RonRolheiser,OMI

Chiến sự thiêng liêng

Văn học thiêng liêng luôn nhấn mạnh đến cuộc chiến căn bản nguyên sơ giữa thiện và ác, và nhìn chung đây được xem là chiến tranh, trận chiến thiêng liêng. Do đó, là Kitô hữu, chúng ta được cảnh báo phải cảnh giác với các thế lực của Satan và các thế lực sự dữ khác. Chúng ta phải chiến đấu với những thế lực này không chỉ bằng lời cầu nguyện, sự thận trọng đạo đức riêng, nhưng còn bằng tất cả các phương tiện khác, từ nước thánh, trừ tà, cho đến việc theo giáo lý mà tránh xa tất cả những gì liên quan đến huyền bí, dị thường, giả kim, chiêm tinh, duy linh, khiêu dâm, quỷ thuật, tà thuật, và cầu cơ. Với Kitô hữu, những thứ này được xem là những cánh cửa mở ngỏ nguy hiểm, nơi các ác thần có thể đi vào đời sống và gây hại cho chúng ta.

Và Kinh Thánh dường như cũng cảnh báo chúng ta đề phòng những thứ này. Kinh thánh dạy chúng ta rằng thế giới của chúng ta sẽ đến sự viên mãn và thành toàn, khi Chúa Kitô chiến thắng tất cả mọi thế lực đối nghịch với Thiên Chúa. Và để điều này hoàn thiện, Chúa Kitô trước hết phải đánh bại và tiêu diệt sự chết, bóng tối, sự dữ, các thế lực địa ngục, uy quyền của Satan, và đủ loại «ngai vị, thống trị, vương quyền, và thế lực.»

Vậy, cụ thể, thì những thế lực này là gì và đến cuối cùng Chúa Kitô chiến thắng chúng thế nào? Làm sao chúng ta nhận thức được trận chiến đang diễn ra?

Chúng ta thấy được rõ ràng hơn về cách sự chết bị đánh bại: Chúng ta tin rằng, sự phục sinh của Chúa Giêsu và của chúng ta, chính là sự chiến thắng của trận chiến này. Còn về Satan và địa ngục, mỗi người chúng ta có một khái niệm riêng, nhưng khái niệm chung của các Kitô hữu chúng ta là có một niềm tin, tin rằng những sự này sẽ không bị chế ngự hoàn toàn, nhưng vẫn tiếp tục tồn tại, song song và đối nghịch với Thiên Chúa và thiên đàng, đến tận muôn đời. Dù không phải cho toàn thể mọi người, nhưng đây là niềm tin chung của các Kitô hữu. Luôn có các thần học gia và nhà thần nghiệm tin rằng chiến thắng hoàn toàn của Chúa Kitô sẽ đến khi chính Satan hoán cải và trở về thiên đàng cùng với tất cả mọi người đang ở trong địa ngục. Họ tin rằng, tình yêu Thiên Chúa, quá mạnh mẽ, đến nỗi sau cùng, không một ai, kể cả Satan, còn chống lại Ngài. Đến cuối cùng, tình yêu sẽ chiếm lấy mọi người, và Chúa Kitô sẽ chiến thắng hoàn toàn khi địa ngục trở nên trống rỗng.

Nhưng vẫn còn những thứ mà kinh thánh gọi là «ngai vị, thống trị, vương quyền, và thế lực.» Liệu đây có phải đơn thuần là cách ám chỉ Satan và các thế lực của nó? Hay những điều này nói đến những thế lực thần linh khác mà nhiều người tin là đang ẩn trong những sự huyền bí, dị thường, giả kim, chiêm tinh, duy linh, khiêu dâm, quỷ thuật, tà thuật, và cầu cơ Làm sao chúng ta khái niệm hóa được những thế lực ác thần này?

Khi chúng ta không bác bỏ chúng như những điều thuần túy hoang đường, thì mỗi người chúng ta khái niệm hóa chúng theo vài cách khác nhau, thường là bằng những hình ảnh trong sách Khải Huyền và các tác phẩm hội họa Kitô giáo suốt nhiều thế kỷ trước. Và chúng ta họa hình một kiểu chiến sự thiêng liêng đang xảy ra bên dưới tất cả mọi sự, một trận đấu thần linh giữa sự thiện và sự ác, một chiến trận đến cuối cùng, Chúa Kitô sẽ chiến thắng khi đánh bại và tiêu diệt tất cả mọi thế lực ác thần, cũng gần giống với trận chiến nguyên thủy mà Tổng lãnh thiên thần Michael lúc ban đầu đánh bại Satan và ném nó khỏi thiên đàng.

Nhưng đó chỉ là những hình ảnh khuôn mẫu, không phải là thực họa nhưng là để chỉ cho chúng ta hướng đến một điều thâm sâu hơn. Vậy, những «ngai vị, thống trị, vương quyền, và thế lực» đối nghịch với Chúa Kitô, thực sự là gì, và chúng phải bị đánh bại thế nào? Làm sao chúng ta khái niệm hóa chiến sự thiêng liêng đang diễn ra bên dưới tất cả mọi sự này?

Chiến sự thiêng liêng này được mô tả trong Kinh Thánh và trong tất cả linh đạo đích thực, ít nói đến huyền bí và trừ tà, nhưng là nói về các ác tâm như ái kỷ, tham lam, giận dữ, cay đắng, thù ghét, dục vọng, tổn thương, ác cảm và kiêu ngạo. Đây là những «ngai vị, thống trị, vương quyền, và thế lực» thực sự, đối nghịch với Chúa Kitô. Và chiến đấu chống lại chúng là trận chiến thực sự giữa sự thiện và sự ác.

Chiến sự thiêng liêng đích thực phải là thế này: Trong thế giới chúng ta, và trong mỗi chúng ta, có một trận chiến dữ dội dấy lên, chiến tranh giữa sự thiện và sự ác, và đối thủ là đây: Thù ghét đấu với yêu thương, giận dữ đấu với nhẫn nại, tham lam đấu với quãng đại, cay đắng đấu với khoan dung, ghen tương đấu với ngưỡng mộ, chọn lựa ở lại trong vết thương của mình đấu với sự chữa lành, giữ những ác cảm của mình đấu với lòng tha thứ, cái tôi và ái kỷ đấu với lòng cảm thông và tính cộng đoàn, cuối cùng là sự tự ghét mình trong cay đắng đấu với việc đón nhận tình yêu và vòng tay vô điều kiện của Thiên Chúa. Chứng hoang tưởng đang dấy chiến tranh với tâm thức biết thay đổi. Đây là chiến tranh thực sự đang diễn ra, trên thế giới và trong mỗi một chúng ta.

Thù ghét, giận dữ, hoang tưởng, tham lam, cay đắng, dục vọng, ghen tương, bất dung, và tự căm thù bản thân chính là những «ngai vị, thống trị, vương quyền, và thế lực» mà kinh thánh đã cảnh báo cho chúng ta. Bởi thế, chiến thắng cuối cùng của Chúa Kitô sẽ đến khi những thế lực này quy phục hết, khi chúng ta cuối cùng tìm được bình an trong sự thiện, với tình yêu, tin tưởng, với bản thân, với tha nhân, với chuyện đời của mình, cùng những sai lầm, những người đã làm chúng ta tổn thương, những người chúng ta đã xúc phạm, với những thiếu sót của mình, và cả sự bất nhẫn của chúng ta với Thiên Chúa.

Trong lúc đó, chiến sự thiêng liêng, đã từ nguyên thủy đang dấy lên khắp cùng mọi nơi.

Mang lấy thập giá của mình

Trong các lời dạy của Chúa Giêsu, chúng ta thấy có lời mời có vẻ khó nghe này: Ai muốn làm môn đệ Ta, phải từ bỏ chính mình, mang thập giá mình hàng ngày, và theo Ta. Ai tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và ai mất mạng sống mình vì Ta sẽ tìm được mạng sống ấy.

Tôi ngờ rằng không ai trong chúng ta hiểu nổi câu này có nghĩa gì và muốn chúng ta đánh đổi bằng điều gì, nhưng tôi cũng ngờ nhiều người trong chúng ta hiểu lầm ý của Chúa Giêsu và rồi đấu tranh một cách không lành mạnh với lời mời này. Vậy, cụ thể thì Chúa Giêsu muốn nói gì?

Để trả lời, tôi muốn mượn đến một vài suy nghĩ thấu suốt của tác giả James Martin trong quyển sách Chúa Giêsu, Đường lữ hành (Jesus, A Pilgrimage). Tác giả cho rằng, mang lấy thập giá mình hàng ngày và từ bỏ mạng sống mình để tìm được sự sống thâm sâu hơn, mang 6 ý nghĩa đầy thấm nhập là:

Thứ nhất, chấp nhận đau khổ là một phần cuộc sống chúng ta. Chấp nhận thập giá của mình và từ bỏ mạng sống mình nghĩa là, đến một thời điểm, chúng ta phải hòa thuận với sự thật không thể thay đổi rằng, thất vọng, nản lòng, đau đớn, bất hạnh, bệnh tật, bất công, buồn đau, và cái chết là một phần cuộc sống chúng ta và phải tuyệt đối chấp nhận chúng mà không cay đắng. Bao lâu chúng ta còn nuôi quan niệm rằng đau đớn trong đời là một thứ chúng ta không cần phải chấp nhận, thì theo lẽ thường, chúng ta sẽ thấy mình đầy cay đắng, cay đắng vì đã không đón nhận thập giá.

Thứ hai, mang thánh giá và từ bỏ mạng sống mình, nghĩa là trong đau khổ của mình, chúng ta không nên đẩy bất kỳ cay đắng nào sang những người chung quanh mình. Chúng ta có khuynh hướng này rất mạnh, gần như đó là bản năng tự nhiên, là bắt người khác đau khổ khi mình đau khổ. Nếu tôi không hạnh phúc, tôi sẽ làm sao để dứt khoát những người quanh tôi cũng không hạnh phúc! Điều này không có nghĩa là chúng ta không thể chia sẻ nỗi đau của mình với người khác. Nhưng, có một cách lành mạnh để làm việc này, khi chúng ta chia sẻ nỗi đau của mình nhưng vẫn để cho người khác tự do, chứ không phải kiểu chia sẻ không lành mạnh, tinh vi cố gắng làm cho người khác không hạnh phúc chỉ vì chúng ta đang không hạnh phúc. Có một khác biệt giữa tiếng rên xiết lành mạnh dưới gánh nặng đau đớn và tiếng rên rỉ không lành mạnh chỉ thương thân trách phận và cay đắng. Thập giá cho chúng ta làm điều đầu, chứ không phải điều sau. Chúa Giêsu đã rên xiết dưới gánh nặng thập giá, nhưng từ môi miệng và thân xác đẫm roi đòn của Ngài không có những kiểu thương thân trách phận, rên rỉ hay cay đắng.

Điều thứ ba, đi theo đường thánh giá của Chúa Giêsu, nghĩa là chúng ta phải chấp nhận một vài cái chết khác đến trước cái chết thể lý, nghĩa là chúng ta được mời gọi hãy để một vài phần của mình chết đi. Khi Chúa Giêsu mời gọi chúng ta chết đi để tìm được sự sống, thì trước hết, ngài không phải nói về cái chết thể lý. Nếu chúng ta sống trưởng thành, sẽ có vô số cái chết khác mà chúng ta phải trải qua trước khi chết về thể lý. Sự trưởng thành và cương vị môn đệ Kitô hữu là không ngừng cụ thể hóa những cái chết của mình, xác nhận những khai sinh của mình, khóc than cho mất mát, và để những gì đã chết qua đi, đón nhận tinh thần mới cho đời sống mới mà chúng ta đang sống. Đây là những giai đoạn của mầu nhiệm phục sinh, và những giai đoạn trưởng thành. Có những cái chết mỗi ngày.

Và thứ tư, lời của Chúa Giêsu nghĩa là chúng ta phải chờ đợi phục sinh, nghĩa là phải biết tất cả mọi hòa âm trong cuộc đời này vẫn còn dang dở. Sách Châm ngôn cho chúng ta biết rằng đôi khi giữa những đau đớn, điều tốt nhất chúng ta có thể làm được là vùi miệng vào bụi đất và chờ đợi. Bất kỳ nhận thức thực sự nào về thập giá đều đồng ý như vậy. Có quá nhiều điều trong đời sống và cương vị môn đệ vẫn còn trong tình trạng đợi chờ, chờ đợi trong nản lòng, trong bất công, trong đau đớn, khát mong, trong vật lộn với cay đắng, khi chúng ta đang chờ đợi một sự gì đó hay một người nào đó đến và thay đổi tình thế của chúng ta. 98% cuộc đời chúng ta đang chờ đợi sự viên mãn, theo các cách lớn hay nhỏ. Lời mời của Chúa Giêsu muốn chúng ta theo Ngài, muốn nói rằng hãy, chờ đợi, chấp nhận sống trong bản hòa âm dang dở.

Thứ năm, mang thập giá mình hằng ngày nghĩa là chấp nhận ơn Chúa ban cho chúng ta thường không phải là những gì chúng ta kỳ vọng. Thiên Chúa luôn đáp lời cầu nguyện của chúng ta, nhưng thường thì, Ngài cho chúng ta những gì chúng ta thực sự cần hơn là những gì chúng ta nghĩ mình cần. Sự Phục Sinh không đến theo thời điểm chúng ta lường trước, và hiếm khi khớp với quan niệm của mình về cách sự phục sinh xảy đến. Mang thập giá của mình nghĩa là mở rộng với sự kinh ngạc.

Cuối cùng, mang lấy thập giá và sẵn sàng từ bỏ mạng sống mình, nghĩa là sống trong đức tin rằng với Thiên Chúa không gì là không thể. Và theo James Martin, điều này nghĩa là chấp nhận Thiên Chúa cao cả hơn những gì con người tưởng tượng. Thật vậy, bất kỳ lúc nào, chúng ta khuất phục ý nghĩ rằng Thiên Chúa không thể cho chúng ta một lối thoát khỏi khổ đau để vào trong sự mới mẻ, thì đó chính là bởi chúng ta đã hạ thấp Thiên Chúa theo mức độ trí tưởng hạn chế của mình. Chỉ có thể đón nhận thập giá của mình, có thể sống trong sự thật, và không cay đắng trong đau đớn, nếu như chúng ta tin vào các khả thể vượt quá những gì chúng ta có thể tưởng tượng, cụ thể là tin vào Sự Phục Sinh.

Chúng ta có thể mang lấy thập giá của mình, khi bắt đầu tin vào Sự Phục Sinh.

Ba dạng linh đạo

Tất cả chúng ta đều đấu tranh, và đấu tranh theo 3 cách. Thứ nhất là, đôi khi chúng ta đơn thuần đấu tranh để giữ mình, để vẫn lành mạnh và ổn định, để bình thường, không sụp đổ, để cuộc sống chúng ta không vướng vào những hỗn loạn và khủng hoảng. Cần thực sự nỗ lực để giữ mình được lành mạnh bình thường, ổn định, và hạnh phúc.

Nhưng ngay cả khi được như thế, thì một phần khác trong chúng ta luôn vươn lên, đấu tranh để lớn lên, để đạt được những điều cao hơn, để không phí hoài những phong phú và ơn ích của mình, để sống một đời sống đáng ngưỡng mộ hơn, cao quý hơn và vị tha hơn.

Rồi đến một tầm mức khác, chúng ta đấu tranh với một bóng tối đầy đe dọa đang bao quanh và len vào chúng ta. Sự phức tạp của đời sống có thể ngập tràn áp đảo chúng ta, làm cho chúng ta cảm thấy mình bị đe dọa, nhỏ bé, bị loại trừ và tầm thường. Vì lẽ này, mà một phần trong chúng ta luôn ý thức rằng chúng ta đang ở trong một thời kỳ, một đổ vỡ, một quan hệ mất mát, mất việc, cái chết của người thân yêu, hay một chuyện gì đó mà chúng ta không thể lường trước, trượt dốc qua tình trạng khủng hoảng trầm cảm tê liệt, một căn bệnh, hay một hỗn mang tăm tối mà chúng ta không thể kiểm soát.

Nói ngắn gọn, chúng ta đấu tranh để giữ mình, đấu tranh để lớn lên, và đấu tranh để giữ khủng hoảng và cái chết không len vào mình. Vì phải đấu tranh ở ba tầm mức này, nên chúng ta cần ba dạng linh đạo trong đời.

Ở tầm mức thứ nhất, chúng ta cần linh đạo giữ gìn, nghĩa là một linh đạo giúp chúng ta duy trì tinh thần lành mạnh, ổn định, và bình thường của mình. Các giáo huấn thiêng liêng thường hay bỏ sót khía cạnh linh đạo sống còn này. Lúc nào chúng ta cũng chịu thách thức để phải lớn lên, trở nên người tốt hơn, Kitô hữu tốt hơn, đơn giản là tốt hơn hiện tại. Điều này tốt, nhưng sẽ ngây thơ khi nghĩ rằng chúng ta đã đủ lành mạnh, ổn định, và mạnh mẽ để đón nhận thách thức này. Và, như chúng ta biết, rất nhiều khi không phải như vậy. Có những thời điểm trong đời, khi việc tốt nhất chúng ta có thể làm, chỉ là bám thật chặt, đừng sụp đổ, và chiến đấu để lấy lại tinh thần lành mạnh, ổn định và sức lực trong đời, để đơn giản là đặt được một chân về phía trước. Những lúc này, những gì đích thực chúng ta cần không phải là những thách thức, mà là cần có được một sự chấp nhận thiêng liêng để cảm nhận những gì chúng ta đang cảm nhận và chúng ta cần một bàn tay ấm áp để kéo chúng ta về lại phía lành mạnh và mạnh khỏe. Thách thức phải đến sau.

Và thách thức này đến với lời mời chúng ta hướng lên, hướng đến linh đạo của con đường hướng thượng. Tất cả mọi linh đạo đáng nói, đều nhấn mạnh nhu cầu phải có một sự hướng thượng nhất định, để lớn lên vươn ra khỏi sự ấu trĩ, lười biếng, những thương tích, thói ham khoái lạc cố hữu, và sự hời hợt trong nền văn hóa của chúng ta. Điều cần nhấn mạnh ở đây, chính là luôn luôn vươn lên, vượt qua, hướng đến những gì từ trời, và hướng đến tất cả những gì cao cả, vị tha, nhân ái, yêu thương, đáng ngưỡng mộ, và thánh thiện hơn. Đa số linh đạo Kitô giáo kinh điển là linh đạo hướng thượng, lời mời gọi đến với một điều cao đẹp hơn, lời mời gọi hãy thành thực với những gì thâm sâu nhất trong chúng ta, cụ thể là, Hình ảnh của Thiên Chúa và Giống như Thiên Chúa. Các lời dạy của Chúa Giêsu đích xác là mời gọi chúng ta hướng đến một tinh thần cao đẹp hơn. Đức Không Tử, một trong những nhà lãnh đạo tinh thần vĩ đại nhất mọi thời, đã có đường hướng sư phạm tương tự như vậy, khi ngài mời gọi mọi người hãy nhìn về cái đẹp và sự thiện, và luôn luôn đi theo đường hướng đó. Còn thời chúng ta thì có thánh Gioan Phaolô II, ngài đã áp dụng rất hiệu quả điều này khi ngỏ lời với giới trẻ, thách thức họ luôn luôn, không thỏa hiệp hay theo đuổi cái tốt thứ yếu, nhưng phải nhìn đến một cái tốt cao hơn và cao cả hơn nữa để hướng dẫn cuộc đời của mình.

Nhưng thách thức lớn lên cũng cần một linh đạo hướng hạ (xuống núi), một quan điểm và tập hợp nguyên tắc chỉ cho chúng ta thấy rằng, không phải chỉ hướng về mặt trời mọc, nhưng cũng phải nhìn theo hướng mặt trời lặn. Chúng ta cần một linh đạo không trốn tránh hay bác bỏ sự phức tạp của đời sống, hay âm mưu điên rồ của các thế lực vượt ngoài tầm chúng ta, những mất mát điếng người, và các khủng hoảng trong cuộc đời, cũng như thực tế đập thẳng vào mắt của ốm đau, bị hạ thấp, và cái chết. Đôi khi, chúng ta chỉ có thể lớn lên bằng cách đi xuống vào trong âm phủ đáng sợ đó, là nơi, như Chúa Giêsu, chúng ta trải qua sự biến đổi bằng cách đối diện với hỗn loạn, bị hạ thấp, bóng tối, các thế lực ma quỷ (dù chúng là gì đi nữa) và cả cái chết. Trong một vài nền văn hóa cổ, điều này được gọi là ‘ngồi trong đống tro’ hay ‘làm con cái Thổ tinh’ (hành tinh biểu tượng cho khủng hoảng). Là Kitô hữu, chúng ta gọi tiến trình này là mầu nhiệm vượt qua. Cho dù mang tên gì đi nữa, thì tất cả mọi linh đạo đáng được gọi tên, đôi khi trong đời bạn, bạn sẽ bị mời gọi làm một cuộc hành trình đi xuống đau đớn vào con đường kinh hãi của hỗn loạn, khủng hoảng, mất mát, tầm thường, bóng tối, các thế lực ma quỷ, và cả cái chết.

Đời sống tự tỏ mình cho chúng ta, từ trên, từ dưới, và trong bề ngang của sự bình thường. Không được loại bỏ bất kỳ điểm nào. Chúng ta cũng luôn cần phải giữ mình ổn định vững vàng, ngay cả những khi hướng thượng, và đôi lúc cũng phải để mình đi xuống và ở trong bóng tối.

Và vẫn còn thời gian cho chúng ta làm tất cả mọi việc này: Như Rainer Marie Rilke đã từng viết:

Ngươi chưa chết, vẫn còn chưa quá muộn
Để mở toang những sâu thẳm tâm hồn
Bằng hồ hởi nhận chìm trong thẳm tận
Và uống lấy cho thấm cạn trong đời
Đang lặng lẽ tỏ bày mình nơi đó.

Nữ thần khiết tịnh

Qua các thần thoại của mình, người Hy Lạp cổ đại có một nền khôn ngoan về mặt tâm linh và tâm lý rất đậm nét. Ý định của họ không phải là hiểu thần thoại theo nghĩa đen hay theo tính lịch sử, nhưng là các ẩn dụ và minh họa mẫu cho lý do vì sao đời sống và cách con người sống vừa mang tính sinh sôi vừa mang tính hủy hoại.

Đa số thần thoại Hy lạp tập trung vào các thần nam và thần nữ. Các thần nam và thần nữ này phản ảnh sống động mọi khía cạnh đời sống, hành vi và thiên hướng bẩm sinh của con người. Thêm nữa, các thần nam, thần nữ này thường không có tác phong đạo đức trong hành vi của mình, đặc biệt là trong đời sống tính dục. Họ có đủ chuyện lăng nhăng với nhau và với con người. Tuy nhiên, bất chấp sự bừa bãi và vô luân trong hành vi tính dục của họ, một trong các đặc nét tích cực của các thần thoại là, đối với người Hy Lạp cổ đại, tình dục, luôn luôn, và xét cách nào đó, có liên kết với linh thần. Ngay cả các đền thờ mãi dâm cũng, theo cách nào đó, liên kết với việc đạt được sự sinh sôi phát xuất từ thần linh.

Ở đền Patheon thờ các thần nam, thần nữ, có một nữ thần đặc biệt là Artemis. Không như hầu hết các nữ thần khác hay bừa bãi về tình dục, Artemis lại độc thân và trinh trắng. Sự tiết dục của Artemis thể hiện vị thế và giá trị của đức trinh tiết và đời độc thân. Artemis được họa hình với dáng cao, dung nhan yêu kiều, hấp dẫn về mặt tính dục, nhưng có một vẻ đẹp, vừa gợi tình vừa khác với kiểu hấp dẫn nhục dục của các nữ thần như Hera và Venus. Trong Artemis, tình dục được họa hình như một sự pha trộn quyến rũ giữa độc thân và chính trực. Trong thần thoại, quanh Artemis thường là các thần hay người, cùng giới nữ, hay khác giới nhưng là bạn và thân quyến chứ không bao giờ là người yêu.

Ý nghĩa ở đây là, dục vọng có thể được giữ lành mạnh và sinh ích ngay cả khi kiêng tình dục. Artemis là biểu hiện cho con đường tình dục trong khiết tịnh. Nữ thần cho chúng ta thấy rằng, giữa một thế giới chìm trong tình dục, người ta có thể sinh sôi và hạnh phúc trong khiết tịnh và thậm chí là độc thân. Có lẽ quan trọng hơn nữa, Artemis cho chúng ta thấy rằng khiết tịnh không nhất thiết phải là cằn cỗi và bài trừ tình dục. Đúng hơn, nơi nữ thần này, chúng ta thấy tính dục có nghĩa rộng hơn tình dục, và tình dục tự bản thân sẽ được phong phú và ý nghĩa hơn nếu có liên kết với khiết tịnh. Artemis là chủ trương sống độc thân, cảm nghiệm tình bạn và các kiểu thân mật khác, không phải là loại trừ tình dục, nhưng là một trong những thể thức phong phú của chính tình dục.

Thomas Moore, khi nói về Artemis, đã viết rằng: “Dù nàng trinh khiết nhất trong số các nữ thần, Artemis không phải loài vô tính. Nàng hiện thân cho một dạng tính dục đặc biệt, đặt nơi cá nhân, nguyên vẹn, và độc thân.” Và như thế, Artemis là hình mẫu không chỉ cho người độc thân mà còn cho những ai có cuộc sống tình dục năng động. Với những người này, Artemis là lá cờ báo hiệu: Tôi muốn được đón nhận một cách nghiêm túc, đảm bảo sự nguyên vẹn và độc lập của tôi.

Cũng vậy, tác giả Thomas Moore cho rằng, cho dù độc thân hay năng động tính dục, chúng ta tất cả đều “có những giai đoạn trong đời, hay những thời điểm trong ngày, cần được ở một mình, tách khỏi tình yêu và tình dục, tận hiến toàn bộ cho bản thân, một cách tách biệt xa khỏi tất cả. Artemis cho chúng ta biết rằng chọn lựa này không phải là chối bỏ xã hội và con người, nhưng đơn thuần là việc tập trung thâm sâu, tích cực, và thậm chí là mang tính tình dục vào bản thân và thế giới của mình.”

Bài học từ nữ thần này là bài học rất cần cho thế giới ngày nay. Thời đại chúng ta đã biến tình dục thành con đường cứu độ, nghĩa là, với chúng ta, tình dục được xem là công cụ để đạt đến thiên đàng, và bản thân nó được xem là thiên đàng. Tình dục được cho là lẽ sống của chúng ta. Một trong những hệ quả của việc này là chúng ta không thể xem nhận thức trưởng thành tương hợp với đức khiết tịnh, hay tính phức tạp chân thật, và sự phong phú của tình dục. Thực sự, với nhiều người trong chúng ta, khiết tịnh và độc thân bị xem là tự vệ sợ sệt, làm cho con người khô khan, cằn cỗi, đạo đức, bài tình dục, căng thẳng về mặt tình dục, và không có được niềm vui trong cuộc sống. Và gắn chặt với suy nghĩ này là khái niệm cho rằng tất cả những hiện thực phong phú đã được khắc họa rõ nét đầy tích cực nơi Artemis (cũng như nơi quan niệm khiết tịnh của Kitô giáo), cụ thể là, tình bạn, các dạng thân mật không tình dục khác, các khoái lạc không tình dục, và nhu cầu nguyên vẹn và trung tín trong tình dục, đều là chọn lựa loại trừ tình dục, và là lựa chọn thứ yếu, chứ không phải là một thể thức tình dục phong phú.

Chúng ta đang bị bần cùng hóa về mặt tâm lý và tâm linh, do khái niệm đó, nó làm cho đời sống tình dục của chúng ta chịu đựng sự căng thẳng phi lý. Khi gán cho tình dục vai trò hàng đầu đối với hạnh phúc và sinh sôi của con người, thì nó thành thiển cận và mất mát mà thôi. Và chúng ta đang thấy điều này trong thế giới ngày nay.

Tất nhiên, là Kitô hữu, chúng ta có nữ thần khiết tịnh của mình, đó là Đức Mẹ, Mẹ của Chúa Giêsu, cũng như nhiều nữ thánh khác. Tại sao chúng ta không rút lấy linh đạo khiết tịnh của mình từ những người nữ này, thay vì nhìn về các nữ thần ngoại đạo trong các chuyện thần thoại? Nhìn chung, chúng ta đang hướng về các hình mẫu Kitô giáo. Nhưng hơn nữa, tôi cho rằng, cả Đức Trinh nữ Maria và tất cả các thánh trinh nữ của chúng ta, sẽ là bạn bè rất tuyệt với nàng Artemis.

Cái giá đáng buồn của phẫn uất

Không phải chỉ có tình yêu mới làm cho thế giới chuyển động. Phẫn uất cũng có vai trò quan trọng trong việc khuấy động mọi chuyện. Thế giới chúng ta, theo rất nhiều cách, chìm trong phẫn uất. Dường như, nhìn vào đâu, bạn cũng thấy có những người cay đắng về một chuyện gì đó, và hơi thở của họ đầy phẫn uất oán giận. Phẫn uất là gì? Tại sao cảm giác này lại thường hay xảy ra trong đời sống chúng ta? Làm sao chúng ta có thể vượt lên được chuyện này?

Triết gia Soren Kierkegaard đã từng định nghĩa phẫn uất như thế này. Ông cho rằng, phẫn uất xảy ra khi chúng ta chuyển từ cảm giác hạnh phúc của ngưỡng mộ đến cảm giác bất hạnh của ghen tị. Và điều này, đáng buồn thay, lại hay xảy ra trong đời sống chúng ta, và chúng ta, rất nguy ngập, lại bị bịt mắt, không thấy được nó. Tôi phẫn uất ư? Làm sao bạn dám quy cho tôi cái đó?

Nhưng, thật khó để bác bỏ rằng phẫn uất và những bất hạnh kèm theo của nó đã tô màu cho thế giới chúng ta. Ở mọi mức độ sống, từ những gì chúng ta thấy nơi những bất bình và chiến tranh giữa các quốc gia, cho đến các tranh chấp vụn vặt nơi phòng họp, lớp học, phòng khách và cả trong phòng ngủ đều chứng thực sự phẫn uất và chua cay. Thế giới chúng ta đầy phẫn uất. Dường như tất cả mọi người, đều cay đắng về một chuyện gì đó và tất nhiên, không phải không có lý do. Rất nhiều người âm thầm nuôi cảm giác mình bị phớt lờ, bị tổn thương, lừa phỉnh, bị đối xử bất công và có quá ít trong đời, và nhiều người trong chúng ta cảm thấy mình hoàn toàn có quyền chứng tỏ là mình đúng khi phẫn uất và bất hạnh. Chúng ta không được hạnh phúc, nhưng là vì một lý do đúng.

Đúng, luôn có lý do đúng để phẫn uất, nhưng, theo một vài phân tích thấu suốt, cả xưa và nay, chúng ta hiếm khi chạm đến được những nguyên do thực sự vì sao chúng ta lại quá cay đắng đến như vậy. Đối với những người như Tôma Aquinô, Soren Kierkegaard, Robert Moore, Gil Bailie, Robert Bly và Richard Rohr, cùng những người khác nữa, thì gốc rễ thâm sâu của phẫn uất và bất hạnh nằm ở việc chúng ta không thể ái mộ, không thể khen ngợi người khác, không thể cho người khác và cho thế giới một cái nhìn ngưỡng mộ đơn thuần.

Xét chung, chúng ta là một xã hội không biết ngưỡng mộ. Với chúng ta, ngưỡng mộ là một đức tính đã không còn. Thật vậy, trong nhiều nhóm thời nay, cả trên thế giới lẫn trong Giáo hội, sự ngưỡng mộ được xem là một điều gì đó ấu trĩ và thiếu chính chắn, là tiếng cười điên dại ngơ ngác của một cô bé đang theo đuổi thần tượng nhạc rock. Sự chính chắn và khôn lanh thời nay, phải là một kiểu tri thức, thông minh và ít nói, vốn không dễ gì ngưỡng mộ hay khen ngợi người khác. Chúng ta tin rằng hiểu biết và chính chắn, cần phải đẩy mọi thứ ra xa mình, phải nghi ngờ nhân đức của người khác, không được tin tưởng động cơ của họ, hết sức cảnh giác những kẻ giả tạo, và có đủ mọi nguyên do để đừng có lòng ngưỡng mộ. Quan điểm thời nay là thế đó.

Nhưng trong quan điểm về chính chắn và hiểu biết này, chúng ta lại không thừa nhận một điều, chính là chúng ta thấy mình bị đe dọa đến mức nào trước những người có tài năng và đức độ hơn chúng ta. Những gì chúng ta không chịu thừa nhận, chính là sự đố kỵ trong lòng. Những gì chúng ta không chịu thừa nhận, chính là sự phẫn uất của chúng ta. Những gì chúng ta không chịu thừa nhận, chính là việc chúng ta thấy cần phải hạ bệ một ai đó, thực chất đó là dấu chỉ không lầm lẫn cho tính ghen tị và tư duy tồi tệ của mình. Và để chối bỏ điều này, chúng ta có nhiều trợ lực: Những lời châm biếm và phán xét lạnh lùng chính là thứ ngụy trang hoàn hảo, chúng ta không cần phải ngưỡng mộ vì chúng ta đủ thông mình để biết rằng chẳng có gì thực sự đáng để ngưỡng mộ.

Và thường, thì chúng ta rơi vào tình trạng bất hạnh phức tạp này: Chúng ta không còn thực sự ngưỡng mộ ai. Chúng ta không còn thực sự khen ngợi ai. Chúng ta không còn nhìn vào thế giới với lòng tán dương và ngưỡng mộ nữa. Mà cái nhìn của chúng ta luôn mãi là phẫn uất, châm biếm, phán xét, và ghen tị.

Chúng ta có thể kiểm xét bản thân như thế này: Robert Moore thường đòi hỏi các thính giả của ông tự hỏi mình câu hỏi này: Lần cuối cùng bạn tiến tới, và nói với một người, đặc biệt là một người trẻ hơn, hay một người kém tài hơn bạn, rằng bạn ngưỡng mộ người đó, ngưỡng mộ những gì người đó làm, rằng những vẻ đẹp của người đó làm phong phú cho đời bạn, và rằng bạn thấy vui vì đã được gặp người đó là lúc nào? Lần cuối cùng, bạn chân thành khen một ai đó, là lúc nào? Hay đảo ngược câu hỏi thế này: Lần cuối cùng, có ai đó, đặc biệt là người bị đe dọa bởi tài năng của bạn, đã thật tâm khen ngợi bạn, là lúc nào?

Chúng ta không dễ gì và cũng chẳng thường xuyên, khen ngợi người khác, vì điều này đi ngược lại tính ghen tị ẩn dấu của chúng ta. Điều này cũng cho thấy các khiếm khuyết đạo đức thực sự trong đời chúng ta. Thánh Tôma Aquinô từng nhìn nhận rằng, không khen ai đó xứng đáng được khen, cũng là một tội vì chúng ta ngăn không cho người đó được ăn những gì họ cần để sống. Không ngưỡng mộ, không khen ngợi, chính là biểu hiện của sự tinh khôn, nhưng cũng là dấu chỉ của sự non nớt đạo đức và sự bất an trong người. Nó cũng là một trong những lý do sâu xa vì sao chúng ta quá thường đầy những cảm giác cay đắng của phẫn uất và bất hạnh.

Tai sao chúng ta lại quá thường cảm thấy cay đắng và phẫn uất? Chúng ta lòng đầy phẫn uất vì nhiều lý do, mà trong đó, một lý do không nhỏ là vì chúng ta đánh mất đi những đức tính ngưỡng mộ và khen ngợi.

Chấp nhận khía cạnh thiêng liêng của con người và công cụ để đương đầu với tình trạng bất mãn

Đôi khi có những đoạn văn trong Thánh Kinh làm bạn thắc mắc: Đây thực sự là lời của Chúa hay sao? Tại sao lại có đoạn này trong Kinh Thánh? Có bài học gì ở đây?

Ví dụ những đoạn được đưa vào kinh phụng vụ, với những câu Thánh vịnh như xin Chúa đập đầu con cái quân thù vào đá. Những câu này làm sao mời gọi chúng ta yêu mến kẻ thù của mình được? Còn trong sách ông Gióp, trong nỗi thất vọng, ông đã nguyền rủa không chỉ ngày ông được sinh ra mà cả việc bất kỳ ai được sinh ra nữa. Thật không thể tìm được dấu vết tích cực nào trong lời than van của ông. Cũng tương tự như thế, trong một vài đoạn văn phổ biến, chúng ta thấy Qoheleth khẳng định rằng tất cả mọi sự trong cuộc đời chúng ta và trong đời sống thế gian, đơn thuần chỉ là phù hoa, là cơn gió, hư ảo, vô thực và chẳng sinh kết quả gì. Có bài học gì ở đây? Rồi, trong Tin Mừng, có những đoạn các tông đồ, nản lòng vì những chống báng, đã xin Chúa Giêsu cho lửa từ trời xuống hủy diệt những người vốn là đối tượng mục vụ của họ. Đây thật khó là một mẫu mực cho mục vụ!

Vậy tại sao những đoạn văn này lại có trong Kinh Thánh? Vì chúng cho chúng ta một sự cho phép thần thiêng để cảm nhận những cảm giác đôi khi đến trong chúng ta, và chúng cho chúng ta những khí cụ thiêng liêng để giải quyết những khiếm khuyết và bất mãn trong đời mình. Thật vậy, chúng vừa quan trọng vừa an ủi vì khi nhìn theo cách ẩn dụ, chúng cho chúng ta một thang âm đủ dài để chơi trọn hết mọi bản nhạc đời sống chúng ta cần phải có trong đời. Chúng cho chúng ta lời than van và cầu nguyện cần có để kêu lên khi đối diện với tình trạng bất mãn mình phải chịu, đối diện với cái chết, bi kịch, và các cơn khủng hoảng.

Tôi xin đưa ra một ví dụ đơn giản, một người bạn của tôi đã chia sẻ câu chuyện này: Mới đây, ông đi lễ với cả nhà, có cả đứa con trai 7 tuổi Michael, và mẹ ông là bà nội của Michael. Rồi, Michael, ngồi kế bên bà nội, thì thầm nhưng rõ to rằng: “Con chán quá!” Bà nội kéo cháu lại và nhẹ nhàng la: “Con không chán đâu!” như thể bầu khí thiêng liêng ở nhà thờ và tính quyền uy ở đó có thể thay đổi được bản tính con người vậy. Nhưng chúng không thể. Khi chúng ta chán, chúng ta cứ chán! Và đôi khi, chúng ta cần có sự chấp thuận của Chúa để cảm nhận những cảm giác bộc phát trong lòng chúng ta.

Vài năm về trước, trong thiện ý cao cả, một dòng tu tôi biết, muốn cải thiện các Thánh vịnh mà họ thường đọc trong kinh nhật tụng để nhằm tránh các yếu tố gây giận dữ, thù hằn, và chiến tranh. Dòng đã chỉ định một vài học giả Kinh Thánh trong dòng đảm trách việc này, nên đó là việc rất hàn lâm và nghiêm túc. Họ thành công, và tác phẩm mới rất hàn lâm và nghiêm túc, đã loại được hết những chủ đề bạo lực, báo thù, giận dữ và chiến tranh, nhưng nó như các tấm thiệp chúc mừng hơn là những lời cầu nguyện thể hiện đời sống và cảm xúc thật của con người. Chúng ta không phải lúc nào cũng lạc quan, độ lượng, và đầy thành tín. Nhiều lúc, chúng ta thấy giận dữ, chua cay, và oán hờn. Chúng ta cần có một sự chấp thuận thiêng liêng để cảm nhận như thế (dù không hành động như thế) và để cầu nguyện thật lòng.

Cha mẹ tôi, và hầu hết mọi người cùng thế hệ với họ, mỗi ngày trong lời cầu nguyện, đều thốt lên những từ này: Con xin dâng lên những đau buồn, thở than, khóc lóc trong thung lũng đầy nước mắt. Thế hệ chúng ta lại có khuynh hướng xem đó là chuyện không lành mạnh, lại còn phỉ báng vẻ đẹp và niềm vui sống cũng như nhãn quan mà đức tin đem lại cho chúng ta. Nhưng cả một sự phong phú ẩn tàng trong lời cầu nguyện đó. Khi cầu nguyện như thế, người ta chấp nhận khía cạnh để chấp nhận giới hạn đời mình. Lời cầu nguyện đó là dụng cụ biểu trưng để đối diện với tình trạng bất mãn, và đôi khi tôi cho rằng, chúng ta đã không truyền lại đủ điều này cho con cháu mình. Quá nhiều người trẻ ngày nay, chưa bao giờ được trao cho các dụng cụ này để họ đương đầu với nỗi chán chường, bất mãn và họ cũng không chấp nhận có khía cạnh thiêng liêng để cảm nhận đúng những cảm giác của mình. Đôi khi, với ý hướng hoàn toàn tốt, chúng ta lại cho con cái của mình công viên Disney Land hơn là trao cho chúng Tin mừng.

Trong sách Ai Ca, chúng ta thấy một đoạn văn nhìn qua thì tiêu cực, nhưng ngược lại, khi đối diện với cái chết và bi kịch, thì có lẽ đó là đoạn văn đem lại nhiều an ủi nhất. Đoạn văn đó đơn giản nói rằng, đôi khi trong đời, tất cả những gì chúng ta có thể làm là vùi miệng trong bụi đất và chờ đợi!
Đây là lời khuyên, nói ra từ miệng của kinh nghiệm và của đức tin.
Nhà thơ Rainer Marie Rilke, đã viết những câu này cho một người bạn đang phải đối diện với cái chết của người thân yêu, và không biết phải tìm nguồn an ủi nơi đâu. Tôi phải làm gì với tất cả đau thương này? Rilke trả lời rằng: “Đừng sợ phải chịu đau khổ, hãy trả gánh nặng đó lại cho sức nặng của địa cầu, núi non là nặng nề, biển khơi là nặng nề.” Đôi khi đời là vậy, và chúng ta cần có sự chấp thuận của Thiên Chúa để cảm nhận gánh nặng đó.

Năm người giúp cho tôi tự biết mình

Dù được lớn lên trong một gia đình và cộng đoàn yêu thương, an toàn, và được giáo dưỡng, nhưng một trong những ký ức lớn nhất thời thơ ấu và niên thiếu của tôi là niềm khắc khoải, có thể nói là bất mãn. Cuộc đời tôi dường như quá nhỏ bé, quá hạn chế, và xa cách với những gì quan trọng trên thế giới. Tôi luôn mãi khát khao được kết nối hơn nữa với đời và sợ rằng những người khác không cùng cảm nhận như vậy và tôi, theo cách này cách khác, đơn độc và không lành mạnh trong nỗi khắc khoải bứt rứt của mình.

Ngay khi học xong cấp trung học, tôi vào Dòng Hiến sĩ, mang theo nỗi khắc khoải của mình, mà thậm chí, khi đã sống trong đời tu trì, tôi lại thấy càng lo lắng và xấu hổ hơn vì đã có nỗi bứt rứt đó. Tuy nhiên trong nửa năm đào tạo đầu tiên ở tập viện, chúng tôi được gặp một hiến sĩ truyền giáo xuất chúng tên là Noah Warnke, người đã được nhận vô số giải thưởng dân sự cũng như giáo hội vì các thành tựu của mình và ai ai cũng tôn trọng cha. Cha bắt đầu bài nói với các tập sinh chúng tôi bằng cách hỏi những câu này: “Các con có bồn chồn khắc khoải không? Có cảm thấy bị cô lập trong nhà tu này không? Có cảm thấy cô đơn và bị tách biệt khỏi thế giới hay không?” Chúng tôi, ai cũng gật đầu thưa có, và cha nói một lời đánh động thật chính xác: “Tốt, các con nên cảm thấy khắc khoải. Chúa ơi, các con hẳn phải giật mình, tất cả các con đều mang dòng máu đỏ bừng bừng đầy năng lượng, và các con lại rúc vào đây tránh xa mọi sự! Nhưng thế là tốt, lòng khắc khoải đó là một cảm giác tốt, và như thế là các con lành mạnh! Nỗi niềm khắc khoải loại bỏ tính ương ngạnh, và đáng để chúng ta đi cả quãng đường dài vì điều đó!” Đây là lần đầu tiên trong đời tôi, có một người hợp lý hóa cho cảm giác của tôi. Tôi cảm thấy như thể mình vừa mới biết mình vậy: “Mày có giật mình không? Tốt quá, mày lành mạnh!”

Ngay sau năm tập viện đó, tôi bắt đầu học thần học và một trong những người chúng tôi học rất sâu là thánh Tôma Aquinô. Ngài là người thứ hai giúp tôi biết mình. Lần đầu tiếp xúc với suy tư của ngài, tôi mới 19 tuổi, và dù một vài thấu suốt của ngài quá cao so với suy nghĩ non trẻ của tôi, nhưng tôi cũng hiểu đủ để tìm được nơi ngài không chỉ một vài hợp lý hóa cho cảm giác của mình, mà quan trọng hơn, còn là một siêu ký thuật cho tôi hiểu được vì sao mình lại có cảm giác như thế. Thánh Tôma đưa ra câu hỏi: “Khách thể tương xứng của tâm trí và tâm hồn con người là gì?” Nói cách khác, là chúng ta phải cảm nghiệm điều gì để được hoàn toàn mãn nguyện? Câu trả lời của ngài là: Tất cả mọi sự, tất cả! Những gì chúng ta phải cảm nghiệm để hoàn toàn mãn nguyện là tất cả mọi sự. Chúng ta phải biết tất cả mọi sự và được tất cả mọi người biết, một chuyện bất khả thi trong đời, và do đó chẳng có gì là bí ẩn về việc chúng ta sống bất an luôn mãi và về lý do vì sao, như Pascal đã nói, tất cả mọi khốn khổ của con người là do việc chúng ta không thể ngồi yên trong phòng dù chỉ một tiếng đồng hồ.

Người thứ ba cho tôi biết mình là Sydney Callahan. Là một chủng sinh, khi đọc sách của bà viết về tính dục, tôi chấn động vì cách bà liên kết tính dục với linh hồn, và cách khát vọng, có cả dục vọng bắt rễ sâu trong linh hồn. Bà đã cho tôi một lời đơn giản. Tôi không có nguyên văn, nhưng lời đó như thế này: Nếu bạn nhìn vào mình, vào sự không thể thỏa mãn của mình và lo lắng rằng bạn quá khắc khoải, quá dục tính, và có thể là mắc bệnh không thỏa mãn, thì nó không có nghĩa là bạn bệnh hoạn, nó chỉ có nghĩa là bạn lành mạnh và không cần phải tiêm thêm kích thích tố! Đây là lời giải phóng cho một thanh niên 20 tuổi khắc khoải và quá nhạy cảm.

Hai năm sau, tôi được biết đến các tác phẩm của Henri Nouwen và, có lẽ hơn bất kỳ ai, chính ngài đã cho tôi được cảm nhận đúng những gì mình cảm nhận. Như chúng ta biết, Nouwen là một ngòi bút uy thế, vì ngài hết sức thành thật trong việc chia sẻ những thiếu thốn, khắc khoải và bất an của mình. Ngài có tài năng có một không hai trong việc dò ra các mối khắc khoải trong linh hồn chúng ta. Ví dụ như, khi mô tả những đấu tranh của chính mình, Nouwen viết rằng: “Tôi muốn làm một vị thánh, nhưng tôi cũng muốn được cảm nghiệm tất cả những cảm giác của một tội nhân. Kỳ lạ làm sao, đời là một cuộc đấu tranh.”

Người cuối cùng tất nhiên là thánh Âu Tinh và phần mở đầu lừng danh trong quyển Tự thú, khi ngài tóm lược cuộc đấu tranh suốt đời trong vài từ: “Ngài đã tạo dựng chúng con vì Ngài, lạy Chúa, nên lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nào nó được nghỉ an trong Ngài.” Chúng ta mang nỗi vô hạn này trong mình, và như thế chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta sẽ chẳng bao giờ tìm được cảm giác thành toàn và bình an trong cái hữu hạn. Thánh Âu Tinh cũng cho chúng ta một lý luận tuyệt vời rằng chúng ta thường đẩy về tương lai vô định một số chuyện mà chúng ta cần làm ngay bây giờ: “Lạy Chúa, xin cho con nên một Kitô hữu ngoan đạo, nhưng khoan đã!”

Một vài người nói đến những người họ muốn gặp trên thiên đàng. Còn đây là năm người đã giúp tôi hiểu được ý nghĩa của con đường dương thế.

Tình trạng mồ côi cha nơi sâu thẳm hiện hữu của chúng ta

Những nhà nhân học cho chúng ta biết rằng, nỗi khao khát cần người cha, một khát mong khắc khoải muốn được cha chúc lành, chính là một trong những nỗi khát mong sâu thẳm nhất trong thế giới thời nay, đặc biệt là ở người nam. Hàng triệu người cảm nhận họ không được cha mình chúc lành. Robert Bly, Robert Moore, Richard Rohr, James Hillman, và nhiều người khác nữa đã cho chúng ta những thấu suốt về điều này.

Chúng ta đau khổ khi không có cha. Tuy nhiên, trong cội nguồn sâu thẳm nhất của nó, đau khổ này khác với đau khổ thiếu vắng thuần túy một lời chúc lành từ người cha thể lý của chúng ta. Chúng ta có khuynh hướng trở nên mồ côi cha theo những cách thâm sâu hơn. Vậy, như thế nào?

Khoảng 25 năm trước đây, triết gia người Pháp Jean-Luc Marion đã viết quyển ‘Thiên Chúa không Hiện hữu’, trong đó ông diễn giải rất thách thức về dụ ngôn người con hoang đàng.

Chúng ta đều biết dụ ngôn này: Người cha có hai đứa con. Đứa con thứ đến tìm người cha mà nói rằng: ‘Cha hãy cho con phần gia tài sẽ là của con.’ Và người cha đã chia gia tài cho anh. Đứa con thứ lấy phần mình, bỏ đi xa, và phung phí tài sản, sống trác táng trụy lạc. Khi đã hết sạch tiền, anh thấy mình rơi vào cảnh đói khát và nhục nhã, rồi anh quyết định về lại nhà cha, dù anh không xứng đáng và anh đã được cha chạy ra chào đón, ôm vào lòng, và đưa về nhà.

Ngang đây, bài học thật rõ ràng: Tình thương của Thiên Chúa quá rộng lớn và đầy thương cảm đến nỗi dù chúng ta có làm gì đi nữa, Ngài vẫn luôn yêu thương chúng ta. Nhiều quyển sách tuyệt vời đã nhấn mạnh điểm này, trong đó có quyển sách kinh điển, Người con hoang đàng trở về của Henri Nouwen.

Nhưng Jean-Luc Marion, với những từ ngữ cụ thể trong bản tiếng Hy Lạp, ông đã nhấn mạnh một yếu tố khác của dụ ngôn này. Bản tiếng Hy Lạp cho thấy đứa con đã đến gặp cha mình để xin một thứ còn hơn cả của cải và tiền bạc. Anh xin cha mình phần gia tài (ousia). Ousia, trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là ‘chân tính’. Anh xin cho mình, một cuộc sống, độc lập tách khỏi cha. Hơn nữa, là một người con và là người thừa kế, anh đã luôn được dùng phần tài sản đúng ra là của anh, nhưng lúc này anh muốn chiếm hữu nó, và chẳng phải hàm ơn ai hết. Anh muốn những gì chính đáng thuộc về anh, nhưng anh muốn nắm giữ chúng độc lập với cha mình, cắt đứt với cha mình, và nó là tài sản của riêng anh, sao cho anh không còn phải thấy hình bóng cha mình trong cách nhìn nhận và sử dụng cuộc đời, cũng như tự do của mình nữa. Và như dụ ngôn đã cho thấy rõ, hệ quả là, khi không còn nhìn nhận hay ý thức ơn ban như đúng một ơn ban, thì sẽ luôn dẫn tới việc sử dụng sai ơn ban đó, đánh mất sự nguyên vẹn, và rồi là hạ giá con người.

Để giải thích cho ngôn ngữ mơ hồ của Marion, tôi xin đưa ra đây những gì ông xem là vấn đề thâm sâu nhất trong câu chuyện này: ‘Đứa con đòi rằng mình không bao giờ phải thỉnh cầu nữa, hay đúng hơn là không bao giờ còn mở tay ra nhận chân tính nữa. … Anh đòi rằng mình phải chiếm hữu nó, quản lý nó, hưởng dùng nó mà không phải đón nhận và truyền giao ơn ban. Đứa con muốn mình không nợ gì cha mình hết, và trên tất cả, là không nợ ơn cha, anh muốn mình không còn có cha nữa, muốn một chân tính không cần cha, không cần ơn ban. … Và chân tính trở thành vật sở hữu hoàn toàn của chỉ riêng anh mà thôi, nghĩa là nó hoàn toàn không thuộc về người cha, tước hết quyền sở hữu của cha, không còn ơn nghĩa gì nữa, và đây chính là ý nghĩa trong việc chiếm hữu chân tính. Từ đó, nảy sinh một hệ quả tức thì: khi tước quyền sở hữu của người cha, một quyền sở hữu trao ơn ban được thành toàn trong chính nó, không thể tách rời, và như thế tước đi quyền sở hữu này cũng là mất đi ơn ban: chiếm hữu mà không có ơn ban, một sự chiếm hữu tự truất quyền sở hữu của nó. Và như thế, anh trở thành một cô nhi không có ơn cha, một bản tính thấy mình rơi vào sự hoang phí.

Vấn đề thực sự của đứa con hoang đàng, không phải là sự thèm khát của cải, cho bằng thèm khát một sự độc lập sai lầm. Anh muốn cuộc sống và tự do cho mình để tận hưởng cuộc đời hoàn toàn theo mình và cho mình, như thế nghĩa là anh đã mang chúng ra khỏi nhà cha mình. Khi làm vậy, anh đã mất cha, và mất luôn cuộc sống và tự do thật sự vì những sự này chỉ có thể có được khi chấp nhận một sự lệ thuộc nhất định. Đó là lý do vì sao Chúa Giêsu nhiều lần nói đi nói lại rằng, Ngài không thể làm gì tự ý mình. Tất cả mọi sự của Ngài và mọi việc Ngài làm đều đến từ Chúa Cha.

Cuộc sống của chúng ta không phải của riêng chúng ta. Cuộc sống của chúng ta là một ơn ban, và luôn luôn cần phải được nhìn nhận như một ơn ban. Chân tính của chúng ta không phải của riêng chúng ta, và như thế không bao giờ được tách rời chân tính đó khỏi nguồn cội, chính là Thiên Chúa, Cha chúng ta. Chúng ta có thể đi vào cuộc sống và tự do của mình, hưởng dùng chúng và những vui thú của chúng, nhưng ngay khi chúng ta tách lìa chúng khỏi nguồn cội, xem chúng như của riêng mình và chỉ riêng mình, thì sẽ xảy đến hoang phí, đói khát và nhục nhã.

Chỉ có sự sống nơi nhà Cha, và khi chúng ta bỏ nhà mà đi, thì chúng ta không còn có cha và phí mất chân tính của mình.

Cách chúng ta phản ứng lại khi bị chỉ trích và phản đối

Có bao giờ chúng ta để ý đến cách mình bộc phát phản ứng trước một đe dọa? Đối diện với mối đe dọa, các bản năng căn bản của chúng ta có khuynh hướng áp đảo, ngay lập tức chúng ta bị cứng đờ, chúng ta bắt đầu đóng tất cả các cánh cửa của sự nồng hậu, nhẹ nhàng, cảm thông có trong người.

Đó là phản ứng tự nhiên, bắt rễ sâu từ trong bản tính của chúng ta. Các nhà sinh học cho chúng ta biết, bất kỳ lúc nào có một việc hay một người đe dọa đến chúng ta, thì theo bản năng, chứng hoang tưởng trong chúng ta trỗi dậy và gây tác động, thúc đẩy chúng ta đến một nơi nguyên khởi bên trong cơ thể mình, cụ thể là, phần “con” trong chúng ta, cái tàn dư sót lại trong sự tiến hóa từ hàng triệu năm trước. Và phần “con” đó là máu lạnh. Và đó cũng là tình trạng khi chúng ta bị đe dọa.

Tôi tin rằng, điều này giúp giải thích nhiều về chứng hoang tưởng và bạo lực trong thế giới ngày nay, cũng như cho những lời cay đắng, hầu như, đang chặn đứng tất cả mọi khả thể đối thoại hữu lý thích đáng cho các căng thẳng của chúng ta hằng ngày trong phạm vi chính trị, kinh tế và giáo hội.

Chúng ta sống trong một thế giới phân cực thật cay đắng. Tất cả chúng ta đều nhìn nhận điều này, và tất cả chúng ta đều thấy rất nhiều hành vi máu lạnh trong giới chính trị, trong chính quyền, trong giới kinh tế, và đáng buồn thay, cũng có cả trong giáo hội chúng ta nữa. Những gì chúng ta thấy trong hầu hết mọi trao đổi hằng ngày, nơi sự bất đồng đóng băng, những lời hùng hồn đanh thép không thực sự mở ra đối thoại chân thành, và lại luôn luôn đối lập với lòng nhân, tử tế, và tôn trọng. Thay vào đó, chúng ta lại thấy chứng hoang tưởng, quỷ hóa những ai bất đồng với mình, nhạo báng các giá trị và thành tâm của đối thủ, kèm theo là một sự tự vệ mù quáng.

Hơn nữa, sự cay đắng và thiếu tôn trọng này, đối nghịch một trời một vực với tất cả những gì trong Tin Mừng và cả những gì cao cả trong chúng ta, nó không ngừng “thần hóa”, nghĩa là kiểu lập luận như thể đó là lệnh truyền của Thiên Chúa, vì chúng ta tin rằng những gì mình làm là vì Thiên Chúa, vì chân lý, vì quê hương, vì người nghèo, vì mẹ thiên nhiên, vì nghệ thuật, vì một sự có giá trị siêu việt. Chúng ta tin như thế là lời biện minh cho việc chúng ta đánh đồng Chúa Giêsu với chuyện tử tế thông thường. Nếu bạn nghi ngờ việc này, bạn chỉ cần mở máy truyền thanh hay truyền hình, bất kỳ kênh nào bình luận về chính trị hay tôn giáo, hoặc bạn nghe các tranh luận tôn giáo và chính trị thời nay. Theo John Shea, chúng ta thành thạo trong việc biện minh hơn là tự thẩm, nhưng rồi, chúng ta có thể thần hóa sự thiếu tôn trọng và thiếu lòng nhân căn bản của mình.

Nhưng khi làm thế, chúng ta xa rời Tin Mừng, xa rời Chúa Giêsu, và xa rời những gì tốt đẹp nhất trong chúng ta. Chúng ta đã được hoạch định để trở nên cao quý hơn cái phần “con” của mình, hơn những bản năng kế thừa từ tổ tiên thượng cổ, những thú săn mồi. Chúng ta được kêu gọi đến với một điều lớn lao hơn, được kêu gọi để đáp trả mối de dọa, bằng những cách cao hơn lối phản ứng mù quáng của bản năng.

Phản ứng của thánh Phaolô với mối đe dọa có thể là gương mẫu cho phản ứng lý tưởng của chúng ta. Ngài đã viết rằng: “Bị nguyền rủa, chúng tôi chúc lành, bị bắt bớ, chúng tôi cam chịu, bị vu khống, chúng tôi đem lời an ủi.” (1Cr 4, 12-13) Và cũng trong phần đầu thư này, thánh Phaolô còn có một lời khuyên khác về việc xử trí làm sao với những chống báng. Ngài khuyên rằng: Hãy sống đủ kiên nhẫn bên trong sự chống báng, không cần phải tự vệ, hãy để Thiên Chúa và lịch sử làm việc đó cho bạn: “Đối với tôi, dù có bị anh em hay toà đời xét xử, tôi cũng chẳng coi là gì. Mà tôi, tôi cũng chẳng tự xét xử lấy mình. Quả thật, tôi không thấy lương tâm áy náy điều gì, nhưng đâu phải vì thế mà tôi đã được kể là người công chính. Đấng xét xử tôi chính là Chúa. Vậy xin anh em đừng vội xét xử điều gì trước kỳ hạn, trước ngày Chúa đến.”

Phải thành thực thừa nhận rằng, thật khó để làm được thế này. Cái tôi bản năng của chúng ta không dễ bị khuất phục. Cũng như mọi người khác, tôi phải chật vật đấu tranh với nó. Mỗi khi tôi nghe hay đọc thấy ai đó bác bỏ những bài giảng và bài viết của tôi và xem đó là dị giáo, nguy hiểm, hay (thậm chí đau lòng hơn nữa là) một thứ nhảm nhí hời hợt, thì cái phần “con” trong tôi lại bừng bừng khuấy động, thực hiện cái phần việc nguyên thủy của nó, và các bản năng tự nhiên của tôi đau lòng thay lại chống lại con đường lớn mà thánh Phaolô đã khôn ngoan chỉ dạy. Bản năng tự nhiên không muốn cố gắng hiểu lập trường của người xem thường chúng ta, cũng không muốn chúc phúc và chịu đựng hay đáp trả một cách nhẹ nhàng. Nó muốn máu. Tôi ngờ rằng bản năng của tất cả mọi người đều như thế. Bản năng tự nhiên không dễ gì tuân theo Tin Mừng.

Nhưng, đó là thử thách, thực sự là một trong những phép thử căn tính của cương vị môn đệ Kitô hữu. Khi chúng ta hướng về cốt lõi của các lời dạy đạo đức của Chúa Giêsu, và tự hỏi, điều gì đã khiến Chúa Giêsu khác hẳn các thầy dạy đạo đức khác? Cụ thể là đòi buộc nào của Ngài là phép thử căn tính cho cương vị môn đệ đích thực?
Tôi cho rằng, tại nơi cốt lõi của các lời Chúa Giêsu dạy, có thách thức này: Tôi có thể yêu thương kẻ thù không? Tôi có thể chúc lành cho người nguyền rủa tôi không? Tôi có thể ước mong điều tốt cho người muốn điều xấu cho tôi không? Tôi có thể thực tâm tha thứ cho người đã đối xử bất công với tôi không? Và có lẽ, quan trọng nhất là, liệu tôi có thể kiên nhẫn khi rơi vào tình huống căng thẳng, đừng vội vàng tự vệ, nhưng hãy để lịch sử và Thiên Chúa làm việc đó, hay không?

Chúng ta rụt rè khi đối diện với sự phong phú của Thiên Chúa

Tuổi trẻ của tôi có những mạnh mẽ và yếu đuối của nó. Tôi lớn lên trong một nông trại ở trung tâm vùng đồng cỏ Canada, thuộc thế hệ nhập cư thứ hai. Gia đình tôi đông người, và nông trại nhỏ giúp chúng tôi đủ sống, mặc dù chỉ đủ mà thôi. Không bao giờ có dư ra đồng nào. Chúng tôi không bao giờ thiếu ăn hay thực sự nghèo túng, nhưng chúng tôi sống thanh đạm. Bạn được cho những gì bạn cần, nhưng hiếm khi có gì dư giả. Bạn chỉ có một phần chia nhất định trong món chính cũng là món duy nhất trong bữa, và một món tráng miệng, vì phải phân chia sao cho mọi người có đủ phần. Và tôi sống hạnh phúc trong hoàn cảnh này, lấy để cho đi, đó chính là ý nghĩa cuộc sống, tôi nhìn nhận rằng tất cả mọi tài nguyên đều có hạn và không nên đòi hỏi hay lấy nhiều hơn những gì cần thiết.

Và một nền tảng như thế củng cố cho tôi: Bạn trưởng thành với nhận thức, không có chuyện không làm mà ăn, bạn cần phải kiếm miếng ăn cho mình. Bạn cũng biết, không được lấy nhiều hơn phần của mình, vì tài nguyên trong thế giới này có hạn và bạn phải chia sẻ chúng với tất cả mọi người. Nếu bạn lấy nhiều hơn phần của mình, thì sẽ không có đủ cho tất cả mọi người. Tài nguyên có hạn, nên nếu ai đó lấy quá nhiều, thì sẽ có người nhận được quá ít.

Nhưng nền giáo dục này cũng có mặt trái của nó: Khi tất cả mọi thứ phải được cân đo đong đếm để bảo đảm đủ cho tất cả mọi người, bạn sẽ sống với nỗi sợ tiềm tàng rằng có thể sẽ không đủ, khi đó bạn dễ dàng rơi vào tâm thức khô kiệt hơn là dồi dào, dễ thuận theo chiều hướng bủn xỉn hơn là rộng rãi.

Một tâm thức khô kiệt hơn là dồi dào sẽ làm cho chúng ta cằn cỗi theo các cách như sau: Thứ nhất, nó làm cho chúng ta có khuynh hướng khi đứng trước sự dồi dào của đời sống, chúng ta trở nên quá rụt rè để không hồ hởi tận hưởng cuộc sống. Với tính tiết kiệm, cuộc sống quá bằng phẳng không có điểm nào nổi bật, và luôn bị ám ảnh tội lỗi khi gặp các sự tốt đẹp trên cuộc đời, đặc biệt là bất kỳ cảm nghiệm xa hoa nào, tương tự như cảm giác khó chịu của các môn đệ Chúa Giêsu khi họ trông thấy tận mắt một phụ nữ hoang đàng đã phung phí khi dùng dầu thơm đắt tiền xức chân Chúa. Trong tâm thức khô kiệt, có một cám dỗ triền miên là lý tưởng hóa sai lầm sự đau khổ và nghèo khó, đồng thời để chúng chiếm mất chỗ của ân sủng và dồi dào là tặng vật thực sự mà Chúa ban cho chúng ta. Và còn méo mó hơn nữa là do mang trong mình một tâm thức khô kiệt nên thường thường chúng ta có một khái niệm về một Thiên Chúa có hạn, và dè sẻn hơn là một Thiên Chúa hoang phí. Nhưng đó không phải là Chúa mà Chúa Giêsu rao giảng.

Tôi xin đưa ra ví dụ, một giáo sư chủng viện quen biết đã kể cho tôi nghe chuyện này: Ông dạy các chủng sinh đã nhiều năm rồi, và những năm gần đây, khi dạy về bí tích hòa giải, câu hỏi các chủng sinh thường đặt cho ông trước hết là: ‘Khi nào con có thể từ chối tha tội? Khi nào con không được ban ơn tha tội?’ Tôi tin rằng sự lo lắng biểu hiện ở đây, không phải là do ý muốn quyền lực, nhưng là một nỗi sợ thực tâm rằng chúng ta nên thận trọng trong việc trao truyền lòng thương xót của Chúa, rằng chúng ta không nên trao ơn này một cách rẻ mạt. Và tôi cũng tin rằng, những gì tiếp sức cho nỗi sợ đó chính là một khái niệm vô thức, cho rằng Thiên Chúa cũng hành động với một tâm thức khô kiệt hơn là dồi dào, và lòng thương xót của Chúa, cũng như tài nguyên của chúng ta, có giới hạn, cần phải cân đong đo đếm hết sức dè sẻn.

Nhưng đó không phải là Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải và thể hiện. Các Tin Mừng đã trình bày một Thiên Chúa phung phí hơn tất cả mọi tiêu chuẩn mà chúng ta không thể tưởng tượng ra nổi. Thiên Chúa trong Tin Mừng, là Đấng gieo hạt, vì Ngài có vô số hạt giống, rãi chúng ở khắp mọi nơi mà không phân biệt rãi ở đâu, trên đường, trong mương, trong bụi gai, trên đất xấu hay trên đất tốt. Hơn nữa, Đấng gieo hạt phung phí đó cũng là Thiên Chúa tạo dựng, là Thượng đế đã tạo dựng và tiếp tục tạo dựng hàng trăm tỉ thiên hà và hàng tỉ tỉ con người. Và Thiên Chúa hoang phí này cho chúng ta một lời mời không bao giờ tận: Hãy đến với nước này, không cần mang theo tiền bạc, không cần công trạng, vì ơn Chúa dồi dào, có sẵn, và cho không như dưỡng khí chúng ta thở.

Tin Mừng thánh Luca kể lại một lần thánh Phêrô, ngay sau khi dành cả đêm lênh đênh trên biển mà không bắt được con cá nào, thì được Chúa bảo hãy cất lưới một lần nữa, và lần này thu được một lưới đầy cá đến nỗi gần chìm cả hai thuyền. Và Phêrô đã sấp mình thú nhận mình là kẻ tội lỗi. Nhưng, đoạn Tin Mừng đã làm rõ rằng, đây không phải là phản ứng đúng đắn trước một sự quá đỗi dồi dào. Phêrô đã sợ hãi không đúng, ông muốn sự quá đỗi dồi dào đó tránh ông ra vì ông bất xứng, trong khi đó những gì Chúa Giêsu muốn ở ông là khi ông đối diện với sự quá đỗi dồi dào đó, là hãy đi vào thế gian và chia sẻ nó với người khác ân sủng không tưởng tượng nổi này.

Sự dồi dào của Thiên Chúa, là để dạy chúng ta rằng, trước ân sủng vô hạn này, chúng ta đừng bao giờ khước từ tha tội cho bất cứ ai.

Nguyện xin Nước Chúa trị đến, nhưng chưa phải lúc này

Một người bạn của tôi thích nói đùa về các nỗ lực đấu tranh của anh trong thời gian trưởng thành. Anh đùa rằng, “Khi 20 tuổi, tôi nghĩ lúc 40 tôi sẽ đủ lớn để từ bỏ những thói xấu của mình. Nhưng khi đến 40, tôi lại cho mình thêm 10 năm nữa, tự hứa đến tuổi 50, tôi sẽ khuất phục được chúng. Ừ thì bây giờ tôi đã quá 50, tôi lại tự hứa lần nữa là đến tuổi 60, tôi sẽ trưởng thành hơn và nghiêm túc hơn, cân nhắc sâu sắc hơn trong đời.”

Thành thật mà nói, hầu hết chúng ta đều tương tự như thế. Chúng ta có ý định tốt, nhưng lại tiếp tục đẩy những việc chúng ta cần thay đổi trôi dần về tương lai: Ừ, tôi cần phải làm việc này, nhưng tôi chưa sẵn sàng. Tôi muốn có thêm thời gian. Một lúc nào đó trong tương lai, tôi sẽ làm mà.

Đây là cảm nghĩ gần như chung cho mọi người, và có nguyên do tốt. Có một áp lực mà chúng ta cảm thức được giữa khao khát muốn trưởng thành với sự trì hoãn luôn mãi cũng như lảng tránh không ngừng việc đó, điều này phản ánh một căng thẳng trong tâm điểm thông điệp của Chúa Giêsu, một căng thẳng giữa những lời hứa của Chúa đã có rồi và những lời hứa đang đến. Nói đơn giản là: Tất cả mọi sự Chúa Giêsu hứa đã có rồi, và vẫn đang đến. Chúng ta đã sống trong một sự sống tái sinh mới, ngay cả khi chúng ta đang chờ đợi sự sống đó đến. Vậy nghịch lý trong này là gì?

Các học giả kinh thánh và thần học gia đã nói cho chúng ta biết rằng tất cả mọi sự Chúa Giêsu đến để ban cho chúng ta (Chúa Trị đến, Nước Thiên Chúa, Thời đại mới, Thời Cánh chung, Công lý trên mặt đất, sự sống mới, sự phục sinh, sự sống bất diệt, thiên đàng), tất cả đều đã có ở đây rồi, nhưng cũng là đang đến. Tất cả có đây rồi, nhưng chưa trọn vẹn. Là một thực tại, nhưng đang chịu áp lực. Và tất cả vẫn đang đến, trong sự viên mãn, vẫn đang đến trong niềm say mê. Tất cả đã ở đây rồi nhưng vẫn cần phải được nhận ra. Ví dụ như, khi Chúa Giêsu nói rằng Ngài đến để ban cho chúng ta sự sống mới, Ngài không đơn thuần nói rằng tương lai của chúng ta là sống trên thiên đàng, nhưng Ngài cũng nói về đời sống chúng ta ở ngay đây, ngay trong hiện tại này. Ngài quả quyết với chúng ta rằng, sự sống mới đã có rồi. Thiên đàng đã khởi đầu rồi.

Chúa Giêsu đã giảng dạy điều này rất rõ ràng, và vấn đề không phải là do những người lắng nghe đã không hiểu Ngài. Họ hiểu, nhưng hầu hết, khước từ thông điệp đó. Họ cũng hết sức mong mỏi Nước Thiên Chúa có ngay đây rồi, nhưng cũng như anh bạn tôi cứ muốn có thêm 10 năm nữa để sống cho chuẩn mực, họ thích đẩy mọi thứ về tương lai hơn. Việc Thiên Chúa trở nên cụ thể trong đời sống, là một chuyện quá kinh hãi với họ.

Gerhard Lohfink, học giả Kinh Thánh nổi tiếng, đã khéo léo trình bày rõ ràng cả sự khước từ trong lòng đối với phần thông điệp này của Ngài, và nguyên do của sự khước từ đó nữa. “Những người nghe Chúa Giêsu thích đẩy mọi thứ về tương lai, và chuyện này chẳng có kết cục tốt. Triều đại Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã rao giảng, không được người ta chấp nhận. Cái “ngay hôm nay” mà Chúa muốn ban, đã bị người từ chối. Và đó, chỉ một điều này thôi, chính là lý do vì sao cái “đã có” trở thành cái “chưa có”. …. Không phải chỉ ở Nazareth, cái “ngay hôm nay” của Tin mừng mới bị chối bỏ. Mà cả về sau, trong lịch sử Giáo hội, đã hết lần này đến lần khác đã chối bỏ và vô hiệu hóa nó. Lý do cũng hệt như nguyên do ở Nazareth ngày trước, có vẻ như đó là do bản chất con người mà Thiên Chúa không thể trở nên cụ thể thiết thực trong đời sống chúng ta. Vì nếu Thiên Chúa trở nên thiết thực, những khát khao và ý niệm của con người bị đe dọa, và những ý niệm thời gian của họ cũng mất giá trị. Chuyện đó không thể xảy ra ngay ngày hôm nay được, vì như thế chúng ta phải thay đổi đời sống ngay tức thì. Bởi thế, có thể để chuyện này ngủ yên, một cách gọn gàng hợp lý, nhưng lại là phi lý.”

Tôi cho rằng tất cả chúng ta đều có thể giống như thế: Thật đáng sợ khi Thiên Chúa trở nên “cụ thể” trong đời mình, điều này khác hẳn với việc Thiên Chúa đơn thuần là một thực thể sẽ trở nên rất thực vào một ngày nào đó. Bởi, nếu Thiên Chúa “cụ thể” ngay lúc này, thì nó có nghĩa là thế giới chúng ta phải thay đổi ngay lúc này và chúng ta không còn được đẩy mọi thứ về tương lai vô định nữa. Điều này không hẳn là một lỗi phạm đức tin, cho bằng là một sự trì hoãn, một trốn tránh, muốn có thêm chút ít thời gian nữa trước khi cần phải sống nghiêm túc. Chúng ta cũng như các vị khách được mời trong dụ ngôn Tiệc cưới. Chúng ta cũng muốn đi dự tiệc, cũng định đi dự tiệc, nhưng trước hết, chúng ta cần phải lo đám cưới của mình, lo công việc và những tham vọng của mình đã. Chúng ta có thể sống nghiêm túc sau. Có thời gian mà. Chúng ta hoàn toàn có ý muốn theo Chúa Giêsu cách nghiêm túc, chỉ là chúng ta muốn có thêm chút thời gian trước khi làm việc đó.
Tôi cho rằng, tất cả chúng ta, đều biết lời kinh nổi tiếng của thánh Âu Tinh. Sau khi trở lại Đạo ở tuổi 25, ngài phải mất 9 năm đấu tranh để cho tính dục hòa hợp với đức tin. Trong suốt 9 năm đó, ngài cầu nguyện thế này: Lạy Chúa, xin cho con thành một Kitô hữu trong sạch … nhưng hãy khoan đã!
Và công trạng của ngài là, khác với chúng ta, ít nhất, cuối cùng ngài đã thôi không đẩy mọi chuyện về tương lai không xác định thêm nữa.

Sợ sự trưởng thành của chính mình

Thể xác và linh hồn chúng ta đều có những tiến trình lão hóa riêng, và chúng không phải lúc nào cũng hợp nhau. Do đó, T.E. Laurence, trong quyển Bảy Cột trụ Khôn ngoan, đã có lời bình luận về một người thế này: ‘Anh ta sợ sự trưởng thành khi nó đến với mình, với suy nghĩ chính chắn và nghệ thuật hoàn thiện, nhưng lại thiếu tính thi vị của tuổi niên thiếu để làm nên một cái kết trọn hảo cho cuộc sống … linh hồn khả diệt trải rộng của anh đang già đi nhanh hơn thể xác, đang chuẩn bị chết trước thể xác, như hầu hết chúng ta đều vậy.’

Tôi ngờ rằng, tất cả chúng ta, ở một mức độ nào đó, đều sợ trưởng thành. Không hẳn là do chúng ta không muốn từ bỏ các thói quen tuổi trẻ, hay sợ những niềm vui của tuổi trưởng thành không bằng những niềm vui tuổi trẻ. Mà tôi tin là có một lý do sâu hơn: Như Laurence đã nói, chúng ta sợ rằng sự trưởng thành của mình sẽ tước mất đi khỏi chúng ta tính thi vị của tuổi trẻ và khiến chúng ta già trước tuổi. Vậy nghĩa là gì?

Đôi khi chúng ta nói về một tâm hồn già bên trong một người trẻ tuổi, và điều này vừa khen vừa chê, mà có lẽ nghiêng về vế sau hơn. Có những lúc, chúng ta nhìn vào một người trẻ với cơ thể đầy sức sống và tràn năng lượng, nhưng lại thấy linh hồn phát triển ngược lại với tuổi trẻ và sinh lực đó, và chúng ta không khỏi tự hỏi rằng liệu sự trưởng thành sớm đó có ngăn cản quy luật đời sống hay không. Và rồi chúng ta có những phản ứng lẫn lộn: Thật là một chàng trai trẻ trưởng thành! Nhưng phải chăng cuộc đời anh quá xám xịt và cằn cỗi trước tuổi?

Nghĩ về điều này, tôi nhớ lại một lời mà Raymond Brown từng nói khi dạy học. Và cần phải lưu ý đến bối cảnh câu nói. Đây không phải là lời nhận định của một chàng trai trẻ vẫn còn đang tìm cách gây dấu ấn trong đời, nhưng là của một người đáng trọng, thành công, và rất chính chắn khiến nhiều người phải ghen tỵ. Gần 70 tuổi, chính chắn tuyệt vời, được mọi người tôn trọng vì đủ điều, từ học vị cho đến tính chính trực, ông là một linh hồn trưởng thành. Và lời nhận định của ông đi ngược lại với nỗi sợ phảng phất rằng có thể sự chính chắn đã tước mất đi một vài thi vị niên thiếu của ông. Lời nhận định của ông có thể nói như sau:

Bạn biết là khi đến một tuổi nào đó, như tôi bây giờ, khi nhìn lại những gì bạn đã làm, đôi khi bạn bối rối lấy làm ngượng về những việc đã làm lúc tuổi trẻ, không phải là những việc đồi bại đâu, nhưng chỉ là những việc, mà lúc này đây, từ quan điểm hiện tại, có vẻ thiếu chính chắn và thiếu suy nghĩ, những việc bây giờ bạn quá khôn ngoan để không liều mạng vướng phải. Lúc nhớ lại chúng, đầu tiên bạn khá bối rối ngại ngùng. Nhưng rồi, cũng lúc đó, bạn cảm thấy tuổi tác và cả sự dè dặt của mình, có khi bạn nhìn lại và bảo: ‘Đó là việc dũng cảm nhất tôi từng làm!’ Tuyệt vời, tôi thật bạo gan! Bây giờ thì tôi e dè hơn nhiều!’

Jane Urquhart, tiểu thuyết gia người Canada, cũng đồng hưởng với cảm nghĩ này. Khi đọc một trong hững quyển sách mình viết cách đây 20 năm, bà nhận xét rằng: ‘Thật hết sức thõa mãn khi có thể lại được thấy mình là cô gái trẻ đã viết những tiểu thuyết này, và biết được rằng những gì có trong đầu cô vẫn còn khuấy động trong tôi.’ Trong lời bình luận trên, có ẩn chứa sự ngưỡng mộ hiện thời (và tôi dám nói là ghen tỵ nữa) với thi vị đã từng thổi bùng trong chính bà khi bà còn trẻ.

Tôi cũng đã có cảm giác tương tự vài năm về trước, khi quyển Quả tim Thao thức của tôi được tái bản, họ đã nhờ tôi cập nhật nó. Tôi đã viết quyển này khi mới trên 20, một người trẻ cô đơn và thao thức, phần nào tìm kiếm vị thế của mình trong đời. Còn bây giờ, gần 25 năm sau, và trưởng thành hơn đôi chút, đôi khi tôi thấy ngượng vì một vài điều tôi đã viết thời đó, nhưng cũng như Raymond Brown, tôi kinh ngạc trước khí lực của mình thời đó, và như Jane Urquhart, thật là tươi mới khi lại được thấy chàng trai trẻ đã viết quyển sách này, được cảm nhận rằng chàng có một thi vị sống động hơn và nhiệt tình hơn là con người nhiều tuổi hơn đang đọc lại trang sách đó.

Một vài người trong chúng ta không bao giờ lớn lên. Cơ thể già đi, nhưng linh hồn vẫn còn mãi thiếu chính chắn, bám chặt vào tuổi dậy thì, sợ trách nhiệm, sợ dấn thân, sợ cơ hội vụt mất, sợ tuổi già, sợ sự chính chắn của chính mình, và không kém quan trọng là, sợ chết. Đây không phải là công thức của hạnh phúc, nhưng là một công thức cho một nỗi sợ hãi, thất vọng, và cay đắng cứ lan dần trong đời. Xét cho cùng, thì ai cũng có cái không trưởng thành, và những gì được xem là dễ thương lúc 20, đa màu sắc tuổi 30, và lập dị vào tuổi 40, sẽ trở thành không chấp nhận được lúc bước vào tuổi 50. Đến một tuổi nào đó, ngay cả thi vị và nhiệt tình cũng không thể bù đắp cho sự thiếu chính chắn. Linh hồn cũng phải lớn lên.

Nhưng với một vài người trong chúng ta, mối nguy lại là chuyện ngược lại, chúng ta già trước tuổi, trở nên già nua trong cơ thể trẻ trung. Chúng ta chính chắn, có trách nhiệm, tận tâm, trông có vẻ già, và đúng mực đạo đức, nhưng lại không có thi vị, nhiệt tình, màu sắc, và hài hước, vốn là những điều cho một người trưởng thành được dịu ngọt và sống động, như loại rượu ngon ủ lâu năm vậy.

Mười bí mật hạnh phúc

Trong 5 năm qua, người ta ngày càng chú tâm nghiên cứu về hạnh phúc con người. Vô số sách xuất bản nói về chủ đề này, và trong số đó không kém nổi bật là quyển Thần thoại Hạnh Phúc của Sonja Lyubomirsky, vốn đã trở nên một kinh thánh thế tục về hạnh phúc và ý nghĩa cuộc đời cho nhiều người. Trong quyển sách mới đây, Tiếng gọi Hạnh phúc, Sidney Callahan đã định lượng phê phán nhiều nghiên cứu trên. Cho dù các nghiên cứu này có đáng giá đến đâu, thì tất cả chúng ta đều nuôi dưỡng ước mơ thầm kín của riêng mình về những điều mang đến hạnh phúc cho mình, và thường ảo tượng này khác rất xa với những gì chúng ta biết là thật. Vậy điều gì sẽ cho chúng ta hạnh phúc?

Trong một bài phỏng vấn mới đây (ngày 29 tháng 7) với tuần báo Viva của Argentina, giáo hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh về chủ đề này, và đưa ra ’10 lời khuyên’ của riêng ngài về hạnh phúc. Vây lời khuyên của giáo hoàng Phanxicô về hạnh phúc, theo cách nói của ngài là ‘để đem lại niềm vui lớn hơn cho cuộc sống’, là gì?

Khi trình bày ở đây, tôi sẽ trung thành với lời của ngài, nhưng do ngài diễn giải khá dài cho mỗi điểm, nên tôi sẽ mạo muội tổng hợp điểm trọng tâm của ngài bằng lời của tôi.

1. Sống và hãy sống

Tất cả chúng ta sẽ sống lâu hơn và hạnh phúc hơn nếu thôi đừng cố gắng sắp đặt cho cuộc sống người khác. Chúa Giêsu đòi buộc chúng ta không được phán xét nhưng hãy sống với áp lực căng thẳng đó và để Thiên Chúa và lịch sử đưa ra phán quyết. Vậy để sống, chúng ta cần sống bằng nhận thức riêng của mình và hãy để người khác cũng được như vậy.

2. Trao ban bản thân cho tha nhân

Hạnh phúc hệ tại ở việc cho đi chính mình. Chúng ta cần cởi mở và quãng đại, vì nếu rút vào bản thân, chúng ta sẽ mắc phải mối nguy quy ngã và sẽ chẳng tìm thấy hạnh phúc vì ‘nước đọng là nước độc.’

3. Hướng đến điềm đạm

Hãy làm việc với lòng tốt, khiêm nhượng, và điềm đạm. Đây là những điều đối chọi với lo lắng và sầu lụy. Điềm đạm không bao giờ gây cao huyết áp. Chúng ta cần phải nỗ lực, phải ý thức để đừng bao giờ để hiện tại gây hoang mang và vội vã quá đáng. Thà trễ còn hơn là căng thăng quá độ.

4. Nghỉ ngơi lành mạnh

Đừng bao giờ bỏ phí thú vui của nghệ thuật, văn học, và chơi đùa với trẻ con. Hãy nhớ rằng Chúa Giêsu đã làm cho người khác chướng mắt vì Ngài có thể tận hưởng cuộc sống với mọi vui thú của nó. Chúng ta không chỉ sống bằng làm việc, cho dù đó có là công việc quan trọng và ý nghĩa đến đâu đi nữa. Ở trên thiên đàng, không có công việc, chỉ có thư thái, chúng ta phải học lấy nghệ thuật và niềm vui của an nhàn, không phải chỉ để chuẩn bị cho thiên đàng mà còn để tận hưởng một phần thiên đàng ngay hiện tại.

5. Ngày chúa nhật phải là ngày nghỉ.

Các công nhân phải được nghỉ ngày chúa nhật, vì ngày chúa nhật là dành cho gia đình. Thành tựu, năng suất, và tiến độ không nên là những thứ mà chúng ta xem trọng nhất, nếu không chúng ta sẽ bắt đầu đem mọi thứ ra mà bán buôn, đời chúng ta, sức khỏe, gia đình, bạn bè, những người xung quanh chúng ta, và những sự tốt đẹp trong đời nữa. Đó là lý do vì sao Thiên Chúa cho chúng ta giới răn giữ ngày Chúa Nhật. Đây không phải là lời khuyên về lối sống, nhưng là một giới răn, cũng hệt như cấm giết người vậy. Hơn nữa, nếu chúng ta là người chủ, thì giới răn này đòi hỏi chúng ta cũng phải cho nhân công của mình có một ngày chúa nhật đúng nghĩa.

6. Tìm những cách mới để tạo việc làm phẩm giá cho người trẻ

Nếu bạn muốn chúc phúc cho một người trẻ, đừng chỉ nói với họ rằng anh ấy, cô ấy thật tuyệt. Đừng chỉ ngưỡng mộ vẻ đẹp và sinh lực của tuổi trẻ. Hãy cho người trẻ công việc của bạn! Hay, ít nhất, hãy tích cực hành động để giúp người đó tìm được một công việc ý nghĩa. Điều này sẽ vừa ban phúc cho người trẻ đó và vừa đem lại niềm hạnh phúc đặc biệt cho đời bạn.

7. Tôn trọng và chăm lo cho tự nhiên

Không khí chúng ta thở ra là không khí chúng ta hít vào. Đây là chân lý đúng cho cả đường thiêng liêng, tâm lý, và sinh thái. Chúng ta không thể nguyên vẹn và hạnh phúc khi Mẹ trái đất đang bị tước đoạt đi sự nguyên vẹn của mình. Chúa Kitô đến để cứu thế giới, chứ không phải chỉ cứu con người trong thế giới. Ơn cứu độ, cũng như hạnh phúc của chúng ta, gắn chặt với cách chúng ta đối xử với trái đất. Thật là vô luân khi tát vào mặt ai đó, và cũng vô luân khi ném những thứ rác thải của chúng ta vào mặt của Mẹ trái đất.

8. Đừng tiêu cực

Nhu cầu cần phải nói xấu ai đó cho thấy một sự thiếu tôn trọng bản thân. Những suy nghĩ tiêu cực nuôi dưỡng bất hạnh và cái nhìn xấu về bản thân mình Còn suy nghĩ tích cực nuôi dưỡng hạnh phúc và sự tự tôn lành mạnh.

9. Đừng chiêu mộ, hãy tôn trọng niềm tin của người khác

Những gì chúng ta trân trọng, và là sự thăng tiến đức tin của mình, chính là ‘nhờ sự lôi cuốn chứ không phải chiêu mộ.’ Vẻ đẹp là điều không ai có thể bàn cãi. Hãy trân quý các giá trị của bạn, nhưng luôn luôn hướng đến người khác với lòng nhân từ, tử tế và tôn trọng.

10. Làm việc vì hòa bình

Hòa bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh, và làm việc vì hòa bình không chỉ là đừng gây bất hòa. Hòa bình, cũng như chiến tranh, phải được tiến hành một cách tích cực, bằng cách làm việc vì công lý, bình đẳng, và quy tụ với tất cả mọi người là gia đình mình. Tiến hành hòa bình là một cuộc đấu tranh không dứt để mở rộng tâm hồn, của mình và của người khác, để nhìn nhận rằng trong nhà Chúa có nhiều chỗ ở và rằng tất cả mọi đức tin, chứ không chỉ đức tin của chúng ta, đều là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc.
Và tôi xin mọi người thứ lỗi nếu có ý tưởng nào của tôi thay thế ý tưởng của Đức Phanxicô.

Bước đi trên mặt nước và chìm nghỉm

Đức tin không phải là chuyện đơn giản có được. Không phải là chuyện chắc như đinh đóng cột. Mà đức tin như thế này: Có lúc bạn bước đi được trên mặt nước, và có lúc bạn chìm nghỉm như cục đá. Đức tin luôn có chỗ cho hoài nghi trước khi phục hồi sự xác quyết, rồi lại đánh mất lần nữa.

Chúng ta thấy điều này phản ánh sinh động trong câu chuyện Tin mừng về thánh Phêrô đi trên mặt nước. Chuyện như thế này: Các môn đệ vừa được chứng kiến một phép lạ lớn, là Chúa Giêsu cho 5000 người ăn từ năm chiếc bánh và hai con cá. Vừa chứng kiến một phép lạ, đức tin của họ đang rất mạnh. Không lâu sau, họ lên thuyền băng qua biển hồ. Nhưng Chúa Giêsu không đi cùng họ. Đi được một quãng, họ rơi vào cơn bão dữ dội và bắt đầu hoang mang. Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với họ. Lúc đầu họ sợ hãi vì tưởng Ngài là ma. Nhưng Ngài trấn an họ, khi từ giữa cơn bão, Ngài nói với họ, Ngài không chỉ là Giêsu mà còn là sự hiện diện của Thiên Chúa.

Ngay lập tức, Phêrô lòng đầy đức tin xin Chúa Giêsu cho ông cũng được đi trên nước như Ngài. Chúa Giêsu bảo ông cứ làm, và Phêrô đầy tự tin ra khỏi thuyền và bắt đầu đi trên mặt nước. Nhưng rồi, khi nhận ra việc mình đang làm là bất tự nhiên, ngay lập tức ông bắt đầu chìm, kêu gào xin cứu, và Chúa Giêsu đưa tay ra vớt ông lên.

Những gì minh trí ở đây là hai tâm điểm trong cảm nghiệm đức tin của chúng ta, cụ thể là, đức tin có lên có xuống, và đức tin mạnh nhất lúc chúng ta không nhầm lẫn đức tin với sức riêng của mình.

Đức tin có lên có xuống. Chúng ta thấy rõ điều này trong chuyện Phêrô đi trên nước. Lúc đầu, ông cảm nhận đức tin thật mạnh và tự tin đặt chân lên mặt biển và bắt đầu bước đi. Nhưng, gần như ngay khi nhận ra việc mình đang làm, ông bắt đầu chìm. Đức tin của chúng ta cũng y hệt như thế, có lúc đức tin cho chúng ta bước trên mặt nước, và có lúc chìm nghỉm. Hình ảnh Tin mừng về thánh Phêrô bước trên mặt nước đã tự nói lên tất cả.

Cho dù có thấy nản chí vì đức tin của mình dao động như thế, chúng ta vẫn có thể thấy an ủi nhờ những lời của Julian thành Norwich. Bà đã viết về một thị kiến của mình rằng: ‘Sau khi ngài cho tôi một niềm vui thiêng liêng tuyệt diệu nhất trong linh hồn: Lòng tôi hoàn toàn là một niềm chắc chắn không phai, được nâng đỡ mạnh mẽ và chẳng chút sợ hãi nào. Cảm giác này thật quá vui mừng và quá thiêng liêng đến nỗi tôi hoàn toàn bình an và thư thái, và chẳng có thứ gì trên đời có thể khiến tôi buồn lòng được. Việc này chỉ kéo dài được một lúc, rồi tôi bị thay đổi, tôi buông mình rơi vào sự buồn sầu lo lắng cho chính đời sống mình, khó chịu với chính mình đến nỗi tôi khó có thể đủ kiên nhẫn để sống. … Và ngay sau đó, Đức Chúa Lòng Lành lại cho tôi lòng thanh thản và nghỉ ngơi trong linh hồn, trong một niềm vui sướng và an toàn, quá hạnh phúc và quá mạnh mẽ đến nỗi không một lo sợ, buồn sầu, đau đớn thể xác nào có thể làm tôi khỗ não. Và rồi tôi lại cảm thấy nỗi đau lần nữa, rồi vui mừng hoan hỉ lại đến, lúc sự này, lúc sự kia, cứ lần này đến lần khác.’ (Quyển Bày tỏ, chương 15)

Julian thành Norwich là một nhà thần nghiệm lừng danh với một đức tin ngoại hạng, nhưng cũng như Phêrô, bà cũng quá dao động giữa việc đi trên mặt nước và chìm nghỉm. Những cảm giác tin chắc của bà đến rồi đi.

Cũng vậy, đức tin tốt nhất là khi chúng ta không nhầm lẫn đức tin với nỗ lực của chính mình. Ví dụ, trong quyển Sự Thánh thiện, Donald Nichol đã chia sẻ chuyện về một nhà truyền giáo người Anh ở châu Phi. Lúc mới đến đây, nhà truyền giáo được mời làm trung gian điều đình giữa hai bộ lạc. Ông chẳng chuẩn bị gì cho việc này, ngơ ngác và hoàn toàn không có kinh nghiệm. Nhưng ông đã dấn thân làm với đức tin, và ngạc nhiên thay, ông đã hòa giải được hai bộ lạc. Sau đó, phấn chấn vì thành công của mình, ông bắt đầu tự cho mình là một người điều đình và bắt đầu thể hiện mình là quan tòa cho các tranh chấp. Nhưng, cho đến bây giờ, những nỗ lực của ông đều vô nghĩa. Và điều thâm thúy là, khi ông không biết mình đang làm gì, nhưng ký thác hoàn toàn vào Chúa, ông có thể đi trên mặt nước, còn ngay khi đắm mình trong thành công, ông chìm nghỉm. Đức tin làm việc như thế. Chúng ta chỉ có thể đi trên mặt nước bao lâu chúng ta không nghĩ là mình đang làm việc này với sức riêng mình.

Nhà thần nghiệm Rumi, một thầy Hồi giáo Sufi, từng viết rằng chúng ta sống với một bí mật thâm sâu mà đôi khi chúng ta biết, rồi lại không biết, rồi lại biết. Đức tin là như thế, có lúc chúng ta đi trên mặt nước, có lúc chúng ta chìm nghỉm, và rồi lại đi trên mặt nước lần nữa.

Luật Nghiệp Quả

Năm 1991, Hollywood cho ra mắt một phim hài tựa đề, Những tay lõi Thành phố (City Slickers) qua tài diễn xuất của Billy Crystal. Xét về một khía cạnh nào đó, đây là một bộ phim đạo đức tuyệt vời, tập trung vào ba người đàn ông trung niên ở New York đang rơi vào khủng hoảng của tuổi trung niên.

Những người vợ quá chán nản với các đức ông chồng, nên đã tặng cho các ông một món quà, là suất tham dự cuộc đua ngựa xuyên New Mexico và Colorado. Và ba chàng thành thị này dấn vào một cuộc đua xuyên vùng hoang dã. Phần hài kịch của bộ phim tập trung vào kỹ thuật cỡi ngựa vớ vẩn, sự ngờ nghệch về ngựa cũng như về vùng hoang dã của ba chàng. Đoạn nghiêm túc nhất là lúc họ nói chuyện với nhau để cố xác định những vật lộn với việc mình ngày càng già đi và những bí ẩn lớn trong đời.

Và một này nọ, khi họ đang bàn về chuyện làm tình, một trong số ba người, Ed, nhân vật ít dè dặt đạo đức nhất, hỏi hai người kia liệu họ có phản bội vợ mình và đi ngoại tình nếu như biết được chắc rằng mình sẽ không bao giờ bị bắt tội hay không. Mitch, nhân vật do Bill Crystal thủ vai, lúc đầu trả lời câu hỏi kiểu tếu táo, chắc chắn rằng đây là chuyện bất khả thi: Bạn luôn luôn bị bắt tội! Tất cả mọi chuyện ngoại tình cuối cùng đều bị lộ. Nhưng Ed nhấn mạnh câu hỏi của mình là: “Nhưng giả sử bạn không bao giờ bị bắt tội. Giả sử bạn có thể giấu được nó suốt. Liệu bạn có lừa vợ mình mà ngoại tình, nếu như chẳng một ai biết được chuyện này, hay không?” Mitch trả lời: “Không, tôi vẫn sẽ không làm!” “Tại sao,” Ed hỏi, “chẳng ai biết mà.” “Nhưng tôi biết,” Mitch trả lời, “và tôi sẽ ghét bản thân mình vì tôi đã làm như thế!”

Có một sự khôn ngoan đạo đức ở trong câu trả lời đó. Đến tận cùng, không một ai làm chuyện gì xấu mà thoát được. Chúng ta luôn luôn bị bắt tội, ít nhất là do chính bản thân mình và do sinh lực đạo đức bên trong hơi thở của chúng ta. Hơn nữa, dù có bị bắt tội hay không, sẽ luôn luôn có hậu quả. Đây là một nguyên tắc đạo đức thâm sâu không trốn tránh được, ghi đậm trong kết cấu của vũ trụ. Và đã được cảm nghiệm vũ trụ của con người chứng thực đúng là thế. Đến cuối cùng, không một ai trốn tội được, cho dù tất cả mọi sự có chứng tỏ điều ngược lại.

Chúng ta thấy chân lý này được cưu mang trong tâm điểm của Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo, và tất cả các tôn giáo Đông phương, với khái niệm thường được gọi là Luật Nghiệp quả. Nghiệp (Karma) là một từ tiếng Phạn nghĩa là hành động hay việc làm, nhưng nó ngụ ý rằng tất cả mọi hành động, mọi việc làm của chúng ta gây nên một từ trường sức mạnh trả ngược lại cho chúng ta, cụ thể là, gieo nhân nào gặt quả ấy. Bởi thế, các chủ tâm và hành động xấu sẽ trả ngược vào chúng ta và gây nên sự bất hạnh, cũng như một chủ tâm và hành động tốt sẽ trả ngược vào chúng ta và cho chúng ta hạnh phúc, bất chấp người khác nhìn thấy và nhận thức về chuyện này như thế nào. Vũ trụ có luật riêng của mình để bảo đảm cho chuyện này.

Chúa Giêsu cũng không lạ gì với khái niệm này. Nó hiện diện khắp trong lời dạy của ngài, và có những lúc được trình bày rất rõ ràng: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy (Lc 6, 8-38)

Về căn bản, Chúa Giêsu đang nói với chúng ta rằng làn khí chúng ta thở ra cũng là làn khí chúng ta hít vào, và đây là sự thật với tất cả mọi tầm mức hiện hữu. Nói đơn giản, nếu chúng ta phát quá nhiều CO2 và CO vào không khí, thì đến cuối cùng chúng ta sẽ thấy mình bị ngột ngạt vì chúng. Và điều này đúng ở mọi mức độ đời sống. Nếu chúng ta thở ra sự chua cay, đến cuối cùng sẽ thấy mình đang hít vào sự chua cay. Nếu chúng ta thở ra sự bất lương, đến cuối cùng sẽ thấy mình đang hít vào sự bất lương. Nếu chúng ta thở ra sự tham lam và keo kiệt, đến cuối cùng sẽ thấy mình hổn hển cần một hơi quảng đại trong cái thế giới ngột ngạt bởi tham lam và keo kiệt. Ngược lại, nếu chúng ta thở ra sự quãng đại, yêu thương, chân thật, và tha thứ, đến cuối cùng, cho dù thế giới quanh mình có bất lương và hèn hạ thế nào đi nữa, chúng ta vẫn thấy đời mình ở trong một thế giới quãng đại, yêu thương, chân thật và tha thứ.

Những gì chúng ta thở ra, đến cuối cùng chính là những gì chúng ta hít vào. Đây là một chân lý không bàn cãi, khắc sâu trong cấu trúc vũ trụ, khắc sâu trong cuộc đời, trong tất cả mọi tôn giáo thật, trong mọi lời dạy của Chúa Giêsu, và trong mọi lương tâm vẫn còn nuôi dưỡng đức tin tốt đẹp.

Tìm kiếm động lực đúng đắn

Đôi khi nhìn sơ qua thì thấy mọi chuyện có vẻ tốt, nhưng nhìn sâu hơn, thì lại thấy hoàn toàn không ổn. Chẳng hạn, chúng ta có thể thấy chuyện này trong dụ ngôn về người con hoang đàng và người anh cả. Xét theo mọi biểu hiện bên ngoài, người anh cả làm tốt mọi chuyện. Anh vâng phục hoàn hảo cha mình, ở lại nhà, và làm mọi việc cha sai bảo. Không như đứa em, anh không hoang phí tài sản của cha cho gái điếm và tiệc tùng. Anh có vẻ là hình mẫu quảng đại và sống đạo đức.

Tuy nhiên, câu chuyện đã hé lộ một cách rõ ràng mọi chuyện rất không tốt. Trong khi cuộc sống của anh tốt theo vẻ bên ngoài, thì trong lòng anh thực sự lại đầy phẫn uất và cay đắng, ghen tỵ với sự vô luân của em mình. Chuyện gì đang xảy ra? Về căn bản, hành động của anh là tốt, nhưng động lực lại sai.

Nhưng, để đừng phán xét anh quá gay gắt, chúng ta cần phải có lòng thành thực mà nhận thức tất cả chúng ta đều đang đấu tranh với chuyện này, ít nhất là khi chúng ta sống đạo đức và quãng đại. Những gì điều khiển lòng cay đắng của người anh cả, chính là cái mà bà Alice Miller đã diễn tả rất tài tình, “tấn kịch của đứa con có phúc”, cụ thể là lòng phẫn uất, thương thân, và chiều hướng đạo đức trong tâm trạng cay đắng chắc chắn đang bủa vây chúng ta, những người không xao lãng bổn phận, những người ở lại nhà, và gánh vác trọng trách gia đình, Giáo hội và cộng đoàn. Đáng buồn thay, thường thì, khi hy sinh đời mình chúng ta lại không có cảm giác vui mừng và sung sướng vì đã được ơn, được có cơ hội và nhận thức đúng đắn để ở lại nhà và phục vụ, mà thay vào đó, là tâm trạng phẫn uất vì gánh nặng đè trên vai mình, vì có quá nhiều người trốn tránh gánh vác, vì có quá nhiều người trên thế giới cứ lu bù ăn chơi trong khi chúng ta cắm cúi sống ngay thẳng. Chúng ta, những người tốt và lương thiện đang đấu tranh vì sự thật và Thiên Chúa, chúng ta hay thấy tấm lòng đạo đức cay đắng đang nhuốm màu và gây hại cho cả lòng đại lượng và hy sinh của chúng ta. Nhưng tôi thông cảm: Thật không dễ để gạt cái tôi sang một bên, để bỏ qua những giấc mơ, tham vọng, tiện nghi, và thoải mái vì Thiên Chúa, sự thật, trách nhiệm, gia đình và cộng đoàn.

Làm sao chúng ta làm được chuyện này? Làm sao chúng ta noi theo được lòng trung tín của người anh cả mà không rơi vào tâm trạng ghen tị, thương thân, và cay đắng của anh? Tìm đâu ra động năng tốt để sống Tin Mừng?

Là Kitô hữu, tất nhiên, chúng ta cần phải nhìn lên Chúa Giêsu. Ngài đã sống một đời sống quảng đại và từ bỏ đến cùng, không bao giờ rơi vào tâm trạng thương thân xuất phát từ việc đã bỏ lỡ một điều gì đó trong đời. Ngài không bao giờ thất vọng hay cay đắng vì đã trao ban đời mình. Và tất nhiên, Ngài cũng không như Hamlet, biến sự từ bỏ của mình thành một bi kịch sống, thành một anh hùng xa cách và đơn độc, nhìn thì hấp dẫn nhưng không đem lại gì. Chúa Giêsu vẫn luôn luôn tự do, nồng ấm, tha thứ, không xét đoán, và sinh hoa trái. Hơn nữa, suốt đời hy sinh, Ngài luôn tỏa ra một niềm vui đánh động những người đương thời. Vậy Ngài đã có bí mật gì?

Câu trả lời mà Tin mừng cho chúng ta nằm trong dụ ngôn người cày ruộng tìm thấy kho báu, cũng như trong dụ ngôn người thương nhân sau nhiều năm tìm kiếm đã tìm ra viên ngọc quý. Trong mỗi dụ ngôn, người đó đều bán hết tất cả những gì mình có để mua kho báu hay viên ngọc. Và điểm cần phải nhấn mạnh trong cả hai dụ ngôn này là, người đó không một giây hối tiếc những gì mình đã từ bỏ, họ hành động khởi phát từ một niềm vui không thể tả vì những gì đã khám phá và những phong phú vô vàn từ đó mà ra. Cả hai đều được đổ đầy niềm vui vì cái đã khám phá ra được, đến nỗi họ không còn chú ý gì đến những gì mình đã từ bỏ.

Chỉ có như thế, thì sự hy sinh bỏ mình mới có ý nghĩa và thực sự sinh hoa trái. Nếu nỗi đau vì những gì đã hy sinh lớn hơn niềm vui vì những gì đã tìm được, cụ thể hơn, nếu chúng ta tập trung vào những gì mình mất đi và từ bỏ hơn là vào những gì mình tìm thấy, thì cuối cùng chúng ta sẽ làm những việc tốt nhưng với động năng xấu, mang thánh giá của người khác và đòi họ trả công cho mình. Và chúng ta sẽ không thể ngăn bản thân mình đừng phán xét, cay đắng, và ghen tỵ trong lòng với những người vô luân.

Đến mức độ chết đi bản thân mình để cho người khác được sống, chúng ta đang dấn vào một nguy cơ dai dẳng là rơi vào kiểu cay đắng chụp lấy chúng ta bất kỳ lúc nào cảm thấy mình đã mất đi điều gì đó trong đời. Đó là mối nguy thường trực, mối nguy nghiêm trọng, trong cương vị môn đệ Kitô hữu và trong đời sống thiêng liêng nói chung. Như thế, trọng tâm của chúng ta phải luôn luôn hướng về kho báu, về viên ngọc quý, về ý nghĩa phong phú và niềm vui đích thực, hoa trái tự nhiên của sự hy sinh thật. Và động năng vui mừng này sẽ cho chúng ta vượt thắng tâm trạng thương thân và ghen tị với những người sống vô đạo đức.