RonRolheiser,OMI

Sức mạnh của nghi thức

Không phải lúc nào tôi cũng cầu nguyện dễ dàng. Thường là những lúc tôi quá mệt mỏi, bị phân tâm, bận rộn, áp lực công việc, thiếu thời gian, thiếu hứng thú cầu nguyện, hay đang chú tâm hơn đến chuyện khác. Nhưng tôi cầu nguyện hằng ngày, dù cho tôi thường không muốn và dù cho nhiều lần tôi thấy cầu nguyện có vẻ tẻ nhạt. Tôi cầu nguyện hằng ngày là nhờ tôi tham dự nhiều nghi thức cầu nguyện, kinh Phụng vụ, thánh lễ, và suy niệm hằng ngày.

Và những nghi thức này giúp cho tôi rất nhiều. Chúng giữ cho tôi vững vàng, và giữ tôi cầu nguyện đều đặn dù cho nhiều lúc tôi chẳng thấy thích cầu nguyện. Đấy chính là sức mạnh của nghi thức. Nếu tôi chỉ cầu nguyện khi tôi thấy thích, thì tôi sẽ không cầu nguyện thường xuyên.

Nghi thức giữ cho chúng ta làm những việc chúng ta nên làm, như cầu nguyện, làm việc, ăn chung với nhau, lịch sự, dù cho không phải lúc nào chúng ta cũng thuận theo những chuyện đó. Chúng ta cần làm những việc nhất định không phải bởi chúng ta luôn cảm thấy thích chúng, nhưng là bởi đó là những việc đúng đắn.

Và điều này đúng, trong nhiều lĩnh vực đời sống, chứ không riêng gì cầu nguyện. Ví dụ như, các nghi thức giao tế xã hội mà chúng ta thực hiện mỗi ngày. Không phải lúc nào chúng ta cũng thật tâm muốn chào hỏi, hay thể hiển sự trìu mến, trân trọng, và biết ơn. Chúng ta chào hỏi nhau, tạm biệt nhau, thể hiện tình cảm cho nhau, và tỏ lòng biết ơn với nhau thông qua một loạt các nghi thức từ ngữ theo công thức xã hội. Xin chào! Hân hạnh gặp anh! Chúc một ngày tốt lành! Chúc ngủ ngon! Thật may mắn khi được cộng tác với anh! Cảm ơn!

Chúng ta nói những lời này với nhau mỗi ngày dù cho chúng ta phải thừa nhận rằng, đôi lúc, hay thậm chí là nhiều lúc, những lời đó hoàn toàn mang tính chiếu lệ. Nhưng khi chúng ta nói ra thì chúng là thật, bởi chúng thể hiện những gì trong lòng chúng ta, những gì thâm sâu hơn các cảm giác thất vọng, lơ đãng, buồn bực tạm thời của chúng ta. Hơn nữa, những lời này giúp chúng ta sống văn minh, lễ độ, dễ thương, tôn trọng và yêu thương, bất chấp những dao động của tâm trạng và cảm giác chúng ta. Tâm trạng và cảm giác của chúng ta, không phải là biểu lộ đích thực những gì trong lòng chúng ta. Trong số chúng ta, có ai chưa từng buồn bực một người mà mình yêu thương hết mực hay chưa? Sự thật là chúng ta yêu người đó, chứ không phải là những cảm giác của chúng ta dành cho người đó vào lúc nhất thời đó.

Nếu chúng ta chỉ thể hiện tình thương và sự trân trọng vào những lúc chúng ta hoàn toàn cảm thấy như thế, thì chúng ta sẽ không thể hiện tình thương một cách rất thường xuyên đâu. Nhưng tạ ơn Chúa là chúng ta có những nghi thức xã hội thường lệ giữ cho chúng ta sống yêu thương, dễ thương, văn minh và lễ độ cả những lúc cảm giác của chúng ta không muốn thế. Những nghi thức này giữ chúng ta được an toàn cho đến khi cảm giác vui tươi trở lại.

Thế mà trong nhiều lĩnh vực đời sống ngày nay, chúng ta không còn hiểu nghi thức. Và điều này khiến chúng ta phải cố gắng sống đời mình bằng cảm giác. Cảm giác không xấu, nhưng chúng ập đến với chúng ta một cách hoang dã và không thể ngăn cản. Iris Murdoch cho rằng thế giới của chúng ta có thể thay đổi trong 15 giây đồng hồ, bởi chúng ta có thể phải lòng ai đó trong vòng 15 giây. Nhưng chúng ta cũng có thể hết yêu trong 15 giây! Cảm giác là thế đấy! Và nếu sống theo cảm giác, chúng ta không thể gìn giữ tình yêu, hôn nhân, gia đình, tình bạn, tình đồng nghiệp và tình hàng xóm. Chúng ta cần có điều gì đó. Nghi thức giúp chúng ta gìn giữ các mối quan hệ, và vượt trên cảm giác.

Mục sư Dietrich Bonhoeffer thường nói thế này với các cặp tân hôn: Hôm nay, hai người đang yêu và tin rằng tình yêu có thể duy trì hôn nhân của mình. Nhưng không đâu. Tuy nhiên, hôn nhân có thể duy trì tình yêu của hai người. Hôn nhân không chỉ là một bí tích, mà còn là một nghi thức.

Nghi thức không chỉ có thể giúp duy trì hôn nhân, mà còn có thể giúp gìn giữ đời sống cầu nguyện, cách cư xử, tính hài hước, lòng tri ân, và sự cân bằng của chúng ta trong đời. Nếu bất kỳ ai nhân danh tâm lý, tình yêu, hay linh đạo mà bảo bạn rằng nghi thức là thứ trống rỗng và bạn phải lấy tâm trạng, cảm giác là kim chỉ nam, thì bạn phải cảnh giác với họ. Họ sẽ không giúp bạn tiến được xa đâu.

Daniel Berrigan từng viết rằng: Đừng đi với người nào muốn bạn lúc nào cũng phấn khích. Trên hành trình dài, chắc chắn phải có những lúc buồn tẻ. Gioan Thánh Giá cũng đồng ý với lời này khi bàn về cầu nguyện. Ngài bảo chúng ta rằng, trong những năm tháng sinh hoa trái của chúng ta, một trong những vấn đề lớn nhất mà chúng ta gặp phải khi cầu nguyện mỗi ngày chính là sự buồn tẻ.

Và chúng ta có thể biết chắc rằng, cảm giác sẽ không giúp giữ gìn chúng ta, nhưng nghi thức thì có.

Chúng ta giới thiệu quá tồi về Thiên Chúa

Từ “Kháng cách” thường bị hiểu lầm. Cuộc kháng cách của Martin Luther dẫn đến cuộc Cải cách Kháng cách, thật sự không phải là phản kháng Giáo hội Công giáo La Mã, mà là một cuộc kháng cách vì Thiên Chúa. Trong quan điểm của Luther, Thiên Chúa bị lạm dụng để phục vụ lợi ích của con người và giáo hội. Cuộc kháng cách của ông là lời kêu gọi phải tôn kính sự siêu việt của Thiên Chúa.

Ngày nay, chúng ta cần một cuộc kháng cách mới, một lời kêu gọi mới, thật mạnh mẽ, đòi chúng ta đừng liên kết Thiên Chúa và giáo hội chúng ta với sự bất dung, bất công, mù quáng, bạo lực, khủng bố, kỳ thị, khắc nghiệt, giáo điều, bài tính dục, bài đồng tính, ham quyền lực, khư khư thể chế, bảo vệ người giàu, lý tưởng hóa quá đáng, và ngu ngốc. Thiên Chúa đang bị chúng ta quảng bá quá tồi tệ!

Có thể đưa ra một ví dụ rõ ràng thế này: Trong quyển sách mới ra mắt, ghi lại tình bạn 50 năm với cựu huấn luyện viên của mình, huyền thoại bóng rổ Kareem Abdul-Jabbar chia sẻ lý do vì sao ông trở thành người Hồi giáo. Được nuôi dạy trong gia đình Công giáo La Mã, học ở trường Công giáo, cuối cùng ông bỏ Công giáo để cải sang Hồi giáo. Tại sao lại thế?

Chính ông nói rằng: Bởi “người da trắng đánh bom các nhà thờ và giết các em bé gái, bắn những cậu bé da đen không tấc sắt trong tay, đánh đập những người da đen biểu tình mà miệng thì hô to họ tự hào là Kitô hữu. KKK là những Kitô hữu tự hào. Tôi thấy mình không thể dính dáng gì đến một tôn giáo với quá nhiều tín hữu ác độc như thế. Phải, tôi cũng nhận thức rằng mục sư Martin Luther King cũng là một Kitô hữu tự hào, và nhiều lãnh đạo khác cũng như thế. Huấn luyện viên Wooden là một Kitô hữu sốt sắng. Nhiều Kitô hữu da trắng can đảm đã mạnh mẽ ủng hộ phong trào đòi quyền công dân, đồng hành với người da đen. Khi KKK tấn công, họ thường bị đánh nhiều hơn, bởi họ bị xem là những kẻ phản bội giống nòi. Tôi không lên án tôn giáo, nhưng chắc chắn tôi thấy mình xa cách nó.”

Câu chuyện của ông chỉ là một trong rất nhiều câu chuyện tương tự. Thật dễ để liên kết Thiên Chúa với những chuyện sai trái. Tất nhiên, chuyện này không chỉ xảy ra với Kitô giáo. Ví dụ như, ngày nay, chúng ta thấy minh chứng tồi tệ nhất của việc gắn Thiên Chúa với sự dữ, trong những hành động bạo lực của Nhà nước Hồi giáo ISIS và các nhóm khủng bố khác đang giết chóc bừa bãi và tàn bạo, nhân danh Thiên Chúa. Bạn có thể chắc chắn rằng những lời cuối cùng trên miệng kẻ đánh bom tự sát giết hại nhiều người vô tội, chính là: “Thượng đế vĩ đại!” Thật quá kinh tởm khi nói lên một lời như thế lúc giết người! Làm chuyện phản Chúa nhân danh Thiên Chúa!

Và chúng ta cũng quá thường xuyên làm những chuyện như thế theo những cách tinh vi hơn, cụ thể là biện minh cho những chuyện phản Chúa bằng cách viện ra tôn giáo của mình. Chúng ta làm thế bằng cách bịt tai, bịt mắt, bịt miệng, ngoan cố phân biệt phải trái với một tâm thức vụ lợi, chúng ta cho mình được Thiên Chúa cho phép sống và hành động theo một kiểu đi ngược lại với hầu hết mọi lời Chúa Giêsu dạy.

Chúng ta có thể phản đối, bảo rằng chúng ta chân thành, là làm theo những gì mình nghĩ, nhưng sự chân thành tự nó không phải là một tiêu chuẩn tôn giáo hay luân lý. Sự chân thành có thể, và thường xuyên, gắn Thiên Chúa với những sự phản Chúa và mượn danh Thiên Chúa mà biện minh cho sự dữ. Người ta bảo Tòa dị giáo là trung thực, những kẻ buôn nô lệ là chân thành, những người bảo vệ các linh mục ấu dâm là chân thành, những người kỳ thị là chân thành, người giàu bảo vệ đặc quyền của họ là chân thành, các mục tử bất chấp Tin mừng đưa ra những quyết định cấm đoán người ta đến với giáo hội là chân thành, là làm theo những gì họ tin tưởng và xác quyết. Thế đấy, chân thành cũng là khi tất cả chúng ta phán xét người khác, một chuyện mà Chúa Giêsu đã nhiều lần dạy là không được làm. Nhưng chúng ta nghĩ rằng tất cả những chuyện này chúng ta làm vì sự thiện, vì Chúa.

Nhưng trong nhiều hành động của mình, chúng ta liên kết Thiên Chúa và giáo hội với sự hẹp hòi, bất dung, khắc nghiệt, kỳ thị, thiên vị, vị luật, vị giáo điều, và ngu ngốc. Và chúng ta tự hỏi vì sao con cháu của chúng ta, quá nhiều người không còn đến nhà thờ và thậm chí đương cự với tôn giáo.

Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải đối lập với tôn giáo như thế. Thật đáng buồn cho chúng ta, nhưng đúng là thế. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu mặc khải là một Thiên Chúa dư dật rộng rãi, không gắt gỏng, một Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ, một Thiên Chúa yêu thương mọi chủng tộc và mọi người như nhau, một Thiên Chúa yêu thương người nghèo hơn, một Thiên Chúa tạo nên hai giới bình đẳng, một Thiên Chúa bác bỏ quyền lực và đặc quyền thế gian. Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô là một Thiên Chúa cảm thương và tha thứ, một Thiên Chúa đòi tinh thần phải đứng cao hơn luật, tình thương phải cao hơn giáo điều, và sự tha thứ cao hơn công lý tòa án. Và Thiên Chúa mà Chúa Giêsu hiện thân, không ngốc, mà là một Thiên Chúa với trí tuệ không bao giờ phải e ngại khoa học, một Thiên Chúa không lên án và cho người ta xuống hỏa ngục theo những phán xét hạn hẹp của chúng ta.
Đáng buồn thay, chúng ta quá thường xuyên thấy đó không phải là Thiên Chúa của tôn giáo, của giáo hội chúng ta, của linh đạo chúng ta, và của cả lương tâm chúng ta.

Thiên Chúa không hẹp hòi, ngu ngốc, bạo lực hay báo oán. Và đã đến lúc chúng ta không được liên kết Thiên Chúa với những thứ đó nữa.

Cực điểm trong Đức tin của chúng ta

Những chuyện không thể tránh khỏi đầy phức tạp của tuổi trưởng thành khiến sự ngây thơ trẻ con biến mất. Và điều này cũng đúng với đức tin của chúng ta. Nói thế không phải vì đức tin thật ngây thơ. Nhưng vì đức tin của chúng ta cần được khôi phục không ngừng vào con người chúng ta, và được làm mới với các trải nghiệm cuộc đời, nếu không chúng ta sẽ thấy mình thật lạc lõng trong cuộc đời. Nhưng đức tin đích thực có thể đương cự trước mọi trải nghiệm, dù cho nó phức tạp đến thế nào đi chăng nữa.

Đáng buồn thay, có vẻ không phải lúc nào, và thật sự là nhiều người đang bỏ đức tin lại sau lưng, khi các phức tạp của cuộc sống trưởng thành đi ngược lại với đức tin thời thơ ấu của họ.

Và khi nghĩ về chuyện này, tôi đề nghị các bạn đọc quyển sách mới xuất bản, Cực điểm của tôi, Một Hồi ký Sốt sắng (My Utmost, A Devotional Memoir) của Macy Halford. Cô Halford còn trẻ chỉ ngoài 30 tuổi, văn sĩ của các nhà xuất bản ở Paris và ở New York, và đây là tập hồi ký kể lại những đấu tranh của cô khi là một Kitô hữu phái Phúc âm bảo thủ mong muốn giữ gìn đức tin của mình trước những nhóm người có quan điểm rất tự do, đầy luận điệu, thế tục hóa và theo thuyết bất khả tri mà cô đang sống và đang làm việc chung.

Quyển sách kể lại những đấu tranh của cô để giữ gìn đức tin mạnh mẽ thời thơ ấu, vốn ghi tạc vào trong lòng nhờ người mẹ và người bà qua đức tin mạnh mẽ của họ. Đức tin và giáo hội là cái neo cho bước đường đời của cô. Nhưng trong con người cô còn có một sự khác, cụ thể là, sự khắc khoải và xung lực sáng tạo của một nhà văn, và sinh lực không thể đè nén này tự nhiên đưa cô vượt ngoài phạm vi an toàn và nương ẩn của giáo hội thuở nhỏ, đưa cô đến với các nhóm văn chương ở New York và ở Paris.

Cô sớm khám phá ra rằng sống đức tin khi quanh mình có một nhóm nâng đỡ đức tin mạnh mẽ là một chuyện, và sống đức tin khi quanh mình là môi trường cực kỳ thế tục và bất khả tri lại là chuyện khác. Quyển sách kể lại đấu tranh đó và cách cô hợp nhất niềm đam mê và đức tin thơ ấu vào cuộc sống mới của mình. Cô chia sẻ mỗi lần cô bị cám dỗ vượt qua ranh giới và từ bỏ đức tin thời thơ ấu, cô lại nhận ra rằng cô sợ làm thế “không phải vì sợ sẽ tiêu diệt một Thiên Chúa hay một niềm tin, nhưng là sợ tiêu diệt chính bản thân mình.” Thấu suốt này là yếu tố đích thực của đức tin cô. Thiên Chúa và đức tin không cần chúng ta, mà là ngược lại.

Vào sinh nhật thứ 13, bà cô cho cô một quyển sách rất phổ biến trong giáo hội phái Phúc âm và phái Baptist, quyển Cực điểm của tôi dành cho Đấng Tối cao (My Utmost for His Highest) của Oswald Chambers. Quyển sách này là một tuyển tập các châm ngôn thiêng liêng, những suy nghĩ thường nhật qua bao năm tháng của nhà thần nghiệm và truyền giáo này. Halford chia sẻ rằng, khi còn nhỏ và được neo giữ chặt vào giáo hội và đức tin thời thơ ấu, cô không đọc quyển sách này hằng ngày, và nó không quá ý nghĩa với cô. Nhưng cuối cùng, việc đọc quyển sách này giờ như một nghi thức thường nhật trong đời cô, và những lời khuyên trong sách trở thành một lăng kính để cô có thể hợp nhất đức tin thời thơ ấu và trải nghiệm tuổi trưởng thành của mình.

Cô từng nghiên cứu thần học rất sâu về quyển sách và tác giả của nó. Vài phần trong quyển sách của cô quá cao siêu với độc giả, nhưng dù không hiểu rõ về mặt thần học cách cô tìm được sự hòa hợp này, thì chúng ta cũng thấy rõ hoa trái từ đấu tranh của cô.
Đây là một tập hồi ký đáng giá bởi hôm nay nhiều người đang trải qua đấu tranh này, để đức tin thời thơ ấu đương cự với hiện thực hiện tại của mình. Halford đơn giản cho chúng ta thấy cách cô làm việc đó, và những nỗ lực của cô là một tấm gương để chúng ta noi theo.

Karl Rahner, từng có nhận định lừng danh rằng, trong thế hệ tiếp theo, chúng ta hoặc sẽ là nhà thần nghiệm hoặc là người không có đức tin. Một ý của Rahner trong câu này là, trong các thế hệ trước, khi gia đình, hàng xóm, và giáo hội của chúng ta hỗ trợ rất nhiều trong việc giữ đức tin, nhưng hiện tại chúng ta phải tự tìm nền tảng rất riêng của mình cho đức tin, và phải là một nền tảng thâm sâu hơn. Marcy Halford đã thể hiện rõ điều đó. Trong một thế hệ với nhiều người không có đức tin, tập hồi ký của cô chỉ ra con đường của một tinh thần thần nghiệm khiêm nhượng nhưng hiệu quả.

John Moriaty, nhà văn người Ai Len, từng chia sẻ về chuyện ông xa rời đức tin khi còn trẻ, xem đó là ngây thơ và không thể hơn được những trải nghiệm trưởng thành của ông. Ông cứ như thế cho đến một ngày, “Tôi nhận ra rằng Đạo Công giáo, đức tin thời thơ ấu của tôi, chính là tiếng mẹ đẻ của tôi.”

Macy Halford cuối cùng cũng tái đặt nền tảng của mình trên tiếng mẹ đẻ, trên đức thời thơ ấu, và nó tiếp tục dẫn dắt cô qua những ngụy biện của tuổi trưởng thành. Tập hồi ký kể lại hành trình của cô có thể hữu ích cho tất cả chúng ta, dù cho thuộc phái Kitô giáo.

Tự vẫn – Lấy lại ký ức về người thân yêu

Một năm trước, hầu như mọi người quen biết cha đều choáng khi hay tin linh mục Virgilio Elizondo, thần học gia người Mỹ gốc Tây Ban Nha lừng danh, đã tự vẫn. Virgil không chỉ là một thần học gia tiên phong đầy thiên tư, mà còn là một linh mục thân thiện, một người bạn nồng hậu với vô số người. Mọi người đều chết, và cái chết của những người thân yêu luôn thật khó chấp nhận, nhưng cách chết của cha càng khiến nhiều người choáng váng và hoang mang. Tự vẫn đấy! Nhưng cha là một người nhạy bén và đầy đức tin. Làm sao có thể như thế được?

Và những câu hỏi này khiến hầu hết những người quen biết cha phải đối diện với một câu hỏi khác, một câu hỏi lớn và xé lòng: Việc này gây hại gì cho công trình của cha, cho món quà mà cha đã để lại cho Giáo hội và cộng đồng người nói tiếng Tây Ban Nha? Chúng ta còn có thể tôn vinh cuộc đời và đóng góp của cha như thể cha đã chết vì đau tim hay ung thư không? Thật sự là, nếu cha đã chết vì đau tim hay ung thư, thì cái chết của cha, dẫu có gây đau buồn, thì chắc chắn vẫn đem lại một bầu khí lành mạnh, thậm chí là vui mừng khi chúng ta được bình tâm nói lời từ giã với con người tuyệt vời mình từng được phúc quen biết, chứ không phải một bầu khí lặng lẽ, vội vã, và một sự đau buồn không trọn vẹn ở tang lễ của cha.

Đáng buồn thay, đây cũng là trường hợp của bất kỳ ai chết vì tự vẫn, cách chết của họ đã trở thành một lăng kính để chúng ta nhìn vào cuộc đời và công trình của họ, một lăng kính bị nhuốm màu vẩn đục vĩnh viễn. Không nên như thế, và bổn phận của chúng ta, những người còn sống và yêu mến họ, là gợi lên những ký ức của họ, chứ không phải gỡ ảnh của họ khỏi tường, tránh nói về cái chết của họ. Chúng ta đừng để cách chết của họ làm hoen ố sự tốt lành đời sống của họ. Tự vẫn là cách chết kém vinh quang và dễ bị hiểu lầm nhất. Chúng ta có bổn phận với những người thân yêu đã mất, và với chính chúng ta, là không làm trầm trọng thêm bi kịch đó nữa.

Vậy nên mỗi năm, tôi viết một bài về tự vẫn, hy vọng nó sẽ giúp mọi người thông hiểu hơn về vấn đề này, và hy vọng có thể xoa dịu phần nào cho những người đã mất đi người thân vì tự vẫn. Về căn bản, năm nào tôi cũng nói như nhau, bởi đó là những điều cần phải nói. Như lời Margaret Atwood, có những điều cần nói ra và nói đi nói lại, cho đến khi không cần nói nữa. Có điều cần nói về tự vẫn.

Vậy đó là những thứ gì? Cần phải nói đi nói lại điều gì về tự vẫn? Để làm rõ, cho tôi đưa ra theo số thứ tự.

1. Thứ nhất, trong hầu hết các trường hợp, tự vẫn là kết quả của một căn bệnh, một sự sụp đổ trầm trọng trong hệ miễn dịch cảm giác hay đơn giản là một căn bệnh hóa sinh chết người.

2. Trong hầu hết trường hợp, người chết vì tự vẫn, cũng giống như một nạn nhân chết vì bệnh tật hay tai nạn, không phải do lựa chọn của người đó. Khi người ta chết vì đau tim, ung thư, hay tai nạn, họ chết không theo ý mình. Trong các trường hợp tự vẫn cũng như thế.

3. Chúng ta không nên lo lắng quá đáng về ơn cứu độ đời đời của người chết vì tự vẫn, mà nên tin rằng tự vẫn là hành động tột cùng của tuyệt vọng. Thiên Chúa chắc chắn còn thông hiểu và trìu mến hơn chúng ta nhiều. Chúng ta không cần lo lắng về số phận của bất kỳ ai rời thế giới này một cách thành thật, nhạy cảm quá độ, bị tổn thương quá nhiều đến nỗi không dám vươn ra, như trong trường hợp hầu hết các vụ tự vẫn. Sự thông hiểu và lòng thương xót của Thiên Chúa vượt xa chúng ta.

4. Khi mất đi một người thân vì tự vẫn, chúng ta không nên ức đoán quá đáng: Tôi đã làm gì sao? Tôi đã làm gì khiến người này buồn lòng? Nếu có thì sao? Nếu như tôi đã ở đó đúng lúc! Hiếm khi những lời tự vấn này làm được gì. Hầu như chúng ta không thể có mặt đúng lúc bởi vì người đó không muốn chúng ta có mặt ở đó. Người đó đã chọn thời gian, địa điểm và cách thức sao cho chúng ta không thể can thiệp. Tự vẫn như một căn bệnh chọn lấy nạn nhân của mình sao cho mọi người khác không thể tiếp cận. Đây không phải là một lời biện minh cho sự thiếu nhạy bén, nhưng là một xác định lành mạnh để không mặc cảm tội lỗi sai lầm và ức đoán vô cớ. Tự vẫn là kết quả của một chứng bệnh, và có những chứng bệnh mà mọi tình yêu thương ân cần của cả thế gian cũng không thể chữa lành nổi.

5. Cuối cùng, chúng ta, những người còn sống, có bổn phận tôn vinh ký ức của những người đã chết vì tự vẫn, và đừng để cách họ chết làm vẫn đục lăng kính chúng ta nhìn vào cuộc đời họ. Một người tốt là một người tốt, và cái chết đáng buồn không thay đổi được điều đó. Một sự hiểu lầm thì lại càng không.

Thiên thần và thành phố

Vài năm trước, Hollywood có làm một bộ phim mang tên Thành phố của Thiên thần (City of Angles), kể về một thiên thần tên là Seth với nhiệm vụ là đưa linh hồn những người vừa qua đời đến cõi sau. Trong một nhiệm vụ, khi đang chờ ở bệnh viện, anh phải lòng một nữ bác sĩ phẫu thuật trẻ tuổi thông minh. Là một thiên thần, Seth chưa từng cảm nhận được sự động chạm hay cảm nếm nào, và giờ đây khi yêu say đắm, anh khao khát được thực sự chạm vào người mình yêu. Nhưng anh rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Là một thiên thần với ý chí tự do, anh có thể chọn lựa bỏ đi địa vị thiên thần của mình và trở thành con người, nhưng đồng thời anh không còn được bất tử.

Thật là một lựa chọn khó khăn. Bất tử nhưng không được cảm nghiệm, hoặc cảm nghiệm nhưng đồng thời phải chịu những hệ quả của sự khả tử trần tục là già nua, bệnh tật, và cuối cùng là cái chết? Anh đã chọn cái thứ hai, từ bỏ địa vị thiên thần bất tử để chọn lấy hoan lạc của cảm nghiệm trần gian.

Tôi cho rằng, đại đa số người xem bộ phim này sẽ khen ngợi sự lựa chọn này của anh. Hầu hết mọi cảm thức trong lòng chúng ta đều khiến chúng ta tin rằng, nếu không đưa ra lựa chọn như thế thì thật là lạnh lùng và phi nhân. Cái cảm giác quá mạnh mẽ, nhất là khi đang yêu, có thể biến mọi thứ khác trở nên vô thực, và chỉ là lựa chọn thứ yếu. Với chúng ta, điều chúng ta cảm nhận được, điều chúng ta nghe, thấy, nếm, và chạm vào được mới là điều có thật. Chúng ta có một tuyên bố theo kiểu Descartes của riêng mình: Tôi cảm giác, bởi thế, tôi tồn tại.

Còn linh đạo, trong mọi truyền thống tôn giáo lớn, dường như lại nói ngược lại. Các khái niệm phổ biến trong những tôn giáo lớn khẳng định tinh thần thì cao hơn cảm giác, và là một người hộ vệ cao hơn canh giữ cảm giác. Hoan lạc cảm giác, thường xuyên bị xem là hời hợt và chướng ngại cho cuộc sống thiêng liêng. Chúng ta thấy trong thư gởi Tín hữu Hy Lạp, thánh Phaolô đã nói “nhục dục thì đi ngược thần khí”, xem thân xác là xấu và linh hồn là tốt.

Ngày nay, trong thế giới thế tục hóa, thì ngược lại. Cảm giác đang lấn át tinh thần. Các thiên thần của thế giới thế tục hóa, không như các thiên thần của tôn giáo thời trước, và họ đưa ra những lựa chọn giống như Seth vậy. Sự mơ hồ của tinh thần không bằng được với sự hiện thực của cảm giác.

Vậy, sự nào thật hơn?

Xét cho cùng, đây là một sự phân chia sai lầm. Cảm giác và tinh thần của chúng ta đều đem lại sự sống, cả hai đều quan trọng, và điều không thể thiếu lẫn nhau.

Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng chúng ta có cả thể xác lẫn linh hồn, xác thịt lẫn tinh thần, và cả hai đều không thể tách biệt lẫn nhau. Chúng ta vừa là động vật vừa là thiên thần, và trong hành trình tìm kiếm sự sống, ý nghĩa, hạnh phúc và Thiên Chúa, chúng ta không được quên đi mình có cả hai điều này. Tinh thần của chúng ta chỉ mở ra với cuộc đời qua cảm giác, và cảm giác đem lại ý nghĩa chỉ bởi chúng được sống động nhờ tinh thần.

William Auden đã chỉ ra những điều mà trong số mọi loài động vật, chỉ có con người làm được. Ông đúng, nhưng chúng ta không chỉ là động vật, mà chúng ta có phần thiên thần tương đương trong bản thân mình, và một khi chúng ta có đủ cả hai thì những vui thú có giới hạn của động vật có thể trở thành những niềm vui thú vô giới hạn mà con người chúng ta có thể cảm nghiệm trong tình yêu, tình bạn, lòng vị tha, tình dục, huyền bí, đồ ăn thức uống, sự khôi hài. Cảm giác của chúng ta khiến chúng trở nên hiện thực, nhưng chính tinh thần cho chúng ý nghĩa.

Và vì thế một linh đạo lành mạnh cần phải tôn vinh cả cảm giác lẫn tinh thần. Những vui thú thông thường của cuộc sống có thể nông cạn mà cũng có thể sâu sắc, thiên về thần bí hay là thú vật, và theo đó là mức độ chúng ta tôn vinh tinh thần và tính thiên thần trong con người mình. Ngược lại, linh đạo và đời sống cầu nguyện của chúng ta, có thể chân thật hơn hoặc ảo tưởng hơn, tùy vào mức độ chúng ta thể hiện chúng trong cảm giác và tính “con” của mình.

Và điều này đúng trong lĩnh vực đời sống. Ví dụ như, tình dục có thể nông cạn hay sâu sắc, tùy vào mức độ tinh thần hay cảm giác trong đó. Cũng vậy trong cảm nghiệm về vẻ đẹp, về những gì chúng ta thấy, nghe, sờ, nếm hoặc ngửi. Bất kỳ cảm nghiệm cảm giác nào đều có thể nông cạn hoặc sâu sắc tùy vào mức độ phần tinh thần trong đó, và cũng như thế bất kỳ cảm nghiệm nào về vẻ đẹp đều có thể thiếu chân thật và mang tính tưởng tượng nếu nó quá xa lìa các cảm giác.

Vài năm trước, tôi có dự một hội nghị chuyên đề về nhân học. Diễn giả có nói rằng: “Một điều mà tâm lý học và linh đạo cứ quên suốt, đó là chúng ta là động vật.” Là một nhà thần học và ngòi bút thiêng liêng, tôi thấy đánh động vì những lời này. Ông ấy đã nói đúng! Ở trong một tôn giáo, chúng ta quá dễ dàng quên mất điều này. Nhưng các nhóm tôn giáo cũng đúng khi liên tục nhắc cho chúng ta nhớ rằng chúng ta có phần thiên thần trong mình.

Tội nghiệp cho Seth, thiên thần bị giằng xé trong phim, bởi anh ấy đâu cần phải ra lựa chọn đó.

Tin mừng đòi chúng ta hãy tận hưởng đời mình

Niềm vui là một biểu hiện không thể lầm về sự hiện diện của Thiên Chúa, cũng như thập giá là biểu hiện không thể lầm về cương vị môn đệ Chúa Kitô. Thật là nghịch lý! Và chuyện này là do Chúa Giêsu.

Khi nhìn vào Tin mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu khiến những người đồng thời bị sốc theo nhiều cách trái ngược nhau. Một mặt, họ thấy Ngài có thể từ bỏ những sự đời này và từ bỏ cả mạng sống vì yêu thương và hy sinh đến mức tột cùng, một sự hy sinh mà con người bình thường hẳn sẽ không làm. Hơn nữa, Ngài lại còn muốn họ làm theo như thế khi nói: “Hãy vác thánh giá mình hằng ngày! Nếu anh em tìm mạng sống mình, thì sẽ mất, nhưng nếu anh em từ bỏ mạng sống mình, thì sẽ tìm thấy được nó.”

Mặt khác, lâu nay chúng ta thường nghĩ rằng các tôn giáo nghiêm túc thì phải dạy sự hy sinh, nhưng Chúa Giêsu lại muốn những người đồng thời với Ngài hãy tận hưởng trọn vẹn hơn cuộc sống của mình, sức khỏe, tuổi trẻ, các mối quan hệ của mình, và cả những bữa ăn, chén rượu, và mọi thứ vui bình thường của cuộc đời nữa. Thật sự ngài khiến họ thấy chướng mắt vì khả năng tận hưởng thú vui của Ngài.

Ví dụ như chuyện về người phụ nữ xức dầu lên chân Chúa trong bữa tiệc. Cả bốn Tin mừng kể về chuyện này đều nêu bật một yếu tố rõ ràng gây khó chịu cho bất kỳ chuẩn mực tôn giáo nào. Đó là người phụ nữ đập vỡ chiếc bình đắt tiền đựng dầu thơm thượng hạng, rồi đổ lên chân Chúa, khiến mùi hương tỏa khắp cản phòng, rồi khóc đẫm chân Ngài, và lấy tóc mình mà lau. Tất cả những sự xa hoa, phung phí, thân mật và tình cảm trần trụi của một con người, đã khiến cho tất cả mọi người trong phòng cảm thấy khó chịu, trừ Chúa Giêsu. Ngài đón nhận nó trọn vẹn, không ngụy tạo, không có cảm giác tội lỗi hay lo lắng. Ngài đã nói, “Để cô ấy yên, cô ấy chỉ xức dầu cho cái chết sắp đến của Ta thôi.” Về căn bản, Chúa Giêsu đang nói thế này: Khi Ta chết, Ta sẽ sẵn sàng hơn bởi tối nay, khi nhận được tình cảm tràn trề này, Ta thật sự sống và do đó sẵn sàng để chết hơn.

Về căn bản, đây là một bài học cho chúng ta. Đừng cảm thấy tội lỗi khi tận hưởng những thú vui cuộc sống. Cách tốt nhất để cảm ơn người đã cho bạn một tặng vật, đó là toàn tâm tận hưởng tặng vật đó. Chúng ta không sống trên đời này như một bài thử thách, không buộc phải từ bỏ những sự tốt đẹp của tạo hóa để đạt được sự sống đời sau. Như bất kỳ người bố người mẹ đầy yêu thương nào, Thiên Chúa muốn con cái mình sống dồi dào, biết có những hy sinh cần thiết để sống có trách nhiệm và vị tha, nhưng Ngài không xem những hy sinh đó là lý do thực sự để sống.

Chúa Giêsu đã nhấn mạnh rõ hơn điều này khi có người hỏi vì sao các môn đệ của Ngài không ăn chay, trong khi môn đệ của ông Gioan Tẩy giả thì có ăn chay. Câu trả lời của Chúa Giêsu là: “Tại sao họ phải ăn chay? Khi mà tân lang vẫn đang ở cùng họ. Ngày tân lang rời đi, họ sẽ có rất nhiều thời gian để ăn chay.” Lời này, Chúa Giêsu đang nói với hai lớp nghĩa. Rõ ràng, tân lang chính là sự hiện diện thể lý của Ngài trên trần gian, và nó sẽ đến thời điểm kết thúc. Nhưng lời này còn có một ý nghĩa thứ hai. Tân lang là một thời gian khỏe mạnh, trẻ trung, vui tươi, thân ái và yêu thương trong cuộc đời chúng ta. Chúng ta cần tận hưởng những điều này bởi rồi sẽ đến lúc những tai nạn, bệnh tật, những quãng thời gian cô đơn và cái chết tước đi chúng khỏi chúng ta. Chúng ta không nên để những chuyện không thể tránh khỏi đó cướp đi sự tận hưởng trọn vẹn những niềm vui chính đáng mà cuộc sống đem lại.

Tôi tin lời yêu cầu này đã không được giảng cho đủ trong nhà thờ, hay trong những sách vở linh đạo. Lần cuối cùng bạn nghe một bài giảng dựa trên Tin mừng, muốn bạn hãy biết tận hưởng cuộc sống hơn, là lúc nào? Lần cuối bạn nghe một cha giảng nhân danh Chúa Giêsu hỏi bạn: Anh chị em có tận hưởng sức khỏe, tuổi trẻ, cuộc đời, những bữa ăn, ly rượu của mình cho đủ không?

Cứ cho là thách thức vốn đi ngược với quan điểm linh đạo thường thấy này có thể nghe như một lời mời gọi của chủ nghĩa khoái lạc, của sự thoải mái cá nhân quá độ, và một sự hời hợt thiêng liêng đi ngược với thông điệp Kitô giáo vốn quy về thập giá và sự hy sinh. Phải thừa nhận, đúng là có nguy cơ tiềm ẩn, nhưng quan điểm ngược lai cũng vậy, cụ thể là một cuộc sống khắc kỷ không lành mạnh. Nếu chúng ta thực hiện sai lầm thách thức tận hưởng cuộc sống này, nếu chúng ta tận hưởng mà không đi kèm một sự khổ hạnh và hy sinh cần thiết, thì sẽ có nguy cơ, nhưng nếu nhìn vào cuộc đời Chúa Giêsu, chúng ta có thể thấy sự hy sinh từ bỏ và khả năng tận hưởng cuộc đời hoàn toàn liên kết với nhau. Chúng dựa vào nhau.

Xét cho cùng, sự vô độ và chủ nghĩa khoái lạc là một sự thay thế sai lầm cho sự tận hưởng đích thực. Như lời Chúa Giêsu dạy và cách Ngài sống, thì sự tận hưởng đích thực gắn bó chặt chẽ với sự hy sinh và từ bỏ.

Và như thế, chỉ khi chúng ta có thể cho đi cuộc đời mình thì chúng ta mới có thể hoàn tooàn tận hưởng những thú vui đời này, cũng như chúng ta chỉ có thể thật sự tận hưởng những thú vui chính đáng của đời này thì chúng ta mới có thể hy sinh cho đi đời mình.

Hiểu sâu hơn về Ân sủng

Biểu hiện của lòng hối lỗi đích thực không phải là cảm giác tội lỗi, mà là cảm giác buồn phiền, hối hận vì đã làm sai. Cũng vậy, biểu hiện của sống trong ân sủng không phải là cảm giác mình xứng đáng mà là cảm giác mình được đón nhận và yêu thương dù cho mình không xứng đáng. Chúng ta lành mạnh về tâm linh khi cuộc sống của chúng ta có sự thú tội thật tâm và tự hào thật tâm.

Jean-Luc Marion đã nhấn mạnh điểm này trong một bình luận về quyển Tự thú của thánh Augustino. Ông xem tự thú của thánh Augustino là một tác phẩm về lương tâm đạo đức đích thực, bởi đó vừa là một thú nhận về lòng tự hào và thú nhận về tội lỗi. Gil Bailie cho rằng lời bình luận này nêu bật một tiêu chuẩn quan trọng để phán định xem chúng ta có đang sống trong ân sủng hay không. “Nếu thú nhận về lòng tự hào không đi kèm với thú nhận về tội lỗi thì nó là một hành động trống rỗng và khoa trương. Nếu thú nhận về tội lỗi không đi kèm với thú nhận về lòng tự hào, thì nó trống rỗng và cằn cỗi như thế, là một đống tạp nham, là một lời hối hận kiểu con vẹt.”

Gil nói đúng, nhưng thú nhận cả hai cùng lúc thật không phải là chuyện dễ dàng. Chúng ta thường rơi vào một trong hai kiểu, thú nhận về lòng tự hào và không thật sự thú nhận tội lỗi của mình, hoặc là hối hận kiểu con vẹt, một kiểu ngụy biện hơn là nỗi buồn phiền thật sự vì đã lầm đường lạc lối.

Trong cả hai trường hợp, đều không có một ý thức thật sự về ân sủng. Piet Fransen, với quyển sách về ân sủng được dùng như sách giáo khoa trong các chủng viện và trường thần học, cho rằng cả những tín hữu tự tín (những người vẫn âm thầm ghen tị với lạc thú của những kẻ vô luân, những thứ mà họ đã bỏ lỡ) cũng như những người ương ngạnh dù đã hối cải nhưng vẫn cảm thấy trân trọng những lầm lỡ của mình, cả hai loại người này vẫn chưa hiểu được ân sủng. Chúng ta chỉ hiểu được ân sủng khi thật sự nắm bắt được những lời của người cha trong dụ ngôn người con hoang đàng nói với người con cả. “Con của cha, con luôn ở với cha, và mọi thứ cha có đều là của con. Nhưng chúng ta phải vui mừng vì em của con đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm được.”

Người anh cả sẽ không cay đắng nếu hiểu được rằng mọi thứ cha của anh có đều là của anh, và anh cũng sẽ không ghen tỵ với những lạc thú của người em hoang đàng nếu hiểu rằng người em đó đã chết đi. Nhưng cần có nhận thức sâu sắc hơn để trực cảm được rằng so với cuộc sống trong nhà Chúa, thì mọi lạc thú đều là ngọn nến so với mặt trời. Và cũng đúng như thế với những người đã trở lại, từ bỏ lối sống lầm lạc nhưng vẫn âm thầm vui mừng vì những trải nghiệm mà nó mang lại cho mình, và nuôi dưỡng một sự thương hại cao ngạo cho những người ít được trải nghiệm hơn. Người này cũng không thực sự hiểu được ân sủng.

Trong quyển sách Khái niệm về Linh thánh (The Idea of the Holy), Rudolf Otto cho rằng khi đối diện với sự thánh thiện, chúng ta luôn có một phản ứng kép: thấy e ngại và được lôi cuốn. Như thánh Phêrô trong sự kiện Chúa Biến hình, chúng ta cũng muốn xây một lều và ở lại đó mãi mãi, nhưng như thánh Phêrô trong sự kiện phép lạ bắt được nhiều cá, chúng ta cũng sẽ muốn nói: “Xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi.” Trước sự linh thánh, chúng ta vừa muốn hớn hở tự hào vừa muốn thú nhận tội lỗi của mình.

Và thấu suốt này có thể giúp chúng ta hiểu được ân sủng. Trong quyển sách của mình về ân sủng, Đời sống Ân sủng Mới (The New Life of Grace), Piet Fransen mở đầu bằng cách mời chúng ta hình dung cảnh này: Hãy hình dung một người sống theo chủ nghĩa khoái lạc một cách vô tâm. Ông ta hoàn toàn chìm trong những khoái lạc của thế gian mà không nghĩ gì đến Thiên Chúa, trách nhiệm hay luân lý cả. Rồi sau một cuộc đời chìm trong những khoái lạc vô luân, ông ta hối cải thật sự trên giường hấp hối, thật tâm thú nhận tội lỗi của mình, nhận lãnh các bí tích của giáo hội, và chết lành. Nếu phản ứng của chúng ta với câu chuyện này là: “Gã này may mắn thật! Hắn đã chơi bời mà cuối cùng vẫn được phúc!” thì chúng ta chưa hiểu được ân sủng. Nếu nghĩ như thế thì chúng ta chỉ là những người đạo đức trong cay đắng, dứng đó như người anh cả cần phải nói chuyện thêm với Chúa.

Và cũng như thế với những người đã hoán cải mà vẫn cảm thấy những trải nghiệm hoang đàng của mình là một niềm vui sâu sắc hơn những người chưa từng hoang đàng. Trong trường hợp này, người đó trở về nhà cha mình không phải bởi cảm thấy một niềm vui sâu sắc hơn nhưng là bởi nghĩ rằng việc trở về là một trách nhiệm không mong muốn, một chuyện ít thú vị và vui vẻ hơn cuộc sống tội lỗi, nhưng là một chiến lược thoát thân buộc phải làm. Người này cũng chưa hiểu được ân sủng.

Chỉ khi chúng ta hiểu được ý của người cha nói với người anh cả trong dụ ngôn người con hoang đàng: “Mọi sự cha có đều là của con,” thì chúng ta mới có thể vừa thú nhận niềm tự hào của mình vừa thú nhận tội lỗi của mình được.

Khát khao mơ hồ

Nhiều lúc cầu nguyện bằng thánh vịnh, tôi thấy mình đang nhìn vào một tâm gương phản ánh sự bất lương mơ hồ của tôi, một cảm giác khá là khó chịu. Ví dụ như, khi đọc lên những lời này: Linh hồn con trông mong Ngài trong đêm tối. …Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa. …Con chỉ mong mỏi Ngài! Con chỉ khát khao Ngài!

Nếu thành thật, tôi phải thừa nhận rằng nhiều lần, có lẽ là hầu hết mọi lần, linh hồn tôi khát khao nhiều điều có lẽ không thuộc về Chúa. Làm sao tôi có thể thật tâm cầu nguyện: Lạy Chúa, con chỉ mong mỏi Ngài! Con chỉ khát khao Ngài! Trong sự bồn chồn, trong những ước mong trần thế, và bản năng tự nhiên của mình, tôi khao khát nhiều điều không có vẻ gì là tập trung vào Thiên Chúa hay hướng thượng cả. Tôi cho rằng hầu hết chúng ta trong hầu hết cuộc đời mình cũng thế. Chỉ có những nhà thần nghiệm, vào một lúc nào đó, có thể nói lên những lời cầu nguyện này với trọn vẹn tâm trí mà thôi.

Nhưng khao khát của con người thật phức tạp. Có bề mặt và có chiều sâu, và trong mỗi một khao khát và động cơ của mình, chúng ta có thể tự vấn: Tôi thật sự tìm kiếm gì ở đây? Xét bên ngoài, ngay tại đây và ngay lúc này, tôi biết tôi muốn gì, nhưng xét tận cùng, tôi khao khát điều gì trong chuyện này?

Sự mơ hồ này, giữa những gì chúng ta nhận thức được ở bề ngoài và những gì chúng ta chỉ có thể cảm nhận ở một mức độ sâu sắc hơn mà cũng mơ hồ và tăm tối hơn, chính là những gì mà một số triết gia lỗi lạc đã phân định giữa sự rõ ràng của nhận thức và điều ẩn tàng trong nó. Sự rõ ràng là những gì chúng ta nhận thức một cách ý thức (“Tôi muốn thứ này!”) còn sự ẩn tàng là những yếu tố vô thức cũng có vai trò trong diễn biến này nhưng chúng ta lại không biết. Chúng ta chỉ nhận thức được chúng một cách mơ hồ, trong những phần vô thức của linh hồn mình.

Chẳng hạn như, Karl Rahner, triết gia rất thích phân định và đã áp dụng chiều hướng này rất tốt trong linh đạo của mình, từng cho chúng ta một ví dụ để phân biệt giữa sự rõ ràng và sự ẩn tàng trong những khao khát và động cơ của chúng ta. Cha nói rằng, hãy thử tưởng tượng: Một người cô độc, bồn chồn, và chán nản trong tối thứ bảy, tìm đến một quán rượu, chọn một cô gái điếm, và lên giường với cô. Xét bề ngoài, động cơ và khao khát của ông này rõ ràng và thô bỉ. Trên chiếc giường đêm hôm đó, ông không khao khát Thiên Chúa. Nhưng mà có thể nào là có không?

Xét bề ngoài, tất nhiên là không, khao khát của ông có vẻ chỉ quy về bản thân và đối lập với khát khao linh thánh. Nhưng phân tích tận cội rễ thâm sâu nhất, thì khao khát của ông này xét cho cùng là khao khát một sự thân mật thiêng liêng, khao khát bánh hằng sống và thiên đàng. Ông khao khát Thiên Chúa từ sâu thẳm linh hồn mình và từ sâu thẳm trong động cơ ông làm, dù ông không nhận thức được thế. Lúc đó ông chỉ nhận thức được một khao khát thô tục cho sự thỏa mãn ngay lập tức, nhưng điều này chỉ là triệu chứng và nó không thay đổi được động cơ tận cùng của ông. Ở một tầm mức sâu hơn, một tầm mức mà ông không nhận thức một cách ý thức được, ông vẫn khao khát bánh hằng sống, khao khát chỉ mình Thiên Chúa mà thôi. Linh hồn ông vẫn là con nai khát khao dòng nước, ngoại trừ một điều là đêm hôm đó, một dòng nước khác hứa hẹn với ông chút nước ngon lành mà ông có thể uống ngay lập tức.

Gần đây, tôi có dạy một khóa về linh đạo tuổi già và giờ chết. Mượn một dòng thơ của Goethe trong bài Khát khao Linh thánh, tôi đặt tựa đề cho khóa học này một cách thi vị là: Điên lên vì Ánh sáng. Trong một bài kiểm tra, một sinh viên đã suy tư về hành trình của mình hướng về tuổi già và cái chết như thế này:

“Tối hôm qua, tôi bắt đầu nghĩ rằng chết là làm tình với Thiên Chúa, sự hòa hợp sau một đời ve vãn, gặp gỡ lén lút, khát khao không ngừng, cũng như thấy cô đơn đến mức điên lên vì Ánh sáng. Tôi suy niệm trên Diễm Ca và thấy cách tôi nghĩ về cái chết cũng gần như thế, không hẳn là sự từ bỏ và phân hủy của thân xác, nhưng là một sự biến đổi hoàn toàn đã được ghi sẵn trong định mệnh của tôi. Tôi nghĩ đời tôi như một câu chuyện tình với những khoảng thăng trầm như bao câu chuyện tình khác, nhưng luôn luôn hướng về Thiên Chúa với cái chết là lễ cưới đầy tình yêu giữa Thiên Chúa với tôi, sau thời gian đính hôn là cả đời người.”

Cô ấy đã nói lên những suy tư của Rahner cũng như nhiều triết gia khác, dù bằng những lời lẽ trực tiếp hơn. Khi phân tích khát khao của mình, cô chỉ ra rằng có nhiều mức độ, rõ ràng và mơ hồ, ý thức và vô thức.

Nhưng, cuộc đời chúng ta, với mọi sự căng thẳng, bồn chồn, non nớt của tuổi trẻ, những trầm cảm của tuổi trưởng thành, những thời gian cô đơn lạnh lẽo, những lúc hoài nghi, tuyệt vọng, sụp đổ, và cả những lần phóng túng bừa bãi, chắc chắn là những cuộc ve vãn với những khao khát rõ ràng không hướng đến Thiên Chúa. Nhưng xét tận cùng, và một ngày nào đó sẽ rõ ràng là, cuộc đời chúng ta như thế sẽ tìm được và biết được sự hòa hợp viên mãn của mình.

Chúng con biết theo ai?

“Bỏ Thầy, chúng con biết theo ai? Vì Thầy có lời ban sự sống đời đời.” Thánh Phêrô đã nói thế với Chúa Giêsu. Nhưng đó là những lời trong một bối cảnh rất xung khắc. Chúa Giêsu vừa nói những lời khiến những người nghe Ngài thấy chướng tai đến mức giận dữ, và Tin mừng cho chúng ta biết là mọi người cứ xì xầm rằng những lời Chúa vừa nói thật “không thể chấp nhận được.” Rồi Chúa Giêsu quay sang các tông đồ và hỏi: “Các con cũng muốn bỏ đi sao?” Thánh Phêrô trả lời: “Bỏ Thầy chúng con biết theo ai? Nhưng câu này nghe như một tuyên bố buông bỏ kiểu khắc kỷ hơn là một câu hỏi thật sự.

Những lời của thánh Phêrô có hai tầm mức: Một là nghĩa bên ngoài, nó thể hiện một sự khiêm hạ và bất lực mà thỉnh thoảng chúng ta thấy mình cũng có. “Tôi chẳng còn chọn lựa thay thế nào cả! Tôi đã dành trọn bản thân cho mối quan hệ này và giờ tôi chẳng còn lựa chọn nào khác. Tôi bị mắc kẹt với chuyện này rồi!” Đây là lúc chúng ta hạ mình và bất kỳ ai từng thành tâm gắn bó với sự gì đó cuối cùng sẽ thấy mình như thế, biết rằng mình không còn chọn lựa thực tế nào nữa.

Nhưng những lời này cũng cho thấy một tình thế tiến thoái lưỡng nan vô cùng, cụ thể là nếu đã không tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong đức tin vào Thiên Chúa, thì tôi có thể tìm được nó ở đâu nữa đây? Tất cả chúng ta, đến lúc nào đó, sẽ tự hỏi mình câu đó. Nếu tôi không tin vào Chúa, không theo đạo, thì cuộc sống của tôi có ý nghĩa gì?

Chúng ta có thể đi đâu nếu không còn một niềm tin rõ ràng vào Thiên Chúa? Rất nhiều câu hỏi như thế. Tôi nghĩ ngay về những nhà khắc kỷ đã vật lộn với câu hỏi này và tìm thấy sự khuây khỏa trong những dạng mà Albert Camus gọi là “nổi loạn siêu hình” hay theo kiểu chủ nghĩa hưởng lạc mà Nikos Kazantzakis đã nêu lên trong quyển Zorba, người Hy Lạp. Có một chủ nghĩa khắc kỷ muốn đem lại sự cứu rỗi bằng cách tìm ra sự sống và ý nghĩa cuộc đời trong việc đấu tranh với những hỗn loạn và bệnh tật, chỉ vì một lý do là chúng gây đau khổ và là thứ chống đối cuộc sống. Kiểu này cũng hệt như chủ nghĩa hưởng lạc đặt nền tảng cuộc sống trên khoái lạc. Có vẻ có nhiều kiểu thánh nhân.

Cũng có nhiều kiểu bất tử. Với một số người, có thể tìm thấy ý nghĩa bên ngoài một đức tin rõ ràng bằng cách để lại một di sản trên đời này, bằng con cái, bằng thành tựu. Chúng ta đều quen với câu ngạn ngữ: Trồng một cây, viết một quyển sách, có một đứa con! Các nhà thơ, nhà văn, nghệ sĩ thường có không gian riêng của họ để tìm ý nghĩa cuộc đời bên ngoài một đức tin cụ thể. Với họ, sáng tạo và vẻ đẹp có thể là cùng đích của chính chúng. Nghệ thuật vị nghệ thuật. Sáng tạo tự nó là đủ rồi.

Và vẫn còn những người khác tìm thấy ý nghĩa cuộc đời đơn thuần qua việc sống tốt, sống thành thật, và thế là đủ. Cũng có những nhân đức sống chỉ vì nhân đức, và nó đã là phần thưởng cho nó rồi. Sống một cuộc đời tốt lành và quảng đại có thể đem lại mức ý nghĩa vừa đủ cho những người đang đi qua cuộc đời này.

Vậy, có vẻ ngoài một đức tin cụ thể, có nhiều không gian khác để chúng ta tìm thấy ý nghĩa cho cuộc đời. Nhưng có thật thế không? Chẳng phải chúng ta tin rằng ý nghĩa đích thực chỉ có thể tìm thấy nơi Thiên Chúa hay sao? Câu nói kinh điển của thánh Augustino là gì? ‘Lạy Chúa, Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài.’ Có điều gì khác ngoài đức tin và Thiên Chúa thật sự có thể làm lặng yên cơn khắc khoải của chúng ta sao?

Có, có nhiều điều có thể làm thế, có cách đấu tranh với hỗn loạn, chữa lành bệnh tật, để lại di sản, sống vì tha nhân, kiến tạo gì đó, sáng tạo gì đó, hay đơn giản là sống thành thật và quảng đại. Nhưng tất cả chúng, là khởi đầu, để chúng ta tỏa ra những đặc tính siêu việt của Thiên Chúa và làm việc với Ngài để đem lại sự sống và trật tự cho thế giới này. Làm sao lại thế?

Thần học Kitô giáo cho chúng ta biết rằng, Thiên Chúa là Duy nhất, là Chân, Thiện, Mỹ. Và như thế, khi một nghệ sĩ dành trọn đời mình để tạo nên vẻ đẹp, khi một cặp vợ chồng sinh con cái, khi các nhà khoa học tìm cách chữa nhiều chứng bệnh, khi các giáo viên giảng dạy, khi bố mẹ chăm lo cho con cái, khi những vận động viên tham gia thi đấu, khi những công nhân làm việc cật lực, khi người ta sống thành thật và quảng đại, và thậm chí cả khi những người theo chủ nghĩa khoái lạc đắm chìm trong khoái lạc đời này, là họ, tất cả họ, dù có đức tin hay không, đều đang thực hành một đức tin, bởi họ đang đặt niềm tín thác vào sự Duy nhất, Sự thật, sự Tốt lành, hay Vẻ đẹp của Thiên Chúa.

“Bỏ Thầy chúng con biết theo ai? Vì Thầy có lời ban sự sống đời đời.” Có vẻ có nhiều nơi để đi, và nhiều người đã đi đến những nơi đó. Nhưng những nơi này không nhất thiết là những không gian trống rỗng, sai lầm và tự diệt. Tất nhiên, chúng là những thứ tự xem chính chúng là mục đích của mình, nhưng chỉ cần nhìn vào những sinh lực tích cực, tình yêu thương, sự sáng tạo, lòng quảng đại vẫn tràn đầy thế giới, thì chúng ta biết những người tìm Thiên Chúa bên ngoài một đức tin cụ thể vẫn được gặp Chúa.

Thiện tâm thôi là không đủ

Bác ái là có tấm lòng tốt, nhưng công lý thì không chỉ là vậy. Sự đồng cảm cá nhân là tốt và là nhân đức, nhưng nó không hẳn thay đổi cơ cấu xã hội, kinh tế và chính trị đang bất công biến nhiều người thành nạn nhân và dung dưỡng quá đáng những thành phần đặc quyền đặc lợi. Chúng ta cần phải công tâm và có lòng tốt, nhưng cũng cần có những chính sách tốt và công tâm.

Jim Wallis, khi bàn cụ thể về kỳ thị chủng tộc, đã nói thế này: Khi chúng ta biểu tình là chúng ta không đứng chung hàng ngũ với hệ thống bất công bằng cách nói rằng: “Tôi có những người bạn da đen,” chúng ta phải thách thức chính bản thân mình. Đây không chỉ là vấn đề trong lòng, mà là vấn đề về chính sách công. Chúng ta có thể có những người bạn da đen nhưng nếu chính sách của chúng ta mang tính kỳ thị chủng tộc, thì nơi này không có công lý. Thiện tâm của riêng mỗi người không phải lúc nào cũng làm nên một hệ thống công bằng cho tất cả mọi người.

Và chính từ điểm này mà chúng ta thấy sự phân biệt mấu chốt giữa bác ái và công lý, giữa thiện tâm cá nhân và nỗ lực cộng đồng để bảo đảm các hệ thống xã hội, kinh tế, và chính trị của chúng ta không phải là nguyên do gây nên mọi thứ mà chúng ta đang cố khắc phục bằng lòng bác ái. Những gì gây nên nạn nghèo đói, kỳ thị chủng tộc, bất công kinh tế, thiếu công bằng về tiếp cận giáo dục và y tế, cùng sự vô trách nhiệm đối với thiên nhiên? Thái độ cá nhân, đúng là thế. Nhưng bất công cũng là kết quả do các chính sách xã hội, kinh tế về chính trị, khi chúng tạo nên những tình trạng làm nảy sinh nghèo đói, bất công, kỳ thị chủng tộc, đặc quyền đặc lợi, và thiếu ý thức về chính không khí mà chúng ta đang hít thở.

Tôi cho rằng, hầu hết chúng ta đều quen thuộc một câu chuyện thường được dùng để phân biệt giữa Bác ái và công lý. Chuyện như thế này: Có một thành phố xây cạnh bờ sông, nhưng lại nằm ở đoạn uốn khúc nên dân phố chỉ có thể thấy phần sông bọc quanh thành phố mình. Một ngày nọ vài đứa trẻ chơi gần sông thì thấy năm người trôi trên mặt nước. Chúng liền chạy đi tìm người giúp và dân phố làm việc mà bất kỳ người có trách nhiệm nào sẽ làm trong hoàn cảnh đó. Họ kéo năm người lên khỏi sông. Hai người đã chết và được chôn cất. Ba người còn sống. Một trong số đó là một đứa trẻ, và nó được một gia đình nhận nuôi ngay, một bà bị ốm nặng liền được đưa vào bệnh viện, cuối cùng là một thanh niên, liền có người giúp tìm việc làm và cho chỗ ở.

Nhưng câu chuyện không kết thúc ở đó. Ngày hôm sau, lại thấy thêm một số người trôi sông, và dân phố cũng làm hệt như hôm trước. Họ lo cho những người đó. Họ chôn cất người chết, cho người bệnh vào bệnh viện, tìm nhà nhận nuôi những đứa trẻ, và tìm công việc cùng chỗ ở cho người lớn. Rồi cứ năm này qua năm khác, việc lo cho những người trôi sông dần thành một chuyện thường ngày, một phần trong đời sống của cộng đồng. Một số người đầy lòng nhân ái đã dành cả cuộc đời để chăm lo cho những người trôi sông.

Dù họ vẫn là những con người quảng đại và thiện tâm, khi chăm lo cho những người trôi sông đến thành phố mình, nhưng… Đến lúc này, vẫn chẳng có ai đi ngược con sông để xem những người trôi sông từ đâu và vì sao mà ngày nào cũng xuất hiện.

Bài học quá rõ ràng: Chăm sóc cho những người trôi sông đến ngay nhà chúng ta là chuyện cần thiết, tốt lành và đầy tính Kitô, nhưng đi ngược dòng để cố thay đổi chuyện gì gây nên thảm cảnh đó lại là chuyện khác. Đấy là sự khác nhau giữa bác ái thiện tâm và công bằng xã hội.

Đáng buồn thay, chúng ta quá chậm hiểu điều này và do đó không thực hiện lời dạy của Chúa Giêsu về công bằng xã hội. Quá nhiều người tốt lành, đầy lòng bác ái, lại không thấy ra đòi hỏi cần có công bằng còn cao hơn cả những đòi hỏi về việc bác ái cá nhân. Và chúng ta thường đủ thiện tâm để cho ai đó một tấm áo, nhưng lại không chịu nhìn xem vì sao tủ quần áo chúng ta đầy ắp mà lại có người không có nổi cái áo để mặc.

Nhưng đừng hiểu lầm chuyện này. Đòi hỏi của Tin Mừng muốn chúng ta hành động vì công lý không phải là xem nhẹ lòng Bác ái. Bác ái vẫn là nhân đức tối cùng, và đôi khi sự khác biệt chủ động của chúng ta trong đời chính là tình yêu thương và tôn trọng mà chúng ta dành cho nhau. Sự thiện cá nhân của chúng ta đôi khi là ánh nến duy nhất đem lại ánh sáng cho chúng ta.

Nhưng sự thiện và ánh sáng đó cũng phải chiếu tỏa ra cho mọi người, trong cách chúng ta bỏ phiếu, trong những chính sách công mà chúng ta ủng hộ hay phản đối nữa.

Kitô giáo và cơn kiệt nhọc giữa trưa

Có một ý kiến cho rằng, thật hay khi so sánh mỗi thế kỷ Kitô giáo tồn tại với mỗi năm cuộc đời. Thế thì Kitô giáo được 21 tuổi, đủ lớn để có sự trưởng thành căn bản nhưng vẫn còn lâu mới chính chắn hoàn toàn. Ý kiến này có nhận thức thấu suốt đến thế nào?

Đây là một câu hỏi phức tạp bởi Kitô giáo là tổng thể các cộng đoàn phụng tự và linh đạo trải khắp thế giới. Ví dụ như, nói về các giáo hội, thật khó để nói về một giáo hội Kitô giáo theo kiểu toàn cầu. Chẳng hạn như, ở châu Phi, hầu hết các giáo hội đều trẻ trung, đầy sức sống trẻ, và tăng trưởng mạnh, với những tiềm lực và vấn đề đi kèm. Ở Đông Âu, các giáo hội vẫn còn trong giai đoạn phục hồi sau nhiều năm bị đàn áp dưới thời cộng sản và giờ đang đấu tranh để tìm sự cân bằng và sinh lực mới trong một xã hội thế tục hóa hơn bao giờ hết. Các giáo hội Mỹ La tinh thì ngả theo thần học giải phóng. Vì ở đó có các vấn đề công bằng xã hội, có những người đấu tranh vì nó nhân danh Chúa Giêsu, và tất cả đã tạo nên một sắc thái linh đạo và cái nhìn riêng về giáo hội. Ở châu Á, tình hình còn phức tạp hơn. Người ta sẽ nói về bốn biểu đạt riêng biệt của giáo hội và tương đồng với nó là bốn linh đạo khác nhau ở châu Á. Là châu Á Phật giáo, châu Á Ấn giáo, châu Á Hồi giáo, và một châu Á hậu Kitô giáo. Các giáo hội và linh đạo biểu lộ khá là khác nhau ở nhiều vùng châu Á. Cuối cùng là Tây Âu và Bắc Mỹ, gọi chung là “Phương Tây.” Có vẻ như ở Phương Tây, Kitô giáo không còn tỏa sáng theo kiểu trẻ trung và đầy sức sống, nhìn qua có vẻ như một đối tượng già nua, mệt mỏi rồi.

Đó có phải là cái nhìn đúng về Kitô giáo ở Tây Âu, Bắc Mỹ, và các khu vực thế tục hóa cao trên thế giới? Các giáo hội chúng ta có già nua, mệt mỏi, và kiệt quệ không?

Đấy là một góc nhìn thôi, bức tranh toàn cảnh cho chúng ta một cách diễn giải khác. Sigmund Freud và Karl Marx, cùng với nhiều nhân vật theo Thời đại Ánh sáng, thấy Kitô giáo là một thứ hết thời, một thực thể đang hấp hối, là cái chết không thể tránh khỏi của sự ngây thơ khờ khạo. Nhưng Teilhard de Chardin cũng nhìn vào bối cảnh đó, lại thấy mọi chuyện theo chiều ngược lại. Với cha, Kitô giáo vẫn còn “mang tã” đang đấu tranh để lớn lên trưởng thành, một đứa trẻ vẫn còn học đi, do đó thỉnh thoảng vấp ngã. Ngòi bút thiêng liêng đương đại, Tomas Halik, người vừa giành Giải Templeton danh tiếng, lại đưa ra một cái nhìn khác. Với Halik, Kitô giáo ở Phương Tây đang trải qua “cơn kiệt lực giữa trưa” hay như tình trạng mất ý tưởng của một nhà văn. Ông rất đồng tình với điều mà Charles Taylor đã nói trong công trình nghiên cứu của ông, Một Thời đại Thế tục (A Secular Age). Với Taylor, những gì chúng ta đang thấy ngày nay không hẳn là một cuộc khủng hoảng đức tin cho bằng một cuộc khủng hoảng về hình dung và dung nạp. Các ngòi bút Kitô giáo trước đây đã gọi chuyện này là “đêm tối của tâm hồn,” và Halik cho rằng đây không phải là chuyện xảy ra vào cuối ngày, mà là vào lúc giữa ngày.

Tôi rất đồng tình với Halik. Kitô giáo, các giáo hội và linh đạo ở Tây Âu và Bắc Mỹ không già cỗi và hấp hối, không phải là một đối tượng hết thời. Thật ra, đó vẫn là những đối tượng trẻ trung, mới chỉ 21 tuổi, vẫn còn nhiều điều cần trưởng thành. Nhưng tôi đồng ý với các chỉ trích mang tính bảo thủ rằng, không phải chắc chắn sẽ trưởng thành được như thế, nhưng chuyện này dựa vào việc chúng ta đưa ra những chọn lựa rõ ràng và dấn thân mạnh mẽ với một đức tin chân thật. Như bất kỳ bậc cha mẹ nào, bạn sẽ biết là không có gì bảo đảm đứa con 21 tuổi của bạn sẽ đạt được sự chính chắn trưởng thành. Mọi chuyện có thể xảy ra ngược lại, và với Kitô giáo ngày nay cũng thế. Không có gì là bảo đảm.

Nhưng trong đức tin, và trong các chọn lựa cùng dấn thân mà chúng ta sẽ phải thực hiện, điều quan trọng là chúng ta phải xác định đúng về mình để làm đúng việc. Chúng ta không già nua và hấp hối. Chúng ta trẻ trung, và dù cho đang bị “cơn kiệt nhọc giữa trưa” hành hạ, thì chúng ta vẫn còn cả buổi chiều nữa mà. Buổi chiều của chúng ta vẫn có đó, và nhiệm vụ của buổi chiều khá khác biệt với nhiệm vụ của buổi sáng hay buổi tối. Như James Hillman đã nói: “Những năm đầu đời phải tập trung vào làm việc cho xong, còn những năm sau cuối đời phải dành để suy nghĩ xem đã làm được những gì và làm thế nào.”

Nhưng buổi chiều phải tập trung vào một chuyện khác, cụ thể là, nhiệm vụ đào sâu. Cả linh đạo và nhân học đều đồng ý rằng buổi xế chiều của cuộc đời là thời gian quan trọng để trưởng thành, một thời gian quan trọng để đào sâu nội tâm. Và phải nhớ, đây là đào sâu chứ không phải phục hồi.

Không thể thắng được cơn kiệt nhọc giữa trưa của chúng ta bằng cách trở lại làm công việc buổi sáng với hy vọng làm cho mình tươi mới, cũng không phải bằng ngồi nghỉ ngơi thụ động. Phải thắng cơn kiệt nhọc giữa trưa bằng các tìm những nguồn suối tươi mới đang chôn sâu bên trong chúng ta.

Tấm áo dệt liền

Thánh Gioan Thánh Giá dạy rằng trong linh đạo và luân lý không có những phạm vi miễn trừ. Nói đơn giản, bạn không thể là một vị thánh hay một người có đạo đức vô cùng nếu bạn cho phép mình miễn trừ một vài chuyện. Do đó, tôi có thể không cho phép mình bỏ qua một lỗi đạo đức hay một thói quen tội lỗi và xem đó là điều quan trọng, khi so với đủ mọi phẩm chất tốt đẹp tôi đang có. Với Gioan Thánh Giá, bạn không thể là một vị thánh với một điểm mù đạo đức, dù điểm đó chi rất nhỏ. Một chú chim bị cột vào đá, không thể bay dù cho sợi dây cột nó là dây thừng hay chỉ mảnh.

Cũng đúng như thế với những nỗ lực của chúng ta để bảo vệ sự sống và thăng tiến công lý trên đời. Bảo vệ sự sống và thăng tiến công lý phải là một sự trọn vẹn. Chúng ta không thể là một ngôn sứ đích thực nếu có, dù chỉ một vài điểm mù đạo đức.

Và như thế là chúng ta không thể xem những vấn đề như phá thai, chiến tranh hạt nhân, thiếu ý thức môi sinh, thảm cảnh người tị nạn, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, nạn nghèo đói và bất bình đẳng, không được tiếp cận dịch vụ y tế, không công bằng trong chuyện học hành, bừa bãi về tình dục, và kỳ thị cộng đồng người đồng tính, là những chuyện hoàn toàn riêng biệt được. Dù cho có thừa nhận hay không, thì những lĩnh vực này cũng liên kết với nhau không thể tách rời. Hồng y Bernardin đã nói: “Bất kỳ ai muốn thành công trong những vấn đề liên quan đến sự sống đều cần phải có một bận tâm cho thái độ của xã hội về việc tôn trọng sự sống con người.” Đây là một thách thức lớn cho tất cả chúng ta về mọi mặt của lăng kính hệ tư tưởng.

Do đó, những người bận tâm đến việc phá thai cần phải chấp nhận rằng không thể nói về vấn đề phá thai mà không nói về những vấn đề nghèo đói, quyền tiếp cận dịch vụ y tế, đạo đức tình dục, và thậm chí là án tử hình. Sự liên hệ lẫn nhau này không phải mang tính thần nghiệm. Mà là chuyện thực tế. Phá thai tăng mạnh là vì đói nghèo và thiếu sự hỗ trợ thỏa đáng hơn là do một hệ tư tưởng theo chủ nghĩa tự do. Do đó, đấu tranh chống phá thai phải tập trung vào các vấn đề đói nghèo và hỗ trợ cho phụ nữ mang thai. Cũng vậy, chấp nhận việc giết người trong một phạm vi (án tử hình) thì góp phần củng cố cho sự ủng hộ việc giết người ở một phạm vi khác (phá thai). Cũng cần phải nói đến đạo đức tình dục bởi phá thai là sản phầm không thể chối cãi của một xã hội mà người ta quan hệ tình dục với nhau khi không cần kết hôn.

Tất cả là một, và bất kỳ phản đối nào với việc phá thai mà không nhìn nhận thỏa đáng quan điểm rộng hơn là bảo vệ sự sống, thì sẽ khó khiến cho những người chân thành ủng hộ cho các nhóm chống phá thai.

Ngược lại, những người bận tâm về vấn đề nghèo đói, về dịch vụ y tế, án tử hình, môi sinh, chiến tranh, kỳ thị, và quyền của người đồng tính, cũng cần phải thừa nhận rằng không thể xử lý những vấn đề đó cho hiệu quả nếu không xử lý vấn đề phá thai. Và ngay cả trong tình huống này, mối liên kết cũng rất thực. Không thể mủi lòng với những người yếu đuối và dễ bị tổn thương ở một phạm vi nào đó, chính là thỏa hiệp tiêu chuẩn đạo đức khi bảo vệ cho những người yếu đuối và dễ bị tổn thương ở một phạm vi khác. Chúng ta phải biện hộ và đấu tranh để bảo vệ cho tất cả những ai bị biến thành nạn nhân trong cuộc sống của mình, và như thế trong số các nạn nhân đó có cả những thai nhi.

Tất cả là một. Không có miễn trừ nào cả, do đó chống lại việc bảo vệ các thai nhi không chỉ là đi ngược lại những điều trọng tâm của một chiến dịch công bằng xã hội, mà còn khiến hệ tư tưởng tự do và các ủng hộ chính trị của nó trở nên thỏa hiệp.

Tất nhiên, chẳng ai buộc phải dốc sức ngang nhau cho mọi vấn đề công bằng trên thế giới. Nhìn nhận rằng các vấn đề này không thể tách rời nhau, không buộc chúng ta phải thôi nhiệt tâm hành động vì một vấn đề cụ thể nào đó. Nhưng biết rằng những vấn đề này là một, thì chúng ta buộc phải luôn nhìn nhận rằng, dù cho vấn đề riêng chúng ta đấu tranh có quan trọng đến thế nào, thì chúng ta cũng không được xem nó theo kiểu trắng đen, không có những sắc thái khác nhau. Chúng ta phải luôn luôn biết nhạy cảm với cái toàn thể, với bối cảnh rộng hơn, với mối liên kết phức tạp của mọi vấn đề xã hội này.

Và một điều không kém quan trọng, là chúng ta phải biết khiêm nhượng, nhạy cảm với những sự mâu thuẫn đạo đức của chính chúng ta trước.

Trong đời này, chúng ta sẽ luôn có những mâu thuẫn, và phải tha thứ cho mình vì những chuyện đó. Đừng để sự hoàn hảo kìm hãm việc thiện. Nhưng nhìn nhận cả sự mâu thuẫn và phức tạp trong những vấn đề này, phải cho chúng ta biết cởi mở hơn để lắng nghe quan điểm của những người khác, và bớt giáo điều và chính thống cực đoan trong thái độ của mình.

Mọi vấn đề liên quan đến công lý và hòa bình, tất cả đều là một, là một thể thống nhất, là áo choàng không đường may, và như những người lính đã bốc thăm để lấy áo choàng của Chúa Giêsu, thì chúng ta cũng phải biết lưỡng lự khi muốn chia tách tấm áo này thành từng mảnh nhỏ.

Đi trước

“Ta đi trước để chuẩn bị một chỗ cho các con!” Chúa Giêsu đã nói những lời này với các môn đệ trong đêm trước khi chịu nạn, khi Ngài ngồi đồng bàn với họ và thấy được sự đau buồn của họ khi biết Ngài sắp chết, sắp đi xa. Những lời của Chúa Giêsu không phải để an ủi và bảo đảm cho các môn đệ rằng họ sẽ không bị bỏ rơi. Mà sự thật là, Ngài chuẩn bị đi trước để chuẩn bị cho họ một chỗ để đến và vui hưởng cùng Ngài sau này.

Bản thân tôi rất cảm kích đoạn này, vì tôi đã cảm được ý nghĩa của nó qua cái chết của người chị mình. Chị còn trẻ, chị có nhiều con, và dường như chị quá trẻ để ra đi bỏ lại con cái sau lưng mình. Chị qua đời vì chứng ung thư, và dù nó tàn bạo đẩy chị đến cái chết, nhưng vẫn cho chị không phải chịu quá nhiều đau đớn và vẫn còn tỉnh táo trong đầu óc và tâm hồn cho đến tận giờ chết. Chứng ung thư nặng dần, chị không thể ăn uống gì được nữa, nhưng vẫn duy trì được một thời gian nhờ truyền dịch. Nhưng rồi truyền dịch cũng không còn hiệu quả, khi rút kim, các bác sĩ bảo chị còn chưa đầy một tuần nữa. Chị đã chọn dành tuần cuối cùng này trong bệnh viện hơn là ở nhà, với gia đình dễ dàng ở bên giường hấp hối của chị 24 tiếng một ngày.

Những ngày hấp hối của chị thật là một quãng thời gian thiêng liêng. Vài ngày trước khi chị mất, tôi đã đưa Mình Thánh Chúa cho chị. Và rất minh mẫn, chị cho tôi biết chị muốn làm nghi thức an táng thế nào. Chị chọn đúng đoạn Kinh thánh kể về những lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ đang u buồn rằng Ngài sẽ đi trước, để chuẩn bị một chỗ cho họ. Chị chia sẻ rằng, mỗi khi chuẩn bị sinh con, trước lúc đi bệnh viện, chị đã cẩn thận chuẩn mọi thứ ở nhà cho đứa bé, áo quần, tã giấy, chiếc nôi, và cả căn phòng cho em bé. Mỗi đứa con đều được chị đưa về một nơi mà chị đã chuẩn bị sẵn sàng. Và giờ chị lại chuẩn bị đi trước chúng, để chuẩn bị một nơi khác nữa cho chúng.

Tôi đã đọc những lời đó trong tang lễ của chị, và dù đau buồn, dù trong lúc như thế chẳng thể có lời nào xua đi được nỗi đau, nhưng những lời đầy đức tin của chị đã cho tất cả chúng tôi thấy ra một hình ảnh rộng lớn hơn, một con đường đức tin với hai điểm nổi bật.

Trước hết, hình ảnh chị đi trước con cái mình, lôi chúng ta ra khỏi cơn đau buồn để thấy được, sự thật một người mẹ có thể đi trước để chuẩn bị cho con cái mình một cách còn sâu đậm hơn cả cách chuẩn bị căn phòng cho bé sơ sinh. Thứ hai, chị “đi trước” cũng là cho con cái chị, và tất cả chúng ta thấy ra cách để chết, cách để làm một việc mà tất cả chúng ta rồi ai cũng sẽ làm. Sau khi thấy một người tốt lành qua đời, bạn sẽ cảm thấy ít sợ chết hơn, vì bạn đã thấy cái chết đến một cách bình thường, với một người bình thường, một cách mà bạn cũng có thể làm được. Và cách chết của chị là một sự chuẩn bị cho chúng tôi.

Nhưng ở đây không chỉ có những bài học về cái chết. Hình ảnh này, đi trước để chuẩn bị một chỗ cho ai đó, là một ẩn dụ để chỉ ra trách nhiệm căn bản của những năm trưởng thành của chúng ta. Dù là làm bố mẹ, là anh chị, chú bác cô dì, dù là giáo viên, linh mục, y tá, công nhân, đồng nghiệp hay bạn bè, thì trách nhiệm của “người lớn” là sống sao cho tạo được một điều gì đó cho người trẻ có thể noi theo. Trách nhiệm của người lớn chúng ta là chỉ cho người trẻ biết cách sống ở một nơi mà họ chưa từng đặt chân đến.

Và đây là một nghĩa vụ vừa cao cả vừa khiêm nhượng. Hầu hết chúng ta không thể sống theo những lý tưởng cao vời mà chúng ta thấy trong cuộc đời các vị thánh, dù cho chính các vị đã tạo sẵn một không gian lý tưởng cho chúng ta rồi. Nhưng dù không phải ai cũng có thể sống được như Mẹ Têrêxa, có lẽ mọi người có thể sống như bạn, như mẫu gương cuộc đời của bạn về ý nghĩa cuộc đời, về sự liêm chính, sự thánh thiện ẩn mình, và chết mà không sợ hãi.

Tôi được phúc ở bên giường hấp hối của nhiều người bình thường chết một cái chết rất bình thường, không có những thanh âm thiên thần, không có những lời alleluia trên môi họ, không có những nỗi đau và khao khát giày vò trong tim, không có những bàn tay nắm chặt tay, và lòng họ vẫn cứ tập trung vào nỗi đau phải lìa bỏ cõi đời này. Và đấy không phải là một cách chết tồi. Cách họ chết là chuẩn bị cho chúng ta một chỗ. Nhìn cách họ chết, tôi bớt sợ hãi hơn và có thể sẵn sàng nói rằng: Tôi có thể làm được việc này!

Thật là diễm phúc khi có ai đó đi trước để chuẩn bị một chỗ cho bạn!

Khi nào thì đức tin biến mất?

Khi Friedrich Nietzsche tuyên bố “Thiên Chúa đã chết”, ông có kèm thêm một câu hỏi: “Cần thứ gì đủ để xóa sạch toàn bộ nhìn nhận này?”

Tôi thường tự hỏi mình câu đó, bởi chính bản thân tôi đã chứng kiến một sự suy giảm chưa từng có về con số những người đi nhà thờ thường xuyên, và gần hơn nữa, là một sự tăng vọt cũng chưa từng có những người tuyên bố mình đã hoàn toàn mất đức tin và tự nhận mình là “Không” tôn giáo.
Nhóm này, những người tự nhận là không tôn giáo, đã tăng gấp đôi trong 20 năm qua, và hiện nay đang chiếm 30% dân số Canada và Hoa Kỳ. Ở Tây Âu và các nước thế tục hóa trên thế giới, con số này cũng tương tự như vậy.

Nhưng những người này thật sự đã mất đức tin của mình? Khi họ tuyên bố mình “không tôn giáo” là họ giải thích thế này: Chỉ là tôi không còn tin nữa! Tôi thấy nó không còn có ý nghĩa gì nữa! Tôi mất đức tin vào tôn giáo và giáo hội! Tôi không thể giả vờ tin thêm nữa! Tôi đã mất đức tin vào những niềm tin đó! Tôi không chắc mình còn tin vào Chúa không nữa!

Một điểm chung trong những câu này, là khái niệm về “tin.” Chỉ là tôi không tin nữa! Nhưng không còn tin vào điều gì đó có phải là đánh mất đức tin không? Không hẳn. Không còn tin vào điều gì đó là một chuyện, nhưng đánh mất đức tin có thể lại khác đấy. Không còn tin vào một tập hợp các tuyên bố đức tin không nhất thiết phải đồng nghĩa với đánh mất đức tin. Sự thật là, mất đi hệ thống niềm tin thường là điều kiện để có được một đức tin nguyên tuyền.

Niềm tin và đức tin khác nhau thế nào? Thường thì, nói rằng chúng ta tin điều gì đó là sự thật, nghĩa là chúng ta có thể làm cho sự thật đó tương khớp với trí tưởng hình dung của mình. Thế nghĩa là chúng ta có thể xác định nó theo trí hình dung sao cho nó có ý nghĩa với chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta không thể hình dung điều gì đó cho có ý nghĩa thì không hẳn có thể nói được rằng điều đó không đúng sự thật. Những niềm tin của chúng ta dựa vào những gì chúng ta có thể tương khớp với trí tưởng hình dung và suy nghĩ của mình.

Nhưng nhiều đối tượng của đức tin, về bản chất và theo định nghĩa, lại là những sự không thể hình dung, không thể hiểu thấy, và vượt ngoài tầm khái niệm hóa. Do đó, trong lĩnh vực đức tin, nói rằng tôi không thể tin điều này hay điều kia, thường là biểu hiện cho sự hạn chế của chúng ta trong trí hình dung và năng lực lý luận, hơn là biểu hiện cho sự mất đức tin. Tôi tin rằng chúng ta thấy bất khả tri về các niềm tin, hơn là thấy bất khả tri về Thiên Chúa, và như thế, đây không phải là mất đức tin.

Đức tin thì thâm sâu hơn niềm tin, và không phải lúc nào đức tin cũng là một sự mà chúng ta có thể hình dung trong đầu. Vi dụ như, một số đoạn trong Kinh Tin kính của các Tông đồ: Thật không thể nào hình dung những đoạn đó là thật theo kiểu một hình tượng hữu hình. Những xác quyết đó có thật, nhưng hình ảnh về chúng chỉ là những biểu tượng mà thôi. Và nhiều đoạn khác trong kinh tin kính Kitô giáo và các bản văn giáo lý đức tin cũng thế. Như đã nói, chúng đơn thuần là những hình ảnh và từ ngữ hướng chúng ta đến một sự mà chúng ta không thể hình dung nổi, bởi nó vượt quá tầm hình dung.

Chẳng hạn như: Điều tiên quyết phải nói về Thiên Chúa, là Thiên Chúa là Đấng khôn tả, không thể mô tả nổi, Thiên Chúa vượt ngoài tầm khái niệm hóa, vượt ngoài mọi hình dung, mọi hình ảnh, và mọi từ ngữ. Về Chúa Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa, cũng thế. Chúa Kitô là Con Thiên Chúa, nhưng làm sao có thể hình dung hay tạo lại hình ảnh đó? Không thể. Làm sao một Thiên Chúa mà lại là ba ngôi? Đây không phải chuyện toán học, mà là mầu nhiệm, một sự không thể định nghĩa theo kiểu hình dung. Nhưng chúng ta tin mầu nhiệm đó, và hàng triệu triệu người trong hai ngàn năm đã mạo hiểm cả mạng sống và linh hồn mình vì sự thật đó dù cho không thể hình dung được nó. Đức tin là nhận biết một sự gì đó quá lớn lao và vô hạn, nên không thể được minh họa tương xướng theo cơ chế hình dung. Từ ngữ của chúng ta diễn tả những niềm tin, và hướng chúng ta về hiện thực đức tin, nhưng lại không phải là hiện thực đó.

Bác bỏ một tác phẩm nghệ thuật không đồng nghĩa với chúng ta bác bỏ nghệ thuật. Nên khi ai đó nói “Tôi không còn tin điều này,” là người ấy đang bác bỏ một tập hợp các tuyên bố, các biểu tượng nhất định hơn là thật sự bác bỏ niềm tin vào Thiên Chúa. Và người đó có bác bỏ cũng là bởi không họa hình theo hình dung một sự gì đó không thể họa hình.

Chúng ta từng nghe rằng, vô thần chỉ là một cái tên để gọi những người không hiểu được ẩn dụ. Có lẽ nói thế là quá tối giản, nhưng nó cũng cho chúng ta thấy rằng bác bỏ một tập hợp các tuyên bố thần học không đồng nghĩa với đánh mất đức tin của mình.

Trọn một vòng – Từ sách truyện đến linh đạo

Tình yêu đầu đời của tôi, chính là văn học, tiểu thuyết và thơ ca. Lúc còn nhỏ, tôi mê sách truyện, kiểu huyền bí và thám hiểm. Vào cấp một, tôi được dạy học thuộc lòng các bài thơ, và tôi thích việc này lắm. Đến trung học, tôi lại được tiếp cận dòng văn học nghiêm túc hơn, là Shakespeare, Kipling, Keats, Wordsworth, Browning. Nhưng tôi vẫn đọc truyện, những câu chuyện về các chàng cao bồi ở Viễn Tây nằm trên giá sách của bố tôi.

Những năm đại học, văn học chiếm phần lớn giáo trình của tôi, và tôi đã học được rằng văn học không chỉ là những câu chuyện, mà còn là bình luận xã hội và tôn giáo, cũng như một dạng mỹ học. Trong lớp, chúng tôi đọc các tiểu thuyết kinh điển: Một chín tám tư (Nineteen Eighty-Four), Chúa Ruồi (Lord of the Flies), Heart of Darkness, The Heart of the Matter, Phía Đông Vườn Địa đàng (East of Eden). Giáo trình ở Canada thời đó nặng về các tác phẩm Anh quốc. Chỉ sau này, tôi mới khám phá ra vẻ phong phú của các nhà văn Canada, Hoa Kỳ, Châu Phi, Ấn Độ, Nga, và Thụy Điển. Thưở nhỏ tôi được học giáo lý vững vàng, và giáo lý căn bản giữ vững đức tin, còn văn học giữ vững thần học cho tôi.

Nhưng sau văn học là triết học. Để làm linh mục, chúng tôi cần phải có bằng Triết học. Tôi có duyên được gặp một số giảng viên giỏi và thấm nhuần lòng yêu mến triết học. Các khóa học nặng về chủ nghĩa kinh viện (Aristotle, Platon, Augustino, Aquino) nhưng chúng tôi cũng được học về lịch sử triết học và triết học hiện sinh căn bản cũng như một vài phong trào triết học đương đại. Tôi như bị ám ảnh, triết học trở thành thần học của tôi.

Nhưng sau triết học, tôi được đào sâu thần học. Cần phải có bằng sau bốn năm thần học để được truyền chức. Và tôi lại có duyên với các giảng viên giỏi, cũng như có dịp được học thần học khi Công đồng Vatican II và một trường phái thần học mới bắt đầu được áp dụng vào các trường học và chủng viện. Phong trào thần học lúc đó rất sôi nổi, và tôi cũng dự phần vào đó. Trong Giáo hội Công giáo La Mã, chúng tôi đọc các bài của Congar, Rahner, Schillebeeckx, Schnackenburg, và Raymond Brown. Tôi cũng học hỏi được bên phía Tin Lành từ những tác phẩm của Barth, Tillich, Niebuhr, và rất nhiều học giả kinh thánh lỗi lạc. Đức tin thời trẻ của tôi có được một nền tảng tri thức tồn tại vững bền. Thần học trở nên đam mê mới của tôi.

Nhưng sau thần học, tôi lại được tiếp cận linh đạo. Sau khi chịu chức, tôi có cơ hội lấy bằng thần học cấp cao hơn. Và dịp này đã đào sâu tình yêu và sự tận tâm của tôi đối với thần học. Nó cũng cho tôi một công việc giảng dạy, và sáu năm tiếp theo, tôi dạy thần học ở cấp đại học. Đấy là những năm tháng tuyệt vời, tôi được làm việc mình mong muốn, được ở trong lớp thần học. Nhưng trong sáu năm đó, tôi bắt đầu khám phá ra các tác phẩm của những nhà thần nghiệm và ướm thử một vài khóa học về linh đạo, bắt đầu từ khóa học về nhà thần nghiệm lớn người Tây Ban Nha, Gioan Thánh Giá.

Sau đó tôi nghiên cứu lấy bằng tiến sĩ, và dù tôi tập trung luận án vào thần học Hệ thống, và thần học tự nhiên, nhưng đã có gì đó bắt đầu khơi lên trong tôi. Tôi thấy mình ngày càng ham thích giảng dạy và viết bài về lĩnh vực linh đạo, đến nỗi nhiều năm sau có lúc tôi quên bẵng tên của các khóa thần học Hệ thống tôi từng học lúc trước. Và nói thật, tôi quá ham thích về linh đạo.

Mà linh đạo là gì? Nó khác thế nào với thần học? Ở một mức độ nào đó, thì cả hai chẳng khác nhau gì cả. Linh đạo là thần học áp dụng. Cả hai chỉ là một, cả hai đều hướng đến cùng một mục đích. Nhưng có một điểm khác biệt. Thần học là xác định địa hạt, giáo lý, phân biệt đúng sai, và tìm cách khơi dậy trí tưởng tượng tri thức. Theo kinh điển, thì thần học là: Đức tin tìm kiếm sự hiểu biết.

Nhưng dù phong phú và quan trọng, thần học không phải là một sân chơi. Thần học thiết lập các luật cho cuộc chơi, nhưng không chơi cũng không quyết định kết quả. Vai trò đó là của linh đạo, dù cho linh đạo phải tuân theo thần học. Không có thần học đúng đắn, thì linh đạo bị rơi vào sùng tín quá đáng, một kiểu chủ nghĩa cá nhân không lành mạnh và chủ nghĩa chính thống cực đoan chỉ vì bản thân mình. Chỉ có một thần học tốt đẹp, nghiêm khắc, và hàn lâm mới cứu được chúng ta khỏi mối nguy này.

Nhưng nếu không có linh đạo, thì thần học dễ dàng trở thành một mỹ học tri thức mà thôi. Có được sự thật và giáo lý đúng đắn là một chuyện, nhưng đưa những điều đó vào trong con người xác thịt, ra đường phố, vào gia đình và vào những chất vấn hoài nghi của chúng ta lại là chuyện khác. Thần học cần phải cho chúng ta sự thật, linh đạo cần phải mở đường vào sự thật đó.

Và tôi cảm kích vì mình đã đi trọn một vòng này. Từ những sách truyện thời thơ ấu, qua Shakespeare ở thời trung học, những tiểu thuyết gia và nhà thơ thời đại học, qua triết học Aristotle và Aquino, qua thần học của Rahner và Tillich, qua kinh thánh học của Raymond Brown và Ernst Kasemann, qua các lý giải của trường phái triết học Hậu Hiện đại, qua bốn mươi năm giảng dạy thần học, tôi được trở lại nơi tôi đã bắt đầu – là vẫn tiếp tục tìm kiếm những câu chuyện tốt đẹp nuôi dưỡng tâm hồn.

Tuyệt vọng là yếu đuối hơn là tội lỗi

Trong giáo hội và cả toàn thế giới, thường thì chúng ta thấy thái độ tuyệt vọng là một tội lỗi tận cùng, không thể tha thứ. Người ta nghĩ rằng không một ai, kể cả Thiên Chúa có thể cứu bạn, nếu như bạn từ bỏ, tuyệt vọng, không để ai đến với mình. Và mọi người thường xem đây là thái độ của những người tự vẫn. Tự giết mình là một thái độ tuyệt vọng, loại bỏ mình khỏi lòng thương xót của Thiên Chúa.

Nhưng dù cho chúng ta có ý chân thành, thì hiểu về tuyệt vọng như thế quả thật là sai lầm. Tuyệt vọng là gì? Phải hiểu tuyệt vọng như thế nào?

Định nghĩa phổ biến trong từ điển thường nói thế này: Tuyệt vọng nghĩa là không còn hy vọng hay niềm tin rằng một tình thế nào đó có thể được thay đổi hay cải thiện. Giáo lý của Giáo hội Công giáo xem tuyệt vọng là một tội nghịch lại với điều răn thứ nhất. “Do tuyệt vọng, con người không còn hy vọng vào sự cứu rỗi của Thiên Chúa, vào sự giúp đỡ để đạt được ơn cứu rỗi, cũng như vào sự tha thứ tội lỗi. Tuyệt vọng là đi ngược lại với sự tốt lành, công lý và lòng thương xót của Thiên Chúa.”

Nhưng cần phải phân biệt được một điều rất căn thiết ở đây. Có hai lý do khiến người ta không còn hy vọng vào ơn cứu rỗi của mình nhờ Thiên Chúa, và từ bỏ hy vọng được tha thứ tội lỗi. Có thể là do người đó hoài nghi sự tốt lành và lòng thương xót của Thiên Chúa, và tôi tin rằng, thường là như thế, vì người đó bị vùi dập quá chừng quá đỗi, quá yếu đuối trong tâm hồn để tin rằng mình được yêu thương và được cứu rỗi. Nhưng khi tinh thần của bạn bị giày vò quá sức, đến mức không còn gì cho mình ngoài đau đớn và bóng tối, thì thường đó không phải là dấu hiệu của tội lỗi, cho bằng đó là triệu chứng khủng khiếp, nạn nhân của hoàn cảnh, của những chuyện phải trải qua, hay như lời của Fantine trong truyện Những kẻ Khốn cùng, là do cơn bão mà bạn không thể dự báo.

Và trước khi xem người nào đó đã ra khỏi lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta cần phải tự hỏi mình: Trước một người bị giày vò quá độ vì gặp cảnh khốn cùng của cuộc đời, đến mức không thể tin rằng mình có thể được yêu thương, Thiên Chúa nào lại kết án một người như vậy chứ? Thiên Chúa nào lại kết án một người vì sự tan nát của họ chứ? Một Thiên Chúa như thế không có chút gì giống với Chúa Giêsu, Đấng đã mang lấy thân phận con người và bày tỏ tình yêu Thiên Chúa vốn ưu tiên cho những người yếu đuối, những tấm lòng tan nát đang tuyệt vọng cần lòng thương xót. Tin và dạy về một Thiên Chúa không có lòng thương xót với những người đang mang cõi lòng tan nát nhất, chính là đi ngược lại nhận thức căn bản về bản tính và lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng đã sai Chúa Giêsu đến thế gian, “không phải để cho người khỏe mạnh, mà là cho những người đang cần thầy thuốc.”

Và hiểu như thế cũng là hiểu lầm tận cùng về bản tính và tâm hồn con người. Tại sao một người tự kết án mình là kẻ không thể được yêu thương đến nỗi tự nguyện và vô vọng cắt lìa mình khỏi cuộc sống? Chỉ có thể là bởi một vết thương sâu thẳm trong tâm hồn. Rõ ràng, người đó bị tổn thương sâu sắc và chưa từng được cảm nhận một tình yêu vô điều kiện hay thực sự là chưa từng cảm nhận tình yêu giữa người với người. Khi không thể hiểu được làm thế nào mà người ta có thể bị vùi dập và tan nát đến độ tin rằng mình không được yêu thương, thì thật sự chúng ta thật quá dễ dãi và ngây thơ. Như lời bài bài The Rose: Tình yêu và thiên đàng, thật sự chỉ dành cho người mạnh mẽ và may mắn thôi sao? Có vẻ là nhận thức chung của chúng ta về tuyệt vọng là như thế thật.

Nhưng không một ai phải vào hỏa ngục vì sự yếu đuối, hay vì một tâm hồn tan nát, một tinh thần sụp đổ, hay vì những bất hạnh và bất công làm cho người ta chưa từng được cảm nhận tình yêu thật sự là gì. Hỏa ngục là dành cho những kẻ mạnh mẽ, những người quá kiêu ngạo không thể bị sụp đổ, và do đó không chịu khuất phục. Hỏa ngục không bao giờ là một bất ngờ cay đắng dành cho một người hạnh phúc, và cũng không phải là cái kết buồn cho những ai quá tan nát để tin rằng mình xứng đáng là một phần của cõi sống này.

Vì Chúa, chúng ta phải biết cảm thông hơn. Và còn vì những người với trái tim và tinh thần tan nát. Hơn nữa, giáo lý Kitô giáo ngay trong kinh Tin kính đã là một thách thức cần chúng ta có một nhận thức đúng đắn hơn. Ngài đã xuống hỏa ngục. Trong cuộc sống và cái chết của mình, Chúa Giêsu biểu lộ rằng không có nơi nào bi thảm, tan nát, đau buồn hay buông bỏ mà Thiên Chúa không thể xuống đến tận cùng và thổi vào đó luồng hơi ban bình an.

Thiên Chúa thông hiểu tất cả. Vì thế chúng ta được bảo đảm rằng “cây sậy bị dập ngài không bẻ gãy, và bấc đèn leo lét ngài chẳng nỡ tắt đi.” Bạn có thể đánh cược cuộc đời mình vào niềm tin này. Bạn có thể đánh cược đức tin mình vào sự thật này. Và bạn cũng có thể sống cảm thông và khuây khỏa hơn, khi biết được điều này.