RonRolheiser,OMI

Phúc Lành Của Cha

Cha tôi mất khi tôi hai mươi ba tuổi, một chủng sinh, còn non nớt, đang học hỏi về cuộc sống. Mất cha ở bất kỳ độ tuổi nào cũng khó khăn, và nỗi đau buồn của tôi càng tăng thêm bởi thực tế là tôi vừa mới bắt đầu trân trọng những gì cha đã trao cho tôi.

Mãi sau này tôi mới nhận ra rằng tôi không còn cần cha nữa, mặc dù tôi vẫn rất khao khát cha. Những gì cha phải trao cho tôi, cha đã làm rồi. Tôi đã nhận được phúc lành của cha tôi.

Tôi biết mình đã nhận được phước lành của ba. Cuộc đời tôi và hướng đi của nó đã làm cha hài lòng. Giống như tiếng Chúa phán trong lễ rửa tội của Chúa Giê-su, Ngài đã phán với tôi: Con là con của Cha, Cha hài lòng về con. Không phải ai cũng may mắn như vậy. Đó là tất cả những gì một người cha có thể cầu xin.

Và cha đã để lại cho tôi và những người con còn lại điều gì?

Quá nhiều để kể ra, nhưng trong số những điều khác, có sự vững vàng về mặt đạo đức. Ông là một trong những người đạo đức nhất mà tôi từng biết, luôn cho phép bản thân được thỏa hiệp tối thiểu về mặt đạo đức. Ông không phải là người tin vào quan điểm rằng chúng ta chỉ là con người nên việc cho phép bản thân được miễn trừ một số lỗi lầm là điều bình thường. Ông từng nói với chúng tôi một câu rất nổi tiếng: “Bất cứ ai cũng có thể cho tôi thấy lòng nhân đạo; tôi cần ai đó cho tôi thấy thần tính!” Ông mong muốn chúng tôi không được thất bại, sống đúng với đức tin và đạo đức, không được viện cớ. Nếu chúng tôi, gia đình ông, có thể cảm nhận được điều gì từ sự hiện diện của ông, thì đó chính là sự cứng đầu về mặt đạo đức này.

Hơn thế nữa, ông có một sự tỉnh thức vững vàng, gần như một thứ bệnh. Ngày nay, chúng tôi hay nói đùa rằng sự điều độ là điều duy nhất ông có thể làm quá. Không hề có những cơn bộc phát cuồng loạn, không hề trầm cảm, không hề choáng váng, không hề thiếu sự vững vàng, không hề phải đoán xem tâm hồn và tinh thần của mình sẽ ra sao vào một ngày nào đó.

Với sự vững vàng đó, cùng với sự hiện diện ủng hộ của mẹ tôi, ông đã tạo nên cho chúng tôi một mái ấm luôn là một cái kén an toàn, đôi khi là một nơi buồn tẻ, nhưng luôn là một nơi an toàn. Khi nghĩ về ngôi nhà nơi mình lớn lên, tôi nghĩ đến một nơi trú ẩn an toàn, nơi bạn có thể ngắm nhìn những cơn bão bên ngoài từ một nơi ấm áp và an toàn. Một lần nữa, không phải ai cũng may mắn như vậy.

Và bởi vì chúng tôi là một gia đình lớn, và tình yêu thương cùng sự quan tâm của ông phải được chia sẻ với nhiều anh chị em, tôi chưa bao giờ nghĩ về ông như một người cha “của tôi”, mà luôn luôn là người cha “của chúng ta”. Điều này đã giúp tôi nắm bắt được thử thách đầu tiên trong Kinh Lạy Ba, đó là, Chúa là Cha “của chúng ta”, Đấng mà chúng ta chia sẻ với những người khác, chứ không phải của riêng ai.

Hơn nữa, gia đình cha tôi không chỉ bao gồm những đứa con của ông. Tôi đã học được từ sớm rằng không nên oán giận việc ông không thể luôn ở bên chúng tôi, rằng ông có những lý do chính đáng để ở nơi khác: công việc, cộng đồng, nhà thờ, bệnh viện và hội đồng trường học, hay hoạt động chính trị. Ông là một người cha của một gia đình rộng lớn hơn chứ không chỉ riêng gia đình chúng tôi.

Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, ông đã chúc phúc cho tôi và các anh chị em tôi bằng tình yêu dành cho bóng chày. Ông đã quản lý một đội bóng chày địa phương trong nhiều năm. Đây là nơi đặc biệt của ông, nơi ông có thể tận hưởng ngày Sa-bát.

Nhưng phúc lành không bao giờ đến một cách trọn vẹn. Cha tôi là một con người, và điểm mạnh lớn nhất của một người đàn ông thường cũng chính là điểm yếu lớn nhất của ông. Bên trong tất cả những phẩm chất đạo đức và sự tỉnh táo vững vàng ấy, cũng có một sự dè dặt đôi khi không cho phép ông tận hưởng trọn vẹn sự sôi động của cuộc sống. Mỗi người con trai đều quan sát cách cha mình nhảy múa và vô thức so sánh ông với những điều nhất định: sự do dự, sự trôi chảy, sự buông thả, sự phô trương, sự phi lý nhất thời, sự vô trách nhiệm.

Cha tôi chưa bao giờ có nhiều sự uyển chuyển hay buông thả trong bước nhảy của mình, và tôi đã thừa hưởng điều đó, một điều có thể khiến tôi vô cùng đau lòng. Có những lúc, cả khi còn nhỏ lẫn khi đã trưởng thành, trong một tình huống nhất định, tôi đã muốn đánh đổi cha mình để lấy một người cha có bước nhảy uyển chuyển hơn, lấy một người ít dè dặt hơn trước sự sôi động của cuộc sống.

Và đó một phần là cuộc đấu tranh của tôi để nhận được phúc lành trọn vẹn của ông. Tôi thường nhớ đến câu nói nổi tiếng của William Blake trong vở kịch Infant Sorrow, khi ông nhắc đến “Vật lộn trong tay cha tôi”. Với tôi, điều đó có nghĩa là đôi khi tôi phải đấu tranh với sự dè dặt của cha tôi, không muốn buông xuôi và tận hưởng trọn vẹn món quà của cuộc sống.

Nhưng, nếu có sự do dự, thì cũng không hề có sự vô trách nhiệm trong điệu nhảy của ông, dù đôi khi điều đó có nghĩa là đứng ngoài điệu nhảy. Tôi đau buồn trong đám tang của ông, nhưng cũng tự hào, tự hào về sự kính trọng mà mọi người dành cho ông, cho cách ông sống cuộc đời mình. Ngày hôm đó, không hề có sự phán xét nào về sự dè dặt của ông. Giờ tôi đã lớn tuổi hơn ông khi ông mất. Những ngày tháng trên trần thế của tôi giờ đây nhiều hơn ông mười lăm năm. Nhưng tôi vẫn sống trong phúc lành của ông, một cách có ý thức và vô thức, cố gắng để xứng đáng, để tôn vinh những gì ông đã trao cho tôi. Và phần lớn điều đó là tốt, mặc dù tôi cũng có những lúc thấy mình đứng ngoài sự sôi động của cuộc sống, nhìn vào điệu nhảy, dè dặt, ánh mắt của ông trên khuôn mặt tôi, cảm thấy một chút ghen tị với những người có bước nhảy uyển chuyển hơn – tôi, người con trai của cha tôi.

Người Vô Thần, Đêm Tối, Thứ Sáu Tuần Thánh và Mặc Khải

Các nhà tư tưởng vô thần cổ điển của thời kỳ Khai Sáng, các triết gia như Frederick Nietzsche và Ludwig Feuerbach, đã dạy rằng mọi kinh nghiệm tôn giáo chỉ đơn giản là sự phóng chiếu của con người. Chúa không tồn tại. Chúng ta tạo ra Chúa, và chúng ta tạo ra Ngài theo hình ảnh và sự giống chúng ta, cuối cùng là để phục vụ nhu cầu của chúng ta. Chúng ta tạo ra khái niệm về Chúa bởi vì chúng ta cần một Chúa cho mục đích của riêng mình. Hơn nữa, những gì chúng ta tin là Lời Chúa, sự mặc khải thiêng liêng (kinh thánh, tín điều và giáo điều) cuối cùng đều là sự phóng chiếu của con người.

Điều này đúng đến mức nào?

Phần lớn họ đúng, không phải ở chỗ Chúa không tồn tại, mà là chúng ta luôn định hình và bóp méo ý niệm về Chúa và lời Chúa để phục vụ nhu cầu của riêng mình. Chúng ta có Lời Chúa trong Chúa Kitô và trong Kinh thánh, nhưng chúng ta luôn định hình nó sao cho phù hợp với nhu cầu của mình. Đó là lý do tại sao chúng ta có rất nhiều tôn giáo và giáo phái Kitô khác nhau. Đó cũng là lý do tại sao (thật trùng hợp ngẫu nhiên) Chúa luôn ghét những người giống chúng ta và luôn yêu những người giống chúng ta yêu.

Khi những người vô thần nói với chúng ta rằng Chúa là một hình ảnh phản chiếu của con người để phục vụ nhu cầu của chúng ta, họ đang giúp chúng ta bởi vì họ đang soi gương, trong đó chúng ta có thể thấy rằng, trên thực tế, chúng ta luôn luôn định hình và bóp méo mặc khải thiêng liêng để nó có lợi cho chúng ta. Những lời chỉ trích của họ gây áp lực buộc chúng ta phải làm rõ quan niệm của mình về Chúa và sự mặc khải thiêng liêng.

Nhưng, mặc dù họ có thể đúng 90%, nhưng họ sai 10%, và 10% đó tạo nên tất cả sự khác biệt. Trong 10% đó, chúng ta để Chúa tuôn chảy vào cuộc sống của mình theo cách mà chúng ta không thể định hình hay bóp méo trải nghiệm mà chỉ có thể đón nhận nó một cách thuần khiết.

Điều này xảy ra trong cái mà các nhà thần bí gọi là “đêm tối của tâm hồn”, và cụm từ đó ám chỉ những thời điểm trong cuộc sống của chúng ta khi các khả năng tự nhiên về trí tưởng tượng, trí tuệ và tình cảm (liên quan đến Chúa và đức tin) của chúng ta rơi vào bế tắc, tê liệt và không thể hoạt động. Mọi cách tưởng tượng và suy nghĩ trước đây của chúng ta về Chúa giờ đây đều trở nên trống rỗng, giả tạo và vô dụng. Chúng ta không còn có thể tưởng tượng rằng Chúa tồn tại, cảm thấy mình như những người vô thần, và không thể tìm cách thoát khỏi sự bất lực đó.

Tình trạng bất lực đó, khi chúng ta không còn có thể tưởng tượng Chúa hay cảm nhận sự hiện diện của Chúa một cách cảm xúc, thực ra là một món quà. Tại sao? Bởi vì khi các khả năng tự nhiên của chúng ta bị tê liệt, chúng ta cũng bị tê liệt trong khả năng tưởng tượng về Chúa. Giờ đây, chúng ta chỉ có thể đón nhận Chúa như Chúa là, chứ không phải như chúng ta tưởng tượng. Chúng ta không còn khả năng định hình hay bóp méo trải nghiệm của mình.

Ví dụ điển hình nhất cho điều này, tất nhiên, là Thứ Sáu Tuần Thánh, thời điểm trong lịch sử mà các sách Phúc Âm cho chúng ta biết trời trở nên tối tăm vào giữa trưa. Thứ Sáu Tuần Thánh là “đêm tối của tâm hồn” tột cùng đối với những người theo Chúa Giê-su.

Họ đã theo Chúa, lắng nghe lời Ngài, mặc khải của Ngài; nhưng, bất chấp những nỗ lực liên tục của Chúa Giê-su nhằm sửa đổi quan điểm của họ, họ đã định hình và bóp méo con người và lời Ngài để phù hợp với quan niệm riêng của họ về những gì họ mong muốn ở một Đấng Mê-si-a. Điều họ mong muốn là một siêu nhân thần thánh, người sẽ tiêu diệt mọi kẻ thù, chói lọi trong vinh quang và mang lại vinh quang cho họ.

Thứ Sáu Tuần Thánh đã hoàn toàn hủy hoại họ. Chúa Giê-su đã chết một cách khủng khiếp, bị lột trần, bị sỉ nhục, bị đánh đập, bất lực, bị coi như một tội phạm. Điều đó đã phá vỡ mọi kỳ vọng của họ về hình ảnh một Đấng Mê-si-a nên là. Không có vinh quang trần thế, chỉ có sự sỉ nhục, và không có sự phô trương công khai quyền năng thần thánh. Điều đó đã hoàn toàn phá vỡ sự hiểu biết tôn giáo của họ.

Họ đã bị choáng váng, theo đúng nghĩa đen. Mọi quan niệm họ có về một Đấng Mê-si-a nên như thế nào đều bị đảo lộn. Họ câm lặng trong trí tưởng tượng, không thể tưởng tượng được làm thế nào tất cả những điều này lại có thể có ý nghĩa. Thế giới tôn giáo của họ đã trở nên đen tối ngay giữa ban ngày. Thật vậy, phải mất vài năm (và nhờ sự thấu hiểu của Thánh Phao-lô) thì ánh sáng mới xuất hiện trở lại, trước khi ý nghĩa của Thứ Sáu Tuần Thánh được hé lộ cho họ, trước khi nó trở nên có ý nghĩa.

Nhưng rồi nó đã xuyên thủng một cách rõ ràng, không hề bị bóp méo, bởi vì đêm tối đức tin đã làm họ tê liệt vào Thứ Sáu Tuần Thánh đã khiến họ hoàn toàn bất lực về mặt tưởng tượng, cảm xúc và trí tuệ trong việc diễn giải những gì được nói với họ qua cái chết bất ngờ và nhục nhã của Chúa Giêsu. Do đó, họ không thể bóp méo trải nghiệm của mình mà chỉ có thể đón nhận nó.

Trong một cuốn sách đáng chú ý, Thiên Chúa Bị Đóng Đinh, Jurgens Moltmann viết: “Đức tin của chúng ta bắt đầu tại điểm mà những người vô thần cho rằng nó phải kết thúc. Đức tin của chúng ta bắt đầu với sự ảm đạm và quyền năng, đó là đêm của thập giá, sự bỏ rơi, cám dỗ và nghi ngờ về mọi thứ hiện hữu! Đức tin của chúng ta phải được sinh ra ở nơi nó bị bỏ rơi bởi mọi thực tại hữu hình; nó phải được sinh ra từ hư vô; nó phải nếm trải sự hư vô này và được nếm trải theo cách mà không một triết lý hư vô nào có thể tưởng tượng được.” Đó là trải nghiệm của Thứ Sáu Tuần Thánh, và đó là trải nghiệm mà các nhà thần bí gọi là “đêm tối của tâm hồn”. Và chính trong bóng tối đầy áp lực của trải nghiệm đó, Thiên Chúa có thể tuôn chảy vào cuộc sống của chúng ta mà không bị bóp méo.

Trở thành một nhà thần bí thực hành

Tôi có dạy một khóa học về nhà thần bí nổi tiếng Thánh Gioan Thánh Giá. Vì đây không phải là khóa học bắt buộc đối với bất kỳ học viên nào, tôi thường bắt đầu buổi học đầu tiên bằng cách hỏi mỗi học viên tại sao họ lại quan tâm đến khóa học này. Các câu trả lời rất đa dạng: “Tôi tham gia khóa học này vì cha linh hướng của tôi bảo tôi tham gia.” “Tôi luôn tò mò về thần bí học.” “Tôi học bất cứ môn nào được dạy vào tối thứ Ba!” Tuy nhiên, một tối nọ, một phụ nữ đã đưa ra câu trả lời này: Tôi tham gia khóa học này vì tôi là một nhà thần bí thực hành.

Điều đó khiến một số người ngạc nhiên. Thật sao? Một nhà thần bí thực hành sao?

Liệu ai đó có thể là một nhà thần bí thực hành không?

Điều đó phụ thuộc vào cách bạn hiểu về trải nghiệm thần bí. Nếu bạn đánh đồng trải nghiệm thần bí với những điều phi thường, với những hiện tượng siêu nhiên (những thị kiến, những trạng thái xuất thần, những trạng thái ý thức thay đổi hoàn toàn, hoặc sự xuất hiện kỳ diệu của Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria, một thiên thần hay một vị thánh) thì bạn không thể là một nhà thần bí thực hành. Mặc dù những hiện tượng phi thường như vậy thực chất có thể là trải nghiệm thần bí (và thực sự đánh dấu trải nghiệm của một số nhà thần bí cổ điển), nhưng trải nghiệm thần bí bình thường không được đặc trưng bởi bất kỳ hiện tượng tôn giáo ngoại thường nào. Thật vậy, nó thường nghi ngờ bất cứ điều gì phi thường và yêu cầu phải được phân định một cách kỹ lưỡng hơn.

Trải nghiệm thần bí bình thường, hầu hết các nhà thần bí, không dựa trên điều phi thường. Ngược lại, nó dựa trên chính nền tảng của sự bình thường. Điều này có nghĩa là gì?

Một nhà thần bí đương đại nổi tiếng, Ruth Burrows, nữ tu dòng Cát Minh người Anh, định nghĩa trải nghiệm thần bí như sau. Trải nghiệm thần bí là được Chúa chạm đến theo một cách vượt quá những gì chúng ta có thể diễn đạt, hình dung, hoặc thậm chí cảm nhận một cách có ý thức. Đó là điều chúng ta biết nhiều hơn là nghĩ.

Về bản chất, một Thiên Chúa không thể diễn tả được chạm đến chúng ta theo một cách không thể diễn tả được; một Thiên Chúa vượt ra ngoài khái niệm, chạm đến chúng ta theo một cách không thể diễn tả thành lời; một Thiên Chúa vượt ra ngoài ngôn ngữ chạm đến chúng ta theo một cách không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ thành lời; và một Thiên Chúa, nguồn gốc của mọi sự sống, chạm đến chính nguồn gốc của sự sống, để chúng ta biết, một cách trực giác, cả bản thân mình lẫn cách mình đứng trước Thiên Chúa.

Điều này nghe có vẻ khá trừu tượng, nhưng không phải thế như Ruth Burrows giải thích khi dùng câu chuyện của chính bà.

Trong cuốn tự truyện của mình, Trước Thiên Chúa Hằng Sống, Ruth Burrows (mất năm 2023) chia sẻ câu chuyện về việc, ngay khi bà hoàn thành chương trình giáo dục cơ bản và lên kế hoạch cho việc học đại học, một trải nghiệm thần bí đã tác động và thay đổi cuộc đời bà một cách triệt để.

Vào thời điểm đó trong cuộc đời, bà không thực sự nghiêm túc với đức tin của mình. Việc thực hành đức tin của bà mang tính học thuộc lòng hơn là sốt sắng, nhưng bà đã tham gia một khóa tĩnh tâm với một số phụ nữ trẻ khác cùng tuổi. Một trong những điều bà được yêu cầu làm trong khóa tĩnh tâm đó là ngồi trong nhà nguyện im lặng một giờ đồng hồ nhiều lần mỗi ngày. Những giờ im lặng đó khiến bà mệt mỏi và bà sợ hãi.

Tuy nhiên, một ngày nọ, trong một trong những giờ phút ấy, khi ngồi im lặng, bà đã có (sau này bà gọi là) một trải nghiệm thần bí. Không có những thị kiến siêu nhiên, không có sự xuất thần, không có sự xuất hiện của thiên thần, mà chỉ có một khoảnh khắc sáng suốt phi thường, đầy ân sủng; một khoảnh khắc mà lần đầu tiên bà hiểu rõ bản thân mình, vượt ra ngoài những gì bà có thể nghĩ, diễn đạt thành khái niệm, hay diễn đạt thành lời. Đó là khoảnh khắc mà bà được lột bỏ mọi sự giả tạo, lột bỏ mọi hệ tư tưởng, lột bỏ mọi hình ảnh tự thân giả tạo, lột bỏ mọi dáng vẻ đối với người khác, trần trụi về mặt cảm xúc và đạo đức, bà chỉ biết – biết mình là ai và mình đứng trước Chúa và mọi người như thế nào.

Khoảnh khắc thần bí của bà là một khoảnh khắc hoàn toàn chân thành, một khoảnh khắc không che phủ, như gốc Latin của từ này gợi ý (sine- without và cere-wax). Giống như tất cả những nhà thần bí, bà đã phải vật lộn để diễn tả thành lời một điều gì đó phần lớn không thể diễn tả được, nhưng lại in dấu ấn lên tâm hồn bà theo một cách đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời bà.

Với định nghĩa về thần bí học như vậy, tất cả chúng ta đều được mời gọi trở thành những nhà thần bí thực hành, nghĩa là, tất cả chúng ta đều được mời gọi trong sự tĩnh lặng của trái tim, hoặc có lẽ trong trải nghiệm được nâng lên về mặt tâm hồn hoặc bị nghiền nát về mặt tâm hồn, để đứng hoặc quỳ gối trước Chúa với sự chân thành tuyệt đối, không chút giả tạo, trần trụi về mặt đạo đức, lột bỏ mọi sự giả tạo, lột bỏ mọi điều giả dối, để ngay lúc đó, chúng ta có thể biết chân tướng mình là ai và mình đứng trước Chúa, trước tha nhân, và trước chính con người thật của mình như thế nào. Chúng ta cần cầu nguyện cho sự sáng suốt đó và thể hiện rõ ràng ý định đó trong lời cầu nguyện.

Vậy chúng ta làm điều đó bằng cách nào? Chúng ta làm điều đó bằng cách cố gắng hết sức trong lời cầu nguyện để tập trung vào sự chân thành và sự trần trụi của tâm hồn, bằng cách cầu xin Chúa nhìn thấu tất cả những gì giả dối trong chúng ta để chúng ta có thể biết Chúa biết đến mình như thế nào.

Trong lời cầu nguyện của mình, Dag Hammarskjold thường cầu xin Chúa, “xin cho con có được sự sáng suốt để phản chiếu cuộc sống và khuôn đúc nó trong trái tim thanh khiết, và có được sự tự vấn có ý thức để đưa con vào con đường phản chiếu sự vĩ đại của cuộc sống.” Cầu xin điều đó trong lời cầu nguyện chính là trở thành một nhà thần bí thực hành.

Khóc than cho Bản Giao Hưởng Dở Dang

Có những đoạn Kinh Thánh lẽ ra phải kèm theo một cảnh báo, giống như dòng chữ đôi khi xuất hiện ở cuối một bộ phim: Không có con vật nào bị tổn hại.

Một trong những đoạn ấy là câu chuyện trong Sách Thủ Lãnh (11,29-39). Đó là câu chuyện về Giép-thê, một vị thủ lãnh đang lâm chiến. Ông khấn hứa với Thiên Chúa rằng, nếu Thiên Chúa ban cho ông chiến thắng, ông sẽ dâng làm lễ toàn thiêu cho Chúa người đầu tiên ra đón ông khi ông trở về nhà. Thiên Chúa cho ông chiến thắng. Khi trở về, người đầu tiên ra đón ông lại chính là con gái ông, còn xuân thì. Nhìn thấy con, ông vô cùng đau xót và hối hận vì lời khấn. Nhưng người con lại đồng ý để chính mình trở thành lễ tế, chỉ xin một điều: được ra núi cùng các bạn gái để “khóc than cho phận trinh nữ của mình” trong hai tháng. Cha cô chấp thuận, và sau thời gian ấy, cô trở về, chịu hiến tế làm lễ toàn thiêu cho Thiên Chúa.

Nếu hiểu theo nghĩa đen, đây quả là một câu chuyện kinh khủng: một lời khấn ngu xuẩn, một Thiên Chúa chấp nhận của lễ như thế, việc sát tế con người, và bóng dáng của một chế độ phụ quyền tàn nhẫn.

Nhưng câu chuyện này không nhằm để được hiểu theo nghĩa đen. Không ai chết trong câu chuyện này. Đây là một biểu tượng, một ẩn dụ, và thông điệp thật sự không phải là Thiên Chúa đòi hy lễ bằng máu người. Thông điệp nằm nơi cô con gái, nơi lời cô xin được khóc than cho phận trinh nữ của mình, nghĩa là cuộc đời cô sẽ kết thúc trong một sự dang dở nào đó.

Vậy khóc than cho “trinh tiết” có nghĩa là gì? Khóc như thế nào?

Ẩn dụ này muốn nói rằng, mỗi người chúng ta – nam hay nữ, sống đời hôn nhân hay độc thân, sống lâu hay yểu – rốt cuộc đều sẽ chết trong tình trạng còn “trinh nguyên” ở một phương diện nào đó, nghĩa là chưa bao giờ được sống trọn vẹn một “bản giao hưởng” đời mình.

Ở mức nghĩa đen, điều này thấy rõ nơi người không bao giờ lập gia đình, không có bạn đời, và chết trong cảnh độc thân – giống như con gái Giép-thê, chết trong tình trạng trinh nữ. Khi hướng dẫn tĩnh tâm cho linh mục hay tu sĩ, tôi thường hỏi họ: “Anh chị đã bao giờ khóc than cho đời sống độc thân của mình chưa? Đã bao giờ đau xót vì sẽ không bao giờ có được sự thân mật tính dục, không có con cái, không bao giờ được làm ông bà?”

Nhưng còn nhiều dạng nghĩa khác. “Trinh tiết” mà con gái Giép-thê khóc than cũng chính là sự dang dở mà tất cả chúng ta đều phải đối diện, kể cả khi đã có tình yêu đôi lứa, có con, có cháu.

Tôi nhớ một buổi họp khoa, khi vài linh mục bàn về đời sống độc thân, một đồng nghiệp – một phụ nữ có gia đình hạnh phúc – đã thách thức chúng tôi: “Các anh chị độc thân thấy thương thân quá. Các anh có biết điều gì còn tệ hơn việc ngủ một mình không? Chính là ngủ một mình ngay cả khi không ở một mình.” Bà nói đúng. Ngay cả trong tình yêu và sự gần gũi, nỗi cô đơn vẫn không biến mất.

Thần học gia Karl Rahner cũng từng khuyên một người bạn than phiền rằng, dù có một hôn nhân tốt đẹp, ông vẫn thấy mình đơn độc: “Đừng đổ lỗi cho vợ anh hay cho hôn nhân. Hãy chấp nhận rằng ở đời này, chẳng bao giờ có một bản giao hưởng hoàn tất.” Tất cả chúng ta sẽ chết khi vẫn còn những ước mơ dang dở; chẳng ai được hưởng một vòng tay viên mãn, trọn vẹn, trước ngưỡng cửa vĩnh hằng.

Tuy vậy, ta vẫn có thể sống một cuộc đời hạnh phúc, phong phú. Nhưng có một điều kiện: ta phải dám khóc than cho sự dang dở của mình, như con gái Giép-thê. Nếu ta không chấp nhận và không chịu than khóc cho sự bất toàn ấy, nó sẽ lén lút đè nặng lên cuộc đời ta bằng thất vọng, giận dữ, và u buồn. Tệ hơn nữa, ta sẽ vô thức trở nên khắt khe với người khác – với bạn đời, gia đình, bạn bè, Giáo hội và cả chính cuộc đời – bởi vì họ không bao giờ có thể trao cho ta một bản giao hưởng trọn vẹn.

Vậy ta khóc than thế nào cho sự dang dở ấy?

Mỗi người có một cách riêng. Nhưng mọi sự than khóc đều bắt đầu bằng việc nhận ra điều đã mất, điều ta không có được. Ta bắt đầu bằng việc chấp nhận lời Rahner: “Ở đời này, chẳng có một bản giao hưởng hoàn tất.”

Ta có thể đem điều ấy vào cầu nguyện, chia sẻ trong linh hướng, trị liệu tâm lý, hay thực hành một nghi thức nào đó. Nhưng tất cả chúng ta đều cần, như con gái Giép-thê, có lúc “lên núi”, dành trọn một khoảng thời gian để thả cho những giọt lệ tuôn rơi – để rồi có thể ra đi trong bình an, khi chỉ mang theo một bản giao hưởng dở dang.

Điều Gì Cấu Thành Cuộc Hôn Nhân Tốt Đẹp?

Không một bài giảng nào có thể tác động đến tâm hồn mạnh mẽ bằng việc tận mắt thấy một người sống đời chân thật. Nếu điều đó đúng – và đúng thật – thì không một khóa học hôn nhân nào có sức dạy về hôn nhân sâu sắc bằng chứng tá của một cuộc hôn nhân tốt đẹp.

Tôi đã cảm nghiệm điều này cách cụ thể vài năm trước khi tham dự kỷ niệm 50 năm hôn phối của một người bác. Cuộc hôn nhân của họ thật tốt đẹp: hòa thuận, hiếu khách, gắn bó gia đình và kiên trung trong đức tin.

Tuy nhiên, và chỉ có họ mới biết cái giá phải trả, điều này không phải lúc nào cũng dễ dàng. Những năm đầu chung sống, họ không có nhiều tiền, cũng chẳng có điều kiện dư dả, mà vẫn phải nuôi một gia đình đông con. Công việc đầu tiên của ông chỉ là nhân viên bán hàng lương ba cọc ba đồng. Bà thì chẳng tìm được việc, bởi ở thị trấn nhỏ nơi họ ở, phụ nữ khi ấy không được mấy coi trọng trong thị trường lao động.

Ngoài ra, như mọi gia đình khác, họ còn biết bao thử thách: những giờ làm việc miệt mài, không chỉ lo cho gia đình mình mà còn dấn thân trong sinh hoạt của giáo xứ và cộng đồng.

Hơn hai trăm thân nhân và bạn hữu đã quy tụ để chúc mừng và tri ân họ. Cuối bữa tiệc, bác tôi đứng lên cám ơn mọi người và kết thúc bằng câu nói:

“Khi chúng tôi kết hôn cách đây 50 năm, chúng tôi chẳng có gì nhiều, nhưng chúng tôi có một niềm tín thác tự nhiên rằng: nếu sống theo Mười Điều Răn và lề luật Hội Thánh, thì mọi sự rồi sẽ ổn – và tôi nghĩ quả đúng là như thế.”

Quả thật, đó là một cách nói khiêm nhường, vì mọi sự không chỉ “ổn” mà còn tốt đẹp hơn nhiều.

Bốn Hình Ảnh Diễn Tả Một Cuộc Hôn Nhân Tốt:

Một cuộc hôn nhân tốt có thể được mô tả qua bốn hình ảnh, và hôn nhân của các bác tôi là một minh chứng điển hình:

  1. Một lò sưởi ấm áp
    Tình yêu của đôi bạn đời tạo nên một bầu khí ấm áp, không chỉ sưởi ấm họ mà còn sưởi ấm mọi người đến gần: con cái, láng giềng, cộng đoàn, và bất cứ ai gặp họ.
  2. Một bàn tiệc đầy ắp
    Khi hai người thật lòng yêu nhau, tình yêu ấy trở thành lòng hiếu khách, một bàn tiệc nuôi dưỡng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tình yêu ấy không chỉ nuôi sống hai người mà còn có dư để chia sẻ với mọi người chung quanh. Đây chính là tính bí tích của hôn nhân.
  3. Một chiếc bình chứa đựng đau khổ
    Có câu ngạn ngữ: “Mọi sự đều có thể chịu đựng được, miễn là có thể chia sẻ.” Thật vậy, ai có một bạn đường đích thực trong đời sẽ có thể gánh vác nhiều đau khổ. Trong một hôn nhân tốt, vợ chồng không chỉ cùng nhau mang vác khổ đau của mình, mà còn nâng đỡ được nỗi khổ đau của nhiều người khác.
  4. Thân thể của Đức Kitô – lương thực cho thế gian
    Đức Kitô để lại Mình Ngài để nuôi sống nhân loại. Một hôn nhân tốt cũng vậy: trở nên lương thực nuôi dưỡng mọi người xung quanh. Đây chính là điều làm cho hôn nhân trở thành bí tích.

Nhiều người trong chúng ta đã từng cảm nhận điều này nơi một số đôi vợ chồng mà mình gặp gỡ. Sự hiện diện của họ trong đời sống chúng ta luôn là một nguồn nuôi dưỡng về luân lý, tâm lý và đức tin

Cuộc hôn nhân của các bác tôi là minh chứng sống động. Nhà của họ luôn như một lò sưởi, nơi nhiều người – cả tôi nữa – tìm thấy sự ấm áp. Họ luôn có bàn ăn rộng, tủ lạnh đầy, cửa nhà rộng mở chào đón và hiếu khách với bất cứ ai bước vào.

Họ cũng là chiếc bình chứa đựng khổ đau: qua năm tháng, nhờ tình yêu, họ có thể chịu đựng và nâng đỡ nhau trong đức tin, phẩm giá, sự nhân hậu, và lòng bác ái ngày càng sâu đậm. Họ còn giúp bao người khác gánh bớt nỗi khổ đau.

Cuối cùng, cuộc hôn nhân ấy là thân thể của Đức Kitô hiện diện trong xác phàm – lương thực cho sự sống của thế giới. Hầu như bất cứ ai từng gặp họ đều được nuôi dưỡng, được bồi đắp, được nhận thêm “vitamin cho tâm hồn.”

Trong một thời đại mà người ta không còn hiểu bí tích là gì, chúng ta có thể nhìn vào một cuộc hôn nhân như thế để hiểu thế nào là bí tích.

Đôi khi, những gì ta tìm kiếm không nằm trong sách vở, mà lại ở ngay ngôi nhà đối diện; ân sủng Chúa không phải lúc nào cũng ở nhà thờ, mà ở cánh cửa mở ra chào đón ta; sự an ủi ta khát khao có thể đến từ một người bạn biết thấu hiểu nỗi đau; và bí tích nuôi dưỡng linh hồn ta đôi khi được tìm thấy nơi một phòng khách ấm áp, một bàn ăn đầy ắp, tiếng chuyện trò dí dỏm, và trong một đôi vợ chồng sống hạnh phúc bên nhau.

Vết Thương Phi Tự Nhiên

Ít có nỗi đau nào trong đời sâu thẳm và khó khăn hơn cái chết của một người trẻ, nhất là khi đó lại chính là người con của mình.. Có biết bao người cha, người mẹ mang trái tim tan vỡ vì mất đi một người con trai, con gái, hoặc cháu ruột. Dù thời gian có trôi qua và ngay cả khi đức tin đem lại sự an ủi, vết thương ấy vẫn thường tồn tại như một nỗi đau không bao giờ lành.

Nguyên nhân của sự dai dẳng này không hẳn nằm ở chỗ thiếu đức tin, mà ở một điều gì đó còn thiếu ngay trong bản chất tự nhiên. Tự nhiên chuẩn bị cho chúng ta đối diện với hầu hết những tình huống trong đời, nhưng lại không chuẩn bị để chúng ta chôn cất chính con mình.

Cái chết vốn luôn là điều khó khăn. Sự chung cuộc và không thể đảo ngược của nó khiến con tim như bị nung cháy và khép lại. Điều này đúng ngay cả khi người qua đời đã cao tuổi và đã sống trọn một đời. Suy cho cùng, không gì có thể hoàn toàn chuẩn bị cho ta chấp nhận cái chết của những người mình yêu thương.

Tuy vậy, tự nhiên dường như đã chuẩn bị chúng ta tốt hơn để đối diện với cái chết của những bậc cao niên. Chúng ta sinh ra là để chôn cất cha mẹ mình — đó là trật tự tự nhiên, là lẽ thường của cuộc sống. Cha mẹ thường qua đời trước con cái, và thường thì mọi sự diễn ra như vậy. Điều đó mang đến nỗi đau riêng của nó. Mất đi cha mẹ, người bạn đời, anh chị em hay bạn bè chưa bao giờ là dễ dàng. Cái chết luôn để lại vết hằn. Nhưng tự nhiên đã trao cho chúng ta khả năng để chịu đựng những mất mát này.

Nói theo nghĩa bóng, khi những người bậc trên qua đời, trong “mạch dây” tiềm ẩn của ta có những “mạch nối” mà ta có thể kích hoạt, từ đó tìm thấy một phần hiểu biết và chấp nhận. Cái chết của một người trưởng thành khác, theo thời gian, sẽ được rửa sạch nỗi đau, và đời sống trở lại bình thường, bởi đó là lẽ tự nhiên. Một trong những nhiệm vụ của đời người chính là chôn cất cha mẹ mình.

Nhưng việc cha mẹ phải chôn cất con cái lại là điều phi tự nhiên. Đó không phải là điều tự nhiên sắp đặt, và tự nhiên cũng không trao cho chúng ta “mạch nối” nội tâm để đối diện. Khi một người con qua đời — dù vì bệnh tật, tai nạn hay tự tử — chúng ta không có sẵn cơ chế bên trong để xử lý điều này.

Khác với cái chết của bậc cao niên, vấn đề không chỉ là để tang, kiên nhẫn và chờ thời gian chữa lành. Khi một người con mất đi, ta có thể than khóc, chờ đợi, kiên nhẫn… nhưng rồi vẫn nhận ra vết thương không lành, thời gian không chữa được, và ta không thể hoàn toàn chấp nhận sự thật ấy.

Hơn một thế kỷ trước, Alfred Edward Housman đã viết bài thơ nổi tiếng Gửi Một Vận Động Viên Chết Trẻ. Ở một đoạn, ông nói với chàng trai đã khuất:
“Khôn ngoan thay, chàng rời đi sớm,
Khỏi những sân chơi nơi vinh quang chẳng ở lâu.”

Đôi khi, cái chết ở tuổi thanh xuân đóng khung mãi mãi nét đẹp của tuổi trẻ, vốn theo thời gian sẽ phai tàn. Chết trẻ là chết khi đang trổ bông, trong vẻ đẹp rực rỡ của thanh xuân.

Tuy nhiên, đó là cái nhìn từ phía người ra đi, chứ không phải từ phía những người ở lại. Tôi không chắc những người còn sống sẽ nói: “Khôn ngoan thay, chàng rời đi sớm.” Nỗi đau của họ không dễ gì phai nhạt, vì tự nhiên không trang bị cho họ khả năng xử lý mất mát này. Họ dễ cảm nhận bóng tối tâm hồn như W.H. Auden từng diễn tả trước cái chết của người mình yêu:
“Giờ chẳng cần sao trời nữa: hãy dập tắt tất cả;
Thu dọn cả mặt trăng và tháo rời mặt trời;
Đổ hết đại dương và quét sạch khu rừng;
Vì giờ đây chẳng còn gì có thể đem lại điều tốt lành.” (Mười Hai Ca Khúc)

Khi mất một người con, chúng ta dễ đồng cảm với lời của Auden. Và dù hiểu rõ việc chôn cất con mình là điều trái tự nhiên đến mức nào, điều đó cũng không khiến con trở lại, cũng không thể phục hồi trật tự bình thường, bởi bản chất của nó đã là bất thường.

Dẫu vậy, sự hiểu biết này giúp ta nhận ra tại sao nỗi đau lại sâu sắc và dai dẳng đến thế, tại sao cảm giác đau buồn mãnh liệt là điều tự nhiên, và tại sao không một sự an ủi hay lời khích lệ đơn giản nào có thể giúp được. Cuối cùng, cái chết của một người con không có câu trả lời trọn vẹn.

Điều cũng cần ghi nhớ là, đức tin vào Thiên Chúa — dù mạnh mẽ và quan trọng đến đâu — cũng không xóa bỏ được vết thương này. Đức tin không được ban để làm điều đó. Khi mất một người con, điều gì đó trong ta bị cắt bỏ một cách phi tự nhiên, như việc mất đi một chi thể. Đức tin có thể giúp ta sống với nỗi đau và sự khiếm khuyết ấy, nhưng không thể mang lại phần đã mất hay làm cho ta toàn vẹn trở lại. Thực tế, đức tin chỉ có thể dạy ta cách sống với “sự cụt mất” đó, cách mở ra vết thương không thể lành ấy cho một điều gì đó — và cho Một Đấng — lớn hơn chính mình, để từ đó, chính trái tim Thiên Chúa ban cho ta can đảm mà sống lành mạnh trở lại với một vết thương phi tự nhiên.

Đánh Mất Sự Trong Trắng Tâm Hồn

Sự trong trắng là gì?

Có lẽ ở dạng lý tưởng nhất, sự trong trắng có thể được mô tả như một trái tim con người được lột bỏ cái tôi và dục vọng — điều gì đó gần với cách James Joyce diễn tả trong Chân dung nghệ sĩ lúc còn trẻ, khi nhân vật chính, chàng Steven trẻ tuổi, nhìn thấy một cô gái bán khỏa thân trên bãi biển và thay vì bị thôi thúc bởi ham muốn xác thịt, anh lại chỉ tràn ngập một niềm kinh ngạc và ngưỡng mộ sâu xa.

Thực tế hơn, cố học giả Allan Bloom, trong tác phẩm Sự khép lại của tâm trí Mỹ, cho rằng, suy cho cùng, sự trong trắng chính là đức khiết tịnh — và khiết tịnh không chỉ là một khái niệm về tình dục. Theo Bloom, cần phải có một “sự khiết tịnh” trong mọi trải nghiệm của chúng ta; nghĩa là, chúng ta chỉ nên trải nghiệm điều gì khi và chỉ khi ta có thể trải nghiệm nó theo cách vẫn giữ được sự toàn vẹn bên trong. Nói đơn giản, ta đánh mất sự trong trắng khi trải nghiệm bất cứ điều gì khiến mình “rời rạc”, tức là làm tan vỡ sự nguyên vẹn của bản thân. Và chúng ta có thể “rời rạc” theo nhiều cách: về đạo đức, tâm lý, cảm xúc, tâm linh hoặc thể lý.

Bloom nhận định rằng ngày nay, hầu hết chúng ta đều thiếu đức khiết tịnh và ít nhiều đã bị “rời rạc” bên trong. Ông cho rằng điều này không trước hết thể hiện ở những con số gia tăng chóng mặt của sự suy sụp tinh thần hay nạn nghiện ma túy, rượu chè, mà phổ biến hơn, ở một sự “chai lì” trong tâm hồn: khiến chúng ta (theo lời ông) “què quặt về mặt eros” — đôi mắt mất đi ánh lửa, và con tim, giấc mơ không còn nhiều chất siêu thoát.

Hơn nữa, sự trong trắng của người trưởng thành cần được phân biệt với sự trong trắng tự nhiên của trẻ thơ. Với người lớn, trong trắng không còn là ngây thơ. Đó phải là điều có thể gọi là “ngây thơ lần hai” hay “hậu tinh tế” (post-sophistication). Có một khác biệt rất lớn giữa tính trẻ con (childishness) — sự ngây thơ bộc phát của trẻ, một phần dựa trên thiếu kinh nghiệm và ngây ngô — và tâm hồn trẻ thơ (childlikeness) — sự hồn nhiên trở lại của một người trưởng thành đã từng trải, thông hiểu, nhưng vẫn lấy lại được ánh nhìn đầy ngạc nhiên của trẻ thơ.

Chúa Giêsu định nghĩa sự trong trắng như thế nào? Người chỉ vào hai điều: trái tim của trẻ thơ và trái tim của trinh nữ. “Nếu anh em không trở nên như trẻ nhỏ, anh em sẽ chẳng được vào Nước Trời”, và Nước Trời “giống như mười trinh nữ đi đón chàng rể”.

Với Chúa Giêsu, trái tim của trẻ thơ là trái tim tươi mới, rộng mở, đầy ngạc nhiên, chưa bị chai cứng hay cằn cỗi vì vết thương hoặc tội lỗi. Còn trái tim của trinh nữ là trái tim biết kiên nhẫn trước sự chưa trọn vẹn, không đòi bản nhạc phải khép lại, biết rằng, cũng như trẻ thơ, nhiều điều khao khát sâu xa chưa thể đạt được ngay.

Trái tim trẻ thơ vẫn tin vào điều thiện; trái tim trinh nữ thì không thử thách Thiên Chúa của mình.

Trong tiểu thuyết The Stone Angel, Margaret Laurence miêu tả nhân vật Hagar Shipley — một ngày nọ, sau khi nghe một đứa trẻ gọi mình là “mụ già xấu xí”, bà soi gương và kinh hoàng trước gương mặt mình. Bà gần như không nhận ra chính mình: không chỉ già đi, mà còn lạnh lẽo, vô hồn, mất đi sự háo hức và trong trắng. Bà tự hỏi làm sao điều này xảy ra, vì bà vẫn nghĩ mình là người dễ mến, lành mạnh. Nhưng tấm gương phơi bày sự thật cay đắng: bà đã đánh mất đứa trẻ bên trong mình, mất đi sự trong trắng.

Điều này có thể xảy ra với tất cả chúng ta — và thực tế, đã xảy ra vào những giai đoạn khác nhau trong đời mỗi người. Chúng ta không bao giờ được để mất khát vọng tìm lại sự trong trắng, vì đó sẽ là một trong những căn bệnh chết người nhất.

Annie Dillard từng viết: “Sự trong trắng không phải là đặc quyền của trẻ sơ sinh hay chó con, lại càng không phải của núi non hay những vì sao cố định, vốn chẳng có đặc quyền gì cả. Nó không mất hẳn khỏi chúng ta; thế giới tốt đẹp hơn thế nhiều. Giống như mọi tặng phẩm tốt lành khác của tinh thần, nó vẫn ở đó nếu bạn muốn, hoàn toàn miễn phí, như đã từng được khẳng định bởi những lời mạnh mẽ hơn lời tôi. Người ta có thể theo đuổi sự trong trắng như chó săn đuổi thỏ, một lòng một dạ, bị cuốn hút bởi một thứ tình yêu, vượt qua suối, lạc bước trên đồng và trong rừng, vòng vo, vượt qua rào và đồi, mắt mở to, tiếng gọi vang dội, không hay biết rằng mình đang cất lên khát vọng sâu thẳm và khó hiểu nhất — một ngọn lửa nơi gốc rễ trái tim — và bản hợp xướng ấy vọng lại từ núi cao.”

Những lời này nhắc nhở tha thiết rằng một trong những nền tảng sâu xa nhất của một đời sống lành mạnh (và hạnh phúc) chính là sự trong trắng — nếu không đạt được nó thì ít nhất cũng phải khao khát nó. Cũng như một đứa trẻ khỏe mạnh mong mỏi trải nghiệm của người lớn, một người trưởng thành khỏe mạnh khao khát trái tim của trẻ thơ. Đánh mất khát vọng về sự trong trắng là đánh mất sự gắn kết với linh hồn mình. Thực vậy, đánh mất hoàn toàn khát vọng này chính là đánh mất linh hồn — và đó là một trong những đặc tính của tình trạng ở trong hỏa ngục.

Tiếng Gõ Nhẹ của Thiên Chúa Trong Tâm Hồn Chúng Ta

Sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn mỗi người và giữa thế giới này hiếm khi xuất hiện một cách kịch tính, choáng ngợp, hay gây chấn động đến mức không thể phớt lờ. Thiên Chúa không hành động theo cách đó. Thay vào đó, Ngài hiện diện một cách âm thầm, khiêm hạ, tưởng chừng bất lực nơi sâu thẳm lòng người. Một sự hiện diện không ồn ào, không gây náo động.

Ta có thể nhận ra điều ấy ngay từ cách Con Thiên Chúa giáng sinh vào trần gian. Như chúng ta đã biết, Chúa Giêsu sinh ra không kèn trống, không quyền thế – chỉ là một hài nhi bé nhỏ, nằm bất lực trên rơm cỏ, như muôn vàn trẻ thơ khác. Không có điều gì lạ lùng hay ngoạn mục theo con mắt nhân loại. Trong suốt sứ vụ công khai, Chúa Giêsu cũng không dùng phép lạ để chứng minh thần tính, mà chỉ như những hành động đầy lòng thương xót và để mạc khải tình yêu Thiên Chúa. Ngài không tìm cách chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa, mà là để dạy chúng ta biết Thiên Chúa là ai, và yêu thương chúng ta thế nào – một tình yêu vô điều kiện.

Về cốt lõi, giáo huấn của Đức Giêsu về sự hiện diện của Thiên Chúa cho thấy: đó là một sự hiện diện âm thầm, ẩn giấu bên dưới bề mặt cuộc sống – như hạt giống âm thầm lớn lên khi người ta ngủ say, như men đang làm dậy bột trong âm thầm, như mùa xuân dần dần làm xanh một thân cây khô cằn, như hạt cải nhỏ bé bất ngờ vươn mình lớn mạnh, như người biết tha thứ cho kẻ thù của mình. Thiên Chúa hành động trong âm thầm và nhẹ nhàng – một cách dễ dàng bị bỏ qua nếu ta không tỉnh thức. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mạc khải không phải là một Đấng thích gây ấn tượng hay ồn ào.

Và điều này dạy chúng ta một bài học rất quan trọng: Thiên Chúa hiện diện trong lòng ta – rất sâu, nhưng lại rất nhẹ, đôi khi khó cảm nhận, và dễ dàng bị lãng quên. Tuy nhiên, dù không bao giờ áp đảo, sự hiện diện ấy vẫn mang một sức hút âm thầm nhưng mãnh liệt – như một tiếng gọi không ngừng nghỉ, mời ta hướng về Ngài. Và nếu ta đáp lại, sự sống thiêng liêng sẽ tuôn trào – hướng dẫn, nuôi dưỡng và ban tràn đầy sức sống và năng lượng.

Điều này rất quan trọng để hiểu cách Chúa hiện diện trong chúng ta. Sự hiện diện như một lời mời gọi luôn tôn trọng sự tự do của chúng ta. Thiên Chúa không áp đặt. Ngài không rút lui, nhưng cũng không xâm lấn. Ngài hiện diện nơi tâm hồn, như một hài nhi nằm bất lực trong máng cỏ – dịu dàng mời gọi ta bồng ẵm, nhưng hoàn toàn không cưỡng ép.

Tác giả C.S. Lewis từng kể về cuộc trở lại Kitô giáo của ông – rằng ông là “người trở lại không mong muốn nhất trong lịch sử Kitô giáo”. Lewis vốn không mặn mà về mặt tình cảm và trí tuệ với đức tin, nhưng ông không thể tiếp tục phớt lờ một tiếng nói nhỏ nhẹ nhưng dai dẳng bên trong mình. Vì nó tôn trọng tự do, nên ông có thể bỏ qua nó trong một thời gian dài. Nhưng điều đó không đồng nghĩa là tiếng gọi ấy biến mất.

Về sau, ông nhận ra tiếng nói ấy luôn ở đó – như một cú thúc nhẹ không ngừng, một lệnh truyền đầy yêu thương, một “sự thôi thúc” mà nếu nghe theo, sẽ dẫn đến sự giải thoát đích thực.

Ruth Burrows – một nữ tu dòng Cát Minh và cũng là một nhà huyền nhiệm người Anh – đã mô tả một trải nghiệm tương tự. Trong cuốn hồi ký “Trước Nhan Thiên Chúa Hằng Sống”, bà kể về những năm tháng tuổi trẻ ít quan tâm đến tôn giáo. Vậy mà cuối cùng bà không chỉ nghiêm túc với tôn giáo mà còn trở thành một nữ tu dòng Cát Minh và một nhà văn tâm linh tài năng. Chuyện gì đã xảy ra?

Bị kích động bởi một loạt tình huống ngẫu nhiên, một ngày nọ, bà thấy mình đang ở trong một nhà nguyện, nơi mà, gần như trái với ý muốn của mình, bà đã để mình mở lòng đón nhận một tiếng nói bên trong mà cho đến lúc đó bà chủ yếu phớt lờ, chính xác là vì nó chưa bao giờ xâm phạm đến tự do của bà. Nhưng một khi được chạm đến, nó trào dâng như điều sâu sắc và chân thực nhất bên trong cô và định hướng cuộc đời bà mãi mãi.

Giống như C.S. Lewis, một khi để cho tiếng gọi ấy vang lên trong lòng, bà cảm nghiệm nó như một mệnh lệnh nội tâm không thể lay chuyển – dẫn bà đến với sự tự do đích thực.

Tôi cũng đã từng trải nghiệm điều đó. Năm mười bảy tuổi, khi tốt nghiệp trung học, tôi chẳng có chút ước muốn tự nhiên nào để trở thành linh mục Công giáo. Thế nhưng, giữa sự kháng cự mạnh mẽ về mặt cảm xúc, tôi vẫn cảm thấy một tiếng gọi bước vào đời sống tu trì. Dù trong lòng còn chống đối, tôi đã vâng theo tiếng gọi ấy – một sự thôi thúc sâu thẳm. Giờ đây, sau sáu mươi năm, tôi nhìn lại quyết định ấy như là một trong những quyết định sáng suốt, vô vị kỷ, đầy đức tin và đem lại sự sống phong phú nhất mà tôi từng chọn. Tôi hoàn toàn có thể đã phớt lờ tiếng gọi ấy – và tôi mãi mãi biết ơn vì đã không làm vậy.

Fredrick Buechner từng viết rằng: Thiên Chúa hiện diện trong ta như một dòng ân sủng tiềm ẩn. Ân sủng ấy không phải như dàn kèn đồng chói lòa vang lên báo hiệu; nhưng nó đến, chạm vào và đánh động – nhẹ nhàng đến mức ta có thể chẳng nhận ra, hoặc lựa chọn quay lưng lại với nó.

Thiên Chúa không bao giờ tìm cách áp đảo chúng ta. Hơn ai hết, Thiên Chúa tôn trọng tự do của chúng ta. Ngài hiện diện khắp nơi – trong ta và quanh ta – âm thầm, nhẹ nhàng, dễ bị quên lãng: như một tiếng gõ nhỏ, một cú chạm nhẹ. Nhưng nếu ta mở lòng ra, đó sẽ là dòng chảy không ngừng của tình yêu và sự sống.

Tự Tử và Việc Xuống Địa Ngục của Đức Giêsu

Trong một cuốn sách có tựa đề Peculiar Treasures (Những Kho Tàng Kì Dị), nhà tiểu thuyết gia và tác giả linh đạo nổi tiếng Frederick Buechner suy niệm về nhân vật Giuđa – người đã phản bội Đức Giêsu bằng một cái hôn và sau đó đã tự tử.

Buechner, người có cha tự tử, đã suy đoán về lý do khiến Giuđa tìm đến cái chết. Dựa vào một truyền thống cổ xưa của Giáo Hội, ông đưa ra giả thuyết rằng có thể Giuđa chọn cái chết không phải vì tuyệt vọng, mà là vì hy vọng: ông cảm thấy mình đã bị kết án, nhưng vẫn hy vọng vào lòng thương xót của Đức Giêsu sau khi chết, nghĩ rằng “địa ngục có thể là cơ hội cuối cùng để ông đến được thiên đàng.”

Rồi, tưởng tượng việc Đức Giêsu xuống địa ngục, Buechner viết: “Đó là một cảnh tượng đáng suy ngẫm. Một lần nữa, họ gặp nhau trong bóng tối – hai người bạn cũ, cả hai đều mang vết thương sau tất cả những gì đã xảy ra. Nhưng lần này, chính Đức Giêsu là người trao nụ hôn – và lần này nó không còn là nụ hôn của sự chết”. (Trích theo Jeffrery Munroe, Reading Buechner, InterVarsity Press)

Là Kitô hữu, trong chính Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng rằng sau khi chết, Đức Giêsu “đã xuống ngục tổ tông.” Vậy điều đó có nghĩa là gì?

Trong truyền thống giáo lý, hình ảnh đạo đức và nghệ thuật Kitô giáo, điều này thường được hiểu như sau: Sau tội lỗi của Ađam và Evà – tức tội tổ tông – cánh cửa thiên đàng đã bị đóng lại, nên từ Ađam đến thời Đức Giêsu, không ai được vào thiên đàng. Nhưng trong cái chết của mình, Đức Giêsu đã đền tội thay cho nhân loại, và trong khoảng thời gian từ Thứ Sáu Tuần Thánh đến Chúa Nhật Phục Sinh, Ngài đã xuống âm phủ (Sheol) – nơi mà tất cả những người công chính từ ngàn xưa đang chờ đợi – và Ngài dẫn họ vào thiên đàng. Đây chính là điều được gọi là “việc xuống địa ngục.”

Tuy nhiên, dù cách hiểu phổ thông ấy có giá trị đến đâu, thì điều quan trọng hơn là chân lý thần học sâu xa làm nên tảng cho giáo lý này. Cốt lõi là: Tình yêu và lòng thương xót mà Đức Giêsu bày tỏ qua cái chết của Ngài có khả năng đi vào cả “địa ngục” – nghĩa là: không có địa ngục nào – dù là thể lý, tâm lý hay thiêng liêng – mà tình yêu của Đức Kitô không thể xuyên thấu để mang đến sự chữa lành cho chính vết thương đã tạo ra địa ngục ấy.

Tình yêu, lòng tha thứ, và sự chữa lành của Thiên Chúa có thể xuyên thấu bất cứ địa ngục nào con người tự tạo ra, và chữa lành tận căn những tổn thương sâu thẳm nhất. Đây có lẽ là một trong những giáo lý an ủi nhất không chỉ trong Kitô giáo mà còn trong mọi tôn giáo. Khi chúng ta bất lực trong việc giúp người khác – hay chính bản thân mình – thì Thiên Chúa vẫn có thể can thiệp.

Chính vì vậy mà người Kitô hữu không tin vào thuyết luân hồi.Luân hồi không cần thiết. Chúng ta không cần phải “tự hoàn thiện mình” một cách tuyệt đối để được vào thiên đàng. Khi ta không thể, thì Thiên Chúa có thể làm điều đó thay ta.

Điều này đem lại niềm an ủi sâu sắc, vì không phải ai cũng chết trong sự bình an. Nhiều người ra đi trong giận dữ, cay đắng, chưa hòa giải với người khác, mang theo những chuyện còn dang dở trong tâm hồn. Và một số người chết vì tự tử, bị cầm giữ trong địa ngục riêng tư – nơi mà vì bệnh tật hay vết thương sâu xa chứ không phải lỗi đạo đức, họ tin rằng cái chết là con đường duy nhất để được sống.

Giáo lý về việc Đức Giêsu xuống ngục đặc biệt có giá trị trong việc giúp chúng ta hiểu Thiên Chúa đón gặp những người chết vì tự tử như thế nào. Từ lâu nay, chúng ta thường lo lắng và sợ hãi cách sai lạc về điều này, cho rằng tự tử là một tội nặng, một hành vi tuyệt vọng, không thể tha thứ, ít nhất là theo quan điểm đời này. Nhưng trên thực tế, trong đa số trường hợp, đó là một căn bệnh, không phải một lựa chọn tự do. Giống như ung thư, nhồi máu cơ tim hay tai nạn, nó đẩy một người ra khỏi cuộc sống, trái với ý chí sâu xa của họ. Vì lý do đó, người ta khuyến khích không còn dùng cụm từ “tự tử” theo nghĩa “phạm tội” (committed suicide) nữa. Không ai “phạm” ung thư hay “phạm” nhồi máu cơ tim – họ gục ngã trước nó. Tự tử, trong phần lớn trường hợp, cũng nên được hiểu theo cách ấy.

Với tâm thế đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn hình ảnh mà Frederick Buechner đưa ra về Giuđa và việc ông tự tử, cũng như cuộc gặp gỡ giữa ông với Đức Giêsu trong âm phủ.

Về bản chất, đây chính là hình ảnh của Buechner: Sau khi phản bội Đức Giêsu, Giuđa rơi vào một địa ngục riêng, nơi ông tin rằng điều mình đã làm là không thể tha thứ, và ông sẽ bị kết án đời đời trong bóng tối. Sự sai lầm, căn bệnh và lý luận lệch lạc ấy khiến ông nghĩ rằng địa ngục có thể là cơ hội cuối cùng để ông đến được thiên đàng. Và vì vậy, ông chọn cái chết. Sau khi chết, Đức Giêsu đến gặp ông trong bóng tối của địa ngục sai lạc ấy –không để kết án hay loại trừ, nhưng để trao cho ông một nụ hôn – nụ hôn của tình yêu vô điều kiện, của sự thấu hiểu và tha thứ.

Tôi tin rằng hình ảnh này, có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn điều gì diễn ra trong tâm trí người tự tử, đồng thời giúp ta hiểu Thiên Chúa – qua Đức Giêsu – đang hạ mình xuống địa ngục cá nhân ấy để trao ban tình yêu, lòng thương xót và lời mời gọi tha thứ, trong khi người ấy đang tin rằng cái chết của họ là một “món quà” cho người thân, và rằng “địa ngục có thể là cơ hội cuối cùng để họ đến được thiên đàng.”

Luyện Ngục như một sự Thanh Tẩy Bằng Tình Yêu

Hãy tưởng tượng bạn được sinh ra trong tình trạng mù bẩm sinh và sống đến tuổi trưởng thành mà chưa từng thấy ánh sáng hay màu sắc. Rồi, qua một cuộc phẫu thuật kỳ diệu nào đó, các bác sĩ giúp bạn có được thị lực. Điều gì sẽ xảy ra khi bạn mở mắt lần đầu? Kinh ngạc? Hoang mang? Ngây ngất? Đau đớn? Hay tất cả những cảm xúc đó cùng lúc?

Ngày nay, chúng ta đã biết câu trả lời. Những ca phẫu thuật phục hồi thị lực như vậy đã và đang được thực hiện, và chúng ta có một số hiểu biết về cách con người phản ứng khi lần đầu thấy được ánh sáng và màu sắc. Kết quả có thể làm chúng ta ngạc nhiên. Đây là cách J.Z. Young, một chuyên gia về chức năng não bộ, mô tả điều đó:

“Bệnh nhân khi mở mắt ra thường không cảm thấy vui sướng gì, thậm chí còn thấy đau đớn. Họ chỉ nhìn thấy một khối ánh sáng và màu sắc quay cuồng. Họ không thể nhận diện được đồ vật bằng thị giác, không biết chúng là gì hay gọi tên chúng ra sao. Họ không có khái niệm về không gian với các vật thể trong đó, dù họ đã biết về các vật ấy và tên của chúng qua xúc giác. Bạn có thể nói: ‘Tất nhiên rồi, họ cần một chút thời gian để học cách nhìn sự vật bằng mắt.’ Nhưng không phải ‘một chút thời gian’, mà là một thời gian rất dài, thậm chí là nhiều năm. Não bộ của họ chưa từng được huấn luyện theo các quy luật của thị giác. Chúng ta thường không ý thức rằng có những quy luật như vậy; ta nghĩ mình nhìn thấy mọi thứ một cách tự nhiên. Nhưng thực ra, chúng ta đã học cả một hệ thống quy luật trong thời thơ ấu.” (Xem: Emilie Griffin, Souls in Full Flight, tr. 143-144)

Liệu đây có thể là một hình ảnh minh họa hữu ích cho điều xảy ra nơi luyện ngục mà người Công giáo tin vào? Liệu sự thanh tẩy sau khi chết có thể được hiểu một cách tương tự: như một sự mở mắt và mở lòng ra trước một ánh sáng và một tình yêu quá dồi dào, đến mức buộc ta phải trải qua một quá trình học lại đầy đau đớn nhưng xuất thần, giống như người mù bẩm sinh lần đầu được nhìn thấy? Liệu luyện ngục có thể được hiểu không phải như sự vắng mặt của Thiên Chúa hay hình phạt đền tội, mà chính là điều xảy ra khi ta cuối cùng được ôm trọn trong vòng tay của Thiên Chúa – Đấng là tình yêu và chân lý tuyệt đối?

Thật vậy, chẳng phải đức tin, đức cậy và đức mến – ba nhân đức đối thần – chính là đang hướng ta đến trạng thái đó ngay trong đời này sao? Chẳng phải đức tin là một sự hiểu biết vượt trên mọi khái niệm sao? Chẳng phải đức cậy là một sự neo đậu vào điều gì đó nằm ngoài tầm kiểm soát và bảo đảm của chính mình sao? Chẳng phải đức mến là một sự vươn ra vượt khỏi những xúc cảm tự nhiên sao?

Thánh Phaolô, khi mô tả tình trạng con người nơi trần thế, đã nói rằng trong cuộc đời này, chúng ta chỉ thấy “như trong gương, một cách lờ mờ”; nhưng khi ấy (sau khi chết), chúng ta sẽ thấy “mặt đối mặt.” Ngài rõ ràng đang ám chỉ một dạng mù lòa tinh thần, một bóng tối bẩm sinh, một sự bất lực trong việc nhìn mọi sự đúng như chúng vốn là. Đáng chú ý nữa là ngài nói điều đó trong bối cảnh cho thấy ngay trong cuộc sống này, đức tin – đức cậy – đức mến đã phần nào xua tan sự mù quáng đó.

Tất nhiên, đây là những câu hỏi – có thể gây bối rối cho cả tín hữu Tin Lành và Công giáo.
Nhiều người Tin Lành bác bỏ hoàn toàn khái niệm luyện ngục vì cho rằng Kinh Thánh chỉ nói đến hai nơi vĩnh hằng: thiên đàng và hỏa ngục.Còn nhiều người Công giáo thì cảm thấy lo lắng nếu luyện ngục bị diễn giải khác đi so với hình ảnh truyền thống như một nơi chốn hay trạng thái tách biệt khỏi thiên đàng. Tuy nhiên, nếu hiểu luyện ngục như một tiến trình mở mắt – mở lòng – để nhìn thấy mọi sự một cách hoàn toàn mới, thì điều đó có thể giúp các Kitô hữu ngoài Công giáo dễ tiếp nhận hơn, đồng thời giúp gỡ bỏ những hàm ý sai lầm phổ biến trong lòng đạo đức người Công giáo.

Sự thanh tẩy đích thực chỉ có thể xảy ra qua tình yêu, bởi vì chỉ khi ta được ôm trọn trong tình yêu thật sự, ta mới thấy tội lỗi của mình rõ ràng là gì, và chỉ khi đó ân sủng mới có thể nâng ta lên để vượt qua nó.

Chỉ có ánh sáng mới xua tan bóng tối.
Chỉ có tình yêu mới xóa được tội lỗi.

Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu từng thưa với Chúa rằng:“Xin Chúa phạt con bằng một cái hôn!”

Sự ôm ấp trọn vẹn trong tình yêu chính là sự thanh tẩy duy nhất thực sự hiệu quả đối với tội lỗi.
Bởi vì chỉ khi được tình yêu đón lấy, ta mới thực sự hiểu tội lỗi là gì, và chỉ khi ấy, ta mới có được khát vọng, cái nhìn, và sức mạnh để sống trong chân lý và tình yêu.

Nhưng sự đột nhập của tình yêu và ánh sáng ấy có thể đồng thời mang nhiều cảm xúc:
vừa êm dịu vừa choáng ngợp,
vừa xuất thần vừa bất an,
vừa tuyệt vời vừa đau đớn,
vừa hân hoan vừa khổ sở –
không gì khác hơn chính là… luyện ngục.

Thơ Ca và Đời Sống Thiêng Liêng

Ai còn đọc thơ? Trong thời đại kỹ thuật số, khi chủ nghĩa kinh nghiệm gần như đã thay thế đời sống tâm linh, thì giá trị của thơ ca là gì? Thơ mang lại điều gì cho đời sống con người?

Một trong những trí thức lớn của thời đại chúng ta, Charles Taylor, trong cuốn sách gần đây Cosmic Connections, Poetry in the Age of Disenchantment (Kết Nối Vũ Trụ, Thơ Ca trong Kỷ Nguyên Mất Phép Màu), đã trả lời câu hỏi này. Thơ ca được tạo ra để khơi dậy sự say mê trong chúng ta, giúp chúng ta nhìn thấu sự tẻ nhạt của cuộc sống thường nhật, để nhìn lại những mối liên hệ sâu sắc, bẩm sinh giữa vạn vật.

Với Taylor, khi còn là trẻ nhỏ, chúng ta có sự kết nối tự nhiên với trật tự vũ trụ sâu xa ấy; nhưng theo thời gian, sự phát triển bình thường của chúng ta dần làm tan biến cảm thức ban đầu, dù mơ hồ nhưng sâu sắc, về trật tự của vũ trụ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cảm nhận được sự mất mát đó, và trong lòng vẫn luôn có một khát vọng không rõ ràng muốn tìm lại sự toàn vẹn ấy.

Và đó chính là nơi thơ ca có thể trợ giúp chúng ta.

Khi trải nghiệm một điều gì đó, chúng ta không chỉ đơn thuần tiếp nhận như một chiếc máy ảnh ghi lại hình ảnh, mà còn góp phần định nghĩa ý nghĩa của trải nghiệm đó. Theo lời Taylor: “Chúng ta không chỉ ghi nhận sự vật; chúng ta tái tạo ý nghĩa của sự vật.” Do đó, cũng như mọi tác phẩm nghệ thuật chân chính, chức năng của thơ ca là biến đổi một cảnh vật sao cho trật tự sâu xa của mọi sự được hiển lộ và chiếu sáng. Nhà thơ Pháp Stéphane Mallarmé cho rằng: “Chức năng của nghệ thuật không phải là vẽ lại một vật thể, mà là thể hiện hiệu ứng mà vật thể ấy tạo ra nơi người nhìn.”

Với Taylor, một bài thơ hay có thể làm được điều ấy — bằng cách giúp chúng ta nhìn mọi sự từ một viễn cảnh lớn hơn.

Bị cuốn vào nhịp sống thường nhật, chúng ta quá gần gũi và quá đắm chìm đến mức không thể gọi tên chính xác điều mình đang trải qua. “Thơ mang lại cho kinh nghiệm của ta một cốt truyện, một câu chuyện, và từ đó định hình nó như một vở kịch. Ta bắt đầu nhìn đời mình như một câu chuyện, một cuộc đấu tranh, với phẩm giá và ý nghĩa sâu sắc mà nó vốn có.” Ví dụ, khi diễn tả một cảm xúc đau khổ qua thơ ca, ta có thể đứng lùi lại để nhìn nó từ xa. Nhiệm vụ của thi sĩ là làm nên thơ từ những chất liệu tưởng chừng như không-thơ. Như William Wordsworth từng nói: “Thơ là cảm xúc được hồi tưởng trong tĩnh lặng.”

Để làm điều đó, nhà thơ cần dùng một ngôn ngữ khác.

Taylor diễn tả như sau: “Thơ ca là sự ‘chuyển dịch’ trực giác thành ngôn ngữ tinh tế hơn. Những điều như giá trị, đạo đức, tình yêu và nghệ thuật không thể được hiểu trọn vẹn qua thứ ngôn ngữ công cụ — mà đòi hỏi được khám phá qua những từ vựng khác.” Ngôn ngữ của chủ nghĩa kinh nghiệm là một công cụ để chúng ta xây dựng nên một hình ảnh đáng tin cậy và có trách nhiệm về thế giới trước mắt; nhưng trong thế giới ấy, người ta không còn thấy sự hiện diện của thần linh hay huyền nhiệm. Vũ trụ chỉ còn được hiểu qua các định luật thuần túy về nhân quả hiệu quả.”

Taylor tiếp tục: “Vì thế, xuất hiện một sự phân biệt quan trọng giữa ngôn ngữ thông thường – vốn bằng phẳng và công cụ, chỉ dùng để mô tả, điều khiển sự vật – và lời nói thấu suốt – vốn có khả năng mặc khải bản chất của mọi sự và khôi phục tương quan giữa ta với chúng. Ngôn ngữ thơ ca cho ta cảm giác rằng: Chúng ta được gọi tên. Có điều gì đó, hoặc ai đó, đang gọi ta từ bên ngoài.

Thơ ca song hành với âm nhạc như một loại “ngôn ngữ ngoại ngữ lời” (paralinguistic practice). Nhưng tất cả điều này liên hệ gì đến đời sống thiêng liêng, đặc biệt là đời sống Kitô giáo? Chẳng phải thơ ca và nghệ thuật chỉ là những thứ mang tính chủ quan, thậm chí vô luân sao? Taylor hoàn toàn phản đối quan điểm đó, ít là khi nói đến thơ hay nghệ thuật đích thực. Theo ông, nghệ thuật chân chính không phải là vấn đề của “thị hiếu cá nhân thay đổi.”

Taylor cho rằng ý nghĩa mà ta cảm nhận được nơi thơ ca hay nghệ thuật hay là điều song hành với những đòi hỏi đạo đức và luân lý. Tại sao? Vì theo ông: “Trong thơ hay và nghệ thuật chân chính, trải nghiệm là một niềm vui (joy) chứ không đơn thuần là khoái cảm (pleasure).” Sự khác biệt là gì? “Bạn cảm thấy niềm vui khi học được, hoặc được nhắc nhớ, một điều tích cực mang ý nghĩa đạo đức hoặc thiêng liêng sâu sắc, còn khoái cảm mãnh liệt thì thường khiến bạn càng chìm sâu hơn vào cái tôi của mình.” Với Taylor, niềm vui ấy đánh thức một “trực giác cảm nhận được” – không phải là điều chủ quan, mà là một cánh cửa mở ra với hiện sinh, với Thiên Chúa.

Cuối cùng, trích dẫn nhà thơ Baudelaire, Taylor để lại cho chúng ta một sâu sắc như sau: “Chính nhờ thơ và qua thơ, nhờ âm nhạc và qua âm nhạc, mà linh hồn ta có thể thoáng thấy vinh quang bên kia nấm mồ; và khi một bài thơ tuyệt mỹ khiến đôi mắt ta rớm lệ, thì những giọt nước mắt ấy không phải là dấu hiệu của sự khoái lạc tột cùng, mà là chứng tích của một nỗi u hoài bị kích động — một khát vọng âm thầm nơi thần kinh của một linh hồn bị lưu đày trong điều bất toàn, và ước mong nắm bắt ngay trên trần gian này một thiên đàng đã được tỏ lộ.”

Vậy thì, thơ ca có liên hệ gì đến đời sống thiêng liêng? Nếu mượn lời thánh Augustinô:
“Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng con cho Ngài, và lòng con không an nghỉ bao lâu chưa nghỉ yên trong Ngài,” thì khi thơ ca và âm nhạc khuấy động con tim ta bằng một nỗi u hoài lạ lùng, ta chợt nhận ra: Chốn nghỉ yên cuối cùng của ta chỉ có thể là Thiên Chúa mà thôi.

Thiên Chúa có khiếu hài hước không?

Thiên Chúa có khiếu hài hước không?

Câu hỏi này có thể thoạt nghe có vẻ nhẹ dạ hay thiếu tôn kính, nhưng thực ra không hề như vậy. Đây là một câu hỏi quan trọng và rất đáng kính. Tại sao? Bởi vì sự hài hước lành mạnh và tinh thần vui tươi giúp mang lại niềm vui, sự nhẹ nhõm trong tâm hồn và một cái nhìn quân bình về cuộc sống. Liệu ta có thể tưởng tượng tất cả những điều tươi sáng ấy lại không có chút liên hệ nào với Thiên Chúa?

Thiên Chúa có khiếu hài hước không? Chắc chắn là có! Không chút nghi ngờ!

Chính Chúa Giêsu dạy rằng Thiên Chúa là nguồn mạch của mọi điều tốt lành. Mà sự hài hước, tinh thần vui tươi, và lời nói đùa dí dỏm là những điều tốt lành, lành mạnh. Chúng chỉ có thể phát xuất từ Thiên Chúa mà thôi.

Vì sao chúng lại là những điều tốt lành? Chúng đóng vai trò tích cực gì trong đời sống chúng ta?
Freud từng gợi ý rằng đôi khi chúng ta có thể hiểu một điều rõ hơn nếu nhìn vào điều đối lập với nó. Vậy điều gì đối lập với sự hài hước, tinh thần vui tươi và lời nói đùa? Đó là ba thứ: quá nghiêm trọng, dễ bực bội vô cớ, và thái độ tự cao tự đại — và không điều nào trong số này là lành mạnh cả.

Xin chia sẻ một ví dụ: Tôi đã sống gần như trọn đời trưởng thành trong một cộng đoàn tu sĩ nam, và nhìn chung, đó là một kinh nghiệm tích cực và mang lại sức sống. Tuy nhiên, trong số hàng trăm anh em đã từng sống chung với tôi trong suốt hơn năm mươi năm qua, thỉnh thoảng cũng có những người quá nghiêm túc, đến mức mỗi khi họ xuất hiện trong phòng sinh hoạt hay lúc dùng bữa chung, bầu khí vui tươi bỗng như tan biến hết.

Tôi nhớ có lần trong bữa ăn, một người kể một câu chuyện cười khá “đời thường” (hơi táo bạo, nhưng không dung tục). Phần lớn chúng tôi đều cười lớn một cách thoải mái. Nhưng ngay khi tiếng cười vừa lắng xuống, một anh em khác liền nói với giọng nặng nề và rất đạo mạo: “Anh có dám kể câu chuyện đó trước Mình Thánh không?” Lời ấy không chỉ dập tắt bầu khí vui vẻ, khiến cuộc gặp gỡ trở nên nặng nề, mà còn như thể rút hết không khí trong phòng.

Tính quá nghiêm trọng, dù không phải là một lỗi luân lý, vẫn có thể khiến chúng ta trở nên quá căng thẳng trước những đòi hỏi của gia đình và cộng đoàn — những điều mà chẳng ai trong chúng ta có thể chu toàn một cách hoàn hảo. Ngược lại, sự hài hước, tinh thần vui tươi và nói đùa dí dỏm — nếu lành mạnh — có thể trở thành một thứ “dầu bôi trơn” quan trọng trong đời sống gia đình và cộng đoàn.

Thí dụ, khi bạn gia nhập một dòng tu, bạn khấn sống trong một cộng đoàn (trong trường hợp tôi là cộng đoàn nam) suốt đời. Hơn nữa, bạn không được chọn người mình sẽ sống chung. Bạn chỉ được bổ nhiệm đến cộng đoàn nào đó, nơi chắc chắn sẽ có những người có tính cách rất khác bạn — những người mà bình thường bạn không chọn để sống chung.

Tôi đã sống trong môi trường cộng đoàn tu trì như thế gần sáu mươi năm và — với rất ít ngoại lệ — đó là một kinh nghiệm sống động và đầy niềm vui. Chủ yếu là vì tôi hầu như luôn được sống trong những cộng đoàn mà một phần trong “tinh thần sống” của chúng tôi là sự trao đổi hài hước, vui tươi, và lời nói đùa nhẹ nhàng mỗi ngày. Cầu nguyện và sứ mạng chung tất nhiên là chất keo chính gắn kết chúng tôi, nhưng chính sự hài hước, vui tươi và nói đùa mới là loại “dầu bôi trơn” giúp xua tan những căng thẳng nhỏ và tránh được cái bẫy tự mãn của đời sống tu trì.

Thật thú vị khi các triết gia Hy Lạp cổ đại đã định nghĩa tình yêu gồm sáu thành phần:
• Eros – say mê và hấp dẫn thể lý,
• Mania – mê mẩn, chiếm hữu,
• Asteismos – sự vui tươi và nói đùa dí dỏm,
• Storge – sự quan tâm chăm sóc,
• Philia – tình bạn,
• Agape – tình yêu vô vị lợi.

Khi định nghĩa tình yêu, chúng ta thường chừa chỗ cho hầu hết các yếu tố trên — ngoại trừ Asteismos, tức sự vui tươi và đùa giỡn nhẹ nhàng. Và chính vì điều đó mà chúng ta thường phải trả giá.

Vị giám tập của tôi, một linh mục người Canada gốc Pháp rất dễ mến, đã từng kể cho chúng tôi — một nhóm tập sinh trẻ — một câu chuyện cười có ý nghĩa. Chuyện kể rằng: một gia đình đang chuẩn bị tổ chức lễ cưới cho con gái, nhưng không đủ khả năng thuê nhà hàng cho tiệc mừng sau Thánh lễ. Vị linh mục bèn đề nghị:
“Sao không dùng tiền sảnh nhà thờ? Ở đó rộng đủ cho một buổi tiếp tân. Mang bánh kem vào là được rồi.”
Mọi thứ đều ổn, cho đến khi cha cô dâu hỏi linh mục:
“Cha ơi, mình có thể mang rượu vào được không?”
Linh mục trả lời ngay lập tức: “Tuyệt đối không! Không được mang rượu vào nhà thờ!”
Cha cô dâu phản đối: “Nhưng Chúa Giêsu đã uống rượu trong tiệc cưới Cana mà!”
Vị linh mục đáp: “Nhưng không phải trước Mình Thánh Chúa!”
Câu chuyện ấy như một dụ ngôn, nhắc nhở chúng ta đừng lột bỏ khỏi Thiên Chúa tính hài hước và tinh thần vui tươi.

Thiên Chúa có khiếu hài hước, có tinh thần vui tươi, và có tài nói đùa vượt xa mọi danh hài của chúng ta. Làm sao có thể khác được? Bạn có thể tưởng tượng được cuộc sống đời đời trên thiên đàng mà không có tiếng cười hay sự vui nhộn không? Bạn có thể tưởng tượng một Thiên Chúa là tình yêu hoàn hảo, nhưng bạn lại sợ không dám đùa giỡn hay thân mật với Người sao? Lẽ nào tiếng cười cuối cùng của ta nơi trần thế cũng là tiếng cười cuối cùng mãi mãi? Không đâu. Thiên Chúa có khiếu hài hước — và điều ấy chắc chắn sẽ là một ngạc nhiên đầy vui thú cho tất cả chúng ta.

Khi Không Còn Gì Có Thể Làm Được

Bạn sẽ làm gì khi một vết thương hay một mất mát khiến bạn tuyệt vọng đến tê liệt, và không có điều gì bạn có thể làm để thay đổi tình huống ấy?

Bạn sẽ nói gì hay làm gì khi cố gắng an ủi một người đang bị tê liệt vì đau buồn?

Chẳng hạn, bạn sẽ nói gì với ai đó đang túc trực bên giường bệnh của người thân sắp qua đời khi tuổi đời còn quá trẻ? Bạn sẽ nói gì với một người vừa mất người thân vì tự tử?

Bạn sẽ làm gì hay nói gì khi bản thân hoàn toàn bất lực trong việc sửa chữa một tình huống đã đổ vỡ?

Nhà thơ Rainer Maria Rilke từng nhận được một bức thư từ một người đàn ông vừa mất người thân, đang chiến đấu với tuyệt vọng, và tuyệt vọng tìm kiếm điều gì đó để trái tim mình khỏi tan vỡ.

Rilke đã gửi lại cho ông những lời này: “Đừng sợ đau khổ — hãy lấy nỗi nặng trĩu trong lòng bạn mà trao lại cho sức nặng của trái đất; núi non thì nặng, đại dương cũng nặng.” (Sonnets to Orpheus). Những lời này như vang vọng lời trong Sách Ai Ca (3,29), nơi tác giả linh hứng viết: “Có lúc tất cả những gì ta có thể làm là úp miệng mình xuống bụi đất mà chờ đợi.”

Đúng vậy, đôi khi tất cả những gì ta có thể làm là úp miệng mình xuống đất mà chờ đợi. Đôi khi, ta cần trao trả nỗi đau trĩu nặng của mình cho chính mặt đất.

Thật kỳ lạ, chúng ta có thể chấp nhận những lời mời gọi này — và sự kiên nhẫn mà chúng đòi hỏi — khi nỗi đau chúng ta chịu là thể lý, chứ không phải tinh thần hay tâm lý. Thí dụ, nếu bị tai nạn và gãy chân nặng, ta sẽ đành chấp nhận, dù khó chịu đến đâu, rằng mình sẽ phải nằm một chỗ trong vài tuần hay vài tháng, và chẳng có cách nào khác ngoài việc để thời gian và tự nhiên chữa lành. Nhưng thật đáng tiếc là chúng ta không thường áp dụng được sự chấp nhận đó khi vết thương là trong tâm hồn. Khi trái tim tan vỡ, chúng ta muốn có giải pháp ngay tức thì. Ta không muốn con tim mình phải “chống nạng” hay “ngồi xe lăn” suốt nhiều tuần hay nhiều tháng.

Dĩ nhiên, không phải mất mát nào hay nỗi đau nào cũng giống nhau. Có những mất mát tuy đau đớn nhưng không khiến ta hoàn toàn tê liệt, vì trong đó đã có sẵn yếu tố của sự an ủi và chữa lành. Chúng ta từng trải qua điều này khi dự tang lễ của một người thân yêu đã sống và ra đi trong bình an — dù đau lòng, sâu thẳm trong tâm hồn, ta vẫn cảm thấy sự thanh thản nào đó trong chia ly.

Nhưng cũng có những mất mát mà trong một khoảng thời gian sau đó, không có lời an ủi nào — dù là lời đầy đức tin — có thể xoa dịu được nỗi đắng cay và đau đớn trong tim. Chẳng hạn, tôi đã từng thấy điều này tại tang lễ của những người qua đời vì tự tử. Trong giây phút tột cùng của đau thương, không có lời nào — dù đúng đắn, dù đầy niềm tin — có thể vực dậy trái tim tan vỡ của những người ở lại.

Tôi nhớ một tang lễ mà tôi từng tham dự vài năm trước. Người phụ nữ mà chúng tôi tiễn đưa vừa qua đời vì ung thư, còn khá trẻ, mới ngoài năm mươi. Chồng cô, dĩ nhiên, vô cùng đau đớn. Tại buổi tiếp khách sau Thánh lễ, một người bạn thân cố gắng an ủi anh bằng cách nói: “Cô ấy đang ở với Chúa, ở một nơi tốt đẹp hơn.” Dù là một người có đức tin, và vừa bước ra khỏi nhà thờ nơi niềm tin ấy được cử hành cách công khai, anh chỉ đáp lại: “Tôi biết anh có ý tốt; nhưng đó là điều cuối cùng tôi muốn nghe hôm nay.”

Những lời nói đầy đức tin mà chúng ta trao nhau trong lúc tang thương là những lời chân thật. Người phụ nữ ấy, chắc chắn, đang ở một nơi tốt đẹp hơn. Nhưng trong khoảnh khắc đau buồn tột cùng, những lời ấy không mang lại hiệu quả cảm xúc hay tâm lý như ta mong.

Vậy, trong những hoàn cảnh như thế, chúng ta có thể trao nhau điều gì? Người khác có thể trao gì cho ta khi chúng ta tê liệt vì đau buồn?

Ta có thể trao cho nhau chính sự bất lực của mình — sự thinh lặng, sự không thể làm gì hay nói gì có thể cất đi nỗi nặng trĩu. Và có lẽ không điều gì có sức an ủi hơn trong những thảm kịch ngoài sự cảm thông phát xuất từ chính sự bất lực chung ấy. Ta vẫn có thể thầm thĩ những lời của đức tin, nhưng cũng cần chấp nhận rằng hoa trái từ những lời ấy chỉ chín muồi sau này.

Khi ta hiện diện với nhau trong thinh lặng, trong sự bất lực trước nỗi đau, chính sự hiện diện ấy đang nói lên điều mà cả Sách Ai Ca lẫn nhà thơ Rilke đã nói: Đôi khi tất cả những gì ta có thể làm là úp miệng mình xuống đất mà chờ đợi — và bằng cách đó, ta đang trao lại sức nặng của mình cho trái đất. Một cách nghịch lý, chính việc chấp nhận nỗi nặng ấy lại có thể là điều duy nhất nâng đỡ được tâm hồn ta.

Bạn Có Phải Là Một Kitô Hữu Thực Hành Không?

Sách Tông Đồ Công Vụ kể rằng chính tại Antiôkia, các môn đệ của Chúa Giêsu mới được gọi là “Kitô hữu” lần đầu tiên.

Tôi từng nghe một bài giảng đầy thách đố, trong đó vị linh mục hỏi:

“Nếu bạn bị đưa ra tòa và bị cáo buộc là một Kitô hữu, liệu người ta có tìm thấy đủ bằng chứng để kết tội bạn không?”

Một câu hỏi thú vị — và không dễ trả lời. Chúng ta sẽ bị xét xử theo tiêu chuẩn nào? Bằng chứng nào được coi là rõ ràng cho thấy chúng ta là Kitô hữu?

Tôi lớn lên trong một nền văn hóa Công giáo Rôma nơi mà người ta thường đánh giá ai đó là “giáo dân thực hành” dựa vào một số tiêu chí quen thuộc: Bạn có đi lễ thường xuyên không? Bạn có giữ điều răn thứ sáu không? Cuộc sống hôn nhân của bạn có đúng với giáo luật không? Gần đây hơn, người Công giáo cũng như các hệ phái Kitô giáo khác lại thường đánh giá đời sống đức tin của ai đó dựa trên lập trường của họ về một số vấn đề đạo đức như phá thai hay hôn nhân đồng tính.

Nhưng còn Chúa Giêsu thì sao? Ngài dạy gì về việc thế nào là một Kitô hữu thực hành?

Không có một câu trả lời đơn giản. Chúa Giêsu, các sách Tin Mừng, và toàn bộ Tân Ước là một tổng thể phong phú và phức tạp. Ví dụ, khi nói về ngày phán xét sau cùng, Chúa Giêsu không hề đề cập đến việc đi lễ, giữ điều răn thứ sáu, hay lập trường của ta về phá thai hoặc hôn nhân đồng giới. Ngài chỉ hỏi:
“Con có cho người đói ăn không? Có cho kẻ khát uống không? Có đón tiếp người lạ không? Có thăm người bệnh không? Có đến với người tù tội không?”

Nếu đây là những tiêu chí chính để xét xử chúng ta, thì phán quyết sẽ là gì?

Rồi còn Bài Giảng Trên Núi nữa. Trong đó, Chúa Giêsu dạy rằng làm môn đệ Người nghĩa là:

Bạn có yêu kẻ ghét mình không? Có chúc lành cho người nguyền rủa bạn không? Có làm điều tốt cho kẻ làm hại bạn không? Có tha thứ cho người xúc phạm bạn, thậm chí là người giết bạn không? Bạn có yêu thương vượt quá bản năng tự nhiên không? Bạn đã bao giờ thực sự đưa má bên kia chưa? Bạn có thể hiện lòng trắc ẩn của Thiên Chúa — một lòng thương xót bao trùm cả người tốt lẫn kẻ xấu — hay không?

Một lần nữa, thử hỏi: đời sống môn đệ của chúng ta sẽ ra sao nếu được đánh giá theo những tiêu chí này?

Tuy nhiên, còn có những tiêu chí thiết yếu khác để nhận biết một người có thực sự sống đức tin theo Chúa Giêsu hay không.

Một tiêu chí quan trọng là: sống trong cộng đoàn.

Kinh Thánh dạy rằng:

“Thiên Chúa là tình yêu, ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy.”

Ở đây, “tình yêu” được dùng theo nghĩa “agape” – một tình yêu cho đi trọn vẹn, một sự sống được chia sẻ. Nếu Thiên Chúa là sự sống được chia sẻ, thì mọi ai sống trong sự hiệp thông với người khác, với gia đình, với cộng đoàn — dù không hoàn hảo — cũng đang sống trong Thiên Chúa.

Nếu điều đó là đúng, và quả thật là đúng, thì bất cứ khi nào ta sống trong gia đình, trong cộng đoàn, ta đang là một Kitô hữu thực hành. Dĩ nhiên, không thể đơn giản đồng hóa điều đó với việc “đi lễ nhà thờ”, nhưng nó nhấn mạnh rằng đời sống Kitô hữu luôn gắn liền với một cộng đoàn ân sủng.

Vậy, việc đi lễ có khiến tôi trở thành Kitô hữu thực hành không?

Và cuối cùng, còn một tiêu chí khác rất quan trọng. Đó là: việc cử hành Thánh Thể.

Chúa Giêsu khi còn sống trên trần gian đã chỉ để lại cho chúng ta một nghi lễ duy nhất — Thánh Thể. Trong bữa tiệc ly, trước khi chịu chết, Người đã thiết lập Bí tích Thánh Thể và truyền cho chúng ta:
“Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.”

Trong suốt 2000 năm, Hội Thánh đã trung thành với lời mời gọi ấy. Theo thần học gia Ronald Knox, chính việc cử hành Thánh Thể là “hành vi trung thành lớn nhất của chúng ta”, bởi lẽ:

Dù chúng ta chưa luôn luôn biết đưa má bên kia, chưa yêu kẻ thù, chưa cho người đói ăn, chưa đón tiếp người xa lạ — nhưng chúng ta đã và vẫn trung thành với Thánh Thể. Ít nhất trong điều cốt yếu này, chúng ta đã sống như những Kitô hữu thực hành.

Thiên Chúa: Thánh Thiêng, Nhưng Cũng Hài Hước, Hóm Hỉnh và Quyến Rũ

Thiên Chúa là đối tượng của mọi ước muốn, dù ước muốn của chúng ta có vẻ trần tục và không thánh thiện đến đâu. Mọi điều chúng ta khao khát đều nằm trong Thiên Chúa. Cả Chúa Giêsu và các Thánh vịnh đều nói với chúng ta điều này.

Thiên Chúa là đối tượng của mọi ước muốn và chỉ trong Thiên Chúa, những khao khát sâu xa nhất của chúng ta mới được thỏa mãn. Chúng ta bày tỏ điều này trong lời cầu nguyện của mình, có lẽ không bao giờ ý thức được điều chúng ta đang nói: Suốt đêm trường, linh hồn con khát khao Chúa. Chỉ mình Ngài, lạy Chúa, mới có thể lấp đầy trái tim con. Chúng ta nói những lời đó, nhưng liệu có thật sự là Thiên Chúa mà chúng ta khát khao trong đêm tối và khao khát trong những ước muốn của mình? Chúng ta có thực sự tin rằng Thiên Chúa là đối tượng của mọi ước mong của chúng ta không?

Khi chúng ta nhìn vào những gì đẹp đẽ, đầy sức sống, hấp dẫn, quyến rũ và thú vị trên trái đất, chúng ta có thực sự nghĩ và tin rằng điều này được chứa đựng một cách phong phú hơn vô hạn trong Thiên Chúa và trong cuộc sống mà Thiên Chúa mời gọi chúng ta không? Chúng ta có thực sự tin rằng những niềm vui trên trời sẽ vượt xa những lạc thú trần gian và rằng, ngay cả trong thế giới này, những niềm vui của đức hạnh còn cao quý hơn những cảm giác tội lỗi không?

Thật không dễ để tin điều này bởi vì chúng ta bẩm sinh đã phải vật lộn với việc hướng sự chú ý có ý thức của mình về phía Thiên Chúa. Thường thì chúng ta thấy việc thực hành tôn giáo và cầu nguyện giống như một sự gián đoạn cuộc sống hơn là một sự thâm nhập vào nó, giống như một bổn phận hơn là một niềm vui, giống như một sự khổ hạnh hơn là một niềm vui thích, và giống như một điều gì đó đưa chúng ta rời xa cuộc sống thực hơn là một điều gì đó giúp chúng ta đi vào chiều sâu của nó.

Hơn nữa, nếu thành thật, chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta thường thầm ghen tị với những người liều lĩnh sử dụng năng lượng thiêng liêng cho niềm vui riêng của họ. Nhiều người trong chúng ta kiên trì làm tròn bổn phận cam kết với một điều cao cả hơn; nhưng, giống như người anh cả trong dụ ngôn “Người Con Hoang Đàng”, quá thường xuyên phục vụ Thiên Chúa vì nghĩa vụ và cảm thấy cay đắng vì nhiều người khác không làm như vậy. Bên này cõi vĩnh hằng, đức hạnh thường ghen tị với tội lỗi, và (nói thật) điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực tình dục.

Một phần điều này là tự nhiên và là một dấu hiệu của sức khỏe, xét đến thực tế thô sơ về thể chất của chúng ta và sức nặng của khoảnh khắc hiện tại. Những điều này tự nhiên áp đặt lên chúng ta một cách có thể làm cho những điều thuộc về Thiên Chúa và linh hồn trở nên trừu tượng và không thật. Đó đơn giản là thân phận con người và chắc chắn Thiên Chúa hiểu rõ điều đó. Chỉ trong những khoảnh khắc huyền nhiệm, được ban ân sủng nhất định, chúng ta mới thực sự vượt lên trên điều này.

Vì vậy, có thể hữu ích khi làm rõ hơn điều mà chúng ta tuyên xưng trong đức tin nhưng lại khó tin tưởng vào thực tế, đó là, tất cả những gì chúng ta thấy hấp dẫn, đẹp đẽ, không thể cưỡng lại, quyến rũ và thú vị trên trái đất này đều được tìm thấy đầy đủ hơn bên trong Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của chúng.

Nếu chúng ta tin rằng Thiên Chúa là tác giả của mọi điều tốt lành, thì Thiên Chúa đẹp hơn bất kỳ ngôi sao điện ảnh nào, thông minh hơn nhà khoa học hay triết gia lỗi lạc nhất, hóm hỉnh và hài hước hơn diễn viên hài giỏi nhất, sáng tạo hơn bất kỳ nghệ sĩ, nhà văn hay nhà đổi mới nào, tinh tế hơn người uyên bác nhất trên trái đất, tràn đầy sức sống và tinh nghịch hơn bất kỳ đứa trẻ nào, năng động hơn bất kỳ ngôi sao nhạc rock nào, và, không kém phần quan trọng, quyến rũ và hấp dẫn về mặt tình dục hơn bất kỳ người nào trên trái đất.

Chúng ta thường không nghĩ về Thiên Chúa theo cách này, nhưng sự thật đó được cho biết trong Kinh Thánh và được hệ thống hóa trong tín điều Kitô giáo, nơi mà về cơ bản, chúng ta được dạy rằng Thiên Chúa là Một, Chân, Thiện, Mỹ và là tác giả và nguồn gốc tối hậu của tất cả những gì là duy nhất, tốt lành, chân thật, và đẹp đẽ. Điều đó có nghĩa là Thiên Chúa cũng hóm hỉnh, vui tươi và quyến rũ. Mọi điều quyến rũ trên trái đất đều nằm trong Thiên Chúa.

Nhưng biết điều đó không làm mất đi sức quyến rũ của những điều trần thế, và cũng không nên như vậy. Vô số điều có thể làm chúng ta choáng ngợp: một người đẹp, một hoàng hôn, một bản nhạc, một tác phẩm nghệ thuật, sự hăng hái của tuổi trẻ, sự tinh nghịch của một đứa trẻ, sự ngây thơ của một em bé, sự hóm hỉnh của ai đó, cảm giác thân mật, cảm giác hoài niệm, một ly rượu vang vào một buổi tối thích hợp, một sự rung động trong đời sống tình dục của chúng ta, hoặc, sâu sắc nhất trong tất cả, một cảm giác mơ hồ về sự độc đáo và quý giá của chính sự sống con người.

Chúng ta cần tôn vinh những điều này và tạ ơn Thiên Chúa về món quà, ngay cả khi chúng ta nhận thức rằng tất cả những điều này được tìm thấy phong phú hơn trong Thiên Chúa và chúng ta không mất gì khi đức hạnh, tôn giáo hoặc lời khấn yêu cầu chúng ta hy sinh những điều này vì một điều cao cả hơn. Chính Chúa Giêsu hứa rằng bất cứ điều gì chúng ta từ bỏ vì điều cao cả hơn sẽ được ban lại cho chúng ta gấp trăm lần. Biết điều này, chúng ta có thể sống cuộc đời mình tận hưởng trọn vẹn những gì thuộc về đất và trần thế. Những vẻ đẹp và niềm vui của cuộc sống này là một món quà từ Thiên Chúa, có ý nghĩa để được tận hưởng. Hơn nữa, bằng cách nhận thức về nguồn gốc của chúng, chúng ta cũng có thể đủ tự do để chấp nhận những giới hạn rất thực mà cuộc sống đặt ra cho những ước muốn của chúng ta. Tốt hơn nữa, chúng ta không cần sợ hãi cái chết vì những gì chúng ta mất đi sẽ bị lu mờ gấp trăm lần bởi những gì chúng ta đạt được.

Thầy ra đi thì tốt hơn cho anh em

“Thầy ra đi thì tốt hơn cho anh em!” – Đây là một trong những lời trăn trối của Chúa Giêsu vào đêm trước khi Người bước vào cuộc khổ nạn.

Làm sao lại có thể nói rằng “tốt hơn cho chúng ta” khi một người chúng ta hết mực yêu thương rời đi? Điều này chỉ có lý nếu mối quan hệ đó đang bất hòa hoặc gây tổn hại. Nhưng làm sao điều đó lại đúng trong trường hợp chúng ta yêu thương ai đó sâu sắc và sẽ đau đớn khi thiếu vắng họ?

Biến cố Thăng thiên của Chúa Giêsu mang đến một lời câu trả lời thật sâu sắc . Người nói với các môn đệ rằng Người đi thì tốt hơn cho họ, vì nếu Người không đi, họ sẽ không thể nhận được Thánh Thần của Người. Tại sao lại thế? Tại sao Người phải đi để những người yêu mến Người có thể nhận được Thánh Thần ?

Điều này liên quan đến mầu nhiệm về sự hiện diện và sự vắng mặt. Chúng ta mang đến cho người khác điều gì đó bằng sự hiện diện của mình, nhưng chúng ta cũng để lại điều gì đó cho họ trong sự vắng mặt của mình. Nói tóm lại, điều chúng ta để lại trong sự vắng mặt là một không gian mới, trong đó họ có thể đón nhận con người chúng ta một cách thuần khiết hơn. Điều này nghe có vẻ trừu tượng cách vô vọng, nhưng chúng ta đều kinh nghiệm điều này trong cuộc sống thường ngày.

Đây là một ví dụ: Hãy hình dung một cô gái trẻ, được cha mẹ hết mực yêu thương, vừa tốt nghiệp trung học và rời nhà để đi học đại học, hoặc học nghề, hoặc bắt đầu một công việc. Những năm tháng tuổi thơ của cô đã kết thúc vĩnh viễn và cô cảm nhận được điều đó, cũng như cha mẹ cô. Cả hai phía đều đau đớn và buồn phiền. Cô có lẽ sẽ không nói ra thành lời, nhưng nếu có thể, cô sẽ nói với cha mẹ mình những gì Chúa Giêsu đã nói với những người thân yêu của Người khi Người nói lời từ biệt: “Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em.”

Chỉ khác là, đối với cô, những lời đó sẽ nghe như thế này: “Con đi thì tốt hơn cho cha mẹ (và cho con); nếu không, con sẽ mãi mãi là đứa con bé bỏng của cha mẹ và sẽ không thể trao tặng cha mẹ sự hiện diện của một người trưởng thành. Con cần phải đi để sự vắng mặt của con tạo ra không gian cho con trở về với cha mẹ như một người trưởng thành.”

Đó là mầu nhiệm của sự hiện diện và sự vắng mặt. Đây cũng chính là mầu nhiệm về sự thăng thiên của Chúa Giêsu, cách thế một thần khí mới có thể được nhận ra và đón nhận chỉ sau khi có một sự vắng mặt, một sự ra đi.

Điều này được thể hiện mạnh mẽ trong đoạn Tin Mừng theo Thánh Gioan, khi bà Maria Mađalêna gặp Chúa Giêsu phục sinh vào sáng Chúa Nhật Phục Sinh. Ban đầu, Maria không nhận ra Người; nhưng, sau khi nhận ra, phản ứng tức thì của Maria là ôm lấy Người một cái ôm quen thuộc. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã ngăn bà lại: “Đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Cha Thầy và Cha anh em.”

Tại sao? Tại sao Chúa Giêsu dường như không muốn nhận một cái ôm quen thuộc từ một người bạn lâu năm?

Sự do dự này chính xác là do sự quen thuộc. Bà Maria muốn chào đón Chúa Giêsu cũ của bà trở về, nhưng đây không phải là Chúa Giêsu cũ của bà. Đây là Đấng Kitô phục sinh, Đấng giờ đây có điều gì đó mới mẻ để trao tặng bà. Điều Chúa Giêsu nhẹ nhàng nói với bà khi Người yêu cầu bà đừng “bám víu” vào Người là nếu bà tiếp tục bám víu vào con người cũ của Người, vào cách bà từng có Người, bà sẽ không thể đón nhận sự hiện diện mới của Người và những gì Người đang mang đến cho bà.

Việc Maria Mađalêna cố gắng ôm lấy Chúa Giêsu phục sinh giống như những bậc cha mẹ yêu thương, sau khi đau đớn nhớ nhung cô con gái nay đã trưởng thành khi cô vắng nhà, chào đón cô về nhà bằng một cái ôm và những lời: “Con gái bé bỏng của chúng ta đã về nhà rồi!” Nghe những lời này, cô con gái, dù có nói ra hay không, cũng sẽ cần nhẹ nhàng nói: “Nếu cha mẹ bám víu vào đứa con bé bỏng mà cha mẹ từng có, cha mẹ sẽ không thể đón nhận những điều quý giá mà cô con gái trưởng thành của cha mẹ giờ đây có thể mang lại.”

Động lực này, tức cách mà sự vắng mặt đau đớn của người chúng ta yêu thương có thể biến đổi sự hiện diện của họ để họ giờ đây có thể nuôi dưỡng chúng ta một cách sâu sắc hơn, là bản chất của mầu nhiệm thăng thiên, sự thăng thiên của Chúa Giêsu và của chính chúng ta.

Dù vậy, thật khó để không bám víu. Khi chúng ta chứng kiến những người xung quanh thay đổi, lớn lên, rời đi và trở thành một điều gì đó khác với cách chúng ta luôn biết và yêu thương họ, giống như bà Maria Mađalêna, điều đó có thể khiến chúng ta vừa khóc trong niềm vui vừa hối tiếc: vui vì thấy con gái bé bỏng của chúng ta giờ đã là một người phụ nữ trưởng thành đầy sức sống; hối tiếc vì chúng ta đã mất cô ấy theo cách chúng ta từng có cô ấy như một cô bé xinh đẹp.

“Thầy ra đi thì tốt hơn cho anh em.” Chúa Giêsu đã nói những lời đó vào đêm trước khi Người chịu chết. Tôi đã ở bên giường bệnh của cả cha và mẹ tôi. Gia đình chúng tôi đã níu giữ lấy họ. Chúng tôi không thể tin rằng họ ra đi thì tốt hơn cho chúng tôi. Đã năm mươi năm trôi qua kể từ khi họ qua đời và, dù sự ra đi của họ đau đớn đến mấy, giờ đây chúng tôi nhận ra rằng họ có thể cho chúng tôi điều mà chúng tôi không thể nhận được từ họ trước khi họ ra đi.