RonRolheiser,OMI

Khi Thời gian đứng yên

Thuyết tương đối nói rằng không gian và thời gian không phải như vẻ ngoài của nó. Chúng tương đối, nghĩa là không phải lúc nào cũng vận hành theo cùng một cách và không phải lúc nào cũng được cảm nghiệm theo cùng một cách. Thời gian có thể đứng yên.

Có thể thế sao? Ở đời này, dường như là không thể. Từ khai thiên lập địa với vụ nổ ma-mút từ cách đây khoảng 13,8 tỷ năm trước, đồng hồ của vũ trụ chạy không ngừng, như một máy đo nhẫn tâm, không ngừng lao về phía trước.

Tuy nhiên, đức tin của chúng ta lại cho rằng, trong cõi vĩnh hằng thời gian khác thế, rất khác, đến nỗi chúng ta không thể nào hình dung được thời gian trên thiên đàng là như thế nào. Như lời thánh Phaolô đã nói trong thư gởi tín hữu Corintô: “Những điều mắt chẳng hề thấy, tai không hề nghe,và đã không hề nảy lên nơi lòng một người phàm, hết thảy những điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người.” Thời gian trong thiên đàng như thế nào? Như đã có lời xác nhận, đó là việc hiện giờ chúng ta không hình dung được.

Có thể thế sao? Trong một quyển sách rất tuyệt vời về Phục Sinh và Sự Sống Đời đời, quyển Toàn bộ điều đó là đây sao [Is This All There Is], học giả kinh thánh lỗi lạc người Đức, Gerhard Lohfink, gợi ý rằng chúng ta có thể và đôi lúc cảm nghiệm được thời gian như trong cõi vĩnh hằng. Theo Lohfink, chúng ta cảm nghiệm được điều này khi tôn thờ.

Với ông, lời cầu nguyện cao nhất là sự tôn thờ. Nhưng “tôn thờ” Thiên Chúa nghĩa là gì, và tại sao đấy là lời cầu nguyện cao nhất? Lohfink trả lời: “Khi tôn thờ, chúng ta không xin Chúa điều gì. Khi than thở với Chúa, thì điểm khởi đầu để cầu nguyện là những đau khổ của riêng tôi. Cả khi tôi nài xin Chúa, thì thường là do những rắc rối của mình. Tôi cần điều gì đó nơi Chúa. Và cả khi tạ ơn Chúa, thì đấy thường cũng là lời tạ ơn vì một điều gì đó tôi đã nhận. Nhưng khi tôn thờ, thì tôi bỏ đi bản thân mình và chỉ hướng về Thiên Chúa.”

Chúng ta phải thừa nhận rằng, lời than thở, nài xin, và tạ ơn là những mức độ cao của cầu nguyện. Và theo định nghĩa kinh điển có từ xưa, và rất hay, thì cầu nguyện là “nâng lòng và trí lên với Chúa,” và những gì có trong lòng chúng ta hầu như lúc nào cũng là những dạng than thở, nài xin, và tạ ơn. Hơn nữa, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta xin Chúa bất kỳ điều gì có trong lòng chúng ta vào bất kỳ lúc nào: “Cứ xin thì sẽ được.” Than thở, nài xin, và tạ ơn là những dạng cầu nguyện tốt đẹp, nhưng khi cầu nguyện như thế, theo cách nào đó, chúng ta vẫn tập trung vào bản thân, vào nhu cầu và vui thú của riêng mình.

Tuy nhiên, khi tôn thờ, thì chúng ta hướng về Thiên Chúa hay một thuộc tính của Thiên Chúa (chân, thiện, mỹ, độc nhất) theo một cách quá đỗi mạnh mẽ đến nỗi mọi thứ khác đều tan biến đi. Chúng ta đứng đó trong ngạc nhiên, ngưỡng mộ, kinh sợ thuần túy, và hoàn toàn gạt bỏ đi mọi bận tâm trong lòng, trong trí, bỏ đi chiều hướng tập trung vào bản thân. Chân thiện mỹ của Thiên Chúa chiếm trọn chúng ta đến nỗi lòng trí chúng ta đi ra khỏi bản thân và chúng ta không còn là chính mình nữa.
Được tự do khỏi chính mình, là định nghĩa về sự xuất thần (một từ có gốc Hy Lạp là EK STASIS, nghĩa là đứng bên ngoài bản thân mình.) Do đó, tôn thờ là khi xuất thần, dù cho không phải theo kiểu xuất thần theo quan niệm thời nay. Với chúng ta, xuất thần là một cơn chấn động bên trong, là bản thân mình được thể hiện tột đỉnh. Nhưng ngược lại mới phải. Xuất thần chính là sự tôn thờ.

Hơn nữa, với Lohfink, tôn thờ không chỉ là dạng xuất thần chân thực, mà còn là cách sống trong thiên đàng ngay lúc này và cảm nhận thời gian của cõi vĩnh hằng. Và đây là cách diễn giải của ông: “Trong phép lạ tôn thờ, chúng ta được ở cùng Thiên Chúa, hoàn toàn ở với Thiên Chúa, và ranh giới giữa thời gian và vĩnh hằng bị xóa bỏ. Đúng là chúng ta không thể hiểu được rằng sự tôn thờ Thiên Chúa sẽ là hạnh phúc bất diệt. Chúng ta luôn làm việc gì đó. Chúng ta muốn phê phán, can thiệp, thay đổi, cải thiện, thành hình. Và đúng là thế! Đấy là bổn phận của chúng ta. Nhưng khi chết, khi đến với Chúa, thì tất cả những sự đó dừng lại hết. Rồi sự hiện hữu của chúng ta sẽ thuần túy là kinh ngạc, sững sờ, tán dương, tôn thờ, và hạnh phúc không thể tưởng tượng nổi. Vì thế mà còn có một dạng tôn thờ không cần lời. Với cách đó, tôi trao trọn đời mình cho Chúa, trong sự thinh lặng, và chung cùng toàn thế giới, biết rằng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, là Chúa, là quy hướng của mọi chúc tụng và tôn vinh. Tôn thờ là hiến lễ đời mình cho Thiên Chúa. Tôn thờ là quy phục. Tôn thờ là giao phó hoàn toàn bản thân cho Chúa. Khi chìm trong tôn thờ, thì sự vĩnh hằng bắt đầu, một vĩnh hằng không trốn tránh thế giới nhưng mở mang thế giới đến tột cùng.”

Thời gian có thể đứng yên! Và thời gian đứng yên khi chúng ta ở trong sự cảm phục, kính sợ, kinh ngạc, và tôn thờ thuần túy. Trong những lúc đó, chúng ta đứng ngoài bản thân mình, và đứng trong dạng tình yêu thuần túy nhất. Và lúc đó, chúng ta cũng ở trong thiên đàng, không phải là một sự thưởng nếm trước thiên đàng, nhưng là thiên đàng đích thực. Sự vĩnh hằng sẽ là thế, là một chớp mắt như ngàn năm, và ngàn năm như một chớp mắt.

Khi tôn thờ, là thời gian đứng yên, và chúng ta ở trong thiên đàng!

Đưa Chúa ra xử án

Cả trong tâm thức sùng tín lẫn bất khả tri, có những lần chúng ta đưa Chúa ra xét xử, và bất kỳ lúc nào làm thế, cuối cùng chúng ta là người bị phán xét. Chúng ta thấy điều này trong các đoạn Tin mừng về cuộc xử án Chúa Giêsu, nhất là trong Tin mừng theo thánh Gioan.

Như chúng ta biết, Tin mừng theo thánh Gioan họa lên hình ảnh Chúa Giêsu từ góc nhìn thiên tính, chứ không phải nhân tính của Ngài. Như thế, trong Tin mừng theo thánh Gioan, Chúa Giêsu không có sự yếu đuối của loài người. Ngài là Thiên Chúa từ dòng đầu cho đến dòng cuối trong Tin mừng theo thánh Gioan. Điều này đúng cho đến từng chi tiết nhỏ nhất. Ví dụ như, trong Tin mừng theo thánh Gioan, trong phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ xem họ có bao nhiêu bánh và cá. Thánh Gioan viết thêm: “Ngài đã biết trước rồi.” Không gì nằm ngoài dự liệu của Chúa Giêsu.

Chúng ta thấy điều này rõ ràng nhất trong cách thánh Gioan viết về cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu. Không như các Tin mừng khác diễn tả Chúa Giêsu lo sợ trước số phận khủng khiếp của mình, trong Tin mừng theo thánh Gioan, xuyên suốt con đường thương khó, Chúa Giêsu không chút sợ hãi, hoàn toàn tự chủ, bình tâm, vác thập giá của mình, hoàn toàn đối ngược với hình ảnh một nạn nhân. Tư thế của Chúa Giêsu luôn là hành động tự do, vì lòng yêu thương, và có uy quyền hoàn toàn trên tình cảnh đó.

Thánh Gioan minh họa rất rõ điểm này. Khi quân lính đến bắt, Chúa Giêsu bước ra và tất cả những ai xáp lại phía Ngài đều ngã gục xuống đất, và trong sự phủ phục đó thể hiện sự tôn kính với Ngài. Và những hình ảnh mang tính biểu tượng còn nhiều nữa. Chúa Giêsu bị tuyên án tử hình vào lúc giữa trưa, đúng vào giờ các tư tế bắt đầu sát tế những con chiên vượt qua. Sau khi chết, Chúa Giêsu được mai táng với dầu thơm và lô hội, vốn chỉ dùng cho vua, và Ngài được đưa vào huyệt đá “mới tinh” (cũng như ngài được sinh ra trong cung lòng trinh nữ.) Thánh Gioan làm rõ rằng, chúng ta đang nhìn vào Đức Chúa.

Với tâm thức đó, hiểu rằng Chúa Giêsu luôn luôn có uy quyền và làm chủ mọi chuyện, chúng ta sẽ có thể hiểu rõ hơn ý định của thánh Gioan muốn nói với chúng ta trong trình thuật tử nạn của Chúa Giêsu. Thánh Gioan tập trung nhiều nhất vào cuộc xử án Chúa Giêsu. Trình thuật thương khó tập trung quanh vụ xử án và các nhân vật chính trong vụ xử án. Nhưng trình thuật này có một điểm đảo chiều đầy mỉa mai: Có vẻ là Chúa Giêsu bị xử án, nhưng thật ra, Ngài là người duy nhất không bị xử án. Philatô, các chức sắc tôn giáo, dân chúng, cả chúng ta ngày nay, mới bị xử án. Tất cả đều bị xử án, trừ Chúa Giêsu.

Philatô bị xử án vì nhiều tội: Biết Chúa Giêsu vô tội nhưng không đủ can đảm để đương đầu với đám đông, rồi để cho sự điên cuồng thất thường vô tri của đám đông quyết định. Philatô bị phán xét vì sự yếu đuối của ông. Nhưng ông còn bị xử án vì chủ nghĩa bất khả tri của ông, cụ thể là ông tin rằng mình có thể xem chân lý và đức tin như những thứ mà ông có thể tránh né, có thể định giá chúng từ vị trí trung lập, xem đó là việc của người khác, không dính dáng gì đến mình. Nhưng ông bị phán xét chính vì lẽ đó. Chẳng ai có thể dửng dưng hỏi rằng: “Sự thật là gì?” như thể câu trả lời chẳng ảnh hưởng gì đến mình vậy. Phiên tòa của Chúa Giêsu xác định Philatô và những người như ông, là có tội, tội bất khả tri, tội tránh né, tội dửng dưng, và cuối cùng là bất lương. Mỉa mai thay, sự yếu đuối của Philatô khi không giải cứu Chúa Giêsu, cuối cùng lại biến ông thành tổng trấn và thẩm phán tai tiếng nhất lịch sử. Với cái tên có trong kinh Tin kính, hàng triệu người đọc tên ông mỗi ngày.

Nhưng không chỉ mình Philatô bị xử án, mà còn các chức sắc tôn giáo thời đó nữa. Trong nỗ lực bảo vệ Thiên Chúa khỏi những gì mà họ xem là bất kính, ngoại giáo, và phạm thượng, họ đã đồng lõa trong tội “giết” Chúa. Phán quyết trong phiên tòa của Chúa dành cho họ, cũng chính là phán quyết cho nhiều chức sắc tôn giáo đến tận thời nay, đó chính là khuynh hướng nhiệt thành bảo vệ Thiên Chúa lại thường góp một tay đóng đinh Chúa trên thế giới này.

Và cuối cùng, vụ xử án những người đương thời với Chúa Giêsu, cũng như chính chúng ta. Trong cơn cuồng loạn vô tri bừng bừng của đám đông, họ đã từ bỏ hy vọng mong chờ Đấng Thiên sai để hô vang: “Đóng đinh nó!” Thật cũng không khác gì mấy nhiều khẩu hiệu tôn giáo và chính trị mà chúng ta hô vang ở những buổi tập hợp thời nay. Phiên tòa xử Chúa Giêsu lại là một phán quyết rất dữ dội cho sự vô tri, thất thường và nguy hiểm của tâm tính đám đông.

Với sự tinh tế của mình, thánh Gioan đã cho chúng ta thấy, bất kỳ lúc nào bằng nhiệt thành lòng đạo sai lầm hay bằng chủ nghĩa bất khả tri lạnh lùng, mà chúng ta đem Chúa ra xử án, thì kết cục, chính chúng ta là người bị phán xét.

Xin dạy chúng con cầu nguyện

Nếu bạn không đặt một chân ra ngoài văn hóa của mình, thì nền văn hóa sẽ nuốt chửng bạn. Daniel Berrigan từng viết câu đó, và nó đúng theo nghĩa này: Nếu bạn không rút lấy sức mạnh từ một nguồn bên ngoài bản thân, thì những khuynh hướng tự nhiên của bạn hướng về hoang tưởng, cay đắng và thù ghét sẽ luôn nuốt chửng bạn.

Các môn đệ trong Phúc âm theo thánh Luca hiểu điều này. Họ đến tìm Chúa Giêsu và xin Ngài dạy họ cách cầu nguyện, bởi họ thấy Ngài làm những điều mà không ai làm. Ngài có thể trả lại hận thù bằng yêu thương, thật tâm tha thứ cho người khác, chịu đựng hiểu lầm và phản đối mà không để mình trở nên thương thân hay cay đắng, và luôn sống theo tiêu chí hòa bình và phi bạo lực. Các môn đệ biết đây là điều phi thường, không khác gì việc đi trên nước, và họ thấy là Ngài lấy sức mạnh để làm được thế, từ một nguồn bên ngoài Ngài, là qua việc cầu nguyện.

Họ biết họ không thể kháng cự lại sự cay đắng và thù ghét, và họ muốn mạnh mẽ như Chúa Giêsu, nên họ đã xin Ngài: “Xin thầy dạy chúng con cầu nguyện.” Chắc chắn các môn đệ nghĩ đây đơn giản là hỏi về một kỹ thuật nhất định, nhưng như Tin mừng đã làm rõ, liên kết với một nguồn sức mạnh thiêng liêng không phải lúc nào cũng dễ dàng hay là kiểu vận hành theo quy trình, ngay cả với chính Chúa Giêsu, bởi chúng ta đã thấy Ngài phải đau đớn thế nào trong Vườn Gethsemane.

Chính Chúa Giêsu đã nhiều lần phải đấu tranh dữ dội để giữ cội nguồn sinh lực mình nơi Thiên Chúa. Cuộc đấu tranh của ngài được mô tả với từ “agony” và chúng ta cần hiểu từ này thật cẩn thận. “Agony” là một từ còn được dùng cho các vận động viên. Trước khi vào thi đấu, các vận động viên sẽ làm cho cơ thể đổ mồ hôi, khởi động cơ bắp và sẵn sàng thi đấu, đó chính là “agony.” Tin mừng cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu cũng đổ mồ hôi, chỉ khác là Ngài đổ mồ hôi máu khi sẵn sàng tâm hồn cho trận đấu cao đẹp mà Ngài sắp dự, là cuộc thương khó của Ngài.

Nhưng không như người ta thường nghĩ, Ngài không đấu tranh giữa quyết định để mình chịu đóng đinh hoặc dùng sức mạnh thần thiêng để cứu mình khỏi nỗi ô nhục và cái chết. Đấy không bao giờ là vấn đề Ngài đấu tranh trong vườn Gethsemane. Ngài đã chấp nhận cái chết đó từ lâu lắm rồi. Vấn đề của Chúa Giêsu là, Ngài sẽ chết trong yêu thương hay cay đắng?

Đấy là một đấu tranh để củng cố ý chí cho Ngài chết với một tâm hồn tha thứ, yêu thương và nồng ấm. Và trong đấu tranh, chưa chắc đã có kết quả tích cực. Giữa mọi sự tăm tối, thù ghét, cay đắng, bất công, và hiểu lầm đang bao vây, giữa mọi chuyện đang bất cống chống lại đối lập với con người cũng như thông điệp của Ngài, Chúa Giêsu đã đấu tranh cực độ để bám chặt vào nguồn cho Ngài sức mạnh, một nguồn có thể giúp Ngài chống lại những thù ghét và bạo lực, một nguồn có thể giúp Ngài tha thứ cho kẻ thù, một nguồn có thể cho Ngài sự nhân từ để tha cho kẻ trộm lành, và một nguồn có thể cho Ngài sức mạnh trong lòng để biến sỉ nhục, đau đớn, và bất công thành cảm thương chứ không phải cay đắng.

Các Tin mừng xem đây là một đấu tranh để “tỉnh thức”, cụ thể là tỉnh thức với chân tính là Con Thiên Chúa, chân tính mà Ngài đã có và hình thành ý thức của Ngài trong những năm rao giảng. Trong vườn Gethsemane, giữa mọi sự đang mời mọc Ngài rơi vào sự mê man về tinh thần, Chúa vẫn tỉnh thức với hiện thực thâm sâu và chân tính của Ngài, nhưng các môn đệ thì không. Như Tin mừng đã nói, trong khi Chúa Giêsu đấu tranh, thì các ông ngủ vùi, và cơn ngủ đó không chỉ là vì sự mệt mỏi về thể xác, Bởi rõ ràng là ngay sau đó, khi Chúa Giêsu không chút thù ghét và bạo lực, thì Phêrô lại có cả hai thứ đó, và xông vào cắt tai đầy tớ của thượng tế. Phêrô đã ngủ, một giấc ngủ thể hiện rõ sự thiếu vắng của cầu nguyện trong đời sống người ta.

Cầu nguyện giúp chúng ta tỉnh thức, kết nối chúng ta với một nguồn nằm ngoài những bản năng và chiều hướng tự nhiên của chúng ta, một nguồn có thể giúp chúng ta kiên vững trong yêu thương, tha thứ, không trả thù, không bạo lực cả khi mọi thứ quanh chúng ta đang kêu gào đòi cay đắng, hận thù và trả đũa. Và nếu khi chịu thử thách, Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi máu khi cố giữ kết nối với cội nguồn đó, thì chúng ta cũng có thể thấy trước cái giá phải trả của mình cũng như thế, là đấu tranh, đau đớn cùng cực, mong mỏi tột cùng muốn được dự phần, và rồi để thiên Chúa Chúa tăng sức cho chúng ta khi chúng ta đã quằn quại đủ lâu trong đấu tranh để sức mạnh của Chúa làm cho chúng ta những gì sức chúng ta không làm được.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện!

Thăng trầm của Đức tin

Nhà thơ và là nhà thần nghiệm Rumi, phái Sufi, từng viết rằng chúng ta sống với một bí mật thâm sâu mà đôi khi chúng ta biết, rồi lại không biết, rồi lại biết. Đây là mô tả rất hay về đức tin. Đức tin không phải là thứ bạn có thể giành lấy một lần là xong. Đức tin là thế này: Có những lúc bạn bước đi trên mặt nước, và có những lúc bạn chìm nghỉm như hòn đá đến tận đáy.

Tin mừng làm chứng cho điều này, nhất là trong câu chuyện thánh Phêrô bước đi trên mặt nước. Chúa Giêsu bảo Phêrô ra khỏi thuyền và bước đi trên mặt nước đến với Ngài. Lúc đầu thì được, Phêrô không nghĩ gì và bước đi trên mặt nước, nhưng đến khi ông ý thức được việc mình đang làm, thì ông chìm nghỉm. Chúng ta cũng thấy được sự dao động khủng khiếp nơi các môn đệ trong thời gian sau khi Chúa phục sinh. Chúa Giêsu hiện ra với họ, họ tin Ngài đã sống lại, rồi Ngài lại biến mất, và họ lại mất lòng tin, trở lại cuộc sống thường nhật trước khi gặp Ngài, đi đánh cá ngoài biển. Trình thuật sau biến cố phục sinh đã thể hiện những động năng của đức tin khá rõ ràng: Bạn tin. Rồi bạn không tin. Rồi bạn lại tin. Ít nhất, vẻ ngoài là thế.

Chúng ta cũng thấy một ví dụ khác trong chuyện thánh Phêrô chối Chúa Giêsu. Trong Tin mừng theo thánh Maccô, Chúa Giêsu bảo rằng có một bí mật phân chia người có đức tin và người không có. Thầy cho các con biết bí mật của nước trời, nhưng chỉ dùng dụ ngôn với người ngoài. Nghe có vẻ như Ngộ đạo thuyết, với ý niệm rằng có một mật mã bí mật nằm đâu đó (như trong truyện Mật mã Da Vinci chẳng hạn) mà một số thì biết và số khác không biết, và bạn được dự phần hay không là tùy vào hiểu biết này. Nhưng ý Chúa Giêsu không phải thế. Bí mật của Ngài là một bí mật mở, tất cả mọi người đều có thể biết: đó chính là ý nghĩa của thập giá. Bất kỳ ai hiểu được điều này sẽ hiểu toàn bộ ngụ ý của Chúa Giêsu, và ngược lại. Chúng ta dự phần hay không, tùy vào việc chúng ta có thể hay không thể nắm bắt và đón nhận ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu.

Nhưng, dự phần hay không, không phải là một chuyện làm một lần là xong. Đúng hơn, chúng ta vào rồi ra! Và sau khi thánh Phêrô đã chối Chúa Giêsu, Tin mừng viết rằng: “Ông đi ra ngoài.” Câu này vừa có ý theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Sau khi chối Chúa, thánh Phêrô bước ra khỏi cửa đi vào đêm tối để tránh xa đám đông, nhưng ông cũng bước ra khỏi ý nghĩa đức tin của mình.

Đức tin của chúng ta cũng lên lên xuống xuống vì một lý do khác, đó là chúng ta hiểu sai về cách vận hành của đức tin. Lấy ví dụ chàng thanh niên giàu có đã đến hỏi Chúa Giêsu: “Thầy nhân lành, con phải làm gì để có sự sống đời đời?” Cách chọn từ của anh này là điểm đáng chú ý: “có”. Sự sống đời đời như một thứ để chiếm hữu sao? Chúa Giêsu nhẹ nhàng chỉnh đốn cách chọn từ của anh, và dạy cho chúng ta một điều quan trọng sống còn về đức tin. Chúa Giêsu nói: “Nếu anh mong muốn đón nhận sự sống đời đời,” thế nghĩa là đức tin và sự sống đời đời không phải là thứ để chiếm hữu, cất giữ, và bảo vệ như thóc trong kho lẫm, tiền trong ngân hàng, hay nữ trang trong rương hòm. Đức tin và sự sống đời đời, chỉ có thể đón nhận, nhưng không khí chúng ta hít thở vậy. Không khí thì miễn phí, có khắp nơi, và sức khỏe của chúng ta không phụ thuộc vào sự hiện diện của không khí, bởi mọi lúc mọi nơi đều có không khí mà, nhưng sức khỏe của chúng ta phụ thuộc vào tình trạng lá phổi vào thời điểm đó. Đôi khi chúng ta hít thở sâu và cảm nhận luồng khí, nhưng đôi khi, vì nhiều lý do khác nhau, chúng ta hít thở kém, hổn hển, hết hơi, hay nghẹt thở. Cũng như hít thở, đức tin cũng có những thể thức của mình.

Và do đó, chúng ta cần phải hiểu đức tin của mình, không phải như một thứ để chiếm hữu hay có thể đạt được một lần là xong, một thứ chỉ có thể mất đi khi xảy ra biến chuyển cực kỳ lớn trong cuộc đời, khi chuyển từ người có đức tin sang người vô thần. Abraham Heschel đã nói rằng, “Đức tin không phải là tình trạng tin liên tục, nhưng là một dạng thành tín, trung thành với những thời khắc mà chúng ta có đức tin.”

Và điều này làm khuấy động một điều khác nữa: Đức tin thật, không hẳn phải được diễn tả hoàn toàn trong tính tôn giáo, nhưng có thể biểu lộ trong sự thành tín, trung thành, và tin cậy. Ví dụ như, trong Giờ Tươi Sáng [The Bright Hour], một hồi ký đầy mãnh liệt viết vào thời điểm hấp hối vì bệnh ung thư, Nina Riggs đã chia sẻ đức tin mạnh mẽ nhưng âm thầm của cô khi bình thản đón nhận cái chết. Cô không có một đức tin tôn giáo rõ ràng, nhưng có lần một y tá đã nói với cô: “Đức tin, cô phải có nó, và cô phải cần nó!” Lời này khiến trong lòng cô phải suy ngẫm về những gì cô tin hay không tin, và cô đã đi đến suy nghĩ này: “Với tôi, đức tin hệ tại ở việc nhìn đăm đăm vào hố thẳm, thấy có bóng tối và những điều ta không biết, nhưng lòng thấy ổn với việc đó.”

Chúng ta cần phải tin những sự mà chúng ta không biết, biết rằng chúng ta sẽ ổn, dù cho rồi một ngày nào đó, chúng ta sẽ như người đang đi trên nước mà chìm nghỉm. Đức tin là một sự thâm sâu hơn cảm nhận của chúng ta nhiều.

Vĩnh biệt một mục tử tốt lành

Tháng trước, một lãnh đạo tuyệt vời trong cộng đoàn đức tin ở Canada, đã qua đời, và tôi thiết nghĩ chúng ta sẽ thu lượm được nhiều điều khi cảm nhận tinh thần của cha. Nhưng bằng cách nào? Tôi tin rằng, cách hữu ích là nêu bật những điểm mà cuộc sống, sinh lực và tinh thần lãnh đạo của cha đặc biệt giúp cho chúng ta vững vàng trong đức tin và dùng những ơn của mình một cách trọn vẹn hơn để phụng sự Thiên Chúa. Vậy con người này là ai? Đức cha Joseph Neil MacNeil, Tổng Giám mục Danh dự của Edmonton, Alberta, Canada.

Tôi may mắn được phục vụ dưới tòa của ngài trong 18 năm đầu đời linh mục. Ngài là một người thầy tuyệt vời mà tôi rất cần. Tôi vừa hoàn tất chương trình chủng viện, và không khác mấy những người ngây thơ lao ngay vào mục vụ, tôi đã có cái nhìn quá cứng ngắc về những thiếu sót của thế giới và cách để khắc phục, có những quan niệm bắt nguồn từ sự non nớt hơn là cẩn trọng, những quan điểm cần phải được cải thiện nhiều. Và cha đã hướng dẫn, không chỉ cho tôi mà còn cho nhiều người khác.
Đây là thời mà toàn giáo hội đang đấu tranh tìm kiếm một sự chính chắn sâu sắc hơn. Giáo hội vừa bước vào công cuộc cải cách Vatican II, không biết liệu mình đã đi đủ xa hay đã đi quá xa, và đó còn là thời của những biến đổi về tính dục và văn hóa triệt để của những năm 1960. Đâu đâu cũng thấy thay đổi. Và không còn gì như cũ, dù là trong hay ngoài giáo hội. Chúng tôi là thế hệ mở đường trong giáo hội đang cần một tinh thần lãnh đạo mới.

Và cha đã dẫn dắt chúng tôi tốt đẹp, không có gì quá cấp tiến hay quá bảo thủ, mà là một tinh thần lãnh đạo tốt đẹp, vững vàng và nhân ái, đã giúp chúng tôi có thêm nhạy cảm mục vụ, thêm tinh thần đại kết, bớt vị kỷ, bớt thói giáo sỹ, và cởi mở hơn về vai trò của giáo dân, cũng như biết quan tâm hơn đến vị trí của phụ nữ. Cha đã giữ cho mọi sự vững vàng và từ từ tiến tới, nhưng vẫn tôn trọng quá khứ.

Trong nhiều ơn Chúa ban cho cha, tôi thấy dặc biệt nổi lên ba đặc tính lãnh đạo như một thách thức cho chúng ta sống tinh thần môn đệ một cách sâu sắc hơn nữa.

Thứ nhất, cha có thể sống với sự mơ hồ và không hoảng lên khi tình hình căng thẳng dữ dội. Cha không sợ cũng không bị áp chế bởi sự phân cực và chỉ trích. Cha xử lý chúng với sự kiên nhẫn và lòng nhân ái. Và như thế giúp tạo điều kiện cho một giáo hội dung nạp hơn, một giáo hội mà mọi người với những tính khí và chủ trương giáo hội khác nhau vẫn có thể chung dự trong một cộng đoàn. Cha để mắt đến toàn cục chứ không chỉ một phần, những cái tưởng quan trọng nhưng lại làm làm chúng ta quên đi điều quan trọng. Người tốt mang lấy áp lực để nó đừng đè nặng lên người khác một cách không cần thiết. Lãnh đạo tốt dấn vào sự mơ hồ để không giải quyết căng thẳng một cách hấp tấp. Cha là một người tốt và một lãnh đạo tốt. Cha có thể kiên nhẫn trước áp lực căng thẳng chưa được giải quyết.

Thứ hai, cha hiểu được áp lực bẩm tại từ phép rửa, chúng ta không ngừng bị giằng xé giữa hai sự trung thành, một bên là giáo hội và các giáo lý cũng như luật lệ, và bên kia là với sự thật rằng chúng ta là những công cụ của ơn cứu độ chiếu tỏa lòng thương của Thiên Chúa cho mọi người trong mọi giáo hội và trên toàn thế giới. Tôi xin đưa ra một ví dụ: Có một lần gặp phải tình huống mục vụ rối tung và đau lòng, tôi đã gọi điện cho cha hỏi xin lời khuyên. Và câu trả lời của cha đã thể hiện rõ điểm chung của lề luật và lòng thương xót. “Cha à, cha biết tâm thức của giáo hội, cha biết giáo luật, cha hiểu tôi, và cha biết cách lý tưởng nhất nên làm… Nhưng cha cũng biết nguyên tắc Epikeia, cha đang đối diện nỗi đau của những người này, và Chúa đã đặt cha vào vị trí đó. Cha cần tập hợp tất cả những điều cần biết, và ra quyết định dựa trên đó. Sau đó hãy cho tôi biết cha quyết định thế nào, rồi tôi sẽ nói với cha là tôi có đồng ý hay không.” Tôi đã ra một quyết định, gọi điện báo cho cha, và cha không đồng ý với tôi, nhưng cha cảm ơn tôi vì tôi đã làm những việc đó.

Là một người lãnh đạo trong đức tin, cha hiểu được sự khác biệt giữa giáo lý và thần học, và cha tôn trọng cũng như bảo vệ vị trí đặc biệt của mỗi sự. Cần có giáo lý để làm nền tảng, và thần học để mở rộng chúng ta. Cha hiểu điều đó. Tốt nghiệp Đại học Chicago và từng là hiệu trưởng một Đại học, cha không ngại các thần học gia và thường bảo vệ khi chúng tôi bị công kích. Một trong những câu nói của cha khi một trong những giảng viên thần học của cha bị công kích, đơn giản là: “Họ là các thần học gia! Họ ức đoán. Các thần học gia là thế. Các ức đoán không phải là giáo lý.” Cha bảo vệ thích đáng cho các giảng viên giáo lý của mình.

Theo cách nói trong giáo hội, thì một giám mục, tổng giám mục, hồng y, hay giáo hoàng thường được xem là một quân vương trong giáo hội. Cha là thế, một quân vương trong giáo hội… Không phải bởi giáo hội đã phong cho cha tước đó, nhưng là bởi trong cha có sự thông minh, nhân hậu và trái tim của một bậc lãnh đạo.

Khắc khoải mong sự bất diệt đời này

Chúng ta chia sẻ thế giới với bảy tỷ rưỡi người, và mỗi người chúng ta đều có một ý thức bẩm tại không thể kìm hãm là chúng ta đặc biệt và có một số mệnh độc nhất vô nhị. Điều này chẳng có gì ngạc nhiên bởi mỗi người chúng ta thật sự đặc biệt và độc nhất vô nhị. Nhưng sao lại có thể cảm thấy mình đặc biệt giữa bảy tỷ rưỡi người cơ chứ?

Thế nên chúng ta cố gắng trở nên nổi bật. Thường thì chúng ta chẳng thành công, và như Allan Jones đã nói, “Chúng ta nuôi dưỡng trong lòng mình một hy vọng rằng chúng ta khác biệt, đặc biệt, và phi thường. Chúng ta khao khát được bảo đảm rằng chúng ta sinh ra không phải là chuyện ngẫu nhiên, rằng có một vị thần đã đưa chúng ta đến trần gian, và chúng ta tồn tại theo ý định của Đấng Tối Cao. Chúng ta mong mỏi được chữa lành khỏi căn bệnh bất diệt cực cùng này. Chúng ta lên cơn điên đó khi gặp áp lực quá lớn và chúng ta dựng lên một lời nói dối sống còn để che đậy sự thật rằng chúng ta tầm thường, là thứ tình cờ, và rồi sẽ chết. Chúng ta đã không thấy được ánh hào quang của Tin mừng. Lời nói dối này là điều cần thiết bởi mọi thứ chúng ta thật sự khao khát đã được trao ban nhưng không cho chúng ta.”

Tất cả chúng ta điều hiểu ý nghĩa câu nói này. Chúng ta ý thức rằng mình phi thường, quý giá, và quan trọng, bất chấp vận mệnh cuộc đời chúng ta ra sao. Sâu trong lòng, chúng ta cảm nhận rằng chúng ta được yêu thương đặc biệt và được kêu gọi đặc biệt đến với một cuộc đời đầy ý nghĩa và hệ trọng. Qua đức tin hơn là qua cảm giác, chúng ta cũng biết rằng mình quý giá không phải vì những gì mình đạt được nhưng là vì mình được Thiên Chúa tạo thành và yêu thương.

Nhưng trực giác này, dù sâu sắc trong tâm hồn, nhưng lại yếu ớt trong biểu hiện của chúng ta khi cố gắng sống một cuộc đời độc nhất vô nhị và đặc biệt trong một thế giới có hàng tỷ người cũng đang cố làm như thế. Và chúng ta có thể bị choáng ngợp trước ý thức về sự tầm thường, sự vô danh và khả tử của mình, rồi bắt đầu sợ rằng chúng ta không quý giá nhưng chỉ là một kẻ bình thường, một kẻ chẳng ai biết đến, chỉ là một trong hàng tỷ người. Khi cảm nhận như thế, chúng ta có cám dỗ tin rằng mình quý chỉ quý giá và độc nhất vô nhị khi đạt được điều gì đó khiến chúng ta nổi bật và bảo đảm người ta sẽ nhớ đến mình. Với hầu hết chúng ta, trọng trách cuộc đời là bảo đảm sự quý giá, ý nghĩa và sự bất diệt của mình, bởi đến tận cùng, chúng ta tin rằng điều này tùy thuộc vào những thành tựu, những điều đặc biệt của riêng chúng ta.

Và chúng ta vất vả đấu tranh để hài lòng với cuộc sống vô danh bình thường ẩn giấu trong bàn tay Chúa. Đúng hơn là, chúng ta cố gắng trở nên nổi bật, tạo dấu ấn, cố đạt thành tựu phi thường, và bảo đảm người ta công nhận cũng như đến mình. Và chẳng có mấy thứ khiến chúng ta mất bình an hơn thứ này. Chúng ta buộc mình làm điều bất khả thi, một việc xe cát dã tràng để kiếm về cho mình một thứ mà chỉ có Thiên Chúa đem lại được, là sự quan trọng và bất diệt. Và thế là cuộc sống bình thường dường như không còn đủ cho chúng ta, rồi chúng ta sống trong khắc khoải, cạnh tranh, quyết liệt.

Tại sao cuộc sống bình thường không đủ cho chúng ta? Tại sao đời chúng ta dường như quá nhỏ bé và không đủ lý thú? Tại sao chúng ta cứ có cảm giác bất mãn vì không được đặc biệt? Tại sao chúng ta cần tạo dấu ấn? Tại sao chúng ta thường thấy ngột ngạt? Tại sao chúng ta không thể dễ dàng chấp nhận anh chị em mình và vui mừng vì tài năng và sự hiện diện của họ? Tại sao chúng ta cứ luôn mãi có cảm giác người khác là đối thủ? Tại sao chúng ta cần đeo mặt nạ, cần vờ vịt, tạo một hình ảnh nhất định cho bản thân?

Câu trả lời là: Chúng ta làm tất cả những việc này để cố gắng làm cho mình nổi bật, bởi chúng ta đang cố cho mình môt thứ mà chỉ có Thiên Chúa cho được, là tầm quan trọng và sự bất diệt.

Kinh thánh bảo chúng ta rằng, “chỉ đức tin mới cứu anh em.” Dòng đơn giản này đã tỏ bày cả bí mật: Chỉ mình Thiên Chúa đem lại được sự sống đời đời. Sự quý giá, ý nghĩa, tầm quan trọng và sự bất diệt là những ơn ban nhưng không của Thiên Chúa, và chúng ta sẽ nghỉ yên, bình an, khiêm nhượng, biết ơn, hạnh phúc và bớt cạnh tranh hơn nếu chúng ta tin như thế. Như thế, một đời sống bình thường khiêm nhường, cùng với hàng tỷ người khác, sẽ đủ để chúng ta thấy mình quý giá, có ý nghĩa và tầm quan trọng.

Thomas Merton, trong một lúc khắc khoải đã viết: “Thế là đủ khi sống bình thường như một con người, biết đói bụng và buồn ngủ, biết nóng và lạnh, đi ngủ và thức dậy. Đắp chăn lên rồi bỏ chăn ra, pha cà phê rồi uống. Làm rã đông tủ lạnh, đọc sách, suy tư, làm việc, cầu nguyện. Tôi sống như tổ tiên tôi từng sống trên mặt đất này, cho đến khi cuối cùng tôi sẽ chết. Amen. Không cần phải khẳng định đời mình, nhất là khẳng định đó là đời mình, dù chắc chắn nó chẳng phải là đời của ai khác. Tôi phải học cách sống sao để dần quên đi chương trình và mưu tính.”

Một cuộc sống bình thường là đủ. Không cần phải khẳng định gì về đời mình. Sự quý giá và ý nghĩa của chúng ta không phải nằm trong việc đạt được điều gì đó đặc biệt, nó nằm sẵn trong sự quý giá và ý nghĩa cuộc đời rồi.

Xem lại Đời sống Độc thân

Viết về chính mình luôn là mạo hiểm, nhưng tôi thiết nghĩ, chủ đề của cột bài này được thể hiện tốt nhất qua chứng tá riêng. Trong một thế giới mà khiết tịnh và độc thân bị xem là ngây thơ và đáng thương, một nơi mà phần lớn hoài nghi về việc bất kỳ ai có thể thật sự sống trọn lối sống đó, thì có lẽ một chứng tá riêng sẽ là lời phản đối hiệu quả nhất.

Về độc thân và khiết tịnh, liệu đây là lối sống trong bối cảnh tu trì hay đơn giản là lối sống của bất kỳ ai độc thân trong đời? Tôi xin chia sẻ câu chuyện của mình:

Năm 17 tuổi, tôi đã quyết định làm linh mục và vào dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ. Một phần quyết định đó có nghĩa là tôi sẽ sống độc thân suốt đời. Lạ thay, tôi chỉ mới 17 tuổi, nhưng tôi không đưa ra quyết định đó một cách ngây thơ hay vì ảo tưởng hay ho nào. Tôi đã cảm nhận được cái giá phải trả, đến nỗi gần như trọn bản thân tôi phản đối mạnh mẽ ơn gọi này. Tất cả! Dù tôi say mê việc mục vụ, nhưng đời sống độc thân đúng là vật cản khổng lồ. Tôi không muốn sống độc thân. Có ai lại muốn chứ? Thật sự là không một ai. Nhưng ơn gọi trong lòng tôi quá mạnh đến nỗi, bất chấp khó khăn của nó, tôi vẫn chọn, miễn cưỡng nhưng cương quyết, vào Dòng sau khi học xong trung học. Giờ sau 50 năm nhìn lại, tôi thấy đó vẫn là quyết định vong kỷ và thuần túy nhất của tôi.

Đã sống đời tu trì hơn 50 năm, và đã làm linh mục hơn 45 năm, tôi thấy đời độc thân tốt cho tôi, và tôi có thể thành thật nói rằng tôi đã sống đời độc thân một cách trung tín. Độc thân có thuận lợi của nó. Ngoài việc nó thúc đẩy tôi hơn trong mối liên hệ với Chúa, với tha nhân, và với bản thân mình (thường là qua những khắc khoải, cầu nguyện và nhờ sự giúp đỡ của các linh hướng), đời sống độc thân còn cho tôi có thể cống hiến đặc biệt cho việc mục vụ. Nếu bạn là linh mục và người mục vụ, thì độc thân là người bạn tốt cho bạn.

Nhưng không phải lúc nào nó cũng thân thiện. Với tôi, độc thân luôn là cuộc đấu tranh khó khăn nhất trong đời sống tu trì và mục vụ, một cuộc đóng đinh cảm xúc. Có những lúc, những ngày, những tuần, những tháng, và thậm chí là vài tháng, trọn bản thân tôi kêu gào chống lại nó, có những lúc tôi thấy mình đang yêu, đang đương cự lại với những ám ảnh, hay những lúc chật vật trong một cộng đoàn toàn nam tính, hoặc có những lúc tôi chán nản trước sự thật là mình sẽ không bao giờ có con cái, hay đơn giản là những lúc tôi vất vả đấu tranh với cảm xúc tính dục trong mình, những lúc như thế nhiều khi đủ để con người trong tôi muốn bước ra khỏi những gì mà người linh mục trong tôi đã khấn hứa. Nhiều lúc, đời độc thân sẽ khiến bạn đổ mồ hôi máu. Nó đi ngược lại những bản năng và sinh lực thâm sâu nhất, bẩm tại nhất mà Thiên Chúa đã ban cho bạn, và vì thế không thể giải quyết nó một cách hời hợt được.

Và vì thế, còn có những điều phải nói, những điều mà thời nay người ta hiểu quá hạn chế. Độc thân cũng có thể là thứ vô cùng sinh sôi, bởi tình dục không chỉ là làm tình. Ngay trước khi tạo nên hai giới nam nữ, Thiên Chúa đã nói. Con người ở một mình thì không tốt! Điều này quá đúng cho tất cả mọi người từng sống trên đời! Chúng ta có tính dục để đưa mình vượt ra khỏi sự cô độc, nhưng có nhiều cách để được thế, và sự thân mật tình dục chỉ là một trong số đó.

Có lẽ sự hiểu lầm lớn nhất thời nay về tính dục, là một niềm tin rằng tình bạn sâu sắc, cộng đoàn trung tín, và những dạng thân thiết mà không liên quan đến giao hợp, thì chỉ là những thứ thay thế, những chọn lựa thứ hai, bởi chỉ có làm tình mới là phương thức tình dục phong phú và sinh sôi nhất. Nhưng đấy không phải là những chọn lựa thứ hai. Cũng như làm tình, chúng cũng thật và rất phong phú.

Mới đây, tôi đã gọi điện mừng một linh mục bạn nhân dịp ngọc khánh. Ở tuổi 80, ông bảo tôi thế này: “Có những lúc khó khăn, mọi bạn đồng lớp của tôi đều từ bỏ sứ vụ, và tôi cũng có cám dỗ muốn làm thế. Nhưng tôi đã ở lại, và giờ nhìn lại, tôi khá hạnh phúc với đời mình.”

Nhìn lại đời mình và dấn thân trong đời độc thân của mình, tôi cũng có thể nói thế. Sống độc thân có thể gây nên những thời khắc khó khăn, như Merton từng khẳng định “sự đau đớn sâu sắc trong khiết tịnh.” Nhưng độc thân cũng cho tôi một cuộc đời phong phú bạn bè, cộng đoàn, kết giao, gia đình đủ loại, và có nhiều cơ hội để đến với tha nhân. Tôi sẽ chết mà không có con cái, đời tôi, như cuộc đời mọi người khác, là một bản giao hưởng không bao giờ trọn vẹn. Nhưng nhìn lại tất cả, tôi hạnh phúc với đời mình. Độc thân có thể là một lối sống xây dựng gia đình, hạnh phúc và đồng thời trao đi bản thân mình.

Mối tội đầu nặng nhất

Kitô giáo kinh điển đã đưa ra bảy mối tội đầu, nghĩa là những chuyện vô đạo đức khác mà chúng ta làm, cách nào đó, bắt nguồn từ một trong những thiên hướng bẩm tại này. Chúng là bảy thứ xấu xa: kiêu ngạo, tham lam, dâm dục, ghen tỵ, tham ăn, tức giận, và lười biếng.

Trong văn học thiêng liêng, ba mối tội đầu là kiêu ngạo, tham lam và dâm dục là được nói đến nhiều nhất. Kiêu ngạo được xem là nguồn gốc mọi tội lỗi, là sự ngông cuồng của Luciphe trước Thiên Chúa cứ mãi dội lại trong cuộc đời chúng ta: Tôi sẽ không phục vụ! Tham lam được xem là cơ sở cho sự ích kỷ và sự mù quáng trước tha nhân, và dâm dục thường được xem là thói xấu tột cùng, như thể điều răn thứ sáu là điều răn duy nhất vậy.

Tôi không bác bỏ tầm quan trọng của ba mối tội đầu này, nhưng tôi cho rằng có thể mối tội đầu tác hại chúng ta nhiều nhất mà lại ít được nhắc đến trong các tác phẩm thiêng liêng, chính là tức giận, bao gồm giận dữ và thù ghét. Tôi dám nói rằng hầu hết chúng ta vận động nhờ sự giận dữ, dù là một cách vô thức. Và điều này thể hiện qua hàng loạt những chỉ trích dành cho người khác, sự chua cay, ghen tức, và không thể mở lời khen ngợi người khác. Và không như các tội khác của chúng ta, tức giận dễ dàng ngụy trang và hợp lý hóa nó như một nhân đức.

Ở cấp độ một, tức giận thường hợp lý hóa nó như một sự căm phẫn chính đáng trước những khuyết điểm, ngu ngốc, ái kỷ, tham lam và lỗi lầm của người khác. Với đủ chuyện thấy mỗi ngày, làm sao tôi không nổi giận được! Tức giận thể hiện qua những cáu bẳn triền miên và những lúc nhanh miệng phê bình, chỉnh đốn, và bình luận gay gắt. Ngược lại, chúng ta thường rất chậm khi cần khen ngợi ai đó. Như thế, sự hoàn hảo trở thành kẻ địch của sự thiện và như thế, chẳng còn gì hay bất kỳ ai hoàn hảo cả, chúng ta luôn luôn sẵn sàng phê bình và xem đây là nhân đức hơn là một cơn giận và sự buồn bực sâu trong chúng ta.

Nhưng thói chỉ trích cay nghiệt không phải là vấn đề lớn nhất. Nghiêm trọng hơn nữa, tức giận thường tự thể hiện nó như một đức tính của Chúa, như là sự công chính, là tính cách ngôn sứ, là điều lành mạnh, sự hăng hái chiến đấu vì sự thật, vì chính nghĩa, vì nhân đức và vì Chúa. Và như thế, chúng ta xem mình là “những chiến binh thánh” và “hiệp sĩ bảo vệ sự thật”, biện minh cho mình bằng quan niệm phổ biến nhưng sai lầm rằng các ngôn sứ là những người nóng nảy do nhiệt tâm vì Chúa.
Tuy nhiên, có một sự khác biệt lớn giữa sự giận dữ của ngôn sứ và sự giận dữ mà thời nay tự nhận là của ngôn sứ. Daniel Berrigan, trong tiêu chuẩn của mình về một ngôn sứ, đã nêu lên rằng ngôn sứ là một người đã thề hứa sẽ yêu thương chứ không phải ruồng rẫy. Ngôn sứ là yêu thương, mong mỏi gắn kết, chứ không phải là tức giận chia rẽ và xa cách.

Mà tình yêu lại không phải là đặc điểm của cái gọi là sự giận dữ ngôn sứ của thời nay, nhất là khi nó liên quan đến Thiên Chúa, tôn giáo, và bảo vệ sự thật. Bạn có thể thấy dạng xấu xa nhất của nó trong chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo, khi họ thù hận, bạo lực và giết người bừa bãi nhân danh Thiên Chúa. Blaise Pascal đã nói rất chuẩn điều này trong quyển Tư tưởng (Pensees): “Người ta không bao giờ làm sự dữ hoàn toàn và vui vẻ cho bằng lúc họ làm thế vì xác quyết tôn giáo.” Ông đã sai một điều thôi, hầu hết chúng ta ngày nay làm sự dữ, không phải với vui vẻ, mà với tức giận. Chỉ cần đọc những lá thư độc giả gởi biên tập viên các tờ báo, lắng nghe những buổi talk-show, hay nghe các tranh luận về chính trị, tôn giáo hay đạo đức, là chúng ta thấy ra sự thù ghét và giận dữ đang hợp lý hóa chính nó bằng những gì là đạo đức và thiêng liêng.

Cơn giận dữ ngôn sứ lành mạnh là một phản ứng mãnh liệt khi người nghèo của Chúa, lời Chúa hay chân lý của Chúa bị phỉ báng, phạm thượng, hay bỏ bê. Có những chính nghĩa và ranh giới quan trọng cần phải bảo vệ. Nhưng cơn giận ngôn sứ là cơn giận xuất phát từ tình yêu thương và lòng cảm thông, và nó luôn luôn thể hiện tình thương và cảm thông, dù cho phải gặp vô vàn thù ghét đi chăng nữa, thật không khác gì người mẹ yêu thương khi đối mặt với đứa con ngỗ ngược. Chúa Giêsu đã nhiều lần thể hiện cơn giận này, nhưng cơn giận của Ngài đối lập hoàn toàn với cái đang tự nhận là cơn giận ngôn sứ thời nay, một thứ thiếu vắng tình thương và lòng cảm thông rõ ràng.

Có người từng nói rằng chúng ta dành nửa đời đầu để đấu tranh với Điều răn thứ sáu, rồi dành nửa đời sau đấu tranh với Điều răn thứ năm. Chớ giết người! Chúng ta thấy điều này được thể hiện trong dụ ngôn về người con hoang đàng, người anh cả, và người cha. Người con thứ đã bỏ nhà cha mình vì chạy theo những sinh lực tuổi trẻ đầy quyến rũ. Người anh cả thì ra khỏi nhà cha mình, không phải vì phạm tội, mà vì cơn giận dữ.

Khi còn trẻ, tôi được dạy xưng các “ý nghĩ xấu” là tội, nhưng các ý nghĩ xấu đó được chúng tôi xác định là các ý nghĩ dâm dục. Khi đã có tuổi, tôi cho là chúng ta vẫn tiếp tục xưng các “ý nghĩ xấu”, nhưng giờ đó lại là các ý nghĩ giận dữ.

Có câu nói rằng, “Một người cay độc, là người đã từ bỏ, nhưng không chịu im miệng!” Và đó cũng là người đã đánh đồng mối tội đầu giận dữ với một nhân đức.

Đức tin và Mê tín

Một mệnh đề phụ, một sắc thái trong một câu có thể đem lại ý nghĩa hoàn toàn khác cho cả bài.

Đây là trường hợp của một tiểu thuyết sáng giá nhưng khiêu khích, quyển Giờ Thứ Chín (The Ninth Hour) của Nina McDermott. Bà kể một câu chuyện, tập trung vào một nhóm nữ tu làm việc với người nghèo ở Brooklyn. Tình hình khó khăn, nhiều người cần cứu giúp, và các nữ tu chủ yếu làm việc ở nhà chăm sóc cho người nghèo, đã tận tụy đến quên mình. Có vẻ chẳng có thứ gì có thể làm họ chệch khỏi sứ mạng cống hiến hết sức lực mình để cứu giúp người nghèo. Và đến đoạn này, McDermott đã đưa ra cho họ thử thách. Như bất kỳ ai biết những chuyện bên trong một tu viện, McDermott thể hiện các nữ tu này đầy sắc thái và chính xác. Các nữ tu không phải đều giống nhau như khuôn đúc. Mỗi người có chuyện đời, tính khí, và cá tính riêng của mình. Một số người vô cùng nồng hậu và nhân từ, một số người với những vết thương lòng riêng, không phải lúc nào cũng tương hợp với tình thương và lòng thương xót của Chúa. Và đó là trường hợp các nữ tu mà McDermott mô tả. Nhưng ngoài những nét nhân cách riêng, cộng đoàn nữ tu này phục vụ người nghèo và làm chứng tá rất chu toàn.

Nhưng rồi, sau khi kể câu chuyện đức tin và dấn thân, suy tư về những nhóm nữ tu vẫn sống triệt để lời khấn hứa, thì bằng giọng kể của mình, McDermott lại đưa ra những mệnh đề phụ mang tính lật đổ. “Các nữ tu thánh thiện trong nhà khi chúng ta còn trẻ, là một dòng dõi đang hấp hối. … Ơn gọi thánh thiện và hy sinh quên mình, sự ảo tưởng và mê tín cần có, đang tan dần đi trong thế giới.”

Trời! Sự ảo tưởng và mê tín cần có đấy. Như thể sự hy sinh triệt để này chỉ có thể là sản phẩm của một nỗi sợ sai lầm. Như thể toàn bộ các thế hệ Kitô giáo với lòng hy sinh, lời khấn độc thân khiết tịnh và sự cống hiến dấn thân, khi nhìn lại thì chỉ là những thứ căn cứ trên ảo tưởng và mê tín.

Có thật thế không?

Tôi đã lớn lên trong thế giới mà McDermott mô tả, nơi các nữ tu như thế, và nơi một chuẩn mực đạo đức Công giáo mạnh mẽ đã ủng hộ và xác nhận rằng những việc họ làm chắc chắn không phải là ảo tưởng và mê tín. Phải thừa nhận rằng, có những lúc chuẩn mực đạo đức đó đã không duy trì được qua thời gian, và bị sức mạnh của sự thế tục hóa phá tan. Và như thế, McDermott đã đúng phần nào. Có những sự xả thân lại dựa trên nỗi sợ không lành mạnh trước lửa địa ngục và cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Và đến chừng mực nào đó, nó còn dựa trên một quan niệm đức tin rằng Thiên Chúa không muốn chúng ta quá phồn thịnh trong đời này, và đời chúng ta hầu hết là để sự chuẩn bị ảm đạm cho đời sau. Có lẽ đây không hẳn là ảo tưởng và mê tín, nhưng nó là thần học tồi và đã góp phần tạo nên những người đi tu như trong thế giới mà McDermott mô tả và trong thế giới Công giáo của tôi thời trẻ.

Nhưng còn một điều nữa nâng đỡ chuẩn mực đạo đức này, và tôi đã hấp thụ nó thời trẻ, ghi một dấu ấn vĩnh viễn mình, khác hẳn với mọi thứ tôi từng tiếp thu trong thế giới này. Bất chấp những nỗi sợ sai lầm, bên trong đức tin kinh thánh này, còn có một huấn lệnh dạy rằng sự tiện nghi, những khát khao và thậm chí là những ao ước hợp lý về tự do tính dục, hôn nhân, con cái, sự phồn thịnh, chúng đều hướng đến những mục đích cao hơn, và bạn có thể được ngỏ lời hãy hy sinh tất cả chúng, hy sinh những khát khao hợp lý của mình, để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Đây là một đức tin tin rằng bạn được sinh ra với một ơn gọi Chúa ban, và đời bạn không phải là của bạn.

Tôi đã thấy điều này, trước hết là nơi bố mẹ tôi, những người tin rằng đức tin đưa ra cho mình những đòi hỏi như vậy, và bố mẹ tôi chấp nhận những đòi hỏi đó và từ đó là có thẩm quyền đạo đức để mong muốn người khác làm thế. Tôi đã thấy điều này nơi các xơ dòng Ursula, những người dạy tôi học, những người phụ nữ với dòng máu đỏ đầy sinh lực nhưng đã hy sinh những khao khát của mình để đến trường công ở một vùng xa xôi hẻo lánh mà dạy học cho chúng tôi. Tôi đã thấy nó nơi cộng đoàn vùng đồng cỏ nhỏ bé đã vun đắp cho tôi, một cộng đoàn sống xả thân.

Hôm nay, tôi sống trong một thế giới tôn vinh sự phức tạp hơn tất cả, và cũng là một xã hội không còn chắc đâu là “tin giả” và đâu là những gì có thể tin tưởng. Trong thế giới bất ổn này, đức tin của tôi thời trẻ, của bố mẹ tôi, của các nữ tu đã hy sinh giấc mơ để dạy dỗ tôi, và của các nữ tu mà Nina McDermott mô tả trong quyển Giờ Thứ Chín, có thể trông rất giống ảo tưởng và mê tín. Có khi nó là ảo tưởng, phải thừa nhận như thế, nhưng có khi không phải, và trong trường hợp của tôi, thì đức tin bố mẹ đã truyền cho tôi, với niềm tin rằng cuộc đời và tính dục của mình không phải là của mình, thì tôi tin, đó là điều không mê tín nhất trên đời.

Thiên Chúa hành động trong thế giới của chúng ta như thế nào?

Có một điểm kỳ lạ trong các Tin mừng cần được giải thích. Có vẻ như Chúa Giêsu không muốn người ta biết về thân phận đích thực của mình, là Đấng Kitô, Đấng Thiên sai. Ngài liên tục cảnh báo người ta đừng tiết lộ Ngài là Đấng Thiên sai. Tại sao lại thế?

Một vài học giả xem đây là “bí mật của Đấng Thiên sai” cho rằng Chúa Giêsu không muốn người biết thân phận đích thực của mình cho đến khi đúng thời đúng điểm. Cũng đúng thật là thế, việc gì cũng có thời điểm của nó, nhưng thế vẫn chưa đủ để ta ngừng thắc mắc. Tại sao lại thế? Tại sao Chúa Giêsu muốn giữ kín thân phận thật của mình? Thế nào mới là đủ điều kiện để tiết lộ thân phận của Ngài?

Câu hỏi này được nêu bật trong Tin mừng theo thánh Maccô, ở Ceasare Philipphe, khi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ: “Anh em nói thầy là ai?” Phêrô trả lời: “Thầy là Đấng Kitô .” Và ngạc nhiên thay, Chúa Giêsu không khen ngợi Phêrô mà lại căn dặn ông đừng nói điều này với bất kỳ ai. Có vẻ thánh Phêrô đã có câu trả lời đúng, thế mà Chúa Giêsu lại ngay lập tức căn dặn ông phải giữ kín chuyện này. Tại sao lại thế?

Nói đơn giản là, Phêrô đã có câu trả lời đúng, nhưng lại nhận thức sai về câu trả lời đó. Lúc ấy, Phêrô vẫn có quan niệm sai lầm về Đấng Thiên sai.

Trong nhiều thế kỷ trước khi Chúa Giêsu giáng sinh và trong những người đồng thời với Ngài, có nhiều quan niệm khác nhau về Đấng Kitô. Chúng ta không rõ quan niệm của Phêrô, nhưng rõ ràng đấy không phải là quan niệm đúng, và Chúa Giêsu liền dập tắt nó ngay. Chúa Giêsu không yêu cầu Phêrô gì nhiều. “Đừng nói với ai Thầy là Đấng Kitô” và thật sự là Chúa Giêsu muốn nói, “Đừng nói với ai Thầy là Đấng Kitô như trong suy nghĩ của con. Thầy không phải thế đâu.”

Như mọi người đương thời và cũng không khác những ảo tưởng của chúng ta về Đấng Thiên sai là mấy, chắc chắn Phêrô đã họa hình Đấng Thiên sai như một Siêu nhân, một siêu sao sẽ xóa tan sự dữ bằng một chiến thắng kiểu trần gian, áp đảo mọi thứ sai trái bằng sức mạnh siêu phàm. Một Đấng Thiên sai như thế chẳng liên quan gì đến yếu đuối, nhục mạ, đau khổ và cái chết, đồng thời tất cả mọi người dù muốn hay không đều phải công nhận sự ưu việt và vinh quang của ngài. Màn biểu dương sức mạnh của ngài sẽ khiến không một ai còn hoài nghi hay chống đối nữa. Ngài sẽ toàn thắng và trị vì trong vinh quang theo kiểu hình dung của trần gian, là một Nhà vô địch Tuyệt đối, như một người giành huy chương vàng Olympic, vô địch World Cup, giải Oscar, giải Nobel.

Khi Phêrô nói: “Thầy là Đấng Kitô!” thì ông đang nghĩ về một vinh quang trần gian, một chiến thắng trần gian, một người quá đỗi uy quyền và tất cả mọi người đều phải quy phục. Nhưng Chúa Giêsu đã đáp lại suy nghĩ đó rất dứt khoát: “Đừng nói với ai về chuyện này!”

Rồi Chúa Giêsu cho Phêrô và tất cả chúng ta biết, Đấng Thiên sai thực sự là thế nào. Ngài không phải là một Siêu nhân hay một siêu sao, một người quyền phép với những hành động ngoạn mục. Vậy Ngài là ai?

Đấng Thiên sai là Đấng sẽ chết và sống lại, Đấng với cuộc sống và bằng chính thân thể mình nói lên rằng không phải dùng phép lạ để thắng vượt sự dữ, nhưng là bằng sự tha thứ, hào hiệp và cao thượng, và chiến thắng không đến bằng cách đập tan kẻ thù, nhưng là bằng cách yêu thương họ trọn vẹn. Và đường lối này thật ngược đời. Vinh quang của Đấng Thiên sai lại không được biểu lộ bằng những hành động ngoạn mục với uy lực ấp đảo. Mà lại được biểu lộ trong Chúa Giêsu để mình được biến đổi qua việc yêu thương và nhân từ chấp nhận những chuyện tiêu cực, sỉ nhục, loại trừ và cái chết. Nhưng khi ai đó chết như thế, hay chấp nhận sự loại trừ và sỉ nhục như thế, thì luôn luôn dẫn đến vinh quang đích thực, vinh quang của một tâm hồn mở rộng có thể biến đổi sự dữ thành sự thiện, hận thù thành yêu thương, cay đắng thành tha thứ, sỉ nhục thành vinh quang. Đấy mới là việc làm của Đấng Thiên sai.

Trong Tin mừng theo thánh Matthêu, cũng viết lại sự kiện này. Cũng cùng một câu hỏi và câu trả lời của thánh Phêrô, nhưng lời dặn của Chúa Giêsu lại rất khác. Trong Tin mừng theo thánh Matthêu, sau khi Phêrô nói, “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống,” thay vì căn dặn không được nói ra, Chúa Giêsu lại khen Phêrô. Sao lại có sự khác biệt này? Bởi Matthêu ghi lại cảnh mà thánh Phêrô hiểu đúng về Đấng Thiên sai.

Còn chúng ta hình dung thế nào về Đấng Thiên sai? Chúng ta hình dung thế nào về chiến thắng? Về vinh quang? Nếu Chúa Giêsu nhìn thẳng vào mắt và hỏi chúng ta như từng hỏi Phêrô: “Con hiểu Thầy thế nào?” Thì sau khi chúng ta trả lời, Ngài sẽ khen ngợi hay căn dặn chúng ta: “Đừng nói với ai về chuyện này!”

Thắng vượt những chia rẽ của chúng ta

Chúng ta sống trong một thế giới với nhiều chia rẽ sâu sắc. Khắp mọi nơi chúng ta đều thấy sự phân cực, người ta cay đắng chia tách nhau bằng hệ tư tưởng, chính trị, luận thuyết kinh tế, niềm tin đạo đức, và thần học. Chúng ta có khuynh hướng phân loại tối giản hóa để hiểu những sự chia rẽ này, chẳng hạn như cánh tả và cánh hữu, phái tự do và phái bảo thủ, ủng hộ sự sống và ủng hộ chọn lựa.

Đúng là mọi vấn đề xã hội và đạo đức đều là một chiến trường: chẳng hạn như vị thế phụ nữ, biến đổi khí hậu, vai trò giới, tính dục, hôn nhân và gia đình, vai trò của chính phủ, cộng đồng LGBTQ, và nhiều vấn đề khác. Và giáo hội của chúng ta cũng không ngoại lệ, chúng ta thường không thể thống nhất được chuyện gì. Sự lễ độ đã biến mất trong những tranh luận chung, thậm chí trong giáo hội của chúng ta cũng vậy, nơi có rất nhiều sự chia rẽ và thù địch giữa các phái và nội bộ các phái với nhau. Chúng ta ngày càng khó thảo luận cởi mở bất kỳ vấn đề nhạy cảm nào, thậm chí là cả trong gia đình. Thay vào đó, chúng ta chỉ thảo luận về chính trị, tôn giáo và các giá trị trong phạm vi nhóm cùng hệ tư tưởng với mình. Và trong đó, thay vì đưa ra những thách thức, chúng ta lại tâng bốc nhau, mớm cho những căm phẫn về người khác, và từ đó ngày càng trở nên bất dung, cay đắng và phán xét hơn.

Kinh thánh gọi đây là sự thù ghét, và đúng thật là vậy. Chúng ta ngày càng trở nên những người đầy thù ghét, thổi bùng và biện minh cho sự thù ghét của chúng ta bằng những căn cứ tôn giáo vào đạo đức. Chỉ cần xem tin tức là thấy. Làm sao để thắng vượt được điều này?

Ở mức độ vĩ mô trong chính trị và tôn giáo, thật khó để tìm ra cách bắc cầu các chia rẽ này, nhất là khi những tranh luận của chúng ta lại càng mở rộng hố sâu ngăn cách đó. Cái chúng ta cần, là một sự hoán cải tôn giáo, sự biến đổi của tâm hồn, và cái đó lại tùy vào từng cá nhân. Tâm hồn của cả cộng đồng chỉ thay đổi khi tâm hồn từng cá nhân thay đổi trước. Chúng ta góp phần giữ gìn sự ôn hòa của thế giới, trước hết bằng cách bảo vệ sự ôn hòa của mình, nhưng đấy không phải là chuyện dễ.

Không phải đơn giản là mọi người đều đồng ý suy nghĩ những điều tử tế hơn. Cũng không phải là ta sẽ tìm ra những nền tảng chung khi đối thoại. Đối thoại mà chúng ta cần, không phải là điều dễ dàng có được, và chắc chắn chúng ta chưa đạt được. Nhiều nhóm đã cố gắng, nhưng không mấy thành công. Thường thì chuyện là những cuộc đối thoại dù có chủ tâm tốt nhất cũng nhanh chóng biến thành một nỗ lực của mỗi bên muốn ghi điểm về tư tưởng cho mình hơn là thật tâm cố gắng hiểu đối phương Và thế là chúng ta thành ra thế nào?

Tôi tin rằng, lời đáp đích thực nằm ở nhận thức về phương cách mà thập giá và cái chết của Chúa Giêsu mang lại ơn hòa giải. Trong thư thánh Phaolô gởi tín hữu Ephêsô nói rằng, Chúa Giêsu đã phá tan rào cản thù địch tồn tại giữa các cộng đồng bằng cách “tạo dựng hai loại người ấy nên một người mới” qua thập giá của Ngài. (Eps 2, 16)

Thập giá Chúa Kitô đã tiêu diệt sự thù hằn thế nào? Không phải là kiểu phép thuật. Chúa Giêsu không phá tan chia rẽ giữa chúng ta bằng cách lấy đau khổ của mình để đền bù tội của ta, không phải kiểu như Thiên Chúa cần thấy được hiến tế máu để tha thứ và mở cửa thiên đàng cho chúng ta. Hình tượng đó chỉ đơn thuần là một ẩn dụ sau những biểu tượng và từ ngữ của chúng ta về việc xóa sạch tội lỗi và ơn cứu chuộc của Chúa Kitô. Trên thập giá và trong cái chết của Chúa Giêsu, là một sự đòi hỏi chúng ta phải noi gương chứ không chỉ là ngưỡng vọng. Trên thập giá và trong cái chết của Chúa Giêsu là một mẫu gương để chúng ta noi theo. Vậy chúng ta noi gương điều gì đây?

Trong cuộc thương khó và cái chết, Chúa Giêsu biến đổi cay đắng và chia rẽ chứ không phải chịu đòn và trả đòn. Trong tình yêu, trên thập giá, Chúa Giêsu đã làm thế này. Ngài nhận lấy hận thù, giữ nó trong mình, biến đổi nó, và trả lại tình yêu. Ngài nhận lấy cay đắng, giữ nó trong mình, biến đổi nó, và trả lại nhân từ. Ngài nhận lấy nguyền rủa, giữ nó trong mình, biến đổi nó, và trả lại phúc lành. Ngài nhận lấy hoang tưởng, giữ nó trong mình, biến đổi nó, và trả lại một tâm hồn quảng đại. Ngài nhận lấy sát nhân, giữ nó trong mình, biến đổi nó, và trả lại sự tha thứ. Và Ngài nhận lấy sự thù hằn, sự chia rẽ, giữ nó, biến đổi nó, và qua đó cho chúng ta thấy bí mật thâm sâu để tạo nên sự thông hiệp, cụ thể là chúng ta cần phải loại bỏ sự thù ghét chia rẽ bằng cách hấp thụ nó, giữ nó trong lòng, và biến đổi nó. Như một máy lọc nước giữ chất độc trong mình và chỉ cho ra nước tinh khiết, thì chúng ta cũng phải giữ chất độc đang làm băng hoại cộng đồng và chỉ trả lại những gì là tử tế và cởi mởi với mọi người. Đấy là điểm mấu chốt để thắng vượt sự chia rẽ.

Chúng ta sống trong những thời đại chia rẽ, hầu như chẳng thể đối diện với nhau cách thân thiện trong mọi vấn đề nhạy cảm về chính trị, kinh tế, đạo đức và tôn giáo. Nếu chúng ta cứ thổi bùng và đáp trả hận thù, thì thế bế tắc này vẫn cứ còn mãi, trừ phi chúng ta, từng người một, biến đổi sự hận thù đó và trả lại cho cuộc đời những yêu thương mà thôi.

Bạn có thể mất ơn gọi không?

Gần đây, tôi nhận được một lá thư chia sẻ rằng ông ấy vẫn còn bị ám ảnh sâu sắc bởi một câu chuyện được kể hồi tiểu học. Một thầy giáo dạy môn tôn giáo đã đọc câu chuyện về một linh mục đến thăm một người bạn thưở thiếu thời. Trong khi ở lại với người bạn của mình, vị linh mục để ý thấy, trong khi ông này vẫn đủ vui vẻ và niềm nở, nhưng cũng có nét buồn bã lẩn khuất đâu đó. Khi vị linh mục hỏi chuyện, ông bạn thú nhận là mình đã “mất ơn cứu độ” bởi đã từng cảm nhận ơn gọi linh mục khi còn trẻ, nhưng lại chọn con đường hôn nhân. Giờ ông ấy thấy, trong cuộc sống mình không còn có ơn cứu chuộc nữa. Ông từng có ơn gọi và để mất nó, và như thế là mãi mãi mất luôn cơ hội hạnh phúc. Dù cho có cuộc hôn nhân hạnh phúc, nhưng ông cảm thấy mình mãi mãi chịu một dấu hằn vì đã không trung thành khi từ chối ơn gọi Chúa ban.

Tôi cũng lớn lên với những câu chuyện như thế. Chúng là một phần của Đạo Công giáo thưở tôi còn nhỏ. Chúng tôi được dạy để tin rằng Thiên Chúa xác định một ơn gọi nhất định cho bạn, làm linh mục, nữ tu, kết hôn, hay độc thân. Và khi đã biết ơn gọi của mình mà bạn không chấp nhận nó, thì bạn “bỏ lỡ” hoặc “đánh mất” ơn gọi của mình, và hậu quả là một nỗi buồn dai dẳng, thậm chí là nguy cơ không được vào thiên đàng. Những câu chuyện về ơn gọi như thế vẫn ám ảnh trong tâm trí tôi khi tôi vào chủng viện. Nhưng nó chỉ là một bóng mờ mà thôi. Dù cho một vài nỗi sợ về đường thiêng liêng cũng có phần nào thúc đẩy tôi, nhưng tôi không đi tu và làm linh mục vì sợ hãi. Nỗi sợ có thể là thứ lành mạnh.

Nhưng cũng có thể không lành mạnh. Thật không lành mạnh khi nhận thức về Thiên Chúa và ơn gọi của mình như những sự có thể khiến bạn mất đi hạnh phúc và ơn cứu độ, dựa trên một quyết định duy nhất của bạn khi còn trẻ. Thiên Chúa không như thế.

Đúng là Thiên Chúa kêu gọi chúng ta, cho chúng ta một ơn gọi mà chúng ta phải nhận định qua lương tâm, qua cộng đoàn, qua hoàn cảnh, và qua những tài năng chúng ta có. Với một Kitô hữu, hiện hữu không có trước yếu tính. Chúng ta sinh ra với một mục đích, một sứ mạng trong đời. Có nhiều bản văn kinh thánh nói rõ điều này. Chúa Giêsu cầu nguyện cả đêm để biết thánh ý Chúa Cha, thánh Phaolô được dẫn đưa đến Damascus và được một bô lão chỉ dẫn cho biết ơn gọi của mình, ông Moses thấy sứ mạng của mình khi thấy cảnh khốn khổ của dân, và tất cả chúng ta đều được thách thức dùng tài năng của mình hoặc đánh mất nó. Chúng ta đều được kêu gọi thực hiện sứ mạng, và mỗi người chúng ta đều có một ơn gọi. Chúng ta được tự do sống đời mình cho chính mình.

Nhưng Thiên Chúa không chỉ cho chúng ta một cơ hội theo kiểu nếu ta bỏ lỡ nó thì sẽ buồn bã suốt đời. Không. Mỗi khi chúng ta khép lại một cánh cửa, Thiên Chúa luôn mở ra một cánh cửa khác. Thiên Chúa cho chúng ta bảy mươi lần bảy cơ hội, và thậm chí là hơn thế, nếu cần. Vấn đề ơn gọi không phải là kiểu đoán sao cho đúng (Tôi được tiền định chuyên biệt cho điều gì?) nhưng đúng ra là trao đi bản thân trong đức tin và đức ái cho hoàn cảnh mà ta đã chọn (hay thường là chính hoàn cảnh chọn chúng ta.) Chúng ta không nên sống trong nỗi sợ không lành mạnh về ơn gọi. Thiên Chúa không ngừng yêu thương và mong muốn cho ta hạnh phúc, kể cả khi không phải lúc nào ta cũng đi theo ơn gọi lý tưởng của mình.

Mới đây, tôi có nghe một bài giảng, trong đó vị linh mục so sánh Thiên Chúa với một GPS, Hệ thống Định vị Toàn cầu, một công cụ vi tính, có giọng nói phát ra chỉ đường. mà hầu như ngày nay mọi người đều có trong xe hơi. Một trong những tính năng của nó là thế này: Dù cho biết bao nhiêu lần, bạn không đi theo chỉ dẫn của nó, thì tiếng nói trong máy chẳng bao giờ thể hiện sự bực tức, la hét, hay không thèm nói với bạn nữa. Đơn giản nó chỉ nói rằng, “Đang tính toán lại.” Và sớm hay muộn, nó đều đưa ra cho bạn một lộ trình khác.

Đúng là một hình ảnh đầy phấn chấn, nhưng vẫn chẳng là gì so với lòng kiên nhẫn và tha thứ của Thiên Chúa. Chúng ta, không một ai nên bị ám ảnh dài lâu bởi nỗi buồn và nỗi sợ rằng chúng ta đã bỏ lỡ ơn gọi của mình, trừ phi khi chúng ta đang sống một cuộc đời ích kỷ. Không phải một ức đoán chính xác, mà chính tinh thần vong kỷ thay vì ích kỷ, một cuộc đời tìm kiếm phục vụ thay cuộc đời tìm kiếm tiện nghi, đấy chính là yếu tố làm nên ơn gọi. Dù sống đời hôn nhân, độc thân, hay tu trì, thì ơn gọi Kitô hữu của chúng ta là biến cuộc đời của mình thành một cuộc đời quên mình và phục vụ người khác. Hạnh phúc và ơn cứu độ đến từ đó.

Làm sao để tất cả được chung cục hạnh phúc?

Julian thành Norwich, nhà thần nghiệm thế kỷ XIV, và có lẽ là thần học gia nói tiếng Anh đầu tiên, có một dòng nổi tiếng, và được vô vàn bậc giảng thuyết, nhà thơ và nhà văn trích lại. Nhưng tất cả sẽ tốt đẹp, và tất cả sẽ tốt đẹp, và mọi đường lối vạn vật sẽ tốt đẹp. Đây là giáo lý đặc trưng của thánh nữ.

Chúng ta đều có những hiểu biết trực giác về ý nghĩa của câu này. Chúng ta thấy đây là căn cứ cho niềm hy vọng. Đến cuối cùng, sự thiện sẽ chiến thắng. Nhưng ta sẽ hiểu thêm ý nghĩa câu này khi nhìn nó trong bối cảnh gốc. Thánh Julian cố nói gì khi viết ra câu này?

Thánh nữ đã đấu tranh với các nan đề về sự dữ, tội lỗi và đau khổ. Tại sao Thiên Chúa cho phép chúng xảy ra? Nếu Thiên Chúa là trọn vẹn yêu thương và toàn năng, thì làm sao có thể giải thích cho việc Thiên Chúa để chúng ta chịu đau khổ, để chúng ta tội lỗi, để sự dữ hiện diện khắp nơi trên thế giới? Tại sao Thiên Chúa không tạo ra một thế giới không có sự tội, nơi chúng ta sống hoàn hảo từ lúc lọt lòng đến tận giờ phút cuối?

Thánh Julian đã nghe đủ các bài giảng trong nhà thờ để hiểu về lời giải đáp theo biện giáo chuẩn mực cho vấn đề này, nói cụ thể là, Thiên Chúa cho phép chuyện đó xảy ra vì Thiên Chúa đã cho chúng ta ơn trọng là sự tự do. Và đi kèm với nó là không thể tránh khỏi sự tội và những hậu quả đáng buồn của nó. Đây là một câu trả lời có căn cứ, dù cho thường quá trừu tượng để xoa dịu chúng ta khi chịu đau khổ. Nhưng thánh Julian, dù cho là người con gái trung thành của giáo hội và đã được dạy về câu trả lời, lại không tìm đáp án trong lời giải này. Thánh nữ đưa ra một ý tưởng khác.

Với thánh nữ, Thiên Chúa cho phép có sự dữ, tội lỗi và đau khổ, là bởi Thiên Chúa sẽ dùng nó để đến cuối cùng tạo cho tất cả mọi người một dạng hạnh phúc sâu sắc hơn nữa, sâu sắc hơn một hạnh phúc không phải trải qua sự dữ, tội lỗi và đau khổ. Đến tận cùng, những điều tiêu cực đó sẽ vận hành hướng đến tạo ra một điều tích cực sâu sắc hơn nữa.

Cho phép tôi trích lại nguyên văn của thánh Julian: Chúa Giêsu, trong thị kiến này đã cho tôi biết về tất cả những gì tôi cần được giải đáp. Ngài nói: ‘Sinne is behovely, but alle shalle be wele, and alle shalle be wele, and all manner of thing shalle be wele.’
Thánh nữ nói rằng tội lỗi là “behovely.” Trong tiếng Anh thời Trung cổ, behovely có ba nghĩa: “hữu dụng,” “có lợi,” và “cần thiết.” Trong thị kiến của thánh nữ, tội lỗi, sự dữ và đau khổ, đến tận cùng là những điều có lợi và cần thiết để đưa chúng ta đến với ý nghĩa thâm sâu hơn và hạnh phúc lớn lao hơn. (Điều này không giống với câu hát trong bài Trỗi vang lên vào Đêm Phục Sinh: Ôi tội vinh phúc, tội cần thiết của Ađam.)

Điều mà thánh Julian muốn chúng ta rút ra từ câu này, không phải là ý tưởng rằng tội lỗi và sự dữ không gây hậu quả là mấy, nhưng là việc Thiên Chúa, với lòng yêu thương và quyền năng vô hạn, có thể rút lấy sự thiện từ sự dữ, rút ra hạnh phúc từ đau khổ, và ơn cứu độ từ tội lỗi, theo những cách mà chúng ta không thể hiểu nổi. Đây chính là câu trả lời của thánh Julian cho câu hỏi: Tại sao Thiên Chúa cho phép có sự dữ? Thánh nữ trả lời bằng cách không trả lời, bởi về căn bản, không thể tưởng tượng ra được câu trả lời nào thỏa đáng cả. Đúng ra, thánh nữ đưa câu hỏi này vào thần học về Thiên Chúa, và trong đó vượt ngoài những gì chúng ta có thể hình dung và vượt ngoài những gì thần học có thể giải thích trọn vẹn, quyền năng và tình thương của Thiên Chúa cuối cùng sẽ làm cho mọi sự tốt đẹp, lau khô mọi giọt lệ, cứu chuộc mọi sự dữ, xóa sạch mọi chuyện xấu, làm ấm lại những tâm hồn băng giá, và biến mọi đường lối đau khổ thành hạnh phúc. Trong nhận thức này còn ngụ ý rằng chiến thắng tận cùng của Thiên Chúa sẽ là xóa sạch địa ngục, để cho tất cả mọi đường lối hiện hữu đều sẽ tốt đẹp.

Trong một thị kiến sau đó, thánh Julian đã nhận được một lời cam đoan năm điểm từ Thiên Chúa rằng Thiên Chúa có lẽ, có thể, sẽ, và phải làm cho mọi sự tốt đẹp và chúng ta sẽ được thấy ngày đó.

Tất cả những điều này tất nhiên là dựa vào một khái niệm cụ thể về Thiên Chúa. Thiên Chúa mà thánh Julian thành Norwich mời gọi chúng ta tin, là một Thiên Chúa vượt ngoài trí tưởng tượng của chúng ta, cả về tình yêu thương và quyền năng. Bất kỳ Thiên Chúa nào chúng ta có thể hình dung được đều không thể biến mọi đường lối hiện hữu trở nên tốt đẹp (như nhiều lời phê phán vô thần đã chỉ ra như thế.) Và điều này không chỉ đúng khi chúng ta cố hình dung quyền năng Thiên Chúa, mà còn đúng khi chúng ta cố hình dung tình yêu Thiên Chúa.

Với điều kiện loài người chúng ta, không thể tưởng tượng nổi có thể hình dung bất kỳ ai, dù là Thiên Chúa hay con người, lại không bị xúc phạm, không rơi vào giận giữ, không hờn oán ai dù cho người đó đã chịu đựng sự dữ nặng nề đến thế nào, cũng không hình dung nổi có ai lại hoàn toàn thư thái và dung nhan hòa hợp đến tuyệt diệu (như cách thánh Julian mô tả về Thiên Chúa.) Thiên Chúa trong tưởng tượng của chúng ta, được cấu thành từ những diễn giải kinh thánh sai lầm nhât định, là Đấng có bị xúc phạm, có giận dữ, có báo oán, và đáp trả tội lỗi bằng cơn thịnh nộ. Một Thiên Chúa như thế không thể nào biến mọi đường lối vạn vật trở nên tốt đẹp. Một Thiên Chúa như thế cũng không phải Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã mặc khải.

Thánh Julian nói rằng, nếu chúng ta nhìn vào mắt Chúa, thì điều chúng ta sẽ thấy “sẽ làm tan chảy trái tim chúng ta bằng tình yêu, và vỡ tan ra trong xuất thần say đắm.”

Những quyển sách hàng đầu với tôi trong năm 2018

Thị hiếu là chủ quan. Tôi xin chia sẻ mười quyển sách đánh động mình nhất trong năm qua, với tinh thần như thế. Đây không nhất thiết là những quyển tôi khuyên bạn nên đọc. Có thể bạn sẽ hờ hững, hay thậm chí là giận khi tôi tán dương chúng. Xin có lời phê bình của mình và đừng ngại phê bình thị hiếu của tôi. Chẳng ai lại đi mua hết mọi thứ quảng cáo trong cửa hàng mà.

Vậy mười quyển sách đánh động tôi nhất trong năm qua là gì?

Trước hết, tôi xin điểm một số quyển tiểu sử tôn giáo tuyệt vời:

• Dorothy Day- Thế giới sẽ được cứu rỗi nhờ Vẻ đẹp: Một Hình ảnh gần gũi của Bà tôi (Dorothy Day, The World Will be Saved by Beauty) của Kate Hennessey. Với tôi, quyển sách này đúng là một kho báu. Là cháu gái của Dorothy Day, Kate Hennessey có một mối liên hệ thân thiết và không mấy ai có được với Dorothy, nhưng mối liên hệ đó cũng có những chuyện đau đầu và đau lòng. Dorothy là một con người phức tạp, khi người ta gọi bà là thánh, bà trả lời thế này: “Tôi không muốn bị chìm trong cái ánh sáng đó!” Quyển sách này cho chúng ta cả vị thánh và người phụ nữ trong con người đã từ chối danh hiệu đó.

• Chơi đùa trong Hang Sư tử, Một Tiểu sử và Hồi ức về Daniel Berrigan (At Play in the Lion’s Den – A Biography and Memoir of Daniel Berrigan) của Jim Forest. Một cái nhìn thấu suốt về Daniel Berrigan, với tư cách một con người, một tu sỹ dòng Tên, một người bạn và một ngôn sứ. Sẽ có vô số tiểu sử viết về Berrigan, nhưng tôi dám nói, không quyển nào qua được quyển này. Forest hiểu về Berrigan rất rõ.

• Những lời Thú nhận của X (The Confessions of X) của Suzanne M. Wolfe. Đây là một tiểu sử hư cấu, câu chuyện về người phụ nữ của thánh Augustino, về tình yêu ngài dành cho bà, về con cái của họ và vai trò của thánh Monica trong việc phá vỡ mối quan hệ của họ. Đây không phải một quyển sách sử học, nhưng đã được nghiên cứu đủ để đáng tin.

Tiếp theo, tôi xin đưa ra một số sách tự thuật tôn giáo:

• Huấn luyện viên Wooden và Tôi, Tình bạn 50 năm trong và ngoài sân bóng (Coach Wooden and Me, Our 50-Year Friendship On and Off the Court) của Kareem Abdul-Jabbar. Có lẽ bạn sẽ tự hỏi vì sao tôi lại giới thiệu đâu là một quyển tự thuật tôn giáo, nhưng phải đọc mới trả lời được câu hỏi đó. Đây không phải là sách thể thao, mà là một quyển sách suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời, ý nghĩa, tình bạn, chủng tộc và tôn giáo. Sinh trưởng trong một gia đình Công giáo La Mã, Kareem Abdul-Jabbar chia sẻ rất thẳng thắn những gì đã xui khiến ông cải sang Hồi giáo. Và trong quyển sách này, có nhiều bài học cho chúng ta. Đây là một câu chuyện ấm áp tuyệt vời giữa mọi nỗi đau trong cùng cuộc đời đó.

• Cực điểm của tôi, Một Hồi ức Tận hiến (My Utmost, A Devotional Memoir) của Macy Halford. Là một Kitô hữu Anh giáo, Halford lớn lên với một đức tin sâu sắc, nhưng lại chưa bị thử thách nhiều khi còn trẻ. Rồi sau đó, cô chuyển đến New York rồi Paris để làm ký giả. Vây quanh cô là những người bạn và đồng nghiệp xem đức tin là thứ ngây thơ, cô đã đấu tranh rút lấy từ gốc rễ đức tin thưở nhỏ của mình để đứng vững trước thách thức của thế giới mới mà cô đang sống. Cuộc đấu tranh và cái kết ở lại trong đức tin thưở nhỏ của cô, có thể là một điều giúp ích nhiều cho chúng ta, khi đấu tranh để giữ vững đức tin trong thế giới người trưởng thành, bất kể theo phái Kitô giáo nào.

• Lòng thương xót Công chính, Một câu chuyện về Công lý và Cứu rỗi (Just Mercy, A Story of Justice and Redemption) của Bryan Stevenson. Bryan Stevenson là một luật sư tốt nghiệp trường Harvard, đã chọn dùng tài năng của mình để phục vụ người nghèo, cụ thể là các tử tù không có phương tiện để tự giúp mình. Những vấn đề kỳ thị chủng tộc, đói nghèo, bất bình đẳng, và cách chúng ta bị mắt không nhìn thấy họ, chính là tâm điểm và cái đập vào mắt chúng ta trong quyển sách đầy uy lực này.

• Giờ Tươi sáng – Hồi ức về Sống và Chết (The Bright Hour – A Memoir of Living and Dying) của Nina Riggs. Nina Riggs mất hồi tháng hai, và quyển sách này chia sẻ lại các bài blog của cô, một bà mẹ trẻ với hai đứa con còn vị thành niên, đã đi qua cuộc chiến với bệnh ung thư ác tính, cùng người bạn thân nhất của mình, cũng là một bà mẹ trẻ bị ung thư. Hai người qua đời cách nhau một tuần. Dù cho Riggs không viết ra một đức tin rõ ràng, nhưng cô đã đối diện với cả cuộc sống lẫn cái chết với sự dũng cảm và tinh thần hăng hái, một sự vui tươi mà các thánh cũng phải ghen tỵ. Một quyển sách sáng bừng mà sâu sắc, bạn sẽ cười sẽ khóc, và sẽ học được cách đối diện với cái chết.

Một quyển sách hay trong lĩnh vực chủ nghĩa hiện sinh.

• Tại Quán cafe Hiện sinh, Tự do, Hiện hữu và Cocktail Mơ (At the Existentialist Café, Freedom, Being, and Apricot Cocktails) của Sarah Blackwell. Đây là một trong những quyển sách hay nhất viết về chủ nghĩa hiện sinh dành cho những độc giả không chuyên. Nó sẽ giới thiệu cho các bạn những người khổng lồ trong triết học Hiện sinh. Sartre, Heidegger, Simone de Beauvoir, Merleau-Ponty, Camus, Husserl, và Jaspers. Bakewell tin rằng bạn sẽ hiểu được triết học của một tư tưởng gia rõ ràng hơn nếu bạn thấy được cuộc đời của người đó. “Các Ý niệm thật thú vị, nhưng con người còn thú vị hơn rất nhiều.” Những người chưa có kiến thức căn bản về triết học có thể thấy mơ hồ đôi chỗ, nhưng nếu tiếp tục đọc bạn sẽ sớm thấy mình gặp được cuộc đời của những tư tưởng gia nổi tiếng muôn hình muôn vẻ.
Cuối cùng là hai quyển sách trong lĩnh vực linh đạo, mà nội tên của tác giả thôi là đã đáng chú ý rồi.

• Ta muốn con như thế – Về Thiên Chúa Tình yêu (I Want You to Be – On The God of Love.Halik) của Tomas Halik, một linh mục người Czech, ngòi bút thiêng liêng lừng danh, người từng đoạt giải Templeton. Đây là quyển sách với thấu suốt và chiều sâu hiếm gặp.

• Vượt ngoài Tấm gương, Suy tư về Cái chết và Sự sống (Beyond the Mirror, Reflections on Death and Life) của Henri Nouwen. Chẳng cần phải giới thiệu Henri Nouwen, đây là một quyển sách độc nhất vô nhị trong toàn tuyển tập của cha, ghi lại cảm nghiệm cận tử của cha sau một tai nạn nghiêm trọng.

Thị hiếu có thể là chủ quan, nhưng tôi cam đoan đây chắc chắn là những quyển sách hay!

Hài nhi của Năm

Giáng Sinh 2017

Năm nào tờ Time cũng có giải thưởng “Nhân vật của Năm”. Giải thưởng này không nhất thiết là sự vinh danh, nó được trao cho một người mà Time xem là nhân vật thu hút tin tức trong năm, dù là chuyện tốt hay xấu. Chẳng hạn như năm nay, thay vì chọn một cá nhân, Time lại chọn một nhóm người, Silence Breaker, những phụ nữ đã lên tiếng về những lần bị xâm phạm tình dục.

Một phần thách thức trong mùa Giáng Sinh là nhận ra Chúa Kitô sinh ra ở đâu trong thế giới ngày nay, là hai ngàn năm sau khi Chúa Giêsu hạ sinh chúng ta có thể tìm đâu để thăm lại hang đá Bethlehem, nhìn hài nhi vừa hạ sinh, và rung động trước uy quyền của sự ngây thơ và bất lực từ trời cao.

Mùa Giáng Sinh năm nay, tôi mong chúng ta tôn vinh những trẻ em tị nạn là “Hài Nhi của Năm.” Các em đưa chúng ta đến gần hang đá Bethlehem trong thế giới ngày nay, vì như Chúa Giêsu cách đây hai ngàn năm, các em cũng chẳng tìm được chỗ trong nhà trọ đàng hoàng.

Chúa Giêsu ra đời và chịu chết trong một nghịch lý. Ngài đến như lời đáp của Thiên Chúa cho khao khát thâm sâu nhất của chúng ta, thế mà lại sinh ra và chết đi như một kẻ ngoài cuộc. Hãy để ý mà xem, Chúa Giêsu sinh ra ở ngoại vi thành phố và cũng chết ở ngoại vi thành phố. Đây không phải chuyện tình cờ. Ngài không phải là một đứa trẻ “được chờ đợi” và cũng không “được chấp nhận.” Đức Mẹ với trái tim sốt mến thuần khiết mong chờ Ngài, nhưng thế giới thì không, ít nhất là ở khía cạnh hình hài một đứa bé vô lực. Ngài không đến trần gian như một siêu sao, một người quyền thế khiến mọi gối phải bái quỳ, Ngài không đến như một Đấng Thiên sai trong tưởng tượng của chúng ta, một Đấng mà mọi cửa nhà đều rộng mở chờ đón, không phải chỉ lúc Ngài sinh mà trong suốt cả cuộc đời của Ngài.

Nhưng Chúa Kitô không phải là Đấng Thiên sai theo kiểu chúng ta kỳ vọng. Ngài đến như một hài nhi sơ sinh, vô lực, vô danh, không có địa vị, không được mời gọi, không được chào đón. Và Thomas Merton đã mô tả việc hạ sinh của Chúa Kitô như thế này: Trong thế giới này, cái nhà trọ điên cuồng, nơi chẳng có phòng nào để sẵn cho Ngài, Chúa Kitô đã đến dù không được chào đón. Nhưng đó là bởi Ngài không thể ở trong một ngôi nhà, Ngài ở ngoài ngôi nhà dù đáng ra Ngài phải được ở trong nhà, nơi Ngài chọn lấy là ở cùng với những người không nhà.

Không có phòng cho ngài trong quán trọ! Các học giả kinh thánh cho chúng ta biết rằng những bài giảng và hình dung về những chủ quán trọ lạnh lùng nhẫn tâm đã xua đuổi Đức Mẹ và thánh Giuse, thật ra đã bỏ sót điểm nhấn của câu chuyện Giáng Sinh. Điểm nhấn mà Tin mừng muốn chỉ ra không phải là những chủ quán trọ ác độc nhẫn tâm và đôi vợ chồng nghèo từ Nazareth bị đối xử bất công. “Không có chỗ trong nhà trọ” đúng ra muốn nói đến một điểm lớn hơn nữa, mà Thomas Merton đã nêu bật rằng, không bao giờ có chỗ trong thế giới này cho Chúa Kitô đích thực, Đấng không tương hợp với những kỳ vọng và tưởng tượng của chúng ta. Chúa Kitô đích thực thường khiến tưởng tượng của ta choáng váng và xô đổ mọi kỳ vọng của chúng ta, Ngài đến mà không được chào đón, Ngài luôn ở đây, nhưng luôn ở ngoài rìa, bị những thứ chúng ta hình dung loại trừ và đuổi ra khỏi cửa. Chúa Kitô đích thực luôn mãi tìm một mái nhà trong thế giới, mà nơi đó lại không có chỗ cho Ngài.

Vậy ngày nay ai giống hình ảnh Chúa Kitô nhất? Tôi cho rằng đó chính là: Hàng triệu trẻ em tị nạn. Có thể thấy rõ Chúa Kitô Hài đồng trong vô số trẻ em tị nạn, cùng với gia đình mình, bị đuổi khỏi nhà vì chiến tranh, bạo lực, nạn đói, thanh trừng sắc tộc, kỳ thị và bách hại tôn giáo. Các em, cùng với gia đình mình, là hình ảnh giống nhất với tình cảnh của Đức Mẹ và thánh Giuse, những người chật vật tìm chỗ trú chân, những người bị đẩy ra ngoài rìa, bất lực, không được chào đón, không một mái nhà, không ai mời vào, và bị xem là những người xa lạ. Nhưng họ chính là hình ảnh của Thánh Gia ngày nay, và các trẻ em tị nạn là Chúa Kitô Hài đồng của chúng ta trong thế giới này.

Hang đá Bethlehem ngày nay ở đâu? Ta tìm Chúa Kitô Hài đồng ở đâu để tôn kính? Ở nhiều nơi lắm, có thể là trong mọi phòng sinh trên khắp thế giới, nhưng rõ ràng hơn là những trại tị nạn, trên những chiếc thuyền lênh đênh vượt Địa Trung hải, trong những đoàn người đi tị nạn trong đói khát và hiểm nguy, nơi hàng dài những đứng chờ thủ tục với mong mỏi được cho phép nhập cảnh tị nạn, nơi những người đến được đường biên giới rồi lại bị đuổi về, nơi những bà mẹ trong các nhà tù ôm con mình và hy vọng, và nhất là nơi gương mặt của vô số trẻ em tị nạn.

Gương mặt của Thiên Chúa trong mùa Giáng Sinh hiển hiện nơi sự vô lực của trẻ em, hơn là nơi những người quyền thế trong thế giới. Và ngày nay cũng vậy, nếu muốn làm như những mục đồng và ba nhà hiền triết, tìm đường đến hang đá Bethlehem, chúng ta cần phải tìm kiếm nơi có những trẻ em đang tuyệt vọng nhất.

Thiên Chúa đâu phải để sợ hãi

Tại sao chúng ta không giảng về lửa hỏa ngục nữa? Đây là một câu thường dấy lên nơi nhiều người mộ đạo chân thành lo lắng rằng quá nhiều nhà thờ và linh mục đã quá dễ dãi với tội lỗi, quá phóng đại khi nói về lòng thương xót của Thiên Chúa. Có một niềm tin rằng nếu chúng ta rao giảng sự thật trần trụi về tội trọng, về cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, và mối nguy rơi vào hỏa ngục, thì người ta sẽ đến nhà thờ nhiều hơn và giữ các giới răn hơn, nhất là giới răn thứ sáu. Sự thật sẽ giải thoát anh em, những người này lập luận như vậy, và sự thật đó là có những tội trọng và hậu quả đời đời cho tội lỗi. Cửa thiên đàng thì hẹp mà cửa hỏa ngục thì mở toang.

Vậy tại sao chúng ta lại không còn giảng nhiều về mối nguy hỏa ngục?

Và đâu là lý lẽ trong lập luận rằng giảng nhiều về tội trọng và hỏa ngục đem lại hiệu quả? Đe dọa thì có hiệu quả. Tôi lớn lên với kiểu rao giảng này và phải thừa nhận nó có tác động trên hành xử của tôi. Nhưng tác động đó có cả tốt lẫn xấu. Về mặt tích cực, nó khiến tôi sợ đủ để không bao giờ đi quá xa về mặt đạo đức và lòng đạo. Mặt tiêu cực là, nó cũng khiến tôi bị khập khiễng về lòng đạo và cả cảm xúc, bị méo mó rất nhiều. Nói đơn giản là, thật khó để làm bạn thân thiết với một Thiên Chúa cứ đe dọa bạn, và cũng không tốt về mặt đạo cũng như cảm xúc khi chúng ta quá rụt rè và e ngại những sinh lực lớn lao trong đời.

Sợ hình phạt đời đời có thể là một động lực hiệu quả. Nhưng tại sao lại không nên giảng về nỗi sợ? Bởi nó sai lầm, đơn giản là thế. Tẩy não và đe dọa là những thứ có hiệu quả, nhưng nỗi sợ không phải là động lực phù hợp để yêu thương. Bạn không yêu vì sợ hay bị đe dọa. Bạn yêu bởi bạn thấy mình được tình yêu dẫn lối.

Quan trọng hơn nữa, giảng về mối đe dọa đời đời là bôi nhọ Thiên Chúa mà chúng ta tin. Thiên Chúa hiện thân nơi Chúa Giêsu không phải là một Thiên Chúa đẩy những người chân thành và thiện tâm vào hỏa ngục dựa trên danh sách chi li những sai lầm đạo đức và nhân văn. Vậy mà thỉnh thoảng, trong các nhà thờ Công giáo tôi vẫn nghe thấy những lời như: Nếu bỏ lễ ngày Chúa nhật, thì đó là tội trọng và nếu chết khi chưa xưng tội thì anh chị em sẽ vào hỏa ngục.

Có Chúa nào lại đặt ra một niềm tin như thế này? Có Chúa nào lại không cho những người chân thành một cơ hội thứ hai, cơ hội thứ ba, hay thậm chí là cơ hội bảy mươi lần bảy, nếu họ vẫn còn thành tâm? Có Chúa nào lại nói với một người trong hỏa ngục rằng: “Xin lỗi, nhưng luật là thế rồi! Có hối hận cũng đã muộn. Cơ hội chỉ đến một lần!”

Một thần học lành mạnh về Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta phải thôi dạy rằng hỏa ngục là một bất ngờ đau khổ đang chờ chực những người có tâm thiện. Thiên Chúa mà chúng ta tin là thông hiểu vô hạn, cảm thương vô hạn và tha thứ vô hạn. Tình yêu của Thiên Chúa vượt xa tình yêu của chúng ta, và có thể thấy ra sự thiện trong tâm hồn con người dù cho nó yếu đuối và méo mó.

Chúng ta không có gì phải sợ hãi về Thiên Chúa cả. Hay là phải sợ hãi thật? Chẳng phải Kinh thánh nói rằng “kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan” sao? Thế thì sao lại nói là không nên sợ Thiên Chúa?

Bởi vì sợ có nhiều loại, có loại lành mạnh, loại khác thì không. Khi Kinh thánh nói rằng “kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu của khôn ngoan” thì nỗi sợ đó không phải là sợ vì bị đe dọa hay sợ bị trừng phạt. Nỗi sợ đó không phải kiểu sợ khi chúng ta gặp một bạo chúa hay một kẻ thích hành hạ bắt nạt. Mà đây là nỗi sợ lành mạnh xuất phát từ yêu thương. Đây là nỗi sợ tôn kính, là khi chúng ta yêu ai đó chân thành đến nỗi sợ mình sẽ trở nên ích kỷ, thô lỗ và thiếu tôn trọng mối quan hệ đó. Chúng ta sợ mình phá hoại sự thân thiết thiêng liêng đó. Có thể nói, chúng ta thấy mình đứng nơi thánh địa và thấy cần phải tháo giày ra trước khi bước vào.

Kinh thánh cũng cho chúng ta biết rằng khi Thiên Chúa xuất hiện trong đời chúng ta, thường thì lời đầu tiên của Ngài là: “Đừng sợ!” Bởi Thiên Chúa không phải là bạo chúa xét đoán nhưng là người yêu thương, và đầy niềm vui. Như Leon Bloy đã nhắc nhở chúng ta, niềm vui là dấu chỉ không thể sai lầm về sự hiện diện của Thiên Chúa.

Một chàng thanh niên theo trào lưu chính thống cực đoan từng hỏi nhà tâm lý học lừng danh, Fritz Perls rằng: “Ông đã được cứu rỗi (saved, cũng đồng nghĩa với tiết kiệm)?” Ông trả lời: “Tiết kiệm? Không đâu! Tôi còn đang tìm cách để tiêu xài mà!”

Chúng ta tôn trọng Thiên Chúa không phải bằng cách sống sợ sệt lo rằng mình sẽ xúc phạm ngài, nhưng là bằng cách dùng lấy sinh lực mà Ngài ban cho chúng ta để làm cuộc đời nở hoa. Thiên Chúa không phải luật lệ để ta phải giữ, nhưng là sinh lực vui mừng để chúng ta “tiêu xài” rộng rãi.