RonRolheiser,OMI

Tôn giáo, suy tư, thế tục và sự lành mạnh cùng hạnh phúc

Không có điều gì là tuyệt đối khách quan, nghĩa là một quan điểm không chịu bất kỳ định kiến nào.

Nhưng, những tư tưởng gia thế tục, không tôn giáo, thường tự nhận điều này về mình trong những tranh luận về giá trị và chính sách chung. Họ lập luận rằng họ không giống như những người nhận rằng mình có quan điểm dựa trên các nguyên tắc tôn giáo, và quan điểm của họ là khách quan và không có định kiến. Họ nhấn mạnh giả định này như một lập luận lý tính thuần túy, một cái nhìn không chịu ảnh hưởng bởi điều gì, một quan điểm khách quan mà các lập luận tôn giáo dựa trên các lập trường đức tin không bao giờ có được. Họ cho rằng như thể đây là một điểm khách quan tuyệt đối vậy. Nhưng không có chuyện đó.

Chúng ta ai cũng có định kiến. Langdon Gilkey đã từng nói đến điều này một cách thanh thoát nhẹ nhàng. Ông nói rằng, chúng ta không có định kiến, nhưng là một ‘tiền bản thể’ một lập trường chủ quan từ đó chúng ta nhìn vào thực tế. Và lập trường đó bao gồm cả vị thế của chúng ta khi nhìn vào thực tế, cũng như cấu thành bên trong mà chúng ta đón nhận và lý luận những gì chúng ta thấy. Ông đã đúng. Không có một cái nhìn nào không phát xuất từ điểm nào cả, không có cái nhìn nào là không có định kiến, và không một quan điểm nào là tuyệt đối khách quan. Tất cả mọi người đều có một định kiến. Những người có tôn giáo và người thế tục, đơn thuần họ đứng trên những vị thế chủ quan khác nhau và tiến hành mọi sự qua những xử lý tâm thần chủ quan khác nhau.

Điều này có nghĩa tất cả mọi quan điểm đều chủ quan như nhau, và mọi sự đều tương đối hay không? Chẳng lẽ chúng ta không thể phân biệt được giữa khoa học và mê tín hay sao? Không. Có những mức độ rõ ràng về khách quan, cho dù không một ai nhận được về mình sự khách quan tuyệt đối. Thừa nhận rằng ngay cả một nghiên cứu kinh nghiệm luận nghiêm ngặt nhất cũng luôn có một mức độ chủ quan, không phải là đánh đồng khoa học với mê tín hay đức tin. Khoa học kinh nghiệm luận và suy tư lý tính phải được đánh giá đúng. Chính bác sĩ y khoa, chứ không phải người chữa lành đức tin, mới là người trị các chứng bệnh thể lý. Cũng thế, khoa học luận về tiến hóa và niềm tin tôn giáo cho rằng thế giới chúng ta được tạo thành trong vòng bảy ngày, không phải như nhau. Như nhiều tư tưởng gia tôn giáo bất bình về những tuyên bố áp đặt của nhiều tư tưởng gia thế tục, thì khoa học và suy tư lý tính cũng phải được có những gì xứng đáng với nó.

Nhưng suy tư tôn giáo cũng phải có được những gì xứng đáng, đặc biệt là trong các tranh luận về giá trị và chính trị. Quan điểm tôn giáo cũng cần được tôn trọng, cũng thừa nhận, như các suy tư khoa học và triết học, thì suy tư tôn giáo cũng đem lại những nhãn quan vô giá và cần thiết cho mọi tranh luận. Nhiều kiến thức của thế giới nằm trong khoa học và triết học, nhng hầu hết khôn ngoan của thế giới nằm trong các nhãn quan tôn giáo và đức tin. Như chúng ta không thể sống dựa trên mỗi tôn giáo, thì chúng ta cũng không thể sống chỉ dựa trên khoa học và triết học được. Sự khôn ngoan cần kiến thức, và kiến thức cần khôn ngoan. Khoa học và tôn giáo cần phải kết thân tình với nhau hơn nữa.

Tuy nhiên, quan trọng hơn việc có một biện giáo thích đáng về vị trí của đức tin và tôn giáo trong chính sách chung, chính là một nhận thức về sự lành mạnh và hạnh phúc của chính chúng ta. Chúng ta cần hiểu được tính chủ quan nhuốm màu lên mọi sự như thế nào, cũng như thuyết phục được những người thế tục hiểu rằng các nhãn quan tôn giáo là điều quan trọng trong mọi bàn luận, để qua đó chúng ta có thể chọn lựa cách khôn khéo hơn, một tiền bản thể đúng đắn để nhìn thế giới qua một đôi mắt tốt hơn và có những phán định tốt hơn về thế giới.

Nhà thần nghiệm thế kỷ XII, Hugo, cho chúng ta một tiền bản thể đúng đắn: Tình yêu là đôi mắt! Với Hugo, chúng ta thấy chính xác nhất khi đôi mắt chúng ta nhìn qua lăng kính yêu thương và vị tha, cũng như chúng ta nhìn sai lệch nhất khi tầm nhìn của chúng ta bị phủ bóng bởi nghi hoặc và tư lợi. Và đây không phải là một khái niệm mơ hồ. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy ra điều này. Khi chúng ta nhìn vào ai đó trong yêu thương, không kể những giai đoạn mà tình yêu là một ám ảnh hấp dẫn lãng mạn, thì chúng ta nhìn đúng. Rồi chúng ta nhìn nhau, đúng như những gì người kia là, với nhìn nhận đầy đủ về các đức hạnh và sai lỗi của người đó. Một cái nhìn thật chính xác. Ngược lại, khi chúng ta nhìn ai đó qua đôi mắt hoài nghi hay tư lợi, thì cái nhìn của chúng ta bị phủ bóng, và không còn công tâm nữa.

Chúa Giêsu cũng nói nhiều về điều này qua những từ đầu tiên của Ngài trong Phúc âm Nhất lãm. Trong những lời đầu tiên, Ngài mời gọi chúng ta, bằng một từ thôi, hãy nhìn thế giới như thực sự nó là. Vậy lời đầu tiên của Ngài là gì? Metanoia. Đây là một từ Hy Lạp thường được dịch là ‘Sám hối’ nhưng nghĩa đen của nó là ‘đi vào một tâm thức khác, cao hơn.’ Và ý nghĩa này càng được nêu bật khi đối chiếu metanoia với một từ Hy Lạp khác, paranoia, nghĩa là hoang tưởng. Metanoia là đối lập với paranoia. Sám hối là đối lập với hoang tưởng.

Khi chúng ta nhìn vào thế giới, qua đôi mắt của hoang tưởng, chúng ta không thấy mọi sự cho đúng. Ngược lại, khi nhìn vào thế giới, qua đôi mắt của sám hối, chúng ta thấy mọi sự một cách đúng đắn, dù là về mặt tôn giáo hay khoa học. Thật vậy, Tình yêu là đôi mắt!

Cái tôi và Ái kỷ

Phật tử có một câu châm ngôn diễn đạt nhiều về bản tại hơn chúng ta. Họ nói rằng bạn có thể hiểu được hầu hết những gì sai trái trong thế giới và trong bản tại bằng cách nhìn vào một tấm ảnh nhóm. Lúc nào cũng thế, bạn luôn nhìn trước tiên vào biểu hiện của mình rồi mới xem đến tấm ảnh này có đẹp cho cả nhóm hay không. Về căn bản, chúng ta xác định giá trị của mọi sự dựa trên căn cứ là ‘mình thế nào’.

Rene Descartes hẳn sẽ mỉm cười với chuyện này. Ông mở đầu cuộc truy tầm triết học với câu hỏi: Điều gì là không thể nghi ngờ, là chắc chắn? Điều gì chúng ta có thể chắc chắn rằng nó có thật. Và câu trả lời của ông, quả quyết của ông là: Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu! Đến tận cùng, điều thật nhất đối với chúng ta chính là ý thức của mình. Và cũng rõ ràng một sự thật là, chúng ta bị giam hãm trong một nhà tù, cho đến khi nào tìm được sự trưởng thành thắng vượt các bản năng tự nhiên. Nhà tù nào? Các nhà tâm lý gọi nó là ái kỷ, một ưu tư bản thân quá đáng giữ chúng ta gắn chặt vào bản thân và vào những mối ưu tư, tình cảm của riêng mình. Như câu nói của Phật tử về tấm ảnh nhóm, chúng ta ít nghĩ về những gì người khác đang làm, tâm điểm của chúng ta trước hết là nhắm đến bản thân mình.

Và tình trạng này không phải là một sự ấu trĩ có thể tẩy đi bằng cách xác nhận rằng mình đã trưởng thành, lớn lên vượt ra khỏi cái tôi, và không còn ích kỷ nữa. Cái tôi và con cái của nó, tính ái kỷ, không dễ dàng biến mất khi chúng ta xem mình là trưởng thành và có tâm linh. Chúng là những thứ không chữa trị được, bởi là một phần bẩm tại của chúng ta. Hơn nữa, chúng không được định để biến đi, và tự bản chất, cũng không phải là một thiếu sót đạo đức. Cái tôi của chúng ta là trọng tâm tính cách ý thức, là một phần cấu thành của chúng ta, và mỗi một người chúng ta cần một cái tôi mạnh mẽ để vững vàng, đúng mực, lành mạnh, tự bảo vệ mình, và có thể trao đi bản thân cho người khác.

Nhưng thường thì người ta rất sốc, khi có ai nói rằng những con người vĩ đại, những thánh nhân, có cái tôi rất mạnh. Ví dụ như, Thánh Phanxicô Axixi, Thánh Têrêxa thành Avila, Têrêxa Hài Đồng Giêsu, và Mẹ Têrêxa, với tất cả sự khiêm nhượng của mình, họ có cái tôi rất mạnh, cụ thể là họ có một ý thức rõ ràng về bản tính của mình, về thiên tư của mình, và tầm quan trọng của mình. Tuy nhiên, trong mỗi trường hợp, họ cũng có một ý thức mạnh mẽ đi kèm, rằng con người và tài năng của họ không bắt nguồn từ chính họ và không phải là để cho họ mà thôi. Nhưng, như dân Israel ý thức mình là dân được chọn, họ cũng hiểu rõ nguồn cội các thiên tư của họ là nơi Thiên Chúa, và tài năng của họ không phải để cho họ nhưng cho tha nhân. Và, như thế, đó là sự khác biệt giữa việc có cái tôi mạnh và tính ích kỷ. Người ích kỷ có một cái tôi mạnh mẽ và có tài năng, nhưng người đó nhận thức bản thân mình là tạo hóa và cùng đích của tài năng đó. Ngược lại, những con người vĩ đại có những cái tôi mạnh, nhưng luôn ý thức rằng tài năng của họ không đến từ họ, họ là cái mángï để trao lại cho tha nhân.

Như thế, mục đích của sự trưởng thành, không phải là giết đi cái tôi, nhưng là có một cái tôi lành mạnh, một cái tôi góp phần vào một cái tôi lớn hơn, biết nghĩ đến hình ảnh chung của cả nhóm. Nhưng, đến được sự trưởng thành đó là một đấu tranh, thường thường làm cho chúng ta hoặc quá thổi phồng, quá đầy cái tôi và quá ít nhận thức về Thiên Chúa, hoặc rơi vào khủng hoảng suy thoái, quá trống rỗng các giá trị của riêng mình và quá vô tri về Thiên Chúa.

Trưởng thành và sự thánh thiện không nằm ở việc giết chết hay khinh thường cái tôi, như kiểu trong một số linh đạo, dù có ý tốt nhưng lầm đường, xem rằng bản tính con người là xấu xa. Cái tôi là bản tại và quan thiết đối với cấu thành tự nhiên của chúng ta, là một phần trong DNA bản tính của chúng ta. Chúng ta cần một cái tôi lành mạnh để được và tiếp tục lành mạnh. Vậy nên, không phải là giết chết hay khinh thường cái tôi, nhưng phải cho cái tôi một vai trò chính đáng, chính chắn, để giữ chúng ta đúng mực, giữ các tài năng của mình, và cả nguồn cội lẫn mục đích của tài năng đó.

Nhưng điều này lại chỉ có thể đạt được theo một cách ngược đời. Chúa Giêsu nói, chúng ta chỉ có thể tìm được sự sống khi mất đi sự sống. Lời kinh lừng danh của thánh Phanxicô thành Axixi, cho chúng ta một diễn đạt kinh điển chung về điều này: Lạy Chúa toàn năng, xin cho con đừng tìm kiếm quá nhiều, tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời. Chi bằng cách chối bỏ cái tôi, chúng ta mới có một cái tôi lành mạnh.

Cuối cùng, tôi xin đưa ra nét khôn ngoan về cái tôi của triết gia Trang Tử: Nếu bạn trên một con thuyền nhỏ, và một thuyền khác đâm vào bạn, bạn sẽ nổi giận nếu có người chèo thuyền nhưng bạn sẽ không nổi giận nếu con thuyền đó không có ai. Tại sao lại không nổi giận? Trang Tử trả lời: Một người để cái tôi của mình ra đi ‘không dấu vết.’ Người đó không làm ai nổi giận.

Vết nhơ của tự vẫn

Mới đây, tôi đọc liên tiếp ba quyển sách viết về tự vẫn, đều là lời của những người mẹ mất con vì tự vẫn. Cả ba quyển đều mạnh mẽ, chính chắn, không chiều theo cảm xúc sai lầm, và rất đáng đọc. Lois Severson có con gái là Patty tự tử, bà viết quyển sách: Chữa lành vết thương từ sự Tự vẫn của con gái tôi, Chuyển Thương đau thành Lời nói. Gloria Hutchinson có con trai là David tự tử, bà viết quyển sách: Tổn thương Đã xong, Sự Tự vẫn của đứa con một. Marjorie Antus có con gái là Mary tự tử, bà viết quyển sách Con gái tôi, Tự vẫn, và Thiên Chúa, Một ký ức Hy vọng. Patty và David trạc 25 tuổi, còn Mary chỉ mới thiếu niên.

Bạn không thể đọc những tự thuật này mà không nhói trong tim cho ba người trẻ chết một cách thật bất hạnh. Những gì các quyển sách này mô tả trong từng trường hợp, là về một con người đáng yêu, quá nhạy cảm, đã phải đấu tranh cảm xúc lâu dài, và từ thời thơ ấu đã phải chịu sự mất cân bằng sinh hóa.

Nghe những câu chuyện đời này, sẽ cho bạn tin chắc hơn bao giờ hết rằng không một Thiên Chúa nào đáng thờ phượng lại lên án những con người phải xa lìa gia đình sự sống chỉ bởi vì cách họ chết. Gabriel Marcel có một câu nói: Yêu ai đó là nói rằng, ít nhất với bạn, người đó sẽ không chết. Đây là giáo lý Kitô giáo vững chắc.

Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng, chúng ta là một cộng đoàn tín hữu, làm nên Thân thể Chúa Kitô cùng với tất cả những ai đã chết trong đức tin trước chúng ta. Một phần niềm tin này là việc Chúa Kitô đã cho chúng ta sức mạnh để giữ chặt hay lơi lỏng, nghĩa là tình yêu của chúng ta cho ai đó có thể giữ người đó trong gia đình, trong cộng đoàn ân sủng, và trong cả thiên đàng nữa. Trong cả ba quyển sách này, các bà mẹ làm rõ rằng, đây chính là những gì mà họ đang làm. Gia đình của họ, vòng tròn ân sủng của họ, tình yêu của họ, và thiên đàng của họ phải có cả đứa con đã mất của họ. Thiên đàng của tôi cũng có ba người trẻ này, và bất kỳ nhận thức thực sự nào về Thiên Chúa, ân sủng, tình yêu, và đời sống gia đình cũng phải như thế.

Đây là một sự an ủi sâu sắc, nhưng nó không xóa hết được nỗi đau. Với bậc cha mẹ, mất đi một người con, dù là vì lý do gì, đều để lại một vết thương không gì chữa lành nổi ở đời này. Cái chết của đứa con đi ngược lại tự nhiên, đầu bạc phải tiễn đầu xanh. Cái chết của con cái luôn thật khó khăn, nhưng nếu đó là chết vì tự vẫn thì nỗi đau còn nặng nề hơn muôn phần. Không giống cái chết bệnh lý, cái chết vì tự vẫn gây nản lòng và giận dữ, một điều không xác đáng, không cần thiết, và có thể xem là một hành động bội bạc. Và còn có một câu hỏi không hồi kết rằng: Làm sao tôi phản ứng trước việc này? Đáng ra tôi phải tính táo hơn, cảnh giác hơn? Tôi đã lơ là chuyện gì? Tại sao tôi không ở bên con trong thời điểm định mệnh đó? Tội lỗi và giận dữ hòa chung với tang thương.

Nhưng đó không phải là tất cả. Ngoài tất cả những điều này, vốn đã quá đủ để đánh gục một con người, chính là vết nhơ gắn với tự vẫn. Đến tận cùng, bất chấp nhận thức rõ hơn và thái độ sáng suốt hơn về tự vẫn, vẫn có đó một vết nhơ mang tính xã hội, tinh thần, và tôn giáo với sự tự vẫn, và điều này đúng cả trong đạo lẫn thế tục. Không lâu trong quá khứ, nhà thờ thường từ chối làm tang lễ cho những ai tự tử. Bây giờ, các nhà thờ đã thay đổi thái độ và làm lễ an táng, nhưng sự thật là, nhiều người vẫn đấu tranh trong lòng để chấp nhận tiễn đưa một cách an bình và chúc phúc cho những ai đã chết vì tự vẫn. Vết nhơ vẫn còn đó. Những ai chết vì tự vẫn, thường bị xem là đáng nguyền rủa, họ bị cho là chết ngoài vòng sự sống và ân sủng. Vì vậy, với hầu hết mọi người, chẳng có gì là an ủi trong cái chết của họ.

Trong các bài viết khác của mình, tôi đã nói rằng đa số các vụ tự vẫn phải được hiểu là một cái chết vì bệnh tật tinh thần, một sự mất cân bằng sinh hóa, một cơn đột quỵ cảm tính, một khối ung thư cảm xúc, hay một sự nhạy cảm quá đỗi tước đi hết sức bật cần thiết để sống. Tuy nhiên, ở đây, tôi muốn nói cụ thể hơn về vấn đề vết nhơ gắn với tự vẫn.

Vẫn có một vết nhơ gắn với tự vẫn, chuyện này thật rõ ràng. Nghĩ như thế, thì một điều sẽ giúp chúng ta, đó là suy nghĩ về cách Chúa Giêsu đã chết. Cái chết của Ngài rõ ràng không phải là tự vẫn, nhưng cũng mang vết nhơ nhuốc tương tự. Thập giá là một nhơ nhuốc, dù là nhìn từ góc độ tôn giáo, tinh thần và xã hội. Một người chết trên thập giá, bị xem là chết ngoài lòng thương xót của Thiên Chúa và ngoài sự chúc lành và chấp nhận của cộng đồng. Các gia đình của những người bị đóng đinh mang một tủi hổ nhất định, và những người bị đóng đinh sẽ được chôn cất xa, ở ngay nơi mà họ mang lấy vết nhơ nhuốc của mình. Và người ta cho rằng họ nằm ngoài lòng thương xót của Thiên Chúa và cộng đồng.

Cái chết của Ngài rõ ràng không phải là tự vẫn, nhưng gợi lên cho chúng ta một nhận thức tương tự. Vết nhơ nhuốc mà chúng ta gắn với tự vẫn, cũng là cái mà chúng ta gắn với cách Chúa Giêsu đã chết.

Ngây thơ, Phức tạp, và Thánh thiện

Vài năm về trước, tôi chủ trì một lễ cưới. Là linh mục chủ lễ, sau khi xong nghi thức ở nhà thờ, tôi được mời đến dự dạ tiệc. Không biết rõ lắm về gia đình họ, và cũng có nhiều việc tôi phải làm vào sáng mai, nên sau khi ăn xong, tôi ra về trước phần dạ vũ. Khi đi khỏi bàn được một quãng, tôi nghe thấy cha của cô dâu nói với ai đó: ‘Tôi mừng vì cha đã đi, bây giờ chúng ta có thể chơi nhạc rock được rồi!’

Tôi không phật ý cho mình, vì ông không ác ý khi nói như vậy, nhưng câu này vẫn gây nhức nhối cho tôi vì nó thể hiện một thái độ mà người khác nhìn về tôi và những người như tôi, những người đạo đức nhưng ngơ ngác, đủ tốt để được mời ngồi hàng ghế đầu và được giới thiệu đặc biệt, nhưng tốt nhất là nên tránh khi cuộc sống thực sự bắt đầu, như thể đi tu nghĩa là bạn không thể nắm bắt được những chuyện trần gian và những điệu nhạc rock, như thể Giáo hội và lễ hội thế gian thì đối lập nhau, như thể sự thánh thiện cần phải có sự ngây thơ vô tội không vướng bận những chuyện phức tạp của con người, và như thể sống đạo và sống say mê là những chuyện phải tách biệt nhau vậy.

Nhưng, đây lại chính là một thái độ của hầu hết mọi người, dù không thể hiện ra ngoài. Ý niệm của người ta là Thiên Chúa và sự phức tạp của con người không đi song song với nhau. Mỉa mai thay, thái độ này đặc biệt thịnh hành trong những người quá sùng đạo và cả những người cảm nhận tiêu cực nhất về tôn giáo. Với cả hai týp người này, quá sùng đạo và chống báng đạo, thì Thiên Chúa và cuộc sống say mê không thể đi chung với nhau. Điều này về căn bản, cũng đúng với tất cả chúng ta, cũng rõ ràng như việc chúng ta không thể gắn sự phức tạp, tại thế, và cám dỗ với Chúa Giêsu, Đức Trinh Nữ Maria, các thánh, và những người đạo đức được mọi người công nhận như Mẹ Têrêxa. Dường như chúng ta chỉ có thể minh họa sự thánh thiện gắn chặt với một mức độ ngây thơ nhất định. Với chúng ta, thánh thiện cần phải được che chắn và bảo vệ như một đứa trẻ nhỏ vậy. Và hậu quả là, chúng ta phóng chiếu một hình tượng ngây thơ và đơn giản theo kiểu lý tưởng hóa quá đáng về Chúa Giêsu, Đức Mẹ, và các mẫu gương đạo đức, như một sự bất khả thi mà chúng ta không bao giờ thực sự có thể theo được. Chúng ta ngưỡng mộ các vị, nhưng ngoài ra thì hầu như không có gì hơn.

Ví dụ như, Đức Trinh Nữ Maria kiểu chúng ta sùng kính, không thể viết nên bài Magnificat. Một Đức Mẹ như thế thiếu sự phức tạp để viết nên một lời cầu nguyện như thế, vì chúng ta đã áp đặt lên Mẹ một hình tượng ngây thơ, thanh tao, và như trẻ con, nên với chúng ta, Mẹ thiếu sự trưởng thành và trí tuệ trọn vẹn. Đến cuối cùng, điều này tác động tiêu cực lên lòng đạo. Xác định sự ngây thơ và đơn sơ bất thực với sự thánh thiện, đã tạo nên một lý tưởng không thể nào với tới, và nhiều người tin rằng, với dòng máu đỏ say mê của mình cùng với những kích động không dứt, thật khó để họ hợp với Giáo hội và sự thánh thiện.

Trong Nghi thức rửa tội Công giáo La Mã, linh mục tuyên bố những lời này: Hãy xem tấm vải trắng này là dấu chỉ bên ngoài của phẩm giá Kitô hữu của các con. Với sự giúp đỡ bằng lời nói và mẫu gương của gia đình và bạn bè, hãy đưa phẩm giá này không bị hoen ố đến cuộc sống thiên đàng bất diệt. Đây là một lời tuyệt vời tôn vinh vẻ đẹp và đức hạnh của lòng khiết tịnh. Nhưng lại là tôn vinh một sự ngây thơ vô tội không khớp với cuộc sống trưởng thành.

Sự ngây thơ của một đứa trẻ làm chúng ta ngây ngất với vẻ đẹp, và cho chúng ta một tấm gương để soi những vết sẹo tinh thần và tâm lý cùng những bước hụt của chúng ta thời trưởng thành, cũng không khác lắm với sự rụt lại mà chúng ta cảm nhận khi nhìn vào cơ thể lúc già nua của mình. Vẻ đẹp của tuổi trẻ đã ra đi. Nhưng sự lay động và phán quyết chúng ta cảm nhận trước sự ngây thơ của đứa trẻ, là sự rối loạn hay hiểu sai, hơn là một phán xét đích thực về sự thánh thiện và tốt lành đạo đức của mình. Trẻ con ngây thơ, vì chúng chưa phải đối diện với đời, với những phức tạp vô tận và với những vết thương không tránh khỏi trong cuộc sống. Trẻ con quá ngây thơ tuyệt vời, vì chúng vẫn còn ngơ ngác và chưa đi vào những tinh vi phức tạp. Để trưởng thành, trẻ con phải đi qua những khởi đầu không thể tránh khỏi, và ghi lấy những vết ố trên tấm khăn rửa tội nguyên tuyền của mình.

Một người bạn của tôi thích nói thế này về sự ngây thơ: Là người lớn, tôi sẽ không bỏ một xu cho sự nguyên tuyền ngây thơ của một đứa trẻ, nhưng tôi sẽ bỏ mọi sự để tìm được sự ngây thơ như đứa trẻ ngay trong sự phức tạp của đời sống trưởng thành của tôi. Tôi nghĩ, ý của ông là: Chúa Giêsu đi vào một quán bar tội lỗi, nhưng Ngài không phạm tội. Nhiệm vụ của linh đạo không phải là cố gắng chạy theo tính trẻ con ngây thơ vô tội và không vướng những phức tạp. Nhưng linh đạo phải là một thực hành biết khước từ, và một đào tạo cho tư duy lý luận. Nhiệm vụ của linh đạo phải là hướng đến một sự ngây thơ thứ hai, một sự hậu tinh vi lõi đời vốn dẫn chúng ta đến với sự phức tạp đủ đường của cuộc sống. Chỉ khi đó, chúng ta mới một lần nữa có được niềm vui ngây thơ của trẻ con, ngay cả khi chúng ta có thể đứng vững bên trong sự thô bạo, sức mạnh và phức tạp của tính dục con người, khuynh hướng nhục dục của lòng người, và những thủ đoạn âm mưu xảo quyệt trong tinh thần con người. Từ đó, chúng ta có thể viết nên một bài Magnificat Ngợi khen.

Chăm lo cho linh hồn mình

Lợi ích gì nếu được cả thế gian mà phải đau khổ vì mất linh hồn mình?

Chúa Giêsu đã dạy chúng ta như thế, và tôi ngờ rằng chúng ta thường không nắm bắt được trọn vẹn ý nghĩa của lời này. Chúng ta thường hiểu những lời của Chúa Giêsu như thế này: Có gì tốt khi ai đó được giàu có, danh tiếng, khoái lạc, và vinh quang rồi chết đi và xuống hỏa ngục? Có gì tốt nơi vinh quang và khoái lạc trần gian, nếu chúng ta lỡ mất sự sống đời đời?

Đúng, lời dạy của Chúa Giêsu chắc chắn có ý như thế, nhưng có những bài học quan trọng khác nữa trong lời dạy này, chỉ cho chúng ta biết về sức khỏe và hạnh phúc ngay ở đời này. Chúng ta đánh mất linh hồn mình như thế nào? ‘Đánh mất linh hồn’ ngay trong thế gian này nghĩa là gì? Linh hồn là gì, và làm sao có thể mất linh hồn?

Do bởi linh hồn là vô hình và thiêng liêng, nên không thể họa ra được. Chúng ta phải dùng các khái niệm mơ hồ để cố hiểu được linh hồn. Các triết gia, từ thời Aristotle, đã có khuynh hướng định nghĩa linh hồn như một nguyên tắc đôi trong mọi đời sống. Với họ, linh hồn vừa là nguyên tắc sự sống và năng lượng trong chúng ta, vừa là nguyên tắc của sự kết dính thấm nhập. Về căn bản, linh hồn là hai sự: Là ngọn lửa bên trong, cho chúng ta sự sống và sinh lực, và linh hồn cũng là chất keo kết dính chúng ta lại với nhau. Trong khi điều này có vẻ mơ hồ, nhưng không phải thế, bởi chúng ta đã được cảm nghiệm mắt thấy tai nghe về ý nghĩa của linh hồn.

Nếu có bao giờ bạn ở bên một người hấp hối, bạn biết chính xác lúc nào linh hồn rời bỏ thân xác. Bạn biết khoảnh khắc đó, không phải bởi bạn thấy có sự gì đó thoát ra khỏi thân xác người đó, nhưng đúng hơn là một phút trước, bạn thấy một con người, đầy đấu tranh và đau đớn, có sinh lực và ngọn lửa trong mình, rồi một phút sau, thân xác đó hoàn toàn trơ ra, hoàn toàn không có sinh lực và sự sống. Không còn sinh khí nữa. Thân xác đó trở thành một xác chết. Cũng vậy, dù già nua hay bệnh tật, thì cho đến trước giây phút cái chết, thân xác đó vẫn là một cấu thành hợp nhất. Nhưng ngay giây phút cái chết, thân xác đó không còn là một cơ thể, nhưng chỉ là một loạt sinh hóa bắt đầu phân rã. Một khi linh hồn ra đi, thì mọi sự sống và kết dính cũng ra đi. Thân xác không còn bất kỳ sinh khí nào cũng như không còn gắn kết với nhau nữa.
Và bởi linh hồn là một nguyên tắc đôi, làm cho chúng ta hai sự, thì cũng có hai con đường song song tương ứng của việc mất linh hồn. Chúng ta có thể có thể khiến cho sức sống của chúng ta chết đi, hay chúng ta có thể trở nên xa cách tách rời, trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đánh mất linh hồn mình.

Nếu thật như thế, thì điều này gợi lên một chất vấn khác về cách chúng ta làm sao để chăm lo cho linh hồn mình. Thức ăn bổ dưỡng cho linh hồn là gì? Ví dụ như, tôi đang xem truyền hình, điều gì tốt cho linh hồn tôi? Một kênh tôn giáo? Kênh thể thao? Một bộ phim hài vô nghĩa? Kênh về thiên nhiên? Một talk-show đả phá tôn giáo nào đó? Điều gì là lành mạnh cho linh hồn tôi?

Đây là một câu hỏi chính đáng, nhưng cũng là một câu hỏi gài bẫy. Chúng ta mất linh hồn theo một cách đối lập hẳn, và do đó việc chăm lo cho linh hồn như một thuật giả kim tinh xảo, phải biết lúc nào thêm lửa lúc nào cho nguội bớt. Xác định những gì là lành mạnh cho linh hồn tôi, dựa nhiều vào những gì tôi đang phải đấu tranh ngay lúc đó. Tôi có đang đánh mất linh hồn, vì tôi đang mất đi sức sống, năng lượng, hi vọng, và lòng nhân từ trong đời? Tôi có đang ngày càng cay đắng, khắc nghiệt, cằn cỗi, trở nên một con người đau đớn hay không? Hay ngược lại, tôi có đầy sinh lực nhưng lại quá đầy, đến nỗi tôi đang rời xa, phung phí, đánh mất ý thức về bản thân mình hay không? Tôi có đang bị tê liệt hay tan rã dần hay không? Cả hai đều là mất linh hồn. Trong dạng thứ nhất, linh hồn cần thêm lửa, một sự gì đó thổi bùng sinh khí trở lại. Trong dạng sau, linh hồn đã có quá nhiều lửa, cần phải dịu bớt và thêm chất kết dính.

Sự căng thẳng này giữa nguyên tắc của sinh lực và nguyên tắc kết dính, bên trong linh hồn con người, cũng là một trong những căng thẳng điển hình giữa tự do và bảo thủ. Nói một cách tối giản, nhưng dễ hiểu, sự thật là những người theo chủ nghĩa tự do có khuynh hướng bảo vệ và thúc đẩy cho nguyên tắc sinh lực, còn người theo chủ nghĩa bảo thủ lại có khuynh hướng bảo vệ và thúc đẩy cho nguyên tắc chung hiệp, chất keo kết dính. Cả hai đều đúng, cả hai đều cần thiết, và cả hai đều cần phải tôn trọng bản chất của người kia, bởi linh hồn là một nguyên tắc đôi, và cả hai nguyên tắc đều cần được bảo vệ.

Sau khi chết, chúng ta có thể vào thiên đàng hay hỏa ngục. Đây cũng là một cách nói về việc đánh mất hay cứu được linh hồn mình. Nhưng thần học Kitô giáo dạy chúng ta rằng, thiên đàng và hỏa ngục đã có ngay lúc này. Ngay ở đây, trong đời này, chúng ta có thể làm suy yếu hay hủy hoại sự sống Thiên Chúa ban trong chúng ta, bằng cách làm tê liệt hay tan rã sự sống đó. Chúng ta có thể đánh mất linh hồn mình bằng việc không có đủ lửa mến hay không đủ kết dính chung hiệp.

Những sự vượt quá tưởng tượng của chúng ta

Mới đây, tại một bữa ăn tối hàn lâm, tôi ngồi đối diện với một nhà khoa học hạt nhân. Tôi có hỏi ông câu này: ‘Ông có tin có sự sống trên hành tinh khác hay không?’ Câu trả lời của ông làm tôi ngạc nhiên: ‘Là một nhà khoa học, thì không, tôi không tin có sự sống trên hành tinh khác. Về mặt khoa học, các bằng chứng mạnh mẽ phản bác điều này. Nhưng là Kitô hữu, tôi tin có sự sống con người ở các hành tinh khác. Tại sao? Lý luận của tôi là: Tại sao Thiên Chúa chọn chỉ có một đứa con?’

Tại sao Thiên Chúa chọn chỉ có một đứa con? Một lý luận hay. Thực sự tại sao một Thiên Chúa vô hạn, có thể sáng tạo và yêu thương vượt quá mọi trí tưởng tượng, lại chỉ muốn làm việc này một lần mà thôi? Tại sao một Thiên Chúa vô hạn, lại có lúc nói: ‘Vậy là đủ. Đó là giới hạn của Ta. Đây là toàn bộ những con người Ta có thể giữ gìn và yêu thương! Bất kỳ điều gì quá thế này, là quá nhiều với Ta! Bây giờ là lúc thôi không tạo dựng nữa, và thưởng thức những gì Ta đã làm thôi nào!’

Nói như thế, để thấy cái hích của anh bạn khoa học gia cho thấy nhiều điều. Do bởi Thiên Chúa là vô hạn, vậy tại sao Ngài lại ngưng không làm những gì Ngài đang làm? Tại sao Thiên Chúa chỉ chiếu cố đến mỗi chúng ta, những người đã được ban cho sự sống, mà không ban ơn bất tận đó cho những người khác? Theo lập luận như thế, với một sự vượt ngoài những giới hạn tâm trí chúng ta, liệu có phải chúng ta đang đặt ra một điểm cuối cho tạo dựng hay không?

Chúng ta phải vật lộn với điều này, bởi những gì Thiên Chúa đã tạo dựng, cả về sự vô biên của vũ trụ, lẫn con số những con người đã được sinh ra suốt dòng lịch sử, đã là quá mức so với sức tưởng tượng của chúng ta. Có hàng triệu triệu hành tinh, với hàng tỷ tiến trình đang diễn ra trong mỗi một giây đồng hồ. Chỉ ngay trên hành tinh chúng ta, bây giờ có hơn 7 tỷ người đang sống, hàng triệu người ra đi trước chúng ta, và mỗi một giây có biết bao nhiêu con người được sinh ra nữa. Và bên trong mỗi một con người đó là một trái tim một khối óc độc nhất vô nhị, sống trong một loạt vô tận và phức tạp những vui mừng, đau khổ, và chọn lựa đạo đức. Hơn nữa, hàng tỷ tỷ con người này và vũ trụ đã và đang vận hành suốt hàng triệu tỷ năm. Làm sao chúng ta có thể hình dung có một trái tim, một khối óc ở đâu đó, biết và yêu thương, cùng quan tâm đến mỗi một con người, mỗi một niềm vui, nỗi buồn và chọn lựa cá nhân, cũng như mỗi một hành tinh, ngôi sao, và từng hạt cát, như người cha người mẹ chăm lo cho đứa con một của mình?

Câu trả lời rõ ràng là: Không thể tưởng tượng nổi. Cố gắng tưởng tượng cho được việc này, sẽ dẫn chúng ta cuối cùng đến với chủ nghĩa vô thần hay nuôi dưỡng một khái niệm sai lầm về Thiên Chúa. Bất kỳ Thiên Chúa nào đáng để tin, thì phải có thể biết và yêu thương vượt quá sự tưởng tượng của con người, nếu không, sự vô biên của vũ trụ và sự độc nhất vô nhị của mỗi sinh linh sẽ không được giữ gìn trong vòng tay và trái tim yêu thương.

Nhưng làm sao mà Thiên Chúa có thể biết, yêu thương, và chăm sóc cho tất cả những sự vô biên và phức tạp này? Hơn nữa, làm sao tất cả hàng triệu triệu người được lên thiên đàng, để cùng hiệp chung trong một thân thể yêu thương, một cộng đoàn thân thiết được? Điều này vượt quá mọi tưởng tượng, ít nhất là trong khả năng con người, nhưng ý của tôi là không thể hình dung thiên đàng, không phải bởi thiên đàng quá phức tạp, nhưng là bởi thiên đàng quá đơn giản, nói cụ thể, đơn giản theo cách triết học kinh viện xác nhận rằng Thiên Chúa là đơn giản: Thiên Chúa bao hàm và chứa đựng tất cả mọi phức tạp để tạo nên một hữu thể quá đơn giản để tưởng tượng.

Dường như nguồn gốc vũ trụ của chúng ta cũng quá đơn giản để tưởng tượng. Vũ trụ của chúng ta, như chúng ta biết đến lúc này, có một khởi đầu, và các nhà khoa học tin theo thuyết Big Bang, rằng mọi sự khởi đầu từ một tế bào năng lượng quá nhỏ không thể đo lường hay tưởng tượng. Tế bào độc nhất này, nổ bùng với một nguồn lực và năng lượng vẫn tiếp diễn đến ngày nay, vẫn mở rộng ra và tạo nên hàng triệu triệu hành tinh. Và các nhà khoa học tin rằng tất cả những sự này sẽ một lần nữa hội tụ lại với nhau, xoắn xít cuộn chung, trong một tương lai có thể là hàng tỷ năm nữa.

Vậy nên, tôi có ý thế này: Có lẽ hàng triệu triệu con người, đang sống và đã chết và sẽ được sinh ra, trong nguồn cội và định mệnh của mình, song song với những gì đã và đang diễn ra trong sự khởi nguyên, mở rộng và cuối cùng là hội tụ của vũ trụ, có nghĩa là Thiên Chúa đang tạo ra hàng triệu triệu hành tinh, Thiên Chúa đang tạo ra hàng tỷ tỷ con người. Và như vũ trụ của chúng ta một ngày nào đó sẽ hội tụ lại với nhau một lần nữa thành một hợp thể độc nhất, thì tất cả mọi con người sẽ một lần nữa đến với nhau thành một cộng đoàn độc nhất, trong đó tình yêu thân mật của Thiên Chúa cho mỗi một người sẽ đưa chúng ta đến với nhau, và giữ chúng ta lại với nhau trong một sự hiệp nhất quá đơn giản để tưởng tượng. Bây giờ, sự hiệp nhất với Thiên Chúa và tha nhân, không phải là chúng ta không ý thức được, nhưng chúng ta rồi sẽ nhận biết và cảm nhận sự này với một lòng biết ơn tự thức cao vượt và một sự say mê dạt dào.

Sự Tự đại bị Kích động quá mức

Bây giờ có hơn 7 tỷ người trên trái đất, và mỗi một người chúng ta đều có cảm giác như mình là trung tâm vũ trụ. Đây chính là những gì gây ra hầu hết vấn đề của chúng ta trong thế giới, trong cuộc sống, và trong gia đình mình.

Và không trách ai về điều này, bởi có lẽ chính Chúa đã tạo ra chúng ta như thế này. Mỗi một người chúng ta, được tạo ra theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa, nghĩa là mỗi một người chúng ta, mang một tia lửa thiêng, một mảnh của bất diệt, và một nhận thức thâm căn về phẩm giá độc nhất vô nhị đó. Chúng ta là những linh hồn bất diệt đang du ngoạn trong một thế giới hữu diệt. Trích lại lời của thánh Augustino, thì chúng ta được tạo ra cho sự thần thiêng và quả tim chúng ta không thỏa mãn cho đến khi được nghỉ ngơi trong sự thần thiêng một lần nữa, quả tim chúng ta cũng tự đại trên cuộc lữ hành đời sống, được thổi bùng bởi phẩm giá và sự độc nhất vô nhị của mình. Theo sách Giảng viên, Thiên Chúa đã làm cho mọi sự nên xinh đẹp theo hạn kỳ riêng của mình, nhưng Thiên Chúa đã cho quả tim con người nằm ngoài thời gian, để cho chúng ta tương hợp với mọi mùa từ khởi đầu cho đến kết thúc. Địa cầu này không đủ cho chúng ta, và chúng ta biết điều đó.

Hơn nữa, một tâm thức về sự đặc biệt đang nằm ngay trung tâm nhận thức của chúng ta. Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu! Descartes đã đúng: Điều duy nhất chúng ta có thể hoàn toàn chắc chắn, chính là việc chúng ta hiện hữu và rằng các suy nghĩ và cảm giác của chúng ta là những sự có thật. Mọi sự còn lại, có lẽ chúng ta chỉ đang mơ. Chúng ta nhận thức bản ngã rằng mình đặc biệt, chúng ta thấy chán nản trước việc thế giới không thể cho chúng ta những gì chúng ta muốn, và chúng ta nhận thức hụt hẫng về việc tất cả mọi người khác trên trái đất cũng độc nhất vô nhị và đặc biệt như chúng ta vậy. Đó là bản tính con người và sẽ luôn luôn như vậy.

Nhưng ngày nay, có nhiều điều đang hội tụ làm trầm trọng hơn, cả sự tự đại lẫn thao thức của chúng ta. Nói ngắn gọn, ngày nay chúng ta hầu như quá bị kích động trong sự tự đại, và lại thường không có được những công cụ để xử lý ngọn lửa bùng phát này của linh hồn.

Chúng ta bị sự tự đại kích động quá mức như thế nào? Có nhiều yếu tố khác nhau, nhưng truyền thông đương thời và công nghệ thông tin là hai điều cần phải nói rõ. Qua chúng, chúng ta có thể tiếp cận thế giới một cách hữu hiệu đến từng phút. Mà chúng ta không được trang bị để xử lý điều này. Trong khi thông tin thì hầu như trung lập, nhưng cho dù là do ý tốt đẹp đi chăng nữa, thì mặt xấu của việc này là truyền thông đương thời đang kích động quá mức sự tự đại và thao thức của chúng ta, bằng cách đổ ào ào các chi tiết riêng tư về cuộc sống của những người giàu có, người nổi tiếng, người đẹp, người có tài, người có quyền, người siêu thông minh, siêu thành công, và cả những người trụy lạc một cách hấp dẫn, như thế truyền thông nhiều lần xâm phạm sự cân bằng nội tâm của chúng ta, và cho chúng ta một ảo tưởng riêng nung nấu về sự tự đại, về một cách thức nào đó để cho thế giới phải ngước nhìn. Chúng ta thấy điều này trong một dạng cực đoan và méo mó, như hành động xả súng hàng loạt, khi một con người cô độc loạn trí giết người bừa bãi vì một ám ảnh bệnh hoạn về tự đại. Chúng ta cũng thấy điều này trong hiện tượng chán ăn đang ngày càng phổ biến. Các ví dụ này có vẻ không điển hình, nhưng chúng ta đang trở thành một xã hội mà trong đó ai ai cũng bị kích động ngặt nghèo bởi sự tự đại của riêng mình.

Và ngày nay, nhìn chung, chúng ta không có công cụ cho đủ để giải quyết chuyện này. Con người luôn luôn thao thức và tự đại, nhưng trong các thế hệ trước, họ có nhiều công cụ hơn – của tôn giáo và xã hội – để xử lý sự thao thức, tự đại, và chán chường. Ví dụ như, trong các thế hệ đi trước, đặc nét văn hóa hạn chế hơn những sự cho người ta bồi đắp cái tôi của mình. Trong các thế hệ trước, người ta phải thấy có lỗi hơn về việc tự đề cao, tự thần thánh hóa, sự tham lam công khai, và sự tự quy thô thiển. Khiêm nhường được xem là một đức tính, và không ai được ủng hộ để tự cho mình là quá lớn cả. Điều này dội một gáo nước lạnh vào cái tôi, vào những đòi hỏi thô thiển cho riêng mình, và thói tham lam, và như thế làm nản lòng thói tự đại. Thông điệp thời xưa rất rõ ràng: Bạn không phải là trung tâm vũ trụ.

Nhưng dần dần, ngày nay không còn như thế nữa. Xã hội, càng ngày càng đang cho chúng ta quyền để tự đại, cho chúng ta đặt mình làm trung tâm thế giới và tự hào tuyên bố công khai điều này. Ngày nay, không chỉ là chúng ta được phép đòi hỏi rất nhiều, mà thậm chí là chỉ khi chúng ta khẳng định mình theo cách này thì mới được ngưỡng mộ. Và đây cũng là công thức cho sự ghen tương, cay đắng, và bạo lực. Sự tự đại và thao thức cần phải một hướng dẫn lành mạnh từ cả văn hóa và tôn giáo. Ngày nay, nhìn chung, chúng ta không có được đường hướng này.

Chúng ta đang yếu ớt một cách nguy hiểm trong việc ghi khắc vào lương tâm xã hội và đặc biệt là lương tâm của giới trẻ, một số chân lý nhân văn và tôn giáo mang tính sống còn là: Mọi vinh quang đều nơi Chúa! Trong đời này, đến tận cùng, mọi bản giao hưởng đều dang dở. Bạn không phải là trung tâm vũ trụ. Có một tội có thực! Ích kỷ không phải là một nhân đức! Khiêm nhượng là nhân đức! Bạn chỉ tìm được sự sống khi cho đi sự sống! Cuộc sống của người khác cũng thật như cuộc sống của bạn vậy!

Chúng ta đã làm hỏng giới trẻ bằng cách cho các em những kỳ vọng vô thực, và thậm chí còn tước đi khỏi các em những công cụ để xử lý các kỳ vọng vô lý đó.

Sự khôn tả của Thiên Chúa – Những gì được mặc khải qua đôi mắt Chúa Giêsu

‘Theo tôi hiểu về Ngài, thì Thiên Chúa khó mà hiểu được.’ Đây là câu nói ưa thích của một linh mục bạn giờ đã qua đời. Đây đúng là một nhận định khôn ngoan.

Bất kỳ ai tự nhận là hiểu được Thiên Chúa, đều đang bị lừa phỉnh, vì tín lý tiên quyết chúng ta có về Thiên Chúa là Thiên Chúa là khôn tả, không thể tả được. Điều này nghĩa là chúng ta có thể biết Ngài, nhưng không bao giờ nắm bắt được Thiên Chúa trong một khái niệm. Thiên Chúa là Đấng không thể tưởng tượng nổi. Thiên Chúa không thể bị giới hạn trong bối cảnh và đóng khung tư tưởng dù theo kiểu nào đi nữa. Tạ ơn Chúa vì như thế. Bởi nếu có thể hiểu được Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ có giới hạn như chúng ta.

Nhưng Thiên Chúa là vô hạn. Sự vô hạn, chính xác là bởi vô hạn thì không thể giới hạn, không thể bị hạn chế. Do đó, không thể nắm bắt sự vô hạn trong một hình ảnh được. Thật vậy, chúng ta thậm chí không có cách nào tạo hình giới tính của Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải đàn ông, không phải đàn bà, không phải lưỡng tính nửa nam nửa nữ. Giới tính của Thiên Chúa, cũng như bản tính của Ngài, là không thể nắm bắt nổi về mặt tri thức. Chúng ta không thể nắm bắt được và cũng không có ngôn ngữ diễn tả hay tuyên bố được gì. Thiên Chúa, vượt quá các phạm trù trong suy nghĩ của con người, theo một cách nào đó, Ngài vừa nam tính hoàn hảo vừa nữ tính hoàn hảo. Đây là một mầu nhiệm vượt quá chúng ta.

Nhưng trong khi không thể nắm bắt mầu nhiệm bằng bất kỳ lý tính thỏa đáng nào, thì chúng ta có thể biết được mầu nhiệm này một cách mật thiết, và thực sự biết được mầu nhiệm này cách sâu sắc, như một sự mật thiết nhất trong mọi hiểu biết trong đời. Không tình cờ khi Kinh Thánh dùng từ ‘biết’ để nói về sự thân mật tình dục. Có nhiều cách biết khác nhau, một số mơ hồ, trực giác, và mật thiết hơn số khác. Chúng ta có thể biết Chúa theo một cách tận cùng mật thiết, ngay cả khi chúng ta không thể khái niệm hóa Thiên Chúa một cách thỏa đáng. Và cũng đúng như thế với tất cả hiện thực thâm sâu trong đời, chúng ta có thể biết và liên hệ với các hiện thực này một cách mật thiết, nhưng không bao giờ có thể hiểu cho trọn vẹn được.

Vậy nên điều này khiến mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa như thế nào? Theo cách tốt nhất! Chúng ta không phải dự một cuộc hẹn hò ẩn danh, cố gắng thân mật đến với một người hoàn toàn xa lạ, với một người chưa biết, có thể tốt, có thể xấu. Thiên Chúa có lẽ là khôn tả, nhưng bản tính Thiên Chúa đã được bày tỏ cho chúng ta. Mặc khải, qua tự nhiên, qua các tôn giáo khác, và đặc biệt là qua Chúa Giêsu, nói lên những gì bên trong thực thể khôn tả của Thiên Chúa. Và những gì đã được mặc khải vừa khuây khỏa trên mọi khuây khỏa, và thách thức trên mọi thách thức. Những gì được mặc khải là vẻ đẹp của tạo vật, trong nhiệt tâm của mọi tôn giáo đích thực, và trong mặc khải của Chúa Giêsu về CHA, đưa chúng ta vượt trên một cuộc hẹn hò ẩn danh để đi vào một mối quan hệ đáng tin cậy. Tự nhiên, tôn giáo và Chúa Giêsu cùng nhau hợp lại để mặc khải về Thực Thể Tối Cao, Nền tảng của Hiện hữu, Đấng Tạo Hóa và Đấng Duy Trì vũ trụ, Thiên Chúa, Đấng khôn ngoan, thông minh, dư tràn, say mê, yêu thương, tha thứ, kiên nhẫn, tốt lành, đáng tin, và tuyệt đẹp vượt quá trí tưởng tượng.

Pierre Teilhard de Chardin, trong một thị kiến thần nghiệm, từng chiêm ngưỡng tất cả những điều này trong đôi mắt Chúa Giêsu. Một ngày nọ, khi ông đang nhìn vào đôi mắt Chúa Giêsu trên một bức tường nhà thờ, đột nhiên đôi mắt Chúa biến đổi và Teilhard thấy: ‘Đôi mắt lúc đầu rất ân cần và đầy thương xót mà tôi tưởng như đôi mắt mẹ tôi đang đứng trước tôi, đột nhiên một giây sau, bỗng như đôi mắt một người phụ nữ, đầy đam mê và quyền năng khiến tôi khuất phục, và cùng lúc đó cũng thuần khiết đến áp chế đến nỗi trước ánh nhìn đó không cảm xúc nào có thể thoát được. Và rồi đôi mắt lại thay đổi lần nữa, trở nên đầy cao quý, uy nghi hùng dũng, gần giống với đôi mắt của những con người dũng cảm hay đầy sức mạnh, nhưng lại cao cả hơn và say mê hơn. Những vẻ đẹp đa dạng này quá đỗi trọn vẹn, quá say đắm, và cũng biến đổi quá nhanh chóng, đến nỗi tôi thấy cái nhìn đó chạm đến và thôi thúc mọi sức mạnh của tôi cùng một lúc, đến nỗi cốt tủy hiện sinh của tôi bừng bừng đáp lời, cất lên một tiếng độc nhất vô nhị của triển nở và hạnh phúc.

Bây giờ, khi tôi sốt mến nhìn chăm chăm vào đôi mắt của các tông đồ Chúa Kitô, vốn đã trở nên những hố thẳm tuôn trào cho một đời sống nồng nhiệt và say mê, đột nhiên tôi thấy trỗi lên từ những chiều sâu đó một sự gì như đám mây, che phủ và hòa quyện tất cả sự đa dạng mà tôi đã mô tả cho bạn. Dần dần, một cảm xúc lạ thường vô cùng mãnh liệt, lan tràn trên các sắc thái ý nghĩa đa dạng mà đôi mắt Chúa đã bày tỏ, trước hết là thúc đẩy, rồi cuối cùng chiếm trọn tất cả. …. Và tôi đứng đó trân trân. Cảm xúc cuối cùng này, vốn đã chiếm lĩnh và quy tụ hết tất cả mọi cảm xúc khác trong mình, thật không thể nào nói nên lời được. Tôi đơn giản không thể nói được là liệu cảm xúc này biểu hiện một day dứt thống khổ không thể tả hay một niềm vui chiến thắng vô cùng vô tận.’

Không thể giải mã, gói gọn, hay nắm bắt được Thiên Chúa trong suy nghĩ của con người, nhưng từ những gì không thể giải nghĩa được, chúng ta đang ở trong đôi bàn tay tốt lành và an toàn. Chúng ta có thể ngủ ngon mỗi đêm. Thiên Chúa nâng đỡ chúng ta. Đến tận cùng, cho toàn thể nhân loại và từng người chúng ta, tất cả mọi sự sẽ tốt đẹp, và tất cả mọi hiện sinh sẽ tốt đẹp. Thiên Chúa tốt lành.

Dorothy Day – Vị thánh của thời đại chúng ta

Chúng ta sẽ sớm được thấy ngày phong hiển thánh của Dorothy Day. Với nhiều người ngày nay, đặc biệt là những người không thuộc Công giáo La Mã, việc phong hiển thánh không mấy gây chú ý. Nhưng phong thánh tác động như thế nào trong thế giới chúng ta? Hơn nữa, chẳng phải việc phong thánh đơn thuần là sự thừa nhận một lòng sốt mến nhất định, việc mà hầu hết mọi người không thể theo? Vậy tại sao, lại có nhiều chú tâm quanh việc phong thánh cho Dorothy Day, người thực sự đã tuyên bố rằng bà không muốn được xem là thánh, và quả quyết rằng tôn ai đó làm thánh thường góp phần làm vô hiệu ảnh hưởng của họ?

Ừ, thì Dorothy Day không phải là dạng thánh phù hợp hoàn toàn với quan niệm thông thường về sự sốt mến. Chắc chắn trong số chúng ta có người biết những chuyện sơ đẳng về cuộc đời của bà. Bà sinh ở New York năm 1897 và mất năm 1980. Bà là nhà báo, nhà hoạt động vì hòa bình, một người cải sang Kitô giáo, cùng với Peter Maurin lập Phong trào Công nhân Công giáo để kết hợp sự cứu trợ trực tiếp cho người nghèo và người vô gia cư với hành động phi bạo lực vì hòa bình và công lý. Phong trào này vẫn đầy sinh lực ngày nay. Bà cũng làm việc cho tờ báo mình sáng lập, tờ Công nhân Công giáo, từ năm 1933 cho đến tận khi qua đời.

Nhân cách của bà và phong trào bà sáng lập, đã truyền hứng khởi mạnh mẽ cho các Kitô hữu thuộc mọi phái cố gắng hiệu quả hơn trong việc đưa Tin mừng đến các ngả đường, cố gắng đưa Chúa Giêsu và công lý chung lại với nhau một cách hữu hiệu hơn. Ngày nay, bà được nhắc đến như hình mẫu hàng đầu cho tất cả mọi người, dù là Kitô hữu hay không, đang hăng hái làm việc trong lĩnh vực công bằng xã hội.

Vậy bà rất xứng đáng với vinh dự này. Bà, có lẽ nổi trội hơn bất kỳ ai trong thế hệ của mình, đã có khả năng kết nối Phúc âm và công lý, Chúa Giêsu và người nghèo, và đem hóa trái của sự kết hợp này đến các ngả đường một cách hiệu quả. Đây là một chiến công hiếm có và đầy gian nan.

Ernst Kasemann từng nhận định rằng vấn đề của cả thế giới và Giáo hội chính là việc những người theo chủ nghĩa tự do thì không sốt mến và những người sốt mến thì không theo chủ nghĩa tự do. Ông đã đúng. Chính trị và tôn giáo đều đang bị bần cùng hóa bởi người sốt mến không thể theo lý tưởng tự do, và người theo đuổi tự do lại không thể sốt mến. Thường thường bạn khó thấy có ai vừa lĩnh xướng buổi lần hạt vừa lĩnh xướng cuộc tuần hành hòa bình. Bạn cũng ít khi thấy ai vừa chiến đấu cho phong trào vì sự sống vừa chiến đấu cho lựa chọn của phụ nữ. Và bạn cũng ít thấy ai vừa tuyệt đối bảo vệ những vấn đề riêng tư nhất của đạo đức cá nhân, và vừa có cùng một nhiệt tâm luân lý cao độ như thế cho các vấn đề công bằng xã hội toàn cầu. Nhưng, có đó, chính là Dorothy Day. Bà vừa dẫn đầu cuộc tuần hành hòa bình, vừa bắt kinh mân côi, một cách thật thoải mái như nhau. Có người từng bảo: Nếu bạn rút ra những gì sâu sắc nhất và tốt nhất của những người bảo thủ và tự do, rồi hòa chung với nhau, thì kết quả chính là Dorothy Day.

Một nét đặc tính thứ hai xác định Dorothy Day và linh đạo của bà, chính là khả năng hành động một cách đơn sơ, và hành động hữu hiệu. Bà không chỉ có đức tin, mà bà còn hành động dựa trên đức tin. Bà là một người thực hành, chứ không chỉ lắng nghe, và bà đã hiện thực hóa đức tin của mình và đưa đức tin đó thể hiện trong một thể chế, đó là Phong trào Công nhân Công giáo, vốn không chỉ có thể mục vụ trực tiếp cho người nghèo, mà còn có thể đưa tổ chức vào trong một sự rộng lớn và trường tồn hơn đức tin, lập trường và sức mạnh của một con người riêng biệt. Dorothy có thể hành động theo một đường lối rộng lớn và hữu hiệu hơn bản thân bà. Có câu châm ngôn thế này: Giấc mơ một mình, thì chỉ là giấc mơ, nhưng giấc mơ cùng với người khác có thể trở thành hiện thực. Dorothy đã cùng mơ với người khác, và làm cho giấc mơ thành hiện thực. Ngày nay, hầu hết chúng ta đang đấu tranh để thực hành trên đức tin của mình, và hơn nữa là hiện thể đức tin một cách cụ thể trong hành động hiệu quả, và bền vững trong cộng đồng.

Cuối cùng, Dorothy Day có thể là một hứng khởi cho chúng ta bởi đã làm điều đúng đắn vì nguyên cớ đúng đắn. Sự tân tụy của Dorothy Day với người nghèo, không phát xuất từ cảm giác tội lỗi, hay rối loạn, hay giận dữ, cay đắng với xã hội. Nhưng là từ lòng biết ơn. Con đường bà đến với đức tin, Chúa Giêsu, và người nghèo thật không theo kiểu chính thống. Trong những năm trước khi trở lại đạo, bà là người vô thần, người cộng sản, một phụ nữ mang tư tưởng bài hôn nhân, và là một phụ nữ từng phá thai. Biến cố khiến bà hướng về Thiên Chúa và người nghèo, là khi bà sinh con gái mình, Tamar Theresa, trong niềm vui sinh hạ, bà cảm nghiệm được một lòng biết ơn ghi dấu sâu đậm trong linh hồn. Trong tiểu sử của mình, Cô đơn Dài lâu (The Long Loneliness) bà mô tả khi lần đầu nhìn thấy con gái mới sinh của mình, lòng bà tràn ngập một niềm biết ơn, làm cho đức tin và tình yêu tái sinh trong bà và không bao giờ mất đi nữa. Nhiệt tâm của bà dành cho Thiên Chúa và người nghèo được thúc đẩy bởi cảm thức này.

Bà cũng là một vị thánh rất trần gian. Chắc chắn, bà có ý muốn, là vị thánh đầu tiên được họa hình là một phụ nữ với điếu thuốc trên môi. Bà là vị thánh của thời đại chúng ta. Bà cho chúng ta thấy cách để có thể phục vụ Thiên Chúa và người nghèo trong một thế giới đầy phức tạp, và làm sao để làm được việc này với tình yêu và lòng phấn khởi.

Bản tính con người?

Một danh hài Mỹ khi được hỏi xem ông yêu điều gì nhất trong đời, ông đã trả lời: Tôi yêu phụ nữ nhất, tiếp đến là rượu whiskey, yêu người thân cận một chút, và hầu như không yêu Chúa!

Tôi chợt nhớ lại câu này khi mới đây, lúc đang có bài diễn thuyết, thì một phụ nữ hỏi tôi rằng: Tại sao Thiên Chúa dựng nên chúng ta theo một cách, rồi hầu như lúc nào cũng mong chúng ta hành động trái ngược với các bản năng của mình? Tôi hiểu ý của bà ấy muốn nói gì. Các bản năng tự nhiên và những dục vọng bộc phát của chúng ta dường như lệch với những gì chúng ta được định sẽ hướng đến, cụ thể là Thiên Chúa và đời sống bất diệt. Có vẻ như lập trường tôn giáo kêu gọi chúng ta đảo ngược trật tự của danh hài Mỹ nói trên, nghĩa là yêu Chúa trước hết, yêu người thân cận sâu sắc, và rồi cho khoái lạc bản năng của chúng ta một vị trí rất thứ yếu. Nhưng, hầu như mọi chuyện không phải như vậy. Nhìn chung, chúng ta bị lôi cuốn, và bị lôi cuốn rất mạnh mẽ, đến với những điều của trần gian này: là người khác, là khoái lạc, là những mỹ vật, tình dục, tiền bạc, tiện nghi. Những điều này dường như có một lực hút mạnh mẽ hơn những sự của đức tin và tôn giáo.

Điều này có khiến cho những cảm giác tự nhiên của chúng ta lệch pha với những gì Thiên Chúa định cho chúng ta nên cảm giác và hành động hay không? Tại sao, có vẻ như chúng ta được dựng lên theo cách này, và rồi được mời gọi sống theo một cách khác?

Đây là một chất vấn tốt, và đáng buồn thay, lại thường được trả lời theo những cách không đào sâu được bao nhiêu tình thế khó xử này. Thường thì chúng ta được bảo rằng, đừng cảm giác theo cách này, nghĩa là không đặt Thiên Chúa và lòng đạo lên trên hết là một lỗi phạm luân lý và đạo đức, như thể đường truyền tự nhiên của chúng ta đang bị lỗi, và chính chúng ta là người chịu trách nhiệm cho việc này vậy. Nhưng câu trả lời như thế, thật quá tối giản và nguy hại, nó hiểu sai dự định của Thiên Chúa, nó kìm kẹp chúng ta bằng tội lỗi, và khiến chúng ta cảm thấy giằng xéo đôi đường giữa thiết trình tự nhiên của mình và các đòi buộc của đức tin.

Làm sao để hòa giải sự có vẻ phi lý này giữa thiết trình tự nhiên của chúng ta và dự định của Chúa cho chúng ta đây?
Chúng ta cần phải hiểu bản năng và dục vọng của con người một cách sâu sắc hơn. Có lẽ nên bắt đầu với câu nói của thánh Augustino: Ngài đã tạo nên chúng con cho Ngài, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được ở trong Ngài. Khi chúng ta phân tích thiết lập tự nhiên của mình, phân tích các bản năng và dục vọng tự nhiên một cách sâu sắc hơn, chúng ta sẽ thấy tất cả những điều này, rốt cùng đang đưa chúng ta ra khỏi những khoái lạc và sự vật sự việc tức thời, những thứ có vẻ như là ám ảnh của bản năng. Chúng đang đưa chúng ta, một cách kiên định và không ngừng nghỉ, đến với Chúa.

Karl Rahner, khi cố gắng giải thích điều này, đã phân biệt giữa những gì chúng ta khao khát một cách khả thị và những gì chúng ta khao khát trong ẩn tàng. Bản năng và dục vọng tự nhiên đưa chúng ta đến với những sự rõ ràng hiển thị, như tình yêu cho người khác, tình bạn với ai đó, một tác phẩm nghệ thuật hay âm nhạc, một kỳ nghỉ, bộ phim, một bữa ăn ngon, sự giao hợp tình dục, một thành tựu vẻ vang, một sự kiện thể thao, và vô số những điều khác nữa, những điều mà nếu nhìn qua, thì chẳng liên quan gì đến Thiên Chúa mà ngược lại còn kéo chúng ta xa khỏi Ngài nữa. Nhưng, như Rahner đã chỉ ra, và cũng thể hiện rõ ràng trong cảm nghiệm của chúng ta, là trong mỗi một dục vọng khả thị này, bên dưới và là phần thâm sâu nhất của dục vọng này, là một khao khát ẩn tàng hướng đến và mưu cầu một sự thâm sâu hơn. Đến tận cùng, chúng ta khao khát chiều sâu dựng lên mọi con người và mọi vật, chính là Thiên Chúa. Một lời sinh động hơn của Rahner là, người ám ảnh với khao khát tình dục và đi tìm một gái điếm, thì tiềm ẩn trong đó, là người đó đang tìm bánh sự sống, cho dù ý định bề ngoài của người đó có thô bỉ đi chăng nữa.

Thiên Chúa không lầm khi tạo dựng dục vọng con người. Ý định của Thiên Chúa được viết trên mã di truyền dục vọng. Đến tân cùng, thiết trình của chúng ta hướng chúng ta đến với Chúa, bất chấp dục vọng đó có vẻ ám ảnh, trần tục, phóng đãng và ngoại đạo đến đâu chăng nữa. Bản tính con người không lệch pha với lời kêu gọi của đức tin, hoàn toàn không.

Hơn nữa, những bản năng mạnh mẽ bên trong bản tính chúng ta, vốn nhiều lúc có vẻ ích kỷ và vô luân, đều có giá trị đạo đức và mục đích của riêng chúng, chúng bảo vệ chúng ta, cho chúng ta vươn ra đến những gì duy trì mạng sống, và không kém quan trọng là bảo đảm cho loài người tồn tại. Cuối cùng, Thiên Chúa cài đặt bản năng trần tục trong chúng ta để thúc ép chúng ta hưởng dùng sự sống và nếm trải những thú vui, còn Ngài, như người ông đầy yêu thương, quan sát con cháu chơi đùa, hạnh phúc khi thấy con cháu vui tươi, và biết rằng có đủ thời gian phía trước khi nỗi đau và thất vọng sẽ thúc đẩy các dục vọng đó tập trung về những sự sâu sắc hơn.

Khi chúng ta phân tích sâu hơn về dự định của Thiên Chúa cho bản chất con người, và khi hiểu được chính mình rõ hơn trong thiết trình này, thì với một mức độ cảm nhận cao hơn những gì bộc phát, và cao hơn những tự châm biếm về bản thân, chúng ta nhận ra rằng, quả thật chúng ta yêu Chúa nhất, yêu người thân cận kha khá, và rất hạnh phúc là, yêu rượu whiskey và các thú vui cuộc sống cũng kha khá nữa.

Chuyện ‘cho phải lẽ’ và nén lòng nhận định sự thật

Chỉ bởi đôi điều ‘làm cho phải lẽ’ không có nghĩa là nó không đúng đắn. Đôi khi chúng ta phải nén lại để chấp nhận sự thật.

Vài năm về trước, tôi ở trong Hội đồng Linh mục cố vấn cho giám mục giáo phận. Giám mục, là người có tính rất bảo thủ, nhưng vô cùng nguyên tắc, không bao giờ để tính khí tự nhiên hay những cảm giác bất chợt của mình ảnh hưởng đến việc ra quyết định. Các quyết định của ngài được thực hiện dựa trên nguyên tắc, nghĩa là đôi khi ngài phải nén lòng lại.

Ví dụ như có lần, ngài thấy mình đang chịu một áp lực lớn cần phải tăng lương cho các nhân viên giáo dân trong giáo phận. Áp lực đến từ một nhóm luật sư về công bằng xã hội rất có tiếng nói, họ trích giáo huấn xã hội của Giáo hội để chống lại việc giáo phận không chịu trả mức lương như họ mong muốn. Những lý lẽ của họ cũng có chiều hướng nhạy cảm. Điều này không làm cho mọi chuyện dễ dàng hơn gì cho giám mục với tính bảo thủ và các bạn bảo thủ của ngài.

Nhưng, như tôi nói, ngài là người nguyên tắc. Một sáng nọ, ngài đến Hội đồng Linh mục và muốn chúng tôi đồng thuận để tăng lương cho các nhân viên của giáo phận theo như họ đòi hỏi. Hội đồng Linh mục bảo ngài rằng, chúng tôi không thể nhượng bộ trước cái ‘cho phải lẽ’ vậy nên chúng tôi bỏ phiếu chống. Một tháng sau, giám mục lại đến với Hội đồng Linh mục và lại muốn chúng tôi ủng hộ điều này, ngài mở đầu bằng lời rằng, nếu chúng tôi bỏ phiếu chống lần nữa, ngài sẽ tự làm việc đó bằng đặc quyền điều hành của mình. Một trong các linh mục, người bạn thân thiết với ngài nói rằng: ‘Cha muốn chúng tôi làm việc này, chỉ vì ‘cho phải lẽ?”. Giám mục trả lời: ‘Không, chúng ta không làm bởi nó ‘cho phải lẽ.’ Chúng ta làm bởi nó đúng. Chúng ta không thể rao giảng Tin Mừng chân thực nếu chúng ta không sống theo Tin Mừng. Chúng ta cần phải trả cho họ một mức lương sống được, vì đó là những gì Tin Mừng và giáo huấn xã hội Công giáo đòi hỏi, chứ không phải vì ‘cho phải đạo.” Khi nói như thế, giám mục đang nén lại, nén tính khí của mình lại, nuốt lấy sự bực bội của bạn mình, và nuốt lấy sự bất bình của mình khi phải nhượng bộ một điều thể hiện là nó ‘cho phải lẽ.’ Nhưng nguyên tắc thắng cảm giác.

Và nguyên tắc cần phải thắng cảm giác, là vì thường thường, khi có điều gì đó xảy đến theo kiểu là chúng ta phải chấp nhận để ‘cho phải đạo,’ thì phản ứng bộc phát của chúng ta là bác bỏ, và lòng chúng ta xui khiến, từ cảm giác khó chịu của mình, hãy bác bỏ nó đơn giản là vì cái mác của nó và những người biện hộ cho nó. Tôi đã từng có trải nghiệm trong chuyện này, khi phải giải quyết các cảm xúc của mình trước những chuyện ‘cho phải đạo.’ Dạy học trong những lớp khá nhạy cảm suốt nhiều năm, nơi đôi khi mọi lời nói đều là quả bom tiềm ẩn có thể nổ tung, thì thật dễ bị rơi vào sự mệt mỏi do nhạy cảm. Tôi nhớ có lần, nản lòng với sự nhạy cảm quá độ của một vài sinh viên (và sự tự đại rõ ràng trong sự nhạy cảm đó) tôi bảo một sinh viên ‘dịu đi.’ Ngay lập tức anh sinh viên cáo buộc tôi là kỳ thị.

Thật dễ để phản ứng với sự hằn học hơn là thông cảm. Nhưng, như Đức giám mục trong chuyện tôi kể ở trên, chúng ta cần phải có nguyên tắc và trưởng thành đủ để không cho cảm xúc và tính khí áp đặt trên quan điểm và quyết định của mình. Chỉ vì một sự thật được bọc trong lớp áo ‘cho phải lẽ,’ và được xướng lên từ miệng của những người tự cho mình công chính, không nhất thiết điều này không phải là sự thật. Đôi khi chúng ta cần phải nén lại, nuốt lấy những tự cao và hằn học của mình, chấp nhận sự thật như nó là. Những chuyện ‘cho phải lẽ’ thường gây bất bình, thổi phồng quá mức, không cân bằng, khoa trương và thiếu ý nghĩa, nhưng nó có một mục đích quan trọng. Chúng ta cần tấm gương này. Cách chúng ta bộc phát nói về ai đó, tiết lệ nhiều điểm mù của bản thân mình.

Trong số nhiều điều, thì cái ‘cho phải lẽ,’ là một kiểm soát ngôn từ, giúp giữ cho bàn luận dân sự được phải phép, một điều khá thiếu hụt thời nay. Các chương trình truyền thanh, truyền hình cáp, blog, tweet, và các tòa soạn ngày nay, đang ngày càng thể hiện một ngôn từ thô lỗ, không tinh tế và rõ ràng là thiếu tôn trọng, mà mỉa mai thay, trong sự khinh thị của họ đối với cái ‘cho phải đạo’ lại chính là lập luận mạnh mẽ nhất cho cái ‘cho phải lẽ.’ Chính trị, giáo hội, và cộng đồng ở mọi tầm mức ngày nay, cần phải cẩn thận hơn về ngôn từ, cẩn thận về cái ‘cho phải lẽ,’ vì nạn bạo lực trong xã hội là phản ảnh rất nhiều từ bạo lực ngôn từ của chúng ta.

Hơn nữa, để ý lời ăn tiếng nói, về lâu dài giúp hình thành các thái độ nội tâm và mở rộng lòng thông cảm của chúng ta. Lời nói tác động mạnh mẽ trong việc thành hình các thái độ, và nếu chúng ta để cho lời lẽ thốt ra mà không màng đến sự tôn trọng và lịch sự căn bản, cũng như để lời lẽ xúc phạm người khác, thì chúng ta đang thúc đẩy một nền văn hóa không tôn trọng đó.

Cả cánh tả và cánh hữu đều có cái ‘cho phải lẽ.’ Cả người tự do lẫn bảo thủ đều giúp thể hiện nó, và cả hai đều tự phụ và áp đặt như nhau. Nhưng chúng ta phải luôn luôn nhận thức rằng, chỉ bởi điều gì đó ‘cho phải lẽ’ không có nghĩa là nó không đúng đắn. Đôi khi chúng ta cần phải nén lại và chấp nhận sự thật.

Kinh nguyện Thánh Thể cho thế giới đang tỉnh giấc

Dịp lễ Chúa Biến Hình vào năm 1923, Pierre Teilhard de Chardin đang một mình trước ánh bình minh ở sa mạc Ordos, Trung Quốc, nhìn vầng dương tỏa những ánh cam vàng từ cuối chân trời. Cha đang xúc động sâu sắc, cả về mặt con người lẫn lòng đạo. Để đáp lại xúc động này, điều cha muốn làm nhất là cử hành thánh lễ, nhằm hiến dâng toàn thể thế giới lên Chúa. Nhưng cha không có bàn thờ, không bánh, không rượu. Nên cha quyết định lấy thế giới này làm bàn thờ, và những gì trên thế giới là bánh và rượu cho thánh lễ. Và đây là lời cầu nguyện cha cầu cho thế giới đang tỉnh thức hướng về mặt trời.

Lạy Chúa, bởi con không có bánh rượu, mà cũng không có bàn thờ, nên con sẽ thoát khỏi những biểu tượng này, mà lấy toàn thể trái đất làm bàn thờ của con và trên đó, con dâng lên Chúa tất cả công khó và đau khổ của thế giới.

Khi mặt trời ló dạng như tấm màn lửa từ phía chân trời, trái đất tỉnh giấc, rùng mình và bắt đầu làm nhiệm vụ hàng ngày của nó. Lạy Chúa, con sẽ đặt trên dĩa của con, hoa màu của lao công mới này. Trong chén, con sẽ đổ dòng nhựa sống ép từ hoa trái của địa cầu hôm nay. Dĩa và chén của con là những thẳm sâu linh hồn đang đang mở rộng với mọi uy lực trỗi lên từ mọi góc cùng trái đất, tất cả đồng quy vào Thánh Thần.

Lạy Chúa, xin cho con biết tưởng nhớ và hiện tại hóa những con người đang được ánh dương thức tỉnh vào ngày mới. Nghĩ đến đây, trước hết con nhớ đến những người đã chia sẻ cuộc sống với con, là gia đình, cộng đoàn, bạn bè, và đồng sự. Và dù mơ hồ hơn nhưng rất chắc chắn, con cũng nhớ đến toàn thể nhân loại, đang sống và đã qua đời, và cả trái đất vật chất này nữa, khi con đang đứng trước Chúa, lạy Chúa con, như một phần của trái đất, như điểm trái đất mở ra và gắn bó với Chúa.

Và lạy Chúa, trên mọi sự sống triển nở, sum suê, con xin nói lại những lời: ‘Đây là Mình Ta.’ Và trên mọi thế lực sự chết đang chờ sẵn để gặm, để tàn, để chặt lìa, con xin nói lại những lời của Chúa bày tỏ mầu nhiệm tột đỉnh của đức tin: ‘Đây là Máu Ta.’ Trên dĩa của con, con dâng tất cả những con người hăng say sống ngày hôm nay, người trẻ, người khỏe, người mạnh, người đầy niềm vui. Và trên chén này, con dâng tất cả những tan vỡ dày vò từ chính sức sống đó. Trên bàn thờ bao la này, con dâng lên Chúa mọi sự trong thế giới, mọi sự trỗi dậy và mọi sự nằm xuống, và xin Chúa chúc lành cho nó.

Và sự thông hiệp của chúng con với Chúa sẽ chưa được thành toàn, sẽ chưa là theo Kitô, nếu như cùng với những thu tích của ngày mới này, chúng con không chấp nhận, nhân danh chúng con và thế giới, những tiến trình, dù ẩn giấu hay hiển hiện, của sự suy yếu, già đi và cái chết, vốn không ngừng đốt cháy vũ trụ này hướng đến ơn cứu độ và phán xét của mình. Lạy Chúa, chúng con thả mình trao bản thân cho những thế lực tan rã đáng sợ này, khi tin tưởng dù mờ mịt rằng, điều này sẽ thay thế cái tôi hạn hẹp của chúng con bằng sự hiện diện thiêng liêng của Chúa. Chúng con xin dâng lên trong cùng một lời nguyện, cả những hân hoan chúng con có và cơn khát những gì chúng con thiếu thốn.

Lạy Chúa, xin khóa chúng con trong những chiều thâm sâu của trái tim Chúa, giữ chúng con, đốt cháy chúng con, thanh luyện chúng con, thử lửa và biến đổi chúng con, cho đến khi chúng con hoàn toàn nên như những gì Chúa muốn, nhờ triệt tiêu mọi ích kỷ trong ích kỷ trong chúng con. Amen.

Với cha Teilhard, tất nhiên không thể đánh đồng điều này với việc cử hành Phép Thánh Thể trong nhà thờ được, nhưng cha thấy đây là một ‘mở rộng’ của Phép Thánh Thể, nơi Mình và Máu Chúa Kitô trở nên hiện thể trong một bánh và rượu rộng lớn hơn, cụ thể là toàn thể thế giới vật chất đang bày tỏ mầu nhiệm thịt máu Thiên Chúa chiếu sáng hiển hiện.

Cha Teilhard là linh mục Công giáo La Mã, nhờ được thụ phong, mà được giao ước cử hành thánh lễ cho thế giới, đặt bánh và rượu lên dĩa và chén mà dâng lên Chúa thay cho thế giới. Tất cả Kitô hữu chúng ta cũng vậy, nhờ phép rửa tội, chúng ta được thành các tư tế, và như cha Teilhard, được giao ước để cử hành thánh lễ cho thế giới, dâng trên chén và dĩa tượng trưng của chúng ta, những bánh và rượu của thế giới này trong mọi dạng thể của ngày sống. Có nhiều cách để làm điều này, nhưng có lẽ bạn sẽ muốn thử thế này: Một buổi sáng khi vầng dương ló dạng ở chân trời, hãy để ánh vàng cam đó đốt cháy trái tim và lòng cảm thương của bạn để bạn vươn tay ra và cầu nguyện lời Kinh nguyện Thánh Thể của cha Teilhard cho thế giới đang trở mình thức tỉnh.

Cáo phó cho một người tự vẫn

Mọi sự càng thay đổi thì càng như cũ. Câu châm ngôn này cũng đúng trong nhận thức về tự vẫn. Bất chấp mọi hiểu biết đào sâu của chúng ta, vẫn luôn có những dấu hằn trong sự tự vẫn, và một trong số đó là về cách chúng ta viết điếu văn cho một người thân thương vừa từ giã cõi đời theo cách đau đớn này. Khi viết cáo phó, chúng ta không thể viết ra được cái từ ‘tự vẫn’: Anh ấy chết do quyết định bản thân, Chúng ta còn nói trại thêm nữa: Anh ấy chết bất ngờ. Cái chết của anh ấy gây đau đớn vô cùng.

Trong nhiều trường hợp, tự vẫn là kết quả của một chứng bệnh, một căn bệnh ung thư, đột quỵ về cảm xúc và tâm lý. Nếu đúng như thế, và đúng thực là thế, thì tại sao khi tôi yêu thương một người, đã chết vì tự vẫn, tôi lại không thể viết ra được một cáo phó như thế này?

Chúng tôi thương tiếc báo tin cái chết của …, đã qua đời sau một cuộc đấu tranh dũng cảm với khối ung thư xúc cảm…, như bạn đã biết, được sinh ra trong đời với tâm tư nhạy cảm đến dằn vặt, một thiên tư và thống khổ cô mang trong mình ngay từ những ngày thơ trẻ. Có khi cô thấy an bình và êm ái, nhưng không bao giờ cô hoàn toàn thoát khỏi được hỗn loạn nội tâm vốn phần nào giấu kín với những người chung quanh mình, những hỗn loạn mà thuốc thang không trị được, các cố vấn tâm lý không dập tắt được, và cả những tình cảm cùng chăm lo của chúng ta cũng không thể xoa dịu cho đủ. Đến cuối cùng, bất chấp lòng dũng cảm của cô ấy và những nỗ lực giúp đỡ của chúng ta, căn bệnh này vẫn trầm kha bất trị. Tâm tính của cô vừa là một phúc lành vừa là lời nguyền. Cô là một con người ân cần, không bận tâm đến cái tôi và không đòi hỏi cho bản thân, cô luôn lo lắng quá độ e sợ mình làm tổn thương ai đó hay sợ mình đòi quá nhiều cho riêng cô. Nhưng sự tự làm lu mờ bản thân cũng là một phần chứng bệnh của cô. Dù can trường đến đâu cũng không thể xóa đi được cái vòng kim cô mơ hồ đang bóp nghẹt dần tự do trọn vẹn của cô. Đến cuối cùng, cô chết, đi ngược lại với ý chí của mình, nhưng đời sống của cô, đã sống với một sự nhạy cảm như thế, là một món quà quý báu cho tất cả những ai đã quen biết cô, cho dù đôi khi điều này khiến cho những người chung quanh cô phải lo lắng và đau lòng. Bối cảnh cái chết của cô thật đau buồn, nhưng cô, với sự nhạy cảm đặc biệt của mình, sẽ không muốn chúng ta cảm thấy tội lỗi và tự vấn về những gì chúng ta đã làm để giúp cô cưỡng lại cái chết. Khi căn bệnh trở nên nan y, tất cả mọi thương yêu và quan tâm của mọi người đều không thể chữa lành nổi. Nhưng cô đã chết trong tình yêu thương của chúng ta, cho dù chúng ta thất vọng vì tình yêu của mình không đủ để giúp cô. Bây giờ đây, cô vẫn đang sống, trong tình yêu thương của chúng ta, và theo ý Chúa, là trong sự an bình và bảo đảm mà cả đời này cô không tìm thấy được. Thay cho những vòng hoa, xin các bạn đóng góp cho Hiệp hội Sức khỏe Tâm thần.

Hay, có lẽ, trong một hoàn cảnh khác, chúng ta có thể viết cáo phó như thế này:

Chúng tôi đau buồn báo tin cái chết của … một cái chết có lẽ do cơn trụy tim xúc cảm. Cái chết của anh là cú sốc bởi những người gần gũi với anh không thấy có lý do gì để nghi ngờ việc anh phải chịu những tác hại cảm xúc nguy hiểm cao, hay việc anh mang một căn bệnh tim xúc cảm bẩm sinh vốn không thể hiện rõ ràng và không thể chẩn đoán về y khoa và tâm lý. Trước chuyện này, có thể hiểu được khi chúng ta tự hỏi tại sao mình không thấy báo động hay không quan tâm đến anh và sức khỏe của anh hơn, tại sao chúng ta không để ý thấy bất kỳ triệu chứng nào của anh. Đôi khi một căn bệnh chết người tiềm tàng có thể ẩn kín và không thể phát giác trước khi quá muộn. Và thường đây là bản chất của những cơn đột quỵ trụy tim chết người. Trong khi cái chết của anh làm chúng ta choáng váng, vật vã để hiểu, không thể giải thích được vì sao chuyện này xảy ra, và cũng đã vất vả ngăn mình trách anh đã giữ quá kín căn bệnh này, thì chúng ta cũng có thể hiểu được rằng ngay cả anh cũng không biết nhiều về căn bệnh này, và rằng những cái chết đặc biệt này mang một căn bệnh nguy hiểm đặc biệt khiến các nạn nhân giấu đi những gì mình phải chịu đựng, ngay cả với những người thân cận nhất. Và chúng ta cần phải thông hiểu. Cuộc đời của mọi người đều có bí ẩn riêng, và không phải lúc nào cũng mở ra để cho người ngoài hiểu. Hơn nữa, cơn trụy tim xúc cảm này, cũng hệt như cơn trụy tim thể lý, không thể nào kiểm soát, và nó đi ngược lại ý muốn của con người. Anh …. là một linh hồn cao đẹp, không muốn ai bị tổn thương và cố gắng để không làm hại ai. Chắc chắn, anh cũng đau lòng như chúng ta khi cái chết không mong muốn của anh gây đau đớn cho nhiều người. Nhưng, cũng chắc chắn, là anh muốn chúng ta tiếp tục yêu thương, và đặc biệt là hiểu cho anh. Thay cho vòng hoa, xin các bạn đóng góp cho Hiệp hội Sức khỏe Tâm thần địa phương.

Thật khó để mất đi một người thân vì tự vẫn, nhưng chúng ta đừng đánh mất sự thật và hơi ấm trong bí ẩn của họ, và ký ức về họ, những người thân yêu của chúng ta.

Con cái của cả thiên đàng và thế gian

“Lạy Chúa, dù tâm hồn con thiếu nhiệt thành, thiếu đức chính trực cao cả của các thánh, nhưng con đã nhận được từ Chúa một lòng cảm thông quá đỗi cho tất cả những khơi dậy từ đống hỗn mang tăm tối, vì con biết mình chắc chắn là con cái của thiên đàng cũng như của thế gian.”

Đây là lời của Pierre Teilhard de Chardin, và cũng như lời mở đầu lừng danh của thánh Augutinô trong Tự thú, chúng không chỉ nói lên sự căng thẳng nội tâm trọn đời của tác giả, nhưng còn xác định những nét nền tảng cho một linh đạo trọn vẹn. Với tất cả những ai có cảm xúc lành mạnh và thành thật, thì cả đời luôn có căng thẳng giữa những hấp dẫn quyến rũ của thế gian và sự lôi cuốn của Thiên Chúa. Thế gian, với các vẻ đẹp, vui thú, và vật chất của nó, có thể chiếm trọn và làm cho chúng ta tin rằng thế gian này là tất cả, và đời này là cần phải có tất cả. Ai còn cần điều gì cao xa hơn nữa? Chẳng phải đời sống trên thế gian này là đủ rồi hay sao? Hơn nữa, có bằng chứng gì về bất kỳ hiện thực và ý nghĩa nào ngoài cuộc sống đời này không?

Nhưng ngay cả khi chúng ta bị lôi kéo, một cách mạnh mẽ và đúng đắn, về phía thế gian và những gì nó đem lại, thì một phần trong chúng ta vẫn thấy mình đang ở trong, đang nắm lấy một hiện thực khác, chính là hiện thực thiêng liêng, vốn ban sơ mơ hồ hơn nhưng không kém dai dẳng day dứt. Và lòng chúng ta cũng nghe rằng, đây là sự thật, hiện thực này đến tận cùng cho chúng ta sự sống, và hiện thực này đáng được trân trọng, không thể làm ngơ. Và cũng như hiện thực của thế gian, hiện thực thiêng liêng cũng thể hiện mình vừa hứa hẹn vừa đáng sợ. Đôi khi, chúng ta cảm giác hiện thực thiêng liêng như một chiếc kén ấm áp, một mái ấm tột cùng, nhưng có khi chúng ta cảm giác quyền uy của thiêng liêng như một phán quyết đầy đe dọa so với sự thiển cận, tầm thường và tội lỗi của chúng ta. Đôi khi, thiêng liêng chúc phúc cho sự cố kết của chúng ta với đời này và các thú vui đời này, nhưng đôi khi thiêng liêng lại làm chúng ta lo sợ và tương đối hóa cả thế gian lẫn đời sống của chúng ta. Bằng cách xao nhãng và làm ngơ, chúng ta có thể đẩy xa hiện thực thiêng liêng, nhưng hiện thực này luôn có đó, luôn tạo căng thẳng nội tại mạnh mẽ trong chúng ta. Chúng ta chắc chắn là con cái của cả trời và đất, cả Thiên Chúa và thế gian đều có quyền được chúng ta chú tâm.

Đây là ý nghĩa tiền định. Thiên Chúa tạo nên chúng ta có vật chất, nhục thân, và có chiều hướng trần gian, với gần như mỗi bản năng trong chúng ta đều vươn đến những sự trần gian. Chúng ta không nên nghĩ rằng Thiên Chúa muốn chúng ta xa lánh thế gian này, chối bỏ vẻ đẹp chân thật của thế gian, hay cố gắng thoát khỏi thân thể mình, thoát ly các bản năng tự nhiên và thể lý của mình, để chăm chăm hướng về thiên đàng. Thiên Chúa không tạo dựng thế gian này như một phép thử, như nơi thử thách sự vâng phục và ngoan đạo của chúng ta trước sức hút của lạc thú trần gian để xem liệu chúng ta có xứng đáng vào thiên đàng hay không. Thế giới này có mầu nhiệm và ý nghĩa riêng của nó, một ý nghĩa chính Thiên Chúa ban. Thế gian không đơn giản là sân khấu để con người chúng ta diễn tấn kịch cứu rỗi đời mình rồi hạ màn rút lui. Nhưng đây là nơi cho tất cả chúng ta, cho các động vật, côn trùng, cây cỏ, đất đá, nước non chung hưởng một mái nhà.

Nhưng đây cũng chính là cội rễ cho căng thẳng lớn trong chúng ta. Trừ phi chúng ta bác bỏ những bản năng mạnh mẽ nhất hay những cảm thức lòng đạo mạnh mẽ nhất, còn không thì chúng ta sẽ luôn thấy mình bị giằng xé giữa hai thế giới, với những xung đột giữa lôi cuốn của thế gian và của Thiên Chúa. Tôi biết đích thực điều này trong đời mình. Tôi được sinh ra trong thế gian này với hai tình yêu không thể thay thế, và đã dành cả đời cũng như trọn sứ mạng của mình trong giằng xé giữa hai sự này: Tôi luôn yêu mến thế giới ngoại đạo vì sự tôn sùng sự sống, cảm kích những kỳ diệu trong thân thể con người và những vẻ đẹp cũng như khoái cảm của năm giác quan. Với các anh chị em ngoại đạo, tôi cũng cảm kích sự hấp dẫn của tính dục, sự êm ái của cộng đồng nhân loại, sự phấn khởi của óc hài hước châm biếm, và những món quà đáng kinh ngạc của nghệ thuật và khoa học. Nhưng, cùng lúc, tôi luôn thấy mình ở trong một hiện thực khác, là thế giới thiêng liêng, đức tin, và lòng đạo. Hiện thực này cũng luôn lôi cuốn sự chú tâm của tôi, và quan trọng hơn nữa, hiện thực thiêng liêng phủ bóng trên những chọn lựa lớn trong đời tôi.

Những chọn lựa lớn trong đời tôi thể hiện và phát tiết một căng thẳng lớn, vì chúng cố gắng chân thật với một dấu ấn kép bẩm tại trong tôi, đó là ngoại đạo và thiêng liêng. Tôi không thể chối bỏ hiện thực, sự lôi cuốn, và sự tốt lành của cả hai. Vì lý do này, tôi có thể sống một đời sống tận hiến, độc thân khiết tịnh cả đời, lo mục vụ thánh nhưng cũng vừa yêu mến sâu sắc thế giới ngoại đạo, cảm mến những khoái cảm của nó, và cả sự tốt lành của tính dục – cho dù vì trung thành với hiện thực thiêng liêng mà tôi đã chấp nhận từ bỏ nó. Đây cũng là lý do vì sao tôi triền miên tạ tội với Chúa vì những chống đối ngoại đạo của thế gian với Ngài, nhưng cũng không ngừng nói về Chúa cho thế gian. Tôi sống với những thành tín giằng xé.

Và tất yếu là vậy. Thế gian này được định để chiếm lấy hơi thở của chúng ta, ngay cả khi chúng ta cung kính sấp mình trước Đấng Tạo hóa của hơi thở đó.

Không gian chữa lành của thinh lặng

Quyển sách mới đây của Robyn Cadwallander, “Nữ ẩn sĩ” (The Anchoress) kể về Sarah, một phụ nữ trẻ chọn khép mình khỏi thế giới và sống như một ẩn sĩ (như Julian thành Norwich vậy). Đây không phải là đời sống dễ dàng và cô sớm ra mình phải đấu tranh với lựa chọn này. Cha giải tội cho cô là cha Ranaulf, một tu sĩ trẻ, không nhiều kinh nghiệm. Mối liên hệ giữa họ cũng không dễ dàng. Cha Ranaulf là người ngại ngùng và ít nói nên Sarah thường thấy chán khi gặp cha, cô muốn cha nói thêm, muốn cha đồng cảm hơn và đơn giản muốn cha hiện diện rõ hơn với cô. Họ thường xuyên bàn luận, hay ít nhất là Sarah thường cố moi thêm lời nói và đồng cảm từ cha Ranaulf. Nhưng bất kỳ lúc nào cô cố gắng làm thế, cha Ranaulf đều gián đoạn buổi xưng tội và rời đi.

Một ngày nọ, sau một buổi xưng tội cực kỳ đáng chán khiến cha Ranaulf cứng lưỡi và Sarah giận dữ, cha chỉ đóng cánh cửa tòa giải tội, một phản ứng thông thường của cha khi căng thẳng, khi có điều gì đó trong cha không muốn cho cha bỏ đi. Cha biết là mình phải cho Sarah một điều gì đó, nhưng cha không có lời lẽ nào để làm được. Và, khi không có gì để nói ngoài cảm giác mình buộc phải rời đi, cha đơn giản là ngồi đó trong thinh lặng. Ngược đời thay, sự bất lực câm nín của cha lại đạt được một điều mà những lời nói của cha không làm được, đó là một bước đột phá. Lần đầu tiên, Sarah cảm thấy sự quan tâm và đồng cảm của cha, cũng như sự hiện diện của cha với mình.

Và lời văn của Cadwallander mô tả đoạn này như sau:

“Cha hít một hơi thật sâu rồi từ từ chậm rãi thở ra. Cha không còn điều gì để nói, nhưng cha không để cô ấy ở đây một mình trong tâm trạng cay đắng được. Vậy nên cha vẫn ngồi lại trong tòa giải tội, cảm nhận sự trống trải của phòng xưng tội quanh mình, cảm nhận sự thất bại của việc học, của những từ ngữ mà cha đã ghi khắc trong đầu, trang này đến trang khác, tầng này đến tầng khác. Cha không thể mở miệng, nhưng cha có thể ở lại, và cha làm thế. Cha bắt đầu cầu nguyện trong thinh lặng, nhưng không biết bắt đầu thế nào, không biết phải xin gì. Cha bỏ cuộc, và thở chậm rãi từ từ.

Sự thinh lặng bắt đầu như một điều gì đó thật vụn vặt và đáng sợ, đậu trên rìa cửa sổ tòa giải tội, nhưng khi cha Ranaulf ngồi đó trong tĩnh mịch, nó dần dần, rất chậm rãi, lớn lên, và tràn khắp gian phòng, cuộn chặt quanh cổ và vòng lấy lưng cha, cuốn quanh đầu gối và đôi bàn chân cha, tràn lên các bức tường, lấp đầy các ngóc ngách, len lỏi vào cả các khe tường đá. … Sự thinh lặng trườn qua các khe hở và len vào cả gian phòng bên trên. Dường như nó thật êm ái mềm mại. Nó tràn ra và vững vàng, nó chiếm lấy mọi khoảng không. Cha Ranaulf ngồi bất động, không nhúc nhích, cha đã mất hết mọi khái niệm về thời gian. Mọi sự cha biết là một có một phụ nữ đang cách cha một sải tay, trong bóng tối, và đang thở. Vậy là đủ.

Khi ánh nến trong gian phòng mờ dần đi, cha nhúc nhích, cha nhìn vào bóng tối.

‘Chúa ở cùng con Sarah.’ ‘Và ở cùng cha.’ Giọng của cô tươi sáng hơn, thân thiết hơn.”

Có một ngôn ngữ vượt ngoài ngôn từ. Sự thinh lặng dành chỗ cho ngôn ngữ đó. Đôi khi chúng ta cảm thấy bất lực không thể nói được gì có ý nghĩa, chúng ta phải đi trở vào sự vô tri và vô lực, nhưng khi ở lại trong tình trạng này, sự thinh lặng tạo một không gian cần thiết cho một điều thâm sâu hơn xuất hiện. Nhưng thường, lúc đầu, thinh lặng thật không dễ dàng gì. Nó bắt đầu “như một sự đáng sợ vụn vặt” và dần lớn lên thành hơi ấm xua tan đi căng thẳng.

Nhiều lần chúng ta không có lời nào đáng để nói. Chúng ta, ai cũng cảm nghiệm việc đứng bên giường người hấp hối, tham dự một đám tang, đứng trước một tâm hồn tan vỡ, hay rơi vào thế bí khi cố gắng vượt qua tình huống căng thẳng trong quan hệ, lại thấy mình cứng lưỡi, không có từ nào để nói, rồi cuối cùng rơi vào thinh lặng, biết rằng nói bất kỳ điều gì cũng chỉ làm trầm trọng thêm nỗi đau đớn này. Trong tình thế bất lực đó, bị hoàn cảnh làm câm nín, chúng ta học được một điều: Chúng ta không cần phải nói gì, chỉ cần ở đó. Sự hiện diện thinh lặng, bất lực của chúng ta là điều đang cần.

Và tôi phải công nhận, đây không phải là điều dễ học đối với tôi, không phải là điều theo khuynh hướng của tôi, và thực sự nhiều khi tôi không làm thế khi đáng ra phải làm. Cho dù tình thế có ra sao đi nữa, tôi luôn cảm thấy mình phải nói lên một điều gì đó có ích, một điều gì đó giúp giải quyết căng thẳng này. Nhưng tôi đang học được rằng, hãy để sự bất lực lên tiếng, và cũng học được rằng điều này thật mạnh mẽ biết bao.

Tôi nhớ có lần, khi còn là một linh mục trẻ, đầy kiến thức học được trong chủng viện và háo hức chia sẻ kiến thức đó, tôi ngồi trước một người có tâm hồn đang bị tan vỡ, tôi cố gắng tìm câu trả lời và thấu suốt trong đầu mình, tôi không tìm thấy gì, cuối cùng tôi xin lỗi thú nhận sự bất lực của tôi với người đối diện. Câu trả lời của cô làm tôi kinh ngạc, và dạy tôi một điều mà tôi không hề hay biết trước đây. Cô đơn giản nói rằng: Sự bất lực của cha là món quà quý báu nhất cha có thể chia sẻ với con ngay bây giờ. Con cám ơn cha. Không một ai kỳ vọng bạn có chiếc đũa thần để chữa lành những phiền muộn của họ.

Đôi khi, thinh lặng lại thành một sự êm ái mềm mại len lỏi và chiếm lấy, lấp đầy mọi khoảng không.

Chữa lành

Tất cả chúng ta đều sống với một vài tổn thương, thói quen xấu, nghiện một cái gì đó, và những khuyết điểm về tính khí, vốn thâm căn cố đế đến nỗi dường như chúng là một phần trong di truyền của chúng ta. Do đó chúng ta có khuynh hướng mang một khao khát thầm lặng muốn chữa lành chúng.

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy điều này. Đôi lúc chúng ta có những nhận thức cho rằng các tổn thương và khiếm khuyết đang kéo chúng ta đi xuống, đó là những thứ không thể nào đơn thuần dẹp bỏ được. Sức mạnh ý chí và các giải pháp tốt vẫn không đủ giải quyết việc này. Làm sao có được giải pháp để không bao giờ nổi nóng lần nữa? Không có, cơn giận cứ triền miên trở lại. Làm sao có giải pháp để từ bỏ một vài thói quen lệ thuộc, dù lớn dù bé? Không có, chúng ta bị chúng cám dỗ ngay. Và làm sao cố gắng thay đổi một vài tính xấu mà chúng ta có sẵn trong di truyền hay tiếp thu từ thuở bé? Không có, tất cả mọi giải pháp và suy nghĩ tích cực trên thế giới, thường chẳng thay đổi được bản chất chúng ta.

Vậy thì chúng ta phải làm gì? Cứ sống với các tổn thương và khiếm khuyết của mình, cũng như những bất hạnh và nhỏ nhen mà nó đem lại hay sao? Hay có thể chữa lành chúng? Làm sao chúng ta có thể tẩy sạch sự yếu đuối của mình?

Có nhiều cách để chữa lành: Khoa tâm lý học cho rằng liệu pháp và tư vấn tốt có thể giúp chữa các tổn thương, khiếm khuyết và chứng lệ thuộc của chúng ta. Liệu pháp và tư vấn có thể giúp chúng ta nhận thức tốt hơn và có thể giúp thay đổi hành vi của chúng ta. Nhưng tâm lý học cũng thừa nhận chuyện này cũng có các giới hạn của nó. Yù thức được vì sao chúng ta làm một việc gì đó, không phải lúc nào cũng cho chúng ta sức mạnh để thay đổi hành vi đó. Khoa xã hội học cũng có những hiểu biết đáng tìm hiểu: Parker Palmer nói rằng, có một liệu pháp của đời sống chung. Tham dự một cách lành mạnh vào đời sống gia đình, bạn bè, cộng đồng, và giáo hội có thể là một điều vững vàng tuyệt vời giúp chúng ta vượt lên các tổn thương cô đơn và các khiếm khuyết bẩm tại.

Chương trình Phục hồi 12 bước thật đáng giá: Các chương trình này dựa trên tiền đề cho rằng tự nhận thức, tự dựa vào sức mạnh của ý chí thường vô dụng trong việc thay đổi hành vi của chúng ta. Cần phải có một sức mạnh cao hơn nữa, và đó chính là nghi thức, sự nâng đỡ qua lại, lòng chân thành tận căn, chấp nhận mình bất lực, và hướng về một Đấng Nào Đó vượt trên chúng ta có thể làm cho chúng ta những gì chúng ta không thể tự mình làm được. Các chương trình phục hồi này thật vô giá, nhưng cũng không phải là câu trả lời cho tất cả mọi vấn đề của chúng ta.

Cuối cùng, nhưng không kém quan trọng, là các luận thuyết và thực hành về chữa lành trong linh đạo. Cách này nhấn mạnh về việc đi nhà thờ để được chữa lành, nhấn mạnh bí tích hòa giải, cầu nguyện và suy niệm, cũng như chỉ bảo các thực hành nghiêm nhặt, mời mọi người đến các nơi thánh, để cho các nhóm hay người hướng dẫn chữa lành cầu nguyện cho mình, dấn thân vào các giai đoạn được linh hướng với thầy dạy có trường lớp.

Các giá trị của những cách này, và có lẽ là của một sự chữa lành trọn vẹn cho các khiếm khuyết tính khí, các thói xấu, chứng lệ thuộc, hay một vết thương sâu, hệ tại ở việc rút lấy nước trong lành từ các nguồn giếng này. Tuy nhiên, ngoài danh sách đơn giản này, tôi muốn đưa ra một thấu suốt của nhà thần nghiệm vĩ đại, Gioan Thánh Giá, dành cho sự chữa lành về tâm lý, tinh thần và tâm linh.

Trong quyển sách cuối cùng của mình, Ngọn lửa Sống động của Tình yêu, thánh Gioan đưa ra một luận thuyết cũng như tiến trình chữa lành. Về căn bản có thể nói như sau: Với thánh Gioan, chúng ta chữa lành các tổn thương, khiếm khuyết tinh thần, chứng lệ thuộc và thói quen xấu của mình bằng cách lớn lên trong đường nhân đức, đến một mức đủ trưởng thành về nhân văn để không còn chỗ trong đời cho những hành vi cũ vốn thường lôi kéo chúng ta đi xuống. Nói ngắn gọn, chúng ta từ bỏ tính lạnh lùng, cay đắng, và nhỏ nhen trong lòng bằng cách thắp lên một ngọn lửa đủ ấm để đốt cháy sự lạnh lùng và cay đắng đó. Công thức sẽ như sau: Chúng ta càng lớn lên trong sự trưởng thành, quảng đại, và sinh sôi, thì các tổn thương cũ, các thói quen xấu, tính nết xấu và chứng lệ thuộc cũ sẽ biến mất, vì chúng ta trưởng thành sâu đậm hơn nên những tính xấu này sẽ không còn chiếm một chỗ trong đời chúng ta nữa.

Sự phát triển tích cực của tâm hồn như một cây sum suê, cuối cùng đã át đi đám cỏ dại. Nếu bạn đến với Gioan Thánh Giá và nhờ ngài giúp bạn giải quyết một thói quen xấu trong đời, thì ngài sẽ không tập trung vào việc nhổ trừ thói xấu đó. Nhưng, ngài sẽ tập trung vào việc phát triển các nhân đức của bạn: Bạn làm tốt được việc gì? Bạn có đức tính tốt nào? Sự tốt lành nào trong bạn cần được thổi bùng lên thành một ngọn lửa trọn vẹn?

Bằng cách phát triển những gì tích cực trong chúng ta, cuối cùng, chúng ta trở nên những tâm hồn đủ lớn để không còn chỗ cho những thói xấu cũ. Con đường chữa lành, chính là vun tưới cho các nhân đức chúng ta, để các đức tính đó tự thân sẽ là ngọn lửa đốt sạch các tổn thương mưng mủ, các chứng lệ thuộc, các thói quen xấu, và các khiếm khuyết tính khí lâu nay đang nhuốm bệnh trong đời sống chúng ta và giữ chúng ta chìm trong yếu đuối và nhỏ nhen, thay vì bước đi trong trưởng thành, quãng đại và sinh sôi.