RonRolheiser,OMI

Làm người môn đệ Chúa thương

Tin mừng theo thánh Gioan cho chúng ta thấy một hình ảnh thần nghiệm rất hùng hồn mà khá trần tục. Khi thánh Gioan mô tả Bữa Tiệc Ly, ngài cho chúng ta biết rằng trong bàn tiệc, người môn đệ mà Chúa thương ngồi ngả đầu vào ngực Chúa.

Tôi tin là các họa sĩ nắm bắt sức mạnh của hình ảnh này tốt hơn là các thần học gia và học giả Kinh thánh. Các họa sĩ và diễn giải nghệ thuật thường thể hiện hình ảnh này như sau: Người môn đệ Chúa thương ngả đầu vào ngực Chúa với một tai hướng thẳng vào tim Chúa Giêsu, nhưng mắt thì nhìn thẳng vào thế giới.

Đúng là một hình ảnh hùng hồn! Nếu đặt tai vào ngực người khác, bạn có thể nghe được tiếng tim họ đập. Thế thì người môn đệ này là người hòa chung nhịp tim của Chúa và đang nhìn ra thế giới từ điểm quy chiếu đó.

Xa hơn nữa, thánh Gioan cho chúng ta một loạt hình ảnh để thực tế hóa những hệ quả từ việc nghe tiếng tim Chúa.

Trước hết, người môn đên Chúa thương đã đứng cạnh Đức Mẹ dưới chân thập giá Chúa Giêsu. Hình ảnh này gói gọn điều gì? Trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu thừa nhận là đôi khi bóng tối có vẻ lấn át sự thiện và dường như Thiên Chúa bất lực. Đôi khi bóng tối lấn lướt! Cái chết của Chúa Giêsu là một trong những lúc như thế, và người môn đệ Chúa thương, cũng như Đức Mẹ, không thể làm gì khác ngoài đứng đó bất lực giữa muôn trùng tối tăm và bất công. Chẳng thể làm được gì ngoài đứng đó bất lực. Nhưng khi đứng đó, người môn đệ Chúa thương cũng chung vai sát cánh với hàng triệu người nghèo và những nạn nhân trên khắp thế giới, những người chẳng thể làm gì trước cảnh ngộ của mình. Khi người ta đứng đó bất lực, khi chẳng thể làm được gì, khi sự hữu hạn của con người câm nín, thì có thể nảy lên lời cầu nguyện thâm sâu nhất. Rồi sau đó, người môn đệ Chúa thương đưa Đức Mẹ về nhà mình, một hình ảnh không cần phải giải nghĩa gì thêm.

Tuy nhiên, có một hình ảnh thứ hai liên kết với người môn đệ Chúa thương ngả đầu vào ngực Chúa, mà chúng ta cần giải nghĩa đôi chút. Khi người môn đệ đó ngả vào ngực Chúa, thì có một cuộc đối thoại đáng để ý diễn ra. Chúa Giêsu bảo các môn đệ là một người trong số họ sẽ phản bội Ngài. Thánh Phêrô quay sang người môn đệ Chúa thương mà nói: “Hỏi thầy xem đó là ai?” Điều này gợi lên chất vấn: Tại sao Phêrô không tự hỏi Chúa câu đó? Thánh Phêrô đâu có ngồi xa Chúa đến mức không thể tự mình hỏi Chúa câu đó.

Hơn nữa, câu hỏi của thánh Phêrô có tầm quan trọng thực sự khi xét theo bối cảnh sử học. Các học giả ước chừng Tin Mừng theo thánh Gioan được viết vào khoảng những năm 90 đến 100. Khi đó thánh Phêrô đã được công nhận là giáo hoàng và đã chịu tử đạo rồi. Đoạn Tin Mừng này đang nói lên rằng sự mật thiết với Chúa Giêsu cao hơn bất kỳ điều gì khác, kể cả vai vế trong giáo hội, kể cả có là giáo hoàng đi chăng nữa. Lời cầu nguyện của tất cả mọi người đều đi qua người môn đệ Chúa thương. Đức Giáo hoàng không thể cầu nguyện với tư cách Giáo hoàng, nhưng là với tư cách một người môn đệ được Chúa thương như bao Kitô hữu khác. Đức Giáo hoàng có thể cầu nguyện cho thế giới và giáo hội với tư cách Giáo hoàng, nhưng chỉ có thể cầu nguyện riêng với tư cách người môn đệ Chúa thương.

Cuối cùng, trong Tin Mừng theo thánh Gioan nêu bật lên khái niệm rằng sự mật thiết với Chúa Giêsu thì quan trọng hơn vai vế trong Giáo hội, và điều này được mô tả rõ hơn nữa trong buổi sáng ngày Phục Sinh. Maria Magdalena chạy từ mộ về và bảo các môn đệ là ngôi mộ trống. Thánh Phêrô và người môn đệ Chúa thương liền chạy ngay đến mộ. Ta có thể dễ dàng đoán ra ai là người đến đó trước. Người môn đệ Chúa thương dễ dàng đến trước thánh Phêrô, không phải bởi có lẽ do trẻ hơn, nhưng là do tình yêu thì mạnh hơn vị thế. Đức Giáo hoàng cũng có thể đến đó trước, nếu ngài chạy với tư cách người môn đệ Chúa thương chứ không phải tư cách giáo hoàng.

Và mọi người cho rằng người môn đệ Chúa thương chính là thánh Gioan. Có thể đúng là thế, nhưng đấy không phải điều mà những đoạn Tin Mừng này muốn nói. Thân thế theo sử học của người môn đệ Chúa thương được bỏ ngỏ một cách có chủ đích, là bởi Tin mừng muốn khái niệm về người môn đệ Chúa thương là một lời mời gọi và một vai trò hợp với bạn, với mọi Kitô hữu trên đời, bao gồm cả giáo hoàng nữa.

Vậy ai là người môn đệ Chúa thương? Người môn đệ Chúa thương có thể là bất kỳ ai, nam nữ trẻ em, miễn là mật thiết với Chúa Giêsu đủ để hòa nhịp với nhịp tim của Chúa, và nhìn thế giới từ góc nhìn của sự mật thiết đó, cầu nguyện từ sự mật thiết đó, và ra đi trong yêu mến đến tìm Chúa Giêsu Phục sinh và hiểu được ý nghĩa của ngôi mộ trống.

Các hình ảnh thần nghiệm được giải nghĩa rõ nhất nhờ các nhà thần nghiệm khác. Nghĩ như thế, tôi xin để lại cho các bạn một hình ảnh từ Đan phụ Sa mạc thế kỷ IV, Evagrius Ponticus.

Ngực Đức Chúa
Vương quốc Ngài
Ai ngả vào đấy
Là thần học gia

Lòng thương xót, Sự thật, và Mục vụ

Mới đây, một sinh viên tôi từng dạy cách đây vài chục năm, đã nói với tôi thế này: “Thời con học với cha đã cách đây hai mươi năm, và con đã quên hầu hết mọi điều cha từng dạy. Nhưng con nhớ một điều là ta phải luôn cố gắng đừng làm cho Thiên Chúa có vẻ ngu ngốc.”

Tôi mong là điều này đúng. Tôi mong là người ta rút ra được điều gì đó từ những bài giảng và bài viết của tôi vì tôi tin rằng nhiệm vụ đầu tiên của bất kỳ khoa biện giáo Kitô giáo nào là đừng để Thiên Chúa bị nhập nhằng với những thứ ngu ngốc, độc đoán, hẹp hòi, vị luật, khắc nghiệt, phe phái, và bất kỳ thứ gì xấu xa mà lại bị gán cho Thiên Chúa. Một thần học lành mạnh về Thiên Chúa phải bảo đảm được cho mọi biện giáo thực hành mục vụ của chúng ta. Bất kỳ điều gì chúng ta làm nhân danh Chúa thì phải phản ánh Thiên Chúa.

Không phải ngẫu nhiên mà chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa bài giáo quyền, và nhiều công kích đủ mức độ nhắm vào Giáo hội và tôn giáo ngày nay lại luôn có thể chỉ ra những điểm thần học và mục vụ tồi tệ, những thứ dựng nên sự hoài nghi và cơn giận của họ. Chủ nghĩa vô thần luôn là một thứ ký sinh trên một tôn giáo xấu. Khuynh hướng tiêu cực đối với các Giáo hội là chuyện quá thường thấy ngày nay. Một thái độ bài Giáo hội là thứ được nuôi dưỡng nhờ một tôn giáo xấu, và chúng ta, những người tin vào Thiên Chúa và Giáo hội, phải xem lại mình hơn là biện hộ cho mình.

Hơn nữa, một điều còn quan trọng hơn cả những chỉ trích của người vô thần nhắm vào Giáo hội, chính là biết bao nhiêu người đã bị tổn thương vì Giáo hội của chúng ta. Ngày nay rất nhiều người không còn đến nhà thờ, là những người có mối quan hệ căng thẳng với Giáo hội của mình, bởi những gì họ thấy trong Giáo hội đó không nói lên những gì tốt đẹp về Thiên Chúa.

Tôi nói lên điều này với lòng đồng cảm. Thật không dễ để nói thỏa đáng với Thiên Chúa, chứ chưa nói đến là nói cho thật tốt. Nhưng chúng ta phải cố gắng, và mọi bí tích cũng như mục vụ của ta phải phản ánh một thần học lành mạnh về Thiên Chúa, phản ánh Thiên Chúa hiện thân và được mặc khải trong Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã mặc khải điều gì về Thiên Chúa?

Trước hết, Thiên Chúa không thiên vị và tuyệt đối công bằng với mọi chủng tộc, với người giàu cũng như người nghèo, nô lệ cũng như tự do, nam cũng như nữ. Không một người nào, chủng tộc hay quốc gia nào được Thiên Chúa ưu ái hơn. Không một ai là ưu tiên hàng đầu. Tất cả đều được hưởng đặc ân của Thiên Chúa.

Thứ nữa, Chúa Giêsu đã dạy rằng Thiên Chúa đặc biệt cảm thương và thông hiểu với những người yếu đuối và người có tội. Chúa Giêsu đã làm chướng mắt các chức sắc tôn giáo thời đó, khi ngồi đồng bàn với những người có tội công khai lúc chưa mở lời bảo họ hối lỗi. Ngài chào đón tất cả mọi người bất kể hoàn cảnh của họ thế nào, đến mức thường vi phạm tục lệ tôn giáo thời đó, và có lúc Ngài đi ngược lại cảm thức tôn giáo của thời đó, như chúng ta đã thấy trong chuyện Ngài gặp người phụ nữ thành Samari hay chuyện Ngài chữa lành cho con gái một bà người dân ngoại. Hơn nữa, Ngài yêu cầu chúng ta cũng phải cảm thông như thế, và Ngài nói rõ rằng Thiên Chúa yêu thương tội nhân và các thánh như nhau. Thiên Chúa không thiên vị người nhân đức.

Và còn sốc hơn nữa, là Chúa Giêsu chưa từng biện hộ khi bị công kích. Ngài còn quở trách những người, dù chân thành đến đâu, cố ngăn người ta đến với Ngài. Ngài chấp nhận chịu chết hơn là biện hộ cho mình. Ngài chưa từng lấy oán báo oán, và Ngài chết mà lòng tha thứ và yêu thương những kẻ giết mình.

Chúa Giêsu cũng nói rõ rằng những ai nói “Lạy Chúa, lạy Chúa” chưa hẳn đã là môn đệ thật, mà là những người thực thi ý Chúa trên đời, bất chấp đức tin và việc hành đạo của họ thế nào.

Cuối cùng và là điểm trọng tâm, Chúa Giêsu đã nói rõ rằng, trên hết, Tin mừng là dành cho người nghèo, và mọi lời giảng dạy nhân danh Ngài mà không phải dành cho người nghèo thì không phải là Tin mừng.

Chúng ta cần ghi khắc những điều này khi nhận định sự xác đáng và tầm quan trọng của những cuộc tranh luận đang diễn ra trong giáo hội chúng ta về việc ai hay điều gì làm nên tinh thần môn đệ và bí tích thật. Điều quan trọng là phải hỏi xem điều gì làm nên bí tích thật, và điều kiện nào cần có có thừa tác viên bí tích có hiệu lực. Cũng quan trọng nữa, là chúng ta cần chất vấn xem ai được đón nhận Mình Thánh Chúa, cũng như xác định những điều kiện nhất định cần làm để chuẩn bị rửa tội, rước lễ và hôn phối.

Các chất vấn mục vụ nổi lên quanh và trong những vấn đề này, và không phải lúc nào cách xử lý chúng sao cho nhanh chóng và đơn giản hóa nhất lại phản ánh được ý định cứu chuộc toàn thể cũng như sự thông hiểu và lòng thương xót vô hạn của Thiên Chúa. Phải thừa nhận, đôi khi lợi ích lâu dài khi sống theo một chân lý khó khăn có thể áp đảo nhu cầu ngắn hạn cần gạt đi nỗi đau và cơn đau đầu thoáng qua của ta. Nhưng ngay cả như thế, phải luôn phản ánh trong mọi quyết định mục vụ của chúng ta một thần học về Thiên Chúa phản ánh được tình thương và lòng thương xót của Thiên Chúa. Nếu không, chúng ta sẽ làm cho Thiên Chúa có vẻ ngu ngốc, độc đoán, bè phái, nhẫn tâm, và mâu thuẫn trong việc hành đạo.

Marilynne Robinson nói rằng Kitô giáo là một câu chuyện quá vĩ đại nên không thể lấy một câu chuyện ngắn gọn hơn để biện hộ cho nó, cũng như không được biến nó thành những thứ hẹp hòi, vị luật, và thiếu tình thương.

Về Tình bạn

Một trong những trải nghiệm phong phú nhất về ân sủng mà chúng ta có thể có ở đời này, chính là trải nghiệm tình bạn.

Các tự điển định nghĩa tình bạn là mối quan hệ tình cảm qua lại, với một mối liên kết phong phú hơn sự xã giao bình thường. Rồi các định nghĩa liên kết tình bạn với những từ ngữ như: ân cần, yêu mến, cảm thông, cảm thương, thành thật, vị tha, trung thành, thông hiểu, an ủi, và tin tưởng. Những người bạn vui vẻ khi bên nhau, bày tỏ cảm xúc của mình với nhau, và phạm sai lầm mà không sợ người kia phán xét.

Định nghĩa như thế là bao quát, nhưng để hiểu rõ hơn sự tốt đẹp đích thực của tình bạn, thì cần giải nghĩa nhiều điều bên trong định nghĩa đó.

Trước hết, như xác nhận của Phái Khắc kỷ Hy Lạp và được thể hiện rõ ràng trong linh đạo Kitô giáo, tình bạn đích thực chỉ có thể có giữa những người nhân đức. Một băng đảng không phải là một nhóm bạn, nhiều nhóm hệ tư tưởng cũng thế. Tại sao vậy? Vì tình bạn cần đem lại ân sủng và ân sủng chỉ có thể có trong nhân đức.

Tiếp theo, tình bạn không chỉ là nhân văn đơn thuần, mà là nhân văn tuyệt vời. Tình bạn đích thực là nhập vào dòng chảy của tình yêu và sự sống bên trong Thiên Chúa. Kinh thánh cho chúng ta biết, Thiên Chúa là tình yêu, nhưng cụ thể là một từ Hy Lạp “agape”, một từ được dùng cho gia đình, cộng đoàn, hay người chia sẻ cuộc sống. Vì vậy, “Thiên Chúa là tình yêu” có thể được diễn dịch thành: Thiên Chúa là gia đình, Thiên Chúa là cộng đoàn, Thiên Chúa là chia sẻ sự hiện hữu, và bất kỳ ai chia sẻ sự hiện hữu của mình trong một cộng đoàn và tình bạn, thì dự phần vào dòng chảy sự sống và tình yêu trong Ba Ngôi Thiên Chúa.

Nhưng không phải lúc nào cũng thế. Tình bạn và gia đình có thể có nhiều dạng. Parker Palmer, ngòi bút phái Quaker đương thời, đã nói rằng: “Nếu đến đây trong thành tín thì bạn đem phúc lành lớn lao đến đây.” Ngược lại, Rumi, nhà thần nghiệm phái Sufi, đã viết: “Nếu đến đây trong bất tín thì bạn đem tai họa lớn lao đến đây.” Gia đình và cộng đoàn có thể đem lại hoặc chặn đường ân sủng. Nhóm của chúng ta có thể là một nhóm đầy yêu thương và ân sủng, hoặc có thể là một nhóm đầy hận thù và tội lỗi. Chỉ có nhóm đầu tiên mới được gọi là tình bạn. Theo thánh Âugutinô, tình bạn là vẻ đẹp của linh hồn.

Một tình bạn trao đi mạng sống và sâu sắc, thì khó thực hiện và hiếm thấy. Tại sao lại thế? Chúng ta đều khao khát có tình bạn như thế tận sâu thẳm tâm hồn, vậy tại sao lại khó tìm ra nó như vậy? Ta đều biết vì sao: Chúng ta khác nhau, chúng ta là độc nhất vô nhị, và cẩn trọng một cách hợp lý về việc trao phó tâm hồn mình cho ai đó. Và thật không dễ để tìm được một tri kỷ, để có được sự đồng cảm và tin tưởng. Cũng không dễ để duy trì tình bạn khi đã tìm được nó. Để duy trì tình bạn cần có sự tận tâm sắt đá, vốn không phải là điểm mạnh của chúng ta vì tâm thần chúng ta và thế giới này luôn mãi chuyển vần. Hơn nữa, thời nay, tình bạn thực sự không phải lúc nào cũng là tình bạn đích thực.

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, tình bạn thường bị cản trở và phá hoại vì tính dục và căng thẳng tính dục. Đây là sự thật đơn thuần, một sự thật thuận theo tự nhiên và theo nền văn hóa của chúng ta cũng như mọi nền văn hóa khác. Tính dục và tình dục, dù về lý tưởng, chúng nên là căn cứ cho một tình bạn thâm tình, lại thường là nguyên do chính cản trở tình bạn đó. Hơn nữa, trong nền văn hóa xem trọng tình dục hơn là tình bạn, thì tình bạn thường bị xem là một thứ phụ trợ, một thứ hạng hai xếp sau tình dục.

Nhưng trong khi đặc nét văn hóa là thế, nhưng nó không phải là khao khát sâu trong lòng chúng ta. Chúng ta khao khát một điều gì đó sâu sắc hơn tình dục (hoặc khao khát một tình dục triển nở viên mãn hơn.) Trong chúng ta có một khao khát thâm sâu (một khao khát tình dục sâu sắc hơn hay khao khát một điều còn vượt trên tình dục), khao khát có một tri kỷ, một người chung chăn gối về tinh thần. Còn hơn khao khát một đối tác tình dục, chúng ta khao khát một đối tác tinh thần, và dù hai khao khát này không buộc phải loại trừ nhau, nhưng chúng rất khó để kết hợp với nhau.

Tình bạn, cũng như tình yêu, luôn có phần nào bí ẩn, phần nào đó mà chúng ta không thể hiểu được. Trong mọi nền văn hóa, đều có đấu tranh để hiểu được điều này. Và một phần lý do nằm ở nhân tính của ta. Viên ngọc quý không dễ tìm mà cũng không dễ giữ. Tình bạn thực sự là một điều của đời sau được tìm thấy trong đời này, dù không bao giờ là hoàn hảo. Các yếu tố văn hóa và tôn giáo luôn làm cản trở tình bạn, và sự căng thẳng tính dục tràn ngập cũng thế.

Đôi khi các nhà thơ có thể chạm đến những điều mà hàn lâm học thuật không làm được, và tôi xin đưa ra những thấu suốt của một nhà thơ về mối quan hệ qua lại giữa tình bạn và tình dục. Rainer Marie Rilke cho rằng, tình bạn thường là một trong những điều cấm kỵ nhất của một nền văn hóa, nhưng nó vẫn luôn là đích đến cuối cùng. “Trong một tình yêu hạnh phúc sâu sắc giữa hai người, cuối cùng bạn có thể là người bảo vệ yêu thương cho sự cô tịch của người kia. …Phải thừa nhận, tình dục vô cùng mạnh mẽ, nhưng dù cho nó có mạnh mẽ, đẹp đẽ và kỳ diệu đến mấy, Nếu bạn trở thành người bảo vệ yêu thương cho sự cô tịch của người kia, thì tình yêu sẽ dần chuyển thành tình bạn.”

Còn Montaigne thì khẳng định rằng: “Kết cuộc của tình bạn có lẽ còn quan trọng hơn tình yêu. Những biểu lộ của tuổi trẻ phải triển nở và chín muồi thành một sự gì đó bất diệt.”

Về Tự vẫn và Tuyệt vọng

Trong nhiều thế kỷ, tự vẫn bị xem là hành động tuyệt vọng, và tuyệt vọng tự nó bị xem là một tội nặng nhất. Trong nhiều nhóm tôn Giáo, tuyệt vọng bị xem là hành động tội lỗi nhất và không thể được tha thứ.

Đáng buồn thay, hiện nay vẫn còn lại phần nào của tâm thức đó, khi nhiều người xem tự vẫn là hành động tuyệt vọng, một sự phạm thượng với Thiên Chúa và sự sống, một sự từ bỏ hy vọng không thể được tha thứ. Nhiều Giáo hội vẫn xem tự vẫn là một hành động tuyệt vọng và là tội không thể tha thứ chống lại Thánh Thần. Nhưng đây là một sự hiểu lầm. Tự vẫn không phải là hành động tuyệt vọng và không phải là hành động không thể được tha thứ. Các Giáo hội Kitô, và chắc chắn là Giáo hội Công Giáo La Mã, không tin cũng như dạy rằng tự vẫn là một hành động tuyệt vọng.

Mục đích của tôi không phải là xem thường những gì Giáo hội dạy về tự vẫn hay sự tuyệt vọng, nhưng là muốn nhấn mạnh một cách chính xác hơn về những giáo lý này. Và với những người vẫn tin rằng tự vẫn là một hành động tuyệt vọng và không thể tha thứ, tôi cũng không hạ thấp niềm tin của họ nhưng chỉ muốn giải thoát họ khỏi một nỗi sợ sai lầm, dựa trên một nhận thức sai lầm, một thứ chắc chắn đã và sẽ khiến họ đau buồn và lo lắng cho người thân yêu đã chết vì tự vẫn.

Tự vẫn không phải là tuyệt vọng. Tự điển định nghĩa tuyệt vọng là hoàn toàn mất hết hy vọng. Nhưng trong hầu hết các vụ tự vẫn, chuyện không phải như thế. Vậy thì là thế nào?

Người tước đi mạng sống của mình không định làm việc đó để phạm thượng Thiên Chúa hay sự sống, bởi hành động phạm thượng là hành động dựa vào sức mạnh của riêng mình mà tự vẫn thường ngược lại với kiểu đó. Tự vẫn là kết quả của một thất bại khổng lồ.

Trong vở nhạc kịch Những người khốn khổ chuyển thể từ tác phẩm của Victor Hugo, có một cảnh rất xúc động. Người phụ nữ trẻ Fantine đang nằm chờ chết. Cô từng là một cô gái xinh đẹp và đầy ước mơ, nhưng giờ bị bào mòn bởi cảnh nghèo, với trái tim tan nát vì bị phụ tình, và thể xác bị dày vò vì bệnh tật, cô đã bị đánh bại và chấp nhận sự thật đau lòng rằng, “có những cơn bão chúng ta không thể vượt qua được.”

Cô nói đúng, và bất kỳ ai không chấp nhận sự thật đó, rồi sẽ có ngày hiểu ra nó một cách đau đớn và cay đắng. Trong đời có những chuyện sẽ nghiền nát ta, và đầu hàng nó không phải là một hành động tuyệt vọng, và cũng không phải là một hành động theo ý chí của ta. Đó là một thất bại đau lòng thảm thê.

Và đó là trường hợp của hầu hết những người chết vì tự vẫn. Với nhiều lý do từ suy yếu tâm thần cho đến vô số cơn tai ương có thể làm sụp đổ một người, đôi khi đến lúc nào đó trong đời, người ta bị khuất phục, bị đánh bại và không thể tiếp tục sống theo ý mình, cũng tương tự như những nạn nhân của thiên tai, ung thư, bệnh tim, hay Alzheimer. Khi bị nghiền nát trước một cơn bão chết người, thì đó không phải là tội. Chúng ta có thể bị khuất phục, và có nhiều người bị như thế, nhưng đấy không phải là sự tuyệt vọng, bởi tuyệt vọng là một hành động có ý chí và sự mạnh mẽ.

Chúng ta không hiểu được bệnh tật tâm thần, vốn là một thứ có thật và nghiêm trọng như bất kỳ bệnh tật thể lý nào. Chúng ta không đổ lỗi cho bất kỳ ai chết vì ung thư, trụy tim, hay tai nạn, nhưng lại luôn gắn một bóng tối u ám về tinh thần cho những người chết vì các bệnh tâm thần, vốn là nguyên do chính yếu trong nhiều vụ tự vẫn. May thay, Thiên Chúa vẫn là Đấng Tối Cao, và nhận thức còn thiếu sót của chúng ta dù có làm hoen ố hình ảnh về người quá cố thì vẫn không tác hại đến ơn cứu độ đời sau của họ.

Ngoài những chứng bệnh tâm thần, chúng ta còn có thể bị đánh bại bởi nhiều thứ khác. Những bi kịch, mất mát, những ám ảnh không lời đáp, và nỗi hổ thẹn nhiều lúc có thể làm tan nát con tim, đập tan ý chí, giết chết tinh thần và khiến thân xác chết đi. Và khi phán xét điều này, chúng ta nên phản ánh từ nhận thức của mình về Thiên Chúa. Một Thiên Chúa nhân từ yêu thương lại có thể kết tội một người vì người đó, như Fantine trong Những người khốn khổ, không vượt qua được cơn bão hay sao? Thiên Chúa ủng hộ những quan niệm hẹp hòi của chúng ta, nghĩ rằng ơn cứu độ hầu như chỉ dành cho những người mạnh mẽ sao? Không, nếu chúng ta tin vào Chúa Giêsu, thì không.

Phải để ý khi Chúa Giêsu chỉ ra đâu là tội, Ngài không chỉ ra những lúc mà chúng ta yếu đuối và bị đánh bại, nhưng Ngài chỉ ra lúc mà chúng ta mạnh mẽ, kiêu căng, lãnh đạm, và phán xét. Hãy tìm trong Tin mừng và trả lời câu hỏi này: Chúa Giêsu gay gắt với ai nhất? Câu trả lời rất rõ ràng: Chúa Giêsu gay gắt nhất với những người mạnh mẽ, phán xét, và không biết cảm thương những người đang chịu đựng cơn bão cuộc đời. Hãy để ý khi Ngài nói về người giàu làm ngơ người nghèo trước bệ cửa nhà mình, hãy để ý lời Ngài nói về các tư tế và kinh sư bỏ mặc người bị đánh bên vệ đường, và hãy để ý những lời Ngài chỉ trích các kinh sư và Pharisiêu hấp tấp xét đoán ai là người bị Chúa trừng phạt và ai thì không.

Chỉ có một nhận thức sai lầm về Thiên Chúa mới có thể ủng hộ một quan niệm tai hại rằng khốn cảnh trong đời tạo nên sự tuyệt vọng.

Phản kháng, Lành mạnh, và Phản ứng theo Kitô giáo

Đôi lúc mơ mộng lại là điều thực tế nhất ta có thể làm. Hoặc, vẫn còn một điều gì khác ta có thể làm, như sự phản kháng công khai, hay là còn điều gì khác nữa?

Trong quyển sách về tính ngôn sứ, Các Giới răn của Đường Dài, Linh mục Daniel Berrigan đã khuyên như sau. Những biểu hiện ngôn sứ không phải lúc nào cũng hiệu quả về mặt chính trị. Thường thì chúng chẳng đạt được điều gì thực tế, nhưng cha cũng thêm rằng: Nếu bạn không thể cứu lấy thế giới, thì ít ra bạn có thể cứu lấy sự lành mạnh của mình.

Đôi khi đấy là tất cả những gì chúng ta cần đạt đến khi phản kháng chống lại bất công. Hơn nữa, đấu tranh để cứu lấy sự lành mạnh bản thân không phải là chuyện riêng như ta tưởng. Khi phản kháng điều gì đó sai trái, dù cho biết cuộc phản kháng của mình sẽ không thay đổi được gì về mặt thực tế, nhưng sự lành mạnh ôn hòa mà ta cứu lấy, không chỉ là của riêng ta thôi đâu. Ta còn cứu lấy sự lành mạnh của thời điểm đó.

Khi bàn về chủ nghĩa tích cực đương thời về các vấn đề nhân quyền và môi trường của tiểu thuyết gia đoạt giải Booker, Arundhati Roy, thì nhà phê bình nghệ thuật John Berger nói rằng: “Sự phản kháng chính trị sâu sắc là một lời kêu gọi đến với công lý đang vắng mặt, và đồng hành với nó là một hy vọng rằng trong tương lai, công lý này sẽ được thiết lập, tuy nhiên, hy vọng này không phải là lý do đầu tiên để thực hiện sự phản kháng đó. Người ta phản kháng vì nếu không phản kháng thì thật quá nhục nhã, quá tồi tàn, quá tàn phế. Người ta phản kháng (bằng dựng chiến lũy, cầm súng lên, tuyệt thực, cầm tay nhau, hò hét, hay bằng ngòi bút) là để cứu lấy thời khắc hiện tại đó, dù tương lai chưa biết sẽ thế nào… Một cuộc phản kháng không phải là một hy sinh để có một tương lai khác công bằng hơn, mà một cuộc phản kháng là để chuộc lại một cách mơ hồ hiện tại này.” Về căn bản, nó giữ gìn sự lành mạnh trong thời điểm hiện tại.

Nhưng nó có thể chẳng là gì khi xét về những đổi thay thực tế. Hầu hết mọi chuyện vẫn như cũ. Bất công vẫn tiếp diễn, người nghèo vẫn cứ nghèo, toàn cầu vẫn ngập trong chiến tranh, kỳ thị chủng tộc vẫn tiếp tục kỳ thị, môi trường vẫn tiếp tục bị tàn phá, tham nhũng vẫn cứ hoành hành, và sự bất lương tiếp tục tung ra những lời dối trá của nó. Và người ta đi biểu tình, bị bắt giam, tuyệt thực, và đôi khi bỏ mạng vì sự phản kháng này, trong khi bất công, tham nhũng và bất lương vẫn cứ còn đó. Đến một lúc nào đó, chắc chắn và hợp lý, chúng ta phải tự hỏi mình câu hỏi mà Marius trong Những kẻ khốn cùng, đã hỏi sau khi bạn bè anh chết trong cuộc phản kháng, mà mọi chuyện dường như vẫn chẳng thay đổi được gì. Các anh em hy sinh vì cái gì? Có đáng để chết vì nó không?

Những câu hỏi này rất xác đáng, nhưng có thể có một câu trả lời tích cực cho chúng. Họ không chết trong tuyệt vọng, không chết vô cớ hay vì một chủ nghĩa lý tưởng phi thực tế, một giấc mơ ấu trĩ. Cái chết của họ là một sự cứu rỗi nhỏ bé cho thời điểm hiện tại, nghĩa là tác động thực tế của nó có thể không đong đếm được, nhưng hạt giống tinh thần nó gieo trong thời điểm đó cuối cùng sẽ giúp tạo nên những thứ có giá trị. Mọi phụ nữ khởi xướng phản kháng đòi quyền bầu cử đều chẳng bao giờ được đi bầu. Nhưng phụ nữ ngày nay đã được đi bầu. Hạt giống tinh thần họ gieo trong những cuộc phản kháng tầm thường đó cuối cùng đã tạo nên một chuyện thực tế.

Đôi khi bạn sẽ thấy mình khá cô đơn khi phản kháng, và có vẻ như bạn chỉ làm việc để cứu lấy sự lành mạnh của mình và hối tiếc cho sự nhục nhã và bất lực của mình. Nhưng không ai là một hòn đảo. Sự bất lực, sự nhục nhã, và sự lành mạnh của bạn là một phần trong hệ miễn dịch của toàn nhân loại. Sự lành mạnh của mọi người, phần nào dựa vào sự lành mạnh của chính bạn, cũng như sự lành mạnh của bạn dựa vào sự lành mạnh của tất cả mọi người.

Và phản kháng luôn luôn là một điều mà đức tin chúng ta thôi thúc, và thật sự là truyền lệnh phải làm thế. Có lẽ chúng ta vẫn cứ thụ động trước sự bất công, bất bình đẳng, kỳ thị chủng tộc, bàng quan trước người nghèo và Mẹ Trái đất, tham nhũng, và bất lương. Chúng ta cần phải gieo hạt giống tinh thần trong hiện tại. Làm sao để được như thế?

Không phải tất cả chúng ta (thậm chí là hầu như không phải toàn bộ chúng ta) được kêu gọi để dựng áp phích, biểu tình, bị bắt hay bỏ mạng vì chính nghĩa, trừ phi khi sự bất công hay tham nhũng quá cùng cực đến nỗi đáng phải thế. Thường thì, với hầu hết chúng ta, cuộc phản kháng của chúng ta là có thật nhưng không cần là một chứng tá tử đạo.

Tôi thích một lời khuyên từ Tổng Giám mục Paul-Andre Durocher của Gatineau, trong một bài báo mới đây trên tạp chí America. Bình luận về những căng thẳng hiện nay giữa đức tin Kitô giáo và những thách thức phức tạp từ thế giới, sau khi nhìn nhận rằng không có giải pháp dễ dàng cho vấn đề này, đức cha đã khuyên thế này: “Bước thứ nhất là nhìn nhận những căng thẳng. Thứ hai là hiểu vì sao chúng xuất hiện. Thứ ba là chấp nhận và thậm chí là đón nhận nó. Và thứ tư, là sống một đời sống đức tin Kitô giáo trưởng thành bất chấp những căng thẳng đó.” (America, April 30, 2018)

Trước mọi chuyện đang xảy ra trên thế giới chúng ta, những chuyện đi ngược lại với mọi điều chúng ta tin và trân quý, đôi khi chúng ta chỉ có thể giữ vững nền tảng đạo đức của mình, một cách khiêm nhượng mà theo tinh thần ngôn sứ.

Và bởi đó là tất cả những gì chúng ta có thể làm, nên chắc chắn thế là đủ rồi.

Khó nghèo, khiết tịnh, vâng lời trong thời đại thế tục

Có người từng hỏi Hồng y Francis George rằng ngài nghĩ sao về chủ nghĩa hòa bình triệt để của những người như Dorothy Day và Daniel Berrigan, những nhân vật mang tính ngôn sứ, những người tin vào bất bạo động tuyệt đối. Họ bảo ngài rằng chủ nghĩa hòa bình không có chút thực tế nào cả, thật quá ngây thơ khi tin rằng chúng ta có thể sống mà không có cảnh sát hay quân đội. Và ngài trả lời thế này: Thế giới cần những người theo chủ nghĩa hòa bình, cũng như cần có những người khấn giữ đời độc thân. Họ không thực tế. Họ như không thuộc về thế giới này vậy. Nhưng họ hướng về thế giới cánh chung, thế giới thiên đàng, một thế giới trong đó không có súng đạn, một nơi mà sự riêng biệt quan hệ không như kiểu hiện thời, một nơi mà gia đình không dựa trên sinh học, huyết thống, hôn nhân, một nơi không có người nghèo, và một nơi mọi thứ thuộc về mọi người.

Gần đây tôi đã nghĩ về điều này khi hướng dẫn tĩnh tâm về đời sống tu trì cho một nhóm thanh niên đang nhận định xem mình có đi vào đời sống tu trì hay không. Nhiệm vụ của tôi không phải là thuyết phục họ vào một dòng tu, mà là giúp họ hiểu rằng cuộc sống đó như thế, mà từ đó là quyết định có gia nhập hay không. Dĩ nhiên là có một cuộc thảo luận dài về ba lời khấn trong đời sống tu trì là khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời.

Trong một thế giới đặt hy vọng vào sự giàu có vật chất, đánh đồng khiết tịnh với lãnh cảm, và xem tự do cá nhân cao hơn bất kỳ điều gì, thì chúng ta nói gì về khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục đây?

Chắc chắn ba đức tính này bị xem là phản văn hóa triệt để, nhưng chủ yếu là bởi người ta không hiểu rõ chúng (thậm chí có khi cả những người sống ba đức tính này cũng vậy). Chúng chủ yếu bị xem là một sự từ bỏ quyết liệt, hy sinh cả đời mình, một sự chối bỏ phi tự nhiên tính dục của mình, và nông nổi từ bỏ tự do cũng như sự sáng tạo của mình. Nhưng đấy là hiểu lầm.

Khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, không hề tránh đi sự giàu có, tính dục, và tự do. Đúng ra, chúng là một phương thức đích thực và phong phú, của sự giàu có, tính dục và tự do.

Lời khấn khó nghèo không phải chủ yếu là để sống với những thứ rẻ tiền, không có máy rửa chén và phải làm việc nhà. Cũng không phải là từ bỏ những dạng giàu có có thể làm triển nở cuộc đời. Một đời sống khó nghèo tự nguyện là một cách sống nói lên rằng mọi sở hữu vật chất đều là ơn ban, rằng thế giới thuộc về tất cả mọi người, rằng không ai làm chủ cả một quốc gia, và không một ai được đặt nhu cầu của mình lên hàng đầu. Đấy là một lời khấn đối đầu với chủ nghĩa tiêu thụ và chủ nghĩa bộ lạc, nó đem lại những sự giàu có tuyệt vời của nó với ý nghĩa và hạnh phúc vui mừng của đời sống chia sẻ.

Lời khấn khiết tịnh cũng thế. Hiểu cho đúng, thì đó không phải là bỏ lỡ những niềm vui của tính dục. Mà đó là một phương thức phong phú của tính dục, nói lên rằng tính dục không chỉ là tình dục. Tính dục thật đẹp, là ơn Chúa ban và thúc đẩy chúng ta làm rất nhiều điều: xây dựng cộng đồng, tình bạn, sự gần gũi, sự trọn vẹn, gia đình, vui chơi, vị tha, thưởng thức, phấn khởi, sáng tạo, chăn gối, và mọi thứ đưa chúng ta vượt ra khỏi sự cô đơn cũng như làm cho chúng ta sinh sôi. Và thế là nơi cộng đồng, tình bạn, và việc phục vụ người khác có những niềm vui thực sự, chứ không chỉ là một thứ thay thế hạng hai cho tình dục. Chúng đem lại sự triển nở tính dục theo nghĩa đưa chúng ta ra khỏi sự cô độc.

Về lời khấn vâng phục cũng thế. Nếu hiểu đúng, thì đấy không phải là bỏ qua tự do đích thực. Mà là một phương thức phong phú của tự do, một phương thức mà Chúa Giêsu đã sống: (Ngài nói rằng: “Ta không tự mình làm việc gì. Mà Ta làm theo ý Cha Ta.”) Lời khấn vâng phục, không phải là nông nổi từ bỏ tự do và sự chính chắn của mình. Đúng ra đấy là sự quy phục triệt để bản ngã con người (cùng mọi thương tích, khao khát, dục vọng, tham vọng và ghen tỵ) cho một sự và một Đấng cao hơn chính mình, như chúng ta đã thấy nơi những người dấn thân nhân văn và tu trì của Chúa Giêsu, Teilhard de Chardin, Dag Hammarskjold, Simone Weil, Mẹ Teresa, Jean Vanier, Daniel Berrigan. Nơi Chúa Giêsu và các vị ấy, chúng ta thấy một con người sống trên đời này với sự tự do mà chúng ta phải ghen tỵ, nhưng cũng là một tự do dựa vào sự quy phục ý mình trước một sự cao trọng hơn.

Suy nghĩ và cảm giác của chúng ta bị chi phối nhiều bởi tâm thức văn hóa mà chúng ta đang sống. Do đó, với cách hiểu của nền văn hóa ngày nay về sự giàu có, tính dục và tự do, thì đây có lẽ là thời kỳ khó khăn nhất trong nhiều thế kỷ qua, để ai đó tuyên khấn khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục, và sống theo những lời khấn ấy. Các cộng đoàn dòng tu nhỏ tuyệt vời cũng không phải chỗ người ta đổ xô đến xin vào. Nhưng vì hiện tại là thời điểm khó khăn hơn bao giờ hết, thì cũng cần hơn bao giờ hết, những người nam nữ tự nguyện chọn sống những lời khấn này trong tinh thần ngôn sứ.

Và cái có vẻ như là hy sinh của họ sẽ là phần thưởng dư dật, vì nghịch lý thay, khó nghèo đem lại sự giàu có của nó, khiết tịnh đem lại sự triển nở của nó, và vâng phục cho chúng ta sự tự do sâu sắc nhất của con người.

Những khiếm khuyết của một người nhập cư vào thế giới số

Tôi không phải là dân bản địa của công nghệ thông tin và truyền thông xã hội. Tôi chỉ là dân nhập cư số. Tôi không sinh ra trong thế giới của công nghệ thông tin, mà là nhập cư vào nó, từng chút một. Lúc đầu tôi sống trong một vùng khác.

Phải đến năm chín tuổi, tôi mới được sống chung với điện. Tôi từng thấy nó trước đó, nhưng lúc đó, nhà tôi, trường tôi, và cả vùng vẫn chưa có điện. Lần đầu tôi thấy nó, điện năng đúng là một khám phá khổng lồ. Và tôi lớn lên cùng máy truyền thanh, đến năm tôi 14 tuổi, nhà tôi mới có máy truyền hình. Và đây cũng là một khám phá lớn, là thức ăn nuôi sống cho tôi trong cơn đói dậy thì thèm khát kết nối với thế giới rộng lớn hơn. Điện và máy truyền hình nhanh chóng là ngôn ngữ mẹ đẻ của tôi, một cái thắp sáng nhà tôi và một cái đem thế giới vào trong nó. Nhưng điện thoại vẫn là thứ xa lạ. Năm 17 tuổi, khi tôi đi xa, nhà tôi vẫn chưa có điện thoại.

Không khó để sử dụng thành thạo điện thoại, nhưng phải mất rất nhiều năm tôi mới khá thạo trong thế giới mới của công nghệ thông tin. Máy tính, internet, website, di động, smart phone, tivi và phim ảnh qua internet, dữ liệu đám mây, truyền thông xã hội, trợ lý ảo, và vô số những ứng dụng. Đúng là một hành trình. Năm 38 tuổi, tôi mới lần đầu sử dụng đầu video, và năm 42 tuổi tôi có cái máy vi tính đầu tiên, năm 50 tuổi tôi lần đầu lướt web và dùng e-mail, năm 48 tuổi tôi có di động và lập một trang web, đến năm 60 tuổi tôi nhắn tin lần đầu tiên, và năm 65 tuổi tôi tham gia Facebook. Dù sử dụng được email, tin nhắn, và Facebook, tôi vẫn không có tài khoản Instagram hay Twitter. Tôi là người duy nhất trong nhà dòng vẫn còn đọc kinh phụng vụ bằng sách thay vì đọc trên điện thoại.

Tôi nói rằng trang sách có linh hồn còn thiết bị số thì không. Và những phản ứng với tôi cũng không được đồng cảm cho lắm. Nhưng cái lý do “có linh hồn” này, mà tôi thích cầm quyển sách hơn là một thiết bị số. Tôi không phản đối công nghệ thông tin, chỉ là tôi không rành nó. Tôi vật lộn với ngôn ngữ của nó. Thật khó để nắm bắt một ngôn ngữ mới khi đã trưởng thành, và tôi ghen tỵ với giới trẻ, những người thành thạo thứ ngôn ngữ này.

Người ta nói gì về cuộc cách mạng công nghệ thông tin? Nó tốt hay xấu?

Rõ ràng, nó có nhiều mặt tích cực. Nó cho chúng ta nắm bắt thông tin nhanh và nhiều nhất xưa nay. Thông tin là sức mạnh, và internet cùng mạng xã hội đã nâng tầm tiếp cận thông tin của chúng ta, và góp phần hiệu quả trong sự phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Hơn nữa, nó còn tạo nên một ngôi làng toàn cầu. Giờ chúng ta biết hết mọi hàng xóm của mình, chứ không chỉ những người sống gần nhất. Chúng ta có nhiều thông tin và kết nối với mọi người hơn bao giờ hết.

Nhưng tất cả những sự này cũng có một mặt xấu. Đó là chúng ta nói chuyện với nhau ít hơn nhắn tin cho nhau. Chúng ta có nhiều bạn trên mạng nhưng không phải lúc nào cũng có nhiều bạn thật sự. Chúng ta xem cảnh thiên nhiên trên màn hình nhiều hơn là trực tiếp chạm vào nó. Chúng ta dành nhiều thời gian nhìn vào thiết bị trên tay mình hơn là thật sự gặp mặt nhau. Tôi đi qua một sân bay, hay một nơi công cộng nào đó, thì thường thấy đa số mọi người đang chăm chút nhìn vào điện thoại. Thế là tốt sao? Nó có thúc đẩy tình bạn và tính cộng đồng hay nó là một thứ thay thế? Còn quá sớm để khẳng định. Các thế hệ cũ đã sống qua cuộc cách mạng công nghiệp, không có cách nào để hiểu được tác động của chuyện này trong dài hạn. Tôi tin rằng, cuộc cách mạng công nghệ, cũng có tác động triệt để như cuộc cách mạng công nghiệp mà thế hệ chúng tôi đã chứng kiến. Lúc này, chúng ta không biết được nó sẽ đưa chúng ta đến đâu, tốt hay xấu.

Nhưng một mặt tiêu cực đã rõ ràng là, cuộc cách mạng công nghệ thông tin mà chúng ta đang sống, đã và đang hủy diệt những gì ít ỏi mà chúng ta vẫn cố duy trì để có một ngày Xa-bat trong đời mình. Nhà thần nghiệm thế kỷ XIII, Rumi, từng than rằng: “Tôi đã sống quá lâu ở nơi người khác có thể vươn đến.” Điều này đúng với chúng ta ngày nay hơn là cho những người sống ở thế kỷ XIII. Nhờ những thiết bị điện tử mang theo bên mình, người ta có thể tìm đến ta bất kỳ lúc nào, và thường là chúng ta để người ta tìm đến ta mọi lúc. Kết quả là chúng ta không còn có thời giờ riêng tách biệt khỏi những thứ lệ thường. Thời gian cho gia đình, thời gian giải trí, kỳ nghỉ, và cả thời gian cầu nguyện của chúng ta đang không ngừng bị biến thành thời gian “có thể tiếp cận.” Tôi e là trong khi chúng ta đang là những người có được nhiều thông tin nhất xưa nay, thì chúng ta cũng có thể trở thành những người ít ngẫm nghĩ nhất xưa nay.

Nhưng tôi chỉ là một người nhập cư về công nghệ. Tôi cần dành phán quyết này cho những cư dân bản địa của thế giới số này.

Phẫn nộ Đạo đức

Phẫn nộ đạo đức là phản đề của đạo đức. Nhưng nó lại hiện diện khắp nơi trong thế giới ngày nay, và lại được lập luận dựa trên Thiên Chúa và chân lý.

Chúng ta sống trong một thế giới chìm trong vi phạm đạo đức. Khắp mọi nơi, các cá nhân và các nhóm đang căm phẫn và bị xúc phạm về đạo đức, nhiều lúc rất tàn bạo, bởi những cá nhân đối lập, những nhóm, hệ tư tưởng, quan điểm đạo đức, quan điểm giáo hội, diễn giải tôn giáo, diễn giải kinh thánh đối lập, và đủ thứ đối lập khác. Chúng ta thấy điều này khắp nơi, các đài truyền hình đả kích tin tức của các đài khác, các nhóm trong giáo hội lên án nhau, các nhóm ủng hộ sự sống và ủng hộ lựa chọn chỉ trích nhau, và chính trị bị tê liệt khi các nhóm khác nhau thấy căm phẫn đến mức không sẵn sàng ngẫm nghĩ chút gì về những thứ đối lập với họ.

Và lúc nào cũng thế, cả hai phía, đều có những lời kêu gọi chính đáng hướng đến đạo đức uy quyền thiêng liêng (dù là nói rõ hay mơ hồ), và về căn bản, họ thường lập luận thế này: Tôi có quyền để xem anh là quỷ và không thèm nghe những gì anh muốn nói, vì anh sai trái và vô luân, và nhân danh Thiên Chúa và chân lý, tôi chống lại anh. Hơn nữa, việc anh vô luân, càng cho tôi quyền chính đáng để gom lấy những yếu tính của sự tôn trọng nhân loại và xem anh là kẻ chống đối xã hội cần bị loại trừ, nhân danh Thiên Chúa và chân lý.

Và đây là loại thái độ không chỉ gây chia rẽ phẫn nộ, phân cực cay đắng, và bất tín sâu xa mà chúng ta đang sống trong xã hội ngày nay, nó còn sinh ra khủng bố, xả súng hàng loạt, những niềm tin mù quáng và sự kỳ thị chủng tộc. Nó sinh ra Hitler, một người có khả năng tận dụng tối đa sự phẫn nộ đạo đức, đến nỗi có thể khiến hàng triệu người chống lại những gì tốt đẹp nhất trong lòng họ.

Nhưng sự phẫn nộ đạo đức, dù có cố biện minh cho mình bằng những căn cứ cao ngất, bằng tôn giáo, đạo đức, ái quốc, tổn thương, bất công, thì vẫn luôn luôn là sự đối lập với đạo đức đích thực và việc sống đạo đích thực. Tại sao lại thế? Vì đạo đức và sống đạo đích thực thì luôn mang những đặc tính trái ngược với những gì chúng ta thấy trong phẫn nộ đạo đức. Đạo đức và sống đạo đích thực luôn có sự cảm thương, thông hiểu, nhẫn nại, bao dung, tha thứ, tôn trọng, nhân ái, và độ lượng, và đó là tất cả những gì không có trong thể hiện của phẫn nộ đạo đức mà chúng ta thấy ngày nay.

Khi cố đưa chúng ta vào trong đạo đức và lòng đạo đích thực, Chúa Giêsu đã nói thế này: “Nếu đức công chính của các ngươi không dư dật hơn ký lục và Biệt phái, các ngươi sẽ không vào được Nước Trời.” Công chính của ký lục và Biệt phái là thế nào? Nhìn bề ngoài, đó là công chính cực kỳ cao đẹp. Là một ký lục và Biệt phái, nghĩa là giữ gìn Mười Điều răn, trung thành với việc hành đạo được ghi rõ vào thời đó, và là một con người công bằng khi đối xử với người khác. Vậy thì còn thiếu điều gì?

Điều còn thiếu ở đây, là mọi chuyện này (giữ các giới răn, giữ luật tôn giáo, và công bằng với người khác) lại có thể được thực hiện với lòng cay đắng, kết tội và không tha thứ hơn là với một tấm lòng nồng hậu, cảm thông, và tha thứ. Đôi khi chúng ta thấy quá rõ ràng, việc giữ giới răn, đi lễ, và làm người công chính, có thể là thành quả của phẫn nộ đạo đức. Nói theo lời của Chúa Giêsu là: Ai cũng có thể tử tế với người tử tế với mình. Ai cũng có thể yêu thương người yêu thương mình. Và ai cũng có thể đối xử tốt với người đối xử tốt với mình… Nhưng anh em có thể tử tế với người chua cay với anh em không? Anh em có thể yêu thương người thù ghét anh em không? Và anh em có thể tha thứ cho người giết anh em không? Đấy là phép thử của đạo đức và sống đạo Kitô giáo. Và với bất kỳ ai qua được phép thử này, bạn không thể tìm thấy trong họ cái dạng phẫn nộ đạo đức tin rằng Thiên Chúa và chân lý đang đòi chúng ta xem những người thù ghét mình, làm việc xấu với mình, cố giết mình là thứ xấu xa.

Hơn nữa, khi chìm trong phẫn nộ đạo đức, chúng ta chối bỏ rằng chính chúng ta cũng đang đồng lõa trong mọi thứ mà chúng ta ghét bỏ và xem là xấu xa. Khi xem tin tức thế giới hằng ngày, thấy sự giận dữ, chia rẽ cay đắng, bạo lực, bất công, bất dung, và chiến tranh đang định hình thế giới chúng ta, thì nếu xem xét thật kỹ lưỡng, thành tâm, và can đảm, chúng ta sẽ nhận ra rằng mình không thể tách hẳn bản thân khỏi những thứ đó. Chúng ta sống trong một thế giới với bất công đang tồn tại và đã có từ lâu, với sự bất bình đẳng kinh tế đang lan rộng, với sự kỳ thị chủng tộc và giới tính, với vô vàn người đang là nạn nhân của cướp bóc và cưỡng hiếp, với hàng triệu người tị nạn không nơi nương tựa, và với một xã hội mà người ta gắn mác và khai trừ những người bị xem là “kẻ thất bại” hay “kẻ bệnh hoạn.” Chúng ta ngạc nhiên khi xã hội chúng ta sản sinh ra những kẻ khủng bố sao? Tuy nhiên, dù có thấy mình thành tâm và vô tội đến đâu, thì chính cuộc sống của chúng ta có góp phần trong việc tạo ra những kẻ giết người hàng loạt, những kẻ khủng bố, người phá thai, cho đến những thanh niên bắt nạt trong trường học. Chúng ta không vô tội như mình nghĩ.

Phẫn nộ đạo đức của chúng ta không phải là một dấu chỉ rằng chúng ta đứng về phía Thiên Chúa và chân lý. Mà thường là ngược lại thì đúng hơn.

Lý do để Tin vào Thiên Chúa

Thời này, tin vào Thiên Chúa thường bị xem là khờ dại. Với nhiều người, tin vào Thiên Chúa thì cũng như tin vào Ông già Noel và Thỏ Phục Sinh, khá hay nhưng chỉ là chuyện dành cho trẻ con, một hoài niệm ấm áp hay một ký ức cay đắng, nhưng không phải là một chuyện có thật, một chuyện đứng vững khi bị xem xét kỹ lưỡng và đứng trước những hoài nghi tăm tối thỉnh thoảng dò sâu vào đức tin của chúng ta. Có bằng chứng cho thấy Thiên Chúa hiện hữu không?

Tôi tin rằng, những lời biện giáo đích thực, có lúc cần mang tính cá nhân. Tôi xin đưa ra đây những lý do tôi vẫn tin vào Thiên Chúa, dù đang phải đối mặt với thuyết bất khả tri trong thế giới người lớn ngày nay và những đêm tối thỉnh thoảng bủa vây lấy tôi.

Trước hết, tôi tin vào Thiên Chúa, bởi tôi ý thức trong tận đáy lòng mình rằng, có một cơ chế tinh thần không thể tách rời với vạn vật. Sự sống, tình yêu, và ý nghĩa được kết nối về mặt tinh thần. Có một “nghiệp” không thể tách rời có ở khắp nơi và trong mọi sự, việc tốt tự nó là hạnh phúc, và việc xấu tự nó là sầu thảm. Các tôn giáo có những cách nói khác nhau về điều này, nhưng khái niệm này là một trong những khái niệm then chốt của mọi tôn giáo và là định nghĩa về đạo đức căn bản. “Anh em đong bằng đấu nào sẽ được đong lại bằng đấu ấy.” Đây là cách diễn đạt của Chúa Giêsu về khái niệm này. Và cũng có thể nói là: Không khí bạn thở ra chính là không khí bạn hít vào. Nói đơn giản là: Nếu chúng ta chặt hạ quá nhiều cây, thì chúng ta sẽ sớm hít vào khí ôxy-cácbon. Nếu chúng ta phát ra yêu thương, thì sẽ gặp yêu thương. Nếu chúng ta phát ra thù hận và giận dữ, thì sẽ sớm thấy mình bị vây quanh bởi thù hận và giận dữ. Hiện thực có một cơ cấu, với sự thiện nảy sinh sự thiện, và sự dữ nảy sinh sự dữ.

Tôi tin vào Thiên Chúa vì tôi thấy sự hỗn loạn đến mù quáng vẫn không thể nào biến nó thành đạo đức căn bản. Chỉ có Thiên Chúa toàn năng mới có thể xây dựng được hiện thực như chúng ta có lúc này.

Lý do tiếp theo tôi tin vào Thiên Chúa là vì tôi thấy sự hiện hữu của linh hồn, trí khôn, yêu thương, vị tha, và mỹ thuật. Những điều này không thể đơn giản nảy sinh từ hỗn loạn, từ hàng tỷ tỷ thứ bất kỳ xuất hiện trong vũ trụ, mà không có một sức mạnh yêu thương thúc đẩy qua hàng tỷ năm. Những hỗn loạn vô trật tự, thiếu khôn ngoan và tình yêu, không thể tạo ra linh hồn và mọi sự cao đẹp nhất bên trong nó, là trí khôn, yêu thương, vị tha, thiêng liêng và mỹ thuật. Tâm hồn chúng ta và mọi thứ cao đẹp quý báu trong nó, thật sự chỉ là sản phẩm của những sự ngẫu nhiên trong một tiến trình vô định hay sao?

Tôi tin vào Thiên Chúa, vì nếu tâm hồn chúng ta có thật, thì Thiên Chúa cũng thế.

Một điều nữa, tôi tin vào Thiên Chúa vì Tin Mừng có tác dụng, nếu chúng ta thực hiện. Những gì chúng ta thấy nơi Chúa Giêsu và những gì Ngài dạy, đồng hưởng với những gì quý báu nhất, cao cả nhất, và ý nghĩa nhất trong cuộc đời và trong mỗi người chúng ta. Hơn nữa, điều này thể hiện trong cả cuộc đời chúng ta. Bất kỳ lúc nào tôi có đức tin và dũng cảm dể sống Tin Mừng, để liều lĩnh vì sự thật, thì tôi luôn thấy năm chiếc bánh biến ra nhiều cho hàng ngàn người ăn và thấy Đavid đánh bại Goliath. Nhưng Tin Mừng chỉ thành hiện thực khi tôi táo bạo thực hiện nó.

Dĩ nhiên có thể có người phản đối rằng nhiều người chân thành, đầy đức tin đã liều cả mạng sống, và tin vào Tin mừng, nhưng lại không được gì mấy. Họ kết thúc trong cảnh nghèo, khốn khổ, mất mát. Nhưng đấy là xét đoán của chúng ta theo tiêu chuấn thế gian này, theo Tin Mừng của Thịnh vượng, một thứ nói rằng kẻ chiến thắng là những ai đạt được nhiều nhất trong đời này. Tin Mừng của Chúa Giêsu gạt nó đi. Bất kỳ ai cố hết sức mình để trung tín sống Tin Mừng, thì sẽ được ban một điều vượt trên cả thành công thế gian, cụ thể là một niềm vui thâm sâu hơn của cuộc đời đáng sống, một niềm vui mà chính Chúa Giêsu đã bảo đảm là sâu sắc hơn, và bền vững hơn bất kỳ niềm vui nào khác.

Tôi tin vào Tin Mừng vì Tin Mừng! Và cầu nguyện cũng vậy!

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, tôi tin vào Thiên Chúa vì cộng đoàn đức tin có từ xa xưa, từ thời Chúa Giêsu sống, chết, và phục sinh, cộng đoàn đó đã rửa tội cho tôi đi vào đức tin. Xuyên suốt lịch sử, mọi cộng đồng nhân loại đều là một cộng đồng đức tin, tin vào Thiên Chúa, thờ phượng, một nghi lễ thiêng liêng.

Tôi tin vào Thiên Chúa vì sự tồn tại của các gia đình đức tin, sự tồn tại của giáo hội và bí tích.

Luận văn tiến sỹ của tôi là về các bằng chứng kinh điển về sự hiện hữu của Thiên Chúa, lập luận về sự hiện hữu của Thiên Chúa từ các trí giả lớn trong lịch sử: Anselm, Thomas Aquinas, Descartes, Leibnitz, Spinoza, và Alfred North Whitehead. Tôi đã viết gần 500 trang nói rõ và đánh giá những bằng chứng này, rồi cuối cùng đi đến kết luận rằng:

Chúng ta không tin vào Thiên Chúa vì sức thuyết phục của một phương trình toán học hay một tam đoạn luận logic. Chúng ta thấy Thiên Chúa hiện hữu thật, khi sống một cuộc đời chân thật, thành tâm.

Khi Thời gian đứng yên

Thuyết tương đối nói rằng không gian và thời gian không phải như vẻ ngoài của nó. Chúng tương đối, nghĩa là không phải lúc nào cũng vận hành theo cùng một cách và không phải lúc nào cũng được cảm nghiệm theo cùng một cách. Thời gian có thể đứng yên.

Có thể thế sao? Ở đời này, dường như là không thể. Từ khai thiên lập địa với vụ nổ ma-mút từ cách đây khoảng 13,8 tỷ năm trước, đồng hồ của vũ trụ chạy không ngừng, như một máy đo nhẫn tâm, không ngừng lao về phía trước.

Tuy nhiên, đức tin của chúng ta lại cho rằng, trong cõi vĩnh hằng thời gian khác thế, rất khác, đến nỗi chúng ta không thể nào hình dung được thời gian trên thiên đàng là như thế nào. Như lời thánh Phaolô đã nói trong thư gởi tín hữu Corintô: “Những điều mắt chẳng hề thấy, tai không hề nghe,và đã không hề nảy lên nơi lòng một người phàm, hết thảy những điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người.” Thời gian trong thiên đàng như thế nào? Như đã có lời xác nhận, đó là việc hiện giờ chúng ta không hình dung được.

Có thể thế sao? Trong một quyển sách rất tuyệt vời về Phục Sinh và Sự Sống Đời đời, quyển Toàn bộ điều đó là đây sao [Is This All There Is], học giả kinh thánh lỗi lạc người Đức, Gerhard Lohfink, gợi ý rằng chúng ta có thể và đôi lúc cảm nghiệm được thời gian như trong cõi vĩnh hằng. Theo Lohfink, chúng ta cảm nghiệm được điều này khi tôn thờ.

Với ông, lời cầu nguyện cao nhất là sự tôn thờ. Nhưng “tôn thờ” Thiên Chúa nghĩa là gì, và tại sao đấy là lời cầu nguyện cao nhất? Lohfink trả lời: “Khi tôn thờ, chúng ta không xin Chúa điều gì. Khi than thở với Chúa, thì điểm khởi đầu để cầu nguyện là những đau khổ của riêng tôi. Cả khi tôi nài xin Chúa, thì thường là do những rắc rối của mình. Tôi cần điều gì đó nơi Chúa. Và cả khi tạ ơn Chúa, thì đấy thường cũng là lời tạ ơn vì một điều gì đó tôi đã nhận. Nhưng khi tôn thờ, thì tôi bỏ đi bản thân mình và chỉ hướng về Thiên Chúa.”

Chúng ta phải thừa nhận rằng, lời than thở, nài xin, và tạ ơn là những mức độ cao của cầu nguyện. Và theo định nghĩa kinh điển có từ xưa, và rất hay, thì cầu nguyện là “nâng lòng và trí lên với Chúa,” và những gì có trong lòng chúng ta hầu như lúc nào cũng là những dạng than thở, nài xin, và tạ ơn. Hơn nữa, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta xin Chúa bất kỳ điều gì có trong lòng chúng ta vào bất kỳ lúc nào: “Cứ xin thì sẽ được.” Than thở, nài xin, và tạ ơn là những dạng cầu nguyện tốt đẹp, nhưng khi cầu nguyện như thế, theo cách nào đó, chúng ta vẫn tập trung vào bản thân, vào nhu cầu và vui thú của riêng mình.

Tuy nhiên, khi tôn thờ, thì chúng ta hướng về Thiên Chúa hay một thuộc tính của Thiên Chúa (chân, thiện, mỹ, độc nhất) theo một cách quá đỗi mạnh mẽ đến nỗi mọi thứ khác đều tan biến đi. Chúng ta đứng đó trong ngạc nhiên, ngưỡng mộ, kinh sợ thuần túy, và hoàn toàn gạt bỏ đi mọi bận tâm trong lòng, trong trí, bỏ đi chiều hướng tập trung vào bản thân. Chân thiện mỹ của Thiên Chúa chiếm trọn chúng ta đến nỗi lòng trí chúng ta đi ra khỏi bản thân và chúng ta không còn là chính mình nữa.
Được tự do khỏi chính mình, là định nghĩa về sự xuất thần (một từ có gốc Hy Lạp là EK STASIS, nghĩa là đứng bên ngoài bản thân mình.) Do đó, tôn thờ là khi xuất thần, dù cho không phải theo kiểu xuất thần theo quan niệm thời nay. Với chúng ta, xuất thần là một cơn chấn động bên trong, là bản thân mình được thể hiện tột đỉnh. Nhưng ngược lại mới phải. Xuất thần chính là sự tôn thờ.

Hơn nữa, với Lohfink, tôn thờ không chỉ là dạng xuất thần chân thực, mà còn là cách sống trong thiên đàng ngay lúc này và cảm nhận thời gian của cõi vĩnh hằng. Và đây là cách diễn giải của ông: “Trong phép lạ tôn thờ, chúng ta được ở cùng Thiên Chúa, hoàn toàn ở với Thiên Chúa, và ranh giới giữa thời gian và vĩnh hằng bị xóa bỏ. Đúng là chúng ta không thể hiểu được rằng sự tôn thờ Thiên Chúa sẽ là hạnh phúc bất diệt. Chúng ta luôn làm việc gì đó. Chúng ta muốn phê phán, can thiệp, thay đổi, cải thiện, thành hình. Và đúng là thế! Đấy là bổn phận của chúng ta. Nhưng khi chết, khi đến với Chúa, thì tất cả những sự đó dừng lại hết. Rồi sự hiện hữu của chúng ta sẽ thuần túy là kinh ngạc, sững sờ, tán dương, tôn thờ, và hạnh phúc không thể tưởng tượng nổi. Vì thế mà còn có một dạng tôn thờ không cần lời. Với cách đó, tôi trao trọn đời mình cho Chúa, trong sự thinh lặng, và chung cùng toàn thế giới, biết rằng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, là Chúa, là quy hướng của mọi chúc tụng và tôn vinh. Tôn thờ là hiến lễ đời mình cho Thiên Chúa. Tôn thờ là quy phục. Tôn thờ là giao phó hoàn toàn bản thân cho Chúa. Khi chìm trong tôn thờ, thì sự vĩnh hằng bắt đầu, một vĩnh hằng không trốn tránh thế giới nhưng mở mang thế giới đến tột cùng.”

Thời gian có thể đứng yên! Và thời gian đứng yên khi chúng ta ở trong sự cảm phục, kính sợ, kinh ngạc, và tôn thờ thuần túy. Trong những lúc đó, chúng ta đứng ngoài bản thân mình, và đứng trong dạng tình yêu thuần túy nhất. Và lúc đó, chúng ta cũng ở trong thiên đàng, không phải là một sự thưởng nếm trước thiên đàng, nhưng là thiên đàng đích thực. Sự vĩnh hằng sẽ là thế, là một chớp mắt như ngàn năm, và ngàn năm như một chớp mắt.

Khi tôn thờ, là thời gian đứng yên, và chúng ta ở trong thiên đàng!

Đưa Chúa ra xử án

Cả trong tâm thức sùng tín lẫn bất khả tri, có những lần chúng ta đưa Chúa ra xét xử, và bất kỳ lúc nào làm thế, cuối cùng chúng ta là người bị phán xét. Chúng ta thấy điều này trong các đoạn Tin mừng về cuộc xử án Chúa Giêsu, nhất là trong Tin mừng theo thánh Gioan.

Như chúng ta biết, Tin mừng theo thánh Gioan họa lên hình ảnh Chúa Giêsu từ góc nhìn thiên tính, chứ không phải nhân tính của Ngài. Như thế, trong Tin mừng theo thánh Gioan, Chúa Giêsu không có sự yếu đuối của loài người. Ngài là Thiên Chúa từ dòng đầu cho đến dòng cuối trong Tin mừng theo thánh Gioan. Điều này đúng cho đến từng chi tiết nhỏ nhất. Ví dụ như, trong Tin mừng theo thánh Gioan, trong phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ xem họ có bao nhiêu bánh và cá. Thánh Gioan viết thêm: “Ngài đã biết trước rồi.” Không gì nằm ngoài dự liệu của Chúa Giêsu.

Chúng ta thấy điều này rõ ràng nhất trong cách thánh Gioan viết về cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu. Không như các Tin mừng khác diễn tả Chúa Giêsu lo sợ trước số phận khủng khiếp của mình, trong Tin mừng theo thánh Gioan, xuyên suốt con đường thương khó, Chúa Giêsu không chút sợ hãi, hoàn toàn tự chủ, bình tâm, vác thập giá của mình, hoàn toàn đối ngược với hình ảnh một nạn nhân. Tư thế của Chúa Giêsu luôn là hành động tự do, vì lòng yêu thương, và có uy quyền hoàn toàn trên tình cảnh đó.

Thánh Gioan minh họa rất rõ điểm này. Khi quân lính đến bắt, Chúa Giêsu bước ra và tất cả những ai xáp lại phía Ngài đều ngã gục xuống đất, và trong sự phủ phục đó thể hiện sự tôn kính với Ngài. Và những hình ảnh mang tính biểu tượng còn nhiều nữa. Chúa Giêsu bị tuyên án tử hình vào lúc giữa trưa, đúng vào giờ các tư tế bắt đầu sát tế những con chiên vượt qua. Sau khi chết, Chúa Giêsu được mai táng với dầu thơm và lô hội, vốn chỉ dùng cho vua, và Ngài được đưa vào huyệt đá “mới tinh” (cũng như ngài được sinh ra trong cung lòng trinh nữ.) Thánh Gioan làm rõ rằng, chúng ta đang nhìn vào Đức Chúa.

Với tâm thức đó, hiểu rằng Chúa Giêsu luôn luôn có uy quyền và làm chủ mọi chuyện, chúng ta sẽ có thể hiểu rõ hơn ý định của thánh Gioan muốn nói với chúng ta trong trình thuật tử nạn của Chúa Giêsu. Thánh Gioan tập trung nhiều nhất vào cuộc xử án Chúa Giêsu. Trình thuật thương khó tập trung quanh vụ xử án và các nhân vật chính trong vụ xử án. Nhưng trình thuật này có một điểm đảo chiều đầy mỉa mai: Có vẻ là Chúa Giêsu bị xử án, nhưng thật ra, Ngài là người duy nhất không bị xử án. Philatô, các chức sắc tôn giáo, dân chúng, cả chúng ta ngày nay, mới bị xử án. Tất cả đều bị xử án, trừ Chúa Giêsu.

Philatô bị xử án vì nhiều tội: Biết Chúa Giêsu vô tội nhưng không đủ can đảm để đương đầu với đám đông, rồi để cho sự điên cuồng thất thường vô tri của đám đông quyết định. Philatô bị phán xét vì sự yếu đuối của ông. Nhưng ông còn bị xử án vì chủ nghĩa bất khả tri của ông, cụ thể là ông tin rằng mình có thể xem chân lý và đức tin như những thứ mà ông có thể tránh né, có thể định giá chúng từ vị trí trung lập, xem đó là việc của người khác, không dính dáng gì đến mình. Nhưng ông bị phán xét chính vì lẽ đó. Chẳng ai có thể dửng dưng hỏi rằng: “Sự thật là gì?” như thể câu trả lời chẳng ảnh hưởng gì đến mình vậy. Phiên tòa của Chúa Giêsu xác định Philatô và những người như ông, là có tội, tội bất khả tri, tội tránh né, tội dửng dưng, và cuối cùng là bất lương. Mỉa mai thay, sự yếu đuối của Philatô khi không giải cứu Chúa Giêsu, cuối cùng lại biến ông thành tổng trấn và thẩm phán tai tiếng nhất lịch sử. Với cái tên có trong kinh Tin kính, hàng triệu người đọc tên ông mỗi ngày.

Nhưng không chỉ mình Philatô bị xử án, mà còn các chức sắc tôn giáo thời đó nữa. Trong nỗ lực bảo vệ Thiên Chúa khỏi những gì mà họ xem là bất kính, ngoại giáo, và phạm thượng, họ đã đồng lõa trong tội “giết” Chúa. Phán quyết trong phiên tòa của Chúa dành cho họ, cũng chính là phán quyết cho nhiều chức sắc tôn giáo đến tận thời nay, đó chính là khuynh hướng nhiệt thành bảo vệ Thiên Chúa lại thường góp một tay đóng đinh Chúa trên thế giới này.

Và cuối cùng, vụ xử án những người đương thời với Chúa Giêsu, cũng như chính chúng ta. Trong cơn cuồng loạn vô tri bừng bừng của đám đông, họ đã từ bỏ hy vọng mong chờ Đấng Thiên sai để hô vang: “Đóng đinh nó!” Thật cũng không khác gì mấy nhiều khẩu hiệu tôn giáo và chính trị mà chúng ta hô vang ở những buổi tập hợp thời nay. Phiên tòa xử Chúa Giêsu lại là một phán quyết rất dữ dội cho sự vô tri, thất thường và nguy hiểm của tâm tính đám đông.

Với sự tinh tế của mình, thánh Gioan đã cho chúng ta thấy, bất kỳ lúc nào bằng nhiệt thành lòng đạo sai lầm hay bằng chủ nghĩa bất khả tri lạnh lùng, mà chúng ta đem Chúa ra xử án, thì kết cục, chính chúng ta là người bị phán xét.

Xin dạy chúng con cầu nguyện

Nếu bạn không đặt một chân ra ngoài văn hóa của mình, thì nền văn hóa sẽ nuốt chửng bạn. Daniel Berrigan từng viết câu đó, và nó đúng theo nghĩa này: Nếu bạn không rút lấy sức mạnh từ một nguồn bên ngoài bản thân, thì những khuynh hướng tự nhiên của bạn hướng về hoang tưởng, cay đắng và thù ghét sẽ luôn nuốt chửng bạn.

Các môn đệ trong Phúc âm theo thánh Luca hiểu điều này. Họ đến tìm Chúa Giêsu và xin Ngài dạy họ cách cầu nguyện, bởi họ thấy Ngài làm những điều mà không ai làm. Ngài có thể trả lại hận thù bằng yêu thương, thật tâm tha thứ cho người khác, chịu đựng hiểu lầm và phản đối mà không để mình trở nên thương thân hay cay đắng, và luôn sống theo tiêu chí hòa bình và phi bạo lực. Các môn đệ biết đây là điều phi thường, không khác gì việc đi trên nước, và họ thấy là Ngài lấy sức mạnh để làm được thế, từ một nguồn bên ngoài Ngài, là qua việc cầu nguyện.

Họ biết họ không thể kháng cự lại sự cay đắng và thù ghét, và họ muốn mạnh mẽ như Chúa Giêsu, nên họ đã xin Ngài: “Xin thầy dạy chúng con cầu nguyện.” Chắc chắn các môn đệ nghĩ đây đơn giản là hỏi về một kỹ thuật nhất định, nhưng như Tin mừng đã làm rõ, liên kết với một nguồn sức mạnh thiêng liêng không phải lúc nào cũng dễ dàng hay là kiểu vận hành theo quy trình, ngay cả với chính Chúa Giêsu, bởi chúng ta đã thấy Ngài phải đau đớn thế nào trong Vườn Gethsemane.

Chính Chúa Giêsu đã nhiều lần phải đấu tranh dữ dội để giữ cội nguồn sinh lực mình nơi Thiên Chúa. Cuộc đấu tranh của ngài được mô tả với từ “agony” và chúng ta cần hiểu từ này thật cẩn thận. “Agony” là một từ còn được dùng cho các vận động viên. Trước khi vào thi đấu, các vận động viên sẽ làm cho cơ thể đổ mồ hôi, khởi động cơ bắp và sẵn sàng thi đấu, đó chính là “agony.” Tin mừng cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu cũng đổ mồ hôi, chỉ khác là Ngài đổ mồ hôi máu khi sẵn sàng tâm hồn cho trận đấu cao đẹp mà Ngài sắp dự, là cuộc thương khó của Ngài.

Nhưng không như người ta thường nghĩ, Ngài không đấu tranh giữa quyết định để mình chịu đóng đinh hoặc dùng sức mạnh thần thiêng để cứu mình khỏi nỗi ô nhục và cái chết. Đấy không bao giờ là vấn đề Ngài đấu tranh trong vườn Gethsemane. Ngài đã chấp nhận cái chết đó từ lâu lắm rồi. Vấn đề của Chúa Giêsu là, Ngài sẽ chết trong yêu thương hay cay đắng?

Đấy là một đấu tranh để củng cố ý chí cho Ngài chết với một tâm hồn tha thứ, yêu thương và nồng ấm. Và trong đấu tranh, chưa chắc đã có kết quả tích cực. Giữa mọi sự tăm tối, thù ghét, cay đắng, bất công, và hiểu lầm đang bao vây, giữa mọi chuyện đang bất cống chống lại đối lập với con người cũng như thông điệp của Ngài, Chúa Giêsu đã đấu tranh cực độ để bám chặt vào nguồn cho Ngài sức mạnh, một nguồn có thể giúp Ngài chống lại những thù ghét và bạo lực, một nguồn có thể giúp Ngài tha thứ cho kẻ thù, một nguồn có thể cho Ngài sự nhân từ để tha cho kẻ trộm lành, và một nguồn có thể cho Ngài sức mạnh trong lòng để biến sỉ nhục, đau đớn, và bất công thành cảm thương chứ không phải cay đắng.

Các Tin mừng xem đây là một đấu tranh để “tỉnh thức”, cụ thể là tỉnh thức với chân tính là Con Thiên Chúa, chân tính mà Ngài đã có và hình thành ý thức của Ngài trong những năm rao giảng. Trong vườn Gethsemane, giữa mọi sự đang mời mọc Ngài rơi vào sự mê man về tinh thần, Chúa vẫn tỉnh thức với hiện thực thâm sâu và chân tính của Ngài, nhưng các môn đệ thì không. Như Tin mừng đã nói, trong khi Chúa Giêsu đấu tranh, thì các ông ngủ vùi, và cơn ngủ đó không chỉ là vì sự mệt mỏi về thể xác, Bởi rõ ràng là ngay sau đó, khi Chúa Giêsu không chút thù ghét và bạo lực, thì Phêrô lại có cả hai thứ đó, và xông vào cắt tai đầy tớ của thượng tế. Phêrô đã ngủ, một giấc ngủ thể hiện rõ sự thiếu vắng của cầu nguyện trong đời sống người ta.

Cầu nguyện giúp chúng ta tỉnh thức, kết nối chúng ta với một nguồn nằm ngoài những bản năng và chiều hướng tự nhiên của chúng ta, một nguồn có thể giúp chúng ta kiên vững trong yêu thương, tha thứ, không trả thù, không bạo lực cả khi mọi thứ quanh chúng ta đang kêu gào đòi cay đắng, hận thù và trả đũa. Và nếu khi chịu thử thách, Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi máu khi cố giữ kết nối với cội nguồn đó, thì chúng ta cũng có thể thấy trước cái giá phải trả của mình cũng như thế, là đấu tranh, đau đớn cùng cực, mong mỏi tột cùng muốn được dự phần, và rồi để thiên Chúa Chúa tăng sức cho chúng ta khi chúng ta đã quằn quại đủ lâu trong đấu tranh để sức mạnh của Chúa làm cho chúng ta những gì sức chúng ta không làm được.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện!

Thăng trầm của Đức tin

Nhà thơ và là nhà thần nghiệm Rumi, phái Sufi, từng viết rằng chúng ta sống với một bí mật thâm sâu mà đôi khi chúng ta biết, rồi lại không biết, rồi lại biết. Đây là mô tả rất hay về đức tin. Đức tin không phải là thứ bạn có thể giành lấy một lần là xong. Đức tin là thế này: Có những lúc bạn bước đi trên mặt nước, và có những lúc bạn chìm nghỉm như hòn đá đến tận đáy.

Tin mừng làm chứng cho điều này, nhất là trong câu chuyện thánh Phêrô bước đi trên mặt nước. Chúa Giêsu bảo Phêrô ra khỏi thuyền và bước đi trên mặt nước đến với Ngài. Lúc đầu thì được, Phêrô không nghĩ gì và bước đi trên mặt nước, nhưng đến khi ông ý thức được việc mình đang làm, thì ông chìm nghỉm. Chúng ta cũng thấy được sự dao động khủng khiếp nơi các môn đệ trong thời gian sau khi Chúa phục sinh. Chúa Giêsu hiện ra với họ, họ tin Ngài đã sống lại, rồi Ngài lại biến mất, và họ lại mất lòng tin, trở lại cuộc sống thường nhật trước khi gặp Ngài, đi đánh cá ngoài biển. Trình thuật sau biến cố phục sinh đã thể hiện những động năng của đức tin khá rõ ràng: Bạn tin. Rồi bạn không tin. Rồi bạn lại tin. Ít nhất, vẻ ngoài là thế.

Chúng ta cũng thấy một ví dụ khác trong chuyện thánh Phêrô chối Chúa Giêsu. Trong Tin mừng theo thánh Maccô, Chúa Giêsu bảo rằng có một bí mật phân chia người có đức tin và người không có. Thầy cho các con biết bí mật của nước trời, nhưng chỉ dùng dụ ngôn với người ngoài. Nghe có vẻ như Ngộ đạo thuyết, với ý niệm rằng có một mật mã bí mật nằm đâu đó (như trong truyện Mật mã Da Vinci chẳng hạn) mà một số thì biết và số khác không biết, và bạn được dự phần hay không là tùy vào hiểu biết này. Nhưng ý Chúa Giêsu không phải thế. Bí mật của Ngài là một bí mật mở, tất cả mọi người đều có thể biết: đó chính là ý nghĩa của thập giá. Bất kỳ ai hiểu được điều này sẽ hiểu toàn bộ ngụ ý của Chúa Giêsu, và ngược lại. Chúng ta dự phần hay không, tùy vào việc chúng ta có thể hay không thể nắm bắt và đón nhận ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu.

Nhưng, dự phần hay không, không phải là một chuyện làm một lần là xong. Đúng hơn, chúng ta vào rồi ra! Và sau khi thánh Phêrô đã chối Chúa Giêsu, Tin mừng viết rằng: “Ông đi ra ngoài.” Câu này vừa có ý theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Sau khi chối Chúa, thánh Phêrô bước ra khỏi cửa đi vào đêm tối để tránh xa đám đông, nhưng ông cũng bước ra khỏi ý nghĩa đức tin của mình.

Đức tin của chúng ta cũng lên lên xuống xuống vì một lý do khác, đó là chúng ta hiểu sai về cách vận hành của đức tin. Lấy ví dụ chàng thanh niên giàu có đã đến hỏi Chúa Giêsu: “Thầy nhân lành, con phải làm gì để có sự sống đời đời?” Cách chọn từ của anh này là điểm đáng chú ý: “có”. Sự sống đời đời như một thứ để chiếm hữu sao? Chúa Giêsu nhẹ nhàng chỉnh đốn cách chọn từ của anh, và dạy cho chúng ta một điều quan trọng sống còn về đức tin. Chúa Giêsu nói: “Nếu anh mong muốn đón nhận sự sống đời đời,” thế nghĩa là đức tin và sự sống đời đời không phải là thứ để chiếm hữu, cất giữ, và bảo vệ như thóc trong kho lẫm, tiền trong ngân hàng, hay nữ trang trong rương hòm. Đức tin và sự sống đời đời, chỉ có thể đón nhận, nhưng không khí chúng ta hít thở vậy. Không khí thì miễn phí, có khắp nơi, và sức khỏe của chúng ta không phụ thuộc vào sự hiện diện của không khí, bởi mọi lúc mọi nơi đều có không khí mà, nhưng sức khỏe của chúng ta phụ thuộc vào tình trạng lá phổi vào thời điểm đó. Đôi khi chúng ta hít thở sâu và cảm nhận luồng khí, nhưng đôi khi, vì nhiều lý do khác nhau, chúng ta hít thở kém, hổn hển, hết hơi, hay nghẹt thở. Cũng như hít thở, đức tin cũng có những thể thức của mình.

Và do đó, chúng ta cần phải hiểu đức tin của mình, không phải như một thứ để chiếm hữu hay có thể đạt được một lần là xong, một thứ chỉ có thể mất đi khi xảy ra biến chuyển cực kỳ lớn trong cuộc đời, khi chuyển từ người có đức tin sang người vô thần. Abraham Heschel đã nói rằng, “Đức tin không phải là tình trạng tin liên tục, nhưng là một dạng thành tín, trung thành với những thời khắc mà chúng ta có đức tin.”

Và điều này làm khuấy động một điều khác nữa: Đức tin thật, không hẳn phải được diễn tả hoàn toàn trong tính tôn giáo, nhưng có thể biểu lộ trong sự thành tín, trung thành, và tin cậy. Ví dụ như, trong Giờ Tươi Sáng [The Bright Hour], một hồi ký đầy mãnh liệt viết vào thời điểm hấp hối vì bệnh ung thư, Nina Riggs đã chia sẻ đức tin mạnh mẽ nhưng âm thầm của cô khi bình thản đón nhận cái chết. Cô không có một đức tin tôn giáo rõ ràng, nhưng có lần một y tá đã nói với cô: “Đức tin, cô phải có nó, và cô phải cần nó!” Lời này khiến trong lòng cô phải suy ngẫm về những gì cô tin hay không tin, và cô đã đi đến suy nghĩ này: “Với tôi, đức tin hệ tại ở việc nhìn đăm đăm vào hố thẳm, thấy có bóng tối và những điều ta không biết, nhưng lòng thấy ổn với việc đó.”

Chúng ta cần phải tin những sự mà chúng ta không biết, biết rằng chúng ta sẽ ổn, dù cho rồi một ngày nào đó, chúng ta sẽ như người đang đi trên nước mà chìm nghỉm. Đức tin là một sự thâm sâu hơn cảm nhận của chúng ta nhiều.

Vĩnh biệt một mục tử tốt lành

Tháng trước, một lãnh đạo tuyệt vời trong cộng đoàn đức tin ở Canada, đã qua đời, và tôi thiết nghĩ chúng ta sẽ thu lượm được nhiều điều khi cảm nhận tinh thần của cha. Nhưng bằng cách nào? Tôi tin rằng, cách hữu ích là nêu bật những điểm mà cuộc sống, sinh lực và tinh thần lãnh đạo của cha đặc biệt giúp cho chúng ta vững vàng trong đức tin và dùng những ơn của mình một cách trọn vẹn hơn để phụng sự Thiên Chúa. Vậy con người này là ai? Đức cha Joseph Neil MacNeil, Tổng Giám mục Danh dự của Edmonton, Alberta, Canada.

Tôi may mắn được phục vụ dưới tòa của ngài trong 18 năm đầu đời linh mục. Ngài là một người thầy tuyệt vời mà tôi rất cần. Tôi vừa hoàn tất chương trình chủng viện, và không khác mấy những người ngây thơ lao ngay vào mục vụ, tôi đã có cái nhìn quá cứng ngắc về những thiếu sót của thế giới và cách để khắc phục, có những quan niệm bắt nguồn từ sự non nớt hơn là cẩn trọng, những quan điểm cần phải được cải thiện nhiều. Và cha đã hướng dẫn, không chỉ cho tôi mà còn cho nhiều người khác.
Đây là thời mà toàn giáo hội đang đấu tranh tìm kiếm một sự chính chắn sâu sắc hơn. Giáo hội vừa bước vào công cuộc cải cách Vatican II, không biết liệu mình đã đi đủ xa hay đã đi quá xa, và đó còn là thời của những biến đổi về tính dục và văn hóa triệt để của những năm 1960. Đâu đâu cũng thấy thay đổi. Và không còn gì như cũ, dù là trong hay ngoài giáo hội. Chúng tôi là thế hệ mở đường trong giáo hội đang cần một tinh thần lãnh đạo mới.

Và cha đã dẫn dắt chúng tôi tốt đẹp, không có gì quá cấp tiến hay quá bảo thủ, mà là một tinh thần lãnh đạo tốt đẹp, vững vàng và nhân ái, đã giúp chúng tôi có thêm nhạy cảm mục vụ, thêm tinh thần đại kết, bớt vị kỷ, bớt thói giáo sỹ, và cởi mở hơn về vai trò của giáo dân, cũng như biết quan tâm hơn đến vị trí của phụ nữ. Cha đã giữ cho mọi sự vững vàng và từ từ tiến tới, nhưng vẫn tôn trọng quá khứ.

Trong nhiều ơn Chúa ban cho cha, tôi thấy dặc biệt nổi lên ba đặc tính lãnh đạo như một thách thức cho chúng ta sống tinh thần môn đệ một cách sâu sắc hơn nữa.

Thứ nhất, cha có thể sống với sự mơ hồ và không hoảng lên khi tình hình căng thẳng dữ dội. Cha không sợ cũng không bị áp chế bởi sự phân cực và chỉ trích. Cha xử lý chúng với sự kiên nhẫn và lòng nhân ái. Và như thế giúp tạo điều kiện cho một giáo hội dung nạp hơn, một giáo hội mà mọi người với những tính khí và chủ trương giáo hội khác nhau vẫn có thể chung dự trong một cộng đoàn. Cha để mắt đến toàn cục chứ không chỉ một phần, những cái tưởng quan trọng nhưng lại làm làm chúng ta quên đi điều quan trọng. Người tốt mang lấy áp lực để nó đừng đè nặng lên người khác một cách không cần thiết. Lãnh đạo tốt dấn vào sự mơ hồ để không giải quyết căng thẳng một cách hấp tấp. Cha là một người tốt và một lãnh đạo tốt. Cha có thể kiên nhẫn trước áp lực căng thẳng chưa được giải quyết.

Thứ hai, cha hiểu được áp lực bẩm tại từ phép rửa, chúng ta không ngừng bị giằng xé giữa hai sự trung thành, một bên là giáo hội và các giáo lý cũng như luật lệ, và bên kia là với sự thật rằng chúng ta là những công cụ của ơn cứu độ chiếu tỏa lòng thương của Thiên Chúa cho mọi người trong mọi giáo hội và trên toàn thế giới. Tôi xin đưa ra một ví dụ: Có một lần gặp phải tình huống mục vụ rối tung và đau lòng, tôi đã gọi điện cho cha hỏi xin lời khuyên. Và câu trả lời của cha đã thể hiện rõ điểm chung của lề luật và lòng thương xót. “Cha à, cha biết tâm thức của giáo hội, cha biết giáo luật, cha hiểu tôi, và cha biết cách lý tưởng nhất nên làm… Nhưng cha cũng biết nguyên tắc Epikeia, cha đang đối diện nỗi đau của những người này, và Chúa đã đặt cha vào vị trí đó. Cha cần tập hợp tất cả những điều cần biết, và ra quyết định dựa trên đó. Sau đó hãy cho tôi biết cha quyết định thế nào, rồi tôi sẽ nói với cha là tôi có đồng ý hay không.” Tôi đã ra một quyết định, gọi điện báo cho cha, và cha không đồng ý với tôi, nhưng cha cảm ơn tôi vì tôi đã làm những việc đó.

Là một người lãnh đạo trong đức tin, cha hiểu được sự khác biệt giữa giáo lý và thần học, và cha tôn trọng cũng như bảo vệ vị trí đặc biệt của mỗi sự. Cần có giáo lý để làm nền tảng, và thần học để mở rộng chúng ta. Cha hiểu điều đó. Tốt nghiệp Đại học Chicago và từng là hiệu trưởng một Đại học, cha không ngại các thần học gia và thường bảo vệ khi chúng tôi bị công kích. Một trong những câu nói của cha khi một trong những giảng viên thần học của cha bị công kích, đơn giản là: “Họ là các thần học gia! Họ ức đoán. Các thần học gia là thế. Các ức đoán không phải là giáo lý.” Cha bảo vệ thích đáng cho các giảng viên giáo lý của mình.

Theo cách nói trong giáo hội, thì một giám mục, tổng giám mục, hồng y, hay giáo hoàng thường được xem là một quân vương trong giáo hội. Cha là thế, một quân vương trong giáo hội… Không phải bởi giáo hội đã phong cho cha tước đó, nhưng là bởi trong cha có sự thông minh, nhân hậu và trái tim của một bậc lãnh đạo.

Khắc khoải mong sự bất diệt đời này

Chúng ta chia sẻ thế giới với bảy tỷ rưỡi người, và mỗi người chúng ta đều có một ý thức bẩm tại không thể kìm hãm là chúng ta đặc biệt và có một số mệnh độc nhất vô nhị. Điều này chẳng có gì ngạc nhiên bởi mỗi người chúng ta thật sự đặc biệt và độc nhất vô nhị. Nhưng sao lại có thể cảm thấy mình đặc biệt giữa bảy tỷ rưỡi người cơ chứ?

Thế nên chúng ta cố gắng trở nên nổi bật. Thường thì chúng ta chẳng thành công, và như Allan Jones đã nói, “Chúng ta nuôi dưỡng trong lòng mình một hy vọng rằng chúng ta khác biệt, đặc biệt, và phi thường. Chúng ta khao khát được bảo đảm rằng chúng ta sinh ra không phải là chuyện ngẫu nhiên, rằng có một vị thần đã đưa chúng ta đến trần gian, và chúng ta tồn tại theo ý định của Đấng Tối Cao. Chúng ta mong mỏi được chữa lành khỏi căn bệnh bất diệt cực cùng này. Chúng ta lên cơn điên đó khi gặp áp lực quá lớn và chúng ta dựng lên một lời nói dối sống còn để che đậy sự thật rằng chúng ta tầm thường, là thứ tình cờ, và rồi sẽ chết. Chúng ta đã không thấy được ánh hào quang của Tin mừng. Lời nói dối này là điều cần thiết bởi mọi thứ chúng ta thật sự khao khát đã được trao ban nhưng không cho chúng ta.”

Tất cả chúng ta điều hiểu ý nghĩa câu nói này. Chúng ta ý thức rằng mình phi thường, quý giá, và quan trọng, bất chấp vận mệnh cuộc đời chúng ta ra sao. Sâu trong lòng, chúng ta cảm nhận rằng chúng ta được yêu thương đặc biệt và được kêu gọi đặc biệt đến với một cuộc đời đầy ý nghĩa và hệ trọng. Qua đức tin hơn là qua cảm giác, chúng ta cũng biết rằng mình quý giá không phải vì những gì mình đạt được nhưng là vì mình được Thiên Chúa tạo thành và yêu thương.

Nhưng trực giác này, dù sâu sắc trong tâm hồn, nhưng lại yếu ớt trong biểu hiện của chúng ta khi cố gắng sống một cuộc đời độc nhất vô nhị và đặc biệt trong một thế giới có hàng tỷ người cũng đang cố làm như thế. Và chúng ta có thể bị choáng ngợp trước ý thức về sự tầm thường, sự vô danh và khả tử của mình, rồi bắt đầu sợ rằng chúng ta không quý giá nhưng chỉ là một kẻ bình thường, một kẻ chẳng ai biết đến, chỉ là một trong hàng tỷ người. Khi cảm nhận như thế, chúng ta có cám dỗ tin rằng mình quý chỉ quý giá và độc nhất vô nhị khi đạt được điều gì đó khiến chúng ta nổi bật và bảo đảm người ta sẽ nhớ đến mình. Với hầu hết chúng ta, trọng trách cuộc đời là bảo đảm sự quý giá, ý nghĩa và sự bất diệt của mình, bởi đến tận cùng, chúng ta tin rằng điều này tùy thuộc vào những thành tựu, những điều đặc biệt của riêng chúng ta.

Và chúng ta vất vả đấu tranh để hài lòng với cuộc sống vô danh bình thường ẩn giấu trong bàn tay Chúa. Đúng hơn là, chúng ta cố gắng trở nên nổi bật, tạo dấu ấn, cố đạt thành tựu phi thường, và bảo đảm người ta công nhận cũng như đến mình. Và chẳng có mấy thứ khiến chúng ta mất bình an hơn thứ này. Chúng ta buộc mình làm điều bất khả thi, một việc xe cát dã tràng để kiếm về cho mình một thứ mà chỉ có Thiên Chúa đem lại được, là sự quan trọng và bất diệt. Và thế là cuộc sống bình thường dường như không còn đủ cho chúng ta, rồi chúng ta sống trong khắc khoải, cạnh tranh, quyết liệt.

Tại sao cuộc sống bình thường không đủ cho chúng ta? Tại sao đời chúng ta dường như quá nhỏ bé và không đủ lý thú? Tại sao chúng ta cứ có cảm giác bất mãn vì không được đặc biệt? Tại sao chúng ta cần tạo dấu ấn? Tại sao chúng ta thường thấy ngột ngạt? Tại sao chúng ta không thể dễ dàng chấp nhận anh chị em mình và vui mừng vì tài năng và sự hiện diện của họ? Tại sao chúng ta cứ luôn mãi có cảm giác người khác là đối thủ? Tại sao chúng ta cần đeo mặt nạ, cần vờ vịt, tạo một hình ảnh nhất định cho bản thân?

Câu trả lời là: Chúng ta làm tất cả những việc này để cố gắng làm cho mình nổi bật, bởi chúng ta đang cố cho mình môt thứ mà chỉ có Thiên Chúa cho được, là tầm quan trọng và sự bất diệt.

Kinh thánh bảo chúng ta rằng, “chỉ đức tin mới cứu anh em.” Dòng đơn giản này đã tỏ bày cả bí mật: Chỉ mình Thiên Chúa đem lại được sự sống đời đời. Sự quý giá, ý nghĩa, tầm quan trọng và sự bất diệt là những ơn ban nhưng không của Thiên Chúa, và chúng ta sẽ nghỉ yên, bình an, khiêm nhượng, biết ơn, hạnh phúc và bớt cạnh tranh hơn nếu chúng ta tin như thế. Như thế, một đời sống bình thường khiêm nhường, cùng với hàng tỷ người khác, sẽ đủ để chúng ta thấy mình quý giá, có ý nghĩa và tầm quan trọng.

Thomas Merton, trong một lúc khắc khoải đã viết: “Thế là đủ khi sống bình thường như một con người, biết đói bụng và buồn ngủ, biết nóng và lạnh, đi ngủ và thức dậy. Đắp chăn lên rồi bỏ chăn ra, pha cà phê rồi uống. Làm rã đông tủ lạnh, đọc sách, suy tư, làm việc, cầu nguyện. Tôi sống như tổ tiên tôi từng sống trên mặt đất này, cho đến khi cuối cùng tôi sẽ chết. Amen. Không cần phải khẳng định đời mình, nhất là khẳng định đó là đời mình, dù chắc chắn nó chẳng phải là đời của ai khác. Tôi phải học cách sống sao để dần quên đi chương trình và mưu tính.”

Một cuộc sống bình thường là đủ. Không cần phải khẳng định gì về đời mình. Sự quý giá và ý nghĩa của chúng ta không phải nằm trong việc đạt được điều gì đó đặc biệt, nó nằm sẵn trong sự quý giá và ý nghĩa cuộc đời rồi.

Xem lại Đời sống Độc thân

Viết về chính mình luôn là mạo hiểm, nhưng tôi thiết nghĩ, chủ đề của cột bài này được thể hiện tốt nhất qua chứng tá riêng. Trong một thế giới mà khiết tịnh và độc thân bị xem là ngây thơ và đáng thương, một nơi mà phần lớn hoài nghi về việc bất kỳ ai có thể thật sự sống trọn lối sống đó, thì có lẽ một chứng tá riêng sẽ là lời phản đối hiệu quả nhất.

Về độc thân và khiết tịnh, liệu đây là lối sống trong bối cảnh tu trì hay đơn giản là lối sống của bất kỳ ai độc thân trong đời? Tôi xin chia sẻ câu chuyện của mình:

Năm 17 tuổi, tôi đã quyết định làm linh mục và vào dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ. Một phần quyết định đó có nghĩa là tôi sẽ sống độc thân suốt đời. Lạ thay, tôi chỉ mới 17 tuổi, nhưng tôi không đưa ra quyết định đó một cách ngây thơ hay vì ảo tưởng hay ho nào. Tôi đã cảm nhận được cái giá phải trả, đến nỗi gần như trọn bản thân tôi phản đối mạnh mẽ ơn gọi này. Tất cả! Dù tôi say mê việc mục vụ, nhưng đời sống độc thân đúng là vật cản khổng lồ. Tôi không muốn sống độc thân. Có ai lại muốn chứ? Thật sự là không một ai. Nhưng ơn gọi trong lòng tôi quá mạnh đến nỗi, bất chấp khó khăn của nó, tôi vẫn chọn, miễn cưỡng nhưng cương quyết, vào Dòng sau khi học xong trung học. Giờ sau 50 năm nhìn lại, tôi thấy đó vẫn là quyết định vong kỷ và thuần túy nhất của tôi.

Đã sống đời tu trì hơn 50 năm, và đã làm linh mục hơn 45 năm, tôi thấy đời độc thân tốt cho tôi, và tôi có thể thành thật nói rằng tôi đã sống đời độc thân một cách trung tín. Độc thân có thuận lợi của nó. Ngoài việc nó thúc đẩy tôi hơn trong mối liên hệ với Chúa, với tha nhân, và với bản thân mình (thường là qua những khắc khoải, cầu nguyện và nhờ sự giúp đỡ của các linh hướng), đời sống độc thân còn cho tôi có thể cống hiến đặc biệt cho việc mục vụ. Nếu bạn là linh mục và người mục vụ, thì độc thân là người bạn tốt cho bạn.

Nhưng không phải lúc nào nó cũng thân thiện. Với tôi, độc thân luôn là cuộc đấu tranh khó khăn nhất trong đời sống tu trì và mục vụ, một cuộc đóng đinh cảm xúc. Có những lúc, những ngày, những tuần, những tháng, và thậm chí là vài tháng, trọn bản thân tôi kêu gào chống lại nó, có những lúc tôi thấy mình đang yêu, đang đương cự lại với những ám ảnh, hay những lúc chật vật trong một cộng đoàn toàn nam tính, hoặc có những lúc tôi chán nản trước sự thật là mình sẽ không bao giờ có con cái, hay đơn giản là những lúc tôi vất vả đấu tranh với cảm xúc tính dục trong mình, những lúc như thế nhiều khi đủ để con người trong tôi muốn bước ra khỏi những gì mà người linh mục trong tôi đã khấn hứa. Nhiều lúc, đời độc thân sẽ khiến bạn đổ mồ hôi máu. Nó đi ngược lại những bản năng và sinh lực thâm sâu nhất, bẩm tại nhất mà Thiên Chúa đã ban cho bạn, và vì thế không thể giải quyết nó một cách hời hợt được.

Và vì thế, còn có những điều phải nói, những điều mà thời nay người ta hiểu quá hạn chế. Độc thân cũng có thể là thứ vô cùng sinh sôi, bởi tình dục không chỉ là làm tình. Ngay trước khi tạo nên hai giới nam nữ, Thiên Chúa đã nói. Con người ở một mình thì không tốt! Điều này quá đúng cho tất cả mọi người từng sống trên đời! Chúng ta có tính dục để đưa mình vượt ra khỏi sự cô độc, nhưng có nhiều cách để được thế, và sự thân mật tình dục chỉ là một trong số đó.

Có lẽ sự hiểu lầm lớn nhất thời nay về tính dục, là một niềm tin rằng tình bạn sâu sắc, cộng đoàn trung tín, và những dạng thân thiết mà không liên quan đến giao hợp, thì chỉ là những thứ thay thế, những chọn lựa thứ hai, bởi chỉ có làm tình mới là phương thức tình dục phong phú và sinh sôi nhất. Nhưng đấy không phải là những chọn lựa thứ hai. Cũng như làm tình, chúng cũng thật và rất phong phú.

Mới đây, tôi đã gọi điện mừng một linh mục bạn nhân dịp ngọc khánh. Ở tuổi 80, ông bảo tôi thế này: “Có những lúc khó khăn, mọi bạn đồng lớp của tôi đều từ bỏ sứ vụ, và tôi cũng có cám dỗ muốn làm thế. Nhưng tôi đã ở lại, và giờ nhìn lại, tôi khá hạnh phúc với đời mình.”

Nhìn lại đời mình và dấn thân trong đời độc thân của mình, tôi cũng có thể nói thế. Sống độc thân có thể gây nên những thời khắc khó khăn, như Merton từng khẳng định “sự đau đớn sâu sắc trong khiết tịnh.” Nhưng độc thân cũng cho tôi một cuộc đời phong phú bạn bè, cộng đoàn, kết giao, gia đình đủ loại, và có nhiều cơ hội để đến với tha nhân. Tôi sẽ chết mà không có con cái, đời tôi, như cuộc đời mọi người khác, là một bản giao hưởng không bao giờ trọn vẹn. Nhưng nhìn lại tất cả, tôi hạnh phúc với đời mình. Độc thân có thể là một lối sống xây dựng gia đình, hạnh phúc và đồng thời trao đi bản thân mình.