RonRolheiser,OMI

Cái tên

Chúng ta được kêu gọi đổi tên.

Chúng ta có lẽ đều biết chuyện Thiên Chúa đổi tên cho ông Abram thành Abraham. Sự thay đổi này có vẻ quá nhỏ đến nỗi có đọc qua đoạn này chúng ta cũng chẳng để tâm. Có gì khác biệt giữa Abram và Abraham?

Cái tên Abram, nghĩa là “Người cha Cao quý,” là cái tên được ban cho người tộc trưởng được Thiên Chúa hứa rồi một ngày sẽ là tổ phụ của dân Do Thái. Nhưng về sau, Thiên Chúa lại hứa cho ông làm cha của mọi dân tộc trên toàn mặt đất, và đổi tên cho ông thành Abraham. “Tên ngươi không còn là Abram, tên ngươi phải là Abraham, vì Ta cho ngươi trở thành cha của hằng hà sa số dân tộc.” (Sách Sáng Thế 17, 5).

Sự thay đổi này có ngụ ý gì? Cái tên Abraham, trong nguyên từ của nó, có sự mở rộng trở thành một sự lớn lao hơn, khi giờ đây ông là cha của mọi dân tộc. Abram, cha của một dân tộc, giờ trở thành Abraham (Ab hamon goyim, trong tiếng Do Thái) là cha của mọi dân tộc khác.

Sự thay đổi này không chỉ mở rộng một từ, mà còn mở rộng Abraham, xác định lại nhận thức của ông về bản thân và sứ mạng của mình. Ông không còn xem mình là tổ phụ của một dân tộc, của cộng đồng tôn giáo và sắc tộc riêng của mình nữa, nhưng xem mình và đức tin đã được giao phó cho mình là một người và một sự dành cho mọi dân tộc. Ông không còn nghĩ mình là tổ phụ của một bộ tộc riêng rẽ, bởi Thiên Chúa không phải là Chúa của một nhóm riêng biệt. Cũng thế, ông không còn chỉ nghĩ rằng bộ tộc của mình là gia đình của mình, nhưng nghĩ rằng mọi người khác, bất kể sắc tộc hay tôn giáo, đều là con cháu ông.
Như thế nghĩa là gì? T.S. Eliot có lẽ đã trả lời câu hỏi này khi nói: “Nhà là nơi chúng ta khởi đầu.” Những cội rễ văn hóa, tôn giáo, sắc tộc của chúng ta rất quý báu và quan trọng, nhưng chúng không phải là tột đỉnh mà chúng ta vươn đến. Cội rễ là nơi chúng ta khởi đầu.

Tôi lớn lên là một đứa trẻ được che chở, trong một gia đình gần gũi ở một vùng nông thôn khép kín. Chúng tôi đều như nhau, hàng xóm, bạn học, mọi người tôi quen, tất cả đều cùng chia sẻ lịch sử chung, sắc tộc, tôn giáo, văn hóa, các giá trị chung. Tôi trân trọng các giá trị đó. Chúng là ơn tuyệt vời cho tôi. Những cội rễ này cho tôi sự ổn định giúp tôi được tự do suốt phần đời về sau. Nhưng chúng chỉ là cội rễ quý báu của tôi, chứ hiếm khi là một điểm để tôi khởi đầu.

Và với tất cả chúng ta cũng vậy. Chúng ta bắt rễ trong một gia đình, một sắc tộc, một khu vực, một quốc gia, và một đức tin nhất định, với một quan điểm nhất định về thế giới, và như thế có những người thuộc nhóm của chúng ta, có những người không. Nhưng chính đó là nơi chúng ta khởi đầu. Chúng ta lớn lên, thay đổi, chuyển chỗ, gặp người mới, sống và làm việc với những người không cùng chia sẻ nền văn hóa, quốc tịch, sắc tộc, màu da, tôn giáo hay thế giới quan nhất định của mình.

Và thế là ngày nay, chúng ta chia sẻ đất nước, thành phố, Giáo hội của mình với những người ngoài, những người thuộc các nhóm khác. Và như thế chúng ta dấn vào cuộc đấu tranh lâu dài, và tôi mong cuộc đấu tranh này sẽ thắng lợi, để cuối cùng thấy ra rằng những người khác với chúng ta, cũng là anh chị em với chúng ta, đều cùng là con một Chúa, và sự sống của họ cũng quan trọng và quý báu như của những người cùng đức tin, huyết thống, hay quốc tịch với chúng ta. Như Abraham, chúng ta cần đổi tên để không biến chủ nghĩa ái quốc thành ngẫu tượng đến mức tin rằng nhóm của chúng ta đặc biệt và chỉ có quốc gia, màu da, nền văn hóa, hay tôn giáo của chúng ta mới độc nhất và đặc ân trước mặt Thiên Chúa.

Thế giới của chúng ta đang toàn cầu hóa rất nhanh, và các quốc gia, Giáo hội đang ngày càng đa nguyên và đa dạng về mặt sắc tộc, ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo. Quốc gia, vùng miền, nơi làm việc, và giáo hội của chúng ta đang thật sự khoác lên gương mặt mới. Những cộng đồng được bảo bọc cũ đã cho chúng ta cội rễ giờ đang biến mất và nhiều người trong chúng ta sợ chuyện đó, thấy cám dỗ muốn hạn chế chuyện đó, muốn theo tả khuynh, muốn bảo vệ những ranh giới cũ, và tuyên bố rằng Thiên Chúa và chân lý chỉ có nơi chúng ta mà thôi. Có thể hiểu vì sao lại thế, nhưng nhân tính và đức tin cao đẹp nhất của chúng ta không kêu gọi chúng ta trở nên như vậy. Như Abraham, chúng ta được kêu gọi đổi tên.

Chúng ta được kêu gọi hãy trân quý di sản của mình, quốc gia, tiếng mẹ đẻ, văn hóa, đức tin và Giáo hội của mình, vì chỉ khi cắm rễ sâu trong cộng đồng ban đầu thì chúng ta mới đủ vững vàng và vị tha để biến những người ngoài thành gia đình của mình. Nhưng nhà là nơi chúng ta khởi đầu. Từ những mái ấm tuyệt vời đem lại cội rễ vững vàng, chúng ta được kêu gọi hãy mở rộng tấm lòng về mặt tôn giáo, văn hóa, sắc tộc để cho tất cả mọi người cuối cùng có thể gắn bó như một gia đình. Chúng ta được kêu gọi hãy đổi từ Abram thành Abraham.

Vượt qua Khoảng cách không thể vượt qua

“Vả chăng giữa chúng ta và các ngươi, đã cắt ngang định sẵn một vực thẳm, khiến cho tự bên này có ai muốn cũng không thể qua bên các ngươi, và tự bên ấy, người ta không quá giang đến được với chúng ta”

Abraham đã nói những lời này với linh hồn trong dụ ngôn Người giàu và Lazarô (Lc 16), và thường chúng ta hiểu câu này, giữa thiên đàng và địa ngục có một khoảng cách không thể vượt qua. Không một ai đi từ địa ngục lên thiên đàng. Địa ngục là đời đời kiếp kiếp và dù có hối hận ăn năn bao nhiêu cũng không đủ để lên thiên đàng. Thật vậy, một khi đã vào địa ngục thì không một ai trên thiên đàng có thể giúp, và khoảng cách giữa hai bên đã định như thế rồi.

Nhưng đấy không phải là ý của dụ ngôn này.

Vài năm trước, Jean Vanier đã phát biểu trong dịp đọc các bài đọc Massey Lectures, và ông đã dùng dụ ngôn này. Ông nhấn mạnh rằng “vực thẳm không thể vượt qua” ở đây không phải là khoảng cách giữa thiên đàng và địa ngục như kiểu nghĩ thông thường. Theo ông Vanier, khoảng cách không thể vượt qua tồn tại ngay trong đời này, với khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, khoảng cách mà chúng ta mãi mãi không thể khắc phục được. Hơn nữa, đây là khoảng cách với nhiều chiều kích hơn chúng ta tưởng tượng nổi.

Điều gì ngăn cách người giàu và người nghèo quá rạch ròi, như một vực thẳm dường như không bao giờ có thể vượt qua? Và điều gì có thể vượt qua được khoảng cách đó?

Ngôn sứ I-sa-ia đã cho chúng ta một hình ảnh dễ hiểu hơn (Is 65, 25) Rút ra từ một mộng ước về Đấng Thiên sai, ngôn sứ cho chúng ta biết cách có thể vượt qua khoảng cách này. Trong thời Đấng Thiên sai, khoảng cách này có thể vượt qua, khi chúng ta ở trong thiên đàng, vì ở đó vào thời ân sủng Chúa có thể tuôn đổ sự hòa giải chung, khi “Sói với chiên sẽ ăn cỏ làm một (với nhau), sư tử cũng như bò sẽ ăn cỏ,”

Sư tử và chiên sẽ nằm cạnh nhau. Nhưng sư tử sẽ giết chiên mà! Làm sao thay đổi được điều này? Đấy chính là khoảng cách không thể vượt qua giữa thiên đàng và địa ngục. Đó là khoảng cách giữa nạn nhân và kẻ thủ ác, người vô lực và kẻ quyền lực, người bị bắt nạt và kẻ bắt nạt, người bị khinh thị và kẻ mang tâm thức mù quáng, người bị đàn áp và kẻ áp bức, nạn nhân và kẻ kỳ thị, người bị thù ghét và kẻ thù ghét, người anh cả và đứa em hoang đàng, người nghèo và người giàu. Đấy chính là khoảng cách giữa thiên đàng và địa ngục.

Nếu đây là ý của I-sa-ia, và tôi nghĩ đúng là thế, thì hình ảnh này đem lại một thách thức theo cả hai hướng. Không chỉ con sư tử cần biến đổi và trở nên hiền lành, thông hiểu và phi bạo lực để có thể nằm cạnh con chiên, mà chính con chiên cũng cần biến đổi và đi sâu hơn trong sự thông hiểu, tha thứ và tin tưởng để nằm cạnh sư tử. Mỉa mai thay, điều này có thể là một thách thức lớn đối với con chiên hơn là sư tử. Một khi bị tổn thương, một khi đã là nạn nhân, đã bị thù ghét, bị sỉ vả, bị cưỡng hiếp, bị bắt nạt, một khi đã bị kỳ thị vì chủng tộc, giới tính, tôn giáo hay xu hướng tính dục, thì rất khó, và hầu như là không thể để người ta toàn tâm tha thứ, quên đi, và tin tưởng người đã làm tổn thương chúng ta.

Đôi khi đời có thể bất công khủng khiếp và có lẽ sự bất công lớn nhất chính là sự bất công khi phải làm nạn nhân, chịu đựng bạo lực, cưỡng hiếp, giết người. Mà sau khi đã chịu những thứ đó, chúng ta lại phải tha thứ cho những kẻ đã thủ ác, với ý thức rằng người đã gây hại cho chúng ta có lẽ sẽ thấy thanh thản hơn khi được bỏ qua vụ việc đó mà hướng đến sự hòa giải. Đấy có lẽ là sự bất công lớn nhất. Con chiên phải tha thứ cho con sư tử đã giết mình.

Thế mà đó lại là mời gọi cho tất cả chúng ta, những người sống kiếp nạn nhân. Parker Palmer nói rằng bạo lực xảy đến khi người ta không biết phải làm gì khác với nỗi đau của mình, và những chuyện bạo hành, kỳ thị chủng tộc giới tính, căm ghét người đồng tính, và khinh bỉ người nghèo đều là những hậu quả tai ác của điều này. Ông gợi ý rằng, chúng ta cần có một “hình dung đạo đức” rộng lớn hơn.

Tôi tin là ông nói đúng về cả hai điểm này. Nhưng hiểu rằng kẻ thủ ác thật ra đang rất đau đớn, hiểu rằng kẻ bắt nạt trước đó đã bị bắt nạt, thường chẳng giúp gì mấy trong việc xoa dịu nỗi đau và sự sỉ nhục mình đã chịu. Cũng thế, hình dung cách lý tưởng nhất để đáp trả những chuyện này theo tinh thần Kitô hữu, thì có ích đấy nhưng tự nó không đủ cho chúng ta sức mạnh để tha thứ. Cần có một thứ gì đó nữa, cụ thể là một sức mạnh vượt quá chúng ta.

Đây là một lời dạy khó nuốt, một lời dạy không thể nói qua là được. Làm sao để tha thứ cho một người đã xúc phạm đến mình? Trong đời này, hầu như là không thể, nhưng hãy nhớ rằng ngôn sứ I-sa-ia đang nói về thời Đấng Thiên sai, một thời mà với ơn Chúa giúp, chúng ta có thể vượt qua vực thẳm không thể vượt qua đó.

Khiết tịnh và Tình yêu

Khốn cho khiết tịnh, nếu nó không được thực hành trong yêu thương, nhưng khốn cho yêu thương mà không có khiết tịnh..

Đây là những lời của thầy dòng Biển Đức, Benoit Standaert, và tôi tin chúng có thể rất hữu ích trong văn hóa thời nay, nơi mà hầu như mọi người cả trong giới thế tục lẫn sống đời khiết tịnh tận hiến đều nghĩ rằng tính dục và khiết tịnh là thứ đối lập nhau như tử địch.

Thật đáng buồn khi thời nay người ta không hiểu rõ sự đối lập này, cả trong văn hóa lẫn trong Giáo hội chúng ta. Trong văn hóa đương đại, sự khiết tịnh hầu như được xem là ngây thơ ngơ ngác, thiếu sự khai sáng quan trọng, và chỉ là một phẩm chất được tôn vinh và bảo vệ trong tuổi ấu thơ. Thật vậy, trong nền văn hóa thời nay, khiết tịnh thường bị khinh thị và bị xem là sự khắc nghiệt về đạo đức dựa nên nỗi sợ. Mỉa mai thay, nhiều người trong Giáo hội đang cố bảo vệ sự khiết tịnh lại, cũng chẳng lành mạnh hơn gì. Chúng ta không bao giờ liên kết sự khiết tịnh với một linh đạo có thể tôn vinh tính dục như là món quà đẹp đẽ của Thiên Chúa vốn được định để gắn kết sự phong phú, thiêng liêng và vui mừng.

Tính dục và khiết tịnh không phải là đối thủ như kiểu nền văn hóa và giáo hội chúng ta thường nhận định. Chúng chỉ là hai mặt của đồng xu. Chúng cần nhau. Tính dục không có khiết tịnh thì vô hồn và không đáng trọng. Ngược lại, khiết tịnh tự xem mình là cao vượt hay tách rời tính dục, thì sẽ kết cục trong cằn cỗi, phán xét và giận dữ. Khốn cho cả hai, nếu không biết tôn trọng mặt kia.

Bất hạnh thay, ngoại trừ vài ngoại lệ, Giáo hội chưa từng hiểu thấu về tính dục, và cũng như vậy, trừ số ngoại lệ còn hiếm hoi hơn, nền văn hóa của chúng ta chưa từng hiểu thấu sự khiết tịnh. Người ta tìm kiếm, và hầu như chẳng thấy, một linh đạo kitô giáo về tính dục thật sự bao quát và tôn vinh chính đáng món quà tuyệt vời mà Thiên Chúa ban tặng chúng ta trong tính dục. Cũng như thế, người ta cũng tìm kiếm, và hầu như chẳng thấy, một tiếng nói thế tục nào toát lên được tầm hệ trọng của khiết tịnh. Khi ông Môsê đứng trước bụi gai bốc cháy và Thiên Chúa bảo ông, “Cởi giày ra vì nơi ngươi đang đứng là nơi thánh,” cũng có lẽ là lời Thiên Chúa đang nói về chúng ta khi đứng trước mặt nhau trong mầu nhiệm tình yêu và tính dục. Tính dục đem lại sự sống chỉ khi nó được trao ban và đón nhận cùng lòng tôn trọng thích đáng.

Tính dục không chỉ là tình dục. Khi tạo thành con người đầu tiên, Thiên Chúa nhìn họ và nói, “Con người ở một mình thì không tốt!” Điều này không chỉ đúng với ông A-dong và bà E-và, mà còn đúng với tất cả mọi con người, mọi sinh vật, và mọi phân tử nguyên tử trong vũ trụ. Ở một mình thì không tốt, và tính dục là ngọn lửa tồn tại trong chúng ta ở mọi mức độ hiện sinh, ý thức và không ý thức, cả thân xác và linh hồn, hướng chúng ta ra khỏi sự cô độc của bản thân, hướng về gia đình, cộng đồng, tình bạn, kết giao, sinh sôi, đồng sáng tạo, mừng vui, phấn khởi và giao hợp. Tính dục có liên kết với bản năng sống của chúng ta, và không thể tách rời khỏi sự thiêng liêng mà chúng ta cảm nhận trong mình với tư cách thụ tạo theo hình ảnh Thiên Chúa. Và là một sinh lực, tính dục là điều thiêng liêng, không bao giờ đáng bị dè bỉu hay bị hạ giá xuống một thứ tầm thường.

Còn khiết tịnh, nhiều người chúng ta không biết, trước hết không chỉ là một khái niệm trong tình dục. Nó hơn thế nhiều. Khiết tịnh là sự tôn trọng thích đáng và kiên nhẫn thích đáng, không chỉ là lập trường của chúng ta với hôn nhân, mà thật ra là lập trường của ta trước mọi chuyện trong đời. Khiết tịnh không phải là độc thân, và càng không phải là lãnh đạm. Người ta có thể độc thân nhưng không khiết tịnh, cũng như người ta có thể có sinh hoạt tình dục tích cực nhưng vẫn khiết tịnh. Nếu hiểu đúng, thì khiết tịnh không phải là bài tình dục, mà nó bảo vệ tính dục khỏi sức mạnh quá dữ dội của chính nó bằng cách tạo nên những bộ lọc cần thiết, là sự kiên nhẫn và tôn trọng, để cho người khác được là chính mình, cho chúng ta được là chính mình, và cho tình dục được là một ơn thiêng liêng đem lại sự sống như mục đích của nó.

Trong quyển Holy the Firm, Annie Dillard đã cho chúng ta một hình ảnh rất thú vị về khiết tịnh. Bà kể rằng, một ngày nọ, khi ngắm một chú bướm vất vả chui ra khỏi kén, và bà đã mất kiên nhẫn. Tiến trình thoát kén thật đẹp nhưng chậm kinh khủng, nên bà đã lấy một cây nến và thêm nhiệt lượng cho nó. Chú bướm chui ra khỏi kén nhanh hơn, nhưng bởi tiến trình đã không theo đủ thời gian và sự tự do cần thiết của nó, nên chú bướm chui ra với đôi cánh bị hỏng. Quy luật tự nhiên đã không được tuân thủ, một lỗi lầm trong khiết tịnh, một sự mất kiên nhẫn thiếu khôn ngoan, một sự hấp tấp dẫn đến khiếm khuyết xảy ra trong tự nhiên.

Tính dục và khiết tịnh cần nhau. Tính dục đem lại sinh lực, khát khao, nồng nhiệt và khẩn bách khiến chúng ta nhận ra, trong vô thức hay ý thức, rằng ở một mình thì không tốt. Nếu dập tắt tiếng nói của tính dục, chúng ta sẽ trở nên cằn cỗi và giận dữ. Mặt khác, khiết tịnh cho chúng ta biết rằng, trên hành trình tìm kiếm sự hòa hợp với mọi thứ vượt ngoài bản thân, chúng ta phải đủ kiên nhẫn và tôn trọng để cho người khác được trọn vẹn là chính họ và chúng ta được trọn vẹn là chính mình.

Bản ngợi ca Giáo hội

Carlo Carretto là tu sĩ người Ý, ngài qua đời năm 1988. Ngài đã sống khổ tu trong Sa mạc Sahara nhiều năm, dịch Kinh thánh qua tiếng Tuareg, và từ sự cô tịch trong sa mạc, ngài đã viết nên những quyển linh đạo tuyệt vời. Những tác phẩm và đức tin của ngài thật đặc biệt khi có thể kết hợp lòng sốt sắng trẻ thơ với tinh thần bài trừ ảnh tượng thánh sắc bén (khi cần thiết). Ngài yêu mến giáo hội sâu sắc, nhưng không mù quáng trước những lỗi lầm và thất bại của Giáo hội, và ngài không ngại chỉ ra những khiếm khuyết đó

Về sau, khi vấn đề sức khỏe buộc ngài phải rời sa mạc để về nghỉ hưu tại một nhà dòng ở quê hương Ý quốc. Khi ở đó, ngài đã đọc một quyển sách của một nhà vô thần đã công kích lời của Chúa Giêsu trong bài giảng trên núi, “Cứ tìm rồi sẽ thấy”, một câu dĩ nhiên có nghĩa là nếu tìm kiếm Thiên Chúa với tâm hồn chân thành thì sẽ tìm thấy Ngài. Nhà vô thần này đã đặt tên quyển sách là “Tôi tìm và chẳng thấy,” lập luận rằng theo kinh nghiệm của ông, một tâm hồn chân thành có thể tìm kiếm Thiên Chúa mà chẳng được gì.

Carretto đã viết một quyển sách để đáp lại luận điệu này, “Tôi tìm và đã thấy.” Với ngài, lời của Chúa Giêsu là thật. Trong cuộc tìm kiếm của mình, bất chấp có nhiều chuyện mình gặp có thể gợi lên sự vắng mặt của Thiên Chúa, ngài vẫn tìm thấy Thiên Chúa. Nhưng ngài thừa nhận có những khó khăn, và một trong những khó khăn đó chính là Giáo hội. Giáo hội có thể, và đôi khi đã, qua tội lỗi của mình, khiến nhiều người khó tin vào Thiên Chúa. Carretto thành thật thừa nhận theo cách hạn chế điều này, nhưng lập luận rằng đấy không phải là toàn cục.

Do đó trong quyển sách của ngài vừa có tình yêu sâu đậm đối với đức tin và Giáo hội của mình, vừa không ngoảnh mặt làm ngơ trước những lỗi phạm của các kitô hữu và Giáo hội. Có lúc quyển sách của ngài như một Bản ngợi ca Giáo hội. Tôi đọc thấy thế trong những dòng này:

Tôi phải phê phán người, Giáo hội của tôi quá chừng nhưng tôi yêu người quá chừng!

Người đã làm tôi khổ nhiều nhưng tôi nợ người nhiều.

Tôi muốn thấy người bị phá hủy nhưng tôi cần người hiện diện.

Người đã gây ra nhiều tai tiếng nhưng chỉ mình người giúp tôi hiểu ra sự thánh thiện.

Trong đời này tôi chưa bao giờ thấy điều gì ngu dân, thỏa hiệp, sai phạm đến thế, và cũng trong đời này tôi chưa bao giờ chạm đến điều gì tinh tuyền, quảng đại, và đẹp đẽ đến thế.

Nhiều lần tôi thấy như mình đã đóng sầm cánh cửa lòng trước mặt người, nhưng biết bao lần tôi cầu nguyện xin cho mình chết trong cánh tay người!

Không, tôi không thể thoát khỏi người, vì tôi kết hợp với người, dù không hoàn toàn như người.

Mà tôi biết đi đâu? Đi xây một giáo hội khác?

Nhưng tôi không thể xây một Giáo hội khác không có những khuyết điểm như thế, vì chúng là những khiếm khuyết tôi mang trong mình.

Và nếu tôi xây Giáo hội khác, thì đó là Giáo hội của tôi, chứ chẳng phải của Chúa Kitô.

Không, tôi đủ tuổi để biết mình chẳng hơn gì người khác.

Tôi sẽ không rời bỏ Giáo hội được đặt nền móng trên đá này, bởi nếu thế tôi sẽ dựng một

Giáo hội đặt nền móng trên thứ đá dễ vỡ hơn, là bản thân tôi.

Mà đá có là gì đâu?

Cái hệ trọng là lời hứa của Chúa Kitô, cái hệ trọng là chất kết dính các tảng đá nên một, là Chúa Thánh Thần. Chỉ mình Thánh Thần có thể xây dựng Giáo hội với những hòn đá xấu xí bất toàn như chúng ta đây.

Đây là sự biểu lộ của một đức tin trưởng thành, một đức tin không quá lãng mạn và lý tưởng hóa cần được che chắn khỏi những thứ tăm tối trong đời, đây là một đức tin đủ thật để không yếm thế, bịt mắt chẳng nhận ra sự thiện rõ ràng cũng đang chảy trong Giáo hội. Thật vậy, Giáo hội vừa cực kỳ thỏa hiệp vừa đầy ân sủng đến tuyệt vời. Những đôi mắt ngay thẳng có thể thấy ra cả hai. Một tâm hồn chính chắn có thể chấp nhận cả hai. Trẻ con và tân tòng cần được che chắn đừng bị dấn sâu vào mặt tăm tối của mọi chuyện, những người trưởng thành hay chướng tai gai mắt cần phải mở to mắt ra trước sự thiện rõ ràng đang hiện diện.

Nhiều người đã bỏ Giáo hội vì nó làm cho họ bị chướng tai gai mắt với những tội lỗi đã thành thối, những điểm mù quáng, sự thủ thế, bản chất tự quy, và cả sự kiêu ngạo. Những vụ xâm hại tình dục của các linh mục mới được phơi bày, và việc che đậy do tay giới chức trong Giáo hội, đã khiến rất nhiều người băn khoăn không biết liệu có bao giờ họ còn có thể tin tưởng vào cơ cấu, hàng giáo phẩm của Giáo hội nữa không. Với nhiều người, vụ tai tiếng này có vẻ quá chấn động không thể chịu nổi.

Tôi tin bản ngợi ca của Carlo Carretto, có thể giúp chúng ta, dù chúng ta là người ngoan đạo hay đang khó chịu. Với người ngoan đạo, nó sẽ cho họ thấy người ta có thể chấp nhận Giáo hội bất chấp tội lỗi của nó và thấy ra rằng việc chối tội lỗi đó không phải là hành động của tình yêu và trung thành. Với những người chướng tai gai mắt, nó có thể là một thách thức muốn chúng ta đừng vì chuyện nhỏ bỏ chuyện lớn, đừng vì thế mà không thấy ra trong Giáo hội yếu đuối và tội lỗi, khốn khổ và tai tiếng, vẫn không bao giờ tắt ơn ban sự sống dư tràn của Thiên Chúa.

Phản ứng như thế nào

Đôi khi chúng ta chỉ còn biết cách vùi miệng vào cát và chờ đợi. Đây là lời khuyên trong sách Ai Ca và dù cho đây có lẽ không phải là cách hay nhất để phản ứng trước những tiết lộ mới đây về vụ giáo sĩ xâm hại tình dục và sự bao che trong Giáo hội công giáo La Mã, nhưng có lẽ đây là phản ứng thiết thực nhất với tôi, trong tư cách một linh mục công giáo La Mã thời nay. Ngoài lời cầu nguyện ra, tôi khá là ngập ngừng trong phản ứng với tình thế này vì ba lý do.

Thứ nhất, tôi ngập ngừng vì thấy thêm một lời xin lỗi và phản đối ầm ĩ thật chẳng ích gì. Từ khi báo cáo về vụ xâm hại tình dục và che đậy này được đưa ra ở Pennsylvania cách đây vài tuần, hầu như giáo phận nào cũng đưa ra lời xin lỗi, hầu như giáo xứ, linh mục nào ở Mỹ, kể cả Giáo hoàng cũng đưa ra lời xin lỗi. Trong khi những lời xin lỗi đó hầu như đều là thành tâm, không có ý gì muốn biện hộ, và nói thẳng với các nạn nhân, nhưng phần lớn chúng đều không được đón nhận sốt sắng cho lắm. Phần lớn người ta phản ứng thế này: “Giờ xin lỗi thì ích gì? Các vị đã ở đâu khi những chuyện này xảy ra chứ?” Những lời xin lỗi hầu như chỉ gặp phải sự châm biếm và giận dữ hơn là đón nhận. Đúng là cần phải nói lên lời xin lỗi, nhưng tôi không chắc mình thêm một lời thì có ích gì không.

Lý do thứ hai khiến tôi ngập ngừng là vì tôi thấy hiện giờ mọi người đang quá đau lòng và giận dữ vì chuyện này đến nỗi lời lẽ, dù nói hay đẹp đến mấy, cũng chẳng đi vào được đầu họ, cũng hệt như khi chúng ta nói “cô ấy đang ở một nơi tốt đẹp hơn” với ai đó đang đau đớn giày vò vì một người thân yêu qua đời. Chúng ta có những lời chân thành, nhưng thời điểm này quá dữ dội nên người ta không nghe nổi. Những lời đó để sau thì sẽ hữu hiệu hơn. Và lúc này chính là thời điểm như thế, khi chúng ta đang ở giữa sự giận dữ bùng nổ và đau buồn u ám. Và cũng chính vì cảm xúc này, mà rất nhiều người đang giận dữ và đau đớn vì những vụ xâm hại tình dục và che đậy này, không thể nào nghe nổi những lời xin lỗi. Cảm xúc vừa tuôn trào còn dữ dội hơn.

Và lý do cuối cùng là: Là một linh mục với lời khấn độc thân khiết tịnh, tôi đau lòng nhận ra rằng hiện giờ tôi đang ở thế khó lòng mà nói gì về chuyện này. Các nạn nhân là người ở thế trên về mặt đạo đức, lời của họ có giá trị hơn, nhưng những người có liên quan về mặt hình tượng đến những kẻ thủ ác, những người như tôi, thì bị người ta lắng nghe với sự nghi ngờ. Tôi chấp nhận điều đó. Làm sao khác được? Ngay lúc này, lời nói của tôi có thẩm quyền đạo đức gì về vấn đề này? Lời xin lỗi của tôi thêm được gì?

Nhưng, bất chấp những lý do đó, tôi vẫn có một lời xin lỗi. Là một linh mục công giáo La Mã, tôi muốn công khai nói rằng những chuyện xảy ra trong giáo hội về những vụ xâm hại tình dục và che đậy do bàn tay của hàng giáo phẩm là chuyện không thể biện hộ, là tội lỗi nặng nề, đã gây tác hại không thể xóa nhòa cho hàng ngàn con người, và cần bù đặp triệt để bằng cách đến với các nạn nhân và thay đổi cơ chế trong giáo hội để bảo đảm chuyện này không bao giờ xảy ra lần nữa.

Cho tôi nói thêm một lời này nữa: Trước hết, là một linh mục công giáo La Mã, tôi không tách mình khỏi những người đã phạm tội bằng một câu nói: “Họ có tội còn tôi thì không!” Thập giá Chúa Giêsu không có lối thoát như thế. Chúa Giêsu chịu đóng đinh giữa hai kẻ trộm cướp. Ngài vô tội, họ thì không, nhưng Ngài không biện hộ cho sự vô tội của mình, và những người ngày hôm đó nhìn lên ba thập giá, chẳng thể phân biệt được ai là kẻ có tội ai là không. Các thập giá đều như nhau. Có những lúc người ta không biện hộ cho sự vô tội của mình. Một phần trong sứ mạng của Chúa Giêsu, như trong phụng vụ đã nói rõ, là “mang lấy tội vì chúng ta,” liều mình để sự vô tội bị lẫn trong tội lỗi và bị xem là có tội để giúp mang lấy tội lỗi và bóng tối trong tha nhân.

Vượt trên những lời xin lỗi, tất cả chúng ta, các giáo sĩ cũng như giáo dân, được mời gọi làm gì đó cho Giáo hội, cụ thể là góp phần mang lấy tai tiếng này như Chúa Giêsu đã làm. Căm phẫn tách mình khỏi tội này, không phải là đường lối của Chúa Giêsu, không phải là con đường của thập giá.

Như Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá, chúng ta không được nhân đôi cơn giận và bóng tối này. Thay vào đó, như Đức Mẹ, chúng ta phải làm việc duy nhất có thể làm khi đứng dưới hậu quả của tội lỗi, là để lời nói hành động của chúng ta nói lên với một giọng không cay đắng hay sụp đổ: “Hôm nay, tôi không thể ngăn được bóng tối này, chẳng ai ngăn được. Đôi khi, có những lúc bóng tối lan tràn. Nhưng tôi có thể ngăn một số tội lỗi và cay đắng lúc này, không phải bằng cách tách mình khỏi nó, mà là thấm nhận nó và không trả đũa lại cho tương xứng.”

Đôi khi có những lúc bóng tối lan tràn, và chúng ta, những môn đệ Chúa Giêsu, không được tách mình khỏi tội mà phải góp phần thấm nhận nó.

Đôi khi, chúng ta chỉ có thể vùi miệng trong cát… Và cầu nguyện… Và chờ đợi. Với nhận thức rằng, một lúc nào đó trong tương lai, tảng đá sẽ lăn khỏi mộ.

Khắc kỷ đẹp đẽ

Thời nay có dòng văn học rất phong phú của những người, cả nam và nữ, vô cùng thông tuệ và nhạy cảm, những người hợp lý nhất, nên được gọi là những nhà khắc kỷ theo thuyết bất khả tri. Không như các đồng nghiệp vô thần tấn công tôn giáo một phía theo kiểu “phản đối quá đáng”, thì nhóm này lại chẳng phản đối gì. Họ không công kích đức tin vào Thiên Chúa, thật sự là họ thường thấy các giáo lý tôn giáo như niềm tin vào sự hiện thể trong Chúa Kitô, niềm tin vào tội nguyên tổ, và niềm tin vào sự phục sinh là những thần thoại hữu ích có thể là vô giá cho sự tự nhận thức, không khác gì những thần thoại lớn trong thế giới cổ đại. Họ nồng hậu với chuyện tâm linh và đôi khi là những nhà biện giáo giỏi cho chiều sâu tâm hồn và vị trí của mầu nhiệm trong cuộc sống chúng ta, giỏi hơn cả các đồng sự có đạo nữa. Chỉ là, đến tận cùng, họ xem niềm tin vào Thiên Chúa là không có thật.

Ở tầm mức tri thức, chúng ta thấy điều này nơi nhà văn quá cố James Hillman và nhiều đồ đệ của ông (dù cho một số người, không như thầy mình, đã có thái độ tiêu cực và hung hăng hơn với đức tin vào Thiên Chúa và tôn giáo). Bạn cũng thấy điều này nơi nhiều tiểu thuyết gia đương thời viết từ một quan điểm bất khả tri có chủ đích. Và bạn thấy điều này nơi những quyển tiểu sử rất hay, như quyển sách của Nina Riggs, Giờ Tươi sáng: Hồi ký về Sống và Chết (The Bright Hour: A Memoir of Living and Dying).

Điểm chung của những tác giả này là họ nhìn vào những câu hỏi thâm sâu nhất của cuộc sống và đối diện với những câu hỏi với sự can đảm và nhạy cảm, nhưng là từ quan điểm khắc kỷ và bất khả tri: Bạn làm sao để mọi chuyện này có ý nghĩa, nếu như không có Thiên Chúa? Bạn đối diện thế nào với cái chết, nếu như không có đời sau? Làm sao để bạn xem tình yêu là tuyệt đối, nếu như không có cái gì là Tuyệt đối? Làm sao để những sự kiện yêu quý trong đời chúng ta có một ý nghĩa trường tồn, nếu như không có sự bất tử? Làm sao để chúng ta đối diện với những khiếm khuyết cuộc sống và đạo đức, nếu như chỉ có đời này mà thôi?

Họ đối diện với những câu hỏi này một cách chân thành và dũng cảm, mà không có một niềm tin rõ ràng vào Thiên Chúa, nhưng lại thấy bình an với chuyện đó, tự tìm ý nghĩa cho đời mình, và vun vén cho thấu suốt và can đảm họ cần để sống trong đời với những câu trả lời không liên quan đến đức tin vào Thiên Chúa và niềm tin vào đời sau. Trong tinh thần đó có chủ nghĩa khắc kỷ can đảm, chắc chắn rồi, nhưng trong nhiều tác phẩm của họ còn có một vẻ đẹp nữa. Bạn thấy rằng đây là một linh hồn đẹp đẽ, chân thành đang đấu tranh với những câu hỏi thâm sâu nhất cuộc đời và rồi có được một sự bình an chấp nhận được rằng cuộc đời tự nó có sự cảm thương vốn là tâm điểm của mọi tôn giáo lớn. Trong văn học tôn giáo, bạn có thể gặp được những vị thánh đẹp đẽ. Trong dòng văn học thế tục, bạn có thể gặp những nhà khắc kỷ đẹp đẽ.

Nhưng có một điều mà tôi muốn thách thức những nhà khắc kỷ đẹp đẽ này: Họ cần nỗ lực trả lời một câu hỏi thâm sâu: Làm sao để chúng ta biến cuộc đời này có ý nghĩa nếu như không có Thiên Chúa và đời sau, và làm sao để cuộc đời có ý nghĩa nếu những giáo lý đức tin không phải là sự thật mà chỉ là những phóng chiếu của con người? Đây là một câu hỏi công tâm, đáng để hỏi. Nhưng tôi lại có sự phản đối này: Trong khi các tác giả này đối diện câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời nếu như không có Thiên Chúa và đời sau, họ lại không bao giờ có cùng dũng cảm và chân thành để đối diện với câu hỏi khác, là: Nếu như thật sự có Thiên Chúa và đời sau, và những giáo lý đức tin là sự thật thì sao? Thế thì họ sẽ sống thế nào? Nếu như tâm trí ham khám phá và cảm nghĩ cao thượng của chúng ta thật sự phát xuất từ một Thiên Chúa cụ thể thì sao? Nếu họ làm được thế, thì sẽ có một chủ nghĩa bất khả tri chân thành và dũng cảm hơn, một chủ nghĩa khắc kỷ đẹp đẽ hơn nữa.

Chủ nghĩa bất khả tri đích thực là cái đầu cởi mở, một cái đầu không khép lại với bất kỳ khả năng nào. Và sự hiện hữu của Thiên Chúa là một khả năng thực sự.

Trong bất kỳ thời gian nào của lịch sử, kể cả thời chúng ta, đại đa số nhân loại tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa và đời sau. Những người vô thần không bao giờ là đa số. Nếu đúng thật là thế, mà thật sự là thế, thì tại sao những người tốt lành, dũng cảm, chân thành và nhạy cảm lại miễn cưỡng không chịu đưa chủ nghĩa bất khả tri của mình theo cả hai hướng: Làm sao để chúng ta định hình cuộc sống của mình nếu không có Thiên Chúa và đời sau, và làm sao để chúng ta định hình cuộc sống của mình nếu có Thiên Chúa và đời sau?

Nếu chúng ta muốn dũng cảm và chân thành tìm hiểu ý nghĩa cuộc đời, thì chẳng phải chất vấn về Thiên Chúa và đời sau, chứ không chỉ phản đề của nó, chính là một trong những chân trời đem lại nhận thức thấu suốt sao? Tôi ngờ là sự miễn cưỡng của nhiều tác giả không chịu làm thế là vì trong thời hiện đại, phần lớn các tác phẩm đều xem những câu hỏi sâu sắc của cuộc đời nằm ngoài tôn giáo hơn là nằm ngoài quan điểm bất khả tri. Điều mà các tác giả theo chủ nghĩa bất khả tri đang đóng góp cho thế giới là một ý kiến thay thế và khác với ý kiến chủ đạo lâu nay trong lịch sử (dù không phải là ý kiến chủ đạo trong xã hội thế tục thời nay).

Và điều đó đúng với những thấu suốt quý giá từ những nhà khắc kỷ đẹp đẽ.

Sức mạnh của lời khen

Thánh Tôma Aquinô từng nói rằng không khen ai đó khi họ xứng đáng được khen cũng là một tội, vì khi kìm lại lời khen là chúng ta đang tước đoạt của người ấy của ăn mà người ấy cần để sống. Ngài nói đúng. Có lẽ kìm hãm lời khen không phải là tội, nhưng đó đúng là một sự bần cùng hóa đáng buồn, cho cả người đáng được khen và người cố dằn lòng không khen.

Chúng ta không chỉ sống nhờ cơm bánh. Chúa Giêsu đã nói vậy. Tâm hồn chúng ta cũng cần được nuôi dưỡng và của ăn của nó là sự thừa nhận, công nhận, và chúc phúc. Tất cả chúng ta đều cần được người khác thừa nhận một cách lành mạnh, mỗi khi chúng ta làm gì đó tốt, để rồi chúng ta có vốn để thừa nhận người khác khi họ xứng đáng. Chúng ta không thể cho đi những gì chúng ta không có! Rõ ràng rồi. Và như thế, để chúng ta yêu thương và công nhận người khác, thì chúng ta phải được yêu thương trước, được chúc phúc trước, và được khen ngợi trước. Khen ngợi, công nhận, và chúc phúc là những điều hun đúc tâm hồn chúng ta.

Nhưng khen người khác không chỉ quan trọng với người được khen, mà nó cũng quan trọng hệt như thế cho người đưa ra lời khen. Khi khen ai đó, là chúng ta cho người ấy của ăn cần thiết cho tâm hồn, nhưng khi làm thế, chúng ta cũng nuôi dưỡng cho tâm hồn mình. Nó cũng tương tự như chuyện của các nhà hảo tâm. Chúng ta cần trao đi không chỉ bởi người khác cần điều đó mà còn bởi chúng ta không thể nào lành mạnh nếu không trao đi bản thân mình. Sự ngưỡng mộ lành mạnh là nhà hảo tâm của tâm hồn.

Hơn nữa, ngưỡng mộ và khen ngợi người khác là một việc làm ngoan đạo. Thầy Benoit Standaert đã nói rằng “khen ngợi nảy sinh từ cội nguồn hiện hữu của ta.” Thầy nói thế nghĩa là gì?

Khi khen ngợi và tán dương người khác, chúng ta đang chạm vào điều thâm sâu nhất trong chúng ta, chính là hình ảnh giống Thiên Chúa. Khi khen ngợi ai đó, là chúng ta đang thổi sinh khí vào người ấy, như Thiên Chúa đã làm vậy. Người ta cần được khen ngợi. Chúng ta không chỉ sống nhờ cơm bánh, và không chỉ sống nhờ dưỡng khí.

Hình ảnh giống Thiên Chúa trong chúng ta không phải là một biểu tượng mà là một sinh lực thật nhất trong chúng ta. Vượt trên cái tôi, những tổn thương, kiêu căng, tội lỗi và sự nhỏ nhen trong tâm trí, thì điều thật nhất trong chúng ta chính là lòng cao thượng, nhân từ, hệt như cách Thiên Chúa nhìn xuống thế gian và nói: “Thật tốt đẹp! Mọi sự rất tốt đẹp!” Khi sống tốt nhất bản thân mình, nói năng và hành động với sự trưởng thành, thì chúng ta có thể ngưỡng mộ. Thật vậy, sẵn sàng khen ngợi người khác là dấu chỉ của trưởng thành, và ngược lại. Chúng ta trở nên trưởng thành hơn khi rộng rãi trong lời khen.

Nhưng chúng ta lại không dễ mở lời khen ngợi. Hầu hết chúng ta đều bị khóa kín trong thất vọng, chán nản với cuộc đời mình đến nỗi rơi vào yếm thế và ghen tị, chạy theo những thứ này hơn là sống nhân đức. Chúng ta biện hộ cho những thứ này bằng nhiều cách khác nhau, hoặc bằng cách nói rằng cái người đó nhỏ hơn mình (hay thật ra là muốn nói chúng ta quá sáng láng và tinh vi nên không thể thấy ấn tượng gì nơi người khác) hoặc nói rằng khen ngợi chỉ làm người ta thêm tự đại, và chúng ta sẽ không làm hại cái tôi của người khác. Tuy nhiên, thường thì lý do thực sự của chúng ta khi kìm nén lời khen là vì chúng ta thấy mình chưa được khen ngợi cho đủ, và vì thế chúng ta ghen tị cũng như thiếu sức mạnh để khen ngợi người khác. Tôi đồng cảm mà nói rằng, tất cả chúng ta đều bị tổn thương.

Một số người thấy ngại khi khen ngợi người khác vì chúng ta tin rằng lời khen sẽ làm hư người ta, tâng bốc cái tôi của họ lên. Yêu cho roi cho vọt mà! Nếu chúng ta mở lời khen, thì nó sẽ đi vào cái đầu của người ta. Nhưng lý lẽ này không đúng. Một lời khen chính đáng không bao giờ làm hư người khác. Lời khen thành thật và đúng đắn khiến người được nhận thấy thêm khiêm tốn hơn là hư thân. Chúng ta muốn được yêu, bao nhiêu cũng đủ, chỉ không muốn được yêu cách sai lầm thôi.

Nhưng, các bạn có thể nói, còn về những đứa trẻ xem mình là cái rốn vũ trụ vì chỉ toàn được khen mà không được uốn nắn thì sao? Tình yêu và sự trưởng thành thật sự thì phân biệt được giữa việc khen ngợi những gì đáng khen và thách thức những gì cần được chỉnh đốn trong cuộc đời người khác. Khen ngợi không bao giờ là tâng bốc bừa bãi, nhưng thách thức và chỉnh đốn chỉ có hiệu quả nếu trước đó người ấy biết được rằng mình được yêu thương và công nhận xứng đáng.

Lời khen chân thật không bao giờ sai. Nó chỉ là công nhận sự thật thôi. Nó là một cưỡng bách đạo đức. Tình yêu cần có khen ngợi. Như lời thánh Tôma Aquinô, không chấp nhận ngưỡng mộ người khác khi họ xứng đáng được khen ngợi, là một sai sót, một lỗi phạm, ích kỷ, nhỏ nhen và thiếu trưởng thành. Ngược lại, khen ngợi ai đó khi họ xứng đáng, là một đức hạnh và trưởng thành.

Quảng đại là cho đi lời khen, không khác gì cho đi đồng tiền. Chúng ta không được hà tiện lời khen. Nhà thần nghiệm thế kỷ 14, John Ruusbroec, đã dạy rằng, “những ai không mở lời khen ngợi tán dương trên đời này thì sẽ bị câm muôn đời.”

Vì sao tôi tin vào Thiên Chúa

Một số tác giả tôi yêu thích là những người theo thuyết bất khả tri, những người chân thành và dũng cảm đối diện cuộc đời mà không có đức tin vào một Thiên Chúa của mình. Hầu như họ đều khắc kỷ, những người bình an với việc có lẽ Thiên Chúa không tồn tại và có lẽ chết là hết. Tôi thấy được điều này nơi James Hillman, một người mà tôi vô cùng ngưỡng mộ và là người có rất nhiều điều để dạy cho các tín hữu về ý nghĩa của việc lắng nghe và tôn trọng linh hồn con người.

Nhưng có một điều tôi không ngưỡng mộ nơi các nhà khắc kỷ bất khả tri. Dù họ dũng cảm đối diện với giả định rằng Thiên Chúa không tồn tại và chết là hết, nhưng họ lại không có cùng dũng cảm đó để đặt ra chất vấn về chuyện nếu Thiên Chúa tồn tại và chết không phải là hết thì sẽ thế nào. Nếu như có Thiên Chúa và nếu giáo lý của đức tin chúng ta đúng thì sao? Họ cũng cần phải đối diện với chất vấn đó nữa.

Tôi tin rằng Thiên Chúa tồn tại, không phải bởi tôi chưa từng có chút nghi ngờ, cũng không phải bởi tôi được nuôi dạy trong đức tin với những người đã làm chứng sâu đậm cho chân lý của đức tin đó, cũng không phải bởi đại đa số nhân loại trên hành tinh này tin vào Thiên Chúa. Tôi tin rằng một Thiên Chúa của lòng mình tồn tại vì những lý do mà tôi không thể nói rõ được: là sự tốt lành của các thánh, một hạt giống không bao giờ phôi phai trong lòng tôi, biểu hiện của đức tin trong cảm nghiệm của riêng tôi, lòng dũng cảm của các bậc tử đạo xuyên suốt dòng lịch sử, chiều sâu thăm thẳm trong giáo huấn của Chúa Giêsu, những thấu suốt sâu sắc trong các tôn giáo khác, trải nghiệm thần nghiệm của vô số người, nhận thức của chúng ta về mối liên kết với cộng đoàn các thánh và những người thân yêu đã qua đời, những lời chứng chung và riêng của hàng trăm người đã chết lâm sàng rồi được sống lại, những chuyện chúng ta trực cảm vượt ngoài mọi lý luận lô-gích, vòng tuần hoàn hồi sinh trong cuộc đời chúng ta, chiến thắng của sự thật và sự thiện trong suốt lịch sử, sự thật rằng hy vọng không bao giờ chết, sự cưỡng bách không nguôi trong chúng ta muốn được hòa giải với người khác trước khi chết, chiều sâu vô tận của trái tim con người, và việc các nhà vô thần và bất khả tri trực cảm rằng có thể điều này cũng hợp lý. Tất cả cho tôi thấy sự hiện hữu của một Thiên Chúa sống động của tôi.

Tôi tin Thiên Chúa hiện hữu vì đức tin thành sự, ít nhất là thành sự đến mức độ của chúng ta. Sự hiện hữu của Thiên Chúa tự chứng minh đến mức độ mà chúng ta đón nhận một cách nghiêm túc và sống cuộc đời mình dựa trên điều đó. Nói đơn giản, chúng ta hạnh phúc và bình an đến mức độ chúng ta liều mình sống đức tin, một cách rõ ràng hay không chút nghi hoặc gì. Những người hạnh phúc nhất mà tôi biết cũng là những người đáng kính, dễ thương, vị tha, và quảng đại nhất tôi biết. Đây không phải tình cờ.

Leon Bloy từng nói rằng trong đời chỉ có một nỗi buồn thực sự, đó là không được làm thánh. Chúng ta thấy trong câu chuyện về chàng thanh niên giàu có trong Tin mừng đã từ chối lời mời của Chúa Giêsu muốn anh sống đức tin sâu sắc hơn. Anh đã buồn rầu bỏ đi. Dĩ nhiên, làm một vị thánh và sống buồn bã, không phải là chuyện trắng hay đen, cả hai đều có những mức độ. Nhưng trong chuyện này có sự nối tiếp. Chúng ta hạnh phúc hay buồn bã cũng tương xứng với mức độ chúng ta thành tín hay bất tín với những gì là độc nhất, là chân, thiện, mỹ. Tôi biết rõ điều này trong đời mình. Tôi hạnh phúc và bình an đến mức độ tôi đón nhận đức tin cách nghiêm túc và sống đức tin trong thành tín, càng thành tín tôi càng thấy bình an, và ngược lại.

Trong tất cả chuyện này, còn có một “luật nghiệp quả” nói cụ thể là vũ trụ trả lại cho chúng ta chính xác những gì chúng ta cho nó. Như Chúa Giêsu đã nói, “Anh em đong bằng đấu nào sẽ được đong lại bằng đấu ấy.” Những gì chúng ta thở ra, đến cuối cùng chính là những gì chúng ta hít vào. Nếu chúng ta thở ra ích kỷ thì sẽ hít vào ích kỷ, nếu chúng ta thở ra cay đắng thì sẽ gặp đắng cay, nếu chúng ta thở ra tình yêu, nhân từ và tha thứ thì chúng ta sẽ nhận lại cùng mức độ đó. Cuộc sống và vũ trụ của chúng ta có một cơ cấu yêu thương và công bằng thâm sâu, tự nhiên và không thể bàn cãi đã được viết sẵn, một cơ cấu chỉ có thể được viết nên bởi một trí tuệ thần thiêng sống động và một tâm hồn yêu thương.

Dĩ nhiên, không điều nào trong những điều này chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa với những bằng chứng theo kiểu khoa học hay toán học, nhưng đâu thể tìm được Thiên Chúa bằng một thí nghiệm kinh nghiệm luận, một phương trình toán học hay một tam đoạn luận triết học. Chúng ta tìm thấy Thiên Chúa, rõ ràng và dứt khoát, nơi một đời sống quên mình, nhân từ, chân thành và tốt lành. Điều này có thể có trong tôn giáo hay ngoài tôn giáo.
Thầy dòng Biển Đức người Bỉ, Benoit Standaert, đã nói rằng khôn ngoan là ba sự thêm một. Khôn ngoan là tôn trọng tri thức, tôn trọng sự chân thật và vẻ đẹp, tôn trọng mầu nhiệm. Và điều thứ tư, khôn ngoan là tôn trọng một Đấng nào đó.

Đứng bên những đường biên giới mới

Trong Tin mừng có một câu chuyện rất đánh động kể về cuộc gặp giữa Chúa Giêsu với một phụ nữ gốc Syrophoenicia. Tâm điểm câu chuyện là địa điểm diễn ra cuộc trò chuyện. Chúa Giêsu gặp người phụ nữ ở biên giới Samaria. Với Chúa Giêsu, Samaria là vùng đất ngoại bang, cả về sắc tộc lẫn tôn giáo. Khi gặp người phụ nữ này, Ngài đang đứng ở vùng biên giới, vùng rìa của cách nhìn nhận bản thân chiếu theo tôn giáo.

Tôi tin rằng đây cũng là vị thế của Kitô hữu chúng ta thời nay, đứng bên biên giới của những tôn giáo khác, kể cả những anh chị em Hồi giáo. Kế hoạch quan trọng nhất của giáo hội chúng ta trong năm mươi năm nữa sẽ là vấn đề quan hệ với các tôn Giáo khác, là Hồi giáo, Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo, các tôn giáo bản địa ở châu Mỹ và châu Phi, và nhiều dạng tôn giáo mới cũ khác, cả các đạo đa thần và phong trào Kỷ nguyên mới (New Age). Nói đơn giản, nếu mọi bạo lực phát sinh từ chủ nghĩa cực đoan tôn giáo chưa đủ để khiến chúng ta thức tỉnh, thì đúng là chúng ta đang trong cơn mê man đầy nguy hiểm. Chúng ta không còn chọn lựa nào khác. Thế giới đã trở thành một ngôi làng, một cộng đồng, một gia đình chung và trừ phi chúng ta bắt đầu hiểu và đón nhận nhau cách sâu sắc hơn, thì chúng ta sẽ không bao giờ có một thế giới yên bình.

Hơn nữa, với các Kitô hữu chúng ta, mối đe dọa của thù hận và bạo lực đến từ các tôn giáo khác không phải là nguyên nhân chính để chúng ta phải thông hiểu các tin hữu không Kitô giáo hơn. Nguyên nhân sâu xa hơn là Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ đã mời gọi chúng ta làm thế. Thiên Chúa của chúng ta mời gọi chúng ta nhìn nhận và chào đón mọi người có đức tin thành tín, xem họ là anh chị em trong đức tin. Chúa Giêsu đã nói rất rõ điều này trong những lời của Ngài, nhiều lúc rõ ràng đến mức khó nghe. Ai là anh chị em tôi? Là những ai nghe lời Chúa và tuân giữ. Không phải là những người nói “Lạy Chúa” thì được vào Nước Trời, nhưng là những người thực thi thánh ý Thiên Chúa trên đời này. Ai có thể phủ nhận rằng có nhiều người không Kitô giáo lại đang thực thi thánh ý Chúa trên đời đó sao?

Nhưng còn chủ nghĩa cực đoan, bạo lực và những biểu hiện sai lầm của tôn giáo mà chúng ta thường thấy nơi những tôn giáo khác thì sao? Với những chuyện kinh khủng người ta làm nhân danh các tôn giáo khác, chúng ta có thể thực sự xem những tôn giáo đó là tôn giáo thật hay không?

Như Huston Smith đã nói, phải phán xét mọi tôn giáo dựa trên những biểu hiện cao nhất và những vị thánh, chứ không phải dựa trên những kẻ lầm lạc. Điều này cũng đúng với Kitô giáo. Chúng ta mong người khác không phán xét chúng ta bằng những thời kỳ tăm tối nhất hay bằng những hành động tồi tệ nhất mà các Kitô hữu từng làm nhân danh tôn giáo. Chúng ta mong được đánh giá qua các vị thánh và những việc tốt lành mà các Kitô hữu đã làm trong lịch sử. Chúng ta cũng phải hiểu các tôn giáo khác như thế. Và các tôn giáo khác tận bản chất và nơi những biểu hiện tốt nhất của họ mời gọi chúng ta đến với chân thiện mỹ, và tất cả các tôn giáo đều phát xuất những thánh nhân.

Nhưng còn sự độc nhất của Chúa Kitô thì sao? Câu Chúa Kitô nói Ngài là đường, là sự thật và là sự sống, và không ai có thể đến với Thiên Chúa mà không qua Ngài thì sao?

Qua 2000 năm lịch sử, thần học Kitô giáo chưa từng quay lưng lại với chân lý và sự độc nhất này, trừ một vài thần học gia với quan điểm không được Giáo hội chấp nhận. Vậy làm sao chúng ta nhìn chân lý của các tôn giáo khác theo tinh thần rằng Chúa Kitô là con đường duy nhất để đến với Thiên Chúa là Cha?

Thần học Kitô giáo (chắc chắn đúng với thần học Công giáo La Mã) luôn chấp nhận và tiên phong dạy rằng Mầu nhiệm Chúa Kitô lớn lao hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể quan sát trong Kitô giáo lịch sử hữu hình và trong các giáo hội Kitô giáo trong lịch sử. Chúa Kitô thì lớn hơn các Giáo hội của chúng ta và vượt xa tầm của Giáo hội. Ngài vẫn nhắc nhở Giáo hội một câu mà Ngài từng nói với mẹ mình: “Con phải lo việc của Cha con.”

Trước đây, chúng ta thể hiện câu này bằng cách xác nhận rằng Thân thể Chúa Kitô, thân thể trọn vẹn của những kẻ tin, có cả yếu tố hữu hình và vô hình. Trong những tín hữu được rửa tội, chúng ta thấy Thân thể hữu hình của Chúa Kitô. Tuy nhiên, cùng lúc đó, chúng ta biết rằng có vô số những người khác vì vô số lý do không phải lỗi của họ đã không được rửa tội và không tuyên xưng một đức tin dứt khoát nơi Chúa Kitô, nhưng nhờ thiện tâm và hành động tốt lành mà được xem là như chúng ta trong đức tin.

Một vài người có thể ngạc nhiên với chuyện này, nhưng thật sự là, giáo lý của Giáo hội Công giáo La Mã nói rằng những người thật tâm trong bất kỳ tôn giáo nào đều có thể được cứu rỗi dù không trở thành Kitô hữu, và bất kỳ ai dạy ngược lại đều là dị giáo. Điều này dựa trên một nhận thức về Thiên Chúa mà các Kitô hữu chúng ta tôn thờ. Thiên Chúa hiện thân nơi Chúa Giêsu mong muốn cứu rỗi hết tất cả mọi người và không làm ngơ trước đức tin chân thành của hàng tỉ người trong hàng ngàn năm qua. Sẽ là không tôn trọng đức tin của mình nếu chúng ta giảng dạy khác đi. Tất cả chúng ta đều là con cái Chúa.

Đến tận cùng, chỉ có một Thiên Chúa là Cha của tất cả chúng ta, bất kể tôn giáo.

Gửi những người bạn tôi quen

Mới đây, khi đọc tạp chí Commonweal, tôi bị đánh động bởi một dòng của Jerry Ryan, thuộc dòng Tiểu Đệ Chúa Giêsu: “Tôi đã mất liên lạc với rất nhiều người vốn có nhiều ý nghĩa với tôi trong nhiều giai đoạn cuộc sống, những người tôi yêu thương quý mến và thực sự quan tâm đến họ, những người đã cho tôi rất nhiều và làm nên con người tôi như hôm nay.”

Với tôi cũng thế, và tôi nghĩ là hầu hết chúng ta cũng thế. Người ta đi vào cuộc sống chúng ta, tình bạn ngày càng thắm thiết rồi một số bạn bè đó cứ thế biến mất khỏi cuộc đời chúng ta. Đôi khi là do chúng ta chuyển đi, có lúc là họ chuyển đi, có lúc là chuyện đời thay đổi và chúng ta xa rời nhau, hay có lúc mối dây giữa chúng ta tan rã dần và rồi chúng ta bước tiếp, tìm người khác. Và nếu nhạy cảm, chúng ta sẽ luôn thấy có nỗi đau và tội lỗi khi mất đi bạn bè như thế. Không có gì là không lành mạnh khi cảm thấy cô đơn và mất mát vì chuyện này hay cảm nhận rằng chúng ta đã làm người khác thất vọng, đã không quan tâm cho đủ.

Thật sự đôi lúc chúng ta thiếu trung tín, nhưng hầu như trong mọi trường hợp vấn đề là ở sự bất toàn vô tội của ta. Chỉ có Chúa toàn hảo. Chỉ có Chúa mới có trái tim đủ lớn để quan tâm riêng đến mọi người và mọi lúc. Chỉ có Thiên Chúa mới không bao giờ thay đổi và mệt mỏi. Và chỉ có Thiên Chúa mới đủ mạnh mẽ để luôn mãi trung tín. Chúng ta không thể toàn hảo.

Tôi đã đấu tranh dữ dội với sự bất toàn đó. Với công việc của một nhà truyền giáo, và với cá tính của mình, tôi luôn mãi yếu kém vì sự bất toàn trong chuyện gần gũi với gia đình và bạn bè, kể cả những người bạn quý mến. Việc này chẳng dễ dàng gì.

Trước hết, tôi có cả một đại gia đình đã mở rộng qua nhiều thế hệ. Giữ liên hệ với cả gia đình có thể không còn thời gian để tôi làm gì khác nữa. Thứ nữa, tôi đã làm mục vụ hơn bốn mươi năm và trong thời gian đó tôi đã sống trong nhiều nhà của Dòng Hiến sĩ cùng hơn hai trăm anh em khác nhau. Cộng đoàn là gia đình, và để giữ liên lạc với tất cả sẽ chiếm hết thời gian trong ngày làm việc. Rồi trong những năm tháng học tập, tôi đã có cơ hội kết bạn thâm tình với nhiều bạn học ở nhiều nơi trên thế giới. Cuối cùng, trong những năm tháng mục vụ, tôi đã gặp hàng trăm sinh viên trong lớp học và hàng ngàn người làm việc nghiên cứu và tĩnh tâm. Hầu hết những cuộc gặp gỡ đó chỉ là nhất thời và ngẫu nhiên, nhưng qua năm tháng tôi đã kết thân tình với khá nhiều người. Và tôi còn từng sống và làm việc ở bốn quốc gia khác nhau, đồng thời kết nhiều bạn ở những nơi đó.
Hơn nữa, ngày nay chúng ta còn phải cố gắng giữ liên hệ với những người quen biết trên mạng xã hội.

Làm sao để chúng ta giữ được mối liên hệ có ý nghĩa với tất cả mọi người đây? Làm sao để chúng ta không phản bội bạn bè, dù chỉ đơn thuần là vì sự xao nhãng bỏ bê?

Ngay cả khi tôi vô cùng biết ơn vì có cả một gia tài là người thân và bạn bè, tôi vẫn thường thấy việc giữ liên hệ có ý nghĩa với tất cả thật là chuyện quá sức với tôi, và những lúc đó tôi thấy có lỗi khi cứ luôn xa rời quá nhiều người mà tôi từng gắn bó. Đôi khi những người bạn lâu nay tôi không liên lạc nhắc nhở tôi, về việc tôi bỏ bê tình bạn, và không phải lúc nào cũng nhắc nhở nhẹ nhàng đâu. Nhưng khi thời gian trôi qua và vấn đề này ngày càng mở rộng, tôi lại thấy bình an hơn với sự bất toàn và cảm giác tội lỗi của mình, dù có thể một vài bạn bè bị bỏ bê của tôi không cảm thấy thế.

Và điều khiến tôi cảm thấy như vậy là một lời nhắc nhở liên tục về ơn lớn lao tôi có được là một gia đình lớn và rất nhiều người bạn. Ít có chuyện đáng để chúng ta tri ân như thế. Thứ nữa, tôi thực sự cố gắng giữ liên hệ có ý nghĩa với họ trong tầm mức thời gian, sức lực, và khoảng cách cho phép. Và điều quan trọng là, dù cho bất toàn, tôi vẫn cố gặp gỡ người thân và bạn bè theo một cách mà sự hiện diện thân thiết, gần gũi xóa nhòa thời gian, sức lực và khoảng cách. Có một cách để chúng ta không còn bất toàn, một cách để ta ở nhiều nơi một lúc và có thể yêu thương vô số người cách riêng tư và thân thiết, cách đó chính là ở trong Thân thể Chúa Kitô.

Kinh thánh cho chúng ta biết là chúng ta tạo thành một thân thể, một thân thể sống với những cơ quan sống thực sự, mọi phần cơ thể đều có tác động đến nhau. Trong thân thể đó, chúng ta hiện diện với nhau, dĩ nhiên không phải là hoàn hoàn có ý thức, nhưng thật sự sâu sắc và chân thực. Và nếu chúng ta sống đời mình một cách trung tín, chia sẽ tình bạn chân thành với những người đang ở quanh chúng ta ngay lúc này, thì chúng ta không chỉ sản sinh chất xúc tác lành mạnh cho thân thể khỏe mạnh, mà chúng ta còn hiện diện với nhau, theo một cách đánh động chúng ta đến mức độ sâu sắc nhất của linh hồn. Có một cách để chúng ta không quên lãng nhau.

Và như thế, các bạn thân mến của tôi, chúng ta vẫn bên nhau mà!

Một lời miệt thị hằn sâu

Anh là kẻ thất bại! Cô là kẻ thất bại! Trong mọi lời chê bai gây đau lòng mà chúng ta buột miệng nói ra, thì lời này có lẽ gây đau đớn và tổn hại nhất. Lời này cần bị cấm tiệt khỏi những cuộc bàn luận chung và loại hẳn khỏi từ điển.

Chúng ta đã tiến những bước dài trong việc loại trừ những lời lẽ nhất định trong giao tiếp xã hội. Hầu hết những từ chúng ta loại trừ đều có nghĩa xấu ám chỉ đến sắc tộc, giới tính, hay khuyết tật của người khác. Loại thẳng chúng khỏi ngôn ngữ của chúng ta là việc đáng phải làm lâu rồi, và có lẽ đây không chỉ là vấn đề đúng đắn trong xã giao. Mà rõ ràng và đơn giản, đây là vấn đề đúng đắn trong công lý, bác ái, trong sự tử tế căn bản của con người. Ngôn ngữ là một nền kinh tế thường bất công. Nó công nhận một cách phi lý một số người và miệt thị quá mức một số người khác. Chúng ta cần cẩn thận với chuyện này. Ngôn ngữ có thể hằn một vết sẹo sâu lên người khác, thậm chí nó còn khiến chúng ta vô tình bị khóa trong những định kiến tiêu cực khiến lòng trí chúng ta bị nhuốm màu kỳ thị chủng tộc, mê tín và thù ghét phụ nữ.

Nhưng những lời chê bai về chủng tộc, giới tính và khuyết tật chưa phải là tất cả. Chúng khủng khiếp, đúng, nhưng những người bị xúc phạm bằng những lời này có chút an ủi khi biết rằng lời xúc phạm đó còn nhắm đến hàng triệu, hàng tỷ người khác. Bị xúc phạm cùng với hàng triệu triệu người khác, vẫn đau chứ, nhưng ít ra mình có bầu bạn.

Tuy nhiên, có những lời chê bai xúc phạm một cách riêng tư và đặc biệt hơn, nhắm đến sỉ nhục sự thiếu sót riêng rất cụ thể của người khác. Với lời sỉ nhục này, bạn không còn ai là bầu bạn, giờ bạn là kẻ lạc loài. Cái từ “kẻ thất bại” là một từ như thế. Nó nhắm đến sỉ nhục một người theo cách rất riêng tư và rất tổn thương. Khi bị gọi là “kẻ thất bại” là bạn không chỉ bị loại riêng ra và bị sỉ nhục vì bạn thuộc về một chủng tộc, một giới tính, hay một tầng lớp. Bạn bị sỉ nhục vì chính bạn, chỉ mình bạn thôi, bị phán xét là không đủ tiêu chuẩn, là không đáng được tôn trọng, và không đáng được chấp nhận. Bạn bị xem là hạ đẳng, và sự yếu kém đó không thể đổ tại bất kỳ ai ngoại trừ bạn. Bạn bị xem là kẻ thất bại! Và chỉ có bạn thế thôi!

Kiểu sỉ nhục này không phải mới có. Nó đã có từ lâu đời. Có nhiều người luôn luôn bị xa lánh, sỉ nhục và tẩy chay. Chúng ta có một khiếm khuyết nhân bản khá là đáng xem xét, và nếu không xác định được nó, thì nó sẽ khiến chúng ta tin rằng để mình được hạnh phúc thì người ta chấp nhận mình thôi vẫn chưa đủ, còn cần ai đó khác bị loại trừ nữa kia.

Trong thời Tân ước, những người phong cùi bị tẩy chay khỏi xã hội, phải sống trong những vùng hẻo lánh tách biệt với cuộc sống bình thường, phải kêu lên “ô uế” khi có ai đó đến gần. Nhưng họ có những lý do chính đáng để đưa những người phong cùi ra khỏi cuộc sống bình thường. Phong cùi là bệnh truyền nhiễm. Ngày nay, dù không có một lý do chính đáng nào, chúng ta vẫn xem một số người là “người cùi”, xem họ không được phát triển trong đời sống bình thường của mình. Chúng ta liệt họ vào “những kẻ thất bại” và đẩy họ ra rìa. Họ là những người cùi mới.

Có vô số ví dụ về điều này, nhưng có lẽ chúng ta dễ thấy nó nhất trong trường trung học, nơi luôn luôn có một nhóm nổi tiếng, một nhóm quyết định hết quy tắc, quyết định xem cái gì là được, nắm lấy quyền lực của cộng đồng dù cho họ không phải nhóm đa số. Đa số học sinh nằm ngoài nhóm nổi tiếng riêng biệt này, cố gắng được chấp nhận, nghĩa là dù không hoàn toàn thuộc về nhóm đó nhưng cũng không hoàn toàn bị loại trừ. Nhưng luôn luôn có một nhóm khác, những em bị xem là “kẻ thất bại”, không đủ tiêu chuẩn, không xứng đáng được công nhận. Nhóm này không được chấp nhận.

Bất kỳ xã hội con người nào cũng đều có sự phân loại. Có vô số lý do phức tạp cho việc này, và nhiều lý do liên quan đến tâm thần. Chuyện này cũng giúp giải thích vì sao lại có những cậu bé trung học đem súng đến trường bắn bạn học của mình. Nhưng thật khó để không thấy được rằng, hầu như lúc nào, cậu bé xả súng đó cũng là một người cô độc, “một kẻ thất bại”. Chúng ta không thể trách các bạn học của cậu ấy vì đã xem cậu ấy là kẻ như thế, nhưng dù cho cố ý hay vô tình, thì họ cũng đã làm vậy. Các bạn học của cậu là nạn nhân, không chỉ của tâm thần bấn loạn và nổi giận của cậu thanh niên đó, nhưng còn là nạn nhân của một xã hội mù quáng góp phần tạo ra sự bấn loạn và giận dữ đó.

Tôi không phải là bậc cha mẹ, nhưng nếu tôi là một ông bố, tôi sẽ dùng hết quyền hạn đạo đức của mình để khiến con cái bỏ hết những từ chê bai sỉ nhục về chủng tộc, giới tính và khuyết tật. Tôi cũng sẽ dùng mọi quyền hạn đạo đức và khuyên giải của mình để khiến chúng loại bỏ những từ xấu xa sỉ nhục người khác một cách cụ thể riêng tư. Cái từ “kẻ thất bại” phải bị cấm tiệt trong mái nhà.

Cả xã hội và Giáo hội đều là những mái nhà. Thật may là trong nhiều thập niên gần đây, chúng ta đã cấm dùng nhiều từ miệt thị chủng tộc, giới tính, hay khuyết tật của người khác. Và đã đến lúc chúng ta cấm tiệt thêm những từ khác trong nhà của mình!

Một lời biện giải cho Độc thân Thánh hiến

Huston Smith, nhà bình luận nổi tiếng về các tôn giáo trên thế giới, đã công nhận rằng bạn không nên phán xét một tôn giáo bằng những thể hiện xấu nhất của nó, nhưng bằng những thể hiện tốt nhất của nó, chính là những thánh nhân. Và điều này cũng đúng khi đánh giá về giá trị của đời sống độc thân thánh hiến. Cũng như khi đánh giá về cơ chế hôn nhân, chúng ta phải đánh giá đời sống độc thân thánh hiến bằng những con người tốt đẹp nhất, chứ không phải ngược lại.

Tôi viết bài biện giải này vì hôm nay đời sống độc thân thánh hiến đang bị chỉ trích trong hầu hết mọi giới. Người ta không còn hiểu nổi đời sống độc thân, cũng không xem đó là một lối sống thực tế, vì nền văn hóa này từ chối chấp nhận bất kỳ giới hạn nào về tình dục và do đó chúng ta xem mọi người sống độc thân dù với bất kỳ nguyên do nào cũng đều là lãnh đạm, khờ dại, hay bất hạnh. Nền văn hóa của chúng ta dựng lên một âm mưu rõ ràng chống lại lối sống độc thân.

Quan trọng hơn nữa, là đời sống độc thân lại bị đánh giá trong tình hình tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Trong xã hội và giáo hội, người ta ngày càng ghi khắc một quan niệm rằng xâm hại tình dục và ấu dâm đặc biệt thịnh hành trong giới linh mục và tu sĩ hơn là trong cộng đồng nói chung, và thậm chí còn nghĩ rằng có một thứ gì đó trong đời sống độc thân thánh hiến khiến cho các linh mục và tu sĩ thêm xu hướng phạm tội tình dục và có một đời sống cảm xúc không lành mạnh. Có thật thế không? Những người độc thân có xu hướng phạm tội tình dục hơn những người không độc thân? Những người độc thân có khả năng bớt lành mạnh và hạnh phúc hơn những người lập gia đình hay những người có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân?

Phải xác định rõ điều này bằng cách nhìn vào những mục đích thâm sâu nhất của tình dục, và từ đó xác định xu hướng thực sự của người sống đời hôn nhân và người độc thân. Mục đích tối hậu của tình dục là gì? Sinh lực mạnh mẽ này có ý nghĩa nào nơi chúng ta? Nhìn chung, câu trả lời rất rõ ràng: Tình dục là để đưa ta ra khỏi bản thân, ra khỏi sự cô độc, sự ích kỷ, để bước vào sự vị tha, vào gia đình, cộng đồng, để quảng đại, để có tấm lòng dịu dàng, để vui mừng, để hạnh phúc, và tận cùng là (có lẽ không phải lúc nào cũng được trong đời này) để ngất ngây.

Nhìn từ lăng kính tiêu chuẩn này, thì đời sống hôn nhân và độc thân hiến thánh có gì khác nhau? Hầu như là tương tự nhau. Một số người kết hôn, trở nên quảng đại và sinh sôi một cách lành mạnh, chung thủy với vợ chồng mình, và ngày càng biết tha thứ, hạnh phúc, và tráng kiện. Có những người khác lại không như thế. Họ kết hôn (hoặc quan hệ tình dục ngoài hôn nhân) nhưng không trở nên quảng đại và sinh sôi, không chung thủy, và ngày càng cay đắng, ũ rũ và bất hạnh.

Với những người độc thân thánh hiến cũng vậy. Một số người kết hôn, trở nên quảng đại và sinh sôi một cách lành mạnh, trung thành với lời khấn của mình, và ngày càng biết tha thứ, hạnh phúc, và tráng kiện. Với một số người khác, hầu như mọi thứ trong đời họ lại đi ngược với sự minh bạch và sinh hoa trái đáng ra phải có trong đời sống độc thân, và thế là họ không tiến thêm trên con đường bỏ mình, quảng đại, dịu dàng hay hạnh phúc. Thay vào đó, như một số người sống cuộc sống tình dục cùng thời, họ cũng ngày càng cay đắng, ũ rũ và bất hạnh. Đôi khi, đây là hậu quả của việc họ phá vỡ lời khấn và đôi khi đấy là hậu quả của một bản năng tình dục bị đè nén một cách không lành mạnh. Trong cả hai trường hợp, lời khấn của họ không sinh hoa trái và thường dẫn đến những hành động bù đắp không lành mạnh.

Phải thừa nhận rằng, đời sống độc thân là chấp nhận thêm nguy cơ, bởi vì hôn nhân và tình dục là con đường bình thường mà Chúa định cho ta. Như Merton từng nói, trong đời sống độc thân, chúng ta sống trong một sự cô độc mà chính Thiên Chúa đã lên án. Con người ở một mình thì không tốt! Tình dục và hôn nhân là chuyện bình thường, và độc thân xa rời con đường ấy. Nhưng thế không có nghĩa độc thân không thể sinh nhiều hoa trái, đem lại ý nghĩa, lành mạnh, khiến cho người ta nên viên mãn và hạnh phúc. Một số người sinh sôi và viên mãn nhất mà tôi biết, là những người độc thân thánh hiến, ngày tháng trôi qua họ càng thêm dịu dàng và bình an. Đáng buồn thay, đối với một số người độc thân khác thì ngược lại. Dĩ nhiên, chuyện này, cả mặt tốt lẫn mặt xấu, cũng đúng với những người sống đời hôn nhân mà tôi biết.

Nhìn quả thì biết cây. Chúa Giêsu đã cho chúng ta tiêu chuẩn đánh giá đó. Nhưng khi đánh giá đời sống độc thân và đời sống hôn nhân (cũng như khi đánh giá các tôn giáo) chúng ta nên nhớ lấy lời khuyên của Huston Smith là chúng ta nên đánh giá bằng những thể hiện tốt nhất, bằng những thánh nhân, chứ không phải bằng những thể hiện thiếu lành mạnh nhất. Nhìn vào đời sống độc thân và đời sống hôn nhân, chúng ta thấy có cả người lành mạnh và không lành mạnh, và như thế đâu có vẻ có bên nào lấn át hẳn bên kia về sự thánh thiện hay suy đồi. Và do đó, không ngạc nhiên, khi xét cho cùng cả hai lựa chọn đều đòi hỏi cùng một điều, đó là sẵn sàng hy lễ và hao tâm tổn lực vì tình yêu và trung tín.

Một số người sống đời độc thân đã không trung tín, một số nữa còn là kẻ ấu dâm, nhưng một số khác lại trở thành Mẹ Teresa. Và cũng nên thấy rằng Chúa Giêsu cũng sống độc thân. Những người sống đời hôn nhân, có người không chung thủy, có người bạo hành, có người còn giết vợ chồng mình, nhưng cũng có người là hiện thân thánh thiện rõ ràng của tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa dành cho thế gian cũng như cho mối dây không thể phá vỡ của Chúa Kitô với Giáo hội của Ngài.

Tính dục là một thực tế có thể sống theo nhiều phương thức khác nhau, và cả đời sống hôn nhân hay độc thân đều là những lựa chọn thánh thiện nhưng, đáng buồn là, chúng có thể có biến chứng sai lầm.

Những Phép lạ Đích thực

Ralph Waldo Emerson gọi những vì sao trên bầu trời đêm là “những phái viên của vẻ đẹp, thắp sáng vũ trụ bằng nụ cười nhắc nhở của mình” và ông nói rằng nếu chúng chỉ xuất hiện vài ngàn năm một lần, thì chúng ta sẽ quỳ lạy thờ phượng và trân quý khoảnh khắc đó cả đời mình. Nhưng bởi đêm nào những vì sao cũng mọc, nên phép lạ đó trở nên gần như chẳng có gì đáng chú ý. Và thay vào đó chúng ta xem truyền hình.

Nhưng những ngôi sao đẹp đẽ không phải là phép lạ lớn lao duy nhất mà người ta chẳng màng để ý. Những phép lạ lớn nhất phải đi kèm với sự nhưng không, yêu thương, ủ ấm tâm hồn và tha thứ. Sự nghèo khổ lớn lao nhất của chúng ta chính là chúng ta hầu như không để ý đến những việc này. Có nhiều điều còn đáng kinh ngạc hơn cả những vì sao đáng để chúng ta quỳ gối trong tri ân, và có những điều sâu sắc đáng để gìn giữ trong ký ức hơn cả một đêm trời đầy sao.

Ngòi bút thiêng liêng người Bỉ, Benoit Standaert nói rằng phép lạ lớn lao nhất chính là “những hiện hữu được trao nhưng không, là một tình yêu khiến cho những gì mất mát và lạc lối được nên trọn vẹn và yêu mến, một tình yêu chọn lấy những gì bị chối bỏ, tha thứ cho những gì bị xem là có tội nặng nề nhất, và hiệp nhất những gì bị xem là tan rã vĩnh viễn.”

Phép lạ lớn lao nhất chính là có sự cứu chuộc cho tất cả những gì sai trái nơi chúng ta. Có sự cứu chuộc phát xuất từ những gì chúng ta không làm được vì sự bất toàn của mình. Có sự cứu chuộc phát xuất từ những thương tích của chúng ta, từ những gì khiến chúng ta chùng xuống và lạnh lẽo về mặt thể lý, cảm xúc và tâm linh. Có sự cứu chuộc phát xuất từ bất công, từ sự bất bình đẳng mà chúng ta đang chịu, từ nỗi đau mà chúng ta gây ra cho người khác cách cố ý hay vô ý. Có sự cứu chuộc phát xuất từ những lỗi lầm, những sai phạm, từ những bất trung, và tội lỗi của chúng ta. Có sự cứu chuộc phát xuất từ những mối quan hệ xấu đi, từ những cuộc hôn nhân, gia đình, tình bạn bị tan rã vì hiểu lầm, thù ghét, ích kỷ và bạo lực. Có sự cứu chuộc phát xuất từ tự vẫn và sát nhân. Không có điều gì mà Thiên Chúa không thể tha thứ, phục sinh và khiến nó tươi mới, ngây thơ và vui vẻ trở lại.

Cuộc sống của chúng ta, dù dài hay ngắn, đều rơi vào bất toàn, tan vỡ, bất công, mất mát, gây đau thương cho người khác vì mình yếu đuối, chúng ta ai cũng có bất trung, tội lỗi và ác tâm, nhưng đến tận cùng, tất cả đều có thể được tẩy sạch, được trắng trong lần nữa. Có sự cứu chuộc, có sự sống mới nơi mọi nẻo đường sai trái chúng ta đi trong thế gian này. Và sự cứu chuộc đó đến với chúng ta qua sự tha thứ.

Tha thứ là phép lạ lớn lao nhất, là phép lạ tận cùng, và cùng với sự sống đời đời, nó chính là ý nghĩa đích thực trong sự phục sinh của Chúa Giêsu. Không có điều gì nhiệm màu và giống với Thiên Chúa, cho bằng khoảnh khắc hòa giải, khoảnh khắc tha thứ.

Chính vì lý do này mà khi viết về sự phục sinh của Chúa Giêsu, các Tin mừng đều nhấn mạnh nhiều lần về sự tha thứ. Thật vậy, Tin mừng theo thánh Luca không tách rời lời tuyên bố phục sinh với lời tuyên bố tha thứ tội lỗi. Tha thứ và phục sinh liên kết bất phân ly. Cũng thế, trong Tin mừng theo thánh Gioan, trong lần đầu tiên Chúa Giêsu hiện ra sau khi phục sinh, Ngài đã cho họ quyền tha tội. Thông điệp của phục sinh chính là một xác chết có thể sống lại từ hầm mộ. Điều này không hẳn đúng với thể xác chúng ta, nhưng đặc biệt đúng cho những tâm hồn băng giá đang chết vì thất vọng, cay đắng, giận dữ, chia rẽ và thù hận. Phép lạ phục sinh là cho thân xác sống lại, nhưng cũng là việc cho những linh hồn đã chết trỗi dậy vào cuộc sống mới.

Dù cho ngày nay chúng ta thừa mứa những phát minh mới, và thậm chí máy móc làm hết mọi việc kể cả làm người trò chuyện với ta, chúng ta lại thấy quá ít chuyện mới lạ đích thực. Chắc chắn chúng ta thấy hằng ngày những sự đổi mới cứ dồn dập đổ đến và cùng với đó là khó khăn để đối mặt với thay đổi mà chúng đem lại. Nhưng xét cho cùng, những đổi mới này không thực sự khiến chúng ta kinh ngạc, ít nhất là không kinh ngạc sâu sắc, một sự kinh ngạc chạm đến tâm hồn. Chúng đơn thuần chỉ là tăng thêm những thứ chúng ta có, những mở rộng của cuộc sống bình thường, chứ không phải một điều kinh ngạc thực sự.
Nhưng khi bạn nhìn thấy một người phụ nữ tha thứ cho một người đã làm tổn thương mình sâu sắc, thì bạn đang thấy một chuyện không bình thường, một chuyện đầy kinh ngạc. Bạn đang thấy một điều không đơn giản chỉ là một khoảnh khắc tự nhiên. Cũng thế, khi bạn thấy sự nồng hậu và yêu thương len vào con người lâu nay chìm trong cay đắng và giận dữ, là bạn thấy một điều không chỉ là một khoảnh khác cuộc sống bình thường. Bạn đang thấy một sự mới mẻ, sự cứu chuộc, sự phục sinh, sự tha thứ. Tha thứ là điều duy nhất mới mẻ trên trái đất này, mọi thứ khác chỉ tương đối như nhau thôi.

Và cũng như thế, tôi xin mượn lời của Benoit Standaert: “Bất kỳ lúc nào chúng ta nỗ lực đem lại thêm chút bình an qua công lý, dù dưới dạng nào đi nữa, trên trái đất này, bất kỳ lúc nào chúng ta nỗ lực thay đổi đau buồn thành hạnh phúc, chữa lành những trái tim tan nát, hay giúp đỡ người bệnh và người yếu đuối, là chúng ta đi thẳng về phía Thiên Chúa, Chúa của sự phục sinh.”
Tha thứ là phép lạ đáng kinh ngạc nhất mà chúng ta từng thấy hay cảm nghiệm trên trần thế này. Chỉ mình sự tha thứ, mới có thể đem lại thiên đàng và hạnh phúc.

Đức Mẹ của Kinh thánh và Đức Mẹ của lòng sùng kính

Có nhiều người tin rằng: Người Công giáo La Mã có khuynh hướng sùng bái Đức Mẹ, còn người Tin Lành và phái Phúc âm thì có khuynh hướng bài trừ Đức Mẹ. Cả hai đều không chuẩn lắm.

Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, có hai tuyến lịch sử trong truyền thống Kitô giáo. Chúng ta có Đức Mẹ trong Kinh thánh, và Đức Mẹ của lòng sùng kính, và cả hai đều góp những phần đặc biệt cho hành trình Kitô hữu của chúng ta

Đức Mẹ của lòng sùng kính thì được biết đến nhiều hơn, chủ yếu là trong Công giáo La Mã. Đây là hình ảnh Đức Mẹ trong chuỗi mân côi, Đức Mẹ của các đền thánh nổi tiếng, Đức Mẹ Sầu bi trong các kinh, Đức Mẹ dịu dàng chuyển cầu cho chúng ta đến với Chúa, Đức Mẹ tinh tuyền và trinh khiết, Đức Mẹ hiểu nỗi đau của con người, Đức Mẹ làm kẻ sát nhân phải mềm lòng, và Đức Mẹ mà chúng ta luôn có thể chạy đến kêu cầu.

Và Đức Mẹ này, trên hết là Mẹ của người nghèo. Karl Rahner từng chỉ ra rằng khi nhìn vào mọi lần Đức Mẹ hiện ra mà đã được Giáo hội công nhận, bạn sẽ để ý thấy rằng mẹ luôn hiện ra với người nghèo, một đứa bé, một nông dân, một nhóm trẻ em, một người không có địa vị xã hội. Đức Mẹ không bao giờ hiện ra với một thần học gia đang nghiên cứu, một giáo hoàng, hay một triệu phú. Mẹ luôn là người mà người nghèo hướng về. Lòng sùng kính Đức Mẹ chính là thần nghiệm của người nghèo.

Ví dụ như, chúng ta thấy rất rõ điều này trong tác động của Đức Mẹ Guadalupe lên Châu Mỹ La tinh. Trong toàn châu Mỹ, hầu hết các thổ dân đều là Kitô hữu. Tuy nhiên, ở Bắc Mỹ, nơi hầu hết thổ dân là Kitô hữu, Kitô giáo lại không phải là một tôn giáo bản địa, mà là một tôn giáo du nhập từ nơi khác đến. Còn ở Châu Mỹ La tinh, khắp nơi mà giáo dân sùng kính Đức Mẹ Guadalupe, thì Kitô giáo được xem là một tôn giáo bản địa.

Nhưng lòng sốt sắng và sùng kính cũng có nguy cơ trật đường về mặt thần học và gây nên sự ủy mị không lành mạnh. Đây cũng là vấn đề trong hình ảnh Đức Mẹ của lòng sùng kính. Chúng ta có khuynh hướng nâng Đức Mẹ lên hàng thần thánh (mà thế là sai) và chúng ta quá thường sùng kính Mẹ đến nỗi trong tâm thức của chúng ta, một Đức Mẹ của lòng sùng kính không thể nào là một người khiêm hạ đã hát lên bài Magnificat. Đức Mẹ của lòng sùng kính quá thường bị tôn vinh với sự sốt sắng, đơn giản hóa thái quá, và phi tính dục như thể cần bảo vệ Mẹ khỏi những phức tạp của thân phận con người. Nhưng Đức Mẹ của lòng sùng kính vẫn cho chúng ta đối diện rõ ràng hành trình tâm linh của mình.

Còn Đức Mẹ của Kinh thánh và vai trò mà các Tin Mừng khác nhau đã nói đến về Mẹ, thì bị làm ngơ hơn nhiều.

Trong Tin mừng Nhất lãm, Đức Mẹ được thể hiện như hình mẫu người môn đệ. Nói đơn giản hơn, Mẹ là một con người chuẩn mực ngay từ đầu. Nhưng chúng ta lại không nhận ra như thế ngay lập tức. Nhìn bề ngoài, đôi khi chúng ta lại thấy ngược lại. Ví dụ như, trong nhiều dịp Đức Giêsu nói chuyện với đám đông, có người cắt lời và báo rằng mẹ và người thân của Ngài đang chờ bên ngoài và muốn nói chuyện với Ngài. Và Chúa Giêsu trả lời: “Ai là mẹ Ta và ai là anh chị em của Ta? Là người nghe lời Chúa và tuân giữ.” Khi nói thế, Chúa Giêsu không có thái độ xa cách với mẹ mình, mà ngược lại thì đúng hơn. Trong các Tin mừng, trước chuyện này, các thánh sử đã rất cẩn thận chỉ ra rằng Đức Mẹ là người đầu tiên nghe lời Chúa và tuân giữ. Và như thế, chính Chúa Giêsu nêu bật mẹ mình trên hết là vì đức tin của Mẹ, chứ không phải vì huyết thống. Trong Tin mừng Nhất lãm, Đức Mẹ là hình mẫu cho tinh thần môn đệ. Mẹ là người đầu tiên nghe lời Chúa và tuân giữ.

Tin mừng theo thánh Gioan còn cho Mẹ một vai trò khác. Mẹ không phải là hình mẫu cho tinh thần môn đệ (một vai trò mà thánh Gioan trao cho người môn đệ Chúa thương và Maria Magdalena) nhưng được xem là Evà, mẹ của nhân loại, và là mẹ của mỗi người chúng ta. Thú vị là, thánh Gioan chưa từng nói ra tên của Đức Mẹ, ngài luôn luôn nói là “Mẹ của Chúa Giêsu.” Và với vai trò này, Đức Mẹ làm hai điều:

Thứ nhất, Mẹ là tiếng nói cho sự hữu hạn của con người, như khi Mẹ lên tiếng trong tiệc cưới Cana “họ hết rượu rồi.” Trong Tin mừng theo thánh Gioan, đây không chỉ là cuộc nói chuyện giữa Đức Mẹ và Chúa Giêsu, nhưng còn là cuộc nói chuyện giữa Mẹ Nhân loại và Thiên Chúa. Thứ hai, là Evà, Mẹ toàn thể và Mẹ chúng ta, Đức Mẹ cũng bất lực trong và trước nỗi đau của con người khi Mẹ đứng dưới chân thập giá. Trong biến cố này, Mẹ cho chúng ta thấy mình là Mẹ của toàn thể, nhưng cũng là một gương mẫu về cách đương đầu với sự bất công, cụ thể là đứng trong sự bất công đó mà không nhân đôi hận thù và bạo lực đó nhưng đáp lại bằng yêu thương.

Đức Mẹ đã cho chúng ta một gương mẫu tuyệt vời, một gương mẫu không phải để chúng ta tôn sùng hay làm ngơ, nhưng là để sống.

Khóc than

Nền văn hóa của chúng ta khiến chúng ta không dễ khóc than. Đặc nét nền tảng của nó là chúng ta nhanh chóng bỏ qua những mất mát và đau đớn, nín lặng những tang thương, và luôn luôn mạnh mẽ, tiếp tục tiến bước trong đời.

Nhưng khóc than là một điều quan thiết với sự lành mạnh của chúng ta, một điều mà chúng ta buộc phải làm cho bản thân mình. Không có than khóc thì chúng ta chỉ còn cách là ngày càng cứng rắn và cay đắng trước những thất vọng, loại trừ, và mất mát. Và những điều này lại luôn tồn tại.

Chúng ta có nhiều điều để than khóc trong đời: Chúng ta liên tục mất đi người thân và sự vật. Những người yêu thương qua đời, mối quan hệ tan vỡ, bạn bè rời đi, hôn nhân đổ vỡ, một tình yêu ta mong mỏi mà không có cứ mãi ám ảnh ta, một ước mơ kết thúc trong thất vọng, con cái lớn lên rồi xa, mất công việc, và mỗi ngày qua là mất đi tuổi trẻ và sức khỏe. Ngoài quá nhiều những mất mát phải đau lòng này, chúng ta còn nhu cầu cần đau lòng cho sự bất xứng trong đời mình, cho bản giao hưởng dang dở và sự hòa hợp mà ta không bao giờ có được. Như con gái của Jephthah, tất cả chúng ta đều phải khóc than cho cuộc đời dang dở của mình.

Sao lại thế? Chúng ta than khóc thế nào để sự than khóc của ta không phải là một thứ ủy mị không lành mạnh, nhưng là một tiến trình phục hồi sự lành mạnh và tinh thần cường tráng của ta?

Không có một công thức đơn giản nào, và mỗi người lại có một công thức khác nhau. Đau lòng, cũng như yêu thương, phải tôn trọng sự dè dặt độc nhất vô nhị của chúng ta, những gì mà chúng ta thấy thoải mái và không thoải mái. Nhưng có những điều mà ai ai cũng như nhau.

Thứ nhất, chúng ta có nhu cần cần chấp nhận nhìn nhận những mất mát và nỗi đau của mình. Chối bỏ mất mát hay nỗi đau, chẳng ích gì cho ta. Chúng ta phải chấp nhận sự thất vọng và bất lực của mình, và phải chấp nhận với nhận thức rằng không có nơi nào để cho nỗi đau ngoại trừ, như lời của thi sĩ Rilke, cho nó về lại dương gian, về chốn nặng nề của đại dương, nơi nảy sinh nước muối cũng là nước mắt của ta. Những giọt nước mắt kết nối chúng ta với đại dương nảy sinh ra ta.

Tiếp theo, khóc than là một tiến trình cần có thời gian, đôi khi là rất nhiều thời gian, chứ không phải là một thứ chúng ta có thể nhanh chóng đạt được với một quyết định đơn giản. Chúng ta không thể cứ thế làm chủ cảm xúc, cho nó lành mạnh trở lại được. Chúng cần được chữa lành, và chữa lành là một tiến trình hữu cơ. Và tiến trình đó cần những gi?

Trong nhiều trường hợp, cần phải cho mình được quyền nổi giận, thịnh nộ trong một thời gian, cho mình cảm thấy thất vọng, mất mát, bất công và giận dữ. Mất mát có thể cay đắng, và sự cay đắng đó cần được thật tâm chấp nhận, nhưng cũng cần được chấp nhận với lòng dũng cảm và khuôn khổ để nó không khiến chúng ta trút giận lên người khác. Và để như thế, để chúng ta không đổ tội và trút giận lên người khác, thì chúng ta cần được giúp đỡ. Mọi nỗi đau có thể chịu được nếu nó được chia sẻ, và vì thế chúng ta cần có người lắng nghe và chia sẻ nỗi đau với mình mà không cố sửa đổi nó. Và trong hoàn cảnh này, sự tự đại là địch thủ của chúng ta. Chúng ta cần khiêm nhượng để tin tưởng cho người khác thấy vết thương của mình.

Cuối cùng, nhưng không kém quan trọng, là chúng ta cần kiên nhẫn, chịu đựng, bền bỉ. Khóc than không thể gấp gáp được. Sự chữa lành tâm hồn, cũng như chữa lành thân xác, là một tiến trình hữu cơ, với những hạn mức thời gian không thể chi phối được. Nhưng đây có thể là phép thử lớn cho sự kiên nhẫn và hy vọng của chúng ta. Chúng ta có thể trải qua những thời kỳ dài đầy tăm tối và đau buồn, khi dường như chẳng thể thay đổi gì, khi sự nặng nề và tê tái vẫn cứ còn đó, và chúng ta có cảm giác rằng mọi chuyện sẽ chẳng bao giờ khá lên, rằng chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy ánh sáng trong lòng nữa. Nhưng đau buồn và than khóc cần có sự kiên nhẫn, cần kiên nhẫn để tiếp tục với sự nặng nề và bất lực. Sách Ai Ca nói rằng đôi khi chúng ta chỉ có thể vùi miệng trong bụi đất và chờ đợi. Sự chữa lành trong chờ đợi.

Henri Nouwen là một người rất quen với than khóc và mất mát. Là một tâm hồn quá nhạy cảm, đôi khi cha chịu những trầm cảm và ám ảnh khiến cha tê liệt về cảm xúc và cần đến chuyên gia tâm lý. Một lần như thế, khi đang cố vượt qua một cơn trầm cảm nặng, cha đã viết quyển sách đầy thấu suốt của mình, Tiếng Nói Nội tại của Tình yêu [The Inner Voice of Love]. Cha khuyên chúng ta thế này: “Thách thức lớn chính là sống với những vết thương của mình mà không nghĩ đến chúng. Khóc than thì tốt hơn là lo lắng, cảm nhận thương tích của mình thì hơn là hiểu chúng, để chúng đi vào câm lặng thì hơn là nói chuyện với chúng. Bạn không ngừng phải đối diện với chọn lựa là dùng cái đầu hay con tim để đương đầu với những vết thương đó. Với cái đầu, bạn có thể phân tích chúng, tìm ra nguyên nhân hậu quả của chúng, và những từ ngữ đẹp để nói và viết về chúng. Nhưng trong đó, chẳng có sự chữa lành tận cùng nào. Bạn phải để những thương tích đi vào trong con tim. Như thế bạn mới sống qua chúng và khám phá ra rằng chúng sẽ không hủy hoại được bạn. Con tim bạn mạnh hơn những vết thương đó.”

Chúng ta mạnh hơn những vết thương của mình. Sự sống thì mạnh hơn cái chết. Sự tốt lành của Thiên Chúa thì hơn mọi mất mát. Nhưng khóc than cho những mất mát của mình là cách để chúng ta hiểu được những chân lý đó.

Khơi dậy đức tin âm ỉ của chúng ta

Bất kỳ ai từng xem một đám cháy đều biết đến một lúc ngọn lửa sẽ nguội đi và biến mất, thành than, rồi cuối cùng lạnh dần và trở thành tro tàn. Nhưng trong tiến trình đó, có một thời điểm, trước khi nguội hẳn, những khối than có thể âm ỉ đến nổi bùng cháy thành ngọn lửa trở lại.

Đấy là hình ảnh mà thánh Phaolô dùng để thúc giục chúng ta thắp lại ngọn lửa đức tin khi chúng dường như đang lụi tàn. “Tôi nhắc anh em hãy khơi dậy ngọn lửa ơn Chúa từng được trao cho anh em.” Đúng là một hình ảnh đầy ý nghĩa. Đôi khi đức tin chúng ta cần được khơi dậy trong cốt lõi để đức tin đó được sống động và hiệu lực. Nhưng làm sao để được thế? Làm sao ta khơi dậy trở lại ngọn lửa đức tin của mình?

Ta khơi dậy ngọn lửa đức tin bằng cách đưa mình trở về cội rễ lần nữa. Dù cho đức tin là một ơn Chúa ban, nhưng đôi khi thật hữu ích nếu ta đi lại con đường và xem xét những tác động trần thế nào đã giúp gầy dựng đức tin trong ta.

Ai và điều gì đã giúp đưa đức tin đến với ta? Dĩ nhiên, đây là một câu hỏi vô cùng riêng tư mà chỉ có chúng ta mới trả lời được cho mình. Với tôi, khi lần trở lại và tìm đến gốc rễ đức tin của mình, tôi tập trung vào vài điểm.

Thứ nhất, là đức tin và chứng tá của bố mẹ tôi, một điều vô cùng quan thiết. Đức tin là điều quan trọng nhất trong cuộc đời bố mẹ tôi, và ông bà đã làm mọi việc có thể để bảo đảm con cái mình là chúng tôi cũng thấy rõ đức tin như thế. Và cuộc sống của bố mẹ tôi chưa bao giờ đi ngược đức tin của họ. Đấy là một chứng tá mạnh mẽ và và là một món quà vô giá.

Rồi còn có chứng tá của giáo xứ tôi, một cộng đoàn nhập cư nông thôn, đủ nhỏ để mọi người đều biết nhau, biết niềm vui nỗi buồn của nhau và có thể chia sẻ với nhau trong đức tin, dù cho không phải lúc nào cũng nồng hậu hết mực. Cần cả ngôi làng để nuôi dạy một đứa trẻ, và trong trường hợp tôi là cần cả một giáo xứ. Khi lớn lên, tôi có thể nhìn quanh nhà thờ, và thấy hầu hết những người tôi quen biết, dù thân hay không thân, đều đang quỳ gối trong cùng một đức tin. Ngày nay, đó là chuyện hiếm, và tôi xem đó là món quà lớn tôi đã nhận được.

Tiếp đến là chứng tá dấn thân và đức tin của các xơ Dòng Ursula, những người đã đến vùng nông thôn chúng tôi để dạy trong các trường công. Các sơ không chỉ dạy chữ mà còn dạy giáo lý cho chúng tôi nữa. Đến tuổi thiếu niên, tôi đã học được hai quyển giáo lý và nắm bắt rõ ràng những kiến thức về đức tin của mình, một món quà mà về sau tôi mới nhận ra được tầm quan trọng của nó.

Cuối cùng, một điều đã ghi khắc cội rễ bền vững sâu sắc trong lòng tôi, chính là tiếng Chúa trong thuở thiếu thời. Thuở thiếu thời, tôi nghe tiếng Chúa mạnh mẽ và rõ ràng trong lòng. Tôi phải thừa nhận, có nhiều điều mà lúc đó tôi xem là tiếng Chúa, thật ra chỉ là những tiếng nói của sợ hãi, rụt rè, cục bộ, và cái tôi tự đại của mình. Nhưng phải thừa nhận, cũng có tiếng Chúa, rõ ràng, không thể chối cãi. Tôi biết thế vì phần nhiều những nỗi sợ, rụt rè, cục bộ, và cái tôi của tôi đã biến mất từ lâu, nhưng tiếng Chúa thuở thiếu thời vẫn còn trong tôi.

Tuy nhiên, đôi khi tiếng đó có thể khá lặng lẽ, và cảm giác như đó chỉ là tiếng nói của sự ngây thơ thuở nhỏ, như Ông già Noel, Thỏ Phục Sinh, và Chúa Giêsu, chứ không phải là một điều có thực hoặc từng rất có thực. Với tôi, cũng như với tất cả mọi người, đôi khi trí tưởng tượng và tính hiệu lực của đức tin bị cằn khô đến nỗi những bận tâm của tôi chiếm hết chỗ của Chúa. Lúc đó tôi cần phải khơi dậy khối than âm ỉ của đức tin bằng cách đi lại hành trình để đưa bản thân tôi vào lại đức tin của bố mẹ, vào những gì ghi khắc trong lòng tôi nhờ cộng đoàn giáo xứ, vào những chứng tá và giáo lý mà các sơ Dòng Ursula đã dạy tôi, và vào tiếng nói thần thiêng sâu sắc rõ ràng đã vang lên trong tôi và hướng dẫn tôi thuở thiếu thời.

Hành trình đi ngược trở lại này có thể hữu ích cho hầu hết mọi người, nếu biết để ý một điều. Cảm giác như Thiên Chúa im lặng trong cuộc đời người trưởng thành của ta, thật ra đó có thể là một cách Chúa hiện diện sâu sắc hơn, chứ không phải là sự đi xuống của đức tin. Thuở thiếu thời, tiếng Chúa thường rõ ràng, nhưng về sau, sự rõ ràng đó nhường đường cho “đêm tối tâm hồn” như lời các nhà thần nghiệm. Và khi đó sự thiếu vắng Thiên Chúa không phải là vấn đề mất đức tin nhưng là một sự hiện diện mới mẻ, phong phú hơn và bớt hình tượng của Thiên Chúa trong đời chúng ta. Sự sốt sắng không phải lúc nào cũng là dấu chỉ của một đức tin sâu sắc, cũng thế sự thiếu vắng Thiên Chúa không nhất thiết là dấu hiệu của một đức tin đi xuống. Thiên Chúa hẳn đang kiên nhẫn chờ đợi và sẽ đến trong đời chúng ta, theo cách của Ngài, chứ không phải theo cách của chúng ta.

Dù cho như thế, chúng ta vẫn cần nghe theo lời thánh Phaolô: “Tôi nhắc anh em hãy khơi dậy ngọn lửa ơn Chúa từng được trao cho anh em.”