RonRolheiser,OMI

Điều Gì Làm Cho Chúng Ta Nên Một Gia Đình – Huyết Thống Hay Đức Tin?

Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói rằng Kitô giáo đã “khai sinh” ra tôn giáo theo nghĩa hiện đại, bởi trước Kitô giáo, các cộng đồng đức tin phần lớn dựa trên sắc tộc và bộ tộc. Đức Giêsu đã định nghĩa một gia đình đức tin theo cách khác: không phải lòng mẹ sinh ra ta, nhưng là lòng dạ mà ta được tái sinh từ đó mới định nghĩa gia đình của ta. Đối với Đức Giêsu, gia đình đích thực không đặt nền trên huyết thống, sắc tộc hay quốc gia, nhưng được đặt nền trên đức tin.

Vậy Đức Giêsu dạy điều này ở đâu? Chủ đề ấy hầu như hiện diện khắp nơi trong giáo huấn của Người, nhưng được diễn tả cách tỏ tường qua nhiều lần Người xác định mối tương quan của Người với chính mẹ mình và vị trí của Mẹ trong cộng đoàn đức tin.

Có nhiều đoạn trong Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu dường như giữ khoảng cách với chính Mẹ Người. Chẳng hạn, trong một sự kiện, có người đến thưa: “Có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia muốn gặp Thầy.” Nhưng Đức Giêsu đáp: “Ai là mẹ Ta? Ai là anh em Ta?” Rồi Người chỉ vào các môn đệ và nói: “Đây là mẹ Ta và anh em Ta.”

Một lần khác, khi Người đang giảng dạy, có một phụ nữ kêu lên: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm!” Nhưng Đức Giêsu đáp lại: “Đúng hơn, phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.”

Ta có thể diễn lại cuộc đối thoại ấy như sau: Một phụ nữ trong đám đông xúc động trước lời giảng của Đức Giêsu và kêu lên: “Hẳn Mẹ Thầy là một người tuyệt vời lắm!” Đức Giêsu đáp: “Đúng vậy, Mẹ Ta tuyệt vời, còn tuyệt vời hơn bà nghĩ. Tất cả các bà mẹ đều tuyệt vời trong phương diện làm mẹ. Nhưng Mẹ Ta còn tuyệt vời hơn trong đức tin!”

Thoạt nhìn, những sự kiện ấy có thể gây nhầm lẫn, vì dường như Đức Giêsu đang tách xa chính mẹ Người. Nhưng không phải như vậy. Người đang tái định nghĩa tương quan của mình với Mẹ theo một cách thức nâng Mẹ lên một vị thế khác (và cao trọng hơn): “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.” Tin Mừng cho thấy rõ rằng chính Maria là người đầu tiên thực sự làm điều ấy. Đức tin của Mẹ khi thưa “xin xảy ra cho con như lời Sứ Thần nói” mới là điều làm Mẹ trở nên đặc biệt hơn cả yếu tố sinh học.

Trong các sách Tin Mừng, Đức Maria có vị thế đặc biệt trong cộng đoàn tông đồ, không phải trước hết vì Mẹ là mẹ ruột của Đức Giêsu, nhưng vì Mẹ là người đầu tiên thực sự lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa. Đức tin của Mẹ Maria, hơn là huyết thống, mới mang lại cho Mẹ địa vị đặc biệt.

Hơn nữa, qua những câu trả lời này, Đức Giêsu đang tái định nghĩa căn bản về một gia đình đích thực: đức tin hơn là huyết thống xác định ai là mẹ, là anh chị em của ta. Gia đình đích thực không đặt nền trên huyết thống nhưng trên đức tin. Đối với Kitô hữu, không phải lòng mẹ sinh ra ta, nhưng là lòng dạ mà ta được tái sinh từ đó mới định nghĩa gia đình của chúng ta. Gia đình thật sự không còn dựa trên sắc tộc, huyết thống, bộ tộc hay quốc gia. Không điều gì trong số đó làm chúng ta trở nên anh chị em của nhau theo nghĩa sâu xa nhất của từ “gia đình”.

Có những thách thức sâu rộng phát sinh từ điều này, những thách thức mà chúng ta luôn có xu hướng phớt lờ. Nói cách đơn giản, chúng ta luôn phản đối việc định nghĩa gia đình theo chiều rộng này. Bản tính con người thúc đẩy chúng ta gắn gia đình đức tin với gia đình huyết thống, sắc tộc, quốc gia, giáo phái hay ý thức hệ của riêng mình, và như thế vô tình biến Thiên Chúa thành vị Thiên Chúa bộ tộc, quốc gia, giáo phái hay ý thức hệ của chúng ta. Điều này không chỉ tạo ra một quan niệm sai lầm về gia đình mà còn dẫn đến một quan niệm sai lầm về Thiên Chúa. Như Nikos Kazantzakis nói, khi ta làm vậy, “lòng Thiên Chúa trở thành một khu ổ chuột.”

“Ai là mẹ Ta? Ai là anh chị em Ta?” Ai là gia đình thật sự của tôi?

Khi trả lời câu hỏi ấy, đức tin phải vượt lên trên mọi quy chiếu về huyết thống, sắc tộc, quốc tịch, giáo phái hay ý thức hệ. Những ai lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa thì họ là “mẹ, anh, chị, em” của chúng ta.

Việc Đức Giêsu tái định nghĩa gia đình, theo tôi, là một thách đố rất cần thiết cho thời đại hôm nay – khi chúng ta ngày càng tách biệt nhau bằng những khác biệt về ý thức hệ, quốc gia, sắc tộc, và định nghĩa gia đình theo cách rất khác với Đức Giêsu. Việc đồng nhất gia đình đức tin với gia đình huyết thống, sắc tộc, quốc gia, giáo phái hay ý thức hệ chính là nền tảng của chủ nghĩa dân tộc Kitô giáo và các loại chủ nghĩa bộ tộc khác vốn tìm cách khoác lên mình danh nghĩa Đức Giêsu và Tin Mừng. Những quan niệm ấy, dù có thể chân thành, nhưng sai lạc và trong nhiều phương diện trái ngược với Đức Giêsu và Tin Mừng. Trong Đức Kitô, như Kinh Thánh khẳng định, tất cả chúng ta đều được chịu phép rửa để trở nên một thân thể, dù là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, và tất cả đều được uống cùng một Thần Khí. Trong gia đình đức tin, không còn Johnson hay Rolheiser, người Mỹ hay người Mexico, người Anh hay người Pháp, người da trắng hay da màu, người cấp tiến hay bảo thủ. Gia đình thật của chúng ta – gia đình trong Đức Kitô – vượt trên tất cả những điều đó, và dù chúng ta vẫn có bổn phận trung thành với gia đình huyết thống, với giáo phái và quốc gia, Đức Kitô cũng mời gọi chúng ta vượt trên những giới hạn ấy.

Mở Rộng Thiên Đàng “Hào Phóng” Của Chúng Ta

John Muir từng đặt câu hỏi: “Tại sao các Kitô hữu lại ngần ngại không muốn cho các loài vật bước vào một thiên đàng keo kiệt của họ?”

Thật vậy, tại sao? Nhất là khi thánh Phaolô trong thư Rôma nói với chúng ta rằng toàn thể thụ tạo (khoáng vật, thực vật, động vật) đang rên siết mong được giải thoát khỏi cảnh hư nát để được bước vào sự sống đời đời với chúng ta. Bằng cách nào? Làm sao khoáng vật, cây cỏ và thú vật “vào” thiên đàng? Điều đó vượt ngoài trí tưởng tượng của chúng ta hôm nay, cũng như việc chúng ta không thể hình dung mình sẽ vào thiên đàng thế nào: “Mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa hề nghĩ tới những điều Thiên Chúa chuẩn bị cho những ai yêu mến Người.” Sự sống đời đời vượt quá tầm hiểu của chúng ta.

Những gì John Muir về động vật có thể được hỏi theo nghĩa rộng hơn: liệu chúng ta có quá “keo kiệt” khi nghĩ về ai được vào thiên đàng?

Từ “keo kiệt” ở đây nói đến việc chúng ta thường quá ám ảnh với sự trong sạch, ranh giới, giáo lý và thực hành tôn giáo đến mức loại trừ biết bao người ra khỏi nhà thờ, khỏi các sinh hoạt mục vụ, khỏi các chương trình bí tích, khỏi bàn tiệc Thánh Thể, và thậm chí khỏi chính quan niệm của chúng ta về những ai có thể được cứu độ. Điều này xảy ra ở mọi hệ phái Kitô giáo. Tất cả chúng ta thường có khuynh hướng tạo ra một “thiên đàng keo kiệt”.

Tuy nhiên, tôi có thể hiểu được bản năng đằng sau điều này. Việc đi theo Chúa Giê-su phải có ý nghĩa cụ thể. Là môn đệ Chúa Giêsu, cần đặt ra những yêu cầu thực tế và các nhà thờ cần có những ranh giới thực tế về giáo điều, bí tích, thành viên và thực hành. Việc tạo ra một ranh giới phân chia giữa người được vào và người bị ra khỏi nhà là hợp lý. Bản năng đằng sau điều này là lành mạnh.

Nhưng khi đem thực hành, tinh thần ấy thường bị bóp méo. Chúng ta thường làm cho thiên đàng trở nên keo kiệt. Nói một cách ẩn dụ, chúng ta thường giống như nhóm người trong Phúc Âm, những người ngăn cản người bại liệt đến với Chúa Giê-su, để anh ta chỉ có thể đến với Ngài bằng cách đi qua một lỗ hổng trên mái nhà.

Bản năng của chúng ta có thể đúng, nhưng cách thực hành của chúng ta thường sai. Chúng ta, những người gắn bó sâu đậm với Giáo hội, cần đủ vững mạnh trong đức tin và trong đời sống thiêng liêng để trở thành điểm tựa cho một tinh thần rộng mở, biết đón nhận và ngồi ăn với những người chưa gắn bó. Làm sao? Xin mượn một hình ảnh.

Hãy tưởng tượng một gia đình có mười người con, nay đều là người lớn. Năm người trong số đó luôn gắn bó sâu sắc với gia đình: thường xuyên về thăm, dùng bữa mỗi cuối tuần, liên lạc đều đặn, duy trì những nghi thức, truyền thống để giữ tình thân, và chăm lo cho cha mẹ.Có thể gọi họ là những “thành viên thực hành”.

Bây giờ, hãy tưởng tượng năm đứa con còn lại đã rời xa gia đình. Chúng không còn duy trì bất kỳ mối liên hệ ý nghĩa thường xuyên nào với gia đình, tách biệt khỏi cuộc sống và chuẩn mực đạo đức hàng ngày của gia đình, không còn quan tâm nhiều đến cuộc sống của cha mẹ, nhưng vẫn muốn có sự kết nối với gia đình để thỉnh thoảng cùng nhau chia sẻ một dịp lễ, một buổi tiệc hoặc một bữa ăn. Có thể gọi chúng là những “thành viên không thực hành” trong gia đình.

Điều này đặt ra câu hỏi: Liệu những “thành viên thực hành” trong gia đình có từ chối cho họ tham gia các buổi tụ họp, vì tin rằng việc cho phép họ đến sẽ gây nguy hiểm cho niềm tin, giá trị và bản sắc của gia đình? Hay họ cho phép họ đến, nhưng chỉ với điều kiện trước tiên họ phải thực hiện một loạt các cam kết thiết thực để thường xuyên liên lạc với gia đình?

Tôi đoán rằng trong hầu hết các gia đình lành mạnh, những thành viên “thực hành” sẽ vui vẻ chào đón những thành viên “không thực hành” đến một sự kiện, buổi họp mặt hoặc bữa ăn gia đình, biết ơn vì họ có mặt ở đó, vui vẻ chấp nhận họ mà không yêu cầu bất kỳ lời hứa hay cam kết thực tế nào ngay từ đầu. Họ cũng sẽ không cảm thấy bị đe dọa khi họ tham gia lễ kỷ niệm và ngồi vào bàn, lo sợ rằng bản sắc của gia đình có thể bị ảnh hưởng.

Với tư cách là những “thành viên thực hành” của gia đình, họ có một sự tự tin vững vàng rằng chính cam kết của họ đủ để neo giữ tinh thần, các giá trị và những nghi thức của gia đình. Nhờ đó, sự hiện diện của những người ít gắn bó không gây đe dọa điều gì, trái lại còn làm cho buổi sum họp thêm phong phú và bao dung hơn. Sự tự tin ấy xuất phát từ ý thức rằng (trong gia đình này) họ chính là những người trưởng thành trong căn phòng, có khả năng đón nhận người khác mà không cần thỏa hiệp bất cứ điều gì thuộc về bản sắc của mình. Họ sẽ không trở nên “keo kiệt” với hồng ân và món quà của tình gia đình.

Bài học ở đây rất rõ: chúng ta, những Kitô hữu sống đạo cách nghiêm túc, có trách nhiệm với giáo lý đúng đắn, với bí tích, với luân lý và với việc tiếp nối sứ vụ rao giảng và cử hành Bí Tích Thánh Thể, chúng ta không được “keo kiệt” với ân sủng của gia đình Thiên Chúa.

Giống như Chúa Giêsu – Đấng đón nhận tất cả mọi người trước khi yêu cầu sự hoán cải hay cam kết – chúng ta phải rộng mở trong đón tiếp và rộng lượng trong vòng tay. Bao gồm, không loại trừ, phải là cách tiếp cận đầu tiên của chúng ta. Giống như Chúa Giêsu, chúng ta không nên sợ điều xem ra “không tinh tuyền”, và đôi khi còn phải chấp nhận gây “chướng” cho người khác vì những người mà ta ngồi cùng bàn. Đừng keo kiệt khi chia sẻ gia đình của Thiên Chúa, nhất là khi chúng ta đang phục vụ một Thiên Chúa quảng đại – Đấng chẳng bao giờ bị đe dọa bởi bất cứ điều gì!

Lễ Các Thánh và Lễ Các Đẳng

Trong một hội nghị mà tôi tham dự, một bác sĩ tâm lý đã chia sẻ câu chuyện sau đây. Một phụ nữ tìm đến ông trong tình trạng đau khổ tột độ. Nỗi dằn vặt của bà liên quan đến cuộc trò chuyện cuối cùng với chồng mình trước khi ông qua đời. Bà kể rằng họ đã có một cuộc hôn nhân tốt đẹp hơn ba mươi năm, chưa từng xảy ra một cuộc cãi vã lớn nào. Vậy mà một buổi sáng nọ, họ lại bất hòa vì một chuyện vặt vãnh (đến mức bà không còn nhớ nổi chuyện gì). Cuộc tranh cãi kết thúc trong sự tức giận, và ông đã dậm chân bước ra khỏi nhà để đi làm – để rồi qua đời trong ngày hôm đó vì một cơn đau tim, trước khi họ có cơ hội nói chuyện lại với nhau.

Thật là xui xẻo! Ba mươi năm sống bên nhau chưa từng xảy ra chuyện như vậy, và giờ đây, những lời cuối cùng họ dành cho nhau lại là lời giận dữ! Trước hết, vị chuyên gia tâm lý đã nhẹ nhàng pha chút hài hước, trấn an bà rằng lỗi hoàn toàn thuộc về ông chồng… vì đã chọn đúng thời điểm “oan nghiệt” ấy để qua đời, khiến bà phải mang gánh nặng tội lỗi này!

Sau đó, nghiêm túc hơn, ông hỏi bà: “Nếu giờ đây chồng bà đang ngồi ở đây, bà sẽ nói gì với ông ấy?” Bà đáp rằng bà sẽ nói với ông rằng sau bao năm gắn bó, chuyện nhỏ ấy chẳng là gì cả, rằng tình yêu của họ lớn đến mức hoàn toàn bao phủ và xóa nhòa khoảnh khắc ngắn ngủi đó. Vị bác sĩ trấn an bà rằng chồng bà vẫn đang sống trong mầu nhiệm hiệp thông của các thánh, và đang hiện diện với họ lúc này. Rồi ông nói: “Tại sao bà không ngồi vào chiếc ghế này và nói với ông ấy điều bà vừa chia sẻ, rằng tình yêu chung thủy của hai người hoàn toàn xóa hoàn toàn cuộc trò chuyện cuối cùng ấy. Thậm chí hãy cùng bật cười về sự trớ trêu của nó.” Suy nghĩ viển vông ư? Không.

Là Kitô hữu, chúng ta tin có một mầu nhiệm khẳng định rằng chúng ta vẫn sống trong sự hiệp thông, liên lạc và ý thức với những người đã qua đời. Mầu nhiệm này – Hiệp thông cùng các Thánh – được ghi trong Kinh Tin Kính và được cử hành cách đặc biệt mỗi năm vào hai ngày: Lễ Các Thánh và Lễ Các Đẳng.

Mầu nhiệm này, trong nhiều khía cạnh, mời gọi chúng ta cầu nguyện cho người đã khuất. Không có gì ngạc nhiên, khi có một số người phản đối rằng Thiên Chúa đâu cần ai nhắc để tỏ lòng xót thương và tha thứ. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Cuối cùng, thì đó không phải là lý do chúng ta cầu nguyện cho những người thân yêu đã khuất của mình.

Mục đích thật sự của lời cầu nguyện cho người đã khuất là để chúng ta tiếp tục giữ liên lạc với họ, tiếp tục duy trì ý thức tương quan yêu thương, hoàn tất những điều còn dang dở, nói lời xin lỗi, tha thứ, xin họ tha thứ, ghi nhớ những điều tốt đẹp họ đã mang đến cho thế giới này, và đôi khi là cùng họ “nâng ly” mừng một kỷ niệm nào đó trong tâm hồn.

Vì vậy, trong số những điều khác, niềm tin vào hiệp thông các thánh trao cho chúng ta một cơ hội thứ hai – một sự an ủi cần thiết. Dù là ai, chúng ta đều có những thiếu sót trong các tương quan. Chúng ta không phải lúc nào cũng hiện diện đầy đủ cho người mình yêu; đôi khi chúng ta trong giận dữ nói những lời gây tổn thương; đôi khi chúng ta phản bội niềm tin theo những cách không ngờ; và phần nhiều là chúng ta thiếu trưởng thành hoặc can đảm để biểu lộ sự trân trọng và yêu thương đúng như lẽ ra chúng ta nên làm. Không ai trong chúng ta hoàn toàn đáp ứng được.

Rốt cuộc, ai trong chúng ta cũng đã mất đi một người thân theo cách giống như người phụ nữ mất chồng ấy: còn điều dang dở, chia tay vào thời điểm không thích hợp. Luôn có những lời đáng lẽ phải nói mà lại chưa kịp nói, và luôn có những lời đáng lẽ không nên nói mà cuối cùng lại được thốt ra.

Nhưng đó chính là lúc đức tin lên tiếng. Thật vậy, chúng ta không phải là những người đầu tiên thất bại trong những giờ phút quan trọng. Khi Đức Giêsu bị bắt, bị xét xử và bị giết, hầu như tất cả các môn đệ đều bỏ trốn. Thời điểm ấy cũng thật tệ hại. Thứ Sáu Tuần Thánh đã “xấu” rất lâu trước khi nó trở thành “tốt”. Nhưng – và đây là điểm cốt yếu – là Kitô hữu, chúng ta không tin rằng cuộc đời này sẽ luôn có những kết thúc có hậu, hoặc rằng chúng ta luôn đủ khả năng trong mọi tương quan. Trái lại, chúng ta tin rằng sự viên mãn và hạnh phúc đến với chúng ta qua việc được cứu chuộc khỏi những điều đã hỏng, nhất là những điều hỏng vì sự yếu đuối và bất toàn của chính chúng ta.

G.K. Chesterton từng nói rằng Kitô giáo đặc biệt vì trong mầu nhiệm hiệp thông các thánh, “người chết vẫn được quyền bỏ phiếu”. Thực ra, họ còn làm được nhiều hơn thế: họ vẫn nghe chúng ta nói với họ.

Vì vậy, nếu bạn đã mất một người thân khi giữa hai người vẫn còn điều chưa kịp hóa giải, vẫn còn một căng thẳng chưa được gỡ, vẫn còn một sự quan tâm lẽ ra bạn nên dành nhiều hơn, hoặc vẫn còn một lời yêu thương bạn chưa từng nói ra… bạn hãy biết rằng vẫn chưa quá muộn. Bạn vẫn có thể nói những điều ấy!

Và khi nói lời “hòa giải muộn màng” ấy, đừng ngại mỉm cười về cách mà sự mong manh của kiếp người đôi khi làm lạc hướng cả những ý định tốt đẹp nhất của chúng ta.

Thánh Vịnh như là lời cầu nguyện

“Thiên Chúa trong các Thánh Vịnh hành động theo những cách mà thần học hệ thống không cho phép Người hành động.”

Lời nhận xét dí dỏm của Sebastian Moore có thể rất đáng chú ý trong bối cảnh ngày nay, khi nhiều người ngại dùng Thánh Vịnh để cầu nguyện, bởi họ cảm thấy khó chịu khi thấy Thánh Vịnh nói về giết chóc, báo thù, giận dữ, bạo lực, chiến tranh và tính gia trưởng.

Thế nhưng, qua nhiều thế kỷ, Thánh Vịnh vẫn là trung tâm trong đời sống cầu nguyện của cả người Do Thái lẫn Kitô hữu. Thánh Vịnh là trái tim của Các Giờ Kinh Phụng Vụ (lời cầu nguyện của Hội Thánh cho thế giới), được hát trong các buổi Kinh Chiều, được hàng triệu người nam nữ đọc mỗi ngày, và được các đan sĩ hát suốt bao thế kỷ như phần thiết yếu của đời sống cầu nguyện.

Tại sao lại có sự phản đối Thánh Vịnh?

Một số người hỏi: “Làm sao tôi có thể cầu nguyện bằng những lời lẽ chứa đầy hận thù, giận dữ, bạo lực, ca ngợi chiến tranh và việc nghiền nát kẻ thù nhân danh Thiên Chúa?” Với người khác, vấn đề là tính gia trưởng của Thánh Vịnh. Với một số khác nữa, họ chê bai về mặt thẩm mỹ: “Đó đâu phải là thơ hay!”

Có thể đúng là Thánh Vịnh không phải là những bài thơ tuyệt mỹ, và chúng thực sự chứa đựng hình ảnh bạo lực, chiến tranh, hận thù, khao khát trả thù, và chịu ảnh hưởng của xã hội nam quyền. Nhưng điều đó có khiến chúng trở thành ngôn ngữ tồi cho cầu nguyện không? Ngược lại là đằng khác.

Một định nghĩa cổ điển về cầu nguyện nói rằng: “Cầu nguyện là nâng tâm hồn và con tim lên cùng Thiên Chúa.” Đơn giản, rõ ràng và chính xác. Vấn đề là chúng ta thường không thực sự làm điều đó khi cầu nguyện. Thay vì dâng lên Thiên Chúa những gì thật sự trong tâm trí và con tim, chúng ta lại coi Người như một Đấng mà ta phải che giấu cảm xúc thật. Thay vì trút ra mọi điều, ta nói với Chúa những gì ta nghĩ Người muốn nghe, chứ không phải những ý nghĩ giết chóc, lòng báo thù hay cả sự thất vọng với chính Người.

Nhưng việc bộc lộ những cảm xúc đó chính là điều cốt yếu.

Điều khiến Thánh Vịnh trở thành phương tiện thích hợp cho cầu nguyện là vì chúng không che giấu sự thật trước Thiên Chúa; chúng diễn tả toàn bộ cung bậc cảm xúc thật của con người. Chúng cho ta một tiếng nói trung thực cho những gì đang diễn ra trong lòng mình.

Khi ta vui, ta tự nhiên muốn hát ngợi khen và tạ ơn. Thánh Vịnh cho ta ngôn ngữ đó- nói về lòng nhân lành của Chúa, về tình yêu, bạn hữu, đức tin, sức khỏe, thức ăn, rượu ngon, niềm vui sống. Nhưng không phải lúc nào ta cũng vui. Đời ta cũng có những mùa lạnh lẽo, cô đơn, khi thất vọng và cay đắng âm ỉ trong lòng. Thánh Vịnh cho ta lời để bày tỏ những cảm xúc đó cách trung thực trước mặt Chúa.

Có khi ta cảm thấy yếu đuối, không xứng đáng với tình yêu và niềm tin mà Chúa dành cho mình. Thánh Vịnh lại cho ta tiếng nói để thưa: xin Chúa thương xót, làm mềm lòng ta, rửa sạch ta, cho ta khởi đầu mới. Và cũng có những lúc ta thất vọng với chính Thiên Chúa- ta cần diễn tả điều đó. Thánh Vịnh cũng cho ta lời để nói: “Tại sao Chúa im lặng? Sao Chúa xa con thế?” Đồng thời giúp ta nhận ra rằng Chúa không sợ sự giận dữ hay cay đắng của ta; như một người cha yêu thương, Người chỉ muốn ta đến và nói ra hết.

Thánh Vịnh là phương tiện đặc biệt cho cầu nguyện, vì chúng nâng trọn vẹn mọi ý nghĩ và cảm xúc của ta lên cùng Thiên Chúa.

Thế nhưng, ta vẫn thường gặp khó khăn với điều đó. Thứ nhất, vì con người thời nay ít hiểu về ngôn ngữ ẩn dụ; nếu hiểu theo nghĩa đen, nhiều hình ảnh trong Thánh Vịnh sẽ gây phản cảm. Thứ hai, ta thường chối bỏ cảm xúc thật của mình- khó mà thú nhận rằng đôi khi ta cảm thấy kiêu ngạo, đam mê xác thịt, ghen tị, muốn trả thù, thậm chí có ý nghĩ bạo lực. Quá thường xuyên, lời cầu nguyện của ta không phản ánh cảm xúc thật mà chỉ nói với Chúa những gì ta nghĩ Người muốn nghe. Còn Thánh Vịnh thì trung thực hơn nhiều.

Như Kathleen Norris từng viết: nếu bạn cầu nguyện thường xuyên, “sẽ không có cách nào để bạn làm điều đó ‘đúng’ cả. Bạn sẽ không luôn ngồi thẳng người hay nghĩ những ý tưởng thánh thiện. Bạn sẽ không mặc bộ đồ đẹp nhất, mà chỉ là thứ gì còn sạch trong giỏ đồ. Bạn đến với quyển ‘sách ngợi khen’ vĩ đại của Kinh Thánh qua mọi tâm trạng và hoàn cảnh của đời sống, và ngay cả khi tâm hồn rối bời, bạn vẫn hát. Và điều khiến bạn ngạc nhiên là Thánh Vịnh không chối bỏ cảm xúc thật của bạn, mà cho phép bạn phản chiếu chúng – ngay trước mặt Thiên Chúa và mọi người.”

Những lời sáo rỗng kiểu “hãy vui lên, hãy nghĩ tích cực” chẳng thể thay thế được sự chân thật, gần gũi, trần trụi của Thánh Vịnh – nơi bày tỏ đúng những gì con người thật sự cảm thấy. Ai cầu nguyện mà không bao giờ nhắc đến cảm xúc cay đắng, ghen tị, hận thù, hay khát vọng trả thù thì có lẽ hợp để viết thiệp chúc mừng hơn là để hướng dẫn thiêng liêng.

Tư Thế Hoàn Hảo Để Cầu Nguyện

Trong cuốn tự truyện “The Long Loneliness” (Nỗi Cô Đơn Dài Lâu), Dorothy Day kể lại một lần bà đã cầu nguyện trong thời điểm rất thấp thỏm của đời mình. Dorothy Day, như ta biết, lớn lên mà không có đức tin. Bà là một trí thức, thường xuyên hoạt động trong những vòng tròn Marxist và chống tôn giáo. Khi bước vào tuổi đôi mươi, bà tin chắc rằng nếu ai đủ can đảm nhìn thẳng vào thực tại của cuộc đời, người ấy sẽ không thể tin vào Thiên Chúa.

Người đàn ông mà bà yêu lúc đó cũng chia sẻ cùng quan điểm ấy. Họ sống chung mà không kết hôn, và bà sinh một đứa con gái với ông. Nhưng sự ra đời của đứa bé đã thay đổi Dorothy một cách không ngờ tới. Khi ôm đứa con sơ sinh trong tay, một niềm kinh ngạc và biết ơn sâu sắc trào dâng trong bà đến mức bà bật thốt lên lời cầu nguyện đầu tiên trong đời: “Với niềm vui quá lớn này, con phải cảm ơn một ai đó!” Và đức tin của bà được sinh ra từ giây phút đó – từ nguồn suối tinh tuyền nhất: lòng biết ơn.
Sau đó, Dorothy Day bắt đầu học giáo lý, lãnh nhận bí tích Rửa Tội và trở thành một người Công giáo. Tuy nhiên, cha của đứa bé phản đối dữ dội sự thay đổi ấy. Ông nói rằng nếu bà dám rửa tội cho con, ông sẽ bỏ đi. Bà đã cho con mình chịu phép rửa – và ông thật sự rời bỏ bà.

Không chỉ thế, nhiều bạn bè của Dorothy cũng xa lánh bà, vì cho rằng bà đã phản bội lý tưởng. Dù được nâng đỡ bởi đức tin mới, bà lại thấy mình hoàn toàn cô độc: không chồng, mất bạn, thiếu tiền, và không biết phải làm gì với cuộc đời mình. Bà chật vật một thời gian dài, ngày càng cảm thấy cô đơn, mệt mỏi, và mất phương hướng.

Rồi một ngày, bà quyết định phải làm gì đó. Bà gửi cô con gái nhỏ cho bạn trông, rồi lên tàu đến Washington D.C., nơi bà dành nhiều giờ cầu nguyện tại Đền Thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Hôm ấy, lời cầu nguyện của bà là tiếng kêu tuyệt vọng. Bà nói với Chúa, gần như than trách: “Con đã bỏ lại rất nhiều vì Ngài, mà Ngài chẳng làm gì cho con cả! Con lạc lối, cô đơn, không biết phải làm gì, sức lực và kiên nhẫn đều cạn kiệt. Con cần giúp – ngay bây giờ, chứ không phải trong tương lai xa! Xin giúp con! Xin giúp con ngay! Con không thể tiếp tục như thế này nữa!”

Khi trở lại New York, có một người đàn ông đang đợi gặp bà. Ông nói rằng đã nghe nói về bà, có một ý tưởng và cần sự giúp đỡ của bà. Ông bắt đầu trình bày với bà ý tưởng về “The Catholic Worker” (Phong trào Công nhân Công Giáo). Người đàn ông ấy tên là Peter Maurin- và phần còn lại đã trở thành lịch sử.

Từ giây phút ấy, Dorothy Day có một hướng đi cho phần còn lại của cuộc đời. Không phải ai cũng được Chúa đáp lại nhanh và rõ ràng như Dorothy Day, nhưng nhiều người hơn ta tưởng cũng có những kinh nghiệm tương tự.

Chẳng hạn, Martin Luther King Jr. từng kể về một lần cầu nguyện trong tuyệt vọng: “Một đêm cuối tháng Giêng, tôi đi ngủ muộn sau một ngày kiệt sức. Coretta (vợ tôi) đã ngủ, và khi tôi vừa chợp mắt thì điện thoại reo. Một giọng tức giận vang lên: “Này, thằng da đen, chúng tao đã chịu đựng mày đủ rồi. Trước tuần tới, mày sẽ hối hận vì đã đặt chân đến Montgomery.” Tôi gác máy, nhưng không thể ngủ được. Mọi nỗi sợ hãi như đổ ập xuống cùng lúc. Tôi đã đến điểm giới hạn.” “Tôi đứng dậy, đi qua đi lại trong nhà, rồi vào bếp, pha một ấm cà phê. Tôi thấy mình muốn bỏ cuộc. Tách cà phê nguội lạnh trước mặt, tôi cố nghĩ cách rút lui mà không mang tiếng hèn nhát. Trong trạng thái kiệt quệ đó, khi can đảm đã gần như cạn kiệt, tôi quyết định mang vấn đề đến với Chúa. Với đầu cúi trong tay, tôi cầu nguyện lớn tiếng ngay trên bàn bếp. Lời cầu ấy tôi vẫn còn nhớ rõ cho đến bây giờ: ‘Lạy Chúa, con đang đứng lên vì điều con tin là đúng, nhưng giờ đây con sợ hãi. Dân chúng đang trông cậy vào con; nếu con yếu đuối, họ cũng sẽ gục ngã. Con đã đến giới hạn của sức mình. Con chẳng còn gì nữa. Con không thể tiếp tục một mình được.’ Và ngay lúc đó, con cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa theo một cách mà con chưa từng cảm nhận trước đây.” (Martin Luther King Jr., “Stride Toward Freedom”)

Tác giả Christina Crawford, người viết hồi ký “Mommy Dearest” – kể về tuổi thơ lớn lên ở Hollywood với người mẹ là minh tinh nổi tiếng – từng chia sẻ rằng có lúc trong đời bà cảm thấy hoàn toàn lạc lõng và tuyệt vọng. Nhưng rồi bà nói thêm một câu sâu sắc: “Lạc lối – cũng là một nơi chốn.” Và bà nói đúng. “Lạc lối” chính là một nơi đặc biệt để cầu nguyện. Khi ta đau khắp nơi, mất hết hy vọng, bất lực và kiệt sức, và chỉ còn có thể quỳ gối vì không đủ sức đứng, thì đó chính là tư thế hoàn hảo nhất để cầu nguyện.
“Lạc lối – cũng là một nơi dành cho cầu nguyện.” Vì chính trong những lúc yếu đuối và tan vỡ nhất, chúng ta mới thật sự cúi đầu trước Thiên Chúa – và đó chính là nơi Ngài nghe chúng ta rõ nhất.

Độc Thân và Hôn Nhân Cần Đến Nhau

“Tại sao Kitô giáo thời sơ khai lại chọn lý tưởng sống khiết tịnh, trong khi một người La Mã thông minh – hoặc chỉ cần chút nghi ngờ – cũng có thể thấy rằng điều này sẽ làm lung lay nền tảng của xã hội cổ đại?” Đó là nhận định của nhà sử học Kate Cooper, và câu hỏi này mở ra nhiều điều đáng để suy ngẫm.

Liệu đời sống độc thân – đặc biệt là độc thân vì Nước Trời – có phá vỡ cấu trúc tự nhiên của xã hội không? Liệu việc sống độc thân có mang tính phản hôn nhân? Có phải nó chống lại quy luật tự nhiên, nơi mà con người được mời gọi “sinh sôi nảy nở và làm đầy mặt đất”?

Câu hỏi đầu tiên có thể dễ trả lời hơn. Dân số nhân loại ngày nay đã vượt quá 8 tỷ người, nên chúng ta không còn nỗi lo tuyệt chủng sinh học. Thời xưa – đặc biệt trong thời Kinh Thánh – việc kết hôn và sinh con được xem như mệnh lệnh thiêng liêng.
Người không kết hôn bị coi là bất thường, là không chu toàn bổn phận với xã hội và tạo hóa. “Người này không sinh con – chẳng phải họ đang chống lại luật tự nhiên sao?” Chính vì thế, quyết định sống độc thân của Đức Giêsu trở nên một điều rất khác thường trong bối cảnh Do Thái đương thời.

Tiếp đến, liệu đời sống độc thân có “nói ngược” với hôn nhân? Liệu nó có làm suy yếu nền tảng của xã hội? Chẳng phải Thiên Chúa đã phán trong Sách Sáng Thế: “Con người ở một mình thì không tốt” sao?

Điều này hoàn toàn đúng – Thiên Chúa không muốn con người sống cô lập. Con người được tạo dựng để sống trong gia đình, trong cộng đoàn, chứ không sống đơn độc. Do đó, đời sống độc thân tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Tu sĩ Thomas Merton từng được hỏi cảm giác sống độc thân như thế nào. Ông trả lời: “Là địa ngục. Bạn sống trong một nỗi cô đơn mà chính Thiên Chúa đã lên án.” Nhưng rồi ông thêm ngay: “Đó là một nỗi cô đơn có thể sinh hoa kết quả.”

Vẫn còn đó câu hỏi: Vậy độc thân có mang tính phản hôn nhân không? Có thể – nếu nó được chọn sai cách. Một người chọn sống độc thân vì sợ hôn nhân, vì sợ bị ràng buộc, hay vì ích kỷ, thì điều đó thật sự là một dấu chứng phản hôn nhân. Khi đó, độc thân trở thành một kiểu khước từ tình yêu, xem hôn nhân như nhà tù của tự do.

Nhưng khi độc thân và hôn nhân được sống lành mạnh, chúng lại nâng đỡ và soi sáng cho nhau. Có một nguyên tắc rất đẹp: “Nếu bạn sống trung tín, bạn mang lại sự lành mạnh và nâng đỡ cho chúng tôi. Nhưng nếu bạn sống bất trung, bạn gieo vào chúng tôi sự bất an và hỗn loạn.”

Cả hôn nhân lẫn đời sống độc thân đều là một hành trình dài của trung hỗn. Cả hai ơn gọi đều là một cuộc chạy marathon – với muôn vàn cám dỗ và thử thách.

Để trung tín với giao ước hôn nhân hay lời khấn độc thân, đôi khi phải đổ mồ hôi máu. Nó đòi hỏi sức mạnh nội tâm, nhưng không ai có thể sống một mình trong hai ơn gọi này. Không ai được gọi để làm “anh hùng cô độc”. Cả người có gia đình lẫn người độc thân đều cần được nâng đỡ bởi gương trung tín của người khác.

Vì vậy, khi một người sống độc thân vì Nước Trời nhìn thấy một đôi vợ chồng sống chung thủy và yêu thương nhau, họ sẽ cảm thấy được củng cố trong ơn gọi của mình.
Ngược lại, nếu họ thấy sự bất trung trong hôn nhân, họ sẽ cảm thấy cô đơn hơn, mất đi một phần “ân sủng của chứng nhân” để tiếp tục trung thành.

Tương tự, người đã lập gia đình khi thấy một tu sĩ hoặc linh mục sống độc thân trung tín, vui tươi và hạnh phúc, họ cũng nhận được nguồn sức mạnh và ánh sáng mới để trung thành với giao ước hôn nhân của mình. Ngược lại, khi họ thấy người sống đời tu bất trung, họ sẽ mất đi ơn soi sáng đặc biệt giúp mình kiên vững trong thử thách.
Nghe có vẻ lạ, nhưng đó là sự thật: Hôn nhân và đời sống độc thân cần nhau.

Chúng ta cần chứng tá của nhau. Chúng ta cần thấy và được nuôi dưỡng bởi lòng trung tín của nhau. Và điều này không chỉ dừng ở việc “nhìn thấy” nhau. Nó còn sâu xa hơn – mang tính mầu nhiệm. Trong đức tin Kitô giáo, chúng ta tin rằng: Mọi người đều là chi thể trong cùng một thân thể là Đức Kitô. Sự hiệp nhất này không phải chỉ là “cùng đội”, mà là hiệp nhất hữu cơ: Tất cả liên kết trong một thân thể sống động duy nhất. Vì thế, một phần của thân thể nếu đau, yếu, hoặc nhiễm bệnh các phần khác đều bị ảnh hưởng. Nếu ta trung tín, ta là phần khỏe mạnh của hệ miễn dịch trong Thân Thể Đức Kitô. Nếu ta bất trung, dù trong hôn nhân hay độc thân, ta trở thành một tế bào ung thư, một virus gây hại cho toàn thân thể.

Không có “hành động đơn lẻ” nào trong đời sống Kitô hữu. Với người Kitô hữu, không có hành vi nào là “đơn lẻ”. Mỗi hành vi trung tín hoặc bất trung của ta đều ảnh hưởng đến cộng đoàn, đến Thân Thể Đức Kitô. Chúng ta là enzyme lành mạnh hay virus độc hại- tùy thuộc vào cách ta sống ơn gọi của mình trong sự trung tín.

Vì thế, chúng ta cần lòng trung tín của nhau – cả trong hôn nhân lẫn trong đời sống độc thân vì Nước Trời. Chỉ khi cả hai ơn gọi cùng trung thành với lời hứa của mình,
thì Thân Thể Đức Kitô – tức là Giáo Hội và thế giới – mới được chữa lành, lớn lên và tỏa sáng trong tình yêu.

Thế Giới Sẽ Được Cứu Nhờ Cái Đẹp

Trong bộ phim “Bệnh nhân người Anh” (The English Patient) có một cảnh thật xúc động.
Một nhóm người đến từ nhiều quốc gia khác nhau, vì hoàn cảnh chiến tranh, bị dồn về sống tạm trong một biệt thự bỏ hoang ở nước Ý sau chiến tranh. Trong số họ có một cô y tá trẻ đang chăm sóc một phi công người Anh bị bỏng nặng sau một vụ rơi máy bay, và một chàng trai châu Á trẻ tuổi có nhiệm vụ tìm kiếm và tháo gỡ bom mìn còn sót lại. Cô y tá và chàng trai trở nên thân thiết, và một ngày kia, anh nói rằng mình có một điều bất ngờ đặc biệt dành cho cô.

Anh dẫn cô đến một ngôi nhà thờ cổ bỏ hoang, nơi anh đã sắp xếp sẵn một hệ thống dây ròng rọc để đưa cô lên trần nhà, ẩn mình trong bóng tối là những bức khảm tuyệt đẹp, những tác phẩm nghệ thuật huy hoàng không thể nhìn thấy từ mặt đất. Anh đưa cô một ngọn đèn pin, rồi nhẹ nhàng kéo dây, đưa cô bay lên cao như thiên thần có cánh, lơ lửng giữa không trung, để có thể dùng ánh sáng soi chiếu và chiêm ngắm vẻ đẹp ẩn khuất trong bóng tối.

Đối với cô, đó là một trải nghiệm choáng ngợp và đầy hân hoan: cảm giác được bay, được ngắm nhìn vẻ đẹp lạ lùng cùng một lúc. Khi được hạ xuống lại, cô đỏ mặt vì xúc động, tràn ngập niềm vui và biết ơn, cô ôm lấy mặt chàng trai và hôn liên tục, vừa cười vừa nói: “Cảm ơn anh! Cảm ơn anh! Cảm ơn anh vì đã cho tôi thấy điều tuyệt vời này!”
Từ nét mặt cô, người ta có thể thấy cô đang nói hai lời cảm ơn: “Cảm ơn anh vì đã cho tôi thấy một điều mà tự tôi không bao giờ có thể tìm đến được.” “Và cảm ơn anh vì đã tin tưởng tôi — tin rằng tôi có thể hiểu được, có thể cảm nhận được vẻ đẹp ấy.”
Bài học ở đây là gì?

Giáo Hội cũng được mời gọi làm cho thế giới điều mà chàng trai ấy đã làm cho người bạn y tá: Chỉ cho nhân loại thấy nơi nào ẩn giấu vẻ đẹp mà họ không tự mình tìm thấy, vẻ đẹp bị che khuất trong bóng tối. Và tin tưởng rằng con người có khả năng cảm nhận được, sẽ hiểu và biết trân trọng kho tàng ấy.

Giáo Hội có thể tìm thấy vẻ đẹp ấy ở đâu? Trong kho tàng phong phú của chính lịch sử mình. Trong thiên nhiên, nghệ thuật, khoa học. Trong trẻ em, trong sức sống của tuổi trẻ, và trong sự khôn ngoan của người già. Khắp nơi đều có những viên ngọc của vẻ đẹp đang ẩn mình. Sứ mạng của Giáo Hội là chỉ cho thế giới thấy những điều ấy.
Vì sao?

Vì cái đẹp có sức lay động và biến đổi linh hồn. Cái đẹp gợi lên lòng biết ơn và sự kinh ngạc, điều mà ít điều gì khác có thể làm được. Khổng Tử đã hiểu điều này, nên ông nói rằng: “Cái đẹp là người thầy vĩ đại nhất.” Triết lý giáo dục của ông đặt nền trên cái đẹp, vì con người có thể nghi ngờ hầu hết mọi thứ — nhưng không thể nghi ngờ cái đẹp.
Tại sao cái đẹp không thể bị nghi ngờ?

Bởi vì cái đẹp là thuộc tính của Thiên Chúa. Triết học và thần học Kitô giáo cổ điển dạy rằng Thiên Chúa có bốn thuộc tính siêu việt: Duy Nhất – Toàn Chân – Toàn Thiện – và Toàn Mỹ. Nếu điều đó đúng, thì: Khi ta được chạm đến bởi cái đẹp, là ta được chạm đến Thiên Chúa; Khi ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp, là ta đang chiêm ngưỡng Thiên Chúa; Khi ta được cho thấy vẻ đẹp ẩn giấu, là ta được cho thấy Thiên Chúa ẩn giấu; Khi ta kinh ngạc trước cái đẹp, là ta kinh ngạc trước Thiên Chúa; Và khi ta cảm thấy lòng mình rung động vì cái đẹp, là ta đang cảm thấy nỗi “nhớ nhà” hướng về Thiên Đàng.
Thần học gia Hans Urs von Balthasar từng nói rằng: “Cái đẹp là một yếu tố cốt lõi trong cách Thiên Chúa nói với con người, và cũng phải là cách mà con người nói về Thiên Chúa với thế giới.”

Tuy nhiên, ta cũng không nên ngây thơ. Cái đẹp không phải lúc nào cũng “đẹp” theo tiêu chuẩn phổ thông. Đúng là ta nhìn thấy cái đẹp trong màu sắc huy hoàng của hoàng hôn, trong nụ cười thơ ngây của một đứa trẻ, hay trong sự hoàn hảo của bức tượng Michelangelo; nhưng cái đẹp cũng hiện diện trong những nếp nhăn của một cụ già, và trong nụ cười móm mém không răng của một ông lão. Thiên Chúa nói với ta qua cái đẹp, và chúng ta cũng phải nói với thế giới bằng cái đẹp ấy. Và hơn hết, ta cần tin tưởng rằng con người có khả năng cảm nhận và hiểu được, như cô y tá trong The English Patient — sẽ biết trân trọng điều được cho thấy.

Dostoevsky đã viết một câu nổi tiếng (thường được Dorothy Day trích lại): “Thế giới sẽ được cứu nhờ cái đẹp.” Lý luận ấy là gì? Làm sao cái đẹp có thể chữa lành những tội lỗi và vết thương của nhân loại? Đây là “phép tính” của Dostoevsky: Trước sự tàn bạo, cần có lòng nhân hậu. Trước sự giả dối và cuồng tín, cần có chân lý. Trước cay đắng và lời nguyền rủa, cần có ân cần và chúc lành. Trước hận thù và giết chóc, cần có tình yêu và tha thứ. Trước sự quen thuộc đến mức khinh thường, cần có niềm kinh ngạc và sự ngưỡng mộ. Và trước sự xấu xí, tục tĩu lan tràn khắp thế giới và các bản tin buổi tối, cần có CÁI ĐẸP.

Vì cái đẹp – chính là hình bóng của Thiên Chúa. Và khi con người còn biết rung động, còn biết kinh ngạc trước cái đẹp, thì vẫn còn hy vọng cho thế giới này được cứu chuộc.

Lòng Sùng Kính – Truyền Thống của Trái Tim

Lớn lên trong một gia đình Công giáo, lòng sùng kính luôn là một phần thiết yếu trong đời sống tôn giáo của chúng tôi. Mặc dù gia đình chúng tôi coi Bí tích Thánh Thể quan trọng hơn lòng sùng kính, nhưng chúng tôi nuôi dưỡng đời sống tâm linh của mình rất nhiều bằng lòng sùng kính, giống như nhiều người Công giáo thời đó.

Ngoài những việc khác, chúng tôi lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày, đọc kinh Truyền Tin hàng ngày, đọc các kinh cầu đặc biệt (kính Thánh Giuse vào tháng Ba, kính Đức Mẹ Maria vào tháng Năm và tháng Mười, và kính Thánh Tâm Chúa Giêsu vào tháng Sáu), cầu nguyện Chặng Đàng Thánh Giá mỗi Thứ Sáu trong Mùa Chay, háo hức tham dự Thánh Lễ vào các Thứ Sáu Đầu Tháng và Thứ Bảy Đầu Tháng để xin những lời hứa đặc biệt từ Chúa, và đọc những lời cầu nguyện đặc biệt để được hưởng ơn toàn xá.

Ngoài ra, còn có những cuộc hành hương đến các đền thờ Đức Mẹ dành cho những người có điều kiện, và hầu hết mọi người đều đeo huy chương từ Lộ Đức hoặc Fatima và có lòng sùng kính đặc biệt đối với những đền thờ đó (với lòng sùng kính đặc biệt trong gia đình và giáo xứ của tôi đối với Đức Mẹ Cape, tại Cap De Madeleine, Quebec). Lòng sùng kính là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của chúng tôi.

Có thể nói gì về lòng sùng kính từ góc độ thần học và từ góc độ của một nền văn hóa phần lớn không tin tưởng vào chúng?

Chúng ta có thể bắt đầu với phản ứng của Martin Luther và những nhà cải cách Tin Lành vĩ đại. Họ lo sợ hai điều trong việc sùng kính. Thứ nhất, vào thời điểm đó, một số hình thức sùng kính quá phóng túng và đơn giản là thần học tồi (nổi tiếng là rao bán ân xá). Thứ hai, họ thấy lòng sùng kính, tự thân không hẳn là xấu, nhưng thường xuyên thay thế Chúa Giêsu và Lời Chúa làm trung tâm và trọng tâm của chúng ta. Và vì vậy, họ đã xa lánh hầu hết các hình thức sùng kính của Công giáo, cả những hình thức phóng túng lẫn lành mạnh.

Phần lớn sự ngờ vực của người Thệ Phản và Tin Lành đối với các sùng kính Công giáo đã tồn tại cho đến tận ngày nay. Mặc dù sự ngờ vực đó đang dần phai nhạt trong một số nhà thờ ngoài Rô-ma, nhưng nó vẫn là thái độ phổ biến trong hầu hết các nhóm Thệ Phản và Tin Lành. Tóm lại, họ nghi ngờ hầu hết các sùng kính vì chúng không chỉ bị coi là làm chúng ta mất tập trung vào Chúa Giê-su và Lời Chúa, mà còn là những thứ có khả năng gây hại cho sức khỏe, như thức ăn vặt trong chế độ ăn uống tâm linh của chúng ta.

Phải nói gì về điều này?

Đây là một lời cảnh báo công bằng và cần thiết cho những người Công giáo (và những người khác) đang nuôi dưỡng đời sống tâm linh của họ bằng các sùng kính. Tóm lại, các sùng kính có thể dễ dàng dựa trên nền tảng thần học không vững chắc và có thể trở thành một thứ thức ăn vặt làm ô nhiễm chế độ ăn uống tâm linh của chúng ta: nơi các sùng kính thay thế Kinh Thánh, Đức Mẹ Maria thay thế Chúa Giê-su làm trung tâm, và một số sùng kính nhất định khiến Chúa trông giống như một con rối trên dây.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, như Goethe đã từng nói, những nguy hiểm của cuộc sống là rất nhiều và sự an toàn là một trong những nguy hiểm đó. Đúng vậy, việc sùng kính có thể là một mối nguy hiểm, nhưng chúng cũng có thể là một nguồn bổ sung lành mạnh và phong phú cho chế độ ăn uống thiết yếu của Lời Chúa và Bí tích Thánh Thể.

Đây là cách Eric Mascall (nhà thần học Anh giáo nổi tiếng tại Oxford cùng với C.S. Lewis, J.R.R. Tolkien, Dorothy Sayers và Austin Ferrar) chỉ ra cả mối nguy hiểm của việc sùng kính lẫn mối nguy hiểm của việc không có lòng sùng kính trong đời sống tâm linh của bạn: Các nhà cải cách Tin Lành (Luther, Calvin, Zwingli) rất sợ bị ảnh hưởng bởi lòng sùng kính của Công giáo, đến nỗi họ bắt chúng ta phải ăn kiêng bằng thuốc sát trùng. Khi bạn ăn kiêng bằng thuốc sát trùng, bạn sẽ không bị ngộ độc thực phẩm, nhưng bạn có thể bị suy dinh dưỡng.

Đó là một thách thức ngang nhau cho cả những người thực hành lòng sùng kính và những người sợ chúng. Phải thừa nhận rằng nền thần học hỗ trợ một số lòng sùng kính có thể còn lỏng lẻo (ví dụ, Đức Maria không phải là Đấng đồng cứu chuộc với Chúa Giêsu). Tuy nhiên, bên trong nhiều việc sùng kính (với Đức Maria, với các thánh, với việc tôn thờ Thánh Thể, với Thánh Tâm Chúa), có thể có một nguồn dinh dưỡng phong phú giúp nuôi dưỡng trung tâm, cụ thể là Lời Chúa và Thánh Thể.

Trong cuốn sách “Sacred Heart: Gateway to God” (Thánh Tâm: Cổng Vào Thiên Chúa), Wendy Wright đã đưa ra một lời biện hộ tuyệt vời cho các thực hành sùng kính Công giáo, đặc biệt là việc sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Đối với bà, các thực hành sùng kính Công giáo là một truyền thống của trái tim. Trong khi Chúa Giêsu vẫn là trung tâm và sự phục sinh của Người vẫn là điểm tựa thực sự cho đức tin của chúng ta, thì việc sùng kính có thể mang lại cho chúng ta điều gì đó vượt xa hơn những điều thiết yếu căn bản này.

Lấy lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu làm ví dụ, bà viết: “Trong lòng sùng kính này, chúng ta, Chúa Giêsu và các thánh, tồn tại theo một cách thiết yếu nào đó bên ngoài dòng chảy của lịch sử. Truyền thống của trái tim làm cho điều này trở nên rõ ràng một cách sống động, thậm chí kỳ lạ. Sự tương ứng giữa thần linh và con người rất mật thiết. Nó được khám phá trong xác thịt. Trái tim xác thịt của chúng ta được trang bị cho tất cả những gì vượt ra ngoài xác thịt bằng cách đồng hình đồng dạng với trái tim Chúa Giêsu. Trái tim thần linh và con người ấy là lối đi giữa đất và trời. Trái tim ấy là những dấu vết xúc giác của tình yêu thần thánh trên trật tự tạo dựng. Trái tim ấy là khát vọng rộng lớn nhất, hoang dại nhất của tình yêu nhân loại.”

Những nguy hiểm của cuộc sống thì nhiều, và sự an toàn là một trong những nguy hiểm đó. Lòng sùng kính có thể khiến chúng ta xa rời những điều cốt lõi hơn và có thể bắt nguồn từ một số nền thần học đáng ngờ, nhưng chúng cũng có thể, theo lời Wendy Wright, là lối đi may mắn cho trái tim giữa trời và đất.

Mọi Thứ Đều Sai Về Họ, Ngoại Trừ Chính Họ

Gilbert K. Chesterton, nhà hộ giáo Công giáo nổi tiếng, là bạn thân của George Bernard Shaw, nhà viết kịch nổi tiếng, mặc dù Shaw, một người theo thuyết bất khả tri, có những vấn đề lớn với niềm tin của Chesterton vào Chúa, đặc biệt là việc ông trở thành một tín đồ Công giáo. Thật vậy, khi nghe tin Chesterton đã trở thành một tín đồ Công giáo, ông đã viết cho Chesterton một lá thư bày tỏ sự thất vọng của mình.

Vẫn là một nhà văn đa dạng, Shaw kết thúc lá thư bằng cách mô tả cho Chesterton một hình ảnh ông thấy về việc ông đi xưng tội: “Anh sẽ phải đi xưng tội vào lễ Phục sinh tới, và tôi thấy cảnh tượng đó – chiếc hộp, dáng người to béo đang quỳ gối của anh – tất cả thật khó tin, quái dị, hài hước. …. Tuy nhiên, giờ đây tôi đang trở nên quen hơn (nếu không thì làm sao tôi có thể chân thành được?).”

Nhưng những khác biệt này không ngăn cản họ trở thành những người bạn tốt. Họ vô cùng tôn trọng và quý trọng lẫn nhau. Thật vậy, có lúc, Chesterton cảm thấy cần phải bảo vệ Shaw khỏi những người theo Ki-tô giáo có thiện chí đang bôi nhọ ông vì thuyết bất khả tri của ông. Để bảo vệ Shaw, ông viết: “Có một sự thật cơ bản mà tôi chưa bao giờ bất đồng quan điểm với ông ấy. Dù ông ấy có là người như thế nào đi nữa, ông ấy chưa bao giờ là người bi quan hay chủ nghĩa thất bại trong các vấn đề tâm linh. Ít nhất ông ấy cũng đứng về phía Sự sống. Mọi thứ đều sai trái ở ông ấy, ngoại trừ chính bản thân ông ấy.”

Tôi nghĩ rằng hầu hết chúng ta đều có những người bạn như vậy, những người không còn cùng chúng ta bước đi trên con đường đức tin rõ ràng. Theo quan điểm của một số Ki-tô hữu, hầu hết mọi thứ đều sai ở họ, ngoại trừ chính họ. Họ không phải là những người theo thuyết bất khả tri hay vô thần, nhưng họ cũng không phù hợp với mô tả về một Ki-tô hữu thực hành. Họ hiếm khi đến nhà thờ, phần lớn phớt lờ giáo lý của Giáo hội về tình dục, chỉ cầu nguyện khi gặp khủng hoảng, coi những người đi nhà thờ như chúng ta là ngây thơ, và quá đắm chìm trong cuộc sống hiện tại đến nỗi không nghĩ nhiều về Chúa, Giáo hội và sự sống đời đời.

Tuy nhiên, họ vẫn tỏa ra sức sống, thường theo những cách thách thức chúng ta. Có điều gì đó ở họ rất đúng đắn, thậm chí truyền cảm hứng và mang lại sức sống. Họ có thể là những người theo thuyết bất khả tri thực tế và vô thần trong Giáo hội, nhưng sự hiện diện của họ thường mang đến năng lượng tích cực, lòng tốt, tình yêu, trí tuệ, ánh nắng và sự hài hước cho căn phòng.

Đừng hiểu sai ý tôi: Điều này không ngụ ý (như một quan niệm đơn giản hòa, hợp lý hóa quá mức đang phổ biến ngày nay) rằng những người đến nhà thờ và cố gắng tuân theo các quy tắc của Giáo hội là những người ngây thơ và chưa trưởng thành, trong khi những người không đến nhà thờ và tự đặt ra quy tắc của riêng mình là những người giác ngộ và trưởng thành. Không. Không có gì giác ngộ khi những người rời xa nhà thờ, nghĩ rằng họ đã vượt ra ngoài Giáo hội, sống ngoài các quy tắc của Giáo hội, hoặc tin rằng việc tập trung quá mức vào cuộc sống này biện minh cho việc bỏ bê thế giới bên kia. Đó là một lỗi lầm trong lòng mộ đạo, và thường cũng là một lỗi lầm trong sự khôn ngoan và trưởng thành.

Nói một cách đơn giản, năng lượng tuyệt vời mà chúng ta thấy ở nhiều người tốt mà chúng ta biết, những người không còn đi nhà thờ nữa, chính xác là như vậy, năng lượng tuyệt vời, nhưng không phải là thứ gì đó có thể nhầm lẫn với chiều sâu.

Ví dụ, tôi nhìn vào nhiều nhạc sĩ nhạc pop tài năng của chúng ta và thấy cách họ có thể khiến mọi người nhảy múa, không phải là một điều nhỏ nhặt, thậm chí là một điều thiêng liêng. Chúng ta nhảy múa quá ít và tinh thần của chúng ta thường quá nặng nề. Nhưng điều đó không cho phép chúng ta nhầm lẫn năng lượng vui tươi (“Ob-la-dee, Ob-la-da, cuộc sống vẫn tiếp diễn!”) với sự khôn ngoan hay chiều sâu. Thật tuyệt vời khi khiến mọi người nhảy múa, mang ánh nắng vào căn phòng, nâng đỡ trái tim con người để họ có thể tận hưởng cuộc sống nhiều hơn một chút, nhưng đó không phải là toàn bộ thực đơn, cũng không phải là phần sâu sắc hơn của thực đơn. Nó là chính nó, một điều tốt đẹp tự thân, nhưng chỉ có vậy.

Nhưng nó nằm ở mặt tốt của sự việc. Nó nằm ở mặt của cuộc sống. Nó giúp mang năng lượng thiêng liêng vào một căn phòng, và điều đó cần được chúc phúc. Đó là lý do tại sao, là những người theo Ki-tô giáo, chúng ta cần chúc phúc cho những người bạn bất khả tri tốt bụng trong giáo hội và để bản thân được họ chúc phúc.

Đó cũng là lý do tại sao chúng ta nên cân nhắc hơn khi sử dụng các cụm từ như “văn hóa sự sống” và “văn hóa sự chết”. Chúa là tác giả tối cao của tất cả những điều tốt đẹp, dù sự tốt lành, ánh sáng mặt trời, năng lượng, màu sắc và hơi ấm đó được nhìn thấy bên trong hay bên ngoài Giáo hội. Và bất cứ nơi nào năng lượng đó tốt lành, thì ở đó có “một nền văn hóa sự sống”, ngay cả khi nó cũng có thể mang một số yếu tố của “một nền văn hóa sự chết”.

Richard Rohr nói rằng không phải mọi thứ đều có thể được sửa chữa hay chữa lành, nhưng chúng cần được đặt tên đúng. Điều gì sai thì là sai, và nên được gọi là sai, nhưng điều gì tốt thì là tốt, và nên được gọi là tốt. Tôi nhìn một số người bạn “ngoại đạo” của mình, nhìn vào năng lượng, sự ấm áp của họ, những gì họ mang vào một căn phòng, và điều đó giúp tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Mọi thứ về họ đều sai, ngoại trừ chính họ. Chúa cũng tạo ra ánh sáng mặt trời và hơi ấm của họ. Họ không đến nhà thờ, và điều đó không tốt; nhưng họ thường đứng về phía cuộc sống và đức tin ngầm của họ giúp tôi luôn đứng về phía đúng đắn. Và điều đó thật tốt.

Phúc Lành Của Cha

Cha tôi mất khi tôi hai mươi ba tuổi, một chủng sinh, còn non nớt, đang học hỏi về cuộc sống. Mất cha ở bất kỳ độ tuổi nào cũng khó khăn, và nỗi đau buồn của tôi càng tăng thêm bởi thực tế là tôi vừa mới bắt đầu trân trọng những gì cha đã trao cho tôi.

Mãi sau này tôi mới nhận ra rằng tôi không còn cần cha nữa, mặc dù tôi vẫn rất khao khát cha. Những gì cha phải trao cho tôi, cha đã làm rồi. Tôi đã nhận được phúc lành của cha tôi.

Tôi biết mình đã nhận được phước lành của ba. Cuộc đời tôi và hướng đi của nó đã làm cha hài lòng. Giống như tiếng Chúa phán trong lễ rửa tội của Chúa Giê-su, Ngài đã phán với tôi: Con là con của Cha, Cha hài lòng về con. Không phải ai cũng may mắn như vậy. Đó là tất cả những gì một người cha có thể cầu xin.

Và cha đã để lại cho tôi và những người con còn lại điều gì?

Quá nhiều để kể ra, nhưng trong số những điều khác, có sự vững vàng về mặt đạo đức. Ông là một trong những người đạo đức nhất mà tôi từng biết, luôn cho phép bản thân được thỏa hiệp tối thiểu về mặt đạo đức. Ông không phải là người tin vào quan điểm rằng chúng ta chỉ là con người nên việc cho phép bản thân được miễn trừ một số lỗi lầm là điều bình thường. Ông từng nói với chúng tôi một câu rất nổi tiếng: “Bất cứ ai cũng có thể cho tôi thấy lòng nhân đạo; tôi cần ai đó cho tôi thấy thần tính!” Ông mong muốn chúng tôi không được thất bại, sống đúng với đức tin và đạo đức, không được viện cớ. Nếu chúng tôi, gia đình ông, có thể cảm nhận được điều gì từ sự hiện diện của ông, thì đó chính là sự cứng đầu về mặt đạo đức này.

Hơn thế nữa, ông có một sự tỉnh thức vững vàng, gần như một thứ bệnh. Ngày nay, chúng tôi hay nói đùa rằng sự điều độ là điều duy nhất ông có thể làm quá. Không hề có những cơn bộc phát cuồng loạn, không hề trầm cảm, không hề choáng váng, không hề thiếu sự vững vàng, không hề phải đoán xem tâm hồn và tinh thần của mình sẽ ra sao vào một ngày nào đó.

Với sự vững vàng đó, cùng với sự hiện diện ủng hộ của mẹ tôi, ông đã tạo nên cho chúng tôi một mái ấm luôn là một cái kén an toàn, đôi khi là một nơi buồn tẻ, nhưng luôn là một nơi an toàn. Khi nghĩ về ngôi nhà nơi mình lớn lên, tôi nghĩ đến một nơi trú ẩn an toàn, nơi bạn có thể ngắm nhìn những cơn bão bên ngoài từ một nơi ấm áp và an toàn. Một lần nữa, không phải ai cũng may mắn như vậy.

Và bởi vì chúng tôi là một gia đình lớn, và tình yêu thương cùng sự quan tâm của ông phải được chia sẻ với nhiều anh chị em, tôi chưa bao giờ nghĩ về ông như một người cha “của tôi”, mà luôn luôn là người cha “của chúng ta”. Điều này đã giúp tôi nắm bắt được thử thách đầu tiên trong Kinh Lạy Ba, đó là, Chúa là Cha “của chúng ta”, Đấng mà chúng ta chia sẻ với những người khác, chứ không phải của riêng ai.

Hơn nữa, gia đình cha tôi không chỉ bao gồm những đứa con của ông. Tôi đã học được từ sớm rằng không nên oán giận việc ông không thể luôn ở bên chúng tôi, rằng ông có những lý do chính đáng để ở nơi khác: công việc, cộng đồng, nhà thờ, bệnh viện và hội đồng trường học, hay hoạt động chính trị. Ông là một người cha của một gia đình rộng lớn hơn chứ không chỉ riêng gia đình chúng tôi.

Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, ông đã chúc phúc cho tôi và các anh chị em tôi bằng tình yêu dành cho bóng chày. Ông đã quản lý một đội bóng chày địa phương trong nhiều năm. Đây là nơi đặc biệt của ông, nơi ông có thể tận hưởng ngày Sa-bát.

Nhưng phúc lành không bao giờ đến một cách trọn vẹn. Cha tôi là một con người, và điểm mạnh lớn nhất của một người đàn ông thường cũng chính là điểm yếu lớn nhất của ông. Bên trong tất cả những phẩm chất đạo đức và sự tỉnh táo vững vàng ấy, cũng có một sự dè dặt đôi khi không cho phép ông tận hưởng trọn vẹn sự sôi động của cuộc sống. Mỗi người con trai đều quan sát cách cha mình nhảy múa và vô thức so sánh ông với những điều nhất định: sự do dự, sự trôi chảy, sự buông thả, sự phô trương, sự phi lý nhất thời, sự vô trách nhiệm.

Cha tôi chưa bao giờ có nhiều sự uyển chuyển hay buông thả trong bước nhảy của mình, và tôi đã thừa hưởng điều đó, một điều có thể khiến tôi vô cùng đau lòng. Có những lúc, cả khi còn nhỏ lẫn khi đã trưởng thành, trong một tình huống nhất định, tôi đã muốn đánh đổi cha mình để lấy một người cha có bước nhảy uyển chuyển hơn, lấy một người ít dè dặt hơn trước sự sôi động của cuộc sống.

Và đó một phần là cuộc đấu tranh của tôi để nhận được phúc lành trọn vẹn của ông. Tôi thường nhớ đến câu nói nổi tiếng của William Blake trong vở kịch Infant Sorrow, khi ông nhắc đến “Vật lộn trong tay cha tôi”. Với tôi, điều đó có nghĩa là đôi khi tôi phải đấu tranh với sự dè dặt của cha tôi, không muốn buông xuôi và tận hưởng trọn vẹn món quà của cuộc sống.

Nhưng, nếu có sự do dự, thì cũng không hề có sự vô trách nhiệm trong điệu nhảy của ông, dù đôi khi điều đó có nghĩa là đứng ngoài điệu nhảy. Tôi đau buồn trong đám tang của ông, nhưng cũng tự hào, tự hào về sự kính trọng mà mọi người dành cho ông, cho cách ông sống cuộc đời mình. Ngày hôm đó, không hề có sự phán xét nào về sự dè dặt của ông. Giờ tôi đã lớn tuổi hơn ông khi ông mất. Những ngày tháng trên trần thế của tôi giờ đây nhiều hơn ông mười lăm năm. Nhưng tôi vẫn sống trong phúc lành của ông, một cách có ý thức và vô thức, cố gắng để xứng đáng, để tôn vinh những gì ông đã trao cho tôi. Và phần lớn điều đó là tốt, mặc dù tôi cũng có những lúc thấy mình đứng ngoài sự sôi động của cuộc sống, nhìn vào điệu nhảy, dè dặt, ánh mắt của ông trên khuôn mặt tôi, cảm thấy một chút ghen tị với những người có bước nhảy uyển chuyển hơn – tôi, người con trai của cha tôi.

Người Vô Thần, Đêm Tối, Thứ Sáu Tuần Thánh và Mặc Khải

Các nhà tư tưởng vô thần cổ điển của thời kỳ Khai Sáng, các triết gia như Frederick Nietzsche và Ludwig Feuerbach, đã dạy rằng mọi kinh nghiệm tôn giáo chỉ đơn giản là sự phóng chiếu của con người. Chúa không tồn tại. Chúng ta tạo ra Chúa, và chúng ta tạo ra Ngài theo hình ảnh và sự giống chúng ta, cuối cùng là để phục vụ nhu cầu của chúng ta. Chúng ta tạo ra khái niệm về Chúa bởi vì chúng ta cần một Chúa cho mục đích của riêng mình. Hơn nữa, những gì chúng ta tin là Lời Chúa, sự mặc khải thiêng liêng (kinh thánh, tín điều và giáo điều) cuối cùng đều là sự phóng chiếu của con người.

Điều này đúng đến mức nào?

Phần lớn họ đúng, không phải ở chỗ Chúa không tồn tại, mà là chúng ta luôn định hình và bóp méo ý niệm về Chúa và lời Chúa để phục vụ nhu cầu của riêng mình. Chúng ta có Lời Chúa trong Chúa Kitô và trong Kinh thánh, nhưng chúng ta luôn định hình nó sao cho phù hợp với nhu cầu của mình. Đó là lý do tại sao chúng ta có rất nhiều tôn giáo và giáo phái Kitô khác nhau. Đó cũng là lý do tại sao (thật trùng hợp ngẫu nhiên) Chúa luôn ghét những người giống chúng ta và luôn yêu những người giống chúng ta yêu.

Khi những người vô thần nói với chúng ta rằng Chúa là một hình ảnh phản chiếu của con người để phục vụ nhu cầu của chúng ta, họ đang giúp chúng ta bởi vì họ đang soi gương, trong đó chúng ta có thể thấy rằng, trên thực tế, chúng ta luôn luôn định hình và bóp méo mặc khải thiêng liêng để nó có lợi cho chúng ta. Những lời chỉ trích của họ gây áp lực buộc chúng ta phải làm rõ quan niệm của mình về Chúa và sự mặc khải thiêng liêng.

Nhưng, mặc dù họ có thể đúng 90%, nhưng họ sai 10%, và 10% đó tạo nên tất cả sự khác biệt. Trong 10% đó, chúng ta để Chúa tuôn chảy vào cuộc sống của mình theo cách mà chúng ta không thể định hình hay bóp méo trải nghiệm mà chỉ có thể đón nhận nó một cách thuần khiết.

Điều này xảy ra trong cái mà các nhà thần bí gọi là “đêm tối của tâm hồn”, và cụm từ đó ám chỉ những thời điểm trong cuộc sống của chúng ta khi các khả năng tự nhiên về trí tưởng tượng, trí tuệ và tình cảm (liên quan đến Chúa và đức tin) của chúng ta rơi vào bế tắc, tê liệt và không thể hoạt động. Mọi cách tưởng tượng và suy nghĩ trước đây của chúng ta về Chúa giờ đây đều trở nên trống rỗng, giả tạo và vô dụng. Chúng ta không còn có thể tưởng tượng rằng Chúa tồn tại, cảm thấy mình như những người vô thần, và không thể tìm cách thoát khỏi sự bất lực đó.

Tình trạng bất lực đó, khi chúng ta không còn có thể tưởng tượng Chúa hay cảm nhận sự hiện diện của Chúa một cách cảm xúc, thực ra là một món quà. Tại sao? Bởi vì khi các khả năng tự nhiên của chúng ta bị tê liệt, chúng ta cũng bị tê liệt trong khả năng tưởng tượng về Chúa. Giờ đây, chúng ta chỉ có thể đón nhận Chúa như Chúa là, chứ không phải như chúng ta tưởng tượng. Chúng ta không còn khả năng định hình hay bóp méo trải nghiệm của mình.

Ví dụ điển hình nhất cho điều này, tất nhiên, là Thứ Sáu Tuần Thánh, thời điểm trong lịch sử mà các sách Phúc Âm cho chúng ta biết trời trở nên tối tăm vào giữa trưa. Thứ Sáu Tuần Thánh là “đêm tối của tâm hồn” tột cùng đối với những người theo Chúa Giê-su.

Họ đã theo Chúa, lắng nghe lời Ngài, mặc khải của Ngài; nhưng, bất chấp những nỗ lực liên tục của Chúa Giê-su nhằm sửa đổi quan điểm của họ, họ đã định hình và bóp méo con người và lời Ngài để phù hợp với quan niệm riêng của họ về những gì họ mong muốn ở một Đấng Mê-si-a. Điều họ mong muốn là một siêu nhân thần thánh, người sẽ tiêu diệt mọi kẻ thù, chói lọi trong vinh quang và mang lại vinh quang cho họ.

Thứ Sáu Tuần Thánh đã hoàn toàn hủy hoại họ. Chúa Giê-su đã chết một cách khủng khiếp, bị lột trần, bị sỉ nhục, bị đánh đập, bất lực, bị coi như một tội phạm. Điều đó đã phá vỡ mọi kỳ vọng của họ về hình ảnh một Đấng Mê-si-a nên là. Không có vinh quang trần thế, chỉ có sự sỉ nhục, và không có sự phô trương công khai quyền năng thần thánh. Điều đó đã hoàn toàn phá vỡ sự hiểu biết tôn giáo của họ.

Họ đã bị choáng váng, theo đúng nghĩa đen. Mọi quan niệm họ có về một Đấng Mê-si-a nên như thế nào đều bị đảo lộn. Họ câm lặng trong trí tưởng tượng, không thể tưởng tượng được làm thế nào tất cả những điều này lại có thể có ý nghĩa. Thế giới tôn giáo của họ đã trở nên đen tối ngay giữa ban ngày. Thật vậy, phải mất vài năm (và nhờ sự thấu hiểu của Thánh Phao-lô) thì ánh sáng mới xuất hiện trở lại, trước khi ý nghĩa của Thứ Sáu Tuần Thánh được hé lộ cho họ, trước khi nó trở nên có ý nghĩa.

Nhưng rồi nó đã xuyên thủng một cách rõ ràng, không hề bị bóp méo, bởi vì đêm tối đức tin đã làm họ tê liệt vào Thứ Sáu Tuần Thánh đã khiến họ hoàn toàn bất lực về mặt tưởng tượng, cảm xúc và trí tuệ trong việc diễn giải những gì được nói với họ qua cái chết bất ngờ và nhục nhã của Chúa Giêsu. Do đó, họ không thể bóp méo trải nghiệm của mình mà chỉ có thể đón nhận nó.

Trong một cuốn sách đáng chú ý, Thiên Chúa Bị Đóng Đinh, Jurgens Moltmann viết: “Đức tin của chúng ta bắt đầu tại điểm mà những người vô thần cho rằng nó phải kết thúc. Đức tin của chúng ta bắt đầu với sự ảm đạm và quyền năng, đó là đêm của thập giá, sự bỏ rơi, cám dỗ và nghi ngờ về mọi thứ hiện hữu! Đức tin của chúng ta phải được sinh ra ở nơi nó bị bỏ rơi bởi mọi thực tại hữu hình; nó phải được sinh ra từ hư vô; nó phải nếm trải sự hư vô này và được nếm trải theo cách mà không một triết lý hư vô nào có thể tưởng tượng được.” Đó là trải nghiệm của Thứ Sáu Tuần Thánh, và đó là trải nghiệm mà các nhà thần bí gọi là “đêm tối của tâm hồn”. Và chính trong bóng tối đầy áp lực của trải nghiệm đó, Thiên Chúa có thể tuôn chảy vào cuộc sống của chúng ta mà không bị bóp méo.

Trở thành một nhà thần bí thực hành

Tôi có dạy một khóa học về nhà thần bí nổi tiếng Thánh Gioan Thánh Giá. Vì đây không phải là khóa học bắt buộc đối với bất kỳ học viên nào, tôi thường bắt đầu buổi học đầu tiên bằng cách hỏi mỗi học viên tại sao họ lại quan tâm đến khóa học này. Các câu trả lời rất đa dạng: “Tôi tham gia khóa học này vì cha linh hướng của tôi bảo tôi tham gia.” “Tôi luôn tò mò về thần bí học.” “Tôi học bất cứ môn nào được dạy vào tối thứ Ba!” Tuy nhiên, một tối nọ, một phụ nữ đã đưa ra câu trả lời này: Tôi tham gia khóa học này vì tôi là một nhà thần bí thực hành.

Điều đó khiến một số người ngạc nhiên. Thật sao? Một nhà thần bí thực hành sao?

Liệu ai đó có thể là một nhà thần bí thực hành không?

Điều đó phụ thuộc vào cách bạn hiểu về trải nghiệm thần bí. Nếu bạn đánh đồng trải nghiệm thần bí với những điều phi thường, với những hiện tượng siêu nhiên (những thị kiến, những trạng thái xuất thần, những trạng thái ý thức thay đổi hoàn toàn, hoặc sự xuất hiện kỳ diệu của Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria, một thiên thần hay một vị thánh) thì bạn không thể là một nhà thần bí thực hành. Mặc dù những hiện tượng phi thường như vậy thực chất có thể là trải nghiệm thần bí (và thực sự đánh dấu trải nghiệm của một số nhà thần bí cổ điển), nhưng trải nghiệm thần bí bình thường không được đặc trưng bởi bất kỳ hiện tượng tôn giáo ngoại thường nào. Thật vậy, nó thường nghi ngờ bất cứ điều gì phi thường và yêu cầu phải được phân định một cách kỹ lưỡng hơn.

Trải nghiệm thần bí bình thường, hầu hết các nhà thần bí, không dựa trên điều phi thường. Ngược lại, nó dựa trên chính nền tảng của sự bình thường. Điều này có nghĩa là gì?

Một nhà thần bí đương đại nổi tiếng, Ruth Burrows, nữ tu dòng Cát Minh người Anh, định nghĩa trải nghiệm thần bí như sau. Trải nghiệm thần bí là được Chúa chạm đến theo một cách vượt quá những gì chúng ta có thể diễn đạt, hình dung, hoặc thậm chí cảm nhận một cách có ý thức. Đó là điều chúng ta biết nhiều hơn là nghĩ.

Về bản chất, một Thiên Chúa không thể diễn tả được chạm đến chúng ta theo một cách không thể diễn tả được; một Thiên Chúa vượt ra ngoài khái niệm, chạm đến chúng ta theo một cách không thể diễn tả thành lời; một Thiên Chúa vượt ra ngoài ngôn ngữ chạm đến chúng ta theo một cách không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ thành lời; và một Thiên Chúa, nguồn gốc của mọi sự sống, chạm đến chính nguồn gốc của sự sống, để chúng ta biết, một cách trực giác, cả bản thân mình lẫn cách mình đứng trước Thiên Chúa.

Điều này nghe có vẻ khá trừu tượng, nhưng không phải thế như Ruth Burrows giải thích khi dùng câu chuyện của chính bà.

Trong cuốn tự truyện của mình, Trước Thiên Chúa Hằng Sống, Ruth Burrows (mất năm 2023) chia sẻ câu chuyện về việc, ngay khi bà hoàn thành chương trình giáo dục cơ bản và lên kế hoạch cho việc học đại học, một trải nghiệm thần bí đã tác động và thay đổi cuộc đời bà một cách triệt để.

Vào thời điểm đó trong cuộc đời, bà không thực sự nghiêm túc với đức tin của mình. Việc thực hành đức tin của bà mang tính học thuộc lòng hơn là sốt sắng, nhưng bà đã tham gia một khóa tĩnh tâm với một số phụ nữ trẻ khác cùng tuổi. Một trong những điều bà được yêu cầu làm trong khóa tĩnh tâm đó là ngồi trong nhà nguyện im lặng một giờ đồng hồ nhiều lần mỗi ngày. Những giờ im lặng đó khiến bà mệt mỏi và bà sợ hãi.

Tuy nhiên, một ngày nọ, trong một trong những giờ phút ấy, khi ngồi im lặng, bà đã có (sau này bà gọi là) một trải nghiệm thần bí. Không có những thị kiến siêu nhiên, không có sự xuất thần, không có sự xuất hiện của thiên thần, mà chỉ có một khoảnh khắc sáng suốt phi thường, đầy ân sủng; một khoảnh khắc mà lần đầu tiên bà hiểu rõ bản thân mình, vượt ra ngoài những gì bà có thể nghĩ, diễn đạt thành khái niệm, hay diễn đạt thành lời. Đó là khoảnh khắc mà bà được lột bỏ mọi sự giả tạo, lột bỏ mọi hệ tư tưởng, lột bỏ mọi hình ảnh tự thân giả tạo, lột bỏ mọi dáng vẻ đối với người khác, trần trụi về mặt cảm xúc và đạo đức, bà chỉ biết – biết mình là ai và mình đứng trước Chúa và mọi người như thế nào.

Khoảnh khắc thần bí của bà là một khoảnh khắc hoàn toàn chân thành, một khoảnh khắc không che phủ, như gốc Latin của từ này gợi ý (sine- without và cere-wax). Giống như tất cả những nhà thần bí, bà đã phải vật lộn để diễn tả thành lời một điều gì đó phần lớn không thể diễn tả được, nhưng lại in dấu ấn lên tâm hồn bà theo một cách đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời bà.

Với định nghĩa về thần bí học như vậy, tất cả chúng ta đều được mời gọi trở thành những nhà thần bí thực hành, nghĩa là, tất cả chúng ta đều được mời gọi trong sự tĩnh lặng của trái tim, hoặc có lẽ trong trải nghiệm được nâng lên về mặt tâm hồn hoặc bị nghiền nát về mặt tâm hồn, để đứng hoặc quỳ gối trước Chúa với sự chân thành tuyệt đối, không chút giả tạo, trần trụi về mặt đạo đức, lột bỏ mọi sự giả tạo, lột bỏ mọi điều giả dối, để ngay lúc đó, chúng ta có thể biết chân tướng mình là ai và mình đứng trước Chúa, trước tha nhân, và trước chính con người thật của mình như thế nào. Chúng ta cần cầu nguyện cho sự sáng suốt đó và thể hiện rõ ràng ý định đó trong lời cầu nguyện.

Vậy chúng ta làm điều đó bằng cách nào? Chúng ta làm điều đó bằng cách cố gắng hết sức trong lời cầu nguyện để tập trung vào sự chân thành và sự trần trụi của tâm hồn, bằng cách cầu xin Chúa nhìn thấu tất cả những gì giả dối trong chúng ta để chúng ta có thể biết Chúa biết đến mình như thế nào.

Trong lời cầu nguyện của mình, Dag Hammarskjold thường cầu xin Chúa, “xin cho con có được sự sáng suốt để phản chiếu cuộc sống và khuôn đúc nó trong trái tim thanh khiết, và có được sự tự vấn có ý thức để đưa con vào con đường phản chiếu sự vĩ đại của cuộc sống.” Cầu xin điều đó trong lời cầu nguyện chính là trở thành một nhà thần bí thực hành.

Khóc than cho Bản Giao Hưởng Dở Dang

Có những đoạn Kinh Thánh lẽ ra phải kèm theo một cảnh báo, giống như dòng chữ đôi khi xuất hiện ở cuối một bộ phim: Không có con vật nào bị tổn hại.

Một trong những đoạn ấy là câu chuyện trong Sách Thủ Lãnh (11,29-39). Đó là câu chuyện về Giép-thê, một vị thủ lãnh đang lâm chiến. Ông khấn hứa với Thiên Chúa rằng, nếu Thiên Chúa ban cho ông chiến thắng, ông sẽ dâng làm lễ toàn thiêu cho Chúa người đầu tiên ra đón ông khi ông trở về nhà. Thiên Chúa cho ông chiến thắng. Khi trở về, người đầu tiên ra đón ông lại chính là con gái ông, còn xuân thì. Nhìn thấy con, ông vô cùng đau xót và hối hận vì lời khấn. Nhưng người con lại đồng ý để chính mình trở thành lễ tế, chỉ xin một điều: được ra núi cùng các bạn gái để “khóc than cho phận trinh nữ của mình” trong hai tháng. Cha cô chấp thuận, và sau thời gian ấy, cô trở về, chịu hiến tế làm lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa.

Nếu hiểu theo nghĩa đen, đây quả là một câu chuyện kinh khủng: một lời khấn ngu xuẩn, một Thiên Chúa chấp nhận của lễ như thế, việc sát tế con người, và bóng dáng của một chế độ phụ quyền tàn nhẫn.

Nhưng câu chuyện này không nhằm để được hiểu theo nghĩa đen. Không ai chết trong câu chuyện này. Đây là một biểu tượng, một ẩn dụ, và thông điệp thật sự không phải là Thiên Chúa đòi hy lễ bằng máu người. Thông điệp nằm nơi cô con gái, nơi lời cô xin được khóc than cho phận trinh nữ của mình, nghĩa là cuộc đời cô sẽ kết thúc trong một sự dang dở nào đó.

Vậy khóc than cho “trinh tiết” có nghĩa là gì? Khóc như thế nào?

Ẩn dụ này muốn nói rằng, mỗi người chúng ta – nam hay nữ, sống đời hôn nhân hay độc thân, sống lâu hay yểu – rốt cuộc đều sẽ chết trong tình trạng còn “trinh nguyên” ở một phương diện nào đó, nghĩa là chưa bao giờ được sống trọn vẹn một “bản giao hưởng” đời mình.

Ở mức nghĩa đen, điều này thấy rõ nơi người không bao giờ lập gia đình, không có bạn đời, và chết trong cảnh độc thân – giống như con gái Giép-thê, chết trong tình trạng trinh nữ. Khi hướng dẫn tĩnh tâm cho linh mục hay tu sĩ, tôi thường hỏi họ: “Anh chị đã bao giờ khóc than cho đời sống độc thân của mình chưa? Đã bao giờ đau xót vì sẽ không bao giờ có được sự thân mật tính dục, không có con cái, không bao giờ được làm ông bà?”

Nhưng còn nhiều dạng nghĩa khác. “Trinh tiết” mà con gái Giép-thê khóc than cũng chính là sự dang dở mà tất cả chúng ta đều phải đối diện, kể cả khi đã có tình yêu đôi lứa, có con, có cháu.

Tôi nhớ một buổi họp khoa, khi vài linh mục bàn về đời sống độc thân, một đồng nghiệp – một phụ nữ có gia đình hạnh phúc – đã thách thức chúng tôi: “Các anh chị độc thân thấy thương thân quá. Các anh có biết điều gì còn tệ hơn việc ngủ một mình không? Chính là ngủ một mình ngay cả khi không ở một mình.” Bà nói đúng. Ngay cả trong tình yêu và sự gần gũi, nỗi cô đơn vẫn không biến mất.

Thần học gia Karl Rahner cũng từng khuyên một người bạn than phiền rằng, dù có một hôn nhân tốt đẹp, ông vẫn thấy mình đơn độc: “Đừng đổ lỗi cho vợ anh hay cho hôn nhân. Hãy chấp nhận rằng ở đời này, chẳng bao giờ có một bản giao hưởng hoàn tất.” Tất cả chúng ta sẽ chết khi vẫn còn những ước mơ dang dở; chẳng ai được hưởng một vòng tay viên mãn, trọn vẹn, trước ngưỡng cửa vĩnh hằng.

Tuy vậy, ta vẫn có thể sống một cuộc đời hạnh phúc, phong phú. Nhưng có một điều kiện: ta phải dám khóc than cho sự dang dở của mình, như con gái Giép-thê. Nếu ta không chấp nhận và không chịu than khóc cho sự bất toàn ấy, nó sẽ lén lút đè nặng lên cuộc đời ta bằng thất vọng, giận dữ, và u buồn. Tệ hơn nữa, ta sẽ vô thức trở nên khắt khe với người khác – với bạn đời, gia đình, bạn bè, Giáo hội và cả chính cuộc đời – bởi vì họ không bao giờ có thể trao cho ta một bản giao hưởng trọn vẹn.

Vậy ta khóc than thế nào cho sự dang dở ấy?

Mỗi người có một cách riêng. Nhưng mọi sự than khóc đều bắt đầu bằng việc nhận ra điều đã mất, điều ta không có được. Ta bắt đầu bằng việc chấp nhận lời Rahner: “Ở đời này, chẳng có một bản giao hưởng hoàn tất.”

Ta có thể đem điều ấy vào cầu nguyện, chia sẻ trong linh hướng, trị liệu tâm lý, hay thực hành một nghi thức nào đó. Nhưng tất cả chúng ta đều cần, như con gái Giép-thê, có lúc “lên núi”, dành trọn một khoảng thời gian để thả cho những giọt lệ tuôn rơi – để rồi có thể ra đi trong bình an, khi chỉ mang theo một bản giao hưởng dở dang.

Điều Gì Cấu Thành Cuộc Hôn Nhân Tốt Đẹp?

Không một bài giảng nào có thể tác động đến tâm hồn mạnh mẽ bằng việc tận mắt thấy một người sống đời chân thật. Nếu điều đó đúng – và đúng thật – thì không một khóa học hôn nhân nào có sức dạy về hôn nhân sâu sắc bằng chứng tá của một cuộc hôn nhân tốt đẹp.

Tôi đã cảm nghiệm điều này cách cụ thể vài năm trước khi tham dự kỷ niệm 50 năm hôn phối của một người bác. Cuộc hôn nhân của họ thật tốt đẹp: hòa thuận, hiếu khách, gắn bó gia đình và kiên trung trong đức tin.

Tuy nhiên, và chỉ có họ mới biết cái giá phải trả, điều này không phải lúc nào cũng dễ dàng. Những năm đầu chung sống, họ không có nhiều tiền, cũng chẳng có điều kiện dư dả, mà vẫn phải nuôi một gia đình đông con. Công việc đầu tiên của ông chỉ là nhân viên bán hàng lương ba cọc ba đồng. Bà thì chẳng tìm được việc, bởi ở thị trấn nhỏ nơi họ ở, phụ nữ khi ấy không được mấy coi trọng trong thị trường lao động.

Ngoài ra, như mọi gia đình khác, họ còn biết bao thử thách: những giờ làm việc miệt mài, không chỉ lo cho gia đình mình mà còn dấn thân trong sinh hoạt của giáo xứ và cộng đồng.

Hơn hai trăm thân nhân và bạn hữu đã quy tụ để chúc mừng và tri ân họ. Cuối bữa tiệc, bác tôi đứng lên cám ơn mọi người và kết thúc bằng câu nói:

“Khi chúng tôi kết hôn cách đây 50 năm, chúng tôi chẳng có gì nhiều, nhưng chúng tôi có một niềm tín thác tự nhiên rằng: nếu sống theo Mười Điều Răn và lề luật Hội Thánh, thì mọi sự rồi sẽ ổn – và tôi nghĩ quả đúng là như thế.”

Quả thật, đó là một cách nói khiêm nhường, vì mọi sự không chỉ “ổn” mà còn tốt đẹp hơn nhiều.

Bốn Hình Ảnh Diễn Tả Một Cuộc Hôn Nhân Tốt:

Một cuộc hôn nhân tốt có thể được mô tả qua bốn hình ảnh, và hôn nhân của các bác tôi là một minh chứng điển hình:

  1. Một lò sưởi ấm áp
    Tình yêu của đôi bạn đời tạo nên một bầu khí ấm áp, không chỉ sưởi ấm họ mà còn sưởi ấm mọi người đến gần: con cái, láng giềng, cộng đoàn, và bất cứ ai gặp họ.
  2. Một bàn tiệc đầy ắp
    Khi hai người thật lòng yêu nhau, tình yêu ấy trở thành lòng hiếu khách, một bàn tiệc nuôi dưỡng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tình yêu ấy không chỉ nuôi sống hai người mà còn có dư để chia sẻ với mọi người chung quanh. Đây chính là tính bí tích của hôn nhân.
  3. Một chiếc bình chứa đựng đau khổ
    Có câu ngạn ngữ: “Mọi sự đều có thể chịu đựng được, miễn là có thể chia sẻ.” Thật vậy, ai có một bạn đường đích thực trong đời sẽ có thể gánh vác nhiều đau khổ. Trong một hôn nhân tốt, vợ chồng không chỉ cùng nhau mang vác khổ đau của mình, mà còn nâng đỡ được nỗi khổ đau của nhiều người khác.
  4. Thân thể của Đức Kitô – lương thực cho thế gian
    Đức Kitô để lại Mình Ngài để nuôi sống nhân loại. Một hôn nhân tốt cũng vậy: trở nên lương thực nuôi dưỡng mọi người xung quanh. Đây chính là điều làm cho hôn nhân trở thành bí tích.

Nhiều người trong chúng ta đã từng cảm nhận điều này nơi một số đôi vợ chồng mà mình gặp gỡ. Sự hiện diện của họ trong đời sống chúng ta luôn là một nguồn nuôi dưỡng về luân lý, tâm lý và đức tin

Cuộc hôn nhân của các bác tôi là minh chứng sống động. Nhà của họ luôn như một lò sưởi, nơi nhiều người – cả tôi nữa – tìm thấy sự ấm áp. Họ luôn có bàn ăn rộng, tủ lạnh đầy, cửa nhà rộng mở chào đón và hiếu khách với bất cứ ai bước vào.

Họ cũng là chiếc bình chứa đựng khổ đau: qua năm tháng, nhờ tình yêu, họ có thể chịu đựng và nâng đỡ nhau trong đức tin, phẩm giá, sự nhân hậu, và lòng bác ái ngày càng sâu đậm. Họ còn giúp bao người khác gánh bớt nỗi khổ đau.

Cuối cùng, cuộc hôn nhân ấy là thân thể của Đức Kitô hiện diện trong xác phàm – lương thực cho sự sống của thế giới. Hầu như bất cứ ai từng gặp họ đều được nuôi dưỡng, được bồi đắp, được nhận thêm “vitamin cho tâm hồn.”

Trong một thời đại mà người ta không còn hiểu bí tích là gì, chúng ta có thể nhìn vào một cuộc hôn nhân như thế để hiểu thế nào là bí tích.

Đôi khi, những gì ta tìm kiếm không nằm trong sách vở, mà lại ở ngay ngôi nhà đối diện; ân sủng Chúa không phải lúc nào cũng ở nhà thờ, mà ở cánh cửa mở ra chào đón ta; sự an ủi ta khát khao có thể đến từ một người bạn biết thấu hiểu nỗi đau; và bí tích nuôi dưỡng linh hồn ta đôi khi được tìm thấy nơi một phòng khách ấm áp, một bàn ăn đầy ắp, tiếng chuyện trò dí dỏm, và trong một đôi vợ chồng sống hạnh phúc bên nhau.

Vết Thương Phi Tự Nhiên

Ít có nỗi đau nào trong đời sâu thẳm và khó khăn hơn cái chết của một người trẻ, nhất là khi đó lại chính là người con của mình.. Có biết bao người cha, người mẹ mang trái tim tan vỡ vì mất đi một người con trai, con gái, hoặc cháu ruột. Dù thời gian có trôi qua và ngay cả khi đức tin đem lại sự an ủi, vết thương ấy vẫn thường tồn tại như một nỗi đau không bao giờ lành.

Nguyên nhân của sự dai dẳng này không hẳn nằm ở chỗ thiếu đức tin, mà ở một điều gì đó còn thiếu ngay trong bản chất tự nhiên. Tự nhiên chuẩn bị cho chúng ta đối diện với hầu hết những tình huống trong đời, nhưng lại không chuẩn bị để chúng ta chôn cất chính con mình.

Cái chết vốn luôn là điều khó khăn. Sự chung cuộc và không thể đảo ngược của nó khiến con tim như bị nung cháy và khép lại. Điều này đúng ngay cả khi người qua đời đã cao tuổi và đã sống trọn một đời. Suy cho cùng, không gì có thể hoàn toàn chuẩn bị cho ta chấp nhận cái chết của những người mình yêu thương.

Tuy vậy, tự nhiên dường như đã chuẩn bị chúng ta tốt hơn để đối diện với cái chết của những bậc cao niên. Chúng ta sinh ra là để chôn cất cha mẹ mình — đó là trật tự tự nhiên, là lẽ thường của cuộc sống. Cha mẹ thường qua đời trước con cái, và thường thì mọi sự diễn ra như vậy. Điều đó mang đến nỗi đau riêng của nó. Mất đi cha mẹ, người bạn đời, anh chị em hay bạn bè chưa bao giờ là dễ dàng. Cái chết luôn để lại vết hằn. Nhưng tự nhiên đã trao cho chúng ta khả năng để chịu đựng những mất mát này.

Nói theo nghĩa bóng, khi những người bậc trên qua đời, trong “mạch dây” tiềm ẩn của ta có những “mạch nối” mà ta có thể kích hoạt, từ đó tìm thấy một phần hiểu biết và chấp nhận. Cái chết của một người trưởng thành khác, theo thời gian, sẽ được rửa sạch nỗi đau, và đời sống trở lại bình thường, bởi đó là lẽ tự nhiên. Một trong những nhiệm vụ của đời người chính là chôn cất cha mẹ mình.

Nhưng việc cha mẹ phải chôn cất con cái lại là điều phi tự nhiên. Đó không phải là điều tự nhiên sắp đặt, và tự nhiên cũng không trao cho chúng ta “mạch nối” nội tâm để đối diện. Khi một người con qua đời — dù vì bệnh tật, tai nạn hay tự tử — chúng ta không có sẵn cơ chế bên trong để xử lý điều này.

Khác với cái chết của bậc cao niên, vấn đề không chỉ là để tang, kiên nhẫn và chờ thời gian chữa lành. Khi một người con mất đi, ta có thể than khóc, chờ đợi, kiên nhẫn… nhưng rồi vẫn nhận ra vết thương không lành, thời gian không chữa được, và ta không thể hoàn toàn chấp nhận sự thật ấy.

Hơn một thế kỷ trước, Alfred Edward Housman đã viết bài thơ nổi tiếng Gửi Một Vận Động Viên Chết Trẻ. Ở một đoạn, ông nói với chàng trai đã khuất:
“Khôn ngoan thay, chàng rời đi sớm,
Khỏi những sân chơi nơi vinh quang chẳng ở lâu.”

Đôi khi, cái chết ở tuổi thanh xuân đóng khung mãi mãi nét đẹp của tuổi trẻ, vốn theo thời gian sẽ phai tàn. Chết trẻ là chết khi đang trổ bông, trong vẻ đẹp rực rỡ của thanh xuân.

Tuy nhiên, đó là cái nhìn từ phía người ra đi, chứ không phải từ phía những người ở lại. Tôi không chắc những người còn sống sẽ nói: “Khôn ngoan thay, chàng rời đi sớm.” Nỗi đau của họ không dễ gì phai nhạt, vì tự nhiên không trang bị cho họ khả năng xử lý mất mát này. Họ dễ cảm nhận bóng tối tâm hồn như W.H. Auden từng diễn tả trước cái chết của người mình yêu:
“Giờ chẳng cần sao trời nữa: hãy dập tắt tất cả;
Thu dọn cả mặt trăng và tháo rời mặt trời;
Đổ hết đại dương và quét sạch khu rừng;
Vì giờ đây chẳng còn gì có thể đem lại điều tốt lành.” (Mười Hai Ca Khúc)

Khi mất một người con, chúng ta dễ đồng cảm với lời của Auden. Và dù hiểu rõ việc chôn cất con mình là điều trái tự nhiên đến mức nào, điều đó cũng không khiến con trở lại, cũng không thể phục hồi trật tự bình thường, bởi bản chất của nó đã là bất thường.

Dẫu vậy, sự hiểu biết này giúp ta nhận ra tại sao nỗi đau lại sâu sắc và dai dẳng đến thế, tại sao cảm giác đau buồn mãnh liệt là điều tự nhiên, và tại sao không một sự an ủi hay lời khích lệ đơn giản nào có thể giúp được. Cuối cùng, cái chết của một người con không có câu trả lời trọn vẹn.

Điều cũng cần ghi nhớ là, đức tin vào Thiên Chúa — dù mạnh mẽ và quan trọng đến đâu — cũng không xóa bỏ được vết thương này. Đức tin không được ban để làm điều đó. Khi mất một người con, điều gì đó trong ta bị cắt bỏ một cách phi tự nhiên, như việc mất đi một chi thể. Đức tin có thể giúp ta sống với nỗi đau và sự khiếm khuyết ấy, nhưng không thể mang lại phần đã mất hay làm cho ta toàn vẹn trở lại. Thực tế, đức tin chỉ có thể dạy ta cách sống với “sự cụt mất” đó, cách mở ra vết thương không thể lành ấy cho một điều gì đó — và cho Một Đấng — lớn hơn chính mình, để từ đó, chính trái tim Thiên Chúa ban cho ta can đảm mà sống lành mạnh trở lại với một vết thương phi tự nhiên.

Đánh Mất Sự Trong Trắng Tâm Hồn

Sự trong trắng là gì?

Có lẽ ở dạng lý tưởng nhất, sự trong trắng có thể được mô tả như một trái tim con người được lột bỏ cái tôi và dục vọng — điều gì đó gần với cách James Joyce diễn tả trong Chân dung nghệ sĩ lúc còn trẻ, khi nhân vật chính, chàng Steven trẻ tuổi, nhìn thấy một cô gái bán khỏa thân trên bãi biển và thay vì bị thôi thúc bởi ham muốn xác thịt, anh lại chỉ tràn ngập một niềm kinh ngạc và ngưỡng mộ sâu xa.

Thực tế hơn, cố học giả Allan Bloom, trong tác phẩm Sự khép lại của tâm trí Mỹ, cho rằng, suy cho cùng, sự trong trắng chính là đức khiết tịnh — và khiết tịnh không chỉ là một khái niệm về tình dục. Theo Bloom, cần phải có một “sự khiết tịnh” trong mọi trải nghiệm của chúng ta; nghĩa là, chúng ta chỉ nên trải nghiệm điều gì khi và chỉ khi ta có thể trải nghiệm nó theo cách vẫn giữ được sự toàn vẹn bên trong. Nói đơn giản, ta đánh mất sự trong trắng khi trải nghiệm bất cứ điều gì khiến mình “rời rạc”, tức là làm tan vỡ sự nguyên vẹn của bản thân. Và chúng ta có thể “rời rạc” theo nhiều cách: về đạo đức, tâm lý, cảm xúc, tâm linh hoặc thể lý.

Bloom nhận định rằng ngày nay, hầu hết chúng ta đều thiếu đức khiết tịnh và ít nhiều đã bị “rời rạc” bên trong. Ông cho rằng điều này không trước hết thể hiện ở những con số gia tăng chóng mặt của sự suy sụp tinh thần hay nạn nghiện ma túy, rượu chè, mà phổ biến hơn, ở một sự “chai lì” trong tâm hồn: khiến chúng ta (theo lời ông) “què quặt về mặt eros” — đôi mắt mất đi ánh lửa, và con tim, giấc mơ không còn nhiều chất siêu thoát.

Hơn nữa, sự trong trắng của người trưởng thành cần được phân biệt với sự trong trắng tự nhiên của trẻ thơ. Với người lớn, trong trắng không còn là ngây thơ. Đó phải là điều có thể gọi là “ngây thơ lần hai” hay “hậu tinh tế” (post-sophistication). Có một khác biệt rất lớn giữa tính trẻ con (childishness) — sự ngây thơ bộc phát của trẻ, một phần dựa trên thiếu kinh nghiệm và ngây ngô — và tâm hồn trẻ thơ (childlikeness) — sự hồn nhiên trở lại của một người trưởng thành đã từng trải, thông hiểu, nhưng vẫn lấy lại được ánh nhìn đầy ngạc nhiên của trẻ thơ.

Chúa Giêsu định nghĩa sự trong trắng như thế nào? Người chỉ vào hai điều: trái tim của trẻ thơ và trái tim của trinh nữ. “Nếu anh em không trở nên như trẻ nhỏ, anh em sẽ chẳng được vào Nước Trời”, và Nước Trời “giống như mười trinh nữ đi đón chàng rể”.

Với Chúa Giêsu, trái tim của trẻ thơ là trái tim tươi mới, rộng mở, đầy ngạc nhiên, chưa bị chai cứng hay cằn cỗi vì vết thương hoặc tội lỗi. Còn trái tim của trinh nữ là trái tim biết kiên nhẫn trước sự chưa trọn vẹn, không đòi bản nhạc phải khép lại, biết rằng, cũng như trẻ thơ, nhiều điều khao khát sâu xa chưa thể đạt được ngay.

Trái tim trẻ thơ vẫn tin vào điều thiện; trái tim trinh nữ thì không thử thách Thiên Chúa của mình.

Trong tiểu thuyết The Stone Angel, Margaret Laurence miêu tả nhân vật Hagar Shipley — một ngày nọ, sau khi nghe một đứa trẻ gọi mình là “mụ già xấu xí”, bà soi gương và kinh hoàng trước gương mặt mình. Bà gần như không nhận ra chính mình: không chỉ già đi, mà còn lạnh lẽo, vô hồn, mất đi sự háo hức và trong trắng. Bà tự hỏi làm sao điều này xảy ra, vì bà vẫn nghĩ mình là người dễ mến, lành mạnh. Nhưng tấm gương phơi bày sự thật cay đắng: bà đã đánh mất đứa trẻ bên trong mình, mất đi sự trong trắng.

Điều này có thể xảy ra với tất cả chúng ta — và thực tế, đã xảy ra vào những giai đoạn khác nhau trong đời mỗi người. Chúng ta không bao giờ được để mất khát vọng tìm lại sự trong trắng, vì đó sẽ là một trong những căn bệnh chết người nhất.

Annie Dillard từng viết: “Sự trong trắng không phải là đặc quyền của trẻ sơ sinh hay chó con, lại càng không phải của núi non hay những vì sao cố định, vốn chẳng có đặc quyền gì cả. Nó không mất hẳn khỏi chúng ta; thế giới tốt đẹp hơn thế nhiều. Giống như mọi tặng phẩm tốt lành khác của tinh thần, nó vẫn ở đó nếu bạn muốn, hoàn toàn miễn phí, như đã từng được khẳng định bởi những lời mạnh mẽ hơn lời tôi. Người ta có thể theo đuổi sự trong trắng như chó săn đuổi thỏ, một lòng một dạ, bị cuốn hút bởi một thứ tình yêu, vượt qua suối, lạc bước trên đồng và trong rừng, vòng vo, vượt qua rào và đồi, mắt mở to, tiếng gọi vang dội, không hay biết rằng mình đang cất lên khát vọng sâu thẳm và khó hiểu nhất — một ngọn lửa nơi gốc rễ trái tim — và bản hợp xướng ấy vọng lại từ núi cao.”

Những lời này nhắc nhở tha thiết rằng một trong những nền tảng sâu xa nhất của một đời sống lành mạnh (và hạnh phúc) chính là sự trong trắng — nếu không đạt được nó thì ít nhất cũng phải khao khát nó. Cũng như một đứa trẻ khỏe mạnh mong mỏi trải nghiệm của người lớn, một người trưởng thành khỏe mạnh khao khát trái tim của trẻ thơ. Đánh mất khát vọng về sự trong trắng là đánh mất sự gắn kết với linh hồn mình. Thực vậy, đánh mất hoàn toàn khát vọng này chính là đánh mất linh hồn — và đó là một trong những đặc tính của tình trạng ở trong hỏa ngục.