RonRolheiser,OMI

Tự vẫn và Sức khỏe Tinh thần

Khi còn nhỏ, tôi khát khao trở thành vận động viên chuyên nghiệp, nhưng sớm chấp nhận sự thật không dễ chịu rằng đơn giản tôi không có thân thể của một vận động viên. Tốc độ, sức mạnh, sức bền, bản năng, tầm nhìn, dần dà tôi cũng có, nhưng không đủ mạnh để làm vận động viên.

Tôi phải mất nhiều năm để bình tâm với chuyện này, nhưng tôi còn mất nhiều thời gian hơn nữa, đến tận tuổi trung niên, mới biết được và tạ ơn vì sự thật rằng, trong khi tôi không được một cơ thể như vận động viên, thì tôi lại có một sức khỏe tinh thần tráng kiện, một ơn quá lớn lao mà tôi không xứng đáng có được, một ơn còn quan trọng hơn thân thể lực sĩ. Tôi thường tự hỏi nếu mình có thân thể của vận động viên thì sẽ như thế nào, nếu mình có tốc độ, sức mạnh và uyển chuyển như thế sẽ ra sao. Nhưng tôi chưa bao giờ tự hỏi sẽ thế nào nếu như tôi có một tâm trí mạnh mẽ, vững vàng, bền bỉ biết cách trả đòn, xé toang hàng phòng ngự, không ngại va chạm, và không để sự căng thẳng của cuộc chơi khiến mình nản lòng.

Và tôi có được nhận thức này với cái giá là một số thời điểm đau đớn nhất trong đời. Khi ngày càng có tuổi, tôi bắt đầu thấy một vài bạn học cũ của mình, vài bậc thầy mà tôi tin tưởng, những người quen đủ kiểu và những người bạn thân thiết, họ đã thua trong cuộc chiến sức khỏe tinh thần, và chầm chậm hay nhanh chóng, chìm dần trong nhiều dạng trầm cảm lâm sàng, những kiểu tê liệt và đau đớn về tinh thần, mất trí nhớ đủ kiểu, những thay đổi tiêu cực về tính cách, tự sát và tệ nhất là giết người.

Dần dần trong đau đớn và ngập ngừng, tôi dần biết rằng không phải ai cũng có năng lực đủ để giữ mình vững vàng và hăng hái. Tôi cũng biết rằng sức khỏe tinh thần thực sự tương đương với sức khỏe thể lý, nó mỏng manh và không hoàn toàn trong tầm kiểm soát của chúng ta. Hơn nữa, cũng như các chứng tiểu đường, viêm khớp, ung thư, đột quỵ, xơ cứng teo cơ một bên, và đủ loại xơ cứng khác, có thể gây suy nhược và cả cái chết, thì những chứng bệnh tinh thần cũng gieo tàn phá trong tâm trí, cũng gây nên đủ loại suy nhược, và dù không thường có, nhưng vẫn dẫn đến cái chết, đến tự vẫn.
Làm sao để định nghĩa một sức khỏe tinh thần tráng kiện? Sức khỏe tinh thần tráng kiện không nên nhầm lẫn với hiểu biết hay lỗi lạc. Cả hai đều không phải. Đúng hơn, đó là một sự vững vàng, năng lực luôn luôn có mỏ neo giằng giữ, cân bằng, ngoi lên và bền bỉ, trước tất cả những chuyện tốt xấu mà cuộc đời giáng xuống bạn. Thật vậy, đôi khi nó có thể là một khối chặn đường tích cực đối với sáng tạo và xuất chúng. Có vẻ như, vài người quá điềm đạm và ôn hòa, đến nỗi không thể xuất chúng được. Và những người xuất chúng, các họa sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ tài năng, thường không cố gắng giữ mình điềm đạm vững vàng. Sự xuất chúng và vững vàng thường là hai thiên tư khác biệt. Qua nhiều năm viết về tự vẫn, tôi đã nhận được nhiều thừ từ, e-mail và cuộc gọi, với những bận tâm thống khổ mong muốn hiểu được sức khỏe tinh thần. Có một lá thư của một nhà tâm thần học xuất chúng, bà lo lắng về sự ổn định của riêng mình và về gia đình mình. Bà viết, ‘Mọi người trong gia đình tôi đều xuất chúng, nhưng không một ai được ổn định cả!’ Tất nhiên, chúng ta đều biết nhiều gia đình khác ngược lại thế.

Nói ngắn gọn, chúng ta cần hiểu rõ hơn về sức khỏe tinh thần. Có lẽ nhu cầu này không phải cho các bác sĩ, nhà tâm lý học, và chuyên gia sức khỏe tinh thần, hay cho những người đã có hiểu biết đáng kể về sức khỏe tinh thần cũng như đã có nhiều nghiên cứu đáng giá về nó. Tôi đang nói đến nhu cầu trong nền văn hóa chung, nhất là về những chuyện liên quan đến tự vẫn.

Khi thấy ai đó bị khuyết tật thể lý hay mang bệnh thân xác, thật dễ để chúng ta hiểu những hạn chế của họ và rồi động lòng cảm thông. Nhưng điều này là vì chúng ta có thể thấy, thấy bằng con mắt thể xác, các khuyết tật hay bệnh tật đó. Chúng ta có thể sẽ thấy nản lòng, bất lực, thậm chí là giận dữ trước những gì chúng ta thấy, nhưng nhìn chung, chúng ta đều hiểu. Chúng ta hiểu điều này! Tự nhiên đã chia cho người này những quân bài như thế, và chẳng đổ lỗi cho ai về chuyện này được!

Nhưng về sức khỏe tinh thần thì không như vậy. Khuyết tật và bệnh tật của tinh thần không quá công khai hay dễ hiểu. Điều này đặc biệt đúng với những suy sụp sức khỏe tinh thần dẫn đến tự vẫn. Trong nhiều thế kỷ, người ta đã chẩn đoán sai trầm trọng về tự vẫn, không chỉ là về mặt luân lý và tôn giáo. Thời nay, chúng ta ngày càng tự nhận mình hiểu chuyện, ngay cả khi không thực sự hiểu. Vẫn luôn cần có một cái nhìn sâu sắc hơn, trực giác hơn. Chúng ta không thực sự hiểu sự mỏng manh của tinh thần.

Sức khỏe thể lý của chúng ta có thể tráng kiện hay mỏng manh, và sức khỏe tinh thần cũng thế. Trong cả hai trường hợp, chúng ta sẽ mạnh mẽ đến độ nào, dựa vào những quân bài chúng ta có trong tay, năng lực bẩm tại, và môi trường hình thành nên chúng ta. Chúng ta không đặt hàng cho thân thể và tâm trí mình, và tự nhiên không phải lúc nào cũng chia bài đều tay.

Chúng ta cần nhận thức rõ hơn về sức khỏe và suy sụp tinh thần. Chúng ta không miễn nhiễm với đủ loại ung thư, đột quỵ, tiểu đường, và xơ hóa về tâm lý và cảm xúc. Và chúng cũng có thể trở nên nan y, như trong trường hợp một người tự vẫn.

Những thiên thần với lưỡi hái và cơn thịnh nộ của Thiên Chúa

Có một đoạn đầy ám ảnh trong sách Khải Huyền, một hình ảnh nên thơ nhưng có thể bị diễn giải sai đầy nguy hiểm. Tác giả sách viết thế này: “Và Thiên thần kia đã quăng liềm xuống đất và cắt nho nơi vườn nho cõi đất, và đổ vào bồn thịnh nộ của Thiên Chúa, cái bồn vĩ đại.” Một thiên thần tàn khốc quét sạch thế giới! Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ tam bành! Chúng ta hiểu chuyện này thế nào đây?

Như nhiều đoạn khác trong Kinh thánh, chúng ta cần nghiêm túc đón nhận đoạn này nhưng không phải theo nghĩa đen. Rõ ràng, đoạn văn này cũng như những đoạn văn khác trong Kinh thánh nói về sự ghen tuông, giận dữ và báo oán của Thiên Chúa, có tầm quan trọng đáng để chúng ta học hỏi. Nhưng như nhiều đoạn văn khác nói về sự ghen tuông và giận dữ của Thiên Chúa, nó cũng có thể bị hiểu lầm đầy nguy hiểm. Không phải Thiên Chúa nổi giận, không phải đôi khi Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ với chúng ta, và trút tai ương xuống trái đất bởi tội chúng ta. Đúng ra, ý nghĩa của đoạn văn này là những hành động của chúng ta có hậu quả, rằng tội lỗi trút tai ương xuống trái đất và cả trong linh hồn chúng ta, khiến chúng ta giận dữ, tự thù ghét bản thân mình, và thiếu sự tự dung thứ, và chính điều này đem lại cảm giác như Thiên Chúa giận dữ và trừng phạt chúng ta.

Thiên Chúa không nổi giận, đơn giản và hoàn toàn là thế. Thiên Chúa không phải là một tạo vật như chúng ta. Đường lối Thiên Chúa khác với đường lối loài người. Điều này đã được xác nhận từ ngôn sứ I-saia và xuyên suốt 2000 năm truyền thống Kitô giáo. Chúng ta không thể phóng chiếu lề lối hiện hữu, suy nghĩ và yêu thương của mình vào Thiên Chúa. Nhất là khi chúng ta muốn hình dung một Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ. Lòng thương xót, tình yêu thương, và sự tha thứ không phải để cho Chúa, mà là cho chúng ta. Đó là bản tính của Thiên Chúa. Thiên Chúa không giận như như chúng ta.
Kinh thánh và truyền thống Kitô giáo có nói về Thiên Chúa nổi giận, nhưng thần học Kitô giáo nói rõ ràng rằng, đó là sự nhân cách hóa, là một phóng chiếu suy nghĩ và cảm xúc của con người lên Thiên Chúa. Khi chúng ta nói rằng Thiên Chúa đang nổi giận hay đang trừng phạt chúng ta vì tội lỗi, về căn bản không phải chúng ta đang nói về cảm giác của Thiên Chúa với chúng ta, mà đúng hơn là cảm giác của chúng ta về Thiên Chúa và về bản thân cũng như hành động của mình.

Ví dụ như, khi thánh Phaolô nói rằng khi phạm tội, là chúng ta cảm nhận ‘cơn thịnh nộ của Thiên Chúa,’ ngài không có ý nói rằng Thiên Chúa nổi giận khi chúng ta phạm tội. Đúng hơn là, chúng ta nổi giận với chính mình khi phạm tội. Khái niệm về cơn thịnh nộ của Thiên Chúa là một ẩn dụ, và tôi cho là có thể minh họa qua một cuộc chè chén say sưa. Nếu người ta không tiết độ khi uống rượu, thì Thiên Chúa không hài lòng và cho người đó cơn đau đầu. Nhưng cái chuyện thịnh nộ đó phát xuất từ chính hành động đó. Nồng độ cồn quá cao gây hại não bộ, dẫn đến đau đầu. Cơn đau không phải từ Thiên Chúa, dù cho chúng ta có thể cảm nhận nó như sự trừng phạt, như cơn thịnh nộ của Chúa với sự vô trách nhiệm của chúng ta. Nhưng đây là một phóng chiếu của chúng ta, một sự nhân cách hóa.

Khi nói rằng chúng ta đã xúc phạm đến Chúa và Ngài nổi giận với chúng ta, không phải là chúng ta đang chúc tụng Chúa, mà chỉ là đang tâng bốc chính mình. Thiên Chúa không chỉ là nguồn gốc hiện hữu của chúng ta, là Đấng Tạo Hóa, và Đấng Vạn biến Bất biến. Thiên Chúa còn là một người yêu thương từng người một trong chúng ta tha thiết, nên thật tự nhiên khi hình dung đôi khi Thiên Chúa nổi giận, thật tự nhiên khi chúng ta phóng chiếu những giới hạn của mình lên Thiên Chúa.

Nhưng trước tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, thì những suy nghĩ và cảm nhận, những năng lực hữu hạn của chúng ta để sống yêu thương trong đời, trở nên quá tầm thường. Thử hình dung xem, một người ông đầy yêu thương đang bồng ẵm đứa cháu sơ sinh của mình. Thử hỏi đứa bé đó có thể làm gì để xúc phạm đến ông của mình đây? Sự chính chắn, thông hiểu và yêu thương của Thiên Chúa chắc chắn vượt xa tột cùng. Làm sao Thiên Chúa bị xúc phạm được?

Nhưng, chẳng phải những lời nói về cơn giận của Thiên Chúa là một phần thiết yếu trong truyền thống, Kinh thánh, lời kinh, thánh vịnh, và phụng vụ của chúng ta hay sao? Tất cả đều nói về việc chúng ta xúc phạm Chúa và Ngài nổi giận. Những lời này chỉ viết cho có thôi sao? Không. Những lời này dạy chúng ta một sự thật quan trọng, dù cho sự thật đó được thể hiện theo kiểu nhân cách hóa. Chúng có dụng ý thách thức linh hồn, cũng một cách như chứng khó tiêu thách thức cơ thể. Thiên Chúa không trừng phạt chúng ta vì ăn bậy bạ hay ăn quá nhiều. Mà là sinh học của chúng ta làm thế, và khi làm thế nó cho chúng ta dấu hiệu khó nuốt rằng chúng ta đang làm điều sai. Có thể nói ẩn dụ rằng, chứng khó tiêu như một thiên thần báo oán ném bạn vào cối xay của cơn thịnh nộ sinh học.

Thiên Chúa không ghét chúng ta khi chúng ta làm sai, mà là chúng ta tự ghét chính mình. Thiên Chúa không trút báo oán trên chúng ta khi chúng ta phạm tội, nhưng là chúng ta tự hành hạ mình. Và Thiên Chúa không bao giờ dè xẻn sự tha thứ với chúng ta dù cho chúng ta có làm gì đi nữa, nhưng chính chúng ta thấy thật khó để tha thứ cho những trái quấy của mình. Thật sự có một lưỡi hái thiên thần và cối xay thịnh nộ của Thiên thần, nhưng đó là tên cho cảm nghiệm bất mãn và tự thù ghét bản thân của chúng ta mỗi khi chúng ta bất tín. Chúng không liên quan gì đến bản tính của Thiên Chúa cả.

Nỗi bất an thâm sâu nhất của chúng ta

Tại sao chúng ta không sống hạnh phúc hơn? Tại sao chúng ta luôn mãi rơi vào thất vọng, căng thẳng, giận dữ, và phẫn uất?

Tất nhiên có quá nhiều lý do để gọi tên. Như Chúa Giêsu nói, ngày nào có đủ vấn đề cho ngày ấy. Chúng ta không hạnh phúc bởi quá nhiều chuyện. Nhưng cũng hữu ích nếu đôi khi, chúng ta biết tự vấn: Tại sao tôi lại quá triền miên đứng bên ngoài cánh cổng hạnh phúc kia chứ?

Câu trả lời ban đầu của chúng ta có lẽ sẽ hướng về những áp lực trong đời khiến chúng ta mệt mỏi, có vấn đề sức khỏe, căng thẳng trong các mối quan hệ, căng thẳng trong công việc, và lo lắng về sự an toàn của mình. Luôn luôn có chuyện gì đó. Một suy tư khác, có thể dò đến những nguyên do sâu xa hơn, như sự thất vọng vô thức về việc cuộc sống của chúng ta trở nên như thế này, đi xuống như thế này, kèm theo nhiều giấc mơ đã tiêu tan vỡ mộng.

Nhưng một suy tư sâu hơn nữa, sẽ soi rọi vào một điều gì đó, một điều nằm ngoài những áp lực thông thường và thất vọng sâu hơn trong đời chúng ta. Tôi cho rằng, nó sẽ hé lộ một sự bất an vô thức tiềm ẩn, không ngừng biến tích cực thành tiêu cực, khiến chúng ta cứ nguyền rủa thay vì chúc lành, và thậm chí khiến chúng ta phóng chiếu sự tiêu cực và cay đắng của mình vào Thiên Chúa và tôn giáo mà chúng ta tin. Vậy sự bất an này là gì?

Sự bất an này, tận gốc rễ, là một cảm giác rằng chúng ta không được chào đón cho đủ trong thế giới này, rằng Thiên Chúa và vũ trụ theo cách nào đó đang thù địch với chúng ta, rằng chúng ta không được yêu thương và tha thứ vô điều kiện. Và bởi thế, chúng ta có một sự hoang tưởng và thù địch nhất định với tha nhân. Sinh lực của người khác là mối đe dọa đến sự chào đón mà chúng ta mong mỏi.

Linh mục Thomas Merton đã chẩn đoán về vấn đề này. Bình luận về sự tiêu cực trong chính trị, giáo hội và cộng đồng thời đại mình, cha Merton đưa ra một lý do này để giải thích về sự cay đắng và chia rẽ:

‘Trong một bầu khí không hướng về sự sống và lòng thương xót, nhưng hướng về sự chết và lên án, thì tội lỗi chung và riêng của những con người và đoàn thể, vật lộn chống lại nhau trong một nỗ lực sinh tử. Con người, bộ lạc, quốc gia, giáo phái, đảng phái thiết lập sự hiện hữu của mình bằng cách cáo buộc lẫn nhau. Do đó họ tìm cách sinh tồn và khẳng định bản thân bằng cách sống quỷ ám, bởi quỷ là ‘kẻ lên án anh em mình.’ Một hiện hữu quỷ ám là kẻ kiên quyết chẩn đoán những gì không thể chữa, những gì không có mong muốn chữa lành, nó chỉ tìm cách tối đa hóa tiềm lực nhằm gây chết chóc cho các nạn nhân của nó. Nhưng đây là cám dỗ bủa vây tình trạng hiện sinh của con người, một hiện hữu phẫn uất ngụ ý nhu cầu muốn và quyết định phải cáo buộc và lên án tất cả những hiện hữu khác.

…Và khi sự thật đúng là thế, thì Thiên Chúa trở thành một tổ vật bộ lạc, một sự tán tụng cho đấu tranh hiện sinh tìm kiếm cái tôi nhằm thiết lập sự tự trị trong hố thẳm trống rỗng của nó. Một Thiên Chúa như thế có thể là gì ngoài hiện thân của phẫn uất, thù hận, và kinh khiếp chứ? Chính sự tồn tại những thần tượng như thế mà các tinh thần chính thống báo oán và gây chết chóc nở rộ. Những thần của các đảng phái, giáo phái, chủng tộc và quốc gia này, chắc chắn là thần chiến tranh. … Và điều này chỉ có thể sửa đổi, khi con người nhận ra rằng mình chỉ là con nợ mang món nợ không thể nào trả nổi.’

Và ngày nay chẳng phải cũng đúng như thế hay sao? Các nghị trình chính trị, giáo hội và cộng đồng của chúng ta quá bế tắc, phân cực, quỷ ám và xấu xa! Tất cả chúng ta quá phẫn uất! Chúng ta đã biến Thiên Chúa của mình thành hiện thân của phẫn uất, thù hận và sợ hãi. Chúng ta đang biến các tinh thần chính thống gieo chết chóc thành tôn giáo. Cộng đồng và giáo hội chúng ta đang tạo ra những thần linh bộ lạc của mình đến thế nào? Tất nhiên chúng ta thấy điều này gần như rõ ràng nơi những kẻ khủng bố tôn giáo, đánh bom và giết hại nhân danh Thiên Chúa. Nhưng thật ra, nó không trừ một ai. Tất cả chúng ta đều đấu tranh để tin vào một Thiên Chúa thật sự yêu thương tất cả mọi người và một Thiên Chúa không phải là thần linh bộ lạc cho riêng chúng ta. Thật sự một phần nguyên do lịch sử của chủ nghĩa khủng bố tôn giáo thời nay có liên quan đến chứng hoang tưởng dai dẳng và cách chúng ta phóng chiếu những phẫn uất, sợ hãi và thù hận của mình vào Thiên Chúa mà chúng ta tin và vào tôn giáo mà chúng ta giữ.

Nhưng linh mục Merton cũng chia sẻ bí quyết để vượt lên cám dỗ này, chấm dứt chuyện phóng chiếu những phẫn uất và sợ hãi của chúng ta vào Thiên Chúa và giáo hội. Lời giải của cha là gì? Mọi sự sẽ thay đổi, khi tận cội rễ hiện hữu, chúng ta thừa nhận rằng mình là con nợ mang một món nợ không thể trả. Rồi cuối cùng chúng ta sẽ chấp nhận sự chào đón và tình yêu thương của Thiên Chúa, và chấp nhận mình được chào đón, rồi chúng ta sẽ không còn oán giận người khác nữa. Chỉ khi chúng ta biết mình được chào đón, thì chúng ta mới có thể chấp nhận chứ không lên án. Và rồi, chỉ khi đó, chúng ta mới để Chúa của chúng ta cũng là Chúa của người khác.

Nơi gốc rễ của sự phẫn uất thâm sâu nhất, là một sự bất an không chắc mình có được chào đón trong thế giới hay không, đi kèm việc bất lực để nhận thức bản tính đích thực của Thiên Chúa. Và do đó, vì chúng ta cảm giác mình bị đe dọa, nên cứ luôn mãi tạo ra một Thiên Chúa và tôn giáo để che chắn cho chúng ta chống lại người khác.

Đấu tranh với tính Tự đại

Chúng ta sống trong một thế giới mà mọi thứ đều kích động mạnh đến thói tự đại của chúng ta, trong khi đó thì càng ngày càng ít công cụ để cự lại với nó.

Vài năm về trước, Robert L. Moore đã viết một quyển sách rất ý nghĩa, với tựa đề Đối diện Con Rồng [Facing the Dragon]. Moore tin rằng con rồng đe dọa chúng ta nhất, chính là con rồng của tính tự đại trong chúng ta, nó khuấy động nội tâm chúng ta khiến chúng ta tin rằng mình đặc biệt phi thường và mang số mệnh cao cả. Tình trạng này bủa vây tất cả chúng ta. Nói đơn giản, mỗi người chúng ta, mỗi một trong bảy tỷ người trên trái đất, không thể nào không cảm thấy mình là trung tâm của vũ trụ. Và bởi điều này gần như vô thức, đồng thời chúng ta lại thiếu khí cụ để giải quyết nó, nên nó gây ra một tình trạng đáng lo sợ. Tự đại không phải là công thức cho hòa bình và hòa hợp, mà là cho ghen tương và xung đột.

Mà tình trạng này không phải lỗi của chúng ta, và tự nó cũng không phải là là một khiếm khuyết đạo đức trong bản tính của chúng ta. Sự tự đại của chúng ta phát xuất từ cách Thiên Chúa tạo thành chúng ta. Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa. Đây là chân lý giáo điều căn bản nhất trong nhận thức Do Thái- Kitô giáo về nhân thể. Tuy nhiên, không thể hiểu nó theo kiểu đơn giản hóa, như kiểu một biểu tượng đẹp đẽ được đóng dấu vào linh hồn chúng ta. Đúng hơn, cần phải hiểu thế này: Thiên Chúa là lửa, lửa bất diệt, một sinh lực không ngừng tìm kiểm để ôm trọn và thổi bùng mọi tạo vật. Và ngọn lửa đó có trong chúng ta, khơi lên trong chúng ta những cảm thức thần linh, một trực giác rằng chúng ta cũng có sinh lực thần thiêng, và cũng là một áp lực muốn trở nên đặc biệt phi thường và đạt được một sự cao cả nào đó.

Có thể nói, được tạo thành theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa, nghĩa là có một con chíp thần thiêng bên trong chúng ta. Nó thiết lập cho chúng ta phẩm giá cao cả nhất nhưng ccùng lúc tạo nên những vấn đề lớn lao nhất. Sự vô hạn không nằm yên trong cái hữu hạn. Bởi có sinh lực thần thiêng bên trong, nên chúng ta không dễ bình yên trong thế giới này, những khao khát và mong mỏi của chúng ta quá vĩ đại. Chúng ta không chỉ sống trong sự bất an triền miên mà thánh Âugutinô nêu bật trong châm ngôn lừng danh: ‘Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.’ Mà sự tự đại bẩm tại này còn khiến chúng ta không ngừng nuôi dưỡng một niềm tin rằng chúng ta đặc biệt, có định mệnh độc nhất vô nhị, và được sinh ra để nổi trội, được công nhận, được biết đến với những sự phi thường của mình.

Và do đó tất cả chúng ta đều được một mã di truyền thần thiêng điều hướng để, có thể nói là tạo lập một cáo thỉnh trong đời, tạo lập sự bất tử cho riêng mình, và tạo nên một giả tượng phi thường mà thế giới phải để mắt đến. Đây không phải là một khái niệm trừu tượng, nó tuyệt đối thực tế. Chúng ta có thể thấy bằng chứng cho chuyện này trên mọi bản tin, trong mọi vụ đánh bom, trong mọi mưu đồ xấu xa táo tợn, và trong mọi tình huống khi ai đó muốn mình nổi trội. Chúng ta cũng thấy nó trong sự đói khát danh vọng, trong khát khao được nổi tiếng, và trong nhu cầu muốn được nhìn nhận là độc nhất vô nhị và đặc biệt.

Nhưng sự tự đại này, tự nó không phải là lỗi lầm của chúng ta, và cũng không nhất thiết là một khiếm khuyết đạo đức. Nó đến từ cách chúng ta chúng ta được tạo thành, thật nghịch lý thay, nó đến từ những gì cao cả và tốt đẹp nhất trong chúng ta. Vấn đề là, ngày nay, chúng ta thường không có khí cụ để vận dụng nó sao cho sinh sôi những điều tốt đẹp. Vì nhiều lý do, chúng ta ngày càng sống trong một thế giới kích động quá đáng tính tự đại của mình, ngay cả khi chúng ta không nhận ra tình trạng này và nhất là khi chúng ta ngày càng ít công cụ tôn giáo và tâm lý để xử lý nó. Những công cụ này là gì?

Về tâm lý, chúng ta cần những hình ảnh con người cho phép mình hiểu bản thân một cách lành mạnh, nhưng cũng bao gồm cả việc chấp nhận những giới hạn, những nản lòng, sự vô danh của chúng ta, và cả việc cuộc sống chúng ta phải dành không gian cho cuộc sống người khác nữa. Về mặt tâm lý, chúng ta phải có những công cụ để hiểu cuộc đời mình, thừa nhận rằng mình đặc biệt và độc nhất vô nhị, nhưng vẫn là một trong số hàng tỷ cuộc đời đặc biệt và độc nhất vô nhị khác. Về mặt tâm lý, chúng ta cần những công cụ tốt hơn để vận dụng tính tự đại của mình.

Về tôn giáo, đức tin và giáo hội chúng ta cần phải đem lại một nhận thức về nhân thể sao cho chúng ta có thấu suốt và khuôn khổ để có thể sống sự độc nhất vô nhị và đặc biệt của mình, trong khi biết bình an với tinh thần, những giới hạn, những thất bại, sự vô danh, và dành không gian cho sự độc nhất vô nhị và đặc biệt của cuộc đời người khác. Về căn bản, tôn giáo phải cho chúng ta những công cụ để nắm bắt cách lành mạnh ngọn lửa thiêng bên trong bản thân mình, và hành động lành mạnh với những tài năng và thiên tư mà Chúa ban cho chúng ta, nhưng là trong khuôn khổ đi kèm để khiêm tốn nhận biết các thiên tư này không phải của chúng ta, mà là của Chúa, và tất cả những gì chúng ta là và những gì chúng ta đạt được đều là ơn Chúa. Chỉ khi đó, chúng ta mới không gục ngã vì thất bại và tự đắc vì thành công

Robert Lax cho rằng, bổn phận trong đời không phải là tìm được lối mòn trong khu rừng, cho bằng đi tìm một nhịp điệu để bước đi.

Chúng ta trước hết!

‘Tôi không phải là công dân của Athens, mà là công dân của thế giới.’ Socrates đã viết những dòng này cách đây hơn 24 thế kỷ. Ngày nay, chúng ta cần những lời này hơn bao giờ hết, ngày càng cần hơn, khi thế giới và chúng ta đang chìm trong những dạng chủ nghĩa bộ lạc không lành mạnh, chỉ quan tâm trước hết cho những gì của mình.

Chúng ta thấy thực tế này ở khắp nơi. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng chuyện này chỉ có ở những nhóm cực đoan, nhưng thực ra nó đang là chủ trương được biện hộ ngày càng hăng hái ở khắp nơi trên thế giới. Nó kiểu như thế này: Nước Mỹ trước hết! Anh quốc trước hết! Quê hương tôi trước hết! Chính phủ tôi trước hết! Giáo hội tôi trước hết! Gia đình tôi trước hết! Tôi trước hết! Chúng ta ngày càng biến mình thành ưu tiên hàng đầu và xác định mình theo những kiểu không chỉ đi ngược lại Tin Mừng mà còn làm cho chúng ta tầm thường hơn trong tinh thần và khốn cùng hơn trong tâm hồn. Chuyện này là gì đây?

Trước hết, nó đi ngược lại Tin mừng, chống lại mọi sự Chúa Giêsu dạy. Tin Mừng nói rõ ràng rằng tất cả mọi người trong thế giới này đều bình đẳng trước mặt Chúa, tất cả đều là anh chị em, và chúng ta phải chia sẻ của cải công bằng với tất cả mọi người nhất là với người nghèo, và quan trọng nhất là chúng ta không đặt mình lên vị trí ưu tiên hàng đầu, nhưng luôn luôn nghĩ đến nhu cầu của người khác trước mình. Và như thế, tất cả những khẩu hiệu đặt ‘tôi,’ ‘chúng ta,’ ‘của tôi,’ ‘nhóm chúng ta,’ ‘quốc gia tôi,’ lên trên hết, là đang chối bỏ những điều trên. Hơn nữa, lối sống Tin Mừng, không chỉ áp dụng ở mức độ nhỏ, như khi chúng ta nhã nhặn nhường cho ai đó vào phòng trước mình, mà còn áp dụng cho toàn thể một quốc gia. Với chúng ta, khi nghĩ về quốc gia mình trước hết, về lợi ích của chúng ta trước hết, thì có điều gì đó thiếu chính chắn và thiếu đạo đức, đi ngược lại tư cách công dân của thế giới, bận tâm lo cho lợi ích của tất cả mọi người.

Và chân lý này không chỉ có trong Tin Mừng và lời dạy của Chúa Giêsu, mà còn trong những gì cao cả và tốt đẹp nhất trong chúng ta. Định nghĩa về tấm lòng lớn ngụ ý là vượt trên tư lợi và sẵn sàng hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích của người khác và lợi ích của cộng đồng. Và suy nghĩ lớn cũng tương tự như vậy. Chúng ta là người suy nghĩ lớn vì chúng ta nhạy cảm với toàn cảnh, và có thể mang vào trong suy nghĩ của mình các nhu cầu, thương tích và hệ tư tưởng của tất cả mọi người chứ không chỉ của riêng mình. Đây là thông hiểu chứ không phải chỉ là thông minh. Khi mang lòng nhỏ nhen, chúng ta không hiểu được những gì cao hơn nhu cầu của mình, những tổn thương của mình, và hệ tư tưởng của mình.

Chúng ta biết nhiếu qua kinh nghiệm. Những ngày đẹp trời nhất, lòng và trí của chúng ta cởi mở hơn, sẵn sàng chào đón hơn, sẵn sàng chấp nhận những khác biệt hơn, và sẵn sàng hy sinh lợi ích của mình vì người khác hơn. Những ngày đẹp trời nhất, chúng ta là con người tử tế, có trái tim lớn, và biết thông hiểu, và trong những ngày đó chúng ta chẳng thể nào nói rằng: Tôi trên hết! Chúng ta đặt bản thân lên trên hết và để những bận tâm về lợi ích của mình chiếm hết tâm hồn, là khi chúng ta gặp chán nản, tổn thương, mệt mỏi và bị tác động tư tưởng quá độ. Và ngay cả khi chúng ta cự lại được sự nhỏ nhen này, thì phần nào trong chúng ta cũng nhận thấy mình không tốt như trước. Phía sau những tổn thương, những chứng bệnh hệ tư tưởng, chúng ta vẫn tập trung vào chân lý rằng, trước hết, chúng ta là công dân của thế giới. Một trái tim lành mạnh vẫn đập phía sau trái tim thương tích bị ung nhiễm của chúng ta.

Đáng buồn thay, hầu như mọi thứ trong thế giới ngày nay lại quyến dụ chúng ta xa khỏi đó. Chúng ta là con cái của Rene Descartes, định hình tư tưởng hiện đại bằng câu châm ngôn lừng danh: ‘Tôi suy nghĩ, nên tôi hiện hữu.’ Những cơn đau đầu và đau tim của chúng ta là những gì thật nhất với chúng ta, và chúng ta định lượng các mối quan hệ khác chiếu theo tâm điểm của mình. Đó là lý do vì sao chúng ta quá dễ nói rằng: ‘Tôi trước hết! Quê hương tôi trước hết! Những day dứt của tôi trước hết!’

Nhưng sẽ không có hòa bình, không có cộng đồng thế giới, không có tình anh chị em đích thực, và không có cộng đoàn giáo hội địch thực, bao lâu chúng ta chưa xác định mình là công dân của thế giới, rồi mới đến là thành viên của nhóm mình.

Phải thừa nhận là chúng ta phải chăm lo cho gia đình, cho quê hương, và bản thân mình. Công lý cũng có nghĩa là chúng ta đối xử công bằng với chính mình. Nhưng, xét tận cùng, sự căng thẳng này không có thật, nghĩa là nhu cầu của người khác và của chúng ta, không đối đầu nhau. Athens và thế giới cùng chung một khối. Chúng ta phục vụ mình tốt nhất khi phục vụ người khác. Chúng ta công bằng với mình khi công bằng với người khác. Chi khi là công dân tốt của thế giới, chúng ta mới là công dân tốt của quốc gia mình.

Đặt mình lên trước hết là đi ngược lại Tin mừng. Mà đó là một chiến lược tồi. Bởi Chúa Giêsu đã dạy rằng, đến tận cùng, kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót.

Về súng đạn vũ khí và chủ nghĩa hòa bình

Tin mừng cho chúng ta biết, sau khi vua Herode chết, một thiên thần đã hiện ra trong giấc mộng, báo cho ông Giuse ở Ai Cập rằng: ‘Dậy đi. Đưa Hài nhi và Mẹ người về đất Israel, bởi kẻ tìm giết Hài nhi đã không còn nữa.’ (Mt 2, 19-20) Có vẻ như thiên thần đã hơi hấp tấp, khi Hài nhi vẫn còn đang gặp nguy hiểm, vẫn bị đe dọa, bị săn lùng, đến tận ngày nay.

Thiên Chúa vẫn dễ bị tổn thương và vô lực trong thế giới chúng ta, và không ngừng bị tấn công. Mọi dạng bạo lực, công kích, hăm dọa, bắt nạt hay phô trương cái tôi, trục lợi, vẫn đang cố gắng giết Hài nhi. Và Hài nhi Giêsu vẫn đang bị đe dọa bằng những cách ít rõ ràng hơn, cụ thể là khi chúng ta bịt mắt làm ngơ người đang nằm trên đường bất lực, làm ngơ những con người đang phải chịu đựng chiến tranh, nghèo khổ, và bất công. Herode đã chết, nhưng ông ta còn nhiều đồng minh. Hài nhi luôn mãi bị đe dọa.

Nhiều người trong chúng ta đã quen với câu chuyện của các tu sĩ Dòng Xitô ở Algeria, tử đạo do tay các kẻ khủng bố vào năm 1996. Vài tháng trước khi bắt cóc và hành hình các thầy, những tên khủng bố đã ghé đan viện, và lại đến vào đêm Giáng Sinh, khi các thầy đang chuẩn bị cử hành Thánh lễ Đêm Giáng Sinh. Những kẻ khủng bố với vũ khí lăm lăm, đã rời đi sau khi tranh cãi căng thẳng vì các thầy không chịu đưa cho chúng số thuốc men chúng đòi. Nhưng các thầy chấn động, kinh hoàng. Phản ứng của các thầy thế nào. Các thầy đến ngay nhà nguyện, và hát cử hành thánh lễ Giáng Sinh, với tâm thức nhìn nhận rằng Chúa Giêsu đã đến thế giới với tình trạng tuyệt đối dễ bị tổn thương và ngay lập tức đã bị đe dọa. Sống dưới nguy cơ bị giết, các thầy đã không chấp nhận trang bị vũ khí hay để quân đội bảo vệ, tin rằng lời khấn của mình và việc có súng trong tu viện, là không hợp nhau. Hơn nữa, sau lần đầu tiên gặp những tay súng khủng bố, đan viện phụ Christian de Cherge đã thêm một câu khẩu quyết vào lời cầu nguyện hằng ngày của mình. ‘Xin giải trừ con! Lạy Chúa, xin giải trừ con.’ Sống dưới nguy cơ bị tấn công, ngài lại cầu nguyện mỗi ngày xin cho mình luôn không tấc sắt trong tay, bất lực trước những vụ tấn công có thể xảy ra, như một trẻ sơ sinh, như Hài nhi Giêsu, phơi bày và bất lực trước nguy cơ bạo lực.

Nhưng, đây không phải chuyện dễ noi theo, nhất là bởi hầu hết mọi sự thời này đều đẩy chúng ta theo chiều hướng ngược lại, nghĩa là vũ trang cho mình, đối đầu với mọi mối đe dọa, súng đấu súng, phản ứng lại với bất kỳ đe dọa tiềm tàng nào bằng một sự phản kháng đầy vũ trang. Đây là thời mà chúng ta, cũng như Christian de Cherge và các đan sĩ sống dưới mối đe dọa của khủng bố và bạo lực lan tràn. Và cơn hoang tưởng của chúng ta càng tăng thêm khi báo đài hằng ngày đều cho chúng ta những hình ảnh khủng bố, đánh bom, giết người hàng loạt, bạo lực đường phố và bạo hành gia đình. Chúng ta sống trong thời đại bạo lực. Cũng dễ hiểu khi muốn vũ trang cho mình?

Vậy còn không chịu trang bị vũ khí thì thực tế thế nào đây? Cầu nguyện xin giải trừ vũ khí của mình thì thực tế thế nào đây?

Kitô giáo luôn luôn bảo vệ sự tự vệ chính đáng và chiến tranh chính đáng. Hơn nữa, không một xã hội nghiêm túc nào lại quyết định xóa bỏ lực lượng cảnh sát và quân đội, và những thứ súng ông vũ khí khác. Thật sự, phải nói rằng những người theo chủ nghĩa hòa bình triệt để, có thể sống như thế là bởi họ đã được cảnh sát và binh lính, những người cầm súng bảo vệ họ rồi. Không quá khi nói rằng, nếu không có súng và vũ khí bảo vệ chúng ta, thì chúng ta bất lực trước những tội phạm và khủng bố tâm thần trong thế giới này. Nhưng, cũng cần có một cách nhìn khác.

Vẫn có một cách để giải trừ vũ khí cho mình. Cố hồng y Francis George của Chicago đã lập luận thế này: Chúng ta cần chủ nghĩa hòa bình cũng như cần độc thân khiết tịnh tu sĩ vậy, nghĩa là chúng ta cần những con người cảm hứng từ Tin Mừng để làm chứng đặc biệt cho những gì tối hậu mà Tin Mừng nhắm đến, cụ thể là một nơi vượt trên sức tưởng tượng của chúng ta, một thiên đàng trong đó chúng ta liên kết với nhau trong sự mật thiết không thể tưởng tượng nổi và là nơi không có vũ khí. Trong thiên đàng, chúng ta tuyệt đối không đề phòng nhau. Không có súng trên thiên đàng.

Hiện thực này đã thành hình trong trẻ bé Giêsu, bất lực và dễ bị tổn thương, và còn bị đe dọa.

Nó cũng có trong chân dung cc các nhà theo chủ nghĩa hòa bình thời hiện đại, từ Dorothy Day đến Martin Luther King, từ Mẹ Têrêxa đến Christian de Cherge, từ Daniel Berrigan đến Larry Rosbaugh, chúng ta có được chứng tá của những con người cảm hứng từ Tin Mừng này, những con người khi đối diện với mối đe dọa và bạo lực, đã chọn mạo hiểm mạng sống mình hơn là cầm súng lên. Thời đại này đang đặt chúng ta vào một chọn lựa. Trang bị vũ khí cho mình hay không?

Bởi những kẻ tìm giết Hài nhi vẫn quanh đây, những người hoang tưởng như vua Herode, giết hại bừa bãi bởi nỗi sợ rằng trẻ bé một ngày nào đó sẽ đe dọa ngai vàng và những đặc quyền đặc lợi của mình.

Đấu tranh để yêu thương người thân cận

‘Thói thờ ngẫu tượng nguy hại nhất, không phải là con bò vàng, mà là sự thù hằn với người khác.’ Nhà nhân học trứ danh, René Girard, đã viết những dòng này, và sự thật của nó thật không dễ chấp nhận. Hầu hết chúng ta tin rằng mình trưởng thành và quảng đại, rằng chúng ta yêu thương người thân cận và không thù hằn với người khác. Nhưng thật thế sao?

Thành thật hơn, hay chính xác hơn, trong những lúc khiêm nhượng nhìn nhận nhất, tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta phải thừa nhận mình đã không yêu thương người khác như Chúa Giêsu muốn. Chúng ta không quay má kia cho người ta vả. Chúng ta không thực sự yêu thương kẻ đối địch mình. Chúng ta không cầu chúc cho những người gây hại mình. Chúng ta không chúc lành cho những người nguyền rủa mình. Và chúng ta không thật sự tha thứ cho những ai giết hại người thân yêu của mình. Chúng ta là những con người tử tế có lòng tốt, nhưng là những con người phải viện đến thiên đàng để bào chữa về cảm giác của mình khi đối diện với bất kỳ ai đối chọi với chúng ta. Chúng ta có thể công tâm, có thể công bằng, nhưng không yêu thương theo cách Chúa Giêsu muốn, nghĩa là yêu thương cả người yêu thương và người thù ghét chúng ta. Chúng ta vẫn đấu tranh, và hầu hết là vô hiệu, để có thể cầu chúc tốt đẹp cho những người đối nghịch mình.

Nhưng hầu hết chúng ta thích tin rằng bản thân mình tốt đẹp và sự đấu tranh này hầu như không phải là việc của mình. Chúng ta có khuynh hướng cảm thấy mình là người yêu thương và tha thứ, bởi về căn bản, chúng ta có thiện hướng, chân thành và có thể tin tưởng cũng như nói lên những điều tốt đẹp, nhưng có một phần khác trong chúng ta không cao thượng như thế đâu. Linh mục Dòng Tên người Ireland, Michael Paul Gallagher, đã chỉ ra điều này trong quyển Thêm một thời gian nữa (In Extra Time): ‘Đúng là bạn không ghét ai cả, nhưng bạn có thể đờ người ra vì những chuyện tiêu cực hằng ngày. Những định kiến nhỏ và phán xét hấp tấp, có thể gây nên tâm trạng chiến tranh âm ỉ trong lòng chúng ta. Và những viên đạn vô hình cứ bay qua hàng rào.’ Yêu thương người khác như chính mình, là đỉnh núi không thể chinh phục với hầu hết chúng ta.

Vậy chúng ta sẽ ra sao? Sống với bản án chung thân trong sự tầm thường và giả hình sao? Chúng ta cứ tuyên bố là yêu thương địch thù nhưng lại không làm vậy sao? Làm sao chúng ta tự nhận là Kitô hữu, nếu như khi thành thật với bản thân, chúng ta phải thừa nhận rằng mình không theo được tiêu chuẩn môn đệ Kitô, cụ thể là yêu thương và tha thứ cho kẻ địch thù?

Có lẽ chúng ta không xấu như chúng ta nghĩ. Nếu vẫn còn đấu tranh, là chúng ta vẫn lành mạnh.Khi tạo thành chúng ta, Thiên Chúa đặt vào trong con người sự phức tạp, yếu đuối, và cho chúng ta lớn lên trong một tình yêu thâm sâu qua hành trình cuộc đời. Cuộc sống chúng ta nhìn bề ngoài có vẻ là giả hình, nhưng với cái nhìn nhẫn nại và thông hiểu hơn, thực sự đó lại là cuộc hành hương.

Thánh Tôma Aquinô khi nói về sự hiệp nhất và mật thiết, đã làm rõ cách phân biệt quan trọng này. Ngài phân biệt giữa hiệp nhất với điều gì đó hay ai đó trong hiện thực với trong khao khát. Trong trường hợp chúng ta đang bàn đến, câu này có nghĩa là có nhiều điều chúng ta chỉ đạt được qua khao khát hơn là qua thực tế. Chúng ta có thể tin tưởng vào những chuyện đúng đắn và muốn điều đúng đắn, nhưng lại không thể làm thế. Một ví dụ, là cái mà giáo lý cũ gọi là ‘ăn năn không trọn’ nghĩa là nếu bạn đã làm chuyện sai trái mà bạn biết là sai và bạn nên hối lỗi vì chuyện này, nhưng lại không thể thực sự thấy hối lỗi, rồi bạn lại ước sao bạn có thể hối lỗi, đây chính là sự ăn năn, dù không trọn, nhưng đã đủ. Đây là điều tốt nhất bạn có thể làm, và nó cho bạn một mức độ khao khát nhất định, dù không hoàn hảo, nhưng có thì hơn không.

Và ‘sự không hoàn hảo’ đó không chỉ đơn giản là cho chúng ta một tiêu chuấn ăn năn tối thiểu cần có để được tha thứ. Quan trọng hơn, nó chấp nhận rằng người mà chúng ta đã làm tổn thương, có một phẩm giá chính đáng.

Suy ngẫm về sự bất lực của chúng ta trong việc yêu thương người thân cận, Marilynne Robinson cho rằng, ngay cả khi chúng ta không cách nào sống được những gì Chúa Giêsu muốn, nhưng nếu chúng ta có nỗ lực đấu tranh, thì đó vẫn là đức hạnh. Bà lập luận thế này: Freud nói rằng chúng ta không thể yêu thương người thân cận như chính mình, và chắc chắn đây là sự thật. Nhưng bởi chúng ta chấp nhận thực tế ẩn sau giới răn này, giới răn xác quyết rằng những người khác cũng xứng đáng được yêu thương như chúng ta vậy, cho nên khi nỗ lực để sống theo lời Chúa Giêsu dạy, là chúng ta nhìn nhận rằng người khác cũng xứng đáng được yêu thương như chúng ta vậy, dù cho ngay lúc này chúng ta chưa đủ mạnh để chứng tỏ điều này.

Và điểm mấu chốt là: Khi tiếp tục đấu tranh để sống theo giới răn yêu thương của Chúa Giêsu, dù cho không thành nhưng vẫn đấu tranh, là chúng ta đang nhìn nhận phẩm giá cố hữu trong những người đối địch mình, nhìn nhận họ xứng đáng được yêu thương, và nhìn nhận sự bất toàn của mình. Và theo thánh Tôma Aquinô, sự ‘bất toàn’ đó là một khởi đầu.

Nhạy cảm và Đau khổ

Daniel Berrigan từng viết một câu bất hủ: Trước khi thật tâm theo Chúa Giêsu, trước hết bạn hãy xem thử mình, khi nhìn vào bên trong, sẽ tốt đẹp được đến đâu!

Khi nói thế là ông đang cố nêu bật một chuyện thường bị hiểu lầm sâu sắc từ mọi khía cạnh, cụ thể là tại sao và thế nào mà một tôn giáo đích thực lại đem đau khổ đến cuộc đời chúng ta.

Một mặt, chuyện quá phổ biến là nghĩ rằng nếu bạn đón nhận Thiên Chúa vào đời mình, thì bạn sẽ có đường đi dễ dàng hơn trong đời, Chúa sẽ cho bạn tránh khỏi nhiều bệnh tật và đau khổ thường tác hại lên người khác. Ngược lại, nhiều người lại nuôi cảm giác, thậm chí là một niềm tin rằng Thiên Chúa muốn cho chúng ta đau khổ, rằng có một mối ràng buộc cố hữu giữa đau khổ và chiều sâu, rằng càng đau đớn thì càng có tinh thần thiêng liêng. Tất nhiên, có phần nào sự thật thâm sâu trong đó, chiều sâu thiêng liêng liên kết bất phân ly với đau khổ, và Thập giá Chúa Kitô đã biểu lộ điều này, cũng như kinh thánh nói rằng Thiên Chúa thanh luyện những người đến gần Ngài. Nhưng có vô số cách hiểu lầm điều này, Chúa Giêsu nói rằng chúng ta phải mang lấy thập giá hằng ngày mà theo Ngài, và rằng theo Ngài nghĩa là chấp nhận một đau khổ đặc biệt. Nhưng chúng ta sẽ hỏi: Tại sao lại thế? Tại sao khi chúng ta chú tâm vào Chúa Giêsu thì đau khổ đi sâu vào cuộc đời chúng ta hơn? Và điều ngược lại có đúng hay không? Một tôn giáo thật đi ngược lại với bản tính thịnh vượng của chúng ta hay sao? Chẳng lẽ đau khổ là thâm sâu còn vui mừng là nông cạn? Và, chuyện này nói lên điều gì về Thiên Chúa? Thiên Chúa ái khổ ư? Tại sao Thiên Chúa muốn và đòi chúng ta phải đau khổ? Tại sao nhất thiết đường hướng đau đớn phải đi kèm với việc thật tâm theo Chúa?

Đau đớn sẽ đổ sâu trong chúng ta hơn khi chúng ta thật tâm theo Chúa, không phải bởi Thiên Chúa muốn thế hay bởi đau đớn thì có phúc hơn vui mừng. Không phải như vậy. Đau khổ và đau đớn không phải là điều Chúa muốn, chúng là những thứ tiêu cực, bị xóa sổ trên thiên đàng. Nhưng, khi chúng ta thật tâm theo Chúa, chúng sẽ đổ tràn sâu hơn trong đời chúng ta, là bởi khi thật sự mở ra với Thiên Chúa, chúng ta sẽ không cố níu giữ sự bảo vệ sai lầm cho bản thân mình, và như thế sẽ nhạy cảm hơn để cuộc đời đổ đầy vào chúng ta cách tự do và sâu sắc hơn. Trong sự nhạy cảm đó, chúng ta sẽ thôi vô thức vặn vẹo mọi thứ để nhằm giữ cho mình được an toàn và không phải đau đớn. Nói đơn giản, chúng ta sẽ cảm nghiệm một đau đớn sâu sắc hơn trong đời, bởi chúng ta nhạy cảm hơn, sẽ cảm nghiệm mọi sự sâu sắc hơn.

Ngược lại cũng đúng. Nếu ai đó, quá vô cảm, trơ như đá, thì sự vô cảm của người đó sẽ khiến họ miễn nhiễm và những đau khổ và đau đớn của người khác hiếm khi làm phiền họ. Tất nhiên, người đó cũng sẽ không cảm nghiệm được ý nghĩa và niềm vui một cách thật sâu sắc, và đó là cái giá của sự vô cảm.

Vài năm trước, Michael Buckley, linh mục Dòng Tên ở California, đã giảng trong thánh lễ đầu tay của một linh mục. Trong bài giảng, cha Buckley không hỏi tân linh mục rằng liệu cha có đủ mạnh để làm linh mục không, mà lại hỏi liệu cha có đủ yếu để làm linh mục hay không. Khi chỉ ra nghịch lý này, cha Buckley giúp trả lời câu hỏi: tại sao đến gần với Chúa hơn lại cũng có nghĩa là đến gần với đau khổ hơn. ‘Liệu người này có đủ bất lực để không thể gạt đi những đau khổ lớn trong đời mình, để sống với một sự thất bại nhất định, để cảm nhận thế nào là một con người bình thường? Liệu cuộc đời của cha có những bối rối, nghi hoặc bản thân, hay dằn vặt trong lòng? Liệu cha có phải đương đầu với sợ hãi, có những lúc nản lòng, hay chấp nhận hạ bớt những kỳ vọng của mình?’

Rồi cha Buckley tiếp tục so sánh giữa Socrates và Chúa Giêsu, nêu bật rằng Socrates bằng nhiều cách kêu gọi muốn có con người mạnh mẽ hơn. Như Chúa Giêsu, Socrates cũng bị kết án tử hình một cách bất công, nhưng không như Chúa Giêsu, ông không bao giờ sợ hãi và run rẩy hay ‘đổ mồ hôi máu’ trước cái chết của mình. Ông uống thuốc độc và bình thản ra đi. Còn như chúng ta biết, Chúa Giêsu không trải qua cái chết với sự bình thản như vậy.

Một phán xét hời hợt, sẽ nói rằng phản ứng khác nhau là bởi cách chết khác nhau, đóng đinh thập giá thì kinh khủng hơn uống thuốc độc nhiều. Nhưng, dù lập luận này có phần đúng, nhưng không phải là nguyên do thật sự. Tại sao Chúa Giêsu đấu tranh vật lộn hơn Socrates trong cái chết? Bởi sự nhạy cảm vô cùng của Ngài. Chúa Giêsu đơn giản là ít khả năng hơn trong việc bảo vệ khỏi nỗi đau. Ngài cảm nhận mọi sự thật sâu sắc và hệ quả là dễ mẫn cảm với đau đớn thể xác và tinh thần, nhạy cảm hơn với sự chối bỏ và khinh dễ của con người, xúc động hơn trước tình yêu và thù ghét.

Socrates là con người vĩ đại và anh hùng, nhưng không như Chúa Giêsu đã khóc thành Giêrusalem, ông không bao giờ khóc thương Athens, không bao giờ biểu lộ nỗi buồn sầu và đau đớn khi bị bạn bè phản bội. Ông mạnh mẽ, tự chủ, bình thản, và không bao giờ xúc động quá mức. Còn Chúa Giêsu, lại yếu hơn trong việc bảo vệ mình khỏi những đau đớn, và hệ quả là, đôi khi Ngài xúc động tột cùng.

Thiêng liêng bình thường

Ngòi bút thiêng liêng, Tom Stella, đã kể câu chuyện về ba tu sĩ cầu nguyện trong nhà nguyện tu viện. Tu sĩ thứ nhất hình dung mình đang được các thiên thần đưa lên thiên đàng. Tu sĩ thứ hai hình dung mình đã ở trên thiên đàng, cùng với thiên thần và các thánh hát ca chúc tụng Chúa. Tu sĩ thứ ba không thể tập trung vào bất kỳ suy nghĩ thánh thiện nào, mà chỉ có thể nghĩ về chiếc bánh hamburger khổng lồ vừa ăn trước khi vào nhà nguyện. Đêm đó, khi ma quỷ viết bản báo cáo trong ngày, hắn viết: ‘Hôm nay, ta cố gắng cám dỗ ba tu sĩ, nhưng chỉ thành công với hai người.’

Chiều sâu của câu chuyện này còn hơn những gì bạn thoáng thấy. Tôi ước giá vài năm về trước tôi hiểu được cả vai trò của các thiên thần lẫn chiếc hamburger trong cuộc hành trình thiêng liêng của chúng ta. Bạn thấy đó, đã nhiều năm qua, tôi chỉ xác định cuộc đi tìm con đường thiêng liêng bằng những suy tư, cầu nguyện, và hành động theo lòng đạo. Nếu tôi ở trong nhà thờ là tôi hướng về sự thiêng liêng, còn nếu tôi ăn một bữa ngon với bạn bè, tôi chỉ đơn thuần là con người. Nếu tôi cầu nguyện và có thể tập trung suy nghĩ và cảm nhận về một sự gì đó thánh thiện, thì tôi cảm thấy như mình đang cầu nguyện rất sốt sắng đạo hạnh, còn nếu như tôi bị phân tâm, mệt mỏi, hay quá buồn ngủ không thể tập trung được, thì hẳn giờ cầu nguyện của tôi chẳng ra gì. Khi tôi làm đúng những chuyện đạo hạnh hay có những quyết định mang tính đạo đức rõ ràng, thì tôi thấy mình đạo hạnh, còn những chuyện khác với tôi chỉ đơn thuần là chuyện của con người.

Dù tôi không quá tiêu cực về những chuyện đời này, nhưng những chuyện tốt đẹp của tạo hóa (của sự sống, của gia đình và tình thân, của thân xác, của tính dục, của thức ăn thức uống) lại không bao giờ được xem là thiêng liêng, đạo hạnh. Trong trí tôi, có một sự phân biệt rõ ràng giữa trời và đất, thiêng liêng và phàm tục, thần thiêng và con người, giữa linh thiêng và thế gian. Điều này đặc biệt đúng với những khía cạnh trần thế hơn của cuộc đời, cụ thể là thức ăn thức uống, tình dục, và những thú vui thể xác. Xét tốt nhất, đây là những thứ làm xao nhãng chuyện thiêng liêng, còn xét tệ nhất, chúng là những cám dỗ ngáng chân tôi, ngăn cản tôi trên đường thiêng liêng.

Nhưng, khi vấp chân đủ, cuối cùng chúng ta học được rằng: Tôi đã cố gắng sống như hai tu sĩ đầu, với tâm trí hướng về những sự thiêng liêng, nhưng tu sĩ thứ ba lại ngáng chân tôi. Khi tôi ở trong nhà thờ hay lúc cầu nguyện đang tập trung tâm trí và tâm hồ hướng về những chuyện thiêng liêng, tôi lại không ngừng thấy mình bị công kích bởi những thứ mà tôi xem là chẳng liên quan gì đến nhà thờ, như nhớ lại những buổi hội hè với bạn bè, những lo lắng về mối quan hệ, lo lắng về những công việc còn dở dang, suy nghĩ về đội bóng yêu thích, nghĩ về những bữa ăn thịnh soạn, về thịt bò và rượu, mà ngoại đạo nhất là nghĩ về những khoái lạc tình dục dường như quá sức đối chọi với những gì là thiêng liêng.

Tôi phải mất nhiều năm và nhờ nhiều linh hướng để học được rằng nhiều căng thẳng này chính là xác nhận một sự hiểu biết nghèo nàn và sai lầm về sự thiêng liêng Kitô và về những động năng thực sự của cầu nguyện.

Hiểu biết sai lầm thứ nhất là hiểu nhầm về ý định và kế hoạch của Thiên Chúa trong chúng ta. Thiên Chúa không dựng nên bản tính của chúng ta theo theo kiểu một đường thẳng băng, nghĩa là chúng ta mê nhục dục và quá bám rễ vào những sự đời này, rồi đòi chúng ta phải sống như thể không phải là xác phàm, như thể những chuyện tốt đẹp của đời này chỉ là giả mạo là chướng ngại cho ơn cứu độ, là chống lại việc dự phần vào ơn cứu độ. Hơn nữa, sự nhập thể, mầu nhiệm Thiên Chúa thành xác phàm, dạy cho tôi rành rành rằng chúng ta tìm thấy ơn cứu độ không phải chỉ bằng cách thoát khỏi thân xác và những sự đời này, nhưng bằng cách đi vào chúng sao cho đúng đắn hơn và thâm sâu hơn. Chúa Giêsu khẳng định thân xác sẽ sống lại, chứ không phải là linh hồn thoát ly.

Hiểu nhầm thứ hai là về các động năng của cầu nguyện. Trong những giai đoạn ban đầu, cầu nguyện là tập trung vào những gì thiêng liêng, vào cuộc đối thoại với Chúa, vào việc cố gắng trong một khoảng thời gian, gạt qua một bên những sự thuộc đời này để đi vào vùng thiêng liêng. Nhưng đây là giai đoạn đầu của cầu nguyện. Đến tận cùng, khi cầu nguyện được đào sâu và trưởng thành, thì những chuyện tưởng như quan trọng bắt đầu diễn ra ẩn dưới vẻ bên ngoài, và ngồi trong nhà nguyện với Chúa không phải như ngồi lại với một ai đó mà bạn thường ngồi nói chuyện. Nếu bạn gặp ai đó mỗi ngày, thì không phải ngày nào bạn cũng có những cuộc nói chuyện thâm sâu và hăng hái, hầu như bạn sẽ chỉ nói về những chuyện trong ngày, những bận tâm cho gia đình, thời tiết, thể thao, chính trị, những chương trình tivi mới nhất, và đủ thứ khác, và rồi thỉnh thoảng bạn còn nhìn đồng hồ nữa. Mối liên hệ của chúng ta với Chúa cũng như thế. Nếu bạn cầu nguyện đều đặn mỗi ngày, bạn không buộc phải dằn vặt về chuyện phải tập trung và giữ cuộc nói chuyện với Chúa chỉ hướng về những gì thâm sâu và thiêng liêng. Bạn chỉ cần ở đó, thoải mái vì được ở với một người bạn. Những điều thâm sâu diễn ra phía dưới bề mặt.

Chết như Chúa Giêsu – Đức tin và Nỗi sợ

Một người lính thường chết mà không sợ hãi, còn Chúa Giêsu chết trong sợ hãi. Iris Murdoch đã viết những dòng này và sự thật này có thể khiến bạn thấy khó chịu. Tại sao lại thế? Nếu ai đó chết với đức tin sâu đậm, không phải người đó chết với một sự điềm tĩnh và tin tưởng nhất định nhờ đức tin hay sao? Chẳng phải ngược lại cũng hợp lý, chẳng phải một người chết mà không có đức tin thì sẽ chết với tâm hồn sợ hãi hơn sao? Và có lẽ bối rối nhất là: Tại sao Chúa Giêsu, mẫu mực của đức tin, lại chết trong sợ hãi, kêu lên trong đau đớn như thể mất đức tin?

Vấn đề nằm ở trí hiểu của chúng ta. Có lúc chúng ta có thể rất ngây thơ về đức tin và động lực của đức tin, nghĩ rằng tin vào Chúa là tấm vé cho sự bình an và hân hoan đời này. Nhưng đức tin không phải là con đường đến với sự êm đềm dễ dãi, cũng không bảo đảm rằng chúng ta sẽ ra khỏi cuộc đời này trong êm đềm. Và điều này có thể làm chúng ta bối rối lung lay. Một ví dụ là:

Ngòi bút thiêng liêng trứ danh, Henri Nouwen, trong quyển sách ‘Trong Ký ức’ đã chia sẻ một câu chuyện quay quanh cái chết của mẹ ngài. Cha Nouwen, một người gốc Hà Lan, đang dạy học ở Hoa Kỳ, thì được tin mẹ ngài đang hấp hối ở quê nhà. Trên chuyến bay từ New York về Amsterdam, ngài suy ngẫm về đức tin và đức hạnh của mẹ mình, và kết luận bà là một phụ nữ Kitô nhất mà ngài từng biết. Với suy nghĩ đầy khuây khỏa đó, ngài hình dung mẹ sẽ chết thế nào, những giờ cuối đời của bà sẽ đầy đức tin và êm đềm, và đức tin êm đềm đó sẽ là lời chứng cuối cùng của bà cho gia đình.

Nhưng, sự thật không phải vậy. Không những không êm đềm không sợ hãi, những giờ cuối cùng của mẹ ngài dường như bị kìm kẹp trong một bóng tối không giải thích được, một sự bất an nội tâm sâu sắc, và một đều gì đó có vẻ như đối lập với đức tin. Điều này khiến cha Nouwen quá bối rối. Tại sao lại thế? Tại sao mẹ ngài lại bất an trong khi cả cuộc đời mẹ là người với đức tin quá mạnh mẽ?

Ban đầu điều này khiến ngài hoang mang sâu sắc, cho đến khi một nhận thức sâu sắc hơn về đức tin mở ra. Mẹ ngài là một phụ nữ đã cầu nguyện mỗi ngày, xin Chúa ban ơn để bà sống như Chúa đã sống, và chết như Chúa đã chết. Vâng, có vẻ như lời cầu nguyện của bà đã được lắng nghe. Bà đã chết như Chúa Giêsu. Dù có đức tin vững như đá, nhưng Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi máu khi nghĩ đến cái chết của mình, và trên thập giá, Ngài đã kêu lên thống thiết, cảm giác rằng Chúa Cha đã bỏ mình. Nói tóm lại, lời cầu nguyện của bà đã được nhậm lời. Bà đã xin Chúa Giêsu cho bà chết như Ngài đã chết, và với sự mở lòng đón nhận của bà, lời nguyện xin của bà đã được nhậm lời, dù cho gia và bạn bè cảm thấy thật bối rối vì họ tưởng mọi chuyện sẽ khác thế kia. Đây cũng là cách mà Chúa Giêsu đã chết, và cũng là những gì mà gia đình và các môn đệ của Chúa cảm thấy. Đây không phải là những gì mà người ta tưởng tượng về cái chết của một con người đầy đức tin.

Nhưng một nhận thức thâm sâu hơn về đức tin lại đảo ngược cái lập luận ấy của con người. Nhìn vào cái chết của mẹ cha Henri Nouwen, câu hỏi đặt ra không phải là, làm sao chuyện này lại xảy đến với bà như vậy? Vấn đề nằm ở chỗ khác kia. Tại sao điềy này lại không xảy ra với bà chứ? Đây là những gì bà đã cầu nguyện xin, và là một đấu sĩ thiêng liêng xin Chúa gởi đến cho mình thử thách cuối cùng, vậy tại sao Chúa lại không ban cho bà cơ chứ?

Điều này cũng tương tự như những hoài nghi đau khổ của Mẹ Teresa. Khi nhật ký của mẹ được xuất bản và cho thấy đêm tối linh hồn của mẹ, nhiều người đã bị sốc mà hỏi nhau: Làm sao chuyện này lại xảy ra với mẹ chứ? Tôi tin rằng, một nhận thức thâm sâu hơn về đức tin sẽ hỏi khác đi: Tại sao điều này lại không xảy đến với mẹ chứ, bởi mẹ có đức tin và hoàn toàn mong mỏi được đi vào những cảm nghiệm của Chúa Giêsu một cách trọn vẹn?

Nhưng, vẫn có những phức tạp khác. Có lúc, một người có đức tin sâu sắc lại không chết như thế, mà ra đi trong êm đềm không sợ hãi, được đức tin nâng đỡ như chiếc phà che chở trong cơn bão. Tại sao điều này lại xảy đến với một số người, số khác thì không? Chúng ta không có câu trả lời. Đức tin không đặt tất cả chúng ta vào cùng một băng chuyền. Có lúc những người với đức tin sâu sắc, chết như Chúa Giêsu đã chết, trong bóng tối và sợ hãi, và có lúc người có đức tin sâu sắc chết trong bình an và êm đềm.

Elizabeth Kubler-Ross cho rằng mỗi một người chúng ta đi qua năm giai đoạn rõ ràng của hấp hối, cụ thể là, chối bỏ, giận dữ, thương lượng, khủng hoảng, và chấp nhận. Kathleen Dowling Singh lại cho rằng những gì mà Kubler-Ross gọi là sự chấp nhận, cần có một sắc thái sâu hơn nữa. Theo Singh, phần gay go nhất của sự chấp nhận này, là một sự quy phục hoàn toàn, và trước sự quy phục đó, một số người sẽ trải qua bóng tối nội tâm thâm sâu mà người ngoài nhìn vào sẽ thấy như sự tuyệt vọng. Chỉ sau khi đó, họ mới cảm nghiệm niềm vui và hân hoan.

Tất cả chúng ta đều cần học bài học mà cha Nouwen đã học được bên giường hấp hối của mẹ mình. Cũng như đức mến, đức tin có nhiều thể thức, và có lẽ không thể phán định đơn giản từ bên ngoài.

Người trẻ ngày nay

Một chủng sinh tôi mới quen biết, kể cho tôi nghe về hôm thầy dự một buổi tiệc tối thứ sáu ở trường đại học địa phương. Nhóm này gồm những thanh niên đại học trẻ tuổi, và anh bạn của tôi giới thiệu mình là một chủng sinh, một người nỗ lực để trở thành linh mục và khấn hứa sống đời độc thân khiết tịnh. Khi nghe đến độc thân khiết tịnh, một số cười khúc khích, số khác giễu cợt, và nhiều lời đùa rằng anh sẽ phải bỏ mất biết bao nhiêu thứ trong đời. Thật là ngây thơ, tội nghiệp! Ban đầu, trong nhóm 8x9x này, niềm tin lòng đạo và những gì dẫn dắt anh chủng sinh muốn sống cuộc đời của mình, được xem là một chuyện vừa buồn cười vừa tội nghiệp. Nhưng trước khi tàn tiệc, một vài cô gái trẻ đến, khóc trên vai anh và chia sẻ về sự thất vọng với việc bạn trai mình không thể hoàn toàn tận tâm trong mối quan hệ.

Điều này có thể cho chúng ta một mô tả về người trẻ trong thế giới thế tục hóa thời nay của chúng ta. Họ thể hiện cái gọi là tính cách lưỡng cực về đức tin, giáo hội, gia đình, luân lý tình dục, và nhiều đều khác quan trọng với họ.

Họ cho chúng ta một hình ảnh mâu thuẫn. Một mặt, nhìn chung, họ không đi lễ, ít nhất là không đều đặn, họ không giữ đạo đức Kitô giáo về tình dục, dường như lãnh đạm và có khi thù địch với nhiều truyền thống quý báu trong đạo, và họ có thể thiển can, không thể tin nổi khi nghiện ngập và bị nô lệ hóa trong luồng thời thượng của thế giới giải trí, thời trang và công nghệ thông tin. Nhìn từ phương diện này, đám trẻ của chúng ta có vẻ không có đạo, suy đồi đạo đức, và vùi đầu vào những thứ hời hợt của các show truyền hình và trò chơi điện tử. Nghiêm trọng hơn nữa, các em còn có thể có vẻ thiển cận, tham lam, hư hỏng, và tư lợi quá đáng. Thật là một viễn cảnh không sáng sủa gì trước mắt chúng ta.

Nhưng không hoàn toàn chính xác như vậy. Trong hầu hết trường hợp, phía dưới bề mặt, các bạn sẽ thấy một con người dễ mến, chân thành, dịu dàng, thiện tâm, tử tế, đạo đức, quảng đại và tìm kiếm những gì đúng đắn (mà không có nhiều hỗ trợ từ một nền văn hóa thiếu chỉ hướng đạo đức rõ ràng và đầy nguy cơ với quá nhiều chọn lựa). Tin tốt là, hầu hết người trẻ,với những khao khát thật nhất trong mình, hoàn toàn không xa lạ với Thiên Chúa, đức tin, giáo hội và gia đình. Xét chung, người trẻ ngày nay vẫn là người tốt và muốn điều đúng đắn.

Nhưng, không phải lúc nào cũng rõ ràng như thế. Có khi vẻ ngoài dường như lấn át chiều sâu của người trẻ đến nỗi con người thật của các em và những gì các em muốn không thật sự rõ ràng. Chúng ta thấy vẻ ngoài, và qua đó, thấy người trẻ có vẻ tư lợi hơn là quảng đại, hời hợt hơn là sâu sắc, bừa bãi hơn là nhạy bén về đạo đức, và lãnh đạm với đạo hơn là đầy đức tin. Người trẻ cũng thể hiện một sự tự phụ thiển cận, cho rằng mình khó mà bị tổn thương và không cần bất kỳ ai khác hướng dẫn.

Mà chính vì thế, người trẻ đang trong tình trạng lưỡng cực. Hầu như, các em muốn những điều đúng đắn, nhưng quá thường xuyên vì thiếu sự hướng dẫn thực sự và vì nền văn hóa bao quanh, mà người trẻ không đưa ra những chọn lựa đem lại những gì đúng với các khao khát sâu thẳm hơn trong lòng mình. Ví dụ hàng đầu là về tình dục. Các nghiên cứu trên giới trẻ 8x và 9x cho thấy hầu hết các em mong muốn cuối cùng có được một cuộc hôn nhân chung thủy một vợ một chồng. Vấn đề là các em cũng tin rằng trước hết mình có thể sống mười hay mười lăm năm tình dục tự thoải mái, mà không chấp nhận rằng mười hay mười lăm năm tình dục không phải là một chuẩn bị tốt cho sự chung thủy nâng đỡ hôn nhân và gia đình. Trong chuyện này, cũng như nhiều chuyện khác, các em bị kẹt giữa đặc nét văn hóa và sự an toàn mỏng manh của mình. Văn hóa cứ xướng lên một đặc nét nhất định, giải phóng khỏi những tỉ mẩn của quá khứ, hoàn toàn tự mãn xem thường bất kỳ điều gì chất vấn nó. Nhưng nhiều sự tự mãn như thế thực sự đang sa vào bóng tối. Sâu bên trong, người trẻ của chúng ta khá dao động, và may thay, chính điều này giữ các em yếu đuối và dễ thương.

Có lẽ Louis Dupre, triết gia đã dạy tôi vài năm ở Yale, trình bày rõ nhất điều này khi ông nói rằng người trẻ ngày nay không xấu, chỉ là chưa hoàn thiện. Đây là một thấu suốt đơn giản mà nhiều ý nghĩa. Có người có thể rất tuyệt vời và dễ thương, nhưng vẫn thiếu chính chắn, chưa trưởng thành. Hơn nữa, nếu bạn đủ trẻ, như thế bạn có thể rất hấp dẫn, rất ngầu. Và ngược lại, thường cũng như thế. Nhiều người trưởng thành chúng ta, bị giày vò vì tính lưỡng cực của chính mình, khi chúng ta chính chắn trưởng thành nhưng lại không tuyệt vời và dễ thương. Điều này gây nên những song đề nghịch lý.

Vậy người trẻ ngày nay thực sự là thế nào? Là con người luôn luôn gói kín trong thế giới của riêng mình, bị ám ảnh về ngoại hình, ham mê đến nghiện truyền thông xã hội, sống ngoài hôn nhân, tự mãn thiển cận về đạo đức phi truyền thống và quan điểm tôn giáo của mình ư? Tôi tin rằng, đó chỉ là mặt bề ngoài. Người trẻ ngày nay thực sự đầy nồng hậu, thiện tâm, quảng đại và mong đợi có ý thức một tình yêu và kết ước, cũng như mong đợi trong vô thức được Thiên Chúa ôm vào lòng.

Mười Điều răn của Lòng thương xót

Trong số Mười Điều răn, có một điều bắt đầu bằng chữ ‘Giữ’ Giữ ngày chúa nhật. Nó nhắc cho chúng ta nhớ về một điều mình đã biết. Có các giới răn của lòng thương xót ghi sẵn trong DNA của chúng ta. Chúng ta đã biết, nhưng cần phải nhớ rõ ràng hơn. Đó là gì?

Mười Điều răn của Lòng thương xót

1. Nhớ rằng lòng thương xót nằm sâu thẳm nhất trong trái tim Thiên Chúa.

Hiếm có điều nào thể hiện yếu tính Thiên Chúa hơn là lòng thương xót. Lòng thương xót là yếu tính của Thiên Chúa. Kinh thánh dùng những từ ngữ như trìu mến yêu thương và cảm thương để cố gắng định nghĩa lòng thương xót Chúa, nhưng khái niệm kinh thánh trọng tâm, nắm bắt từ khái niệm hesed của Do Thái, bao hàm một mối quan hệ yêu thương, ôm lấy và tha thứ ngay cả khi và nhất là khi chúng ta không thể vươn đến hay xứng đáng với những gì Chúa ban cho chúng ta.

2. Nhớ rằng lòng thương xót là yếu tính của mọi tôn giáo.

Bên trong tôn giáo và linh đạo, bên trong mọi đức tin, có ba điều cần phải nằm ở vị trí trọng tâm, là hành đạo đúng hợp, vươn đến người nghèo, và lòng cảm thương. Xét tận cùng, chúng không đối nghịch nhau, nhưng là những mảnh bổ trợ của một lòng đạo toàn diện. Nhưng việc hành đạo và vươn đến người nghèo là sự mở rộng của tình yêu Thiên Chúa chứ không phải của bản ngã con người, chúng cần được căn cứ trên cảm thương, trên lòng thương xót. Sâu thẳm bên trong mọi tôn giáo là một lời mời: Hãy động lòng thương, hãy thương xót như Thiên Chúa thương xót.

3. Nhớ rằng tất cả chúng luôn mãi cần lòng thương xót.Thiên đàng sẽ nhảy mừng vì một người có tội ăn năn hoán cải hơn là vì chín mươi chín người công chính. Liệu Thiên Chúa yêu mến người có tội hơn là người công chính? Chẳng có ai là công chính. Đúng hơn là, chúng ta cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa rõ ràng hơn khi thú nhận mình là người có tội. Không một ai trong chúng ta đủ tầm. Nhưng, như thánh Phaolô đã không ngừng dạy rằng, chúng ta không cần phải đủ tầm. Đó chính là ý nghĩa của lòng thương xót. Lòng thương xót dành cho những người không xứng đáng.

4. Nhớ rằng, khi được nhận lòng thương xót, chúng ta phải thương xót người khác.

Chúng ta chỉ đón nhận và cảm kích lòng thương xót của Chúa và của người khác, khi chúng ta cũng thực hiện lòng thương xót đó với người khác. Lòng thương xót phải đổ tràn qua chúng ta. Nếu chúng ta không chuyển lòng thương xót đến với người khác, thì chúng ta sẽ trở nên nuông chiều bản thân và khắc nghiệt với người khác.

5. Nhớ rằng chỉ có thực hành lòng thương xót mới cho chúng ta tự do.

Đón nhận và trao đi lòng thương xót, là điều duy nhất giải thoát chúng ta khỏi chiều hướng bẩm tại của mình là mưu cầu bản thân, tự bào chữa cho mình và phán xét người khác. Không có gì giải thoát chúng ta khỏi bạo chúa bản ngã cho bằng thực hành lòng thương xót.

6. Nhớ rằng lòng thương xót không mâu thuẫn với công lý, nhưng là thành toàn cho công lý.

Như hồng y Walter Kasper đã nói rất khôn ngoan, ‘Lòng thương xót là một dạng nước làm mềm vải, xói mòn giáo lý và giới răn, xóa bỏ ý nghĩa trọng tâm và nền tảng của chân lý.’ Đây chính là những gì mà người Pharisiêu cáo buộc Chúa Giêsu. Lòng thương xót là khi công lý phải nhường bước.

7. Nhớ rằng chỉ có thực hành lòng thương xót mới làm cho Nước Chúa trị đến.

Chúa Giêsu hứa với chúng ta rằng người hiền lành sẽ thừa hưởng địa cầu, người nghèo sẽ được ăn uống dư dật, và mọi nước mắt sẽ được lau khô. Chuyện này chỉ có thể xảy ra khi lòng thương xót thế chỗ của tư lợi.

8. Nhớ rằng lòng thương xót cần phải được thực hành chung.

Sống lòng thương xót trong đời mình mà thôi, thì không đủ. Lòng thương xót bị đẩy ra ngoài rìa khi xã không để tâm đủ đến những con người yếu đuối hay túng quẫn, và cũng bị đẩy ra rìa khi giáo hội xét đoán. Chúng ta phải tạo một xã hội thương xót và một giáo hội thương xót. Chỉ mình lòng thương xót mới có thể cho người yếu đuối được sống.

9. Nhớ rằng lòng thương xót kêu gọi chúng ta làm việc cả mặt thiêng liêng lẫn vật chất.

Đức tin Kitô giáo đòi buộc chúng ta biểu lộ lòng thương xót song song, vừa cụ thể vừa thiêng liêng. Những việc làm lòng thương xót phần xác kinh điển là: Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho khách đậu nhà, cho kẻ rách rưới ăn mặc, viếng người bệnh, thăm kẻ tù rạc, và chôn cất kẻ chết. Những việc thương xót phần hồn kinh điển là: dạy bảo kẻ mê muội, an ủi kẻ âu lo, răn dạy kẻ có tội, tha kẻ dễ ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết. Thiên Chúa ban cho chúng ta nhiều ơn khác nhau và tất cả chúng ta đều hơn người khác ở một điểm nào đó, nhưng lòng thương xót thì được biểu lộ trong mỗi một người chúng ta, không chừa một ai.

10. Nhớ rằng cuộc sống của chúng ta là đối thoại giữa lòng thương xót của Thiên Chúa và sự yếu đuối của con người.

Điều duy nhất làm chúng ta xứng đáng là vì chúng ta bất xứng. Chúng ta luôn mãi bất toàn, dù cho có mạnh mẽ, chân thành, thiện ý đến đâu chăng nữa. Chỉ có lòng thương xót, khi đón nhận và trao đi lòng thương xót, chúng ta mới có thể ra khỏi những lo lắng, băn khoăn và vô vị cuộc đời mình. Chỉ khi biết lòng thương xót, chúng ta mới biết tri ân.
Năm 2016 này, Đức Giáo hoàng Phanxicô muốn tất cả chúng ta sống một năm của lòng thương xót, để suy ngẫm mầu nhiệm lòng thương xót là ‘giếng nước niềm vui, thanh thản và bình an.’ Đức Giáo hoàng tin rằng Lòng thương xót là bí mật để cho thế giới thấy dung nhan đáng tin của Thiên Chúa, gương mặt khả tín của Giáo hội, và để cho chúng ta bước đi vững vàng trong cuộc sống.

Xin Yên nghỉ, cha Daniel Berrigan

Trước khi chú tâm về Chúa Giêsu, trước hết bạn hãy xem thử mình, khi nhìn vào bên trong, sẽ tốt đẹp được đến đâu! Daniel Berrigan đã viết những lời này, và chúng bày tỏ rất nhiều về con người và đức tin của cha. Cha vừa qua đời hôm 1 tháng 5, thọ 94 tuổi.

Chỉ vài lời thì không thể nói hết về cha Berrigan. Cha coi thường những định nghĩa vội vã và mô tả dễ dãi. Cha vừa là một người suy nghĩ độc lập, một con người hoạt động đến ám ảnh, thậm chí là một nhân vật thiêng liêng phức tạp nhất thế hệ chúng ta. Nơi cha, chúng ta thấy cả sự mãnh liệt của thánh Gioan Tẩy Giả và sự trìu mến của Chúa Giêsu. Cha nổi danh toàn cầu là một nhà đấu tranh vì công bằng xã hội, một linh mục chống chiến tranh, một nhà thơ, một ngòi bút thiêng liêng hàng đầu, một tu sĩ Dòng Tên không theo khuôn phép, và cùng với người bạn thân Dorothy Day, cha là một trong những người chủ trương phi bạo lực hàng đầu của thế hệ chúng ta. Như Dorothy Day, cha tin rằng mọi bạo lực, dù chiếu theo hoàn cảnh có hợp lý đến thế nào đi nữa, cũng sẽ luôn nảy sinh thêm bạo lực. Với cha, bạo lực không bao giờ có thể bào chữa cho nó bằng cách nhận về mình sự ưu việt đạo đức, so với bạo lực mà nó đang cố ngăn chặn. Phi bạo lực là con đường duy nhất đến với hòa bình, đây là điều mà cha chủ trương bảo vệ không nhân nhượng. Như Dorothy Day, cha không thể hình dung Chúa Giêsu với một khẩu súng.

Cha Berrigan sống bằng nguyên tắc phi bạo lực và dành cả đời để thuyết phục người khác tin tưởng vào chân lý này. Điều này gây cho cha nhiều phiền toái, cả trong xã hội lẫn giáo hội. Thậm chí là đẩy cha vào tù. Năm 1968, cùng với em trai Phillip của mình, cha đi vào một tòa nhà liên bang ở Catonsville, Maryland, gỡ bỏ một vài bản trích lục và đốt chúng trong thùng rác. Vì việc này, cha bị kết án ba năm rưỡi tù giam. Nhưng điều này ghi khắc không phai hình ảnh của cha trong lương thức của cả thế hệ. Về sau cha mãi được biết đến là một thành viên của nhóm Catonsville Nine và từng xuất hiện trên báo Time.

Tôi đang học chủng viện, trong những năm 1960 đầy biến động đó, khi phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ lôi cuốn nhiều đám đông, và Daniel Berrigan là một biểu tượng của họ. Hơn nữa, tôi ở trong một chủng viện mà hầu hết mọi sự đều buộc chúng tôi không tin tưởng vào cha Berrigan và phong trào phản chiến. Theo quan điểm của chúng tôi thời đó, đây không phải là việc một linh mục Công giáo nên làm. Về sau, tôi cũng không ngưỡng mộ gì cha. Tôi được biến đổi khá muộn.

Sự biến đổi này khởi sự khi tôi bắt đầu đọc sách của cha Berrigan. Tôi được đánh động vì ba điều: Thứ nhất, nhờ thách thức mang tính Phúc âm mà cha đã tuyên bố quá rõ ràng, thứ hai là nhờ chiều sâu thiêng liêng của cha, và cuối cùng là nhờ sự thông tuệ và thi điệu trong ngôn ngữ của cha. Cha thật là một ngòi bút có tài và là một Kitô hữu đầy thách thức. Tôi ghen tị với ngữ vựng của cha, cách cha chuyển ý, sự thông minh, hóm hỉnh, chiều sâu, và sự dấn thân triệt để của cha. Tôi bắt đầu đọc mọi bài cha viết và cha bắt đầu có một ảnh hưởng ngày càng lớn trên cuộc đời và việc mục vụ của tôi. Trước đó tôi chưa bao giờ thấy một thách thức của Chúa Giêsu lại không khoan nhượng đến thế, khi không chỉ hành động vì bác ái mà còn vì công lý.

Cha Larry Rosebaugh, một hiến sĩ cùng dòng với tôi, cũng đã vào tù trong các cuộc biểu tình phản chiến và về sau bị bắn chết ở Guatemala, đã chia sẻ trong tự thuật của mình rằng trước khi cha thực hiện việc đã khiến cha phải vào tù, cha đã dành cả đêm cầu nguyện với cha Daniel Berrigan. Lời khuyên của cha Berrigan cho cha là: Nếu cha không thể làm việc này mà không chua cay và giận dữ với những người bắt cha, thì đừng làm. Ngôn sứ là lời thề với tình yêu, chứ không phải với ghẻ lạnh. Có một lằn ranh mỏng manh mà người ta thường băng qua khi cố gắng thực thi tính ngôn sứ.

Nghịch lý thay, với tất cả những lời khuyên nhủ của mình cho người khác, cha Berrigan cũng đã phải đấu tranh dữ dội để làm được điều này, để phản kháng từ một tâm điểm yêu thương chứ không phải tâm điểm giận dữ. Ở tuổi 62, cha viết một tự thuật, Chìm trong Bình an, thẳng thắn chia sẻ rằng cha chưa bao giờ có được mối quan hệ tốt đẹp với cha của mình, và ông cũng chưa bao giờ chúc lành cho cha và em trai Philip của cha. Đúng hơn, cha của cha Berrigan luôn e ngại hơn là tự hào về tài năng và sinh lực của các con trai mình. Từ thú nhận này, cha Berrigan tiếp tục hỏi rằng liệu có gì lạ khi cha luôn là cái gai trong mắt mọi nhân vật cầm quyền mà cha từng đối đầu: các tổng thống, các giáo hoàng, giám mục, bề trên dòng, các chính trị gia, cảnh sát. Cha phải mất 60 năm mới lấy lại được bình an khi không được cha mình chúc lành, nhưng Thiên Chúa vẽ đường thẳng với những đường cong, sự triệt để nổ bùng trong cha đã thách thức cả một thế hệ.

Trong những năm lớn tuổi, cha Berrigan bắt đầu làm việc trong một nhà tế bần, tìm kiếm nơi những người sắp chết một chiều sâu để đứng vững trước thứ mà cha e ngại trong tương lai, là sự thiển cận.

Thế hệ của cha sẽ giằng xé khi phán xét về cha, có người yêu kẻ ghét. Nhưng lịch sử sẽ nói về cha. Cha luôn là người đứng về phía Thiên Chúa, hòa bình và người nghèo.

Xin Yên nghỉ, cha Daniel Berrigan.

Kỷ niệm 200 năm thành lập Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ, 1816-2016

Khi không còn mừng lễ chúng ta sẽ sớm không còn trân trọng. Năm nay, 2016, đánh dấu kỷ niệm 200 năm thành lập dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ của tôi. Chúng tôi có lịch sử đáng tự hào, với 200 năm đã qua chăm lo mục vụ cho người nghèo trên khắp thế giới. Đây là điều đáng mừng lễ.

Là một người viết bài, tôi thường không nhấn mạnh việc tôi là người đi tu cũng như việc tôi là linh mục Công giáo La Mã, vì tôi sợ những nhãn mác như “linh mục Công giáo” “Cha” hay “Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ” sẽ làm hạn chế đi các độc giả khả dĩ. Chúa Giêsu cũng khá là không thích nhãn mác tôn giáo. Tôi hầu như luôn tránh dùng các nhãn mác tôn giáo cụ thể, vì tôi muốn nói bằng lăng kính con người và người có đạo, hơn là lăng kính hẹp hơn của chức linh mục và đời tu sĩ. Đây là chọn lựa của tôi, và tôi cũng tôn trọng chọn lựa của người khác.

Nhưng bây giờ, tôi muốn phá vỡ luật này của tôi, và nói cụ thể hơn qua lăng kính của một tu sĩ với các lời khấn hứa. Nên bài này tôi viết với tư cách cha Ronald Rolheiser OMI, thành viên tự hào của Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ.

Xin cho tôi bắt đầu với câu chuyện nhỏ này: Dòng của chúng tôi được thành lập ở miền Nam nước Pháp vào năm 1816, bởi linh mục Eugene de Mazenod, ngài được giáo hội tôn vinh hiển thánh năm 1995. Cha Eugene là linh mục triều, và ngay khi vừa bắt đầu đời sống mục vụ thừa tác viên, cha đã nhận ra rằng Tin mừng không vươn đến nhiều người nghèo, vậy nên cha bắt đầu tập trung thừa tác vụ của mình vào việc vươn đến với người nghèo. Và cha nhanh chóng nhận ra rằng một mình thì không thể tạo nên thay đổi. Cần có một cộng đoàn để tạo được một tác động sâu sắc. Những gì chúng ta mơ một mình vẫn là giấc mơ, những gì chúng ta mơ cùng người khác có thể trở thành hiện thực. Vậy nên cha tìm kiếm những người có cùng tâm thức với mình, những linh mục triều như cha vậy, và mời họ đến cùng cha trong sứ mạng này, cuối cùng các cha bắt đầu sống với nhau và mở một dòng tu mới dấn thân phục vụ người nghèo.

Đó là chuyện 200 năm về trước, và từ đó, các Hiến sĩ có một lịch sử tự hào dù không phải lúc nào cũng dễ chịu. Ngày nay, chúng tôi đang mục vụ ở 68 quốc gia, trên khắp các châu lục. Và sứ mạng của chúng tôi vẫn y hệt. Là phục vụ người nghèo. Đây là lý do bạn sẽ thấy chúng tôi hầu như mục vụ ở những vùng rìa, những nơi mà xã hội dường như không ngó ngàng đến, nơi vùng biên giới với các di dân hay thổ dân, nơi những khu vực dân nhập cư trong các thành phố, nơi những vùng nóng mà cảnh sát ngại ngần không muốn đến, và nơi những nước đang phát triển còn thiếu thốn thực phẩm, y tế và giáo dục. Sứ mạng của chúng tôi không hướng đến những người giàu sang, dù chúng tôi cũng cố gắng mời gọi họ đi với chúng tôi. Các thành viên trong dòng chúng tôi thường đến từ những người nghèo, và chúng tôi nhắn nhủ những người muốn gia nhập rằng: Nếu gia nhập với chúng tôi, hãy cân nhắc xem trong dòng có điều gì không dành cho bạn.

Và chúng tôi là những nhà truyền giáo, nghĩa là chúng tôi hiểu trách nhiệm của mình là thiết lập các cộng đoàn và nhà thờ, giúp họ tự lực được, rồi lại lên đường, Cứ thế. Đây có thể là một công việc cao đẹp, nhưng cũng là một chuyện nhói lòng. Thật không dễ dàng gì khi cứ luôn mãi xây dựng điều gì đó chỉ để trao nó cho người khác rồi cất bước lên đường. Bạn chẳng bao giờ có một mái nhà vĩnh viễn, nhưng trong đó có một sự bù đắp, vì khi là nhà truyền giáo thì mọi nơi đều là nhà.

Chúng tôi không phải là một dòng tu lớn, chúng tôi chỉ có khoảng 4000 thành viên, rải rác ở 68 quốc gia, thật nhỏ bé khi so với Dòng Tên, Dòng Phanxicô và Dòng Đa Minh. Thật sự là trong từ điển tiếng Pháp Larousse bản cũ, chúng tôi được mô tả là “một dạng Dòng Tên mini hầu như ở các vùng nông thôn.” Chúng tôi hãnh diện vì mô tả này. Ơn gọi của chúng tôi không phải là ánh đèn chiếu nhưng là ở cánh gà. Và ở cánh gà đó, nơi vùng nông thôn, mà tôi được gặp các Hiến sĩ.

Chúng tôi cũng tự hào về mình, những người thẳng thắn, thực tế, và gần gũi với người mình phục vụ, mà bộ áo dòng của chúng tôi thường hé lộ. Gia đình và bạn thân cứ luôn cố gắng mua áo quần cho chúng tôi để nâng cấp tủ quần áo không thiếu gì của chúng tôi. Không phải là chúng tôi chủ tâm tạo một hình ảnh kiểu hơi nhếch nhác, nhưng chúng tôi muốn mời gọi vào hàng ngũ mình những con người có cùng các ưu tiên hàng đầu.

Còn bậc sáng lập của chúng tôi? Ngài không phải là một người dễ dãi, mà là một người hơi đầy ám ảnh với một tâm thức kiên quyết không dễ dàng chấp nhận sự yếu đuối của những người quanh mình. Thỉnh thoảng, ngài có thể nổi lên những cơn thịnh nộ thánh thiện. Tôi phải thú thật là may mà tôi chưa bao giờ gặp ngài bằng xương bằng thịt, bởi tôi sợ ngài phê bình những yếu đuối của tôi, nhưng tôi mừng vì đoàn sủng của ngài và vì nhóm người đa dạng đang tiếp tục sứ mạng của ngài, các Hiến sĩ Đức Mẹ.

Xem lại Trung thành và Ái quốc

Trong một bài báo mới đây trên Tạp chí America, Grant Kaplan đã bàn về thách thức của phục sinh, với những lời này: “Không như các cộng đoàn trước đây củng cố mối liên kết giữa các thành viên bằng chính những người mà nó loại bỏ và thí tội, bây giờ sự nhưng không của phục sinh cho chúng ta một cộng đoàn được xây dựng bằng những con người tha thứ và được tha thứ.”

Ý của Grant Kaplan là, chúng ta hầu như xây dựng cộng đoàn của mình qua việc biến ai đó thành kẻ xấu và loại trừ, nghĩa là chúng ta ràng buộc với nhau căn cứ trên những gì chúng ta chống lại, những gì chúng ta ghét hơn là trên những gì chúng ta hướng đến và trân quý. Thập giá và phục sinh, hay nói chung là thông điệp của Chúa Giêsu, mời gọi chúng ta trưởng thành sâu sắc hơn trong cách thiết lập cộng đoàn với người khác, trên nền tảng là yêu thương và bao dung, hơn là thù ghét và loại trừ.

Nhưng chúng ta thiết lập cộng đoàn với người khác bằng cách biến ai đó thành kẻ xấu và thí tội như thế nào? Một số nhà nhân học, đặc biệt là René Girard và Gil Bailie, cho chúng ta những thấu suốt về sự thí tội và quỷ hóa trong thời cổ đại và cả ngày nay.

Nói ngắn gọn, chúng là thế này: Khi nào chưa đạt đến một mức độ trưởng thành nhất định, cả trong cá nhân lẫn tập thể, thì chúng ta sẽ luôn luôn thiết lập cộng đoàn bằng cách thí tội. Hãy thử hình dung: Một nhóm người (trong gia đình hay bạn bè) đi ăn tối với nhau. Hầu như luôn có những căng thẳng chia rẽ nào đó giữa chúng ta, những va chạm cá nhân, ghen tỵ, tổn thương trong quá khứ, những khác biệt về tôn giáo, hệ tư tưởng và chính trị. Nhưng những điều này có thể ẩn đi, và chúng ta có thể dùng bữa vui vẻ với nhau. Làm sao để được như thế? Bằng cách nói về một người khác mà chúng ta đều không thích, đều ghét hay sợ, hay đều thấy họ kỳ cục và lập dị. Khi “quỷ hóa” những người này bằng cách nêu bật lên sự kỳ quái, xấu xa, hay lập dị của họ, thì những khác biệt của chúng ta lặn đi, thay vào đó là sự đồng cảm và các quan điểm chung với nhau. Bằng cách quỷ hóa người khác, chúng ta tìm thấy điểm chung với nhau. Tất nhiên, bạn rất ngại khi phải rời bàn để đi đâu đó, bởi sợ rằng khi vắng mặt, thì chính bạn sẽ là người tiếp theo lên thớt.

Hơn nữa, chúng ta cũng làm thế này trong đời sống riêng của mình để giữ cân bằng. Thành thật mà nói, ai ai trong chúng ta cũng phải thừa nhận một khuynh hướng nội tại là đổ trách nhiệm cho những lo lắng và cảm giác xấu trong chúng ta cho một ai đó. Ví dụ: Một sáng nọ, chúng ta ra đường mà trong lòng thấy kích động và giận giữ một cách mơ hồ vì nhiều lý do khác nhau. Thường thì chúng ta sớm đẩy sự khó chịu này lên người khác, một cách ý thức hay vô thức, và quy kết họ về cảm giác xấu của chúng ta. Lúc đó chúng ta nghĩ rằng nếu không có người đó, thì chúng ta sẽ không có những cảm giác tồi tệ thế này. Phải có ai đó chịu trách nhiệm cho sự kích động của chúng ta. Một khi đã làm thế rồi, chúng ta bắt đầu cảm thấy khá hơn, bởi vừa bắt ai đó chịu trách nhiệm cho đau đớn của mình. Có một câu châm ngôn rất sinh động về chuyện này: Nếu hai người đầu tiên bạn gặp trong buổi sáng có vẻ thật khó ưa, thì khả năng cao chính bạn mới là người khó ưa.

Đáng buồn thay, chúng ta thấy chuyện này khắp nơi. Các giáo hội và nền chính trị của chúng ta lớn mạnh nhờ nó. Cả trong giáo hội và cộng đồng dân sự, chúng ta có xu hướng thiết lập cộng đồng những người giống mình bằng cách biến người khác thành quỷ. Chúng ta chẳng cần màng đến những khác biệt của mình, cũng chẳng bận tâm đến các nguyên nhân nội tại gây nên sự khác biệt đó, bởi chúng ta có thể đổ cho ai đó phải chịu trách nhiệm về những vấn đề của chúng ta. Không phải hiếm khi các nhóm giáo hội gắn kết theo kiểu này, các chính trị gia được bầu lên bằng kiểu này, và người ta dấy chiến tranh biện minh cho nó cũng bằng điều này. Như thế những khái niệm phong phú và lành mạnh về lòng trung thành, ái quốc và đoàn thể, trở nên không lành mạnh, bởi chúng bắt rễ từ việc xem sự khác biệt là một mối đe dọa hơn là một mặc khải trọn vẹn hơn của Thiên Chúa trong đời chúng ta.

Giả dụ như, có lúc sự khác biệt gây nên mối đe dọa thật sự, và cần phải giải quyết nó. Nhưng ngay cả như thế, chúng ta vẫn cần phải nhìn vào trong mình và xem lại những gì bên trong chúng ta có thể đang đồng lõa gây nên chia rẽ, hận thù, ghen tỵ mà chúng ta đang thấy. Phải xử lý những mối đe dọa thực sự, nhưng phải làm thế theo cách của Chúa Giêsu, nghĩa là xử lý bằng tình yêu thương, đồng cảm và tha thứ. Biến người khác thành quỷ để thiết lập cộng đồng không phải là cách của Chúa Giêsu, cũng không phải cách của một con người trưởng thành. Sự trung thành, với một ai đó, một tôn giáo, một quốc gia, hay những giá trị đạo đức của mình, phải căn cứ trên những gì tốt đẹp và quý báu của gia đình, cộng đồng, tôn giáo, quốc gia và các nguyên tắc đạo đức, chứ không phải trên nỗi sợ và những cảm giá tiêu cực về người khác.

Bài học của Chúa Giêsu, đặc biệt trong cái chết và phục sinh của Ngài là: tôn giáo đích thực, trưởng thành đích thực, trung thành đích thực, và ái quốc đích thực hệ tại ở việc để mình vươn ra với những gì không hẳn là giống mình.

Tình yêu – Phóng chiếu và Hiện thực

Robert Johnson, một ngòi bút lừng danh theo học thuyết của tâm lý gia Jung, đã có nhận định thế này về yêu. “Yêu là phóng chiếu phần giá trị vô tận và cao cả nhất của một hiện hữu vào một hiện hữu khác. … Chúng ta phải nói rằng sự thần thánh mà chúng ta thấy nơi người khác thực sự có ở đó, nhưng chúng ta không có quyền thấy nó cho đến khi chúng ta bỏ đi các phóng chiếu của bản thân mình. … Phân biệt được điều này là nhiệm vụ khó khăn và vi tế nhất trong đời.”

Và thật sự là thế. Xác định được tình yêu đích thực và phóng chiếu của bản thân, thực sự là một trong những nhiệm vụ khó khăn và vi tế nhất trong đời. Ví dụ như khi chúng ta phải lòng ai, có thể bằng kinh nghiệm, chúng ta biết một khi sự say mê ban đầu qua đi, thì chúng ta sẽ nhanh chóng trở nên lãnh đạm thậm chí ghét người đó. Vì thế, nên chúng ta phải tự hỏi: Chúng ta thực sự yêu ai hay yêu điều gì trong khoảnh khắc mê đắm, lúc chúng ta thấy quá nhiều tốt lành và thần thánh nơi một người nào đó? Chúng ta có thực sự yêu người đó, hay đơn giản, chúng ta đang phóng chiếu một vài phẩm chất cao đẹp của mình lên người đó, và như thế nó là một sự ái kỷ hơn là tình yêu?

Theo Johnson, câu trả lời rất phức tạp. Sự tốt lành và cao đẹp mà chúng ta thấy nơi người khác thực sự có ở đó, nhưng cho đến khi nào chúng ta chưa bỏ được phóng chiếu hay lý tưởng hóa mà chúng ta áp đặt lên người khác, thì chúng ta chưa thực sự yêu thương và trân trọng người đó.

Một ví dụ thế này: Hãy tưởng tượng một người đàn ông phải lòng một phụ nữ. Lúc đầu, cảm giác của anh quá mạnh, quá ám ảnh, đôi mắt anh chỉ thấy tính tốt, và hoàn toàn mù quáng trước các khiếm khuyết của cô. Thật sự, ở giai đoạn đầu này, ngay cả các khiếm khuyết của cô thậm chí còn có vẻ hấp dẫn hơn là phiền phức. Thật vậy, kinh nghiệm dạy chúng ta rằng, khi sự say mê ban đầu đi qua, mọi chuyện sẽ không thế nữa.

Và chúng ta sẽ rơi vào một vấn đề quan trọng: Liệu những phẩm chất tuyệt vời mà chúng ta thấy nơi người đó trong giai đoạn mới yêu, liệu chúng có thực sự có hay không? Có. Tuyệt đối có. Chúng có, nhưng có lẽ không phải là những gì mà chúng ta thấy. Như Johnson đã chỉ rõ, và nhiều ngòi bút về tinh thần khác cũng khẳng định rằng, trong giai đoạn yêu, có một chuyện luôn luôn có thể xảy ra, đó là những phẩm chất đẹp đẽ mà chúng ta thấy nơi người khác thường là những phóng chiếu của bản thân chúng ta hơn là những thiên tư thực sự của người đó. Dù cho người đó thực sự có những thiên tư này, nhưng những gì chúng ta thấy vẫn chỉ là phóng chiếu của mình, một sự lý tưởng hóa mà chúng ta gán lên người khác, để rồi chúng ta yêu người đó một kiểu như yêu những phẩm chất tốt đẹp của bản thân mình vậy. Đó là lý do vì sao chúng ta có thể phải lòng nhiều người với những tính khí và đức tính khác nhau, nhưng lúc ban đầu lại luôn có cùng một cảm giác.

Đó cũng là lý do vì sao phải lòng luôn là một điều mơ hồ và cần được nhận định qua thời gian, cùng với sự cố vấn của những người khôn ngoan. Chúng ta có thể phải lòng với nhiều dạng người, kể cả những người rất không hợp với chúng ta. Như Pascal đã nói, trái tim chúng ta có lý lẽ của nó, một kiểu lý lẽ không phải lúc nào cũng hướng về sự lành mạnh lâu dài của bản thân.

Có bài học gì ở đây? Đơn giản là: Trong mọi mối quan hệ mật thiết, chúng ta phải nhận thức được khuynh hướng bản tại của chúng ta là phóng chiếu những phẩm chất tốt đẹp của mình lên người khác, và cũng phải thấy rằng chúng ta chưa thực sự yêu và trân trọng người đó cho đến khi nào bỏ được những phóng chiếu này và thực sự thấy được sự tốt đẹp của người đó chứ không phải của mình. Về chuyện thấy ghét ai đó cũng như vậy. Cũng như khuynh hướng lý tưởng hóa người khác, thì chúng ta cũng có khuynh hướng ác quỷ hóa người khác, phóng chiếu lên họ cái phần đen tối của mình. Như thế, theo lập luận của Johnson, chúng ta không có quyền để ghét người khác, cho đến khi nào chúng ta bỏ được những phóng chiếu đen tối của mình lên họ. Chúng ta có khuynh hướng quá ác quỷ hóa cũng như quá lý tưởng hóa.

Trong tác phẩm kinh điển Stoner của mình, John William cho chúng ta thấy cách nhân vật chính hiểu về tình yêu: “Thời tuổi trẻ cực đoan, chàng trai Stoner đã nghĩ rằng tình yêu là một tình trạng hiện hữu tuyệt đối, nếu như ai đó may mắn có được. Còn khi trưởng thành, anh quyết định tình yêu là một thiên đàng giả tạo, một thứ đáng khinh và một hoài niệm phiền phức. Bây giờ, ở tuổi trung niên, Stoner bắt đầu biết rằng tình yêu không phải là một giai đoạn dễ chịu hay một ảo tưởng, nhưng là một hành động tiến tới, một tình trạng được tạo ra và sửa đổi nhờ những thời khắc từ ngày này qua ngày khác, nhờ ý chí, cái đầu và trái tim.”