RonRolheiser,OMI

Khôn ngoan tối hậu của Tiến hóa

Charles Darwin tuyên bố rằng, Tiến hóa hoạt động qua sự sinh tồn của những loài thích nghi nhất. Mặt khác, Kitô giáo lại chăm lo cho sự sinh tồn của những người yếu đuối nhất. Nhưng, chúng ta làm sao để tương hợp lý tưởng Kitô giáo về việc chọn lựa ưu tiên cho người yếu đuối, với luật tiến hóa?

Tự nhiên là tiến hóa, và trong đó, chúng ta có thể lĩnh hội được một mức độ khôn ngoan biểu lộ rõ ràng được sự minh tuệ, mục tiêu, tinh thần và dự định của nó. Có lẽ chính trong tiến trình tiến hóa, chúng ta thấy quá rõ ràng rằng tự nhiên trở nên hợp nhất, phức hợp, và ý thức hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên, khôn ngoan và ý định của Thiên Chúa cũng được phản ánh bên trong quá trình tiến hóa, dù không phải lúc nào cũng rõ ràng, vì tự nhiên cũng có thể trở nên quá đỗi tàn bạo. Để sinh tồn, tất cả mọi loài trong tự nhiên phải ăn thịt đồng loại và các loài khác trong tự nhiên. Chỉ có loài thích nghi nhất mới sinh tồn. Và đây thật là một sự tàn bạo khốc liệt. Khi nhấn mạnh về việc tự nhiên có thể tàn bạo và bất công đến đâu, các nhà bình luận thường đưa ra ví dụ về chuyện con bồ nông con thứ hai. Và chuyện này thật tàn bạo cùng bất công quá mức:

Con bồ nông cái thường đẻ hai trứng, nhưng lại đẻ cách nhau vài ngày, nên một con sẽ nở trước con kia vài ngày. Điều này cho con bồ nông con đầu tiên có một khởi đầu thuận lợi, và cho đến khi con thứ hai mổ vỏ ra đời, thì con đầu đã to hơn và khỏe hơn. Nên nó áp đảo con bồ nông thứ, giành lấy thức ăn và đẩy con bồ nông thứ tội nghiệp ra khỏi ổ. Và, khi bị mẹ mình bỏ mặc, tự nhiên, con bồ nông thứ sẽ chết vì đói, cho dù có cố gắng về lại ổ đi chăng nữa. Trong số các con bồ nông con thứ, tỷ lệ sống sót chỉ là 10%. Và lập luận tàn bạo của tự nhiên là: Con bồ nông thứ được sinh ra như một chính sách bảo hiểm, đề phòng trường hợp con đầu quá yếu hay chết yểu. Và do đó, số phận của nó là chết đi, là bị bỏ mặc, bị đói, bị chiếm đoạt thức ăn và cả sự chăm lo của mẹ mình cho đến khi đói lả mà chết. Nhưng sự tàn bạo này như một chiến lược của tiến hóa. Trong khi loài bồ nông đã sinh tồn qua 30 triệu năm, nhưng với cái giá là hàng triệu sinh mạng của loài đã chết đi trong tàn nhẫn.

Trong việc này, rõ ràng là có một sự thông minh nhất định, nhưng còn sự cảm thương thì ở đâu? Một Thiên Chúa đầy cảm thương thực sự sắp xếp việc này? Rõ ràng thấy được sự thông minh trong chiến lược của tự nhiên về sự sinh tồn của loài thích nghi nhất. Mỗi loài, trừ phi có sự can thiệp từ bên ngoài, thì luôn luôn sản sinh ra những cá thể khỏe hơn, mạnh hơn, và thích ứng hơn. Dường như, sự khôn ngoan và dự tính của tự nhiên có một mức độ.

Một số nhà khoa học như Pierre Teilhard de Chardin cho rằng tiến hóa tự nhiên đã đạt đến tột đỉnh, mức độ cao nhất của hợp nhất, phức hợp, và ý thức, trong hệ thống thần kinh trung ương và bộ não của con người, và bây giờ tiến hóa thực hiện một bước nhảy (như khi chuyển từ sinh vật nguyên sơ qua sinh vật có ý thức, và từ ý thức đơn thuần sang tự ý thức vậy) từ đó sự tiến hóa đầy ý nghĩa bây giờ không còn là để chọn lấy những cá thể mạnh mẽ về thể lý và khả năng thích nghi nữa. Nói đúng ra, bây giờ tiến hóa tập trung vào mặt xã hội và tinh thần, nghĩa là hướng về sức mạnh tinh thần và xã hội.

Và trong nhận thức Kitô giáo, điều này có nghĩa rằng, tiến hóa bây giờ là việc con người dùng ý thức tự thân của mình để trở về và giúp tự nhiên bảo vệ và nuôi dưỡng những con bồ nông thứ. Tiến hóa có ý nghĩa bây giờ không còn là việc kẻ mạnh thì mạnh hơn, nhưng là việc cho kẻ yếu, vốn đến bây giờ theo quy luật tự nhiên không có khả năng lớn lên, lại được lớn lên và mạnh mẽ.

Tại sao? Tự nhiên có lợi gì nơi những kẻ yếu? Tại sao tự nhiên lại không hạnh phúc khi loại đi những kẻ yếu? Thiên Chúa được gì nơi những kẻ yếu mà tự nhiên không dung nạp?

Không phải thế, tự nhiên cũng rất lo đến sự sinh tồn của kẻ yếu, và đang nhờ đến sự giúp đỡ của con người để làm việc này. Tự nhiên lo đến sự sinh tồn của kẻ yếu, bởi sự yếu đuối và dễ bị tổn thương cho tự nhiên một điều vốn thiếu vắng khi chỉ lo cho sự sinh tồn của những cá thể và loài thích nghi nhất cũng như việc sản sinh ra những cá thể và loài mạnh hơn, khỏe hơn và thích nghi hơn. Những gì kẻ yếu đem lại cho tự nhiên, chính là đặc tính và cảm thương, vốn là dưỡng chất chủ chốt cần có để đem lại sự hợp nhất, phức hợp, và ý thức, ở mức độ xã hội và tinh thần.

Khi Thiên Chúa tạo dựng con người lúc thời gian khai mở, Thiên Chúa đã cho con người trách nhiệm ‘thống trị’ hay làm chủ trên tự nhiên. Ủy lệnh này không phải là một sự cho phép chúng ta thống trị trên tự nhiên và dùng tự nhiên theo bất kỳ kiểu gì mình thích. Ủy lệnh này đúng ra là ‘canh chừng’ hay chăm bón khu vườn, làm một quản gia khôn ngoan, và giúp tự nhiên làm những việc mà tự nhiên, một cách vô thức, không thể làm được, cụ thể là bảo vệ và nuôi dưỡng kẻ yếu, chăm lo cho con bồ công thứ.

Thần học gia thế kỷ II, Irenaeus, đã từng có lời rằng: ‘Vinh quang Thiên Chúa là loài người được sống viên mãn!’ Còn thời chúng ta, Gustavo Gutierrez, vốn được xem là người khai sinh Thần học Giải phóng, đã nói lại câu trên như sau: ‘Vinh quang Thiên Chúa là người nghèo được sống viên mãn!’ Và đó cũng là vinh quang tối hậu của tự nhiên.

Cầu cho những ai không thuộc đàn chiên này – Một thư mở gởi đến các giám mục

Các giám mục kính mến,

Là một người con trung thành của Giáo hội Công giáo, tôi viết thư này với một thỉnh nguyện đặc biệt: Liệu các cha có thể thêm vào Kinh nguyện Thánh Thể hiện nay, một lời cầu dành cho các Giáo hội Kitô khác và cho các lãnh đạo của họ hay không?

Ví dụ như, liệu lời cầu cho Giáo hội và các lãnh đạo thuộc các Giáo hội khác, có thể thêm những lời này hay không: ‘Lạy Chúa, xin nhớ đến Hội Thánh Chúa lan rộng khắp hoàn cầu, để kiện toàn Hội Thánh trong đức mến, cùng với Giáo hoàng …., và Giám mục …., cùng với tất cả những ai đang lãnh đạo các Giáo hội Kitô khác, và toàn thể các giáo sĩ.’ Liệu Kinh nguyện Thánh Thể của chúng ta có nên có dạng kết hiệp này không?

Tại sao? Tại sao lại cầu nguyện cho các Giáo hội khác trong Kinh nguyện Thánh Thể của chúng ta? Vì ba lý do sau:

Thứ nhất, chúng ta nên cầu nguyện rõ ràng cho các Giáo hội Kitô khác trong Kinh nguyện Thánh Thể, vì Chúa Giêsu đã làm thế. Trong Tin mừng theo thánh Gioan, Chúa Giêsu cầu nguyện rõ ràng cho những ai đang cùng một đức tin nhưng tách rời, vì bất cứ lý do gì, khỏi cộng đoàn đang cầu nguyện lúc đó. Ngài cầu nguyện cho ‘các con chiên khác không thuộc đàn này’ (Ga 10, 6). Raymond Brown, có lẽ là học giả đáng kính nhất về Phúc âm theo thánh Gioan, trình bày rằng vào thời điểm thánh Gioan viết Phúc âm (khoảng năm 90-100) thì đã có sự chia rẽ trong Giáo hội, cũng gần giống với sự chia rẽ các phái ngày nay, và lời nguyện của Chúa Giêsu xin ‘cho những con chiên không thuộc đàn này’ thực sự là một lời cầu nguyện cho các Kitô hữu khác đang tách lìa về mặt thần học và phụng tự khỏi cộng đoàn mà thánh Gioan đang cùng cầu nguyện. Và Chúa Giêsu, với trái tim dành cho tất cả mọi người, chứ không chỉ cho những ai ở trong một cộng đoàn riêng biệt, cầu nguyện cho tất cả những người này: ‘Ta sẽ dẫn dắt cả họ nữa. Họ sẽ nghe tiếng Ta, và sẽ chỉ có một đàn chiên, một mục tử.’

Thứ hai, nếu chúng ta, như Chúa Giêsu, thực sự yêu mến những ai chia sẻ cùng đức tin với mình, nhưng lại đang tách lìa, thì thật đau đớn khi bàn tiệc Thánh Thể của chúng ta không được trọn vẹn, khi một vài thành viên trong nhà không hiện diện, và bàn còn những chỗ trống. Người Công giáo La Mã không phải là toàn thể gia đình. Người Tin Lành không phải là toàn thể gia đình. Người phái Phúc âm không phải là toàn thể gia đình. Các Giáo hội Kitô tự do không phải là toàn thể gia đình. Chỉ có cùng với nhau, chúng ta mới làm nên một gia đình trọn vẹn. Kinh nguyện Thánh Thể mà chỉ cầu cho cộng đoàn chúng ta và cho giáo hoàng, giám mục của chúng ta, thì có vẻ không trọn, như thể chúng ta không cần nhận biết và cảm giác thấy sự thiếu vắng thực sự những con người thật tâm, đang không cùng chúng ta mừng kính sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trên bàn thánh, và cảm nghiệm sự thân mật từ Phép Thánh Thể. Thật vui mừng biết bao khi cùng những người khác mừng kính Phép Thánh Thể, nhưng tôi nghĩ, chúng ta cần phải nhìn nhận, và đặt trọng tâm lời cầu nguyện, rằng chúng ta khao khát, mong mỏi, và cầu nguyện điều này, cầu cho những ai đang không cùng bàn tiệc gia đình với chúng ta. Và một lời kinh cầu như thế sẽ thể hiện tấm lòng khiêm tốn của chúng ta trước các anh chị em xa cách của mình. Lời kinh như thế cũng sẽ gìn giữ chúng ta, những người Công giáo La Mã, không hài lòng với gia đình vốn đang đứt đoạn của mình, như thể chúng ta không cần những ai không cùng với chúng ta vậy.

Cuối cùng, khi cầu nguyện như thế, chúng ta có tấm lòng quan tâm thực tiễn, một nhạy cảm và lòng mến khách: Dù là ở đám tang, đám cưới, các buổi tĩnh tâm liên phái, hay các sự kiện tương tự có sự hiện diện của các Kitô hữu khác đến với Giáo hội Công giáo La Mã chúng ta, thì khi cử hành Phép Thánh Thể, cần có, hay ít nhất là nên có, một cảm thức liên tôn mạnh mẽ. Trong tình huống này, về phần mình, một linh mục, tôi thấy thật khó xử và không được mến khách lắm khi cầu cho cộng đoàn Công giáo, cho Giáo hoàng, các giám mục, và hàng giáo sĩ của mình, mà không có mong muốn, hay đề cập đến các Giáo hội Kitô khác, các lãnh đạo của họ, và những nỗ lực của họ mong muốn hiệp nhất với Chúa Kitô. Tôi nghĩ rằng, để mến khách, chúng ta nên (và tôi dám nói là buộc phải) có một cảm thức đại kết hơn những gì chúng ta đang có bây giờ. Chẳng phải tất cả mọi người sẽ được thêm ơn ích từ việc này ư? Chẳng phải các Kitô hữu khác, và cả bản thân chúng ta, kết thành một cộng đoàn yêu thương và mến khách, và là trọn Thân thể Chúa Kitô (vốn rộng lớn hơn cộng đoàn riêng biệt của chúng ta) sẽ được thêm phong phú, nếu trong lời cầu nguyện quá tập trung vào mình, chúng ta biết cầu nguyện cho những ai cùng chia sẻ đức tin Kitô, nhưng đang tách biệt với chúng ta, hay sao? Chẳng phải đây là một thái độ mến khách rất tốt đẹp hay sao?

Chúng ta có thỏa hiệp gì khi làm thế hay không? Chúng ta có bảo vệ gì khi không làm thế hay không? Chúng ta có bớt nhạy cảm với Tin mừng, với lời nói và hành động của Chúa Giêsu, khi làm thế hay không?

Vậy nên, tôi thẳng thắn thỉnh nguyện rằng: Xin hãy thêm một lời cầu nguyện rõ ràng trong mỗi Kinh nguyện Thánh Thể, cầu cho các Giáo hội Kitô khác và các lãnh đạo của họ. Việc này có căn cứ. Chúa Giêsu đã làm rồi.

Tôi xin đưa ra đề xuất này, như một người con trung thành của Giáo hội.

Tôi là ai mà phán xét?

Có lẽ câu được trích nhiều nhất của Giáo hoàng Phanxicô là khi ngài trả lời câu hỏi trực diện về một vấn đề luân lý đặc biệt nghiêm trọng và bất định. Câu trả lời lừng danh gây nhiều tranh cãi của ngài là: Tôi là ai mà phán xét?

Dù nhận định này thường được xem là nói đùa và không nghiêm trọng lắm, nhưng thực sự, đây là một lời có căn cứ vững vàng. Dường như, chính Chúa Giêsu cũng nói một điều về căn bản là tương tự. Ví dụ như, khi Đức Giêsu nói chuyện với ông Nicôđêmô, Ngài đã nói một chuyện căn bản: Ta không phán xét ai.

Nếu Tin mừng theo thánh Gioan là khả tín, thì như thế Chúa Giêsu không phán xét ai. Thiên Chúa không phán xét ai. Nhưng phải xét theo bối cảnh. Điều này không có nghĩa là không có bất kỳ phán xét luân lý nào, và không có nghĩa là hành động của chúng ta không cần quan tâm đến sự kiểm soát đạo đức. Có phán xét, nhưng không phải là phán xét tưởng tượng trong tâm thức chung. Theo những gì Chúa Giêsu nói với chúng ta trong Tin mừng thánh Gioan, thì phán xét như thế này:

Ánh sáng, chân lý, và tinh thần Thiên Chúa đến trong thế giới. Chúng ta phán xét bản thân dựa theo cách chúng ta sống ra sao trước những sự này: Ánh sáng Thiên Chúa đã đến thế gian, nhưng chúng ta chọn sống trong bóng tối. Đó là quyết định của chúng ta, phán xét của chúng ta. Chân lý Thiên Chúa đã được mặc khải, nhưng chúng ta chọn sống trong sai trái, trong dối trá. Đó là quyết định của chúng ta, phán xét của chúng ta. Và tinh thần của Thiên Chúa đã đến thế gian, nhưng chúng ta chọn sống ngoài tinh thần Chúa, và ở lại trong một tinh thần khác. Đó cũng là quyết định của chúng ta, phán xét của chúng ta. Thiên Chúa không phán xét ai. Còn chúng ta phán xét nhau. Do đó, chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa không lên án ai, nhưng chúng ta lại chọn lên án nhau. Và Thiên Chúa không trừng phạt ai, nhưng chúng ta chọn trừng phạt nhau. Phán xét luân lý tiêu cực là thứ chúng ta tự áp đặt cho mình. Có lẽ điều này hơi mơ hồ trừu tượng, nhưng không phải vậy. Chúng ta biết điều này trong cuộc sống, chúng ta cảm nhận trong mình cái nhãn cho những hành động của chúng ta Một ví dụ là: Chúng ta phán xét bản thân nhờ Thần Khí như thế nào:

Tinh thần của Thiên Chúa, Thần Khí, không phải là một sự trừu tượng và không thể nắm bắt. Thánh Phaolô, trong thư gởi tín hữu Galat, đã mô tả Thần Khí bằng những khái niệm rất rõ ràng, để không bị thói tự lập luận làm cho mơ hồ và nhập nhằng. Ngài mô tả và xác định Thần Khí như thế nào?

Để làm rõ mọi sự, trước hết, thánh tông đồ đưa ra một tương phản bằng cách nói những sự gì không phải là Thần Khí. Thánh Phaolô nói rằng, tinh thần của Thiên Chúa, không phải là tinh thần chìu theo bản thân, ham mê nhục dục, ghen tỵ, kình địch, chống đối, nóng giận, sinh sự, say sưa, bè phái. Bất kỳ lúc nào, chúng ta nuôi dưỡng tính cách này trong đời mình, thì chúng ta đừng tự lừa dối bản thân rằng mình đang sống trong tinh thần Thiên Chúa, bất chấp chúng ta có giữ đạo thường xuyên, sốt sắng, và thành khẩn đến đâu chăng nữa. Thánh Phaolô nói, Thần Khí là tinh thần nhân đạo, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tử tế, tốt lành, khả tín, ân cần, và khiết tịnh. Chỉ khi sống trong các nhân đức này, thì chúng ta mới sống trong tinh thần Thiên Chúa.

Vậy nên, phán xét là như thế này: Tinh thần của Thiên Chúa (nhân đạo, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tử tế, tốt lành, khả tín, ân cần, và khiết tịnh) đã được bày tỏ cho biết. Chúng ta có thể chọn sống trong những nhân đức này hay có thể chọn sống trong những thứ đối lập (chìu theo bản thân, ham mê nhục dục, ghen tỵ, kình địch, chống đối, nóng giận, sinh sự, say sưa, bè phái.) Một chọn lựa dẫn chúng ta sống với Thiên Chúa, và chọn lựa kia dẫn chúng ta xa khỏi Chúa. Và chọn lựa đó là của chúng ta, chứ không phải từ bên ngoài. Chúng ta phán xét chính mình. Thiên Chúa không phán xét ai. Thiên Chúa không cần phải phán xét.

Khi xem xét từ quan điểm này, chúng ta làm rõ được một số hiểu lầm gây rối loạn trong tâm thức các tín hữu cũng như trong tâm thức của những người chỉ trích. Chúng ta thường nghe lời chỉ trích này: Nếu Thiên Chúa là toàn thiện, toàn mến, và hoàn toàn thương xót, thì làm sao Thiên Chúa có thể kết án con người đời đời trong hỏa ngục? Một câu hỏi có căn cứ, dù không thực sự đủ suy tư. Tại sao? Bởi Thiên Chúa không phán xét ai, Thiên Chúa không trừng phạt ai. Thiên Chúa không kết án ai xuống hỏa ngục. Những điều này là chúng ta gây ra cho mình. Chúng ta tự phán xét mình, tự trừng phạt mình, và tự đẩy mình vào đủ loại hỏa ngục bất kỳ lúc nào chúng ta chọn không sống trong ánh sáng, chân lý và tinh thần Thiên Chúa. Và phán xét này là do chúng ta tự gây ra, trừng phạt này là do tay chúng ta,và lửa hỏa ngục là bởi chúng ta mà ra.

Chúng ta rút được một số bài học từ việc này. Trước hết, như chúng ta vừa thấy, sự thật Thiên Chúa không phán xét ai, giúp cho chúng ta làm rõ biện thần luận của chúng ta, nghĩa là giúp giảm đi tất cả những hiểu lầm quanh lòng thương xót Thiên Chúa, và xóa bỏ lời cáo buộc rằng một Thiên Chúa hoàn toàn thương xót lại có thể kết án con người đời đời trong hỏa ngục. Và hơn nữa, đây là một thách thức mạnh mẽ đòi chúng ta phải bớt phán xét đi, hãy để lúa và cỏ lùng tự phân loại theo thời gian, để ánh sáng phán quyết bóng tối, để sự thật phán xét sai lầm, và như giáo hoàng Phanxicô, chúng ta hãy bớt vội vàng phán xét nhân danh Thiên Chúa, và hãy biết nói rằng: ‘Tôi là ai mà phán xét?’

Các nguyên tắc để đối thoại liên tôn và các quan điểm liên tôn

Chúng ta sống trong một thế giới mà các tôn giáo bị bất kính và bị xúc phạm. Ngày nay tất cả mọi hệ thống truyền thông đều ghi nhận sự bất kính và bạo lực nhân danh tôn giáo, nhân danh Thiên Chúa đang ngày càng phổ biến. Những người làm việc này luôn xem hành động của mình là thiêng liêng, là công chính với những lý do thánh thiện.

Và nếu nhìn vào lịch sử, mọi chuyện đã luôn như thế. Không một tôn giáo nào, ngay cả Kitô giáo, là vô tội. Tất cả mọi tôn giáo lớn trên thế giới, ở nhiều thời điểm khác nhau, đều là kẻ bách hại và người bị bách hại. Vậy nên chúng ta phải hỏi câu hỏi này: Đâu là các nguyên tắc căn bản để sống thích hợp trong các quan hệ của chúng ta với các tín ngưỡng khác, mà không gây hại cho đức tin của mình?

Cái gì tốt nhất trong mỗi truyền thống của chúng ta đến đề nghị 10 nguyên tắc sau:

1. Tất cả mọi sự tốt lành, chân thật, và tốt đẹp đều đến từ một Đấng, một Tác giả, là Thiên Chúa. Không có điều gì chân thật, dù mang vẻ đạo hay vẻ thế tục, lại đi ngược với đức tin thật và tôn giáo thật.

2. Thiên Chúa sẽ cứu rỗi tất cả mọi người, như nhau, không phân biệt. Thiên Chúa không ưu ái riêng ai. Tất cả mọi người đều có thể đến với Thiên Chúa và Thần Khí Thiên Chúa, và toàn thể nhân loại không bao giờ thiếu sự quan phòng của Ngài. Hơn nữa, mỗi tôn giáo không được bác bỏ những gì chân thật và thánh thiện trong các tôn giáo khác.

3. Không một tôn giáo hay giáo phái nào có đầy đủ và toàn bộ chân lý. Thiên Chúa là Đấng vô hạn và không gì tả nổi. Vì lẽ này, nên không thể định nghĩa Thiên Chúa bằng những khái niệm và ngôn từ của loài người. Do đó, dù hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa có lẽ là đúng thật, nhưng luôn là cục bộ mà thôi. Có thể biết thật về Thiên Chúa, nhưng không thể nghĩ cho đúng thật về Thiên Chúa được.

4. Tất cả mọi đức tin và tôn giáo đều đang trên hành trình đến với sự viên mãn của chân lý. Không một tôn giáo hay giáo phái nào có thể xem chân lý của mình là trọn vẹn, là trường cữu, nhưng phải nhìn nhận sự thật mình đang có chính là điểm khởi đầu cho hành trình này. Hơn nữa, như nhiều tôn giáo khác (và các giáo phái, các nhóm trong một tôn giáo), chúng ta cũng cần phải cảm thấy đủ vững vàng trong ‘nhà’ mình để nhận biết sự thật và vẻ đẹp đang biểu lộ nơi ‘nhà’ người khác. Chúng ta cần phải chấp nhận rằng có những người khác sống trong cùng một đức tin như chúng ta, nhưng với ngôn ngữ trình bày khác chúng ta mà thôi.

5. Sự đa dạng trong lòng đạo rất phong phú, và theo ý Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ muốn chúng ta hiệp nhất, nhưng Ngài còn ban cho chúng ta sự đa dạng giúp thể hiện sự phong phú quá đỗi trong Ngài. Sự đa dạng tôn giáo là nguyên do gây nên nhiều căng thẳng, nhưng sự đa dạng này và nỗ lực để vượt qua sự khác biệt sẽ góp phần mạnh mẽ thêm cho sự phong phú hiệp nhất cuối cùng.

6. Thiên Chúa ‘tán xạ’ trong thế giới tôn giáo. Tất cả những gì tích cực trong một tôn giáo, thể hiện một điều gì đó từ Thiên Chúa và góp phần và mặc khải thiêng liêng. Do đó, từ quan điểm này, các tôn giáo khác nhau trên thế giới cùng góp phần để chúng ta nhận biết Thiên Chúa.

7. Mỗi một người phải thực hành đức tin của mình dựa trên chính lương tâm của mình. Mỗi người chúng ta phải có trách nhiệm với đức tin và ơn cứu độ của chính mình.

8. Trên toàn cầu, tất cả các tôn giáo lớn đều giao thoa thấm nhập với nhau (và với một Kitô hữu, điều này nghĩa là các tôn giáo khác cũng thấm nhập vào mầu nhiệm của Chúa Kitô). Một đức tin đích thực nhận biết rằng Thiên Chúa là cho tất cả mọi người, và Thần khí Chúa thổi tự do, bởi thế tự thân Thần khí cũng đi vào ý hướng của các tôn giáo khác, cũng như vào các phái khác nhau trong cùng một tôn giáo.

9. Một liên hệ đơn thuần theo bề ngoài và theo lịch sử, không quan trọng bằng việc đạt được liên hệ riêng, mật thiết với Thiên Chúa. Điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta, cho dù theo tôn giáo nào, không phải là việc hành đạo cho bằng một mối liên hệ riêng với Ngài, có thể biến đổi đời sống chúng ta sao cho chiếu tỏa sự tốt lành, sự thật và vẻ đẹp của Thiên Chúa rõ ràng hơn nữa.

10. Trong đời chúng ta, và trong liên hệ của chúng ta với các tôn giáo khác, thì sự tôn trọng, lòng nhân, đức ái phải chiến thắng tất cả mọi điều khác. Điều này không có nghĩa tất cả mọi tôn giáo đều như nhau, nhưng có nghĩa những gì thâm sâu nhất trong mọi tôn giáo chân thực là các điều căn bản sau: tôn trọng, lòng nhân, và đức ái.

Suốt dòng lịch sử, các nhà tư tưởng lớn đã vật lộn với vấn đề giữa sự hợp nhất và sự đa dạng. Và dù ý thức hay vô thức, tất cả chúng ta cũng đều đấu tranh với căng thẳng này, giữa một và nhiều, giữa sự hợp nhất và sự đa dạng, nhưng có lẽ điều này không đến nỗi phức tạp như thế nếu chúng ta nhìn nhận đây là sự phong phú phản ánh sự quá đỗi dư tràn vô hạn của Thiên Chúa và khả năng có hạn của chúng ta khi nỗ lực nắm bắt sự vô hạn này. Có thể mô tả vấn đề đa dạng tôn giáo như thế này:

Nhiều người khác nhau, cùng một địa cầu

Nhiều niềm tin khác nhau, cùng một Thiên Chúa

Nhiều ngôn ngữ khác nhau, cùng một tấm lòng

Biết bao nhiêu sự rơi xuống, nhưng cùng một luật trọng lực

Nhiều động năng khác biệt, cùng một Thần Khí

Nhiều kinh thánh khác nhau, nhưng cùng một Lời

Nhiều kiểu thờ phượng khác nhau, cùng một nguyện vọng

Nhiều chuyện đời khác nhau, cùng một định mệnh

Nhiều kỷ luật khác nhau, cùng một mục đích

Nhiều cách tiếp cận khác nhau, cùng một con đường
Nhiều đức tin khác nhau, nhưng cùng một Mẹ, một địa cầu, một bầu trời, một khởi đầu, một đích đến.

Tìm Phục Sinh ở đâu

Có những điều cần đến sự đóng đinh nhục hình. Tất cả mọi sự tốt đẹp, đến tận cùng đều bị đem ra thí tội và bị đóng đinh. Như thế nào? Bởi quy luật này, một quy luật lạ lùng ngược đời bẩm tại trong đời sống con người luôn có một ai đó hay một sự gì đó không thể ở yên, nhưng vì những lý lẽ của bản thân nó, phải đi truy lùng và tấn công những sự thiện tốt lành. Những gì tốt lành, những gì từ Thiên Chúa mà ra, luôn có lúc bị hiểu lầm, bị ganh tị, thù ghét, truy đuổi, buộc tội, và cuối cùng là treo lên thập giá. Mọi phần thân thể Chúa Kitô chắc chắn chịu cùng số phận như Ngài: chịu chết vì bị hiểu lầm, vì sự ngu dốt và ghen tỵ.

Nhưng còn có một mặt khác: Cuối cùng Phục Sinh luôn chiến thắng nhục hình. Những gì tốt lành chiến thắng. Do đó, dù Thiên Chúa không trốn tránh nhục hình, nhưng thân xác Chúa Kitô không ở trong mồ quá lâu. Thiên Chúa luôn lăn tảng đá mồ ra, và đủ sớm để cho sự sống mới trỗi dậy, qua đó chúng ta thấy được vì sao đời sống bình thường của mình phải chịu nhục hình. (Không phải là Chúa Kitô phải chịu đau khổ và phải chết hay sao?) Sau nhục hình, chắc chắn là Phục Sinh. Tất cả mọi thân xác chịu nhục hình sẽ trỗi dậy. Hy vọng của chúng ta phát xuất từ đó.

Nhưng là như thế nào? Chúng ta thấy được sự phục sinh này ở đâu? Làm sao chúng ta cảm nghiệm được phục sinh sau nhục hình?

Kinh thánh rất khéo léo, dù rất rõ ràng, về điều này. Chúng ta nghĩ là có thể cảm nghiệm phục sinh ở đâu? Tin mừng cho chúng ta biết, vào tảng sáng phục sinh, các phụ nữ theo Chúa Giêsu đã lên đường viếng mộ, mang theo dầu thơm để xức xác Ngài. Một ý định tốt nhưng lầm, những gì họ thấy không phải là xác chết, nhưng là ngôi mộ trống, và thiên thần đứng đó hỏi họ: ‘Tại sao các bà lại tìm người sống giữa cõi chết? Hãy lên đường đến Galilê và các bà sẽ thấy Ngài ở đó!’

Hãy đến Galilê. Tại sao là Galilê? Galilê nào đây? Và làm sao để đến đó?

Trong tin mừng, Galilê không đơn thuần là một địa điểm địa lý, một vị trí trên bản đồ. Mà trên hết, Galilê là một nơi trong lòng người. Cũng thế, Galilê là giấc mơ và con đường môn đệ mà các môn đệ của Chúa Giêsu từng đi với Ngài, và cũng là nơi chốn thời điểm khi lòng họ bừng bừng hy vọng và nhiệt tình. Giờ đây, sau khi Chúa chịu đóng đinh, khi họ thấy giấc mơ của mình đã chết, khi đức tin của họ chỉ còn là ảo tưởng, thì họ lại được bảo hãy đi về nơi tất cả mọi sự khởi đầu: ‘Hãy đi về Galilê. Ngài sẽ gặp các bạn ở đó!’
Và họ về lại Galilê, cả về mặt địa lý và cả về một nơi đặc biệt trong lòng họ từng một thời cháy bỏng giấc mơ môn đệ Chúa. Và như lời đã hứa, Chúa Giêsu hiện ra với họ. Ngài không giống y hệt như Ngài trước đây, hay như những gì họ muốn, nhưng Ngài hiện ra, Ngài không chỉ là một bóng ma hay một ký ức. Chúa Kitô hiện ra với họ sau phục sinh, theo một phương thức khác, nhưng Ngài đủ hữu hình thể lý để cùng ăn cá với họ, đủ thực để họ chạm đến, và đủ quyền năng để biến đổi cuộc đời họ mãi mãi. Đến tận cùng, đây chính là những gì mà sự phục sinh muốn ở chúng ta: Hãy về lại Galilê, về lại với giấc mơ, với hy vọng và tình môn đệ từng một thời thổi bừng chúng ta, nhưng giờ đã mất đi vì chúng ta vỡ mộng.
Điều này cũng tương đồng với câu chuyện trên đường Êmau, khi hai môn đệ với gương mặt buồn bã u ám rời Giêrusalem. Và từ câu chuyện này chúng ta có thể rút ra một linh đạo trọn vẹn: Theo thánh Luca, Giêrusalem là giấc mơ, là hy vọng và là trung tâm lòng đạo, nơi khởi đầu và cực điểm của mọi sự. Và các môn đệ đang ‘rời bỏ’ nơi này, từ bỏ giấc mơ của mình, hướng về Êmau (một khu nghỉ dưỡng của người La Mã thời đó), hướng về một nơi tiện nghi phàm tục, một Las Vegas hay Monte Carlo. Do giấc mơ của họ đã bị đóng đinh nhục hình, nên cũng dễ hiểu khi các môn đệ nản lòng và rời xa giấc mơ đó, hướng đến một khuây khỏa phàm tục, trong sự tuyệt vọng: ‘Nhưng chúng ta đã từng hy vọng!’

Họ không bao giờ đến Êmau. Chúa Giêsu hiện ra với họ trên đường, từ sự vỡ mộng Ngài dựng lại hy vọng trong họ, và đưa họ về lại Giêrusalem.

Đây là một trong những thông điệp căn bản nhất của Phục Sinh: Bất kỳ lúc nào chúng ta nản lòng trong đức tin, bất kỳ lúc nào hy vọng dường như bị đóng đinh giết chết, thì chúng ta cần về lại Galilêvà Giêrusalem, nghĩa là về lại giấc mơ và con đường môn đệ mà chúng ta từng mang trong lòng trước khi mọi thứ tưởng như sụp đổ. Bất kỳ lúc nào chúng ta thấy dường như nước trời không có thực, tất nhiên sẽ có cám dỗ từ bỏ cương vị môn đệ để chạy đến sự khuây khỏa phàm tục, hướng đến Êmau, để được giải khuây nhờ Las Vegas hay Monte Carlo.

Nhưng, chúng ta biết, mình không bao giờ đến Las Vegas hay Monte Carlo. Bằng cách này hay cách khác, Chúa Kitô luôn gặp chúng ta khi chúng ta đang trên đường đến đó, Ngài đào sâu tâm hồn chúng ta, giải nghĩa những nhục hình cho chúng ta hiểu, và đưa chúng ta về lại cương vị môn đệ mà chúng ta đã từ bỏ. Một khi đến đó, tất cả mọi sự lại có ý nghĩa.

Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu

Linh mục Henri Nouwen, ngòi bút thiêng liêng nổi tiếng có chia sẻ về một lần cha đến bệnh viện thăm một người đang hấp hối vì bệnh ung thư. Người này còn khá trẻ và là một người rất năng động, làm nhiều việc sinh hoa kết trái. Ông là người cha chăm lo tốt cho gia đình mình. Ông là giám đốc điều hành một công ty lớn chăm lo tốt cho cả công ty lẫn các nhân viên của mình. Hơn nữa, ông còn đóng góp trong nhiều tổ chức khác, kể cả giáo xứ, và với năng lực lãnh đạo, ông thường là người phụ trách, người đứng đầu. Nhưng bây giờ, con người một thời rất năng động, con người đã từng điều hành mọi sự, lại đang nằm trên giường bệnh chờ chết, không thể tự lo cho các nhu cầu căn bản tự nhiên của mình.

Và khi cha Nouwen đến bên giường bệnh, ông cầm lấy tay cha. Tôi thấy cần phải nhấn mạnh đến sự nản lòng quá đỗi của ông: ‘Cha ơi, cha phải giúp con! Con đang chết, và con đang cố bình tâm với chuyện này, nhưng còn có một điều khác nữa: Cha biết con mà, con luôn là người phụ trách, con chăm lo cho gia đình mình. Con chăm lo cho công ty. Con chăm lo cho giáo xứ. Con chăm lo hết mọi chuyện! Mà giờ con nằm đây, trên giường này, và con không thể tự lo cho mình. Con không thể tự đi vệ sinh. Chết là một chuyện, nhưng đây là chuyện khác nữa! Con bất lực! Con không thể làm được gì nữa!’

Dù rất giỏi trong việc mục vụ, nhưng cha Nouwen cũng như bất kỳ ai trong chúng ta ở trong hoàn cảnh này, đều bất lực trước lời van lơn của người đàn ông này. Ông đang trải qua tình trạngï bị động đau đớn khổ sở. Ông bây giờ là một bệnh nhân. Ông đã từng rất năng động, là người đứng đầu, và bây giờ, như Chúa Giêsu trong những giờ hấp hối, ông bị hạ xuống thành một bệnh nhân, một người để cho người khác làm gì thì làm. Về phần mình, cha Nouwen cố gắng giúp cho ông thấy mối liên kết giữa những gì ông đang trải qua với những gì Chúa Giêsu chịu trong cuộc thương khó, đặc biệt là ý nghĩa của thời gian bất lực, yếu đuối, và bị động này chính là thời gian để chúng ta có thể trao cho những người quanh mình một điều gì đó thâm sâu hơn.

Cha Nouwen đọc to trình thuật Thương khó trong Tin mừng cho ông nghe, vì những gì ông đang trải qua tương đồng rất rõ với những gì Chúa Giêsu chịu trong những giờ sắp chết của Ngài, mà Kitô hữu chúng ta gọi là ‘Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu.’ Chính xác thì Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu là gì?

Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã trao ban cho chúng ta cả đời sống lẫn cái chết của Ngài. Nhưng, chúng ta lại quá thường không phân biệt được giữa hai điều này. Chúa Giêsu trao ban đời sống của Ngài cho chúng ta theo một cách tích cực và chủ động hành động, nhưng Ngài trao ban cái chết của Ngài cho chúng ta theo một cách khác, là qua sự bị động, và thương khó của mình.

Chúng ta thường dễ hiểu lầm ý nghĩa của Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu. Khi dùng từ Thương khó (Passion) đế nói đến đau khổ của Chúa Giêsu, chúng ta tự nhiên liên kết Thương khó với đau đớn, nỗi đau bị treo trên thập giá, bị hành hạ, bị đánh đòn, bị đóng đinh và bị sỉ nhục trước đám đông. Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu có nói đến những điều này, nhưng chúng ta cần hướng từ ‘Thương khó’ đến một trọng tâm khác nữa. Thương khó (Passion) có gốc La Tinh là passio, nghĩa là bị động, và đây chính là ý nghĩa thực sự. Từ bệnh nhân (patient) cũng từ gốc này mà ra. Do đó, trình thuật Thương khó mô tả lại sự bị động của Chúa Giêsu, mô tả việc Ngài trở nên một ‘bệnh nhân.’ Ngài trao ban cái chết của mình cho chúng ta qua sự bị động của Ngài, cũng như trước kia Ngài trao ban đời sống cho chúng ta qua sự chủ động của Ngài.

Thật vậy, Tin mừng theo thánh Matthêu, Máccô, và Luca đều có thể chia thành hai phần riêng biệt: Trong mỗi Tin mừng, chúng ta có thể chia tất cả mọi chuyện trước khi Chúa Giêsu bị bắt trong vườn Giếtsêmani về một bên, và gọi phần Tin mừng này là: Sự chủ động của Chúa Giêsu Kitô. Rồi phần còn lại mà chúng ta gọi là ‘cuộc Thương khó’ có thể gọi là: Sự bị động của Chúa Giêsu Kitô. Điều này thực sự sẽ giúp làm rõ một đặc nét quan trọng là: Chúa Giêsu trao ban đời sống của mình cho chúng ta qua sự chủ động, nhưng lại trao ban cái chết của mình cho chúng ta qua sự bị động. Do đó: Cho đến trước khi bị bắt, Tin mừng mô tả Chúa Giêsu chủ động, làm mọi sự, là người dẫn dầu, rao giảng, dạy dỗ, làm các phép lạ, an ủi dân chúng. Nhưng từ sau khi bị bắt, tất cả mọi động từ đều chuyển sang thể bị động: bị lôi đi, bị giới cầm quyền hành hạ, bị đánh, được vác đỡ thập giá, và cuối cùng là bị đóng đinh vào thập giá. Sau khi bị bắt, như một bệnh nhân trong phòng nan y liệt giường, Chúa không còn làm gì nữa, nhưng là người khác làm cho Ngài và làm với Ngài. Ngài bị động, là một bệnh nhân, và trong sự bị động đó, Chúa Giêsu trao ban cái chết của Ngài cho chúng ta.

Trong chuyện này, có nhiều bài học cho chúng ta, trong đó có một sự thật rằng: sự sống và tình yêu được trao ban không chỉ trong những gì chúng ta làm cho người khác, nhưng có lẽ thâm sâu hơn, còn là trong những gì chúng ta nhận lấy những khi chúng ta bất lực, khi chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài là một bệnh nhân, một người bị động.

Làm chết êm dịu và cái chết có sự hỗ trợ của bác sĩ

Bà Raissa Maritain, triết gia và ngòi bút thiêng liêng, vừa chết cách đây vài tháng sau một cơn trụy tim. Trong suốt những tháng nằm trên giường bệnh, bà không thể nói chuyện. Sau khi bà chết, chồng của bà, triết gia lừng danh Jacques Maritain, khi chuẩn bị đăng lại những bài viết của bà, đã viết những dòng này:

“Đến lúc, khi mọi thứ sụp đổ với cả hai chúng tôi, và sau 4 tháng khổ sở, Raissa bị khóa kín trong bản thân mình sau khi đột nhiên mất khả năng nói chuyện. Dù cố gắng suốt vài tuần với hết sức lực trí tuệ và tinh thần, nhưng Raissa vẫn hoàn toàn không thể giao tiếp thật sự được. Và tiếp theo, sau một lần tái phát, Raissa chỉ có thể nói được vài từ rõ ràng mà thôi. Trong trận đánh cuối cùng của Raissa, không một ai có thể giúp gì được, ngay cả chính tôi. Raissa vẫn giữ bình an trong lòng, giữ được sự minh mẫn trọn vẹn, óc hài hước, quan tâm đến bạn bè, sợ mình làm phiền đến người khác, và vẫn có đó nụ cười tuyệt vời cũng như ánh lung linh trong đôi mắt xinh đẹp của Raissa. Raissa luôn (với sự quảng đại thinh lặng kinh ngạc trong hai ngày cuối đời, chỉ có thể cho thấy tình yêu của mình qua hơi thở) cho những người đến thăm một sự dễ thương rất khó thấy xuát phát từ chính bí nhiệm mà Raissa đang bị khóa kín trong đó.”

Đoạn thêm vào trong câu cuối là của tôi, và tôi nhấn mạnh điểm này vì tôi tin rằng đây là điều quan trọng phải nói ra trong một thời đại mà chúng ta ngày càng tin rằng làm chết êm dịu và việc tự vẫn có hỗ trợ của bác sĩ là câu trả lời nhân văn và thương cảm cho những căn bệnh nan y.

Trường hợp làm chết êm dịu thường dựa trên các tiền đề: Đau khổ hạ giá đời sống con người và làm chết êm dịu khuây khỏa đi đau khổ đó cũng như giảm bớt những tàn phá về thân thể và tinh thần, cho người mắc bệnh nan y một “cái chết có phẩm giá” và chết bớt đau đớn hơn. Và nó cũng lập luận rằng một khi căn bệnh đã làm con người quá suy kiệt đến mức chỉ còn sống trong tình trạng thực vật, thì liệu có hợp lý khi cứ để người đó phải sống hay không? Một khi không còn phẩm giá và giá trị, tại sao phải tiếp tục sống?

Phải trả lời câu hỏi này ra sao đây? Lập luận của việc làm chết êm dịu, tận dụng tối đa lòng cảm thương, nhưng lại không đủ xa trước những vấn đề sâu đậm hơn. Phẩm giá và hiệu dụng là những điều to lớn với nhiều chiều kích nhất khi mới thoạt nhìn qua. Trong bài báo mới đây trên tờ America, Jessica Keating đã nhấn mạnh một số vấn đề sâu sắc hơn này, khi cô lập luận chống lại lý luận của những người tán dương Brittany Maynard (cô gái trẻ đã khiến cả nước phải chú ý hồi năm ngoái khi quyết định tự vẫn có hỗ trợ vì phải đối diện với căn bệnh nan y), xem quyết định chấm dứt đời mình của cô là “dũng cảm” “đúng đắn” và “đáng khâm phục.” Keating chấp nhận rằng nếu không có quyết định như trên, hẳn Maynard sẽ phải chịu đựng nhiều đau đớn và cuối cùng sẽ rơi vào cảnh không còn hấp dẫn cũng như không còn giá trị. Nhưng, Keating lập luận rằng, “cô sẽ được ở trong vòng tay mọi người. Ngay cả khi rơi vào tình trạng vô thức, cô vẫn sẽ được người khác đọc sách cho nghe, được tắm rửa, thay áo quần và hôn những cái hôn thân thương. Cô sẽ được chăm sóc ân cần, được ôm, và có người khóc vì mình. Đơn giản, cô sẽ được yêu thương đến tận cùng.”

Đây là một nửa lập luận chống lại việc làm chết êm dịu. Nửa còn lại là: Cô không chỉ được yêu thương đến tận giây phút cuối cùng, mà một điều nữa, còn quan trọng hơn, đó là cô sẽ phát tiết tình yêu một cách tích cực cho đến tận giờ phút cuối đời. Từ cơ thể bị tàn phá, câm lặng và hầu như vô thức của cô sẽ phát ra một sự mơ hồ khó thấy, nhưng đặc biệt mạnh mẽ, đầy nâng đỡ và yêu thương, gần giống như vẻ đẹp ân sủng trao ban sự sống phát xuất từ thân thể nát tan trần truồng của Chúa Giêsu treo trên thập giá.

Chúng ta cũng hiếm khi nghĩ đến đặc nét quan trọng này: Chúng ta tin rằng Chúa Giêsu cứu chúng ta qua đời sống và qua cái chết của Ngài, như thể đây là hai điều như một. Nhưng thực sự thì rất khác. Chúa Giêsu trao ban đời sống của Ngài cho chúng ta qua hành động, qua những việc làm sinh ích, những gì Ngài có thể chủ động làm cho chúng ta. Nhưng, Ngài trao ban cái chết của mình cho chúng ta qua sự thụ động, qua sự bất lực, và qua sự tàn phá của thân thể Ngài trong cái chết. Chúa Giêsu cho chúng ta tặng vật lớn lao nhất này, chính là qua những giờ Ngài chẳng thể chủ động làm được gì cho chúng ta.

Và đây không phải là một chuyện đơn thuần ẩn dụ và mơ hồ. Bất kỳ ai trong chúng ta từng ngồi bên cạnh người thân đang hấp hối, đều cảm nghiệm được rằng trong sự bất lực và đau đớn, người đó đang cho chúng ta một điều gì đó mà đã không thể cho trong suốt đời sống chủ động của mình. Từ sự bất lực và đau đớn đó phát xuất một sức mạnh kéo chúng ta lại với nhau như một gia đình, một sức mạnh trực cảm và thông hiểu những điều thâm sâu hơn, biết cảm kích sâu sắc hơn về sự sống, và đặc biệt là nhận thức được sâu sắc hơn về đời sống và tinh thần của người đó. Và như Maritain nói, điều này, vẻ đẹp khó nhận thấy này, phát xuất từ bí nhiệm trong đau đớn, vô hiệu dụng, và hấp hối mà người đó đang trải qua.

Trong thân xác hấp hối của mình, chúng ta có thể trao cho người thân yêu một sự gì đó mà chúng ta không thể cho họ một cách trọn vẹn lúc chúng ta khỏe mạnh và linh lợi. Làm chết êm dịu chính là bịt mắt phần nào trước bí nhiệm về những gì cao cả mà tình yêu mang đến cho chúng ta.

Nhìn sâu hơn

Đôi khi bạn có thể thấy rất nhiều điều chỉ bằng một cái nhìn. Đây là một trong những câu nói lừng danh của danh thủ bóng chày Yogi Berra. Đây tất nhiên là một diễn đạt rất khéo, nhưng đáng buồn là, có lẽ gần như mọi chuyện lại trái ngược. Hầu như chúng ta nhìn rất nhiều mà chẳng thực sự thấy được bao nhiêu. Thấy có nhiều ý nghĩa hơn là có một thị lực tốt. Đôi mắt chúng ta có thể mở rộng nhưng chúng ta cũng có thể chỉ thấy được rất ít.

Tôi luôn luôn suy ngẫm về hình ảnh thánh Phaolô trong kinh thánh nay sau khi ngài hoán cải. Chúng ta luôn cho rằng thánh Phaolô bị mù vì thị kiến mình thấy, nhưng, theo tôi, bản văn kinh thánh còn ngụ ý xa hơn nữa. Kinh thánh viết rằng Phaolô bò dậy với đôi mắt mở to, nhưng không thấy gì. Điều này không nhất thiết phải là chứng mù thể lý. Có thể ngài thấy được về mặt thể lý, nhưng không thể thấy được ý nghĩa những gì trước mắt mình. Phải có người đến và mở mắt Phaolô, không phải chỉ để ngài lại có thể nhìn thấy về mặt thể lý, nhưng đặc biệt là ngài có thể thấy sâu hơn vào mầu nhiệm Chúa Kitô. Nhìn thấy, thực sự thấy, mang nhiều nghĩa hơn là có đôi mắt lành lặn về thể lý và mở to. Chúng ta tất cả đều thấy vẻ ngoài của sự vật sự việc, nhưng cái bên trong ẩn dưới đó, thì không tự động mà thấy được.

Ví dụ như, chúng ta thấy điều này trong các phép lạ chữa lành của Chúa Giêsu. Trong Tin mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu nhiều lần làm phép lạ chữa lành. Ngài chữa lành người què, người điếc, người câm, người cùi, và hai phụ nữ vì các lý do khác nhau mà không thể mang thai. Điều quan trọng phải thấy nơi những phép lạ khác nhau này, là hầu như luôn có có một sự gì đó cao hơn sự chữa lành thể xác. Chúa Giêsu đang chữa lành cho người ta theo một cách thâm sâu hơn, ngài đang chữa lành người què để họ có thể bước đi trong tự do và phụng sự Thiên Chúa. Ngài chữa lành người điếc để họ có thể nghe thấy Tin mừng. Ngài chữa lành người câm để họ có thể mở miệng chúc tụng tôn vinh. Và Ngài chữa lành những người son sẻ để họ có thể đem sự sống mới sinh sôi.

Chúng ta thấy điều này gần như rất rõ ràng những khi Chúa Giêsu chữa lành những người mù. Ngài cho họ không chỉ là cái nhìn thể lý, ngài mở mắt họ để họ có thể nhìn sâu hơn. Nhưng đây chỉ là một hình tượng. Làm sao giải nghĩa cho thấu đáo đây? Làm sao ân sủng và giáo huấn của Chúa Giêsu giúp chúng ta nhìn một cách sâu sắc hơn đây? Tôi xin đưa ra một số gợi ý:

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua những gì quen thuộc đến nhìn qua sự kinh ngạc kỳ vỹ.

G.K Chesterton từng khẳng định rằng sự quen thuộc là ảo ảnh lớn nhất và bí mật cuộc đời là học biết nhìn vào những gì quen thuộc cho đến khi chúng trở lại thành không quen thuộc. Chúng ta mở đôi mắt mình hướng đến chiều sâu khi mở lòng mình ra với kinh ngạc kỳ vỹ.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua hoang tưởng và tự vệ đến nhìn qua sám hối và vun đắp.

Không ngẫu nhiên khi lời đầu tiên của Chúa Giêsu trong các Phúc âm tóm lược là từ ‘sám hối’ một từ đối lập với ‘hoang tưởng’. Chúng ta mở mắt mình ra hướng đến chiều sâu, khi chúng ta chuyển vần từ tư thế tự vệ đến một tư thế vun đắp.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua sự ghen tỵ đến nhìn qua sự ngưỡng mộ.

Nhận thức của chúng ta trở nên méo mó bất kỳ lúc nào chúng ta đi từ trạng thái hạnh phúc của ngưỡng mộ đến trạng thái bất hạnh của ghen tỵ. Tầm nhìn của chúng ta được thoáng đãng rõ ràng khi chúng ta vui mừng trong ngưỡng mộ.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua chua cay đến nhìn qua đôi mắt được thanh luyện và mềm dịu bởi thương tâm.

Cội rễ của chua cay là thương tích và cách để thoát khỏi chua cay là thương tâm. Nước mắt gột sạch tầm nhìn của chúng ta bởi nước mắt làm mềm đi trái tim bị chai cứng bởi tổn thương.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua ảo tưởng và ái kỷ đến nhìn qua cảm kích và cầu nguyện.

Một trong những chuyển vần then chốt trong đời sống tâm linh của chúng ta là sự chuyển vần từ ảo tưởng sang cầu nguyện, một chuyển biến tận cùng giải thoát chúng ta khỏi mong muốn nén vào bản thân mình tất cả những gì đẹp đẽ, nhưng biết cảm kích vẻ đẹp vì chính nó mà thôi. Chúng ta chỉ có thể thấy và cảm kích vẻ đẹp khi ngừng ham muốn nó.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua tính toán đến nhìn qua sự chiêm ngắm.

Khát khao muốn được có vị thế khiến chúng ta nhìn ra thế giới với đôi mắt khắc khoải, bất mãn. Chúng ta chỉ biết để tâm và thấy được sự phong phú của thời khắc hiện tại khi sự bất an trong chúng ta được xoa dịu làm thinh bởi cô tịch.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua giận dữ đến nhìn qua sự tha thứ.

Không một điều gì làm hoen ố tầm nhìn của chúng ta cho bằng cơn giận. Nó là thứ bệnh gây suy nhược nhất với mọi nhãn cầu. Và không điều gì tẩy sạch tầm nhìn của chúng ta cho bằng tha thứ. Không một ai mang ác cảm trong lòng mà lại nhìn cho công thẳng được.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua dục vọng và thèm khát đến nhìn qua lòng biết ơn.

Dục vọng và thèm khát bóp méo cái nhìn của chúng ta. Lòng biết ơn phục hồi cái nhìn đó. Lòng biết ơn cho cái nhìn thấu suốt. Người có lòng biết ơn nhất mà bạn biết, có cái nhìn tốt nhất về tất cả những người mà bạn biết.

“Tình yêu là đôi mắt!” Vậy nên, lời khôn ngoan này của các nhà thần nghiệm trung cổ, có lẽ nên được thêm vào tự điển y khoa về khoa đo thị lực hiện thời. Nhìn sao cho thẳng, cho đúng, cho thật, có nhiều chiều kích hơn chúng ta thường tưởng.

Lên Thiên đàng – Nhờ may mắn hay nhờ ơn Chúa

Vĩnh cửu có nhiều chỗ hơn thế giới này.

Đây là suy nghĩ trong đầu Lila, nhân vật trong quyển tiểu thuyết mới đây của Marilynne Robinson. Lila có lý để nghĩ như thế, nghĩ ngoài cái khung quy ước của lòng sùng đạo, bởi câu chuyện của cô xét kiểu gì cũng không thể là sùng đạo được.

Lila là một cô nhi vô thừa nhận, đang chết dần vì suy dinh dưỡng và bị bỏ mặc, rồi được một phụ nữ tên là Dolly nhận nuôi, mà bản thân bà cũng là một người bị xã hội ruồng rẫy. Lila sống những năm tuổi trẻ với Dolly, hai người phiêu dạt nơi mép rìa xã hội, đói khát, làm việc trong các nông trại, như những nô lệ hơn là người làm công. Sống như thế, Lila không bao giờ học được những kỹ năng xã hội cần thiết để xác định xã hội một cách bình thường. Tất cả mọi hiểu biết nền tảng của cô, từ việc bị bỏ rơi khi còn bé, cho đến cuộc đời dai dẳng bị loại ra ngoài rìa xã hội, đã khiến cô trở nên người cô độc, một người bị hoàn cảnh kết án không bao giờ tìm được một tình thân bình thường, một gia đình, tình mật thiết, hay ân sủng.

Hơn nữa, Dolly mẹ nuôi của cô, cũng có những vấn đề của bà, không chỉ là việc vật lộn để kiếm đủ ăn cho Lila và bản thân mình. Khi nhận lấy Lila và bỏ xứ mà đi, bà đang chạy trốn một chuyện xung đột trong gia đình. Đến cuối cùng, nhiều năm sau, người đàn ông mà bà trốn chạy, tìm thấy bà, nhưng Dolly không còn là nạn nhân bị động nữa. Bà đã đâm chết người đàn ông đó. Rồi về sau, bà chết đi, khiến Lila mồ côi thêm lần nữa.

Nhưng, đến bây giờ, Lila đủ lớn để tự lo cho mình, ngoại trừ việc cô thiếu các kỹ năng xã hội, nên cô vẫn thấy mình ở ngoài rìa xã hội, và cô độc hơn bao giờ hết. Nhưng may mắn thay, khi cuối cùng cô được bầu bạn với một mục sư Kitô giáo, người chăm sóc cho cô và cuối cùng cưới cô làm vợ. Thế giới mới này của sự đón nhận, tình yêu, gia đình và tôn giáo hoàn toàn mới mẻ với Lila và cô phải đấu tranh dữ dội để xác định được nó, đặc biệt là về tình yêu và ân sủng. Một trong những vấn đề khiến cô phiền lòng, là khi nghe các bài giảng Kitô giáo của chồng mình, cô lại nhớ đến những gì xảy ra cho Dolly, người đã cho cho cô rất nhiều, và cũng là một kẻ giết người. Liệu Dolly có được tha thứ? Bà có thể lên thiên đàng, sau khi đã phạm tội giết người? Lila đấu tranh để tin vào đức tin, tình yêu, đời sống gia đình, sự tha thứ, và thiên đàng.

Những suy nghĩ của cô về chuyện này, đặc biệt là về việc Dolly sẽ đối diện làm sao với Đấng Tạo Hóa, đã đem lại những thấu suốt quan trọng về tình yêu và ân sủng: ‘Trong vĩnh cửu, đời sống con người có thể hòa chung những gì họ đã và từng là, chứ không chỉ là những điều xấu nhất hay những việc tốt nhất họ từng làm. Vậy nên, cô quyết định rằng cô nên tin vào điều này, mà hoặc giả cô đã tin rồi. Cô có thể hình dung mình gặp lại Dolly lần nữa như thế nào nữa đây? Chưa một lần Lila nghĩ về Dolly đã chết, một cách rõ ràng và đơn giản. Nếu có tên vô lại nào đó có thể được kéo vào thiên đàng chỉ để cho mẹ hắn thấy hạnh phúc, thì không thể công bằng khi lại đi trừng phạt những tên vô lại mồ côi, hay không được mẹ mình yêu thương, và lại là những người có cái cớ đúng hơn cho những tác hại mà họ gây ra cho những người có ai đó quan tâm chăm sóc. Thật không thể công bằng khi trừng phạt người ta vì cố gắng vượt qua, những người tốt dưới cái nhìn của chính họ, khi lấy hết can đảm họ cần có để nên tốt. … Vĩnh cửu có đủ dạng chỗ ở nhiều hơn trần gian này.’

Là những Kitô hữu, chúng ta tin rằng, là một phần Thân thể Chúa Kitô, chúng ta được trao sức mạnh để tha thứ tội của nhau, và bởi vì thế, thực sự tình thương của người mẹ có thể kéo con mình lên thiên đàng. Tình yêu thương của chúng ta dành cho nhau là một phương tiện ân sủng đầy mạnh mẽ, đủ mạnh để thực sự mở ra những cánh cửa thiên đàng. Như Gabriel Marcel từng nói: ‘Yêu ai đó là thực sự nói rằng: Ít nhất, bạn không bao giờ chết!’ Tình yêu của con người, dù ở đời này, có dạng sức mạnh đó. Đó cũng là lý do vì sao chúng ta cầu nguyện cho những người đã chết. Tình yêu của chúng ta có sức mạnh vươn đến họ, ngay cả khi đã qua đời.

Nhưng mà đây cũng chính là tình thế giằng xé của Lila: Vậy còn về những người như Dolly và bản thân cô, những kẻ ngoài cuộc đời sống này và chết đi mà không có ai quan tâm nhiều đến việc họ đã ra đi và đi về đâu? Vậy thì làm sao ân sủng và sự tha thứ có được? Tình yêu con người hoàn toàn vắng bóng trong cuộc đời họ, và chúng ta chỉ còn hi vọng rằng tình yêu Thiên Chúa có thể lấp đầy vào nơi thiếu vắng tình thương con người? Có thực thế không?

Đúng, tình yêu Thiên Chúa có thể và thực sự lấp đầy vào nơi thiếu vắng tình yêu của con người. Thật vậy, kinh thánh quả quyết với chúng ta rằng, Thiên Chúa có một tình yêu đặc biệt, và sự trìu mến cho những ai thấy mình nằm ngoài tình yêu con người. Vậy nên, chúng ta đừng lo lắng về ơn cứu độ của những người, như Dolly, chết trong một hoàn cảnh không được lý tưởng, ngay cả khi họ ‘đã lấy hết can đảm cần có để nên tốt.’ Tình yêu con người, dù phần đông hướng trực tiếp đến những người rất cụ thể, cũng là một bản hòa âm lan rộng và đến tận cùng ôm lấy tất cả mọi người.

Sợ sệt ngụy trang bằng lòng sùng đạo

Thật dễ để nhầm lòng sùng đạo với lời đáp đích thực mà Thiên Chúa muốn nơi chúng ta, nghĩa là thực sự đi vào một liên hệ mật thiết với Ngài và cố gắng giúp đỡ người khác cũng có được cảm nghiệm như vậy.

Chúng ta thấy điều này khắp Kinh thánh. Ví dụ như, trong Tin mừng theo thánh Luca, sau khi chứng kiến phép lạ bắt được nhiều cá vô số kể, Phêrô đã phản ứng bằng việc sấp mình trước Chúa Giêsu và nói rằng: ‘Xin tránh xa con, lạy Chúa, vì con là kẻ tội lỗi!’ Nhìn qua, thì đây có vẻ là một phản ứng phù hợp, một phản ứng sùng mến tuyệt vời, nhận thức về sự bé nhỏ và vô giá trị của mình trước sự phong phú và tốt lành của Thiên Chúa. Nhưng, John Shea đã chỉ ra rằng, Chúa Giêsu lại nhìn nhận phản ứng của Phêrô theo một cách khác, và mời gọi ông hãy làm khác thế. Là điều gì? Phản ứng của Phêrô thể hiện một sự sùng mến thật tâm, nhưng, theo lời của Shea, phản ứng này ‘sai lầm trong sợ hãi.’ ‘Nhận thức về Thiên Chúa khiến cho Phêrô run rẩy và tan vỡ. Nếu ông bám vào chân Chúa Giêsu, ông hẳn phải khụy gối. Phêrô không đón lấy sự viên mãn, ông muốn trốn chạy. Đây thật không phải là phản ứng mà Chúa Giêsu muốn. Vậy nên Chúa dạy Phêrô đừng sợ. Và thay vào đó, hãy dùng những gì mình đã cảm nghiệm được để đưa người khác đến với cảm nghiệm đó. Như Chúa Giêsu đã bắt lấy Phêrô, ông cũng phải bắt lấy người khác.’ Chúa Giêsu đang mời gọi Phêrô hãy ra khỏi nỗi sợ và đi vào những dòng nước thâm sâu hơn của sự mật thiết và sự dồi dào của Thiên Chúa.

Chúng ta cũng thấy chuyện tương tự trong sách Samuel quyển thứ nhất (21, 1-6). Một sáng nọ, vua Đavid đến đền thờ, bụng thì đói và chẳng có gì ăn. Vua xin tư tế 5 chiếc bánh. Vị tư tế đáp lại rằng mình không có bánh thường, mà chỉ có bánh đã dâng tiến, chỉ được phép ăn sau khi chay tịnh và cử hành các nghi lễ phù hợp. Nhưng, Đavid, biết rằng, mình là vua trần gian của Thiên Chúa và cần phải hành động tháo vát chứ không phải sợ sệt, nên đã xin những chiếc bánh tiến và ăn những chiếc bánh mà trong những hoàn cảnh khác thì ông sẽ không được phép ăn.

Điều quan trọng trong câu chuyện này, là khi đối mặt với nỗi sợ sệt và sùng đạo của những kinh sư và biệt phái, Chúa Giêsu đã nhấn mạnh và cho chúng ta biết rằng phản ứng của Đavid là phản ứng đúng đắn. Với những người thấy khó chịu bởi các môn đệ của Chúa ‘không biết sợ’, Chúa Giêsu nói rằng phản ứng của vua Đavid là phản ứng đúng đắn, bởi vua nhận ra rằng, trong phản ứng của chúng ta với Thiên Chúa, sự mật thiết và bạo dạn nhất định, phải thắng vượt nỗi sợ sệt. Chúa Giêsu xác quyết rằng, ‘Ngày Sabbath là để cho con người, chứ không phải con người cho ngày Sabbath.’ Câu này có thể diễn giải như sau: Thiên Chúa không phải là một luật để vâng theo cách mù quáng. Nhưng Thiên Chúa là một hiện hữu sáng tạo và yêu thương, mời gọi chúng ta đi vào sự mật thiết và rồi cho chúng ta sinh lực để sáng tạo hơn nữa trong mối liên hệ này.

Cách đây vài năm, một bà mẹ trẻ đã kể cho tôi câu chuyện này. Con trai của bà, 6 tuổi và đang đi học, ngay từ những năm đầu đời đã được dạy quỳ gối trên giường mỗi đêm và đọc lớn tiếng những lời kinh như kinh Lạy Cha, kinh Kính mừng, kinh cầu thiên thần hộ thủ và kinh cầu cho cha mẹ và anh chị em mình. Một tối nọ, không lâu sau khi đã đi học, lúc bà mẹ đưa cậu về phòng, cậu lao lên giường mà không quỳ gối đọc kinh như trước nữa. Mẹ hỏi câu: ‘Có chuyện gì vây? Con không đọc kinh nữa sao?’ Cậu bé trả lời, ‘Không, con không đọc kinh nữa. Cô giáo của con ở trường (một nữ tu) đã dạy chúng con là đừng đọc kinh nhưng hãy trò chuyện với Chúa … mà tối nay con mệt, và không có gì để nói!’ Về căn bản, đây chính là lời đáp như vua Đavid xin linh mục những chiếc bánh tiến vậy. Cậu bé này có được một nhận thức trực giác rằng Thiên Chúa không phải là một luật phải tuân giữ, nhưng là một hiện diện mật thiết cho chúng ta được dồi dào.

Một số nhà thần nghiệm Kitô giáo lớn đã dạy rằng, khi lớn lên sâu sắc hơn trong mối liên hệ với Thiên Chúa, thì dần dần chúng ta trở nên bạo dạn hơn với Chúa, nghĩa là nỗi sợ sệt ngày càng nhường chỗ cho sự thân mật, tính chiếu luật ngày càng nhường chỗ cho sự lanh lẹ, phán xét thay thế bằng cảm thông, và một dạng sùng đạo vốn đẩy chúng ta ôm chân Chúa Giêsu một cách tê liệt bởi nhận biết tội lỗi của mình, dần nhường chỗ cho một sinh lực hân hoan truyền giáo.

Tất nhiên, lòng sùng đạo có một vị trí quan trọng. Lòng sùng đạo lành mạnh và khiêm nhượng lành mạnh là những ơn của Thánh Thần, nhưng chúng không được khiến chúng ta tê liệt trong nỗi sợ không lành mạnh, khóa chặt một liên hệ mật thiết hơn, hân hoan hơn và sâu sắc hơn với Thiên Chúa. Vua Đavid có một lòng sùng đạo lành mạnh, nhưng điều này không ngăn vua hành động bạo dạn và đầy sáng tạo trong tình thân mật với Thiên Chúa. Chúa Giêsu cũng có một lòng sùng mến lành mạnh, ngay cả khi Ngài không ngừng phê phán kiểu sùng đạo của những người cùng thời.

Chúng ta cũng quá dễ dàng nhầm lẫn nỗi sợ sệt không lành mạnh với lòng sùng mến đích thực. Chúng ta cứ nhầm suốt, ngây thơ nghĩ rằng sợ sệt là một nhân đức, trong khi biểu hiện của sự mật thiết đích thực không bao giờ sợ hãi, nhưng là sinh lực hân hoan và bạo dạn. Một người có lòng đạo lành mạnh nhất, sẽ thể hiện sự bạo dạn và hân hoan này chứ không phải một lòng sùng đạo cứng đờ, quá sợ sệt.

Thiên Chúa hài lòng với việc chúng ta làm

Trong sáu tháng qua, khi điều trị bệnh ung thư, tôi làm việc với thời khóa biểu hạn chế hơn. Các điều trị y khoa, dù làm cho tôi mệt nhưng vẫn cho tôi đủ sức khỏe và sinh lực để chu toàn các nhiệm vụ điều hành trong trách vụ hiện tại của tôi nhưng lại không đủ sức để đứng lớp hay trình bày các bài diễn thuyết, nói chuyện, giảng tĩnh tâm, những việc tôi vẫn thường làm. Tôi đùa với gia đình và bạn bè rằng tôi ‘đang chịu án treo’ nhưng tôi rất biết ơn vì sức lực còn lại của mình, nghĩa là việc không thể giảng dạy và diễn thuyết không phải là một hy sinh mất mát. Tôi tập trung vào việc giữ sức khỏe, và biết rằng sức khỏe tôi có được là một ơn trọng,

Một tháng trước, các điều trị y khoa đã kết thúc, và ít lâu sau gần như tôi đã lấy lại sức, tôi bắt đầu lịch làm việc thông thường, gồm cả việc giảng dạy trong lớp học. Vì đã tạm gác việc giảng dạy trong nửa năm qua nên tôi thấy có đôi chút hồi hộp lúc bước vào lớp học để bắt đầu buổi dạy 3 tiếng đầu tiên sau một thời gian vắng mặt. Tôi bớt bồn chồn rất nhanh vì lớp học hăng hái theo sát chủ đề hôm đó, 3 tiếng sau bước ra khỏi lớp, tôi cảm thấy mình đầy sinh lực tuyệt vời mà tôi đã không cảm nhận được suốt 6 tháng qua. Việc giảng dạy (với tôi vừa là nghề nghiệp vừa là ơn gọi của mình) vừa làm cho tâm hồn và thể xác tôi được thoải mái. Đây đúng là thang thuốc bổ thiếu mất trong mấy tháng qua.

Lúc đầu, tôi thấy có hơi dằn vặt và tội lỗi vì chuyện này. Thực sự thì điều gì đã thổi bùng cảm giác tuyệt vời và bật tung năng lượng trong tôi? Tính ái kỷ? Kiêu ngạo? Tôi đang tắm trong cảm giác được chứng tỏ bộ óc thông minh và kiến thức của mình, và uống lấy sự ngưỡng mộ từ các sinh viên? Tôi thấy tốt vì cái tôi của tôi được chiều chuộng ư? Tôi giảng dạy thực sự là để mở mang Nước Trời hay là để thỏa mãn cái tôi?

Mà không chỉ mình tôi có vấn đề này. Đây là những vấn đề có căn cứ với bất kỳ ai lấy sinh lực từ chính công việc của mình, đặc biệt là nếu như từ công việc này, người đó có được khá nhiều ái mộ. Động cơ của chúng tôi không bao giờ hoàn toàn thuần khiết. Thực sự, nếu hoàn toàn lương thiện với bản thân, chúng ta phải thừa nhận rằng trong việc phục vụ người khác luôn luôn có sự phục vụ bản thân ở mức nào đó. Nhưng, dù cho các động cơ của chúng ta luôn phức tạp, vẫn có một điều gì đó, một sự tích cực hơn, cần phải có, cụ thể là, việc Thiên Chúa cho chúng ta các tài năng khác nhau và Thiên Chúa thấy tốt đẹp khi chúng ta dùng các tài năng của mình.

Eric Liddell, vận động viên điền kinh Olympic, nhân vật chính trong bộ phim đoạt giải Oscar, Những cỗ xe lửa, đã từng nói thế này: ‘Khi tôi chạy, tôi cảm thấy Thiên Chúa hài lòng.’ Ông đã không nhận định hời hợt về vấn đề này. Tiểu sử của ông và bộ phim Những cỗ xe lửa đã làm rõ rằng, Eric Liddell, trong chiến dịch đoạt huy chương vàng Olympic, đã được thúc đẩy bởi niềm tin hơn là cái tôi của mình. Đức tin của ông, đã khiến cho ông tin rằng, vì Thiên Chúa cho ông tài năng độc nhất vô nhị này, nên không khác các bậc cha mẹ tự hào về con cái mình, Thiên Chúa vui mừng thực sự khi thấy ông dùng được ơn này. Trong lòng mình, Eric ý thức được Thiên Chúa thấy hài lòng mỗi khi ông đưa tài năng đó đến mức cao nhất. Hơn nữa, từ nội tâm, ông ý thức Thiên Chúa hạnh phúc khi ông dùng được tài năng của mình, đã đổ đầy trong Eric một sinh lực tuyệt vời mỗi khi ông sải bước trên đường chạy.

Nhìn từ phương diện này, chúng tôi thấy rằng gốc rễ và nguồn cội cho động cơ và niềm vui thích của ông trên đường chạy, xét cho tận cùng không phải là khát khao muốn đoạt huy chương vàng và được quần chúng hâm mộ, dù rõ ràng ai ai cũng có những ý nghĩ này. Xét cho đúng, thì Eric được thúc đẩy bởi một ý thức từ nội tâm cho rằng Thiên Chúa đã cho ông một ơn đặc biệt, rằng Thiên Chúa muốn ông dùng ơn đó cho trọn, và Chúa hạnh phúc khi ông dùng tối đa ơn ích này. Như mọi con người khác, chắc chắn, ông khoái trá với sự hâm mộ có được từ thành công của mình, nhưng ông cũng biết rằng niềm vui thâm sâu nhất ông cảm nhận được khi dùng ơn tài năng này, xét tận cùng là phát xuất từ Thiên Chúa chứ không phải từ cái tôi của ông.

Và, tôi tin rằng, điều này cũng đúng với tất cả mọi người chúng ta. Khi ai đó dùng cho đúng những thiên khiếu mà Chúa đã ban cho họ, Thiên Chúa thấy hài lòng và vui thích vì điều đó. Sau cùng, Thiên Chúa đã cho chúng ta tài năng này, và việc này có nguyên do.

Không lâu sau khi tôi được thổi bùng trong sự thích thú và sinh lực nhờ được giảng dạy trở lại trong lớp học, tôi đã trò chuyện với một bạn đồng sự, một giảng viên trẻ rất có tài chỉ mới bắt đầu sự nghiệp giảng dạy của mình. Anh chia sẻ với tôi về niềm vui thú khi giảng dạy, nhưng cũng về những lo lắng e sợ niềm vui thú này phần nhiều là do bởi cái tôi của anh. Tôi đã cho anh câu nói của Eric Liddell, trấn an anh rằng, bất kỳ lúc nào anh dạy tốt, Thiên Chúa đều thấy hài lòng và vui thích. Anh rất cảm kích câu nói của Eric.

Và tất cả chúng ta cũng nên như vậy. Chúng ta không nên cảm thấy tội lỗi khi thực hành những tài năng mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, cho dù động cơ của chúng ta không bao giờ hoàn toàn thuần khiết. Bất kỳ lúc nào chúng ta dùng tài năng mà Chúa đã ban để làm tốt việc gì đó, Thiên Chúa thấy hài lòng và vui thích vì việc đó … và chúng ta cũng hãy nên như vậy.

Chúa Kitô và thiên nhiên

Ngày nay, vô số nhóm và cá nhân đang lên tiếng đòi chúng ta phải xem lại quan hệ của mình với mẹ trái đất. Từ nhóm Hòa bình Xanh, đến các nhóm môi trường khác nhau, từ các nhóm Kitô giáo cũng như các tôn giáo khác, đến tiếng nói của nhiều cá nhân, tất cả đều lên tiếng đòi chúng ta hãy bớt bị mắt, hãy bớt thiếu suy nghĩ, và bớt vô tâm về quan hệ của chúng ta với trái đất. Mỗi ngày, các bản tin thời sự loan báo cho thấy, khi thiếu, rất thiếu suy tính nghiêm túc, chúng ta đang làm ô nhiễm địa cầu, vắt cạn kiệt tài nguyên, tạo nên những bãi rác khổng lồ, xả khí carbon độc hại vào bầu khí quyển, làm biến mất hàng ngàn loài, gây hại cho không khí và nguồn nước, và làm mỏng đi tầng ozone. Và lời kêu gọi phát đi rằng: hãy sống đơn giản hơn, dùng ít tài nguyên hơn, cắt giảm khí carbon, và cố gắng tái chế bất kỳ thứ gì đã dùng càng nhiều càng tốt.

Lời kêu gọi này, tất nhiên rất tốt và rất quan trọng. Không khí chúng ta thở ra, là không khí chúng ta hít vào, nên cần phải cẩn thận về những gì chúng ta thở ra. Hành tinh này là nhà, và chúng ta cần phải bảo đảm rằng, về lâu dài, trái đất có thể cho chúng ta một mái nhà nuôi dưỡng và thoải mái.

Nhưng, sự thật cũng là, còn có một lý do khác rất quan trọng, vì sao chúng ta phải đối xử với mẹ trái đất một cách tôn trọng và cẩn trọng hơn. Đó chính là vì, Chúa Kitô hết sức gắn bó với thiên nhiên, và một lý do Ngài đến địa cầu cũng là để cứu chuộc vũ trụ vật lý này. Điều này ngụ ý gì đây?

Tôi xin mở đầu bằng một câu chuyện: Linh mục Pierre Teilhard de Chardin vừa là nhà thần học vừa là khoa học gia, khi cha nói chuyện với một viên chức Vatican, họ đang mơ hồ về các bài viết và các hoài nghi giáo lý của cha, đã hỏi cha: ‘Cha đang cố làm gì trong các bài viết của mình?’ Teilhard trả lời, ‘Tôi đang cố viết ra một Kitô học đủ rộng để thể hiện trọn vẹn Chúa Kitô, vì Chúa Kitô không phải chỉ là một sự kiện nhân học, nhưng còn là một hiện tượng vũ trụ.’ Nói đơn giản, thì Teilhard đang nói rằng Chúa Kitô không chỉ đến để cứu con người, tất nhiên điều này đúng, nhưng Ngài còn đến để cứu địa cầu, mà con người chỉ là một phần trong đó.

Khi nói như thế, Teilhard có một căn cứ Kinh thánh vững vàng. Nhìn vào Kinh thánh, chúng ta thấy rõ ràng rằng, Chúa Kitô không chỉ đến để cứu con người, nhưng Ngài đến để cứu thế giới. Ví dụ như, thư gởi tín hữu Colôsê (1, 15-20) ghi lại một tán ca cổ của Kitô giáo, khẳng định Chúa Kitô là một lực sống động trong công trình tạo dựng nguyên thủy (‘mọi sự đều được tạo dựng qua Ngài’) và Chúa Kitô cũng là điểm tận cùng của mọi lịch sử, dù là nhân loại hay vũ trụ. Thư gởi tín hữu Ephêsô, cũng ghi lại một tán ca khác (1, 3-10), có ý tương tự như vậy, còn thư gởi tín hữu Roma (8,19-22) thì còn rõ ràng hơn khi quả quyết rằng tạo vật vật chất, mẹ trái đất và vũ trụ vật lý của chúng ta ‘đang rên xiết’ chờ sự cứu rỗi của Chúa Kitô. Các bản văn này, khẳng định rằng thế giới vật chất là một phần dự định của Thiên Chúa cho sư sống thiên đàng bất diệt.

Nếu đào sâu những ngụ ý này, chúng ta thấy được những gì? Có một số nguyên tắc rất rõ ràng rằng: Thứ nhất, không chỉ nhân loại, mà cả thiên nhiên được Chúa Kitô cứu độ. Thế giới không chỉ là một vũ đài trên đó lịch sử nhân loại diễn ra, nhưng nó có ý nghĩa và giá trị cố hữu vượt ngoài những gì nhân loại chúng ta nghĩ đến. Thiên nhiên vật chất, là anh chị em với chúng ta trong hành trình hướng về chung cuộc lịch sử mà Thiên Chúa dự định. Chúa Kitô cũng đến để cứu độ trái đất, chứ không chỉ những con người chúng ta đang sống trên đó. Tạo vật vật lý cũng sẽ đi vào tổng hòa chung cuộc lịch sử, là thiên đàng.

Thứ hai, điều này nghĩa là thiên nhiên có quyền cố hữu, chứ không phải là những quyền chúng ta thích thì cho. Và như thế nghĩa là, việc làm xấu đi hay xâm phạm thiên nhiên, không chỉ là các vấn đề pháp lý hay môi trường, nhưng chính xác là vấn đề luân lý. Chúng ta đang xâm phạm các quyền cố hữu của một người (hay một sự) nào đó. Do đó, khi chúng ta vô ý ném một lon coca bừa bãi, chúng ta không chỉ phạm luật, mà xét theo một mức độ sâu xa hơn, chúng ta còn đang làm bẽ mặt Chúa Kitô. Chúng ta cần phải tôn trọng thiên nhiên, không phải trên hết là để, thiên nhiên không bật lại chúng ta và trả lại chúng ta sự ô nhiễm ngột ngạt, nhưng là vì, thiên nhiên, như nhân loại, cũng có các quyền của mình. Đây là một giáo lý ít khi được thừa nhận.

Cuối cùng, nhưng không kém quan trọng, là khi hiểu được chiều kích vũ trụ của Chúa Kitô, và ý nghĩa quan hệ của chúng ta với mẹ trái đất và vũ trụ, cho chúng ta một sự thật không thể chối cãi rằng, cuộc hành trình tìm kiếm thông hiệp và hợp nhất trong Nước Thiên Chúa (hành trình đến thiên đàng) không chỉ là hành trình kêu gọi chúng ta có mối quan hệ đúng đắn với Thiên Chúa và tha nhân, nhưng còn là kêu gọi có mối quan hệ đúng đắn với tạo vật vật chất nữa.

Chúng ta là nhân loại với thân xác sống trên địa cầu, chứ không phải là các thiên thần không thể xác trên thiên đàng, và Chúa Kitô đến để cứu cả hồn lẫn xác chúng ta, mà ngài cũng đến để cứu nền tảng vật chất mà chúng ta đang sống trên đó, bởi chính Chúa là hình mẫu mà thế giới vật chất này được tạo thành qua Ngài.

Mộng tưởng

Một phần tốt đẹp trong đời chúng ta nằm trong những giấc mơ ban ngày, mộng tưởng, dù ít người thừa nhận chuyện đó, và càng ít người hơn nữa dám kể ra những mộng tưởng này. Chúng ta xấu hổ không dám thừa nhận mình đã thoát ly vào mộng tưởng đến mức nào, và thậm chí còn xấu hổ hơn nữa khi muốn kể ra nội dung những mộng tưởng đó. Nhưng dù có thừa nhận hay không, tất cả chúng ta đều là những người mang bệnh mơ mộng hão huyền, ngoại trừ việc đây không nhất thiết là một bệnh tật. Tâm hồn và tâm trí chúng ta, cứ triền miên thất vọng với những giới hạn đời mình, và tự nhiên tìm kiếm sự khuây khỏa trong mộng tưởng. Đây gần như là một cám dỗ không thể cưỡng lại. Thực sự, càng nhạy cảm, thì khuynh hướng thoát ly vào mộng tưởng càng mạnh. Sự nhạy cảm thúc đẩy sự khắc khoải, và khắc khoải không dễ gì thấy an lòng trong đời sống thường nhật. Do đó, chúng ta thoát ly vào mộng tưởng.

Và nội dung của những mộng tưởng này là gì?

Chúng ta có 2 khuynh hướng mộng tưởng: Dạng thứ nhất được phát sinh bởi những tổn thương và các cám dỗ tức thì trong đời mình, ví dụ như, một tổn thương hay giận dữ khiến bạn tưởng tượng về việc báo thù, cảnh báo thù đó chứ chạy đi chạy lại trong đầu bạn. Hoặc một ám ảnh tình cảm hay tình dục khiến bạn tưởng tượng về đủ loại giao hợp.

Dạng mộng tưởng khác mà chúng ta thoát ly vào, phần nhiều không phải do các tổn thương và ám ảnh của thời điểm hiện tại, nhưng bắt rễ từ một sự gì đó thâm sâu hơn, một sự đã được thánh Augustino trình bày trong những dòng kinh điển mở đầu cho quyển ‘Tự thú’ của ngài. “Ngài đã tạo nên chúng con cho Ngài, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được ở trong Ngài.” Nói đơn giản, chúng ta được nạp quá nhiều cho cuộc đời, được trao cho những tinh thần và khao khát vô hạn, rồi được đặt vào thế giới nơi mọi sự đều hữu hạn. Đó là công thức của sự bất mãn dai dẳng. Lối thoát của chúng ta là gì? Mộng tưởng.

Dù thế, dạng mộng tưởng thứ hai này khác với dạng thứ nhất. Dạng mộng tưởng này không quá tập trung vào các cơn giận và cám dỗ nhất thời trong đời chúng ta, nhưng tập trung vào đời sống tưởng tượng thường lệ mà chúng ta đã dựng lên trong lòng mình, đời sống tưởng tượng mà chúng ta cứ chiếu đi chiếu lại trong đầu như xem một bộ phim yêu thích vậy. Nhưng, có một điều quan trọng và cần chú ý ở đây. Trong những mộng tưởng này, chúng ta không bao giờ nhỏ nhen hay hèn kém, nhưng luôn luôn cao thượng và vĩ đại, là một anh hùng anh thư, quãng đại, rộng lượng, không có lỗi phạm, mang nhãn tượng hoàn thiện, và có tình yêu hoàn hảo. Trong những giấc mộng tưởng này, tất nhiên, chúng ta trực cảm thấy thị kiến của ngôn sứ Isaiah khi ngài thấy trước một thế giới hoàn hảo, khi con chiên nằm chung với sư tử, người bệnh được chữa lành, người đói có của ăn, tất cả mọi khắc khoải đều được xoa dịu, và Thiên Chúa ra tay lau khô mọi giọt lệ. Chính ngôn sứ Isaiah cũng tưởng tượng về sự thành toàn hoàn thiện. Thị kiến của ngài mang tính ngôn sứ. Còn những mộng tưởng trần tục của chúng ta không mang tính ngôn sứ, nhưng là trực cảm về Nước Thiên Chúa.

Dù không nói ra, nhưng chúng ta vẫn cần phải tự hỏi mình: Thoát ly vào mộng tưởng, tốt hay xấu thế nào?

Ở một mức độ, mộng tưởng không chỉ vô hại mà còn có thể là một dạng tích cực để nghỉ ngơi và là một cách để phấn chấn chúng ta trong những thất vọng cuộc đời. Ngồi lại trong chiếc ghế êm ái, và chìm trong mộng tưởng có thể hơi khác với ngồi lại và nghe bản nhạc yêu thích của mình. Nó có thể là một thoát ly vươn ra khỏi những thất vọng chán chường trong đời.

Nhưng, có một mặt trái trong đó: Bởi trong những mộng tưởng, chúng ta luôn luôn là người hùng và trung tâm chú ý cũng như ngưỡng mộ, nên mộng tưởng có thể dễ dàng biến thành tính ái kỷ. Do, trong mộng tưởng, chúng ta là trung tâm mọi sự, nên chúng ta dễ dàng trở nên quá đỗi chán nản với một thế giới, mà chúng ta chẳng là trung tâm của cái gì. Và còn nữa: Etty Hillesum, khi suy tư về cảm nghiệm của chính mình, đã đưa ra một hệ quả tiêu cực của việc thường xuyên thoát ly vào mộng tưởng. Bà khẳng định rằng bởi chúng ta biến mình thành trung tâm vũ trụ bên trong những mộng tưởng, nên thường cuối cùng chúng ta chẳng thể có một cái nhìn ngưỡng mộ dành cho bất kỳ ai hay sự gì. Nói mạnh hơn nữa, là trong những mộng tưởng của mình, chúng ta tự phỉnh gạt đi những gì đáng ngưỡng mộ, và thay vào đó lại tự thỏa mãn tự ngưỡng mộ mình. Vì lẽ đó, và nhiều lý do khác nữa, mộng tưởng tiếp tay khóa kín không cho chúng ta nhận thức được thời điểm hiện tại. Khi chúng ta bị gói kín trong ảo tưởng, thì thật khó để thấy được những gì trước mắt chúng ta.

Vậy thì chúng ta sẽ đi về đâu với tất cả những chuyện này? Do những sự tốt xấu trong mộng tưởng, và do khuynh hướng gần như không cưỡng lại được trong chúng ta muốn thoát ly vào ảo tượng, chúng ta cần phải biết kiên nhẫn với chính mình. Henri Nouwen cho rằng, đấu tranh để biến các ảo tượng thành lời cầu nguyện là một trong những đấu tranh lớn bẩm tại trong đời sống thiêng liêng của chúng ta. Pierre Teilhard de Chardin thì chia sẻ rằng khi còn trẻ, ông đã phải đấu tranh rất nhiều với ảo tượng, nhưng, khi thêm tuổi, ông có thể ngày càng đứng vững trong thời điểm hiện tại mà không cần phải thoát ly vào mộng tưởng. Và đây chính là việc mà chúng ta phải đặt ra cho mình.

Đôi mắt là cửa sổ linh hồm

Hầu hết chúng ta lo lắng về việc già đi, đặc biệt là các ảnh hưởng đến cơ thể. Chúng ta lo lắng về các nếp nhăn, các quầng mắt, chứng tăng cân trung niên, và rụng tóc. Vậy nên lúc này lúc kia, khi chúng ta nhìn vào gương hay thấy một tấm ảnh mới chụp, chúng ta bị sốc bởi khuôn mặt và cơ thể của mình, gần như không nhận ra mình trước khuôn mặt và cơ thể già nua của một người từng trẻ trung sung sức.

Tự xem lại những dấu hiệu tuổi già không phải là việc xấu, nhưng những thứ chúng ta cần xem xét là những thứ khác chứ không phải là những nếp nhăn, da nhăn nheo, rụng tóc và tăng cân. Với những sự trong cơ thể, tự nhiên có cách của nó. Còn để tìm những dấu hiệu lão hóa, thì hãy tìm chúng trong đôi mắt chúng ta. Đây mới chính là nơi các dấu hiệu lão hóa và lão suy thể hiện rõ nhất.

Nếu đứng trước gương, và nhìn thẳng vào mắt mình, bạn thấy được gì? Đôi mắt bạn có mệt mỏi, thiếu nhiệt huyết, yếm thế, vô hồn, nguội lạnh? Chúng có ánh lên toàn giận dữ và đố kỵ hay không? Có ánh lửa nào đang cháy trong đó không? Chúng có u mê đến nỗi không còn khả năng kinh ngạc nữa hay không? Sự ngây thơ có còn nơi đó nữa không? Liệu còn một tâm hồn thơ trẻ ẩn giấu đâu đó sau đôi mắt hay không?

Những dấu hiệu thực sự của lão suy bị tố giác bởi đôi mắt chứ không phải cơ thể. Da nhăn đi chỉ đơn thuần là sự lão hóa thể lý, không hơn. Cơ thể già đi và chết, theo một tiến trình không tránh được và rất tự nhiên như việc chuyển mùa vậy, nhưng đôi mắt vô hồn báo hiệu một sự lão suy chết người hơn nữa, một chuyện thiếu tự nhiên, một tinh thần kiệt quệ. Tinh thần phải luôn mãi tươi trẻ, luôn mãi như trẻ thơ, và luôn mãi ngây thơ. Chứ không phải là u mê và vô hồn. Nhưng tinh thần có thể chết đi do thiếu đam mê, do ảo tưởng về sự thân mật, do mất đi ngây thơ và ngạc nhiên, do sự kiệt quệ của tinh thần, và do các tuyệt vọng với thực tiễn.

Và sự tuyệt vọng là một điểm đáng chú ý. Hầu như chúng ta tuyệt vọng không phải bởi ngày càng lo lắng về những thiếu sót và đau khổ trong đời, hay do thấy cuộc đời quá rộng xa tầm với. Nhưng chúng ta tuyệt vọng vì một lý do ngược lại, cụ thể là bởi chúng ta ngày càng yếm thế hoài nghi về niềm vui hân hoan. Niềm vui ở trong việc cảm nghiệm cuộc sống như một điều tươi mới, như quyển tiểu thuyết, như sự mở đầu, như một đứa trẻ, với một tinh thần nguyên tuyền nhất định. Dạng niềm vui này không phải là khoái lạc, dù vẫn có khoái lạc trong đó. Tất nhiên, có thể có khoái lạc mà không cần niềm vui, nhưng dạng khoái lạc này là sản phầm của một sự thiếu kinh ngạc và kính trọng trong cảm nghiệm. Dạng khoái lạc này lúc đầu chúng ta cảm nghiệm như một chiến thắng, một sự thoát khỏi tình trạng ngây thơ, như sự tự do, nhưng nó sớm trở thành thất bại, đình trệ, chán ngán, và một dục vọng u mê. Khẩu vị của chúng ta không còn mong muốn được cảm nếm nữa. Nhiệt tình chết đi và linh hồn trở nên kiệt nhọc. Chẳng còn gì trong chúng ta là tươi mới và trẻ trung nữa, đôi mắt chúng ta bắt đầu chỉ ra điều đó. Chúng đã mất đi tia lửa, mất đi sự thơ trẻ.

Trong tiểu thuyết đầy xúc động ‘Thiên thần đá’ Margaret Laurence đã minh họa nhân vật nữ chính, một phụ nữ tuyệt vọng tên là Hagar, nhìn vào gương và tự nhủ: ‘Ta đứng đây một hồi lâu, nhìn, và tự hỏi xem làm sao mà con người có thể thay đổi nhiều đến thế … Chuyện này xảy ra quá chậm rãi. Khuôn mặt nâu sạm và nhăn nheo này, không phải của tôi. Chỉ có đôi mắt là của tôi, chăm chăm nhìn như xuyên thấu tấm gương dối lừa này, và đi xuống tìm một hình ảnh thực vô cùng xa vời.’

Đối với chúng ta, đáng buồn thay, khi nhìn vào gương cho đúng, cũng sẽ thấy như thế, một gương mặt vô hồn không thực sự là của mình, và đôi mắt đờ đẫn của chúng ta, giấu kín dưới một tấm gương lừa dối. Có những lúc ngọn lửa lụi tắt, đôi mắt và gương mặt chúng ta không còn kinh ngạc và ngây thơ.

Phải làm gì đây? Chúng ta cần phải nhìn thật lâu và thật đúng bản thân mình trong gương, và nghiên cứu đôi mắt mình thật lâu thật sâu, và để những gì chúng ta thấy gây cho chúng ta đủ sốc sao cho thúc đẩy chúng ta hướng đến con đường vô ưu, kinh ngạc và một sự ngây thơ tái tạo. Tôi có lời khuyên này: Hãy đến trước gương và nhìn chăm chăm đôi mắt mình đủ lâu cho đến khi bạn thấy lại nơi đôi mắt mình, cô bé cậu bé từng một thời ở đó. Và lúc đó, sự kinh ngạc sẽ tái sinh, tia lửa trở lại, và và cùng với đó là sự tươi mới sẽ cho bạn trẻ trung lần nữa.

Đôi mắt bạn không lụi tàn, mà chỉ bị che khuất. Đó là lý do gây nên ánh nhìn trống không, chẳng thiết tha. Thân thể kiệt lực, nhưng đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, và chúng luôn luôn háo hức được ngắm nhìn. Một trong những điều tương phản giữa Kitô giáo và Phật giáo là về đôi mắt. Các đức Phật luôn luôn được minh họa với đôi mắt nhắm, còn các vị thánh Kitô giáo thì luôn với đôi mắt mở. Các thánh nhân Phật giáo có một thân thể hài hòa, phương phi, nhưng đôi mắt thì nặng nề và gắn chặt trong giấc ngủ. Còn các vị thánh Kitô giáo thì thân thể gầy còm, nhưng đôi mắt sống động, thèm khát, chằm chằm. Đôi mắt của Phật giáo thì tập trung hướng nội. Còn đôi mắt Kitô giáo thì chằm chằm hướng ngoại, thèm khát, và đầy kinh ngạc.

Mặt tích cực của u sầu

Thông thường, không ai trong chúng ta thích cảm thấy buồn rầu, nặng nề, hay chán nản Nhìn chung, chúng ta thích ánh sáng hơn bóng tối, vui vẻ hơn u sầu. Đó là lý do vì sao, hầu như lúc nào, chúng ta cũng làm mọi việc có thể để tránh u sầu, tránh những nặng nề và buồn bã. Chúng ta có khuynh hướng chạy trốn những cảm giác bên trong gây buồn phiền hay lo sợ cho mình.

Đó là lý do vì sao, hầu như chúng ta đều nghĩ tiêu cực về u sầu và các con cái của nó là buồn bã, hoài niệm ão não, cô đơn, chán nản, mất mát, hối tiếc, những dự báo, cảm nhận hụt hẫng trong đời, sợ những sự nơi góc tối lòng mình, và sự nặng nề linh hồn. Nhưng những cảm giác này có mặt tích cực của chúng. Nói đơn giản, chúng giúp chúng ta chạm đến những phần tâm hồn mà chúng ta thường không để ý đến. Tâm hồn chúng ta sâu thẳm và phức tạp, và cố gắng lắng nghe những tiếng nói của linh hồn, phải bao gồm cả việc lắng nghe tất cả mọi tâm trạng trong đời, kể cả và đặc biệt là, những khi chúng ta thấy buồn và hụt hẫng. Trong nỗi buồn, u sầu, và sợ hãi, linh hồn nói với chúng ta những điều mà chúng ta vốn thường khước từ không chịu nghe. Do đó, xem lại mặt tích cực của u sầu là một việc quan trọng.

Nhưng buồn thay, ngày nay, người ta thường xem buồn bã và nặng nề trong lòng là một sự suy giảm, thiếu sinh lực, và là một tình trạng không lành mạnh. Nghĩ như thế vừa thật đáng buồn vừa hạn hẹp. Vi dụ như, trong nhiều sách y khoa thời trung cổ và phục hưng, u sầu được xem là một ơn cho linh hồn, một sự người ta cần phải trải qua, một lúc nào đó trong đời mình, để có được sự lành mạnh và toàn vẹn sâu sắc hơn. Tất nhiên, điều này không ứng với sự suy thoái lâm sàng, mất sức khỏe thực sự, nhưng là đang nói đến tất cả những trầm cảm khác đang kéo chúng ta hướng nội và chùng xuống. Tại sao chúng ta cần phải trải qua u sầu để có được sự toàn vẹn?

Thomas Moore, đã viết rất minh triết về việc chúng ta rất cần phải lắng nghe cẩn thận hơn nữa với những xung lực và nhu cầu của linh hồn mình: ‘Trầm cảm cho chúng ta các phẩm chất đáng giá mà chúng ta cần để làm người cho trọn. Nó cho chúng ta sức nặng, khi chúng ta quá nông nổi về đời mình. Nó cho chúng ta một mức độ trang trọng. Nó có chất chì cứng nên người ta bảo nó nặng nề. Nó cũng cho chúng ta già dặn thêm, để lớn lên cho đúng đắn và đừng giả vờ là mình trẻ hơn tuổi. Nó làm chúng ta lớn lên, và cho một loạt cảm xúc và đặc tính nhân văn mà chúng ta cần để đương đầu với những chuyện nghiêm trọng trong đời. Trong các hình ảnh thời phục hưng, trong các sách vở y khoa và các phương thuốc, trầm cảm được khắc họa là một lão nhân mang chiếc mũ chiêm tinh, đứng trong bóng tối, cầm đầu mình trên tay.’

Milan Kundera, nhà văn người Czech, trong tiểu thuyết kinh điển của mình, Sự Khinh suất không chấp nhận được của Hiện hữu, đã đồng hưởng với Moore. Nhân vật chính của ông, Teresa, đấu tranh để đời mình được bình an chứ đừng nặng nề, cuộc đời cô như thế có quá nhiều nhẹ nhõm, ánh sáng, và có vẻ là vô ưu, không có lo âu nào gợi lên u ám và sự chết. Nhưng, cô luôn luôn thấy cần có sự trang trọng, cần một sự gì đó có sức nặng cho thấy rằng cuộc đời cao hơn việc đơn thuần khỏe mạnh và thoải mái. Với cô, sự nhẹn nhõm cùng đồng nghĩa với hời hợt.

Trong nhiều nền văn hóa, và tất nhiên là trong tất cả mọi tôn giáo lớn trên thế giới,các giai đoạn u sầu và buồn bã được xem là con đường cần thiết mà người ta phải đi để giữ được cân bằng lành mạnh và sự toàn vẹn bản thân. Thật vậy, chẳng phải đây là một phần bản chất của mầu nhiệm vượt qua trong Kitô giáo hay sao? Chính Chúa Giêsu, khi chuẩn bị dâng lễ hi sinh tận cùng vì tình yêu, đã phải đau đớn, mà nhận rằng đường đến ngày Phục Sinh, không thể không có sự tăm tối của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh thật xấu, rất lâu trước khi trở nên tốt, ít nhất là khi nhìn từ bên ngoài. Và u sầu, buồn bã, và nặng nề trong lòng, gần như cũng bị xem như vậy.

Vậy chúng ta phải nhìn vào những quãng buồn bã và nặng nề trong đời mình thế nào? Làm sao để đương đầu với u sầu và các con cái của nó?

Trước hết, điều quan trọng là phải xem u sầu (dù là dạng gì) như một sự bình thường và lành mạnh trong đời. Nặng nề trong lòng không nhất thiết cho thấy rằng trong chúng ta có điều gì đó không ổn. Nhưng đúng hơn, là một sự bình thường, là linh hồn đang ra dấu muốn chúng ta chú tâm, muốn được lắng nghe, cố gắng truyền cho chúng ta một con đường sâu sắc hơn, để cho chúng ta già dặn đúng đắn. Nhưng để có được điều này, chúng ta cần phải chống lại 2 cám dỗ đối lập, cụ thể là làm ngơ hay chiều theo sự buồn bã. Làm sao chúng ta làm được thế? James Hillman đã cho chúng ta lời khuyên như sau: Phải làm gì với sự nặng nề linh hồn? ‘Hãy đặt nó vào trong vali và đem theo mình.’ Giữ nó gần mình, nhưng được gói lại, bảo đảm sẵn dùng, nhưng đừng để nó chiếm lấy mình.

Và lời của Hillman, là những lời kiểu thế tục, tương đồng với đòi hỏi của Chúa Giêsu rằng: ‘Nếu con muốn làm môn đệ Thầy, hãy mang thập giá mình hằng ngày và theo Thầy.’

Tìm kiếm Thiên Chúa độc nhất trong các phân rẽ đức tin và giáo phái

Christian de Cherge, đan viện phụ dòng Xitô, đã tử đạo ở Algeria năm 1996, rất thích chia sẻ câu chuyện thế này: Ngài có một người bạn Hồi giáo rất thân, và hai người thường cầu nguyện chung, ngay cả khi họ nhận biết những khác biệt của mình, là Hồi giáo và Kitô giáo. Và cũng nhận thức được rằng một vài trường phái tư tưởng nhất định, trong cả Hồi giáo và Kitô giáo, đều cảnh báo chống lại kiểu cầu nguyện này, vì sợ rằng các đức tin khác nhau không cầu nguyện với cùng một Thiên Chúa độc nhất, nên do đó, họ không gọi việc cả hai cùng làm là cầu nguyện chung. Nhưng họ xem như mình đang ‘cùng đào giếng.’ Một ngày nọ, Christian hỏi Mohammed: ‘Khi đến đáy giếng, chúng ta sẽ thấy gì? Nước của Hồi giáo, hay nước của Kitô giáo?’ Mohammed, nửa đùa, nhưng vẫn vô cùng nghiêm túc, trả lời: ‘Thôi nào, chúng ta đi cùng nhau suốt, mà anh vẫn còn hỏi tôi câu này. Anh biết rõ là đáy giếng có gì rồi, cái chúng ta sẽ tìm thấy chính là nước của Thiên Chúa.’

Có những chân lý tôn giáo quan trọng ẩn trong câu chuyện này. Trước hết, tất cả mọi tôn giáo đáng kể đều tin rằng, điều quả quyết đầu tiên của chúng ta về Thiên Chúa phải là: Thiên Chúa là Đấng không tả nổi, Thiên Chúa vượt quá mọi tưởng tượng, khái niệm hóa và ngôn ngữ của con người. Tất cả mọi sự chúng ta nghĩ và nói về Thiên Chúa, ngay cả trong kinh thánh và các giáo lý rõ ràng của chúng ta, vẫn thiếu thỏa đáng. Những sự của chúng ta có bày tỏ đôi điều sự thật, nhưng ở đời này, không bao giờ là sự thật tuyệt đối. Không một giáo lý và không một tôn giáo nào có một diễn đạt hoàn hảo về Thiên Chúa. Nếu thật như thế, thì tất cả mọi sự thật tôn giáo luôn luôn là cục bộ và giới hạn trong các biểu đạt lịch sử của mình và không thể nhận là đầy đủ hoàn hảo được. Tất cả mọi tôn giáo, giáo lý và biểu đạt thần học, dù thuộc giáo phái hay tôn giáo nào, đều phải khiêm nhượng mà nhìn nhận sự bất trọn của mình. Chỉ một mình Thiên Chúa là tuyệt đối hoàn toàn, và một nhận thức hoàn toàn về Thiên Chúa nằm ở nơi đáy giếng, nơi cuối hành trình tôn giáo của chúng ta.

Điều này thay đổi triệt để cách hiểu của chúng ta về đại kết và đối thoại liên tôn giáo. Bởi không một ai, kể cả chúng ta, nắm giữ sự thật tuyệt đối, nên con con đường đại kết và liên tôn không được xem là kiểu người này thắng người kia bại, vốn vẫn đang rất thường diễn ra đến tận ngày nay, kiểu như: ‘Chúng tôi, chỉ có chúng tôi, mới có chân lý và các bạn phải theo chúng tôi!’ Không phải như thế, đúng ra phải hiểu con đường đại kết là việc ‘cùng đào giếng,’ cụ thể là, mỗi một người chúng ta, với một tâm hồn rộng mở, mong mỏi những người đang không đồng bàn với chúng ta, loại bỏ tất cả việc chiêu mộ, qua truyền thống tôn giáo của mình dấn thân tìm kiếm một sự biến đổi sâu sắc hơn. Cuộc tìm kiếm này chính xác là cuộc tìm kiếm đến tận đáy giếng, biết rằng một khi đến đó, chúng ta cũng như tất cả những người với lòng đạo chân thành, đích thực, sẽ đều tìm thấy nước của Chúa và sự hiệp nhất với tất cả những ai đang cùng hiện diện ở đó.

Nhà đại kết lừng danh, Avery Dulles, đã gọi đây là con đường ‘hội tụ lũy tiến.’ Sự hiệp nhất tận cùng giữa các giáo hội và đức tin khác nhau, sẽ không đến từ việc tất cả mọi người trên thế giới đều cải đạo sang một giáo phái hay một tôn giáo. Nhưng, điều này sẽ đến, và chỉ có thể đến, nhờ mỗi người chúng ta biến đổi sâu hơn bên trong truyền thống của chính mình Khi mỗi một người chúng ta và mỗi đức tin đi sâu hơn vào mầu nhiệm Thiên Chúa, thì chúng ta sẽ dần dần đến gần và gần hơn với người khác. Câu chuyện của đan phụ Christian de Cherge soi sáng tuyệt vời cho chúng ta về điều này.

Và con đường này, khi được thực hiện đúng đắn, không dẫn chúng ta đến chủ nghĩa tương đối và niềm tin ngây thơ rằng mọi tôn giáo đều như nhau Cũng không có nghĩa là chúng ta không nhiệt tâm và công khai cử hành truyền thống đức tin của đạo chúng ta, hay không sẵn sàng bảo vệ đạo mình, không sẵn sàn chào đón bất kỳ ai vào đạo. Nhưng, ý nghĩa của điều này phải là, chúng ta khiêm nhượng nhìn nhận rằng, chúng ta có chân lý sự thật, nhưng sự thật không phải chỉ có duy nhất nơi chúng ta. Thiên Chúa không phải là thần linh bộ lạc, mà ý định cứu rỗi của Thiên Chúa là cho toàn thể nhân loại. Thiên Chúa khao khát ơn cứu độ cho những người thuộc các phái và truyền thống tôn giáo khác, cũng hệt như Ngài muốn cho chúng ta vậy. Do đó, như Chúa Giêsu đã dạy, Thiên Chúa có ‘các con chiên khác,’ những cá nhân và cộng đoàn khác được Ngài yêu thương, dù không thuộc trong đàn của chúng ta. Tình yêu và mặc khải của Thiên Chúa ôm trọn hết thảy mọi người.

Con đường hiệp nhất giữa các Kitô hữu thuộc các phái khác nhau, và con đường hiệp nhất giữa các tôn giáo khác nhau trên thế giới, không phải là con đường chiêu mộ, tự nhận chân lý tuyệt đối về mình, và xem sự hiệp nhất chỉ có thể có được khi tất cả mọi người cải sang đạo mình. Không phải thế, con đường hiệp nhất nằm ở việc ‘cùng đào giếng,’ nghĩa là, trong mỗi chúng ta, trong mỗi truyền thống của chúng ta, phải biến đổi sâu sắc hơn vào trong mầu nhiệm Thiên Chúa và trong tất cả những gì đòi buộc chúng ta. Khi đi vào sâu hơn trong mầu nhiệm Thiên Chúa, chúng ta sẽ thấy mình ngày càng nên một, như các anh chị em trong đức tin.
Không một tôn giáo nào tuyệt đối, chỉ một mình Thiên Chúa tuyệt đối. Biết như thế, sẽ cho chúng ta bớt thiển cận tự mãn trong việc hành đạo của mình, và biết tôn trọng hơn các phái và tôn giáo khác, và sẵn sàng hơn trong việc mang lấy cái nhìn của Thiên Chúa hơn là của chúng ta.