RonRolheiser,OMI

Bí mật Thâm sâu nhất của Khôn ngoan

Tất cả mọi người đều khao khát muốn biết một chuyện bí mật, một chuyện mà người khác không biết nhưng bạn lại biết, và chuyện này sẽ cho bạn một thấu suốt và lợi thế hơn người khác, những người không nằm trong nhóm nội bộ biết được bí mật này. Luôn là thế. Chiếu theo dòng lịch sử, có thể gọi đây là ‘Ngộ đạo thuyết,’ với các hình dáng bên ngoài khác nhau.
Ngày nay, chúng ta thấy điều này trong một xã hội rộng lớn với vô số những quyển sách nổi tiếng như Mật mã Da Vinci, và Lời tiên tri Celestine. Sức hút của những quyển sách là những dấu chỉ cho rằng có một số bí mật mà chỉ một số ít người ưu tú mới biết, và chúng chứa đựng những thông tin quan trọng có thể đổi đời, mà vì chưa được khai sáng nên chúng ta không biết gì. Và tất nhiên, mong ước của chúng ta là muốn được ở trong những nhóm đặc biệt này. Đôi khi chúng ta cũng thấy những chuyện tương tự như vậy trong các nhóm tôn giáo, nơi những người quá ảo tưởng mình có mặc khải riêng về nhiều thần nghiệm tự nhận, hay nơi những quyển sách tuyên bố những mặc khải mới từ Đức Trinh Nữ Maria, và cả nơi những chuyện quá hấp dẫn như Ba bí mật Fatima chẳng hạn. Ngộ đạo thuyết có nhiều vỏ bọc cho nó.
Trong Tin mừng theo thánh Máccô, nhìn thoáng qua, có vẻ như chính Chúa Giêsu cũng đã ra dấu về kiểu bí mật này. Ngài nói rằng có một bí mật mở ra cho chúng ta, và nếu biết được, thì sẽ cho chúng ta được vào nhóm khai sáng đặc biệt. Trong đoạn Tin mừng Máccô 4, 11, Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng: Thầy nói cho các con biết bí mật Nước Trời, nhưng Thầy chỉ dùng dụ ngôn để nói với những người ngoài. Rõ ràng Chúa Giêsu phân biệt ra hai nhóm, một nắm bắt được bí mật và ‘ở trong’ còn nhóm kia không nắm được bí mật và ‘ở ngoài.’ Dường như Chúa Giêsu nói rằng, khi theo Ngài, chúng ta sẽ hoặc ‘ở trong’ hoặc ‘ở ngoài’ tùy vào việc chúng ta có nắm bắt được một bí mật nào đó hay không. Các môn đệ đích thực là những người ‘có được điều đó’ còn những người ‘không có’ thì vẫn cứ ở vòng ngoài. Nhưng chúng ta ở trong hay ở ngoài cương vị môn đệ này? Và quan trọng hơn nữa, bí mật đó là gì?
Với Chúa Giêsu, bí mật là thập giá, là sự khôn ngoan thâm sâu mà chúng ta cần hiểu được. Nếu chúng ta hiểu được thập giá, thì mới hiểu được tất cả những lời Chúa Giêsu dạy. Ngược lại, nếu chúng ta không hiểu được thập giá, thì tất cả những lời Chúa Giêsu dạy đều vô nghĩa với chúng ta. Nắm bắt được ý nghĩa của thập giá là bí mật tiết lộ mọi sự. Nhưng cụ thể hơn, làm sao, để hiểu được thập giá? Bí mật thâm sâu nào nơi thập giá Chúa Giêsu? Về căn bản, chúng ta cần hiểu sự gì đây?
Nhiều nhà chú giải Kinh thánh đã trả lời câu hỏi này theo các cách khác nhau và bổ túc cho nhau. Với một số người, thì đây là nắm bắt sự khôn ngoan được bày tỏ nơi thập giá. Người khác thì cho rằng, phải hiểu được sự đau khổ của Chúa Giêsu trên thập giá. Và với người khác nữa, là hiểu được lời mời gọi bên trong thập giá đang kêu mời chúng ta sống các đòi hỏi của thập giá. Mỗi một chú giải này, theo cách riêng của mình, đều đưa ra bí mật thâm sâu nhất trong tất cả mọi nhận thức nhân loại, cụ thể là, khi trao ban tình yêu bằng sự tự hiến hoàn toàn, bằng cái giá của sỉ nhục, tan nát, và cái chết, chúng ta đạt đến những gì thâm sâu nhất và trọn vẹn nhất trong đời.
Nhưng, không như các bí mật ngộ đạo thuyết thời xưa hay thời nay, bí mật này là một bí mật mở, cho tất cả mọi người, và ngược đời thay, lại mở ra cho những ‘người nhỏ bé’ người nghèo và giấu kín với ‘những người khôn ngoan tài giỏi.’ Chúa Giêsu đã nói rõ rằng, Ngài không có bí mật giấu kín nào cả, nhiều lần Ngài nhấn mạnh, Ngài chỉ nói công khai nơi công cộng, không bao giờ giấu giếm, Ngài lên tiếng nơi hội đường và phố thị. Chúa Giêsu không có bí mật giấu kín nào cả, chỉ có những bí mật mở nhưng chúng ta không nắm bắt được mà thôi.
Và một điều đáng chú ý là, trong Tin mừng cho thấy, bí mật của thập giá không phải là chuyện hiểu hết một lần được. Có lúc chúng ta nắm bắt được, và đi vào nhóm hiểu biết, có lúc chúng ta không nắm bắt được và ra khỏi nhóm. Ví dụ như, sau khi thánh Phêrô chối Chúa Giêsu trong cuộc thương khó, Tin mừng cho chúng ta biết, ‘Phêrô đi ra ngoài’ và đây không chỉ đơn thuần là bước ra khỏi cánh cửa sân thôi đâu. Khi chối về việc mình biết Chúa Giêsu, và không dấn tới mà nhận lấy gánh nặng trung tín, Phêrô đã bước ra khỏi nhóm môn đệ đích thực và ra khỏi nhận thức đích thực về sự sống. Việc chối Chúa Giêsu đã khiến Phêrô ‘ở ngoài.’ Cả chúng ta nữa, khi theo Chúa Giêsu, có lúc chúng ta ‘bước ra ngoài’ khi chiều theo cám dỗ và nghịch cảnh. Nhưng rồi, nếu chúng ta hối hận vì đã phản bội, như Phêrô thưở xưa, thì chúng ta có thể bước lại ‘vào trong.’
Có nhiều cách khác nhau để chúng ta có thể nhận thức được thông điệp của Chúa Giêsu và tương hợp ý Chúa với đời mình, nhưng có lẽ ít, hoặc không có điều gì, cho chúng ta ngay lập tức đi vào trọng tâm cho bằng lời mời của Chúa Giêsu trong Tin mừng theo thánh Máccô, muốn chúng ta nắm bắt và đón nhận sự khôn ngoan của Thập giá.

Gắn bó bất thường – Sai trái đạo đức hay cuộc vật lộn với sinh lực thần thiêng

Ngòi bút thiêng liêng trứ danh, Henri Nouwen, không giấu diếm gì về việc cha quá nhạy cảm về mặt tình cảm, và đã chịu những ám ảnh xúc cảm, đôi khi đến mức trầm cảm lâm sàng. Henri Nouwen, một người khấn độc thân khiết tịnh, nhiều lần đã đơn thuần là bị chế ngự bởi cảm giác đang yêu một người không cách nào với tới được, và khiến cha trở nên tê liệt tâm lý đến mức cần đến sự hỗ trợ chuyên khoa.

Nhưng, với đức tính trung thực và đời sống minh bạch của cha, người ta hầu như không thể quy cho cha là một người sai trái về mặt đạo đức, cho dù đôi khi có lơi chân về mặt cảm xúc. Đơn giản là có những lúc cha không thể giữ mình trước sự nhạy cảm xúc cảm quá đỗi.

Hầu hết những người nhạy cảm đều chịu đựng một sự tương tự như vậy, dù không dữ dội như trường hợp của Henri Nouwen. Hơn nữa, những dạng ám ảnh xúc cảm này tác động đến toàn bộ cuộc đời chúng ta, bao gồm cả đời sống luân lý và tôn giáo. Những gì chúng ta làm trong cơn đau và tê liệt của ám ảnh này, hiếm khi là chuyện cho chúng ta tự hào, và cũng càng không phải là một hành động tự ý. Bị giữ chặt trong những ám ảnh xúc cảm, chúng ta không thể suy nghĩ tùy ý, cầu nguyện tùy ý, hay quyết định được điều gì tùy theo ý mình, và chúng ta có xu hướng hành động cưỡng bách theo những cách thức không hợp đạo đức. Vậy thì hành động của chúng ta có tính luân lý thế nào?

Các ngòi bút thiêng liêng kinh điển đã nói về một sự mà họ định danh là ‘gắn bó bất thường’ và với họ, những ‘gắn bó bất thường’ này là một sai lỗi luân lý, một điều mà chúng ta cần phải kiểm soát bằng sức mạnh ý chí. Tuy nhiên, ‘gắn bó bất thường’ có một mức nghĩa rộng. Theo các nhà linh đạo kinh điển, chúng ta có thể gắn bó một cách bất thường với danh vọng, với vẻ ngoài của mình, với tiền bạc, quyền lực, lạc thú, tiện nghi, của cải, tình dục, và cả một lô một lốc những thứ khác nữa. Họ thấy đây là sự đối nghịch với đức tính từ bỏ. Và do bởi nó đối lập với một nhân đức, nên ‘gắn bó bất thường’ là một tính xấu, một sai lầm luân lý và thiêng liêng.

Nhưng có thể nói ra rất nhiều điều tích cực từ quan điểm này. Thông thường, thì việc thiếu tính từ bỏ, là một sai sót đạo đức. Nhưng có lẽ, có một ngoại lệ. Một gắn bó bất thường, cũng có thể là một ám ảnh xúc cảm với người khác, và điều này khiến cho vấn đề luân lý ở đây trở nên rối rắm mơ hồ. Thường thì, các ám ảnh, không phải là do chúng ta tự ý chọn lấy cũng không phải trong tầm kiểm soát của ý chí, hay ít nhất là cảm xúc. Giáo lý và các sách thần học thường dạy rằng: Chúng ta có trách nhiệm với hành động của mình, nhưng không có trách nhiệm về cảm giác của mình. Cảm xúc như con ngựa bất kham, chúng lồng lên khi muốn, và không dễ gì để thuần hóa.

Do đó, tôi tin rằng, khái niệm ‘gắn bó bất thường’ trong linh đạo kinh điển, cần được thêm vào một điều nữa. Ví dụ như, ngày nay chúng ta nói về ‘ám ảnh’ và ai cũng biết ám ảnh mạnh mẽ và gây tê liệt đến mức nào. Bạn không thể muốn hay quyết định mình không bị ám ảnh được. Nhưng, đây là một sai trái đạo đức hay sao?
Đôi khi chúng ta nói về ‘quỷ ám’ và điều này cũng có nhiều nghĩa. Chúng ta có thể bị ám bởi một thế lực vượt quá chúng ta, áp đảo ý chí của chúng ta, và đó có thể là ma quỷ hay một chứng nghiện quá độ như nghiện rượu hay thuốc phiện. Hầu hết chúng ta không bị chế ngự, nhưng mỗi người chúng ta đều phải chiến đấu với những con quỷ của mình, và ranh giới giữa ám ảnh và bị ám, đôi khi rất mỏng manh.

Hơn nữa, các nhà tâm lý học nguyên hình ngày nay có nói về một sự mà họ gọi là ‘quỷ quái’ nghĩa là họ tin rằng để giải thích hành động của chúng ta, thì không chỉ hạn chế trong tự nhiên và giáo dưỡng, nhưng còn là ‘thiên thần’ và ‘ác quỷ’ quyền lực bên trong chúng ta, vốn không ngừng ám ảnh thân xác và tâm trí chúng ta, khiến chúng ta bị ám ảnh và bị cầm cương kinh niên. Nhưng những ‘quỷ quái’ này cũng thường là cội rễ sáng tạo của chúng ta, và đó là lý do vì sao chúng ta thường thấy (trong hành văn của Michael Higgins) ‘các thiên tư bị đày đọa’ trong những người đạt được thành tựu cao, người lãng mạn, những người có khí chất nghệ sĩ, và những người như Van Gogh hay Nouwen, do một ám ảnh đè nén, mà đã cắt tai của mình hay phải đi viện chữa trị.
Vậy điểm nhấn ở đây là gì? Chính là một hiểu biết sâu hơn về bản thân và người khác. Chúng ta không được quá hoang mang trước những chuyện đôi khi xảy đến trên thế giới hay trong bản thân mình. Chúng ta là những tạo vật hoang dại, bị ám ảnh, và phức tạp, mà sự phức tạp này không bắt rễ chính từ sự dữ bên trong chúng ta. Đúng hơn, sự phức tạp này bắt rễ từ điều thâm sâu nhất trong chúng ta, cụ thể chính là, hình ảnh giống với Thiên Chúa. Chúng ta là những linh hồn bất diệt đang du ngoạn trong một thế giới hữu diệt. Các ám ảnh là một phần tất yếu. Trong thần thoại cổ, các nam thần và nữ thần thường không kìm nổi tình yêu với con người, nhưng người cổ đại tin rằng chính tình yêu này là nơi thần thiên và nhân trần hội ngộ. Vẫn là như vậy, sự thần thiêng trong chúng ta, đôi khi cũng vô vọng phải lòng một phàm nhân khác. Tất nhiên, điều này không là cớ để chúng ta chối tội khi cứ chiều theo cảm tính, nhưng đây là một nhắc nhở cho chúng ta rằng sự nhạy cảm xúc cảm không phải là một sai trái đạo đức cho bằng là sự gặp gỡ giữa thần thiêng và nhân trần.

Các ngòi bút thiêng liêng đương đại

Trong số những ngòi bút về đường thiêng liêng, ai đáng đọc? Tôi xin đưa ra đây danh sách các ngòi bút thiêng liêng có ảnh hưởng lớn trong thế giới nói tiếng Anh:

Henri Nouwen, người Hà Lan/Mỹ, Công giáo La Mã, linh mục Có lẽ ngài là người được đọc nhiều nhất, và có ảnh hưởng nhất trong số tất cả các tác giả thiêng liêng đương đại.

Thomas Merton, Công giáo La Mã, đan sĩ, một trong những ngòi bút thiêng liêng có ảnh hưởng nhất trong 100 năm qua.

C.S. Lewis – người Anh, giáo dân, Anh giáo. Nổi tiếng cả trong giới đạo và đời. Đã đưa thiên tư văn học của mình nhằm trình bày rõ ràng đức tin Kitô giáo.

Jim Wallis, người Mỹ, giáo dân, phái Phúc âm, nhà phúc âm hóa lừng danh, nhà hoạt động xã hội, nhà tổ chức xã hội. Người gần giống Dorothy Day nhất trong thời đại chúng ta. Được tất cả các phái đọc và tôn trọng.

Thomas Halik, Công giáo La Mã, linh mục, người Czech Slovakia, vừa giành giải Templeton danh giá.

Parker Palmer, phái Qaker, giáo dân, người Mỹ, được tôn trọng nhiều trong mọi phái. Viết rất thông tuệ về linh đạo giáo dục và về sự cân bằng Kitô giáo trong đời.

Alan Jones, Tân giáo, linh mục, người Mỹ. Rút khôn ngoan từ những nguồn giếng sâu của truyền thống Kitô giáo. Linh đạo thực hành có chiều sâu.

Carlo Carretto, Công giáo La Mã, khổ tu, người Ý. Dành nhiều năm sống ẩn dật trong sa mạc Sahara và viết về cảm nghiệm này.

Ruth Burrows, người Anh, nữ tu dòng Carmen. Có những thấu suốt sâu sắc về thần nghiệm, đức tin và cầu nguyện chiêm niệm. Một nhận thức cao độ kết hợp với kiến thức sâu sắc về truyền thống thần nghiệm.

Richard Rohr, người Mỹ, dòng Phanxicô, linh mục, nhà phúc âm hóa lừng danh. Vô số sách viết về cầu nguyện, linh đạo nam tính, các chứng nghiện, việc thắng vượt thuyết nhị nguyên, thắng vượt chủ nghĩa bè phái, tìm được sự cân bằng trong đời, và chú giải kinh thánh.

Wendy Wright, người Mỹ, giáo dân, Công giáo La Mã. Một chuyên gia về thánh Phanxicô Salê và Jane Chantel, nhưng các tác phẩm còn rộng hơn, dành riêng nói về vị trí của tận hiến trong đời sống thiêng liêng.

Peter Tyler, người Anh, Công giáo La Mã, giáo dân. Một chuyên gia về linh đạo Carmen. Một tiếng nói trẻ tuổi đang nổi lên.

Thomas Keating, người Mỹ, Công giáo La Mã, tu sĩ. Được đông đảo xem là ‘tiêu chuẩn’ về cầu nguyện chiêm niệm.

John Main, người Anh và Canada, tu sĩ, là người hướng dẫn lừng danh và đáng tin cậy trong cầu nguyện chiêm niệm.

Laurence Freeman, người Anh, tu sĩ, cũng là một người hướng dẫn đáng tin cậy trong cầu nguyện chiêm niệm.

Kathleen Norris, người Mỹ, Giáo hội Trưởng lão, giáo dân, Dòng Hiến sỹ Bênêđictô. Đắm mình sâu vào truyền thống của các Giáo phụ Sa mạc, và cũng hòa hợp như thế với các đấu tranh thiêng liêng của chúng ta trong văn hóa đương thời.

Trevor Herriot, người Canada, giáo dân, Công giáo La Mã. Một nhà biện giáo có uy cho việc bảo vệ tự nhiên, nhưng các bài viết rõ ràng hơn về linh đạo của ông, là những đoạn văn có tính suy tư cao về sinh lực tính dục của chúng ta trong việc bảo vệ hoặc bóc lột tự nhiên.

Barbara Brown Taylor, người Mỹ, Tân giáo, linh mục, nhà truyền giáo nổi danh. Với lời văn mạnh mẽ, bà có sức hút trong giới thế tục. Một sự kết hợp độc nhất vô nhị giữa thấu suốt, truyền thống và cân bằng. Luôn đáng để đọc.

David Steindl-Rast, người Mỹ, Công giáo La Mã, tu sĩ, đặc biệt là linh hướng của Henri Nouwen. Viết thâm sâu, rút ra nhiều thấu suốt từ sự phong phú trong đời tu trì của mình.

Anthony de Mello, người Ấn Độ, Công giáo La Mã, tu sĩ dòng Tên. Đem thấu suốt của Phật giáo và các linh đạo Đông phương vào diễn giải linh đạo Kitô giáo.

James Martin, người Mỹ, Công giáo La Mã, tu sĩ dòng Tên. Một tiếng nói trẻ tuổi, và chủ chốt của linh đạo thời nay. Nổi tiếng rộng rãi, và xứng đáng với điều này.

Anne Lamott, người Mỹ, Tân giáo, giáo dân. Một sự kết hợp độc nhất vô nhị giữa thấu suốt, dấn thân Kitô giáo và chống lại chủ trương bài tôn giáo.

Marilynne Robinson, người Mỹ, tiểu thuyết gia, thuộc giáo hội Giáo đoàn. Không phải là một ngòi bút thiêng liêng, nhưng là một tiểu thuyết gia ngoại hạng với những nhân vật thể hiện linh đạo của bà. Một tiếng nói biện giáo thông tuệ ngoại hạng.

Simone Weil, người Pháp, Do Thái giáo, giáo dân. Các bài viết của bà thể hiện một nhạy cảm thiêng liêng thâm sâu, trong hầu hết thảo luận về linh đạo đương thời.

Etty Hillesum, người Hà Lan, Do Thái giáo, giáo dân. Các bài viết của bà thể hiện một thấu suốt ngoại hạng về linh đạo. Và bà đã chứng thực linh đạo bằng sự tử đạo.

Scott Hahn, người Mỹ, Công giáo La Mã, giáo dân. Rất nổi tiếng, dạy giáo lý và đào tạo.

Giáo sĩ Abraham Heschel, người Mỹ, Do Thái giáo, giáo sỹ. Là nhà diễn giải thiêng liêng ngoại hạng về kinh thánh Do Thái. Được tôn trọng và yêu thích rộng rãi.

Rob Bell, người Mỹ, phái Phúc âm, nhà truyền giáo nổi danh. Một tiếng nói trẻ trung thông tuệ. Cân bằng tốt, thấu suốt tốt, và năng lực ngoại hạng khi lên tiếng với độc giả đương thời.

Rick Warren, người Mỹ, nhà truyền giáo. Nổi danh đặc biệt với nhiều phái. Quyển sách ‘Mục đích – Đời sống có định hướng’ của ông đã bán được hơn 30 triệu bản trên khắp thế giới, rất đáng đọc.

John Allen, người Mỹ, Công giáo La Mã, giáo dân, nhà báo. Là tai mắt cho hầu hết tất cả mọi người về những gì đang diễn ra trong giáo hội khắp thế giới.

Joyce Rupp, người Mỹ, Công giáo La Mã, nữ tu. Thấu suốt, đặc biệt nổi tiếng trong giới phụ nữ.

Michael Higgins, người Canada, giáo dân, Công giáo La Mã. Có nhiều bài báo bình luận mang tính thấu suốt cao về linh đạo đương thời. Là người viết tiểu sử chính thức của Nouwen.

Joan Chittister, người Mỹ, Công giáo La Mã, nữ tu. Là tiếng nói nữ quyền và công bằng xã hội mạnh mẽ. Biết rõ về truyền thống tu sĩ, và rút ra những thấu suốt then chốt từ nguồn giếng sâu này.

Paula D’Arcy, người Mỹ, Công giáo La Mã, giáo dân. Truyền hứng khởi cho những người sùng đạo, đặc biệt là bằng linh đạo chữa lành của mình.

Annie Dillard, người Mỹ, Công giáo La Mã (trở lại), giáo dân. Các bài viết của bà luôn luôn thể hiện một thấu suốt luân lý và mỹ học, người bạn tự nhiên của tôn giáo.

Elizabeth Johnson, người Mỹ, Công giáo La Mã, nữ tu. Một thầy dạy ngoại hạng cho những ai muốn tìm một biện giáo thông tuệ cho đức tin của mình.

Bill Plotkin, người Mỹ, theo chủ nghĩa tự nhiên, giáo dân. Với các bài viết về vị thế của tự nhiên trong việc thành hình linh hồn chúng ta.

Belden Lane, người Mỹ, giáo dân, theo chủ nghĩa tự nhiên, gần giống với Plotkin.

Tôi xin chân thành cáo lỗi với những ai tôi không nên tên ở đây, đặc biệt với những tiếng nói trẻ mới nổi, như Kerry Weber, David Wells, Bill McGarvey, và những người khác, những người xứng đáng được đọc nhiều hơn nữa.

Ánh sáng nhân tạo

Một cây đèn lồng cầm tay kiểu cũ dùng để làm gì? Vâng, ánh sáng của nó có thể khá hữu dụng khi trời tối mù, nhưng sẽ vô cùng thừa thãi và chẳng ai chú ý dưới ánh mặt trời buổi trưa. Điều này không có nghĩa là ánh sáng của chiếc đèn thật tệ, chỉ là nó yếu mà thôi.

Nếu chúng ta có hình ảnh này trong đầu, thì sẽ thấy một bài học vô cùng thâm thúy và sâu sắc trong Tin Mừng kể về chuyện Chúa Giêsu bị bắt. Tin Mừng theo thánh Gioan kể lại: ‘Giuđa đem theo đám người, cùng với lính của các thượng tế và Pharisiêu, tất cả đều cầm đèn và đuốc.’ Thánh Gioan muốn chúng ta nhìn ra sự mỉa mai trong chuyện này, khi các thế lực của thế giới này đến để bắt và xử án Chúa Giêsu, Ánh sáng của thế giới, chúng đem theo một ánh sáng nhân tạo yếu ớt, một đèn lồng đến trước mặt Ánh sáng thế giới, chúng đem ánh sáng nhợt nhạt đến trước dung nhan vầng dương chính ngọ. Khi nói ra chuyện mỉa mai này, các Tin Mừng đang cho chúng ta một bài học nữa: khi chúng ta không còn đi trong ánh sáng của Chúa Kitô, thì chúng ta sẽ luôn hướng về thứ ánh sáng nhân tạo.

Tôi tin rằng hình ảnh này có thể là một ẩn dụ thâm thúy về những chỉ trích mà thời đại Ánh sáng nhắm vào niềm tin Kitô giáo. Những chỉ trích này có hai mũi công kích.

Mũi thứ nhất là: Tư tưởng thời đại Ánh sáng cho rằng Thiên Chúa được các giáo hội Kitô đưa ra không có gì là khả tín bởi Thiên Chúa đơn thuần là một phóng chiếu từ khao khát của con người, một thần tượng được tạo nên từ hình ảnh và giống với chúng ta, và là một thần mà chúng ta có thể luôn mãi lợi dụng để phục vụ lợi ích riêng của mình. Họ nói rằng, niềm tin vào một thần như thế là nông nổi, là dựa trên sự ngây thơ, và sự mù quáng tri thức, có thể được xóa bỏ và sửa đổi nhờ cái nhìn rành rành vào hiện thực. Một tâm thức được khai sáng, theo ý của họ, thì sẽ xem niềm tin vào Thiên Chúa là một sự mù quáng tri thức và tư lợi.

Nói một cách tích cực về chỉ trích này, chúng ta không thể nói gì nhiều, ngoài việc phần nhiều chủ nghĩa vô thần là ký sinh của các tinh thần hữu thần tồi tệ. Chủ nghĩa vô thần được nuôi dưỡng từ một tôn giáo xấu, và chắc chắn nhiều điều chúng ta làm nhân danh đạo, thực ra là những việc tư lợi và mù quáng về tri thức. Ví dụ như, biết bao nhiêu lần chính trị đã dùng tôn giáo cho mục đích của nó? Luận điệu chỉ trích thứ nhất này, là một thách thức lành mạnh cho chúng ta, các tín hữu Kitô.

Nhưng tôi tin rằng, luận điệu chỉ trích thứ hai, thì chỉ như chiếc đèn lồng, một ánh sáng yếu ớt, nhỏ xíu trước vầng dương chính ngọ. Trung tâm chỉ trích của thời đại Ánh sáng nhắm vào niềm tin vào Thiên Chúa, chính là khẳng định (có lẽ là định kiến thì đúng hơn) rằng đức tin là ngây thơ, là một thứ như tin vào chuyện ông già Noel và Thỏ Phục Sinh, và chúng ta sẽ thoát ra khỏi nó, khi trưởng thành và ngày càng mở mang đầu óc mình với kiến thức và những gì hiển nhiên theo kinh nghiệm trên thế giới. Họ tin rằng, những gì chúng ta thấy qua khoa học và sự quan sát trung thực, cuối cùng sẽ đào mộ cho niềm tin vào Thiên Chúa, phơi bày sự ngây thơ của niềm tin này. Về căn bản, lời khẳng định này là nếu bạn đối diện những sự kiện hiện thực rành rành theo kinh nghiệm, với sự trung thực và dũng cảm không lẩn tránh, bạn sẽ thôi không còn tin vào Thiên Chúa nữa. Thật vậy, cụm từ ‘thời đại Ánh sáng’ hay ‘Khai sáng’ ngụ ý điều này. Và họ muốn nói là chỉ những đầu óc chưa được khai sáng, chưa hiện đại hóa, mới tin vào Thiên Chúa. Họ cho rằng, vượt trên niềm tin vào Thiên Chúa, chính là sự khai sáng.

Đáng buồn thay, Kitô giáo thường tiếp thu định kiến này và đã (cũng như đang) trình bày nó theo những dạng sợ hãi và bài tri thức trong Giáo hội. Chúng ta quá thường vô thức đồng ý với những chỉ trích rằng đức tin là ngây thơ. Chúng ta như thế vì tin vào điều mà những chỉ trích đó khẳng định, cụ thể là, nếu chúng ta nghiên cứu và nhìn rõ vào mọi sự cho đủ, thì cuối cùng chúng ta sẽ mất đức tin. Chúng ta phản bội đức tin trong nỗi sợ hãi đối với học thuật hàn lâm, trong nỗi hoang tưởng về sự khôn ngoan thế tục, trong nỗi sợ kiến thức khoa học, và trong việc luôn mãi cảnh báo mọi người tự bảo vệ mình trước những sự thật gây quan ngại của kiến thức khoa học và thế tục. Thực sự khi làm như thế, là chúng ta chấp nhận rằng chỉ trích nhắm vào chúng ta là thật, và tệ hơn nữa, chúng ta phản bội đức tin mình khi không nghĩ rằng chân lý của Chúa Kitô sẽ đứng vững trước thế giới.

Nhưng, với ẩn dụ sâu sắc trong trình thuật bắt Chúa Giêsu, chúng ta có một cách nhìn khác: Sau khi đã chấp nhận sự thật về những khám phá hợp lý của khoa học và khôn ngoan thế tục, và khẳng định rằng cần phải nắm bắt và không chống đối lại các sự này, thì dưới ánh sáng của trình thuật thánh Gioan (về các thế lực trần gian, mang đèn và đuốc đến bắt Ánh sáng Thế giới để đưa ra tòa) chúng ta cũng nên nhìn ra xem những áng sáng thế gian, hay ít nhất, những chỉ trích của thời đại Ánh sáng, mờ nhạt đến thế nào.

Đèn và đuốc hữu dụng khi mặt trời xế bóng, nhưng hoàn toàn lu mờ trước mắt vầng dương. Kiến thức trần tục cũng hữu ích theo cách của mình, nhưng quá đỗi thấp hèn trước ánh sáng của Chúa Giêsu.

Khôn ngoan tối hậu của Tiến hóa

Charles Darwin tuyên bố rằng, Tiến hóa hoạt động qua sự sinh tồn của những loài thích nghi nhất. Mặt khác, Kitô giáo lại chăm lo cho sự sinh tồn của những người yếu đuối nhất. Nhưng, chúng ta làm sao để tương hợp lý tưởng Kitô giáo về việc chọn lựa ưu tiên cho người yếu đuối, với luật tiến hóa?

Tự nhiên là tiến hóa, và trong đó, chúng ta có thể lĩnh hội được một mức độ khôn ngoan biểu lộ rõ ràng được sự minh tuệ, mục tiêu, tinh thần và dự định của nó. Có lẽ chính trong tiến trình tiến hóa, chúng ta thấy quá rõ ràng rằng tự nhiên trở nên hợp nhất, phức hợp, và ý thức hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên, khôn ngoan và ý định của Thiên Chúa cũng được phản ánh bên trong quá trình tiến hóa, dù không phải lúc nào cũng rõ ràng, vì tự nhiên cũng có thể trở nên quá đỗi tàn bạo. Để sinh tồn, tất cả mọi loài trong tự nhiên phải ăn thịt đồng loại và các loài khác trong tự nhiên. Chỉ có loài thích nghi nhất mới sinh tồn. Và đây thật là một sự tàn bạo khốc liệt. Khi nhấn mạnh về việc tự nhiên có thể tàn bạo và bất công đến đâu, các nhà bình luận thường đưa ra ví dụ về chuyện con bồ nông con thứ hai. Và chuyện này thật tàn bạo cùng bất công quá mức:

Con bồ nông cái thường đẻ hai trứng, nhưng lại đẻ cách nhau vài ngày, nên một con sẽ nở trước con kia vài ngày. Điều này cho con bồ nông con đầu tiên có một khởi đầu thuận lợi, và cho đến khi con thứ hai mổ vỏ ra đời, thì con đầu đã to hơn và khỏe hơn. Nên nó áp đảo con bồ nông thứ, giành lấy thức ăn và đẩy con bồ nông thứ tội nghiệp ra khỏi ổ. Và, khi bị mẹ mình bỏ mặc, tự nhiên, con bồ nông thứ sẽ chết vì đói, cho dù có cố gắng về lại ổ đi chăng nữa. Trong số các con bồ nông con thứ, tỷ lệ sống sót chỉ là 10%. Và lập luận tàn bạo của tự nhiên là: Con bồ nông thứ được sinh ra như một chính sách bảo hiểm, đề phòng trường hợp con đầu quá yếu hay chết yểu. Và do đó, số phận của nó là chết đi, là bị bỏ mặc, bị đói, bị chiếm đoạt thức ăn và cả sự chăm lo của mẹ mình cho đến khi đói lả mà chết. Nhưng sự tàn bạo này như một chiến lược của tiến hóa. Trong khi loài bồ nông đã sinh tồn qua 30 triệu năm, nhưng với cái giá là hàng triệu sinh mạng của loài đã chết đi trong tàn nhẫn.

Trong việc này, rõ ràng là có một sự thông minh nhất định, nhưng còn sự cảm thương thì ở đâu? Một Thiên Chúa đầy cảm thương thực sự sắp xếp việc này? Rõ ràng thấy được sự thông minh trong chiến lược của tự nhiên về sự sinh tồn của loài thích nghi nhất. Mỗi loài, trừ phi có sự can thiệp từ bên ngoài, thì luôn luôn sản sinh ra những cá thể khỏe hơn, mạnh hơn, và thích ứng hơn. Dường như, sự khôn ngoan và dự tính của tự nhiên có một mức độ.

Một số nhà khoa học như Pierre Teilhard de Chardin cho rằng tiến hóa tự nhiên đã đạt đến tột đỉnh, mức độ cao nhất của hợp nhất, phức hợp, và ý thức, trong hệ thống thần kinh trung ương và bộ não của con người, và bây giờ tiến hóa thực hiện một bước nhảy (như khi chuyển từ sinh vật nguyên sơ qua sinh vật có ý thức, và từ ý thức đơn thuần sang tự ý thức vậy) từ đó sự tiến hóa đầy ý nghĩa bây giờ không còn là để chọn lấy những cá thể mạnh mẽ về thể lý và khả năng thích nghi nữa. Nói đúng ra, bây giờ tiến hóa tập trung vào mặt xã hội và tinh thần, nghĩa là hướng về sức mạnh tinh thần và xã hội.

Và trong nhận thức Kitô giáo, điều này có nghĩa rằng, tiến hóa bây giờ là việc con người dùng ý thức tự thân của mình để trở về và giúp tự nhiên bảo vệ và nuôi dưỡng những con bồ nông thứ. Tiến hóa có ý nghĩa bây giờ không còn là việc kẻ mạnh thì mạnh hơn, nhưng là việc cho kẻ yếu, vốn đến bây giờ theo quy luật tự nhiên không có khả năng lớn lên, lại được lớn lên và mạnh mẽ.

Tại sao? Tự nhiên có lợi gì nơi những kẻ yếu? Tại sao tự nhiên lại không hạnh phúc khi loại đi những kẻ yếu? Thiên Chúa được gì nơi những kẻ yếu mà tự nhiên không dung nạp?

Không phải thế, tự nhiên cũng rất lo đến sự sinh tồn của kẻ yếu, và đang nhờ đến sự giúp đỡ của con người để làm việc này. Tự nhiên lo đến sự sinh tồn của kẻ yếu, bởi sự yếu đuối và dễ bị tổn thương cho tự nhiên một điều vốn thiếu vắng khi chỉ lo cho sự sinh tồn của những cá thể và loài thích nghi nhất cũng như việc sản sinh ra những cá thể và loài mạnh hơn, khỏe hơn và thích nghi hơn. Những gì kẻ yếu đem lại cho tự nhiên, chính là đặc tính và cảm thương, vốn là dưỡng chất chủ chốt cần có để đem lại sự hợp nhất, phức hợp, và ý thức, ở mức độ xã hội và tinh thần.

Khi Thiên Chúa tạo dựng con người lúc thời gian khai mở, Thiên Chúa đã cho con người trách nhiệm ‘thống trị’ hay làm chủ trên tự nhiên. Ủy lệnh này không phải là một sự cho phép chúng ta thống trị trên tự nhiên và dùng tự nhiên theo bất kỳ kiểu gì mình thích. Ủy lệnh này đúng ra là ‘canh chừng’ hay chăm bón khu vườn, làm một quản gia khôn ngoan, và giúp tự nhiên làm những việc mà tự nhiên, một cách vô thức, không thể làm được, cụ thể là bảo vệ và nuôi dưỡng kẻ yếu, chăm lo cho con bồ công thứ.

Thần học gia thế kỷ II, Irenaeus, đã từng có lời rằng: ‘Vinh quang Thiên Chúa là loài người được sống viên mãn!’ Còn thời chúng ta, Gustavo Gutierrez, vốn được xem là người khai sinh Thần học Giải phóng, đã nói lại câu trên như sau: ‘Vinh quang Thiên Chúa là người nghèo được sống viên mãn!’ Và đó cũng là vinh quang tối hậu của tự nhiên.

Cầu cho những ai không thuộc đàn chiên này – Một thư mở gởi đến các giám mục

Các giám mục kính mến,

Là một người con trung thành của Giáo hội Công giáo, tôi viết thư này với một thỉnh nguyện đặc biệt: Liệu các cha có thể thêm vào Kinh nguyện Thánh Thể hiện nay, một lời cầu dành cho các Giáo hội Kitô khác và cho các lãnh đạo của họ hay không?

Ví dụ như, liệu lời cầu cho Giáo hội và các lãnh đạo thuộc các Giáo hội khác, có thể thêm những lời này hay không: ‘Lạy Chúa, xin nhớ đến Hội Thánh Chúa lan rộng khắp hoàn cầu, để kiện toàn Hội Thánh trong đức mến, cùng với Giáo hoàng …., và Giám mục …., cùng với tất cả những ai đang lãnh đạo các Giáo hội Kitô khác, và toàn thể các giáo sĩ.’ Liệu Kinh nguyện Thánh Thể của chúng ta có nên có dạng kết hiệp này không?

Tại sao? Tại sao lại cầu nguyện cho các Giáo hội khác trong Kinh nguyện Thánh Thể của chúng ta? Vì ba lý do sau:

Thứ nhất, chúng ta nên cầu nguyện rõ ràng cho các Giáo hội Kitô khác trong Kinh nguyện Thánh Thể, vì Chúa Giêsu đã làm thế. Trong Tin mừng theo thánh Gioan, Chúa Giêsu cầu nguyện rõ ràng cho những ai đang cùng một đức tin nhưng tách rời, vì bất cứ lý do gì, khỏi cộng đoàn đang cầu nguyện lúc đó. Ngài cầu nguyện cho ‘các con chiên khác không thuộc đàn này’ (Ga 10, 6). Raymond Brown, có lẽ là học giả đáng kính nhất về Phúc âm theo thánh Gioan, trình bày rằng vào thời điểm thánh Gioan viết Phúc âm (khoảng năm 90-100) thì đã có sự chia rẽ trong Giáo hội, cũng gần giống với sự chia rẽ các phái ngày nay, và lời nguyện của Chúa Giêsu xin ‘cho những con chiên không thuộc đàn này’ thực sự là một lời cầu nguyện cho các Kitô hữu khác đang tách lìa về mặt thần học và phụng tự khỏi cộng đoàn mà thánh Gioan đang cùng cầu nguyện. Và Chúa Giêsu, với trái tim dành cho tất cả mọi người, chứ không chỉ cho những ai ở trong một cộng đoàn riêng biệt, cầu nguyện cho tất cả những người này: ‘Ta sẽ dẫn dắt cả họ nữa. Họ sẽ nghe tiếng Ta, và sẽ chỉ có một đàn chiên, một mục tử.’

Thứ hai, nếu chúng ta, như Chúa Giêsu, thực sự yêu mến những ai chia sẻ cùng đức tin với mình, nhưng lại đang tách lìa, thì thật đau đớn khi bàn tiệc Thánh Thể của chúng ta không được trọn vẹn, khi một vài thành viên trong nhà không hiện diện, và bàn còn những chỗ trống. Người Công giáo La Mã không phải là toàn thể gia đình. Người Tin Lành không phải là toàn thể gia đình. Người phái Phúc âm không phải là toàn thể gia đình. Các Giáo hội Kitô tự do không phải là toàn thể gia đình. Chỉ có cùng với nhau, chúng ta mới làm nên một gia đình trọn vẹn. Kinh nguyện Thánh Thể mà chỉ cầu cho cộng đoàn chúng ta và cho giáo hoàng, giám mục của chúng ta, thì có vẻ không trọn, như thể chúng ta không cần nhận biết và cảm giác thấy sự thiếu vắng thực sự những con người thật tâm, đang không cùng chúng ta mừng kính sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trên bàn thánh, và cảm nghiệm sự thân mật từ Phép Thánh Thể. Thật vui mừng biết bao khi cùng những người khác mừng kính Phép Thánh Thể, nhưng tôi nghĩ, chúng ta cần phải nhìn nhận, và đặt trọng tâm lời cầu nguyện, rằng chúng ta khao khát, mong mỏi, và cầu nguyện điều này, cầu cho những ai đang không cùng bàn tiệc gia đình với chúng ta. Và một lời kinh cầu như thế sẽ thể hiện tấm lòng khiêm tốn của chúng ta trước các anh chị em xa cách của mình. Lời kinh như thế cũng sẽ gìn giữ chúng ta, những người Công giáo La Mã, không hài lòng với gia đình vốn đang đứt đoạn của mình, như thể chúng ta không cần những ai không cùng với chúng ta vậy.

Cuối cùng, khi cầu nguyện như thế, chúng ta có tấm lòng quan tâm thực tiễn, một nhạy cảm và lòng mến khách: Dù là ở đám tang, đám cưới, các buổi tĩnh tâm liên phái, hay các sự kiện tương tự có sự hiện diện của các Kitô hữu khác đến với Giáo hội Công giáo La Mã chúng ta, thì khi cử hành Phép Thánh Thể, cần có, hay ít nhất là nên có, một cảm thức liên tôn mạnh mẽ. Trong tình huống này, về phần mình, một linh mục, tôi thấy thật khó xử và không được mến khách lắm khi cầu cho cộng đoàn Công giáo, cho Giáo hoàng, các giám mục, và hàng giáo sĩ của mình, mà không có mong muốn, hay đề cập đến các Giáo hội Kitô khác, các lãnh đạo của họ, và những nỗ lực của họ mong muốn hiệp nhất với Chúa Kitô. Tôi nghĩ rằng, để mến khách, chúng ta nên (và tôi dám nói là buộc phải) có một cảm thức đại kết hơn những gì chúng ta đang có bây giờ. Chẳng phải tất cả mọi người sẽ được thêm ơn ích từ việc này ư? Chẳng phải các Kitô hữu khác, và cả bản thân chúng ta, kết thành một cộng đoàn yêu thương và mến khách, và là trọn Thân thể Chúa Kitô (vốn rộng lớn hơn cộng đoàn riêng biệt của chúng ta) sẽ được thêm phong phú, nếu trong lời cầu nguyện quá tập trung vào mình, chúng ta biết cầu nguyện cho những ai cùng chia sẻ đức tin Kitô, nhưng đang tách biệt với chúng ta, hay sao? Chẳng phải đây là một thái độ mến khách rất tốt đẹp hay sao?

Chúng ta có thỏa hiệp gì khi làm thế hay không? Chúng ta có bảo vệ gì khi không làm thế hay không? Chúng ta có bớt nhạy cảm với Tin mừng, với lời nói và hành động của Chúa Giêsu, khi làm thế hay không?

Vậy nên, tôi thẳng thắn thỉnh nguyện rằng: Xin hãy thêm một lời cầu nguyện rõ ràng trong mỗi Kinh nguyện Thánh Thể, cầu cho các Giáo hội Kitô khác và các lãnh đạo của họ. Việc này có căn cứ. Chúa Giêsu đã làm rồi.

Tôi xin đưa ra đề xuất này, như một người con trung thành của Giáo hội.

Tôi là ai mà phán xét?

Có lẽ câu được trích nhiều nhất của Giáo hoàng Phanxicô là khi ngài trả lời câu hỏi trực diện về một vấn đề luân lý đặc biệt nghiêm trọng và bất định. Câu trả lời lừng danh gây nhiều tranh cãi của ngài là: Tôi là ai mà phán xét?

Dù nhận định này thường được xem là nói đùa và không nghiêm trọng lắm, nhưng thực sự, đây là một lời có căn cứ vững vàng. Dường như, chính Chúa Giêsu cũng nói một điều về căn bản là tương tự. Ví dụ như, khi Đức Giêsu nói chuyện với ông Nicôđêmô, Ngài đã nói một chuyện căn bản: Ta không phán xét ai.

Nếu Tin mừng theo thánh Gioan là khả tín, thì như thế Chúa Giêsu không phán xét ai. Thiên Chúa không phán xét ai. Nhưng phải xét theo bối cảnh. Điều này không có nghĩa là không có bất kỳ phán xét luân lý nào, và không có nghĩa là hành động của chúng ta không cần quan tâm đến sự kiểm soát đạo đức. Có phán xét, nhưng không phải là phán xét tưởng tượng trong tâm thức chung. Theo những gì Chúa Giêsu nói với chúng ta trong Tin mừng thánh Gioan, thì phán xét như thế này:

Ánh sáng, chân lý, và tinh thần Thiên Chúa đến trong thế giới. Chúng ta phán xét bản thân dựa theo cách chúng ta sống ra sao trước những sự này: Ánh sáng Thiên Chúa đã đến thế gian, nhưng chúng ta chọn sống trong bóng tối. Đó là quyết định của chúng ta, phán xét của chúng ta. Chân lý Thiên Chúa đã được mặc khải, nhưng chúng ta chọn sống trong sai trái, trong dối trá. Đó là quyết định của chúng ta, phán xét của chúng ta. Và tinh thần của Thiên Chúa đã đến thế gian, nhưng chúng ta chọn sống ngoài tinh thần Chúa, và ở lại trong một tinh thần khác. Đó cũng là quyết định của chúng ta, phán xét của chúng ta. Thiên Chúa không phán xét ai. Còn chúng ta phán xét nhau. Do đó, chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa không lên án ai, nhưng chúng ta lại chọn lên án nhau. Và Thiên Chúa không trừng phạt ai, nhưng chúng ta chọn trừng phạt nhau. Phán xét luân lý tiêu cực là thứ chúng ta tự áp đặt cho mình. Có lẽ điều này hơi mơ hồ trừu tượng, nhưng không phải vậy. Chúng ta biết điều này trong cuộc sống, chúng ta cảm nhận trong mình cái nhãn cho những hành động của chúng ta Một ví dụ là: Chúng ta phán xét bản thân nhờ Thần Khí như thế nào:

Tinh thần của Thiên Chúa, Thần Khí, không phải là một sự trừu tượng và không thể nắm bắt. Thánh Phaolô, trong thư gởi tín hữu Galat, đã mô tả Thần Khí bằng những khái niệm rất rõ ràng, để không bị thói tự lập luận làm cho mơ hồ và nhập nhằng. Ngài mô tả và xác định Thần Khí như thế nào?

Để làm rõ mọi sự, trước hết, thánh tông đồ đưa ra một tương phản bằng cách nói những sự gì không phải là Thần Khí. Thánh Phaolô nói rằng, tinh thần của Thiên Chúa, không phải là tinh thần chìu theo bản thân, ham mê nhục dục, ghen tỵ, kình địch, chống đối, nóng giận, sinh sự, say sưa, bè phái. Bất kỳ lúc nào, chúng ta nuôi dưỡng tính cách này trong đời mình, thì chúng ta đừng tự lừa dối bản thân rằng mình đang sống trong tinh thần Thiên Chúa, bất chấp chúng ta có giữ đạo thường xuyên, sốt sắng, và thành khẩn đến đâu chăng nữa. Thánh Phaolô nói, Thần Khí là tinh thần nhân đạo, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tử tế, tốt lành, khả tín, ân cần, và khiết tịnh. Chỉ khi sống trong các nhân đức này, thì chúng ta mới sống trong tinh thần Thiên Chúa.

Vậy nên, phán xét là như thế này: Tinh thần của Thiên Chúa (nhân đạo, vui mừng, hòa bình, nhẫn nại, tử tế, tốt lành, khả tín, ân cần, và khiết tịnh) đã được bày tỏ cho biết. Chúng ta có thể chọn sống trong những nhân đức này hay có thể chọn sống trong những thứ đối lập (chìu theo bản thân, ham mê nhục dục, ghen tỵ, kình địch, chống đối, nóng giận, sinh sự, say sưa, bè phái.) Một chọn lựa dẫn chúng ta sống với Thiên Chúa, và chọn lựa kia dẫn chúng ta xa khỏi Chúa. Và chọn lựa đó là của chúng ta, chứ không phải từ bên ngoài. Chúng ta phán xét chính mình. Thiên Chúa không phán xét ai. Thiên Chúa không cần phải phán xét.

Khi xem xét từ quan điểm này, chúng ta làm rõ được một số hiểu lầm gây rối loạn trong tâm thức các tín hữu cũng như trong tâm thức của những người chỉ trích. Chúng ta thường nghe lời chỉ trích này: Nếu Thiên Chúa là toàn thiện, toàn mến, và hoàn toàn thương xót, thì làm sao Thiên Chúa có thể kết án con người đời đời trong hỏa ngục? Một câu hỏi có căn cứ, dù không thực sự đủ suy tư. Tại sao? Bởi Thiên Chúa không phán xét ai, Thiên Chúa không trừng phạt ai. Thiên Chúa không kết án ai xuống hỏa ngục. Những điều này là chúng ta gây ra cho mình. Chúng ta tự phán xét mình, tự trừng phạt mình, và tự đẩy mình vào đủ loại hỏa ngục bất kỳ lúc nào chúng ta chọn không sống trong ánh sáng, chân lý và tinh thần Thiên Chúa. Và phán xét này là do chúng ta tự gây ra, trừng phạt này là do tay chúng ta,và lửa hỏa ngục là bởi chúng ta mà ra.

Chúng ta rút được một số bài học từ việc này. Trước hết, như chúng ta vừa thấy, sự thật Thiên Chúa không phán xét ai, giúp cho chúng ta làm rõ biện thần luận của chúng ta, nghĩa là giúp giảm đi tất cả những hiểu lầm quanh lòng thương xót Thiên Chúa, và xóa bỏ lời cáo buộc rằng một Thiên Chúa hoàn toàn thương xót lại có thể kết án con người đời đời trong hỏa ngục. Và hơn nữa, đây là một thách thức mạnh mẽ đòi chúng ta phải bớt phán xét đi, hãy để lúa và cỏ lùng tự phân loại theo thời gian, để ánh sáng phán quyết bóng tối, để sự thật phán xét sai lầm, và như giáo hoàng Phanxicô, chúng ta hãy bớt vội vàng phán xét nhân danh Thiên Chúa, và hãy biết nói rằng: ‘Tôi là ai mà phán xét?’

Các nguyên tắc để đối thoại liên tôn và các quan điểm liên tôn

Chúng ta sống trong một thế giới mà các tôn giáo bị bất kính và bị xúc phạm. Ngày nay tất cả mọi hệ thống truyền thông đều ghi nhận sự bất kính và bạo lực nhân danh tôn giáo, nhân danh Thiên Chúa đang ngày càng phổ biến. Những người làm việc này luôn xem hành động của mình là thiêng liêng, là công chính với những lý do thánh thiện.

Và nếu nhìn vào lịch sử, mọi chuyện đã luôn như thế. Không một tôn giáo nào, ngay cả Kitô giáo, là vô tội. Tất cả mọi tôn giáo lớn trên thế giới, ở nhiều thời điểm khác nhau, đều là kẻ bách hại và người bị bách hại. Vậy nên chúng ta phải hỏi câu hỏi này: Đâu là các nguyên tắc căn bản để sống thích hợp trong các quan hệ của chúng ta với các tín ngưỡng khác, mà không gây hại cho đức tin của mình?

Cái gì tốt nhất trong mỗi truyền thống của chúng ta đến đề nghị 10 nguyên tắc sau:

1. Tất cả mọi sự tốt lành, chân thật, và tốt đẹp đều đến từ một Đấng, một Tác giả, là Thiên Chúa. Không có điều gì chân thật, dù mang vẻ đạo hay vẻ thế tục, lại đi ngược với đức tin thật và tôn giáo thật.

2. Thiên Chúa sẽ cứu rỗi tất cả mọi người, như nhau, không phân biệt. Thiên Chúa không ưu ái riêng ai. Tất cả mọi người đều có thể đến với Thiên Chúa và Thần Khí Thiên Chúa, và toàn thể nhân loại không bao giờ thiếu sự quan phòng của Ngài. Hơn nữa, mỗi tôn giáo không được bác bỏ những gì chân thật và thánh thiện trong các tôn giáo khác.

3. Không một tôn giáo hay giáo phái nào có đầy đủ và toàn bộ chân lý. Thiên Chúa là Đấng vô hạn và không gì tả nổi. Vì lẽ này, nên không thể định nghĩa Thiên Chúa bằng những khái niệm và ngôn từ của loài người. Do đó, dù hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa có lẽ là đúng thật, nhưng luôn là cục bộ mà thôi. Có thể biết thật về Thiên Chúa, nhưng không thể nghĩ cho đúng thật về Thiên Chúa được.

4. Tất cả mọi đức tin và tôn giáo đều đang trên hành trình đến với sự viên mãn của chân lý. Không một tôn giáo hay giáo phái nào có thể xem chân lý của mình là trọn vẹn, là trường cữu, nhưng phải nhìn nhận sự thật mình đang có chính là điểm khởi đầu cho hành trình này. Hơn nữa, như nhiều tôn giáo khác (và các giáo phái, các nhóm trong một tôn giáo), chúng ta cũng cần phải cảm thấy đủ vững vàng trong ‘nhà’ mình để nhận biết sự thật và vẻ đẹp đang biểu lộ nơi ‘nhà’ người khác. Chúng ta cần phải chấp nhận rằng có những người khác sống trong cùng một đức tin như chúng ta, nhưng với ngôn ngữ trình bày khác chúng ta mà thôi.

5. Sự đa dạng trong lòng đạo rất phong phú, và theo ý Thiên Chúa. Thiên Chúa không chỉ muốn chúng ta hiệp nhất, nhưng Ngài còn ban cho chúng ta sự đa dạng giúp thể hiện sự phong phú quá đỗi trong Ngài. Sự đa dạng tôn giáo là nguyên do gây nên nhiều căng thẳng, nhưng sự đa dạng này và nỗ lực để vượt qua sự khác biệt sẽ góp phần mạnh mẽ thêm cho sự phong phú hiệp nhất cuối cùng.

6. Thiên Chúa ‘tán xạ’ trong thế giới tôn giáo. Tất cả những gì tích cực trong một tôn giáo, thể hiện một điều gì đó từ Thiên Chúa và góp phần và mặc khải thiêng liêng. Do đó, từ quan điểm này, các tôn giáo khác nhau trên thế giới cùng góp phần để chúng ta nhận biết Thiên Chúa.

7. Mỗi một người phải thực hành đức tin của mình dựa trên chính lương tâm của mình. Mỗi người chúng ta phải có trách nhiệm với đức tin và ơn cứu độ của chính mình.

8. Trên toàn cầu, tất cả các tôn giáo lớn đều giao thoa thấm nhập với nhau (và với một Kitô hữu, điều này nghĩa là các tôn giáo khác cũng thấm nhập vào mầu nhiệm của Chúa Kitô). Một đức tin đích thực nhận biết rằng Thiên Chúa là cho tất cả mọi người, và Thần khí Chúa thổi tự do, bởi thế tự thân Thần khí cũng đi vào ý hướng của các tôn giáo khác, cũng như vào các phái khác nhau trong cùng một tôn giáo.

9. Một liên hệ đơn thuần theo bề ngoài và theo lịch sử, không quan trọng bằng việc đạt được liên hệ riêng, mật thiết với Thiên Chúa. Điều Thiên Chúa muốn nơi chúng ta, cho dù theo tôn giáo nào, không phải là việc hành đạo cho bằng một mối liên hệ riêng với Ngài, có thể biến đổi đời sống chúng ta sao cho chiếu tỏa sự tốt lành, sự thật và vẻ đẹp của Thiên Chúa rõ ràng hơn nữa.

10. Trong đời chúng ta, và trong liên hệ của chúng ta với các tôn giáo khác, thì sự tôn trọng, lòng nhân, đức ái phải chiến thắng tất cả mọi điều khác. Điều này không có nghĩa tất cả mọi tôn giáo đều như nhau, nhưng có nghĩa những gì thâm sâu nhất trong mọi tôn giáo chân thực là các điều căn bản sau: tôn trọng, lòng nhân, và đức ái.

Suốt dòng lịch sử, các nhà tư tưởng lớn đã vật lộn với vấn đề giữa sự hợp nhất và sự đa dạng. Và dù ý thức hay vô thức, tất cả chúng ta cũng đều đấu tranh với căng thẳng này, giữa một và nhiều, giữa sự hợp nhất và sự đa dạng, nhưng có lẽ điều này không đến nỗi phức tạp như thế nếu chúng ta nhìn nhận đây là sự phong phú phản ánh sự quá đỗi dư tràn vô hạn của Thiên Chúa và khả năng có hạn của chúng ta khi nỗ lực nắm bắt sự vô hạn này. Có thể mô tả vấn đề đa dạng tôn giáo như thế này:

Nhiều người khác nhau, cùng một địa cầu

Nhiều niềm tin khác nhau, cùng một Thiên Chúa

Nhiều ngôn ngữ khác nhau, cùng một tấm lòng

Biết bao nhiêu sự rơi xuống, nhưng cùng một luật trọng lực

Nhiều động năng khác biệt, cùng một Thần Khí

Nhiều kinh thánh khác nhau, nhưng cùng một Lời

Nhiều kiểu thờ phượng khác nhau, cùng một nguyện vọng

Nhiều chuyện đời khác nhau, cùng một định mệnh

Nhiều kỷ luật khác nhau, cùng một mục đích

Nhiều cách tiếp cận khác nhau, cùng một con đường
Nhiều đức tin khác nhau, nhưng cùng một Mẹ, một địa cầu, một bầu trời, một khởi đầu, một đích đến.

Tìm Phục Sinh ở đâu

Có những điều cần đến sự đóng đinh nhục hình. Tất cả mọi sự tốt đẹp, đến tận cùng đều bị đem ra thí tội và bị đóng đinh. Như thế nào? Bởi quy luật này, một quy luật lạ lùng ngược đời bẩm tại trong đời sống con người luôn có một ai đó hay một sự gì đó không thể ở yên, nhưng vì những lý lẽ của bản thân nó, phải đi truy lùng và tấn công những sự thiện tốt lành. Những gì tốt lành, những gì từ Thiên Chúa mà ra, luôn có lúc bị hiểu lầm, bị ganh tị, thù ghét, truy đuổi, buộc tội, và cuối cùng là treo lên thập giá. Mọi phần thân thể Chúa Kitô chắc chắn chịu cùng số phận như Ngài: chịu chết vì bị hiểu lầm, vì sự ngu dốt và ghen tỵ.

Nhưng còn có một mặt khác: Cuối cùng Phục Sinh luôn chiến thắng nhục hình. Những gì tốt lành chiến thắng. Do đó, dù Thiên Chúa không trốn tránh nhục hình, nhưng thân xác Chúa Kitô không ở trong mồ quá lâu. Thiên Chúa luôn lăn tảng đá mồ ra, và đủ sớm để cho sự sống mới trỗi dậy, qua đó chúng ta thấy được vì sao đời sống bình thường của mình phải chịu nhục hình. (Không phải là Chúa Kitô phải chịu đau khổ và phải chết hay sao?) Sau nhục hình, chắc chắn là Phục Sinh. Tất cả mọi thân xác chịu nhục hình sẽ trỗi dậy. Hy vọng của chúng ta phát xuất từ đó.

Nhưng là như thế nào? Chúng ta thấy được sự phục sinh này ở đâu? Làm sao chúng ta cảm nghiệm được phục sinh sau nhục hình?

Kinh thánh rất khéo léo, dù rất rõ ràng, về điều này. Chúng ta nghĩ là có thể cảm nghiệm phục sinh ở đâu? Tin mừng cho chúng ta biết, vào tảng sáng phục sinh, các phụ nữ theo Chúa Giêsu đã lên đường viếng mộ, mang theo dầu thơm để xức xác Ngài. Một ý định tốt nhưng lầm, những gì họ thấy không phải là xác chết, nhưng là ngôi mộ trống, và thiên thần đứng đó hỏi họ: ‘Tại sao các bà lại tìm người sống giữa cõi chết? Hãy lên đường đến Galilê và các bà sẽ thấy Ngài ở đó!’

Hãy đến Galilê. Tại sao là Galilê? Galilê nào đây? Và làm sao để đến đó?

Trong tin mừng, Galilê không đơn thuần là một địa điểm địa lý, một vị trí trên bản đồ. Mà trên hết, Galilê là một nơi trong lòng người. Cũng thế, Galilê là giấc mơ và con đường môn đệ mà các môn đệ của Chúa Giêsu từng đi với Ngài, và cũng là nơi chốn thời điểm khi lòng họ bừng bừng hy vọng và nhiệt tình. Giờ đây, sau khi Chúa chịu đóng đinh, khi họ thấy giấc mơ của mình đã chết, khi đức tin của họ chỉ còn là ảo tưởng, thì họ lại được bảo hãy đi về nơi tất cả mọi sự khởi đầu: ‘Hãy đi về Galilê. Ngài sẽ gặp các bạn ở đó!’
Và họ về lại Galilê, cả về mặt địa lý và cả về một nơi đặc biệt trong lòng họ từng một thời cháy bỏng giấc mơ môn đệ Chúa. Và như lời đã hứa, Chúa Giêsu hiện ra với họ. Ngài không giống y hệt như Ngài trước đây, hay như những gì họ muốn, nhưng Ngài hiện ra, Ngài không chỉ là một bóng ma hay một ký ức. Chúa Kitô hiện ra với họ sau phục sinh, theo một phương thức khác, nhưng Ngài đủ hữu hình thể lý để cùng ăn cá với họ, đủ thực để họ chạm đến, và đủ quyền năng để biến đổi cuộc đời họ mãi mãi. Đến tận cùng, đây chính là những gì mà sự phục sinh muốn ở chúng ta: Hãy về lại Galilê, về lại với giấc mơ, với hy vọng và tình môn đệ từng một thời thổi bừng chúng ta, nhưng giờ đã mất đi vì chúng ta vỡ mộng.
Điều này cũng tương đồng với câu chuyện trên đường Êmau, khi hai môn đệ với gương mặt buồn bã u ám rời Giêrusalem. Và từ câu chuyện này chúng ta có thể rút ra một linh đạo trọn vẹn: Theo thánh Luca, Giêrusalem là giấc mơ, là hy vọng và là trung tâm lòng đạo, nơi khởi đầu và cực điểm của mọi sự. Và các môn đệ đang ‘rời bỏ’ nơi này, từ bỏ giấc mơ của mình, hướng về Êmau (một khu nghỉ dưỡng của người La Mã thời đó), hướng về một nơi tiện nghi phàm tục, một Las Vegas hay Monte Carlo. Do giấc mơ của họ đã bị đóng đinh nhục hình, nên cũng dễ hiểu khi các môn đệ nản lòng và rời xa giấc mơ đó, hướng đến một khuây khỏa phàm tục, trong sự tuyệt vọng: ‘Nhưng chúng ta đã từng hy vọng!’

Họ không bao giờ đến Êmau. Chúa Giêsu hiện ra với họ trên đường, từ sự vỡ mộng Ngài dựng lại hy vọng trong họ, và đưa họ về lại Giêrusalem.

Đây là một trong những thông điệp căn bản nhất của Phục Sinh: Bất kỳ lúc nào chúng ta nản lòng trong đức tin, bất kỳ lúc nào hy vọng dường như bị đóng đinh giết chết, thì chúng ta cần về lại Galilêvà Giêrusalem, nghĩa là về lại giấc mơ và con đường môn đệ mà chúng ta từng mang trong lòng trước khi mọi thứ tưởng như sụp đổ. Bất kỳ lúc nào chúng ta thấy dường như nước trời không có thực, tất nhiên sẽ có cám dỗ từ bỏ cương vị môn đệ để chạy đến sự khuây khỏa phàm tục, hướng đến Êmau, để được giải khuây nhờ Las Vegas hay Monte Carlo.

Nhưng, chúng ta biết, mình không bao giờ đến Las Vegas hay Monte Carlo. Bằng cách này hay cách khác, Chúa Kitô luôn gặp chúng ta khi chúng ta đang trên đường đến đó, Ngài đào sâu tâm hồn chúng ta, giải nghĩa những nhục hình cho chúng ta hiểu, và đưa chúng ta về lại cương vị môn đệ mà chúng ta đã từ bỏ. Một khi đến đó, tất cả mọi sự lại có ý nghĩa.

Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu

Linh mục Henri Nouwen, ngòi bút thiêng liêng nổi tiếng có chia sẻ về một lần cha đến bệnh viện thăm một người đang hấp hối vì bệnh ung thư. Người này còn khá trẻ và là một người rất năng động, làm nhiều việc sinh hoa kết trái. Ông là người cha chăm lo tốt cho gia đình mình. Ông là giám đốc điều hành một công ty lớn chăm lo tốt cho cả công ty lẫn các nhân viên của mình. Hơn nữa, ông còn đóng góp trong nhiều tổ chức khác, kể cả giáo xứ, và với năng lực lãnh đạo, ông thường là người phụ trách, người đứng đầu. Nhưng bây giờ, con người một thời rất năng động, con người đã từng điều hành mọi sự, lại đang nằm trên giường bệnh chờ chết, không thể tự lo cho các nhu cầu căn bản tự nhiên của mình.

Và khi cha Nouwen đến bên giường bệnh, ông cầm lấy tay cha. Tôi thấy cần phải nhấn mạnh đến sự nản lòng quá đỗi của ông: ‘Cha ơi, cha phải giúp con! Con đang chết, và con đang cố bình tâm với chuyện này, nhưng còn có một điều khác nữa: Cha biết con mà, con luôn là người phụ trách, con chăm lo cho gia đình mình. Con chăm lo cho công ty. Con chăm lo cho giáo xứ. Con chăm lo hết mọi chuyện! Mà giờ con nằm đây, trên giường này, và con không thể tự lo cho mình. Con không thể tự đi vệ sinh. Chết là một chuyện, nhưng đây là chuyện khác nữa! Con bất lực! Con không thể làm được gì nữa!’

Dù rất giỏi trong việc mục vụ, nhưng cha Nouwen cũng như bất kỳ ai trong chúng ta ở trong hoàn cảnh này, đều bất lực trước lời van lơn của người đàn ông này. Ông đang trải qua tình trạngï bị động đau đớn khổ sở. Ông bây giờ là một bệnh nhân. Ông đã từng rất năng động, là người đứng đầu, và bây giờ, như Chúa Giêsu trong những giờ hấp hối, ông bị hạ xuống thành một bệnh nhân, một người để cho người khác làm gì thì làm. Về phần mình, cha Nouwen cố gắng giúp cho ông thấy mối liên kết giữa những gì ông đang trải qua với những gì Chúa Giêsu chịu trong cuộc thương khó, đặc biệt là ý nghĩa của thời gian bất lực, yếu đuối, và bị động này chính là thời gian để chúng ta có thể trao cho những người quanh mình một điều gì đó thâm sâu hơn.

Cha Nouwen đọc to trình thuật Thương khó trong Tin mừng cho ông nghe, vì những gì ông đang trải qua tương đồng rất rõ với những gì Chúa Giêsu chịu trong những giờ sắp chết của Ngài, mà Kitô hữu chúng ta gọi là ‘Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu.’ Chính xác thì Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu là gì?

Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã trao ban cho chúng ta cả đời sống lẫn cái chết của Ngài. Nhưng, chúng ta lại quá thường không phân biệt được giữa hai điều này. Chúa Giêsu trao ban đời sống của Ngài cho chúng ta theo một cách tích cực và chủ động hành động, nhưng Ngài trao ban cái chết của Ngài cho chúng ta theo một cách khác, là qua sự bị động, và thương khó của mình.

Chúng ta thường dễ hiểu lầm ý nghĩa của Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu. Khi dùng từ Thương khó (Passion) đế nói đến đau khổ của Chúa Giêsu, chúng ta tự nhiên liên kết Thương khó với đau đớn, nỗi đau bị treo trên thập giá, bị hành hạ, bị đánh đòn, bị đóng đinh và bị sỉ nhục trước đám đông. Cuộc Thương khó của Chúa Giêsu có nói đến những điều này, nhưng chúng ta cần hướng từ ‘Thương khó’ đến một trọng tâm khác nữa. Thương khó (Passion) có gốc La Tinh là passio, nghĩa là bị động, và đây chính là ý nghĩa thực sự. Từ bệnh nhân (patient) cũng từ gốc này mà ra. Do đó, trình thuật Thương khó mô tả lại sự bị động của Chúa Giêsu, mô tả việc Ngài trở nên một ‘bệnh nhân.’ Ngài trao ban cái chết của mình cho chúng ta qua sự bị động của Ngài, cũng như trước kia Ngài trao ban đời sống cho chúng ta qua sự chủ động của Ngài.

Thật vậy, Tin mừng theo thánh Matthêu, Máccô, và Luca đều có thể chia thành hai phần riêng biệt: Trong mỗi Tin mừng, chúng ta có thể chia tất cả mọi chuyện trước khi Chúa Giêsu bị bắt trong vườn Giếtsêmani về một bên, và gọi phần Tin mừng này là: Sự chủ động của Chúa Giêsu Kitô. Rồi phần còn lại mà chúng ta gọi là ‘cuộc Thương khó’ có thể gọi là: Sự bị động của Chúa Giêsu Kitô. Điều này thực sự sẽ giúp làm rõ một đặc nét quan trọng là: Chúa Giêsu trao ban đời sống của mình cho chúng ta qua sự chủ động, nhưng lại trao ban cái chết của mình cho chúng ta qua sự bị động. Do đó: Cho đến trước khi bị bắt, Tin mừng mô tả Chúa Giêsu chủ động, làm mọi sự, là người dẫn dầu, rao giảng, dạy dỗ, làm các phép lạ, an ủi dân chúng. Nhưng từ sau khi bị bắt, tất cả mọi động từ đều chuyển sang thể bị động: bị lôi đi, bị giới cầm quyền hành hạ, bị đánh, được vác đỡ thập giá, và cuối cùng là bị đóng đinh vào thập giá. Sau khi bị bắt, như một bệnh nhân trong phòng nan y liệt giường, Chúa không còn làm gì nữa, nhưng là người khác làm cho Ngài và làm với Ngài. Ngài bị động, là một bệnh nhân, và trong sự bị động đó, Chúa Giêsu trao ban cái chết của Ngài cho chúng ta.

Trong chuyện này, có nhiều bài học cho chúng ta, trong đó có một sự thật rằng: sự sống và tình yêu được trao ban không chỉ trong những gì chúng ta làm cho người khác, nhưng có lẽ thâm sâu hơn, còn là trong những gì chúng ta nhận lấy những khi chúng ta bất lực, khi chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài là một bệnh nhân, một người bị động.

Làm chết êm dịu và cái chết có sự hỗ trợ của bác sĩ

Bà Raissa Maritain, triết gia và ngòi bút thiêng liêng, vừa chết cách đây vài tháng sau một cơn trụy tim. Trong suốt những tháng nằm trên giường bệnh, bà không thể nói chuyện. Sau khi bà chết, chồng của bà, triết gia lừng danh Jacques Maritain, khi chuẩn bị đăng lại những bài viết của bà, đã viết những dòng này:

“Đến lúc, khi mọi thứ sụp đổ với cả hai chúng tôi, và sau 4 tháng khổ sở, Raissa bị khóa kín trong bản thân mình sau khi đột nhiên mất khả năng nói chuyện. Dù cố gắng suốt vài tuần với hết sức lực trí tuệ và tinh thần, nhưng Raissa vẫn hoàn toàn không thể giao tiếp thật sự được. Và tiếp theo, sau một lần tái phát, Raissa chỉ có thể nói được vài từ rõ ràng mà thôi. Trong trận đánh cuối cùng của Raissa, không một ai có thể giúp gì được, ngay cả chính tôi. Raissa vẫn giữ bình an trong lòng, giữ được sự minh mẫn trọn vẹn, óc hài hước, quan tâm đến bạn bè, sợ mình làm phiền đến người khác, và vẫn có đó nụ cười tuyệt vời cũng như ánh lung linh trong đôi mắt xinh đẹp của Raissa. Raissa luôn (với sự quảng đại thinh lặng kinh ngạc trong hai ngày cuối đời, chỉ có thể cho thấy tình yêu của mình qua hơi thở) cho những người đến thăm một sự dễ thương rất khó thấy xuát phát từ chính bí nhiệm mà Raissa đang bị khóa kín trong đó.”

Đoạn thêm vào trong câu cuối là của tôi, và tôi nhấn mạnh điểm này vì tôi tin rằng đây là điều quan trọng phải nói ra trong một thời đại mà chúng ta ngày càng tin rằng làm chết êm dịu và việc tự vẫn có hỗ trợ của bác sĩ là câu trả lời nhân văn và thương cảm cho những căn bệnh nan y.

Trường hợp làm chết êm dịu thường dựa trên các tiền đề: Đau khổ hạ giá đời sống con người và làm chết êm dịu khuây khỏa đi đau khổ đó cũng như giảm bớt những tàn phá về thân thể và tinh thần, cho người mắc bệnh nan y một “cái chết có phẩm giá” và chết bớt đau đớn hơn. Và nó cũng lập luận rằng một khi căn bệnh đã làm con người quá suy kiệt đến mức chỉ còn sống trong tình trạng thực vật, thì liệu có hợp lý khi cứ để người đó phải sống hay không? Một khi không còn phẩm giá và giá trị, tại sao phải tiếp tục sống?

Phải trả lời câu hỏi này ra sao đây? Lập luận của việc làm chết êm dịu, tận dụng tối đa lòng cảm thương, nhưng lại không đủ xa trước những vấn đề sâu đậm hơn. Phẩm giá và hiệu dụng là những điều to lớn với nhiều chiều kích nhất khi mới thoạt nhìn qua. Trong bài báo mới đây trên tờ America, Jessica Keating đã nhấn mạnh một số vấn đề sâu sắc hơn này, khi cô lập luận chống lại lý luận của những người tán dương Brittany Maynard (cô gái trẻ đã khiến cả nước phải chú ý hồi năm ngoái khi quyết định tự vẫn có hỗ trợ vì phải đối diện với căn bệnh nan y), xem quyết định chấm dứt đời mình của cô là “dũng cảm” “đúng đắn” và “đáng khâm phục.” Keating chấp nhận rằng nếu không có quyết định như trên, hẳn Maynard sẽ phải chịu đựng nhiều đau đớn và cuối cùng sẽ rơi vào cảnh không còn hấp dẫn cũng như không còn giá trị. Nhưng, Keating lập luận rằng, “cô sẽ được ở trong vòng tay mọi người. Ngay cả khi rơi vào tình trạng vô thức, cô vẫn sẽ được người khác đọc sách cho nghe, được tắm rửa, thay áo quần và hôn những cái hôn thân thương. Cô sẽ được chăm sóc ân cần, được ôm, và có người khóc vì mình. Đơn giản, cô sẽ được yêu thương đến tận cùng.”

Đây là một nửa lập luận chống lại việc làm chết êm dịu. Nửa còn lại là: Cô không chỉ được yêu thương đến tận giây phút cuối cùng, mà một điều nữa, còn quan trọng hơn, đó là cô sẽ phát tiết tình yêu một cách tích cực cho đến tận giờ phút cuối đời. Từ cơ thể bị tàn phá, câm lặng và hầu như vô thức của cô sẽ phát ra một sự mơ hồ khó thấy, nhưng đặc biệt mạnh mẽ, đầy nâng đỡ và yêu thương, gần giống như vẻ đẹp ân sủng trao ban sự sống phát xuất từ thân thể nát tan trần truồng của Chúa Giêsu treo trên thập giá.

Chúng ta cũng hiếm khi nghĩ đến đặc nét quan trọng này: Chúng ta tin rằng Chúa Giêsu cứu chúng ta qua đời sống và qua cái chết của Ngài, như thể đây là hai điều như một. Nhưng thực sự thì rất khác. Chúa Giêsu trao ban đời sống của Ngài cho chúng ta qua hành động, qua những việc làm sinh ích, những gì Ngài có thể chủ động làm cho chúng ta. Nhưng, Ngài trao ban cái chết của mình cho chúng ta qua sự thụ động, qua sự bất lực, và qua sự tàn phá của thân thể Ngài trong cái chết. Chúa Giêsu cho chúng ta tặng vật lớn lao nhất này, chính là qua những giờ Ngài chẳng thể chủ động làm được gì cho chúng ta.

Và đây không phải là một chuyện đơn thuần ẩn dụ và mơ hồ. Bất kỳ ai trong chúng ta từng ngồi bên cạnh người thân đang hấp hối, đều cảm nghiệm được rằng trong sự bất lực và đau đớn, người đó đang cho chúng ta một điều gì đó mà đã không thể cho trong suốt đời sống chủ động của mình. Từ sự bất lực và đau đớn đó phát xuất một sức mạnh kéo chúng ta lại với nhau như một gia đình, một sức mạnh trực cảm và thông hiểu những điều thâm sâu hơn, biết cảm kích sâu sắc hơn về sự sống, và đặc biệt là nhận thức được sâu sắc hơn về đời sống và tinh thần của người đó. Và như Maritain nói, điều này, vẻ đẹp khó nhận thấy này, phát xuất từ bí nhiệm trong đau đớn, vô hiệu dụng, và hấp hối mà người đó đang trải qua.

Trong thân xác hấp hối của mình, chúng ta có thể trao cho người thân yêu một sự gì đó mà chúng ta không thể cho họ một cách trọn vẹn lúc chúng ta khỏe mạnh và linh lợi. Làm chết êm dịu chính là bịt mắt phần nào trước bí nhiệm về những gì cao cả mà tình yêu mang đến cho chúng ta.

Nhìn sâu hơn

Đôi khi bạn có thể thấy rất nhiều điều chỉ bằng một cái nhìn. Đây là một trong những câu nói lừng danh của danh thủ bóng chày Yogi Berra. Đây tất nhiên là một diễn đạt rất khéo, nhưng đáng buồn là, có lẽ gần như mọi chuyện lại trái ngược. Hầu như chúng ta nhìn rất nhiều mà chẳng thực sự thấy được bao nhiêu. Thấy có nhiều ý nghĩa hơn là có một thị lực tốt. Đôi mắt chúng ta có thể mở rộng nhưng chúng ta cũng có thể chỉ thấy được rất ít.

Tôi luôn luôn suy ngẫm về hình ảnh thánh Phaolô trong kinh thánh nay sau khi ngài hoán cải. Chúng ta luôn cho rằng thánh Phaolô bị mù vì thị kiến mình thấy, nhưng, theo tôi, bản văn kinh thánh còn ngụ ý xa hơn nữa. Kinh thánh viết rằng Phaolô bò dậy với đôi mắt mở to, nhưng không thấy gì. Điều này không nhất thiết phải là chứng mù thể lý. Có thể ngài thấy được về mặt thể lý, nhưng không thể thấy được ý nghĩa những gì trước mắt mình. Phải có người đến và mở mắt Phaolô, không phải chỉ để ngài lại có thể nhìn thấy về mặt thể lý, nhưng đặc biệt là ngài có thể thấy sâu hơn vào mầu nhiệm Chúa Kitô. Nhìn thấy, thực sự thấy, mang nhiều nghĩa hơn là có đôi mắt lành lặn về thể lý và mở to. Chúng ta tất cả đều thấy vẻ ngoài của sự vật sự việc, nhưng cái bên trong ẩn dưới đó, thì không tự động mà thấy được.

Ví dụ như, chúng ta thấy điều này trong các phép lạ chữa lành của Chúa Giêsu. Trong Tin mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu nhiều lần làm phép lạ chữa lành. Ngài chữa lành người què, người điếc, người câm, người cùi, và hai phụ nữ vì các lý do khác nhau mà không thể mang thai. Điều quan trọng phải thấy nơi những phép lạ khác nhau này, là hầu như luôn có có một sự gì đó cao hơn sự chữa lành thể xác. Chúa Giêsu đang chữa lành cho người ta theo một cách thâm sâu hơn, ngài đang chữa lành người què để họ có thể bước đi trong tự do và phụng sự Thiên Chúa. Ngài chữa lành người điếc để họ có thể nghe thấy Tin mừng. Ngài chữa lành người câm để họ có thể mở miệng chúc tụng tôn vinh. Và Ngài chữa lành những người son sẻ để họ có thể đem sự sống mới sinh sôi.

Chúng ta thấy điều này gần như rất rõ ràng những khi Chúa Giêsu chữa lành những người mù. Ngài cho họ không chỉ là cái nhìn thể lý, ngài mở mắt họ để họ có thể nhìn sâu hơn. Nhưng đây chỉ là một hình tượng. Làm sao giải nghĩa cho thấu đáo đây? Làm sao ân sủng và giáo huấn của Chúa Giêsu giúp chúng ta nhìn một cách sâu sắc hơn đây? Tôi xin đưa ra một số gợi ý:

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua những gì quen thuộc đến nhìn qua sự kinh ngạc kỳ vỹ.

G.K Chesterton từng khẳng định rằng sự quen thuộc là ảo ảnh lớn nhất và bí mật cuộc đời là học biết nhìn vào những gì quen thuộc cho đến khi chúng trở lại thành không quen thuộc. Chúng ta mở đôi mắt mình hướng đến chiều sâu khi mở lòng mình ra với kinh ngạc kỳ vỹ.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua hoang tưởng và tự vệ đến nhìn qua sám hối và vun đắp.

Không ngẫu nhiên khi lời đầu tiên của Chúa Giêsu trong các Phúc âm tóm lược là từ ‘sám hối’ một từ đối lập với ‘hoang tưởng’. Chúng ta mở mắt mình ra hướng đến chiều sâu, khi chúng ta chuyển vần từ tư thế tự vệ đến một tư thế vun đắp.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua sự ghen tỵ đến nhìn qua sự ngưỡng mộ.

Nhận thức của chúng ta trở nên méo mó bất kỳ lúc nào chúng ta đi từ trạng thái hạnh phúc của ngưỡng mộ đến trạng thái bất hạnh của ghen tỵ. Tầm nhìn của chúng ta được thoáng đãng rõ ràng khi chúng ta vui mừng trong ngưỡng mộ.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua chua cay đến nhìn qua đôi mắt được thanh luyện và mềm dịu bởi thương tâm.

Cội rễ của chua cay là thương tích và cách để thoát khỏi chua cay là thương tâm. Nước mắt gột sạch tầm nhìn của chúng ta bởi nước mắt làm mềm đi trái tim bị chai cứng bởi tổn thương.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua ảo tưởng và ái kỷ đến nhìn qua cảm kích và cầu nguyện.

Một trong những chuyển vần then chốt trong đời sống tâm linh của chúng ta là sự chuyển vần từ ảo tưởng sang cầu nguyện, một chuyển biến tận cùng giải thoát chúng ta khỏi mong muốn nén vào bản thân mình tất cả những gì đẹp đẽ, nhưng biết cảm kích vẻ đẹp vì chính nó mà thôi. Chúng ta chỉ có thể thấy và cảm kích vẻ đẹp khi ngừng ham muốn nó.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua tính toán đến nhìn qua sự chiêm ngắm.

Khát khao muốn được có vị thế khiến chúng ta nhìn ra thế giới với đôi mắt khắc khoải, bất mãn. Chúng ta chỉ biết để tâm và thấy được sự phong phú của thời khắc hiện tại khi sự bất an trong chúng ta được xoa dịu làm thinh bởi cô tịch.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua giận dữ đến nhìn qua sự tha thứ.

Không một điều gì làm hoen ố tầm nhìn của chúng ta cho bằng cơn giận. Nó là thứ bệnh gây suy nhược nhất với mọi nhãn cầu. Và không điều gì tẩy sạch tầm nhìn của chúng ta cho bằng tha thứ. Không một ai mang ác cảm trong lòng mà lại nhìn cho công thẳng được.

• Bằng cách chuyển vần đôi mắt mình từ nhìn qua dục vọng và thèm khát đến nhìn qua lòng biết ơn.

Dục vọng và thèm khát bóp méo cái nhìn của chúng ta. Lòng biết ơn phục hồi cái nhìn đó. Lòng biết ơn cho cái nhìn thấu suốt. Người có lòng biết ơn nhất mà bạn biết, có cái nhìn tốt nhất về tất cả những người mà bạn biết.

“Tình yêu là đôi mắt!” Vậy nên, lời khôn ngoan này của các nhà thần nghiệm trung cổ, có lẽ nên được thêm vào tự điển y khoa về khoa đo thị lực hiện thời. Nhìn sao cho thẳng, cho đúng, cho thật, có nhiều chiều kích hơn chúng ta thường tưởng.

Lên Thiên đàng – Nhờ may mắn hay nhờ ơn Chúa

Vĩnh cửu có nhiều chỗ hơn thế giới này.

Đây là suy nghĩ trong đầu Lila, nhân vật trong quyển tiểu thuyết mới đây của Marilynne Robinson. Lila có lý để nghĩ như thế, nghĩ ngoài cái khung quy ước của lòng sùng đạo, bởi câu chuyện của cô xét kiểu gì cũng không thể là sùng đạo được.

Lila là một cô nhi vô thừa nhận, đang chết dần vì suy dinh dưỡng và bị bỏ mặc, rồi được một phụ nữ tên là Dolly nhận nuôi, mà bản thân bà cũng là một người bị xã hội ruồng rẫy. Lila sống những năm tuổi trẻ với Dolly, hai người phiêu dạt nơi mép rìa xã hội, đói khát, làm việc trong các nông trại, như những nô lệ hơn là người làm công. Sống như thế, Lila không bao giờ học được những kỹ năng xã hội cần thiết để xác định xã hội một cách bình thường. Tất cả mọi hiểu biết nền tảng của cô, từ việc bị bỏ rơi khi còn bé, cho đến cuộc đời dai dẳng bị loại ra ngoài rìa xã hội, đã khiến cô trở nên người cô độc, một người bị hoàn cảnh kết án không bao giờ tìm được một tình thân bình thường, một gia đình, tình mật thiết, hay ân sủng.

Hơn nữa, Dolly mẹ nuôi của cô, cũng có những vấn đề của bà, không chỉ là việc vật lộn để kiếm đủ ăn cho Lila và bản thân mình. Khi nhận lấy Lila và bỏ xứ mà đi, bà đang chạy trốn một chuyện xung đột trong gia đình. Đến cuối cùng, nhiều năm sau, người đàn ông mà bà trốn chạy, tìm thấy bà, nhưng Dolly không còn là nạn nhân bị động nữa. Bà đã đâm chết người đàn ông đó. Rồi về sau, bà chết đi, khiến Lila mồ côi thêm lần nữa.

Nhưng, đến bây giờ, Lila đủ lớn để tự lo cho mình, ngoại trừ việc cô thiếu các kỹ năng xã hội, nên cô vẫn thấy mình ở ngoài rìa xã hội, và cô độc hơn bao giờ hết. Nhưng may mắn thay, khi cuối cùng cô được bầu bạn với một mục sư Kitô giáo, người chăm sóc cho cô và cuối cùng cưới cô làm vợ. Thế giới mới này của sự đón nhận, tình yêu, gia đình và tôn giáo hoàn toàn mới mẻ với Lila và cô phải đấu tranh dữ dội để xác định được nó, đặc biệt là về tình yêu và ân sủng. Một trong những vấn đề khiến cô phiền lòng, là khi nghe các bài giảng Kitô giáo của chồng mình, cô lại nhớ đến những gì xảy ra cho Dolly, người đã cho cho cô rất nhiều, và cũng là một kẻ giết người. Liệu Dolly có được tha thứ? Bà có thể lên thiên đàng, sau khi đã phạm tội giết người? Lila đấu tranh để tin vào đức tin, tình yêu, đời sống gia đình, sự tha thứ, và thiên đàng.

Những suy nghĩ của cô về chuyện này, đặc biệt là về việc Dolly sẽ đối diện làm sao với Đấng Tạo Hóa, đã đem lại những thấu suốt quan trọng về tình yêu và ân sủng: ‘Trong vĩnh cửu, đời sống con người có thể hòa chung những gì họ đã và từng là, chứ không chỉ là những điều xấu nhất hay những việc tốt nhất họ từng làm. Vậy nên, cô quyết định rằng cô nên tin vào điều này, mà hoặc giả cô đã tin rồi. Cô có thể hình dung mình gặp lại Dolly lần nữa như thế nào nữa đây? Chưa một lần Lila nghĩ về Dolly đã chết, một cách rõ ràng và đơn giản. Nếu có tên vô lại nào đó có thể được kéo vào thiên đàng chỉ để cho mẹ hắn thấy hạnh phúc, thì không thể công bằng khi lại đi trừng phạt những tên vô lại mồ côi, hay không được mẹ mình yêu thương, và lại là những người có cái cớ đúng hơn cho những tác hại mà họ gây ra cho những người có ai đó quan tâm chăm sóc. Thật không thể công bằng khi trừng phạt người ta vì cố gắng vượt qua, những người tốt dưới cái nhìn của chính họ, khi lấy hết can đảm họ cần có để nên tốt. … Vĩnh cửu có đủ dạng chỗ ở nhiều hơn trần gian này.’

Là những Kitô hữu, chúng ta tin rằng, là một phần Thân thể Chúa Kitô, chúng ta được trao sức mạnh để tha thứ tội của nhau, và bởi vì thế, thực sự tình thương của người mẹ có thể kéo con mình lên thiên đàng. Tình yêu thương của chúng ta dành cho nhau là một phương tiện ân sủng đầy mạnh mẽ, đủ mạnh để thực sự mở ra những cánh cửa thiên đàng. Như Gabriel Marcel từng nói: ‘Yêu ai đó là thực sự nói rằng: Ít nhất, bạn không bao giờ chết!’ Tình yêu của con người, dù ở đời này, có dạng sức mạnh đó. Đó cũng là lý do vì sao chúng ta cầu nguyện cho những người đã chết. Tình yêu của chúng ta có sức mạnh vươn đến họ, ngay cả khi đã qua đời.

Nhưng mà đây cũng chính là tình thế giằng xé của Lila: Vậy còn về những người như Dolly và bản thân cô, những kẻ ngoài cuộc đời sống này và chết đi mà không có ai quan tâm nhiều đến việc họ đã ra đi và đi về đâu? Vậy thì làm sao ân sủng và sự tha thứ có được? Tình yêu con người hoàn toàn vắng bóng trong cuộc đời họ, và chúng ta chỉ còn hi vọng rằng tình yêu Thiên Chúa có thể lấp đầy vào nơi thiếu vắng tình thương con người? Có thực thế không?

Đúng, tình yêu Thiên Chúa có thể và thực sự lấp đầy vào nơi thiếu vắng tình yêu của con người. Thật vậy, kinh thánh quả quyết với chúng ta rằng, Thiên Chúa có một tình yêu đặc biệt, và sự trìu mến cho những ai thấy mình nằm ngoài tình yêu con người. Vậy nên, chúng ta đừng lo lắng về ơn cứu độ của những người, như Dolly, chết trong một hoàn cảnh không được lý tưởng, ngay cả khi họ ‘đã lấy hết can đảm cần có để nên tốt.’ Tình yêu con người, dù phần đông hướng trực tiếp đến những người rất cụ thể, cũng là một bản hòa âm lan rộng và đến tận cùng ôm lấy tất cả mọi người.

Sợ sệt ngụy trang bằng lòng sùng đạo

Thật dễ để nhầm lòng sùng đạo với lời đáp đích thực mà Thiên Chúa muốn nơi chúng ta, nghĩa là thực sự đi vào một liên hệ mật thiết với Ngài và cố gắng giúp đỡ người khác cũng có được cảm nghiệm như vậy.

Chúng ta thấy điều này khắp Kinh thánh. Ví dụ như, trong Tin mừng theo thánh Luca, sau khi chứng kiến phép lạ bắt được nhiều cá vô số kể, Phêrô đã phản ứng bằng việc sấp mình trước Chúa Giêsu và nói rằng: ‘Xin tránh xa con, lạy Chúa, vì con là kẻ tội lỗi!’ Nhìn qua, thì đây có vẻ là một phản ứng phù hợp, một phản ứng sùng mến tuyệt vời, nhận thức về sự bé nhỏ và vô giá trị của mình trước sự phong phú và tốt lành của Thiên Chúa. Nhưng, John Shea đã chỉ ra rằng, Chúa Giêsu lại nhìn nhận phản ứng của Phêrô theo một cách khác, và mời gọi ông hãy làm khác thế. Là điều gì? Phản ứng của Phêrô thể hiện một sự sùng mến thật tâm, nhưng, theo lời của Shea, phản ứng này ‘sai lầm trong sợ hãi.’ ‘Nhận thức về Thiên Chúa khiến cho Phêrô run rẩy và tan vỡ. Nếu ông bám vào chân Chúa Giêsu, ông hẳn phải khụy gối. Phêrô không đón lấy sự viên mãn, ông muốn trốn chạy. Đây thật không phải là phản ứng mà Chúa Giêsu muốn. Vậy nên Chúa dạy Phêrô đừng sợ. Và thay vào đó, hãy dùng những gì mình đã cảm nghiệm được để đưa người khác đến với cảm nghiệm đó. Như Chúa Giêsu đã bắt lấy Phêrô, ông cũng phải bắt lấy người khác.’ Chúa Giêsu đang mời gọi Phêrô hãy ra khỏi nỗi sợ và đi vào những dòng nước thâm sâu hơn của sự mật thiết và sự dồi dào của Thiên Chúa.

Chúng ta cũng thấy chuyện tương tự trong sách Samuel quyển thứ nhất (21, 1-6). Một sáng nọ, vua Đavid đến đền thờ, bụng thì đói và chẳng có gì ăn. Vua xin tư tế 5 chiếc bánh. Vị tư tế đáp lại rằng mình không có bánh thường, mà chỉ có bánh đã dâng tiến, chỉ được phép ăn sau khi chay tịnh và cử hành các nghi lễ phù hợp. Nhưng, Đavid, biết rằng, mình là vua trần gian của Thiên Chúa và cần phải hành động tháo vát chứ không phải sợ sệt, nên đã xin những chiếc bánh tiến và ăn những chiếc bánh mà trong những hoàn cảnh khác thì ông sẽ không được phép ăn.

Điều quan trọng trong câu chuyện này, là khi đối mặt với nỗi sợ sệt và sùng đạo của những kinh sư và biệt phái, Chúa Giêsu đã nhấn mạnh và cho chúng ta biết rằng phản ứng của Đavid là phản ứng đúng đắn. Với những người thấy khó chịu bởi các môn đệ của Chúa ‘không biết sợ’, Chúa Giêsu nói rằng phản ứng của vua Đavid là phản ứng đúng đắn, bởi vua nhận ra rằng, trong phản ứng của chúng ta với Thiên Chúa, sự mật thiết và bạo dạn nhất định, phải thắng vượt nỗi sợ sệt. Chúa Giêsu xác quyết rằng, ‘Ngày Sabbath là để cho con người, chứ không phải con người cho ngày Sabbath.’ Câu này có thể diễn giải như sau: Thiên Chúa không phải là một luật để vâng theo cách mù quáng. Nhưng Thiên Chúa là một hiện hữu sáng tạo và yêu thương, mời gọi chúng ta đi vào sự mật thiết và rồi cho chúng ta sinh lực để sáng tạo hơn nữa trong mối liên hệ này.

Cách đây vài năm, một bà mẹ trẻ đã kể cho tôi câu chuyện này. Con trai của bà, 6 tuổi và đang đi học, ngay từ những năm đầu đời đã được dạy quỳ gối trên giường mỗi đêm và đọc lớn tiếng những lời kinh như kinh Lạy Cha, kinh Kính mừng, kinh cầu thiên thần hộ thủ và kinh cầu cho cha mẹ và anh chị em mình. Một tối nọ, không lâu sau khi đã đi học, lúc bà mẹ đưa cậu về phòng, cậu lao lên giường mà không quỳ gối đọc kinh như trước nữa. Mẹ hỏi câu: ‘Có chuyện gì vây? Con không đọc kinh nữa sao?’ Cậu bé trả lời, ‘Không, con không đọc kinh nữa. Cô giáo của con ở trường (một nữ tu) đã dạy chúng con là đừng đọc kinh nhưng hãy trò chuyện với Chúa … mà tối nay con mệt, và không có gì để nói!’ Về căn bản, đây chính là lời đáp như vua Đavid xin linh mục những chiếc bánh tiến vậy. Cậu bé này có được một nhận thức trực giác rằng Thiên Chúa không phải là một luật phải tuân giữ, nhưng là một hiện diện mật thiết cho chúng ta được dồi dào.

Một số nhà thần nghiệm Kitô giáo lớn đã dạy rằng, khi lớn lên sâu sắc hơn trong mối liên hệ với Thiên Chúa, thì dần dần chúng ta trở nên bạo dạn hơn với Chúa, nghĩa là nỗi sợ sệt ngày càng nhường chỗ cho sự thân mật, tính chiếu luật ngày càng nhường chỗ cho sự lanh lẹ, phán xét thay thế bằng cảm thông, và một dạng sùng đạo vốn đẩy chúng ta ôm chân Chúa Giêsu một cách tê liệt bởi nhận biết tội lỗi của mình, dần nhường chỗ cho một sinh lực hân hoan truyền giáo.

Tất nhiên, lòng sùng đạo có một vị trí quan trọng. Lòng sùng đạo lành mạnh và khiêm nhượng lành mạnh là những ơn của Thánh Thần, nhưng chúng không được khiến chúng ta tê liệt trong nỗi sợ không lành mạnh, khóa chặt một liên hệ mật thiết hơn, hân hoan hơn và sâu sắc hơn với Thiên Chúa. Vua Đavid có một lòng sùng đạo lành mạnh, nhưng điều này không ngăn vua hành động bạo dạn và đầy sáng tạo trong tình thân mật với Thiên Chúa. Chúa Giêsu cũng có một lòng sùng mến lành mạnh, ngay cả khi Ngài không ngừng phê phán kiểu sùng đạo của những người cùng thời.

Chúng ta cũng quá dễ dàng nhầm lẫn nỗi sợ sệt không lành mạnh với lòng sùng mến đích thực. Chúng ta cứ nhầm suốt, ngây thơ nghĩ rằng sợ sệt là một nhân đức, trong khi biểu hiện của sự mật thiết đích thực không bao giờ sợ hãi, nhưng là sinh lực hân hoan và bạo dạn. Một người có lòng đạo lành mạnh nhất, sẽ thể hiện sự bạo dạn và hân hoan này chứ không phải một lòng sùng đạo cứng đờ, quá sợ sệt.

Thiên Chúa hài lòng với việc chúng ta làm

Trong sáu tháng qua, khi điều trị bệnh ung thư, tôi làm việc với thời khóa biểu hạn chế hơn. Các điều trị y khoa, dù làm cho tôi mệt nhưng vẫn cho tôi đủ sức khỏe và sinh lực để chu toàn các nhiệm vụ điều hành trong trách vụ hiện tại của tôi nhưng lại không đủ sức để đứng lớp hay trình bày các bài diễn thuyết, nói chuyện, giảng tĩnh tâm, những việc tôi vẫn thường làm. Tôi đùa với gia đình và bạn bè rằng tôi ‘đang chịu án treo’ nhưng tôi rất biết ơn vì sức lực còn lại của mình, nghĩa là việc không thể giảng dạy và diễn thuyết không phải là một hy sinh mất mát. Tôi tập trung vào việc giữ sức khỏe, và biết rằng sức khỏe tôi có được là một ơn trọng,

Một tháng trước, các điều trị y khoa đã kết thúc, và ít lâu sau gần như tôi đã lấy lại sức, tôi bắt đầu lịch làm việc thông thường, gồm cả việc giảng dạy trong lớp học. Vì đã tạm gác việc giảng dạy trong nửa năm qua nên tôi thấy có đôi chút hồi hộp lúc bước vào lớp học để bắt đầu buổi dạy 3 tiếng đầu tiên sau một thời gian vắng mặt. Tôi bớt bồn chồn rất nhanh vì lớp học hăng hái theo sát chủ đề hôm đó, 3 tiếng sau bước ra khỏi lớp, tôi cảm thấy mình đầy sinh lực tuyệt vời mà tôi đã không cảm nhận được suốt 6 tháng qua. Việc giảng dạy (với tôi vừa là nghề nghiệp vừa là ơn gọi của mình) vừa làm cho tâm hồn và thể xác tôi được thoải mái. Đây đúng là thang thuốc bổ thiếu mất trong mấy tháng qua.

Lúc đầu, tôi thấy có hơi dằn vặt và tội lỗi vì chuyện này. Thực sự thì điều gì đã thổi bùng cảm giác tuyệt vời và bật tung năng lượng trong tôi? Tính ái kỷ? Kiêu ngạo? Tôi đang tắm trong cảm giác được chứng tỏ bộ óc thông minh và kiến thức của mình, và uống lấy sự ngưỡng mộ từ các sinh viên? Tôi thấy tốt vì cái tôi của tôi được chiều chuộng ư? Tôi giảng dạy thực sự là để mở mang Nước Trời hay là để thỏa mãn cái tôi?

Mà không chỉ mình tôi có vấn đề này. Đây là những vấn đề có căn cứ với bất kỳ ai lấy sinh lực từ chính công việc của mình, đặc biệt là nếu như từ công việc này, người đó có được khá nhiều ái mộ. Động cơ của chúng tôi không bao giờ hoàn toàn thuần khiết. Thực sự, nếu hoàn toàn lương thiện với bản thân, chúng ta phải thừa nhận rằng trong việc phục vụ người khác luôn luôn có sự phục vụ bản thân ở mức nào đó. Nhưng, dù cho các động cơ của chúng ta luôn phức tạp, vẫn có một điều gì đó, một sự tích cực hơn, cần phải có, cụ thể là, việc Thiên Chúa cho chúng ta các tài năng khác nhau và Thiên Chúa thấy tốt đẹp khi chúng ta dùng các tài năng của mình.

Eric Liddell, vận động viên điền kinh Olympic, nhân vật chính trong bộ phim đoạt giải Oscar, Những cỗ xe lửa, đã từng nói thế này: ‘Khi tôi chạy, tôi cảm thấy Thiên Chúa hài lòng.’ Ông đã không nhận định hời hợt về vấn đề này. Tiểu sử của ông và bộ phim Những cỗ xe lửa đã làm rõ rằng, Eric Liddell, trong chiến dịch đoạt huy chương vàng Olympic, đã được thúc đẩy bởi niềm tin hơn là cái tôi của mình. Đức tin của ông, đã khiến cho ông tin rằng, vì Thiên Chúa cho ông tài năng độc nhất vô nhị này, nên không khác các bậc cha mẹ tự hào về con cái mình, Thiên Chúa vui mừng thực sự khi thấy ông dùng được ơn này. Trong lòng mình, Eric ý thức được Thiên Chúa thấy hài lòng mỗi khi ông đưa tài năng đó đến mức cao nhất. Hơn nữa, từ nội tâm, ông ý thức Thiên Chúa hạnh phúc khi ông dùng được tài năng của mình, đã đổ đầy trong Eric một sinh lực tuyệt vời mỗi khi ông sải bước trên đường chạy.

Nhìn từ phương diện này, chúng tôi thấy rằng gốc rễ và nguồn cội cho động cơ và niềm vui thích của ông trên đường chạy, xét cho tận cùng không phải là khát khao muốn đoạt huy chương vàng và được quần chúng hâm mộ, dù rõ ràng ai ai cũng có những ý nghĩ này. Xét cho đúng, thì Eric được thúc đẩy bởi một ý thức từ nội tâm cho rằng Thiên Chúa đã cho ông một ơn đặc biệt, rằng Thiên Chúa muốn ông dùng ơn đó cho trọn, và Chúa hạnh phúc khi ông dùng tối đa ơn ích này. Như mọi con người khác, chắc chắn, ông khoái trá với sự hâm mộ có được từ thành công của mình, nhưng ông cũng biết rằng niềm vui thâm sâu nhất ông cảm nhận được khi dùng ơn tài năng này, xét tận cùng là phát xuất từ Thiên Chúa chứ không phải từ cái tôi của ông.

Và, tôi tin rằng, điều này cũng đúng với tất cả mọi người chúng ta. Khi ai đó dùng cho đúng những thiên khiếu mà Chúa đã ban cho họ, Thiên Chúa thấy hài lòng và vui thích vì điều đó. Sau cùng, Thiên Chúa đã cho chúng ta tài năng này, và việc này có nguyên do.

Không lâu sau khi tôi được thổi bùng trong sự thích thú và sinh lực nhờ được giảng dạy trở lại trong lớp học, tôi đã trò chuyện với một bạn đồng sự, một giảng viên trẻ rất có tài chỉ mới bắt đầu sự nghiệp giảng dạy của mình. Anh chia sẻ với tôi về niềm vui thú khi giảng dạy, nhưng cũng về những lo lắng e sợ niềm vui thú này phần nhiều là do bởi cái tôi của anh. Tôi đã cho anh câu nói của Eric Liddell, trấn an anh rằng, bất kỳ lúc nào anh dạy tốt, Thiên Chúa đều thấy hài lòng và vui thích. Anh rất cảm kích câu nói của Eric.

Và tất cả chúng ta cũng nên như vậy. Chúng ta không nên cảm thấy tội lỗi khi thực hành những tài năng mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, cho dù động cơ của chúng ta không bao giờ hoàn toàn thuần khiết. Bất kỳ lúc nào chúng ta dùng tài năng mà Chúa đã ban để làm tốt việc gì đó, Thiên Chúa thấy hài lòng và vui thích vì việc đó … và chúng ta cũng hãy nên như vậy.

Chúa Kitô và thiên nhiên

Ngày nay, vô số nhóm và cá nhân đang lên tiếng đòi chúng ta phải xem lại quan hệ của mình với mẹ trái đất. Từ nhóm Hòa bình Xanh, đến các nhóm môi trường khác nhau, từ các nhóm Kitô giáo cũng như các tôn giáo khác, đến tiếng nói của nhiều cá nhân, tất cả đều lên tiếng đòi chúng ta hãy bớt bị mắt, hãy bớt thiếu suy nghĩ, và bớt vô tâm về quan hệ của chúng ta với trái đất. Mỗi ngày, các bản tin thời sự loan báo cho thấy, khi thiếu, rất thiếu suy tính nghiêm túc, chúng ta đang làm ô nhiễm địa cầu, vắt cạn kiệt tài nguyên, tạo nên những bãi rác khổng lồ, xả khí carbon độc hại vào bầu khí quyển, làm biến mất hàng ngàn loài, gây hại cho không khí và nguồn nước, và làm mỏng đi tầng ozone. Và lời kêu gọi phát đi rằng: hãy sống đơn giản hơn, dùng ít tài nguyên hơn, cắt giảm khí carbon, và cố gắng tái chế bất kỳ thứ gì đã dùng càng nhiều càng tốt.

Lời kêu gọi này, tất nhiên rất tốt và rất quan trọng. Không khí chúng ta thở ra, là không khí chúng ta hít vào, nên cần phải cẩn thận về những gì chúng ta thở ra. Hành tinh này là nhà, và chúng ta cần phải bảo đảm rằng, về lâu dài, trái đất có thể cho chúng ta một mái nhà nuôi dưỡng và thoải mái.

Nhưng, sự thật cũng là, còn có một lý do khác rất quan trọng, vì sao chúng ta phải đối xử với mẹ trái đất một cách tôn trọng và cẩn trọng hơn. Đó chính là vì, Chúa Kitô hết sức gắn bó với thiên nhiên, và một lý do Ngài đến địa cầu cũng là để cứu chuộc vũ trụ vật lý này. Điều này ngụ ý gì đây?

Tôi xin mở đầu bằng một câu chuyện: Linh mục Pierre Teilhard de Chardin vừa là nhà thần học vừa là khoa học gia, khi cha nói chuyện với một viên chức Vatican, họ đang mơ hồ về các bài viết và các hoài nghi giáo lý của cha, đã hỏi cha: ‘Cha đang cố làm gì trong các bài viết của mình?’ Teilhard trả lời, ‘Tôi đang cố viết ra một Kitô học đủ rộng để thể hiện trọn vẹn Chúa Kitô, vì Chúa Kitô không phải chỉ là một sự kiện nhân học, nhưng còn là một hiện tượng vũ trụ.’ Nói đơn giản, thì Teilhard đang nói rằng Chúa Kitô không chỉ đến để cứu con người, tất nhiên điều này đúng, nhưng Ngài còn đến để cứu địa cầu, mà con người chỉ là một phần trong đó.

Khi nói như thế, Teilhard có một căn cứ Kinh thánh vững vàng. Nhìn vào Kinh thánh, chúng ta thấy rõ ràng rằng, Chúa Kitô không chỉ đến để cứu con người, nhưng Ngài đến để cứu thế giới. Ví dụ như, thư gởi tín hữu Colôsê (1, 15-20) ghi lại một tán ca cổ của Kitô giáo, khẳng định Chúa Kitô là một lực sống động trong công trình tạo dựng nguyên thủy (‘mọi sự đều được tạo dựng qua Ngài’) và Chúa Kitô cũng là điểm tận cùng của mọi lịch sử, dù là nhân loại hay vũ trụ. Thư gởi tín hữu Ephêsô, cũng ghi lại một tán ca khác (1, 3-10), có ý tương tự như vậy, còn thư gởi tín hữu Roma (8,19-22) thì còn rõ ràng hơn khi quả quyết rằng tạo vật vật chất, mẹ trái đất và vũ trụ vật lý của chúng ta ‘đang rên xiết’ chờ sự cứu rỗi của Chúa Kitô. Các bản văn này, khẳng định rằng thế giới vật chất là một phần dự định của Thiên Chúa cho sư sống thiên đàng bất diệt.

Nếu đào sâu những ngụ ý này, chúng ta thấy được những gì? Có một số nguyên tắc rất rõ ràng rằng: Thứ nhất, không chỉ nhân loại, mà cả thiên nhiên được Chúa Kitô cứu độ. Thế giới không chỉ là một vũ đài trên đó lịch sử nhân loại diễn ra, nhưng nó có ý nghĩa và giá trị cố hữu vượt ngoài những gì nhân loại chúng ta nghĩ đến. Thiên nhiên vật chất, là anh chị em với chúng ta trong hành trình hướng về chung cuộc lịch sử mà Thiên Chúa dự định. Chúa Kitô cũng đến để cứu độ trái đất, chứ không chỉ những con người chúng ta đang sống trên đó. Tạo vật vật lý cũng sẽ đi vào tổng hòa chung cuộc lịch sử, là thiên đàng.

Thứ hai, điều này nghĩa là thiên nhiên có quyền cố hữu, chứ không phải là những quyền chúng ta thích thì cho. Và như thế nghĩa là, việc làm xấu đi hay xâm phạm thiên nhiên, không chỉ là các vấn đề pháp lý hay môi trường, nhưng chính xác là vấn đề luân lý. Chúng ta đang xâm phạm các quyền cố hữu của một người (hay một sự) nào đó. Do đó, khi chúng ta vô ý ném một lon coca bừa bãi, chúng ta không chỉ phạm luật, mà xét theo một mức độ sâu xa hơn, chúng ta còn đang làm bẽ mặt Chúa Kitô. Chúng ta cần phải tôn trọng thiên nhiên, không phải trên hết là để, thiên nhiên không bật lại chúng ta và trả lại chúng ta sự ô nhiễm ngột ngạt, nhưng là vì, thiên nhiên, như nhân loại, cũng có các quyền của mình. Đây là một giáo lý ít khi được thừa nhận.

Cuối cùng, nhưng không kém quan trọng, là khi hiểu được chiều kích vũ trụ của Chúa Kitô, và ý nghĩa quan hệ của chúng ta với mẹ trái đất và vũ trụ, cho chúng ta một sự thật không thể chối cãi rằng, cuộc hành trình tìm kiếm thông hiệp và hợp nhất trong Nước Thiên Chúa (hành trình đến thiên đàng) không chỉ là hành trình kêu gọi chúng ta có mối quan hệ đúng đắn với Thiên Chúa và tha nhân, nhưng còn là kêu gọi có mối quan hệ đúng đắn với tạo vật vật chất nữa.

Chúng ta là nhân loại với thân xác sống trên địa cầu, chứ không phải là các thiên thần không thể xác trên thiên đàng, và Chúa Kitô đến để cứu cả hồn lẫn xác chúng ta, mà ngài cũng đến để cứu nền tảng vật chất mà chúng ta đang sống trên đó, bởi chính Chúa là hình mẫu mà thế giới vật chất này được tạo thành qua Ngài.