RonRolheiser,OMI

Thiên Chúa gần gũi

Đang có một dòng văn học ghi lại cảm nghiệm của những người bị chết lâm sàng trong một thời gian (vài phút hay vài giờ) rồi phục hồi về mặt y khoa và sống lại. Nhiều người chúng ta biết đến quyển sách của bác sĩ Eben Alexander, Bằng chứng về Thiên đàng: Hành trình của một bác sĩ phẫu thuật não vào Đời sau [Proof of Heaven: A Neurosurgeon’s Journey into the Afterlife]. Mới đây, Hollywood có ra mắt bộ phim Phép lạ từ Thiên đàng [Miracles from Heaven], với câu chuyện thật về một cô gái ở Texas đã chết lâm sàng, nhưng rồi sống lại theo y khoa và đã chia sẻ những gì mình cảm nghiệm được trong đời sau.

Qua vài chục năm, đã có hàng trăm câu chuyện như thế được công bố hay đơn giản là chia sẻ với những người thân thuộc. Điều đáng chú ý (và cũng đem lại khuây khỏa) là những câu chuyện này vô cùng tích cực, dù cho nhân vật chính theo bất kỳ tôn giáo nào. Trong hầu như mọi trường hợp, dù rất khó tả, nhưng họ đều cảm nghiệm được một cảm giác yêu thương nồng ấm rất gần gũi, ánh sáng và sự chào đón, và một số người còn gặp được những người thân đã qua đời, đôi khi là những người thân mà chưa biết. Và trong hầu như mọi trường hợp, họ không muốn trở lại cuộc sống này, như thánh Phêrô trên núi Biến hình vậy, họ muốn được ở lại đó.

Gần đây, khi diễn thuyết tại một hội thảo, tôi có nhắc đến dòng văn học này và chỉ ra rằng, dường như khi người ta chết, ai cũng lên thiên đàng. Tất nhiên, điều này sẽ khiến ta bật ra ngay những tranh luận. “Còn địa ngục thì sao? Khi chết đi, ta không bị phán xét sao? Không có ai vào địa ngục sao?” Câu trả lời của tôi cho những câu hỏi này, là trong khi tất cả chúng ta đều lên thiên đàng sau khi chết, nhưng tùy vào khuynh hướng đạo đức và tâm linh của mình, có thể chúng ta lại không muốn ở lại đó. Như Chúa Giêsu đã nói, địa ngục là một lựa chọn, thật sự là một lựa chọn, và chính chúng ta phán xét mình. Thiên Chúa không đẩy ai vào địa ngục cả. Địa ngục là do chúng ta chọn.

Tuy nhiên, tôi muốn chia sẻ một chuyện sau buổi hội thảo đó. Khi tôi sắp ra về, một bà tìm đến và nói là bà từng có cảm nghiệm đó. Bà đã bị chết lâm sàng trong vài phút rồi sống lại nhờ biện pháp y khoa. Và như cảm nghiệm của mọi người khác, bà cũng cảm thấy một sự nồng ấm, ánh sáng, và chào đón vô cùng mãnh liệt, đến nỗi bà không muốn quay lại đời này nữa. Tuy nhiên, điều bà nhớ nhất và muốn chia sẻ với người khác nhất, là thế này: Tôi biết được rằng Thiên Chúa rất gần gũi. Chúng ta chẳng hiểu nổi Thiên Chúa gần gũi chúng ta đến mức nào đâu. Thiên Chúa gần gũi chúng ta hơn ta tưởng quá nhiều! Cảm nghiệm đó đã cho bà ghi khắc luôn mãi một cảm giác về sự nồng ấm, yêu thương và chào đón của Thiên Chúa, nhưng dấu ấn sâu sắc nhất trong bà chính là cảm giác về sự gần gũi của Thiên Chúa.

Tôi chấn động trước lời chia sẻ này, cũng như hàng triệu người khác, tôi chưa cảm được sự gần gũi đó, hay ít nhất là chưa cảm được một cách rõ ràng. Thiên Chúa có vẻ xa cách, trừu tượng và phi nhân, một Thần Linh với hàng triệu việc phải lo nên chẳng thể chăm lo cho những chuyện vụn vặt của sinh linh bé nhỏ là tôi.

Hơn nữa, là Kitô hữu, chúng ta tin rằng Thiên Chúa là vô hạn và khôn tả. Thế nghĩa là dù chúng ta có thể biết Chúa, nhưng không bao giờ hình dung nổi Chúa. Do đó, càng khó hơn khi chúng ta hình dung một Đấng Tạo Hóa vô hạn và Đấng Bao Hàm mọi sự lại ở ngay trong chúng ta, lo lắng cho chúng ta, chia sẻ những dằn vặt của ta, và biết những cảm giác khó nói nhất của ta.

Hơn nữa, bất kỳ lúc nào chúng ta cố gắng hình dung về Thiên Chúa, thì trí tưởng tượng của chúng ta lại bị đẩy lùi trước ngưỡng không thể hình dung. Ví dụ như, hãy thử hình dung điều này: Có hàng tỷ người trên trái đất, và hàng tỷ người đã sống trước chúng ta. Mỗi phút, hàng ngàn người sinh ra, hàng ngàn người chết đi, hàng ngàn người phạm tội, hàng ngàn người làm việc tốt, hàng ngàn người yêu nhau, hàng ngàn người chịu khổ, hàng ngàn người rộn ràng vui sướng, tất cả chỉ là một phần nhỏ trong hàng tỷ tỷ sự kiện. Làm sao một trái tim, một cái đầu, một con người có thể ý thức được tất cả những chuyện này, biết rõ và đồng cảm với chúng ta theo mức độ “tóc trên đầu anh em đều được đếm hết rồi”? Thật không thể nào hình dung nổi, và đó chính là một phần định nghĩa về Thiên Chúa.

Làm sao Thiên Chúa có thể gần gũi với chúng ta như chính chúng ta được? Đây là mầu nhiệm, và khôn ngoan thì công nhận mầu nhiệm, vì bất kỳ điều gì chúng ta có thể hiểu được thì chưa đến tận cùng thâm sâu! Mầu nhiệm về sự gần gũi của Thiên Chúa, sự hiện diện của Ngài trong chúng ta, thật vượt quá hình dung của chúng ta. Nhưng mọi điều trong truyền thống đức tin của chúng ta và hầu hết mọi điều trong lời chứng của hàng trăm người từng có cảm nghiệm về đời sau, đảm bảo với chúng ta rằng, dù Thiên Chúa có thể vô hạn và khôn tả, nhưng Thiên Chúa vô cùng gần gũi với chúng ta, gần gũi hơn ta tưởng.

Mối đe dọa với đạo đức

Chúa Giêsu bảo rằng đến tận thế, chúng ta sẽ được phán xét theo cách chúng ta đối xử với người nghèo khi còn sống. Nhưng ngay cả trong đời này, khi không vươn tay đến người nghèo, thì chúng ta cũng có thể phải trả giá rồi.

Và trong quyển Lòng thương xót Công chính [Just Mercy], Bryan Stevenson đã chỉ ra mối nguy đó: “Tôi tin rằng tiêu chuẩn đích thực cho sự tận tâm của chúng ta với công lý, với đặc tính của xã hội mình, với luật lệ, công bằng và bình đẳng, không thể đong đếm bằng cách chúng ta đối xử với người giàu, người có quyền, và có địa vị trong chúng ta. Tiêu chuẩn thật sự cho nhân cách của chúng ta nằm ở cách chúng ta đối xử với người nghèo, người bị ruồng rẫy, bị cáo buộc, bị bỏ tù, bị lên án. Khi để người khác bị đối xử tệ bạc, thì chúng ta cũng là đồng lõa. Thiếu đi lòng nhân ái, có thể hủy hoại đạo đức của một cộng đồng, một quốc gia. Nỗi sợ và cơn giận có thể khiến chúng ta muốn báo thù, công kích, và bất công, cho đến khi tất cả chúng ta đều khốn khổ vì thiếu vắng lòng thương và tự lên án mình cũng như lên án tha nhân.”

Điều tôi cần nêu bật ở đây là những gì chúng ta gây ra cho mình khi không có lòng nhân ái với người nghèo. Chúng ta tàn phá đạo đức của mình. Như Stevenson nói, Thiếu đi lòng nhân ái là hủy hoại nguyên tắc đạo đức, của mỗi cá nhân, gia đình, giáo hội và quốc gia. Làm sao lại thế?

Thánh Augustino dạy rằng chúng ta không bao giờ trung tính về đạo đức, hoặc theo đường đức hạnh hoặc theo đường đồi bại. Chúng ta không bao giờ có thể trung tính, ổn định cả. Không có sự trung tính về đạo đức cả, Chúng ta đi lên hoặc tụt dốc. Và ai ai cũng vậy. Không tiến thì lùi.

Và thái độ của chúng ta về công lý và người nghèo cũng vậy. Hoặc chúng ta vươn tay ra với người nghèo và bận tâm hơn về họ, hoặc chúng ta vô thức làm chai đá tâm hồn và ngày càng xem nhẹ những vấn đề của người nghèo, ngày càng xa cách họ. Nếu chúng ta không tích cực bảo vệ công lý và người nghèo, thì chắc chắn đến một lúc, chúng ta sẽ toàn tâm gạt ra khỏi đầu những vấn đề đói nghèo, kỳ thị, bất bình đẳng và bất công.

Một điều thú vị là trong dụ ngôn Ngày Phán xét, khi Chúa Giêsu tách chiên với dê, dựa theo cách họ đối xử với người nghèo, thì cả hai nhóm, những người làm đúng và những người làm sai, không nhóm nào biết thật sự mình đã từng làm gì. Nhóm người công chính nói rằng họ không biết khi phục vụ người nghèo là đã phục vụ Chúa Kitô, và nhóm người sai lầm biện hộ rằng nếu biết đó là Chúa Kitô, thì họ đã tiếp đón giúp đỡ tử tế rồi. Chúa Giêsu nói với họ, chuyện đó chẳng quan trọng. Tinh thần môn đệ trưởng thành hệ tại ở hành động, bất chấp thái độ có ý thức của chúng ta ra sao.

Và chúng ta cần cảnh giác, không chỉ với thái độ có ý thức của mình mà còn với việc chúng ta làm. Chúng ta có thể hết sức thật tâm, tử tế mà bịt mắt không thấy công lý và người nghèo. Chúng ta có thể là những người đạo đức, sốt sắng, hào phóng, nồng hậu, nhưng lại bịt mắt mình để trở thành một người chuộng chủ nghĩa ưu việt một cách sai trái, kỳ thị một cách kín đáo, vô tâm với môi trường, và bảo vệ những đặc quyền đặc lợi của mình. Chúng ta vẫn là những người tốt, nhưng thiếu đi lòng nhân ái trong một khía cạnh đời sống là chúng ta đạo đức què quặt rồi.

Chúng ta có thể là người tốt nhưng lại có những chai đá trong tim, vì chịu ảnh hưởng của những nhóm người quanh mình chẳng hạn. Trong bất kỳ nhóm nào, hoặc chúng ta nói chuyện về những cách hữu hiệu để thu lại khoảng cách giàu nghèo, hoặc chúng ta một cách vô thức, nói về nhu cầu cần bảo vệ khoảng cách đó. Một kiểu thì mở rộng, kiểu kia thì thu hẹp tấm lòng của chúng ta. Thiếu lòng nhân ái sẽ biến một trái tim độ lượng thành một trái tim thủ thế.

Chúng ta đều có những người bạn quý mến và cho chúng ta thấy mình là người tốt lành, rộng lượng, và có nhân cách. Và chắc chắn đúng là thế. Nhưng một sự khẳng định từ những người đồng hội đồng thuyền với chúng ta, có thể là một tấm gương méo mó. Tấm gương thực thụ chính là cách mà những người khác biệt với chúng ta về tính khí, tôn giáo, chủng tộc, chính trị nhận định về chúng ta. Người nghèo thấy gì về chúng ta? Người tị nạn thấy chúng ta tốt lành đến mức nào? Các chủng tộc khác thấy chúng ta có lòng nhân ái thế nào?

Và còn tấm gương của Chúa Giêsu, khi Ngài cho chúng ta biết phán xét sẽ dựa theo cách chúng ta đối xử với người nghèo, và phép thử cho sự tốt lành ở việc chúng ta có yêu thương địch thù của mình hay không.

Thiếu đi lòng nhân ái trong bất kỳ khía cạnh đời sống nào, thì phép tắc đạo đức của một cộng đoàn, một quốc gia, một giáo hội sẽ bị băng hoại, và nó còn biến lòng quảng đại của chúng ta thành thủ thế.

Những lúc đau đớn không cầu nguyện nổi

Vài năm trước, tôi nhận được một email khiến tôi bàng hoàng đến nghẹt thở. Một người đã nhiều năm là người thầy về tri thức và đức tin cho tôi, một người tôi tuyệt đối tin tưởng, và một người thâm giao tri kỷ với tôi, anh đã giết vợ rồi tự sát. Tin này khiến tôi thấy ngạt thở, tê liệt không thể hiểu nổi, không thể chấp nhận và cũng không biết cầu nguyện thế nào trước chuyện này.

Tôi không có lời nào để giải thích và cũng chẳng có lời nào để cầu nguyện. Cả trái tim và cái đầu của tôi như những bơm nước khô kiệt, vô dụng. Dù cho những người thân cận với anh hơn cho tôi biết là đã có những biểu hiện rối loạn tâm thần nhất định trước biến cố này, và họ tin chắc rằng đây là do một biến chứng não, chứ không phải là con người của anh. Nhưng… biết cầu nguyện thế nào trong hoàn cảnh này đây? Chẳng có lời nào để cầu nguyện cả.

Và chúng ta đều từng trải qua những lúc như thế này, khi một người thân yêu qua đời vì bị giết hại, tự sát, dùng thuốc quá liều, hay gặp tai nạn. Hay như cảm giác bất lực và bực mình trước những sự kiện dường như quá vô lý mà chúng ta thấy mỗi ngày. Những kẻ khủng bố giết hàng ngàn người vô tội, thiên tai khiến vô số người thiệt mạng và mất nhà cửa, những vụ xả súng đẫm máu ở New York, Paris, Las Vegas, Florida, San Bernardino, Sandy Hook, và nhiều nơi khác, cũng như hàng triệu người tị nạn phải chạy trốn khỏi quê hương xứ sở vì nghèo đói và chiến tranh. Và chúng ta đều quen ai đó đã nhận bản án tử là bệnh nan y, biết những cảnh đầu bạc tiễn đầu xanh, những bà mẹ trút hơi thở cuối cùng mà đau đớn vì con cái vẫn còn cần đến mình.

Trước những chuyện đó, chúng ta không chỉ dằn vặt vì sự vô nghĩa lý trong hoàn cảnh đó, mà còn đấu tranh để tìm những lời lẽ cũng như một lòng trí để cầu nguyện. Làm sao chúng ta cầu nguyện khi toàn thân tê dại đi vì sự bi kịch vô nghĩa lý đó? Làm sao chúng ta cầu nguyện khi không còn lòng trí nào nữa?

Thánh Phaolô bảo rằng khi chúng ta không biết cách cầu nguyện, thì Thần Khí rên xiết cầu nguyện cho chúng ta. Thánh Phaolô nói rằng khi còn có thể tìm được lời lẽ để cầu nguyện, thì đó chưa phải là lời cầu nguyện sâu sắc nhất. Cũng thế, khi ta còn lòng trí để cầu nguyện, thì đây chưa phải là lời cầu nguyện sâu sắc nhất. Lời cầu nguyện sâu sắc nhất của chúng ta là khi câm nín và dằn vặt, rã rời và bất lực. Sự dằn vặt câm nít thường là lời cầu nguyện sâu sắc nhất của ta. Chúng ta cầu nguyện sâu sắc nhất là khi khuỵu gối, không thể làm bất kỳ điều gì khác ngoài buông tay bất lực. Lời rên rỉ câm nín của chúng ta, dường là đối lập với lời cầu nguyện, nhưng thật ra, đó chính là lời cầu nguyện. Chính Thần Khí cầu nguyện qua chúng ta. Làm sao lại thế?

Thần Khí Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần, là Thần Khí của yêu thương, niềm vui, bình an, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng, trung tín, dịu dàng, và khiết tịnh. Và Thần Khí đó sống sâu trong lòng chúng ta, được Thiên Chúa đặt vào khi tạo nên chúng ta và ghi khắc sâu hơn với phép rửa. Khi chúng ta dằn vặt và quỵ gối trước những bi kịch quá đau đớn và vô nghĩa lý không thể chấp nhận, và chúng ta nuốt lấy tiếng rên rỉ bất lực của mình, thật ra là Thần Khí Thiên Chúa đang rên xiết trong chúng ta, kêu cầu sự tốt lành, nài van Chúa bằng một ngôn ngữ vượt quá lời lẽ của chúng ta.

Đôi khi chúng ta có lòng trí và lời lẽ để cầu nguyện, nhưng có những lúc, như trong sách Ai Ca, chúng ta chỉ biết vùi miệng xuống cát mà chờ đợi. Một độc giả từng gởi thư hỏi nhà thơ Rainer Marie Rilke, ông than van rằng trước mất mát to lớn ông tê tái không biết mình có thể làm gì với nỗi đau kinh khủng này. Và Rilke khuyên : Hãy để gánh nặng đó cho trần gian, cho trái đất, bởi trái đất thì nặng nề, núi non nặng nề, biển cả nặng nề. Và hãy để lời rên rỉ thành lời cầu nguyện!

Khi chúng ta không biết cách cầu nguyện, thì Thần Khí rên xiết cầu nguyện cho chúng ta. Vậy nên mỗi khi đối diện với hoàn cảnh bi đát khiến chúng ta câm lặng, không còn lòng trí nào nữa, đến nỗi chỉ nghĩ được rằng, Mình không thể giải thích nổi! Mình không chấp nhận nổi! Mình không chịu đựng nổi! Thật vô nghĩa lý! Cảm xúc tê bại! Đức tin tê bại! Mình không còn lòng trí nào để cầu nguyện! Thì khi đó thật khuây khỏa khi biết rằng sự dằn vặt tê bại đó chính là lời cầu nguyện của chúng ta, và có lẽ là lời cầu nguyện chân thành sâu sắc nhất của chúng ta.

Biện hộ cho Linh hồn

Thật khó để tìm tri kỷ nơi một người không tin bạn có linh hoan. Mới đây trên Radio The Moth, một cô gái trẻ chia sẻ câu chuyện của mình, kể về việc cô chia tay một người mà cô có tình cảm sâu đậm. Vấn đề là, cô có một đức tin sâu sắc, và phải đấu tranh với chủ nghĩa duy vật của bạn trai. Với anh ấy, linh hồn không tồn tại, chỉ có thế giới vật chất mà thôi. Cô cứ hỏi xem anh có tin mình có linh hồn không. Anh ấy không thể bắt mình tin như thế được. Và cuối cùng, dù đau lòng, nhưng họ đã chia tay. Tại sao lại thế? Nói theo lời cô ấy thì: “Thật khó để tìm tri kỷ nơi một người không tin bạn có linh hồn.”

Nỗi thất vọng của cô, vô số người cũng từng gặp. Thế giới của chúng ta ngày càng chối bỏ sự tồn tại của linh hồn. Nhưng không phải lúc nào cũng như thế. Cho đến trước thời hiện đại, thường thì chính vật chất và thân thể mới không được tôn vinh xứng đáng. Nhưng mọi thứ đã thay đổi, một cách triệt để.

Bắt đầu từ Darwin, người đặt nguồn gốc của chúng ta vào lịch sử thân thể hơn là linh hồn. Và điều này càng thành hình rõ hơn trong triết học cơ giới của thế kỷ trước, xem cả vũ trụ và chúng ta là những cỗ máy vật chất. Rồi điều này càng được củng cố hơn khi y học hiện đại và tâm lý kinh nghiệm ngày càng giải thích rằng, não trước hết là một phức hợp carbon và phản ứng hóa học. Rồi tâm thức này càng phát triển hơn nữa khi các trường đào tạo cấo cao của chúng ta tập trung vào kỹ thuật công nghệ hơn là về suy tư. Và tâm thức này cũng tích tụ trong nền văn hóa phổ biến hiện thời, khi tình yêu và tình dục được giải thích theo kiểu hóa sinh hơn là theo linh hồn. Thật chẳng có gì bất ngời khi câu khẩu quyết cho các ca sĩ pop thời nay là: Em muốn cơ thể anh! Anh muốn cơ thể em! Chúng ta đã đi quá xa khỏi hôn nhân của tâm trí đích thực của Shakespeare, và tình yêu của linh hồn lữ hành của Yeat.

Tất nhiên, tôn giáo luôn phản đối chuyện này, nhưng thường thì nhận thức của tôn giáo về linh hồn lại quá hẹp để có đủ sức mạnh kéo nền văn hóa vật chất về lại khao khát khám phá và lắng nghe linh hồn. Mỉa mai thay, một nhân vật không có tôn giáo, Carl Jung, lại nói về linh hồn theo một cách tri thức. Và chính nơi người bệnh, người điên, người tự tử, và những người có cuộc sống bị sụp đổ, mà Jung bắt đầu nghe ra tiếng kêu của linh hồn (với những đòi hỏi đôi khi rất khác với những đòi hỏi của thân thể, và với nhu cầu còn hơn xa yêu cầu tiện nghi và sống thọ).

Những khẳng định của Jung và các môn đồ của ông, có thể xem là một lời kháng nghị cho linh hồn. Chẳng hạn như trong bài viết của James Hillman. Mỉa mai thay, một người theo thuyết bất khả tri như ông có thể nói về linh hồn thật sâu sắc đến nỗi những người theo đạo như chúng tôi phải thấy mình nhỏ bé và ghen tị. Như Jung, James cũng rút ra nhiều thấu suốt của mình từ việc lắng nghe linh hồn kêu lên ý nghĩa và nỗi đau của mình qua tiếng nói của người bệnh, người điên, người sụp đổ và tự tử. Ông tin rằng tôn giáo, y học và tâm lý học, không lắng nghe tiếng kêu của linh hồn. Chúng không ngừng cố gắng sữa chữa, trị bệnh, hay cứu linh hồn, hơn là lắng nghe linh hồn. Mà linh hồn không mong muốn hay cần được chữa trị. Linh hồn là bất diệt rồi. Linh hồn cần được nghe, và nghe với hết sự tốt lành thiêng liêng và phức tạp trần gian của nó. Và đôi khi điều linh hồn nói với chúng ta lại đi ngược với mọi thường thức, kiến thức y học và cả các linh đạo tối giản mà chúng ta thường xem là tôn giáo.

Để gắn bó hơn với linh hồn của mình, chúng ta nên xem lại một ngôn ngữ cổ xưa hơn, ngôn ngữ mà tôn giáo, thi sĩ, thần thoại, và những người đang yêu đã dùng, trước khi chủ nghĩa vật chất thống trị biến ngôn ngữ về linh hồn của chúng ta thành ngôn ngữ của hóa sinh và cơ giới. Chúng ta không thể hiểu được linh hồn qua một mô tả khoa học, nhưng chỉ có thể hiểu bằng cách xem xét hành vi, sự ham muốn, bất mãn và phản kháng của linh hồn. Không thể giải thích, mà phải cảm nghiệm linh hồn, và cảm nghiệm linh hồn luôn nằm trong thâm sâu, khao khát, trong cái tôi, trong giới hạn, trong cảm giác lữ hành, trong nhu cầu cần một tri kỷ.

Đáng mừng là, ngày nay, chúng ta vẫn bộc phát kết nối linh hồn với những sự vượt trên hóa sinh và cơ giới. Như Hillman chỉ ra rằng: “Chúng ta liên kết từ “linh hồn” với tâm trí, tinh thần, tâm hồn, sự sống, hơi ấm, nhân văn, nhân cách, cá tính, ý định, bản chất, nội tại, mục đích, cảm xúc, phẩm chất, đức hạnh, tội lỗi, khôn ngoan, sự chết, Thiên Chúa. Và chúng ta nói linh hồn là “phiền phức” “già cỗi” “vô hình” “bất tử” “lạc lối” “ngây thơ” “hứng khởi”. Chúng ta có thể nói đôi mắt “có hồn” bởi đôi mắt là tấm gương của linh hồn, và những người không có lòng thương là người “vô hồn”.

Chúng ta hiểu rõ cấu thành của sự gì đó khi nó vỡ ra. Vậy nên có lẽ thời nay, chúng ta có thể hiểu rõ sự vô hồn trong việc chúng ta ngày càng chấp nhận khiêu dâm và tình dục qua đường, việc chúng ta thấy cần thiết và có chủ ý loại bỏ linh hồn khỏi những trải nghiệm mang tính linh hồn nhất.

Tưởng nhớ Kathleen Dowling Singh

Kathleen Dowling Singh làm việc ở một nhà chăm sóc, đồng thời là một chuyên gia trị liệu tâm lý, bà cũng là một ngòi bút thiêng liêng rất sâu sắc.

Bà có tiếng và được kính nể trong giới tác giả và giảng dạy về linh đạo, nhờ ba quyển sách chính là: Ơn Sống, Ơn Già, và Ơn Chết (The Grace in Living; The Grace in Aging, The Grace in Dying). Điều thú vị là, bà viết bộ ba tác phẩm này theo thứ tự đảo ngược, bắt đầu từ chết, cho đến già, và cuối cùng là suy tư về sự sống. Và bà làm thế là bởi những thấu suốt của bà rút ra từ kinh nghiệm làm việc trong nhà chăm sóc, lo cho các bệnh nhân bị bệnh nan y. Đồng hành và chứng kiến những người hấp hối dạy cho bà nhiều điều về ý nghĩa của tuổi già, và cuối cùng là ý nghĩa của cuộc sống. Những quyển sách của bà cố gắng nêu bật ân sủng sâu sắc trong mỗi giai đoạn sống của chúng ta.

Tôi muốn nêu bật đặc biệt những thấu suốt của bà trong quyển sách đầu tay: Ơn Chết. Ngoài Kinh thánh và một số nhà thần nghiệm kinh điển, tôi chưa thấy ai có nhận thức thiêng liêng sâu sắc như Singh, về ý định của Thiên Chúa và tự nhiên trong tiến trình đi đến cái chết của chúng ta, nhất là nơi những người chết vì tuổi già và bệnh nan y.

Singh đặt luận đề của mình trên dòng này: Tiến trình chết là điều chỉnh tinh tế để đưa chúng ta đến với địa hạt tâm linh. Trong tiến trình của cái chết hàm chứa sự khôn ngoan. Cụ thể là thế này:

Cả đời, ý thức của chúng ta đã hạn chế nhận thức, khép chặt không để nhận thức của ta mở ra với địa hạt thiêng liêng. Nhưng đó không phải là con người ban đầu của chúng ta. Khi còn nhỏ, chúng ta vô cùng cởi mở. Một đứa trẻ thật rạng rỡ, nhưng chúng không biết suy nghĩ. Để suy nghĩ, thì cần có một cái tôi, một tự thức, và theo Singh, sự cấu thành cái tôi đó, điều kiện của tự thức, khiến chúng ta nhận lấy bốn tiêm nhiễm tâm thần lớn, mỗi thứ lại khép kín nhận thức của ta về thế giới thiêng liêng theo những cách khác nhau.

Chúng ta cấu thành cái tôi như thế này. Trước hết, khi còn nhỏ, là sự phân biệt cái gì của mình và cái gì của người khác. Đó là tiêm nhiễm đầu tiên. Không lâu sau đó, đứa bé phân biệt giữa sống và không sống, chú chó thì sống còn hòn đá thì không. Rồi sau đó, đứa bé phân biệt giữa tâm trí và thân thể, thân thể thì cụ thể và chắc chắn còn tâm trí thì không. Cuối cùng, chúng ta phân biệt giữa những gì mình có thể đối diện bên trong con người mình và những gì quá kinh hãi không thể đối mặt nổi. Chúng ta tách biệt sự sáng láng và phức tạp của mình khỏi tự thức, và thường gọi chúng là cái bóng. Mỗi một biến chuyển này lại khóa chặt một lĩnh vực của thực tại với nhận thức của ta. Và khi làm thế, chúng ta tạo nên nỗi sợ chết.

Tiến trình già và chết phá vỡ những tiêm nhiễm này, đảo ngược cách chúng ta thành hình chúng, và mỗi lần phá vỡ, chúng ta lại nhận thức được một địa hạt hiện thực rộng hơn, nhất là địa hạt thiêng liêng. Và tiến trình này tích tụ trong những thời khắc trước khi chết nơi cảm nghiệm xuất thần, mà nhiều người đã chứng kiến nơi nhiều bệnh nhân nan y. Khi sự tiêm nhiễm cuối cùng tạo thành cái tôi của chúng ta bị phá vỡ, thì tinh thần tuôn vào và chúng ta xuất thần. Là một nhân viên chăm sóc, Singh đã nhiều lần nhìn thấy chuyện này nơi các bệnh nhân của mình.

Elizabeth Kubler Ross, cho rằng một số người bị chẩn đoán bệnh nan y sẽ đi qua năm giai đoạn trước khi chết. Là Chối bỏ, Giận dữ, Thương lượng, Trầm cảm, và Chấp nhận. Singh cũng đồng ý như thế, trừ việc bà thêm ba giai đoạn nữa. Một cú ngã vào tăm tối dẫn đến tuyệt vọng, sự từ bỏ còn lớn hơn cả sự chấp nhận ban đầu, và một cơn xuất thần tuôn vào. Bà chỉ ra rằng Chúa Giêsu đã đi qua những giai đoạn này trên thập giá, một lời kêu than mình bị bỏ rơi như xuất phát từ nỗi tuyệt vọng, việc trao phó tinh thần của mình, và cơn xuất thần đến với Ngài khi chết.

Thấu suốt của Singh giúp chúng ta thấy khuây khỏa nhiều. Tiến trình chết sẽ cho chúng ta những điều tương tự như trong đời sống cầu nguyện và quên mình, cụ thể là nó giúp chúng ta phá vỡ sự ích kỷ và chúng ta được mở ra với địa hạt thiêng liêng. Thiên Chúa sẽ đến với chúng ta, bằng cách này hay cách khác.

Chúng ta vừa mất đi một người phụ nữ vĩ đại và một ngòi bút thiêng liêng lớn. Các con của bà, sau khi bà qua đời, đã viết trên Facebook đơn giản rằng, mẹ của họ muốn tất cả chúng ta biết rằng “bà là một người bình thường chết một cái chết bình thường.” Nhưng di sản tinh thần bà để lại cho chúng ta thì không thường chút nào.

Không phải người giữ cửa

Toni Morrison, tác giả đoạt giải Nobel đã đặt ra câu hỏi này, “Tại sao anh muốn quen biết một người lạ, trong khi ghẻ lạnh một ai đó thì dễ dàng hơn? Tại sao chúng ta muốn kết nối những khoảng cách trong khi chúng ta có thể đóng sầm cánh cổng?” Nhưng đây không phải là một câu hỏi, mà là một nhận định.

Đây là một nhận định tiêu cực về cả xã hội và Giáo hội của chúng ta. Thật sự lòng của chúng ta hướng về cái nào? Chúng ta cố gắng để kết nối những khoảng cách giữa chúng ta và những người xa lạ, hay là chúng ta cố gắng đóng sầm cánh cổng để giữ những kẻ xa lạ với chúng ta?

Nói một cách công bằng, câu này chỉ ra rằng, đây là điều mà chúng ta phải đấu tranh. Không có một thời đại vàng son khi mọi người đều nhiệt thành chào đón người lạ. Có những con người và những cộng đồng với tấm lòng vàng luôn mở ra để chào đón, nhưng ở tầm mức toàn xã hội hay Giáo hội thì không.

Vấn đề này cũng là một điều phải đương đầu và là trọng tâm trong các chính sách thời nay. Khi khắp nơi, các quốc gia đang đấu tranh giữa các chính sách nhập cư của mình và bổn phận phải làm với hàng triệu người tị nạn và di dân muốn vào đất nước họ, thì tôi muốn đưa ra lời thách thức của Morrison: Chúng ta mời người lạ vào? Hay chúng ta thấy hài lòng khi để những người lạ tránh xa nhà của mình?

Có một thách thức điển hình trong dụ ngôn của Chúa Giêsu về ông chủ vườn nho quá hào phóng, nhưng chúng ta lại thường dễ bỏ qua. Thách thức này nằm trong câu hỏi mà ông chủ hỏi nhóm nhân công cuối cùng, những người chỉ làm việc trong vòng một tiếng đồng hồ. Không như nhóm đầu tiên, ông chủ không hỏi họ, “Các anh có muốn làm việc trong vườn nho của tôi không?” Mà ông chủ hỏi rằng, “Tại sao anh không làm việc?” Họ trả lời, “Bởi chẳng ai thuê chúng tôi!” Hãy để ý rằng họ không trả lời là họ không làm việc vì họ lười biếng, thiếu năng lực. Và câu hỏi của ông chủ vườn cũng không có ý như thế. Họ không làm việc đơn giản là bởi không ai mời họ làm việc!

Đáng buồn thay, đây cũng là trường hợp cho rất nhiều người dường như đang lạnh lùng hay lãnh đạm với tôn giáo và Giáo hội của chúng ta. Không một ai mời họ vào! Và điều này cũng đúng ở thời của Chúa Giêsu. Có một nhóm người lãnh đạm và thù địch với tôn giáo dường như đều bị kết án đơn giản là tội nhân. Những người bị xem là tội nhân này, là các gái điếm, người thu thuế, ngoại kiều và tội phạm. Chúa Giêsu mời họ đến, và nhiều người trong số họ đã đáp lời một cách chân thành, hối cải, và sốt mến đến nỗi khiến cho những người tự nhận mình là tín hữu cũng phải thấy xấu hổ. Với những người bị xem là tội nhân này, ngăn cách giữa họ và cổng vào nước trời chỉ là một lời mời chân thật mà thôi.

Tại sao anh không đi lễ?

Bởi chẳng có ai mời tôi cả!

Trong những kinh nghiệm mục vụ phải nói là có giới hạn của tôi, tôi đã chứng kiến nhiều người từ lúc nhỏ cho đến tận tuổi trung niên đã sống lãnh đạm thậm chí là sợ hãi kiểu hoang tưởng về tôn giáo và giáo hội. Họ xem đó là một thế giới mà họ bị loại trừ. Nhưng nhờ một số người nhân hậu, hay gặp một hoàn cảnh nào đó, mà họ cảm nhận mình được mời gọi và họ trao trọn bản thân cho gia đình xã hội mà họ mới tìm thấy, một cách nồng hậu, nhiệt thành, biết ơn và thường vô cùng tự hào về tình trạng mới của mình. Tôi đã chứng kiến việc này nhiều lần và tôi hiểu tại sao các cô gái điếm và người thu thuế đã tin vào Chúa Giêsu, hơn những kinh sư, luật sĩ thời đó. Bởi vì Ngài là người đầu tiên thật sự mời gọi họ.

Đáng buồn thay lại có một sự đối lập với tinh thần này và điều này lại thường xuyên xảy ra, là khi chúng ta không mời gọi một số người mà lại năng nổ tìm cách đóng sầm cánh cửa với họ. Chúng ta đã thấy điều này nhiều lần trong Tin mừng, khi các môn đệ ngăn chặn người ta đến với Chúa Giêsu, khi người ta cố đưa người bị liệt đến với Chúa, nhưng không thể vào được vì bị đám đông chắn lối, nên họ phải trổ một cái lỗ trên mái nhà để thả người đó xuống cho Chúa Giêsu.

Chúng ta đã chắn lối người khác tìm đến Chúa Giêsu, một cách thường xuyên, vô thức, thật tâm nhưng mù quáng. Đây là một nguy cơ, nhất là với những ai đang lo việc mục vụ. Chúng ta quá dễ dàng, thật tâm, nhân danh Chúa Giêsu, nhân danh thần học chính thống và nhân danh việc mục vụ, mà tự cho mình làm người gác cổng, làm người bảo vệ Giáo hội, và buộc người ta phải đi qua mình để đến với Chúa. Chúng ta cần nhớ rõ hơn nữa, rằng chỉ có Chúa Giêsu là cửa cho chiên vào, và chúng ta cần thanh luyện con người mình bằng cách thấy ra vì sao mà Chúa Giêsu đã đuổi những người đổi tiền trong đền thờ. Những người đổi tiền đó đã tự xem mình là trung gian mà người ta phải gặp trước khi dâng lễ vật lên Chúa. Và Chúa Giêsu không chấp nhận điều đó.

Sứ mạng môn đệ Chúa Giêsu không phải là làm người giữ cửa. Mà là tìm cách để nối kết khoảng cách và mời gọi người lạ vào.

Ngôn ngữ mở rộng hay khép kín tâm thức của chúng ta

30 năm trước nhà giáo dục người Mỹ, Allan Bloom, đã viết một quyển sách với tựa đề Sự khép kín của tâm thức Mỹ (The Closing of the American Mind). Lập luận của ông là trong thế giới thế tục hóa thời nay, ngôn ngữ của chúng ta trở nên mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa, một chiều và thiếu chiều sâu hơn bao giờ hết. Và chính điều này khép kín tâm thức của chúng ta, bằng cách tước đoạt những ý nghĩa sâu xa hơn bên trong cảm nghiệm của chúng ta. Với ông, cách chúng ta xác định một cảm nghiệm quyết định tầm mức ý nghĩa lớn lao hơn của nó.

20 năm trước trong một bài luận còn sâu sắc hơn với tựa đề Sự chiến thắng của Phép chữa bệnh (The Triumph of the Therapeutic), Philip Rieff đã nêu ra một luận điểm tương tự. Với ông, chúng ta sống trong một tình trạng “bờ rào hình tượng,” cụ thể là một ngôn ngữ và các biểu tượng mà chúng ta dùng để diễn giải các kinh nghiệm của mình. Bờ rào đó có thể cao hay thấp, rồi từ đó ý nghĩa mà chúng ta rút ra từ một cảm nghiệm cũng cao thấp như vậy. Cảm nghiệm có thể phong phú hoặc nông cạn tùy theo ngôn ngữ mà chúng ta dùng để diễn giải nó.

Lấy một ví dụ thế này: một người bị đau lưng và đến gặp bác sĩ, và bác sĩ bảo là ông bị chứng viêm khớp. Nghe thế ông khá yên tâm, nhưng chưa thấy thỏa mãn, nên ông đến gặp một bác sĩ tâm lý. Bác sĩ tâm lý bảo ông là những triệu chứng của ông không phải chỉ về mặt thể lý nhưng ông còn đang gặp phải cơn khủng hoảng tuổi trung niên. Và như thế cơn đau của ông đã được đặt vào một mức độ sâu hơn, cho ông hiểu rõ hơn về tình trạng của mình. Nhưng ông vẫn chưa thỏa mãn và đến gặp một vị linh hướng. Vị linh hướng, dù không bác bỏ là ông có bị viêm khớp và khủng hoảng tuổi trung niên, nhưng còn bảo ông rằng, ông nên xem cơn đau của mình như là Vườn Cây Dầu, như là thập giá để vác.

Cả ba chẩn đoán này điều nói về cùng một chứng đau nhưng mỗi lời lại đặt chứng đau đó dưới một bờ rào hình tượng khác nhau. Ngôn ngữ có nhiều cấp độ khác nhau và chỉ có một thứ ngôn ngữ nhất định nói được tầm mức của linh hồn. Gần đây chúng ta đã có nhiều cách hơn để hiểu điều này, qua các tác phẩm của Carl Jung và một số môn đệ của ông, họ đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn ngôn ngữ của linh hồn và cách ngôn ngữ đó phơi bày những nguyên hình mẫu sâu xa trong chúng ta.
Chúng ta thấy ngôn ngữ của linh hồn là một trong số những điều bí ẩn và thần thoại nhất. Sự đơn giản của ngôn ngữ linh hồn có thể khiến bạn bị nhầm. Đơn giản nhưng không đơn điệu. Một ví dụ là câu chuyện Cô bé Lọ Lem. Điều đầu tiên chúng ta cần chú ý trong câu chuyện này đó là tên của Cô bé Lọ Lem. Cinderella không phải là một cái tên thật nhưng là ghép bởi hai từ: Cinder, nghĩa là tro, và Puella nghĩa là cô gái bất tử. Đây không phải là một câu chuyện thần tiên đơn giản về một cô bé cô đơn bị hành hạ. Nó là câu chuyện để nêu bật một cơ cấu sâu xa trong linh hồn con người. Cụ thể là trước khi linh hồn của chúng ta sẵn sàng để mang lấy đôi hài thủy tinh, để làm tâm điểm của buổi tiệc, cưới hoàng tử và sống hạnh phúc mãi mãi về sau, thì chúng ta phải trải qua một số thời gian vùi trong tro bụi, bị sỉ nhục và được thanh luyện.

Câu chuyện này có cách của nó để nói lên linh đạo của chúng ta về mùa chay, một mùa ăn năn hối cải khi chúng ta lấy tro xức lên mình, để đi vào hoang địa chính mình.
Cô Bé Lọ Lem là một câu chuyện soi rọi đôi chút vào chiều sâu của linh hồn chúng ta. Nhiều chuyện cổ tích có tác dụng như thế, dù cho không có chuyện gì, hay cái gì có thể soi rọi vào linh hồn sâu xa hơn là Kinh Thánh. Ngôn ngữ và những biểu tượng trong Kinh Thánh xác định cảm nghiệm của chúng ta theo một cách vừa tôn vinh linh hoan, vừa giúp chúng ta đưa chiều sâu đích thực vào trong các cảm nghiệm của mình.

Ví dụ như chúng ta có thể thấy hoang mang, hay nói cách khác là ở trong bụng của con cá voi. Có thể thấy mình bất lực trước chứng nghiện, hay nói cách khác là bị quỷ ám. Chúng ta có thể giao động giữa đời sống cầu nguyện sốt sắng và những giờ u ám, hay nói khác là đang dao động giữa đi cùng Chúa đến Galilê hay ở với Ngài tại Giêrusalem. Chúng ta có thể bị tê liệt khi đứng trước một sự toàn cầu hóa quá mức với chúng ta, hay nói cách khác là chúng ta có thể đứng với Chúa Giêsu bên rìa của vùng Samari, nói chuyện với một người phụ nữ dân ngoại. Chúng ta có thể phải đấu tranh giữa sự trung tín với Chúa và sự gắn bó với các quan hệ của mình, hay nói cách khác là chúng ta có thể đứng cùng ông Joshua, nhận huấn lệnh giết hết người Canaan nếu muốn được vào đất hứa. Chúng ta có thể bị đau khớp, hay nói cách khác là đang đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu.
Ngôn ngữ mà chúng ta dùng để hiểu một cảm nghiệm sẽ tạo nên sự khác biệt vô cùng lớn trong những gì mà cảm nghiệm đó đem lại cho chúng ta. Trong quyển Sự khép kín của tâm thức Mỹ, Allan Bloom đã dùng một hình ảnh trần tục hơn nhưng rất sinh động để giải thích điều này. Ông nói rằng trong những giờ nghỉ, các học trò của Plato ngồi lại và kể những câu chuyện tuyệt vời đầy ý nghĩa về những khát khao bất tử trong họ. Còn sinh viên của ông trong giờ nghỉ, thì ngồi quanh và nói chuyện gái gú.

Chúng ta đang đánh mất và ngày càng thiếu thốn ngôn ngữ của linh hồn.

Nỗi sợ lành mạnh và không lành mạnh về Thiên Chúa

Là một thần học gia, linh mục và giảng viên, tôi thường nhận được những câu hỏi: “Tại sao giáo hội không nói nhiều về nỗi sợ với Thiên Chúa nữa? Tại sao chúng ta không nói nhiều về hỏa ngục nữa? Tại sao chúng ta không giảng nhiều về cơn giận của Thiên Chúa và lửa hỏa ngục nữa?”

Không khó để trả lời những câu hỏi này. Chúng ta không giảng nhiều về nỗi sợ nữa, bởi đơn giản rằng việc đó là sai, trừ khi chúng ta cực kỳ cẩn thận khi nói về nó. Phải công nhận, nỗi sợ có thể khiến cho người ta thay đổi hành vi nhưng nó cũng có thể hạ giá và phần nào là tẩy não con người. Một thứ có tác dụng không đồng nghĩa rằng nó đúng. Chỉ được giảng về nỗi sợ Thiên Chúa trong một bối cảnh yêu thương mà thôi.

Chính Kinh Thánh dường như cũng cho chúng ta thông điệp phức tạp. Một mặt nói rằng kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan, nhưng Kinh Thánh cũng nói, mỗi lần Thiên Chúa xuất hiện trong lịch sử nhân loại, thì những lời đầu tiên của Ngài luôn là “Đừng sợ.” Lời này xuất phát từ chính miệng Thiên Chúa, hay qua các ngôi sứ, những người truyền tin của Chúa. Lời này đã xuất hiện hơn 300 lần trong Kinh Thánh. Những lời đầu tiên chúng ta sẽ nghe, trong mọi lần Thiên Chúa xuất hiện trong cuộc đời chúng ta là “Đừng sợ.” Chúng ta phải cẩn thận khi giảng về nỗi sợ với Thiên Chúa. Nỗi sợ bị trừng phạt không phải là thông điệp đích thực mà chúng ta nghe khi Thiên Chúa đi vào cuộc đời chúng ta.

Vậy thì làm sao kính sợ Thiên Chúa lại là khởi đầu của khôn ngoan? Trong mối liên hệ chúng ta với Thiên Chúa, cũng như trong mối liên hệ giữa chúng ta với người khác, có những nỗi sợ lành mạnh và không lành mạnh. Nỗi sợ lành mạnh là gì?

Nỗi sợ lành mạnh là nỗi sợ của yêu thương. Khi chúng ta yêu ai đó, tình yêu của chúng ta sẽ có một số nỗi sợ lành mạnh và chúng ta sẽ phải cẩn trọng. Chúng ta sợ mình tỏ ra thiếu tôn trọng, sợ mình ích kỷ. Mọi tình yêu lành mạnh đều có một nỗi sợ, rằng mình không để người kia được hoàn toàn tự do. Sự tôn kính và tôn trọng cũng là một phần của nỗi sợ. Nhưng đây không phải là kinh sợ, thấy mình nhỏ bé hay khiếp đảm trước một hình phạt nào đó. Nỗi sợ vì yêu thương chính là nỗi sợ mà Thiên Chúa đã tạo ra trong lòng ông Môsê khi ông đứng trước bụi gai bốc cháy: “Hãy cởi giày ra, vì nơi người đang đứng là đất thánh!”

Chúng ta hiểu “kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan” là như thế nào? Chúng ta khôn ngoan và theo lẽ phải khi chúng ta đứng trước mầu nhiệm Thiên Chúa và tình yêu với đôi giày đã cởi ra, nghĩa là có một sự tôn kính. Chúng ta khiêm nhường và mở lòng ra với mầu nhiệm lớn lao định hình chúng ta cho những mục đích vô tận. Nhưng điều này rất xa và gần như là đối lập với nỗi sợ mà chúng ta cảm nhận khi bị đe dọa, với người hoặc vật đang đe dọa chúng ta theo kiểu nhẫn tâm độc đoán và trừng phạt.

Cũng có một nỗi sợ Thiên Chúa lành mạnh nảy sinh trong chúng ta khi sợ mình đang gây hại cho những gì tốt lành chân thật và xinh đẹp trong thế giới này. Một vài tôn giáo gọi đây là nỗi sợ trước nghiệp chướng. Còn Chúa Giêsu thì mời gọi chúng ta đến với nỗi sợ thánh thiện này khi Ngài bảo chúng ta rằng “anh em đong đấu nào thì sẽ được đong lại bằng đấu ấy.” Có một cơ cấu luân lý trong vũ trụ này trong cuộc đời và trong mỗi chúng ta. Tất cả mọi sự đều có một giới hạn luân lý mà chúng ta cần phải tôn trọng. Sợ mình xâm phạm chân thiện mỹ là một điều làng mạnh.

Chúng ta cần rao giảng nỗi sợ lành mạnh này hơn là một nỗi sợ rằng chúng ta phải sợ Thiên Chúa trừng phạt chúng ta theo một cách vị luật và cứng ngắc. Bất cứ lúc nào chúng ta rao giảng nỗi sợ không lành mạnh này, nỗi sợ một Thiên Chúa chực chờ giáng lửa hỏa ngục, là chúng ta gần như đang rao giảng về một Thiên Chúa không cảm thông, không thông hiểu, và không tha thứ cho lắm. Một Thiên Chúa mà chúng ta phải sợ vì những hình phạt này là một Thiên Chúa mà không bao giờ chúng ta tìm thấy được sự thân mật nồng ấm bên Ngài. Tình yêu không có chỗ cho đe dọa, trừ khi đó là một nỗi sợ rằng mình có thể làm gì đó thiếu tôn trọng, sợ làm mất đi tình yêu. Biển lửa hỏa ngục có thể là một chiến lược có hiệu quả để giúp người ta thay đổi hành vi, nhưng xét theo Tin Mừng, đó là một chiến lược sai trái.

Sợ là một trong những bản năng sâu xa nhất và giúp duy trì sự sống cho bạn. Không biết sợ bạn khó mà sống thọ được. Nhưng nỗi sợ là một hiện tượng phức tạp đa chiều. Một vài nỗi sợ giúp bạn sống sót, Nhưng có những nỗi sợ làm bạn bị biến dạng và bị giam hãm.

Trong đời có những thứ cần phải sợ. Nhưng Thiên Chúa không nằm trong số đó. Thiên Chúa không phải là một kẻ bắt nạt trong sân chơi cũng không phải một bạo chúa độc đoán, nhưng là tình yêu luôn mãi mời gọi chúng ta kết hiệp mật thiết với Ngài.

Lời nguyện xin Tĩnh lặng

Hãy làm thinh và biết Ta là Đức Chúa.

Kinh thánh quả quyết với chúng rằng nếu chúng ta làm thinh thì sẽ biết Chúa, nhưng có được sự lặng yên thì nói dễ hơn làm. Như Blaise Pascal từng nói, “Mọi khốn khổ của con người là do chẳng ai có thể ngồi yên trong một tiếng đồng hồ.” Đạt được sự tĩnh lặng có vẻ là việc quá tầm chúng ta, và như thế chúng ta gặp một song đề: chúng ta cần tĩnh lặng để tìm Chúa, nhưng cần Chúa giúp để tìm sự tĩnh lặng. Nghĩ như thế, tôi xin đưa gởi gắm các bạn một lời nguyện xin sự tĩnh lặng.

Lạy Thiên Chúa của tĩnh lặng…

Xin làm tĩnh lặng những bồn chồn tuổi trẻ của con, tĩnh lặng cơn đói khát cứ ập vào con, cơn đói khát muốn nối kết với mọi người, muốn thấy và và thưởng nếm mọi thứ, cơn đói khát khiến con mất bình an những buổi tối cuối tuần. Xin tĩnh lặng những giấc mơ tự đại muốn mình nổi bật với người khác. Xin cho con ơn sống hài lòng hơn với bản thân con.

Xin tĩnh lặng cơn bồn chồn khiến con thấy mình quá nhỏ bé. Xin cho con biết rằng đời con là đủ, và con không cần đòi hỏi về mình, dù cho cả thế giới đang cố lôi kéo con làm thế với vô vàn những hình ảnh tiếng động khắp nơi. Xin cho con ơn sống bình an trong cuộc đời mình.

Xin làm tĩnh lặng tính dục của con, chỉnh đốn những khao khát bừa bãi, dục vọng của con, nhu cầu không ngơi muốn được thân mật hơn nữa của con. Xin tĩnh lặng và chỉnh đốn những dục vọng trần tục của con mà không cần phải xóa bỏ chúng đi. Xin cho con biết nhìn người khác mà không phải với con mắt tình dục ích kỷ.

Xin tĩnh lặng những lo âu, trăn trở của con và đừng để con lúc nào cũng sống ngoài giây phút hiện tại. Xin cho con biết ngày nào có mối lo của ngày ấy. Xin cho con ơn biết rằng Chúa đã gọi con trong yêu thương, viết sẵn tên con trên thiên đàng, và con được tự do sống mà không cần lo lắng.

Xin tĩnh lặng nhu cầu muốn bận rộn luôn mãi của con, muốn kiếm việc gì đó để làm, muốn lên kế hoạch cho ngày mai, muốn hoạt động mọi phút giây, muốn tìm cái gì đó để lấp đầy khoảng thinh lặng. Xin cho con biết thêm tuổi thêm khôn ngoan. Xin làm nguôi đi những cơn giận âm ỉ vô thức của con vì thấy quá nhiều mong muốn của mình chưa thành sự. Xin tĩnh lặng sự chua cay vì thất bại của con. Xin giữ con khỏi ghen tương khi con cay đắng chấp nhận những giới hạn của cuộc sống mình.

Xin cho con ơn chấp nhận những thất bại và hoàn cảnh của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ chính mình, nỗi sợ trước những thế lực tăm tối đang đe dọa con trong vô thức. Xin cho con can đảm để đối diện với bóng tối cũng như ánh sáng của chính mình. Xin cho con ơn đừng sợ sự phức tạp của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ bẩm tại của con là sợ mình không được yêu thương, sợ con không xứng đáng để yêu. Xin làm tĩnh lặng sự hoài nghi dằn vặt rằng con luôn là kẻ ngoài cuộc, rằng cuộc sống thật bất công, rằng con không được tôn trọng và thừa nhận. Xin cho con ơn biết rằng con là con yêu dấu của Chúa, Đấng yêu thương con vô điều kiện.

Xin tĩnh lặng trong con nỗi sợ vô cớ đối với Chúa, để con đừng thấy Chúa xa cách và đáng sợ, mà thay vào đó là nhìn thấy Chúa nồng ấm và thân thiện. Xin cho con ơn liên kết với Chúa thật hồn nhiên, như một người bạn mà con có thể chuyện trò, đùa giỡn, vui vẻ và thân thiết.

Xin tĩnh lặng trong con những suy nghĩ bất dung, về những giận hơn từ quá khứ, những bội bạc, lăng mạ mà con phải chịu. Xin tĩnh lặng trong con những tội mà chính con đã phạm. Xin tĩnh lặng trong con những tổn thương, cay đắng và giận hờn. Xin cho con sự tĩnh lặng từ sự tha thứ, từ con và cho con.

Xin tĩnh lặng những nghi ngờ, lo lắng về sự hiện diện của Chúa, về lòng trung tín của Chúa. Xin tĩnh lặng trong con xung lực muốn để lại dấu ấn, muốn tạo nên gì đó bất tử cho bản thân mình. Xin cho con ơn biết tin tưởng, ngay cả trong tối tăm và nghi hoặc, rằng chính Chúa sẽ cho con sự sống đời đời.

Xin tĩnh lặng tâm hồn con để con biết Chúa là Thiên Chúa, và cho con biết Chúa đã tạo dựng và gìn giữ mọi hơi thở của con, rằng Chúa yêu thương con cũng như hết thảy mọi người, rằng Chúa muốn cuộc sống chúng con bừng nở, Chúa muốn chúng con hạnh phúc, Chúa yêu thương và chăm lo hết mọi người, rằng chúng con sẽ được an bình trong bàn tay nhân từ của Chúa, ở đời này và đời sau.

Đấu tranh với sự giàu có

Vài năm trước, tôi có dự một tang lễ. Người này đã được tận hưởng một cuộc sống trọn vẹn và giàu có. Ông thọ 90 tuổi và được tôn trọng vì là một người thành đạt và lương thiện. Ông luôn là một người mạnh mẽ, một lãnh đạo bẩm sinh, một người đứng đầu trong mọi chuyện. Ông có cuộc hôn nhân tốt đẹp, gia đình đông con, thành công trong kinh doanh, và giúp điều khiển nhiều tổ chức dân sự cũng như trong nhà thờ. Ông là người được kính trọng dù cho đôi khi ông thấy sợ chính sức mạnh của mình.
Con trai ông, một linh mục, chủ trì nghi thức an táng. Cha bắt đầu bài giảng thế này:

“Kinh thánh bảo chúng ta rằng bảy mươi là được rồi, mạnh giỏi thì được tám mươi. Bố của chúng tôi sống đến chín mươi tuổi. Tại sao lại có thêm mười năm này? Không có gì bí ẩn. Chúa cho thêm mười năm để bố tôi dịu lại. Bố tôi quá mạnh mẽ và khó tính để chết ở tuổi tám mươi! Nhưng trong mười năm cuối đời, bố tôi đã chịu nhiều thay đổi suy giảm lớn. Mẹ tôi mất, và bố tôi không bao giờ nguôi ngoai được. Bố tôi bị lên cơn đau tim, và không dễ chấp nhận như thế. Bố phải sống với nhiều sự trợ giúp, và không dễ chấp nhận như thế. Tất cả những mất mát này có tác dụng của chúng. Đến lúc hấp hối, bố có thể cầm tay ai đó mà nói: “Giúp tôi.” Năm ngoái, khi không thể thắt dây giày, bố tôi cũng không thể nói lên hai từ đó. Nhưng đến cuối cùng, bố tôi đã sẵn sàng về trời. Giờ khi gặp thánh Phêrô ở cửa thiên đàng, bố tôi có thể nói: “Giúp tôi!” thay vì chỉ bảo thánh Phêrô phải làm việc thế nào.”

Câu chuyện này giúp chúng ta hiểu ra lời dạy của Chúa Giêsu rằng, người giàu khó vào nước trời, còn trẻ con thì sẽ vào như lẽ tự nhiên. Chúng ta thường hiểu lầm điều này.

Tại sao trẻ con vào thiên đàng như lẽ tự nhiên? Để trả lời, chúng ta có khuynh hướng lý tưởng hóa sự ngây thơ của con trẻ, một điểm có vẻ gây nhiều ấn tượng. Nhưng đấy không phải là điều Chúa Giêsu dạy, sự ngây thơ cho người lớn là điều bất khả thi. Chúa Giêsu không tôn vinh sự ngây thơ của con trẻ, mà đúng ra là tôn vinh việc trẻ con không có ảo tưởng về cái tôi toàn năng của mình. Trẻ con không có lựa chọn nào khác ngoài nhận thức mình cần ai đó. Chúng không tự phụ và biết rằng chúng không thể tự lo cho mình. Nếu không có ai cho chúng ăn, chúng sẽ đói. Chúng phải nói, và nói thường xuyên: “Giúp con.”

Với người lớn, thường ngược lại, nhất là khi chúng ta mạnh mẽ, tài năng, và có của cải đầy đủ. Chúng ta dễ dàng nuôi ảo tưởng tự phụ. Với sức mạnh của mình, chúng ta thường quên mất rằng mình cần người khác, rằng mình không thể chỉ dựa vào bản thân được.

Bài học tôi muốn nói đây là, giàu có không phải chuyện xấu. Giàu có, tài năng, thông minh, khỏe mạnh, xinh đẹp, giỏi lãnh đạo, là những ơn Chúa ban. Chúng là tốt. Sự giàu có không chặn lối chúng ta vào thiên đàng. Đúng hơn, mối nguy chính là khi giàu có và tài năng, chúng ta dễ dàng mang ảo tưởng tự phụ. Như thánh Tôma Aquinô chỉ ra rằng chỉ mình Thiên Chúa mới không cần bất kỳ ai khác hay bất kỳ điều gì khác. Còn tất cả chúng thì cần. Nhưng trẻ con thì dễ nắm bắt điều này hơn là người lớn, nhất là những người lớn mạnh mẽ và tài năng.

Ngooài ra, ảo tưởng tự phụ còn thường gây thêm một mối nguy khác. Giàu có và tiện nghi nó mang lại, có thể bịt mắt chúng ta trước khốn cảnh và cơn đói của người nghèo, như trong dụ ngôn người giàu mở yến tiệc và người nghèo đói ăn trước cửa nhà ông. Khi chúng ta không bị đói, cũng có thể gây nên một nguy cơ. Khi sống trong tiện nghi, chúng ta có khuynh hướng không nhìn đến người nghèo.

Nhưng như thế, giàu có tự nó không phải là xấu. Nguy cơ chết người của sự giàu có chính là ảo vọng tự đủ, và hai thứ này rất dễ đi kèm với nhau. Trẻ con không phải chịu ảo tưởng này, nhưng những người mạnh mẽ thì có. Và đấy chính là mối nguy của sự giàu có.

Làm sao để chúng ta hạn chế tối đa mối nguy này? Bằng cách hào phóng. Tin mừng theo thánh Luca nói rất cứng rắn về người giàu, nhưng cũng làm rõ rằng giàu có tự nó không xấu. Thiên Chúa giàu có. Nhưng Thiên Chúa quảng đại đến phung phí với sự giàu có ấy. Sự quảng đại của Thiên Chúa, như chúng ta thấy qua Chúa, là một sự quảng đại phung phí đến độ chướng tai gai mắt. Nó thậm chí chẳng màng đến những thước đo của chúng ta về sự công bằng. Giàu có là tốt, nhưng chỉ khi sự giàu có được sẻ chia. Trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu tôn vinh sự giàu có quảng đại, nhưng cảnh cáo người giàu có khư khư tích của. Quảng đại là nên giống Thiên Chúa, tích trữ cho mình là đi ngược lại với nước trời.

Chúng ta không bao giờ được quên đi những từ này: “Giúp tôi.”

Về huấn lệnh của Chúa dạy hủy diệt hết dân Canaan

Trong tự truyện của mình, Eric Clapton, nghệ sỹ nhạc rock và blues lừng danh, đã chia sẻ rất thẳng thắn về cuộc đấu tranh lâu dài của công với chứng nghiện rượu. Ông thừa nhận chứng nghiện rượu của mình và vào một trung tâm cai rượu, nhưng đã không xem trọng vấn đề này cho đủ. Trở về Anh quốc sau thời gian cai rượu, ông quyết định rằng mình vẫn có thể uống những thứ rượu nhẹ và bia, nhưng từ bỏ rượu nặng. Chắc bạn cũng đoán được kết quả thế nào rồi. Không lâu sau, ông lại chìm trong chứng nghiện rượu. Để làm bạn bè yên lòng, ông quay lại trung tâm, nhưng vẫn tin rằng mình đủ mạnh để tự xử lý vấn đề này.

Nhưng ông được ơn soi sáng. Ngay trước khi kết thúc kỳ cai rượu thứ hai này, ông được một cảm nghiệm mạnh mẽ khiến ông đánh động tận sâu tâm hồn, nhận ra sự bất lực của mình và mối nguy hiểm chết người do chứng nghiện. Và từ đó, ông giao phó trọn bản thân cho chương trình cai nghiện, chấp nhận rằng không bao giờ được động đến chất cồn nữa. Và từ đó đến nay, ông vẫn kiêng được rượu.

Câu chuyện của ông giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của một vài đoạn văn trong Kinh Thánh, những đoạn đọc theo nghĩa đen, có thể khiến chúng ta có ấn tượng rằng Thiên Chúa thật tàn nhẫn.

Chẳng hạn như trong Sách Xuất hành, và Sách Joshua, trước khi dân Israel vào Đất Hứa, Thiên Chúa ra lệnh cho dân Israel giết hết dân chúng và súc vật đang ngụ trong vùng đó. Tại sao lại có huấn lệnh hủy diệt hết tất cả con người và súc vật chỉ bởi họ sống ở một nơi nào đó?

Rõ ràng chúng ta phải tự hỏi mình: Đây thực sự là lời của Chúa hay sao? Chúa nào lại ra huấn lệnh như thế này? Và còn những người bị giết, họ không phải là dân Chúa sao? Chúa thiên vị? Những người Canaan mà Joshua được lệnh hủy diệt, họ chẳng là gì sao? Sau huấn lệnh này, còn có ý nghĩa gì nữa không?

Rõ ràng, những lời này đầy hứng khởi thần linh và phong phú về ý nghĩa, không thể chỉ hiểu theo nghĩa đen. Huấn lệnh này, không hẳn là ẩn dụ, mà là một khuôn mẫu, nghĩa là không hiểu theo nghĩa đen huấn lệnh giết những gì không thuộc về chúng ta, nhưng là một lời dạy rằng khi bước và một lối sống mới, chúng ta phải dùng hết mọi phương thế cần thiết để bảo đảm ta có thể sống đúng và duy trì lối sống ấy. Về mặt ẩn dụ, chúng ta cần giết hết mọi yếu tố trong và quanh chúng ta có thể làm thỏa hiệp và rạn vỡ lối sống mới mà chúng ta đang cố thực hiện. Thật sự là Chúa Giêsu đã cho chúng ta một lời dạy y như thế, khi Ngài dùng một dụ ngôn nhẹ nhàng hơn. Rượu mới phải cho vào bầu mới.

Những người trong các chương trình hồi phục chứng nghiện thường nhanh chóng hiểu ra những điều này. Như Eric Clapton, họ biết được từ kinh nghiệm rằng khi đi vào lối sống điều độ, buộc họ phải giết hết những “kẻ ngoại”, phải chấp nhận rằng những phương thế nửa vời sẽ không hiệu quả, mà thay vào đó là những sự từ bỏ dứt khoát, cứng rắn.

Hình ảnh Kinh Thánh này, huấn lệnh Chúa dạy hủy diệt người Canaan, có thể giúp chúng ta trong nhiều lĩnh vực cuộc sống, nhất là trong những đấu tranh dấn thân cam kết của mình.

Ví dụ như, khi bước vào hôn nhân. Như khi dân Israel vào đất hứa, để thiết lập một đời sống mới và trung thành với nó, những người tiến vào cuộc sống hôn nhân cũng cần phải giết rất nhiều thứ, cụ thể là tính lãng mạng đào hoa, những thói quen bừa bãi và thiếu chung thủy cũ, tính trêu hoa ghẹo nguyệt, và cả thói quen lâu dài lúc nào cũng đặt nhu cầu của mình lên trước hết.

Tất cả mọi chọn lựa đều là một từ bỏ. Sống hôn nhân trọn vẹn đồng nghĩa với từ bỏ nhiều thói quen cũ, nếu không chính những thói quen cũ này sẽ xói mòn và tàn phá cuộc hôn nhân. Có những việc phải làm trước khi đi vào cuộc sống hôn nhân hay bất cứ sự dấn thân nghiêm túc nào.

Ngày nay, những yếu tố phải tiêu diệt trước khi bước vào cuộc sống mới sẽ là gì?

Về những nguy cơ đe dọa hôn nhân, tôi cho rằng để sống hôn nhân lâu dài và trọn vẹn, chúng ta phải tiêu diệt đặc nét văn hóa hiện thời của chúng ta về tình dục, cụ thể là niềm tin rằng tình dục không bị hạn chế theo chế độ đơn hôn, không liên quan đến lòng chung thủy và hôn nhân, nghĩ rằng ăn phở một bữa có sao đâu. Nếu chúng ta không giết đi quan niệm ấy, thì khi bước vào hôn nhân, sẽ không duy trì được lâu dài.

Để sống cam kết và trung thành, thì không được nửa vời. Một người nghiện rượu muốn cai, họ biết rằng mình không thể nửa vời. Cũng đúng như thế khi chúng ta gìn giữ một lối sống cam kết. Rượu mới phải cho vào bầu mới, và như thế cần có những từ bỏ dù cay đắng.

Những huấn lệnh của Chúa, nếu hiểu cho đúng, thì không tàn bạo và riêng biệt. Mà là khôn ngoan và phổ quát.

Thành tựu và hoa trái

Có một sự khác biệt thật sự giữa thành tựu và hoa trái, giữa thành công của chúng ta và sự tốt đẹp chúng ta đem lại cho thế giới.

Những gì chúng ta thành tựu đem lại cho chúng ta thành công, sự tự hào, khiến gia đình và bạn bè tự hào về chúng ta, và cho chúng ta cảm giác mình có giá trị, đặc biệt và quan trọng. Mình đã làm được gì đó. Mình đã để lại dấu ấn. Và cùng với đó là giải thưởng, bằng cấp, chứng nhận, những thứ chúng ta xây dựng, những di sản được công chúng thừa nhận và tôn trọng. Chúng ta đã làm được. Chúng ta được công nhận. Hơn nữa, thường thì những gì chúng ta đạt được sẽ giúp ích cho những người khác theo cách nào đó. Chúng ta có thể, và nên, thấy những thành tựu chính đáng của mình là tốt đẹp.

Tuy nhiên, như Henri Nouwen thường xuyên nhắc rằng, thành tựu không đồng nghĩa với hoa trái. Thành tựu là những thứ chúng ta đạt được. Hoa trái là tác động tích cực lâu dài của những thành tựu đó trên người khác. Thành tựu không tự động là hoa trái. Thành tựu giúp chúng ta nổi bật, hoa trái đem phúc lành đến cho cuộc sống của người khác.

Do đó chúng ta cần phải đặt câu hỏi này: Thành tựu của tôi, những thứ tôi tự hào là mình đã làm, có vun đắp tích cực cho những người quanh tôi không? Chúng có giúp đem niềm vui đến cuộc sống của người khác không? Chúng có giúp làm cho thế giới tốt đẹp hơn, yêu thương hơn không? Những giải thưởng tôi đã nhận có làm những người quanh tôi yên bình hơn hay lo lắng hơn?

Và những câu hỏi này khác hẳn với: Thành tựu của tôi cho tôi cảm giác thế nào? Chúng có cho tôi cảm giác mình giá trị không? Thành tựu của tôi có phải là bằng cho thấy sự độc nhất vô nhị của tôi không?

Rõ ràng thành tựu của chúng ta, dù là chính đáng, thường gây ra sự ghen tỵ và bồn chồn nơi người khác hơn là sự hứng khởi và thanh thản. Chúng ta thấy rõ điều này trong cách chúng ta thường xuyên ghen tỵ và âm thầm ghét bỏ những người thành công cực độ. Thành tựu của họ thường không mấy nâng cao cuộc sống chúng ta, mà thay vào đó lại gây một sự bồn chồn trong chúng ta. Thành công của người khác, thường như một tấm gương mà mỗi khi nhìn vào chúng ta lại cay đắng và bồn chồn thấy ra sự thiếu thành công của mình. Tại sao lại thế?

Thường thì do cả hai phía. Một mặt, những thành tựu của chúng ta thường có động lực là sự tự quy muốn mình nổi bật so với người khác, muốn được công nhận và ngưỡng mộ hơn là xuất phát từ một khao khát thật tâm muốn giúp người khác. Và nếu đúng như thế, thì thành công của chúng ta chắc chắn gây ra ghen tỵ. Mặt khác, sự ghen tỵ của chúng ta đối với người khác, thường là sự trừng phạt do chính tay chúng ta gây ra, như Chúa Giêsu đã nói trong dụ ngôn ông chủ giao phó các nén bạc rồi đi xa, và người đem giấu tài năng của mình mà không dùng đến cuối cùng bị trừng phạt.

Và sự thật là chúng ta có thể đạt được những điều lớn lao mà không thật sự sinh hoa trái, cũng như chúng ta có thể sinh hoa trái mà chỉ đạt được đôi điều ít ỏi chiếu theo sự nhìn nhận của thế gian về thành công. Chúng ta sinh hoa trái không hẳn là do những điều chúng ta đạt được, nhưng là do sự tử tế, rộng lượng, và nhân ái mà chúng ta đem lại cho thế giới. Đáng buồn thay, thế giới hiếm khi công nhận đó là thành tựu, thành công. Chúng ta không trở nên thành công nhờ sống tử tế. Nhưng khi chúng ta chết, dù vẫn được tán dương nhờ những thành tựu của mình, thì người ta sẽ yêu mến và tưởng nhớ chúng ta vì sự tốt đẹp trong lòng chúng ta hơn là vì những thành tựu xuất chúng. Hoa trái thật sự của chúng ta sẽ tuôn tràn từ một nơi còn cao hơn di sản thành tựu của chúng ta.

Chính tâm hồn chúng ta sẽ quyết định những gì chúng ta để lại sẽ được vun đắp hay bị bóp nghẹt.

Henri Nouwen cũng chỉ ra rằng khi chúng ta phân biệt được thành tựu và hoa trái, thì sẽ thấy ra rằng dù cho cái chết sẽ là cái kết cho thành công, tầm ảnh hưởng, tầm quan trọng của chúng ta, nhưng nó không chấm hết hoa trái của chúng ta. Thật vậy, thường thì hoa trái của chúng ta chỉ xuất hiện sau khi chúng ta chết, khi tinh thần của chúng ta toát ra một cách thuần khiết hơn. Chúng ta thấy điều này cũng ứng nghiệm với Chúa Giêsu. Chúng ta có thể được nuôi dưỡng trọn vẹn hơn sau khi Ngài ra đi. Chúa Giêsu dạy rõ điều này trong lời từ giã trong Tin mừng theo thánh Gioan, khi Ngài lặp đi lặp lại rằng “Thầy ra đi thì tốt hơn cho anh em,” bởi chỉ khi Ngài ra đi chúng ta mới có thể thật sự đón nhận Thần Khí, hoa trái trọn vẹn của Ngài. Với chúng ta cũng thế. Hoa trái trọn vẹn của chúng ta sẽ chỉ phát tiết sau khi chúng ta chết.

Thành tựu vĩ đại không hẳn đã sinh hoa trái vĩ đại. Thành tựu vĩ đại có thể cho chúng ta thấy thoải mái, làm cho gia đình và người thân yêu tự hào về chúng ta. Nhưng những cảm giác thành công và tự hào đó không tồn tại mãi cũng không hẳn sinh hoa trái sâu sắc. Thật vậy, cảm giác thoải mái mà thành tựu đem lại cho chúng ta thường là một thứ thuốc phiện, không ngừng đòi hỏi chúng ta và còn gây ghen tỵ cũng như bồn chồn nơi người khác.

Hoa trái nuôi dưỡng tình yêu thương và cộng đồng thường phát xuất từ sự yếu đuối mà chúng ta cùng cảm nhận, chứ không phải từ những thành tựu tôn chúng ta tách biệt hẳn với mọi người.

Lúc kẹt xe

Trên một đường cao tốc, có tấm bảng viết rằng: Bạn không bị kẹt xe. Chính bạn làm kẹt xe! Thật khôi hài, mà sắc sảo! Chúng ta thường tách mình ra khỏi vấn đề rắc rối, dù là chuyện trong chính trị, giáo hội, môi sinh hay bất kỳ chuyện gì khác.

Chúng ta muốn nghĩ rằng mình bị mắc kẹt trong bầu khí chính trị tồi tệ, nơi chúng ta không còn có thể nói chuyện với nhau và tôn trọng lẫn nhau, nhưng không phải thế đâu. Đúng hơn là chính chúng ta đã trở nên quá cứng ngắc, kiêu căng, và tin vào bản thân mình đến nỗi không còn có thể tôn trọng những người có chính kiến khác với mình. Chúng ta chính là bầu khí chính trị tệ hại, chứ không phải bị mắc kẹt trong nó.

Về mặt giáo hội cũng vậy. Chúng ta không bị mắc kẹt trong một giáo hội quá tự quy và không đủ trung thành với lời dạy của Chúa Giêsu. Đúng hơn, chúng ta là những Kitô hữu quá thường xuyên vì tư lợi mà bóp méo lời dạy của Chúa Giêsu. Chúng ta không bị kẹt trong một giáo hội như thế, mà đúng ra là chúng ta bóp méo một giáo hội như thế.

Đối với các vấn đề môi sinh cũng vậy. Chúng ta không mắc kẹt trong một hành tinh đang dần cạn kiệt dưỡng khí và là một bãi rác của con người. Đúng hơn, chúng ta chính là những người quá bất cẩn khi sử dụng tài nguyên của trái đất, và là người xả rác.

Phải thừa nhận rằng, không phải lúc nào cũng đúng như thế. Đôi khi chúng ta bị mắc kẹt trong những hoàn cảnh tiêu cực mà chúng ta không có lỗi gì trong chuyện đó, đơn giản chỉ là chúng ta là nạn nhân bất hạnh của hoàn cảnh, của sự bất cẩn do người khác, của bệnh tật, hay tội lỗi. Đôi khi hoàn cảnh có thể đè nặng trên vai chúng ta trách nhiệm và tước mất tự do của chúng ta. Nói một cách ẩn dụ, thì chúng ta có thể thấy mình bị kẹt trong dòng xe chứ không phải là một phần của dòng xe, dù cho thường thì chúng ta, ít ra, cũng là một phần của dòng xe mà chúng ta đang mắc kẹt.

Henri Nouwen thường nhấn mạnh điều này trong các bài viết của mình. Chúng ta không tách biệt khỏi các sự kiện trên bản tin thế giới hằng ngày. Đúng hơn, những gì chúng ta thấy trên bản tin thế giới, đơn giản chỉ là phản ánh những gì đang diễn ra trong lòng chúng ta. Khi chúng ta thấy những chuyện bất công, định kiến bất dung, kỳ thị, tham lam, bạo lực, giết người, và chiến tranh tên truyền hình, chúng ta thường cảm thấy một sự căm phẫn chính đáng. Cảm thấy như thế là lành mạnh, nhưng ngây thơ nghĩ rằng người khác có vấn đề còn mình thì không, thì thật không lành mạnh chút nào.

Nếu thành thật, chúng ta phải công nhận mình có phần trong mọi chuyện này, dù không phải rõ rành rành, nhưng là theo một kiểu tinh vi hơn nhiều. Chuyện chính chúng ta là gốc rễ của nhiều xung đột trên thế giới, thật quá đỗi xa lạ không thể tin được. Nhưng, chính chúng ta cũng khó lòng chấp nhận những người khác biệt với mình. Chúng ta bám vào các đặc quyền và làm gần như tất cả các việc có thể làm để bảo đảm tiện nghi cho bản thân. Chúng ta cũng dùng tài nguyên một cách không công bằng để phục vụ cho cơn khát tiện nghi và trải nghiệm của mình. Và những phán xét tiêu cực của chúng ta, những lời cay nghiệt, những lần đàm tiếu, chính là những hành động bạo lực. Chính Henri Nouwen đã nói: “Không ai bị bắn bằng súng, mà trước đó không bị bắn bằng lời nói cả. Và không ai bị bắn bằng lời nói mà trước đó không bị bắn bằng một suy nghĩ ác tâm!” Ta tưởng mình là ai cơ chứ? Bản tin thời sự chỉ phóng lên cho chúng ta thấy những gì đã có trong lòng chúng ta mà thôi.

Chúng ta không chỉ là những người xem bản tin thời sự, mà còn là đồng lõa trong bản tin đó. Giáo lý xưa đã đúng khi bảo chúng ta rằng, không có một hành động nào thật sự hoàn toàn mang tính cá nhân, và mỗi hành động của chúng ta đều tác động đến tất cả mọi người khác.

Bài học đầu tiên rút ra từ điều này thật quá rõ ràng: Khi chúng ta thấy mình bị kẹt trong dòng xe, chúng ta phải thừa nhận sự đồng lõa của mình trong đó, và cố chống lại cám dỗ đổ lỗi cho người khác.

Nhưng còn một bài học nữa là: Chúng ta sống lành mạnh khi thú nhận về mình, thú nhận rằng chúng ta chính là dòng xe đó, hoàn cảnh đó, chứ không phải chỉ là mắc kẹt trong nó. Sau khi nhận ra rằng mình có góp phần trong đó, chúng ta có thể tha thứ cho bản thân, bởi ít nhất thì chúng ta không thể không góp phần trong đó. Không một ai bước đi trên đời mà chẳng để lại dấu chân.

Điểm khởi đầu để làm cho mọi sự tốt đẹp hơn, chính là thừa nhận và thú nhận sự đồng lõa của mình.

Rồi lần tới, nếu bạn bị kẹt xe, bực mình cáu kỉnh, càu nhàu vì sao có quá nhiều trên trục lộ giao thông như thế, thì bạn có thể nhìn mình qua gương chiếu hậu, tự hỏi vì sao mình cũng ở trên đường này, thì bạn có thể thứ lỗi cho mình, thế đấy, và cảm thấy thông cảm với người khác hơn.

Sức mạnh của nghi thức

Không phải lúc nào tôi cũng cầu nguyện dễ dàng. Thường là những lúc tôi quá mệt mỏi, bị phân tâm, bận rộn, áp lực công việc, thiếu thời gian, thiếu hứng thú cầu nguyện, hay đang chú tâm hơn đến chuyện khác. Nhưng tôi cầu nguyện hằng ngày, dù cho tôi thường không muốn và dù cho nhiều lần tôi thấy cầu nguyện có vẻ tẻ nhạt. Tôi cầu nguyện hằng ngày là nhờ tôi tham dự nhiều nghi thức cầu nguyện, kinh Phụng vụ, thánh lễ, và suy niệm hằng ngày.

Và những nghi thức này giúp cho tôi rất nhiều. Chúng giữ cho tôi vững vàng, và giữ tôi cầu nguyện đều đặn dù cho nhiều lúc tôi chẳng thấy thích cầu nguyện. Đấy chính là sức mạnh của nghi thức. Nếu tôi chỉ cầu nguyện khi tôi thấy thích, thì tôi sẽ không cầu nguyện thường xuyên.

Nghi thức giữ cho chúng ta làm những việc chúng ta nên làm, như cầu nguyện, làm việc, ăn chung với nhau, lịch sự, dù cho không phải lúc nào chúng ta cũng thuận theo những chuyện đó. Chúng ta cần làm những việc nhất định không phải bởi chúng ta luôn cảm thấy thích chúng, nhưng là bởi đó là những việc đúng đắn.

Và điều này đúng, trong nhiều lĩnh vực đời sống, chứ không riêng gì cầu nguyện. Ví dụ như, các nghi thức giao tế xã hội mà chúng ta thực hiện mỗi ngày. Không phải lúc nào chúng ta cũng thật tâm muốn chào hỏi, hay thể hiển sự trìu mến, trân trọng, và biết ơn. Chúng ta chào hỏi nhau, tạm biệt nhau, thể hiện tình cảm cho nhau, và tỏ lòng biết ơn với nhau thông qua một loạt các nghi thức từ ngữ theo công thức xã hội. Xin chào! Hân hạnh gặp anh! Chúc một ngày tốt lành! Chúc ngủ ngon! Thật may mắn khi được cộng tác với anh! Cảm ơn!

Chúng ta nói những lời này với nhau mỗi ngày dù cho chúng ta phải thừa nhận rằng, đôi lúc, hay thậm chí là nhiều lúc, những lời đó hoàn toàn mang tính chiếu lệ. Nhưng khi chúng ta nói ra thì chúng là thật, bởi chúng thể hiện những gì trong lòng chúng ta, những gì thâm sâu hơn các cảm giác thất vọng, lơ đãng, buồn bực tạm thời của chúng ta. Hơn nữa, những lời này giúp chúng ta sống văn minh, lễ độ, dễ thương, tôn trọng và yêu thương, bất chấp những dao động của tâm trạng và cảm giác chúng ta. Tâm trạng và cảm giác của chúng ta, không phải là biểu lộ đích thực những gì trong lòng chúng ta. Trong số chúng ta, có ai chưa từng buồn bực một người mà mình yêu thương hết mực hay chưa? Sự thật là chúng ta yêu người đó, chứ không phải là những cảm giác của chúng ta dành cho người đó vào lúc nhất thời đó.

Nếu chúng ta chỉ thể hiện tình thương và sự trân trọng vào những lúc chúng ta hoàn toàn cảm thấy như thế, thì chúng ta sẽ không thể hiện tình thương một cách rất thường xuyên đâu. Nhưng tạ ơn Chúa là chúng ta có những nghi thức xã hội thường lệ giữ cho chúng ta sống yêu thương, dễ thương, văn minh và lễ độ cả những lúc cảm giác của chúng ta không muốn thế. Những nghi thức này giữ chúng ta được an toàn cho đến khi cảm giác vui tươi trở lại.

Thế mà trong nhiều lĩnh vực đời sống ngày nay, chúng ta không còn hiểu nghi thức. Và điều này khiến chúng ta phải cố gắng sống đời mình bằng cảm giác. Cảm giác không xấu, nhưng chúng ập đến với chúng ta một cách hoang dã và không thể ngăn cản. Iris Murdoch cho rằng thế giới của chúng ta có thể thay đổi trong 15 giây đồng hồ, bởi chúng ta có thể phải lòng ai đó trong vòng 15 giây. Nhưng chúng ta cũng có thể hết yêu trong 15 giây! Cảm giác là thế đấy! Và nếu sống theo cảm giác, chúng ta không thể gìn giữ tình yêu, hôn nhân, gia đình, tình bạn, tình đồng nghiệp và tình hàng xóm. Chúng ta cần có điều gì đó. Nghi thức giúp chúng ta gìn giữ các mối quan hệ, và vượt trên cảm giác.

Mục sư Dietrich Bonhoeffer thường nói thế này với các cặp tân hôn: Hôm nay, hai người đang yêu và tin rằng tình yêu có thể duy trì hôn nhân của mình. Nhưng không đâu. Tuy nhiên, hôn nhân có thể duy trì tình yêu của hai người. Hôn nhân không chỉ là một bí tích, mà còn là một nghi thức.

Nghi thức không chỉ có thể giúp duy trì hôn nhân, mà còn có thể giúp gìn giữ đời sống cầu nguyện, cách cư xử, tính hài hước, lòng tri ân, và sự cân bằng của chúng ta trong đời. Nếu bất kỳ ai nhân danh tâm lý, tình yêu, hay linh đạo mà bảo bạn rằng nghi thức là thứ trống rỗng và bạn phải lấy tâm trạng, cảm giác là kim chỉ nam, thì bạn phải cảnh giác với họ. Họ sẽ không giúp bạn tiến được xa đâu.

Daniel Berrigan từng viết rằng: Đừng đi với người nào muốn bạn lúc nào cũng phấn khích. Trên hành trình dài, chắc chắn phải có những lúc buồn tẻ. Gioan Thánh Giá cũng đồng ý với lời này khi bàn về cầu nguyện. Ngài bảo chúng ta rằng, trong những năm tháng sinh hoa trái của chúng ta, một trong những vấn đề lớn nhất mà chúng ta gặp phải khi cầu nguyện mỗi ngày chính là sự buồn tẻ.

Và chúng ta có thể biết chắc rằng, cảm giác sẽ không giúp giữ gìn chúng ta, nhưng nghi thức thì có.

Chúng ta giới thiệu quá tồi về Thiên Chúa

Từ “Kháng cách” thường bị hiểu lầm. Cuộc kháng cách của Martin Luther dẫn đến cuộc Cải cách Kháng cách, thật sự không phải là phản kháng Giáo hội Công giáo La Mã, mà là một cuộc kháng cách vì Thiên Chúa. Trong quan điểm của Luther, Thiên Chúa bị lạm dụng để phục vụ lợi ích của con người và giáo hội. Cuộc kháng cách của ông là lời kêu gọi phải tôn kính sự siêu việt của Thiên Chúa.

Ngày nay, chúng ta cần một cuộc kháng cách mới, một lời kêu gọi mới, thật mạnh mẽ, đòi chúng ta đừng liên kết Thiên Chúa và giáo hội chúng ta với sự bất dung, bất công, mù quáng, bạo lực, khủng bố, kỳ thị, khắc nghiệt, giáo điều, bài tính dục, bài đồng tính, ham quyền lực, khư khư thể chế, bảo vệ người giàu, lý tưởng hóa quá đáng, và ngu ngốc. Thiên Chúa đang bị chúng ta quảng bá quá tồi tệ!

Có thể đưa ra một ví dụ rõ ràng thế này: Trong quyển sách mới ra mắt, ghi lại tình bạn 50 năm với cựu huấn luyện viên của mình, huyền thoại bóng rổ Kareem Abdul-Jabbar chia sẻ lý do vì sao ông trở thành người Hồi giáo. Được nuôi dạy trong gia đình Công giáo La Mã, học ở trường Công giáo, cuối cùng ông bỏ Công giáo để cải sang Hồi giáo. Tại sao lại thế?

Chính ông nói rằng: Bởi “người da trắng đánh bom các nhà thờ và giết các em bé gái, bắn những cậu bé da đen không tấc sắt trong tay, đánh đập những người da đen biểu tình mà miệng thì hô to họ tự hào là Kitô hữu. KKK là những Kitô hữu tự hào. Tôi thấy mình không thể dính dáng gì đến một tôn giáo với quá nhiều tín hữu ác độc như thế. Phải, tôi cũng nhận thức rằng mục sư Martin Luther King cũng là một Kitô hữu tự hào, và nhiều lãnh đạo khác cũng như thế. Huấn luyện viên Wooden là một Kitô hữu sốt sắng. Nhiều Kitô hữu da trắng can đảm đã mạnh mẽ ủng hộ phong trào đòi quyền công dân, đồng hành với người da đen. Khi KKK tấn công, họ thường bị đánh nhiều hơn, bởi họ bị xem là những kẻ phản bội giống nòi. Tôi không lên án tôn giáo, nhưng chắc chắn tôi thấy mình xa cách nó.”

Câu chuyện của ông chỉ là một trong rất nhiều câu chuyện tương tự. Thật dễ để liên kết Thiên Chúa với những chuyện sai trái. Tất nhiên, chuyện này không chỉ xảy ra với Kitô giáo. Ví dụ như, ngày nay, chúng ta thấy minh chứng tồi tệ nhất của việc gắn Thiên Chúa với sự dữ, trong những hành động bạo lực của Nhà nước Hồi giáo ISIS và các nhóm khủng bố khác đang giết chóc bừa bãi và tàn bạo, nhân danh Thiên Chúa. Bạn có thể chắc chắn rằng những lời cuối cùng trên miệng kẻ đánh bom tự sát giết hại nhiều người vô tội, chính là: “Thượng đế vĩ đại!” Thật quá kinh tởm khi nói lên một lời như thế lúc giết người! Làm chuyện phản Chúa nhân danh Thiên Chúa!

Và chúng ta cũng quá thường xuyên làm những chuyện như thế theo những cách tinh vi hơn, cụ thể là biện minh cho những chuyện phản Chúa bằng cách viện ra tôn giáo của mình. Chúng ta làm thế bằng cách bịt tai, bịt mắt, bịt miệng, ngoan cố phân biệt phải trái với một tâm thức vụ lợi, chúng ta cho mình được Thiên Chúa cho phép sống và hành động theo một kiểu đi ngược lại với hầu hết mọi lời Chúa Giêsu dạy.

Chúng ta có thể phản đối, bảo rằng chúng ta chân thành, là làm theo những gì mình nghĩ, nhưng sự chân thành tự nó không phải là một tiêu chuẩn tôn giáo hay luân lý. Sự chân thành có thể, và thường xuyên, gắn Thiên Chúa với những sự phản Chúa và mượn danh Thiên Chúa mà biện minh cho sự dữ. Người ta bảo Tòa dị giáo là trung thực, những kẻ buôn nô lệ là chân thành, những người bảo vệ các linh mục ấu dâm là chân thành, những người kỳ thị là chân thành, người giàu bảo vệ đặc quyền của họ là chân thành, các mục tử bất chấp Tin mừng đưa ra những quyết định cấm đoán người ta đến với giáo hội là chân thành, là làm theo những gì họ tin tưởng và xác quyết. Thế đấy, chân thành cũng là khi tất cả chúng ta phán xét người khác, một chuyện mà Chúa Giêsu đã nhiều lần dạy là không được làm. Nhưng chúng ta nghĩ rằng tất cả những chuyện này chúng ta làm vì sự thiện, vì Chúa.

Nhưng trong nhiều hành động của mình, chúng ta liên kết Thiên Chúa và giáo hội với sự hẹp hòi, bất dung, khắc nghiệt, kỳ thị, thiên vị, vị luật, vị giáo điều, và ngu ngốc. Và chúng ta tự hỏi vì sao con cháu của chúng ta, quá nhiều người không còn đến nhà thờ và thậm chí đương cự với tôn giáo.

Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải đối lập với tôn giáo như thế. Thật đáng buồn cho chúng ta, nhưng đúng là thế. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải là một Thiên Chúa dư dật rộng rãi, không gắt gỏng, một Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ, một Thiên Chúa yêu thương mọi chủng tộc và mọi người như nhau, một Thiên Chúa yêu thương người nghèo hơn, một Thiên Chúa tạo nên hai giới bình đẳng, một Thiên Chúa bác bỏ quyền lực và đặc quyền thế gian. Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô là một Thiên Chúa cảm thương và tha thứ, một Thiên Chúa đòi tinh thần phải đứng cao hơn luật, tình thương phải cao hơn giáo điều, và sự tha thứ cao hơn công lý tòa án. Và Thiên Chúa mà Chúa Giêsu hiện thân, không ngốc, mà là một Thiên Chúa với trí tuệ không bao giờ phải e ngại khoa học, một Thiên Chúa không lên án và cho người ta xuống hỏa ngục theo những phán xét hạn hẹp của chúng ta.
Đáng buồn thay, chúng ta quá thường xuyên thấy đó không phải là Thiên Chúa của tôn giáo, của giáo hội chúng ta, của linh đạo chúng ta, và của cả lương tâm chúng ta.

Thiên Chúa không hẹp hòi, ngu ngốc, bạo lực hay báo oán. Và đã đến lúc chúng ta không được liên kết Thiên Chúa với những thứ đó nữa.

Cực điểm trong Đức tin của chúng ta

Những chuyện không thể tránh khỏi đầy phức tạp của tuổi trưởng thành khiến sự ngây thơ trẻ con biến mất. Và điều này cũng đúng với đức tin của chúng ta. Nói thế không phải vì đức tin thật ngây thơ. Nhưng vì đức tin của chúng ta cần được khôi phục không ngừng vào con người chúng ta, và được làm mới với các trải nghiệm cuộc đời, nếu không chúng ta sẽ thấy mình thật lạc lõng trong cuộc đời. Nhưng đức tin đích thực có thể đương cự trước mọi trải nghiệm, dù cho nó phức tạp đến thế nào đi chăng nữa.

Đáng buồn thay, có vẻ không phải lúc nào, và thật sự là nhiều người đang bỏ đức tin lại sau lưng, khi các phức tạp của cuộc sống trưởng thành đi ngược lại với đức tin thời thơ ấu của họ.

Và khi nghĩ về chuyện này, tôi đề nghị các bạn đọc quyển sách mới xuất bản, Cực điểm của tôi, Một Hồi ký Sốt sắng (My Utmost, A Devotional Memoir) của Macy Halford. Cô Halford còn trẻ chỉ ngoài 30 tuổi, văn sĩ của các nhà xuất bản ở Paris và ở New York, và đây là tập hồi ký kể lại những đấu tranh của cô khi là một Kitô hữu phái Phúc âm bảo thủ mong muốn giữ gìn đức tin của mình trước những nhóm người có quan điểm rất tự do, đầy luận điệu, thế tục hóa và theo thuyết bất khả tri mà cô đang sống và đang làm việc chung.

Quyển sách kể lại những đấu tranh của cô để giữ gìn đức tin mạnh mẽ thời thơ ấu, vốn ghi tạc vào trong lòng nhờ người mẹ và người bà qua đức tin mạnh mẽ của họ. Đức tin và giáo hội là cái neo cho bước đường đời của cô. Nhưng trong con người cô còn có một sự khác, cụ thể là, sự khắc khoải và xung lực sáng tạo của một nhà văn, và sinh lực không thể đè nén này tự nhiên đưa cô vượt ngoài phạm vi an toàn và nương ẩn của giáo hội thuở nhỏ, đưa cô đến với các nhóm văn chương ở New York và ở Paris.

Cô sớm khám phá ra rằng sống đức tin khi quanh mình có một nhóm nâng đỡ đức tin mạnh mẽ là một chuyện, và sống đức tin khi quanh mình là môi trường cực kỳ thế tục và bất khả tri lại là chuyện khác. Quyển sách kể lại đấu tranh đó và cách cô hợp nhất niềm đam mê và đức tin thơ ấu vào cuộc sống mới của mình. Cô chia sẻ mỗi lần cô bị cám dỗ vượt qua ranh giới và từ bỏ đức tin thời thơ ấu, cô lại nhận ra rằng cô sợ làm thế “không phải vì sợ sẽ tiêu diệt một Thiên Chúa hay một niềm tin, nhưng là sợ tiêu diệt chính bản thân mình.” Thấu suốt này là yếu tố đích thực của đức tin cô. Thiên Chúa và đức tin không cần chúng ta, mà là ngược lại.

Vào sinh nhật thứ 13, bà cô cho cô một quyển sách rất phổ biến trong giáo hội phái Phúc âm và phái Baptist, quyển Cực điểm của tôi dành cho Đấng Tối cao (My Utmost for His Highest) của Oswald Chambers. Quyển sách này là một tuyển tập các châm ngôn thiêng liêng, những suy nghĩ thường nhật qua bao năm tháng của nhà thần nghiệm và truyền giáo này. Halford chia sẻ rằng, khi còn nhỏ và được neo giữ chặt vào giáo hội và đức tin thời thơ ấu, cô không đọc quyển sách này hằng ngày, và nó không quá ý nghĩa với cô. Nhưng cuối cùng, việc đọc quyển sách này giờ như một nghi thức thường nhật trong đời cô, và những lời khuyên trong sách trở thành một lăng kính để cô có thể hợp nhất đức tin thời thơ ấu và trải nghiệm tuổi trưởng thành của mình.

Cô từng nghiên cứu thần học rất sâu về quyển sách và tác giả của nó. Vài phần trong quyển sách của cô quá cao siêu với độc giả, nhưng dù không hiểu rõ về mặt thần học cách cô tìm được sự hòa hợp này, thì chúng ta cũng thấy rõ hoa trái từ đấu tranh của cô.
Đây là một tập hồi ký đáng giá bởi hôm nay nhiều người đang trải qua đấu tranh này, để đức tin thời thơ ấu đương cự với hiện thực hiện tại của mình. Halford đơn giản cho chúng ta thấy cách cô làm việc đó, và những nỗ lực của cô là một tấm gương để chúng ta noi theo.

Karl Rahner, từng có nhận định lừng danh rằng, trong thế hệ tiếp theo, chúng ta hoặc sẽ là nhà thần nghiệm hoặc là người không có đức tin. Một ý của Rahner trong câu này là, trong các thế hệ trước, khi gia đình, hàng xóm, và giáo hội của chúng ta hỗ trợ rất nhiều trong việc giữ đức tin, nhưng hiện tại chúng ta phải tự tìm nền tảng rất riêng của mình cho đức tin, và phải là một nền tảng thâm sâu hơn. Marcy Halford đã thể hiện rõ điều đó. Trong một thế hệ với nhiều người không có đức tin, tập hồi ký của cô chỉ ra con đường của một tinh thần thần nghiệm khiêm nhượng nhưng hiệu quả.

John Moriaty, nhà văn người Ai Len, từng chia sẻ về chuyện ông xa rời đức tin khi còn trẻ, xem đó là ngây thơ và không thể hơn được những trải nghiệm trưởng thành của ông. Ông cứ như thế cho đến một ngày, “Tôi nhận ra rằng Đạo Công giáo, đức tin thời thơ ấu của tôi, chính là tiếng mẹ đẻ của tôi.”

Macy Halford cuối cùng cũng tái đặt nền tảng của mình trên tiếng mẹ đẻ, trên đức thời thơ ấu, và nó tiếp tục dẫn dắt cô qua những ngụy biện của tuổi trưởng thành. Tập hồi ký kể lại hành trình của cô có thể hữu ích cho tất cả chúng ta, dù cho thuộc phái Kitô giáo.