RonRolheiser,OMI

Gửi những người bạn tôi quen

Mới đây, khi đọc tạp chí Commonweal, tôi bị đánh động bởi một dòng của Jerry Ryan, thuộc dòng Tiểu Đệ Chúa Giêsu: “Tôi đã mất liên lạc với rất nhiều người vốn có nhiều ý nghĩa với tôi trong nhiều giai đoạn cuộc sống, những người tôi yêu thương quý mến và thực sự quan tâm đến họ, những người đã cho tôi rất nhiều và làm nên con người tôi như hôm nay.”

Với tôi cũng thế, và tôi nghĩ là hầu hết chúng ta cũng thế. Người ta đi vào cuộc sống chúng ta, tình bạn ngày càng thắm thiết rồi một số bạn bè đó cứ thế biến mất khỏi cuộc đời chúng ta. Đôi khi là do chúng ta chuyển đi, có lúc là họ chuyển đi, có lúc là chuyện đời thay đổi và chúng ta xa rời nhau, hay có lúc mối dây giữa chúng ta tan rã dần và rồi chúng ta bước tiếp, tìm người khác. Và nếu nhạy cảm, chúng ta sẽ luôn thấy có nỗi đau và tội lỗi khi mất đi bạn bè như thế. Không có gì là không lành mạnh khi cảm thấy cô đơn và mất mát vì chuyện này hay cảm nhận rằng chúng ta đã làm người khác thất vọng, đã không quan tâm cho đủ.

Thật sự đôi lúc chúng ta thiếu trung tín, nhưng hầu như trong mọi trường hợp vấn đề là ở sự bất toàn vô tội của ta. Chỉ có Chúa toàn hảo. Chỉ có Chúa mới có trái tim đủ lớn để quan tâm riêng đến mọi người và mọi lúc. Chỉ có Thiên Chúa mới không bao giờ thay đổi và mệt mỏi. Và chỉ có Thiên Chúa mới đủ mạnh mẽ để luôn mãi trung tín. Chúng ta không thể toàn hảo.

Tôi đã đấu tranh dữ dội với sự bất toàn đó. Với công việc của một nhà truyền giáo, và với cá tính của mình, tôi luôn mãi yếu kém vì sự bất toàn trong chuyện gần gũi với gia đình và bạn bè, kể cả những người bạn quý mến. Việc này chẳng dễ dàng gì.

Trước hết, tôi có cả một đại gia đình đã mở rộng qua nhiều thế hệ. Giữ liên hệ với cả gia đình có thể không còn thời gian để tôi làm gì khác nữa. Thứ nữa, tôi đã làm mục vụ hơn bốn mươi năm và trong thời gian đó tôi đã sống trong nhiều nhà của Dòng Hiến sĩ cùng hơn hai trăm anh em khác nhau. Cộng đoàn là gia đình, và để giữ liên lạc với tất cả sẽ chiếm hết thời gian trong ngày làm việc. Rồi trong những năm tháng học tập, tôi đã có cơ hội kết bạn thâm tình với nhiều bạn học ở nhiều nơi trên thế giới. Cuối cùng, trong những năm tháng mục vụ, tôi đã gặp hàng trăm sinh viên trong lớp học và hàng ngàn người làm việc nghiên cứu và tĩnh tâm. Hầu hết những cuộc gặp gỡ đó chỉ là nhất thời và ngẫu nhiên, nhưng qua năm tháng tôi đã kết thân tình với khá nhiều người. Và tôi còn từng sống và làm việc ở bốn quốc gia khác nhau, đồng thời kết nhiều bạn ở những nơi đó.
Hơn nữa, ngày nay chúng ta còn phải cố gắng giữ liên hệ với những người quen biết trên mạng xã hội.

Làm sao để chúng ta giữ được mối liên hệ có ý nghĩa với tất cả mọi người đây? Làm sao để chúng ta không phản bội bạn bè, dù chỉ đơn thuần là vì sự xao nhãng bỏ bê?

Ngay cả khi tôi vô cùng biết ơn vì có cả một gia tài là người thân và bạn bè, tôi vẫn thường thấy việc giữ liên hệ có ý nghĩa với tất cả thật là chuyện quá sức với tôi, và những lúc đó tôi thấy có lỗi khi cứ luôn xa rời quá nhiều người mà tôi từng gắn bó. Đôi khi những người bạn lâu nay tôi không liên lạc nhắc nhở tôi, về việc tôi bỏ bê tình bạn, và không phải lúc nào cũng nhắc nhở nhẹ nhàng đâu. Nhưng khi thời gian trôi qua và vấn đề này ngày càng mở rộng, tôi lại thấy bình an hơn với sự bất toàn và cảm giác tội lỗi của mình, dù có thể một vài bạn bè bị bỏ bê của tôi không cảm thấy thế.

Và điều khiến tôi cảm thấy như vậy là một lời nhắc nhở liên tục về ơn lớn lao tôi có được là một gia đình lớn và rất nhiều người bạn. Ít có chuyện đáng để chúng ta tri ân như thế. Thứ nữa, tôi thực sự cố gắng giữ liên hệ có ý nghĩa với họ trong tầm mức thời gian, sức lực, và khoảng cách cho phép. Và điều quan trọng là, dù cho bất toàn, tôi vẫn cố gặp gỡ người thân và bạn bè theo một cách mà sự hiện diện thân thiết, gần gũi xóa nhòa thời gian, sức lực và khoảng cách. Có một cách để chúng ta không còn bất toàn, một cách để ta ở nhiều nơi một lúc và có thể yêu thương vô số người cách riêng tư và thân thiết, cách đó chính là ở trong Thân thể Chúa Kitô.

Kinh thánh cho chúng ta biết là chúng ta tạo thành một thân thể, một thân thể sống với những cơ quan sống thực sự, mọi phần cơ thể đều có tác động đến nhau. Trong thân thể đó, chúng ta hiện diện với nhau, dĩ nhiên không phải là hoàn hoàn có ý thức, nhưng thật sự sâu sắc và chân thực. Và nếu chúng ta sống đời mình một cách trung tín, chia sẽ tình bạn chân thành với những người đang ở quanh chúng ta ngay lúc này, thì chúng ta không chỉ sản sinh chất xúc tác lành mạnh cho thân thể khỏe mạnh, mà chúng ta còn hiện diện với nhau, theo một cách đánh động chúng ta đến mức độ sâu sắc nhất của linh hồn. Có một cách để chúng ta không quên lãng nhau.

Và như thế, các bạn thân mến của tôi, chúng ta vẫn bên nhau mà!

Một lời miệt thị hằn sâu

Anh là kẻ thất bại! Cô là kẻ thất bại! Trong mọi lời chê bai gây đau lòng mà chúng ta buột miệng nói ra, thì lời này có lẽ gây đau đớn và tổn hại nhất. Lời này cần bị cấm tiệt khỏi những cuộc bàn luận chung và loại hẳn khỏi từ điển.

Chúng ta đã tiến những bước dài trong việc loại trừ những lời lẽ nhất định trong giao tiếp xã hội. Hầu hết những từ chúng ta loại trừ đều có nghĩa xấu ám chỉ đến sắc tộc, giới tính, hay khuyết tật của người khác. Loại thẳng chúng khỏi ngôn ngữ của chúng ta là việc đáng phải làm lâu rồi, và có lẽ đây không chỉ là vấn đề đúng đắn trong xã giao. Mà rõ ràng và đơn giản, đây là vấn đề đúng đắn trong công lý, bác ái, trong sự tử tế căn bản của con người. Ngôn ngữ là một nền kinh tế thường bất công. Nó công nhận một cách phi lý một số người và miệt thị quá mức một số người khác. Chúng ta cần cẩn thận với chuyện này. Ngôn ngữ có thể hằn một vết sẹo sâu lên người khác, thậm chí nó còn khiến chúng ta vô tình bị khóa trong những định kiến tiêu cực khiến lòng trí chúng ta bị nhuốm màu kỳ thị chủng tộc, mê tín và thù ghét phụ nữ.

Nhưng những lời chê bai về chủng tộc, giới tính và khuyết tật chưa phải là tất cả. Chúng khủng khiếp, đúng, nhưng những người bị xúc phạm bằng những lời này có chút an ủi khi biết rằng lời xúc phạm đó còn nhắm đến hàng triệu, hàng tỷ người khác. Bị xúc phạm cùng với hàng triệu triệu người khác, vẫn đau chứ, nhưng ít ra mình có bầu bạn.

Tuy nhiên, có những lời chê bai xúc phạm một cách riêng tư và đặc biệt hơn, nhắm đến sỉ nhục sự thiếu sót riêng rất cụ thể của người khác. Với lời sỉ nhục này, bạn không còn ai là bầu bạn, giờ bạn là kẻ lạc loài. Cái từ “kẻ thất bại” là một từ như thế. Nó nhắm đến sỉ nhục một người theo cách rất riêng tư và rất tổn thương. Khi bị gọi là “kẻ thất bại” là bạn không chỉ bị loại riêng ra và bị sỉ nhục vì bạn thuộc về một chủng tộc, một giới tính, hay một tầng lớp. Bạn bị sỉ nhục vì chính bạn, chỉ mình bạn thôi, bị phán xét là không đủ tiêu chuẩn, là không đáng được tôn trọng, và không đáng được chấp nhận. Bạn bị xem là hạ đẳng, và sự yếu kém đó không thể đổ tại bất kỳ ai ngoại trừ bạn. Bạn bị xem là kẻ thất bại! Và chỉ có bạn thế thôi!

Kiểu sỉ nhục này không phải mới có. Nó đã có từ lâu đời. Có nhiều người luôn luôn bị xa lánh, sỉ nhục và tẩy chay. Chúng ta có một khiếm khuyết nhân bản khá là đáng xem xét, và nếu không xác định được nó, thì nó sẽ khiến chúng ta tin rằng để mình được hạnh phúc thì người ta chấp nhận mình thôi vẫn chưa đủ, còn cần ai đó khác bị loại trừ nữa kia.

Trong thời Tân ước, những người phong cùi bị tẩy chay khỏi xã hội, phải sống trong những vùng hẻo lánh tách biệt với cuộc sống bình thường, phải kêu lên “ô uế” khi có ai đó đến gần. Nhưng họ có những lý do chính đáng để đưa những người phong cùi ra khỏi cuộc sống bình thường. Phong cùi là bệnh truyền nhiễm. Ngày nay, dù không có một lý do chính đáng nào, chúng ta vẫn xem một số người là “người cùi”, xem họ không được phát triển trong đời sống bình thường của mình. Chúng ta liệt họ vào “những kẻ thất bại” và đẩy họ ra rìa. Họ là những người cùi mới.

Có vô số ví dụ về điều này, nhưng có lẽ chúng ta dễ thấy nó nhất trong trường trung học, nơi luôn luôn có một nhóm nổi tiếng, một nhóm quyết định hết quy tắc, quyết định xem cái gì là được, nắm lấy quyền lực của cộng đồng dù cho họ không phải nhóm đa số. Đa số học sinh nằm ngoài nhóm nổi tiếng riêng biệt này, cố gắng được chấp nhận, nghĩa là dù không hoàn toàn thuộc về nhóm đó nhưng cũng không hoàn toàn bị loại trừ. Nhưng luôn luôn có một nhóm khác, những em bị xem là “kẻ thất bại”, không đủ tiêu chuẩn, không xứng đáng được công nhận. Nhóm này không được chấp nhận.

Bất kỳ xã hội con người nào cũng đều có sự phân loại. Có vô số lý do phức tạp cho việc này, và nhiều lý do liên quan đến tâm thần. Chuyện này cũng giúp giải thích vì sao lại có những cậu bé trung học đem súng đến trường bắn bạn học của mình. Nhưng thật khó để không thấy được rằng, hầu như lúc nào, cậu bé xả súng đó cũng là một người cô độc, “một kẻ thất bại”. Chúng ta không thể trách các bạn học của cậu ấy vì đã xem cậu ấy là kẻ như thế, nhưng dù cho cố ý hay vô tình, thì họ cũng đã làm vậy. Các bạn học của cậu là nạn nhân, không chỉ của tâm thần bấn loạn và nổi giận của cậu thanh niên đó, nhưng còn là nạn nhân của một xã hội mù quáng góp phần tạo ra sự bấn loạn và giận dữ đó.

Tôi không phải là bậc cha mẹ, nhưng nếu tôi là một ông bố, tôi sẽ dùng hết quyền hạn đạo đức của mình để khiến con cái bỏ hết những từ chê bai sỉ nhục về chủng tộc, giới tính và khuyết tật. Tôi cũng sẽ dùng mọi quyền hạn đạo đức và khuyên giải của mình để khiến chúng loại bỏ những từ xấu xa sỉ nhục người khác một cách cụ thể riêng tư. Cái từ “kẻ thất bại” phải bị cấm tiệt trong mái nhà.

Cả xã hội và Giáo hội đều là những mái nhà. Thật may là trong nhiều thập niên gần đây, chúng ta đã cấm dùng nhiều từ miệt thị chủng tộc, giới tính, hay khuyết tật của người khác. Và đã đến lúc chúng ta cấm tiệt thêm những từ khác trong nhà của mình!

Một lời biện giải cho Độc thân Thánh hiến

Huston Smith, nhà bình luận nổi tiếng về các tôn giáo trên thế giới, đã công nhận rằng bạn không nên phán xét một tôn giáo bằng những thể hiện xấu nhất của nó, nhưng bằng những thể hiện tốt nhất của nó, chính là những thánh nhân. Và điều này cũng đúng khi đánh giá về giá trị của đời sống độc thân thánh hiến. Cũng như khi đánh giá về cơ chế hôn nhân, chúng ta phải đánh giá đời sống độc thân thánh hiến bằng những con người tốt đẹp nhất, chứ không phải ngược lại.

Tôi viết bài biện giải này vì hôm nay đời sống độc thân thánh hiến đang bị chỉ trích trong hầu hết mọi giới. Người ta không còn hiểu nổi đời sống độc thân, cũng không xem đó là một lối sống thực tế, vì nền văn hóa này từ chối chấp nhận bất kỳ giới hạn nào về tình dục và do đó chúng ta xem mọi người sống độc thân dù với bất kỳ nguyên do nào cũng đều là lãnh đạm, khờ dại, hay bất hạnh. Nền văn hóa của chúng ta dựng lên một âm mưu rõ ràng chống lại lối sống độc thân.

Quan trọng hơn nữa, là đời sống độc thân lại bị đánh giá trong tình hình tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Trong xã hội và giáo hội, người ta ngày càng ghi khắc một quan niệm rằng xâm hại tình dục và ấu dâm đặc biệt thịnh hành trong giới linh mục và tu sĩ hơn là trong cộng đồng nói chung, và thậm chí còn nghĩ rằng có một thứ gì đó trong đời sống độc thân thánh hiến khiến cho các linh mục và tu sĩ thêm xu hướng phạm tội tình dục và có một đời sống cảm xúc không lành mạnh. Có thật thế không? Những người độc thân có xu hướng phạm tội tình dục hơn những người không độc thân? Những người độc thân có khả năng bớt lành mạnh và hạnh phúc hơn những người lập gia đình hay những người có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân?

Phải xác định rõ điều này bằng cách nhìn vào những mục đích thâm sâu nhất của tình dục, và từ đó xác định xu hướng thực sự của người sống đời hôn nhân và người độc thân. Mục đích tối hậu của tình dục là gì? Sinh lực mạnh mẽ này có ý nghĩa nào nơi chúng ta? Nhìn chung, câu trả lời rất rõ ràng: Tình dục là để đưa ta ra khỏi bản thân, ra khỏi sự cô độc, sự ích kỷ, để bước vào sự vị tha, vào gia đình, cộng đồng, để quảng đại, để có tấm lòng dịu dàng, để vui mừng, để hạnh phúc, và tận cùng là (có lẽ không phải lúc nào cũng được trong đời này) để ngất ngây.

Nhìn từ lăng kính tiêu chuẩn này, thì đời sống hôn nhân và độc thân hiến thánh có gì khác nhau? Hầu như là tương tự nhau. Một số người kết hôn, trở nên quảng đại và sinh sôi một cách lành mạnh, chung thủy với vợ chồng mình, và ngày càng biết tha thứ, hạnh phúc, và tráng kiện. Có những người khác lại không như thế. Họ kết hôn (hoặc quan hệ tình dục ngoài hôn nhân) nhưng không trở nên quảng đại và sinh sôi, không chung thủy, và ngày càng cay đắng, ũ rũ và bất hạnh.

Với những người độc thân thánh hiến cũng vậy. Một số người kết hôn, trở nên quảng đại và sinh sôi một cách lành mạnh, trung thành với lời khấn của mình, và ngày càng biết tha thứ, hạnh phúc, và tráng kiện. Với một số người khác, hầu như mọi thứ trong đời họ lại đi ngược với sự minh bạch và sinh hoa trái đáng ra phải có trong đời sống độc thân, và thế là họ không tiến thêm trên con đường bỏ mình, quảng đại, dịu dàng hay hạnh phúc. Thay vào đó, như một số người sống cuộc sống tình dục cùng thời, họ cũng ngày càng cay đắng, ũ rũ và bất hạnh. Đôi khi, đây là hậu quả của việc họ phá vỡ lời khấn và đôi khi đấy là hậu quả của một bản năng tình dục bị đè nén một cách không lành mạnh. Trong cả hai trường hợp, lời khấn của họ không sinh hoa trái và thường dẫn đến những hành động bù đắp không lành mạnh.

Phải thừa nhận rằng, đời sống độc thân là chấp nhận thêm nguy cơ, bởi vì hôn nhân và tình dục là con đường bình thường mà Chúa định cho ta. Như Merton từng nói, trong đời sống độc thân, chúng ta sống trong một sự cô độc mà chính Thiên Chúa đã lên án. Con người ở một mình thì không tốt! Tình dục và hôn nhân là chuyện bình thường, và độc thân xa rời con đường ấy. Nhưng thế không có nghĩa độc thân không thể sinh nhiều hoa trái, đem lại ý nghĩa, lành mạnh, khiến cho người ta nên viên mãn và hạnh phúc. Một số người sinh sôi và viên mãn nhất mà tôi biết, là những người độc thân thánh hiến, ngày tháng trôi qua họ càng thêm dịu dàng và bình an. Đáng buồn thay, đối với một số người độc thân khác thì ngược lại. Dĩ nhiên, chuyện này, cả mặt tốt lẫn mặt xấu, cũng đúng với những người sống đời hôn nhân mà tôi biết.

Nhìn quả thì biết cây. Chúa Giêsu đã cho chúng ta tiêu chuẩn đánh giá đó. Nhưng khi đánh giá đời sống độc thân và đời sống hôn nhân (cũng như khi đánh giá các tôn giáo) chúng ta nên nhớ lấy lời khuyên của Huston Smith là chúng ta nên đánh giá bằng những thể hiện tốt nhất, bằng những thánh nhân, chứ không phải bằng những thể hiện thiếu lành mạnh nhất. Nhìn vào đời sống độc thân và đời sống hôn nhân, chúng ta thấy có cả người lành mạnh và không lành mạnh, và như thế đâu có vẻ có bên nào lấn át hẳn bên kia về sự thánh thiện hay suy đồi. Và do đó, không ngạc nhiên, khi xét cho cùng cả hai lựa chọn đều đòi hỏi cùng một điều, đó là sẵn sàng hy lễ và hao tâm tổn lực vì tình yêu và trung tín.

Một số người sống đời độc thân đã không trung tín, một số nữa còn là kẻ ấu dâm, nhưng một số khác lại trở thành Mẹ Teresa. Và cũng nên thấy rằng Chúa Giêsu cũng sống độc thân. Những người sống đời hôn nhân, có người không chung thủy, có người bạo hành, có người còn giết vợ chồng mình, nhưng cũng có người là hiện thân thánh thiện rõ ràng của tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa dành cho thế gian cũng như cho mối dây không thể phá vỡ của Chúa Kitô với Giáo hội của Ngài.

Tính dục là một thực tế có thể sống theo nhiều phương thức khác nhau, và cả đời sống hôn nhân hay độc thân đều là những lựa chọn thánh thiện nhưng, đáng buồn là, chúng có thể có biến chứng sai lầm.

Những Phép lạ Đích thực

Ralph Waldo Emerson gọi những vì sao trên bầu trời đêm là “những phái viên của vẻ đẹp, thắp sáng vũ trụ bằng nụ cười nhắc nhở của mình” và ông nói rằng nếu chúng chỉ xuất hiện vài ngàn năm một lần, thì chúng ta sẽ quỳ lạy thờ phượng và trân quý khoảnh khắc đó cả đời mình. Nhưng bởi đêm nào những vì sao cũng mọc, nên phép lạ đó trở nên gần như chẳng có gì đáng chú ý. Và thay vào đó chúng ta xem truyền hình.

Nhưng những ngôi sao đẹp đẽ không phải là phép lạ lớn lao duy nhất mà người ta chẳng màng để ý. Những phép lạ lớn nhất phải đi kèm với sự nhưng không, yêu thương, ủ ấm tâm hồn và tha thứ. Sự nghèo khổ lớn lao nhất của chúng ta chính là chúng ta hầu như không để ý đến những việc này. Có nhiều điều còn đáng kinh ngạc hơn cả những vì sao đáng để chúng ta quỳ gối trong tri ân, và có những điều sâu sắc đáng để gìn giữ trong ký ức hơn cả một đêm trời đầy sao.

Ngòi bút thiêng liêng người Bỉ, Benoit Standaert nói rằng phép lạ lớn lao nhất chính là “những hiện hữu được trao nhưng không, là một tình yêu khiến cho những gì mất mát và lạc lối được nên trọn vẹn và yêu mến, một tình yêu chọn lấy những gì bị chối bỏ, tha thứ cho những gì bị xem là có tội nặng nề nhất, và hiệp nhất những gì bị xem là tan rã vĩnh viễn.”

Phép lạ lớn lao nhất chính là có sự cứu chuộc cho tất cả những gì sai trái nơi chúng ta. Có sự cứu chuộc phát xuất từ những gì chúng ta không làm được vì sự bất toàn của mình. Có sự cứu chuộc phát xuất từ những thương tích của chúng ta, từ những gì khiến chúng ta chùng xuống và lạnh lẽo về mặt thể lý, cảm xúc và tâm linh. Có sự cứu chuộc phát xuất từ bất công, từ sự bất bình đẳng mà chúng ta đang chịu, từ nỗi đau mà chúng ta gây ra cho người khác cách cố ý hay vô ý. Có sự cứu chuộc phát xuất từ những lỗi lầm, những sai phạm, từ những bất trung, và tội lỗi của chúng ta. Có sự cứu chuộc phát xuất từ những mối quan hệ xấu đi, từ những cuộc hôn nhân, gia đình, tình bạn bị tan rã vì hiểu lầm, thù ghét, ích kỷ và bạo lực. Có sự cứu chuộc phát xuất từ tự vẫn và sát nhân. Không có điều gì mà Thiên Chúa không thể tha thứ, phục sinh và khiến nó tươi mới, ngây thơ và vui vẻ trở lại.

Cuộc sống của chúng ta, dù dài hay ngắn, đều rơi vào bất toàn, tan vỡ, bất công, mất mát, gây đau thương cho người khác vì mình yếu đuối, chúng ta ai cũng có bất trung, tội lỗi và ác tâm, nhưng đến tận cùng, tất cả đều có thể được tẩy sạch, được trắng trong lần nữa. Có sự cứu chuộc, có sự sống mới nơi mọi nẻo đường sai trái chúng ta đi trong thế gian này. Và sự cứu chuộc đó đến với chúng ta qua sự tha thứ.

Tha thứ là phép lạ lớn lao nhất, là phép lạ tận cùng, và cùng với sự sống đời đời, nó chính là ý nghĩa đích thực trong sự phục sinh của Chúa Giêsu. Không có điều gì nhiệm màu và giống với Thiên Chúa, cho bằng khoảnh khắc hòa giải, khoảnh khắc tha thứ.

Chính vì lý do này mà khi viết về sự phục sinh của Chúa Giêsu, các Tin mừng đều nhấn mạnh nhiều lần về sự tha thứ. Thật vậy, Tin mừng theo thánh Luca không tách rời lời tuyên bố phục sinh với lời tuyên bố tha thứ tội lỗi. Tha thứ và phục sinh liên kết bất phân ly. Cũng thế, trong Tin mừng theo thánh Gioan, trong lần đầu tiên Chúa Giêsu hiện ra sau khi phục sinh, Ngài đã cho họ quyền tha tội. Thông điệp của phục sinh chính là một xác chết có thể sống lại từ hầm mộ. Điều này không hẳn đúng với thể xác chúng ta, nhưng đặc biệt đúng cho những tâm hồn băng giá đang chết vì thất vọng, cay đắng, giận dữ, chia rẽ và thù hận. Phép lạ phục sinh là cho thân xác sống lại, nhưng cũng là việc cho những linh hồn đã chết trỗi dậy vào cuộc sống mới.

Dù cho ngày nay chúng ta thừa mứa những phát minh mới, và thậm chí máy móc làm hết mọi việc kể cả làm người trò chuyện với ta, chúng ta lại thấy quá ít chuyện mới lạ đích thực. Chắc chắn chúng ta thấy hằng ngày những sự đổi mới cứ dồn dập đổ đến và cùng với đó là khó khăn để đối mặt với thay đổi mà chúng đem lại. Nhưng xét cho cùng, những đổi mới này không thực sự khiến chúng ta kinh ngạc, ít nhất là không kinh ngạc sâu sắc, một sự kinh ngạc chạm đến tâm hồn. Chúng đơn thuần chỉ là tăng thêm những thứ chúng ta có, những mở rộng của cuộc sống bình thường, chứ không phải một điều kinh ngạc thực sự.
Nhưng khi bạn nhìn thấy một người phụ nữ tha thứ cho một người đã làm tổn thương mình sâu sắc, thì bạn đang thấy một chuyện không bình thường, một chuyện đầy kinh ngạc. Bạn đang thấy một điều không đơn giản chỉ là một khoảnh khắc tự nhiên. Cũng thế, khi bạn thấy sự nồng hậu và yêu thương len vào con người lâu nay chìm trong cay đắng và giận dữ, là bạn thấy một điều không chỉ là một khoảnh khác cuộc sống bình thường. Bạn đang thấy một sự mới mẻ, sự cứu chuộc, sự phục sinh, sự tha thứ. Tha thứ là điều duy nhất mới mẻ trên trái đất này, mọi thứ khác chỉ tương đối như nhau thôi.

Và cũng như thế, tôi xin mượn lời của Benoit Standaert: “Bất kỳ lúc nào chúng ta nỗ lực đem lại thêm chút bình an qua công lý, dù dưới dạng nào đi nữa, trên trái đất này, bất kỳ lúc nào chúng ta nỗ lực thay đổi đau buồn thành hạnh phúc, chữa lành những trái tim tan nát, hay giúp đỡ người bệnh và người yếu đuối, là chúng ta đi thẳng về phía Thiên Chúa, Chúa của sự phục sinh.”
Tha thứ là phép lạ đáng kinh ngạc nhất mà chúng ta từng thấy hay cảm nghiệm trên trần thế này. Chỉ mình sự tha thứ, mới có thể đem lại thiên đàng và hạnh phúc.

Đức Mẹ của Kinh thánh và Đức Mẹ của lòng sùng kính

Có nhiều người tin rằng: Người Công giáo La Mã có khuynh hướng sùng bái Đức Mẹ, còn người Tin Lành và phái Phúc âm thì có khuynh hướng bài trừ Đức Mẹ. Cả hai đều không chuẩn lắm.

Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, có hai tuyến lịch sử trong truyền thống Kitô giáo. Chúng ta có Đức Mẹ trong Kinh thánh, và Đức Mẹ của lòng sùng kính, và cả hai đều góp những phần đặc biệt cho hành trình Kitô hữu của chúng ta

Đức Mẹ của lòng sùng kính thì được biết đến nhiều hơn, chủ yếu là trong Công giáo La Mã. Đây là hình ảnh Đức Mẹ trong chuỗi mân côi, Đức Mẹ của các đền thánh nổi tiếng, Đức Mẹ Sầu bi trong các kinh, Đức Mẹ dịu dàng chuyển cầu cho chúng ta đến với Chúa, Đức Mẹ tinh tuyền và trinh khiết, Đức Mẹ hiểu nỗi đau của con người, Đức Mẹ làm kẻ sát nhân phải mềm lòng, và Đức Mẹ mà chúng ta luôn có thể chạy đến kêu cầu.

Và Đức Mẹ này, trên hết là Mẹ của người nghèo. Karl Rahner từng chỉ ra rằng khi nhìn vào mọi lần Đức Mẹ hiện ra mà đã được Giáo hội công nhận, bạn sẽ để ý thấy rằng mẹ luôn hiện ra với người nghèo, một đứa bé, một nông dân, một nhóm trẻ em, một người không có địa vị xã hội. Đức Mẹ không bao giờ hiện ra với một thần học gia đang nghiên cứu, một giáo hoàng, hay một triệu phú. Mẹ luôn là người mà người nghèo hướng về. Lòng sùng kính Đức Mẹ chính là thần nghiệm của người nghèo.

Ví dụ như, chúng ta thấy rất rõ điều này trong tác động của Đức Mẹ Guadalupe lên Châu Mỹ La tinh. Trong toàn châu Mỹ, hầu hết các thổ dân đều là Kitô hữu. Tuy nhiên, ở Bắc Mỹ, nơi hầu hết thổ dân là Kitô hữu, Kitô giáo lại không phải là một tôn giáo bản địa, mà là một tôn giáo du nhập từ nơi khác đến. Còn ở Châu Mỹ La tinh, khắp nơi mà giáo dân sùng kính Đức Mẹ Guadalupe, thì Kitô giáo được xem là một tôn giáo bản địa.

Nhưng lòng sốt sắng và sùng kính cũng có nguy cơ trật đường về mặt thần học và gây nên sự ủy mị không lành mạnh. Đây cũng là vấn đề trong hình ảnh Đức Mẹ của lòng sùng kính. Chúng ta có khuynh hướng nâng Đức Mẹ lên hàng thần thánh (mà thế là sai) và chúng ta quá thường sùng kính Mẹ đến nỗi trong tâm thức của chúng ta, một Đức Mẹ của lòng sùng kính không thể nào là một người khiêm hạ đã hát lên bài Magnificat. Đức Mẹ của lòng sùng kính quá thường bị tôn vinh với sự sốt sắng, đơn giản hóa thái quá, và phi tính dục như thể cần bảo vệ Mẹ khỏi những phức tạp của thân phận con người. Nhưng Đức Mẹ của lòng sùng kính vẫn cho chúng ta đối diện rõ ràng hành trình tâm linh của mình.

Còn Đức Mẹ của Kinh thánh và vai trò mà các Tin Mừng khác nhau đã nói đến về Mẹ, thì bị làm ngơ hơn nhiều.

Trong Tin mừng Nhất lãm, Đức Mẹ được thể hiện như hình mẫu người môn đệ. Nói đơn giản hơn, Mẹ là một con người chuẩn mực ngay từ đầu. Nhưng chúng ta lại không nhận ra như thế ngay lập tức. Nhìn bề ngoài, đôi khi chúng ta lại thấy ngược lại. Ví dụ như, trong nhiều dịp Đức Giêsu nói chuyện với đám đông, có người cắt lời và báo rằng mẹ và người thân của Ngài đang chờ bên ngoài và muốn nói chuyện với Ngài. Và Chúa Giêsu trả lời: “Ai là mẹ Ta và ai là anh chị em của Ta? Là người nghe lời Chúa và tuân giữ.” Khi nói thế, Chúa Giêsu không có thái độ xa cách với mẹ mình, mà ngược lại thì đúng hơn. Trong các Tin mừng, trước chuyện này, các thánh sử đã rất cẩn thận chỉ ra rằng Đức Mẹ là người đầu tiên nghe lời Chúa và tuân giữ. Và như thế, chính Chúa Giêsu nêu bật mẹ mình trên hết là vì đức tin của Mẹ, chứ không phải vì huyết thống. Trong Tin mừng Nhất lãm, Đức Mẹ là hình mẫu cho tinh thần môn đệ. Mẹ là người đầu tiên nghe lời Chúa và tuân giữ.

Tin mừng theo thánh Gioan còn cho Mẹ một vai trò khác. Mẹ không phải là hình mẫu cho tinh thần môn đệ (một vai trò mà thánh Gioan trao cho người môn đệ Chúa thương và Maria Magdalena) nhưng được xem là Evà, mẹ của nhân loại, và là mẹ của mỗi người chúng ta. Thú vị là, thánh Gioan chưa từng nói ra tên của Đức Mẹ, ngài luôn luôn nói là “Mẹ của Chúa Giêsu.” Và với vai trò này, Đức Mẹ làm hai điều:

Thứ nhất, Mẹ là tiếng nói cho sự hữu hạn của con người, như khi Mẹ lên tiếng trong tiệc cưới Cana “họ hết rượu rồi.” Trong Tin mừng theo thánh Gioan, đây không chỉ là cuộc nói chuyện giữa Đức Mẹ và Chúa Giêsu, nhưng còn là cuộc nói chuyện giữa Mẹ Nhân loại và Thiên Chúa. Thứ hai, là Evà, Mẹ toàn thể và Mẹ chúng ta, Đức Mẹ cũng bất lực trong và trước nỗi đau của con người khi Mẹ đứng dưới chân thập giá. Trong biến cố này, Mẹ cho chúng ta thấy mình là Mẹ của toàn thể, nhưng cũng là một gương mẫu về cách đương đầu với sự bất công, cụ thể là đứng trong sự bất công đó mà không nhân đôi hận thù và bạo lực đó nhưng đáp lại bằng yêu thương.

Đức Mẹ đã cho chúng ta một gương mẫu tuyệt vời, một gương mẫu không phải để chúng ta tôn sùng hay làm ngơ, nhưng là để sống.

Khóc than

Nền văn hóa của chúng ta khiến chúng ta không dễ khóc than. Đặc nét nền tảng của nó là chúng ta nhanh chóng bỏ qua những mất mát và đau đớn, nín lặng những tang thương, và luôn luôn mạnh mẽ, tiếp tục tiến bước trong đời.

Nhưng khóc than là một điều quan thiết với sự lành mạnh của chúng ta, một điều mà chúng ta buộc phải làm cho bản thân mình. Không có than khóc thì chúng ta chỉ còn cách là ngày càng cứng rắn và cay đắng trước những thất vọng, loại trừ, và mất mát. Và những điều này lại luôn tồn tại.

Chúng ta có nhiều điều để than khóc trong đời: Chúng ta liên tục mất đi người thân và sự vật. Những người yêu thương qua đời, mối quan hệ tan vỡ, bạn bè rời đi, hôn nhân đổ vỡ, một tình yêu ta mong mỏi mà không có cứ mãi ám ảnh ta, một ước mơ kết thúc trong thất vọng, con cái lớn lên rồi xa, mất công việc, và mỗi ngày qua là mất đi tuổi trẻ và sức khỏe. Ngoài quá nhiều những mất mát phải đau lòng này, chúng ta còn nhu cầu cần đau lòng cho sự bất xứng trong đời mình, cho bản giao hưởng dang dở và sự hòa hợp mà ta không bao giờ có được. Như con gái của Jephthah, tất cả chúng ta đều phải khóc than cho cuộc đời dang dở của mình.

Sao lại thế? Chúng ta than khóc thế nào để sự than khóc của ta không phải là một thứ ủy mị không lành mạnh, nhưng là một tiến trình phục hồi sự lành mạnh và tinh thần cường tráng của ta?

Không có một công thức đơn giản nào, và mỗi người lại có một công thức khác nhau. Đau lòng, cũng như yêu thương, phải tôn trọng sự dè dặt độc nhất vô nhị của chúng ta, những gì mà chúng ta thấy thoải mái và không thoải mái. Nhưng có những điều mà ai ai cũng như nhau.

Thứ nhất, chúng ta có nhu cần cần chấp nhận nhìn nhận những mất mát và nỗi đau của mình. Chối bỏ mất mát hay nỗi đau, chẳng ích gì cho ta. Chúng ta phải chấp nhận sự thất vọng và bất lực của mình, và phải chấp nhận với nhận thức rằng không có nơi nào để cho nỗi đau ngoại trừ, như lời của thi sĩ Rilke, cho nó về lại dương gian, về chốn nặng nề của đại dương, nơi nảy sinh nước muối cũng là nước mắt của ta. Những giọt nước mắt kết nối chúng ta với đại dương nảy sinh ra ta.

Tiếp theo, khóc than là một tiến trình cần có thời gian, đôi khi là rất nhiều thời gian, chứ không phải là một thứ chúng ta có thể nhanh chóng đạt được với một quyết định đơn giản. Chúng ta không thể cứ thế làm chủ cảm xúc, cho nó lành mạnh trở lại được. Chúng cần được chữa lành, và chữa lành là một tiến trình hữu cơ. Và tiến trình đó cần những gi?

Trong nhiều trường hợp, cần phải cho mình được quyền nổi giận, thịnh nộ trong một thời gian, cho mình cảm thấy thất vọng, mất mát, bất công và giận dữ. Mất mát có thể cay đắng, và sự cay đắng đó cần được thật tâm chấp nhận, nhưng cũng cần được chấp nhận với lòng dũng cảm và khuôn khổ để nó không khiến chúng ta trút giận lên người khác. Và để như thế, để chúng ta không đổ tội và trút giận lên người khác, thì chúng ta cần được giúp đỡ. Mọi nỗi đau có thể chịu được nếu nó được chia sẻ, và vì thế chúng ta cần có người lắng nghe và chia sẻ nỗi đau với mình mà không cố sửa đổi nó. Và trong hoàn cảnh này, sự tự đại là địch thủ của chúng ta. Chúng ta cần khiêm nhượng để tin tưởng cho người khác thấy vết thương của mình.

Cuối cùng, nhưng không kém quan trọng, là chúng ta cần kiên nhẫn, chịu đựng, bền bỉ. Khóc than không thể gấp gáp được. Sự chữa lành tâm hồn, cũng như chữa lành thân xác, là một tiến trình hữu cơ, với những hạn mức thời gian không thể chi phối được. Nhưng đây có thể là phép thử lớn cho sự kiên nhẫn và hy vọng của chúng ta. Chúng ta có thể trải qua những thời kỳ dài đầy tăm tối và đau buồn, khi dường như chẳng thể thay đổi gì, khi sự nặng nề và tê tái vẫn cứ còn đó, và chúng ta có cảm giác rằng mọi chuyện sẽ chẳng bao giờ khá lên, rằng chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy ánh sáng trong lòng nữa. Nhưng đau buồn và than khóc cần có sự kiên nhẫn, cần kiên nhẫn để tiếp tục với sự nặng nề và bất lực. Sách Ai Ca nói rằng đôi khi chúng ta chỉ có thể vùi miệng trong bụi đất và chờ đợi. Sự chữa lành trong chờ đợi.

Henri Nouwen là một người rất quen với than khóc và mất mát. Là một tâm hồn quá nhạy cảm, đôi khi cha chịu những trầm cảm và ám ảnh khiến cha tê liệt về cảm xúc và cần đến chuyên gia tâm lý. Một lần như thế, khi đang cố vượt qua một cơn trầm cảm nặng, cha đã viết quyển sách đầy thấu suốt của mình, Tiếng Nói Nội tại của Tình yêu [The Inner Voice of Love]. Cha khuyên chúng ta thế này: “Thách thức lớn chính là sống với những vết thương của mình mà không nghĩ đến chúng. Khóc than thì tốt hơn là lo lắng, cảm nhận thương tích của mình thì hơn là hiểu chúng, để chúng đi vào câm lặng thì hơn là nói chuyện với chúng. Bạn không ngừng phải đối diện với chọn lựa là dùng cái đầu hay con tim để đương đầu với những vết thương đó. Với cái đầu, bạn có thể phân tích chúng, tìm ra nguyên nhân hậu quả của chúng, và những từ ngữ đẹp để nói và viết về chúng. Nhưng trong đó, chẳng có sự chữa lành tận cùng nào. Bạn phải để những thương tích đi vào trong con tim. Như thế bạn mới sống qua chúng và khám phá ra rằng chúng sẽ không hủy hoại được bạn. Con tim bạn mạnh hơn những vết thương đó.”

Chúng ta mạnh hơn những vết thương của mình. Sự sống thì mạnh hơn cái chết. Sự tốt lành của Thiên Chúa thì hơn mọi mất mát. Nhưng khóc than cho những mất mát của mình là cách để chúng ta hiểu được những chân lý đó.

Khơi dậy đức tin âm ỉ của chúng ta

Bất kỳ ai từng xem một đám cháy đều biết đến một lúc ngọn lửa sẽ nguội đi và biến mất, thành than, rồi cuối cùng lạnh dần và trở thành tro tàn. Nhưng trong tiến trình đó, có một thời điểm, trước khi nguội hẳn, những khối than có thể âm ỉ đến nổi bùng cháy thành ngọn lửa trở lại.

Đấy là hình ảnh mà thánh Phaolô dùng để thúc giục chúng ta thắp lại ngọn lửa đức tin khi chúng dường như đang lụi tàn. “Tôi nhắc anh em hãy khơi dậy ngọn lửa ơn Chúa từng được trao cho anh em.” Đúng là một hình ảnh đầy ý nghĩa. Đôi khi đức tin chúng ta cần được khơi dậy trong cốt lõi để đức tin đó được sống động và hiệu lực. Nhưng làm sao để được thế? Làm sao ta khơi dậy trở lại ngọn lửa đức tin của mình?

Ta khơi dậy ngọn lửa đức tin bằng cách đưa mình trở về cội rễ lần nữa. Dù cho đức tin là một ơn Chúa ban, nhưng đôi khi thật hữu ích nếu ta đi lại con đường và xem xét những tác động trần thế nào đã giúp gầy dựng đức tin trong ta.

Ai và điều gì đã giúp đưa đức tin đến với ta? Dĩ nhiên, đây là một câu hỏi vô cùng riêng tư mà chỉ có chúng ta mới trả lời được cho mình. Với tôi, khi lần trở lại và tìm đến gốc rễ đức tin của mình, tôi tập trung vào vài điểm.

Thứ nhất, là đức tin và chứng tá của bố mẹ tôi, một điều vô cùng quan thiết. Đức tin là điều quan trọng nhất trong cuộc đời bố mẹ tôi, và ông bà đã làm mọi việc có thể để bảo đảm con cái mình là chúng tôi cũng thấy rõ đức tin như thế. Và cuộc sống của bố mẹ tôi chưa bao giờ đi ngược đức tin của họ. Đấy là một chứng tá mạnh mẽ và và là một món quà vô giá.

Rồi còn có chứng tá của giáo xứ tôi, một cộng đoàn nhập cư nông thôn, đủ nhỏ để mọi người đều biết nhau, biết niềm vui nỗi buồn của nhau và có thể chia sẻ với nhau trong đức tin, dù cho không phải lúc nào cũng nồng hậu hết mực. Cần cả ngôi làng để nuôi dạy một đứa trẻ, và trong trường hợp tôi là cần cả một giáo xứ. Khi lớn lên, tôi có thể nhìn quanh nhà thờ, và thấy hầu hết những người tôi quen biết, dù thân hay không thân, đều đang quỳ gối trong cùng một đức tin. Ngày nay, đó là chuyện hiếm, và tôi xem đó là món quà lớn tôi đã nhận được.

Tiếp đến là chứng tá dấn thân và đức tin của các xơ Dòng Ursula, những người đã đến vùng nông thôn chúng tôi để dạy trong các trường công. Các sơ không chỉ dạy chữ mà còn dạy giáo lý cho chúng tôi nữa. Đến tuổi thiếu niên, tôi đã học được hai quyển giáo lý và nắm bắt rõ ràng những kiến thức về đức tin của mình, một món quà mà về sau tôi mới nhận ra được tầm quan trọng của nó.

Cuối cùng, một điều đã ghi khắc cội rễ bền vững sâu sắc trong lòng tôi, chính là tiếng Chúa trong thuở thiếu thời. Thuở thiếu thời, tôi nghe tiếng Chúa mạnh mẽ và rõ ràng trong lòng. Tôi phải thừa nhận, có nhiều điều mà lúc đó tôi xem là tiếng Chúa, thật ra chỉ là những tiếng nói của sợ hãi, rụt rè, cục bộ, và cái tôi tự đại của mình. Nhưng phải thừa nhận, cũng có tiếng Chúa, rõ ràng, không thể chối cãi. Tôi biết thế vì phần nhiều những nỗi sợ, rụt rè, cục bộ, và cái tôi của tôi đã biến mất từ lâu, nhưng tiếng Chúa thuở thiếu thời vẫn còn trong tôi.

Tuy nhiên, đôi khi tiếng đó có thể khá lặng lẽ, và cảm giác như đó chỉ là tiếng nói của sự ngây thơ thuở nhỏ, như Ông già Noel, Thỏ Phục Sinh, và Chúa Giêsu, chứ không phải là một điều có thực hoặc từng rất có thực. Với tôi, cũng như với tất cả mọi người, đôi khi trí tưởng tượng và tính hiệu lực của đức tin bị cằn khô đến nỗi những bận tâm của tôi chiếm hết chỗ của Chúa. Lúc đó tôi cần phải khơi dậy khối than âm ỉ của đức tin bằng cách đi lại hành trình để đưa bản thân tôi vào lại đức tin của bố mẹ, vào những gì ghi khắc trong lòng tôi nhờ cộng đoàn giáo xứ, vào những chứng tá và giáo lý mà các sơ Dòng Ursula đã dạy tôi, và vào tiếng nói thần thiêng sâu sắc rõ ràng đã vang lên trong tôi và hướng dẫn tôi thuở thiếu thời.

Hành trình đi ngược trở lại này có thể hữu ích cho hầu hết mọi người, nếu biết để ý một điều. Cảm giác như Thiên Chúa im lặng trong cuộc đời người trưởng thành của ta, thật ra đó có thể là một cách Chúa hiện diện sâu sắc hơn, chứ không phải là sự đi xuống của đức tin. Thuở thiếu thời, tiếng Chúa thường rõ ràng, nhưng về sau, sự rõ ràng đó nhường đường cho “đêm tối tâm hồn” như lời các nhà thần nghiệm. Và khi đó sự thiếu vắng Thiên Chúa không phải là vấn đề mất đức tin nhưng là một sự hiện diện mới mẻ, phong phú hơn và bớt hình tượng của Thiên Chúa trong đời chúng ta. Sự sốt sắng không phải lúc nào cũng là dấu chỉ của một đức tin sâu sắc, cũng thế sự thiếu vắng Thiên Chúa không nhất thiết là dấu hiệu của một đức tin đi xuống. Thiên Chúa hẳn đang kiên nhẫn chờ đợi và sẽ đến trong đời chúng ta, theo cách của Ngài, chứ không phải theo cách của chúng ta.

Dù cho như thế, chúng ta vẫn cần nghe theo lời thánh Phaolô: “Tôi nhắc anh em hãy khơi dậy ngọn lửa ơn Chúa từng được trao cho anh em.”

Làm người môn đệ Chúa thương

Tin mừng theo thánh Gioan cho chúng ta thấy một hình ảnh thần nghiệm rất hùng hồn mà khá trần tục. Khi thánh Gioan mô tả Bữa Tiệc Ly, ngài cho chúng ta biết rằng trong bàn tiệc, người môn đệ mà Chúa thương ngồi ngả đầu vào ngực Chúa.

Tôi tin là các họa sĩ nắm bắt sức mạnh của hình ảnh này tốt hơn là các thần học gia và học giả Kinh thánh. Các họa sĩ và diễn giải nghệ thuật thường thể hiện hình ảnh này như sau: Người môn đệ Chúa thương ngả đầu vào ngực Chúa với một tai hướng thẳng vào tim Chúa Giêsu, nhưng mắt thì nhìn thẳng vào thế giới.

Đúng là một hình ảnh hùng hồn! Nếu đặt tai vào ngực người khác, bạn có thể nghe được tiếng tim họ đập. Thế thì người môn đệ này là người hòa chung nhịp tim của Chúa và đang nhìn ra thế giới từ điểm quy chiếu đó.

Xa hơn nữa, thánh Gioan cho chúng ta một loạt hình ảnh để thực tế hóa những hệ quả từ việc nghe tiếng tim Chúa.

Trước hết, người môn đên Chúa thương đã đứng cạnh Đức Mẹ dưới chân thập giá Chúa Giêsu. Hình ảnh này gói gọn điều gì? Trong Tin mừng theo thánh Luca, Chúa Giêsu thừa nhận là đôi khi bóng tối có vẻ lấn át sự thiện và dường như Thiên Chúa bất lực. Đôi khi bóng tối lấn lướt! Cái chết của Chúa Giêsu là một trong những lúc như thế, và người môn đệ Chúa thương, cũng như Đức Mẹ, không thể làm gì khác ngoài đứng đó bất lực giữa muôn trùng tối tăm và bất công. Chẳng thể làm được gì ngoài đứng đó bất lực. Nhưng khi đứng đó, người môn đệ Chúa thương cũng chung vai sát cánh với hàng triệu người nghèo và những nạn nhân trên khắp thế giới, những người chẳng thể làm gì trước cảnh ngộ của mình. Khi người ta đứng đó bất lực, khi chẳng thể làm được gì, khi sự hữu hạn của con người câm nín, thì có thể nảy lên lời cầu nguyện thâm sâu nhất. Rồi sau đó, người môn đệ Chúa thương đưa Đức Mẹ về nhà mình, một hình ảnh không cần phải giải nghĩa gì thêm.

Tuy nhiên, có một hình ảnh thứ hai liên kết với người môn đệ Chúa thương ngả đầu vào ngực Chúa, mà chúng ta cần giải nghĩa đôi chút. Khi người môn đệ đó ngả vào ngực Chúa, thì có một cuộc đối thoại đáng để ý diễn ra. Chúa Giêsu bảo các môn đệ là một người trong số họ sẽ phản bội Ngài. Thánh Phêrô quay sang người môn đệ Chúa thương mà nói: “Hỏi thầy xem đó là ai?” Điều này gợi lên chất vấn: Tại sao Phêrô không tự hỏi Chúa câu đó? Thánh Phêrô đâu có ngồi xa Chúa đến mức không thể tự mình hỏi Chúa câu đó.

Hơn nữa, câu hỏi của thánh Phêrô có tầm quan trọng thực sự khi xét theo bối cảnh sử học. Các học giả ước chừng Tin Mừng theo thánh Gioan được viết vào khoảng những năm 90 đến 100. Khi đó thánh Phêrô đã được công nhận là giáo hoàng và đã chịu tử đạo rồi. Đoạn Tin Mừng này đang nói lên rằng sự mật thiết với Chúa Giêsu cao hơn bất kỳ điều gì khác, kể cả vai vế trong giáo hội, kể cả có là giáo hoàng đi chăng nữa. Lời cầu nguyện của tất cả mọi người đều đi qua người môn đệ Chúa thương. Đức Giáo hoàng không thể cầu nguyện với tư cách Giáo hoàng, nhưng là với tư cách một người môn đệ được Chúa thương như bao Kitô hữu khác. Đức Giáo hoàng có thể cầu nguyện cho thế giới và giáo hội với tư cách Giáo hoàng, nhưng chỉ có thể cầu nguyện riêng với tư cách người môn đệ Chúa thương.

Cuối cùng, trong Tin Mừng theo thánh Gioan nêu bật lên khái niệm rằng sự mật thiết với Chúa Giêsu thì quan trọng hơn vai vế trong Giáo hội, và điều này được mô tả rõ hơn nữa trong buổi sáng ngày Phục Sinh. Maria Magdalena chạy từ mộ về và bảo các môn đệ là ngôi mộ trống. Thánh Phêrô và người môn đệ Chúa thương liền chạy ngay đến mộ. Ta có thể dễ dàng đoán ra ai là người đến đó trước. Người môn đệ Chúa thương dễ dàng đến trước thánh Phêrô, không phải bởi có lẽ do trẻ hơn, nhưng là do tình yêu thì mạnh hơn vị thế. Đức Giáo hoàng cũng có thể đến đó trước, nếu ngài chạy với tư cách người môn đệ Chúa thương chứ không phải tư cách giáo hoàng.

Và mọi người cho rằng người môn đệ Chúa thương chính là thánh Gioan. Có thể đúng là thế, nhưng đấy không phải điều mà những đoạn Tin Mừng này muốn nói. Thân thế theo sử học của người môn đệ Chúa thương được bỏ ngỏ một cách có chủ đích, là bởi Tin mừng muốn khái niệm về người môn đệ Chúa thương là một lời mời gọi và một vai trò hợp với bạn, với mọi Kitô hữu trên đời, bao gồm cả giáo hoàng nữa.

Vậy ai là người môn đệ Chúa thương? Người môn đệ Chúa thương có thể là bất kỳ ai, nam nữ trẻ em, miễn là mật thiết với Chúa Giêsu đủ để hòa nhịp với nhịp tim của Chúa, và nhìn thế giới từ góc nhìn của sự mật thiết đó, cầu nguyện từ sự mật thiết đó, và ra đi trong yêu mến đến tìm Chúa Giêsu Phục sinh và hiểu được ý nghĩa của ngôi mộ trống.

Các hình ảnh thần nghiệm được giải nghĩa rõ nhất nhờ các nhà thần nghiệm khác. Nghĩ như thế, tôi xin để lại cho các bạn một hình ảnh từ Đan phụ Sa mạc thế kỷ IV, Evagrius Ponticus.

Ngực Đức Chúa
Vương quốc Ngài
Ai ngả vào đấy
Là thần học gia

Lòng thương xót, Sự thật, và Mục vụ

Mới đây, một sinh viên tôi từng dạy cách đây vài chục năm, đã nói với tôi thế này: “Thời con học với cha đã cách đây hai mươi năm, và con đã quên hầu hết mọi điều cha từng dạy. Nhưng con nhớ một điều là ta phải luôn cố gắng đừng làm cho Thiên Chúa có vẻ ngu ngốc.”

Tôi mong là điều này đúng. Tôi mong là người ta rút ra được điều gì đó từ những bài giảng và bài viết của tôi vì tôi tin rằng nhiệm vụ đầu tiên của bất kỳ khoa biện giáo Kitô giáo nào là đừng để Thiên Chúa bị nhập nhằng với những thứ ngu ngốc, độc đoán, hẹp hòi, vị luật, khắc nghiệt, phe phái, và bất kỳ thứ gì xấu xa mà lại bị gán cho Thiên Chúa. Một thần học lành mạnh về Thiên Chúa phải bảo đảm được cho mọi biện giáo thực hành mục vụ của chúng ta. Bất kỳ điều gì chúng ta làm nhân danh Chúa thì phải phản ánh Thiên Chúa.

Không phải ngẫu nhiên mà chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa bài giáo quyền, và nhiều công kích đủ mức độ nhắm vào Giáo hội và tôn giáo ngày nay lại luôn có thể chỉ ra những điểm thần học và mục vụ tồi tệ, những thứ dựng nên sự hoài nghi và cơn giận của họ. Chủ nghĩa vô thần luôn là một thứ ký sinh trên một tôn giáo xấu. Khuynh hướng tiêu cực đối với các Giáo hội là chuyện quá thường thấy ngày nay. Một thái độ bài Giáo hội là thứ được nuôi dưỡng nhờ một tôn giáo xấu, và chúng ta, những người tin vào Thiên Chúa và Giáo hội, phải xem lại mình hơn là biện hộ cho mình.

Hơn nữa, một điều còn quan trọng hơn cả những chỉ trích của người vô thần nhắm vào Giáo hội, chính là biết bao nhiêu người đã bị tổn thương vì Giáo hội của chúng ta. Ngày nay rất nhiều người không còn đến nhà thờ, là những người có mối quan hệ căng thẳng với Giáo hội của mình, bởi những gì họ thấy trong Giáo hội đó không nói lên những gì tốt đẹp về Thiên Chúa.

Tôi nói lên điều này với lòng đồng cảm. Thật không dễ để nói thỏa đáng với Thiên Chúa, chứ chưa nói đến là nói cho thật tốt. Nhưng chúng ta phải cố gắng, và mọi bí tích cũng như mục vụ của ta phải phản ánh một thần học lành mạnh về Thiên Chúa, phản ánh Thiên Chúa hiện thân và được mặc khải trong Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã mặc khải điều gì về Thiên Chúa?

Trước hết, Thiên Chúa không thiên vị và tuyệt đối công bằng với mọi chủng tộc, với người giàu cũng như người nghèo, nô lệ cũng như tự do, nam cũng như nữ. Không một người nào, chủng tộc hay quốc gia nào được Thiên Chúa ưu ái hơn. Không một ai là ưu tiên hàng đầu. Tất cả đều được hưởng đặc ân của Thiên Chúa.

Thứ nữa, Chúa Giêsu đã dạy rằng Thiên Chúa đặc biệt cảm thương và thông hiểu với những người yếu đuối và người có tội. Chúa Giêsu đã làm chướng mắt các chức sắc tôn giáo thời đó, khi ngồi đồng bàn với những người có tội công khai lúc chưa mở lời bảo họ hối lỗi. Ngài chào đón tất cả mọi người bất kể hoàn cảnh của họ thế nào, đến mức thường vi phạm tục lệ tôn giáo thời đó, và có lúc Ngài đi ngược lại cảm thức tôn giáo của thời đó, như chúng ta đã thấy trong chuyện Ngài gặp người phụ nữ thành Samari hay chuyện Ngài chữa lành cho con gái một bà người dân ngoại. Hơn nữa, Ngài yêu cầu chúng ta cũng phải cảm thông như thế, và Ngài nói rõ rằng Thiên Chúa yêu thương tội nhân và các thánh như nhau. Thiên Chúa không thiên vị người nhân đức.

Và còn sốc hơn nữa, là Chúa Giêsu chưa từng biện hộ khi bị công kích. Ngài còn quở trách những người, dù chân thành đến đâu, cố ngăn người ta đến với Ngài. Ngài chấp nhận chịu chết hơn là biện hộ cho mình. Ngài chưa từng lấy oán báo oán, và Ngài chết mà lòng tha thứ và yêu thương những kẻ giết mình.

Chúa Giêsu cũng nói rõ rằng những ai nói “Lạy Chúa, lạy Chúa” chưa hẳn đã là môn đệ thật, mà là những người thực thi ý Chúa trên đời, bất chấp đức tin và việc hành đạo của họ thế nào.

Cuối cùng và là điểm trọng tâm, Chúa Giêsu đã nói rõ rằng, trên hết, Tin mừng là dành cho người nghèo, và mọi lời giảng dạy nhân danh Ngài mà không phải dành cho người nghèo thì không phải là Tin mừng.

Chúng ta cần ghi khắc những điều này khi nhận định sự xác đáng và tầm quan trọng của những cuộc tranh luận đang diễn ra trong giáo hội chúng ta về việc ai hay điều gì làm nên tinh thần môn đệ và bí tích thật. Điều quan trọng là phải hỏi xem điều gì làm nên bí tích thật, và điều kiện nào cần có có thừa tác viên bí tích có hiệu lực. Cũng quan trọng nữa, là chúng ta cần chất vấn xem ai được đón nhận Mình Thánh Chúa, cũng như xác định những điều kiện nhất định cần làm để chuẩn bị rửa tội, rước lễ và hôn phối.

Các chất vấn mục vụ nổi lên quanh và trong những vấn đề này, và không phải lúc nào cách xử lý chúng sao cho nhanh chóng và đơn giản hóa nhất lại phản ánh được ý định cứu chuộc toàn thể cũng như sự thông hiểu và lòng thương xót vô hạn của Thiên Chúa. Phải thừa nhận, đôi khi lợi ích lâu dài khi sống theo một chân lý khó khăn có thể áp đảo nhu cầu ngắn hạn cần gạt đi nỗi đau và cơn đau đầu thoáng qua của ta. Nhưng ngay cả như thế, phải luôn phản ánh trong mọi quyết định mục vụ của chúng ta một thần học về Thiên Chúa phản ánh được tình thương và lòng thương xót của Thiên Chúa. Nếu không, chúng ta sẽ làm cho Thiên Chúa có vẻ ngu ngốc, độc đoán, bè phái, nhẫn tâm, và mâu thuẫn trong việc hành đạo.

Marilynne Robinson nói rằng Kitô giáo là một câu chuyện quá vĩ đại nên không thể lấy một câu chuyện ngắn gọn hơn để biện hộ cho nó, cũng như không được biến nó thành những thứ hẹp hòi, vị luật, và thiếu tình thương.

Về Tình bạn

Một trong những trải nghiệm phong phú nhất về ân sủng mà chúng ta có thể có ở đời này, chính là trải nghiệm tình bạn.

Các tự điển định nghĩa tình bạn là mối quan hệ tình cảm qua lại, với một mối liên kết phong phú hơn sự xã giao bình thường. Rồi các định nghĩa liên kết tình bạn với những từ ngữ như: ân cần, yêu mến, cảm thông, cảm thương, thành thật, vị tha, trung thành, thông hiểu, an ủi, và tin tưởng. Những người bạn vui vẻ khi bên nhau, bày tỏ cảm xúc của mình với nhau, và phạm sai lầm mà không sợ người kia phán xét.

Định nghĩa như thế là bao quát, nhưng để hiểu rõ hơn sự tốt đẹp đích thực của tình bạn, thì cần giải nghĩa nhiều điều bên trong định nghĩa đó.

Trước hết, như xác nhận của Phái Khắc kỷ Hy Lạp và được thể hiện rõ ràng trong linh đạo Kitô giáo, tình bạn đích thực chỉ có thể có giữa những người nhân đức. Một băng đảng không phải là một nhóm bạn, nhiều nhóm hệ tư tưởng cũng thế. Tại sao vậy? Vì tình bạn cần đem lại ân sủng và ân sủng chỉ có thể có trong nhân đức.

Tiếp theo, tình bạn không chỉ là nhân văn đơn thuần, mà là nhân văn tuyệt vời. Tình bạn đích thực là nhập vào dòng chảy của tình yêu và sự sống bên trong Thiên Chúa. Kinh thánh cho chúng ta biết, Thiên Chúa là tình yêu, nhưng cụ thể là một từ Hy Lạp “agape”, một từ được dùng cho gia đình, cộng đoàn, hay người chia sẻ cuộc sống. Vì vậy, “Thiên Chúa là tình yêu” có thể được diễn dịch thành: Thiên Chúa là gia đình, Thiên Chúa là cộng đoàn, Thiên Chúa là chia sẻ sự hiện hữu, và bất kỳ ai chia sẻ sự hiện hữu của mình trong một cộng đoàn và tình bạn, thì dự phần vào dòng chảy sự sống và tình yêu trong Ba Ngôi Thiên Chúa.

Nhưng không phải lúc nào cũng thế. Tình bạn và gia đình có thể có nhiều dạng. Parker Palmer, ngòi bút phái Quaker đương thời, đã nói rằng: “Nếu đến đây trong thành tín thì bạn đem phúc lành lớn lao đến đây.” Ngược lại, Rumi, nhà thần nghiệm phái Sufi, đã viết: “Nếu đến đây trong bất tín thì bạn đem tai họa lớn lao đến đây.” Gia đình và cộng đoàn có thể đem lại hoặc chặn đường ân sủng. Nhóm của chúng ta có thể là một nhóm đầy yêu thương và ân sủng, hoặc có thể là một nhóm đầy hận thù và tội lỗi. Chỉ có nhóm đầu tiên mới được gọi là tình bạn. Theo thánh Âugutinô, tình bạn là vẻ đẹp của linh hồn.

Một tình bạn trao đi mạng sống và sâu sắc, thì khó thực hiện và hiếm thấy. Tại sao lại thế? Chúng ta đều khao khát có tình bạn như thế tận sâu thẳm tâm hồn, vậy tại sao lại khó tìm ra nó như vậy? Ta đều biết vì sao: Chúng ta khác nhau, chúng ta là độc nhất vô nhị, và cẩn trọng một cách hợp lý về việc trao phó tâm hồn mình cho ai đó. Và thật không dễ để tìm được một tri kỷ, để có được sự đồng cảm và tin tưởng. Cũng không dễ để duy trì tình bạn khi đã tìm được nó. Để duy trì tình bạn cần có sự tận tâm sắt đá, vốn không phải là điểm mạnh của chúng ta vì tâm thần chúng ta và thế giới này luôn mãi chuyển vần. Hơn nữa, thời nay, tình bạn thực sự không phải lúc nào cũng là tình bạn đích thực.

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, tình bạn thường bị cản trở và phá hoại vì tính dục và căng thẳng tính dục. Đây là sự thật đơn thuần, một sự thật thuận theo tự nhiên và theo nền văn hóa của chúng ta cũng như mọi nền văn hóa khác. Tính dục và tình dục, dù về lý tưởng, chúng nên là căn cứ cho một tình bạn thâm tình, lại thường là nguyên do chính cản trở tình bạn đó. Hơn nữa, trong nền văn hóa xem trọng tình dục hơn là tình bạn, thì tình bạn thường bị xem là một thứ phụ trợ, một thứ hạng hai xếp sau tình dục.

Nhưng trong khi đặc nét văn hóa là thế, nhưng nó không phải là khao khát sâu trong lòng chúng ta. Chúng ta khao khát một điều gì đó sâu sắc hơn tình dục (hoặc khao khát một tình dục triển nở viên mãn hơn.) Trong chúng ta có một khao khát thâm sâu (một khao khát tình dục sâu sắc hơn hay khao khát một điều còn vượt trên tình dục), khao khát có một tri kỷ, một người chung chăn gối về tinh thần. Còn hơn khao khát một đối tác tình dục, chúng ta khao khát một đối tác tinh thần, và dù hai khao khát này không buộc phải loại trừ nhau, nhưng chúng rất khó để kết hợp với nhau.

Tình bạn, cũng như tình yêu, luôn có phần nào bí ẩn, phần nào đó mà chúng ta không thể hiểu được. Trong mọi nền văn hóa, đều có đấu tranh để hiểu được điều này. Và một phần lý do nằm ở nhân tính của ta. Viên ngọc quý không dễ tìm mà cũng không dễ giữ. Tình bạn thực sự là một điều của đời sau được tìm thấy trong đời này, dù không bao giờ là hoàn hảo. Các yếu tố văn hóa và tôn giáo luôn làm cản trở tình bạn, và sự căng thẳng tính dục tràn ngập cũng thế.

Đôi khi các nhà thơ có thể chạm đến những điều mà hàn lâm học thuật không làm được, và tôi xin đưa ra những thấu suốt của một nhà thơ về mối quan hệ qua lại giữa tình bạn và tình dục. Rainer Marie Rilke cho rằng, tình bạn thường là một trong những điều cấm kỵ nhất của một nền văn hóa, nhưng nó vẫn luôn là đích đến cuối cùng. “Trong một tình yêu hạnh phúc sâu sắc giữa hai người, cuối cùng bạn có thể là người bảo vệ yêu thương cho sự cô tịch của người kia. …Phải thừa nhận, tình dục vô cùng mạnh mẽ, nhưng dù cho nó có mạnh mẽ, đẹp đẽ và kỳ diệu đến mấy, Nếu bạn trở thành người bảo vệ yêu thương cho sự cô tịch của người kia, thì tình yêu sẽ dần chuyển thành tình bạn.”

Còn Montaigne thì khẳng định rằng: “Kết cuộc của tình bạn có lẽ còn quan trọng hơn tình yêu. Những biểu lộ của tuổi trẻ phải triển nở và chín muồi thành một sự gì đó bất diệt.”

Về Tự vẫn và Tuyệt vọng

Trong nhiều thế kỷ, tự vẫn bị xem là hành động tuyệt vọng, và tuyệt vọng tự nó bị xem là một tội nặng nhất. Trong nhiều nhóm tôn Giáo, tuyệt vọng bị xem là hành động tội lỗi nhất và không thể được tha thứ.

Đáng buồn thay, hiện nay vẫn còn lại phần nào của tâm thức đó, khi nhiều người xem tự vẫn là hành động tuyệt vọng, một sự phạm thượng với Thiên Chúa và sự sống, một sự từ bỏ hy vọng không thể được tha thứ. Nhiều Giáo hội vẫn xem tự vẫn là một hành động tuyệt vọng và là tội không thể tha thứ chống lại Thánh Thần. Nhưng đây là một sự hiểu lầm. Tự vẫn không phải là hành động tuyệt vọng và không phải là hành động không thể được tha thứ. Các Giáo hội Kitô, và chắc chắn là Giáo hội Công Giáo La Mã, không tin cũng như dạy rằng tự vẫn là một hành động tuyệt vọng.

Mục đích của tôi không phải là xem thường những gì Giáo hội dạy về tự vẫn hay sự tuyệt vọng, nhưng là muốn nhấn mạnh một cách chính xác hơn về những giáo lý này. Và với những người vẫn tin rằng tự vẫn là một hành động tuyệt vọng và không thể tha thứ, tôi cũng không hạ thấp niềm tin của họ nhưng chỉ muốn giải thoát họ khỏi một nỗi sợ sai lầm, dựa trên một nhận thức sai lầm, một thứ chắc chắn đã và sẽ khiến họ đau buồn và lo lắng cho người thân yêu đã chết vì tự vẫn.

Tự vẫn không phải là tuyệt vọng. Tự điển định nghĩa tuyệt vọng là hoàn toàn mất hết hy vọng. Nhưng trong hầu hết các vụ tự vẫn, chuyện không phải như thế. Vậy thì là thế nào?

Người tước đi mạng sống của mình không định làm việc đó để phạm thượng Thiên Chúa hay sự sống, bởi hành động phạm thượng là hành động dựa vào sức mạnh của riêng mình mà tự vẫn thường ngược lại với kiểu đó. Tự vẫn là kết quả của một thất bại khổng lồ.

Trong vở nhạc kịch Những người khốn khổ chuyển thể từ tác phẩm của Victor Hugo, có một cảnh rất xúc động. Người phụ nữ trẻ Fantine đang nằm chờ chết. Cô từng là một cô gái xinh đẹp và đầy ước mơ, nhưng giờ bị bào mòn bởi cảnh nghèo, với trái tim tan nát vì bị phụ tình, và thể xác bị dày vò vì bệnh tật, cô đã bị đánh bại và chấp nhận sự thật đau lòng rằng, “có những cơn bão chúng ta không thể vượt qua được.”

Cô nói đúng, và bất kỳ ai không chấp nhận sự thật đó, rồi sẽ có ngày hiểu ra nó một cách đau đớn và cay đắng. Trong đời có những chuyện sẽ nghiền nát ta, và đầu hàng nó không phải là một hành động tuyệt vọng, và cũng không phải là một hành động theo ý chí của ta. Đó là một thất bại đau lòng thảm thê.

Và đó là trường hợp của hầu hết những người chết vì tự vẫn. Với nhiều lý do từ suy yếu tâm thần cho đến vô số cơn tai ương có thể làm sụp đổ một người, đôi khi đến lúc nào đó trong đời, người ta bị khuất phục, bị đánh bại và không thể tiếp tục sống theo ý mình, cũng tương tự như những nạn nhân của thiên tai, ung thư, bệnh tim, hay Alzheimer. Khi bị nghiền nát trước một cơn bão chết người, thì đó không phải là tội. Chúng ta có thể bị khuất phục, và có nhiều người bị như thế, nhưng đấy không phải là sự tuyệt vọng, bởi tuyệt vọng là một hành động có ý chí và sự mạnh mẽ.

Chúng ta không hiểu được bệnh tật tâm thần, vốn là một thứ có thật và nghiêm trọng như bất kỳ bệnh tật thể lý nào. Chúng ta không đổ lỗi cho bất kỳ ai chết vì ung thư, trụy tim, hay tai nạn, nhưng lại luôn gắn một bóng tối u ám về tinh thần cho những người chết vì các bệnh tâm thần, vốn là nguyên do chính yếu trong nhiều vụ tự vẫn. May thay, Thiên Chúa vẫn là Đấng Tối Cao, và nhận thức còn thiếu sót của chúng ta dù có làm hoen ố hình ảnh về người quá cố thì vẫn không tác hại đến ơn cứu độ đời sau của họ.

Ngoài những chứng bệnh tâm thần, chúng ta còn có thể bị đánh bại bởi nhiều thứ khác. Những bi kịch, mất mát, những ám ảnh không lời đáp, và nỗi hổ thẹn nhiều lúc có thể làm tan nát con tim, đập tan ý chí, giết chết tinh thần và khiến thân xác chết đi. Và khi phán xét điều này, chúng ta nên phản ánh từ nhận thức của mình về Thiên Chúa. Một Thiên Chúa nhân từ yêu thương lại có thể kết tội một người vì người đó, như Fantine trong Những người khốn khổ, không vượt qua được cơn bão hay sao? Thiên Chúa ủng hộ những quan niệm hẹp hòi của chúng ta, nghĩ rằng ơn cứu độ hầu như chỉ dành cho những người mạnh mẽ sao? Không, nếu chúng ta tin vào Chúa Giêsu, thì không.

Phải để ý khi Chúa Giêsu chỉ ra đâu là tội, Ngài không chỉ ra những lúc mà chúng ta yếu đuối và bị đánh bại, nhưng Ngài chỉ ra lúc mà chúng ta mạnh mẽ, kiêu căng, lãnh đạm, và phán xét. Hãy tìm trong Tin mừng và trả lời câu hỏi này: Chúa Giêsu gay gắt với ai nhất? Câu trả lời rất rõ ràng: Chúa Giêsu gay gắt nhất với những người mạnh mẽ, phán xét, và không biết cảm thương những người đang chịu đựng cơn bão cuộc đời. Hãy để ý khi Ngài nói về người giàu làm ngơ người nghèo trước bệ cửa nhà mình, hãy để ý lời Ngài nói về các tư tế và kinh sư bỏ mặc người bị đánh bên vệ đường, và hãy để ý những lời Ngài chỉ trích các kinh sư và Pharisiêu hấp tấp xét đoán ai là người bị Chúa trừng phạt và ai thì không.

Chỉ có một nhận thức sai lầm về Thiên Chúa mới có thể ủng hộ một quan niệm tai hại rằng khốn cảnh trong đời tạo nên sự tuyệt vọng.

Phản kháng, Lành mạnh, và Phản ứng theo Kitô giáo

Đôi lúc mơ mộng lại là điều thực tế nhất ta có thể làm. Hoặc, vẫn còn một điều gì khác ta có thể làm, như sự phản kháng công khai, hay là còn điều gì khác nữa?

Trong quyển sách về tính ngôn sứ, Các Giới răn của Đường Dài, Linh mục Daniel Berrigan đã khuyên như sau. Những biểu hiện ngôn sứ không phải lúc nào cũng hiệu quả về mặt chính trị. Thường thì chúng chẳng đạt được điều gì thực tế, nhưng cha cũng thêm rằng: Nếu bạn không thể cứu lấy thế giới, thì ít ra bạn có thể cứu lấy sự lành mạnh của mình.

Đôi khi đấy là tất cả những gì chúng ta cần đạt đến khi phản kháng chống lại bất công. Hơn nữa, đấu tranh để cứu lấy sự lành mạnh bản thân không phải là chuyện riêng như ta tưởng. Khi phản kháng điều gì đó sai trái, dù cho biết cuộc phản kháng của mình sẽ không thay đổi được gì về mặt thực tế, nhưng sự lành mạnh ôn hòa mà ta cứu lấy, không chỉ là của riêng ta thôi đâu. Ta còn cứu lấy sự lành mạnh của thời điểm đó.

Khi bàn về chủ nghĩa tích cực đương thời về các vấn đề nhân quyền và môi trường của tiểu thuyết gia đoạt giải Booker, Arundhati Roy, thì nhà phê bình nghệ thuật John Berger nói rằng: “Sự phản kháng chính trị sâu sắc là một lời kêu gọi đến với công lý đang vắng mặt, và đồng hành với nó là một hy vọng rằng trong tương lai, công lý này sẽ được thiết lập, tuy nhiên, hy vọng này không phải là lý do đầu tiên để thực hiện sự phản kháng đó. Người ta phản kháng vì nếu không phản kháng thì thật quá nhục nhã, quá tồi tàn, quá tàn phế. Người ta phản kháng (bằng dựng chiến lũy, cầm súng lên, tuyệt thực, cầm tay nhau, hò hét, hay bằng ngòi bút) là để cứu lấy thời khắc hiện tại đó, dù tương lai chưa biết sẽ thế nào… Một cuộc phản kháng không phải là một hy sinh để có một tương lai khác công bằng hơn, mà một cuộc phản kháng là để chuộc lại một cách mơ hồ hiện tại này.” Về căn bản, nó giữ gìn sự lành mạnh trong thời điểm hiện tại.

Nhưng nó có thể chẳng là gì khi xét về những đổi thay thực tế. Hầu hết mọi chuyện vẫn như cũ. Bất công vẫn tiếp diễn, người nghèo vẫn cứ nghèo, toàn cầu vẫn ngập trong chiến tranh, kỳ thị chủng tộc vẫn tiếp tục kỳ thị, môi trường vẫn tiếp tục bị tàn phá, tham nhũng vẫn cứ hoành hành, và sự bất lương tiếp tục tung ra những lời dối trá của nó. Và người ta đi biểu tình, bị bắt giam, tuyệt thực, và đôi khi bỏ mạng vì sự phản kháng này, trong khi bất công, tham nhũng và bất lương vẫn cứ còn đó. Đến một lúc nào đó, chắc chắn và hợp lý, chúng ta phải tự hỏi mình câu hỏi mà Marius trong Những kẻ khốn cùng, đã hỏi sau khi bạn bè anh chết trong cuộc phản kháng, mà mọi chuyện dường như vẫn chẳng thay đổi được gì. Các anh em hy sinh vì cái gì? Có đáng để chết vì nó không?

Những câu hỏi này rất xác đáng, nhưng có thể có một câu trả lời tích cực cho chúng. Họ không chết trong tuyệt vọng, không chết vô cớ hay vì một chủ nghĩa lý tưởng phi thực tế, một giấc mơ ấu trĩ. Cái chết của họ là một sự cứu rỗi nhỏ bé cho thời điểm hiện tại, nghĩa là tác động thực tế của nó có thể không đong đếm được, nhưng hạt giống tinh thần nó gieo trong thời điểm đó cuối cùng sẽ giúp tạo nên những thứ có giá trị. Mọi phụ nữ khởi xướng phản kháng đòi quyền bầu cử đều chẳng bao giờ được đi bầu. Nhưng phụ nữ ngày nay đã được đi bầu. Hạt giống tinh thần họ gieo trong những cuộc phản kháng tầm thường đó cuối cùng đã tạo nên một chuyện thực tế.

Đôi khi bạn sẽ thấy mình khá cô đơn khi phản kháng, và có vẻ như bạn chỉ làm việc để cứu lấy sự lành mạnh của mình và hối tiếc cho sự nhục nhã và bất lực của mình. Nhưng không ai là một hòn đảo. Sự bất lực, sự nhục nhã, và sự lành mạnh của bạn là một phần trong hệ miễn dịch của toàn nhân loại. Sự lành mạnh của mọi người, phần nào dựa vào sự lành mạnh của chính bạn, cũng như sự lành mạnh của bạn dựa vào sự lành mạnh của tất cả mọi người.

Và phản kháng luôn luôn là một điều mà đức tin chúng ta thôi thúc, và thật sự là truyền lệnh phải làm thế. Có lẽ chúng ta vẫn cứ thụ động trước sự bất công, bất bình đẳng, kỳ thị chủng tộc, bàng quan trước người nghèo và Mẹ Trái đất, tham nhũng, và bất lương. Chúng ta cần phải gieo hạt giống tinh thần trong hiện tại. Làm sao để được như thế?

Không phải tất cả chúng ta (thậm chí là hầu như không phải toàn bộ chúng ta) được kêu gọi để dựng áp phích, biểu tình, bị bắt hay bỏ mạng vì chính nghĩa, trừ phi khi sự bất công hay tham nhũng quá cùng cực đến nỗi đáng phải thế. Thường thì, với hầu hết chúng ta, cuộc phản kháng của chúng ta là có thật nhưng không cần là một chứng tá tử đạo.

Tôi thích một lời khuyên từ Tổng Giám mục Paul-Andre Durocher của Gatineau, trong một bài báo mới đây trên tạp chí America. Bình luận về những căng thẳng hiện nay giữa đức tin Kitô giáo và những thách thức phức tạp từ thế giới, sau khi nhìn nhận rằng không có giải pháp dễ dàng cho vấn đề này, đức cha đã khuyên thế này: “Bước thứ nhất là nhìn nhận những căng thẳng. Thứ hai là hiểu vì sao chúng xuất hiện. Thứ ba là chấp nhận và thậm chí là đón nhận nó. Và thứ tư, là sống một đời sống đức tin Kitô giáo trưởng thành bất chấp những căng thẳng đó.” (America, April 30, 2018)

Trước mọi chuyện đang xảy ra trên thế giới chúng ta, những chuyện đi ngược lại với mọi điều chúng ta tin và trân quý, đôi khi chúng ta chỉ có thể giữ vững nền tảng đạo đức của mình, một cách khiêm nhượng mà theo tinh thần ngôn sứ.

Và bởi đó là tất cả những gì chúng ta có thể làm, nên chắc chắn thế là đủ rồi.

Khó nghèo, khiết tịnh, vâng lời trong thời đại thế tục

Có người từng hỏi Hồng y Francis George rằng ngài nghĩ sao về chủ nghĩa hòa bình triệt để của những người như Dorothy Day và Daniel Berrigan, những nhân vật mang tính ngôn sứ, những người tin vào bất bạo động tuyệt đối. Họ bảo ngài rằng chủ nghĩa hòa bình không có chút thực tế nào cả, thật quá ngây thơ khi tin rằng chúng ta có thể sống mà không có cảnh sát hay quân đội. Và ngài trả lời thế này: Thế giới cần những người theo chủ nghĩa hòa bình, cũng như cần có những người khấn giữ đời độc thân. Họ không thực tế. Họ như không thuộc về thế giới này vậy. Nhưng họ hướng về thế giới cánh chung, thế giới thiên đàng, một thế giới trong đó không có súng đạn, một nơi mà sự riêng biệt quan hệ không như kiểu hiện thời, một nơi mà gia đình không dựa trên sinh học, huyết thống, hôn nhân, một nơi không có người nghèo, và một nơi mọi thứ thuộc về mọi người.

Gần đây tôi đã nghĩ về điều này khi hướng dẫn tĩnh tâm về đời sống tu trì cho một nhóm thanh niên đang nhận định xem mình có đi vào đời sống tu trì hay không. Nhiệm vụ của tôi không phải là thuyết phục họ vào một dòng tu, mà là giúp họ hiểu rằng cuộc sống đó như thế, mà từ đó là quyết định có gia nhập hay không. Dĩ nhiên là có một cuộc thảo luận dài về ba lời khấn trong đời sống tu trì là khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời.

Trong một thế giới đặt hy vọng vào sự giàu có vật chất, đánh đồng khiết tịnh với lãnh cảm, và xem tự do cá nhân cao hơn bất kỳ điều gì, thì chúng ta nói gì về khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục đây?

Chắc chắn ba đức tính này bị xem là phản văn hóa triệt để, nhưng chủ yếu là bởi người ta không hiểu rõ chúng (thậm chí có khi cả những người sống ba đức tính này cũng vậy). Chúng chủ yếu bị xem là một sự từ bỏ quyết liệt, hy sinh cả đời mình, một sự chối bỏ phi tự nhiên tính dục của mình, và nông nổi từ bỏ tự do cũng như sự sáng tạo của mình. Nhưng đấy là hiểu lầm.

Khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, không hề tránh đi sự giàu có, tính dục, và tự do. Đúng ra, chúng là một phương thức đích thực và phong phú, của sự giàu có, tính dục và tự do.

Lời khấn khó nghèo không phải chủ yếu là để sống với những thứ rẻ tiền, không có máy rửa chén và phải làm việc nhà. Cũng không phải là từ bỏ những dạng giàu có có thể làm triển nở cuộc đời. Một đời sống khó nghèo tự nguyện là một cách sống nói lên rằng mọi sở hữu vật chất đều là ơn ban, rằng thế giới thuộc về tất cả mọi người, rằng không ai làm chủ cả một quốc gia, và không một ai được đặt nhu cầu của mình lên hàng đầu. Đấy là một lời khấn đối đầu với chủ nghĩa tiêu thụ và chủ nghĩa bộ lạc, nó đem lại những sự giàu có tuyệt vời của nó với ý nghĩa và hạnh phúc vui mừng của đời sống chia sẻ.

Lời khấn khiết tịnh cũng thế. Hiểu cho đúng, thì đó không phải là bỏ lỡ những niềm vui của tính dục. Mà đó là một phương thức phong phú của tính dục, nói lên rằng tính dục không chỉ là tình dục. Tính dục thật đẹp, là ơn Chúa ban và thúc đẩy chúng ta làm rất nhiều điều: xây dựng cộng đồng, tình bạn, sự gần gũi, sự trọn vẹn, gia đình, vui chơi, vị tha, thưởng thức, phấn khởi, sáng tạo, chăn gối, và mọi thứ đưa chúng ta vượt ra khỏi sự cô đơn cũng như làm cho chúng ta sinh sôi. Và thế là nơi cộng đồng, tình bạn, và việc phục vụ người khác có những niềm vui thực sự, chứ không chỉ là một thứ thay thế hạng hai cho tình dục. Chúng đem lại sự triển nở tính dục theo nghĩa đưa chúng ta ra khỏi sự cô độc.

Về lời khấn vâng phục cũng thế. Nếu hiểu đúng, thì đấy không phải là bỏ qua tự do đích thực. Mà là một phương thức phong phú của tự do, một phương thức mà Chúa Giêsu đã sống: (Ngài nói rằng: “Ta không tự mình làm việc gì. Mà Ta làm theo ý Cha Ta.”) Lời khấn vâng phục, không phải là nông nổi từ bỏ tự do và sự chính chắn của mình. Đúng ra đấy là sự quy phục triệt để bản ngã con người (cùng mọi thương tích, khao khát, dục vọng, tham vọng và ghen tỵ) cho một sự và một Đấng cao hơn chính mình, như chúng ta đã thấy nơi những người dấn thân nhân văn và tu trì của Chúa Giêsu, Teilhard de Chardin, Dag Hammarskjold, Simone Weil, Mẹ Teresa, Jean Vanier, Daniel Berrigan. Nơi Chúa Giêsu và các vị ấy, chúng ta thấy một con người sống trên đời này với sự tự do mà chúng ta phải ghen tỵ, nhưng cũng là một tự do dựa vào sự quy phục ý mình trước một sự cao trọng hơn.

Suy nghĩ và cảm giác của chúng ta bị chi phối nhiều bởi tâm thức văn hóa mà chúng ta đang sống. Do đó, với cách hiểu của nền văn hóa ngày nay về sự giàu có, tính dục và tự do, thì đây có lẽ là thời kỳ khó khăn nhất trong nhiều thế kỷ qua, để ai đó tuyên khấn khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục, và sống theo những lời khấn ấy. Các cộng đoàn dòng tu nhỏ tuyệt vời cũng không phải chỗ người ta đổ xô đến xin vào. Nhưng vì hiện tại là thời điểm khó khăn hơn bao giờ hết, thì cũng cần hơn bao giờ hết, những người nam nữ tự nguyện chọn sống những lời khấn này trong tinh thần ngôn sứ.

Và cái có vẻ như là hy sinh của họ sẽ là phần thưởng dư dật, vì nghịch lý thay, khó nghèo đem lại sự giàu có của nó, khiết tịnh đem lại sự triển nở của nó, và vâng phục cho chúng ta sự tự do sâu sắc nhất của con người.

Những khiếm khuyết của một người nhập cư vào thế giới số

Tôi không phải là dân bản địa của công nghệ thông tin và truyền thông xã hội. Tôi chỉ là dân nhập cư số. Tôi không sinh ra trong thế giới của công nghệ thông tin, mà là nhập cư vào nó, từng chút một. Lúc đầu tôi sống trong một vùng khác.

Phải đến năm chín tuổi, tôi mới được sống chung với điện. Tôi từng thấy nó trước đó, nhưng lúc đó, nhà tôi, trường tôi, và cả vùng vẫn chưa có điện. Lần đầu tôi thấy nó, điện năng đúng là một khám phá khổng lồ. Và tôi lớn lên cùng máy truyền thanh, đến năm tôi 14 tuổi, nhà tôi mới có máy truyền hình. Và đây cũng là một khám phá lớn, là thức ăn nuôi sống cho tôi trong cơn đói dậy thì thèm khát kết nối với thế giới rộng lớn hơn. Điện và máy truyền hình nhanh chóng là ngôn ngữ mẹ đẻ của tôi, một cái thắp sáng nhà tôi và một cái đem thế giới vào trong nó. Nhưng điện thoại vẫn là thứ xa lạ. Năm 17 tuổi, khi tôi đi xa, nhà tôi vẫn chưa có điện thoại.

Không khó để sử dụng thành thạo điện thoại, nhưng phải mất rất nhiều năm tôi mới khá thạo trong thế giới mới của công nghệ thông tin. Máy tính, internet, website, di động, smart phone, tivi và phim ảnh qua internet, dữ liệu đám mây, truyền thông xã hội, trợ lý ảo, và vô số những ứng dụng. Đúng là một hành trình. Năm 38 tuổi, tôi mới lần đầu sử dụng đầu video, và năm 42 tuổi tôi có cái máy vi tính đầu tiên, năm 50 tuổi tôi lần đầu lướt web và dùng e-mail, năm 48 tuổi tôi có di động và lập một trang web, đến năm 60 tuổi tôi nhắn tin lần đầu tiên, và năm 65 tuổi tôi tham gia Facebook. Dù sử dụng được email, tin nhắn, và Facebook, tôi vẫn không có tài khoản Instagram hay Twitter. Tôi là người duy nhất trong nhà dòng vẫn còn đọc kinh phụng vụ bằng sách thay vì đọc trên điện thoại.

Tôi nói rằng trang sách có linh hồn còn thiết bị số thì không. Và những phản ứng với tôi cũng không được đồng cảm cho lắm. Nhưng cái lý do “có linh hồn” này, mà tôi thích cầm quyển sách hơn là một thiết bị số. Tôi không phản đối công nghệ thông tin, chỉ là tôi không rành nó. Tôi vật lộn với ngôn ngữ của nó. Thật khó để nắm bắt một ngôn ngữ mới khi đã trưởng thành, và tôi ghen tỵ với giới trẻ, những người thành thạo thứ ngôn ngữ này.

Người ta nói gì về cuộc cách mạng công nghệ thông tin? Nó tốt hay xấu?

Rõ ràng, nó có nhiều mặt tích cực. Nó cho chúng ta nắm bắt thông tin nhanh và nhiều nhất xưa nay. Thông tin là sức mạnh, và internet cùng mạng xã hội đã nâng tầm tiếp cận thông tin của chúng ta, và góp phần hiệu quả trong sự phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Hơn nữa, nó còn tạo nên một ngôi làng toàn cầu. Giờ chúng ta biết hết mọi hàng xóm của mình, chứ không chỉ những người sống gần nhất. Chúng ta có nhiều thông tin và kết nối với mọi người hơn bao giờ hết.

Nhưng tất cả những sự này cũng có một mặt xấu. Đó là chúng ta nói chuyện với nhau ít hơn nhắn tin cho nhau. Chúng ta có nhiều bạn trên mạng nhưng không phải lúc nào cũng có nhiều bạn thật sự. Chúng ta xem cảnh thiên nhiên trên màn hình nhiều hơn là trực tiếp chạm vào nó. Chúng ta dành nhiều thời gian nhìn vào thiết bị trên tay mình hơn là thật sự gặp mặt nhau. Tôi đi qua một sân bay, hay một nơi công cộng nào đó, thì thường thấy đa số mọi người đang chăm chút nhìn vào điện thoại. Thế là tốt sao? Nó có thúc đẩy tình bạn và tính cộng đồng hay nó là một thứ thay thế? Còn quá sớm để khẳng định. Các thế hệ cũ đã sống qua cuộc cách mạng công nghiệp, không có cách nào để hiểu được tác động của chuyện này trong dài hạn. Tôi tin rằng, cuộc cách mạng công nghệ, cũng có tác động triệt để như cuộc cách mạng công nghiệp mà thế hệ chúng tôi đã chứng kiến. Lúc này, chúng ta không biết được nó sẽ đưa chúng ta đến đâu, tốt hay xấu.

Nhưng một mặt tiêu cực đã rõ ràng là, cuộc cách mạng công nghệ thông tin mà chúng ta đang sống, đã và đang hủy diệt những gì ít ỏi mà chúng ta vẫn cố duy trì để có một ngày Xa-bat trong đời mình. Nhà thần nghiệm thế kỷ XIII, Rumi, từng than rằng: “Tôi đã sống quá lâu ở nơi người khác có thể vươn đến.” Điều này đúng với chúng ta ngày nay hơn là cho những người sống ở thế kỷ XIII. Nhờ những thiết bị điện tử mang theo bên mình, người ta có thể tìm đến ta bất kỳ lúc nào, và thường là chúng ta để người ta tìm đến ta mọi lúc. Kết quả là chúng ta không còn có thời giờ riêng tách biệt khỏi những thứ lệ thường. Thời gian cho gia đình, thời gian giải trí, kỳ nghỉ, và cả thời gian cầu nguyện của chúng ta đang không ngừng bị biến thành thời gian “có thể tiếp cận.” Tôi e là trong khi chúng ta đang là những người có được nhiều thông tin nhất xưa nay, thì chúng ta cũng có thể trở thành những người ít ngẫm nghĩ nhất xưa nay.

Nhưng tôi chỉ là một người nhập cư về công nghệ. Tôi cần dành phán quyết này cho những cư dân bản địa của thế giới số này.

Phẫn nộ Đạo đức

Phẫn nộ đạo đức là phản đề của đạo đức. Nhưng nó lại hiện diện khắp nơi trong thế giới ngày nay, và lại được lập luận dựa trên Thiên Chúa và chân lý.

Chúng ta sống trong một thế giới chìm trong vi phạm đạo đức. Khắp mọi nơi, các cá nhân và các nhóm đang căm phẫn và bị xúc phạm về đạo đức, nhiều lúc rất tàn bạo, bởi những cá nhân đối lập, những nhóm, hệ tư tưởng, quan điểm đạo đức, quan điểm giáo hội, diễn giải tôn giáo, diễn giải kinh thánh đối lập, và đủ thứ đối lập khác. Chúng ta thấy điều này khắp nơi, các đài truyền hình đả kích tin tức của các đài khác, các nhóm trong giáo hội lên án nhau, các nhóm ủng hộ sự sống và ủng hộ lựa chọn chỉ trích nhau, và chính trị bị tê liệt khi các nhóm khác nhau thấy căm phẫn đến mức không sẵn sàng ngẫm nghĩ chút gì về những thứ đối lập với họ.

Và lúc nào cũng thế, cả hai phía, đều có những lời kêu gọi chính đáng hướng đến đạo đức uy quyền thiêng liêng (dù là nói rõ hay mơ hồ), và về căn bản, họ thường lập luận thế này: Tôi có quyền để xem anh là quỷ và không thèm nghe những gì anh muốn nói, vì anh sai trái và vô luân, và nhân danh Thiên Chúa và chân lý, tôi chống lại anh. Hơn nữa, việc anh vô luân, càng cho tôi quyền chính đáng để gom lấy những yếu tính của sự tôn trọng nhân loại và xem anh là kẻ chống đối xã hội cần bị loại trừ, nhân danh Thiên Chúa và chân lý.

Và đây là loại thái độ không chỉ gây chia rẽ phẫn nộ, phân cực cay đắng, và bất tín sâu xa mà chúng ta đang sống trong xã hội ngày nay, nó còn sinh ra khủng bố, xả súng hàng loạt, những niềm tin mù quáng và sự kỳ thị chủng tộc. Nó sinh ra Hitler, một người có khả năng tận dụng tối đa sự phẫn nộ đạo đức, đến nỗi có thể khiến hàng triệu người chống lại những gì tốt đẹp nhất trong lòng họ.

Nhưng sự phẫn nộ đạo đức, dù có cố biện minh cho mình bằng những căn cứ cao ngất, bằng tôn giáo, đạo đức, ái quốc, tổn thương, bất công, thì vẫn luôn luôn là sự đối lập với đạo đức đích thực và việc sống đạo đích thực. Tại sao lại thế? Vì đạo đức và sống đạo đích thực thì luôn mang những đặc tính trái ngược với những gì chúng ta thấy trong phẫn nộ đạo đức. Đạo đức và sống đạo đích thực luôn có sự cảm thương, thông hiểu, nhẫn nại, bao dung, tha thứ, tôn trọng, nhân ái, và độ lượng, và đó là tất cả những gì không có trong thể hiện của phẫn nộ đạo đức mà chúng ta thấy ngày nay.

Khi cố đưa chúng ta vào trong đạo đức và lòng đạo đích thực, Chúa Giêsu đã nói thế này: “Nếu đức công chính của các ngươi không dư dật hơn ký lục và Biệt phái, các ngươi sẽ không vào được Nước Trời.” Công chính của ký lục và Biệt phái là thế nào? Nhìn bề ngoài, đó là công chính cực kỳ cao đẹp. Là một ký lục và Biệt phái, nghĩa là giữ gìn Mười Điều răn, trung thành với việc hành đạo được ghi rõ vào thời đó, và là một con người công bằng khi đối xử với người khác. Vậy thì còn thiếu điều gì?

Điều còn thiếu ở đây, là mọi chuyện này (giữ các giới răn, giữ luật tôn giáo, và công bằng với người khác) lại có thể được thực hiện với lòng cay đắng, kết tội và không tha thứ hơn là với một tấm lòng nồng hậu, cảm thông, và tha thứ. Đôi khi chúng ta thấy quá rõ ràng, việc giữ giới răn, đi lễ, và làm người công chính, có thể là thành quả của phẫn nộ đạo đức. Nói theo lời của Chúa Giêsu là: Ai cũng có thể tử tế với người tử tế với mình. Ai cũng có thể yêu thương người yêu thương mình. Và ai cũng có thể đối xử tốt với người đối xử tốt với mình… Nhưng anh em có thể tử tế với người chua cay với anh em không? Anh em có thể yêu thương người thù ghét anh em không? Và anh em có thể tha thứ cho người giết anh em không? Đấy là phép thử của đạo đức và sống đạo Kitô giáo. Và với bất kỳ ai qua được phép thử này, bạn không thể tìm thấy trong họ cái dạng phẫn nộ đạo đức tin rằng Thiên Chúa và chân lý đang đòi chúng ta xem những người thù ghét mình, làm việc xấu với mình, cố giết mình là thứ xấu xa.

Hơn nữa, khi chìm trong phẫn nộ đạo đức, chúng ta chối bỏ rằng chính chúng ta cũng đang đồng lõa trong mọi thứ mà chúng ta ghét bỏ và xem là xấu xa. Khi xem tin tức thế giới hằng ngày, thấy sự giận dữ, chia rẽ cay đắng, bạo lực, bất công, bất dung, và chiến tranh đang định hình thế giới chúng ta, thì nếu xem xét thật kỹ lưỡng, thành tâm, và can đảm, chúng ta sẽ nhận ra rằng mình không thể tách hẳn bản thân khỏi những thứ đó. Chúng ta sống trong một thế giới với bất công đang tồn tại và đã có từ lâu, với sự bất bình đẳng kinh tế đang lan rộng, với sự kỳ thị chủng tộc và giới tính, với vô vàn người đang là nạn nhân của cướp bóc và cưỡng hiếp, với hàng triệu người tị nạn không nơi nương tựa, và với một xã hội mà người ta gắn mác và khai trừ những người bị xem là “kẻ thất bại” hay “kẻ bệnh hoạn.” Chúng ta ngạc nhiên khi xã hội chúng ta sản sinh ra những kẻ khủng bố sao? Tuy nhiên, dù có thấy mình thành tâm và vô tội đến đâu, thì chính cuộc sống của chúng ta có góp phần trong việc tạo ra những kẻ giết người hàng loạt, những kẻ khủng bố, người phá thai, cho đến những thanh niên bắt nạt trong trường học. Chúng ta không vô tội như mình nghĩ.

Phẫn nộ đạo đức của chúng ta không phải là một dấu chỉ rằng chúng ta đứng về phía Thiên Chúa và chân lý. Mà thường là ngược lại thì đúng hơn.

Lý do để Tin vào Thiên Chúa

Thời này, tin vào Thiên Chúa thường bị xem là khờ dại. Với nhiều người, tin vào Thiên Chúa thì cũng như tin vào Ông già Noel và Thỏ Phục Sinh, khá hay nhưng chỉ là chuyện dành cho trẻ con, một hoài niệm ấm áp hay một ký ức cay đắng, nhưng không phải là một chuyện có thật, một chuyện đứng vững khi bị xem xét kỹ lưỡng và đứng trước những hoài nghi tăm tối thỉnh thoảng dò sâu vào đức tin của chúng ta. Có bằng chứng cho thấy Thiên Chúa hiện hữu không?

Tôi tin rằng, những lời biện giáo đích thực, có lúc cần mang tính cá nhân. Tôi xin đưa ra đây những lý do tôi vẫn tin vào Thiên Chúa, dù đang phải đối mặt với thuyết bất khả tri trong thế giới người lớn ngày nay và những đêm tối thỉnh thoảng bủa vây lấy tôi.

Trước hết, tôi tin vào Thiên Chúa, bởi tôi ý thức trong tận đáy lòng mình rằng, có một cơ chế tinh thần không thể tách rời với vạn vật. Sự sống, tình yêu, và ý nghĩa được kết nối về mặt tinh thần. Có một “nghiệp” không thể tách rời có ở khắp nơi và trong mọi sự, việc tốt tự nó là hạnh phúc, và việc xấu tự nó là sầu thảm. Các tôn giáo có những cách nói khác nhau về điều này, nhưng khái niệm này là một trong những khái niệm then chốt của mọi tôn giáo và là định nghĩa về đạo đức căn bản. “Anh em đong bằng đấu nào sẽ được đong lại bằng đấu ấy.” Đây là cách diễn đạt của Chúa Giêsu về khái niệm này. Và cũng có thể nói là: Không khí bạn thở ra chính là không khí bạn hít vào. Nói đơn giản là: Nếu chúng ta chặt hạ quá nhiều cây, thì chúng ta sẽ sớm hít vào khí ôxy-cácbon. Nếu chúng ta phát ra yêu thương, thì sẽ gặp yêu thương. Nếu chúng ta phát ra thù hận và giận dữ, thì sẽ sớm thấy mình bị vây quanh bởi thù hận và giận dữ. Hiện thực có một cơ cấu, với sự thiện nảy sinh sự thiện, và sự dữ nảy sinh sự dữ.

Tôi tin vào Thiên Chúa vì tôi thấy sự hỗn loạn đến mù quáng vẫn không thể nào biến nó thành đạo đức căn bản. Chỉ có Thiên Chúa toàn năng mới có thể xây dựng được hiện thực như chúng ta có lúc này.

Lý do tiếp theo tôi tin vào Thiên Chúa là vì tôi thấy sự hiện hữu của linh hồn, trí khôn, yêu thương, vị tha, và mỹ thuật. Những điều này không thể đơn giản nảy sinh từ hỗn loạn, từ hàng tỷ tỷ thứ bất kỳ xuất hiện trong vũ trụ, mà không có một sức mạnh yêu thương thúc đẩy qua hàng tỷ năm. Những hỗn loạn vô trật tự, thiếu khôn ngoan và tình yêu, không thể tạo ra linh hồn và mọi sự cao đẹp nhất bên trong nó, là trí khôn, yêu thương, vị tha, thiêng liêng và mỹ thuật. Tâm hồn chúng ta và mọi thứ cao đẹp quý báu trong nó, thật sự chỉ là sản phẩm của những sự ngẫu nhiên trong một tiến trình vô định hay sao?

Tôi tin vào Thiên Chúa, vì nếu tâm hồn chúng ta có thật, thì Thiên Chúa cũng thế.

Một điều nữa, tôi tin vào Thiên Chúa vì Tin Mừng có tác dụng, nếu chúng ta thực hiện. Những gì chúng ta thấy nơi Chúa Giêsu và những gì Ngài dạy, đồng hưởng với những gì quý báu nhất, cao cả nhất, và ý nghĩa nhất trong cuộc đời và trong mỗi người chúng ta. Hơn nữa, điều này thể hiện trong cả cuộc đời chúng ta. Bất kỳ lúc nào tôi có đức tin và dũng cảm dể sống Tin Mừng, để liều lĩnh vì sự thật, thì tôi luôn thấy năm chiếc bánh biến ra nhiều cho hàng ngàn người ăn và thấy Đavid đánh bại Goliath. Nhưng Tin Mừng chỉ thành hiện thực khi tôi táo bạo thực hiện nó.

Dĩ nhiên có thể có người phản đối rằng nhiều người chân thành, đầy đức tin đã liều cả mạng sống, và tin vào Tin mừng, nhưng lại không được gì mấy. Họ kết thúc trong cảnh nghèo, khốn khổ, mất mát. Nhưng đấy là xét đoán của chúng ta theo tiêu chuấn thế gian này, theo Tin Mừng của Thịnh vượng, một thứ nói rằng kẻ chiến thắng là những ai đạt được nhiều nhất trong đời này. Tin Mừng của Chúa Giêsu gạt nó đi. Bất kỳ ai cố hết sức mình để trung tín sống Tin Mừng, thì sẽ được ban một điều vượt trên cả thành công thế gian, cụ thể là một niềm vui thâm sâu hơn của cuộc đời đáng sống, một niềm vui mà chính Chúa Giêsu đã bảo đảm là sâu sắc hơn, và bền vững hơn bất kỳ niềm vui nào khác.

Tôi tin vào Tin Mừng vì Tin Mừng! Và cầu nguyện cũng vậy!

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, tôi tin vào Thiên Chúa vì cộng đoàn đức tin có từ xa xưa, từ thời Chúa Giêsu sống, chết, và phục sinh, cộng đoàn đó đã rửa tội cho tôi đi vào đức tin. Xuyên suốt lịch sử, mọi cộng đồng nhân loại đều là một cộng đồng đức tin, tin vào Thiên Chúa, thờ phượng, một nghi lễ thiêng liêng.

Tôi tin vào Thiên Chúa vì sự tồn tại của các gia đình đức tin, sự tồn tại của giáo hội và bí tích.

Luận văn tiến sỹ của tôi là về các bằng chứng kinh điển về sự hiện hữu của Thiên Chúa, lập luận về sự hiện hữu của Thiên Chúa từ các trí giả lớn trong lịch sử: Anselm, Thomas Aquinas, Descartes, Leibnitz, Spinoza, và Alfred North Whitehead. Tôi đã viết gần 500 trang nói rõ và đánh giá những bằng chứng này, rồi cuối cùng đi đến kết luận rằng:

Chúng ta không tin vào Thiên Chúa vì sức thuyết phục của một phương trình toán học hay một tam đoạn luận logic. Chúng ta thấy Thiên Chúa hiện hữu thật, khi sống một cuộc đời chân thật, thành tâm.