RonRolheiser,OMI

Tình dục và văn hóa

Tôi cho rằng, không một thế hệ nào trong lịch sử lại cảm nghiệm nhiều thay đổi như thế hệ chúng ta trong 60 năm qua. Thay đổi này không chỉ trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, y học, du lịch và truyền thông, mà đặc biệt là trong cấu trúc xã hội, trong nền đạo đức chung của chúng ta nữa. Và có lẽ không ở đâu sự thay đổi này lai triệt để cho bằng trong cách chúng ta nhận thức về tình dục. Trong 70 năm qua, chúng ta đã chứng kiến ba sự đảo chiều lớn trong cách hiểu vị trí của tình dục trong đời.

Trước hết, chúng ta đã tách rời khái niệm tình dục có liên kết luân lý với sinh sản. Với vài ngoại lệ, trước năm 1950, ít nhất là trong các khái niệm luân lý và sống đạo, tình dục được xem là có liên kết cơ cấu với sinh sản. Mối liên kết này không phải lúc nào cũng được tôn trọng, nhưng nó là một phần trong đạo đức chung của chúng ta. Mối liên kết này, trong khi vẫn được các giáo hội gìn giữ, thì lại bị phá vỡ trong nền văn hóa chúng ta, khoảng 60 năm trước.

Và sự tách rời thứ hai còn triệt để hơn nữa. Cho đến thập niên 1960, nền văn hóa chúng ta gắn chặt tình dục với hôn nhân. Khái niệm này nghĩ là nơi hợp luân lý duy nhất cho tình dục là trong hôn nhân. Một lần nữa, tất nhiên không phải lúc nào điều này cũng được tôn trọng và có nhiều người có tình dục ngoài hôn nhân. Nhưng những việc làm như thế không được chấp nhận hay chúc lành về mặt luân lý và sống đạo. Người ta có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, nhưng không một ai đòi cho mình quyền đó. Đây là một điều mà bạn phải thấy làm tiếc. Cuộc cách mạng tình dục trong thập niên 1960 đã cắt lìa mối liên kết này. Tình dục, đã trở thành một bước tiến trong cuộc hẹn hò, và một kết quả từ việc này là ngày càng có nhiều người sống chung không cần kết hôn hoặc trước khi kết hôn, mà không thấy có bất kỳ vấn đề luân lý nào. Điều này càng thịnh hành hơn nữa thời này, khi tình dục ngoài hôn nhân có vẻ bình thường hơn là trong hôn nhân. Ngày càng nhiều người trẻ ngày nay thấy không cần phải thảo luận luân lý về chuyện này với cha mẹ hay giáo hội của mình nữa. Câu trả lời đầu môi của họ là: “Chúng con không suy nghĩ như ba mẹ.” Đúng là không.

Nhưng sự đảo chiều trong đạo đức tình dục không chỉ dừng lại ở đó. Ngày nay, chúng ta ngày càng chứng kiến, ngay cả trong khuôn viên đại học và nhỏ hơn nữa, hiện tượng tình dục “qua đường” khi tình dục tách rời một cách có chủ tâm tính toán khỏi tình yêu, cảm xúc, và gắn kết. Điều này đã tạo nên một sự đảo chiều triệt để nhất. Tình dục bây giờ bị tách rời khỏi tình yêu. Như Donna Freitas ghi nhận trong quyển “Mục đích của Tình dục” [The end of Sex] ngày càng nhiều thanh niên đang có một quyết định có chủ tâm là trì hoãn tìm bạn đời, bởi đang bận lo cho sự nghiệp, và trong thời gian này, khoảng 10 hay 20 năm, họ muốn mình năng động về tình dục, nhưng sự năng động tình dục này không liên quan gì đến tình yêu, cảm xúc và gắn kết (tất cả những sự mà họ thấy ái ngại vì tốn thời gian, rối rắm, và cản đường học hành, công việc, vui chơi, và tự do.) Khái niệm này, đến tận cùng vẫn gắn tình dục với tình yêu và kết ước, nhưng trước đó thì phải tách rời chúng trong một thời gian cái đã. Đáng buồn là đặc nét này đang ăn rễ trong nhiều người trẻ thời nay. Tất nhiên một lần nữa, cũng như với các đảo chiều khác trong nhận thức về tình dục, điều này cũng đã từng có trước kia, với hiện tượng mại dâm và các quán bar độc thân chẳng hạn. Nhưng cho đến trước thời điểm này, không một ai dám nhận nó là lành mạnh.

Điều đặc biệt khiến chúng ta thấy phiền lòng không phải là vì tình dục bị đặt ngoài một nền tảng Kitô giáo đã xác định, là hôn nhân. Con người đã đấu tranh với tình dục từ thuở khai thiên lập địa rồi. Điều khiến người ta lo ngại hơn, là việc điều này ngày càng được xem là bình thường, khi con cái chúng ta nhận định và tán dương điều này như một tiến bộ luân lý, một cuộc giải phóng khỏi mông muội, và đi kèm với nó là những phát biểu thiển cận về luân lý, cho rằng bất kỳ ai vẫn còn giữ quan niệm cũ về tình dục thì cần được khai sáng về tâm lý và luân lý. Ai là người phán xét ai đây?

Tôi có một điều muốn nói, và nói không mập mờ, rằng trong nền văn hóa của chúng ta, sự khắc nghiệt trong mối dây không thể khoan nhượng giữa tình dục và hôn nhân, đơn giản là một sai lầm. Nó cũng ngây thơ nữa.

Tôi từng dự một hội nghị về tình dục, nơi diễn giả chính, một thần học gia cho rằng giáo hội luôn luôn quá cứng nhắc về tình dục. Cô đúng về chuyện này. Chúng ta vẫn còn một quãng đường rất xa để tới được sự hòa hợp lành mạnh giữa tình dục và linh đạo. Tuy nhiên, cô hỏi tiếp: “Tại sao lại có tất cả những lo lắng này về tình dục? Có ai bị tổn thưởng vì nó chăng?” Một suy nghĩ thấu suốt nhẹ nhàng hơn sẽ nói lại câu trên rằng: “Ai chưa từng bị tổn thương vì nó?” Lịch sử đầy những trái tim tan vỡ, gia đình tan vỡ, cuộc đời tan vỡ, cay đắng cả đời, giết người, và tự vẫn vì tình dục.

Phải thừa nhận rằng, Giáo hội của chúng ta, chưa bao giờ có được một thần học và linh đạo đủ thiết thực và lành mạnh cho tình dục, và tất cả mọi người khác, dù là thế tục hay tôn giáo cũng vậy. Tuy nhiên, những gì Giáo hội đem lại, là luân lý và đạo đức của mình, cho nền văn hóa chúng ta một lời cảnh báo quan trọng và đúng đắn: Đừng ngây thơ về sinh lực tình dục. Nó không phải lúc nào cũng thân thiện và nhẹ nhàng như bạn nghĩ đâu!

Bỏ ý riêng của mình, lưu ý đến cộng đoàn

Vài năm về trước, một giám mục đã cáu với tôi về một bài tôi viết. Lúc đó chúng tôi đang ở trong văn phòng của ngài, và giọng ngài có vẻ hơi gay gắt: Ngài hỏi, ‘Làm sao mà cha có thể viết những thứ như thế?’ ‘Bởi nó thật.’ Tôi trả lời thẳng. Ngài cũng biết là chuyện đó thật, nhưng bây giờ, tôi nhận ra rằng, điều ngài bận tâm hơn là về nghị trình của mình: ‘Đúng, tôi biết là nó thật, nhưng như thế không có nghĩa là nên nói nó ra theo kiểu đó, nhất là trên các tờ báo Công giáo như tờ của chúng ta. Đây không phải là một lớp ở đại học hay tờ New York Times. Đây là tờ báo của giáo phận và bối cảnh này không hợp lắm để nói những chuyện như thế. Nó sẽ khiến nhiều người đọc hoang mang.’

Tôi không phải là không có tính kiêu ngạo và phản ứng bộc phát của tôi là biện minh. Ngay lập tức, trong tôi có tiếng nói rằng: ‘Tôi chỉ nói những gì có thật. Sự thật cần được nói ra. Tại sao lại sợ nghe sự thật? Chúng ta làm gì tốt cho mọi người khi che chắn họ khỏi những chuyện họ không nên nghe?’

Nhưng tôi mừng là tôi đã nuốt được sự kiêu ngạo, uốn lưỡi, và lầm bầm một lời xin lỗi không mấy thật tâm, rồi bước ra khỏi văn phòng giám mục mà không nói ra những gì tôi đã nghĩ, bởi khi đã nén lại được những cảm giác ban đầu và sau khi bình tĩnh suy nghĩ và cầu nguyện về cuộc đối thoại này, tôi nhận ra là ngài đã đúng. Mình có sự thật là một chuyện, nói ra sự thật đó ở một nơi và theo một cách hữu ích lại là chuyện khác. Không phải vô cớ mà Chúa Giêsu muốn chúng ta nói lên các chân lý của mình trong các dụ ngôn, vì theo T.S. Eliot từng nói, sự thật không thể lúc nào cũng được đón lấy toàn bộ, và thường bối cảnh và giọng điệu sẽ quyết định liệu nó có đem lại lợi ích khi được nói ra vào một thời điểm và với một người nhất định. Đơn giản, không phải lúc nào nó cũng đem lại ích lợi, không phải lúc nào nó cũng nhân từ hay trưởng thành, khi chúng ta ném thẳng sự thật vào mặt người khác.

Thánh Phaolô đã nói nhiều về điều này trong thư gởi tín hữu Roma: ‘Chúng ta, những người mạnh, phải cân nhắc về những người nhạy cảm với những chuyện như thế này. Chúng ta không được làm để thỏa lòng mình mà thôi. (Rm 15, 1)’ Như thể thánh Phaolô đang bảo một người ưu tú hãy hạ bớt một vài quan điểm và hành động minh tuệ của mình vì những người ít minh tuệ hơn. Lời khiển trách này của thánh Phaolô muốn nói đến một phân biệt căn bản có tầm quan trọng thiết yếu trong việc dạy dỗ, rao giảng và mục vụ của chúng ta, cụ thể là phân biệt giữa Giáo lý và Thần học, phân biệt giữa những gì chống đỡ và nuôi dưỡng đức tin với những gì mở rộng đức tin của người đó sao cho mang tính đồng cảm toàn thể hơn.

Giáo lý nghĩa là dạy các giáo lý căn bản, dạy cầu nguyện, dạy tín lý, làm rõ kinh thánh và các giáo huấn của xã hội, và cho mọi người một bộ khung chính thống vững vàng để hiểu đức tin Kitô của mình. Mặt khác, với thần học, những người nghiên cứu thần học thì đã học giáo lý rồi, đã biết về các tín lý và cầu nguyện, cũng như có một nền tảng chính thống vững vàng rồi. Chức năng của thần học, là mở rộng cho người học, hay cho họ các công cụ mang tính biểu tượng để hiểu đức tin của mình sao cho không còn mù mờ, lẩn khuất khiến họ e ngại dò tìm vì sợ lay động đức tin. Giáo lý và Thần học có các chức năng khác nhau, và phải được tôn trọng như nhau, bởi cả hai đều cần thiết. Cây non vừa trồng cần được bảo vệ và nuôi dưỡng nhẹ nhàng, còn cây lớn rồi thì cần được sống và vươn lên giữa những khó khăn.

Do đó, điều mà giám mục muốn nơi tôi, là một sự cẩn thận hơn với các độc giả của mình, phân biệt lớp học thần học và tạp chí hàn lâm với các bối cảnh giáo lý và nhật báo giáo hội.

Đây còn là một đòi buộc đặc biệt về nhân văn và khoan dung, ví dụ như trường hợp của linh mục khoa học triết gia Pierre Teilhard de Chardin: Khi đã lớn tuổi, đã về hưu và sức khỏe đã suy giảm, linh mục vẫn thấy mình bị Vatican ‘bịt miệng’ khi cấm không được xuất bản các suy tư thần học của mình. Nhưng, thay vì đáp lại bằng giận dữ và kiêu ngạo, cha lại phản ứng bằng khoan dung và nhân văn. Viết cho giám tỉnh dòng Tên, cha thừa nhận: ‘Tôi hoàn toàn nhìn nhận rằng, trong tình trạng hiện nay, Roma có lý do để quyết định như thế, khái niệm của tôi về Kitô giáo có thể hấp tấp hay bất toàn, nên việc phổ biến rộng hơn những suy tư của tôi có lẽ là không phù hợp. … Lá thư này là để làm anh an lòng rằng, dù cho có nhiều chuyện mà người ta cho là rõ ràng tôi bất tuân, nhưng lòng tôi kiên quyết là một người con vâng phục. Rõ ràng, tôi không thể bỏ đi cuộc truy tìm của mình, cuộc truy tìm đã đẩy tôi vào trong một thảm họa nội tâm và trong sự bất tín với ơn gọi mà tôi trân quý nhất, nhưng tôi đã thôi không phổ biến các tư tưởng của tôi nữa, và tôi giữ mình không tìm thêm thấu suốt riêng sâu hơn nữa.’

Nhận ra tầm quan trọng của sự nhạy cảm đối với cách nói và thời điểm nơi chốn nói ra, chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta rằng: ‘Hãy nói bằng dụ ngôn.’

Thiên Chúa ẩn mình và bóng tối của đức tin

Khi tôi mới bắt đầu dạy thần học, tôi nghĩ mình có thể viết được một quyển sách về sự giấu mình của Thiên Chúa. Tại sao Thiên Chúa vẫn giấu kín và vô hình? Tại sao Thiên Chúa không hiện thân rõ ràng để không một ai có thể phản bác?

Một trong những tiêu chuẩn để trả lời cho câu hỏi này là: Nếu Thiên Chúa biểu lộ mình rõ ràng thì không cần đức tin nữa. Nhưng như thế lại dấy lên câu hỏi: Ai cần đức tin? Không phải sẽ tốt hơn nếu như thấy được Thiên Chúa rõ ràng sao? Tất nhiên còn có những câu trả lời khác cho câu hỏi này, nhưng tôi không biết hoặc không nắm bắt cho đủ sâu để thấy những câu trả lời đó có nghĩa. Ví dụ như, một câu trả lời cho rằng Thiên Chúa là Thần Khí thuần tính và thần khí đó không thể lĩnh hội được qua ý thức con người bình thường. Nhưng dường như nói thế này là quá mơ hồ. Và tôi bắt đầu tìm kiếm một câu trả lời khác hay một diễn giải tốt hơn cho câu hỏi này. Và cuối đường tìm kiếm, tôi thấy cả một túi vàng, nó đã dẫn tôi đến với thần nghiệm, cụ thể là Gioan Thánh Giá, và các ngòi bút thiêng liêng như Carlo Carretto.

Câu trả lời của họ là gì? Họ không có câu trả lời nào đơn giản cả. Những gì họ đem lại cho tôi là những quan điểm khác nhau quy chiếu về sự khôn tả của Thiên Chúa, mầu nhiệm đức tin và mầu nhiệm về nhận thức con người nói chung. Về căn bản, cách chúng ta nhận thức Thiên Chúa là rất nghịch lý, nghĩa là, càng biết sâu hơn về sự gì đó, thì con người hay khách thể đó bắt đầu bớt rõ ràng hơn về mặt khái niệm. Một trong những nhà thần nghiệm lừng danh nhất lịch sử cho rằng khi chúng ta đi vào sự thân mật sâu sắc hơn, thì chúng ta đồng thời cũng đi vào một ‘đám mây vô thức’ cụ thể là đi vào một nhận thức quá thâm sâu đến nỗi không thể khái niệm hóa được. Điều này nghĩa là gì? Ba ví dụ tương tự dưới đây sẽ giúp chúng ta hiểu.

Thứ nhất: Hình tượng một em bé trong bụng mẹ. Trong dạ mẹ, đứa bé được người mẹ bao bọc hoàn toàn, nhưng nghịch lý là đứa trẻ không thể thấy được mẹ mình và không có khái niệm gì về mẹ. Sự bất lực của đứa trẻ không thể thấy được hình ảnh mẹ là bởi người mẹ hiện diện khắp mọi nơi, chứ không phải vì không diện hiện. Người mẹ quá hiện diện, quá bao bọc, nên không thể nhìn thấy hay khái niệm được. Đứa trẻ phải sinh ra rồi mới thấy được mẹ mình. Chúng ta với Thiên Chúa cũng vậy. Kinh Thánh bảo chúng ta rằng chúng ta sống, và vận động, và thở, và hiện hữu trong Thiên Chúa. Chúng ta đang trong dạ của Chúa, được Ngài bao bọc, và như một đứa trẻ, chúng ta phải được sinh ra (cái chết cùng là tái sinh) để thấy Thiên Chúa mặt đối mặt. Đó là sự tăm tối trong đức tin.

Thứ hai: Ánh sáng cực độ là bóng tối. Nếu bạn nhìn thẳng vào mặt trời với đôi mắt trần, thì bạn thấy gì? Chẳng thấy gì cả? Một ánh sáng quá mức khiến bạn bị mù cũng như nhìn vào bóng tối câm vậy. Và đó là lý do vì sao chúng ta gặp khó khăn trong việc nhìn Thiên Chúa, và là lý do vì sao càng đi vào thân mật với Thiên Chúa, càng đi vào sâu trong Ánh Sáng, thì Thiên Chúa dường như càng biến mất và khó hình dung hơn. Chúng ta đang bị mù, không phải vì Thiên Chúa không hiện diện, mà vì Ngài là ánh sáng quá mức với đôi mắt trần của chúng ta. Bóng tối của đức tin là bóng tối của ánh sáng cực độ.

Và thứ ba: Sự mật thiết sâu sắc là đả phá những lối mòn niềm tin. Càng thân mật với ai đó, thì những hình dung của chúng ta về người đó bắt đầu tan rã đi. Hãy thử tưởng tượng: Một người bạn nói với bạn rằng: ‘Tôi hoàn toàn hiểu anh. Tôi biết gia đình anh, nền tảng của anh, đạo đức của anh, tính khí và tâm tính của anh, các điểm mạnh điểm yếu, và thói quen của anh. Tôi hiểu anh.’ Bạn có cảm thấy mình được người khác hiểu hay không? Tôi ngờ là không. Bây giờ hình dung một bối cảnh khác. Một người bạn nói với bạn rằng: ‘Anh thật bí ẩn với tôi! Tôi đã biết anh trong nhiều năm, nhưng anh thật thâm sâu mà tôi không dò thấu. Càng quen biết anh, tôi càng thấy anh là một điều bí ẩn.’ Trong sự không hiểu này, khi mình là một điều bí ẩn hoàn toàn đối với nhận thức của người bạn này, nghịch lý thay, bạn lại thấy mình được người đó hiểu rất nhiều. Thánh Gioan Thánh Giá cho rằng chúng ta càng đi sâu vào sự mật thiết, thì sẽ bắt đầu hiểu bằng cách không hiểu hơn là hiểu. Mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa cũng như thế. Ban đầu, khi sự mật thiết của chúng ta không quá sâu sắc, thì chúng ta cảm thấy mình hiểu mọi sự và chúng ta có những cảm nhận và ý niệm chắc chắn về Thiên Chúa. Nhưng chúng ta càng đi sâu, thì chúng ta sẽ bắt đầu thấy cảm nhận và ý niệm của mình sai lầm và trống rỗng, vì sự mật thiết của chúng ta đang mở chúng ta ra với mầu nhiệm trọn vẹn hơn của Thiên Chúa. Nghịch lý thay, điều này có vẻ như Thiên Chúa biến mất và không tồn tại.

Theo định nghĩa, đức tin hàm chứa một sự tối tăm nghịch lý, càng đến gần Thiên Chúa trong đời, thì Thiên Chúa dường như càng biến mất, bởi ánh sáng cực độ có thể giống như bóng tối vậy.

Anh chị em Hồi giáo chúng ta

Đây không phải thời gian tốt đẹp đối với người Hồi giáo ở thế giới phương Tây. Khi bạo lực do các nhóm Hồi giáo cực đoan như ISIS, Al-Qaeda, và Boko Haram đang ngày càng bành trướng, rất nhiều người trở nên hoang tưởng và thậm chí là thù địch ra mặt với Hồi giáo, xem tất cả người Hồi giáo là mối đe dọa. Quan điểm chung này ngày càng quy các bạo lực này cho Hồi giáo, xem như trong Hồi giáo có một sự gì đó cố hữu gây ra dạng bạo lực hiện nay. Cách nghĩ này cần phải xem lại, vì sự thật và vì những gì tốt đẹp nhất trong các Kitô hữu chúng ta.

Trước hết, lập luận trên không đúng sự thật. Họa hình tất cả mọi người Hồi giáo như nhau, cũng giống như họa hình tất cả các Kitô hữu như nhau. Vậy là giống như khi chúng ta nhìn vào một người trụy lạc tự nhận mình là Kitô hữu, và nói rằng: “Đó là Kitô hữu! Họ đều như thế đó!” Thứ hai, thế là không công bằng. Các nhóm quân sự Hồi giáo nói về Hồi giáo, thì cũng như Hitler nói về Kitô giáo vậy. Cuối cùng, một lập luận như vậy làm cho lòng cảm thông của chúng ta bị lầm lạc. Nạn nhân đầu tiên của chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo, chính là những người Hồi giáo, nghĩa là những người Hồi giáo kính sợ Thiên Chúa đích thực, họ là nạn nhân đầu tiên của bạo lực này.

Khi nhìn vào lịch sử của bất kỳ nhóm khủng bố Hồi giáo nào như ISIS hay Al-Qaeda, chúng ta thấy ngay, lúc đầu chúng được thiết lập bằng cách chiếm lãnh thổ và giết hại hàng ngàn người dân của mình, những người Hồi giáo lương thiện biết kính sợ Thiên Chúa. Và các tổ chức khủng bố này vẫn đang tiếp tục giết hại họ. ISIS, Al-Qaeda và Boko Haram đã giết người Hồi giáo nhiều hơn là Kitô hữu hay những người thuộc các tôn giáo khác, gấp hàng trăm lần. Trong khi mục tiêu tối hậu của chúng có lẽ là Phương Tây Kitô giáo bị thế tục hóa, nhưng chiến tranh tức thời của chúng là chống lại Hồi giáo chân chính.

Hơn nữa, nạn nhân của những kẻ khủng bố Hồi giáo không chỉ là hàng ngàn người Hồi giáo ôn hòa, những nạn nhân trực tiếp của bạo lực và giết chóc, nhưng còn là những người Hồi giáo đang bị đánh đồng với chúng, và bị phán xét tiêu cực cả về tôn giáo và sự chân thành của họ. Bât kỳ lúc nào những kẻ khủng bố Hồi giáo dấy lên một hành động bạo lực, các nạn nhân của chúng không chỉ là những người chết, bị thương, hay mất người thân, nhưng còn là những người Hồi giáo đích thực, đặc biệt là những người sống trong thế giới phương Tây, vì bây giờ họ bị nhìn với con mắt ngờ vực, e ngại, và thù ghét.

Nhưng không thể đổ tội cho Hồi giáo được. Không có điều gì cố hữu trong kinh Koran hay trong Hồi giáo ủng hộ về mặt tinh thần hay lòng đạo cho dạng bạo lực này cả. Chúng ta sẽ kêu to “bất công” nếu như có ai đó nói rằng những chuyện xảy ra trong thời Tòa dị giáo là bắt nguồn từ Tin mừng. Chúng ta đang nợ Hồi giáo một nhận định tương tự. Houston Smith trứ danh, một trong những sinh viên vĩ đại nhất của World Religions, cho rằng chúng ta phải luôn đánh giá một tôn giáo bằng những biểu hiện tốt nhất, bằng các vị thánh và lịch sử tốt đẹp, hơn là bằng những kẻ tâm thần điên loạn trong tôn giáo đó. Tôi hy vọng người khác cũng có nhận định tử tế như thế về chúng ta, các Kitô hữu. Hitler phần nào là một sản phẩm của phương Tây Kitô giáo, và mẹ Têrêxa cũng vậy. Houston Smith nhắm vào nhân vật sau, chứ không phải nhân vật trước, và đây là một căn cứ đúng đắn hơn khi phán xét Kitô giáo. Chúng ta nợ các anh chị em Hồi giáo một sự tử tế như vậy.

Và đây không chỉ là một hành vi tử tế, mà đúng hơn là sự nhìn nhận sự thật. Từ Hồi giáo, có gốc từ là “hòa bình” và nghĩa rộng là “quy phục Thiên Chúa,” cấu thành ý nghĩa căn bản của Hồi giáo. Và với hơn 90% người Hồi giáo trên toàn thế giới, đây mới là ý nghĩa chính xác của Hồi giáo, cụ thể là những con người của hòa bình, những người tuân phục Thiên Chúa và cố gắng sống một cuộc sống đặt trọng tâm nơi đức tin, cầu nguyện, trách nhiệm và sự thân thiện. Bất kỳ diễn giải nào khác của các nhóm cực đoan về Hồi giáo muốn gán cho hành động khủng bố bạo lực một tính cách thần thiêng, đều là giả mạo và sai lầm. Những kẻ cực đoan không lên tiếng vì Thiên Chúa, vì tiên tri Mohammed, Hồi giáo, hay sự tuân phục trong đức tin, nhưng chúng chỉ lên tiếng cho một hệ tư tưởng phục vụ cho bản thân mình. Và những người Hồi giáo đích thực lại trở thành nạn nhân cho hệ tư tưởng đó.

Các vụ tấn công khủng bố như ở Paris và Mali mới đây, là lời kêu gọi chúng ta, phải đồng cảm hơn nữa với những người Hồi giáo đích thực. Đã đến lúc thiết lập một tình đoàn kết hơn nữa với người Hồi giáo, bất chấp chủ nghĩa khủng bố cực đoan. Chúng ta đều là chi thể của một gia đình. Chúng ta thờ phượng chung một Thiên Chúa, chịu đựng cùng các lo lắng, và cùng là con người khả tử như nhau, cùng chia sẻ một thiên đàng. Hơn bao giờ hết, người Hồi giáo cần chúng ta thông hiểu, thông cảm, ủng hộ và thân thiện với họ trong đức tin.

Không lâu trước khi bị thiệt mạng, đan sĩ Christian de Cherge, đan viện phụ dòng Xitô, đã tử đạo dưới bàn tay của những kẻ khủng bố Hồi giáo ở Algeria năm 1996, đã viết một lá thư gởi cho gia đình mình ở Pháp, ý thức rõ rằng nhiều khả năng những kẻ khủng bố Hồi giáo sẽ giết mình, cha đã chia sẻ với gia đình rằng, nếu chuyện này xảy ra, thì họ nên biết là cha đã tha thứ cho những người giết mình, và cha đã thấy trước là cha, và những kẻ sát nhân này, cùng ở trên thiên đàng, vui vẻ trước nhan Chúa, trước ánh mắt Chúa yêu thương dành cho con cái Ngài, dù là Hồi giáo hay Kitô giáo.

Thiếu tự tin để hướng đến sự cao cả

Chúng ta tất cả đều có những hình dung của riêng mình về sự cao thượng cũng như nhân đức và thánh thiện. Ví dụ chúng ta hình dung thánh Phanxicô thành Axixi hôn một người cùi, hay mẹ Têrêxa ôm một người ăn xin hấp hối, hay thánh Gioan Phaolô II đứng trước đám đông hàng triệu người và nói cho họ biết ngài yêu họ dường nào, hay chúng ta hình dung thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đang nói với một chị trong dòng hay xử ác với thánh nữ, là Têrêsa vẫn yêu mến chị lắm, hay còn hơn nữa, chúng ta hình dung thánh Vêronica, trên đàng thánh giá, dù đang sợ hãi trước sự tàn bạo vẫn lao đến và lau mặt Chúa Giêsu.

Có một vài điểm chung trong những hình dung về các nhân vật ngoại hạng này, nhưng có một mẫu số chung khác nữa nói về sự ngoại hạng theo một cách rất khác, cụ thể là mỗi một nhân vật này có một nhận thức mạnh mẽ, một tự tin mạnh mẽ phi thường.

Để vượt qua những gì ngăn cách mình và người cùi, không chỉ cần một tâm hồn cao cả nhưng cần cả một sự tự tin mạnh mẽ. Để giữa đường phố, ôm một người ăn xin hấp hối, không chỉ cần một trái tim cảm thông, mà còn cần một ý thức mạnh mẽ. Để đứng trước đám đông hàng triệu người và nói lên bạn yêu họ biết bao, không chỉ cần một tình thương, mà còn cần có sự tự tin hiếm có. Để đáp trả sự ác độc chủ tâm bằng tình cảm nồng hậu, không những cần một linh hồn thánh thiện, mà còn cần từng được cảm nghiệm một tình yêu thâm sâu trong đời. Và để vượt qua mối nguy hiểm và kích động của quân dữ, để lao vào đám đông say mùi máu, để yêu thương lau khô gương mặt người mà chúng thù ghét, thì không những cần can đảm, nhưng còn cần từng được cảm nghiệm một tình yêu mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Để yêu thương, chúng ta cần được yêu thương trước. Chúng ta không thể trao đi những gì mình không có.

Những con người vĩ đại như thánh Phanxicô, mẹ Têrêxa, thánh Gioan Phaolô II, và Têrêxa Hài Đồng Giêsu là những con người có lòng tự tin cao độ. Họ không chút nghi ngờ việc Thiên Chúa đã có ơn đặc biệt cho mình, và họ có sự tin tưởng để thể hiện công khai các ơn này. Sự thật đáng buồn là nhiều người trong chúng ta, có lẽ là hầu hết chúng ta, đơn thuần là thiếu tự thức và tự tin để làm những gì các vị đã làm. Có lẽ lòng chúng ta cũng đầy yêu thương như họ, lòng cảm thông của chúng ta cũng sâu sắc như họ, nhưng vì đủ mọi lý do, có cả việc chúng ta đã từng bị tổn thương và từ đó nảy sinh xấu hổ dè dặt, nên chúng ta không cách nào có thể làm được như các người khổng lồ này, không thể đứng lên trước thế giới và nói: “Tôi yêu bạn, và điều quan trọng là bạn nghe được chính tôi nói lên điều này!” Lưỡi của chắc chắn sẽ quặt lại khi có tiếng nói nội tâm cất lên: “Ngươi nghĩ ngươi là ai? Ngươi nghĩ ngươi là ai mà thế giới cần nghe lời yêu thương của ngươi?”

Sự thật là, vấn đề của chúng ta thường không phải là về nhân đức, nhưng là về sự tự tin. Hầu như chúng ta không xấu, chỉ là chúng ta từng bị tổn thương. William Wordsworth từng nói rằng chúng ta thường phán xét một người nào đó là lạnh lẽo khi người đó thực ra là bị tổn thương. Thật đúng.

Nhưng may là Thiên Chúa không phán xét bằng vẻ bề ngoài. Thiên Chúa đọc tâm hồn chúng ta, và ngài phân biệt giữa ác tâm và thương tích, giữa lạnh lùng và thiếu tự tin. Thiên Chúa biết rằng không một ai có thể yêu thương trừ phi người đó từng được yêu thương trước, và rất ít người, hầu như là không một ai có thể thể hiện được trái tim của một người khổng lồ, lòng dũng cảm của một anh hùng, và tình yêu của một vị thánh, nếu như người đó chưa từng được cảm nhận sâu sắc và xúc động một tấm lòng lớn, sự dũng cảm và tình yêu trong đời mình.

Vậy thì biết được điều này cho chúng ta những gì? Một nhận thức bản thân sâu sắc hơn luôn luôn có ích cho chúng ta, và cũng là an ủi khi biết rằng sự ngần ngại của chúng ta khi muốn bước ra và làm những việc như mẹ Têrêxa đã làm, là xuất phát từ việc chúng ta thiếu đi một cái tôi lành mạnh, hơn là do chúng ta ích kỷ và qui kỷ. Nhưng tất nhiên, sau sự an ủi là thách thức chúng ta phải ném đi những cái nạng mà chúng ta ta dùng để đương đầu với các thương tích và tự nhận thức khập khiễng của mình, để từ đó lòng dũng cảm và tình yêu của chúng ta được biểu lộ công khai hơn. Lưỡi chúng ta sẽ không bị quặt khi muốn nói to lên về tình yêu và bận tâm của mình, chúng ta chỉ có thể biết được hay không biết được khi chúng ta thực sự làm việc đó. Nhưng, để làm việc đó, chúng ta trước hết phải vượt qua sự xấu hổ gây tê liệt, để đến với sự từ bỏ mình mà đến tận lúc này chúng ta vẫn chưa làm chủ được.

Và đây cũng là bài học để chúng ta hiểu được cái tôi trong linh đạo. Chúng ta luôn xem cái tôi là xấu, và đánh đồng nó với tính ích kỷ, nhưng như thế là tối giản vì những người khổng lồ trong đường thiêng liêng này thường có cái tôi rất lớn, nhưng họ không phải là người ích kỷ. Mỉa mai thay, quá nhiều người chúng ta đang bị khập khiễng bởi những cái tôi quá nhỏ bé, và đó là lý do vì sao chúng ta không bao giờ làm được những việc làm cao cả như những con người khổng lồ này. Ích kỷ là xấu, nhưng một cái tôi lành mạnh thì không.

Đức tin, hoài nghi, đêm tối và trưởng thành

Trong một quyển sách nói về cầu nguyện và chiêm niệm, Thomas Keating chia sẻ với chúng ta một chuyện mà cha nhiều lần nhắc đến khi linh hướng. Người ta đến với cha, chia sẻ với cha, trong cuộc đời mình, họ đã từng có cảm nhận ấm áp và chắc chắn về Thiên Chúa , nhưng họ than với cha, bây giờ các cảm nhận ấm áp và xác quyết đó đã biến mất, làm cho họ phải đấu tranh với niềm tin, đấu tranh để cầu nguyện được như xưa. Họ cảm nhận một cảm thức mất mát sâu sắc và lúc nào vấn đề của họ cũng là: “Có chuyện gì với con thế này? Câu trả lời của cha Keating là: ‘Chúa có chuyện với con đó.’”

Về căn bản, câu trả lời của Cha là: Dù bạn đau đớn, vẫn có một sự gì đó rất đúng với bạn. Bạn đã qua thời tân tòng, đã qua các giai đoạn học đạo ban đầu cần có, và bây giờ bạn đang đi vào một đức tin, không phải bớt đi, nhưng là sâu sắc hơn. Hơn nữa, sự sụt giảm lửa mến đó đưa bạn đến một sự trưởng thành chính chắn sâu đậm hơn. Vậy nên, những gì bạn hỏi đúng ra là thế này: “Tôi từng khá chắc chắn về lòng đạo của mình, và cũng chắc chắn là nó có phần nào kiêu căng và phán xét. Tôi cảm thấy tôi hiểu được Thiên Chúa và đạo, và tôi nhìn vào thế giới với đôi chút khinh thị. Rồi đức tin tôi đi xuống, và cả những tin chắc của tôi nữa, giờ đây tôi thấy mình bớt chắc chắn về bản thân đi nhiều, biết khiêm nhượng cảm thông và bớt phán xét đi nhiều. Chuyện gì thế này?”

Hỏi như thế, thì cũng là câu trả lời. Rõ ràng người đó đang tiến tới, chứ không phải thụt lùi.

Mất mát cũng là một bước. Christina Crawford đã viết những dòng này, mô tả hành trình đau đớn của cô qua bóng tối để đến với sự chính chắn sâu đậm hơn. “Để được cứu, trước hết, chúng ta phải nhận ra rằng, chúng ta đã lầm đường lạc lối, và thường thì cuộc sống chúng ta bị hụt hẫng để chúng ta nhận ra được điều này.” Đôi khi, không có thuốc nào chữa chứng kiêu căng và tự phụ cho bằng một sự mất mát đầy đau đớn những xác quyết của mình về các ý niệm bản thân về Thiên Chúa, đức tin, và lòng đạo.

Thánh Gioan Thánh Giá đã nhận định rằng một đức tin lòng đạo sâu sắc bắt đầu khi chúng ta nỗ lực để hiểu, nhưng là bằng không hiểu hơn là hiểu. Nhưng đây có thể là một cảm nghiệm rất bối rối và đau đớn, khiến nảy sinh cảm giác: Chuyện gì thế này?

Một động năng đầy hiếu kỳ và nghịch lý nằm ở đàng sau câu tự vấn này. Chúng ta có khuynh hướng nhầm lẫn đức tin với năng lực của chúng ta trong việc vẽ lên một khái niệm về Thiên Chúa và hình dung hiện hữu của Ngài. Hơn nữa, chúng ta nghĩ đức tin của mình mạnh nhất vào những lúc chúng ta có những cảm giác xúc động trước các tưởng tượng của chúng ta về Thiên Chúa. Đức tin của chúng ta cảm thấy mạnh mẽ nhất khi được nâng đỡ và thổi bùng nhờ những cảm giác sốt mến đó.

Các ngòi bút thiêng liêng sẽ cho chúng ta biết rằng giai đoạn thiết tha này là một giai đoạn tốt trong đức tin, nhưng là một giai đoạn ban đầu, một cảm nghiệm chung khi chúng ta còn là những người mới theo đạo. Cảm nghiệm thế này nâng đỡ đức tin. Trong các giai đoạn đầu của cuộc lữ hành lòng đạo, thường có những hình dung và cảm giác mạnh mẽ đầy xúc động về Thiên Chúa. Ở giai đoạn này, mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa cũng tương tự như mối quan hệ của cặp vợ chồng trong tuần trăng mật.

Trong tuần trăng mật, bạn có những cảm xúc mạnh mẽ và một sự chắc chắn nhất định về tình yêu của mình, nhưng rồi bạn sẽ về nhà. Tuần trăng mật là một giai đoạn ban đầu, một món quà giá trị, nhưng là sự sẽ tan biến đi sau khi làm đủ phần của mình. Một tuần trăng mật không phải là cả cuộc hôn nhân, dù người ta thường nhầm lẫn như thế. Với đức tin cũng vậy, các hình dung tưởng tượng mạnh mẽ về Thiên Chúa không phải là đức tin, dù người ta thường nhầm lẫn như thế.

Các hình ảnh tưởng tượng và cảm xúc mạnh mẽ về Thiên Chúa, đến cuối cùng, chỉ là những hình dung. Tuyệt vời, nhưng hình tượng thì vẫn là hình tượng. Một hình ảnh không phải là thực tế. Một hình tượng có thể đẹp và hữu ích giúp chúng ta hướng theo đường đúng đắn, nhưng khi nhầm lẫn hình tượng này với thực tế, thì nó trở thành một ngẫu tượng.

Vì lý do này, mà các ngòi bút thiêng liêng bảo chúng ta rằng, đến những thời điểm nhất định trong hành trình thiêng liêng của chúng ta, Thiên Chúa “lấy đi” sự tin chắc, tước mất của chúng ta những nồng ấm, những cảm giác trong đức tin. Thiên Chúa làm thế chính là để chúng ta không thể biến các hình dung thành ngẫu tượng, để chúng ta không thể biến cảm nghiệm về đức tin thành mục đích cho chính đức tin, trong khi đức tin chính là một cuộc gặp gỡ hiện thực và nhân thể Thiên Chúa.

Các nhà thần nghiệm như Gioan Thánh Giá đã gọi cảm nghiệm tưởng như mất đức tin này là “đêm tối của linh hồn.” Điều này mô tả cảm nghiệm khi chúng ta từng cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa một cách ấm áp và chắc chắn, nhưng bây giờ chúng ta cảm thấy như Thiên Chúa không hiện hữu và chúng ta bị rơi vào hoài nghi. Đây là những gì Chúa Giêsu đã cảm nghiệm trên thập giá, và cũng là những gì Mẹ Têrêxa viết trong nhật ký của mình.

Và dù đêm tối tâm hồn đó có gây nhiều hoang mang, nhưng nó cũng có thể làm cho chúng ta trưởng thành. Nó có thể giúp chúng ta ra khỏi kiêu căng, phán xét, ra khỏi tình trạng tân tòng, để trở nên những con người khiêm nhượng, cảm thông, sống trong một đám mây vô định, hiểu bằng cách không hiểu hơn là hiểu, lạc lối nhưng được ơn ích trong một bóng đêm mà chúng ta không thể vận dụng hay điều khiển, để đến cuối cùng chúng ta được đẩy mạnh vào đức tin, đức cậy và đức mến đích thực.

Sự hiệp thông của các thánh

Hầu hết cả thế giới đều tin rằng chết không phải là hết, tin rằng có một dạng bất diệt. Hầu hết mọi người tin rằng những người đã chết vẫn còn tồn tại ở một tình trạng nào đó, theo một phương thức nào đó, ở một nơi nào đó, là thiên đàng hay hỏa ngục, dù cho chúng ta không biết được. Trong một vài khái niệm, sự bất tử được xem là một tình trạng nơi con người đó vẫn ý thức và lý luận, trong khi khái niệm khác, thì xem sự hiện hữu sau cái chết là có thực nhưng phi nhân thể, như một giọt nước rơi vào đại dương.

Còn chúng ta, những Kitô hữu, thì chúng ta có niềm tin. Chúng ta tin rằng người chết vẫn còn sống, vẫn là họ, và rất quan trọng là vẫn trong một mối liên hệ sống động, có ý thức và đầy yêu thương với chúng ta và với nhau. Đây là khái niệm chung của chúng ta về thiên đàng, dù cho có đơn giản hóa cách trình bày theo từng thời điểm, nhưng khái niệm này thật đúng. Đây chính xác là những gì mà đức tin và tín lý Kitô giáo mời gọi chúng ta. Sau cái chết, chúng ta sống trong mối hiệp thông có ý thức, tự ý thức, với những người đã chết trước chúng ta, hiệp thông với những người còn ở trần thế, và hiệp thông với sự thần thiêng. Đây chính là giáo lý Kitô giáo về sự Hiệp thông của các thánh.

Vậy chúng ta phải hiểu thế nào đây? Và làm sao để chúng ta kết nối với những người thân yêu sau khi họ đã chết? Hai hình ảnh Kinh thánh sau đây có thể cho chúng ta một điểm mở để hiểu được điều này. Cả hai đều ở trong Tin mừng.

Tin nói rằng, ngay khi Chúa Giêsu chết, thì màn đền thờ xé ra làm hai, và đất rung chuyển, các tảng đá nứt ra. Các mộ phần mở ra và xác của nhiều vị thánh trỗi dậy (Mt 27, 50-52). Tin mừng còn kể cho chúng ta biết vào rạng sáng ngày Phục Sinh, có vài phụ nữ đến mộ Chúa để xức dầu thơm cho xác Ngài, nhưng họ chỉ thấy ngôi mộ trống và hai thiên thần: “Tại sao các bà tìm người sống ở nơi mồ mả? Ngài không có ở đây. Ngài đang sống, và các bà có thể thấy Ngài ở Galilê.” (Lc 24, 5) Những hình ảnh này có thông điệp gì?

Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng chúng ta được ban sự sống bất diệt qua cái chết của Chúa Giêsu. Và Tin mừng trình bày sự thật này qua hình tượng trên. Cái chết của Chúa Giêsu “mở toang cửa mồ” và làm cho các ngôi mộ nên trống không. Vì lý do đó, các Kitô hữu chưa bao giờ có những việc sùng kính lớn với nghĩa trang. Là Kitô hữu, chúng ta không cử hành nhiều các việc thiêng liêng quanh các phần mộ? Tại sao? Bởi chúng ta tin rằng tất cả những phần mộ này đều trống không. Người thân yêu của chúng ta không có ở đó và chẳng thể tìm thấy ở đó. Họ đang ở cùng với Chúa Giêsu, ở “Galilê”.

Vậy “Galilê” trong hình ảnh kinh thánh này là gì? Trong Tin mừng, Galilê không chỉ là một địa danh trên bản đồ, mà là một nơi chốn bên trong Chúa Thánh Thần, Thần Khí của Thiên Chúa và của chúng ta. Trong Tin mừng, Galilê là một nơi mà nhiều việc tốt đẹp diễn ra. Đây là nơi mà các môn đệ lần đầu gặp Chúa Giêsu, nơi họ bắt đầu yêu mến Ngài, nơi họ dấn thân theo Ngài, và nơi xảy ra nhiều phép lạ. Galilê là nơi Chúa Giêsu mời chúng ta đi trên mặt nước. Galilê là nơi mà linh hồn các môn đệ được mở mang và được nuôi dưỡng.

Và đây cũng là nơi cho mỗi một người thân yêu đã khuất của chúng ta. Trong đời sống của mỗi người, có một Galilê, là nơi mà nhân thể và linh hồn họ sống động nhất, nơi đời sống của họ chiếu rạng sinh lực mở lòng với cõi thiêng liêng. Khi nhìn vào cuộc đời của một người thân yêu đã chết, chúng ta cần tự hỏi rằng: Đâu là nơi mà cô ấy sống động nhất? Phẩm chất nào mà cô ấy, gần như độc nhất vô nhị, đã thể hiện và trao đi? Ở điểm nào mà cô ấy nâng lòng tôi lên và làm cho tôi muốn trở nên một con người tốt đẹp hơn?

Hãy xác định những điều này, và bạn sẽ sẽ xác định được Galilê của người yêu dấu của mình, và bạn cũng sẽ xác định được Galilê của Tin mừng, cụ thể là một nơi mà Chúa Giêsu mời gọi bạn đến gặp gỡ Ngài. Và đây cũng là nơi bạn sẽ gặp những người thân yêu của mình trong cộng đoàn các thánh. Đừng tìm người sống ở nơi mồ mả. Cô ấy không có ở đó. Cô ấy ở Galilê. Gặp cô ấy ở đó.

Elizabeth Johnson, có chiều hướng của Karl Rahner, đã thêm cho chúng ta suy tư này: Hy vọng, chúng ta quả quyết rằng những người thân yêu đã qua đời, họ không rơi vào quên lãng, nhưng đi vào trong vòng tay của Thiên Chúa hằng sống. Và đây là nơi chúng ta có thể tìm thấy họ lần nữa, khi chúng ta mở rộng lòng mình với sự dịu dàng của chính sự sống Thiên Chúa mà chúng ta dấn thân vào, không phải bằng sự ích kỷ đòi họ về lại với chúng ta, nhưng bằng việc đi vào sâu trong lòng của chúng ta, nơi Thiên Chúa ngự trị.”

Và có thể tìm thấy Galilê của những người thân yêu của chúng ta nơi Galilê của chính mình. Có một nơi thâm sâu trong lòng, trong đức tin, đức cậy và đức ái, nơi mọi người, còn sống hay đã chết, gặp gỡ.

Tôn giáo, suy tư, thế tục và sự lành mạnh cùng hạnh phúc

Không có điều gì là tuyệt đối khách quan, nghĩa là một quan điểm không chịu bất kỳ định kiến nào.

Nhưng, những tư tưởng gia thế tục, không tôn giáo, thường tự nhận điều này về mình trong những tranh luận về giá trị và chính sách chung. Họ lập luận rằng họ không giống như những người nhận rằng mình có quan điểm dựa trên các nguyên tắc tôn giáo, và quan điểm của họ là khách quan và không có định kiến. Họ nhấn mạnh giả định này như một lập luận lý tính thuần túy, một cái nhìn không chịu ảnh hưởng bởi điều gì, một quan điểm khách quan mà các lập luận tôn giáo dựa trên các lập trường đức tin không bao giờ có được. Họ cho rằng như thể đây là một điểm khách quan tuyệt đối vậy. Nhưng không có chuyện đó.

Chúng ta ai cũng có định kiến. Langdon Gilkey đã từng nói đến điều này một cách thanh thoát nhẹ nhàng. Ông nói rằng, chúng ta không có định kiến, nhưng là một ‘tiền bản thể’ một lập trường chủ quan từ đó chúng ta nhìn vào thực tế. Và lập trường đó bao gồm cả vị thế của chúng ta khi nhìn vào thực tế, cũng như cấu thành bên trong mà chúng ta đón nhận và lý luận những gì chúng ta thấy. Ông đã đúng. Không có một cái nhìn nào không phát xuất từ điểm nào cả, không có cái nhìn nào là không có định kiến, và không một quan điểm nào là tuyệt đối khách quan. Tất cả mọi người đều có một định kiến. Những người có tôn giáo và người thế tục, đơn thuần họ đứng trên những vị thế chủ quan khác nhau và tiến hành mọi sự qua những xử lý tâm thần chủ quan khác nhau.

Điều này có nghĩa tất cả mọi quan điểm đều chủ quan như nhau, và mọi sự đều tương đối hay không? Chẳng lẽ chúng ta không thể phân biệt được giữa khoa học và mê tín hay sao? Không. Có những mức độ rõ ràng về khách quan, cho dù không một ai nhận được về mình sự khách quan tuyệt đối. Thừa nhận rằng ngay cả một nghiên cứu kinh nghiệm luận nghiêm ngặt nhất cũng luôn có một mức độ chủ quan, không phải là đánh đồng khoa học với mê tín hay đức tin. Khoa học kinh nghiệm luận và suy tư lý tính phải được đánh giá đúng. Chính bác sĩ y khoa, chứ không phải người chữa lành đức tin, mới là người trị các chứng bệnh thể lý. Cũng thế, khoa học luận về tiến hóa và niềm tin tôn giáo cho rằng thế giới chúng ta được tạo thành trong vòng bảy ngày, không phải như nhau. Như nhiều tư tưởng gia tôn giáo bất bình về những tuyên bố áp đặt của nhiều tư tưởng gia thế tục, thì khoa học và suy tư lý tính cũng phải được có những gì xứng đáng với nó.

Nhưng suy tư tôn giáo cũng phải có được những gì xứng đáng, đặc biệt là trong các tranh luận về giá trị và chính trị. Quan điểm tôn giáo cũng cần được tôn trọng, cũng thừa nhận, như các suy tư khoa học và triết học, thì suy tư tôn giáo cũng đem lại những nhãn quan vô giá và cần thiết cho mọi tranh luận. Nhiều kiến thức của thế giới nằm trong khoa học và triết học, nhng hầu hết khôn ngoan của thế giới nằm trong các nhãn quan tôn giáo và đức tin. Như chúng ta không thể sống dựa trên mỗi tôn giáo, thì chúng ta cũng không thể sống chỉ dựa trên khoa học và triết học được. Sự khôn ngoan cần kiến thức, và kiến thức cần khôn ngoan. Khoa học và tôn giáo cần phải kết thân tình với nhau hơn nữa.

Tuy nhiên, quan trọng hơn việc có một biện giáo thích đáng về vị trí của đức tin và tôn giáo trong chính sách chung, chính là một nhận thức về sự lành mạnh và hạnh phúc của chính chúng ta. Chúng ta cần hiểu được tính chủ quan nhuốm màu lên mọi sự như thế nào, cũng như thuyết phục được những người thế tục hiểu rằng các nhãn quan tôn giáo là điều quan trọng trong mọi bàn luận, để qua đó chúng ta có thể chọn lựa cách khôn khéo hơn, một tiền bản thể đúng đắn để nhìn thế giới qua một đôi mắt tốt hơn và có những phán định tốt hơn về thế giới.

Nhà thần nghiệm thế kỷ XII, Hugo, cho chúng ta một tiền bản thể đúng đắn: Tình yêu là đôi mắt! Với Hugo, chúng ta thấy chính xác nhất khi đôi mắt chúng ta nhìn qua lăng kính yêu thương và vị tha, cũng như chúng ta nhìn sai lệch nhất khi tầm nhìn của chúng ta bị phủ bóng bởi nghi hoặc và tư lợi. Và đây không phải là một khái niệm mơ hồ. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy ra điều này. Khi chúng ta nhìn vào ai đó trong yêu thương, không kể những giai đoạn mà tình yêu là một ám ảnh hấp dẫn lãng mạn, thì chúng ta nhìn đúng. Rồi chúng ta nhìn nhau, đúng như những gì người kia là, với nhìn nhận đầy đủ về các đức hạnh và sai lỗi của người đó. Một cái nhìn thật chính xác. Ngược lại, khi chúng ta nhìn ai đó qua đôi mắt hoài nghi hay tư lợi, thì cái nhìn của chúng ta bị phủ bóng, và không còn công tâm nữa.

Chúa Giêsu cũng nói nhiều về điều này qua những từ đầu tiên của Ngài trong Phúc âm Nhất lãm. Trong những lời đầu tiên, Ngài mời gọi chúng ta, bằng một từ thôi, hãy nhìn thế giới như thực sự nó là. Vậy lời đầu tiên của Ngài là gì? Metanoia. Đây là một từ Hy Lạp thường được dịch là ‘Sám hối’ nhưng nghĩa đen của nó là ‘đi vào một tâm thức khác, cao hơn.’ Và ý nghĩa này càng được nêu bật khi đối chiếu metanoia với một từ Hy Lạp khác, paranoia, nghĩa là hoang tưởng. Metanoia là đối lập với paranoia. Sám hối là đối lập với hoang tưởng.

Khi chúng ta nhìn vào thế giới, qua đôi mắt của hoang tưởng, chúng ta không thấy mọi sự cho đúng. Ngược lại, khi nhìn vào thế giới, qua đôi mắt của sám hối, chúng ta thấy mọi sự một cách đúng đắn, dù là về mặt tôn giáo hay khoa học. Thật vậy, Tình yêu là đôi mắt!

Cái tôi và Ái kỷ

Phật tử có một câu châm ngôn diễn đạt nhiều về bản tại hơn chúng ta. Họ nói rằng bạn có thể hiểu được hầu hết những gì sai trái trong thế giới và trong bản tại bằng cách nhìn vào một tấm ảnh nhóm. Lúc nào cũng thế, bạn luôn nhìn trước tiên vào biểu hiện của mình rồi mới xem đến tấm ảnh này có đẹp cho cả nhóm hay không. Về căn bản, chúng ta xác định giá trị của mọi sự dựa trên căn cứ là ‘mình thế nào’.

Rene Descartes hẳn sẽ mỉm cười với chuyện này. Ông mở đầu cuộc truy tầm triết học với câu hỏi: Điều gì là không thể nghi ngờ, là chắc chắn? Điều gì chúng ta có thể chắc chắn rằng nó có thật. Và câu trả lời của ông, quả quyết của ông là: Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu! Đến tận cùng, điều thật nhất đối với chúng ta chính là ý thức của mình. Và cũng rõ ràng một sự thật là, chúng ta bị giam hãm trong một nhà tù, cho đến khi nào tìm được sự trưởng thành thắng vượt các bản năng tự nhiên. Nhà tù nào? Các nhà tâm lý gọi nó là ái kỷ, một ưu tư bản thân quá đáng giữ chúng ta gắn chặt vào bản thân và vào những mối ưu tư, tình cảm của riêng mình. Như câu nói của Phật tử về tấm ảnh nhóm, chúng ta ít nghĩ về những gì người khác đang làm, tâm điểm của chúng ta trước hết là nhắm đến bản thân mình.

Và tình trạng này không phải là một sự ấu trĩ có thể tẩy đi bằng cách xác nhận rằng mình đã trưởng thành, lớn lên vượt ra khỏi cái tôi, và không còn ích kỷ nữa. Cái tôi và con cái của nó, tính ái kỷ, không dễ dàng biến mất khi chúng ta xem mình là trưởng thành và có tâm linh. Chúng là những thứ không chữa trị được, bởi là một phần bẩm tại của chúng ta. Hơn nữa, chúng không được định để biến đi, và tự bản chất, cũng không phải là một thiếu sót đạo đức. Cái tôi của chúng ta là trọng tâm tính cách ý thức, là một phần cấu thành của chúng ta, và mỗi một người chúng ta cần một cái tôi mạnh mẽ để vững vàng, đúng mực, lành mạnh, tự bảo vệ mình, và có thể trao đi bản thân cho người khác.

Nhưng thường thì người ta rất sốc, khi có ai nói rằng những con người vĩ đại, những thánh nhân, có cái tôi rất mạnh. Ví dụ như, Thánh Phanxicô Axixi, Thánh Têrêxa thành Avila, Têrêxa Hài Đồng Giêsu, và Mẹ Têrêxa, với tất cả sự khiêm nhượng của mình, họ có cái tôi rất mạnh, cụ thể là họ có một ý thức rõ ràng về bản tính của mình, về thiên tư của mình, và tầm quan trọng của mình. Tuy nhiên, trong mỗi trường hợp, họ cũng có một ý thức mạnh mẽ đi kèm, rằng con người và tài năng của họ không bắt nguồn từ chính họ và không phải là để cho họ mà thôi. Nhưng, như dân Israel ý thức mình là dân được chọn, họ cũng hiểu rõ nguồn cội các thiên tư của họ là nơi Thiên Chúa, và tài năng của họ không phải để cho họ nhưng cho tha nhân. Và, như thế, đó là sự khác biệt giữa việc có cái tôi mạnh và tính ích kỷ. Người ích kỷ có một cái tôi mạnh mẽ và có tài năng, nhưng người đó nhận thức bản thân mình là tạo hóa và cùng đích của tài năng đó. Ngược lại, những con người vĩ đại có những cái tôi mạnh, nhưng luôn ý thức rằng tài năng của họ không đến từ họ, họ là cái mángï để trao lại cho tha nhân.

Như thế, mục đích của sự trưởng thành, không phải là giết đi cái tôi, nhưng là có một cái tôi lành mạnh, một cái tôi góp phần vào một cái tôi lớn hơn, biết nghĩ đến hình ảnh chung của cả nhóm. Nhưng, đến được sự trưởng thành đó là một đấu tranh, thường thường làm cho chúng ta hoặc quá thổi phồng, quá đầy cái tôi và quá ít nhận thức về Thiên Chúa, hoặc rơi vào khủng hoảng suy thoái, quá trống rỗng các giá trị của riêng mình và quá vô tri về Thiên Chúa.

Trưởng thành và sự thánh thiện không nằm ở việc giết chết hay khinh thường cái tôi, như kiểu trong một số linh đạo, dù có ý tốt nhưng lầm đường, xem rằng bản tính con người là xấu xa. Cái tôi là bản tại và quan thiết đối với cấu thành tự nhiên của chúng ta, là một phần trong DNA bản tính của chúng ta. Chúng ta cần một cái tôi lành mạnh để được và tiếp tục lành mạnh. Vậy nên, không phải là giết chết hay khinh thường cái tôi, nhưng phải cho cái tôi một vai trò chính đáng, chính chắn, để giữ chúng ta đúng mực, giữ các tài năng của mình, và cả nguồn cội lẫn mục đích của tài năng đó.

Nhưng điều này lại chỉ có thể đạt được theo một cách ngược đời. Chúa Giêsu nói, chúng ta chỉ có thể tìm được sự sống khi mất đi sự sống. Lời kinh lừng danh của thánh Phanxicô thành Axixi, cho chúng ta một diễn đạt kinh điển chung về điều này: Lạy Chúa toàn năng, xin cho con đừng tìm kiếm quá nhiều, tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời. Chi bằng cách chối bỏ cái tôi, chúng ta mới có một cái tôi lành mạnh.

Cuối cùng, tôi xin đưa ra nét khôn ngoan về cái tôi của triết gia Trang Tử: Nếu bạn trên một con thuyền nhỏ, và một thuyền khác đâm vào bạn, bạn sẽ nổi giận nếu có người chèo thuyền nhưng bạn sẽ không nổi giận nếu con thuyền đó không có ai. Tại sao lại không nổi giận? Trang Tử trả lời: Một người để cái tôi của mình ra đi ‘không dấu vết.’ Người đó không làm ai nổi giận.

Vết nhơ của tự vẫn

Mới đây, tôi đọc liên tiếp ba quyển sách viết về tự vẫn, đều là lời của những người mẹ mất con vì tự vẫn. Cả ba quyển đều mạnh mẽ, chính chắn, không chiều theo cảm xúc sai lầm, và rất đáng đọc. Lois Severson có con gái là Patty tự tử, bà viết quyển sách: Chữa lành vết thương từ sự Tự vẫn của con gái tôi, Chuyển Thương đau thành Lời nói. Gloria Hutchinson có con trai là David tự tử, bà viết quyển sách: Tổn thương Đã xong, Sự Tự vẫn của đứa con một. Marjorie Antus có con gái là Mary tự tử, bà viết quyển sách Con gái tôi, Tự vẫn, và Thiên Chúa, Một ký ức Hy vọng. Patty và David trạc 25 tuổi, còn Mary chỉ mới thiếu niên.

Bạn không thể đọc những tự thuật này mà không nhói trong tim cho ba người trẻ chết một cách thật bất hạnh. Những gì các quyển sách này mô tả trong từng trường hợp, là về một con người đáng yêu, quá nhạy cảm, đã phải đấu tranh cảm xúc lâu dài, và từ thời thơ ấu đã phải chịu sự mất cân bằng sinh hóa.

Nghe những câu chuyện đời này, sẽ cho bạn tin chắc hơn bao giờ hết rằng không một Thiên Chúa nào đáng thờ phượng lại lên án những con người phải xa lìa gia đình sự sống chỉ bởi vì cách họ chết. Gabriel Marcel có một câu nói: Yêu ai đó là nói rằng, ít nhất với bạn, người đó sẽ không chết. Đây là giáo lý Kitô giáo vững chắc.

Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng, chúng ta là một cộng đoàn tín hữu, làm nên Thân thể Chúa Kitô cùng với tất cả những ai đã chết trong đức tin trước chúng ta. Một phần niềm tin này là việc Chúa Kitô đã cho chúng ta sức mạnh để giữ chặt hay lơi lỏng, nghĩa là tình yêu của chúng ta cho ai đó có thể giữ người đó trong gia đình, trong cộng đoàn ân sủng, và trong cả thiên đàng nữa. Trong cả ba quyển sách này, các bà mẹ làm rõ rằng, đây chính là những gì mà họ đang làm. Gia đình của họ, vòng tròn ân sủng của họ, tình yêu của họ, và thiên đàng của họ phải có cả đứa con đã mất của họ. Thiên đàng của tôi cũng có ba người trẻ này, và bất kỳ nhận thức thực sự nào về Thiên Chúa, ân sủng, tình yêu, và đời sống gia đình cũng phải như thế.

Đây là một sự an ủi sâu sắc, nhưng nó không xóa hết được nỗi đau. Với bậc cha mẹ, mất đi một người con, dù là vì lý do gì, đều để lại một vết thương không gì chữa lành nổi ở đời này. Cái chết của đứa con đi ngược lại tự nhiên, đầu bạc phải tiễn đầu xanh. Cái chết của con cái luôn thật khó khăn, nhưng nếu đó là chết vì tự vẫn thì nỗi đau còn nặng nề hơn muôn phần. Không giống cái chết bệnh lý, cái chết vì tự vẫn gây nản lòng và giận dữ, một điều không xác đáng, không cần thiết, và có thể xem là một hành động bội bạc. Và còn có một câu hỏi không hồi kết rằng: Làm sao tôi phản ứng trước việc này? Đáng ra tôi phải tính táo hơn, cảnh giác hơn? Tôi đã lơ là chuyện gì? Tại sao tôi không ở bên con trong thời điểm định mệnh đó? Tội lỗi và giận dữ hòa chung với tang thương.

Nhưng đó không phải là tất cả. Ngoài tất cả những điều này, vốn đã quá đủ để đánh gục một con người, chính là vết nhơ gắn với tự vẫn. Đến tận cùng, bất chấp nhận thức rõ hơn và thái độ sáng suốt hơn về tự vẫn, vẫn có đó một vết nhơ mang tính xã hội, tinh thần, và tôn giáo với sự tự vẫn, và điều này đúng cả trong đạo lẫn thế tục. Không lâu trong quá khứ, nhà thờ thường từ chối làm tang lễ cho những ai tự tử. Bây giờ, các nhà thờ đã thay đổi thái độ và làm lễ an táng, nhưng sự thật là, nhiều người vẫn đấu tranh trong lòng để chấp nhận tiễn đưa một cách an bình và chúc phúc cho những ai đã chết vì tự vẫn. Vết nhơ vẫn còn đó. Những ai chết vì tự vẫn, thường bị xem là đáng nguyền rủa, họ bị cho là chết ngoài vòng sự sống và ân sủng. Vì vậy, với hầu hết mọi người, chẳng có gì là an ủi trong cái chết của họ.

Trong các bài viết khác của mình, tôi đã nói rằng đa số các vụ tự vẫn phải được hiểu là một cái chết vì bệnh tật tinh thần, một sự mất cân bằng sinh hóa, một cơn đột quỵ cảm tính, một khối ung thư cảm xúc, hay một sự nhạy cảm quá đỗi tước đi hết sức bật cần thiết để sống. Tuy nhiên, ở đây, tôi muốn nói cụ thể hơn về vấn đề vết nhơ gắn với tự vẫn.

Vẫn có một vết nhơ gắn với tự vẫn, chuyện này thật rõ ràng. Nghĩ như thế, thì một điều sẽ giúp chúng ta, đó là suy nghĩ về cách Chúa Giêsu đã chết. Cái chết của Ngài rõ ràng không phải là tự vẫn, nhưng cũng mang vết nhơ nhuốc tương tự. Thập giá là một nhơ nhuốc, dù là nhìn từ góc độ tôn giáo, tinh thần và xã hội. Một người chết trên thập giá, bị xem là chết ngoài lòng thương xót của Thiên Chúa và ngoài sự chúc lành và chấp nhận của cộng đồng. Các gia đình của những người bị đóng đinh mang một tủi hổ nhất định, và những người bị đóng đinh sẽ được chôn cất xa, ở ngay nơi mà họ mang lấy vết nhơ nhuốc của mình. Và người ta cho rằng họ nằm ngoài lòng thương xót của Thiên Chúa và cộng đồng.

Cái chết của Ngài rõ ràng không phải là tự vẫn, nhưng gợi lên cho chúng ta một nhận thức tương tự. Vết nhơ nhuốc mà chúng ta gắn với tự vẫn, cũng là cái mà chúng ta gắn với cách Chúa Giêsu đã chết.

Ngây thơ, Phức tạp, và Thánh thiện

Vài năm về trước, tôi chủ trì một lễ cưới. Là linh mục chủ lễ, sau khi xong nghi thức ở nhà thờ, tôi được mời đến dự dạ tiệc. Không biết rõ lắm về gia đình họ, và cũng có nhiều việc tôi phải làm vào sáng mai, nên sau khi ăn xong, tôi ra về trước phần dạ vũ. Khi đi khỏi bàn được một quãng, tôi nghe thấy cha của cô dâu nói với ai đó: ‘Tôi mừng vì cha đã đi, bây giờ chúng ta có thể chơi nhạc rock được rồi!’

Tôi không phật ý cho mình, vì ông không ác ý khi nói như vậy, nhưng câu này vẫn gây nhức nhối cho tôi vì nó thể hiện một thái độ mà người khác nhìn về tôi và những người như tôi, những người đạo đức nhưng ngơ ngác, đủ tốt để được mời ngồi hàng ghế đầu và được giới thiệu đặc biệt, nhưng tốt nhất là nên tránh khi cuộc sống thực sự bắt đầu, như thể đi tu nghĩa là bạn không thể nắm bắt được những chuyện trần gian và những điệu nhạc rock, như thể Giáo hội và lễ hội thế gian thì đối lập nhau, như thể sự thánh thiện cần phải có sự ngây thơ vô tội không vướng bận những chuyện phức tạp của con người, và như thể sống đạo và sống say mê là những chuyện phải tách biệt nhau vậy.

Nhưng, đây lại chính là một thái độ của hầu hết mọi người, dù không thể hiện ra ngoài. Ý niệm của người ta là Thiên Chúa và sự phức tạp của con người không đi song song với nhau. Mỉa mai thay, thái độ này đặc biệt thịnh hành trong những người quá sùng đạo và cả những người cảm nhận tiêu cực nhất về tôn giáo. Với cả hai týp người này, quá sùng đạo và chống báng đạo, thì Thiên Chúa và cuộc sống say mê không thể đi chung với nhau. Điều này về căn bản, cũng đúng với tất cả chúng ta, cũng rõ ràng như việc chúng ta không thể gắn sự phức tạp, tại thế, và cám dỗ với Chúa Giêsu, Đức Trinh Nữ Maria, các thánh, và những người đạo đức được mọi người công nhận như Mẹ Têrêxa. Dường như chúng ta chỉ có thể minh họa sự thánh thiện gắn chặt với một mức độ ngây thơ nhất định. Với chúng ta, thánh thiện cần phải được che chắn và bảo vệ như một đứa trẻ nhỏ vậy. Và hậu quả là, chúng ta phóng chiếu một hình tượng ngây thơ và đơn giản theo kiểu lý tưởng hóa quá đáng về Chúa Giêsu, Đức Mẹ, và các mẫu gương đạo đức, như một sự bất khả thi mà chúng ta không bao giờ thực sự có thể theo được. Chúng ta ngưỡng mộ các vị, nhưng ngoài ra thì hầu như không có gì hơn.

Ví dụ như, Đức Trinh Nữ Maria kiểu chúng ta sùng kính, không thể viết nên bài Magnificat. Một Đức Mẹ như thế thiếu sự phức tạp để viết nên một lời cầu nguyện như thế, vì chúng ta đã áp đặt lên Mẹ một hình tượng ngây thơ, thanh tao, và như trẻ con, nên với chúng ta, Mẹ thiếu sự trưởng thành và trí tuệ trọn vẹn. Đến cuối cùng, điều này tác động tiêu cực lên lòng đạo. Xác định sự ngây thơ và đơn sơ bất thực với sự thánh thiện, đã tạo nên một lý tưởng không thể nào với tới, và nhiều người tin rằng, với dòng máu đỏ say mê của mình cùng với những kích động không dứt, thật khó để họ hợp với Giáo hội và sự thánh thiện.

Trong Nghi thức rửa tội Công giáo La Mã, linh mục tuyên bố những lời này: Hãy xem tấm vải trắng này là dấu chỉ bên ngoài của phẩm giá Kitô hữu của các con. Với sự giúp đỡ bằng lời nói và mẫu gương của gia đình và bạn bè, hãy đưa phẩm giá này không bị hoen ố đến cuộc sống thiên đàng bất diệt. Đây là một lời tuyệt vời tôn vinh vẻ đẹp và đức hạnh của lòng khiết tịnh. Nhưng lại là tôn vinh một sự ngây thơ vô tội không khớp với cuộc sống trưởng thành.

Sự ngây thơ của một đứa trẻ làm chúng ta ngây ngất với vẻ đẹp, và cho chúng ta một tấm gương để soi những vết sẹo tinh thần và tâm lý cùng những bước hụt của chúng ta thời trưởng thành, cũng không khác lắm với sự rụt lại mà chúng ta cảm nhận khi nhìn vào cơ thể lúc già nua của mình. Vẻ đẹp của tuổi trẻ đã ra đi. Nhưng sự lay động và phán quyết chúng ta cảm nhận trước sự ngây thơ của đứa trẻ, là sự rối loạn hay hiểu sai, hơn là một phán xét đích thực về sự thánh thiện và tốt lành đạo đức của mình. Trẻ con ngây thơ, vì chúng chưa phải đối diện với đời, với những phức tạp vô tận và với những vết thương không tránh khỏi trong cuộc sống. Trẻ con quá ngây thơ tuyệt vời, vì chúng vẫn còn ngơ ngác và chưa đi vào những tinh vi phức tạp. Để trưởng thành, trẻ con phải đi qua những khởi đầu không thể tránh khỏi, và ghi lấy những vết ố trên tấm khăn rửa tội nguyên tuyền của mình.

Một người bạn của tôi thích nói thế này về sự ngây thơ: Là người lớn, tôi sẽ không bỏ một xu cho sự nguyên tuyền ngây thơ của một đứa trẻ, nhưng tôi sẽ bỏ mọi sự để tìm được sự ngây thơ như đứa trẻ ngay trong sự phức tạp của đời sống trưởng thành của tôi. Tôi nghĩ, ý của ông là: Chúa Giêsu đi vào một quán bar tội lỗi, nhưng Ngài không phạm tội. Nhiệm vụ của linh đạo không phải là cố gắng chạy theo tính trẻ con ngây thơ vô tội và không vướng những phức tạp. Nhưng linh đạo phải là một thực hành biết khước từ, và một đào tạo cho tư duy lý luận. Nhiệm vụ của linh đạo phải là hướng đến một sự ngây thơ thứ hai, một sự hậu tinh vi lõi đời vốn dẫn chúng ta đến với sự phức tạp đủ đường của cuộc sống. Chỉ khi đó, chúng ta mới một lần nữa có được niềm vui ngây thơ của trẻ con, ngay cả khi chúng ta có thể đứng vững bên trong sự thô bạo, sức mạnh và phức tạp của tính dục con người, khuynh hướng nhục dục của lòng người, và những thủ đoạn âm mưu xảo quyệt trong tinh thần con người. Từ đó, chúng ta có thể viết nên một bài Magnificat Ngợi khen.

Chăm lo cho linh hồn mình

Lợi ích gì nếu được cả thế gian mà phải đau khổ vì mất linh hồn mình?

Chúa Giêsu đã dạy chúng ta như thế, và tôi ngờ rằng chúng ta thường không nắm bắt được trọn vẹn ý nghĩa của lời này. Chúng ta thường hiểu những lời của Chúa Giêsu như thế này: Có gì tốt khi ai đó được giàu có, danh tiếng, khoái lạc, và vinh quang rồi chết đi và xuống hỏa ngục? Có gì tốt nơi vinh quang và khoái lạc trần gian, nếu chúng ta lỡ mất sự sống đời đời?

Đúng, lời dạy của Chúa Giêsu chắc chắn có ý như thế, nhưng có những bài học quan trọng khác nữa trong lời dạy này, chỉ cho chúng ta biết về sức khỏe và hạnh phúc ngay ở đời này. Chúng ta đánh mất linh hồn mình như thế nào? ‘Đánh mất linh hồn’ ngay trong thế gian này nghĩa là gì? Linh hồn là gì, và làm sao có thể mất linh hồn?

Do bởi linh hồn là vô hình và thiêng liêng, nên không thể họa ra được. Chúng ta phải dùng các khái niệm mơ hồ để cố hiểu được linh hồn. Các triết gia, từ thời Aristotle, đã có khuynh hướng định nghĩa linh hồn như một nguyên tắc đôi trong mọi đời sống. Với họ, linh hồn vừa là nguyên tắc sự sống và năng lượng trong chúng ta, vừa là nguyên tắc của sự kết dính thấm nhập. Về căn bản, linh hồn là hai sự: Là ngọn lửa bên trong, cho chúng ta sự sống và sinh lực, và linh hồn cũng là chất keo kết dính chúng ta lại với nhau. Trong khi điều này có vẻ mơ hồ, nhưng không phải thế, bởi chúng ta đã được cảm nghiệm mắt thấy tai nghe về ý nghĩa của linh hồn.

Nếu có bao giờ bạn ở bên một người hấp hối, bạn biết chính xác lúc nào linh hồn rời bỏ thân xác. Bạn biết khoảnh khắc đó, không phải bởi bạn thấy có sự gì đó thoát ra khỏi thân xác người đó, nhưng đúng hơn là một phút trước, bạn thấy một con người, đầy đấu tranh và đau đớn, có sinh lực và ngọn lửa trong mình, rồi một phút sau, thân xác đó hoàn toàn trơ ra, hoàn toàn không có sinh lực và sự sống. Không còn sinh khí nữa. Thân xác đó trở thành một xác chết. Cũng vậy, dù già nua hay bệnh tật, thì cho đến trước giây phút cái chết, thân xác đó vẫn là một cấu thành hợp nhất. Nhưng ngay giây phút cái chết, thân xác đó không còn là một cơ thể, nhưng chỉ là một loạt sinh hóa bắt đầu phân rã. Một khi linh hồn ra đi, thì mọi sự sống và kết dính cũng ra đi. Thân xác không còn bất kỳ sinh khí nào cũng như không còn gắn kết với nhau nữa.
Và bởi linh hồn là một nguyên tắc đôi, làm cho chúng ta hai sự, thì cũng có hai con đường song song tương ứng của việc mất linh hồn. Chúng ta có thể có thể khiến cho sức sống của chúng ta chết đi, hay chúng ta có thể trở nên xa cách tách rời, trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đánh mất linh hồn mình.

Nếu thật như thế, thì điều này gợi lên một chất vấn khác về cách chúng ta làm sao để chăm lo cho linh hồn mình. Thức ăn bổ dưỡng cho linh hồn là gì? Ví dụ như, tôi đang xem truyền hình, điều gì tốt cho linh hồn tôi? Một kênh tôn giáo? Kênh thể thao? Một bộ phim hài vô nghĩa? Kênh về thiên nhiên? Một talk-show đả phá tôn giáo nào đó? Điều gì là lành mạnh cho linh hồn tôi?

Đây là một câu hỏi chính đáng, nhưng cũng là một câu hỏi gài bẫy. Chúng ta mất linh hồn theo một cách đối lập hẳn, và do đó việc chăm lo cho linh hồn như một thuật giả kim tinh xảo, phải biết lúc nào thêm lửa lúc nào cho nguội bớt. Xác định những gì là lành mạnh cho linh hồn tôi, dựa nhiều vào những gì tôi đang phải đấu tranh ngay lúc đó. Tôi có đang đánh mất linh hồn, vì tôi đang mất đi sức sống, năng lượng, hi vọng, và lòng nhân từ trong đời? Tôi có đang ngày càng cay đắng, khắc nghiệt, cằn cỗi, trở nên một con người đau đớn hay không? Hay ngược lại, tôi có đầy sinh lực nhưng lại quá đầy, đến nỗi tôi đang rời xa, phung phí, đánh mất ý thức về bản thân mình hay không? Tôi có đang bị tê liệt hay tan rã dần hay không? Cả hai đều là mất linh hồn. Trong dạng thứ nhất, linh hồn cần thêm lửa, một sự gì đó thổi bùng sinh khí trở lại. Trong dạng sau, linh hồn đã có quá nhiều lửa, cần phải dịu bớt và thêm chất kết dính.

Sự căng thẳng này giữa nguyên tắc của sinh lực và nguyên tắc kết dính, bên trong linh hồn con người, cũng là một trong những căng thẳng điển hình giữa tự do và bảo thủ. Nói một cách tối giản, nhưng dễ hiểu, sự thật là những người theo chủ nghĩa tự do có khuynh hướng bảo vệ và thúc đẩy cho nguyên tắc sinh lực, còn người theo chủ nghĩa bảo thủ lại có khuynh hướng bảo vệ và thúc đẩy cho nguyên tắc chung hiệp, chất keo kết dính. Cả hai đều đúng, cả hai đều cần thiết, và cả hai đều cần phải tôn trọng bản chất của người kia, bởi linh hồn là một nguyên tắc đôi, và cả hai nguyên tắc đều cần được bảo vệ.

Sau khi chết, chúng ta có thể vào thiên đàng hay hỏa ngục. Đây cũng là một cách nói về việc đánh mất hay cứu được linh hồn mình. Nhưng thần học Kitô giáo dạy chúng ta rằng, thiên đàng và hỏa ngục đã có ngay lúc này. Ngay ở đây, trong đời này, chúng ta có thể làm suy yếu hay hủy hoại sự sống Thiên Chúa ban trong chúng ta, bằng cách làm tê liệt hay tan rã sự sống đó. Chúng ta có thể đánh mất linh hồn mình bằng việc không có đủ lửa mến hay không đủ kết dính chung hiệp.

Những sự vượt quá tưởng tượng của chúng ta

Mới đây, tại một bữa ăn tối hàn lâm, tôi ngồi đối diện với một nhà khoa học hạt nhân. Tôi có hỏi ông câu này: ‘Ông có tin có sự sống trên hành tinh khác hay không?’ Câu trả lời của ông làm tôi ngạc nhiên: ‘Là một nhà khoa học, thì không, tôi không tin có sự sống trên hành tinh khác. Về mặt khoa học, các bằng chứng mạnh mẽ phản bác điều này. Nhưng là Kitô hữu, tôi tin có sự sống con người ở các hành tinh khác. Tại sao? Lý luận của tôi là: Tại sao Thiên Chúa chọn chỉ có một đứa con?’

Tại sao Thiên Chúa chọn chỉ có một đứa con? Một lý luận hay. Thực sự tại sao một Thiên Chúa vô hạn, có thể sáng tạo và yêu thương vượt quá mọi trí tưởng tượng, lại chỉ muốn làm việc này một lần mà thôi? Tại sao một Thiên Chúa vô hạn, lại có lúc nói: ‘Vậy là đủ. Đó là giới hạn của Ta. Đây là toàn bộ những con người Ta có thể giữ gìn và yêu thương! Bất kỳ điều gì quá thế này, là quá nhiều với Ta! Bây giờ là lúc thôi không tạo dựng nữa, và thưởng thức những gì Ta đã làm thôi nào!’

Nói như thế, để thấy cái hích của anh bạn khoa học gia cho thấy nhiều điều. Do bởi Thiên Chúa là vô hạn, vậy tại sao Ngài lại ngưng không làm những gì Ngài đang làm? Tại sao Thiên Chúa chỉ chiếu cố đến mỗi chúng ta, những người đã được ban cho sự sống, mà không ban ơn bất tận đó cho những người khác? Theo lập luận như thế, với một sự vượt ngoài những giới hạn tâm trí chúng ta, liệu có phải chúng ta đang đặt ra một điểm cuối cho tạo dựng hay không?

Chúng ta phải vật lộn với điều này, bởi những gì Thiên Chúa đã tạo dựng, cả về sự vô biên của vũ trụ, lẫn con số những con người đã được sinh ra suốt dòng lịch sử, đã là quá mức so với sức tưởng tượng của chúng ta. Có hàng triệu triệu hành tinh, với hàng tỷ tiến trình đang diễn ra trong mỗi một giây đồng hồ. Chỉ ngay trên hành tinh chúng ta, bây giờ có hơn 7 tỷ người đang sống, hàng triệu người ra đi trước chúng ta, và mỗi một giây có biết bao nhiêu con người được sinh ra nữa. Và bên trong mỗi một con người đó là một trái tim một khối óc độc nhất vô nhị, sống trong một loạt vô tận và phức tạp những vui mừng, đau khổ, và chọn lựa đạo đức. Hơn nữa, hàng tỷ tỷ con người này và vũ trụ đã và đang vận hành suốt hàng triệu tỷ năm. Làm sao chúng ta có thể hình dung có một trái tim, một khối óc ở đâu đó, biết và yêu thương, cùng quan tâm đến mỗi một con người, mỗi một niềm vui, nỗi buồn và chọn lựa cá nhân, cũng như mỗi một hành tinh, ngôi sao, và từng hạt cát, như người cha người mẹ chăm lo cho đứa con một của mình?

Câu trả lời rõ ràng là: Không thể tưởng tượng nổi. Cố gắng tưởng tượng cho được việc này, sẽ dẫn chúng ta cuối cùng đến với chủ nghĩa vô thần hay nuôi dưỡng một khái niệm sai lầm về Thiên Chúa. Bất kỳ Thiên Chúa nào đáng để tin, thì phải có thể biết và yêu thương vượt quá sự tưởng tượng của con người, nếu không, sự vô biên của vũ trụ và sự độc nhất vô nhị của mỗi sinh linh sẽ không được giữ gìn trong vòng tay và trái tim yêu thương.

Nhưng làm sao mà Thiên Chúa có thể biết, yêu thương, và chăm sóc cho tất cả những sự vô biên và phức tạp này? Hơn nữa, làm sao tất cả hàng triệu triệu người được lên thiên đàng, để cùng hiệp chung trong một thân thể yêu thương, một cộng đoàn thân thiết được? Điều này vượt quá mọi tưởng tượng, ít nhất là trong khả năng con người, nhưng ý của tôi là không thể hình dung thiên đàng, không phải bởi thiên đàng quá phức tạp, nhưng là bởi thiên đàng quá đơn giản, nói cụ thể, đơn giản theo cách triết học kinh viện xác nhận rằng Thiên Chúa là đơn giản: Thiên Chúa bao hàm và chứa đựng tất cả mọi phức tạp để tạo nên một hữu thể quá đơn giản để tưởng tượng.

Dường như nguồn gốc vũ trụ của chúng ta cũng quá đơn giản để tưởng tượng. Vũ trụ của chúng ta, như chúng ta biết đến lúc này, có một khởi đầu, và các nhà khoa học tin theo thuyết Big Bang, rằng mọi sự khởi đầu từ một tế bào năng lượng quá nhỏ không thể đo lường hay tưởng tượng. Tế bào độc nhất này, nổ bùng với một nguồn lực và năng lượng vẫn tiếp diễn đến ngày nay, vẫn mở rộng ra và tạo nên hàng triệu triệu hành tinh. Và các nhà khoa học tin rằng tất cả những sự này sẽ một lần nữa hội tụ lại với nhau, xoắn xít cuộn chung, trong một tương lai có thể là hàng tỷ năm nữa.

Vậy nên, tôi có ý thế này: Có lẽ hàng triệu triệu con người, đang sống và đã chết và sẽ được sinh ra, trong nguồn cội và định mệnh của mình, song song với những gì đã và đang diễn ra trong sự khởi nguyên, mở rộng và cuối cùng là hội tụ của vũ trụ, có nghĩa là Thiên Chúa đang tạo ra hàng triệu triệu hành tinh, Thiên Chúa đang tạo ra hàng tỷ tỷ con người. Và như vũ trụ của chúng ta một ngày nào đó sẽ hội tụ lại với nhau một lần nữa thành một hợp thể độc nhất, thì tất cả mọi con người sẽ một lần nữa đến với nhau thành một cộng đoàn độc nhất, trong đó tình yêu thân mật của Thiên Chúa cho mỗi một người sẽ đưa chúng ta đến với nhau, và giữ chúng ta lại với nhau trong một sự hiệp nhất quá đơn giản để tưởng tượng. Bây giờ, sự hiệp nhất với Thiên Chúa và tha nhân, không phải là chúng ta không ý thức được, nhưng chúng ta rồi sẽ nhận biết và cảm nhận sự này với một lòng biết ơn tự thức cao vượt và một sự say mê dạt dào.

Sự Tự đại bị Kích động quá mức

Bây giờ có hơn 7 tỷ người trên trái đất, và mỗi một người chúng ta đều có cảm giác như mình là trung tâm vũ trụ. Đây chính là những gì gây ra hầu hết vấn đề của chúng ta trong thế giới, trong cuộc sống, và trong gia đình mình.

Và không trách ai về điều này, bởi có lẽ chính Chúa đã tạo ra chúng ta như thế này. Mỗi một người chúng ta, được tạo ra theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa, nghĩa là mỗi một người chúng ta, mang một tia lửa thiêng, một mảnh của bất diệt, và một nhận thức thâm căn về phẩm giá độc nhất vô nhị đó. Chúng ta là những linh hồn bất diệt đang du ngoạn trong một thế giới hữu diệt. Trích lại lời của thánh Augustino, thì chúng ta được tạo ra cho sự thần thiêng và quả tim chúng ta không thỏa mãn cho đến khi được nghỉ ngơi trong sự thần thiêng một lần nữa, quả tim chúng ta cũng tự đại trên cuộc lữ hành đời sống, được thổi bùng bởi phẩm giá và sự độc nhất vô nhị của mình. Theo sách Giảng viên, Thiên Chúa đã làm cho mọi sự nên xinh đẹp theo hạn kỳ riêng của mình, nhưng Thiên Chúa đã cho quả tim con người nằm ngoài thời gian, để cho chúng ta tương hợp với mọi mùa từ khởi đầu cho đến kết thúc. Địa cầu này không đủ cho chúng ta, và chúng ta biết điều đó.

Hơn nữa, một tâm thức về sự đặc biệt đang nằm ngay trung tâm nhận thức của chúng ta. Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu! Descartes đã đúng: Điều duy nhất chúng ta có thể hoàn toàn chắc chắn, chính là việc chúng ta hiện hữu và rằng các suy nghĩ và cảm giác của chúng ta là những sự có thật. Mọi sự còn lại, có lẽ chúng ta chỉ đang mơ. Chúng ta nhận thức bản ngã rằng mình đặc biệt, chúng ta thấy chán nản trước việc thế giới không thể cho chúng ta những gì chúng ta muốn, và chúng ta nhận thức hụt hẫng về việc tất cả mọi người khác trên trái đất cũng độc nhất vô nhị và đặc biệt như chúng ta vậy. Đó là bản tính con người và sẽ luôn luôn như vậy.

Nhưng ngày nay, có nhiều điều đang hội tụ làm trầm trọng hơn, cả sự tự đại lẫn thao thức của chúng ta. Nói ngắn gọn, ngày nay chúng ta hầu như quá bị kích động trong sự tự đại, và lại thường không có được những công cụ để xử lý ngọn lửa bùng phát này của linh hồn.

Chúng ta bị sự tự đại kích động quá mức như thế nào? Có nhiều yếu tố khác nhau, nhưng truyền thông đương thời và công nghệ thông tin là hai điều cần phải nói rõ. Qua chúng, chúng ta có thể tiếp cận thế giới một cách hữu hiệu đến từng phút. Mà chúng ta không được trang bị để xử lý điều này. Trong khi thông tin thì hầu như trung lập, nhưng cho dù là do ý tốt đẹp đi chăng nữa, thì mặt xấu của việc này là truyền thông đương thời đang kích động quá mức sự tự đại và thao thức của chúng ta, bằng cách đổ ào ào các chi tiết riêng tư về cuộc sống của những người giàu có, người nổi tiếng, người đẹp, người có tài, người có quyền, người siêu thông minh, siêu thành công, và cả những người trụy lạc một cách hấp dẫn, như thế truyền thông nhiều lần xâm phạm sự cân bằng nội tâm của chúng ta, và cho chúng ta một ảo tưởng riêng nung nấu về sự tự đại, về một cách thức nào đó để cho thế giới phải ngước nhìn. Chúng ta thấy điều này trong một dạng cực đoan và méo mó, như hành động xả súng hàng loạt, khi một con người cô độc loạn trí giết người bừa bãi vì một ám ảnh bệnh hoạn về tự đại. Chúng ta cũng thấy điều này trong hiện tượng chán ăn đang ngày càng phổ biến. Các ví dụ này có vẻ không điển hình, nhưng chúng ta đang trở thành một xã hội mà trong đó ai ai cũng bị kích động ngặt nghèo bởi sự tự đại của riêng mình.

Và ngày nay, nhìn chung, chúng ta không có công cụ cho đủ để giải quyết chuyện này. Con người luôn luôn thao thức và tự đại, nhưng trong các thế hệ trước, họ có nhiều công cụ hơn – của tôn giáo và xã hội – để xử lý sự thao thức, tự đại, và chán chường. Ví dụ như, trong các thế hệ đi trước, đặc nét văn hóa hạn chế hơn những sự cho người ta bồi đắp cái tôi của mình. Trong các thế hệ trước, người ta phải thấy có lỗi hơn về việc tự đề cao, tự thần thánh hóa, sự tham lam công khai, và sự tự quy thô thiển. Khiêm nhường được xem là một đức tính, và không ai được ủng hộ để tự cho mình là quá lớn cả. Điều này dội một gáo nước lạnh vào cái tôi, vào những đòi hỏi thô thiển cho riêng mình, và thói tham lam, và như thế làm nản lòng thói tự đại. Thông điệp thời xưa rất rõ ràng: Bạn không phải là trung tâm vũ trụ.

Nhưng dần dần, ngày nay không còn như thế nữa. Xã hội, càng ngày càng đang cho chúng ta quyền để tự đại, cho chúng ta đặt mình làm trung tâm thế giới và tự hào tuyên bố công khai điều này. Ngày nay, không chỉ là chúng ta được phép đòi hỏi rất nhiều, mà thậm chí là chỉ khi chúng ta khẳng định mình theo cách này thì mới được ngưỡng mộ. Và đây cũng là công thức cho sự ghen tương, cay đắng, và bạo lực. Sự tự đại và thao thức cần phải một hướng dẫn lành mạnh từ cả văn hóa và tôn giáo. Ngày nay, nhìn chung, chúng ta không có được đường hướng này.

Chúng ta đang yếu ớt một cách nguy hiểm trong việc ghi khắc vào lương tâm xã hội và đặc biệt là lương tâm của giới trẻ, một số chân lý nhân văn và tôn giáo mang tính sống còn là: Mọi vinh quang đều nơi Chúa! Trong đời này, đến tận cùng, mọi bản giao hưởng đều dang dở. Bạn không phải là trung tâm vũ trụ. Có một tội có thực! Ích kỷ không phải là một nhân đức! Khiêm nhượng là nhân đức! Bạn chỉ tìm được sự sống khi cho đi sự sống! Cuộc sống của người khác cũng thật như cuộc sống của bạn vậy!

Chúng ta đã làm hỏng giới trẻ bằng cách cho các em những kỳ vọng vô thực, và thậm chí còn tước đi khỏi các em những công cụ để xử lý các kỳ vọng vô lý đó.

Sự khôn tả của Thiên Chúa – Những gì được mặc khải qua đôi mắt Chúa Giêsu

‘Theo tôi hiểu về Ngài, thì Thiên Chúa khó mà hiểu được.’ Đây là câu nói ưa thích của một linh mục bạn giờ đã qua đời. Đây đúng là một nhận định khôn ngoan.

Bất kỳ ai tự nhận là hiểu được Thiên Chúa, đều đang bị lừa phỉnh, vì tín lý tiên quyết chúng ta có về Thiên Chúa là Thiên Chúa là khôn tả, không thể tả được. Điều này nghĩa là chúng ta có thể biết Ngài, nhưng không bao giờ nắm bắt được Thiên Chúa trong một khái niệm. Thiên Chúa là Đấng không thể tưởng tượng nổi. Thiên Chúa không thể bị giới hạn trong bối cảnh và đóng khung tư tưởng dù theo kiểu nào đi nữa. Tạ ơn Chúa vì như thế. Bởi nếu có thể hiểu được Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ có giới hạn như chúng ta.

Nhưng Thiên Chúa là vô hạn. Sự vô hạn, chính xác là bởi vô hạn thì không thể giới hạn, không thể bị hạn chế. Do đó, không thể nắm bắt sự vô hạn trong một hình ảnh được. Thật vậy, chúng ta thậm chí không có cách nào tạo hình giới tính của Thiên Chúa. Thiên Chúa không phải đàn ông, không phải đàn bà, không phải lưỡng tính nửa nam nửa nữ. Giới tính của Thiên Chúa, cũng như bản tính của Ngài, là không thể nắm bắt nổi về mặt tri thức. Chúng ta không thể nắm bắt được và cũng không có ngôn ngữ diễn tả hay tuyên bố được gì. Thiên Chúa, vượt quá các phạm trù trong suy nghĩ của con người, theo một cách nào đó, Ngài vừa nam tính hoàn hảo vừa nữ tính hoàn hảo. Đây là một mầu nhiệm vượt quá chúng ta.

Nhưng trong khi không thể nắm bắt mầu nhiệm bằng bất kỳ lý tính thỏa đáng nào, thì chúng ta có thể biết được mầu nhiệm này một cách mật thiết, và thực sự biết được mầu nhiệm này cách sâu sắc, như một sự mật thiết nhất trong mọi hiểu biết trong đời. Không tình cờ khi Kinh Thánh dùng từ ‘biết’ để nói về sự thân mật tình dục. Có nhiều cách biết khác nhau, một số mơ hồ, trực giác, và mật thiết hơn số khác. Chúng ta có thể biết Chúa theo một cách tận cùng mật thiết, ngay cả khi chúng ta không thể khái niệm hóa Thiên Chúa một cách thỏa đáng. Và cũng đúng như thế với tất cả hiện thực thâm sâu trong đời, chúng ta có thể biết và liên hệ với các hiện thực này một cách mật thiết, nhưng không bao giờ có thể hiểu cho trọn vẹn được.

Vậy nên điều này khiến mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa như thế nào? Theo cách tốt nhất! Chúng ta không phải dự một cuộc hẹn hò ẩn danh, cố gắng thân mật đến với một người hoàn toàn xa lạ, với một người chưa biết, có thể tốt, có thể xấu. Thiên Chúa có lẽ là khôn tả, nhưng bản tính Thiên Chúa đã được bày tỏ cho chúng ta. Mặc khải, qua tự nhiên, qua các tôn giáo khác, và đặc biệt là qua Chúa Giêsu, nói lên những gì bên trong thực thể khôn tả của Thiên Chúa. Và những gì đã được mặc khải vừa khuây khỏa trên mọi khuây khỏa, và thách thức trên mọi thách thức. Những gì được mặc khải là vẻ đẹp của tạo vật, trong nhiệt tâm của mọi tôn giáo đích thực, và trong mặc khải của Chúa Giêsu về CHA, đưa chúng ta vượt trên một cuộc hẹn hò ẩn danh để đi vào một mối quan hệ đáng tin cậy. Tự nhiên, tôn giáo và Chúa Giêsu cùng nhau hợp lại để mặc khải về Thực Thể Tối Cao, Nền tảng của Hiện hữu, Đấng Tạo Hóa và Đấng Duy Trì vũ trụ, Thiên Chúa, Đấng khôn ngoan, thông minh, dư tràn, say mê, yêu thương, tha thứ, kiên nhẫn, tốt lành, đáng tin, và tuyệt đẹp vượt quá trí tưởng tượng.

Pierre Teilhard de Chardin, trong một thị kiến thần nghiệm, từng chiêm ngưỡng tất cả những điều này trong đôi mắt Chúa Giêsu. Một ngày nọ, khi ông đang nhìn vào đôi mắt Chúa Giêsu trên một bức tường nhà thờ, đột nhiên đôi mắt Chúa biến đổi và Teilhard thấy: ‘Đôi mắt lúc đầu rất ân cần và đầy thương xót mà tôi tưởng như đôi mắt mẹ tôi đang đứng trước tôi, đột nhiên một giây sau, bỗng như đôi mắt một người phụ nữ, đầy đam mê và quyền năng khiến tôi khuất phục, và cùng lúc đó cũng thuần khiết đến áp chế đến nỗi trước ánh nhìn đó không cảm xúc nào có thể thoát được. Và rồi đôi mắt lại thay đổi lần nữa, trở nên đầy cao quý, uy nghi hùng dũng, gần giống với đôi mắt của những con người dũng cảm hay đầy sức mạnh, nhưng lại cao cả hơn và say mê hơn. Những vẻ đẹp đa dạng này quá đỗi trọn vẹn, quá say đắm, và cũng biến đổi quá nhanh chóng, đến nỗi tôi thấy cái nhìn đó chạm đến và thôi thúc mọi sức mạnh của tôi cùng một lúc, đến nỗi cốt tủy hiện sinh của tôi bừng bừng đáp lời, cất lên một tiếng độc nhất vô nhị của triển nở và hạnh phúc.

Bây giờ, khi tôi sốt mến nhìn chăm chăm vào đôi mắt của các tông đồ Chúa Kitô, vốn đã trở nên những hố thẳm tuôn trào cho một đời sống nồng nhiệt và say mê, đột nhiên tôi thấy trỗi lên từ những chiều sâu đó một sự gì như đám mây, che phủ và hòa quyện tất cả sự đa dạng mà tôi đã mô tả cho bạn. Dần dần, một cảm xúc lạ thường vô cùng mãnh liệt, lan tràn trên các sắc thái ý nghĩa đa dạng mà đôi mắt Chúa đã bày tỏ, trước hết là thúc đẩy, rồi cuối cùng chiếm trọn tất cả. …. Và tôi đứng đó trân trân. Cảm xúc cuối cùng này, vốn đã chiếm lĩnh và quy tụ hết tất cả mọi cảm xúc khác trong mình, thật không thể nào nói nên lời được. Tôi đơn giản không thể nói được là liệu cảm xúc này biểu hiện một day dứt thống khổ không thể tả hay một niềm vui chiến thắng vô cùng vô tận.’

Không thể giải mã, gói gọn, hay nắm bắt được Thiên Chúa trong suy nghĩ của con người, nhưng từ những gì không thể giải nghĩa được, chúng ta đang ở trong đôi bàn tay tốt lành và an toàn. Chúng ta có thể ngủ ngon mỗi đêm. Thiên Chúa nâng đỡ chúng ta. Đến tận cùng, cho toàn thể nhân loại và từng người chúng ta, tất cả mọi sự sẽ tốt đẹp, và tất cả mọi hiện sinh sẽ tốt đẹp. Thiên Chúa tốt lành.

Dorothy Day – Vị thánh của thời đại chúng ta

Chúng ta sẽ sớm được thấy ngày phong hiển thánh của Dorothy Day. Với nhiều người ngày nay, đặc biệt là những người không thuộc Công giáo La Mã, việc phong hiển thánh không mấy gây chú ý. Nhưng phong thánh tác động như thế nào trong thế giới chúng ta? Hơn nữa, chẳng phải việc phong thánh đơn thuần là sự thừa nhận một lòng sốt mến nhất định, việc mà hầu hết mọi người không thể theo? Vậy tại sao, lại có nhiều chú tâm quanh việc phong thánh cho Dorothy Day, người thực sự đã tuyên bố rằng bà không muốn được xem là thánh, và quả quyết rằng tôn ai đó làm thánh thường góp phần làm vô hiệu ảnh hưởng của họ?

Ừ, thì Dorothy Day không phải là dạng thánh phù hợp hoàn toàn với quan niệm thông thường về sự sốt mến. Chắc chắn trong số chúng ta có người biết những chuyện sơ đẳng về cuộc đời của bà. Bà sinh ở New York năm 1897 và mất năm 1980. Bà là nhà báo, nhà hoạt động vì hòa bình, một người cải sang Kitô giáo, cùng với Peter Maurin lập Phong trào Công nhân Công giáo để kết hợp sự cứu trợ trực tiếp cho người nghèo và người vô gia cư với hành động phi bạo lực vì hòa bình và công lý. Phong trào này vẫn đầy sinh lực ngày nay. Bà cũng làm việc cho tờ báo mình sáng lập, tờ Công nhân Công giáo, từ năm 1933 cho đến tận khi qua đời.

Nhân cách của bà và phong trào bà sáng lập, đã truyền hứng khởi mạnh mẽ cho các Kitô hữu thuộc mọi phái cố gắng hiệu quả hơn trong việc đưa Tin mừng đến các ngả đường, cố gắng đưa Chúa Giêsu và công lý chung lại với nhau một cách hữu hiệu hơn. Ngày nay, bà được nhắc đến như hình mẫu hàng đầu cho tất cả mọi người, dù là Kitô hữu hay không, đang hăng hái làm việc trong lĩnh vực công bằng xã hội.

Vậy bà rất xứng đáng với vinh dự này. Bà, có lẽ nổi trội hơn bất kỳ ai trong thế hệ của mình, đã có khả năng kết nối Phúc âm và công lý, Chúa Giêsu và người nghèo, và đem hóa trái của sự kết hợp này đến các ngả đường một cách hiệu quả. Đây là một chiến công hiếm có và đầy gian nan.

Ernst Kasemann từng nhận định rằng vấn đề của cả thế giới và Giáo hội chính là việc những người theo chủ nghĩa tự do thì không sốt mến và những người sốt mến thì không theo chủ nghĩa tự do. Ông đã đúng. Chính trị và tôn giáo đều đang bị bần cùng hóa bởi người sốt mến không thể theo lý tưởng tự do, và người theo đuổi tự do lại không thể sốt mến. Thường thường bạn khó thấy có ai vừa lĩnh xướng buổi lần hạt vừa lĩnh xướng cuộc tuần hành hòa bình. Bạn cũng ít khi thấy ai vừa chiến đấu cho phong trào vì sự sống vừa chiến đấu cho lựa chọn của phụ nữ. Và bạn cũng ít thấy ai vừa tuyệt đối bảo vệ những vấn đề riêng tư nhất của đạo đức cá nhân, và vừa có cùng một nhiệt tâm luân lý cao độ như thế cho các vấn đề công bằng xã hội toàn cầu. Nhưng, có đó, chính là Dorothy Day. Bà vừa dẫn đầu cuộc tuần hành hòa bình, vừa bắt kinh mân côi, một cách thật thoải mái như nhau. Có người từng bảo: Nếu bạn rút ra những gì sâu sắc nhất và tốt nhất của những người bảo thủ và tự do, rồi hòa chung với nhau, thì kết quả chính là Dorothy Day.

Một nét đặc tính thứ hai xác định Dorothy Day và linh đạo của bà, chính là khả năng hành động một cách đơn sơ, và hành động hữu hiệu. Bà không chỉ có đức tin, mà bà còn hành động dựa trên đức tin. Bà là một người thực hành, chứ không chỉ lắng nghe, và bà đã hiện thực hóa đức tin của mình và đưa đức tin đó thể hiện trong một thể chế, đó là Phong trào Công nhân Công giáo, vốn không chỉ có thể mục vụ trực tiếp cho người nghèo, mà còn có thể đưa tổ chức vào trong một sự rộng lớn và trường tồn hơn đức tin, lập trường và sức mạnh của một con người riêng biệt. Dorothy có thể hành động theo một đường lối rộng lớn và hữu hiệu hơn bản thân bà. Có câu châm ngôn thế này: Giấc mơ một mình, thì chỉ là giấc mơ, nhưng giấc mơ cùng với người khác có thể trở thành hiện thực. Dorothy đã cùng mơ với người khác, và làm cho giấc mơ thành hiện thực. Ngày nay, hầu hết chúng ta đang đấu tranh để thực hành trên đức tin của mình, và hơn nữa là hiện thể đức tin một cách cụ thể trong hành động hiệu quả, và bền vững trong cộng đồng.

Cuối cùng, Dorothy Day có thể là một hứng khởi cho chúng ta bởi đã làm điều đúng đắn vì nguyên cớ đúng đắn. Sự tân tụy của Dorothy Day với người nghèo, không phát xuất từ cảm giác tội lỗi, hay rối loạn, hay giận dữ, cay đắng với xã hội. Nhưng là từ lòng biết ơn. Con đường bà đến với đức tin, Chúa Giêsu, và người nghèo thật không theo kiểu chính thống. Trong những năm trước khi trở lại đạo, bà là người vô thần, người cộng sản, một phụ nữ mang tư tưởng bài hôn nhân, và là một phụ nữ từng phá thai. Biến cố khiến bà hướng về Thiên Chúa và người nghèo, là khi bà sinh con gái mình, Tamar Theresa, trong niềm vui sinh hạ, bà cảm nghiệm được một lòng biết ơn ghi dấu sâu đậm trong linh hồn. Trong tiểu sử của mình, Cô đơn Dài lâu (The Long Loneliness) bà mô tả khi lần đầu nhìn thấy con gái mới sinh của mình, lòng bà tràn ngập một niềm biết ơn, làm cho đức tin và tình yêu tái sinh trong bà và không bao giờ mất đi nữa. Nhiệt tâm của bà dành cho Thiên Chúa và người nghèo được thúc đẩy bởi cảm thức này.

Bà cũng là một vị thánh rất trần gian. Chắc chắn, bà có ý muốn, là vị thánh đầu tiên được họa hình là một phụ nữ với điếu thuốc trên môi. Bà là vị thánh của thời đại chúng ta. Bà cho chúng ta thấy cách để có thể phục vụ Thiên Chúa và người nghèo trong một thế giới đầy phức tạp, và làm sao để làm được việc này với tình yêu và lòng phấn khởi.