RonRolheiser,OMI

Một quyển sách đặc biệt

Một câu nói được cho là của Dorothy Day: Đừng gọi tôi là thánh, tôi không muốn bị xếp qua một cách dễ dàng như vậy! Quyển tiểu sử được Kate Hennessy, cháu nội của bà viết, Dorothy Day- Thế giới sẽ được cứu rỗi nhờ Cái Đẹp: Một Hình ảnh gần gũi của Bà tôi (Dorothy Day – The World will be saved by Beauty: An Intimate Portrait of my Grandmother), sẽ không cho chúng ta biến Dorothy Day thành một thứ mà bà đã sợ, một vị thánh trơ trơ, được trân trọng nhưng không được hiểu một cách nghiêm túc.

Tôi tin chắc tất cả chúng ta đều khá rõ về Dorothy Day và cuộc đời của bà. Trong bài diễn văn với Quốc hội Hoa Kỳ, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã đưa ra bốn người Mỹ đã kết nối cuộc sống thiêng liêng với cuộc sống phục vụ một cách phi thường; Abraham Lincoln, Martin Luther King, Thomas Merton, và Dorothy Day. Quyển tiểu sử mới này cho chúng ta hình ảnh trung thực về người phụ nữ đáng kinh ngạc này.

Tôi thấy quyển sách này thật đặt biệt vì nhiều lý do: Kate Hennessy là nhà văn giỏi, quyển sách được viết qua nhiều năm tìm hiểu, cô là cháu của Dorothy và có mối liên hệ rất gần gũi với bà, và cô đã tìm cách kể lại chuyện đời của Dorothy với một khoảng cách mỹ học và phê phán lành mạnh. Những câu chuyện cô đem lại cho chúng ta thật đặc quyền và hiếm có, đặc quyền vì cô có mối liên hệ máu mủ gần gũi với Dorothy, và hiếm có bởi những người gần gũi với bà không thể giữ được một khoảng cách phê phán cân bằng như cô. Hennessy thừa nhận rằng đây không phải là chuyện dễ dàng. “Khi sự thánh thiện ở ngay cửa nhà, ngay trong nhà bạn. Thì có thể bạn không thể nhìn ra khi nhìn quá gần, hoặc nếu nhận ra bạn lại cảm thấy mình không thể nào trở thành một người như thế được. Bạn thấy sự gần gũi của mình với người đó thật là một sai lầm.”

Và những sự kết hợp này cho chúng ta một quyển sách tuyệt vời, một cách để chúng ta nhìn ra một khía cạnh khác của Dorothy Day. Với cái nhìn gần vào cuộc đời Dorothy Day, Hennessy chia sẻ những câu chuyện về một người đóng vai trò quan trọng trong cuộc đời bà. Mối quan hệ của bà với Forster Battenham, bố của con gái bà, một người mà bà vẫn giữ tình bạn suốt đời. Quyển tiểu sử của Hennessy xóa bỏ những chuyện đồn đãi rằng khi trở lại đạo Dorothy đã lạnh lùng và không bao giờ nhìn mặt người này. Nhưng sự thật là, họ vẫn thân thiết với nhau, và cho đến tận hơi thở cuối cùng, Dorothy vẫn là một bầu bạn thân thiết và người nâng đỡ trung thành cho ông Foster.

Một điểm nữa trong quyển tiểu sử này, là câu chuyện về Tamar, con gái của Dorothy, người rất quan trọng trong cuộc đời bà, nhưng lại hiếm khi được nhắc đến. Câu chuyện của Tamar, với những nét phong phú và đóng vai trò không nhỏ trong tổ chức lao công Công giáo, là một điểm thiết yếu để hiểu Dorothy Day. Không thể hiểu Dorothy nếu không biết chuyện đời của con gái và cháu gái bà. Để hiểu Dorothy Day, bạn cũng phải nhìn nhận bà như một người mẹ và một người bà nữa.

Hennessy cho chúng ta thấy, lúc ban đầu Tamar đã cay đắng phản đối chuyện công bố nhật ký của mẹ mình, và chỉ chấp nhận khi Robert Ellsberg giúp cô nhận ra rằng sự phản đối của cô chủ yếu là do nhật ký của Dorothy thiếu công bằng khi không nhắc nhiều đến cô và vai trò của cô trong cuộc đời, công việc và di sản của bà.

Quyển sách này cũng kể cho chúng ta câu chuyện về những người có vai trò quan trọng trong việc thiết lập tổ chức Lao công Công giáo. Là Peter Maurin, Stanley Vishnewski, và Ade Bethune.

Đây không phải là một câu chuyện kinh điển về hạnh các thánh, kiểu phóng đại để nêu bật các nét căn thiết và cuối cùng là lý tưởng hóa quá đáng, khiến cho các vị thánh trở thành những biểu tượng. Hennessy nêu rõ rằng đức tin của Dorothy không phải là một đức tin không bao giờ hoài nghi. Điều mà Dorothy không bao giờ hoài nghi, cũng chính là những điều mà đức tin kêu gọi chúng ta thực hành, là lòng hiếu khách, phi bạo lực và phục vụ người nghèo. Dorothy là một người biết tập trung theo một mục đích duy nhất, kiên định đủ để nên một vị thánh, cuối cùng bà có thể nói được rằng: “Càng lớn tuổi, tôi càng thấy đức tin và sự kiên vững là những đức tính lớn lao nhất, là chấp nhận những thất bại thế nào cũng có trong công việc của mình, của những người khác, vì Chúa Kitô là thất bại lớn nhất của thế giới mà.”

Như đã biết, cuộc đời của bà là một đống hỗn độn, nhiều dự án của bà bị khủng hoảng, và bà luôn mãi tham công tiếc việc, như lời Tamar con gái bà kể lại: “Mẹ tôi là người dữ dội, độc đoán, kiểm soát, phán xét, thường giận dữ, và bà biết mình như thế. Công cuộc xây dựng tổ chức Lao công Công giáo đã giúp dạy cho bà biết được thế.”
Hạnh thánh Dorothy nên được viết như thế. Nó cho chúng ta một câu chuyện rất con người, bị mắc kẹt trong những nhược điểm, yếu đuối, và rối loạn mà chúng ta đều có và đều có thể làm như thánh Brigid, đưa chiếc áo choàng lên hứng lấy ánh nắng và xem nó lan tỏa cho đến khi phủ khắp vùng đồng quê một vẻ đẹp phong phú.

Làm Hành khất Thánh thiện

Ngoại trừ Kinh thánh và vài thần nghiệm Kitô giáo, thì linh đạo Kitô giáo cho đến giờ vẫn chưa cho chúng ta một quan điểm đủ mạnh về những năm nghỉ hưu. Đây không phải là một mầu nhiệm cho bằng một câu hỏi tại sao. Cho đến gần đây, đa số mọi người qua đời không lâu sau khi nghỉ hưu, và do đó không cần phát triển quá nhiều một linh đạo hay một tinh thần thế hệ cho những năm tháng này.

Về mặt linh đạo, những năm tháng về hưu có ý nghĩa thế nào? Ơn gọi của chúng ta lúc đó là gì? Tinh thần thế hệ của chúng ta còn có ý nghĩa gì khi chúng ta đã làm xong phần việc của mình?

Henri Nouwen, một trong những ngòi bút đương đại nói về chất vấn này, đã gợi ý rằng: Có một thời trong cuộc sống, khi vấn đề không còn là: Tôi còn có thể đóng góp được gì? Nhưng vấn đề trở thành: Tôi sống thể nào để tuổi già và cơn hấp hối sẽ là món quà lớn cuối cùng cho gia đình, cộng đoàn, giáo hội, và đất nước tôi?

Làm cách nào để tôi thôi viết lý lịch mà chuyển sang viết lời ca ngợi mình? May mắn thay, các ngòi bút thiêng liêng thời nay bắt đầu phát triển một linh đạo về các chất vấn này, và tôi tin là một vài thấu suốt trong đạo Hindu có thể rất hữu ích.

Trong đạo Hindu, cuộc sống có năm giai đoạn tự nhiên.

Thứ nhất, khi bạn là Đứa trẻ. Là Đứa trẻ, bạn bắt đầu vào đời, bạn học nói, học tương tác với người khác, và có thời gian để chơi.

Giai đoạn thứ hai là Học sinh. Trong đạo Hindu, bạn là Học sinh cho đến khi bạn kết hôn, bắt đầu tạo dựng gia đình, và có sự nghiệp. Là Học sinh, nhiệm vụ chính của bạn là tận hưởng tuổi trẻ và chuẩn bị cho cuộc đời.

Rồi bạn trở thành Gia chủ. Giai đoạn này bắt đầu với hôn nhân và kết thúc khi đứa con út của bạn đã trưởng thành, nợ nần trả hết, và nghỉ hưu. Là Gia chủ, nhiệm vụ của bạn là gia đình, công việc, và các vấn đề tôn giáo cũng như dân sự. Đấy là những năm bạn gánh vác trách nhiệm.

Giai đoạn thứ tư là Ẩn Lâm (người ở trong rừng). Giai đoạn này bắt đầu khi bạn đủ tự do khỏi công việc gia đình và làm ăn, để suy tư sâu sắc hơn. Ẩn Lâm, nghĩa là một giai đoạn mà bạn tránh đi, một phần hay hoàn toàn, khỏi cuộc sống làm việc để nghiên cứu và suy tư về tôn giáo và tương lai. Thế có lẽ nghĩa là bạn trở lại trường học, có lẽ là học thần học và linh đạo, tĩnh tâm, suy tư, và tìm linh hướng.

Cuối cùng, một khi Ẩn Lâm đã cho bạn một tầm nhìn, thì bạn trở lại thế giới như một hành khất thánh thiện (Sannyasin), một người không có gì ngoài đức tin và khôn ngoan. Là một hành khất thánh thiện, bạn ngồi đâu đó nơi công cộng, làm một người ăn xin, chẳng có của cải, quan hệ, hay tầm quan trọng gì. Bạn có thể cho người khác một nụ cười, đôi chuyện vãn, trao đổi về đức tin, hoặc làm việc thiện. Bạn là một người sống đường phố, nhưng có một khác biệt. Bạn không phải là một người sống trên đường phố bởi không còn chọn lựa nào khác, nhưng là bởi bạn đã thành công trong đời rồi. Bạn đã sáng tạo rồi. Bạn đã cho đi cái bạn phải cho đi và giờ bạn tìm cách sáng tạo theo một cách thức khác, cụ thể là sống theo một cách sao cho những năm cuối đời bạn sẽ đem lại một món quà khác cho những người bạn yêu thương, một món quà sẽ chạm đến cuộc đời họ, buộc họ phải nghĩ về Thiên Chúa và đời sống một cách sâu sắc hơn.

Một Sannyasin là hiện thân cho những lời của ông Gióp. “Trần truồng sinh ra từ lòng mẹ, và tôi trần truồng trở về.” Chúng ta đến với thế giới này tay trắng, và rời thế giới trắng tay. Một hành khất thành thiện hiện thân cho chân lý đó.

Cứ hình dung, nếu một người rất thành công, bác sĩ, chủ tịch ngân hàng, vận động viên, nhà báo, giảng viên, doanh nhân, một chủ gia đình êm đẹp có con cái thành tựu, những người có vô số chọn lựa thoải mái trong cuộc sống, nhưng lại đến ngồi bên vệ đường, cạnh quán cà phê, tiệm ăn, trung tâm mua sắm, góc đường, thì đó đúng là một chứng tá. Không ai có thể cảm thấy mình cao hơn họ, hoặc đối xử với họ một cách thương hại như chúng ta thường làm với những người vô gia cư trên đường. Cứ thử hình dung chứng tá của một người tự nguyện làm hành khất bởi người đó đã thành công trong đời đi. Thật là một chứng tá và ơn gọi tuyệt vời!

Nhưng khái niệm này, một người hành khất thánh thiện, rõ ràng là hình ảnh lý tưởng hóa mà mỗi người chúng ta cần suy nghĩ về ý nghĩa cụ thể của cuộc đời chúng ta.
Trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, linh đạo xem tử đạo là biểu lộ tận cùng của đời sống Kitô, cách lý tưởng để theo trọn một cuộc đời đầy đức tin. Justin, Polycarp, Cyprian, và vô số những người khác đã “nghỉ hưu” bằng tử đạo. Về sau, các Kitô hữu thường nghỉ hưu trong các tu viện.

Nhưng tử đạo và tu viện, cũng là những hình tượng lý tưởng hóa. Vậy thì cụ thể và thiết thực, chúng ta nghỉ hưu ở đâu?

Năm trăm năm hiểu lầm

Pascal từng nói, Trái tim có lý lẽ của nó, và đôi khi những lý lẽ này có một câu chuyện rất dài.

Gần đây tôi gởi thiệp mừng một người bạn, một người phái Baptist đầy nhiệt thành, được nuôi dạy để nghi ngờ người Công giáo La Mã. Và hiện giờ anh vẫn còn đấu tranh với chuyện này, nhưng chúng ta ai mà không thế chứ? Chuyện đời ảnh hưởng đến tận ADN của chúng ta. Có ai trong chúng ta hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi mối hoài nghi về sự khác nhau do tôn giáo giữa chúng ta chứ? Nhưng làm sao để trị được chứng này? Liên hệ cá nhân, tình bạn, và đối thoại thần học với những người thuộc các tôn giáo hay giáo phái khác, sẽ giúp mở lòng mở trí chúng ta, nhưng hậu quả của hàng thế kỷ hiểu lầm không tự khắc biến mất dễ dàng, nhất là khi nó đã được bén rễ và vun đắp như một tính chất ngôn sứ để bảo vệ Thiên Chúa và chân lý. Và với các Kitô hữu thuộc nhiều phái khác nhau, vẫn còn chứng bệnh tinh thần, bất lực không thể nhìn ra người khác cũng là Kitô hữu như chúng ta.

Và khi viết thiệp cho người bạn Kitô hữu này của mình, tôi viết: “Gởi bạn Kitô hữu của tôi, người anh em trong Thân thể Chúa Kitô, người bạn tốt mà tôi đã bị ngăn cách vì năm trăm năm hiểu lầm.”

Năm trăm năm hiểu lầm, chia cách, nghi ngờ, thủ thế, không phải là thứ dễ gì vượt qua, nhất là khi những vấn đề cốt lõi là về Thiên Chúa, sự thật, và tôn giáo. Cứ cho là trong 50 năm qua, đã có tiến triển tích cực và nhiều hiểu lầm tai hại đã được giải quyết. Nhưng những tác động của sự chia rẽ Kitô giáo trong lịch sử và phản ứng với chuyện này trong thời nay, vẫn còn khắp mọi nơi, từ các viên chức giáo hội cấp cao, đến các tranh luận thần học, đến những thuyết âm mưu trong tâm thức đại chúng.

Đáng buồn là chúng ta quá tập trung vào những khác biệt của nhau, trong khi tận tâm điểm, chúng ta cùng một đức tin căn bản, cùng những niềm tin căn bản, những quy tắc luân lý căn bản, cùng một Kinh thánh, một niềm tin vào đời sau, và một tinh thần nền tảng, rằng sự thân thiết với Chúa Giêsu Kitô là mục đích đức tin của chúng ta. Và một điều không kém quan trọng, là ngày nay chúng ta cùng chia sẻ những thành kiến và định kiến về nhau, dù cho chúng xuất phát từ những nhóm chính thống cực đoan hay do những người quá ghen tỵ, quá thế tục trong đạo của chúng ta. Với người ngoài nhìn vào, tất cả mọi phái Kitô giáo khác nhau đều trông như một khối, một đức tin, một giáo hội, một tôn giáo duy nhất, với họ, những khác biệt của chúng ta quá nhỏ nhoi so với những điểm chung của chúng ta. Đáng buồn thay, chúng ta lại không có khuynh hướng nhìn bản thân từ bên trong như thế, thường không xem những khác biệt giữa chúng ta là do hiểu lầm, và làm hạ thấp tình thân chung giữa chúng ta.

Nhưng thư gởi tín hữu Êphêsô đã nói rằng, là Kitô hữu, chúng ta chia sẻ cùng một Chúa, một đức tin, một phép rửa, và một Thiên Chúa là Cha chúng ta. Ở mức độ căn bản nhất, điều này hoàn toàn đúng với mọi Kitô hữu chúng ta, bất chấp những khác biệt giáo phái. Tận căn bản, tất cả chúng ta là một.

Cứ cho là thật sự có một vài khác biệt giữa chúng ta, nhưng hầu hết là về cách chúng ta hiểu những khía cạnh nhất định của giáo hội và các vấn đề luân lý, hơn là về cách chúng ta hiểu những chân lý thâm sâu hơn về bản tính Thiên Chúa, sự thần thiêng của Chúa Kitô, Lời Chúa, Mình Thánh Chúa, và phẩm giá bất khả phân ly cũng như định mệnh của mọi con người. Đây là chân lý căn bản nhất và quan trọng nhất, và chúng ta đều đồng thuận về căn bản. Đấy là căn bản thật của tình môn đệ chung của chúng ta.

Về mặt giáo hội, những vấn đề chia rẽ chúng ta tập trung hầu hết vào thẩm quyền của giáo hội, vào việc phong chức linh mục, hay nhận thức về sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể, về con số các bí tích, về vị trí của các bí tích và ơn gọi, và về tương quan giữa kinh thánh và truyền thống. Về các vấn đề luân lý, những vấn đề chia rẽ chúng ta, cũng là những vấn đề “nóng” trong xã hội: là phá thai, hôn nhân đồng tính, kiểm soát sinh sản, và vị trí của công bằng xã hội. Nhưng ngay cả những điều này, giữa các giáo hội chúng ta, vẫn có nhiều điểm chung hơn là khác biệt.

Hơn nữa, ngày nay, sự khác biệt về cách chúng ta hiểu nhiều vấn đề giáo hội và luân lý đang chia rẽ chúng ta về tâm tính hơn là giáo phái, thường là một vấn đề thần học hơn là một xác quyết giáo phái. Cứ cho là quá tối giản khi xem sự khác biệt giữa chúng ta là kiểu tự do đấu với bảo thủ, nhưng ít nhất điều này cũng có phần đúng, những tranh chấp về các vấn đề này ngày càng ít liên quan đến vấn đề giáo phái.

Kinh Tin kính đầu tiên của Kitô giáo chỉ có một dòng: Chúa Giêsu là Chúa! Mọi Kitô hữu vẫn còn đồng ý như thế, và chúng ta vẫn là anh chị em với nhau, chỉ xa cách nhau vì năm trăm năm hiểu lầm mà thôi!

Ngôi mộ trống

Những người tin và người không tin đã tranh luận về sự phục sinh ngay từ ngày Chúa Giêsu sống lại. Thật sự, chuyện gì đã xảy ra? Làm sao mà Ngài sống lại từ cõi chết? Một thi thể thật sự đã chết có thể sống lại và bước ra khỏi mộ, hay phục sinh là một sự kiện biến đổi đời sống trong lương tâm của các môn đệ Chúa Giêsu? Hay phục sinh là cả hai, một sự kiện vừa thể lý vừa nội tại trong lương tâm các tín hữu?

Rõ ràng chẳng có ai chứng kiến chuyện thật sự xảy ra. Những người tuyên xưng Chúa Giêsu đang sống không nhìn thấy Ngài đứng dậy và ra khỏi mộ, họ chỉ gặp Ngài sau khi Ngài đã sống lại, và ngay lập tức những người tin và những người hoài nghi liền chia thành hai phe, những người tuyên bố đã được chạm vào Ngài bằng xương bằng thịt và những người nghi ngờ lời chứng đó.

Có những người tin và những người hoài nghi, và còn có những người tin rằng sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện đức tin chứ không phải về thể lý, họ tin thi thể người chết không thể đứng dậy mà ra khỏi mộ.

Sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện thể lý hay đức tin? Là cả hai. Với các Kitô hữu, đây là sự kiện vĩ đại, cả về đức tin lẫn lịch sử. Không thể giải thích hai ngàn năm lịch sử của đức tin Kitô, bằng cách nào khác ngoài hiện thực phục sinh. Hiểu sự phục sinh của Chúa Giêsu như một sự việc đơn thuần, rằng thân thể Ngài trỗi dậy từ hầm mộ, là cắt bỏ đi ý nghĩa của sự phục sinh. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, với các Kitô hữu, phục sinh cũng phải là một sự kiện mang tính thể lý đến tuyệt đối. Tại sao lại thế?

Trước hết, là bởi Tin mừng nói khá rõ ràng khi nhấn mạnh ngôi mộ trống và Chúa Giêsu phục sinh không phải là một linh hồn hay hồn ma. Ví dụ như, chúng ta thấy trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu đã mời Tôma kiểm tra thân thể Ngài. “Hãy coi tay Ta, chân Ta; Chính là Ta đó! Hãy rờ nắn mà xem, ma nào lại có thịt có xương như các ngươi thấy Ta có.”

Để trọn vẹn ý nghĩa sự phục sinh của Chúa Kitô, thì phải có sự sống lại của thân thể. Cần phải có ngôi mộ trống và thi thể sống lại. Tại sao lại thế?

Không phải như một kiểu bằng chứng cho phép lạ, nhưng là vì sự nhập thể. Tin vào sự nhập thể mà không tin vào tính thể lý của sự phục sinh thì thật là mâu thuẫn. Chúng ta tin rằng Ngôi Lời đã nhập thể làm người. Và chính điều này đưa mầu nhiệm Chúa Kitô và hiện thực phục sinh ra khỏi giới hạn thuần tinh thần. Nhập thể luôn luôn bao hàm một hiện hữu có tính thể lý, sờ mó được, như định nghĩa về vật chất là “một sự gì đó có chiếm hữu không gian và có trọng lượng.”

Tin vào sự nhập thể là tin rằng Thiên Chúa đã sinh ra trong thân xác thật, sống trong một thân xác thật, chết trong thân xác thật, và sống lại trong thân xác thật. Tin rằng phục sinh chỉ là một sự kiện đức tin trong lương tâm các tông đồ, thì dù có phong phú và thật đến mấy, cũng vẫn tước bỏ ý nghĩa của sự nhập thể, và rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên xem trọng tinh thần và khinh thường thể xác. Một thuyết nhị nguyên như thế hạ giá sự nhập thể và xói mòn ý nghĩa của phục sinh. Nếu phục sinh chỉ là một sự kiện tinh thần, thì đó chỉ là một sự kiện nhân loại chứ không phải một sự kiện bao hàm cả vũ trụ. Nói thế là xem đó chỉ là một sự kiện trong lương tâm con người chứ không phải sự biến đổi của vũ trụ.

Nhưng sự phục sinh của Chúa Giêsu không chỉ là một sự mới mẻ tuyệt đối trong lương tâm con người, mà còn là một sự mới mẻ tuyệt đối về bản chất vũ trụ, mới mẻ trong từng nguyên tử. Phục sinh sắp xếp lại tâm hồn và tâm trí con người, nhưng nó cũng sắp xếp lại các nguyên tử. Trước khi Chúa Giêsu phục sinh, xác người chết không sống lại, họ vẫn chết, nên khi Ngài sống lại, thì đó là một sự mới mẻ tuyệt đối cả về tinh thần lẫn vật chất. Chính xác là bởi tính vật chất tuyệt đối đó, nên sự phục sinh của Chúa Giêsu đem lại hy vọng mới cho từng phân tử cũng như cho tất cả mọi người.

Tôi tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết, một cách vật chất, theo nghĩa đen. Tôi cũng tin rằng sự kiện này thiêng liêng vô cùng, là một sự kiện đức tin, là sự biến đổi lương tâm, là hy vọng mới tăng sức cho lòng mến mới và sự tha thứ mới. Nhưng phục sinh cũng là một sự kiện biến đổi vật chất đến từng phân tử và biến đổi xác người chết. Đây là một sự kiện tuyệt đối mang tính thể lý, cũng hệt như mọi sự kiện khác trong công cuộc nhập thể khi Thiên Chúa mang lấy xác phàm thật sự.

Thứ Sáu Tuần Thánh

Thứ Sáu Tuần Thánh, từng là một chuyện xấu trước khi là một chuyện tốt lành, ít nhất là từ góc nhìn bên ngoài. Thiên Chúa bị đóng đinh vì mọi thứ xấu xa trên thế giới, là kiêu ngạo, ghen tỵ, bất tín, tổn thương, tư lợi, tội lỗi. Không phải ngẫu nhiên mà Phúc âm bảo chúng ta rằng khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng, bầu trời u ám ngay chính ngọ. Khi Chúa Giêsu treo trên thập giá, dường như ánh sáng chuyển thành bóng tối, tình yêu chuyển thành thù hận, và sự sống chuyển thành sự chết. Như thế có gì là tốt?

Hơn nữa, khi hấp hối, dường như Chúa Giêsu không còn thần thiêng, quyền lực và không thể kiểm soát mọi thứ kể cả những chuyện trong thế giới, lẫn những gì diễn ra trong lòng Ngài. Thế giới dường như chìm vào bất tín, và trong Tin mừng, Chúa Giêsu, Thiên Chúa nhập thể, dường như chìm vào một hoài nghi bất định, một nỗi hoang mang cực độ đến nỗi thốt lên: “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con.” Chuyện gì đang xảy ra thế này? Như thế có gì là tốt?

Để hiểu chuyện gì đã xảy ra trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta cần phân biệt giữa những gì diễn ra bề ngoài và những gì diễn ra thâm sâu.

Bề ngoài là một chuyện tồi tệ và không thể nào gọi là tốt đẹp được. Những người mộ đạo thành tâm, vì yếu đuối và sợ hãi đã bỏ đi điều tốt đẹp nhất trong mình, và hoặc góp phần khiến Chúa Giêsu bị hành hình, hoặc đứng đó thụ động để chuyện xấu xa này xảy ra. Chỉ có một vài phụ nữ mạnh mẽ không chịu khuất phục nỗi sợ hay sự kích động của đám đông, nhưng lại không đủ sức để làm bất kỳ điều gì ngăn cản chuyện đó. Còn lại tất cả mọi người đều góp phần vào việc đóng đinh Chúa, dù là do ghen tỵ, yếu đuối, hay vô tri. Theo lời của Chúa Giêsu, bóng tối có thời của nó. Tấn bi kịch nhân văn, xã hội và chính trị trong Thứ Sáu Tuần Thánh là chuyện không tốt. Nó cho thấy phần xấu xa nhất trong nhân loại trước một Thiên Chúa dường như thinh lặng.

Nhưng còn có một điều thâm sâu hơn nữa, một tấn kịch diễn ra bên trong linh hồn Chúa Giêsu, một điều tương phản với tất cả những gì đang diễn ra bề ngoài, trong đám đông đó. Trong sự đấu tranh của Chúa Giêsu để chấp nhận những chuyện đang diễn ra và chấp nhận những gì Chúa Cha đã muốn nơi Ngài, cho chúng ta tấn kịch tôn giáo và luân lý tột cùng: tình yêu chiến đấu và chiến thắng thù hận, tin tưởng chiến đấu và chiến thắng hoang tưởng, tha thứ chiến đấu và chiến thắng cay đắng.

Chúng ta thấy bản hùng ca chiến đấu đó, từ cơn thống khổ của Chúa Giêsu trong vườn Giết-sê-ma-ni khi Chúa đổ mồ hôi máu, khi Ngài thấy trước những thù hằn, làm ngơ, hiểu lầm, chống báng mà Ngài phải chọn để tin tưởng trao phó mạng sống mình.

Nhưng chấp nhận không phải là quy phục, và ngày hôm sau, Thứ Sáu Tuần Thánh, Ngài đã trải qua thử thách cuối cùng. Thiên thần đã tăng sức cho Ngài trong vườn Giết-sê-ma-ni dường như biến mất khi Ngài trên thập giá, và đêm tối hoài nghi bủa vây ngài đến độ Ngài kêu lên những lời dường như tuyệt vọng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con.” Sự chấp nhận của Ngài vào thời điểm then chốt này, càng khó khăn hơn đến vô hạn khi dường như Chúa Cha, Đấng làm một với Ngài, dường như vắng mặt. Trước tình cảnh dường như bị bỏ rơi đó, Chúa Giêsu phải có một chọn lựa của đức tin, của yêu thương, và tin tưởng ở mức tột cùng nhất. Chọn lựa đó là gì? Chúa Giêsu làm gì?

Theo lời của nhà thần học Karl Rahner, Chúa Giêsu để mình “chìm vào sự không thể hiểu nổi của Thiên Chúa.” Ngài quy phục Thiên Chúa mà Ngài không thể cảm nhận hay hiểu thấu, nhưng chỉ có thể tin tưởng. Chính nơi đây, Thứ Sáu Tuần Thánh chuyển từ xấu xa thành tốt đẹp, Chúa Giêsu không quy phục cay đắng, bám víu, hay giận dữ nhưng là quy phục tin tưởng, biết ơn và tha thứ. Trong sự quy phục đó, cuộc đấu tranh giữa thiện và tà, cuộc chiến lớn nhất, sự thiện đã thắng.

Đến tận cùng, tất cả những gì sai trái trong thế giới chúng ta sẽ không bị khuất phục trước một uy quyền áp đặt bạo lực, dù cho uy quyền đó có mạnh đến thế nào đi nữa. Bạo lực tốt đẹp sẽ không bao giờ xóa được bạo lực xấu xa. Chúng ta chỉ có thể xóa bỏ những thế lực không ngừng đóng đinh Thiên Chúa khi mỗi người chúng ta, cũng như Chúa Giêsu, có thể bỏ đi những cay đắng, bám víu và giận dữ, để nhường đường cho tin tưởng, biết ơn, và tha thứ. Và tất cả chúng ta phải để mình chìm trong sự không thể hiểu nổi của Thiên Chúa, nghĩa là tin tưởng ngay cả khi chúng ta không hiểu, yêu thương ngay cả khi bị thù ghét, và tha thứ ngay cả khi bị tổn thương.

Tất cả chúng ta đều sẽ có ngày Thứ Sáu Tuần Thánh của mình. Nhìn bề ngoài, chúng luôn luôn xấu xa, nhưng nếu chúng ta bỏ mình để tin tưởng, thì nó sẽ trở nên tốt đẹp.

Bạo lực nhân danh Thiên Chúa

Blaise Pascal từng viết: “Con người không bao giờ làm sự dữ một cách phấn khởi và trọn vẹn cho bằng khi họ làm sự dữ do một xác quyết tôn giáo.” Thật quá đúng! Chuyện này đã xảy ra từ xa xưa và chẳng có dấu hiệu gì sẽ sớm biến mất. Chúng ta vẫn gây bạo lực và sự dữ, rồi lấy danh Thiên Chúa biện minh cho chúng.

Chúng ta đã thấy vô số ví dụ về chuyện này. Từ thời bắt đầu có nhận thức, chúng ta đã gây bạo lực nhân danh Thiên Chúa. Bắt đầu bằng việc hiến tế người để xin ơn Thiên Chúa, cho đến việc ngược đãi người khác vì lý do tôn giáo, gây chiến tranh nhân danh Thiên Chúa, thiêu sống người ở Tòa dị giáo, xử tử người ta vì những lý do tôn giáo, và cả việc đem Chúa Giêsu đóng đinh trên thập giá vì một sự sốt sắng tôn giáo sai lầm.

Có rất nhiều sự kiện lịch sử nổi bật làm ví dụ cho chuyện này, và đáng buồn thay, mọi chuyện vẫn chẳng thay đổi được bao nhiêu. Ngày nay, chúng ta thấy bạo lực nhân danh Thiên Chúa do những nhóm cực đoan như Al-Qaida và ISIS (Nhà nước Hồi giáo tự xưng), tin rằng mình phụng sự Thiên Chúa và thanh tẩy thế giới nhân danh Chúa bằng khủng bố và giết người. Họ tin rằng có thể biện minh cho cái chết của hàng ngàn người vô tội khi xem đó là hành động vì Chúa, một lý do quá thiêng liêng và khẩn thiết nên không cần nghĩ đến những tiêu chuấn nhân văn và tôn giáo căn bản. Khi nhân danh Thiên Chúa, họ thấy cả những sự dữ rành rành cũng là chính đáng.

Đáng mừng là, hầu hết chúng ta thấy không thể biện minh cho những bạo lực giết người này. Nhưng chúng ta lại có thể lấy Thiên Chúa để biện minh cho những hành vi bạo lực tinh vi khác. Ví dụ như, nhiều người trong chúng ta vẫn biện hộ cho án tử hình nhân danh công lý, tin rằng Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải giết ai đó. Nhiều người trong chúng ta biện minh cho phá thai bằng lập luận rằng Thiên Chúa đã cho chúng ta tự do. Và chúng ta còn biện minh cho những lời lẽ xúc phạm của mình với lý do là lý lẽ của mình quá đặc biệt quá thiêng liêng nên không cần phải để tâm đến những đức mến Kitô giáo, không cần phải tôn trọng và tử tế với những người bất đồng.

Cả cánh hữu và cánh tả đều dùng những ngôn từ đầy gây hấn và xúc phạm, rồi mượn danh Thiên Chúa biện minh cho nó. Với những người cánh hữu, các vấn đề như phá thai và bảo vệ giáo lý được xem là quá quan trọng đến nỗi cho mình quyền xem người khác là ma quỷ. Còn người cánh tả thì tập trung vào vấn đề công bằng kinh tế và môi sinh đến nỗi không cần quan tâm đến sự tôn trọng và tử tế nữa. Cả hai phía đều lấy cơn giận công chính của Thiên Chúa mà biện minh cho mình.

Trong Phúc âm theo thánh Gioan, có một câu chuyện cho thấy chúng ta quá thường xuyên gây bạo lực nhân danh Thiên Chúa một cách mù quáng. Đó là chuyện về người phụ nữ bị bắt quả tang tội ngoại tình. Họ đưa phụ nữ ấy đến trước mặt Chúa Giêsu, và nói rằng theo luật Môsê, nhân danh Thiên Chúa, người phụ nữ này phải bị ném đá đến chết. Chúa Giêsu chẳng nói gì. Ngài cúi xuống lấy ngón tay viết trên cát hai lần, rồi ngẩng lên nói với đám người rằng “Ai không có tội thì ném đá trước đi.” Họ hiểu cử chỉ của Ngài, hiểu vì sao Ngài viết trên đất, vì sao Ngài viết hai lần. Ý nghĩa của hành động đó là gì?

Ông Môsê lên núi, và Thiên Chúa dùng ngón tay viết Mười Điều Răn lên hai phiến đá. Khi Môsê trở về trại, tay mang theo hai phiến đá, ông thấy dân đang thờ ngẫu tượng. Ông đã làm gì. Trong lòng đạo sôi sục, ông phá vỡ Mười Điều Răn, đập hai phiến đá trên con bò vàng, rồi lấy đá đó mà ném vào dân.

Điều thâm thúy ở đây là: Môsê là người đầu tiên phá vỡ Mười Điều Răn. Ông phá vỡ Mười Điều Răn nhân danh Chúa và lấy những mảnh vụn của các Điều Răn mà ném đá dân. Ông bạo lực một cách thành tâm, với lòng sốt mến tha thiết. Tất nhiên sau đó ông phải lên lại núi để được viết lại Mười Điều Răn lần nữa. Tuy nhiên trước khi cho Moses Mười Điều Răn lần nữa, Chúa đã dạy ông: Đừng lấy Mười Điều Răn mà ném đá dân! Đừng gây bạo lực nhân danh Ta!

Chúng ta rất chậm hiểu về chuyện này, và cũng không nghiêm túc nắm bắt nó. Chúng ta thấy có đủ loại biện minh luân lý và tôn giáo để chúng ta gây bạo lực nhân danh Thiên Chúa. Chúng ta vẫn hệt như Môsê, giáng các Điều Răn xuống trên những thứ mà chúng ta xem là ngẫu tượng, rồi lấy các mảnh vỡ mà ném đá người khác.

Bóng tối và nhận thức nhạy cảm

Một vài trường phái tâm lý học thời nay cảnh báo chúng ta về “bóng tối” của mình. Vậy bóng tối của chúng ta là gì?

Về cơ bản là thế này: Chúng ta có trong mình những sinh lực mãnh liệt đến nỗi không thể lúc nào cũng đương đầu được với chúng, nên chúng ta xử lý chúng bằng cách chối bỏ và đè nén để khỏi phải đối diện với chúng. Có thể nói ẩn dụ là chúng ta chôn chúng trong thửa đất bí mật của linh hồn, nơi chúng tránh xa tâm trí có ý thức của chúng ta.

Nhưng có một vấn đề. Những gì chúng ta chôn giấu không nằm yên mãi được. Dù cho những sinh lực này không nằm trong vòng ý thức của chúng ta, nhưng chúng vẫn tiếp tục tác động đến cảm giác, suy nghĩ và hành động của chúng ta bằng đủ mọi cách vô thức. Những sinh lực sâu sắc và bẩm tính của chúng ta sẽ luôn phát tiết ra, dù là ý thức hay vô thức. Carl Jung, một trong những nhà tiên phong về lĩnh vực này, nói rằng chúng ta phải thể hiện một cách vô thức những hành động mà chúng ta không kiểm soát được cách ý thức.

Có lẽ hình ảnh đơn giản này sẽ giúp dễ hiểu hơn. Thử tưởng tượng mình sống trong một căn nhà có tầng hầm, một tầng hầm mà bạn chẳng bao giờ xuống đó, và cứ mỗi khi cần vứt đi thứ gì là bạn chỉ việc mở cửa và ném chúng xuống hầm. Trong một thời gian, cách này có hiệu quả, những thứ chúng ta không muốn thấy giờ đã khuất mắt, nhưng rồi đống rác bắt đầu lên men và mùi của chúng lên qua lỗ thông hơi, làm ô nhiễm không khi nhà bạn. Đống rác đó đã không làm phiền bạn trong một thời gian, nhưng rồi chúng lại làm ô nhiễm môi trường của bạn.

Đây là một hình ảnh dễ hiểu, dù cho nó chỉ phản ánh một chiều, chỉ nói đến những thứ tiêu cực chúng ta ném vào hầm. Và một chuyện đáng chú ý nữa, là chúng ta cũng ném vào đó những gì trong chúng ta khiến chúng ta e sợ sẽ phát tiết. Chúng ta sợ sự cao cả của mình, và chúng ta cũng che đậy phần nào sự cao cả đó. Bóng tối của chúng ta không chỉ cấu thành từ những thứ tiêu cực, nhưng còn cả những sự cao cả nhất trong chúng ta mà chúng ta sợ mình không xử lý nổi. Xét tận cùng, cả sinh lực tích cực và tiêu cực trong chúng ta đều khiến chúng e sợ không kham nổi, và cả hai đều phát xuất từ một nguồn, là hình ảnh Thiên Chúa ghi trong chúng ta.

Điều căn bản nhất trong đức tin Kitô của chúng ta, là chúng ta được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa. Tuy nhiên, không thể hiểu nó theo kiểu đơn giản hóa, như kiểu một biểu tượng đẹp đẽ được đóng dấu vào linh hồn chúng ta. Đúng hơn, chúng ta nên nghĩ về nó như một sinh lực thần thiêng, một tình yêu vô tận và một tinh thần vô hạn, đấu tranh không ngừng với những giới hạn trong sự hữu hạn của chúng ta. Chẳng có gì ngạc nhiên khi chúng ta phải đấu tranh với những sinh lực, cảm giác, áp lực, và xung lực quá lớn, quá vô tận đến nỗi khiến chúng ta cảm thấy e ngại.

Nghịch lý thay, càng nhạy cảm, về mặt luân lý hay tôn giáo, thì chúng ta lại càng thấy e ngại những sinh lực này. Tại sao lại thế? Bởi có hai nỗi sợ thường tác động lên những linh hồn nhạy cảm. Thứ nhất là nỗi sợ của vị kỷ. Không dễ gì nắm bắt được sự cao cả, và những linh hồn nhạy cảm biết thế. Những người hoang dại và thâm hiểm cũng rút lấy sinh lực từ ngọn lửa thiêng, nhưng họ không biết nhạy cảm và cuối cùng họ gây tổn thương cho mình và cho người khác. Còn những linh hồn nhạy cảm thì trầm tư và dè dặt hơn. Họ sợ trở nên hoàn toàn quy kỷ, vị kỷ. Nhưng sự dè dặt đó không phải lúc nào cũng ích lợi cho họ. Quá nhạy cảm trong việc xử lý những sinh lực trong con người mình, đôi khi họ lại loại trừ cả Thiên Chúa khỏi con người họ.

Lý do thứ hai khiến những người nhạy cảm chôn chặt sự cao cả của mình là bởi họ gắn bó hơn với một nỗi sợ nguyên sơ trong chúng ta. Một nỗi sợ được diễn tả trong thần thoại Hy Lạp về Prometheus, nghĩa là chúng ta sợ sinh lực trong mình có thể là một sự đối đầu với Thiên Chúa, muốn trộm ngọn lửa của Thiên Chúa. Những người nhạy cảm lo sợ mình tự đại, sợ mình quá tập trung vào cái tôi.

Cũng như những phần tiêu cực mà chúng ta chôn dấu, cả sự cao cả của chúng ta khi bị nhét xuống hầm cũng bắt đầu lên men, biến thành một mùi độc hại và lan lên những ống thông hơi của ý thức chúng ta. Những mùi độc hại này mang lấy hình thù của giận dữ, ghen tỵ, cay đắng, và phán xét lạnh lùng. Phần lớn những cơn giận không mục đích của chúng ta cứ muốn trút lên đầu ai đó hay cái gì đó, chính là cái bóng của sự cao cả bị đè nén và chôn chặt.

Và chúng ta phải làm gì với chuyện này? James Hillman nói rằng, ‘Một triệu chứng sẽ đau đớn nhất khi nó chẳng biết chỗ của mình ở đâu.’ Chúng ta cần thêm những linh hướng có thể chẩn đoán cho chúng ta điều này. Các linh đạo của chúng ta quá ngây thơ trong việc chẩn đoán về sự kiêu ngạo và cái tôi. Chúng ta cần thêm những linh hướng có thể nhận ra chúng ta đã chôn chặt bao nhiêu phần cao cả của mình, nhận ra nỗi sợ sự viên mãn đã khiến chúng ta cố gắng gạt Thiên Chúa ra khỏi đời mình như thế nào.

Chẳng có gì là tuyệt đối của riêng chúng ta

Tất cả đều là tặng vật. Đây là nguyên tắc căn bản tận cùng của mọi linh đạo, mọi luân lý và giới răn. Tất cả đều là tặng vật. Chẳng có gì có thể tuyên bố tuyệt đối là của chúng ta. Sự nhạy cảm luân lý và tôn giáo chân chính phải giúp chúng ta nhận ra điều này. Chúng ta không có quyền chiếm hữu hoàn toàn sự gì.

Và đây không phải một nhận thức tự nhiên mà có. Cách đây vài năm, một nhà sư đã chia sẻ với tôi rằng suốt những năm đầu vào chùa, ông đã phẫn uất đến như thế nào mỗi khi muốn xin gì phải luôn hỏi sư Trụ trì. “Tôi vẫn nghĩ chuyện đó thật ngu ngốc, tôi là người trưởng thành, vậy mà phải hỏi xin bề trên mỗi khi muốn một cái gì. Nếu tôi muốn có áo mới, tôi phải hỏi xin sư Trụ trì mới được phép mua áo. Tôi nghĩ thật là lố bịch khi biến một người trưởng thành xuống như một đứa trẻ.”

Nhưng rồi đến một ngày, ông cảm nhận: “Tôi không hiểu vì sao, nhưng một ngày nọ tôi nhận ra có một mục đích và khôn ngoan trong việc phải xin phép mọi thứ. Tôi nhận ra rằng chúng ta chẳng có gì tự nhiên là của chúng ta và chẳng có gì chúng ta chiếm hữu làm của riêng mình. Tất cả đều là tặng vật. Tất cả đều phải xin. Chúng ta cần biết ơn vũ trụ và Thượng đế vì đã cho chúng ta dù chỉ một chút không gian nhỏ nhoi. Giờ mỗi khi xin phép sư Trụ trì những lúc cần gì đó, tôi không còn cảm thấy mình là con nít nữa. Mà tôi thấy mình hòa hợp với đường lối của vạn vật, một vũ trụ của tặng vật mà trong đó không ai trong chúng ta có quyền tuyên bố chiếm hữu tuyệt đối bất kỳ điều gì.”

Đây là sự khôn ngoan luân lý và tôn giáo, nhưng sự khôn ngoan này đi ngược lại đặc tính thống trị trong nền văn hóa của chúng ta và cả những xu thế mạnh nhất của chúng ta nữa. Từ cả bên trong và bên ngoài, chúng ta đều nghe vang vọng một lời thế này: Nếu bạn không thể chiếm được điều bạn mong muốn thì bạn là kẻ yếu đuối, và yếu đuối cả hai mặt. Thứ nhất, bạn là người yếu đuối, quá rụt rè để chiếm lấy những gì là của mình. Thứ hai, bạn bị sự thận trọng của tôn giáo và luân lý làm suy yếu nên không thể nắm lấy thời cơ của mình. Không chiếm lấy những gì là của mình, không phải là nhân đức mà là sai lầm.
Đây cũng chính là tiếng nói mà nhà sư trên đã nghe trong thời trai trẻ, và vì thế mà nhà sư thấy phẫn uất và thấy mình non nớt.

Nhưng Chúa Giêsu không nói những lời như thế. Kinh thánh chỉ ra khá rõ rằng Chúa Giêsu sẽ không quá để tâm vào những thái độ cương quyết, hung hăng và tích trữ trong xã hội, không xem chúng là tính cách đáng ngưỡng mộ. Tôi không nghĩ Chúa Giêsu sẽ hưởng ứng sự hâm mộ của chúng ta dành cho những người nổi tiếng và giàu có, những người tuyên bố mình có quyền trên tài sản và danh vọng cực độ của mình. Chúa Giêsu nói rằng con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào thiên đàng, nhưng hẳn có thể nói rõ thêm rằng: “Trừ phi, người giàu đó, nên như đứa trẻ, xin phép vũ trụ, xin phép cộng đồng, và xin phép Chúa, mỗi khi mua một chiếc áo mới!” Khi Chúa Giêsu bảo chúng ta rằng trẻ con và người nghèo dễ vào thiên đàng nhất, thì không phải là Ngài đang thần tượng hóa sự ngây thơ và nghèo khổ đâu. Mà Ngài đang nêu bật nhu cầu phải nhận ra và thừa nhận sự lệ thuộc của mình. Xét tận cùng, chúng ta không tự làm nên con người mình và chẳng có gì tất yếu là của chúng ta cả.

Khi tôi còn ở nhà tập, một giám tập đã cố ghi khắc cho chúng tôi ý nghĩa của sự khó nghèo trong đời sống tu trì, bằng cách bảo chúng tôi viết lên toàn bộ sách vở hai chữ La Tinh: Ad Usum. Nghĩa là: Để dùng. Việc này là để chúng tôi hiểu rằng, quyển sách này được giao cho chúng tôi sử dụng, chứ chúng tôi không chiếm hữu nó tuyệt đối. Nó chỉ là của chúng tôi tạm thời mà thôi. Và như thế, mọi thứ khác được trao cho chúng ta sử dụng riêng cũng vậy, từ bàn chải đánh răng cho đến chiếc áo mang trên người. Chúng không thật sự là của chúng ta, mà chỉ đơn giản là được trao cho chúng ta sử dụng.

Một trong các bạn tập sinh của tôi đã rời dòng và làm bác sĩ. Anh vẫn là bạn thân với chúng tôi, và một hôm nọ anh chia sẻ với chúng tôi rằng, dù giờ là bác sĩ, anh vẫn viết những lời đó trong mọi quyển sách của mình. “Tôi không còn ở trong dòng tu, và không có lời khấn khó nghèo, nhưng nguyên tắc mà giám tập dạy cho chúng ta vẫn có giá trị với tôi. Xét cho cùng, chúng ta không sở hữu thứ gì. Những quyển sách đó thật sự không phải là của tôi. Chúng được trao cho tôi sử dụng tạm thời. Chẳng có gì thuộc về ai, và không bao giờ được quên điều đó.”

Một người trưởng thành phải xin phép để mua một chiếc áo không phải là chuyện xấu. Mà nó nhắc cho chúng ta nhớ rằng vũ trụ thuộc về tất cả mọi người và tất cả chúng ta phải biết ơn khi có được dù chỉ là một không gian nhỏ cho mình.

Hương vị trong Sinh lực của Thiên Chúa

Ngẫm lại mọi sự, tôi tin là mình đã lớn lên với một khái niệm tương đối lành mạnh về Thiên Chúa. Thiên Chúa trong thời trẻ của tôi, Thiên Chúa mà tôi được dạy trong các bài giáo lý, không phải là một Thiên Chúa trừng phạt, độc đoán và phán xét quá đáng. Ngài hiện diện khắp nơi, nên mọi tội lỗi của chúng ta Ngài đều biết, nhưng Ngài công bằng, yêu thương và quan tâm đến từng người chúng ta, Ngài bảo vệ chúng ta đến nỗi cho mỗi người chúng ta một thiên thần hộ mệnh. Thiên Chúa như thế cho tôi được phép sống mà không phải quá sợ hãi cũng như không bị rối loạn méo mó về đạo.
Nhưng như thế chỉ đưa bạn đến một mức nào đó trong đời. Không có một khái niệm không lành mạnh về Thiên Chúa, không nhất nhiết nghĩa là bạn có một khái niệm lành mạnh về Thiên Chúa. Thiên Chúa mà tôi được dạy, Ngài không quá khắc nghiệt và phán xét, nhưng Ngài cũng không vui vẻ, hài hước. Nhất là, Ngài không có tính dục, và có cái nhìn đặc biệt cảnh giác và cương quyết với chuyện này. Về căn bản, Ngài mang màu xám, và ở gần Ngài không vui cho lắm. Quanh Ngài, bạn phải nghiêm trang và cung kính. Tôi còn nhớ Trợ tá Giám tập ở Dòng Hiến sĩ, đã bảo chúng tôi rằng chưa từng có sách nào ghi lại chuyện Chúa Giêsu cười.
Theo một Thiên Chúa như thế, bạn có thể lành mạnh về căn bản, nhưng khi thật sự đến gần Ngài, bạn vẫn không sống mãnh liệt cuộc đời mình, và mối quan hệ giữa bạn với Ngài vẫn quá trang trọng cung kính.
Một thế hệ đã qua, và trong nhiều giáo hội cũng như trong nền văn hóa đang có một phản ứng mạnh với khái niệm này về Thiên Chúa. Thần học và linh đạo đại chúng muốn sửa đổi chuyện này, đôi khi với một lòng hăng hái thái quá. Họ đưa ra một Chúa Giêsu đang cười và nhảy múa. Dù cho điều này có những giá trị của nó, nhưng vẫn chưa đủ, chúng ta vẫn phải mải miết tìm một hình tượng thâm sâu hơn về bản chất Thiên Chúa sao cho chúng ta có được một mối liên hệ lành mạnh với Ngài.
Hình ảnh đó không dễ gì có được, bởi Thiên Chúa là khôn tả, không thể diễn tả, và còn bởi sinh lực Thiên Chúa cũng khôn tả. Mà thật sự, sinh lực là gì? Chúng ta hiếm khi hỏi câu này, bởi chúng ta xem sinh lực là một sự gì đó quá căn bản đến nỗi không thể xác định mà chỉ có thể tự cảm nhận như một điều tất yếu. Chúng ta thấy sinh lực là một nguồn lực căn bản nằm ở trung tâm mọi sự hiện hữu. Hơn nữa, chúng ta cảm nhận được sinh lực trong chính bản thân mình. Chúng ta biết sinh lực, cảm được sinh lực, nhưng chúng ta hiếm khi nhận ra nguồn gốc của nó, sự phi thường, niềm vui, sự tốt đẹp, sôi sục và hồ hởi của sinh lực đó. Chúng ta hiếm khi nhận ra những gì sinh lực trong người mình kể cho chúng ta nghe về Thiên Chúa. Vậy nó nói với chúng ta những gì?
Phẩm chất đầu tiên của sinh lực là phi thường. Vượt xa trí tưởng tượng của chúng ta và cho chúng ta biết đôi điều về Thiên Chúa. Một Đấng Tạo Hóa nào lại làm nên hàng tỷ vũ trụ mà chẳng để làm gì? Đấng Tạo Hóa nào lại làm nên hàng tỷ tỷ loài, và có biết bao nhiêu loài mà con người vẫn chưa biết? Một người cha người mẹ nào lại có hàng tỷ đứa con?
Và sự hồ hởi trong sinh lực của trẻ con có gì giống với Đấng Tạo Hóa? Tính ham chơi của chúng có cho thấy điều gì nằm ẩn sâu trong sinh lực thiêng liêng? Sinh lực của một chú chó con nói lên những gì về sự thiêng liêng? Những tiếng cười, câu đùa, hài hước nói lên những gì về Thiên Chúa?
Chắc chắn sinh lực chúng ta thấy quanh mình và cảm nhận trong mình, cho chúng ta thấy rằng, ẩn sau nhưng có trước tất cả mọi sự, là một nguồn lực thiêng liêng vừa thể lý vừa tinh thần. Và nguồn lực này vui mừng, hạnh phúc, vui chơi, hồ hởi, sôi nổi, và yêu thương. Sinh lực đó chính là Thiên Chúa. Sinh lực đó nói về Thiên Chúa và nói cho chúng ta biết vì sao Thiên Chúa tạo thành chúng ta, và Ngài cho chúng ta được sống đời mình như thế nào.
Khi chúng ta cố hình dung tâm điểm của hiện thực, có lẽ chúng ta sẽ hình dung thế này. Tại tâm điểm của vạn vật có hai ngai vàng, một của Đức Vua và một của Hoàng hậu, và từ hai ngai vàng này tuôn ra mọi sinh lực, mọi sáng tạo, mọi sức mạnh, mọi tình yêu, mọi thức ăn nuôi dưỡng, mọi niềm vui, mọi hài hước và vẻ đẹp. Mọi hình ảnh về Thiên Chúa đều không thể diễn tả cho đủ, nhưng hi vọng hình ảnh này có thể giúp chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa vừa hoàn toàn nam tính vừa hoàn toàn nữ tính, trong Ngài tình yêu luôn trào dâng và sự kết hợp này tuôn ra mọi sinh lực và mọi sáng tạo. Hơn nữa, sinh lực đó không chỉ sáng tạo, thông minh, nhân tính và yêu thương, mà còn đầy vui vẻ, hài hước, phấn khởi, tình tứ, và hồ hởi. Cảm nhận được như thế rồi chúng ta sẽ thấy biết ơn.
Chúng ta phải sống với đủ mọi căn nguyên của sinh lực đó. Như thế nghĩa là khi cởi giày trước khi bước đến gần bụi gai, là chúng ta đang tỏ lòng tôn kính sự linh thiêng nơi đó, nhưng cũng là chúng ta được phép sẵn sàng tự do, hân hoan, vui vẻ, và tri ân.

Về Nhân Đức và Tội Lỗi

Có một câu châm ngôn nói rằng: Không gì cho ta cảm giác tốt đẹp hơn nhân đức. Đây là chân lý sâu sắc, nhưng còn một khía cạnh ẩn giấu nữa. Khi làm việc tốt, chúng ta thấy bản thân mình tốt đẹp. Nhân đức thực sự là phần thưởng cho chính nó rồi, và như thế là tốt. Nhưng cảm giác mình công chính có thể sớm biến thành cảm giác tự đại. Không gì cho ta cảm giác tốt đẹp hơn nhân đức, nhưng sự tự đại có vẻ cũng cho ta cảm giác tốt đẹp nữa.

Chúng ta thấy điều này được biểu lộ rõ trong dụ ngôn của Chúa Giêsu về người thu thuế và người Pharisiêu. Người Pharisiêu thực hành nhân đức, ông hành động đúng theo những điều được dạy, nhưng ông không có lòng khiêm nhượng, cũng không thấy mình cần Thiên Chúa và lòng thương xót, mà chỉ có thái độ tự đại và xét đoán người khác. Tất cả chúng ta cũng thế, cũng dễ trở thành người Pharisiêu này. Mỗi khi thấy người khác đang phải đấu tranh để sống đẹp, chúng ta nói: Nhờ ơn Chúa tôi mới được thế này. Thái độ có vẻ khiêm nhượng đó có thể mang hai ý nghĩa rất khác nhau. Nó có thể là một lời tạ ơn chân thành vì đã được những ơn mình không xứng đáng, hoặc có thể dễ dàng là một thái độ tự đại về sự vượt trội của mình so với người khác.

Những ngòi bút thiêng liêng kinh điển như Gioan Thánh Giá, khi nói về những thử thách chúng ta gặp phải trên con đường môn đệ, đã nói về một thứ gọi là: Lỗi của những người nằm ngoài hoán cải ban đầu. Ý nghĩa của câu này là: Chúng ta không bao giờ thoát được cuộc đấu tranh với tội lỗi. Khi chúng ta trưởng thành, thì tội lỗi càng tinh vi hơn. Ví dụ như, trước khi trưởng thành, chúng ta xác định được bảy mối tội đầu, và chúng thể hiện nơi chúng ta một cách nguyên sơ và rõ ràng. Chúng ta thấy điều này nơi trẻ con, thanh thiếu niên. Với họ, kiêu ngạo rõ ràng là kiêu ngạo, ghen tỵ rõ ràng là ghen tỵ, ích kỷ rõ ràng là ích kỷ, tham lam rõ ràng là tham lam, và nóng giận rõ ràng là nóng giận. Chẳng có gì tinh vi hay ẩn giấu cả, cái lỗi nằm rành rành ra đó.

Nhưng khi chúng ta vượt qua được dạng nguyên sơ của những tội này, thì chúng lại đội những lốt khác tinh vi hơn trong cuộc đời mình. Vì thế, chẳng hạn như, khi chúng ta khiêm nhượng, thì chúng ta lại trở nên kiêu ngạo và tự đại vì sự khiêm nhượng của mình. Và tôi thấy từ chính kinh nghiệm của mình rằng: Không một ai thiển cận và xét đoán hơn một người mới trở lại đạo hay một người mang ngọn lửa nhiệt thành ban đầu.

Tội có những phức tạp của nó. Một số khái niệm ngây thơ của chúng ta về tội và sự khiêm nhượng cũng cần được xem xét lại. Ví dụ như, chúng ta thường nuôi một khái niệm lãng mạn hóa rằng, người có tội thì khiêm nhượng, nhận thức mình cần được tha thứ, và mở lòng ra với Chúa. Và chúng ta có thể thấy điều này trong Phúc âm. Khi Chúa Giêsu rao giảng, những người Pharisiêu đương cự với Chúa và thông điệp của Chúa, còn những người thu thuế và gái điếm lại mở lòng hơn với Ngài. Vậy từ đó chúng ta có thể đặt một câu hỏi: Có phải tội lỗi còn khiến chúng ta nhận ra mình cần Chúa hơn cả nhân đức nữa?

Đúng, khi tội đó thành thật, khiêm nhượng, biết thú nhận và sám hối, hoặc là khi hành động sai trái của chúng ta bắt nguồn từ việc bị tổn thương, bị lợi dụng. Không phải mọi tội lỗi đều như nhau. Có tội ngay thẳng và tội bất lương.

Là con người, chúng ta yếu đuối và thiếu sức mạnh để luôn làm theo những gì tốt đẹp nhất trong con người mình. Đôi khi chúng ta chịu thua cám dỗ và yếu đuối. Để giải thích về việc chúng ta phạm tội, chỉ cần nói điều này thôi. Chúng ta là con người! Và đôi khi, người ta rơi vào tình trạng tội lỗi vốn không thật sự do tay họ gây ra. Họ bị lợi dụng, bị bắt sống trong hoàn cảnh tội lỗi không do họ chọn lựa, họ là nạn nhân của nạn buôn người, là nạn nhân của hoàn cảnh bất công trong xã hội hay gia đình, hoặc họ bị tổn thương quá nặng. Trong những hoàn cảnh đó, một hành động sai lầm, là vấn đề sống còn chứ không phải vấn đề chọn lựa tự do. Một bà đã giải thích cho tôi rằng: “Tôi đơn giản là một con chó, cắn để khỏi bị cắn thôi.” Trong những trường hợp này, thường thì dưới lớp vỏ chai đá có một tâm hồn vẫn ngây thơ vô tội biết mình cần lòng thương xót Chúa. Có tội ngay thẳng.

Và có tội không ngay thẳng, là thứ tội biện luận, luôn chìm trong kiêu ngạo nên không thể thú nhận mình tội lỗi. Kết quả là, nó trở thành một tâm hồn đầy xét đoán, cay đắng, và chai đá. Khi tội biện luận, thì sự cay đắng tiếp vào, kéo theo sự ghét bỏ với nhân đức mà nó đã không giữ được. Khi chúng ta biện luận, thì bản năng luân lý của chúng ta không bị lừa phỉnh đâu. Nó phản ứng lại và trừng phạt bằng cách khiến chúng ta ghét bỏ mình. Và khi ai đó ghét bỏ mình, thì sự căm ghét đó sẽ lớn lên và trở thành ghét bỏ người khác, và nhất là ghét bỏ nhân đức mà mình đã không giữ được. Ví dụ như, không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều người ngoại tình thường cay độc vô cùng khi nói đến đức khiết tịnh.

Thấy mình yếu đuối và tội lỗi, có thể khiến chúng ta cúi mình khiêm nhượng, và mở lòng chúng ta đón nhận lòng thương xót Chúa. Nhưng nó cũng có thể biến tâm hồn chúng ta chai đá, cay đắng và xét đoán. Không phải mọi người có tội đều cầu nguyện như người thu thuế trong Phúc âm.

Nhân đức khiến chúng ta biết ơn. Tội lỗi khiến chúng ta khiêm nhượng.

Đúng là thế. Nhưng không phải lúc nào cũng thế.

Về Người Thắng và Kẻ Thua

Xã hội chúng ta có khuynh hướng chia hai bên, bên người thắng, bên kẻ thua. Đáng buồn là chúng ta thường không nghĩ xem chuyện này tác động thế nào với mối quan hệ giữa chúng ta với nhau, cũng không nghĩ đến tác động của nó đến chúng ta trong tư cách Kitô hữu.

Vậy mối quan hệ kiểu này là gì? Về căn bản, mối quan hệ giữa chúng ta có khuynh hướng cạnh tranh và ghen tương, vì chúng ta bị tiêm nhiễm những động cơ muốn làm hơn người, thành tựu hơn người và vượt lên người khác. Tôi xin đan cử một vài khẩu hiệu được xem là khôn ngoan trong thời nay! Chiến thắng! Hãy là người giỏi nhất trong việc gì đó! Cho người khác thấy bạn tài năng hơn họ! Cho họ thấy bạn khôn lanh hơn người khác! Đừng xin lỗi, hãy nghĩ đến bản thân trước hết! Đừng làm kẻ thua cuộc!

Những lời này không phải là những câu châm ngôn vô tội khích lệ chúng ta làm việc chăm chỉ hơn, nhưng là những con siêu vi khuẩn tác hại lên chúng ta, làm cho mọi thứ trong cuộc đời đồng minh với tính ái kỷ có sẵn trong con người mình, thúc đẩy chúng ta phải thành công, phải là vận động viên giỏi nhất, người mặc đẹp nhất, xinh đẹp nhất, có tài năng âm nhạc nhất, nổi tiếng nhất, kinh nghiệm nhất, du lịch nhiều nhất, am hiểu xe cộ, phim ảnh, lịch sử, tình dục nhất… Bằng mọi giá, chúng ta thúc đẩy mình vượt trội hơn người khác. Chúng ta cố gắng bằng mọi giá tìm cách tách mình ra và vượt lên trên người khác. Ý niệm đó gần như thâm căn cố đế trong chúng ta rồi.

Và vì khuynh hướng này, chúng ta thường có xu hướng phán xét sai lầm về người khác, cũng như sai lầm về ý nghĩa và mục đích đời mình. Chúng ta xây dựng mọi thứ quanh thành tựu và nổi bật. Khi thành công, khi chiến thắng, khi hơn người khác trong chuyện gì đó, thì cuộc sống của chúng ta dường như trọn vẹn hơn, cái tôi của chúng ta vênh vang, và chúng ta cảm thấy tự tin cũng như thấy mình thật có giá trị. Ngược lại, khi chúng ta không thể nổi bật, khi chúng ta chỉ là một người trong đám đông, thì chúng ta cố gắng duy trì một hình ảnh đẹp về mình.

Nhưng trong cả hai trường hợp, chúng ta đều luôn mãi đấu tranh với tính ghen tương và bất mãn vì khi đem bản thân so sánh với người khác, chúng ta không thể không thấy mình luôn thiếu tài năng, không đẹp và không thành tựu. Và chúng ta vừa ghen tỵ vừa hờn ghét những người tài năng, xinh đẹp, quyền lực, giàu có và nổi tiếng. Chúng ta tâng bốc họ dù cho vẫn âm thầm chờ đợi họ sa cơ, hệt như đám đông tung hô Chúa Giêsu trong Lễ Lá, rồi mấy ngày sau lại la hét đòi đóng đinh Chúa vào thập giá.

Và điều này làm cho chúng ta bất hạnh. Làm sao chúng ta có thể tạo nên một cộng đồng, khi tài năng và thành tựu của người này là cái cớ ghen tỵ và phẫn uất cho người khác, cũng như là nguồn gây ra đố kỵ cũng như tranh giành? Làm sao chúng ta yêu thương nhau khi tinh thần cạnh tranh khiến chúng ta xem nhau như kẻ thù?

Chỉ có thể có cộng đoàn khi chúng ta để tài năng và thành tựu của người khác làm đẹp cho cuộc đời chúng ta, đồng thời để tài năng và thành tựu của mình làm đẹp chứ không đe dọa cuộc đời của người khác. Nhưng chúng ta hầu như không thể làm việc này. Chúng ta bị tiêm nhiễm tính cạnh tranh quá nặng nên không thể không xem thành tựu và tài năng của người khác là mối đe dọa, đồng thời cũng không thể dùng tài năng của mình nhằm làm đẹp cuộc sống người khác thay vì làm nổi bật bản thân.

Chúng ta có khuynh hướng phân ra người thắng kẻ thua, ngưỡng mộ và ganh ghét người thắng, tỏ lòng thương hại kẻ thua, và luôn mãi đánh giá nhau, cân đo cơ thể, tóc tai, trí tuệ, áo quần, tài năng và thành tựu của người khác. Nhưng khi làm như thế, là chúng ta dao động từ khủng hoảng và bị xem thường khi thua kém người khác, cho đến tự mãn vênh vang khi mình có vẻ hơn người khác.

Và càng khó khăn hơn nữa khi chúng ta ngày càng thêm ám ảnh về nhu cầu phải nổi bật, phải đặt biệt, phải ăn trên ngồi trốc, phải tạo dấu ấn trong đời. Chúng ta sống trong chứng ghen tỵ mơ hồ mà kinh niên, khi xem tài năng của người khác là mối đe dọa thường trực với mình. Và như thế chúng ta cứ bồn chồn lo lắng, và bớt trung thành với đức tin Kitô.

Đức tin Kitô của chúng ta mời gọi đừng so sánh mình với người khác, đừng cố nổi bật, đừng để mình thấy lo sợ và ghen tỵ với ơn của người khác. Đức tin của chúng ta mời gọi hãy tin rằng không cần phải nổi bật hay đặc biệt, tin rằng tài năng của người khác không phải là mối đe dọa, nhưng là một sự làm phong phú cho mọi con người trên đời, và trong đó có cả chúng ta.

Khi chúng ta chia ra người thắng kẻ thua, thì những tài năng và ơn ích của chúng ta trở thành gốc rễ của ghen tỵ, thành vũ khí của cạnh tranh và ham muốn trở nên thượng đẳng hơn người khác. Điều này không chỉ đúng với từng cá nhân, mà còn đúng cho các quốc gia nữa.

Một trong những khẩu hiệu cạnh tranh trong nền văn hóa của chúng ta bảo rằng: Chỉ cho tôi thấy một người thua cuộc cao đẹp, tôi sẽ chỉ cho bạn thấy một kẻ thua cuộc! Nếu nghĩ như thế, thì Chúa Giêsu là người thua cuộc. Người ta lắc đầu trước cái chết của Ngài, và chẳng ai đeo vòng nguyệt quế cho Ngài cả. Dưới con mắt người đời, Ngài chẳng được gì. Chỉ là một kẻ thua cuộc! Nhưng nhờ sự kém cỏi của Ngài, mà chúng ta được ơn cứu độ.

Tiếp đón khách lạ

Trong Kinh thánh của Do Thái luôn có một đòi hỏi đạo đức rất mạnh, là phải tiếp đón khách lạ, khách ngoại kiều. Điều này được nêu bật vì hai lý do: Thứ nhất, dân Do Thái từng là khách ngoại kiều và dân nhập cư. Kinh thánh nhắc nhở họ đừng quên điều đó. Thứ hai, họ tin rằng sự mặc khải của Thiên Chúa thường đến qua những người lạ, qua những gì xa lạ với chúng ta. Niềm tin đó có phần không tách rời trong đức tin của họ.

Các ngôn sứ lớn cũng phát triển thêm tâm thức này. Họ dạy rằng Thiên Chúa thương người nghèo hơn, và do đó chúng ta sẽ được phán xét theo cách chúng ta đối xử với người nghèo. Các ngôn sứ lặp đi lặp lại lời này. Để thấy đức tin của bạn được xem là mạnh hay yếu, cứ nhìn vào công lý ở nơi bạn sống. Và công lý được phân định bằng cách nhìn xem cô nhi quả phụ và khách ngoại kiều được sống thế nào.

Cô nhi quả phụ và khách ngoại kiều. Đây là ba nhóm người yếu đuối nhất trong xã hội. Và thông điệp của các ngôn sứ không nói suông. Đúng ra, đó là lời mắng thẳng vào mặt những người thời đó, những người tỏ ra sùng đạo và tin rằng mình sẽ được phán xét dựa theo sự tuân giữ đạo một cách chặt chẽ và cứng ngắc. Và cả thời nay, người ta thường xuyên loại công bằng xã hội ra khỏi tôn giáo.

Nhưng Chúa Giêsu đồng lòng với các ngôn sứ Do Thái. Với Ngài, Thiên Chúa không chỉ thương người nghèo hơn, mà Thiên Chúa còn hiện thân nơi người nghèo. Cách chúng ta đối xử với người nghèo là cách chúng ta đối xử với Chúa. Hơn nữa, lời các ngôn sứ cứ lặp đi lặp lại rằng chúng ta sẽ được phán xét tùy theo cách mình đối xử với người nghèo, đã được Chúa Giêsu khẳng định trong dụ ngôn về ngày Phán xét, chương 25 Phúc âm thánh Máthêu. Chúng ta đều quen, hoặc quá quen, với đoạn này. Chúa Giêsu đang trả lời cho chúng ta một câu hỏi: Ngày Phán xét như thế nào? Thước đo nào cho chúng ta? Chúng ta sẽ được phán xét thế nào?

Câu trả lời của Ngài thật thẳng thừng đến choáng váng, và có lẽ là những lời đầy thách thức nhất trong Phúc âm. Ngài bảo rằng chúng ta sẽ được phán xét theo, và chỉ theo, cách chúng ta đối xử với người nghèo, nghĩa là cách chúng ta đối xử với những người yếu đuối nhất. Hơn nữa, Chúa Giêsu còn nói rõ về “khách lạ,” khách ngoại kiều, người tị nạn: “Ta là khách lạ và các con đã tiếp rước… Ta là khách lạ và con đã không tiếp rước.” Chúng ta được đứng bên phải hay bên trái trước mặt Chúa, là tùy vào cách chúng ta tiếp đón người khách lạ.

Và cũng cần nhấn mạnh một điểm trong đoạn này, đó là những người làm đúng và làm sai, đều biết mình đang làm gì. Cả hai đều biện bạch với Chúa. Nhóm thứ nhất nói rằng: “Chúng con đâu biết lúc đó chúng con phục vụ Chúa.” Còn nhóm thứ hai thì nói: “Nếu biết đó là Chúa, thì chúng con đã phục vụ rồi.” Trong đoạn Phúc Âm này, tư cách môn đệ trưởng thành không dựa trên việc chúng ta tin rằng mình hiểu đúng, nhưng là dựa trên việc chúng ta hành động đúng.

Và tôi tin đây là nguyên tắc vô cùng thích hợp cho thời nay, khi chúng ta đang đối diện với một cuộc khủng hoảng tị nạn và di cư ở các nước Phương Tây. Chắc chắn ngày nay chúng ta đang đối diện với cuộc khủng hoảng nhân đạo lớn nhất kể từ sau Thế Chiến Thứ Hai. Hàng triệu người bị bách hại bất công, bị dọa giết, bị đuổi khỏi nhà và quê hương mình, họ không biết phải đi đâu, và chẳng có ai đón nhận họ cả. Là Kitô hữu, chúng ta không quay lưng lại với họ hoặc đẩy họ ra xa. Nếu tin Chúa Giêsu, chúng ta tin mình sẽ được phán xét theo cách chúng ta đối xử với người tị nạn, hơn là theo cách chúng ta đi nhà thờ. Khi đứng trước Chúa trong ngày Phán xét và nói rằng: “Có lúc nào con thấy Chúa là khách lạ và không tiếp đón chứ?” Thì thế hệ chúng ta sẽ phải nghe thấy: “Ta là người tị nạn Syria và con đã không tiếp đón.”

Chắc chắn, nói thế này có vẻ ngây thơ, quá lý tưởng hóa và chính thống cực đoan. Vấn đề của những người tị nạn và nhập cư vừa tế nhị vừa phức tạp. Các quốc gia đều có đường biên giới cần phải tôn trọng và bảo vệ, cũng như phải bảo vệ các công dân của mình nữa. Phải thừa nhận là có rất nhiều vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế, và an ninh cần phải giải quyết. Nhưng khi giải quyết chúng, thì chúng ta phải giải quyết với một nhận thức đã được nói rõ trong Kinh thánh, trong lời Chúa Giêsu, và trong các huấn giáo xã hội của Giáo hội: Chúng ta phải chào đón khách lạ, bất chấp những bất tiện và dù cho có nguy cơ.

Với đủ mọi lý lẽ theo chủ nghĩa thực dụng về mặt kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh, chúng ta có thể biện minh cho việc không tiếp đón họ, nhưng không bao giờ có thể lấy Kitô giáo để biện minh cho chuyện đó. Không tiếp đón khách lạ là đi ngược lại với tâm điểm thông điệp của Chúa Giêsu và nó khiến chúng ta dễ dàng quên đi rằng chúng ta cũng từng là người khách lạ trong cuộc đời này.

Đạo đức trong cay đắng

Một trong những mối nguy khi chúng ta cố gắng sống một đời trung tín theo tinh thần Kitô giáo, là chúng ta có khuynh hướng trở nên đạo đức trong cay đắng, trở nên người anh cả của đứa em hoang đàng, giận dữ và ghen tương vì lòng thương xót quá quảng đại của Thiên Chúa. Chúng ta cay đắng bởi những người lạc lối có thể quá dễ dàng trở lại với bàn tiệc thiên quốc.

Nhưng không phải chỉ riêng những người giữ đạo thành tín mới như vậy. Tất cả mọi người đều phải đấu tranh để không vướng phải cay đắng và giận dữ. Chúng ta dành nửa đời đầu đấu tranh để giữ giới răn thứ sáu và dành nửa đời sau đấu tranh để giữ giới răn thứ năm. Chớ giết người! Trước cả khi người ta chết vì một viên đạn, họ đã bị giết vì một lời nói, và trước cả lời nói là suy nghĩ. Chúng ta ai cũng có những suy nghĩ sát nhân. Hắn tưởng hắn là ai cơ chứ? Và chúng ta càng thêm tuổi, thì càng khó gạt cái ý nghĩ đó đi.

Đến tuổi già mà không vướng phải cay đắng và giận dữ, chính là cuộc đấu tranh cuối cùng của chúng ta, cả về mặt tâm lý và linh hồn. Nhà tâm lý học Thụy Sỹ, Alice Miller cho rằng nhiệm vụ hàng đầu của nửa đời sau là than khóc, than khóc cho những vết thương của mình để không trở nên cay đắng và giận dữ. Chúng ta phải than khóc cho đến khi những căn cơ nền tảng của chúng ta lung lay, nếu không những vết thương không được thương xót này sẽ làm cho chúng ta có khuynh hướng cay đắng, giận dữ, và phán xét lạnh lùng.

Xét tận cùng, chỉ có một huấn lệnh thiêng liêng mà thôi. Chúng ta không được chết trong cay đắng và giận dữ. Và vì thế, càng thêm tuổi, chúng ta càng phải ghi khắc một chữ này: Tha thứ. Chỉ có sự tha thứ mới có thể cứu chúng ta khỏi cay đắng và giận dữ.

Thật vậy, trong Phúc âm có một số đoạn đầy lòng thương xót như dụ ngôn Người con hoang đàng vậy. Đọc qua chuyện này, chúng ta dễ dàng nhận ra nhân vật chính không phải là người con, mà là người cha, và thông điệp trọng tâm chính là lòng thương xót vô bờ bến của người cha. Một người cha cố gắng để đưa cả hai đứa con trai vào nhà mình. Nhưng đứa con thứ đã bỏ nhà ra đi một thời gian dài, còn đứa con cả lại như đang đi khỏi nhà khi anh sống trong nhà mà lòng anh cay đắng và giận dữ. Không như người cha đầy hân hoan vì đứa con lầm lạc đã trở về, người anh cả nổi giận và cay đắng khi cha đã không ngần ngại mở toang cánh cửa lòng thương xót, khi người em hư hỏng không bị trừng phạt và không ra điều kiện cho nó trước khi nó được phép vào nhà.

Trong mỗi chúng ta đều có một người anh cả như thế. Chúng ta có thể thấy điều này, trong những phản đối dữ dội, những người vô cùng trung thành với Giáo hội đã bày tỏ sự phản đối với việc cho một số người được đón nhận Mình Thánh Chúa. Đúng là ở đây có vấn đề về giáo luật cần phải phân định, điều mà Hội đồng về đời sống gia đình đã cố xử lý. Nhưng hội đồng cũng cho thấy, nhiều người mang tâm thức phản đối những người mà họ xem là không xứng đáng để rước Mình Thánh Chúa.

Nhưng chính chúng ta phải tự hỏi mình: Sao chuyện này lại khiến tôi phiền lòng? Sao tôi lại nổi giận về chuyện một người khác rước lễ chứ? Nền tảng thực sự của sự phản đối này là gì? Và điều đó nói lên điều gì về con người tôi? Lòng tôi có đủ rộng rãi và êm ái để lên thiên đàng và ngồi chung bàn tiệc với tất cả mọi người không?

Tôi có can đảm và khiêm nhượng để tự hỏi mình một câu: Tôi không giống với người anh cả đứng ngoài nhà, cay đắng khi thấy một người không xứng đáng lại đang được nhận tình yêu thương của Cha?

Nhưng chúng ta phải tự hỏi với một lòng cảm thông. Chúng ta không phải là người xấu. Chỉ do một tinh thần đạo đức cay đắng là mối nguy cố hữu trong chúng ta. Chúng ta vẫn cần tự hỏi mình những câu hỏi khó này, để đừng bịt mắt mình và trở nên người anh cả của người em hoang đàng.

Thật lạ đời, nghịch lý và mỉa mai, nhưng chúng ta có thể là những Kitô hữu trung tín, đạo đức, trách nhiệm, đi lễ đều đặn, rao giảng Tin mừng, và đồng thời cũng mang trong mình một cơn giận dữ, cay đắng, và ghen tỵ vô thức với kẻ vô đạo đức đã khiến chúng ta phải đứng ngoài cửa gặm nhấm nỗi cay đắng và giận dữ vì Thiên Chúa yêu thương một cách vô hạn và thậm chí là bừa bãi.

Nhưng sự yếu đuối và lưỡng cực này không phải là điều gì mới. Câu chuyện về Người con hoang đàng không kết thúc với việc người cha vui mừng đón đứa con thứ về, nhưng là sau khi người cha đứng ở cửa, ân cần khuyên đứa con cả bỏ đi sự cay đắng và cùng vào chung vui. Chúng ta không biết câu chuyện sẽ kết thúc như thế nào, nhưng với tình yêu và sự nhẫn nại vô hạn của Thiên Chúa, hẳn cuối cùng người anh cả đã vào nhà và ngồi cùng bàn với người em hoang đàng của mình.

Quyền năng của Thiên Chúa dưới hình hài Vô lực

Tiểu thuyết gia và khảo luận gia người Pháp, Leon Bloy, từng nói về quyền năng Thiên Chúa trong thế giới chúng ta: “Thiên Chúa dường như đã kết án chính mình là cho đến ngày tận thế, không được thực hiện bất kỳ quyền trực tiếp nào của một ông chủ trên nô bộc hay của một đức vua trên thần dân. Chúng ta có thể làm điều gì chúng ta muốn. Ngài sẽ chỉ biện hộ cho mình bằng sự kiên nhẫn và vẻ đẹp của Ngài.”

Thiên Chúa biện hộ cho mình chỉ bằng sự kiên nhẫn và vẻ đẹp! Thật quá đúng! Và chúng ta rất cần hiểu rõ về quyền năng!

Cách chúng ta hiểu về quyền năng luôn đi kèm với cách chúng ta nhìn nhận về quyền lực trong thế giới này. Thế giới chúng ta hiểu quyền lực là một uy lực có thể làm chủ trên người khác, một uy lực có thể bắt người khác vâng lời. Trong thế giới chúng ta, chỉ thật sự có quyền lực khi nó có thể khẳng định bản thân cách uy thế để khiến người khác vâng lời. Với chúng ta, kẻ mạnh thì có quyền lực, người nắm chính trị thì có quyền lực, hệ thống kinh tế có quyền lực, các tỷ phú có quyền lực, người giàu và người nổi tiếng có quyền lực, những người vạm vỡ thì có quyền lực, và những kẻ hay bắt nạt thì có quyền lực. Quyền lực có thể khiến bạn cúi mình, dù bằng cách này hay cách khác.

Nhưng một khái niệm như thế về quyền lực thật ấu trĩ và thiển cận. Quyền lực có thể khiến bạn cúi mình chỉ là một dạng quyền lực mà thôi, và xét tận cùng, nó không phải là dạng quyền lực mang tính biến đổi nhất. Quyền lực thực sự là về tinh thần. Quyền lực thực sự là quyền lực của chân lý, vẻ đẹp, và kiên nhẫn. Nghịch lý thay, quyền lực thực sự thường có vẻ thật vô lực. Chẳng hạn như: Nếu bạn cho một vận động viên vạm vỡ, một CEO của một công ty lớn, một kẻ hay bắt nạt, một ngôi sao điện ảnh đoạt giải Oscar, và một đứa trẻ, tất cả vào cùng một phòng, thì ai là người quyền lực nhất? Xét tận cùng, đấy chính là đứa trẻ. Đến tận cùng, sự vô lực của đứa trẻ thắng cả cơ bắp, tài năng kinh tế, và tầm ảnh hưởng. Những đứa trẻ làm cho không gian trở nên trong sạch về mặt tinh thần, và những người nhẫn tâm nhất cũng phải chùn tay trước một đứa trẻ.

Đấy là kiểu quyền lực mà Thiên Chúa biểu lộ trong sự nhập thể. Đi ngược lại hầu hết dự tính của con người, Thiên Chúa sinh ra trong thế gian, không phải với hình hài Siêu nhân hay Siêu sao, nhưng là một đứa trẻ vô lực không thể tự lo cho mình. Và đấy là cách Thiên Chúa vẫn hiện diện trong cuộc đời chúng ta. Nhà văn đoạt giải Pulitzer, Annie Dillard, cho rằng chúng ta luôn mãi tìm thấy Chúa trong cuộc đời mình dưới hình hài một em bé vô lực nằm trong máng cỏ, một em bé mà chúng ta phải bồng ẵm, nuôi dưỡng, và ủ ấm.

Bà nói đúng, và thấu suốt của bà cũng như của Leon Bloy, là một chỉ hướng về cách chúng ta hiểu quyền năng Thiên Chúa trong đời mình và hiểu vì sao Thiên Chúa có vẻ thinh lặng trong cuộc đời chúng ta.

Trước hết, quyền năng Thiên Chúa ở trong cuộc đời chúng ta. Khi chúng ta xem đoạn kinh thánh kể về ông Adam bà Eva và tội nguyên tổ, tôi thấy rằng động cơ tiên quyết để ăn trái cấm là một khát vọng muốn nắm lấy sự thần thánh, muốn trở nên như Chúa. Họ muốn quyền năng như Chúa. Nhưng như chúng ta, họ hiểu lầm tai hại về điều gì tạo nên quyền lực thực sự. Thánh Phaolô cho chúng ta thấy phản đề của chuyện này, khi ngài mô tả Chúa Giêsu trong thư gởi tín hữu Philip. Thánh Phaolô viết rằng Chúa Giêsu không cho rằng địa vị ngang hàng với Thiên Chúa là điều phải giữ lấy, nhưng thay vào đó, Ngài đã bỏ đi quyền năng đó để trở nên vô lực, tin tưởng rằng sự trống rỗng và vô lực này đến tận cùng sẽ là sức mạnh mang tính biến đổi nhất. Chúa Giêsu đã để mình trở nên vô lực để thực sự quyền lực.

Thấu suốt này có thể soi sáng cho cách chúng ta hiểu vì sao Thiên Chúa dường như vắng mặt trong thế giới chúng ta. Làm sao chúng ta hiểu được một sự thường được gọi là “sự thinh lặng của Thiên Chúa”? Thiên Chúa ở đâu trong thảm họa diệt chủng thời Đức quốc xã? Thiên Chúa ở đâu trong những thiên tai cướp đi sinh mạng hàng ngàn người? Thiên Chúa ở đâu khi những vụ tai nạn và bệnh tật cướp đi sinh mạng vô số người? Tại sao Thiên Chúa không can thiệp mạnh mẽ?

Thiên Chúa hiện diện và can thiệp trong mọi tình huống đó, nhưng không phải theo cách chúng ta hiểu về sự hiện diện, quyền năng, và sự can thiệp. Thiên Chúa hiện diện theo cách của vẻ đẹp, theo cách của một trẻ bé sơ sinh ngây thơ vô lực, và theo cách sự thật luôn luôn hiện diện. Thiên Chúa không bao giờ thinh lặng, bởi vẻ đẹp, sự ngây thơ, vô lực và sự thật không bao giờ thinh lặng. Chúng luôn luôn hiện diện và can thiệp, nhưng không như quyền lực của con người, chúng hiện diện theo một cách hoàn toàn không thể thao túng và tôn trọng tuyệt đối sự tự do của chúng ta. Quyền năng của Thiên Chúa như quyền lực của một trẻ bé, như quyền lực của vẻ đẹp, tuyệt đối tôn trọng con người của bạn.

Khi chúng ta nhìn vào những nỗ lực đấu tranh trong thế giới và cuộc đời của mình, thường chúng ta thấy dường như quyền năng Thiên Chúa cứ luôn mãi bị quyền lực con người thắng vượt. Ziggy, một nhân vật trong phim hoạt hình thích nói: Người nghèo vẫn đang bị đè nén trong thế giới chúng ta. Nhưng như vua Đavid, một cậu bé trước mặt Goliath, một gã khổng lồ mạnh hơn về cơ bắp và vũ khí, như các tông đồ hỏi xin năm chiếc bánh và hai con cá cho cả đoàn 5000 người, Thiên Chúa luôn luôn có vẻ chẳng ấn tượng gì với thế giới chúng ta.

Nhưng chúng ta phải biết, câu chuyện không bao giờ dừng ở đấy.

Nguội lạnh và Ngày nghỉ

Các tu sĩ Kitô giáo thời tiên khởi tin có một thứ gọi là Nguội lạnh (acedia). Họ còn gọi nó là Quỷ Chính Ngọ. Theo họ Nguội lạnh khác với trầm cảm thông thường. Nó không lôi bạn vào những vùng tâm trí tối tăm hỗn loạn, làm cho bạn đổ bệnh trước chiều sâu vô tận và phức tạp của bản thân. Đúng ra nó là một sự suy sút, mất hết năng lượng, làm cho bạn rơi vào trạng thái bán thực vật, nói đơn giản là nó làm tắt lịm những cảm giác và suy nghĩ thâm sâu của chúng ta.

Giáo hội tiên khởi xem nó là một trong bảy mối tội đầu. Về sau nó được sửa tên lại là Lười biếng. Có rất nhiều bản văn thiêng liêng nói về khái niệm nguội lạnh, trong đó phải kể đến tác phẩm của Kathleen Norris về việc giáo hội tiên khởi hiểu lầm nguội lạnh như thế nào.

Nhưng cho đến gần đây, nguội lạnh vẫn chưa được nghiên cứu sâu như một khái niệm tâm lý. May thay chuyện này đang thay đổi với các tương quan lớn với linh đạo. Tôi xin đưa ra một ví dụ: Mới đây tôi đã dự một buổi diễn thuyết về nguội lạnh của Lauren Morgan Wuest, một chuyên gia theo phái Jung. Tôi không thể biện bạch hết luận thuyết của bà ở đây, nhưng xin tôi xin phép được tóm tắt rất sơ lược về luận thuyết này.

Tác giả đã đọc các tác phẩm của những Giáo phụ Sa mạc và nhiều bình luận khác nhau về khái niệm Nguội lạnh, bà cố gắng tìm mẫu số chung giữa các tác phẩm thiêng liêng này với các hiểu biết của tâm lý học đương thời, nhất là những hiểu biết của trường phái Jung. Kết luận của bà là gì?

Nói ngắn gọn, theo quan điểm của bà, nguội lạnh không phải là một triệu chứng lâm sàng, nghĩa là nó không phải là một chứng bệnh cần điều trị, và nó cũng không phải trầm cảm thông thường. Đúng hơn, các triệu chứng của nguội lạnh là kết quả một phản ảnh bản năng lành mạnh của thân thể và trí óc chúng ta, khi chúng không có được những thứ chúng cần, thì đôi khi chúng phải buộc chúng ta ngừng hoạt động, cũng giống như chứng trầm cảm làm cho chúng ta không còn làm được gì, ngoài trừ một điều là nguội lạnh tắt đi năng lượng của chúng ta vì mục đích tốt đẹp. Nói đơn giản, chỉ vì chúng ta không thể tự cho cơ thể và trí óc nghỉ ngơi, dưỡng chất và không gian mà chúng cần, nên chúng bắt tay nhau để buộc chúng ta phải nghỉ ngơi. Về căn bản, nguội lạnh là tốt cho sức khỏe chúng ta.

Là một nhà tâm lý học, bà không đi sâu vào chuyên ngành thiêng liêng của vấn đề này, nhất là về mối liên hệ có thể có giữa nó với ngày nghỉ Xa-bát, nhưng chúng ta cũng có thể thoáng thấy được rồi.

Khi bạn đọc các bản văn Do Thái-Kitô giáo, nhất là các chương đầu sách Sáng Thế kể lại việc Chúa dựng nên trời đất và Ngài nghỉ vào ngày thứ bảy, chúng ta sẽ thấy có một nhịp điệu được Chúa sắp đặt để chúng ta làm việc và nghỉ ngơi sao cho cuộc sống được triển nở. Nói ngắn gọn, có một khuôn mẫu, một nhịp điệu để chúng ta sống. Bạn làm việc trong sáu ngày, rồi bạn có một ngày nghỉ. Bạn làm việc bảy năm, rồi có một năm nghỉ. Bạn làm việc bảy lần bảy năm thì có một năm toàn xá, một ngày nghỉ cho toàn thể địa cầu. Bạn làm việc cả đời rồi vào một ngày nghỉ vĩnh hằng.

Về căn bản, cuộc sống công việc, lịch trình thường nhật, và những mối bận tâm bình thường của chúng ta bị ngắt quãng một cách đều đặn. Phải có lúc chúng ta bỏ dụng cụ xuống, bỏ qua lịch trình, gạt đi các lo lắng trong ngày làm việc, và đơn giản là ngồi đó, nghỉ ngơi, chẳng làm gì, vô vị, thưởng thức gì đó, suy tưởng, cầu nguyện, và cứ để mặc mọi chuyện trong một chốc. Đó là công thức trong Kinh thánh để chúng ta có sự lành mạnh về tâm linh, nhân thể, tâm lý, và thể xác. Và bất kỳ lúc nào chúng ta không tự nguyện làm điều này, bất kỳ lúc nào chúng ta làm ngơ ngày nghỉ Xa-bát trong đời mình, thì thân thể và trí óc của chúng ta sẽ buộc chúng ta nghỉ ngơi. Nguội lạnh là bạn tốt của chúng ta. Nhờ đó chúng ta có ngày nghỉ Xa-bát, dù bằng cách này hay cách khác.

Tôi chẳng thấy lạ khi việc thực hành ngày Xa-bát đang ngày càng biến mất trong văn hóa của chúng ta. Thật sự là nền văn hóa của chúng ta tạo nên một hệ thống rõ ràng đi ngược lại với việc nghỉ ngày Xa-bát. Trong số nhiều tác nhân bị xem là nguyên do dẫn đến chuyện này, tôi muốn nêu bật lên thói nghiện công nghệ thông tin, sự bất lực hiện thời khi không thể chịu nổi một phút không kết nối với người khác và thế giới qua chiếc điện thoại, máy tính bảng, hay màn hình máy vi tính. Chúng ta thấy mình ngày càng kém khả năng tránh xa khỏi tất cả những gì chúng ta đang kết nối qua công nghệ thông tin, và do đó chúng ta thấy mình ngày càng thiếu khả năng nghỉ ngơi, buông bỏ mọi thứ để đi vào ngày nghỉ Xa-bát. Có lẽ việc thực hành kiêng khem quan trọng nhất cho chúng ta thời nay, là làm một ngày nghỉ kỹ thuật số.

Cách đây bảy trăm năm, nhà thơ Rumi đã than thở rằng: Tôi đã sống quá lâu ở nơi người khác có thể đến được! Đó là tiếng kêu cần phải có một thời gian nghỉ ngơi, đã vang lên từ lâu trước thời đại công nghệ thông tin chúng ta, nơi dù chúng ta ở đâu người khác cũng liên hệ được, thời nay và tiếng kêu đó đang vang lên khắp nơi khi thói nghiện công nghệ thông tin của chúng ta đang ngày càng tăng. Chúng ta lo là mình sẽ không tìm được một cách kiêng khem cần thiết để bỏ đi thói nghiện này, nhưng Nguội lạnh có thể giúp chúng ta việc chúng ta không thể tự làm cho mình.

Đưa vết thương của chúng ta đến với Phép Thánh Thể

Gần đây có người tìm đến tôi xin giúp đỡ. Ông mang những vết thương hằn sâu, không phải là vết thương thể xác, mà là vết thương linh hồn. Điều khiến tôi thấy ngạc nhiên lúc đầu là, dù ông bị tổn thương trầm trọng, nhưng lại không thống khổ cùng cực cả thưở nhỏ lẫn lúc trưởng thành. Dường như ông chỉ phải chịu những vết bầm tím chợt da như mọi người khác: là vài lần bị xem thường, bị bắt nạt, chưa từng là nhân vật được yêu thích, thấy không hài lòng với cơ thể mình, chịu đối xử không công bằng trong gia đình và anh chị em, nản lòng trong sự nghiệp, bất công nơi làm việc, cảm giác mình luôn mãi bị làm ngơ, cảm nhận mình không bao giờ được người ta hiểu và cảm kích, thấy thương thân trách phận và thiếu tự tin.

Nhưng ông là người nhạy cảm và kết hợp của tất cả những chuyện nhỏ nhặt này cho đến tuổi trung niên, khiến ông không thể trở thành một người có tuổi hạnh phúc dễ thương như ông muốn. Thay vào đó, ông luôn mãi mắc kẹt trong một kiểu quy kỷ bị tổn thương, cụ thể là một sự lo lắng quy ngã đi cùng cảm giác rằng cuộc sống đã không công bằng với ông. Do đó, ông luôn dồn hết tâm trí vào việc tự vệ và phẫn uất những người có thể tiến tới một cách tự tin và yêu thương. Chính ông đã nói với tôi, “Tôi ghét khi thấy những người như Mẹ Têrêxa và Đức Gioan Phaolô quá tự tin nói về trái tim lớn của mình. Tôi luôn thấy phẫn uất và nghĩ: “Các người thật may mắn! Các người chưa phải chịu những chuyện tôi gặp phải trong đời!”

Người này đã được trị liệu chuyên ngành để giúp ông tự nhận thức bản thân sâu sắc hơn, nhưng vẫn không thể khiến ông vượt qua những vết thương của mình. “Tôi có thể làm gì với những vết thương này đây?” ông đã hỏi tôi thế.

Tôi trả lời ông, cũng như cho tất cả những người đang bị tổn thương rằng: Hãy đưa những vết thương đó đến với Phép Thánh Thể. Mỗi lần ông đến với Phép Thánh Thể, đứng cạnh bàn thờ, rước lễ, thì hãy dâng sự bất lực và tê dại của ông lên Chúa, xin Ngài chạm đến thân xác ông, trái tim ông, ký ức, cả sự cay đắng, thiếu tự tin, sự quy kỷ, yếu đuối của ông. Hãy đưa thân thể và trái tim đau đớn của ông lên Chúa. Hãy giải bày sự bất lực của ông bằng những lời đơn sơ khiêm nhượng.

Xin chạm đến con.
Xin cất đi những vết thương của con.
Xin cất đi hoang tưởng của con.
Xin cho con nên trọn.
Xin tha thứ cho con.
Xin sưởi ấm tim con.
Xin cho con sức mạnh mà tự con không có được.

Hãy cầu nguyện bằng lời kinh này, không phải chỉ khi rước lễ và đón nhận Mình Thánh Chúa Kitô, nhưng nhất là trong Kinh nguyện Thánh Thể, bởi chạm đến chúng ta không chỉ là một nhân thể của Chúa Giêsu, mà là cả một sự kiện linh thánh. Đây là một phần của Phép Thánh Thể mà chúng ta thường không hiểu được, nhưng một phần của Phép Thánh Thể là để biến đổi và chữa lành những thương tích và tội lỗi. Trong Kinh nguyện Thánh Thể chúng ta chiêm niệm “lễ hy tế” của Chúa Giêsu, nghĩa là khi Chúa Giêsu mang lấy tội lỗi vì chúng ta. Trong thời khắc thâm kín đó có rất nhiều sự xảy ra. Về căn bản, trong cuộc thương khó và cái chết, Chúa Giêsu mang lấy những vết thương của chúng ta, sự yếu đuối, bất toàn, tội lỗi của chúng ta, Ngài chết đi trong chúng, rồi bằng tình yêu và tín thác Ngài đưa chúng đến toàn vẹn.

Mỗi lần đến với Phép Thánh Thể là chúng ta để sự kiện mang tính biến đổi đó chạm đến chúng ta, đến những vết thương của chúng ta, đến sự bất tín, tội lỗi, những tê liệt cảm xúc của chúng ta, và đưa chúng ta biến đổi trở nên trọn vẹn, đầy sinh lực, vui mừng và yêu thương.

Phép Thánh Thể chính là phương thuốc tối cùng. Tôi tin là có nhiều loại trị liệu thể xác và tinh thần rất có giá trị, chẳng hạn như chương trình 12 bước, hay việc chân thành chia sẻ những thương tích của mình với những người ta tin tưởng. Và tôi cũng tin rằng một sự tự tác động theo ý chí cũng đầy giá trị, chẳng hạn như khi Chúa Giêsu mời gọi người bại liệt: Hãy đứng dậy, vác chõng mà đi! Chúng ta không nên để mình bị tê liệt bởi nhạy cảm quá đáng và thương thân trách phận. Thiên Chúa đã cho chúng ta làn da để che phủ những dây thần kinh mà.

Nhưng khi thừa nhận như thế, chúng ta vẫn không thể chữa lành cho bản thân mình. Những phép trị liệu, sự tự thông hiểu, những người bạn thân thương, và nỗ lực có đường hướng có thể đưa chúng ta đi được một quãng dài, nhưng không phải là đi cho trọn đường đến chữa lành trọn vẹn. Sự chữa lành trọn vẹn đến nhờ việc chạm vào sự linh thánh, và được chạm vào. Cụ thể hơn, các Kitô hữu chúng ta tin rằng cái chạm này bao gồm việc sự linh thánh đó chạm vào nơi thương tích nhất, bất lực nhất, tội lỗi nhất của chúng ta. Và cái chạm đó chính là trong cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu, khi Thiên Chúa trở nên tội lỗi vì chúng ta, là trong kinh nguyện Thánh Thể và khi chúng ta đón nhận Mình Thánh Chúa Kitô.

Chúng ta cần đưa những thương tích của mình đến với Phép Thánh Thể bởi chính là nơi có tình yêu và sinh lực linh thánh, có thể ghi dấu và chữa lành cho tất cả những gì đang rạn vỡ trong cuộc đời chúng ta.