nhiều điều trong đời sống và cương vị môn đệ vẫn còn trong tình trạng đợi chờ, chờ đợi trong nản lòng, trong bất công, trong đau đớn, khát mong, trong vật lộn với cay đắng, khi chúng ta đang chờ đợi một sự gì đó hay một người nào đó đến và thay đổi tình thế của chúng ta. 98% cuộc đời chúng ta đang chờ đợi sự viên mãn, theo các cách lớn hay nhỏ. Lời mời của Chúa Giêsu muốn chúng ta theo Ngài, muốn nói rằng hãy, chờ đợi, chấp nhận sống trong bản hòa âm dang dở.

Thứ năm, mang thập giá mình hằng ngày nghĩa là chấp nhận ơn Chúa ban cho chúng ta thường không phải là những gì chúng ta kỳ vọng. Thiên Chúa luôn đáp lời cầu nguyện của chúng ta, nhưng thường thì, Ngài cho chúng ta những gì chúng ta thực sự cần hơn là những gì chúng ta nghĩ mình cần. Sự Phục Sinh không đến theo thời điểm chúng ta lường trước, và hiếm khi khớp với quan niệm của mình về cách sự phục sinh xảy đến. Mang thập giá của mình nghĩa là mở rộng với sự kinh ngạc.

Cuối cùng, mang lấy thập giá và sẵn sàng từ bỏ mạng sống mình, nghĩa là sống trong đức tin rằng với Thiên Chúa không gì là không thể. Và theo James Martin, điều này nghĩa là chấp nhận Thiên Chúa cao cả hơn những gì con người tưởng tượng. Thật vậy, bất kỳ lúc nào, chúng ta khuất phục ý nghĩ rằng Thiên Chúa không thể cho chúng ta một lối thoát khỏi khổ đau để vào trong sự mới mẻ, thì đó chính là bởi chúng ta đã hạ thấp Thiên Chúa theo mức độ trí tưởng hạn chế của mình. Chỉ có thể đón nhận thập giá của mình, có thể sống trong sự thật, và không cay đắng trong đau đớn, nếu như chúng ta tin vào các khả thể vượt quá những gì chúng ta có thể tưởng tượng, cụ thể là tin vào Sự Phục Sinh.

Chúng ta có thể mang lấy thập giá của mình, khi bắt đầu tin vào Sự Phục Sinh.

Ba dạng linh đạo

Tất cả chúng ta đều đấu tranh, và đấu tranh theo 3 cách. Thứ nhất là, đôi khi chúng ta đơn thuần đấu tranh để giữ mình, để vẫn lành mạnh và ổn định, để bình thường, không sụp đổ, để cuộc sống chúng ta không vướng vào những hỗn loạn và khủng hoảng. Cần thực sự nỗ lực để giữ mình được lành mạnh bình thường, ổn định, và hạnh phúc.

Nhưng ngay cả khi được như thế, thì một phần khác trong chúng ta luôn vươn lên, đấu tranh để lớn lên, để đạt được những điều cao hơn, để không phí hoài những phong phú và ơn ích của mình, để sống một đời sống đáng ngưỡng mộ hơn, cao quý hơn và vị tha hơn.

Rồi đến một tầm mức khác, chúng ta đấu tranh với một bóng tối đầy đe dọa đang bao quanh và len vào chúng ta. Sự phức tạp của đời sống có thể ngập tràn áp đảo chúng ta, làm cho chúng ta cảm thấy mình bị đe dọa, nhỏ bé, bị loại trừ và tầm thường. Vì lẽ này, mà một phần trong chúng ta luôn ý thức rằng chúng ta đang ở trong một thời kỳ, một đổ vỡ, một quan hệ mất mát, mất việc, cái chết của người thân yêu, hay một chuyện gì đó mà chúng ta không thể lường trước, trượt dốc qua tình trạng khủng hoảng trầm cảm tê liệt, một căn bệnh, hay một hỗn mang tăm tối mà chúng ta không thể kiểm soát.

Nói ngắn gọn, chúng ta đấu tranh để giữ mình, đấu tranh để lớn lên, và đấu tranh để giữ khủng hoảng và cái chết không len vào mình. Vì phải đấu tranh ở ba tầm mức này, nên chúng ta cần ba dạng linh đạo trong đời.

Ở tầm mức thứ nhất, chúng ta cần linh đạo giữ gìn, nghĩa là một linh đạo giúp chúng ta duy trì tinh thần lành mạnh, ổn định, và bình thường của mình. Các giáo huấn thiêng liêng thường hay bỏ sót khía cạnh linh đạo sống còn này. Lúc nào chúng ta cũng chịu thách thức để phải lớn lên, trở nên người tốt hơn, Kitô hữu tốt hơn, đơn giản là tốt hơn hiện tại. Điều này tốt, nhưng sẽ ngây thơ khi nghĩ rằng chúng ta đã đủ lành mạnh, ổn định, và mạnh mẽ để đón nhận thách thức này. Và, như chúng ta biết, rất nhiều khi không phải như vậy. Có những thời điểm trong đời, khi việc tốt nhất chúng ta có thể làm, chỉ là bám thật chặt, đừng sụp đổ, và chiến đấu để lấy lại tinh thần lành mạnh, ổn định và sức lực trong đời, để đơn giản là đặt được một chân về phía trước. Những lúc này, những gì đích thực chúng ta cần không phải là những thách thức, mà là cần có được một sự chấp nhận thiêng liêng để cảm nhận những gì chúng ta đang cảm nhận và chúng ta cần một bàn tay ấm áp để kéo chúng ta về lại phía lành mạnh và mạnh khỏe. Thách thức phải đến sau.

Và thách thức này đến với lời mời chúng ta hướng lên, hướng đến linh đạo của con đường hướng thượng. Tất cả mọi linh đạo đáng nói, đều nhấn mạnh nhu cầu phải có một sự hướng thượng nhất định, để lớn lên vươn ra khỏi sự ấu trĩ, lười biếng, những thương tích, thói ham khoái lạc cố hữu, và sự hời hợt trong nền văn hóa của chúng ta. Điều cần nhấn mạnh ở đây, chính là luôn luôn vươn lên, vượt qua, hướng đến những gì từ trời, và hướng đến tất cả những gì cao cả, vị tha, nhân ái, yêu thương, đáng ngưỡng mộ, và thánh thiện hơn. Đa số linh đạo Kitô giáo kinh điển là linh đạo hướng thượng, lời mời gọi đến với một điều cao đẹp hơn, lời mời gọi hãy thành thực với những gì thâm sâu nhất trong chúng ta, cụ thể là, Hình ảnh của Thiên Chúa và Giống như Thiên Chúa. Các lời dạy của Chúa Giêsu đích xác là mời gọi chúng ta hướng đến một tinh thần cao đẹp hơn. Đức Không Tử, một trong những nhà lãnh đạo tinh thần vĩ đại nhất mọi thời, đã có đường hướng sư phạm tương tự như vậy, khi ngài mời gọi mọi người hãy nhìn về cái đẹp và sự thiện, và luôn luôn đi theo đường hướng đó. Còn thời chúng ta thì có thánh Gioan Phaolô II, ngài đã áp dụng rất hiệu quả điều này khi ngỏ lời với giới trẻ, thách thức họ luôn luôn, không thỏa hiệp hay theo đuổi cái tốt thứ yếu, nhưng phải nhìn đến một cái tốt cao hơn và cao cả hơn nữa để hướng dẫn cuộc đời của mình.

Nhưng thách thức lớn lên cũng cần một linh đạo hướng hạ (xuống núi), một quan điểm và tập hợp nguyên tắc chỉ cho chúng ta thấy rằng, không phải chỉ hướng về mặt trời mọc, nhưng cũng phải nhìn theo hướng mặt trời lặn. Chúng ta cần một linh đạo không trốn tránh hay bác bỏ sự phức tạp của đời sống, hay âm mưu điên rồ của các thế lực vượt ngoài tầm chúng ta, những mất mát điếng người, và các khủng hoảng trong cuộc đời, cũng như thực tế đập thẳng vào mắt của ốm đau, bị hạ thấp, và cái chết. Đôi khi, chúng ta chỉ có thể lớn lên bằng cách đi xuống vào trong âm phủ đáng sợ đó, là nơi, như Chúa Giêsu, chúng ta trải qua sự biến đổi bằng cách đối diện với hỗn loạn, bị hạ thấp, bóng tối, các thế lực ma quỷ (dù chúng là gì đi nữa) và cả cái chết. Trong một vài nền văn hóa cổ, điều này được gọi là ‘ngồi trong đống tro’ hay ‘làm con cái Thổ tinh’ (hành tinh biểu tượng cho khủng hoảng). Là Kitô hữu, chúng ta gọi tiến trình này là mầu nhiệm vượt qua. Cho dù mang tên gì đi nữa, thì tất cả mọi linh đạo đáng được gọi tên, đôi khi trong đời bạn, bạn sẽ bị mời gọi làm một cuộc hành trình đi xuống đau đớn vào con đường kinh hãi của hỗn loạn, khủng hoảng, mất mát, tầm thường, bóng tối, các thế lực ma quỷ, và cả cái chết.

Đời sống tự tỏ mình cho chúng ta, từ trên, từ dưới, và trong bề ngang của sự bình thường. Không được loại bỏ bất kỳ điểm nào. Chúng ta cũng luôn cần phải giữ mình ổn định vững vàng, ngay cả những khi hướng thượng, và đôi lúc cũng phải để mình đi xuống và ở trong bóng tối.

Và vẫn còn thời gian cho chúng ta làm tất cả mọi việc này: Như Rainer Marie Rilke đã từng viết:

Ngươi chưa chết, vẫn còn chưa quá muộn
Để mở toang những sâu thẳm tâm hồn
Bằng hồ hởi nhận chìm trong thẳm tận
Và uống lấy cho thấm cạn trong đời
Đang lặng lẽ tỏ bày mình nơi đó.

Nữ thần khiết tịnh

Qua các thần thoại của mình, người Hy Lạp cổ đại có một nền khôn ngoan về mặt tâm linh và tâm lý rất đậm nét. Ý định của họ không phải là hiểu thần thoại theo nghĩa đen hay theo tính lịch sử, nhưng là các ẩn dụ và minh họa mẫu cho lý do vì sao đời sống và cách con người sống vừa mang tính sinh sôi vừa mang tính hủy hoại.

Đa số thần thoại Hy lạp tập trung vào các thần nam và thần nữ. Các thần nam và thần nữ này phản ảnh sống động mọi khía cạnh đời sống, hành vi và thiên hướng bẩm sinh của con người. Thêm nữa, các thần nam, thần nữ này thường không có tác phong đạo đức trong hành vi của mình, đặc biệt là trong đời sống tính dục. Họ có đủ chuyện lăng nhăng với nhau và với con người. Tuy nhiên, bất chấp sự bừa bãi và vô luân trong hành vi tính dục của họ, một trong các đặc nét tích cực của các thần thoại là, đối với người Hy Lạp cổ đại, tình dục, luôn luôn, và xét cách nào đó, có liên kết với linh thần. Ngay cả các đền thờ mãi dâm cũng, theo cách nào đó, liên kết với việc đạt được sự sinh sôi phát xuất từ thần linh.

Ở đền Patheon thờ các thần nam, thần nữ, có một nữ thần đặc biệt là Artemis. Không như hầu hết các nữ thần khác hay bừa bãi về tình dục, Artemis lại độc thân và trinh trắng. Sự tiết dục của Artemis thể hiện vị thế và giá trị của đức trinh tiết và đời độc thân. Artemis được họa hình với dáng cao, dung nhan yêu kiều, hấp dẫn về mặt tính dục, nhưng có một vẻ đẹp, vừa gợi tình vừa khác với kiểu hấp dẫn nhục dục của các nữ thần như Hera và Venus. Trong Artemis, tình dục được họa hình như một sự pha trộn quyến rũ giữa độc thân và chính trực. Trong thần thoại, quanh Artemis thường là các thần hay người, cùng giới nữ, hay khác giới nhưng là bạn và thân quyến chứ không bao giờ là người yêu.

Ý nghĩa ở đây là, dục vọng có thể được giữ lành mạnh và sinh ích ngay cả khi kiêng tình dục. Artemis là biểu hiện cho con đường tình dục trong khiết tịnh. Nữ thần cho chúng ta thấy rằng, giữa một thế giới chìm trong tình dục, người ta có thể sinh sôi và hạnh phúc trong khiết tịnh và thậm chí là độc thân. Có lẽ quan trọng hơn nữa, Artemis cho chúng ta thấy rằng khiết tịnh không nhất thiết phải là cằn cỗi và bài trừ tình dục. Đúng hơn, nơi nữ thần này, chúng ta thấy tính dục có nghĩa rộng hơn tình dục, và tình dục tự bản thân sẽ được phong phú và ý nghĩa hơn nếu có liên kết với khiết tịnh. Artemis là chủ trương sống độc thân, cảm nghiệm tình bạn và các kiểu thân mật khác, không phải là loại trừ tình dục, nhưng là một trong những thể thức phong phú của chính tình dục.

Thomas Moore, khi nói về Artemis, đã viết rằng: “Dù nàng trinh khiết nhất trong số các nữ thần, Artemis không phải loài vô tính. Nàng hiện thân cho một dạng tính dục đặc biệt, đặt nơi cá nhân, nguyên vẹn, và độc thân.” Và như thế, Artemis là hình mẫu không chỉ cho người độc thân mà còn cho những ai có cuộc sống tình dục năng động. Với những người này, Artemis là lá cờ báo hiệu: Tôi muốn được đón nhận một cách nghiêm túc, đảm bảo sự nguyên vẹn và độc lập của tôi.

Cũng vậy, tác giả Thomas Moore cho rằng, cho dù độc thân hay năng động tính dục, chúng ta tất cả đều “có những giai đoạn trong đời, hay những thời điểm trong ngày, cần được ở một mình, tách khỏi tình yêu và tình dục, tận hiến toàn bộ cho bản thân, một cách tách biệt xa khỏi tất cả. Artemis cho chúng ta biết rằng chọn lựa này không phải là chối bỏ xã hội và con người, nhưng đơn thuần là việc tập trung thâm sâu, tích cực, và thậm chí là mang tính tình dục vào bản thân và thế giới của mình.”

Bài học từ nữ thần này là bài học rất cần cho thế giới ngày nay. Thời đại chúng ta đã biến tình dục thành con đường cứu độ, nghĩa là, với chúng ta, tình dục được xem là công cụ để đạt đến thiên đàng, và bản thân nó được xem là thiên đàng. Tình dục được cho là lẽ sống của chúng ta. Một trong những hệ quả của việc này là chúng ta không thể xem nhận thức trưởng thành tương hợp với đức khiết tịnh, hay tính phức tạp chân thật, và sự phong phú của tình dục. Thực sự, với nhiều người trong chúng ta, khiết tịnh và độc thân bị xem là tự vệ sợ sệt, làm cho con người khô khan, cằn cỗi, đạo đức, bài tình dục, căng thẳng về mặt tình dục, và không có được niềm vui trong cuộc sống. Và gắn chặt với suy nghĩ này là khái niệm cho rằng tất cả những hiện thực phong phú đã được khắc họa rõ nét đầy tích cực nơi Artemis (cũng như nơi quan niệm khiết tịnh của Kitô giáo), cụ thể là, tình bạn, các dạng thân mật không tình dục khác, các khoái lạc không tình dục, và nhu cầu nguyên vẹn và trung tín trong tình dục, đều là chọn lựa loại trừ tình dục, và là lựa chọn thứ yếu, chứ không phải là một thể thức tình dục phong phú.

Chúng ta đang bị bần cùng hóa về mặt tâm lý và tâm linh, do khái niệm đó, nó làm cho đời sống tình dục của chúng ta chịu đựng sự căng thẳng phi lý. Khi gán cho tình dục vai trò hàng đầu đối với hạnh phúc và sinh sôi của con người, thì nó thành thiển cận và mất mát mà thôi. Và chúng ta đang thấy điều này trong thế giới ngày nay.

Tất nhiên, là Kitô hữu, chúng ta có nữ thần khiết tịnh của mình, đó là Đức Mẹ, Mẹ của Chúa Giêsu, cũng như nhiều nữ thánh khác. Tại sao chúng ta không rút lấy linh đạo khiết tịnh của mình từ những người nữ này, thay vì nhìn về các nữ thần ngoại đạo trong các chuyện thần thoại? Nhìn chung, chúng ta đang hướng về các hình mẫu Kitô giáo. Nhưng hơn nữa, tôi cho rằng, cả Đức Trinh nữ Maria và tất cả các thánh trinh nữ của chúng ta, sẽ là bạn bè rất tuyệt với nàng Artemis.

Cái giá đáng buồn của phẫn uất

Không phải chỉ có tình yêu mới làm cho thế giới chuyển động. Phẫn uất cũng có vai trò quan trọng trong việc khuấy động mọi chuyện. Thế giới chúng ta, theo rất nhiều cách, chìm trong phẫn uất. Dường như, nhìn vào đâu, bạn cũng thấy có những người cay đắng về một chuyện gì đó, và hơi thở của họ đầy phẫn uất oán giận. Phẫn uất là gì? Tại sao cảm giác này lại thường hay xảy ra trong đời sống chúng ta? Làm sao chúng ta có thể vượt lên được chuyện này?

Triết gia Soren Kierkegaard đã từng định nghĩa phẫn uất như thế này. Ông cho rằng, phẫn uất xảy ra khi chúng ta chuyển từ cảm giác hạnh phúc của ngưỡng mộ đến cảm giác bất hạnh của ghen tị. Và điều này, đáng buồn thay, lại hay xảy ra trong đời sống chúng ta, và chúng ta, rất nguy ngập, lại bị bịt mắt, không thấy được nó. Tôi phẫn uất ư? Làm sao bạn dám quy cho tôi cái đó?

Nhưng, thật khó để bác bỏ rằng phẫn uất và những bất hạnh kèm theo của nó đã tô màu cho thế giới chúng ta. Ở mọi mức độ sống, từ những gì chúng ta thấy nơi những bất bình và chiến tranh giữa các quốc gia, cho đến các tranh chấp vụn vặt nơi phòng họp, lớp học, phòng khách và cả trong phòng ngủ đều chứng thực sự phẫn uất và chua cay. Thế giới chúng ta đầy phẫn uất. Dường như tất cả mọi người, đều cay đắng về một chuyện gì đó và tất nhiên, không phải không có lý do. Rất nhiều người âm thầm nuôi cảm giác mình bị phớt lờ, bị tổn thương, lừa phỉnh, bị đối xử bất công và có quá ít trong đời, và nhiều người trong chúng ta cảm thấy mình hoàn toàn có quyền chứng tỏ là mình đúng khi phẫn uất và bất hạnh. Chúng ta không được hạnh phúc, nhưng là vì một lý do đúng.

Đúng, luôn có lý do đúng để phẫn uất, nhưng, theo một vài phân tích thấu suốt, cả xưa và nay, chúng ta hiếm khi chạm đến được những nguyên do thực sự vì sao chúng ta lại quá cay đắng đến như vậy. Đối với những người như Tôma Aquinô, Soren Kierkegaard, Robert Moore, Gil Bailie, Robert Bly và Richard Rohr, cùng những người khác nữa, thì gốc rễ thâm sâu của phẫn uất và bất hạnh nằm ở việc chúng ta không thể ái mộ, không thể khen ngợi người khác, không thể cho người khác và cho thế giới một cái nhìn ngưỡng mộ đơn thuần.

Xét chung, chúng ta là một xã hội không biết ngưỡng mộ. Với chúng ta, ngưỡng mộ là một đức tính đã không còn. Thật vậy, trong nhiều nhóm thời nay, cả trên thế giới lẫn trong Giáo hội, sự ngưỡng mộ được xem là một điều gì đó ấu trĩ và thiếu chính chắn, là tiếng cười điên dại ngơ ngác của một cô bé đang theo đuổi thần tượng nhạc rock. Sự chính chắn và khôn lanh thời nay, phải là một kiểu tri thức, thông minh và ít nói, vốn không dễ gì ngưỡng mộ hay khen ngợi người khác. Chúng ta tin rằng hiểu biết và chính chắn, cần phải đẩy mọi thứ ra xa mình, phải nghi ngờ nhân đức của người khác, không được tin tưởng động cơ của họ, hết sức cảnh giác những kẻ giả tạo, và có đủ mọi nguyên do để đừng có lòng ngưỡng mộ. Quan điểm thời nay là thế đó.

Nhưng trong quan điểm về chính chắn và hiểu biết này, chúng ta lại không thừa nhận một điều, chính là chúng ta thấy mình bị đe dọa đến mức nào trước những người có tài năng và đức độ hơn chúng ta. Những gì chúng ta không chịu thừa nhận, chính là sự đố kỵ trong lòng. Những gì chúng ta không chịu thừa nhận, chính là sự phẫn uất của chúng ta. Những gì chúng ta không chịu thừa nhận, chính là việc chúng ta thấy cần phải hạ bệ một ai đó, thực chất đó là dấu chỉ không lầm lẫn cho tính ghen tị và tư duy tồi tệ của mình. Và để chối bỏ điều này, chúng ta có nhiều trợ lực: Những lời châm biếm và phán xét lạnh lùng chính là thứ ngụy trang hoàn hảo, chúng ta không cần phải ngưỡng mộ vì chúng ta đủ thông mình để biết rằng chẳng có gì thực sự đáng để ngưỡng mộ.

Và thường, thì chúng ta rơi vào tình trạng bất hạnh phức tạp này: Chúng ta không còn thực sự ngưỡng mộ ai. Chúng ta không còn thực sự khen ngợi ai. Chúng ta không còn nhìn vào thế giới với lòng tán dương và ngưỡng mộ nữa. Mà cái nhìn của chúng ta luôn mãi là phẫn uất, châm biếm, phán xét, và ghen tị.

Chúng ta có thể kiểm xét bản thân như thế này: Robert Moore thường đòi hỏi các thính giả của ông tự hỏi mình câu hỏi này: Lần cuối cùng bạn tiến tới, và nói với một người, đặc biệt là một người trẻ hơn, hay một người kém tài hơn bạn, rằng bạn ngưỡng mộ người đó, ngưỡng mộ những gì người đó làm, rằng những vẻ đẹp của người đó làm phong phú cho đời bạn, và rằng bạn thấy vui vì đã được gặp người đó là lúc nào? Lần cuối cùng, bạn chân thành khen một ai đó, là lúc nào? Hay đảo ngược câu hỏi thế này: Lần cuối cùng, có ai đó, đặc biệt là người bị đe dọa bởi tài năng của bạn, đã thật tâm khen ngợi bạn, là lúc nào?

Chúng ta không dễ gì và cũng chẳng thường xuyên, khen ngợi người khác, vì điều này đi ngược lại tính ghen tị ẩn dấu của chúng ta. Điều này cũng cho thấy các khiếm khuyết đạo đức thực sự trong đời chúng ta. Thánh Tôma Aquinô từng nhìn nhận rằng, không khen ai đó xứng đáng được khen, cũng là một tội vì chúng ta ngăn không cho người đó được ăn những gì họ cần để sống. Không ngưỡng mộ, không khen ngợi, chính là biểu hiện của sự tinh khôn, nhưng cũng là dấu chỉ của sự non nớt đạo đức và sự bất an trong người. Nó cũng là một trong những lý do sâu xa vì sao chúng ta quá thường đầy những cảm giác cay đắng của phẫn uất và bất hạnh.

Tai sao chúng ta lại quá thường cảm thấy cay đắng và phẫn uất? Chúng ta lòng đầy phẫn uất vì nhiều lý do, mà trong đó, một lý do không nhỏ là vì chúng ta đánh mất đi những đức tính ngưỡng mộ và khen ngợi.

Chấp nhận khía cạnh thiêng liêng của con người và công cụ để đương đầu với tình trạng bất mãn

Đôi khi có những đoạn văn trong Thánh Kinh làm bạn thắc mắc: Đây thực sự là lời của Chúa hay sao? Tại sao lại có đoạn này trong Kinh Thánh? Có bài học gì ở đây?

Ví dụ những đoạn được đưa vào kinh phụng vụ, với những câu Thánh vịnh như xin Chúa đập đầu con cái quân thù vào đá. Những câu này làm sao mời gọi chúng ta yêu mến kẻ thù của mình được? Còn trong sách ông Gióp, trong nỗi thất vọng, ông đã nguyền rủa không chỉ ngày ông được sinh ra mà cả việc bất kỳ ai được sinh ra nữa. Thật không thể tìm được dấu vết tích cực nào trong lời than van của ông. Cũng tương tự như thế, trong một vài đoạn văn phổ biến, chúng ta thấy Qoheleth khẳng định rằng tất cả mọi sự trong cuộc đời chúng ta và trong đời sống thế gian, đơn thuần chỉ là phù hoa, là cơn gió, hư ảo, vô thực và chẳng sinh kết quả gì. Có bài học gì ở đây? Rồi, trong Tin Mừng, có những đoạn các tông đồ, nản lòng vì những chống báng, đã xin Chúa Giêsu cho lửa từ trời xuống hủy diệt những người vốn là đối tượng mục vụ của họ. Đây thật khó là một mẫu mực cho mục vụ!

Vậy tại sao những đoạn văn này lại có trong Kinh Thánh? Vì chúng cho chúng ta một sự cho phép thần thiêng để cảm nhận những cảm giác đôi khi đến trong chúng ta, và chúng cho chúng ta những khí cụ thiêng liêng để giải quyết những khiếm khuyết và bất mãn trong đời mình. Thật vậy, chúng vừa quan trọng vừa an ủi vì khi nhìn theo cách ẩn dụ, chúng cho chúng ta một thang âm đủ dài để chơi trọn hết mọi bản nhạc đời sống chúng ta cần phải có trong đời. Chúng cho chúng ta lời than van và cầu nguyện cần có để kêu lên khi đối diện với tình trạng bất mãn mình phải chịu, đối diện với cái chết, bi kịch, và các cơn khủng hoảng.

Tôi xin đưa ra một ví dụ đơn giản, một người bạn của tôi đã chia sẻ câu chuyện này: Mới đây, ông đi lễ với cả nhà, có cả đứa con trai 7 tuổi Michael, và mẹ ông là bà nội của Michael. Rồi, Michael, ngồi kế bên bà nội, thì thầm nhưng rõ to rằng: “Con chán quá!” Bà nội kéo cháu lại và nhẹ nhàng la: “Con không chán đâu!” như thể bầu khí thiêng liêng ở nhà thờ và tính quyền uy ở đó có thể thay đổi được bản tính con người vậy. Nhưng chúng không thể. Khi chúng ta chán, chúng ta cứ chán! Và đôi khi, chúng ta cần có sự chấp thuận của Chúa để cảm nhận những cảm giác bộc phát trong lòng chúng ta.

Vài năm về trước, trong thiện ý cao cả, một dòng tu tôi biết, muốn cải thiện các Thánh vịnh mà họ thường đọc trong kinh nhật tụng để nhằm tránh các yếu tố gây giận dữ, thù hằn, và chiến tranh. Dòng đã chỉ định một vài học giả Kinh Thánh trong dòng đảm trách việc này, nên đó là việc rất hàn lâm và nghiêm túc. Họ thành công, và tác phẩm mới rất hàn lâm và nghiêm túc, đã loại được hết những chủ đề bạo lực, báo thù, giận dữ và chiến tranh, nhưng nó như các tấm thiệp chúc mừng hơn là những lời cầu nguyện thể hiện đời sống và cảm xúc thật của con người. Chúng ta không phải lúc nào cũng lạc quan, độ lượng, và đầy thành tín. Nhiều lúc, chúng ta thấy giận dữ, chua cay, và oán hờn. Chúng ta cần có một sự chấp thuận thiêng liêng để cảm nhận như thế (dù không hành động như thế) và để cầu nguyện thật lòng.

Cha mẹ tôi, và hầu hết mọi người cùng thế hệ với họ, mỗi ngày trong lời cầu nguyện, đều thốt lên những từ này: Con xin dâng lên những đau buồn, thở than, khóc lóc trong thung lũng đầy nước mắt. Thế hệ chúng ta lại có khuynh hướng xem đó là chuyện không lành mạnh, lại còn phỉ báng vẻ đẹp và niềm vui sống cũng như nhãn quan mà đức tin đem lại cho chúng ta. Nhưng cả một sự phong phú ẩn tàng trong lời cầu nguyện đó. Khi cầu nguyện như thế, người ta chấp nhận khía cạnh để chấp nhận giới hạn đời mình. Lời cầu nguyện đó là dụng cụ biểu trưng để đối diện với tình trạng bất mãn, và đôi khi tôi cho rằng, chúng ta đã không truyền lại đủ điều này cho con cháu mình. Quá nhiều người trẻ ngày nay, chưa bao giờ được trao cho các dụng cụ này để họ đương đầu với nỗi chán chường, bất mãn và họ cũng không chấp nhận có khía cạnh thiêng liêng để cảm nhận đúng những cảm giác của mình. Đôi khi, với ý hướng hoàn toàn tốt, chúng ta lại cho con cái của mình công viên Disney Land hơn là trao cho chúng Tin mừng.

Trong sách Ai Ca, chúng ta thấy một đoạn văn nhìn qua thì tiêu cực, nhưng ngược lại, khi đối diện với cái chết và bi kịch, thì có lẽ đó là đoạn văn đem lại nhiều an ủi nhất. Đoạn văn đó đơn giản nói rằng, đôi khi trong đời, tất cả những gì chúng ta có thể làm là vùi miệng trong bụi đất và chờ đợi!
Đây là lời khuyên, nói ra từ miệng của kinh nghiệm và của đức tin.
Nhà thơ Rainer Marie Rilke, đã viết những câu này cho một người bạn đang phải đối diện với cái chết của người thân yêu, và không biết phải tìm nguồn an ủi nơi đâu. Tôi phải làm gì với tất cả đau thương này? Rilke trả lời rằng: “Đừng sợ phải chịu đau khổ, hãy trả gánh nặng đó lại cho sức nặng của địa cầu, núi non là nặng nề, biển khơi là nặng nề.” Đôi khi đời là vậy, và chúng ta cần có sự chấp thuận của Thiên Chúa để cảm nhận gánh nặng đó.

Năm người giúp cho tôi tự biết mình

Dù được lớn lên trong một gia đình và cộng đoàn yêu thương, an toàn, và được giáo dưỡng, nhưng một trong những ký ức lớn nhất thời thơ ấu và niên thiếu của tôi là niềm khắc khoải, có thể nói là bất mãn. Cuộc đời tôi dường như quá nhỏ bé, quá hạn chế, và xa cách với những gì quan trọng trên thế giới. Tôi luôn mãi khát khao được kết nối hơn nữa với đời và sợ rằng những người khác không cùng cảm nhận như vậy và tôi, theo cách này cách khác, đơn độc và không lành mạnh trong nỗi khắc khoải bứt rứt của mình.

Ngay khi học xong cấp trung học, tôi vào Dòng Hiến sĩ, mang theo nỗi khắc khoải của mình, mà thậm chí, khi đã sống trong đời tu trì, tôi lại thấy càng lo lắng và xấu hổ hơn vì đã có nỗi bứt rứt đó. Tuy nhiên trong nửa năm đào tạo đầu tiên ở tập viện, chúng tôi được gặp một hiến sĩ truyền giáo xuất chúng tên là Noah Warnke, người đã được nhận vô số giải thưởng dân sự cũng như giáo hội vì các thành tựu của mình và ai ai cũng tôn trọng cha. Cha bắt đầu bài nói với các tập sinh chúng tôi bằng cách hỏi những câu này: “Các con có bồn chồn khắc khoải không? Có cảm thấy bị cô lập trong nhà tu này không? Có cảm thấy cô đơn và bị tách biệt khỏi thế giới hay không?” Chúng tôi, ai cũng gật đầu thưa có, và cha nói một lời đánh động thật chính xác: “Tốt, các con nên cảm thấy khắc khoải. Chúa ơi, các con hẳn phải giật mình, tất cả các con đều mang dòng máu đỏ bừng bừng đầy năng lượng, và các con lại rúc vào đây tránh xa mọi sự! Nhưng thế là tốt, lòng khắc khoải đó là một cảm giác tốt, và như thế là các con lành mạnh! Nỗi niềm khắc khoải loại bỏ tính ương ngạnh, và đáng để chúng ta đi cả quãng đường dài vì điều đó!” Đây là lần đầu tiên trong đời tôi, có một người hợp lý hóa cho cảm giác của tôi. Tôi cảm thấy như thể mình vừa mới biết mình vậy: “Mày có giật mình không? Tốt quá, mày lành mạnh!”

Ngay sau năm tập viện đó, tôi bắt đầu học thần học và một trong những người chúng tôi học rất sâu là thánh Tôma Aquinô. Ngài là người thứ hai giúp tôi biết mình. Lần đầu tiếp xúc với suy tư của ngài, tôi mới 19 tuổi, và dù một vài thấu suốt của ngài quá cao so với suy nghĩ non trẻ của tôi, nhưng tôi cũng hiểu đủ để tìm được nơi ngài không chỉ một vài hợp lý hóa cho cảm giác của mình, mà quan trọng hơn, còn là một siêu ký thuật cho tôi hiểu được vì sao mình lại có cảm giác như thế. Thánh Tôma đưa ra câu hỏi: “Khách thể tương xứng của tâm trí và tâm hồn con người là gì?” Nói cách khác, là chúng ta phải cảm nghiệm điều gì để được hoàn toàn mãn nguyện? Câu trả lời của ngài là: Tất cả mọi sự, tất cả! Những gì chúng ta phải cảm nghiệm để hoàn toàn mãn nguyện là tất cả mọi sự. Chúng ta phải biết tất cả mọi sự và được tất cả mọi người biết, một chuyện bất khả thi trong đời, và do đó chẳng có gì là bí ẩn về việc chúng ta sống bất an luôn mãi và về lý do vì sao, như Pascal đã nói, tất cả mọi khốn khổ của con người là do việc chúng ta không thể ngồi yên trong phòng dù chỉ một tiếng đồng hồ.

Người thứ ba cho tôi biết mình là Sydney Callahan. Là một chủng sinh, khi đọc sách của bà viết về tính dục, tôi chấn động vì cách bà liên kết tính dục với linh hồn, và cách khát vọng, có cả dục vọng bắt rễ sâu trong linh hồn. Bà đã cho tôi một lời đơn giản. Tôi không có nguyên văn, nhưng lời đó như thế này: Nếu bạn nhìn vào mình, vào sự không thể thỏa mãn của mình và lo lắng rằng bạn quá khắc khoải, quá dục tính, và có thể là mắc bệnh không thỏa mãn, thì nó không có nghĩa là bạn bệnh hoạn, nó chỉ có nghĩa là bạn lành mạnh và không cần phải tiêm thêm kích thích tố! Đây là lời giải phóng cho một thanh niên 20 tuổi khắc khoải và quá nhạy cảm.

Hai năm sau, tôi được biết đến các tác phẩm của Henri Nouwen và, có lẽ hơn bất kỳ ai, chính ngài đã cho tôi được cảm nhận đúng những gì mình cảm nhận. Như chúng ta biết, Nouwen là một ngòi bút uy thế, vì ngài hết sức thành thật trong việc chia sẻ những thiếu thốn, khắc khoải và bất an của mình. Ngài có tài năng có một không hai trong việc dò ra các mối khắc khoải trong linh hồn chúng ta. Ví dụ như, khi mô tả những đấu tranh của chính mình, Nouwen viết rằng: “Tôi muốn làm một vị thánh, nhưng tôi cũng muốn được cảm nghiệm tất cả những cảm giác của một tội nhân. Kỳ lạ làm sao, đời là một cuộc đấu tranh.”

Người cuối cùng tất nhiên là thánh Âu Tinh và phần mở đầu lừng danh trong quyển Tự thú, khi ngài tóm lược cuộc đấu tranh suốt đời trong vài từ: “Ngài đã tạo dựng chúng con vì Ngài, lạy Chúa, nên lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nào nó được nghỉ an trong Ngài.” Chúng ta mang nỗi vô hạn này trong mình, và như thế chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta sẽ chẳng bao giờ tìm được cảm giác thành toàn và bình an trong cái hữu hạn. Thánh Âu Tinh cũng cho chúng ta một lý luận tuyệt vời rằng chúng ta thường đẩy về tương lai vô định một số chuyện mà chúng ta cần làm ngay bây giờ: “Lạy Chúa, xin cho con nên một Kitô hữu ngoan đạo, nhưng khoan đã!”

Một vài người nói đến những người họ muốn gặp trên thiên đàng. Còn đây là năm người đã giúp tôi hiểu được ý nghĩa của con đường dương thế.