RonRolheiser,OMI

Chẳng có gì là tuyệt đối của riêng chúng ta

Tất cả đều là tặng vật. Đây là nguyên tắc căn bản tận cùng của mọi linh đạo, mọi luân lý và giới răn. Tất cả đều là tặng vật. Chẳng có gì có thể tuyên bố tuyệt đối là của chúng ta. Sự nhạy cảm luân lý và tôn giáo chân chính phải giúp chúng ta nhận ra điều này. Chúng ta không có quyền chiếm hữu hoàn toàn sự gì.

Và đây không phải một nhận thức tự nhiên mà có. Cách đây vài năm, một nhà sư đã chia sẻ với tôi rằng suốt những năm đầu vào chùa, ông đã phẫn uất đến như thế nào mỗi khi muốn xin gì phải luôn hỏi sư Trụ trì. “Tôi vẫn nghĩ chuyện đó thật ngu ngốc, tôi là người trưởng thành, vậy mà phải hỏi xin bề trên mỗi khi muốn một cái gì. Nếu tôi muốn có áo mới, tôi phải hỏi xin sư Trụ trì mới được phép mua áo. Tôi nghĩ thật là lố bịch khi biến một người trưởng thành xuống như một đứa trẻ.”

Nhưng rồi đến một ngày, ông cảm nhận: “Tôi không hiểu vì sao, nhưng một ngày nọ tôi nhận ra có một mục đích và khôn ngoan trong việc phải xin phép mọi thứ. Tôi nhận ra rằng chúng ta chẳng có gì tự nhiên là của chúng ta và chẳng có gì chúng ta chiếm hữu làm của riêng mình. Tất cả đều là tặng vật. Tất cả đều phải xin. Chúng ta cần biết ơn vũ trụ và Thượng đế vì đã cho chúng ta dù chỉ một chút không gian nhỏ nhoi. Giờ mỗi khi xin phép sư Trụ trì những lúc cần gì đó, tôi không còn cảm thấy mình là con nít nữa. Mà tôi thấy mình hòa hợp với đường lối của vạn vật, một vũ trụ của tặng vật mà trong đó không ai trong chúng ta có quyền tuyên bố chiếm hữu tuyệt đối bất kỳ điều gì.”

Đây là sự khôn ngoan luân lý và tôn giáo, nhưng sự khôn ngoan này đi ngược lại đặc tính thống trị trong nền văn hóa của chúng ta và cả những xu thế mạnh nhất của chúng ta nữa. Từ cả bên trong và bên ngoài, chúng ta đều nghe vang vọng một lời thế này: Nếu bạn không thể chiếm được điều bạn mong muốn thì bạn là kẻ yếu đuối, và yếu đuối cả hai mặt. Thứ nhất, bạn là người yếu đuối, quá rụt rè để chiếm lấy những gì là của mình. Thứ hai, bạn bị sự thận trọng của tôn giáo và luân lý làm suy yếu nên không thể nắm lấy thời cơ của mình. Không chiếm lấy những gì là của mình, không phải là nhân đức mà là sai lầm.
Đây cũng chính là tiếng nói mà nhà sư trên đã nghe trong thời trai trẻ, và vì thế mà nhà sư thấy phẫn uất và thấy mình non nớt.

Nhưng Chúa Giêsu không nói những lời như thế. Kinh thánh chỉ ra khá rõ rằng Chúa Giêsu sẽ không quá để tâm vào những thái độ cương quyết, hung hăng và tích trữ trong xã hội, không xem chúng là tính cách đáng ngưỡng mộ. Tôi không nghĩ Chúa Giêsu sẽ hưởng ứng sự hâm mộ của chúng ta dành cho những người nổi tiếng và giàu có, những người tuyên bố mình có quyền trên tài sản và danh vọng cực độ của mình. Chúa Giêsu nói rằng con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào thiên đàng, nhưng hẳn có thể nói rõ thêm rằng: “Trừ phi, người giàu đó, nên như đứa trẻ, xin phép vũ trụ, xin phép cộng đồng, và xin phép Chúa, mỗi khi mua một chiếc áo mới!” Khi Chúa Giêsu bảo chúng ta rằng trẻ con và người nghèo dễ vào thiên đàng nhất, thì không phải là Ngài đang thần tượng hóa sự ngây thơ và nghèo khổ đâu. Mà Ngài đang nêu bật nhu cầu phải nhận ra và thừa nhận sự lệ thuộc của mình. Xét tận cùng, chúng ta không tự làm nên con người mình và chẳng có gì tất yếu là của chúng ta cả.

Khi tôi còn ở nhà tập, một giám tập đã cố ghi khắc cho chúng tôi ý nghĩa của sự khó nghèo trong đời sống tu trì, bằng cách bảo chúng tôi viết lên toàn bộ sách vở hai chữ La Tinh: Ad Usum. Nghĩa là: Để dùng. Việc này là để chúng tôi hiểu rằng, quyển sách này được giao cho chúng tôi sử dụng, chứ chúng tôi không chiếm hữu nó tuyệt đối. Nó chỉ là của chúng tôi tạm thời mà thôi. Và như thế, mọi thứ khác được trao cho chúng ta sử dụng riêng cũng vậy, từ bàn chải đánh răng cho đến chiếc áo mang trên người. Chúng không thật sự là của chúng ta, mà chỉ đơn giản là được trao cho chúng ta sử dụng.

Một trong các bạn tập sinh của tôi đã rời dòng và làm bác sĩ. Anh vẫn là bạn thân với chúng tôi, và một hôm nọ anh chia sẻ với chúng tôi rằng, dù giờ là bác sĩ, anh vẫn viết những lời đó trong mọi quyển sách của mình. “Tôi không còn ở trong dòng tu, và không có lời khấn khó nghèo, nhưng nguyên tắc mà giám tập dạy cho chúng ta vẫn có giá trị với tôi. Xét cho cùng, chúng ta không sở hữu thứ gì. Những quyển sách đó thật sự không phải là của tôi. Chúng được trao cho tôi sử dụng tạm thời. Chẳng có gì thuộc về ai, và không bao giờ được quên điều đó.”

Một người trưởng thành phải xin phép để mua một chiếc áo không phải là chuyện xấu. Mà nó nhắc cho chúng ta nhớ rằng vũ trụ thuộc về tất cả mọi người và tất cả chúng ta phải biết ơn khi có được dù chỉ là một không gian nhỏ cho mình.

Hương vị trong Sinh lực của Thiên Chúa

Ngẫm lại mọi sự, tôi tin là mình đã lớn lên với một khái niệm tương đối lành mạnh về Thiên Chúa. Thiên Chúa trong thời trẻ của tôi, Thiên Chúa mà tôi được dạy trong các bài giáo lý, không phải là một Thiên Chúa trừng phạt, độc đoán và phán xét quá đáng. Ngài hiện diện khắp nơi, nên mọi tội lỗi của chúng ta Ngài đều biết, nhưng Ngài công bằng, yêu thương và quan tâm đến từng người chúng ta, Ngài bảo vệ chúng ta đến nỗi cho mỗi người chúng ta một thiên thần hộ mệnh. Thiên Chúa như thế cho tôi được phép sống mà không phải quá sợ hãi cũng như không bị rối loạn méo mó về đạo.
Nhưng như thế chỉ đưa bạn đến một mức nào đó trong đời. Không có một khái niệm không lành mạnh về Thiên Chúa, không nhất nhiết nghĩa là bạn có một khái niệm lành mạnh về Thiên Chúa. Thiên Chúa mà tôi được dạy, Ngài không quá khắc nghiệt và phán xét, nhưng Ngài cũng không vui vẻ, hài hước. Nhất là, Ngài không có tính dục, và có cái nhìn đặc biệt cảnh giác và cương quyết với chuyện này. Về căn bản, Ngài mang màu xám, và ở gần Ngài không vui cho lắm. Quanh Ngài, bạn phải nghiêm trang và cung kính. Tôi còn nhớ Trợ tá Giám tập ở Dòng Hiến sĩ, đã bảo chúng tôi rằng chưa từng có sách nào ghi lại chuyện Chúa Giêsu cười.
Theo một Thiên Chúa như thế, bạn có thể lành mạnh về căn bản, nhưng khi thật sự đến gần Ngài, bạn vẫn không sống mãnh liệt cuộc đời mình, và mối quan hệ giữa bạn với Ngài vẫn quá trang trọng cung kính.
Một thế hệ đã qua, và trong nhiều giáo hội cũng như trong nền văn hóa đang có một phản ứng mạnh với khái niệm này về Thiên Chúa. Thần học và linh đạo đại chúng muốn sửa đổi chuyện này, đôi khi với một lòng hăng hái thái quá. Họ đưa ra một Chúa Giêsu đang cười và nhảy múa. Dù cho điều này có những giá trị của nó, nhưng vẫn chưa đủ, chúng ta vẫn phải mải miết tìm một hình tượng thâm sâu hơn về bản chất Thiên Chúa sao cho chúng ta có được một mối liên hệ lành mạnh với Ngài.
Hình ảnh đó không dễ gì có được, bởi Thiên Chúa là khôn tả, không thể diễn tả, và còn bởi sinh lực Thiên Chúa cũng khôn tả. Mà thật sự, sinh lực là gì? Chúng ta hiếm khi hỏi câu này, bởi chúng ta xem sinh lực là một sự gì đó quá căn bản đến nỗi không thể xác định mà chỉ có thể tự cảm nhận như một điều tất yếu. Chúng ta thấy sinh lực là một nguồn lực căn bản nằm ở trung tâm mọi sự hiện hữu. Hơn nữa, chúng ta cảm nhận được sinh lực trong chính bản thân mình. Chúng ta biết sinh lực, cảm được sinh lực, nhưng chúng ta hiếm khi nhận ra nguồn gốc của nó, sự phi thường, niềm vui, sự tốt đẹp, sôi sục và hồ hởi của sinh lực đó. Chúng ta hiếm khi nhận ra những gì sinh lực trong người mình kể cho chúng ta nghe về Thiên Chúa. Vậy nó nói với chúng ta những gì?
Phẩm chất đầu tiên của sinh lực là phi thường. Vượt xa trí tưởng tượng của chúng ta và cho chúng ta biết đôi điều về Thiên Chúa. Một Đấng Tạo Hóa nào lại làm nên hàng tỷ vũ trụ mà chẳng để làm gì? Đấng Tạo Hóa nào lại làm nên hàng tỷ tỷ loài, và có biết bao nhiêu loài mà con người vẫn chưa biết? Một người cha người mẹ nào lại có hàng tỷ đứa con?
Và sự hồ hởi trong sinh lực của trẻ con có gì giống với Đấng Tạo Hóa? Tính ham chơi của chúng có cho thấy điều gì nằm ẩn sâu trong sinh lực thiêng liêng? Sinh lực của một chú chó con nói lên những gì về sự thiêng liêng? Những tiếng cười, câu đùa, hài hước nói lên những gì về Thiên Chúa?
Chắc chắn sinh lực chúng ta thấy quanh mình và cảm nhận trong mình, cho chúng ta thấy rằng, ẩn sau nhưng có trước tất cả mọi sự, là một nguồn lực thiêng liêng vừa thể lý vừa tinh thần. Và nguồn lực này vui mừng, hạnh phúc, vui chơi, hồ hởi, sôi nổi, và yêu thương. Sinh lực đó chính là Thiên Chúa. Sinh lực đó nói về Thiên Chúa và nói cho chúng ta biết vì sao Thiên Chúa tạo thành chúng ta, và Ngài cho chúng ta được sống đời mình như thế nào.
Khi chúng ta cố hình dung tâm điểm của hiện thực, có lẽ chúng ta sẽ hình dung thế này. Tại tâm điểm của vạn vật có hai ngai vàng, một của Đức Vua và một của Hoàng hậu, và từ hai ngai vàng này tuôn ra mọi sinh lực, mọi sáng tạo, mọi sức mạnh, mọi tình yêu, mọi thức ăn nuôi dưỡng, mọi niềm vui, mọi hài hước và vẻ đẹp. Mọi hình ảnh về Thiên Chúa đều không thể diễn tả cho đủ, nhưng hi vọng hình ảnh này có thể giúp chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa vừa hoàn toàn nam tính vừa hoàn toàn nữ tính, trong Ngài tình yêu luôn trào dâng và sự kết hợp này tuôn ra mọi sinh lực và mọi sáng tạo. Hơn nữa, sinh lực đó không chỉ sáng tạo, thông minh, nhân tính và yêu thương, mà còn đầy vui vẻ, hài hước, phấn khởi, tình tứ, và hồ hởi. Cảm nhận được như thế rồi chúng ta sẽ thấy biết ơn.
Chúng ta phải sống với đủ mọi căn nguyên của sinh lực đó. Như thế nghĩa là khi cởi giày trước khi bước đến gần bụi gai, là chúng ta đang tỏ lòng tôn kính sự linh thiêng nơi đó, nhưng cũng là chúng ta được phép sẵn sàng tự do, hân hoan, vui vẻ, và tri ân.

Về Nhân Đức và Tội Lỗi

Có một câu châm ngôn nói rằng: Không gì cho ta cảm giác tốt đẹp hơn nhân đức. Đây là chân lý sâu sắc, nhưng còn một khía cạnh ẩn giấu nữa. Khi làm việc tốt, chúng ta thấy bản thân mình tốt đẹp. Nhân đức thực sự là phần thưởng cho chính nó rồi, và như thế là tốt. Nhưng cảm giác mình công chính có thể sớm biến thành cảm giác tự đại. Không gì cho ta cảm giác tốt đẹp hơn nhân đức, nhưng sự tự đại có vẻ cũng cho ta cảm giác tốt đẹp nữa.

Chúng ta thấy điều này được biểu lộ rõ trong dụ ngôn của Chúa Giêsu về người thu thuế và người Pharisiêu. Người Pharisiêu thực hành nhân đức, ông hành động đúng theo những điều được dạy, nhưng ông không có lòng khiêm nhượng, cũng không thấy mình cần Thiên Chúa và lòng thương xót, mà chỉ có thái độ tự đại và xét đoán người khác. Tất cả chúng ta cũng thế, cũng dễ trở thành người Pharisiêu này. Mỗi khi thấy người khác đang phải đấu tranh để sống đẹp, chúng ta nói: Nhờ ơn Chúa tôi mới được thế này. Thái độ có vẻ khiêm nhượng đó có thể mang hai ý nghĩa rất khác nhau. Nó có thể là một lời tạ ơn chân thành vì đã được những ơn mình không xứng đáng, hoặc có thể dễ dàng là một thái độ tự đại về sự vượt trội của mình so với người khác.

Những ngòi bút thiêng liêng kinh điển như Gioan Thánh Giá, khi nói về những thử thách chúng ta gặp phải trên con đường môn đệ, đã nói về một thứ gọi là: Lỗi của những người nằm ngoài hoán cải ban đầu. Ý nghĩa của câu này là: Chúng ta không bao giờ thoát được cuộc đấu tranh với tội lỗi. Khi chúng ta trưởng thành, thì tội lỗi càng tinh vi hơn. Ví dụ như, trước khi trưởng thành, chúng ta xác định được bảy mối tội đầu, và chúng thể hiện nơi chúng ta một cách nguyên sơ và rõ ràng. Chúng ta thấy điều này nơi trẻ con, thanh thiếu niên. Với họ, kiêu ngạo rõ ràng là kiêu ngạo, ghen tỵ rõ ràng là ghen tỵ, ích kỷ rõ ràng là ích kỷ, tham lam rõ ràng là tham lam, và nóng giận rõ ràng là nóng giận. Chẳng có gì tinh vi hay ẩn giấu cả, cái lỗi nằm rành rành ra đó.

Nhưng khi chúng ta vượt qua được dạng nguyên sơ của những tội này, thì chúng lại đội những lốt khác tinh vi hơn trong cuộc đời mình. Vì thế, chẳng hạn như, khi chúng ta khiêm nhượng, thì chúng ta lại trở nên kiêu ngạo và tự đại vì sự khiêm nhượng của mình. Và tôi thấy từ chính kinh nghiệm của mình rằng: Không một ai thiển cận và xét đoán hơn một người mới trở lại đạo hay một người mang ngọn lửa nhiệt thành ban đầu.

Tội có những phức tạp của nó. Một số khái niệm ngây thơ của chúng ta về tội và sự khiêm nhượng cũng cần được xem xét lại. Ví dụ như, chúng ta thường nuôi một khái niệm lãng mạn hóa rằng, người có tội thì khiêm nhượng, nhận thức mình cần được tha thứ, và mở lòng ra với Chúa. Và chúng ta có thể thấy điều này trong Phúc âm. Khi Chúa Giêsu rao giảng, những người Pharisiêu đương cự với Chúa và thông điệp của Chúa, còn những người thu thuế và gái điếm lại mở lòng hơn với Ngài. Vậy từ đó chúng ta có thể đặt một câu hỏi: Có phải tội lỗi còn khiến chúng ta nhận ra mình cần Chúa hơn cả nhân đức nữa?

Đúng, khi tội đó thành thật, khiêm nhượng, biết thú nhận và sám hối, hoặc là khi hành động sai trái của chúng ta bắt nguồn từ việc bị tổn thương, bị lợi dụng. Không phải mọi tội lỗi đều như nhau. Có tội ngay thẳng và tội bất lương.

Là con người, chúng ta yếu đuối và thiếu sức mạnh để luôn làm theo những gì tốt đẹp nhất trong con người mình. Đôi khi chúng ta chịu thua cám dỗ và yếu đuối. Để giải thích về việc chúng ta phạm tội, chỉ cần nói điều này thôi. Chúng ta là con người! Và đôi khi, người ta rơi vào tình trạng tội lỗi vốn không thật sự do tay họ gây ra. Họ bị lợi dụng, bị bắt sống trong hoàn cảnh tội lỗi không do họ chọn lựa, họ là nạn nhân của nạn buôn người, là nạn nhân của hoàn cảnh bất công trong xã hội hay gia đình, hoặc họ bị tổn thương quá nặng. Trong những hoàn cảnh đó, một hành động sai lầm, là vấn đề sống còn chứ không phải vấn đề chọn lựa tự do. Một bà đã giải thích cho tôi rằng: “Tôi đơn giản là một con chó, cắn để khỏi bị cắn thôi.” Trong những trường hợp này, thường thì dưới lớp vỏ chai đá có một tâm hồn vẫn ngây thơ vô tội biết mình cần lòng thương xót Chúa. Có tội ngay thẳng.

Và có tội không ngay thẳng, là thứ tội biện luận, luôn chìm trong kiêu ngạo nên không thể thú nhận mình tội lỗi. Kết quả là, nó trở thành một tâm hồn đầy xét đoán, cay đắng, và chai đá. Khi tội biện luận, thì sự cay đắng tiếp vào, kéo theo sự ghét bỏ với nhân đức mà nó đã không giữ được. Khi chúng ta biện luận, thì bản năng luân lý của chúng ta không bị lừa phỉnh đâu. Nó phản ứng lại và trừng phạt bằng cách khiến chúng ta ghét bỏ mình. Và khi ai đó ghét bỏ mình, thì sự căm ghét đó sẽ lớn lên và trở thành ghét bỏ người khác, và nhất là ghét bỏ nhân đức mà mình đã không giữ được. Ví dụ như, không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều người ngoại tình thường cay độc vô cùng khi nói đến đức khiết tịnh.

Thấy mình yếu đuối và tội lỗi, có thể khiến chúng ta cúi mình khiêm nhượng, và mở lòng chúng ta đón nhận lòng thương xót Chúa. Nhưng nó cũng có thể biến tâm hồn chúng ta chai đá, cay đắng và xét đoán. Không phải mọi người có tội đều cầu nguyện như người thu thuế trong Phúc âm.

Nhân đức khiến chúng ta biết ơn. Tội lỗi khiến chúng ta khiêm nhượng.

Đúng là thế. Nhưng không phải lúc nào cũng thế.

Về Người Thắng và Kẻ Thua

Xã hội chúng ta có khuynh hướng chia hai bên, bên người thắng, bên kẻ thua. Đáng buồn là chúng ta thường không nghĩ xem chuyện này tác động thế nào với mối quan hệ giữa chúng ta với nhau, cũng không nghĩ đến tác động của nó đến chúng ta trong tư cách Kitô hữu.

Vậy mối quan hệ kiểu này là gì? Về căn bản, mối quan hệ giữa chúng ta có khuynh hướng cạnh tranh và ghen tương, vì chúng ta bị tiêm nhiễm những động cơ muốn làm hơn người, thành tựu hơn người và vượt lên người khác. Tôi xin đan cử một vài khẩu hiệu được xem là khôn ngoan trong thời nay! Chiến thắng! Hãy là người giỏi nhất trong việc gì đó! Cho người khác thấy bạn tài năng hơn họ! Cho họ thấy bạn khôn lanh hơn người khác! Đừng xin lỗi, hãy nghĩ đến bản thân trước hết! Đừng làm kẻ thua cuộc!

Những lời này không phải là những câu châm ngôn vô tội khích lệ chúng ta làm việc chăm chỉ hơn, nhưng là những con siêu vi khuẩn tác hại lên chúng ta, làm cho mọi thứ trong cuộc đời đồng minh với tính ái kỷ có sẵn trong con người mình, thúc đẩy chúng ta phải thành công, phải là vận động viên giỏi nhất, người mặc đẹp nhất, xinh đẹp nhất, có tài năng âm nhạc nhất, nổi tiếng nhất, kinh nghiệm nhất, du lịch nhiều nhất, am hiểu xe cộ, phim ảnh, lịch sử, tình dục nhất… Bằng mọi giá, chúng ta thúc đẩy mình vượt trội hơn người khác. Chúng ta cố gắng bằng mọi giá tìm cách tách mình ra và vượt lên trên người khác. Ý niệm đó gần như thâm căn cố đế trong chúng ta rồi.

Và vì khuynh hướng này, chúng ta thường có xu hướng phán xét sai lầm về người khác, cũng như sai lầm về ý nghĩa và mục đích đời mình. Chúng ta xây dựng mọi thứ quanh thành tựu và nổi bật. Khi thành công, khi chiến thắng, khi hơn người khác trong chuyện gì đó, thì cuộc sống của chúng ta dường như trọn vẹn hơn, cái tôi của chúng ta vênh vang, và chúng ta cảm thấy tự tin cũng như thấy mình thật có giá trị. Ngược lại, khi chúng ta không thể nổi bật, khi chúng ta chỉ là một người trong đám đông, thì chúng ta cố gắng duy trì một hình ảnh đẹp về mình.

Nhưng trong cả hai trường hợp, chúng ta đều luôn mãi đấu tranh với tính ghen tương và bất mãn vì khi đem bản thân so sánh với người khác, chúng ta không thể không thấy mình luôn thiếu tài năng, không đẹp và không thành tựu. Và chúng ta vừa ghen tỵ vừa hờn ghét những người tài năng, xinh đẹp, quyền lực, giàu có và nổi tiếng. Chúng ta tâng bốc họ dù cho vẫn âm thầm chờ đợi họ sa cơ, hệt như đám đông tung hô Chúa Giêsu trong Lễ Lá, rồi mấy ngày sau lại la hét đòi đóng đinh Chúa vào thập giá.

Và điều này làm cho chúng ta bất hạnh. Làm sao chúng ta có thể tạo nên một cộng đồng, khi tài năng và thành tựu của người này là cái cớ ghen tỵ và phẫn uất cho người khác, cũng như là nguồn gây ra đố kỵ cũng như tranh giành? Làm sao chúng ta yêu thương nhau khi tinh thần cạnh tranh khiến chúng ta xem nhau như kẻ thù?

Chỉ có thể có cộng đoàn khi chúng ta để tài năng và thành tựu của người khác làm đẹp cho cuộc đời chúng ta, đồng thời để tài năng và thành tựu của mình làm đẹp chứ không đe dọa cuộc đời của người khác. Nhưng chúng ta hầu như không thể làm việc này. Chúng ta bị tiêm nhiễm tính cạnh tranh quá nặng nên không thể không xem thành tựu và tài năng của người khác là mối đe dọa, đồng thời cũng không thể dùng tài năng của mình nhằm làm đẹp cuộc sống người khác thay vì làm nổi bật bản thân.

Chúng ta có khuynh hướng phân ra người thắng kẻ thua, ngưỡng mộ và ganh ghét người thắng, tỏ lòng thương hại kẻ thua, và luôn mãi đánh giá nhau, cân đo cơ thể, tóc tai, trí tuệ, áo quần, tài năng và thành tựu của người khác. Nhưng khi làm như thế, là chúng ta dao động từ khủng hoảng và bị xem thường khi thua kém người khác, cho đến tự mãn vênh vang khi mình có vẻ hơn người khác.

Và càng khó khăn hơn nữa khi chúng ta ngày càng thêm ám ảnh về nhu cầu phải nổi bật, phải đặt biệt, phải ăn trên ngồi trốc, phải tạo dấu ấn trong đời. Chúng ta sống trong chứng ghen tỵ mơ hồ mà kinh niên, khi xem tài năng của người khác là mối đe dọa thường trực với mình. Và như thế chúng ta cứ bồn chồn lo lắng, và bớt trung thành với đức tin Kitô.

Đức tin Kitô của chúng ta mời gọi đừng so sánh mình với người khác, đừng cố nổi bật, đừng để mình thấy lo sợ và ghen tỵ với ơn của người khác. Đức tin của chúng ta mời gọi hãy tin rằng không cần phải nổi bật hay đặc biệt, tin rằng tài năng của người khác không phải là mối đe dọa, nhưng là một sự làm phong phú cho mọi con người trên đời, và trong đó có cả chúng ta.

Khi chúng ta chia ra người thắng kẻ thua, thì những tài năng và ơn ích của chúng ta trở thành gốc rễ của ghen tỵ, thành vũ khí của cạnh tranh và ham muốn trở nên thượng đẳng hơn người khác. Điều này không chỉ đúng với từng cá nhân, mà còn đúng cho các quốc gia nữa.

Một trong những khẩu hiệu cạnh tranh trong nền văn hóa của chúng ta bảo rằng: Chỉ cho tôi thấy một người thua cuộc cao đẹp, tôi sẽ chỉ cho bạn thấy một kẻ thua cuộc! Nếu nghĩ như thế, thì Chúa Giêsu là người thua cuộc. Người ta lắc đầu trước cái chết của Ngài, và chẳng ai đeo vòng nguyệt quế cho Ngài cả. Dưới con mắt người đời, Ngài chẳng được gì. Chỉ là một kẻ thua cuộc! Nhưng nhờ sự kém cỏi của Ngài, mà chúng ta được ơn cứu độ.

Tiếp đón khách lạ

Trong Kinh thánh của Do Thái luôn có một đòi hỏi đạo đức rất mạnh, là phải tiếp đón khách lạ, khách ngoại kiều. Điều này được nêu bật vì hai lý do: Thứ nhất, dân Do Thái từng là khách ngoại kiều và dân nhập cư. Kinh thánh nhắc nhở họ đừng quên điều đó. Thứ hai, họ tin rằng sự mặc khải của Thiên Chúa thường đến qua những người lạ, qua những gì xa lạ với chúng ta. Niềm tin đó có phần không tách rời trong đức tin của họ.

Các ngôn sứ lớn cũng phát triển thêm tâm thức này. Họ dạy rằng Thiên Chúa thương người nghèo hơn, và do đó chúng ta sẽ được phán xét theo cách chúng ta đối xử với người nghèo. Các ngôn sứ lặp đi lặp lại lời này. Để thấy đức tin của bạn được xem là mạnh hay yếu, cứ nhìn vào công lý ở nơi bạn sống. Và công lý được phân định bằng cách nhìn xem cô nhi quả phụ và khách ngoại kiều được sống thế nào.

Cô nhi quả phụ và khách ngoại kiều. Đây là ba nhóm người yếu đuối nhất trong xã hội. Và thông điệp của các ngôn sứ không nói suông. Đúng ra, đó là lời mắng thẳng vào mặt những người thời đó, những người tỏ ra sùng đạo và tin rằng mình sẽ được phán xét dựa theo sự tuân giữ đạo một cách chặt chẽ và cứng ngắc. Và cả thời nay, người ta thường xuyên loại công bằng xã hội ra khỏi tôn giáo.

Nhưng Chúa Giêsu đồng lòng với các ngôn sứ Do Thái. Với Ngài, Thiên Chúa không chỉ thương người nghèo hơn, mà Thiên Chúa còn hiện thân nơi người nghèo. Cách chúng ta đối xử với người nghèo là cách chúng ta đối xử với Chúa. Hơn nữa, lời các ngôn sứ cứ lặp đi lặp lại rằng chúng ta sẽ được phán xét tùy theo cách mình đối xử với người nghèo, đã được Chúa Giêsu khẳng định trong dụ ngôn về ngày Phán xét, chương 25 Phúc âm thánh Máthêu. Chúng ta đều quen, hoặc quá quen, với đoạn này. Chúa Giêsu đang trả lời cho chúng ta một câu hỏi: Ngày Phán xét như thế nào? Thước đo nào cho chúng ta? Chúng ta sẽ được phán xét thế nào?

Câu trả lời của Ngài thật thẳng thừng đến choáng váng, và có lẽ là những lời đầy thách thức nhất trong Phúc âm. Ngài bảo rằng chúng ta sẽ được phán xét theo, và chỉ theo, cách chúng ta đối xử với người nghèo, nghĩa là cách chúng ta đối xử với những người yếu đuối nhất. Hơn nữa, Chúa Giêsu còn nói rõ về “khách lạ,” khách ngoại kiều, người tị nạn: “Ta là khách lạ và các con đã tiếp rước… Ta là khách lạ và con đã không tiếp rước.” Chúng ta được đứng bên phải hay bên trái trước mặt Chúa, là tùy vào cách chúng ta tiếp đón người khách lạ.

Và cũng cần nhấn mạnh một điểm trong đoạn này, đó là những người làm đúng và làm sai, đều biết mình đang làm gì. Cả hai đều biện bạch với Chúa. Nhóm thứ nhất nói rằng: “Chúng con đâu biết lúc đó chúng con phục vụ Chúa.” Còn nhóm thứ hai thì nói: “Nếu biết đó là Chúa, thì chúng con đã phục vụ rồi.” Trong đoạn Phúc Âm này, tư cách môn đệ trưởng thành không dựa trên việc chúng ta tin rằng mình hiểu đúng, nhưng là dựa trên việc chúng ta hành động đúng.

Và tôi tin đây là nguyên tắc vô cùng thích hợp cho thời nay, khi chúng ta đang đối diện với một cuộc khủng hoảng tị nạn và di cư ở các nước Phương Tây. Chắc chắn ngày nay chúng ta đang đối diện với cuộc khủng hoảng nhân đạo lớn nhất kể từ sau Thế Chiến Thứ Hai. Hàng triệu người bị bách hại bất công, bị dọa giết, bị đuổi khỏi nhà và quê hương mình, họ không biết phải đi đâu, và chẳng có ai đón nhận họ cả. Là Kitô hữu, chúng ta không quay lưng lại với họ hoặc đẩy họ ra xa. Nếu tin Chúa Giêsu, chúng ta tin mình sẽ được phán xét theo cách chúng ta đối xử với người tị nạn, hơn là theo cách chúng ta đi nhà thờ. Khi đứng trước Chúa trong ngày Phán xét và nói rằng: “Có lúc nào con thấy Chúa là khách lạ và không tiếp đón chứ?” Thì thế hệ chúng ta sẽ phải nghe thấy: “Ta là người tị nạn Syria và con đã không tiếp đón.”

Chắc chắn, nói thế này có vẻ ngây thơ, quá lý tưởng hóa và chính thống cực đoan. Vấn đề của những người tị nạn và nhập cư vừa tế nhị vừa phức tạp. Các quốc gia đều có đường biên giới cần phải tôn trọng và bảo vệ, cũng như phải bảo vệ các công dân của mình nữa. Phải thừa nhận là có rất nhiều vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế, và an ninh cần phải giải quyết. Nhưng khi giải quyết chúng, thì chúng ta phải giải quyết với một nhận thức đã được nói rõ trong Kinh thánh, trong lời Chúa Giêsu, và trong các huấn giáo xã hội của Giáo hội: Chúng ta phải chào đón khách lạ, bất chấp những bất tiện và dù cho có nguy cơ.

Với đủ mọi lý lẽ theo chủ nghĩa thực dụng về mặt kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh, chúng ta có thể biện minh cho việc không tiếp đón họ, nhưng không bao giờ có thể lấy Kitô giáo để biện minh cho chuyện đó. Không tiếp đón khách lạ là đi ngược lại với tâm điểm thông điệp của Chúa Giêsu và nó khiến chúng ta dễ dàng quên đi rằng chúng ta cũng từng là người khách lạ trong cuộc đời này.

Đạo đức trong cay đắng

Một trong những mối nguy khi chúng ta cố gắng sống một đời trung tín theo tinh thần Kitô giáo, là chúng ta có khuynh hướng trở nên đạo đức trong cay đắng, trở nên người anh cả của đứa em hoang đàng, giận dữ và ghen tương vì lòng thương xót quá quảng đại của Thiên Chúa. Chúng ta cay đắng bởi những người lạc lối có thể quá dễ dàng trở lại với bàn tiệc thiên quốc.

Nhưng không phải chỉ riêng những người giữ đạo thành tín mới như vậy. Tất cả mọi người đều phải đấu tranh để không vướng phải cay đắng và giận dữ. Chúng ta dành nửa đời đầu đấu tranh để giữ giới răn thứ sáu và dành nửa đời sau đấu tranh để giữ giới răn thứ năm. Chớ giết người! Trước cả khi người ta chết vì một viên đạn, họ đã bị giết vì một lời nói, và trước cả lời nói là suy nghĩ. Chúng ta ai cũng có những suy nghĩ sát nhân. Hắn tưởng hắn là ai cơ chứ? Và chúng ta càng thêm tuổi, thì càng khó gạt cái ý nghĩ đó đi.

Đến tuổi già mà không vướng phải cay đắng và giận dữ, chính là cuộc đấu tranh cuối cùng của chúng ta, cả về mặt tâm lý và linh hồn. Nhà tâm lý học Thụy Sỹ, Alice Miller cho rằng nhiệm vụ hàng đầu của nửa đời sau là than khóc, than khóc cho những vết thương của mình để không trở nên cay đắng và giận dữ. Chúng ta phải than khóc cho đến khi những căn cơ nền tảng của chúng ta lung lay, nếu không những vết thương không được thương xót này sẽ làm cho chúng ta có khuynh hướng cay đắng, giận dữ, và phán xét lạnh lùng.

Xét tận cùng, chỉ có một huấn lệnh thiêng liêng mà thôi. Chúng ta không được chết trong cay đắng và giận dữ. Và vì thế, càng thêm tuổi, chúng ta càng phải ghi khắc một chữ này: Tha thứ. Chỉ có sự tha thứ mới có thể cứu chúng ta khỏi cay đắng và giận dữ.

Thật vậy, trong Phúc âm có một số đoạn đầy lòng thương xót như dụ ngôn Người con hoang đàng vậy. Đọc qua chuyện này, chúng ta dễ dàng nhận ra nhân vật chính không phải là người con, mà là người cha, và thông điệp trọng tâm chính là lòng thương xót vô bờ bến của người cha. Một người cha cố gắng để đưa cả hai đứa con trai vào nhà mình. Nhưng đứa con thứ đã bỏ nhà ra đi một thời gian dài, còn đứa con cả lại như đang đi khỏi nhà khi anh sống trong nhà mà lòng anh cay đắng và giận dữ. Không như người cha đầy hân hoan vì đứa con lầm lạc đã trở về, người anh cả nổi giận và cay đắng khi cha đã không ngần ngại mở toang cánh cửa lòng thương xót, khi người em hư hỏng không bị trừng phạt và không ra điều kiện cho nó trước khi nó được phép vào nhà.

Trong mỗi chúng ta đều có một người anh cả như thế. Chúng ta có thể thấy điều này, trong những phản đối dữ dội, những người vô cùng trung thành với Giáo hội đã bày tỏ sự phản đối với việc cho một số người được đón nhận Mình Thánh Chúa. Đúng là ở đây có vấn đề về giáo luật cần phải phân định, điều mà Hội đồng về đời sống gia đình đã cố xử lý. Nhưng hội đồng cũng cho thấy, nhiều người mang tâm thức phản đối những người mà họ xem là không xứng đáng để rước Mình Thánh Chúa.

Nhưng chính chúng ta phải tự hỏi mình: Sao chuyện này lại khiến tôi phiền lòng? Sao tôi lại nổi giận về chuyện một người khác rước lễ chứ? Nền tảng thực sự của sự phản đối này là gì? Và điều đó nói lên điều gì về con người tôi? Lòng tôi có đủ rộng rãi và êm ái để lên thiên đàng và ngồi chung bàn tiệc với tất cả mọi người không?

Tôi có can đảm và khiêm nhượng để tự hỏi mình một câu: Tôi không giống với người anh cả đứng ngoài nhà, cay đắng khi thấy một người không xứng đáng lại đang được nhận tình yêu thương của Cha?

Nhưng chúng ta phải tự hỏi với một lòng cảm thông. Chúng ta không phải là người xấu. Chỉ do một tinh thần đạo đức cay đắng là mối nguy cố hữu trong chúng ta. Chúng ta vẫn cần tự hỏi mình những câu hỏi khó này, để đừng bịt mắt mình và trở nên người anh cả của người em hoang đàng.

Thật lạ đời, nghịch lý và mỉa mai, nhưng chúng ta có thể là những Kitô hữu trung tín, đạo đức, trách nhiệm, đi lễ đều đặn, rao giảng Tin mừng, và đồng thời cũng mang trong mình một cơn giận dữ, cay đắng, và ghen tỵ vô thức với kẻ vô đạo đức đã khiến chúng ta phải đứng ngoài cửa gặm nhấm nỗi cay đắng và giận dữ vì Thiên Chúa yêu thương một cách vô hạn và thậm chí là bừa bãi.

Nhưng sự yếu đuối và lưỡng cực này không phải là điều gì mới. Câu chuyện về Người con hoang đàng không kết thúc với việc người cha vui mừng đón đứa con thứ về, nhưng là sau khi người cha đứng ở cửa, ân cần khuyên đứa con cả bỏ đi sự cay đắng và cùng vào chung vui. Chúng ta không biết câu chuyện sẽ kết thúc như thế nào, nhưng với tình yêu và sự nhẫn nại vô hạn của Thiên Chúa, hẳn cuối cùng người anh cả đã vào nhà và ngồi cùng bàn với người em hoang đàng của mình.

Quyền năng của Thiên Chúa dưới hình hài Vô lực

Tiểu thuyết gia và khảo luận gia người Pháp, Leon Bloy, từng nói về quyền năng Thiên Chúa trong thế giới chúng ta: “Thiên Chúa dường như đã kết án chính mình là cho đến ngày tận thế, không được thực hiện bất kỳ quyền trực tiếp nào của một ông chủ trên nô bộc hay của một đức vua trên thần dân. Chúng ta có thể làm điều gì chúng ta muốn. Ngài sẽ chỉ biện hộ cho mình bằng sự kiên nhẫn và vẻ đẹp của Ngài.”

Thiên Chúa biện hộ cho mình chỉ bằng sự kiên nhẫn và vẻ đẹp! Thật quá đúng! Và chúng ta rất cần hiểu rõ về quyền năng!

Cách chúng ta hiểu về quyền năng luôn đi kèm với cách chúng ta nhìn nhận về quyền lực trong thế giới này. Thế giới chúng ta hiểu quyền lực là một uy lực có thể làm chủ trên người khác, một uy lực có thể bắt người khác vâng lời. Trong thế giới chúng ta, chỉ thật sự có quyền lực khi nó có thể khẳng định bản thân cách uy thế để khiến người khác vâng lời. Với chúng ta, kẻ mạnh thì có quyền lực, người nắm chính trị thì có quyền lực, hệ thống kinh tế có quyền lực, các tỷ phú có quyền lực, người giàu và người nổi tiếng có quyền lực, những người vạm vỡ thì có quyền lực, và những kẻ hay bắt nạt thì có quyền lực. Quyền lực có thể khiến bạn cúi mình, dù bằng cách này hay cách khác.

Nhưng một khái niệm như thế về quyền lực thật ấu trĩ và thiển cận. Quyền lực có thể khiến bạn cúi mình chỉ là một dạng quyền lực mà thôi, và xét tận cùng, nó không phải là dạng quyền lực mang tính biến đổi nhất. Quyền lực thực sự là về tinh thần. Quyền lực thực sự là quyền lực của chân lý, vẻ đẹp, và kiên nhẫn. Nghịch lý thay, quyền lực thực sự thường có vẻ thật vô lực. Chẳng hạn như: Nếu bạn cho một vận động viên vạm vỡ, một CEO của một công ty lớn, một kẻ hay bắt nạt, một ngôi sao điện ảnh đoạt giải Oscar, và một đứa trẻ, tất cả vào cùng một phòng, thì ai là người quyền lực nhất? Xét tận cùng, đấy chính là đứa trẻ. Đến tận cùng, sự vô lực của đứa trẻ thắng cả cơ bắp, tài năng kinh tế, và tầm ảnh hưởng. Những đứa trẻ làm cho không gian trở nên trong sạch về mặt tinh thần, và những người nhẫn tâm nhất cũng phải chùn tay trước một đứa trẻ.

Đấy là kiểu quyền lực mà Thiên Chúa biểu lộ trong sự nhập thể. Đi ngược lại hầu hết dự tính của con người, Thiên Chúa sinh ra trong thế gian, không phải với hình hài Siêu nhân hay Siêu sao, nhưng là một đứa trẻ vô lực không thể tự lo cho mình. Và đấy là cách Thiên Chúa vẫn hiện diện trong cuộc đời chúng ta. Nhà văn đoạt giải Pulitzer, Annie Dillard, cho rằng chúng ta luôn mãi tìm thấy Chúa trong cuộc đời mình dưới hình hài một em bé vô lực nằm trong máng cỏ, một em bé mà chúng ta phải bồng ẵm, nuôi dưỡng, và ủ ấm.

Bà nói đúng, và thấu suốt của bà cũng như của Leon Bloy, là một chỉ hướng về cách chúng ta hiểu quyền năng Thiên Chúa trong đời mình và hiểu vì sao Thiên Chúa có vẻ thinh lặng trong cuộc đời chúng ta.

Trước hết, quyền năng Thiên Chúa ở trong cuộc đời chúng ta. Khi chúng ta xem đoạn kinh thánh kể về ông Adam bà Eva và tội nguyên tổ, tôi thấy rằng động cơ tiên quyết để ăn trái cấm là một khát vọng muốn nắm lấy sự thần thánh, muốn trở nên như Chúa. Họ muốn quyền năng như Chúa. Nhưng như chúng ta, họ hiểu lầm tai hại về điều gì tạo nên quyền lực thực sự. Thánh Phaolô cho chúng ta thấy phản đề của chuyện này, khi ngài mô tả Chúa Giêsu trong thư gởi tín hữu Philip. Thánh Phaolô viết rằng Chúa Giêsu không cho rằng địa vị ngang hàng với Thiên Chúa là điều phải giữ lấy, nhưng thay vào đó, Ngài đã bỏ đi quyền năng đó để trở nên vô lực, tin tưởng rằng sự trống rỗng và vô lực này đến tận cùng sẽ là sức mạnh mang tính biến đổi nhất. Chúa Giêsu đã để mình trở nên vô lực để thực sự quyền lực.

Thấu suốt này có thể soi sáng cho cách chúng ta hiểu vì sao Thiên Chúa dường như vắng mặt trong thế giới chúng ta. Làm sao chúng ta hiểu được một sự thường được gọi là “sự thinh lặng của Thiên Chúa”? Thiên Chúa ở đâu trong thảm họa diệt chủng thời Đức quốc xã? Thiên Chúa ở đâu trong những thiên tai cướp đi sinh mạng hàng ngàn người? Thiên Chúa ở đâu khi những vụ tai nạn và bệnh tật cướp đi sinh mạng vô số người? Tại sao Thiên Chúa không can thiệp mạnh mẽ?

Thiên Chúa hiện diện và can thiệp trong mọi tình huống đó, nhưng không phải theo cách chúng ta hiểu về sự hiện diện, quyền năng, và sự can thiệp. Thiên Chúa hiện diện theo cách của vẻ đẹp, theo cách của một trẻ bé sơ sinh ngây thơ vô lực, và theo cách sự thật luôn luôn hiện diện. Thiên Chúa không bao giờ thinh lặng, bởi vẻ đẹp, sự ngây thơ, vô lực và sự thật không bao giờ thinh lặng. Chúng luôn luôn hiện diện và can thiệp, nhưng không như quyền lực của con người, chúng hiện diện theo một cách hoàn toàn không thể thao túng và tôn trọng tuyệt đối sự tự do của chúng ta. Quyền năng của Thiên Chúa như quyền lực của một trẻ bé, như quyền lực của vẻ đẹp, tuyệt đối tôn trọng con người của bạn.

Khi chúng ta nhìn vào những nỗ lực đấu tranh trong thế giới và cuộc đời của mình, thường chúng ta thấy dường như quyền năng Thiên Chúa cứ luôn mãi bị quyền lực con người thắng vượt. Ziggy, một nhân vật trong phim hoạt hình thích nói: Người nghèo vẫn đang bị đè nén trong thế giới chúng ta. Nhưng như vua Đavid, một cậu bé trước mặt Goliath, một gã khổng lồ mạnh hơn về cơ bắp và vũ khí, như các tông đồ hỏi xin năm chiếc bánh và hai con cá cho cả đoàn 5000 người, Thiên Chúa luôn luôn có vẻ chẳng ấn tượng gì với thế giới chúng ta.

Nhưng chúng ta phải biết, câu chuyện không bao giờ dừng ở đấy.

Nguội lạnh và Ngày nghỉ

Các tu sĩ Kitô giáo thời tiên khởi tin có một thứ gọi là Nguội lạnh (acedia). Họ còn gọi nó là Quỷ Chính Ngọ. Theo họ Nguội lạnh khác với trầm cảm thông thường. Nó không lôi bạn vào những vùng tâm trí tối tăm hỗn loạn, làm cho bạn đổ bệnh trước chiều sâu vô tận và phức tạp của bản thân. Đúng ra nó là một sự suy sút, mất hết năng lượng, làm cho bạn rơi vào trạng thái bán thực vật, nói đơn giản là nó làm tắt lịm những cảm giác và suy nghĩ thâm sâu của chúng ta.

Giáo hội tiên khởi xem nó là một trong bảy mối tội đầu. Về sau nó được sửa tên lại là Lười biếng. Có rất nhiều bản văn thiêng liêng nói về khái niệm nguội lạnh, trong đó phải kể đến tác phẩm của Kathleen Norris về việc giáo hội tiên khởi hiểu lầm nguội lạnh như thế nào.

Nhưng cho đến gần đây, nguội lạnh vẫn chưa được nghiên cứu sâu như một khái niệm tâm lý. May thay chuyện này đang thay đổi với các tương quan lớn với linh đạo. Tôi xin đưa ra một ví dụ: Mới đây tôi đã dự một buổi diễn thuyết về nguội lạnh của Lauren Morgan Wuest, một chuyên gia theo phái Jung. Tôi không thể biện bạch hết luận thuyết của bà ở đây, nhưng xin tôi xin phép được tóm tắt rất sơ lược về luận thuyết này.

Tác giả đã đọc các tác phẩm của những Giáo phụ Sa mạc và nhiều bình luận khác nhau về khái niệm Nguội lạnh, bà cố gắng tìm mẫu số chung giữa các tác phẩm thiêng liêng này với các hiểu biết của tâm lý học đương thời, nhất là những hiểu biết của trường phái Jung. Kết luận của bà là gì?

Nói ngắn gọn, theo quan điểm của bà, nguội lạnh không phải là một triệu chứng lâm sàng, nghĩa là nó không phải là một chứng bệnh cần điều trị, và nó cũng không phải trầm cảm thông thường. Đúng hơn, các triệu chứng của nguội lạnh là kết quả một phản ảnh bản năng lành mạnh của thân thể và trí óc chúng ta, khi chúng không có được những thứ chúng cần, thì đôi khi chúng phải buộc chúng ta ngừng hoạt động, cũng giống như chứng trầm cảm làm cho chúng ta không còn làm được gì, ngoài trừ một điều là nguội lạnh tắt đi năng lượng của chúng ta vì mục đích tốt đẹp. Nói đơn giản, chỉ vì chúng ta không thể tự cho cơ thể và trí óc nghỉ ngơi, dưỡng chất và không gian mà chúng cần, nên chúng bắt tay nhau để buộc chúng ta phải nghỉ ngơi. Về căn bản, nguội lạnh là tốt cho sức khỏe chúng ta.

Là một nhà tâm lý học, bà không đi sâu vào chuyên ngành thiêng liêng của vấn đề này, nhất là về mối liên hệ có thể có giữa nó với ngày nghỉ Xa-bát, nhưng chúng ta cũng có thể thoáng thấy được rồi.

Khi bạn đọc các bản văn Do Thái-Kitô giáo, nhất là các chương đầu sách Sáng Thế kể lại việc Chúa dựng nên trời đất và Ngài nghỉ vào ngày thứ bảy, chúng ta sẽ thấy có một nhịp điệu được Chúa sắp đặt để chúng ta làm việc và nghỉ ngơi sao cho cuộc sống được triển nở. Nói ngắn gọn, có một khuôn mẫu, một nhịp điệu để chúng ta sống. Bạn làm việc trong sáu ngày, rồi bạn có một ngày nghỉ. Bạn làm việc bảy năm, rồi có một năm nghỉ. Bạn làm việc bảy lần bảy năm thì có một năm toàn xá, một ngày nghỉ cho toàn thể địa cầu. Bạn làm việc cả đời rồi vào một ngày nghỉ vĩnh hằng.

Về căn bản, cuộc sống công việc, lịch trình thường nhật, và những mối bận tâm bình thường của chúng ta bị ngắt quãng một cách đều đặn. Phải có lúc chúng ta bỏ dụng cụ xuống, bỏ qua lịch trình, gạt đi các lo lắng trong ngày làm việc, và đơn giản là ngồi đó, nghỉ ngơi, chẳng làm gì, vô vị, thưởng thức gì đó, suy tưởng, cầu nguyện, và cứ để mặc mọi chuyện trong một chốc. Đó là công thức trong Kinh thánh để chúng ta có sự lành mạnh về tâm linh, nhân thể, tâm lý, và thể xác. Và bất kỳ lúc nào chúng ta không tự nguyện làm điều này, bất kỳ lúc nào chúng ta làm ngơ ngày nghỉ Xa-bát trong đời mình, thì thân thể và trí óc của chúng ta sẽ buộc chúng ta nghỉ ngơi. Nguội lạnh là bạn tốt của chúng ta. Nhờ đó chúng ta có ngày nghỉ Xa-bát, dù bằng cách này hay cách khác.

Tôi chẳng thấy lạ khi việc thực hành ngày Xa-bát đang ngày càng biến mất trong văn hóa của chúng ta. Thật sự là nền văn hóa của chúng ta tạo nên một hệ thống rõ ràng đi ngược lại với việc nghỉ ngày Xa-bát. Trong số nhiều tác nhân bị xem là nguyên do dẫn đến chuyện này, tôi muốn nêu bật lên thói nghiện công nghệ thông tin, sự bất lực hiện thời khi không thể chịu nổi một phút không kết nối với người khác và thế giới qua chiếc điện thoại, máy tính bảng, hay màn hình máy vi tính. Chúng ta thấy mình ngày càng kém khả năng tránh xa khỏi tất cả những gì chúng ta đang kết nối qua công nghệ thông tin, và do đó chúng ta thấy mình ngày càng thiếu khả năng nghỉ ngơi, buông bỏ mọi thứ để đi vào ngày nghỉ Xa-bát. Có lẽ việc thực hành kiêng khem quan trọng nhất cho chúng ta thời nay, là làm một ngày nghỉ kỹ thuật số.

Cách đây bảy trăm năm, nhà thơ Rumi đã than thở rằng: Tôi đã sống quá lâu ở nơi người khác có thể đến được! Đó là tiếng kêu cần phải có một thời gian nghỉ ngơi, đã vang lên từ lâu trước thời đại công nghệ thông tin chúng ta, nơi dù chúng ta ở đâu người khác cũng liên hệ được, thời nay và tiếng kêu đó đang vang lên khắp nơi khi thói nghiện công nghệ thông tin của chúng ta đang ngày càng tăng. Chúng ta lo là mình sẽ không tìm được một cách kiêng khem cần thiết để bỏ đi thói nghiện này, nhưng Nguội lạnh có thể giúp chúng ta việc chúng ta không thể tự làm cho mình.

Đưa vết thương của chúng ta đến với Phép Thánh Thể

Gần đây có người tìm đến tôi xin giúp đỡ. Ông mang những vết thương hằn sâu, không phải là vết thương thể xác, mà là vết thương linh hồn. Điều khiến tôi thấy ngạc nhiên lúc đầu là, dù ông bị tổn thương trầm trọng, nhưng lại không thống khổ cùng cực cả thưở nhỏ lẫn lúc trưởng thành. Dường như ông chỉ phải chịu những vết bầm tím chợt da như mọi người khác: là vài lần bị xem thường, bị bắt nạt, chưa từng là nhân vật được yêu thích, thấy không hài lòng với cơ thể mình, chịu đối xử không công bằng trong gia đình và anh chị em, nản lòng trong sự nghiệp, bất công nơi làm việc, cảm giác mình luôn mãi bị làm ngơ, cảm nhận mình không bao giờ được người ta hiểu và cảm kích, thấy thương thân trách phận và thiếu tự tin.

Nhưng ông là người nhạy cảm và kết hợp của tất cả những chuyện nhỏ nhặt này cho đến tuổi trung niên, khiến ông không thể trở thành một người có tuổi hạnh phúc dễ thương như ông muốn. Thay vào đó, ông luôn mãi mắc kẹt trong một kiểu quy kỷ bị tổn thương, cụ thể là một sự lo lắng quy ngã đi cùng cảm giác rằng cuộc sống đã không công bằng với ông. Do đó, ông luôn dồn hết tâm trí vào việc tự vệ và phẫn uất những người có thể tiến tới một cách tự tin và yêu thương. Chính ông đã nói với tôi, “Tôi ghét khi thấy những người như Mẹ Têrêxa và Đức Gioan Phaolô quá tự tin nói về trái tim lớn của mình. Tôi luôn thấy phẫn uất và nghĩ: “Các người thật may mắn! Các người chưa phải chịu những chuyện tôi gặp phải trong đời!”

Người này đã được trị liệu chuyên ngành để giúp ông tự nhận thức bản thân sâu sắc hơn, nhưng vẫn không thể khiến ông vượt qua những vết thương của mình. “Tôi có thể làm gì với những vết thương này đây?” ông đã hỏi tôi thế.

Tôi trả lời ông, cũng như cho tất cả những người đang bị tổn thương rằng: Hãy đưa những vết thương đó đến với Phép Thánh Thể. Mỗi lần ông đến với Phép Thánh Thể, đứng cạnh bàn thờ, rước lễ, thì hãy dâng sự bất lực và tê dại của ông lên Chúa, xin Ngài chạm đến thân xác ông, trái tim ông, ký ức, cả sự cay đắng, thiếu tự tin, sự quy kỷ, yếu đuối của ông. Hãy đưa thân thể và trái tim đau đớn của ông lên Chúa. Hãy giải bày sự bất lực của ông bằng những lời đơn sơ khiêm nhượng.

Xin chạm đến con.
Xin cất đi những vết thương của con.
Xin cất đi hoang tưởng của con.
Xin cho con nên trọn.
Xin tha thứ cho con.
Xin sưởi ấm tim con.
Xin cho con sức mạnh mà tự con không có được.

Hãy cầu nguyện bằng lời kinh này, không phải chỉ khi rước lễ và đón nhận Mình Thánh Chúa Kitô, nhưng nhất là trong Kinh nguyện Thánh Thể, bởi chạm đến chúng ta không chỉ là một nhân thể của Chúa Giêsu, mà là cả một sự kiện linh thánh. Đây là một phần của Phép Thánh Thể mà chúng ta thường không hiểu được, nhưng một phần của Phép Thánh Thể là để biến đổi và chữa lành những thương tích và tội lỗi. Trong Kinh nguyện Thánh Thể chúng ta chiêm niệm “lễ hy tế” của Chúa Giêsu, nghĩa là khi Chúa Giêsu mang lấy tội lỗi vì chúng ta. Trong thời khắc thâm kín đó có rất nhiều sự xảy ra. Về căn bản, trong cuộc thương khó và cái chết, Chúa Giêsu mang lấy những vết thương của chúng ta, sự yếu đuối, bất toàn, tội lỗi của chúng ta, Ngài chết đi trong chúng, rồi bằng tình yêu và tín thác Ngài đưa chúng đến toàn vẹn.

Mỗi lần đến với Phép Thánh Thể là chúng ta để sự kiện mang tính biến đổi đó chạm đến chúng ta, đến những vết thương của chúng ta, đến sự bất tín, tội lỗi, những tê liệt cảm xúc của chúng ta, và đưa chúng ta biến đổi trở nên trọn vẹn, đầy sinh lực, vui mừng và yêu thương.

Phép Thánh Thể chính là phương thuốc tối cùng. Tôi tin là có nhiều loại trị liệu thể xác và tinh thần rất có giá trị, chẳng hạn như chương trình 12 bước, hay việc chân thành chia sẻ những thương tích của mình với những người ta tin tưởng. Và tôi cũng tin rằng một sự tự tác động theo ý chí cũng đầy giá trị, chẳng hạn như khi Chúa Giêsu mời gọi người bại liệt: Hãy đứng dậy, vác chõng mà đi! Chúng ta không nên để mình bị tê liệt bởi nhạy cảm quá đáng và thương thân trách phận. Thiên Chúa đã cho chúng ta làn da để che phủ những dây thần kinh mà.

Nhưng khi thừa nhận như thế, chúng ta vẫn không thể chữa lành cho bản thân mình. Những phép trị liệu, sự tự thông hiểu, những người bạn thân thương, và nỗ lực có đường hướng có thể đưa chúng ta đi được một quãng dài, nhưng không phải là đi cho trọn đường đến chữa lành trọn vẹn. Sự chữa lành trọn vẹn đến nhờ việc chạm vào sự linh thánh, và được chạm vào. Cụ thể hơn, các Kitô hữu chúng ta tin rằng cái chạm này bao gồm việc sự linh thánh đó chạm vào nơi thương tích nhất, bất lực nhất, tội lỗi nhất của chúng ta. Và cái chạm đó chính là trong cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu, khi Thiên Chúa trở nên tội lỗi vì chúng ta, là trong kinh nguyện Thánh Thể và khi chúng ta đón nhận Mình Thánh Chúa Kitô.

Chúng ta cần đưa những thương tích của mình đến với Phép Thánh Thể bởi chính là nơi có tình yêu và sinh lực linh thánh, có thể ghi dấu và chữa lành cho tất cả những gì đang rạn vỡ trong cuộc đời chúng ta.

Chính thống, Tội lỗi, và Dị giáo

Gần đây, trong lần đi giảng tĩnh tâm, tôi được dịp đến nhà thờ chính tòa ở thành phố đó để dâng thánh lễ Chúa nhật. Tôi sửng sốt trước bài giảng lễ ngày hôm đó. Đoạn Phúc âm hôm đó thuật lại Chúa Giêsu nói Ta là cây nho và các con là cành nho, và cha giảng lễ đã nói với cộng đoàn rằng điều Chúa Giêsu đang muốn nói ở đây là Giáo hội Công giáo La Mã thiết lập nên những nhánh đó và cách chúng ta liên kết với những nhánh đó là qua thánh lễ, và nếu bỏ lễ ngày chúa nhật là ta phạm tội trọng và sẽ chết trong tình trạng phải vào hỏa ngục.

Rồi nhận ra rằng điều mình đang nói có vẻ không được đón nhận cho lắm, nên cha giảng lễ quả quyết rằng sự thật thường không được lòng người, nhưng điều mà cha đang nói chính là giáo huấn Công giáo chính thống và bất kỳ ai bác bỏ điều này đều là dị giáo.

Thật buồn khi kiểu suy nghĩ đó vẫn còn trong giáo hội.

Giáo hội Công giáo thật sự dạy rằng bỏ lễ là tội trọng và nếu chết với tội đó, bạn sẽ vào ngục, thật thế sao? Không, đấy không phải là tính chính thống của Công giáo, dù cho nhiều giáo lý viên và cha giảng lễ thường cho là thế.

Tôi xin đưa ra một ví dụ. Vài năm về trước, tôi đã chủ trì nghi thức an táng cho một thanh niên mới khoảng hai mươi bị thiệt mạng trong một vụ tai nạn giao thông. Nhiều tháng trước khi mất, anh ấy đã chủ ý bỏ hết mọi việc giữ đạo của người Công giáo. Anh không đi lễ nữa, sống chung với bạn gái không hôn thú, và lúc gặp tai nạn thì đang trong tình trạng say xỉn. Tuy nhiên gia đình và cộng đoàn quanh anh trong lễ an táng, họ biết anh, và biết rằng bất chấp những bừa bãi trong đạo đức và giữ đạo, anh vẫn có một tâm hồn tốt lành, một người trẻ quảng đại và đem niềm vui đến cho người khác.

Sau lễ an táng, một trong những người dì của anh, một người tin rằng bỏ lễ là tội trọng và có thể phải vào hỏa ngục khi chết, bà đến gặp tôi và nói. “Nó có một tâm hồn cao thượng và đầy sinh lực, nếu tôi giữ cửa thiên đàng thế nào tôi cũng cho nó vào.” Lời của bà đã phản bội một điều thâm sâu trong lòng bà, nhưng đó là một sự phản bội tuyệt vời, khi bà nhận thấy một tâm hồn cao thượng sẽ cao hơn những giáo luật, lúc xét xem ai được vào thiên đàng. Và đó cũng là biểu hiện niềm tin của bà rằng tiêu chuẩn phán xét của Thiên Chúa rộng hơn những luật bên ngoài đã được quy định trong giáo hội. Bà tin rằng bỏ lễ chúa nhật là tội trọng, nhưng vì nhiều lý do đúng đắn, không thể xem hệ quả của việc đó là cháu của bà phải vào hỏa ngục được. Sâu bên trong, bà biết rằng Thiên Chúa hiểu thấu tâm hồn con người, thông hiểu cho sự vô ý của chúng ta. Thiên Chúa chào đón tội nhân vào lòng, và không loại trừ những gì tốt đẹp khỏi thiên đàng.

Nhưng chúng ta vẫn còn một thắc mắc: Giáo huấn Công giáo La Mã chính thống nói rằng bỏ lễ chúa nhật là tội trọng, và một sai phạm như thế sẽ khiến bạn phải vào hỏa ngục. Không đâu, dạy như thế mới là dị giáo.

Nói đơn giản, thần học luân lý Công giáo luôn dạy rằng tội là một sự chủ quan không bao giờ có thể hiểu hết nếu nhìn từ bên ngoài. Chúng ta không bao giờ có thể đứng bên ngoài nhìn vào một hành động và nói: “Đấy là tội!” Chúng ta không bao giờ có thể đứng bên ngoài nhìn vào một hành động và nói: “Thế là sai!” Đấy là một phán xét. Từ bên ngoài, ta có thể phán xét một hành động là sai về khách quan, nhưng không bao giờ có thể ra phán quyết đó là tội. Hơn nữa, đây không phải là một điều mới lạ, mà là một điều có sẵn trong Giáo lý truyền thống. Không một ai có thể đứng bên ngoài nhìn vào một hành động và nói: “Đấy là tội!” Chúng ta có thể và phải khẳng định rằng một số việc nhất định là sai trái, sai về khách quan, nhưng khẳng định về tội lại là một chuyện khác.

Có lẽ câu nói của Đức Giáo hoàng Phanxicô được trích dẫn nhiều nhất là câu trả lời đơn giản của ngài: “Tôi là ai mà phán xét?” Và không chỉ mình ngài nói thế. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã nói: “Các ông phán xét bằng vẻ bên ngoài, tôi chẳng phán xét ai.” Thật sự, nói thế không có nghĩa là không có phán xét nào. Mà thật sự là có phán xét, và có kết án ai phải vào hỏa ngục. Nhưng phán xét đó như thế này: Tình yêu, Sự sống, Sự thật và Ánh sáng của Thiên Chúa đến thế gian, và chúng ta phán xét bản thân theo đó. Thiên Chúa không lên án ai, nhưng chúng ta có thể lên án chính mình. Chúng ta cân đo bản thân mình bằng Tình yêu, Sự sống, Sự thật và Ánh sáng của Thiên Chúa. Và những điều này quyết định ta sẽ đi về đâu, quyết định ngay trong đời này và đời sau.

Trong giáo lý căn bản và những lời dạy phổ biến của chúng ta, cần phải thận trọng khi dùng từ “tội trọng” và khi phán xét ai đó sẽ vào thiên đàng hay hỏa ngục. Chúng ta phải nhận thức trọn vẹn rằng khi Chúa phán xét, Chúa không khắc nghiệt hay dễ dãi hơn với bất kỳ ai.

Những quyển sách tôi yêu thích trong năm 2016

Một phần rất lớn trong cuộc sống đang vô thức đối nghịch với chuyện đọc sách, nhất là thời nay. Chúng ta thiếu thời gian, bị áp lực công việc, rồi còn các công nghệ khoa học, và những thứ khác đang ngày càng đẩy những quyển sách xa khỏi tầm tay và cả tâm trí chúng ta. Chẳng bao giờ ta có đủ thời gian để đọc. Mặt tích cực của chuyện này là mỗi lần tôi tìm thấy thời gian để cầm quyển sách lên, thì đó là một khoảng thời gian quý báu đáng trân giữ. Và như thế là tôi chọn sách thật cẩn thận. Tôi đọc những bài điểm sách, lắng nghe các đồng nghiệp và theo sát những tác giả yêu thích của mình. Tôi cũng cố gắng bảo đảm chế độ đọc sách của mình mỗi năm đều có một số sách thiêng liêng (bao gồm ít nhất một quyển kinh điển), một số sách tiểu sử, vài tiểu thuyết, và vài luận văn.

Trong số những sách tôi đã đọc trong năm qua, đây là những quyển khiến tôi thấy đánh động nhất. Tôi không thể hứa chắc rằng chúng cũng sẽ khiến bạn phải lòng, nhưng mỗi quyển trong số này đều để lại trong tôi một điều gì đó.

Các sách thiêng liêng gồm có:

Gil Bailie, Ván bài của Chúa, Quyền năng Hấp dẫn của Tình yêu trên Thập giá (God’s Gamble, The Gravitational Power of Crucified Love.) Bailie một lần nữa lấy nhân học của Rene Girard để soi rọi về tầm quan trọng đỉnh cao của Thánh giá Chúa Kitô trong lịch sử tôn giáo và biểu tượng tinh thần. Quyển này rất dày và thật sự là khó đọc, nhưng nhận thức sáng suốt trong đó thì quá đỗi ngoại hạng.

Heather King, Chiếc áo Cháy lửa, Một năm với thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu (Shirt of Flame, A Year with Saint Therese of Lisieux.) Quyển sách này sẽ là một cuộc tĩnh tâm riêng tư tuyệt vời cho bất kỳ ai đang đấu tranh với chứng nghiện, chứng ám ảnh, hay sự tầm thường trong cuộc sống thiêng liêng của mình.

Christophe Lebreton, Sinh ra từ Cái nhìn của Chúa, Nhật ký ở Tibhirine của Tu sĩ Tử đạo 1993-1996 (Born From the Gaze of God, The Tibhirine Journal of Martyr Monk, 1993-1996.) Đây là nhật ký của một trong những tu sĩ dòng Xitô tử đạo ở Algeria vào năm 1996. Đây là nhật ký thâm tâm của một thanh niên ghi lại những cung bậc cảm xúc của mình đi từ nỗi sợ tê tái đến sức mạnh tử đạo.

Kathleen Dowling Singh, hai quyển: Ơn Chết (The Grace in Dying) và Ơn Già (The Grace in Aging.) Theo Singh, tiến trình lão hóa và chết là điều chỉnh tinh tế để đưa chúng ta đến với địa hạt tâm linh. Trong hai quyển sách xuất sắc này, bà dò theo điều này với một chiều sâu mà tôi chỉ từng thấy nơi những nhà thần nghiệm kinh điển lớn.

Christine M. Bochen, Biên tập, Đường lối của Lòng thương xót (The Way of Mercy.) Đây là một loạt bài luận về lòng thương xót, bao gồm một số bài của Đức Giáo hoàng Phanxicô và hồng y Walter Kasper.

Đám mây Vô thức. Cuối cùng tôi đã có cơ hội để nghiên cứu tác phẩm kinh điển này một cách có thể gọi là sâu sắc. Đây chắc chắn là một trong những quyển sách đặc biệt về chiêm niệm và quy thần niệm.

Trong số các sách tiểu sử và luận văn:

Marilynne Robinson, Sự tha thứ Vạn vật (The Givenness of Things,) Luận văn. Những bài luận này kín kẽ, sâu sắc, ôn hòa, và Marilynne, một tiểu thuyết gia thiên tài, đã viết hết sức mình về tôn giáo.

Michael N. McGregor, Hành động Thuần túy, Cuộc sống Bất thường của Robert Lax (Pure Act, The Uncommon Life of Robert Lax.) Đây là tiểu sử của một người bạn tâm giao của Thomas Merton, sống tu đời, và đã đưa sự cô tịch của mình lên một mức vô cùng cao đẹp. Quyển sách này sẽ giúp bạn đánh thức chủ nghĩa lý tưởng của mình.

Fernando Cardenal, Đức tin và Vui mừng, Ký ức về một Linh mục Cách mạng (Faith and Joy, Memoirs of a Revolutionary Priest.) Đây là câu chuyện về một con người ngoại hạng, một linh mục Dòng Tên, người đóng vai trò lãnh đạo trong chính phủ của Daniel Ortega ở Nicaragua, và Đức Gioan Phaolô đã ra lệnh cho cha từ chức vụ này. Đây là nhật ký riêng ghi lại những khía cạnh khác của một sự kiện thường bị xem xét một chiều, những đấu tranh tìm công lý ở châu Mỹ La tinh.

Daniel Berrigan, Những Bài viết Căn bản (Essential Writings,) John Dear biên tập. Daniel Berrigan mất vào tháng 4 năm 2016. Các bài viết của cha đã định hướng cho ý nghĩa của một ngôn sứ Kitô giáo, và quyển sách này là tuyển chọn tuyệt vời những bài viết của cha.

Ba quyển sách nói về việc đối diện với tuổi già và cái chết.

Michael Paul Gallagher, Đi vào Thời gian Có thêm, Sống qua những Giao đoạn cuối của Ung thư và Thong thả trên đường (Into Extra Time, Living Through the Final Stages of Cancer and Jottings along the Way.) Một con người của đức tin và chữ nghĩa, Gallagher chia sẻ quyển nhật ký ông đã viết trong chín tháng qua, khi biết tin mình sắp chết.

Katie Roiphe, Giờ Tử, Những Tác giả lớn vào Cuối đời (The Violet Hour, Great Writers at the End.) Một số các tác giả lớn, bao gồm Sigmund Freud, John Updike và Susan Sontag đối diện với căn bệnh nan y của mình như thế nào? Quyển sách này sẽ cho chúng ta biết.

Paul Kalanithi, Khi Hơi thở thành Không khí (When Breath Becomes Air.) Đây là một nhật ký phi thường của một bác sĩ trẻ bị chẩn đoán mắc bệnh nan y, quyển sách này ghi lại sự can đảm, đức tin, và thấu suốt của anh.

Tôi xin giới thiệu ba quyển tiểu thuyết:

Paula Hawkins, Cô gái trên Chuyến tàu (The Girl on the Train.) Quyển sách này chuyển thể thành phim không hợp lắm, nhưng nó đúng là một quyển sách khiến bạn không thể ngừng đọc.

Ian McEwan, Vỏ hạt và Edna O’Brien, Những chiếc ghế đỏ (Nutshell and Edna O’Brien, The Little Red Chairs.)

Một gợi ý nữa:

Kenneth Rolheiser, Cõi mơ và Đất Linh hồn, Một Chuyện tình vùng đồng cỏ (Dreamland and Soulscapes, A Prairie Love Story.) Kenneth là anh em với tôi và phần nhiều những chuyện cậu ấy viết tôi đã từng cảm nghiệm rồi, nên có lẽ tôi dễ thiên vị quyển này. Nhưng quyển sách sẽ cho bạn một cảm nhận thực tế về việc lớn lên ở một Ngôi nhà nhỏ trên Thảo nguyên.

Chúc các bạn đọc sách vui vẻ!

Nhập thể – Thiên Chúa ở cùng ch

Tôi cho rằng, với nhiều người trong chúng ta, cứ thêm tuổi lại càng khó cảm được không khí Giáng Sinh. Điều duy nhất còn nồng ấm trong lòng chúng ta là những ký ức. Ký ức về thời thơ ấu, khi chúng ta ngây thơ hơn, khi ánh đèn và thánh ca, cây thông Noel và những món quà vẫn còn khiến chúng ta phấn khích. Nhưng giờ chúng ta đã là người lớn, và dường như thế giới của chúng ta cũng vậy. Nhiều niềm vui Giáng Sinh giờ bị đè nén xuống dưới những thứ khác, đó là chưa nói đến chủ nghĩa tiêu thụ đang thể hiện ngày càng quá đáng trong các dịp lễ. Từ cuối tháng 10, chúng ta đã thấy các trang trí Giáng Sinh, đến tháng 11 đã thấy ông già Noel, và tháng 12 là liên tiếp các buổi tiệc Giáng Sinh, và đến 25-12, chúng ta đã mệt lử cả rồi. Vậy làm sao ta thực sự có tinh thần cho ngày Giáng Sinh đây?

Thật không dễ gì, và chủ nghĩa tiêu thụ quá đáng không phải là chướng ngại duy nhất. Thời điểm còn trầm trọng hơn. Liệu giữa nhiều chuyện hung bạo của năm này, chúng ta còn có thể hâm nóng một mùa lễ hội tưng bừng không? Giữa cảnh ngộ của hàng triệu người tị nạn ngay nay đang ra đi mà không biết có nơi nào trú chân, liệu ta có thể tiếp tục lãng mạn hóa cuộc hành hương của một đôi vợ chồng nghèo cách đây hai ngàn năm hay không? Liệu nói về hòa bình có còn ý nghĩa gì sau rất nhiều cuộc bầu cử đã phân cực hóa đất nước chúng ta và khiến cho hàng triệu người không thể nói chuyện thoải mái với hàng xóm của mình hay không? Chính xác thì hòa bình và thiện chí là gì trong thế giới ngày nay?

Nhìn vào gia đình mình, lại có nhiều bi kịch riêng của chúng ta, như cái chết của người thân, hôn nhân tan vỡ, gia đình ly tán, sức khỏe suy sụp, mất việc, mất thời gian, mệt mỏi và chán nản. Làm sao chúng ta có thể mừng lễ hạ sinh của một Đấng Cứu Thế trong một thế giới có vẻ không được cứu rỗi, khi mà lòng chúng ta cảm thấy nặng nề và kiệt lực? Câu chuyện Giáng Sinh không dễ đáng tin với chúng ta nữa. Làm sao chúng ta giữ niềm tin rằng Thiên Chúa từ trời xuống, mang thân xác con người, chinh phục mọi đau khổ và biến đổi dòng lịch sử nhân loại?

Thật không dễ gì để tin khi chúng ta đang sống giữa mọi điều hiển nhiên dường như đi ngược lại Giáng Sinh. Nhưng nếu hiểu đúng, chúng ta mới thấy Giáng Sinh đáng tin dường nào. Giáng Sinh không phải là một sự kiện kiểu phép màu, một câu chuyện Cô bé lọ lem. Đúng hơn Giáng Sinh tập trung nói về sự hạ mình, đau đớn và bị buộc phải chạy trốn, một chuyện mà hàng triệu người tị nạn và nạn nhân của những sự bất công trên thế giới ngày nay đang phải trải qua. Giáng Sinh phản chiếu sự đấu tranh trong thế giới và trong những tâm hồn rã rời của chúng ta nữa.

Nhập thể chưa phải là Phục Sinh. Xác phàm trong Chúa Giêsu, cũng như trong chúng ta là yếu đuối, dễ bị tổn thương, bất toàn, thiếu thốn, đau đớn, đầy giới hạn và đau khổ. Giáng Sinh mừng kính sự hạ sinh của Chúa Kitô vào trong những sự này, chứ không phải là xóa bỏ những sự này. Chúa Kitô biến đổi giới hạn, sự dữ, tội lỗi và đau đớn. Nhưng không xóa bỏ chúng. Vì thế, chúng ta có thể mừng Chúa Kitô hạ sinh mà không chối bỏ hay hạ thấp sự dữ thực sự đang tồn tại trong thế giới và những nỗi đau trong đời chúng ta. Giáng Sinh là một thách thức muốn chúng ta ăn mừng khi còn đang đau đớn.

Thiên Chúa nhập thể mang tên Emmanuael, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Điều này không có nghĩa là chúng ta mở hội ngay lập tức. Thế giới của chúng ta vẫn còn thương tích, chiến tranh, bạo lực, ích kỷ, và cay đắng. Tâm hồn chúng ta vẫn còn bị tổn thương. Những đau đớn dai dẳng. Với một Kitô hữu, cũng như với tất cả mọi người khác, sẽ vẫn luôn bất toàn, bệnh tật, chết chóc, vẫn luôn chịu những tổn thương vô lý, những giấc mơ tan vỡ, lạnh lẽo, đói khát, cô đơn cay đắng và một cuộc đời không trọn. Thực tế có thể rất khốc liệt, và Giáng Sinh không phải là đòi hỏi chúng ta phải cố gắng tạo một niềm tin giả tạo. Nhập thể không hứa hẹn thiên đàng trên trần gian. Mà là hứa hẹn thiên đàng trên trời. Còn trên trái đất này, Giáng Sinh là một lời hứa khác kia, là bảo đảm rằng Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện này biến đổi cuộc đời. Bởi khi biết Thiên Chúa ở cùng mình, là chúng ta thêm sức mạnh để từ bỏ cay đắng, để tha thứ, và ra khỏi tâm thức yếm thế chua cay. Khi Thiên Chúa ở cùng chúng ta, thì đau đớn và hạnh phúc không loại trừ lẫn nhau, và những thống khổ cuộc đời không loại trừ ý nghĩa và niềm vui sâu xa.

Nói theo lời Avery Dulles là: “Nhập thể không cho chúng ta một nấc thang để thoát khỏi những tối tăm cuộc đời và leo lên những đỉnh cao thiên đàng. Nhập thể cho chúng ta có thể đi sâu vào trung tâm trần gian này, và thấy trần gian đang thấp thoáng hình ảnh Thiên Chúa.” George Orwell đã tiên đoán rằng thế giới chúng ta cuối cùng sẽ chìm trong bạo tàn, tra tấn, mơ hồ và tinh thần nhân văn sụp đổ. Điều này đúng nếu xét theo mức độ nào đó. Chúng ta còn lâu mới được bình an và hạnh phúc. Chúng ta vẫn chìm sâu trong cuộc sống lưu đày.

Nhưng chúng ta có thể thật tâm mừng lễ Giáng Sinh năm nay. Có lẽ chúng ta sẽ không cảm nhận sự phấn khích như thời thơ ấu, lúc còn háo hức với những ánh đèn, thánh ca, những món quà và món ăn đặc biệt. Nhiều thứ đã không còn gây phấn khích cho chúng ta nữa rồi. Nhưng một sự quan trọng vẫn còn, cụ thể là ý thức rằng Thiên Chúa ở với chúng ta trong đời, trong những niềm vui cũng như nỗi buồn của chúng ta.

Ngôi Lời đã nên xác phàm. Đây là chuyện không thể tin nổi, một chuyện mà chúng ta phải ăn mừng với những ánh đèn và bài ca hân hoan. Nếu hiểu được ý nghĩa của Giáng Sinh, thì miệng chúng ta sẽ tự nhiên cất lên những bài thánh ca hân hoan.

Giáo hội là nơi trú ẩn

Là Kitô hữu, chúng ta mở rộng các nhà thờ của mình làm nơi trú ẩn cho người nghèo và người gặp khốn cảnh. Và chính đó là những lúc chúng ta Kitô hữu nhất. Chúng ta có một lịch sử lâu đời và đáng tự hào, khi các nạn nhân, người vô gia cư, người nhập cư bị trục xuất, và những người đang gặp khốn cảnh, đến nương náu nơi nhà thờ của chúng ta. Nếu chúng ta tin vào những lời Chúa Giêsu nói về Ngày Phán xét trong chương 25 Phúc âm theo thánh Matthêu, thì chính đây là việc sẽ giúp chúng ta được đứng vững trước mặt Chúa trong ngày sau hết.

Đáng buồn thay, các nhà thờ của chúng ta không phải lúc nào cũng là một nơi trú ẩn như thế cho những người tị nạn, nhập cư và vô gia cư. Và lại có hàng triệu người đang tìm kiếm một nơi trú ẩn an toàn để xác định lại đức tin và mối liên hệ với giáo hội. Đáng buồn thay, thường thì những luận thuyết cứng ngắc về chính thống, giáo hội, đại kết, phụng vụ và bí tích, cũng như giáo luật, những thứ dù có ý định tốt nhưng đã khiến các nhà thờ của chúng ta không còn là những nơi trú ẩn cho những người như thế, và đồng thời như thế là chúng ta không noi theo gương Chúa Giêsu. Các nhà thờ của chúng ta thường chỉ là nơi trú ẩn cho những ai đã cảm thấy an toàn, thoải mái, cho những ai đã yêu mến giáo hội và có chỗ đứng trong giáo hội rồi.

Đây thật không thể là đường lối mục vụ của Chúa Giêsu. Ngài là nơi trú ẩn an toàn cho tất cả mọi người, dù có đạo hay không. Ngài không lờ đi những người tận tâm cho đạo quanh mình, nhưng mục vụ của Ngài luôn vươn ra và bao hàm tất cả những người hành đạo yếu ớt hay không theo đạo. Hơn nữa, Ngài đặc biệt vươn đến những người sống một cuộc đời không ăn khớp lắm với việc hành đạo thời đó, những người bị xem là tội lỗi. Và đặc biệt là khi ngồi cùng bàn với những người bị xem là tội lỗi, Ngài không yêu cầu họ sám hối. Ngài không đặt ra điều kiện đạo đức hay giáo luật nào mà họ buộc phải tuân theo để được gặp gỡ và dùng bữa với Ngài. Nhiều người sám hối sau khi gặp gỡ và dùng bữa với Ngài, nhưng sự sám hối đó không bao giờ phải theo một điều kiện nào cả. Trong con người và việc mục vụ của Chúa Giêsu, Ngài không kỳ thị ai. Ngài cho tất cả mọi người một nơi trú ẩn an toàn.

Ngày nay, chúng ta cần giáo hội phải thách thức chính mình về điều này. Từ các linh mục, hội đồng giáo xứ, đến các chức sắc giáo phận, các hội đồng giám mục, những người chịu trách nhiệm áp dụng giáo luật, cho đến thái độ riêng của mỗi người, chúng ta đều cần phải tự vấn rằng: Giáo hội chúng ta có phải là một nơi trú ẩn cho những người tị nạn, vô gia cư, và nhất là cho người nghèo không? Các việc mục vụ của chúng ta có theo gương Chúa Giêsu không? Chúng ta có mở rộng vòng tay như Chúa Giêsu không?

Đây không phải là những ý tưởng nghe hay ho. Đây là Phúc âm mà chúng ta thường hay quên mất, dù là quên vì những lý do nghe thật chính đáng. Tôi còn nhớ một hội nghị giáo phận mà tôi từng tham gia cách đây 20 năm. Chúng tôi được chia thành từng nhóm nhỏ và mỗi nhóm nhận câu hỏi thế này: Trên tất cả, đâu là điều mà giáo hội cần phải nói với thế giới ngày nay?

Các nhóm nộp lại câu trả lời, và tất cả mọi người, mọi nhóm đều đưa ra ưu tiên hàng đầu của mình là giáo hội nên nói những lời thách thức về đạo đức và giáo hội với thế giới: Chúng ta cần phải thách thức thế giới về công lý! Chúng ta cần phải thách thức mọi người cầu nguyện hơn nữa! Chúng ta phải lên tiếng về tội lỗi! Chúng ta cần phải thách thức mọi người về tầm quan trọng của việc đi lễ! Chúng ta cần ngăn chặn tội ác phá thai! Mọi gợi ý này đều tốt đẹp và quan trọng. Nhưng không một nhóm nào dám nói: Chúng ta cần phải an ủi thế giới!

Bản Messiah của Handel bắt đầu với những lời trích từ chương 40 sách Isaiah: “Hãy an ủi dân Ta, Chúa phán.” Và tôi tin đây chính là nhiệm vụ đầu tiên của tôn giáo. Rồi sau đó mới là thách thức. Một bà mẹ trước hết phải làm cho con mình thoải mái bằng cách bảo đảm tình yêu thương dành cho nó và xoa dịu các hỗn loạn của nó. Chỉ sau đó, khi có một nơi trú ẩn an toàn cho nó, bà mới có thể đưa ra những thách thức khó khăn để nó lớn lên qua đấu tranh theo bản năng.

Người ta luôn động lòng rất nhiều khi thấy mình có được điều gì đó. Trong giáo hội chúng ta ngày nay, chúng ta có thể phản đối rằng chúng ta đang bị nền văn hóa này đối xử bất công, nói rằng họ phán xét chúng ta một cách thù địch, hạn hẹp và giả nhân giả nghĩa. Chắc chắn có sự bất công, nhưng chúng ta phải có can đảm tự vấn lý do vì sao lại có nhận thức thế này trong giới hàn lâm, trong truyền thông và văn hóa đại chúng. Tại sao chúng ta không được xem là một “bệnh viện dã chiến” cho những người bị thương, theo ý của Đức Giáo hoàng Phanxicô?

Tại sao chúng ta không mở cánh cửa giáo hội rộng hơn nữa? Sự dè dặt của chúng ta do đâu mà ra? Do sợ mình đang quá hào phóng ơn Chúa sao? Hay sợ mình bị băng nhiễm từ xã hội này? Hay sợ tai tiếng?

Chúng ta phải tự hỏi xem, liệu mọi người, nhất là người trẻ và người bị xa lánh, họ có yêu mến giáo hội ngày nay hơn nếu như chúng ta được đại chúng xem là một nơi trú ẩn cho những người tìm kiếm, những người đang mơ hồ, người bị thương cả thể xác và tâm hồn, những người không tôn giáo, thay vì chỉ cho những người đã vững vàng trong đạo và những người đã đi xong con đường tìm kiếm lòng đạo rồi.

Nỗi thống khổ vì tự biểu lộ bất đạt

Cũng có những người thống khổ vì nghệ thuật, và có lẽ những nỗi thống khổ lớn nhất là khi biểu lộ bất đạt.

Đây là một thấu suốt của Iris Murdoch, và tôi tin là nó đúng cho tất cả mọi người.

Trong mỗi người chúng ta là một bản giao hưởng lớn, một thiên tiểu thuyết, một điệu nhảy tuyệt vời, một thi phẩm, một kiệt tác hội họa, một quyển sách khôn ngoan, và một chiều sâu mà không bao giờ chúng ta có thể diễn tả cho đủ. Dù cho có tài năng bao nhiêu, chúng ta cũng không bao giờ thực sự viết ra được quyển sách đó, nhảy được điệu vũ đó, trình diễn được bản nhạc đó, hay vẽ được bức họa đó. Chúng ta cố gắng, nhưng dù cố hết sức cũng chỉ có thể biểu lộ được một bóng mờ của thực chất bên trong chúng ta. Nên theo lời Murdoch, chúng ta phải chịu đựng một nỗi thống khổ của tự biểu lộ bất thỏa đáng.

Ẩn ý sau điều này là gì? Tại sao lại có sự bất đạt này?

Xét tận gốc rễ, đây không phải là một sự đấu tranh với sự tầm thường xấu xa trong chúng ta, không phải là đấu tranh với kiêu ngạo, nhục dục, ngông cuồng hay ngu dốt. Không phải những thứ đó gây nên đấu tranh này. Ngược lại, chúng ta đấu tranh với căng thẳng này là bởi chúng ta mang trong mình một sự thần thiêng. Chúng ta được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa. Đây là căn bản cho tự thức Kitô giáo. Và chúng ta phải hiểu cho đúng điều này. Chúng ta làm khổ mình khi hiểu điều này theo kiểu cuồng đạo, nghĩa là khi hình dung đó như là một dấu thánh thiện mà Chúa đóng vào linh hồn chúng ta, và chúng ta cần phải tôn vinh dấu ấn đó bằng cách sống một đời khiết tịnh và đạo đức. Đúng là thế, nhưng nghĩ thế là quá nguy hiểm, nhất là khi nó đi đôi với tự thức.

Chúng ta luôn mãi phải đương đầu với sự tự đại vô tận trong chúng ta. Sinh lực thần thiêng trong chúng ta. Và chính bởi đấy là sinh lực thần thiêng nên nó không bao giờ dễ dãi với thế giới này. Chúng ta mang trong mình sinh lực thần thiêng, sự thèm muốn thần thiêng và chiều sâu thần thiêng. Trọng trách thiêng liêng của cuộc đời chúng ta chính là đưa những sinh lực này vào khuôn khổ, truyền dẫn chúng để chúng sinh sôi thay vì hủy hoại. Và đây chưa bao giờ là chuyện đơn giản. Hơn nữa, khi chúng ta đấu tranh để truyền dẫn những sinh lực thần thiêng liêng này thì việc đó lại mở ra một loạt những đấu tranh khác.

Bởi bên trong lớp vỏ được tô vẽ đủ thứ của chúng ta có một sinh lực thần thiêng, vì thế chúng ta nên lường trước cuộc đấu tranh luôn mãi với bốn điều trong cuộc sống mình.

Thứ nhất, chúng ta sẽ đấu tranh, luôn đấu tranh để giữ cân bằng giữa những áp lực bên trong chúng ta hướng đến sự sáng tạo với những tiếng nói nội tâm mách bảo chúng ta giữ chặt sự ôn hòa của mình. Chúng ta thấy khá rõ điều này trong cuộc sống của nhiều nghệ sĩ đấu tranh với sự bình thường, nỗ lực để giữ mình ở trong những gì là bình thường bởi xung lực sáng tạo thường đẩy họ đi về phía những hỗn loạn tối tăm mà phong phú sâu thẳm bên trong. Dù ít hay nhiều, tất cả chúng ta đều đấu tranh như những nghệ sĩ vĩ đại đó. Chúng ta cũng bị lôi kéo đi về những hỗn loạn phong phú trong con người mình, dù cho chúng ta sợ hãi hậu quả của nó gây ra cho sự ôn hòa của mình.

Thứ hai, chúng ta cũng luôn mãi đấu tranh với một sự tự đại quá đỗi kích động. Những ngọn lửa thần thiêng trong chúng ta dễ dàng vượt ngoài tầm kiểm soát. Trong một thế giới mà mọi thứ đều hiện lên trên cái màn hình trong tay chúng ta, nơi mà những người thành công, xinh đẹp và tài năng luôn hiện lên trước mắt mình, thì chúng ta luôn mãi bị kích động tự đại. Bạn có thể cảm nhận điều này trong thao thức của mình, trong cảm giác bỏ lỡ cuộc đời, trong ghen tị và cơn giận khi không được nhìn nhận tài năng và sự độc nhất vô nhị của mình, và cả trong sự bất mãn không bao giờ dứt với cuộc đời mình.

Thứ ba, là bởi có một mối quan hệ bẩm tại giữa sinh lực sáng tạo và tính dục, nên chúng ta sẽ phải đấu tranh với tình dục. Mọi chuyện quá rõ ràng. Sự sáng tạo liên kết bất phân ly với sinh sôi, và sinh sôi liên kết bất phân ly với tính dục. Và cũng không phải tình cờ mà các nghệ sĩ vĩ đại thường phải đấu tranh với tình dục, nói thế không phải là biện hộ cho sự vô trách nhiệm của họ nhưng là một lời giải thích để hiểu thấu vấn đề. Và tương phản, là nhiều người đi tu khước từ mối quan hệ này. Đáng buồn thay, điều này lại có thể đè nén xung lực này xuống dưới và còn trở nên nguy hiểm hơn.

Cuối cùng, chúng ta luôn mãi đấu tranh để tìm sự ổn định giữa sự thổi phồng giả tạo và khủng hoảng chìm sâu. Chúng ta luôn mãi thấy mình hoặc quá tự mãn hoặc thấy quá thiếu vắng Thiên Chúa. Nghĩa là chúng ta hoặc gắn mình vào những sinh lực thần thiêng trong bản thân và trở nên tự phụ, hoặc là hạ mình sai lầm, quá nhạy cảm và tổn thương, không để sinh lực thần thiêng tuôn trào qua chúng ta và từ đó luôn mãi sống trong khủng hoảng chìm sâu vì đã bỏ đi sự sáng tạo của mình.

James Hillman cho rằng triệu chứng nặng nề nhất là khi chúng ta không biết nó nói lên điều gì. Và như thế chúng ta đều cố gắng xác định nó. Sinh lực thần thiêng sống bên trong những con người có thể phạm sai lầm là chúng ta, và nó là nguồn cơn cho sự căng thẳng, bất an, và cả thống khổ. Nhưng nó phải là một căng thẳng sáng tạo, một mầu nhiệm để sống chứ không phải một vấn đề cần giải quyết. Dù ta xác định cho đúng cũng không làm hết cơn đau thể lý và nội tâm, nhưng ít nhất nó cho chúng ta một khoảng không cao đẹp ẩn sau những gì chúng ta đang chịu đựng.

Kết cục của Thế giới

Mọi người cứ luôn mãi dự đoán kết cục của thế giới. Trong Kitô giáo, thời tận thế được liên hệ với những ức đoán về lời hứa của Chúa Giêsu khi Ngài thăng thiên, là Ngài sẽ sớm trở lại và đưa lịch sử đến hồi viên mãn, thiết lập vương quốc bất diệt của Thiên Chúa. Từ đó, đã có nhiều ức đoán về kết cục của thế giới.

Chuyện này đầy dẫy trong thế hệ Kitô hữu đầu tiên. Họ sống trong ma trận những kỳ vọng mãnh liệt, dự tính rằng Chúa Giêsu sẽ trở lại trước khi nhiều người trong họ qua đời. Thật vậy, trong Phúc âm theo thánh Gioan, Chúa Giêsu đã bảo đảm với các môn đệ rằng một số người trong họ sẽ không nếm cái chết trước khi được thấy Nước Thiên Chúa. Ban đầu, điều này được diễn giải là một số người trong họ sẽ không chết trước khi Chúa Giêsu trở lại và ngày tận thế.

Và họ đã sống với kỳ vọng này, tin tưởng rằng thế giới sẽ đến hồi kết trước khi họ chết. Không ngạc nhiên khi điều này dẫn đến những suy tưởng cánh chung: Đâu là những dấu chỉ báo hiệu tận thế? Sẽ có những điềm lạ lớn lao trên mặt trăng và mặt trời? Sẽ có động đất dữ dội và chiến tranh lan tràn khắp thế giới báo trước ngày tận thế? Nhưng các Kitô hữu tiên khởi tin rằng mình phải sống tỉnh thức, cảnh giác, để bất kỳ lúc nào ngày đó đến, họ sẽ không ngủ quên, thiếu chuẩn bị, hoặc chè chén say sưa.

Tuy nhiên, khi năm tháng qua đi, và Chúa Giêsu vẫn chưa tái lâm, thì họ bắt đầu biến đổi cách hiểu, nên đến thời Phúc âm theo thánh Gioan được viết ra, có lẽ khoảng 70 năm sau khi Chúa Giêsu chết, các Kitô hữu tiên khởi bắt đầu hiểu khác đi. Giờ họ hiểu rằng lời hứa của Chúa Giêsu về việc một số người đồng thời với Ngài sẽ không phải nếm cái chết trước khi được thấy Nước Thiên Chúa, đồng nghĩa với người đó được đổ tràn Thần Khí Thiên Chúa. Thật vậy, Chúa Giêsu đã trở lại và thế giới vẫn chưa chấm hết. Và họ bắt đầu tin rằng, ngày tận thế không nhất thiết phải xảy đến.

Nhưng như thế không thay đổi sự tập trung của họ vào việc tỉnh thức và sẵn sàng. Nhưng giờ lời mời gọi sống tỉnh thức đó được liên hệ nhiều hơn đến chuyện chúng ta không biết giờ nào mình sẽ chết. Như thế, lời mời gọi sống tỉnh thức bắt đầu được hiểu là một lời mời của Chúa muốn chúng ta sống trọn vẹn cuộc đời ngay lúc này và đừng để bị ru ngủ bởi áp lực của cuộc sống thường nhật, đừng chìm trong ăn uống, mua bán, lấy vợ gả chồng. Tất cả mọi sự bình thường, dù tự thân chúng là tốt, nhưng có thể ru ngủ chúng ta bằng cách giữ chúng ta không thật sự lưu tâm đến cuộc đời của mình.

Và đấy là thách thức cho mỗi một người chúng ta. Lo lắng thật sự của chúng ta không nên là chuyện thế giới này đột nhiên tận thế, hoặc việc chúng ta bất thần chết đi. Nhưng điều đáng lo là việc chúng ta sống rồi chết đi, mà không thật sự yêu thương, không thể hiện tình yêu của mình cho đúng, và không cảm nghiệm sâu sắc niềm vui sống đích thực, bởi đang quá vùi mình trong công việc và những áp lực cuộc sống nên không bao giờ sống cho trọn vẹn được.

Do đó, sống tỉnh thức và cảnh giác trong Kinh Thánh, không phải là việc sống trong sự sợ hãi thế giới này sẽ sụp đổ hay sợ ngày chết. Đúng hơn, đây là vấn đề yêu thương và hòa giải những mối bận tâm chính của mình, là chuyện biết tri ân, cảm kích, kiên quyết, tha thứ, xin lỗi, và lưu tâm hơn đến những niềm vui sống trong cộng đồng nhân loại và trong vòng tay Chúa.

Đức Phật đã cảnh báo về một thứ ngài gọi là “uể oải.” Chúng ta uể oải là khi chùng người xuống. Bất kỳ những mệt mỏi, lười biếng, khủng hoảng, lo lắng, căng thẳng, hay áp lực quá dộ đều có thể đánh gục trạm gác của chúng ta và biến chúng ta thành uể oải. Nhưng điều đó cũng có thể xảy đến cách thể lý và tinh thần. Chúng ta có thể để sự bận rộn, áp lực, lo lắng, lười biến, căng thẳng, và bồn chồn đánh gục tư thế tinh thần của mình, để rồi “ngủ thiếp đi” và không còn tỉnh thức cảnh giác nữa.

Chúng ta cần phải tỉnh thức, chứ không phải uể oải. Nhưng đừng lo về chuyện tận thế hay giờ mình sẽ chết. Điều đáng lo là tình trạng của chúng ta khi cái chết tìm đến. Như Kathleen Dowling Singh đã viết trong quyển sách Nét đẹp của Già đi (The Grace in Aging) rằng: “Thật lãng phí khi đi vào giờ hấp hối, mà mang trong đầu những suy nghĩ và phản ứng lo lắng nhỏ nhặt cũ.”

Nhưng còn về chuyện lúc nào sẽ đến ngày tận thế thì sao?

Tôi cho rằng, có lẽ, bởi Thiên Chúa là vô cùng vô tận, nên ngày tận thế sẽ không bao giờ đến. Bởi sự sáng tạo và tình yêu vô hạn có bao giờ có giới hạn đâu? Có bao giờ tình yêu vô hạn nói rằng: ‘Đủ rồi! Thế thôi! Đây là giới hạn của tình yêu và sáng tạo!” Không. Tình yêu và sáng tạo của Thiên Chúa là vô cùng vô tận.

Mối nguy của Ngôn sứ Chiến binh

Ngôn sứ là người mang lời thề yêu thương chứ không phải lời thề ghẻ lạnh. Daniel Berrigan đã viết những lời này, và thời nay chúng càng cần được nêu bật trong một thời mà nhiều người theo đạo chân thành dấn thân, tự nhận mình là những chiến binh văn hóa, những ngôn sứ giao chiến với nền văn hóa thế tục.

Đây là lập trường của nhiều chủng sinh, linh mục, giám mục và nhiều phái Kitô giáo thời nay. Đó kà câu khẩu quyết trong nhóm “Quyền Tôn giáo” và trong nhiều chủng viện Công giáo La Mã. Với quan điểm này, văn hóa thế tục bị xem là thế lực tiêu cực đe dọa đức tin, luân lý, tự do tôn giáo, và giáo hội của chúng ta. Văn hóa thế tục, nhìn chung bị xem là bài Kitô giáo, bài giáo hội, bài giáo sỹ, và những lề lối của nó được xem là bảo vệ tất cả mọi người trừ các Kitô hữu. Những chiến binh văn hóa này càng lo ngại hơn khi họ thấy nền văn hóa của chúng ta đang trượt ngày càng xa dần gốc rễ Do Thái – Kitô giáo. Họ tin rằng, trước chuyện này, các giáo hội phải cảnh giác cao độ, thủ thế, và sẵn sàng chiến đấu.

Xét phần nào, thì họ đúng. Có những tiếng nói và phong trào trong văn hóa thế tục đe dọa một số điều thiết yếu trong đời sống đức tin và luân lý của chúng ta, như đã thấy trong vấn đề phá thai và mối nguy “trượt dốc.” Nhưng thực tế thì khác hẳn với thái độ thủ thế này. Văn hóa thế tục, với tất cả sự ái kỷ, tự do giả tạo, và hời hợt của nó, cũng mang trong mình các giá trị Kitô giáo cốt lõi thách thức chúng ta sống những nguyên tắc của mình một cách sâu sắc hơn. Hơn nữa, những vấn đề chúng thách thức chúng ta không phải là những vấn đề nhỏ. Văn hóa thế tục, với hình thái đẹp nhất của mình, là một thách thức cho tất cả mọi người trên thế giới phải nhạy cảm hơn và có luân lý hơn khi đối diện với sự bất bình đẳng kinh tế, vi phạm nhân quyền, chiến tranh, kỳ thị chủng tộc và giới tính, cũng như việc tàn phá tự nhiên vì những lợi ích ngắn hạn. Thiên Chúa cũng lên tiếng trong nền văn hóa thế tục.

Tính ngôn sứ Kitô giáo phải thấy điều này. Văn hóa thế tục không phải là phản Kitô. Xét tận cùng, nó có gốc rễ Do Thái- Kitô giáo và đã được ghi khắc không phai trong cốt lõi các giá trị trọng tâm của Do Thái -Kitô giáo. Như thế, các chiến binh văn hóa cần phải cẩn thận đừng để mình bị mù quáng khi đấu tranh vì sự thật, công lý, bình đẳng và sự nguyên vẹn của tạo vật. Chúng ta quá thường có một cách tiếp cận phân cực, và cuối cùng là lấy những sự Thiên Chúa mà đối chọi nhau.

Một ngôn sứ phải phê phán bằng tình yêu, lòng cảm thông cho những người mà mình đang lên tiếng thách thức. Hơn nữa, như lời của Gustavo Gutierrez, những lời thách thức của chúng ta phải phát xuất từ lòng biết ơn hơn là giận dữ, dù cho sự giận dữ đó có lý lẽ tốt đến thế nào đi chăng nữa. Giận dữ lao vào những người không đồng ý với chúng ta bằng những lời lẽ hùng hồn đầy thù hằn, và thắng những tranh luận đầy cay đắng, đôi khi gây được tác động về mặt chính trị. Nhưng tất cả những điều này về lâu dài là một sự triệt tiêu, bởi chúng làm chai đá hơn là mềm đi tâm hồn con người. Sự hoán cải thật sự chẳng bao giờ có thể đến qua sự đàn áp, dù là về thể lý hay tri thức. Tâm hồn chỉ thay đổi khi được tình yêu chạm đến.

Chúng ta đều biết cảm nghiệm này. Chúng ta chỉ thật sự chấp nhận một sự thách thức mạnh mẽ để làm điều gì đó trong đời nếu như chúng ta biết rằng, thách thức này là từ một người yêu thương chúng ta, và yêu thương đủ để quan tâm đến chúng ta một cách sâu sắc như thế này. Chỉ có điều này mới làm mềm đi tâm hồn chúng ta. Còn mọi thách thức khác chỉ làm chai cứng tâm hồn. Vậy nên trước khi có thể nói lên lời thách thức ngôn sứ với nền văn hóa của mình, trước hết chúng ta phải để người ta thấy chúng ta yêu thương họ, và yêu thương đủ để quan tâm họ sâu sắc như thế này. Nhưng tiếc thay, chuyện này lại không thường xảy ra. Nền văn hóa chúng ta không cảm nhận hay tin tưởng rằng chúng ta yêu thương họ, và tôi tin chính điều này, hơn tất cả mọi lý do khác, khiến cho thách thức ngôn sứ của chúng ta trở nên vô dụng và thậm chí là phản tác dụng trong thời nay.

Tính ngôn sứ của chúng ta phải noi gương Chúa Giêsu. Khi đến thành phố Jerusalem, không lâu trước khi chịu tử nạn, biết rằng dân thành này chuẩn bị giết mình, Chúa Giêsu đã khóc. Nhưng những giọt nước mắt không phải là khóc cho Ngài, không phải khóc vì Ngài đúng và họ sai. Nhưng Chúa Giêsu khóc cho họ, cho từng người chống đối Ngài, từng người sẽ giết Ngài và sa ngã vì điều đó. Ngài không vui sướng khi họ sa ngã, nhưng Ngài chỉ có một niềm cảm thông, đau buồn, yêu thương dành cho họ, chứ không phải cho mình.

Linh mục Larry Rosebaugh OMI, là bạn đồng dòng với tôi, người đã dành cả đời linh mục để đấu tranh cho hòa bình và công lý, rồi bị bắn chết ở Guatemala. Cha đã kể lại rằng, cha đã dành cả đêm cầu nguyện và đến sáng, cha bước ra tuần hành không bạo lực để phản đối bộ luật bất công, rồi bị bắt. Daniel Berrigan đã viết lại chuyện này: “Nếu không thể làm việc này mà trong lòng không giận dữ với những người chống đối bạn, thì bạn đừng làm. Đây phải là một hành động yêu thương.”

Ngôn sứ phải là một hành động yêu thương, nếu không nó chỉ đơn thuần là sự ghẻ lạnh.