RonRolheiser,OMI

Bản tính con người?

Một danh hài Mỹ khi được hỏi xem ông yêu điều gì nhất trong đời, ông đã trả lời: Tôi yêu phụ nữ nhất, tiếp đến là rượu whiskey, yêu người thân cận một chút, và hầu như không yêu Chúa!

Tôi chợt nhớ lại câu này khi mới đây, lúc đang có bài diễn thuyết, thì một phụ nữ hỏi tôi rằng: Tại sao Thiên Chúa dựng nên chúng ta theo một cách, rồi hầu như lúc nào cũng mong chúng ta hành động trái ngược với các bản năng của mình? Tôi hiểu ý của bà ấy muốn nói gì. Các bản năng tự nhiên và những dục vọng bộc phát của chúng ta dường như lệch với những gì chúng ta được định sẽ hướng đến, cụ thể là Thiên Chúa và đời sống bất diệt. Có vẻ như lập trường tôn giáo kêu gọi chúng ta đảo ngược trật tự của danh hài Mỹ nói trên, nghĩa là yêu Chúa trước hết, yêu người thân cận sâu sắc, và rồi cho khoái lạc bản năng của chúng ta một vị trí rất thứ yếu. Nhưng, hầu như mọi chuyện không phải như vậy. Nhìn chung, chúng ta bị lôi cuốn, và bị lôi cuốn rất mạnh mẽ, đến với những điều của trần gian này: là người khác, là khoái lạc, là những mỹ vật, tình dục, tiền bạc, tiện nghi. Những điều này dường như có một lực hút mạnh mẽ hơn những sự của đức tin và tôn giáo.

Điều này có khiến cho những cảm giác tự nhiên của chúng ta lệch pha với những gì Thiên Chúa định cho chúng ta nên cảm giác và hành động hay không? Tại sao, có vẻ như chúng ta được dựng lên theo cách này, và rồi được mời gọi sống theo một cách khác?

Đây là một chất vấn tốt, và đáng buồn thay, lại thường được trả lời theo những cách không đào sâu được bao nhiêu tình thế khó xử này. Thường thì chúng ta được bảo rằng, đừng cảm giác theo cách này, nghĩa là không đặt Thiên Chúa và lòng đạo lên trên hết là một lỗi phạm luân lý và đạo đức, như thể đường truyền tự nhiên của chúng ta đang bị lỗi, và chính chúng ta là người chịu trách nhiệm cho việc này vậy. Nhưng câu trả lời như thế, thật quá tối giản và nguy hại, nó hiểu sai dự định của Thiên Chúa, nó kìm kẹp chúng ta bằng tội lỗi, và khiến chúng ta cảm thấy giằng xéo đôi đường giữa thiết trình tự nhiên của mình và các đòi buộc của đức tin.

Làm sao để hòa giải sự có vẻ phi lý này giữa thiết trình tự nhiên của chúng ta và dự định của Chúa cho chúng ta đây?
Chúng ta cần phải hiểu bản năng và dục vọng của con người một cách sâu sắc hơn. Có lẽ nên bắt đầu với câu nói của thánh Augustino: Ngài đã tạo nên chúng con cho Ngài, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được ở trong Ngài. Khi chúng ta phân tích thiết lập tự nhiên của mình, phân tích các bản năng và dục vọng tự nhiên một cách sâu sắc hơn, chúng ta sẽ thấy tất cả những điều này, rốt cùng đang đưa chúng ta ra khỏi những khoái lạc và sự vật sự việc tức thời, những thứ có vẻ như là ám ảnh của bản năng. Chúng đang đưa chúng ta, một cách kiên định và không ngừng nghỉ, đến với Chúa.

Karl Rahner, khi cố gắng giải thích điều này, đã phân biệt giữa những gì chúng ta khao khát một cách khả thị và những gì chúng ta khao khát trong ẩn tàng. Bản năng và dục vọng tự nhiên đưa chúng ta đến với những sự rõ ràng hiển thị, như tình yêu cho người khác, tình bạn với ai đó, một tác phẩm nghệ thuật hay âm nhạc, một kỳ nghỉ, bộ phim, một bữa ăn ngon, sự giao hợp tình dục, một thành tựu vẻ vang, một sự kiện thể thao, và vô số những điều khác nữa, những điều mà nếu nhìn qua, thì chẳng liên quan gì đến Thiên Chúa mà ngược lại còn kéo chúng ta xa khỏi Ngài nữa. Nhưng, như Rahner đã chỉ ra, và cũng thể hiện rõ ràng trong cảm nghiệm của chúng ta, là trong mỗi một dục vọng khả thị này, bên dưới và là phần thâm sâu nhất của dục vọng này, là một khao khát ẩn tàng hướng đến và mưu cầu một sự thâm sâu hơn. Đến tận cùng, chúng ta khao khát chiều sâu dựng lên mọi con người và mọi vật, chính là Thiên Chúa. Một lời sinh động hơn của Rahner là, người ám ảnh với khao khát tình dục và đi tìm một gái điếm, thì tiềm ẩn trong đó, là người đó đang tìm bánh sự sống, cho dù ý định bề ngoài của người đó có thô bỉ đi chăng nữa.

Thiên Chúa không lầm khi tạo dựng dục vọng con người. Ý định của Thiên Chúa được viết trên mã di truyền dục vọng. Đến tân cùng, thiết trình của chúng ta hướng chúng ta đến với Chúa, bất chấp dục vọng đó có vẻ ám ảnh, trần tục, phóng đãng và ngoại đạo đến đâu chăng nữa. Bản tính con người không lệch pha với lời kêu gọi của đức tin, hoàn toàn không.

Hơn nữa, những bản năng mạnh mẽ bên trong bản tính chúng ta, vốn nhiều lúc có vẻ ích kỷ và vô luân, đều có giá trị đạo đức và mục đích của riêng chúng, chúng bảo vệ chúng ta, cho chúng ta vươn ra đến những gì duy trì mạng sống, và không kém quan trọng là bảo đảm cho loài người tồn tại. Cuối cùng, Thiên Chúa cài đặt bản năng trần tục trong chúng ta để thúc ép chúng ta hưởng dùng sự sống và nếm trải những thú vui, còn Ngài, như người ông đầy yêu thương, quan sát con cháu chơi đùa, hạnh phúc khi thấy con cháu vui tươi, và biết rằng có đủ thời gian phía trước khi nỗi đau và thất vọng sẽ thúc đẩy các dục vọng đó tập trung về những sự sâu sắc hơn.

Khi chúng ta phân tích sâu hơn về dự định của Thiên Chúa cho bản chất con người, và khi hiểu được chính mình rõ hơn trong thiết trình này, thì với một mức độ cảm nhận cao hơn những gì bộc phát, và cao hơn những tự châm biếm về bản thân, chúng ta nhận ra rằng, quả thật chúng ta yêu Chúa nhất, yêu người thân cận kha khá, và rất hạnh phúc là, yêu rượu whiskey và các thú vui cuộc sống cũng kha khá nữa.

Chuyện ‘cho phải lẽ’ và nén lòng nhận định sự thật

Chỉ bởi đôi điều ‘làm cho phải lẽ’ không có nghĩa là nó không đúng đắn. Đôi khi chúng ta phải nén lại để chấp nhận sự thật.

Vài năm về trước, tôi ở trong Hội đồng Linh mục cố vấn cho giám mục giáo phận. Giám mục, là người có tính rất bảo thủ, nhưng vô cùng nguyên tắc, không bao giờ để tính khí tự nhiên hay những cảm giác bất chợt của mình ảnh hưởng đến việc ra quyết định. Các quyết định của ngài được thực hiện dựa trên nguyên tắc, nghĩa là đôi khi ngài phải nén lòng lại.

Ví dụ như có lần, ngài thấy mình đang chịu một áp lực lớn cần phải tăng lương cho các nhân viên giáo dân trong giáo phận. Áp lực đến từ một nhóm luật sư về công bằng xã hội rất có tiếng nói, họ trích giáo huấn xã hội của Giáo hội để chống lại việc giáo phận không chịu trả mức lương như họ mong muốn. Những lý lẽ của họ cũng có chiều hướng nhạy cảm. Điều này không làm cho mọi chuyện dễ dàng hơn gì cho giám mục với tính bảo thủ và các bạn bảo thủ của ngài.

Nhưng, như tôi nói, ngài là người nguyên tắc. Một sáng nọ, ngài đến Hội đồng Linh mục và muốn chúng tôi đồng thuận để tăng lương cho các nhân viên của giáo phận theo như họ đòi hỏi. Hội đồng Linh mục bảo ngài rằng, chúng tôi không thể nhượng bộ trước cái ‘cho phải lẽ’ vậy nên chúng tôi bỏ phiếu chống. Một tháng sau, giám mục lại đến với Hội đồng Linh mục và lại muốn chúng tôi ủng hộ điều này, ngài mở đầu bằng lời rằng, nếu chúng tôi bỏ phiếu chống lần nữa, ngài sẽ tự làm việc đó bằng đặc quyền điều hành của mình. Một trong các linh mục, người bạn thân thiết với ngài nói rằng: ‘Cha muốn chúng tôi làm việc này, chỉ vì ‘cho phải lẽ?”. Giám mục trả lời: ‘Không, chúng ta không làm bởi nó ‘cho phải lẽ.’ Chúng ta làm bởi nó đúng. Chúng ta không thể rao giảng Tin Mừng chân thực nếu chúng ta không sống theo Tin Mừng. Chúng ta cần phải trả cho họ một mức lương sống được, vì đó là những gì Tin Mừng và giáo huấn xã hội Công giáo đòi hỏi, chứ không phải vì ‘cho phải đạo.” Khi nói như thế, giám mục đang nén lại, nén tính khí của mình lại, nuốt lấy sự bực bội của bạn mình, và nuốt lấy sự bất bình của mình khi phải nhượng bộ một điều thể hiện là nó ‘cho phải lẽ.’ Nhưng nguyên tắc thắng cảm giác.

Và nguyên tắc cần phải thắng cảm giác, là vì thường thường, khi có điều gì đó xảy đến theo kiểu là chúng ta phải chấp nhận để ‘cho phải đạo,’ thì phản ứng bộc phát của chúng ta là bác bỏ, và lòng chúng ta xui khiến, từ cảm giác khó chịu của mình, hãy bác bỏ nó đơn giản là vì cái mác của nó và những người biện hộ cho nó. Tôi đã từng có trải nghiệm trong chuyện này, khi phải giải quyết các cảm xúc của mình trước những chuyện ‘cho phải đạo.’ Dạy học trong những lớp khá nhạy cảm suốt nhiều năm, nơi đôi khi mọi lời nói đều là quả bom tiềm ẩn có thể nổ tung, thì thật dễ bị rơi vào sự mệt mỏi do nhạy cảm. Tôi nhớ có lần, nản lòng với sự nhạy cảm quá độ của một vài sinh viên (và sự tự đại rõ ràng trong sự nhạy cảm đó) tôi bảo một sinh viên ‘dịu đi.’ Ngay lập tức anh sinh viên cáo buộc tôi là kỳ thị.

Thật dễ để phản ứng với sự hằn học hơn là thông cảm. Nhưng, như Đức giám mục trong chuyện tôi kể ở trên, chúng ta cần phải có nguyên tắc và trưởng thành đủ để không cho cảm xúc và tính khí áp đặt trên quan điểm và quyết định của mình. Chỉ vì một sự thật được bọc trong lớp áo ‘cho phải lẽ,’ và được xướng lên từ miệng của những người tự cho mình công chính, không nhất thiết điều này không phải là sự thật. Đôi khi chúng ta cần phải nén lại, nuốt lấy những tự cao và hằn học của mình, chấp nhận sự thật như nó là. Những chuyện ‘cho phải lẽ’ thường gây bất bình, thổi phồng quá mức, không cân bằng, khoa trương và thiếu ý nghĩa, nhưng nó có một mục đích quan trọng. Chúng ta cần tấm gương này. Cách chúng ta bộc phát nói về ai đó, tiết lệ nhiều điểm mù của bản thân mình.

Trong số nhiều điều, thì cái ‘cho phải lẽ,’ là một kiểm soát ngôn từ, giúp giữ cho bàn luận dân sự được phải phép, một điều khá thiếu hụt thời nay. Các chương trình truyền thanh, truyền hình cáp, blog, tweet, và các tòa soạn ngày nay, đang ngày càng thể hiện một ngôn từ thô lỗ, không tinh tế và rõ ràng là thiếu tôn trọng, mà mỉa mai thay, trong sự khinh thị của họ đối với cái ‘cho phải đạo’ lại chính là lập luận mạnh mẽ nhất cho cái ‘cho phải lẽ.’ Chính trị, giáo hội, và cộng đồng ở mọi tầm mức ngày nay, cần phải cẩn thận hơn về ngôn từ, cẩn thận về cái ‘cho phải lẽ,’ vì nạn bạo lực trong xã hội là phản ảnh rất nhiều từ bạo lực ngôn từ của chúng ta.

Hơn nữa, để ý lời ăn tiếng nói, về lâu dài giúp hình thành các thái độ nội tâm và mở rộng lòng thông cảm của chúng ta. Lời nói tác động mạnh mẽ trong việc thành hình các thái độ, và nếu chúng ta để cho lời lẽ thốt ra mà không màng đến sự tôn trọng và lịch sự căn bản, cũng như để lời lẽ xúc phạm người khác, thì chúng ta đang thúc đẩy một nền văn hóa không tôn trọng đó.

Cả cánh tả và cánh hữu đều có cái ‘cho phải lẽ.’ Cả người tự do lẫn bảo thủ đều giúp thể hiện nó, và cả hai đều tự phụ và áp đặt như nhau. Nhưng chúng ta phải luôn luôn nhận thức rằng, chỉ bởi điều gì đó ‘cho phải lẽ’ không có nghĩa là nó không đúng đắn. Đôi khi chúng ta cần phải nén lại và chấp nhận sự thật.

Kinh nguyện Thánh Thể cho thế giới đang tỉnh giấc

Dịp lễ Chúa Biến Hình vào năm 1923, Pierre Teilhard de Chardin đang một mình trước ánh bình minh ở sa mạc Ordos, Trung Quốc, nhìn vầng dương tỏa những ánh cam vàng từ cuối chân trời. Cha đang xúc động sâu sắc, cả về mặt con người lẫn lòng đạo. Để đáp lại xúc động này, điều cha muốn làm nhất là cử hành thánh lễ, nhằm hiến dâng toàn thể thế giới lên Chúa. Nhưng cha không có bàn thờ, không bánh, không rượu. Nên cha quyết định lấy thế giới này làm bàn thờ, và những gì trên thế giới là bánh và rượu cho thánh lễ. Và đây là lời cầu nguyện cha cầu cho thế giới đang tỉnh thức hướng về mặt trời.

Lạy Chúa, bởi con không có bánh rượu, mà cũng không có bàn thờ, nên con sẽ thoát khỏi những biểu tượng này, mà lấy toàn thể trái đất làm bàn thờ của con và trên đó, con dâng lên Chúa tất cả công khó và đau khổ của thế giới.

Khi mặt trời ló dạng như tấm màn lửa từ phía chân trời, trái đất tỉnh giấc, rùng mình và bắt đầu làm nhiệm vụ hàng ngày của nó. Lạy Chúa, con sẽ đặt trên dĩa của con, hoa màu của lao công mới này. Trong chén, con sẽ đổ dòng nhựa sống ép từ hoa trái của địa cầu hôm nay. Dĩa và chén của con là những thẳm sâu linh hồn đang đang mở rộng với mọi uy lực trỗi lên từ mọi góc cùng trái đất, tất cả đồng quy vào Thánh Thần.

Lạy Chúa, xin cho con biết tưởng nhớ và hiện tại hóa những con người đang được ánh dương thức tỉnh vào ngày mới. Nghĩ đến đây, trước hết con nhớ đến những người đã chia sẻ cuộc sống với con, là gia đình, cộng đoàn, bạn bè, và đồng sự. Và dù mơ hồ hơn nhưng rất chắc chắn, con cũng nhớ đến toàn thể nhân loại, đang sống và đã qua đời, và cả trái đất vật chất này nữa, khi con đang đứng trước Chúa, lạy Chúa con, như một phần của trái đất, như điểm trái đất mở ra và gắn bó với Chúa.

Và lạy Chúa, trên mọi sự sống triển nở, sum suê, con xin nói lại những lời: ‘Đây là Mình Ta.’ Và trên mọi thế lực sự chết đang chờ sẵn để gặm, để tàn, để chặt lìa, con xin nói lại những lời của Chúa bày tỏ mầu nhiệm tột đỉnh của đức tin: ‘Đây là Máu Ta.’ Trên dĩa của con, con dâng tất cả những con người hăng say sống ngày hôm nay, người trẻ, người khỏe, người mạnh, người đầy niềm vui. Và trên chén này, con dâng tất cả những tan vỡ dày vò từ chính sức sống đó. Trên bàn thờ bao la này, con dâng lên Chúa mọi sự trong thế giới, mọi sự trỗi dậy và mọi sự nằm xuống, và xin Chúa chúc lành cho nó.

Và sự thông hiệp của chúng con với Chúa sẽ chưa được thành toàn, sẽ chưa là theo Kitô, nếu như cùng với những thu tích của ngày mới này, chúng con không chấp nhận, nhân danh chúng con và thế giới, những tiến trình, dù ẩn giấu hay hiển hiện, của sự suy yếu, già đi và cái chết, vốn không ngừng đốt cháy vũ trụ này hướng đến ơn cứu độ và phán xét của mình. Lạy Chúa, chúng con thả mình trao bản thân cho những thế lực tan rã đáng sợ này, khi tin tưởng dù mờ mịt rằng, điều này sẽ thay thế cái tôi hạn hẹp của chúng con bằng sự hiện diện thiêng liêng của Chúa. Chúng con xin dâng lên trong cùng một lời nguyện, cả những hân hoan chúng con có và cơn khát những gì chúng con thiếu thốn.

Lạy Chúa, xin khóa chúng con trong những chiều thâm sâu của trái tim Chúa, giữ chúng con, đốt cháy chúng con, thanh luyện chúng con, thử lửa và biến đổi chúng con, cho đến khi chúng con hoàn toàn nên như những gì Chúa muốn, nhờ triệt tiêu mọi ích kỷ trong ích kỷ trong chúng con. Amen.

Với cha Teilhard, tất nhiên không thể đánh đồng điều này với việc cử hành Phép Thánh Thể trong nhà thờ được, nhưng cha thấy đây là một ‘mở rộng’ của Phép Thánh Thể, nơi Mình và Máu Chúa Kitô trở nên hiện thể trong một bánh và rượu rộng lớn hơn, cụ thể là toàn thể thế giới vật chất đang bày tỏ mầu nhiệm thịt máu Thiên Chúa chiếu sáng hiển hiện.

Cha Teilhard là linh mục Công giáo La Mã, nhờ được thụ phong, mà được giao ước cử hành thánh lễ cho thế giới, đặt bánh và rượu lên dĩa và chén mà dâng lên Chúa thay cho thế giới. Tất cả Kitô hữu chúng ta cũng vậy, nhờ phép rửa tội, chúng ta được thành các tư tế, và như cha Teilhard, được giao ước để cử hành thánh lễ cho thế giới, dâng trên chén và dĩa tượng trưng của chúng ta, những bánh và rượu của thế giới này trong mọi dạng thể của ngày sống. Có nhiều cách để làm điều này, nhưng có lẽ bạn sẽ muốn thử thế này: Một buổi sáng khi vầng dương ló dạng ở chân trời, hãy để ánh vàng cam đó đốt cháy trái tim và lòng cảm thương của bạn để bạn vươn tay ra và cầu nguyện lời Kinh nguyện Thánh Thể của cha Teilhard cho thế giới đang trở mình thức tỉnh.

Cáo phó cho một người tự vẫn

Mọi sự càng thay đổi thì càng như cũ. Câu châm ngôn này cũng đúng trong nhận thức về tự vẫn. Bất chấp mọi hiểu biết đào sâu của chúng ta, vẫn luôn có những dấu hằn trong sự tự vẫn, và một trong số đó là về cách chúng ta viết điếu văn cho một người thân thương vừa từ giã cõi đời theo cách đau đớn này. Khi viết cáo phó, chúng ta không thể viết ra được cái từ ‘tự vẫn’: Anh ấy chết do quyết định bản thân, Chúng ta còn nói trại thêm nữa: Anh ấy chết bất ngờ. Cái chết của anh ấy gây đau đớn vô cùng.

Trong nhiều trường hợp, tự vẫn là kết quả của một chứng bệnh, một căn bệnh ung thư, đột quỵ về cảm xúc và tâm lý. Nếu đúng như thế, và đúng thực là thế, thì tại sao khi tôi yêu thương một người, đã chết vì tự vẫn, tôi lại không thể viết ra được một cáo phó như thế này?

Chúng tôi thương tiếc báo tin cái chết của …, đã qua đời sau một cuộc đấu tranh dũng cảm với khối ung thư xúc cảm…, như bạn đã biết, được sinh ra trong đời với tâm tư nhạy cảm đến dằn vặt, một thiên tư và thống khổ cô mang trong mình ngay từ những ngày thơ trẻ. Có khi cô thấy an bình và êm ái, nhưng không bao giờ cô hoàn toàn thoát khỏi được hỗn loạn nội tâm vốn phần nào giấu kín với những người chung quanh mình, những hỗn loạn mà thuốc thang không trị được, các cố vấn tâm lý không dập tắt được, và cả những tình cảm cùng chăm lo của chúng ta cũng không thể xoa dịu cho đủ. Đến cuối cùng, bất chấp lòng dũng cảm của cô ấy và những nỗ lực giúp đỡ của chúng ta, căn bệnh này vẫn trầm kha bất trị. Tâm tính của cô vừa là một phúc lành vừa là lời nguyền. Cô là một con người ân cần, không bận tâm đến cái tôi và không đòi hỏi cho bản thân, cô luôn lo lắng quá độ e sợ mình làm tổn thương ai đó hay sợ mình đòi quá nhiều cho riêng cô. Nhưng sự tự làm lu mờ bản thân cũng là một phần chứng bệnh của cô. Dù can trường đến đâu cũng không thể xóa đi được cái vòng kim cô mơ hồ đang bóp nghẹt dần tự do trọn vẹn của cô. Đến cuối cùng, cô chết, đi ngược lại với ý chí của mình, nhưng đời sống của cô, đã sống với một sự nhạy cảm như thế, là một món quà quý báu cho tất cả những ai đã quen biết cô, cho dù đôi khi điều này khiến cho những người chung quanh cô phải lo lắng và đau lòng. Bối cảnh cái chết của cô thật đau buồn, nhưng cô, với sự nhạy cảm đặc biệt của mình, sẽ không muốn chúng ta cảm thấy tội lỗi và tự vấn về những gì chúng ta đã làm để giúp cô cưỡng lại cái chết. Khi căn bệnh trở nên nan y, tất cả mọi thương yêu và quan tâm của mọi người đều không thể chữa lành nổi. Nhưng cô đã chết trong tình yêu thương của chúng ta, cho dù chúng ta thất vọng vì tình yêu của mình không đủ để giúp cô. Bây giờ đây, cô vẫn đang sống, trong tình yêu thương của chúng ta, và theo ý Chúa, là trong sự an bình và bảo đảm mà cả đời này cô không tìm thấy được. Thay cho những vòng hoa, xin các bạn đóng góp cho Hiệp hội Sức khỏe Tâm thần.

Hay, có lẽ, trong một hoàn cảnh khác, chúng ta có thể viết cáo phó như thế này:

Chúng tôi đau buồn báo tin cái chết của … một cái chết có lẽ do cơn trụy tim xúc cảm. Cái chết của anh là cú sốc bởi những người gần gũi với anh không thấy có lý do gì để nghi ngờ việc anh phải chịu những tác hại cảm xúc nguy hiểm cao, hay việc anh mang một căn bệnh tim xúc cảm bẩm sinh vốn không thể hiện rõ ràng và không thể chẩn đoán về y khoa và tâm lý. Trước chuyện này, có thể hiểu được khi chúng ta tự hỏi tại sao mình không thấy báo động hay không quan tâm đến anh và sức khỏe của anh hơn, tại sao chúng ta không để ý thấy bất kỳ triệu chứng nào của anh. Đôi khi một căn bệnh chết người tiềm tàng có thể ẩn kín và không thể phát giác trước khi quá muộn. Và thường đây là bản chất của những cơn đột quỵ trụy tim chết người. Trong khi cái chết của anh làm chúng ta choáng váng, vật vã để hiểu, không thể giải thích được vì sao chuyện này xảy ra, và cũng đã vất vả ngăn mình trách anh đã giữ quá kín căn bệnh này, thì chúng ta cũng có thể hiểu được rằng ngay cả anh cũng không biết nhiều về căn bệnh này, và rằng những cái chết đặc biệt này mang một căn bệnh nguy hiểm đặc biệt khiến các nạn nhân giấu đi những gì mình phải chịu đựng, ngay cả với những người thân cận nhất. Và chúng ta cần phải thông hiểu. Cuộc đời của mọi người đều có bí ẩn riêng, và không phải lúc nào cũng mở ra để cho người ngoài hiểu. Hơn nữa, cơn trụy tim xúc cảm này, cũng hệt như cơn trụy tim thể lý, không thể nào kiểm soát, và nó đi ngược lại ý muốn của con người. Anh …. là một linh hồn cao đẹp, không muốn ai bị tổn thương và cố gắng để không làm hại ai. Chắc chắn, anh cũng đau lòng như chúng ta khi cái chết không mong muốn của anh gây đau đớn cho nhiều người. Nhưng, cũng chắc chắn, là anh muốn chúng ta tiếp tục yêu thương, và đặc biệt là hiểu cho anh. Thay cho vòng hoa, xin các bạn đóng góp cho Hiệp hội Sức khỏe Tâm thần địa phương.

Thật khó để mất đi một người thân vì tự vẫn, nhưng chúng ta đừng đánh mất sự thật và hơi ấm trong bí ẩn của họ, và ký ức về họ, những người thân yêu của chúng ta.

Con cái của cả thiên đàng và thế gian

“Lạy Chúa, dù tâm hồn con thiếu nhiệt thành, thiếu đức chính trực cao cả của các thánh, nhưng con đã nhận được từ Chúa một lòng cảm thông quá đỗi cho tất cả những khơi dậy từ đống hỗn mang tăm tối, vì con biết mình chắc chắn là con cái của thiên đàng cũng như của thế gian.”

Đây là lời của Pierre Teilhard de Chardin, và cũng như lời mở đầu lừng danh của thánh Augutinô trong Tự thú, chúng không chỉ nói lên sự căng thẳng nội tâm trọn đời của tác giả, nhưng còn xác định những nét nền tảng cho một linh đạo trọn vẹn. Với tất cả những ai có cảm xúc lành mạnh và thành thật, thì cả đời luôn có căng thẳng giữa những hấp dẫn quyến rũ của thế gian và sự lôi cuốn của Thiên Chúa. Thế gian, với các vẻ đẹp, vui thú, và vật chất của nó, có thể chiếm trọn và làm cho chúng ta tin rằng thế gian này là tất cả, và đời này là cần phải có tất cả. Ai còn cần điều gì cao xa hơn nữa? Chẳng phải đời sống trên thế gian này là đủ rồi hay sao? Hơn nữa, có bằng chứng gì về bất kỳ hiện thực và ý nghĩa nào ngoài cuộc sống đời này không?

Nhưng ngay cả khi chúng ta bị lôi kéo, một cách mạnh mẽ và đúng đắn, về phía thế gian và những gì nó đem lại, thì một phần trong chúng ta vẫn thấy mình đang ở trong, đang nắm lấy một hiện thực khác, chính là hiện thực thiêng liêng, vốn ban sơ mơ hồ hơn nhưng không kém dai dẳng day dứt. Và lòng chúng ta cũng nghe rằng, đây là sự thật, hiện thực này đến tận cùng cho chúng ta sự sống, và hiện thực này đáng được trân trọng, không thể làm ngơ. Và cũng như hiện thực của thế gian, hiện thực thiêng liêng cũng thể hiện mình vừa hứa hẹn vừa đáng sợ. Đôi khi, chúng ta cảm giác hiện thực thiêng liêng như một chiếc kén ấm áp, một mái ấm tột cùng, nhưng có khi chúng ta cảm giác quyền uy của thiêng liêng như một phán quyết đầy đe dọa so với sự thiển cận, tầm thường và tội lỗi của chúng ta. Đôi khi, thiêng liêng chúc phúc cho sự cố kết của chúng ta với đời này và các thú vui đời này, nhưng đôi khi thiêng liêng lại làm chúng ta lo sợ và tương đối hóa cả thế gian lẫn đời sống của chúng ta. Bằng cách xao nhãng và làm ngơ, chúng ta có thể đẩy xa hiện thực thiêng liêng, nhưng hiện thực này luôn có đó, luôn tạo căng thẳng nội tại mạnh mẽ trong chúng ta. Chúng ta chắc chắn là con cái của cả trời và đất, cả Thiên Chúa và thế gian đều có quyền được chúng ta chú tâm.

Đây là ý nghĩa tiền định. Thiên Chúa tạo nên chúng ta có vật chất, nhục thân, và có chiều hướng trần gian, với gần như mỗi bản năng trong chúng ta đều vươn đến những sự trần gian. Chúng ta không nên nghĩ rằng Thiên Chúa muốn chúng ta xa lánh thế gian này, chối bỏ vẻ đẹp chân thật của thế gian, hay cố gắng thoát khỏi thân thể mình, thoát ly các bản năng tự nhiên và thể lý của mình, để chăm chăm hướng về thiên đàng. Thiên Chúa không tạo dựng thế gian này như một phép thử, như nơi thử thách sự vâng phục và ngoan đạo của chúng ta trước sức hút của lạc thú trần gian để xem liệu chúng ta có xứng đáng vào thiên đàng hay không. Thế giới này có mầu nhiệm và ý nghĩa riêng của nó, một ý nghĩa chính Thiên Chúa ban. Thế gian không đơn giản là sân khấu để con người chúng ta diễn tấn kịch cứu rỗi đời mình rồi hạ màn rút lui. Nhưng đây là nơi cho tất cả chúng ta, cho các động vật, côn trùng, cây cỏ, đất đá, nước non chung hưởng một mái nhà.

Nhưng đây cũng chính là cội rễ cho căng thẳng lớn trong chúng ta. Trừ phi chúng ta bác bỏ những bản năng mạnh mẽ nhất hay những cảm thức lòng đạo mạnh mẽ nhất, còn không thì chúng ta sẽ luôn thấy mình bị giằng xé giữa hai thế giới, với những xung đột giữa lôi cuốn của thế gian và của Thiên Chúa. Tôi biết đích thực điều này trong đời mình. Tôi được sinh ra trong thế gian này với hai tình yêu không thể thay thế, và đã dành cả đời cũng như trọn sứ mạng của mình trong giằng xé giữa hai sự này: Tôi luôn yêu mến thế giới ngoại đạo vì sự tôn sùng sự sống, cảm kích những kỳ diệu trong thân thể con người và những vẻ đẹp cũng như khoái cảm của năm giác quan. Với các anh chị em ngoại đạo, tôi cũng cảm kích sự hấp dẫn của tính dục, sự êm ái của cộng đồng nhân loại, sự phấn khởi của óc hài hước châm biếm, và những món quà đáng kinh ngạc của nghệ thuật và khoa học. Nhưng, cùng lúc, tôi luôn thấy mình ở trong một hiện thực khác, là thế giới thiêng liêng, đức tin, và lòng đạo. Hiện thực này cũng luôn lôi cuốn sự chú tâm của tôi, và quan trọng hơn nữa, hiện thực thiêng liêng phủ bóng trên những chọn lựa lớn trong đời tôi.

Những chọn lựa lớn trong đời tôi thể hiện và phát tiết một căng thẳng lớn, vì chúng cố gắng chân thật với một dấu ấn kép bẩm tại trong tôi, đó là ngoại đạo và thiêng liêng. Tôi không thể chối bỏ hiện thực, sự lôi cuốn, và sự tốt lành của cả hai. Vì lý do này, tôi có thể sống một đời sống tận hiến, độc thân khiết tịnh cả đời, lo mục vụ thánh nhưng cũng vừa yêu mến sâu sắc thế giới ngoại đạo, cảm mến những khoái cảm của nó, và cả sự tốt lành của tính dục – cho dù vì trung thành với hiện thực thiêng liêng mà tôi đã chấp nhận từ bỏ nó. Đây cũng là lý do vì sao tôi triền miên tạ tội với Chúa vì những chống đối ngoại đạo của thế gian với Ngài, nhưng cũng không ngừng nói về Chúa cho thế gian. Tôi sống với những thành tín giằng xé.

Và tất yếu là vậy. Thế gian này được định để chiếm lấy hơi thở của chúng ta, ngay cả khi chúng ta cung kính sấp mình trước Đấng Tạo hóa của hơi thở đó.

Không gian chữa lành của thinh lặng

Quyển sách mới đây của Robyn Cadwallander, “Nữ ẩn sĩ” (The Anchoress) kể về Sarah, một phụ nữ trẻ chọn khép mình khỏi thế giới và sống như một ẩn sĩ (như Julian thành Norwich vậy). Đây không phải là đời sống dễ dàng và cô sớm ra mình phải đấu tranh với lựa chọn này. Cha giải tội cho cô là cha Ranaulf, một tu sĩ trẻ, không nhiều kinh nghiệm. Mối liên hệ giữa họ cũng không dễ dàng. Cha Ranaulf là người ngại ngùng và ít nói nên Sarah thường thấy chán khi gặp cha, cô muốn cha nói thêm, muốn cha đồng cảm hơn và đơn giản muốn cha hiện diện rõ hơn với cô. Họ thường xuyên bàn luận, hay ít nhất là Sarah thường cố moi thêm lời nói và đồng cảm từ cha Ranaulf. Nhưng bất kỳ lúc nào cô cố gắng làm thế, cha Ranaulf đều gián đoạn buổi xưng tội và rời đi.

Một ngày nọ, sau một buổi xưng tội cực kỳ đáng chán khiến cha Ranaulf cứng lưỡi và Sarah giận dữ, cha chỉ đóng cánh cửa tòa giải tội, một phản ứng thông thường của cha khi căng thẳng, khi có điều gì đó trong cha không muốn cho cha bỏ đi. Cha biết là mình phải cho Sarah một điều gì đó, nhưng cha không có lời lẽ nào để làm được. Và, khi không có gì để nói ngoài cảm giác mình buộc phải rời đi, cha đơn giản là ngồi đó trong thinh lặng. Ngược đời thay, sự bất lực câm nín của cha lại đạt được một điều mà những lời nói của cha không làm được, đó là một bước đột phá. Lần đầu tiên, Sarah cảm thấy sự quan tâm và đồng cảm của cha, cũng như sự hiện diện của cha với mình.

Và lời văn của Cadwallander mô tả đoạn này như sau:

“Cha hít một hơi thật sâu rồi từ từ chậm rãi thở ra. Cha không còn điều gì để nói, nhưng cha không để cô ấy ở đây một mình trong tâm trạng cay đắng được. Vậy nên cha vẫn ngồi lại trong tòa giải tội, cảm nhận sự trống trải của phòng xưng tội quanh mình, cảm nhận sự thất bại của việc học, của những từ ngữ mà cha đã ghi khắc trong đầu, trang này đến trang khác, tầng này đến tầng khác. Cha không thể mở miệng, nhưng cha có thể ở lại, và cha làm thế. Cha bắt đầu cầu nguyện trong thinh lặng, nhưng không biết bắt đầu thế nào, không biết phải xin gì. Cha bỏ cuộc, và thở chậm rãi từ từ.

Sự thinh lặng bắt đầu như một điều gì đó thật vụn vặt và đáng sợ, đậu trên rìa cửa sổ tòa giải tội, nhưng khi cha Ranaulf ngồi đó trong tĩnh mịch, nó dần dần, rất chậm rãi, lớn lên, và tràn khắp gian phòng, cuộn chặt quanh cổ và vòng lấy lưng cha, cuốn quanh đầu gối và đôi bàn chân cha, tràn lên các bức tường, lấp đầy các ngóc ngách, len lỏi vào cả các khe tường đá. … Sự thinh lặng trườn qua các khe hở và len vào cả gian phòng bên trên. Dường như nó thật êm ái mềm mại. Nó tràn ra và vững vàng, nó chiếm lấy mọi khoảng không. Cha Ranaulf ngồi bất động, không nhúc nhích, cha đã mất hết mọi khái niệm về thời gian. Mọi sự cha biết là một có một phụ nữ đang cách cha một sải tay, trong bóng tối, và đang thở. Vậy là đủ.

Khi ánh nến trong gian phòng mờ dần đi, cha nhúc nhích, cha nhìn vào bóng tối.

‘Chúa ở cùng con Sarah.’ ‘Và ở cùng cha.’ Giọng của cô tươi sáng hơn, thân thiết hơn.”

Có một ngôn ngữ vượt ngoài ngôn từ. Sự thinh lặng dành chỗ cho ngôn ngữ đó. Đôi khi chúng ta cảm thấy bất lực không thể nói được gì có ý nghĩa, chúng ta phải đi trở vào sự vô tri và vô lực, nhưng khi ở lại trong tình trạng này, sự thinh lặng tạo một không gian cần thiết cho một điều thâm sâu hơn xuất hiện. Nhưng thường, lúc đầu, thinh lặng thật không dễ dàng gì. Nó bắt đầu “như một sự đáng sợ vụn vặt” và dần lớn lên thành hơi ấm xua tan đi căng thẳng.

Nhiều lần chúng ta không có lời nào đáng để nói. Chúng ta, ai cũng cảm nghiệm việc đứng bên giường người hấp hối, tham dự một đám tang, đứng trước một tâm hồn tan vỡ, hay rơi vào thế bí khi cố gắng vượt qua tình huống căng thẳng trong quan hệ, lại thấy mình cứng lưỡi, không có từ nào để nói, rồi cuối cùng rơi vào thinh lặng, biết rằng nói bất kỳ điều gì cũng chỉ làm trầm trọng thêm nỗi đau đớn này. Trong tình thế bất lực đó, bị hoàn cảnh làm câm nín, chúng ta học được một điều: Chúng ta không cần phải nói gì, chỉ cần ở đó. Sự hiện diện thinh lặng, bất lực của chúng ta là điều đang cần.

Và tôi phải công nhận, đây không phải là điều dễ học đối với tôi, không phải là điều theo khuynh hướng của tôi, và thực sự nhiều khi tôi không làm thế khi đáng ra phải làm. Cho dù tình thế có ra sao đi nữa, tôi luôn cảm thấy mình phải nói lên một điều gì đó có ích, một điều gì đó giúp giải quyết căng thẳng này. Nhưng tôi đang học được rằng, hãy để sự bất lực lên tiếng, và cũng học được rằng điều này thật mạnh mẽ biết bao.

Tôi nhớ có lần, khi còn là một linh mục trẻ, đầy kiến thức học được trong chủng viện và háo hức chia sẻ kiến thức đó, tôi ngồi trước một người có tâm hồn đang bị tan vỡ, tôi cố gắng tìm câu trả lời và thấu suốt trong đầu mình, tôi không tìm thấy gì, cuối cùng tôi xin lỗi thú nhận sự bất lực của tôi với người đối diện. Câu trả lời của cô làm tôi kinh ngạc, và dạy tôi một điều mà tôi không hề hay biết trước đây. Cô đơn giản nói rằng: Sự bất lực của cha là món quà quý báu nhất cha có thể chia sẻ với con ngay bây giờ. Con cám ơn cha. Không một ai kỳ vọng bạn có chiếc đũa thần để chữa lành những phiền muộn của họ.

Đôi khi, thinh lặng lại thành một sự êm ái mềm mại len lỏi và chiếm lấy, lấp đầy mọi khoảng không.

Chữa lành

Tất cả chúng ta đều sống với một vài tổn thương, thói quen xấu, nghiện một cái gì đó, và những khuyết điểm về tính khí, vốn thâm căn cố đế đến nỗi dường như chúng là một phần trong di truyền của chúng ta. Do đó chúng ta có khuynh hướng mang một khao khát thầm lặng muốn chữa lành chúng.

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy điều này. Đôi lúc chúng ta có những nhận thức cho rằng các tổn thương và khiếm khuyết đang kéo chúng ta đi xuống, đó là những thứ không thể nào đơn thuần dẹp bỏ được. Sức mạnh ý chí và các giải pháp tốt vẫn không đủ giải quyết việc này. Làm sao có được giải pháp để không bao giờ nổi nóng lần nữa? Không có, cơn giận cứ triền miên trở lại. Làm sao có giải pháp để từ bỏ một vài thói quen lệ thuộc, dù lớn dù bé? Không có, chúng ta bị chúng cám dỗ ngay. Và làm sao cố gắng thay đổi một vài tính xấu mà chúng ta có sẵn trong di truyền hay tiếp thu từ thuở bé? Không có, tất cả mọi giải pháp và suy nghĩ tích cực trên thế giới, thường chẳng thay đổi được bản chất chúng ta.

Vậy thì chúng ta phải làm gì? Cứ sống với các tổn thương và khiếm khuyết của mình, cũng như những bất hạnh và nhỏ nhen mà nó đem lại hay sao? Hay có thể chữa lành chúng? Làm sao chúng ta có thể tẩy sạch sự yếu đuối của mình?

Có nhiều cách để chữa lành: Khoa tâm lý học cho rằng liệu pháp và tư vấn tốt có thể giúp chữa các tổn thương, khiếm khuyết và chứng lệ thuộc của chúng ta. Liệu pháp và tư vấn có thể giúp chúng ta nhận thức tốt hơn và có thể giúp thay đổi hành vi của chúng ta. Nhưng tâm lý học cũng thừa nhận chuyện này cũng có các giới hạn của nó. Yù thức được vì sao chúng ta làm một việc gì đó, không phải lúc nào cũng cho chúng ta sức mạnh để thay đổi hành vi đó. Khoa xã hội học cũng có những hiểu biết đáng tìm hiểu: Parker Palmer nói rằng, có một liệu pháp của đời sống chung. Tham dự một cách lành mạnh vào đời sống gia đình, bạn bè, cộng đồng, và giáo hội có thể là một điều vững vàng tuyệt vời giúp chúng ta vượt lên các tổn thương cô đơn và các khiếm khuyết bẩm tại.

Chương trình Phục hồi 12 bước thật đáng giá: Các chương trình này dựa trên tiền đề cho rằng tự nhận thức, tự dựa vào sức mạnh của ý chí thường vô dụng trong việc thay đổi hành vi của chúng ta. Cần phải có một sức mạnh cao hơn nữa, và đó chính là nghi thức, sự nâng đỡ qua lại, lòng chân thành tận căn, chấp nhận mình bất lực, và hướng về một Đấng Nào Đó vượt trên chúng ta có thể làm cho chúng ta những gì chúng ta không thể tự mình làm được. Các chương trình phục hồi này thật vô giá, nhưng cũng không phải là câu trả lời cho tất cả mọi vấn đề của chúng ta.

Cuối cùng, nhưng không kém quan trọng, là các luận thuyết và thực hành về chữa lành trong linh đạo. Cách này nhấn mạnh về việc đi nhà thờ để được chữa lành, nhấn mạnh bí tích hòa giải, cầu nguyện và suy niệm, cũng như chỉ bảo các thực hành nghiêm nhặt, mời mọi người đến các nơi thánh, để cho các nhóm hay người hướng dẫn chữa lành cầu nguyện cho mình, dấn thân vào các giai đoạn được linh hướng với thầy dạy có trường lớp.

Các giá trị của những cách này, và có lẽ là của một sự chữa lành trọn vẹn cho các khiếm khuyết tính khí, các thói xấu, chứng lệ thuộc, hay một vết thương sâu, hệ tại ở việc rút lấy nước trong lành từ các nguồn giếng này. Tuy nhiên, ngoài danh sách đơn giản này, tôi muốn đưa ra một thấu suốt của nhà thần nghiệm vĩ đại, Gioan Thánh Giá, dành cho sự chữa lành về tâm lý, tinh thần và tâm linh.

Trong quyển sách cuối cùng của mình, Ngọn lửa Sống động của Tình yêu, thánh Gioan đưa ra một luận thuyết cũng như tiến trình chữa lành. Về căn bản có thể nói như sau: Với thánh Gioan, chúng ta chữa lành các tổn thương, khiếm khuyết tinh thần, chứng lệ thuộc và thói quen xấu của mình bằng cách lớn lên trong đường nhân đức, đến một mức đủ trưởng thành về nhân văn để không còn chỗ trong đời cho những hành vi cũ vốn thường lôi kéo chúng ta đi xuống. Nói ngắn gọn, chúng ta từ bỏ tính lạnh lùng, cay đắng, và nhỏ nhen trong lòng bằng cách thắp lên một ngọn lửa đủ ấm để đốt cháy sự lạnh lùng và cay đắng đó. Công thức sẽ như sau: Chúng ta càng lớn lên trong sự trưởng thành, quảng đại, và sinh sôi, thì các tổn thương cũ, các thói quen xấu, tính nết xấu và chứng lệ thuộc cũ sẽ biến mất, vì chúng ta trưởng thành sâu đậm hơn nên những tính xấu này sẽ không còn chiếm một chỗ trong đời chúng ta nữa.

Sự phát triển tích cực của tâm hồn như một cây sum suê, cuối cùng đã át đi đám cỏ dại. Nếu bạn đến với Gioan Thánh Giá và nhờ ngài giúp bạn giải quyết một thói quen xấu trong đời, thì ngài sẽ không tập trung vào việc nhổ trừ thói xấu đó. Nhưng, ngài sẽ tập trung vào việc phát triển các nhân đức của bạn: Bạn làm tốt được việc gì? Bạn có đức tính tốt nào? Sự tốt lành nào trong bạn cần được thổi bùng lên thành một ngọn lửa trọn vẹn?

Bằng cách phát triển những gì tích cực trong chúng ta, cuối cùng, chúng ta trở nên những tâm hồn đủ lớn để không còn chỗ cho những thói xấu cũ. Con đường chữa lành, chính là vun tưới cho các nhân đức chúng ta, để các đức tính đó tự thân sẽ là ngọn lửa đốt sạch các tổn thương mưng mủ, các chứng lệ thuộc, các thói quen xấu, và các khiếm khuyết tính khí lâu nay đang nhuốm bệnh trong đời sống chúng ta và giữ chúng ta chìm trong yếu đuối và nhỏ nhen, thay vì bước đi trong trưởng thành, quãng đại và sinh sôi.

Giá trị và Sức mạnh của Nghi lễ

Ngày nay, chúng ta không còn hiểu được giá trị và sức mạnh của nghi lễ. Đây không chỉ là thiếu sót của cá nhân mà là bầu không khí văn hóa chúng ta đang hít thở. Như lời của Robert L. Moore, chúng ta trở nên “điếc về nghi lễ.” Các tác động của điều này có thể thấy khắp mọi nơi, tôi xin phép đưa ra hai ví dụ.

Thứ nhất, chúng ta thấy điều này khi ngày nay có quá nhiều cặp vợ chồng không thấy được sự cần thiết phải trang trọng hóa mối quan hệ của mình qua nghi lễ hôn phối. Họ có cam kết cá nhân để sống chung với nhau, nhưng không cảm thấy cần phải chính thức hóa cam kết này trước thẩm quyền dân sự hay trong nhà thờ. Họ tin rằng tình yêu và cam kết cá nhân của họ là đủ rồi. Vậy một nghi lễ trang trọng hay một phép lành Giáo hội sẽ thêm gì cho cam kết sâu xa này? Cảm giác thịnh hành thời nay là: một nghi lễ trang trọng, dù trong nhà thờ, cũng chỉ là lễ mừng điều gì đó để làm vừa lòng người khác nhất là người bây giờ cảm thấy việc này đóng góp rất ít hoặc không có gì quan trọng trong đời sống thực. Vậy, nghi lễ đóng góp gì cho đời sống thực?

Thứ hai, chúng ta cũng thấy quan điểm này trong nhiều thái độ của người đương thời đối với việc đi nhà thờ, cầu nguyện và các bí tích. Việc dự phần vào điều gì đó sẽ có giá trị gì khi gần như quả tim chúng ta không ở đó? Đi lễ có giá trị gì khi chúng ta cảm thấy việc này như vô nghĩa? Đọc kinh có giá trị gì, khi ngày nay lòng chúng ta cách xa lời kinh trên môi miệng hàng vạn dặm? Xa hơn nữa, đi nhà thờ hay đọc kinh có giá trị gì khi chúng ta cảm thấy có một ác cảm nào đó về việc này? Thật sự, những câu hỏi này thường bị xem như một lời buộc tội. Mọi người chỉ lướt qua việc đi nhà thờ và đọc kinh, lặp lại như con vẹt những lời thực sự chẳng có ý nghĩa với họ, và dự một nghi lễ trống rỗng! Vậy thì có giá trị gì đây? Giá trị là tự bản thân nghi lễ có thể giữ và nâng đỡ cho tâm hồn chúng ta trong một tình trạng thâm sâu hơn những cảm xúc hiện thời của chúng ta.

Trong quyển sách mới đây của mình, Thế giới ngoài trí của bạn (The World Beyond Your Head), Matthew Crawford đã cho rằng nghi lễ hành động tích cực ngay cả khi bạn có cảm giác tiêu cực. Ông nói: “Hãy nhìn ví dụ của một người chịu khổ không chỉ vì xúc cảm cuồng động của dục vọng, phẫn uất, hay ghen tương … mà còn vì buồn bã, bất mãn, chán chường khó chịu. Chẳng hạn như một người vợ cảm nhận về chồng mình như trên. Nhưng cô tuân theo một nghi lễ nhất định, khi đêm về cô vẫn nói với chồng: “Em yêu anh.” Cô nói ra điều này không phải để cho biết về cảm giác của mình vì nó không thực, nhưng cũng không phải là nói dối. Đây là một dạng lời kinh. Cô thốt ra một điều mà cô trân trọng, là mối liên kết hôn nhân, và khi làm thế, cô rời xa sự bất mãn hiện thời và hướng về mối liên kết này, cho dù có thể đó không phải là cảm nghiệm thực sự. Người xưa cho rằng nghi lễ có một tính giả định: người ta hành động như thể tình trạng của mình là thật, hay có thể thật. … Nó giải thoát con người khỏi gánh nặng của sự “xác thực.” …. Nghi lễ nói lên rằng “Em yêu anh” … biến đổi tình trạng hôn nhân theo một cách nào đó, không cần phải thể hiện tình yêu quá nhiều để thốt lên câu thần chú này. Một người vợ người chồng mời gọi người kia cùng với mình tôn trọng hôn nhân, một điều đáng để tôn trọng. Đây thực sự là hành động đức tin: là tin vào người kia, nhưng cũng là tin vào một điều thứ ba, chính là hôn nhân.”

Những gì Crawford nêu bật ở đây chính xác là “một điều thứ ba” nghĩa một sự gì đó vượt trên các cảm xúc của một lúc nhất thời và cả đức tin của chúng ta dành cho nhau, cụ thể là cơ chế hôn nhân tự nó đã mang trong mình nghi lễ, là một bí tích có thể giữ vững và nâng đỡ mối quan hệ vượt trên các cảm xúc và cảm giác nhất thời. Hôn nhân, là một thiết lập, vừa nhân bản vừa thiêng liêng, được định để nâng đỡ tình yêu bên trong và bên ngoài các dao động cảm xúc vốn luôn luôn có trong mọi quan hệ mật thiết. Hôn nhân cho phép hai người tiếp tục yêu thương nhau, bất chấp sự buồn tẻ, cáu gắt, giận dữ, cay đắng, tổn thương, và thậm chí cả thiếu chung thủy. Cử hành nghi lễ hôn phối đặt con người vào trong sự giữ gìn này.
Dietrich Bonhoeffer, khi giảng tại các lễ hôn phối thường khuyên các đôi tân hôn như sau: Ngày nay, các bạn yêu rất nhiều, và cảm giác rằng tình yêu sẽ giữ gìn cho hôn nhân của mình. Nhưng không phải thế. Chính hôn nhân mới giữ gìn cho tình yêu. Vì điếc đặc với nghi lễ, chúng ta thật khó để hiểu được điều này.

Và cũng như thế với việc đi nhà thờ, các bí tích và cầu nguyện riêng. Đây không phải là vấn đề cứ làm các việc này cả những khi chúng ta không có cảm giác gì. Nhưng đúng ra, là việc thực hành các nghi lễ như một câu thần chú, như một sự tôn trọng mối liên hệ giữa chúng ta với Chúa, như một hành động đức tin trong lời kinh.

Nếu chúng ta chỉ nói “Em yêu anh” khi chúng ta thực sự cảm được cảm xúc đó, và nếu như chúng ta chỉ cầu nguyện khi thực sự thích cầu nguyện, thì chúng ta sẽ không thể bày tỏ tình yêu hay cầu nguyện thường xuyên được. Khi nói rằng, “Em yêu anh” và khi đọc kinh trong những thời điểm mà cảm giác của chúng ta đi ngược với lời nói, thì không phải là chúng ta đang giả nhân giả nghĩa hay chỉ làm cho xong việc, nhưng là chúng ta đang thực sự bày tỏ những sự thực thâm sâu hơn.

Thiên Chúa của các khao khát trong chúng ta

Sự thật thâm sâu nhất trong một đức tin đích thực, đó là Thiên Chúa chính là đối tượng của mọi khao khát nhân sinh, bất chấp nhiều khi khao khát đó có trần tục và không thánh thiện đi chăng nữa. Điều này ngụ ý rằng tất cả mọi sự chúng ta khao khát đều ở trong Chúa. Điều này được diễn đạt trong Thánh vịnh, nói rằng Thiên Chúa là đối tượng của khao khát chúng ta, và Chúa Giêsu, cũng đã dạy chúng ta rằng trong Thiên Chúa, những đói khát thâm sâu nhất sẽ được no thỏa. Và do đó, khi cầu nguyện, có lẽ chúng ta chưa bao giờ thực sự ý thức về những gì chúng ta đang nói: Trong đêm thâu, linh hồn con mong mỏi Ngài. Lạy Chúa, chỉ mình Ngài có thể lấp đầy trái tim con. Lạy Chúa, Chúa là tất cả của con. Nhưng có thật là chúng ta khao khát và mong mỏi chính Chúa hay không?
Chúng ta có thật sự tin rằng Thiên Chúa là đối tượng thực sự của các khao khát của chúng ta hay không? Khi nhìn vào tất cả những gì đẹp đẽ, đầy sức sống, lôi cuốn, hấp dẫn tình dục, và khoái lạc trên trần gian, chúng ta có thực sự nghĩ và tin rằng những điều này theo một cách thức vô cùng phong phú hơn, là ở trong Chúa và trong đời sống mà Chúa mời gọi chúng ta hay không? Chúng ta có thật sự tin rằng hân hoan thiên đàng sẽ thắng được khoái lạc trần gian, và ngay trên đời này, niềm vui nhân đức sẽ thắng được các khoái cảm tội lỗi, hay không? Chúng ta có tin rằng đức tin sẽ cho chúng ta những gì chúng ta khao khát không?
Có vẻ là không. Chúng ta, và hầu hết mọi người, đều đấu tranh để hướng sự chú tâm của mình về Chúa. Chúng ta thấy các việc đạo và cầu nguyện như một gián đoạn hơn là cửa ngỏ vào cuộc đời, một trách nhiệm hơn là một quà tặng, một khổ hạnh hơn là hân hoan, và một điều gì đó khiến chúng ta bỏ lỡ hơn là đi vào thâm sâu cuộc đời đó. Hầu hết chúng ta, thành thật mà nói, có một sự ghen tị dấu kín với những ai sung sướng liều mình dò tìm sinh lực thiêng liêng, trong khi chúng ta thì lầm lì làm cho xong bổn phận của mình là gắn bó với một sự gì đó cao cả hơn, nhưng như người anh của đứa con hoang đàng, chúng ta hầu như chỉ phụng sự Chúa vì nghĩa vụ, và cay đắng vì nhiều người khác không như vậy. Ở đời này, nhân đức thường ghen tị với tội lỗi, và sự thật là, điều này đặc biệt đúng về mặt tính dục.
Nhưng phần nào đây là một điều tự nhiên và là dấu chỉ lành mạnh, bởi hiện thực rành rành của thể xác chúng ta và các áp lực của thời khắc hiện tại, tự nhiên áp đặt trên chúng ta theo một cách thức khiến cho những sự của Thiên Chúa và thiêng liêng có vẻ như đầy mơ hồ và vô thực. Đây đơn thuần là do tình trạng nhân sinh, và chắc chắn, Thiên Chúa hiểu thấu. Bạn phải là một nhà thần nghiệm thực sự để thoát ra khỏi tình trạng nhân trần này.
Dù thế, sẽ hữu ích khi chỉ ra rõ ràng một điều mà chúng ta tuyên xưng trong đức tin, cụ thể là việc tất cả mọi sự chúng ta thấy là hấp dẫn, đẹp đẽ, không thể cưỡng lại, gợi tình và khoái lạc trên trái đất này, đều có thể tìm thấy được, thậm chí còn trọn vẹn hơn, nơi khởi thủy của chúng, chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa xinh đẹp hơn bất kỳ ngôi sao điện ảnh nào. Thiên Chúa thông minh hơn bất kỳ nhà khoa học hay triết gia nào. Thiên Chúa dí dỏm và hài hước hơn hài giả xuất sắc nhất. Thiên Chúa sáng tạo hơn bất kỳ nghệ sỹ, nhà văn hay nhà phát minh nào trong lịch sử. Thiên Chúa có tài tranh biện hơn người học thông biết rộng nhất trên trần gian. Thiên Chúa phóng khoáng hơn bất kỳ người trẻ nào. Thiên Chúa nổi tiếng hơn bất kỳ ngôi sao nào. Và, không kém quan trọng, Thiên Chúa đầy hấp dẫn hơn bất kỳ người nữ người nam, hay hình tượng tình dục nào trên thế gian. Chúng ta không thường nghĩ hay tin những điều này về Thiên Chúa, nhưng những phát biểu trên đầy tín lý nghiêm ngặt theo đường lối Giáo hội. Tất cả mọi sự lôi cuốn trên trần gian đều ở trong Thiên Chúa, trong một dạng còn phong phú hơn, bởi chính Ngài là tạo tác cho tất cả lôi cuốn.
Tuy nhiên, điều này không loại bỏ sức mạnh hấp dẫn của những sự thế gian, mà cũng không phải làm vậy. Vô số điều có thể chiếm lấy chúng ta với thực tế đẹp sững sờ của nó: một mỹ nhân, ánh hoàng hôn, một bản nhạc, một tác phẩm nghệ thuật, sức trẻ, sự ngây thơ của con nít, trí tuệ của ai đó, những cảm giác thân mật, cảm giác hoài niệm, một ly rượu đúng lúc, một kích thích tình dục, hay thâm sâu nhất, là một ý thức phôi thai về sự độc nhất vô nhị và đầy quý giá của đời mình. Chúng ta cần phải tôn trọng những sự này, và tạ ơn Chúa vì đã ban cho chúng ta, ngay cả khi chúng ta nhận ra rằng chúng ta sẽ được thấy tất cả những sự này trọn vẹn phong phú hơn nữa trong Thiên Chúa, và chúng ta không mất mát gì khi nhân đức, lòng đạo và dấn thân cần chúng ta hy sinh những sự này cho một sự cao vượt hơn. Chính Chúa Giêsu đã hứa rằng bất kỳ chúng ta từ bỏ những gì vì một sự cao cả hơn, thì sẽ được trả lại gấp trăm.
Biết được điều này, chúng ta hãy sống đời mình, tận hưởng cho trọn vẹn những gì trên trần đời. Vẻ đẹp và vui thú của đời này, là một ơn từ Chúa muốn cho chúng ta hưởng dùng. Nhưng, khi nhận thức được khởi thủy của chúng, thì chúng ta cũng có thể đủ tự do để chấp nhận những giới hạn rất thực mà đời sống đặt ra trên những khao khát của mình. Và tốt hơn nữa, chúng ta không cần phải sợ cả cái chết, bởi những gì chúng ta bỏ đi vì sự cao cả hơn sẽ được trả lại gấp trăm lần.

Phức tạp của Anh hùng

Vài năm về trước, bộ phim Argo đã giành giải Academy cho phim xuất sắc nhất năm 2012. Tôi vui khi xem bộ phim này, một kịch bản tốt, với sự hồi hộp thích đáng, và một vài chi tiết hài hước vui đùa nữa. Nhưng có vài khía cạnh trong phim làm tôi phải đương cự lại. Thứ nhất, là người Canada, tôi thấy phần nào mình bị xúc phạm khi vai trò then chốt của người Canada trong việc giải cứu các con tin Hoa Kỳ khỏi Iran năm 1979, bị hạ thấp đến mức hầu như không xuất hiện trong cốt truyện. Bộ phim này đáng ra phải thành thật hơn, khi nhận rằng mình ‘dựa trên một câu chuyện có thật.’
Nhưng đó chỉ là một bất bình đôi chút chứ không có gì nghiêm trọng. Nghệ thuật có quyền cường điệu để nêu bật một thực tế nào đó. Tôi không phàn nàn gì với nhà sản xuất về điều này. Nhưng, điều khiến tôi phiền lòng, một chuyện thường có trong các bộ phim Hollywood và các tác phẩm nổi tiếng, là chúng ta được xem một anh hùng trần gian với sự lý tưởng hóa non nớt, kiểu một tay cứu cả thế giới, và sự biệt lập của anh hùng này đi kèm với một kiêu ngạo nhất định, được mô tả như đó là con người thượng đẳng. Nhưng, người anh hùng kinh điển này, với ‘con đường riêng của mình’ với sự khôn ngoan và tài năng làm lu mờ tất cả, chỉ là một ảo tưởng non nớt mà thôi.
Vậy thì ‘anh hùng kinh điển’ như thường được mô tả trong nhiều bộ phim, có gì là sai trái?
Điều sai trái chính là, theo các thần thoại cổ và nhiều nhà nhân học, triết học,và tâm lý học, thì dạng ‘anh hùng’ này không phải là nguyên mẫu của một chiến binh hay ngôn sứ đích thực. Một đấng cứu tinh, một ngôn sứ, hay chiến binh đích thực, thì không phải là một ‘anh hùng’ nhưng là một ‘hiệp sĩ.’ Và đây là điểm khác biệt: Anh hùng hành động theo kế hoạch của mình, còn hiệp sĩ hành động theo kế hoạch của một người khác. Hiệp sĩ quy phục theo một vị vua. Hiệp sĩ, như Chúa Giêsu, ‘không làm gì theo ý mình.’
Nhưng điều này thật không dễ để hiểu và chấp nhận. Sự lý tưởng hóa dữ dội mà chúng ta gởi gắm vào các anh hùng và anh thư, thì như tình yêu của một thiếu niên vậy, quá mãnh liệt như say thuốc, và thật khó để nhìn ra những gì trọn vẹn và trưởng thành hơn. Tình yêu ám ảnh mà Romeo và Juliet đã chết vì nó, thật quá đỗi mãnh liệt, nhưng một cặp vợ chồng, đã nắm tay nhau đi suốt 50 năm hôn nhân, mới là hình mẫu thực sự của tình yêu. Người anh hùng, đơn độc, tách biệt, và bất cần là hình tượng mà một người trưởng thành trọn vẹn hơn sẽ không noi theo. Alan Ladd lái xe đi vào ánh hoàng hôn trong phim Shane, các nhân vật do Sylvester Stallone hoặc Arnold Schwarzenegger thủ vai, và cả anh hùng Argo nữa, đều bỏ qua, ngay cả mệnh lệnh của Tổng thống trong việc giải cứu các con tin ở Iran.
Triết gia đoạt giải Nobel, Albert Camus, trong quyển sách ‘Dịch Hạch’ đã cho chúng ta một ví dụ về người anh hùng cao cả nhất. Người anh hùng của ông là bác sỹ Rieux, một người vô thần, và vì thế, ông đấu tranh với vấn đề ý nghĩa: Nếu không có Thiên Chúa, liệu có thể có ý nghĩa nào hay không? Liệu các đức tính hay sự quảng đại cuối cùng có làm nên điều gì khác biệt hay không? Bác sỹ Rieux đã trả lời các câu hỏi này cho bản thân mình, bằng cách tìm ý nghĩa trong việc không chút ích kỷ hy sinh bản thân, mạo hiểm mạng sống để chiến đấu với bệnh dịch. Còn điều gì có thể cao cả hơn thế? Không có mấy điều thổi bùng lên hình tượng lãng mạn cho bằng cuộc nổi dậy đạo đức này. Vậy thì, có điều gì cao thượng hơn người anh hùng trong phim Argo, đã đơn độc đương đầu với chế độ Iran?
Charles Taylor có câu trả lời cho điều này. Khi bình luận về nhân vật anh hùng của Camus, Taylor nói rằng: ‘Đây có phải là thước đo tối hậu cho sự hoàn hảo? Nếu chúng ta nghĩ rằng nhân đức là sự nhận thức của các cá thể đơn độc, thì có vẻ đúng là thế. Nhưng giả như, sự thiện tột cùng hệ tại ở sự thông hiệp, trao và nhận, như trong dụ ngôn bàn tiệc tận thế. Mà chủ nghĩa anh hùng của nhưng không, thì không có chỗ cho sự có qua có lại. Nếu bạn trả lại cho tôi điều gì đó, thì quà tặng của tôi không còn là hoàn toàn nhưng không, và ngoài ra, trong những trường hợp cực đoan, tôi biến đi cùng với quà tặng của mình, và giữa chúng ta tuyệt không thể có bất kỳ thông hiệp nào cả, Chủ nghĩa anh hùng đơn hợp này là một thứ tự khép kín. Nó chạm đến giới hạn tận cùng trong xúc cảm của chúng ta khi được đánh động bởi ý thức về phẩm giá mình. Nhưng, cuộc đời là thế ư? Đức tin Kitô giáo có một lập trường hơi khác về điều này.’
Và đó là: Chúng ta thấy điều này nơi Chúa Giêsu. Ngài đến trong thế gian, với tư cách vị cứu tinh, xóa bỏ quyền lực bóng tối, bạo lực, bất công, Ma quỷ và sự chết. Nhưng hãy xem, Ngài nói những gì: Ta không làm sự gì theo ý riêng mình. Ta hoàn toàn vâng phục Cha. Chúa Giêsu không bao giờ là một ‘anh hùng’ một ‘người đơn thương độc mã’ làm theo ý mình, và hiếm khi che giấu một tâm thức thượng đẳng thiển cận tự mãn. Chúa Giêsu là hình mẫu của một ‘hiệp sĩ,’ một người lính khiêm hạ luôn luôn quy phục Vua của mình.

Điều tốt nhất có thể làm chiếu theo hoàn cảnh

Mới đây, tôi có hướng dẫn một khóa tĩnh tâm một tuần cho khoảng 60 người. Nhìn chung, mọi chuyện xảy ra tốt đẹp, dù tôi nghĩ có thể tốt hơn nữa nếu trước khi đến đó, tôi có thêm thì giờ để chuẩn bị và nghỉ ngơi, hầu có đầy sinh lực có thể chú tâm hoàn toàn, không chia trí cho nhóm tĩnh tâm trong suốt 7 ngày này.
Tất nhiên, là không được như vậy. Những ngày trước cuộc tĩnh tâm, tôi chịu nhiều áp lực khi đãm trách các việc mục vụ thường nhật, khiến cho tôi quá tải và mệt mỏi. Thật sự là, trong những ngày trước đó, tôi phải làm thêm nhiều giờ để có thể thu xếp đi đến khóa tĩnh tâm này. Vậy nên, khi đến nơi, tôi phần nào kiệt lực, lại đem theo mình nhiều áp lực từ trách vụ thường nhật.

Dù thế, cuộc tĩnh tâm đã diễn ra khá tốt đẹp. Tôi có đủ sức và đủ tập trung để mọi chuyện diễn tiến theo căn bản. Nhưng, xét về mặt lý thuyết, tôi đã không làm tốt nhất, dù đó đã là điều tốt nhất tôi có thể làm trong hoàn cảnh này.
Tự thú như thế, sẽ là công tâm khi hỏi một câu: Liệu những người đi tĩnh tâm có quyền được có tôi trong trạng thái sẵn sàng hơn, lại sức hơn, và chuẩn bị hơn để họ được chú tâm trọn vẹn, hay không? Đúng là công tâm. Họ có quyền đó, ngoại trừ việc tất cả những người đang chịu ảnh hưởng từ trách vụ thường nhật của tôi cũng có quyền như vậy. Họ cũng có quyền với thời gian của tôi, với con người tôi không kiệt quệ, nhưng đầy năng lượng và chú tâm hoàn toàn. Trong suốt những tuần tĩnh tâm, trách vụ thường nhật của tôi chuyển xuống thành thứ hai. Tôi không đem lại được cái tốt lý tưởng nhất của tôi, nhưng chỉ là điều tốt nhất tôi có thể làm theo hoàn cảnh.
Tôi cho rằng hầu hết chuyên gia về kiểm soát thời gian, và không ít các cố vấn và linh hướng, sẽ bảo tôi rằng lý do tồn tại sự căng thẳng áp lực này trong đời là bởi tôi đã không làm rõ những ưu tiên hàng đầu và trung tín với chúng, từ đó sự lưỡng lự tùy tiện này là không công bằng với tất cả mọi người ở mọi phía. Nếu tôi quá tham công tiếc việc, thì đó là lỗi của tôi, hoàn toàn và đơn thuần là vậy, và tôi có trách nhiệm đạo đức phải sửa đổi nó.
Nhưng có thật mọi chuyện đơn giản như vậy không? Chúng ta có thực sự được định là kiểm soát được đời mình nhiều đến vậy không? Không phải hoàn cảnh và nhu cầu luôn luôn thắng đòi hỏi này hay sao? Không phải những năm tháng sinh sôi trong cuộc đời, có giá trị hơn việc chỉ bảo đảm cho sức khỏe và nghỉ ngơi của chúng ta hay sao? Ngay cả khi mục đích của việc chăm sóc bản thân không phải do động cơ ích kỷ, nhưng là để phục vụ người khác tốt hơn, thì chẳng lẽ việc phục vụ đó là cái cớ cuối cùng sao? Nhu cầu thì bất tận, mà nguồn lực của chúng ta thì có hạn, không phải đây luôn là điều gây nên căng thẳng hay sao?
Hoàn cảnh ép buộc chúng ta, và theo lời Chúa Giêsu, thì nó thắt lưng và dắt chúng ta đến nơi mình không muốn, cụ thể là, ra khỏi sự tiện nghi của chúng ta, vượt ngoài sự nghỉ ngơi thích đáng và ngoài tầm kiểm soát thời gian biểu cũng như sinh lực của chúng ta. Phải thừa nhận là thật nguy hiểm khi tham công tiếc việc, ngoài trừ việc, cũng nguy hiểm như thế khi trốn tránh công việc để luôn kiểm soát được sức lực và các lo toan của mình cũng như được nghỉ dưỡng cho thật tốt. Chúng ta có thể nổ tung, nhưng cũng có thể cùn rỉ.
Tất nhiên, điều này có thể là một lập luận cho việc không đưa ra những ưu tiên hàng đầu đúng đắn, và để mình bị cuốn theo hoàn cảnh mà không suy nghĩ gì. Nhưng, điều trái ngược cũng có thể là lập luận cho việc bảo vệ quá đáng những tiện nghi và nghỉ ngơi của mình. Đây chính là căng thẳng, và là căng thẳng tiền định. Đôi khi chúng ta quá ham công tiếc việc, và đôi khi quá trốn tránh công việc. Hầu hết những người tôi ngưỡng mộ nhất trên thế giới đều phải chịu chứng đầu tiên, ham công tiếc việc, và ngược đời thay, điều này dường như lại cho họ thêm sinh lực. Chúa Giêsu, khi nhắc nhở hãy chăm sóc bản thân cho tốt (‘Hãy đi tìm chỗ và nghỉ ngơi chốc lát’ Mc 6,31) cũng đã bảo chúng ta phải trút cạn bản thân cho người khác, mà không lo lắng quá nhiều liệu điều này có giết chết chúng ta hay không.
Tôi từng nghĩ như thế khi đi hướng dẫn cuộc tĩnh tâm mới đây, biết rằng những người đi tĩnh tâm cũng như trách vụ thường nhật của tôi đều không được hưởng sinh lực tốt nhất nơi tôi … dù cả hai đều được nhận hết sức tôi có thể làm được, chiếu theo hoàn cảnh.
Và đây chẳng phải là một hình ảnh tốt cho trọn cuộc đời chúng ta hay sao? Chúng ta có sinh lực hữu hạn, thời gian hữu hạn, sự chú tâm hữu hạn, và lại luôn luôn bị cưỡng bách bởi hoàn cảnh, nhu cầu và áp lực. Luôn luôn có chuyện gì đó! Và thường chúng ta gặp áp lực chính là thời gian, sức lực, và chú tâm. Trong bất kỳ thời điểm nào trong đời, nếu thành thật, chúng ta sẽ nói rằng: Đây không phải là điều tốt nhất tôi có thể làm được, xét về mặt lý thuyết, nhưng đây là điều tốt nhất tôi có thể làm được, chiếu theo hoàn cảnh!
Xét tận cùng, điều này thật đúng suốt cuộc đời chúng ta. Không bao giờ được như lý tưởng, nhưng đó là điều tốt nhất chúng ta có thể làm, chiếu theo hoàn cảnh. Và như thế là quá đủ, khi đứng trước mặt Đấng Tạo Tác chúng ta trong ngày phán xét.

Nhận thức căn bản về Bí tích Thánh Thể

Christian de Cherge, đan viện phụ dòng Xitô, người tử đạo ở Algeria năm 1996, đã kể lại chuyện rước lễ lần đầu của mình: Ngài lớn lên trong một gia đình Công giáo La Mã ở Pháp, và vào ngày rước lễ lần đầu, ngài nói với mẹ: ‘Con không hiểu con đang làm gì.’ Mẹ ngài đơn giản trả lời: ‘Ổn thôi, con không cần phải hiểu bây giờ, về sau con sẽ hiểu.’
Chắc chắn Chúa Giêsu cũng trả lời hệt như thế cho các môn đệ trong bữa Tiệc ly khi lần đầu tiên họ rước lễ. Khi trao bánh, Chúa Giêsu nói, ‘Này là mình Thầy,’ rồi trao chén rượu mà nói, ‘Này là máu Thầy,’ đây là những việc mà các môn đệ chẳng thể hiểu nổi. Họ hẳn đã rất bối rối và hoang mang. Còn chúng ta, chúng ta phải hiểu chuyện này như thế nào đây? Ăn thịt và uống máu một người nghĩa là gì? Tôi cho rằng trước sự không hiểu nổi này của các môn đệ cũng như của Christian de Cherge, Chúa Giêsu hẳn sẽ nói: Các con không cần phải hiểu bây giờ, về sau con sẽ hiểu.
Thực vậy, trong việc lập Phép Thánh Thể tại bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu không yêu cầu các môn đệ hiểu việc họ đang làm, Ngài chỉ yêu cầu các môn đệ cử hành việc này trong đức tin cho tới khi Ngài lại đến. Nhận thức của các môn đệ về những gì mình đang làm khi cử hành Phép Thánh Thể chỉ được tăng tiến khi họ lớn dần trong đức tin. Nhưng lúc đầu, Chúa Giêsu không đòi hỏi các môn đệ phải hiểu nhiều, cũng không giải thích nhiều cho họ về việc mà Ngài đang cùng cử hành với họ. Chúa Giêsu chỉ đơn giản muốn họ ăn thịt và uống máu Ngài.
Ngài không cho họ một khóa thần học về Phép Thánh Thể tại bữa Tiệc ly. Nhưng chỉ đơn thuần cho chúng ta một nghi thức và muốn chúng ta cử hành thường xuyên, cho dù trí tuệ của chúng ta có hiểu được chuyện này đến đâu chăng nữa. Một trong những giải thích rõ ràng hơn của Chúa Giêsu về ý nghĩa của Phép Thánh Thể là hành động biểu tượng của Ngài khi rửa chân cho các môn đệ. Và cũng không khác gì mấy.
Chúng ta thường không buộc phải hiểu trọn vẹn hay thỏa đáng về Phép Thánh Thể. Đức tin chỉ cần các tín hữu chúng ta dự phần vào Phép Thánh Thể. Thật vậy, như trong trường hợp của các mầu nhiệm thâm sâu, không có một giải thích lý tính thỏa đáng nào về Phép Thánh Thể. Không một ai, không một thần học gia nào trên thế giới, có thể giải thích thỏa đáng về mặt tri thức, hiện tượng, tâm lý, hay thậm chí là thiêng liêng trong việc ăn và uống máu này cả. Vậy chúng ta phải hiểu thế nào đây? Cái đầu không đủ tầm để hiểu. Thay vào đó, chúng ta phải dựa vào ẩn dụ và biểu tượng, để có được một hiểu biết mơ hồ trực giác về sự này. Chúng ta có thể thực sự hiểu được mầu nhiệm này, dù không thể hiểu trọn vẹn được.
Trong thời gian đào tạo chủng viện và nghiên cứu nâng cao của mình, tôi đã có ba bài luận chính về Phép Thánh Thể. Sau khi xem đủ mọi bài văn và sách vở về Phép Thánh Thể, tôi kết luận rằng tôi không hiểu được, và tôi đủ hạnh phúc với điều này, vì những bài vở này đã dạy cho tôi biết về tầm quan trọng của việc tôi cử hành và dự phần vào Phép Thánh Thể. Với đủ mọi kiến thức thông tuệ của mình, giá trị đích thực của tất cả các bài vở này là cuối cùng đã cho tôi biết điều mà mẹ của Christian de Cherge đã nói với con mình trong ngày rước lễ lần đầu: Con không cần phải hiểu bây giờ, về sau con sẽ hiểu. Tất nhiên, trong đây là sự thật rằng có một sự gì đó thâm sâu đáng để chúng ta nhận thức hiểu biết, nhưng sự đó quá đỗi sâu sắc không thể nắm bắt cho trọn ngay bây giờ được.
Có lẽ điều này sẽ hữu ích cho chúng ta khi tìm kiếm một lời nào đó mà nói với con cái chúng ta hay với những người trẻ vốn không còn đi nhà thờ nữa, và cả những người bảo với chúng ta rằng họ không đi nhà thờ vì không thấy có ý nghĩa gì trong Phép Thánh Thể. Thời nay, chúng ta nghe lời than thở này suốt: ‘Tại sao tôi nên đi nhà thờ, nó chẳng có ý nghĩa gì với tôi?’ Sự cự tuyệt này đơn thuần là một cách khác để nói lên những gì mà Christian de Cherge nhỏ tuổi hỏi mẹ mình lúc chuẩn bị rước lễ lần đầu: Con không hiểu được chuyện này. Có lẽ câu trả lời của chúng ta cũng đồng điệu với câu trả lời của mẹ ngài: Con không cần phải hiểu bây giờ, về sau con sẽ hiểu.
Thần học gia người Anh, Ronald Knox, khi nói về Phép Thánh Thể, đã trình bày rằng: Các Kitô hữu chúng ta, không bao giờ thực sự thành tín với Chúa Giêsu, cho dù theo phái nào đi chăng nữa. Đến cuối cùng, không một ai trong chúng ta theo trọn giáo huấn của Chúa Giêsu. Chúng ta không quay má kia cho người ta đánh. Chúng ta không tha thứ cho kẻ địch mình. Chúng ta không thanh luyện tư tưởng của mình. Chúng ta không thấy Chúa trong người nghèo. Chúng ta không giữ lòng mình trong trắng trước những sự của thế gian. Nhưng, chúng ta, thành tín theo một cách rất quan trọng, đó là tiếp tục cử hành Phép Thánh Thể.
Điều cuối cùng mà Chúa Giêsu muốn chúng ta làm trước khi chịu chết, chính là hãy tiếp tục cử hành Phép Thánh Thể. Và đây là việc chúng ta đã làm, cho dù không bao giờ thực sự nắm bắt lý tính về việc mà chúng ta đang làm. Nhưng chúng ta thành tín khi làm việc này, bởi chúng ta nắm bắt được sự khôn ngoan nơi người mẹ của Christian de Cherge. Sự này, con không phải hiểu, con chỉ cần làm mà thôi.

Bí mật Thâm sâu nhất của Khôn ngoan

Tất cả mọi người đều khao khát muốn biết một chuyện bí mật, một chuyện mà người khác không biết nhưng bạn lại biết, và chuyện này sẽ cho bạn một thấu suốt và lợi thế hơn người khác, những người không nằm trong nhóm nội bộ biết được bí mật này. Luôn là thế. Chiếu theo dòng lịch sử, có thể gọi đây là ‘Ngộ đạo thuyết,’ với các hình dáng bên ngoài khác nhau.
Ngày nay, chúng ta thấy điều này trong một xã hội rộng lớn với vô số những quyển sách nổi tiếng như Mật mã Da Vinci, và Lời tiên tri Celestine. Sức hút của những quyển sách là những dấu chỉ cho rằng có một số bí mật mà chỉ một số ít người ưu tú mới biết, và chúng chứa đựng những thông tin quan trọng có thể đổi đời, mà vì chưa được khai sáng nên chúng ta không biết gì. Và tất nhiên, mong ước của chúng ta là muốn được ở trong những nhóm đặc biệt này. Đôi khi chúng ta cũng thấy những chuyện tương tự như vậy trong các nhóm tôn giáo, nơi những người quá ảo tưởng mình có mặc khải riêng về nhiều thần nghiệm tự nhận, hay nơi những quyển sách tuyên bố những mặc khải mới từ Đức Trinh Nữ Maria, và cả nơi những chuyện quá hấp dẫn như Ba bí mật Fatima chẳng hạn. Ngộ đạo thuyết có nhiều vỏ bọc cho nó.
Trong Tin mừng theo thánh Máccô, nhìn thoáng qua, có vẻ như chính Chúa Giêsu cũng đã ra dấu về kiểu bí mật này. Ngài nói rằng có một bí mật mở ra cho chúng ta, và nếu biết được, thì sẽ cho chúng ta được vào nhóm khai sáng đặc biệt. Trong đoạn Tin mừng Máccô 4, 11, Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng: Thầy nói cho các con biết bí mật Nước Trời, nhưng Thầy chỉ dùng dụ ngôn để nói với những người ngoài. Rõ ràng Chúa Giêsu phân biệt ra hai nhóm, một nắm bắt được bí mật và ‘ở trong’ còn nhóm kia không nắm được bí mật và ‘ở ngoài.’ Dường như Chúa Giêsu nói rằng, khi theo Ngài, chúng ta sẽ hoặc ‘ở trong’ hoặc ‘ở ngoài’ tùy vào việc chúng ta có nắm bắt được một bí mật nào đó hay không. Các môn đệ đích thực là những người ‘có được điều đó’ còn những người ‘không có’ thì vẫn cứ ở vòng ngoài. Nhưng chúng ta ở trong hay ở ngoài cương vị môn đệ này? Và quan trọng hơn nữa, bí mật đó là gì?
Với Chúa Giêsu, bí mật là thập giá, là sự khôn ngoan thâm sâu mà chúng ta cần hiểu được. Nếu chúng ta hiểu được thập giá, thì mới hiểu được tất cả những lời Chúa Giêsu dạy. Ngược lại, nếu chúng ta không hiểu được thập giá, thì tất cả những lời Chúa Giêsu dạy đều vô nghĩa với chúng ta. Nắm bắt được ý nghĩa của thập giá là bí mật tiết lộ mọi sự. Nhưng cụ thể hơn, làm sao, để hiểu được thập giá? Bí mật thâm sâu nào nơi thập giá Chúa Giêsu? Về căn bản, chúng ta cần hiểu sự gì đây?
Nhiều nhà chú giải Kinh thánh đã trả lời câu hỏi này theo các cách khác nhau và bổ túc cho nhau. Với một số người, thì đây là nắm bắt sự khôn ngoan được bày tỏ nơi thập giá. Người khác thì cho rằng, phải hiểu được sự đau khổ của Chúa Giêsu trên thập giá. Và với người khác nữa, là hiểu được lời mời gọi bên trong thập giá đang kêu mời chúng ta sống các đòi hỏi của thập giá. Mỗi một chú giải này, theo cách riêng của mình, đều đưa ra bí mật thâm sâu nhất trong tất cả mọi nhận thức nhân loại, cụ thể là, khi trao ban tình yêu bằng sự tự hiến hoàn toàn, bằng cái giá của sỉ nhục, tan nát, và cái chết, chúng ta đạt đến những gì thâm sâu nhất và trọn vẹn nhất trong đời.
Nhưng, không như các bí mật ngộ đạo thuyết thời xưa hay thời nay, bí mật này là một bí mật mở, cho tất cả mọi người, và ngược đời thay, lại mở ra cho những ‘người nhỏ bé’ người nghèo và giấu kín với ‘những người khôn ngoan tài giỏi.’ Chúa Giêsu đã nói rõ rằng, Ngài không có bí mật giấu kín nào cả, nhiều lần Ngài nhấn mạnh, Ngài chỉ nói công khai nơi công cộng, không bao giờ giấu giếm, Ngài lên tiếng nơi hội đường và phố thị. Chúa Giêsu không có bí mật giấu kín nào cả, chỉ có những bí mật mở nhưng chúng ta không nắm bắt được mà thôi.
Và một điều đáng chú ý là, trong Tin mừng cho thấy, bí mật của thập giá không phải là chuyện hiểu hết một lần được. Có lúc chúng ta nắm bắt được, và đi vào nhóm hiểu biết, có lúc chúng ta không nắm bắt được và ra khỏi nhóm. Ví dụ như, sau khi thánh Phêrô chối Chúa Giêsu trong cuộc thương khó, Tin mừng cho chúng ta biết, ‘Phêrô đi ra ngoài’ và đây không chỉ đơn thuần là bước ra khỏi cánh cửa sân thôi đâu. Khi chối về việc mình biết Chúa Giêsu, và không dấn tới mà nhận lấy gánh nặng trung tín, Phêrô đã bước ra khỏi nhóm môn đệ đích thực và ra khỏi nhận thức đích thực về sự sống. Việc chối Chúa Giêsu đã khiến Phêrô ‘ở ngoài.’ Cả chúng ta nữa, khi theo Chúa Giêsu, có lúc chúng ta ‘bước ra ngoài’ khi chiều theo cám dỗ và nghịch cảnh. Nhưng rồi, nếu chúng ta hối hận vì đã phản bội, như Phêrô thưở xưa, thì chúng ta có thể bước lại ‘vào trong.’
Có nhiều cách khác nhau để chúng ta có thể nhận thức được thông điệp của Chúa Giêsu và tương hợp ý Chúa với đời mình, nhưng có lẽ ít, hoặc không có điều gì, cho chúng ta ngay lập tức đi vào trọng tâm cho bằng lời mời của Chúa Giêsu trong Tin mừng theo thánh Máccô, muốn chúng ta nắm bắt và đón nhận sự khôn ngoan của Thập giá.

Gắn bó bất thường – Sai trái đạo đức hay cuộc vật lộn với sinh lực thần thiêng

Ngòi bút thiêng liêng trứ danh, Henri Nouwen, không giấu diếm gì về việc cha quá nhạy cảm về mặt tình cảm, và đã chịu những ám ảnh xúc cảm, đôi khi đến mức trầm cảm lâm sàng. Henri Nouwen, một người khấn độc thân khiết tịnh, nhiều lần đã đơn thuần là bị chế ngự bởi cảm giác đang yêu một người không cách nào với tới được, và khiến cha trở nên tê liệt tâm lý đến mức cần đến sự hỗ trợ chuyên khoa.

Nhưng, với đức tính trung thực và đời sống minh bạch của cha, người ta hầu như không thể quy cho cha là một người sai trái về mặt đạo đức, cho dù đôi khi có lơi chân về mặt cảm xúc. Đơn giản là có những lúc cha không thể giữ mình trước sự nhạy cảm xúc cảm quá đỗi.

Hầu hết những người nhạy cảm đều chịu đựng một sự tương tự như vậy, dù không dữ dội như trường hợp của Henri Nouwen. Hơn nữa, những dạng ám ảnh xúc cảm này tác động đến toàn bộ cuộc đời chúng ta, bao gồm cả đời sống luân lý và tôn giáo. Những gì chúng ta làm trong cơn đau và tê liệt của ám ảnh này, hiếm khi là chuyện cho chúng ta tự hào, và cũng càng không phải là một hành động tự ý. Bị giữ chặt trong những ám ảnh xúc cảm, chúng ta không thể suy nghĩ tùy ý, cầu nguyện tùy ý, hay quyết định được điều gì tùy theo ý mình, và chúng ta có xu hướng hành động cưỡng bách theo những cách thức không hợp đạo đức. Vậy thì hành động của chúng ta có tính luân lý thế nào?

Các ngòi bút thiêng liêng kinh điển đã nói về một sự mà họ định danh là ‘gắn bó bất thường’ và với họ, những ‘gắn bó bất thường’ này là một sai lỗi luân lý, một điều mà chúng ta cần phải kiểm soát bằng sức mạnh ý chí. Tuy nhiên, ‘gắn bó bất thường’ có một mức nghĩa rộng. Theo các nhà linh đạo kinh điển, chúng ta có thể gắn bó một cách bất thường với danh vọng, với vẻ ngoài của mình, với tiền bạc, quyền lực, lạc thú, tiện nghi, của cải, tình dục, và cả một lô một lốc những thứ khác nữa. Họ thấy đây là sự đối nghịch với đức tính từ bỏ. Và do bởi nó đối lập với một nhân đức, nên ‘gắn bó bất thường’ là một tính xấu, một sai lầm luân lý và thiêng liêng.

Nhưng có thể nói ra rất nhiều điều tích cực từ quan điểm này. Thông thường, thì việc thiếu tính từ bỏ, là một sai sót đạo đức. Nhưng có lẽ, có một ngoại lệ. Một gắn bó bất thường, cũng có thể là một ám ảnh xúc cảm với người khác, và điều này khiến cho vấn đề luân lý ở đây trở nên rối rắm mơ hồ. Thường thì, các ám ảnh, không phải là do chúng ta tự ý chọn lấy cũng không phải trong tầm kiểm soát của ý chí, hay ít nhất là cảm xúc. Giáo lý và các sách thần học thường dạy rằng: Chúng ta có trách nhiệm với hành động của mình, nhưng không có trách nhiệm về cảm giác của mình. Cảm xúc như con ngựa bất kham, chúng lồng lên khi muốn, và không dễ gì để thuần hóa.

Do đó, tôi tin rằng, khái niệm ‘gắn bó bất thường’ trong linh đạo kinh điển, cần được thêm vào một điều nữa. Ví dụ như, ngày nay chúng ta nói về ‘ám ảnh’ và ai cũng biết ám ảnh mạnh mẽ và gây tê liệt đến mức nào. Bạn không thể muốn hay quyết định mình không bị ám ảnh được. Nhưng, đây là một sai trái đạo đức hay sao?
Đôi khi chúng ta nói về ‘quỷ ám’ và điều này cũng có nhiều nghĩa. Chúng ta có thể bị ám bởi một thế lực vượt quá chúng ta, áp đảo ý chí của chúng ta, và đó có thể là ma quỷ hay một chứng nghiện quá độ như nghiện rượu hay thuốc phiện. Hầu hết chúng ta không bị chế ngự, nhưng mỗi người chúng ta đều phải chiến đấu với những con quỷ của mình, và ranh giới giữa ám ảnh và bị ám, đôi khi rất mỏng manh.

Hơn nữa, các nhà tâm lý học nguyên hình ngày nay có nói về một sự mà họ gọi là ‘quỷ quái’ nghĩa là họ tin rằng để giải thích hành động của chúng ta, thì không chỉ hạn chế trong tự nhiên và giáo dưỡng, nhưng còn là ‘thiên thần’ và ‘ác quỷ’ quyền lực bên trong chúng ta, vốn không ngừng ám ảnh thân xác và tâm trí chúng ta, khiến chúng ta bị ám ảnh và bị cầm cương kinh niên. Nhưng những ‘quỷ quái’ này cũng thường là cội rễ sáng tạo của chúng ta, và đó là lý do vì sao chúng ta thường thấy (trong hành văn của Michael Higgins) ‘các thiên tư bị đày đọa’ trong những người đạt được thành tựu cao, người lãng mạn, những người có khí chất nghệ sĩ, và những người như Van Gogh hay Nouwen, do một ám ảnh đè nén, mà đã cắt tai của mình hay phải đi viện chữa trị.
Vậy điểm nhấn ở đây là gì? Chính là một hiểu biết sâu hơn về bản thân và người khác. Chúng ta không được quá hoang mang trước những chuyện đôi khi xảy đến trên thế giới hay trong bản thân mình. Chúng ta là những tạo vật hoang dại, bị ám ảnh, và phức tạp, mà sự phức tạp này không bắt rễ chính từ sự dữ bên trong chúng ta. Đúng hơn, sự phức tạp này bắt rễ từ điều thâm sâu nhất trong chúng ta, cụ thể chính là, hình ảnh giống với Thiên Chúa. Chúng ta là những linh hồn bất diệt đang du ngoạn trong một thế giới hữu diệt. Các ám ảnh là một phần tất yếu. Trong thần thoại cổ, các nam thần và nữ thần thường không kìm nổi tình yêu với con người, nhưng người cổ đại tin rằng chính tình yêu này là nơi thần thiên và nhân trần hội ngộ. Vẫn là như vậy, sự thần thiêng trong chúng ta, đôi khi cũng vô vọng phải lòng một phàm nhân khác. Tất nhiên, điều này không là cớ để chúng ta chối tội khi cứ chiều theo cảm tính, nhưng đây là một nhắc nhở cho chúng ta rằng sự nhạy cảm xúc cảm không phải là một sai trái đạo đức cho bằng là sự gặp gỡ giữa thần thiêng và nhân trần.

Các ngòi bút thiêng liêng đương đại

Trong số những ngòi bút về đường thiêng liêng, ai đáng đọc? Tôi xin đưa ra đây danh sách các ngòi bút thiêng liêng có ảnh hưởng lớn trong thế giới nói tiếng Anh:

Henri Nouwen, người Hà Lan/Mỹ, Công giáo La Mã, linh mục Có lẽ ngài là người được đọc nhiều nhất, và có ảnh hưởng nhất trong số tất cả các tác giả thiêng liêng đương đại.

Thomas Merton, Công giáo La Mã, đan sĩ, một trong những ngòi bút thiêng liêng có ảnh hưởng nhất trong 100 năm qua.

C.S. Lewis – người Anh, giáo dân, Anh giáo. Nổi tiếng cả trong giới đạo và đời. Đã đưa thiên tư văn học của mình nhằm trình bày rõ ràng đức tin Kitô giáo.

Jim Wallis, người Mỹ, giáo dân, phái Phúc âm, nhà phúc âm hóa lừng danh, nhà hoạt động xã hội, nhà tổ chức xã hội. Người gần giống Dorothy Day nhất trong thời đại chúng ta. Được tất cả các phái đọc và tôn trọng.

Thomas Halik, Công giáo La Mã, linh mục, người Czech Slovakia, vừa giành giải Templeton danh giá.

Parker Palmer, phái Qaker, giáo dân, người Mỹ, được tôn trọng nhiều trong mọi phái. Viết rất thông tuệ về linh đạo giáo dục và về sự cân bằng Kitô giáo trong đời.

Alan Jones, Tân giáo, linh mục, người Mỹ. Rút khôn ngoan từ những nguồn giếng sâu của truyền thống Kitô giáo. Linh đạo thực hành có chiều sâu.

Carlo Carretto, Công giáo La Mã, khổ tu, người Ý. Dành nhiều năm sống ẩn dật trong sa mạc Sahara và viết về cảm nghiệm này.

Ruth Burrows, người Anh, nữ tu dòng Carmen. Có những thấu suốt sâu sắc về thần nghiệm, đức tin và cầu nguyện chiêm niệm. Một nhận thức cao độ kết hợp với kiến thức sâu sắc về truyền thống thần nghiệm.

Richard Rohr, người Mỹ, dòng Phanxicô, linh mục, nhà phúc âm hóa lừng danh. Vô số sách viết về cầu nguyện, linh đạo nam tính, các chứng nghiện, việc thắng vượt thuyết nhị nguyên, thắng vượt chủ nghĩa bè phái, tìm được sự cân bằng trong đời, và chú giải kinh thánh.

Wendy Wright, người Mỹ, giáo dân, Công giáo La Mã. Một chuyên gia về thánh Phanxicô Salê và Jane Chantel, nhưng các tác phẩm còn rộng hơn, dành riêng nói về vị trí của tận hiến trong đời sống thiêng liêng.

Peter Tyler, người Anh, Công giáo La Mã, giáo dân. Một chuyên gia về linh đạo Carmen. Một tiếng nói trẻ tuổi đang nổi lên.

Thomas Keating, người Mỹ, Công giáo La Mã, tu sĩ. Được đông đảo xem là ‘tiêu chuẩn’ về cầu nguyện chiêm niệm.

John Main, người Anh và Canada, tu sĩ, là người hướng dẫn lừng danh và đáng tin cậy trong cầu nguyện chiêm niệm.

Laurence Freeman, người Anh, tu sĩ, cũng là một người hướng dẫn đáng tin cậy trong cầu nguyện chiêm niệm.

Kathleen Norris, người Mỹ, Giáo hội Trưởng lão, giáo dân, Dòng Hiến sỹ Bênêđictô. Đắm mình sâu vào truyền thống của các Giáo phụ Sa mạc, và cũng hòa hợp như thế với các đấu tranh thiêng liêng của chúng ta trong văn hóa đương thời.

Trevor Herriot, người Canada, giáo dân, Công giáo La Mã. Một nhà biện giáo có uy cho việc bảo vệ tự nhiên, nhưng các bài viết rõ ràng hơn về linh đạo của ông, là những đoạn văn có tính suy tư cao về sinh lực tính dục của chúng ta trong việc bảo vệ hoặc bóc lột tự nhiên.

Barbara Brown Taylor, người Mỹ, Tân giáo, linh mục, nhà truyền giáo nổi danh. Với lời văn mạnh mẽ, bà có sức hút trong giới thế tục. Một sự kết hợp độc nhất vô nhị giữa thấu suốt, truyền thống và cân bằng. Luôn đáng để đọc.

David Steindl-Rast, người Mỹ, Công giáo La Mã, tu sĩ, đặc biệt là linh hướng của Henri Nouwen. Viết thâm sâu, rút ra nhiều thấu suốt từ sự phong phú trong đời tu trì của mình.

Anthony de Mello, người Ấn Độ, Công giáo La Mã, tu sĩ dòng Tên. Đem thấu suốt của Phật giáo và các linh đạo Đông phương vào diễn giải linh đạo Kitô giáo.

James Martin, người Mỹ, Công giáo La Mã, tu sĩ dòng Tên. Một tiếng nói trẻ tuổi, và chủ chốt của linh đạo thời nay. Nổi tiếng rộng rãi, và xứng đáng với điều này.

Anne Lamott, người Mỹ, Tân giáo, giáo dân. Một sự kết hợp độc nhất vô nhị giữa thấu suốt, dấn thân Kitô giáo và chống lại chủ trương bài tôn giáo.

Marilynne Robinson, người Mỹ, tiểu thuyết gia, thuộc giáo hội Giáo đoàn. Không phải là một ngòi bút thiêng liêng, nhưng là một tiểu thuyết gia ngoại hạng với những nhân vật thể hiện linh đạo của bà. Một tiếng nói biện giáo thông tuệ ngoại hạng.

Simone Weil, người Pháp, Do Thái giáo, giáo dân. Các bài viết của bà thể hiện một nhạy cảm thiêng liêng thâm sâu, trong hầu hết thảo luận về linh đạo đương thời.

Etty Hillesum, người Hà Lan, Do Thái giáo, giáo dân. Các bài viết của bà thể hiện một thấu suốt ngoại hạng về linh đạo. Và bà đã chứng thực linh đạo bằng sự tử đạo.

Scott Hahn, người Mỹ, Công giáo La Mã, giáo dân. Rất nổi tiếng, dạy giáo lý và đào tạo.

Giáo sĩ Abraham Heschel, người Mỹ, Do Thái giáo, giáo sỹ. Là nhà diễn giải thiêng liêng ngoại hạng về kinh thánh Do Thái. Được tôn trọng và yêu thích rộng rãi.

Rob Bell, người Mỹ, phái Phúc âm, nhà truyền giáo nổi danh. Một tiếng nói trẻ trung thông tuệ. Cân bằng tốt, thấu suốt tốt, và năng lực ngoại hạng khi lên tiếng với độc giả đương thời.

Rick Warren, người Mỹ, nhà truyền giáo. Nổi danh đặc biệt với nhiều phái. Quyển sách ‘Mục đích – Đời sống có định hướng’ của ông đã bán được hơn 30 triệu bản trên khắp thế giới, rất đáng đọc.

John Allen, người Mỹ, Công giáo La Mã, giáo dân, nhà báo. Là tai mắt cho hầu hết tất cả mọi người về những gì đang diễn ra trong giáo hội khắp thế giới.

Joyce Rupp, người Mỹ, Công giáo La Mã, nữ tu. Thấu suốt, đặc biệt nổi tiếng trong giới phụ nữ.

Michael Higgins, người Canada, giáo dân, Công giáo La Mã. Có nhiều bài báo bình luận mang tính thấu suốt cao về linh đạo đương thời. Là người viết tiểu sử chính thức của Nouwen.

Joan Chittister, người Mỹ, Công giáo La Mã, nữ tu. Là tiếng nói nữ quyền và công bằng xã hội mạnh mẽ. Biết rõ về truyền thống tu sĩ, và rút ra những thấu suốt then chốt từ nguồn giếng sâu này.

Paula D’Arcy, người Mỹ, Công giáo La Mã, giáo dân. Truyền hứng khởi cho những người sùng đạo, đặc biệt là bằng linh đạo chữa lành của mình.

Annie Dillard, người Mỹ, Công giáo La Mã (trở lại), giáo dân. Các bài viết của bà luôn luôn thể hiện một thấu suốt luân lý và mỹ học, người bạn tự nhiên của tôn giáo.

Elizabeth Johnson, người Mỹ, Công giáo La Mã, nữ tu. Một thầy dạy ngoại hạng cho những ai muốn tìm một biện giáo thông tuệ cho đức tin của mình.

Bill Plotkin, người Mỹ, theo chủ nghĩa tự nhiên, giáo dân. Với các bài viết về vị thế của tự nhiên trong việc thành hình linh hồn chúng ta.

Belden Lane, người Mỹ, giáo dân, theo chủ nghĩa tự nhiên, gần giống với Plotkin.

Tôi xin chân thành cáo lỗi với những ai tôi không nên tên ở đây, đặc biệt với những tiếng nói trẻ mới nổi, như Kerry Weber, David Wells, Bill McGarvey, và những người khác, những người xứng đáng được đọc nhiều hơn nữa.

Ánh sáng nhân tạo

Một cây đèn lồng cầm tay kiểu cũ dùng để làm gì? Vâng, ánh sáng của nó có thể khá hữu dụng khi trời tối mù, nhưng sẽ vô cùng thừa thãi và chẳng ai chú ý dưới ánh mặt trời buổi trưa. Điều này không có nghĩa là ánh sáng của chiếc đèn thật tệ, chỉ là nó yếu mà thôi.

Nếu chúng ta có hình ảnh này trong đầu, thì sẽ thấy một bài học vô cùng thâm thúy và sâu sắc trong Tin Mừng kể về chuyện Chúa Giêsu bị bắt. Tin Mừng theo thánh Gioan kể lại: ‘Giuđa đem theo đám người, cùng với lính của các thượng tế và Pharisiêu, tất cả đều cầm đèn và đuốc.’ Thánh Gioan muốn chúng ta nhìn ra sự mỉa mai trong chuyện này, khi các thế lực của thế giới này đến để bắt và xử án Chúa Giêsu, Ánh sáng của thế giới, chúng đem theo một ánh sáng nhân tạo yếu ớt, một đèn lồng đến trước mặt Ánh sáng thế giới, chúng đem ánh sáng nhợt nhạt đến trước dung nhan vầng dương chính ngọ. Khi nói ra chuyện mỉa mai này, các Tin Mừng đang cho chúng ta một bài học nữa: khi chúng ta không còn đi trong ánh sáng của Chúa Kitô, thì chúng ta sẽ luôn hướng về thứ ánh sáng nhân tạo.

Tôi tin rằng hình ảnh này có thể là một ẩn dụ thâm thúy về những chỉ trích mà thời đại Ánh sáng nhắm vào niềm tin Kitô giáo. Những chỉ trích này có hai mũi công kích.

Mũi thứ nhất là: Tư tưởng thời đại Ánh sáng cho rằng Thiên Chúa được các giáo hội Kitô đưa ra không có gì là khả tín bởi Thiên Chúa đơn thuần là một phóng chiếu từ khao khát của con người, một thần tượng được tạo nên từ hình ảnh và giống với chúng ta, và là một thần mà chúng ta có thể luôn mãi lợi dụng để phục vụ lợi ích riêng của mình. Họ nói rằng, niềm tin vào một thần như thế là nông nổi, là dựa trên sự ngây thơ, và sự mù quáng tri thức, có thể được xóa bỏ và sửa đổi nhờ cái nhìn rành rành vào hiện thực. Một tâm thức được khai sáng, theo ý của họ, thì sẽ xem niềm tin vào Thiên Chúa là một sự mù quáng tri thức và tư lợi.

Nói một cách tích cực về chỉ trích này, chúng ta không thể nói gì nhiều, ngoài việc phần nhiều chủ nghĩa vô thần là ký sinh của các tinh thần hữu thần tồi tệ. Chủ nghĩa vô thần được nuôi dưỡng từ một tôn giáo xấu, và chắc chắn nhiều điều chúng ta làm nhân danh đạo, thực ra là những việc tư lợi và mù quáng về tri thức. Ví dụ như, biết bao nhiêu lần chính trị đã dùng tôn giáo cho mục đích của nó? Luận điệu chỉ trích thứ nhất này, là một thách thức lành mạnh cho chúng ta, các tín hữu Kitô.

Nhưng tôi tin rằng, luận điệu chỉ trích thứ hai, thì chỉ như chiếc đèn lồng, một ánh sáng yếu ớt, nhỏ xíu trước vầng dương chính ngọ. Trung tâm chỉ trích của thời đại Ánh sáng nhắm vào niềm tin vào Thiên Chúa, chính là khẳng định (có lẽ là định kiến thì đúng hơn) rằng đức tin là ngây thơ, là một thứ như tin vào chuyện ông già Noel và Thỏ Phục Sinh, và chúng ta sẽ thoát ra khỏi nó, khi trưởng thành và ngày càng mở mang đầu óc mình với kiến thức và những gì hiển nhiên theo kinh nghiệm trên thế giới. Họ tin rằng, những gì chúng ta thấy qua khoa học và sự quan sát trung thực, cuối cùng sẽ đào mộ cho niềm tin vào Thiên Chúa, phơi bày sự ngây thơ của niềm tin này. Về căn bản, lời khẳng định này là nếu bạn đối diện những sự kiện hiện thực rành rành theo kinh nghiệm, với sự trung thực và dũng cảm không lẩn tránh, bạn sẽ thôi không còn tin vào Thiên Chúa nữa. Thật vậy, cụm từ ‘thời đại Ánh sáng’ hay ‘Khai sáng’ ngụ ý điều này. Và họ muốn nói là chỉ những đầu óc chưa được khai sáng, chưa hiện đại hóa, mới tin vào Thiên Chúa. Họ cho rằng, vượt trên niềm tin vào Thiên Chúa, chính là sự khai sáng.

Đáng buồn thay, Kitô giáo thường tiếp thu định kiến này và đã (cũng như đang) trình bày nó theo những dạng sợ hãi và bài tri thức trong Giáo hội. Chúng ta quá thường vô thức đồng ý với những chỉ trích rằng đức tin là ngây thơ. Chúng ta như thế vì tin vào điều mà những chỉ trích đó khẳng định, cụ thể là, nếu chúng ta nghiên cứu và nhìn rõ vào mọi sự cho đủ, thì cuối cùng chúng ta sẽ mất đức tin. Chúng ta phản bội đức tin trong nỗi sợ hãi đối với học thuật hàn lâm, trong nỗi hoang tưởng về sự khôn ngoan thế tục, trong nỗi sợ kiến thức khoa học, và trong việc luôn mãi cảnh báo mọi người tự bảo vệ mình trước những sự thật gây quan ngại của kiến thức khoa học và thế tục. Thực sự khi làm như thế, là chúng ta chấp nhận rằng chỉ trích nhắm vào chúng ta là thật, và tệ hơn nữa, chúng ta phản bội đức tin mình khi không nghĩ rằng chân lý của Chúa Kitô sẽ đứng vững trước thế giới.

Nhưng, với ẩn dụ sâu sắc trong trình thuật bắt Chúa Giêsu, chúng ta có một cách nhìn khác: Sau khi đã chấp nhận sự thật về những khám phá hợp lý của khoa học và khôn ngoan thế tục, và khẳng định rằng cần phải nắm bắt và không chống đối lại các sự này, thì dưới ánh sáng của trình thuật thánh Gioan (về các thế lực trần gian, mang đèn và đuốc đến bắt Ánh sáng Thế giới để đưa ra tòa) chúng ta cũng nên nhìn ra xem những áng sáng thế gian, hay ít nhất, những chỉ trích của thời đại Ánh sáng, mờ nhạt đến thế nào.

Đèn và đuốc hữu dụng khi mặt trời xế bóng, nhưng hoàn toàn lu mờ trước mắt vầng dương. Kiến thức trần tục cũng hữu ích theo cách của mình, nhưng quá đỗi thấp hèn trước ánh sáng của Chúa Giêsu.