RonRolheiser,OMI

Chính thống, Tội lỗi, và Dị giáo

Gần đây, trong lần đi giảng tĩnh tâm, tôi được dịp đến nhà thờ chính tòa ở thành phố đó để dâng thánh lễ Chúa nhật. Tôi sửng sốt trước bài giảng lễ ngày hôm đó. Đoạn Phúc âm hôm đó thuật lại Chúa Giêsu nói Ta là cây nho và các con là cành nho, và cha giảng lễ đã nói với cộng đoàn rằng điều Chúa Giêsu đang muốn nói ở đây là Giáo hội Công giáo La Mã thiết lập nên những nhánh đó và cách chúng ta liên kết với những nhánh đó là qua thánh lễ, và nếu bỏ lễ ngày chúa nhật là ta phạm tội trọng và sẽ chết trong tình trạng phải vào hỏa ngục.

Rồi nhận ra rằng điều mình đang nói có vẻ không được đón nhận cho lắm, nên cha giảng lễ quả quyết rằng sự thật thường không được lòng người, nhưng điều mà cha đang nói chính là giáo huấn Công giáo chính thống và bất kỳ ai bác bỏ điều này đều là dị giáo.

Thật buồn khi kiểu suy nghĩ đó vẫn còn trong giáo hội.

Giáo hội Công giáo thật sự dạy rằng bỏ lễ là tội trọng và nếu chết với tội đó, bạn sẽ vào ngục, thật thế sao? Không, đấy không phải là tính chính thống của Công giáo, dù cho nhiều giáo lý viên và cha giảng lễ thường cho là thế.

Tôi xin đưa ra một ví dụ. Vài năm về trước, tôi đã chủ trì nghi thức an táng cho một thanh niên mới khoảng hai mươi bị thiệt mạng trong một vụ tai nạn giao thông. Nhiều tháng trước khi mất, anh ấy đã chủ ý bỏ hết mọi việc giữ đạo của người Công giáo. Anh không đi lễ nữa, sống chung với bạn gái không hôn thú, và lúc gặp tai nạn thì đang trong tình trạng say xỉn. Tuy nhiên gia đình và cộng đoàn quanh anh trong lễ an táng, họ biết anh, và biết rằng bất chấp những bừa bãi trong đạo đức và giữ đạo, anh vẫn có một tâm hồn tốt lành, một người trẻ quảng đại và đem niềm vui đến cho người khác.

Sau lễ an táng, một trong những người dì của anh, một người tin rằng bỏ lễ là tội trọng và có thể phải vào hỏa ngục khi chết, bà đến gặp tôi và nói. “Nó có một tâm hồn cao thượng và đầy sinh lực, nếu tôi giữ cửa thiên đàng thế nào tôi cũng cho nó vào.” Lời của bà đã phản bội một điều thâm sâu trong lòng bà, nhưng đó là một sự phản bội tuyệt vời, khi bà nhận thấy một tâm hồn cao thượng sẽ cao hơn những giáo luật, lúc xét xem ai được vào thiên đàng. Và đó cũng là biểu hiện niềm tin của bà rằng tiêu chuẩn phán xét của Thiên Chúa rộng hơn những luật bên ngoài đã được quy định trong giáo hội. Bà tin rằng bỏ lễ chúa nhật là tội trọng, nhưng vì nhiều lý do đúng đắn, không thể xem hệ quả của việc đó là cháu của bà phải vào hỏa ngục được. Sâu bên trong, bà biết rằng Thiên Chúa hiểu thấu tâm hồn con người, thông hiểu cho sự vô ý của chúng ta. Thiên Chúa chào đón tội nhân vào lòng, và không loại trừ những gì tốt đẹp khỏi thiên đàng.

Nhưng chúng ta vẫn còn một thắc mắc: Giáo huấn Công giáo La Mã chính thống nói rằng bỏ lễ chúa nhật là tội trọng, và một sai phạm như thế sẽ khiến bạn phải vào hỏa ngục. Không đâu, dạy như thế mới là dị giáo.

Nói đơn giản, thần học luân lý Công giáo luôn dạy rằng tội là một sự chủ quan không bao giờ có thể hiểu hết nếu nhìn từ bên ngoài. Chúng ta không bao giờ có thể đứng bên ngoài nhìn vào một hành động và nói: “Đấy là tội!” Chúng ta không bao giờ có thể đứng bên ngoài nhìn vào một hành động và nói: “Thế là sai!” Đấy là một phán xét. Từ bên ngoài, ta có thể phán xét một hành động là sai về khách quan, nhưng không bao giờ có thể ra phán quyết đó là tội. Hơn nữa, đây không phải là một điều mới lạ, mà là một điều có sẵn trong Giáo lý truyền thống. Không một ai có thể đứng bên ngoài nhìn vào một hành động và nói: “Đấy là tội!” Chúng ta có thể và phải khẳng định rằng một số việc nhất định là sai trái, sai về khách quan, nhưng khẳng định về tội lại là một chuyện khác.

Có lẽ câu nói của Đức Giáo hoàng Phanxicô được trích dẫn nhiều nhất là câu trả lời đơn giản của ngài: “Tôi là ai mà phán xét?” Và không chỉ mình ngài nói thế. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã nói: “Các ông phán xét bằng vẻ bên ngoài, tôi chẳng phán xét ai.” Thật sự, nói thế không có nghĩa là không có phán xét nào. Mà thật sự là có phán xét, và có kết án ai phải vào hỏa ngục. Nhưng phán xét đó như thế này: Tình yêu, Sự sống, Sự thật và Ánh sáng của Thiên Chúa đến thế gian, và chúng ta phán xét bản thân theo đó. Thiên Chúa không lên án ai, nhưng chúng ta có thể lên án chính mình. Chúng ta cân đo bản thân mình bằng Tình yêu, Sự sống, Sự thật và Ánh sáng của Thiên Chúa. Và những điều này quyết định ta sẽ đi về đâu, quyết định ngay trong đời này và đời sau.

Trong giáo lý căn bản và những lời dạy phổ biến của chúng ta, cần phải thận trọng khi dùng từ “tội trọng” và khi phán xét ai đó sẽ vào thiên đàng hay hỏa ngục. Chúng ta phải nhận thức trọn vẹn rằng khi Chúa phán xét, Chúa không khắc nghiệt hay dễ dãi hơn với bất kỳ ai.

Những quyển sách tôi yêu thích trong năm 2016

Một phần rất lớn trong cuộc sống đang vô thức đối nghịch với chuyện đọc sách, nhất là thời nay. Chúng ta thiếu thời gian, bị áp lực công việc, rồi còn các công nghệ khoa học, và những thứ khác đang ngày càng đẩy những quyển sách xa khỏi tầm tay và cả tâm trí chúng ta. Chẳng bao giờ ta có đủ thời gian để đọc. Mặt tích cực của chuyện này là mỗi lần tôi tìm thấy thời gian để cầm quyển sách lên, thì đó là một khoảng thời gian quý báu đáng trân giữ. Và như thế là tôi chọn sách thật cẩn thận. Tôi đọc những bài điểm sách, lắng nghe các đồng nghiệp và theo sát những tác giả yêu thích của mình. Tôi cũng cố gắng bảo đảm chế độ đọc sách của mình mỗi năm đều có một số sách thiêng liêng (bao gồm ít nhất một quyển kinh điển), một số sách tiểu sử, vài tiểu thuyết, và vài luận văn.

Trong số những sách tôi đã đọc trong năm qua, đây là những quyển khiến tôi thấy đánh động nhất. Tôi không thể hứa chắc rằng chúng cũng sẽ khiến bạn phải lòng, nhưng mỗi quyển trong số này đều để lại trong tôi một điều gì đó.

Các sách thiêng liêng gồm có:

Gil Bailie, Ván bài của Chúa, Quyền năng Hấp dẫn của Tình yêu trên Thập giá (God’s Gamble, The Gravitational Power of Crucified Love.) Bailie một lần nữa lấy nhân học của Rene Girard để soi rọi về tầm quan trọng đỉnh cao của Thánh giá Chúa Kitô trong lịch sử tôn giáo và biểu tượng tinh thần. Quyển này rất dày và thật sự là khó đọc, nhưng nhận thức sáng suốt trong đó thì quá đỗi ngoại hạng.

Heather King, Chiếc áo Cháy lửa, Một năm với thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu (Shirt of Flame, A Year with Saint Therese of Lisieux.) Quyển sách này sẽ là một cuộc tĩnh tâm riêng tư tuyệt vời cho bất kỳ ai đang đấu tranh với chứng nghiện, chứng ám ảnh, hay sự tầm thường trong cuộc sống thiêng liêng của mình.

Christophe Lebreton, Sinh ra từ Cái nhìn của Chúa, Nhật ký ở Tibhirine của Tu sĩ Tử đạo 1993-1996 (Born From the Gaze of God, The Tibhirine Journal of Martyr Monk, 1993-1996.) Đây là nhật ký của một trong những tu sĩ dòng Xitô tử đạo ở Algeria vào năm 1996. Đây là nhật ký thâm tâm của một thanh niên ghi lại những cung bậc cảm xúc của mình đi từ nỗi sợ tê tái đến sức mạnh tử đạo.

Kathleen Dowling Singh, hai quyển: Ơn Chết (The Grace in Dying) và Ơn Già (The Grace in Aging.) Theo Singh, tiến trình lão hóa và chết là điều chỉnh tinh tế để đưa chúng ta đến với địa hạt tâm linh. Trong hai quyển sách xuất sắc này, bà dò theo điều này với một chiều sâu mà tôi chỉ từng thấy nơi những nhà thần nghiệm kinh điển lớn.

Christine M. Bochen, Biên tập, Đường lối của Lòng thương xót (The Way of Mercy.) Đây là một loạt bài luận về lòng thương xót, bao gồm một số bài của Đức Giáo hoàng Phanxicô và hồng y Walter Kasper.

Đám mây Vô thức. Cuối cùng tôi đã có cơ hội để nghiên cứu tác phẩm kinh điển này một cách có thể gọi là sâu sắc. Đây chắc chắn là một trong những quyển sách đặc biệt về chiêm niệm và quy thần niệm.

Trong số các sách tiểu sử và luận văn:

Marilynne Robinson, Sự tha thứ Vạn vật (The Givenness of Things,) Luận văn. Những bài luận này kín kẽ, sâu sắc, ôn hòa, và Marilynne, một tiểu thuyết gia thiên tài, đã viết hết sức mình về tôn giáo.

Michael N. McGregor, Hành động Thuần túy, Cuộc sống Bất thường của Robert Lax (Pure Act, The Uncommon Life of Robert Lax.) Đây là tiểu sử của một người bạn tâm giao của Thomas Merton, sống tu đời, và đã đưa sự cô tịch của mình lên một mức vô cùng cao đẹp. Quyển sách này sẽ giúp bạn đánh thức chủ nghĩa lý tưởng của mình.

Fernando Cardenal, Đức tin và Vui mừng, Ký ức về một Linh mục Cách mạng (Faith and Joy, Memoirs of a Revolutionary Priest.) Đây là câu chuyện về một con người ngoại hạng, một linh mục Dòng Tên, người đóng vai trò lãnh đạo trong chính phủ của Daniel Ortega ở Nicaragua, và Đức Gioan Phaolô đã ra lệnh cho cha từ chức vụ này. Đây là nhật ký riêng ghi lại những khía cạnh khác của một sự kiện thường bị xem xét một chiều, những đấu tranh tìm công lý ở châu Mỹ La tinh.

Daniel Berrigan, Những Bài viết Căn bản (Essential Writings,) John Dear biên tập. Daniel Berrigan mất vào tháng 4 năm 2016. Các bài viết của cha đã định hướng cho ý nghĩa của một ngôn sứ Kitô giáo, và quyển sách này là tuyển chọn tuyệt vời những bài viết của cha.

Ba quyển sách nói về việc đối diện với tuổi già và cái chết.

Michael Paul Gallagher, Đi vào Thời gian Có thêm, Sống qua những Giao đoạn cuối của Ung thư và Thong thả trên đường (Into Extra Time, Living Through the Final Stages of Cancer and Jottings along the Way.) Một con người của đức tin và chữ nghĩa, Gallagher chia sẻ quyển nhật ký ông đã viết trong chín tháng qua, khi biết tin mình sắp chết.

Katie Roiphe, Giờ Tử, Những Tác giả lớn vào Cuối đời (The Violet Hour, Great Writers at the End.) Một số các tác giả lớn, bao gồm Sigmund Freud, John Updike và Susan Sontag đối diện với căn bệnh nan y của mình như thế nào? Quyển sách này sẽ cho chúng ta biết.

Paul Kalanithi, Khi Hơi thở thành Không khí (When Breath Becomes Air.) Đây là một nhật ký phi thường của một bác sĩ trẻ bị chẩn đoán mắc bệnh nan y, quyển sách này ghi lại sự can đảm, đức tin, và thấu suốt của anh.

Tôi xin giới thiệu ba quyển tiểu thuyết:

Paula Hawkins, Cô gái trên Chuyến tàu (The Girl on the Train.) Quyển sách này chuyển thể thành phim không hợp lắm, nhưng nó đúng là một quyển sách khiến bạn không thể ngừng đọc.

Ian McEwan, Vỏ hạt và Edna O’Brien, Những chiếc ghế đỏ (Nutshell and Edna O’Brien, The Little Red Chairs.)

Một gợi ý nữa:

Kenneth Rolheiser, Cõi mơ và Đất Linh hồn, Một Chuyện tình vùng đồng cỏ (Dreamland and Soulscapes, A Prairie Love Story.) Kenneth là anh em với tôi và phần nhiều những chuyện cậu ấy viết tôi đã từng cảm nghiệm rồi, nên có lẽ tôi dễ thiên vị quyển này. Nhưng quyển sách sẽ cho bạn một cảm nhận thực tế về việc lớn lên ở một Ngôi nhà nhỏ trên Thảo nguyên.

Chúc các bạn đọc sách vui vẻ!

Nhập thể – Thiên Chúa ở cùng ch

Tôi cho rằng, với nhiều người trong chúng ta, cứ thêm tuổi lại càng khó cảm được không khí Giáng Sinh. Điều duy nhất còn nồng ấm trong lòng chúng ta là những ký ức. Ký ức về thời thơ ấu, khi chúng ta ngây thơ hơn, khi ánh đèn và thánh ca, cây thông Noel và những món quà vẫn còn khiến chúng ta phấn khích. Nhưng giờ chúng ta đã là người lớn, và dường như thế giới của chúng ta cũng vậy. Nhiều niềm vui Giáng Sinh giờ bị đè nén xuống dưới những thứ khác, đó là chưa nói đến chủ nghĩa tiêu thụ đang thể hiện ngày càng quá đáng trong các dịp lễ. Từ cuối tháng 10, chúng ta đã thấy các trang trí Giáng Sinh, đến tháng 11 đã thấy ông già Noel, và tháng 12 là liên tiếp các buổi tiệc Giáng Sinh, và đến 25-12, chúng ta đã mệt lử cả rồi. Vậy làm sao ta thực sự có tinh thần cho ngày Giáng Sinh đây?

Thật không dễ gì, và chủ nghĩa tiêu thụ quá đáng không phải là chướng ngại duy nhất. Thời điểm còn trầm trọng hơn. Liệu giữa nhiều chuyện hung bạo của năm này, chúng ta còn có thể hâm nóng một mùa lễ hội tưng bừng không? Giữa cảnh ngộ của hàng triệu người tị nạn ngay nay đang ra đi mà không biết có nơi nào trú chân, liệu ta có thể tiếp tục lãng mạn hóa cuộc hành hương của một đôi vợ chồng nghèo cách đây hai ngàn năm hay không? Liệu nói về hòa bình có còn ý nghĩa gì sau rất nhiều cuộc bầu cử đã phân cực hóa đất nước chúng ta và khiến cho hàng triệu người không thể nói chuyện thoải mái với hàng xóm của mình hay không? Chính xác thì hòa bình và thiện chí là gì trong thế giới ngày nay?

Nhìn vào gia đình mình, lại có nhiều bi kịch riêng của chúng ta, như cái chết của người thân, hôn nhân tan vỡ, gia đình ly tán, sức khỏe suy sụp, mất việc, mất thời gian, mệt mỏi và chán nản. Làm sao chúng ta có thể mừng lễ hạ sinh của một Đấng Cứu Thế trong một thế giới có vẻ không được cứu rỗi, khi mà lòng chúng ta cảm thấy nặng nề và kiệt lực? Câu chuyện Giáng Sinh không dễ đáng tin với chúng ta nữa. Làm sao chúng ta giữ niềm tin rằng Thiên Chúa từ trời xuống, mang thân xác con người, chinh phục mọi đau khổ và biến đổi dòng lịch sử nhân loại?

Thật không dễ gì để tin khi chúng ta đang sống giữa mọi điều hiển nhiên dường như đi ngược lại Giáng Sinh. Nhưng nếu hiểu đúng, chúng ta mới thấy Giáng Sinh đáng tin dường nào. Giáng Sinh không phải là một sự kiện kiểu phép màu, một câu chuyện Cô bé lọ lem. Đúng hơn Giáng Sinh tập trung nói về sự hạ mình, đau đớn và bị buộc phải chạy trốn, một chuyện mà hàng triệu người tị nạn và nạn nhân của những sự bất công trên thế giới ngày nay đang phải trải qua. Giáng Sinh phản chiếu sự đấu tranh trong thế giới và trong những tâm hồn rã rời của chúng ta nữa.

Nhập thể chưa phải là Phục Sinh. Xác phàm trong Chúa Giêsu, cũng như trong chúng ta là yếu đuối, dễ bị tổn thương, bất toàn, thiếu thốn, đau đớn, đầy giới hạn và đau khổ. Giáng Sinh mừng kính sự hạ sinh của Chúa Kitô vào trong những sự này, chứ không phải là xóa bỏ những sự này. Chúa Kitô biến đổi giới hạn, sự dữ, tội lỗi và đau đớn. Nhưng không xóa bỏ chúng. Vì thế, chúng ta có thể mừng Chúa Kitô hạ sinh mà không chối bỏ hay hạ thấp sự dữ thực sự đang tồn tại trong thế giới và những nỗi đau trong đời chúng ta. Giáng Sinh là một thách thức muốn chúng ta ăn mừng khi còn đang đau đớn.

Thiên Chúa nhập thể mang tên Emmanuael, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Điều này không có nghĩa là chúng ta mở hội ngay lập tức. Thế giới của chúng ta vẫn còn thương tích, chiến tranh, bạo lực, ích kỷ, và cay đắng. Tâm hồn chúng ta vẫn còn bị tổn thương. Những đau đớn dai dẳng. Với một Kitô hữu, cũng như với tất cả mọi người khác, sẽ vẫn luôn bất toàn, bệnh tật, chết chóc, vẫn luôn chịu những tổn thương vô lý, những giấc mơ tan vỡ, lạnh lẽo, đói khát, cô đơn cay đắng và một cuộc đời không trọn. Thực tế có thể rất khốc liệt, và Giáng Sinh không phải là đòi hỏi chúng ta phải cố gắng tạo một niềm tin giả tạo. Nhập thể không hứa hẹn thiên đàng trên trần gian. Mà là hứa hẹn thiên đàng trên trời. Còn trên trái đất này, Giáng Sinh là một lời hứa khác kia, là bảo đảm rằng Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện này biến đổi cuộc đời. Bởi khi biết Thiên Chúa ở cùng mình, là chúng ta thêm sức mạnh để từ bỏ cay đắng, để tha thứ, và ra khỏi tâm thức yếm thế chua cay. Khi Thiên Chúa ở cùng chúng ta, thì đau đớn và hạnh phúc không loại trừ lẫn nhau, và những thống khổ cuộc đời không loại trừ ý nghĩa và niềm vui sâu xa.

Nói theo lời Avery Dulles là: “Nhập thể không cho chúng ta một nấc thang để thoát khỏi những tối tăm cuộc đời và leo lên những đỉnh cao thiên đàng. Nhập thể cho chúng ta có thể đi sâu vào trung tâm trần gian này, và thấy trần gian đang thấp thoáng hình ảnh Thiên Chúa.” George Orwell đã tiên đoán rằng thế giới chúng ta cuối cùng sẽ chìm trong bạo tàn, tra tấn, mơ hồ và tinh thần nhân văn sụp đổ. Điều này đúng nếu xét theo mức độ nào đó. Chúng ta còn lâu mới được bình an và hạnh phúc. Chúng ta vẫn chìm sâu trong cuộc sống lưu đày.

Nhưng chúng ta có thể thật tâm mừng lễ Giáng Sinh năm nay. Có lẽ chúng ta sẽ không cảm nhận sự phấn khích như thời thơ ấu, lúc còn háo hức với những ánh đèn, thánh ca, những món quà và món ăn đặc biệt. Nhiều thứ đã không còn gây phấn khích cho chúng ta nữa rồi. Nhưng một sự quan trọng vẫn còn, cụ thể là ý thức rằng Thiên Chúa ở với chúng ta trong đời, trong những niềm vui cũng như nỗi buồn của chúng ta.

Ngôi Lời đã nên xác phàm. Đây là chuyện không thể tin nổi, một chuyện mà chúng ta phải ăn mừng với những ánh đèn và bài ca hân hoan. Nếu hiểu được ý nghĩa của Giáng Sinh, thì miệng chúng ta sẽ tự nhiên cất lên những bài thánh ca hân hoan.

Giáo hội là nơi trú ẩn

Là Kitô hữu, chúng ta mở rộng các nhà thờ của mình làm nơi trú ẩn cho người nghèo và người gặp khốn cảnh. Và chính đó là những lúc chúng ta Kitô hữu nhất. Chúng ta có một lịch sử lâu đời và đáng tự hào, khi các nạn nhân, người vô gia cư, người nhập cư bị trục xuất, và những người đang gặp khốn cảnh, đến nương náu nơi nhà thờ của chúng ta. Nếu chúng ta tin vào những lời Chúa Giêsu nói về Ngày Phán xét trong chương 25 Phúc âm theo thánh Matthêu, thì chính đây là việc sẽ giúp chúng ta được đứng vững trước mặt Chúa trong ngày sau hết.

Đáng buồn thay, các nhà thờ của chúng ta không phải lúc nào cũng là một nơi trú ẩn như thế cho những người tị nạn, nhập cư và vô gia cư. Và lại có hàng triệu người đang tìm kiếm một nơi trú ẩn an toàn để xác định lại đức tin và mối liên hệ với giáo hội. Đáng buồn thay, thường thì những luận thuyết cứng ngắc về chính thống, giáo hội, đại kết, phụng vụ và bí tích, cũng như giáo luật, những thứ dù có ý định tốt nhưng đã khiến các nhà thờ của chúng ta không còn là những nơi trú ẩn cho những người như thế, và đồng thời như thế là chúng ta không noi theo gương Chúa Giêsu. Các nhà thờ của chúng ta thường chỉ là nơi trú ẩn cho những ai đã cảm thấy an toàn, thoải mái, cho những ai đã yêu mến giáo hội và có chỗ đứng trong giáo hội rồi.

Đây thật không thể là đường lối mục vụ của Chúa Giêsu. Ngài là nơi trú ẩn an toàn cho tất cả mọi người, dù có đạo hay không. Ngài không lờ đi những người tận tâm cho đạo quanh mình, nhưng mục vụ của Ngài luôn vươn ra và bao hàm tất cả những người hành đạo yếu ớt hay không theo đạo. Hơn nữa, Ngài đặc biệt vươn đến những người sống một cuộc đời không ăn khớp lắm với việc hành đạo thời đó, những người bị xem là tội lỗi. Và đặc biệt là khi ngồi cùng bàn với những người bị xem là tội lỗi, Ngài không yêu cầu họ sám hối. Ngài không đặt ra điều kiện đạo đức hay giáo luật nào mà họ buộc phải tuân theo để được gặp gỡ và dùng bữa với Ngài. Nhiều người sám hối sau khi gặp gỡ và dùng bữa với Ngài, nhưng sự sám hối đó không bao giờ phải theo một điều kiện nào cả. Trong con người và việc mục vụ của Chúa Giêsu, Ngài không kỳ thị ai. Ngài cho tất cả mọi người một nơi trú ẩn an toàn.

Ngày nay, chúng ta cần giáo hội phải thách thức chính mình về điều này. Từ các linh mục, hội đồng giáo xứ, đến các chức sắc giáo phận, các hội đồng giám mục, những người chịu trách nhiệm áp dụng giáo luật, cho đến thái độ riêng của mỗi người, chúng ta đều cần phải tự vấn rằng: Giáo hội chúng ta có phải là một nơi trú ẩn cho những người tị nạn, vô gia cư, và nhất là cho người nghèo không? Các việc mục vụ của chúng ta có theo gương Chúa Giêsu không? Chúng ta có mở rộng vòng tay như Chúa Giêsu không?

Đây không phải là những ý tưởng nghe hay ho. Đây là Phúc âm mà chúng ta thường hay quên mất, dù là quên vì những lý do nghe thật chính đáng. Tôi còn nhớ một hội nghị giáo phận mà tôi từng tham gia cách đây 20 năm. Chúng tôi được chia thành từng nhóm nhỏ và mỗi nhóm nhận câu hỏi thế này: Trên tất cả, đâu là điều mà giáo hội cần phải nói với thế giới ngày nay?

Các nhóm nộp lại câu trả lời, và tất cả mọi người, mọi nhóm đều đưa ra ưu tiên hàng đầu của mình là giáo hội nên nói những lời thách thức về đạo đức và giáo hội với thế giới: Chúng ta cần phải thách thức thế giới về công lý! Chúng ta cần phải thách thức mọi người cầu nguyện hơn nữa! Chúng ta phải lên tiếng về tội lỗi! Chúng ta cần phải thách thức mọi người về tầm quan trọng của việc đi lễ! Chúng ta cần ngăn chặn tội ác phá thai! Mọi gợi ý này đều tốt đẹp và quan trọng. Nhưng không một nhóm nào dám nói: Chúng ta cần phải an ủi thế giới!

Bản Messiah của Handel bắt đầu với những lời trích từ chương 40 sách Isaiah: “Hãy an ủi dân Ta, Chúa phán.” Và tôi tin đây chính là nhiệm vụ đầu tiên của tôn giáo. Rồi sau đó mới là thách thức. Một bà mẹ trước hết phải làm cho con mình thoải mái bằng cách bảo đảm tình yêu thương dành cho nó và xoa dịu các hỗn loạn của nó. Chỉ sau đó, khi có một nơi trú ẩn an toàn cho nó, bà mới có thể đưa ra những thách thức khó khăn để nó lớn lên qua đấu tranh theo bản năng.

Người ta luôn động lòng rất nhiều khi thấy mình có được điều gì đó. Trong giáo hội chúng ta ngày nay, chúng ta có thể phản đối rằng chúng ta đang bị nền văn hóa này đối xử bất công, nói rằng họ phán xét chúng ta một cách thù địch, hạn hẹp và giả nhân giả nghĩa. Chắc chắn có sự bất công, nhưng chúng ta phải có can đảm tự vấn lý do vì sao lại có nhận thức thế này trong giới hàn lâm, trong truyền thông và văn hóa đại chúng. Tại sao chúng ta không được xem là một “bệnh viện dã chiến” cho những người bị thương, theo ý của Đức Giáo hoàng Phanxicô?

Tại sao chúng ta không mở cánh cửa giáo hội rộng hơn nữa? Sự dè dặt của chúng ta do đâu mà ra? Do sợ mình đang quá hào phóng ơn Chúa sao? Hay sợ mình bị băng nhiễm từ xã hội này? Hay sợ tai tiếng?

Chúng ta phải tự hỏi xem, liệu mọi người, nhất là người trẻ và người bị xa lánh, họ có yêu mến giáo hội ngày nay hơn nếu như chúng ta được đại chúng xem là một nơi trú ẩn cho những người tìm kiếm, những người đang mơ hồ, người bị thương cả thể xác và tâm hồn, những người không tôn giáo, thay vì chỉ cho những người đã vững vàng trong đạo và những người đã đi xong con đường tìm kiếm lòng đạo rồi.

Nỗi thống khổ vì tự biểu lộ bất đạt

Cũng có những người thống khổ vì nghệ thuật, và có lẽ những nỗi thống khổ lớn nhất là khi biểu lộ bất đạt.

Đây là một thấu suốt của Iris Murdoch, và tôi tin là nó đúng cho tất cả mọi người.

Trong mỗi người chúng ta là một bản giao hưởng lớn, một thiên tiểu thuyết, một điệu nhảy tuyệt vời, một thi phẩm, một kiệt tác hội họa, một quyển sách khôn ngoan, và một chiều sâu mà không bao giờ chúng ta có thể diễn tả cho đủ. Dù cho có tài năng bao nhiêu, chúng ta cũng không bao giờ thực sự viết ra được quyển sách đó, nhảy được điệu vũ đó, trình diễn được bản nhạc đó, hay vẽ được bức họa đó. Chúng ta cố gắng, nhưng dù cố hết sức cũng chỉ có thể biểu lộ được một bóng mờ của thực chất bên trong chúng ta. Nên theo lời Murdoch, chúng ta phải chịu đựng một nỗi thống khổ của tự biểu lộ bất thỏa đáng.

Ẩn ý sau điều này là gì? Tại sao lại có sự bất đạt này?

Xét tận gốc rễ, đây không phải là một sự đấu tranh với sự tầm thường xấu xa trong chúng ta, không phải là đấu tranh với kiêu ngạo, nhục dục, ngông cuồng hay ngu dốt. Không phải những thứ đó gây nên đấu tranh này. Ngược lại, chúng ta đấu tranh với căng thẳng này là bởi chúng ta mang trong mình một sự thần thiêng. Chúng ta được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa. Đây là căn bản cho tự thức Kitô giáo. Và chúng ta phải hiểu cho đúng điều này. Chúng ta làm khổ mình khi hiểu điều này theo kiểu cuồng đạo, nghĩa là khi hình dung đó như là một dấu thánh thiện mà Chúa đóng vào linh hồn chúng ta, và chúng ta cần phải tôn vinh dấu ấn đó bằng cách sống một đời khiết tịnh và đạo đức. Đúng là thế, nhưng nghĩ thế là quá nguy hiểm, nhất là khi nó đi đôi với tự thức.

Chúng ta luôn mãi phải đương đầu với sự tự đại vô tận trong chúng ta. Sinh lực thần thiêng trong chúng ta. Và chính bởi đấy là sinh lực thần thiêng nên nó không bao giờ dễ dãi với thế giới này. Chúng ta mang trong mình sinh lực thần thiêng, sự thèm muốn thần thiêng và chiều sâu thần thiêng. Trọng trách thiêng liêng của cuộc đời chúng ta chính là đưa những sinh lực này vào khuôn khổ, truyền dẫn chúng để chúng sinh sôi thay vì hủy hoại. Và đây chưa bao giờ là chuyện đơn giản. Hơn nữa, khi chúng ta đấu tranh để truyền dẫn những sinh lực thần thiêng liêng này thì việc đó lại mở ra một loạt những đấu tranh khác.

Bởi bên trong lớp vỏ được tô vẽ đủ thứ của chúng ta có một sinh lực thần thiêng, vì thế chúng ta nên lường trước cuộc đấu tranh luôn mãi với bốn điều trong cuộc sống mình.

Thứ nhất, chúng ta sẽ đấu tranh, luôn đấu tranh để giữ cân bằng giữa những áp lực bên trong chúng ta hướng đến sự sáng tạo với những tiếng nói nội tâm mách bảo chúng ta giữ chặt sự ôn hòa của mình. Chúng ta thấy khá rõ điều này trong cuộc sống của nhiều nghệ sĩ đấu tranh với sự bình thường, nỗ lực để giữ mình ở trong những gì là bình thường bởi xung lực sáng tạo thường đẩy họ đi về phía những hỗn loạn tối tăm mà phong phú sâu thẳm bên trong. Dù ít hay nhiều, tất cả chúng ta đều đấu tranh như những nghệ sĩ vĩ đại đó. Chúng ta cũng bị lôi kéo đi về những hỗn loạn phong phú trong con người mình, dù cho chúng ta sợ hãi hậu quả của nó gây ra cho sự ôn hòa của mình.

Thứ hai, chúng ta cũng luôn mãi đấu tranh với một sự tự đại quá đỗi kích động. Những ngọn lửa thần thiêng trong chúng ta dễ dàng vượt ngoài tầm kiểm soát. Trong một thế giới mà mọi thứ đều hiện lên trên cái màn hình trong tay chúng ta, nơi mà những người thành công, xinh đẹp và tài năng luôn hiện lên trước mắt mình, thì chúng ta luôn mãi bị kích động tự đại. Bạn có thể cảm nhận điều này trong thao thức của mình, trong cảm giác bỏ lỡ cuộc đời, trong ghen tị và cơn giận khi không được nhìn nhận tài năng và sự độc nhất vô nhị của mình, và cả trong sự bất mãn không bao giờ dứt với cuộc đời mình.

Thứ ba, là bởi có một mối quan hệ bẩm tại giữa sinh lực sáng tạo và tính dục, nên chúng ta sẽ phải đấu tranh với tình dục. Mọi chuyện quá rõ ràng. Sự sáng tạo liên kết bất phân ly với sinh sôi, và sinh sôi liên kết bất phân ly với tính dục. Và cũng không phải tình cờ mà các nghệ sĩ vĩ đại thường phải đấu tranh với tình dục, nói thế không phải là biện hộ cho sự vô trách nhiệm của họ nhưng là một lời giải thích để hiểu thấu vấn đề. Và tương phản, là nhiều người đi tu khước từ mối quan hệ này. Đáng buồn thay, điều này lại có thể đè nén xung lực này xuống dưới và còn trở nên nguy hiểm hơn.

Cuối cùng, chúng ta luôn mãi đấu tranh để tìm sự ổn định giữa sự thổi phồng giả tạo và khủng hoảng chìm sâu. Chúng ta luôn mãi thấy mình hoặc quá tự mãn hoặc thấy quá thiếu vắng Thiên Chúa. Nghĩa là chúng ta hoặc gắn mình vào những sinh lực thần thiêng trong bản thân và trở nên tự phụ, hoặc là hạ mình sai lầm, quá nhạy cảm và tổn thương, không để sinh lực thần thiêng tuôn trào qua chúng ta và từ đó luôn mãi sống trong khủng hoảng chìm sâu vì đã bỏ đi sự sáng tạo của mình.

James Hillman cho rằng triệu chứng nặng nề nhất là khi chúng ta không biết nó nói lên điều gì. Và như thế chúng ta đều cố gắng xác định nó. Sinh lực thần thiêng sống bên trong những con người có thể phạm sai lầm là chúng ta, và nó là nguồn cơn cho sự căng thẳng, bất an, và cả thống khổ. Nhưng nó phải là một căng thẳng sáng tạo, một mầu nhiệm để sống chứ không phải một vấn đề cần giải quyết. Dù ta xác định cho đúng cũng không làm hết cơn đau thể lý và nội tâm, nhưng ít nhất nó cho chúng ta một khoảng không cao đẹp ẩn sau những gì chúng ta đang chịu đựng.

Kết cục của Thế giới

Mọi người cứ luôn mãi dự đoán kết cục của thế giới. Trong Kitô giáo, thời tận thế được liên hệ với những ức đoán về lời hứa của Chúa Giêsu khi Ngài thăng thiên, là Ngài sẽ sớm trở lại và đưa lịch sử đến hồi viên mãn, thiết lập vương quốc bất diệt của Thiên Chúa. Từ đó, đã có nhiều ức đoán về kết cục của thế giới.

Chuyện này đầy dẫy trong thế hệ Kitô hữu đầu tiên. Họ sống trong ma trận những kỳ vọng mãnh liệt, dự tính rằng Chúa Giêsu sẽ trở lại trước khi nhiều người trong họ qua đời. Thật vậy, trong Phúc âm theo thánh Gioan, Chúa Giêsu đã bảo đảm với các môn đệ rằng một số người trong họ sẽ không nếm cái chết trước khi được thấy Nước Thiên Chúa. Ban đầu, điều này được diễn giải là một số người trong họ sẽ không chết trước khi Chúa Giêsu trở lại và ngày tận thế.

Và họ đã sống với kỳ vọng này, tin tưởng rằng thế giới sẽ đến hồi kết trước khi họ chết. Không ngạc nhiên khi điều này dẫn đến những suy tưởng cánh chung: Đâu là những dấu chỉ báo hiệu tận thế? Sẽ có những điềm lạ lớn lao trên mặt trăng và mặt trời? Sẽ có động đất dữ dội và chiến tranh lan tràn khắp thế giới báo trước ngày tận thế? Nhưng các Kitô hữu tiên khởi tin rằng mình phải sống tỉnh thức, cảnh giác, để bất kỳ lúc nào ngày đó đến, họ sẽ không ngủ quên, thiếu chuẩn bị, hoặc chè chén say sưa.

Tuy nhiên, khi năm tháng qua đi, và Chúa Giêsu vẫn chưa tái lâm, thì họ bắt đầu biến đổi cách hiểu, nên đến thời Phúc âm theo thánh Gioan được viết ra, có lẽ khoảng 70 năm sau khi Chúa Giêsu chết, các Kitô hữu tiên khởi bắt đầu hiểu khác đi. Giờ họ hiểu rằng lời hứa của Chúa Giêsu về việc một số người đồng thời với Ngài sẽ không phải nếm cái chết trước khi được thấy Nước Thiên Chúa, đồng nghĩa với người đó được đổ tràn Thần Khí Thiên Chúa. Thật vậy, Chúa Giêsu đã trở lại và thế giới vẫn chưa chấm hết. Và họ bắt đầu tin rằng, ngày tận thế không nhất thiết phải xảy đến.

Nhưng như thế không thay đổi sự tập trung của họ vào việc tỉnh thức và sẵn sàng. Nhưng giờ lời mời gọi sống tỉnh thức đó được liên hệ nhiều hơn đến chuyện chúng ta không biết giờ nào mình sẽ chết. Như thế, lời mời gọi sống tỉnh thức bắt đầu được hiểu là một lời mời của Chúa muốn chúng ta sống trọn vẹn cuộc đời ngay lúc này và đừng để bị ru ngủ bởi áp lực của cuộc sống thường nhật, đừng chìm trong ăn uống, mua bán, lấy vợ gả chồng. Tất cả mọi sự bình thường, dù tự thân chúng là tốt, nhưng có thể ru ngủ chúng ta bằng cách giữ chúng ta không thật sự lưu tâm đến cuộc đời của mình.

Và đấy là thách thức cho mỗi một người chúng ta. Lo lắng thật sự của chúng ta không nên là chuyện thế giới này đột nhiên tận thế, hoặc việc chúng ta bất thần chết đi. Nhưng điều đáng lo là việc chúng ta sống rồi chết đi, mà không thật sự yêu thương, không thể hiện tình yêu của mình cho đúng, và không cảm nghiệm sâu sắc niềm vui sống đích thực, bởi đang quá vùi mình trong công việc và những áp lực cuộc sống nên không bao giờ sống cho trọn vẹn được.

Do đó, sống tỉnh thức và cảnh giác trong Kinh Thánh, không phải là việc sống trong sự sợ hãi thế giới này sẽ sụp đổ hay sợ ngày chết. Đúng hơn, đây là vấn đề yêu thương và hòa giải những mối bận tâm chính của mình, là chuyện biết tri ân, cảm kích, kiên quyết, tha thứ, xin lỗi, và lưu tâm hơn đến những niềm vui sống trong cộng đồng nhân loại và trong vòng tay Chúa.

Đức Phật đã cảnh báo về một thứ ngài gọi là “uể oải.” Chúng ta uể oải là khi chùng người xuống. Bất kỳ những mệt mỏi, lười biếng, khủng hoảng, lo lắng, căng thẳng, hay áp lực quá dộ đều có thể đánh gục trạm gác của chúng ta và biến chúng ta thành uể oải. Nhưng điều đó cũng có thể xảy đến cách thể lý và tinh thần. Chúng ta có thể để sự bận rộn, áp lực, lo lắng, lười biến, căng thẳng, và bồn chồn đánh gục tư thế tinh thần của mình, để rồi “ngủ thiếp đi” và không còn tỉnh thức cảnh giác nữa.

Chúng ta cần phải tỉnh thức, chứ không phải uể oải. Nhưng đừng lo về chuyện tận thế hay giờ mình sẽ chết. Điều đáng lo là tình trạng của chúng ta khi cái chết tìm đến. Như Kathleen Dowling Singh đã viết trong quyển sách Nét đẹp của Già đi (The Grace in Aging) rằng: “Thật lãng phí khi đi vào giờ hấp hối, mà mang trong đầu những suy nghĩ và phản ứng lo lắng nhỏ nhặt cũ.”

Nhưng còn về chuyện lúc nào sẽ đến ngày tận thế thì sao?

Tôi cho rằng, có lẽ, bởi Thiên Chúa là vô cùng vô tận, nên ngày tận thế sẽ không bao giờ đến. Bởi sự sáng tạo và tình yêu vô hạn có bao giờ có giới hạn đâu? Có bao giờ tình yêu vô hạn nói rằng: ‘Đủ rồi! Thế thôi! Đây là giới hạn của tình yêu và sáng tạo!” Không. Tình yêu và sáng tạo của Thiên Chúa là vô cùng vô tận.

Mối nguy của Ngôn sứ Chiến binh

Ngôn sứ là người mang lời thề yêu thương chứ không phải lời thề ghẻ lạnh. Daniel Berrigan đã viết những lời này, và thời nay chúng càng cần được nêu bật trong một thời mà nhiều người theo đạo chân thành dấn thân, tự nhận mình là những chiến binh văn hóa, những ngôn sứ giao chiến với nền văn hóa thế tục.

Đây là lập trường của nhiều chủng sinh, linh mục, giám mục và nhiều phái Kitô giáo thời nay. Đó kà câu khẩu quyết trong nhóm “Quyền Tôn giáo” và trong nhiều chủng viện Công giáo La Mã. Với quan điểm này, văn hóa thế tục bị xem là thế lực tiêu cực đe dọa đức tin, luân lý, tự do tôn giáo, và giáo hội của chúng ta. Văn hóa thế tục, nhìn chung bị xem là bài Kitô giáo, bài giáo hội, bài giáo sỹ, và những lề lối của nó được xem là bảo vệ tất cả mọi người trừ các Kitô hữu. Những chiến binh văn hóa này càng lo ngại hơn khi họ thấy nền văn hóa của chúng ta đang trượt ngày càng xa dần gốc rễ Do Thái – Kitô giáo. Họ tin rằng, trước chuyện này, các giáo hội phải cảnh giác cao độ, thủ thế, và sẵn sàng chiến đấu.

Xét phần nào, thì họ đúng. Có những tiếng nói và phong trào trong văn hóa thế tục đe dọa một số điều thiết yếu trong đời sống đức tin và luân lý của chúng ta, như đã thấy trong vấn đề phá thai và mối nguy “trượt dốc.” Nhưng thực tế thì khác hẳn với thái độ thủ thế này. Văn hóa thế tục, với tất cả sự ái kỷ, tự do giả tạo, và hời hợt của nó, cũng mang trong mình các giá trị Kitô giáo cốt lõi thách thức chúng ta sống những nguyên tắc của mình một cách sâu sắc hơn. Hơn nữa, những vấn đề chúng thách thức chúng ta không phải là những vấn đề nhỏ. Văn hóa thế tục, với hình thái đẹp nhất của mình, là một thách thức cho tất cả mọi người trên thế giới phải nhạy cảm hơn và có luân lý hơn khi đối diện với sự bất bình đẳng kinh tế, vi phạm nhân quyền, chiến tranh, kỳ thị chủng tộc và giới tính, cũng như việc tàn phá tự nhiên vì những lợi ích ngắn hạn. Thiên Chúa cũng lên tiếng trong nền văn hóa thế tục.

Tính ngôn sứ Kitô giáo phải thấy điều này. Văn hóa thế tục không phải là phản Kitô. Xét tận cùng, nó có gốc rễ Do Thái- Kitô giáo và đã được ghi khắc không phai trong cốt lõi các giá trị trọng tâm của Do Thái -Kitô giáo. Như thế, các chiến binh văn hóa cần phải cẩn thận đừng để mình bị mù quáng khi đấu tranh vì sự thật, công lý, bình đẳng và sự nguyên vẹn của tạo vật. Chúng ta quá thường có một cách tiếp cận phân cực, và cuối cùng là lấy những sự Thiên Chúa mà đối chọi nhau.

Một ngôn sứ phải phê phán bằng tình yêu, lòng cảm thông cho những người mà mình đang lên tiếng thách thức. Hơn nữa, như lời của Gustavo Gutierrez, những lời thách thức của chúng ta phải phát xuất từ lòng biết ơn hơn là giận dữ, dù cho sự giận dữ đó có lý lẽ tốt đến thế nào đi chăng nữa. Giận dữ lao vào những người không đồng ý với chúng ta bằng những lời lẽ hùng hồn đầy thù hằn, và thắng những tranh luận đầy cay đắng, đôi khi gây được tác động về mặt chính trị. Nhưng tất cả những điều này về lâu dài là một sự triệt tiêu, bởi chúng làm chai đá hơn là mềm đi tâm hồn con người. Sự hoán cải thật sự chẳng bao giờ có thể đến qua sự đàn áp, dù là về thể lý hay tri thức. Tâm hồn chỉ thay đổi khi được tình yêu chạm đến.

Chúng ta đều biết cảm nghiệm này. Chúng ta chỉ thật sự chấp nhận một sự thách thức mạnh mẽ để làm điều gì đó trong đời nếu như chúng ta biết rằng, thách thức này là từ một người yêu thương chúng ta, và yêu thương đủ để quan tâm đến chúng ta một cách sâu sắc như thế này. Chỉ có điều này mới làm mềm đi tâm hồn chúng ta. Còn mọi thách thức khác chỉ làm chai cứng tâm hồn. Vậy nên trước khi có thể nói lên lời thách thức ngôn sứ với nền văn hóa của mình, trước hết chúng ta phải để người ta thấy chúng ta yêu thương họ, và yêu thương đủ để quan tâm họ sâu sắc như thế này. Nhưng tiếc thay, chuyện này lại không thường xảy ra. Nền văn hóa chúng ta không cảm nhận hay tin tưởng rằng chúng ta yêu thương họ, và tôi tin chính điều này, hơn tất cả mọi lý do khác, khiến cho thách thức ngôn sứ của chúng ta trở nên vô dụng và thậm chí là phản tác dụng trong thời nay.

Tính ngôn sứ của chúng ta phải noi gương Chúa Giêsu. Khi đến thành phố Jerusalem, không lâu trước khi chịu tử nạn, biết rằng dân thành này chuẩn bị giết mình, Chúa Giêsu đã khóc. Nhưng những giọt nước mắt không phải là khóc cho Ngài, không phải khóc vì Ngài đúng và họ sai. Nhưng Chúa Giêsu khóc cho họ, cho từng người chống đối Ngài, từng người sẽ giết Ngài và sa ngã vì điều đó. Ngài không vui sướng khi họ sa ngã, nhưng Ngài chỉ có một niềm cảm thông, đau buồn, yêu thương dành cho họ, chứ không phải cho mình.

Linh mục Larry Rosebaugh OMI, là bạn đồng dòng với tôi, người đã dành cả đời linh mục để đấu tranh cho hòa bình và công lý, rồi bị bắn chết ở Guatemala. Cha đã kể lại rằng, cha đã dành cả đêm cầu nguyện và đến sáng, cha bước ra tuần hành không bạo lực để phản đối bộ luật bất công, rồi bị bắt. Daniel Berrigan đã viết lại chuyện này: “Nếu không thể làm việc này mà trong lòng không giận dữ với những người chống đối bạn, thì bạn đừng làm. Đây phải là một hành động yêu thương.”

Ngôn sứ phải là một hành động yêu thương, nếu không nó chỉ đơn thuần là sự ghẻ lạnh.

Đêm tối Linh hồn?

Chủ nghĩa vô thần là ký sinh trên một tôn giáo xấu. Đó là lý do vì sao, xét cho cùng, những phê phán của chủ nghĩa vô thần lại là bạn của chúng ta. Những lời đó giữ chúng ta cảnh giác.

Chẳng hạn như, Friedrich Nietzsche, Ludwig Feuerbach, và Karl Marx, họ cho rằng mọi cảm nghiệm tôn giáo xét cho cùng chỉ là phóng chiếu tâm lý. Với họ, Thiên Chúa chúng ta tin và nền tảng cho Giáo hội của chúng ta, xét cho cùng, chỉ đơn thuần là một tưởng tượng mà chúng ta tạo ra để phục vụ nhu cầu của mình. Họ nói rằng chúng ta tạo ra Thiên Chúa như thuốc phiện êm dịu và cho mình sự phê chuẩn thần thánh để làm điều mình muốn.

Họ đúng, nhưng lại sai, và điểm sai của họ là về nền tảng của tôn giáo đích thực. Phải thừa nhận, họ đúng khi nói rằng nhiều cảm nghiệm tôn giáo và đời sống trong đời sống chúng ta rõ ràng là không, rất không nguyên tuyền. Thật khó để thừa nhận rằng chúng ta luôn mãi đem những tham vọng và khí lực của mình trộn lẫn với điều mà chúng ta gọi là cảm nghiệm tôn giáo. Đó là lý do vì sao chúng ta quá thường xuyên là những con người mộ đạo, nhưng lại hoàn toàn chẳng hướng về Thiên Chúa. Chúng ta ngông cuồng khi đáng ra phải khiêm nhượng, phán xét khi phải tha thứ, thù hận khi phải yêu thương, ích kỷ khi phải vị tha, và hằn học xấu xa khi phải thông hiểu cùng thương xót. Cuộc sống và giáo hội của chúng ta thường không chiếu tỏa Chúa Giêsu. Chủ nghĩa vô thần là một thách thức cần thiết, bởi chúng ta quá thường xuyên trộn lẫn xung lực đời mình với Thiên Chúa, đem những hệ tư tưởng của mình xáo lẫn với Phúc âm.

May thay, Thiên Chúa không để chúng ta yên ổn với việc đó quá lâu. Thiên Chúa cho chúng ta một ơn hoang mang và đau đớn, là đêm tối linh hồn. Trong đêm tối linh hồn, chúng ta kiệt quệ lòng đạo, cảm nghiệm tôn giáo một thời nâng đỡ cho chúng nhiệt thành giờ khô cạn khiến chúng ta không còn tưởng tượng, xúc động, hay ý thức cảm xúc về tình yêu hay sự hiện hữu của Thiên Chúa. Dù chúng ta có cố gắng thế nào cũng không thể gợi lên lại những cảm giác và hình tượng từng có về Thiên Chúa cũng như sự bảo đảm mà chúng ta từng cảm thấy về đức tin và niềm tin tôn giáo của mình. Thiên đàng như trống rỗng, và trong lòng chúng ta cảm thấy không thể nhận thức được gì, như thể Thiên Chúa không hiện hữu, và ta cũng không thể tạo ra một hình ảnh Thiên Chúa từng một thời rất thật với ta. Chúng ta trở nên tuyệt vọng khi cố khơi lên một ý thức về Thiên Chúa.

Nhưng đấy chính là khởi đầu của đức tin đích thực. Trong đêm tối đó, khi chẳng còn gì nữa, khi cảm thấy như không có Chúa, thì Thiên Chúa bắt đầu đi vào chúng ta một cách nguyên tuyền. Bởi các chức năng tôn giáo trong chúng ta bị tê liệt, nên chúng ta không còn có thể lạm dụng cảm nghiệm của mình về Thiên Chúa, không còn lạm dụng phóng chiếu bản thân vào hình ảnh Thiên Chúa, hay dùng lòng đạo để lập luận sự phê chuẩn thần thánh cho hành động của mình. Đức tin đích thật bắt đầu từ chính lúc những phê phán vô thần nghĩ rằng mình đã thành công, là chính sự tối tăm và trống rỗng, trong sự bất lực của lòng đạo, trong sự vô lực để tác động lên cách Thiên Chúa đi vào chúng ta.

Chúng ta thấy rõ điều này trong đời sống của Mẹ Têrêxa. Trong nhật ký của Mẹ, trong 27 năm đầu đời, mẹ có một nhận thức sâu sắc đầy hình tượng và sốt mến về Thiên Chúa trong đời mình. Mẹ sống với một niềm xác tín sắt đá về sự hiện hữu và tình yêu của Thiên Chúa. Nhưng đến tuổi 27, khi đang cầu nguyện trên tàu hỏa, như thể có ai đó đã gạt công tắc đường dây kết nối với Chúa của Mẹ. Trong tưởng tượng và cảm giác của Mẹ, thiên đàng trống rỗng. Thiên Chúa mà Mẹ biết trong nhận thức và cảm giác, đã biến mất.

Nhưng chúng ta biết câu chuyện theo như thế nào. Mẹ sống tiếp 60 năm còn lại với một đức tin xây trên đá, và đã sống dấn thân quên mình khiến không một lời chỉ trích vô thần nào có thể cáo buộc cảm nghiệm tôn giáo của Mẹ là nảy sinh từ sự phóng chiếu bản thân ích kỷ hoặc nói việc hành đạo của Mẹ không nguyên tuyền. Trong đêm tối lòng đạo của Mẹ, Thiên Chúa có thể đồ tràn vào Mẹ một cách nguyên tuyền, chứ không như nhiều người chúng ta với đời sống đức tin rõ ràng nằm ở một niềm tin ích kỷ.

Ngay cả Chúa Giêsu khi làm người, cũng phải trải qua đêm tối này, như lúc Ngài ở trong Vườn Cây Dầu và than khóc vì bị bỏ rơi và sợ thập giá. Sau cơn thống khổ trong Vườn Cây Dầu, một thiên thần đến và tăng sức cho Ngài. Chúng ta sẽ hỏi, tại sao thiên thần không đến sớm hơn, lúc Ngài đang cần giúp đỡ nhất? Sự giúp đỡ của Thiên Chúa không thể đến nếu Chúa Giêsu không vắt kiệt sức lực của mình, nhân tính của Chúa Giêsu không để cho sinh lực thiêng liêng đổ vào một cách nguyên tuyền nhưng lại chăm chăm vào cảm nghiệm. Chúa Giêsu phải dùng hết sức lực của mình, rồi sinh lực thiêng liêng mới có thể đổ vào cách thật sự và nguyên tuyền. Và chúng ta cũng vậy.

Những đêm tối đức tin cần thiết để tẩy sạch chúng ta, bởi chỉ như thế thiên thần Chúa mới đến để giúp chúng ta.

Sự hiện diện thật sự

Khi tốt nghiệp tại Bỉ, tôi được đặc cách dự hội nghị của Hồng y Brussels, Godfried Danneels. Hôm đó, nói về Thánh lễ và sự thiếu hiểu biết về sự phong phú của Thánh lễ, ngài nêu bật sự đối lập này: Nếu đứng ngoài một nhà thờ Công giáo La Mã thời nay, và hỏi những người từ trong nhà thờ đi ra: “Thánh lễ tốt chứ?” hầu hết mọi người sẽ trả lời dựa theo bài giảng và thánh ca. Nếu bài giảng và âm nhạc sống động, hầu hết mọi người sẽ trả lời rằng, hôm nay là thánh lễ tốt. Và nếu bạn đứng ngoài một nhà thờ Công giáo La Mã cách đây khoảng sáu bảy chục năm và hỏi: “Thánh lễ tốt chứ?” thì chẳng ai hiểu nổi câu hỏi đó. Họ sẽ trả lời kiểu như: “Chẳng phải các thánh lễ đều như nhau sao!”

Ngày nay, trong Công giáo La Mã và cả trong Anh giáo lẫn Tin Lành, nhận thức của chúng ta về thánh lễ tập trung nhiều hơn vào ba điểm: Phụng vụ lời chúa, thánh nhạc, và rước lễ. Hơn nữa, trong các nhà thờ Công giáo, khi nói về sự hiện diện thật sự, chúng ta chỉ nói đến yếu tố tận cùng, là sự hiện diện của Chúa Kitô trong bánh và rượu.

Dù nghĩ như thế không sai, dù phụng vụ lời Chúa, âm nhạc và rước lễ là quan trọng, nhưng hiểu như thế là đang thiếu sót. Thiếu sót sự thật rằng sự hiện diện thật sự không chỉ trong bánh và rượu, mà còn trong phụng vụ Lời Chúa và trong hành động cứu rỗi được nhắc lại trong kinh nguyện Thánh Thể, cụ thể là cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu.

Hầu hết những người đi lễ nhận ra rằng, khi đọc Phúc âm trong phụng vụ Lời Chúa, thì sự hiện diện của Thiên Chúa đặc biệt và rõ ràng hơn là khi chúng ta cầu nguyện riêng. Khi cử hành Lời Chúa trong một nhà thờ, thì Chúa Kitô hiện diện thật sự, cũng như sự hiện diện trong bánh rượu.

Nhưng có một yếu tố cao hơn mà chúng ta chưa hiểu đủ. Thánh lễ không chỉ làm cho một nhân thể hiện diện, mà còn là một sự kiện hiện diện. Chúng ta tham dự Thánh lễ không chỉ để rước Chúa Kitô, nhưng còn tham dự sự kiện cứu rỗi trọng đại của cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Ngài.

Vậy vấn đề là gì?

Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã muốn các môn đệ tiếp tục gặp gỡ và cử hành Thánh lễ “để tưởng nhớ Thầy.” Nhưng từ “tưởng nhớ” của Chúa và của chúng ta khác nhau. Với chúng ta “tưởng nhớ” là một từ có vẻ yếu đuối. Nó đơn giản là nhớ lại gì đó, một sự kiện nào đó như ngày sinh con cái, ngày cưới, hay một trận bóng mãn nhãn. Chỉ đơn thuần là nhớ lại, một tập hợp những chuyện đã qua. Nó có thể khơi dậy những cảm giác mạnh mẽ, nhưng chỉ thế mà thôi. Còn trong khái niệm của Do Thái, “tưởng nhớ” không chỉ đơn giản là nhớ lại gì đó. Nhớ gì đó không đơn thuần là nhớ lại hoài niệm chuyện đó. Đúng hơn là nhớ lại và làm lại theo nghi thức, để khiến sự đó lại hiện diện cách thật sự.

Ví dụ như, đây cũng là cách hiểu về Lễ Vượt qua trong văn hóa Do Thái giáo. Lễ Vượt qua nghĩa là nhớ lại cuộc Xuất hành từ Ai Cập và việc băng qua Biển Đỏ đến với tự do. Một thế hệ được Moses dẫn dắt đã làm việc này trong lịch sử, nhưng sự kiện đó được thực hiện lại theo nghi thức, trong bữa ăn Vượt qua, một sự kiện lại hiện hữu thật sự với những người đang ngồi trong bàn.

Thánh lễ cũng như thế, trừ việc sự kiện cứu độ mà chúng ta thực hiện lại qua nghi thức, chính là cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu, một cuộc Xuất hành mới. Niềm tin Kitô giáo của chúng ta cũng giống như niềm tin của những anh em Do Thái, cụ thể là, chúng ta không chỉ nhớ lại một sự kiện, mà thật sự khiến sự kiện đó hiện hiện để chúng ta tham dự trong đó. Thánh lễ, cũng như Lễ Vượt qua của người Do Thái, tái hiện sự kiện cứu rỗi trong lịch sử Kitô giáo, cụ thể là cuộc Vượt qua của Chúa Giêsu từ cái chết đến sự sống trong mầu nhiệm Phục Sinh. Và cũng như bánh và rượu được thánh hiến cho chúng ta sự hiện diện thật sự của Chúa Kitô, Thánh lễ còn cho chúng ta sự hiện diện thật sự của sự kiện cứu rỗi trong lịch sử chúng ta.

Do đó, trong Thánh lễ, có ba sự hiện diện thật sự. Chúa Kitô thật sự hiện diện trong Lời Chúa, cụ thể trong các bài đọc kinh thánh, bài giảng và thánh ca. Chúa Kitô thật sự hiện diện trong bánh và rượu được thánh hiến, đó là mình và máu của Chúa Kitô. Và Chúa Kitô thật sự hiện diện trong sự kiện cứu rỗi. Là cuộc hy sinh vượt qua cái chết đến với sự sống.

Vậy nên khi tham dự Thánh lễ, chúng ta không chỉ để đi vào hiệp thông nhờ Lời Chúa và đón nhận Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể, nhưng chúng ta còn đến đó để đi vào sự kiện cứu rỗi của cái chết và sự phục sinh của Ngài. Sự hiện diện thật sự cả trong nhân thể và sự kiện.

Kháng cự Tình yêu

Làm người thật không hề đơn giản. Chúng ta thường là một bí ẩn với ngay chính bản thân mình, thậm chí là kẻ thù tồi tệ nhất của mình. Sự phức tạp nội tâm làm trì trệ, và còn cản trở chúng ta. Và chúng ta thấy điều này thật nhất trong nỗ lực vì tình yêu và sự mật thiết.

Chúng ta khao khát sự mật thiết hơn bất kỳ điều gì, khao khát được chạm đến nơi dịu dàng nhất của mình, nơi chúng ta được là chính mình nhất, nơi chất chứa những gì quý giá nhất, mỏng manh nhất, và khắc khoải nhất của chúng ta. Nhưng khi thực sự đối diện với sự mật thiết, những người nhạy cảm thường trở nên bất an và kháng cự.
Chúng ta thấy hai ví dụ rất rõ trong Phúc âm. Thứ nhất là câu chuyện có cả trong bốn Phúc âm, kể về một người phụ nữ đi vào phòng nơi Chúa Giêsu đang dùng bữa, và đập vỡ một lọ dầu thơm đắt giá, đổ lên chân Chúa, rửa chân Ngài bằng nước mắt, rồi lấy tóc lau khô, và hôn chân Ngài. Trừ Chúa Giêsu, những người trong phòng đã có phản ứng thế nào? Khó chịu và phản đối. Chuyện này không được xảy ra! Mọi người ngoảnh mặt đi trước sự bày tỏ nguyên sơ của tình yêu, và Chúa Giêsu phải thách thức họ nhìn thẳng vào nguyên cớ gốc rễ của sự khó chịu đó.

Trong đó, Chúa chỉ ra rằng họ khó chịu với những gì nằm ở trọng tâm cuộc sống và trọng tâm những khát khao thâm sâu nhất của họ, chính là sự trao đi và đón nhận thuần túy trước tình yêu. Chúa Giêsu xác nhận, đây chính là mục đích chúng ta sống và đây là cảm nghiệm chuẩn bị cho chúng ta đi đến cái chết. Đây là mục đích sống của chúng ta. Đây cũng là điều chúng ta mong mỏi nhất? Vậy tại sao chúng ta lại quá khó chịu và kháng cự khi thật sự đối diện với nó trong đời?

Ví dụ thứ hai là trong Phúc âm theo thánh Gioan, khi Chúa Giêsu cố rửa chân cho các môn đệ. Theo thánh Gioan kể lại, Chúa Giêsu đứng dậy khỏi bàn, thắt tà áo, lấy chậu và khăn, rồi bắt đầu rửa chân cho các môn đệ. Nhưng đáp lại là một sự khó chịu và kháng cự, thánh Phêrô nói rõ ràng rằng: “Không bao giờ! Thầy không bao giờ rửa chân cho con!”

Tại sao lại thế? Tại sao lại kháng cự? Tại sao lại kháng cự khi đối diện với điều mà chắc chắn là Phêrô khao khát vô cùng, đối diện với sự mật thiết với Chúa Giêsu.

Trả lời cho câu hỏi về những đấu tranh với sự mật thiết trong hai bối cảnh này, cho chúng ta thấy ra lý do vì sao thỉnh thoảng chúng ta trở nên khó chịu và kháng cự khi thực sự đối diện với điều chúng ta khắc khoải mong mỏi. Bàn chân của chúng ta là sự mật thiết quá mức, chúng là một phần thân thể dễ dơ bẩn và bốc mùi, không phải là phần chúng ta thấy thoải mái để người khác chạm đến. Khi có ai đó chạm đến và rửa cho, chúng ta có cảm thấy một sự mỏng manh, khó khịu và hổ thẹn mơ hồ. Mật thiết cần sự thả lỏng thanh thản, mà đôi khi tính mỏng manh của chúng ta không thể chấp nhận.

Nhưng sự kháng cự của Phêrô cũng nói lên một điều khác, dễ thấy hơn. Nếu lành mạnh và nhạy cảm, chúng ta sẽ tự nhiên cảm thấy một sự khó chịu và kháng cự trước một món quà quá thẳng thắn, một sự mật thiết quá thẳng thắn, và cả lòng biết ơn quá thẳng thắn nữa. Và trong khi rõ ràng chúng ta phải cố gắng để vượt qua chuyện đó, nhưng đó không phải là một lỗi phạm, một sai sót tinh thần hay thể lý của chúng ta. Ngược lại, nó là một biểu hiện bình thường, là dấu hiệu của sự nhạy cảm tinh thần và thể lý. Tại sao tôi lại nói thế?

Tại sao khi có điều gì đó dường như ngăn chúng ta tiến tới điều căn bản của cuôc đời, lại không phải là chuyện gì sai trái trong chúng ta? Tôi cho rằng nó không phải là một sai lỗi nhưng là một cơ chế lành mạnh trong chúng ta, bởi những người ái kỷ và vô cảm, thường miễn nhiễm với sự khó chịu và kháng cự này. Sự ái kỷ khiến họ không còn biết xấu hổ, và sự vô tâm khiến họ dễ dàng thoải mái với sự mật thiết, cũng kiểu như một người đã quá chán tình dục nên chẳng thấy khó chịu gì khi xem phim khiêu dâm, hay như một người xem mật thiết như là chuyện mình dĩ nhiên phải có, dù là do ngẫu nhiên hay chiếm đoạt. Trong trường hợp này, họ chẳng thấy hổ thẹn hay khó chịu gì, bởi họ không có sự mật thiết đích thực.

Ngược lại, những người nhạy cảm thì đấu tranh với sự thẳng thừng của mật thiết, bởi họ biết, sự mật thiết đích thực, cũng như thiên đàng, không phải là chuyện chóng qua hay thứ dễ đạt được. Mà mật thiết là cuộc đấu tranh cả đời, một cuộc trao đi và nhận lãnh với nhiều biến cố, một cuộc trốn và tìm, mở ra và kháng cự, ngây ngất và cảm thấy mình không xứng đáng, chấp nhận và lại cố gắng không thực sự từ bỏ, một sự vị tha vẫn còn dư vị ích kỷ, một sự ấm áp đôi khi trở nên lạnh lẽo, một sự dấn thân vẫn có điều kiện, và một hy vọng nỗ lực để đứng vững.

Mật thiết không như thiên đàng. Mà là sự cứu rỗi. Là Nước Trời. Do đó cũng như Nước Trời, con đường đến và cánh cửa vào thì nhỏ hẹp và không dễ tìm thấy. Nên chúng ta hãy ân cần, nhẫn nại và tha thứ cho người khác và cho bản thân mình, khi trên đường đấu tranh tìm sự mật thiết.

Nhàm chán – Lỗi của chính chúng ta

Năm 2011, quyển sách của tác giả trẻ Bieke Vandekerckhove đã giành giải Sách Thiêng liêng của Năm ở Bỉ. Với tựa đề, Vị của Thinh lặng [Taste of Silence], quyển sách ghi lại cuộc đấu tranh của cô sau khi bị chẩn đoán mắc bệnh ALS, hay thường gọi là bệnh Lou Gehrig, tình trạng suy thoái thần kinh dẫn đến kết cục là suy nhược cơ thể trầm trọng và sẽ chết không lâu sau đó. Thật là một chẩn đoán không dễ chấp nhận với một phụ nữ trẻ đầy sinh lực.

Nhưng không lâu sau khi bị trầm cảm nội tâm sâu sắc, cô tìm thấy ý nghĩa cuộc đời thông qua suy niệm, thinh lặng, văn học, nghệ thuật, thi ca, và không kém phần quan trọng, là một mối quan hệ cuối cùng đã kết trái thành hôn nhân. Và thật không ngờ, bệnh tình của cô thuyên giảm, và cô sống thêm hai mươi năm nữa. Trong nhiều thấu suốt phong phú đã chia sẻ với chúng ta, Bieke có đưa ra một suy tư đáng chú ý về sự nhàm chán.

Bàn về sự nhàm chán đang thịnh hành trong thời nay, cô nêu bật một nghịch lý, cụ thể là sự nhàm chán đang tăng mạng giữa chúng ta cho dù mỗi ngày chúng ta đều sản xuất ra đủ loại cải tiến để tránh chuyện đó. Ngày nay, khi có trong tay các thiết bị công nghệ nối kết chúng ta với mọi thứ, từ tin tức thế giới cho đến ảnh chụp của những người thân yêu đang chơi với con cái họ, chẳng phải chúng ta đã được cách ly khỏi sự nhàm chán hay sao? Nghịch lý thay, ngược lại thế mới đúng. Mọi cải tiến công nghệ không xoa dịu nỗi nhàm chán của chúng ta. Tại sao lại không? Chúng ta vẫn vật lộn với sự nhàm chán bởi mọi kích thích trong thế giới không hẳn đã có ý nghĩa. Theo Bieke, ý nghĩa và hạnh phúc không hệ tại nhiều ở chuyện gặp gỡ những người thú vị và khám phá những điều thú vị, mà đúng hơn là hệ tại ở việc hứng thú sâu sắc về những con người và sự vật.

Từ thú vị phát xuất từ gốc La Tinh, với hai từ là inter (bên trong) và esse (hiện hữu) và khi kết hợp lại, nghĩa là hiện hữu bên trong sự gì đó. Mọi sự thú vị với chúng ta khi chúng ta chú tâm đến chúng đủ để thật sự đi vào trong chúng. Và hứng thú của chúng ta không nhất thiết phải tùy vào khả năng kích thích tự nhiên của sự đó, dù ta vẫn thừa nhận rằng có những sự kiện và cảm nghiệm mạnh mẽ hơn cái khác. Điều này giải thích sự hứng thú mạnh của ta với những sự kiện thế giới, các giải thể thao lớn, các lễ trao giải, cũng như sự ám ảnh vốn kém lành mạnh hơn với đời sống của những người nổi tiếng. Có những người, sự vật và sự kiện, tự nhiên thu hút chúng ta hơn và chúng ta muốn ở “bên trong” những cuộc sống và sự kiện đó.

Nhưng hầu hết các tin tức thế giới, sự kiện thể thao lớn, các buổi trao giải và đời sống riêng tư của những người nổi tiếng, không phải là chế độ bình thường của ta, không phải là bữa ăn gia đình, nơi làm việc, những buổi đi nhà thờ, những buổi bán hàng từ thiện, lịch sống thường nhật hay những món ta ăn hằng ngày. Và đây chính là điểm thường khiến ta chịu lấy sự nhàm chán, bởi ta không ở sâu trong hiện thực của những con người và sự kiện đó. Chính vì thế mà chúng ta thường cảm thấy cuộc sống đều đều, ù lì, và thông lệ. Nhưng nếu như thế, xét cho cùng, chúng ta đấu tranh với sự nhàm chán, không phải bởi gia đình, nơi làm việc, hàng xóm, giáo xứ, và bạn bè mình không thú vị. Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó. Cảm nghiệm không phải là những gì xảy đến với chúng ta, mà là những gì chúng ta làm với những gì xảy đến với mình. Enstein đã nói thế đấy.

Và Bieke Vandekerckhove cũng nêu bật một nghịch lý khác: Thật nghịch lý khi ta có xu hướng đấu tranh với nhàm chán và trì trệ trong khi ta đang đầy triển nở trong đời, đang khỏe mạnh và làm việc, còn những người như Bieke Vandekerckhove thì mất sức khỏe và chuẩn bị đối diện với cái chết nhưng lại thường thấy sự hồ hởi vui tươi nơi những cảm nghiệm bình thường nhất.

Những thấu suốt của Bieke Vandekerckhove rất giống với cảm nghiệm của Rainer Maria Rilke trong quyển Những lá thư gởi Thi sĩ Trẻ [Letters to a Young Poet.] Như Bieke, ông cũng gợi ý rằng nhàm chán là lỗi của chúng ta, lỗi của một con mắt hờ hững. Trong những lá thư giữa ông với một thi sĩ trẻ, chàng thi sĩ đã than phiền rằng mình không được tiếp cận đủ với những cảm nghiệm thúc đẩy thi ca, bởi anh sống trong một thị trấn nhỏ nơi hầu như chẳng có chuyện gì thú vị. Và chàng thi sĩ ghen tị với Rilke, vì ông chu du gần khắp châu Âu và đã gặp đủ mọi kiểu người thú vị. Với anh, những thấu suốt thi ca của Rilke phần nhiều dựa vào việc được đến những thành phố lớn, gặp những người thú vị, và được những kích thích mà một chàng trai ở thị trấn nhỏ chẳng bao giờ có được.

Câu trả lời của Rilke với chàng trai trẻ này đã trở thành câu trả lời kinh điển về vấn đề nhàm chán: “Nếu cuộc sống thường nhật của anh có vẻ nghèo nàn, thì đừng đổ lỗi cho nó, mà hãy bảo rằng mình không đủ thi vị để khơi lên sự phong phú của nó, bởi với người sáng tạo, thì không có sự nghèo nàn và không có không gian nghèo nàn.”

Tìm được hứng thú trong đời không hệ tại ở việc chúng ta là ai và gặp ai, nhưng là ở khả năng nhìn sâu vào mọi sự. Cuộc sống khắp nơi đủ phong phú để cho ta thú vị, nhưng về phần mình ta phải hứng thú trước đã.

Về việc đừng trau dồi sự Thao thức

Ba mươi bốn năm trước, khi mở chuyên mục này, hẳn tôi sẽ chẳng bao giờ nói rằng: Thao thức không phải là thứ để trau dồi, dù cho nó có lãng mạn đến đâu chăng nữa.

Đừng nhầm lẫn Chúa Giêsu với Hamlet, bình an với bất an, chiều sâu với sự bất mãn, hay hạnh phúc đích thật với sự bồn chồn cả đời của người nghệ sĩ. Thao thức bên trong chúng ta không cần được trau dồi thêm nữa, nó đã đủ tàn phá lắm rồi.

Từ thưở thơ ấu đến lúc trung niên, tôi đã gắn lãng mạn với sự thao thức, với khắc kỷ, với việc làm một kẻ cô đơn ngoài cuộc, với việc dự một bữa tiệc quá hời hợt không thể nào có được sự chân thực. Có lẽ điều này đã góp phần khiến tôi chọn chủng viện và chức linh mục, chắc chắn nó giúp tôi giải thích vì sao tôi đặt tên cho chuyên mục này là Tha hương. Hầu như cả đời, tôi đã đặt thao thức ngang với chiều sâu, là một sự đáng vun đắp trau dồi.

Điều này tự nhiên đến với tôi, và dần dà trong cuộc sống tôi tìm được những bậc thầy uy thế giúp tôi nắm bắt sự cô tịch của bản thân. Thời trung học, tôi ham thích vở Hamlet của Shakespeare. Tôi gần như thuộc lòng nó. Hamlet đại diện cho chiều sâu, mãnh liệt và lãng mạn, chứ không phải một kẻ đam mê hời hợt. Với tôi, Hamlet là ngôn sứ cô đơn, chiếu tỏa chiều sâu trên sự hời hợt thiển cận.

Thời chủng viện, tôi chuyển sang Platon (“Chúng ta được bắn vào đời với sự điên rồ đến từ các vị thần và khiến chúng ta tin rằng mình có thể đạt được thành tựu lớn lao, biến mình thành bất tử và dự liệu chuyện trên trời.”) rồi đến thánh Augustino (“Ngài đã tạo nên con cho Ngài, lạy Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.”) rồi đến Gioan Thánh Giá (“Chúng ta đi qua cuộc đời với xung lực của khát khao cấp bách của tình yêu.”) và đến Karl Rahner (“Trong day dứt khi không được nắm trọn những sự có thể nắm bắt được, chúng ta học biết rằng trong cuộc đời này, mọi hòa âm phải còn dang dở.”) Đọc những tư tưởng gia này giúp tôi đẩy chủ nghĩa lãng mạn đi xa.

Cùng với các ngòi bút thiêng liêng, tôi còn chịu ảnh hưởng từ rất nhiều tiểu thuyết gia, những người giúp truyền cho tôi khái niệm rằng cuộc sống là để sống với sự mãnh liệt nội tâm và tinh thần lãng mạn để tránh bất kỳ sự thỏa mãn đơn giản nào trong những thú vui thường nhật bình thường của cuộc sống. Với tôi, các nhân vật của Nikos Kazantzakis chiếu tỏa một sự đam mê khiến cho họ thật sự như một vị thần và đáng thèm muốn không thể cưỡng lại, ngay cả khi họ phải vật lộn để không hủy hoại chính mình. Iris Murdoch thì mô tả tình yêu một cách quá ám ảnh và quá hấp dẫn, như thể mọi thứ xung quanh dường như vô thực, còn Doris Lessing và Albert Camus thì quyến rũ tôi bằng những hình ảnh của sự bất an nội tâm khiến cho cuộc sống bình thường có vẻ quá đều đều và không xứng đáng. Ý niệm này lớn dần và tôi thấy thà chết trong một khao khát chưa thành sự thì cao cả hơn nhiều so với sống vì tất cả mọi thứ khác. Chết mãnh liệt thì hơn là sống trong sự bình thường. Cần phải trau dồi sự thao thức.

Và trong văn hóa của chúng ta cũng thế, nhất là trong nghệ thuật và ngành công nghiệp giải trí, họ thúc đẩy cám dỗ này, cụ thể là làm sao để mình thao thức và xem sự bất an như là chiều sâu và sự dằn vặt của người nghệ sĩ Chúng ta đã từng định hình con người mình như thế, như những chuyện lãng mạn phức tạp không thể nào cho trọn, và chúng ta có lý do để biện minh cho sự khó tính và cả sự phản bội thiếu chung thủy. Như lời bài hát của The Eagles, đến bây giờ, chúng ta là những linh hồn thao thức trong cuộc chiến bất tận. Có thể hiểu là chúng ta bay vượt trên những quy luật bình thường của cuộc sống và hạnh phúc, và sự phức tạp của chúng ta đủ để bào chữa cho bất kỳ cách hành động nào của mình. Như Amy Winehouse từng có câu khẳng định nổi tiếng về mình rằng: “Tôi bảo anh là tôi đầy phức tạp, và anh cho là tôi không tốt.” Tại sao có người lại hoang mang vì chúng ta từ chối cuộc sống bình thường và hạnh phúc bình thường?

Có gì đó trong chúng ta, nhất là khi còn trẻ, nó cám dỗ chúng ta hướng đến một dạng tự xác định bản thân. Và tôi tin, trong giai đoạn đó của cuộc đời, như thế là lành mạnh. Người trẻ thì chủ nghĩa lý tưởng quá đáng, lãng mạn cực kỳ, và không tin tưởng việc lười biếng chấp nhận cái tốt thứ hai. Như Doris Lessing đã nói, trong đời chỉ có một tội lỗi thực sự, và đấy là việc gọi cái tốt thứ hai bằng bất kỳ một cái tên nào khác! Tôi ước mong rằng mọi người trẻ sẽ đọc Platon, Augustino, Gioan Thánh Giá, Karl Rahner, Nikos Kazantzakis, Iris Murdoch, Doris Lessing, Jane Austin, và Albert Camus.

Nhưng, trừ những tác giả như Platon, Augustino, Gioan Thánh Giá, và Karl Rahner, những người đưa sự thao thức vô tận và dằn vặt cả đời vào một câu chuyện lớn hơn và ý nghĩa hơn, chúng ta đừng nên xác định mình bằng phẩm chất thao thức và trau dồi nói. Chủ nghĩa lãng mạn cao độ sẽ chỉ có ích cho chúng ta, nếu cuối cùng nó nằm trong một sự tự nhận thức không biến thao thức thành mục đích cuối cùng của cuộc đời. Cảm giác mình cao cả sẽ không đem lại sự bình an cho cuộc sống chúng ta. Và khi thêm tuổi thêm trưởng thành, chính bình an là phần thưởng cho chúng ta. Romeo, Juliet, Hamlet, Zorba, Bác sĩ Zhivago, và những nhân vật siêu lãng mạn khác trên màn ảnh và trong tiểu thuyết, có thể thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn của chúng ta, nhưng đến tận cùng, họ không phải hình ảnh cho sự mật thiết của cuộc gặp gỡ vĩnh cửu của các linh hồn bên trong thân thể Chúa Kitô.

Cầu nguyện Chiêm niệm

Cầu nguyện chiêm niệm, đã có từ lâu và được thực hành phổ biến, ngày nay lại là chủ đề khá bị hoài nghi với nhiều nhóm người. Ví dụ như, phương pháp cầu nguyện thường được gọi là Quy thần niệm, được nhiều người như Thomas Keating, Basil Pennington, John Main và Laurence Freeman phổ biến, giờ lại bị nhiều người hoài nghi xem như một thứ gì đó gắn với phong trào “New Age,” Phật giáo, phong trào “Tìm Bản ngã” hay thậm chí là vô thần.

Phải thừa nhận, không phải tất cả người tán thành và thực hành kiểu cầu nguyện này đều tránh được những xung lực đó, nhưng chắc chắn, những người cầu nguyện đích thực sẽ không vướng phải. Hiểu và thực hành đúng đắn phương pháp cầu nguyện với nhiều biến thể này, chính là điều mà các Đan phụ Sa mạc, Gioan Thánh Giá, và tác giả quyển Đám mây Vô thức [Cloud of Unknowing] gọi là Chiêm niệm.

Theo truyền thống Kitô giáo kinh điển, Chiêm niệm là gì? Với những biện giải theo truyền thống của thánh Inhaxiô thành Loyola, chiêm niệm là cầu nguyện mà không có hình ảnh hay tưởng tượng, nghĩa là cầu nguyện mà không cố tập trung suy nghĩ và cảm giác vào Thiên Chúa hay những sự thánh thiện. Chiêm niệm là cầu nguyện một mình với ý hướng hiện diện với Thiên Chúa mà thôi, và bỏ qua mọi thứ khác, kể cả những suy tư sốt sắng hay những cảm giác thánh thiện, để rồi đơn giản ngồi trong bóng tối, trong một sự vô thức có chủ ý sao cho không thúc đẩy hay tận hưởng mọi suy nghĩ, tưởng tượng và cảm giác về Thiên Chúa, và mọi suy nghĩ cảm giác khác nữa. Trong quyển Đám mây Vô thức, chiêm niệm là sự đơn thuần vươn thẳng tới Chúa.

Trong cầu nguyện chiêm niệm, sau một hồi tĩnh tại, một hành động nội tâm để tập trung bản thân vào trong cầu nguyện, người ta cứ thế ngồi yên, với ý định vươn thẳng đến Thiên Chúa trong một không gian vượt ngoài cảm giác và tưởng tượng, chờ đợi hiện thực không thể tưởng tượng nổi của Thiên Chúa đến với mình theo một cách mà những cảm giác, suy nghĩ và tưởng tượng chủ quan không tài nào đem lại được.

Và đây chính là điểm mà người ta thường hiểu lầm và chỉ trích cầu nguyện chiêm niệm. Họ đặt vấn đề rằng: Tại sao ta không cố thúc đẩy và chiều theo những suy nghĩ thánh thiện và cảm giác sốt sắng. Đấy không phải là điều ta cố làm khi cầu nguyện hay sao? Làm sao ta có thể cầu nguyện khi cứ ngồi yên đó, chẳng làm gì? Đây có phải là một dạng của thuyết bất khả tri không? Làm sao ta gặp được một Thiên Chúa thực thể yêu thương khi cầu nguyện như thế? Chẳng phải đây đơn thuần là một dạng suy niệm biến thể kiểu như yoga tinh thần hay tìm kiếm bản ngã? Trong việc cầu nguyện như thế, Chúa Giêsu ở đâu?

Tôi sẽ để tác giả quyển Đám mây Vô thức trả lời điều này: “Khi thực hành trong bóng tối và đám mây vô thức này, khi chỉ có nơi mình một xung lực yêu mến dành cho Thiên Chúa, thật không thích hợp và đầy chướng ngại để người ta nhìn nhận bất kỳ suy nghĩ hay suy niệm nào về những ơn ban, sự nhân từ và công trình của Thiên Chúa, để nâng lòng lên nhằm ghép chặt bản thân với Chúa, dù cho đó là những suy nghĩ rất thánh thiện đem lại hạnh phúc và an ủi rất nhiều cho người đó. …Bao lâu linh hồn còn chìm trong thân xác sẽ chết này, thì sự rõ ràng trong nhận thức của ta khi chiêm niệm mọi sự thiêng liêng, nhất là chiêm niệm về Thiên Chúa, luôn luôn bị xáo trộn với một dạng tưởng tượng khác.” Ta không thể tưởng tượng Thiên Chúa, ta chỉ có thể biết Thiên Chúa.

Về căn bản, ý niệm này nghĩa là đừng bao giờ nhầm lẫn hình tượng với thực tế. Thiên Chúa là không thể dò thấu, và do đó mọi sự ta nghĩ hay tưởng tượng về Thiên Chúa đều là một hình tượng, mà ngay cả những lời trong kinh thánh cũng chỉ là những lời về Thiên Chúa chứ không phải là hiện thực của Thiên Chúa. Phải thừa nhận, các hình tượng là tốt đẹp, miễn sao chúng ta hiểu cho đúng về chúng, miễn sao chúng hướng chúng ta về một hiện thực cao hơn chúng. Nhưng nếu chúng ta xem chúng là hiện thực, một cám dỗ mà ta luôn vướng phải, thì hình tượng trở thành ngẫu tượng.

Sự khác biệt giữa suy niệm và chiêm niệm là thế này: Trong suy niệm, chúng ta tập trung vào hình tượng, vào Thiên Chúa, hay đúng ra là Thiên Chúa trong suy nghĩ, tưởng tượng, và cảm giác của ta. Trong chiêm niệm, các hình tượng được xem là ngẫu tượng, và chúng ta ngồi đó trong bóng tối, bên dưới đám mây vô thức, cố gắng đối diện với một hiện thực quá lớn lao mà ta không thể nắm bắt cho dù có dùng đến tưởng tượng. Suy niệm như một hình tượng, là điều gì đó hữu dụng trong một thời gian, nhưng đến cuối cùng, chúng ta đều được kêu gọi hướng đến chiêm niệm. Như quyển Đám mây Vô thức đã nói: “Chắc chắn, ai tìm kiếm để có trọn Thiên Chúa sẽ không nghỉ lại nơi việc nhận thức về bất kỳ thiên thần hay các các thánh trên trời nào.”

Karl Rahner cũng đồng ý rằng: “Ta đã cố gắng để yêu mến Thiên Chúa trong những lúc không cuốn theo ngọn sóng xuất thần trào dâng, những lúc không thể nhầm lẫn bản thân mình với xung lực sự sống hướng đến Thiên Chúa, những lúc chấp nhận chết đi vì một tình yêu có vẻ như cái chết và hoàn toàn tiêu cực, khi chúng ta kêu lên từ sự trống rỗng và vô thức tột cùng?”

Nói tóm lại, đấy chính là cầu nguyện chiêm niệm, cầu nguyện thật sự hướng về Thiên Chúa.

Đấu tranh để không biến Thiên Chúa thành thần linh bộ lạc của riêng mình

Tôi có phúc được lớn lên trong một môi trường rất an toàn và yên ổn. Tuổi thơ tôi thật sự là sống trong kén. Trong cộng đồng nhập cư thế hệ đầu tiên ở vùng nông thôn hẻo lánh mà tôi sinh trưởng, tất cả chúng tôi đều biết nhau, đều cùng đến một nhà thờ, cùng theo một đảng chính trị, tất cả đều da trắng, cùng chung một nền tảng sắc tộc, tất cả đều có ngữ âm như nhau, đều có quan điểm về luân lý tương tự nhau, tất cả đều chia sẻ những hy vọng và sợ hãi về thế giới bên ngoài, và tất cả đều khá tin tưởng phụng thờ Thiên Chúa trong cái kén đó. Chúng tôi biết mình đặc biệt trong mắt Chúa.

Tâm thức này có một sức mạnh, nhưng cũng có một phần xấu ẩn bên dưới. Khi không có người lạ trong đời mình, khi ai ai cũng trông hệt như bạn, tin tưởng như bạn và nói năng như bạn, khi thế giới của bạn chỉ toàn những người như mình, hệ quả là về sau thế giới đó sẽ mở rộng trong một sự đau đớn đến tận sâu thẳm tâm hồn để chấp nhận, sống và thoải mái với sự thật rằng những người khác biệt với bạn, những người mang màu da khác, nói ngôn ngữ khác, sống ở đất nước khác, theo tôn giáo khác, và có cách hiểu khác, họ cũng chân thật và quý báu trước mắt Chúa như bạn vậy.

Tất nhiên không phải ai cũng có thời thơ ấu như tôi, nhưng tôi cho rằng hầu hết mọi người đang đấu tranh, còn phải cố gắng hơn mức độ cởi mở mà ta thường tự phụ về mình, để chấp nhận rằng mọi cuộc đời đều bình đẳng và quý báu với Thiên Chúa như cuộc đời chúng ta vậy. Thật khó để chúng ta tin rằng, mình và giống nòi của mình, không có phúc và có giá trị gì đặc biệt hơn những người khác. Có nhiều nguyên do cho điều này.

Thứ nhất, chúng ta có tính ái kỷ bẩm tại. Nói đơn giản, ta không thể không cảm nhận hiện thực của mình là thật và quý báu hơn của người khác. Xét cho cùng, như Rene Descartes đã nói, điều duy nhất ta có thể biết chắc, đó là ta tồn tại, là niềm vui và đau đớn của ta tồn tại. Còn mọi sự khác, có lẽ chỉ là giấc mơ của ta. Và trên tính ích kỷ tự nhiên đó, còn có những sự khác. Là máu mủ, ngôn ngữ, quê hương, và tôn giáo theo kiểu giọt máu đào hơn ao nước lã. Hệ quả là, những người giống chúng ta luôn chân thật hơn. Quá nhiều người trong chúng ta sống với khái niệm rằng Thiên Chúa chúc phúc cho chủng tộc và quốc gia chúng ta hơn là cho các chủng tộc và quốc gia khác. Ta nghĩ rằng mình đặc biệt trong mắt Chúa. Đấy là một khái niệm phi Kitô và sai lầm đến nguy hiểm, đối lập trực tiếp với kinh thánh Do Thái – Kitô giáo. Sự thật là Thiên Chúa không xem trọng đặc biệt một chủng tộc và quốc gia nào.

Bởi thật khó để chúng ta nhìn ra cuộc sống của mọi người khác cũng chân thật và quý báu như của chúng ta, vậy chúng ta sẽ đi về đâu? Làm sao để chúng ta thật lòng sống chấp nhận sự thật mà chúng ta vẫn thường nói trên môi miệng, chấp nhận rằng Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người như nhau, không có ngoại lệ?

Có lẽ ta nên bắt đầu bằng việc thừa nhận vấn đề, thừa nhận rằng tính ái kỷ bẩm tại và khuynh hướng bộ lạc đang ngăn chúng ta nhìn thấy cuộc sống của những người khác cũng chân thật và quý báu như của chúng ta. Tôi cho rằng, chúng ta cần phải nhìn vào chủ nghĩa ái quốc sai lầm. Chúng ta không phải là một quốc gia đặc biệt, ít nhất là không đặc biệt hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Trước mặt Chúa, những giấc mơ, đau thương, niềm vui nỗi buồn, đau đớn, cái chết của chúng ta không đáng giá hơn của những người khác trên thế giới. Mà có lẽ còn thua, bởi Thiên Chúa ưu tiên cho người nghèo. Cuộc sống của hàng ngàn người tị nạn ngày nay, những người quá dễ rơi vào hàng đống người vô danh mà chúng ta bày tỏ lòng một cảm thông mơ hồ, họ cũng đáng giá trước mặt Chúa hệt như con cái chúng ta vậy, bởi Kinh thánh nói rằng Chân lý ở trong những người bị loại trừ. Ngày nay, có lẽ họ là dân tộc định mệnh, là những người được Chúa chúc phúc đặc biệt.

Chúng ta cũng cần phải sửa đổi những thần học xấu. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải và hiện thân, chúng ta không được biến Ngài thành Thiên Chúa của riêng mình, một Thiên Chúa xem chúng ta quý báu và được ơn phúc hơn những dân tộc khác, một Thiên Chúa chúc lành đặc biệt cho chúng ta. Đáng buồn thay, chúng ta luôn mãi có khuynh hướng biến Thiên Chúa thành thần linh bộ lạc của mình, của gia đình, gia tộc, giáo hội và quốc gia mình. Thiên Chúa quá dễ bị biến thành Thiên Chúa của riêng chúng ta. Nhưng đức tin thật sự không chấp nhận thế. Một thần học Kitô chính thống và lành mạnh dạy rằng Thiên Chúa hiện diện đặc biệt nơi tha nhân, nơi người người nghèo và người lạ. Mặc khải của Chúa đến với chúng ta rõ ràng nhất là qua người ngoài, qua những gì xen vào vùng thoải mái và những dự tính của ta, nhất là những dự tính của ta về Thiên Chúa.

Thiên Chúa quá cao cả vĩ đại để bị hạ xuống mà phục vụ cho lợi ích của gia đình, sắc tộc, giáo hội và quốc gia của chúng ta. Thiên Chúa là của tất cả mọi người như nhau, chứ không phải của riêng chúng ta.

Phần mềm, Định dạng Luân lý, và Sống trong Tội lỗi

Trong thời gian học tập ở Bỉ, tôi sống ở Trường American, Leuven. Trong ban cán sự, thuộc bộ phận phòng ốc và bảo trì, có một phụ nữ rạng rỡ tuyệt vời, sức sống của bà truyền sinh lực cho mọi người, nhưng tình trạng hôn nhân của bà tương tự như người phụ nữ Samaria trong Phúc âm. Không ai trong chúng tôi biết chắc bà đã kết hôn bao nhiêu lần, và người đàn ông đang sống với bà có phải là chồng chính thức hay không.

Một ngày nọ, có một Tổng Giám mục đến thăm Trường, và bà có tên trong ban tiếp tân. Tổng Giám mục bắt tay từng người và thăm hỏi ngắn gọn. Đến lượt mình, bà cho Đức cha biết tên và công việc của mình tại trường. Ngài bắt tay bà và nhân tiện hỏi một câu: “Bà lập gia đình chưa?” Bà không sẵn sàng cho câu hỏi đó. Bà lắp bắp trả lời: “Có, không, à, đại loại thế.” Rồi bà cười và nói: “Thật ra, thưa Đức cha, con sống trong tội lỗi!” Và Tổng Giám mục cũng cười. Ngài hiểu bà đang nói gì, không chỉ là lời lẽ, nhưng cả sắc thái trong nụ cười của bà.

Sống trong tội lỗi. Với những hành động rối loạn cố kết. Thần học luân lý Công giáo cố gắng nói gì về khái niệm này, khi mà ngày nay rất nhiều người, kể cả người Công giáo La Mã, thấy những khái niệm này là khó hiểu và xúc phạm?

Về giáo huấn luân lý Công giáo La Mã kinh điển, các khái niệm này có sự khó hiểu và dễ hiểu bên trong một bộ khung luân lý nhất định. Sắc thái và ý nghĩa thật của nó dựa vào hệ thống chung. Nói đơn giản, nó có nghĩa bên trong hệ thống đó. Trong ngôn ngữ thời nay, thần học luân lý Công giáo La Mã kinh điển có lẽ giống như một phần mềm chuyên biệt cao, thật sự là một phầm mềm được mài giũa, tinh luyện và nâng cấp qua nhiều thế kỷ, nên nó có sự cố kết nội bộ nhịp nhàng. Vấn đề là, thời nay phần nhiều trong nền văn hóa và cả trong giáo hội chúng ta, không còn sử dụng và không biết cách sử dụng phần mềm đó. Hệ quả là, định dạng và ngôn ngữ của nó bị hiểu sai và có thể gây xúc phạm. Không phải ai cũng có trí hóm hỉnh về chuyện này như Tổng Giám mục nói trên.

Vậy chúng ta phải làm gì? Làm sao tiến tới được? Chúng ta đơn giản bỏ đi nhiều giáo huấn luân lý kinh điển vì có quá nhiều người thời nay thấy các khái niệm và ngôn ngữ của chúng gây xúc phạm sao?

Phải thừa nhận đây là một vấn đề lớn, với rất nhiều người thật tâm cân nhắc nó theo nhiều hướng khác nhau, như chúng ta vừa thấy ở Hội đồng về Hôn nhân và Đời sống gia đình. Làm sao chúng ta giữ nền tảng luân lý Kitô giáo đích thực, đồng thời xem trọng đúng đắn hiện thực của hàng triệu triệu người, bao gồm cả con cái và người thân của chúng ta? Làm sao chúng ta xác định được hiện thực của những người đang sống trong các tình trạng này, khi rõ ràng họ đem đến sinh khí cho cuộc sống nhưng lại không theo các nguyên tắc Kitô giáo? Làm sao chúng ta xác định thực tế luân lý của con cái và người thân yêu, những người đang sống với một đối tác không qua hôn nhân, nhưng vẫn đang tạo sinh khí từ mối quan hệ đó? Làm sao chúng ta xác định tình trạng luân lý của một cặp đồng tính, khi mối quan hệ của họ thực sự đem lại sức sống? Và làm sao chúng ta xác định tình trạng luân lý của người phụ nữ thành Samaria, và bà mà tôi đã nói trên, khi họ đi ngược các điều luật của Giáo hội về hôn nhân, nhưng lại là những con người đầy sức sống và đem lại sinh khí? Họ có sống trong tội lỗi hay không? Tình trạng của họ có bao gồm một sự dữ thực chất hay không?

Chúng ta cần một phần mềm mới bên trong thần học luân lý để trả lời cho những câu hỏi này, hay ít nhất là để định dạng chúng theo một ngôn ngữ mà nền văn hóa của chúng ta có thể hiểu và có thể nhận ra thách thức cho mình. Và đấy không phải việc đơn giản dễ dàng, khi những áp lực và phân cực trong giáo hội và trong gia đình của chúng ta quá rõ ràng. Nhiệm vụ của chúng ta là giữ nền tảng luân lý, thách thức nền văn hóa vốn không còn hiểu hay chấp nhận cách hiểu cũ về những chuyện này. Đồng thời, chúng ta không ép chân lý theo thời, không ép Phúc âm chìu theo thế gian, từ đó chúng ta mới xác định tình trạng luân lý của thế giới này và của nhiều người thân của mình.

Sự thật cho chúng ta tự do, nhưng Thiên Chúa thường hành động qua những đường cong. Tôi là sinh viên thần học luân lý kinh điển, và tôi thực sự tin tưởng vào các nguyên tắc của nó, đồng thời mỗi ngày tôi đều khiêm nhượng và thấy mình được thách thức trước tình yêu thương, đức tin và sức sống nơi những con người bị xem là “sai lễ giáo.” Làm sao cái tốt lại là cái xấu được? Ở thời điểm này, tôi cũng như rất nhiều người trong các bạn, đang hoài nghi rằng, liệu chúng ta có buộc phải sống với sự mơ hồ, sống với câu hỏi triền miên không.

Chúng ta cần một phần mềm mới, một cách định dạng luân lý mới, một cách mới để giữ vững chân lý trong cảm thông, một cách mới để giữ điều quan thiết trong cuộc hiện sinh.

Xem lại Chuyện Ân xá

Khi Đức Giáo hoàng Phanxicô mở Năm Thánh Lòng thương xót, ngài hứa các Kitô hữu có thể có được đặc xá trong năm này. Điều này khiến nhiều người Công giáo La Mã thời nay, thậm chí cả người Tin Lành và phái Phúc âm, gãi đầu và hỏi vài câu hỏi khó: Người Công giáo vẫn còn dùng ân xá sao? Chúng ta chẳng học điều gì từ Luther và cuộc Kháng cách sao? Chúng ta thực sự tin rằng các hành động nghi thức nhất định, như đi qua những cánh cửa nhà thờ, sẽ thuận tiện hóa con đường lên thiên đàng sao?

Đây là những câu hỏi có căn cứ và cần được giải đáp. Thực sự, ân xá là gì?

Trong tông sắc Gương mặt Lòng thương xót (Misericordiae Vultus) Đức Giáo hoàng Phanxicô nói thế này về lòng thương xót:

“Năm Thánh cũng bao gồm Ân Xá, một yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt trong Năm Thánh Lòng Thương Xót. Thiên Chúa xót thương chúng ta vô bờ bến. Nhờ sự chết và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa bày tỏ tình yêu của Ngài, tình yêu xóa bỏ tội lỗi của con người. Việc giao hòa với Thiên Chúa trở nên khả thi nhờ mầu nhiệm Vượt Qua và qua trung gian của Giáo Hội. Thiên Chúa luôn sẵn sàng để thương xót, và không bao giờ mệt mỏi trong việc thương xót với những cách thức mới mẻ và bất ngờ. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm về tội lỗi. Chúng ta biết mình được kêu gọi để trở nên hoàn thiện (x. Mt 5,48), nhưng chúng ta vẫn cảm thấy gánh nặng của tội lỗi. Chúng ta nhận ra sức mạnh của ân sủng đang biến đổi chúng ta, cùng lúc chúng ta cũng cảm nghiệm sức mạnh của tội lỗi đang chi phối chúng ta. Dù nhận được ơn tha thứ, chúng ta vẫn nghiệm thấy trong cuộc sống những mâu thuẫn phát sinh từ tội lỗi. Nhờ bí tích Hòa Giải, Thiên Chúa thứ tha tội lỗi, những tội ấy hoàn toàn bị xóa bỏ; tuy nhiên, vẫn còn đó những dấu vết xấu xa do tội lỗi để lại trong lối hành xử và cách suy nghĩ của chúng ta. Nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn mạnh hơn. Lòng thương xót trở thành những ân xá của Chúa Cha, qua trung gian Hiền Thê của Đức Kitô, được ban cho tội nhân vừa lãnh ơn giao hòa, sẽ giải gỡ người ấy khỏi tất cả những hậu quả của tội lỗi, để có thể hành động với đức ái và lớn lên trong tình yêu, hơn là lại rơi vào tội lỗi.

Giáo Hội sống trong tình hiệp thông với các thánh. Trong bí tích Thánh Thể, tình hiệp thông ấy, do Thiên Chúa ân ban, trở nên mối dây thiêng liêng nối kết các tín hữu với các thánh và các chân phước, một cộng đoàn đông đảo không sao đếm được (x. Kh 7,4). Sự thánh thiện của các ngài sẽ hỗ trợ cho sự mỏng dòn của chúng ta, và như thế, với lời cầu nguyện và đời sống của mình, Mẹ Giáo Hội có thể nâng đỡ sự yếu đuối của người này bằng sự thánh thiện của người khác. Lãnh nhận ân xá của Năm Thánh chính là vui hưởng lòng thương xót của Chúa Cha, với quyết tâm để cho ơn tha thứ của Ngài tác động trên toàn bộ đời sống người tín hữu. Ân xá cũng là cảm nghiệm sự thánh thiện của Giáo Hội đang thông ban tất cả hoa trái nơi công trình cứu độ của Chúa Kitô, để ơn tha thứ và tình yêu Thiên Chúa có được những kết quả tuyệt vời nhất. Chúng ta hãy sống Năm Toàn Xá này cách sốt sắng, hãy khẩn cầu Thiên Chúa tha thứ tội lỗi và tuôn đổ chan hòa ân xá đầy xót thương của Ngài trên chúng ta.” (*)

Đức Giáo hoàng đang nói gì ở đây? Rõ ràng, ngài không dạy về khái niệm quá phổ biến và không chính xác rằng, ân xá là cách để rút ngắn thời gian trong luyện ngục. Đúng hơn, ngài đang gắn kết ý niệm ân xá với hai điều: Thứ nhất, ân xá là sự chấp nhận và mừng kính sự nhưng không tuyệt vời của lòng thương xót Chúa. Một ân xá có hiệu lực, là sự chấp nhận ý thức hơn về lòng khoan dung, là chấp nhận có ý thức về một tình yêu, lòng thương xót và sự tha thứ mà chúng ta hoàn toàn không xứng đáng. Tình yêu có thể khoan dung. Cha mẹ có thể khoan dung với con cái. Do đó bất kỳ lúc nào chúng ta cầu nguyện hay cử hành phụng vụ với ý xin ân xá, thì nghĩa là lời kinh và phụng vụ đó khiến chúng ta ý thức hơn và biết ơn hơn về lòng thương xót khoan dung của Thiên Chúa. Chúng ta sống trong một lòng thương xót không tả nổi mà chúng ta hầu như không ý thức được. Trong Năm Thánh Lòng thương xót, Đức Giáo hoàng Phanxicô mời gọi chúng ta có những lời kinh và việc làm cụ thể để cho chúng ta ý thức hơn về lòng thương xót khoan dung này.

Hơn nữa, Đức Phanxicô liên kết khái niệm ân xá với một khái niệm khác, cụ thể là sự hiệp nhất và chung lòng giữa chúng ta với nhau trong Nhiệm thể Chúa Kitô. Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng mình hiệp nhất với nhau trong một mối dây hệ thống, thiêng liêng, vô hình và sâu sắc, một mối ràng buộc rất thật làm cho chúng ta nên một thân thể, với cùng dòng máu và sự sống chảy suốt tất cả chúng ta. Như thế, trong Nhiệm thể Chúa Kitô, giống như trong mọi cơ thể sống, có một hệ miễn dịch nên nếu ai đó làm gì, dù tốt hay xấu, cũng ảnh hưởng đến toàn thân thể. Do vậy, như Đức Giáo hoàng xác nhận, bởi có một hệ miễn dịch duy nhất trong Thân thể Chúa Kitô, nên sức mạnh của người này có thể củng cố cho yếu đuối của người khác, những người nhận ân xá, nhận một ơn mà mình không xứng đáng.

Bước qua cửa thánh là ý thức hơn về lòng thương xót khoan dung của Thiên Chúa và về cộng đoàn sự sống tuyệt vời mà chúng ta là một phần sống trong đó.

*Bản dịch chính thức của Ủy Ban Giáo lý,
http://giaolyductin.org/misericordi-vultus-dung-mao-long-thuong-xot-tong-sac-mo-nam-thanh-ngoai-thuong-ve-long-thuong-xot.html