RonRolheiser,OMI

Đêm tối Linh hồn?

Chủ nghĩa vô thần là ký sinh trên một tôn giáo xấu. Đó là lý do vì sao, xét cho cùng, những phê phán của chủ nghĩa vô thần lại là bạn của chúng ta. Những lời đó giữ chúng ta cảnh giác.

Chẳng hạn như, Friedrich Nietzsche, Ludwig Feuerbach, và Karl Marx, họ cho rằng mọi cảm nghiệm tôn giáo xét cho cùng chỉ là phóng chiếu tâm lý. Với họ, Thiên Chúa chúng ta tin và nền tảng cho Giáo hội của chúng ta, xét cho cùng, chỉ đơn thuần là một tưởng tượng mà chúng ta tạo ra để phục vụ nhu cầu của mình. Họ nói rằng chúng ta tạo ra Thiên Chúa như thuốc phiện êm dịu và cho mình sự phê chuẩn thần thánh để làm điều mình muốn.

Họ đúng, nhưng lại sai, và điểm sai của họ là về nền tảng của tôn giáo đích thực. Phải thừa nhận, họ đúng khi nói rằng nhiều cảm nghiệm tôn giáo và đời sống trong đời sống chúng ta rõ ràng là không, rất không nguyên tuyền. Thật khó để thừa nhận rằng chúng ta luôn mãi đem những tham vọng và khí lực của mình trộn lẫn với điều mà chúng ta gọi là cảm nghiệm tôn giáo. Đó là lý do vì sao chúng ta quá thường xuyên là những con người mộ đạo, nhưng lại hoàn toàn chẳng hướng về Thiên Chúa. Chúng ta ngông cuồng khi đáng ra phải khiêm nhượng, phán xét khi phải tha thứ, thù hận khi phải yêu thương, ích kỷ khi phải vị tha, và hằn học xấu xa khi phải thông hiểu cùng thương xót. Cuộc sống và giáo hội của chúng ta thường không chiếu tỏa Chúa Giêsu. Chủ nghĩa vô thần là một thách thức cần thiết, bởi chúng ta quá thường xuyên trộn lẫn xung lực đời mình với Thiên Chúa, đem những hệ tư tưởng của mình xáo lẫn với Phúc âm.

May thay, Thiên Chúa không để chúng ta yên ổn với việc đó quá lâu. Thiên Chúa cho chúng ta một ơn hoang mang và đau đớn, là đêm tối linh hồn. Trong đêm tối linh hồn, chúng ta kiệt quệ lòng đạo, cảm nghiệm tôn giáo một thời nâng đỡ cho chúng nhiệt thành giờ khô cạn khiến chúng ta không còn tưởng tượng, xúc động, hay ý thức cảm xúc về tình yêu hay sự hiện hữu của Thiên Chúa. Dù chúng ta có cố gắng thế nào cũng không thể gợi lên lại những cảm giác và hình tượng từng có về Thiên Chúa cũng như sự bảo đảm mà chúng ta từng cảm thấy về đức tin và niềm tin tôn giáo của mình. Thiên đàng như trống rỗng, và trong lòng chúng ta cảm thấy không thể nhận thức được gì, như thể Thiên Chúa không hiện hữu, và ta cũng không thể tạo ra một hình ảnh Thiên Chúa từng một thời rất thật với ta. Chúng ta trở nên tuyệt vọng khi cố khơi lên một ý thức về Thiên Chúa.

Nhưng đấy chính là khởi đầu của đức tin đích thực. Trong đêm tối đó, khi chẳng còn gì nữa, khi cảm thấy như không có Chúa, thì Thiên Chúa bắt đầu đi vào chúng ta một cách nguyên tuyền. Bởi các chức năng tôn giáo trong chúng ta bị tê liệt, nên chúng ta không còn có thể lạm dụng cảm nghiệm của mình về Thiên Chúa, không còn lạm dụng phóng chiếu bản thân vào hình ảnh Thiên Chúa, hay dùng lòng đạo để lập luận sự phê chuẩn thần thánh cho hành động của mình. Đức tin đích thật bắt đầu từ chính lúc những phê phán vô thần nghĩ rằng mình đã thành công, là chính sự tối tăm và trống rỗng, trong sự bất lực của lòng đạo, trong sự vô lực để tác động lên cách Thiên Chúa đi vào chúng ta.

Chúng ta thấy rõ điều này trong đời sống của Mẹ Têrêxa. Trong nhật ký của Mẹ, trong 27 năm đầu đời, mẹ có một nhận thức sâu sắc đầy hình tượng và sốt mến về Thiên Chúa trong đời mình. Mẹ sống với một niềm xác tín sắt đá về sự hiện hữu và tình yêu của Thiên Chúa. Nhưng đến tuổi 27, khi đang cầu nguyện trên tàu hỏa, như thể có ai đó đã gạt công tắc đường dây kết nối với Chúa của Mẹ. Trong tưởng tượng và cảm giác của Mẹ, thiên đàng trống rỗng. Thiên Chúa mà Mẹ biết trong nhận thức và cảm giác, đã biến mất.

Nhưng chúng ta biết câu chuyện theo như thế nào. Mẹ sống tiếp 60 năm còn lại với một đức tin xây trên đá, và đã sống dấn thân quên mình khiến không một lời chỉ trích vô thần nào có thể cáo buộc cảm nghiệm tôn giáo của Mẹ là nảy sinh từ sự phóng chiếu bản thân ích kỷ hoặc nói việc hành đạo của Mẹ không nguyên tuyền. Trong đêm tối lòng đạo của Mẹ, Thiên Chúa có thể đồ tràn vào Mẹ một cách nguyên tuyền, chứ không như nhiều người chúng ta với đời sống đức tin rõ ràng nằm ở một niềm tin ích kỷ.

Ngay cả Chúa Giêsu khi làm người, cũng phải trải qua đêm tối này, như lúc Ngài ở trong Vườn Cây Dầu và than khóc vì bị bỏ rơi và sợ thập giá. Sau cơn thống khổ trong Vườn Cây Dầu, một thiên thần đến và tăng sức cho Ngài. Chúng ta sẽ hỏi, tại sao thiên thần không đến sớm hơn, lúc Ngài đang cần giúp đỡ nhất? Sự giúp đỡ của Thiên Chúa không thể đến nếu Chúa Giêsu không vắt kiệt sức lực của mình, nhân tính của Chúa Giêsu không để cho sinh lực thiêng liêng đổ vào một cách nguyên tuyền nhưng lại chăm chăm vào cảm nghiệm. Chúa Giêsu phải dùng hết sức lực của mình, rồi sinh lực thiêng liêng mới có thể đổ vào cách thật sự và nguyên tuyền. Và chúng ta cũng vậy.

Những đêm tối đức tin cần thiết để tẩy sạch chúng ta, bởi chỉ như thế thiên thần Chúa mới đến để giúp chúng ta.

Sự hiện diện thật sự

Khi tốt nghiệp tại Bỉ, tôi được đặc cách dự hội nghị của Hồng y Brussels, Godfried Danneels. Hôm đó, nói về Thánh lễ và sự thiếu hiểu biết về sự phong phú của Thánh lễ, ngài nêu bật sự đối lập này: Nếu đứng ngoài một nhà thờ Công giáo La Mã thời nay, và hỏi những người từ trong nhà thờ đi ra: “Thánh lễ tốt chứ?” hầu hết mọi người sẽ trả lời dựa theo bài giảng và thánh ca. Nếu bài giảng và âm nhạc sống động, hầu hết mọi người sẽ trả lời rằng, hôm nay là thánh lễ tốt. Và nếu bạn đứng ngoài một nhà thờ Công giáo La Mã cách đây khoảng sáu bảy chục năm và hỏi: “Thánh lễ tốt chứ?” thì chẳng ai hiểu nổi câu hỏi đó. Họ sẽ trả lời kiểu như: “Chẳng phải các thánh lễ đều như nhau sao!”

Ngày nay, trong Công giáo La Mã và cả trong Anh giáo lẫn Tin Lành, nhận thức của chúng ta về thánh lễ tập trung nhiều hơn vào ba điểm: Phụng vụ lời chúa, thánh nhạc, và rước lễ. Hơn nữa, trong các nhà thờ Công giáo, khi nói về sự hiện diện thật sự, chúng ta chỉ nói đến yếu tố tận cùng, là sự hiện diện của Chúa Kitô trong bánh và rượu.

Dù nghĩ như thế không sai, dù phụng vụ lời Chúa, âm nhạc và rước lễ là quan trọng, nhưng hiểu như thế là đang thiếu sót. Thiếu sót sự thật rằng sự hiện diện thật sự không chỉ trong bánh và rượu, mà còn trong phụng vụ Lời Chúa và trong hành động cứu rỗi được nhắc lại trong kinh nguyện Thánh Thể, cụ thể là cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu.

Hầu hết những người đi lễ nhận ra rằng, khi đọc Phúc âm trong phụng vụ Lời Chúa, thì sự hiện diện của Thiên Chúa đặc biệt và rõ ràng hơn là khi chúng ta cầu nguyện riêng. Khi cử hành Lời Chúa trong một nhà thờ, thì Chúa Kitô hiện diện thật sự, cũng như sự hiện diện trong bánh rượu.

Nhưng có một yếu tố cao hơn mà chúng ta chưa hiểu đủ. Thánh lễ không chỉ làm cho một nhân thể hiện diện, mà còn là một sự kiện hiện diện. Chúng ta tham dự Thánh lễ không chỉ để rước Chúa Kitô, nhưng còn tham dự sự kiện cứu rỗi trọng đại của cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Ngài.

Vậy vấn đề là gì?

Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã muốn các môn đệ tiếp tục gặp gỡ và cử hành Thánh lễ “để tưởng nhớ Thầy.” Nhưng từ “tưởng nhớ” của Chúa và của chúng ta khác nhau. Với chúng ta “tưởng nhớ” là một từ có vẻ yếu đuối. Nó đơn giản là nhớ lại gì đó, một sự kiện nào đó như ngày sinh con cái, ngày cưới, hay một trận bóng mãn nhãn. Chỉ đơn thuần là nhớ lại, một tập hợp những chuyện đã qua. Nó có thể khơi dậy những cảm giác mạnh mẽ, nhưng chỉ thế mà thôi. Còn trong khái niệm của Do Thái, “tưởng nhớ” không chỉ đơn giản là nhớ lại gì đó. Nhớ gì đó không đơn thuần là nhớ lại hoài niệm chuyện đó. Đúng hơn là nhớ lại và làm lại theo nghi thức, để khiến sự đó lại hiện diện cách thật sự.

Ví dụ như, đây cũng là cách hiểu về Lễ Vượt qua trong văn hóa Do Thái giáo. Lễ Vượt qua nghĩa là nhớ lại cuộc Xuất hành từ Ai Cập và việc băng qua Biển Đỏ đến với tự do. Một thế hệ được Moses dẫn dắt đã làm việc này trong lịch sử, nhưng sự kiện đó được thực hiện lại theo nghi thức, trong bữa ăn Vượt qua, một sự kiện lại hiện hữu thật sự với những người đang ngồi trong bàn.

Thánh lễ cũng như thế, trừ việc sự kiện cứu độ mà chúng ta thực hiện lại qua nghi thức, chính là cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu, một cuộc Xuất hành mới. Niềm tin Kitô giáo của chúng ta cũng giống như niềm tin của những anh em Do Thái, cụ thể là, chúng ta không chỉ nhớ lại một sự kiện, mà thật sự khiến sự kiện đó hiện hiện để chúng ta tham dự trong đó. Thánh lễ, cũng như Lễ Vượt qua của người Do Thái, tái hiện sự kiện cứu rỗi trong lịch sử Kitô giáo, cụ thể là cuộc Vượt qua của Chúa Giêsu từ cái chết đến sự sống trong mầu nhiệm Phục Sinh. Và cũng như bánh và rượu được thánh hiến cho chúng ta sự hiện diện thật sự của Chúa Kitô, Thánh lễ còn cho chúng ta sự hiện diện thật sự của sự kiện cứu rỗi trong lịch sử chúng ta.

Do đó, trong Thánh lễ, có ba sự hiện diện thật sự. Chúa Kitô thật sự hiện diện trong Lời Chúa, cụ thể trong các bài đọc kinh thánh, bài giảng và thánh ca. Chúa Kitô thật sự hiện diện trong bánh và rượu được thánh hiến, đó là mình và máu của Chúa Kitô. Và Chúa Kitô thật sự hiện diện trong sự kiện cứu rỗi. Là cuộc hy sinh vượt qua cái chết đến với sự sống.

Vậy nên khi tham dự Thánh lễ, chúng ta không chỉ để đi vào hiệp thông nhờ Lời Chúa và đón nhận Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể, nhưng chúng ta còn đến đó để đi vào sự kiện cứu rỗi của cái chết và sự phục sinh của Ngài. Sự hiện diện thật sự cả trong nhân thể và sự kiện.

Kháng cự Tình yêu

Làm người thật không hề đơn giản. Chúng ta thường là một bí ẩn với ngay chính bản thân mình, thậm chí là kẻ thù tồi tệ nhất của mình. Sự phức tạp nội tâm làm trì trệ, và còn cản trở chúng ta. Và chúng ta thấy điều này thật nhất trong nỗ lực vì tình yêu và sự mật thiết.

Chúng ta khao khát sự mật thiết hơn bất kỳ điều gì, khao khát được chạm đến nơi dịu dàng nhất của mình, nơi chúng ta được là chính mình nhất, nơi chất chứa những gì quý giá nhất, mỏng manh nhất, và khắc khoải nhất của chúng ta. Nhưng khi thực sự đối diện với sự mật thiết, những người nhạy cảm thường trở nên bất an và kháng cự.
Chúng ta thấy hai ví dụ rất rõ trong Phúc âm. Thứ nhất là câu chuyện có cả trong bốn Phúc âm, kể về một người phụ nữ đi vào phòng nơi Chúa Giêsu đang dùng bữa, và đập vỡ một lọ dầu thơm đắt giá, đổ lên chân Chúa, rửa chân Ngài bằng nước mắt, rồi lấy tóc lau khô, và hôn chân Ngài. Trừ Chúa Giêsu, những người trong phòng đã có phản ứng thế nào? Khó chịu và phản đối. Chuyện này không được xảy ra! Mọi người ngoảnh mặt đi trước sự bày tỏ nguyên sơ của tình yêu, và Chúa Giêsu phải thách thức họ nhìn thẳng vào nguyên cớ gốc rễ của sự khó chịu đó.

Trong đó, Chúa chỉ ra rằng họ khó chịu với những gì nằm ở trọng tâm cuộc sống và trọng tâm những khát khao thâm sâu nhất của họ, chính là sự trao đi và đón nhận thuần túy trước tình yêu. Chúa Giêsu xác nhận, đây chính là mục đích chúng ta sống và đây là cảm nghiệm chuẩn bị cho chúng ta đi đến cái chết. Đây là mục đích sống của chúng ta. Đây cũng là điều chúng ta mong mỏi nhất? Vậy tại sao chúng ta lại quá khó chịu và kháng cự khi thật sự đối diện với nó trong đời?

Ví dụ thứ hai là trong Phúc âm theo thánh Gioan, khi Chúa Giêsu cố rửa chân cho các môn đệ. Theo thánh Gioan kể lại, Chúa Giêsu đứng dậy khỏi bàn, thắt tà áo, lấy chậu và khăn, rồi bắt đầu rửa chân cho các môn đệ. Nhưng đáp lại là một sự khó chịu và kháng cự, thánh Phêrô nói rõ ràng rằng: “Không bao giờ! Thầy không bao giờ rửa chân cho con!”

Tại sao lại thế? Tại sao lại kháng cự? Tại sao lại kháng cự khi đối diện với điều mà chắc chắn là Phêrô khao khát vô cùng, đối diện với sự mật thiết với Chúa Giêsu.

Trả lời cho câu hỏi về những đấu tranh với sự mật thiết trong hai bối cảnh này, cho chúng ta thấy ra lý do vì sao thỉnh thoảng chúng ta trở nên khó chịu và kháng cự khi thực sự đối diện với điều chúng ta khắc khoải mong mỏi. Bàn chân của chúng ta là sự mật thiết quá mức, chúng là một phần thân thể dễ dơ bẩn và bốc mùi, không phải là phần chúng ta thấy thoải mái để người khác chạm đến. Khi có ai đó chạm đến và rửa cho, chúng ta có cảm thấy một sự mỏng manh, khó khịu và hổ thẹn mơ hồ. Mật thiết cần sự thả lỏng thanh thản, mà đôi khi tính mỏng manh của chúng ta không thể chấp nhận.

Nhưng sự kháng cự của Phêrô cũng nói lên một điều khác, dễ thấy hơn. Nếu lành mạnh và nhạy cảm, chúng ta sẽ tự nhiên cảm thấy một sự khó chịu và kháng cự trước một món quà quá thẳng thắn, một sự mật thiết quá thẳng thắn, và cả lòng biết ơn quá thẳng thắn nữa. Và trong khi rõ ràng chúng ta phải cố gắng để vượt qua chuyện đó, nhưng đó không phải là một lỗi phạm, một sai sót tinh thần hay thể lý của chúng ta. Ngược lại, nó là một biểu hiện bình thường, là dấu hiệu của sự nhạy cảm tinh thần và thể lý. Tại sao tôi lại nói thế?

Tại sao khi có điều gì đó dường như ngăn chúng ta tiến tới điều căn bản của cuôc đời, lại không phải là chuyện gì sai trái trong chúng ta? Tôi cho rằng nó không phải là một sai lỗi nhưng là một cơ chế lành mạnh trong chúng ta, bởi những người ái kỷ và vô cảm, thường miễn nhiễm với sự khó chịu và kháng cự này. Sự ái kỷ khiến họ không còn biết xấu hổ, và sự vô tâm khiến họ dễ dàng thoải mái với sự mật thiết, cũng kiểu như một người đã quá chán tình dục nên chẳng thấy khó chịu gì khi xem phim khiêu dâm, hay như một người xem mật thiết như là chuyện mình dĩ nhiên phải có, dù là do ngẫu nhiên hay chiếm đoạt. Trong trường hợp này, họ chẳng thấy hổ thẹn hay khó chịu gì, bởi họ không có sự mật thiết đích thực.

Ngược lại, những người nhạy cảm thì đấu tranh với sự thẳng thừng của mật thiết, bởi họ biết, sự mật thiết đích thực, cũng như thiên đàng, không phải là chuyện chóng qua hay thứ dễ đạt được. Mà mật thiết là cuộc đấu tranh cả đời, một cuộc trao đi và nhận lãnh với nhiều biến cố, một cuộc trốn và tìm, mở ra và kháng cự, ngây ngất và cảm thấy mình không xứng đáng, chấp nhận và lại cố gắng không thực sự từ bỏ, một sự vị tha vẫn còn dư vị ích kỷ, một sự ấm áp đôi khi trở nên lạnh lẽo, một sự dấn thân vẫn có điều kiện, và một hy vọng nỗ lực để đứng vững.

Mật thiết không như thiên đàng. Mà là sự cứu rỗi. Là Nước Trời. Do đó cũng như Nước Trời, con đường đến và cánh cửa vào thì nhỏ hẹp và không dễ tìm thấy. Nên chúng ta hãy ân cần, nhẫn nại và tha thứ cho người khác và cho bản thân mình, khi trên đường đấu tranh tìm sự mật thiết.

Nhàm chán – Lỗi của chính chúng ta

Năm 2011, quyển sách của tác giả trẻ Bieke Vandekerckhove đã giành giải Sách Thiêng liêng của Năm ở Bỉ. Với tựa đề, Vị của Thinh lặng [Taste of Silence], quyển sách ghi lại cuộc đấu tranh của cô sau khi bị chẩn đoán mắc bệnh ALS, hay thường gọi là bệnh Lou Gehrig, tình trạng suy thoái thần kinh dẫn đến kết cục là suy nhược cơ thể trầm trọng và sẽ chết không lâu sau đó. Thật là một chẩn đoán không dễ chấp nhận với một phụ nữ trẻ đầy sinh lực.

Nhưng không lâu sau khi bị trầm cảm nội tâm sâu sắc, cô tìm thấy ý nghĩa cuộc đời thông qua suy niệm, thinh lặng, văn học, nghệ thuật, thi ca, và không kém phần quan trọng, là một mối quan hệ cuối cùng đã kết trái thành hôn nhân. Và thật không ngờ, bệnh tình của cô thuyên giảm, và cô sống thêm hai mươi năm nữa. Trong nhiều thấu suốt phong phú đã chia sẻ với chúng ta, Bieke có đưa ra một suy tư đáng chú ý về sự nhàm chán.

Bàn về sự nhàm chán đang thịnh hành trong thời nay, cô nêu bật một nghịch lý, cụ thể là sự nhàm chán đang tăng mạng giữa chúng ta cho dù mỗi ngày chúng ta đều sản xuất ra đủ loại cải tiến để tránh chuyện đó. Ngày nay, khi có trong tay các thiết bị công nghệ nối kết chúng ta với mọi thứ, từ tin tức thế giới cho đến ảnh chụp của những người thân yêu đang chơi với con cái họ, chẳng phải chúng ta đã được cách ly khỏi sự nhàm chán hay sao? Nghịch lý thay, ngược lại thế mới đúng. Mọi cải tiến công nghệ không xoa dịu nỗi nhàm chán của chúng ta. Tại sao lại không? Chúng ta vẫn vật lộn với sự nhàm chán bởi mọi kích thích trong thế giới không hẳn đã có ý nghĩa. Theo Bieke, ý nghĩa và hạnh phúc không hệ tại nhiều ở chuyện gặp gỡ những người thú vị và khám phá những điều thú vị, mà đúng hơn là hệ tại ở việc hứng thú sâu sắc về những con người và sự vật.

Từ thú vị phát xuất từ gốc La Tinh, với hai từ là inter (bên trong) và esse (hiện hữu) và khi kết hợp lại, nghĩa là hiện hữu bên trong sự gì đó. Mọi sự thú vị với chúng ta khi chúng ta chú tâm đến chúng đủ để thật sự đi vào trong chúng. Và hứng thú của chúng ta không nhất thiết phải tùy vào khả năng kích thích tự nhiên của sự đó, dù ta vẫn thừa nhận rằng có những sự kiện và cảm nghiệm mạnh mẽ hơn cái khác. Điều này giải thích sự hứng thú mạnh của ta với những sự kiện thế giới, các giải thể thao lớn, các lễ trao giải, cũng như sự ám ảnh vốn kém lành mạnh hơn với đời sống của những người nổi tiếng. Có những người, sự vật và sự kiện, tự nhiên thu hút chúng ta hơn và chúng ta muốn ở “bên trong” những cuộc sống và sự kiện đó.

Nhưng hầu hết các tin tức thế giới, sự kiện thể thao lớn, các buổi trao giải và đời sống riêng tư của những người nổi tiếng, không phải là chế độ bình thường của ta, không phải là bữa ăn gia đình, nơi làm việc, những buổi đi nhà thờ, những buổi bán hàng từ thiện, lịch sống thường nhật hay những món ta ăn hằng ngày. Và đây chính là điểm thường khiến ta chịu lấy sự nhàm chán, bởi ta không ở sâu trong hiện thực của những con người và sự kiện đó. Chính vì thế mà chúng ta thường cảm thấy cuộc sống đều đều, ù lì, và thông lệ. Nhưng nếu như thế, xét cho cùng, chúng ta đấu tranh với sự nhàm chán, không phải bởi gia đình, nơi làm việc, hàng xóm, giáo xứ, và bạn bè mình không thú vị. Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó. Cảm nghiệm không phải là những gì xảy đến với chúng ta, mà là những gì chúng ta làm với những gì xảy đến với mình. Enstein đã nói thế đấy.

Và Bieke Vandekerckhove cũng nêu bật một nghịch lý khác: Thật nghịch lý khi ta có xu hướng đấu tranh với nhàm chán và trì trệ trong khi ta đang đầy triển nở trong đời, đang khỏe mạnh và làm việc, còn những người như Bieke Vandekerckhove thì mất sức khỏe và chuẩn bị đối diện với cái chết nhưng lại thường thấy sự hồ hởi vui tươi nơi những cảm nghiệm bình thường nhất.

Những thấu suốt của Bieke Vandekerckhove rất giống với cảm nghiệm của Rainer Maria Rilke trong quyển Những lá thư gởi Thi sĩ Trẻ [Letters to a Young Poet.] Như Bieke, ông cũng gợi ý rằng nhàm chán là lỗi của chúng ta, lỗi của một con mắt hờ hững. Trong những lá thư giữa ông với một thi sĩ trẻ, chàng thi sĩ đã than phiền rằng mình không được tiếp cận đủ với những cảm nghiệm thúc đẩy thi ca, bởi anh sống trong một thị trấn nhỏ nơi hầu như chẳng có chuyện gì thú vị. Và chàng thi sĩ ghen tị với Rilke, vì ông chu du gần khắp châu Âu và đã gặp đủ mọi kiểu người thú vị. Với anh, những thấu suốt thi ca của Rilke phần nhiều dựa vào việc được đến những thành phố lớn, gặp những người thú vị, và được những kích thích mà một chàng trai ở thị trấn nhỏ chẳng bao giờ có được.

Câu trả lời của Rilke với chàng trai trẻ này đã trở thành câu trả lời kinh điển về vấn đề nhàm chán: “Nếu cuộc sống thường nhật của anh có vẻ nghèo nàn, thì đừng đổ lỗi cho nó, mà hãy bảo rằng mình không đủ thi vị để khơi lên sự phong phú của nó, bởi với người sáng tạo, thì không có sự nghèo nàn và không có không gian nghèo nàn.”

Tìm được hứng thú trong đời không hệ tại ở việc chúng ta là ai và gặp ai, nhưng là ở khả năng nhìn sâu vào mọi sự. Cuộc sống khắp nơi đủ phong phú để cho ta thú vị, nhưng về phần mình ta phải hứng thú trước đã.

Về việc đừng trau dồi sự Thao thức

Ba mươi bốn năm trước, khi mở chuyên mục này, hẳn tôi sẽ chẳng bao giờ nói rằng: Thao thức không phải là thứ để trau dồi, dù cho nó có lãng mạn đến đâu chăng nữa.

Đừng nhầm lẫn Chúa Giêsu với Hamlet, bình an với bất an, chiều sâu với sự bất mãn, hay hạnh phúc đích thật với sự bồn chồn cả đời của người nghệ sĩ. Thao thức bên trong chúng ta không cần được trau dồi thêm nữa, nó đã đủ tàn phá lắm rồi.

Từ thưở thơ ấu đến lúc trung niên, tôi đã gắn lãng mạn với sự thao thức, với khắc kỷ, với việc làm một kẻ cô đơn ngoài cuộc, với việc dự một bữa tiệc quá hời hợt không thể nào có được sự chân thực. Có lẽ điều này đã góp phần khiến tôi chọn chủng viện và chức linh mục, chắc chắn nó giúp tôi giải thích vì sao tôi đặt tên cho chuyên mục này là Tha hương. Hầu như cả đời, tôi đã đặt thao thức ngang với chiều sâu, là một sự đáng vun đắp trau dồi.

Điều này tự nhiên đến với tôi, và dần dà trong cuộc sống tôi tìm được những bậc thầy uy thế giúp tôi nắm bắt sự cô tịch của bản thân. Thời trung học, tôi ham thích vở Hamlet của Shakespeare. Tôi gần như thuộc lòng nó. Hamlet đại diện cho chiều sâu, mãnh liệt và lãng mạn, chứ không phải một kẻ đam mê hời hợt. Với tôi, Hamlet là ngôn sứ cô đơn, chiếu tỏa chiều sâu trên sự hời hợt thiển cận.

Thời chủng viện, tôi chuyển sang Platon (“Chúng ta được bắn vào đời với sự điên rồ đến từ các vị thần và khiến chúng ta tin rằng mình có thể đạt được thành tựu lớn lao, biến mình thành bất tử và dự liệu chuyện trên trời.”) rồi đến thánh Augustino (“Ngài đã tạo nên con cho Ngài, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”) rồi đến Gioan Thánh Giá (“Chúng ta đi qua cuộc đời với xung lực của khát khao cấp bách của tình yêu.”) và đến Karl Rahner (“Trong day dứt khi không được nắm trọn những sự có thể nắm bắt được, chúng ta học biết rằng trong cuộc đời này, mọi hòa âm phải còn dang dở.”) Đọc những tư tưởng gia này giúp tôi đẩy chủ nghĩa lãng mạn đi xa.

Cùng với các ngòi bút thiêng liêng, tôi còn chịu ảnh hưởng từ rất nhiều tiểu thuyết gia, những người giúp truyền cho tôi khái niệm rằng cuộc sống là để sống với sự mãnh liệt nội tâm và tinh thần lãng mạn để tránh bất kỳ sự thỏa mãn đơn giản nào trong những thú vui thường nhật bình thường của cuộc sống. Với tôi, các nhân vật của Nikos Kazantzakis chiếu tỏa một sự đam mê khiến cho họ thật sự như một vị thần và đáng thèm muốn không thể cưỡng lại, ngay cả khi họ phải vật lộn để không hủy hoại chính mình. Iris Murdoch thì mô tả tình yêu một cách quá ám ảnh và quá hấp dẫn, như thể mọi thứ xung quanh dường như vô thực, còn Doris Lessing và Albert Camus thì quyến rũ tôi bằng những hình ảnh của sự bất an nội tâm khiến cho cuộc sống bình thường có vẻ quá đều đều và không xứng đáng. Ý niệm này lớn dần và tôi thấy thà chết trong một khao khát chưa thành sự thì cao cả hơn nhiều so với sống vì tất cả mọi thứ khác. Chết mãnh liệt thì hơn là sống trong sự bình thường. Cần phải trau dồi sự thao thức.

Và trong văn hóa của chúng ta cũng thế, nhất là trong nghệ thuật và ngành công nghiệp giải trí, họ thúc đẩy cám dỗ này, cụ thể là làm sao để mình thao thức và xem sự bất an như là chiều sâu và sự dằn vặt của người nghệ sĩ Chúng ta đã từng định hình con người mình như thế, như những chuyện lãng mạn phức tạp không thể nào cho trọn, và chúng ta có lý do để biện minh cho sự khó tính và cả sự phản bội thiếu chung thủy. Như lời bài hát của The Eagles, đến bây giờ, chúng ta là những linh hồn thao thức trong cuộc chiến bất tận. Có thể hiểu là chúng ta bay vượt trên những quy luật bình thường của cuộc sống và hạnh phúc, và sự phức tạp của chúng ta đủ để bào chữa cho bất kỳ cách hành động nào của mình. Như Amy Winehouse từng có câu khẳng định nổi tiếng về mình rằng: “Tôi bảo anh là tôi đầy phức tạp, và anh cho là tôi không tốt.” Tại sao có người lại hoang mang vì chúng ta từ chối cuộc sống bình thường và hạnh phúc bình thường?

Có gì đó trong chúng ta, nhất là khi còn trẻ, nó cám dỗ chúng ta hướng đến một dạng tự xác định bản thân. Và tôi tin, trong giai đoạn đó của cuộc đời, như thế là lành mạnh. Người trẻ thì chủ nghĩa lý tưởng quá đáng, lãng mạn cực kỳ, và không tin tưởng việc lười biếng chấp nhận cái tốt thứ hai. Như Doris Lessing đã nói, trong đời chỉ có một tội lỗi thực sự, và đấy là việc gọi cái tốt thứ hai bằng bất kỳ một cái tên nào khác! Tôi ước mong rằng mọi người trẻ sẽ đọc Platon, Augustino, Gioan Thánh Giá, Karl Rahner, Nikos Kazantzakis, Iris Murdoch, Doris Lessing, Jane Austin, và Albert Camus.

Nhưng, trừ những tác giả như Platon, Augustino, Gioan Thánh Giá, và Karl Rahner, những người đưa sự thao thức vô tận và dằn vặt cả đời vào một câu chuyện lớn hơn và ý nghĩa hơn, chúng ta đừng nên xác định mình bằng phẩm chất thao thức và trau dồi nói. Chủ nghĩa lãng mạn cao độ sẽ chỉ có ích cho chúng ta, nếu cuối cùng nó nằm trong một sự tự nhận thức không biến thao thức thành mục đích cuối cùng của cuộc đời. Cảm giác mình cao cả sẽ không đem lại sự bình an cho cuộc sống chúng ta. Và khi thêm tuổi thêm trưởng thành, chính bình an là phần thưởng cho chúng ta. Romeo, Juliet, Hamlet, Zorba, Bác sĩ Zhivago, và những nhân vật siêu lãng mạn khác trên màn ảnh và trong tiểu thuyết, có thể thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn của chúng ta, nhưng đến tận cùng, họ không phải hình ảnh cho sự mật thiết của cuộc gặp gỡ vĩnh cửu của các linh hồn bên trong thân thể Chúa Kitô.

Cầu nguyện Chiêm niệm

Cầu nguyện chiêm niệm, đã có từ lâu và được thực hành phổ biến, ngày nay lại là chủ đề khá bị hoài nghi với nhiều nhóm người. Ví dụ như, phương pháp cầu nguyện thường được gọi là Quy thần niệm, được nhiều người như Thomas Keating, Basil Pennington, John Main và Laurence Freeman phổ biến, giờ lại bị nhiều người hoài nghi xem như một thứ gì đó gắn với phong trào “New Age,” Phật giáo, phong trào “Tìm Bản ngã” hay thậm chí là vô thần.

Phải thừa nhận, không phải tất cả người tán thành và thực hành kiểu cầu nguyện này đều tránh được những xung lực đó, nhưng chắc chắn, những người cầu nguyện đích thực sẽ không vướng phải. Hiểu và thực hành đúng đắn phương pháp cầu nguyện với nhiều biến thể này, chính là điều mà các Đan phụ Sa mạc, Gioan Thánh Giá, và tác giả quyển Đám mây Vô thức [Cloud of Unknowing] gọi là Chiêm niệm.

Theo truyền thống Kitô giáo kinh điển, Chiêm niệm là gì? Với những biện giải theo truyền thống của thánh Inhaxiô thành Loyola, chiêm niệm là cầu nguyện mà không có hình ảnh hay tưởng tượng, nghĩa là cầu nguyện mà không cố tập trung suy nghĩ và cảm giác vào Thiên Chúa hay những sự thánh thiện. Chiêm niệm là cầu nguyện một mình với ý hướng hiện diện với Thiên Chúa mà thôi, và bỏ qua mọi thứ khác, kể cả những suy tư sốt sắng hay những cảm giác thánh thiện, để rồi đơn giản ngồi trong bóng tối, trong một sự vô thức có chủ ý sao cho không thúc đẩy hay tận hưởng mọi suy nghĩ, tưởng tượng và cảm giác về Thiên Chúa, và mọi suy nghĩ cảm giác khác nữa. Trong quyển Đám mây Vô thức, chiêm niệm là sự đơn thuần vươn thẳng tới Chúa.

Trong cầu nguyện chiêm niệm, sau một hồi tĩnh tại, một hành động nội tâm để tập trung bản thân vào trong cầu nguyện, người ta cứ thế ngồi yên, với ý định vươn thẳng đến Thiên Chúa trong một không gian vượt ngoài cảm giác và tưởng tượng, chờ đợi hiện thực không thể tưởng tượng nổi của Thiên Chúa đến với mình theo một cách mà những cảm giác, suy nghĩ và tưởng tượng chủ quan không tài nào đem lại được.

Và đây chính là điểm mà người ta thường hiểu lầm và chỉ trích cầu nguyện chiêm niệm. Họ đặt vấn đề rằng: Tại sao ta không cố thúc đẩy và chiều theo những suy nghĩ thánh thiện và cảm giác sốt sắng. Đấy không phải là điều ta cố làm khi cầu nguyện hay sao? Làm sao ta có thể cầu nguyện khi cứ ngồi yên đó, chẳng làm gì? Đây có phải là một dạng của thuyết bất khả tri không? Làm sao ta gặp được một Thiên Chúa thực thể yêu thương khi cầu nguyện như thế? Chẳng phải đây đơn thuần là một dạng suy niệm biến thể kiểu như yoga tinh thần hay tìm kiếm bản ngã? Trong việc cầu nguyện như thế, Chúa Giêsu ở đâu?

Tôi sẽ để tác giả quyển Đám mây Vô thức trả lời điều này: “Khi thực hành trong bóng tối và đám mây vô thức này, khi chỉ có nơi mình một xung lực yêu mến dành cho Thiên Chúa, thật không thích hợp và đầy chướng ngại để người ta nhìn nhận bất kỳ suy nghĩ hay suy niệm nào về những ơn ban, sự nhân từ và công trình của Thiên Chúa, để nâng lòng lên nhằm ghép chặt bản thân với Chúa, dù cho đó là những suy nghĩ rất thánh thiện đem lại hạnh phúc và an ủi rất nhiều cho người đó. …Bao lâu linh hồn còn chìm trong thân xác sẽ chết này, thì sự rõ ràng trong nhận thức của ta khi chiêm niệm mọi sự thiêng liêng, nhất là chiêm niệm về Thiên Chúa, luôn luôn bị xáo trộn với một dạng tưởng tượng khác.” Ta không thể tưởng tượng Thiên Chúa, ta chỉ có thể biết Thiên Chúa.

Về căn bản, ý niệm này nghĩa là đừng bao giờ nhầm lẫn hình tượng với thực tế. Thiên Chúa là không thể dò thấu, và do đó mọi sự ta nghĩ hay tưởng tượng về Thiên Chúa đều là một hình tượng, mà ngay cả những lời trong kinh thánh cũng chỉ là những lời về Thiên Chúa chứ không phải là hiện thực của Thiên Chúa. Phải thừa nhận, các hình tượng là tốt đẹp, miễn sao chúng ta hiểu cho đúng về chúng, miễn sao chúng hướng chúng ta về một hiện thực cao hơn chúng. Nhưng nếu chúng ta xem chúng là hiện thực, một cám dỗ mà ta luôn vướng phải, thì hình tượng trở thành ngẫu tượng.

Sự khác biệt giữa suy niệm và chiêm niệm là thế này: Trong suy niệm, chúng ta tập trung vào hình tượng, vào Thiên Chúa, hay đúng ra là Thiên Chúa trong suy nghĩ, tưởng tượng, và cảm giác của ta. Trong chiêm niệm, các hình tượng được xem là ngẫu tượng, và chúng ta ngồi đó trong bóng tối, bên dưới đám mây vô thức, cố gắng đối diện với một hiện thực quá lớn lao mà ta không thể nắm bắt cho dù có dùng đến tưởng tượng. Suy niệm như một hình tượng, là điều gì đó hữu dụng trong một thời gian, nhưng đến cuối cùng, chúng ta đều được kêu gọi hướng đến chiêm niệm. Như quyển Đám mây Vô thức đã nói: “Chắc chắn, ai tìm kiếm để có trọn Thiên Chúa sẽ không nghỉ lại nơi việc nhận thức về bất kỳ thiên thần hay các các thánh trên trời nào.”

Karl Rahner cũng đồng ý rằng: “Ta đã cố gắng để yêu mến Thiên Chúa trong những lúc không cuốn theo ngọn sóng xuất thần trào dâng, những lúc không thể nhầm lẫn bản thân mình với xung lực sự sống hướng đến Thiên Chúa, những lúc chấp nhận chết đi vì một tình yêu có vẻ như cái chết và hoàn toàn tiêu cực, khi chúng ta kêu lên từ sự trống rỗng và vô thức tột cùng?”

Nói tóm lại, đấy chính là cầu nguyện chiêm niệm, cầu nguyện thật sự hướng về Thiên Chúa.

Đấu tranh để không biến Thiên Chúa thành thần linh bộ lạc của riêng mình

Tôi có phúc được lớn lên trong một môi trường rất an toàn và yên ổn. Tuổi thơ tôi thật sự là sống trong kén. Trong cộng đồng nhập cư thế hệ đầu tiên ở vùng nông thôn hẻo lánh mà tôi sinh trưởng, tất cả chúng tôi đều biết nhau, đều cùng đến một nhà thờ, cùng theo một đảng chính trị, tất cả đều da trắng, cùng chung một nền tảng sắc tộc, tất cả đều có ngữ âm như nhau, đều có quan điểm về luân lý tương tự nhau, tất cả đều chia sẻ những hy vọng và sợ hãi về thế giới bên ngoài, và tất cả đều khá tin tưởng phụng thờ Thiên Chúa trong cái kén đó. Chúng tôi biết mình đặc biệt trong mắt Chúa.

Tâm thức này có một sức mạnh, nhưng cũng có một phần xấu ẩn bên dưới. Khi không có người lạ trong đời mình, khi ai ai cũng trông hệt như bạn, tin tưởng như bạn và nói năng như bạn, khi thế giới của bạn chỉ toàn những người như mình, hệ quả là về sau thế giới đó sẽ mở rộng trong một sự đau đớn đến tận sâu thẳm tâm hồn để chấp nhận, sống và thoải mái với sự thật rằng những người khác biệt với bạn, những người mang màu da khác, nói ngôn ngữ khác, sống ở đất nước khác, theo tôn giáo khác, và có cách hiểu khác, họ cũng chân thật và quý báu trước mắt Chúa như bạn vậy.

Tất nhiên không phải ai cũng có thời thơ ấu như tôi, nhưng tôi cho rằng hầu hết mọi người đang đấu tranh, còn phải cố gắng hơn mức độ cởi mở mà ta thường tự phụ về mình, để chấp nhận rằng mọi cuộc đời đều bình đẳng và quý báu với Thiên Chúa như cuộc đời chúng ta vậy. Thật khó để chúng ta tin rằng, mình và giống nòi của mình, không có phúc và có giá trị gì đặc biệt hơn những người khác. Có nhiều nguyên do cho điều này.

Thứ nhất, chúng ta có tính ái kỷ bẩm tại. Nói đơn giản, ta không thể không cảm nhận hiện thực của mình là thật và quý báu hơn của người khác. Xét cho cùng, như Rene Descartes đã nói, điều duy nhất ta có thể biết chắc, đó là ta tồn tại, là niềm vui và đau đớn của ta tồn tại. Còn mọi sự khác, có lẽ chỉ là giấc mơ của ta. Và trên tính ích kỷ tự nhiên đó, còn có những sự khác. Là máu mủ, ngôn ngữ, quê hương, và tôn giáo theo kiểu giọt máu đào hơn ao nước lã. Hệ quả là, những người giống chúng ta luôn chân thật hơn. Quá nhiều người trong chúng ta sống với khái niệm rằng Thiên Chúa chúc phúc cho chủng tộc và quốc gia chúng ta hơn là cho các chủng tộc và quốc gia khác. Ta nghĩ rằng mình đặc biệt trong mắt Chúa. Đấy là một khái niệm phi Kitô và sai lầm đến nguy hiểm, đối lập trực tiếp với kinh thánh Do Thái – Kitô giáo. Sự thật là Thiên Chúa không xem trọng đặc biệt một chủng tộc và quốc gia nào.

Bởi thật khó để chúng ta nhìn ra cuộc sống của mọi người khác cũng chân thật và quý báu như của chúng ta, vậy chúng ta sẽ đi về đâu? Làm sao để chúng ta thật lòng sống chấp nhận sự thật mà chúng ta vẫn thường nói trên môi miệng, chấp nhận rằng Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người như nhau, không có ngoại lệ?

Có lẽ ta nên bắt đầu bằng việc thừa nhận vấn đề, thừa nhận rằng tính ái kỷ bẩm tại và khuynh hướng bộ lạc đang ngăn chúng ta nhìn thấy cuộc sống của những người khác cũng chân thật và quý báu như của chúng ta. Tôi cho rằng, chúng ta cần phải nhìn vào chủ nghĩa ái quốc sai lầm. Chúng ta không phải là một quốc gia đặc biệt, ít nhất là không đặc biệt hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Trước mặt Chúa, những giấc mơ, đau thương, niềm vui nỗi buồn, đau đớn, cái chết của chúng ta không đáng giá hơn của những người khác trên thế giới. Mà có lẽ còn thua, bởi Thiên Chúa ưu tiên cho người nghèo. Cuộc sống của hàng ngàn người tị nạn ngày nay, những người quá dễ rơi vào hàng đống người vô danh mà chúng ta bày tỏ lòng một cảm thông mơ hồ, họ cũng đáng giá trước mặt Chúa hệt như con cái chúng ta vậy, bởi Kinh thánh nói rằng Chân lý ở trong những người bị loại trừ. Ngày nay, có lẽ họ là dân tộc định mệnh, là những người được Chúa chúc phúc đặc biệt.

Chúng ta cũng cần phải sửa đổi những thần học xấu. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải và hiện thân, chúng ta không được biến Ngài thành Thiên Chúa của riêng mình, một Thiên Chúa xem chúng ta quý báu và được ơn phúc hơn những dân tộc khác, một Thiên Chúa chúc lành đặc biệt cho chúng ta. Đáng buồn thay, chúng ta luôn mãi có khuynh hướng biến Thiên Chúa thành thần linh bộ lạc của mình, của gia đình, gia tộc, giáo hội và quốc gia mình. Thiên Chúa quá dễ bị biến thành Thiên Chúa của riêng chúng ta. Nhưng đức tin thật sự không chấp nhận thế. Một thần học Kitô chính thống và lành mạnh dạy rằng Thiên Chúa hiện diện đặc biệt nơi tha nhân, nơi người người nghèo và người lạ. Mặc khải của Chúa đến với chúng ta rõ ràng nhất là qua người ngoài, qua những gì xen vào vùng thoải mái và những dự tính của ta, nhất là những dự tính của ta về Thiên Chúa.

Thiên Chúa quá cao cả vĩ đại để bị hạ xuống mà phục vụ cho lợi ích của gia đình, sắc tộc, giáo hội và quốc gia của chúng ta. Thiên Chúa là của tất cả mọi người như nhau, chứ không phải của riêng chúng ta.

Phần mềm, Định dạng Luân lý, và Sống trong Tội lỗi

Trong thời gian học tập ở Bỉ, tôi sống ở Trường American, Leuven. Trong ban cán sự, thuộc bộ phận phòng ốc và bảo trì, có một phụ nữ rạng rỡ tuyệt vời, sức sống của bà truyền sinh lực cho mọi người, nhưng tình trạng hôn nhân của bà tương tự như người phụ nữ Samaria trong Phúc âm. Không ai trong chúng tôi biết chắc bà đã kết hôn bao nhiêu lần, và người đàn ông đang sống với bà có phải là chồng chính thức hay không.

Một ngày nọ, có một Tổng Giám mục đến thăm Trường, và bà có tên trong ban tiếp tân. Tổng Giám mục bắt tay từng người và thăm hỏi ngắn gọn. Đến lượt mình, bà cho Đức cha biết tên và công việc của mình tại trường. Ngài bắt tay bà và nhân tiện hỏi một câu: “Bà lập gia đình chưa?” Bà không sẵn sàng cho câu hỏi đó. Bà lắp bắp trả lời: “Có, không, à, đại loại thế.” Rồi bà cười và nói: “Thật ra, thưa Đức cha, con sống trong tội lỗi!” Và Tổng Giám mục cũng cười. Ngài hiểu bà đang nói gì, không chỉ là lời lẽ, nhưng cả sắc thái trong nụ cười của bà.

Sống trong tội lỗi. Với những hành động rối loạn cố kết. Thần học luân lý Công giáo cố gắng nói gì về khái niệm này, khi mà ngày nay rất nhiều người, kể cả người Công giáo La Mã, thấy những khái niệm này là khó hiểu và xúc phạm?

Về giáo huấn luân lý Công giáo La Mã kinh điển, các khái niệm này có sự khó hiểu và dễ hiểu bên trong một bộ khung luân lý nhất định. Sắc thái và ý nghĩa thật của nó dựa vào hệ thống chung. Nói đơn giản, nó có nghĩa bên trong hệ thống đó. Trong ngôn ngữ thời nay, thần học luân lý Công giáo La Mã kinh điển có lẽ giống như một phần mềm chuyên biệt cao, thật sự là một phầm mềm được mài giũa, tinh luyện và nâng cấp qua nhiều thế kỷ, nên nó có sự cố kết nội bộ nhịp nhàng. Vấn đề là, thời nay phần nhiều trong nền văn hóa và cả trong giáo hội chúng ta, không còn sử dụng và không biết cách sử dụng phần mềm đó. Hệ quả là, định dạng và ngôn ngữ của nó bị hiểu sai và có thể gây xúc phạm. Không phải ai cũng có trí hóm hỉnh về chuyện này như Tổng Giám mục nói trên.

Vậy chúng ta phải làm gì? Làm sao tiến tới được? Chúng ta đơn giản bỏ đi nhiều giáo huấn luân lý kinh điển vì có quá nhiều người thời nay thấy các khái niệm và ngôn ngữ của chúng gây xúc phạm sao?

Phải thừa nhận đây là một vấn đề lớn, với rất nhiều người thật tâm cân nhắc nó theo nhiều hướng khác nhau, như chúng ta vừa thấy ở Hội đồng về Hôn nhân và Đời sống gia đình. Làm sao chúng ta giữ nền tảng luân lý Kitô giáo đích thực, đồng thời xem trọng đúng đắn hiện thực của hàng triệu triệu người, bao gồm cả con cái và người thân của chúng ta? Làm sao chúng ta xác định được hiện thực của những người đang sống trong các tình trạng này, khi rõ ràng họ đem đến sinh khí cho cuộc sống nhưng lại không theo các nguyên tắc Kitô giáo? Làm sao chúng ta xác định thực tế luân lý của con cái và người thân yêu, những người đang sống với một đối tác không qua hôn nhân, nhưng vẫn đang tạo sinh khí từ mối quan hệ đó? Làm sao chúng ta xác định tình trạng luân lý của một cặp đồng tính, khi mối quan hệ của họ thực sự đem lại sức sống? Và làm sao chúng ta xác định tình trạng luân lý của người phụ nữ thành Samaria, và bà mà tôi đã nói trên, khi họ đi ngược các điều luật của Giáo hội về hôn nhân, nhưng lại là những con người đầy sức sống và đem lại sinh khí? Họ có sống trong tội lỗi hay không? Tình trạng của họ có bao gồm một sự dữ thực chất hay không?

Chúng ta cần một phần mềm mới bên trong thần học luân lý để trả lời cho những câu hỏi này, hay ít nhất là để định dạng chúng theo một ngôn ngữ mà nền văn hóa của chúng ta có thể hiểu và có thể nhận ra thách thức cho mình. Và đấy không phải việc đơn giản dễ dàng, khi những áp lực và phân cực trong giáo hội và trong gia đình của chúng ta quá rõ ràng. Nhiệm vụ của chúng ta là giữ nền tảng luân lý, thách thức nền văn hóa vốn không còn hiểu hay chấp nhận cách hiểu cũ về những chuyện này. Đồng thời, chúng ta không ép chân lý theo thời, không ép Phúc âm chìu theo thế gian, từ đó chúng ta mới xác định tình trạng luân lý của thế giới này và của nhiều người thân của mình.

Sự thật cho chúng ta tự do, nhưng Thiên Chúa thường hành động qua những đường cong. Tôi là sinh viên thần học luân lý kinh điển, và tôi thực sự tin tưởng vào các nguyên tắc của nó, đồng thời mỗi ngày tôi đều khiêm nhượng và thấy mình được thách thức trước tình yêu thương, đức tin và sức sống nơi những con người bị xem là “sai lễ giáo.” Làm sao cái tốt lại là cái xấu được? Ở thời điểm này, tôi cũng như rất nhiều người trong các bạn, đang hoài nghi rằng, liệu chúng ta có buộc phải sống với sự mơ hồ, sống với câu hỏi triền miên không.

Chúng ta cần một phần mềm mới, một cách định dạng luân lý mới, một cách mới để giữ vững chân lý trong cảm thông, một cách mới để giữ điều quan thiết trong cuộc hiện sinh.

Xem lại Chuyện Ân xá

Khi Đức Giáo hoàng Phanxicô mở Năm Thánh Lòng thương xót, ngài hứa các Kitô hữu có thể có được đặc xá trong năm này. Điều này khiến nhiều người Công giáo La Mã thời nay, thậm chí cả người Tin Lành và phái Phúc âm, gãi đầu và hỏi vài câu hỏi khó: Người Công giáo vẫn còn dùng ân xá sao? Chúng ta chẳng học điều gì từ Luther và cuộc Kháng cách sao? Chúng ta thực sự tin rằng các hành động nghi thức nhất định, như đi qua những cánh cửa nhà thờ, sẽ thuận tiện hóa con đường lên thiên đàng sao?

Đây là những câu hỏi có căn cứ và cần được giải đáp. Thực sự, ân xá là gì?

Trong tông sắc Gương mặt Lòng thương xót (Misericordiae Vultus) Đức Giáo hoàng Phanxicô nói thế này về lòng thương xót:

“Năm Thánh cũng bao gồm Ân Xá, một yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt trong Năm Thánh Lòng Thương Xót. Thiên Chúa xót thương chúng ta vô bờ bến. Nhờ sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa bày tỏ tình yêu của Ngài, tình yêu xóa bỏ tội lỗi của con người. Việc giao hòa với Thiên Chúa trở nên khả thi nhờ mầu nhiệm Vượt Qua và qua trung gian của Giáo Hội. Thiên Chúa luôn sẵn sàng để thương xót, và không bao giờ mệt mỏi trong việc thương xót với những cách thức mới mẻ và bất ngờ. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm về tội lỗi. Chúng ta biết mình được kêu gọi để trở nên hoàn thiện (x. Mt 5,48), nhưng chúng ta vẫn cảm thấy gánh nặng của tội lỗi. Chúng ta nhận ra sức mạnh của ân sủng đang biến đổi chúng ta, cùng lúc chúng ta cũng cảm nghiệm sức mạnh của tội lỗi đang chi phối chúng ta. Dù nhận được ơn tha thứ, chúng ta vẫn nghiệm thấy trong cuộc sống những mâu thuẫn phát sinh từ tội lỗi. Nhờ bí tích Hòa Giải, Thiên Chúa thứ tha tội lỗi, những tội ấy hoàn toàn bị xóa bỏ; tuy nhiên, vẫn còn đó những dấu vết xấu xa do tội lỗi để lại trong lối hành xử và cách suy nghĩ của chúng ta. Nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn mạnh hơn. Lòng thương xót trở thành những ân xá của Chúa Cha, qua trung gian Hiền Thê của Đức Kitô, được ban cho tội nhân vừa lãnh ơn giao hòa, sẽ giải gỡ người ấy khỏi tất cả những hậu quả của tội lỗi, để có thể hành động với đức ái và lớn lên trong tình yêu, hơn là lại rơi vào tội lỗi.

Giáo Hội sống trong tình hiệp thông với các thánh. Trong bí tích Thánh Thể, tình hiệp thông ấy, do Thiên Chúa ân ban, trở nên mối dây thiêng liêng nối kết các tín hữu với các thánh và các chân phước, một cộng đoàn đông đảo không sao đếm được (x. Kh 7,4). Sự thánh thiện của các ngài sẽ hỗ trợ cho sự mỏng dòn của chúng ta, và như thế, với lời cầu nguyện và đời sống của mình, Mẹ Giáo Hội có thể nâng đỡ sự yếu đuối của người này bằng sự thánh thiện của người khác. Lãnh nhận ân xá của Năm Thánh chính là vui hưởng lòng thương xót của Chúa Cha, với quyết tâm để cho ơn tha thứ của Ngài tác động trên toàn bộ đời sống người tín hữu. Ân xá cũng là cảm nghiệm sự thánh thiện của Giáo Hội đang thông ban tất cả hoa trái nơi công trình cứu độ của Chúa Kitô, để ơn tha thứ và tình yêu Thiên Chúa có được những kết quả tuyệt vời nhất. Chúng ta hãy sống Năm Toàn Xá này cách sốt sắng, hãy khẩn cầu Thiên Chúa tha thứ tội lỗi và tuôn đổ chan hòa ân xá đầy xót thương của Ngài trên chúng ta.” (*)

Đức Giáo hoàng đang nói gì ở đây? Rõ ràng, ngài không dạy về khái niệm quá phổ biến và không chính xác rằng, ân xá là cách để rút ngắn thời gian trong luyện ngục. Đúng hơn, ngài đang gắn kết ý niệm ân xá với hai điều: Thứ nhất, ân xá là sự chấp nhận và mừng kính sự nhưng không tuyệt vời của lòng thương xót Chúa. Một ân xá có hiệu lực, là sự chấp nhận ý thức hơn về lòng khoan dung, là chấp nhận có ý thức về một tình yêu, lòng thương xót và sự tha thứ mà chúng ta hoàn toàn không xứng đáng. Tình yêu có thể khoan dung. Cha mẹ có thể khoan dung với con cái. Do đó bất kỳ lúc nào chúng ta cầu nguyện hay cử hành phụng vụ với ý xin ân xá, thì nghĩa là lời kinh và phụng vụ đó khiến chúng ta ý thức hơn và biết ơn hơn về lòng thương xót khoan dung của Thiên Chúa. Chúng ta sống trong một lòng thương xót không tả nổi mà chúng ta hầu như không ý thức được. Trong Năm Thánh Lòng thương xót, Đức Giáo hoàng Phanxicô mời gọi chúng ta có những lời kinh và việc làm cụ thể để cho chúng ta ý thức hơn về lòng thương xót khoan dung này.

Hơn nữa, Đức Phanxicô liên kết khái niệm ân xá với một khái niệm khác, cụ thể là sự hiệp nhất và chung lòng giữa chúng ta với nhau trong Nhiệm thể Chúa Kitô. Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng mình hiệp nhất với nhau trong một mối dây hệ thống, thiêng liêng, vô hình và sâu sắc, một mối ràng buộc rất thật làm cho chúng ta nên một thân thể, với cùng dòng máu và sự sống chảy suốt tất cả chúng ta. Như thế, trong Nhiệm thể Chúa Kitô, giống như trong mọi cơ thể sống, có một hệ miễn dịch nên nếu ai đó làm gì, dù tốt hay xấu, cũng ảnh hưởng đến toàn thân thể. Do vậy, như Đức Giáo hoàng xác nhận, bởi có một hệ miễn dịch duy nhất trong Thân thể Chúa Kitô, nên sức mạnh của người này có thể củng cố cho yếu đuối của người khác, những người nhận ân xá, nhận một ơn mà mình không xứng đáng.

Bước qua cửa thánh là ý thức hơn về lòng thương xót khoan dung của Thiên Chúa và về cộng đoàn sự sống tuyệt vời mà chúng ta là một phần sống trong đó.

*Bản dịch chính thức của Ủy Ban Giáo lý,
http://giaolyductin.org/misericordi-vultus-dung-mao-long-thuong-xot-tong-sac-mo-nam-thanh-ngoai-thuong-ve-long-thuong-xot.html

Từ Hoang tưởng đến Sám hối

Đôi khi bản thân lại là một bí ẩn đối với chính chúng ta, hay nói chính xác hơn, đôi khi chúng ta không nhận ra mình hoang tưởng đến mức nào. Có nhiều thứ có thể hủy hoại cuộc đời chúng ta.

Mới đây tôi đến một buổi họp và tôi gần như cảm nhận được sự nồng hậu, tình bạn với các đồng nghiệp, một cảm giác tích cực. Tôi đang có tâm trạng tốt, rộng rãi, và muốn giúp đỡ ai đó. Rồi không lâu trước khi buổi họp kết thúc, một đồng nghiệp lại có một bình luận gay gắt khiến tôi thấy cay đắng và bất công. Ngay lập tức, cả loạt cánh cửa trong lòng tôi đóng sầm lại. Sự nồng hậu và cảm thông của tôi nhanh chóng biến thành khắc nghiệt và giận dữ. Tôi đã cố gắng đế không chìm sâu vào chuyện này. Nhưng cảm giác không biến mất nhanh chóng. Trong vài ngày, một sự lạnh lẽo và hoang tưởng cứ còn vương vấn trong lòng tôi, và khi còn nung nấu sự tiêu cực, tôi cố tránh mọi liên hệ với người đã nói câu gay gắt đó.

Thời gian và cầu nguyện cuối cùng đã chữa lành, một cái nhìn lành mạnh hơn đã trở lại và những cánh cửa đã đóng sầm giờ mở ra lần nữa, và sám hối thế chỗ hoang tưởng.

Sám hối, chính là lời đầu tiên Chúa Giêsu trong Tin mừng. “Sám hối và tin vào Tin mừng,” và có thể nói đấy là tóm gọn toàn bộ sứ điệp của Ngài. Nhưng người ta sám hối bằng cách nào?

Gốc của từ “sám hối” là “metanoia.” Nhưng từ “sám hối” không bao hàm đủ ý nghĩa mà Chúa Giêsu muốn nói. Sám hối nghĩa là chúng ta đã làm gì đó sai trái và phải hối hận về hành động đó và bắt đầu sống một cách sống mới. Còn từ “metanoia” có nghĩa rộng hơn.
Từ “metanoia” có gốc từ hai từ Hy Lạp. Meta nghĩa là phía trên, và Nous nghĩa là tinh thần. Metanoia – hay Tinh thần Hướng thượng, mời gọi chúng ta vươn lên trên những bản năng bình thường, đi vào một tinh thần cao lớn hơn khuynh hướng tư lợi và tự vệ vốn thường nảy sinh những cảm giác cay đắng, tiêu cực và thiếu cảm thông bên trong chúng ta. Metanoia mời gọi chúng ta đón nhận mọi tình trạng dù bất công đến thế nào, bằng một tấm lòng thông hiểu và cảm thông. Hơn nữa, tinh thần hướng thượng còn tương phản với hoang tưởng. Về căn bản, metanoia là “không-hoang tưởng,” nên những lời mở đầu của Chúa Giêsu có thể diễn giải thế này: Đừng hoang tưởng và tin vào Tin mừng. Sống trong tin tưởng.

Henri Nouwen, trong quyển sách nhỏ nhưng đầy thấu suốt thâm sâu, Với đôi tay mở rộng [With Open Hands,] đã mô tả tuyệt vời sự khác biệt giữa tâm thức hướng thượng và hoang tưởng. Cha cho rằng có hai thái độ căn bản trong đời. Chúng ta có thể đi trong đời với thái độ hoang tưởng. Thái độ hoang tưởng được tượng trưng trong nắm đấm xiết chặt, trong lập trường tự vệ, trong sự ngờ vực và bất tín thành lệ. Hoang tưởng khiến chúng ta cảm giác như mình luôn cần bảo vệ bản thân khỏi bất công, cảm thấy như người khác sẽ làm tổn thương nếu mình tỏ ra yếu đuối, và thấy chúng ta cần phải khẳng định sức mạnh và tài năng của mình để gây ấn tượng với người khác. Hoang tưởng nhanh chóng biến nồng ấm thành lạnh lẽo, biến thông hiểu thành nghi ngờ, và biến quảng đại thành tự vệ.

Thái độ của tinh thần hướng thượng, lại tượng trưng trong thập giá Chúa Giêsu. Trên thập giá, chúng ta thấy Chúa phơi mình và dễ bị tổn thương, cánh tay giang rộng để ôm lấy, và bàn tay Ngài mở ra với đinh sắt đóng sâu. Đấy là phản đề với hoang tưởng. Phản đề với những cánh cửa đóng sầm mỗi khi cảm thấy bị đe dọa. Tinh thần hướng thượng, một tấm lòng lớn, không bao giờ đóng sầm những cánh cửa đó.

Mội vài giáo phụ đã cho rằng tất cả chúng ta có hai tâm trí và hai tâm hồn. Với các ngài, mỗi người chúng ta đều có tâm trí lớn và tấm lòng lớn. Đấy là vị thánh trong mỗi chúng ta, là hình ảnh Thiên Chúa trong chúng ta, là phần nồng ấm, quảng đại và cảm thông trong chúng ta. Mỗi một người chúng ta có sự cao cả đích thực trong mình. Nhưng mỗi người cũng có một tâm trí nhỏ nhen và một tâm hồn nhỏ nhen. Đấy là phần ái kỷ của chúng ta, phần bị tổn thương, phần hoang tưởng biến thành tự vệ và ngay lập tức đóng sầm những cánh cửa nồng ấm và tin tưởng bất kỳ lúc nào chúng ta thấy có vẻ bị đe dọa. Nội tâm chúng ta thật quá phức tạp. Lòng chúng ta vừa quảng đại vừa nhỏ nhen, tâm trí chúng ta vừa cởi mở vừa bất dung, có cả tin tưởng và nghi ngờ, thánh thiện và ái kỷ, độ lượng và bè nhóm, nồng hậu và lạnh lẽo. Mọi sự dựa vào việc chúng ta liên kết với tâm hồn và tâm trí thế nào, cũng như cách hành động của chúng ta trong những thời điểm nhất định. Lúc này chúng ta sẵn sàng chết vì người khác, một phút sau chúng ta lại muốn họ chết đi. Lúc này chúng ta trao đi bản thân trong yêu thương, một phút sau lại muốn dùng tài năng của mình để thể hiện sự ưu việt. Tinh thần hướng thượng và sự hoang tưởng đua tranh trong lòng chúng ta.

Trong sứ điệp và con người của Ngài, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đến với tinh thần hướng thượng, tiến tới và ở lại trong tâm trí và tâm hồn lớn của mình, để khi đối mặt với một chuyện khó chịu, những cánh cửa nồng hậu và tin tưởng của chúng ta không đóng lại.

Cùng chung ngọn lửa thiêng sự sống

Xem người khôn ngoan cùng kẻ thâm hiểm

Đều hưởng dùng ngọn lửa thiêng sự sống
Những dòng này từ bài hát Don Quixote của Gordon Lightfoot, và chúng nêu bật một sự thật quan trọng, là cả người khôn ngoan và thâm hiểm đều lấy sức sống từ cùng một sinh lực. Và đấy là sinh lực tốt lành, sinh lực thánh, sinh lực thần thiêng, bất kể người ta sử dụng nó thế nào. Kẻ tham tàn và bạo lực lấy sức sống từ cùng một nguồn sinh lực hệt như người khôn ngoan và các vị thánh. Có một nguồn sinh lực, và dù nó có thể bị lạm dung vô trách nhiệm, ích kỷ và khủng khiếp, thì nó vẫn luôn là sinh lực của Thiên Chúa.

Bất hạnh thay, chúng ta thường không nghĩ như thế. Mới đây tôi có nghe một người rất chán nản, nhìn vào sự ích kỷ, tham lam và bạo lực trong thế giới chúng ta, và quy kết tất cả cho ma quỷ. “Chắc chắn là kẻ phản Kitô. Còn cách nào khác để giải thích mọi chuyện này, khi quá nhiều người phá bỏ tận cùng mọi giới răn.”

Ông đúng khi khẳng định sự ích kỷ, tham lam và bạo lực mà chúng ta thấy trong thế giới ngày nay, là sự phản Kitô (Dù cho có lẽ không phải là kẻ Phản Kitô được nói đến trong Kinh thánh.) Tuy nhiên, ông đã sai về cội rễ sinh lực của sự ích kỷ, tham lam và bạo lực. Sinh lực chúng rút lấy, là từ Thiên Chúa, chứ không phải từ ma quỷ. Trong tất cả những chuyện tiêu cực mà chúng ta thấy trên bản tin tối mỗi ngày, không phải là sinh lực ma quỷ, nhưng là sự lạm dụng sinh lực thần thiêng. Việc làm xấu xa không phải là kết quả của sinh lực ma quỷ, nhưng là kết quả của việc lạm dụng sinh lực thần thiêng. Dù bạn xem ma quỷ là một nhân thể hay một ẩn dụ, thì nó vẫn không thể bắt nguồn từ đâu khác, ngoài Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo nên ma quỷ, và đã tạo thành nó tốt lành. Sự xấu xa của nó là kết quả từ việc lạm dụng sự tốt lành đó.

Mọi sinh lực đều xuất phát từ Thiên Chúa, và mọi sinh lực đều tốt đẹp, nhưng có thể bị lạm dụng cách xấu xa. Hơn nữa, nghịch lý thay khi những người dường như lặn sâu nhất trong nguồn nước sinh lực thần thiêng, luôn là những người tốt nhất và xấu nhất, người khôn ngoan và kẻ thâm hiểm, các thánh nhân và tội nhân. Những người này thấm lửa trong hồn. Còn chúng ta, sống trong khoảng giữa thánh nhân và tội nhân, có xu hướng đấu tranh để thực sự nắm bắt được ngọn lửa, để thực sự lặn sâu trong dòng nước sinh lực thần thiêng. Chúng ta không hẳn đấu tranh để không sử dụng sai sinh lực thần thiêng, nhưng là để không bị khuất phục trong tình trạng đờ đẫn kinh niên, không bị rơi vào khủng hoảng, kiệt nhọc, cay đắng, ghen tỵ, và nản lòng, những thứ khiến chúng ta đi trong đời nguội lạnh và luôn mãi phản đối rằng chúng ta có quyền sống vô vị và bất hạnh. Các thánh nhân lớn và tội nhân lớn, không sống cuộc đời tuyệt vọng câm nín: họ chìm sâu trong sinh lực thần thiêng, cháy bừng ngọn lửa đó, và biến nó thành khởi nguồn cho sự khôn ngoan xuất chúng hay sự thâm hiểm dã man của mình.

Thấu suốt này không chỉ là một nghịch lý đáng chú ý. Mà nó là một sự thật quan trọng, có thể giúp chúng ta hiểu hơn về mối liên hệ của mình với Thiên Chúa, với những sự của thế giới này, và với chính bản thân mình. Chúng ta phải làm rõ ràng cái gì tốt và cái gì xấu, nếu không cuối cùng chúng ta hiểu sai về bản thân và hiểu sai các sinh lực trong đời.

Một linh đạo lành mạnh cần phải dựa trên một nhận thức đúng đắn về Thiên Chúa, về bản thân, thế giới và những sinh lực điều hướng thế giới. Và đây là những nguyên tắc Kitô giáo không thể bàn cãi mà chúng ta cần có để hiểu bản thân, thế giới, và để sử dụng các sinh lực của mình. Trước hết, Thiên Chúa tốt lành, Thiên Chúa là nguồn của mọi sinh lực khắp mọi noi, và sinh lực đó tốt lành. Thứ hai, chúng ta được Thiên Chúa tạo thành, và bản tính của của chúng ta không xấu xa. Cuối cùng, mọi thứ trong thế giới chúng ta, được Thiên Chúa tạo thành và chúng cũng tốt lành.

Vậy tội lỗi và sự dữ len vào từ đâu? Chúng len vào khi chúng ta sử dụng sai sinh lực tốt lành mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta và chúng đi vào khi chúng ta liên hệ với những sự tốt đẹp theo cách xấu xa. Nói đơn giản: Chúng ta tốt đẹp và tạo vật quanh chúng ta tốt đẹp, nhưng chúng ta có thể liên hệ với nó cách sai lầm, cụ thể là qua sự ích kỷ, tham lam hay bạo lực. Nói cách khác, sinh lực của chúng ta tốt lành, bao gồm mọi sinh lực nền tảng cho thiên hướng kiêu ngạo, tham lam, dâm dục, ghen tỵ, giận dữ và lười biếng. Nhưng chúng ta có thể lạm dụng những sinh lực này và rút lấy ngọn lửa thiêng sự sống theo những cách rất ích kỷ, dâm dục, tham lam và thâm hiểm.

Do đó, tội lỗi và sự dữ phát xuất từ việc lạm dụng sinh lực của chúng ta, chứ không phải từ một sinh lực nội tại của chúng. Cũng thế, tội lỗi và sự dữ phát xuất từ cách chúng ta liên hệ với những thứ cụ thể trong đời, chứ không phải từ một sự dữ cố hữu trong chúng ta hay trong vạn vật. Kẻ nham hiểm không phải là kẻ dữ lấy sinh lực từ ma quỷ. Mà là những người tốt, lạm dụng vô trách nhiệm và ích kỷ sinh lực thần thiêng. Sinh lực tự nó vẫn tốt đẹp, dù cho có bị lạm dụng.

Khi rơi vào tính tham lam, dâm dục, ghen tỵ, lười biếng hay giận dữ, không phải là chúng ta uống lấy sinh lực ma quỷ. Đúng ra, là chúng ta lạm dụng sinh lực thần thiêng và tốt lành mà chúng ta sống, vận động và hiện hữu trong đó. Người khôn ngoan và kẻ thâm hiểm đều rút lấy từ một ngọn lửa thần thiêng.

Xã hội Không tưởng, với những Giới hạn

Khi tôi còn nhỏ, có một bài hát phổ biến với đoạn điệp khúc lặp đi lặp lại câu này: Tất cả mọi người đang tìm kiếm Xã hội Không tưởng. Tất cả chúng ta đều thế. Mỗi một chúng ta đều khao khát một xã hội không giới hạn, một cuộc sống không có gì sai trái, một nơi không có căng thẳng hay chán nản. Nhưng đó là chuyện không bao giờ có. Không có một nơi như thế.

Mới đây, Anahid Nersessian viết một quyển sách với tựa đề Không tưởng, Giới hạn: Chủ nghĩa Lãng mạn và Điều Chỉnh [Utopia, Limited: Romanticism and Adjustment], trong quyển sách này, bà phê phán nhiều hệ tư tưởng vì ngây thơ đã cho chúng ta có ấn tượng chúng ta có thể có một thế giới không có giới hạn. Bà đặc biệt chỉ trích hệ tư tưởng giải phóng đã trao đặc quyền cho sự vô giới hạn bằng cách xem ‘tự thân nó, gần như mặc định, chống lại sự cai quản và điều hướng cho khát khao.’ Nhưng, như bà lập luận trong quyển sách, giới hạn là điều đem lại sự sống. Chúng ta sẽ thấy hạnh phúc, chỉ khi điều tiết bản thân với thế giới bằng cách cực tiểu hóa các đòi hỏi của chúng ta với thế giới. Với bà Nersessian, nếu phải có Xã hội Không tưởng, thì chỉ có thể có được bằng cách tìm ra những giới hạn thực tế trong đời mình và điều chỉnh bản thân theo đó. Những kỳ vọng quá đáng dẫn đến thất vọng.

Bà đã đúng. Tin tưởng có một thế giới không giới hạn tạo nên những kỳ vọng phi thực tế và những chán nản thất vọng. Khi nghĩ rằng chúng ta có thể có Xã hội Không tưởng, là chúng ta triền miên dựng lên sự hoàn hảo làm đối thủ của sự tốt, và tạo lề thói khinh thị những mối liên hệ thực sự của chúng ta, là hôn nhân, sự nghiệp, và cuộc sống của mình, bởi chúng không như những ảo tưởng của chúng ta, chúng luôn mãi có giới hạn và do đó luôn là cái tốt thứ hai mà thôi.

Bà Nersessian có khuynh hướng quy kết hệ tư tưởng giải phóng đã khiến chúng ta có ấn tượng này, nhưng những giấc mơ phi thực tế và kỳ vọng vào một Xã hội không tưởng tồn tại hầu như khắp nơi trên thế giới. Và hơn nữa, trong cả giáo hội lẫn thế giới, chúng ta không còn có những công cụ biểu tượng để giải thích hay xử trí đúng đắn sự nản lòng này. Làm sao lại thế?

Khi còn nhỏ, đầu tôi không chỉ vang dội cái điệp khúc “Tất cả mọi người đang tìm kiếm Xã hội Không tưởng” nhưng còn vang dội nhiều điệp khúc khác nữa mà tôi học được trong nhà thờ và trong nền văn hóa nói chung. Giáo hội của chúng ta thời đó dạy chúng tôi về một thứ gọi là ‘tội nguyên tổ,’ tin rằng có một sự sa ngã nguyên thủy từ sơ khai nhân loại cho đến tận thế, làm cho cả bản tính con người và tự nhiên đều bị khiếm khuyết, và như thế những gì chúng ta sẽ gặp gỡ và cảm nghiệm trong đời sẽ luôn là bất toàn, có giới hạn, có gì đó đau đớn và nản lòng.

Đôi khi, người ta hiểu đây chỉ là cách tối giản hóa và đôi khi nó còn khiến chúng ta tự vấn về bản tính Thiên Chúa, nhưng dù thế, nó cho chúng ta một quan điểm để hiểu cuộc đời và xử trí với sự nản lòng. Đến tận cùng, nó dạy chúng ta rằng, ở đời này, không có niềm vui nguyên tuyền. Mọi thứ đều có cái bóng của nó. Hạnh phúc hệ tại ở việc chấp nhận nhưng giới hạn đó, không phải trong sự cam chịu khắc kỷ nhưng là trong một quan điểm phấn khởi thực tế. Bởi như thế có một giới hạn và không có những kỳ vọng sai lầm, từ đó cho họ đón nhận, trân trọng và tận hưởng đúng đắn những điều tốt đẹp trong đời. Bởi không thể có sự hoàn hảo trong đời này, nên bạn tự cho mình quyền cảm kích những gì không hoàn hảo.

Quan điểm tôn giáo này được củng cố nhờ một nền văn hóa dạy chúng tôi rằng không có một Xã hội Không tưởng. Chúng tôi sống trong một nền văn hóa dạy rằng, dù bạn có thể mơ cao và có thể kỳ vọng mình sẽ sống tốt hơn cha mẹ mình, nhưng đừng kỳ vọng bạn có thể có tất cả. Cuộc sống không thể cho bạn điều đó. Giao nhau với cách hiểu tôn giáo về tội nguyên tổ, sự khôn ngoan thế tục này cũng có nhưng biểu đạt quá tối giản hóa và không hoàn mỹ. Nhưng nó giúp ghi dấu trong lòng chúng tôi những công cụ để hiểu cuộc đời một cách thực tế hơn. Nó dạy chúng tôi một sự thật như câu trích của Karl Rahner mà tôi yêu thích: Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, trong đời này, tất cả mọi hòa âm đều phải dang dở. Thật súc tích và chính xác!

Thật thú vị khi thấy quan điểm tôn giáo song song với quan điểm vô thần, cái nhìn của Rahner tương đồng với cái nhìn của Albert Camus, nhà văn đoạt giải Nobel. Camus, người không tin có Thiên Chúa, đã đưa ra một hình ảnh để hiểu đời sống nhân sinh và những nản lòng thất vọng của nó. Ông so sánh thế giới này với một nhà tù trung cổ. Một vài nhà tù trung cổ được xây quá nhỏ cho một tù nhân, với trần quá thấp để tù nhân có thể đứng thẳng lên, và quá nhỏ để ngồi nằm xuống hoàn toàn. Sự chán nản khi không thể đứng lên cũng như không thể nằm xuống, dần dần bẻ gãy tinh thần tù nhân. Với Camus, đây chính là cảm nghiệm của chúng ta trong đời. Chúng ta không bao giờ có thể đứng lên hoàn toàn hay nằm xuống hoàn toàn. Thế giới này quá nhỏ với chúng ta. Dường như diễn đạt này có vẻ khốc liệt, khắc kỷ và vô thần, nhưng xét tận cùng, cũng như Kitô giáo, nó dạy cho chúng ta một sự thật, rằng không có Xã hội Không tưởng ở đời này.

Và chúng ta cần phải đưa sự thật này vào cuộc đời mình một cách lành mạnh, để trang bị tốt hơn cho bản thân, nhằm xử trí nỗi thất vọng nản lòng cũng như biết cảm kích cuộc đời mà chúng ta đang thực sự sống.

Bản tính Thiên Chúa – Hồ hởi hay Thập giá?

Chuyện khôi hài lại là nơi để học hỏi và có cái nhìn thoáng qua về sự thiêng liêng. Mới đây, trong một tiệm tạp hóa, tôi đã chứng kiến chuyện này.

Một cô gái trẻ, có lẽ khoảng 16 tuổi, cùng với hai cô khác trạc tuổi, bước vào tiệm. Cô lấy một giỏ đồ rồi đi chọn hàng, mà không biết có một chiếc giỏ khác đang mắc vào chiếc giỏ cô cầm. Đến một lúc, chuyện không thể tránh khỏi đã xảy ra, chiếc giỏ kia bung ra và rơi xuống sàn kêu một tiếng lớn, khiến cô và những người chung quanh hoảng hồn. Phản ứng của cô gái thế nào? Cô bật cười, toát ra một niềm vui thích thú khi bị giật mình. Với cô, chuyện chiếc giỏ bất thần rơi ra, không phải là một chuyện bực mình mà là một món quà, một chuyện khôi hài bất ngờ xen vào lệ thường buồn tẻ.

Tôi biết mình là một người thường vội vã và dễ bực mình vì chuyện gì xen ngang lịch trình, và nếu chuyện đó xảy ra với tôi, hẳn tôi đã phản ứng với một câu chửi thầm thay vì bật cười. Và điều này khiến tôi suy nghĩ: Đây là một cô gái có lẽ không đi nhà thờ và không quan tâm nhiều về vấn đề đức tin, nhưng trong khoảnh khắc này, cô đang chiếu tỏa tuyệt vời sinh lực của Thiên Chúa. Còn tôi, một tu sĩ đã khấn hứa, một linh mục quá nghiêm túc, một nhà mục vụ và ngòi bút thiêng liêng, lại quá thường tỏa ra phản đề của sinh lực Thiên Chúa là sự cáu kỉnh.

Nhưng có thật thế không? Thiên Chúa có thật sự bật cười khi những chiếc giỏ trong tiệm tạp hóa rơi xuống không? Thiên Chúa có bao giờ cáu kỉnh không? Bản tính thật sự của Thiên Chúa là gì?

Thiên Chúa là tình yêu và sự tha thứ vô điều kiện mà Chúa Giêsu đã mạc khải, nhưng Thiên Chúa cũng là sinh lực căn bản cho mọi sự. Và sinh lực đó, như thể hiện rõ ràng trong tạo vật và kinh thánh, là sáng tạo, dư dật đến phung phí, lành mạnh, đầy vui tươi, và hồ hởi. Nếu bạn muốn biết Thiên Chúa như thế nào, hãy nhìn vào sự hồ hởi tự nhiên của trẻ con, nhìn vào sự hồ hởi của một chú cún, nhìn vào sinh lực vui tươi hăng hái của người trẻ, và nhìn vào tiếng cười bộc phát của một cô gái mười sáu tuổi khi giật mình vì chiếc giỏ bị rơi. Và để thấy tính chất phung phí của Thiên Chúa, chúng ta hãy nhìn vào hàng tỷ tỷ hành tinh quanh mình. Sinh lực của Thiên Chúa dồi dào đến phung phí và cởi mở hồ hởi.

Vậy còn Thập giá thì sao? Chẳng phải, Thập giá bày tỏ bản tính Thiên Chúa hơn mọi sự khác hay sao? Chẳng phải Thập giá cho chúng ta thấy Chúa hay sao? Chẳng phải đau khổ là con đường bẩm tính và thiết yếu để đến sự chính chắn và thánh thiện hay sao? Vậy là có sự mâu thuẫn giữa những gì Chúa Giêsu bày tỏ về bản tính Thiên Chúa trong cuộc khổ nạn chịu đóng đinh thập giá với những gì kinh thánh và tự nhiên biểu lộ về sự hồ hởi của Thiên Chúa sao?

Rõ ràng là có nghịch lý, nhưng không mâu thuẫn. Trước hết, sự căng thẳng trái chiều giữa thập giá và sự hồ hởi, đã có trong con người và lời dạy của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu khiến những người đương thời chướng tai gai mắt vì nhiều chuyện. Ngài khiến họ gai mắt khi có thể từ bỏ mạng sống mình và mọi sự thế gian này, và Ngài lại cũng khiến họ gai mắt vì quá tận hưởng cuộc sống này và uống trọn trong những vui thú mà Thiên Chúa ban cho. Những người đương thời không thể đi cùng Ngài lúc Ngài vác thập giá, và họ cũng không thể đi cùng Ngài khi ăn uống với những người tội lỗi, cũng như thấy biết ơn và đẹp đẽ khi một người phụ nữ lấy dầu thơm đắt tiền mà xức chân Ngài.

Hơn nữa, không nên nhầm lẫn niềm vui và sự hồ hởi nằm ở bản tính Thiên Chúa với sự táo bạo ở những bữa tiệc và lễ hội. Trong những trò vui này, không phải là một sự vui mừng thực sự, mà là một sự tê liệt của não bộ và ý thức do một sự quá độ đến điên cuồng. Nó không chiếu tỏa sự hồ hởi của Thiên Chúa, và chắc chắn cũng không tỏa ra sự hồ hởi mạnh mẽ trong con người chúng ta đang chờ phát tiết. Các lễ hội gần như là nỗ lực để đẩy lùi khủng hoảng trầm cảm. Như Charles Taylor đã khéo léo chỉ ra rằng, chúng ta nghĩ ra lễ hội carnival bởi sự hồ hởi bản tính của chúng ta không tìm đủ đường ra trong cuộc sống thường nhật, nên chúng ta lập những dịp để trong một quãng thời gian chúng ta có thể cầm tù lý tính và giải phóng sự hồ hởi, như thả con thú ra khỏi chuồng. Nhưng dù cho là một cái van xả có tác dụng nhất định, nó không phải là cách lý tưởng để giải phóng sự hồ hởi bản tính của chúng ta.

Khi tôi còn nhỏ, cha mẹ tôi thường cảnh báo tôi về sự hồ hởi sai trái, là sự hồ hởi trong những bữa tiệc thác loạn, những tiếng cười không đúng chỗ, và lễ hội carnival. Câu châm ngôn của cha mẹ tôi là: Sau tiếng cười, là nước mắt! Họ đúng, nhưng chỉ đúng cho dạng tiếng cười mà chúng ta thường nổ ra trong những bữa tiệc để nhằm đẩy lùi khủng hoảng. Nhưng thập giá lại đảo ngược châm ngôn của cha mẹ tôi mà nói rằng: Sau nước mắt, là tiếng cười! Chỉ sau thập giá, niềm vui mới chân thực. Chỉ sau thập giá, sự hồ hởi của chúng ta mới biểu lộ niềm vui đích thực mà chúng ta từng cảm nghiệm lúc nhỏ, và chỉ khi đó sự hồ hởi của chúng ta mới thực sự chiếu tỏa sinh lực của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu hứa rằng nếu chúng ta vác lấy thập giá của Ngài, Thiên Chúa sẽ ban thưởng cho chúng ta với một sự hồ hởi vui tươi mà không một ai lấy mất được.

Chết lành

Trong văn hóa Công giáo La Mã mà tôi được nuôi dạy, chúng tôi được dạy cầu nguyện xin ơn chết lành. Với nhiều người Công giáo thời đó, đây là một lời nài xin trong lời kinh hằng ngày. “Xin cho con được chết lành.’
Nhưng người ta chết lành thế nào? Chẳng phải chết tự nó là một tiến trình đau khổ hay sao? Còn về những đau đớn khi chết, khi cho cuộc sống trôi qua tầm tay, khi nói những lời giã biệt cuối cùng? Liệu người ta có thể chết lành hay không?

Nhưng tất nhiên, đây là một cái nhìn tôn giáo. Chết lành nghĩa là người đó chết với đạo đức tốt và trong tình trạng có đạo. Như thế nghĩa là bạn không chết trong một tình trạng đạo đức nửa vời, bạn không chết khi xa rời giáo hội, bạn không chết cay đắng hay giận dữ với gia đình mình, và ít nhất, bạn không chết vì tự vẫn, vì quá liều thuốc phiện, hay chết khi đang phạm tội ác.

Hình tượng giáo lý về chết lành, thường là một giai đoạn về ai đó lớn lên trong gia đình Kitô giáo tốt lành, là một người lương thiện, đầy đức tin, khiết tịnh, đi lễ thường, nhưng có một khoảng thời gian xa lìa Thiên Chúa, không còn đi lễ và giữ các điều răn, đến mức có lúc người đó không còn nghĩ về Thiên Chúa, không còn đi lễ, và không còn giữ luân lý Kitô giáo nữa. Nhưng không lâu trước khi chết, một hoàn cảnh nào đó đã trở nên thời khắc ân sủng cho họ, rồi họ hối lỗi về sự sao nhãng, vô luân và bỏ bê hành đạo của mình, họ trở lại với giáo hội, xưng tội thành tâm, rước lễ, và không lâu sau họ qua đời vì một tai nạn hay một cơn đột quỵ. Nhưng họ chết trong ân sủng. Sau nhiều năm xa rời đạo đức và tôn giáo, họ đã trở lại đàn và chết lành.

Thật sự tất cả chúng ta đều biết những câu chuyện tương tự như thế, nhưng đáng buồn thay, chúng ta cũng biết những câu chuyện không như thế, xảy ra điều ngược lại, khi những người tốt lành lại chết trong những tình huống bi kịch, đáng buồn. Chúng ta đều từng mất người thân yêu vì tự vẫn, rượu chè, và đủ cách chết khác rất không lý tưởng. Chúng ta cũng biết nhiều người tốt, đã chết trong những tình huống đạo đức nửa vời, hoặc chết trong cay đắng, không thể làm mềm lòng mình trong sự tha thứ. Họ có chết lành không?

Phải thừa nhận là họ chết theo những cách thức bất hạnh, nhưng chết lành không được phán định dựa vào việc cái chết đến trong tình huống đang lên hay đang xuống. Có nhiều người chết lành như kiểu giai thoại ở trên, khi cái chết đến với họ trong tình huống đang lên. Nhưng có những người với một đời sống lương thiện, tốt lành và yêu thương, nhưng lại bất hạnh bị cái chết ập đến trong lúc đang giận dữ, yếu đuối, trong lúc trầm cảm hay chết vì nghiện ngập hoặc tự vẫn. Cái chết đến với họ khi đang xuống. Họ có chết lành không? Ai là người phán định điều này?

Thế nào là chết lành? Tôi thích một mô tả của Ruth Burrow. Nữ tu dòng Carmel này chia sẻ cho chúng ta câu chuyện về một chị em trong dòng từng sống với xơ. Xơ này có tâm hồn tốt lành, nhưng lại yếu đuối. Xơ đã vào tu viện chiêm niệm để cầu nguyện, nhưng không bao giờ có thể tập trung vào khuôn khổ này. Nên xơ sống nhiều năm trong tình trạng giằng xé, tấm lòng tốt nhưng lại tầm thường. Đến lúc có tuổi, xơ bị chẩn đoán mắc bệnh nan y, khiến xơ hoảng sợ đến nỗi bắt đầu nỗ lực hết mình để trở nên con người mà xơ hằng mong muốn, một con người cầu nguyện. Nhưng nửa thế kỷ với lề lối xấu không dễ gì thay đổi. Dù có đưa ra nhiều giải pháp mới, xơ này vẫn không thể thành công trong việc biến chuyển đời mình. Xơ chết trong sự yếu đuối. Nhưng xơ Burrows khẳng định, xơ này đã chết lành. Xơ chết cái chết của một người yếu đuối, xin Chúa tha thứ cho quãng đời yếu đuối của mình.

Chết lành là chết trong sự thành thật, bất chấp tình trạng lúc chết có nét đạo hay không. Chết trong những hoàn cảnh đúng đắn, tất nhiên là sự an ủi tuyệt diệu cho gia đình và người thân, và cũng như vậy, chết trong những hoàn cảnh đáng buồn có thể khiến họ thêm đau lòng. Nhưng chết trong những hoàn cảnh có vẻ không tốt lành, không nhân văn hay tôn giáo, không nhất thiết là một cái chết dữ. Chúng ta chết lành khi chết trong sự thành thật, bất chấp hoàn cảnh hay yếu đuối.

Và sự thật này cho chúng ta một thách thức khác. Những hoàn cảnh chết của một người, dù đang buồn hay bi thảm, cũng không nên là lăng kính để chúng ta nhìn lại cuộc đời người đó. Điều này nghĩa là nếu ai đó chết trong tình trạng đạo đức nửa vời, trong một giây phút hay một thời gian yếu lòng, xa rời giáo hội, chết trong cay đắng, chết vì tự vẫn hay nghiện ngập, thì không được phán xét sự tốt lành của đời sống và tâm hồn người đó bằng hoàn cảnh chết. Cái chết đến với người đó lúc đang xuống, có thể khiến lời cáo phó khó khăn hơn, nhưng chắc chắn không phải là một phán xét đúng đắn về sự tốt lành của người đó trong tâm hồn.

Nỗi sợ

Nếu không hoàn toàn là một thánh nhân hay một nhà thần nghiệm, bạn sẽ luôn sống trong nỗi sợ cái chết và đời sau. Đó đơn thuần là một phần nhân sinh. Nhưng chúng ta có thể và phải, vượt lên nỗi sợ của chúng ta trước Thiên Chúa.

Khi còn là đứa trẻ, tôi sống với nhiều nỗi sợ. Tôi từng có một tưởng tượng rất sinh động và thường lặp đi lặp lại, hình dung thấy những kẻ sát nhân núp dưới giường mình, rắn độc bò trườn trên chân, những bả thuốc độc trong thức ăn, những kẻ bắt nạt đang tìm nạn nhân để hành hạ, và cả trăm cách khác khiến tôi phải chết, những mối đe dọa đủ kiểu đang lẩn khuất trong bóng tối. Khi còn nhỏ, tôi thường sợ, sợ bóng tối, sợ chết, sợ đời sau, và sợ Thiên Chúa.

Khi trưởng thành, những tưởng tượng của tôi cũng trưởng thành, không còn hình dung rắn bò khắp nơi hay có kẻ giết người rình rập. Tôi bắt đầu thấy mạnh mẽ lên, tự chủ, hình dung những sự vô minh với các góc tối của nó là một cơ hội để lớn lên hơn là một mối đe dọa sự sống. Nhưng dẹp đi nỗi sợ rắn rết, sợ kẻ sát nhân giấu mặt và sợ bóng tối, là một chuyện. Còn để vượt qua được nỗi sợ cái chết, sợ đời sau, và sợ Thiên Chúa lại là chuyện khác, khó hơn nhiều. Những nỗi sợ này là những con quỷ cuối cùng cần phải trừ đi, và phép trừ tà này không bao giờ tiễu trừ hoàn toàn được. Chính Chúa Giêsu đã run rẩy trong nỗi sợ chết, trước những chuyện vô minh mà chúng ta phải đối diện trong cái chết. Nhưng Ngài không run rẩy trước Thiên Chúa, và đó là sự khác biệt. Khi đối diện với cái chết và sự vô minh, Ngài có thể trao trọn bản thân cho Thiên Chúa Cha, với niềm tin của một người con, như đứa bé bám vào cha yêu thương của mình, và chính đó cho Ngài sức mạnh và can đảm để tiếp tục đi qua cái chết vô danh, cô độc và bị hiểu lầm, với phẩm giá, trìu mến và tha thứ.

Chúng ta không bao giờ cần phải sợ Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng đáng tin cậy. Nhưng tin tưởng Thiên Chúa cũng bao hàm một nỗi sợ lành mạnh trước Thiên Chúa, bởi một nỗi sợ nhất định là một phần tự có của tình yêu. Kinh thánh nói rằng: Kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan. Nhưng nỗi sợ đó, nỗi sợ lành mạnh, phải được hiểu là một sự tôn kính, một sự kinh đảm yêu thương, một tình yêu sợ mình khiến người yêu thất vọng. Nỗi sợ lành mạnh là nỗi sợ của tình yêu, sợ mình phản bội, sợ mình không chung thủy với một tình yêu nhưng không. Chúng ta không sợ người mà chúng ta tin tưởng, không sợ người đó đột nhiên trở nên độc đoán, bất công, ác độc, không thể hiểu nổi, tàn bạo, và không còn yêu thương. Không. Mà là chúng ta sợ rằng liệu chúng ta có xứng đáng với niềm tin tưởng được đặt nơi chúng ta không, có thể là niềm tin của ai đó, và có thể là niềm tin của Chúa.

Nhưng chúng ta phải tin tưởng rằng Thiên Chúa thông hiểu con người. Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta luôn ý thức để tâm đến Ngài. Thiên Chúa chấp nhận bản tinh lang bạt của tâm hồn chúng ta. Thiên Chúa chấp nhận những mệt mỏi và kiệt nhọc của chúng ta. Thiên Chúa chấp nhận nhu cầu cần lơ đãng và thoát ly của chúng ta. Thiên Chúa chấp nhận rằng chúng ta thường dễ chìm vào giải trí hơn là cầu nguyện. Và Thiên Chúa còn chấp nhận sự kháng cự của chúng ta với Ngài, cả nhu cầu muốn kiêu ngạo khẳng định sự độc lập của mình. Như một người mẹ trìu mến ôm đứa con đang la hét giãy đạp, nhưng lại đang cần được bồng ẵm và nâng niu, Thiên Chúa cũng có thể xử trí những cơn giận, thương thân và kháng cự của chúng ta. Thiên Chúa hiểu con người, nhưng chúng ta phải đấu tranh để hiểu con người có ý nghĩa gì trước mặt Thiên Chúa.
Trong nhiều năm, tôi sợ rằng tôi đã quá chìm vào trong những chuyện của đời này, tự nhận mình là một con người có tâm linh, tôi luôn sợ rằng Chúa muốn nhiều hơn nữa nơi tôi. Tôi cảm thấy tôi phải dành thêm thời gian để cầu nguyện, nhưng thường thì đến lúc đó tôi lại quá mệt để cầu nguyện, quá hứng thú xem một trận cầu trên tivi hay quá thích thú được ngồi lại với gia đình, đồng nghiệp, hay bạn bè, nói về đủ chuyện ngoài những chuyện tâm linh. Trong nhiều năm, tôi sợ rằng Thiên Chúa muốn tôi phải tâm linh tuyệt đối. Có lẽ là thế thật. Nhưng khi có tuổi, tôi bắt đầu nhận ra rằng hiện diện với Chúa trong cầu nguyện và hiện diện với Chúa trong lòng, thì giống như hiện diện với một người bạn đáng tin cậy vậy. Trong một tình bạn nhẹ nhàng thoải mái, bạn bè không dành hết thời gian để nói về tình cảm dành cho nhau. Mà họ nói về đủ thứ chuyện, tán gẫu, thời tiết, công việc, con cái, những cơn đau đầu, những chuyện đau lòng, mệt mỏi, những chuyện vừa xem được trên tivi, đội bóng yêu thích, những chuyện chính trị, và chuyện đùa mới nghe được. Và dù thế, thỉnh thoảng đôi bạn thân cũng than phiền rằng lý tưởng nhất mình nên nói về những chuyện sâu sắc hơn đi chứ. Có nên không nhỉ?

Gioan Thánh Giá đã dạy rằng, trong bất kỳ tình thân lâu dài nào, đến tận cùng những chuyện quan trọng nhất bắt đầu xảy ra dưới bề mặt, và những đàm đạo bên ngoài trở thành thứ yếu. Ngồi lại với nhau, thoải mái với nhau, cảm giác như đang ở nhà, đó là những gì chúng ta trao cho nhau trong tình thân.

Và trong mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa, cũng đúng như thế. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta làm con người, và Thiên Chúa muốn chúng ta, những con người với đủ yếu đuối lơ đãng, hiện diện trong Ngài với sự thanh thản, thoải mái và cảm giác như đang ở nhà. Nỗi sợ Thiên Chúa có thể là tôn kính mà cũng có thể là nhút nhát, mà tôn kính thì lành mạnh còn nhút nhát là hoang tưởng.

Nỗi sợ Địa ngục

Địa ngục không bao giờ là một chuyện ngạc nhiên khủng khiếp chờ sẵn một con người hạnh phúc. Địa ngục chỉ có thể là triển nở cho sự kiêu ngạo và ích kỷ, qua thời gian dài, đã làm méo mó tâm hồn hoàn toàn đến nỗi xem hạnh phúc là bất hạnh và ngang ngược khinh miệt nhưng con người hạnh phúc. Nếu bạn có hơi ấm tâm hồn ở đời này, bạn chẳng phải sợ sẽ có một bất ngờ khủng khiếp chờ đợi mình ở thế giới bên kia, kiểu như lỡ trong một lúc nào đó bạn ngơ ngẩn và lỡ mất con thuyền qua suối vàng, khiến mọi chuyện trở nên sai lầm trầm trọng.

Nhưng thật đáng buồn cho nhiều người chúng ta, giáo lý và những lời giảng nghe được lúc còn nhỏ, đôi khi dựng lên trong đầu chúng ta ý niệm rằng mình có thể lỡ mất con thuyền và không còn đường quay lại. Bạn có thể sống đời mình trong chân thành, căn bản là lương thiện, tương đối công bằng với người khác, cố gắng hết sức với những yếu đuối của mình, có những chuyện vui vẻ và hạnh phúc trong đời, rồi chết đi và thấy rằng một tội lỗi nào đó bạn từng mắc phải, thậm chí là không biết mình từng mắc phải, có thể khiến bạn rơi xuống địa ngục và không còn cơ hội hối cải. Giờ chết là cơ hội cuối cùng để thay đổi mọi chuyện, sau giờ chết sẽ không còn một cơ hội nào nữa, dù cho bạn có mong mỏi sám hối đến thế nào. Nhưng đó không phải sự thật. Chúng ta bị dựng lên trong đầu nỗi sợ cái chết và đời sau.

Nhưng, dù cho khái niệm này có tác dụng thực tiễn thế nào, dù cho nó có thực sự khiến người ta ngập ngừng trước cám dỗ bởi sợ sa vào hỏa ngục, thì về căn bản khái niệm này sai lầm và không thể dạy nó nhân danh Kitô giáo được. Tại sao lại thế? Bởi nó đi ngược lại Thiên Chúa và những chân lý thâm sâu mà Chúa Giêsu đã mặc khải. Chúa Giêsu dạy rằng có địa ngục và ai cũng có khả năng sa vào đó. Nhưng địa ngục mà Chúa Giêsu nói không phải là một nơi chốn hay tình trạng, lúc người ta nài xin một cơ hội cuối cùng, chỉ xin thêm một phút trong đời để làm một hành động ăn năn hối hận, nhưng Thiên Chúa lại khước từ. Thiên Chúa hiện thể và mặc khải trong Chúa Giêsu, là Thiên Chúa luôn mãi mở ra cho sự ăn năn, luôn mãi chờ đợi chúng ta trở về từ những nẻo đường hoang đàng.

Với Thiên Chúa, chúng ta không bao giờ hết cơ hội. Bạn có thể hình dung Thiên Chúa nhìn một con người ăn năn, mà nói rằng: ‘Xin lỗi! Với con, đã quá muộn rồi! Con đã có cơ hội! Đừng xin thêm nữa!’ Chúa Cha không như thế.
Nhưng các Phúc âm lại có thể khiến chúng ta có ấn tượng như thế. Ví dụ như, dụ ngôn về người giàu làm ngơ người nghèo trước cửa nhà mình, rồi ông chết và vào hỏa ngục, còn người nghèo Lazarô giờ ở trên thiên đàng, trong lòng của Abraham. Giày vò trong địa ngục, người giàu xin Abraham nhờ Lazarô cho ông ít nước, nhưng Abraham trả lời rằng có một khoảng trống không thế kết nối giữa thiên đàng và địa ngục, và không ai từ bên này qua bên kia được. Đoạn này cùng với lời cảnh báo của Chúa Giêsu trong dụ ngôn tiệc cưới, là một sự chấm dứt bất di bất dịch, khiến dẫn đến một hiểu lầm chung rằng, có một điểm một đi không trở về, một khi vào địa ngục là quá trễ để ăn năn.

Nhưng đó không phải là lời dạy trong những đoạn văn này cũng như trong những lời Chúa Giêsu cảnh báo phải ăn năn sám hối. Khoảng trống không thể kết nối mà dụ ngôn người giàu và Lazarô, là môt khoảng trống không bao giờ kết nối trong đời này giữa người giàu và người nghèo. Và nó vẫn còn không thể kết nối, là bởi sự ngoan cố, không biết động lòng, thiếu ăn năn, chứ không phải bởi Thiên Chúa hết kiên nhẫn mà nói rằng: ‘Đủ rồi! Không còn cơ hội nào nữa!’ Nó vẫn không thể kết nối là bởi, chúng ta theo lề thói mà bám chặt vào những đường lối không thể thay đổi tâm hồn và có sự ăn năn thật.

Dụ ngôn người giàu và Lazarô thực sự rút ra từ một câu chuyện Do Thái cổ hơn nữa, minh họa sự ngoan cố này: Trong dụ ngôn Do Thái, Thiên Chúa nghe lời kêu xin của người giàu từ địa ngục xin một cơ hội thứ hai, rồi ban cho ông toại nguyện. Người giàu, giờ có những giải pháp mới, trở lại cuộc đời, và đi thẳng đến chợ, mua thức ăn chất đầy xe. Trên đường về nhà, ông gặp Lazarô. Lazarô xin người giàu một ổ bánh. Người giàu nhảy khỏi xe và đưa cho Lazarô một ổ, nhưng bởi đó là một ổ bánh lớn, nên cái tôi cũ của ông bắt đầu phản ứng. Ông bắt đầu suy nghĩ. ‘Người này không cần cả ổ bánh lớn! Tại sao không đưa cho nó một phần thôi! Và tại sao lại đưa bánh mì mới, ta có thể cho nó bánh mì khô mà!’ Ngay lập tức, người giàu thấy mình rơi xuống hỏa ngục. Ông ta không thể kết nối qua được khoảng trống đó.

Kathleen Dowling Singh nhận định rằng khi tạo ra một loạt những sự thu hẹp về tinh thần, là chúng ta đang tạo ra nỗi sợ cái chết cho mình. Và đời sau cũng như vậy. Khi tạo ra một loạt những sự thu hẹp về thần học, là chúng ta đang tạo ra nỗi sợ địa ngục của mình.