RonRolheiser,OMI

Sức mạnh của Lời Kinh và Nghi Lễ trong sự Bất lực của chúng ta

2016-04-04
Trong một bộ phim dựa trên tiểu thuyết kinh điển của Jane Austen, “Lý trí và tình cảm” có một đoạn rất cảm động khi nhân vật nữ chính trẻ tuổi bị viêm phổi nặng, đang nằm trên giường hấp hối giữa sống và chết. Một thanh niên yêu cô say đắm, cứ bước lui bước tới, anh bị kích động mạnh, tuyệt vọng vì bất lực không làm gì được. Không thể giữ nổi sự kích động của mình hơn nữa, anh tìm đến mẹ của cô gái và hỏi xem liệu mình có thể làm gì có ích hay không. Bà trả lời rằng anh chẳng thể làm được gì, tình trạng hiện thời vượt quá tầm tay họ. Không thể sống với một câu trả lời như thế, anh nói với bà: “Cho con việc gì đó để làm, không thì con điên mất.”

Chúng ta, ai cũng đã có khi có cảm giác này khi đối diện với tình thế thảm khốc cần phải làm gì đó, nhưng chẳng có gì có thể làm, không có phép màu nào để mọi chuyện được tốt đẹp hơn.

Nhưng có một việc chúng ta có thể làm.

Tôi nhớ lại một việc trong đời tôi cách đây vài năm. Lúc đó tôi đang dạy khóa hè ở Bỉ, vào một tối nọ, khi vừa chuẩn bị đi ngủ, tôi nhận được e-mail báo hai người bạn của tôi, một nam một nữ vừa mới đính hôn, đã gặp một tai nạn giao thông thảm khốc. Anh ấy chết ngay lập tức, còn cô thì đang nguy kịch trong bệnh viện. Tôi thì đang ở trong một đại học, cách xa hàng ngàn dặm với người mà tôi mong muốn chia sẻ nỗi đau buồn này. Cô độc, kích động, hoang mang, và tuyệt vọng cần phải làm gì đó, nhưng lại bất lực tuyệt đối chẳng thể làm gì, tôi gục xuống. Không thể làm được gì khác, tôi cầm quyển kinh sách và cầu nguyện, đọc kinh cầu cho người đã mất. Khi đọc xong, nỗi buồn của tôi không tan biến, bạn của tôi vẫn chết, nhưng cơn kích động của tôi đã lắng xuống, và mong mỏi tuyệt vọng muốn làm gì đó trong tôi cũng vơi đi.

Lời kinh đêm hôm đó cho tôi nhận thức được đôi chút rằng, người bạn đã chết hôm đó đang ổn, đang an toàn ở nơi nào đó vượt ngoài chúng ta. Và lời kinh cũng xoa dịu tôi khỏi sự kích động và hoang mang muốn làm gì đó trước sự bất lực khốn khổ của mình. Tôi chỉ làm việc tôi có thể làm, việc tôi đã làm trước sự bất lực và cái chết có từ muôn đời, tôi đặt mình trong lời cầu nguyện và trong nghi lễ của cộng đoàn, của đức tin.

Lời kinh và nghi lễ là điều chúng ta có thể viện đến trong những thời điểm tuyệt vọng như trong quyển Lý trí và Tình cảm, khi khẩn thiết cần làm điều gì đó nếu không sẽ phát điên. Điều này không chỉ đúng trong những trường hợp đau buồn, khi người thân yêu bệnh năng, hay qua đời, và chúng ta khẩn thiết muốn làm gì đó, nhưng chẳng có gì có thể làm. Trong cả những lúc vui mừng, lời kinh và nghi lễ cũng giúp chúng ta mừng đón niềm vui. Chúng ta nên làm gì khi con cái kết hôn? Trong nhiều việc, có việc cử hành nghi lễ hôn phối, vì không một nhà tổ chức đám cưới nào có thể làm được cho chúng ta một điều tương tự như nghi lễ hôn phố trong nhà thờ. Lễ cưới, cũng như lễ tang, là một ví dụ điển hình nhất cho thấy chúng ta cần nghi lễ.

Đáng buồn thay, ngày nay chúng ta ở trong một nền văn hóa điếc đặc với nghi lễ. Chúng ta không hiểu nghi lễ và do đó hầu như không biết làm gì khi khẩn thiết muốn làm gì đó mà chẳng biết làm gì. Đây là một khiếm khuyết, một bần cùng đau đớn trong nhận thức của chúng ta.

Các thầy dòng Xitô đã tử đạo ở Algeria vào năm 1996, đã bị những người Hồi giáo cực đoan bắt cóc và giết hại. Trước đó, những kẻ này đã ập đến, vào đêm Giáng Sinh, khi cả nhà dòng đang chuẩn bị cử hành thánh lễ Giáng Sinh. Sau khi đe dọa, họ bỏ đi. Các thầy chấn động, kinh hoàng. Họ họp nhau lại một lúc để nhận định tình hình. Rồi, biết rằng chẳng thể làm được gì trước mối đe dọa này, các thầy đã cử hành thánh lễ Giáng Sinh. Theo lời của đan viện phụ, thì “Đây là việc chúng tôi phải làm, Đây là tất cả những gì chúng tôi có thể làm! Đây là điều đúng đắn.” Cha cũng chia sẻ rằng các thầy thấy việc cử hành thánh lễ ngay khi đối diện với nỗi sợ hãi và hoang mang, giúp cho nỗi sợ của các thầy dịu lại và đem trở lại sự điều đặn vững vàng cho cuộc sống.

Chúng ta thấy được bài học ở đây là, khi chúng ta tuyệt vọng cần phải làm điều gì đó, mà chẳng có gì có thể làm, thì có một điều có thể cho chúng ta sự điều đặn và điềm tĩnh:

Nghi lễ. Đây là những gì chúng ta phải làm, Đây là tất cả những gì chúng ta có thể làm! Là điều đúng đắn.

Sự Thiện Vinh Thắng

Tảng đá đã lăn khỏi mộ Chúa Giêsu sẽ tiếp tục lăn khỏi mọi huyệt mộ. Sự thiện không thể nào bị giam giữ, hay bị chết. Sự thiện thoát khỏi những kẻ tìm bắt, không bị giam cầm, băng qua, lướt đi, thậm chí có khi rời giáo hội, nhưng luôn luôn vươn lên, hết lần này đến lần khác, trên khắp thế giới. Đó là ý nghĩa của Phục Sinh.

Sự thiện không thể bị giam cầm hay bị giết. Chúng ta đã thấy điều này trong cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu. Có một số đoạn trong Phúc âm cho chúng ta ấn tượng là Chúa Giêsu rất khó bị bắt. Có vẻ như nếu Chúa chưa cho phép, thì không một ai làm gì được Ngài. Chúng ta thấy chuyện này nhiều lần. Lúc mở đầu sứ vụ, khi những người cùng quê Nazaret nổi giận vì lời của Ngài, lôi Ngài lên dốc núi để đẩy Ngài xuống, thì “Chúa băng qua giữa họ mà đi.” Về sau, khi các nhà cầm quyền cố gắng bắt Ngài, thì Chúa Giêsu cũng “lướt đi.” Và, trong một lần khác, khi Ngài ở trong đền thờ, và họ cố gắng bắt Ngài, thì đơn giản là Ngài rời đền thờ và “không một ai làm gì được Ngài bởi giờ của Ngài chưa đến.” Tại sao lại không thể bắt được Ngài? Chúa Giêsu quá phi phàm về mặt thể lý, nên không một ai có thể giam cầm Ngài được ư?

Những câu chuyện “lướt đi” này mang tính tượng trưng cao. Bài học cho chúng ta không phải là về sự lanh lẹ của Chúa Giêsu, nhưng là nhận thức rằng Lời Chúa, ơn Chúa, sự thiện của Thiên Chúa, và quyền năng Thiên Chúa không thể nào nắm giữ, giam cầm hay bị giết. Những sự của Thiên Chúa đầy phi phàm. Không bao giờ bị giam cầm, không bao giờ bị giết, và ngay cả khi có vẻ như đã bị giết, thì tảng đá chắn mộ cuối cùng luôn luôn lăn ra. Sự thiện tiếp tục phục sinh từ mọi hầm mộ.

Và sự phục sinh không dứt của sự thiện, chứ không phải của sự dữ và độc ác, cho chúng ta thấy chân lý về thế giới và cuộc đời của chúng ta. Nhà văn Do Thái-Hungari, Imre Kertesz, đã đoạt giải Nobel Văn học năm 2002, đã có một chứng tá thâm thúy về điều này. Ông từng là một cậu bé trong trại giết người của Đức Quốc xã, nhưng điều ông nhớ nhất về quãng thời gian này, không phải là những bất công, tàn ác, và cái chết mà ông chứng kiến ở đó, nhưng là những hành động nhân ái, trìu mến và vị tha giữa sự dữ. Vì thế sau chiến tranh, ông mong muốn đọc hạnh các thánh hơn là tiểu sử các tội phạm chiến tranh. Vẻ ngoài của sự thiện lôi cuốn ông. Với ông, có thể hiểu được sự dữ, còn sự thiện thì sao? Ai có thể giải thích được? Nguồn cội sự thiện là gì? Tại sao sự thiện cứ tuôn ra, tuôn tràn trở lại trên khắp cõi trái đất, trong mọi tình trạng thế nào chăng nữa?

Sự thiện tuôn trào khắp mọi nơi bởi sự thiện và quyền năng của Thiên Chúa là nguồn cội của tất cả mọi hiện hữu và sự sống. Đây là những gì được mặc khải trong sự phục sinh của Chúa Giêsu. Biến cố Phục Sinh mặc khải cho chúng ta nguồn cội khởi thủy của tất cả mọi sự, tất cả mọi hiện hữu và sự sống, nguồn cội đó tốt lành, nhân từ và yêu thương. Hơn nữa, Phục Sinh còn mặc khải cho biết sự tốt lành, nhân từ và yêu thương đó là sức mạnh tối thượng trong hiện thực. Những sự này là lời quyết định cuối cùng, và sẽ không bao giờ bị giam cầm, bị giết, hay bị làm ngơ hoàn toàn. Những sự này sẽ băng qua, băng qua không ngừng, băng qua luôn mãi. Đến cuối cùng, như Imre Kertesz nhận định, sự thiện lôi cuốn hơn sự dữ.

Và như thế chúng ta ở trong bàn tay an toàn. Bất chấp tin tức trong ngày có tệ đến thế nào, bất chấp cuộc sống chúng ta có đầy đe dọa thế nào, bất chấp tình hình trong vùng và toàn cầu có diễn biến xấu thế nào, bất chấp tình trạng bất công và tàn ác thế nào, và bất chấp sự giận dữ và hận thù có lan tràn thế nào, thì tình yêu và sự thiện sẽ xuất lại, sẽ lại xuất hiện, và đến cuối cùng sẽ chiến thắng.

Chúa Giêsu dạy rằng nguồn cội của mọi sự sống và hiện hữu là sự thiện và tình yêu. Ngài cũng hứa cho chúng ta một cái kết thiện hảo và yêu thương. Trong sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, Thiên Chúa cho chúng ta thấy Ngài có quyền năng để thực hiện lời hứa đó. Sự thiện và tình yêu sẽ chiến thắng! Cái kết chuyện đời chúng ta, cho cả thế giới và cho riêng chúng ta, đã được viết sẵn rồi, và đó là một cái kết có hậu. Chúng ta đã được cứu. Sự thiện là cam đoan cho chúng ta. Trìu mến chờ chúng ta cuối đường. Chúng ta chỉ cần sống với sự thật tuyệt diệu này.

Người ta không thể nào bắt được Chúa Giêsu, cho đến khi Ngài cho phép nó xảy ra. Họ đặt xác Chúa trong mồ đá, và khóa lại bằng tảng đá lớn, nhưng tảng đá đã lăn ra. Các môn đệ đã bỏ Chúa khi Ngài lâm nạn, nhưng cuối cùng các vị đã trở lại với lòng hiến thân tận tâm hơn bao giờ hết. Các môn đệ tiên khởi đã bị bách hại, đã bị giết, nhưng thông điêp của Chúa vẫn lan truyền hơn nữa. Các giáo hội có khi bất trung, nhưng Thiên Chúa băng qua những hàng rào đền thờ cụ thể đó. Người ta mở miệng tuyên bố Thiên Chúa đã chết biết bao nhiêu lần, nhưng hàng tỷ người vừa mừng lễ Phục Sinh.

Sự thiện không thể bị giết. Đó là điều chúng ta tin.

Thông hiểu và Cảm thương

Khi bị đóng đinh, Chúa Giêsu đã thốt lên: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Thật không dễ để nói được những lời này, và có lẽ còn khó hơn để hiểu được những thâm sâu của lời này. Ý nghĩa, ý nghĩa thực sự nào của việc hiểu và tha thứ cho một hành động bạo lực chống lại bạn?

Có nhiều cách để hiểu: Ví dụ như, trong một bài viết thương tâm được chia sẻ lại vô số lần trên truyền thông xã hội, một người đã mất vợ trong vụ tấn công Paris 2015, ông viết những lời sau:

“Chiều thứ sáu, các ông đã lấy đi đời sống của một người ngoại hạng, đó là tình yêu của đời tôi, là mẹ của con trai tôi, nhưng các ông sẽ không lấy được sự hận thù của tôi. Tôi không biết các ông là ai và tôi cũng không muốn biết, các ông là những tâm hồn chết. Nếu Chúa dựng nên chúng tôi theo hình ảnh của Ngài, nếu Chúa đó mà nhân danh Ngài, các ông giết người một cách mù quáng, thì mỗi viên đạn trong thân thể vợ tôi sẽ là một vết thương trong quả tim của Ngài. Vậy thì không, tôi sẽ không tặng các ông món quà này để ghét các ông. Rõ ràng các ông đã đi tìm hận thù, nhưng để trả lời cho sự hận thù bằng sự giận dữ, thì đó là nhường bước trước cái u mê, cái u mê đã làm cho các ông trở thành con người như con người bây giờ. … Chúng tôi, chỉ hai người, con trai tôi và tôi, nhưng chúng tôi mạnh còn hơn tất cả các quân đội trên thế giới này. Và suốt cuộc đời của nó, đứa con trai này sẽ cho ông thấy, nó sẽ hạnh phúc và tự do.”

Những lời này thật là anh hùng tuyệt vời và đầy nhân đức, nhưng tôi tin là nó không đi đủ sâu trong sự thông hiểu và cảm thương. Dù nhân đạo, nhưng nó vẫn có một sự phân chia về đạo đức, một sự thượng đẳng nhất định. Hơn nữa, trong bối cảnh bất hạnh của lịch sử và văn hóa dẫn đến hành động khủng khiếp này, những lời trên đã tránh câu hỏi là: Tại sao lại thù ghét tôi? Đây là một bài viết tích cực và có ích để bác bỏ sự hận thù, nhưng tôi sợ rằng, nó có thể lại gây tác động ngược lại đối với những người mà bài viết lên án. Nó sẽ thổi bùng thêm thù hận.

Đối lập với bài viết trên, là lá thư của Đan viện phụ Dòng Xitô, Christian de Cherge, viết cho gia đình, ngay trước khi bị những người Hồi giáo khủng bố giết hại. Cha đã viết:

“Nếu một ngày nào đó chuyện này xảy đến với tôi, và có thể là ngay hôm nay, khi tôi thành nạn nhân của chủ nghĩa khủng bố đang đe dọa tất cả mọi người ngoại quốc sống ở Algeria này, thì tôi muốn cộng đoàn của tôi, Giáo hội của tôi, gia đình của tôi, hãy nhớ rằng cuộc đời tôi trao hết cho Chúa và đất nước này. Tôi xin họ hãy chấp nhận rằng Chủ nhân của mọi sự sống, không lạ gì với cách ra đi đau đớn tàn bạo này … Tôi xin mọi người hãy có thể liên kết một cái chết như thế này với nhiều cái chết khác cũng vì bạo lực, nhưng lại bị lãng quên vì người ta hờ hững hay vì không tên tuổi …

Tôi đã sống đủ lâu để biết rằng tôi cũng có phần trong sự dữ dường như đang chiếm lĩnh thế giới, dù cho sự dữ đó có mù quáng đánh ngược vào tôi đi chăng nữa … Khi đến thời đến buổi, tôi phải có một khoảng không rõ ràng, cho tôi nài xin Thiên Chúa và mọi con người đồng loại của tôi tha thứ, và cùng lúc đó, tôi cũng tha thứ hết lòng cho những ai đã xúc phạm đến tôi … Thật vậy, tôi không thấy mình có thể vui mừng khi dân tộc mà tôi yêu mến bị buộc tội một cách kỳ thị là đã giết hại tôi. Đây là cái giá quá cao cho điều có lẽ được gọi là “ơn tử đạo” do tay một người Algeria, dù không biết người đó thế nào, đặc biệt là nếu người đó nói rằng mình đang hành động vì trung thành với cái mà anh tin tưởng là Hồi giáo. Tôi biết sự khinh miệt chung mà người ta có thể giáng xuống toàn thể người Algeria. Tôi cũng biết biến thể của Hồi giáo được một số người dung dưỡng … Thật dễ để cho mình được thanh thản lương tâm bằng cách gắn đường lối tôn giáo vào trong những hệ tư tưởng chính thống cực đoan …

Những gì tôi có thể làm, nếu Chúa muốn, là chìm đắm nhìn về Cha, là cùng Cha nhìn những đứa con Hồi giáo của Ngài theo đúng cách Ngài nhìn về họ, tất cả đều sáng chói với ánh sáng Chúa Kitô, đều là hoa trái của cuộc Thương khó, được ban đầy ơn Thần Khí, với niềm hân hoan thầm kín sẽ luôn luôn có thể thiết lập sự thông hiệp và tái lập sự tương đồng, sự phấn khởi nơi những gì khác biệt …

Và bạn nữa, người bạn của tôi trong thời khắc cuối cùng, người không biết việc mình đang làm. Nhưng, tôi cũng “cảm ơn” bạn, và cả “vĩnh biệt” bạn để nhắc đến bạn với Chúa, Đấng mà tôi thấy gương mặt Ngài nơi gương mặt bạn. Và mong sao chúng ta thấy nhau, những “người trộm lành” hạnh phúc, trên Thiên đàng, nếu được theo ý Chúa, Cha của cả hai chúng ta. Amen.”

À, chính đó, có lòng nhân từ và cảm thông, để hy vọng một nào đó được chạm chén với kẻ thù của chúng ta trên thiên đàng, cười với nhau về những hận thù lầm lạc, cười với nhau dưới cái nhìn yêu thương của một Thiên Chúa chung!

Sức mạnh của Sợ hãi

Sợ hãi là nhịp tim của sự bất lực. Đây là lời của Cor de Jonghe. Đúng là thế. Chúng ta có thể giải quyết hầu như mọi chuyện, ngoại trừ nỗi sợ.

Ngòi bút thiêng liêng người Bỉ, Bieke Vandekerkehove, trong quyển Vị của Thinh lặng, đã chia sẻ rất chân thành về những con quái vật quấy rối cô lúc cô mắc một chứng bệnh nan y ở tuổi 19. Cô đưa ra ba con quái vật đã giày vò mình khi cô đối diện với cái chết, buồn sầu, giận dữ, và sợ hãi. Và cô cho rằng chúng ta có thể dễ dàng đối diện với hai con quái vật buồn sầu và giận dữ, hơn là con thứ ba, con sợ hãi. Và đây là suy nghĩ của cô:

Buồn sầu có thể giải quyết bằng những giọt nước mắt, bằng u phiền. Buồn sầu có thể đổ đầy chúng ta như một cốc nước, nhưng cái cốc đó có thể đổ hết đi. Nước mắt có thể xói mòn sự cay đắng của buồn sầu. Chắc chắn, chúng ta đã từng cảm nghiệm được sự giải thoát, sự xoa dịu nhờ những giọt nước mắt. Nước mắt có thể làm mềm đi trái tim và tẩy đi chua cay của buồn sầu, cho dù sự nặng nề vẫn còn đó. Buồn sầu dù có nặng nề đến đâu, vẫn có một cái van để xả ra. Giận dữ cũng thế. Giận dữ có thể được bộc lộ và những bộc phát này giúp giải phóng giận dữ để nó không cuồng phá chúng ta. Chắc chắn, chúng ta cũng từng trải qua chuyện này rồi. Tất nhiên, là khi giải phóng cơn giận, chúng ta cần cẩn trọng đừng để làm tổn thương người khác, và đây là mối nguy luôn tồn tại khi xử lý cơn giận dữ. Với giận dữ, chúng ta có nhiều cách: Có thể hét lên, đánh trống, đấm đạp, cuồng ngôn, vận động cơ thể đến khi mệt lử, đập đồ đạc, thốt ra những lời đe dọa, và xả thịnh nộ vào đủ thứ có thể. Những chuyện này không hẳn là có lý có lẽ, và nhiều thứ cũng bất bình thường, nhưng chúng cho chúng ta một lối thoát. Chúng ta có các công cụ để giải quyết giận dữ.

Nhưng sợ hãi, thì không có một cái van nào để xả. Thường thì chúng ta không có cách nào để làm giảm bớt hay bỏ đi nỗi sợ hãi. Nỗi sợ làm tê liệt chúng ta, và sự tê liệt này cướp đi sức mạnh chúng ta cần có để đương đầu với nó. Chúng ta có thể đánh trống, cuồng ngôn, khóc lóc, nhưng nỗi sợ vẫn còn. Hơn nữa, không như giận dữ, nỗi sợ không thể trút lên một sự vật hay một con người khác, dù cho chúng ta có cố đến đâu chăng nữa. Đến tận cùng, chẳng có cách nào. Cái mà chúng ta sợ, không biến mất theo ý muốn của chúng ta. Chỉ có thể chịu đựng nỗi sợ hãi. Chúng ta phải sống với nỗi sợ cho đến khi nó tự tan biến dần. Có khi, như trong sách Ai Ca, tất cả những gì chúng ta có thể làm, là vùi miệng trong đất cát và chờ đợi. Với nỗi sợ, có lúc tất cả những gì chúng ta có thể làm là chịu đựng.

Chúng ta có học được bài học nào qua điều này?

Nhà thơ người Nga, Anna Akhmatova, đã kể lại lần bà gặp một bà, khi cả hai chờ bên ngoài nhà tù. Chồng của hai người đều đang bị tù dưới chế độ Stalin, và cả hai đều đến để đưa thư và các gói đồ cho chồng mình, giống như nhiều phụ nữ khác. Nhưng khung cảnh khá là vô lý. Tình thế lúc đó thật kỳ quái. Trước hết, các bà không chắc chồng mình có còn sống hay không, và nếu còn sống, thì cũng chẳng biết là các lá thư và gói đồ của mình có được lính gác gởi đến được tay chồng mình hay không. Hơn nữa, lính gác, chẳng vì lý do cả, lại bắt họ phải đợi hàng giờ dưới tuyết lạnh trước khi đến lấy thư và các gói đồ, và có lúc lại còn chẳng thèm tiếp. Vậy mà mỗi tuần, bất chấp sự vô lý này, các bà vẫn đến, vẫn chờ dưới tuyết, chấp nhận sự bất công này, chấp nhận trải qua thời gian chờ đằng đẵng, và cố gắng đưa các lá thư các gói đồ đến cho người thân yêu của mình. Một sáng nọ, khi họ đang chờ đợi, mà chẳng biết phải chờ đến lúc nào, thì một bà nhận ra Akhmatova, và hỏi: “À, chị là nhà thơ. Chị có thể cho em biết chuyện gì đang xảy ra ở đây không?” Akhmatova nhìn bà này và trả lời: “Vâng, em có thể!” Và rồi giữa hai người hé một nụ cười.

Tại sao lại cười? Chỉ là vì, khi có thể định danh chuyện gì đó, thì cho dù có vô lý hay bất công, có bất lực để thay đổi nó, vẫn là chúng ta đang tự do, đang đứng trên nó, biến đổi nó theo cách nào đó. Định danh điều gì đó cho đúng, phần nào giải thoát chúng ta khỏi sự thống trị của nó. Đây là lý do vì sao các chế độ chuyên chế sợ hãi các nghệ sĩ, nhà văn, nhà phê bình tôn giáo, nhà báo, và ngôn sứ. Họ định danh mọi sự. Đây chính là chức năng tận cùng của ngôn sứ. Các ngôn sứ không báo trước tương lai, nhưng là định danh hiện tại cho đúng. Richard Rohr thích nói rằng: Không phải mọi sự đều có thể được sửa chữa và chữa lành, nhưng mọi sự cần được định danh cho đúng. James Hillman thì có cách của mình để thể hiện điều này. Ông đề xuất rằng một triệu chứng đau đớn nhất khi nó không biết mình thuộc về sự gì.

Và điều này có thể hữu ích cho chúng ta để giải quyết nỗi sợ hãi trong đời mình. Nỗi sợ có thể khiến chúng ta vô lực. Nhưng, định danh nó cho đúng, nhận ra triệu chứng này do đâu, và nhìn nhận sự bất lực của chúng ta trong hoàn cảnh đó, có thể giúp chúng ta sống với nỗi sợ đó, sống mà không buồn sầu hay giận dữ.

Linh hồn trưởng thành hay Con đường chết

Trong một quyển sách thấu suốt thâm sâu, Ơn Chết (The Grace of Dying), Kathleen Dowling Singh đã chia sẻ những nhận thức sáng suốt mà bà đã lĩnh hội trong thời gian theo nghiệp y khoa khi đứng trước mặt hàng trăm người đang hấp hối. Trong số đó, bà cho rằng tiến trình chết, tự nó “là tự động ăn khớp tinh tế với sự hiệp nhất với Thần Khí.” Về căn bản, bà nói rằng những người ở giai đoạn cuối cuộc đời trong cơn hấp hối, đặc biệt là những người không chết bất đắc kỳ tử, đang cảm nghiệm một sự thanh luyện làm nhỏ dần đi một cách tự nhiên, những bám víu của người đó vào các việc ở đời này và cả vào cái tôi của bản thân, để được sẵn sàng đi, một sự sống và ý nghĩa mới vượt quá ý thức hiện thời của chúng ta. Theo bà, tiến trình cái chết là bà đỡ cho chúng ta vào một sự sống thâm sâu hơn, rộng lớn hơn.

Nhưng chuyện này không xảy ra với một giá rẻ. Tiến trình chết không dễ chịu gì. Hầu hết chúng ta không chết an bình trong giấc ngủ, không được chết thoải mái, hùng tráng và thanh thản. Mà thường cái chết đến với chúng ta khi già đi hay do căn bệnh nan y. Và những chuyện này thì không dễ chịu, hùng tráng và thanh thản gì. Thật sự, trong tiến trình cái chết là một nỗi đau, đôi khi là thống khổ cực độ, hầu như luôn luôn là một sự sỉ nhục, một sự tàn phá thể xác. Trong tiến trình chết, chúng ta mất đi gần như mọi sự thân thương của mình: sức khỏe, vẻ đẹp cơ thể, trang trọng, và đôi khi mất cả ý thức. Chết hiếm khi đẹp.

Và như thế tiến trình chết vận hành giúp xóa bỏ đi những bám víu của chúng ta với đời này và vận động tiến về đời sau? Chết làm cho linh hồn trưởng thành. Nhưng như thế nào?
Viết về việc già đi, James Hillman đã đặt câu hỏi này: Tại sao Thiên Chúa và tự nhiên lại sắp đặt mọi sự cho chúng ta thêm tuổi, được trưởng thành, ngày càng kiểm soát cuộc sống của mình, thì cơ thể chúng ta lại bắt đầu rã nát, phải cần đến bác sĩ thuốc thang để duy trì. Liệu có Khôn ngoan nào nằm trong cội rễ của tiến trình cuộc sống buộc phải có sự suy tàn thể xác khi cuộc sống về chiều? Và Hillman nói rằng, có. Có một khôn ngoan bẩm tại trong tiến trình lão hóa và chết đi. Rượu tốt nhất phải già đi trong những bầu rượu cũ. Cơ thể chúng ta càng suy tàn, thì linh hồn càng mềm dịu và trưởng thành.

Chúa Giêsu dạy chúng ta bài học này, chính Ngài cũng đã đón nhận, với một sự miễn cưỡng nào đó. Đối diện với cái chết, ngài sấp mặt xuống đất trong vườn Cây Dầu và cầu xin Chúa Cha: “Xin Cha cất chén này khỏi con! Nhưng, không theo ý con, mà là để ý Cha được trọn.” Về căn bản, Chúa Giêsu đang hỏi Chúa Cha liệu có một con đường vinh thắng đến với Ngày Chúa Nhật Phục Sinh mà không cần qua đau đớn và sỉ nhục của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hay không. Dường như là không. Sỉ nhục và chiều sâu liên kết bất phân ly với nhau. Sau khi sống lại, Chúa đã bảo với hai môn đệ trên đường Êmau rằng: “Chẳng phải Chúa Kitô cần phải chịu đau khổ hay sao?” Đây là một mặc khải hơn là một câu hỏi. Câu trả lời đã rõ ràng rồi: Con đường đến với chiều sâu cần phải băng qua đau đớn và sỉ nhục. Kathleen Dowling Singh và James Hillman, đơn giản là xác định cho điều này: Đau đớn và sỉ nhục, theo tự nhiên vận động chúng ta tiến tới, đi qua những gì hời hợt để đến với sự sâu sắc hơn. Đau đớn và sỉ nhục, và cái chết chắc chắn sẽ đến, giúp chúng ta mở ra với một ý thức thâm sâu hơn.

Và trong tâm thức của mình, chúng ta biết như thế. Nếu thành thật nhìn lại cảm nghiệm của mình, chúng ta phải thừa nhận rằng hầu hết mọi sự làm cho chúng ta trở nên sâu sắc hơn, lại là những sự mà chúng ta xấu hổ không dám nói ra, bởi chúng ta là những chuyện lăng nhục. Sỉ nhục cho chúng ta hạ mình xuống và đào sâu cho chúng ta. Còn những thành công, mà chúng ta thích kể, thường lại gây sự thổi phồng giả tạo trong đời.

Tâm lý gia và triết gia lừng danh William James, đã cho rằng có những vùng hiện thực và ý thức nằm ngoài những gì chúng ta đang cảm nghiệm hiện thời. Mọi tôn giáo, chứ không chỉ riêng Kitô giáo, đều nói với chúng ta như thế. Nhưng ý thức bình thường của chúng ta, và tự thức của chúng ta đặt ra những giới hạn ngăn cản chúng ta đến được những nơi đó. Thường thì, với chúng ta, chỉ có đời này, hiện thực này, thế mà thôi. Tiến trình chết giúp phá toang sự co cụm trong nhận thức, khái niệm và ý thức của chúng ta. Tiến trình chết mở chúng ta ra với một hiện thực và một nhận thức vượt ngoài những gì chúng ta đang xem là thực.

Nhưng ngoài tiến trình chết, còn có những cách khác để đến được hiện thực và ý thức này. Cầu nguyện và suy niệm là những khí cụ để chúng ta được những sự như trong tiến trình chết. Cầu nguyện cho chúng ta vận động để tháo gỡ những bám víu vào đời này và mở ra cho chúng ta nhận thức về đời sau. Như Singh đã nói: “Con đường đến với những vùng biến đổi, mà các vị thánh và hiền nhân của mọi thời đại đã nhận thức qua suy niệm và cầu nguyện, có lẽ là con đường biến đổi mà mỗi chúng ta bước đi khi chết đi.”

Biết như thế cho chúng ta khuây khỏa. Chúa đang đến đón chúng ta, bằng cách này hay cách khác.

Tiếng kêu của Hữu hạn

Điều gì làm cho bạn xúc động nhất?

Vừa có người hỏi tôi câu này trong một cuộc thảo luận. Trong một buổi thảo luận, tất cả chúng tôi đều được hỏi câu này: Lúc nào bạn cảm nhận tình thương trong lòng mình một cách tự nhiên nhất?

Với tôi, câu trả lời thật đơn giản. Tôi xúc động nhất khi thấy sự bất lực, khi tôi thấy ai đó hay sự gì đó bất lực không thể lo được cho nhu cầu hay bảo vệ phẩm giá của mình. Có thể đó là một đứa trẻ, đói bụng và kêu khóc, quá nhỏ để tự ăn và bảo vệ phẩm giá của mình. Có thể là một bà trong bệnh viện, bệnh tật, đau đớn, không cách nào khá hơn được, cũng như không thể giữ phẩm giá của mình. Có thể là một người thất nghiệp, gặp vận hạn, không tìm được công việc, một người lạc lõng trong khi mọi người khác có vẻ đang rất tốt. Có thể là một cô bé trên sân chơi, bất lực khi bị chọc ghẹo và ăn hiếp, chịu đựng bị làm nhục. Hay có thể là một chú mèo con, đói bụng, bất lực, nhìn tôi với đôi mắt nài nỉ, không thể tự kiếm ăn mà cũng chẳng biết nói. Sự bất lực xoáy sâu vào tâm hồn. Tôi luôn luôn xúc động đến tận những nơi sâu nhất lòng mình, mỗi khi chứng kiến sự bất lực, nài van của sự hữu hạn. Tôi cho rằng tất cả chúng ta cũng thế.

Chúng ta đều giống nhau. Đây cũng là điều đã lay động Đức Maria ở tiệc cưới Cana, khi Mẹ đến nói với Chúa Giêsu: ‘Họ hết rượu rồi!’ Lời thỉnh cầu này của Đức Mẹ có nhiều ý nghĩa. Một là lời thỉnh cầu cụ thể ở một dịp cụ thể trong lịch sử: Mẹ đang cố gắng cứu chủ tiệc cưới khỏi bị bẽ mặt, khỏi bị chuốc nhục nhã. Chắc chắn, việc hết rượu là tỏ ra nghèo kém, dù là thiếu tiền hay thiếu tính toán, nhưng dù gì thì cũng làm cho chủ nhà mất mặt trước quan khách. Như hầu hết mọi câu chuyện trong Tin mừng, câu chuyện này có một ý nghĩa thâm sâu hơn. Đức Mẹ không chỉ ngỏ lời thay cho một chủ nhà cụ thể hay một dịp cụ thể. Mẹ nói chung cho tất cả, như mẹ của nhân loại, lên tiếng thay cho tất cả chúng ta ‘tiếng kêu của hữu hạn’ theo lời John Shea.

Hữu hạn là gì? Như chúng ta có thể thấy, hữu hạn tương phản với vô hạn, với sự không có gì giới hạn được, chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa, chỉ mình Ngài là không hữu hạn. Chỉ mình Thiên Chúa là tự đủ. Chỉ mình Thiên Chúa là không bao giờ bất lực, và chỉ mình Ngài không bao giờ cần bất kỳ ai giúp sức. Chỉ mình Thiên Chúa không bao giờ bị đau bệnh, đói khát, mệt mỏi, cáu tức, kiệt lực, suy tàn thể xác và tinh thần, và cả cái chết. Chỉ mình Thiên Chúa không bao giờ chịu sự mất phẩm giá của một nhu cầu không được đáp ứng, của bị đè nén, của sự bất lực không thể hiện được bản thân, không được trân trọng, của sự khó chịu bối rối, bị bắt nạt, hay sự bất lực không thể làm gì cho mình, cũng như sự than van câm lặng.

Mọi sự khác đều hữu hạn. Như thế, là con người, chúng ta là đối tượng của sự bất lực, bệnh tật, than khóc, đui mù, đói khát, mỏi mệt, cáu tức, suy tàn và cái chết. Hơn nữa, trong tất cả mọi sự này, chúng ta cũng là đối tượng bị mất phẩm giá. Vậy nên, nhiều lời lẽ và hành động của chúng ta là tiếng khóc của sự hữu hạn, tiếng khóc cần giúp đỡ, tiếng khóc của đứa trẻ đòi ăn, đòi hơi ấm, che chở, và bảo vệ khỏi bị mất phẩm giá. Dù cho chúng ta không ngừng ngụy biện hơn về nhân tính của mình, nhưng trong mức độ nào đó, tất cả chúng ta vẫn là con mèo con, ngước đôi mắt nài nỉ xin được cho ăn, và khi những người giàu có, khỏe mạnh, kiêu căng, và những ai có vẻ như không cần giúp đỡ làm tất cả mọi sự để khẳng định mình tự đủ, thì nó chẳng gì hơn là những nỗ lực giữ cho sự bất lực tạm xa mình. Dù cho có mạnh mẽ và tự đủ đến thế nào đi chăng nữa, thì tự bản thân chúng ta hẳn phải tin rằng mình hữu hạn và khả tử, không có ngoại lệ nào cả. Sự mệt mỏi, bệnh tật, suy tàn, cái chết và những cơn đói khát đau đớn cuối cùng sẽ tìm đến chúng ta, tất cả chúng ta. Rượu của chúng ta cuối cùng rồi cũng hết. Và chúng ta hy vọng có ai đó như Đức Mẹ nói thay cho chúng ta rằng: ‘Họ hết rượu rồi!’

Chúng ta có được bài học nào qua điều này?

Thứ nhất, nhìn nhận sự hữu hạn của mình có thể cho chúng ta một tự nhận thức lành mạnh hơn. Nhận biết và chấp nhận sự hữu hạn của mình có thể giúp chế ngự nhiều nản lòng, bồn chồn, và cảm giác tội lỗi sai lầm trong đời chúng ta. Tôi từng có một linh hướng là một nữ tu cao niên, đã thách thức tôi sống theo châm ngôn này: Đừng sợ, bởi con là bất xứng. Chúng ta cần tha thứ cho bản thân, bởi vì chúng ta có giới hạn, bởi chúng ta là con người, hữu hạn, và không thể cho mình cũng như cho những người chung quanh mình tất cả những gì chúng ta cần. Nhưng sự bất xứng là một tình trạng có thể tha thứ được, chứ không phải là một lỗi phạm luân lý.

Khi nhìn nhận và chấp nhận sự hữu hạn của mình, không chỉ là tự tha thứ cho sự bất lực của bản thân, nhưng còn thách thức chúng ta lắng nghe rõ ràng hơn tiếng kêu của hữu hạn quanh chúng ta. Và dù đó là tiếng khóc của đứa trẻ sơ sinh, sự nhục nhã trong đôi mắt một người tìm việc, sự hoang tàn trong đôi mắt người bệnh liệt giường, hay đơn giản là đôi mắt nài nỉ của một chú mèo nhỏ, thì chúng ta cần phải, như Đức Mẹ, lo cho họ, và bảo đảm có ai đó giúp cho họ khỏi bị mất phẩm giá, bằng cách mở lời: ‘Họ hết rượu rồi!’

Khóc than cho sự cằn cỗi của chính mình

Vài năm về trước, trong khóa hè tôi dạy ở Đại học Seattle có một nữ sinh viên dù cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, nhưng cô không thể có con. Cô không thấy trong chuyện này có một ý nghĩa gì. Nó làm cho cô rất bực. Ngày lễ Mẹ là ngày khó khăn với cô. Cô viết một luận văn nghiên cứu rất hay về khái niệm cằn cỗi trong Kinh thánh, qua đó phát triển thành bài tĩnh tâm được áp dụng ở nhiều trung tâm canh tân.

Là người độc thân với lời khấn kèm theo sự cằn cỗi sinh học nhất định, tôi đã đến dự một buổi tĩnh tâm của cô, và là người nam duy nhất ở đó. Thật là một cảm nghiệm nhóm đầy mạnh mẽ, nhưng cần phải trải qua đủ hai ngày cuối tuần mới thấy được. Ban đầu, hầu hết mọi người đi tĩnh tâm khá là e dè và ngại ngùng, không muốn nhìn nhận với bản thân hay người khác về nỗi đau mất mát khả năng làm cha mẹ về mặt sinh học trong đời mình. Nhưng đến đêm thứ bảy, mọi thứ vỡ òa, sau khi cả nhóm xem bộ phim Bí mật và Dối trá của những năm 1990, một phim tinh tế mà mạnh mẽ về nỗi đau không có con cái. Những giọt nước mắt trong phim, làm rơi những giọt nước mắt của những người trong nhóm vỡ òa. Mọi người khóc không chút dè dặt, và từng người một bắt đầu kể chuyện đời của mình. Rồi, sau những dòng nước mắt và những câu chuyện, bầu khí thay đổi, như thể màn sương đã tan đi và gánh nặng được nhấc bổng. Sự nhẹ nhàng lan tỏa. Mỗi người trong nhóm đã khóc than cho mất mát của mình, và giờ đây mỗi người thấy được một sự nhẹ nhõm khi biết rằng người ta có thể không bao giờ có con nhưng vẫn hạnh phúc mà không cần phải chối bỏ nỗi đau của mình về chuyện này.

Cằn cỗi không chỉ để mô tả sự bất lực về sinh học không thể có con cái, hay một lựa chọn sống không muốn có con. Nhưng nó còn rộng hơn. Cằn cỗi mô tả tình trạng nhân sinh phổ quát khi bất lực không thể sinh sôi theo cách mình mong muốn, đồng thời cho thấy sự trống rỗng và nản lòng do nó gây ra. Karl Rahner đã tóm gọn trong những lời này. Trong giày vò khi không có đủ mọi sự có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, ở đời này mọi hòa âm vẫn còn dang dở. Dù có con cái về mặt sinh học hay không, thì tất cả chúng ta vẫn thấy bản thân mình cằn cỗi, bởi không một ai trong chúng ta có được bản hòa âm trọn vẹn trên đời này. Luôn luôn có một sự cằn cỗi trong đời sống, và như thế sự cằn cỗi về mặt sinh học đơn thuần chỉ là một trong số đó thôi, dù cho nó có thể là sự cằn cỗi lớn nhất. Không một ai trong chúng ta, khi chết đi, mà đã sinh sôi được tất cả mọi sự chúng ta muốn ở đời này:

Vậy thì chúng ta làm gì trước tình cảnh này? Có một câu trả lời nào hay không? Có một lời đáp nào có thể đưa chúng ta vượt lên những cái nghiến răng và khắc khổ chịu đựng hay không? Có. Câu trả lời là nước mắt. Như Alice Miller nói đến trong bài luận kinh điển của mình, Tấn kịch của Đứa trẻ Thiên tư, thì từ tuổi trung niên và sau đó, chúng ta cần phải khóc than để lay động những luận cứ căn bản nhất của chúng ta. Nhiều vết thương của chúng ta không thể nào đảo ngược được, và nhiều khiếm khuyết của chúng ta là bất biến. Chúng ta sẽ đi đến cái chết với sự bất toàn này. Không thể nào lấy lại được những mất mát của mình. Nhưng có thể khóc, cả cho những gì chúng ta đã mất mát và những gì không đạt được. Trong than khóc đó, là sự tự do.

Tôi luôn xúc động bởi ẩn dụ mạnh trong câu chuyện về con gái ông Jephthah, sách Thẩm phán chương 11. Trong một hình tượng nguyên mẫu, đoạn sách này cho chúng ta câu trả lời duy nhất cho sự cằn cỗi đời này. Phải chết trong tuổi thanh xuân mãnh liệt nhất, chỉ vì lời thề ngu xuẩn của cha mình, cô đã bảo cha rằng cô sẵn sàng chết trên bàn thờ hiến tế, nhưng với một điều kiện. Cô sẽ không chết mà không được cảm nghiệm đêm tân hôn và sinh con cái. Nên cô xin cha cho cô hai tháng trước khi chết để ‘khóc cho sự trinh trắng của mình.’ Khi khóc cho đúng, thì một cuộc sống bất toàn có thể được sống trong bình an và ra đi trong bình an.

Những giọt nước mắt là câu trả lời cho sự cằn cỗi, cho tất cả mọi mất mát và thiếu hụt. Trong quyển sách Giã từ Thành tín, Marilyn Chandler McEntyre đã nói thế này về những giọt nước mắt: ‘Nước mắt giải phóng cho tôi đi vào sự đau buồn chân thật. Cho tôi thoát khỏi việc hăm hở đi tìm ngôn từ giải đáp. Cho tôi về lại thời thơ ấu khi tôi cần được bồng ẵm và thấy an lòng trong vòng tay ôm, trong vòng tay của người khác và của Thiên Chúa. Những giọt nước mắt giải phóng tôi khỏi cối xay ken két của những suy nghĩ lo lắng, và còn khỏi sợ hãi nữa. Nước mắt giải thoát tôi khỏi sự căng thẳng khi cố níu giữ. Nước mắt là ưng thuận. Và ít nhất là một lần, rửa sạch những kháng cự và phủ nhận. Nước mắt cho tôi buông bỏ ý niệm tự dối của tôi rằng tôi kiểm soát được mọi sự. Nước mắt làm dịu đi phẫn uất và tẩy sạch những rác rưởi mà con sóng giận dữ đã xô đến.

Và không phải vô cớ, nước mắt là nước muối. Nhân sinh khởi thủy từ đại dương. Những giọt nước mắt nối kết chúng ta với nguồn cội mọi sự sống trên địa cầu, một sự dư dật đến phung phí thắng vượt mọi cằn cỗi.

Sự vô tận của Thiên Chúa

Tôi chắc là, nhiều người trong chúng ta đã được thêm hứng khởi khi xem bộ phim ‘Thần và Nhân’ kể lại câu chuyện một nhóm các đan sĩ dòng Xitô, sau một quyết định đau đớn là không chạy trốn tình hình bạo lực ở Algeria vào thập niên 1990, cuối cùng đã tử đạo dưới tay những người Hồi giáo cực đoan vào năm 1996. Mới đây, tôi được lên tinh thần khi đọc nhật ký của một trong các đan sĩ đó, thầy Christophe Lebreton. Được xuất bản với tựa đề, ‘Sinh ra từ Ánh mắt Thiên Chúa, Nhật ký của một Tu sĩ Tử đạo,’ nhật ký của thầy ghi lại ba năm cuối đời và cho chúng ta một thấu suốt về thầy, về cộng đoàn của thầy, và về quyết định ở lại Algeria bất chấp phải đối diện với cái chết.

Trong một trang nhật ký, thầy Christophe chia sẻ một lần, giữa tình cảnh bị thù ghét và đe dọa, giữa một bên là những người Hồi giáo cực đoan và bên kia là chính quyền tham nhũng, khi tìm kiếm lý do để hy vọng, thầy tìm được bài thơ Cái giếng của nhà thơ Pháp Jean-Claude Renard:

Nhưng làm sao dám chắc đã quá trễ
Để thành toàn khát khao
Nên hãy nhẫn nại khi ân sủng vẫn còn
Và khi luôn luôn, có lẽ, có điều gì hay
Ai đó nói lên từ thâm sâu thinh lặng và trần trụi
Rằng một ngọn lửa khôn tả triền miền xoáy sâu chúng ta
Phía dưới đất hoang đầy gai nhọn
Một giếng nước không bao giờ cạn
Một giếng nước không bao giờ cạn.

Có lẽ đây là căn cứ thực sự để hy vọng.

Với tất cả chúng ta, có những lúc trong đời, dường như mất hy vọng, khi chúng ta nhìn vào thế giới hay nhìn vào bản thân, một cách vô thức hay ý thức mà nghĩ rằng: ‘Quá trễ rồi! Đã đi quá xa rồi! Không gì có thể cứu vãn! Mọi chước cách để thay đổi đã dùng hết rồi! Thật vô vọng!”

Nhưng cảm giác khủng hoảng tự nhiên này có thực sự là mất hết hy vọng hay không? Không nhất thiết là thế. Thật vậy, chính khi chúng ta cảm nhận thế này, khi chúng ta đầu hàng cảm giác rằng mình đã dùng hết mọi chước cách, thì hy vọng có thể đến và thay thế kẻ mạo danh nó, là những suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên. Vậy hy vọng là gì?

Chúng ta thường lầm hy vọng với kiểu suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên, nhưng cả hai điều này chẳng giống chút gì với hy vọng. Suy nghĩ mong ước là không có căn cứ. Chúng ta có thể ước mình trúng số hoặc ước có cơ thể như một vận động viên cấp thế giới, nhưng ước muốn này không có thực tế để dựa vào. Nó chỉ là thuần ảo tưởng. Lạc quan, thì dựa trên tính khí tự nhiên và cũng không giống gì với hy vọng. Trong quyển sách mới của mình, Hy vọng không cần Lạc quan (Hope without Optimism) Terry Eagleton nhận định rằng lạc quan đơn thuần chỉ là tính khí tự nhiên và là nô lệ của tính khí ấy. ‘Người lạc quan bị xiềng xích vào sự vui vẻ.’ Hơn nữa, ông còn khẳng định rằng lăng kính đơn sắc của người lạc quan khác với người bi quan, chỉ ở một điểm duy nhất là, nó màu hồng chứ không phải màu xám. Hy vọng không phải là một ước mong hay tính khí, nhưng là một thái độ sống cần có căn cứ trên hiện thực vừa đủ? Vậy hiện thực vừa đủ là gì?

Jim Wallis, một nhân vật xuất chúng của đức cậy-hy vọng Kitô giáo trong thời đại chúng ta, nói rằng hy vọng của chúng ta không đặt trên những gì chúng ta thấy trên bản tin thế giới hằng đêm, bởi tin tức thì thay đổi luôn và vào một đêm nào đó sẽ rất tiêu cực khiến chúng ta có quá ít căn cứ để hy vọng. Ông đúng. Dù cho trong một tối nào đó, thế giới có tốt hơn hay tệ hơn, thì đó vẫn không đủ chứng cứ để chúng tin rằng mọi sự tận cùng sẽ tốt đẹp. Ngay đêm sau mọi chuyện đã thay đổi hoàn toàn.

Pierre Teilhard de Chardin, người không ngừng khẳng định rằng mình là con người đức cậy chứ không phải người lạc quan, đã từng nói rằng, có hai lý lẽ đủ cho đức cậy. Khi được hỏi xem nếu như chúng ta thổi bay thế giới với một trái bom nguyên tử, thì sẽ thế nào, cha đã trả lời: Như thế nghĩa là đi lùi lại hàng triệu năm lịch sử, nhưng dự định của Thiên Chúa cho địa cầu vẫn tiếp tục. Tại sao lại thế? Bởi Chúa Kitô đã hứa, và trong sự phục sinh, Thiên Chúa cho chúng ta thấy Ngài có quyền năng để thực hiện lời hứa đó. Cậy trông-Hy vọng là dựa vào lời hứa và quyền năng Thiên Chúa.

Nhưng vẫn còn một lý do khác để chúng ta hy vọng, một sự làm căn cứ cho hy vọng của chúng ta và cho những lý lẽ đủ để sống tin tưởng rằng cuối cùng mọi sự sẽ nên tốt. Và đó chính là sự vô biên của Thiên Chúa. Ẩn dưới chúng ta và vũ trụ, có một giếng nước không bao giờ cạn.

Mà chúng ta lại thường quên lãng hay hạ thấp giếng nước này theo mức độ hữu hạn của tâm hồn và tưởng tượng của mình. Thiên Chúa là Thiên Chúa phung phí, không cách nào hình dung được trong phạm vi thể lý, một Thiên Chúa đã tạo dựng và vẫn đang tạo dựng hàng tỷ tỷ vũ trụ. Hơn nữa, Thiên Chúa phung phí này, vượt quá tưởng tượng của chúng ta, nhưng đã được Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta là Đấng nhẫn nại và thương xót đến không tưởng tượng nổi. Không có giới hạn số lượng cơ hội cho chúng ta. Không có giới hạn nào đối với sự nhẫn nại của Thiên Chúa. Không có sự gì làm cạn nổi giếng nước thần thiêng.

Không bao giờ là quá trễ! Sự sáng tạo và lòng thương xót của Thiên Chúa là vô cùng vô tận.

Khi đọc các đoạn khó trong Kinh thánh

Một linh mục bạn của tôi đã chia sẻ câu chuyện này: Mới đây, sau buổi Chầu Thánh Thể, một bà trong giáo xứ đến gặp cha mà nói: “Bài đọc Kinh Thánh hôm nay thật khủng khiếp! Nếu Chúa mà chúng ta thờ phượng là thế, thì con không muốn lên thiên đàng!”

Bài đọc hôm đó lấy từ chương 24, sách Samuen 2, khi Thiên Chúa phiền lòng vì vua Đavid kiểm kê dân số cho quân địch, nên đã trừng phạt bằng cách gởi bệnh dịch hạch giết chết 70.000 người.

Đây thực sự là lời của Chúa hay sao? Thiên Chúa thực sự nổi giận với Đavid vì ông đã làm một thống kê đơn giản, và rồi giết 70.000 người để dạy cho ông một bài học sao? Có lý lẽ nào có thể biện minh cho điều này? Đây đúng là một đoạn khủng khiếp!
Chúng ta làm gì với những đoạn văn như thế này, và có nhiều đoạn khác nữa, nói về Thiên Chúa, dường như, ra tay bạo lực nhân danh Ngài? Tôi xin đưa ra một ví dụ: Trong các lệnh truyền với Joshua khi dân đi vào đất hứa, Thiên Chúa đã lệnh cho ông giết hết mọi thứ trong đất Canaan, tất cả mọi đàn ông, đàn bà, mọi trẻ em, và cả mọi súc vật. Tại sao lại thế? Tại sao Thiên Chúa quá tàn bạo muốn hủy diệt hết tất cả? Chúng ta có tin Thiên Chúa làm thế? Còn các ví dụ tương tự, như trong sách Thẩm phán, khi Thiên Chúa nhận lời cầu nguyện của Jephthah, người Gileadite, khi ông hứa là sẽ hiến tế con gái của mình trên bàn thờ. Các đoạn văn như thế này dường như đi ngược lại bản tính của Thiên Chúa mà phần lớn Kinh Thánh mặc khải.

Trong Kinh Thánh, có nhiều lúc, Thiên Chúa dường như độc đoán, vô tâm, bạo lực, yêu cầu những kẻ tin thực thi bạo lực, và hoàn toàn chai đát trước sinh mạn của bất kỳ ai không thuộc những người Ngài đã chọn. Nếu người ta xét những đoạn văn này theo nghĩa đen, thì có thể dùng chúng để biện hộ cho dạng bạo lực của các nhóm cực đoan như Nhà nước Hồi giáo Tự xưng và Al-Qaida, những kẻ tin rằng Thiên Chúa chỉ yêu thương độc nhất họ mà thôi, và họ được tự do giết hại người khác nhân danh Chúa.

Như các học giả Kinh Thánh làm rõ, các đoạn văn này không được hiểu theo nghĩa đen. Chúng mang tính nhân hình và nguyên hình. Bất kỳ lúc nào đọc lên, thì nên có tiền thức kiểu như trước khi xem một bộ phim chúng ta được cho biết rằng: “Không có động vật nào bị chết khi làm phim này.” Vậy nên, không có người thật nào bị chết trong các đoạn văn này.

Trước hết, các đoạn văn này mang tính nhân hình, nghĩa là trong đó chúng ta quy cảm nghĩ và ý muốn của chúng ta cho Chúa. Do đó, các đoạn văn này phản ánh cảm giác của chúng ta, chứ không phải của Chúa. Ví dụ như, khi thánh Phaolô nói với chúng ra rằng, khi phạm tội, chúng ta nếm trải “cơn thịnh nộ của Thiên Chúa,” thì chúng ta không tin rằng Thiên Chúa nổi giận và giáng các hình phạt tuyệt đối cụ thể trên chúng ta. Đúng hơn, khi chúng ta phạm tội, chúng ta tự trừng phạt mình, bắt đầu ghét bản thân, và cảm thấy như thể Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ với chúng ta. Các ngòi bút Thánh Kinh thường viết theo lối này. Thiên Chúa không bao giờ ghét chúng ta, nhưng khi phạm tội, là chúng ta tự ghét chính mình.

Các bản văn này cũng mang tính nguyên hình, nghĩa là chúng là những hình ảnh nguyên mẫu mạnh mẽ giải thích cuộc đời. Tôi nhớ có một người đến gặp tôi sau thánh lễ ngày chúa nhật, với bài đọc nói về Chúa lệnh cho ông Joshua giết tất cả người Canaan khi vào đất hứa. Ông ấy nói với tôi: “Cha nên để con giảng hôm nay thì hơn. Con biết đoạn văn đó chính xác có nghĩa gì. Con là một người nghiện rượu đang phục hồi, và đoạn văn đó có nghĩa là ‘ớn lạnh.’” Là một người nghiện rượu, muốn phục hồi, thì phải dẹp sạch rượu khỏi phòng, sạch tuyệt đối, không còn chai nào, không còn chút rượu nào. Mọi dân cư Canaan phải bị giết. Chúa Giêsu cũng nói như vậy, nhưng Ngài dùng một ẩn dụ nhẹ nhàng hơn: “Rượu mới phải đổ vào bầu mới.” Về căn bản, đây là ý nghĩa của đoạn văn trên.

Nhưng ngay cả như thế, nếu các đoạn văn này không phải theo nghĩa đen, thì không phải chúng là những lời được Thiên Chúa linh hứng hay sao? Có thể nào cứ giải thích theo cách chúng ta thấy thuận tiện sao?

Có hai điều cần nói: Thứ nhất, tất cả mọi bản văn trong Kinh Thánh, phải được xem xét trong bộ khung tổng thể của Kinh Thánh, và thần học tổng thể của chúng ta về Thiên Chúa, như thế cần có một diễn giải theo sát bản tính Thiên Chúa được mặc khải trong toàn Kinh Thánh. Và, trong toàn thể Kinh Thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa hoàn toàn yêu thương, hoàn toàn thương xót, hoàn toàn tốt lành, không thể nào gắn các tính chất định kiến, nhẫn tâm, tàn bạo, thiên vị và bạo lực cho Thiên Chúa được. Hơn nữa, Kinh Thánh cố kết và không thể sai lầm trong ý định thông điệp, chứ không phải trong nghĩa đen của diễn đạt. Ví dụ như, chúng ta không nên xét nghĩa đen lệnh truyền của Chúa Giêsu, “đừng gọi ai trên mặt đất này là cha” cũng như với lời chỉ dạy của thánh Phaolô, “Nô lệ thì thuộc về ông chủ.”

Bối cảnh và diễn giải không phải là các lý luận, mà là bổn phận thiêng liêng. Chúng ta đừng biến Kinh Thánh thành bất xứng với Thiên Chúa.

Chiếc áo cháy lửa

Người ta thường bảo rằng, quyển sách bạn cần đọc nhất sẽ tìm đến bạn khi bạn cần đọc nhất. Tôi đã nhiều lần trải nghiệm điều này, và gần đây nhất là với quyển Chiếc áo cháy lửa, Một năm với thánh Teresa Hài Đồng Giêsu (Shirt of Flame) của Heather King
Tựa đề quyển sách mượn từ T.S. Eliot, trong quyển Bốn bộ tứ (Four Quartets) trong đó ông cho rằng Tình yêu, hay Thiên Chúa, ẩn sau sự giày vò mà chúng ta thường cảm nhận trong những khát khao mãnh liệt của chính mình và sự thiêu đốt mà chúng ta cảm nhận đó là “chiếc áo lửa không chịu đựng nổi.”
Tác giả King viết quyển sách này từ một hoàn cảnh dữ dội trong chính đời mình: Cô là một tác giả, nhà báo tự do, độc thân, đã ly hôn, đang phục hồi chứng nghiện rượu, cố gắng dàn xếp một vài tăm tối trong quá khứ, đương cự với một ám ảnh gây tê liệt cả tinh thần, khi cô yêu mà không được đáp lại, cô cũng mạo hiểm về tài chính khi từ bỏ công việc ổn định trong ngành luật để đổi lấy sự bất định của một tác giả tự do, và đang phải vật lộn với cảm thức mình là người ngoài cuộc xa lạ với những đều bình thường như gia đình, hôn nhân, và cộng đồng, cảm nhận mình như cô nhi ngoài bàn tiệc cuộc đời. Vậy nên, cô để dành một năm để chìm đắm nơi một trong những vị thánh lôi cuốn nhất mọi thời đại, Têrêxa Hài Đồng Giêsu, để cố gắng tìm xem liệu thánh Têrêxa có phải là kim chỉ nam đạo đức và thiêng liêng, nhằm xác định lại cuộc đời của mình hay không. Kết quả là một quyển sách chính chắn, thấu suốt sâu sắc và cực mạnh.
Cô nhận ra nơi linh hồn Têrêsa, bên trong linh hồn một vị thánh, bên trong con người dường như có thể từ bỏ mọi sự vì Chúa, họ có cùng những khát khao mãnh liệt mà cô cũng đang cảm nhận trong lòng mình. Và cô nhận ra những ngọn lửa này có thể vừa thanh luyện vừa hủy diệt, cứu rỗi hay giày vò, biến đương sự thành thánh nhân lớn hay thành tội nhân lớn. Vậy nên, cô để ngọn lửa của thánh Têrêsa chiếu tỏa trên ngọn lửa của lòng cô. Và do bởi những gì riêng tư và cá nhân nhất trong mỗi chúng ta, nếu được bày tỏ, cũng sẽ mang tính chung nhất, cho nên khi tiết lộ những đấu tranh riêng tư và sâu thẳm của mình, quyển sách của cô cũng soi rọi cho cuộc đấu tranh chung của nhân loại. Tuy nhiên, quyển sách này là kiểu tự bày tỏ, chứ không hề phô trương, một điều mà tác giả nắm rất rõ.
Ví dụ như, rút ra từ một sự kiện nhiều người biết trong cuộc đời thánh Têrêsa khi còn bé, được chị mình bảo chọn ra một thứ trong chiếc giỏ may đầy bóng mày, Têrêsa nói: “Em chọn hết!” và lấy hết cả giỏ rồi đi. Cô King suy ngẫm dựa trên đấu tranh của chính mình với ý chí chỉ mong một điều, như Kierkegaard cũng từng trải qua. Và đây là điều mà cô rút ra cho cuộc đời mình:
“Em chọn hết!” thánh Têrêsa đã nói thế, và tôi còn tiến hơn nữa, tôi càng thấy một sự tiến thoái lưỡng nan của con người đó là muốn tất cả. Tôi muốn độc thân, và tôi cũng muốn bung mình cho người bạn đời, tôi muốn các bí mật tăm tối, tiếng động, ánh sáng, sự điên cuồng và kích động của chốn đô hội, và tôi cũng muốn trồng một khu vườn, nuôi súc vật và sống ở trang trại. Tôi muốn sống một nơi suốt đời, và tôi cũng muốn chu du dọc ngang hết mọi thước đất trên địa cầu trước khi chết. Tôi muốn ngồi hoàn toàn tĩnh lặng, và tôi cũng không ngừng dấy lên ý muốn hoạt động. Tôi muốn trốn đi và sống ẩn danh, và tôi cũng muốn nổi tiếng. Tôi muốn gần gũi với gia đình, và tôi cũng muốn để mặc gia đình. Tôi muốn cả đời mình thật năng động, và tôi cũng muốn dành cả đời để trầm tư. Tôi muốn trao mọi sự cho Chúa, và tôi không biết làm thế nào! Tôi khao khát được trao đi cái tôi trọn vẹn của mình, và tôi không thể!”
Suy tư về lời khấn khó nghèo của thánh Têrêsa, cô King viết: “Khó nghèo không bao giờ là chuyện tự nguyện. Khó nghèo hệ tại chính ở việc bạn tuyệt đối không muốn nghèo.” Lấy ý từ nhà thơ người Đức, Gertrud von le Fort, người đã viết rằng khi linh hồn cô thống khổ nhất, thì mọi thứ chung quanh cũng thốt lên rằng: “Nhưng cô chẳng là gì cả!” Và cô King viết tiếp: “Ít nhất có ai đó đã nói lên chuyện đời tôi. Đặc biệt trong mười năm qua, tôi đã thống khổ, và “họ” – chồng tôi, người tôi yêu, nghiệp pháp lý, nghiệp y khoa khi tôi mắc ung thư, ngành xuất bản- tất cả đã nói rất nhiều rằng: “Nhưng cô chẳng là gì cả.” Nơi nào tôi hướng đến, đều là một bức tường trống không. Mọi sự tôi hy vọng, đều là tro bụi. Mọi sự tôi đã làm việc, chỉ là “Nhưng cô chẳng là gì cả.” … Một buổi sáng khi đang tắm, tôi khóc với Chúa Kitô: “Con không yêu Chúa, và Chúa cũng không yêu con!” Chúng ta đều như thế.
Nếu bạn đấu tranh với đức tin, với sự rạn vỡ trong đời, với một ám ảnh, với một chứng nghiện, với một ý thức gặm nhấm rằng cuộc đời bạn đã sai lầm, ý thức mình là kẻ ngoài cuộc, một cô nhi trên bàn tiệc sự sống, và nhất là, với một nhận thức rằng mình không yêu Chúa Giêsu, và Chúa cũng không yêu mình, rằng mình là hư vô, thì quyển sách này dành cho bạn đó. Đây là quyển sách cho những người nghĩ là mình quá yếu, và bác sĩ cũng chẳng giúp gì được.

Nụ hôn của Thiên Chúa lên linh hồn

Đââu là gốc rễ thực sự của sự cô đơn trong con người? Một sai sót trong cấu thành của chúng ta? Sự bất xứng và tội lỗi? Hay, như câu nói trứ danh của thánh Âugutinô, ‘Ngài đã tạo thành chúng con, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.’

Dù rất giá trị, nhưng câu châm ngôn của thánh Âugutinô vẫn không đủ. Chúng ta là những linh hồn vô hạn bên trong cuộc sống hữu hạn, và chỉ một điều này thôi là đã đủ để giải thích cơn nhức nhối triền miên không thỏa của chúng ta, ngoại trừ một điều là linh hồn chúng ta khi đi vào thế giới đã mang lấy sự bất diệt rồi, và điều này cho toàn bộ cơn nhức nhối của chúng ta một sắc thái đặc biệt.

Có nhiều cách để giải thích cho điều này: Ví dụ như, Bernard Lonergan, triết gia và thần học gia đáng trọng, đã cho rằng linh hồn con người không đến thế giới như thể một tabla rasa, một tờ giấy trắng, không tì vết để có thể viết gì lên đó cũng được. Với ông, chúng ta được sinh ra với các nguyên tắc tiên quyết ghi tạc vào trong linh hồn không bao giờ phai. Ý ông là gì?

Thần học và triết học kinh điển, xác định bốn sự mang tính siêu việt, có thể nói là chân tính của mọi sự có tồn tại, chúng là nhất, chân, thiện, và mỹ. Mọi sự tồn tại đều có bốn phẩm chất này. Tuy nhiên các phẩm chất này chỉ hoàn hảo nơi Thiên Chúa. Chỉ mình Thiên Chúa là Đấng toàn nhất, toàn chân, toàn thiện và toàn mỹ. Nhưng theo Lonergan, Thiên Chúa đã ghi tạc 4 sự này, trong tình trạng hoàn hảo, và cốt lõi linh hồn con người.

Do đó, chúng ta đến trong thế giới, thì đã biết, dù còn mập mờ, về sự toàn nhất, toàn chân, toàn thiện và toàn mỹ, vì chúng ta đã có sẵn trong chúng ta, một dấu ấn không phai. Như thế, chúng ta có thể phân biệt đúng sai, vì đã biết sự thật hoàn hảo và sự thiện hoàn hảo trong cốt lõi linh hồn mình, và cũng nhận biết theo bản năng về tình yêu và vẻ đẹp, bởi chúng ta đã biết chúng một cách hoàn thiện trong bản thân mình. Trong đời này, chúng ta không học biết sự thật, mà là nhìn nhận sự thật, chúng ta không học yêu mà là nhận ra tình yêu, và chúng ta không học biết nhưng là nhận ra cái gì là tốt lành. Chúng ta nhận ra được vì đã có chúng trong cốt lõi linh hồn mình.

Một vài nhà thần nghiệm đã có một mô tả thế này: Linh hồn con người đến từ Thiên Chúa và trước khi đặt linh hồn vào trong cơ thể, điều cuối cùng Thiên Chúa làm là hôn linh hồn đó. Rồi linh hồn đi qua đời sống, vẫn luôn nhớ về nụ hôn đó, một nụ hôn của tình yêu hoàn hảo, và linh hồn xác định mọi tình yêu và nụ hôn trong đời qua nụ hôn hoàn hảo ban sơ đó.

Các nhà khắc kỷ Hy Lạp cũng nói về một điều tương tự. Họ dạy rằng linh hồn đã tồn tại sẵn trong Thiên Chúa, và trước khi đặt linh hồn và trong một cơ thể, Thiên Chúa xóa đi ký ức về hiện hữu của nó. Nhưng linh hồn luôn hướng về Chúa một cách vô thức, bởi khi đến từ Thiên Chúa, linh hồn luôn nhớ về mái ấm đích thực của mình, và khắc khoải mong được về lại.

Người Hy Lạp cho rằng Thiên Chúa đặt linh hồn vào thân xác chỉ khi đứa bé đã thành hình trọn vẹn trong lòng mẹ. Ngay sau khi đặt linh hồn vào thân xác, Thiên Chúa liền khóa chặt ký ức tiền hiện hữu của nó bằng cách khóa chặt môi đứa trẻ để nó không bao giờ nói về tiền hiện hữu của mình. Đây là lý do vì sao chúng ta có một rãnh lõm dưới mũi, ngay trên môi. Đây là nơi Chúa đặt ngón tay lên để khóa lại. Đây là lý do vì sao bất kỳ lúc nào cố gắng để nhớ chuyện gì đó, chúng ta vô thức đặt ngón tay lên nơi này. Chúng ta đang cố gắng phục hồi một ký ức ban sơ.

Có lẽ, tôi cần đưa thêm một ẩn dụ nữa. Chúng ta thường nói về những sự ‘đúng rõ ràng’ hay ‘sai rõ ràng.’ (ringing true và ringing false.) Nhưng chỉ có chuông mới rung (ring). Trong chúng ta có một chiếc chuông rung lên khi đúng và sai hay sao? Về căn bản, thì có! Chúng ta nuôi dưỡng một ký ức vô thức về một thời từng được biết một tình yêu, sự thiện và vẻ đẹp trọn hảo. Do đó, mọi sự sẽ ngân lên đúng hay sai, dựa vào việc liệu chúng có theo tiêu chuẩn là tình yêu, sự thiện và vẻ đẹp hoàn hảo vốn đã có nơi cốt lõi linh hồn chúng ta hay không.

Và cốt lõi đó, trung tâm đó, nơi đó trong linh hồn chúng ta, nơi chúng ta được ghi dấu với các nguyên tắc tiên quyết và nơi chúng ta ghi nhớ nụ hôn của Thiên Chúa khi chúng ta được sinh ra, với nỗi khắc khoải không ngơi, trong đời này. Như lời Henri Nouwen, thì chúng ta mang một ký ức mơ hồ về một thời từng được âu yếm trong đôi bàn tay trìu mến nhiều hơn bất kỳ bàn tay nào từng gặp trong đời.

Linh hồn chúng ta mơ hồ nhớ về một thời từng được biết tình yêu hoàn hảo và vẻ đẹp hoàn hảo. Nhưng, trong đời này, chúng ta không bao giờ gặp được sự hoàn hảo đó, dù cho chúng ta cứ luôn mãi đau đáu một người hay một sự nào đó đáp ứng được chiều sâu thẳm này trong chúng ta. Điều này tạo nên trong chúng ta một sự cô đơn tinh thần, một khao khát những gì mà chúng ta xác định là tri kỷ, một người có thể thực sự nhìn nhận, chia sẻ và tôn trọng những gì thâm sâu nhất trong chúng ta.

Cúi đầu và ngước đầu

Vào cuối nghi lễ phụng vụ Roma, có lời mời mọi người đón nhận phép lành trọng thể. Lời mời này như sau: Chúng ta cúi đầu và cầu nguyện xin Chúa chúc lành. Ý niệm phía sau điều này, rõ ràng là một phép lành chỉ có thể thực sự được lãnh nhận trong cung kính, khiêm nhượng, với cái đầu cúi xuống, và những kiêu căng tự hào bị gạt bỏ.

Một cái đầu cúi xuống là dấu chỉ của khiêm hạ, và hầu như khắp thế giới, đều xem đây là một tư thế đúng đắn về đường thiêng liêng. Các ngòi bút thiêng liêng hiếm khi đặt lại vấn đề hay thấy cần phải làm rõ ý niệm, lành mạnh linh hồn là cúi đầu trong tinh thần khiêm tốn. Nhưng chuyện này có thật đơn giản như thế hay không?

Phải công nhận rằng, trong tư thế đơn sơ này lại chứa đựng biết bao khôn ngoan. Một cái đầu cúi xuống trong cung kính là dấu chỉ của khiêm hạ. Hơn nữa, kiêu ngạo là tội hàng đầu trong những tội chết người. Sự kiêu ngạo của con người là bẩm tại, sâu sắc và không thể nhổ triệt được. Nó có thể được cứu chuộc và cũng có thể bị đập tan, nhưng luôn còn lại trong chúng ta, và còn lại một cách cần thiết. Không có sự lành mạnh nếu không có sự kiêu hãnh, nhưng nó cũng có thể hủy hoại sự lành mạnh. Có một điều gì đó bên trong bản chất con người, cố kết trong cá tính và tự do của chúng ta, một sự không thích quỳ gối trước những gì cao cả hơn và quyền thế hơn. Chúng ta canh chừng lòng kiêu hãnh của mình một cách dữ dội, và không phải ngẫu nhiên khi hình tượng điển hình cho sự chống đối Thiên Chúa là câu nói ngoan cố bám chặt vào kiêu hãnh của Lucifer: ‘Tôi sẽ không phục vụ.’

Hơn nữa, chúng ta không thích thừa nhận mình yếu đuối, hạn chế, lệ thuộc và phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, tất cả chúng ta phải lớn lên và trưởng thành, đến một mức độ mà khi đó chúng ta không còn ngây thơ và đủ kiêu căng để tin rằng mình không cần phúc lành của Thiên Chúa nữa. Tất cả mọi linh đạo đều dựa vào khiêm hạ. Sự trưởng thành cả về nhân bản lẫn linh hồn, lại hiển nhiên nhất trong những người quỳ gối cầu nguyện.

Nhưng, dù kiêu ngạo có thể là xấu, nhưng đôi khi kiêu hãnh và kiêu căng lại không phải là vấn đề. Đúng hơn, thì chúng ta phải đấu tranh với một tinh thần thương tích và tan vỡ, không còn biết cách đứng thẳng. Trẻ trung, khỏe khoắn, mạnh mẽ, kiêu căng và không nhận biết mình mỏng manh và hữu hạn đến thế nào (và ảo tưởng này có thể tồn tại đến tận tuổi già) là một chuyện, nhưng mang một tâm hồn tan vỡ, một tinh thần tan nát và mất đi lòng kiêu hãnh lại là chuyện khác. Khi điều này xảy đến, và nó luôn xảy đến với tất cả chúng ta nếu như chúng ta có sự nhạy cảm vừa đủ và sống đủ lâu, thì lòng kiêu hãnh bị tổn thương là một điều rất đỗi tiêu cực, nó giày vò kìm kẹp chúng ta đến nỗi không còn có thể đứng dậy, đứng thẳng, ngước đầu lên và đón nhận yêu thương cùng phúc lành.

Tôi còn nhớ hồi nhỏ, lớn lên trong nông trại, tôi từng chứng kiến chuyện thuần hóa ngựa. Người ta bắt được một con ngựa non lâu nay rong ruổi hoàn toàn tự do, và bằng một tiến trình tàn bạo, họ buộc chú ngựa non đó quy phục dây cương, bàn đạp và mệnh lệnh của con người. Khi tiến trình đã hoàn tất, con ngựa giờ phục tùng mệnh lệnh của con người. Nhưng tiến trình bẽ gãy sự tự do và tinh thần của con người, là một việc rất không nhẹ nhàng và do đó gây nên một kết quả lẫn lộn. Con ngựa giờ phục tùng, nhưng một phần tinh thần của nó đã bị phá vỡ.

Đây là một hình ảnh tương đồng cho cuộc hành trình của chúng ta, cả về nhân bản lẫn thiêng liêng. Cuộc sống, rất không trìu mến, đến cuối cùng, bẽ gãy tinh thần của chúng ta, vì những lý do tốt và xấu, rồi chúng ta khiêm hạ, nhưng cũng là mang một thương tích và không thể đứng thẳng được. Sự khiêm hạ cưỡng bách này có một hiệu ứng kép: Một mặt, chúng ta thấy mình khụy gối một cách tự nhiên hơn trước những gì cao cả hơn, nhưng mặt khác, bởi vì nỗi đau khi bị bẽ gãy, chúng ta tập trung vào bản thân mình hơn là vào người khác, và cuối cùng trở nên tật nguyền. Bầm tím và dễ vỡ, chúng ta không thể cho và nhận cho đúng đắn được, và trở nên dè dặt ngại ngùng khi chia sẻ sự tốt đẹp và chiều sâu của mình với người khác.

Linh đạo và tôn giáo, hầu hết đều quá thiên về một mặt mà thôi. Các linh đạo và tôn giáo luôn cảnh giác trước sự kiêu hãnh và tự đại (và cũng thừa nhận rằng, chúng có thật và luôn là những tội chết người.) Nhưng linh đạo và tôn giáo quá chậm trong việc đỡ người ta đứng lên. Chúng ta đều biết câu châm ngôn rằng, nhiệm vụ của linh đạo là làm đau người thoải mái, và xoa dịu cho người bị đau. Xét theo lịch sử, linh đạo và tôn giáo, dù không phải lúc nào cũng thành công với vế trước, nhưng cũng đã quá lơ đễnh với vế sau.

Kiêu hãnh và tự đại là tội nặng nề nhất trong tất cả các tính xấu. Tuy nhiên, một lòng kiêu hãnh bị tổn thương và một tinh thần vỡ nát cũng có thể làm hỏng chúng ta như thế.

Vậy nên, có lẽ khi Giáo hội chúc lành cho cộng đoàn vào cuối phụng vụ, thay vì nói, Chúng ta cúi đầu và cầu nguyện xin Chúa chúc lành. Thì nên đổi thành: Những ai nghĩ mình không cần phúc lành này: Hãy cúi đầu và cầu nguyện xin Chúa chúc lành. Còn những ai cảm thấy mình bị tổn thương, tan vỡ và bất xứng với phép lành này: Hãy ngước đầu lên và đón nhận tình yêu và ơn ban mà anh chị em đã từ lâu mong mỏi được đón nhận lần nữa.

Để linh hồn bắt kịp mình

Đôi khi, không có gì hữu ích cho bằng một ẩn dụ tốt.

Trong quyển sách Bản năng Thiên Chúa (The God Instinct) của mình, Tom Stella đã chia sẻ câu chuyện này: Một ngày nọ, vài phu khuân vác được thuê vận chuyển một khối lượng lớn hàng tiếp tế cho một nhóm thợ săn. Các gói hàng này nặng bất thường và đường mòn qua rừng già lại rất khó đi. Sau vài ngày đi đường, họ dừng lại, dỡ hàng xuống và không chịu đi nữa. Không một lời nài nỉ, đe dọa nào có thể thuyết phục họ tiếp tục hành trình. Khi được hỏi vì sao không thể đi tiếp, họ trả lời: ‘Chúng tôi không thể đi tiếp, chúng tôi phải chờ cho linh hồn bắt kịp đã.’

Chuyện này cũng có xảy ra trong cuộc sống chúng ta, ngoại trừ việc hầu như không bao giờ chúng ta chờ đợi cho linh hồn bắt kịp mình. Chúng ta cứ tiếp tục mà không có linh hồn, có khi là suốt nhiều năm ròng. Vậy nghĩa là gì? Gần như là chúng ta nỗ lực để ở trong thời khắc hiện tại, để thoải mái với chính mình, để ý thức được sự phong phú trong cảm nghiệm của bản thân. Gần như là các cảm nghiệm của chúng ta không thuộc phần hồn cho lắm, bởi chính chúng ta không hiện diện với nó. Ví dụ như:

Trong 20 năm vừa qua, tôi viết hằng ngày, kiểu như nhật ký vậy. Ý tôi là muốn giữ thói quen này để ghi lại những điều thâm sâu mà tôi nhận thức ngày qua ngày, nhưng cuối cùng, những gì tôi thực sự viết ra lại giống như một biên niên sử đơn giản của ngày sống, một quyển đơn thuần kể lại những gì tôi đã làm hết giờ này đến giờ khác mà thôi. Nhật ký của tôi chẳng giống gì với nhật ký Anne Frank, quyển Marking của Dag Hammarskjold, quyển Một cuộc đời rối loạn của Etty Hillesum, hay Nhật ký Genesee của Henri Nouwen. Bút ký của tôi giống với những gì mà một cậu bé trung học kể lại các ngày học của mình ở trường. Nhưng khi lật giở và đọc lại một bài, tôi luôn luôn kinh ngạc thấy ngày sống hôm đó thật phong phú và trọn vẹn, ngoại trừ một việc là lúc viết ra nó tôi đã không nhận ra điều này. Trong khi đã thực sự sống qua những ngày như thế, vậy mà hiện nay tôi vẫn vất vả cố gắng để hoàn thành công việc, để được lành mạnh, để theo kịp các kỳ vọng, để có được những giây phút thân ái và sáng tạo giữa các áp lực thường nhật, và để đi ngủ cho đúng giờ giấc. Trong phong cách này, không có nhiều phần hồn cho bằng một đống lịch trình, công việc và vội vã.

Tôi ngờ rằng điều này không phải là không điển hình chung. Tôi ngờ rằng hầu hết chúng ta, đều sống mà không nhận ra cuộc sống của mình phong phú biết bao, và như thế cứ luôn mãi để cho linh hồn bị tụt lại phía sau. Ví dụ như, nhiều phụ nữ mất 10 hay 15 năm cho việc nuôi dạy con cái, luôn mãi chăm lo cho nhu cầu của người khác, nửa đêm thức giấc để lo cho đứa con, 24 tiếng một ngày luôn trong tình trạng túc trực, hy sinh hết thời gian vui thú của mình và tạm gác sự nghiệp cùng sáng tạo của mình qua một bên. Và thường thường người phụ nữ này, khi nhìn lại những năm tháng này, họ mong mỏi có thể lấy lại. Nhưng khi nhìn theo cách xúc cảm phần hồn hơn, họ nhận thức rõ rệt rằng thật tuyệt vời và đặc ân khi được làm những gì mình đã làm với sự chán chường và bức xúc. Nhiều năm về sau, nhìn lại, cô sẽ thấy cảm nghiệm này của cô thật phong phú và quý báu, và cũng sẽ thấy thời đó cô đã để quá ít phần hồn vào những gì mình đã thực sự trải qua.

Điều này có thể có hàng ngàn ví dụ. Chúng ta tất cả đều từng đọc đâu đó những chia sẻ về việc mình sẽ sống khác đi nếu được sống lần nữa. Hầu hết các câu chuyện này đều có một môtíp chung. Nếu có cơ hội khác, tôi sẽ cố gắng tận hưởng cuộc đời hơn, nghĩa là tôi sẽ cố gắng để phần hồn vào hơn và ý thức hơn vào chuyện đó.

Tôi e là với hầu hết chúng ta, linh hồn sẽ chỉ bắt kịp chúng ta khi tuổi già, khi sức khỏe sinh lực và cơ hội làm việc dần tan biến. Có vẻ như trước hết chúng ta cần phải mất đi điều gì đó trước khi trân trọng nó cho trọn vẹn. Chúng ta có khuynh hướng xem sức khỏe, sinh lực và công việc là chuyện mặc định, cho đến khi chúng xa rời chúng ta. Chỉ sau khi đó, chúng ta mới nhận ra cuộc sống của mình thật phong phú biết bao, và nhận ra rằng thời đó, chúng ta đã kín múc sự phong phú đó ít ỏi dường bao.

Linh hồn của chúng ta cuối cùng cũng bắt kịp chúng ta, nhưng sẽ thật tốt nếu chúng ta không để cho đến khi vào viện dưỡng lão mới có được điều này. Cũng như các phu khuân vác đã để các thùng hàng xuống và dừng bước, thì chúng ta cũng cần đều đặn dừng lại và chờ cho linh hồn bắt kịp mình.

Khi mới làm linh mục, Đức Giáo hoàng Phanxicô phụ trách một trường học. Và mỗi ngày, ở một lúc cố định, ngài có vài lời qua loa phóng thanh, chen ngang vào những việc đang diễn ra trong từng lớp học: Hãy biết ơn. Định hình tầm nhìn của mình. Hãy dùng ngày sống của mình.

Tất cả chúng ta, ai cũng cần để cái gánh nặng xuống trong một phút, để cho linh hồn có thể bắt kịp mình.

Chỉ trong thinh lặng

Ngòi bút thiêng liêng người Bỉ, Bieke Vandekerckhove, có một sự khôn ngoan chân thành. Những gì cô chia sẻ với chúng ta, cô không học được từ một quyển sách, hay từ mẫu gương của ai đó. Nhưng cô học được từ một gian nan, một đau khổ độc nhất vô nhị, ngay từ tuổi 19 cô đã mắc một chứng bệnh nan y, không chỉ sớm dẫn đến cái chết mà còn tàn phá và hạ giá thân thể của cô trên đường đến cái chết.

Nỗ lực đối đầu với tình trạng này, đẩy cô theo nhiều hướng, ban đầu là giận dữ và vô vọng, nhưng cuối cùng đưa cô hướng về tu viện, đến với sự khôn ngoan của tu trì, và theo đường hướng đó, đi vào chiều sâu của thinh lặng, hoang mạc ẩn dấu kinh hoàng bên trong mỗi chúng ta. Xa lánh mọi tiếng nói của thế gian, trong sự thinh lặng linh hồn của mình, trong sự hỗn loạn của cơn thịnh nộ, khắc khoải, mà cô tìm thấy sự khôn ngoan và sức mạnh, không chỉ để đương đầu với bệnh tật của mình, nhưng còn để tìm thấy một ý nghĩa và niềm vui sâu sắc hơn trong đời.

Như John Updike đã nói trong thơ, có những bí mật ẩn giấu với khỏe mạnh, và cô Vandekerckhove đã làm rõ ràng rằng, có thể khám phá những bí mật đó trong thinh lặng. Tuy nhiên, khám phá các bí mật mà thinh lặng dạy cho chúng ta, không phải là chuyện dễ dàng gì. Sự thinh lặng sẽ rất đáng sợ cho đến khi chưa làm bạn được với nó, tiến trình này cũng như đi qua hoang mạc nóng bức vậy. Nội tâm chúng ta không dễ thanh bình, sự khắc khoải không dễ thành cô tịch, và tính khí hướng ngoại tìm sự an ủi không dễ dàng nhường đường cho sự thinh lặng. Nhưng có một sự an bình và ý nghĩa, chỉ có thể tìm được trong hoang mạc của nội tâm hỗn loạn và thịnh nộ trong chúng ta. Những giếng nước an ủi sâu thẳm nằm ở cuối hành trình nội tâm, qua những nóng bức, khát khô, và ngõ cụt, phải được đẩy ra qua sự kiên trì gan góc. Và như bất kỳ hành trình anh hùng nào, nhiệm vụ của chúng ta là đừng để trái tim nhụt chí.

Và đây là những gì cô Vandekerckhove mô tả một khía cạnh trong cuộc hành trình của mình: ‘Tiếng nói nội tâm có thể khá nản chí. Đây chính xác là lý do vì sao quá nhiều người chạy trốn để tìm đến với những tiếng động bên ngoài. Họ thích có một tiếng động đổ tràn trên họ. Nhưng nếu muốn tăng tiến đường linh hồn, bạn phải ở lại trong không gian thịnh nộ linh hồn của mình, bền gan kiên vững. Bạn phải tiếp tục ngồi đó thinh lặng và chân thành trong sự hiện diện của Thiên Chúa cho đến khi cơn thịnh nộ lắng xuống và trái tim bạn được thanh tẩy và im tiếng. Thinh lặng buộc chúng ta phải xem xét đường lối thực hành của con người. Và rồi chúng ta va phải một bức tường, một đường cụt. Cho dù xã hội có muôn ngàn cách đáp ứng cho các nhu cầu nhân sinh của chúng ta, nhưng dù có làm gì, dù có cố gắng thế nào, trong chúng ta vẫn tiếp tục cảm nhận một mất mát và ghẻ lạnh. Thinh lặng đối đầu với chúng ta trong một vực thẳm không đáy, và dường như không có lối thoát. Chúng ta không có chọn lựa nào khác ngoài chung vai sát cánh với chiều sâu lòng đạo trong mình.’

Đây là một sự thật thâm thúy: Thinh lặng đối đầu với chúng ta trong một vực thẳm không đáy và chúng ta không còn chọn lựa nào khác ngoài chung vai sát cánh với chiều sâu lòng đạo trong mình. Đáng buồn thay, hầu hết chúng ta chỉ học được điều này qua một cưỡng bách cay đắng khi thực sự đối diện với cái chết của chính mình. Khi bơ vơ trong cơn hấp hối, không còn bất kỳ chọn lựa và lối thoát nào, thì dù cho vật vã và cay đắng, nhưng theo Karl Rahner, chúng ta phải để mình chìm trong sự không thể hiểu thấu của Thiên Chúa. Hơn nữa, trước khi quy phục như thế, đời sống chúng ta sẽ luôn vẫn bất ổn và hoang mang, và sẽ luôn có các góc tối nội tâm khiến chúng ta kinh sợ.

Nhưng hành trình đi vào thinh lặng có thể đưa chúng ta ra khỏi những nỗi sợ tăm tối và chiếu ánh sáng chữa lành lên những góc tối nhất của mình. Nhưng, như Vandekerckhove và các tác giả thiêng liêng khác đưa ra, thì sự bình an này chỉ tìm được sau khi chúng ta đạt đến một ngõ cụt, bế tắc không lối thoát, nơi mà điều duy nhất có thể làm là lao đầu vào tiêu cực.

Trong quyển sách Vị của Thinh lặng, Vandekerckhove kể lại một người bạn duy tâm của mình chia sẻ với cô giấc mơ được ra khỏi bản thân mà đi vào một hoang mạc nào đó nhằm khám phá đường thiêng liêng. Phản ứng tức thời của cô không hẳn làm anh ấy vui lòng gì: ‘Con người ta sẵn sàng đi vào bất kỳ hoang mạc nào. Người ta sẵn sàng đến bất kỳ nơi đâu, miễn sao đó không phải là hoang mạc của chính mình.’ Thật đúng. Chúng ta luôn mãi thèm khát những hoang mạc tư tưởng mà chối bỏ hoang mạc của chính mình.

Hành trình thiêng liêng, cuộc hành hương, mà chúng ta cần phải làm nhất, nó không cần đến vé máy bay. Chuyến đi đáng giá nhất cho linh hồn mà chúng ta có thể thực hiện, chính là chuyến hành hương nội tâm, đi vào trong hoang mạc thinh lặng của mình.

Là con người, chúng ta mang tính xã hội trong cấu thể. Điều này nghĩa là, ‘không tốt nếu để con người một mình.’ Chúng ta được đặt định để sống trong sự thông hiệp với người khác. Thiên đàng sẽ là một cảm nghiệm thông hiệp, nhưng trên đường đến đó, có một việc làm nội tâm nhất định mà chúng ta phải và chỉ có thể làm một mình, tránh xa mọi tiếng động của thế giới.

Các sách hàng đầu của tôi trong năm 2015

Theo lời thánh Âugutinô nói cách đây 1700 năm, thì thị hiếu là chủ quan. Cần phải hiểu như thế trước khi đưa ra mục những sách nên đọc. Còn riêng tôi thấy cần phải nói thêm rằng tôi không phải là một nhà phê bình chuyên nghiệp. Không phải là năm qua tôi đã đọc 200 quyển sách và quyển nào cũng hàng đầu. Tôi đọc khi có thể, tôi theo dõi các mục điểm sách, và đủ may mắn khi sống với các đồng sự hàn lâm giới thiệu cho nhau những sách hay, và tôi có những người bạn thỉnh thoảng chỉ cho tôi một “quyển sách phải đọc.” Từ đó, tôi có danh sách này. Đây là những quyển sách đánh động tôi nhất trong năm qua.

Trong số cách Sách Linh đạo, tôi giới thiệu những quyển này.

• Vị của Thinh lặng [The Taste of Silence], của Bieke Vandekerckhove. Người ta nói rằng quyển sách bạn cần phải đọc sẽ tự tìm đến bạn vào lúc bạn cần nó nhất. Và trong trường hợp này cũng vậy. Bieke Vandekerckhove là một tác giả người Bỉ, đã bị chẩn đoán mắc bệnh Xơ cứng teo cơ Lou Gehrig’s. Cuộc sống bình thường của cô đã chấm hết với phán quyết này, và sau một thời gian chìm theo bản năng vào trong tăm tối, cô tìm thấy sức mạnh bằng cách thực hiện một hành trình nội tâm đi vào sự thinh lặng thâm sâu trong mỗi một người chúng ta. Những diễn tả của cô về hành trình nội tâm thật phi thường.

• Vượt trên Cuộc chiến Phá thai, một con đường tiến tới cho thế hệ mới [Beyond the Abortion Wars, a way forward for a new generation], của Charles Camosy. Đây là một quyển sách quan trọng sẽ chấn động một cách lành mạnh cả những người ủng hộ sự sống và ủng hộ chọn lựa. Quyển này cho thấy, chúng ta gần giống nhau hơn chúng ta nghĩ, và hơn nữa, có một con đường để chúng ta cùng thoát ra khỏi thế bí về pháp lý, tôn giáo, xã hội, chính trị hiện thời.

• Môn đệ miễn cưỡng, Dám Tin [The Reluctant Disciple, Daring to Believe], của David Wells Wells là một giáo dân trẻ người Anh, cho chúng ta một thấu suốt cân bằng, sắc sảo, dí dỏm, nồng ấm về điểm chung giữa linh đạo và cuộc sống trong thế giới ngày nay, dành cho những ai đang mắt kẹt giữa các bổn phận thông thường và các bận tâm cuộc đời. Quyển này như một linh đạo cho những ai không thích từ “linh đạo.”

• Lòng thương trong Thành phố [Mercy in the City], của Kerry Weber Weber, một ngòi bút trẻ trong ban biên tập của America Mag, đã ghi lại hành trình riêng của cô qua Mùa Chay. Đây là một quyển sách có chiều sâu, rất hay và ấm áp.

• Tôn giáo của riêng mình, Một hướng dẫn để tạo nên Linh đạo Riêng trong Thế giới thế tục [A Religion of One’s Own, A Guide to Creating a Personal Spirituality in a Secular World], của Thomas Moore. Quyển sách này sẽ khiến nhiều người thấy phiền vì khái niệm hiện sinh của nó về cộng đồng và giáo hội học, nhưng Thomas Moore luôn luôn viết với một sự tươi mới, thấu suốt, và chiều sâu, đem lại một thách thức lành mạnh cho bất kỳ ai đọc nó.

• Thế giới trên đầu bạn, Để trở nên Cá thể độc nhất trong một Thời đại Xao nhãng [The World Beyond Your Head, On Becoming an Individual in an Age of Distraction], của Matthew B. Crawford. Không phải là một sách linh đạo, nhưng rất hay về tinh thần. Nếu bạn có thể qua được các phần viết mang tính triết học, vốn không phải dễ, thì Crawford sẽ cho bạn nhiều, thực sự rất nhiều điều để suy nghĩ.

Về Tiểu thuyết, tôi thực sự thích những quyển này:

• Trẻ thơ hành động [The Children Act], của Ia McEwan. Một tiểu thuyết gia lớn tầm vóc quốc tế, McEwan cho chúng ta một câu chuyện ấm áp, dễ đọc, với một ẩn dụ sâu sắc.

• Nữ ẩn sỹ [The Anchoress], của Robyn Cadwallader. Có bao giờ bạn tự hỏi những người như Julian thành Norwich sống thế nào? Một nữ ẩn sỹ thực sự là thế nào? Cadwallader cho chúng ta một hình ảnh hư cấu về một con người với cách sống tương tự như Julian thành Norwich.

• Tinh tuyền [Purity], của Jonathan Franzen. Phải đọc hết 600 trang sách để hiểu được ý nghĩa câu chuyện này. Nhưng đó là Jonathan, gừng càng già càng cay. Ông kể cho chúng ta một câu chuyện hay.

• Tỉnh Thức [Lying Awake], của Mark Salzman. Câu chuyện về một nữ tu dòng Carmen, phải phân định giữa sự bệnh hoạn với thần nghiệm. Quyển sách này được viết cách đây 15 năm, nhưng vẫn đáng đọc.

• Họa sĩ của Thinh lặng [The Painter of Silence], của Georgina Harding. Lấy bối cảnh Romani sau Thế chiến II, Harding đặt nhân tính và linh hồn vào trong bi kịch của chiến tranh và trong sự rạn vỡ nhân sinh. Một quyển rất đáng đọc, nên đi kèm với Tất cả mọi Ánh sáng chúng ta không thẻ thấy [All the Light We Cannot See].

Cuối cùng, một mục đặc biệt Mỗi năm, tôi viết một bài về vấn đề Tự vẫn. Tôi không nhận mình có thấu suốt đặc biệt nào về nỗi buồn đau quanh việc tự vẫn, cả trong xã hội lẫn giáo hội. Tôi viết về vấn đề này, đơn thuần chỉ là vì hiện nay có quá ít nguồn để giúp người ta hiểu và đối diện với việc mất mát người thân vì tự vẫn. Trong năm qua, tôi đã đọc 3 quyển sách khác nhau, đều của các bà mẹ đã mất con vì tự vẫn. Các câu chuyện này, vừa là rất riêng trong nỗi thống khổ của người đó, vừa rất giống nhau, không phải bởi chúng đều được viết bởi những bà mẹ muốn đương đầu với nỗi mất mát thương tâm này, nhưng còn là trong mỗi trường hợp, người mẹ đau khổ đều mô tả con mình rất giống nhau, cụ thể là những thiếu niên quá nhạy cảm, do đó quá yếu để đương đầu với cuộc sống thường nhật. Cả ba quyển này đều đáng đọc, và nếu đọc chung, cả ba sẽ ghi dấu vết trong lòng bạn.

• Chữa lành vết thương của việc Con gái tôi Tự vẫn [Healing the Wound of my Daughter”s Suicide], của Lois Serveson.

• Tổn hại đã qua, vụ Tự vẫn của Con trai độc nhất [Damage Done, Suicide of an Only Son], của Gloria Hutchison.

• Con gái tôi, Tự vẫn, và Thiên Chúa [My Daughter, Her Suicide, and God], của Marjorie Antus.

Ý nghĩa của Giáng Sinh, mối dây giữa máng cỏ và thập giá

2015-12-21
Trình thuật Tin mừng về việc Chúa Giêsu ra đời, không phải chỉ là kể lại những chuyện xảy ra ở Bê-lem. Trong các bình luận về việc Chúa Giêsu ra đời, học giả kinh thánh lừng danh Raymond Brown, đã nhấn mạnh rằng các trình thuật này được viết rất lâu sau khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh và trỗi dậy từ cõi chết, do đó các trình thuật Giáng sinh cũng mang sắc thái của cái chết và sự phục sinh. Có thể nói, những trình thuật kể về việc Chúa Giêsu hạ sinh cũng giống như các trình thuật kể về cuộc thương khó và cái chết của Chúa vậy. Khi các tác giả Tin mừng nhìn lại sự ra đời của Chúa Giêsu qua lăng kính phục sinh, họ nhìn thấy trong sự ra đời của Ngài đã có mẫu hình cho cuộc đời sứ mệnh, cho cái chết và sự phục sinh của Ngài rồi. Thiên Chúa đến với thế gian và một số người tin và đón nhận Ngài, số khác thì thù ghét và loại trừ Ngài. Với một số người, Ngài đem lại ý nghĩa, còn với số khác thì Ngài gây hoang mang và giận dữ. Có một thông điệp trưởng thành về Chúa Kitô trong Giáng Sinh và về việc hiểu ý nghĩa của Giáng Sinh qua thập giá, cũng hệt như qua máng cỏ vậy. Và còn cả những ánh đèn, những bài hoan ca, máng cỏ và ông già Noel nữa.
Cả chúng cũng có chỗ của mình. Karl Rahner, không ngây thơ về những nhận định của Raymond Brown, đã lập luận rằng, Giáng Sinh vẫn mang ý nghĩa là hạnh phúc, và niềm vui đơn sơ của trẻ con thì diễn tả ý nghĩa Giáng Sinh chính xác hơn tính yếm thế của người lớn. Rahner cho rằng, vào lễ Giáng Sinh, Chúa cho chúng ta một ưng thuận đặc biệt để hạnh phúc. “Đừng sợ hạnh phúc, tiêu chuẩn của cuộc sống là niềm vui, hơn là lo âu và đau buồn của những con người không có hy vọng. … Ta không xa rời thế gian, dù cho lúc này con không thấy Ta. … Ta ở đó. Giáng Sinh. Hãy thắp lên những ngọn nến. Ngọn nến đáng tồn tại hơn toàn bộ bóng đêm. Giáng Sinh. Giáng Sinh tồn tại mãi.” Trong Giáng Sinh, máng cỏ thắng thập giá, dù cho thập giá không hoàn toàn biến mất.
Làm sao mà thập giá và máng cỏ hợp với nhau được? Núi Sọ có phủ bóng muôn đời trên Bê-lem? Giáng Sinh có khiến chúng ta phiền lòng hơn là an ủi chúng ta? Liệu niềm vui đơn thuần của chúng ta trong Giáng Sinh có nhầm hay không?
Không. Vui mừng là ý nghĩa của Giáng Sinh. Những bài hoan ca đáng được cất lên. Trong Giáng Sinh, Thiên Chúa cho chúng ta một ưng thuận đặc biệt để hạnh phúc, dù cho phải hiểu thật cẩn thận điều này. Không có mâu thuẫn bẩm tại nào giữa niềm vui và đau khổ, giữa hạnh phúc và trải qua mọi nỗi đau cuộc đời đem lại. Niềm vui không phải là khoái lạc không có đau khổ trong đời. Niềm vui đích thưc là một sự trường tồn luôn mãi, ở trong chúng ta qua suốt mọi cảm nghiệm trong đời, kể cả đau đớn và thống khổ. Chúa Giêsu hứa với chúng ta “một niềm vui không ai lấy mất được.” Rõ ràng điều này nghĩa là một sự gì đó không biến mất vì chúng ta đau bệnh, vì người thân yêu qua đời, vì bị bạn đời phản bội, vì mất việc làm, vì bị bạn bè loại trừ, vì bị đau đớn thân xác, hay vì buồn sầu. Không một ai trong chúng ta thoát được đau đớn và khốn khổ. Niềm vui có thể cộng sinh với chúng. Thật vậy, niềm vui nghĩa là lớn lên sâu sắc hơn qua các cảm nghiệm đau đớn và đau khổ. Chúng ta được định là những con người của vui mừng, dù sống trong đau đớn. Đây là một lớp nghĩa, mà các tác giả Tin mừng, lấy từ nhận thức về cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, để đưa vào trình thuật Giáng Sinh.
Nhưng, tất nhiên, trẻ em không thấy được điều này khi chúng hòa trong bầu khí phấn khích của Giáng Sinh, và khi chúng nhìn vào Chúa Kitô Hài Đồng trong máng cỏ. Niềm vui của trẻ em vẫn còn vô tội, được bảo vệ bởi sự ngây thơ, vẫn đang chờ một sự vỡ mộng, nhưng đó là niềm vui thật. Niềm vui ngây thơ của một đứa trẻ, là thật, và thật sai lầm khi muốn viết lại chúng bằng sự vỡ mộng khi trưởng thành. Những gì thật, là thật. Những ký ức tươi đẹp chúng ta có khi chờ đợi và mừng Giáng Sinh lúc còn là đứa trẻ, vẫn không mất chút gì giá trị khi chúng ta biết là ông già Noel không có thực. Giáng Sinh mời gọi chúng ta hãy vẫn “lao đầu vào chiếc bánh ngọt.” Và bất chấp mọi vỡ mộng trong đời sống trưởng thành, Giáng Sinh vẫn cho chúng ta, những người trưởng thành bị khủng hoảng, một lời mời tuyệt diệu.
Ngay cả khi chúng ta không còn tin có ông già Noel, và khi tất cả các máng cỏ, đèn chớp, hoan ca, thiệp chúc, những tấm giấy gói sặc sỡ và các món quà Giáng Sinh không còn cho chúng ta những xúc động như xưa, thì lời mời đó vẫn còn. Giáng Sinh mời chúng ta hãy hạnh phúc, và đòi chúng ta phải kiêng bớt thói yếm thế của người lớn, mà theo một niềm vui có thể nắm bắt được cả thập giá lẫn máng cỏ để chúng ta có thể sống trong một niềm vui mà không một ai, không một bi kịch nào có thể lấy của chúng ta được. Điều này sẽ cho chúng ta, trong dịp Giáng Sinh, được như những đứa trẻ, đâm đầu vào chiếc bánh ngọt.
Giáng Sinh, đem lại cho cả trẻ thơ lẫn người lớn, một ưng thuận để hạnh phúc.