RonRolheiser,OMI

Chiếc áo cháy lửa

Người ta thường bảo rằng, quyển sách bạn cần đọc nhất sẽ tìm đến bạn khi bạn cần đọc nhất. Tôi đã nhiều lần trải nghiệm điều này, và gần đây nhất là với quyển Chiếc áo cháy lửa, Một năm với thánh Teresa Hài Đồng Giêsu (Shirt of Flame) của Heather King
Tựa đề quyển sách mượn từ T.S. Eliot, trong quyển Bốn bộ tứ (Four Quartets) trong đó ông cho rằng Tình yêu, hay Thiên Chúa, ẩn sau sự giày vò mà chúng ta thường cảm nhận trong những khát khao mãnh liệt của chính mình và sự thiêu đốt mà chúng ta cảm nhận đó là “chiếc áo lửa không chịu đựng nổi.”
Tác giả King viết quyển sách này từ một hoàn cảnh dữ dội trong chính đời mình: Cô là một tác giả, nhà báo tự do, độc thân, đã ly hôn, đang phục hồi chứng nghiện rượu, cố gắng dàn xếp một vài tăm tối trong quá khứ, đương cự với một ám ảnh gây tê liệt cả tinh thần, khi cô yêu mà không được đáp lại, cô cũng mạo hiểm về tài chính khi từ bỏ công việc ổn định trong ngành luật để đổi lấy sự bất định của một tác giả tự do, và đang phải vật lộn với cảm thức mình là người ngoài cuộc xa lạ với những đều bình thường như gia đình, hôn nhân, và cộng đồng, cảm nhận mình như cô nhi ngoài bàn tiệc cuộc đời. Vậy nên, cô để dành một năm để chìm đắm nơi một trong những vị thánh lôi cuốn nhất mọi thời đại, Têrêxa Hài Đồng Giêsu, để cố gắng tìm xem liệu thánh Têrêxa có phải là kim chỉ nam đạo đức và thiêng liêng, nhằm xác định lại cuộc đời của mình hay không. Kết quả là một quyển sách chính chắn, thấu suốt sâu sắc và cực mạnh.
Cô nhận ra nơi linh hồn Têrêsa, bên trong linh hồn một vị thánh, bên trong con người dường như có thể từ bỏ mọi sự vì Chúa, họ có cùng những khát khao mãnh liệt mà cô cũng đang cảm nhận trong lòng mình. Và cô nhận ra những ngọn lửa này có thể vừa thanh luyện vừa hủy diệt, cứu rỗi hay giày vò, biến đương sự thành thánh nhân lớn hay thành tội nhân lớn. Vậy nên, cô để ngọn lửa của thánh Têrêsa chiếu tỏa trên ngọn lửa của lòng cô. Và do bởi những gì riêng tư và cá nhân nhất trong mỗi chúng ta, nếu được bày tỏ, cũng sẽ mang tính chung nhất, cho nên khi tiết lộ những đấu tranh riêng tư và sâu thẳm của mình, quyển sách của cô cũng soi rọi cho cuộc đấu tranh chung của nhân loại. Tuy nhiên, quyển sách này là kiểu tự bày tỏ, chứ không hề phô trương, một điều mà tác giả nắm rất rõ.
Ví dụ như, rút ra từ một sự kiện nhiều người biết trong cuộc đời thánh Têrêsa khi còn bé, được chị mình bảo chọn ra một thứ trong chiếc giỏ may đầy bóng mày, Têrêsa nói: “Em chọn hết!” và lấy hết cả giỏ rồi đi. Cô King suy ngẫm dựa trên đấu tranh của chính mình với ý chí chỉ mong một điều, như Kierkegaard cũng từng trải qua. Và đây là điều mà cô rút ra cho cuộc đời mình:
“Em chọn hết!” thánh Têrêsa đã nói thế, và tôi còn tiến hơn nữa, tôi càng thấy một sự tiến thoái lưỡng nan của con người đó là muốn tất cả. Tôi muốn độc thân, và tôi cũng muốn bung mình cho người bạn đời, tôi muốn các bí mật tăm tối, tiếng động, ánh sáng, sự điên cuồng và kích động của chốn đô hội, và tôi cũng muốn trồng một khu vườn, nuôi súc vật và sống ở trang trại. Tôi muốn sống một nơi suốt đời, và tôi cũng muốn chu du dọc ngang hết mọi thước đất trên địa cầu trước khi chết. Tôi muốn ngồi hoàn toàn tĩnh lặng, và tôi cũng không ngừng dấy lên ý muốn hoạt động. Tôi muốn trốn đi và sống ẩn danh, và tôi cũng muốn nổi tiếng. Tôi muốn gần gũi với gia đình, và tôi cũng muốn để mặc gia đình. Tôi muốn cả đời mình thật năng động, và tôi cũng muốn dành cả đời để trầm tư. Tôi muốn trao mọi sự cho Chúa, và tôi không biết làm thế nào! Tôi khao khát được trao đi cái tôi trọn vẹn của mình, và tôi không thể!”
Suy tư về lời khấn khó nghèo của thánh Têrêsa, cô King viết: “Khó nghèo không bao giờ là chuyện tự nguyện. Khó nghèo hệ tại chính ở việc bạn tuyệt đối không muốn nghèo.” Lấy ý từ nhà thơ người Đức, Gertrud von le Fort, người đã viết rằng khi linh hồn cô thống khổ nhất, thì mọi thứ chung quanh cũng thốt lên rằng: “Nhưng cô chẳng là gì cả!” Và cô King viết tiếp: “Ít nhất có ai đó đã nói lên chuyện đời tôi. Đặc biệt trong mười năm qua, tôi đã thống khổ, và “họ” – chồng tôi, người tôi yêu, nghiệp pháp lý, nghiệp y khoa khi tôi mắc ung thư, ngành xuất bản- tất cả đã nói rất nhiều rằng: “Nhưng cô chẳng là gì cả.” Nơi nào tôi hướng đến, đều là một bức tường trống không. Mọi sự tôi hy vọng, đều là tro bụi. Mọi sự tôi đã làm việc, chỉ là “Nhưng cô chẳng là gì cả.” … Một buổi sáng khi đang tắm, tôi khóc với Chúa Kitô: “Con không yêu Chúa, và Chúa cũng không yêu con!” Chúng ta đều như thế.
Nếu bạn đấu tranh với đức tin, với sự rạn vỡ trong đời, với một ám ảnh, với một chứng nghiện, với một ý thức gặm nhấm rằng cuộc đời bạn đã sai lầm, ý thức mình là kẻ ngoài cuộc, một cô nhi trên bàn tiệc sự sống, và nhất là, với một nhận thức rằng mình không yêu Chúa Giêsu, và Chúa cũng không yêu mình, rằng mình là hư vô, thì quyển sách này dành cho bạn đó. Đây là quyển sách cho những người nghĩ là mình quá yếu, và bác sĩ cũng chẳng giúp gì được.

Nụ hôn của Thiên Chúa lên linh hồn

Đââu là gốc rễ thực sự của sự cô đơn trong con người? Một sai sót trong cấu thành của chúng ta? Sự bất xứng và tội lỗi? Hay, như câu nói trứ danh của thánh Âugutinô, ‘Ngài đã tạo thành chúng con, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.’

Dù rất giá trị, nhưng câu châm ngôn của thánh Âugutinô vẫn không đủ. Chúng ta là những linh hồn vô hạn bên trong cuộc sống hữu hạn, và chỉ một điều này thôi là đã đủ để giải thích cơn nhức nhối triền miên không thỏa của chúng ta, ngoại trừ một điều là linh hồn chúng ta khi đi vào thế giới đã mang lấy sự bất diệt rồi, và điều này cho toàn bộ cơn nhức nhối của chúng ta một sắc thái đặc biệt.

Có nhiều cách để giải thích cho điều này: Ví dụ như, Bernard Lonergan, triết gia và thần học gia đáng trọng, đã cho rằng linh hồn con người không đến thế giới như thể một tabla rasa, một tờ giấy trắng, không tì vết để có thể viết gì lên đó cũng được. Với ông, chúng ta được sinh ra với các nguyên tắc tiên quyết ghi tạc vào trong linh hồn không bao giờ phai. Ý ông là gì?

Thần học và triết học kinh điển, xác định bốn sự mang tính siêu việt, có thể nói là chân tính của mọi sự có tồn tại, chúng là nhất, chân, thiện, và mỹ. Mọi sự tồn tại đều có bốn phẩm chất này. Tuy nhiên các phẩm chất này chỉ hoàn hảo nơi Thiên Chúa. Chỉ mình Thiên Chúa là Đấng toàn nhất, toàn chân, toàn thiện và toàn mỹ. Nhưng theo Lonergan, Thiên Chúa đã ghi tạc 4 sự này, trong tình trạng hoàn hảo, và cốt lõi linh hồn con người.

Do đó, chúng ta đến trong thế giới, thì đã biết, dù còn mập mờ, về sự toàn nhất, toàn chân, toàn thiện và toàn mỹ, vì chúng ta đã có sẵn trong chúng ta, một dấu ấn không phai. Như thế, chúng ta có thể phân biệt đúng sai, vì đã biết sự thật hoàn hảo và sự thiện hoàn hảo trong cốt lõi linh hồn mình, và cũng nhận biết theo bản năng về tình yêu và vẻ đẹp, bởi chúng ta đã biết chúng một cách hoàn thiện trong bản thân mình. Trong đời này, chúng ta không học biết sự thật, mà là nhìn nhận sự thật, chúng ta không học yêu mà là nhận ra tình yêu, và chúng ta không học biết nhưng là nhận ra cái gì là tốt lành. Chúng ta nhận ra được vì đã có chúng trong cốt lõi linh hồn mình.

Một vài nhà thần nghiệm đã có một mô tả thế này: Linh hồn con người đến từ Thiên Chúa và trước khi đặt linh hồn vào trong cơ thể, điều cuối cùng Thiên Chúa làm là hôn linh hồn đó. Rồi linh hồn đi qua đời sống, vẫn luôn nhớ về nụ hôn đó, một nụ hôn của tình yêu hoàn hảo, và linh hồn xác định mọi tình yêu và nụ hôn trong đời qua nụ hôn hoàn hảo ban sơ đó.

Các nhà khắc kỷ Hy Lạp cũng nói về một điều tương tự. Họ dạy rằng linh hồn đã tồn tại sẵn trong Thiên Chúa, và trước khi đặt linh hồn và trong một cơ thể, Thiên Chúa xóa đi ký ức về hiện hữu của nó. Nhưng linh hồn luôn hướng về Chúa một cách vô thức, bởi khi đến từ Thiên Chúa, linh hồn luôn nhớ về mái ấm đích thực của mình, và khắc khoải mong được về lại.

Người Hy Lạp cho rằng Thiên Chúa đặt linh hồn vào thân xác chỉ khi đứa bé đã thành hình trọn vẹn trong lòng mẹ. Ngay sau khi đặt linh hồn vào thân xác, Thiên Chúa liền khóa chặt ký ức tiền hiện hữu của nó bằng cách khóa chặt môi đứa trẻ để nó không bao giờ nói về tiền hiện hữu của mình. Đây là lý do vì sao chúng ta có một rãnh lõm dưới mũi, ngay trên môi. Đây là nơi Chúa đặt ngón tay lên để khóa lại. Đây là lý do vì sao bất kỳ lúc nào cố gắng để nhớ chuyện gì đó, chúng ta vô thức đặt ngón tay lên nơi này. Chúng ta đang cố gắng phục hồi một ký ức ban sơ.

Có lẽ, tôi cần đưa thêm một ẩn dụ nữa. Chúng ta thường nói về những sự ‘đúng rõ ràng’ hay ‘sai rõ ràng.’ (ringing true và ringing false.) Nhưng chỉ có chuông mới rung (ring). Trong chúng ta có một chiếc chuông rung lên khi đúng và sai hay sao? Về căn bản, thì có! Chúng ta nuôi dưỡng một ký ức vô thức về một thời từng được biết một tình yêu, sự thiện và vẻ đẹp trọn hảo. Do đó, mọi sự sẽ ngân lên đúng hay sai, dựa vào việc liệu chúng có theo tiêu chuẩn là tình yêu, sự thiện và vẻ đẹp hoàn hảo vốn đã có nơi cốt lõi linh hồn chúng ta hay không.

Và cốt lõi đó, trung tâm đó, nơi đó trong linh hồn chúng ta, nơi chúng ta được ghi dấu với các nguyên tắc tiên quyết và nơi chúng ta ghi nhớ nụ hôn của Thiên Chúa khi chúng ta được sinh ra, với nỗi khắc khoải không ngơi, trong đời này. Như lời Henri Nouwen, thì chúng ta mang một ký ức mơ hồ về một thời từng được âu yếm trong đôi bàn tay trìu mến nhiều hơn bất kỳ bàn tay nào từng gặp trong đời.

Linh hồn chúng ta mơ hồ nhớ về một thời từng được biết tình yêu hoàn hảo và vẻ đẹp hoàn hảo. Nhưng, trong đời này, chúng ta không bao giờ gặp được sự hoàn hảo đó, dù cho chúng ta cứ luôn mãi đau đáu một người hay một sự nào đó đáp ứng được chiều sâu thẳm này trong chúng ta. Điều này tạo nên trong chúng ta một sự cô đơn tinh thần, một khao khát những gì mà chúng ta xác định là tri kỷ, một người có thể thực sự nhìn nhận, chia sẻ và tôn trọng những gì thâm sâu nhất trong chúng ta.

Cúi đầu và ngước đầu

Vào cuối nghi lễ phụng vụ Roma, có lời mời mọi người đón nhận phép lành trọng thể. Lời mời này như sau: Chúng ta cúi đầu và cầu nguyện xin Chúa chúc lành. Ý niệm phía sau điều này, rõ ràng là một phép lành chỉ có thể thực sự được lãnh nhận trong cung kính, khiêm nhượng, với cái đầu cúi xuống, và những kiêu căng tự hào bị gạt bỏ.

Một cái đầu cúi xuống là dấu chỉ của khiêm hạ, và hầu như khắp thế giới, đều xem đây là một tư thế đúng đắn về đường thiêng liêng. Các ngòi bút thiêng liêng hiếm khi đặt lại vấn đề hay thấy cần phải làm rõ ý niệm, lành mạnh linh hồn là cúi đầu trong tinh thần khiêm tốn. Nhưng chuyện này có thật đơn giản như thế hay không?

Phải công nhận rằng, trong tư thế đơn sơ này lại chứa đựng biết bao khôn ngoan. Một cái đầu cúi xuống trong cung kính là dấu chỉ của khiêm hạ. Hơn nữa, kiêu ngạo là tội hàng đầu trong những tội chết người. Sự kiêu ngạo của con người là bẩm tại, sâu sắc và không thể nhổ triệt được. Nó có thể được cứu chuộc và cũng có thể bị đập tan, nhưng luôn còn lại trong chúng ta, và còn lại một cách cần thiết. Không có sự lành mạnh nếu không có sự kiêu hãnh, nhưng nó cũng có thể hủy hoại sự lành mạnh. Có một điều gì đó bên trong bản chất con người, cố kết trong cá tính và tự do của chúng ta, một sự không thích quỳ gối trước những gì cao cả hơn và quyền thế hơn. Chúng ta canh chừng lòng kiêu hãnh của mình một cách dữ dội, và không phải ngẫu nhiên khi hình tượng điển hình cho sự chống đối Thiên Chúa là câu nói ngoan cố bám chặt vào kiêu hãnh của Lucifer: ‘Tôi sẽ không phục vụ.’

Hơn nữa, chúng ta không thích thừa nhận mình yếu đuối, hạn chế, lệ thuộc và phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, tất cả chúng ta phải lớn lên và trưởng thành, đến một mức độ mà khi đó chúng ta không còn ngây thơ và đủ kiêu căng để tin rằng mình không cần phúc lành của Thiên Chúa nữa. Tất cả mọi linh đạo đều dựa vào khiêm hạ. Sự trưởng thành cả về nhân bản lẫn linh hồn, lại hiển nhiên nhất trong những người quỳ gối cầu nguyện.

Nhưng, dù kiêu ngạo có thể là xấu, nhưng đôi khi kiêu hãnh và kiêu căng lại không phải là vấn đề. Đúng hơn, thì chúng ta phải đấu tranh với một tinh thần thương tích và tan vỡ, không còn biết cách đứng thẳng. Trẻ trung, khỏe khoắn, mạnh mẽ, kiêu căng và không nhận biết mình mỏng manh và hữu hạn đến thế nào (và ảo tưởng này có thể tồn tại đến tận tuổi già) là một chuyện, nhưng mang một tâm hồn tan vỡ, một tinh thần tan nát và mất đi lòng kiêu hãnh lại là chuyện khác. Khi điều này xảy đến, và nó luôn xảy đến với tất cả chúng ta nếu như chúng ta có sự nhạy cảm vừa đủ và sống đủ lâu, thì lòng kiêu hãnh bị tổn thương là một điều rất đỗi tiêu cực, nó giày vò kìm kẹp chúng ta đến nỗi không còn có thể đứng dậy, đứng thẳng, ngước đầu lên và đón nhận yêu thương cùng phúc lành.

Tôi còn nhớ hồi nhỏ, lớn lên trong nông trại, tôi từng chứng kiến chuyện thuần hóa ngựa. Người ta bắt được một con ngựa non lâu nay rong ruổi hoàn toàn tự do, và bằng một tiến trình tàn bạo, họ buộc chú ngựa non đó quy phục dây cương, bàn đạp và mệnh lệnh của con người. Khi tiến trình đã hoàn tất, con ngựa giờ phục tùng mệnh lệnh của con người. Nhưng tiến trình bẽ gãy sự tự do và tinh thần của con người, là một việc rất không nhẹ nhàng và do đó gây nên một kết quả lẫn lộn. Con ngựa giờ phục tùng, nhưng một phần tinh thần của nó đã bị phá vỡ.

Đây là một hình ảnh tương đồng cho cuộc hành trình của chúng ta, cả về nhân bản lẫn thiêng liêng. Cuộc sống, rất không trìu mến, đến cuối cùng, bẽ gãy tinh thần của chúng ta, vì những lý do tốt và xấu, rồi chúng ta khiêm hạ, nhưng cũng là mang một thương tích và không thể đứng thẳng được. Sự khiêm hạ cưỡng bách này có một hiệu ứng kép: Một mặt, chúng ta thấy mình khụy gối một cách tự nhiên hơn trước những gì cao cả hơn, nhưng mặt khác, bởi vì nỗi đau khi bị bẽ gãy, chúng ta tập trung vào bản thân mình hơn là vào người khác, và cuối cùng trở nên tật nguyền. Bầm tím và dễ vỡ, chúng ta không thể cho và nhận cho đúng đắn được, và trở nên dè dặt ngại ngùng khi chia sẻ sự tốt đẹp và chiều sâu của mình với người khác.

Linh đạo và tôn giáo, hầu hết đều quá thiên về một mặt mà thôi. Các linh đạo và tôn giáo luôn cảnh giác trước sự kiêu hãnh và tự đại (và cũng thừa nhận rằng, chúng có thật và luôn là những tội chết người.) Nhưng linh đạo và tôn giáo quá chậm trong việc đỡ người ta đứng lên. Chúng ta đều biết câu châm ngôn rằng, nhiệm vụ của linh đạo là làm đau người thoải mái, và xoa dịu cho người bị đau. Xét theo lịch sử, linh đạo và tôn giáo, dù không phải lúc nào cũng thành công với vế trước, nhưng cũng đã quá lơ đễnh với vế sau.

Kiêu hãnh và tự đại là tội nặng nề nhất trong tất cả các tính xấu. Tuy nhiên, một lòng kiêu hãnh bị tổn thương và một tinh thần vỡ nát cũng có thể làm hỏng chúng ta như thế.

Vậy nên, có lẽ khi Giáo hội chúc lành cho cộng đoàn vào cuối phụng vụ, thay vì nói, Chúng ta cúi đầu và cầu nguyện xin Chúa chúc lành. Thì nên đổi thành: Những ai nghĩ mình không cần phúc lành này: Hãy cúi đầu và cầu nguyện xin Chúa chúc lành. Còn những ai cảm thấy mình bị tổn thương, tan vỡ và bất xứng với phép lành này: Hãy ngước đầu lên và đón nhận tình yêu và ơn ban mà anh chị em đã từ lâu mong mỏi được đón nhận lần nữa.

Để linh hồn bắt kịp mình

Đôi khi, không có gì hữu ích cho bằng một ẩn dụ tốt.

Trong quyển sách Bản năng Thiên Chúa (The God Instinct) của mình, Tom Stella đã chia sẻ câu chuyện này: Một ngày nọ, vài phu khuân vác được thuê vận chuyển một khối lượng lớn hàng tiếp tế cho một nhóm thợ săn. Các gói hàng này nặng bất thường và đường mòn qua rừng già lại rất khó đi. Sau vài ngày đi đường, họ dừng lại, dỡ hàng xuống và không chịu đi nữa. Không một lời nài nỉ, đe dọa nào có thể thuyết phục họ tiếp tục hành trình. Khi được hỏi vì sao không thể đi tiếp, họ trả lời: ‘Chúng tôi không thể đi tiếp, chúng tôi phải chờ cho linh hồn bắt kịp đã.’

Chuyện này cũng có xảy ra trong cuộc sống chúng ta, ngoại trừ việc hầu như không bao giờ chúng ta chờ đợi cho linh hồn bắt kịp mình. Chúng ta cứ tiếp tục mà không có linh hồn, có khi là suốt nhiều năm ròng. Vậy nghĩa là gì? Gần như là chúng ta nỗ lực để ở trong thời khắc hiện tại, để thoải mái với chính mình, để ý thức được sự phong phú trong cảm nghiệm của bản thân. Gần như là các cảm nghiệm của chúng ta không thuộc phần hồn cho lắm, bởi chính chúng ta không hiện diện với nó. Ví dụ như:

Trong 20 năm vừa qua, tôi viết hằng ngày, kiểu như nhật ký vậy. Ý tôi là muốn giữ thói quen này để ghi lại những điều thâm sâu mà tôi nhận thức ngày qua ngày, nhưng cuối cùng, những gì tôi thực sự viết ra lại giống như một biên niên sử đơn giản của ngày sống, một quyển đơn thuần kể lại những gì tôi đã làm hết giờ này đến giờ khác mà thôi. Nhật ký của tôi chẳng giống gì với nhật ký Anne Frank, quyển Marking của Dag Hammarskjold, quyển Một cuộc đời rối loạn của Etty Hillesum, hay Nhật ký Genesee của Henri Nouwen. Bút ký của tôi giống với những gì mà một cậu bé trung học kể lại các ngày học của mình ở trường. Nhưng khi lật giở và đọc lại một bài, tôi luôn luôn kinh ngạc thấy ngày sống hôm đó thật phong phú và trọn vẹn, ngoại trừ một việc là lúc viết ra nó tôi đã không nhận ra điều này. Trong khi đã thực sự sống qua những ngày như thế, vậy mà hiện nay tôi vẫn vất vả cố gắng để hoàn thành công việc, để được lành mạnh, để theo kịp các kỳ vọng, để có được những giây phút thân ái và sáng tạo giữa các áp lực thường nhật, và để đi ngủ cho đúng giờ giấc. Trong phong cách này, không có nhiều phần hồn cho bằng một đống lịch trình, công việc và vội vã.

Tôi ngờ rằng điều này không phải là không điển hình chung. Tôi ngờ rằng hầu hết chúng ta, đều sống mà không nhận ra cuộc sống của mình phong phú biết bao, và như thế cứ luôn mãi để cho linh hồn bị tụt lại phía sau. Ví dụ như, nhiều phụ nữ mất 10 hay 15 năm cho việc nuôi dạy con cái, luôn mãi chăm lo cho nhu cầu của người khác, nửa đêm thức giấc để lo cho đứa con, 24 tiếng một ngày luôn trong tình trạng túc trực, hy sinh hết thời gian vui thú của mình và tạm gác sự nghiệp cùng sáng tạo của mình qua một bên. Và thường thường người phụ nữ này, khi nhìn lại những năm tháng này, họ mong mỏi có thể lấy lại. Nhưng khi nhìn theo cách xúc cảm phần hồn hơn, họ nhận thức rõ rệt rằng thật tuyệt vời và đặc ân khi được làm những gì mình đã làm với sự chán chường và bức xúc. Nhiều năm về sau, nhìn lại, cô sẽ thấy cảm nghiệm này của cô thật phong phú và quý báu, và cũng sẽ thấy thời đó cô đã để quá ít phần hồn vào những gì mình đã thực sự trải qua.

Điều này có thể có hàng ngàn ví dụ. Chúng ta tất cả đều từng đọc đâu đó những chia sẻ về việc mình sẽ sống khác đi nếu được sống lần nữa. Hầu hết các câu chuyện này đều có một môtíp chung. Nếu có cơ hội khác, tôi sẽ cố gắng tận hưởng cuộc đời hơn, nghĩa là tôi sẽ cố gắng để phần hồn vào hơn và ý thức hơn vào chuyện đó.

Tôi e là với hầu hết chúng ta, linh hồn sẽ chỉ bắt kịp chúng ta khi tuổi già, khi sức khỏe sinh lực và cơ hội làm việc dần tan biến. Có vẻ như trước hết chúng ta cần phải mất đi điều gì đó trước khi trân trọng nó cho trọn vẹn. Chúng ta có khuynh hướng xem sức khỏe, sinh lực và công việc là chuyện mặc định, cho đến khi chúng xa rời chúng ta. Chỉ sau khi đó, chúng ta mới nhận ra cuộc sống của mình thật phong phú biết bao, và nhận ra rằng thời đó, chúng ta đã kín múc sự phong phú đó ít ỏi dường bao.

Linh hồn của chúng ta cuối cùng cũng bắt kịp chúng ta, nhưng sẽ thật tốt nếu chúng ta không để cho đến khi vào viện dưỡng lão mới có được điều này. Cũng như các phu khuân vác đã để các thùng hàng xuống và dừng bước, thì chúng ta cũng cần đều đặn dừng lại và chờ cho linh hồn bắt kịp mình.

Khi mới làm linh mục, Đức Giáo hoàng Phanxicô phụ trách một trường học. Và mỗi ngày, ở một lúc cố định, ngài có vài lời qua loa phóng thanh, chen ngang vào những việc đang diễn ra trong từng lớp học: Hãy biết ơn. Định hình tầm nhìn của mình. Hãy dùng ngày sống của mình.

Tất cả chúng ta, ai cũng cần để cái gánh nặng xuống trong một phút, để cho linh hồn có thể bắt kịp mình.

Chỉ trong thinh lặng

Ngòi bút thiêng liêng người Bỉ, Bieke Vandekerckhove, có một sự khôn ngoan chân thành. Những gì cô chia sẻ với chúng ta, cô không học được từ một quyển sách, hay từ mẫu gương của ai đó. Nhưng cô học được từ một gian nan, một đau khổ độc nhất vô nhị, ngay từ tuổi 19 cô đã mắc một chứng bệnh nan y, không chỉ sớm dẫn đến cái chết mà còn tàn phá và hạ giá thân thể của cô trên đường đến cái chết.

Nỗ lực đối đầu với tình trạng này, đẩy cô theo nhiều hướng, ban đầu là giận dữ và vô vọng, nhưng cuối cùng đưa cô hướng về tu viện, đến với sự khôn ngoan của tu trì, và theo đường hướng đó, đi vào chiều sâu của thinh lặng, hoang mạc ẩn dấu kinh hoàng bên trong mỗi chúng ta. Xa lánh mọi tiếng nói của thế gian, trong sự thinh lặng linh hồn của mình, trong sự hỗn loạn của cơn thịnh nộ, khắc khoải, mà cô tìm thấy sự khôn ngoan và sức mạnh, không chỉ để đương đầu với bệnh tật của mình, nhưng còn để tìm thấy một ý nghĩa và niềm vui sâu sắc hơn trong đời.

Như John Updike đã nói trong thơ, có những bí mật ẩn giấu với khỏe mạnh, và cô Vandekerckhove đã làm rõ ràng rằng, có thể khám phá những bí mật đó trong thinh lặng. Tuy nhiên, khám phá các bí mật mà thinh lặng dạy cho chúng ta, không phải là chuyện dễ dàng gì. Sự thinh lặng sẽ rất đáng sợ cho đến khi chưa làm bạn được với nó, tiến trình này cũng như đi qua hoang mạc nóng bức vậy. Nội tâm chúng ta không dễ thanh bình, sự khắc khoải không dễ thành cô tịch, và tính khí hướng ngoại tìm sự an ủi không dễ dàng nhường đường cho sự thinh lặng. Nhưng có một sự an bình và ý nghĩa, chỉ có thể tìm được trong hoang mạc của nội tâm hỗn loạn và thịnh nộ trong chúng ta. Những giếng nước an ủi sâu thẳm nằm ở cuối hành trình nội tâm, qua những nóng bức, khát khô, và ngõ cụt, phải được đẩy ra qua sự kiên trì gan góc. Và như bất kỳ hành trình anh hùng nào, nhiệm vụ của chúng ta là đừng để trái tim nhụt chí.

Và đây là những gì cô Vandekerckhove mô tả một khía cạnh trong cuộc hành trình của mình: ‘Tiếng nói nội tâm có thể khá nản chí. Đây chính xác là lý do vì sao quá nhiều người chạy trốn để tìm đến với những tiếng động bên ngoài. Họ thích có một tiếng động đổ tràn trên họ. Nhưng nếu muốn tăng tiến đường linh hồn, bạn phải ở lại trong không gian thịnh nộ linh hồn của mình, bền gan kiên vững. Bạn phải tiếp tục ngồi đó thinh lặng và chân thành trong sự hiện diện của Thiên Chúa cho đến khi cơn thịnh nộ lắng xuống và trái tim bạn được thanh tẩy và im tiếng. Thinh lặng buộc chúng ta phải xem xét đường lối thực hành của con người. Và rồi chúng ta va phải một bức tường, một đường cụt. Cho dù xã hội có muôn ngàn cách đáp ứng cho các nhu cầu nhân sinh của chúng ta, nhưng dù có làm gì, dù có cố gắng thế nào, trong chúng ta vẫn tiếp tục cảm nhận một mất mát và ghẻ lạnh. Thinh lặng đối đầu với chúng ta trong một vực thẳm không đáy, và dường như không có lối thoát. Chúng ta không có chọn lựa nào khác ngoài chung vai sát cánh với chiều sâu lòng đạo trong mình.’

Đây là một sự thật thâm thúy: Thinh lặng đối đầu với chúng ta trong một vực thẳm không đáy và chúng ta không còn chọn lựa nào khác ngoài chung vai sát cánh với chiều sâu lòng đạo trong mình. Đáng buồn thay, hầu hết chúng ta chỉ học được điều này qua một cưỡng bách cay đắng khi thực sự đối diện với cái chết của chính mình. Khi bơ vơ trong cơn hấp hối, không còn bất kỳ chọn lựa và lối thoát nào, thì dù cho vật vã và cay đắng, nhưng theo Karl Rahner, chúng ta phải để mình chìm trong sự không thể hiểu thấu của Thiên Chúa. Hơn nữa, trước khi quy phục như thế, đời sống chúng ta sẽ luôn vẫn bất ổn và hoang mang, và sẽ luôn có các góc tối nội tâm khiến chúng ta kinh sợ.

Nhưng hành trình đi vào thinh lặng có thể đưa chúng ta ra khỏi những nỗi sợ tăm tối và chiếu ánh sáng chữa lành lên những góc tối nhất của mình. Nhưng, như Vandekerckhove và các tác giả thiêng liêng khác đưa ra, thì sự bình an này chỉ tìm được sau khi chúng ta đạt đến một ngõ cụt, bế tắc không lối thoát, nơi mà điều duy nhất có thể làm là lao đầu vào tiêu cực.

Trong quyển sách Vị của Thinh lặng, Vandekerckhove kể lại một người bạn duy tâm của mình chia sẻ với cô giấc mơ được ra khỏi bản thân mà đi vào một hoang mạc nào đó nhằm khám phá đường thiêng liêng. Phản ứng tức thời của cô không hẳn làm anh ấy vui lòng gì: ‘Con người ta sẵn sàng đi vào bất kỳ hoang mạc nào. Người ta sẵn sàng đến bất kỳ nơi đâu, miễn sao đó không phải là hoang mạc của chính mình.’ Thật đúng. Chúng ta luôn mãi thèm khát những hoang mạc tư tưởng mà chối bỏ hoang mạc của chính mình.

Hành trình thiêng liêng, cuộc hành hương, mà chúng ta cần phải làm nhất, nó không cần đến vé máy bay. Chuyến đi đáng giá nhất cho linh hồn mà chúng ta có thể thực hiện, chính là chuyến hành hương nội tâm, đi vào trong hoang mạc thinh lặng của mình.

Là con người, chúng ta mang tính xã hội trong cấu thể. Điều này nghĩa là, ‘không tốt nếu để con người một mình.’ Chúng ta được đặt định để sống trong sự thông hiệp với người khác. Thiên đàng sẽ là một cảm nghiệm thông hiệp, nhưng trên đường đến đó, có một việc làm nội tâm nhất định mà chúng ta phải và chỉ có thể làm một mình, tránh xa mọi tiếng động của thế giới.

Các sách hàng đầu của tôi trong năm 2015

Theo lời thánh Âugutinô nói cách đây 1700 năm, thì thị hiếu là chủ quan. Cần phải hiểu như thế trước khi đưa ra mục những sách nên đọc. Còn riêng tôi thấy cần phải nói thêm rằng tôi không phải là một nhà phê bình chuyên nghiệp. Không phải là năm qua tôi đã đọc 200 quyển sách và quyển nào cũng hàng đầu. Tôi đọc khi có thể, tôi theo dõi các mục điểm sách, và đủ may mắn khi sống với các đồng sự hàn lâm giới thiệu cho nhau những sách hay, và tôi có những người bạn thỉnh thoảng chỉ cho tôi một “quyển sách phải đọc.” Từ đó, tôi có danh sách này. Đây là những quyển sách đánh động tôi nhất trong năm qua.

Trong số cách Sách Linh đạo, tôi giới thiệu những quyển này.

• Vị của Thinh lặng [The Taste of Silence], của Bieke Vandekerckhove. Người ta nói rằng quyển sách bạn cần phải đọc sẽ tự tìm đến bạn vào lúc bạn cần nó nhất. Và trong trường hợp này cũng vậy. Bieke Vandekerckhove là một tác giả người Bỉ, đã bị chẩn đoán mắc bệnh Xơ cứng teo cơ Lou Gehrig’s. Cuộc sống bình thường của cô đã chấm hết với phán quyết này, và sau một thời gian chìm theo bản năng vào trong tăm tối, cô tìm thấy sức mạnh bằng cách thực hiện một hành trình nội tâm đi vào sự thinh lặng thâm sâu trong mỗi một người chúng ta. Những diễn tả của cô về hành trình nội tâm thật phi thường.

• Vượt trên Cuộc chiến Phá thai, một con đường tiến tới cho thế hệ mới [Beyond the Abortion Wars, a way forward for a new generation], của Charles Camosy. Đây là một quyển sách quan trọng sẽ chấn động một cách lành mạnh cả những người ủng hộ sự sống và ủng hộ chọn lựa. Quyển này cho thấy, chúng ta gần giống nhau hơn chúng ta nghĩ, và hơn nữa, có một con đường để chúng ta cùng thoát ra khỏi thế bí về pháp lý, tôn giáo, xã hội, chính trị hiện thời.

• Môn đệ miễn cưỡng, Dám Tin [The Reluctant Disciple, Daring to Believe], của David Wells Wells là một giáo dân trẻ người Anh, cho chúng ta một thấu suốt cân bằng, sắc sảo, dí dỏm, nồng ấm về điểm chung giữa linh đạo và cuộc sống trong thế giới ngày nay, dành cho những ai đang mắt kẹt giữa các bổn phận thông thường và các bận tâm cuộc đời. Quyển này như một linh đạo cho những ai không thích từ “linh đạo.”

• Lòng thương trong Thành phố [Mercy in the City], của Kerry Weber Weber, một ngòi bút trẻ trong ban biên tập của America Mag, đã ghi lại hành trình riêng của cô qua Mùa Chay. Đây là một quyển sách có chiều sâu, rất hay và ấm áp.

• Tôn giáo của riêng mình, Một hướng dẫn để tạo nên Linh đạo Riêng trong Thế giới thế tục [A Religion of One’s Own, A Guide to Creating a Personal Spirituality in a Secular World], của Thomas Moore. Quyển sách này sẽ khiến nhiều người thấy phiền vì khái niệm hiện sinh của nó về cộng đồng và giáo hội học, nhưng Thomas Moore luôn luôn viết với một sự tươi mới, thấu suốt, và chiều sâu, đem lại một thách thức lành mạnh cho bất kỳ ai đọc nó.

• Thế giới trên đầu bạn, Để trở nên Cá thể độc nhất trong một Thời đại Xao nhãng [The World Beyond Your Head, On Becoming an Individual in an Age of Distraction], của Matthew B. Crawford. Không phải là một sách linh đạo, nhưng rất hay về tinh thần. Nếu bạn có thể qua được các phần viết mang tính triết học, vốn không phải dễ, thì Crawford sẽ cho bạn nhiều, thực sự rất nhiều điều để suy nghĩ.

Về Tiểu thuyết, tôi thực sự thích những quyển này:

• Trẻ thơ hành động [The Children Act], của Ia McEwan. Một tiểu thuyết gia lớn tầm vóc quốc tế, McEwan cho chúng ta một câu chuyện ấm áp, dễ đọc, với một ẩn dụ sâu sắc.

• Nữ ẩn sỹ [The Anchoress], của Robyn Cadwallader. Có bao giờ bạn tự hỏi những người như Julian thành Norwich sống thế nào? Một nữ ẩn sỹ thực sự là thế nào? Cadwallader cho chúng ta một hình ảnh hư cấu về một con người với cách sống tương tự như Julian thành Norwich.

• Tinh tuyền [Purity], của Jonathan Franzen. Phải đọc hết 600 trang sách để hiểu được ý nghĩa câu chuyện này. Nhưng đó là Jonathan, gừng càng già càng cay. Ông kể cho chúng ta một câu chuyện hay.

• Tỉnh Thức [Lying Awake], của Mark Salzman. Câu chuyện về một nữ tu dòng Carmen, phải phân định giữa sự bệnh hoạn với thần nghiệm. Quyển sách này được viết cách đây 15 năm, nhưng vẫn đáng đọc.

• Họa sĩ của Thinh lặng [The Painter of Silence], của Georgina Harding. Lấy bối cảnh Romani sau Thế chiến II, Harding đặt nhân tính và linh hồn vào trong bi kịch của chiến tranh và trong sự rạn vỡ nhân sinh. Một quyển rất đáng đọc, nên đi kèm với Tất cả mọi Ánh sáng chúng ta không thẻ thấy [All the Light We Cannot See].

Cuối cùng, một mục đặc biệt Mỗi năm, tôi viết một bài về vấn đề Tự vẫn. Tôi không nhận mình có thấu suốt đặc biệt nào về nỗi buồn đau quanh việc tự vẫn, cả trong xã hội lẫn giáo hội. Tôi viết về vấn đề này, đơn thuần chỉ là vì hiện nay có quá ít nguồn để giúp người ta hiểu và đối diện với việc mất mát người thân vì tự vẫn. Trong năm qua, tôi đã đọc 3 quyển sách khác nhau, đều của các bà mẹ đã mất con vì tự vẫn. Các câu chuyện này, vừa là rất riêng trong nỗi thống khổ của người đó, vừa rất giống nhau, không phải bởi chúng đều được viết bởi những bà mẹ muốn đương đầu với nỗi mất mát thương tâm này, nhưng còn là trong mỗi trường hợp, người mẹ đau khổ đều mô tả con mình rất giống nhau, cụ thể là những thiếu niên quá nhạy cảm, do đó quá yếu để đương đầu với cuộc sống thường nhật. Cả ba quyển này đều đáng đọc, và nếu đọc chung, cả ba sẽ ghi dấu vết trong lòng bạn.

• Chữa lành vết thương của việc Con gái tôi Tự vẫn [Healing the Wound of my Daughter”s Suicide], của Lois Serveson.

• Tổn hại đã qua, vụ Tự vẫn của Con trai độc nhất [Damage Done, Suicide of an Only Son], của Gloria Hutchison.

• Con gái tôi, Tự vẫn, và Thiên Chúa [My Daughter, Her Suicide, and God], của Marjorie Antus.

Ý nghĩa của Giáng Sinh, mối dây giữa máng cỏ và thập giá

2015-12-21
Trình thuật Tin mừng về việc Chúa Giêsu ra đời, không phải chỉ là kể lại những chuyện xảy ra ở Bê-lem. Trong các bình luận về việc Chúa Giêsu ra đời, học giả kinh thánh lừng danh Raymond Brown, đã nhấn mạnh rằng các trình thuật này được viết rất lâu sau khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh và trỗi dậy từ cõi chết, do đó các trình thuật Giáng sinh cũng mang sắc thái của cái chết và sự phục sinh. Có thể nói, những trình thuật kể về việc Chúa Giêsu hạ sinh cũng giống như các trình thuật kể về cuộc thương khó và cái chết của Chúa vậy. Khi các tác giả Tin mừng nhìn lại sự ra đời của Chúa Giêsu qua lăng kính phục sinh, họ nhìn thấy trong sự ra đời của Ngài đã có mẫu hình cho cuộc đời sứ mệnh, cho cái chết và sự phục sinh của Ngài rồi. Thiên Chúa đến với thế gian và một số người tin và đón nhận Ngài, số khác thì thù ghét và loại trừ Ngài. Với một số người, Ngài đem lại ý nghĩa, còn với số khác thì Ngài gây hoang mang và giận dữ. Có một thông điệp trưởng thành về Chúa Kitô trong Giáng Sinh và về việc hiểu ý nghĩa của Giáng Sinh qua thập giá, cũng hệt như qua máng cỏ vậy. Và còn cả những ánh đèn, những bài hoan ca, máng cỏ và ông già Noel nữa.
Cả chúng cũng có chỗ của mình. Karl Rahner, không ngây thơ về những nhận định của Raymond Brown, đã lập luận rằng, Giáng Sinh vẫn mang ý nghĩa là hạnh phúc, và niềm vui đơn sơ của trẻ con thì diễn tả ý nghĩa Giáng Sinh chính xác hơn tính yếm thế của người lớn. Rahner cho rằng, vào lễ Giáng Sinh, Chúa cho chúng ta một ưng thuận đặc biệt để hạnh phúc. “Đừng sợ hạnh phúc, tiêu chuẩn của cuộc sống là niềm vui, hơn là lo âu và đau buồn của những con người không có hy vọng. … Ta không xa rời thế gian, dù cho lúc này con không thấy Ta. … Ta ở đó. Giáng Sinh. Hãy thắp lên những ngọn nến. Ngọn nến đáng tồn tại hơn toàn bộ bóng đêm. Giáng Sinh. Giáng Sinh tồn tại mãi.” Trong Giáng Sinh, máng cỏ thắng thập giá, dù cho thập giá không hoàn toàn biến mất.
Làm sao mà thập giá và máng cỏ hợp với nhau được? Núi Sọ có phủ bóng muôn đời trên Bê-lem? Giáng Sinh có khiến chúng ta phiền lòng hơn là an ủi chúng ta? Liệu niềm vui đơn thuần của chúng ta trong Giáng Sinh có nhầm hay không?
Không. Vui mừng là ý nghĩa của Giáng Sinh. Những bài hoan ca đáng được cất lên. Trong Giáng Sinh, Thiên Chúa cho chúng ta một ưng thuận đặc biệt để hạnh phúc, dù cho phải hiểu thật cẩn thận điều này. Không có mâu thuẫn bẩm tại nào giữa niềm vui và đau khổ, giữa hạnh phúc và trải qua mọi nỗi đau cuộc đời đem lại. Niềm vui không phải là khoái lạc không có đau khổ trong đời. Niềm vui đích thưc là một sự trường tồn luôn mãi, ở trong chúng ta qua suốt mọi cảm nghiệm trong đời, kể cả đau đớn và thống khổ. Chúa Giêsu hứa với chúng ta “một niềm vui không ai lấy mất được.” Rõ ràng điều này nghĩa là một sự gì đó không biến mất vì chúng ta đau bệnh, vì người thân yêu qua đời, vì bị bạn đời phản bội, vì mất việc làm, vì bị bạn bè loại trừ, vì bị đau đớn thân xác, hay vì buồn sầu. Không một ai trong chúng ta thoát được đau đớn và khốn khổ. Niềm vui có thể cộng sinh với chúng. Thật vậy, niềm vui nghĩa là lớn lên sâu sắc hơn qua các cảm nghiệm đau đớn và đau khổ. Chúng ta được định là những con người của vui mừng, dù sống trong đau đớn. Đây là một lớp nghĩa, mà các tác giả Tin mừng, lấy từ nhận thức về cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, để đưa vào trình thuật Giáng Sinh.
Nhưng, tất nhiên, trẻ em không thấy được điều này khi chúng hòa trong bầu khí phấn khích của Giáng Sinh, và khi chúng nhìn vào Chúa Kitô Hài Đồng trong máng cỏ. Niềm vui của trẻ em vẫn còn vô tội, được bảo vệ bởi sự ngây thơ, vẫn đang chờ một sự vỡ mộng, nhưng đó là niềm vui thật. Niềm vui ngây thơ của một đứa trẻ, là thật, và thật sai lầm khi muốn viết lại chúng bằng sự vỡ mộng khi trưởng thành. Những gì thật, là thật. Những ký ức tươi đẹp chúng ta có khi chờ đợi và mừng Giáng Sinh lúc còn là đứa trẻ, vẫn không mất chút gì giá trị khi chúng ta biết là ông già Noel không có thực. Giáng Sinh mời gọi chúng ta hãy vẫn “lao đầu vào chiếc bánh ngọt.” Và bất chấp mọi vỡ mộng trong đời sống trưởng thành, Giáng Sinh vẫn cho chúng ta, những người trưởng thành bị khủng hoảng, một lời mời tuyệt diệu.
Ngay cả khi chúng ta không còn tin có ông già Noel, và khi tất cả các máng cỏ, đèn chớp, hoan ca, thiệp chúc, những tấm giấy gói sặc sỡ và các món quà Giáng Sinh không còn cho chúng ta những xúc động như xưa, thì lời mời đó vẫn còn. Giáng Sinh mời chúng ta hãy hạnh phúc, và đòi chúng ta phải kiêng bớt thói yếm thế của người lớn, mà theo một niềm vui có thể nắm bắt được cả thập giá lẫn máng cỏ để chúng ta có thể sống trong một niềm vui mà không một ai, không một bi kịch nào có thể lấy của chúng ta được. Điều này sẽ cho chúng ta, trong dịp Giáng Sinh, được như những đứa trẻ, đâm đầu vào chiếc bánh ngọt.
Giáng Sinh, đem lại cho cả trẻ thơ lẫn người lớn, một ưng thuận để hạnh phúc.

Tình dục và văn hóa

Tôi cho rằng, không một thế hệ nào trong lịch sử lại cảm nghiệm nhiều thay đổi như thế hệ chúng ta trong 60 năm qua. Thay đổi này không chỉ trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, y học, du lịch và truyền thông, mà đặc biệt là trong cấu trúc xã hội, trong nền đạo đức chung của chúng ta nữa. Và có lẽ không ở đâu sự thay đổi này lai triệt để cho bằng trong cách chúng ta nhận thức về tình dục. Trong 70 năm qua, chúng ta đã chứng kiến ba sự đảo chiều lớn trong cách hiểu vị trí của tình dục trong đời.

Trước hết, chúng ta đã tách rời khái niệm tình dục có liên kết luân lý với sinh sản. Với vài ngoại lệ, trước năm 1950, ít nhất là trong các khái niệm luân lý và sống đạo, tình dục được xem là có liên kết cơ cấu với sinh sản. Mối liên kết này không phải lúc nào cũng được tôn trọng, nhưng nó là một phần trong đạo đức chung của chúng ta. Mối liên kết này, trong khi vẫn được các giáo hội gìn giữ, thì lại bị phá vỡ trong nền văn hóa chúng ta, khoảng 60 năm trước.

Và sự tách rời thứ hai còn triệt để hơn nữa. Cho đến thập niên 1960, nền văn hóa chúng ta gắn chặt tình dục với hôn nhân. Khái niệm này nghĩ là nơi hợp luân lý duy nhất cho tình dục là trong hôn nhân. Một lần nữa, tất nhiên không phải lúc nào điều này cũng được tôn trọng và có nhiều người có tình dục ngoài hôn nhân. Nhưng những việc làm như thế không được chấp nhận hay chúc lành về mặt luân lý và sống đạo. Người ta có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, nhưng không một ai đòi cho mình quyền đó. Đây là một điều mà bạn phải thấy làm tiếc. Cuộc cách mạng tình dục trong thập niên 1960 đã cắt lìa mối liên kết này. Tình dục, đã trở thành một bước tiến trong cuộc hẹn hò, và một kết quả từ việc này là ngày càng có nhiều người sống chung không cần kết hôn hoặc trước khi kết hôn, mà không thấy có bất kỳ vấn đề luân lý nào. Điều này càng thịnh hành hơn nữa thời này, khi tình dục ngoài hôn nhân có vẻ bình thường hơn là trong hôn nhân. Ngày càng nhiều người trẻ ngày nay thấy không cần phải thảo luận luân lý về chuyện này với cha mẹ hay giáo hội của mình nữa. Câu trả lời đầu môi của họ là: “Chúng con không suy nghĩ như ba mẹ.” Đúng là không.

Nhưng sự đảo chiều trong đạo đức tình dục không chỉ dừng lại ở đó. Ngày nay, chúng ta ngày càng chứng kiến, ngay cả trong khuôn viên đại học và nhỏ hơn nữa, hiện tượng tình dục “qua đường” khi tình dục tách rời một cách có chủ tâm tính toán khỏi tình yêu, cảm xúc, và gắn kết. Điều này đã tạo nên một sự đảo chiều triệt để nhất. Tình dục bây giờ bị tách rời khỏi tình yêu. Như Donna Freitas ghi nhận trong quyển “Mục đích của Tình dục” [The end of Sex] ngày càng nhiều thanh niên đang có một quyết định có chủ tâm là trì hoãn tìm bạn đời, bởi đang bận lo cho sự nghiệp, và trong thời gian này, khoảng 10 hay 20 năm, họ muốn mình năng động về tình dục, nhưng sự năng động tình dục này không liên quan gì đến tình yêu, cảm xúc và gắn kết (tất cả những sự mà họ thấy ái ngại vì tốn thời gian, rối rắm, và cản đường học hành, công việc, vui chơi, và tự do.) Khái niệm này, đến tận cùng vẫn gắn tình dục với tình yêu và kết ước, nhưng trước đó thì phải tách rời chúng trong một thời gian cái đã. Đáng buồn là đặc nét này đang ăn rễ trong nhiều người trẻ thời nay. Tất nhiên một lần nữa, cũng như với các đảo chiều khác trong nhận thức về tình dục, điều này cũng đã từng có trước kia, với hiện tượng mại dâm và các quán bar độc thân chẳng hạn. Nhưng cho đến trước thời điểm này, không một ai dám nhận nó là lành mạnh.

Điều đặc biệt khiến chúng ta thấy phiền lòng không phải là vì tình dục bị đặt ngoài một nền tảng Kitô giáo đã xác định, là hôn nhân. Con người đã đấu tranh với tình dục từ thuở khai thiên lập địa rồi. Điều khiến người ta lo ngại hơn, là việc điều này ngày càng được xem là bình thường, khi con cái chúng ta nhận định và tán dương điều này như một tiến bộ luân lý, một cuộc giải phóng khỏi mông muội, và đi kèm với nó là những phát biểu thiển cận về luân lý, cho rằng bất kỳ ai vẫn còn giữ quan niệm cũ về tình dục thì cần được khai sáng về tâm lý và luân lý. Ai là người phán xét ai đây?

Tôi có một điều muốn nói, và nói không mập mờ, rằng trong nền văn hóa của chúng ta, sự khắc nghiệt trong mối dây không thể khoan nhượng giữa tình dục và hôn nhân, đơn giản là một sai lầm. Nó cũng ngây thơ nữa.

Tôi từng dự một hội nghị về tình dục, nơi diễn giả chính, một thần học gia cho rằng giáo hội luôn luôn quá cứng nhắc về tình dục. Cô đúng về chuyện này. Chúng ta vẫn còn một quãng đường rất xa để tới được sự hòa hợp lành mạnh giữa tình dục và linh đạo. Tuy nhiên, cô hỏi tiếp: “Tại sao lại có tất cả những lo lắng này về tình dục? Có ai bị tổn thưởng vì nó chăng?” Một suy nghĩ thấu suốt nhẹ nhàng hơn sẽ nói lại câu trên rằng: “Ai chưa từng bị tổn thương vì nó?” Lịch sử đầy những trái tim tan vỡ, gia đình tan vỡ, cuộc đời tan vỡ, cay đắng cả đời, giết người, và tự vẫn vì tình dục.

Phải thừa nhận rằng, Giáo hội của chúng ta, chưa bao giờ có được một thần học và linh đạo đủ thiết thực và lành mạnh cho tình dục, và tất cả mọi người khác, dù là thế tục hay tôn giáo cũng vậy. Tuy nhiên, những gì Giáo hội đem lại, là luân lý và đạo đức của mình, cho nền văn hóa chúng ta một lời cảnh báo quan trọng và đúng đắn: Đừng ngây thơ về sinh lực tình dục. Nó không phải lúc nào cũng thân thiện và nhẹ nhàng như bạn nghĩ đâu!

Bỏ ý riêng của mình, lưu ý đến cộng đoàn

Vài năm về trước, một giám mục đã cáu với tôi về một bài tôi viết. Lúc đó chúng tôi đang ở trong văn phòng của ngài, và giọng ngài có vẻ hơi gay gắt: Ngài hỏi, ‘Làm sao mà cha có thể viết những thứ như thế?’ ‘Bởi nó thật.’ Tôi trả lời thẳng. Ngài cũng biết là chuyện đó thật, nhưng bây giờ, tôi nhận ra rằng, điều ngài bận tâm hơn là về nghị trình của mình: ‘Đúng, tôi biết là nó thật, nhưng như thế không có nghĩa là nên nói nó ra theo kiểu đó, nhất là trên các tờ báo Công giáo như tờ của chúng ta. Đây không phải là một lớp ở đại học hay tờ New York Times. Đây là tờ báo của giáo phận và bối cảnh này không hợp lắm để nói những chuyện như thế. Nó sẽ khiến nhiều người đọc hoang mang.’

Tôi không phải là không có tính kiêu ngạo và phản ứng bộc phát của tôi là biện minh. Ngay lập tức, trong tôi có tiếng nói rằng: ‘Tôi chỉ nói những gì có thật. Sự thật cần được nói ra. Tại sao lại sợ nghe sự thật? Chúng ta làm gì tốt cho mọi người khi che chắn họ khỏi những chuyện họ không nên nghe?’

Nhưng tôi mừng là tôi đã nuốt được sự kiêu ngạo, uốn lưỡi, và lầm bầm một lời xin lỗi không mấy thật tâm, rồi bước ra khỏi văn phòng giám mục mà không nói ra những gì tôi đã nghĩ, bởi khi đã nén lại được những cảm giác ban đầu và sau khi bình tĩnh suy nghĩ và cầu nguyện về cuộc đối thoại này, tôi nhận ra là ngài đã đúng. Mình có sự thật là một chuyện, nói ra sự thật đó ở một nơi và theo một cách hữu ích lại là chuyện khác. Không phải vô cớ mà Chúa Giêsu muốn chúng ta nói lên các chân lý của mình trong các dụ ngôn, vì theo T.S. Eliot từng nói, sự thật không thể lúc nào cũng được đón lấy toàn bộ, và thường bối cảnh và giọng điệu sẽ quyết định liệu nó có đem lại lợi ích khi được nói ra vào một thời điểm và với một người nhất định. Đơn giản, không phải lúc nào nó cũng đem lại ích lợi, không phải lúc nào nó cũng nhân từ hay trưởng thành, khi chúng ta ném thẳng sự thật vào mặt người khác.

Thánh Phaolô đã nói nhiều về điều này trong thư gởi tín hữu Roma: ‘Chúng ta, những người mạnh, phải cân nhắc về những người nhạy cảm với những chuyện như thế này. Chúng ta không được làm để thỏa lòng mình mà thôi. (Rm 15, 1)’ Như thể thánh Phaolô đang bảo một người ưu tú hãy hạ bớt một vài quan điểm và hành động minh tuệ của mình vì những người ít minh tuệ hơn. Lời khiển trách này của thánh Phaolô muốn nói đến một phân biệt căn bản có tầm quan trọng thiết yếu trong việc dạy dỗ, rao giảng và mục vụ của chúng ta, cụ thể là phân biệt giữa Giáo lý và Thần học, phân biệt giữa những gì chống đỡ và nuôi dưỡng đức tin với những gì mở rộng đức tin của người đó sao cho mang tính đồng cảm toàn thể hơn.

Giáo lý nghĩa là dạy các giáo lý căn bản, dạy cầu nguyện, dạy tín lý, làm rõ kinh thánh và các giáo huấn của xã hội, và cho mọi người một bộ khung chính thống vững vàng để hiểu đức tin Kitô của mình. Mặt khác, với thần học, những người nghiên cứu thần học thì đã học giáo lý rồi, đã biết về các tín lý và cầu nguyện, cũng như có một nền tảng chính thống vững vàng rồi. Chức năng của thần học, là mở rộng cho người học, hay cho họ các công cụ mang tính biểu tượng để hiểu đức tin của mình sao cho không còn mù mờ, lẩn khuất khiến họ e ngại dò tìm vì sợ lay động đức tin. Giáo lý và Thần học có các chức năng khác nhau, và phải được tôn trọng như nhau, bởi cả hai đều cần thiết. Cây non vừa trồng cần được bảo vệ và nuôi dưỡng nhẹ nhàng, còn cây lớn rồi thì cần được sống và vươn lên giữa những khó khăn.

Do đó, điều mà giám mục muốn nơi tôi, là một sự cẩn thận hơn với các độc giả của mình, phân biệt lớp học thần học và tạp chí hàn lâm với các bối cảnh giáo lý và nhật báo giáo hội.

Đây còn là một đòi buộc đặc biệt về nhân văn và khoan dung, ví dụ như trường hợp của linh mục khoa học triết gia Pierre Teilhard de Chardin: Khi đã lớn tuổi, đã về hưu và sức khỏe đã suy giảm, linh mục vẫn thấy mình bị Vatican ‘bịt miệng’ khi cấm không được xuất bản các suy tư thần học của mình. Nhưng, thay vì đáp lại bằng giận dữ và kiêu ngạo, cha lại phản ứng bằng khoan dung và nhân văn. Viết cho giám tỉnh dòng Tên, cha thừa nhận: ‘Tôi hoàn toàn nhìn nhận rằng, trong tình trạng hiện nay, Roma có lý do để quyết định như thế, khái niệm của tôi về Kitô giáo có thể hấp tấp hay bất toàn, nên việc phổ biến rộng hơn những suy tư của tôi có lẽ là không phù hợp. … Lá thư này là để làm anh an lòng rằng, dù cho có nhiều chuyện mà người ta cho là rõ ràng tôi bất tuân, nhưng lòng tôi kiên quyết là một người con vâng phục. Rõ ràng, tôi không thể bỏ đi cuộc truy tìm của mình, cuộc truy tìm đã đẩy tôi vào trong một thảm họa nội tâm và trong sự bất tín với ơn gọi mà tôi trân quý nhất, nhưng tôi đã thôi không phổ biến các tư tưởng của tôi nữa, và tôi giữ mình không tìm thêm thấu suốt riêng sâu hơn nữa.’

Nhận ra tầm quan trọng của sự nhạy cảm đối với cách nói và thời điểm nơi chốn nói ra, chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta rằng: ‘Hãy nói bằng dụ ngôn.’

Thiên Chúa ẩn mình và bóng tối của đức tin

Khi tôi mới bắt đầu dạy thần học, tôi nghĩ mình có thể viết được một quyển sách về sự giấu mình của Thiên Chúa. Tại sao Thiên Chúa vẫn giấu kín và vô hình? Tại sao Thiên Chúa không hiện thân rõ ràng để không một ai có thể phản bác?

Một trong những tiêu chuẩn để trả lời cho câu hỏi này là: Nếu Thiên Chúa biểu lộ mình rõ ràng thì không cần đức tin nữa. Nhưng như thế lại dấy lên câu hỏi: Ai cần đức tin? Không phải sẽ tốt hơn nếu như thấy được Thiên Chúa rõ ràng sao? Tất nhiên còn có những câu trả lời khác cho câu hỏi này, nhưng tôi không biết hoặc không nắm bắt cho đủ sâu để thấy những câu trả lời đó có nghĩa. Ví dụ như, một câu trả lời cho rằng Thiên Chúa là Thần Khí thuần tính và thần khí đó không thể lĩnh hội được qua ý thức con người bình thường. Nhưng dường như nói thế này là quá mơ hồ. Và tôi bắt đầu tìm kiếm một câu trả lời khác hay một diễn giải tốt hơn cho câu hỏi này. Và cuối đường tìm kiếm, tôi thấy cả một túi vàng, nó đã dẫn tôi đến với thần nghiệm, cụ thể là Gioan Thánh Giá, và các ngòi bút thiêng liêng như Carlo Carretto.

Câu trả lời của họ là gì? Họ không có câu trả lời nào đơn giản cả. Những gì họ đem lại cho tôi là những quan điểm khác nhau quy chiếu về sự khôn tả của Thiên Chúa, mầu nhiệm đức tin và mầu nhiệm về nhận thức con người nói chung. Về căn bản, cách chúng ta nhận thức Thiên Chúa là rất nghịch lý, nghĩa là, càng biết sâu hơn về sự gì đó, thì con người hay khách thể đó bắt đầu bớt rõ ràng hơn về mặt khái niệm. Một trong những nhà thần nghiệm lừng danh nhất lịch sử cho rằng khi chúng ta đi vào sự thân mật sâu sắc hơn, thì chúng ta đồng thời cũng đi vào một ‘đám mây vô thức’ cụ thể là đi vào một nhận thức quá thâm sâu đến nỗi không thể khái niệm hóa được. Điều này nghĩa là gì? Ba ví dụ tương tự dưới đây sẽ giúp chúng ta hiểu.

Thứ nhất: Hình tượng một em bé trong bụng mẹ. Trong dạ mẹ, đứa bé được người mẹ bao bọc hoàn toàn, nhưng nghịch lý là đứa trẻ không thể thấy được mẹ mình và không có khái niệm gì về mẹ. Sự bất lực của đứa trẻ không thể thấy được hình ảnh mẹ là bởi người mẹ hiện diện khắp mọi nơi, chứ không phải vì không diện hiện. Người mẹ quá hiện diện, quá bao bọc, nên không thể nhìn thấy hay khái niệm được. Đứa trẻ phải sinh ra rồi mới thấy được mẹ mình. Chúng ta với Thiên Chúa cũng vậy. Kinh Thánh bảo chúng ta rằng chúng ta sống, và vận động, và thở, và hiện hữu trong Thiên Chúa. Chúng ta đang trong dạ của Chúa, được Ngài bao bọc, và như một đứa trẻ, chúng ta phải được sinh ra (cái chết cùng là tái sinh) để thấy Thiên Chúa mặt đối mặt. Đó là sự tăm tối trong đức tin.

Thứ hai: Ánh sáng cực độ là bóng tối. Nếu bạn nhìn thẳng vào mặt trời với đôi mắt trần, thì bạn thấy gì? Chẳng thấy gì cả? Một ánh sáng quá mức khiến bạn bị mù cũng như nhìn vào bóng tối câm vậy. Và đó là lý do vì sao chúng ta gặp khó khăn trong việc nhìn Thiên Chúa, và là lý do vì sao càng đi vào thân mật với Thiên Chúa, càng đi vào sâu trong Ánh Sáng, thì Thiên Chúa dường như càng biến mất và khó hình dung hơn. Chúng ta đang bị mù, không phải vì Thiên Chúa không hiện diện, mà vì Ngài là ánh sáng quá mức với đôi mắt trần của chúng ta. Bóng tối của đức tin là bóng tối của ánh sáng cực độ.

Và thứ ba: Sự mật thiết sâu sắc là đả phá những lối mòn niềm tin. Càng thân mật với ai đó, thì những hình dung của chúng ta về người đó bắt đầu tan rã đi. Hãy thử tưởng tượng: Một người bạn nói với bạn rằng: ‘Tôi hoàn toàn hiểu anh. Tôi biết gia đình anh, nền tảng của anh, đạo đức của anh, tính khí và tâm tính của anh, các điểm mạnh điểm yếu, và thói quen của anh. Tôi hiểu anh.’ Bạn có cảm thấy mình được người khác hiểu hay không? Tôi ngờ là không. Bây giờ hình dung một bối cảnh khác. Một người bạn nói với bạn rằng: ‘Anh thật bí ẩn với tôi! Tôi đã biết anh trong nhiều năm, nhưng anh thật thâm sâu mà tôi không dò thấu. Càng quen biết anh, tôi càng thấy anh là một điều bí ẩn.’ Trong sự không hiểu này, khi mình là một điều bí ẩn hoàn toàn đối với nhận thức của người bạn này, nghịch lý thay, bạn lại thấy mình được người đó hiểu rất nhiều. Thánh Gioan Thánh Giá cho rằng chúng ta càng đi sâu vào sự mật thiết, thì sẽ bắt đầu hiểu bằng cách không hiểu hơn là hiểu. Mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa cũng như thế. Ban đầu, khi sự mật thiết của chúng ta không quá sâu sắc, thì chúng ta cảm thấy mình hiểu mọi sự và chúng ta có những cảm nhận và ý niệm chắc chắn về Thiên Chúa. Nhưng chúng ta càng đi sâu, thì chúng ta sẽ bắt đầu thấy cảm nhận và ý niệm của mình sai lầm và trống rỗng, vì sự mật thiết của chúng ta đang mở chúng ta ra với mầu nhiệm trọn vẹn hơn của Thiên Chúa. Nghịch lý thay, điều này có vẻ như Thiên Chúa biến mất và không tồn tại.

Theo định nghĩa, đức tin hàm chứa một sự tối tăm nghịch lý, càng đến gần Thiên Chúa trong đời, thì Thiên Chúa dường như càng biến mất, bởi ánh sáng cực độ có thể giống như bóng tối vậy.

Anh chị em Hồi giáo chúng ta

Đây không phải thời gian tốt đẹp đối với người Hồi giáo ở thế giới phương Tây. Khi bạo lực do các nhóm Hồi giáo cực đoan như ISIS, Al-Qaeda, và Boko Haram đang ngày càng bành trướng, rất nhiều người trở nên hoang tưởng và thậm chí là thù địch ra mặt với Hồi giáo, xem tất cả người Hồi giáo là mối đe dọa. Quan điểm chung này ngày càng quy các bạo lực này cho Hồi giáo, xem như trong Hồi giáo có một sự gì đó cố hữu gây ra dạng bạo lực hiện nay. Cách nghĩ này cần phải xem lại, vì sự thật và vì những gì tốt đẹp nhất trong các Kitô hữu chúng ta.

Trước hết, lập luận trên không đúng sự thật. Họa hình tất cả mọi người Hồi giáo như nhau, cũng giống như họa hình tất cả các Kitô hữu như nhau. Vậy là giống như khi chúng ta nhìn vào một người trụy lạc tự nhận mình là Kitô hữu, và nói rằng: “Đó là Kitô hữu! Họ đều như thế đó!” Thứ hai, thế là không công bằng. Các nhóm quân sự Hồi giáo nói về Hồi giáo, thì cũng như Hitler nói về Kitô giáo vậy. Cuối cùng, một lập luận như vậy làm cho lòng cảm thông của chúng ta bị lầm lạc. Nạn nhân đầu tiên của chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo, chính là những người Hồi giáo, nghĩa là những người Hồi giáo kính sợ Thiên Chúa đích thực, họ là nạn nhân đầu tiên của bạo lực này.

Khi nhìn vào lịch sử của bất kỳ nhóm khủng bố Hồi giáo nào như ISIS hay Al-Qaeda, chúng ta thấy ngay, lúc đầu chúng được thiết lập bằng cách chiếm lãnh thổ và giết hại hàng ngàn người dân của mình, những người Hồi giáo lương thiện biết kính sợ Thiên Chúa. Và các tổ chức khủng bố này vẫn đang tiếp tục giết hại họ. ISIS, Al-Qaeda và Boko Haram đã giết người Hồi giáo nhiều hơn là Kitô hữu hay những người thuộc các tôn giáo khác, gấp hàng trăm lần. Trong khi mục tiêu tối hậu của chúng có lẽ là Phương Tây Kitô giáo bị thế tục hóa, nhưng chiến tranh tức thời của chúng là chống lại Hồi giáo chân chính.

Hơn nữa, nạn nhân của những kẻ khủng bố Hồi giáo không chỉ là hàng ngàn người Hồi giáo ôn hòa, những nạn nhân trực tiếp của bạo lực và giết chóc, nhưng còn là những người Hồi giáo đang bị đánh đồng với chúng, và bị phán xét tiêu cực cả về tôn giáo và sự chân thành của họ. Bât kỳ lúc nào những kẻ khủng bố Hồi giáo dấy lên một hành động bạo lực, các nạn nhân của chúng không chỉ là những người chết, bị thương, hay mất người thân, nhưng còn là những người Hồi giáo đích thực, đặc biệt là những người sống trong thế giới phương Tây, vì bây giờ họ bị nhìn với con mắt ngờ vực, e ngại, và thù ghét.

Nhưng không thể đổ tội cho Hồi giáo được. Không có điều gì cố hữu trong kinh Koran hay trong Hồi giáo ủng hộ về mặt tinh thần hay lòng đạo cho dạng bạo lực này cả. Chúng ta sẽ kêu to “bất công” nếu như có ai đó nói rằng những chuyện xảy ra trong thời Tòa dị giáo là bắt nguồn từ Tin mừng. Chúng ta đang nợ Hồi giáo một nhận định tương tự. Houston Smith trứ danh, một trong những sinh viên vĩ đại nhất của World Religions, cho rằng chúng ta phải luôn đánh giá một tôn giáo bằng những biểu hiện tốt nhất, bằng các vị thánh và lịch sử tốt đẹp, hơn là bằng những kẻ tâm thần điên loạn trong tôn giáo đó. Tôi hy vọng người khác cũng có nhận định tử tế như thế về chúng ta, các Kitô hữu. Hitler phần nào là một sản phẩm của phương Tây Kitô giáo, và mẹ Têrêxa cũng vậy. Houston Smith nhắm vào nhân vật sau, chứ không phải nhân vật trước, và đây là một căn cứ đúng đắn hơn khi phán xét Kitô giáo. Chúng ta nợ các anh chị em Hồi giáo một sự tử tế như vậy.

Và đây không chỉ là một hành vi tử tế, mà đúng hơn là sự nhìn nhận sự thật. Từ Hồi giáo, có gốc từ là “hòa bình” và nghĩa rộng là “quy phục Thiên Chúa,” cấu thành ý nghĩa căn bản của Hồi giáo. Và với hơn 90% người Hồi giáo trên toàn thế giới, đây mới là ý nghĩa chính xác của Hồi giáo, cụ thể là những con người của hòa bình, những người tuân phục Thiên Chúa và cố gắng sống một cuộc sống đặt trọng tâm nơi đức tin, cầu nguyện, trách nhiệm và sự thân thiện. Bất kỳ diễn giải nào khác của các nhóm cực đoan về Hồi giáo muốn gán cho hành động khủng bố bạo lực một tính cách thần thiêng, đều là giả mạo và sai lầm. Những kẻ cực đoan không lên tiếng vì Thiên Chúa, vì tiên tri Mohammed, Hồi giáo, hay sự tuân phục trong đức tin, nhưng chúng chỉ lên tiếng cho một hệ tư tưởng phục vụ cho bản thân mình. Và những người Hồi giáo đích thực lại trở thành nạn nhân cho hệ tư tưởng đó.

Các vụ tấn công khủng bố như ở Paris và Mali mới đây, là lời kêu gọi chúng ta, phải đồng cảm hơn nữa với những người Hồi giáo đích thực. Đã đến lúc thiết lập một tình đoàn kết hơn nữa với người Hồi giáo, bất chấp chủ nghĩa khủng bố cực đoan. Chúng ta đều là chi thể của một gia đình. Chúng ta thờ phượng chung một Thiên Chúa, chịu đựng cùng các lo lắng, và cùng là con người khả tử như nhau, cùng chia sẻ một thiên đàng. Hơn bao giờ hết, người Hồi giáo cần chúng ta thông hiểu, thông cảm, ủng hộ và thân thiện với họ trong đức tin.

Không lâu trước khi bị thiệt mạng, đan sĩ Christian de Cherge, đan viện phụ dòng Xitô, đã tử đạo dưới bàn tay của những kẻ khủng bố Hồi giáo ở Algeria năm 1996, đã viết một lá thư gởi cho gia đình mình ở Pháp, ý thức rõ rằng nhiều khả năng những kẻ khủng bố Hồi giáo sẽ giết mình, cha đã chia sẻ với gia đình rằng, nếu chuyện này xảy ra, thì họ nên biết là cha đã tha thứ cho những người giết mình, và cha đã thấy trước là cha, và những kẻ sát nhân này, cùng ở trên thiên đàng, vui vẻ trước nhan Chúa, trước ánh mắt Chúa yêu thương dành cho con cái Ngài, dù là Hồi giáo hay Kitô giáo.

Thiếu tự tin để hướng đến sự cao cả

Chúng ta tất cả đều có những hình dung của riêng mình về sự cao thượng cũng như nhân đức và thánh thiện. Ví dụ chúng ta hình dung thánh Phanxicô thành Axixi hôn một người cùi, hay mẹ Têrêxa ôm một người ăn xin hấp hối, hay thánh Gioan Phaolô II đứng trước đám đông hàng triệu người và nói cho họ biết ngài yêu họ dường nào, hay chúng ta hình dung thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đang nói với một chị trong dòng hay xử ác với thánh nữ, là Têrêsa vẫn yêu mến chị lắm, hay còn hơn nữa, chúng ta hình dung thánh Vêronica, trên đàng thánh giá, dù đang sợ hãi trước sự tàn bạo vẫn lao đến và lau mặt Chúa Giêsu.

Có một vài điểm chung trong những hình dung về các nhân vật ngoại hạng này, nhưng có một mẫu số chung khác nữa nói về sự ngoại hạng theo một cách rất khác, cụ thể là mỗi một nhân vật này có một nhận thức mạnh mẽ, một tự tin mạnh mẽ phi thường.

Để vượt qua những gì ngăn cách mình và người cùi, không chỉ cần một tâm hồn cao cả nhưng cần cả một sự tự tin mạnh mẽ. Để giữa đường phố, ôm một người ăn xin hấp hối, không chỉ cần một trái tim cảm thông, mà còn cần một ý thức mạnh mẽ. Để đứng trước đám đông hàng triệu người và nói lên bạn yêu họ biết bao, không chỉ cần một tình thương, mà còn cần có sự tự tin hiếm có. Để đáp trả sự ác độc chủ tâm bằng tình cảm nồng hậu, không những cần một linh hồn thánh thiện, mà còn cần từng được cảm nghiệm một tình yêu thâm sâu trong đời. Và để vượt qua mối nguy hiểm và kích động của quân dữ, để lao vào đám đông say mùi máu, để yêu thương lau khô gương mặt người mà chúng thù ghét, thì không những cần can đảm, nhưng còn cần từng được cảm nghiệm một tình yêu mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Để yêu thương, chúng ta cần được yêu thương trước. Chúng ta không thể trao đi những gì mình không có.

Những con người vĩ đại như thánh Phanxicô, mẹ Têrêxa, thánh Gioan Phaolô II, và Têrêxa Hài Đồng Giêsu là những con người có lòng tự tin cao độ. Họ không chút nghi ngờ việc Thiên Chúa đã có ơn đặc biệt cho mình, và họ có sự tin tưởng để thể hiện công khai các ơn này. Sự thật đáng buồn là nhiều người trong chúng ta, có lẽ là hầu hết chúng ta, đơn thuần là thiếu tự thức và tự tin để làm những gì các vị đã làm. Có lẽ lòng chúng ta cũng đầy yêu thương như họ, lòng cảm thông của chúng ta cũng sâu sắc như họ, nhưng vì đủ mọi lý do, có cả việc chúng ta đã từng bị tổn thương và từ đó nảy sinh xấu hổ dè dặt, nên chúng ta không cách nào có thể làm được như các người khổng lồ này, không thể đứng lên trước thế giới và nói: “Tôi yêu bạn, và điều quan trọng là bạn nghe được chính tôi nói lên điều này!” Lưỡi của chắc chắn sẽ quặt lại khi có tiếng nói nội tâm cất lên: “Ngươi nghĩ ngươi là ai? Ngươi nghĩ ngươi là ai mà thế giới cần nghe lời yêu thương của ngươi?”

Sự thật là, vấn đề của chúng ta thường không phải là về nhân đức, nhưng là về sự tự tin. Hầu như chúng ta không xấu, chỉ là chúng ta từng bị tổn thương. William Wordsworth từng nói rằng chúng ta thường phán xét một người nào đó là lạnh lẽo khi người đó thực ra là bị tổn thương. Thật đúng.

Nhưng may là Thiên Chúa không phán xét bằng vẻ bề ngoài. Thiên Chúa đọc tâm hồn chúng ta, và ngài phân biệt giữa ác tâm và thương tích, giữa lạnh lùng và thiếu tự tin. Thiên Chúa biết rằng không một ai có thể yêu thương trừ phi người đó từng được yêu thương trước, và rất ít người, hầu như là không một ai có thể thể hiện được trái tim của một người khổng lồ, lòng dũng cảm của một anh hùng, và tình yêu của một vị thánh, nếu như người đó chưa từng được cảm nhận sâu sắc và xúc động một tấm lòng lớn, sự dũng cảm và tình yêu trong đời mình.

Vậy thì biết được điều này cho chúng ta những gì? Một nhận thức bản thân sâu sắc hơn luôn luôn có ích cho chúng ta, và cũng là an ủi khi biết rằng sự ngần ngại của chúng ta khi muốn bước ra và làm những việc như mẹ Têrêxa đã làm, là xuất phát từ việc chúng ta thiếu đi một cái tôi lành mạnh, hơn là do chúng ta ích kỷ và qui kỷ. Nhưng tất nhiên, sau sự an ủi là thách thức chúng ta phải ném đi những cái nạng mà chúng ta ta dùng để đương đầu với các thương tích và tự nhận thức khập khiễng của mình, để từ đó lòng dũng cảm và tình yêu của chúng ta được biểu lộ công khai hơn. Lưỡi chúng ta sẽ không bị quặt khi muốn nói to lên về tình yêu và bận tâm của mình, chúng ta chỉ có thể biết được hay không biết được khi chúng ta thực sự làm việc đó. Nhưng, để làm việc đó, chúng ta trước hết phải vượt qua sự xấu hổ gây tê liệt, để đến với sự từ bỏ mình mà đến tận lúc này chúng ta vẫn chưa làm chủ được.

Và đây cũng là bài học để chúng ta hiểu được cái tôi trong linh đạo. Chúng ta luôn xem cái tôi là xấu, và đánh đồng nó với tính ích kỷ, nhưng như thế là tối giản vì những người khổng lồ trong đường thiêng liêng này thường có cái tôi rất lớn, nhưng họ không phải là người ích kỷ. Mỉa mai thay, quá nhiều người chúng ta đang bị khập khiễng bởi những cái tôi quá nhỏ bé, và đó là lý do vì sao chúng ta không bao giờ làm được những việc làm cao cả như những con người khổng lồ này. Ích kỷ là xấu, nhưng một cái tôi lành mạnh thì không.

Đức tin, hoài nghi, đêm tối và trưởng thành

Trong một quyển sách nói về cầu nguyện và chiêm niệm, Thomas Keating chia sẻ với chúng ta một chuyện mà cha nhiều lần nhắc đến khi linh hướng. Người ta đến với cha, chia sẻ với cha, trong cuộc đời mình, họ đã từng có cảm nhận ấm áp và chắc chắn về Thiên Chúa , nhưng họ than với cha, bây giờ các cảm nhận ấm áp và xác quyết đó đã biến mất, làm cho họ phải đấu tranh với niềm tin, đấu tranh để cầu nguyện được như xưa. Họ cảm nhận một cảm thức mất mát sâu sắc và lúc nào vấn đề của họ cũng là: “Có chuyện gì với con thế này? Câu trả lời của cha Keating là: ‘Chúa có chuyện với con đó.’”

Về căn bản, câu trả lời của Cha là: Dù bạn đau đớn, vẫn có một sự gì đó rất đúng với bạn. Bạn đã qua thời tân tòng, đã qua các giai đoạn học đạo ban đầu cần có, và bây giờ bạn đang đi vào một đức tin, không phải bớt đi, nhưng là sâu sắc hơn. Hơn nữa, sự sụt giảm lửa mến đó đưa bạn đến một sự trưởng thành chính chắn sâu đậm hơn. Vậy nên, những gì bạn hỏi đúng ra là thế này: “Tôi từng khá chắc chắn về lòng đạo của mình, và cũng chắc chắn là nó có phần nào kiêu căng và phán xét. Tôi cảm thấy tôi hiểu được Thiên Chúa và đạo, và tôi nhìn vào thế giới với đôi chút khinh thị. Rồi đức tin tôi đi xuống, và cả những tin chắc của tôi nữa, giờ đây tôi thấy mình bớt chắc chắn về bản thân đi nhiều, biết khiêm nhượng cảm thông và bớt phán xét đi nhiều. Chuyện gì thế này?”

Hỏi như thế, thì cũng là câu trả lời. Rõ ràng người đó đang tiến tới, chứ không phải thụt lùi.

Mất mát cũng là một bước. Christina Crawford đã viết những dòng này, mô tả hành trình đau đớn của cô qua bóng tối để đến với sự chính chắn sâu đậm hơn. “Để được cứu, trước hết, chúng ta phải nhận ra rằng, chúng ta đã lầm đường lạc lối, và thường thì cuộc sống chúng ta bị hụt hẫng để chúng ta nhận ra được điều này.” Đôi khi, không có thuốc nào chữa chứng kiêu căng và tự phụ cho bằng một sự mất mát đầy đau đớn những xác quyết của mình về các ý niệm bản thân về Thiên Chúa, đức tin, và lòng đạo.

Thánh Gioan Thánh Giá đã nhận định rằng một đức tin lòng đạo sâu sắc bắt đầu khi chúng ta nỗ lực để hiểu, nhưng là bằng không hiểu hơn là hiểu. Nhưng đây có thể là một cảm nghiệm rất bối rối và đau đớn, khiến nảy sinh cảm giác: Chuyện gì thế này?

Một động năng đầy hiếu kỳ và nghịch lý nằm ở đàng sau câu tự vấn này. Chúng ta có khuynh hướng nhầm lẫn đức tin với năng lực của chúng ta trong việc vẽ lên một khái niệm về Thiên Chúa và hình dung hiện hữu của Ngài. Hơn nữa, chúng ta nghĩ đức tin của mình mạnh nhất vào những lúc chúng ta có những cảm giác xúc động trước các tưởng tượng của chúng ta về Thiên Chúa. Đức tin của chúng ta cảm thấy mạnh mẽ nhất khi được nâng đỡ và thổi bùng nhờ những cảm giác sốt mến đó.

Các ngòi bút thiêng liêng sẽ cho chúng ta biết rằng giai đoạn thiết tha này là một giai đoạn tốt trong đức tin, nhưng là một giai đoạn ban đầu, một cảm nghiệm chung khi chúng ta còn là những người mới theo đạo. Cảm nghiệm thế này nâng đỡ đức tin. Trong các giai đoạn đầu của cuộc lữ hành lòng đạo, thường có những hình dung và cảm giác mạnh mẽ đầy xúc động về Thiên Chúa. Ở giai đoạn này, mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa cũng tương tự như mối quan hệ của cặp vợ chồng trong tuần trăng mật.

Trong tuần trăng mật, bạn có những cảm xúc mạnh mẽ và một sự chắc chắn nhất định về tình yêu của mình, nhưng rồi bạn sẽ về nhà. Tuần trăng mật là một giai đoạn ban đầu, một món quà giá trị, nhưng là sự sẽ tan biến đi sau khi làm đủ phần của mình. Một tuần trăng mật không phải là cả cuộc hôn nhân, dù người ta thường nhầm lẫn như thế. Với đức tin cũng vậy, các hình dung tưởng tượng mạnh mẽ về Thiên Chúa không phải là đức tin, dù người ta thường nhầm lẫn như thế.

Các hình ảnh tưởng tượng và cảm xúc mạnh mẽ về Thiên Chúa, đến cuối cùng, chỉ là những hình dung. Tuyệt vời, nhưng hình tượng thì vẫn là hình tượng. Một hình ảnh không phải là thực tế. Một hình tượng có thể đẹp và hữu ích giúp chúng ta hướng theo đường đúng đắn, nhưng khi nhầm lẫn hình tượng này với thực tế, thì nó trở thành một ngẫu tượng.

Vì lý do này, mà các ngòi bút thiêng liêng bảo chúng ta rằng, đến những thời điểm nhất định trong hành trình thiêng liêng của chúng ta, Thiên Chúa “lấy đi” sự tin chắc, tước mất của chúng ta những nồng ấm, những cảm giác trong đức tin. Thiên Chúa làm thế chính là để chúng ta không thể biến các hình dung thành ngẫu tượng, để chúng ta không thể biến cảm nghiệm về đức tin thành mục đích cho chính đức tin, trong khi đức tin chính là một cuộc gặp gỡ hiện thực và nhân thể Thiên Chúa.

Các nhà thần nghiệm như Gioan Thánh Giá đã gọi cảm nghiệm tưởng như mất đức tin này là “đêm tối của linh hồn.” Điều này mô tả cảm nghiệm khi chúng ta từng cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa một cách ấm áp và chắc chắn, nhưng bây giờ chúng ta cảm thấy như Thiên Chúa không hiện hữu và chúng ta bị rơi vào hoài nghi. Đây là những gì Chúa Giêsu đã cảm nghiệm trên thập giá, và cũng là những gì Mẹ Têrêxa viết trong nhật ký của mình.

Và dù đêm tối tâm hồn đó có gây nhiều hoang mang, nhưng nó cũng có thể làm cho chúng ta trưởng thành. Nó có thể giúp chúng ta ra khỏi kiêu căng, phán xét, ra khỏi tình trạng tân tòng, để trở nên những con người khiêm nhượng, cảm thông, sống trong một đám mây vô định, hiểu bằng cách không hiểu hơn là hiểu, lạc lối nhưng được ơn ích trong một bóng đêm mà chúng ta không thể vận dụng hay điều khiển, để đến cuối cùng chúng ta được đẩy mạnh vào đức tin, đức cậy và đức mến đích thực.

Sự hiệp thông của các thánh

Hầu hết cả thế giới đều tin rằng chết không phải là hết, tin rằng có một dạng bất diệt. Hầu hết mọi người tin rằng những người đã chết vẫn còn tồn tại ở một tình trạng nào đó, theo một phương thức nào đó, ở một nơi nào đó, là thiên đàng hay hỏa ngục, dù cho chúng ta không biết được. Trong một vài khái niệm, sự bất tử được xem là một tình trạng nơi con người đó vẫn ý thức và lý luận, trong khi khái niệm khác, thì xem sự hiện hữu sau cái chết là có thực nhưng phi nhân thể, như một giọt nước rơi vào đại dương.

Còn chúng ta, những Kitô hữu, thì chúng ta có niềm tin. Chúng ta tin rằng người chết vẫn còn sống, vẫn là họ, và rất quan trọng là vẫn trong một mối liên hệ sống động, có ý thức và đầy yêu thương với chúng ta và với nhau. Đây là khái niệm chung của chúng ta về thiên đàng, dù cho có đơn giản hóa cách trình bày theo từng thời điểm, nhưng khái niệm này thật đúng. Đây chính xác là những gì mà đức tin và tín lý Kitô giáo mời gọi chúng ta. Sau cái chết, chúng ta sống trong mối hiệp thông có ý thức, tự ý thức, với những người đã chết trước chúng ta, hiệp thông với những người còn ở trần thế, và hiệp thông với sự thần thiêng. Đây chính là giáo lý Kitô giáo về sự Hiệp thông của các thánh.

Vậy chúng ta phải hiểu thế nào đây? Và làm sao để chúng ta kết nối với những người thân yêu sau khi họ đã chết? Hai hình ảnh Kinh thánh sau đây có thể cho chúng ta một điểm mở để hiểu được điều này. Cả hai đều ở trong Tin mừng.

Tin nói rằng, ngay khi Chúa Giêsu chết, thì màn đền thờ xé ra làm hai, và đất rung chuyển, các tảng đá nứt ra. Các mộ phần mở ra và xác của nhiều vị thánh trỗi dậy (Mt 27, 50-52). Tin mừng còn kể cho chúng ta biết vào rạng sáng ngày Phục Sinh, có vài phụ nữ đến mộ Chúa để xức dầu thơm cho xác Ngài, nhưng họ chỉ thấy ngôi mộ trống và hai thiên thần: “Tại sao các bà tìm người sống ở nơi mồ mả? Ngài không có ở đây. Ngài đang sống, và các bà có thể thấy Ngài ở Galilê.” (Lc 24, 5) Những hình ảnh này có thông điệp gì?

Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng chúng ta được ban sự sống bất diệt qua cái chết của Chúa Giêsu. Và Tin mừng trình bày sự thật này qua hình tượng trên. Cái chết của Chúa Giêsu “mở toang cửa mồ” và làm cho các ngôi mộ nên trống không. Vì lý do đó, các Kitô hữu chưa bao giờ có những việc sùng kính lớn với nghĩa trang. Là Kitô hữu, chúng ta không cử hành nhiều các việc thiêng liêng quanh các phần mộ? Tại sao? Bởi chúng ta tin rằng tất cả những phần mộ này đều trống không. Người thân yêu của chúng ta không có ở đó và chẳng thể tìm thấy ở đó. Họ đang ở cùng với Chúa Giêsu, ở “Galilê”.

Vậy “Galilê” trong hình ảnh kinh thánh này là gì? Trong Tin mừng, Galilê không chỉ là một địa danh trên bản đồ, mà là một nơi chốn bên trong Chúa Thánh Thần, Thần Khí của Thiên Chúa và của chúng ta. Trong Tin mừng, Galilê là một nơi mà nhiều việc tốt đẹp diễn ra. Đây là nơi mà các môn đệ lần đầu gặp Chúa Giêsu, nơi họ bắt đầu yêu mến Ngài, nơi họ dấn thân theo Ngài, và nơi xảy ra nhiều phép lạ. Galilê là nơi Chúa Giêsu mời chúng ta đi trên mặt nước. Galilê là nơi mà linh hồn các môn đệ được mở mang và được nuôi dưỡng.

Và đây cũng là nơi cho mỗi một người thân yêu đã khuất của chúng ta. Trong đời sống của mỗi người, có một Galilê, là nơi mà nhân thể và linh hồn họ sống động nhất, nơi đời sống của họ chiếu rạng sinh lực mở lòng với cõi thiêng liêng. Khi nhìn vào cuộc đời của một người thân yêu đã chết, chúng ta cần tự hỏi rằng: Đâu là nơi mà cô ấy sống động nhất? Phẩm chất nào mà cô ấy, gần như độc nhất vô nhị, đã thể hiện và trao đi? Ở điểm nào mà cô ấy nâng lòng tôi lên và làm cho tôi muốn trở nên một con người tốt đẹp hơn?

Hãy xác định những điều này, và bạn sẽ sẽ xác định được Galilê của người yêu dấu của mình, và bạn cũng sẽ xác định được Galilê của Tin mừng, cụ thể là một nơi mà Chúa Giêsu mời gọi bạn đến gặp gỡ Ngài. Và đây cũng là nơi bạn sẽ gặp những người thân yêu của mình trong cộng đoàn các thánh. Đừng tìm người sống ở nơi mồ mả. Cô ấy không có ở đó. Cô ấy ở Galilê. Gặp cô ấy ở đó.

Elizabeth Johnson, có chiều hướng của Karl Rahner, đã thêm cho chúng ta suy tư này: Hy vọng, chúng ta quả quyết rằng những người thân yêu đã qua đời, họ không rơi vào quên lãng, nhưng đi vào trong vòng tay của Thiên Chúa hằng sống. Và đây là nơi chúng ta có thể tìm thấy họ lần nữa, khi chúng ta mở rộng lòng mình với sự dịu dàng của chính sự sống Thiên Chúa mà chúng ta dấn thân vào, không phải bằng sự ích kỷ đòi họ về lại với chúng ta, nhưng bằng việc đi vào sâu trong lòng của chúng ta, nơi Thiên Chúa ngự trị.”

Và có thể tìm thấy Galilê của những người thân yêu của chúng ta nơi Galilê của chính mình. Có một nơi thâm sâu trong lòng, trong đức tin, đức cậy và đức ái, nơi mọi người, còn sống hay đã chết, gặp gỡ.

Tôn giáo, suy tư, thế tục và sự lành mạnh cùng hạnh phúc

Không có điều gì là tuyệt đối khách quan, nghĩa là một quan điểm không chịu bất kỳ định kiến nào.

Nhưng, những tư tưởng gia thế tục, không tôn giáo, thường tự nhận điều này về mình trong những tranh luận về giá trị và chính sách chung. Họ lập luận rằng họ không giống như những người nhận rằng mình có quan điểm dựa trên các nguyên tắc tôn giáo, và quan điểm của họ là khách quan và không có định kiến. Họ nhấn mạnh giả định này như một lập luận lý tính thuần túy, một cái nhìn không chịu ảnh hưởng bởi điều gì, một quan điểm khách quan mà các lập luận tôn giáo dựa trên các lập trường đức tin không bao giờ có được. Họ cho rằng như thể đây là một điểm khách quan tuyệt đối vậy. Nhưng không có chuyện đó.

Chúng ta ai cũng có định kiến. Langdon Gilkey đã từng nói đến điều này một cách thanh thoát nhẹ nhàng. Ông nói rằng, chúng ta không có định kiến, nhưng là một ‘tiền bản thể’ một lập trường chủ quan từ đó chúng ta nhìn vào thực tế. Và lập trường đó bao gồm cả vị thế của chúng ta khi nhìn vào thực tế, cũng như cấu thành bên trong mà chúng ta đón nhận và lý luận những gì chúng ta thấy. Ông đã đúng. Không có một cái nhìn nào không phát xuất từ điểm nào cả, không có cái nhìn nào là không có định kiến, và không một quan điểm nào là tuyệt đối khách quan. Tất cả mọi người đều có một định kiến. Những người có tôn giáo và người thế tục, đơn thuần họ đứng trên những vị thế chủ quan khác nhau và tiến hành mọi sự qua những xử lý tâm thần chủ quan khác nhau.

Điều này có nghĩa tất cả mọi quan điểm đều chủ quan như nhau, và mọi sự đều tương đối hay không? Chẳng lẽ chúng ta không thể phân biệt được giữa khoa học và mê tín hay sao? Không. Có những mức độ rõ ràng về khách quan, cho dù không một ai nhận được về mình sự khách quan tuyệt đối. Thừa nhận rằng ngay cả một nghiên cứu kinh nghiệm luận nghiêm ngặt nhất cũng luôn có một mức độ chủ quan, không phải là đánh đồng khoa học với mê tín hay đức tin. Khoa học kinh nghiệm luận và suy tư lý tính phải được đánh giá đúng. Chính bác sĩ y khoa, chứ không phải người chữa lành đức tin, mới là người trị các chứng bệnh thể lý. Cũng thế, khoa học luận về tiến hóa và niềm tin tôn giáo cho rằng thế giới chúng ta được tạo thành trong vòng bảy ngày, không phải như nhau. Như nhiều tư tưởng gia tôn giáo bất bình về những tuyên bố áp đặt của nhiều tư tưởng gia thế tục, thì khoa học và suy tư lý tính cũng phải được có những gì xứng đáng với nó.

Nhưng suy tư tôn giáo cũng phải có được những gì xứng đáng, đặc biệt là trong các tranh luận về giá trị và chính trị. Quan điểm tôn giáo cũng cần được tôn trọng, cũng thừa nhận, như các suy tư khoa học và triết học, thì suy tư tôn giáo cũng đem lại những nhãn quan vô giá và cần thiết cho mọi tranh luận. Nhiều kiến thức của thế giới nằm trong khoa học và triết học, nhng hầu hết khôn ngoan của thế giới nằm trong các nhãn quan tôn giáo và đức tin. Như chúng ta không thể sống dựa trên mỗi tôn giáo, thì chúng ta cũng không thể sống chỉ dựa trên khoa học và triết học được. Sự khôn ngoan cần kiến thức, và kiến thức cần khôn ngoan. Khoa học và tôn giáo cần phải kết thân tình với nhau hơn nữa.

Tuy nhiên, quan trọng hơn việc có một biện giáo thích đáng về vị trí của đức tin và tôn giáo trong chính sách chung, chính là một nhận thức về sự lành mạnh và hạnh phúc của chính chúng ta. Chúng ta cần hiểu được tính chủ quan nhuốm màu lên mọi sự như thế nào, cũng như thuyết phục được những người thế tục hiểu rằng các nhãn quan tôn giáo là điều quan trọng trong mọi bàn luận, để qua đó chúng ta có thể chọn lựa cách khôn khéo hơn, một tiền bản thể đúng đắn để nhìn thế giới qua một đôi mắt tốt hơn và có những phán định tốt hơn về thế giới.

Nhà thần nghiệm thế kỷ XII, Hugo, cho chúng ta một tiền bản thể đúng đắn: Tình yêu là đôi mắt! Với Hugo, chúng ta thấy chính xác nhất khi đôi mắt chúng ta nhìn qua lăng kính yêu thương và vị tha, cũng như chúng ta nhìn sai lệch nhất khi tầm nhìn của chúng ta bị phủ bóng bởi nghi hoặc và tư lợi. Và đây không phải là một khái niệm mơ hồ. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy ra điều này. Khi chúng ta nhìn vào ai đó trong yêu thương, không kể những giai đoạn mà tình yêu là một ám ảnh hấp dẫn lãng mạn, thì chúng ta nhìn đúng. Rồi chúng ta nhìn nhau, đúng như những gì người kia là, với nhìn nhận đầy đủ về các đức hạnh và sai lỗi của người đó. Một cái nhìn thật chính xác. Ngược lại, khi chúng ta nhìn ai đó qua đôi mắt hoài nghi hay tư lợi, thì cái nhìn của chúng ta bị phủ bóng, và không còn công tâm nữa.

Chúa Giêsu cũng nói nhiều về điều này qua những từ đầu tiên của Ngài trong Phúc âm Nhất lãm. Trong những lời đầu tiên, Ngài mời gọi chúng ta, bằng một từ thôi, hãy nhìn thế giới như thực sự nó là. Vậy lời đầu tiên của Ngài là gì? Metanoia. Đây là một từ Hy Lạp thường được dịch là ‘Sám hối’ nhưng nghĩa đen của nó là ‘đi vào một tâm thức khác, cao hơn.’ Và ý nghĩa này càng được nêu bật khi đối chiếu metanoia với một từ Hy Lạp khác, paranoia, nghĩa là hoang tưởng. Metanoia là đối lập với paranoia. Sám hối là đối lập với hoang tưởng.

Khi chúng ta nhìn vào thế giới, qua đôi mắt của hoang tưởng, chúng ta không thấy mọi sự cho đúng. Ngược lại, khi nhìn vào thế giới, qua đôi mắt của sám hối, chúng ta thấy mọi sự một cách đúng đắn, dù là về mặt tôn giáo hay khoa học. Thật vậy, Tình yêu là đôi mắt!

Cái tôi và Ái kỷ

Phật tử có một câu châm ngôn diễn đạt nhiều về bản tại hơn chúng ta. Họ nói rằng bạn có thể hiểu được hầu hết những gì sai trái trong thế giới và trong bản tại bằng cách nhìn vào một tấm ảnh nhóm. Lúc nào cũng thế, bạn luôn nhìn trước tiên vào biểu hiện của mình rồi mới xem đến tấm ảnh này có đẹp cho cả nhóm hay không. Về căn bản, chúng ta xác định giá trị của mọi sự dựa trên căn cứ là ‘mình thế nào’.

Rene Descartes hẳn sẽ mỉm cười với chuyện này. Ông mở đầu cuộc truy tầm triết học với câu hỏi: Điều gì là không thể nghi ngờ, là chắc chắn? Điều gì chúng ta có thể chắc chắn rằng nó có thật. Và câu trả lời của ông, quả quyết của ông là: Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu! Đến tận cùng, điều thật nhất đối với chúng ta chính là ý thức của mình. Và cũng rõ ràng một sự thật là, chúng ta bị giam hãm trong một nhà tù, cho đến khi nào tìm được sự trưởng thành thắng vượt các bản năng tự nhiên. Nhà tù nào? Các nhà tâm lý gọi nó là ái kỷ, một ưu tư bản thân quá đáng giữ chúng ta gắn chặt vào bản thân và vào những mối ưu tư, tình cảm của riêng mình. Như câu nói của Phật tử về tấm ảnh nhóm, chúng ta ít nghĩ về những gì người khác đang làm, tâm điểm của chúng ta trước hết là nhắm đến bản thân mình.

Và tình trạng này không phải là một sự ấu trĩ có thể tẩy đi bằng cách xác nhận rằng mình đã trưởng thành, lớn lên vượt ra khỏi cái tôi, và không còn ích kỷ nữa. Cái tôi và con cái của nó, tính ái kỷ, không dễ dàng biến mất khi chúng ta xem mình là trưởng thành và có tâm linh. Chúng là những thứ không chữa trị được, bởi là một phần bẩm tại của chúng ta. Hơn nữa, chúng không được định để biến đi, và tự bản chất, cũng không phải là một thiếu sót đạo đức. Cái tôi của chúng ta là trọng tâm tính cách ý thức, là một phần cấu thành của chúng ta, và mỗi một người chúng ta cần một cái tôi mạnh mẽ để vững vàng, đúng mực, lành mạnh, tự bảo vệ mình, và có thể trao đi bản thân cho người khác.

Nhưng thường thì người ta rất sốc, khi có ai nói rằng những con người vĩ đại, những thánh nhân, có cái tôi rất mạnh. Ví dụ như, Thánh Phanxicô Axixi, Thánh Têrêxa thành Avila, Têrêxa Hài Đồng Giêsu, và Mẹ Têrêxa, với tất cả sự khiêm nhượng của mình, họ có cái tôi rất mạnh, cụ thể là họ có một ý thức rõ ràng về bản tính của mình, về thiên tư của mình, và tầm quan trọng của mình. Tuy nhiên, trong mỗi trường hợp, họ cũng có một ý thức mạnh mẽ đi kèm, rằng con người và tài năng của họ không bắt nguồn từ chính họ và không phải là để cho họ mà thôi. Nhưng, như dân Israel ý thức mình là dân được chọn, họ cũng hiểu rõ nguồn cội các thiên tư của họ là nơi Thiên Chúa, và tài năng của họ không phải để cho họ nhưng cho tha nhân. Và, như thế, đó là sự khác biệt giữa việc có cái tôi mạnh và tính ích kỷ. Người ích kỷ có một cái tôi mạnh mẽ và có tài năng, nhưng người đó nhận thức bản thân mình là tạo hóa và cùng đích của tài năng đó. Ngược lại, những con người vĩ đại có những cái tôi mạnh, nhưng luôn ý thức rằng tài năng của họ không đến từ họ, họ là cái mángï để trao lại cho tha nhân.

Như thế, mục đích của sự trưởng thành, không phải là giết đi cái tôi, nhưng là có một cái tôi lành mạnh, một cái tôi góp phần vào một cái tôi lớn hơn, biết nghĩ đến hình ảnh chung của cả nhóm. Nhưng, đến được sự trưởng thành đó là một đấu tranh, thường thường làm cho chúng ta hoặc quá thổi phồng, quá đầy cái tôi và quá ít nhận thức về Thiên Chúa, hoặc rơi vào khủng hoảng suy thoái, quá trống rỗng các giá trị của riêng mình và quá vô tri về Thiên Chúa.

Trưởng thành và sự thánh thiện không nằm ở việc giết chết hay khinh thường cái tôi, như kiểu trong một số linh đạo, dù có ý tốt nhưng lầm đường, xem rằng bản tính con người là xấu xa. Cái tôi là bản tại và quan thiết đối với cấu thành tự nhiên của chúng ta, là một phần trong DNA bản tính của chúng ta. Chúng ta cần một cái tôi lành mạnh để được và tiếp tục lành mạnh. Vậy nên, không phải là giết chết hay khinh thường cái tôi, nhưng phải cho cái tôi một vai trò chính đáng, chính chắn, để giữ chúng ta đúng mực, giữ các tài năng của mình, và cả nguồn cội lẫn mục đích của tài năng đó.

Nhưng điều này lại chỉ có thể đạt được theo một cách ngược đời. Chúa Giêsu nói, chúng ta chỉ có thể tìm được sự sống khi mất đi sự sống. Lời kinh lừng danh của thánh Phanxicô thành Axixi, cho chúng ta một diễn đạt kinh điển chung về điều này: Lạy Chúa toàn năng, xin cho con đừng tìm kiếm quá nhiều, tìm an ủi người hơn được người ủi an, tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết, tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời. Chi bằng cách chối bỏ cái tôi, chúng ta mới có một cái tôi lành mạnh.

Cuối cùng, tôi xin đưa ra nét khôn ngoan về cái tôi của triết gia Trang Tử: Nếu bạn trên một con thuyền nhỏ, và một thuyền khác đâm vào bạn, bạn sẽ nổi giận nếu có người chèo thuyền nhưng bạn sẽ không nổi giận nếu con thuyền đó không có ai. Tại sao lại không nổi giận? Trang Tử trả lời: Một người để cái tôi của mình ra đi ‘không dấu vết.’ Người đó không làm ai nổi giận.