RonRolheiser,OMI

Tưởng nhớ Kathleen Dowling Singh

Kathleen Dowling Singh làm việc ở một nhà chăm sóc, đồng thời là một chuyên gia trị liệu tâm lý, bà cũng là một ngòi bút thiêng liêng rất sâu sắc.

Bà có tiếng và được kính nể trong giới tác giả và giảng dạy về linh đạo, nhờ ba quyển sách chính là: Ơn Sống, Ơn Già, và Ơn Chết (The Grace in Living; The Grace in Aging, The Grace in Dying). Điều thú vị là, bà viết bộ ba tác phẩm này theo thứ tự đảo ngược, bắt đầu từ chết, cho đến già, và cuối cùng là suy tư về sự sống. Và bà làm thế là bởi những thấu suốt của bà rút ra từ kinh nghiệm làm việc trong nhà chăm sóc, lo cho các bệnh nhân bị bệnh nan y. Đồng hành và chứng kiến những người hấp hối dạy cho bà nhiều điều về ý nghĩa của tuổi già, và cuối cùng là ý nghĩa của cuộc sống. Những quyển sách của bà cố gắng nêu bật ân sủng sâu sắc trong mỗi giai đoạn sống của chúng ta.

Tôi muốn nêu bật đặc biệt những thấu suốt của bà trong quyển sách đầu tay: Ơn Chết. Ngoài Kinh thánh và một số nhà thần nghiệm kinh điển, tôi chưa thấy ai có nhận thức thiêng liêng sâu sắc như Singh, về ý định của Thiên Chúa và tự nhiên trong tiến trình đi đến cái chết của chúng ta, nhất là nơi những người chết vì tuổi già và bệnh nan y.

Singh đặt luận đề của mình trên dòng này: Tiến trình chết là điều chỉnh tinh tế để đưa chúng ta đến với địa hạt tâm linh. Trong tiến trình của cái chết hàm chứa sự khôn ngoan. Cụ thể là thế này:

Cả đời, ý thức của chúng ta đã hạn chế nhận thức, khép chặt không để nhận thức của ta mở ra với địa hạt thiêng liêng. Nhưng đó không phải là con người ban đầu của chúng ta. Khi còn nhỏ, chúng ta vô cùng cởi mở. Một đứa trẻ thật rạng rỡ, nhưng chúng không biết suy nghĩ. Để suy nghĩ, thì cần có một cái tôi, một tự thức, và theo Singh, sự cấu thành cái tôi đó, điều kiện của tự thức, khiến chúng ta nhận lấy bốn tiêm nhiễm tâm thần lớn, mỗi thứ lại khép kín nhận thức của ta về thế giới thiêng liêng theo những cách khác nhau.

Chúng ta cấu thành cái tôi như thế này. Trước hết, khi còn nhỏ, là sự phân biệt cái gì của mình và cái gì của người khác. Đó là tiêm nhiễm đầu tiên. Không lâu sau đó, đứa bé phân biệt giữa sống và không sống, chú chó thì sống còn hòn đá thì không. Rồi sau đó, đứa bé phân biệt giữa tâm trí và thân thể, thân thể thì cụ thể và chắc chắn còn tâm trí thì không. Cuối cùng, chúng ta phân biệt giữa những gì mình có thể đối diện bên trong con người mình và những gì quá kinh hãi không thể đối mặt nổi. Chúng ta tách biệt sự sáng láng và phức tạp của mình khỏi tự thức, và thường gọi chúng là cái bóng. Mỗi một biến chuyển này lại khóa chặt một lĩnh vực của thực tại với nhận thức của ta. Và khi làm thế, chúng ta tạo nên nỗi sợ chết.

Tiến trình già và chết phá vỡ những tiêm nhiễm này, đảo ngược cách chúng ta thành hình chúng, và mỗi lần phá vỡ, chúng ta lại nhận thức được một địa hạt hiện thực rộng hơn, nhất là địa hạt thiêng liêng. Và tiến trình này tích tụ trong những thời khắc trước khi chết nơi cảm nghiệm xuất thần, mà nhiều người đã chứng kiến nơi nhiều bệnh nhân nan y. Khi sự tiêm nhiễm cuối cùng tạo thành cái tôi của chúng ta bị phá vỡ, thì tinh thần tuôn vào và chúng ta xuất thần. Là một nhân viên chăm sóc, Singh đã nhiều lần nhìn thấy chuyện này nơi các bệnh nhân của mình.

Elizabeth Kubler Ross, cho rằng một số người bị chẩn đoán bệnh nan y sẽ đi qua năm giai đoạn trước khi chết. Là Chối bỏ, Giận dữ, Thương lượng, Trầm cảm, và Chấp nhận. Singh cũng đồng ý như thế, trừ việc bà thêm ba giai đoạn nữa. Một cú ngã vào tăm tối dẫn đến tuyệt vọng, sự từ bỏ còn lớn hơn cả sự chấp nhận ban đầu, và một cơn xuất thần tuôn vào. Bà chỉ ra rằng Chúa Giêsu đã đi qua những giai đoạn này trên thập giá, một lời kêu than mình bị bỏ rơi như xuất phát từ nỗi tuyệt vọng, việc trao phó tinh thần của mình, và cơn xuất thần đến với Ngài khi chết.

Thấu suốt của Singh giúp chúng ta thấy khuây khỏa nhiều. Tiến trình chết sẽ cho chúng ta những điều tương tự như trong đời sống cầu nguyện và quên mình, cụ thể là nó giúp chúng ta phá vỡ sự ích kỷ và chúng ta được mở ra với địa hạt thiêng liêng. Thiên Chúa sẽ đến với chúng ta, bằng cách này hay cách khác.

Chúng ta vừa mất đi một người phụ nữ vĩ đại và một ngòi bút thiêng liêng lớn. Các con của bà, sau khi bà qua đời, đã viết trên Facebook đơn giản rằng, mẹ của họ muốn tất cả chúng ta biết rằng “bà là một người bình thường chết một cái chết bình thường.” Nhưng di sản tinh thần bà để lại cho chúng ta thì không thường chút nào.

Không phải người giữ cửa

Toni Morrison, tác giả đoạt giải Nobel đã đặt ra câu hỏi này, “Tại sao anh muốn quen biết một người lạ, trong khi ghẻ lạnh một ai đó thì dễ dàng hơn? Tại sao chúng ta muốn kết nối những khoảng cách trong khi chúng ta có thể đóng sầm cánh cổng?” Nhưng đây không phải là một câu hỏi, mà là một nhận định.

Đây là một nhận định tiêu cực về cả xã hội và Giáo hội của chúng ta. Thật sự lòng của chúng ta hướng về cái nào? Chúng ta cố gắng để kết nối những khoảng cách giữa chúng ta và những người xa lạ, hay là chúng ta cố gắng đóng sầm cánh cổng để giữ những kẻ xa lạ với chúng ta?

Nói một cách công bằng, câu này chỉ ra rằng, đây là điều mà chúng ta phải đấu tranh. Không có một thời đại vàng son khi mọi người đều nhiệt thành chào đón người lạ. Có những con người và những cộng đồng với tấm lòng vàng luôn mở ra để chào đón, nhưng ở tầm mức toàn xã hội hay Giáo hội thì không.

Vấn đề này cũng là một điều phải đương đầu và là trọng tâm trong các chính sách thời nay. Khi khắp nơi, các quốc gia đang đấu tranh giữa các chính sách nhập cư của mình và bổn phận phải làm với hàng triệu người tị nạn và di dân muốn vào đất nước họ, thì tôi muốn đưa ra lời thách thức của Morrison: Chúng ta mời người lạ vào? Hay chúng ta thấy hài lòng khi để những người lạ tránh xa nhà của mình?

Có một thách thức điển hình trong dụ ngôn của Chúa Giêsu về ông chủ vườn nho quá hào phóng, nhưng chúng ta lại thường dễ bỏ qua. Thách thức này nằm trong câu hỏi mà ông chủ hỏi nhóm nhân công cuối cùng, những người chỉ làm việc trong vòng một tiếng đồng hồ. Không như nhóm đầu tiên, ông chủ không hỏi họ, “Các anh có muốn làm việc trong vườn nho của tôi không?” Mà ông chủ hỏi rằng, “Tại sao anh không làm việc?” Họ trả lời, “Bởi chẳng ai thuê chúng tôi!” Hãy để ý rằng họ không trả lời là họ không làm việc vì họ lười biếng, thiếu năng lực. Và câu hỏi của ông chủ vườn cũng không có ý như thế. Họ không làm việc đơn giản là bởi không ai mời họ làm việc!

Đáng buồn thay, đây cũng là trường hợp cho rất nhiều người dường như đang lạnh lùng hay lãnh đạm với tôn giáo và Giáo hội của chúng ta. Không một ai mời họ vào! Và điều này cũng đúng ở thời của Chúa Giêsu. Có một nhóm người lãnh đạm và thù địch với tôn giáo dường như đều bị kết án đơn giản là tội nhân. Những người bị xem là tội nhân này, là các gái điếm, người thu thuế, ngoại kiều và tội phạm. Chúa Giêsu mời họ đến, và nhiều người trong số họ đã đáp lời một cách chân thành, hối cải, và sốt mến đến nỗi khiến cho những người tự nhận mình là tín hữu cũng phải thấy xấu hổ. Với những người bị xem là tội nhân này, ngăn cách giữa họ và cổng vào nước trời chỉ là một lời mời chân thật mà thôi.

Tại sao anh không đi lễ?

Bởi chẳng có ai mời tôi cả!

Trong những kinh nghiệm mục vụ phải nói là có giới hạn của tôi, tôi đã chứng kiến nhiều người từ lúc nhỏ cho đến tận tuổi trung niên đã sống lãnh đạm thậm chí là sợ hãi kiểu hoang tưởng về tôn giáo và giáo hội. Họ xem đó là một thế giới mà họ bị loại trừ. Nhưng nhờ một số người nhân hậu, hay gặp một hoàn cảnh nào đó, mà họ cảm nhận mình được mời gọi và họ trao trọn bản thân cho gia đình xã hội mà họ mới tìm thấy, một cách nồng hậu, nhiệt thành, biết ơn và thường vô cùng tự hào về tình trạng mới của mình. Tôi đã chứng kiến việc này nhiều lần và tôi hiểu tại sao các cô gái điếm và người thu thuế đã tin vào Chúa Giêsu, hơn những kinh sư, luật sĩ thời đó. Bởi vì Ngài là người đầu tiên thật sự mời gọi họ.

Đáng buồn thay lại có một sự đối lập với tinh thần này và điều này lại thường xuyên xảy ra, là khi chúng ta không mời gọi một số người mà lại năng nổ tìm cách đóng sầm cánh cửa với họ. Chúng ta đã thấy điều này nhiều lần trong Tin mừng, khi các môn đệ ngăn chặn người ta đến với Chúa Giêsu, khi người ta cố đưa người bị liệt đến với Chúa, nhưng không thể vào được vì bị đám đông chắn lối, nên họ phải trổ một cái lỗ trên mái nhà để thả người đó xuống cho Chúa Giêsu.

Chúng ta đã chắn lối người khác tìm đến Chúa Giêsu, một cách thường xuyên, vô thức, thật tâm nhưng mù quáng. Đây là một nguy cơ, nhất là với những ai đang lo việc mục vụ. Chúng ta quá dễ dàng, thật tâm, nhân danh Chúa Giêsu, nhân danh thần học chính thống và nhân danh việc mục vụ, mà tự cho mình làm người gác cổng, làm người bảo vệ Giáo hội, và buộc người ta phải đi qua mình để đến với Chúa. Chúng ta cần nhớ rõ hơn nữa, rằng chỉ có Chúa Giêsu là cửa cho chiên vào, và chúng ta cần thanh luyện con người mình bằng cách thấy ra vì sao mà Chúa Giêsu đã đuổi những người đổi tiền trong đền thờ. Những người đổi tiền đó đã tự xem mình là trung gian mà người ta phải gặp trước khi dâng lễ vật lên Chúa. Và Chúa Giêsu không chấp nhận điều đó.

Sứ mạng môn đệ Chúa Giêsu không phải là làm người giữ cửa. Mà là tìm cách để nối kết khoảng cách và mời gọi người lạ vào.

Ngôn ngữ mở rộng hay khép kín tâm thức của chúng ta

30 năm trước nhà giáo dục người Mỹ, Allan Bloom, đã viết một quyển sách với tựa đề Sự khép kín của tâm thức Mỹ (The Closing of the American Mind). Lập luận của ông là trong thế giới thế tục hóa thời nay, ngôn ngữ của chúng ta trở nên mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa, một chiều và thiếu chiều sâu hơn bao giờ hết. Và chính điều này khép kín tâm thức của chúng ta, bằng cách tước đoạt những ý nghĩa sâu xa hơn bên trong cảm nghiệm của chúng ta. Với ông, cách chúng ta xác định một cảm nghiệm quyết định tầm mức ý nghĩa lớn lao hơn của nó.

20 năm trước trong một bài luận còn sâu sắc hơn với tựa đề Sự chiến thắng của Phép chữa bệnh (The Triumph of the Therapeutic), Philip Rieff đã nêu ra một luận điểm tương tự. Với ông, chúng ta sống trong một tình trạng “bờ rào hình tượng,” cụ thể là một ngôn ngữ và các biểu tượng mà chúng ta dùng để diễn giải các kinh nghiệm của mình. Bờ rào đó có thể cao hay thấp, rồi từ đó ý nghĩa mà chúng ta rút ra từ một cảm nghiệm cũng cao thấp như vậy. Cảm nghiệm có thể phong phú hoặc nông cạn tùy theo ngôn ngữ mà chúng ta dùng để diễn giải nó.

Lấy một ví dụ thế này: một người bị đau lưng và đến gặp bác sĩ, và bác sĩ bảo là ông bị chứng viêm khớp. Nghe thế ông khá yên tâm, nhưng chưa thấy thỏa mãn, nên ông đến gặp một bác sĩ tâm lý. Bác sĩ tâm lý bảo ông là những triệu chứng của ông không phải chỉ về mặt thể lý nhưng ông còn đang gặp phải cơn khủng hoảng tuổi trung niên. Và như thế cơn đau của ông đã được đặt vào một mức độ sâu hơn, cho ông hiểu rõ hơn về tình trạng của mình. Nhưng ông vẫn chưa thỏa mãn và đến gặp một vị linh hướng. Vị linh hướng, dù không bác bỏ là ông có bị viêm khớp và khủng hoảng tuổi trung niên, nhưng còn bảo ông rằng, ông nên xem cơn đau của mình như là Vườn Cây Dầu, như là thập giá để vác.

Cả ba chẩn đoán này điều nói về cùng một chứng đau nhưng mỗi lời lại đặt chứng đau đó dưới một bờ rào hình tượng khác nhau. Ngôn ngữ có nhiều cấp độ khác nhau và chỉ có một thứ ngôn ngữ nhất định nói được tầm mức của linh hồn. Gần đây chúng ta đã có nhiều cách hơn để hiểu điều này, qua các tác phẩm của Carl Jung và một số môn đệ của ông, họ đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn ngôn ngữ của linh hồn và cách ngôn ngữ đó phơi bày những nguyên hình mẫu sâu xa trong chúng ta.
Chúng ta thấy ngôn ngữ của linh hồn là một trong số những điều bí ẩn và thần thoại nhất. Sự đơn giản của ngôn ngữ linh hồn có thể khiến bạn bị nhầm. Đơn giản nhưng không đơn điệu. Một ví dụ là câu chuyện Cô bé Lọ Lem. Điều đầu tiên chúng ta cần chú ý trong câu chuyện này đó là tên của Cô bé Lọ Lem. Cinderella không phải là một cái tên thật nhưng là ghép bởi hai từ: Cinder, nghĩa là tro, và Puella nghĩa là cô gái bất tử. Đây không phải là một câu chuyện thần tiên đơn giản về một cô bé cô đơn bị hành hạ. Nó là câu chuyện để nêu bật một cơ cấu sâu xa trong linh hồn con người. Cụ thể là trước khi linh hồn của chúng ta sẵn sàng để mang lấy đôi hài thủy tinh, để làm tâm điểm của buổi tiệc, cưới hoàng tử và sống hạnh phúc mãi mãi về sau, thì chúng ta phải trải qua một số thời gian vùi trong tro bụi, bị sỉ nhục và được thanh luyện.

Câu chuyện này có cách của nó để nói lên linh đạo của chúng ta về mùa chay, một mùa ăn năn hối cải khi chúng ta lấy tro xức lên mình, để đi vào hoang địa chính mình.
Cô Bé Lọ Lem là một câu chuyện soi rọi đôi chút vào chiều sâu của linh hồn chúng ta. Nhiều chuyện cổ tích có tác dụng như thế, dù cho không có chuyện gì, hay cái gì có thể soi rọi vào linh hồn sâu xa hơn là Kinh Thánh. Ngôn ngữ và những biểu tượng trong Kinh Thánh xác định cảm nghiệm của chúng ta theo một cách vừa tôn vinh linh hoan, vừa giúp chúng ta đưa chiều sâu đích thực vào trong các cảm nghiệm của mình.

Ví dụ như chúng ta có thể thấy hoang mang, hay nói cách khác là ở trong bụng của con cá voi. Có thể thấy mình bất lực trước chứng nghiện, hay nói cách khác là bị quỷ ám. Chúng ta có thể giao động giữa đời sống cầu nguyện sốt sắng và những giờ u ám, hay nói khác là đang dao động giữa đi cùng Chúa đến Galilê hay ở với Ngài tại Giêrusalem. Chúng ta có thể bị tê liệt khi đứng trước một sự toàn cầu hóa quá mức với chúng ta, hay nói cách khác là chúng ta có thể đứng với Chúa Giêsu bên rìa của vùng Samari, nói chuyện với một người phụ nữ dân ngoại. Chúng ta có thể phải đấu tranh giữa sự trung tín với Chúa và sự gắn bó với các quan hệ của mình, hay nói cách khác là chúng ta có thể đứng cùng ông Joshua, nhận huấn lệnh giết hết người Canaan nếu muốn được vào đất hứa. Chúng ta có thể bị đau khớp, hay nói cách khác là đang đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu.
Ngôn ngữ mà chúng ta dùng để hiểu một cảm nghiệm sẽ tạo nên sự khác biệt vô cùng lớn trong những gì mà cảm nghiệm đó đem lại cho chúng ta. Trong quyển Sự khép kín của tâm thức Mỹ, Allan Bloom đã dùng một hình ảnh trần tục hơn nhưng rất sinh động để giải thích điều này. Ông nói rằng trong những giờ nghỉ, các học trò của Plato ngồi lại và kể những câu chuyện tuyệt vời đầy ý nghĩa về những khát khao bất tử trong họ. Còn sinh viên của ông trong giờ nghỉ, thì ngồi quanh và nói chuyện gái gú.

Chúng ta đang đánh mất và ngày càng thiếu thốn ngôn ngữ của linh hồn.

Nỗi sợ lành mạnh và không lành mạnh về Thiên Chúa

Là một thần học gia, linh mục và giảng viên, tôi thường nhận được những câu hỏi: “Tại sao giáo hội không nói nhiều về nỗi sợ với Thiên Chúa nữa? Tại sao chúng ta không nói nhiều về hỏa ngục nữa? Tại sao chúng ta không giảng nhiều về cơn giận của Thiên Chúa và lửa hỏa ngục nữa?”

Không khó để trả lời những câu hỏi này. Chúng ta không giảng nhiều về nỗi sợ nữa, bởi đơn giản rằng việc đó là sai, trừ khi chúng ta cực kỳ cẩn thận khi nói về nó. Phải công nhận, nỗi sợ có thể khiến cho người ta thay đổi hành vi nhưng nó cũng có thể hạ giá và phần nào là tẩy não con người. Một thứ có tác dụng không đồng nghĩa rằng nó đúng. Chỉ được giảng về nỗi sợ Thiên Chúa trong một bối cảnh yêu thương mà thôi.

Chính Kinh Thánh dường như cũng cho chúng ta thông điệp phức tạp. Một mặt nói rằng kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan, nhưng Kinh Thánh cũng nói, mỗi lần Thiên Chúa xuất hiện trong lịch sử nhân loại, thì những lời đầu tiên của Ngài luôn là “Đừng sợ.” Lời này xuất phát từ chính miệng Thiên Chúa, hay qua các ngôi sứ, những người truyền tin của Chúa. Lời này đã xuất hiện hơn 300 lần trong Kinh Thánh. Những lời đầu tiên chúng ta sẽ nghe, trong mọi lần Thiên Chúa xuất hiện trong cuộc đời chúng ta là “Đừng sợ.” Chúng ta phải cẩn thận khi giảng về nỗi sợ với Thiên Chúa. Nỗi sợ bị trừng phạt không phải là thông điệp đích thực mà chúng ta nghe khi Thiên Chúa đi vào cuộc đời chúng ta.

Vậy thì làm sao kính sợ Thiên Chúa lại là khởi đầu của khôn ngoan? Trong mối liên hệ chúng ta với Thiên Chúa, cũng như trong mối liên hệ giữa chúng ta với người khác, có những nỗi sợ lành mạnh và không lành mạnh. Nỗi sợ lành mạnh là gì?

Nỗi sợ lành mạnh là nỗi sợ của yêu thương. Khi chúng ta yêu ai đó, tình yêu của chúng ta sẽ có một số nỗi sợ lành mạnh và chúng ta sẽ phải cẩn trọng. Chúng ta sợ mình tỏ ra thiếu tôn trọng, sợ mình ích kỷ. Mọi tình yêu lành mạnh đều có một nỗi sợ, rằng mình không để người kia được hoàn toàn tự do. Sự tôn kính và tôn trọng cũng là một phần của nỗi sợ. Nhưng đây không phải là kinh sợ, thấy mình nhỏ bé hay khiếp đảm trước một hình phạt nào đó. Nỗi sợ vì yêu thương chính là nỗi sợ mà Thiên Chúa đã tạo ra trong lòng ông Môsê khi ông đứng trước bụi gai bốc cháy: “Hãy cởi giày ra, vì nơi người đang đứng là đất thánh!”

Chúng ta hiểu “kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan” là như thế nào? Chúng ta khôn ngoan và theo lẽ phải khi chúng ta đứng trước mầu nhiệm Thiên Chúa và tình yêu với đôi giày đã cởi ra, nghĩa là có một sự tôn kính. Chúng ta khiêm nhường và mở lòng ra với mầu nhiệm lớn lao định hình chúng ta cho những mục đích vô tận. Nhưng điều này rất xa và gần như là đối lập với nỗi sợ mà chúng ta cảm nhận khi bị đe dọa, với người hoặc vật đang đe dọa chúng ta theo kiểu nhẫn tâm độc đoán và trừng phạt.

Cũng có một nỗi sợ Thiên Chúa lành mạnh nảy sinh trong chúng ta khi sợ mình đang gây hại cho những gì tốt lành chân thật và xinh đẹp trong thế giới này. Một vài tôn giáo gọi đây là nỗi sợ trước nghiệp chướng. Còn Chúa Giêsu thì mời gọi chúng ta đến với nỗi sợ thánh thiện này khi Ngài bảo chúng ta rằng “anh em đong đấu nào thì sẽ được đong lại bằng đấu ấy.” Có một cơ cấu luân lý trong vũ trụ này trong cuộc đời và trong mỗi chúng ta. Tất cả mọi sự đều có một giới hạn luân lý mà chúng ta cần phải tôn trọng. Sợ mình xâm phạm chân thiện mỹ là một điều làng mạnh.

Chúng ta cần rao giảng nỗi sợ lành mạnh này hơn là một nỗi sợ rằng chúng ta phải sợ Thiên Chúa trừng phạt chúng ta theo một cách vị luật và cứng ngắc. Bất cứ lúc nào chúng ta rao giảng nỗi sợ không lành mạnh này, nỗi sợ một Thiên Chúa chực chờ giáng lửa hỏa ngục, là chúng ta gần như đang rao giảng về một Thiên Chúa không cảm thông, không thông hiểu, và không tha thứ cho lắm. Một Thiên Chúa mà chúng ta phải sợ vì những hình phạt này là một Thiên Chúa mà không bao giờ chúng ta tìm thấy được sự thân mật nồng ấm bên Ngài. Tình yêu không có chỗ cho đe dọa, trừ khi đó là một nỗi sợ rằng mình có thể làm gì đó thiếu tôn trọng, sợ làm mất đi tình yêu. Biển lửa hỏa ngục có thể là một chiến lược có hiệu quả để giúp người ta thay đổi hành vi, nhưng xét theo Tin Mừng, đó là một chiến lược sai trái.

Sợ là một trong những bản năng sâu xa nhất và giúp duy trì sự sống cho bạn. Không biết sợ bạn khó mà sống thọ được. Nhưng nỗi sợ là một hiện tượng phức tạp đa chiều. Một vài nỗi sợ giúp bạn sống sót, Nhưng có những nỗi sợ làm bạn bị biến dạng và bị giam hãm.

Trong đời có những thứ cần phải sợ. Nhưng Thiên Chúa không nằm trong số đó. Thiên Chúa không phải là một kẻ bắt nạt trong sân chơi cũng không phải một bạo chúa độc đoán, nhưng là tình yêu luôn mãi mời gọi chúng ta kết hiệp mật thiết với Ngài.

Lời nguyện xin Tĩnh lặng

Hãy làm thinh và biết Ta là Đức Chúa.

Kinh thánh quả quyết với chúng rằng nếu chúng ta làm thinh thì sẽ biết Chúa, nhưng có được sự lặng yên thì nói dễ hơn làm. Như Blaise Pascal từng nói, “Mọi khốn khổ của con người là do chẳng ai có thể ngồi yên trong một tiếng đồng hồ.” Đạt được sự tĩnh lặng có vẻ là việc quá tầm chúng ta, và như thế chúng ta gặp một song đề: chúng ta cần tĩnh lặng để tìm Chúa, nhưng cần Chúa giúp để tìm sự tĩnh lặng. Nghĩ như thế, tôi xin đưa gởi gắm các bạn một lời nguyện xin sự tĩnh lặng.

Lạy Thiên Chúa của tĩnh lặng…

Xin làm tĩnh lặng những bồn chồn tuổi trẻ của con, tĩnh lặng cơn đói khát cứ ập vào con, cơn đói khát muốn nối kết với mọi người, muốn thấy và và thưởng nếm mọi thứ, cơn đói khát khiến con mất bình an những buổi tối cuối tuần. Xin tĩnh lặng những giấc mơ tự đại muốn mình nổi bật với người khác. Xin cho con ơn sống hài lòng hơn với bản thân con.

Xin tĩnh lặng cơn bồn chồn khiến con thấy mình quá nhỏ bé. Xin cho con biết rằng đời con là đủ, và con không cần đòi hỏi về mình, dù cho cả thế giới đang cố lôi kéo con làm thế với vô vàn những hình ảnh tiếng động khắp nơi. Xin cho con ơn sống bình an trong cuộc đời mình.

Xin làm tĩnh lặng tính dục của con, chỉnh đốn những khao khát bừa bãi, dục vọng của con, nhu cầu không ngơi muốn được thân mật hơn nữa của con. Xin tĩnh lặng và chỉnh đốn những dục vọng trần tục của con mà không cần phải xóa bỏ chúng đi. Xin cho con biết nhìn người khác mà không phải với con mắt tình dục ích kỷ.

Xin tĩnh lặng những lo âu, trăn trở của con và đừng để con lúc nào cũng sống ngoài giây phút hiện tại. Xin cho con biết ngày nào có mối lo của ngày ấy. Xin cho con ơn biết rằng Chúa đã gọi con trong yêu thương, viết sẵn tên con trên thiên đàng, và con được tự do sống mà không cần lo lắng.

Xin tĩnh lặng nhu cầu muốn bận rộn luôn mãi của con, muốn kiếm việc gì đó để làm, muốn lên kế hoạch cho ngày mai, muốn hoạt động mọi phút giây, muốn tìm cái gì đó để lấp đầy khoảng thinh lặng. Xin cho con biết thêm tuổi thêm khôn ngoan. Xin làm nguôi đi những cơn giận âm ỉ vô thức của con vì thấy quá nhiều mong muốn của mình chưa thành sự. Xin tĩnh lặng sự chua cay vì thất bại của con. Xin giữ con khỏi ghen tương khi con cay đắng chấp nhận những giới hạn của cuộc sống mình.

Xin cho con ơn chấp nhận những thất bại và hoàn cảnh của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ chính mình, nỗi sợ trước những thế lực tăm tối đang đe dọa con trong vô thức. Xin cho con can đảm để đối diện với bóng tối cũng như ánh sáng của chính mình. Xin cho con ơn đừng sợ sự phức tạp của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ bẩm tại của con là sợ mình không được yêu thương, sợ con không xứng đáng để yêu. Xin làm tĩnh lặng sự hoài nghi dằn vặt rằng con luôn là kẻ ngoài cuộc, rằng cuộc sống thật bất công, rằng con không được tôn trọng và thừa nhận. Xin cho con ơn biết rằng con là con yêu dấu của Chúa, Đấng yêu thương con vô điều kiện.

Xin tĩnh lặng trong con nỗi sợ vô cớ đối với Chúa, để con đừng thấy Chúa xa cách và đáng sợ, mà thay vào đó là nhìn thấy Chúa nồng ấm và thân thiện. Xin cho con ơn liên kết với Chúa thật hồn nhiên, như một người bạn mà con có thể chuyện trò, đùa giỡn, vui vẻ và thân thiết.

Xin tĩnh lặng trong con những suy nghĩ bất dung, về những giận hơn từ quá khứ, những bội bạc, lăng mạ mà con phải chịu. Xin tĩnh lặng trong con những tội mà chính con đã phạm. Xin tĩnh lặng trong con những tổn thương, cay đắng và giận hờn. Xin cho con sự tĩnh lặng từ sự tha thứ, từ con và cho con.

Xin tĩnh lặng những nghi ngờ, lo lắng về sự hiện diện của Chúa, về lòng trung tín của Chúa. Xin tĩnh lặng trong con xung lực muốn để lại dấu ấn, muốn tạo nên gì đó bất tử cho bản thân mình. Xin cho con ơn biết tin tưởng, ngay cả trong tối tăm và nghi hoặc, rằng chính Chúa sẽ cho con sự sống đời đời.

Xin tĩnh lặng tâm hồn con để con biết Chúa là Thiên Chúa, và cho con biết Chúa đã tạo dựng và gìn giữ mọi hơi thở của con, rằng Chúa yêu thương con cũng như hết thảy mọi người, rằng Chúa muốn cuộc sống chúng con bừng nở, Chúa muốn chúng con hạnh phúc, Chúa yêu thương và chăm lo hết mọi người, rằng chúng con sẽ được an bình trong bàn tay nhân từ của Chúa, ở đời này và đời sau.

Đấu tranh với sự giàu có

Vài năm trước, tôi có dự một tang lễ. Người này đã được tận hưởng một cuộc sống trọn vẹn và giàu có. Ông thọ 90 tuổi và được tôn trọng vì là một người thành đạt và lương thiện. Ông luôn là một người mạnh mẽ, một lãnh đạo bẩm sinh, một người đứng đầu trong mọi chuyện. Ông có cuộc hôn nhân tốt đẹp, gia đình đông con, thành công trong kinh doanh, và giúp điều khiển nhiều tổ chức dân sự cũng như trong nhà thờ. Ông là người được kính trọng dù cho đôi khi ông thấy sợ chính sức mạnh của mình.
Con trai ông, một linh mục, chủ trì nghi thức an táng. Cha bắt đầu bài giảng thế này:

“Kinh thánh bảo chúng ta rằng bảy mươi là được rồi, mạnh giỏi thì được tám mươi. Bố của chúng tôi sống đến chín mươi tuổi. Tại sao lại có thêm mười năm này? Không có gì bí ẩn. Chúa cho thêm mười năm để bố tôi dịu lại. Bố tôi quá mạnh mẽ và khó tính để chết ở tuổi tám mươi! Nhưng trong mười năm cuối đời, bố tôi đã chịu nhiều thay đổi suy giảm lớn. Mẹ tôi mất, và bố tôi không bao giờ nguôi ngoai được. Bố tôi bị lên cơn đau tim, và không dễ chấp nhận như thế. Bố phải sống với nhiều sự trợ giúp, và không dễ chấp nhận như thế. Tất cả những mất mát này có tác dụng của chúng. Đến lúc hấp hối, bố có thể cầm tay ai đó mà nói: “Giúp tôi.” Năm ngoái, khi không thể thắt dây giày, bố tôi cũng không thể nói lên hai từ đó. Nhưng đến cuối cùng, bố tôi đã sẵn sàng về trời. Giờ khi gặp thánh Phêrô ở cửa thiên đàng, bố tôi có thể nói: “Giúp tôi!” thay vì chỉ bảo thánh Phêrô phải làm việc thế nào.”

Câu chuyện này giúp chúng ta hiểu ra lời dạy của Chúa Giêsu rằng, người giàu khó vào nước trời, còn trẻ con thì sẽ vào như lẽ tự nhiên. Chúng ta thường hiểu lầm điều này.

Tại sao trẻ con vào thiên đàng như lẽ tự nhiên? Để trả lời, chúng ta có khuynh hướng lý tưởng hóa sự ngây thơ của con trẻ, một điểm có vẻ gây nhiều ấn tượng. Nhưng đấy không phải là điều Chúa Giêsu dạy, sự ngây thơ cho người lớn là điều bất khả thi. Chúa Giêsu không tôn vinh sự ngây thơ của con trẻ, mà đúng ra là tôn vinh việc trẻ con không có ảo tưởng về cái tôi toàn năng của mình. Trẻ con không có lựa chọn nào khác ngoài nhận thức mình cần ai đó. Chúng không tự phụ và biết rằng chúng không thể tự lo cho mình. Nếu không có ai cho chúng ăn, chúng sẽ đói. Chúng phải nói, và nói thường xuyên: “Giúp con.”

Với người lớn, thường ngược lại, nhất là khi chúng ta mạnh mẽ, tài năng, và có của cải đầy đủ. Chúng ta dễ dàng nuôi ảo tưởng tự phụ. Với sức mạnh của mình, chúng ta thường quên mất rằng mình cần người khác, rằng mình không thể chỉ dựa vào bản thân được.

Bài học tôi muốn nói đây là, giàu có không phải chuyện xấu. Giàu có, tài năng, thông minh, khỏe mạnh, xinh đẹp, giỏi lãnh đạo, là những ơn Chúa ban. Chúng là tốt. Sự giàu có không chặn lối chúng ta vào thiên đàng. Đúng hơn, mối nguy chính là khi giàu có và tài năng, chúng ta dễ dàng mang ảo tưởng tự phụ. Như thánh Tôma Aquinô chỉ ra rằng chỉ mình Thiên Chúa mới không cần bất kỳ ai khác hay bất kỳ điều gì khác. Còn tất cả chúng thì cần. Nhưng trẻ con thì dễ nắm bắt điều này hơn là người lớn, nhất là những người lớn mạnh mẽ và tài năng.

Ngooài ra, ảo tưởng tự phụ còn thường gây thêm một mối nguy khác. Giàu có và tiện nghi nó mang lại, có thể bịt mắt chúng ta trước khốn cảnh và cơn đói của người nghèo, như trong dụ ngôn người giàu mở yến tiệc và người nghèo đói ăn trước cửa nhà ông. Khi chúng ta không bị đói, cũng có thể gây nên một nguy cơ. Khi sống trong tiện nghi, chúng ta có khuynh hướng không nhìn đến người nghèo.

Nhưng như thế, giàu có tự nó không phải là xấu. Nguy cơ chết người của sự giàu có chính là ảo vọng tự đủ, và hai thứ này rất dễ đi kèm với nhau. Trẻ con không phải chịu ảo tưởng này, nhưng những người mạnh mẽ thì có. Và đấy chính là mối nguy của sự giàu có.

Làm sao để chúng ta hạn chế tối đa mối nguy này? Bằng cách hào phóng. Tin mừng theo thánh Luca nói rất cứng rắn về người giàu, nhưng cũng làm rõ rằng giàu có tự nó không xấu. Thiên Chúa giàu có. Nhưng Thiên Chúa quảng đại đến phung phí với sự giàu có ấy. Sự quảng đại của Thiên Chúa, như chúng ta thấy qua Chúa, là một sự quảng đại phung phí đến độ chướng tai gai mắt. Nó thậm chí chẳng màng đến những thước đo của chúng ta về sự công bằng. Giàu có là tốt, nhưng chỉ khi sự giàu có được sẻ chia. Trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu tôn vinh sự giàu có quảng đại, nhưng cảnh cáo người giàu có khư khư tích của. Quảng đại là nên giống Thiên Chúa, tích trữ cho mình là đi ngược lại với nước trời.

Chúng ta không bao giờ được quên đi những từ này: “Giúp tôi.”

Về huấn lệnh của Chúa dạy hủy diệt hết dân Canaan

Trong tự truyện của mình, Eric Clapton, nghệ sỹ nhạc rock và blues lừng danh, đã chia sẻ rất thẳng thắn về cuộc đấu tranh lâu dài của công với chứng nghiện rượu. Ông thừa nhận chứng nghiện rượu của mình và vào một trung tâm cai rượu, nhưng đã không xem trọng vấn đề này cho đủ. Trở về Anh quốc sau thời gian cai rượu, ông quyết định rằng mình vẫn có thể uống những thứ rượu nhẹ và bia, nhưng từ bỏ rượu nặng. Chắc bạn cũng đoán được kết quả thế nào rồi. Không lâu sau, ông lại chìm trong chứng nghiện rượu. Để làm bạn bè yên lòng, ông quay lại trung tâm, nhưng vẫn tin rằng mình đủ mạnh để tự xử lý vấn đề này.

Nhưng ông được ơn soi sáng. Ngay trước khi kết thúc kỳ cai rượu thứ hai này, ông được một cảm nghiệm mạnh mẽ khiến ông đánh động tận sâu tâm hồn, nhận ra sự bất lực của mình và mối nguy hiểm chết người do chứng nghiện. Và từ đó, ông giao phó trọn bản thân cho chương trình cai nghiện, chấp nhận rằng không bao giờ được động đến chất cồn nữa. Và từ đó đến nay, ông vẫn kiêng được rượu.

Câu chuyện của ông giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của một vài đoạn văn trong Kinh Thánh, những đoạn đọc theo nghĩa đen, có thể khiến chúng ta có ấn tượng rằng Thiên Chúa thật tàn nhẫn.

Chẳng hạn như trong Sách Xuất hành, và Sách Joshua, trước khi dân Israel vào Đất Hứa, Thiên Chúa ra lệnh cho dân Israel giết hết dân chúng và súc vật đang ngụ trong vùng đó. Tại sao lại có huấn lệnh hủy diệt hết tất cả con người và súc vật chỉ bởi họ sống ở một nơi nào đó?

Rõ ràng chúng ta phải tự hỏi mình: Đây thực sự là lời của Chúa hay sao? Chúa nào lại ra huấn lệnh như thế này? Và còn những người bị giết, họ không phải là dân Chúa sao? Chúa thiên vị? Những người Canaan mà Joshua được lệnh hủy diệt, họ chẳng là gì sao? Sau huấn lệnh này, còn có ý nghĩa gì nữa không?

Rõ ràng, những lời này đầy hứng khởi thần linh và phong phú về ý nghĩa, không thể chỉ hiểu theo nghĩa đen. Huấn lệnh này, không hẳn là ẩn dụ, mà là một khuôn mẫu, nghĩa là không hiểu theo nghĩa đen huấn lệnh giết những gì không thuộc về chúng ta, nhưng là một lời dạy rằng khi bước và một lối sống mới, chúng ta phải dùng hết mọi phương thế cần thiết để bảo đảm ta có thể sống đúng và duy trì lối sống ấy. Về mặt ẩn dụ, chúng ta cần giết hết mọi yếu tố trong và quanh chúng ta có thể làm thỏa hiệp và rạn vỡ lối sống mới mà chúng ta đang cố thực hiện. Thật sự là Chúa Giêsu đã cho chúng ta một lời dạy y như thế, khi Ngài dùng một dụ ngôn nhẹ nhàng hơn. Rượu mới phải cho vào bầu mới.

Những người trong các chương trình hồi phục chứng nghiện thường nhanh chóng hiểu ra những điều này. Như Eric Clapton, họ biết được từ kinh nghiệm rằng khi đi vào lối sống điều độ, buộc họ phải giết hết những “kẻ ngoại”, phải chấp nhận rằng những phương thế nửa vời sẽ không hiệu quả, mà thay vào đó là những sự từ bỏ dứt khoát, cứng rắn.

Hình ảnh Kinh Thánh này, huấn lệnh Chúa dạy hủy diệt người Canaan, có thể giúp chúng ta trong nhiều lĩnh vực cuộc sống, nhất là trong những đấu tranh dấn thân cam kết của mình.

Ví dụ như, khi bước vào hôn nhân. Như khi dân Israel vào đất hứa, để thiết lập một đời sống mới và trung thành với nó, những người tiến vào cuộc sống hôn nhân cũng cần phải giết rất nhiều thứ, cụ thể là tính lãng mạng đào hoa, những thói quen bừa bãi và thiếu chung thủy cũ, tính trêu hoa ghẹo nguyệt, và cả thói quen lâu dài lúc nào cũng đặt nhu cầu của mình lên trước hết.

Tất cả mọi chọn lựa đều là một từ bỏ. Sống hôn nhân trọn vẹn đồng nghĩa với từ bỏ nhiều thói quen cũ, nếu không chính những thói quen cũ này sẽ xói mòn và tàn phá cuộc hôn nhân. Có những việc phải làm trước khi đi vào cuộc sống hôn nhân hay bất cứ sự dấn thân nghiêm túc nào.

Ngày nay, những yếu tố phải tiêu diệt trước khi bước vào cuộc sống mới sẽ là gì?

Về những nguy cơ đe dọa hôn nhân, tôi cho rằng để sống hôn nhân lâu dài và trọn vẹn, chúng ta phải tiêu diệt đặc nét văn hóa hiện thời của chúng ta về tình dục, cụ thể là niềm tin rằng tình dục không bị hạn chế theo chế độ đơn hôn, không liên quan đến lòng chung thủy và hôn nhân, nghĩ rằng ăn phở một bữa có sao đâu. Nếu chúng ta không giết đi quan niệm ấy, thì khi bước vào hôn nhân, sẽ không duy trì được lâu dài.

Để sống cam kết và trung thành, thì không được nửa vời. Một người nghiện rượu muốn cai, họ biết rằng mình không thể nửa vời. Cũng đúng như thế khi chúng ta gìn giữ một lối sống cam kết. Rượu mới phải cho vào bầu mới, và như thế cần có những từ bỏ dù cay đắng.

Những huấn lệnh của Chúa, nếu hiểu cho đúng, thì không tàn bạo và riêng biệt. Mà là khôn ngoan và phổ quát.

Thành tựu và hoa trái

Có một sự khác biệt thật sự giữa thành tựu và hoa trái, giữa thành công của chúng ta và sự tốt đẹp chúng ta đem lại cho thế giới.

Những gì chúng ta thành tựu đem lại cho chúng ta thành công, sự tự hào, khiến gia đình và bạn bè tự hào về chúng ta, và cho chúng ta cảm giác mình có giá trị, đặc biệt và quan trọng. Mình đã làm được gì đó. Mình đã để lại dấu ấn. Và cùng với đó là giải thưởng, bằng cấp, chứng nhận, những thứ chúng ta xây dựng, những di sản được công chúng thừa nhận và tôn trọng. Chúng ta đã làm được. Chúng ta được công nhận. Hơn nữa, thường thì những gì chúng ta đạt được sẽ giúp ích cho những người khác theo cách nào đó. Chúng ta có thể, và nên, thấy những thành tựu chính đáng của mình là tốt đẹp.

Tuy nhiên, như Henri Nouwen thường xuyên nhắc rằng, thành tựu không đồng nghĩa với hoa trái. Thành tựu là những thứ chúng ta đạt được. Hoa trái là tác động tích cực lâu dài của những thành tựu đó trên người khác. Thành tựu không tự động là hoa trái. Thành tựu giúp chúng ta nổi bật, hoa trái đem phúc lành đến cho cuộc sống của người khác.

Do đó chúng ta cần phải đặt câu hỏi này: Thành tựu của tôi, những thứ tôi tự hào là mình đã làm, có vun đắp tích cực cho những người quanh tôi không? Chúng có giúp đem niềm vui đến cuộc sống của người khác không? Chúng có giúp làm cho thế giới tốt đẹp hơn, yêu thương hơn không? Những giải thưởng tôi đã nhận có làm những người quanh tôi yên bình hơn hay lo lắng hơn?

Và những câu hỏi này khác hẳn với: Thành tựu của tôi cho tôi cảm giác thế nào? Chúng có cho tôi cảm giác mình giá trị không? Thành tựu của tôi có phải là bằng cho thấy sự độc nhất vô nhị của tôi không?

Rõ ràng thành tựu của chúng ta, dù là chính đáng, thường gây ra sự ghen tỵ và bồn chồn nơi người khác hơn là sự hứng khởi và thanh thản. Chúng ta thấy rõ điều này trong cách chúng ta thường xuyên ghen tỵ và âm thầm ghét bỏ những người thành công cực độ. Thành tựu của họ thường không mấy nâng cao cuộc sống chúng ta, mà thay vào đó lại gây một sự bồn chồn trong chúng ta. Thành công của người khác, thường như một tấm gương mà mỗi khi nhìn vào chúng ta lại cay đắng và bồn chồn thấy ra sự thiếu thành công của mình. Tại sao lại thế?

Thường thì do cả hai phía. Một mặt, những thành tựu của chúng ta thường có động lực là sự tự quy muốn mình nổi bật so với người khác, muốn được công nhận và ngưỡng mộ hơn là xuất phát từ một khao khát thật tâm muốn giúp người khác. Và nếu đúng như thế, thì thành công của chúng ta chắc chắn gây ra ghen tỵ. Mặt khác, sự ghen tỵ của chúng ta đối với người khác, thường là sự trừng phạt do chính tay chúng ta gây ra, như Chúa Giêsu đã nói trong dụ ngôn ông chủ giao phó các nén bạc rồi đi xa, và người đem giấu tài năng của mình mà không dùng đến cuối cùng bị trừng phạt.

Và sự thật là chúng ta có thể đạt được những điều lớn lao mà không thật sự sinh hoa trái, cũng như chúng ta có thể sinh hoa trái mà chỉ đạt được đôi điều ít ỏi chiếu theo sự nhìn nhận của thế gian về thành công. Chúng ta sinh hoa trái không hẳn là do những điều chúng ta đạt được, nhưng là do sự tử tế, rộng lượng, và nhân ái mà chúng ta đem lại cho thế giới. Đáng buồn thay, thế giới hiếm khi công nhận đó là thành tựu, thành công. Chúng ta không trở nên thành công nhờ sống tử tế. Nhưng khi chúng ta chết, dù vẫn được tán dương nhờ những thành tựu của mình, thì người ta sẽ yêu mến và tưởng nhớ chúng ta vì sự tốt đẹp trong lòng chúng ta hơn là vì những thành tựu xuất chúng. Hoa trái thật sự của chúng ta sẽ tuôn tràn từ một nơi còn cao hơn di sản thành tựu của chúng ta.

Chính tâm hồn chúng ta sẽ quyết định những gì chúng ta để lại sẽ được vun đắp hay bị bóp nghẹt.

Henri Nouwen cũng chỉ ra rằng khi chúng ta phân biệt được thành tựu và hoa trái, thì sẽ thấy ra rằng dù cho cái chết sẽ là cái kết cho thành công, tầm ảnh hưởng, tầm quan trọng của chúng ta, nhưng nó không chấm hết hoa trái của chúng ta. Thật vậy, thường thì hoa trái của chúng ta chỉ xuất hiện sau khi chúng ta chết, khi tinh thần của chúng ta toát ra một cách thuần khiết hơn. Chúng ta thấy điều này cũng ứng nghiệm với Chúa Giêsu. Chúng ta có thể được nuôi dưỡng trọn vẹn hơn sau khi Ngài ra đi. Chúa Giêsu dạy rõ điều này trong lời từ giã trong Tin mừng theo thánh Gioan, khi Ngài lặp đi lặp lại rằng “Thầy ra đi thì tốt hơn cho anh em,” bởi chỉ khi Ngài ra đi chúng ta mới có thể thật sự đón nhận Thần Khí, hoa trái trọn vẹn của Ngài. Với chúng ta cũng thế. Hoa trái trọn vẹn của chúng ta sẽ chỉ phát tiết sau khi chúng ta chết.

Thành tựu vĩ đại không hẳn đã sinh hoa trái vĩ đại. Thành tựu vĩ đại có thể cho chúng ta thấy thoải mái, làm cho gia đình và người thân yêu tự hào về chúng ta. Nhưng những cảm giác thành công và tự hào đó không tồn tại mãi cũng không hẳn sinh hoa trái sâu sắc. Thật vậy, cảm giác thoải mái mà thành tựu đem lại cho chúng ta thường là một thứ thuốc phiện, không ngừng đòi hỏi chúng ta và còn gây ghen tỵ cũng như bồn chồn nơi người khác.

Hoa trái nuôi dưỡng tình yêu thương và cộng đồng thường phát xuất từ sự yếu đuối mà chúng ta cùng cảm nhận, chứ không phải từ những thành tựu tôn chúng ta tách biệt hẳn với mọi người.

Lúc kẹt xe

Trên một đường cao tốc, có tấm bảng viết rằng: Bạn không bị kẹt xe. Chính bạn làm kẹt xe! Thật khôi hài, mà sắc sảo! Chúng ta thường tách mình ra khỏi vấn đề rắc rối, dù là chuyện trong chính trị, giáo hội, môi sinh hay bất kỳ chuyện gì khác.

Chúng ta muốn nghĩ rằng mình bị mắc kẹt trong bầu khí chính trị tồi tệ, nơi chúng ta không còn có thể nói chuyện với nhau và tôn trọng lẫn nhau, nhưng không phải thế đâu. Đúng hơn là chính chúng ta đã trở nên quá cứng ngắc, kiêu căng, và tin vào bản thân mình đến nỗi không còn có thể tôn trọng những người có chính kiến khác với mình. Chúng ta chính là bầu khí chính trị tệ hại, chứ không phải bị mắc kẹt trong nó.

Về mặt giáo hội cũng vậy. Chúng ta không bị mắc kẹt trong một giáo hội quá tự quy và không đủ trung thành với lời dạy của Chúa Giêsu. Đúng hơn, chúng ta là những Kitô hữu quá thường xuyên vì tư lợi mà bóp méo lời dạy của Chúa Giêsu. Chúng ta không bị kẹt trong một giáo hội như thế, mà đúng ra là chúng ta bóp méo một giáo hội như thế.

Đối với các vấn đề môi sinh cũng vậy. Chúng ta không mắc kẹt trong một hành tinh đang dần cạn kiệt dưỡng khí và là một bãi rác của con người. Đúng hơn, chúng ta chính là những người quá bất cẩn khi sử dụng tài nguyên của trái đất, và là người xả rác.

Phải thừa nhận rằng, không phải lúc nào cũng đúng như thế. Đôi khi chúng ta bị mắc kẹt trong những hoàn cảnh tiêu cực mà chúng ta không có lỗi gì trong chuyện đó, đơn giản chỉ là chúng ta là nạn nhân bất hạnh của hoàn cảnh, của sự bất cẩn do người khác, của bệnh tật, hay tội lỗi. Đôi khi hoàn cảnh có thể đè nặng trên vai chúng ta trách nhiệm và tước mất tự do của chúng ta. Nói một cách ẩn dụ, thì chúng ta có thể thấy mình bị kẹt trong dòng xe chứ không phải là một phần của dòng xe, dù cho thường thì chúng ta, ít ra, cũng là một phần của dòng xe mà chúng ta đang mắc kẹt.

Henri Nouwen thường nhấn mạnh điều này trong các bài viết của mình. Chúng ta không tách biệt khỏi các sự kiện trên bản tin thế giới hằng ngày. Đúng hơn, những gì chúng ta thấy trên bản tin thế giới, đơn giản chỉ là phản ánh những gì đang diễn ra trong lòng chúng ta. Khi chúng ta thấy những chuyện bất công, định kiến bất dung, kỳ thị, tham lam, bạo lực, giết người, và chiến tranh tên truyền hình, chúng ta thường cảm thấy một sự căm phẫn chính đáng. Cảm thấy như thế là lành mạnh, nhưng ngây thơ nghĩ rằng người khác có vấn đề còn mình thì không, thì thật không lành mạnh chút nào.

Nếu thành thật, chúng ta phải công nhận mình có phần trong mọi chuyện này, dù không phải rõ rành rành, nhưng là theo một kiểu tinh vi hơn nhiều. Chuyện chính chúng ta là gốc rễ của nhiều xung đột trên thế giới, thật quá đỗi xa lạ không thể tin được. Nhưng, chính chúng ta cũng khó lòng chấp nhận những người khác biệt với mình. Chúng ta bám vào các đặc quyền và làm gần như tất cả các việc có thể làm để bảo đảm tiện nghi cho bản thân. Chúng ta cũng dùng tài nguyên một cách không công bằng để phục vụ cho cơn khát tiện nghi và trải nghiệm của mình. Và những phán xét tiêu cực của chúng ta, những lời cay nghiệt, những lần đàm tiếu, chính là những hành động bạo lực. Chính Henri Nouwen đã nói: “Không ai bị bắn bằng súng, mà trước đó không bị bắn bằng lời nói cả. Và không ai bị bắn bằng lời nói mà trước đó không bị bắn bằng một suy nghĩ ác tâm!” Ta tưởng mình là ai cơ chứ? Bản tin thời sự chỉ phóng lên cho chúng ta thấy những gì đã có trong lòng chúng ta mà thôi.

Chúng ta không chỉ là những người xem bản tin thời sự, mà còn là đồng lõa trong bản tin đó. Giáo lý xưa đã đúng khi bảo chúng ta rằng, không có một hành động nào thật sự hoàn toàn mang tính cá nhân, và mỗi hành động của chúng ta đều tác động đến tất cả mọi người khác.

Bài học đầu tiên rút ra từ điều này thật quá rõ ràng: Khi chúng ta thấy mình bị kẹt trong dòng xe, chúng ta phải thừa nhận sự đồng lõa của mình trong đó, và cố chống lại cám dỗ đổ lỗi cho người khác.

Nhưng còn một bài học nữa là: Chúng ta sống lành mạnh khi thú nhận về mình, thú nhận rằng chúng ta chính là dòng xe đó, hoàn cảnh đó, chứ không phải chỉ là mắc kẹt trong nó. Sau khi nhận ra rằng mình có góp phần trong đó, chúng ta có thể tha thứ cho bản thân, bởi ít nhất thì chúng ta không thể không góp phần trong đó. Không một ai bước đi trên đời mà chẳng để lại dấu chân.

Điểm khởi đầu để làm cho mọi sự tốt đẹp hơn, chính là thừa nhận và thú nhận sự đồng lõa của mình.

Rồi lần tới, nếu bạn bị kẹt xe, bực mình cáu kỉnh, càu nhàu vì sao có quá nhiều trên trục lộ giao thông như thế, thì bạn có thể nhìn mình qua gương chiếu hậu, tự hỏi vì sao mình cũng ở trên đường này, thì bạn có thể thứ lỗi cho mình, thế đấy, và cảm thấy thông cảm với người khác hơn.

Sức mạnh của nghi thức

Không phải lúc nào tôi cũng cầu nguyện dễ dàng. Thường là những lúc tôi quá mệt mỏi, bị phân tâm, bận rộn, áp lực công việc, thiếu thời gian, thiếu hứng thú cầu nguyện, hay đang chú tâm hơn đến chuyện khác. Nhưng tôi cầu nguyện hằng ngày, dù cho tôi thường không muốn và dù cho nhiều lần tôi thấy cầu nguyện có vẻ tẻ nhạt. Tôi cầu nguyện hằng ngày là nhờ tôi tham dự nhiều nghi thức cầu nguyện, kinh Phụng vụ, thánh lễ, và suy niệm hằng ngày.

Và những nghi thức này giúp cho tôi rất nhiều. Chúng giữ cho tôi vững vàng, và giữ tôi cầu nguyện đều đặn dù cho nhiều lúc tôi chẳng thấy thích cầu nguyện. Đấy chính là sức mạnh của nghi thức. Nếu tôi chỉ cầu nguyện khi tôi thấy thích, thì tôi sẽ không cầu nguyện thường xuyên.

Nghi thức giữ cho chúng ta làm những việc chúng ta nên làm, như cầu nguyện, làm việc, ăn chung với nhau, lịch sự, dù cho không phải lúc nào chúng ta cũng thuận theo những chuyện đó. Chúng ta cần làm những việc nhất định không phải bởi chúng ta luôn cảm thấy thích chúng, nhưng là bởi đó là những việc đúng đắn.

Và điều này đúng, trong nhiều lĩnh vực đời sống, chứ không riêng gì cầu nguyện. Ví dụ như, các nghi thức giao tế xã hội mà chúng ta thực hiện mỗi ngày. Không phải lúc nào chúng ta cũng thật tâm muốn chào hỏi, hay thể hiển sự trìu mến, trân trọng, và biết ơn. Chúng ta chào hỏi nhau, tạm biệt nhau, thể hiện tình cảm cho nhau, và tỏ lòng biết ơn với nhau thông qua một loạt các nghi thức từ ngữ theo công thức xã hội. Xin chào! Hân hạnh gặp anh! Chúc một ngày tốt lành! Chúc ngủ ngon! Thật may mắn khi được cộng tác với anh! Cảm ơn!

Chúng ta nói những lời này với nhau mỗi ngày dù cho chúng ta phải thừa nhận rằng, đôi lúc, hay thậm chí là nhiều lúc, những lời đó hoàn toàn mang tính chiếu lệ. Nhưng khi chúng ta nói ra thì chúng là thật, bởi chúng thể hiện những gì trong lòng chúng ta, những gì thâm sâu hơn các cảm giác thất vọng, lơ đãng, buồn bực tạm thời của chúng ta. Hơn nữa, những lời này giúp chúng ta sống văn minh, lễ độ, dễ thương, tôn trọng và yêu thương, bất chấp những dao động của tâm trạng và cảm giác chúng ta. Tâm trạng và cảm giác của chúng ta, không phải là biểu lộ đích thực những gì trong lòng chúng ta. Trong số chúng ta, có ai chưa từng buồn bực một người mà mình yêu thương hết mực hay chưa? Sự thật là chúng ta yêu người đó, chứ không phải là những cảm giác của chúng ta dành cho người đó vào lúc nhất thời đó.

Nếu chúng ta chỉ thể hiện tình thương và sự trân trọng vào những lúc chúng ta hoàn toàn cảm thấy như thế, thì chúng ta sẽ không thể hiện tình thương một cách rất thường xuyên đâu. Nhưng tạ ơn Chúa là chúng ta có những nghi thức xã hội thường lệ giữ cho chúng ta sống yêu thương, dễ thương, văn minh và lễ độ cả những lúc cảm giác của chúng ta không muốn thế. Những nghi thức này giữ chúng ta được an toàn cho đến khi cảm giác vui tươi trở lại.

Thế mà trong nhiều lĩnh vực đời sống ngày nay, chúng ta không còn hiểu nghi thức. Và điều này khiến chúng ta phải cố gắng sống đời mình bằng cảm giác. Cảm giác không xấu, nhưng chúng ập đến với chúng ta một cách hoang dã và không thể ngăn cản. Iris Murdoch cho rằng thế giới của chúng ta có thể thay đổi trong 15 giây đồng hồ, bởi chúng ta có thể phải lòng ai đó trong vòng 15 giây. Nhưng chúng ta cũng có thể hết yêu trong 15 giây! Cảm giác là thế đấy! Và nếu sống theo cảm giác, chúng ta không thể gìn giữ tình yêu, hôn nhân, gia đình, tình bạn, tình đồng nghiệp và tình hàng xóm. Chúng ta cần có điều gì đó. Nghi thức giúp chúng ta gìn giữ các mối quan hệ, và vượt trên cảm giác.

Mục sư Dietrich Bonhoeffer thường nói thế này với các cặp tân hôn: Hôm nay, hai người đang yêu và tin rằng tình yêu có thể duy trì hôn nhân của mình. Nhưng không đâu. Tuy nhiên, hôn nhân có thể duy trì tình yêu của hai người. Hôn nhân không chỉ là một bí tích, mà còn là một nghi thức.

Nghi thức không chỉ có thể giúp duy trì hôn nhân, mà còn có thể giúp gìn giữ đời sống cầu nguyện, cách cư xử, tính hài hước, lòng tri ân, và sự cân bằng của chúng ta trong đời. Nếu bất kỳ ai nhân danh tâm lý, tình yêu, hay linh đạo mà bảo bạn rằng nghi thức là thứ trống rỗng và bạn phải lấy tâm trạng, cảm giác là kim chỉ nam, thì bạn phải cảnh giác với họ. Họ sẽ không giúp bạn tiến được xa đâu.

Daniel Berrigan từng viết rằng: Đừng đi với người nào muốn bạn lúc nào cũng phấn khích. Trên hành trình dài, chắc chắn phải có những lúc buồn tẻ. Gioan Thánh Giá cũng đồng ý với lời này khi bàn về cầu nguyện. Ngài bảo chúng ta rằng, trong những năm tháng sinh hoa trái của chúng ta, một trong những vấn đề lớn nhất mà chúng ta gặp phải khi cầu nguyện mỗi ngày chính là sự buồn tẻ.

Và chúng ta có thể biết chắc rằng, cảm giác sẽ không giúp giữ gìn chúng ta, nhưng nghi thức thì có.

Chúng ta giới thiệu quá tồi về Thiên Chúa

Từ “Kháng cách” thường bị hiểu lầm. Cuộc kháng cách của Martin Luther dẫn đến cuộc Cải cách Kháng cách, thật sự không phải là phản kháng Giáo hội Công giáo La Mã, mà là một cuộc kháng cách vì Thiên Chúa. Trong quan điểm của Luther, Thiên Chúa bị lạm dụng để phục vụ lợi ích của con người và giáo hội. Cuộc kháng cách của ông là lời kêu gọi phải tôn kính sự siêu việt của Thiên Chúa.

Ngày nay, chúng ta cần một cuộc kháng cách mới, một lời kêu gọi mới, thật mạnh mẽ, đòi chúng ta đừng liên kết Thiên Chúa và giáo hội chúng ta với sự bất dung, bất công, mù quáng, bạo lực, khủng bố, kỳ thị, khắc nghiệt, giáo điều, bài tính dục, bài đồng tính, ham quyền lực, khư khư thể chế, bảo vệ người giàu, lý tưởng hóa quá đáng, và ngu ngốc. Thiên Chúa đang bị chúng ta quảng bá quá tồi tệ!

Có thể đưa ra một ví dụ rõ ràng thế này: Trong quyển sách mới ra mắt, ghi lại tình bạn 50 năm với cựu huấn luyện viên của mình, huyền thoại bóng rổ Kareem Abdul-Jabbar chia sẻ lý do vì sao ông trở thành người Hồi giáo. Được nuôi dạy trong gia đình Công giáo La Mã, học ở trường Công giáo, cuối cùng ông bỏ Công giáo để cải sang Hồi giáo. Tại sao lại thế?

Chính ông nói rằng: Bởi “người da trắng đánh bom các nhà thờ và giết các em bé gái, bắn những cậu bé da đen không tấc sắt trong tay, đánh đập những người da đen biểu tình mà miệng thì hô to họ tự hào là Kitô hữu. KKK là những Kitô hữu tự hào. Tôi thấy mình không thể dính dáng gì đến một tôn giáo với quá nhiều tín hữu ác độc như thế. Phải, tôi cũng nhận thức rằng mục sư Martin Luther King cũng là một Kitô hữu tự hào, và nhiều lãnh đạo khác cũng như thế. Huấn luyện viên Wooden là một Kitô hữu sốt sắng. Nhiều Kitô hữu da trắng can đảm đã mạnh mẽ ủng hộ phong trào đòi quyền công dân, đồng hành với người da đen. Khi KKK tấn công, họ thường bị đánh nhiều hơn, bởi họ bị xem là những kẻ phản bội giống nòi. Tôi không lên án tôn giáo, nhưng chắc chắn tôi thấy mình xa cách nó.”

Câu chuyện của ông chỉ là một trong rất nhiều câu chuyện tương tự. Thật dễ để liên kết Thiên Chúa với những chuyện sai trái. Tất nhiên, chuyện này không chỉ xảy ra với Kitô giáo. Ví dụ như, ngày nay, chúng ta thấy minh chứng tồi tệ nhất của việc gắn Thiên Chúa với sự dữ, trong những hành động bạo lực của Nhà nước Hồi giáo ISIS và các nhóm khủng bố khác đang giết chóc bừa bãi và tàn bạo, nhân danh Thiên Chúa. Bạn có thể chắc chắn rằng những lời cuối cùng trên miệng kẻ đánh bom tự sát giết hại nhiều người vô tội, chính là: “Thượng đế vĩ đại!” Thật quá kinh tởm khi nói lên một lời như thế lúc giết người! Làm chuyện phản Chúa nhân danh Thiên Chúa!

Và chúng ta cũng quá thường xuyên làm những chuyện như thế theo những cách tinh vi hơn, cụ thể là biện minh cho những chuyện phản Chúa bằng cách viện ra tôn giáo của mình. Chúng ta làm thế bằng cách bịt tai, bịt mắt, bịt miệng, ngoan cố phân biệt phải trái với một tâm thức vụ lợi, chúng ta cho mình được Thiên Chúa cho phép sống và hành động theo một kiểu đi ngược lại với hầu hết mọi lời Chúa Giêsu dạy.

Chúng ta có thể phản đối, bảo rằng chúng ta chân thành, là làm theo những gì mình nghĩ, nhưng sự chân thành tự nó không phải là một tiêu chuẩn tôn giáo hay luân lý. Sự chân thành có thể, và thường xuyên, gắn Thiên Chúa với những sự phản Chúa và mượn danh Thiên Chúa mà biện minh cho sự dữ. Người ta bảo Tòa dị giáo là trung thực, những kẻ buôn nô lệ là chân thành, những người bảo vệ các linh mục ấu dâm là chân thành, những người kỳ thị là chân thành, người giàu bảo vệ đặc quyền của họ là chân thành, các mục tử bất chấp Tin mừng đưa ra những quyết định cấm đoán người ta đến với giáo hội là chân thành, là làm theo những gì họ tin tưởng và xác quyết. Thế đấy, chân thành cũng là khi tất cả chúng ta phán xét người khác, một chuyện mà Chúa Giêsu đã nhiều lần dạy là không được làm. Nhưng chúng ta nghĩ rằng tất cả những chuyện này chúng ta làm vì sự thiện, vì Chúa.

Nhưng trong nhiều hành động của mình, chúng ta liên kết Thiên Chúa và giáo hội với sự hẹp hòi, bất dung, khắc nghiệt, kỳ thị, thiên vị, vị luật, vị giáo điều, và ngu ngốc. Và chúng ta tự hỏi vì sao con cháu của chúng ta, quá nhiều người không còn đến nhà thờ và thậm chí đương cự với tôn giáo.

Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải đối lập với tôn giáo như thế. Thật đáng buồn cho chúng ta, nhưng đúng là thế. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải là một Thiên Chúa dư dật rộng rãi, không gắt gỏng, một Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ, một Thiên Chúa yêu thương mọi chủng tộc và mọi người như nhau, một Thiên Chúa yêu thương người nghèo hơn, một Thiên Chúa tạo nên hai giới bình đẳng, một Thiên Chúa bác bỏ quyền lực và đặc quyền thế gian. Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô là một Thiên Chúa cảm thương và tha thứ, một Thiên Chúa đòi tinh thần phải đứng cao hơn luật, tình thương phải cao hơn giáo điều, và sự tha thứ cao hơn công lý tòa án. Và Thiên Chúa mà Chúa Giêsu hiện thân, không ngốc, mà là một Thiên Chúa với trí tuệ không bao giờ phải e ngại khoa học, một Thiên Chúa không lên án và cho người ta xuống hỏa ngục theo những phán xét hạn hẹp của chúng ta.
Đáng buồn thay, chúng ta quá thường xuyên thấy đó không phải là Thiên Chúa của tôn giáo, của giáo hội chúng ta, của linh đạo chúng ta, và của cả lương tâm chúng ta.

Thiên Chúa không hẹp hòi, ngu ngốc, bạo lực hay báo oán. Và đã đến lúc chúng ta không được liên kết Thiên Chúa với những thứ đó nữa.

Cực điểm trong Đức tin của chúng ta

Những chuyện không thể tránh khỏi đầy phức tạp của tuổi trưởng thành khiến sự ngây thơ trẻ con biến mất. Và điều này cũng đúng với đức tin của chúng ta. Nói thế không phải vì đức tin thật ngây thơ. Nhưng vì đức tin của chúng ta cần được khôi phục không ngừng vào con người chúng ta, và được làm mới với các trải nghiệm cuộc đời, nếu không chúng ta sẽ thấy mình thật lạc lõng trong cuộc đời. Nhưng đức tin đích thực có thể đương cự trước mọi trải nghiệm, dù cho nó phức tạp đến thế nào đi chăng nữa.

Đáng buồn thay, có vẻ không phải lúc nào, và thật sự là nhiều người đang bỏ đức tin lại sau lưng, khi các phức tạp của cuộc sống trưởng thành đi ngược lại với đức tin thời thơ ấu của họ.

Và khi nghĩ về chuyện này, tôi đề nghị các bạn đọc quyển sách mới xuất bản, Cực điểm của tôi, Một Hồi ký Sốt sắng (My Utmost, A Devotional Memoir) của Macy Halford. Cô Halford còn trẻ chỉ ngoài 30 tuổi, văn sĩ của các nhà xuất bản ở Paris và ở New York, và đây là tập hồi ký kể lại những đấu tranh của cô khi là một Kitô hữu phái Phúc âm bảo thủ mong muốn giữ gìn đức tin của mình trước những nhóm người có quan điểm rất tự do, đầy luận điệu, thế tục hóa và theo thuyết bất khả tri mà cô đang sống và đang làm việc chung.

Quyển sách kể lại những đấu tranh của cô để giữ gìn đức tin mạnh mẽ thời thơ ấu, vốn ghi tạc vào trong lòng nhờ người mẹ và người bà qua đức tin mạnh mẽ của họ. Đức tin và giáo hội là cái neo cho bước đường đời của cô. Nhưng trong con người cô còn có một sự khác, cụ thể là, sự khắc khoải và xung lực sáng tạo của một nhà văn, và sinh lực không thể đè nén này tự nhiên đưa cô vượt ngoài phạm vi an toàn và nương ẩn của giáo hội thuở nhỏ, đưa cô đến với các nhóm văn chương ở New York và ở Paris.

Cô sớm khám phá ra rằng sống đức tin khi quanh mình có một nhóm nâng đỡ đức tin mạnh mẽ là một chuyện, và sống đức tin khi quanh mình là môi trường cực kỳ thế tục và bất khả tri lại là chuyện khác. Quyển sách kể lại đấu tranh đó và cách cô hợp nhất niềm đam mê và đức tin thơ ấu vào cuộc sống mới của mình. Cô chia sẻ mỗi lần cô bị cám dỗ vượt qua ranh giới và từ bỏ đức tin thời thơ ấu, cô lại nhận ra rằng cô sợ làm thế “không phải vì sợ sẽ tiêu diệt một Thiên Chúa hay một niềm tin, nhưng là sợ tiêu diệt chính bản thân mình.” Thấu suốt này là yếu tố đích thực của đức tin cô. Thiên Chúa và đức tin không cần chúng ta, mà là ngược lại.

Vào sinh nhật thứ 13, bà cô cho cô một quyển sách rất phổ biến trong giáo hội phái Phúc âm và phái Baptist, quyển Cực điểm của tôi dành cho Đấng Tối cao (My Utmost for His Highest) của Oswald Chambers. Quyển sách này là một tuyển tập các châm ngôn thiêng liêng, những suy nghĩ thường nhật qua bao năm tháng của nhà thần nghiệm và truyền giáo này. Halford chia sẻ rằng, khi còn nhỏ và được neo giữ chặt vào giáo hội và đức tin thời thơ ấu, cô không đọc quyển sách này hằng ngày, và nó không quá ý nghĩa với cô. Nhưng cuối cùng, việc đọc quyển sách này giờ như một nghi thức thường nhật trong đời cô, và những lời khuyên trong sách trở thành một lăng kính để cô có thể hợp nhất đức tin thời thơ ấu và trải nghiệm tuổi trưởng thành của mình.

Cô từng nghiên cứu thần học rất sâu về quyển sách và tác giả của nó. Vài phần trong quyển sách của cô quá cao siêu với độc giả, nhưng dù không hiểu rõ về mặt thần học cách cô tìm được sự hòa hợp này, thì chúng ta cũng thấy rõ hoa trái từ đấu tranh của cô.
Đây là một tập hồi ký đáng giá bởi hôm nay nhiều người đang trải qua đấu tranh này, để đức tin thời thơ ấu đương cự với hiện thực hiện tại của mình. Halford đơn giản cho chúng ta thấy cách cô làm việc đó, và những nỗ lực của cô là một tấm gương để chúng ta noi theo.

Karl Rahner, từng có nhận định lừng danh rằng, trong thế hệ tiếp theo, chúng ta hoặc sẽ là nhà thần nghiệm hoặc là người không có đức tin. Một ý của Rahner trong câu này là, trong các thế hệ trước, khi gia đình, hàng xóm, và giáo hội của chúng ta hỗ trợ rất nhiều trong việc giữ đức tin, nhưng hiện tại chúng ta phải tự tìm nền tảng rất riêng của mình cho đức tin, và phải là một nền tảng thâm sâu hơn. Marcy Halford đã thể hiện rõ điều đó. Trong một thế hệ với nhiều người không có đức tin, tập hồi ký của cô chỉ ra con đường của một tinh thần thần nghiệm khiêm nhượng nhưng hiệu quả.

John Moriaty, nhà văn người Ai Len, từng chia sẻ về chuyện ông xa rời đức tin khi còn trẻ, xem đó là ngây thơ và không thể hơn được những trải nghiệm trưởng thành của ông. Ông cứ như thế cho đến một ngày, “Tôi nhận ra rằng Đạo Công giáo, đức tin thời thơ ấu của tôi, chính là tiếng mẹ đẻ của tôi.”

Macy Halford cuối cùng cũng tái đặt nền tảng của mình trên tiếng mẹ đẻ, trên đức thời thơ ấu, và nó tiếp tục dẫn dắt cô qua những ngụy biện của tuổi trưởng thành. Tập hồi ký kể lại hành trình của cô có thể hữu ích cho tất cả chúng ta, dù cho thuộc phái Kitô giáo.

Tự vẫn – Lấy lại ký ức về người thân yêu

Một năm trước, hầu như mọi người quen biết cha đều choáng khi hay tin linh mục Virgilio Elizondo, thần học gia người Mỹ gốc Tây Ban Nha lừng danh, đã tự vẫn. Virgil không chỉ là một thần học gia tiên phong đầy thiên tư, mà còn là một linh mục thân thiện, một người bạn nồng hậu với vô số người. Mọi người đều chết, và cái chết của những người thân yêu luôn thật khó chấp nhận, nhưng cách chết của cha càng khiến nhiều người choáng váng và hoang mang. Tự vẫn đấy! Nhưng cha là một người nhạy bén và đầy đức tin. Làm sao có thể như thế được?

Và những câu hỏi này khiến hầu hết những người quen biết cha phải đối diện với một câu hỏi khác, một câu hỏi lớn và xé lòng: Việc này gây hại gì cho công trình của cha, cho món quà mà cha đã để lại cho Giáo hội và cộng đồng người nói tiếng Tây Ban Nha? Chúng ta còn có thể tôn vinh cuộc đời và đóng góp của cha như thể cha đã chết vì đau tim hay ung thư không? Thật sự là, nếu cha đã chết vì đau tim hay ung thư, thì cái chết của cha, dẫu có gây đau buồn, thì chắc chắn vẫn đem lại một bầu khí lành mạnh, thậm chí là vui mừng khi chúng ta được bình tâm nói lời từ giã với con người tuyệt vời mình từng được phúc quen biết, chứ không phải một bầu khí lặng lẽ, vội vã, và một sự đau buồn không trọn vẹn ở tang lễ của cha.

Đáng buồn thay, đây cũng là trường hợp của bất kỳ ai chết vì tự vẫn, cách chết của họ đã trở thành một lăng kính để chúng ta nhìn vào cuộc đời và công trình của họ, một lăng kính bị nhuốm màu vẩn đục vĩnh viễn. Không nên như thế, và bổn phận của chúng ta, những người còn sống và yêu mến họ, là gợi lên những ký ức của họ, chứ không phải gỡ ảnh của họ khỏi tường, tránh nói về cái chết của họ. Chúng ta đừng để cách chết của họ làm hoen ố sự tốt lành đời sống của họ. Tự vẫn là cách chết kém vinh quang và dễ bị hiểu lầm nhất. Chúng ta có bổn phận với những người thân yêu đã mất, và với chính chúng ta, là không làm trầm trọng thêm bi kịch đó nữa.

Vậy nên mỗi năm, tôi viết một bài về tự vẫn, hy vọng nó sẽ giúp mọi người thông hiểu hơn về vấn đề này, và hy vọng có thể xoa dịu phần nào cho những người đã mất đi người thân vì tự vẫn. Về căn bản, năm nào tôi cũng nói như nhau, bởi đó là những điều cần phải nói. Như lời Margaret Atwood, có những điều cần nói ra và nói đi nói lại, cho đến khi không cần nói nữa. Có điều cần nói về tự vẫn.

Vậy đó là những thứ gì? Cần phải nói đi nói lại điều gì về tự vẫn? Để làm rõ, cho tôi đưa ra theo số thứ tự.

1. Thứ nhất, trong hầu hết các trường hợp, tự vẫn là kết quả của một căn bệnh, một sự sụp đổ trầm trọng trong hệ miễn dịch cảm giác hay đơn giản là một căn bệnh hóa sinh chết người.

2. Trong hầu hết trường hợp, người chết vì tự vẫn, cũng giống như một nạn nhân chết vì bệnh tật hay tai nạn, không phải do lựa chọn của người đó. Khi người ta chết vì đau tim, ung thư, hay tai nạn, họ chết không theo ý mình. Trong các trường hợp tự vẫn cũng như thế.

3. Chúng ta không nên lo lắng quá đáng về ơn cứu độ đời đời của người chết vì tự vẫn, mà nên tin rằng tự vẫn là hành động tột cùng của tuyệt vọng. Thiên Chúa chắc chắn còn thông hiểu và trìu mến hơn chúng ta nhiều. Chúng ta không cần lo lắng về số phận của bất kỳ ai rời thế giới này một cách thành thật, nhạy cảm quá độ, bị tổn thương quá nhiều đến nỗi không dám vươn ra, như trong trường hợp hầu hết các vụ tự vẫn. Sự thông hiểu và lòng thương xót của Thiên Chúa vượt xa chúng ta.

4. Khi mất đi một người thân vì tự vẫn, chúng ta không nên ức đoán quá đáng: Tôi đã làm gì sao? Tôi đã làm gì khiến người này buồn lòng? Nếu có thì sao? Nếu như tôi đã ở đó đúng lúc! Hiếm khi những lời tự vấn này làm được gì. Hầu như chúng ta không thể có mặt đúng lúc bởi vì người đó không muốn chúng ta có mặt ở đó. Người đó đã chọn thời gian, địa điểm và cách thức sao cho chúng ta không thể can thiệp. Tự vẫn như một căn bệnh chọn lấy nạn nhân của mình sao cho mọi người khác không thể tiếp cận. Đây không phải là một lời biện minh cho sự thiếu nhạy bén, nhưng là một xác định lành mạnh để không mặc cảm tội lỗi sai lầm và ức đoán vô cớ. Tự vẫn là kết quả của một chứng bệnh, và có những chứng bệnh mà mọi tình yêu thương ân cần của cả thế gian cũng không thể chữa lành nổi.

5. Cuối cùng, chúng ta, những người còn sống, có bổn phận tôn vinh ký ức của những người đã chết vì tự vẫn, và đừng để cách họ chết làm vẫn đục lăng kính chúng ta nhìn vào cuộc đời họ. Một người tốt là một người tốt, và cái chết đáng buồn không thay đổi được điều đó. Một sự hiểu lầm thì lại càng không.

Thiên thần và thành phố

Vài năm trước, Hollywood có làm một bộ phim mang tên Thành phố của Thiên thần (City of Angles), kể về một thiên thần tên là Seth với nhiệm vụ là đưa linh hồn những người vừa qua đời đến cõi sau. Trong một nhiệm vụ, khi đang chờ ở bệnh viện, anh phải lòng một nữ bác sĩ phẫu thuật trẻ tuổi thông minh. Là một thiên thần, Seth chưa từng cảm nhận được sự động chạm hay cảm nếm nào, và giờ đây khi yêu say đắm, anh khao khát được thực sự chạm vào người mình yêu. Nhưng anh rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Là một thiên thần với ý chí tự do, anh có thể chọn lựa bỏ đi địa vị thiên thần của mình và trở thành con người, nhưng đồng thời anh không còn được bất tử.

Thật là một lựa chọn khó khăn. Bất tử nhưng không được cảm nghiệm, hoặc cảm nghiệm nhưng đồng thời phải chịu những hệ quả của sự khả tử trần tục là già nua, bệnh tật, và cuối cùng là cái chết? Anh đã chọn cái thứ hai, từ bỏ địa vị thiên thần bất tử để chọn lấy hoan lạc của cảm nghiệm trần gian.

Tôi cho rằng, đại đa số người xem bộ phim này sẽ khen ngợi sự lựa chọn này của anh. Hầu hết mọi cảm thức trong lòng chúng ta đều khiến chúng ta tin rằng, nếu không đưa ra lựa chọn như thế thì thật là lạnh lùng và phi nhân. Cái cảm giác quá mạnh mẽ, nhất là khi đang yêu, có thể biến mọi thứ khác trở nên vô thực, và chỉ là lựa chọn thứ yếu. Với chúng ta, điều chúng ta cảm nhận được, điều chúng ta nghe, thấy, nếm, và chạm vào được mới là điều có thật. Chúng ta có một tuyên bố theo kiểu Descartes của riêng mình: Tôi cảm giác, bởi thế, tôi tồn tại.

Còn linh đạo, trong mọi truyền thống tôn giáo lớn, dường như lại nói ngược lại. Các khái niệm phổ biến trong những tôn giáo lớn khẳng định tinh thần thì cao hơn cảm giác, và là một người hộ vệ cao hơn canh giữ cảm giác. Hoan lạc cảm giác, thường xuyên bị xem là hời hợt và chướng ngại cho cuộc sống thiêng liêng. Chúng ta thấy trong thư gởi Tín hữu Hy Lạp, thánh Phaolô đã nói “nhục dục thì đi ngược thần khí”, xem thân xác là xấu và linh hồn là tốt.

Ngày nay, trong thế giới thế tục hóa, thì ngược lại. Cảm giác đang lấn át tinh thần. Các thiên thần của thế giới thế tục hóa, không như các thiên thần của tôn giáo thời trước, và họ đưa ra những lựa chọn giống như Seth vậy. Sự mơ hồ của tinh thần không bằng được với sự hiện thực của cảm giác.

Vậy, sự nào thật hơn?

Xét cho cùng, đây là một sự phân chia sai lầm. Cảm giác và tinh thần của chúng ta đều đem lại sự sống, cả hai đều quan trọng, và điều không thể thiếu lẫn nhau.

Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng chúng ta có cả thể xác lẫn linh hồn, xác thịt lẫn tinh thần, và cả hai đều không thể tách biệt lẫn nhau. Chúng ta vừa là động vật vừa là thiên thần, và trong hành trình tìm kiếm sự sống, ý nghĩa, hạnh phúc và Thiên Chúa, chúng ta không được quên đi mình có cả hai điều này. Tinh thần của chúng ta chỉ mở ra với cuộc đời qua cảm giác, và cảm giác đem lại ý nghĩa chỉ bởi chúng được sống động nhờ tinh thần.

William Auden đã chỉ ra những điều mà trong số mọi loài động vật, chỉ có con người làm được. Ông đúng, nhưng chúng ta không chỉ là động vật, mà chúng ta có phần thiên thần tương đương trong bản thân mình, và một khi chúng ta có đủ cả hai thì những vui thú có giới hạn của động vật có thể trở thành những niềm vui thú vô giới hạn mà con người chúng ta có thể cảm nghiệm trong tình yêu, tình bạn, lòng vị tha, tình dục, huyền bí, đồ ăn thức uống, sự khôi hài. Cảm giác của chúng ta khiến chúng trở nên hiện thực, nhưng chính tinh thần cho chúng ý nghĩa.

Và vì thế một linh đạo lành mạnh cần phải tôn vinh cả cảm giác lẫn tinh thần. Những vui thú thông thường của cuộc sống có thể nông cạn mà cũng có thể sâu sắc, thiên về thần bí hay là thú vật, và theo đó là mức độ chúng ta tôn vinh tinh thần và tính thiên thần trong con người mình. Ngược lại, linh đạo và đời sống cầu nguyện của chúng ta, có thể chân thật hơn hoặc ảo tưởng hơn, tùy vào mức độ chúng ta thể hiện chúng trong cảm giác và tính “con” của mình.

Và điều này đúng trong lĩnh vực đời sống. Ví dụ như, tình dục có thể nông cạn hay sâu sắc, tùy vào mức độ tinh thần hay cảm giác trong đó. Cũng vậy trong cảm nghiệm về vẻ đẹp, về những gì chúng ta thấy, nghe, sờ, nếm hoặc ngửi. Bất kỳ cảm nghiệm cảm giác nào đều có thể nông cạn hoặc sâu sắc tùy vào mức độ phần tinh thần trong đó, và cũng như thế bất kỳ cảm nghiệm nào về vẻ đẹp đều có thể thiếu chân thật và mang tính tưởng tượng nếu nó quá xa lìa các cảm giác.

Vài năm trước, tôi có dự một hội nghị chuyên đề về nhân học. Diễn giả có nói rằng: “Một điều mà tâm lý học và linh đạo cứ quên suốt, đó là chúng ta là động vật.” Là một nhà thần học và ngòi bút thiêng liêng, tôi thấy đánh động vì những lời này. Ông ấy đã nói đúng! Ở trong một tôn giáo, chúng ta quá dễ dàng quên mất điều này. Nhưng các nhóm tôn giáo cũng đúng khi liên tục nhắc cho chúng ta nhớ rằng chúng ta có phần thiên thần trong mình.

Tội nghiệp cho Seth, thiên thần bị giằng xé trong phim, bởi anh ấy đâu cần phải ra lựa chọn đó.

Tin mừng đòi chúng ta hãy tận hưởng đời mình

Niềm vui là một biểu hiện không thể lầm về sự hiện diện của Thiên Chúa, cũng như thập giá là biểu hiện không thể lầm về cương vị môn đệ Chúa Kitô. Thật là nghịch lý! Và chuyện này là do Chúa Giêsu.

Khi nhìn vào Tin mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu khiến những người đồng thời bị sốc theo nhiều cách trái ngược nhau. Một mặt, họ thấy Ngài có thể từ bỏ những sự đời này và từ bỏ cả mạng sống vì yêu thương và hy sinh đến mức tột cùng, một sự hy sinh mà con người bình thường hẳn sẽ không làm. Hơn nữa, Ngài lại còn muốn họ làm theo như thế khi nói: “Hãy vác thánh giá mình hằng ngày! Nếu anh em tìm mạng sống mình, thì sẽ mất, nhưng nếu anh em từ bỏ mạng sống mình, thì sẽ tìm thấy được nó.”

Mặt khác, lâu nay chúng ta thường nghĩ rằng các tôn giáo nghiêm túc thì phải dạy sự hy sinh, nhưng Chúa Giêsu lại muốn những người đồng thời với Ngài hãy tận hưởng trọn vẹn hơn cuộc sống của mình, sức khỏe, tuổi trẻ, các mối quan hệ của mình, và cả những bữa ăn, chén rượu, và mọi thứ vui bình thường của cuộc đời nữa. Thật sự ngài khiến họ thấy chướng mắt vì khả năng tận hưởng thú vui của Ngài.

Ví dụ như chuyện về người phụ nữ xức dầu lên chân Chúa trong bữa tiệc. Cả bốn Tin mừng kể về chuyện này đều nêu bật một yếu tố rõ ràng gây khó chịu cho bất kỳ chuẩn mực tôn giáo nào. Đó là người phụ nữ đập vỡ chiếc bình đắt tiền đựng dầu thơm thượng hạng, rồi đổ lên chân Chúa, khiến mùi hương tỏa khắp cản phòng, rồi khóc đẫm chân Ngài, và lấy tóc mình mà lau. Tất cả những sự xa hoa, phung phí, thân mật và tình cảm trần trụi của một con người, đã khiến cho tất cả mọi người trong phòng cảm thấy khó chịu, trừ Chúa Giêsu. Ngài đón nhận nó trọn vẹn, không ngụy tạo, không có cảm giác tội lỗi hay lo lắng. Ngài đã nói, “Để cô ấy yên, cô ấy chỉ xức dầu cho cái chết sắp đến của Ta thôi.” Về căn bản, Chúa Giêsu đang nói thế này: Khi Ta chết, Ta sẽ sẵn sàng hơn bởi tối nay, khi nhận được tình cảm tràn trề này, Ta thật sự sống và do đó sẵn sàng để chết hơn.

Về căn bản, đây là một bài học cho chúng ta. Đừng cảm thấy tội lỗi khi tận hưởng những thú vui cuộc sống. Cách tốt nhất để cảm ơn người đã cho bạn một tặng vật, đó là toàn tâm tận hưởng tặng vật đó. Chúng ta không sống trên đời này như một bài thử thách, không buộc phải từ bỏ những sự tốt đẹp của tạo hóa để đạt được sự sống đời sau. Như bất kỳ người bố người mẹ đầy yêu thương nào, Thiên Chúa muốn con cái mình sống dồi dào, biết có những hy sinh cần thiết để sống có trách nhiệm và vị tha, nhưng Ngài không xem những hy sinh đó là lý do thực sự để sống.

Chúa Giêsu đã nhấn mạnh rõ hơn điều này khi có người hỏi vì sao các môn đệ của Ngài không ăn chay, trong khi môn đệ của ông Gioan Tẩy giả thì có ăn chay. Câu trả lời của Chúa Giêsu là: “Tại sao họ phải ăn chay? Khi mà tân lang vẫn đang ở cùng họ. Ngày tân lang rời đi, họ sẽ có rất nhiều thời gian để ăn chay.” Lời này, Chúa Giêsu đang nói với hai lớp nghĩa. Rõ ràng, tân lang chính là sự hiện diện thể lý của Ngài trên trần gian, và nó sẽ đến thời điểm kết thúc. Nhưng lời này còn có một ý nghĩa thứ hai. Tân lang là một thời gian khỏe mạnh, trẻ trung, vui tươi, thân ái và yêu thương trong cuộc đời chúng ta. Chúng ta cần tận hưởng những điều này bởi rồi sẽ đến lúc những tai nạn, bệnh tật, những quãng thời gian cô đơn và cái chết tước đi chúng khỏi chúng ta. Chúng ta không nên để những chuyện không thể tránh khỏi đó cướp đi sự tận hưởng trọn vẹn những niềm vui chính đáng mà cuộc sống đem lại.

Tôi tin lời yêu cầu này đã không được giảng cho đủ trong nhà thờ, hay trong những sách vở linh đạo. Lần cuối cùng bạn nghe một bài giảng dựa trên Tin mừng, muốn bạn hãy biết tận hưởng cuộc sống hơn, là lúc nào? Lần cuối bạn nghe một cha giảng nhân danh Chúa Giêsu hỏi bạn: Anh chị em có tận hưởng sức khỏe, tuổi trẻ, cuộc đời, những bữa ăn, ly rượu của mình cho đủ không?

Cứ cho là thách thức vốn đi ngược với quan điểm linh đạo thường thấy này có thể nghe như một lời mời gọi của chủ nghĩa khoái lạc, của sự thoải mái cá nhân quá độ, và một sự hời hợt thiêng liêng đi ngược với thông điệp Kitô giáo vốn quy về thập giá và sự hy sinh. Phải thừa nhận, đúng là có nguy cơ tiềm ẩn, nhưng quan điểm ngược lai cũng vậy, cụ thể là một cuộc sống khắc kỷ không lành mạnh. Nếu chúng ta thực hiện sai lầm thách thức tận hưởng cuộc sống này, nếu chúng ta tận hưởng mà không đi kèm một sự khổ hạnh và hy sinh cần thiết, thì sẽ có nguy cơ, nhưng nếu nhìn vào cuộc đời Chúa Giêsu, chúng ta có thể thấy sự hy sinh từ bỏ và khả năng tận hưởng cuộc đời hoàn toàn liên kết với nhau. Chúng dựa vào nhau.

Xét cho cùng, sự vô độ và chủ nghĩa khoái lạc là một sự thay thế sai lầm cho sự tận hưởng đích thực. Như lời Chúa Giêsu dạy và cách Ngài sống, thì sự tận hưởng đích thực gắn bó chặt chẽ với sự hy sinh và từ bỏ.

Và như thế, chỉ khi chúng ta có thể cho đi cuộc đời mình thì chúng ta mới có thể hoàn tooàn tận hưởng những thú vui đời này, cũng như chúng ta chỉ có thể thật sự tận hưởng những thú vui chính đáng của đời này thì chúng ta mới có thể hy sinh cho đi đời mình.

Hiểu sâu hơn về Ân sủng

Biểu hiện của lòng hối lỗi đích thực không phải là cảm giác tội lỗi, mà là cảm giác buồn phiền, hối hận vì đã làm sai. Cũng vậy, biểu hiện của sống trong ân sủng không phải là cảm giác mình xứng đáng mà là cảm giác mình được đón nhận và yêu thương dù cho mình không xứng đáng. Chúng ta lành mạnh về tâm linh khi cuộc sống của chúng ta có sự thú tội thật tâm và tự hào thật tâm.

Jean-Luc Marion đã nhấn mạnh điểm này trong một bình luận về quyển Tự thú của thánh Augustino. Ông xem tự thú của thánh Augustino là một tác phẩm về lương tâm đạo đức đích thực, bởi đó vừa là một thú nhận về lòng tự hào và thú nhận về tội lỗi. Gil Bailie cho rằng lời bình luận này nêu bật một tiêu chuẩn quan trọng để phán định xem chúng ta có đang sống trong ân sủng hay không. “Nếu thú nhận về lòng tự hào không đi kèm với thú nhận về tội lỗi thì nó là một hành động trống rỗng và khoa trương. Nếu thú nhận về tội lỗi không đi kèm với thú nhận về lòng tự hào, thì nó trống rỗng và cằn cỗi như thế, là một đống tạp nham, là một lời hối hận kiểu con vẹt.”

Gil nói đúng, nhưng thú nhận cả hai cùng lúc thật không phải là chuyện dễ dàng. Chúng ta thường rơi vào một trong hai kiểu, thú nhận về lòng tự hào và không thật sự thú nhận tội lỗi của mình, hoặc là hối hận kiểu con vẹt, một kiểu ngụy biện hơn là nỗi buồn phiền thật sự vì đã lầm đường lạc lối.

Trong cả hai trường hợp, đều không có một ý thức thật sự về ân sủng. Piet Fransen, với quyển sách về ân sủng được dùng như sách giáo khoa trong các chủng viện và trường thần học, cho rằng cả những tín hữu tự tín (những người vẫn âm thầm ghen tị với lạc thú của những kẻ vô luân, những thứ mà họ đã bỏ lỡ) cũng như những người ương ngạnh dù đã hối cải nhưng vẫn cảm thấy trân trọng những lầm lỡ của mình, cả hai loại người này vẫn chưa hiểu được ân sủng. Chúng ta chỉ hiểu được ân sủng khi thật sự nắm bắt được những lời của người cha trong dụ ngôn người con hoang đàng nói với người con cả. “Con của cha, con luôn ở với cha, và mọi thứ cha có đều là của con. Nhưng chúng ta phải vui mừng vì em của con đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm được.”

Người anh cả sẽ không cay đắng nếu hiểu được rằng mọi thứ cha của anh có đều là của anh, và anh cũng sẽ không ghen tỵ với những lạc thú của người em hoang đàng nếu hiểu rằng người em đó đã chết đi. Nhưng cần có nhận thức sâu sắc hơn để trực cảm được rằng so với cuộc sống trong nhà Chúa, thì mọi lạc thú đều là ngọn nến so với mặt trời. Và cũng đúng như thế với những người đã trở lại, từ bỏ lối sống lầm lạc nhưng vẫn âm thầm vui mừng vì những trải nghiệm mà nó mang lại cho mình, và nuôi dưỡng một sự thương hại cao ngạo cho những người ít được trải nghiệm hơn. Người này cũng không thực sự hiểu được ân sủng.

Trong quyển sách Khái niệm về Linh thánh (The Idea of the Holy), Rudolf Otto cho rằng khi đối diện với sự thánh thiện, chúng ta luôn có một phản ứng kép: thấy e ngại và được lôi cuốn. Như thánh Phêrô trong sự kiện Chúa Biến hình, chúng ta cũng muốn xây một lều và ở lại đó mãi mãi, nhưng như thánh Phêrô trong sự kiện phép lạ bắt được nhiều cá, chúng ta cũng sẽ muốn nói: “Xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi.” Trước sự linh thánh, chúng ta vừa muốn hớn hở tự hào vừa muốn thú nhận tội lỗi của mình.

Và thấu suốt này có thể giúp chúng ta hiểu được ân sủng. Trong quyển sách của mình về ân sủng, Đời sống Ân sủng Mới (The New Life of Grace), Piet Fransen mở đầu bằng cách mời chúng ta hình dung cảnh này: Hãy hình dung một người sống theo chủ nghĩa khoái lạc một cách vô tâm. Ông ta hoàn toàn chìm trong những khoái lạc của thế gian mà không nghĩ gì đến Thiên Chúa, trách nhiệm hay luân lý cả. Rồi sau một cuộc đời chìm trong những khoái lạc vô luân, ông ta hối cải thật sự trên giường hấp hối, thật tâm thú nhận tội lỗi của mình, nhận lãnh các bí tích của giáo hội, và chết lành. Nếu phản ứng của chúng ta với câu chuyện này là: “Gã này may mắn thật! Hắn đã chơi bời mà cuối cùng vẫn được phúc!” thì chúng ta chưa hiểu được ân sủng. Nếu nghĩ như thế thì chúng ta chỉ là những người đạo đức trong cay đắng, dứng đó như người anh cả cần phải nói chuyện thêm với Chúa.

Và cũng như thế với những người đã hoán cải mà vẫn cảm thấy những trải nghiệm hoang đàng của mình là một niềm vui sâu sắc hơn những người chưa từng hoang đàng. Trong trường hợp này, người đó trở về nhà cha mình không phải bởi cảm thấy một niềm vui sâu sắc hơn nhưng là bởi nghĩ rằng việc trở về là một trách nhiệm không mong muốn, một chuyện ít thú vị và vui vẻ hơn cuộc sống tội lỗi, nhưng là một chiến lược thoát thân buộc phải làm. Người này cũng chưa hiểu được ân sủng.

Chỉ khi chúng ta hiểu được ý của người cha nói với người anh cả trong dụ ngôn người con hoang đàng: “Mọi sự cha có đều là của con,” thì chúng ta mới có thể vừa thú nhận niềm tự hào của mình vừa thú nhận tội lỗi của mình được.