RonRolheiser,OMI

Khát khao mơ hồ

Nhiều lúc cầu nguyện bằng thánh vịnh, tôi thấy mình đang nhìn vào một tâm gương phản ánh sự bất lương mơ hồ của tôi, một cảm giác khá là khó chịu. Ví dụ như, khi đọc lên những lời này: Linh hồn con trông mong Ngài trong đêm tối. …Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa. …Con chỉ mong mỏi Ngài! Con chỉ khát khao Ngài!

Nếu thành thật, tôi phải thừa nhận rằng nhiều lần, có lẽ là hầu hết mọi lần, linh hồn tôi khát khao nhiều điều có lẽ không thuộc về Chúa. Làm sao tôi có thể thật tâm cầu nguyện: Lạy Chúa, con chỉ mong mỏi Ngài! Con chỉ khát khao Ngài! Trong sự bồn chồn, trong những ước mong trần thế, và bản năng tự nhiên của mình, tôi khao khát nhiều điều không có vẻ gì là tập trung vào Thiên Chúa hay hướng thượng cả. Tôi cho rằng hầu hết chúng ta trong hầu hết cuộc đời mình cũng thế. Chỉ có những nhà thần nghiệm, vào một lúc nào đó, có thể nói lên những lời cầu nguyện này với trọn vẹn tâm trí mà thôi.

Nhưng khao khát của con người thật phức tạp. Có bề mặt và có chiều sâu, và trong mỗi một khao khát và động cơ của mình, chúng ta có thể tự vấn: Tôi thật sự tìm kiếm gì ở đây? Xét bên ngoài, ngay tại đây và ngay lúc này, tôi biết tôi muốn gì, nhưng xét tận cùng, tôi khao khát điều gì trong chuyện này?

Sự mơ hồ này, giữa những gì chúng ta nhận thức được ở bề ngoài và những gì chúng ta chỉ có thể cảm nhận ở một mức độ sâu sắc hơn mà cũng mơ hồ và tăm tối hơn, chính là những gì mà một số triết gia lỗi lạc đã phân định giữa sự rõ ràng của nhận thức và điều ẩn tàng trong nó. Sự rõ ràng là những gì chúng ta nhận thức một cách ý thức (“Tôi muốn thứ này!”) còn sự ẩn tàng là những yếu tố vô thức cũng có vai trò trong diễn biến này nhưng chúng ta lại không biết. Chúng ta chỉ nhận thức được chúng một cách mơ hồ, trong những phần vô thức của linh hồn mình.

Chẳng hạn như, Karl Rahner, triết gia rất thích phân định và đã áp dụng chiều hướng này rất tốt trong linh đạo của mình, từng cho chúng ta một ví dụ để phân biệt giữa sự rõ ràng và sự ẩn tàng trong những khao khát và động cơ của chúng ta. Cha nói rằng, hãy thử tưởng tượng: Một người cô độc, bồn chồn, và chán nản trong tối thứ bảy, tìm đến một quán rượu, chọn một cô gái điếm, và lên giường với cô. Xét bề ngoài, động cơ và khao khát của ông này rõ ràng và thô bỉ. Trên chiếc giường đêm hôm đó, ông không khao khát Thiên Chúa. Nhưng mà có thể nào là có không?

Xét bề ngoài, tất nhiên là không, khao khát của ông có vẻ chỉ quy về bản thân và đối lập với khát khao linh thánh. Nhưng phân tích tận cội rễ thâm sâu nhất, thì khao khát của ông này xét cho cùng là khao khát một sự thân mật thiêng liêng, khao khát bánh hằng sống và thiên đàng. Ông khao khát Thiên Chúa từ sâu thẳm linh hồn mình và từ sâu thẳm trong động cơ ông làm, dù ông không nhận thức được thế. Lúc đó ông chỉ nhận thức được một khao khát thô tục cho sự thỏa mãn ngay lập tức, nhưng điều này chỉ là triệu chứng và nó không thay đổi được động cơ tận cùng của ông. Ở một tầm mức sâu hơn, một tầm mức mà ông không nhận thức một cách ý thức được, ông vẫn khao khát bánh hằng sống, khao khát chỉ mình Thiên Chúa mà thôi. Linh hồn ông vẫn là con nai khát khao dòng nước, ngoại trừ một điều là đêm hôm đó, một dòng nước khác hứa hẹn với ông chút nước ngon lành mà ông có thể uống ngay lập tức.

Gần đây, tôi có dạy một khóa về linh đạo tuổi già và giờ chết. Mượn một dòng thơ của Goethe trong bài Khát khao Linh thánh, tôi đặt tựa đề cho khóa học này một cách thi vị là: Điên lên vì Ánh sáng. Trong một bài kiểm tra, một sinh viên đã suy tư về hành trình của mình hướng về tuổi già và cái chết như thế này:

“Tối hôm qua, tôi bắt đầu nghĩ rằng chết là làm tình với Thiên Chúa, sự hòa hợp sau một đời ve vãn, gặp gỡ lén lút, khát khao không ngừng, cũng như thấy cô đơn đến mức điên lên vì Ánh sáng. Tôi suy niệm trên Diễm Ca và thấy cách tôi nghĩ về cái chết cũng gần như thế, không hẳn là sự từ bỏ và phân hủy của thân xác, nhưng là một sự biến đổi hoàn toàn đã được ghi sẵn trong định mệnh của tôi. Tôi nghĩ đời tôi như một câu chuyện tình với những khoảng thăng trầm như bao câu chuyện tình khác, nhưng luôn luôn hướng về Thiên Chúa với cái chết là lễ cưới đầy tình yêu giữa Thiên Chúa với tôi, sau thời gian đính hôn là cả đời người.”

Cô ấy đã nói lên những suy tư của Rahner cũng như nhiều triết gia khác, dù bằng những lời lẽ trực tiếp hơn. Khi phân tích khát khao của mình, cô chỉ ra rằng có nhiều mức độ, rõ ràng và mơ hồ, ý thức và vô thức.

Nhưng, cuộc đời chúng ta, với mọi sự căng thẳng, bồn chồn, non nớt của tuổi trẻ, những trầm cảm của tuổi trưởng thành, những thời gian cô đơn lạnh lẽo, những lúc hoài nghi, tuyệt vọng, sụp đổ, và cả những lần phóng túng bừa bãi, chắc chắn là những cuộc ve vãn với những khao khát rõ ràng không hướng đến Thiên Chúa. Nhưng xét tận cùng, và một ngày nào đó sẽ rõ ràng là, cuộc đời chúng ta như thế sẽ tìm được và biết được sự hòa hợp viên mãn của mình.

Chúng con biết theo ai?

“Bỏ Thầy, chúng con biết theo ai? Vì Thầy có lời ban sự sống đời đời.” Thánh Phêrô đã nói thế với Chúa Giêsu. Nhưng đó là những lời trong một bối cảnh rất xung khắc. Chúa Giêsu vừa nói những lời khiến những người nghe Ngài thấy chướng tai đến mức giận dữ, và Tin mừng cho chúng ta biết là mọi người cứ xì xầm rằng những lời Chúa vừa nói thật “không thể chấp nhận được.” Rồi Chúa Giêsu quay sang các tông đồ và hỏi: “Các con cũng muốn bỏ đi sao?” Thánh Phêrô trả lời: “Bỏ Thầy chúng con biết theo ai? Nhưng câu này nghe như một tuyên bố buông bỏ kiểu khắc kỷ hơn là một câu hỏi thật sự.

Những lời của thánh Phêrô có hai tầm mức: Một là nghĩa bên ngoài, nó thể hiện một sự khiêm hạ và bất lực mà thỉnh thoảng chúng ta thấy mình cũng có. “Tôi chẳng còn chọn lựa thay thế nào cả! Tôi đã dành trọn bản thân cho mối quan hệ này và giờ tôi chẳng còn lựa chọn nào khác. Tôi bị mắc kẹt với chuyện này rồi!” Đây là lúc chúng ta hạ mình và bất kỳ ai từng thành tâm gắn bó với sự gì đó cuối cùng sẽ thấy mình như thế, biết rằng mình không còn chọn lựa thực tế nào nữa.

Nhưng những lời này cũng cho thấy một tình thế tiến thoái lưỡng nan vô cùng, cụ thể là nếu đã không tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong đức tin vào Thiên Chúa, thì tôi có thể tìm được nó ở đâu nữa đây? Tất cả chúng ta, đến lúc nào đó, sẽ tự hỏi mình câu đó. Nếu tôi không tin vào Chúa, không theo đạo, thì cuộc sống của tôi có ý nghĩa gì?

Chúng ta có thể đi đâu nếu không còn một niềm tin rõ ràng vào Thiên Chúa? Rất nhiều câu hỏi như thế. Tôi nghĩ ngay về những nhà khắc kỷ đã vật lộn với câu hỏi này và tìm thấy sự khuây khỏa trong những dạng mà Albert Camus gọi là “nổi loạn siêu hình” hay theo kiểu chủ nghĩa hưởng lạc mà Nikos Kazantzakis đã nêu lên trong quyển Zorba, người Hy Lạp. Có một chủ nghĩa khắc kỷ muốn đem lại sự cứu rỗi bằng cách tìm ra sự sống và ý nghĩa cuộc đời trong việc đấu tranh với những hỗn loạn và bệnh tật, chỉ vì một lý do là chúng gây đau khổ và là thứ chống đối cuộc sống. Kiểu này cũng hệt như chủ nghĩa hưởng lạc đặt nền tảng cuộc sống trên khoái lạc. Có vẻ có nhiều kiểu thánh nhân.

Cũng có nhiều kiểu bất tử. Với một số người, có thể tìm thấy ý nghĩa bên ngoài một đức tin rõ ràng bằng cách để lại một di sản trên đời này, bằng con cái, bằng thành tựu. Chúng ta đều quen với câu ngạn ngữ: Trồng một cây, viết một quyển sách, có một đứa con! Các nhà thơ, nhà văn, nghệ sĩ thường có không gian riêng của họ để tìm ý nghĩa cuộc đời bên ngoài một đức tin cụ thể. Với họ, sáng tạo và vẻ đẹp có thể là cùng đích của chính chúng. Nghệ thuật vị nghệ thuật. Sáng tạo tự nó là đủ rồi.

Và vẫn còn những người khác tìm thấy ý nghĩa cuộc đời đơn thuần qua việc sống tốt, sống thành thật, và thế là đủ. Cũng có những nhân đức sống chỉ vì nhân đức, và nó đã là phần thưởng cho nó rồi. Sống một cuộc đời tốt lành và quảng đại có thể đem lại mức ý nghĩa vừa đủ cho những người đang đi qua cuộc đời này.

Vậy, có vẻ ngoài một đức tin cụ thể, có nhiều không gian khác để chúng ta tìm thấy ý nghĩa cho cuộc đời. Nhưng có thật thế không? Chẳng phải chúng ta tin rằng ý nghĩa đích thực chỉ có thể tìm thấy nơi Thiên Chúa hay sao? Câu nói kinh điển của thánh Augustino là gì? ‘Lạy Chúa, Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.’ Có điều gì khác ngoài đức tin và Thiên Chúa thật sự có thể làm lặng yên cơn khắc khoải của chúng ta sao?

Có, có nhiều điều có thể làm thế, có cách đấu tranh với hỗn loạn, chữa lành bệnh tật, để lại di sản, sống vì tha nhân, kiến tạo gì đó, sáng tạo gì đó, hay đơn giản là sống thành thật và quảng đại. Nhưng tất cả chúng, là khởi đầu, để chúng ta tỏa ra những đặc tính siêu việt của Thiên Chúa và làm việc với Ngài để đem lại sự sống và trật tự cho thế giới này. Làm sao lại thế?

Thần học Kitô giáo cho chúng ta biết rằng, Thiên Chúa là Duy nhất, là Chân, Thiện, Mỹ. Và như thế, khi một nghệ sĩ dành trọn đời mình để tạo nên vẻ đẹp, khi một cặp vợ chồng sinh con cái, khi các nhà khoa học tìm cách chữa nhiều chứng bệnh, khi các giáo viên giảng dạy, khi bố mẹ chăm lo cho con cái, khi những vận động viên tham gia thi đấu, khi những công nhân làm việc cật lực, khi người ta sống thành thật và quảng đại, và thậm chí cả khi những người theo chủ nghĩa khoái lạc đắm chìm trong khoái lạc đời này, là họ, tất cả họ, dù có đức tin hay không, đều đang thực hành một đức tin, bởi họ đang đặt niềm tín thác vào sự Duy nhất, Sự thật, sự Tốt lành, hay Vẻ đẹp của Thiên Chúa.

“Bỏ Thầy chúng con biết theo ai? Vì Thầy có lời ban sự sống đời đời.” Có vẻ có nhiều nơi để đi, và nhiều người đã đi đến những nơi đó. Nhưng những nơi này không nhất thiết là những không gian trống rỗng, sai lầm và tự diệt. Tất nhiên, chúng là những thứ tự xem chính chúng là mục đích của mình, nhưng chỉ cần nhìn vào những sinh lực tích cực, tình yêu thương, sự sáng tạo, lòng quảng đại vẫn tràn đầy thế giới, thì chúng ta biết những người tìm Thiên Chúa bên ngoài một đức tin cụ thể vẫn được gặp Chúa.

Thiện tâm thôi là không đủ

Bác ái là có tấm lòng tốt, nhưng công lý thì không chỉ là vậy. Sự đồng cảm cá nhân là tốt và là nhân đức, nhưng nó không hẳn thay đổi cơ cấu xã hội, kinh tế và chính trị đang bất công biến nhiều người thành nạn nhân và dung dưỡng quá đáng những thành phần đặc quyền đặc lợi. Chúng ta cần phải công tâm và có lòng tốt, nhưng cũng cần có những chính sách tốt và công tâm.

Jim Wallis, khi bàn cụ thể về kỳ thị chủng tộc, đã nói thế này: Khi chúng ta biểu tình là chúng ta không đứng chung hàng ngũ với hệ thống bất công bằng cách nói rằng: “Tôi có những người bạn da đen,” chúng ta phải thách thức chính bản thân mình. Đây không chỉ là vấn đề trong lòng, mà là vấn đề về chính sách công. Chúng ta có thể có những người bạn da đen nhưng nếu chính sách của chúng ta mang tính kỳ thị chủng tộc, thì nơi này không có công lý. Thiện tâm của riêng mỗi người không phải lúc nào cũng làm nên một hệ thống công bằng cho tất cả mọi người.

Và chính từ điểm này mà chúng ta thấy sự phân biệt mấu chốt giữa bác ái và công lý, giữa thiện tâm cá nhân và nỗ lực cộng đồng để bảo đảm các hệ thống xã hội, kinh tế, và chính trị của chúng ta không phải là nguyên do gây nên mọi thứ mà chúng ta đang cố khắc phục bằng lòng bác ái. Những gì gây nên nạn nghèo đói, kỳ thị chủng tộc, bất công kinh tế, thiếu công bằng về tiếp cận giáo dục và y tế, cùng sự vô trách nhiệm đối với thiên nhiên? Thái độ cá nhân, đúng là thế. Nhưng bất công cũng là kết quả do các chính sách xã hội, kinh tế về chính trị, khi chúng tạo nên những tình trạng làm nảy sinh nghèo đói, bất công, kỳ thị chủng tộc, đặc quyền đặc lợi, và thiếu ý thức về chính không khí mà chúng ta đang hít thở.

Tôi cho rằng, hầu hết chúng ta đều quen thuộc một câu chuyện thường được dùng để phân biệt giữa Bác ái và công lý. Chuyện như thế này: Có một thành phố xây cạnh bờ sông, nhưng lại nằm ở đoạn uốn khúc nên dân phố chỉ có thể thấy phần sông bọc quanh thành phố mình. Một ngày nọ vài đứa trẻ chơi gần sông thì thấy năm người trôi trên mặt nước. Chúng liền chạy đi tìm người giúp và dân phố làm việc mà bất kỳ người có trách nhiệm nào sẽ làm trong hoàn cảnh đó. Họ kéo năm người lên khỏi sông. Hai người đã chết và được chôn cất. Ba người còn sống. Một trong số đó là một đứa trẻ, và nó được một gia đình nhận nuôi ngay, một bà bị ốm nặng liền được đưa vào bệnh viện, cuối cùng là một thanh niên, liền có người giúp tìm việc làm và cho chỗ ở.

Nhưng câu chuyện không kết thúc ở đó. Ngày hôm sau, lại thấy thêm một số người trôi sông, và dân phố cũng làm hệt như hôm trước. Họ lo cho những người đó. Họ chôn cất người chết, cho người bệnh vào bệnh viện, tìm nhà nhận nuôi những đứa trẻ, và tìm công việc cùng chỗ ở cho người lớn. Rồi cứ năm này qua năm khác, việc lo cho những người trôi sông dần thành một chuyện thường ngày, một phần trong đời sống của cộng đồng. Một số người đầy lòng nhân ái đã dành cả cuộc đời để chăm lo cho những người trôi sông.

Dù họ vẫn là những con người quảng đại và thiện tâm, khi chăm lo cho những người trôi sông đến thành phố mình, nhưng… Đến lúc này, vẫn chẳng có ai đi ngược con sông để xem những người trôi sông từ đâu và vì sao mà ngày nào cũng xuất hiện.

Bài học quá rõ ràng: Chăm sóc cho những người trôi sông đến ngay nhà chúng ta là chuyện cần thiết, tốt lành và đầy tính Kitô, nhưng đi ngược dòng để cố thay đổi chuyện gì gây nên thảm cảnh đó lại là chuyện khác. Đấy là sự khác nhau giữa bác ái thiện tâm và công bằng xã hội.

Đáng buồn thay, chúng ta quá chậm hiểu điều này và do đó không thực hiện lời dạy của Chúa Giêsu về công bằng xã hội. Quá nhiều người tốt lành, đầy lòng bác ái, lại không thấy ra đòi hỏi cần có công bằng còn cao hơn cả những đòi hỏi về việc bác ái cá nhân. Và chúng ta thường đủ thiện tâm để cho ai đó một tấm áo, nhưng lại không chịu nhìn xem vì sao tủ quần áo chúng ta đầy ắp mà lại có người không có nổi cái áo để mặc.

Nhưng đừng hiểu lầm chuyện này. Đòi hỏi của Tin Mừng muốn chúng ta hành động vì công lý không phải là xem nhẹ lòng Bác ái. Bác ái vẫn là nhân đức tối cùng, và đôi khi sự khác biệt chủ động của chúng ta trong đời chính là tình yêu thương và tôn trọng mà chúng ta dành cho nhau. Sự thiện cá nhân của chúng ta đôi khi là ánh nến duy nhất đem lại ánh sáng cho chúng ta.

Nhưng sự thiện và ánh sáng đó cũng phải chiếu tỏa ra cho mọi người, trong cách chúng ta bỏ phiếu, trong những chính sách công mà chúng ta ủng hộ hay phản đối nữa.

Kitô giáo và cơn kiệt nhọc giữa trưa

Có một ý kiến cho rằng, thật hay khi so sánh mỗi thế kỷ Kitô giáo tồn tại với mỗi năm cuộc đời. Thế thì Kitô giáo được 21 tuổi, đủ lớn để có sự trưởng thành căn bản nhưng vẫn còn lâu mới chính chắn hoàn toàn. Ý kiến này có nhận thức thấu suốt đến thế nào?

Đây là một câu hỏi phức tạp bởi Kitô giáo là tổng thể các cộng đoàn phụng tự và linh đạo trải khắp thế giới. Ví dụ như, nói về các giáo hội, thật khó để nói về một giáo hội Kitô giáo theo kiểu toàn cầu. Chẳng hạn như, ở châu Phi, hầu hết các giáo hội đều trẻ trung, đầy sức sống trẻ, và tăng trưởng mạnh, với những tiềm lực và vấn đề đi kèm. Ở Đông Âu, các giáo hội vẫn còn trong giai đoạn phục hồi sau nhiều năm bị đàn áp dưới thời cộng sản và giờ đang đấu tranh để tìm sự cân bằng và sinh lực mới trong một xã hội thế tục hóa hơn bao giờ hết. Các giáo hội Mỹ La tinh thì ngả theo thần học giải phóng. Vì ở đó có các vấn đề công bằng xã hội, có những người đấu tranh vì nó nhân danh Chúa Giêsu, và tất cả đã tạo nên một sắc thái linh đạo và cái nhìn riêng về giáo hội. Ở châu Á, tình hình còn phức tạp hơn. Người ta sẽ nói về bốn biểu đạt riêng biệt của giáo hội và tương đồng với nó là bốn linh đạo khác nhau ở châu Á. Là châu Á Phật giáo, châu Á Ấn giáo, châu Á Hồi giáo, và một châu Á hậu Kitô giáo. Các giáo hội và linh đạo biểu lộ khá là khác nhau ở nhiều vùng châu Á. Cuối cùng là Tây Âu và Bắc Mỹ, gọi chung là “Phương Tây.” Có vẻ như ở Phương Tây, Kitô giáo không còn tỏa sáng theo kiểu trẻ trung và đầy sức sống, nhìn qua có vẻ như một đối tượng già nua, mệt mỏi rồi.

Đó có phải là cái nhìn đúng về Kitô giáo ở Tây Âu, Bắc Mỹ, và các khu vực thế tục hóa cao trên thế giới? Các giáo hội chúng ta có già nua, mệt mỏi, và kiệt quệ không?

Đấy là một góc nhìn thôi, bức tranh toàn cảnh cho chúng ta một cách diễn giải khác. Sigmund Freud và Karl Marx, cùng với nhiều nhân vật theo Thời đại Ánh sáng, thấy Kitô giáo là một thứ hết thời, một thực thể đang hấp hối, là cái chết không thể tránh khỏi của sự ngây thơ khờ khạo. Nhưng Teilhard de Chardin cũng nhìn vào bối cảnh đó, lại thấy mọi chuyện theo chiều ngược lại. Với cha, Kitô giáo vẫn còn “mang tã” đang đấu tranh để lớn lên trưởng thành, một đứa trẻ vẫn còn học đi, do đó thỉnh thoảng vấp ngã. Ngòi bút thiêng liêng đương đại, Tomas Halik, người vừa giành Giải Templeton danh tiếng, lại đưa ra một cái nhìn khác. Với Halik, Kitô giáo ở Phương Tây đang trải qua “cơn kiệt lực giữa trưa” hay như tình trạng mất ý tưởng của một nhà văn. Ông rất đồng tình với điều mà Charles Taylor đã nói trong công trình nghiên cứu của ông, Một Thời đại Thế tục (A Secular Age). Với Taylor, những gì chúng ta đang thấy ngày nay không hẳn là một cuộc khủng hoảng đức tin cho bằng một cuộc khủng hoảng về hình dung và dung nạp. Các ngòi bút Kitô giáo trước đây đã gọi chuyện này là “đêm tối của tâm hồn,” và Halik cho rằng đây không phải là chuyện xảy ra vào cuối ngày, mà là vào lúc giữa ngày.

Tôi rất đồng tình với Halik. Kitô giáo, các giáo hội và linh đạo ở Tây Âu và Bắc Mỹ không già cỗi và hấp hối, không phải là một đối tượng hết thời. Thật ra, đó vẫn là những đối tượng trẻ trung, mới chỉ 21 tuổi, vẫn còn nhiều điều cần trưởng thành. Nhưng tôi đồng ý với các chỉ trích mang tính bảo thủ rằng, không phải chắc chắn sẽ trưởng thành được như thế, nhưng chuyện này dựa vào việc chúng ta đưa ra những chọn lựa rõ ràng và dấn thân mạnh mẽ với một đức tin chân thật. Như bất kỳ bậc cha mẹ nào, bạn sẽ biết là không có gì bảo đảm đứa con 21 tuổi của bạn sẽ đạt được sự chính chắn trưởng thành. Mọi chuyện có thể xảy ra ngược lại, và với Kitô giáo ngày nay cũng thế. Không có gì là bảo đảm.

Nhưng trong đức tin, và trong các chọn lựa cùng dấn thân mà chúng ta sẽ phải thực hiện, điều quan trọng là chúng ta phải xác định đúng về mình để làm đúng việc. Chúng ta không già nua và hấp hối. Chúng ta trẻ trung, và dù cho đang bị “cơn kiệt nhọc giữa trưa” hành hạ, thì chúng ta vẫn còn cả buổi chiều nữa mà. Buổi chiều của chúng ta vẫn có đó, và nhiệm vụ của buổi chiều khá khác biệt với nhiệm vụ của buổi sáng hay buổi tối. Như James Hillman đã nói: “Những năm đầu đời phải tập trung vào làm việc cho xong, còn những năm sau cuối đời phải dành để suy nghĩ xem đã làm được những gì và làm thế nào.”

Nhưng buổi chiều phải tập trung vào một chuyện khác, cụ thể là, nhiệm vụ đào sâu. Cả linh đạo và nhân học đều đồng ý rằng buổi xế chiều của cuộc đời là thời gian quan trọng để trưởng thành, một thời gian quan trọng để đào sâu nội tâm. Và phải nhớ, đây là đào sâu chứ không phải phục hồi.

Không thể thắng được cơn kiệt nhọc giữa trưa của chúng ta bằng cách trở lại làm công việc buổi sáng với hy vọng làm cho mình tươi mới, cũng không phải bằng ngồi nghỉ ngơi thụ động. Phải thắng cơn kiệt nhọc giữa trưa bằng các tìm những nguồn suối tươi mới đang chôn sâu bên trong chúng ta.

Tấm áo dệt liền

Thánh Gioan Thánh Giá dạy rằng trong linh đạo và luân lý không có những phạm vi miễn trừ. Nói đơn giản, bạn không thể là một vị thánh hay một người có đạo đức vô cùng nếu bạn cho phép mình miễn trừ một vài chuyện. Do đó, tôi có thể không cho phép mình bỏ qua một lỗi đạo đức hay một thói quen tội lỗi và xem đó là điều quan trọng, khi so với đủ mọi phẩm chất tốt đẹp tôi đang có. Với Gioan Thánh Giá, bạn không thể là một vị thánh với một điểm mù đạo đức, dù điểm đó chi rất nhỏ. Một chú chim bị cột vào đá, không thể bay dù cho sợi dây cột nó là dây thừng hay chỉ mảnh.

Cũng đúng như thế với những nỗ lực của chúng ta để bảo vệ sự sống và thăng tiến công lý trên đời. Bảo vệ sự sống và thăng tiến công lý phải là một sự trọn vẹn. Chúng ta không thể là một ngôn sứ đích thực nếu có, dù chỉ một vài điểm mù đạo đức.

Và như thế là chúng ta không thể xem những vấn đề như phá thai, chiến tranh hạt nhân, thiếu ý thức môi sinh, thảm cảnh người tị nạn, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, nạn nghèo đói và bất bình đẳng, không được tiếp cận dịch vụ y tế, không công bằng trong chuyện học hành, bừa bãi về tình dục, và kỳ thị cộng đồng người đồng tính, là những chuyện hoàn toàn riêng biệt được. Dù cho có thừa nhận hay không, thì những lĩnh vực này cũng liên kết với nhau không thể tách rời. Hồng y Bernardin đã nói: “Bất kỳ ai muốn thành công trong những vấn đề liên quan đến sự sống đều cần phải có một bận tâm cho thái độ của xã hội về việc tôn trọng sự sống con người.” Đây là một thách thức lớn cho tất cả chúng ta về mọi mặt của lăng kính hệ tư tưởng.

Do đó, những người bận tâm đến việc phá thai cần phải chấp nhận rằng không thể nói về vấn đề phá thai mà không nói về những vấn đề nghèo đói, quyền tiếp cận dịch vụ y tế, đạo đức tình dục, và thậm chí là án tử hình. Sự liên hệ lẫn nhau này không phải mang tính thần nghiệm. Mà là chuyện thực tế. Phá thai tăng mạnh là vì đói nghèo và thiếu sự hỗ trợ thỏa đáng hơn là do một hệ tư tưởng theo chủ nghĩa tự do. Do đó, đấu tranh chống phá thai phải tập trung vào các vấn đề đói nghèo và hỗ trợ cho phụ nữ mang thai. Cũng vậy, chấp nhận việc giết người trong một phạm vi (án tử hình) thì góp phần củng cố cho sự ủng hộ việc giết người ở một phạm vi khác (phá thai). Cũng cần phải nói đến đạo đức tình dục bởi phá thai là sản phầm không thể chối cãi của một xã hội mà người ta quan hệ tình dục với nhau khi không cần kết hôn.

Tất cả là một, và bất kỳ phản đối nào với việc phá thai mà không nhìn nhận thỏa đáng quan điểm rộng hơn là bảo vệ sự sống, thì sẽ khó khiến cho những người chân thành ủng hộ cho các nhóm chống phá thai.

Ngược lại, những người bận tâm về vấn đề nghèo đói, về dịch vụ y tế, án tử hình, môi sinh, chiến tranh, kỳ thị, và quyền của người đồng tính, cũng cần phải thừa nhận rằng không thể xử lý những vấn đề đó cho hiệu quả nếu không xử lý vấn đề phá thai. Và ngay cả trong tình huống này, mối liên kết cũng rất thực. Không thể mủi lòng với những người yếu đuối và dễ bị tổn thương ở một phạm vi nào đó, chính là thỏa hiệp tiêu chuẩn đạo đức khi bảo vệ cho những người yếu đuối và dễ bị tổn thương ở một phạm vi khác. Chúng ta phải biện hộ và đấu tranh để bảo vệ cho tất cả những ai bị biến thành nạn nhân trong cuộc sống của mình, và như thế trong số các nạn nhân đó có cả những thai nhi.

Tất cả là một. Không có miễn trừ nào cả, do đó chống lại việc bảo vệ các thai nhi không chỉ là đi ngược lại những điều trọng tâm của một chiến dịch công bằng xã hội, mà còn khiến hệ tư tưởng tự do và các ủng hộ chính trị của nó trở nên thỏa hiệp.

Tất nhiên, chẳng ai buộc phải dốc sức ngang nhau cho mọi vấn đề công bằng trên thế giới. Nhìn nhận rằng các vấn đề này không thể tách rời nhau, không buộc chúng ta phải thôi nhiệt tâm hành động vì một vấn đề cụ thể nào đó. Nhưng biết rằng những vấn đề này là một, thì chúng ta buộc phải luôn nhìn nhận rằng, dù cho vấn đề riêng chúng ta đấu tranh có quan trọng đến thế nào, thì chúng ta cũng không được xem nó theo kiểu trắng đen, không có những sắc thái khác nhau. Chúng ta phải luôn luôn biết nhạy cảm với cái toàn thể, với bối cảnh rộng hơn, với mối liên kết phức tạp của mọi vấn đề xã hội này.

Và một điều không kém quan trọng, là chúng ta phải biết khiêm nhượng, nhạy cảm với những sự mâu thuẫn đạo đức của chính chúng ta trước.

Trong đời này, chúng ta sẽ luôn có những mâu thuẫn, và phải tha thứ cho mình vì những chuyện đó. Đừng để sự hoàn hảo kìm hãm việc thiện. Nhưng nhìn nhận cả sự mâu thuẫn và phức tạp trong những vấn đề này, phải cho chúng ta biết cởi mở hơn để lắng nghe quan điểm của những người khác, và bớt giáo điều và chính thống cực đoan trong thái độ của mình.

Mọi vấn đề liên quan đến công lý và hòa bình, tất cả đều là một, là một thể thống nhất, là áo choàng không đường may, và như những người lính đã bốc thăm để lấy áo choàng của Chúa Giêsu, thì chúng ta cũng phải biết lưỡng lự khi muốn chia tách tấm áo này thành từng mảnh nhỏ.

Đi trước

“Ta đi trước để chuẩn bị một chỗ cho các con!” Chúa Giêsu đã nói những lời này với các môn đệ trong đêm trước khi chịu nạn, khi Ngài ngồi đồng bàn với họ và thấy được sự đau buồn của họ khi biết Ngài sắp chết, sắp đi xa. Những lời của Chúa Giêsu không phải để an ủi và bảo đảm cho các môn đệ rằng họ sẽ không bị bỏ rơi. Mà sự thật là, Ngài chuẩn bị đi trước để chuẩn bị cho họ một chỗ để đến và vui hưởng cùng Ngài sau này.

Bản thân tôi rất cảm kích đoạn này, vì tôi đã cảm được ý nghĩa của nó qua cái chết của người chị mình. Chị còn trẻ, chị có nhiều con, và dường như chị quá trẻ để ra đi bỏ lại con cái sau lưng mình. Chị qua đời vì chứng ung thư, và dù nó tàn bạo đẩy chị đến cái chết, nhưng vẫn cho chị không phải chịu quá nhiều đau đớn và vẫn còn tỉnh táo trong đầu óc và tâm hồn cho đến tận giờ chết. Chứng ung thư nặng dần, chị không thể ăn uống gì được nữa, nhưng vẫn duy trì được một thời gian nhờ truyền dịch. Nhưng rồi truyền dịch cũng không còn hiệu quả, khi rút kim, các bác sĩ bảo chị còn chưa đầy một tuần nữa. Chị đã chọn dành tuần cuối cùng này trong bệnh viện hơn là ở nhà, với gia đình dễ dàng ở bên giường hấp hối của chị 24 tiếng một ngày.

Những ngày hấp hối của chị thật là một quãng thời gian thiêng liêng. Vài ngày trước khi chị mất, tôi đã đưa Mình Thánh Chúa cho chị. Và rất minh mẫn, chị cho tôi biết chị muốn làm nghi thức an táng thế nào. Chị chọn đúng đoạn Kinh thánh kể về những lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ đang u buồn rằng Ngài sẽ đi trước, để chuẩn bị một chỗ cho họ. Chị chia sẻ rằng, mỗi khi chuẩn bị sinh con, trước lúc đi bệnh viện, chị đã cẩn thận chuẩn mọi thứ ở nhà cho đứa bé, áo quần, tã giấy, chiếc nôi, và cả căn phòng cho em bé. Mỗi đứa con đều được chị đưa về một nơi mà chị đã chuẩn bị sẵn sàng. Và giờ chị lại chuẩn bị đi trước chúng, để chuẩn bị một nơi khác nữa cho chúng.

Tôi đã đọc những lời đó trong tang lễ của chị, và dù đau buồn, dù trong lúc như thế chẳng thể có lời nào xua đi được nỗi đau, nhưng những lời đầy đức tin của chị đã cho tất cả chúng tôi thấy ra một hình ảnh rộng lớn hơn, một con đường đức tin với hai điểm nổi bật.

Trước hết, hình ảnh chị đi trước con cái mình, lôi chúng ta ra khỏi cơn đau buồn để thấy được, sự thật một người mẹ có thể đi trước để chuẩn bị cho con cái mình một cách còn sâu đậm hơn cả cách chuẩn bị căn phòng cho bé sơ sinh. Thứ hai, chị “đi trước” cũng là cho con cái chị, và tất cả chúng ta thấy ra cách để chết, cách để làm một việc mà tất cả chúng ta rồi ai cũng sẽ làm. Sau khi thấy một người tốt lành qua đời, bạn sẽ cảm thấy ít sợ chết hơn, vì bạn đã thấy cái chết đến một cách bình thường, với một người bình thường, một cách mà bạn cũng có thể làm được. Và cách chết của chị là một sự chuẩn bị cho chúng tôi.

Nhưng ở đây không chỉ có những bài học về cái chết. Hình ảnh này, đi trước để chuẩn bị một chỗ cho ai đó, là một ẩn dụ để chỉ ra trách nhiệm căn bản của những năm trưởng thành của chúng ta. Dù là làm bố mẹ, là anh chị, chú bác cô dì, dù là giáo viên, linh mục, y tá, công nhân, đồng nghiệp hay bạn bè, thì trách nhiệm của “người lớn” là sống sao cho tạo được một điều gì đó cho người trẻ có thể noi theo. Trách nhiệm của người lớn chúng ta là chỉ cho người trẻ biết cách sống ở một nơi mà họ chưa từng đặt chân đến.

Và đây là một nghĩa vụ vừa cao cả vừa khiêm nhượng. Hầu hết chúng ta không thể sống theo những lý tưởng cao vời mà chúng ta thấy trong cuộc đời các vị thánh, dù cho chính các vị đã tạo sẵn một không gian lý tưởng cho chúng ta rồi. Nhưng dù không phải ai cũng có thể sống được như Mẹ Têrêxa, có lẽ mọi người có thể sống như bạn, như mẫu gương cuộc đời của bạn về ý nghĩa cuộc đời, về sự liêm chính, sự thánh thiện ẩn mình, và chết mà không sợ hãi.

Tôi được phúc ở bên giường hấp hối của nhiều người bình thường chết một cái chết rất bình thường, không có những thanh âm thiên thần, không có những lời alleluia trên môi họ, không có những nỗi đau và khao khát giày vò trong tim, không có những bàn tay nắm chặt tay, và lòng họ vẫn cứ tập trung vào nỗi đau phải lìa bỏ cõi đời này. Và đấy không phải là một cách chết tồi. Cách họ chết là chuẩn bị cho chúng ta một chỗ. Nhìn cách họ chết, tôi bớt sợ hãi hơn và có thể sẵn sàng nói rằng: Tôi có thể làm được việc này!

Thật là diễm phúc khi có ai đó đi trước để chuẩn bị một chỗ cho bạn!

Khi nào thì đức tin biến mất?

Khi Friedrich Nietzsche tuyên bố “Thiên Chúa đã chết”, ông có kèm thêm một câu hỏi: “Cần thứ gì đủ để xóa sạch toàn bộ nhìn nhận này?”

Tôi thường tự hỏi mình câu đó, bởi chính bản thân tôi đã chứng kiến một sự suy giảm chưa từng có về con số những người đi nhà thờ thường xuyên, và gần hơn nữa, là một sự tăng vọt cũng chưa từng có những người tuyên bố mình đã hoàn toàn mất đức tin và tự nhận mình là “Không” tôn giáo.
Nhóm này, những người tự nhận là không tôn giáo, đã tăng gấp đôi trong 20 năm qua, và hiện nay đang chiếm 30% dân số Canada và Hoa Kỳ. Ở Tây Âu và các nước thế tục hóa trên thế giới, con số này cũng tương tự như vậy.

Nhưng những người này thật sự đã mất đức tin của mình? Khi họ tuyên bố mình “không tôn giáo” là họ giải thích thế này: Chỉ là tôi không còn tin nữa! Tôi thấy nó không còn có ý nghĩa gì nữa! Tôi mất đức tin vào tôn giáo và giáo hội! Tôi không thể giả vờ tin thêm nữa! Tôi đã mất đức tin vào những niềm tin đó! Tôi không chắc mình còn tin vào Chúa không nữa!

Một điểm chung trong những câu này, là khái niệm về “tin.” Chỉ là tôi không tin nữa! Nhưng không còn tin vào điều gì đó có phải là đánh mất đức tin không? Không hẳn. Không còn tin vào điều gì đó là một chuyện, nhưng đánh mất đức tin có thể lại khác đấy. Không còn tin vào một tập hợp các tuyên bố đức tin không nhất thiết phải đồng nghĩa với đánh mất đức tin. Sự thật là, mất đi hệ thống niềm tin thường là điều kiện để có được một đức tin nguyên tuyền.

Niềm tin và đức tin khác nhau thế nào? Thường thì, nói rằng chúng ta tin điều gì đó là sự thật, nghĩa là chúng ta có thể làm cho sự thật đó tương khớp với trí tưởng hình dung của mình. Thế nghĩa là chúng ta có thể xác định nó theo trí hình dung sao cho nó có ý nghĩa với chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta không thể hình dung điều gì đó cho có ý nghĩa thì không hẳn có thể nói được rằng điều đó không đúng sự thật. Những niềm tin của chúng ta dựa vào những gì chúng ta có thể tương khớp với trí tưởng hình dung và suy nghĩ của mình.

Nhưng nhiều đối tượng của đức tin, về bản chất và theo định nghĩa, lại là những sự không thể hình dung, không thể hiểu thấy, và vượt ngoài tầm khái niệm hóa. Do đó, trong lĩnh vực đức tin, nói rằng tôi không thể tin điều này hay điều kia, thường là biểu hiện cho sự hạn chế của chúng ta trong trí hình dung và năng lực lý luận, hơn là biểu hiện cho sự mất đức tin. Tôi tin rằng chúng ta thấy bất khả tri về các niềm tin, hơn là thấy bất khả tri về Thiên Chúa, và như thế, đây không phải là mất đức tin.

Đức tin thì thâm sâu hơn niềm tin, và không phải lúc nào đức tin cũng là một sự mà chúng ta có thể hình dung trong đầu. Vi dụ như, một số đoạn trong Kinh Tin kính của các Tông đồ: Thật không thể nào hình dung những đoạn đó là thật theo kiểu một hình tượng hữu hình. Những xác quyết đó có thật, nhưng hình ảnh về chúng chỉ là những biểu tượng mà thôi. Và nhiều đoạn khác trong kinh tin kính Kitô giáo và các bản văn giáo lý đức tin cũng thế. Như đã nói, chúng đơn thuần là những hình ảnh và từ ngữ hướng chúng ta đến một sự mà chúng ta không thể hình dung nổi, bởi nó vượt quá tầm hình dung.

Chẳng hạn như: Điều tiên quyết phải nói về Thiên Chúa, là Thiên Chúa là Đấng khôn tả, không thể mô tả nổi, Thiên Chúa vượt ngoài tầm khái niệm hóa, vượt ngoài mọi hình dung, mọi hình ảnh, và mọi từ ngữ. Về Chúa Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa, cũng thế. Chúa Kitô là Con Thiên Chúa, nhưng làm sao có thể hình dung hay tạo lại hình ảnh đó? Không thể. Làm sao một Thiên Chúa mà lại là ba ngôi? Đây không phải chuyện toán học, mà là mầu nhiệm, một sự không thể định nghĩa theo kiểu hình dung. Nhưng chúng ta tin mầu nhiệm đó, và hàng triệu triệu người trong hai ngàn năm đã mạo hiểm cả mạng sống và linh hồn mình vì sự thật đó dù cho không thể hình dung được nó. Đức tin là nhận biết một sự gì đó quá lớn lao và vô hạn, nên không thể được minh họa tương xướng theo cơ chế hình dung. Từ ngữ của chúng ta diễn tả những niềm tin, và hướng chúng ta về hiện thực đức tin, nhưng lại không phải là hiện thực đó.

Bác bỏ một tác phẩm nghệ thuật không đồng nghĩa với chúng ta bác bỏ nghệ thuật. Nên khi ai đó nói “Tôi không còn tin điều này,” là người ấy đang bác bỏ một tập hợp các tuyên bố, các biểu tượng nhất định hơn là thật sự bác bỏ niềm tin vào Thiên Chúa. Và người đó có bác bỏ cũng là bởi không họa hình theo hình dung một sự gì đó không thể họa hình.

Chúng ta từng nghe rằng, vô thần chỉ là một cái tên để gọi những người không hiểu được ẩn dụ. Có lẽ nói thế là quá tối giản, nhưng nó cũng cho chúng ta thấy rằng bác bỏ một tập hợp các tuyên bố thần học không đồng nghĩa với đánh mất đức tin của mình.

Trọn một vòng – Từ sách truyện đến linh đạo

Tình yêu đầu đời của tôi, chính là văn học, tiểu thuyết và thơ ca. Lúc còn nhỏ, tôi mê sách truyện, kiểu huyền bí và thám hiểm. Vào cấp một, tôi được dạy học thuộc lòng các bài thơ, và tôi thích việc này lắm. Đến trung học, tôi lại được tiếp cận dòng văn học nghiêm túc hơn, là Shakespeare, Kipling, Keats, Wordsworth, Browning. Nhưng tôi vẫn đọc truyện, những câu chuyện về các chàng cao bồi ở Viễn Tây nằm trên giá sách của bố tôi.

Những năm đại học, văn học chiếm phần lớn giáo trình của tôi, và tôi đã học được rằng văn học không chỉ là những câu chuyện, mà còn là bình luận xã hội và tôn giáo, cũng như một dạng mỹ học. Trong lớp, chúng tôi đọc các tiểu thuyết kinh điển: Một chín tám tư (Nineteen Eighty-Four), Chúa Ruồi (Lord of the Flies), Heart of Darkness, The Heart of the Matter, Phía Đông Vườn Địa đàng (East of Eden). Giáo trình ở Canada thời đó nặng về các tác phẩm Anh quốc. Chỉ sau này, tôi mới khám phá ra vẻ phong phú của các nhà văn Canada, Hoa Kỳ, Châu Phi, Ấn Độ, Nga, và Thụy Điển. Thưở nhỏ tôi được học giáo lý vững vàng, và giáo lý căn bản giữ vững đức tin, còn văn học giữ vững thần học cho tôi.

Nhưng sau văn học là triết học. Để làm linh mục, chúng tôi cần phải có bằng Triết học. Tôi có duyên được gặp một số giảng viên giỏi và thấm nhuần lòng yêu mến triết học. Các khóa học nặng về chủ nghĩa kinh viện (Aristotle, Platon, Augustino, Aquino) nhưng chúng tôi cũng được học về lịch sử triết học và triết học hiện sinh căn bản cũng như một vài phong trào triết học đương đại. Tôi như bị ám ảnh, triết học trở thành thần học của tôi.

Nhưng sau triết học, tôi được đào sâu thần học. Cần phải có bằng sau bốn năm thần học để được truyền chức. Và tôi lại có duyên với các giảng viên giỏi, cũng như có dịp được học thần học khi Công đồng Vatican II và một trường phái thần học mới bắt đầu được áp dụng vào các trường học và chủng viện. Phong trào thần học lúc đó rất sôi nổi, và tôi cũng dự phần vào đó. Trong Giáo hội Công giáo La Mã, chúng tôi đọc các bài của Congar, Rahner, Schillebeeckx, Schnackenburg, và Raymond Brown. Tôi cũng học hỏi được bên phía Tin Lành từ những tác phẩm của Barth, Tillich, Niebuhr, và rất nhiều học giả kinh thánh lỗi lạc. Đức tin thời trẻ của tôi có được một nền tảng tri thức tồn tại vững bền. Thần học trở nên đam mê mới của tôi.

Nhưng sau thần học, tôi lại được tiếp cận linh đạo. Sau khi chịu chức, tôi có cơ hội lấy bằng thần học cấp cao hơn. Và dịp này đã đào sâu tình yêu và sự tận tâm của tôi đối với thần học. Nó cũng cho tôi một công việc giảng dạy, và sáu năm tiếp theo, tôi dạy thần học ở cấp đại học. Đấy là những năm tháng tuyệt vời, tôi được làm việc mình mong muốn, được ở trong lớp thần học. Nhưng trong sáu năm đó, tôi bắt đầu khám phá ra các tác phẩm của những nhà thần nghiệm và ướm thử một vài khóa học về linh đạo, bắt đầu từ khóa học về nhà thần nghiệm lớn người Tây Ban Nha, Gioan Thánh Giá.

Sau đó tôi nghiên cứu lấy bằng tiến sĩ, và dù tôi tập trung luận án vào thần học Hệ thống, và thần học tự nhiên, nhưng đã có gì đó bắt đầu khơi lên trong tôi. Tôi thấy mình ngày càng ham thích giảng dạy và viết bài về lĩnh vực linh đạo, đến nỗi nhiều năm sau có lúc tôi quên bẵng tên của các khóa thần học Hệ thống tôi từng học lúc trước. Và nói thật, tôi quá ham thích về linh đạo.

Mà linh đạo là gì? Nó khác thế nào với thần học? Ở một mức độ nào đó, thì cả hai chẳng khác nhau gì cả. Linh đạo là thần học áp dụng. Cả hai chỉ là một, cả hai đều hướng đến cùng một mục đích. Nhưng có một điểm khác biệt. Thần học là xác định địa hạt, giáo lý, phân biệt đúng sai, và tìm cách khơi dậy trí tưởng tượng tri thức. Theo kinh điển, thì thần học là: Đức tin tìm kiếm sự hiểu biết.

Nhưng dù phong phú và quan trọng, thần học không phải là một sân chơi. Thần học thiết lập các luật cho cuộc chơi, nhưng không chơi cũng không quyết định kết quả. Vai trò đó là của linh đạo, dù cho linh đạo phải tuân theo thần học. Không có thần học đúng đắn, thì linh đạo bị rơi vào sùng tín quá đáng, một kiểu chủ nghĩa cá nhân không lành mạnh và chủ nghĩa chính thống cực đoan chỉ vì bản thân mình. Chỉ có một thần học tốt đẹp, nghiêm khắc, và hàn lâm mới cứu được chúng ta khỏi mối nguy này.

Nhưng nếu không có linh đạo, thì thần học dễ dàng trở thành một mỹ học tri thức mà thôi. Có được sự thật và giáo lý đúng đắn là một chuyện, nhưng đưa những điều đó vào trong con người xác thịt, ra đường phố, vào gia đình và vào những chất vấn hoài nghi của chúng ta lại là chuyện khác. Thần học cần phải cho chúng ta sự thật, linh đạo cần phải mở đường vào sự thật đó.

Và tôi cảm kích vì mình đã đi trọn một vòng này. Từ những sách truyện thời thơ ấu, qua Shakespeare ở thời trung học, những tiểu thuyết gia và nhà thơ thời đại học, qua triết học Aristotle và Aquino, qua thần học của Rahner và Tillich, qua kinh thánh học của Raymond Brown và Ernst Kasemann, qua các lý giải của trường phái triết học Hậu Hiện đại, qua bốn mươi năm giảng dạy thần học, tôi được trở lại nơi tôi đã bắt đầu – là vẫn tiếp tục tìm kiếm những câu chuyện tốt đẹp nuôi dưỡng tâm hồn.

Tuyệt vọng là yếu đuối hơn là tội lỗi

Trong giáo hội và cả toàn thế giới, thường thì chúng ta thấy thái độ tuyệt vọng là một tội lỗi tận cùng, không thể tha thứ. Người ta nghĩ rằng không một ai, kể cả Thiên Chúa có thể cứu bạn, nếu như bạn từ bỏ, tuyệt vọng, không để ai đến với mình. Và mọi người thường xem đây là thái độ của những người tự vẫn. Tự giết mình là một thái độ tuyệt vọng, loại bỏ mình khỏi lòng thương xót của Thiên Chúa.

Nhưng dù cho chúng ta có ý chân thành, thì hiểu về tuyệt vọng như thế quả thật là sai lầm. Tuyệt vọng là gì? Phải hiểu tuyệt vọng như thế nào?

Định nghĩa phổ biến trong từ điển thường nói thế này: Tuyệt vọng nghĩa là không còn hy vọng hay niềm tin rằng một tình thế nào đó có thể được thay đổi hay cải thiện. Giáo lý của Giáo hội Công giáo xem tuyệt vọng là một tội nghịch lại với điều răn thứ nhất. “Do tuyệt vọng, con người không còn hy vọng vào sự cứu rỗi của Thiên Chúa, vào sự giúp đỡ để đạt được ơn cứu rỗi, cũng như vào sự tha thứ tội lỗi. Tuyệt vọng là đi ngược lại với sự tốt lành, công lý và lòng thương xót của Thiên Chúa.”

Nhưng cần phải phân biệt được một điều rất căn thiết ở đây. Có hai lý do khiến người ta không còn hy vọng vào ơn cứu rỗi của mình nhờ Thiên Chúa, và từ bỏ hy vọng được tha thứ tội lỗi. Có thể là do người đó hoài nghi sự tốt lành và lòng thương xót của Thiên Chúa, và tôi tin rằng, thường là như thế, vì người đó bị vùi dập quá chừng quá đỗi, quá yếu đuối trong tâm hồn để tin rằng mình được yêu thương và được cứu rỗi. Nhưng khi tinh thần của bạn bị giày vò quá sức, đến mức không còn gì cho mình ngoài đau đớn và bóng tối, thì thường đó không phải là dấu hiệu của tội lỗi, cho bằng đó là triệu chứng khủng khiếp, nạn nhân của hoàn cảnh, của những chuyện phải trải qua, hay như lời của Fantine trong truyện Những kẻ Khốn cùng, là do cơn bão mà bạn không thể dự báo.

Và trước khi xem người nào đó đã ra khỏi lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta cần phải tự hỏi mình: Trước một người bị giày vò quá độ vì gặp cảnh khốn cùng của cuộc đời, đến mức không thể tin rằng mình có thể được yêu thương, Thiên Chúa nào lại kết án một người như vậy chứ? Thiên Chúa nào lại kết án một người vì sự tan nát của họ chứ? Một Thiên Chúa như thế không có chút gì giống với Chúa Giêsu, Đấng đã mang lấy thân phận con người và bày tỏ tình yêu Thiên Chúa vốn ưu tiên cho những người yếu đuối, những tấm lòng tan nát đang tuyệt vọng cần lòng thương xót. Tin và dạy về một Thiên Chúa không có lòng thương xót với những người đang mang cõi lòng tan nát nhất, chính là đi ngược lại nhận thức căn bản về bản tính và lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng đã sai Chúa Giêsu đến thế gian, “không phải để cho người khỏe mạnh, mà là cho những người đang cần thầy thuốc.”

Và hiểu như thế cũng là hiểu lầm tận cùng về bản tính và tâm hồn con người. Tại sao một người tự kết án mình là kẻ không thể được yêu thương đến nỗi tự nguyện và vô vọng cắt lìa mình khỏi cuộc sống? Chỉ có thể là bởi một vết thương sâu thẳm trong tâm hồn. Rõ ràng, người đó bị tổn thương sâu sắc và chưa từng được cảm nhận một tình yêu vô điều kiện hay thực sự là chưa từng cảm nhận tình yêu giữa người với người. Khi không thể hiểu được làm thế nào mà người ta có thể bị vùi dập và tan nát đến độ tin rằng mình không được yêu thương, thì thật sự chúng ta thật quá dễ dãi và ngây thơ. Như lời bài bài The Rose: Tình yêu và thiên đàng, thật sự chỉ dành cho người mạnh mẽ và may mắn thôi sao? Có vẻ là nhận thức chung của chúng ta về tuyệt vọng là như thế thật.

Nhưng không một ai phải vào hỏa ngục vì sự yếu đuối, hay vì một tâm hồn tan nát, một tinh thần sụp đổ, hay vì những bất hạnh và bất công làm cho người ta chưa từng được cảm nhận tình yêu thật sự là gì. Hỏa ngục là dành cho những kẻ mạnh mẽ, những người quá kiêu ngạo không thể bị sụp đổ, và do đó không chịu khuất phục. Hỏa ngục không bao giờ là một bất ngờ cay đắng dành cho một người hạnh phúc, và cũng không phải là cái kết buồn cho những ai quá tan nát để tin rằng mình xứng đáng là một phần của cõi sống này.

Vì Chúa, chúng ta phải biết cảm thông hơn. Và còn vì những người với trái tim và tinh thần tan nát. Hơn nữa, giáo lý Kitô giáo ngay trong kinh Tin kính đã là một thách thức cần chúng ta có một nhận thức đúng đắn hơn. Ngài đã xuống hỏa ngục. Trong cuộc sống và cái chết của mình, Chúa Giêsu biểu lộ rằng không có nơi nào bi thảm, tan nát, đau buồn hay buông bỏ mà Thiên Chúa không thể xuống đến tận cùng và thổi vào đó luồng hơi ban bình an.

Thiên Chúa thông hiểu tất cả. Vì thế chúng ta được bảo đảm rằng “cây sậy bị dập ngài không bẻ gãy, và bấc đèn leo lét ngài chẳng nỡ tắt đi.” Bạn có thể đánh cược cuộc đời mình vào niềm tin này. Bạn có thể đánh cược đức tin mình vào sự thật này. Và bạn cũng có thể sống cảm thông và khuây khỏa hơn, khi biết được điều này.

Một quyển sách đặc biệt

Một câu nói được cho là của Dorothy Day: Đừng gọi tôi là thánh, tôi không muốn bị xếp qua một cách dễ dàng như vậy! Quyển tiểu sử được Kate Hennessy, cháu nội của bà viết, Dorothy Day- Thế giới sẽ được cứu rỗi nhờ Cái Đẹp: Một Hình ảnh gần gũi của Bà tôi (Dorothy Day – The World will be saved by Beauty: An Intimate Portrait of my Grandmother), sẽ không cho chúng ta biến Dorothy Day thành một thứ mà bà đã sợ, một vị thánh trơ trơ, được trân trọng nhưng không được hiểu một cách nghiêm túc.

Tôi tin chắc tất cả chúng ta đều khá rõ về Dorothy Day và cuộc đời của bà. Trong bài diễn văn với Quốc hội Hoa Kỳ, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã đưa ra bốn người Mỹ đã kết nối cuộc sống thiêng liêng với cuộc sống phục vụ một cách phi thường; Abraham Lincoln, Martin Luther King, Thomas Merton, và Dorothy Day. Quyển tiểu sử mới này cho chúng ta hình ảnh trung thực về người phụ nữ đáng kinh ngạc này.

Tôi thấy quyển sách này thật đặt biệt vì nhiều lý do: Kate Hennessy là nhà văn giỏi, quyển sách được viết qua nhiều năm tìm hiểu, cô là cháu của Dorothy và có mối liên hệ rất gần gũi với bà, và cô đã tìm cách kể lại chuyện đời của Dorothy với một khoảng cách mỹ học và phê phán lành mạnh. Những câu chuyện cô đem lại cho chúng ta thật đặc quyền và hiếm có, đặc quyền vì cô có mối liên hệ máu mủ gần gũi với Dorothy, và hiếm có bởi những người gần gũi với bà không thể giữ được một khoảng cách phê phán cân bằng như cô. Hennessy thừa nhận rằng đây không phải là chuyện dễ dàng. “Khi sự thánh thiện ở ngay cửa nhà, ngay trong nhà bạn. Thì có thể bạn không thể nhìn ra khi nhìn quá gần, hoặc nếu nhận ra bạn lại cảm thấy mình không thể nào trở thành một người như thế được. Bạn thấy sự gần gũi của mình với người đó thật là một sai lầm.”

Và những sự kết hợp này cho chúng ta một quyển sách tuyệt vời, một cách để chúng ta nhìn ra một khía cạnh khác của Dorothy Day. Với cái nhìn gần vào cuộc đời Dorothy Day, Hennessy chia sẻ những câu chuyện về một người đóng vai trò quan trọng trong cuộc đời bà. Mối quan hệ của bà với Forster Battenham, bố của con gái bà, một người mà bà vẫn giữ tình bạn suốt đời. Quyển tiểu sử của Hennessy xóa bỏ những chuyện đồn đãi rằng khi trở lại đạo Dorothy đã lạnh lùng và không bao giờ nhìn mặt người này. Nhưng sự thật là, họ vẫn thân thiết với nhau, và cho đến tận hơi thở cuối cùng, Dorothy vẫn là một bầu bạn thân thiết và người nâng đỡ trung thành cho ông Foster.

Một điểm nữa trong quyển tiểu sử này, là câu chuyện về Tamar, con gái của Dorothy, người rất quan trọng trong cuộc đời bà, nhưng lại hiếm khi được nhắc đến. Câu chuyện của Tamar, với những nét phong phú và đóng vai trò không nhỏ trong tổ chức lao công Công giáo, là một điểm thiết yếu để hiểu Dorothy Day. Không thể hiểu Dorothy nếu không biết chuyện đời của con gái và cháu gái bà. Để hiểu Dorothy Day, bạn cũng phải nhìn nhận bà như một người mẹ và một người bà nữa.

Hennessy cho chúng ta thấy, lúc ban đầu Tamar đã cay đắng phản đối chuyện công bố nhật ký của mẹ mình, và chỉ chấp nhận khi Robert Ellsberg giúp cô nhận ra rằng sự phản đối của cô chủ yếu là do nhật ký của Dorothy thiếu công bằng khi không nhắc nhiều đến cô và vai trò của cô trong cuộc đời, công việc và di sản của bà.

Quyển sách này cũng kể cho chúng ta câu chuyện về những người có vai trò quan trọng trong việc thiết lập tổ chức Lao công Công giáo. Là Peter Maurin, Stanley Vishnewski, và Ade Bethune.

Đây không phải là một câu chuyện kinh điển về hạnh các thánh, kiểu phóng đại để nêu bật các nét căn thiết và cuối cùng là lý tưởng hóa quá đáng, khiến cho các vị thánh trở thành những biểu tượng. Hennessy nêu rõ rằng đức tin của Dorothy không phải là một đức tin không bao giờ hoài nghi. Điều mà Dorothy không bao giờ hoài nghi, cũng chính là những điều mà đức tin kêu gọi chúng ta thực hành, là lòng hiếu khách, phi bạo lực và phục vụ người nghèo. Dorothy là một người biết tập trung theo một mục đích duy nhất, kiên định đủ để nên một vị thánh, cuối cùng bà có thể nói được rằng: “Càng lớn tuổi, tôi càng thấy đức tin và sự kiên vững là những đức tính lớn lao nhất, là chấp nhận những thất bại thế nào cũng có trong công việc của mình, của những người khác, vì Chúa Kitô là thất bại lớn nhất của thế giới mà.”

Như đã biết, cuộc đời của bà là một đống hỗn độn, nhiều dự án của bà bị khủng hoảng, và bà luôn mãi tham công tiếc việc, như lời Tamar con gái bà kể lại: “Mẹ tôi là người dữ dội, độc đoán, kiểm soát, phán xét, thường giận dữ, và bà biết mình như thế. Công cuộc xây dựng tổ chức Lao công Công giáo đã giúp dạy cho bà biết được thế.”
Hạnh thánh Dorothy nên được viết như thế. Nó cho chúng ta một câu chuyện rất con người, bị mắc kẹt trong những nhược điểm, yếu đuối, và rối loạn mà chúng ta đều có và đều có thể làm như thánh Brigid, đưa chiếc áo choàng lên hứng lấy ánh nắng và xem nó lan tỏa cho đến khi phủ khắp vùng đồng quê một vẻ đẹp phong phú.

Làm Hành khất Thánh thiện

Ngoại trừ Kinh thánh và vài thần nghiệm Kitô giáo, thì linh đạo Kitô giáo cho đến giờ vẫn chưa cho chúng ta một quan điểm đủ mạnh về những năm nghỉ hưu. Đây không phải là một mầu nhiệm cho bằng một câu hỏi tại sao. Cho đến gần đây, đa số mọi người qua đời không lâu sau khi nghỉ hưu, và do đó không cần phát triển quá nhiều một linh đạo hay một tinh thần thế hệ cho những năm tháng này.

Về mặt linh đạo, những năm tháng về hưu có ý nghĩa thế nào? Ơn gọi của chúng ta lúc đó là gì? Tinh thần thế hệ của chúng ta còn có ý nghĩa gì khi chúng ta đã làm xong phần việc của mình?

Henri Nouwen, một trong những ngòi bút đương đại nói về chất vấn này, đã gợi ý rằng: Có một thời trong cuộc sống, khi vấn đề không còn là: Tôi còn có thể đóng góp được gì? Nhưng vấn đề trở thành: Tôi sống thể nào để tuổi già và cơn hấp hối sẽ là món quà lớn cuối cùng cho gia đình, cộng đoàn, giáo hội, và đất nước tôi?

Làm cách nào để tôi thôi viết lý lịch mà chuyển sang viết lời ca ngợi mình? May mắn thay, các ngòi bút thiêng liêng thời nay bắt đầu phát triển một linh đạo về các chất vấn này, và tôi tin là một vài thấu suốt trong đạo Hindu có thể rất hữu ích.

Trong đạo Hindu, cuộc sống có năm giai đoạn tự nhiên.

Thứ nhất, khi bạn là Đứa trẻ. Là Đứa trẻ, bạn bắt đầu vào đời, bạn học nói, học tương tác với người khác, và có thời gian để chơi.

Giai đoạn thứ hai là Học sinh. Trong đạo Hindu, bạn là Học sinh cho đến khi bạn kết hôn, bắt đầu tạo dựng gia đình, và có sự nghiệp. Là Học sinh, nhiệm vụ chính của bạn là tận hưởng tuổi trẻ và chuẩn bị cho cuộc đời.

Rồi bạn trở thành Gia chủ. Giai đoạn này bắt đầu với hôn nhân và kết thúc khi đứa con út của bạn đã trưởng thành, nợ nần trả hết, và nghỉ hưu. Là Gia chủ, nhiệm vụ của bạn là gia đình, công việc, và các vấn đề tôn giáo cũng như dân sự. Đấy là những năm bạn gánh vác trách nhiệm.

Giai đoạn thứ tư là Ẩn Lâm (người ở trong rừng). Giai đoạn này bắt đầu khi bạn đủ tự do khỏi công việc gia đình và làm ăn, để suy tư sâu sắc hơn. Ẩn Lâm, nghĩa là một giai đoạn mà bạn tránh đi, một phần hay hoàn toàn, khỏi cuộc sống làm việc để nghiên cứu và suy tư về tôn giáo và tương lai. Thế có lẽ nghĩa là bạn trở lại trường học, có lẽ là học thần học và linh đạo, tĩnh tâm, suy tư, và tìm linh hướng.

Cuối cùng, một khi Ẩn Lâm đã cho bạn một tầm nhìn, thì bạn trở lại thế giới như một hành khất thánh thiện (Sannyasin), một người không có gì ngoài đức tin và khôn ngoan. Là một hành khất thánh thiện, bạn ngồi đâu đó nơi công cộng, làm một người ăn xin, chẳng có của cải, quan hệ, hay tầm quan trọng gì. Bạn có thể cho người khác một nụ cười, đôi chuyện vãn, trao đổi về đức tin, hoặc làm việc thiện. Bạn là một người sống đường phố, nhưng có một khác biệt. Bạn không phải là một người sống trên đường phố bởi không còn chọn lựa nào khác, nhưng là bởi bạn đã thành công trong đời rồi. Bạn đã sáng tạo rồi. Bạn đã cho đi cái bạn phải cho đi và giờ bạn tìm cách sáng tạo theo một cách thức khác, cụ thể là sống theo một cách sao cho những năm cuối đời bạn sẽ đem lại một món quà khác cho những người bạn yêu thương, một món quà sẽ chạm đến cuộc đời họ, buộc họ phải nghĩ về Thiên Chúa và đời sống một cách sâu sắc hơn.

Một Sannyasin là hiện thân cho những lời của ông Gióp. “Trần truồng sinh ra từ lòng mẹ, và tôi trần truồng trở về.” Chúng ta đến với thế giới này tay trắng, và rời thế giới trắng tay. Một hành khất thành thiện hiện thân cho chân lý đó.

Cứ hình dung, nếu một người rất thành công, bác sĩ, chủ tịch ngân hàng, vận động viên, nhà báo, giảng viên, doanh nhân, một chủ gia đình êm đẹp có con cái thành tựu, những người có vô số chọn lựa thoải mái trong cuộc sống, nhưng lại đến ngồi bên vệ đường, cạnh quán cà phê, tiệm ăn, trung tâm mua sắm, góc đường, thì đó đúng là một chứng tá. Không ai có thể cảm thấy mình cao hơn họ, hoặc đối xử với họ một cách thương hại như chúng ta thường làm với những người vô gia cư trên đường. Cứ thử hình dung chứng tá của một người tự nguyện làm hành khất bởi người đó đã thành công trong đời đi. Thật là một chứng tá và ơn gọi tuyệt vời!

Nhưng khái niệm này, một người hành khất thánh thiện, rõ ràng là hình ảnh lý tưởng hóa mà mỗi người chúng ta cần suy nghĩ về ý nghĩa cụ thể của cuộc đời chúng ta.
Trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, linh đạo xem tử đạo là biểu lộ tận cùng của đời sống Kitô, cách lý tưởng để theo trọn một cuộc đời đầy đức tin. Justin, Polycarp, Cyprian, và vô số những người khác đã “nghỉ hưu” bằng tử đạo. Về sau, các Kitô hữu thường nghỉ hưu trong các tu viện.

Nhưng tử đạo và tu viện, cũng là những hình tượng lý tưởng hóa. Vậy thì cụ thể và thiết thực, chúng ta nghỉ hưu ở đâu?

Năm trăm năm hiểu lầm

Pascal từng nói, Trái tim có lý lẽ của nó, và đôi khi những lý lẽ này có một câu chuyện rất dài.

Gần đây tôi gởi thiệp mừng một người bạn, một người phái Baptist đầy nhiệt thành, được nuôi dạy để nghi ngờ người Công giáo La Mã. Và hiện giờ anh vẫn còn đấu tranh với chuyện này, nhưng chúng ta ai mà không thế chứ? Chuyện đời ảnh hưởng đến tận ADN của chúng ta. Có ai trong chúng ta hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi mối hoài nghi về sự khác nhau do tôn giáo giữa chúng ta chứ? Nhưng làm sao để trị được chứng này? Liên hệ cá nhân, tình bạn, và đối thoại thần học với những người thuộc các tôn giáo hay giáo phái khác, sẽ giúp mở lòng mở trí chúng ta, nhưng hậu quả của hàng thế kỷ hiểu lầm không tự khắc biến mất dễ dàng, nhất là khi nó đã được bén rễ và vun đắp như một tính chất ngôn sứ để bảo vệ Thiên Chúa và chân lý. Và với các Kitô hữu thuộc nhiều phái khác nhau, vẫn còn chứng bệnh tinh thần, bất lực không thể nhìn ra người khác cũng là Kitô hữu như chúng ta.

Và khi viết thiệp cho người bạn Kitô hữu này của mình, tôi viết: “Gởi bạn Kitô hữu của tôi, người anh em trong Thân thể Chúa Kitô, người bạn tốt mà tôi đã bị ngăn cách vì năm trăm năm hiểu lầm.”

Năm trăm năm hiểu lầm, chia cách, nghi ngờ, thủ thế, không phải là thứ dễ gì vượt qua, nhất là khi những vấn đề cốt lõi là về Thiên Chúa, sự thật, và tôn giáo. Cứ cho là trong 50 năm qua, đã có tiến triển tích cực và nhiều hiểu lầm tai hại đã được giải quyết. Nhưng những tác động của sự chia rẽ Kitô giáo trong lịch sử và phản ứng với chuyện này trong thời nay, vẫn còn khắp mọi nơi, từ các viên chức giáo hội cấp cao, đến các tranh luận thần học, đến những thuyết âm mưu trong tâm thức đại chúng.

Đáng buồn là chúng ta quá tập trung vào những khác biệt của nhau, trong khi tận tâm điểm, chúng ta cùng một đức tin căn bản, cùng những niềm tin căn bản, những quy tắc luân lý căn bản, cùng một Kinh thánh, một niềm tin vào đời sau, và một tinh thần nền tảng, rằng sự thân thiết với Chúa Giêsu Kitô là mục đích đức tin của chúng ta. Và một điều không kém quan trọng, là ngày nay chúng ta cùng chia sẻ những thành kiến và định kiến về nhau, dù cho chúng xuất phát từ những nhóm chính thống cực đoan hay do những người quá ghen tỵ, quá thế tục trong đạo của chúng ta. Với người ngoài nhìn vào, tất cả mọi phái Kitô giáo khác nhau đều trông như một khối, một đức tin, một giáo hội, một tôn giáo duy nhất, với họ, những khác biệt của chúng ta quá nhỏ nhoi so với những điểm chung của chúng ta. Đáng buồn thay, chúng ta lại không có khuynh hướng nhìn bản thân từ bên trong như thế, thường không xem những khác biệt giữa chúng ta là do hiểu lầm, và làm hạ thấp tình thân chung giữa chúng ta.

Nhưng thư gởi tín hữu Êphêsô đã nói rằng, là Kitô hữu, chúng ta chia sẻ cùng một Chúa, một đức tin, một phép rửa, và một Thiên Chúa là Cha chúng ta. Ở mức độ căn bản nhất, điều này hoàn toàn đúng với mọi Kitô hữu chúng ta, bất chấp những khác biệt giáo phái. Tận căn bản, tất cả chúng ta là một.

Cứ cho là thật sự có một vài khác biệt giữa chúng ta, nhưng hầu hết là về cách chúng ta hiểu những khía cạnh nhất định của giáo hội và các vấn đề luân lý, hơn là về cách chúng ta hiểu những chân lý thâm sâu hơn về bản tính Thiên Chúa, sự thần thiêng của Chúa Kitô, Lời Chúa, Mình Thánh Chúa, và phẩm giá bất khả phân ly cũng như định mệnh của mọi con người. Đây là chân lý căn bản nhất và quan trọng nhất, và chúng ta đều đồng thuận về căn bản. Đấy là căn bản thật của tình môn đệ chung của chúng ta.

Về mặt giáo hội, những vấn đề chia rẽ chúng ta tập trung hầu hết vào thẩm quyền của giáo hội, vào việc phong chức linh mục, hay nhận thức về sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể, về con số các bí tích, về vị trí của các bí tích và ơn gọi, và về tương quan giữa kinh thánh và truyền thống. Về các vấn đề luân lý, những vấn đề chia rẽ chúng ta, cũng là những vấn đề “nóng” trong xã hội: là phá thai, hôn nhân đồng tính, kiểm soát sinh sản, và vị trí của công bằng xã hội. Nhưng ngay cả những điều này, giữa các giáo hội chúng ta, vẫn có nhiều điểm chung hơn là khác biệt.

Hơn nữa, ngày nay, sự khác biệt về cách chúng ta hiểu nhiều vấn đề giáo hội và luân lý đang chia rẽ chúng ta về tâm tính hơn là giáo phái, thường là một vấn đề thần học hơn là một xác quyết giáo phái. Cứ cho là quá tối giản khi xem sự khác biệt giữa chúng ta là kiểu tự do đấu với bảo thủ, nhưng ít nhất điều này cũng có phần đúng, những tranh chấp về các vấn đề này ngày càng ít liên quan đến vấn đề giáo phái.

Kinh Tin kính đầu tiên của Kitô giáo chỉ có một dòng: Chúa Giêsu là Chúa! Mọi Kitô hữu vẫn còn đồng ý như thế, và chúng ta vẫn là anh chị em với nhau, chỉ xa cách nhau vì năm trăm năm hiểu lầm mà thôi!

Ngôi mộ trống

Những người tin và người không tin đã tranh luận về sự phục sinh ngay từ ngày Chúa Giêsu sống lại. Thật sự, chuyện gì đã xảy ra? Làm sao mà Ngài sống lại từ cõi chết? Một thi thể thật sự đã chết có thể sống lại và bước ra khỏi mộ, hay phục sinh là một sự kiện biến đổi đời sống trong lương tâm của các môn đệ Chúa Giêsu? Hay phục sinh là cả hai, một sự kiện vừa thể lý vừa nội tại trong lương tâm các tín hữu?

Rõ ràng chẳng có ai chứng kiến chuyện thật sự xảy ra. Những người tuyên xưng Chúa Giêsu đang sống không nhìn thấy Ngài đứng dậy và ra khỏi mộ, họ chỉ gặp Ngài sau khi Ngài đã sống lại, và ngay lập tức những người tin và những người hoài nghi liền chia thành hai phe, những người tuyên bố đã được chạm vào Ngài bằng xương bằng thịt và những người nghi ngờ lời chứng đó.

Có những người tin và những người hoài nghi, và còn có những người tin rằng sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện đức tin chứ không phải về thể lý, họ tin thi thể người chết không thể đứng dậy mà ra khỏi mộ.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện thể lý hay đức tin? Là cả hai. Với các Kitô hữu, đây là sự kiện vĩ đại, cả về đức tin lẫn lịch sử. Không thể giải thích hai ngàn năm lịch sử của đức tin Kitô, bằng cách nào khác ngoài hiện thực phục sinh. Hiểu sự phục sinh của Chúa Giêsu như một sự việc đơn thuần, rằng thân thể Ngài trỗi dậy từ hầm mộ, là cắt bỏ đi ý nghĩa của sự phục sinh. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, với các Kitô hữu, phục sinh cũng phải là một sự kiện mang tính thể lý đến tuyệt đối. Tại sao lại thế?

Trước hết, là bởi Tin mừng nói khá rõ ràng khi nhấn mạnh ngôi mộ trống và Chúa Giêsu phục sinh không phải là một linh hồn hay hồn ma. Ví dụ như, chúng ta thấy trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu đã mời Tôma kiểm tra thân thể Ngài. “Hãy coi tay Ta, chân Ta; Chính là Ta đó! Hãy rờ nắn mà xem, ma nào lại có thịt có xương như các ngươi thấy Ta có.”

Để trọn vẹn ý nghĩa sự phục sinh của Chúa Kitô, thì phải có sự sống lại của thân thể. Cần phải có ngôi mộ trống và thi thể sống lại. Tại sao lại thế?

Không phải như một kiểu bằng chứng cho phép lạ, nhưng là vì sự nhập thể. Tin vào sự nhập thể mà không tin vào tính thể lý của sự phục sinh thì thật là mâu thuẫn. Chúng ta tin rằng Ngôi Lời đã nhập thể làm người. Và chính điều này đưa mầu nhiệm Chúa Kitô và hiện thực phục sinh ra khỏi giới hạn thuần tinh thần. Nhập thể luôn luôn bao hàm một hiện hữu có tính thể lý, sờ mó được, như định nghĩa về vật chất là “một sự gì đó có chiếm hữu không gian và có trọng lượng.”

Tin vào sự nhập thể là tin rằng Thiên Chúa đã sinh ra trong thân xác thật, sống trong một thân xác thật, chết trong thân xác thật, và sống lại trong thân xác thật. Tin rằng phục sinh chỉ là một sự kiện đức tin trong lương tâm các tông đồ, thì dù có phong phú và thật đến mấy, cũng vẫn tước bỏ ý nghĩa của sự nhập thể, và rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên xem trọng tinh thần và khinh thường thể xác. Một thuyết nhị nguyên như thế hạ giá sự nhập thể và xói mòn ý nghĩa của phục sinh. Nếu phục sinh chỉ là một sự kiện tinh thần, thì đó chỉ là một sự kiện nhân loại chứ không phải một sự kiện bao hàm cả vũ trụ. Nói thế là xem đó chỉ là một sự kiện trong lương tâm con người chứ không phải sự biến đổi của vũ trụ.

Nhưng sự phục sinh của Chúa Giêsu không chỉ là một sự mới mẻ tuyệt đối trong lương tâm con người, mà còn là một sự mới mẻ tuyệt đối về bản chất vũ trụ, mới mẻ trong từng nguyên tử. Phục sinh sắp xếp lại tâm hồn và tâm trí con người, nhưng nó cũng sắp xếp lại các nguyên tử. Trước khi Chúa Giêsu phục sinh, xác người chết không sống lại, họ vẫn chết, nên khi Ngài sống lại, thì đó là một sự mới mẻ tuyệt đối cả về tinh thần lẫn vật chất. Chính xác là bởi tính vật chất tuyệt đối đó, nên sự phục sinh của Chúa Giêsu đem lại hy vọng mới cho từng phân tử cũng như cho tất cả mọi người.

Tôi tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết, một cách vật chất, theo nghĩa đen. Tôi cũng tin rằng sự kiện này thiêng liêng vô cùng, là một sự kiện đức tin, là sự biến đổi lương tâm, là hy vọng mới tăng sức cho lòng mến mới và sự tha thứ mới. Nhưng phục sinh cũng là một sự kiện biến đổi vật chất đến từng phân tử và biến đổi xác người chết. Đây là một sự kiện tuyệt đối mang tính thể lý, cũng hệt như mọi sự kiện khác trong công cuộc nhập thể khi Thiên Chúa mang lấy xác phàm thật sự.

Thứ Sáu Tuần Thánh

Thứ Sáu Tuần Thánh, từng là một chuyện xấu trước khi là một chuyện tốt lành, ít nhất là từ góc nhìn bên ngoài. Thiên Chúa bị đóng đinh vì mọi thứ xấu xa trên thế giới, là kiêu ngạo, ghen tỵ, bất tín, tổn thương, tư lợi, tội lỗi. Không phải ngẫu nhiên mà Phúc âm bảo chúng ta rằng khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng, bầu trời u ám ngay chính ngọ. Khi Chúa Giêsu treo trên thập giá, dường như ánh sáng chuyển thành bóng tối, tình yêu chuyển thành thù hận, và sự sống chuyển thành sự chết. Như thế có gì là tốt?

Hơn nữa, khi hấp hối, dường như Chúa Giêsu không còn thần thiêng, quyền lực và không thể kiểm soát mọi thứ kể cả những chuyện trong thế giới, lẫn những gì diễn ra trong lòng Ngài. Thế giới dường như chìm vào bất tín, và trong Tin mừng, Chúa Giêsu, Thiên Chúa nhập thể, dường như chìm vào một hoài nghi bất định, một nỗi hoang mang cực độ đến nỗi thốt lên: “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con.” Chuyện gì đang xảy ra thế này? Như thế có gì là tốt?

Để hiểu chuyện gì đã xảy ra trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta cần phân biệt giữa những gì diễn ra bề ngoài và những gì diễn ra thâm sâu.

Bề ngoài là một chuyện tồi tệ và không thể nào gọi là tốt đẹp được. Những người mộ đạo thành tâm, vì yếu đuối và sợ hãi đã bỏ đi điều tốt đẹp nhất trong mình, và hoặc góp phần khiến Chúa Giêsu bị hành hình, hoặc đứng đó thụ động để chuyện xấu xa này xảy ra. Chỉ có một vài phụ nữ mạnh mẽ không chịu khuất phục nỗi sợ hay sự kích động của đám đông, nhưng lại không đủ sức để làm bất kỳ điều gì ngăn cản chuyện đó. Còn lại tất cả mọi người đều góp phần vào việc đóng đinh Chúa, dù là do ghen tỵ, yếu đuối, hay vô tri. Theo lời của Chúa Giêsu, bóng tối có thời của nó. Tấn bi kịch nhân văn, xã hội và chính trị trong Thứ Sáu Tuần Thánh là chuyện không tốt. Nó cho thấy phần xấu xa nhất trong nhân loại trước một Thiên Chúa dường như thinh lặng.

Nhưng còn có một điều thâm sâu hơn nữa, một tấn kịch diễn ra bên trong linh hồn Chúa Giêsu, một điều tương phản với tất cả những gì đang diễn ra bề ngoài, trong đám đông đó. Trong sự đấu tranh của Chúa Giêsu để chấp nhận những chuyện đang diễn ra và chấp nhận những gì Chúa Cha đã muốn nơi Ngài, cho chúng ta tấn kịch tôn giáo và luân lý tột cùng: tình yêu chiến đấu và chiến thắng thù hận, tin tưởng chiến đấu và chiến thắng hoang tưởng, tha thứ chiến đấu và chiến thắng cay đắng.

Chúng ta thấy bản hùng ca chiến đấu đó, từ cơn thống khổ của Chúa Giêsu trong vườn Giết-sê-ma-ni khi Chúa đổ mồ hôi máu, khi Ngài thấy trước những thù hằn, làm ngơ, hiểu lầm, chống báng mà Ngài phải chọn để tin tưởng trao phó mạng sống mình.

Nhưng chấp nhận không phải là quy phục, và ngày hôm sau, Thứ Sáu Tuần Thánh, Ngài đã trải qua thử thách cuối cùng. Thiên thần đã tăng sức cho Ngài trong vườn Giết-sê-ma-ni dường như biến mất khi Ngài trên thập giá, và đêm tối hoài nghi bủa vây ngài đến độ Ngài kêu lên những lời dường như tuyệt vọng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con.” Sự chấp nhận của Ngài vào thời điểm then chốt này, càng khó khăn hơn đến vô hạn khi dường như Chúa Cha, Đấng làm một với Ngài, dường như vắng mặt. Trước tình cảnh dường như bị bỏ rơi đó, Chúa Giêsu phải có một chọn lựa của đức tin, của yêu thương, và tin tưởng ở mức tột cùng nhất. Chọn lựa đó là gì? Chúa Giêsu làm gì?

Theo lời của nhà thần học Karl Rahner, Chúa Giêsu để mình “chìm vào sự không thể hiểu nổi của Thiên Chúa.” Ngài quy phục Thiên Chúa mà Ngài không thể cảm nhận hay hiểu thấu, nhưng chỉ có thể tin tưởng. Chính nơi đây, Thứ Sáu Tuần Thánh chuyển từ xấu xa thành tốt đẹp, Chúa Giêsu không quy phục cay đắng, bám víu, hay giận dữ nhưng là quy phục tin tưởng, biết ơn và tha thứ. Trong sự quy phục đó, cuộc đấu tranh giữa thiện và tà, cuộc chiến lớn nhất, sự thiện đã thắng.

Đến tận cùng, tất cả những gì sai trái trong thế giới chúng ta sẽ không bị khuất phục trước một uy quyền áp đặt bạo lực, dù cho uy quyền đó có mạnh đến thế nào đi nữa. Bạo lực tốt đẹp sẽ không bao giờ xóa được bạo lực xấu xa. Chúng ta chỉ có thể xóa bỏ những thế lực không ngừng đóng đinh Thiên Chúa khi mỗi người chúng ta, cũng như Chúa Giêsu, có thể bỏ đi những cay đắng, bám víu và giận dữ, để nhường đường cho tin tưởng, biết ơn, và tha thứ. Và tất cả chúng ta phải để mình chìm trong sự không thể hiểu nổi của Thiên Chúa, nghĩa là tin tưởng ngay cả khi chúng ta không hiểu, yêu thương ngay cả khi bị thù ghét, và tha thứ ngay cả khi bị tổn thương.

Tất cả chúng ta đều sẽ có ngày Thứ Sáu Tuần Thánh của mình. Nhìn bề ngoài, chúng luôn luôn xấu xa, nhưng nếu chúng ta bỏ mình để tin tưởng, thì nó sẽ trở nên tốt đẹp.

Bạo lực nhân danh Thiên Chúa

Blaise Pascal từng viết: “Con người không bao giờ làm sự dữ một cách phấn khởi và trọn vẹn cho bằng khi họ làm sự dữ do một xác quyết tôn giáo.” Thật quá đúng! Chuyện này đã xảy ra từ xa xưa và chẳng có dấu hiệu gì sẽ sớm biến mất. Chúng ta vẫn gây bạo lực và sự dữ, rồi lấy danh Thiên Chúa biện minh cho chúng.

Chúng ta đã thấy vô số ví dụ về chuyện này. Từ thời bắt đầu có nhận thức, chúng ta đã gây bạo lực nhân danh Thiên Chúa. Bắt đầu bằng việc hiến tế người để xin ơn Thiên Chúa, cho đến việc ngược đãi người khác vì lý do tôn giáo, gây chiến tranh nhân danh Thiên Chúa, thiêu sống người ở Tòa dị giáo, xử tử người ta vì những lý do tôn giáo, và cả việc đem Chúa Giêsu đóng đinh trên thập giá vì một sự sốt sắng tôn giáo sai lầm.

Có rất nhiều sự kiện lịch sử nổi bật làm ví dụ cho chuyện này, và đáng buồn thay, mọi chuyện vẫn chẳng thay đổi được bao nhiêu. Ngày nay, chúng ta thấy bạo lực nhân danh Thiên Chúa do những nhóm cực đoan như Al-Qaida và ISIS (Nhà nước Hồi giáo tự xưng), tin rằng mình phụng sự Thiên Chúa và thanh tẩy thế giới nhân danh Chúa bằng khủng bố và giết người. Họ tin rằng có thể biện minh cho cái chết của hàng ngàn người vô tội khi xem đó là hành động vì Chúa, một lý do quá thiêng liêng và khẩn thiết nên không cần nghĩ đến những tiêu chuấn nhân văn và tôn giáo căn bản. Khi nhân danh Thiên Chúa, họ thấy cả những sự dữ rành rành cũng là chính đáng.

Đáng mừng là, hầu hết chúng ta thấy không thể biện minh cho những bạo lực giết người này. Nhưng chúng ta lại có thể lấy Thiên Chúa để biện minh cho những hành vi bạo lực tinh vi khác. Ví dụ như, nhiều người trong chúng ta vẫn biện hộ cho án tử hình nhân danh công lý, tin rằng Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải giết ai đó. Nhiều người trong chúng ta biện minh cho phá thai bằng lập luận rằng Thiên Chúa đã cho chúng ta tự do. Và chúng ta còn biện minh cho những lời lẽ xúc phạm của mình với lý do là lý lẽ của mình quá đặc biệt quá thiêng liêng nên không cần phải để tâm đến những đức mến Kitô giáo, không cần phải tôn trọng và tử tế với những người bất đồng.

Cả cánh hữu và cánh tả đều dùng những ngôn từ đầy gây hấn và xúc phạm, rồi mượn danh Thiên Chúa biện minh cho nó. Với những người cánh hữu, các vấn đề như phá thai và bảo vệ giáo lý được xem là quá quan trọng đến nỗi cho mình quyền xem người khác là ma quỷ. Còn người cánh tả thì tập trung vào vấn đề công bằng kinh tế và môi sinh đến nỗi không cần quan tâm đến sự tôn trọng và tử tế nữa. Cả hai phía đều lấy cơn giận công chính của Thiên Chúa mà biện minh cho mình.

Trong Phúc âm theo thánh Gioan, có một câu chuyện cho thấy chúng ta quá thường xuyên gây bạo lực nhân danh Thiên Chúa một cách mù quáng. Đó là chuyện về người phụ nữ bị bắt quả tang tội ngoại tình. Họ đưa phụ nữ ấy đến trước mặt Chúa Giêsu, và nói rằng theo luật Môsê, nhân danh Thiên Chúa, người phụ nữ này phải bị ném đá đến chết. Chúa Giêsu chẳng nói gì. Ngài cúi xuống lấy ngón tay viết trên cát hai lần, rồi ngẩng lên nói với đám người rằng “Ai không có tội thì ném đá trước đi.” Họ hiểu cử chỉ của Ngài, hiểu vì sao Ngài viết trên đất, vì sao Ngài viết hai lần. Ý nghĩa của hành động đó là gì?

Ông Môsê lên núi, và Thiên Chúa dùng ngón tay viết Mười Điều Răn lên hai phiến đá. Khi Môsê trở về trại, tay mang theo hai phiến đá, ông thấy dân đang thờ ngẫu tượng. Ông đã làm gì. Trong lòng đạo sôi sục, ông phá vỡ Mười Điều Răn, đập hai phiến đá trên con bò vàng, rồi lấy đá đó mà ném vào dân.

Điều thâm thúy ở đây là: Môsê là người đầu tiên phá vỡ Mười Điều Răn. Ông phá vỡ Mười Điều Răn nhân danh Chúa và lấy những mảnh vụn của các Điều Răn mà ném đá dân. Ông bạo lực một cách thành tâm, với lòng sốt mến tha thiết. Tất nhiên sau đó ông phải lên lại núi để được viết lại Mười Điều Răn lần nữa. Tuy nhiên trước khi cho Moses Mười Điều Răn lần nữa, Chúa đã dạy ông: Đừng lấy Mười Điều Răn mà ném đá dân! Đừng gây bạo lực nhân danh Ta!

Chúng ta rất chậm hiểu về chuyện này, và cũng không nghiêm túc nắm bắt nó. Chúng ta thấy có đủ loại biện minh luân lý và tôn giáo để chúng ta gây bạo lực nhân danh Thiên Chúa. Chúng ta vẫn hệt như Môsê, giáng các Điều Răn xuống trên những thứ mà chúng ta xem là ngẫu tượng, rồi lấy các mảnh vỡ mà ném đá người khác.

Bóng tối và nhận thức nhạy cảm

Một vài trường phái tâm lý học thời nay cảnh báo chúng ta về “bóng tối” của mình. Vậy bóng tối của chúng ta là gì?

Về cơ bản là thế này: Chúng ta có trong mình những sinh lực mãnh liệt đến nỗi không thể lúc nào cũng đương đầu được với chúng, nên chúng ta xử lý chúng bằng cách chối bỏ và đè nén để khỏi phải đối diện với chúng. Có thể nói ẩn dụ là chúng ta chôn chúng trong thửa đất bí mật của linh hồn, nơi chúng tránh xa tâm trí có ý thức của chúng ta.

Nhưng có một vấn đề. Những gì chúng ta chôn giấu không nằm yên mãi được. Dù cho những sinh lực này không nằm trong vòng ý thức của chúng ta, nhưng chúng vẫn tiếp tục tác động đến cảm giác, suy nghĩ và hành động của chúng ta bằng đủ mọi cách vô thức. Những sinh lực sâu sắc và bẩm tính của chúng ta sẽ luôn phát tiết ra, dù là ý thức hay vô thức. Carl Jung, một trong những nhà tiên phong về lĩnh vực này, nói rằng chúng ta phải thể hiện một cách vô thức những hành động mà chúng ta không kiểm soát được cách ý thức.

Có lẽ hình ảnh đơn giản này sẽ giúp dễ hiểu hơn. Thử tưởng tượng mình sống trong một căn nhà có tầng hầm, một tầng hầm mà bạn chẳng bao giờ xuống đó, và cứ mỗi khi cần vứt đi thứ gì là bạn chỉ việc mở cửa và ném chúng xuống hầm. Trong một thời gian, cách này có hiệu quả, những thứ chúng ta không muốn thấy giờ đã khuất mắt, nhưng rồi đống rác bắt đầu lên men và mùi của chúng lên qua lỗ thông hơi, làm ô nhiễm không khi nhà bạn. Đống rác đó đã không làm phiền bạn trong một thời gian, nhưng rồi chúng lại làm ô nhiễm môi trường của bạn.

Đây là một hình ảnh dễ hiểu, dù cho nó chỉ phản ánh một chiều, chỉ nói đến những thứ tiêu cực chúng ta ném vào hầm. Và một chuyện đáng chú ý nữa, là chúng ta cũng ném vào đó những gì trong chúng ta khiến chúng ta e sợ sẽ phát tiết. Chúng ta sợ sự cao cả của mình, và chúng ta cũng che đậy phần nào sự cao cả đó. Bóng tối của chúng ta không chỉ cấu thành từ những thứ tiêu cực, nhưng còn cả những sự cao cả nhất trong chúng ta mà chúng ta sợ mình không xử lý nổi. Xét tận cùng, cả sinh lực tích cực và tiêu cực trong chúng ta đều khiến chúng e sợ không kham nổi, và cả hai đều phát xuất từ một nguồn, là hình ảnh Thiên Chúa ghi trong chúng ta.

Điều căn bản nhất trong đức tin Kitô của chúng ta, là chúng ta được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa. Tuy nhiên, không thể hiểu nó theo kiểu đơn giản hóa, như kiểu một biểu tượng đẹp đẽ được đóng dấu vào linh hồn chúng ta. Đúng hơn, chúng ta nên nghĩ về nó như một sinh lực thần thiêng, một tình yêu vô tận và một tinh thần vô hạn, đấu tranh không ngừng với những giới hạn trong sự hữu hạn của chúng ta. Chẳng có gì ngạc nhiên khi chúng ta phải đấu tranh với những sinh lực, cảm giác, áp lực, và xung lực quá lớn, quá vô tận đến nỗi khiến chúng ta cảm thấy e ngại.

Nghịch lý thay, càng nhạy cảm, về mặt luân lý hay tôn giáo, thì chúng ta lại càng thấy e ngại những sinh lực này. Tại sao lại thế? Bởi có hai nỗi sợ thường tác động lên những linh hồn nhạy cảm. Thứ nhất là nỗi sợ của vị kỷ. Không dễ gì nắm bắt được sự cao cả, và những linh hồn nhạy cảm biết thế. Những người hoang dại và thâm hiểm cũng rút lấy sinh lực từ ngọn lửa thiêng, nhưng họ không biết nhạy cảm và cuối cùng họ gây tổn thương cho mình và cho người khác. Còn những linh hồn nhạy cảm thì trầm tư và dè dặt hơn. Họ sợ trở nên hoàn toàn quy kỷ, vị kỷ. Nhưng sự dè dặt đó không phải lúc nào cũng ích lợi cho họ. Quá nhạy cảm trong việc xử lý những sinh lực trong con người mình, đôi khi họ lại loại trừ cả Thiên Chúa khỏi con người họ.

Lý do thứ hai khiến những người nhạy cảm chôn chặt sự cao cả của mình là bởi họ gắn bó hơn với một nỗi sợ nguyên sơ trong chúng ta. Một nỗi sợ được diễn tả trong thần thoại Hy Lạp về Prometheus, nghĩa là chúng ta sợ sinh lực trong mình có thể là một sự đối đầu với Thiên Chúa, muốn trộm ngọn lửa của Thiên Chúa. Những người nhạy cảm lo sợ mình tự đại, sợ mình quá tập trung vào cái tôi.

Cũng như những phần tiêu cực mà chúng ta chôn dấu, cả sự cao cả của chúng ta khi bị nhét xuống hầm cũng bắt đầu lên men, biến thành một mùi độc hại và lan lên những ống thông hơi của ý thức chúng ta. Những mùi độc hại này mang lấy hình thù của giận dữ, ghen tỵ, cay đắng, và phán xét lạnh lùng. Phần lớn những cơn giận không mục đích của chúng ta cứ muốn trút lên đầu ai đó hay cái gì đó, chính là cái bóng của sự cao cả bị đè nén và chôn chặt.

Và chúng ta phải làm gì với chuyện này? James Hillman nói rằng, ‘Một triệu chứng sẽ đau đớn nhất khi nó chẳng biết chỗ của mình ở đâu.’ Chúng ta cần thêm những linh hướng có thể chẩn đoán cho chúng ta điều này. Các linh đạo của chúng ta quá ngây thơ trong việc chẩn đoán về sự kiêu ngạo và cái tôi. Chúng ta cần thêm những linh hướng có thể nhận ra chúng ta đã chôn chặt bao nhiêu phần cao cả của mình, nhận ra nỗi sợ sự viên mãn đã khiến chúng ta cố gắng gạt Thiên Chúa ra khỏi đời mình như thế nào.