RonRolheiser,OMI

Từ Hoang tưởng đến Sám hối

Đôi khi bản thân lại là một bí ẩn đối với chính chúng ta, hay nói chính xác hơn, đôi khi chúng ta không nhận ra mình hoang tưởng đến mức nào. Có nhiều thứ có thể hủy hoại cuộc đời chúng ta.

Mới đây tôi đến một buổi họp và tôi gần như cảm nhận được sự nồng hậu, tình bạn với các đồng nghiệp, một cảm giác tích cực. Tôi đang có tâm trạng tốt, rộng rãi, và muốn giúp đỡ ai đó. Rồi không lâu trước khi buổi họp kết thúc, một đồng nghiệp lại có một bình luận gay gắt khiến tôi thấy cay đắng và bất công. Ngay lập tức, cả loạt cánh cửa trong lòng tôi đóng sầm lại. Sự nồng hậu và cảm thông của tôi nhanh chóng biến thành khắc nghiệt và giận dữ. Tôi đã cố gắng đế không chìm sâu vào chuyện này. Nhưng cảm giác không biến mất nhanh chóng. Trong vài ngày, một sự lạnh lẽo và hoang tưởng cứ còn vương vấn trong lòng tôi, và khi còn nung nấu sự tiêu cực, tôi cố tránh mọi liên hệ với người đã nói câu gay gắt đó.

Thời gian và cầu nguyện cuối cùng đã chữa lành, một cái nhìn lành mạnh hơn đã trở lại và những cánh cửa đã đóng sầm giờ mở ra lần nữa, và sám hối thế chỗ hoang tưởng.

Sám hối, chính là lời đầu tiên Chúa Giêsu trong Tin mừng. “Sám hối và tin vào Tin mừng,” và có thể nói đấy là tóm gọn toàn bộ sứ điệp của Ngài. Nhưng người ta sám hối bằng cách nào?

Gốc của từ “sám hối” là “metanoia.” Nhưng từ “sám hối” không bao hàm đủ ý nghĩa mà Chúa Giêsu muốn nói. Sám hối nghĩa là chúng ta đã làm gì đó sai trái và phải hối hận về hành động đó và bắt đầu sống một cách sống mới. Còn từ “metanoia” có nghĩa rộng hơn.
Từ “metanoia” có gốc từ hai từ Hy Lạp. Meta nghĩa là phía trên, và Nous nghĩa là tinh thần. Metanoia – hay Tinh thần Hướng thượng, mời gọi chúng ta vươn lên trên những bản năng bình thường, đi vào một tinh thần cao lớn hơn khuynh hướng tư lợi và tự vệ vốn thường nảy sinh những cảm giác cay đắng, tiêu cực và thiếu cảm thông bên trong chúng ta. Metanoia mời gọi chúng ta đón nhận mọi tình trạng dù bất công đến thế nào, bằng một tấm lòng thông hiểu và cảm thông. Hơn nữa, tinh thần hướng thượng còn tương phản với hoang tưởng. Về căn bản, metanoia là “không-hoang tưởng,” nên những lời mở đầu của Chúa Giêsu có thể diễn giải thế này: Đừng hoang tưởng và tin vào Tin mừng. Sống trong tin tưởng.

Henri Nouwen, trong quyển sách nhỏ nhưng đầy thấu suốt thâm sâu, Với đôi tay mở rộng [With Open Hands,] đã mô tả tuyệt vời sự khác biệt giữa tâm thức hướng thượng và hoang tưởng. Cha cho rằng có hai thái độ căn bản trong đời. Chúng ta có thể đi trong đời với thái độ hoang tưởng. Thái độ hoang tưởng được tượng trưng trong nắm đấm xiết chặt, trong lập trường tự vệ, trong sự ngờ vực và bất tín thành lệ. Hoang tưởng khiến chúng ta cảm giác như mình luôn cần bảo vệ bản thân khỏi bất công, cảm thấy như người khác sẽ làm tổn thương nếu mình tỏ ra yếu đuối, và thấy chúng ta cần phải khẳng định sức mạnh và tài năng của mình để gây ấn tượng với người khác. Hoang tưởng nhanh chóng biến nồng ấm thành lạnh lẽo, biến thông hiểu thành nghi ngờ, và biến quảng đại thành tự vệ.

Thái độ của tinh thần hướng thượng, lại tượng trưng trong thập giá Chúa Giêsu. Trên thập giá, chúng ta thấy Chúa phơi mình và dễ bị tổn thương, cánh tay giang rộng để ôm lấy, và bàn tay Ngài mở ra với đinh sắt đóng sâu. Đấy là phản đề với hoang tưởng. Phản đề với những cánh cửa đóng sầm mỗi khi cảm thấy bị đe dọa. Tinh thần hướng thượng, một tấm lòng lớn, không bao giờ đóng sầm những cánh cửa đó.

Mội vài giáo phụ đã cho rằng tất cả chúng ta có hai tâm trí và hai tâm hồn. Với các ngài, mỗi người chúng ta đều có tâm trí lớn và tấm lòng lớn. Đấy là vị thánh trong mỗi chúng ta, là hình ảnh Thiên Chúa trong chúng ta, là phần nồng ấm, quảng đại và cảm thông trong chúng ta. Mỗi một người chúng ta có sự cao cả đích thực trong mình. Nhưng mỗi người cũng có một tâm trí nhỏ nhen và một tâm hồn nhỏ nhen. Đấy là phần ái kỷ của chúng ta, phần bị tổn thương, phần hoang tưởng biến thành tự vệ và ngay lập tức đóng sầm những cánh cửa nồng ấm và tin tưởng bất kỳ lúc nào chúng ta thấy có vẻ bị đe dọa. Nội tâm chúng ta thật quá phức tạp. Lòng chúng ta vừa quảng đại vừa nhỏ nhen, tâm trí chúng ta vừa cởi mở vừa bất dung, có cả tin tưởng và nghi ngờ, thánh thiện và ái kỷ, độ lượng và bè nhóm, nồng hậu và lạnh lẽo. Mọi sự dựa vào việc chúng ta liên kết với tâm hồn và tâm trí thế nào, cũng như cách hành động của chúng ta trong những thời điểm nhất định. Lúc này chúng ta sẵn sàng chết vì người khác, một phút sau chúng ta lại muốn họ chết đi. Lúc này chúng ta trao đi bản thân trong yêu thương, một phút sau lại muốn dùng tài năng của mình để thể hiện sự ưu việt. Tinh thần hướng thượng và sự hoang tưởng đua tranh trong lòng chúng ta.

Trong sứ điệp và con người của Ngài, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đến với tinh thần hướng thượng, tiến tới và ở lại trong tâm trí và tâm hồn lớn của mình, để khi đối mặt với một chuyện khó chịu, những cánh cửa nồng hậu và tin tưởng của chúng ta không đóng lại.

Cùng chung ngọn lửa thiêng sự sống

Xem người khôn ngoan cùng kẻ thâm hiểm

Đều hưởng dùng ngọn lửa thiêng sự sống
Những dòng này từ bài hát Don Quixote của Gordon Lightfoot, và chúng nêu bật một sự thật quan trọng, là cả người khôn ngoan và thâm hiểm đều lấy sức sống từ cùng một sinh lực. Và đấy là sinh lực tốt lành, sinh lực thánh, sinh lực thần thiêng, bất kể người ta sử dụng nó thế nào. Kẻ tham tàn và bạo lực lấy sức sống từ cùng một nguồn sinh lực hệt như người khôn ngoan và các vị thánh. Có một nguồn sinh lực, và dù nó có thể bị lạm dung vô trách nhiệm, ích kỷ và khủng khiếp, thì nó vẫn luôn là sinh lực của Thiên Chúa.

Bất hạnh thay, chúng ta thường không nghĩ như thế. Mới đây tôi có nghe một người rất chán nản, nhìn vào sự ích kỷ, tham lam và bạo lực trong thế giới chúng ta, và quy kết tất cả cho ma quỷ. “Chắc chắn là kẻ phản Kitô. Còn cách nào khác để giải thích mọi chuyện này, khi quá nhiều người phá bỏ tận cùng mọi giới răn.”

Ông đúng khi khẳng định sự ích kỷ, tham lam và bạo lực mà chúng ta thấy trong thế giới ngày nay, là sự phản Kitô (Dù cho có lẽ không phải là kẻ Phản Kitô được nói đến trong Kinh thánh.) Tuy nhiên, ông đã sai về cội rễ sinh lực của sự ích kỷ, tham lam và bạo lực. Sinh lực chúng rút lấy, là từ Thiên Chúa, chứ không phải từ ma quỷ. Trong tất cả những chuyện tiêu cực mà chúng ta thấy trên bản tin tối mỗi ngày, không phải là sinh lực ma quỷ, nhưng là sự lạm dụng sinh lực thần thiêng. Việc làm xấu xa không phải là kết quả của sinh lực ma quỷ, nhưng là kết quả của việc lạm dụng sinh lực thần thiêng. Dù bạn xem ma quỷ là một nhân thể hay một ẩn dụ, thì nó vẫn không thể bắt nguồn từ đâu khác, ngoài Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo nên ma quỷ, và đã tạo thành nó tốt lành. Sự xấu xa của nó là kết quả từ việc lạm dụng sự tốt lành đó.

Mọi sinh lực đều xuất phát từ Thiên Chúa, và mọi sinh lực đều tốt đẹp, nhưng có thể bị lạm dụng cách xấu xa. Hơn nữa, nghịch lý thay khi những người dường như lặn sâu nhất trong nguồn nước sinh lực thần thiêng, luôn là những người tốt nhất và xấu nhất, người khôn ngoan và kẻ thâm hiểm, các thánh nhân và tội nhân. Những người này thấm lửa trong hồn. Còn chúng ta, sống trong khoảng giữa thánh nhân và tội nhân, có xu hướng đấu tranh để thực sự nắm bắt được ngọn lửa, để thực sự lặn sâu trong dòng nước sinh lực thần thiêng. Chúng ta không hẳn đấu tranh để không sử dụng sai sinh lực thần thiêng, nhưng là để không bị khuất phục trong tình trạng đờ đẫn kinh niên, không bị rơi vào khủng hoảng, kiệt nhọc, cay đắng, ghen tỵ, và nản lòng, những thứ khiến chúng ta đi trong đời nguội lạnh và luôn mãi phản đối rằng chúng ta có quyền sống vô vị và bất hạnh. Các thánh nhân lớn và tội nhân lớn, không sống cuộc đời tuyệt vọng câm nín: họ chìm sâu trong sinh lực thần thiêng, cháy bừng ngọn lửa đó, và biến nó thành khởi nguồn cho sự khôn ngoan xuất chúng hay sự thâm hiểm dã man của mình.

Thấu suốt này không chỉ là một nghịch lý đáng chú ý. Mà nó là một sự thật quan trọng, có thể giúp chúng ta hiểu hơn về mối liên hệ của mình với Thiên Chúa, với những sự của thế giới này, và với chính bản thân mình. Chúng ta phải làm rõ ràng cái gì tốt và cái gì xấu, nếu không cuối cùng chúng ta hiểu sai về bản thân và hiểu sai các sinh lực trong đời.

Một linh đạo lành mạnh cần phải dựa trên một nhận thức đúng đắn về Thiên Chúa, về bản thân, thế giới và những sinh lực điều hướng thế giới. Và đây là những nguyên tắc Kitô giáo không thể bàn cãi mà chúng ta cần có để hiểu bản thân, thế giới, và để sử dụng các sinh lực của mình. Trước hết, Thiên Chúa tốt lành, Thiên Chúa là nguồn của mọi sinh lực khắp mọi noi, và sinh lực đó tốt lành. Thứ hai, chúng ta được Thiên Chúa tạo thành, và bản tính của của chúng ta không xấu xa. Cuối cùng, mọi thứ trong thế giới chúng ta, được Thiên Chúa tạo thành và chúng cũng tốt lành.

Vậy tội lỗi và sự dữ len vào từ đâu? Chúng len vào khi chúng ta sử dụng sai sinh lực tốt lành mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta và chúng đi vào khi chúng ta liên hệ với những sự tốt đẹp theo cách xấu xa. Nói đơn giản: Chúng ta tốt đẹp và tạo vật quanh chúng ta tốt đẹp, nhưng chúng ta có thể liên hệ với nó cách sai lầm, cụ thể là qua sự ích kỷ, tham lam hay bạo lực. Nói cách khác, sinh lực của chúng ta tốt lành, bao gồm mọi sinh lực nền tảng cho thiên hướng kiêu ngạo, tham lam, dâm dục, ghen tỵ, giận dữ và lười biếng. Nhưng chúng ta có thể lạm dụng những sinh lực này và rút lấy ngọn lửa thiêng sự sống theo những cách rất ích kỷ, dâm dục, tham lam và thâm hiểm.

Do đó, tội lỗi và sự dữ phát xuất từ việc lạm dụng sinh lực của chúng ta, chứ không phải từ một sinh lực nội tại của chúng. Cũng thế, tội lỗi và sự dữ phát xuất từ cách chúng ta liên hệ với những thứ cụ thể trong đời, chứ không phải từ một sự dữ cố hữu trong chúng ta hay trong vạn vật. Kẻ nham hiểm không phải là kẻ dữ lấy sinh lực từ ma quỷ. Mà là những người tốt, lạm dụng vô trách nhiệm và ích kỷ sinh lực thần thiêng. Sinh lực tự nó vẫn tốt đẹp, dù cho có bị lạm dụng.

Khi rơi vào tính tham lam, dâm dục, ghen tỵ, lười biếng hay giận dữ, không phải là chúng ta uống lấy sinh lực ma quỷ. Đúng ra, là chúng ta lạm dụng sinh lực thần thiêng và tốt lành mà chúng ta sống, vận động và hiện hữu trong đó. Người khôn ngoan và kẻ thâm hiểm đều rút lấy từ một ngọn lửa thần thiêng.

Xã hội Không tưởng, với những Giới hạn

Khi tôi còn nhỏ, có một bài hát phổ biến với đoạn điệp khúc lặp đi lặp lại câu này: Tất cả mọi người đang tìm kiếm Xã hội Không tưởng. Tất cả chúng ta đều thế. Mỗi một chúng ta đều khao khát một xã hội không giới hạn, một cuộc sống không có gì sai trái, một nơi không có căng thẳng hay chán nản. Nhưng đó là chuyện không bao giờ có. Không có một nơi như thế.

Mới đây, Anahid Nersessian viết một quyển sách với tựa đề Không tưởng, Giới hạn: Chủ nghĩa Lãng mạn và Điều Chỉnh [Utopia, Limited: Romanticism and Adjustment], trong quyển sách này, bà phê phán nhiều hệ tư tưởng vì ngây thơ đã cho chúng ta có ấn tượng chúng ta có thể có một thế giới không có giới hạn. Bà đặc biệt chỉ trích hệ tư tưởng giải phóng đã trao đặc quyền cho sự vô giới hạn bằng cách xem ‘tự thân nó, gần như mặc định, chống lại sự cai quản và điều hướng cho khát khao.’ Nhưng, như bà lập luận trong quyển sách, giới hạn là điều đem lại sự sống. Chúng ta sẽ thấy hạnh phúc, chỉ khi điều tiết bản thân với thế giới bằng cách cực tiểu hóa các đòi hỏi của chúng ta với thế giới. Với bà Nersessian, nếu phải có Xã hội Không tưởng, thì chỉ có thể có được bằng cách tìm ra những giới hạn thực tế trong đời mình và điều chỉnh bản thân theo đó. Những kỳ vọng quá đáng dẫn đến thất vọng.

Bà đã đúng. Tin tưởng có một thế giới không giới hạn tạo nên những kỳ vọng phi thực tế và những chán nản thất vọng. Khi nghĩ rằng chúng ta có thể có Xã hội Không tưởng, là chúng ta triền miên dựng lên sự hoàn hảo làm đối thủ của sự tốt, và tạo lề thói khinh thị những mối liên hệ thực sự của chúng ta, là hôn nhân, sự nghiệp, và cuộc sống của mình, bởi chúng không như những ảo tưởng của chúng ta, chúng luôn mãi có giới hạn và do đó luôn là cái tốt thứ hai mà thôi.

Bà Nersessian có khuynh hướng quy kết hệ tư tưởng giải phóng đã khiến chúng ta có ấn tượng này, nhưng những giấc mơ phi thực tế và kỳ vọng vào một Xã hội không tưởng tồn tại hầu như khắp nơi trên thế giới. Và hơn nữa, trong cả giáo hội lẫn thế giới, chúng ta không còn có những công cụ biểu tượng để giải thích hay xử trí đúng đắn sự nản lòng này. Làm sao lại thế?

Khi còn nhỏ, đầu tôi không chỉ vang dội cái điệp khúc “Tất cả mọi người đang tìm kiếm Xã hội Không tưởng” nhưng còn vang dội nhiều điệp khúc khác nữa mà tôi học được trong nhà thờ và trong nền văn hóa nói chung. Giáo hội của chúng ta thời đó dạy chúng tôi về một thứ gọi là ‘tội nguyên tổ,’ tin rằng có một sự sa ngã nguyên thủy từ sơ khai nhân loại cho đến tận thế, làm cho cả bản tính con người và tự nhiên đều bị khiếm khuyết, và như thế những gì chúng ta sẽ gặp gỡ và cảm nghiệm trong đời sẽ luôn là bất toàn, có giới hạn, có gì đó đau đớn và nản lòng.

Đôi khi, người ta hiểu đây chỉ là cách tối giản hóa và đôi khi nó còn khiến chúng ta tự vấn về bản tính Thiên Chúa, nhưng dù thế, nó cho chúng ta một quan điểm để hiểu cuộc đời và xử trí với sự nản lòng. Đến tận cùng, nó dạy chúng ta rằng, ở đời này, không có niềm vui nguyên tuyền. Mọi thứ đều có cái bóng của nó. Hạnh phúc hệ tại ở việc chấp nhận nhưng giới hạn đó, không phải trong sự cam chịu khắc kỷ nhưng là trong một quan điểm phấn khởi thực tế. Bởi như thế có một giới hạn và không có những kỳ vọng sai lầm, từ đó cho họ đón nhận, trân trọng và tận hưởng đúng đắn những điều tốt đẹp trong đời. Bởi không thể có sự hoàn hảo trong đời này, nên bạn tự cho mình quyền cảm kích những gì không hoàn hảo.

Quan điểm tôn giáo này được củng cố nhờ một nền văn hóa dạy chúng tôi rằng không có một Xã hội Không tưởng. Chúng tôi sống trong một nền văn hóa dạy rằng, dù bạn có thể mơ cao và có thể kỳ vọng mình sẽ sống tốt hơn cha mẹ mình, nhưng đừng kỳ vọng bạn có thể có tất cả. Cuộc sống không thể cho bạn điều đó. Giao nhau với cách hiểu tôn giáo về tội nguyên tổ, sự khôn ngoan thế tục này cũng có nhưng biểu đạt quá tối giản hóa và không hoàn mỹ. Nhưng nó giúp ghi dấu trong lòng chúng tôi những công cụ để hiểu cuộc đời một cách thực tế hơn. Nó dạy chúng tôi một sự thật như câu trích của Karl Rahner mà tôi yêu thích: Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, trong đời này, tất cả mọi hòa âm đều phải dang dở. Thật súc tích và chính xác!

Thật thú vị khi thấy quan điểm tôn giáo song song với quan điểm vô thần, cái nhìn của Rahner tương đồng với cái nhìn của Albert Camus, nhà văn đoạt giải Nobel. Camus, người không tin có Thiên Chúa, đã đưa ra một hình ảnh để hiểu đời sống nhân sinh và những nản lòng thất vọng của nó. Ông so sánh thế giới này với một nhà tù trung cổ. Một vài nhà tù trung cổ được xây quá nhỏ cho một tù nhân, với trần quá thấp để tù nhân có thể đứng thẳng lên, và quá nhỏ để ngồi nằm xuống hoàn toàn. Sự chán nản khi không thể đứng lên cũng như không thể nằm xuống, dần dần bẻ gãy tinh thần tù nhân. Với Camus, đây chính là cảm nghiệm của chúng ta trong đời. Chúng ta không bao giờ có thể đứng lên hoàn toàn hay nằm xuống hoàn toàn. Thế giới này quá nhỏ với chúng ta. Dường như diễn đạt này có vẻ khốc liệt, khắc kỷ và vô thần, nhưng xét tận cùng, cũng như Kitô giáo, nó dạy cho chúng ta một sự thật, rằng không có Xã hội Không tưởng ở đời này.

Và chúng ta cần phải đưa sự thật này vào cuộc đời mình một cách lành mạnh, để trang bị tốt hơn cho bản thân, nhằm xử trí nỗi thất vọng nản lòng cũng như biết cảm kích cuộc đời mà chúng ta đang thực sự sống.

Bản tính Thiên Chúa – Hồ hởi hay Thập giá?

Chuyện khôi hài lại là nơi để học hỏi và có cái nhìn thoáng qua về sự thiêng liêng. Mới đây, trong một tiệm tạp hóa, tôi đã chứng kiến chuyện này.

Một cô gái trẻ, có lẽ khoảng 16 tuổi, cùng với hai cô khác trạc tuổi, bước vào tiệm. Cô lấy một giỏ đồ rồi đi chọn hàng, mà không biết có một chiếc giỏ khác đang mắc vào chiếc giỏ cô cầm. Đến một lúc, chuyện không thể tránh khỏi đã xảy ra, chiếc giỏ kia bung ra và rơi xuống sàn kêu một tiếng lớn, khiến cô và những người chung quanh hoảng hồn. Phản ứng của cô gái thế nào? Cô bật cười, toát ra một niềm vui thích thú khi bị giật mình. Với cô, chuyện chiếc giỏ bất thần rơi ra, không phải là một chuyện bực mình mà là một món quà, một chuyện khôi hài bất ngờ xen vào lệ thường buồn tẻ.

Tôi biết mình là một người thường vội vã và dễ bực mình vì chuyện gì xen ngang lịch trình, và nếu chuyện đó xảy ra với tôi, hẳn tôi đã phản ứng với một câu chửi thầm thay vì bật cười. Và điều này khiến tôi suy nghĩ: Đây là một cô gái có lẽ không đi nhà thờ và không quan tâm nhiều về vấn đề đức tin, nhưng trong khoảnh khắc này, cô đang chiếu tỏa tuyệt vời sinh lực của Thiên Chúa. Còn tôi, một tu sĩ đã khấn hứa, một linh mục quá nghiêm túc, một nhà mục vụ và ngòi bút thiêng liêng, lại quá thường tỏa ra phản đề của sinh lực Thiên Chúa là sự cáu kỉnh.

Nhưng có thật thế không? Thiên Chúa có thật sự bật cười khi những chiếc giỏ trong tiệm tạp hóa rơi xuống không? Thiên Chúa có bao giờ cáu kỉnh không? Bản tính thật sự của Thiên Chúa là gì?

Thiên Chúa là tình yêu và sự tha thứ vô điều kiện mà Chúa Giêsu đã mạc khải, nhưng Thiên Chúa cũng là sinh lực căn bản cho mọi sự. Và sinh lực đó, như thể hiện rõ ràng trong tạo vật và kinh thánh, là sáng tạo, dư dật đến phung phí, lành mạnh, đầy vui tươi, và hồ hởi. Nếu bạn muốn biết Thiên Chúa như thế nào, hãy nhìn vào sự hồ hởi tự nhiên của trẻ con, nhìn vào sự hồ hởi của một chú cún, nhìn vào sinh lực vui tươi hăng hái của người trẻ, và nhìn vào tiếng cười bộc phát của một cô gái mười sáu tuổi khi giật mình vì chiếc giỏ bị rơi. Và để thấy tính chất phung phí của Thiên Chúa, chúng ta hãy nhìn vào hàng tỷ tỷ hành tinh quanh mình. Sinh lực của Thiên Chúa dồi dào đến phung phí và cởi mở hồ hởi.

Vậy còn Thập giá thì sao? Chẳng phải, Thập giá bày tỏ bản tính Thiên Chúa hơn mọi sự khác hay sao? Chẳng phải Thập giá cho chúng ta thấy Chúa hay sao? Chẳng phải đau khổ là con đường bẩm tính và thiết yếu để đến sự chính chắn và thánh thiện hay sao? Vậy là có sự mâu thuẫn giữa những gì Chúa Giêsu bày tỏ về bản tính Thiên Chúa trong cuộc khổ nạn chịu đóng đinh thập giá với những gì kinh thánh và tự nhiên biểu lộ về sự hồ hởi của Thiên Chúa sao?

Rõ ràng là có nghịch lý, nhưng không mâu thuẫn. Trước hết, sự căng thẳng trái chiều giữa thập giá và sự hồ hởi, đã có trong con người và lời dạy của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu khiến những người đương thời chướng tai gai mắt vì nhiều chuyện. Ngài khiến họ gai mắt khi có thể từ bỏ mạng sống mình và mọi sự thế gian này, và Ngài lại cũng khiến họ gai mắt vì quá tận hưởng cuộc sống này và uống trọn trong những vui thú mà Thiên Chúa ban cho. Những người đương thời không thể đi cùng Ngài lúc Ngài vác thập giá, và họ cũng không thể đi cùng Ngài khi ăn uống với những người tội lỗi, cũng như thấy biết ơn và đẹp đẽ khi một người phụ nữ lấy dầu thơm đắt tiền mà xức chân Ngài.

Hơn nữa, không nên nhầm lẫn niềm vui và sự hồ hởi nằm ở bản tính Thiên Chúa với sự táo bạo ở những bữa tiệc và lễ hội. Trong những trò vui này, không phải là một sự vui mừng thực sự, mà là một sự tê liệt của não bộ và ý thức do một sự quá độ đến điên cuồng. Nó không chiếu tỏa sự hồ hởi của Thiên Chúa, và chắc chắn cũng không tỏa ra sự hồ hởi mạnh mẽ trong con người chúng ta đang chờ phát tiết. Các lễ hội gần như là nỗ lực để đẩy lùi khủng hoảng trầm cảm. Như Charles Taylor đã khéo léo chỉ ra rằng, chúng ta nghĩ ra lễ hội carnival bởi sự hồ hởi bản tính của chúng ta không tìm đủ đường ra trong cuộc sống thường nhật, nên chúng ta lập những dịp để trong một quãng thời gian chúng ta có thể cầm tù lý tính và giải phóng sự hồ hởi, như thả con thú ra khỏi chuồng. Nhưng dù cho là một cái van xả có tác dụng nhất định, nó không phải là cách lý tưởng để giải phóng sự hồ hởi bản tính của chúng ta.

Khi tôi còn nhỏ, cha mẹ tôi thường cảnh báo tôi về sự hồ hởi sai trái, là sự hồ hởi trong những bữa tiệc thác loạn, những tiếng cười không đúng chỗ, và lễ hội carnival. Câu châm ngôn của cha mẹ tôi là: Sau tiếng cười, là nước mắt! Họ đúng, nhưng chỉ đúng cho dạng tiếng cười mà chúng ta thường nổ ra trong những bữa tiệc để nhằm đẩy lùi khủng hoảng. Nhưng thập giá lại đảo ngược châm ngôn của cha mẹ tôi mà nói rằng: Sau nước mắt, là tiếng cười! Chỉ sau thập giá, niềm vui mới chân thực. Chỉ sau thập giá, sự hồ hởi của chúng ta mới biểu lộ niềm vui đích thực mà chúng ta từng cảm nghiệm lúc nhỏ, và chỉ khi đó sự hồ hởi của chúng ta mới thực sự chiếu tỏa sinh lực của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu hứa rằng nếu chúng ta vác lấy thập giá của Ngài, Thiên Chúa sẽ ban thưởng cho chúng ta với một sự hồ hởi vui tươi mà không một ai lấy mất được.

Chết lành

Trong văn hóa Công giáo La Mã mà tôi được nuôi dạy, chúng tôi được dạy cầu nguyện xin ơn chết lành. Với nhiều người Công giáo thời đó, đây là một lời nài xin trong lời kinh hằng ngày. “Xin cho con được chết lành.’
Nhưng người ta chết lành thế nào? Chẳng phải chết tự nó là một tiến trình đau khổ hay sao? Còn về những đau đớn khi chết, khi cho cuộc sống trôi qua tầm tay, khi nói những lời giã biệt cuối cùng? Liệu người ta có thể chết lành hay không?

Nhưng tất nhiên, đây là một cái nhìn tôn giáo. Chết lành nghĩa là người đó chết với đạo đức tốt và trong tình trạng có đạo. Như thế nghĩa là bạn không chết trong một tình trạng đạo đức nửa vời, bạn không chết khi xa rời giáo hội, bạn không chết cay đắng hay giận dữ với gia đình mình, và ít nhất, bạn không chết vì tự vẫn, vì quá liều thuốc phiện, hay chết khi đang phạm tội ác.

Hình tượng giáo lý về chết lành, thường là một giai đoạn về ai đó lớn lên trong gia đình Kitô giáo tốt lành, là một người lương thiện, đầy đức tin, khiết tịnh, đi lễ thường, nhưng có một khoảng thời gian xa lìa Thiên Chúa, không còn đi lễ và giữ các điều răn, đến mức có lúc người đó không còn nghĩ về Thiên Chúa, không còn đi lễ, và không còn giữ luân lý Kitô giáo nữa. Nhưng không lâu trước khi chết, một hoàn cảnh nào đó đã trở nên thời khắc ân sủng cho họ, rồi họ hối lỗi về sự sao nhãng, vô luân và bỏ bê hành đạo của mình, họ trở lại với giáo hội, xưng tội thành tâm, rước lễ, và không lâu sau họ qua đời vì một tai nạn hay một cơn đột quỵ. Nhưng họ chết trong ân sủng. Sau nhiều năm xa rời đạo đức và tôn giáo, họ đã trở lại đàn và chết lành.

Thật sự tất cả chúng ta đều biết những câu chuyện tương tự như thế, nhưng đáng buồn thay, chúng ta cũng biết những câu chuyện không như thế, xảy ra điều ngược lại, khi những người tốt lành lại chết trong những tình huống bi kịch, đáng buồn. Chúng ta đều từng mất người thân yêu vì tự vẫn, rượu chè, và đủ cách chết khác rất không lý tưởng. Chúng ta cũng biết nhiều người tốt, đã chết trong những tình huống đạo đức nửa vời, hoặc chết trong cay đắng, không thể làm mềm lòng mình trong sự tha thứ. Họ có chết lành không?

Phải thừa nhận là họ chết theo những cách thức bất hạnh, nhưng chết lành không được phán định dựa vào việc cái chết đến trong tình huống đang lên hay đang xuống. Có nhiều người chết lành như kiểu giai thoại ở trên, khi cái chết đến với họ trong tình huống đang lên. Nhưng có những người với một đời sống lương thiện, tốt lành và yêu thương, nhưng lại bất hạnh bị cái chết ập đến trong lúc đang giận dữ, yếu đuối, trong lúc trầm cảm hay chết vì nghiện ngập hoặc tự vẫn. Cái chết đến với họ khi đang xuống. Họ có chết lành không? Ai là người phán định điều này?

Thế nào là chết lành? Tôi thích một mô tả của Ruth Burrow. Nữ tu dòng Carmel này chia sẻ cho chúng ta câu chuyện về một chị em trong dòng từng sống với xơ. Xơ này có tâm hồn tốt lành, nhưng lại yếu đuối. Xơ đã vào tu viện chiêm niệm để cầu nguyện, nhưng không bao giờ có thể tập trung vào khuôn khổ này. Nên xơ sống nhiều năm trong tình trạng giằng xé, tấm lòng tốt nhưng lại tầm thường. Đến lúc có tuổi, xơ bị chẩn đoán mắc bệnh nan y, khiến xơ hoảng sợ đến nỗi bắt đầu nỗ lực hết mình để trở nên con người mà xơ hằng mong muốn, một con người cầu nguyện. Nhưng nửa thế kỷ với lề lối xấu không dễ gì thay đổi. Dù có đưa ra nhiều giải pháp mới, xơ này vẫn không thể thành công trong việc biến chuyển đời mình. Xơ chết trong sự yếu đuối. Nhưng xơ Burrows khẳng định, xơ này đã chết lành. Xơ chết cái chết của một người yếu đuối, xin Chúa tha thứ cho quãng đời yếu đuối của mình.

Chết lành là chết trong sự thành thật, bất chấp tình trạng lúc chết có nét đạo hay không. Chết trong những hoàn cảnh đúng đắn, tất nhiên là sự an ủi tuyệt diệu cho gia đình và người thân, và cũng như vậy, chết trong những hoàn cảnh đáng buồn có thể khiến họ thêm đau lòng. Nhưng chết trong những hoàn cảnh có vẻ không tốt lành, không nhân văn hay tôn giáo, không nhất thiết là một cái chết dữ. Chúng ta chết lành khi chết trong sự thành thật, bất chấp hoàn cảnh hay yếu đuối.

Và sự thật này cho chúng ta một thách thức khác. Những hoàn cảnh chết của một người, dù đang buồn hay bi thảm, cũng không nên là lăng kính để chúng ta nhìn lại cuộc đời người đó. Điều này nghĩa là nếu ai đó chết trong tình trạng đạo đức nửa vời, trong một giây phút hay một thời gian yếu lòng, xa rời giáo hội, chết trong cay đắng, chết vì tự vẫn hay nghiện ngập, thì không được phán xét sự tốt lành của đời sống và tâm hồn người đó bằng hoàn cảnh chết. Cái chết đến với người đó lúc đang xuống, có thể khiến lời cáo phó khó khăn hơn, nhưng chắc chắn không phải là một phán xét đúng đắn về sự tốt lành của người đó trong tâm hồn.

Nỗi sợ

Nếu không hoàn toàn là một thánh nhân hay một nhà thần nghiệm, bạn sẽ luôn sống trong nỗi sợ cái chết và đời sau. Đó đơn thuần là một phần nhân sinh. Nhưng chúng ta có thể và phải, vượt lên nỗi sợ của chúng ta trước Thiên Chúa.

Khi còn là đứa trẻ, tôi sống với nhiều nỗi sợ. Tôi từng có một tưởng tượng rất sinh động và thường lặp đi lặp lại, hình dung thấy những kẻ sát nhân núp dưới giường mình, rắn độc bò trườn trên chân, những bả thuốc độc trong thức ăn, những kẻ bắt nạt đang tìm nạn nhân để hành hạ, và cả trăm cách khác khiến tôi phải chết, những mối đe dọa đủ kiểu đang lẩn khuất trong bóng tối. Khi còn nhỏ, tôi thường sợ, sợ bóng tối, sợ chết, sợ đời sau, và sợ Thiên Chúa.

Khi trưởng thành, những tưởng tượng của tôi cũng trưởng thành, không còn hình dung rắn bò khắp nơi hay có kẻ giết người rình rập. Tôi bắt đầu thấy mạnh mẽ lên, tự chủ, hình dung những sự vô minh với các góc tối của nó là một cơ hội để lớn lên hơn là một mối đe dọa sự sống. Nhưng dẹp đi nỗi sợ rắn rết, sợ kẻ sát nhân giấu mặt và sợ bóng tối, là một chuyện. Còn để vượt qua được nỗi sợ cái chết, sợ đời sau, và sợ Thiên Chúa lại là chuyện khác, khó hơn nhiều. Những nỗi sợ này là những con quỷ cuối cùng cần phải trừ đi, và phép trừ tà này không bao giờ tiễu trừ hoàn toàn được. Chính Chúa Giêsu đã run rẩy trong nỗi sợ chết, trước những chuyện vô minh mà chúng ta phải đối diện trong cái chết. Nhưng Ngài không run rẩy trước Thiên Chúa, và đó là sự khác biệt. Khi đối diện với cái chết và sự vô minh, Ngài có thể trao trọn bản thân cho Thiên Chúa Cha, với niềm tin của một người con, như đứa bé bám vào cha yêu thương của mình, và chính đó cho Ngài sức mạnh và can đảm để tiếp tục đi qua cái chết vô danh, cô độc và bị hiểu lầm, với phẩm giá, trìu mến và tha thứ.

Chúng ta không bao giờ cần phải sợ Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng đáng tin cậy. Nhưng tin tưởng Thiên Chúa cũng bao hàm một nỗi sợ lành mạnh trước Thiên Chúa, bởi một nỗi sợ nhất định là một phần tự có của tình yêu. Kinh thánh nói rằng: Kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan. Nhưng nỗi sợ đó, nỗi sợ lành mạnh, phải được hiểu là một sự tôn kính, một sự kinh đảm yêu thương, một tình yêu sợ mình khiến người yêu thất vọng. Nỗi sợ lành mạnh là nỗi sợ của tình yêu, sợ mình phản bội, sợ mình không chung thủy với một tình yêu nhưng không. Chúng ta không sợ người mà chúng ta tin tưởng, không sợ người đó đột nhiên trở nên độc đoán, bất công, ác độc, không thể hiểu nổi, tàn bạo, và không còn yêu thương. Không. Mà là chúng ta sợ rằng liệu chúng ta có xứng đáng với niềm tin tưởng được đặt nơi chúng ta không, có thể là niềm tin của ai đó, và có thể là niềm tin của Chúa.

Nhưng chúng ta phải tin tưởng rằng Thiên Chúa thông hiểu con người. Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta luôn ý thức để tâm đến Ngài. Thiên Chúa chấp nhận bản tinh lang bạt của tâm hồn chúng ta. Thiên Chúa chấp nhận những mệt mỏi và kiệt nhọc của chúng ta. Thiên Chúa chấp nhận nhu cầu cần lơ đãng và thoát ly của chúng ta. Thiên Chúa chấp nhận rằng chúng ta thường dễ chìm vào giải trí hơn là cầu nguyện. Và Thiên Chúa còn chấp nhận sự kháng cự của chúng ta với Ngài, cả nhu cầu muốn kiêu ngạo khẳng định sự độc lập của mình. Như một người mẹ trìu mến ôm đứa con đang la hét giãy đạp, nhưng lại đang cần được bồng ẵm và nâng niu, Thiên Chúa cũng có thể xử trí những cơn giận, thương thân và kháng cự của chúng ta. Thiên Chúa hiểu con người, nhưng chúng ta phải đấu tranh để hiểu con người có ý nghĩa gì trước mặt Thiên Chúa.
Trong nhiều năm, tôi sợ rằng tôi đã quá chìm vào trong những chuyện của đời này, tự nhận mình là một con người có tâm linh, tôi luôn sợ rằng Chúa muốn nhiều hơn nữa nơi tôi. Tôi cảm thấy tôi phải dành thêm thời gian để cầu nguyện, nhưng thường thì đến lúc đó tôi lại quá mệt để cầu nguyện, quá hứng thú xem một trận cầu trên tivi hay quá thích thú được ngồi lại với gia đình, đồng nghiệp, hay bạn bè, nói về đủ chuyện ngoài những chuyện tâm linh. Trong nhiều năm, tôi sợ rằng Thiên Chúa muốn tôi phải tâm linh tuyệt đối. Có lẽ là thế thật. Nhưng khi có tuổi, tôi bắt đầu nhận ra rằng hiện diện với Chúa trong cầu nguyện và hiện diện với Chúa trong lòng, thì giống như hiện diện với một người bạn đáng tin cậy vậy. Trong một tình bạn nhẹ nhàng thoải mái, bạn bè không dành hết thời gian để nói về tình cảm dành cho nhau. Mà họ nói về đủ thứ chuyện, tán gẫu, thời tiết, công việc, con cái, những cơn đau đầu, những chuyện đau lòng, mệt mỏi, những chuyện vừa xem được trên tivi, đội bóng yêu thích, những chuyện chính trị, và chuyện đùa mới nghe được. Và dù thế, thỉnh thoảng đôi bạn thân cũng than phiền rằng lý tưởng nhất mình nên nói về những chuyện sâu sắc hơn đi chứ. Có nên không nhỉ?

Gioan Thánh Giá đã dạy rằng, trong bất kỳ tình thân lâu dài nào, đến tận cùng những chuyện quan trọng nhất bắt đầu xảy ra dưới bề mặt, và những đàm đạo bên ngoài trở thành thứ yếu. Ngồi lại với nhau, thoải mái với nhau, cảm giác như đang ở nhà, đó là những gì chúng ta trao cho nhau trong tình thân.

Và trong mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa, cũng đúng như thế. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta làm con người, và Thiên Chúa muốn chúng ta, những con người với đủ yếu đuối lơ đãng, hiện diện trong Ngài với sự thanh thản, thoải mái và cảm giác như đang ở nhà. Nỗi sợ Thiên Chúa có thể là tôn kính mà cũng có thể là nhút nhát, mà tôn kính thì lành mạnh còn nhút nhát là hoang tưởng.

Nỗi sợ Địa ngục

Địa ngục không bao giờ là một chuyện ngạc nhiên khủng khiếp chờ sẵn một con người hạnh phúc. Địa ngục chỉ có thể là triển nở cho sự kiêu ngạo và ích kỷ, qua thời gian dài, đã làm méo mó tâm hồn hoàn toàn đến nỗi xem hạnh phúc là bất hạnh và ngang ngược khinh miệt nhưng con người hạnh phúc. Nếu bạn có hơi ấm tâm hồn ở đời này, bạn chẳng phải sợ sẽ có một bất ngờ khủng khiếp chờ đợi mình ở thế giới bên kia, kiểu như lỡ trong một lúc nào đó bạn ngơ ngẩn và lỡ mất con thuyền qua suối vàng, khiến mọi chuyện trở nên sai lầm trầm trọng.

Nhưng thật đáng buồn cho nhiều người chúng ta, giáo lý và những lời giảng nghe được lúc còn nhỏ, đôi khi dựng lên trong đầu chúng ta ý niệm rằng mình có thể lỡ mất con thuyền và không còn đường quay lại. Bạn có thể sống đời mình trong chân thành, căn bản là lương thiện, tương đối công bằng với người khác, cố gắng hết sức với những yếu đuối của mình, có những chuyện vui vẻ và hạnh phúc trong đời, rồi chết đi và thấy rằng một tội lỗi nào đó bạn từng mắc phải, thậm chí là không biết mình từng mắc phải, có thể khiến bạn rơi xuống địa ngục và không còn cơ hội hối cải. Giờ chết là cơ hội cuối cùng để thay đổi mọi chuyện, sau giờ chết sẽ không còn một cơ hội nào nữa, dù cho bạn có mong mỏi sám hối đến thế nào. Nhưng đó không phải sự thật. Chúng ta bị dựng lên trong đầu nỗi sợ cái chết và đời sau.

Nhưng, dù cho khái niệm này có tác dụng thực tiễn thế nào, dù cho nó có thực sự khiến người ta ngập ngừng trước cám dỗ bởi sợ sa vào hỏa ngục, thì về căn bản khái niệm này sai lầm và không thể dạy nó nhân danh Kitô giáo được. Tại sao lại thế? Bởi nó đi ngược lại Thiên Chúa và những chân lý thâm sâu mà Chúa Giêsu đã mặc khải. Chúa Giêsu dạy rằng có địa ngục và ai cũng có khả năng sa vào đó. Nhưng địa ngục mà Chúa Giêsu nói không phải là một nơi chốn hay tình trạng, lúc người ta nài xin một cơ hội cuối cùng, chỉ xin thêm một phút trong đời để làm một hành động ăn năn hối hận, nhưng Thiên Chúa lại khước từ. Thiên Chúa hiện thể và mặc khải trong Chúa Giêsu, là Thiên Chúa luôn mãi mở ra cho sự ăn năn, luôn mãi chờ đợi chúng ta trở về từ những nẻo đường hoang đàng.

Với Thiên Chúa, chúng ta không bao giờ hết cơ hội. Bạn có thể hình dung Thiên Chúa nhìn một con người ăn năn, mà nói rằng: ‘Xin lỗi! Với con, đã quá muộn rồi! Con đã có cơ hội! Đừng xin thêm nữa!’ Chúa Cha không như thế.
Nhưng các Phúc âm lại có thể khiến chúng ta có ấn tượng như thế. Ví dụ như, dụ ngôn về người giàu làm ngơ người nghèo trước cửa nhà mình, rồi ông chết và vào hỏa ngục, còn người nghèo Lazarô giờ ở trên thiên đàng, trong lòng của Abraham. Giày vò trong địa ngục, người giàu xin Abraham nhờ Lazarô cho ông ít nước, nhưng Abraham trả lời rằng có một khoảng trống không thế kết nối giữa thiên đàng và địa ngục, và không ai từ bên này qua bên kia được. Đoạn này cùng với lời cảnh báo của Chúa Giêsu trong dụ ngôn tiệc cưới, là một sự chấm dứt bất di bất dịch, khiến dẫn đến một hiểu lầm chung rằng, có một điểm một đi không trở về, một khi vào địa ngục là quá trễ để ăn năn.

Nhưng đó không phải là lời dạy trong những đoạn văn này cũng như trong những lời Chúa Giêsu cảnh báo phải ăn năn sám hối. Khoảng trống không thể kết nối mà dụ ngôn người giàu và Lazarô, là môt khoảng trống không bao giờ kết nối trong đời này giữa người giàu và người nghèo. Và nó vẫn còn không thể kết nối, là bởi sự ngoan cố, không biết động lòng, thiếu ăn năn, chứ không phải bởi Thiên Chúa hết kiên nhẫn mà nói rằng: ‘Đủ rồi! Không còn cơ hội nào nữa!’ Nó vẫn không thể kết nối là bởi, chúng ta theo lề thói mà bám chặt vào những đường lối không thể thay đổi tâm hồn và có sự ăn năn thật.

Dụ ngôn người giàu và Lazarô thực sự rút ra từ một câu chuyện Do Thái cổ hơn nữa, minh họa sự ngoan cố này: Trong dụ ngôn Do Thái, Thiên Chúa nghe lời kêu xin của người giàu từ địa ngục xin một cơ hội thứ hai, rồi ban cho ông toại nguyện. Người giàu, giờ có những giải pháp mới, trở lại cuộc đời, và đi thẳng đến chợ, mua thức ăn chất đầy xe. Trên đường về nhà, ông gặp Lazarô. Lazarô xin người giàu một ổ bánh. Người giàu nhảy khỏi xe và đưa cho Lazarô một ổ, nhưng bởi đó là một ổ bánh lớn, nên cái tôi cũ của ông bắt đầu phản ứng. Ông bắt đầu suy nghĩ. ‘Người này không cần cả ổ bánh lớn! Tại sao không đưa cho nó một phần thôi! Và tại sao lại đưa bánh mì mới, ta có thể cho nó bánh mì khô mà!’ Ngay lập tức, người giàu thấy mình rơi xuống hỏa ngục. Ông ta không thể kết nối qua được khoảng trống đó.

Kathleen Dowling Singh nhận định rằng khi tạo ra một loạt những sự thu hẹp về tinh thần, là chúng ta đang tạo ra nỗi sợ cái chết cho mình. Và đời sau cũng như vậy. Khi tạo ra một loạt những sự thu hẹp về thần học, là chúng ta đang tạo ra nỗi sợ địa ngục của mình.

Tự vẫn và Sức khỏe Tinh thần

Khi còn nhỏ, tôi khát khao trở thành vận động viên chuyên nghiệp, nhưng sớm chấp nhận sự thật không dễ chịu rằng đơn giản tôi không có thân thể của một vận động viên. Tốc độ, sức mạnh, sức bền, bản năng, tầm nhìn, dần dà tôi cũng có, nhưng không đủ mạnh để làm vận động viên.

Tôi phải mất nhiều năm để bình tâm với chuyện này, nhưng tôi còn mất nhiều thời gian hơn nữa, đến tận tuổi trung niên, mới biết được và tạ ơn vì sự thật rằng, trong khi tôi không được một cơ thể như vận động viên, thì tôi lại có một sức khỏe tinh thần tráng kiện, một ơn quá lớn lao mà tôi không xứng đáng có được, một ơn còn quan trọng hơn thân thể lực sĩ. Tôi thường tự hỏi nếu mình có thân thể của vận động viên thì sẽ như thế nào, nếu mình có tốc độ, sức mạnh và uyển chuyển như thế sẽ ra sao. Nhưng tôi chưa bao giờ tự hỏi sẽ thế nào nếu như tôi có một tâm trí mạnh mẽ, vững vàng, bền bỉ biết cách trả đòn, xé toang hàng phòng ngự, không ngại va chạm, và không để sự căng thẳng của cuộc chơi khiến mình nản lòng.

Và tôi có được nhận thức này với cái giá là một số thời điểm đau đớn nhất trong đời. Khi ngày càng có tuổi, tôi bắt đầu thấy một vài bạn học cũ của mình, vài bậc thầy mà tôi tin tưởng, những người quen đủ kiểu và những người bạn thân thiết, họ đã thua trong cuộc chiến sức khỏe tinh thần, và chầm chậm hay nhanh chóng, chìm dần trong nhiều dạng trầm cảm lâm sàng, những kiểu tê liệt và đau đớn về tinh thần, mất trí nhớ đủ kiểu, những thay đổi tiêu cực về tính cách, tự sát và tệ nhất là giết người.

Dần dần trong đau đớn và ngập ngừng, tôi dần biết rằng không phải ai cũng có năng lực đủ để giữ mình vững vàng và hăng hái. Tôi cũng biết rằng sức khỏe tinh thần thực sự tương đương với sức khỏe thể lý, nó mỏng manh và không hoàn toàn trong tầm kiểm soát của chúng ta. Hơn nữa, cũng như các chứng tiểu đường, viêm khớp, ung thư, đột quỵ, xơ cứng teo cơ một bên, và đủ loại xơ cứng khác, có thể gây suy nhược và cả cái chết, thì những chứng bệnh tinh thần cũng gieo tàn phá trong tâm trí, cũng gây nên đủ loại suy nhược, và dù không thường có, nhưng vẫn dẫn đến cái chết, đến tự vẫn.
Làm sao để định nghĩa một sức khỏe tinh thần tráng kiện? Sức khỏe tinh thần tráng kiện không nên nhầm lẫn với hiểu biết hay lỗi lạc. Cả hai đều không phải. Đúng hơn, đó là một sự vững vàng, năng lực luôn luôn có mỏ neo giằng giữ, cân bằng, ngoi lên và bền bỉ, trước tất cả những chuyện tốt xấu mà cuộc đời giáng xuống bạn. Thật vậy, đôi khi nó có thể là một khối chặn đường tích cực đối với sáng tạo và xuất chúng. Có vẻ như, vài người quá điềm đạm và ôn hòa, đến nỗi không thể xuất chúng được. Và những người xuất chúng, các họa sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ tài năng, thường không cố gắng giữ mình điềm đạm vững vàng. Sự xuất chúng và vững vàng thường là hai thiên tư khác biệt. Qua nhiều năm viết về tự vẫn, tôi đã nhận được nhiều thừ từ, e-mail và cuộc gọi, với những bận tâm thống khổ mong muốn hiểu được sức khỏe tinh thần. Có một lá thư của một nhà tâm thần học xuất chúng, bà lo lắng về sự ổn định của riêng mình và về gia đình mình. Bà viết, ‘Mọi người trong gia đình tôi đều xuất chúng, nhưng không một ai được ổn định cả!’ Tất nhiên, chúng ta đều biết nhiều gia đình khác ngược lại thế.

Nói ngắn gọn, chúng ta cần hiểu rõ hơn về sức khỏe tinh thần. Có lẽ nhu cầu này không phải cho các bác sĩ, nhà tâm lý học, và chuyên gia sức khỏe tinh thần, hay cho những người đã có hiểu biết đáng kể về sức khỏe tinh thần cũng như đã có nhiều nghiên cứu đáng giá về nó. Tôi đang nói đến nhu cầu trong nền văn hóa chung, nhất là về những chuyện liên quan đến tự vẫn.

Khi thấy ai đó bị khuyết tật thể lý hay mang bệnh thân xác, thật dễ để chúng ta hiểu những hạn chế của họ và rồi động lòng cảm thông. Nhưng điều này là vì chúng ta có thể thấy, thấy bằng con mắt thể xác, các khuyết tật hay bệnh tật đó. Chúng ta có thể sẽ thấy nản lòng, bất lực, thậm chí là giận dữ trước những gì chúng ta thấy, nhưng nhìn chung, chúng ta đều hiểu. Chúng ta hiểu điều này! Tự nhiên đã chia cho người này những quân bài như thế, và chẳng đổ lỗi cho ai về chuyện này được!

Nhưng về sức khỏe tinh thần thì không như vậy. Khuyết tật và bệnh tật của tinh thần không quá công khai hay dễ hiểu. Điều này đặc biệt đúng với những suy sụp sức khỏe tinh thần dẫn đến tự vẫn. Trong nhiều thế kỷ, người ta đã chẩn đoán sai trầm trọng về tự vẫn, không chỉ là về mặt luân lý và tôn giáo. Thời nay, chúng ta ngày càng tự nhận mình hiểu chuyện, ngay cả khi không thực sự hiểu. Vẫn luôn cần có một cái nhìn sâu sắc hơn, trực giác hơn. Chúng ta không thực sự hiểu sự mỏng manh của tinh thần.

Sức khỏe thể lý của chúng ta có thể tráng kiện hay mỏng manh, và sức khỏe tinh thần cũng thế. Trong cả hai trường hợp, chúng ta sẽ mạnh mẽ đến độ nào, dựa vào những quân bài chúng ta có trong tay, năng lực bẩm tại, và môi trường hình thành nên chúng ta. Chúng ta không đặt hàng cho thân thể và tâm trí mình, và tự nhiên không phải lúc nào cũng chia bài đều tay.

Chúng ta cần nhận thức rõ hơn về sức khỏe và suy sụp tinh thần. Chúng ta không miễn nhiễm với đủ loại ung thư, đột quỵ, tiểu đường, và xơ hóa về tâm lý và cảm xúc. Và chúng cũng có thể trở nên nan y, như trong trường hợp một người tự vẫn.

Những thiên thần với lưỡi hái và cơn thịnh nộ của Thiên Chúa

Có một đoạn đầy ám ảnh trong sách Khải Huyền, một hình ảnh nên thơ nhưng có thể bị diễn giải sai đầy nguy hiểm. Tác giả sách viết thế này: “Và Thiên thần kia đã quăng liềm xuống đất và cắt nho nơi vườn nho cõi đất, và đổ vào bồn thịnh nộ của Thiên Chúa, cái bồn vĩ đại.” Một thiên thần tàn khốc quét sạch thế giới! Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ tam bành! Chúng ta hiểu chuyện này thế nào đây?

Như nhiều đoạn khác trong Kinh thánh, chúng ta cần nghiêm túc đón nhận đoạn này nhưng không phải theo nghĩa đen. Rõ ràng, đoạn văn này cũng như những đoạn văn khác trong Kinh thánh nói về sự ghen tuông, giận dữ và báo oán của Thiên Chúa, có tầm quan trọng đáng để chúng ta học hỏi. Nhưng như nhiều đoạn văn khác nói về sự ghen tuông và giận dữ của Thiên Chúa, nó cũng có thể bị hiểu lầm đầy nguy hiểm. Không phải Thiên Chúa nổi giận, không phải đôi khi Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ với chúng ta, và trút tai ương xuống trái đất bởi tội chúng ta. Đúng ra, ý nghĩa của đoạn văn này là những hành động của chúng ta có hậu quả, rằng tội lỗi trút tai ương xuống trái đất và cả trong linh hồn chúng ta, khiến chúng ta giận dữ, tự thù ghét bản thân mình, và thiếu sự tự dung thứ, và chính điều này đem lại cảm giác như Thiên Chúa giận dữ và trừng phạt chúng ta.

Thiên Chúa không nổi giận, đơn giản và hoàn toàn là thế. Thiên Chúa không phải là một tạo vật như chúng ta. Đường lối Thiên Chúa khác với đường lối loài người. Điều này đã được xác nhận từ ngôn sứ I-saia và xuyên suốt 2000 năm truyền thống Kitô giáo. Chúng ta không thể phóng chiếu lề lối hiện hữu, suy nghĩ và yêu thương của mình vào Thiên Chúa. Nhất là khi chúng ta muốn hình dung một Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ. Lòng thương xót, tình yêu thương, và sự tha thứ không phải để cho Chúa, mà là cho chúng ta. Đó là bản tính của Thiên Chúa. Thiên Chúa không giận như như chúng ta.
Kinh thánh và truyền thống Kitô giáo có nói về Thiên Chúa nổi giận, nhưng thần học Kitô giáo nói rõ ràng rằng, đó là sự nhân cách hóa, là một phóng chiếu suy nghĩ và cảm xúc của con người lên Thiên Chúa. Khi chúng ta nói rằng Thiên Chúa đang nổi giận hay đang trừng phạt chúng ta vì tội lỗi, về căn bản không phải chúng ta đang nói về cảm giác của Thiên Chúa với chúng ta, mà đúng hơn là cảm giác của chúng ta về Thiên Chúa và về bản thân cũng như hành động của mình.

Ví dụ như, khi thánh Phaolô nói rằng khi phạm tội, là chúng ta cảm nhận ‘cơn thịnh nộ của Thiên Chúa,’ ngài không có ý nói rằng Thiên Chúa nổi giận khi chúng ta phạm tội. Đúng hơn là, chúng ta nổi giận với chính mình khi phạm tội. Khái niệm về cơn thịnh nộ của Thiên Chúa là một ẩn dụ, và tôi cho là có thể minh họa qua một cuộc chè chén say sưa. Nếu người ta không tiết độ khi uống rượu, thì Thiên Chúa không hài lòng và cho người đó cơn đau đầu. Nhưng cái chuyện thịnh nộ đó phát xuất từ chính hành động đó. Nồng độ cồn quá cao gây hại não bộ, dẫn đến đau đầu. Cơn đau không phải từ Thiên Chúa, dù cho chúng ta có thể cảm nhận nó như sự trừng phạt, như cơn thịnh nộ của Chúa với sự vô trách nhiệm của chúng ta. Nhưng đây là một phóng chiếu của chúng ta, một sự nhân cách hóa.

Khi nói rằng chúng ta đã xúc phạm đến Chúa và Ngài nổi giận với chúng ta, không phải là chúng ta đang chúc tụng Chúa, mà chỉ là đang tâng bốc chính mình. Thiên Chúa không chỉ là nguồn gốc hiện hữu của chúng ta, là Đấng Tạo Hóa, và Đấng Vạn biến Bất biến. Thiên Chúa còn là một người yêu thương từng người một trong chúng ta tha thiết, nên thật tự nhiên khi hình dung đôi khi Thiên Chúa nổi giận, thật tự nhiên khi chúng ta phóng chiếu những giới hạn của mình lên Thiên Chúa.

Nhưng trước tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, thì những suy nghĩ và cảm nhận, những năng lực hữu hạn của chúng ta để sống yêu thương trong đời, trở nên quá tầm thường. Thử hình dung xem, một người ông đầy yêu thương đang bồng ẵm đứa cháu sơ sinh của mình. Thử hỏi đứa bé đó có thể làm gì để xúc phạm đến ông của mình đây? Sự chính chắn, thông hiểu và yêu thương của Thiên Chúa chắc chắn vượt xa tột cùng. Làm sao Thiên Chúa bị xúc phạm được?

Nhưng, chẳng phải những lời nói về cơn giận của Thiên Chúa là một phần thiết yếu trong truyền thống, Kinh thánh, lời kinh, thánh vịnh, và phụng vụ của chúng ta hay sao? Tất cả đều nói về việc chúng ta xúc phạm Chúa và Ngài nổi giận. Những lời này chỉ viết cho có thôi sao? Không. Những lời này dạy chúng ta một sự thật quan trọng, dù cho sự thật đó được thể hiện theo kiểu nhân cách hóa. Chúng có dụng ý thách thức linh hồn, cũng một cách như chứng khó tiêu thách thức cơ thể. Thiên Chúa không trừng phạt chúng ta vì ăn bậy bạ hay ăn quá nhiều. Mà là sinh học của chúng ta làm thế, và khi làm thế nó cho chúng ta dấu hiệu khó nuốt rằng chúng ta đang làm điều sai. Có thể nói ẩn dụ rằng, chứng khó tiêu như một thiên thần báo oán ném bạn vào cối xay của cơn thịnh nộ sinh học.

Thiên Chúa không ghét chúng ta khi chúng ta làm sai, mà là chúng ta tự ghét chính mình. Thiên Chúa không trút báo oán trên chúng ta khi chúng ta phạm tội, nhưng là chúng ta tự hành hạ mình. Và Thiên Chúa không bao giờ dè xẻn sự tha thứ với chúng ta dù cho chúng ta có làm gì đi nữa, nhưng chính chúng ta thấy thật khó để tha thứ cho những trái quấy của mình. Thật sự có một lưỡi hái thiên thần và cối xay thịnh nộ của Thiên thần, nhưng đó là tên cho cảm nghiệm bất mãn và tự thù ghét bản thân của chúng ta mỗi khi chúng ta bất tín. Chúng không liên quan gì đến bản tính của Thiên Chúa cả.

Nỗi bất an thâm sâu nhất của chúng ta

Tại sao chúng ta không sống hạnh phúc hơn? Tại sao chúng ta luôn mãi rơi vào thất vọng, căng thẳng, giận dữ, và phẫn uất?

Tất nhiên có quá nhiều lý do để gọi tên. Như Chúa Giêsu nói, ngày nào có đủ vấn đề cho ngày ấy. Chúng ta không hạnh phúc bởi quá nhiều chuyện. Nhưng cũng hữu ích nếu đôi khi, chúng ta biết tự vấn: Tại sao tôi lại quá triền miên đứng bên ngoài cánh cổng hạnh phúc kia chứ?

Câu trả lời ban đầu của chúng ta có lẽ sẽ hướng về những áp lực trong đời khiến chúng ta mệt mỏi, có vấn đề sức khỏe, căng thẳng trong các mối quan hệ, căng thẳng trong công việc, và lo lắng về sự an toàn của mình. Luôn luôn có chuyện gì đó. Một suy tư khác, có thể dò đến những nguyên do sâu xa hơn, như sự thất vọng vô thức về việc cuộc sống của chúng ta trở nên như thế này, đi xuống như thế này, kèm theo nhiều giấc mơ đã tiêu tan vỡ mộng.

Nhưng một suy tư sâu hơn nữa, sẽ soi rọi vào một điều gì đó, một điều nằm ngoài những áp lực thông thường và thất vọng sâu hơn trong đời chúng ta. Tôi cho rằng, nó sẽ hé lộ một sự bất an vô thức tiềm ẩn, không ngừng biến tích cực thành tiêu cực, khiến chúng ta cứ nguyền rủa thay vì chúc lành, và thậm chí khiến chúng ta phóng chiếu sự tiêu cực và cay đắng của mình vào Thiên Chúa và tôn giáo mà chúng ta tin. Vậy sự bất an này là gì?

Sự bất an này, tận gốc rễ, là một cảm giác rằng chúng ta không được chào đón cho đủ trong thế giới này, rằng Thiên Chúa và vũ trụ theo cách nào đó đang thù địch với chúng ta, rằng chúng ta không được yêu thương và tha thứ vô điều kiện. Và bởi thế, chúng ta có một sự hoang tưởng và thù địch nhất định với tha nhân. Sinh lực của người khác là mối đe dọa đến sự chào đón mà chúng ta mong mỏi.

Linh mục Thomas Merton đã chẩn đoán về vấn đề này. Bình luận về sự tiêu cực trong chính trị, giáo hội và cộng đồng thời đại mình, cha Merton đưa ra một lý do này để giải thích về sự cay đắng và chia rẽ:

‘Trong một bầu khí không hướng về sự sống và lòng thương xót, nhưng hướng về sự chết và lên án, thì tội lỗi chung và riêng của những con người và đoàn thể, vật lộn chống lại nhau trong một nỗ lực sinh tử. Con người, bộ lạc, quốc gia, giáo phái, đảng phái thiết lập sự hiện hữu của mình bằng cách cáo buộc lẫn nhau. Do đó họ tìm cách sinh tồn và khẳng định bản thân bằng cách sống quỷ ám, bởi quỷ là ‘kẻ lên án anh em mình.’ Một hiện hữu quỷ ám là kẻ kiên quyết chẩn đoán những gì không thể chữa, những gì không có mong muốn chữa lành, nó chỉ tìm cách tối đa hóa tiềm lực nhằm gây chết chóc cho các nạn nhân của nó. Nhưng đây là cám dỗ bủa vây tình trạng hiện sinh của con người, một hiện hữu phẫn uất ngụ ý nhu cầu muốn và quyết định phải cáo buộc và lên án tất cả những hiện hữu khác.

…Và khi sự thật đúng là thế, thì Thiên Chúa trở thành một tổ vật bộ lạc, một sự tán tụng cho đấu tranh hiện sinh tìm kiếm cái tôi nhằm thiết lập sự tự trị trong hố thẳm trống rỗng của nó. Một Thiên Chúa như thế có thể là gì ngoài hiện thân của phẫn uất, thù hận, và kinh khiếp chứ? Chính sự tồn tại những thần tượng như thế mà các tinh thần chính thống báo oán và gây chết chóc nở rộ. Những thần của các đảng phái, giáo phái, chủng tộc và quốc gia này, chắc chắn là thần chiến tranh. … Và điều này chỉ có thể sửa đổi, khi con người nhận ra rằng mình chỉ là con nợ mang món nợ không thể nào trả nổi.’

Và ngày nay chẳng phải cũng đúng như thế hay sao? Các nghị trình chính trị, giáo hội và cộng đồng của chúng ta quá bế tắc, phân cực, quỷ ám và xấu xa! Tất cả chúng ta quá phẫn uất! Chúng ta đã biến Thiên Chúa của mình thành hiện thân của phẫn uất, thù hận và sợ hãi. Chúng ta đang biến các tinh thần chính thống gieo chết chóc thành tôn giáo. Cộng đồng và giáo hội chúng ta đang tạo ra những thần linh bộ lạc của mình đến thế nào? Tất nhiên chúng ta thấy điều này gần như rõ ràng nơi những kẻ khủng bố tôn giáo, đánh bom và giết hại nhân danh Thiên Chúa. Nhưng thật ra, nó không trừ một ai. Tất cả chúng ta đều đấu tranh để tin vào một Thiên Chúa thật sự yêu thương tất cả mọi người và một Thiên Chúa không phải là thần linh bộ lạc cho riêng chúng ta. Thật sự một phần nguyên do lịch sử của chủ nghĩa khủng bố tôn giáo thời nay có liên quan đến chứng hoang tưởng dai dẳng và cách chúng ta phóng chiếu những phẫn uất, sợ hãi và thù hận của mình vào Thiên Chúa mà chúng ta tin và vào tôn giáo mà chúng ta giữ.

Nhưng linh mục Merton cũng chia sẻ bí quyết để vượt lên cám dỗ này, chấm dứt chuyện phóng chiếu những phẫn uất và sợ hãi của chúng ta vào Thiên Chúa và giáo hội. Lời giải của cha là gì? Mọi sự sẽ thay đổi, khi tận cội rễ hiện hữu, chúng ta thừa nhận rằng mình là con nợ mang một món nợ không thể trả. Rồi cuối cùng chúng ta sẽ chấp nhận sự chào đón và tình yêu thương của Thiên Chúa, và chấp nhận mình được chào đón, rồi chúng ta sẽ không còn oán giận người khác nữa. Chỉ khi chúng ta biết mình được chào đón, thì chúng ta mới có thể chấp nhận chứ không lên án. Và rồi, chỉ khi đó, chúng ta mới để Chúa của chúng ta cũng là Chúa của người khác.

Nơi gốc rễ của sự phẫn uất thâm sâu nhất, là một sự bất an không chắc mình có được chào đón trong thế giới hay không, đi kèm việc bất lực để nhận thức bản tính đích thực của Thiên Chúa. Và do đó, vì chúng ta cảm giác mình bị đe dọa, nên cứ luôn mãi tạo ra một Thiên Chúa và tôn giáo để che chắn cho chúng ta chống lại người khác.

Đấu tranh với tính Tự đại

Chúng ta sống trong một thế giới mà mọi thứ đều kích động mạnh đến thói tự đại của chúng ta, trong khi đó thì càng ngày càng ít công cụ để cự lại với nó.

Vài năm về trước, Robert L. Moore đã viết một quyển sách rất ý nghĩa, với tựa đề Đối diện Con Rồng [Facing the Dragon]. Moore tin rằng con rồng đe dọa chúng ta nhất, chính là con rồng của tính tự đại trong chúng ta, nó khuấy động nội tâm chúng ta khiến chúng ta tin rằng mình đặc biệt phi thường và mang số mệnh cao cả. Tình trạng này bủa vây tất cả chúng ta. Nói đơn giản, mỗi người chúng ta, mỗi một trong bảy tỷ người trên trái đất, không thể nào không cảm thấy mình là trung tâm của vũ trụ. Và bởi điều này gần như vô thức, đồng thời chúng ta lại thiếu khí cụ để giải quyết nó, nên nó gây ra một tình trạng đáng lo sợ. Tự đại không phải là công thức cho hòa bình và hòa hợp, mà là cho ghen tương và xung đột.

Mà tình trạng này không phải lỗi của chúng ta, và tự nó cũng không phải là là một khiếm khuyết đạo đức trong bản tính của chúng ta. Sự tự đại của chúng ta phát xuất từ cách Thiên Chúa tạo thành chúng ta. Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa. Đây là chân lý giáo điều căn bản nhất trong nhận thức Do Thái- Kitô giáo về nhân thể. Tuy nhiên, không thể hiểu nó theo kiểu đơn giản hóa, như kiểu một biểu tượng đẹp đẽ được đóng dấu vào linh hồn chúng ta. Đúng hơn, cần phải hiểu thế này: Thiên Chúa là lửa, lửa bất diệt, một sinh lực không ngừng tìm kiểm để ôm trọn và thổi bùng mọi tạo vật. Và ngọn lửa đó có trong chúng ta, khơi lên trong chúng ta những cảm thức thần linh, một trực giác rằng chúng ta cũng có sinh lực thần thiêng, và cũng là một áp lực muốn trở nên đặc biệt phi thường và đạt được một sự cao cả nào đó.

Có thể nói, được tạo thành theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa, nghĩa là có một con chíp thần thiêng bên trong chúng ta. Nó thiết lập cho chúng ta phẩm giá cao cả nhất nhưng ccùng lúc tạo nên những vấn đề lớn lao nhất. Sự vô hạn không nằm yên trong cái hữu hạn. Bởi có sinh lực thần thiêng bên trong, nên chúng ta không dễ bình yên trong thế giới này, những khao khát và mong mỏi của chúng ta quá vĩ đại. Chúng ta không chỉ sống trong sự bất an triền miên mà thánh Âugutinô nêu bật trong châm ngôn lừng danh: ‘Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.’ Mà sự tự đại bẩm tại này còn khiến chúng ta không ngừng nuôi dưỡng một niềm tin rằng chúng ta đặc biệt, có định mệnh độc nhất vô nhị, và được sinh ra để nổi trội, được công nhận, được biết đến với những sự phi thường của mình.

Và do đó tất cả chúng ta đều được một mã di truyền thần thiêng điều hướng để, có thể nói là tạo lập một cáo thỉnh trong đời, tạo lập sự bất tử cho riêng mình, và tạo nên một giả tượng phi thường mà thế giới phải để mắt đến. Đây không phải là một khái niệm trừu tượng, nó tuyệt đối thực tế. Chúng ta có thể thấy bằng chứng cho chuyện này trên mọi bản tin, trong mọi vụ đánh bom, trong mọi mưu đồ xấu xa táo tợn, và trong mọi tình huống khi ai đó muốn mình nổi trội. Chúng ta cũng thấy nó trong sự đói khát danh vọng, trong khát khao được nổi tiếng, và trong nhu cầu muốn được nhìn nhận là độc nhất vô nhị và đặc biệt.

Nhưng sự tự đại này, tự nó không phải là lỗi lầm của chúng ta, và cũng không nhất thiết là một khiếm khuyết đạo đức. Nó đến từ cách chúng ta chúng ta được tạo thành, thật nghịch lý thay, nó đến từ những gì cao cả và tốt đẹp nhất trong chúng ta. Vấn đề là, ngày nay, chúng ta thường không có khí cụ để vận dụng nó sao cho sinh sôi những điều tốt đẹp. Vì nhiều lý do, chúng ta ngày càng sống trong một thế giới kích động quá đáng tính tự đại của mình, ngay cả khi chúng ta không nhận ra tình trạng này và nhất là khi chúng ta ngày càng ít công cụ tôn giáo và tâm lý để xử lý nó. Những công cụ này là gì?

Về tâm lý, chúng ta cần những hình ảnh con người cho phép mình hiểu bản thân một cách lành mạnh, nhưng cũng bao gồm cả việc chấp nhận những giới hạn, những nản lòng, sự vô danh của chúng ta, và cả việc cuộc sống chúng ta phải dành không gian cho cuộc sống người khác nữa. Về mặt tâm lý, chúng ta phải có những công cụ để hiểu cuộc đời mình, thừa nhận rằng mình đặc biệt và độc nhất vô nhị, nhưng vẫn là một trong số hàng tỷ cuộc đời đặc biệt và độc nhất vô nhị khác. Về mặt tâm lý, chúng ta cần những công cụ tốt hơn để vận dụng tính tự đại của mình.

Về tôn giáo, đức tin và giáo hội chúng ta cần phải đem lại một nhận thức về nhân thể sao cho chúng ta có thấu suốt và khuôn khổ để có thể sống sự độc nhất vô nhị và đặc biệt của mình, trong khi biết bình an với tinh thần, những giới hạn, những thất bại, sự vô danh, và dành không gian cho sự độc nhất vô nhị và đặc biệt của cuộc đời người khác. Về căn bản, tôn giáo phải cho chúng ta những công cụ để nắm bắt cách lành mạnh ngọn lửa thiêng bên trong bản thân mình, và hành động lành mạnh với những tài năng và thiên tư mà Chúa ban cho chúng ta, nhưng là trong khuôn khổ đi kèm để khiêm tốn nhận biết các thiên tư này không phải của chúng ta, mà là của Chúa, và tất cả những gì chúng ta là và những gì chúng ta đạt được đều là ơn Chúa. Chỉ khi đó, chúng ta mới không gục ngã vì thất bại và tự đắc vì thành công

Robert Lax cho rằng, bổn phận trong đời không phải là tìm được lối mòn trong khu rừng, cho bằng đi tìm một nhịp điệu để bước đi.

Chúng ta trước hết!

‘Tôi không phải là công dân của Athens, mà là công dân của thế giới.’ Socrates đã viết những dòng này cách đây hơn 24 thế kỷ. Ngày nay, chúng ta cần những lời này hơn bao giờ hết, ngày càng cần hơn, khi thế giới và chúng ta đang chìm trong những dạng chủ nghĩa bộ lạc không lành mạnh, chỉ quan tâm trước hết cho những gì của mình.

Chúng ta thấy thực tế này ở khắp nơi. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng chuyện này chỉ có ở những nhóm cực đoan, nhưng thực ra nó đang là chủ trương được biện hộ ngày càng hăng hái ở khắp nơi trên thế giới. Nó kiểu như thế này: Nước Mỹ trước hết! Anh quốc trước hết! Quê hương tôi trước hết! Chính phủ tôi trước hết! Giáo hội tôi trước hết! Gia đình tôi trước hết! Tôi trước hết! Chúng ta ngày càng biến mình thành ưu tiên hàng đầu và xác định mình theo những kiểu không chỉ đi ngược lại Tin Mừng mà còn làm cho chúng ta tầm thường hơn trong tinh thần và khốn cùng hơn trong tâm hồn. Chuyện này là gì đây?

Trước hết, nó đi ngược lại Tin mừng, chống lại mọi sự Chúa Giêsu dạy. Tin Mừng nói rõ ràng rằng tất cả mọi người trong thế giới này đều bình đẳng trước mặt Chúa, tất cả đều là anh chị em, và chúng ta phải chia sẻ của cải công bằng với tất cả mọi người nhất là với người nghèo, và quan trọng nhất là chúng ta không đặt mình lên vị trí ưu tiên hàng đầu, nhưng luôn luôn nghĩ đến nhu cầu của người khác trước mình. Và như thế, tất cả những khẩu hiệu đặt ‘tôi,’ ‘chúng ta,’ ‘của tôi,’ ‘nhóm chúng ta,’ ‘quốc gia tôi,’ lên trên hết, là đang chối bỏ những điều trên. Hơn nữa, lối sống Tin Mừng, không chỉ áp dụng ở mức độ nhỏ, như khi chúng ta nhã nhặn nhường cho ai đó vào phòng trước mình, mà còn áp dụng cho toàn thể một quốc gia. Với chúng ta, khi nghĩ về quốc gia mình trước hết, về lợi ích của chúng ta trước hết, thì có điều gì đó thiếu chính chắn và thiếu đạo đức, đi ngược lại tư cách công dân của thế giới, bận tâm lo cho lợi ích của tất cả mọi người.

Và chân lý này không chỉ có trong Tin Mừng và lời dạy của Chúa Giêsu, mà còn trong những gì cao cả và tốt đẹp nhất trong chúng ta. Định nghĩa về tấm lòng lớn ngụ ý là vượt trên tư lợi và sẵn sàng hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích của người khác và lợi ích của cộng đồng. Và suy nghĩ lớn cũng tương tự như vậy. Chúng ta là người suy nghĩ lớn vì chúng ta nhạy cảm với toàn cảnh, và có thể mang vào trong suy nghĩ của mình các nhu cầu, thương tích và hệ tư tưởng của tất cả mọi người chứ không chỉ của riêng mình. Đây là thông hiểu chứ không phải chỉ là thông minh. Khi mang lòng nhỏ nhen, chúng ta không hiểu được những gì cao hơn nhu cầu của mình, những tổn thương của mình, và hệ tư tưởng của mình.

Chúng ta biết nhiếu qua kinh nghiệm. Những ngày đẹp trời nhất, lòng và trí của chúng ta cởi mở hơn, sẵn sàng chào đón hơn, sẵn sàng chấp nhận những khác biệt hơn, và sẵn sàng hy sinh lợi ích của mình vì người khác hơn. Những ngày đẹp trời nhất, chúng ta là con người tử tế, có trái tim lớn, và biết thông hiểu, và trong những ngày đó chúng ta chẳng thể nào nói rằng: Tôi trên hết! Chúng ta đặt bản thân lên trên hết và để những bận tâm về lợi ích của mình chiếm hết tâm hồn, là khi chúng ta gặp chán nản, tổn thương, mệt mỏi và bị tác động tư tưởng quá độ. Và ngay cả khi chúng ta cự lại được sự nhỏ nhen này, thì phần nào trong chúng ta cũng nhận thấy mình không tốt như trước. Phía sau những tổn thương, những chứng bệnh hệ tư tưởng, chúng ta vẫn tập trung vào chân lý rằng, trước hết, chúng ta là công dân của thế giới. Một trái tim lành mạnh vẫn đập phía sau trái tim thương tích bị ung nhiễm của chúng ta.

Đáng buồn thay, hầu như mọi thứ trong thế giới ngày nay lại quyến dụ chúng ta xa khỏi đó. Chúng ta là con cái của Rene Descartes, định hình tư tưởng hiện đại bằng câu châm ngôn lừng danh: ‘Tôi suy nghĩ, nên tôi hiện hữu.’ Những cơn đau đầu và đau tim của chúng ta là những gì thật nhất với chúng ta, và chúng ta định lượng các mối quan hệ khác chiếu theo tâm điểm của mình. Đó là lý do vì sao chúng ta quá dễ nói rằng: ‘Tôi trước hết! Quê hương tôi trước hết! Những day dứt của tôi trước hết!’

Nhưng sẽ không có hòa bình, không có cộng đồng thế giới, không có tình anh chị em đích thực, và không có cộng đoàn giáo hội địch thực, bao lâu chúng ta chưa xác định mình là công dân của thế giới, rồi mới đến là thành viên của nhóm mình.

Phải thừa nhận là chúng ta phải chăm lo cho gia đình, cho quê hương, và bản thân mình. Công lý cũng có nghĩa là chúng ta đối xử công bằng với chính mình. Nhưng, xét tận cùng, sự căng thẳng này không có thật, nghĩa là nhu cầu của người khác và của chúng ta, không đối đầu nhau. Athens và thế giới cùng chung một khối. Chúng ta phục vụ mình tốt nhất khi phục vụ người khác. Chúng ta công bằng với mình khi công bằng với người khác. Chi khi là công dân tốt của thế giới, chúng ta mới là công dân tốt của quốc gia mình.

Đặt mình lên trước hết là đi ngược lại Tin mừng. Mà đó là một chiến lược tồi. Bởi Chúa Giêsu đã dạy rằng, đến tận cùng, kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót.

Về súng đạn vũ khí và chủ nghĩa hòa bình

Tin mừng cho chúng ta biết, sau khi vua Herode chết, một thiên thần đã hiện ra trong giấc mộng, báo cho ông Giuse ở Ai Cập rằng: ‘Dậy đi. Đưa Hài nhi và Mẹ người về đất Israel, bởi kẻ tìm giết Hài nhi đã không còn nữa.’ (Mt 2, 19-20) Có vẻ như thiên thần đã hơi hấp tấp, khi Hài nhi vẫn còn đang gặp nguy hiểm, vẫn bị đe dọa, bị săn lùng, đến tận ngày nay.

Thiên Chúa vẫn dễ bị tổn thương và vô lực trong thế giới chúng ta, và không ngừng bị tấn công. Mọi dạng bạo lực, công kích, hăm dọa, bắt nạt hay phô trương cái tôi, trục lợi, vẫn đang cố gắng giết Hài nhi. Và Hài nhi Giêsu vẫn đang bị đe dọa bằng những cách ít rõ ràng hơn, cụ thể là khi chúng ta bịt mắt làm ngơ người đang nằm trên đường bất lực, làm ngơ những con người đang phải chịu đựng chiến tranh, nghèo khổ, và bất công. Herode đã chết, nhưng ông ta còn nhiều đồng minh. Hài nhi luôn mãi bị đe dọa.

Nhiều người trong chúng ta đã quen với câu chuyện của các tu sĩ Dòng Xitô ở Algeria, tử đạo do tay các kẻ khủng bố vào năm 1996. Vài tháng trước khi bắt cóc và hành hình các thầy, những tên khủng bố đã ghé đan viện, và lại đến vào đêm Giáng Sinh, khi các thầy đang chuẩn bị cử hành Thánh lễ Đêm Giáng Sinh. Những kẻ khủng bố với vũ khí lăm lăm, đã rời đi sau khi tranh cãi căng thẳng vì các thầy không chịu đưa cho chúng số thuốc men chúng đòi. Nhưng các thầy chấn động, kinh hoàng. Phản ứng của các thầy thế nào. Các thầy đến ngay nhà nguyện, và hát cử hành thánh lễ Giáng Sinh, với tâm thức nhìn nhận rằng Chúa Giêsu đã đến thế giới với tình trạng tuyệt đối dễ bị tổn thương và ngay lập tức đã bị đe dọa. Sống dưới nguy cơ bị giết, các thầy đã không chấp nhận trang bị vũ khí hay để quân đội bảo vệ, tin rằng lời khấn của mình và việc có súng trong tu viện, là không hợp nhau. Hơn nữa, sau lần đầu tiên gặp những tay súng khủng bố, đan viện phụ Christian de Cherge đã thêm một câu khẩu quyết vào lời cầu nguyện hằng ngày của mình. ‘Xin giải trừ con! Lạy Chúa, xin giải trừ con.’ Sống dưới nguy cơ bị tấn công, ngài lại cầu nguyện mỗi ngày xin cho mình luôn không tấc sắt trong tay, bất lực trước những vụ tấn công có thể xảy ra, như một trẻ sơ sinh, như Hài nhi Giêsu, phơi bày và bất lực trước nguy cơ bạo lực.

Nhưng, đây không phải chuyện dễ noi theo, nhất là bởi hầu hết mọi sự thời này đều đẩy chúng ta theo chiều hướng ngược lại, nghĩa là vũ trang cho mình, đối đầu với mọi mối đe dọa, súng đấu súng, phản ứng lại với bất kỳ đe dọa tiềm tàng nào bằng một sự phản kháng đầy vũ trang. Đây là thời mà chúng ta, cũng như Christian de Cherge và các đan sĩ sống dưới mối đe dọa của khủng bố và bạo lực lan tràn. Và cơn hoang tưởng của chúng ta càng tăng thêm khi báo đài hằng ngày đều cho chúng ta những hình ảnh khủng bố, đánh bom, giết người hàng loạt, bạo lực đường phố và bạo hành gia đình. Chúng ta sống trong thời đại bạo lực. Cũng dễ hiểu khi muốn vũ trang cho mình?

Vậy còn không chịu trang bị vũ khí thì thực tế thế nào đây? Cầu nguyện xin giải trừ vũ khí của mình thì thực tế thế nào đây?

Kitô giáo luôn luôn bảo vệ sự tự vệ chính đáng và chiến tranh chính đáng. Hơn nữa, không một xã hội nghiêm túc nào lại quyết định xóa bỏ lực lượng cảnh sát và quân đội, và những thứ súng ông vũ khí khác. Thật sự, phải nói rằng những người theo chủ nghĩa hòa bình triệt để, có thể sống như thế là bởi họ đã được cảnh sát và binh lính, những người cầm súng bảo vệ họ rồi. Không quá khi nói rằng, nếu không có súng và vũ khí bảo vệ chúng ta, thì chúng ta bất lực trước những tội phạm và khủng bố tâm thần trong thế giới này. Nhưng, cũng cần có một cách nhìn khác.

Vẫn có một cách để giải trừ vũ khí cho mình. Cố hồng y Francis George của Chicago đã lập luận thế này: Chúng ta cần chủ nghĩa hòa bình cũng như cần độc thân khiết tịnh tu sĩ vậy, nghĩa là chúng ta cần những con người cảm hứng từ Tin Mừng để làm chứng đặc biệt cho những gì tối hậu mà Tin Mừng nhắm đến, cụ thể là một nơi vượt trên sức tưởng tượng của chúng ta, một thiên đàng trong đó chúng ta liên kết với nhau trong sự mật thiết không thể tưởng tượng nổi và là nơi không có vũ khí. Trong thiên đàng, chúng ta tuyệt đối không đề phòng nhau. Không có súng trên thiên đàng.

Hiện thực này đã thành hình trong trẻ bé Giêsu, bất lực và dễ bị tổn thương, và còn bị đe dọa.

Nó cũng có trong chân dung cc các nhà theo chủ nghĩa hòa bình thời hiện đại, từ Dorothy Day đến Martin Luther King, từ Mẹ Têrêxa đến Christian de Cherge, từ Daniel Berrigan đến Larry Rosbaugh, chúng ta có được chứng tá của những con người cảm hứng từ Tin Mừng này, những con người khi đối diện với mối đe dọa và bạo lực, đã chọn mạo hiểm mạng sống mình hơn là cầm súng lên. Thời đại này đang đặt chúng ta vào một chọn lựa. Trang bị vũ khí cho mình hay không?

Bởi những kẻ tìm giết Hài nhi vẫn quanh đây, những người hoang tưởng như vua Herode, giết hại bừa bãi bởi nỗi sợ rằng trẻ bé một ngày nào đó sẽ đe dọa ngai vàng và những đặc quyền đặc lợi của mình.

Đấu tranh để yêu thương người thân cận

‘Thói thờ ngẫu tượng nguy hại nhất, không phải là con bò vàng, mà là sự thù hằn với người khác.’ Nhà nhân học trứ danh, René Girard, đã viết những dòng này, và sự thật của nó thật không dễ chấp nhận. Hầu hết chúng ta tin rằng mình trưởng thành và quảng đại, rằng chúng ta yêu thương người thân cận và không thù hằn với người khác. Nhưng thật thế sao?

Thành thật hơn, hay chính xác hơn, trong những lúc khiêm nhượng nhìn nhận nhất, tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta phải thừa nhận mình đã không yêu thương người khác như Chúa Giêsu muốn. Chúng ta không quay má kia cho người ta vả. Chúng ta không thực sự yêu thương kẻ đối địch mình. Chúng ta không cầu chúc cho những người gây hại mình. Chúng ta không chúc lành cho những người nguyền rủa mình. Và chúng ta không thật sự tha thứ cho những ai giết hại người thân yêu của mình. Chúng ta là những con người tử tế có lòng tốt, nhưng là những con người phải viện đến thiên đàng để bào chữa về cảm giác của mình khi đối diện với bất kỳ ai đối chọi với chúng ta. Chúng ta có thể công tâm, có thể công bằng, nhưng không yêu thương theo cách Chúa Giêsu muốn, nghĩa là yêu thương cả người yêu thương và người thù ghét chúng ta. Chúng ta vẫn đấu tranh, và hầu hết là vô hiệu, để có thể cầu chúc tốt đẹp cho những người đối nghịch mình.

Nhưng hầu hết chúng ta thích tin rằng bản thân mình tốt đẹp và sự đấu tranh này hầu như không phải là việc của mình. Chúng ta có khuynh hướng cảm thấy mình là người yêu thương và tha thứ, bởi về căn bản, chúng ta có thiện hướng, chân thành và có thể tin tưởng cũng như nói lên những điều tốt đẹp, nhưng có một phần khác trong chúng ta không cao thượng như thế đâu. Linh mục Dòng Tên người Ireland, Michael Paul Gallagher, đã chỉ ra điều này trong quyển Thêm một thời gian nữa (In Extra Time): ‘Đúng là bạn không ghét ai cả, nhưng bạn có thể đờ người ra vì những chuyện tiêu cực hằng ngày. Những định kiến nhỏ và phán xét hấp tấp, có thể gây nên tâm trạng chiến tranh âm ỉ trong lòng chúng ta. Và những viên đạn vô hình cứ bay qua hàng rào.’ Yêu thương người khác như chính mình, là đỉnh núi không thể chinh phục với hầu hết chúng ta.

Vậy chúng ta sẽ ra sao? Sống với bản án chung thân trong sự tầm thường và giả hình sao? Chúng ta cứ tuyên bố là yêu thương địch thù nhưng lại không làm vậy sao? Làm sao chúng ta tự nhận là Kitô hữu, nếu như khi thành thật với bản thân, chúng ta phải thừa nhận rằng mình không theo được tiêu chuẩn môn đệ Kitô, cụ thể là yêu thương và tha thứ cho kẻ địch thù?

Có lẽ chúng ta không xấu như chúng ta nghĩ. Nếu vẫn còn đấu tranh, là chúng ta vẫn lành mạnh.Khi tạo thành chúng ta, Thiên Chúa đặt vào trong con người sự phức tạp, yếu đuối, và cho chúng ta lớn lên trong một tình yêu thâm sâu qua hành trình cuộc đời. Cuộc sống chúng ta nhìn bề ngoài có vẻ là giả hình, nhưng với cái nhìn nhẫn nại và thông hiểu hơn, thực sự đó lại là cuộc hành hương.

Thánh Tôma Aquinô khi nói về sự hiệp nhất và mật thiết, đã làm rõ cách phân biệt quan trọng này. Ngài phân biệt giữa hiệp nhất với điều gì đó hay ai đó trong hiện thực với trong khao khát. Trong trường hợp chúng ta đang bàn đến, câu này có nghĩa là có nhiều điều chúng ta chỉ đạt được qua khao khát hơn là qua thực tế. Chúng ta có thể tin tưởng vào những chuyện đúng đắn và muốn điều đúng đắn, nhưng lại không thể làm thế. Một ví dụ, là cái mà giáo lý cũ gọi là ‘ăn năn không trọn’ nghĩa là nếu bạn đã làm chuyện sai trái mà bạn biết là sai và bạn nên hối lỗi vì chuyện này, nhưng lại không thể thực sự thấy hối lỗi, rồi bạn lại ước sao bạn có thể hối lỗi, đây chính là sự ăn năn, dù không trọn, nhưng đã đủ. Đây là điều tốt nhất bạn có thể làm, và nó cho bạn một mức độ khao khát nhất định, dù không hoàn hảo, nhưng có thì hơn không.

Và ‘sự không hoàn hảo’ đó không chỉ đơn giản là cho chúng ta một tiêu chuấn ăn năn tối thiểu cần có để được tha thứ. Quan trọng hơn, nó chấp nhận rằng người mà chúng ta đã làm tổn thương, có một phẩm giá chính đáng.

Suy ngẫm về sự bất lực của chúng ta trong việc yêu thương người thân cận, Marilynne Robinson cho rằng, ngay cả khi chúng ta không cách nào sống được những gì Chúa Giêsu muốn, nhưng nếu chúng ta có nỗ lực đấu tranh, thì đó vẫn là đức hạnh. Bà lập luận thế này: Freud nói rằng chúng ta không thể yêu thương người thân cận như chính mình, và chắc chắn đây là sự thật. Nhưng bởi chúng ta chấp nhận thực tế ẩn sau giới răn này, giới răn xác quyết rằng những người khác cũng xứng đáng được yêu thương như chúng ta vậy, cho nên khi nỗ lực để sống theo lời Chúa Giêsu dạy, là chúng ta nhìn nhận rằng người khác cũng xứng đáng được yêu thương như chúng ta vậy, dù cho ngay lúc này chúng ta chưa đủ mạnh để chứng tỏ điều này.

Và điểm mấu chốt là: Khi tiếp tục đấu tranh để sống theo giới răn yêu thương của Chúa Giêsu, dù cho không thành nhưng vẫn đấu tranh, là chúng ta đang nhìn nhận phẩm giá cố hữu trong những người đối địch mình, nhìn nhận họ xứng đáng được yêu thương, và nhìn nhận sự bất toàn của mình. Và theo thánh Tôma Aquinô, sự ‘bất toàn’ đó là một khởi đầu.

Nhạy cảm và Đau khổ

Daniel Berrigan từng viết một câu bất hủ: Trước khi thật tâm theo Chúa Giêsu, trước hết bạn hãy xem thử mình, khi nhìn vào bên trong, sẽ tốt đẹp được đến đâu!

Khi nói thế là ông đang cố nêu bật một chuyện thường bị hiểu lầm sâu sắc từ mọi khía cạnh, cụ thể là tại sao và thế nào mà một tôn giáo đích thực lại đem đau khổ đến cuộc đời chúng ta.

Một mặt, chuyện quá phổ biến là nghĩ rằng nếu bạn đón nhận Thiên Chúa vào đời mình, thì bạn sẽ có đường đi dễ dàng hơn trong đời, Chúa sẽ cho bạn tránh khỏi nhiều bệnh tật và đau khổ thường tác hại lên người khác. Ngược lại, nhiều người lại nuôi cảm giác, thậm chí là một niềm tin rằng Thiên Chúa muốn cho chúng ta đau khổ, rằng có một mối ràng buộc cố hữu giữa đau khổ và chiều sâu, rằng càng đau đớn thì càng có tinh thần thiêng liêng. Tất nhiên, có phần nào sự thật thâm sâu trong đó, chiều sâu thiêng liêng liên kết bất phân ly với đau khổ, và Thập giá Chúa Kitô đã biểu lộ điều này, cũng như kinh thánh nói rằng Thiên Chúa thanh luyện những người đến gần Ngài. Nhưng có vô số cách hiểu lầm điều này, Chúa Giêsu nói rằng chúng ta phải mang lấy thập giá hằng ngày mà theo Ngài, và rằng theo Ngài nghĩa là chấp nhận một đau khổ đặc biệt. Nhưng chúng ta sẽ hỏi: Tại sao lại thế? Tại sao khi chúng ta chú tâm vào Chúa Giêsu thì đau khổ đi sâu vào cuộc đời chúng ta hơn? Và điều ngược lại có đúng hay không? Một tôn giáo thật đi ngược lại với bản tính thịnh vượng của chúng ta hay sao? Chẳng lẽ đau khổ là thâm sâu còn vui mừng là nông cạn? Và, chuyện này nói lên điều gì về Thiên Chúa? Thiên Chúa ái khổ ư? Tại sao Thiên Chúa muốn và đòi chúng ta phải đau khổ? Tại sao nhất thiết đường hướng đau đớn phải đi kèm với việc thật tâm theo Chúa?

Đau đớn sẽ đổ sâu trong chúng ta hơn khi chúng ta thật tâm theo Chúa, không phải bởi Thiên Chúa muốn thế hay bởi đau đớn thì có phúc hơn vui mừng. Không phải như vậy. Đau khổ và đau đớn không phải là điều Chúa muốn, chúng là những thứ tiêu cực, bị xóa sổ trên thiên đàng. Nhưng, khi chúng ta thật tâm theo Chúa, chúng sẽ đổ tràn sâu hơn trong đời chúng ta, là bởi khi thật sự mở ra với Thiên Chúa, chúng ta sẽ không cố níu giữ sự bảo vệ sai lầm cho bản thân mình, và như thế sẽ nhạy cảm hơn để cuộc đời đổ đầy vào chúng ta cách tự do và sâu sắc hơn. Trong sự nhạy cảm đó, chúng ta sẽ thôi vô thức vặn vẹo mọi thứ để nhằm giữ cho mình được an toàn và không phải đau đớn. Nói đơn giản, chúng ta sẽ cảm nghiệm một đau đớn sâu sắc hơn trong đời, bởi chúng ta nhạy cảm hơn, sẽ cảm nghiệm mọi sự sâu sắc hơn.

Ngược lại cũng đúng. Nếu ai đó, quá vô cảm, trơ như đá, thì sự vô cảm của người đó sẽ khiến họ miễn nhiễm và những đau khổ và đau đớn của người khác hiếm khi làm phiền họ. Tất nhiên, người đó cũng sẽ không cảm nghiệm được ý nghĩa và niềm vui một cách thật sâu sắc, và đó là cái giá của sự vô cảm.

Vài năm trước, Michael Buckley, linh mục Dòng Tên ở California, đã giảng trong thánh lễ đầu tay của một linh mục. Trong bài giảng, cha Buckley không hỏi tân linh mục rằng liệu cha có đủ mạnh để làm linh mục không, mà lại hỏi liệu cha có đủ yếu để làm linh mục hay không. Khi chỉ ra nghịch lý này, cha Buckley giúp trả lời câu hỏi: tại sao đến gần với Chúa hơn lại cũng có nghĩa là đến gần với đau khổ hơn. ‘Liệu người này có đủ bất lực để không thể gạt đi những đau khổ lớn trong đời mình, để sống với một sự thất bại nhất định, để cảm nhận thế nào là một con người bình thường? Liệu cuộc đời của cha có những bối rối, nghi hoặc bản thân, hay dằn vặt trong lòng? Liệu cha có phải đương đầu với sợ hãi, có những lúc nản lòng, hay chấp nhận hạ bớt những kỳ vọng của mình?’

Rồi cha Buckley tiếp tục so sánh giữa Socrates và Chúa Giêsu, nêu bật rằng Socrates bằng nhiều cách kêu gọi muốn có con người mạnh mẽ hơn. Như Chúa Giêsu, Socrates cũng bị kết án tử hình một cách bất công, nhưng không như Chúa Giêsu, ông không bao giờ sợ hãi và run rẩy hay ‘đổ mồ hôi máu’ trước cái chết của mình. Ông uống thuốc độc và bình thản ra đi. Còn như chúng ta biết, Chúa Giêsu không trải qua cái chết với sự bình thản như vậy.

Một phán xét hời hợt, sẽ nói rằng phản ứng khác nhau là bởi cách chết khác nhau, đóng đinh thập giá thì kinh khủng hơn uống thuốc độc nhiều. Nhưng, dù lập luận này có phần đúng, nhưng không phải là nguyên do thật sự. Tại sao Chúa Giêsu đấu tranh vật lộn hơn Socrates trong cái chết? Bởi sự nhạy cảm vô cùng của Ngài. Chúa Giêsu đơn giản là ít khả năng hơn trong việc bảo vệ khỏi nỗi đau. Ngài cảm nhận mọi sự thật sâu sắc và hệ quả là dễ mẫn cảm với đau đớn thể xác và tinh thần, nhạy cảm hơn với sự chối bỏ và khinh dễ của con người, xúc động hơn trước tình yêu và thù ghét.

Socrates là con người vĩ đại và anh hùng, nhưng không như Chúa Giêsu đã khóc thành Giêrusalem, ông không bao giờ khóc thương Athens, không bao giờ biểu lộ nỗi buồn sầu và đau đớn khi bị bạn bè phản bội. Ông mạnh mẽ, tự chủ, bình thản, và không bao giờ xúc động quá mức. Còn Chúa Giêsu, lại yếu hơn trong việc bảo vệ mình khỏi những đau đớn, và hệ quả là, đôi khi Ngài xúc động tột cùng.

Thiêng liêng bình thường

Ngòi bút thiêng liêng, Tom Stella, đã kể câu chuyện về ba tu sĩ cầu nguyện trong nhà nguyện tu viện. Tu sĩ thứ nhất hình dung mình đang được các thiên thần đưa lên thiên đàng. Tu sĩ thứ hai hình dung mình đã ở trên thiên đàng, cùng với thiên thần và các thánh hát ca chúc tụng Chúa. Tu sĩ thứ ba không thể tập trung vào bất kỳ suy nghĩ thánh thiện nào, mà chỉ có thể nghĩ về chiếc bánh hamburger khổng lồ vừa ăn trước khi vào nhà nguyện. Đêm đó, khi ma quỷ viết bản báo cáo trong ngày, hắn viết: ‘Hôm nay, ta cố gắng cám dỗ ba tu sĩ, nhưng chỉ thành công với hai người.’

Chiều sâu của câu chuyện này còn hơn những gì bạn thoáng thấy. Tôi ước giá vài năm về trước tôi hiểu được cả vai trò của các thiên thần lẫn chiếc hamburger trong cuộc hành trình thiêng liêng của chúng ta. Bạn thấy đó, đã nhiều năm qua, tôi chỉ xác định cuộc đi tìm con đường thiêng liêng bằng những suy tư, cầu nguyện, và hành động theo lòng đạo. Nếu tôi ở trong nhà thờ là tôi hướng về sự thiêng liêng, còn nếu tôi ăn một bữa ngon với bạn bè, tôi chỉ đơn thuần là con người. Nếu tôi cầu nguyện và có thể tập trung suy nghĩ và cảm nhận về một sự gì đó thánh thiện, thì tôi cảm thấy như mình đang cầu nguyện rất sốt sắng đạo hạnh, còn nếu như tôi bị phân tâm, mệt mỏi, hay quá buồn ngủ không thể tập trung được, thì hẳn giờ cầu nguyện của tôi chẳng ra gì. Khi tôi làm đúng những chuyện đạo hạnh hay có những quyết định mang tính đạo đức rõ ràng, thì tôi thấy mình đạo hạnh, còn những chuyện khác với tôi chỉ đơn thuần là chuyện của con người.

Dù tôi không quá tiêu cực về những chuyện đời này, nhưng những chuyện tốt đẹp của tạo hóa (của sự sống, của gia đình và tình thân, của thân xác, của tính dục, của thức ăn thức uống) lại không bao giờ được xem là thiêng liêng, đạo hạnh. Trong trí tôi, có một sự phân biệt rõ ràng giữa trời và đất, thiêng liêng và phàm tục, thần thiêng và con người, giữa linh thiêng và thế gian. Điều này đặc biệt đúng với những khía cạnh trần thế hơn của cuộc đời, cụ thể là thức ăn thức uống, tình dục, và những thú vui thể xác. Xét tốt nhất, đây là những thứ làm xao nhãng chuyện thiêng liêng, còn xét tệ nhất, chúng là những cám dỗ ngáng chân tôi, ngăn cản tôi trên đường thiêng liêng.

Nhưng, khi vấp chân đủ, cuối cùng chúng ta học được rằng: Tôi đã cố gắng sống như hai tu sĩ đầu, với tâm trí hướng về những sự thiêng liêng, nhưng tu sĩ thứ ba lại ngáng chân tôi. Khi tôi ở trong nhà thờ hay lúc cầu nguyện đang tập trung tâm trí và tâm hồ hướng về những chuyện thiêng liêng, tôi lại không ngừng thấy mình bị công kích bởi những thứ mà tôi xem là chẳng liên quan gì đến nhà thờ, như nhớ lại những buổi hội hè với bạn bè, những lo lắng về mối quan hệ, lo lắng về những công việc còn dở dang, suy nghĩ về đội bóng yêu thích, nghĩ về những bữa ăn thịnh soạn, về thịt bò và rượu, mà ngoại đạo nhất là nghĩ về những khoái lạc tình dục dường như quá sức đối chọi với những gì là thiêng liêng.

Tôi phải mất nhiều năm và nhờ nhiều linh hướng để học được rằng nhiều căng thẳng này chính là xác nhận một sự hiểu biết nghèo nàn và sai lầm về sự thiêng liêng Kitô và về những động năng thực sự của cầu nguyện.

Hiểu biết sai lầm thứ nhất là hiểu nhầm về ý định và kế hoạch của Thiên Chúa trong chúng ta. Thiên Chúa không dựng nên bản tính của chúng ta theo theo kiểu một đường thẳng băng, nghĩa là chúng ta mê nhục dục và quá bám rễ vào những sự đời này, rồi đòi chúng ta phải sống như thể không phải là xác phàm, như thể những chuyện tốt đẹp của đời này chỉ là giả mạo là chướng ngại cho ơn cứu độ, là chống lại việc dự phần vào ơn cứu độ. Hơn nữa, sự nhập thể, mầu nhiệm Thiên Chúa thành xác phàm, dạy cho tôi rành rành rằng chúng ta tìm thấy ơn cứu độ không phải chỉ bằng cách thoát khỏi thân xác và những sự đời này, nhưng bằng cách đi vào chúng sao cho đúng đắn hơn và thâm sâu hơn. Chúa Giêsu khẳng định thân xác sẽ sống lại, chứ không phải là linh hồn thoát ly.

Hiểu nhầm thứ hai là về các động năng của cầu nguyện. Trong những giai đoạn ban đầu, cầu nguyện là tập trung vào những gì thiêng liêng, vào cuộc đối thoại với Chúa, vào việc cố gắng trong một khoảng thời gian, gạt qua một bên những sự thuộc đời này để đi vào vùng thiêng liêng. Nhưng đây là giai đoạn đầu của cầu nguyện. Đến tận cùng, khi cầu nguyện được đào sâu và trưởng thành, thì những chuyện tưởng như quan trọng bắt đầu diễn ra ẩn dưới vẻ bên ngoài, và ngồi trong nhà nguyện với Chúa không phải như ngồi lại với một ai đó mà bạn thường ngồi nói chuyện. Nếu bạn gặp ai đó mỗi ngày, thì không phải ngày nào bạn cũng có những cuộc nói chuyện thâm sâu và hăng hái, hầu như bạn sẽ chỉ nói về những chuyện trong ngày, những bận tâm cho gia đình, thời tiết, thể thao, chính trị, những chương trình tivi mới nhất, và đủ thứ khác, và rồi thỉnh thoảng bạn còn nhìn đồng hồ nữa. Mối liên hệ của chúng ta với Chúa cũng như thế. Nếu bạn cầu nguyện đều đặn mỗi ngày, bạn không buộc phải dằn vặt về chuyện phải tập trung và giữ cuộc nói chuyện với Chúa chỉ hướng về những gì thâm sâu và thiêng liêng. Bạn chỉ cần ở đó, thoải mái vì được ở với một người bạn. Những điều thâm sâu diễn ra phía dưới bề mặt.