RonRolheiser,OMI

Xin Yên nghỉ, cha Daniel Berrigan

Trước khi chú tâm về Chúa Giêsu, trước hết bạn hãy xem thử mình, khi nhìn vào bên trong, sẽ tốt đẹp được đến đâu! Daniel Berrigan đã viết những lời này, và chúng bày tỏ rất nhiều về con người và đức tin của cha. Cha vừa qua đời hôm 1 tháng 5, thọ 94 tuổi.

Chỉ vài lời thì không thể nói hết về cha Berrigan. Cha coi thường những định nghĩa vội vã và mô tả dễ dãi. Cha vừa là một người suy nghĩ độc lập, một con người hoạt động đến ám ảnh, thậm chí là một nhân vật thiêng liêng phức tạp nhất thế hệ chúng ta. Nơi cha, chúng ta thấy cả sự mãnh liệt của thánh Gioan Tẩy Giả và sự trìu mến của Chúa Giêsu. Cha nổi danh toàn cầu là một nhà đấu tranh vì công bằng xã hội, một linh mục chống chiến tranh, một nhà thơ, một ngòi bút thiêng liêng hàng đầu, một tu sĩ Dòng Tên không theo khuôn phép, và cùng với người bạn thân Dorothy Day, cha là một trong những người chủ trương phi bạo lực hàng đầu của thế hệ chúng ta. Như Dorothy Day, cha tin rằng mọi bạo lực, dù chiếu theo hoàn cảnh có hợp lý đến thế nào đi nữa, cũng sẽ luôn nảy sinh thêm bạo lực. Với cha, bạo lực không bao giờ có thể bào chữa cho nó bằng cách nhận về mình sự ưu việt đạo đức, so với bạo lực mà nó đang cố ngăn chặn. Phi bạo lực là con đường duy nhất đến với hòa bình, đây là điều mà cha chủ trương bảo vệ không nhân nhượng. Như Dorothy Day, cha không thể hình dung Chúa Giêsu với một khẩu súng.

Cha Berrigan sống bằng nguyên tắc phi bạo lực và dành cả đời để thuyết phục người khác tin tưởng vào chân lý này. Điều này gây cho cha nhiều phiền toái, cả trong xã hội lẫn giáo hội. Thậm chí là đẩy cha vào tù. Năm 1968, cùng với em trai Phillip của mình, cha đi vào một tòa nhà liên bang ở Catonsville, Maryland, gỡ bỏ một vài bản trích lục và đốt chúng trong thùng rác. Vì việc này, cha bị kết án ba năm rưỡi tù giam. Nhưng điều này ghi khắc không phai hình ảnh của cha trong lương thức của cả thế hệ. Về sau cha mãi được biết đến là một thành viên của nhóm Catonsville Nine và từng xuất hiện trên báo Time.

Tôi đang học chủng viện, trong những năm 1960 đầy biến động đó, khi phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ lôi cuốn nhiều đám đông, và Daniel Berrigan là một biểu tượng của họ. Hơn nữa, tôi ở trong một chủng viện mà hầu hết mọi sự đều buộc chúng tôi không tin tưởng vào cha Berrigan và phong trào phản chiến. Theo quan điểm của chúng tôi thời đó, đây không phải là việc một linh mục Công giáo nên làm. Về sau, tôi cũng không ngưỡng mộ gì cha. Tôi được biến đổi khá muộn.

Sự biến đổi này khởi sự khi tôi bắt đầu đọc sách của cha Berrigan. Tôi được đánh động vì ba điều: Thứ nhất, nhờ thách thức mang tính Phúc âm mà cha đã tuyên bố quá rõ ràng, thứ hai là nhờ chiều sâu thiêng liêng của cha, và cuối cùng là nhờ sự thông tuệ và thi điệu trong ngôn ngữ của cha. Cha thật là một ngòi bút có tài và là một Kitô hữu đầy thách thức. Tôi ghen tị với ngữ vựng của cha, cách cha chuyển ý, sự thông minh, hóm hỉnh, chiều sâu, và sự dấn thân triệt để của cha. Tôi bắt đầu đọc mọi bài cha viết và cha bắt đầu có một ảnh hưởng ngày càng lớn trên cuộc đời và việc mục vụ của tôi. Trước đó tôi chưa bao giờ thấy một thách thức của Chúa Giêsu lại không khoan nhượng đến thế, khi không chỉ hành động vì bác ái mà còn vì công lý.

Cha Larry Rosebaugh, một hiến sĩ cùng dòng với tôi, cũng đã vào tù trong các cuộc biểu tình phản chiến và về sau bị bắn chết ở Guatemala, đã chia sẻ trong tự thuật của mình rằng trước khi cha thực hiện việc đã khiến cha phải vào tù, cha đã dành cả đêm cầu nguyện với cha Daniel Berrigan. Lời khuyên của cha Berrigan cho cha là: Nếu cha không thể làm việc này mà không chua cay và giận dữ với những người bắt cha, thì đừng làm. Ngôn sứ là lời thề với tình yêu, chứ không phải với ghẻ lạnh. Có một lằn ranh mỏng manh mà người ta thường băng qua khi cố gắng thực thi tính ngôn sứ.

Nghịch lý thay, với tất cả những lời khuyên nhủ của mình cho người khác, cha Berrigan cũng đã phải đấu tranh dữ dội để làm được điều này, để phản kháng từ một tâm điểm yêu thương chứ không phải tâm điểm giận dữ. Ở tuổi 62, cha viết một tự thuật, Chìm trong Bình an, thẳng thắn chia sẻ rằng cha chưa bao giờ có được mối quan hệ tốt đẹp với cha của mình, và ông cũng chưa bao giờ chúc lành cho cha và em trai Philip của cha. Đúng hơn, cha của cha Berrigan luôn e ngại hơn là tự hào về tài năng và sinh lực của các con trai mình. Từ thú nhận này, cha Berrigan tiếp tục hỏi rằng liệu có gì lạ khi cha luôn là cái gai trong mắt mọi nhân vật cầm quyền mà cha từng đối đầu: các tổng thống, các giáo hoàng, giám mục, bề trên dòng, các chính trị gia, cảnh sát. Cha phải mất 60 năm mới lấy lại được bình an khi không được cha mình chúc lành, nhưng Thiên Chúa vẽ đường thẳng với những đường cong, sự triệt để nổ bùng trong cha đã thách thức cả một thế hệ.

Trong những năm lớn tuổi, cha Berrigan bắt đầu làm việc trong một nhà tế bần, tìm kiếm nơi những người sắp chết một chiều sâu để đứng vững trước thứ mà cha e ngại trong tương lai, là sự thiển cận.

Thế hệ của cha sẽ giằng xé khi phán xét về cha, có người yêu kẻ ghét. Nhưng lịch sử sẽ nói về cha. Cha luôn là người đứng về phía Thiên Chúa, hòa bình và người nghèo.

Xin Yên nghỉ, cha Daniel Berrigan.

Kỷ niệm 200 năm thành lập Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ, 1816-2016

Khi không còn mừng lễ chúng ta sẽ sớm không còn trân trọng. Năm nay, 2016, đánh dấu kỷ niệm 200 năm thành lập dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ của tôi. Chúng tôi có lịch sử đáng tự hào, với 200 năm đã qua chăm lo mục vụ cho người nghèo trên khắp thế giới. Đây là điều đáng mừng lễ.

Là một người viết bài, tôi thường không nhấn mạnh việc tôi là người đi tu cũng như việc tôi là linh mục Công giáo La Mã, vì tôi sợ những nhãn mác như “linh mục Công giáo” “Cha” hay “Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ” sẽ làm hạn chế đi các độc giả khả dĩ. Chúa Giêsu cũng khá là không thích nhãn mác tôn giáo. Tôi hầu như luôn tránh dùng các nhãn mác tôn giáo cụ thể, vì tôi muốn nói bằng lăng kính con người và người có đạo, hơn là lăng kính hẹp hơn của chức linh mục và đời tu sĩ. Đây là chọn lựa của tôi, và tôi cũng tôn trọng chọn lựa của người khác.

Nhưng bây giờ, tôi muốn phá vỡ luật này của tôi, và nói cụ thể hơn qua lăng kính của một tu sĩ với các lời khấn hứa. Nên bài này tôi viết với tư cách cha Ronald Rolheiser OMI, thành viên tự hào của Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ.

Xin cho tôi bắt đầu với câu chuyện nhỏ này: Dòng của chúng tôi được thành lập ở miền Nam nước Pháp vào năm 1816, bởi linh mục Eugene de Mazenod, ngài được giáo hội tôn vinh hiển thánh năm 1995. Cha Eugene là linh mục triều, và ngay khi vừa bắt đầu đời sống mục vụ thừa tác viên, cha đã nhận ra rằng Tin mừng không vươn đến nhiều người nghèo, vậy nên cha bắt đầu tập trung thừa tác vụ của mình vào việc vươn đến với người nghèo. Và cha nhanh chóng nhận ra rằng một mình thì không thể tạo nên thay đổi. Cần có một cộng đoàn để tạo được một tác động sâu sắc. Những gì chúng ta mơ một mình vẫn là giấc mơ, những gì chúng ta mơ cùng người khác có thể trở thành hiện thực. Vậy nên cha tìm kiếm những người có cùng tâm thức với mình, những linh mục triều như cha vậy, và mời họ đến cùng cha trong sứ mạng này, cuối cùng các cha bắt đầu sống với nhau và mở một dòng tu mới dấn thân phục vụ người nghèo.

Đó là chuyện 200 năm về trước, và từ đó, các Hiến sĩ có một lịch sử tự hào dù không phải lúc nào cũng dễ chịu. Ngày nay, chúng tôi đang mục vụ ở 68 quốc gia, trên khắp các châu lục. Và sứ mạng của chúng tôi vẫn y hệt. Là phục vụ người nghèo. Đây là lý do bạn sẽ thấy chúng tôi hầu như mục vụ ở những vùng rìa, những nơi mà xã hội dường như không ngó ngàng đến, nơi vùng biên giới với các di dân hay thổ dân, nơi những khu vực dân nhập cư trong các thành phố, nơi những vùng nóng mà cảnh sát ngại ngần không muốn đến, và nơi những nước đang phát triển còn thiếu thốn thực phẩm, y tế và giáo dục. Sứ mạng của chúng tôi không hướng đến những người giàu sang, dù chúng tôi cũng cố gắng mời gọi họ đi với chúng tôi. Các thành viên trong dòng chúng tôi thường đến từ những người nghèo, và chúng tôi nhắn nhủ những người muốn gia nhập rằng: Nếu gia nhập với chúng tôi, hãy cân nhắc xem trong dòng có điều gì không dành cho bạn.

Và chúng tôi là những nhà truyền giáo, nghĩa là chúng tôi hiểu trách nhiệm của mình là thiết lập các cộng đoàn và nhà thờ, giúp họ tự lực được, rồi lại lên đường, Cứ thế. Đây có thể là một công việc cao đẹp, nhưng cũng là một chuyện nhói lòng. Thật không dễ dàng gì khi cứ luôn mãi xây dựng điều gì đó chỉ để trao nó cho người khác rồi cất bước lên đường. Bạn chẳng bao giờ có một mái nhà vĩnh viễn, nhưng trong đó có một sự bù đắp, vì khi là nhà truyền giáo thì mọi nơi đều là nhà.

Chúng tôi không phải là một dòng tu lớn, chúng tôi chỉ có khoảng 4000 thành viên, rải rác ở 68 quốc gia, thật nhỏ bé khi so với Dòng Tên, Dòng Phanxicô và Dòng Đa Minh. Thật sự là trong từ điển tiếng Pháp Larousse bản cũ, chúng tôi được mô tả là “một dạng Dòng Tên mini hầu như ở các vùng nông thôn.” Chúng tôi hãnh diện vì mô tả này. Ơn gọi của chúng tôi không phải là ánh đèn chiếu nhưng là ở cánh gà. Và ở cánh gà đó, nơi vùng nông thôn, mà tôi được gặp các Hiến sĩ.

Chúng tôi cũng tự hào về mình, những người thẳng thắn, thực tế, và gần gũi với người mình phục vụ, mà bộ áo dòng của chúng tôi thường hé lộ. Gia đình và bạn thân cứ luôn cố gắng mua áo quần cho chúng tôi để nâng cấp tủ quần áo không thiếu gì của chúng tôi. Không phải là chúng tôi chủ tâm tạo một hình ảnh kiểu hơi nhếch nhác, nhưng chúng tôi muốn mời gọi vào hàng ngũ mình những con người có cùng các ưu tiên hàng đầu.

Còn bậc sáng lập của chúng tôi? Ngài không phải là một người dễ dãi, mà là một người hơi đầy ám ảnh với một tâm thức kiên quyết không dễ dàng chấp nhận sự yếu đuối của những người quanh mình. Thỉnh thoảng, ngài có thể nổi lên những cơn thịnh nộ thánh thiện. Tôi phải thú thật là may mà tôi chưa bao giờ gặp ngài bằng xương bằng thịt, bởi tôi sợ ngài phê bình những yếu đuối của tôi, nhưng tôi mừng vì đoàn sủng của ngài và vì nhóm người đa dạng đang tiếp tục sứ mạng của ngài, các Hiến sĩ Đức Mẹ.

Xem lại Trung thành và Ái quốc

Trong một bài báo mới đây trên Tạp chí America, Grant Kaplan đã bàn về thách thức của phục sinh, với những lời này: “Không như các cộng đoàn trước đây củng cố mối liên kết giữa các thành viên bằng chính những người mà nó loại bỏ và thí tội, bây giờ sự nhưng không của phục sinh cho chúng ta một cộng đoàn được xây dựng bằng những con người tha thứ và được tha thứ.”

Ý của Grant Kaplan là, chúng ta hầu như xây dựng cộng đoàn của mình qua việc biến ai đó thành kẻ xấu và loại trừ, nghĩa là chúng ta ràng buộc với nhau căn cứ trên những gì chúng ta chống lại, những gì chúng ta ghét hơn là trên những gì chúng ta hướng đến và trân quý. Thập giá và phục sinh, hay nói chung là thông điệp của Chúa Giêsu, mời gọi chúng ta trưởng thành sâu sắc hơn trong cách thiết lập cộng đoàn với người khác, trên nền tảng là yêu thương và bao dung, hơn là thù ghét và loại trừ.

Nhưng chúng ta thiết lập cộng đoàn với người khác bằng cách biến ai đó thành kẻ xấu và thí tội như thế nào? Một số nhà nhân học, đặc biệt là René Girard và Gil Bailie, cho chúng ta những thấu suốt về sự thí tội và quỷ hóa trong thời cổ đại và cả ngày nay.

Nói ngắn gọn, chúng là thế này: Khi nào chưa đạt đến một mức độ trưởng thành nhất định, cả trong cá nhân lẫn tập thể, thì chúng ta sẽ luôn luôn thiết lập cộng đoàn bằng cách thí tội. Hãy thử hình dung: Một nhóm người (trong gia đình hay bạn bè) đi ăn tối với nhau. Hầu như luôn có những căng thẳng chia rẽ nào đó giữa chúng ta, những va chạm cá nhân, ghen tỵ, tổn thương trong quá khứ, những khác biệt về tôn giáo, hệ tư tưởng và chính trị. Nhưng những điều này có thể ẩn đi, và chúng ta có thể dùng bữa vui vẻ với nhau. Làm sao để được như thế? Bằng cách nói về một người khác mà chúng ta đều không thích, đều ghét hay sợ, hay đều thấy họ kỳ cục và lập dị. Khi “quỷ hóa” những người này bằng cách nêu bật lên sự kỳ quái, xấu xa, hay lập dị của họ, thì những khác biệt của chúng ta lặn đi, thay vào đó là sự đồng cảm và các quan điểm chung với nhau. Bằng cách quỷ hóa người khác, chúng ta tìm thấy điểm chung với nhau. Tất nhiên, bạn rất ngại khi phải rời bàn để đi đâu đó, bởi sợ rằng khi vắng mặt, thì chính bạn sẽ là người tiếp theo lên thớt.

Hơn nữa, chúng ta cũng làm thế này trong đời sống riêng của mình để giữ cân bằng. Thành thật mà nói, ai ai trong chúng ta cũng phải thừa nhận một khuynh hướng nội tại là đổ trách nhiệm cho những lo lắng và cảm giác xấu trong chúng ta cho một ai đó. Ví dụ: Một sáng nọ, chúng ta ra đường mà trong lòng thấy kích động và giận giữ một cách mơ hồ vì nhiều lý do khác nhau. Thường thì chúng ta sớm đẩy sự khó chịu này lên người khác, một cách ý thức hay vô thức, và quy kết họ về cảm giác xấu của chúng ta. Lúc đó chúng ta nghĩ rằng nếu không có người đó, thì chúng ta sẽ không có những cảm giác tồi tệ thế này. Phải có ai đó chịu trách nhiệm cho sự kích động của chúng ta. Một khi đã làm thế rồi, chúng ta bắt đầu cảm thấy khá hơn, bởi vừa bắt ai đó chịu trách nhiệm cho đau đớn của mình. Có một câu châm ngôn rất sinh động về chuyện này: Nếu hai người đầu tiên bạn gặp trong buổi sáng có vẻ thật khó ưa, thì khả năng cao chính bạn mới là người khó ưa.

Đáng buồn thay, chúng ta thấy chuyện này khắp nơi. Các giáo hội và nền chính trị của chúng ta lớn mạnh nhờ nó. Cả trong giáo hội và cộng đồng dân sự, chúng ta có xu hướng thiết lập cộng đồng những người giống mình bằng cách biến người khác thành quỷ. Chúng ta chẳng cần màng đến những khác biệt của mình, cũng chẳng bận tâm đến các nguyên nhân nội tại gây nên sự khác biệt đó, bởi chúng ta có thể đổ cho ai đó phải chịu trách nhiệm về những vấn đề của chúng ta. Không phải hiếm khi các nhóm giáo hội gắn kết theo kiểu này, các chính trị gia được bầu lên bằng kiểu này, và người ta dấy chiến tranh biện minh cho nó cũng bằng điều này. Như thế những khái niệm phong phú và lành mạnh về lòng trung thành, ái quốc và đoàn thể, trở nên không lành mạnh, bởi chúng bắt rễ từ việc xem sự khác biệt là một mối đe dọa hơn là một mặc khải trọn vẹn hơn của Thiên Chúa trong đời chúng ta.

Giả dụ như, có lúc sự khác biệt gây nên mối đe dọa thật sự, và cần phải giải quyết nó. Nhưng ngay cả như thế, chúng ta vẫn cần phải nhìn vào trong mình và xem lại những gì bên trong chúng ta có thể đang đồng lõa gây nên chia rẽ, hận thù, ghen tỵ mà chúng ta đang thấy. Phải xử lý những mối đe dọa thực sự, nhưng phải làm thế theo cách của Chúa Giêsu, nghĩa là xử lý bằng tình yêu thương, đồng cảm và tha thứ. Biến người khác thành quỷ để thiết lập cộng đồng không phải là cách của Chúa Giêsu, cũng không phải cách của một con người trưởng thành. Sự trung thành, với một ai đó, một tôn giáo, một quốc gia, hay những giá trị đạo đức của mình, phải căn cứ trên những gì tốt đẹp và quý báu của gia đình, cộng đồng, tôn giáo, quốc gia và các nguyên tắc đạo đức, chứ không phải trên nỗi sợ và những cảm giá tiêu cực về người khác.

Bài học của Chúa Giêsu, đặc biệt trong cái chết và phục sinh của Ngài là: tôn giáo đích thực, trưởng thành đích thực, trung thành đích thực, và ái quốc đích thực hệ tại ở việc để mình vươn ra với những gì không hẳn là giống mình.

Tình yêu – Phóng chiếu và Hiện thực

Robert Johnson, một ngòi bút lừng danh theo học thuyết của tâm lý gia Jung, đã có nhận định thế này về yêu. “Yêu là phóng chiếu phần giá trị vô tận và cao cả nhất của một hiện hữu vào một hiện hữu khác. … Chúng ta phải nói rằng sự thần thánh mà chúng ta thấy nơi người khác thực sự có ở đó, nhưng chúng ta không có quyền thấy nó cho đến khi chúng ta bỏ đi các phóng chiếu của bản thân mình. … Phân biệt được điều này là nhiệm vụ khó khăn và vi tế nhất trong đời.”

Và thật sự là thế. Xác định được tình yêu đích thực và phóng chiếu của bản thân, thực sự là một trong những nhiệm vụ khó khăn và vi tế nhất trong đời. Ví dụ như khi chúng ta phải lòng ai, có thể bằng kinh nghiệm, chúng ta biết một khi sự say mê ban đầu qua đi, thì chúng ta sẽ nhanh chóng trở nên lãnh đạm thậm chí ghét người đó. Vì thế, nên chúng ta phải tự hỏi: Chúng ta thực sự yêu ai hay yêu điều gì trong khoảnh khắc mê đắm, lúc chúng ta thấy quá nhiều tốt lành và thần thánh nơi một người nào đó? Chúng ta có thực sự yêu người đó, hay đơn giản, chúng ta đang phóng chiếu một vài phẩm chất cao đẹp của mình lên người đó, và như thế nó là một sự ái kỷ hơn là tình yêu?

Theo Johnson, câu trả lời rất phức tạp. Sự tốt lành và cao đẹp mà chúng ta thấy nơi người khác thực sự có ở đó, nhưng cho đến khi nào chúng ta chưa bỏ được phóng chiếu hay lý tưởng hóa mà chúng ta áp đặt lên người khác, thì chúng ta chưa thực sự yêu thương và trân trọng người đó.

Một ví dụ thế này: Hãy tưởng tượng một người đàn ông phải lòng một phụ nữ. Lúc đầu, cảm giác của anh quá mạnh, quá ám ảnh, đôi mắt anh chỉ thấy tính tốt, và hoàn toàn mù quáng trước các khiếm khuyết của cô. Thật sự, ở giai đoạn đầu này, ngay cả các khiếm khuyết của cô thậm chí còn có vẻ hấp dẫn hơn là phiền phức. Thật vậy, kinh nghiệm dạy chúng ta rằng, khi sự say mê ban đầu đi qua, mọi chuyện sẽ không thế nữa.

Và chúng ta sẽ rơi vào một vấn đề quan trọng: Liệu những phẩm chất tuyệt vời mà chúng ta thấy nơi người đó trong giai đoạn mới yêu, liệu chúng có thực sự có hay không? Có. Tuyệt đối có. Chúng có, nhưng có lẽ không phải là những gì mà chúng ta thấy. Như Johnson đã chỉ rõ, và nhiều ngòi bút về tinh thần khác cũng khẳng định rằng, trong giai đoạn yêu, có một chuyện luôn luôn có thể xảy ra, đó là những phẩm chất đẹp đẽ mà chúng ta thấy nơi người khác thường là những phóng chiếu của bản thân chúng ta hơn là những thiên tư thực sự của người đó. Dù cho người đó thực sự có những thiên tư này, nhưng những gì chúng ta thấy vẫn chỉ là phóng chiếu của mình, một sự lý tưởng hóa mà chúng ta gán lên người khác, để rồi chúng ta yêu người đó một kiểu như yêu những phẩm chất tốt đẹp của bản thân mình vậy. Đó là lý do vì sao chúng ta có thể phải lòng nhiều người với những tính khí và đức tính khác nhau, nhưng lúc ban đầu lại luôn có cùng một cảm giác.

Đó cũng là lý do vì sao phải lòng luôn là một điều mơ hồ và cần được nhận định qua thời gian, cùng với sự cố vấn của những người khôn ngoan. Chúng ta có thể phải lòng với nhiều dạng người, kể cả những người rất không hợp với chúng ta. Như Pascal đã nói, trái tim chúng ta có lý lẽ của nó, một kiểu lý lẽ không phải lúc nào cũng hướng về sự lành mạnh lâu dài của bản thân.

Có bài học gì ở đây? Đơn giản là: Trong mọi mối quan hệ mật thiết, chúng ta phải nhận thức được khuynh hướng bản tại của chúng ta là phóng chiếu những phẩm chất tốt đẹp của mình lên người khác, và cũng phải thấy rằng chúng ta chưa thực sự yêu và trân trọng người đó cho đến khi nào bỏ được những phóng chiếu này và thực sự thấy được sự tốt đẹp của người đó chứ không phải của mình. Về chuyện thấy ghét ai đó cũng như vậy. Cũng như khuynh hướng lý tưởng hóa người khác, thì chúng ta cũng có khuynh hướng ác quỷ hóa người khác, phóng chiếu lên họ cái phần đen tối của mình. Như thế, theo lập luận của Johnson, chúng ta không có quyền để ghét người khác, cho đến khi nào chúng ta bỏ được những phóng chiếu đen tối của mình lên họ. Chúng ta có khuynh hướng quá ác quỷ hóa cũng như quá lý tưởng hóa.

Trong tác phẩm kinh điển Stoner của mình, John William cho chúng ta thấy cách nhân vật chính hiểu về tình yêu: “Thời tuổi trẻ cực đoan, chàng trai Stoner đã nghĩ rằng tình yêu là một tình trạng hiện hữu tuyệt đối, nếu như ai đó may mắn có được. Còn khi trưởng thành, anh quyết định tình yêu là một thiên đàng giả tạo, một thứ đáng khinh và một hoài niệm phiền phức. Bây giờ, ở tuổi trung niên, Stoner bắt đầu biết rằng tình yêu không phải là một giai đoạn dễ chịu hay một ảo tưởng, nhưng là một hành động tiến tới, một tình trạng được tạo ra và sửa đổi nhờ những thời khắc từ ngày này qua ngày khác, nhờ ý chí, cái đầu và trái tim.”

Sức mạnh của Lời Kinh và Nghi Lễ trong sự Bất lực của chúng ta

2016-04-04
Trong một bộ phim dựa trên tiểu thuyết kinh điển của Jane Austen, “Lý trí và tình cảm” có một đoạn rất cảm động khi nhân vật nữ chính trẻ tuổi bị viêm phổi nặng, đang nằm trên giường hấp hối giữa sống và chết. Một thanh niên yêu cô say đắm, cứ bước lui bước tới, anh bị kích động mạnh, tuyệt vọng vì bất lực không làm gì được. Không thể giữ nổi sự kích động của mình hơn nữa, anh tìm đến mẹ của cô gái và hỏi xem liệu mình có thể làm gì có ích hay không. Bà trả lời rằng anh chẳng thể làm được gì, tình trạng hiện thời vượt quá tầm tay họ. Không thể sống với một câu trả lời như thế, anh nói với bà: “Cho con việc gì đó để làm, không thì con điên mất.”

Chúng ta, ai cũng đã có khi có cảm giác này khi đối diện với tình thế thảm khốc cần phải làm gì đó, nhưng chẳng có gì có thể làm, không có phép màu nào để mọi chuyện được tốt đẹp hơn.

Nhưng có một việc chúng ta có thể làm.

Tôi nhớ lại một việc trong đời tôi cách đây vài năm. Lúc đó tôi đang dạy khóa hè ở Bỉ, vào một tối nọ, khi vừa chuẩn bị đi ngủ, tôi nhận được e-mail báo hai người bạn của tôi, một nam một nữ vừa mới đính hôn, đã gặp một tai nạn giao thông thảm khốc. Anh ấy chết ngay lập tức, còn cô thì đang nguy kịch trong bệnh viện. Tôi thì đang ở trong một đại học, cách xa hàng ngàn dặm với người mà tôi mong muốn chia sẻ nỗi đau buồn này. Cô độc, kích động, hoang mang, và tuyệt vọng cần phải làm gì đó, nhưng lại bất lực tuyệt đối chẳng thể làm gì, tôi gục xuống. Không thể làm được gì khác, tôi cầm quyển kinh sách và cầu nguyện, đọc kinh cầu cho người đã mất. Khi đọc xong, nỗi buồn của tôi không tan biến, bạn của tôi vẫn chết, nhưng cơn kích động của tôi đã lắng xuống, và mong mỏi tuyệt vọng muốn làm gì đó trong tôi cũng vơi đi.

Lời kinh đêm hôm đó cho tôi nhận thức được đôi chút rằng, người bạn đã chết hôm đó đang ổn, đang an toàn ở nơi nào đó vượt ngoài chúng ta. Và lời kinh cũng xoa dịu tôi khỏi sự kích động và hoang mang muốn làm gì đó trước sự bất lực khốn khổ của mình. Tôi chỉ làm việc tôi có thể làm, việc tôi đã làm trước sự bất lực và cái chết có từ muôn đời, tôi đặt mình trong lời cầu nguyện và trong nghi lễ của cộng đoàn, của đức tin.

Lời kinh và nghi lễ là điều chúng ta có thể viện đến trong những thời điểm tuyệt vọng như trong quyển Lý trí và Tình cảm, khi khẩn thiết cần làm điều gì đó nếu không sẽ phát điên. Điều này không chỉ đúng trong những trường hợp đau buồn, khi người thân yêu bệnh năng, hay qua đời, và chúng ta khẩn thiết muốn làm gì đó, nhưng chẳng có gì có thể làm. Trong cả những lúc vui mừng, lời kinh và nghi lễ cũng giúp chúng ta mừng đón niềm vui. Chúng ta nên làm gì khi con cái kết hôn? Trong nhiều việc, có việc cử hành nghi lễ hôn phối, vì không một nhà tổ chức đám cưới nào có thể làm được cho chúng ta một điều tương tự như nghi lễ hôn phố trong nhà thờ. Lễ cưới, cũng như lễ tang, là một ví dụ điển hình nhất cho thấy chúng ta cần nghi lễ.

Đáng buồn thay, ngày nay chúng ta ở trong một nền văn hóa điếc đặc với nghi lễ. Chúng ta không hiểu nghi lễ và do đó hầu như không biết làm gì khi khẩn thiết muốn làm gì đó mà chẳng biết làm gì. Đây là một khiếm khuyết, một bần cùng đau đớn trong nhận thức của chúng ta.

Các thầy dòng Xitô đã tử đạo ở Algeria vào năm 1996, đã bị những người Hồi giáo cực đoan bắt cóc và giết hại. Trước đó, những kẻ này đã ập đến, vào đêm Giáng Sinh, khi cả nhà dòng đang chuẩn bị cử hành thánh lễ Giáng Sinh. Sau khi đe dọa, họ bỏ đi. Các thầy chấn động, kinh hoàng. Họ họp nhau lại một lúc để nhận định tình hình. Rồi, biết rằng chẳng thể làm được gì trước mối đe dọa này, các thầy đã cử hành thánh lễ Giáng Sinh. Theo lời của đan viện phụ, thì “Đây là việc chúng tôi phải làm, Đây là tất cả những gì chúng tôi có thể làm! Đây là điều đúng đắn.” Cha cũng chia sẻ rằng các thầy thấy việc cử hành thánh lễ ngay khi đối diện với nỗi sợ hãi và hoang mang, giúp cho nỗi sợ của các thầy dịu lại và đem trở lại sự điều đặn vững vàng cho cuộc sống.

Chúng ta thấy được bài học ở đây là, khi chúng ta tuyệt vọng cần phải làm điều gì đó, mà chẳng có gì có thể làm, thì có một điều có thể cho chúng ta sự điều đặn và điềm tĩnh:

Nghi lễ. Đây là những gì chúng ta phải làm, Đây là tất cả những gì chúng ta có thể làm! Là điều đúng đắn.

Sự Thiện Vinh Thắng

Tảng đá đã lăn khỏi mộ Chúa Giêsu sẽ tiếp tục lăn khỏi mọi huyệt mộ. Sự thiện không thể nào bị giam giữ, hay bị chết. Sự thiện thoát khỏi những kẻ tìm bắt, không bị giam cầm, băng qua, lướt đi, thậm chí có khi rời giáo hội, nhưng luôn luôn vươn lên, hết lần này đến lần khác, trên khắp thế giới. Đó là ý nghĩa của Phục Sinh.

Sự thiện không thể bị giam cầm hay bị giết. Chúng ta đã thấy điều này trong cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu. Có một số đoạn trong Phúc âm cho chúng ta ấn tượng là Chúa Giêsu rất khó bị bắt. Có vẻ như nếu Chúa chưa cho phép, thì không một ai làm gì được Ngài. Chúng ta thấy chuyện này nhiều lần. Lúc mở đầu sứ vụ, khi những người cùng quê Nazaret nổi giận vì lời của Ngài, lôi Ngài lên dốc núi để đẩy Ngài xuống, thì “Chúa băng qua giữa họ mà đi.” Về sau, khi các nhà cầm quyền cố gắng bắt Ngài, thì Chúa Giêsu cũng “lướt đi.” Và, trong một lần khác, khi Ngài ở trong đền thờ, và họ cố gắng bắt Ngài, thì đơn giản là Ngài rời đền thờ và “không một ai làm gì được Ngài bởi giờ của Ngài chưa đến.” Tại sao lại không thể bắt được Ngài? Chúa Giêsu quá phi phàm về mặt thể lý, nên không một ai có thể giam cầm Ngài được ư?

Những câu chuyện “lướt đi” này mang tính tượng trưng cao. Bài học cho chúng ta không phải là về sự lanh lẹ của Chúa Giêsu, nhưng là nhận thức rằng Lời Chúa, ơn Chúa, sự thiện của Thiên Chúa, và quyền năng Thiên Chúa không thể nào nắm giữ, giam cầm hay bị giết. Những sự của Thiên Chúa đầy phi phàm. Không bao giờ bị giam cầm, không bao giờ bị giết, và ngay cả khi có vẻ như đã bị giết, thì tảng đá chắn mộ cuối cùng luôn luôn lăn ra. Sự thiện tiếp tục phục sinh từ mọi hầm mộ.

Và sự phục sinh không dứt của sự thiện, chứ không phải của sự dữ và độc ác, cho chúng ta thấy chân lý về thế giới và cuộc đời của chúng ta. Nhà văn Do Thái-Hungari, Imre Kertesz, đã đoạt giải Nobel Văn học năm 2002, đã có một chứng tá thâm thúy về điều này. Ông từng là một cậu bé trong trại giết người của Đức Quốc xã, nhưng điều ông nhớ nhất về quãng thời gian này, không phải là những bất công, tàn ác, và cái chết mà ông chứng kiến ở đó, nhưng là những hành động nhân ái, trìu mến và vị tha giữa sự dữ. Vì thế sau chiến tranh, ông mong muốn đọc hạnh các thánh hơn là tiểu sử các tội phạm chiến tranh. Vẻ ngoài của sự thiện lôi cuốn ông. Với ông, có thể hiểu được sự dữ, còn sự thiện thì sao? Ai có thể giải thích được? Nguồn cội sự thiện là gì? Tại sao sự thiện cứ tuôn ra, tuôn tràn trở lại trên khắp cõi trái đất, trong mọi tình trạng thế nào chăng nữa?

Sự thiện tuôn trào khắp mọi nơi bởi sự thiện và quyền năng của Thiên Chúa là nguồn cội của tất cả mọi hiện hữu và sự sống. Đây là những gì được mặc khải trong sự phục sinh của Chúa Giêsu. Biến cố Phục Sinh mặc khải cho chúng ta nguồn cội khởi thủy của tất cả mọi sự, tất cả mọi hiện hữu và sự sống, nguồn cội đó tốt lành, nhân từ và yêu thương. Hơn nữa, Phục Sinh còn mặc khải cho biết sự tốt lành, nhân từ và yêu thương đó là sức mạnh tối thượng trong hiện thực. Những sự này là lời quyết định cuối cùng, và sẽ không bao giờ bị giam cầm, bị giết, hay bị làm ngơ hoàn toàn. Những sự này sẽ băng qua, băng qua không ngừng, băng qua luôn mãi. Đến cuối cùng, như Imre Kertesz nhận định, sự thiện lôi cuốn hơn sự dữ.

Và như thế chúng ta ở trong bàn tay an toàn. Bất chấp tin tức trong ngày có tệ đến thế nào, bất chấp cuộc sống chúng ta có đầy đe dọa thế nào, bất chấp tình hình trong vùng và toàn cầu có diễn biến xấu thế nào, bất chấp tình trạng bất công và tàn ác thế nào, và bất chấp sự giận dữ và hận thù có lan tràn thế nào, thì tình yêu và sự thiện sẽ xuất lại, sẽ lại xuất hiện, và đến cuối cùng sẽ chiến thắng.

Chúa Giêsu dạy rằng nguồn cội của mọi sự sống và hiện hữu là sự thiện và tình yêu. Ngài cũng hứa cho chúng ta một cái kết thiện hảo và yêu thương. Trong sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, Thiên Chúa cho chúng ta thấy Ngài có quyền năng để thực hiện lời hứa đó. Sự thiện và tình yêu sẽ chiến thắng! Cái kết chuyện đời chúng ta, cho cả thế giới và cho riêng chúng ta, đã được viết sẵn rồi, và đó là một cái kết có hậu. Chúng ta đã được cứu. Sự thiện là cam đoan cho chúng ta. Trìu mến chờ chúng ta cuối đường. Chúng ta chỉ cần sống với sự thật tuyệt diệu này.

Người ta không thể nào bắt được Chúa Giêsu, cho đến khi Ngài cho phép nó xảy ra. Họ đặt xác Chúa trong mồ đá, và khóa lại bằng tảng đá lớn, nhưng tảng đá đã lăn ra. Các môn đệ đã bỏ Chúa khi Ngài lâm nạn, nhưng cuối cùng các vị đã trở lại với lòng hiến thân tận tâm hơn bao giờ hết. Các môn đệ tiên khởi đã bị bách hại, đã bị giết, nhưng thông điêp của Chúa vẫn lan truyền hơn nữa. Các giáo hội có khi bất trung, nhưng Thiên Chúa băng qua những hàng rào đền thờ cụ thể đó. Người ta mở miệng tuyên bố Thiên Chúa đã chết biết bao nhiêu lần, nhưng hàng tỷ người vừa mừng lễ Phục Sinh.

Sự thiện không thể bị giết. Đó là điều chúng ta tin.

Thông hiểu và Cảm thương

Khi bị đóng đinh, Chúa Giêsu đã thốt lên: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Thật không dễ để nói được những lời này, và có lẽ còn khó hơn để hiểu được những thâm sâu của lời này. Ý nghĩa, ý nghĩa thực sự nào của việc hiểu và tha thứ cho một hành động bạo lực chống lại bạn?

Có nhiều cách để hiểu: Ví dụ như, trong một bài viết thương tâm được chia sẻ lại vô số lần trên truyền thông xã hội, một người đã mất vợ trong vụ tấn công Paris 2015, ông viết những lời sau:

“Chiều thứ sáu, các ông đã lấy đi đời sống của một người ngoại hạng, đó là tình yêu của đời tôi, là mẹ của con trai tôi, nhưng các ông sẽ không lấy được sự hận thù của tôi. Tôi không biết các ông là ai và tôi cũng không muốn biết, các ông là những tâm hồn chết. Nếu Chúa dựng nên chúng tôi theo hình ảnh của Ngài, nếu Chúa đó mà nhân danh Ngài, các ông giết người một cách mù quáng, thì mỗi viên đạn trong thân thể vợ tôi sẽ là một vết thương trong quả tim của Ngài. Vậy thì không, tôi sẽ không tặng các ông món quà này để ghét các ông. Rõ ràng các ông đã đi tìm hận thù, nhưng để trả lời cho sự hận thù bằng sự giận dữ, thì đó là nhường bước trước cái u mê, cái u mê đã làm cho các ông trở thành con người như con người bây giờ. … Chúng tôi, chỉ hai người, con trai tôi và tôi, nhưng chúng tôi mạnh còn hơn tất cả các quân đội trên thế giới này. Và suốt cuộc đời của nó, đứa con trai này sẽ cho ông thấy, nó sẽ hạnh phúc và tự do.”

Những lời này thật là anh hùng tuyệt vời và đầy nhân đức, nhưng tôi tin là nó không đi đủ sâu trong sự thông hiểu và cảm thương. Dù nhân đạo, nhưng nó vẫn có một sự phân chia về đạo đức, một sự thượng đẳng nhất định. Hơn nữa, trong bối cảnh bất hạnh của lịch sử và văn hóa dẫn đến hành động khủng khiếp này, những lời trên đã tránh câu hỏi là: Tại sao lại thù ghét tôi? Đây là một bài viết tích cực và có ích để bác bỏ sự hận thù, nhưng tôi sợ rằng, nó có thể lại gây tác động ngược lại đối với những người mà bài viết lên án. Nó sẽ thổi bùng thêm thù hận.

Đối lập với bài viết trên, là lá thư của Đan viện phụ Dòng Xitô, Christian de Cherge, viết cho gia đình, ngay trước khi bị những người Hồi giáo khủng bố giết hại. Cha đã viết:

“Nếu một ngày nào đó chuyện này xảy đến với tôi, và có thể là ngay hôm nay, khi tôi thành nạn nhân của chủ nghĩa khủng bố đang đe dọa tất cả mọi người ngoại quốc sống ở Algeria này, thì tôi muốn cộng đoàn của tôi, Giáo hội của tôi, gia đình của tôi, hãy nhớ rằng cuộc đời tôi trao hết cho Chúa và đất nước này. Tôi xin họ hãy chấp nhận rằng Chủ nhân của mọi sự sống, không lạ gì với cách ra đi đau đớn tàn bạo này … Tôi xin mọi người hãy có thể liên kết một cái chết như thế này với nhiều cái chết khác cũng vì bạo lực, nhưng lại bị lãng quên vì người ta hờ hững hay vì không tên tuổi …

Tôi đã sống đủ lâu để biết rằng tôi cũng có phần trong sự dữ dường như đang chiếm lĩnh thế giới, dù cho sự dữ đó có mù quáng đánh ngược vào tôi đi chăng nữa … Khi đến thời đến buổi, tôi phải có một khoảng không rõ ràng, cho tôi nài xin Thiên Chúa và mọi con người đồng loại của tôi tha thứ, và cùng lúc đó, tôi cũng tha thứ hết lòng cho những ai đã xúc phạm đến tôi … Thật vậy, tôi không thấy mình có thể vui mừng khi dân tộc mà tôi yêu mến bị buộc tội một cách kỳ thị là đã giết hại tôi. Đây là cái giá quá cao cho điều có lẽ được gọi là “ơn tử đạo” do tay một người Algeria, dù không biết người đó thế nào, đặc biệt là nếu người đó nói rằng mình đang hành động vì trung thành với cái mà anh tin tưởng là Hồi giáo. Tôi biết sự khinh miệt chung mà người ta có thể giáng xuống toàn thể người Algeria. Tôi cũng biết biến thể của Hồi giáo được một số người dung dưỡng … Thật dễ để cho mình được thanh thản lương tâm bằng cách gắn đường lối tôn giáo vào trong những hệ tư tưởng chính thống cực đoan …

Những gì tôi có thể làm, nếu Chúa muốn, là chìm đắm nhìn về Cha, là cùng Cha nhìn những đứa con Hồi giáo của Ngài theo đúng cách Ngài nhìn về họ, tất cả đều sáng chói với ánh sáng Chúa Kitô, đều là hoa trái của cuộc Thương khó, được ban đầy ơn Thần Khí, với niềm hân hoan thầm kín sẽ luôn luôn có thể thiết lập sự thông hiệp và tái lập sự tương đồng, sự phấn khởi nơi những gì khác biệt …

Và bạn nữa, người bạn của tôi trong thời khắc cuối cùng, người không biết việc mình đang làm. Nhưng, tôi cũng “cảm ơn” bạn, và cả “vĩnh biệt” bạn để nhắc đến bạn với Chúa, Đấng mà tôi thấy gương mặt Ngài nơi gương mặt bạn. Và mong sao chúng ta thấy nhau, những “người trộm lành” hạnh phúc, trên Thiên đàng, nếu được theo ý Chúa, Cha của cả hai chúng ta. Amen.”

À, chính đó, có lòng nhân từ và cảm thông, để hy vọng một nào đó được chạm chén với kẻ thù của chúng ta trên thiên đàng, cười với nhau về những hận thù lầm lạc, cười với nhau dưới cái nhìn yêu thương của một Thiên Chúa chung!

Sức mạnh của Sợ hãi

Sợ hãi là nhịp tim của sự bất lực. Đây là lời của Cor de Jonghe. Đúng là thế. Chúng ta có thể giải quyết hầu như mọi chuyện, ngoại trừ nỗi sợ.

Ngòi bút thiêng liêng người Bỉ, Bieke Vandekerkehove, trong quyển Vị của Thinh lặng, đã chia sẻ rất chân thành về những con quái vật quấy rối cô lúc cô mắc một chứng bệnh nan y ở tuổi 19. Cô đưa ra ba con quái vật đã giày vò mình khi cô đối diện với cái chết, buồn sầu, giận dữ, và sợ hãi. Và cô cho rằng chúng ta có thể dễ dàng đối diện với hai con quái vật buồn sầu và giận dữ, hơn là con thứ ba, con sợ hãi. Và đây là suy nghĩ của cô:

Buồn sầu có thể giải quyết bằng những giọt nước mắt, bằng u phiền. Buồn sầu có thể đổ đầy chúng ta như một cốc nước, nhưng cái cốc đó có thể đổ hết đi. Nước mắt có thể xói mòn sự cay đắng của buồn sầu. Chắc chắn, chúng ta đã từng cảm nghiệm được sự giải thoát, sự xoa dịu nhờ những giọt nước mắt. Nước mắt có thể làm mềm đi trái tim và tẩy đi chua cay của buồn sầu, cho dù sự nặng nề vẫn còn đó. Buồn sầu dù có nặng nề đến đâu, vẫn có một cái van để xả ra. Giận dữ cũng thế. Giận dữ có thể được bộc lộ và những bộc phát này giúp giải phóng giận dữ để nó không cuồng phá chúng ta. Chắc chắn, chúng ta cũng từng trải qua chuyện này rồi. Tất nhiên, là khi giải phóng cơn giận, chúng ta cần cẩn trọng đừng để làm tổn thương người khác, và đây là mối nguy luôn tồn tại khi xử lý cơn giận dữ. Với giận dữ, chúng ta có nhiều cách: Có thể hét lên, đánh trống, đấm đạp, cuồng ngôn, vận động cơ thể đến khi mệt lử, đập đồ đạc, thốt ra những lời đe dọa, và xả thịnh nộ vào đủ thứ có thể. Những chuyện này không hẳn là có lý có lẽ, và nhiều thứ cũng bất bình thường, nhưng chúng cho chúng ta một lối thoát. Chúng ta có các công cụ để giải quyết giận dữ.

Nhưng sợ hãi, thì không có một cái van nào để xả. Thường thì chúng ta không có cách nào để làm giảm bớt hay bỏ đi nỗi sợ hãi. Nỗi sợ làm tê liệt chúng ta, và sự tê liệt này cướp đi sức mạnh chúng ta cần có để đương đầu với nó. Chúng ta có thể đánh trống, cuồng ngôn, khóc lóc, nhưng nỗi sợ vẫn còn. Hơn nữa, không như giận dữ, nỗi sợ không thể trút lên một sự vật hay một con người khác, dù cho chúng ta có cố đến đâu chăng nữa. Đến tận cùng, chẳng có cách nào. Cái mà chúng ta sợ, không biến mất theo ý muốn của chúng ta. Chỉ có thể chịu đựng nỗi sợ hãi. Chúng ta phải sống với nỗi sợ cho đến khi nó tự tan biến dần. Có khi, như trong sách Ai Ca, tất cả những gì chúng ta có thể làm, là vùi miệng trong đất cát và chờ đợi. Với nỗi sợ, có lúc tất cả những gì chúng ta có thể làm là chịu đựng.

Chúng ta có học được bài học nào qua điều này?

Nhà thơ người Nga, Anna Akhmatova, đã kể lại lần bà gặp một bà, khi cả hai chờ bên ngoài nhà tù. Chồng của hai người đều đang bị tù dưới chế độ Stalin, và cả hai đều đến để đưa thư và các gói đồ cho chồng mình, giống như nhiều phụ nữ khác. Nhưng khung cảnh khá là vô lý. Tình thế lúc đó thật kỳ quái. Trước hết, các bà không chắc chồng mình có còn sống hay không, và nếu còn sống, thì cũng chẳng biết là các lá thư và gói đồ của mình có được lính gác gởi đến được tay chồng mình hay không. Hơn nữa, lính gác, chẳng vì lý do cả, lại bắt họ phải đợi hàng giờ dưới tuyết lạnh trước khi đến lấy thư và các gói đồ, và có lúc lại còn chẳng thèm tiếp. Vậy mà mỗi tuần, bất chấp sự vô lý này, các bà vẫn đến, vẫn chờ dưới tuyết, chấp nhận sự bất công này, chấp nhận trải qua thời gian chờ đằng đẵng, và cố gắng đưa các lá thư các gói đồ đến cho người thân yêu của mình. Một sáng nọ, khi họ đang chờ đợi, mà chẳng biết phải chờ đến lúc nào, thì một bà nhận ra Akhmatova, và hỏi: “À, chị là nhà thơ. Chị có thể cho em biết chuyện gì đang xảy ra ở đây không?” Akhmatova nhìn bà này và trả lời: “Vâng, em có thể!” Và rồi giữa hai người hé một nụ cười.

Tại sao lại cười? Chỉ là vì, khi có thể định danh chuyện gì đó, thì cho dù có vô lý hay bất công, có bất lực để thay đổi nó, vẫn là chúng ta đang tự do, đang đứng trên nó, biến đổi nó theo cách nào đó. Định danh điều gì đó cho đúng, phần nào giải thoát chúng ta khỏi sự thống trị của nó. Đây là lý do vì sao các chế độ chuyên chế sợ hãi các nghệ sĩ, nhà văn, nhà phê bình tôn giáo, nhà báo, và ngôn sứ. Họ định danh mọi sự. Đây chính là chức năng tận cùng của ngôn sứ. Các ngôn sứ không báo trước tương lai, nhưng là định danh hiện tại cho đúng. Richard Rohr thích nói rằng: Không phải mọi sự đều có thể được sửa chữa và chữa lành, nhưng mọi sự cần được định danh cho đúng. James Hillman thì có cách của mình để thể hiện điều này. Ông đề xuất rằng một triệu chứng đau đớn nhất khi nó không biết mình thuộc về sự gì.

Và điều này có thể hữu ích cho chúng ta để giải quyết nỗi sợ hãi trong đời mình. Nỗi sợ có thể khiến chúng ta vô lực. Nhưng, định danh nó cho đúng, nhận ra triệu chứng này do đâu, và nhìn nhận sự bất lực của chúng ta trong hoàn cảnh đó, có thể giúp chúng ta sống với nỗi sợ đó, sống mà không buồn sầu hay giận dữ.

Linh hồn trưởng thành hay Con đường chết

Trong một quyển sách thấu suốt thâm sâu, Ơn Chết (The Grace of Dying), Kathleen Dowling Singh đã chia sẻ những nhận thức sáng suốt mà bà đã lĩnh hội trong thời gian theo nghiệp y khoa khi đứng trước mặt hàng trăm người đang hấp hối. Trong số đó, bà cho rằng tiến trình chết, tự nó “là tự động ăn khớp tinh tế với sự hiệp nhất với Thần Khí.” Về căn bản, bà nói rằng những người ở giai đoạn cuối cuộc đời trong cơn hấp hối, đặc biệt là những người không chết bất đắc kỳ tử, đang cảm nghiệm một sự thanh luyện làm nhỏ dần đi một cách tự nhiên, những bám víu của người đó vào các việc ở đời này và cả vào cái tôi của bản thân, để được sẵn sàng đi, một sự sống và ý nghĩa mới vượt quá ý thức hiện thời của chúng ta. Theo bà, tiến trình cái chết là bà đỡ cho chúng ta vào một sự sống thâm sâu hơn, rộng lớn hơn.

Nhưng chuyện này không xảy ra với một giá rẻ. Tiến trình chết không dễ chịu gì. Hầu hết chúng ta không chết an bình trong giấc ngủ, không được chết thoải mái, hùng tráng và thanh thản. Mà thường cái chết đến với chúng ta khi già đi hay do căn bệnh nan y. Và những chuyện này thì không dễ chịu, hùng tráng và thanh thản gì. Thật sự, trong tiến trình cái chết là một nỗi đau, đôi khi là thống khổ cực độ, hầu như luôn luôn là một sự sỉ nhục, một sự tàn phá thể xác. Trong tiến trình chết, chúng ta mất đi gần như mọi sự thân thương của mình: sức khỏe, vẻ đẹp cơ thể, trang trọng, và đôi khi mất cả ý thức. Chết hiếm khi đẹp.

Và như thế tiến trình chết vận hành giúp xóa bỏ đi những bám víu của chúng ta với đời này và vận động tiến về đời sau? Chết làm cho linh hồn trưởng thành. Nhưng như thế nào?
Viết về việc già đi, James Hillman đã đặt câu hỏi này: Tại sao Thiên Chúa và tự nhiên lại sắp đặt mọi sự cho chúng ta thêm tuổi, được trưởng thành, ngày càng kiểm soát cuộc sống của mình, thì cơ thể chúng ta lại bắt đầu rã nát, phải cần đến bác sĩ thuốc thang để duy trì. Liệu có Khôn ngoan nào nằm trong cội rễ của tiến trình cuộc sống buộc phải có sự suy tàn thể xác khi cuộc sống về chiều? Và Hillman nói rằng, có. Có một khôn ngoan bẩm tại trong tiến trình lão hóa và chết đi. Rượu tốt nhất phải già đi trong những bầu rượu cũ. Cơ thể chúng ta càng suy tàn, thì linh hồn càng mềm dịu và trưởng thành.

Chúa Giêsu dạy chúng ta bài học này, chính Ngài cũng đã đón nhận, với một sự miễn cưỡng nào đó. Đối diện với cái chết, ngài sấp mặt xuống đất trong vườn Cây Dầu và cầu xin Chúa Cha: “Xin Cha cất chén này khỏi con! Nhưng, không theo ý con, mà là để ý Cha được trọn.” Về căn bản, Chúa Giêsu đang hỏi Chúa Cha liệu có một con đường vinh thắng đến với Ngày Chúa Nhật Phục Sinh mà không cần qua đau đớn và sỉ nhục của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hay không. Dường như là không. Sỉ nhục và chiều sâu liên kết bất phân ly với nhau. Sau khi sống lại, Chúa đã bảo với hai môn đệ trên đường Êmau rằng: “Chẳng phải Chúa Kitô cần phải chịu đau khổ hay sao?” Đây là một mặc khải hơn là một câu hỏi. Câu trả lời đã rõ ràng rồi: Con đường đến với chiều sâu cần phải băng qua đau đớn và sỉ nhục. Kathleen Dowling Singh và James Hillman, đơn giản là xác định cho điều này: Đau đớn và sỉ nhục, theo tự nhiên vận động chúng ta tiến tới, đi qua những gì hời hợt để đến với sự sâu sắc hơn. Đau đớn và sỉ nhục, và cái chết chắc chắn sẽ đến, giúp chúng ta mở ra với một ý thức thâm sâu hơn.

Và trong tâm thức của mình, chúng ta biết như thế. Nếu thành thật nhìn lại cảm nghiệm của mình, chúng ta phải thừa nhận rằng hầu hết mọi sự làm cho chúng ta trở nên sâu sắc hơn, lại là những sự mà chúng ta xấu hổ không dám nói ra, bởi chúng ta là những chuyện lăng nhục. Sỉ nhục cho chúng ta hạ mình xuống và đào sâu cho chúng ta. Còn những thành công, mà chúng ta thích kể, thường lại gây sự thổi phồng giả tạo trong đời.

Tâm lý gia và triết gia lừng danh William James, đã cho rằng có những vùng hiện thực và ý thức nằm ngoài những gì chúng ta đang cảm nghiệm hiện thời. Mọi tôn giáo, chứ không chỉ riêng Kitô giáo, đều nói với chúng ta như thế. Nhưng ý thức bình thường của chúng ta, và tự thức của chúng ta đặt ra những giới hạn ngăn cản chúng ta đến được những nơi đó. Thường thì, với chúng ta, chỉ có đời này, hiện thực này, thế mà thôi. Tiến trình chết giúp phá toang sự co cụm trong nhận thức, khái niệm và ý thức của chúng ta. Tiến trình chết mở chúng ta ra với một hiện thực và một nhận thức vượt ngoài những gì chúng ta đang xem là thực.

Nhưng ngoài tiến trình chết, còn có những cách khác để đến được hiện thực và ý thức này. Cầu nguyện và suy niệm là những khí cụ để chúng ta được những sự như trong tiến trình chết. Cầu nguyện cho chúng ta vận động để tháo gỡ những bám víu vào đời này và mở ra cho chúng ta nhận thức về đời sau. Như Singh đã nói: “Con đường đến với những vùng biến đổi, mà các vị thánh và hiền nhân của mọi thời đại đã nhận thức qua suy niệm và cầu nguyện, có lẽ là con đường biến đổi mà mỗi chúng ta bước đi khi chết đi.”

Biết như thế cho chúng ta khuây khỏa. Chúa đang đến đón chúng ta, bằng cách này hay cách khác.

Tiếng kêu của Hữu hạn

Điều gì làm cho bạn xúc động nhất?

Vừa có người hỏi tôi câu này trong một cuộc thảo luận. Trong một buổi thảo luận, tất cả chúng tôi đều được hỏi câu này: Lúc nào bạn cảm nhận tình thương trong lòng mình một cách tự nhiên nhất?

Với tôi, câu trả lời thật đơn giản. Tôi xúc động nhất khi thấy sự bất lực, khi tôi thấy ai đó hay sự gì đó bất lực không thể lo được cho nhu cầu hay bảo vệ phẩm giá của mình. Có thể đó là một đứa trẻ, đói bụng và kêu khóc, quá nhỏ để tự ăn và bảo vệ phẩm giá của mình. Có thể là một bà trong bệnh viện, bệnh tật, đau đớn, không cách nào khá hơn được, cũng như không thể giữ phẩm giá của mình. Có thể là một người thất nghiệp, gặp vận hạn, không tìm được công việc, một người lạc lõng trong khi mọi người khác có vẻ đang rất tốt. Có thể là một cô bé trên sân chơi, bất lực khi bị chọc ghẹo và ăn hiếp, chịu đựng bị làm nhục. Hay có thể là một chú mèo con, đói bụng, bất lực, nhìn tôi với đôi mắt nài nỉ, không thể tự kiếm ăn mà cũng chẳng biết nói. Sự bất lực xoáy sâu vào tâm hồn. Tôi luôn luôn xúc động đến tận những nơi sâu nhất lòng mình, mỗi khi chứng kiến sự bất lực, nài van của sự hữu hạn. Tôi cho rằng tất cả chúng ta cũng thế.

Chúng ta đều giống nhau. Đây cũng là điều đã lay động Đức Maria ở tiệc cưới Cana, khi Mẹ đến nói với Chúa Giêsu: ‘Họ hết rượu rồi!’ Lời thỉnh cầu này của Đức Mẹ có nhiều ý nghĩa. Một là lời thỉnh cầu cụ thể ở một dịp cụ thể trong lịch sử: Mẹ đang cố gắng cứu chủ tiệc cưới khỏi bị bẽ mặt, khỏi bị chuốc nhục nhã. Chắc chắn, việc hết rượu là tỏ ra nghèo kém, dù là thiếu tiền hay thiếu tính toán, nhưng dù gì thì cũng làm cho chủ nhà mất mặt trước quan khách. Như hầu hết mọi câu chuyện trong Tin mừng, câu chuyện này có một ý nghĩa thâm sâu hơn. Đức Mẹ không chỉ ngỏ lời thay cho một chủ nhà cụ thể hay một dịp cụ thể. Mẹ nói chung cho tất cả, như mẹ của nhân loại, lên tiếng thay cho tất cả chúng ta ‘tiếng kêu của hữu hạn’ theo lời John Shea.

Hữu hạn là gì? Như chúng ta có thể thấy, hữu hạn tương phản với vô hạn, với sự không có gì giới hạn được, chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa, chỉ mình Ngài là không hữu hạn. Chỉ mình Thiên Chúa là tự đủ. Chỉ mình Thiên Chúa là không bao giờ bất lực, và chỉ mình Ngài không bao giờ cần bất kỳ ai giúp sức. Chỉ mình Thiên Chúa không bao giờ bị đau bệnh, đói khát, mệt mỏi, cáu tức, kiệt lực, suy tàn thể xác và tinh thần, và cả cái chết. Chỉ mình Thiên Chúa không bao giờ chịu sự mất phẩm giá của một nhu cầu không được đáp ứng, của bị đè nén, của sự bất lực không thể hiện được bản thân, không được trân trọng, của sự khó chịu bối rối, bị bắt nạt, hay sự bất lực không thể làm gì cho mình, cũng như sự than van câm lặng.

Mọi sự khác đều hữu hạn. Như thế, là con người, chúng ta là đối tượng của sự bất lực, bệnh tật, than khóc, đui mù, đói khát, mỏi mệt, cáu tức, suy tàn và cái chết. Hơn nữa, trong tất cả mọi sự này, chúng ta cũng là đối tượng bị mất phẩm giá. Vậy nên, nhiều lời lẽ và hành động của chúng ta là tiếng khóc của sự hữu hạn, tiếng khóc cần giúp đỡ, tiếng khóc của đứa trẻ đòi ăn, đòi hơi ấm, che chở, và bảo vệ khỏi bị mất phẩm giá. Dù cho chúng ta không ngừng ngụy biện hơn về nhân tính của mình, nhưng trong mức độ nào đó, tất cả chúng ta vẫn là con mèo con, ngước đôi mắt nài nỉ xin được cho ăn, và khi những người giàu có, khỏe mạnh, kiêu căng, và những ai có vẻ như không cần giúp đỡ làm tất cả mọi sự để khẳng định mình tự đủ, thì nó chẳng gì hơn là những nỗ lực giữ cho sự bất lực tạm xa mình. Dù cho có mạnh mẽ và tự đủ đến thế nào đi chăng nữa, thì tự bản thân chúng ta hẳn phải tin rằng mình hữu hạn và khả tử, không có ngoại lệ nào cả. Sự mệt mỏi, bệnh tật, suy tàn, cái chết và những cơn đói khát đau đớn cuối cùng sẽ tìm đến chúng ta, tất cả chúng ta. Rượu của chúng ta cuối cùng rồi cũng hết. Và chúng ta hy vọng có ai đó như Đức Mẹ nói thay cho chúng ta rằng: ‘Họ hết rượu rồi!’

Chúng ta có được bài học nào qua điều này?

Thứ nhất, nhìn nhận sự hữu hạn của mình có thể cho chúng ta một tự nhận thức lành mạnh hơn. Nhận biết và chấp nhận sự hữu hạn của mình có thể giúp chế ngự nhiều nản lòng, bồn chồn, và cảm giác tội lỗi sai lầm trong đời chúng ta. Tôi từng có một linh hướng là một nữ tu cao niên, đã thách thức tôi sống theo châm ngôn này: Đừng sợ, bởi con là bất xứng. Chúng ta cần tha thứ cho bản thân, bởi vì chúng ta có giới hạn, bởi chúng ta là con người, hữu hạn, và không thể cho mình cũng như cho những người chung quanh mình tất cả những gì chúng ta cần. Nhưng sự bất xứng là một tình trạng có thể tha thứ được, chứ không phải là một lỗi phạm luân lý.

Khi nhìn nhận và chấp nhận sự hữu hạn của mình, không chỉ là tự tha thứ cho sự bất lực của bản thân, nhưng còn thách thức chúng ta lắng nghe rõ ràng hơn tiếng kêu của hữu hạn quanh chúng ta. Và dù đó là tiếng khóc của đứa trẻ sơ sinh, sự nhục nhã trong đôi mắt một người tìm việc, sự hoang tàn trong đôi mắt người bệnh liệt giường, hay đơn giản là đôi mắt nài nỉ của một chú mèo nhỏ, thì chúng ta cần phải, như Đức Mẹ, lo cho họ, và bảo đảm có ai đó giúp cho họ khỏi bị mất phẩm giá, bằng cách mở lời: ‘Họ hết rượu rồi!’

Khóc than cho sự cằn cỗi của chính mình

Vài năm về trước, trong khóa hè tôi dạy ở Đại học Seattle có một nữ sinh viên dù cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, nhưng cô không thể có con. Cô không thấy trong chuyện này có một ý nghĩa gì. Nó làm cho cô rất bực. Ngày lễ Mẹ là ngày khó khăn với cô. Cô viết một luận văn nghiên cứu rất hay về khái niệm cằn cỗi trong Kinh thánh, qua đó phát triển thành bài tĩnh tâm được áp dụng ở nhiều trung tâm canh tân.

Là người độc thân với lời khấn kèm theo sự cằn cỗi sinh học nhất định, tôi đã đến dự một buổi tĩnh tâm của cô, và là người nam duy nhất ở đó. Thật là một cảm nghiệm nhóm đầy mạnh mẽ, nhưng cần phải trải qua đủ hai ngày cuối tuần mới thấy được. Ban đầu, hầu hết mọi người đi tĩnh tâm khá là e dè và ngại ngùng, không muốn nhìn nhận với bản thân hay người khác về nỗi đau mất mát khả năng làm cha mẹ về mặt sinh học trong đời mình. Nhưng đến đêm thứ bảy, mọi thứ vỡ òa, sau khi cả nhóm xem bộ phim Bí mật và Dối trá của những năm 1990, một phim tinh tế mà mạnh mẽ về nỗi đau không có con cái. Những giọt nước mắt trong phim, làm rơi những giọt nước mắt của những người trong nhóm vỡ òa. Mọi người khóc không chút dè dặt, và từng người một bắt đầu kể chuyện đời của mình. Rồi, sau những dòng nước mắt và những câu chuyện, bầu khí thay đổi, như thể màn sương đã tan đi và gánh nặng được nhấc bổng. Sự nhẹ nhàng lan tỏa. Mỗi người trong nhóm đã khóc than cho mất mát của mình, và giờ đây mỗi người thấy được một sự nhẹ nhõm khi biết rằng người ta có thể không bao giờ có con nhưng vẫn hạnh phúc mà không cần phải chối bỏ nỗi đau của mình về chuyện này.

Cằn cỗi không chỉ để mô tả sự bất lực về sinh học không thể có con cái, hay một lựa chọn sống không muốn có con. Nhưng nó còn rộng hơn. Cằn cỗi mô tả tình trạng nhân sinh phổ quát khi bất lực không thể sinh sôi theo cách mình mong muốn, đồng thời cho thấy sự trống rỗng và nản lòng do nó gây ra. Karl Rahner đã tóm gọn trong những lời này. Trong giày vò khi không có đủ mọi sự có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, ở đời này mọi hòa âm vẫn còn dang dở. Dù có con cái về mặt sinh học hay không, thì tất cả chúng ta vẫn thấy bản thân mình cằn cỗi, bởi không một ai trong chúng ta có được bản hòa âm trọn vẹn trên đời này. Luôn luôn có một sự cằn cỗi trong đời sống, và như thế sự cằn cỗi về mặt sinh học đơn thuần chỉ là một trong số đó thôi, dù cho nó có thể là sự cằn cỗi lớn nhất. Không một ai trong chúng ta, khi chết đi, mà đã sinh sôi được tất cả mọi sự chúng ta muốn ở đời này:

Vậy thì chúng ta làm gì trước tình cảnh này? Có một câu trả lời nào hay không? Có một lời đáp nào có thể đưa chúng ta vượt lên những cái nghiến răng và khắc khổ chịu đựng hay không? Có. Câu trả lời là nước mắt. Như Alice Miller nói đến trong bài luận kinh điển của mình, Tấn kịch của Đứa trẻ Thiên tư, thì từ tuổi trung niên và sau đó, chúng ta cần phải khóc than để lay động những luận cứ căn bản nhất của chúng ta. Nhiều vết thương của chúng ta không thể nào đảo ngược được, và nhiều khiếm khuyết của chúng ta là bất biến. Chúng ta sẽ đi đến cái chết với sự bất toàn này. Không thể nào lấy lại được những mất mát của mình. Nhưng có thể khóc, cả cho những gì chúng ta đã mất mát và những gì không đạt được. Trong than khóc đó, là sự tự do.

Tôi luôn xúc động bởi ẩn dụ mạnh trong câu chuyện về con gái ông Jephthah, sách Thẩm phán chương 11. Trong một hình tượng nguyên mẫu, đoạn sách này cho chúng ta câu trả lời duy nhất cho sự cằn cỗi đời này. Phải chết trong tuổi thanh xuân mãnh liệt nhất, chỉ vì lời thề ngu xuẩn của cha mình, cô đã bảo cha rằng cô sẵn sàng chết trên bàn thờ hiến tế, nhưng với một điều kiện. Cô sẽ không chết mà không được cảm nghiệm đêm tân hôn và sinh con cái. Nên cô xin cha cho cô hai tháng trước khi chết để ‘khóc cho sự trinh trắng của mình.’ Khi khóc cho đúng, thì một cuộc sống bất toàn có thể được sống trong bình an và ra đi trong bình an.

Những giọt nước mắt là câu trả lời cho sự cằn cỗi, cho tất cả mọi mất mát và thiếu hụt. Trong quyển sách Giã từ Thành tín, Marilyn Chandler McEntyre đã nói thế này về những giọt nước mắt: ‘Nước mắt giải phóng cho tôi đi vào sự đau buồn chân thật. Cho tôi thoát khỏi việc hăm hở đi tìm ngôn từ giải đáp. Cho tôi về lại thời thơ ấu khi tôi cần được bồng ẵm và thấy an lòng trong vòng tay ôm, trong vòng tay của người khác và của Thiên Chúa. Những giọt nước mắt giải phóng tôi khỏi cối xay ken két của những suy nghĩ lo lắng, và còn khỏi sợ hãi nữa. Nước mắt giải thoát tôi khỏi sự căng thẳng khi cố níu giữ. Nước mắt là ưng thuận. Và ít nhất là một lần, rửa sạch những kháng cự và phủ nhận. Nước mắt cho tôi buông bỏ ý niệm tự dối của tôi rằng tôi kiểm soát được mọi sự. Nước mắt làm dịu đi phẫn uất và tẩy sạch những rác rưởi mà con sóng giận dữ đã xô đến.

Và không phải vô cớ, nước mắt là nước muối. Nhân sinh khởi thủy từ đại dương. Những giọt nước mắt nối kết chúng ta với nguồn cội mọi sự sống trên địa cầu, một sự dư dật đến phung phí thắng vượt mọi cằn cỗi.

Sự vô tận của Thiên Chúa

Tôi chắc là, nhiều người trong chúng ta đã được thêm hứng khởi khi xem bộ phim ‘Thần và Nhân’ kể lại câu chuyện một nhóm các đan sĩ dòng Xitô, sau một quyết định đau đớn là không chạy trốn tình hình bạo lực ở Algeria vào thập niên 1990, cuối cùng đã tử đạo dưới tay những người Hồi giáo cực đoan vào năm 1996. Mới đây, tôi được lên tinh thần khi đọc nhật ký của một trong các đan sĩ đó, thầy Christophe Lebreton. Được xuất bản với tựa đề, ‘Sinh ra từ Ánh mắt Thiên Chúa, Nhật ký của một Tu sĩ Tử đạo,’ nhật ký của thầy ghi lại ba năm cuối đời và cho chúng ta một thấu suốt về thầy, về cộng đoàn của thầy, và về quyết định ở lại Algeria bất chấp phải đối diện với cái chết.

Trong một trang nhật ký, thầy Christophe chia sẻ một lần, giữa tình cảnh bị thù ghét và đe dọa, giữa một bên là những người Hồi giáo cực đoan và bên kia là chính quyền tham nhũng, khi tìm kiếm lý do để hy vọng, thầy tìm được bài thơ Cái giếng của nhà thơ Pháp Jean-Claude Renard:

Nhưng làm sao dám chắc đã quá trễ
Để thành toàn khát khao
Nên hãy nhẫn nại khi ân sủng vẫn còn
Và khi luôn luôn, có lẽ, có điều gì hay
Ai đó nói lên từ thâm sâu thinh lặng và trần trụi
Rằng một ngọn lửa khôn tả triền miền xoáy sâu chúng ta
Phía dưới đất hoang đầy gai nhọn
Một giếng nước không bao giờ cạn
Một giếng nước không bao giờ cạn.

Có lẽ đây là căn cứ thực sự để hy vọng.

Với tất cả chúng ta, có những lúc trong đời, dường như mất hy vọng, khi chúng ta nhìn vào thế giới hay nhìn vào bản thân, một cách vô thức hay ý thức mà nghĩ rằng: ‘Quá trễ rồi! Đã đi quá xa rồi! Không gì có thể cứu vãn! Mọi chước cách để thay đổi đã dùng hết rồi! Thật vô vọng!”

Nhưng cảm giác khủng hoảng tự nhiên này có thực sự là mất hết hy vọng hay không? Không nhất thiết là thế. Thật vậy, chính khi chúng ta cảm nhận thế này, khi chúng ta đầu hàng cảm giác rằng mình đã dùng hết mọi chước cách, thì hy vọng có thể đến và thay thế kẻ mạo danh nó, là những suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên. Vậy hy vọng là gì?

Chúng ta thường lầm hy vọng với kiểu suy nghĩ mong ước và lạc quan tự nhiên, nhưng cả hai điều này chẳng giống chút gì với hy vọng. Suy nghĩ mong ước là không có căn cứ. Chúng ta có thể ước mình trúng số hoặc ước có cơ thể như một vận động viên cấp thế giới, nhưng ước muốn này không có thực tế để dựa vào. Nó chỉ là thuần ảo tưởng. Lạc quan, thì dựa trên tính khí tự nhiên và cũng không giống gì với hy vọng. Trong quyển sách mới của mình, Hy vọng không cần Lạc quan (Hope without Optimism) Terry Eagleton nhận định rằng lạc quan đơn thuần chỉ là tính khí tự nhiên và là nô lệ của tính khí ấy. ‘Người lạc quan bị xiềng xích vào sự vui vẻ.’ Hơn nữa, ông còn khẳng định rằng lăng kính đơn sắc của người lạc quan khác với người bi quan, chỉ ở một điểm duy nhất là, nó màu hồng chứ không phải màu xám. Hy vọng không phải là một ước mong hay tính khí, nhưng là một thái độ sống cần có căn cứ trên hiện thực vừa đủ? Vậy hiện thực vừa đủ là gì?

Jim Wallis, một nhân vật xuất chúng của đức cậy-hy vọng Kitô giáo trong thời đại chúng ta, nói rằng hy vọng của chúng ta không đặt trên những gì chúng ta thấy trên bản tin thế giới hằng đêm, bởi tin tức thì thay đổi luôn và vào một đêm nào đó sẽ rất tiêu cực khiến chúng ta có quá ít căn cứ để hy vọng. Ông đúng. Dù cho trong một tối nào đó, thế giới có tốt hơn hay tệ hơn, thì đó vẫn không đủ chứng cứ để chúng tin rằng mọi sự tận cùng sẽ tốt đẹp. Ngay đêm sau mọi chuyện đã thay đổi hoàn toàn.

Pierre Teilhard de Chardin, người không ngừng khẳng định rằng mình là con người đức cậy chứ không phải người lạc quan, đã từng nói rằng, có hai lý lẽ đủ cho đức cậy. Khi được hỏi xem nếu như chúng ta thổi bay thế giới với một trái bom nguyên tử, thì sẽ thế nào, cha đã trả lời: Như thế nghĩa là đi lùi lại hàng triệu năm lịch sử, nhưng dự định của Thiên Chúa cho địa cầu vẫn tiếp tục. Tại sao lại thế? Bởi Chúa Kitô đã hứa, và trong sự phục sinh, Thiên Chúa cho chúng ta thấy Ngài có quyền năng để thực hiện lời hứa đó. Cậy trông-Hy vọng là dựa vào lời hứa và quyền năng Thiên Chúa.

Nhưng vẫn còn một lý do khác để chúng ta hy vọng, một sự làm căn cứ cho hy vọng của chúng ta và cho những lý lẽ đủ để sống tin tưởng rằng cuối cùng mọi sự sẽ nên tốt. Và đó chính là sự vô biên của Thiên Chúa. Ẩn dưới chúng ta và vũ trụ, có một giếng nước không bao giờ cạn.

Mà chúng ta lại thường quên lãng hay hạ thấp giếng nước này theo mức độ hữu hạn của tâm hồn và tưởng tượng của mình. Thiên Chúa là Thiên Chúa phung phí, không cách nào hình dung được trong phạm vi thể lý, một Thiên Chúa đã tạo dựng và vẫn đang tạo dựng hàng tỷ tỷ vũ trụ. Hơn nữa, Thiên Chúa phung phí này, vượt quá tưởng tượng của chúng ta, nhưng đã được Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta là Đấng nhẫn nại và thương xót đến không tưởng tượng nổi. Không có giới hạn số lượng cơ hội cho chúng ta. Không có giới hạn nào đối với sự nhẫn nại của Thiên Chúa. Không có sự gì làm cạn nổi giếng nước thần thiêng.

Không bao giờ là quá trễ! Sự sáng tạo và lòng thương xót của Thiên Chúa là vô cùng vô tận.

Khi đọc các đoạn khó trong Kinh thánh

Một linh mục bạn của tôi đã chia sẻ câu chuyện này: Mới đây, sau buổi Chầu Thánh Thể, một bà trong giáo xứ đến gặp cha mà nói: “Bài đọc Kinh Thánh hôm nay thật khủng khiếp! Nếu Chúa mà chúng ta thờ phượng là thế, thì con không muốn lên thiên đàng!”

Bài đọc hôm đó lấy từ chương 24, sách Samuen 2, khi Thiên Chúa phiền lòng vì vua Đavid kiểm kê dân số cho quân địch, nên đã trừng phạt bằng cách gởi bệnh dịch hạch giết chết 70.000 người.

Đây thực sự là lời của Chúa hay sao? Thiên Chúa thực sự nổi giận với Đavid vì ông đã làm một thống kê đơn giản, và rồi giết 70.000 người để dạy cho ông một bài học sao? Có lý lẽ nào có thể biện minh cho điều này? Đây đúng là một đoạn khủng khiếp!
Chúng ta làm gì với những đoạn văn như thế này, và có nhiều đoạn khác nữa, nói về Thiên Chúa, dường như, ra tay bạo lực nhân danh Ngài? Tôi xin đưa ra một ví dụ: Trong các lệnh truyền với Joshua khi dân đi vào đất hứa, Thiên Chúa đã lệnh cho ông giết hết mọi thứ trong đất Canaan, tất cả mọi đàn ông, đàn bà, mọi trẻ em, và cả mọi súc vật. Tại sao lại thế? Tại sao Thiên Chúa quá tàn bạo muốn hủy diệt hết tất cả? Chúng ta có tin Thiên Chúa làm thế? Còn các ví dụ tương tự, như trong sách Thẩm phán, khi Thiên Chúa nhận lời cầu nguyện của Jephthah, người Gileadite, khi ông hứa là sẽ hiến tế con gái của mình trên bàn thờ. Các đoạn văn như thế này dường như đi ngược lại bản tính của Thiên Chúa mà phần lớn Kinh Thánh mặc khải.

Trong Kinh Thánh, có nhiều lúc, Thiên Chúa dường như độc đoán, vô tâm, bạo lực, yêu cầu những kẻ tin thực thi bạo lực, và hoàn toàn chai đát trước sinh mạn của bất kỳ ai không thuộc những người Ngài đã chọn. Nếu người ta xét những đoạn văn này theo nghĩa đen, thì có thể dùng chúng để biện hộ cho dạng bạo lực của các nhóm cực đoan như Nhà nước Hồi giáo Tự xưng và Al-Qaida, những kẻ tin rằng Thiên Chúa chỉ yêu thương độc nhất họ mà thôi, và họ được tự do giết hại người khác nhân danh Chúa.

Như các học giả Kinh Thánh làm rõ, các đoạn văn này không được hiểu theo nghĩa đen. Chúng mang tính nhân hình và nguyên hình. Bất kỳ lúc nào đọc lên, thì nên có tiền thức kiểu như trước khi xem một bộ phim chúng ta được cho biết rằng: “Không có động vật nào bị chết khi làm phim này.” Vậy nên, không có người thật nào bị chết trong các đoạn văn này.

Trước hết, các đoạn văn này mang tính nhân hình, nghĩa là trong đó chúng ta quy cảm nghĩ và ý muốn của chúng ta cho Chúa. Do đó, các đoạn văn này phản ánh cảm giác của chúng ta, chứ không phải của Chúa. Ví dụ như, khi thánh Phaolô nói với chúng ra rằng, khi phạm tội, chúng ta nếm trải “cơn thịnh nộ của Thiên Chúa,” thì chúng ta không tin rằng Thiên Chúa nổi giận và giáng các hình phạt tuyệt đối cụ thể trên chúng ta. Đúng hơn, khi chúng ta phạm tội, chúng ta tự trừng phạt mình, bắt đầu ghét bản thân, và cảm thấy như thể Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ với chúng ta. Các ngòi bút Thánh Kinh thường viết theo lối này. Thiên Chúa không bao giờ ghét chúng ta, nhưng khi phạm tội, là chúng ta tự ghét chính mình.

Các bản văn này cũng mang tính nguyên hình, nghĩa là chúng là những hình ảnh nguyên mẫu mạnh mẽ giải thích cuộc đời. Tôi nhớ có một người đến gặp tôi sau thánh lễ ngày chúa nhật, với bài đọc nói về Chúa lệnh cho ông Joshua giết tất cả người Canaan khi vào đất hứa. Ông ấy nói với tôi: “Cha nên để con giảng hôm nay thì hơn. Con biết đoạn văn đó chính xác có nghĩa gì. Con là một người nghiện rượu đang phục hồi, và đoạn văn đó có nghĩa là ‘ớn lạnh.’” Là một người nghiện rượu, muốn phục hồi, thì phải dẹp sạch rượu khỏi phòng, sạch tuyệt đối, không còn chai nào, không còn chút rượu nào. Mọi dân cư Canaan phải bị giết. Chúa Giêsu cũng nói như vậy, nhưng Ngài dùng một ẩn dụ nhẹ nhàng hơn: “Rượu mới phải đổ vào bầu mới.” Về căn bản, đây là ý nghĩa của đoạn văn trên.

Nhưng ngay cả như thế, nếu các đoạn văn này không phải theo nghĩa đen, thì không phải chúng là những lời được Thiên Chúa linh hứng hay sao? Có thể nào cứ giải thích theo cách chúng ta thấy thuận tiện sao?

Có hai điều cần nói: Thứ nhất, tất cả mọi bản văn trong Kinh Thánh, phải được xem xét trong bộ khung tổng thể của Kinh Thánh, và thần học tổng thể của chúng ta về Thiên Chúa, như thế cần có một diễn giải theo sát bản tính Thiên Chúa được mặc khải trong toàn Kinh Thánh. Và, trong toàn thể Kinh Thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa hoàn toàn yêu thương, hoàn toàn thương xót, hoàn toàn tốt lành, không thể nào gắn các tính chất định kiến, nhẫn tâm, tàn bạo, thiên vị và bạo lực cho Thiên Chúa được. Hơn nữa, Kinh Thánh cố kết và không thể sai lầm trong ý định thông điệp, chứ không phải trong nghĩa đen của diễn đạt. Ví dụ như, chúng ta không nên xét nghĩa đen lệnh truyền của Chúa Giêsu, “đừng gọi ai trên mặt đất này là cha” cũng như với lời chỉ dạy của thánh Phaolô, “Nô lệ thì thuộc về ông chủ.”

Bối cảnh và diễn giải không phải là các lý luận, mà là bổn phận thiêng liêng. Chúng ta đừng biến Kinh Thánh thành bất xứng với Thiên Chúa.

Chiếc áo cháy lửa

Người ta thường bảo rằng, quyển sách bạn cần đọc nhất sẽ tìm đến bạn khi bạn cần đọc nhất. Tôi đã nhiều lần trải nghiệm điều này, và gần đây nhất là với quyển Chiếc áo cháy lửa, Một năm với thánh Teresa Hài Đồng Giêsu (Shirt of Flame) của Heather King
Tựa đề quyển sách mượn từ T.S. Eliot, trong quyển Bốn bộ tứ (Four Quartets) trong đó ông cho rằng Tình yêu, hay Thiên Chúa, ẩn sau sự giày vò mà chúng ta thường cảm nhận trong những khát khao mãnh liệt của chính mình và sự thiêu đốt mà chúng ta cảm nhận đó là “chiếc áo lửa không chịu đựng nổi.”
Tác giả King viết quyển sách này từ một hoàn cảnh dữ dội trong chính đời mình: Cô là một tác giả, nhà báo tự do, độc thân, đã ly hôn, đang phục hồi chứng nghiện rượu, cố gắng dàn xếp một vài tăm tối trong quá khứ, đương cự với một ám ảnh gây tê liệt cả tinh thần, khi cô yêu mà không được đáp lại, cô cũng mạo hiểm về tài chính khi từ bỏ công việc ổn định trong ngành luật để đổi lấy sự bất định của một tác giả tự do, và đang phải vật lộn với cảm thức mình là người ngoài cuộc xa lạ với những đều bình thường như gia đình, hôn nhân, và cộng đồng, cảm nhận mình như cô nhi ngoài bàn tiệc cuộc đời. Vậy nên, cô để dành một năm để chìm đắm nơi một trong những vị thánh lôi cuốn nhất mọi thời đại, Têrêxa Hài Đồng Giêsu, để cố gắng tìm xem liệu thánh Têrêxa có phải là kim chỉ nam đạo đức và thiêng liêng, nhằm xác định lại cuộc đời của mình hay không. Kết quả là một quyển sách chính chắn, thấu suốt sâu sắc và cực mạnh.
Cô nhận ra nơi linh hồn Têrêsa, bên trong linh hồn một vị thánh, bên trong con người dường như có thể từ bỏ mọi sự vì Chúa, họ có cùng những khát khao mãnh liệt mà cô cũng đang cảm nhận trong lòng mình. Và cô nhận ra những ngọn lửa này có thể vừa thanh luyện vừa hủy diệt, cứu rỗi hay giày vò, biến đương sự thành thánh nhân lớn hay thành tội nhân lớn. Vậy nên, cô để ngọn lửa của thánh Têrêsa chiếu tỏa trên ngọn lửa của lòng cô. Và do bởi những gì riêng tư và cá nhân nhất trong mỗi chúng ta, nếu được bày tỏ, cũng sẽ mang tính chung nhất, cho nên khi tiết lộ những đấu tranh riêng tư và sâu thẳm của mình, quyển sách của cô cũng soi rọi cho cuộc đấu tranh chung của nhân loại. Tuy nhiên, quyển sách này là kiểu tự bày tỏ, chứ không hề phô trương, một điều mà tác giả nắm rất rõ.
Ví dụ như, rút ra từ một sự kiện nhiều người biết trong cuộc đời thánh Têrêsa khi còn bé, được chị mình bảo chọn ra một thứ trong chiếc giỏ may đầy bóng mày, Têrêsa nói: “Em chọn hết!” và lấy hết cả giỏ rồi đi. Cô King suy ngẫm dựa trên đấu tranh của chính mình với ý chí chỉ mong một điều, như Kierkegaard cũng từng trải qua. Và đây là điều mà cô rút ra cho cuộc đời mình:
“Em chọn hết!” thánh Têrêsa đã nói thế, và tôi còn tiến hơn nữa, tôi càng thấy một sự tiến thoái lưỡng nan của con người đó là muốn tất cả. Tôi muốn độc thân, và tôi cũng muốn bung mình cho người bạn đời, tôi muốn các bí mật tăm tối, tiếng động, ánh sáng, sự điên cuồng và kích động của chốn đô hội, và tôi cũng muốn trồng một khu vườn, nuôi súc vật và sống ở trang trại. Tôi muốn sống một nơi suốt đời, và tôi cũng muốn chu du dọc ngang hết mọi thước đất trên địa cầu trước khi chết. Tôi muốn ngồi hoàn toàn tĩnh lặng, và tôi cũng không ngừng dấy lên ý muốn hoạt động. Tôi muốn trốn đi và sống ẩn danh, và tôi cũng muốn nổi tiếng. Tôi muốn gần gũi với gia đình, và tôi cũng muốn để mặc gia đình. Tôi muốn cả đời mình thật năng động, và tôi cũng muốn dành cả đời để trầm tư. Tôi muốn trao mọi sự cho Chúa, và tôi không biết làm thế nào! Tôi khao khát được trao đi cái tôi trọn vẹn của mình, và tôi không thể!”
Suy tư về lời khấn khó nghèo của thánh Têrêsa, cô King viết: “Khó nghèo không bao giờ là chuyện tự nguyện. Khó nghèo hệ tại chính ở việc bạn tuyệt đối không muốn nghèo.” Lấy ý từ nhà thơ người Đức, Gertrud von le Fort, người đã viết rằng khi linh hồn cô thống khổ nhất, thì mọi thứ chung quanh cũng thốt lên rằng: “Nhưng cô chẳng là gì cả!” Và cô King viết tiếp: “Ít nhất có ai đó đã nói lên chuyện đời tôi. Đặc biệt trong mười năm qua, tôi đã thống khổ, và “họ” – chồng tôi, người tôi yêu, nghiệp pháp lý, nghiệp y khoa khi tôi mắc ung thư, ngành xuất bản- tất cả đã nói rất nhiều rằng: “Nhưng cô chẳng là gì cả.” Nơi nào tôi hướng đến, đều là một bức tường trống không. Mọi sự tôi hy vọng, đều là tro bụi. Mọi sự tôi đã làm việc, chỉ là “Nhưng cô chẳng là gì cả.” … Một buổi sáng khi đang tắm, tôi khóc với Chúa Kitô: “Con không yêu Chúa, và Chúa cũng không yêu con!” Chúng ta đều như thế.
Nếu bạn đấu tranh với đức tin, với sự rạn vỡ trong đời, với một ám ảnh, với một chứng nghiện, với một ý thức gặm nhấm rằng cuộc đời bạn đã sai lầm, ý thức mình là kẻ ngoài cuộc, một cô nhi trên bàn tiệc sự sống, và nhất là, với một nhận thức rằng mình không yêu Chúa Giêsu, và Chúa cũng không yêu mình, rằng mình là hư vô, thì quyển sách này dành cho bạn đó. Đây là quyển sách cho những người nghĩ là mình quá yếu, và bác sĩ cũng chẳng giúp gì được.

Nụ hôn của Thiên Chúa lên linh hồn

Đââu là gốc rễ thực sự của sự cô đơn trong con người? Một sai sót trong cấu thành của chúng ta? Sự bất xứng và tội lỗi? Hay, như câu nói trứ danh của thánh Âugutinô, ‘Ngài đã tạo thành chúng con, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.’

Dù rất giá trị, nhưng câu châm ngôn của thánh Âugutinô vẫn không đủ. Chúng ta là những linh hồn vô hạn bên trong cuộc sống hữu hạn, và chỉ một điều này thôi là đã đủ để giải thích cơn nhức nhối triền miên không thỏa của chúng ta, ngoại trừ một điều là linh hồn chúng ta khi đi vào thế giới đã mang lấy sự bất diệt rồi, và điều này cho toàn bộ cơn nhức nhối của chúng ta một sắc thái đặc biệt.

Có nhiều cách để giải thích cho điều này: Ví dụ như, Bernard Lonergan, triết gia và thần học gia đáng trọng, đã cho rằng linh hồn con người không đến thế giới như thể một tabla rasa, một tờ giấy trắng, không tì vết để có thể viết gì lên đó cũng được. Với ông, chúng ta được sinh ra với các nguyên tắc tiên quyết ghi tạc vào trong linh hồn không bao giờ phai. Ý ông là gì?

Thần học và triết học kinh điển, xác định bốn sự mang tính siêu việt, có thể nói là chân tính của mọi sự có tồn tại, chúng là nhất, chân, thiện, và mỹ. Mọi sự tồn tại đều có bốn phẩm chất này. Tuy nhiên các phẩm chất này chỉ hoàn hảo nơi Thiên Chúa. Chỉ mình Thiên Chúa là Đấng toàn nhất, toàn chân, toàn thiện và toàn mỹ. Nhưng theo Lonergan, Thiên Chúa đã ghi tạc 4 sự này, trong tình trạng hoàn hảo, và cốt lõi linh hồn con người.

Do đó, chúng ta đến trong thế giới, thì đã biết, dù còn mập mờ, về sự toàn nhất, toàn chân, toàn thiện và toàn mỹ, vì chúng ta đã có sẵn trong chúng ta, một dấu ấn không phai. Như thế, chúng ta có thể phân biệt đúng sai, vì đã biết sự thật hoàn hảo và sự thiện hoàn hảo trong cốt lõi linh hồn mình, và cũng nhận biết theo bản năng về tình yêu và vẻ đẹp, bởi chúng ta đã biết chúng một cách hoàn thiện trong bản thân mình. Trong đời này, chúng ta không học biết sự thật, mà là nhìn nhận sự thật, chúng ta không học yêu mà là nhận ra tình yêu, và chúng ta không học biết nhưng là nhận ra cái gì là tốt lành. Chúng ta nhận ra được vì đã có chúng trong cốt lõi linh hồn mình.

Một vài nhà thần nghiệm đã có một mô tả thế này: Linh hồn con người đến từ Thiên Chúa và trước khi đặt linh hồn vào trong cơ thể, điều cuối cùng Thiên Chúa làm là hôn linh hồn đó. Rồi linh hồn đi qua đời sống, vẫn luôn nhớ về nụ hôn đó, một nụ hôn của tình yêu hoàn hảo, và linh hồn xác định mọi tình yêu và nụ hôn trong đời qua nụ hôn hoàn hảo ban sơ đó.

Các nhà khắc kỷ Hy Lạp cũng nói về một điều tương tự. Họ dạy rằng linh hồn đã tồn tại sẵn trong Thiên Chúa, và trước khi đặt linh hồn và trong một cơ thể, Thiên Chúa xóa đi ký ức về hiện hữu của nó. Nhưng linh hồn luôn hướng về Chúa một cách vô thức, bởi khi đến từ Thiên Chúa, linh hồn luôn nhớ về mái ấm đích thực của mình, và khắc khoải mong được về lại.

Người Hy Lạp cho rằng Thiên Chúa đặt linh hồn vào thân xác chỉ khi đứa bé đã thành hình trọn vẹn trong lòng mẹ. Ngay sau khi đặt linh hồn vào thân xác, Thiên Chúa liền khóa chặt ký ức tiền hiện hữu của nó bằng cách khóa chặt môi đứa trẻ để nó không bao giờ nói về tiền hiện hữu của mình. Đây là lý do vì sao chúng ta có một rãnh lõm dưới mũi, ngay trên môi. Đây là nơi Chúa đặt ngón tay lên để khóa lại. Đây là lý do vì sao bất kỳ lúc nào cố gắng để nhớ chuyện gì đó, chúng ta vô thức đặt ngón tay lên nơi này. Chúng ta đang cố gắng phục hồi một ký ức ban sơ.

Có lẽ, tôi cần đưa thêm một ẩn dụ nữa. Chúng ta thường nói về những sự ‘đúng rõ ràng’ hay ‘sai rõ ràng.’ (ringing true và ringing false.) Nhưng chỉ có chuông mới rung (ring). Trong chúng ta có một chiếc chuông rung lên khi đúng và sai hay sao? Về căn bản, thì có! Chúng ta nuôi dưỡng một ký ức vô thức về một thời từng được biết một tình yêu, sự thiện và vẻ đẹp trọn hảo. Do đó, mọi sự sẽ ngân lên đúng hay sai, dựa vào việc liệu chúng có theo tiêu chuẩn là tình yêu, sự thiện và vẻ đẹp hoàn hảo vốn đã có nơi cốt lõi linh hồn chúng ta hay không.

Và cốt lõi đó, trung tâm đó, nơi đó trong linh hồn chúng ta, nơi chúng ta được ghi dấu với các nguyên tắc tiên quyết và nơi chúng ta ghi nhớ nụ hôn của Thiên Chúa khi chúng ta được sinh ra, với nỗi khắc khoải không ngơi, trong đời này. Như lời Henri Nouwen, thì chúng ta mang một ký ức mơ hồ về một thời từng được âu yếm trong đôi bàn tay trìu mến nhiều hơn bất kỳ bàn tay nào từng gặp trong đời.

Linh hồn chúng ta mơ hồ nhớ về một thời từng được biết tình yêu hoàn hảo và vẻ đẹp hoàn hảo. Nhưng, trong đời này, chúng ta không bao giờ gặp được sự hoàn hảo đó, dù cho chúng ta cứ luôn mãi đau đáu một người hay một sự nào đó đáp ứng được chiều sâu thẳm này trong chúng ta. Điều này tạo nên trong chúng ta một sự cô đơn tinh thần, một khao khát những gì mà chúng ta xác định là tri kỷ, một người có thể thực sự nhìn nhận, chia sẻ và tôn trọng những gì thâm sâu nhất trong chúng ta.

Cúi đầu và ngước đầu

Vào cuối nghi lễ phụng vụ Roma, có lời mời mọi người đón nhận phép lành trọng thể. Lời mời này như sau: Chúng ta cúi đầu và cầu nguyện xin Chúa chúc lành. Ý niệm phía sau điều này, rõ ràng là một phép lành chỉ có thể thực sự được lãnh nhận trong cung kính, khiêm nhượng, với cái đầu cúi xuống, và những kiêu căng tự hào bị gạt bỏ.

Một cái đầu cúi xuống là dấu chỉ của khiêm hạ, và hầu như khắp thế giới, đều xem đây là một tư thế đúng đắn về đường thiêng liêng. Các ngòi bút thiêng liêng hiếm khi đặt lại vấn đề hay thấy cần phải làm rõ ý niệm, lành mạnh linh hồn là cúi đầu trong tinh thần khiêm tốn. Nhưng chuyện này có thật đơn giản như thế hay không?

Phải công nhận rằng, trong tư thế đơn sơ này lại chứa đựng biết bao khôn ngoan. Một cái đầu cúi xuống trong cung kính là dấu chỉ của khiêm hạ. Hơn nữa, kiêu ngạo là tội hàng đầu trong những tội chết người. Sự kiêu ngạo của con người là bẩm tại, sâu sắc và không thể nhổ triệt được. Nó có thể được cứu chuộc và cũng có thể bị đập tan, nhưng luôn còn lại trong chúng ta, và còn lại một cách cần thiết. Không có sự lành mạnh nếu không có sự kiêu hãnh, nhưng nó cũng có thể hủy hoại sự lành mạnh. Có một điều gì đó bên trong bản chất con người, cố kết trong cá tính và tự do của chúng ta, một sự không thích quỳ gối trước những gì cao cả hơn và quyền thế hơn. Chúng ta canh chừng lòng kiêu hãnh của mình một cách dữ dội, và không phải ngẫu nhiên khi hình tượng điển hình cho sự chống đối Thiên Chúa là câu nói ngoan cố bám chặt vào kiêu hãnh của Lucifer: ‘Tôi sẽ không phục vụ.’

Hơn nữa, chúng ta không thích thừa nhận mình yếu đuối, hạn chế, lệ thuộc và phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, tất cả chúng ta phải lớn lên và trưởng thành, đến một mức độ mà khi đó chúng ta không còn ngây thơ và đủ kiêu căng để tin rằng mình không cần phúc lành của Thiên Chúa nữa. Tất cả mọi linh đạo đều dựa vào khiêm hạ. Sự trưởng thành cả về nhân bản lẫn linh hồn, lại hiển nhiên nhất trong những người quỳ gối cầu nguyện.

Nhưng, dù kiêu ngạo có thể là xấu, nhưng đôi khi kiêu hãnh và kiêu căng lại không phải là vấn đề. Đúng hơn, thì chúng ta phải đấu tranh với một tinh thần thương tích và tan vỡ, không còn biết cách đứng thẳng. Trẻ trung, khỏe khoắn, mạnh mẽ, kiêu căng và không nhận biết mình mỏng manh và hữu hạn đến thế nào (và ảo tưởng này có thể tồn tại đến tận tuổi già) là một chuyện, nhưng mang một tâm hồn tan vỡ, một tinh thần tan nát và mất đi lòng kiêu hãnh lại là chuyện khác. Khi điều này xảy đến, và nó luôn xảy đến với tất cả chúng ta nếu như chúng ta có sự nhạy cảm vừa đủ và sống đủ lâu, thì lòng kiêu hãnh bị tổn thương là một điều rất đỗi tiêu cực, nó giày vò kìm kẹp chúng ta đến nỗi không còn có thể đứng dậy, đứng thẳng, ngước đầu lên và đón nhận yêu thương cùng phúc lành.

Tôi còn nhớ hồi nhỏ, lớn lên trong nông trại, tôi từng chứng kiến chuyện thuần hóa ngựa. Người ta bắt được một con ngựa non lâu nay rong ruổi hoàn toàn tự do, và bằng một tiến trình tàn bạo, họ buộc chú ngựa non đó quy phục dây cương, bàn đạp và mệnh lệnh của con người. Khi tiến trình đã hoàn tất, con ngựa giờ phục tùng mệnh lệnh của con người. Nhưng tiến trình bẽ gãy sự tự do và tinh thần của con người, là một việc rất không nhẹ nhàng và do đó gây nên một kết quả lẫn lộn. Con ngựa giờ phục tùng, nhưng một phần tinh thần của nó đã bị phá vỡ.

Đây là một hình ảnh tương đồng cho cuộc hành trình của chúng ta, cả về nhân bản lẫn thiêng liêng. Cuộc sống, rất không trìu mến, đến cuối cùng, bẽ gãy tinh thần của chúng ta, vì những lý do tốt và xấu, rồi chúng ta khiêm hạ, nhưng cũng là mang một thương tích và không thể đứng thẳng được. Sự khiêm hạ cưỡng bách này có một hiệu ứng kép: Một mặt, chúng ta thấy mình khụy gối một cách tự nhiên hơn trước những gì cao cả hơn, nhưng mặt khác, bởi vì nỗi đau khi bị bẽ gãy, chúng ta tập trung vào bản thân mình hơn là vào người khác, và cuối cùng trở nên tật nguyền. Bầm tím và dễ vỡ, chúng ta không thể cho và nhận cho đúng đắn được, và trở nên dè dặt ngại ngùng khi chia sẻ sự tốt đẹp và chiều sâu của mình với người khác.

Linh đạo và tôn giáo, hầu hết đều quá thiên về một mặt mà thôi. Các linh đạo và tôn giáo luôn cảnh giác trước sự kiêu hãnh và tự đại (và cũng thừa nhận rằng, chúng có thật và luôn là những tội chết người.) Nhưng linh đạo và tôn giáo quá chậm trong việc đỡ người ta đứng lên. Chúng ta đều biết câu châm ngôn rằng, nhiệm vụ của linh đạo là làm đau người thoải mái, và xoa dịu cho người bị đau. Xét theo lịch sử, linh đạo và tôn giáo, dù không phải lúc nào cũng thành công với vế trước, nhưng cũng đã quá lơ đễnh với vế sau.

Kiêu hãnh và tự đại là tội nặng nề nhất trong tất cả các tính xấu. Tuy nhiên, một lòng kiêu hãnh bị tổn thương và một tinh thần vỡ nát cũng có thể làm hỏng chúng ta như thế.

Vậy nên, có lẽ khi Giáo hội chúc lành cho cộng đoàn vào cuối phụng vụ, thay vì nói, Chúng ta cúi đầu và cầu nguyện xin Chúa chúc lành. Thì nên đổi thành: Những ai nghĩ mình không cần phúc lành này: Hãy cúi đầu và cầu nguyện xin Chúa chúc lành. Còn những ai cảm thấy mình bị tổn thương, tan vỡ và bất xứng với phép lành này: Hãy ngước đầu lên và đón nhận tình yêu và ơn ban mà anh chị em đã từ lâu mong mỏi được đón nhận lần nữa.