RonRolheiser,OMI

Mối tội đầu nặng nhất

Kitô giáo kinh điển đã đưa ra bảy mối tội đầu, nghĩa là những chuyện vô đạo đức khác mà chúng ta làm, cách nào đó, bắt nguồn từ một trong những thiên hướng bẩm tại này. Chúng là bảy thứ xấu xa: kiêu ngạo, tham lam, dâm dục, ghen tỵ, tham ăn, tức giận, và lười biếng.

Trong văn học thiêng liêng, ba mối tội đầu là kiêu ngạo, tham lam và dâm dục là được nói đến nhiều nhất. Kiêu ngạo được xem là nguồn gốc mọi tội lỗi, là sự ngông cuồng của Luciphe trước Thiên Chúa cứ mãi dội lại trong cuộc đời chúng ta: Tôi sẽ không phục vụ! Tham lam được xem là cơ sở cho sự ích kỷ và sự mù quáng trước tha nhân, và dâm dục thường được xem là thói xấu tột cùng, như thể điều răn thứ sáu là điều răn duy nhất vậy.

Tôi không bác bỏ tầm quan trọng của ba mối tội đầu này, nhưng tôi cho rằng có thể mối tội đầu tác hại chúng ta nhiều nhất mà lại ít được nhắc đến trong các tác phẩm thiêng liêng, chính là tức giận, bao gồm giận dữ và thù ghét. Tôi dám nói rằng hầu hết chúng ta vận động nhờ sự giận dữ, dù là một cách vô thức. Và điều này thể hiện qua hàng loạt những chỉ trích dành cho người khác, sự chua cay, ghen tức, và không thể mở lời khen ngợi người khác. Và không như các tội khác của chúng ta, tức giận dễ dàng ngụy trang và hợp lý hóa nó như một nhân đức.

Ở cấp độ một, tức giận thường hợp lý hóa nó như một sự căm phẫn chính đáng trước những khuyết điểm, ngu ngốc, ái kỷ, tham lam và lỗi lầm của người khác. Với đủ chuyện thấy mỗi ngày, làm sao tôi không nổi giận được! Tức giận thể hiện qua những cáu bẳn triền miên và những lúc nhanh miệng phê bình, chỉnh đốn, và bình luận gay gắt. Ngược lại, chúng ta thường rất chậm khi cần khen ngợi ai đó. Như thế, sự hoàn hảo trở thành kẻ địch của sự thiện và như thế, chẳng còn gì hay bất kỳ ai hoàn hảo cả, chúng ta luôn luôn sẵn sàng phê bình và xem đây là nhân đức hơn là một cơn giận và sự buồn bực sâu trong chúng ta.

Nhưng thói chỉ trích cay nghiệt không phải là vấn đề lớn nhất. Nghiêm trọng hơn nữa, tức giận thường tự thể hiện nó như một đức tính của Chúa, như là sự công chính, là tính cách ngôn sứ, là điều lành mạnh, sự hăng hái chiến đấu vì sự thật, vì chính nghĩa, vì nhân đức và vì Chúa. Và như thế, chúng ta xem mình là “những chiến binh thánh” và “hiệp sĩ bảo vệ sự thật”, biện minh cho mình bằng quan niệm phổ biến nhưng sai lầm rằng các ngôn sứ là những người nóng nảy do nhiệt tâm vì Chúa.
Tuy nhiên, có một sự khác biệt lớn giữa sự giận dữ của ngôn sứ và sự giận dữ mà thời nay tự nhận là của ngôn sứ. Daniel Berrigan, trong tiêu chuẩn của mình về một ngôn sứ, đã nêu lên rằng ngôn sứ là một người đã thề hứa sẽ yêu thương chứ không phải ruồng rẫy. Ngôn sứ là yêu thương, mong mỏi gắn kết, chứ không phải là tức giận chia rẽ và xa cách.

Mà tình yêu lại không phải là đặc điểm của cái gọi là sự giận dữ ngôn sứ của thời nay, nhất là khi nó liên quan đến Thiên Chúa, tôn giáo, và bảo vệ sự thật. Bạn có thể thấy dạng xấu xa nhất của nó trong chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo, khi họ thù hận, bạo lực và giết người bừa bãi nhân danh Thiên Chúa. Blaise Pascal đã nói rất chuẩn điều này trong quyển Tư tưởng (Pensees): “Người ta không bao giờ làm sự dữ hoàn toàn và vui vẻ cho bằng lúc họ làm thế vì xác quyết tôn giáo.” Ông đã sai một điều thôi, hầu hết chúng ta ngày nay làm sự dữ, không phải với vui vẻ, mà với tức giận. Chỉ cần đọc những lá thư độc giả gởi biên tập viên các tờ báo, lắng nghe những buổi talk-show, hay nghe các tranh luận về chính trị, tôn giáo hay đạo đức, là chúng ta thấy ra sự thù ghét và giận dữ đang hợp lý hóa chính nó bằng những gì là đạo đức và thiêng liêng.

Cơn giận dữ ngôn sứ lành mạnh là một phản ứng mãnh liệt khi người nghèo của Chúa, lời Chúa hay chân lý của Chúa bị phỉ báng, phạm thượng, hay bỏ bê. Có những chính nghĩa và ranh giới quan trọng cần phải bảo vệ. Nhưng cơn giận ngôn sứ là cơn giận xuất phát từ tình yêu thương và lòng cảm thông, và nó luôn luôn thể hiện tình thương và cảm thông, dù cho phải gặp vô vàn thù ghét đi chăng nữa, thật không khác gì người mẹ yêu thương khi đối mặt với đứa con ngỗ ngược. Chúa Giêsu đã nhiều lần thể hiện cơn giận này, nhưng cơn giận của Ngài đối lập hoàn toàn với cái đang tự nhận là cơn giận ngôn sứ thời nay, một thứ thiếu vắng tình thương và lòng cảm thông rõ ràng.

Có người từng nói rằng chúng ta dành nửa đời đầu để đấu tranh với Điều răn thứ sáu, rồi dành nửa đời sau đấu tranh với Điều răn thứ năm. Chớ giết người! Chúng ta thấy điều này được thể hiện trong dụ ngôn về người con hoang đàng, người anh cả, và người cha. Người con thứ đã bỏ nhà cha mình vì chạy theo những sinh lực tuổi trẻ đầy quyến rũ. Người anh cả thì ra khỏi nhà cha mình, không phải vì phạm tội, mà vì cơn giận dữ.

Khi còn trẻ, tôi được dạy xưng các “ý nghĩ xấu” là tội, nhưng các ý nghĩ xấu đó được chúng tôi xác định là các ý nghĩ dâm dục. Khi đã có tuổi, tôi cho là chúng ta vẫn tiếp tục xưng các “ý nghĩ xấu”, nhưng giờ đó lại là các ý nghĩ giận dữ.

Có câu nói rằng, “Một người cay độc, là người đã từ bỏ, nhưng không chịu im miệng!” Và đó cũng là người đã đánh đồng mối tội đầu giận dữ với một nhân đức.

Đức tin và Mê tín

Một mệnh đề phụ, một sắc thái trong một câu có thể đem lại ý nghĩa hoàn toàn khác cho cả bài.

Đây là trường hợp của một tiểu thuyết sáng giá nhưng khiêu khích, quyển Giờ Thứ Chín (The Ninth Hour) của Nina McDermott. Bà kể một câu chuyện, tập trung vào một nhóm nữ tu làm việc với người nghèo ở Brooklyn. Tình hình khó khăn, nhiều người cần cứu giúp, và các nữ tu chủ yếu làm việc ở nhà chăm sóc cho người nghèo, đã tận tụy đến quên mình. Có vẻ chẳng có thứ gì có thể làm họ chệch khỏi sứ mạng cống hiến hết sức lực mình để cứu giúp người nghèo. Và đến đoạn này, McDermott đã đưa ra cho họ thử thách. Như bất kỳ ai biết những chuyện bên trong một tu viện, McDermott thể hiện các nữ tu này đầy sắc thái và chính xác. Các nữ tu không phải đều giống nhau như khuôn đúc. Mỗi người có chuyện đời, tính khí, và cá tính riêng của mình. Một số người vô cùng nồng hậu và nhân từ, một số người với những vết thương lòng riêng, không phải lúc nào cũng tương hợp với tình thương và lòng thương xót của Chúa. Và đó là trường hợp các nữ tu mà McDermott mô tả. Nhưng ngoài những nét nhân cách riêng, cộng đoàn nữ tu này phục vụ người nghèo và làm chứng tá rất chu toàn.

Nhưng rồi, sau khi kể câu chuyện đức tin và dấn thân, suy tư về những nhóm nữ tu vẫn sống triệt để lời khấn hứa, thì bằng giọng kể của mình, McDermott lại đưa ra những mệnh đề phụ mang tính lật đổ. “Các nữ tu thánh thiện trong nhà khi chúng ta còn trẻ, là một dòng dõi đang hấp hối. … Ơn gọi thánh thiện và hy sinh quên mình, sự ảo tưởng và mê tín cần có, đang tan dần đi trong thế giới.”

Trời! Sự ảo tưởng và mê tín cần có đấy. Như thể sự hy sinh triệt để này chỉ có thể là sản phẩm của một nỗi sợ sai lầm. Như thể toàn bộ các thế hệ Kitô giáo với lòng hy sinh, lời khấn độc thân khiết tịnh và sự cống hiến dấn thân, khi nhìn lại thì chỉ là những thứ căn cứ trên ảo tưởng và mê tín.

Có thật thế không?

Tôi đã lớn lên trong thế giới mà McDermott mô tả, nơi các nữ tu như thế, và nơi một chuẩn mực đạo đức Công giáo mạnh mẽ đã ủng hộ và xác nhận rằng những việc họ làm chắc chắn không phải là ảo tưởng và mê tín. Phải thừa nhận rằng, có những lúc chuẩn mực đạo đức đó đã không duy trì được qua thời gian, và bị sức mạnh của sự thế tục hóa phá tan. Và như thế, McDermott đã đúng phần nào. Có những sự xả thân lại dựa trên nỗi sợ không lành mạnh trước lửa địa ngục và cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Và đến chừng mực nào đó, nó còn dựa trên một quan niệm đức tin rằng Thiên Chúa không muốn chúng ta quá phồn thịnh trong đời này, và đời chúng ta hầu hết là để sự chuẩn bị ảm đạm cho đời sau. Có lẽ đây không hẳn là ảo tưởng và mê tín, nhưng nó là thần học tồi và đã góp phần tạo nên những người đi tu như trong thế giới mà McDermott mô tả và trong thế giới Công giáo của tôi thời trẻ.

Nhưng còn một điều nữa nâng đỡ chuẩn mực đạo đức này, và tôi đã hấp thụ nó thời trẻ, ghi một dấu ấn vĩnh viễn mình, khác hẳn với mọi thứ tôi từng tiếp thu trong thế giới này. Bất chấp những nỗi sợ sai lầm, bên trong đức tin kinh thánh này, còn có một huấn lệnh dạy rằng sự tiện nghi, những khát khao và thậm chí là những ao ước hợp lý về tự do tính dục, hôn nhân, con cái, sự phồn thịnh, chúng đều hướng đến những mục đích cao hơn, và bạn có thể được ngỏ lời hãy hy sinh tất cả chúng, hy sinh những khát khao hợp lý của mình, để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Đây là một đức tin tin rằng bạn được sinh ra với một ơn gọi Chúa ban, và đời bạn không phải là của bạn.

Tôi đã thấy điều này, trước hết là nơi bố mẹ tôi, những người tin rằng đức tin đưa ra cho mình những đòi hỏi như vậy, và bố mẹ tôi chấp nhận những đòi hỏi đó và từ đó là có thẩm quyền đạo đức để mong muốn người khác làm thế. Tôi đã thấy điều này nơi các xơ dòng Ursula, những người dạy tôi học, những người phụ nữ với dòng máu đỏ đầy sinh lực nhưng đã hy sinh những khao khát của mình để đến trường công ở một vùng xa xôi hẻo lánh mà dạy học cho chúng tôi. Tôi đã thấy nó nơi cộng đoàn vùng đồng cỏ nhỏ bé đã vun đắp cho tôi, một cộng đoàn sống xả thân.

Hôm nay, tôi sống trong một thế giới tôn vinh sự phức tạp hơn tất cả, và cũng là một xã hội không còn chắc đâu là “tin giả” và đâu là những gì có thể tin tưởng. Trong thế giới bất ổn này, đức tin của tôi thời trẻ, của bố mẹ tôi, của các nữ tu đã hy sinh giấc mơ để dạy dỗ tôi, và của các nữ tu mà Nina McDermott mô tả trong quyển Giờ Thứ Chín, có thể trông rất giống ảo tưởng và mê tín. Có khi nó là ảo tưởng, phải thừa nhận như thế, nhưng có khi không phải, và trong trường hợp của tôi, thì đức tin bố mẹ đã truyền cho tôi, với niềm tin rằng cuộc đời và tính dục của mình không phải là của mình, thì tôi tin, đó là điều không mê tín nhất trên đời.

Thiên Chúa hành động trong thế giới của chúng ta như thế nào?

Có một điểm kỳ lạ trong các Tin mừng cần được giải thích. Có vẻ như Chúa Giêsu không muốn người ta biết về thân phận đích thực của mình, là Đấng Kitô, Đấng Thiên sai. Ngài liên tục cảnh báo người ta đừng tiết lộ Ngài là Đấng Thiên sai. Tại sao lại thế?

Một vài học giả xem đây là “bí mật của Đấng Thiên sai” cho rằng Chúa Giêsu không muốn người biết thân phận đích thực của mình cho đến khi đúng thời đúng điểm. Cũng đúng thật là thế, việc gì cũng có thời điểm của nó, nhưng thế vẫn chưa đủ để ta ngừng thắc mắc. Tại sao lại thế? Tại sao Chúa Giêsu muốn giữ kín thân phận thật của mình? Thế nào mới là đủ điều kiện để tiết lộ thân phận của Ngài?

Câu hỏi này được nêu bật trong Tin mừng theo thánh Maccô, ở Ceasare Philipphe, khi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ: “Anh em nói thầy là ai?” Phêrô trả lời: “Thầy là Đấng Kitô .” Và ngạc nhiên thay, Chúa Giêsu không khen ngợi Phêrô mà lại căn dặn ông đừng nói điều này với bất kỳ ai. Có vẻ thánh Phêrô đã có câu trả lời đúng, thế mà Chúa Giêsu lại ngay lập tức căn dặn ông phải giữ kín chuyện này. Tại sao lại thế?

Nói đơn giản là, Phêrô đã có câu trả lời đúng, nhưng lại nhận thức sai về câu trả lời đó. Lúc ấy, Phêrô vẫn có quan niệm sai lầm về Đấng Thiên sai.

Trong nhiều thế kỷ trước khi Chúa Giêsu giáng sinh và trong những người đồng thời với Ngài, có nhiều quan niệm khác nhau về Đấng Kitô. Chúng ta không rõ quan niệm của Phêrô, nhưng rõ ràng đấy không phải là quan niệm đúng, và Chúa Giêsu liền dập tắt nó ngay. Chúa Giêsu không yêu cầu Phêrô gì nhiều. “Đừng nói với ai Thầy là Đấng Kitô” và thật sự là Chúa Giêsu muốn nói, “Đừng nói với ai Thầy là Đấng Kitô như trong suy nghĩ của con. Thầy không phải thế đâu.”

Như mọi người đương thời và cũng không khác những ảo tưởng của chúng ta về Đấng Thiên sai là mấy, chắc chắn Phêrô đã họa hình Đấng Thiên sai như một Siêu nhân, một siêu sao sẽ xóa tan sự dữ bằng một chiến thắng kiểu trần gian, áp đảo mọi thứ sai trái bằng sức mạnh siêu phàm. Một Đấng Thiên sai như thế chẳng liên quan gì đến yếu đuối, nhục mạ, đau khổ và cái chết, đồng thời tất cả mọi người dù muốn hay không đều phải công nhận sự ưu việt và vinh quang của ngài. Màn biểu dương sức mạnh của ngài sẽ khiến không một ai còn hoài nghi hay chống đối nữa. Ngài sẽ toàn thắng và trị vì trong vinh quang theo kiểu hình dung của trần gian, là một Nhà vô địch Tuyệt đối, như một người giành huy chương vàng Olympic, vô địch World Cup, giải Oscar, giải Nobel.

Khi Phêrô nói: “Thầy là Đấng Kitô!” thì ông đang nghĩ về một vinh quang trần gian, một chiến thắng trần gian, một người quá đỗi uy quyền và tất cả mọi người đều phải quy phục. Nhưng Chúa Giêsu đã đáp lại suy nghĩ đó rất dứt khoát: “Đừng nói với ai về chuyện này!”

Rồi Chúa Giêsu cho Phêrô và tất cả chúng ta biết, Đấng Thiên sai thực sự là thế nào. Ngài không phải là một Siêu nhân hay một siêu sao, một người quyền phép với những hành động ngoạn mục. Vậy Ngài là ai?

Đấng Thiên sai là Đấng sẽ chết và sống lại, Đấng với cuộc sống và bằng chính thân thể mình nói lên rằng không phải dùng phép lạ để thắng vượt sự dữ, nhưng là bằng sự tha thứ, hào hiệp và cao thượng, và chiến thắng không đến bằng cách đập tan kẻ thù, nhưng là bằng cách yêu thương họ trọn vẹn. Và đường lối này thật ngược đời. Vinh quang của Đấng Thiên sai lại không được biểu lộ bằng những hành động ngoạn mục với uy lực ấp đảo. Mà lại được biểu lộ trong Chúa Giêsu để mình được biến đổi qua việc yêu thương và nhân từ chấp nhận những chuyện tiêu cực, sỉ nhục, loại trừ và cái chết. Nhưng khi ai đó chết như thế, hay chấp nhận sự loại trừ và sỉ nhục như thế, thì luôn luôn dẫn đến vinh quang đích thực, vinh quang của một tâm hồn mở rộng có thể biến đổi sự dữ thành sự thiện, hận thù thành yêu thương, cay đắng thành tha thứ, sỉ nhục thành vinh quang. Đấy mới là việc làm của Đấng Thiên sai.

Trong Tin mừng theo thánh Matthêu, cũng viết lại sự kiện này. Cũng cùng một câu hỏi và câu trả lời của thánh Phêrô, nhưng lời dặn của Chúa Giêsu lại rất khác. Trong Tin mừng theo thánh Matthêu, sau khi Phêrô nói, “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống,” thay vì căn dặn không được nói ra, Chúa Giêsu lại khen Phêrô. Sao lại có sự khác biệt này? Bởi Matthêu ghi lại cảnh mà thánh Phêrô hiểu đúng về Đấng Thiên sai.

Còn chúng ta hình dung thế nào về Đấng Thiên sai? Chúng ta hình dung thế nào về chiến thắng? Về vinh quang? Nếu Chúa Giêsu nhìn thẳng vào mắt và hỏi chúng ta như từng hỏi Phêrô: “Con hiểu Thầy thế nào?” Thì sau khi chúng ta trả lời, Ngài sẽ khen ngợi hay căn dặn chúng ta: “Đừng nói với ai về chuyện này!”

Thắng vượt những chia rẽ của chúng ta

Chúng ta sống trong một thế giới với nhiều chia rẽ sâu sắc. Khắp mọi nơi chúng ta đều thấy sự phân cực, người ta cay đắng chia tách nhau bằng hệ tư tưởng, chính trị, luận thuyết kinh tế, niềm tin đạo đức, và thần học. Chúng ta có khuynh hướng phân loại tối giản hóa để hiểu những sự chia rẽ này, chẳng hạn như cánh tả và cánh hữu, phái tự do và phái bảo thủ, ủng hộ sự sống và ủng hộ chọn lựa.

Đúng là mọi vấn đề xã hội và đạo đức đều là một chiến trường: chẳng hạn như vị thế phụ nữ, biến đổi khí hậu, vai trò giới, tính dục, hôn nhân và gia đình, vai trò của chính phủ, cộng đồng LGBTQ, và nhiều vấn đề khác. Và giáo hội của chúng ta cũng không ngoại lệ, chúng ta thường không thể thống nhất được chuyện gì. Sự lễ độ đã biến mất trong những tranh luận chung, thậm chí trong giáo hội của chúng ta cũng vậy, nơi có rất nhiều sự chia rẽ và thù địch giữa các phái và nội bộ các phái với nhau. Chúng ta ngày càng khó thảo luận cởi mở bất kỳ vấn đề nhạy cảm nào, thậm chí là cả trong gia đình. Thay vào đó, chúng ta chỉ thảo luận về chính trị, tôn giáo và các giá trị trong phạm vi nhóm cùng hệ tư tưởng với mình. Và trong đó, thay vì đưa ra những thách thức, chúng ta lại tâng bốc nhau, mớm cho những căm phẫn về người khác, và từ đó ngày càng trở nên bất dung, cay đắng và phán xét hơn.

Kinh thánh gọi đây là sự thù ghét, và đúng thật là vậy. Chúng ta ngày càng trở nên những người đầy thù ghét, thổi bùng và biện minh cho sự thù ghét của chúng ta bằng những căn cứ tôn giáo vào đạo đức. Chỉ cần xem tin tức là thấy. Làm sao để thắng vượt được điều này?

Ở mức độ vĩ mô trong chính trị và tôn giáo, thật khó để tìm ra cách bắc cầu các chia rẽ này, nhất là khi những tranh luận của chúng ta lại càng mở rộng hố sâu ngăn cách đó. Cái chúng ta cần, là một sự hoán cải tôn giáo, sự biến đổi của tâm hồn, và cái đó lại tùy vào từng cá nhân. Tâm hồn của cả cộng đồng chỉ thay đổi khi tâm hồn từng cá nhân thay đổi trước. Chúng ta góp phần giữ gìn sự ôn hòa của thế giới, trước hết bằng cách bảo vệ sự ôn hòa của mình, nhưng đấy không phải là chuyện dễ.

Không phải đơn giản là mọi người đều đồng ý suy nghĩ những điều tử tế hơn. Cũng không phải là ta sẽ tìm ra những nền tảng chung khi đối thoại. Đối thoại mà chúng ta cần, không phải là điều dễ dàng có được, và chắc chắn chúng ta chưa đạt được. Nhiều nhóm đã cố gắng, nhưng không mấy thành công. Thường thì chuyện là những cuộc đối thoại dù có chủ tâm tốt nhất cũng nhanh chóng biến thành một nỗ lực của mỗi bên muốn ghi điểm về tư tưởng cho mình hơn là thật tâm cố gắng hiểu đối phương Và thế là chúng ta thành ra thế nào?

Tôi tin rằng, lời đáp đích thực nằm ở nhận thức về phương cách mà thập giá và cái chết của Chúa Giêsu mang lại ơn hòa giải. Trong thư thánh Phaolô gởi tín hữu Ephêsô nói rằng, Chúa Giêsu đã phá tan rào cản thù địch tồn tại giữa các cộng đồng bằng cách “tạo dựng hai loại người ấy nên một người mới” qua thập giá của Ngài. (Eps 2, 16)

Thập giá Chúa Kitô đã tiêu diệt sự thù hằn thế nào? Không phải là kiểu phép thuật. Chúa Giêsu không phá tan chia rẽ giữa chúng ta bằng cách lấy đau khổ của mình để đền bù tội của ta, không phải kiểu như Thiên Chúa cần thấy được hiến tế máu để tha thứ và mở cửa thiên đàng cho chúng ta. Hình tượng đó chỉ đơn thuần là một ẩn dụ sau những biểu tượng và từ ngữ của chúng ta về việc xóa sạch tội lỗi và ơn cứu chuộc của Chúa Kitô. Trên thập giá và trong cái chết của Chúa Giêsu, là một sự đòi hỏi chúng ta phải noi gương chứ không chỉ là ngưỡng vọng. Trên thập giá và trong cái chết của Chúa Giêsu là một mẫu gương để chúng ta noi theo. Vậy chúng ta noi gương điều gì đây?

Trong cuộc thương khó và cái chết, Chúa Giêsu biến đổi cay đắng và chia rẽ chứ không phải chịu đòn và trả đòn. Trong tình yêu, trên thập giá, Chúa Giêsu đã làm thế này. Ngài nhận lấy hận thù, giữ nó trong mình, biến đổi nó, và trả lại tình yêu. Ngài nhận lấy cay đắng, giữ nó trong mình, biến đổi nó, và trả lại nhân từ. Ngài nhận lấy nguyền rủa, giữ nó trong mình, biến đổi nó, và trả lại phúc lành. Ngài nhận lấy hoang tưởng, giữ nó trong mình, biến đổi nó, và trả lại một tâm hồn quảng đại. Ngài nhận lấy sát nhân, giữ nó trong mình, biến đổi nó, và trả lại sự tha thứ. Và Ngài nhận lấy sự thù hằn, sự chia rẽ, giữ nó, biến đổi nó, và qua đó cho chúng ta thấy bí mật thâm sâu để tạo nên sự thông hiệp, cụ thể là chúng ta cần phải loại bỏ sự thù ghét chia rẽ bằng cách hấp thụ nó, giữ nó trong lòng, và biến đổi nó. Như một máy lọc nước giữ chất độc trong mình và chỉ cho ra nước tinh khiết, thì chúng ta cũng phải giữ chất độc đang làm băng hoại cộng đồng và chỉ trả lại những gì là tử tế và cởi mởi với mọi người. Đấy là điểm mấu chốt để thắng vượt sự chia rẽ.

Chúng ta sống trong những thời đại chia rẽ, hầu như chẳng thể đối diện với nhau cách thân thiện trong mọi vấn đề nhạy cảm về chính trị, kinh tế, đạo đức và tôn giáo. Nếu chúng ta cứ thổi bùng và đáp trả hận thù, thì thế bế tắc này vẫn cứ còn mãi, trừ phi chúng ta, từng người một, biến đổi sự hận thù đó và trả lại cho cuộc đời những yêu thương mà thôi.

Bạn có thể mất ơn gọi không?

Gần đây, tôi nhận được một lá thư chia sẻ rằng ông ấy vẫn còn bị ám ảnh sâu sắc bởi một câu chuyện được kể hồi tiểu học. Một thầy giáo dạy môn tôn giáo đã đọc câu chuyện về một linh mục đến thăm một người bạn thưở thiếu thời. Trong khi ở lại với người bạn của mình, vị linh mục để ý thấy, trong khi ông này vẫn đủ vui vẻ và niềm nở, nhưng cũng có nét buồn bã lẩn khuất đâu đó. Khi vị linh mục hỏi chuyện, ông bạn thú nhận là mình đã “mất ơn cứu độ” bởi đã từng cảm nhận ơn gọi linh mục khi còn trẻ, nhưng lại chọn con đường hôn nhân. Giờ ông ấy thấy, trong cuộc sống mình không còn có ơn cứu chuộc nữa. Ông từng có ơn gọi và để mất nó, và như thế là mãi mãi mất luôn cơ hội hạnh phúc. Dù cho có cuộc hôn nhân hạnh phúc, nhưng ông cảm thấy mình mãi mãi chịu một dấu hằn vì đã không trung thành khi từ chối ơn gọi Chúa ban.

Tôi cũng lớn lên với những câu chuyện như thế. Chúng là một phần của Đạo Công giáo thưở tôi còn nhỏ. Chúng tôi được dạy để tin rằng Thiên Chúa xác định một ơn gọi nhất định cho bạn, làm linh mục, nữ tu, kết hôn, hay độc thân. Và khi đã biết ơn gọi của mình mà bạn không chấp nhận nó, thì bạn “bỏ lỡ” hoặc “đánh mất” ơn gọi của mình, và hậu quả là một nỗi buồn dai dẳng, thậm chí là nguy cơ không được vào thiên đàng. Những câu chuyện về ơn gọi như thế vẫn ám ảnh trong tâm trí tôi khi tôi vào chủng viện. Nhưng nó chỉ là một bóng mờ mà thôi. Dù cho một vài nỗi sợ về đường thiêng liêng cũng có phần nào thúc đẩy tôi, nhưng tôi không đi tu và làm linh mục vì sợ hãi. Nỗi sợ có thể là thứ lành mạnh.

Nhưng cũng có thể không lành mạnh. Thật không lành mạnh khi nhận thức về Thiên Chúa và ơn gọi của mình như những sự có thể khiến bạn mất đi hạnh phúc và ơn cứu độ, dựa trên một quyết định duy nhất của bạn khi còn trẻ. Thiên Chúa không như thế.

Đúng là Thiên Chúa kêu gọi chúng ta, cho chúng ta một ơn gọi mà chúng ta phải nhận định qua lương tâm, qua cộng đoàn, qua hoàn cảnh, và qua những tài năng chúng ta có. Với một Kitô hữu, hiện hữu không có trước yếu tính. Chúng ta sinh ra với một mục đích, một sứ mạng trong đời. Có nhiều bản văn kinh thánh nói rõ điều này. Chúa Giêsu cầu nguyện cả đêm để biết thánh ý Chúa Cha, thánh Phaolô được dẫn đưa đến Damascus và được một bô lão chỉ dẫn cho biết ơn gọi của mình, ông Moses thấy sứ mạng của mình khi thấy cảnh khốn khổ của dân, và tất cả chúng ta đều được thách thức dùng tài năng của mình hoặc đánh mất nó. Chúng ta đều được kêu gọi thực hiện sứ mạng, và mỗi người chúng ta đều có một ơn gọi. Chúng ta được tự do sống đời mình cho chính mình.

Nhưng Thiên Chúa không chỉ cho chúng ta một cơ hội theo kiểu nếu ta bỏ lỡ nó thì sẽ buồn bã suốt đời. Không. Mỗi khi chúng ta khép lại một cánh cửa, Thiên Chúa luôn mở ra một cánh cửa khác. Thiên Chúa cho chúng ta bảy mươi lần bảy cơ hội, và thậm chí là hơn thế, nếu cần. Vấn đề ơn gọi không phải là kiểu đoán sao cho đúng (Tôi được tiền định chuyên biệt cho điều gì?) nhưng đúng ra là trao đi bản thân trong đức tin và đức ái cho hoàn cảnh mà ta đã chọn (hay thường là chính hoàn cảnh chọn chúng ta.) Chúng ta không nên sống trong nỗi sợ không lành mạnh về ơn gọi. Thiên Chúa không ngừng yêu thương và mong muốn cho ta hạnh phúc, kể cả khi không phải lúc nào ta cũng đi theo ơn gọi lý tưởng của mình.

Mới đây, tôi có nghe một bài giảng, trong đó vị linh mục so sánh Thiên Chúa với một GPS, Hệ thống Định vị Toàn cầu, một công cụ vi tính, có giọng nói phát ra chỉ đường. mà hầu như ngày nay mọi người đều có trong xe hơi. Một trong những tính năng của nó là thế này: Dù cho biết bao nhiêu lần, bạn không đi theo chỉ dẫn của nó, thì tiếng nói trong máy chẳng bao giờ thể hiện sự bực tức, la hét, hay không thèm nói với bạn nữa. Đơn giản nó chỉ nói rằng, “Đang tính toán lại.” Và sớm hay muộn, nó đều đưa ra cho bạn một lộ trình khác.

Đúng là một hình ảnh đầy phấn chấn, nhưng vẫn chẳng là gì so với lòng kiên nhẫn và tha thứ của Thiên Chúa. Chúng ta, không một ai nên bị ám ảnh dài lâu bởi nỗi buồn và nỗi sợ rằng chúng ta đã bỏ lỡ ơn gọi của mình, trừ phi khi chúng ta đang sống một cuộc đời ích kỷ. Không phải một ức đoán chính xác, mà chính tinh thần vong kỷ thay vì ích kỷ, một cuộc đời tìm kiếm phục vụ thay cuộc đời tìm kiếm tiện nghi, đấy chính là yếu tố làm nên ơn gọi. Dù sống đời hôn nhân, độc thân, hay tu trì, thì ơn gọi Kitô hữu của chúng ta là biến cuộc đời của mình thành một cuộc đời quên mình và phục vụ người khác. Hạnh phúc và ơn cứu độ đến từ đó.

Làm sao để tất cả được chung cục hạnh phúc?

Julian thành Norwich, nhà thần nghiệm thế kỷ XIV, và có lẽ là thần học gia nói tiếng Anh đầu tiên, có một dòng nổi tiếng, và được vô vàn bậc giảng thuyết, nhà thơ và nhà văn trích lại. Nhưng tất cả sẽ tốt đẹp, và tất cả sẽ tốt đẹp, và mọi đường lối vạn vật sẽ tốt đẹp. Đây là giáo lý đặc trưng của thánh nữ.

Chúng ta đều có những hiểu biết trực giác về ý nghĩa của câu này. Chúng ta thấy đây là căn cứ cho niềm hy vọng. Đến cuối cùng, sự thiện sẽ chiến thắng. Nhưng ta sẽ hiểu thêm ý nghĩa câu này khi nhìn nó trong bối cảnh gốc. Thánh Julian cố nói gì khi viết ra câu này?

Thánh nữ đã đấu tranh với các nan đề về sự dữ, tội lỗi và đau khổ. Tại sao Thiên Chúa cho phép chúng xảy ra? Nếu Thiên Chúa là trọn vẹn yêu thương và toàn năng, thì làm sao có thể giải thích cho việc Thiên Chúa để chúng ta chịu đau khổ, để chúng ta tội lỗi, để sự dữ hiện diện khắp nơi trên thế giới? Tại sao Thiên Chúa không tạo ra một thế giới không có sự tội, nơi chúng ta sống hoàn hảo từ lúc lọt lòng đến tận giờ phút cuối?

Thánh Julian đã nghe đủ các bài giảng trong nhà thờ để hiểu về lời giải đáp theo biện giáo chuẩn mực cho vấn đề này, nói cụ thể là, Thiên Chúa cho phép chuyện đó xảy ra vì Thiên Chúa đã cho chúng ta ơn trọng là sự tự do. Và đi kèm với nó là không thể tránh khỏi sự tội và những hậu quả đáng buồn của nó. Đây là một câu trả lời có căn cứ, dù cho thường quá trừu tượng để xoa dịu chúng ta khi chịu đau khổ. Nhưng thánh Julian, dù cho là người con gái trung thành của giáo hội và đã được dạy về câu trả lời, lại không tìm đáp án trong lời giải này. Thánh nữ đưa ra một ý tưởng khác.

Với thánh nữ, Thiên Chúa cho phép có sự dữ, tội lỗi và đau khổ, là bởi Thiên Chúa sẽ dùng nó để đến cuối cùng tạo cho tất cả mọi người một dạng hạnh phúc sâu sắc hơn nữa, sâu sắc hơn một hạnh phúc không phải trải qua sự dữ, tội lỗi và đau khổ. Đến tận cùng, những điều tiêu cực đó sẽ vận hành hướng đến tạo ra một điều tích cực sâu sắc hơn nữa.

Cho phép tôi trích lại nguyên văn của thánh Julian: Chúa Giêsu, trong thị kiến này đã cho tôi biết về tất cả những gì tôi cần được giải đáp. Ngài nói: ‘Sinne is behovely, but alle shalle be wele, and alle shalle be wele, and all manner of thing shalle be wele.’
Thánh nữ nói rằng tội lỗi là “behovely.” Trong tiếng Anh thời Trung cổ, behovely có ba nghĩa: “hữu dụng,” “có lợi,” và “cần thiết.” Trong thị kiến của thánh nữ, tội lỗi, sự dữ và đau khổ, đến tận cùng là những điều có lợi và cần thiết để đưa chúng ta đến với ý nghĩa thâm sâu hơn và hạnh phúc lớn lao hơn. (Điều này không giống với câu hát trong bài Trỗi vang lên vào Đêm Phục Sinh: Ôi tội vinh phúc, tội cần thiết của Ađam.)

Điều mà thánh Julian muốn chúng ta rút ra từ câu này, không phải là ý tưởng rằng tội lỗi và sự dữ không gây hậu quả là mấy, nhưng là việc Thiên Chúa, với lòng yêu thương và quyền năng vô hạn, có thể rút lấy sự thiện từ sự dữ, rút ra hạnh phúc từ đau khổ, và ơn cứu độ từ tội lỗi, theo những cách mà chúng ta không thể hiểu nổi. Đây chính là câu trả lời của thánh Julian cho câu hỏi: Tại sao Thiên Chúa cho phép có sự dữ? Thánh nữ trả lời bằng cách không trả lời, bởi về căn bản, không thể tưởng tượng ra được câu trả lời nào thỏa đáng cả. Đúng ra, thánh nữ đưa câu hỏi này vào thần học về Thiên Chúa, và trong đó vượt ngoài những gì chúng ta có thể hình dung và vượt ngoài những gì thần học có thể giải thích trọn vẹn, quyền năng và tình thương của Thiên Chúa cuối cùng sẽ làm cho mọi sự tốt đẹp, lau khô mọi giọt lệ, cứu chuộc mọi sự dữ, xóa sạch mọi chuyện xấu, làm ấm lại những tâm hồn băng giá, và biến mọi đường lối đau khổ thành hạnh phúc. Trong nhận thức này còn ngụ ý rằng chiến thắng tận cùng của Thiên Chúa sẽ là xóa sạch địa ngục, để cho tất cả mọi đường lối hiện hữu đều sẽ tốt đẹp.

Trong một thị kiến sau đó, thánh Julian đã nhận được một lời cam đoan năm điểm từ Thiên Chúa rằng Thiên Chúa có lẽ, có thể, sẽ, và phải làm cho mọi sự tốt đẹp và chúng ta sẽ được thấy ngày đó.

Tất cả những điều này tất nhiên là dựa vào một khái niệm cụ thể về Thiên Chúa. Thiên Chúa mà thánh Julian thành Norwich mời gọi chúng ta tin, là một Thiên Chúa vượt ngoài trí tưởng tượng của chúng ta, cả về tình yêu thương và quyền năng. Bất kỳ Thiên Chúa nào chúng ta có thể hình dung được đều không thể biến mọi đường lối hiện hữu trở nên tốt đẹp (như nhiều lời phê phán vô thần đã chỉ ra như thế.) Và điều này không chỉ đúng khi chúng ta cố hình dung quyền năng Thiên Chúa, mà còn đúng khi chúng ta cố hình dung tình yêu Thiên Chúa.

Với điều kiện loài người chúng ta, không thể tưởng tượng nổi có thể hình dung bất kỳ ai, dù là Thiên Chúa hay con người, lại không bị xúc phạm, không rơi vào giận giữ, không hờn oán ai dù cho người đó đã chịu đựng sự dữ nặng nề đến thế nào, cũng không hình dung nổi có ai lại hoàn toàn thư thái và dung nhan hòa hợp đến tuyệt diệu (như cách thánh Julian mô tả về Thiên Chúa.) Thiên Chúa trong tưởng tượng của chúng ta, được cấu thành từ những diễn giải kinh thánh sai lầm nhât định, là Đấng có bị xúc phạm, có giận dữ, có báo oán, và đáp trả tội lỗi bằng cơn thịnh nộ. Một Thiên Chúa như thế không thể nào biến mọi đường lối vạn vật trở nên tốt đẹp. Một Thiên Chúa như thế cũng không phải Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã mặc khải.

Thánh Julian nói rằng, nếu chúng ta nhìn vào mắt Chúa, thì điều chúng ta sẽ thấy “sẽ làm tan chảy trái tim chúng ta bằng tình yêu, và vỡ tan ra trong xuất thần say đắm.”

Những quyển sách hàng đầu với tôi trong năm 2018

Thị hiếu là chủ quan. Tôi xin chia sẻ mười quyển sách đánh động mình nhất trong năm qua, với tinh thần như thế. Đây không nhất thiết là những quyển tôi khuyên bạn nên đọc. Có thể bạn sẽ hờ hững, hay thậm chí là giận khi tôi tán dương chúng. Xin có lời phê bình của mình và đừng ngại phê bình thị hiếu của tôi. Chẳng ai lại đi mua hết mọi thứ quảng cáo trong cửa hàng mà.

Vậy mười quyển sách đánh động tôi nhất trong năm qua là gì?

Trước hết, tôi xin điểm một số quyển tiểu sử tôn giáo tuyệt vời:

• Dorothy Day- Thế giới sẽ được cứu rỗi nhờ Vẻ đẹp: Một Hình ảnh gần gũi của Bà tôi (Dorothy Day, The World Will be Saved by Beauty) của Kate Hennessey. Với tôi, quyển sách này đúng là một kho báu. Là cháu gái của Dorothy Day, Kate Hennessey có một mối liên hệ thân thiết và không mấy ai có được với Dorothy, nhưng mối liên hệ đó cũng có những chuyện đau đầu và đau lòng. Dorothy là một con người phức tạp, khi người ta gọi bà là thánh, bà trả lời thế này: “Tôi không muốn bị chìm trong cái ánh sáng đó!” Quyển sách này cho chúng ta cả vị thánh và người phụ nữ trong con người đã từ chối danh hiệu đó.

• Chơi đùa trong Hang Sư tử, Một Tiểu sử và Hồi ức về Daniel Berrigan (At Play in the Lion’s Den – A Biography and Memoir of Daniel Berrigan) của Jim Forest. Một cái nhìn thấu suốt về Daniel Berrigan, với tư cách một con người, một tu sỹ dòng Tên, một người bạn và một ngôn sứ. Sẽ có vô số tiểu sử viết về Berrigan, nhưng tôi dám nói, không quyển nào qua được quyển này. Forest hiểu về Berrigan rất rõ.

• Những lời Thú nhận của X (The Confessions of X) của Suzanne M. Wolfe. Đây là một tiểu sử hư cấu, câu chuyện về người phụ nữ của thánh Augustino, về tình yêu ngài dành cho bà, về con cái của họ và vai trò của thánh Monica trong việc phá vỡ mối quan hệ của họ. Đây không phải một quyển sách sử học, nhưng đã được nghiên cứu đủ để đáng tin.

Tiếp theo, tôi xin đưa ra một số sách tự thuật tôn giáo:

• Huấn luyện viên Wooden và Tôi, Tình bạn 50 năm trong và ngoài sân bóng (Coach Wooden and Me, Our 50-Year Friendship On and Off the Court) của Kareem Abdul-Jabbar. Có lẽ bạn sẽ tự hỏi vì sao tôi lại giới thiệu đâu là một quyển tự thuật tôn giáo, nhưng phải đọc mới trả lời được câu hỏi đó. Đây không phải là sách thể thao, mà là một quyển sách suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời, ý nghĩa, tình bạn, chủng tộc và tôn giáo. Sinh trưởng trong một gia đình Công giáo La Mã, Kareem Abdul-Jabbar chia sẻ rất thẳng thắn những gì đã xui khiến ông cải sang Hồi giáo. Và trong quyển sách này, có nhiều bài học cho chúng ta. Đây là một câu chuyện ấm áp tuyệt vời giữa mọi nỗi đau trong cùng cuộc đời đó.

• Cực điểm của tôi, Một Hồi ức Tận hiến (My Utmost, A Devotional Memoir) của Macy Halford. Là một Kitô hữu Anh giáo, Halford lớn lên với một đức tin sâu sắc, nhưng lại chưa bị thử thách nhiều khi còn trẻ. Rồi sau đó, cô chuyển đến New York rồi Paris để làm ký giả. Vây quanh cô là những người bạn và đồng nghiệp xem đức tin là thứ ngây thơ, cô đã đấu tranh rút lấy từ gốc rễ đức tin thưở nhỏ của mình để đứng vững trước thách thức của thế giới mới mà cô đang sống. Cuộc đấu tranh và cái kết ở lại trong đức tin thưở nhỏ của cô, có thể là một điều giúp ích nhiều cho chúng ta, khi đấu tranh để giữ vững đức tin trong thế giới người trưởng thành, bất kể theo phái Kitô giáo nào.

• Lòng thương xót Công chính, Một câu chuyện về Công lý và Cứu rỗi (Just Mercy, A Story of Justice and Redemption) của Bryan Stevenson. Bryan Stevenson là một luật sư tốt nghiệp trường Harvard, đã chọn dùng tài năng của mình để phục vụ người nghèo, cụ thể là các tử tù không có phương tiện để tự giúp mình. Những vấn đề kỳ thị chủng tộc, đói nghèo, bất bình đẳng, và cách chúng ta bị mắt không nhìn thấy họ, chính là tâm điểm và cái đập vào mắt chúng ta trong quyển sách đầy uy lực này.

• Giờ Tươi sáng – Hồi ức về Sống và Chết (The Bright Hour – A Memoir of Living and Dying) của Nina Riggs. Nina Riggs mất hồi tháng hai, và quyển sách này chia sẻ lại các bài blog của cô, một bà mẹ trẻ với hai đứa con còn vị thành niên, đã đi qua cuộc chiến với bệnh ung thư ác tính, cùng người bạn thân nhất của mình, cũng là một bà mẹ trẻ bị ung thư. Hai người qua đời cách nhau một tuần. Dù cho Riggs không viết ra một đức tin rõ ràng, nhưng cô đã đối diện với cả cuộc sống lẫn cái chết với sự dũng cảm và tinh thần hăng hái, một sự vui tươi mà các thánh cũng phải ghen tỵ. Một quyển sách sáng bừng mà sâu sắc, bạn sẽ cười sẽ khóc, và sẽ học được cách đối diện với cái chết.

Một quyển sách hay trong lĩnh vực chủ nghĩa hiện sinh.

• Tại Quán cafe Hiện sinh, Tự do, Hiện hữu và Cocktail Mơ (At the Existentialist Café, Freedom, Being, and Apricot Cocktails) của Sarah Blackwell. Đây là một trong những quyển sách hay nhất viết về chủ nghĩa hiện sinh dành cho những độc giả không chuyên. Nó sẽ giới thiệu cho các bạn những người khổng lồ trong triết học Hiện sinh. Sartre, Heidegger, Simone de Beauvoir, Merleau-Ponty, Camus, Husserl, và Jaspers. Bakewell tin rằng bạn sẽ hiểu được triết học của một tư tưởng gia rõ ràng hơn nếu bạn thấy được cuộc đời của người đó. “Các Ý niệm thật thú vị, nhưng con người còn thú vị hơn rất nhiều.” Những người chưa có kiến thức căn bản về triết học có thể thấy mơ hồ đôi chỗ, nhưng nếu tiếp tục đọc bạn sẽ sớm thấy mình gặp được cuộc đời của những tư tưởng gia nổi tiếng muôn hình muôn vẻ.
Cuối cùng là hai quyển sách trong lĩnh vực linh đạo, mà nội tên của tác giả thôi là đã đáng chú ý rồi.

• Ta muốn con như thế – Về Thiên Chúa Tình yêu (I Want You to Be – On The God of Love.Halik) của Tomas Halik, một linh mục người Czech, ngòi bút thiêng liêng lừng danh, người từng đoạt giải Templeton. Đây là quyển sách với thấu suốt và chiều sâu hiếm gặp.

• Vượt ngoài Tấm gương, Suy tư về Cái chết và Sự sống (Beyond the Mirror, Reflections on Death and Life) của Henri Nouwen. Chẳng cần phải giới thiệu Henri Nouwen, đây là một quyển sách độc nhất vô nhị trong toàn tuyển tập của cha, ghi lại cảm nghiệm cận tử của cha sau một tai nạn nghiêm trọng.

Thị hiếu có thể là chủ quan, nhưng tôi cam đoan đây chắc chắn là những quyển sách hay!

Hài nhi của Năm

Giáng Sinh 2017

Năm nào tờ Time cũng có giải thưởng “Nhân vật của Năm”. Giải thưởng này không nhất thiết là sự vinh danh, nó được trao cho một người mà Time xem là nhân vật thu hút tin tức trong năm, dù là chuyện tốt hay xấu. Chẳng hạn như năm nay, thay vì chọn một cá nhân, Time lại chọn một nhóm người, Silence Breaker, những phụ nữ đã lên tiếng về những lần bị xâm phạm tình dục.

Một phần thách thức trong mùa Giáng Sinh là nhận ra Chúa Kitô sinh ra ở đâu trong thế giới ngày nay, là hai ngàn năm sau khi Chúa Giêsu hạ sinh chúng ta có thể tìm đâu để thăm lại hang đá Bethlehem, nhìn hài nhi vừa hạ sinh, và rung động trước uy quyền của sự ngây thơ và bất lực từ trời cao.

Mùa Giáng Sinh năm nay, tôi mong chúng ta tôn vinh những trẻ em tị nạn là “Hài Nhi của Năm.” Các em đưa chúng ta đến gần hang đá Bethlehem trong thế giới ngày nay, vì như Chúa Giêsu cách đây hai ngàn năm, các em cũng chẳng tìm được chỗ trong nhà trọ đàng hoàng.

Chúa Giêsu ra đời và chịu chết trong một nghịch lý. Ngài đến như lời đáp của Thiên Chúa cho khao khát thâm sâu nhất của chúng ta, thế mà lại sinh ra và chết đi như một kẻ ngoài cuộc. Hãy để ý mà xem, Chúa Giêsu sinh ra ở ngoại vi thành phố và cũng chết ở ngoại vi thành phố. Đây không phải chuyện tình cờ. Ngài không phải là một đứa trẻ “được chờ đợi” và cũng không “được chấp nhận.” Đức Mẹ với trái tim sốt mến thuần khiết mong chờ Ngài, nhưng thế giới thì không, ít nhất là ở khía cạnh hình hài một đứa bé vô lực. Ngài không đến trần gian như một siêu sao, một người quyền thế khiến mọi gối phải bái quỳ, Ngài không đến như một Đấng Thiên sai trong tưởng tượng của chúng ta, một Đấng mà mọi cửa nhà đều rộng mở chờ đón, không phải chỉ lúc Ngài sinh mà trong suốt cả cuộc đời của Ngài.

Nhưng Chúa Kitô không phải là Đấng Thiên sai theo kiểu chúng ta kỳ vọng. Ngài đến như một hài nhi sơ sinh, vô lực, vô danh, không có địa vị, không được mời gọi, không được chào đón. Và Thomas Merton đã mô tả việc hạ sinh của Chúa Kitô như thế này: Trong thế giới này, cái nhà trọ điên cuồng, nơi chẳng có phòng nào để sẵn cho Ngài, Chúa Kitô đã đến dù không được chào đón. Nhưng đó là bởi Ngài không thể ở trong một ngôi nhà, Ngài ở ngoài ngôi nhà dù đáng ra Ngài phải được ở trong nhà, nơi Ngài chọn lấy là ở cùng với những người không nhà.

Không có phòng cho ngài trong quán trọ! Các học giả kinh thánh cho chúng ta biết rằng những bài giảng và hình dung về những chủ quán trọ lạnh lùng nhẫn tâm đã xua đuổi Đức Mẹ và thánh Giuse, thật ra đã bỏ sót điểm nhấn của câu chuyện Giáng Sinh. Điểm nhấn mà Tin mừng muốn chỉ ra không phải là những chủ quán trọ ác độc nhẫn tâm và đôi vợ chồng nghèo từ Nazareth bị đối xử bất công. “Không có chỗ trong nhà trọ” đúng ra muốn nói đến một điểm lớn hơn nữa, mà Thomas Merton đã nêu bật rằng, không bao giờ có chỗ trong thế giới này cho Chúa Kitô đích thực, Đấng không tương hợp với những kỳ vọng và tưởng tượng của chúng ta. Chúa Kitô đích thực thường khiến tưởng tượng của ta choáng váng và xô đổ mọi kỳ vọng của chúng ta, Ngài đến mà không được chào đón, Ngài luôn ở đây, nhưng luôn ở ngoài rìa, bị những thứ chúng ta hình dung loại trừ và đuổi ra khỏi cửa. Chúa Kitô đích thực luôn mãi tìm một mái nhà trong thế giới, mà nơi đó lại không có chỗ cho Ngài.

Vậy ngày nay ai giống hình ảnh Chúa Kitô nhất? Tôi cho rằng đó chính là: Hàng triệu trẻ em tị nạn. Có thể thấy rõ Chúa Kitô Hài đồng trong vô số trẻ em tị nạn, cùng với gia đình mình, bị đuổi khỏi nhà vì chiến tranh, bạo lực, nạn đói, thanh trừng sắc tộc, kỳ thị và bách hại tôn giáo. Các em, cùng với gia đình mình, là hình ảnh giống nhất với tình cảnh của Đức Mẹ và thánh Giuse, những người chật vật tìm chỗ trú chân, những người bị đẩy ra ngoài rìa, bất lực, không được chào đón, không một mái nhà, không ai mời vào, và bị xem là những người xa lạ. Nhưng họ chính là hình ảnh của Thánh Gia ngày nay, và các trẻ em tị nạn là Chúa Kitô Hài đồng của chúng ta trong thế giới này.

Hang đá Bethlehem ngày nay ở đâu? Ta tìm Chúa Kitô Hài đồng ở đâu để tôn kính? Ở nhiều nơi lắm, có thể là trong mọi phòng sinh trên khắp thế giới, nhưng rõ ràng hơn là những trại tị nạn, trên những chiếc thuyền lênh đênh vượt Địa Trung hải, trong những đoàn người đi tị nạn trong đói khát và hiểm nguy, nơi hàng dài những đứng chờ thủ tục với mong mỏi được cho phép nhập cảnh tị nạn, nơi những người đến được đường biên giới rồi lại bị đuổi về, nơi những bà mẹ trong các nhà tù ôm con mình và hy vọng, và nhất là nơi gương mặt của vô số trẻ em tị nạn.

Gương mặt của Thiên Chúa trong mùa Giáng Sinh hiển hiện nơi sự vô lực của trẻ em, hơn là nơi những người quyền thế trong thế giới. Và ngày nay cũng vậy, nếu muốn làm như những mục đồng và ba nhà hiền triết, tìm đường đến hang đá Bethlehem, chúng ta cần phải tìm kiếm nơi có những trẻ em đang tuyệt vọng nhất.

Thiên Chúa đâu phải để sợ hãi

Tại sao chúng ta không giảng về lửa hỏa ngục nữa? Đây là một câu thường dấy lên nơi nhiều người mộ đạo chân thành lo lắng rằng quá nhiều nhà thờ và linh mục đã quá dễ dãi với tội lỗi, quá phóng đại khi nói về lòng thương xót của Thiên Chúa. Có một niềm tin rằng nếu chúng ta rao giảng sự thật trần trụi về tội trọng, về cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, và mối nguy rơi vào hỏa ngục, thì người ta sẽ đến nhà thờ nhiều hơn và giữ các giới răn hơn, nhất là giới răn thứ sáu. Sự thật sẽ giải thoát anh em, những người này lập luận như vậy, và sự thật đó là có những tội trọng và hậu quả đời đời cho tội lỗi. Cửa thiên đàng thì hẹp mà cửa hỏa ngục thì mở toang.

Vậy tại sao chúng ta lại không còn giảng nhiều về mối nguy hỏa ngục?

Và đâu là lý lẽ trong lập luận rằng giảng nhiều về tội trọng và hỏa ngục đem lại hiệu quả? Đe dọa thì có hiệu quả. Tôi lớn lên với kiểu rao giảng này và phải thừa nhận nó có tác động trên hành xử của tôi. Nhưng tác động đó có cả tốt lẫn xấu. Về mặt tích cực, nó khiến tôi sợ đủ để không bao giờ đi quá xa về mặt đạo đức và lòng đạo. Mặt tiêu cực là, nó cũng khiến tôi bị khập khiễng về lòng đạo và cả cảm xúc, bị méo mó rất nhiều. Nói đơn giản là, thật khó để làm bạn thân thiết với một Thiên Chúa cứ đe dọa bạn, và cũng không tốt về mặt đạo cũng như cảm xúc khi chúng ta quá rụt rè và e ngại những sinh lực lớn lao trong đời.

Sợ hình phạt đời đời có thể là một động lực hiệu quả. Nhưng tại sao lại không nên giảng về nỗi sợ? Bởi nó sai lầm, đơn giản là thế. Tẩy não và đe dọa là những thứ có hiệu quả, nhưng nỗi sợ không phải là động lực phù hợp để yêu thương. Bạn không yêu vì sợ hay bị đe dọa. Bạn yêu bởi bạn thấy mình được tình yêu dẫn lối.

Quan trọng hơn nữa, giảng về mối đe dọa đời đời là bôi nhọ Thiên Chúa mà chúng ta tin. Thiên Chúa hiện thân nơi Chúa Giêsu không phải là một Thiên Chúa đẩy những người chân thành và thiện tâm vào hỏa ngục dựa trên danh sách chi li những sai lầm đạo đức và nhân văn. Vậy mà thỉnh thoảng, trong các nhà thờ Công giáo tôi vẫn nghe thấy những lời như: Nếu bỏ lễ ngày Chúa nhật, thì đó là tội trọng và nếu chết khi chưa xưng tội thì anh chị em sẽ vào hỏa ngục.

Có Chúa nào lại đặt ra một niềm tin như thế này? Có Chúa nào lại không cho những người chân thành một cơ hội thứ hai, cơ hội thứ ba, hay thậm chí là cơ hội bảy mươi lần bảy, nếu họ vẫn còn thành tâm? Có Chúa nào lại nói với một người trong hỏa ngục rằng: “Xin lỗi, nhưng luật là thế rồi! Có hối hận cũng đã muộn. Cơ hội chỉ đến một lần!”

Một thần học lành mạnh về Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta phải thôi dạy rằng hỏa ngục là một bất ngờ đau khổ đang chờ chực những người có tâm thiện. Thiên Chúa mà chúng ta tin là thông hiểu vô hạn, cảm thương vô hạn và tha thứ vô hạn. Tình yêu của Thiên Chúa vượt xa tình yêu của chúng ta, và có thể thấy ra sự thiện trong tâm hồn con người dù cho nó yếu đuối và méo mó.

Chúng ta không có gì phải sợ hãi về Thiên Chúa cả. Hay là phải sợ hãi thật? Chẳng phải Kinh thánh nói rằng “kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan” sao? Thế thì sao lại nói là không nên sợ Thiên Chúa?

Bởi vì sợ có nhiều loại, có loại lành mạnh, loại khác thì không. Khi Kinh thánh nói rằng “kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan” thì nỗi sợ đó không phải là sợ vì bị đe dọa hay sợ bị trừng phạt. Nỗi sợ đó không phải kiểu sợ khi chúng ta gặp một bạo chúa hay một kẻ thích hành hạ bắt nạt. Mà đây là nỗi sợ lành mạnh xuất phát từ yêu thương. Đây là nỗi sợ tôn kính, là khi chúng ta yêu ai đó chân thành đến nỗi sợ mình sẽ trở nên ích kỷ, thô lỗ và thiếu tôn trọng mối quan hệ đó. Chúng ta sợ mình phá hoại sự thân thiết thiêng liêng đó. Có thể nói, chúng ta thấy mình đứng nơi thánh địa và thấy cần phải tháo giày ra trước khi bước vào.

Kinh thánh cũng cho chúng ta biết rằng khi Thiên Chúa xuất hiện trong đời chúng ta, thường thì lời đầu tiên của Ngài là: “Đừng sợ!” Bởi Thiên Chúa không phải là bạo chúa xét đoán nhưng là người yêu thương, và đầy niềm vui. Như Leon Bloy đã nhắc nhở chúng ta, niềm vui là dấu chỉ không thể sai lầm về sự hiện diện của Thiên Chúa.

Một chàng thanh niên theo trào lưu chính thống cực đoan từng hỏi nhà tâm lý học lừng danh, Fritz Perls rằng: “Ông đã được cứu rỗi (saved, cũng đồng nghĩa với tiết kiệm)?” Ông trả lời: “Tiết kiệm? Không đâu! Tôi còn đang tìm cách để tiêu xài mà!”

Chúng ta tôn trọng Thiên Chúa không phải bằng cách sống sợ sệt lo rằng mình sẽ xúc phạm ngài, nhưng là bằng cách dùng lấy sinh lực mà Ngài ban cho chúng ta để làm cuộc đời nở hoa. Thiên Chúa không phải luật lệ để ta phải giữ, nhưng là sinh lực vui mừng để chúng ta “tiêu xài” rộng rãi.

Bi kịch thật sự của Tội lỗi

Bi kịch thực sự của tội lỗi là: thường người chịu hậu quả của tội lỗi đó cuối cùng lại trở nên người gây ra tội lỗi, bắt người khác chịu những gì đã từng giáng xuống trên mình. Trong chúng ta có một khuynh hướng tai ác, là khi bị tác hại chúng ta thường nắm lấy tội lỗi đó, hoàn tất nó với những thứ xấu xa của nó, rồi lại đấu tranh để không hành động như thế nữa. Chiến thắng tột cùng của tội lỗi là khi người bị hại trở nên người gây tội.

Chúng ta thấy điều này trong tác động của các nghi thức mang tính hành hạ kiểu bắt nạt. Từ các đội bóng trung học, cho đến các nhóm đại học, và một số trường quân bị, các nghi thức hành hạ này được dùng như một dạng nhập môn vậy. Điều thú vị là những người đã trải qua chuyện đó thường háo hức đến lượt mình được làm chuyện đó với người khác. Trải qua một chuyện hành hạ đã gợi lên tính hành hạ trong họ.

Một số trường phái tâm lý học đã xác nhận rằng mọi kẻ tấn công đều đã bị tấn công trước. Đúng là gần như thế. Kẻ bắt nạt đã từng bị bắt nạt, và kẻ ngoài cuộc chua cay là người từng bị loại trừ bất công. Vậy điều gì tạo nên một kẻ ngoài cuộc? Điều gì tạo nên người thích bắt nạt? Và điều gì tạo nên một kẻ giết người hàng loạt? Phải có gì đó xảy ra trong lòng một người lạnh lùng mặc vào bộ đồ lính, cầm súng, và xả vào các học sinh vô tội chứ?

Chắc chắn một trong những yếu tố gây nên chuyện này là bệnh tâm thần, nhưng còn các yếu tố khác nữa, những yếu tố mà chúng ta không đủ can đảm để đối diện. Phán xét bộc phát của chúng ta với thủ phạm xả súng hay đánh bom khủng bố, chỉ là thể hiện chính tội lỗi đó: “Mong cho hắn chết khô trong hỏa ngục.” Phản ứng này sai ở chỗ nó không hiểu được rằng người đó đã phải chịu đau khổ trong hỏa ngục của riêng mình và hành động kinh khủng của họ là một nỗ lực thoát ra hỏa ngục hay có thể là kéo thêm nhiều người vào chung chỗ với mình. Điều mà hầu hết những người gây ra bạo lực mong muốn, là hủy hoại thiên đàng của những người khác bởi họ đã bị tước mất thiên đàng của mình một cách bất công rồi. Tất nhiên không phải lúc nào điều này cũng đúng, bởi còn có chứng tâm thần và mầu nhiệm ý chí tự do của con người nữa, nhưng cũng đủ để chúng ta phải nghĩ lại và hiểu rõ hơn về lý do tại sao có những người mang tâm hồn cay đắng trong khi lại có những người mang trái tim yêu thương. Điều gì tạo nên tâm hồn con người? Điều gì khiến nó cay đắng hay nhân từ?

Tội lỗi và phúc lành định hình tâm hồn con người, một cái làm cho méo mó và một cái thì chữa lành. Tội lỗi, của chúng ta hay của người khác, là làm tổn thương tha nhân và che chắn cho chúng ta khỏi những chứng bệnh bên trong mình, bởi phạm tội là chúng ta gây bệnh cho người khác. Còn phúc lành thì ngược lại. Nó làm dịu chứng bệnh đang tác hại bất công lên họ, giúp biến cay đắng thành nhân từ, và chữa tận gốc những vết thương của họ.

Và chúng ta cần ngưng xếp loại, người ta là “kẻ thành công”, “kẻ thất bại” như thể chỉ có mình họ chịu trách nhiệm cho thành công hay thất bại của mình vậy. Không phải như thế. Tôi cho rằng những người từ tâm như Mẹ Têrêxa, không mấy người bị xâm hại đau khổ khi còn nhỏ. Những người như thánh Phanxicô, không mấy người bị giễu cợt, bị bắt nạt trên Facebook, bị xấu hổ vì ngoại hình của mình. Theo nhạc sĩ Leonard Cohen, ác độc và từ tâm, đều đến từ những gì chúng ta đã nhận lãnh. Rồi chúng ghi dấu trong tâm thần và cả trong cơ thể chúng ta. Cách chúng ta thể hiện mình, điệu bộ cơ thể, cách chúng ta biểu lộ tâm linh, tự tin hay hổ thẹn, quảng đại hay nhỏ nhen, yêu thương hay chạy trốn tình yêu, những phúc lành hay nguyền rủa, hệ tại rất nhiều ở việc bản thân chúng ta đã được chúc lành hay bị nguyền rủa khi chúng ta không đáng được chúc lành hay bị nguyền rủa.

Nhưng tôi thú thật, mầu nhiệm ý chí tự do của con người vẫn là một đám mây che mờ chuyện này. Có những người từng bị ngược đãi lúc nhỏ, nhưng vẫn trở thành một Mẹ Têrêxa, có những người bị bắt nạt nhưng vẫn trở thành một thánh Phanxicô chữa lành cho hàng triệu tâm hồn, biến những hành động tội lỗi giáng lên họ thành một phúc lành mạnh mẽ. Đáng buồn thay, đấy chỉ là những ngoại lệ, và cũng chính vì thế mà đó chính là thành tựu vĩ đại của họ.

Và cái hậu họa của tội lỗi này khiến chúng ta phải đối diện với nhiều thách thức: Thứ nhất, chúng ta không được để cảm xúc chi phối khi đưa ra những phán xét “cho nó chết trong hỏa ngục cho rồi.” Thứ hai, chúng ta phải bớt kiêu ngạo và xem thường những người mà chúng ta gọi là “kẻ thất bại.” Nữa là, chúng ta phải học được rằng thách thức nhân bản và tâm linh tối cùng chính là không để những gì chúng ta phải chịu đựng biến chúng ta thành con người cay đắng và muốn gây đau khổ đó trên người khác. Cuối cùng, nhưng không kém quan trọng, khi hiểu rằng cuộc đời của chúng ta có quá nhiều thứ chúng ta không xứng đáng nhận được, thì chúng ta cần tri ân Thiên Chúa và biết ơn mọi người, vì những tình cảm và nâng đỡ mà chúng ta đã nhận được dù không xứng đáng.

Kín đáo và Bí mật cũng là một Đức hạnh

Trong mọi con người khỏe mạnh, đều có sự kín đáo tự nhiên, không tiết lộ quá nhiều về mình và đồng thời thấy cần giữ kín một vài chuyện. Thường chúng ta lại đánh giá đây là sự ngại ngùng không lành mạnh, hay thậm chí tệ hơn là nghĩ họ đang che giấu chuyện xấu. Nhưng sự kín đáo và bí mật có thể là một nhân đức, bởi như James Hillman đã nói, khi lành mạnh chúng ta thường “thể hiện sự sùng mến của hổ thẹn trước mầu nhiệm cuộc sống.”

Vậy lúc nào các bí mật lành mạnh và lúc nào thì không? Lúc nào “vứt ngọc trai” thì lành mạnh và lúc nào thì không? Và cả hai phía đều quá thường trả lời theo kiểu quá đơn giản hóa chuyện này.

Chắc chắn bí mật có thể là chuyện nguy hiểm. Theo Kinh thánh, và theo linh đạo của mọi truyền thống tôn giáo, theo tâm lý học và cả những chương trình phục hồi chứng nghiện thời nay, thì chúng ta biết rằng giữ bí mật có thể là chuyện nguy hiểm, là thứ tối tăm, ám ảnh và ẩn trong chúng ta cần phải được đưa ra ánh sáng, được chia sẻ với mọi người, nếu không chúng ta sẽ chẳng bao giờ lành mạnh được. Kinh thánh cho chúng ta biết rằng “sự thật sẽ giải thoát anh em”, rằng chúng ta sẽ lành mạnh chỉ khi thú nhận tội lỗi, và những bí mật sẽ ăn mòn chúng ta, đến cuối cùng sẽ khiến chúng ta bại hoại. Chương trình Nghiện rượu Ẩn danh cho biết bí mật tồi tệ nhất của ta quyết định mức độ tồi tệ của ta. Tâm lý học thì nói rằng sự lành mạnh tâm lý dựa trên khả năng chia sẻ cảm nghĩ, cảm giác, cởi mở với người khác. Đúng là thế. Đó đúng là những lời khôn ngoan.

Có những bí mật được giấu kín cách sai lầm, như những bí mật chúng ta giấu diếm khi ngoại tình. Những bí mật như thế cứ day dứt trong tâm hồn và khiến chúng ta không còn là chính mình. Những gì chôn giấu phải được đưa ra ánh sáng. Ta phải cảnh giác với những bí mật.

Nhưng, như với mọi thứ khác, luôn có mặt kia của vấn đề, luôn cần có một sự cân bằng tinh tế. Giữ bí mật là xấu, nhưng cũng có thể không hay khi chúng ta chia sẻ về bản thân quá mức. Như thế chúng ta có thể thiếu đi sự kín đáo. Và là tầm thường hóa những gì quý báu trong ta. Chúng ta có thể mở lòng theo những cách làm tiêu tan hết mọi bí ẩn của mình và chẳng còn gì lãng mạn. Chúng ta có thể đánh mất chiều sâu của mình, đến nỗi khó lòng sáng tạo hay cầu nguyện được. Chúng ta có thể thiếu đi “sự sùng mến của hổ thẹn trước mầu nhiệm cuộc sống.” Chúng ta đều cần giữ kín vài bí mật.

Giữ bí mật nguyên nghĩa là giữ cái gì đó xa khỏi những người khác. Và chúng ta cần làm điều này một cách lành mạnh, bởi chúng ta cần có sự riêng tư chân thật nhất định nào đó để nuôi dưỡng con người của mình, để biết được linh hồn mình. Tất cả chúng ta đều cần giữ một vài bí mật lành mạnh. Và những bí mật này bảo vệ sự bí ẩn cũng như thâm sâu của chúng ta, và từ đó chúng ta có thể có nhiều hơn để trao đi cho người khác.

Khi một cái gì đó khép lại, hay khi một con người nhắm mắt lại, thì có sự huyền bí và thần nghiệm trong đó. Có gì đó ẩn giấu, đẹp đẽ, khôn ngoan, và yêu thương. Chiều sâu của nó phần nào khép lại và như thế bông hoa hay con người đó có một sự huyền bí nhất định khơi mào một khao khát trong chúng ta muốn khám phá chiều sâu đó. Và đây là cội nguồn của lãng mạn, cũng như của sáng tạo, cầu nguyện và chiêm niệm. Không phải tình cờ khi các họa sĩ thường vẽ những người đang cầu nguyện với đôi mắt nhắm. Linh hồn chúng ta cần phải được bảo vệ, tránh sự phơi bày quá mức. Cũng như đôi mắt cần phải nhắm lại khi ngủ, thì linh hồn chúng ta cũng vậy. Chúng cần có thời gian tránh xa đám đông ồn ào, thời gian riêng của mình, thời gian để đào sâu chính mình hòng phong phú hơn và lãng mạn hơn.

Vài năm trước, trong một bộ phim truyền hình, một bà mẹ đã cảnh báo đứa con tuổi vị thành niên của mình khi cô bé vừa ra khỏi nhà để đi tiệc với bạn: “Hãy nhớ, thân thể con là đền thờ Chúa Thánh Thần, chứ không phải là một công viên công cộng.” Trong lời nói đùa đó, có sự khôn ngoan. Bà mẹ cảnh báo con mình bảo vệ thân thể, mà thân thể liên kết vói linh hồn. Cũng như thân thể, không được tầm thường hóa linh hồn, xem như một thứ để giải trí.

Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta đừng ném của thánh cho chó và đừng ném ngọc trai cho heo. Ngài nói rất mạnh, nhưng đó là lời cảnh báo cho chúng ta về các giá trị. Linh hồn là thứ quý báu cần được trân quý và bảo vệ đúng mức. Linh hồn cũng là thứ thiêng liêng cần được tôn kính. Chúng ta bảo vệ những gì quý báu và thiêng liêng, khi thú nhận công khai những bí mật xấu xa và bảo vệ đúng đắn những bí mật lành mạnh.

Tội đùa giỡn với sự thật

Xem tin tức những ngày này có thể là chuyện khá nản lòng. Thế giới chúng ta đầy thù hận, định kiến bất dung, kỳ thị, tham lam không đáy, và những cái tôi quá lớn. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng mở rộng, và nạn bạo lực vô nghĩa lý đang tồn tại hàng ngày. Người ta sống với hy vọng, nhưng lạc quan thì không hẳn.

Trong tất cả, có lẽ chuyện đáng buồn nhất là sự xóa mòn khả năng nhìn nhận và nhận thức sự thật. Từ các viên chức cao cấp nhất trong chính phủ, đến các hãng truyền thông lớn, các tờ báo địa phương, hàng ngàn bloger, thậm chí là ngay trên bàn ăn gia đình, chúng ta ngày càng vô trách nhiệm, xuyên tạc và bất lương trắng trợn với sự thật, chối bỏ sự thật khi nó gây bất tiện cho ta, bẻ cong sự thật để phù hợp với mục đích của ta, hay thậm chí còn dám xem sự thật là “tin giả” là “chuyện nói tránh né” là “thông tin sai lệch,” “sự thật không còn giá trị,” hay là “kiểu cách xã giao” không còn giá trị. Các nghiên cứu từ những viện khoa học lớn bị bác bỏ, bị xem như một ý kiến qua đường về việc chúng ta đang tạo nên một xã hội ngày càng khó tin tưởng bất kỳ chuyện gì. Đây đúng là chuyện nguy hiểm, không chỉ đối với chính trị mà còn về mặt tâm linh.

Kinh thánh cho chúng ta biết Satan là Cha của Dối trá, và Chúa Giêsu đã nói rõ ràng, trong tất cả mọi tội, thì tội không nhận biết sự thật nguy hiểm gấp muôn phần. Chúng ta thấy mô-típ này trong đoạn Kinh Thánh cảnh báo chúng ta rằng có khả năng chúng ta phạm một tội không thể tha thứ, bởi nó là tội xúc phạm đến Thần Khí.

Đó là tội gì? Tại sao lại không thể được tha thứ? Và nó có liên quan gì đến chuyện nói dối?

Tội không thể tha thứ, chính xác là tội dối trá. Hãy đi vào đoạn Phúc âm này. Chúa Giêsu vừa trừ quỷ xong. Một phần đức tin của người Do Thái thời đó là tin rằng chỉ có những ai đến từ Thiên Chúa mới có quyền năng để trừ quỷ. Chúa Giêsu vừa trừ quỷ, nhưng những kinh sư và pharisiêu chứng kiến chuyện đó, lại thấy đó là một sự thật bất tiện cho họ, và vì thế họ đã chối bỏ sự thánh thiện của Chúa Giêsu. Khi đối diện với sự thật, hoặc là họ phải nhìn nhận một việc mà họ không muốn nhìn nhận, hoặc là họ xuyên tạc sự thật, phủ lên một lớp nghĩa khác cho sự thật đó. Họ đã chọn cái thứ hai, cáo buộc Chúa Giêsu trừ quỷ nhờ quyền lực của Satan, dù họ biết rõ rằng mình đang xuyên tạc sự thật. Họ biết quá rõ, biết rằng mình dối trá, nhưng sự thật đó quá khó chấp nhận đối với họ.

Ban đầu, Chúa Giêsu cố tranh luận với họ, chỉ ra rằng thật chẳng có lôgic khi cho rằng Satan lại đi trừ quỷ. Nhưng họ cứ ngoan cố, và thế là Chúa Giêsu đưa ra lời cảnh báo: “Ta nói thật cho các ngươi biết, mọi tội của con người đều sẽ được tha, mọi tội phạm thượng cũng thế, nhưng bất kỳ ai phạm thượng đến Thần Khí thì sẽ không bao giờ được tha, họ sẽ mắc tội vĩnh viễn.” (Mk 3, 28-29 hoặc Mt 12, 31-32) Chính xác thì lời cảnh báo này là gì?

Chúa Giêsu ngụ ý rằng: Hãy cẩn thận việc anh em đang làm bây giờ, việc phủ lớp vỏ dối trá quanh sự thật vì anh em thấy quá khó chịu để chấp nhận sự thật đó. Mối nguy là nếu anh em tiếp tục làm thế, thì cuối cùng anh em tin vào chính lời dối trá của mình. Đấy là điều không thể tha thứ, bởi anh em sẽ không còn muốn được tha thứ, bởi anh em sẽ xem sự thật là dối trá, và dối trá là sự thật. Tội đó không thể tha thứ, không phải bởi Thiên Chúa không muốn tha thứ, nhưng là bởi chúng ta không còn muốn được tha thứ.

Trong từ điển, thì “phạm thượng” là “hành động xúc phạm, hay thể hiện sự khinh miệt, hay là thiếu tôn kính với Thiên Chúa.” Chúng ta không phạm thượng khi nói bậy bạ vào những lúc nản lòng tuyệt vọng, chúng ta cũng không phạm thượng khi nắm tay giơ lên với Chúa trong giận dữ hay khi chúng ta ngoảnh mặt với Chúa vì cay đắng. Chúa có thể chịu được chuyện đó. Điều Chúa không chịu được là sự dối trá, là khi chúng ta nói dối đến mức tin vào lời dối trá của mình, bởi đến tận cùng lời dối trá đó làm biến dạng lương tâm chúng ta đến nỗi không còn phân biệt được sự thật với dối trá.

Thần học dạy chúng ta rằng Thiên Chúa là Một, là Duy Nhất, nghĩa là Thiên Chúa trước sau như một, và như thế bảo đảm rằng mọi thực thể cũng có một sự nhất quán nội tại, nói dễ hiểu thì nghĩa là không thể vừa có vừa không, nghĩa là hai nhân hai luôn bằng bốn, nghĩa là một cái cây luôn là một cái cây dù cho bạn gọi nó là gì đi nữa, nghĩa là trắng không thể là đen. Và như thế, sự thủy chung của Thiên Chúa cho chúng ta vừa có thể tin vào hiện thực vừa có thể tin tưởng vào nhận thức của chúng ta về nó.

Nhưng thời nay, điều đó đang bị công kích khắp nơi. Đấy là mối nguy đạo đức tột cùng. Thiên Chúa là Một, là trước sau như một, và nếu là thế, thì chúng ta đang buông tay Thiên Chúa, buông tay hiện thực, bóp méo lương tâm và phạm thượng đến Thần Khí.

Thiên Chúa gần gũi

Đang có một dòng văn học ghi lại cảm nghiệm của những người bị chết lâm sàng trong một thời gian (vài phút hay vài giờ) rồi phục hồi về mặt y khoa và sống lại. Nhiều người chúng ta biết đến quyển sách của bác sĩ Eben Alexander, Bằng chứng về Thiên đàng: Hành trình của một bác sĩ phẫu thuật não vào Đời sau [Proof of Heaven: A Neurosurgeon’s Journey into the Afterlife]. Mới đây, Hollywood có ra mắt bộ phim Phép lạ từ Thiên đàng [Miracles from Heaven], với câu chuyện thật về một cô gái ở Texas đã chết lâm sàng, nhưng rồi sống lại theo y khoa và đã chia sẻ những gì mình cảm nghiệm được trong đời sau.

Qua vài chục năm, đã có hàng trăm câu chuyện như thế được công bố hay đơn giản là chia sẻ với những người thân thuộc. Điều đáng chú ý (và cũng đem lại khuây khỏa) là những câu chuyện này vô cùng tích cực, dù cho nhân vật chính theo bất kỳ tôn giáo nào. Trong hầu như mọi trường hợp, dù rất khó tả, nhưng họ đều cảm nghiệm được một cảm giác yêu thương nồng ấm rất gần gũi, ánh sáng và sự chào đón, và một số người còn gặp được những người thân đã qua đời, đôi khi là những người thân mà chưa biết. Và trong hầu như mọi trường hợp, họ không muốn trở lại cuộc sống này, như thánh Phêrô trên núi Biến hình vậy, họ muốn được ở lại đó.

Gần đây, khi diễn thuyết tại một hội thảo, tôi có nhắc đến dòng văn học này và chỉ ra rằng, dường như khi người ta chết, ai cũng lên thiên đàng. Tất nhiên, điều này sẽ khiến ta bật ra ngay những tranh luận. “Còn địa ngục thì sao? Khi chết đi, ta không bị phán xét sao? Không có ai vào địa ngục sao?” Câu trả lời của tôi cho những câu hỏi này, là trong khi tất cả chúng ta đều lên thiên đàng sau khi chết, nhưng tùy vào khuynh hướng đạo đức và tâm linh của mình, có thể chúng ta lại không muốn ở lại đó. Như Chúa Giêsu đã nói, địa ngục là một lựa chọn, thật sự là một lựa chọn, và chính chúng ta phán xét mình. Thiên Chúa không đẩy ai vào địa ngục cả. Địa ngục là do chúng ta chọn.

Tuy nhiên, tôi muốn chia sẻ một chuyện sau buổi hội thảo đó. Khi tôi sắp ra về, một bà tìm đến và nói là bà từng có cảm nghiệm đó. Bà đã bị chết lâm sàng trong vài phút rồi sống lại nhờ biện pháp y khoa. Và như cảm nghiệm của mọi người khác, bà cũng cảm thấy một sự nồng ấm, ánh sáng, và chào đón vô cùng mãnh liệt, đến nỗi bà không muốn quay lại đời này nữa. Tuy nhiên, điều bà nhớ nhất và muốn chia sẻ với người khác nhất, là thế này: Tôi biết được rằng Thiên Chúa rất gần gũi. Chúng ta chẳng hiểu nổi Thiên Chúa gần gũi chúng ta đến mức nào đâu. Thiên Chúa gần gũi chúng ta hơn ta tưởng quá nhiều! Cảm nghiệm đó đã cho bà ghi khắc luôn mãi một cảm giác về sự nồng ấm, yêu thương và chào đón của Thiên Chúa, nhưng dấu ấn sâu sắc nhất trong bà chính là cảm giác về sự gần gũi của Thiên Chúa.

Tôi chấn động trước lời chia sẻ này, cũng như hàng triệu người khác, tôi chưa cảm được sự gần gũi đó, hay ít nhất là chưa cảm được một cách rõ ràng. Thiên Chúa có vẻ xa cách, trừu tượng và phi nhân, một Thần Linh với hàng triệu việc phải lo nên chẳng thể chăm lo cho những chuyện vụn vặt của sinh linh bé nhỏ là tôi.

Hơn nữa, là Kitô hữu, chúng ta tin rằng Thiên Chúa là vô hạn và khôn tả. Thế nghĩa là dù chúng ta có thể biết Chúa, nhưng không bao giờ hình dung nổi Chúa. Do đó, càng khó hơn khi chúng ta hình dung một Đấng Tạo Hóa vô hạn và Đấng Bao Hàm mọi sự lại ở ngay trong chúng ta, lo lắng cho chúng ta, chia sẻ những dằn vặt của ta, và biết những cảm giác khó nói nhất của ta.

Hơn nữa, bất kỳ lúc nào chúng ta cố gắng hình dung về Thiên Chúa, thì trí tưởng tượng của chúng ta lại bị đẩy lùi trước ngưỡng không thể hình dung. Ví dụ như, hãy thử hình dung điều này: Có hàng tỷ người trên trái đất, và hàng tỷ người đã sống trước chúng ta. Mỗi phút, hàng ngàn người sinh ra, hàng ngàn người chết đi, hàng ngàn người phạm tội, hàng ngàn người làm việc tốt, hàng ngàn người yêu nhau, hàng ngàn người chịu khổ, hàng ngàn người rộn ràng vui sướng, tất cả chỉ là một phần nhỏ trong hàng tỷ tỷ sự kiện. Làm sao một trái tim, một cái đầu, một con người có thể ý thức được tất cả những chuyện này, biết rõ và đồng cảm với chúng ta theo mức độ “tóc trên đầu anh em đều được đếm hết rồi”? Thật không thể nào hình dung nổi, và đó chính là một phần định nghĩa về Thiên Chúa.

Làm sao Thiên Chúa có thể gần gũi với chúng ta như chính chúng ta được? Đây là mầu nhiệm, và khôn ngoan thì công nhận mầu nhiệm, vì bất kỳ điều gì chúng ta có thể hiểu được thì chưa đến tận cùng thâm sâu! Mầu nhiệm về sự gần gũi của Thiên Chúa, sự hiện diện của Ngài trong chúng ta, thật vượt quá hình dung của chúng ta. Nhưng mọi điều trong truyền thống đức tin của chúng ta và hầu hết mọi điều trong lời chứng của hàng trăm người từng có cảm nghiệm về đời sau, đảm bảo với chúng ta rằng, dù Thiên Chúa có thể vô hạn và khôn tả, nhưng Thiên Chúa vô cùng gần gũi với chúng ta, gần gũi hơn ta tưởng.

Mối đe dọa với đạo đức

Chúa Giêsu bảo rằng đến tận thế, chúng ta sẽ được phán xét theo cách chúng ta đối xử với người nghèo khi còn sống. Nhưng ngay cả trong đời này, khi không vươn tay đến người nghèo, thì chúng ta cũng có thể phải trả giá rồi.

Và trong quyển Lòng thương xót Công chính [Just Mercy], Bryan Stevenson đã chỉ ra mối nguy đó: “Tôi tin rằng tiêu chuẩn đích thực cho sự tận tâm của chúng ta với công lý, với đặc tính của xã hội mình, với luật lệ, công bằng và bình đẳng, không thể đong đếm bằng cách chúng ta đối xử với người giàu, người có quyền, và có địa vị trong chúng ta. Tiêu chuẩn thật sự cho nhân cách của chúng ta nằm ở cách chúng ta đối xử với người nghèo, người bị ruồng rẫy, bị cáo buộc, bị bỏ tù, bị lên án. Khi để người khác bị đối xử tệ bạc, thì chúng ta cũng là đồng lõa. Thiếu đi lòng nhân ái, có thể hủy hoại đạo đức của một cộng đồng, một quốc gia. Nỗi sợ và cơn giận có thể khiến chúng ta muốn báo thù, công kích, và bất công, cho đến khi tất cả chúng ta đều khốn khổ vì thiếu vắng lòng thương và tự lên án mình cũng như lên án tha nhân.”

Điều tôi cần nêu bật ở đây là những gì chúng ta gây ra cho mình khi không có lòng nhân ái với người nghèo. Chúng ta tàn phá đạo đức của mình. Như Stevenson nói, Thiếu đi lòng nhân ái là hủy hoại nguyên tắc đạo đức, của mỗi cá nhân, gia đình, giáo hội và quốc gia. Làm sao lại thế?

Thánh Augustino dạy rằng chúng ta không bao giờ trung tính về đạo đức, hoặc theo đường đức hạnh hoặc theo đường đồi bại. Chúng ta không bao giờ có thể trung tính, ổn định cả. Không có sự trung tính về đạo đức cả, Chúng ta đi lên hoặc tụt dốc. Và ai ai cũng vậy. Không tiến thì lùi.

Và thái độ của chúng ta về công lý và người nghèo cũng vậy. Hoặc chúng ta vươn tay ra với người nghèo và bận tâm hơn về họ, hoặc chúng ta vô thức làm chai đá tâm hồn và ngày càng xem nhẹ những vấn đề của người nghèo, ngày càng xa cách họ. Nếu chúng ta không tích cực bảo vệ công lý và người nghèo, thì chắc chắn đến một lúc, chúng ta sẽ toàn tâm gạt ra khỏi đầu những vấn đề đói nghèo, kỳ thị, bất bình đẳng và bất công.

Một điều thú vị là trong dụ ngôn Ngày Phán xét, khi Chúa Giêsu tách chiên với dê, dựa theo cách họ đối xử với người nghèo, thì cả hai nhóm, những người làm đúng và những người làm sai, không nhóm nào biết thật sự mình đã từng làm gì. Nhóm người công chính nói rằng họ không biết khi phục vụ người nghèo là đã phục vụ Chúa Kitô, và nhóm người sai lầm biện hộ rằng nếu biết đó là Chúa Kitô, thì họ đã tiếp đón giúp đỡ tử tế rồi. Chúa Giêsu nói với họ, chuyện đó chẳng quan trọng. Tinh thần môn đệ trưởng thành hệ tại ở hành động, bất chấp thái độ có ý thức của chúng ta ra sao.

Và chúng ta cần cảnh giác, không chỉ với thái độ có ý thức của mình mà còn với việc chúng ta làm. Chúng ta có thể hết sức thật tâm, tử tế mà bịt mắt không thấy công lý và người nghèo. Chúng ta có thể là những người đạo đức, sốt sắng, hào phóng, nồng hậu, nhưng lại bịt mắt mình để trở thành một người chuộng chủ nghĩa ưu việt một cách sai trái, kỳ thị một cách kín đáo, vô tâm với môi trường, và bảo vệ những đặc quyền đặc lợi của mình. Chúng ta vẫn là những người tốt, nhưng thiếu đi lòng nhân ái trong một khía cạnh đời sống là chúng ta đạo đức què quặt rồi.

Chúng ta có thể là người tốt nhưng lại có những chai đá trong tim, vì chịu ảnh hưởng của những nhóm người quanh mình chẳng hạn. Trong bất kỳ nhóm nào, hoặc chúng ta nói chuyện về những cách hữu hiệu để thu lại khoảng cách giàu nghèo, hoặc chúng ta một cách vô thức, nói về nhu cầu cần bảo vệ khoảng cách đó. Một kiểu thì mở rộng, kiểu kia thì thu hẹp tấm lòng của chúng ta. Thiếu lòng nhân ái sẽ biến một trái tim độ lượng thành một trái tim thủ thế.

Chúng ta đều có những người bạn quý mến và cho chúng ta thấy mình là người tốt lành, rộng lượng, và có nhân cách. Và chắc chắn đúng là thế. Nhưng một sự khẳng định từ những người đồng hội đồng thuyền với chúng ta, có thể là một tấm gương méo mó. Tấm gương thực thụ chính là cách mà những người khác biệt với chúng ta về tính khí, tôn giáo, chủng tộc, chính trị nhận định về chúng ta. Người nghèo thấy gì về chúng ta? Người tị nạn thấy chúng ta tốt lành đến mức nào? Các chủng tộc khác thấy chúng ta có lòng nhân ái thế nào?

Và còn tấm gương của Chúa Giêsu, khi Ngài cho chúng ta biết phán xét sẽ dựa theo cách chúng ta đối xử với người nghèo, và phép thử cho sự tốt lành ở việc chúng ta có yêu thương địch thù của mình hay không.

Thiếu đi lòng nhân ái trong bất kỳ khía cạnh đời sống nào, thì phép tắc đạo đức của một cộng đoàn, một quốc gia, một giáo hội sẽ bị băng hoại, và nó còn biến lòng quảng đại của chúng ta thành thủ thế.

Những lúc đau đớn không cầu nguyện nổi

Vài năm trước, tôi nhận được một email khiến tôi bàng hoàng đến nghẹt thở. Một người đã nhiều năm là người thầy về tri thức và đức tin cho tôi, một người tôi tuyệt đối tin tưởng, và một người thâm giao tri kỷ với tôi, anh đã giết vợ rồi tự sát. Tin này khiến tôi thấy ngạt thở, tê liệt không thể hiểu nổi, không thể chấp nhận và cũng không biết cầu nguyện thế nào trước chuyện này.

Tôi không có lời nào để giải thích và cũng chẳng có lời nào để cầu nguyện. Cả trái tim và cái đầu của tôi như những bơm nước khô kiệt, vô dụng. Dù cho những người thân cận với anh hơn cho tôi biết là đã có những biểu hiện rối loạn tâm thần nhất định trước biến cố này, và họ tin chắc rằng đây là do một biến chứng não, chứ không phải là con người của anh. Nhưng… biết cầu nguyện thế nào trong hoàn cảnh này đây? Chẳng có lời nào để cầu nguyện cả.

Và chúng ta đều từng trải qua những lúc như thế này, khi một người thân yêu qua đời vì bị giết hại, tự sát, dùng thuốc quá liều, hay gặp tai nạn. Hay như cảm giác bất lực và bực mình trước những sự kiện dường như quá vô lý mà chúng ta thấy mỗi ngày. Những kẻ khủng bố giết hàng ngàn người vô tội, thiên tai khiến vô số người thiệt mạng và mất nhà cửa, những vụ xả súng đẫm máu ở New York, Paris, Las Vegas, Florida, San Bernardino, Sandy Hook, và nhiều nơi khác, cũng như hàng triệu người tị nạn phải chạy trốn khỏi quê hương xứ sở vì nghèo đói và chiến tranh. Và chúng ta đều quen ai đó đã nhận bản án tử là bệnh nan y, biết những cảnh đầu bạc tiễn đầu xanh, những bà mẹ trút hơi thở cuối cùng mà đau đớn vì con cái vẫn còn cần đến mình.

Trước những chuyện đó, chúng ta không chỉ dằn vặt vì sự vô nghĩa lý trong hoàn cảnh đó, mà còn đấu tranh để tìm những lời lẽ cũng như một lòng trí để cầu nguyện. Làm sao chúng ta cầu nguyện khi toàn thân tê dại đi vì sự bi kịch vô nghĩa lý đó? Làm sao chúng ta cầu nguyện khi không còn lòng trí nào nữa?

Thánh Phaolô bảo rằng khi chúng ta không biết cách cầu nguyện, thì Thần Khí rên xiết cầu nguyện cho chúng ta. Thánh Phaolô nói rằng khi còn có thể tìm được lời lẽ để cầu nguyện, thì đó chưa phải là lời cầu nguyện sâu sắc nhất. Cũng thế, khi ta còn lòng trí để cầu nguyện, thì đây chưa phải là lời cầu nguyện sâu sắc nhất. Lời cầu nguyện sâu sắc nhất của chúng ta là khi câm nín và dằn vặt, rã rời và bất lực. Sự dằn vặt câm nít thường là lời cầu nguyện sâu sắc nhất của ta. Chúng ta cầu nguyện sâu sắc nhất là khi khuỵu gối, không thể làm bất kỳ điều gì khác ngoài buông tay bất lực. Lời rên rỉ câm nín của chúng ta, dường là đối lập với lời cầu nguyện, nhưng thật ra, đó chính là lời cầu nguyện. Chính Thần Khí cầu nguyện qua chúng ta. Làm sao lại thế?

Thần Khí Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần, là Thần Khí của yêu thương, niềm vui, bình an, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng, trung tín, dịu dàng, và khiết tịnh. Và Thần Khí đó sống sâu trong lòng chúng ta, được Thiên Chúa đặt vào khi tạo nên chúng ta và ghi khắc sâu hơn với phép rửa. Khi chúng ta dằn vặt và quỵ gối trước những bi kịch quá đau đớn và vô nghĩa lý không thể chấp nhận, và chúng ta nuốt lấy tiếng rên rỉ bất lực của mình, thật ra là Thần Khí Thiên Chúa đang rên xiết trong chúng ta, kêu cầu sự tốt lành, nài van Chúa bằng một ngôn ngữ vượt quá lời lẽ của chúng ta.

Đôi khi chúng ta có lòng trí và lời lẽ để cầu nguyện, nhưng có những lúc, như trong sách Ai Ca, chúng ta chỉ biết vùi miệng xuống cát mà chờ đợi. Một độc giả từng gởi thư hỏi nhà thơ Rainer Marie Rilke, ông than van rằng trước mất mát to lớn ông tê tái không biết mình có thể làm gì với nỗi đau kinh khủng này. Và Rilke khuyên : Hãy để gánh nặng đó cho trần gian, cho trái đất, bởi trái đất thì nặng nề, núi non nặng nề, biển cả nặng nề. Và hãy để lời rên rỉ thành lời cầu nguyện!

Khi chúng ta không biết cách cầu nguyện, thì Thần Khí rên xiết cầu nguyện cho chúng ta. Vậy nên mỗi khi đối diện với hoàn cảnh bi đát khiến chúng ta câm lặng, không còn lòng trí nào nữa, đến nỗi chỉ nghĩ được rằng, Mình không thể giải thích nổi! Mình không chấp nhận nổi! Mình không chịu đựng nổi! Thật vô nghĩa lý! Cảm xúc tê bại! Đức tin tê bại! Mình không còn lòng trí nào để cầu nguyện! Thì khi đó thật khuây khỏa khi biết rằng sự dằn vặt tê bại đó chính là lời cầu nguyện của chúng ta, và có lẽ là lời cầu nguyện chân thành sâu sắc nhất của chúng ta.

Biện hộ cho Linh hồn

Thật khó để tìm tri kỷ nơi một người không tin bạn có linh hoan. Mới đây trên Radio The Moth, một cô gái trẻ chia sẻ câu chuyện của mình, kể về việc cô chia tay một người mà cô có tình cảm sâu đậm. Vấn đề là, cô có một đức tin sâu sắc, và phải đấu tranh với chủ nghĩa duy vật của bạn trai. Với anh ấy, linh hồn không tồn tại, chỉ có thế giới vật chất mà thôi. Cô cứ hỏi xem anh có tin mình có linh hồn không. Anh ấy không thể bắt mình tin như thế được. Và cuối cùng, dù đau lòng, nhưng họ đã chia tay. Tại sao lại thế? Nói theo lời cô ấy thì: “Thật khó để tìm tri kỷ nơi một người không tin bạn có linh hồn.”

Nỗi thất vọng của cô, vô số người cũng từng gặp. Thế giới của chúng ta ngày càng chối bỏ sự tồn tại của linh hồn. Nhưng không phải lúc nào cũng như thế. Cho đến trước thời hiện đại, thường thì chính vật chất và thân thể mới không được tôn vinh xứng đáng. Nhưng mọi thứ đã thay đổi, một cách triệt để.

Bắt đầu từ Darwin, người đặt nguồn gốc của chúng ta vào lịch sử thân thể hơn là linh hồn. Và điều này càng thành hình rõ hơn trong triết học cơ giới của thế kỷ trước, xem cả vũ trụ và chúng ta là những cỗ máy vật chất. Rồi điều này càng được củng cố hơn khi y học hiện đại và tâm lý kinh nghiệm ngày càng giải thích rằng, não trước hết là một phức hợp carbon và phản ứng hóa học. Rồi tâm thức này càng phát triển hơn nữa khi các trường đào tạo cấo cao của chúng ta tập trung vào kỹ thuật công nghệ hơn là về suy tư. Và tâm thức này cũng tích tụ trong nền văn hóa phổ biến hiện thời, khi tình yêu và tình dục được giải thích theo kiểu hóa sinh hơn là theo linh hồn. Thật chẳng có gì bất ngời khi câu khẩu quyết cho các ca sĩ pop thời nay là: Em muốn cơ thể anh! Anh muốn cơ thể em! Chúng ta đã đi quá xa khỏi hôn nhân của tâm trí đích thực của Shakespeare, và tình yêu của linh hồn lữ hành của Yeat.

Tất nhiên, tôn giáo luôn phản đối chuyện này, nhưng thường thì nhận thức của tôn giáo về linh hồn lại quá hẹp để có đủ sức mạnh kéo nền văn hóa vật chất về lại khao khát khám phá và lắng nghe linh hồn. Mỉa mai thay, một nhân vật không có tôn giáo, Carl Jung, lại nói về linh hồn theo một cách tri thức. Và chính nơi người bệnh, người điên, người tự tử, và những người có cuộc sống bị sụp đổ, mà Jung bắt đầu nghe ra tiếng kêu của linh hồn (với những đòi hỏi đôi khi rất khác với những đòi hỏi của thân thể, và với nhu cầu còn hơn xa yêu cầu tiện nghi và sống thọ).

Những khẳng định của Jung và các môn đồ của ông, có thể xem là một lời kháng nghị cho linh hồn. Chẳng hạn như trong bài viết của James Hillman. Mỉa mai thay, một người theo thuyết bất khả tri như ông có thể nói về linh hồn thật sâu sắc đến nỗi những người theo đạo như chúng tôi phải thấy mình nhỏ bé và ghen tị. Như Jung, James cũng rút ra nhiều thấu suốt của mình từ việc lắng nghe linh hồn kêu lên ý nghĩa và nỗi đau của mình qua tiếng nói của người bệnh, người điên, người sụp đổ và tự tử. Ông tin rằng tôn giáo, y học và tâm lý học, không lắng nghe tiếng kêu của linh hồn. Chúng không ngừng cố gắng sữa chữa, trị bệnh, hay cứu linh hồn, hơn là lắng nghe linh hồn. Mà linh hồn không mong muốn hay cần được chữa trị. Linh hồn là bất diệt rồi. Linh hồn cần được nghe, và nghe với hết sự tốt lành thiêng liêng và phức tạp trần gian của nó. Và đôi khi điều linh hồn nói với chúng ta lại đi ngược với mọi thường thức, kiến thức y học và cả các linh đạo tối giản mà chúng ta thường xem là tôn giáo.

Để gắn bó hơn với linh hồn của mình, chúng ta nên xem lại một ngôn ngữ cổ xưa hơn, ngôn ngữ mà tôn giáo, thi sĩ, thần thoại, và những người đang yêu đã dùng, trước khi chủ nghĩa vật chất thống trị biến ngôn ngữ về linh hồn của chúng ta thành ngôn ngữ của hóa sinh và cơ giới. Chúng ta không thể hiểu được linh hồn qua một mô tả khoa học, nhưng chỉ có thể hiểu bằng cách xem xét hành vi, sự ham muốn, bất mãn và phản kháng của linh hồn. Không thể giải thích, mà phải cảm nghiệm linh hồn, và cảm nghiệm linh hồn luôn nằm trong thâm sâu, khao khát, trong cái tôi, trong giới hạn, trong cảm giác lữ hành, trong nhu cầu cần một tri kỷ.

Đáng mừng là, ngày nay, chúng ta vẫn bộc phát kết nối linh hồn với những sự vượt trên hóa sinh và cơ giới. Như Hillman chỉ ra rằng: “Chúng ta liên kết từ “linh hồn” với tâm trí, tinh thần, tâm hồn, sự sống, hơi ấm, nhân văn, nhân cách, cá tính, ý định, bản chất, nội tại, mục đích, cảm xúc, phẩm chất, đức hạnh, tội lỗi, khôn ngoan, sự chết, Thiên Chúa. Và chúng ta nói linh hồn là “phiền phức” “già cỗi” “vô hình” “bất tử” “lạc lối” “ngây thơ” “hứng khởi”. Chúng ta có thể nói đôi mắt “có hồn” bởi đôi mắt là tấm gương của linh hồn, và những người không có lòng thương là người “vô hồn”.

Chúng ta hiểu rõ cấu thành của sự gì đó khi nó vỡ ra. Vậy nên có lẽ thời nay, chúng ta có thể hiểu rõ sự vô hồn trong việc chúng ta ngày càng chấp nhận khiêu dâm và tình dục qua đường, việc chúng ta thấy cần thiết và có chủ ý loại bỏ linh hồn khỏi những trải nghiệm mang tính linh hồn nhất.