RonRolheiser,OMI

Sợ sệt ngụy trang bằng lòng sùng đạo

Thật dễ để nhầm lòng sùng đạo với lời đáp đích thực mà Thiên Chúa muốn nơi chúng ta, nghĩa là thực sự đi vào một liên hệ mật thiết với Ngài và cố gắng giúp đỡ người khác cũng có được cảm nghiệm như vậy.

Chúng ta thấy điều này khắp Kinh thánh. Ví dụ như, trong Tin mừng theo thánh Luca, sau khi chứng kiến phép lạ bắt được nhiều cá vô số kể, Phêrô đã phản ứng bằng việc sấp mình trước Chúa Giêsu và nói rằng: ‘Xin tránh xa con, lạy Chúa, vì con là kẻ tội lỗi!’ Nhìn qua, thì đây có vẻ là một phản ứng phù hợp, một phản ứng sùng mến tuyệt vời, nhận thức về sự bé nhỏ và vô giá trị của mình trước sự phong phú và tốt lành của Thiên Chúa. Nhưng, John Shea đã chỉ ra rằng, Chúa Giêsu lại nhìn nhận phản ứng của Phêrô theo một cách khác, và mời gọi ông hãy làm khác thế. Là điều gì? Phản ứng của Phêrô thể hiện một sự sùng mến thật tâm, nhưng, theo lời của Shea, phản ứng này ‘sai lầm trong sợ hãi.’ ‘Nhận thức về Thiên Chúa khiến cho Phêrô run rẩy và tan vỡ. Nếu ông bám vào chân Chúa Giêsu, ông hẳn phải khụy gối. Phêrô không đón lấy sự viên mãn, ông muốn trốn chạy. Đây thật không phải là phản ứng mà Chúa Giêsu muốn. Vậy nên Chúa dạy Phêrô đừng sợ. Và thay vào đó, hãy dùng những gì mình đã cảm nghiệm được để đưa người khác đến với cảm nghiệm đó. Như Chúa Giêsu đã bắt lấy Phêrô, ông cũng phải bắt lấy người khác.’ Chúa Giêsu đang mời gọi Phêrô hãy ra khỏi nỗi sợ và đi vào những dòng nước thâm sâu hơn của sự mật thiết và sự dồi dào của Thiên Chúa.

Chúng ta cũng thấy chuyện tương tự trong sách Samuel quyển thứ nhất (21, 1-6). Một sáng nọ, vua Đavid đến đền thờ, bụng thì đói và chẳng có gì ăn. Vua xin tư tế 5 chiếc bánh. Vị tư tế đáp lại rằng mình không có bánh thường, mà chỉ có bánh đã dâng tiến, chỉ được phép ăn sau khi chay tịnh và cử hành các nghi lễ phù hợp. Nhưng, Đavid, biết rằng, mình là vua trần gian của Thiên Chúa và cần phải hành động tháo vát chứ không phải sợ sệt, nên đã xin những chiếc bánh tiến và ăn những chiếc bánh mà trong những hoàn cảnh khác thì ông sẽ không được phép ăn.

Điều quan trọng trong câu chuyện này, là khi đối mặt với nỗi sợ sệt và sùng đạo của những kinh sư và biệt phái, Chúa Giêsu đã nhấn mạnh và cho chúng ta biết rằng phản ứng của Đavid là phản ứng đúng đắn. Với những người thấy khó chịu bởi các môn đệ của Chúa ‘không biết sợ’, Chúa Giêsu nói rằng phản ứng của vua Đavid là phản ứng đúng đắn, bởi vua nhận ra rằng, trong phản ứng của chúng ta với Thiên Chúa, sự mật thiết và bạo dạn nhất định, phải thắng vượt nỗi sợ sệt. Chúa Giêsu xác quyết rằng, ‘Ngày Sabbath là để cho con người, chứ không phải con người cho ngày Sabbath.’ Câu này có thể diễn giải như sau: Thiên Chúa không phải là một luật để vâng theo cách mù quáng. Nhưng Thiên Chúa là một hiện hữu sáng tạo và yêu thương, mời gọi chúng ta đi vào sự mật thiết và rồi cho chúng ta sinh lực để sáng tạo hơn nữa trong mối liên hệ này.

Cách đây vài năm, một bà mẹ trẻ đã kể cho tôi câu chuyện này. Con trai của bà, 6 tuổi và đang đi học, ngay từ những năm đầu đời đã được dạy quỳ gối trên giường mỗi đêm và đọc lớn tiếng những lời kinh như kinh Lạy Cha, kinh Kính mừng, kinh cầu thiên thần hộ thủ và kinh cầu cho cha mẹ và anh chị em mình. Một tối nọ, không lâu sau khi đã đi học, lúc bà mẹ đưa cậu về phòng, cậu lao lên giường mà không quỳ gối đọc kinh như trước nữa. Mẹ hỏi câu: ‘Có chuyện gì vây? Con không đọc kinh nữa sao?’ Cậu bé trả lời, ‘Không, con không đọc kinh nữa. Cô giáo của con ở trường (một nữ tu) đã dạy chúng con là đừng đọc kinh nhưng hãy trò chuyện với Chúa … mà tối nay con mệt, và không có gì để nói!’ Về căn bản, đây chính là lời đáp như vua Đavid xin linh mục những chiếc bánh tiến vậy. Cậu bé này có được một nhận thức trực giác rằng Thiên Chúa không phải là một luật phải tuân giữ, nhưng là một hiện diện mật thiết cho chúng ta được dồi dào.

Một số nhà thần nghiệm Kitô giáo lớn đã dạy rằng, khi lớn lên sâu sắc hơn trong mối liên hệ với Thiên Chúa, thì dần dần chúng ta trở nên bạo dạn hơn với Chúa, nghĩa là nỗi sợ sệt ngày càng nhường chỗ cho sự thân mật, tính chiếu luật ngày càng nhường chỗ cho sự lanh lẹ, phán xét thay thế bằng cảm thông, và một dạng sùng đạo vốn đẩy chúng ta ôm chân Chúa Giêsu một cách tê liệt bởi nhận biết tội lỗi của mình, dần nhường chỗ cho một sinh lực hân hoan truyền giáo.

Tất nhiên, lòng sùng đạo có một vị trí quan trọng. Lòng sùng đạo lành mạnh và khiêm nhượng lành mạnh là những ơn của Thánh Thần, nhưng chúng không được khiến chúng ta tê liệt trong nỗi sợ không lành mạnh, khóa chặt một liên hệ mật thiết hơn, hân hoan hơn và sâu sắc hơn với Thiên Chúa. Vua Đavid có một lòng sùng đạo lành mạnh, nhưng điều này không ngăn vua hành động bạo dạn và đầy sáng tạo trong tình thân mật với Thiên Chúa. Chúa Giêsu cũng có một lòng sùng mến lành mạnh, ngay cả khi Ngài không ngừng phê phán kiểu sùng đạo của những người cùng thời.

Chúng ta cũng quá dễ dàng nhầm lẫn nỗi sợ sệt không lành mạnh với lòng sùng mến đích thực. Chúng ta cứ nhầm suốt, ngây thơ nghĩ rằng sợ sệt là một nhân đức, trong khi biểu hiện của sự mật thiết đích thực không bao giờ sợ hãi, nhưng là sinh lực hân hoan và bạo dạn. Một người có lòng đạo lành mạnh nhất, sẽ thể hiện sự bạo dạn và hân hoan này chứ không phải một lòng sùng đạo cứng đờ, quá sợ sệt.

Thiên Chúa hài lòng với việc chúng ta làm

Trong sáu tháng qua, khi điều trị bệnh ung thư, tôi làm việc với thời khóa biểu hạn chế hơn. Các điều trị y khoa, dù làm cho tôi mệt nhưng vẫn cho tôi đủ sức khỏe và sinh lực để chu toàn các nhiệm vụ điều hành trong trách vụ hiện tại của tôi nhưng lại không đủ sức để đứng lớp hay trình bày các bài diễn thuyết, nói chuyện, giảng tĩnh tâm, những việc tôi vẫn thường làm. Tôi đùa với gia đình và bạn bè rằng tôi ‘đang chịu án treo’ nhưng tôi rất biết ơn vì sức lực còn lại của mình, nghĩa là việc không thể giảng dạy và diễn thuyết không phải là một hy sinh mất mát. Tôi tập trung vào việc giữ sức khỏe, và biết rằng sức khỏe tôi có được là một ơn trọng,

Một tháng trước, các điều trị y khoa đã kết thúc, và ít lâu sau gần như tôi đã lấy lại sức, tôi bắt đầu lịch làm việc thông thường, gồm cả việc giảng dạy trong lớp học. Vì đã tạm gác việc giảng dạy trong nửa năm qua nên tôi thấy có đôi chút hồi hộp lúc bước vào lớp học để bắt đầu buổi dạy 3 tiếng đầu tiên sau một thời gian vắng mặt. Tôi bớt bồn chồn rất nhanh vì lớp học hăng hái theo sát chủ đề hôm đó, 3 tiếng sau bước ra khỏi lớp, tôi cảm thấy mình đầy sinh lực tuyệt vời mà tôi đã không cảm nhận được suốt 6 tháng qua. Việc giảng dạy (với tôi vừa là nghề nghiệp vừa là ơn gọi của mình) vừa làm cho tâm hồn và thể xác tôi được thoải mái. Đây đúng là thang thuốc bổ thiếu mất trong mấy tháng qua.

Lúc đầu, tôi thấy có hơi dằn vặt và tội lỗi vì chuyện này. Thực sự thì điều gì đã thổi bùng cảm giác tuyệt vời và bật tung năng lượng trong tôi? Tính ái kỷ? Kiêu ngạo? Tôi đang tắm trong cảm giác được chứng tỏ bộ óc thông minh và kiến thức của mình, và uống lấy sự ngưỡng mộ từ các sinh viên? Tôi thấy tốt vì cái tôi của tôi được chiều chuộng ư? Tôi giảng dạy thực sự là để mở mang Nước Trời hay là để thỏa mãn cái tôi?

Mà không chỉ mình tôi có vấn đề này. Đây là những vấn đề có căn cứ với bất kỳ ai lấy sinh lực từ chính công việc của mình, đặc biệt là nếu như từ công việc này, người đó có được khá nhiều ái mộ. Động cơ của chúng tôi không bao giờ hoàn toàn thuần khiết. Thực sự, nếu hoàn toàn lương thiện với bản thân, chúng ta phải thừa nhận rằng trong việc phục vụ người khác luôn luôn có sự phục vụ bản thân ở mức nào đó. Nhưng, dù cho các động cơ của chúng ta luôn phức tạp, vẫn có một điều gì đó, một sự tích cực hơn, cần phải có, cụ thể là, việc Thiên Chúa cho chúng ta các tài năng khác nhau và Thiên Chúa thấy tốt đẹp khi chúng ta dùng các tài năng của mình.

Eric Liddell, vận động viên điền kinh Olympic, nhân vật chính trong bộ phim đoạt giải Oscar, Những cỗ xe lửa, đã từng nói thế này: ‘Khi tôi chạy, tôi cảm thấy Thiên Chúa hài lòng.’ Ông đã không nhận định hời hợt về vấn đề này. Tiểu sử của ông và bộ phim Những cỗ xe lửa đã làm rõ rằng, Eric Liddell, trong chiến dịch đoạt huy chương vàng Olympic, đã được thúc đẩy bởi niềm tin hơn là cái tôi của mình. Đức tin của ông, đã khiến cho ông tin rằng, vì Thiên Chúa cho ông tài năng độc nhất vô nhị này, nên không khác các bậc cha mẹ tự hào về con cái mình, Thiên Chúa vui mừng thực sự khi thấy ông dùng được ơn này. Trong lòng mình, Eric ý thức được Thiên Chúa thấy hài lòng mỗi khi ông đưa tài năng đó đến mức cao nhất. Hơn nữa, từ nội tâm, ông ý thức Thiên Chúa hạnh phúc khi ông dùng được tài năng của mình, đã đổ đầy trong Eric một sinh lực tuyệt vời mỗi khi ông sải bước trên đường chạy.

Nhìn từ phương diện này, chúng tôi thấy rằng gốc rễ và nguồn cội cho động cơ và niềm vui thích của ông trên đường chạy, xét cho tận cùng không phải là khát khao muốn đoạt huy chương vàng và được quần chúng hâm mộ, dù rõ ràng ai ai cũng có những ý nghĩ này. Xét cho đúng, thì Eric được thúc đẩy bởi một ý thức từ nội tâm cho rằng Thiên Chúa đã cho ông một ơn đặc biệt, rằng Thiên Chúa muốn ông dùng ơn đó cho trọn, và Chúa hạnh phúc khi ông dùng tối đa ơn ích này. Như mọi con người khác, chắc chắn, ông khoái trá với sự hâm mộ có được từ thành công của mình, nhưng ông cũng biết rằng niềm vui thâm sâu nhất ông cảm nhận được khi dùng ơn tài năng này, xét tận cùng là phát xuất từ Thiên Chúa chứ không phải từ cái tôi của ông.

Và, tôi tin rằng, điều này cũng đúng với tất cả mọi người chúng ta. Khi ai đó dùng cho đúng những thiên khiếu mà Chúa đã ban cho họ, Thiên Chúa thấy hài lòng và vui thích vì điều đó. Sau cùng, Thiên Chúa đã cho chúng ta tài năng này, và việc này có nguyên do.

Không lâu sau khi tôi được thổi bùng trong sự thích thú và sinh lực nhờ được giảng dạy trở lại trong lớp học, tôi đã trò chuyện với một bạn đồng sự, một giảng viên trẻ rất có tài chỉ mới bắt đầu sự nghiệp giảng dạy của mình. Anh chia sẻ với tôi về niềm vui thú khi giảng dạy, nhưng cũng về những lo lắng e sợ niềm vui thú này phần nhiều là do bởi cái tôi của anh. Tôi đã cho anh câu nói của Eric Liddell, trấn an anh rằng, bất kỳ lúc nào anh dạy tốt, Thiên Chúa đều thấy hài lòng và vui thích. Anh rất cảm kích câu nói của Eric.

Và tất cả chúng ta cũng nên như vậy. Chúng ta không nên cảm thấy tội lỗi khi thực hành những tài năng mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, cho dù động cơ của chúng ta không bao giờ hoàn toàn thuần khiết. Bất kỳ lúc nào chúng ta dùng tài năng mà Chúa đã ban để làm tốt việc gì đó, Thiên Chúa thấy hài lòng và vui thích vì việc đó … và chúng ta cũng hãy nên như vậy.

Chúa Kitô và thiên nhiên

Ngày nay, vô số nhóm và cá nhân đang lên tiếng đòi chúng ta phải xem lại quan hệ của mình với mẹ trái đất. Từ nhóm Hòa bình Xanh, đến các nhóm môi trường khác nhau, từ các nhóm Kitô giáo cũng như các tôn giáo khác, đến tiếng nói của nhiều cá nhân, tất cả đều lên tiếng đòi chúng ta hãy bớt bị mắt, hãy bớt thiếu suy nghĩ, và bớt vô tâm về quan hệ của chúng ta với trái đất. Mỗi ngày, các bản tin thời sự loan báo cho thấy, khi thiếu, rất thiếu suy tính nghiêm túc, chúng ta đang làm ô nhiễm địa cầu, vắt cạn kiệt tài nguyên, tạo nên những bãi rác khổng lồ, xả khí carbon độc hại vào bầu khí quyển, làm biến mất hàng ngàn loài, gây hại cho không khí và nguồn nước, và làm mỏng đi tầng ozone. Và lời kêu gọi phát đi rằng: hãy sống đơn giản hơn, dùng ít tài nguyên hơn, cắt giảm khí carbon, và cố gắng tái chế bất kỳ thứ gì đã dùng càng nhiều càng tốt.

Lời kêu gọi này, tất nhiên rất tốt và rất quan trọng. Không khí chúng ta thở ra, là không khí chúng ta hít vào, nên cần phải cẩn thận về những gì chúng ta thở ra. Hành tinh này là nhà, và chúng ta cần phải bảo đảm rằng, về lâu dài, trái đất có thể cho chúng ta một mái nhà nuôi dưỡng và thoải mái.

Nhưng, sự thật cũng là, còn có một lý do khác rất quan trọng, vì sao chúng ta phải đối xử với mẹ trái đất một cách tôn trọng và cẩn trọng hơn. Đó chính là vì, Chúa Kitô hết sức gắn bó với thiên nhiên, và một lý do Ngài đến địa cầu cũng là để cứu chuộc vũ trụ vật lý này. Điều này ngụ ý gì đây?

Tôi xin mở đầu bằng một câu chuyện: Linh mục Pierre Teilhard de Chardin vừa là nhà thần học vừa là khoa học gia, khi cha nói chuyện với một viên chức Vatican, họ đang mơ hồ về các bài viết và các hoài nghi giáo lý của cha, đã hỏi cha: ‘Cha đang cố làm gì trong các bài viết của mình?’ Teilhard trả lời, ‘Tôi đang cố viết ra một Kitô học đủ rộng để thể hiện trọn vẹn Chúa Kitô, vì Chúa Kitô không phải chỉ là một sự kiện nhân học, nhưng còn là một hiện tượng vũ trụ.’ Nói đơn giản, thì Teilhard đang nói rằng Chúa Kitô không chỉ đến để cứu con người, tất nhiên điều này đúng, nhưng Ngài còn đến để cứu địa cầu, mà con người chỉ là một phần trong đó.

Khi nói như thế, Teilhard có một căn cứ Kinh thánh vững vàng. Nhìn vào Kinh thánh, chúng ta thấy rõ ràng rằng, Chúa Kitô không chỉ đến để cứu con người, nhưng Ngài đến để cứu thế giới. Ví dụ như, thư gởi tín hữu Colôsê (1, 15-20) ghi lại một tán ca cổ của Kitô giáo, khẳng định Chúa Kitô là một lực sống động trong công trình tạo dựng nguyên thủy (‘mọi sự đều được tạo dựng qua Ngài’) và Chúa Kitô cũng là điểm tận cùng của mọi lịch sử, dù là nhân loại hay vũ trụ. Thư gởi tín hữu Ephêsô, cũng ghi lại một tán ca khác (1, 3-10), có ý tương tự như vậy, còn thư gởi tín hữu Roma (8,19-22) thì còn rõ ràng hơn khi quả quyết rằng tạo vật vật chất, mẹ trái đất và vũ trụ vật lý của chúng ta ‘đang rên xiết’ chờ sự cứu rỗi của Chúa Kitô. Các bản văn này, khẳng định rằng thế giới vật chất là một phần dự định của Thiên Chúa cho sư sống thiên đàng bất diệt.

Nếu đào sâu những ngụ ý này, chúng ta thấy được những gì? Có một số nguyên tắc rất rõ ràng rằng: Thứ nhất, không chỉ nhân loại, mà cả thiên nhiên được Chúa Kitô cứu độ. Thế giới không chỉ là một vũ đài trên đó lịch sử nhân loại diễn ra, nhưng nó có ý nghĩa và giá trị cố hữu vượt ngoài những gì nhân loại chúng ta nghĩ đến. Thiên nhiên vật chất, là anh chị em với chúng ta trong hành trình hướng về chung cuộc lịch sử mà Thiên Chúa dự định. Chúa Kitô cũng đến để cứu độ trái đất, chứ không chỉ những con người chúng ta đang sống trên đó. Tạo vật vật lý cũng sẽ đi vào tổng hòa chung cuộc lịch sử, là thiên đàng.

Thứ hai, điều này nghĩa là thiên nhiên có quyền cố hữu, chứ không phải là những quyền chúng ta thích thì cho. Và như thế nghĩa là, việc làm xấu đi hay xâm phạm thiên nhiên, không chỉ là các vấn đề pháp lý hay môi trường, nhưng chính xác là vấn đề luân lý. Chúng ta đang xâm phạm các quyền cố hữu của một người (hay một sự) nào đó. Do đó, khi chúng ta vô ý ném một lon coca bừa bãi, chúng ta không chỉ phạm luật, mà xét theo một mức độ sâu xa hơn, chúng ta còn đang làm bẽ mặt Chúa Kitô. Chúng ta cần phải tôn trọng thiên nhiên, không phải trên hết là để, thiên nhiên không bật lại chúng ta và trả lại chúng ta sự ô nhiễm ngột ngạt, nhưng là vì, thiên nhiên, như nhân loại, cũng có các quyền của mình. Đây là một giáo lý ít khi được thừa nhận.

Cuối cùng, nhưng không kém quan trọng, là khi hiểu được chiều kích vũ trụ của Chúa Kitô, và ý nghĩa quan hệ của chúng ta với mẹ trái đất và vũ trụ, cho chúng ta một sự thật không thể chối cãi rằng, cuộc hành trình tìm kiếm thông hiệp và hợp nhất trong Nước Thiên Chúa (hành trình đến thiên đàng) không chỉ là hành trình kêu gọi chúng ta có mối quan hệ đúng đắn với Thiên Chúa và tha nhân, nhưng còn là kêu gọi có mối quan hệ đúng đắn với tạo vật vật chất nữa.

Chúng ta là nhân loại với thân xác sống trên địa cầu, chứ không phải là các thiên thần không thể xác trên thiên đàng, và Chúa Kitô đến để cứu cả hồn lẫn xác chúng ta, mà ngài cũng đến để cứu nền tảng vật chất mà chúng ta đang sống trên đó, bởi chính Chúa là hình mẫu mà thế giới vật chất này được tạo thành qua Ngài.

Mộng tưởng

Một phần tốt đẹp trong đời chúng ta nằm trong những giấc mơ ban ngày, mộng tưởng, dù ít người thừa nhận chuyện đó, và càng ít người hơn nữa dám kể ra những mộng tưởng này. Chúng ta xấu hổ không dám thừa nhận mình đã thoát ly vào mộng tưởng đến mức nào, và thậm chí còn xấu hổ hơn nữa khi muốn kể ra nội dung những mộng tưởng đó. Nhưng dù có thừa nhận hay không, tất cả chúng ta đều là những người mang bệnh mơ mộng hão huyền, ngoại trừ việc đây không nhất thiết là một bệnh tật. Tâm hồn và tâm trí chúng ta, cứ triền miên thất vọng với những giới hạn đời mình, và tự nhiên tìm kiếm sự khuây khỏa trong mộng tưởng. Đây gần như là một cám dỗ không thể cưỡng lại. Thực sự, càng nhạy cảm, thì khuynh hướng thoát ly vào mộng tưởng càng mạnh. Sự nhạy cảm thúc đẩy sự khắc khoải, và khắc khoải không dễ gì thấy an lòng trong đời sống thường nhật. Do đó, chúng ta thoát ly vào mộng tưởng.

Và nội dung của những mộng tưởng này là gì?

Chúng ta có 2 khuynh hướng mộng tưởng: Dạng thứ nhất được phát sinh bởi những tổn thương và các cám dỗ tức thì trong đời mình, ví dụ như, một tổn thương hay giận dữ khiến bạn tưởng tượng về việc báo thù, cảnh báo thù đó chứ chạy đi chạy lại trong đầu bạn. Hoặc một ám ảnh tình cảm hay tình dục khiến bạn tưởng tượng về đủ loại giao hợp.

Dạng mộng tưởng khác mà chúng ta thoát ly vào, phần nhiều không phải do các tổn thương và ám ảnh của thời điểm hiện tại, nhưng bắt rễ từ một sự gì đó thâm sâu hơn, một sự đã được thánh Augustino trình bày trong những dòng kinh điển mở đầu cho quyển ‘Tự thú’ của ngài. “Ngài đã tạo nên chúng con cho Ngài, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được ở trong Ngài.” Nói đơn giản, chúng ta được nạp quá nhiều cho cuộc đời, được trao cho những tinh thần và khao khát vô hạn, rồi được đặt vào thế giới nơi mọi sự đều hữu hạn. Đó là công thức của sự bất mãn dai dẳng. Lối thoát của chúng ta là gì? Mộng tưởng.

Dù thế, dạng mộng tưởng thứ hai này khác với dạng thứ nhất. Dạng mộng tưởng này không quá tập trung vào các cơn giận và cám dỗ nhất thời trong đời chúng ta, nhưng tập trung vào đời sống tưởng tượng thường lệ mà chúng ta đã dựng lên trong lòng mình, đời sống tưởng tượng mà chúng ta cứ chiếu đi chiếu lại trong đầu như xem một bộ phim yêu thích vậy. Nhưng, có một điều quan trọng và cần chú ý ở đây. Trong những mộng tưởng này, chúng ta không bao giờ nhỏ nhen hay hèn kém, nhưng luôn luôn cao thượng và vĩ đại, là một anh hùng anh thư, quãng đại, rộng lượng, không có lỗi phạm, mang nhãn tượng hoàn thiện, và có tình yêu hoàn hảo. Trong những giấc mộng tưởng này, tất nhiên, chúng ta trực cảm thấy thị kiến của ngôn sứ Isaiah khi ngài thấy trước một thế giới hoàn hảo, khi con chiên nằm chung với sư tử, người bệnh được chữa lành, người đói có của ăn, tất cả mọi khắc khoải đều được xoa dịu, và Thiên Chúa ra tay lau khô mọi giọt lệ. Chính ngôn sứ Isaiah cũng tưởng tượng về sự thành toàn hoàn thiện. Thị kiến của ngài mang tính ngôn sứ. Còn những mộng tưởng trần tục của chúng ta không mang tính ngôn sứ, nhưng là trực cảm về Nước Thiên Chúa.

Dù không nói ra, nhưng chúng ta vẫn cần phải tự hỏi mình: Thoát ly vào mộng tưởng, tốt hay xấu thế nào?

Ở một mức độ, mộng tưởng không chỉ vô hại mà còn có thể là một dạng tích cực để nghỉ ngơi và là một cách để phấn chấn chúng ta trong những thất vọng cuộc đời. Ngồi lại trong chiếc ghế êm ái, và chìm trong mộng tưởng có thể hơi khác với ngồi lại và nghe bản nhạc yêu thích của mình. Nó có thể là một thoát ly vươn ra khỏi những thất vọng chán chường trong đời.

Nhưng, có một mặt trái trong đó: Bởi trong những mộng tưởng, chúng ta luôn luôn là người hùng và trung tâm chú ý cũng như ngưỡng mộ, nên mộng tưởng có thể dễ dàng biến thành tính ái kỷ. Do, trong mộng tưởng, chúng ta là trung tâm mọi sự, nên chúng ta dễ dàng trở nên quá đỗi chán nản với một thế giới, mà chúng ta chẳng là trung tâm của cái gì. Và còn nữa: Etty Hillesum, khi suy tư về cảm nghiệm của chính mình, đã đưa ra một hệ quả tiêu cực của việc thường xuyên thoát ly vào mộng tưởng. Bà khẳng định rằng bởi chúng ta biến mình thành trung tâm vũ trụ bên trong những mộng tưởng, nên thường cuối cùng chúng ta chẳng thể có một cái nhìn ngưỡng mộ dành cho bất kỳ ai hay sự gì. Nói mạnh hơn nữa, là trong những mộng tưởng của mình, chúng ta tự phỉnh gạt đi những gì đáng ngưỡng mộ, và thay vào đó lại tự thỏa mãn tự ngưỡng mộ mình. Vì lẽ đó, và nhiều lý do khác nữa, mộng tưởng tiếp tay khóa kín không cho chúng ta nhận thức được thời điểm hiện tại. Khi chúng ta bị gói kín trong ảo tưởng, thì thật khó để thấy được những gì trước mắt chúng ta.

Vậy thì chúng ta sẽ đi về đâu với tất cả những chuyện này? Do những sự tốt xấu trong mộng tưởng, và do khuynh hướng gần như không cưỡng lại được trong chúng ta muốn thoát ly vào ảo tượng, chúng ta cần phải biết kiên nhẫn với chính mình. Henri Nouwen cho rằng, đấu tranh để biến các ảo tượng thành lời cầu nguyện là một trong những đấu tranh lớn bẩm tại trong đời sống thiêng liêng của chúng ta. Pierre Teilhard de Chardin thì chia sẻ rằng khi còn trẻ, ông đã phải đấu tranh rất nhiều với ảo tượng, nhưng, khi thêm tuổi, ông có thể ngày càng đứng vững trong thời điểm hiện tại mà không cần phải thoát ly vào mộng tưởng. Và đây chính là việc mà chúng ta phải đặt ra cho mình.

Đôi mắt là cửa sổ linh hồm

Hầu hết chúng ta lo lắng về việc già đi, đặc biệt là các ảnh hưởng đến cơ thể. Chúng ta lo lắng về các nếp nhăn, các quầng mắt, chứng tăng cân trung niên, và rụng tóc. Vậy nên lúc này lúc kia, khi chúng ta nhìn vào gương hay thấy một tấm ảnh mới chụp, chúng ta bị sốc bởi khuôn mặt và cơ thể của mình, gần như không nhận ra mình trước khuôn mặt và cơ thể già nua của một người từng trẻ trung sung sức.

Tự xem lại những dấu hiệu tuổi già không phải là việc xấu, nhưng những thứ chúng ta cần xem xét là những thứ khác chứ không phải là những nếp nhăn, da nhăn nheo, rụng tóc và tăng cân. Với những sự trong cơ thể, tự nhiên có cách của nó. Còn để tìm những dấu hiệu lão hóa, thì hãy tìm chúng trong đôi mắt chúng ta. Đây mới chính là nơi các dấu hiệu lão hóa và lão suy thể hiện rõ nhất.

Nếu đứng trước gương, và nhìn thẳng vào mắt mình, bạn thấy được gì? Đôi mắt bạn có mệt mỏi, thiếu nhiệt huyết, yếm thế, vô hồn, nguội lạnh? Chúng có ánh lên toàn giận dữ và đố kỵ hay không? Có ánh lửa nào đang cháy trong đó không? Chúng có u mê đến nỗi không còn khả năng kinh ngạc nữa hay không? Sự ngây thơ có còn nơi đó nữa không? Liệu còn một tâm hồn thơ trẻ ẩn giấu đâu đó sau đôi mắt hay không?

Những dấu hiệu thực sự của lão suy bị tố giác bởi đôi mắt chứ không phải cơ thể. Da nhăn đi chỉ đơn thuần là sự lão hóa thể lý, không hơn. Cơ thể già đi và chết, theo một tiến trình không tránh được và rất tự nhiên như việc chuyển mùa vậy, nhưng đôi mắt vô hồn báo hiệu một sự lão suy chết người hơn nữa, một chuyện thiếu tự nhiên, một tinh thần kiệt quệ. Tinh thần phải luôn mãi tươi trẻ, luôn mãi như trẻ thơ, và luôn mãi ngây thơ. Chứ không phải là u mê và vô hồn. Nhưng tinh thần có thể chết đi do thiếu đam mê, do ảo tưởng về sự thân mật, do mất đi ngây thơ và ngạc nhiên, do sự kiệt quệ của tinh thần, và do các tuyệt vọng với thực tiễn.

Và sự tuyệt vọng là một điểm đáng chú ý. Hầu như chúng ta tuyệt vọng không phải bởi ngày càng lo lắng về những thiếu sót và đau khổ trong đời, hay do thấy cuộc đời quá rộng xa tầm với. Nhưng chúng ta tuyệt vọng vì một lý do ngược lại, cụ thể là bởi chúng ta ngày càng yếm thế hoài nghi về niềm vui hân hoan. Niềm vui ở trong việc cảm nghiệm cuộc sống như một điều tươi mới, như quyển tiểu thuyết, như sự mở đầu, như một đứa trẻ, với một tinh thần nguyên tuyền nhất định. Dạng niềm vui này không phải là khoái lạc, dù vẫn có khoái lạc trong đó. Tất nhiên, có thể có khoái lạc mà không cần niềm vui, nhưng dạng khoái lạc này là sản phầm của một sự thiếu kinh ngạc và kính trọng trong cảm nghiệm. Dạng khoái lạc này lúc đầu chúng ta cảm nghiệm như một chiến thắng, một sự thoát khỏi tình trạng ngây thơ, như sự tự do, nhưng nó sớm trở thành thất bại, đình trệ, chán ngán, và một dục vọng u mê. Khẩu vị của chúng ta không còn mong muốn được cảm nếm nữa. Nhiệt tình chết đi và linh hồn trở nên kiệt nhọc. Chẳng còn gì trong chúng ta là tươi mới và trẻ trung nữa, đôi mắt chúng ta bắt đầu chỉ ra điều đó. Chúng đã mất đi tia lửa, mất đi sự thơ trẻ.

Trong tiểu thuyết đầy xúc động ‘Thiên thần đá’ Margaret Laurence đã minh họa nhân vật nữ chính, một phụ nữ tuyệt vọng tên là Hagar, nhìn vào gương và tự nhủ: ‘Ta đứng đây một hồi lâu, nhìn, và tự hỏi xem làm sao mà con người có thể thay đổi nhiều đến thế … Chuyện này xảy ra quá chậm rãi. Khuôn mặt nâu sạm và nhăn nheo này, không phải của tôi. Chỉ có đôi mắt là của tôi, chăm chăm nhìn như xuyên thấu tấm gương dối lừa này, và đi xuống tìm một hình ảnh thực vô cùng xa vời.’

Đối với chúng ta, đáng buồn thay, khi nhìn vào gương cho đúng, cũng sẽ thấy như thế, một gương mặt vô hồn không thực sự là của mình, và đôi mắt đờ đẫn của chúng ta, giấu kín dưới một tấm gương lừa dối. Có những lúc ngọn lửa lụi tắt, đôi mắt và gương mặt chúng ta không còn kinh ngạc và ngây thơ.

Phải làm gì đây? Chúng ta cần phải nhìn thật lâu và thật đúng bản thân mình trong gương, và nghiên cứu đôi mắt mình thật lâu thật sâu, và để những gì chúng ta thấy gây cho chúng ta đủ sốc sao cho thúc đẩy chúng ta hướng đến con đường vô ưu, kinh ngạc và một sự ngây thơ tái tạo. Tôi có lời khuyên này: Hãy đến trước gương và nhìn chăm chăm đôi mắt mình đủ lâu cho đến khi bạn thấy lại nơi đôi mắt mình, cô bé cậu bé từng một thời ở đó. Và lúc đó, sự kinh ngạc sẽ tái sinh, tia lửa trở lại, và và cùng với đó là sự tươi mới sẽ cho bạn trẻ trung lần nữa.

Đôi mắt bạn không lụi tàn, mà chỉ bị che khuất. Đó là lý do gây nên ánh nhìn trống không, chẳng thiết tha. Thân thể kiệt lực, nhưng đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, và chúng luôn luôn háo hức được ngắm nhìn. Một trong những điều tương phản giữa Kitô giáo và Phật giáo là về đôi mắt. Các đức Phật luôn luôn được minh họa với đôi mắt nhắm, còn các vị thánh Kitô giáo thì luôn với đôi mắt mở. Các thánh nhân Phật giáo có một thân thể hài hòa, phương phi, nhưng đôi mắt thì nặng nề và gắn chặt trong giấc ngủ. Còn các vị thánh Kitô giáo thì thân thể gầy còm, nhưng đôi mắt sống động, thèm khát, chằm chằm. Đôi mắt của Phật giáo thì tập trung hướng nội. Còn đôi mắt Kitô giáo thì chằm chằm hướng ngoại, thèm khát, và đầy kinh ngạc.

Mặt tích cực của u sầu

Thông thường, không ai trong chúng ta thích cảm thấy buồn rầu, nặng nề, hay chán nản Nhìn chung, chúng ta thích ánh sáng hơn bóng tối, vui vẻ hơn u sầu. Đó là lý do vì sao, hầu như lúc nào, chúng ta cũng làm mọi việc có thể để tránh u sầu, tránh những nặng nề và buồn bã. Chúng ta có khuynh hướng chạy trốn những cảm giác bên trong gây buồn phiền hay lo sợ cho mình.

Đó là lý do vì sao, hầu như chúng ta đều nghĩ tiêu cực về u sầu và các con cái của nó là buồn bã, hoài niệm ão não, cô đơn, chán nản, mất mát, hối tiếc, những dự báo, cảm nhận hụt hẫng trong đời, sợ những sự nơi góc tối lòng mình, và sự nặng nề linh hồn. Nhưng những cảm giác này có mặt tích cực của chúng. Nói đơn giản, chúng giúp chúng ta chạm đến những phần tâm hồn mà chúng ta thường không để ý đến. Tâm hồn chúng ta sâu thẳm và phức tạp, và cố gắng lắng nghe những tiếng nói của linh hồn, phải bao gồm cả việc lắng nghe tất cả mọi tâm trạng trong đời, kể cả và đặc biệt là, những khi chúng ta thấy buồn và hụt hẫng. Trong nỗi buồn, u sầu, và sợ hãi, linh hồn nói với chúng ta những điều mà chúng ta vốn thường khước từ không chịu nghe. Do đó, xem lại mặt tích cực của u sầu là một việc quan trọng.

Nhưng buồn thay, ngày nay, người ta thường xem buồn bã và nặng nề trong lòng là một sự suy giảm, thiếu sinh lực, và là một tình trạng không lành mạnh. Nghĩ như thế vừa thật đáng buồn vừa hạn hẹp. Vi dụ như, trong nhiều sách y khoa thời trung cổ và phục hưng, u sầu được xem là một ơn cho linh hồn, một sự người ta cần phải trải qua, một lúc nào đó trong đời mình, để có được sự lành mạnh và toàn vẹn sâu sắc hơn. Tất nhiên, điều này không ứng với sự suy thoái lâm sàng, mất sức khỏe thực sự, nhưng là đang nói đến tất cả những trầm cảm khác đang kéo chúng ta hướng nội và chùng xuống. Tại sao chúng ta cần phải trải qua u sầu để có được sự toàn vẹn?

Thomas Moore, đã viết rất minh triết về việc chúng ta rất cần phải lắng nghe cẩn thận hơn nữa với những xung lực và nhu cầu của linh hồn mình: ‘Trầm cảm cho chúng ta các phẩm chất đáng giá mà chúng ta cần để làm người cho trọn. Nó cho chúng ta sức nặng, khi chúng ta quá nông nổi về đời mình. Nó cho chúng ta một mức độ trang trọng. Nó có chất chì cứng nên người ta bảo nó nặng nề. Nó cũng cho chúng ta già dặn thêm, để lớn lên cho đúng đắn và đừng giả vờ là mình trẻ hơn tuổi. Nó làm chúng ta lớn lên, và cho một loạt cảm xúc và đặc tính nhân văn mà chúng ta cần để đương đầu với những chuyện nghiêm trọng trong đời. Trong các hình ảnh thời phục hưng, trong các sách vở y khoa và các phương thuốc, trầm cảm được khắc họa là một lão nhân mang chiếc mũ chiêm tinh, đứng trong bóng tối, cầm đầu mình trên tay.’

Milan Kundera, nhà văn người Czech, trong tiểu thuyết kinh điển của mình, Sự Khinh suất không chấp nhận được của Hiện hữu, đã đồng hưởng với Moore. Nhân vật chính của ông, Teresa, đấu tranh để đời mình được bình an chứ đừng nặng nề, cuộc đời cô như thế có quá nhiều nhẹ nhõm, ánh sáng, và có vẻ là vô ưu, không có lo âu nào gợi lên u ám và sự chết. Nhưng, cô luôn luôn thấy cần có sự trang trọng, cần một sự gì đó có sức nặng cho thấy rằng cuộc đời cao hơn việc đơn thuần khỏe mạnh và thoải mái. Với cô, sự nhẹn nhõm cùng đồng nghĩa với hời hợt.

Trong nhiều nền văn hóa, và tất nhiên là trong tất cả mọi tôn giáo lớn trên thế giới,các giai đoạn u sầu và buồn bã được xem là con đường cần thiết mà người ta phải đi để giữ được cân bằng lành mạnh và sự toàn vẹn bản thân. Thật vậy, chẳng phải đây là một phần bản chất của mầu nhiệm vượt qua trong Kitô giáo hay sao? Chính Chúa Giêsu, khi chuẩn bị dâng lễ hi sinh tận cùng vì tình yêu, đã phải đau đớn, mà nhận rằng đường đến ngày Phục Sinh, không thể không có sự tăm tối của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh thật xấu, rất lâu trước khi trở nên tốt, ít nhất là khi nhìn từ bên ngoài. Và u sầu, buồn bã, và nặng nề trong lòng, gần như cũng bị xem như vậy.

Vậy chúng ta phải nhìn vào những quãng buồn bã và nặng nề trong đời mình thế nào? Làm sao để đương đầu với u sầu và các con cái của nó?

Trước hết, điều quan trọng là phải xem u sầu (dù là dạng gì) như một sự bình thường và lành mạnh trong đời. Nặng nề trong lòng không nhất thiết cho thấy rằng trong chúng ta có điều gì đó không ổn. Nhưng đúng hơn, là một sự bình thường, là linh hồn đang ra dấu muốn chúng ta chú tâm, muốn được lắng nghe, cố gắng truyền cho chúng ta một con đường sâu sắc hơn, để cho chúng ta già dặn đúng đắn. Nhưng để có được điều này, chúng ta cần phải chống lại 2 cám dỗ đối lập, cụ thể là làm ngơ hay chiều theo sự buồn bã. Làm sao chúng ta làm được thế? James Hillman đã cho chúng ta lời khuyên như sau: Phải làm gì với sự nặng nề linh hồn? ‘Hãy đặt nó vào trong vali và đem theo mình.’ Giữ nó gần mình, nhưng được gói lại, bảo đảm sẵn dùng, nhưng đừng để nó chiếm lấy mình.

Và lời của Hillman, là những lời kiểu thế tục, tương đồng với đòi hỏi của Chúa Giêsu rằng: ‘Nếu con muốn làm môn đệ Thầy, hãy mang thập giá mình hằng ngày và theo Thầy.’

Tìm kiếm Thiên Chúa độc nhất trong các phân rẽ đức tin và giáo phái

Christian de Cherge, đan viện phụ dòng Xitô, đã tử đạo ở Algeria năm 1996, rất thích chia sẻ câu chuyện thế này: Ngài có một người bạn Hồi giáo rất thân, và hai người thường cầu nguyện chung, ngay cả khi họ nhận biết những khác biệt của mình, là Hồi giáo và Kitô giáo. Và cũng nhận thức được rằng một vài trường phái tư tưởng nhất định, trong cả Hồi giáo và Kitô giáo, đều cảnh báo chống lại kiểu cầu nguyện này, vì sợ rằng các đức tin khác nhau không cầu nguyện với cùng một Thiên Chúa độc nhất, nên do đó, họ không gọi việc cả hai cùng làm là cầu nguyện chung. Nhưng họ xem như mình đang ‘cùng đào giếng.’ Một ngày nọ, Christian hỏi Mohammed: ‘Khi đến đáy giếng, chúng ta sẽ thấy gì? Nước của Hồi giáo, hay nước của Kitô giáo?’ Mohammed, nửa đùa, nhưng vẫn vô cùng nghiêm túc, trả lời: ‘Thôi nào, chúng ta đi cùng nhau suốt, mà anh vẫn còn hỏi tôi câu này. Anh biết rõ là đáy giếng có gì rồi, cái chúng ta sẽ tìm thấy chính là nước của Thiên Chúa.’

Có những chân lý tôn giáo quan trọng ẩn trong câu chuyện này. Trước hết, tất cả mọi tôn giáo đáng kể đều tin rằng, điều quả quyết đầu tiên của chúng ta về Thiên Chúa phải là: Thiên Chúa là Đấng không tả nổi, Thiên Chúa vượt quá mọi tưởng tượng, khái niệm hóa và ngôn ngữ của con người. Tất cả mọi sự chúng ta nghĩ và nói về Thiên Chúa, ngay cả trong kinh thánh và các giáo lý rõ ràng của chúng ta, vẫn thiếu thỏa đáng. Những sự của chúng ta có bày tỏ đôi điều sự thật, nhưng ở đời này, không bao giờ là sự thật tuyệt đối. Không một giáo lý và không một tôn giáo nào có một diễn đạt hoàn hảo về Thiên Chúa. Nếu thật như thế, thì tất cả mọi sự thật tôn giáo luôn luôn là cục bộ và giới hạn trong các biểu đạt lịch sử của mình và không thể nhận là đầy đủ hoàn hảo được. Tất cả mọi tôn giáo, giáo lý và biểu đạt thần học, dù thuộc giáo phái hay tôn giáo nào, đều phải khiêm nhượng mà nhìn nhận sự bất trọn của mình. Chỉ một mình Thiên Chúa là tuyệt đối hoàn toàn, và một nhận thức hoàn toàn về Thiên Chúa nằm ở nơi đáy giếng, nơi cuối hành trình tôn giáo của chúng ta.

Điều này thay đổi triệt để cách hiểu của chúng ta về đại kết và đối thoại liên tôn giáo. Bởi không một ai, kể cả chúng ta, nắm giữ sự thật tuyệt đối, nên con con đường đại kết và liên tôn không được xem là kiểu người này thắng người kia bại, vốn vẫn đang rất thường diễn ra đến tận ngày nay, kiểu như: ‘Chúng tôi, chỉ có chúng tôi, mới có chân lý và các bạn phải theo chúng tôi!’ Không phải như thế, đúng ra phải hiểu con đường đại kết là việc ‘cùng đào giếng,’ cụ thể là, mỗi một người chúng ta, với một tâm hồn rộng mở, mong mỏi những người đang không đồng bàn với chúng ta, loại bỏ tất cả việc chiêu mộ, qua truyền thống tôn giáo của mình dấn thân tìm kiếm một sự biến đổi sâu sắc hơn. Cuộc tìm kiếm này chính xác là cuộc tìm kiếm đến tận đáy giếng, biết rằng một khi đến đó, chúng ta cũng như tất cả những người với lòng đạo chân thành, đích thực, sẽ đều tìm thấy nước của Chúa và sự hiệp nhất với tất cả những ai đang cùng hiện diện ở đó.

Nhà đại kết lừng danh, Avery Dulles, đã gọi đây là con đường ‘hội tụ lũy tiến.’ Sự hiệp nhất tận cùng giữa các giáo hội và đức tin khác nhau, sẽ không đến từ việc tất cả mọi người trên thế giới đều cải đạo sang một giáo phái hay một tôn giáo. Nhưng, điều này sẽ đến, và chỉ có thể đến, nhờ mỗi người chúng ta biến đổi sâu hơn bên trong truyền thống của chính mình Khi mỗi một người chúng ta và mỗi đức tin đi sâu hơn vào mầu nhiệm Thiên Chúa, thì chúng ta sẽ dần dần đến gần và gần hơn với người khác. Câu chuyện của đan phụ Christian de Cherge soi sáng tuyệt vời cho chúng ta về điều này.

Và con đường này, khi được thực hiện đúng đắn, không dẫn chúng ta đến chủ nghĩa tương đối và niềm tin ngây thơ rằng mọi tôn giáo đều như nhau Cũng không có nghĩa là chúng ta không nhiệt tâm và công khai cử hành truyền thống đức tin của đạo chúng ta, hay không sẵn sàng bảo vệ đạo mình, không sẵn sàn chào đón bất kỳ ai vào đạo. Nhưng, ý nghĩa của điều này phải là, chúng ta khiêm nhượng nhìn nhận rằng, chúng ta có chân lý sự thật, nhưng sự thật không phải chỉ có duy nhất nơi chúng ta. Thiên Chúa không phải là thần linh bộ lạc, mà ý định cứu rỗi của Thiên Chúa là cho toàn thể nhân loại. Thiên Chúa khao khát ơn cứu độ cho những người thuộc các phái và truyền thống tôn giáo khác, cũng hệt như Ngài muốn cho chúng ta vậy. Do đó, như Chúa Giêsu đã dạy, Thiên Chúa có ‘các con chiên khác,’ những cá nhân và cộng đoàn khác được Ngài yêu thương, dù không thuộc trong đàn của chúng ta. Tình yêu và mặc khải của Thiên Chúa ôm trọn hết thảy mọi người.

Con đường hiệp nhất giữa các Kitô hữu thuộc các phái khác nhau, và con đường hiệp nhất giữa các tôn giáo khác nhau trên thế giới, không phải là con đường chiêu mộ, tự nhận chân lý tuyệt đối về mình, và xem sự hiệp nhất chỉ có thể có được khi tất cả mọi người cải sang đạo mình. Không phải thế, con đường hiệp nhất nằm ở việc ‘cùng đào giếng,’ nghĩa là, trong mỗi chúng ta, trong mỗi truyền thống của chúng ta, phải biến đổi sâu sắc hơn vào trong mầu nhiệm Thiên Chúa và trong tất cả những gì đòi buộc chúng ta. Khi đi vào sâu hơn trong mầu nhiệm Thiên Chúa, chúng ta sẽ thấy mình ngày càng nên một, như các anh chị em trong đức tin.
Không một tôn giáo nào tuyệt đối, chỉ một mình Thiên Chúa tuyệt đối. Biết như thế, sẽ cho chúng ta bớt thiển cận tự mãn trong việc hành đạo của mình, và biết tôn trọng hơn các phái và tôn giáo khác, và sẵn sàng hơn trong việc mang lấy cái nhìn của Thiên Chúa hơn là của chúng ta.

Tầm quan trọng của nội tâm và riêng tư

Về mặt dấn thân cho công bằng xã hội, không bao giờ là đòi hỏi quá mức đối với chúng ta. Một lời kêu gọi then chốt, không thỏa hiệp, từ chính Chúa Giêsu là đòi hỏi chúng ta phải vươn ra đến với người nghèo, người bị loại trừ, những người mà xã hội xem là người lỗi thời.

Do đó, các vấn đề công bằng mang tầm vóc lớn khắp toàn cầu luôn chiếm lấy tâm trí chúng ta. Liệu chúng ta có thể là tín hữu Kitô tốt hay thậm chí là người tử tế, nếu như không để tin tức hàng ngày tẩy luyện trong tâm hồn chúng ta? Đa số dân chúng trên thế giới vẫn đang sống trong cảnh thiếu đói, hàng ngàn người chết vì siêu vi khuẩn Ebola và các chứng bệnh khác, vô số mạng sống bị xâu xé trong chiến tranh và bạo lực, và chúng ta, vẫn luôn là một thế giới đang mải miết trên con đường dài đương đầu thực tế với những tâm thức kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, phá thai. Đây là những vấn đề đạo đức chính yếu và chúng ta không thể đơn giản bỏ qua chúng để ẩn tránh vào thế giới riêng của mình.

Nhưng, chính đây là những vấn đề quá to lớn và quan trọng, nên chúng ta có thể có ấn tượng rằng các vấn đề đạo đức khác, những chuyện đạo đức riêng của mình, không quan trọng bằng. Với những vấn đề vĩ mô trên thế giới, chúng ta, thật dễ để kết luận rằng chuyện chúng ta sống ra sao nơi góc sâu kín nhất trong thế giới riêng của mình, chẳng là chuyện đáng để ý.

Những quan tâm đạo đức nhỏ bé, và riêng tư của chúng ta có thể là rất nhỏ nhặt khi so với các vấn đề của cả thế giới. Nhưng liệu chúng ta có thực sự tin rằng Thiên Chúa bận lòng nhiều về việc chúng ta có đọc kinh ban sáng hay không, có đàm tiếu về đồng nghiệp, giữ một vài mối ác cảm, hay thiếu trung thực trong đời sống tính dục của mình, hay không? Liệu Thiên Chúa có thực sự quan tâm đến những chuyện này hay không?

Có. Thiên Chúa quan tâm vì chúng ta quan tâm. Bất chấp các vấn đề lớn toàn cầu, những vấn đề nội tâm riêng tư của chúng ta thường là những gì xây dựng hay phá vỡ hạnh phúc của chúng ta, chưa nói đến tác động trên tính cách và các quan hệ thân thiết của chúng ta nữa. Xét tận cùng, đây không phải là những bận tâm nhỏ nhặt chút nào. Vì chúng làm nên những điều lớn lao. Đạo đức xã hội đơn thuần là một phản ánh của đạo đức cá nhân. Những gì chúng ta thấy trên bức tranh toàn cầu, đơn thuần là một phóng chiếu từ tâm hồn con người.

Khi không xử lý được những cái tôi, tham lam, dục vọng, và ích kỷ bên trong nơi sâu kín riêng tư của tâm hồn, thì thật ngây thơ khi nghĩ rằng chúng ta có thể xử lý được những vấn đề tầm mức toàn cầu. Làm sao chúng ta có thể xây dựng một thế giới công bằng yêu thương, nếu chúng ta không thể, trước hết thuần hóa được tính ích kỷ bên trong chúng ta? Chuyện toàn cầu sẽ không thể sáng sủa bao lâu khi chúng ta vẫn nghĩ rằng sự mờ mịt trong đời sống riêng của mình chẳng thành vấn đề. Cái toàn cầu đơn thuần là phản ảnh của cái riêng tư. Theo tôi, nếu không nhận ra được điều này, không thấy được con voi chình ình trong phòng, thì chúng ta thất bại trong việc đem lại công bằng cho địa cầu.

Hành động xã hội mà không có đạo đức riêng cũng như không dựa trên linh đạo thiêng liêng, nhưng chỉ đơn thuần mang tính chính trị, dùng quyền để đối quyền, thì hành động đó chỉ tự xem nó là quan trọng nhưng không so sánh được với sự biến đổi thực sự. Nước Thiên Chúa không làm như thế. Nước Trời làm việc qua sự hoán cải, và hoán cải thực sự chính là một hành động tuyệt đối riêng tư. Carlos Castaneda, nhà thần nghiệm châu Mỹ đã viết rằng: “Tôi đến từ châu Mỹ La tinh nơi các nhà trí thức luôn nói về cách mạng xã hội và chính trị, và cũng là nơi bom đạn thường nổ ra. Nhưng chẳng thay đổi được gì nhiều. Để đánh bom một tòa nhà chỉ cần một chút liều mạng, nhưng để thôi không ghen tỵ hay để đi vào thinh lặng nội tâm, bạn phải làm lại bản thân mình. Và chính đây là nơi biến đổi thực sự khởi đầu.”

Thomas Merton cũng có nhận định tương tự. Trong thập niên 1960, khi rất nhiều nhà trí thức dấn thân vào các công cuộc đấu tranh xã hội đủ loại, Merton vẫn ở trong một tu viện, (có vẻ) xa với trận tiền thực sự. Bị châm chích về sự ẩn cư trong tu viện của mình, Merton thừa nhận rằng, với những người ngoài, thì việc tập trung chủ yếu vào cuộc chiến với con quỷ riêng của mình “hẳn là một thứ vặt vãnh.” Nhưng, ông vẫn tin rằng ông đang chiến đấu trong cuộc chiến thực sự: cuộc chiến thay đổi tâm hồn. Khi thay đổi một tâm hồn, bạn đã giúp đem lại một thay đổi đạo đức mang tính cơ cấu và vững bền trên địa cầu này. Tất cả mọi việc khác đơn thuần là việc một sức mạnh này cố gắng thế chỗ một sức mạnh khác.

Đạo đức riêng tư và tất cả những chuyện kèm theo – cầu nguyện riêng, nỗ lực để chân thành và minh bạch trong những chuyện dù là nhỏ nhất và kín đáo nhất của mình – chính là cốt lõi bắt nguồn cội rễ của tất cả mọi đạo đức. Jan Walgrave, khi nói về tầm quan trọng xã hội của thần nghiệm, đã cho rằng: “Bằng cách phân tách một nguyên tử duy nhất, bạn có thể tạo ra nhiều năng lượng hơn cả bằng cách gò cương mọi nguồn lực nước và gió trên trái đất. Đây chính là những gì mà Chúa Giêsu, Đức Phật và tiên tri Mohammed đã làm. Họ chiết xuất nguyên tử tình yêu nội tâm. Và nguồn năng lượng khổng lồ tuôn trào.” Gioan Thánh Giá, khi dạy về tầm quan trọng sống còn của tính thành thật trong những chuyện nhỏ, đã nói rằng: “Chẳng có gì khác biệt khi trói một con chim bằng dây thừng nặng hay bằng sợi dây mảnh, vì cả hai đều không làm nó bay được.”

Đạo đức cá nhân không phải là chuyện không quan trọng, một thứ xa xỉ chúng ta không lo nổi, một đức tính ủy mị, một thứ ngáng đường của lòng tận tụy lo cho công bằng xã hội. Nhưng, đạo đức riêng chính là nơi thâm sâu mà hạt nguyên tử đạo đức có thể bùng phát.

Hiểu và trân trọng những khác biêt của chúng ta

Thường thì chúng ta thấy ân sủng và phúc lành của Thiên Chúa nơi những gì hiệp nhất chúng ta. Chúng ta vốn tự nhiên thấy ơn sủng khi cảm nghiệm được một mối liên kết tinh thần mạnh mẽ với những người, giáo hội và đức tin nhất định. Và theo kinh thánh, đây chính là những gì định hình nên gia đình.

Nhưng, nếu những gì phân tách chúng ta, khiến cho những con người, giáo hội và đức tin trở nên xa lạ với chúng ta, cũng là một ân sủng, một sự khác biệt mà Thiên Chúa đã tiền định? Liệu chúng ta có thể nghĩ về sự khác biệt của mình, cũng như sự hiệp nhất, cũng là một ân sủng từ Thiên Chúa, hay không? Hầu hết tôn giáo, kể cả Kitô giáo, đều trả lời là có.

Cả trong kinh thánh của Do Thái giáo và Kitô giáo đều có những chủ đề nhất quán mạnh mẽ và lặp đi lặp lại rằng thông điệp của Thiên Chúa nói với chúng ta thường đến qua những người lạ, người ngoại kiều, người khác với chúng ta, từ một nguồn mà chúng ta không bao giờ nghĩ sẽ nghe được tiếng Chúa từ đó. Thêm vào đó, là khái niệm rằng khi Thiên Chúa lên tiếng, chúng ta thường cảm nghiệm một sự kinh ngạc, một sự không ngờ đến, một sự không dễ gì ăn khớp với những kỳ vọng thông thường của chúng ta về cách Thiên Chúa hành động và cách chúng ta nhận biết Ngài. Chuyện này có lý do của nó. Nói đơn giản, khi chúng ta nghĩ mình đang nghe tiếng Chúa trong những gì quen thuộc thoải mái và an toàn, thì luôn có cám dỗ muốn biến dạng thông điệp này theo hình tượng và sao cho giống chúng ta. Bởi thế mà Thiên Chúa thường đến với chúng ta thông qua những gì mà chúng ta không quen.

Hơn nữa, những gì quen thuộc thì dễ chịu và an toàn cho chúng ta, nhưng, như đã biết, sự tăng tiến biến đổi thực sự gần như chỉ xảy đến khi chúng ta, như Sarah và Abraham, bị buộc phải đặt chân ở một nơi xa lạ và đáng sợ, bị tước mất toàn bộ những gì dễ chịu và an toàn. Đức Chúa bảo Sarah và Abraham hãy đặt chân đến một vùng đất mà ‘ngươi không biết ngươi đang đi đâu.’ Sự tăng tiến thực sự xảy đến và ân sủng thực sự bước vào khi chúng ta phải đương đầu với những gì không phải mình, xa lạ và khác biệt Theo lời thánh Gioan Thánh Giá thì, hãy học để hiểu bằng cách không hiểu hơn là hiểu. Những gì tối tăm, xa lạ, đáng sợ và không được mời, sẽ mở mang chúng ta theo những cách mà những gì quen thuộc và an toàn không thể đem lại. Thiên Chúa gởi lời đến trần gian qua các ‘thiên thần,’ những thực thể không quen thuộc với chúng ta.

Nếu thật là thế, thì sự khác biệt của chúng ta cũng là một ơn Chúa. Như thế, nhìn mọi sự theo một cách khác không có nghĩa là chúng ta không nhìn đúng sự đó. Và cũng như thế, các ý niệm khác về Thiên Chúa và cách nói khác về Thiên Chúa không có nghĩa là chúng ta đang nói về một Thiên Chúa khác. Cũng đúng như thế với giáo hội của chúng ta, khi có những khái niệm khác về ý nghĩa của giáo hội, không nhất thiết nghĩa là không có sự hiệp nhất thâm sâu bên trong sự đa dạng của chúng ta. Tương tự, cách chúng ta nhìn nhận sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Phép Thánh Thể, cách chúng ta hình dung Chúa Kitô thực sự hiện diện trong bánh và rượu, có thể có nhiều dạng hiểu khác và có thể được trình bày theo nhiều cách khác, nhưng không có nghĩa là chúng ta đang nói về những sự thực khác.

Thánh Gioan Phaolô II, trong một buổi hội liên tôn, đã từng nhận định rằng, ‘có những khác biệt phản chiếu sự phong phú thiêng liêng của Thiên Chúa với các dân tộc.’ Christian de Cherge, sau một đời đối thoại với Hồi giáo, đã cho rằng những khác biệt của chúng ta có một ‘chức năng cận bí tích’ nghĩa là, chúng giúp đưa nhục thể thực sự của trần gian này đến với sự phong phú của Thiên Chúa, Đấng không thể tả nổi và không bao giờ gói gọi trong bất kỳ diễn dạt nào.

Như thế, những khác biệt của chúng ta là một phần của mầu nhiệm hiệp nhất của chính chúng ta. Sự hiệp nhất thực sự, vốn cần phải phản ánh sự phong phú của Thiên Chúa, không tồn tại trong sự đồng nhất và đồng hóa, nhưng chỉ trong sự hòa hợp nhiều ơn khác nhau và sự phong phú, như một bình hoa đẹp với các loại hoa khác nhau cắm chung trong bình. Các khác biệt hợp lý của chúng ta bắt rễ sâu trong cùng một Thiên Chúa.

Chúng ta thấy điều này ở mọi khoảng sống trong đời mình, từ cách đón nhận các di dân vào nước mình, cách chúng ta giải quyết các cá tính khác biệt trong gia đình và nơi làm việc, cho đến cách đối đãi với các phái Kitô giáo và các tôn giáo khác. Không chạy theo thuyết hổ lốn ngây thơ và không chối bỏ vị thế đúng đắn của nhận thức, nhưng vẫn cần phải nhìn nhận rằng, các khác biệt của chúng ta, được hiểu là biểu lộ sự hiệp nhất thâm sâu hơn mà chúng ta chưa thể nhận thức được, sẽ mở chúng ta ra một cách trọn vẹn hơn với mầu nhiệm không dò thấu, không tả được, quá thâm sâu của Thiên Chúa, và đồng thời cũng ngăn không để chúng ta thần tượng hóa các tư tưởng, truyền thống tôn giáo, các cách hiểu đức tin, hay các thần học và hệ tư tưởng của mình. Hơn nữa, chấp nhận rằng các khác biệt là dự định của Thiên Chúa, và là sự hiện diện của ơn Chúa trong đời, sẽ ngăn chúng ta không tự tạo chân tính của mình, đặc biệt là chân tính tôn giáo, dựa trên nền tảng là mâu thuẫn với người khác và nhu cầu không lành mạnh là luôn mãi khẳng định sự độc nhất và chân lý của mình chống lại những gì khác biệt.

Thiên Chúa yêu thương chúng ta như nhau. Do đó, các khác biệt phải được hiểu là một phần của mầu nhiệm hiệp nhất, và phải giúp chúng ta giữ mình khiêm nhượng và thành tâm cho đủ để không chối bỏ vị trí đúng đắn của người khác trước mặt Chúa.

Mười quyển sách hàng đầu của tôi trong năm 2014

Thật tiếc là năm nay do áp lực công việc và việc muc vụ đã giới hạn thời gian đọc không được nhiều như tôi mong muốn. Nhưng, với tính nghiện sách và biết rằng không có những thấu suốt và hứng khởi từ sách vở, tôi sẽ luôn bị đình trệ về mặt tinh thần và sáng tạo, nên hầu như ngày nào tôi cũng chắt chiu một khoảng thời gian để đọc sách. Và do việc mục vụ cũng như tính cách của mình, tôi thích đọc nhiều loại sách: từ tiểu thuyết, tiểu sử, các bài phê bình, cho đến các sách về Kinh thánh, thần học và linh đạo.

Và đây là tâm thức của tôi về việc đọc sách một cách thích đáng: Trong những năm đầu ở Đại học, tôi được giới thiệu cho một vài tiểu thuyết rất hay. Và tôi nhận thấy, nếu không có các tác phẩm văn học tuyệt vời, thì đời tôi sẽ cằn cỗi biết bao. Từ lúc đó, đã 40 năm trôi qua, tôi không bao giờ không có một quyển tiểu thuyết mở sẵn trong tầm tay. Các tiểu thuyết gia xuất sắc có những thấu suốt khiến các nhà tâm lý học và văn học thiêng liêng phải ghen tỵ, họ khơi lên tưởng tượng và hiểu biết về cảm xúc theo các cách riêng thường mà các sách hàn lâm không có. Cũng vậy, tôi luôn để mở một quyển tiểu sử hay khảo luận trong tầm tay. Những sách này mở mang tầm hiểu biết của tôi, cũng như thắt chặt trí tưởng tượng và tâm hồn tôi. Cuối cùng là các sách thần học và linh đạo, tốt cho tâm tính và ơn gọi của tôi. Tôi đọc những sách này với niềm say mê, nhưng cũng là một nguồn để phát triển chuyên ngành cho mình.

Vậy nên với những món ngon này, tôi xin đưa ra 10 quyển sách hàng đầu mà tôi đã đọc trong năm 2014.

Về tiểu thuyết, tôi đặc biệt giới thiệu 4 quyển này:

  • Mọi ánh sáng mà chúng ta không thể thấy [All the Light We Cannot See] của Anthony Doerr. Đây không chỉ là một trong những quyển sách hàng đầu tôi đã đọc trong năm qua, mà đây còn là một tác phẩm văn học Anh cổ điển ngoại hạng, với tôi đây là một trong những tiểu thuyết hay nhất tôi từng đọc. Nói đơn giản, đây là một quyển sách tuyệt vời, không phải như kiểu Nhật ký Anne Frank, nhưng là một câu chuyện đánh động lòng người gần như vậy.
  • Lila của Marilynne Robinson. Robinson lấy một vài nhân vật từ quyển Gilead (2004) và thêm vào một cô gái trẻ lạc lối tên là Lila, qua Lila, chúng ta có một bản ghi âm gần với sự cô đơn và đức tin. Bên cạnh chiều sâu xúc cảm và văn điệu hoàn hảo, Robinson cũng cho chúng ta một biện giáo về cảm thương và lòng thương xót của Thiên Chúa có thể làm cho đức tin trở nên khả tín hơn với những người hoài nghi ở thời này.
  • Phát minh Đôi cánh [The Invention of Wings] của Sue Monk Kidd. Đây là một tiểu thuyết lịch sử rất mạnh về tội nộ lệ và thành kiến giới tính. Phản ánh lại trình thuật cứu độ của Kitô giáo, với sự thiện chiến thắng sau cùng, nhưng phải nhờ đến máu tử đạo được đổ ra. Sue Monk Kidd luôn là tác giả đáng đọc, nhưng quyển này thật ngoại hạng, ngay cả so với các tiểu thuyết gia ngang tầm với bà.
  • Hạ địa [The Lowland] của Jhumpa Lahire. Như nhiều tiểu thuyết của Lahire, quyển này cũng lấy bối cảnh đặc thù của di dân từ Ấn Độ đến Hoa Kỳ, nhưng điểm nhấn mà quyển này soi vào quan hệ nhân sinh giúp lột trần những đấu tranh rất chung của nhân loại.

Trong các sách tiểu sử, có 2 quyển đặc biệt với tôi.

  • Con đường là Cách thức, Hành hương Đồng cỏ qua Tự nhiên, Khao khát, và Linh hồn [The Road is How, A Prairie Pilgrimage through Nature, Desire and Soul] của Trevor Herriot. Nội dung đi theo tiêu đề quyển sách. Herriot làm một chuyến rảo bộ hành hương qua vùng đồng cỏ Saskatchewan, một mảnh đất in dấu trâu bò trong nhiều thế kỷ, và để tự nhiên cùng khao khát lên tiếng với linh hồn mình. Kết quả từ đó là một biên sử phi thường, một quyển sách tinh thần sâu sắc về tự nhiên, bản tính con người, tính dục, đức tin, và khao khát.
  • Theo chân Mẹ, Tâm thần con trẻ khám phá Bí ẩn về Việc Mẹ mình tự vẫn [In Her Wake, A Child Psychiatrist Explores the Mystery of Her Mother’s Suicide] của Nancy Rappaport. Trong quyển này, Nancy Rappaport làm những gì mà tất cả chúng ta làm khi mất đi một người thân yêu vì tự vẫn, cụ thể là, tìm hiểu chuyện đời người đó và làm rõ những mạch chuyện, phục hồi ký ức về người đó.

Trong các sách thần học và linh đạo, tôi đề xuất:

  • Hành hương [A Pilgrimage] của James Martin. Đây là quyển tuyệt nhất của James Martin, cho chúng ta một Kitô học lành mạnh, cân bằng và tốt đẹp, theo một cách rất dễ tiếp cận với người đọc. Uyên thâm nhưng dễ gần với tất cả mọi người.
  • Học cách Bước đi trong Bóng tối [Learning to Walk in the Dark] của Barbara Brown Taylor. Quyển này của bà đã được lên trang bìa tạp chí TIME, thật xứng đáng. Taylor đem lại một thấu suốt về đêm tối linh hồn, cho những ai không thể, và sẽ không, đọc các sách thần học quá chuyên ngành.
  • Giêsu thành Nazareth, Ngài muốn gì, Ngài là ai [Jesus of Nazareth, What He Wanted, Who He Was] của Gerhard Lohfink. Đây là quyển sách uyên thâm, dù khá dễ đọc đối với những người không chuyên ngành. Quyển này kết hợp kiến thức học giả vững chắc, thấu suốt sáng tạo, cân bằng tốt, và sự tận tâm với đức tin Kitô giáo.
  • Christian de Cherge, Thần học Hy vọng [Christian de Cherge, A Theology of Hope] của Christian Salenson. Christian de Cherge là đan viện phụ của cộng đoàn dòng Xitô, và đã tử đạo ở Algeria năm 1996. Quyển này thu thập các bài viết quan trọng của ngài, đặc biệt là vấn đề quan hệ Kitô giáo với các tôn giáo khác, nhất là với Hồi giáo. Đức tin được xây trên máu các bậc tử đạo. Đối thoại Liên tôn trong tương lai có thể được xây dựng trên máu và ngòi bút của vị tử đạo này. Một quyển sách ngoại hạng cho chúng ta thấy đức tin và chí khí đặc biệt của đan phụ Christian de Cherge.

Mong sao trong năm 2015 nhiều quyển sách hay sẽ tìm đến gặp bạn.

Sẵn sàng cho Giáng Sinh

Nhiều người bước vào lễ Giáng Sinh một cách mệt mỏi, bận rộn, xao lãng, và bị vắt kiệt với đủ mọi ánh đèn, ca nhạc, và ăn mừng Giáng sinh. Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị cho Giáng Sinh, nhưng với nhiều người trong chúng ta, đây không phải là thời gian chuẩn bị để Chúa Kitô có thể sinh ra lần nữa một cách sâu đậm trong đời sống mình. Thay vào đó, việc chuẩn bị cho Giáng Sinh, hầu như là để chuẩn bị cho các buổi ăn mừng với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp. Những ngày hướng đến Giáng Sinh hiếm khi được yên bình. Thay vào đó, chúng ta cứ hối hả vội vã lo trang trí, mua quà, gởi thiệp, chuẩn bị đồ ăn, và dự các liên hoan Giáng Sinh. Hơn nữa, khi Giáng Sinh về, chúng ta đã chán ngấy các bài hát Giáng Sinh, đã nghe chúng cả trong các điệu nhạc giật gân trong các trung tâm mua sắm, trong nhà hàng, quảng trường, và trên đài phát thanh.

Và rồi Giáng Sinh đến với chúng ta trong một không gian chật chội và mệt mỏi, chứ không thư thái và yên bình. Thật vậy, đôi khi mùa Giáng Sinh như bài kiểm tra sức chịu đựng hơn là thời gian vui vẻ thực sự. Hơn nữa, và còn nghiêm trọng hơn, nếu chúng ta thành thật với bản thân, chúng ta phải công nhận, trong khi chuẩn bị chúng ta ít chừa chỗ cho việc thiêng liêng, cho Chúa Kitô sinh ra một cách sâu đậm trong lòng mình. Thời gian chuẩn bị thường dành để chuẩn bị nhà cửa hơn là chuẩn bị tâm hồn, mua sắm hơn là cầu nguyện, tiệc tùng hơn là chay tịnh chuẩn bị cho đại lễ. Mùa Vọng thời nay có lẽ là để ăn mừng trước hơn là chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh.

Và kết quả là, như các chủ trọ đã không còn phòng cho Đức Mẹ và thánh Giuse trong mùa Giáng Sinh, chúng ta cũng thường “không còn phòng” không còn chỗ trong đời mình cho sự tái giáng sinh thiêng liêng. Lòng chúng ta thì tốt, chúng ta muốn Giáng Sinh tái sinh chúng ta về đường thiêng liêng, nhưng cuộc sống của chúng ta quá nhiều áp lực, quá nhiều hoạt động và quá mệt mỏi, đến nỗi chúng ta không còn sinh lực thực sự để làm cho Giáng Sinh trở nên thời gian đặc biệt để canh tân tâm hồn mình. Tinh thần Giáng Sinh vẫn ở trong chúng ta, vẫn thật, nhưng như đứa trẻ trong nôi bị bỏ bê đang chờ được bồng ẵm. Và chúng ta muốn bồng đứa trẻ lên, nhưng lại không bao giờ đến gần cái nôi cả.

Vậy thì chúng ta thật tệ biết bao?

Điều này thách thức chúng ta hãy nhìn vào chính mình, nhưng không đến nỗi xấu như nhiều chỉ trích lòng đạo thường hay nói đâu. Dự lễ Giáng Sinh với một cuộc sống quá bận rộn và quá lơ là việc dành chỗ cho Chúa Kitô, không biến chúng ta thành người xấu. Như thế không có nghĩa chúng ta là những kẻ ngoại đạo vô tâm. Và cũng không có nghĩa là Chúa Kitô đã chết trong lòng chúng ta. Chúng ta không xấu xa, mất đức tin và ngoại đạo chỉ vì chúng ta hướng đến Giáng Sinh theo thói quen một cách quá lơ là, quá bận rộn, quá áp lực và quá mệt mỏi đến nỗi không thể có một nỗ lực ý thức để làm cho đại lễ này trở thành dịp để canh tân linh hồn thực sự trong đời mình. Tình trạng thờ ơ đường thiêng liêng của chúng ta định rõ chúng ta là con người hơn là thiên thần, trần tục hơn là thuần khiết, và duy cảm hơn là duy thiêng. Tôi cho rằng Chúa hoàn toàn hiểu tình trạng này của chúng ta.

Thực sự, tất cả mọi người đều đấu tranh với điều này theo nhiều cách. Không ai hoàn hảo, không ai dành trọn không gian của đời mình cho Chúa Kitô, ngay cả trong thời gian Giáng Sinh. Điều này sẽ cho chúng ta đôi chút an ủi. Nhưng cũng cho chúng ta một thách thức cấp thiết. Trong cuộc sống bận rộn và lơ đãng của chúng ta, có quá ít chỗ cho Chúa Kitô! Chúng ta phải hành động dọn đôi chỗ cho Chúa Kitô, khi làm cho Giáng Sinh thành một thời gian phục hồi linh hồn và canh tân đời sống.

Làm sao chúng ta làm được chuyện này?

Trong những ngày cận kề Giáng Sinh, chúng ta cố gắng làm đủ mọi chuyện cần thiết để sẵn sàng cho tất cả những gì cần có trong nhà, trong nhà thờ, và nơi làm việc. Chúng ta đi mua quà, gởi thiệp, treo đèn và trang trí, soạn thực đơn, mua đồ ăn, dự đủ tiệc liên hoan Giáng Sinh ở nơi làm việc, nhà thờ và nhà bạn bè. Điều này, cộng thêm vào áp lực sẵn có trong cuộc sống, thường làm cho chúng ta nghĩ: Tôi sẽ không làm được! Tôi sẽ không sẵn sàng! Tôi sẽ không sẵn sàng cho Giáng Sinh! Đây là cảm giác chung của mọi người.
Nhưng, sẵn sàng cho Giáng Sinh, làm mọi việc cần làm, không phải là hoàn tất các việc chúng ta đã lên danh sách như mua quà, gởi thiệp, thức ăn, các bổn phận xã hội. Ngay cả khi danh sách những việc cần làm chỉ mới xong được một nửa, nhưng nếu bạn đi lễ nhà thờ ngày Giáng Sinh, nếu bạn ngồi được trong bàn ăn với gia đình vào ngày Giáng Sinh, và nếu bạn thăm hỏi hàng xóm và đồng bạn với đôi chút nồng hậu hơn, thì điều này không có nghĩa là bạn lơ là, mệt mỏi, quá tải, và không suy nghĩ rõ về Chúa Giêsu, và có nghĩa là bạn đã làm trọn những việc để đón Giáng Sinh rồi đó.

Đi viếng, xem lại đi viếng

Chúng ta đã quá quen câu chuyện Đức Mẹ đi viếng bà thánh Isave trong Thánh Kinh. Đây là chuyện ở phần đầu Phúc âm theo thánh Luca. Đức Mẹ và người bà con Isave đều đang mang thai, họ gặp nhau. Một người mang Chúa Giêsu, một người mang thánh Gioan Tẩy giả. Tin Mừng muốn chúng ta nhận ra rằng cả hai việc thụ thai này đều là bất khả thi về mặt sinh học, một người thụ thai khi vẫn là trinh nữ, và người kia thụ thai khi đã son sẻ quá lâu. Vậy nên, rõ ràng đây là một việc thiêng liêng. Nói đơn giản, mỗi người đều mang một ơn trọng từ trời, và mỗi người đang mang một phần lời hứa thiêng liêng rằng rồi đến một ngày hòa bình của Thiên Chúa sẽ thiết lập trên địa cầu.

Nhưng cả Đức Mẹ lẫn Isave đều ý thức nhận ra mối liên kết thiêng liêng giữa hai đứa trẻ mà họ đang mang. Tin Mừng cho chúng ta biết đây là “hai người bà con,” cả hai đứa trẻ và hai bà mẹ, nhưng Tin mừng muốn chúng ta suy nghĩ xa hơn về mặt huyết thống. Họ là bà con, cũng như Chúa Kitô và tất cả những gì thiêng liêng là bà con vậy. Đây là một trong những ý nghĩa của khái niệm Đi viếng.

Đức Mẹ và bà Isave gặp nhau, cả hai đều mang thai thiêng liêng. Mỗi người đều mang trong mình đứa trẻ từ trời, một người mang Chúa Kitô và người kia mang ngôn sứ độc nhất, người bà con của Chúa Kitô. Và khi họ gặp nhau, có một chuyện đáng phải chú ý. Người bà con của Chúa Kitô trong bụng mẹ, không có một nhận thức rõ ràng, đã nhảy lên vui sướng khi Chúa Kitô đến thăm và phản ứng đó đã làm cho dạ mang Chúa Kitô trỗi lên bài ca Ngợi khen.

Có nhiều điều trong hình ảnh này: Người bà con của Chúa Kitô vô thức nhảy lên vui sướng khi Chúa đến thăm, và phản ứng đó khơi dậy bài Ngợi khen từ lòng người nữ mang Chúa Kitô. Christian de Cherge, đan viện phụ dòng Xitô, tử đạo ở Algeria năm 1996, đã cho rằng, đây là điểm mấu chốt để chúng ta, những Kitô hữu, được định gặp gỡ các tôn giáo khác trên thế giới. Ngài thấy hình ảnh này soi sáng cho luận thuyết này:

Kitô giáo đang mang Chúa Kitô và các tôn giáo khác cũng đang mang một sự thiêng liêng, một “người bà con” thiêng liêng, một người dẫn hướng đến Chúa Kitô. Nhưng tất cả đều đang trong tình trạng vô thức, chúng ta không thực sự nắm bắt được mối dây này, liên kết này giữa những gì chúng ta mang trong lòng với những gì trong lòng người khác. Nhưng khi đứng trước người khác, người không có cùng đức tin Kitô như chúng ta, nhưng thành tâm và theo đúng đức tin của mình, chúng ta sẽ nhận ra mối quan hệ này, dù là vô thức. Trong cuộc gặp gỡ đó, chúng ta sẽ thấy được mối liên kết: Những gì chúng ta mang trong lòng sẽ làm cho lòng người khác có một sự gì đó nhảy lên vui mừng, và điều này sẽ cho chúng ta cất lên lời Ngợi khen, như Đức Mẹ lúc xưa vậy, và chúng ta sẽ muốn ở lại với người khác để cùng nâng đỡ nhau.

Và chúng ta cần sự nâng đỡ đó, như người khác cũng vậy. Đan viện phụ Christian de Cherge đã nói: “Chúng ta biết rằng những người chúng ta đến gặp cũng như Isave vậy: họ mang trong mình một thông điệp từ Thiên Chúa. Giáo hội chúng ta không bảo cho chúng ta biết và cũng không biết chính xác mối liên kết giữa Tin Mừng mà chúng ta mang trong lòng với thông điệp đem lại sự sống cho người khác. … Chúng ta có lẽ chẳng bao giờ biết đích xác mối liên kết này là gì, nhưng chúng ta biết rằng người khác cũng đang mang một thông điệp từ Thiên Chúa. Vậy chúng ta phải làm gì? Chứng tá nào trong việc này? Sứ mạng nào cho chúng ta? … Hãy xem, khi Đức Mẹ đến nhà, chính Isave đã mở lời trước. Hay là Đức Mẹ? …. Chắc hẳn Đức Mẹ đã nói rằng: “Bình an, Bình an ở cùng chị.” Và lời chào đơn giản này đã thổi bùng sinh lực cho một sự gì đó, một người nào đó, bên trong bà Isave. Và trong sự rung động này, sẽ thốt ra lời. … Đây chính là Tin Mừng, không phải là toàn bộ Tin Mừng, nhưng là điều có thể thoáng thấy Tin Mừng ngay lúc này.”

Đan viện phụ Christian de Cherge nói thêm: “Đến cuối cùng, nếu chú tâm thì khi chúng ta gặp người khác với tấm lòng tận tâm và khao khát được gặp họ, cần đến họ, cần những lời họ nói với mình, thì có lẽ người kia sẽ nói với chúng ta một điều gì đó liên kết với những gì chúng ta đang mang trong lòng, một điều gì đó bày tỏ sự đồng lòng với chúng ta … cho chúng ta mở rộng Phép Thánh Thể của mình.”

Chúng ta cần nhau, tất cả mọi người mọi người trên địa cầu đều cần nhau, Kitô hữu và không Kitô, Do Thái và Hồi giáo, Tin Lành và Công giáo La Mã, phái Phúc âm và phái Độc vị, những người theo thuyết bất khả tri và vô thần thành tâm, chúng ta cần đến nhau để hiểu được mặc khải của Thiên Chúa. Không một ai hiểu trọn vẹn mà không nhờ người khác. Do đó, mối quan hệ qua lại của chúng ta với người khác không chỉ phát xuất từ lòng nhiệt thành với sự thật chúng ta đã nhận, nhưng còn từ sự thiếu thốn những sự thật khác nữa. Không có người khác, không nhận ra người khác cũng đang mang tính thiêng liêng, thì chúng ta sẽ không thể thực sự cất lên lời Ngợi khen. Không có nhau, không một ai trong chúng ta có thể đọc được Kinh nguyện Thánh Thể rằng “máu này đổ ra cho nhiều người được tha tội.”

Vinh danh tài năng và đáng kính

Với những ai không phải là người Canada, có lẽ cái tên này chẳng nói lên gì, nhưng, tuần qua, Canada đã mất một trong những biểu tượng văn hóa vĩ đại của mình, Jean Beliveau, một nhà thể thao lừng danh. Ông qua đời, và tất cả người Canada, kể cả những người xa xứ đã khóc thương tiếc cho sự ra đi của ông.

Jean Beliveau còn hơn cả một vận động viên, dù chắc chắn ông là vận động viên cả triệu người mới có một. Kỷ lục các thành tích của ông gần như không thể tin nổi. Ông chơi trong Giải Băng cầu Vô địch Quốc gia (hockey) trong 20 mùa giải, và có được 10 chức vô địch. Về sau, với vai trò điều hành, ông góp phần đem về thêm 7 chức vô địch khác. Hãy tưởng tượng, có ai, trong bất kỳ môn thể thao nào ở mức độ cao nhất, lại giành được 17 chức vô địch.

Nhưng đây không phải là những gì làm nên sự vĩ đại của ông, cũng như không phải là lý do cả đất nước yêu mến ông và biến ông thành một biểu tượng quốc gia. Nhưng chính trong thái độ đáng mến của ông, cách hành xử ngoại hạng cả trong và ngoài sân đấu. 17 chức vô địch thật phi thường, nhưng thành tựu thực sự của ông chính là sự tôn trọng mà tất cả mọi người dành cho ông, cả trong và ngoài sân đấu. Tôi không biết bất kỳ vận động viên chuyên nghiệp nào, ở bất kỳ môn nào lại có được sự tôn trọng như ông đã có. Thật vậy, rất lâu sau khi ông giải nghệ, thủ tướng Canada đã mời ông làm Toàn quyền Canada, một chức vị chỉ dành cho những người mà toàn quốc xem như biểu tượng của sự hiệp nhất, phẩm giá và vinh dự. Ông đã nhã nhặn từ chối.

Điều gì đã khiến ông trở nên độc nhất vô nhị? Cũng có các vận động viên và ngôi sao ca nhạc lừng lẫy nhưng biết khiêm tốn và đáng mến. Điều gì khiến ông khác hẳn phần còn lại? Sự vĩ đại là một sự không thể nắm bắt rõ ràng được, thật khó để có thể chính xác đưa ra điều gì làm cho người đó nổi bật như thế? Vậy tại sao lại là Jean Beliveau? Xét cho cùng, ông chỉ là một nhà thể thao chơi hockey. Vậy điều gì khiến cho ông có được một sự tôn trọng quá phi thường?

Nhà tâm thần học Ba Lan lừng danh, Kasmir Dabrowski, có một thuyết gợi nhiều suy tư về sự trưởng thành của con người, và điều gì đã làm cho con người được sự trưởng thành đó. Theo ông, chúng ta lớn lên bằng sự đổ vỡ, bằng việc khụy gối do các cơn khủng hoảng đã gặp nên đã thúc đẩy chúng ta vươn lên khỏi các lề thói tầm thường và sự non nớt của mình. Richard Rohr gọi điều này là ngã lên [không phải ngã xuống]. Chúng ta trưởng thành hơn qua thất bại, trở nên kiêu ngạo vì thành công. Hầu như đúng là thế. Thành công hủy hoại đời sống còn hơn là do thất bại.

Nhưng như thế có hợp lý hay không? Lớn lên nhờ thành công không phải hợp lý hơn sao? Thành công khơi gợi lên lòng biết ơn trong lòng chúng ta và làm cho chúng ta quảng đại, độ lượng hơn không phải sao? Một vài người đã hỏi Dabrowski câu hỏi trên, và đây là câu trả lời của ông: “Anh đúng, thành công sẽ làm chúng ta trở nên biết ơn và độ lượng hơn, đó là cách lý tưởng để lớn lên … ngoại trừ một việc, là trong suốt 40 năm kinh nghiệm hành nghề, tôi chưa bao giờ thấy mọi chuyện diễn ra như thế. Cách này chỉ xảy ra với những trường hợp đặc biệt, cực hiếm … và tôi tin rằng, đây là những gì làm nên một con người vĩ đại.” Một người vĩ đại là người mà, thành công sẽ mở rộng tâm hồn hơn là thả lỏng cái tôi.

Khi Jean Beliveau bước chân vào Băng cầu Quốc gia, ông là người cao nhất, có kỹ thuật nhất, đáng mến nhất, và đẹp trai nhất giải. Thật không phải là những thiên khiếu bình thường. Ông có đôi chút giống Vua Saul khi mới được phong vương lúc còn trẻ. Trong số các con của Benjamin, có một người tên là Saul, một người trẻ tuổi đẹp trai. Trong tất cả dân Israel, không ai đẹp trai hơn ông, khi đứng, ông cao hơn bất kỳ ai. Nhưng, đáng buồn thay, tất cả mọi thiên khiếu và thành công đó không làm cho Saul trở nên một vị vua tốt. Nhưng lại hủy hoại ông. Bám chặt một cách sai lầm vào thiên phú của mình, ông đã biến đời mình thành bi kịch. Chiều cao, đẹp trai và sự đáng mến của ông, làm cho ông ghen tỵ trước thiên khiếu của người khác, và ông trở nên hoang tưởng, hằn học, để rồi cuối cùng tự kết liễu cuộc sống mình. Câu chuyện của Saul là một trong những bi kịch lớn nhất từng được viết ra: đáng buồn thay, nó vẫn được viết đi viết lại trong cuộc đời của những tài năng lớn. Thiên phú đến cùng với những nguy cơ của nó. Thiên phú và thành công, dễ dàng thổi phồng cái tôi cũng như dễ dàng mở rộng linh hồn.

Đáng buồn thay, ngày nay, chúng ta thấy điều này nơi rất nhiều người, không phải chỉ trong thể thao nơi cái tôi và cảm xúc riêng thường được hợp lý hóa và được xem như một phẩm chất đáng ao ước của một vận động viên, đây được xem là một tính tốt hơn là một tính xấu, vì một tên khệnh khạng bạo dạn và ngông ngạo sẽ góp phần hù dọa đối thủ, giúp thắng trận, và làm cho cả thế giới phải dán mắt theo dõi. Nó làm nên màu cờ sắc áo, tiếng tăm, có nhiều người hâm mộ, nổi tiếng và danh vọng. Màu cờ sắc áo và tiếng tăm lớn hơn cá tính, và kiêu ngạo có thể góp phần đem lại thắng lợi.

Do thế, tôi thật mừng vì đã có một thời buổi khác hẳn, khi các vận động viên và hầu hết mọi người phải thấy ngại về cái tôi và thói tự tâng bốc mình. Tôi mừng là khi tôi còn nhỏ, đam mê thể thao, và thần tượng các vận động viên, đã có một ngôi sao là Jean Beliveau, người tránh các thói kiêu căng, làm dáng, khệnh khạng, mắng nhiếc đối thủ, và tự tâng bốc mình một cách thô bỉ, để chơi với một sự đáng mến và khiêm tốn, làm cho mọi người ngưỡng mộ một cách đúng đắn, dù ông vẫn thắng trận.

Tự hiến và Thánh Thể

Năm 1996, các người Hồi giáo cực đoan đã giết hại gần như cả cộng đoàn dòng Xitô ở Atlas, Algeria. Qua bộ phim Thần và Nhân [Of Gods and Men], chúng ta biết đến câu chuyện này và cũng biết đến đức tin và lòng dũng cảm phi thường của các tu sĩ này, đặc biệt là đan viện phụ Christian de Cherge, khi đối diện với cái chết. Thật vậy, những dòng cuối cùng của đan phụ Christian de Cherge đã cho thấy một đức tin và tình yêu thương thực sự phi thường.

Chẳng hạn như, vài tháng trước khi chết, khi đã cảm nhận được những gì sẽ giáng xuống cho mình, ngài viết một lá thư cho gia đình, trong đó ngài tha thứ cho những kẻ sát nhân và hy vọng rằng về sau sẽ được gặp họ trên thiên đàng, để đều được chung phần ánh sáng trước nhan Chúa. Và sau khi gặp mặt đối mặt với tên cầm đầu nhóm khủng bố, người vừa chặt đầu 9 người xong, ngài cầu nguyện: “Xin tước hết vũ khí của con, xin tước hết vũ khí của họ.”

Trong nhật ký đã được công bố của mình, ngài chia sẻ câu chuyện sau: Vào sáng được rước lễ lần đầu, ngài bảo mẹ, ngài thực sự không hiểu mình đang làm gì khi nhận Mình Thánh. Mẹ ngài đơn giản trả lời: “Con sẽ hiểu về sau.” Nhật ký của ngài tiếp tục theo dấu ngài đào sâu nhận thức về Mình Thánh Chúa suốt cả đời, đặc biệt là trong liên hệ với Hồi giáo và một sự kiện phi thường trong đời ngài. Đây là một sự kiện phi thường:

Từ tháng 7 năm 1959 đến tháng 1 năm 1961, Christian là sĩ quan phục vụ trong quân lực Pháp ở Algeria. Khi tại ngũ, ngài làm bạn với một người Hồi giáo tên là Mohammed, anh có gia đình, tính tình đơn sơ, và là một tín hữu Hồi giáo nhiệt thành. Họ sớm có một tình thân sâu đậm. Một ngày nọ, trong một cuộc giao tranh, Christian bị quân đội Algeria bắt giữ. Bạn Mohammed can thiệp và thuyết phục những người bắt giữ rằng Christian rất đồng cảm với đại nghĩa của họ. Christian được thả, nhưng ngày hôm sau, Mohammed bị giết, một hành động trả đủa cho việc anh góp phần trả tự do cho Christian.

Hành động quên mình của người bạn Hồi giáo, đã trao cả mạng mình vì Christian đã ghi một dấu ấn không bao giờ phai trong lòng ngài. Và đây cũng có thể là lý do làm cho ngài khi là đan sĩ đã suy nghĩ và quyết định trở lại Algeria để sống đoàn kết với cộng đoàn Hồi giáo tại Atlas, và ở đó cho đến khi chết. Nhưng sự tự hiến này còn đào sâu nhận thức của ngài về Mình Thánh Chúa.

Mẹ của ngài đã nói: “Con sẽ hiểu về sau,” và bây giờ ngài đã hiểu: Mình Thánh Chúa không chỉ là sự hiện diện của Chúa Giêsu, nhưng còn là hiện diện cái chết hy sinh của Ngài cho chúng ta. Chúa Giêsu đã chết cho chúng ta “và cho nhiều người”, và người bạn Mohammed cũng vậy. Ông đã hiến cái chết của mình cho người khác, hy sinh này vừa noi gương vừa thông phần vào cái chết của Chúa Giêsu. Do đó, với Christian, mỗi khi cử hành Phép Thánh Thể, ngài cũng cử hành ơn hy sinh của Mohammed cho mình. Bạn của ngài cũng đã đổ máu “vì nhiều người.”

Hy sinh của Mohammed giúp Christian nhận ra và cảm kích sâu đậm hơn hy sinh của Chúa Giêsu, vì ngài tin rằng, trong Phép Thánh Thể, hy sinh của Chúa Giêsu và của bạn mình đều chân thực và đem lại hiện thực này. Christian tin rằng hy sinh của Chúa Kitô bao gồm sự hy sinh trong mọi hành động hy sinh, và do đó, hy sinh của bạn ngài là một phần hy sinh của Chúa Kitô.

Ngài đúng. Trong mọi cử hành Phép Thánh Thể, chúng ta tưởng nhớ ơn mà Chúa Giêsu đã ban từ cái chết của Ngài, nhưng cũng tưởng nhớ ơn hy sinh của tất cả những ai đã noi gương yêu thương quên mình và hy sinh của Chúa Giêsu. Trong Phép Thánh Thể, hy sinh của Chúa Kitô mà chúng ta tưởng nhớ, cũng bao gồm hy sinh của tất cả những người đã chết “vì nhiều người khác,” dù họ làm trong vô thức.

Phép Thánh Thể là một mầu nhiệm khó nắm bắt với vô số chiều sâu và mức độ ý nghĩa. Chúng ta không bao giờ có thể nắm bắt trọn vẹn được. Nhưng chúng ta có bạn đồng hành: Khi Chúa Giêsu lập Phép Thánh Thể trong bữa tiệc ly, các tông đồ cũng không thực sự hiểu được việc Chúa đang làm, thể hiện qua việc Phêrô không chịu cho Chúa rửa chân mình. Hành động phản đối của Phêrô cho thấy rõ ràng rằng ngài không hiểu ý của Chúa Giêsu trong việc lập Phép Thánh Thể. Và những lời của Chúa Giêsu với thánh Phêrô và các tông đồ cũng là lời mà mẹ của Christian de Cherge nói với ngài, khi ngài bảo là mình không hiểu về Mình Thánh Chúa: “Về sau, con sẽ hiểu.”

Khi tôi rước lễ lần đầu, tôi có một hiểu biết con nít về Mình Thánh Chúa. Lúc 7 tuổi, đã được học giáo lý, tôi tin rằng tôi đang rước thân thể thực sự của Chúa Giêsu, và tin rằng trong thánh lễ khi bánh rượu được thánh hóa, là chúng tôi đang mừng lễ hy sinh Chúa Giêsu sẽ mở toang cánh cửa thiên đàng cho chúng tôi. Sau 60 năm với vô số bằng cấp thần học, bây giờ tôi biết rằng, những gì tôi hiểu về Phép Thánh Thể lúc còn nhỏ là đúng, nhưng tôi cũng biết rằng, khi hai sự này, là sự hiện diện thật của Chúa Kitô và hy sinh của Chúa Kitô dành cho chúng ta, được mở ra, thì chúng ta thấy mình chìm trong một mầu nhiệm không tả nổi, trong đó tất cả những ai yêu thương chúng ta cũng là một phần của Hiện diện Thực sự.

Vậy nên, cứ tiếp tục đến với Phép Thánh Thể, và biết rằng về sau chúng ta sẽ hiểu.

Hai nhà thờ, hai nơi thánh, hai đấu tranh

Chúa đã cho chúng ta hai nhà thờ, một có thể thấy được ở bất kỳ đâu, và một ở những nơi được chọn. Một số chúng ta thích một trong hai nhà thờ này, và đương cự với nhà thờ còn lại, nhưng cả hai đều là nơi thánh, nơi để tìm thấy Chúa và thờ phượng Ngài.

Khi nghĩ đến nhà thờ, hầu hết mọi người đều nghĩ đến một tòa nhà, một nhà thờ chính tòa, một đền thánh, miếu điện, hội đường, đền thờ, hay đất thánh. Người Công giáo La Mã có lẽ sẽ nghĩ về Vương cung Thánh đường thánh Phêrô ở Roma hay một nhà thờ chính tòa nổi tiếng, hay nhà thờ giáo xứ của mình. Người Anh giáo và Tân giáo có lẽ sẽ nghĩ về nhà thờ chính tòa thánh Phaolô ở Luân Đôn, hay nhà thờ địa phương của mình, và người Hồi giáo sẽ nghĩ về Mecca hay đền thờ trong vùng mình. Đây đều là nhà thờ, là nơi thánh dành riêng, nơi Thiên Chúa gặp gỡ chúng ta. Đây là một dạng nhà thờ, một tòa nhà hay một địa điểm thần thiêng. Nhưng nền tảng cho khái niệm này là gì?

Trong sách Sáng Thế, chúng ta thấy Giacóp đã mộng thấy một cầu thang nối liền đất với trời, và các thiên thần lên lên xuống xuống trên thang ấy. Từ giấc mơ, Giacóp nhận ra rằng ông đã có được một cảm nghiệm rất đặc ân, về cầu nối giữa trời và đất. Không muốn để mất cảm nghiệm này, cũng như cả nơi đặc biệt mà ông ngả đầu để mơ giấc mơ này, ông dựng một cột đá, như một bàn thờ, để đánh dấu nơi đó, một điểm cụ thể hữu hình, nơi ông thấy có liên kết đặc biệt giữa trời và đất, để sau này ông tìm lại được đường về nơi đặc ân này. Đó là công trình nhà thờ đầu tiên, và xét tận cùng, cũng là ý nghĩa của tất cả mọi nhà thờ, miếu điện, đền thánh, đền thờ, và đất thánh. Đó là một địa điểm đặc ân, nơi cầu thang nối liền đất với trời, với các thiên thần của Thiên Chúa lên lên xuống xuống. Đó là một nơi đặc biệt để người ta có thể đến mà cầu nguyện.

Nhưng, còn có một dạng nhà thờ thứ hai, chẳng quan hệ gì với các công trình, nhà thờ, miếu điện, đền thánh, hay đất thánh cả. Đây là nhà thờ mà Chúa Giêsu đã mặc khải với người phụ nữ thành Samari trong Tin mừng thánh Gioan. Hầu hết chúng ta đều biết câu chuyện giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ này. Bà đã thú nhận là thấy mơ hồ rối rắm về vấn đề các nhà thờ. Bà nói với Chúa Giêsu là bà sống trong một thế giới bất đồng về việc đâu là nơi thờ phượng thật sự, đâu là nơi có cầu thang thực sự nối liền trời và đất. Người Do Thái bảo bà nơi thờ phượng đích thực, nhà thờ thực sự, là đền thờ Giêrusalem, nhưng người dân Samari của bà, lại bảo bà rằng nơi đáng để đến thờ phượng phải là Núi Gerizim. Vậy đâu mới là nơi đúng để thờ phượng?

Chúa Giêsu nói với bà, chẳng nhất thiết phải thờ phượng ở cả hai nơi đó. Nhưng, hãy thờ phượng nơi đền thờ thật sự, nơi thánh thật sự, nơi đặc ân thực sự có cầu thang nối giữa trời và đất với các thiên thần lên lên xuống xuống, và nơi đó ở ngay trong lòng bà. Nhà thờ thực sự không phải lúc nào cũng là một công trình hay đất thánh, nhưng là mảnh đất lương tâm và linh hồn bên trong con người, nơi chúng ta có thể đi vào mà không cần phải chu du đến Thánh địa, Roma, Luân Đôn, Salt Lake, Mecca, Lộ Đức, hay các nhà thờ lân cận. Cầu thang với các thiên thần lên lên xuống xuống nối liền trời và đất, có thể thấy được ở khắp mọi nơi, tự bản chất là một thánh đường, ở ngay trong lòng chúng ta.

Do đó, Chúa cho chúng ta hai nhà thờ thật sự: một ở ngoài chúng ta, hữu hình và cụ thể, một ở trong lòng chúng ta, thiêng liêng và vô hình. Tất nhiên, lý tưởng là tất cả chúng ta thờ phượng toàn tâm ở cả hai nơi, bên ngoài là ở các công trình nhà thờ, và bên trong là nơi lương tâm và tâm hồn mình. Nhưng, tiếc là không phải lúc nào cũng được vậy. Ngày nay tất các các tôn giáo chính và cả các phái Kitô giáo đều có một sự căng thẳng trong giáo hội, giữa những người xem nhà thờ, trên hết, mà cũng có thể là duy nhất, là việc tham dự trong một công trình nhà thờ (nếu bạn không đến nhà thờ, bạn không phải là tín hữu đích thực!) với những người, dù có thể vô thức, xem nhà thờ là việc thờ phượng và chân thành trong lương tâm và linh hồn mình (tôi có đời sống tâm linh nhưng không theo đạo!)

Cả hai đều đúng, cả hai đều sai, và đều cần phải mở rộng nhận thức của mình về Giáo hội. Chúa cho chúng ta hai nhà thờ, và cả hai đều quan trọng để sống còn. Tôi biết có những người bạn tốt của tôi, đang đấu tranh với đời sống thiêng liêng nội tâm. Họ hiểu được ý nghĩa của các công trình nhà thờ, đất thánh, và những điều này thực sự đã đặt nền tảng cho đời sống đạo của họ. Họ có thể kết hiệp với công trình và tổ chức nhà thờ, nơi có các phụng vụ thánh, họ có thể thấy cầu thang của Giacóp ở nơi này. Ngược lại, có những bạn tốt của tôi, có đời sống thiêng liêng nội tâm phong phú, nhưng lại đấu tranh với nhà thờ hữu hình. Họ xem đây là những tổ chức, địa điểm nhân trần quá dễ dãi, và đôi khi còn có vẻ là thờ ngẫu tượng. Với họ đường lên trời, phải là qua con người, họ đương cự không chấp nhận việc cầu thang của Giacóp ở trong những sự cụ thể, bất toàn này.

Cả hai đều cần phải học lấy từ người kia, và nắm bắt sâu sắc hơn mối quan hệ qua lại của hai nhà thờ mà Chúa đã cho chúng ta.

Ngày càng ít người đi nhà thờ – lỗi tại ai?

Chẳng còn gì giấu diếm về việc sụt giảm trầm trọng số người đi lễ nhà thờ. Hơn nữa, sự sụt giảm đang diễn ra trong Giáo hội không song song với sự lan tràn của chủ nghĩa vô thần và thuyết bất khả tri. Chính xác thì, ngày càng nhiều người nhận mình có đời sống tâm linh nhưng không theo tôn giáo, đầy đức tin nhưng không đến nhà thờ. Tại sao lại có cuộc đào thoát lớn này trong các Giáo hội?

Nội bộ các nhóm tôn giáo có khuynh hướng đổ lỗi chyện này lên chủ nghĩa thế tục. Nhiều người lập luận rằng, văn hóa thế tục có lẽ là thứ thuốc phiện mạnh nhất từng hoành hành trên địa cầu này, nó vừa tốt vừa xấu. Nó nuốt chửng chúng ta trong những hứa hẹn đầy cám dỗ về thiên đàng ngay đời này. Trong thế giới thế tục hóa, mưu cầu một cuộc sống sung túc đơn giản gần như cuốn bay tất cả mọi khát khao tôn giáo thâm sâu hơn. Điều đánh chú ý vì đây cũng là điểm chính mà các nhóm Hồi giáo cực đoan phê phán nền văn hóa Tây phương. Với họ, đây là thứ thuốc phiện, một khi đã uống vào, thì vô phương cứu chữa. Đó là lý do vì sao họ muốn giữ giới trẻ tránh xa ảnh hưởng Tây phương.

Nhưng liệu điều này có đúng không? Văn hóa thế tục là kẻ địch ư? Liệu chúng ta, những người đi nhà thờ, có phải là dấu tích đích thực cuối cùng của Thiên Chúa và chân lý còn tồn tại, những người ngôn sứ và bị loại ra ngoài rìa của một xã hội nông cạn, không tôn giáo, và vô đạo? Nhiều người, kể cả tôi, sẽ cho rằng lập luận này đi quá xa, quá đơn giản. Xã hội thế tục, có thể nông cạn, không tôn giáo, vô đạo, và có đủ bằng chứng để nói như thế, nhưng, bên dưới sự nông cạn và sự dị ứng bản chất của nó với các Giáo hội, là một khao khát tôn giáo thực sự vẫn đang âm ỉ cháy, và các Giáo hội phải tự hỏi mình: Tại sao không còn nhiều người tìm đến chúng ta khi họ đối diện với các khao khát tôn giáo của họ? Tại sao quá nhiều người tìm đường thiêng liêng không có hứng thú nhìn về những gì Giáo hội đang mời gọi? Tại sao, thay vào đó, họ lại hướng về mọi sự, ngoại trừ Giáo hội? Tại sao, quả thật, có quá nhiều người mang thái độ này: «Giáo hội chẳng làm gì mời gọi tôi: Tôi thấy nó chán ngán, không phù hợp, cứ luẩn quẩn với những chuyện nhỏ nhặt của mình, và chẳng chút hy vọng gì có thể bắt nhịp với cuộc sống của tôi cả.»

Chắc chắn, chủ nghĩa thế tục, phần nào có lỗi, nhưng chính các Giáo hội chúng ta cũng có lỗi. Có câu châm ngôn rằng: Tất cả mọi chủ nghĩa vô thần là một ký sinh trên chủ nghĩa hữu thần tồi tệ. Lập luận này cũng đúng khi bàn về các thái độ người ta dành cho Giáo hội: Các thái độ xấu nhắm đến Giáo hội, được nuôi dưỡng, bởi những việc làm xấu của Giáo hội.

Học giả Do Thái lừng danh, giáo sĩ Abraham Joshua Heschel, hẳn cũng đồng ý như thế. Trong quyển sách Thiên Chúa Tìm kiếm Con người [God In Search of Man], của mình, ông viết: «Việc đổ lỗi cho khoa học thế tục và triết học phản tôn giáo về sự lu mờ của tôn giáo trong xã hội hiện đại, đã thành một lề thói. Phải thành thật mà nhận, chính tôn giáo có lỗi cho thất bại của mình. Tôn giáo suy thoái, không phải vì bị bác bẻ, nhưng là vì nó trở nên không phù hợp, ù lì, ngột ngạt, và vô vị. Khi đức tin hoàn toàn bị thay thế bởi tín lý, thờ phượng theo quy chuẩn, yêu thương theo thói quen, khi cuộc khủng hoảng thời nay bị lờ đi vì ánh hào quang quá khứ, khi đức tin trở thành của gia truyền thay vì suối nguồn sống động, khi tôn giáo chỉ lên tiếng bằng thẩm quyền thay vì tiếng nói say mê, thì lúc đó, thông điệp của tôn giáo trở nên vô nghĩa.»

Tiểu thuyết gia Marilynne Robinson, người tận tâm và đồng cảm sâu sắc với giáo hội, cũng đồng ý với Heschel. Với bà, trong Giáo hội ngày nay, chúng ta không tỏa ra sự vô biên của Thiên Chúa và mầu nhiệm lớn hơn Giáo hội chính là Chúa Kitô. Thay vào đó, chúng ta, dù có thiện ý, quá gò bó mầu nhiệm Chúa Kitô vào trong tinh thần co cụm, phẫn uất, sợ hãi, và tự vệ. Đây là một trong những nguyên do chính khiến chúng ta bị cho ra rìa. Bà cho rằng, Kitô giáo «là một trình thuật quá vĩ đại nên không thể bị hạ giá phục vụ cho bất kỳ lợi ích hạn hẹp nào, hay được bảo đảm bởi bất kỳ truyện kể kém cỏi hơn nào.» Bà tin rằng, chính thái độ hẹp hòi của chúng ta đã bôi xấu thông điệp Kitô giáo và khiến cho Giáo hội, vì những lý do chính đáng, bị loại ra ngoài rìa: «Một tinh thần Kitô giáo mất phẩm chất, ngu dân và bài ngoại đã đóng lại con đường đến với Giáo hội của nhiều người.» Bà cho rằng, đổ lỗi cho thế gian về các vấn đề của chúng ta, chẳng có ích gì để khiến cho thế giới tôn trọng tôn giáo và tôn trọng Kitô giáo cả. Sự sút giảm số lưông người đi nhà thờ, phần lớn là do lỗi của chúng ta, vì chúng ta quá thường không thể hiện được một Giáo hội với vòng tay ôm đầy cảm thương, và chúng ta không thực sự xác định được những sinh lực thật sự đang bừng bừng bên trong con người. Với Robinson, thế giới thế tục, tự bản chất, không vô tôn giáo. Nhưng nó thấy Giáo hội chúng ta thật tự quy, không thông hiểu, và không đồng cảm với các khát khao, các thương tích, và nhu cầu của thế giới này. Và do đó, thách thức của thế giới thế tục đối với chúng ta, những người đi nhà thờ là: «Tất cả những ai tự nhận mình là Kitô hữu, bất kỳ tổ chức nào nhận mình là Giáo hội, phải có trách nhiệm, giữ giá trị cho đức tin, ít nhất là đừng ngăn trở hay bôi nhọ đức tin. Biến Thiên Chúa thành một thần riêng, thành một thần Baal riêng, chính là ngăn trở và bôi nhọ.»

Vài năm về trước, tôi có nghe một mục sự phái Phúc âm trình bày vấn đề này như sau: Là những Giáo hội Kitô giáo, chúng ta có nước hằng sống, thứ nước mà Chúa Kitô đã hứa là dập hết mọi ngọn lửa và giải hết mọi cơn khát. Nhưng vấn đề là: Chúng ta không đem nước hằng sống đến nơi đang bùng lửa. Chúng ta cứ rảy nước lung tung đủ mọi nơi, ngoại trừ nơi đang bốc cháy!

Ông ấy đã nói đúng. Để trả lời cho cuộc đại đào thoát khỏi các Giáo hội của chúng ta, đừng đổ lỗi cho nền văn hóa, nhưng hãy làm cho Giáo hội trở nên tốt đẹp hơn.