RonRolheiser,OMI

Đức tin và Sự nhẹ nhàng

Shusaku Endo, tác giả người Nhật của tiểu thuyết kinh điển, Thinh lặng (Silence) đã được Martin Scorsese chuyển thể thành phim, là người Công giáo, và ông thấy quê hương Nhật Bản của mình không phải lúc nào cũng cảm thông với đức tin của ông. Ông bị hiểu lầm, nhưng vẫn giữ được sự cân bằng và tấm lòng rộng lượng, là nhờ ông rất nhẹ nhàng, không nghiêm trọng hóa mọi chuyện. Đó chính là cách ông hợp nhất đức tin với cảm nghiệm riêng về các thất bại cá nhân, và cách ông giữ thái độ với một nền văn hóa hiểu lầm mình. Ông tin chính sự nhẹ nhàng làm cho đức tin sống được.

Ông nói đúng. Sự nhẹ nhàng khiến đức tin sống được, là vì sự hài hước và châm biếm cho chúng ta một thái độ cần có để tha thứ cho mình và cho người khác trước những yếu đuối và sai lầm của mình. Khi quá nghiêm trọng thì chẳng còn tha thứ, thậm chí là cả với bản thân mình.

Hài hước là gì? Nó có nghĩa là gì? Một thế hệ trước, Peter Berger đã viết quyển sách Chuyện của các Thiên thần (A Rumor of Angels), trong đó ông xem xét vấn đề hài hước theo cái nhìn triết học. Tôi thích kết luận của ông. Ông cho rằng, trong hài hước, chúng ta đạt đến sự siêu việt. Có thể cười trước một hoàn cảnh dù thương tâm hay thảm khốc đến đâu chẳng nữa, nghĩa là chúng ta đứng trên hoàn cảnh đó, trong chúng ta có điều gì đó không bị tình cảnh đó, hay bất kỳ tình cảnh nào giam hãm.

Trong các bài viết của nhà thơ người Nga, Anna Akhmatova, có một ví dụ tuyệt vời cho điều này. Trong thời kỳ thanh trừng của Stalin, chồng của bà đã bị bắt giam cùng với nhiều người khác. Bà thỉnh thoảng được đi thăm để đưa thư và đồ tiếp tế cho chồng. Khi đứng xếp hàng chờ trước nhà tù ở St. Petersburg, bà đứng bên cạnh các phụ nữ khác có chồng, con đang bị giam. Và hoàn cảnh còn trớ trêu hơn. Trong số họ, không một ai biết liệu người thân của mình còn sống hay không, thế mà phải chờ bên ngoài hàng tiếng đồng hồ giữa tiết lạnh mùa đông. Một ngày nọ, khi đang đứng xếp hàng chờ, một bà khác nhận ra bà, tiến lại gần và hỏi, “Bà tả cảnh này được không?” Akhmatova trả lời, “Được,” và khi bà nói thế, dường như hai người thoáng cười với nhau.

Thoáng cười với nhau. Một nụ cười có sự nhẹ nhàng, cho phép họ, dù vô thức, nhận ra rằng họ vượt trên hoàn cảnh đó. Nụ cười giữa họ cho họ thấy rằng họ không chỉ là họ lúc này. Dù hoàn cảnh đó có kinh khủng đến đâu, thì xét cho cùng, họ vẫn không phải là tù nhân của thời khắc đó. Hơn nữa, nụ cười đó là một hành động bất chấp đầy tính chính trị và ngôn sứ, dựa trên đức tin. Sự nhẹ nhàng có sức mạnh lật đổ.

Điều này không chỉ đúng với cách chúng ta sống đức tin, mà còn đúng trong cách chúng ta sống sao cho lành mạnh trong gia đình. Một gia đình nghiêm trọng sẽ không có chỗ cho tha thứ. Sự nặng nề sẽ đẩy các thành viên trong gia đình dần rơi vào khổ sở hay bị đẩy ra xa gia đình. Hơn nữa, nó còn tạo nên một ngẫu tượng là chính sự nghiêm khắc nặng nề đó. Ngược lại, một gia đình có thể xem xét vấn đề nghiêm túc, nhưng vẫn có thể cười với nó sẽ là gia đình có tha thứ, bởi sự nhẹ nhàng cho họ cái nhìn lành mạnh trước các nhược điểm của mình. Một gia đình lành mạnh có lúc sẽ chân thành xem xét bản thân, và mang trong đầu nụ cười giữa bà Akhmatova và người bạn của mình mà nói rằng, “Mình đâu có bi đát!”

Và điều này cũng đúng với chủ nghĩa dân tộc. Chúng ta cần nghiêm túc với đất nước của mình, nhưng một chút nhẹ nhàng sẽ giữ sự nghiêm túc này đúng hướng. Tôi là một người Canada. Là người Canada, chúng tôi yêu đất nước mình, tự hào về nó và nếu cần, sẽ chết vì nó. Nhưng chúng tôi có sự nhẹ nhàng vô cùng trong lòng ái quốc. Chúng tôi nói đùa về đất nước mình, và vui vẻ khi người khác cũng nói đùa như thế. Thế là chúng tôi không có những tranh cãi chua cay về ai ái quốc , ai không. Sự nhẹ nhàng giữ chúng tôi thống nhất.

Dĩ nhiên, tất cả chuyện này càng đúng trong đức tin và linh đạo. Đức tin thật sự thì thâm sâu, đã trở nên một phần trong tâm hồn, một DNA chi phối hành vi. Hơn nữa, đức tin thực sự không tránh né chuyện thương tâm trong đời, nhưng trang bị cho chúng ta để đương đầu với sự nặng nề của cuộc đời mỗi lúc chúng ta thất vọng, thất bại, đau lòng, chịu bất công, chịu phản bội, tan tác chia ly, bệnh tật, suy giảm sức khỏe, và cuối cùng là cái chết. Đừng nhầm điều này với tinh thần lạc quan tự nhiên hay chủ ý chối bỏ chuyện xấu. Một đức tin thật, vì là thật nên khiến chúng ta nhận thức mơ hồ về định mệnh và sự siêu việt của mình, đức tin như thế sẽ luôn cho chúng ta sự khôn ngoan, hiểu biết, và nụ cười, bất chấp hoàn cảnh như thế nào. Như thánh Thomas More tử đạo, chúng ta sẽ có thể đùa một chút với người đao phủ, và sẽ có thể tha thứ cho người ta và cho bản thân mình vì không hoàn hảo.

Cuộc đời của chúng ta thường bi đát. Nhưng không sao. Chúng ta vẫn có thể cười được với nhau! Chúng ta đang được ở trong bàn tay ân cần. Thiên Chúa rõ ràng có hài hước, Ngài thông hiểu và tha thứ.

Thế mà trong linh đạo Kitô giáo có quá nhiều sách phải đặt tên là, Sự nặng nề không chịu nổi của Đức tin.

Vượt trên chỉ trích và oán giận – Lời mời gọi cảm thông sâu sắc hơn

Gần đây tôi có tham gia một buổi hội thảo chuyên đề, và diễn giả trạc chừng tuổi tôi. Vì chúng tôi đều trải qua các thay đổi về tôn giáo và văn hóa như nhau, nên tôi đồng hưởng những gì ông nói và đồng cảm với ông. Và khi nhận xét về tình trạng chính trị và giáo hội của chúng ta thời nay, ông khá là chỉ trích, thậm chí là giận dữ. Và không phải không có lý do. Trong cả chính phủ và giáo hội của chúng ta thời nay, không chỉ có sự phân cực chua cay và thiếu lòng mến cùng sự tôn trọng căn bản, mà còn có cả sự mù quáng không thể bào chữa, thiếu minh bạch, và cả bất lương vị lợi. Diễn giả của chúng tôi vô cùng nhiệt tình đưa ra những chuyện này.

Và tôi đồng ý với phần lớn nội dung của ông. Tôi cũng có cùng cảm nhận như ông. Tình trạng hiện thời, dù là trong chính trị hay giáo hội, đều thật quá trì trệ, phân cực chua cay, và chỉ làm cho chúng ta thấy chán nản và muốn lên án những người chịu trách nhiệm cho sự mù quáng, bất lương và bất công dường như không thể bào chữa này. Nhưng dù cho tôi thấy nhiều lời ông nói là sự thật và cùng chia sẻ nhiều cảm nghĩ của ông, nhưng tôi không đồng ý với ông về nền tảng động cơ cho những điều này. Dường như ông nói dựa trên sự bi quan và giận dữ, không thể tìm thấy gì khác ngoài căm phẫn. Ông cũng rất tiêu cực trong thái độ của mình đối với những người phải chịu trách nhiệm cho vấn đề này.

Tôi không thể nói những điều ông nói là không đúng, và cảm nhận của ông là sai. Tôi có thể hiểu được vì sao ông có phản ứng như vậy. Nhưng tôi không chấp nhận được nền tảng động cơ của ông. Sự cay đắng và giận dữ, dù có biện minh thế nào, cũng không phải là động cơ tốt. Cả Chúa Giêsu và những người cao thượng đều mời gọi chúng ta hãy vượt qua cơn giận và căm phẫn.

Vượt lên cơn giận và căm phẫn, vượt lên sự chỉ trích chính đáng trước những gì là bất lương và bất công, chính là một sự cảm thông sâu sắc hơn. Lời mời gọi này không yêu cầu chúng ta thôi làm ngôn sứ khi đối diện bất công nhưng yêu cầu chúng ta làm ngôn sứ một cách sâu sắc hơn. Như Daniel Berrigan thường nói, một ngôn sứ là người thề yêu thương chứ không thề giận ghét.

Nhưng thật không dễ làm như thế. Trước bất công, bất lương, và cố ý mù quáng, mọi bản năng tự nhiên của chúng ta đều không muốn cảm thông. Đến mức nào đó, điều này là lành mạnh và cho thấy chúng ta vẫn mạnh mẽ về mặt đạo đức. Chúng ta nên thấy giận dữ và căm phẫn trước sai trái. Cũng có thể hiểu được khi chúng ta cảm thấy giận ghét, phán xét với những người gây ra tình trạng này. Nhưng đó là bước khởi đầu (một bước khởi đầu đủ lành mạnh) chứ không phải là toàn bộ con đường để chúng ta đi. Chúng ta được kêu gọi hướng đến một điều sâu sắc hơn, cụ thể là, một cảm thông mà trước đó chúng ta chưa có được. Cơn giận sâu sắc mời gọi chúng ta cảm thông sâu sắc.

Trong những thời khắc thực sự cay đắng trong đời, khi chúng ta thấy mình chìm trong cảm giác bị hiểu lầm, khinh dễ, bất công, và căm phẫn hợp lý đối với những người gây tình trạng này, thì cơn giận và sự căm ghét tự nhiên nảy sinh trong chúng ta. Chìm trong chúng một thời gian, thì không sao, bởi cơn giận là một hình thức căn thiết của sự đau buồn, nhưng sau một thời gian thì chúng ta phải tiến lên. Và lúc đó, thách thức là phải tự vấn lòng mình: Với những căm ghét này, làm sao để tôi yêu thương đây? Tình yêu mời gọi tôi làm gì trong tình trạng cay đắng này? Tôi có thể tìm được mối mối liên kết chung nào để tôi vẫn xem những người tôi đang oán giận là người trong cùng gia đình mình? Làm sao để tôi vươn ra, vươn qua khoảng cách của cảm giác giận dữ chính đáng này? Và có lẽ, quan trọng nhất là: “Tôi có thể tìm nơi đâu để có được sức mạnh hòng không chìm đắm trong căm phẫn vị kỷ và oán ghét?”

Làm sao để tôi yêu thương? Làm sao để tôi yêu thương trong tình thế này? Đó mới là thách thức. Chúng ta chưa từng được kêu gọi yêu thương trong tình thế như vậy. Nhận thức, cảm thông, tha thứ và tình yêu của chúng ta chưa từng trải qua cơn thử thách này. Nhưng đó chính là thử thách đạo đức tối hậu, một thử thách mà chính Chúa Giêsu đã trải qua trong vườn Giếtsêmani. Làm sao để yêu thương khi tất cả mọi thứ đều kêu gọi bạn làm điều ngược lại?

Hầu hết bản năng tự nhiên của chúng ta, và mọi sự xung quanh chúng ta, đều ngăn trở một cảm thông như thế. Khi đối diện bất công, các bản năng tự nhiên của chúng ta sẽ tự phát đóng sầm cánh cửa tin tưởng, và mở cánh cửa phán xét ra. Chúng còn mời gọi chúng ta căm phẫn và oán ghét. Những cảm giác đó tạo nên một sự tẩy rửa nhất định trong chúng ta. Cho chúng ta thấy khá hơn. Nhưng sự tẩy rửa đó chỉ là loại thuốc không ổn nếu dùng lâu dài. Để giữ sự lành mạnh lâu dài, chúng ta cần một điều gì đó vượt trên cay đắng và oán ghét. Và đó chính là sự cảm thông.

Dù không chối bỏ những chuyện sai trái, không chối bỏ rằng chúng ta phải đứng lên làm ngôn sứ trước những chuyện sai trái, nhưng cảm thông mời gọi chúng ta tiến tới giai đoạn hậu-giận dữ, hậu-căm phẫn, hậu-oán ghét. Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta, và ngày hôm nay, đó chính là điều cần thiết nhất trong xã hội, giáo hội, và gia đình chúng ta.

Tự tử và Linh hồn

Hơn 50 năm trước, tâm lý gia James Hillman đã viết quyển sách với tiêu đề, “Tự tử và Linh hồn.” Quyển sách này hướng đến các nhà trị liệu tâm lý và ông biết các bác sĩ tâm lý đó và cả những người khác sẽ không dễ dàng đón nhận. Có nhiều lý do. Ông đã thẳng thắn thừa nhận rằng trong sách có những điều “đi ngược lại mọi thường thức, mọi biện pháp y khoa, và cả lý luận.” Nhưng như tiêu đề đã làm rõ, ông đang nói về tự tử và đang cố hiểu về tự tử. Chẳng phải đó là một việc đi ngược lại mọi thường thức, mọi biện pháp y khoa, và cả lý luận hay sao? Cái lý của ông là thế.

Trong một vài trường hợp, tự tử có thể là kết quả của sự mất cân bằng sinh hóa hay một khuynh hướng di truyền đi ngược lại với sự sống. Đây đúng là một chuyện bất hạnh và thương tâm, nhưng cũng có thể hiểu được. Loại bệnh này đi ngược thường thức, biện pháp y khoa, và cả lý luận. Tự tử có thể là kết quả của một cơn khủng hoảng tâm lý trầm trọng hay một thống khổ quá đỗi không thể nào điều hòa được, và đơn giản là nó phá vỡ tâm thần của đương sự đến nỗi cái chết, như một giấc ngủ dài, trở thành một lối thoát quá đỗi hấp dẫn. Và dù đến điểm này, thường thức, y khoa và lý luận đều bó tay, nhưng chúng ta vẫn có thể nắm bắt được đôi chút về lý do xảy ra tự tử.

Có những trường hợp tự tử không phải do mất cân bằng sinh hóa, khuynh hướng di truyền, khủng hoảng trầm trọng hay thống khổ quá đỗi. Làm sao giải thích các trường hợp này?

Hillman, với tác phẩm đã viết cách đây hơn 50 năm, đã có lời biện hộ công khai cho linh hồn con người. Linh hồn có thể đi ngược thân xác và đi ngược lợi ích thể lý của chúng ta, và tự tử thường là một quyết định của linh hồn. Thật là một thấu suốt đánh động! Linh hồn và thể xác chúng ta không phải lúc nào cũng hướng đến cùng một điều, và đôi khi chúng quá lệch nhau đến nỗi dẫn đến kết quả là cái chết.

Trong sự căng thẳng giữa linh hồn và thể xác, những nhu cầu và xung lực của thể xác thường dễ nhận thấy, hiểu được và chăm sóc được hơn. Thể xác thường có những gì nó muốn hay ít nhất là chúng ta thấy rõ được những gì nó muốn và lý do nó kiệt quệ. Còn linh hồn? Các nhu cầu của linh hồn quá phức tạp đến nỗi thật khó để nhìn ra và hiểu thấu, chưa nói đến việc chăm sóc. Như triết gia Pascal đã nói. “Trái tim có lý lẽ của nó mà lý luận không thể hiểu được.” Điều này cũng đồng nghĩa với lời của Hillman. Nhận thức lý tính của chúng ta thường hoang mang trước những nhu cầu mơ hồ trong bản thân mình.

Nhu cầu mơ hồ đó chính là tiếng nói của linh hồn, nhưng không dễ để xác định được chính xác nó muốn gì. Hầu như chúng ta chỉ cảm nhận tiếng nói linh hồn như một chứng bệnh, một khắc khoải, mệt mỏi mà chúng ta không thể nào phân định chính xác được, như một áp lực nội tại đôi khi đòi chúng ta một thứ mâu thuẫn rõ rệt với nhu cầu của toàn bộ phần còn lại trong con người chúng ta. Chúng ta là một bí ẩn với chính mình.

Đôi khi những đòi hỏi của linh hồn đi ngược lại với lợi ích thể lý, không đến mức trầm trọng gây tự tử, nhưng ngay cả như thế, chúng ta vẫn thấy rõ được những gì Hillman đã nêu lên. Ví dụ như, chúng ta thấy một người đang quẫn trí bắt đầu cứa tay hay các phần cơ thể khác của mình. Những vết cắt đó không nhằm kết liễu sự sống, nhưng là để gây đau đớn và đổ máu. Tại sao? Người tự cắt mình, hầu như không thể giải thích theo lý tính lý do mình làm vậy, hoặc ít nhất là không thể giải thích tại sao đau đớn và đổ máu như thế, theo cách nào đó, lại giúp xoa dịu cơn quẫn trí của mình. Cô chỉ biết rằng mình đang đau ở một điểm mà cô không thể vươn tới, và khi làm đau mình ở một điểm mà cô có thể vươn tới, thì cô có thể đương đầu được với nỗi đau mà cô không thể vươn tới đó. Nguyên tắc của Hillman là thế này: Linh hồn có thể và có đòi hỏi những điều đi ngược lại với lợi ích của thể xác. Và nó có lý do của nó.

Với Hillman, đây là “nghịch lý gốc” để một nhà tâm lý học tìm cách hiểu được hành động tự tử. Nó còn là một nghịch lý giá trị cho tất cả chúng ta, dù không phải là nhà tâm lý học, nhưng phải nỗ lực để hiểu được cái chết của một người thân yêu đã tự tử.

Hơn nữa, đây cũng là một nghịch lý có thể giúp cho ta hiểu được nhau và hiểu được chính mình. Đôi khi linh hồn yêu cầu những thứ đi ngược lại rõ ràng với lợi ích và sức khỏe của chúng ta. Trong khi làm việc mục vụ và đôi khi là an ủi một người bạn đang đau lòng, nhiều lúc tôi thấy mình bất lực trước một người đang ngày càng xuôi dần theo chiều hướng làm hại mình một cách vô cùng phi lý. Tranh cãi lý luận và thường thức chẳng có tác dụng gì. Đơn giản là người đó muốn làm việc này để hủy hoại bản thân mà thôi. Tại sao? Linh hồn có lý do của nó. Tất cả chúng ta, dù theo những cách ít nghiêm trọng hơn, nhưng cũng từng cảm nghiệm điều này. Đôi khi chúng ta có những hành động gây hại cho sức khỏe thể xác và lợi ích bản thân, đi ngược lại mọi thường thức và lý luận. Linh hồn của chúng ta có lý do của nó.

Và tự tử cũng có lý do của nó.

Đi tìm Sự thật Không thể bàn cãi

Trong quyển 12 Quy luật Cuộc đời – Thuốc giải cho Sự Hỗn loạn (12 Rules for Life – An Antidote to Chaos), quyển sách đang gây xôn xao trong nhiều nhóm hiện thời, Jordan Peterson đã chia sẻ về cuộc hành trình của mình đi tìm sự thật và ý nghĩa. Câu chuyện của ông là thế này.

Khi ông còn trẻ và đi tìm con đường cho riêng mình, có giai đoạn ông thấy mình theo thuyết bất khả tri, không chỉ hoài nghi về nền Kitô giáo nông cạn mà ông được dạy dỗ, mà còn về tất cả mọi sự khác liên quan đến sự thật và uy tín. Thật sự có điều gì để ta có thể tin tưởng đây? Điều tối hậu để tin tưởng là gì đây?

Không dám sánh ngang với một trong những bộ óc vĩ đại nhất lịch sử, Rene Descartes, người cũng đã đấu tranh với thuyết bất khả tri tương tự cách đây 500 năm, Peterson đã học theo cách tiếp cận của Descartes khi cố gắng tìm kiếm một sự thật mà mình không thể nào hoài nghi. Thế là, như Descartes, ông lên đường tìm một “sự rành rành”, một tiền đề tuyệt đối không thể nghi ngờ. Như chúng ta biết, Descartes tìm được “sự rành rành” của ông, trong câu nói, “Tôi suy tư, bởi thế, tôi tồn tại!” Đó là một chuyện không thể lừa phỉnh được, bởi dù có bị lừa phỉnh thì cũng là bằng chứng rành rành rằng mình tồn tại. Triết lý của Descartes dựa trên tiền đề không thể chối cãi này, xin để lịch sử phán định. Nhưng lịch sử không thể bác bỏ sự thật trong câu nói của ông.

Thế nên Peterson cũng đặt ra cùng câu hỏi triệt để như thế. Một sự duy nhất nào không thể bị nghi hoặc? Có sự gì đích thực hiển nhiên đến nỗi không một ai nghi hoặc được? Với Peterson, đó không phải là việc chúng ta suy nghĩ, vốn không thể bàn cãi rồi, mà là việc chúng ta đau khổ. Đây là sự thật rành rành của ông, đau khổ có thật. Và không thể nghi hoặc nó. “Những người theo thuyết hư vô không thể nào dùng hoài nghi mà hạ thấp nó. Những người theo thuyết chuyên chế không thể xóa bỏ nó. Những người yếm thế cũng không thể thoát được hiện thực của nó.” Đau khổ là có thật, vượt quá mọi nghi hoặc.

Hơn nữa, theo Peterson, loại đau khổ nặng nề nhất không phải là do những ngẫu nhiên bẩm tại trong con người và sự khả tử của ta, cũng không phải do sự tàn bạo đôi khi vô tình của tự nhiên. Đau khổ nặng nề nhất là đau khổ mà người này gây ra cho người kia, loại đau khổ mà phần này nhân loại gây ra cho phần kia của nhân loại, loại đau khổ mà chúng ta đã thấy trong biết bao ác nhân của thế kỷ 20, Hitler, Stalin, Pol Pot, và vô số những người khác đã gây ra qua các cuộc tra tấn, cưỡng hiếp, hành hạ, và cái chết của hàng triệu người.

Từ tiền đề không thể bàn cãi này, ông đưa ra một điều khác cũng không thể nào phản bác. Loại đau khổ này không những chỉ có thật, mà còn sai trái! Chúng ta đều có thể đồng ý rằng loại đau khổ này không tốt và thậm chí còn tệ hơn mức “không tốt” quá nhiều. Và nếu có điều gì đó không tốt, thì có điều gì đó tốt. Lập luận của ông là: “Nếu tội xấu xa nhất là giày vò người khác với mục đích duy nhất là gây đau khổ, thì sự thiện là bất kỳ điều gì đối lập tuyệt đối với nó.”

Và những diễn giải tiếp theo thật rõ ràng: Sự thiện là bất kỳ điều gì ngăn chặn những chuyện như thế xảy ra. Nếu đúng là thế, thì cũng nêu lên rõ ràng sự thiện là gì, và sống tốt là thế nào. Nếu những loại đau khổ kinh khủng nhất được gây nên bởi ái kỷ, ích kỷ, dối trá, kiêu ngạo, tham lam, thèm khát quyền lực, tàn bạo chủ tâm, và vô cảm, thì rõ ràng chúng ta được kêu gọi hãy theo đuổi những gì đối lập với chúng, là vị tha, quên mình, khiêm nhượng, thành thật, trìu mến, và hy sinh.

Không phải ngẫu nhiên mà Peterson xác nhận tất cả những điều này trong cùng một chương mà ông nêu bật tầm quan trọng của hy sinh, trì hoãn sự tưởng thưởng cho bản thân để hướng đến lợi ích lớn lao hơn. Thấu suốt của ông cũng tương đồng với triết gia René Girard và các nhà nhân học khác đã chỉ ra rằng trước sự hiến tế vô thức cho những vị thần vô tình, vốn thể hiện nơi sự tàn ác của Hitler và cả nơi lời phỉ báng ác ý chúng ta dành cho người khác, thì cách duy nhất để ngăn chặn nó chính là hy sinh quên mình. Chỉ khi chấp nhận để mình chịu đau khổ do những chuyện ngẫu nhiên, do tội lỗi và sự khả tử của mình, thì chúng ta mới thôi phóng chiếu chúng sang người khác để khiến họ đau khổ nhằm cảm thấy thoải mái hơn về bản thân mình.

Peterson viết với tư cách một người theo thuyết bất khả tri, hay có lẽ, chính xác hơn là một nhà phân tích, một người quan sát cho toàn nhân loại, nên không muốn bàn đến đức tin riêng của mình. Cũng hợp lý. Có lẽ là khôn ngoan nữa. Không có lý do gì để trách cứ các động cơ của ông. Nền tảng cho lập luận của ông mới quan trọng, và nền tảng đó cực kỳ vững chắc. Đấy chính là nền tảng cho Bài giảng trên núi của Chúa Giêsu, là nền tảng cho những đặc tính tốt đẹp nhất của các Giáo hội Kitô giáo, là nền tảng cho mọi tôn giáo cao đẹp trên thế giới, và là nền tảng cho những gì tốt đẹp nhất nơi con người.

Nhà thần nghiệm thời trung cổ, Têrêsa thành Avila, đã viết nhưng lời sâu sắc và đầy thách thức. Luận thuyết của thánh nữ về đời sống thiêng liêng giờ đã là một phần kinh điển và cấu thành trong tiêu chuẩn các bài viết thiêng liêng Kitô giáo. Thánh nữ đã nêu lên rằng, trong những năm sống đời hoạt động của mình, thì câu hỏi quan trọng nhất cần thách thức cho chính bản thân mình là: Tôi có thể giúp đến đâu? Jordan Peterson, với một lập luận và ngôn ngữ dễ hiểu với người thời nay, cũng đưa ra cùng một thách thức hệt như thế.

Cái tên

Chúng ta được kêu gọi đổi tên.

Chúng ta có lẽ đều biết chuyện Thiên Chúa đổi tên cho ông Abram thành Abraham. Sự thay đổi này có vẻ quá nhỏ đến nỗi có đọc qua đoạn này chúng ta cũng chẳng để tâm. Có gì khác biệt giữa Abram và Abraham?

Cái tên Abram, nghĩa là “Người cha Cao quý,” là cái tên được ban cho người tộc trưởng được Thiên Chúa hứa rồi một ngày sẽ là tổ phụ của dân Do Thái. Nhưng về sau, Thiên Chúa lại hứa cho ông làm cha của mọi dân tộc trên toàn mặt đất, và đổi tên cho ông thành Abraham. “Tên ngươi không còn là Abram, tên ngươi phải là Abraham, vì Ta cho ngươi trở thành cha của hằng hà sa số dân tộc.” (Sách Sáng Thế 17, 5).

Sự thay đổi này có ngụ ý gì? Cái tên Abraham, trong nguyên từ của nó, có sự mở rộng trở thành một sự lớn lao hơn, khi giờ đây ông là cha của mọi dân tộc. Abram, cha của một dân tộc, giờ trở thành Abraham (Ab hamon goyim, trong tiếng Do Thái) là cha của mọi dân tộc khác.

Sự thay đổi này không chỉ mở rộng một từ, mà còn mở rộng Abraham, xác định lại nhận thức của ông về bản thân và sứ mạng của mình. Ông không còn xem mình là tổ phụ của một dân tộc, của cộng đồng tôn giáo và sắc tộc riêng của mình nữa, nhưng xem mình và đức tin đã được giao phó cho mình là một người và một sự dành cho mọi dân tộc. Ông không còn nghĩ mình là tổ phụ của một bộ tộc riêng rẽ, bởi Thiên Chúa không phải là Chúa của một nhóm riêng biệt. Cũng thế, ông không còn chỉ nghĩ rằng bộ tộc của mình là gia đình của mình, nhưng nghĩ rằng mọi người khác, bất kể sắc tộc hay tôn giáo, đều là con cháu ông.
Như thế nghĩa là gì? T.S. Eliot có lẽ đã trả lời câu hỏi này khi nói: “Nhà là nơi chúng ta khởi đầu.” Những cội rễ văn hóa, tôn giáo, sắc tộc của chúng ta rất quý báu và quan trọng, nhưng chúng không phải là tột đỉnh mà chúng ta vươn đến. Cội rễ là nơi chúng ta khởi đầu.

Tôi lớn lên là một đứa trẻ được che chở, trong một gia đình gần gũi ở một vùng nông thôn khép kín. Chúng tôi đều như nhau, hàng xóm, bạn học, mọi người tôi quen, tất cả đều cùng chia sẻ lịch sử chung, sắc tộc, tôn giáo, văn hóa, các giá trị chung. Tôi trân trọng các giá trị đó. Chúng là ơn tuyệt vời cho tôi. Những cội rễ này cho tôi sự ổn định giúp tôi được tự do suốt phần đời về sau. Nhưng chúng chỉ là cội rễ quý báu của tôi, chứ hiếm khi là một điểm để tôi khởi đầu.

Và với tất cả chúng ta cũng vậy. Chúng ta bắt rễ trong một gia đình, một sắc tộc, một khu vực, một quốc gia, và một đức tin nhất định, với một quan điểm nhất định về thế giới, và như thế có những người thuộc nhóm của chúng ta, có những người không. Nhưng chính đó là nơi chúng ta khởi đầu. Chúng ta lớn lên, thay đổi, chuyển chỗ, gặp người mới, sống và làm việc với những người không cùng chia sẻ nền văn hóa, quốc tịch, sắc tộc, màu da, tôn giáo hay thế giới quan nhất định của mình.

Và thế là ngày nay, chúng ta chia sẻ đất nước, thành phố, Giáo hội của mình với những người ngoài, những người thuộc các nhóm khác. Và như thế chúng ta dấn vào cuộc đấu tranh lâu dài, và tôi mong cuộc đấu tranh này sẽ thắng lợi, để cuối cùng thấy ra rằng những người khác với chúng ta, cũng là anh chị em với chúng ta, đều cùng là con một Chúa, và sự sống của họ cũng quan trọng và quý báu như của những người cùng đức tin, huyết thống, hay quốc tịch với chúng ta. Như Abraham, chúng ta cần đổi tên để không biến chủ nghĩa ái quốc thành ngẫu tượng đến mức tin rằng nhóm của chúng ta đặc biệt và chỉ có quốc gia, màu da, nền văn hóa, hay tôn giáo của chúng ta mới độc nhất và đặc ân trước mặt Thiên Chúa.

Thế giới của chúng ta đang toàn cầu hóa rất nhanh, và các quốc gia, Giáo hội đang ngày càng đa nguyên và đa dạng về mặt sắc tộc, ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo. Quốc gia, vùng miền, nơi làm việc, và giáo hội của chúng ta đang thật sự khoác lên gương mặt mới. Những cộng đồng được bảo bọc cũ đã cho chúng ta cội rễ giờ đang biến mất và nhiều người trong chúng ta sợ chuyện đó, thấy cám dỗ muốn hạn chế chuyện đó, muốn theo tả khuynh, muốn bảo vệ những ranh giới cũ, và tuyên bố rằng Thiên Chúa và chân lý chỉ có nơi chúng ta mà thôi. Có thể hiểu vì sao lại thế, nhưng nhân tính và đức tin cao đẹp nhất của chúng ta không kêu gọi chúng ta trở nên như vậy. Như Abraham, chúng ta được kêu gọi đổi tên.

Chúng ta được kêu gọi hãy trân quý di sản của mình, quốc gia, tiếng mẹ đẻ, văn hóa, đức tin và Giáo hội của mình, vì chỉ khi cắm rễ sâu trong cộng đồng ban đầu thì chúng ta mới đủ vững vàng và vị tha để biến những người ngoài thành gia đình của mình. Nhưng nhà là nơi chúng ta khởi đầu. Từ những mái ấm tuyệt vời đem lại cội rễ vững vàng, chúng ta được kêu gọi hãy mở rộng tấm lòng về mặt tôn giáo, văn hóa, sắc tộc để cho tất cả mọi người cuối cùng có thể gắn bó như một gia đình. Chúng ta được kêu gọi hãy đổi từ Abram thành Abraham.

Vượt qua Khoảng cách không thể vượt qua

“Vả chăng giữa chúng ta và các ngươi, đã cắt ngang định sẵn một vực thẳm, khiến cho tự bên này có ai muốn cũng không thể qua bên các ngươi, và tự bên ấy, người ta không quá giang đến được với chúng ta”

Abraham đã nói những lời này với linh hồn trong dụ ngôn Người giàu và Lazarô (Lc 16), và thường chúng ta hiểu câu này, giữa thiên đàng và địa ngục có một khoảng cách không thể vượt qua. Không một ai đi từ địa ngục lên thiên đàng. Địa ngục là đời đời kiếp kiếp và dù có hối hận ăn năn bao nhiêu cũng không đủ để lên thiên đàng. Thật vậy, một khi đã vào địa ngục thì không một ai trên thiên đàng có thể giúp, và khoảng cách giữa hai bên đã định như thế rồi.

Nhưng đấy không phải là ý của dụ ngôn này.

Vài năm trước, Jean Vanier đã phát biểu trong dịp đọc các bài đọc Massey Lectures, và ông đã dùng dụ ngôn này. Ông nhấn mạnh rằng “vực thẳm không thể vượt qua” ở đây không phải là khoảng cách giữa thiên đàng và địa ngục như kiểu nghĩ thông thường. Theo ông Vanier, khoảng cách không thể vượt qua tồn tại ngay trong đời này, với khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, khoảng cách mà chúng ta mãi mãi không thể khắc phục được. Hơn nữa, đây là khoảng cách với nhiều chiều kích hơn chúng ta tưởng tượng nổi.

Điều gì ngăn cách người giàu và người nghèo quá rạch ròi, như một vực thẳm dường như không bao giờ có thể vượt qua? Và điều gì có thể vượt qua được khoảng cách đó?

Ngôn sứ I-sa-ia đã cho chúng ta một hình ảnh dễ hiểu hơn (Is 65, 25) Rút ra từ một mộng ước về Đấng Thiên sai, ngôn sứ cho chúng ta biết cách có thể vượt qua khoảng cách này. Trong thời Đấng Thiên sai, khoảng cách này có thể vượt qua, khi chúng ta ở trong thiên đàng, vì ở đó vào thời ân sủng Chúa có thể tuôn đổ sự hòa giải chung, khi “Sói với chiên sẽ ăn cỏ làm một (với nhau), sư tử cũng như bò sẽ ăn cỏ,”

Sư tử và chiên sẽ nằm cạnh nhau. Nhưng sư tử sẽ giết chiên mà! Làm sao thay đổi được điều này? Đấy chính là khoảng cách không thể vượt qua giữa thiên đàng và địa ngục. Đó là khoảng cách giữa nạn nhân và kẻ thủ ác, người vô lực và kẻ quyền lực, người bị bắt nạt và kẻ bắt nạt, người bị khinh thị và kẻ mang tâm thức mù quáng, người bị đàn áp và kẻ áp bức, nạn nhân và kẻ kỳ thị, người bị thù ghét và kẻ thù ghét, người anh cả và đứa em hoang đàng, người nghèo và người giàu. Đấy chính là khoảng cách giữa thiên đàng và địa ngục.

Nếu đây là ý của I-sa-ia, và tôi nghĩ đúng là thế, thì hình ảnh này đem lại một thách thức theo cả hai hướng. Không chỉ con sư tử cần biến đổi và trở nên hiền lành, thông hiểu và phi bạo lực để có thể nằm cạnh con chiên, mà chính con chiên cũng cần biến đổi và đi sâu hơn trong sự thông hiểu, tha thứ và tin tưởng để nằm cạnh sư tử. Mỉa mai thay, điều này có thể là một thách thức lớn đối với con chiên hơn là sư tử. Một khi bị tổn thương, một khi đã là nạn nhân, đã bị thù ghét, bị sỉ vả, bị cưỡng hiếp, bị bắt nạt, một khi đã bị kỳ thị vì chủng tộc, giới tính, tôn giáo hay xu hướng tính dục, thì rất khó, và hầu như là không thể để người ta toàn tâm tha thứ, quên đi, và tin tưởng người đã làm tổn thương chúng ta.

Đôi khi đời có thể bất công khủng khiếp và có lẽ sự bất công lớn nhất chính là sự bất công khi phải làm nạn nhân, chịu đựng bạo lực, cưỡng hiếp, giết người. Mà sau khi đã chịu những thứ đó, chúng ta lại phải tha thứ cho những kẻ đã thủ ác, với ý thức rằng người đã gây hại cho chúng ta có lẽ sẽ thấy thanh thản hơn khi được bỏ qua vụ việc đó mà hướng đến sự hòa giải. Đấy có lẽ là sự bất công lớn nhất. Con chiên phải tha thứ cho con sư tử đã giết mình.

Thế mà đó lại là mời gọi cho tất cả chúng ta, những người sống kiếp nạn nhân. Parker Palmer nói rằng bạo lực xảy đến khi người ta không biết phải làm gì khác với nỗi đau của mình, và những chuyện bạo hành, kỳ thị chủng tộc giới tính, căm ghét người đồng tính, và khinh bỉ người nghèo đều là những hậu quả tai ác của điều này. Ông gợi ý rằng, chúng ta cần có một “hình dung đạo đức” rộng lớn hơn.

Tôi tin là ông nói đúng về cả hai điểm này. Nhưng hiểu rằng kẻ thủ ác thật ra đang rất đau đớn, hiểu rằng kẻ bắt nạt trước đó đã bị bắt nạt, thường chẳng giúp gì mấy trong việc xoa dịu nỗi đau và sự sỉ nhục mình đã chịu. Cũng thế, hình dung cách lý tưởng nhất để đáp trả những chuyện này theo tinh thần Kitô hữu, thì có ích đấy nhưng tự nó không đủ cho chúng ta sức mạnh để tha thứ. Cần có một thứ gì đó nữa, cụ thể là một sức mạnh vượt quá chúng ta.

Đây là một lời dạy khó nuốt, một lời dạy không thể nói qua là được. Làm sao để tha thứ cho một người đã xúc phạm đến mình? Trong đời này, hầu như là không thể, nhưng hãy nhớ rằng ngôn sứ I-sa-ia đang nói về thời Đấng Thiên sai, một thời mà với ơn Chúa giúp, chúng ta có thể vượt qua vực thẳm không thể vượt qua đó.

Khiết tịnh và Tình yêu

Khốn cho khiết tịnh, nếu nó không được thực hành trong yêu thương, nhưng khốn cho yêu thương mà không có khiết tịnh..

Đây là những lời của thầy dòng Biển Đức, Benoit Standaert, và tôi tin chúng có thể rất hữu ích trong văn hóa thời nay, nơi mà hầu như mọi người cả trong giới thế tục lẫn sống đời khiết tịnh tận hiến đều nghĩ rằng tính dục và khiết tịnh là thứ đối lập nhau như tử địch.

Thật đáng buồn khi thời nay người ta không hiểu rõ sự đối lập này, cả trong văn hóa lẫn trong Giáo hội chúng ta. Trong văn hóa đương đại, sự khiết tịnh hầu như được xem là ngây thơ ngơ ngác, thiếu sự khai sáng quan trọng, và chỉ là một phẩm chất được tôn vinh và bảo vệ trong tuổi ấu thơ. Thật vậy, trong nền văn hóa thời nay, khiết tịnh thường bị khinh thị và bị xem là sự khắc nghiệt về đạo đức dựa nên nỗi sợ. Mỉa mai thay, nhiều người trong Giáo hội đang cố bảo vệ sự khiết tịnh lại, cũng chẳng lành mạnh hơn gì. Chúng ta không bao giờ liên kết sự khiết tịnh với một linh đạo có thể tôn vinh tính dục như là món quà đẹp đẽ của Thiên Chúa vốn được định để gắn kết sự phong phú, thiêng liêng và vui mừng.

Tính dục và khiết tịnh không phải là đối thủ như kiểu nền văn hóa và giáo hội chúng ta thường nhận định. Chúng chỉ là hai mặt của đồng xu. Chúng cần nhau. Tính dục không có khiết tịnh thì vô hồn và không đáng trọng. Ngược lại, khiết tịnh tự xem mình là cao vượt hay tách rời tính dục, thì sẽ kết cục trong cằn cỗi, phán xét và giận dữ. Khốn cho cả hai, nếu không biết tôn trọng mặt kia.

Bất hạnh thay, ngoại trừ vài ngoại lệ, Giáo hội chưa từng hiểu thấu về tính dục, và cũng như vậy, trừ số ngoại lệ còn hiếm hoi hơn, nền văn hóa của chúng ta chưa từng hiểu thấu sự khiết tịnh. Người ta tìm kiếm, và hầu như chẳng thấy, một linh đạo kitô giáo về tính dục thật sự bao quát và tôn vinh chính đáng món quà tuyệt vời mà Thiên Chúa ban tặng chúng ta trong tính dục. Cũng như thế, người ta cũng tìm kiếm, và hầu như chẳng thấy, một tiếng nói thế tục nào toát lên được tầm hệ trọng của khiết tịnh. Khi ông Môsê đứng trước bụi gai bốc cháy và Thiên Chúa bảo ông, “Cởi giày ra vì nơi ngươi đang đứng là nơi thánh,” cũng có lẽ là lời Thiên Chúa đang nói về chúng ta khi đứng trước mặt nhau trong mầu nhiệm tình yêu và tính dục. Tính dục đem lại sự sống chỉ khi nó được trao ban và đón nhận cùng lòng tôn trọng thích đáng.

Tính dục không chỉ là tình dục. Khi tạo thành con người đầu tiên, Thiên Chúa nhìn họ và nói, “Con người ở một mình thì không tốt!” Điều này không chỉ đúng với ông A-dong và bà E-và, mà còn đúng với tất cả mọi con người, mọi sinh vật, và mọi phân tử nguyên tử trong vũ trụ. Ở một mình thì không tốt, và tính dục là ngọn lửa tồn tại trong chúng ta ở mọi mức độ hiện sinh, ý thức và không ý thức, cả thân xác và linh hồn, hướng chúng ta ra khỏi sự cô độc của bản thân, hướng về gia đình, cộng đồng, tình bạn, kết giao, sinh sôi, đồng sáng tạo, mừng vui, phấn khởi và giao hợp. Tính dục có liên kết với bản năng sống của chúng ta, và không thể tách rời khỏi sự thiêng liêng mà chúng ta cảm nhận trong mình với tư cách thụ tạo theo hình ảnh Thiên Chúa. Và là một sinh lực, tính dục là điều thiêng liêng, không bao giờ đáng bị dè bỉu hay bị hạ giá xuống một thứ tầm thường.

Còn khiết tịnh, nhiều người chúng ta không biết, trước hết không chỉ là một khái niệm trong tình dục. Nó hơn thế nhiều. Khiết tịnh là sự tôn trọng thích đáng và kiên nhẫn thích đáng, không chỉ là lập trường của chúng ta với hôn nhân, mà thật ra là lập trường của ta trước mọi chuyện trong đời. Khiết tịnh không phải là độc thân, và càng không phải là lãnh đạm. Người ta có thể độc thân nhưng không khiết tịnh, cũng như người ta có thể có sinh hoạt tình dục tích cực nhưng vẫn khiết tịnh. Nếu hiểu đúng, thì khiết tịnh không phải là bài tình dục, mà nó bảo vệ tính dục khỏi sức mạnh quá dữ dội của chính nó bằng cách tạo nên những bộ lọc cần thiết, là sự kiên nhẫn và tôn trọng, để cho người khác được là chính mình, cho chúng ta được là chính mình, và cho tình dục được là một ơn thiêng liêng đem lại sự sống như mục đích của nó.

Trong quyển Holy the Firm, Annie Dillard đã cho chúng ta một hình ảnh rất thú vị về khiết tịnh. Bà kể rằng, một ngày nọ, khi ngắm một chú bướm vất vả chui ra khỏi kén, và bà đã mất kiên nhẫn. Tiến trình thoát kén thật đẹp nhưng chậm kinh khủng, nên bà đã lấy một cây nến và thêm nhiệt lượng cho nó. Chú bướm chui ra khỏi kén nhanh hơn, nhưng bởi tiến trình đã không theo đủ thời gian và sự tự do cần thiết của nó, nên chú bướm chui ra với đôi cánh bị hỏng. Quy luật tự nhiên đã không được tuân thủ, một lỗi lầm trong khiết tịnh, một sự mất kiên nhẫn thiếu khôn ngoan, một sự hấp tấp dẫn đến khiếm khuyết xảy ra trong tự nhiên.

Tính dục và khiết tịnh cần nhau. Tính dục đem lại sinh lực, khát khao, nồng nhiệt và khẩn bách khiến chúng ta nhận ra, trong vô thức hay ý thức, rằng ở một mình thì không tốt. Nếu dập tắt tiếng nói của tính dục, chúng ta sẽ trở nên cằn cỗi và giận dữ. Mặt khác, khiết tịnh cho chúng ta biết rằng, trên hành trình tìm kiếm sự hòa hợp với mọi thứ vượt ngoài bản thân, chúng ta phải đủ kiên nhẫn và tôn trọng để cho người khác được trọn vẹn là chính họ và chúng ta được trọn vẹn là chính mình.

Bản ngợi ca Giáo hội

Carlo Carretto là tu sĩ người Ý, ngài qua đời năm 1988. Ngài đã sống khổ tu trong Sa mạc Sahara nhiều năm, dịch Kinh thánh qua tiếng Tuareg, và từ sự cô tịch trong sa mạc, ngài đã viết nên những quyển linh đạo tuyệt vời. Những tác phẩm và đức tin của ngài thật đặc biệt khi có thể kết hợp lòng sốt sắng trẻ thơ với tinh thần bài trừ ảnh tượng thánh sắc bén (khi cần thiết). Ngài yêu mến giáo hội sâu sắc, nhưng không mù quáng trước những lỗi lầm và thất bại của Giáo hội, và ngài không ngại chỉ ra những khiếm khuyết đó

Về sau, khi vấn đề sức khỏe buộc ngài phải rời sa mạc để về nghỉ hưu tại một nhà dòng ở quê hương Ý quốc. Khi ở đó, ngài đã đọc một quyển sách của một nhà vô thần đã công kích lời của Chúa Giêsu trong bài giảng trên núi, “Cứ tìm rồi sẽ thấy”, một câu dĩ nhiên có nghĩa là nếu tìm kiếm Thiên Chúa với tâm hồn chân thành thì sẽ tìm thấy Ngài. Nhà vô thần này đã đặt tên quyển sách là “Tôi tìm và chẳng thấy,” lập luận rằng theo kinh nghiệm của ông, một tâm hồn chân thành có thể tìm kiếm Thiên Chúa mà chẳng được gì.

Carretto đã viết một quyển sách để đáp lại luận điệu này, “Tôi tìm và đã thấy.” Với ngài, lời của Chúa Giêsu là thật. Trong cuộc tìm kiếm của mình, bất chấp có nhiều chuyện mình gặp có thể gợi lên sự vắng mặt của Thiên Chúa, ngài vẫn tìm thấy Thiên Chúa. Nhưng ngài thừa nhận có những khó khăn, và một trong những khó khăn đó chính là Giáo hội. Giáo hội có thể, và đôi khi đã, qua tội lỗi của mình, khiến nhiều người khó tin vào Thiên Chúa. Carretto thành thật thừa nhận theo cách hạn chế điều này, nhưng lập luận rằng đấy không phải là toàn cục.

Do đó trong quyển sách của ngài vừa có tình yêu sâu đậm đối với đức tin và Giáo hội của mình, vừa không ngoảnh mặt làm ngơ trước những lỗi phạm của các kitô hữu và Giáo hội. Có lúc quyển sách của ngài như một Bản ngợi ca Giáo hội. Tôi đọc thấy thế trong những dòng này:

Tôi phải phê phán người, Giáo hội của tôi quá chừng nhưng tôi yêu người quá chừng!

Người đã làm tôi khổ nhiều nhưng tôi nợ người nhiều.

Tôi muốn thấy người bị phá hủy nhưng tôi cần người hiện diện.

Người đã gây ra nhiều tai tiếng nhưng chỉ mình người giúp tôi hiểu ra sự thánh thiện.

Trong đời này tôi chưa bao giờ thấy điều gì ngu dân, thỏa hiệp, sai phạm đến thế, và cũng trong đời này tôi chưa bao giờ chạm đến điều gì tinh tuyền, quảng đại, và đẹp đẽ đến thế.

Nhiều lần tôi thấy như mình đã đóng sầm cánh cửa lòng trước mặt người, nhưng biết bao lần tôi cầu nguyện xin cho mình chết trong cánh tay người!

Không, tôi không thể thoát khỏi người, vì tôi kết hợp với người, dù không hoàn toàn như người.

Mà tôi biết đi đâu? Đi xây một giáo hội khác?

Nhưng tôi không thể xây một Giáo hội khác không có những khuyết điểm như thế, vì chúng là những khiếm khuyết tôi mang trong mình.

Và nếu tôi xây Giáo hội khác, thì đó là Giáo hội của tôi, chứ chẳng phải của Chúa Kitô.

Không, tôi đủ tuổi để biết mình chẳng hơn gì người khác.

Tôi sẽ không rời bỏ Giáo hội được đặt nền móng trên đá này, bởi nếu thế tôi sẽ dựng một

Giáo hội đặt nền móng trên thứ đá dễ vỡ hơn, là bản thân tôi.

Mà đá có là gì đâu?

Cái hệ trọng là lời hứa của Chúa Kitô, cái hệ trọng là chất kết dính các tảng đá nên một, là Chúa Thánh Thần. Chỉ mình Thánh Thần có thể xây dựng Giáo hội với những hòn đá xấu xí bất toàn như chúng ta đây.

Đây là sự biểu lộ của một đức tin trưởng thành, một đức tin không quá lãng mạn và lý tưởng hóa cần được che chắn khỏi những thứ tăm tối trong đời, đây là một đức tin đủ thật để không yếm thế, bịt mắt chẳng nhận ra sự thiện rõ ràng cũng đang chảy trong Giáo hội. Thật vậy, Giáo hội vừa cực kỳ thỏa hiệp vừa đầy ân sủng đến tuyệt vời. Những đôi mắt ngay thẳng có thể thấy ra cả hai. Một tâm hồn chính chắn có thể chấp nhận cả hai. Trẻ con và tân tòng cần được che chắn đừng bị dấn sâu vào mặt tăm tối của mọi chuyện, những người trưởng thành hay chướng tai gai mắt cần phải mở to mắt ra trước sự thiện rõ ràng đang hiện diện.

Nhiều người đã bỏ Giáo hội vì nó làm cho họ bị chướng tai gai mắt với những tội lỗi đã thành thối, những điểm mù quáng, sự thủ thế, bản chất tự quy, và cả sự kiêu ngạo. Những vụ xâm hại tình dục của các linh mục mới được phơi bày, và việc che đậy do tay giới chức trong Giáo hội, đã khiến rất nhiều người băn khoăn không biết liệu có bao giờ họ còn có thể tin tưởng vào cơ cấu, hàng giáo phẩm của Giáo hội nữa không. Với nhiều người, vụ tai tiếng này có vẻ quá chấn động không thể chịu nổi.

Tôi tin bản ngợi ca của Carlo Carretto, có thể giúp chúng ta, dù chúng ta là người ngoan đạo hay đang khó chịu. Với người ngoan đạo, nó sẽ cho họ thấy người ta có thể chấp nhận Giáo hội bất chấp tội lỗi của nó và thấy ra rằng việc chối tội lỗi đó không phải là hành động của tình yêu và trung thành. Với những người chướng tai gai mắt, nó có thể là một thách thức muốn chúng ta đừng vì chuyện nhỏ bỏ chuyện lớn, đừng vì thế mà không thấy ra trong Giáo hội yếu đuối và tội lỗi, khốn khổ và tai tiếng, vẫn không bao giờ tắt ơn ban sự sống dư tràn của Thiên Chúa.

Phản ứng như thế nào

Đôi khi chúng ta chỉ còn biết cách vùi miệng vào cát và chờ đợi. Đây là lời khuyên trong sách Ai Ca và dù cho đây có lẽ không phải là cách hay nhất để phản ứng trước những tiết lộ mới đây về vụ giáo sĩ xâm hại tình dục và sự bao che trong Giáo hội công giáo La Mã, nhưng có lẽ đây là phản ứng thiết thực nhất với tôi, trong tư cách một linh mục công giáo La Mã thời nay. Ngoài lời cầu nguyện ra, tôi khá là ngập ngừng trong phản ứng với tình thế này vì ba lý do.

Thứ nhất, tôi ngập ngừng vì thấy thêm một lời xin lỗi và phản đối ầm ĩ thật chẳng ích gì. Từ khi báo cáo về vụ xâm hại tình dục và che đậy này được đưa ra ở Pennsylvania cách đây vài tuần, hầu như giáo phận nào cũng đưa ra lời xin lỗi, hầu như giáo xứ, linh mục nào ở Mỹ, kể cả Giáo hoàng cũng đưa ra lời xin lỗi. Trong khi những lời xin lỗi đó hầu như đều là thành tâm, không có ý gì muốn biện hộ, và nói thẳng với các nạn nhân, nhưng phần lớn chúng đều không được đón nhận sốt sắng cho lắm. Phần lớn người ta phản ứng thế này: “Giờ xin lỗi thì ích gì? Các vị đã ở đâu khi những chuyện này xảy ra chứ?” Những lời xin lỗi hầu như chỉ gặp phải sự châm biếm và giận dữ hơn là đón nhận. Đúng là cần phải nói lên lời xin lỗi, nhưng tôi không chắc mình thêm một lời thì có ích gì không.

Lý do thứ hai khiến tôi ngập ngừng là vì tôi thấy hiện giờ mọi người đang quá đau lòng và giận dữ vì chuyện này đến nỗi lời lẽ, dù nói hay đẹp đến mấy, cũng chẳng đi vào được đầu họ, cũng hệt như khi chúng ta nói “cô ấy đang ở một nơi tốt đẹp hơn” với ai đó đang đau đớn giày vò vì một người thân yêu qua đời. Chúng ta có những lời chân thành, nhưng thời điểm này quá dữ dội nên người ta không nghe nổi. Những lời đó để sau thì sẽ hữu hiệu hơn. Và lúc này chính là thời điểm như thế, khi chúng ta đang ở giữa sự giận dữ bùng nổ và đau buồn u ám. Và cũng chính vì cảm xúc này, mà rất nhiều người đang giận dữ và đau đớn vì những vụ xâm hại tình dục và che đậy này, không thể nào nghe nổi những lời xin lỗi. Cảm xúc vừa tuôn trào còn dữ dội hơn.

Và lý do cuối cùng là: Là một linh mục với lời khấn độc thân khiết tịnh, tôi đau lòng nhận ra rằng hiện giờ tôi đang ở thế khó lòng mà nói gì về chuyện này. Các nạn nhân là người ở thế trên về mặt đạo đức, lời của họ có giá trị hơn, nhưng những người có liên quan về mặt hình tượng đến những kẻ thủ ác, những người như tôi, thì bị người ta lắng nghe với sự nghi ngờ. Tôi chấp nhận điều đó. Làm sao khác được? Ngay lúc này, lời nói của tôi có thẩm quyền đạo đức gì về vấn đề này? Lời xin lỗi của tôi thêm được gì?

Nhưng, bất chấp những lý do đó, tôi vẫn có một lời xin lỗi. Là một linh mục công giáo La Mã, tôi muốn công khai nói rằng những chuyện xảy ra trong giáo hội về những vụ xâm hại tình dục và che đậy do bàn tay của hàng giáo phẩm là chuyện không thể biện hộ, là tội lỗi nặng nề, đã gây tác hại không thể xóa nhòa cho hàng ngàn con người, và cần bù đặp triệt để bằng cách đến với các nạn nhân và thay đổi cơ chế trong giáo hội để bảo đảm chuyện này không bao giờ xảy ra lần nữa.

Cho tôi nói thêm một lời này nữa: Trước hết, là một linh mục công giáo La Mã, tôi không tách mình khỏi những người đã phạm tội bằng một câu nói: “Họ có tội còn tôi thì không!” Thập giá Chúa Giêsu không có lối thoát như thế. Chúa Giêsu chịu đóng đinh giữa hai kẻ trộm cướp. Ngài vô tội, họ thì không, nhưng Ngài không biện hộ cho sự vô tội của mình, và những người ngày hôm đó nhìn lên ba thập giá, chẳng thể phân biệt được ai là kẻ có tội ai là không. Các thập giá đều như nhau. Có những lúc người ta không biện hộ cho sự vô tội của mình. Một phần trong sứ mạng của Chúa Giêsu, như trong phụng vụ đã nói rõ, là “mang lấy tội vì chúng ta,” liều mình để sự vô tội bị lẫn trong tội lỗi và bị xem là có tội để giúp mang lấy tội lỗi và bóng tối trong tha nhân.

Vượt trên những lời xin lỗi, tất cả chúng ta, các giáo sĩ cũng như giáo dân, được mời gọi làm gì đó cho Giáo hội, cụ thể là góp phần mang lấy tai tiếng này như Chúa Giêsu đã làm. Căm phẫn tách mình khỏi tội này, không phải là đường lối của Chúa Giêsu, không phải là con đường của thập giá.

Như Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá, chúng ta không được nhân đôi cơn giận và bóng tối này. Thay vào đó, như Đức Mẹ, chúng ta phải làm việc duy nhất có thể làm khi đứng dưới hậu quả của tội lỗi, là để lời nói hành động của chúng ta nói lên với một giọng không cay đắng hay sụp đổ: “Hôm nay, tôi không thể ngăn được bóng tối này, chẳng ai ngăn được. Đôi khi, có những lúc bóng tối lan tràn. Nhưng tôi có thể ngăn một số tội lỗi và cay đắng lúc này, không phải bằng cách tách mình khỏi nó, mà là thấm nhận nó và không trả đũa lại cho tương xứng.”

Đôi khi có những lúc bóng tối lan tràn, và chúng ta, những môn đệ Chúa Giêsu, không được tách mình khỏi tội mà phải góp phần thấm nhận nó.

Đôi khi, chúng ta chỉ có thể vùi miệng trong cát… Và cầu nguyện… Và chờ đợi. Với nhận thức rằng, một lúc nào đó trong tương lai, tảng đá sẽ lăn khỏi mộ.

Khắc kỷ đẹp đẽ

Thời nay có dòng văn học rất phong phú của những người, cả nam và nữ, vô cùng thông tuệ và nhạy cảm, những người hợp lý nhất, nên được gọi là những nhà khắc kỷ theo thuyết bất khả tri. Không như các đồng nghiệp vô thần tấn công tôn giáo một phía theo kiểu “phản đối quá đáng”, thì nhóm này lại chẳng phản đối gì. Họ không công kích đức tin vào Thiên Chúa, thật sự là họ thường thấy các giáo lý tôn giáo như niềm tin vào sự hiện thể trong Chúa Kitô, niềm tin vào tội nguyên tổ, và niềm tin vào sự phục sinh là những thần thoại hữu ích có thể là vô giá cho sự tự nhận thức, không khác gì những thần thoại lớn trong thế giới cổ đại. Họ nồng hậu với chuyện tâm linh và đôi khi là những nhà biện giáo giỏi cho chiều sâu tâm hồn và vị trí của mầu nhiệm trong cuộc sống chúng ta, giỏi hơn cả các đồng sự có đạo nữa. Chỉ là, đến tận cùng, họ xem niềm tin vào Thiên Chúa là không có thật.

Ở tầm mức tri thức, chúng ta thấy điều này nơi nhà văn quá cố James Hillman và nhiều đồ đệ của ông (dù cho một số người, không như thầy mình, đã có thái độ tiêu cực và hung hăng hơn với đức tin vào Thiên Chúa và tôn giáo). Bạn cũng thấy điều này nơi nhiều tiểu thuyết gia đương thời viết từ một quan điểm bất khả tri có chủ đích. Và bạn thấy điều này nơi những quyển tiểu sử rất hay, như quyển sách của Nina Riggs, Giờ Tươi sáng: Hồi ký về Sống và Chết (The Bright Hour: A Memoir of Living and Dying).

Điểm chung của những tác giả này là họ nhìn vào những câu hỏi thâm sâu nhất của cuộc sống và đối diện với những câu hỏi với sự can đảm và nhạy cảm, nhưng là từ quan điểm khắc kỷ và bất khả tri: Bạn làm sao để mọi chuyện này có ý nghĩa, nếu như không có Thiên Chúa? Bạn đối diện thế nào với cái chết, nếu như không có đời sau? Làm sao để bạn xem tình yêu là tuyệt đối, nếu như không có cái gì là Tuyệt đối? Làm sao để những sự kiện yêu quý trong đời chúng ta có một ý nghĩa trường tồn, nếu như không có sự bất tử? Làm sao để chúng ta đối diện với những khiếm khuyết cuộc sống và đạo đức, nếu như chỉ có đời này mà thôi?

Họ đối diện với những câu hỏi này một cách chân thành và dũng cảm, mà không có một niềm tin rõ ràng vào Thiên Chúa, nhưng lại thấy bình an với chuyện đó, tự tìm ý nghĩa cho đời mình, và vun vén cho thấu suốt và can đảm họ cần để sống trong đời với những câu trả lời không liên quan đến đức tin vào Thiên Chúa và niềm tin vào đời sau. Trong tinh thần đó có chủ nghĩa khắc kỷ can đảm, chắc chắn rồi, nhưng trong nhiều tác phẩm của họ còn có một vẻ đẹp nữa. Bạn thấy rằng đây là một linh hồn đẹp đẽ, chân thành đang đấu tranh với những câu hỏi thâm sâu nhất cuộc đời và rồi có được một sự bình an chấp nhận được rằng cuộc đời tự nó có sự cảm thương vốn là tâm điểm của mọi tôn giáo lớn. Trong văn học tôn giáo, bạn có thể gặp được những vị thánh đẹp đẽ. Trong dòng văn học thế tục, bạn có thể gặp những nhà khắc kỷ đẹp đẽ.

Nhưng có một điều mà tôi muốn thách thức những nhà khắc kỷ đẹp đẽ này: Họ cần nỗ lực trả lời một câu hỏi thâm sâu: Làm sao để chúng ta biến cuộc đời này có ý nghĩa nếu như không có Thiên Chúa và đời sau, và làm sao để cuộc đời có ý nghĩa nếu những giáo lý đức tin không phải là sự thật mà chỉ là những phóng chiếu của con người? Đây là một câu hỏi công tâm, đáng để hỏi. Nhưng tôi lại có sự phản đối này: Trong khi các tác giả này đối diện câu hỏi về ý nghĩa cuộc đời nếu như không có Thiên Chúa và đời sau, họ lại không bao giờ có cùng dũng cảm và chân thành để đối diện với câu hỏi khác, là: Nếu như thật sự có Thiên Chúa và đời sau, và những giáo lý đức tin là sự thật thì sao? Thế thì họ sẽ sống thế nào? Nếu như tâm trí ham khám phá và cảm nghĩ cao thượng của chúng ta thật sự phát xuất từ một Thiên Chúa cụ thể thì sao? Nếu họ làm được thế, thì sẽ có một chủ nghĩa bất khả tri chân thành và dũng cảm hơn, một chủ nghĩa khắc kỷ đẹp đẽ hơn nữa.

Chủ nghĩa bất khả tri đích thực là cái đầu cởi mở, một cái đầu không khép lại với bất kỳ khả năng nào. Và sự hiện hữu của Thiên Chúa là một khả năng thực sự.

Trong bất kỳ thời gian nào của lịch sử, kể cả thời chúng ta, đại đa số nhân loại tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa và đời sau. Những người vô thần không bao giờ là đa số. Nếu đúng thật là thế, mà thật sự là thế, thì tại sao những người tốt lành, dũng cảm, chân thành và nhạy cảm lại miễn cưỡng không chịu đưa chủ nghĩa bất khả tri của mình theo cả hai hướng: Làm sao để chúng ta định hình cuộc sống của mình nếu không có Thiên Chúa và đời sau, và làm sao để chúng ta định hình cuộc sống của mình nếu có Thiên Chúa và đời sau?

Nếu chúng ta muốn dũng cảm và chân thành tìm hiểu ý nghĩa cuộc đời, thì chẳng phải chất vấn về Thiên Chúa và đời sau, chứ không chỉ phản đề của nó, chính là một trong những chân trời đem lại nhận thức thấu suốt sao? Tôi ngờ là sự miễn cưỡng của nhiều tác giả không chịu làm thế là vì trong thời hiện đại, phần lớn các tác phẩm đều xem những câu hỏi sâu sắc của cuộc đời nằm ngoài tôn giáo hơn là nằm ngoài quan điểm bất khả tri. Điều mà các tác giả theo chủ nghĩa bất khả tri đang đóng góp cho thế giới là một ý kiến thay thế và khác với ý kiến chủ đạo lâu nay trong lịch sử (dù không phải là ý kiến chủ đạo trong xã hội thế tục thời nay).

Và điều đó đúng với những thấu suốt quý giá từ những nhà khắc kỷ đẹp đẽ.

Sức mạnh của lời khen

Thánh Tôma Aquinô từng nói rằng không khen ai đó khi họ xứng đáng được khen cũng là một tội, vì khi kìm lại lời khen là chúng ta đang tước đoạt của người ấy của ăn mà người ấy cần để sống. Ngài nói đúng. Có lẽ kìm hãm lời khen không phải là tội, nhưng đó đúng là một sự bần cùng hóa đáng buồn, cho cả người đáng được khen và người cố dằn lòng không khen.

Chúng ta không chỉ sống nhờ cơm bánh. Chúa Giêsu đã nói vậy. Tâm hồn chúng ta cũng cần được nuôi dưỡng và của ăn của nó là sự thừa nhận, công nhận, và chúc phúc. Tất cả chúng ta đều cần được người khác thừa nhận một cách lành mạnh, mỗi khi chúng ta làm gì đó tốt, để rồi chúng ta có vốn để thừa nhận người khác khi họ xứng đáng. Chúng ta không thể cho đi những gì chúng ta không có! Rõ ràng rồi. Và như thế, để chúng ta yêu thương và công nhận người khác, thì chúng ta phải được yêu thương trước, được chúc phúc trước, và được khen ngợi trước. Khen ngợi, công nhận, và chúc phúc là những điều hun đúc tâm hồn chúng ta.

Nhưng khen người khác không chỉ quan trọng với người được khen, mà nó cũng quan trọng hệt như thế cho người đưa ra lời khen. Khi khen ai đó, là chúng ta cho người ấy của ăn cần thiết cho tâm hồn, nhưng khi làm thế, chúng ta cũng nuôi dưỡng cho tâm hồn mình. Nó cũng tương tự như chuyện của các nhà hảo tâm. Chúng ta cần trao đi không chỉ bởi người khác cần điều đó mà còn bởi chúng ta không thể nào lành mạnh nếu không trao đi bản thân mình. Sự ngưỡng mộ lành mạnh là nhà hảo tâm của tâm hồn.

Hơn nữa, ngưỡng mộ và khen ngợi người khác là một việc làm ngoan đạo. Thầy Benoit Standaert đã nói rằng “khen ngợi nảy sinh từ cội nguồn hiện hữu của ta.” Thầy nói thế nghĩa là gì?

Khi khen ngợi và tán dương người khác, chúng ta đang chạm vào điều thâm sâu nhất trong chúng ta, chính là hình ảnh giống Thiên Chúa. Khi khen ngợi ai đó, là chúng ta đang thổi sinh khí vào người ấy, như Thiên Chúa đã làm vậy. Người ta cần được khen ngợi. Chúng ta không chỉ sống nhờ cơm bánh, và không chỉ sống nhờ dưỡng khí.

Hình ảnh giống Thiên Chúa trong chúng ta không phải là một biểu tượng mà là một sinh lực thật nhất trong chúng ta. Vượt trên cái tôi, những tổn thương, kiêu căng, tội lỗi và sự nhỏ nhen trong tâm trí, thì điều thật nhất trong chúng ta chính là lòng cao thượng, nhân từ, hệt như cách Thiên Chúa nhìn xuống thế gian và nói: “Thật tốt đẹp! Mọi sự rất tốt đẹp!” Khi sống tốt nhất bản thân mình, nói năng và hành động với sự trưởng thành, thì chúng ta có thể ngưỡng mộ. Thật vậy, sẵn sàng khen ngợi người khác là dấu chỉ của trưởng thành, và ngược lại. Chúng ta trở nên trưởng thành hơn khi rộng rãi trong lời khen.

Nhưng chúng ta lại không dễ mở lời khen ngợi. Hầu hết chúng ta đều bị khóa kín trong thất vọng, chán nản với cuộc đời mình đến nỗi rơi vào yếm thế và ghen tị, chạy theo những thứ này hơn là sống nhân đức. Chúng ta biện hộ cho những thứ này bằng nhiều cách khác nhau, hoặc bằng cách nói rằng cái người đó nhỏ hơn mình (hay thật ra là muốn nói chúng ta quá sáng láng và tinh vi nên không thể thấy ấn tượng gì nơi người khác) hoặc nói rằng khen ngợi chỉ làm người ta thêm tự đại, và chúng ta sẽ không làm hại cái tôi của người khác. Tuy nhiên, thường thì lý do thực sự của chúng ta khi kìm nén lời khen là vì chúng ta thấy mình chưa được khen ngợi cho đủ, và vì thế chúng ta ghen tị cũng như thiếu sức mạnh để khen ngợi người khác. Tôi đồng cảm mà nói rằng, tất cả chúng ta đều bị tổn thương.

Một số người thấy ngại khi khen ngợi người khác vì chúng ta tin rằng lời khen sẽ làm hư người ta, tâng bốc cái tôi của họ lên. Yêu cho roi cho vọt mà! Nếu chúng ta mở lời khen, thì nó sẽ đi vào cái đầu của người ta. Nhưng lý lẽ này không đúng. Một lời khen chính đáng không bao giờ làm hư người khác. Lời khen thành thật và đúng đắn khiến người được nhận thấy thêm khiêm tốn hơn là hư thân. Chúng ta muốn được yêu, bao nhiêu cũng đủ, chỉ không muốn được yêu cách sai lầm thôi.

Nhưng, các bạn có thể nói, còn về những đứa trẻ xem mình là cái rốn vũ trụ vì chỉ toàn được khen mà không được uốn nắn thì sao? Tình yêu và sự trưởng thành thật sự thì phân biệt được giữa việc khen ngợi những gì đáng khen và thách thức những gì cần được chỉnh đốn trong cuộc đời người khác. Khen ngợi không bao giờ là tâng bốc bừa bãi, nhưng thách thức và chỉnh đốn chỉ có hiệu quả nếu trước đó người ấy biết được rằng mình được yêu thương và công nhận xứng đáng.

Lời khen chân thật không bao giờ sai. Nó chỉ là công nhận sự thật thôi. Nó là một cưỡng bách đạo đức. Tình yêu cần có khen ngợi. Như lời thánh Tôma Aquinô, không chấp nhận ngưỡng mộ người khác khi họ xứng đáng được khen ngợi, là một sai sót, một lỗi phạm, ích kỷ, nhỏ nhen và thiếu trưởng thành. Ngược lại, khen ngợi ai đó khi họ xứng đáng, là một đức hạnh và trưởng thành.

Quảng đại là cho đi lời khen, không khác gì cho đi đồng tiền. Chúng ta không được hà tiện lời khen. Nhà thần nghiệm thế kỷ 14, John Ruusbroec, đã dạy rằng, “những ai không mở lời khen ngợi tán dương trên đời này thì sẽ bị câm muôn đời.”

Vì sao tôi tin vào Thiên Chúa

Một số tác giả tôi yêu thích là những người theo thuyết bất khả tri, những người chân thành và dũng cảm đối diện cuộc đời mà không có đức tin vào một Thiên Chúa của mình. Hầu như họ đều khắc kỷ, những người bình an với việc có lẽ Thiên Chúa không tồn tại và có lẽ chết là hết. Tôi thấy được điều này nơi James Hillman, một người mà tôi vô cùng ngưỡng mộ và là người có rất nhiều điều để dạy cho các tín hữu về ý nghĩa của việc lắng nghe và tôn trọng linh hồn con người.

Nhưng có một điều tôi không ngưỡng mộ nơi các nhà khắc kỷ bất khả tri. Dù họ dũng cảm đối diện với giả định rằng Thiên Chúa không tồn tại và chết là hết, nhưng họ lại không có cùng dũng cảm đó để đặt ra chất vấn về chuyện nếu Thiên Chúa tồn tại và chết không phải là hết thì sẽ thế nào. Nếu như có Thiên Chúa và nếu giáo lý của đức tin chúng ta đúng thì sao? Họ cũng cần phải đối diện với chất vấn đó nữa.

Tôi tin rằng Thiên Chúa tồn tại, không phải bởi tôi chưa từng có chút nghi ngờ, cũng không phải bởi tôi được nuôi dạy trong đức tin với những người đã làm chứng sâu đậm cho chân lý của đức tin đó, cũng không phải bởi đại đa số nhân loại trên hành tinh này tin vào Thiên Chúa. Tôi tin rằng một Thiên Chúa của lòng mình tồn tại vì những lý do mà tôi không thể nói rõ được: là sự tốt lành của các thánh, một hạt giống không bao giờ phôi phai trong lòng tôi, biểu hiện của đức tin trong cảm nghiệm của riêng tôi, lòng dũng cảm của các bậc tử đạo xuyên suốt dòng lịch sử, chiều sâu thăm thẳm trong giáo huấn của Chúa Giêsu, những thấu suốt sâu sắc trong các tôn giáo khác, trải nghiệm thần nghiệm của vô số người, nhận thức của chúng ta về mối liên kết với cộng đoàn các thánh và những người thân yêu đã qua đời, những lời chứng chung và riêng của hàng trăm người đã chết lâm sàng rồi được sống lại, những chuyện chúng ta trực cảm vượt ngoài mọi lý luận lô-gích, vòng tuần hoàn hồi sinh trong cuộc đời chúng ta, chiến thắng của sự thật và sự thiện trong suốt lịch sử, sự thật rằng hy vọng không bao giờ chết, sự cưỡng bách không nguôi trong chúng ta muốn được hòa giải với người khác trước khi chết, chiều sâu vô tận của trái tim con người, và việc các nhà vô thần và bất khả tri trực cảm rằng có thể điều này cũng hợp lý. Tất cả cho tôi thấy sự hiện hữu của một Thiên Chúa sống động của tôi.

Tôi tin Thiên Chúa hiện hữu vì đức tin thành sự, ít nhất là thành sự đến mức độ của chúng ta. Sự hiện hữu của Thiên Chúa tự chứng minh đến mức độ mà chúng ta đón nhận một cách nghiêm túc và sống cuộc đời mình dựa trên điều đó. Nói đơn giản, chúng ta hạnh phúc và bình an đến mức độ chúng ta liều mình sống đức tin, một cách rõ ràng hay không chút nghi hoặc gì. Những người hạnh phúc nhất mà tôi biết cũng là những người đáng kính, dễ thương, vị tha, và quảng đại nhất tôi biết. Đây không phải tình cờ.

Leon Bloy từng nói rằng trong đời chỉ có một nỗi buồn thực sự, đó là không được làm thánh. Chúng ta thấy trong câu chuyện về chàng thanh niên giàu có trong Tin mừng đã từ chối lời mời của Chúa Giêsu muốn anh sống đức tin sâu sắc hơn. Anh đã buồn rầu bỏ đi. Dĩ nhiên, làm một vị thánh và sống buồn bã, không phải là chuyện trắng hay đen, cả hai đều có những mức độ. Nhưng trong chuyện này có sự nối tiếp. Chúng ta hạnh phúc hay buồn bã cũng tương xứng với mức độ chúng ta thành tín hay bất tín với những gì là độc nhất, là chân, thiện, mỹ. Tôi biết rõ điều này trong đời mình. Tôi hạnh phúc và bình an đến mức độ tôi đón nhận đức tin cách nghiêm túc và sống đức tin trong thành tín, càng thành tín tôi càng thấy bình an, và ngược lại.

Trong tất cả chuyện này, còn có một “luật nghiệp quả” nói cụ thể là vũ trụ trả lại cho chúng ta chính xác những gì chúng ta cho nó. Như Chúa Giêsu đã nói, “Anh em đong bằng đấu nào sẽ được đong lại bằng đấu ấy.” Những gì chúng ta thở ra, đến cuối cùng chính là những gì chúng ta hít vào. Nếu chúng ta thở ra ích kỷ thì sẽ hít vào ích kỷ, nếu chúng ta thở ra cay đắng thì sẽ gặp đắng cay, nếu chúng ta thở ra tình yêu, nhân từ và tha thứ thì chúng ta sẽ nhận lại cùng mức độ đó. Cuộc sống và vũ trụ của chúng ta có một cơ cấu yêu thương và công bằng thâm sâu, tự nhiên và không thể bàn cãi đã được viết sẵn, một cơ cấu chỉ có thể được viết nên bởi một trí tuệ thần thiêng sống động và một tâm hồn yêu thương.

Dĩ nhiên, không điều nào trong những điều này chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa với những bằng chứng theo kiểu khoa học hay toán học, nhưng đâu thể tìm được Thiên Chúa bằng một thí nghiệm kinh nghiệm luận, một phương trình toán học hay một tam đoạn luận triết học. Chúng ta tìm thấy Thiên Chúa, rõ ràng và dứt khoát, nơi một đời sống quên mình, nhân từ, chân thành và tốt lành. Điều này có thể có trong tôn giáo hay ngoài tôn giáo.
Thầy dòng Biển Đức người Bỉ, Benoit Standaert, đã nói rằng khôn ngoan là ba sự thêm một. Khôn ngoan là tôn trọng tri thức, tôn trọng sự chân thật và vẻ đẹp, tôn trọng mầu nhiệm. Và điều thứ tư, khôn ngoan là tôn trọng một Đấng nào đó.

Đứng bên những đường biên giới mới

Trong Tin mừng có một câu chuyện rất đánh động kể về cuộc gặp giữa Chúa Giêsu với một phụ nữ gốc Syrophoenicia. Tâm điểm câu chuyện là địa điểm diễn ra cuộc trò chuyện. Chúa Giêsu gặp người phụ nữ ở biên giới Samaria. Với Chúa Giêsu, Samaria là vùng đất ngoại bang, cả về sắc tộc lẫn tôn giáo. Khi gặp người phụ nữ này, Ngài đang đứng ở vùng biên giới, vùng rìa của cách nhìn nhận bản thân chiếu theo tôn giáo.

Tôi tin rằng đây cũng là vị thế của Kitô hữu chúng ta thời nay, đứng bên biên giới của những tôn giáo khác, kể cả những anh chị em Hồi giáo. Kế hoạch quan trọng nhất của giáo hội chúng ta trong năm mươi năm nữa sẽ là vấn đề quan hệ với các tôn Giáo khác, là Hồi giáo, Ấn giáo, Phật giáo, Lão giáo, các tôn giáo bản địa ở châu Mỹ và châu Phi, và nhiều dạng tôn giáo mới cũ khác, cả các đạo đa thần và phong trào Kỷ nguyên mới (New Age). Nói đơn giản, nếu mọi bạo lực phát sinh từ chủ nghĩa cực đoan tôn giáo chưa đủ để khiến chúng ta thức tỉnh, thì đúng là chúng ta đang trong cơn mê man đầy nguy hiểm. Chúng ta không còn chọn lựa nào khác. Thế giới đã trở thành một ngôi làng, một cộng đồng, một gia đình chung và trừ phi chúng ta bắt đầu hiểu và đón nhận nhau cách sâu sắc hơn, thì chúng ta sẽ không bao giờ có một thế giới yên bình.

Hơn nữa, với các Kitô hữu chúng ta, mối đe dọa của thù hận và bạo lực đến từ các tôn giáo khác không phải là nguyên nhân chính để chúng ta phải thông hiểu các tin hữu không Kitô giáo hơn. Nguyên nhân sâu xa hơn là Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ đã mời gọi chúng ta làm thế. Thiên Chúa của chúng ta mời gọi chúng ta nhìn nhận và chào đón mọi người có đức tin thành tín, xem họ là anh chị em trong đức tin. Chúa Giêsu đã nói rất rõ điều này trong những lời của Ngài, nhiều lúc rõ ràng đến mức khó nghe. Ai là anh chị em tôi? Là những ai nghe lời Chúa và tuân giữ. Không phải là những người nói “Lạy Chúa” thì được vào Nước Trời, nhưng là những người thực thi thánh ý Thiên Chúa trên đời này. Ai có thể phủ nhận rằng có nhiều người không Kitô giáo lại đang thực thi thánh ý Chúa trên đời đó sao?

Nhưng còn chủ nghĩa cực đoan, bạo lực và những biểu hiện sai lầm của tôn giáo mà chúng ta thường thấy nơi những tôn giáo khác thì sao? Với những chuyện kinh khủng người ta làm nhân danh các tôn giáo khác, chúng ta có thể thực sự xem những tôn giáo đó là tôn giáo thật hay không?

Như Huston Smith đã nói, phải phán xét mọi tôn giáo dựa trên những biểu hiện cao nhất và những vị thánh, chứ không phải dựa trên những kẻ lầm lạc. Điều này cũng đúng với Kitô giáo. Chúng ta mong người khác không phán xét chúng ta bằng những thời kỳ tăm tối nhất hay bằng những hành động tồi tệ nhất mà các Kitô hữu từng làm nhân danh tôn giáo. Chúng ta mong được đánh giá qua các vị thánh và những việc tốt lành mà các Kitô hữu đã làm trong lịch sử. Chúng ta cũng phải hiểu các tôn giáo khác như thế. Và các tôn giáo khác tận bản chất và nơi những biểu hiện tốt nhất của họ mời gọi chúng ta đến với chân thiện mỹ, và tất cả các tôn giáo đều phát xuất những thánh nhân.

Nhưng còn sự độc nhất của Chúa Kitô thì sao? Câu Chúa Kitô nói Ngài là đường, là sự thật và là sự sống, và không ai có thể đến với Thiên Chúa mà không qua Ngài thì sao?

Qua 2000 năm lịch sử, thần học Kitô giáo chưa từng quay lưng lại với chân lý và sự độc nhất này, trừ một vài thần học gia với quan điểm không được Giáo hội chấp nhận. Vậy làm sao chúng ta nhìn chân lý của các tôn giáo khác theo tinh thần rằng Chúa Kitô là con đường duy nhất để đến với Thiên Chúa là Cha?

Thần học Kitô giáo (chắc chắn đúng với thần học Công giáo La Mã) luôn chấp nhận và tiên phong dạy rằng Mầu nhiệm Chúa Kitô lớn lao hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể quan sát trong Kitô giáo lịch sử hữu hình và trong các giáo hội Kitô giáo trong lịch sử. Chúa Kitô thì lớn hơn các Giáo hội của chúng ta và vượt xa tầm của Giáo hội. Ngài vẫn nhắc nhở Giáo hội một câu mà Ngài từng nói với mẹ mình: “Con phải lo việc của Cha con.”

Trước đây, chúng ta thể hiện câu này bằng cách xác nhận rằng Thân thể Chúa Kitô, thân thể trọn vẹn của những kẻ tin, có cả yếu tố hữu hình và vô hình. Trong những tín hữu được rửa tội, chúng ta thấy Thân thể hữu hình của Chúa Kitô. Tuy nhiên, cùng lúc đó, chúng ta biết rằng có vô số những người khác vì vô số lý do không phải lỗi của họ đã không được rửa tội và không tuyên xưng một đức tin dứt khoát nơi Chúa Kitô, nhưng nhờ thiện tâm và hành động tốt lành mà được xem là như chúng ta trong đức tin.

Một vài người có thể ngạc nhiên với chuyện này, nhưng thật sự là, giáo lý của Giáo hội Công giáo La Mã nói rằng những người thật tâm trong bất kỳ tôn giáo nào đều có thể được cứu rỗi dù không trở thành Kitô hữu, và bất kỳ ai dạy ngược lại đều là dị giáo. Điều này dựa trên một nhận thức về Thiên Chúa mà các Kitô hữu chúng ta tôn thờ. Thiên Chúa hiện thân nơi Chúa Giêsu mong muốn cứu rỗi hết tất cả mọi người và không làm ngơ trước đức tin chân thành của hàng tỉ người trong hàng ngàn năm qua. Sẽ là không tôn trọng đức tin của mình nếu chúng ta giảng dạy khác đi. Tất cả chúng ta đều là con cái Chúa.

Đến tận cùng, chỉ có một Thiên Chúa là Cha của tất cả chúng ta, bất kể tôn giáo.

Gửi những người bạn tôi quen

Mới đây, khi đọc tạp chí Commonweal, tôi bị đánh động bởi một dòng của Jerry Ryan, thuộc dòng Tiểu Đệ Chúa Giêsu: “Tôi đã mất liên lạc với rất nhiều người vốn có nhiều ý nghĩa với tôi trong nhiều giai đoạn cuộc sống, những người tôi yêu thương quý mến và thực sự quan tâm đến họ, những người đã cho tôi rất nhiều và làm nên con người tôi như hôm nay.”

Với tôi cũng thế, và tôi nghĩ là hầu hết chúng ta cũng thế. Người ta đi vào cuộc sống chúng ta, tình bạn ngày càng thắm thiết rồi một số bạn bè đó cứ thế biến mất khỏi cuộc đời chúng ta. Đôi khi là do chúng ta chuyển đi, có lúc là họ chuyển đi, có lúc là chuyện đời thay đổi và chúng ta xa rời nhau, hay có lúc mối dây giữa chúng ta tan rã dần và rồi chúng ta bước tiếp, tìm người khác. Và nếu nhạy cảm, chúng ta sẽ luôn thấy có nỗi đau và tội lỗi khi mất đi bạn bè như thế. Không có gì là không lành mạnh khi cảm thấy cô đơn và mất mát vì chuyện này hay cảm nhận rằng chúng ta đã làm người khác thất vọng, đã không quan tâm cho đủ.

Thật sự đôi lúc chúng ta thiếu trung tín, nhưng hầu như trong mọi trường hợp vấn đề là ở sự bất toàn vô tội của ta. Chỉ có Chúa toàn hảo. Chỉ có Chúa mới có trái tim đủ lớn để quan tâm riêng đến mọi người và mọi lúc. Chỉ có Thiên Chúa mới không bao giờ thay đổi và mệt mỏi. Và chỉ có Thiên Chúa mới đủ mạnh mẽ để luôn mãi trung tín. Chúng ta không thể toàn hảo.

Tôi đã đấu tranh dữ dội với sự bất toàn đó. Với công việc của một nhà truyền giáo, và với cá tính của mình, tôi luôn mãi yếu kém vì sự bất toàn trong chuyện gần gũi với gia đình và bạn bè, kể cả những người bạn quý mến. Việc này chẳng dễ dàng gì.

Trước hết, tôi có cả một đại gia đình đã mở rộng qua nhiều thế hệ. Giữ liên hệ với cả gia đình có thể không còn thời gian để tôi làm gì khác nữa. Thứ nữa, tôi đã làm mục vụ hơn bốn mươi năm và trong thời gian đó tôi đã sống trong nhiều nhà của Dòng Hiến sĩ cùng hơn hai trăm anh em khác nhau. Cộng đoàn là gia đình, và để giữ liên lạc với tất cả sẽ chiếm hết thời gian trong ngày làm việc. Rồi trong những năm tháng học tập, tôi đã có cơ hội kết bạn thâm tình với nhiều bạn học ở nhiều nơi trên thế giới. Cuối cùng, trong những năm tháng mục vụ, tôi đã gặp hàng trăm sinh viên trong lớp học và hàng ngàn người làm việc nghiên cứu và tĩnh tâm. Hầu hết những cuộc gặp gỡ đó chỉ là nhất thời và ngẫu nhiên, nhưng qua năm tháng tôi đã kết thân tình với khá nhiều người. Và tôi còn từng sống và làm việc ở bốn quốc gia khác nhau, đồng thời kết nhiều bạn ở những nơi đó.
Hơn nữa, ngày nay chúng ta còn phải cố gắng giữ liên hệ với những người quen biết trên mạng xã hội.

Làm sao để chúng ta giữ được mối liên hệ có ý nghĩa với tất cả mọi người đây? Làm sao để chúng ta không phản bội bạn bè, dù chỉ đơn thuần là vì sự xao nhãng bỏ bê?

Ngay cả khi tôi vô cùng biết ơn vì có cả một gia tài là người thân và bạn bè, tôi vẫn thường thấy việc giữ liên hệ có ý nghĩa với tất cả thật là chuyện quá sức với tôi, và những lúc đó tôi thấy có lỗi khi cứ luôn xa rời quá nhiều người mà tôi từng gắn bó. Đôi khi những người bạn lâu nay tôi không liên lạc nhắc nhở tôi, về việc tôi bỏ bê tình bạn, và không phải lúc nào cũng nhắc nhở nhẹ nhàng đâu. Nhưng khi thời gian trôi qua và vấn đề này ngày càng mở rộng, tôi lại thấy bình an hơn với sự bất toàn và cảm giác tội lỗi của mình, dù có thể một vài bạn bè bị bỏ bê của tôi không cảm thấy thế.

Và điều khiến tôi cảm thấy như vậy là một lời nhắc nhở liên tục về ơn lớn lao tôi có được là một gia đình lớn và rất nhiều người bạn. Ít có chuyện đáng để chúng ta tri ân như thế. Thứ nữa, tôi thực sự cố gắng giữ liên hệ có ý nghĩa với họ trong tầm mức thời gian, sức lực, và khoảng cách cho phép. Và điều quan trọng là, dù cho bất toàn, tôi vẫn cố gặp gỡ người thân và bạn bè theo một cách mà sự hiện diện thân thiết, gần gũi xóa nhòa thời gian, sức lực và khoảng cách. Có một cách để chúng ta không còn bất toàn, một cách để ta ở nhiều nơi một lúc và có thể yêu thương vô số người cách riêng tư và thân thiết, cách đó chính là ở trong Thân thể Chúa Kitô.

Kinh thánh cho chúng ta biết là chúng ta tạo thành một thân thể, một thân thể sống với những cơ quan sống thực sự, mọi phần cơ thể đều có tác động đến nhau. Trong thân thể đó, chúng ta hiện diện với nhau, dĩ nhiên không phải là hoàn hoàn có ý thức, nhưng thật sự sâu sắc và chân thực. Và nếu chúng ta sống đời mình một cách trung tín, chia sẽ tình bạn chân thành với những người đang ở quanh chúng ta ngay lúc này, thì chúng ta không chỉ sản sinh chất xúc tác lành mạnh cho thân thể khỏe mạnh, mà chúng ta còn hiện diện với nhau, theo một cách đánh động chúng ta đến mức độ sâu sắc nhất của linh hồn. Có một cách để chúng ta không quên lãng nhau.

Và như thế, các bạn thân mến của tôi, chúng ta vẫn bên nhau mà!

Một lời miệt thị hằn sâu

Anh là kẻ thất bại! Cô là kẻ thất bại! Trong mọi lời chê bai gây đau lòng mà chúng ta buột miệng nói ra, thì lời này có lẽ gây đau đớn và tổn hại nhất. Lời này cần bị cấm tiệt khỏi những cuộc bàn luận chung và loại hẳn khỏi từ điển.

Chúng ta đã tiến những bước dài trong việc loại trừ những lời lẽ nhất định trong giao tiếp xã hội. Hầu hết những từ chúng ta loại trừ đều có nghĩa xấu ám chỉ đến sắc tộc, giới tính, hay khuyết tật của người khác. Loại thẳng chúng khỏi ngôn ngữ của chúng ta là việc đáng phải làm lâu rồi, và có lẽ đây không chỉ là vấn đề đúng đắn trong xã giao. Mà rõ ràng và đơn giản, đây là vấn đề đúng đắn trong công lý, bác ái, trong sự tử tế căn bản của con người. Ngôn ngữ là một nền kinh tế thường bất công. Nó công nhận một cách phi lý một số người và miệt thị quá mức một số người khác. Chúng ta cần cẩn thận với chuyện này. Ngôn ngữ có thể hằn một vết sẹo sâu lên người khác, thậm chí nó còn khiến chúng ta vô tình bị khóa trong những định kiến tiêu cực khiến lòng trí chúng ta bị nhuốm màu kỳ thị chủng tộc, mê tín và thù ghét phụ nữ.

Nhưng những lời chê bai về chủng tộc, giới tính và khuyết tật chưa phải là tất cả. Chúng khủng khiếp, đúng, nhưng những người bị xúc phạm bằng những lời này có chút an ủi khi biết rằng lời xúc phạm đó còn nhắm đến hàng triệu, hàng tỷ người khác. Bị xúc phạm cùng với hàng triệu triệu người khác, vẫn đau chứ, nhưng ít ra mình có bầu bạn.

Tuy nhiên, có những lời chê bai xúc phạm một cách riêng tư và đặc biệt hơn, nhắm đến sỉ nhục sự thiếu sót riêng rất cụ thể của người khác. Với lời sỉ nhục này, bạn không còn ai là bầu bạn, giờ bạn là kẻ lạc loài. Cái từ “kẻ thất bại” là một từ như thế. Nó nhắm đến sỉ nhục một người theo cách rất riêng tư và rất tổn thương. Khi bị gọi là “kẻ thất bại” là bạn không chỉ bị loại riêng ra và bị sỉ nhục vì bạn thuộc về một chủng tộc, một giới tính, hay một tầng lớp. Bạn bị sỉ nhục vì chính bạn, chỉ mình bạn thôi, bị phán xét là không đủ tiêu chuẩn, là không đáng được tôn trọng, và không đáng được chấp nhận. Bạn bị xem là hạ đẳng, và sự yếu kém đó không thể đổ tại bất kỳ ai ngoại trừ bạn. Bạn bị xem là kẻ thất bại! Và chỉ có bạn thế thôi!

Kiểu sỉ nhục này không phải mới có. Nó đã có từ lâu đời. Có nhiều người luôn luôn bị xa lánh, sỉ nhục và tẩy chay. Chúng ta có một khiếm khuyết nhân bản khá là đáng xem xét, và nếu không xác định được nó, thì nó sẽ khiến chúng ta tin rằng để mình được hạnh phúc thì người ta chấp nhận mình thôi vẫn chưa đủ, còn cần ai đó khác bị loại trừ nữa kia.

Trong thời Tân ước, những người phong cùi bị tẩy chay khỏi xã hội, phải sống trong những vùng hẻo lánh tách biệt với cuộc sống bình thường, phải kêu lên “ô uế” khi có ai đó đến gần. Nhưng họ có những lý do chính đáng để đưa những người phong cùi ra khỏi cuộc sống bình thường. Phong cùi là bệnh truyền nhiễm. Ngày nay, dù không có một lý do chính đáng nào, chúng ta vẫn xem một số người là “người cùi”, xem họ không được phát triển trong đời sống bình thường của mình. Chúng ta liệt họ vào “những kẻ thất bại” và đẩy họ ra rìa. Họ là những người cùi mới.

Có vô số ví dụ về điều này, nhưng có lẽ chúng ta dễ thấy nó nhất trong trường trung học, nơi luôn luôn có một nhóm nổi tiếng, một nhóm quyết định hết quy tắc, quyết định xem cái gì là được, nắm lấy quyền lực của cộng đồng dù cho họ không phải nhóm đa số. Đa số học sinh nằm ngoài nhóm nổi tiếng riêng biệt này, cố gắng được chấp nhận, nghĩa là dù không hoàn toàn thuộc về nhóm đó nhưng cũng không hoàn toàn bị loại trừ. Nhưng luôn luôn có một nhóm khác, những em bị xem là “kẻ thất bại”, không đủ tiêu chuẩn, không xứng đáng được công nhận. Nhóm này không được chấp nhận.

Bất kỳ xã hội con người nào cũng đều có sự phân loại. Có vô số lý do phức tạp cho việc này, và nhiều lý do liên quan đến tâm thần. Chuyện này cũng giúp giải thích vì sao lại có những cậu bé trung học đem súng đến trường bắn bạn học của mình. Nhưng thật khó để không thấy được rằng, hầu như lúc nào, cậu bé xả súng đó cũng là một người cô độc, “một kẻ thất bại”. Chúng ta không thể trách các bạn học của cậu ấy vì đã xem cậu ấy là kẻ như thế, nhưng dù cho cố ý hay vô tình, thì họ cũng đã làm vậy. Các bạn học của cậu là nạn nhân, không chỉ của tâm thần bấn loạn và nổi giận của cậu thanh niên đó, nhưng còn là nạn nhân của một xã hội mù quáng góp phần tạo ra sự bấn loạn và giận dữ đó.

Tôi không phải là bậc cha mẹ, nhưng nếu tôi là một ông bố, tôi sẽ dùng hết quyền hạn đạo đức của mình để khiến con cái bỏ hết những từ chê bai sỉ nhục về chủng tộc, giới tính và khuyết tật. Tôi cũng sẽ dùng mọi quyền hạn đạo đức và khuyên giải của mình để khiến chúng loại bỏ những từ xấu xa sỉ nhục người khác một cách cụ thể riêng tư. Cái từ “kẻ thất bại” phải bị cấm tiệt trong mái nhà.

Cả xã hội và Giáo hội đều là những mái nhà. Thật may là trong nhiều thập niên gần đây, chúng ta đã cấm dùng nhiều từ miệt thị chủng tộc, giới tính, hay khuyết tật của người khác. Và đã đến lúc chúng ta cấm tiệt thêm những từ khác trong nhà của mình!

Một lời biện giải cho Độc thân Thánh hiến

Huston Smith, nhà bình luận nổi tiếng về các tôn giáo trên thế giới, đã công nhận rằng bạn không nên phán xét một tôn giáo bằng những thể hiện xấu nhất của nó, nhưng bằng những thể hiện tốt nhất của nó, chính là những thánh nhân. Và điều này cũng đúng khi đánh giá về giá trị của đời sống độc thân thánh hiến. Cũng như khi đánh giá về cơ chế hôn nhân, chúng ta phải đánh giá đời sống độc thân thánh hiến bằng những con người tốt đẹp nhất, chứ không phải ngược lại.

Tôi viết bài biện giải này vì hôm nay đời sống độc thân thánh hiến đang bị chỉ trích trong hầu hết mọi giới. Người ta không còn hiểu nổi đời sống độc thân, cũng không xem đó là một lối sống thực tế, vì nền văn hóa này từ chối chấp nhận bất kỳ giới hạn nào về tình dục và do đó chúng ta xem mọi người sống độc thân dù với bất kỳ nguyên do nào cũng đều là lãnh đạm, khờ dại, hay bất hạnh. Nền văn hóa của chúng ta dựng lên một âm mưu rõ ràng chống lại lối sống độc thân.

Quan trọng hơn nữa, là đời sống độc thân lại bị đánh giá trong tình hình tai tiếng lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Trong xã hội và giáo hội, người ta ngày càng ghi khắc một quan niệm rằng xâm hại tình dục và ấu dâm đặc biệt thịnh hành trong giới linh mục và tu sĩ hơn là trong cộng đồng nói chung, và thậm chí còn nghĩ rằng có một thứ gì đó trong đời sống độc thân thánh hiến khiến cho các linh mục và tu sĩ thêm xu hướng phạm tội tình dục và có một đời sống cảm xúc không lành mạnh. Có thật thế không? Những người độc thân có xu hướng phạm tội tình dục hơn những người không độc thân? Những người độc thân có khả năng bớt lành mạnh và hạnh phúc hơn những người lập gia đình hay những người có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân?

Phải xác định rõ điều này bằng cách nhìn vào những mục đích thâm sâu nhất của tình dục, và từ đó xác định xu hướng thực sự của người sống đời hôn nhân và người độc thân. Mục đích tối hậu của tình dục là gì? Sinh lực mạnh mẽ này có ý nghĩa nào nơi chúng ta? Nhìn chung, câu trả lời rất rõ ràng: Tình dục là để đưa ta ra khỏi bản thân, ra khỏi sự cô độc, sự ích kỷ, để bước vào sự vị tha, vào gia đình, cộng đồng, để quảng đại, để có tấm lòng dịu dàng, để vui mừng, để hạnh phúc, và tận cùng là (có lẽ không phải lúc nào cũng được trong đời này) để ngất ngây.

Nhìn từ lăng kính tiêu chuẩn này, thì đời sống hôn nhân và độc thân hiến thánh có gì khác nhau? Hầu như là tương tự nhau. Một số người kết hôn, trở nên quảng đại và sinh sôi một cách lành mạnh, chung thủy với vợ chồng mình, và ngày càng biết tha thứ, hạnh phúc, và tráng kiện. Có những người khác lại không như thế. Họ kết hôn (hoặc quan hệ tình dục ngoài hôn nhân) nhưng không trở nên quảng đại và sinh sôi, không chung thủy, và ngày càng cay đắng, ũ rũ và bất hạnh.

Với những người độc thân thánh hiến cũng vậy. Một số người kết hôn, trở nên quảng đại và sinh sôi một cách lành mạnh, trung thành với lời khấn của mình, và ngày càng biết tha thứ, hạnh phúc, và tráng kiện. Với một số người khác, hầu như mọi thứ trong đời họ lại đi ngược với sự minh bạch và sinh hoa trái đáng ra phải có trong đời sống độc thân, và thế là họ không tiến thêm trên con đường bỏ mình, quảng đại, dịu dàng hay hạnh phúc. Thay vào đó, như một số người sống cuộc sống tình dục cùng thời, họ cũng ngày càng cay đắng, ũ rũ và bất hạnh. Đôi khi, đây là hậu quả của việc họ phá vỡ lời khấn và đôi khi đấy là hậu quả của một bản năng tình dục bị đè nén một cách không lành mạnh. Trong cả hai trường hợp, lời khấn của họ không sinh hoa trái và thường dẫn đến những hành động bù đắp không lành mạnh.

Phải thừa nhận rằng, đời sống độc thân là chấp nhận thêm nguy cơ, bởi vì hôn nhân và tình dục là con đường bình thường mà Chúa định cho ta. Như Merton từng nói, trong đời sống độc thân, chúng ta sống trong một sự cô độc mà chính Thiên Chúa đã lên án. Con người ở một mình thì không tốt! Tình dục và hôn nhân là chuyện bình thường, và độc thân xa rời con đường ấy. Nhưng thế không có nghĩa độc thân không thể sinh nhiều hoa trái, đem lại ý nghĩa, lành mạnh, khiến cho người ta nên viên mãn và hạnh phúc. Một số người sinh sôi và viên mãn nhất mà tôi biết, là những người độc thân thánh hiến, ngày tháng trôi qua họ càng thêm dịu dàng và bình an. Đáng buồn thay, đối với một số người độc thân khác thì ngược lại. Dĩ nhiên, chuyện này, cả mặt tốt lẫn mặt xấu, cũng đúng với những người sống đời hôn nhân mà tôi biết.

Nhìn quả thì biết cây. Chúa Giêsu đã cho chúng ta tiêu chuẩn đánh giá đó. Nhưng khi đánh giá đời sống độc thân và đời sống hôn nhân (cũng như khi đánh giá các tôn giáo) chúng ta nên nhớ lấy lời khuyên của Huston Smith là chúng ta nên đánh giá bằng những thể hiện tốt nhất, bằng những thánh nhân, chứ không phải bằng những thể hiện thiếu lành mạnh nhất. Nhìn vào đời sống độc thân và đời sống hôn nhân, chúng ta thấy có cả người lành mạnh và không lành mạnh, và như thế đâu có vẻ có bên nào lấn át hẳn bên kia về sự thánh thiện hay suy đồi. Và do đó, không ngạc nhiên, khi xét cho cùng cả hai lựa chọn đều đòi hỏi cùng một điều, đó là sẵn sàng hy lễ và hao tâm tổn lực vì tình yêu và trung tín.

Một số người sống đời độc thân đã không trung tín, một số nữa còn là kẻ ấu dâm, nhưng một số khác lại trở thành Mẹ Teresa. Và cũng nên thấy rằng Chúa Giêsu cũng sống độc thân. Những người sống đời hôn nhân, có người không chung thủy, có người bạo hành, có người còn giết vợ chồng mình, nhưng cũng có người là hiện thân thánh thiện rõ ràng của tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa dành cho thế gian cũng như cho mối dây không thể phá vỡ của Chúa Kitô với Giáo hội của Ngài.

Tính dục là một thực tế có thể sống theo nhiều phương thức khác nhau, và cả đời sống hôn nhân hay độc thân đều là những lựa chọn thánh thiện nhưng, đáng buồn là, chúng có thể có biến chứng sai lầm.