RonRolheiser,OMI

Bi kịch thật sự của Tội lỗi

Bi kịch thực sự của tội lỗi là: thường người chịu hậu quả của tội lỗi đó cuối cùng lại trở nên người gây ra tội lỗi, bắt người khác chịu những gì đã từng giáng xuống trên mình. Trong chúng ta có một khuynh hướng tai ác, là khi bị tác hại chúng ta thường nắm lấy tội lỗi đó, hoàn tất nó với những thứ xấu xa của nó, rồi lại đấu tranh để không hành động như thế nữa. Chiến thắng tột cùng của tội lỗi là khi người bị hại trở nên người gây tội.

Chúng ta thấy điều này trong tác động của các nghi thức mang tính hành hạ kiểu bắt nạt. Từ các đội bóng trung học, cho đến các nhóm đại học, và một số trường quân bị, các nghi thức hành hạ này được dùng như một dạng nhập môn vậy. Điều thú vị là những người đã trải qua chuyện đó thường háo hức đến lượt mình được làm chuyện đó với người khác. Trải qua một chuyện hành hạ đã gợi lên tính hành hạ trong họ.

Một số trường phái tâm lý học đã xác nhận rằng mọi kẻ tấn công đều đã bị tấn công trước. Đúng là gần như thế. Kẻ bắt nạt đã từng bị bắt nạt, và kẻ ngoài cuộc chua cay là người từng bị loại trừ bất công. Vậy điều gì tạo nên một kẻ ngoài cuộc? Điều gì tạo nên người thích bắt nạt? Và điều gì tạo nên một kẻ giết người hàng loạt? Phải có gì đó xảy ra trong lòng một người lạnh lùng mặc vào bộ đồ lính, cầm súng, và xả vào các học sinh vô tội chứ?

Chắc chắn một trong những yếu tố gây nên chuyện này là bệnh tâm thần, nhưng còn các yếu tố khác nữa, những yếu tố mà chúng ta không đủ can đảm để đối diện. Phán xét bộc phát của chúng ta với thủ phạm xả súng hay đánh bom khủng bố, chỉ là thể hiện chính tội lỗi đó: “Mong cho hắn chết khô trong hỏa ngục.” Phản ứng này sai ở chỗ nó không hiểu được rằng người đó đã phải chịu đau khổ trong hỏa ngục của riêng mình và hành động kinh khủng của họ là một nỗ lực thoát ra hỏa ngục hay có thể là kéo thêm nhiều người vào chung chỗ với mình. Điều mà hầu hết những người gây ra bạo lực mong muốn, là hủy hoại thiên đàng của những người khác bởi họ đã bị tước mất thiên đàng của mình một cách bất công rồi. Tất nhiên không phải lúc nào điều này cũng đúng, bởi còn có chứng tâm thần và mầu nhiệm ý chí tự do của con người nữa, nhưng cũng đủ để chúng ta phải nghĩ lại và hiểu rõ hơn về lý do tại sao có những người mang tâm hồn cay đắng trong khi lại có những người mang trái tim yêu thương. Điều gì tạo nên tâm hồn con người? Điều gì khiến nó cay đắng hay nhân từ?

Tội lỗi và phúc lành định hình tâm hồn con người, một cái làm cho méo mó và một cái thì chữa lành. Tội lỗi, của chúng ta hay của người khác, là làm tổn thương tha nhân và che chắn cho chúng ta khỏi những chứng bệnh bên trong mình, bởi phạm tội là chúng ta gây bệnh cho người khác. Còn phúc lành thì ngược lại. Nó làm dịu chứng bệnh đang tác hại bất công lên họ, giúp biến cay đắng thành nhân từ, và chữa tận gốc những vết thương của họ.

Và chúng ta cần ngưng xếp loại, người ta là “kẻ thành công”, “kẻ thất bại” như thể chỉ có mình họ chịu trách nhiệm cho thành công hay thất bại của mình vậy. Không phải như thế. Tôi cho rằng những người từ tâm như Mẹ Têrêxa, không mấy người bị xâm hại đau khổ khi còn nhỏ. Những người như thánh Phanxicô, không mấy người bị giễu cợt, bị bắt nạt trên Facebook, bị xấu hổ vì ngoại hình của mình. Theo nhạc sĩ Leonard Cohen, ác độc và từ tâm, đều đến từ những gì chúng ta đã nhận lãnh. Rồi chúng ghi dấu trong tâm thần và cả trong cơ thể chúng ta. Cách chúng ta thể hiện mình, điệu bộ cơ thể, cách chúng ta biểu lộ tâm linh, tự tin hay hổ thẹn, quảng đại hay nhỏ nhen, yêu thương hay chạy trốn tình yêu, những phúc lành hay nguyền rủa, hệ tại rất nhiều ở việc bản thân chúng ta đã được chúc lành hay bị nguyền rủa khi chúng ta không đáng được chúc lành hay bị nguyền rủa.

Nhưng tôi thú thật, mầu nhiệm ý chí tự do của con người vẫn là một đám mây che mờ chuyện này. Có những người từng bị ngược đãi lúc nhỏ, nhưng vẫn trở thành một Mẹ Têrêxa, có những người bị bắt nạt nhưng vẫn trở thành một thánh Phanxicô chữa lành cho hàng triệu tâm hồn, biến những hành động tội lỗi giáng lên họ thành một phúc lành mạnh mẽ. Đáng buồn thay, đấy chỉ là những ngoại lệ, và cũng chính vì thế mà đó chính là thành tựu vĩ đại của họ.

Và cái hậu họa của tội lỗi này khiến chúng ta phải đối diện với nhiều thách thức: Thứ nhất, chúng ta không được để cảm xúc chi phối khi đưa ra những phán xét “cho nó chết trong hỏa ngục cho rồi.” Thứ hai, chúng ta phải bớt kiêu ngạo và xem thường những người mà chúng ta gọi là “kẻ thất bại.” Nữa là, chúng ta phải học được rằng thách thức nhân bản và tâm linh tối cùng chính là không để những gì chúng ta phải chịu đựng biến chúng ta thành con người cay đắng và muốn gây đau khổ đó trên người khác. Cuối cùng, nhưng không kém quan trọng, khi hiểu rằng cuộc đời của chúng ta có quá nhiều thứ chúng ta không xứng đáng nhận được, thì chúng ta cần tri ân Thiên Chúa và biết ơn mọi người, vì những tình cảm và nâng đỡ mà chúng ta đã nhận được dù không xứng đáng.

Kín đáo và Bí mật cũng là một Đức hạnh

Trong mọi con người khỏe mạnh, đều có sự kín đáo tự nhiên, không tiết lộ quá nhiều về mình và đồng thời thấy cần giữ kín một vài chuyện. Thường chúng ta lại đánh giá đây là sự ngại ngùng không lành mạnh, hay thậm chí tệ hơn là nghĩ họ đang che giấu chuyện xấu. Nhưng sự kín đáo và bí mật có thể là một nhân đức, bởi như James Hillman đã nói, khi lành mạnh chúng ta thường “thể hiện sự sùng mến của hổ thẹn trước mầu nhiệm cuộc sống.”

Vậy lúc nào các bí mật lành mạnh và lúc nào thì không? Lúc nào “vứt ngọc trai” thì lành mạnh và lúc nào thì không? Và cả hai phía đều quá thường trả lời theo kiểu quá đơn giản hóa chuyện này.

Chắc chắn bí mật có thể là chuyện nguy hiểm. Theo Kinh thánh, và theo linh đạo của mọi truyền thống tôn giáo, theo tâm lý học và cả những chương trình phục hồi chứng nghiện thời nay, thì chúng ta biết rằng giữ bí mật có thể là chuyện nguy hiểm, là thứ tối tăm, ám ảnh và ẩn trong chúng ta cần phải được đưa ra ánh sáng, được chia sẻ với mọi người, nếu không chúng ta sẽ chẳng bao giờ lành mạnh được. Kinh thánh cho chúng ta biết rằng “sự thật sẽ giải thoát anh em”, rằng chúng ta sẽ lành mạnh chỉ khi thú nhận tội lỗi, và những bí mật sẽ ăn mòn chúng ta, đến cuối cùng sẽ khiến chúng ta bại hoại. Chương trình Nghiện rượu Ẩn danh cho biết bí mật tồi tệ nhất của ta quyết định mức độ tồi tệ của ta. Tâm lý học thì nói rằng sự lành mạnh tâm lý dựa trên khả năng chia sẻ cảm nghĩ, cảm giác, cởi mở với người khác. Đúng là thế. Đó đúng là những lời khôn ngoan.

Có những bí mật được giấu kín cách sai lầm, như những bí mật chúng ta giấu diếm khi ngoại tình. Những bí mật như thế cứ day dứt trong tâm hồn và khiến chúng ta không còn là chính mình. Những gì chôn giấu phải được đưa ra ánh sáng. Ta phải cảnh giác với những bí mật.

Nhưng, như với mọi thứ khác, luôn có mặt kia của vấn đề, luôn cần có một sự cân bằng tinh tế. Giữ bí mật là xấu, nhưng cũng có thể không hay khi chúng ta chia sẻ về bản thân quá mức. Như thế chúng ta có thể thiếu đi sự kín đáo. Và là tầm thường hóa những gì quý báu trong ta. Chúng ta có thể mở lòng theo những cách làm tiêu tan hết mọi bí ẩn của mình và chẳng còn gì lãng mạn. Chúng ta có thể đánh mất chiều sâu của mình, đến nỗi khó lòng sáng tạo hay cầu nguyện được. Chúng ta có thể thiếu đi “sự sùng mến của hổ thẹn trước mầu nhiệm cuộc sống.” Chúng ta đều cần giữ kín vài bí mật.

Giữ bí mật nguyên nghĩa là giữ cái gì đó xa khỏi những người khác. Và chúng ta cần làm điều này một cách lành mạnh, bởi chúng ta cần có sự riêng tư chân thật nhất định nào đó để nuôi dưỡng con người của mình, để biết được linh hồn mình. Tất cả chúng ta đều cần giữ một vài bí mật lành mạnh. Và những bí mật này bảo vệ sự bí ẩn cũng như thâm sâu của chúng ta, và từ đó chúng ta có thể có nhiều hơn để trao đi cho người khác.

Khi một cái gì đó khép lại, hay khi một con người nhắm mắt lại, thì có sự huyền bí và thần nghiệm trong đó. Có gì đó ẩn giấu, đẹp đẽ, khôn ngoan, và yêu thương. Chiều sâu của nó phần nào khép lại và như thế bông hoa hay con người đó có một sự huyền bí nhất định khơi mào một khao khát trong chúng ta muốn khám phá chiều sâu đó. Và đây là cội nguồn của lãng mạn, cũng như của sáng tạo, cầu nguyện và chiêm niệm. Không phải tình cờ khi các họa sĩ thường vẽ những người đang cầu nguyện với đôi mắt nhắm. Linh hồn chúng ta cần phải được bảo vệ, tránh sự phơi bày quá mức. Cũng như đôi mắt cần phải nhắm lại khi ngủ, thì linh hồn chúng ta cũng vậy. Chúng cần có thời gian tránh xa đám đông ồn ào, thời gian riêng của mình, thời gian để đào sâu chính mình hòng phong phú hơn và lãng mạn hơn.

Vài năm trước, trong một bộ phim truyền hình, một bà mẹ đã cảnh báo đứa con tuổi vị thành niên của mình khi cô bé vừa ra khỏi nhà để đi tiệc với bạn: “Hãy nhớ, thân thể con là đền thờ Chúa Thánh Thần, chứ không phải là một công viên công cộng.” Trong lời nói đùa đó, có sự khôn ngoan. Bà mẹ cảnh báo con mình bảo vệ thân thể, mà thân thể liên kết vói linh hồn. Cũng như thân thể, không được tầm thường hóa linh hồn, xem như một thứ để giải trí.

Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta đừng ném của thánh cho chó và đừng ném ngọc trai cho heo. Ngài nói rất mạnh, nhưng đó là lời cảnh báo cho chúng ta về các giá trị. Linh hồn là thứ quý báu cần được trân quý và bảo vệ đúng mức. Linh hồn cũng là thứ thiêng liêng cần được tôn kính. Chúng ta bảo vệ những gì quý báu và thiêng liêng, khi thú nhận công khai những bí mật xấu xa và bảo vệ đúng đắn những bí mật lành mạnh.

Tội đùa giỡn với sự thật

Xem tin tức những ngày này có thể là chuyện khá nản lòng. Thế giới chúng ta đầy thù hận, định kiến bất dung, kỳ thị, tham lam không đáy, và những cái tôi quá lớn. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng mở rộng, và nạn bạo lực vô nghĩa lý đang tồn tại hàng ngày. Người ta sống với hy vọng, nhưng lạc quan thì không hẳn.

Trong tất cả, có lẽ chuyện đáng buồn nhất là sự xóa mòn khả năng nhìn nhận và nhận thức sự thật. Từ các viên chức cao cấp nhất trong chính phủ, đến các hãng truyền thông lớn, các tờ báo địa phương, hàng ngàn bloger, thậm chí là ngay trên bàn ăn gia đình, chúng ta ngày càng vô trách nhiệm, xuyên tạc và bất lương trắng trợn với sự thật, chối bỏ sự thật khi nó gây bất tiện cho ta, bẻ cong sự thật để phù hợp với mục đích của ta, hay thậm chí còn dám xem sự thật là “tin giả” là “chuyện nói tránh né” là “thông tin sai lệch,” “sự thật không còn giá trị,” hay là “kiểu cách xã giao” không còn giá trị. Các nghiên cứu từ những viện khoa học lớn bị bác bỏ, bị xem như một ý kiến qua đường về việc chúng ta đang tạo nên một xã hội ngày càng khó tin tưởng bất kỳ chuyện gì. Đây đúng là chuyện nguy hiểm, không chỉ đối với chính trị mà còn về mặt tâm linh.

Kinh thánh cho chúng ta biết Satan là Cha của Dối trá, và Chúa Giêsu đã nói rõ ràng, trong tất cả mọi tội, thì tội không nhận biết sự thật nguy hiểm gấp muôn phần. Chúng ta thấy mô-típ này trong đoạn Kinh Thánh cảnh báo chúng ta rằng có khả năng chúng ta phạm một tội không thể tha thứ, bởi nó là tội xúc phạm đến Thần Khí.

Đó là tội gì? Tại sao lại không thể được tha thứ? Và nó có liên quan gì đến chuyện nói dối?

Tội không thể tha thứ, chính xác là tội dối trá. Hãy đi vào đoạn Phúc âm này. Chúa Giêsu vừa trừ quỷ xong. Một phần đức tin của người Do Thái thời đó là tin rằng chỉ có những ai đến từ Thiên Chúa mới có quyền năng để trừ quỷ. Chúa Giêsu vừa trừ quỷ, nhưng những kinh sư và pharisiêu chứng kiến chuyện đó, lại thấy đó là một sự thật bất tiện cho họ, và vì thế họ đã chối bỏ sự thánh thiện của Chúa Giêsu. Khi đối diện với sự thật, hoặc là họ phải nhìn nhận một việc mà họ không muốn nhìn nhận, hoặc là họ xuyên tạc sự thật, phủ lên một lớp nghĩa khác cho sự thật đó. Họ đã chọn cái thứ hai, cáo buộc Chúa Giêsu trừ quỷ nhờ quyền lực của Satan, dù họ biết rõ rằng mình đang xuyên tạc sự thật. Họ biết quá rõ, biết rằng mình dối trá, nhưng sự thật đó quá khó chấp nhận đối với họ.

Ban đầu, Chúa Giêsu cố tranh luận với họ, chỉ ra rằng thật chẳng có lôgic khi cho rằng Satan lại đi trừ quỷ. Nhưng họ cứ ngoan cố, và thế là Chúa Giêsu đưa ra lời cảnh báo: “Ta nói thật cho các ngươi biết, mọi tội của con người đều sẽ được tha, mọi tội phạm thượng cũng thế, nhưng bất kỳ ai phạm thượng đến Thần Khí thì sẽ không bao giờ được tha, họ sẽ mắc tội vĩnh viễn.” (Mk 3, 28-29 hoặc Mt 12, 31-32) Chính xác thì lời cảnh báo này là gì?

Chúa Giêsu ngụ ý rằng: Hãy cẩn thận việc anh em đang làm bây giờ, việc phủ lớp vỏ dối trá quanh sự thật vì anh em thấy quá khó chịu để chấp nhận sự thật đó. Mối nguy là nếu anh em tiếp tục làm thế, thì cuối cùng anh em tin vào chính lời dối trá của mình. Đấy là điều không thể tha thứ, bởi anh em sẽ không còn muốn được tha thứ, bởi anh em sẽ xem sự thật là dối trá, và dối trá là sự thật. Tội đó không thể tha thứ, không phải bởi Thiên Chúa không muốn tha thứ, nhưng là bởi chúng ta không còn muốn được tha thứ.

Trong từ điển, thì “phạm thượng” là “hành động xúc phạm, hay thể hiện sự khinh miệt, hay là thiếu tôn kính với Thiên Chúa.” Chúng ta không phạm thượng khi nói bậy bạ vào những lúc nản lòng tuyệt vọng, chúng ta cũng không phạm thượng khi nắm tay giơ lên với Chúa trong giận dữ hay khi chúng ta ngoảnh mặt với Chúa vì cay đắng. Chúa có thể chịu được chuyện đó. Điều Chúa không chịu được là sự dối trá, là khi chúng ta nói dối đến mức tin vào lời dối trá của mình, bởi đến tận cùng lời dối trá đó làm biến dạng lương tâm chúng ta đến nỗi không còn phân biệt được sự thật với dối trá.

Thần học dạy chúng ta rằng Thiên Chúa là Một, là Duy Nhất, nghĩa là Thiên Chúa trước sau như một, và như thế bảo đảm rằng mọi thực thể cũng có một sự nhất quán nội tại, nói dễ hiểu thì nghĩa là không thể vừa có vừa không, nghĩa là hai nhân hai luôn bằng bốn, nghĩa là một cái cây luôn là một cái cây dù cho bạn gọi nó là gì đi nữa, nghĩa là trắng không thể là đen. Và như thế, sự thủy chung của Thiên Chúa cho chúng ta vừa có thể tin vào hiện thực vừa có thể tin tưởng vào nhận thức của chúng ta về nó.

Nhưng thời nay, điều đó đang bị công kích khắp nơi. Đấy là mối nguy đạo đức tột cùng. Thiên Chúa là Một, là trước sau như một, và nếu là thế, thì chúng ta đang buông tay Thiên Chúa, buông tay hiện thực, bóp méo lương tâm và phạm thượng đến Thần Khí.

Thiên Chúa gần gũi

Đang có một dòng văn học ghi lại cảm nghiệm của những người bị chết lâm sàng trong một thời gian (vài phút hay vài giờ) rồi phục hồi về mặt y khoa và sống lại. Nhiều người chúng ta biết đến quyển sách của bác sĩ Eben Alexander, Bằng chứng về Thiên đàng: Hành trình của một bác sĩ phẫu thuật não vào Đời sau [Proof of Heaven: A Neurosurgeon’s Journey into the Afterlife]. Mới đây, Hollywood có ra mắt bộ phim Phép lạ từ Thiên đàng [Miracles from Heaven], với câu chuyện thật về một cô gái ở Texas đã chết lâm sàng, nhưng rồi sống lại theo y khoa và đã chia sẻ những gì mình cảm nghiệm được trong đời sau.

Qua vài chục năm, đã có hàng trăm câu chuyện như thế được công bố hay đơn giản là chia sẻ với những người thân thuộc. Điều đáng chú ý (và cũng đem lại khuây khỏa) là những câu chuyện này vô cùng tích cực, dù cho nhân vật chính theo bất kỳ tôn giáo nào. Trong hầu như mọi trường hợp, dù rất khó tả, nhưng họ đều cảm nghiệm được một cảm giác yêu thương nồng ấm rất gần gũi, ánh sáng và sự chào đón, và một số người còn gặp được những người thân đã qua đời, đôi khi là những người thân mà chưa biết. Và trong hầu như mọi trường hợp, họ không muốn trở lại cuộc sống này, như thánh Phêrô trên núi Biến hình vậy, họ muốn được ở lại đó.

Gần đây, khi diễn thuyết tại một hội thảo, tôi có nhắc đến dòng văn học này và chỉ ra rằng, dường như khi người ta chết, ai cũng lên thiên đàng. Tất nhiên, điều này sẽ khiến ta bật ra ngay những tranh luận. “Còn địa ngục thì sao? Khi chết đi, ta không bị phán xét sao? Không có ai vào địa ngục sao?” Câu trả lời của tôi cho những câu hỏi này, là trong khi tất cả chúng ta đều lên thiên đàng sau khi chết, nhưng tùy vào khuynh hướng đạo đức và tâm linh của mình, có thể chúng ta lại không muốn ở lại đó. Như Chúa Giêsu đã nói, địa ngục là một lựa chọn, thật sự là một lựa chọn, và chính chúng ta phán xét mình. Thiên Chúa không đẩy ai vào địa ngục cả. Địa ngục là do chúng ta chọn.

Tuy nhiên, tôi muốn chia sẻ một chuyện sau buổi hội thảo đó. Khi tôi sắp ra về, một bà tìm đến và nói là bà từng có cảm nghiệm đó. Bà đã bị chết lâm sàng trong vài phút rồi sống lại nhờ biện pháp y khoa. Và như cảm nghiệm của mọi người khác, bà cũng cảm thấy một sự nồng ấm, ánh sáng, và chào đón vô cùng mãnh liệt, đến nỗi bà không muốn quay lại đời này nữa. Tuy nhiên, điều bà nhớ nhất và muốn chia sẻ với người khác nhất, là thế này: Tôi biết được rằng Thiên Chúa rất gần gũi. Chúng ta chẳng hiểu nổi Thiên Chúa gần gũi chúng ta đến mức nào đâu. Thiên Chúa gần gũi chúng ta hơn ta tưởng quá nhiều! Cảm nghiệm đó đã cho bà ghi khắc luôn mãi một cảm giác về sự nồng ấm, yêu thương và chào đón của Thiên Chúa, nhưng dấu ấn sâu sắc nhất trong bà chính là cảm giác về sự gần gũi của Thiên Chúa.

Tôi chấn động trước lời chia sẻ này, cũng như hàng triệu người khác, tôi chưa cảm được sự gần gũi đó, hay ít nhất là chưa cảm được một cách rõ ràng. Thiên Chúa có vẻ xa cách, trừu tượng và phi nhân, một Thần Linh với hàng triệu việc phải lo nên chẳng thể chăm lo cho những chuyện vụn vặt của sinh linh bé nhỏ là tôi.

Hơn nữa, là Kitô hữu, chúng ta tin rằng Thiên Chúa là vô hạn và khôn tả. Thế nghĩa là dù chúng ta có thể biết Chúa, nhưng không bao giờ hình dung nổi Chúa. Do đó, càng khó hơn khi chúng ta hình dung một Đấng Tạo Hóa vô hạn và Đấng Bao Hàm mọi sự lại ở ngay trong chúng ta, lo lắng cho chúng ta, chia sẻ những dằn vặt của ta, và biết những cảm giác khó nói nhất của ta.

Hơn nữa, bất kỳ lúc nào chúng ta cố gắng hình dung về Thiên Chúa, thì trí tưởng tượng của chúng ta lại bị đẩy lùi trước ngưỡng không thể hình dung. Ví dụ như, hãy thử hình dung điều này: Có hàng tỷ người trên trái đất, và hàng tỷ người đã sống trước chúng ta. Mỗi phút, hàng ngàn người sinh ra, hàng ngàn người chết đi, hàng ngàn người phạm tội, hàng ngàn người làm việc tốt, hàng ngàn người yêu nhau, hàng ngàn người chịu khổ, hàng ngàn người rộn ràng vui sướng, tất cả chỉ là một phần nhỏ trong hàng tỷ tỷ sự kiện. Làm sao một trái tim, một cái đầu, một con người có thể ý thức được tất cả những chuyện này, biết rõ và đồng cảm với chúng ta theo mức độ “tóc trên đầu anh em đều được đếm hết rồi”? Thật không thể nào hình dung nổi, và đó chính là một phần định nghĩa về Thiên Chúa.

Làm sao Thiên Chúa có thể gần gũi với chúng ta như chính chúng ta được? Đây là mầu nhiệm, và khôn ngoan thì công nhận mầu nhiệm, vì bất kỳ điều gì chúng ta có thể hiểu được thì chưa đến tận cùng thâm sâu! Mầu nhiệm về sự gần gũi của Thiên Chúa, sự hiện diện của Ngài trong chúng ta, thật vượt quá hình dung của chúng ta. Nhưng mọi điều trong truyền thống đức tin của chúng ta và hầu hết mọi điều trong lời chứng của hàng trăm người từng có cảm nghiệm về đời sau, đảm bảo với chúng ta rằng, dù Thiên Chúa có thể vô hạn và khôn tả, nhưng Thiên Chúa vô cùng gần gũi với chúng ta, gần gũi hơn ta tưởng.

Mối đe dọa với đạo đức

Chúa Giêsu bảo rằng đến tận thế, chúng ta sẽ được phán xét theo cách chúng ta đối xử với người nghèo khi còn sống. Nhưng ngay cả trong đời này, khi không vươn tay đến người nghèo, thì chúng ta cũng có thể phải trả giá rồi.

Và trong quyển Lòng thương xót Công chính [Just Mercy], Bryan Stevenson đã chỉ ra mối nguy đó: “Tôi tin rằng tiêu chuẩn đích thực cho sự tận tâm của chúng ta với công lý, với đặc tính của xã hội mình, với luật lệ, công bằng và bình đẳng, không thể đong đếm bằng cách chúng ta đối xử với người giàu, người có quyền, và có địa vị trong chúng ta. Tiêu chuẩn thật sự cho nhân cách của chúng ta nằm ở cách chúng ta đối xử với người nghèo, người bị ruồng rẫy, bị cáo buộc, bị bỏ tù, bị lên án. Khi để người khác bị đối xử tệ bạc, thì chúng ta cũng là đồng lõa. Thiếu đi lòng nhân ái, có thể hủy hoại đạo đức của một cộng đồng, một quốc gia. Nỗi sợ và cơn giận có thể khiến chúng ta muốn báo thù, công kích, và bất công, cho đến khi tất cả chúng ta đều khốn khổ vì thiếu vắng lòng thương và tự lên án mình cũng như lên án tha nhân.”

Điều tôi cần nêu bật ở đây là những gì chúng ta gây ra cho mình khi không có lòng nhân ái với người nghèo. Chúng ta tàn phá đạo đức của mình. Như Stevenson nói, Thiếu đi lòng nhân ái là hủy hoại nguyên tắc đạo đức, của mỗi cá nhân, gia đình, giáo hội và quốc gia. Làm sao lại thế?

Thánh Augustino dạy rằng chúng ta không bao giờ trung tính về đạo đức, hoặc theo đường đức hạnh hoặc theo đường đồi bại. Chúng ta không bao giờ có thể trung tính, ổn định cả. Không có sự trung tính về đạo đức cả, Chúng ta đi lên hoặc tụt dốc. Và ai ai cũng vậy. Không tiến thì lùi.

Và thái độ của chúng ta về công lý và người nghèo cũng vậy. Hoặc chúng ta vươn tay ra với người nghèo và bận tâm hơn về họ, hoặc chúng ta vô thức làm chai đá tâm hồn và ngày càng xem nhẹ những vấn đề của người nghèo, ngày càng xa cách họ. Nếu chúng ta không tích cực bảo vệ công lý và người nghèo, thì chắc chắn đến một lúc, chúng ta sẽ toàn tâm gạt ra khỏi đầu những vấn đề đói nghèo, kỳ thị, bất bình đẳng và bất công.

Một điều thú vị là trong dụ ngôn Ngày Phán xét, khi Chúa Giêsu tách chiên với dê, dựa theo cách họ đối xử với người nghèo, thì cả hai nhóm, những người làm đúng và những người làm sai, không nhóm nào biết thật sự mình đã từng làm gì. Nhóm người công chính nói rằng họ không biết khi phục vụ người nghèo là đã phục vụ Chúa Kitô, và nhóm người sai lầm biện hộ rằng nếu biết đó là Chúa Kitô, thì họ đã tiếp đón giúp đỡ tử tế rồi. Chúa Giêsu nói với họ, chuyện đó chẳng quan trọng. Tinh thần môn đệ trưởng thành hệ tại ở hành động, bất chấp thái độ có ý thức của chúng ta ra sao.

Và chúng ta cần cảnh giác, không chỉ với thái độ có ý thức của mình mà còn với việc chúng ta làm. Chúng ta có thể hết sức thật tâm, tử tế mà bịt mắt không thấy công lý và người nghèo. Chúng ta có thể là những người đạo đức, sốt sắng, hào phóng, nồng hậu, nhưng lại bịt mắt mình để trở thành một người chuộng chủ nghĩa ưu việt một cách sai trái, kỳ thị một cách kín đáo, vô tâm với môi trường, và bảo vệ những đặc quyền đặc lợi của mình. Chúng ta vẫn là những người tốt, nhưng thiếu đi lòng nhân ái trong một khía cạnh đời sống là chúng ta đạo đức què quặt rồi.

Chúng ta có thể là người tốt nhưng lại có những chai đá trong tim, vì chịu ảnh hưởng của những nhóm người quanh mình chẳng hạn. Trong bất kỳ nhóm nào, hoặc chúng ta nói chuyện về những cách hữu hiệu để thu lại khoảng cách giàu nghèo, hoặc chúng ta một cách vô thức, nói về nhu cầu cần bảo vệ khoảng cách đó. Một kiểu thì mở rộng, kiểu kia thì thu hẹp tấm lòng của chúng ta. Thiếu lòng nhân ái sẽ biến một trái tim độ lượng thành một trái tim thủ thế.

Chúng ta đều có những người bạn quý mến và cho chúng ta thấy mình là người tốt lành, rộng lượng, và có nhân cách. Và chắc chắn đúng là thế. Nhưng một sự khẳng định từ những người đồng hội đồng thuyền với chúng ta, có thể là một tấm gương méo mó. Tấm gương thực thụ chính là cách mà những người khác biệt với chúng ta về tính khí, tôn giáo, chủng tộc, chính trị nhận định về chúng ta. Người nghèo thấy gì về chúng ta? Người tị nạn thấy chúng ta tốt lành đến mức nào? Các chủng tộc khác thấy chúng ta có lòng nhân ái thế nào?

Và còn tấm gương của Chúa Giêsu, khi Ngài cho chúng ta biết phán xét sẽ dựa theo cách chúng ta đối xử với người nghèo, và phép thử cho sự tốt lành ở việc chúng ta có yêu thương địch thù của mình hay không.

Thiếu đi lòng nhân ái trong bất kỳ khía cạnh đời sống nào, thì phép tắc đạo đức của một cộng đoàn, một quốc gia, một giáo hội sẽ bị băng hoại, và nó còn biến lòng quảng đại của chúng ta thành thủ thế.

Những lúc đau đớn không cầu nguyện nổi

Vài năm trước, tôi nhận được một email khiến tôi bàng hoàng đến nghẹt thở. Một người đã nhiều năm là người thầy về tri thức và đức tin cho tôi, một người tôi tuyệt đối tin tưởng, và một người thâm giao tri kỷ với tôi, anh đã giết vợ rồi tự sát. Tin này khiến tôi thấy ngạt thở, tê liệt không thể hiểu nổi, không thể chấp nhận và cũng không biết cầu nguyện thế nào trước chuyện này.

Tôi không có lời nào để giải thích và cũng chẳng có lời nào để cầu nguyện. Cả trái tim và cái đầu của tôi như những bơm nước khô kiệt, vô dụng. Dù cho những người thân cận với anh hơn cho tôi biết là đã có những biểu hiện rối loạn tâm thần nhất định trước biến cố này, và họ tin chắc rằng đây là do một biến chứng não, chứ không phải là con người của anh. Nhưng… biết cầu nguyện thế nào trong hoàn cảnh này đây? Chẳng có lời nào để cầu nguyện cả.

Và chúng ta đều từng trải qua những lúc như thế này, khi một người thân yêu qua đời vì bị giết hại, tự sát, dùng thuốc quá liều, hay gặp tai nạn. Hay như cảm giác bất lực và bực mình trước những sự kiện dường như quá vô lý mà chúng ta thấy mỗi ngày. Những kẻ khủng bố giết hàng ngàn người vô tội, thiên tai khiến vô số người thiệt mạng và mất nhà cửa, những vụ xả súng đẫm máu ở New York, Paris, Las Vegas, Florida, San Bernardino, Sandy Hook, và nhiều nơi khác, cũng như hàng triệu người tị nạn phải chạy trốn khỏi quê hương xứ sở vì nghèo đói và chiến tranh. Và chúng ta đều quen ai đó đã nhận bản án tử là bệnh nan y, biết những cảnh đầu bạc tiễn đầu xanh, những bà mẹ trút hơi thở cuối cùng mà đau đớn vì con cái vẫn còn cần đến mình.

Trước những chuyện đó, chúng ta không chỉ dằn vặt vì sự vô nghĩa lý trong hoàn cảnh đó, mà còn đấu tranh để tìm những lời lẽ cũng như một lòng trí để cầu nguyện. Làm sao chúng ta cầu nguyện khi toàn thân tê dại đi vì sự bi kịch vô nghĩa lý đó? Làm sao chúng ta cầu nguyện khi không còn lòng trí nào nữa?

Thánh Phaolô bảo rằng khi chúng ta không biết cách cầu nguyện, thì Thần Khí rên xiết cầu nguyện cho chúng ta. Thánh Phaolô nói rằng khi còn có thể tìm được lời lẽ để cầu nguyện, thì đó chưa phải là lời cầu nguyện sâu sắc nhất. Cũng thế, khi ta còn lòng trí để cầu nguyện, thì đây chưa phải là lời cầu nguyện sâu sắc nhất. Lời cầu nguyện sâu sắc nhất của chúng ta là khi câm nín và dằn vặt, rã rời và bất lực. Sự dằn vặt câm nít thường là lời cầu nguyện sâu sắc nhất của ta. Chúng ta cầu nguyện sâu sắc nhất là khi khuỵu gối, không thể làm bất kỳ điều gì khác ngoài buông tay bất lực. Lời rên rỉ câm nín của chúng ta, dường là đối lập với lời cầu nguyện, nhưng thật ra, đó chính là lời cầu nguyện. Chính Thần Khí cầu nguyện qua chúng ta. Làm sao lại thế?

Thần Khí Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần, là Thần Khí của yêu thương, niềm vui, bình an, nhẫn nại, tốt lành, chịu đựng, trung tín, dịu dàng, và khiết tịnh. Và Thần Khí đó sống sâu trong lòng chúng ta, được Thiên Chúa đặt vào khi tạo nên chúng ta và ghi khắc sâu hơn với phép rửa. Khi chúng ta dằn vặt và quỵ gối trước những bi kịch quá đau đớn và vô nghĩa lý không thể chấp nhận, và chúng ta nuốt lấy tiếng rên rỉ bất lực của mình, thật ra là Thần Khí Thiên Chúa đang rên xiết trong chúng ta, kêu cầu sự tốt lành, nài van Chúa bằng một ngôn ngữ vượt quá lời lẽ của chúng ta.

Đôi khi chúng ta có lòng trí và lời lẽ để cầu nguyện, nhưng có những lúc, như trong sách Ai Ca, chúng ta chỉ biết vùi miệng xuống cát mà chờ đợi. Một độc giả từng gởi thư hỏi nhà thơ Rainer Marie Rilke, ông than van rằng trước mất mát to lớn ông tê tái không biết mình có thể làm gì với nỗi đau kinh khủng này. Và Rilke khuyên : Hãy để gánh nặng đó cho trần gian, cho trái đất, bởi trái đất thì nặng nề, núi non nặng nề, biển cả nặng nề. Và hãy để lời rên rỉ thành lời cầu nguyện!

Khi chúng ta không biết cách cầu nguyện, thì Thần Khí rên xiết cầu nguyện cho chúng ta. Vậy nên mỗi khi đối diện với hoàn cảnh bi đát khiến chúng ta câm lặng, không còn lòng trí nào nữa, đến nỗi chỉ nghĩ được rằng, Mình không thể giải thích nổi! Mình không chấp nhận nổi! Mình không chịu đựng nổi! Thật vô nghĩa lý! Cảm xúc tê bại! Đức tin tê bại! Mình không còn lòng trí nào để cầu nguyện! Thì khi đó thật khuây khỏa khi biết rằng sự dằn vặt tê bại đó chính là lời cầu nguyện của chúng ta, và có lẽ là lời cầu nguyện chân thành sâu sắc nhất của chúng ta.

Biện hộ cho Linh hồn

Thật khó để tìm tri kỷ nơi một người không tin bạn có linh hoan. Mới đây trên Radio The Moth, một cô gái trẻ chia sẻ câu chuyện của mình, kể về việc cô chia tay một người mà cô có tình cảm sâu đậm. Vấn đề là, cô có một đức tin sâu sắc, và phải đấu tranh với chủ nghĩa duy vật của bạn trai. Với anh ấy, linh hồn không tồn tại, chỉ có thế giới vật chất mà thôi. Cô cứ hỏi xem anh có tin mình có linh hồn không. Anh ấy không thể bắt mình tin như thế được. Và cuối cùng, dù đau lòng, nhưng họ đã chia tay. Tại sao lại thế? Nói theo lời cô ấy thì: “Thật khó để tìm tri kỷ nơi một người không tin bạn có linh hồn.”

Nỗi thất vọng của cô, vô số người cũng từng gặp. Thế giới của chúng ta ngày càng chối bỏ sự tồn tại của linh hồn. Nhưng không phải lúc nào cũng như thế. Cho đến trước thời hiện đại, thường thì chính vật chất và thân thể mới không được tôn vinh xứng đáng. Nhưng mọi thứ đã thay đổi, một cách triệt để.

Bắt đầu từ Darwin, người đặt nguồn gốc của chúng ta vào lịch sử thân thể hơn là linh hồn. Và điều này càng thành hình rõ hơn trong triết học cơ giới của thế kỷ trước, xem cả vũ trụ và chúng ta là những cỗ máy vật chất. Rồi điều này càng được củng cố hơn khi y học hiện đại và tâm lý kinh nghiệm ngày càng giải thích rằng, não trước hết là một phức hợp carbon và phản ứng hóa học. Rồi tâm thức này càng phát triển hơn nữa khi các trường đào tạo cấo cao của chúng ta tập trung vào kỹ thuật công nghệ hơn là về suy tư. Và tâm thức này cũng tích tụ trong nền văn hóa phổ biến hiện thời, khi tình yêu và tình dục được giải thích theo kiểu hóa sinh hơn là theo linh hồn. Thật chẳng có gì bất ngời khi câu khẩu quyết cho các ca sĩ pop thời nay là: Em muốn cơ thể anh! Anh muốn cơ thể em! Chúng ta đã đi quá xa khỏi hôn nhân của tâm trí đích thực của Shakespeare, và tình yêu của linh hồn lữ hành của Yeat.

Tất nhiên, tôn giáo luôn phản đối chuyện này, nhưng thường thì nhận thức của tôn giáo về linh hồn lại quá hẹp để có đủ sức mạnh kéo nền văn hóa vật chất về lại khao khát khám phá và lắng nghe linh hồn. Mỉa mai thay, một nhân vật không có tôn giáo, Carl Jung, lại nói về linh hồn theo một cách tri thức. Và chính nơi người bệnh, người điên, người tự tử, và những người có cuộc sống bị sụp đổ, mà Jung bắt đầu nghe ra tiếng kêu của linh hồn (với những đòi hỏi đôi khi rất khác với những đòi hỏi của thân thể, và với nhu cầu còn hơn xa yêu cầu tiện nghi và sống thọ).

Những khẳng định của Jung và các môn đồ của ông, có thể xem là một lời kháng nghị cho linh hồn. Chẳng hạn như trong bài viết của James Hillman. Mỉa mai thay, một người theo thuyết bất khả tri như ông có thể nói về linh hồn thật sâu sắc đến nỗi những người theo đạo như chúng tôi phải thấy mình nhỏ bé và ghen tị. Như Jung, James cũng rút ra nhiều thấu suốt của mình từ việc lắng nghe linh hồn kêu lên ý nghĩa và nỗi đau của mình qua tiếng nói của người bệnh, người điên, người sụp đổ và tự tử. Ông tin rằng tôn giáo, y học và tâm lý học, không lắng nghe tiếng kêu của linh hồn. Chúng không ngừng cố gắng sữa chữa, trị bệnh, hay cứu linh hồn, hơn là lắng nghe linh hồn. Mà linh hồn không mong muốn hay cần được chữa trị. Linh hồn là bất diệt rồi. Linh hồn cần được nghe, và nghe với hết sự tốt lành thiêng liêng và phức tạp trần gian của nó. Và đôi khi điều linh hồn nói với chúng ta lại đi ngược với mọi thường thức, kiến thức y học và cả các linh đạo tối giản mà chúng ta thường xem là tôn giáo.

Để gắn bó hơn với linh hồn của mình, chúng ta nên xem lại một ngôn ngữ cổ xưa hơn, ngôn ngữ mà tôn giáo, thi sĩ, thần thoại, và những người đang yêu đã dùng, trước khi chủ nghĩa vật chất thống trị biến ngôn ngữ về linh hồn của chúng ta thành ngôn ngữ của hóa sinh và cơ giới. Chúng ta không thể hiểu được linh hồn qua một mô tả khoa học, nhưng chỉ có thể hiểu bằng cách xem xét hành vi, sự ham muốn, bất mãn và phản kháng của linh hồn. Không thể giải thích, mà phải cảm nghiệm linh hồn, và cảm nghiệm linh hồn luôn nằm trong thâm sâu, khao khát, trong cái tôi, trong giới hạn, trong cảm giác lữ hành, trong nhu cầu cần một tri kỷ.

Đáng mừng là, ngày nay, chúng ta vẫn bộc phát kết nối linh hồn với những sự vượt trên hóa sinh và cơ giới. Như Hillman chỉ ra rằng: “Chúng ta liên kết từ “linh hồn” với tâm trí, tinh thần, tâm hồn, sự sống, hơi ấm, nhân văn, nhân cách, cá tính, ý định, bản chất, nội tại, mục đích, cảm xúc, phẩm chất, đức hạnh, tội lỗi, khôn ngoan, sự chết, Thiên Chúa. Và chúng ta nói linh hồn là “phiền phức” “già cỗi” “vô hình” “bất tử” “lạc lối” “ngây thơ” “hứng khởi”. Chúng ta có thể nói đôi mắt “có hồn” bởi đôi mắt là tấm gương của linh hồn, và những người không có lòng thương là người “vô hồn”.

Chúng ta hiểu rõ cấu thành của sự gì đó khi nó vỡ ra. Vậy nên có lẽ thời nay, chúng ta có thể hiểu rõ sự vô hồn trong việc chúng ta ngày càng chấp nhận khiêu dâm và tình dục qua đường, việc chúng ta thấy cần thiết và có chủ ý loại bỏ linh hồn khỏi những trải nghiệm mang tính linh hồn nhất.

Tưởng nhớ Kathleen Dowling Singh

Kathleen Dowling Singh làm việc ở một nhà chăm sóc, đồng thời là một chuyên gia trị liệu tâm lý, bà cũng là một ngòi bút thiêng liêng rất sâu sắc.

Bà có tiếng và được kính nể trong giới tác giả và giảng dạy về linh đạo, nhờ ba quyển sách chính là: Ơn Sống, Ơn Già, và Ơn Chết (The Grace in Living; The Grace in Aging, The Grace in Dying). Điều thú vị là, bà viết bộ ba tác phẩm này theo thứ tự đảo ngược, bắt đầu từ chết, cho đến già, và cuối cùng là suy tư về sự sống. Và bà làm thế là bởi những thấu suốt của bà rút ra từ kinh nghiệm làm việc trong nhà chăm sóc, lo cho các bệnh nhân bị bệnh nan y. Đồng hành và chứng kiến những người hấp hối dạy cho bà nhiều điều về ý nghĩa của tuổi già, và cuối cùng là ý nghĩa của cuộc sống. Những quyển sách của bà cố gắng nêu bật ân sủng sâu sắc trong mỗi giai đoạn sống của chúng ta.

Tôi muốn nêu bật đặc biệt những thấu suốt của bà trong quyển sách đầu tay: Ơn Chết. Ngoài Kinh thánh và một số nhà thần nghiệm kinh điển, tôi chưa thấy ai có nhận thức thiêng liêng sâu sắc như Singh, về ý định của Thiên Chúa và tự nhiên trong tiến trình đi đến cái chết của chúng ta, nhất là nơi những người chết vì tuổi già và bệnh nan y.

Singh đặt luận đề của mình trên dòng này: Tiến trình chết là điều chỉnh tinh tế để đưa chúng ta đến với địa hạt tâm linh. Trong tiến trình của cái chết hàm chứa sự khôn ngoan. Cụ thể là thế này:

Cả đời, ý thức của chúng ta đã hạn chế nhận thức, khép chặt không để nhận thức của ta mở ra với địa hạt thiêng liêng. Nhưng đó không phải là con người ban đầu của chúng ta. Khi còn nhỏ, chúng ta vô cùng cởi mở. Một đứa trẻ thật rạng rỡ, nhưng chúng không biết suy nghĩ. Để suy nghĩ, thì cần có một cái tôi, một tự thức, và theo Singh, sự cấu thành cái tôi đó, điều kiện của tự thức, khiến chúng ta nhận lấy bốn tiêm nhiễm tâm thần lớn, mỗi thứ lại khép kín nhận thức của ta về thế giới thiêng liêng theo những cách khác nhau.

Chúng ta cấu thành cái tôi như thế này. Trước hết, khi còn nhỏ, là sự phân biệt cái gì của mình và cái gì của người khác. Đó là tiêm nhiễm đầu tiên. Không lâu sau đó, đứa bé phân biệt giữa sống và không sống, chú chó thì sống còn hòn đá thì không. Rồi sau đó, đứa bé phân biệt giữa tâm trí và thân thể, thân thể thì cụ thể và chắc chắn còn tâm trí thì không. Cuối cùng, chúng ta phân biệt giữa những gì mình có thể đối diện bên trong con người mình và những gì quá kinh hãi không thể đối mặt nổi. Chúng ta tách biệt sự sáng láng và phức tạp của mình khỏi tự thức, và thường gọi chúng là cái bóng. Mỗi một biến chuyển này lại khóa chặt một lĩnh vực của thực tại với nhận thức của ta. Và khi làm thế, chúng ta tạo nên nỗi sợ chết.

Tiến trình già và chết phá vỡ những tiêm nhiễm này, đảo ngược cách chúng ta thành hình chúng, và mỗi lần phá vỡ, chúng ta lại nhận thức được một địa hạt hiện thực rộng hơn, nhất là địa hạt thiêng liêng. Và tiến trình này tích tụ trong những thời khắc trước khi chết nơi cảm nghiệm xuất thần, mà nhiều người đã chứng kiến nơi nhiều bệnh nhân nan y. Khi sự tiêm nhiễm cuối cùng tạo thành cái tôi của chúng ta bị phá vỡ, thì tinh thần tuôn vào và chúng ta xuất thần. Là một nhân viên chăm sóc, Singh đã nhiều lần nhìn thấy chuyện này nơi các bệnh nhân của mình.

Elizabeth Kubler Ross, cho rằng một số người bị chẩn đoán bệnh nan y sẽ đi qua năm giai đoạn trước khi chết. Là Chối bỏ, Giận dữ, Thương lượng, Trầm cảm, và Chấp nhận. Singh cũng đồng ý như thế, trừ việc bà thêm ba giai đoạn nữa. Một cú ngã vào tăm tối dẫn đến tuyệt vọng, sự từ bỏ còn lớn hơn cả sự chấp nhận ban đầu, và một cơn xuất thần tuôn vào. Bà chỉ ra rằng Chúa Giêsu đã đi qua những giai đoạn này trên thập giá, một lời kêu than mình bị bỏ rơi như xuất phát từ nỗi tuyệt vọng, việc trao phó tinh thần của mình, và cơn xuất thần đến với Ngài khi chết.

Thấu suốt của Singh giúp chúng ta thấy khuây khỏa nhiều. Tiến trình chết sẽ cho chúng ta những điều tương tự như trong đời sống cầu nguyện và quên mình, cụ thể là nó giúp chúng ta phá vỡ sự ích kỷ và chúng ta được mở ra với địa hạt thiêng liêng. Thiên Chúa sẽ đến với chúng ta, bằng cách này hay cách khác.

Chúng ta vừa mất đi một người phụ nữ vĩ đại và một ngòi bút thiêng liêng lớn. Các con của bà, sau khi bà qua đời, đã viết trên Facebook đơn giản rằng, mẹ của họ muốn tất cả chúng ta biết rằng “bà là một người bình thường chết một cái chết bình thường.” Nhưng di sản tinh thần bà để lại cho chúng ta thì không thường chút nào.

Không phải người giữ cửa

Toni Morrison, tác giả đoạt giải Nobel đã đặt ra câu hỏi này, “Tại sao anh muốn quen biết một người lạ, trong khi ghẻ lạnh một ai đó thì dễ dàng hơn? Tại sao chúng ta muốn kết nối những khoảng cách trong khi chúng ta có thể đóng sầm cánh cổng?” Nhưng đây không phải là một câu hỏi, mà là một nhận định.

Đây là một nhận định tiêu cực về cả xã hội và Giáo hội của chúng ta. Thật sự lòng của chúng ta hướng về cái nào? Chúng ta cố gắng để kết nối những khoảng cách giữa chúng ta và những người xa lạ, hay là chúng ta cố gắng đóng sầm cánh cổng để giữ những kẻ xa lạ với chúng ta?

Nói một cách công bằng, câu này chỉ ra rằng, đây là điều mà chúng ta phải đấu tranh. Không có một thời đại vàng son khi mọi người đều nhiệt thành chào đón người lạ. Có những con người và những cộng đồng với tấm lòng vàng luôn mở ra để chào đón, nhưng ở tầm mức toàn xã hội hay Giáo hội thì không.

Vấn đề này cũng là một điều phải đương đầu và là trọng tâm trong các chính sách thời nay. Khi khắp nơi, các quốc gia đang đấu tranh giữa các chính sách nhập cư của mình và bổn phận phải làm với hàng triệu người tị nạn và di dân muốn vào đất nước họ, thì tôi muốn đưa ra lời thách thức của Morrison: Chúng ta mời người lạ vào? Hay chúng ta thấy hài lòng khi để những người lạ tránh xa nhà của mình?

Có một thách thức điển hình trong dụ ngôn của Chúa Giêsu về ông chủ vườn nho quá hào phóng, nhưng chúng ta lại thường dễ bỏ qua. Thách thức này nằm trong câu hỏi mà ông chủ hỏi nhóm nhân công cuối cùng, những người chỉ làm việc trong vòng một tiếng đồng hồ. Không như nhóm đầu tiên, ông chủ không hỏi họ, “Các anh có muốn làm việc trong vườn nho của tôi không?” Mà ông chủ hỏi rằng, “Tại sao anh không làm việc?” Họ trả lời, “Bởi chẳng ai thuê chúng tôi!” Hãy để ý rằng họ không trả lời là họ không làm việc vì họ lười biếng, thiếu năng lực. Và câu hỏi của ông chủ vườn cũng không có ý như thế. Họ không làm việc đơn giản là bởi không ai mời họ làm việc!

Đáng buồn thay, đây cũng là trường hợp cho rất nhiều người dường như đang lạnh lùng hay lãnh đạm với tôn giáo và Giáo hội của chúng ta. Không một ai mời họ vào! Và điều này cũng đúng ở thời của Chúa Giêsu. Có một nhóm người lãnh đạm và thù địch với tôn giáo dường như đều bị kết án đơn giản là tội nhân. Những người bị xem là tội nhân này, là các gái điếm, người thu thuế, ngoại kiều và tội phạm. Chúa Giêsu mời họ đến, và nhiều người trong số họ đã đáp lời một cách chân thành, hối cải, và sốt mến đến nỗi khiến cho những người tự nhận mình là tín hữu cũng phải thấy xấu hổ. Với những người bị xem là tội nhân này, ngăn cách giữa họ và cổng vào nước trời chỉ là một lời mời chân thật mà thôi.

Tại sao anh không đi lễ?

Bởi chẳng có ai mời tôi cả!

Trong những kinh nghiệm mục vụ phải nói là có giới hạn của tôi, tôi đã chứng kiến nhiều người từ lúc nhỏ cho đến tận tuổi trung niên đã sống lãnh đạm thậm chí là sợ hãi kiểu hoang tưởng về tôn giáo và giáo hội. Họ xem đó là một thế giới mà họ bị loại trừ. Nhưng nhờ một số người nhân hậu, hay gặp một hoàn cảnh nào đó, mà họ cảm nhận mình được mời gọi và họ trao trọn bản thân cho gia đình xã hội mà họ mới tìm thấy, một cách nồng hậu, nhiệt thành, biết ơn và thường vô cùng tự hào về tình trạng mới của mình. Tôi đã chứng kiến việc này nhiều lần và tôi hiểu tại sao các cô gái điếm và người thu thuế đã tin vào Chúa Giêsu, hơn những kinh sư, luật sĩ thời đó. Bởi vì Ngài là người đầu tiên thật sự mời gọi họ.

Đáng buồn thay lại có một sự đối lập với tinh thần này và điều này lại thường xuyên xảy ra, là khi chúng ta không mời gọi một số người mà lại năng nổ tìm cách đóng sầm cánh cửa với họ. Chúng ta đã thấy điều này nhiều lần trong Tin mừng, khi các môn đệ ngăn chặn người ta đến với Chúa Giêsu, khi người ta cố đưa người bị liệt đến với Chúa, nhưng không thể vào được vì bị đám đông chắn lối, nên họ phải trổ một cái lỗ trên mái nhà để thả người đó xuống cho Chúa Giêsu.

Chúng ta đã chắn lối người khác tìm đến Chúa Giêsu, một cách thường xuyên, vô thức, thật tâm nhưng mù quáng. Đây là một nguy cơ, nhất là với những ai đang lo việc mục vụ. Chúng ta quá dễ dàng, thật tâm, nhân danh Chúa Giêsu, nhân danh thần học chính thống và nhân danh việc mục vụ, mà tự cho mình làm người gác cổng, làm người bảo vệ Giáo hội, và buộc người ta phải đi qua mình để đến với Chúa. Chúng ta cần nhớ rõ hơn nữa, rằng chỉ có Chúa Giêsu là cửa cho chiên vào, và chúng ta cần thanh luyện con người mình bằng cách thấy ra vì sao mà Chúa Giêsu đã đuổi những người đổi tiền trong đền thờ. Những người đổi tiền đó đã tự xem mình là trung gian mà người ta phải gặp trước khi dâng lễ vật lên Chúa. Và Chúa Giêsu không chấp nhận điều đó.

Sứ mạng môn đệ Chúa Giêsu không phải là làm người giữ cửa. Mà là tìm cách để nối kết khoảng cách và mời gọi người lạ vào.

Ngôn ngữ mở rộng hay khép kín tâm thức của chúng ta

30 năm trước nhà giáo dục người Mỹ, Allan Bloom, đã viết một quyển sách với tựa đề Sự khép kín của tâm thức Mỹ (The Closing of the American Mind). Lập luận của ông là trong thế giới thế tục hóa thời nay, ngôn ngữ của chúng ta trở nên mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa, một chiều và thiếu chiều sâu hơn bao giờ hết. Và chính điều này khép kín tâm thức của chúng ta, bằng cách tước đoạt những ý nghĩa sâu xa hơn bên trong cảm nghiệm của chúng ta. Với ông, cách chúng ta xác định một cảm nghiệm quyết định tầm mức ý nghĩa lớn lao hơn của nó.

20 năm trước trong một bài luận còn sâu sắc hơn với tựa đề Sự chiến thắng của Phép chữa bệnh (The Triumph of the Therapeutic), Philip Rieff đã nêu ra một luận điểm tương tự. Với ông, chúng ta sống trong một tình trạng “bờ rào hình tượng,” cụ thể là một ngôn ngữ và các biểu tượng mà chúng ta dùng để diễn giải các kinh nghiệm của mình. Bờ rào đó có thể cao hay thấp, rồi từ đó ý nghĩa mà chúng ta rút ra từ một cảm nghiệm cũng cao thấp như vậy. Cảm nghiệm có thể phong phú hoặc nông cạn tùy theo ngôn ngữ mà chúng ta dùng để diễn giải nó.

Lấy một ví dụ thế này: một người bị đau lưng và đến gặp bác sĩ, và bác sĩ bảo là ông bị chứng viêm khớp. Nghe thế ông khá yên tâm, nhưng chưa thấy thỏa mãn, nên ông đến gặp một bác sĩ tâm lý. Bác sĩ tâm lý bảo ông là những triệu chứng của ông không phải chỉ về mặt thể lý nhưng ông còn đang gặp phải cơn khủng hoảng tuổi trung niên. Và như thế cơn đau của ông đã được đặt vào một mức độ sâu hơn, cho ông hiểu rõ hơn về tình trạng của mình. Nhưng ông vẫn chưa thỏa mãn và đến gặp một vị linh hướng. Vị linh hướng, dù không bác bỏ là ông có bị viêm khớp và khủng hoảng tuổi trung niên, nhưng còn bảo ông rằng, ông nên xem cơn đau của mình như là Vườn Cây Dầu, như là thập giá để vác.

Cả ba chẩn đoán này điều nói về cùng một chứng đau nhưng mỗi lời lại đặt chứng đau đó dưới một bờ rào hình tượng khác nhau. Ngôn ngữ có nhiều cấp độ khác nhau và chỉ có một thứ ngôn ngữ nhất định nói được tầm mức của linh hồn. Gần đây chúng ta đã có nhiều cách hơn để hiểu điều này, qua các tác phẩm của Carl Jung và một số môn đệ của ông, họ đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn ngôn ngữ của linh hồn và cách ngôn ngữ đó phơi bày những nguyên hình mẫu sâu xa trong chúng ta.
Chúng ta thấy ngôn ngữ của linh hồn là một trong số những điều bí ẩn và thần thoại nhất. Sự đơn giản của ngôn ngữ linh hồn có thể khiến bạn bị nhầm. Đơn giản nhưng không đơn điệu. Một ví dụ là câu chuyện Cô bé Lọ Lem. Điều đầu tiên chúng ta cần chú ý trong câu chuyện này đó là tên của Cô bé Lọ Lem. Cinderella không phải là một cái tên thật nhưng là ghép bởi hai từ: Cinder, nghĩa là tro, và Puella nghĩa là cô gái bất tử. Đây không phải là một câu chuyện thần tiên đơn giản về một cô bé cô đơn bị hành hạ. Nó là câu chuyện để nêu bật một cơ cấu sâu xa trong linh hồn con người. Cụ thể là trước khi linh hồn của chúng ta sẵn sàng để mang lấy đôi hài thủy tinh, để làm tâm điểm của buổi tiệc, cưới hoàng tử và sống hạnh phúc mãi mãi về sau, thì chúng ta phải trải qua một số thời gian vùi trong tro bụi, bị sỉ nhục và được thanh luyện.

Câu chuyện này có cách của nó để nói lên linh đạo của chúng ta về mùa chay, một mùa ăn năn hối cải khi chúng ta lấy tro xức lên mình, để đi vào hoang địa chính mình.
Cô Bé Lọ Lem là một câu chuyện soi rọi đôi chút vào chiều sâu của linh hồn chúng ta. Nhiều chuyện cổ tích có tác dụng như thế, dù cho không có chuyện gì, hay cái gì có thể soi rọi vào linh hồn sâu xa hơn là Kinh Thánh. Ngôn ngữ và những biểu tượng trong Kinh Thánh xác định cảm nghiệm của chúng ta theo một cách vừa tôn vinh linh hoan, vừa giúp chúng ta đưa chiều sâu đích thực vào trong các cảm nghiệm của mình.

Ví dụ như chúng ta có thể thấy hoang mang, hay nói cách khác là ở trong bụng của con cá voi. Có thể thấy mình bất lực trước chứng nghiện, hay nói cách khác là bị quỷ ám. Chúng ta có thể giao động giữa đời sống cầu nguyện sốt sắng và những giờ u ám, hay nói khác là đang dao động giữa đi cùng Chúa đến Galilê hay ở với Ngài tại Giêrusalem. Chúng ta có thể bị tê liệt khi đứng trước một sự toàn cầu hóa quá mức với chúng ta, hay nói cách khác là chúng ta có thể đứng với Chúa Giêsu bên rìa của vùng Samari, nói chuyện với một người phụ nữ dân ngoại. Chúng ta có thể phải đấu tranh giữa sự trung tín với Chúa và sự gắn bó với các quan hệ của mình, hay nói cách khác là chúng ta có thể đứng cùng ông Joshua, nhận huấn lệnh giết hết người Canaan nếu muốn được vào đất hứa. Chúng ta có thể bị đau khớp, hay nói cách khác là đang đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu.
Ngôn ngữ mà chúng ta dùng để hiểu một cảm nghiệm sẽ tạo nên sự khác biệt vô cùng lớn trong những gì mà cảm nghiệm đó đem lại cho chúng ta. Trong quyển Sự khép kín của tâm thức Mỹ, Allan Bloom đã dùng một hình ảnh trần tục hơn nhưng rất sinh động để giải thích điều này. Ông nói rằng trong những giờ nghỉ, các học trò của Plato ngồi lại và kể những câu chuyện tuyệt vời đầy ý nghĩa về những khát khao bất tử trong họ. Còn sinh viên của ông trong giờ nghỉ, thì ngồi quanh và nói chuyện gái gú.

Chúng ta đang đánh mất và ngày càng thiếu thốn ngôn ngữ của linh hồn.

Nỗi sợ lành mạnh và không lành mạnh về Thiên Chúa

Là một thần học gia, linh mục và giảng viên, tôi thường nhận được những câu hỏi: “Tại sao giáo hội không nói nhiều về nỗi sợ với Thiên Chúa nữa? Tại sao chúng ta không nói nhiều về hỏa ngục nữa? Tại sao chúng ta không giảng nhiều về cơn giận của Thiên Chúa và lửa hỏa ngục nữa?”

Không khó để trả lời những câu hỏi này. Chúng ta không giảng nhiều về nỗi sợ nữa, bởi đơn giản rằng việc đó là sai, trừ khi chúng ta cực kỳ cẩn thận khi nói về nó. Phải công nhận, nỗi sợ có thể khiến cho người ta thay đổi hành vi nhưng nó cũng có thể hạ giá và phần nào là tẩy não con người. Một thứ có tác dụng không đồng nghĩa rằng nó đúng. Chỉ được giảng về nỗi sợ Thiên Chúa trong một bối cảnh yêu thương mà thôi.

Chính Kinh Thánh dường như cũng cho chúng ta thông điệp phức tạp. Một mặt nói rằng kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan, nhưng Kinh Thánh cũng nói, mỗi lần Thiên Chúa xuất hiện trong lịch sử nhân loại, thì những lời đầu tiên của Ngài luôn là “Đừng sợ.” Lời này xuất phát từ chính miệng Thiên Chúa, hay qua các ngôi sứ, những người truyền tin của Chúa. Lời này đã xuất hiện hơn 300 lần trong Kinh Thánh. Những lời đầu tiên chúng ta sẽ nghe, trong mọi lần Thiên Chúa xuất hiện trong cuộc đời chúng ta là “Đừng sợ.” Chúng ta phải cẩn thận khi giảng về nỗi sợ với Thiên Chúa. Nỗi sợ bị trừng phạt không phải là thông điệp đích thực mà chúng ta nghe khi Thiên Chúa đi vào cuộc đời chúng ta.

Vậy thì làm sao kính sợ Thiên Chúa lại là khởi đầu của khôn ngoan? Trong mối liên hệ chúng ta với Thiên Chúa, cũng như trong mối liên hệ giữa chúng ta với người khác, có những nỗi sợ lành mạnh và không lành mạnh. Nỗi sợ lành mạnh là gì?

Nỗi sợ lành mạnh là nỗi sợ của yêu thương. Khi chúng ta yêu ai đó, tình yêu của chúng ta sẽ có một số nỗi sợ lành mạnh và chúng ta sẽ phải cẩn trọng. Chúng ta sợ mình tỏ ra thiếu tôn trọng, sợ mình ích kỷ. Mọi tình yêu lành mạnh đều có một nỗi sợ, rằng mình không để người kia được hoàn toàn tự do. Sự tôn kính và tôn trọng cũng là một phần của nỗi sợ. Nhưng đây không phải là kinh sợ, thấy mình nhỏ bé hay khiếp đảm trước một hình phạt nào đó. Nỗi sợ vì yêu thương chính là nỗi sợ mà Thiên Chúa đã tạo ra trong lòng ông Môsê khi ông đứng trước bụi gai bốc cháy: “Hãy cởi giày ra, vì nơi người đang đứng là đất thánh!”

Chúng ta hiểu “kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan” là như thế nào? Chúng ta khôn ngoan và theo lẽ phải khi chúng ta đứng trước mầu nhiệm Thiên Chúa và tình yêu với đôi giày đã cởi ra, nghĩa là có một sự tôn kính. Chúng ta khiêm nhường và mở lòng ra với mầu nhiệm lớn lao định hình chúng ta cho những mục đích vô tận. Nhưng điều này rất xa và gần như là đối lập với nỗi sợ mà chúng ta cảm nhận khi bị đe dọa, với người hoặc vật đang đe dọa chúng ta theo kiểu nhẫn tâm độc đoán và trừng phạt.

Cũng có một nỗi sợ Thiên Chúa lành mạnh nảy sinh trong chúng ta khi sợ mình đang gây hại cho những gì tốt lành chân thật và xinh đẹp trong thế giới này. Một vài tôn giáo gọi đây là nỗi sợ trước nghiệp chướng. Còn Chúa Giêsu thì mời gọi chúng ta đến với nỗi sợ thánh thiện này khi Ngài bảo chúng ta rằng “anh em đong đấu nào thì sẽ được đong lại bằng đấu ấy.” Có một cơ cấu luân lý trong vũ trụ này trong cuộc đời và trong mỗi chúng ta. Tất cả mọi sự đều có một giới hạn luân lý mà chúng ta cần phải tôn trọng. Sợ mình xâm phạm chân thiện mỹ là một điều làng mạnh.

Chúng ta cần rao giảng nỗi sợ lành mạnh này hơn là một nỗi sợ rằng chúng ta phải sợ Thiên Chúa trừng phạt chúng ta theo một cách vị luật và cứng ngắc. Bất cứ lúc nào chúng ta rao giảng nỗi sợ không lành mạnh này, nỗi sợ một Thiên Chúa chực chờ giáng lửa hỏa ngục, là chúng ta gần như đang rao giảng về một Thiên Chúa không cảm thông, không thông hiểu, và không tha thứ cho lắm. Một Thiên Chúa mà chúng ta phải sợ vì những hình phạt này là một Thiên Chúa mà không bao giờ chúng ta tìm thấy được sự thân mật nồng ấm bên Ngài. Tình yêu không có chỗ cho đe dọa, trừ khi đó là một nỗi sợ rằng mình có thể làm gì đó thiếu tôn trọng, sợ làm mất đi tình yêu. Biển lửa hỏa ngục có thể là một chiến lược có hiệu quả để giúp người ta thay đổi hành vi, nhưng xét theo Tin Mừng, đó là một chiến lược sai trái.

Sợ là một trong những bản năng sâu xa nhất và giúp duy trì sự sống cho bạn. Không biết sợ bạn khó mà sống thọ được. Nhưng nỗi sợ là một hiện tượng phức tạp đa chiều. Một vài nỗi sợ giúp bạn sống sót, Nhưng có những nỗi sợ làm bạn bị biến dạng và bị giam hãm.

Trong đời có những thứ cần phải sợ. Nhưng Thiên Chúa không nằm trong số đó. Thiên Chúa không phải là một kẻ bắt nạt trong sân chơi cũng không phải một bạo chúa độc đoán, nhưng là tình yêu luôn mãi mời gọi chúng ta kết hiệp mật thiết với Ngài.

Lời nguyện xin Tĩnh lặng

Hãy làm thinh và biết Ta là Đức Chúa.

Kinh thánh quả quyết với chúng rằng nếu chúng ta làm thinh thì sẽ biết Chúa, nhưng có được sự lặng yên thì nói dễ hơn làm. Như Blaise Pascal từng nói, “Mọi khốn khổ của con người là do chẳng ai có thể ngồi yên trong một tiếng đồng hồ.” Đạt được sự tĩnh lặng có vẻ là việc quá tầm chúng ta, và như thế chúng ta gặp một song đề: chúng ta cần tĩnh lặng để tìm Chúa, nhưng cần Chúa giúp để tìm sự tĩnh lặng. Nghĩ như thế, tôi xin đưa gởi gắm các bạn một lời nguyện xin sự tĩnh lặng.

Lạy Thiên Chúa của tĩnh lặng…

Xin làm tĩnh lặng những bồn chồn tuổi trẻ của con, tĩnh lặng cơn đói khát cứ ập vào con, cơn đói khát muốn nối kết với mọi người, muốn thấy và và thưởng nếm mọi thứ, cơn đói khát khiến con mất bình an những buổi tối cuối tuần. Xin tĩnh lặng những giấc mơ tự đại muốn mình nổi bật với người khác. Xin cho con ơn sống hài lòng hơn với bản thân con.

Xin tĩnh lặng cơn bồn chồn khiến con thấy mình quá nhỏ bé. Xin cho con biết rằng đời con là đủ, và con không cần đòi hỏi về mình, dù cho cả thế giới đang cố lôi kéo con làm thế với vô vàn những hình ảnh tiếng động khắp nơi. Xin cho con ơn sống bình an trong cuộc đời mình.

Xin làm tĩnh lặng tính dục của con, chỉnh đốn những khao khát bừa bãi, dục vọng của con, nhu cầu không ngơi muốn được thân mật hơn nữa của con. Xin tĩnh lặng và chỉnh đốn những dục vọng trần tục của con mà không cần phải xóa bỏ chúng đi. Xin cho con biết nhìn người khác mà không phải với con mắt tình dục ích kỷ.

Xin tĩnh lặng những lo âu, trăn trở của con và đừng để con lúc nào cũng sống ngoài giây phút hiện tại. Xin cho con biết ngày nào có mối lo của ngày ấy. Xin cho con ơn biết rằng Chúa đã gọi con trong yêu thương, viết sẵn tên con trên thiên đàng, và con được tự do sống mà không cần lo lắng.

Xin tĩnh lặng nhu cầu muốn bận rộn luôn mãi của con, muốn kiếm việc gì đó để làm, muốn lên kế hoạch cho ngày mai, muốn hoạt động mọi phút giây, muốn tìm cái gì đó để lấp đầy khoảng thinh lặng. Xin cho con biết thêm tuổi thêm khôn ngoan. Xin làm nguôi đi những cơn giận âm ỉ vô thức của con vì thấy quá nhiều mong muốn của mình chưa thành sự. Xin tĩnh lặng sự chua cay vì thất bại của con. Xin giữ con khỏi ghen tương khi con cay đắng chấp nhận những giới hạn của cuộc sống mình.

Xin cho con ơn chấp nhận những thất bại và hoàn cảnh của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ chính mình, nỗi sợ trước những thế lực tăm tối đang đe dọa con trong vô thức. Xin cho con can đảm để đối diện với bóng tối cũng như ánh sáng của chính mình. Xin cho con ơn đừng sợ sự phức tạp của mình.

Xin tĩnh lặng nỗi sợ bẩm tại của con là sợ mình không được yêu thương, sợ con không xứng đáng để yêu. Xin làm tĩnh lặng sự hoài nghi dằn vặt rằng con luôn là kẻ ngoài cuộc, rằng cuộc sống thật bất công, rằng con không được tôn trọng và thừa nhận. Xin cho con ơn biết rằng con là con yêu dấu của Chúa, Đấng yêu thương con vô điều kiện.

Xin tĩnh lặng trong con nỗi sợ vô cớ đối với Chúa, để con đừng thấy Chúa xa cách và đáng sợ, mà thay vào đó là nhìn thấy Chúa nồng ấm và thân thiện. Xin cho con ơn liên kết với Chúa thật hồn nhiên, như một người bạn mà con có thể chuyện trò, đùa giỡn, vui vẻ và thân thiết.

Xin tĩnh lặng trong con những suy nghĩ bất dung, về những giận hơn từ quá khứ, những bội bạc, lăng mạ mà con phải chịu. Xin tĩnh lặng trong con những tội mà chính con đã phạm. Xin tĩnh lặng trong con những tổn thương, cay đắng và giận hờn. Xin cho con sự tĩnh lặng từ sự tha thứ, từ con và cho con.

Xin tĩnh lặng những nghi ngờ, lo lắng về sự hiện diện của Chúa, về lòng trung tín của Chúa. Xin tĩnh lặng trong con xung lực muốn để lại dấu ấn, muốn tạo nên gì đó bất tử cho bản thân mình. Xin cho con ơn biết tin tưởng, ngay cả trong tối tăm và nghi hoặc, rằng chính Chúa sẽ cho con sự sống đời đời.

Xin tĩnh lặng tâm hồn con để con biết Chúa là Thiên Chúa, và cho con biết Chúa đã tạo dựng và gìn giữ mọi hơi thở của con, rằng Chúa yêu thương con cũng như hết thảy mọi người, rằng Chúa muốn cuộc sống chúng con bừng nở, Chúa muốn chúng con hạnh phúc, Chúa yêu thương và chăm lo hết mọi người, rằng chúng con sẽ được an bình trong bàn tay nhân từ của Chúa, ở đời này và đời sau.

Đấu tranh với sự giàu có

Vài năm trước, tôi có dự một tang lễ. Người này đã được tận hưởng một cuộc sống trọn vẹn và giàu có. Ông thọ 90 tuổi và được tôn trọng vì là một người thành đạt và lương thiện. Ông luôn là một người mạnh mẽ, một lãnh đạo bẩm sinh, một người đứng đầu trong mọi chuyện. Ông có cuộc hôn nhân tốt đẹp, gia đình đông con, thành công trong kinh doanh, và giúp điều khiển nhiều tổ chức dân sự cũng như trong nhà thờ. Ông là người được kính trọng dù cho đôi khi ông thấy sợ chính sức mạnh của mình.
Con trai ông, một linh mục, chủ trì nghi thức an táng. Cha bắt đầu bài giảng thế này:

“Kinh thánh bảo chúng ta rằng bảy mươi là được rồi, mạnh giỏi thì được tám mươi. Bố của chúng tôi sống đến chín mươi tuổi. Tại sao lại có thêm mười năm này? Không có gì bí ẩn. Chúa cho thêm mười năm để bố tôi dịu lại. Bố tôi quá mạnh mẽ và khó tính để chết ở tuổi tám mươi! Nhưng trong mười năm cuối đời, bố tôi đã chịu nhiều thay đổi suy giảm lớn. Mẹ tôi mất, và bố tôi không bao giờ nguôi ngoai được. Bố tôi bị lên cơn đau tim, và không dễ chấp nhận như thế. Bố phải sống với nhiều sự trợ giúp, và không dễ chấp nhận như thế. Tất cả những mất mát này có tác dụng của chúng. Đến lúc hấp hối, bố có thể cầm tay ai đó mà nói: “Giúp tôi.” Năm ngoái, khi không thể thắt dây giày, bố tôi cũng không thể nói lên hai từ đó. Nhưng đến cuối cùng, bố tôi đã sẵn sàng về trời. Giờ khi gặp thánh Phêrô ở cửa thiên đàng, bố tôi có thể nói: “Giúp tôi!” thay vì chỉ bảo thánh Phêrô phải làm việc thế nào.”

Câu chuyện này giúp chúng ta hiểu ra lời dạy của Chúa Giêsu rằng, người giàu khó vào nước trời, còn trẻ con thì sẽ vào như lẽ tự nhiên. Chúng ta thường hiểu lầm điều này.

Tại sao trẻ con vào thiên đàng như lẽ tự nhiên? Để trả lời, chúng ta có khuynh hướng lý tưởng hóa sự ngây thơ của con trẻ, một điểm có vẻ gây nhiều ấn tượng. Nhưng đấy không phải là điều Chúa Giêsu dạy, sự ngây thơ cho người lớn là điều bất khả thi. Chúa Giêsu không tôn vinh sự ngây thơ của con trẻ, mà đúng ra là tôn vinh việc trẻ con không có ảo tưởng về cái tôi toàn năng của mình. Trẻ con không có lựa chọn nào khác ngoài nhận thức mình cần ai đó. Chúng không tự phụ và biết rằng chúng không thể tự lo cho mình. Nếu không có ai cho chúng ăn, chúng sẽ đói. Chúng phải nói, và nói thường xuyên: “Giúp con.”

Với người lớn, thường ngược lại, nhất là khi chúng ta mạnh mẽ, tài năng, và có của cải đầy đủ. Chúng ta dễ dàng nuôi ảo tưởng tự phụ. Với sức mạnh của mình, chúng ta thường quên mất rằng mình cần người khác, rằng mình không thể chỉ dựa vào bản thân được.

Bài học tôi muốn nói đây là, giàu có không phải chuyện xấu. Giàu có, tài năng, thông minh, khỏe mạnh, xinh đẹp, giỏi lãnh đạo, là những ơn Chúa ban. Chúng là tốt. Sự giàu có không chặn lối chúng ta vào thiên đàng. Đúng hơn, mối nguy chính là khi giàu có và tài năng, chúng ta dễ dàng mang ảo tưởng tự phụ. Như thánh Tôma Aquinô chỉ ra rằng chỉ mình Thiên Chúa mới không cần bất kỳ ai khác hay bất kỳ điều gì khác. Còn tất cả chúng thì cần. Nhưng trẻ con thì dễ nắm bắt điều này hơn là người lớn, nhất là những người lớn mạnh mẽ và tài năng.

Ngooài ra, ảo tưởng tự phụ còn thường gây thêm một mối nguy khác. Giàu có và tiện nghi nó mang lại, có thể bịt mắt chúng ta trước khốn cảnh và cơn đói của người nghèo, như trong dụ ngôn người giàu mở yến tiệc và người nghèo đói ăn trước cửa nhà ông. Khi chúng ta không bị đói, cũng có thể gây nên một nguy cơ. Khi sống trong tiện nghi, chúng ta có khuynh hướng không nhìn đến người nghèo.

Nhưng như thế, giàu có tự nó không phải là xấu. Nguy cơ chết người của sự giàu có chính là ảo vọng tự đủ, và hai thứ này rất dễ đi kèm với nhau. Trẻ con không phải chịu ảo tưởng này, nhưng những người mạnh mẽ thì có. Và đấy chính là mối nguy của sự giàu có.

Làm sao để chúng ta hạn chế tối đa mối nguy này? Bằng cách hào phóng. Tin mừng theo thánh Luca nói rất cứng rắn về người giàu, nhưng cũng làm rõ rằng giàu có tự nó không xấu. Thiên Chúa giàu có. Nhưng Thiên Chúa quảng đại đến phung phí với sự giàu có ấy. Sự quảng đại của Thiên Chúa, như chúng ta thấy qua Chúa, là một sự quảng đại phung phí đến độ chướng tai gai mắt. Nó thậm chí chẳng màng đến những thước đo của chúng ta về sự công bằng. Giàu có là tốt, nhưng chỉ khi sự giàu có được sẻ chia. Trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu tôn vinh sự giàu có quảng đại, nhưng cảnh cáo người giàu có khư khư tích của. Quảng đại là nên giống Thiên Chúa, tích trữ cho mình là đi ngược lại với nước trời.

Chúng ta không bao giờ được quên đi những từ này: “Giúp tôi.”

Về huấn lệnh của Chúa dạy hủy diệt hết dân Canaan

Trong tự truyện của mình, Eric Clapton, nghệ sỹ nhạc rock và blues lừng danh, đã chia sẻ rất thẳng thắn về cuộc đấu tranh lâu dài của công với chứng nghiện rượu. Ông thừa nhận chứng nghiện rượu của mình và vào một trung tâm cai rượu, nhưng đã không xem trọng vấn đề này cho đủ. Trở về Anh quốc sau thời gian cai rượu, ông quyết định rằng mình vẫn có thể uống những thứ rượu nhẹ và bia, nhưng từ bỏ rượu nặng. Chắc bạn cũng đoán được kết quả thế nào rồi. Không lâu sau, ông lại chìm trong chứng nghiện rượu. Để làm bạn bè yên lòng, ông quay lại trung tâm, nhưng vẫn tin rằng mình đủ mạnh để tự xử lý vấn đề này.

Nhưng ông được ơn soi sáng. Ngay trước khi kết thúc kỳ cai rượu thứ hai này, ông được một cảm nghiệm mạnh mẽ khiến ông đánh động tận sâu tâm hồn, nhận ra sự bất lực của mình và mối nguy hiểm chết người do chứng nghiện. Và từ đó, ông giao phó trọn bản thân cho chương trình cai nghiện, chấp nhận rằng không bao giờ được động đến chất cồn nữa. Và từ đó đến nay, ông vẫn kiêng được rượu.

Câu chuyện của ông giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của một vài đoạn văn trong Kinh Thánh, những đoạn đọc theo nghĩa đen, có thể khiến chúng ta có ấn tượng rằng Thiên Chúa thật tàn nhẫn.

Chẳng hạn như trong Sách Xuất hành, và Sách Joshua, trước khi dân Israel vào Đất Hứa, Thiên Chúa ra lệnh cho dân Israel giết hết dân chúng và súc vật đang ngụ trong vùng đó. Tại sao lại có huấn lệnh hủy diệt hết tất cả con người và súc vật chỉ bởi họ sống ở một nơi nào đó?

Rõ ràng chúng ta phải tự hỏi mình: Đây thực sự là lời của Chúa hay sao? Chúa nào lại ra huấn lệnh như thế này? Và còn những người bị giết, họ không phải là dân Chúa sao? Chúa thiên vị? Những người Canaan mà Joshua được lệnh hủy diệt, họ chẳng là gì sao? Sau huấn lệnh này, còn có ý nghĩa gì nữa không?

Rõ ràng, những lời này đầy hứng khởi thần linh và phong phú về ý nghĩa, không thể chỉ hiểu theo nghĩa đen. Huấn lệnh này, không hẳn là ẩn dụ, mà là một khuôn mẫu, nghĩa là không hiểu theo nghĩa đen huấn lệnh giết những gì không thuộc về chúng ta, nhưng là một lời dạy rằng khi bước và một lối sống mới, chúng ta phải dùng hết mọi phương thế cần thiết để bảo đảm ta có thể sống đúng và duy trì lối sống ấy. Về mặt ẩn dụ, chúng ta cần giết hết mọi yếu tố trong và quanh chúng ta có thể làm thỏa hiệp và rạn vỡ lối sống mới mà chúng ta đang cố thực hiện. Thật sự là Chúa Giêsu đã cho chúng ta một lời dạy y như thế, khi Ngài dùng một dụ ngôn nhẹ nhàng hơn. Rượu mới phải cho vào bầu mới.

Những người trong các chương trình hồi phục chứng nghiện thường nhanh chóng hiểu ra những điều này. Như Eric Clapton, họ biết được từ kinh nghiệm rằng khi đi vào lối sống điều độ, buộc họ phải giết hết những “kẻ ngoại”, phải chấp nhận rằng những phương thế nửa vời sẽ không hiệu quả, mà thay vào đó là những sự từ bỏ dứt khoát, cứng rắn.

Hình ảnh Kinh Thánh này, huấn lệnh Chúa dạy hủy diệt người Canaan, có thể giúp chúng ta trong nhiều lĩnh vực cuộc sống, nhất là trong những đấu tranh dấn thân cam kết của mình.

Ví dụ như, khi bước vào hôn nhân. Như khi dân Israel vào đất hứa, để thiết lập một đời sống mới và trung thành với nó, những người tiến vào cuộc sống hôn nhân cũng cần phải giết rất nhiều thứ, cụ thể là tính lãng mạng đào hoa, những thói quen bừa bãi và thiếu chung thủy cũ, tính trêu hoa ghẹo nguyệt, và cả thói quen lâu dài lúc nào cũng đặt nhu cầu của mình lên trước hết.

Tất cả mọi chọn lựa đều là một từ bỏ. Sống hôn nhân trọn vẹn đồng nghĩa với từ bỏ nhiều thói quen cũ, nếu không chính những thói quen cũ này sẽ xói mòn và tàn phá cuộc hôn nhân. Có những việc phải làm trước khi đi vào cuộc sống hôn nhân hay bất cứ sự dấn thân nghiêm túc nào.

Ngày nay, những yếu tố phải tiêu diệt trước khi bước vào cuộc sống mới sẽ là gì?

Về những nguy cơ đe dọa hôn nhân, tôi cho rằng để sống hôn nhân lâu dài và trọn vẹn, chúng ta phải tiêu diệt đặc nét văn hóa hiện thời của chúng ta về tình dục, cụ thể là niềm tin rằng tình dục không bị hạn chế theo chế độ đơn hôn, không liên quan đến lòng chung thủy và hôn nhân, nghĩ rằng ăn phở một bữa có sao đâu. Nếu chúng ta không giết đi quan niệm ấy, thì khi bước vào hôn nhân, sẽ không duy trì được lâu dài.

Để sống cam kết và trung thành, thì không được nửa vời. Một người nghiện rượu muốn cai, họ biết rằng mình không thể nửa vời. Cũng đúng như thế khi chúng ta gìn giữ một lối sống cam kết. Rượu mới phải cho vào bầu mới, và như thế cần có những từ bỏ dù cay đắng.

Những huấn lệnh của Chúa, nếu hiểu cho đúng, thì không tàn bạo và riêng biệt. Mà là khôn ngoan và phổ quát.

Thành tựu và hoa trái

Có một sự khác biệt thật sự giữa thành tựu và hoa trái, giữa thành công của chúng ta và sự tốt đẹp chúng ta đem lại cho thế giới.

Những gì chúng ta thành tựu đem lại cho chúng ta thành công, sự tự hào, khiến gia đình và bạn bè tự hào về chúng ta, và cho chúng ta cảm giác mình có giá trị, đặc biệt và quan trọng. Mình đã làm được gì đó. Mình đã để lại dấu ấn. Và cùng với đó là giải thưởng, bằng cấp, chứng nhận, những thứ chúng ta xây dựng, những di sản được công chúng thừa nhận và tôn trọng. Chúng ta đã làm được. Chúng ta được công nhận. Hơn nữa, thường thì những gì chúng ta đạt được sẽ giúp ích cho những người khác theo cách nào đó. Chúng ta có thể, và nên, thấy những thành tựu chính đáng của mình là tốt đẹp.

Tuy nhiên, như Henri Nouwen thường xuyên nhắc rằng, thành tựu không đồng nghĩa với hoa trái. Thành tựu là những thứ chúng ta đạt được. Hoa trái là tác động tích cực lâu dài của những thành tựu đó trên người khác. Thành tựu không tự động là hoa trái. Thành tựu giúp chúng ta nổi bật, hoa trái đem phúc lành đến cho cuộc sống của người khác.

Do đó chúng ta cần phải đặt câu hỏi này: Thành tựu của tôi, những thứ tôi tự hào là mình đã làm, có vun đắp tích cực cho những người quanh tôi không? Chúng có giúp đem niềm vui đến cuộc sống của người khác không? Chúng có giúp làm cho thế giới tốt đẹp hơn, yêu thương hơn không? Những giải thưởng tôi đã nhận có làm những người quanh tôi yên bình hơn hay lo lắng hơn?

Và những câu hỏi này khác hẳn với: Thành tựu của tôi cho tôi cảm giác thế nào? Chúng có cho tôi cảm giác mình giá trị không? Thành tựu của tôi có phải là bằng cho thấy sự độc nhất vô nhị của tôi không?

Rõ ràng thành tựu của chúng ta, dù là chính đáng, thường gây ra sự ghen tỵ và bồn chồn nơi người khác hơn là sự hứng khởi và thanh thản. Chúng ta thấy rõ điều này trong cách chúng ta thường xuyên ghen tỵ và âm thầm ghét bỏ những người thành công cực độ. Thành tựu của họ thường không mấy nâng cao cuộc sống chúng ta, mà thay vào đó lại gây một sự bồn chồn trong chúng ta. Thành công của người khác, thường như một tấm gương mà mỗi khi nhìn vào chúng ta lại cay đắng và bồn chồn thấy ra sự thiếu thành công của mình. Tại sao lại thế?

Thường thì do cả hai phía. Một mặt, những thành tựu của chúng ta thường có động lực là sự tự quy muốn mình nổi bật so với người khác, muốn được công nhận và ngưỡng mộ hơn là xuất phát từ một khao khát thật tâm muốn giúp người khác. Và nếu đúng như thế, thì thành công của chúng ta chắc chắn gây ra ghen tỵ. Mặt khác, sự ghen tỵ của chúng ta đối với người khác, thường là sự trừng phạt do chính tay chúng ta gây ra, như Chúa Giêsu đã nói trong dụ ngôn ông chủ giao phó các nén bạc rồi đi xa, và người đem giấu tài năng của mình mà không dùng đến cuối cùng bị trừng phạt.

Và sự thật là chúng ta có thể đạt được những điều lớn lao mà không thật sự sinh hoa trái, cũng như chúng ta có thể sinh hoa trái mà chỉ đạt được đôi điều ít ỏi chiếu theo sự nhìn nhận của thế gian về thành công. Chúng ta sinh hoa trái không hẳn là do những điều chúng ta đạt được, nhưng là do sự tử tế, rộng lượng, và nhân ái mà chúng ta đem lại cho thế giới. Đáng buồn thay, thế giới hiếm khi công nhận đó là thành tựu, thành công. Chúng ta không trở nên thành công nhờ sống tử tế. Nhưng khi chúng ta chết, dù vẫn được tán dương nhờ những thành tựu của mình, thì người ta sẽ yêu mến và tưởng nhớ chúng ta vì sự tốt đẹp trong lòng chúng ta hơn là vì những thành tựu xuất chúng. Hoa trái thật sự của chúng ta sẽ tuôn tràn từ một nơi còn cao hơn di sản thành tựu của chúng ta.

Chính tâm hồn chúng ta sẽ quyết định những gì chúng ta để lại sẽ được vun đắp hay bị bóp nghẹt.

Henri Nouwen cũng chỉ ra rằng khi chúng ta phân biệt được thành tựu và hoa trái, thì sẽ thấy ra rằng dù cho cái chết sẽ là cái kết cho thành công, tầm ảnh hưởng, tầm quan trọng của chúng ta, nhưng nó không chấm hết hoa trái của chúng ta. Thật vậy, thường thì hoa trái của chúng ta chỉ xuất hiện sau khi chúng ta chết, khi tinh thần của chúng ta toát ra một cách thuần khiết hơn. Chúng ta thấy điều này cũng ứng nghiệm với Chúa Giêsu. Chúng ta có thể được nuôi dưỡng trọn vẹn hơn sau khi Ngài ra đi. Chúa Giêsu dạy rõ điều này trong lời từ giã trong Tin mừng theo thánh Gioan, khi Ngài lặp đi lặp lại rằng “Thầy ra đi thì tốt hơn cho anh em,” bởi chỉ khi Ngài ra đi chúng ta mới có thể thật sự đón nhận Thần Khí, hoa trái trọn vẹn của Ngài. Với chúng ta cũng thế. Hoa trái trọn vẹn của chúng ta sẽ chỉ phát tiết sau khi chúng ta chết.

Thành tựu vĩ đại không hẳn đã sinh hoa trái vĩ đại. Thành tựu vĩ đại có thể cho chúng ta thấy thoải mái, làm cho gia đình và người thân yêu tự hào về chúng ta. Nhưng những cảm giác thành công và tự hào đó không tồn tại mãi cũng không hẳn sinh hoa trái sâu sắc. Thật vậy, cảm giác thoải mái mà thành tựu đem lại cho chúng ta thường là một thứ thuốc phiện, không ngừng đòi hỏi chúng ta và còn gây ghen tỵ cũng như bồn chồn nơi người khác.

Hoa trái nuôi dưỡng tình yêu thương và cộng đồng thường phát xuất từ sự yếu đuối mà chúng ta cùng cảm nhận, chứ không phải từ những thành tựu tôn chúng ta tách biệt hẳn với mọi người.

Lúc kẹt xe

Trên một đường cao tốc, có tấm bảng viết rằng: Bạn không bị kẹt xe. Chính bạn làm kẹt xe! Thật khôi hài, mà sắc sảo! Chúng ta thường tách mình ra khỏi vấn đề rắc rối, dù là chuyện trong chính trị, giáo hội, môi sinh hay bất kỳ chuyện gì khác.

Chúng ta muốn nghĩ rằng mình bị mắc kẹt trong bầu khí chính trị tồi tệ, nơi chúng ta không còn có thể nói chuyện với nhau và tôn trọng lẫn nhau, nhưng không phải thế đâu. Đúng hơn là chính chúng ta đã trở nên quá cứng ngắc, kiêu căng, và tin vào bản thân mình đến nỗi không còn có thể tôn trọng những người có chính kiến khác với mình. Chúng ta chính là bầu khí chính trị tệ hại, chứ không phải bị mắc kẹt trong nó.

Về mặt giáo hội cũng vậy. Chúng ta không bị mắc kẹt trong một giáo hội quá tự quy và không đủ trung thành với lời dạy của Chúa Giêsu. Đúng hơn, chúng ta là những Kitô hữu quá thường xuyên vì tư lợi mà bóp méo lời dạy của Chúa Giêsu. Chúng ta không bị kẹt trong một giáo hội như thế, mà đúng ra là chúng ta bóp méo một giáo hội như thế.

Đối với các vấn đề môi sinh cũng vậy. Chúng ta không mắc kẹt trong một hành tinh đang dần cạn kiệt dưỡng khí và là một bãi rác của con người. Đúng hơn, chúng ta chính là những người quá bất cẩn khi sử dụng tài nguyên của trái đất, và là người xả rác.

Phải thừa nhận rằng, không phải lúc nào cũng đúng như thế. Đôi khi chúng ta bị mắc kẹt trong những hoàn cảnh tiêu cực mà chúng ta không có lỗi gì trong chuyện đó, đơn giản chỉ là chúng ta là nạn nhân bất hạnh của hoàn cảnh, của sự bất cẩn do người khác, của bệnh tật, hay tội lỗi. Đôi khi hoàn cảnh có thể đè nặng trên vai chúng ta trách nhiệm và tước mất tự do của chúng ta. Nói một cách ẩn dụ, thì chúng ta có thể thấy mình bị kẹt trong dòng xe chứ không phải là một phần của dòng xe, dù cho thường thì chúng ta, ít ra, cũng là một phần của dòng xe mà chúng ta đang mắc kẹt.

Henri Nouwen thường nhấn mạnh điều này trong các bài viết của mình. Chúng ta không tách biệt khỏi các sự kiện trên bản tin thế giới hằng ngày. Đúng hơn, những gì chúng ta thấy trên bản tin thế giới, đơn giản chỉ là phản ánh những gì đang diễn ra trong lòng chúng ta. Khi chúng ta thấy những chuyện bất công, định kiến bất dung, kỳ thị, tham lam, bạo lực, giết người, và chiến tranh tên truyền hình, chúng ta thường cảm thấy một sự căm phẫn chính đáng. Cảm thấy như thế là lành mạnh, nhưng ngây thơ nghĩ rằng người khác có vấn đề còn mình thì không, thì thật không lành mạnh chút nào.

Nếu thành thật, chúng ta phải công nhận mình có phần trong mọi chuyện này, dù không phải rõ rành rành, nhưng là theo một kiểu tinh vi hơn nhiều. Chuyện chính chúng ta là gốc rễ của nhiều xung đột trên thế giới, thật quá đỗi xa lạ không thể tin được. Nhưng, chính chúng ta cũng khó lòng chấp nhận những người khác biệt với mình. Chúng ta bám vào các đặc quyền và làm gần như tất cả các việc có thể làm để bảo đảm tiện nghi cho bản thân. Chúng ta cũng dùng tài nguyên một cách không công bằng để phục vụ cho cơn khát tiện nghi và trải nghiệm của mình. Và những phán xét tiêu cực của chúng ta, những lời cay nghiệt, những lần đàm tiếu, chính là những hành động bạo lực. Chính Henri Nouwen đã nói: “Không ai bị bắn bằng súng, mà trước đó không bị bắn bằng lời nói cả. Và không ai bị bắn bằng lời nói mà trước đó không bị bắn bằng một suy nghĩ ác tâm!” Ta tưởng mình là ai cơ chứ? Bản tin thời sự chỉ phóng lên cho chúng ta thấy những gì đã có trong lòng chúng ta mà thôi.

Chúng ta không chỉ là những người xem bản tin thời sự, mà còn là đồng lõa trong bản tin đó. Giáo lý xưa đã đúng khi bảo chúng ta rằng, không có một hành động nào thật sự hoàn toàn mang tính cá nhân, và mỗi hành động của chúng ta đều tác động đến tất cả mọi người khác.

Bài học đầu tiên rút ra từ điều này thật quá rõ ràng: Khi chúng ta thấy mình bị kẹt trong dòng xe, chúng ta phải thừa nhận sự đồng lõa của mình trong đó, và cố chống lại cám dỗ đổ lỗi cho người khác.

Nhưng còn một bài học nữa là: Chúng ta sống lành mạnh khi thú nhận về mình, thú nhận rằng chúng ta chính là dòng xe đó, hoàn cảnh đó, chứ không phải chỉ là mắc kẹt trong nó. Sau khi nhận ra rằng mình có góp phần trong đó, chúng ta có thể tha thứ cho bản thân, bởi ít nhất thì chúng ta không thể không góp phần trong đó. Không một ai bước đi trên đời mà chẳng để lại dấu chân.

Điểm khởi đầu để làm cho mọi sự tốt đẹp hơn, chính là thừa nhận và thú nhận sự đồng lõa của mình.

Rồi lần tới, nếu bạn bị kẹt xe, bực mình cáu kỉnh, càu nhàu vì sao có quá nhiều trên trục lộ giao thông như thế, thì bạn có thể nhìn mình qua gương chiếu hậu, tự hỏi vì sao mình cũng ở trên đường này, thì bạn có thể thứ lỗi cho mình, thế đấy, và cảm thấy thông cảm với người khác hơn.