RonRolheiser,OMI

Thất bại đáng trọng

Năm 1970, nhà văn lừng danh người Anh, bà Iris Murdoch, đã viết quyển tiểu thuyết Một Thất bại Đáng trọng (A Fairly Honorable Defeat). Câu chuyện này có vô số nhân vật, cả tốt và xấu, nhưng lại lấy tựa đề dựa trên những khốn cực của một nhân vật, Tallis Browne, cùng với các nhân vật khác, là một tiêu biểu cho những gì là tử tế, vị tha, và đạo đức. Bất chấp bị hầu hết mọi người phản bội, ông vẫn không thay đổi, không bao giờ phản bội niềm tin. Nhưng câu chuyện không có hậu cho ông.

Nhìn vào cái có lẽ là thất bại của Browne, Murdoch đặt lên câu hỏi: Công lý ở đâu? Công bằng ở đâu? Chẳng phải sự thiện sẽ chiến thắng sao? Murdoch, một người theo thuyết bất khả tri, cho rằng trong hiện thực một đời sống tốt lành không phải lúc nào cũng đem đến chiến thắng của sự thiện. Tuy nhiên, nếu sự thiện vẫn đứng vững và không phản bội chính mình, thì thất bại của nó sẽ đáng trọng.

Vì thế, theo bà, bạn sẽ muốn tránh một thất bại đáng trọng, và như thế nghĩa là: Bạn sẽ gặp thất bại, dù cho bạn tốt lành đến thế nào. Đôi khi bạn chẳng thể cứu thế giới hay thậm chí chẳng thay đổi được tình hình hiện thời. Nhưng bạn có thể cứu sự chính trực của mình và góp phần đạo đức đó cho thế giới và tình hình hiện thời, và khi làm thế là bạn giữ được sự chính trực của mình. Bạn thất bại, nhưng là thất bại đáng trọng. Như thế, sự thiện sẽ không phải chịu một thất bại đáng trọng.

Đấy là một chủ nghĩa khắc kỷ đẹp và nếu bạn không phải là một tín hữu, thì lời khuyên khôn ngoan khác cũng y hệt như thế: Hãy là chính mình! Đừng phản bội bản chất và giá trị của bạn, kể cả khi bạn thấy mình là kẻ ngoài lề. Tuy nhiên, dù Kitô giáo có thể hiện dạng khắc kỷ này, nhưng lại có cái nhìn khác biệt về chiến thắng và thất bại.

Trong đức tin Kitô giáo, chiến thắng và thất bại được tái định nghĩa triệt để. Ví dụ như, chúng ta nói về chiến thắng của thập giá, nói ngày Chúa Giêsu tử nạn là Thứ Sáu Tốt lành (Good Friday-Thứ Sáu Tuần Thánh), hoặc nói về sức mạnh biến đổi của sự sỉ nhục, và chúng ta sẽ có được mạng sống mình khi để mất nó. Với chúng ta, thất bại ở trần gian vẫn có thể là chiến thắng, cũng như chiến thắng ở trần gian có thể là thất bại. Thật vậy, theo quan điểm Kitô giáo, dù chưa bàn đến đời sau, đôi khi những thất bại và sỉ nhục chúng ta chịu lại là thứ cho chúng ta cuộc sống sâu sắc và phong phú hơn, và đôi khi chiến thắng của chúng ta lại cướp đi những thứ đem lại sự thông hiệp, thân thiết, và hạnh phúc. Mầu nhiệm phục sinh tái định nghĩa triệt để cả chiến thắng lẫn thất bại.

Nhưng không dễ có được nhận thức này. Và nó là phản đề đối lập với sự khôn ngoan đương thời. Thật vậy, người đương thời với Chúa Giêsu không dễ đón nhận nhận thức này. Sau khi Chúa Giêsu chết theo cách nhục nhã nhất vào thời đó là bị đóng đinh trên thập giá, thế hệ Kitô hữu đầu tiên đã phải đấu tranh cực kỳ với việc Ngài đã chết và cả cách Ngài chết. Trước hết, với họ, nếu Chúa Giêsu là Đấng Thiên sai được mong mỏi, thì ngài không chết mới phải. Thiên Chúa quyền năng hơn sự chết và chắc chắn không thể bị con người giết chết. Hơn nữa, theo tín lý Do Thái, cái chết là kết quả của tội lỗi, và do đó, nếu ai đó không có tội, thì không phải chết. Nhưng Chúa Giêsu đã chết. Cuối cùng, điều gây hoang mang đức tin nhất, chính là sự nhục nhã trong cách Ngài chết. Người Roma tạo ra kiểu đóng đinh thập giá, không phải chỉ để làm hình thức xử tử mà còn là một sỉ nhục cơ thể con người cực cùng và công khai. Chúa Giêsu đã chết theo cách nhục nhã nhất. Vào ngày thứ Sáu đó và cả nhiều năm về sau, không ai gọi đó là Thứ Sáu Tốt lành, Tuy nhiên, nhờ Chúa Giêsu phục sinh, nên họ đã cảm nhận được, dù chưa nhận thức rõ ràng, rằng thất bại của Chúa Giêsu trên thập giá là chiến thắng tột đỉnh và từ đó, chiến thắng và thất bại giờ được phân loại khác hẳn.

Lúc đầu, chúng ta thiếu ngôn từ để diễn tả điều này. Vài năm sau biến cố Phục Sinh, các Kitô hữu vẫn ngại nhắc đến cách Chúa Giêsu chết. Cách chết đó là một thất bại dưới con mắt người đời, và họ không biết giải thích thế nào. Thế nên, họ hầu như không nhắc gì đến chuyện này. Nhưng sự trở lại và những nhận thức sáng suốt của thánh Phaolô đã thay đổi điều này. Là một người được nuôi dạy theo đức tin Do Thái giáo, thánh Phaolô cũng chật vật với việc giải thích làm thế nào mà một thất bại trong đời này có thể thật ra là một chiến thắng. Tuy nhiên, sau khi trở lại, cuối cùng ngài cũng hiểu ra cách mà sự thiện mang lấy tội lỗi và thậm chí “trở thành chính tội lỗi” vì chúng ta. Điều này đã đảo ngược triệt để quan niệm của ta về chiến thắng và thất bại. Thập giá giờ được xem là chiến thắng tận cùng, và nỗi nhục nhã của thập giá không còn là thứ gây hổ thẹn, nhưng là điểm nổi bật đẹp đẽ nhất. “Tôi chẳng rao giảng điều gì ngoài thập giá Chúa Kitô.” Và nhờ đó chúng ta mới có các trình thuật thương khó.

Chúng ta sống trong một thế giới, hầu như vẫn xác định thất bại và chiến thắng, chiếu theo vị thế, theo thành công, danh tiếng, tầm ảnh hưởng, thanh danh, tiền bạc, sự tiện nghi, thoải mái, và an toàn trong đời. Có nhiều thất bại trong cuộc đời của chúng ta, và nếu thiếu quan điểm Kitô giáo thì chúng ta chỉ còn cách làm theo lời khuyên của bà Iris Murdoch: “Xét theo thực tế, sự thiện sẽ không chiến thắng, thế nên hãy cố tránh một thất bại đáng trọng.”

Đức tin Kitô giáo của ta, dù tôn trọng sự thật đó, nhưng thách thức chúng ta phải làm hơn thế.

Độc thân – Một biện giải riêng của tôi

Là một người độc thân khiết tịnh theo lời khấn, tôi vô cùng ý thức rằng thời nay, đời sống độc thân dù là theo đời sống tu trì hay theo các hoàn cảnh khác, đều bị nghi ngờ, bị tấn công đủ hướng, và lại chẳng có biện giải gì được cho những người chỉ trích.

Tôi có tin vào giá trị của đời sống độc thân thánh hiến? Câu trả lời thực sự duy nhất tôi có thể cho bạn, phải là câu trả lời từ cuộc sống của tôi. Tôi có phản ứng gì với một nền văn hóa phần lớn tin rằng độc thân và ngây thơ là thứ nhị nguyên đi ngược lại với sự tốt đẹp của tình dục, khiến cho người ta thiếu tính người đi, và còn là nguồn gốc gây ra khủng hoảng xâm hại tình dục trong Giáo hội Công giáo La Mã? Tôi nói gì để biện hộ đây?

Trước hết, độc thân không phải là nền tảng dẫn đến ấu dâm? Thực sự là mọi nghiên cứu chỉ ra rằng ấu dâm không liên quan đến độc thân. Nhưng hãy cho tôi nhìn nhận mặt tiêu cực của độc thân. Độc thân không phải là tình trạng bình thường cho bất kỳ ai. Khi tạo thành người nam và người nữ đầu tiên, Thiên Chúa đã nói: “Không tốt khi con người ở một mình!” Đấy không phải chỉ là một tuyên bố về vị trí căn yếu của cộng đồng trong đời sống chúng ta, mà là một lời tuyên bố rõ ràng nói về tính dục, về sự tốt đẹp căn bản của nó, và vị trí mà Chúa đã định cho nó trong cuộc đời chúng ta. Từ đó, có thể hiểu rằng, độc thân, nhất là những người quyết định chọn sống độc thân, kèm theo nhiều mối nguy cơ thật sự. Độc thân có thể, và đôi khi thực sự có, dẫn dắt đến một ý thức không lành mạnh về tính dục và quan hệ, hoặc dẫn đến sự lạnh lùng đến mức phán xét. Nó cũng có thể dẫn đến bận tâm tình dục không lành mạnh trong đời sống độc thân và do đó đem lại những dạng thân mật có thể gây ra sự phản bội niềm tin cực kỳ nguy hiểm. Một điểm người ta ít nhận ra hơn, nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ lớn, độc thân có thể là tăng cường sự ích kỷ. Nói đơn giản, không có những đòi hỏi bắt buộc của hôn nhân và nuôi dạy con cái, thì một người độc thân có thể vô thức sắp xếp cuộc đời sao cho phù hợp nhất với nhu cầu của mình.

Do đó, đời sống độc thân không dành cho tất cả, và thật sự là không dành cho nhiều người cho lắm. Nó có sẵn những bất thường cố hữu. Độc thân thánh hiến không đơn giản chỉ là một lối sống khác biệt. Mà nó là điều bất thường, vì sự hy sinh độc nhất vô nhị mà bạn phải thực hiện, cũng như khi Abraham lên núi để hiến tế Isaac, bạn cũng phải hy sinh điều quý báu nhất của mình. Thomas Merton, khi nói về đời sống độc thân của mình, đã nói rằng: Thiếu vắng người phụ nữ là một thiếu sót trong sự khiết tịnh của tôi. Nhưng, với người độc thân, cũng như với Abraham, điều đó có một mục đích lớn lao và có tiềm năng sinh sôi của riêng nó.

Tôi tin rằng độc thân thánh hiến, cũng như âm nhạc hay tôn giáo, cần phải được đánh giá bằng những biểu hiện đẹp nhất chứ không phải bằng những sai phạm. Không nên phán xét đời sống độc thân qua những người thể hiện không lành mạnh, mà phải qua những con người tuyệt vời, những vị thánh trong quá khứ và hiện tại, những người đã thể hiện đời sống độc thân một cách trọn vẹn và sinh sôi. Có thể nêu ra vô số vị thánh trong quá khứ, hay những người cực kỳ lành mạnh và sinh sôi trong thời đại chúng ta, những mẫu gương cho đời sống độc thân thánh hiến đã có một đời sống vui vẻ, trọn vẹn, truyền hứng khởi cho người khác. Mẹ Têrêsa, Jean Vanier, Oscar Romero, Raymond E. Brown, và Helen Prejean, mới chỉ là một vài tên. Riêng tôi biết nhiều người độc thân thánh hiến đầy sinh sôi, với sự lành mạnh chính trực mà tôi phải ghẹn tị, chính họ đã khiến đời sống độc thân đáng tin và hấp dẫn.

Như hôn nhân, nhưng theo một cách khác, độc thân có tiềm năng lớn đem lại sự thân thiết và sinh sôi. Là một người độc thân thánh hiến, tôi vô cùng biết ơn vì ơn gọi này đã cho tôi thân thiết với quá nhiều con người. Tôi phải thú nhận, khi rời nhà lúc trẻ để gia nhập Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ, tôi chẳng muốn sống độc thân. Chẳng ai nên sống độc thân cả. Tôi muốn làm nhà truyền giáo và linh mục, và đời sống độc thân là vật cản chắn con đường đó. Nhưng khi đi vào đời sống tu trì, tôi yêu thích đời sống này, gần như ngay lập tức, dù vẫn chẳng thích phần độc thân. Tôi đã trì hoãn khấn trọn hai lần, vì chưa chắc về đời sống độc thân. Cuối cùng, tôi đã quyết định, một sự liều mình theo đức tin, và khấn trọn. Nói thật hết lòng, với tôi, đời sống độc thân là phần khó khăn nhất trong hơn 50 tu trì… nhưng, đồng thời, nó giúp cho tôi tạo một con đường đặc biệt để đi vào thế giới và đời sống của những người khác, và nhờ đó đã thêm phong phú vô cùng cho việc mục vụ của tôi.

Thiên Chúa đã đặt để nơi con người một khát khao thân mật tình dục bản năng mà dù là hoàn toàn về mặt tình cảm, hay là tiến đến đêm tân hôn, có con có cháu, và khát khao đó không, và không nên, biến mất khỏi bạn. Nhưng đời sống độc thân đã giúp cho cuộc đời tôi có được sự thân thiết sâu đậm, bền vững và phong phú. Suy nghĩ về ơn gọi độc thân của mình, tôi cảm thấy thật sự biết ơn.

Độc thân không phải là lối sống dành cho tất cả mọi người. Nó khiến bạn không còn bình thường, và có lúc có vẻ bất công vô cùng, nó ẩn chứa đầy những nguy cơ từ phản bội niềm tin cho đến sống ích kỷ, và nó là một thiếu sót trong đức khiết tịnh của bạn, nhưng nếu sống đời độc thân một cách trung tín, thì nó có thể đem lại sinh sôi đến diệu kỳ và không tước đi của bạn của sự thân mật đích thực và hạnh phúc đích thực.

Đại kết – Con đường tiến tới

Tôi thật có phúc vì trong thời gian học về thần học, tôi được vinh dự học trong lớp của hai học giả Công giáo lừng danh, Avery Dulles và Raymond E. Brown. Người đầu tiên là nhà Giáo hội học với những quyển sách đã trở thành sách giáo khoa phải đọc trong các chủng viện và trường thần học. Người sau là một học giả kinh thánh, với nền học thuật vượt trội, gần như là phi thường, thậm chí là cả 30 năm sau khi ngài qua đời. Không ai có thể hoài nghi về tầm học thuật, sự chính trực, hay sự tận tâm với đức tin của hai ngài.

Họ theo các mảng thần học khác nhau, nhưng có điểm chung, ngoài sự tôn trọng cực kỳ trong giới học thuật và Giáo hội khắp nơi, là sự đam mê dành cho đại kết và khả năng thiết lập tình thân sâu đậm và mời gọi đối thoại nồng hậu với mọi phái và mọi dòng liên tôn giáo. Sách của các ngài không chỉ có giá trị trong phạm vi Công giáo La Mã, mà còn trong các trường thần học và chủng viện Tin Lành, Anh giáo, Mặc Môn và cả chủng viện của Do Thái giáo nữa. Cả hai ngài đều được tôn trọng hết mực vì sự cởi mở, tình thân và sự tử tế đối với những người có quan điểm tôn giáo khác mình. Thật vậy, cha Raymond Brown đã dành hầu hết những năm tháng sung sức của mình để giảng dạy tại Chủng viện Thần học Hiệp nhất ở New York, dù cho ngài là một linh mục Xuân Bích, là người trân quý chân tính Công giáo La Mã và chức linh mục của mình hơn bất kỳ điều gì. Sau khi hai thân sinh ngài qua đời, ngài nói rằng Giáo hội Công giáo La Mã và cộng đoàn Xuân Bích là “gia đình còn lại của tôi.”

Và điểm chung trong quan điểm của hai ngài đối với đại kết là thế này: Con đường đến với sự hiệp nhất Kitô giáo, con đường cuối cùng sẽ đưa mọi Kitô hữu thật tâm đến với nhau, trở thành một cộng đoàn duy nhất, quây quần quanh một bàn thờ, con đường đó không phải là đưa được người khác vào phái của mình, hoặc khiến người khác thừa nhận là họ sai và ta đúng và họ phải trở về đàn chiên thật là phái của ta. Theo các ngài, đây không phải là con đường tiến tới, dù là theo thực tế hay thần học. Như lời của cha Avery Dulles, con đường tiến tới cần phải là con đường của “hội tụ tăng dần” Con đường đó là gì?

Nó mở đầu bằng mỗi chúng ta thành thật thừa nhận rằng không ai trong chúng ta, không phái nào, có chân lý trọn vẹn, thể hiện được toàn bộ Giáo hội, và tuyệt đối trung tín với Tin Mừng. Chúng ta đều khiếm khuyết theo cách nào đó, và mỗi người trong chúng ta có chọn lọc những phần Tin Mừng nào mà chúng ta trân trọng và sống theo, phần nào chúng ta bỏ qua. Và như thế, con đường tiến tới là con đường của hoán cải, cả cá nhân và Giáo hội, thừa nhận sự chọn lọc của mình, thừa nhận và trân trọng những gì các Giáo hội khác đã sống theo, đọc Kinh thánh một cách sâu sắc hơn để tìm kiếm những gì chúng ta đã làm ngơ và trốn tránh, và nỗ lực sống đời sống chân thật hơn với Chúa Giêsu Kitô. Khi làm thế, mỗi người và mỗi Giáo hội chúng ta sống Tin Mừng trọn vẹn hơn, chúng ta sẽ “hội tụ dần”, và khi chúng ta tiến đến Chúa Kitô gần hơn thì chúng ta sẽ tiến đến nhau gần hơn và nhờ đó “hội tụ dần” quanh Chúa Kitô, và cuối cùng chúng ta sẽ thấy mình vây quanh một bàn thờ chung và sẽ xem nhau như một phần của cùng một cộng đoàn.

Con đường hiệp nhất không hệ tại ở việc cải đạo lẫn nhau, nhưng ở việc mỗi người chúng ta sống Tin Mừng một cách thành tín hơn để đến gần nhau hơn trong Chúa Kitô. Điều này không có nghĩa là chúng ta không ý thức rõ sự chia rẽ của mình, không phải là tối giản hóa mà nói rằng mọi phái đều như nhau, hay biện hộ cho sự chia rẽ ngày nay bằng cách chỉ ra sự chia rẽ đã có sẵn từ thời Tân Ước. Đúng hơn, mỗi người chúng ta đều phải thừa nhận rằng mình không nắm chân lý trọn vẹn và thật sự không thành tín trọn vẹn.

Với điểm khởi đầu đó, cha Raymond E. Brown đã đưa ra thách thức này cho mọi Giáo hội: “Thừa nhận sự đa dạng về Giáo hội trong thời Tân Ước khiến cho lời khẳng định của các Giáo hội rằng mình tuyệt đối trung thành với Kinh thánh trở nên phức tạp hơn. Chúng ta trung thành nhưng theo cách cụ thể riêng của mình, và các nghiên cứu về đại kết lẫn Kinh thánh phải cho chúng ta nhận ra rằng có những cách để trung tín khác mà chúng ta không công nhận. Nói ngắn gọn, một nghiên cứu thẳng thắng về các Giáo hội thời Tân Ước phải thuyết phục mọi cộng đoàn Kitô giáo rằng mình đã làm ngơ một phần trong chứng tá của Tân Ước. Tôi cho rằng trong một thế giới Kitô giáo chia rẽ, thay vì đọc Kinh thánh để quả quyết rằng mình đúng, tốt hơn chúng ta nên đọc để khám phá xem mình đã không lắng nghe điều gì. Khi các Kitô hữu thuộc những Giáo hội khác nhau cố gắng lắng nghe những tiếng nói đã bị làm ngơ trước đây, thì quan điểm của Giáo hội chúng ta sẽ mở rộng hơn, và sẽ tiến gần hơn đến mức độ chia sẻ quan điểm chung. Rồi Kinh thánh sẽ làm cho chúng ta những gì mà Chúa Giêsu đã làm vào thời của Ngài, cụ thể là thuyết phục những ai có thì hãy nghe rằng tất cả đều không đúng, vì Thiên Chúa muốn nơi họ nhiều hơn họ tưởng.

Thật vậy. Thiên Chúa muốn nơi chúng ta nhiều hơn chúng ta tưởng.

Linh đạo và những linh đạo

Linh đạo là gì và điều gì làm nên các linh đạo khác nhau?

Từ “linh đạo” (spirituality ) khá là mới trong thế giới nói tiếng Anh, ít ra là về mức độ sử dụng hiện nay. Trước những năm 1960, rất ít sách tiếng Anh có chữ “linh đạo” trong nhan đề, dù chuyện này đã phổ biến với thế giới nói tiếng Pháp rồi. Nửa thế kỷ trước, các ngòi bút thiêng liêng Công giáo La Mã viết về linh đạo, nhưng hầu như chỉ dùng những nhan đề như “Đời sống Thiêng liêng” và “Thần học Khổ hạnh” hay dưới các tên sùng đạo khác. Người Tin Lành và phái Phúc âm, hầu như đồng nhất linh đạo với lòng mộ đạo Công giáo La Mã và tránh xa từ này.

Hiểu trong pham vi giáo hội thời nay, thì linh đạo là gì? Có rất nhiều định nghĩa trong đủ thế loại văn học thiêng liêng, mỗi kiểu lại định nghĩa linh đạo theo một mục đích cụ thể. Có những định nghĩa hữu ích trong thảo luận hàn lâm, nhưng lại không hữu ích mấy với đại chúng. Thế nên, tôi xin mạo muội đơn giản hóa mọi chuyện bằng một định nghĩa rộng, mang tính liên tôn và đại kết, và mong là đủ đơn giản để phần nào hữu ích cho quý độc giả.

Linh đạo là nỗ lực của một cá nhân hay một nhóm để gặp gỡ và cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa, của tha nhân và vũ trụ để đi vào sự sống và mừng vui cùng tất cả. Các khuôn khổ và tập quán chung cụ thể phát triển từ điều này đã trở thành nền tảng cho nhiều linh đạo khác nhau.

Xét tận căn bản, có thể nói linh đạo là một “khuôn khổ” mà người ta chấp thuận. Ví dụ trong Kitô giáo, chúng ta gọi mình là môn đệ (disciple) của Chúa Giêsu Kitô. Từ “cương vị môn đệ” (discipleship) có gốc từ “khuôn khổ” (discipline). Một môn đệ là một người chấp nhận theo một khuôn khổ. Ấn giáo và Phật giáo gọi đây là “yoga.” Để là người theo Ấn giáo hay một Phật tử, thì phải thực hành một “khuôn khổ” thiêng liêng nhất định, mà họ gọi là yoga. Và đấy là điều cấu thành của bất kỳ việc hành đạo nào.

Mọi việc hành đạo đều là vấn đề đặt mình dưới một “khuôn khổ” nhất định. Nhưng chúng ta có thể phân biệt nhiều “khuôn khổ” tôn giáo khác nhau. Chúng ta có thể viện đến sự phân biệt của triết gia Aristotle. Ông phân biệt giữa “giống” và “loài”, ví dụ như chim là một giống, chim sẻ là một loài. Do đó, khi nhìn vào các linh đạo khác nhau, chúng ta có thể phân biệt giữa các khuôn khổ “chung” và các khuôn khổ “riêng biệt.” Kitô giáo, Do Thái giáo, Ấn giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Lão giáo, và các Tôn giáo Bản địa khác, là những linh đạo “chung.” Nhưng trong mỗi linh đạo đó, sẽ thấy có nhiều linh đạo “riêng biệt.” Ví dụ như trong Kitô giáo, sẽ thấy có Công giáo La Mã, Anh giáo, Tân giáo, Tin Lành, phái Phúc âm, Mặc Môn và phái Giáo đoàn. Đây là từng loài.

Rồi chúng ta có thể phân biệt xa hơn. Trong mỗi loài, sẽ có những “phân loài” là các “khuôn khổ” Kitô giáo riêng biệt. Ví dụ như, trong Công giáo La Mã, chúng ta có người theo linh đạo Đặc sủng của Dòng Tên, Dòng Phanxicô, Dòng Camêlô, Dòng Salê. Hãy để ý cấu trúc, từ giống, đến loài, rồi phân loài. Xét về linh đạo, Kitô giáo là một giống, Công giáo La Mã là một loài, và Dòng tên hay Dòng Phanxicô (hay trong trường hợp của tôi là Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ) là một phân loài.

Tôi xin lỗi nếu có hơi thiếu tôn trọng khi dùng từ ngữ giống loài để nói đến các truyền thống đức tin được trân quý thậm chí bằng máu các vị tử đạo. Nhưng tôi hy vọng cách này có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một vấn đề phức tạp và nguồn gốc của nó.

Không một ai hoàn toàn phụng sự Chúa của mình, cũng như không một ai hoàn toàn sống ngoài phẩm giá Chúa ban. Chúng ta cần được hướng dẫn. Chúng ta cần các khuôn mẫu hành xử và khuôn khổ đã được tin tưởng, được Chúa chúc phúc và xét cho cùng là phát xuất từ trên cao. Chúng ta gọi chúng là tôn giáo. Rồi trong các tôn giáo đó, chúng ta có thêm hỗ trợ qua gương mẫu đức hạnh cuộc đời các thánh và các nhân vật khôn ngoan. Như thế, trong Kitô giáo, chúng ta có mẫu gương và sự khôn ngoan đã được thử thách qua hai ngàn năm lịch sử của những người thành tín đã tạo nên các “khuôn khổ” có thể gúp ta sống cương vị môn đệ của mình tốt hơn. Dòng Tên, Dòng Phanxicô, Dòng Camêlô, Dòng Don Bosco, phong trào Mazenodian, phong trào Đặc sủng, Opus Dei, Focolare, Công nhân Công giáo, Sant’Egidio, phong trào Cursillo, ACTS Missions, Catholic Christian Outreach, cùng nhiều nhóm khác nữa, đều là những linh đạo, và cũng như các bài tập và chế độ ăn kiêng từ các chuyên gia sức khỏe có thể giữ cơ thể lành mạnh, thì các bài tập khuôn khổ của các vị thánh, các vĩ nhân đường thiêng liêng, và các nhà hiền triết có thể giúp chúng ta trung thành đi theo Chúa Giêsu và được sinh ích hơn.

Linh đạo nào tốt nhất cho bạn? Điều đó tùy thuộc vào tính chất riêng, thiên hướng riêng, và hoàn cảnh của bạn. Không có kiểu một kích cỡ áp dụng cho tất cả mọi người. Cũng như mỗi một bông tuyết đều khác nhau, thì chúng ta cũng vậy. Chúa cho chúng ta tài năng và thiên hướng khác nhau, và cuộc đời lại đưa chúng ta vào các hoàn cảnh khác nhau.

Có câu rằng, những quyển sách chúng ta cần đọc tự tìm đến chúng ta, và tìm đến đúng vào lúc chúng ta cần đọc nó. Với linh đạo cũng thế. Linh đạo bạn cần sẽ tìm đến bạn, và tìm đến đúng lúc bạn cần nhất.

Báo oán huyền bí

Chúng tất cả là một thể. Bất kỳ lúc nào chúng ta không nghiêm túc chấp nhận điều này, chúng ta sẽ phải trả giá.

Thần học gia lừng danh Hans Urs Von Balthasar đã cho chúng ta một ví dụ về điều này. Ngài nói rằng, vẻ đẹp không phải là một thứ “thêm thắt” mà chúng ta có thể trân trọng hay xem thường tùy theo thị hiếu và hứng thú riêng, như một thứ xa xỉ mà chúng ta nói rằng mình không thể có nổi. Như sự thật và sự thiện, vẻ đẹp là một trong những đặc tính của Thiên Chúa và do đó chúng ta phải xem trọng vẻ đẹp ngang với sự thật và sự thiện. Nếu chúng ta bỏ qua hay xem thường vẻ đẹp, thì chúng ta sẽ sớm bỏ bê những lĩnh vực khác trong đời mình. Tôi xin trích nguyên văn của ngài.

“Tình trạng hiện thời cho thấy vẻ đẹp đòi hỏi sự dũng cảm và quyết định ngang bằng với sự thật và sự thiện, và vẻ đẹp sẽ không để mình bị chia cắt và chúng tách rời khỏi hai người chị em nếu chưa đáp trả bằng một sự báo oán huyền bí. Chúng ta có thể chắc chắn rằng bất kỳ ai khinh thị vẻ đẹp, xem nàng như một thứ trang trí của quá khứ hào nhoáng, thì dù có thừa nhận hay không, người đó cũng không thể nào cầu nguyện và sẽ sớm không còn biết yêu là gì.”

Và tôi xin đưa ra thêm một diễn đạt đơn giản hơn: Có một câu chuyện ngụ ngôn Phi châu sống động nêu bật mối liên kết của mọi sự và nói rõ nếu chúng ta chia rẽ một sự gì đó khỏi anh chị em của nó thì chúng ta sẽ sớm phải trả giá. Chuyện đó thế này:

Ngày xửa ngày xưa, khi các loài động vật còn biết nói, một hôm nọ, chú chuột trong nông trại triệu tập cuộc họp với mọi loài động vật khác. Nó lo lắng, than thở, vì đã chứng kiến bà chủ nhà mùa về một cái bẫy chuột. Giờ nó đang gặp nguy hiểm. Nhưng các loài động vật khác cười cợt trên sự lo lắng của loài chuột. Con bò nói nó chẳng có gì phải lo. Một cái bẫy chuột bé xíu thì làm gì được nó. Nó có thể giẫm nát cái bẫy mà. Con heo cũng như thế. Nó có gì phải lo về một cái bẫy bé xíu chứ? Con gà cũng tuyên bố nó chẳng sợ gì thứ đó. “Đấy là chuyện của anh. Đừng lo cho tôi!” Con gà bảo con chuột như thế.

Nhưng mọi chuyện đều liên kết với nhau, và các loài động vật sớm thấy rõ bằng chứng. Bà chủ nhà đặt bẫy chuột, và ngay đêm đầu tiên, đã nghe tiếng bẫy sập. Bà ra khỏi giường để xem nó bắt được gì, và thấy chiếc bẫy đang kẹp vào đuôi một con rắn. Trong khi cố thả con rắn ra, bà bị rắn cắn, và nọc độc khiến bà lên cơn sốt. Bà đến bác sĩ, ông cho thuốc và khuyên bà. “Để khỏe lên, bà nên ăn thịt gà hầm.” (Kể từ đây và tiếp theo như thế nào thì chắc các bạn cũng đoán được.) Họ làm thịt con gà, nhưng cơn sốt vẫn chưa dứt. Người thân và hàng xớm đến thăm. Cần thêm đồ ăn để thết đãi. Thế là họ làm thịt con heo. Cuối cùng, bà chủ nhà không qua khỏi. Một đám tang lớn được tổ chức. Cần nhiều đồ ăn cho khách đến phân ưu. Thế là họ làm thịt con bò.

Bài học của câu chuyện này quá rõ ràng rồi. Mọi thứ đều có liên kết và nếu chúng ta không nhìn ra được thế, thì chúng ta lâm vào nguy hiểm cùng cực. Không thấy được sự lệ thuộc lẫn nhau, dù chủ ý hay không, đều là nguy cơ lớn. Chúng ta được gắn chặt bất phân ly với nhau và với mọi thứ trên đời. Chúng ta có thể phản đối, nói rằng chuyện không phải vậy, nhưng hiện thực sẽ khiến chúng ta phải mở mắt. Và chúng ta không thể nào thực sự trân trọng điều gì đó nếu như lại khinh thị một điều khác. Chúng ta không thể thực sự yêu một người khi ghét người khác. Và chúng ta không thể bỏ qua một đạo lý và mong mình toàn vẹn về đạo đức. Chúng tất cả là một thể. Không có ngoại lệ nào cả. Khi chúng ta làm ngơ sự thật, thì cuối cùng chúng ta lãnh hậu quả vì nó.

Tôi nhấn mạnh điều này, vì thời nay, thật sự là ở khắp nơi, chủ nghĩa cục bộ nguy hại đang lan tràn. Khắp mọi nơi, hệt như trong câu chuyện ngụ ngôn Phi châu, gia đình, cộng đồng, giáo hội, và quốc gia, chỉ biết tập trung vào nhu cầu của mình, mà chẳng lo gì cho các gia đình khác, cộng đồng khác, giáo hội khác, và quốc gia khác. Chúng ta tin rằng, vấn đề của người khác, không phải là mối lo của chúng ta. Từ sự hẹp hòi trong các giáo hội, cho đến kiểu chính trị chân phương, cho đến những quốc gia đặt nhu cầu của mình lên hàng đầu, chúng ta nghe thấy tiếng nói của những con bò, con heo, con gà trong truyện ngụ ngôn đó. “Không phải việc của tôi! Tôi sẽ tự lo cho tôi. Anh cứ lo cho anh đi!” Rồi chúng ta sẽ lãnh hậu quả.

Cuối cùng chúng ta sẽ phải trả giá cho sự mù tối và vô ưu, và sẽ trả cái giá đó về mặt chính trị, xã hội, và kinh tế. Nhưng chúng ta sẽ còn phải trả cái giá cao hơn nữa về phần mình. Cái hậu quả đó chính là lời cảnh báo của Von Balthasar. Bất kỳ ai làm ngơ hay khinh thị vẻ đẹp, cuối cùng sẽ không thể cầu nguyện hay yêu thương. Điều này đúng với mọi trường hợp chúng ta làm ngơ mối liên kết giữa mình với tha nhân. Khi làm ngơ nhu cầu của tha nhân, cuối cùng chúng ta làm băng hoại sự toàn vẹn của mình đến nỗi không thể nào tôn trọng và thương lấy bản thân, và khi đó, chúng ta sẽ mất đi sự tôn trọng và cảm thương với cuộc đời, với Thiên Chúa, vì bất kỳ khi nào hiện thực không được tôn trọng, nó sẽ cắn lại chúng ta với một sự báo oán huyền bí.

Wendy Beckett – RIP

Đừng cộng đồng nào làm hỏng các tang lễ của mình. Nhà nhân chủng học Mircea Eliade đã nói điều này, và nó đúng với các cộng đồng ở mọi cấp độ. Không một gia đình nào nên tiễn đưa một thành viên của mình mà không có những tưởng niệm, nghi lễ và chúc lành cho đàng hoàng.

Vào ngày 26-12-2018, gia đình nghệ thuật và gia đình đức tin đã mất đi một thành viên yêu dấu. Xơ Wendy Beckett, thọ 88 tuổi, nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng, một người dấn thân vì đức tin, và một người bạn sinh nhiều ích lợi cho nhiều người. Từ năm 1970, xơ Wendy đã sống khổ hạnh và khiết tịnh trong một tu viện dòng Carmel ở Anh quốc, mỗi ngày xơ cầu nguyện nhiều giờ, dịch các tập sách đạo nhỏ, và đi lễ hàng ngày.

Sau khi chọn lối sống này, xơ bắt đầu nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật, viết bài cho các tạp chí và xuất bản hơn 30 quyển sách về nghệ thuật. Năm 1991, xơ có lên một phim tài liệu ngắn của BBC và ngay lập tức thu hút đông đảo khán giả. Xơ sớm có một chương trình riêng trên BBC, chương trình Sister Wendy’s Odyssey, nổi tiếng đến mức có giai đoạn thu hút một phần tư khán giả xem truyền hình của Anh quốc.

Bất kỳ ai đã xem các chương trình của xơ đều sẽ bị lôi cuốn ngay bởi ba điều. Niềm vui vô cùng khi xơ thảo luận về một tác phẩm nghệ thuật, khả năng diễn giải rõ ràng với ngôn ngữ đơn giản về ý nghĩa của một tác phẩm nghệ thuật, và sự trân trọng của xơ đối với những tác phẩm nhục dục và cơ thể trần trụi của con người, một điều có thể là sự trân trọng có hại cho một người khấn khiết tịnh như xơ.

Tất cả các phẩm chất này, niềm vui, ngôn ngữ đơn giản, và khả năng ngưỡng mộ đơn thuần cơ thể con người, đã khiến khán giả say mê xơ, nhưng cũng khiến xơ chịu nhiều chỉ trích. Họ chế giễu sự giản dị trong ngôn ngữ của xơ, chỉ trích xơ không có tính phê bình nghệ thuật, và nói rằng vì xơ là một người khấn khiết tịnh nên không thoải mái khi bàn luận về các tác phẩm nhục dục và cơ thể con người. Họ thấy thật khó để chấp nhận việc một phụ nữ sùng đạo, một người khấn khiết tịnh, mặc áo dòng, với cặp kính dày cộm và hàm răng thô, lại có thể thoải mái như thế với chuyện nhục dục. Robert Hughes của tờ Time, từng chế giễu xơ là “giả vờ khổ hạnh liến thoắng liên hồi với hàm răng không lẫn vào đâu được” cùng những lời bình luận “chỉ thu hút được khán giả 15 tuổi.” Germaine Greer còn xem thường khả năng mô tả nghệ thuật gợi tình của xơ, với lý lẽ rằng xơ là một người khấn khiết tịnh.

Xơ Wendy hầu như chỉ cười trước những chỉ trích đó, và xơ trả lời như thế này: “Tôi không phải nhà phê bình, tôi chỉ là một người biết trân trọng.” Về sự thoải mái trước các tác phẩm nhục dục và cơ thể nude, xơ nói rằng không phải vì xơ khấn đời khiết tịnh mà xơ không thể cảm kích về nhục dục, tính dục và vẻ đẹp của cơ thể con người.

Dĩ nhiên có những cách khác nhau để cảm nhận cơ thể nude, và với xơ Wendy là sự trân trọng không tô vẽ. Một cơ thể không có áo quần có thể được xem là “khỏa thân” hay “trần truồng”. Nghệ thuật cao đẹp dùng từ “khỏa thân” để tôn vinh cơ thể con người (như là một trong những kỳ công đẹp nhất của Thiên Chúa), còn ngành khiêu dâm thì lại dùng từ “trần truồng” để trục lợi từ cơ thể con người.

Xơ Wendy cũng không biện hộ gì về việc đời sống khiết tịnh của xơ không buộc xơ phải bỏ đi sự trân trong đối với nghệ thuật gợi tình. Xơ đã đúng. Chúng ta đã dựng lên một quan niệm có hại và sai lầm rằng những người độc thân khiết tịnh phải như những đứa trẻ, phải được bảo vệ khỏi những thứ gợi tình, và từ đó dù đáng ra họ là những bác sĩ tâm hồn nhưng họ vẫn phải được cách ly khỏi những xung lực và bí mật của tâm hồn. Xơ Wendy không chấp nhận thế. Cả chúng ta cũng không nên chấp nhận. Khiết tịnh không phải là ngu ngơ không biết gì.

Tôi xin tiết lộ mình có liên hệ thân thiết với xơ Wendy. Nhiều năm trước, khi tôi còn trẻ và vẫn đang là một ngòi bút thiêng liêng non nớt, xơ đã gửi cho tôi một bức chụp lại tác phẩm Eros trứ danh của Paul Klee, với cỡ lớn và lồng trong khung rất đẹp. Trong 29 năm qua, bức tranh này được treo sau máy tính của tôi, đễ mỗi khi tôi viết, nó sẽ giúp tôi nhận ra rằng chính màu sắc, ánh sáng và sinh lực của Thiên Chúa truyền cho ta khao khát gợi tình đó.
Năm 1993, khi thăm tu viện xơ Wendy từng sống, tôi đã có cơ hội đi ăn với xơ. Người phục vụ lập tức rụt lại khi thấy bộ áo dòng. Với chút lưỡng lự, ông rụt rè hỏi, “Xơ à, tôi đem nước lên cho xơ nhé?” Xơ nở nụ cười trứ danh của mình và nói. “Không, nước là để rửa tay. Đem cho tôi ít rượu nhé?” Người phục vụ thở phào, và vui vẻ nói chuyện đùa với xơ trong khi phục vụ bữa ăn cho chúng tôi.

Và xơ Wendy là thế, một người mà nhiều người xem là bất thường, một người khấn khiết tịnh thảo luận về tình ái, một nữ tu khổ hạnh nhưng là nhà phê bình nghệ thuật, một người phụ nữ thông tuệ hàn lâm dẹp tan những chỉ trích bằng sự mộc mạc của mình. Nhưng như mọi bộ óc kiệt xuất, phải có sự nhất quán phi thường ở một mức độ thâm sâu hơn, và đó chính là nơi mà sự phê bình và trân trọng hòa làm một.

Đấu tranh để lấy chất nuôi dưỡng

Chúng ta đều đấu tranh để không rơi vào sự lạnh lùng và oán ghét. Thậm chí Chúa Giêsu cũng đã trải qua đấu tranh này. Như chúng ta, Ngài đã phải đấu tranh, nhiều lúc cực kỳ dữ dội, để giữ tình nồng ấm và yêu thương.

Thật thú vị khi dò điều này trong Phúc âm thánh Luca. Đây là phúc âm của cầu nguyện. Thánh Luca kể ba lần nhiều hơn các Phúc âm cọng lại các lần cầu nguyện của Chúa Giêsu. Hơn nữa, trong phúc âm thánh Luca, các môn đệ Chúa Giêsu được thêm sức nhờ lời cầu nguyện của Ngài. Họ đã thấy được nơi Ngài điều gì đó phi thường, không phải vì Ngài bước đi trên mặt nước hay làm phép lạ, nhưng là vì Ngài không giống chúng ta, Ngài có thể thật sự giơ má cho người ta. Ngài đủ mạnh để không rơi vào trạng thái lạnh lùng khi phải đối diện với sự thù ghét dữ dội đến mức đe dọa mạng sống của Ngài. Trong mọi trường hợp, dù cay đắng đến mấy, Ngài vẫn có thể thấu cảm và tha thứ, không bao giờ hoài nghi về sự chân thực của tình yêu và lòng nhân từ.

Các môn đệ của Chúa Giêsu thấy được Ngài rút lấy sức mạnh này từ một nguồn ẩn kín, một giếng nuôi dưỡng mà Ngài gọi là Cha, một giếng nước mà Ngài múc lấy qua lời cầu nguyện. Vì lẽ này, trong Phúc âm thánh Luca, các môn đệ xin Chúa Giêsu dạy cho họ cầu nguyện. Họ cũng muốn rút lấy của nuôi dưỡng từ nguồn này.

Nhưng chúng ta cũng thấy trong Phúc âm thánh Luca, muốn được thế phải trải qua nhiều lần đấu tranh. Đôi khi mọi chuyện có vẻ dễ dàng với Chúa Giêsu, Ngài được yêu thương và thông hiểu, và Ngài rao giảng thật vui vẻ và dễ dàng. Nhưng khi mọi chuyện sụp đổ, khi các thế lực thù ghét bắt đầu bủa vây, khi đa số các môn đệ ruồng bỏ và phản bội, và khi cái chết trở nên rõ ràng, thì cũng như đa số chúng ta, nỗi sợ và hoang tưởng đe dọa chiếm lấy Ngài. Đây đích thực là bản chất cuộc đấu tranh ở Vườn Giếtsêmani, cuộc thống khổ của Ngài.

Nói một cách đơn giản, khá dễ để hiểu, yêu thương và tha thứ sẽ dễ khi chúng ta cũng được đối xử như vậy. Nhưng sẽ là một chuyện khác khi chúng ta làm những điều này để rồi thành cái bia cho sự hiểu lầm, thù ghét, và giết người. Và cũng thế, trong Vườn Giếtsêmani chúng ta thấy Chúa Giêsu kiệt quệ, suy sụp về mặt con người, nằm dài xuống đất, đấu tranh để bám chặt vào nguồn nuôi dưỡng vẫn luôn giữ Ngài trong tin tưởng, yêu thương và tha thứ, cũng như đẩy lùi các hoang tưởng, thù ghét và tuyệt vọng ra xa. Và Ngài chẳng có được câu trả lời cách dễ dàng. Ngài phải cầu nguyện hết lần này đến lần khác, và theo lời thánh Luca, là “đổ mồ hôi máu” rồi mới có thể lấy lại cân bằng và gắn chặt lại vào lòng nhân từ vốn giữ gìn Ngài trong suốt sứ mạng của mình. Yêu thương và tha thứ không phải chuyện dễ dàng. Không rơi vào giận dữ, cay đắng, thương thân trách phận, thù ghét, khao khát báo thù, cũng chẳng phải là chuyện dễ dàng với Chúa Giêsu.

Và đấy là đấu tranh tinh thần tối hậu của chúng ta, đừng rơi vào phản ứng tự nhiên mỗi khi bị bất kính, bị xem nhẹ, bị làm ngơ, hiểu lầm, thù ghét, hay bị đối xử tệ bạc mức này hay mức khác. Trước những chuyện đó, sự hoang tưởng tự động bao phủ và hầu như toàn bộ tâm hồn chúng ta hợp lại để tạo áp lực, đến mức chúng ta bị ám ảnh mắt phải đền mắt, răng phải đền răng, xem thường đáp lại xem thường, xấu xa đáp lại xấu xa, thù ghét đáp trả thù ghét, bạo lực đáp trả bạo lực.

Nhưng còn có một khả năng khác. Như Chúa Giêsu đã phải đấu tranh cùng cực để không rơi vào trạng thái lạnh lùng và thù ghét, chúng ta cũng có thể rút lấy sức mạnh qua cuống rốn đã nuôi dưỡng Ngài. Chúa Cha, sức mạnh và ân sủng của Chúa, cũng có thể nuôi dưỡng chúng ta.

Trong bộ phim nổi tiếng Cuộc thương khó của Chúa Kitô, Mel Gibson tập trung vào đau khổ thể xác mà Chúa Kitô đã phải chịu trong cuộc khổ nạn và trong cái chết. Một phần điều này cũng có giá trị, vì những đau khổ Chúa Giêsu đã chịu đúng là khá thảm khốc. Nhưng cuốn phim lại bỏ qua vấn đề chính mà chúng ta có thể thấy trong các phúc âm. Các phúc âm hạn chế tối đa việc tập trung vào những đau khổ thể xác của Chúa Giêsu. Với các phúc âm, cuộc thương khó của Chúa Giêsu không phải là chuyện thể xác, mà là chuyện tinh thần, cực điểm là tinh thần. Cuộc đấu tranh thực sự của Chúa Giêsu khi Ngài đổ mồ hôi máu trong vườn Giếtsêmani không phải là liệu Ngài có để mình chịu chết hay là viện đến sức mạnh thần linh để thoát thân. Vấn đề thực sự là về cách Ngài sẽ chết. Trong cay đắng hay yêu thương? Trong thù ghét hay tha thứ?

Đó cũng là đấu tranh tinh thần tối hậu của chúng ta, một đấu tranh không phải chỉ gặp trong giờ lâm chung, nhưng gặp mỗi ngày, mỗi giờ. Trong mọi trường hợp trong cuộc sống, dù nhỏ hay lớn, những khi bị làm ngơ, khinh thị, xúc phạm, thù ghét hay bị xâm phạm bất công cách này hay cách, chúng ta phải đối diện với chọn lựa đáp trả: Cay đắng hay thông hiểu? Thù ghét hay yêu thương? Báo thù hay tha thứ?

Và như Chúa Giêsu đã đấu tranh trong vườn Giếtsêmani, chúng ta cũng phải đấu tranh để tiếp tục bám vào điều gì đó vượt quá bản năng tự nhiên của mình, vượt quá lương thức và những thúc bách văn hóa của chúng ta. Làm theo bản năng sẽ không tốt cho chúng ta. Chúng ta cần đi vào điều gì đó sâu xa hơn bản năng của mình.

Lời đầu tiên của Chúa Giêsu trong các phúc âm Nhất lãm là từ sám hối, metanoia. Metanoia có nhiều nghĩa, và một trong các nghĩa đó là đối lập với paranoia, hoang tưởng. Như thế, chúng ta phải tin dù đang đối diện với bất tín. Hoang tưởng là thứ tự nhiên với chúng ta, sám hối thì không, nó đòi hỏi chúng ta phải đấu tranh để rút lấy chất nuôi dưỡng từ nguồn thâm sâu hơn.

Mười sách linh đạo hàng đầu của tôi năm 2018

Năm nay, tôi có đọc một số tiểu thuyết và sách bình luận xã hội rất hay, nhưng tôi xin tập trung vào các quyển sách có liên hệ rõ rệt đến linh đạo.

Trước hết, tôi xin có lời biện bạch. Thị hiếu là riêng cho mỗi người, xin các bạn lưu ý khi đọc các sách do tôi giới thiệu. Đây là những quyển sách tôi thích, tôi cảm được, và tôi tin là sẽ có ích cho ai đang tìm hướng dẫn và hứng khởi trên đường lữ hành. Có lẽ chúng sẽ không nói với bạn hệt như đã nói với tôi.
Những sách linh đạo nào tôi thấy hữu ích nhất trong năm 2018?

  • Phúc âm của Julia, Soi rọi Cuộc đời và những Mặc khải của Julian thành Norwich [Julian’s Gospel, Illuminating the Life and Revelations of Julian of Norwich], của Veronica Mary Rolf.

Julian thành Norwich là một trong các nhà thần nghiệm Kitô giáo lớn nhất, nhưng đối với đa số độc giả, suy tư của thánh nữ thì không dễ tiếp cận chút nào. Quyển sách này là một giới thiệu rất hay về cuộc đời và những bài viết của thánh nữ, và nêu bật thánh nữ là một ốc đảo linh đạo trù phú đến mức nào vào một thời mà hầu hết thế giới Kitô giáo nghĩ về Thiên Chúa theo kiểu rất khắc nghiệt.

  • Thử Kinh Lạy Cha, Một Thực hành Thiêng liêng đem lại Biến đổi [To Dare The Our Father, A Transformative Spiritual Practice], của John Shea.

Shea lấy từng phần trong Kinh Lạy Cha để thách thức chúng ta về những khía cạnh khác nhau trong đời, nhất là đối diện với đấu tranh để hòa giải với tha nhân. Phần về cuộc đấu tranh của Chúa Giêsu trong vườn Giếtsêmani đặc biệt sâu sắc và thấu suốt.

  • Đây là Tất cả sao? [ Is This All There Is?], của Gerhard Lohfink

Một học giả kinh thánh tầm thế giới đi vào vấn đề đời sau được nhắc đến trong Kinh thánh. Đây là kiến thức học giả hàng đầu được biến chuyển sao cho dễ hiểu với tất cả mọi người. Lohfink là một học giả và là thầy giáo có tài. Đây là khóa học cấp đại học về đời sau cho bất kỳ ai muốn tìm hiểu, bất kỳ mức độ học thuật của họ như thế nào.

  • Linh đạo Một Nghệ thuật Sống [Spirituality An Art of Living], của Benoit Standaert

Standaert là một tu sĩ dòng Biển Đức người Hà Lan, và quyển sách dễ đọc nhờ được chia thành nhiều bài suy niệm ngắn, là hòn ngọc của khôn ngoan và thách thức. Những người với nền tảng kiến thức Tin Lành và Anh giáo, được học theo kiểu kinh điển của Oswald Chambers sẽ hiểu ý tôi khi tôi nói đây là một quyển “Cần Hết sức” cho mọi Kitô hữu.

  • Linh hồn Không tuổi, Hành trình Cuộc đời hướng đến Ý nghĩa và Niềm vui [Ageless Soul, The Lifelong Journey Toward Meaning and Joy], của Thomas Moore

Moore luôn lỗi lạc, và quyển sách này cũng không ngoại lệ. Ngài là một trong những hộ vệ linh hồn vĩ đại nhất cho thế hệ chúng ta. Nhưng quyển sách có một chủ đề khá phải dè chừng. Có người sẽ thấy nó hơi quá đà vì thiếu những hạn chế tôn giáo. Có lẽ là thế, nhưng nó là một quyển sách xuất sắc.

  • Sáng tạo và Thập giá, Lòng thương xót của Chúa cho một Hành tinh Lâm nguy [Creation and the Cross, The Mercy of God for a Planet in Peril], của Elizabeth Johnson

Một trong những thần học gia hàng đầu của thế hệ chúng ta, đã đẩy suy tư của xơ và của chúng ta nữa đi xa hơn về việc sự nhập thể của Thiên Chúa, trong Chúa Kitô, là một “nhập thể sâu xa” tác động đến tạo hóa vật chất cũng như nhân loại. Chúa Kitô đến không phải chỉ để cứu con người trên trái đất này, mà còn để cứu chính trái đất. Chúa Kitô cũng đi vào tự nhiên. Xơ Johnson giúp giải thích vì sao chúng ta cần hiểu rõ điều này hơn. Quyển này bao gồm một tổng hợp thần học chuyên ngành về các quan điểm Kitô giáo đối với lý do Chúa Kitô đến trái đất.

  • Mười hai Quy luật Cuộc sống, Thuốc giải cho Hỗn loạn [12 Rules for Life, An Antidote to Chaos], của Jordan Peterson

Đây là một trong những quyển sách được tranh luận nhiều nhất trong năm qua. Một quyển sách hay, thông tuệ, dù cho bạn không đồng ý với toàn bộ hay hầu hết mọi lời ông nói. Một vài người bảo thủ đã dùng quyển sách này một cách rất chọn lọc để áp dụng phù hợp cho mục đích của họ, cũng như một số người theo chủ nghĩa tự do đã bác bỏ bất công quyển sách này vì một vài luận điểm tấn công những quá đáng của phái tự do. Với tôi, cả hai kiểu trên đều không đúng. Chiều sâu và sắc thái chung của Peterson không phải để bị cánh hữu lợi dụng và cánh tả chỉ trích. Xét cho cùng, Peterson đã rơi vào cảnh như Chúa Giêsu khi Ngài có Bài giảng trên núi. Tiêu đề của quyển sách này cũng thật đáng tiếc, vì nó đem lại ấn tượng đây chỉ là một quyển sách tự lực nữa mà thôi. Nhưng nó không phải vậy đâu.

  • Thinh lặng và Vẻ đẹp [Silence and Beauty], của Makoto Fujimura

Đây là một quyển sách hay, viết bởi một nghệ sĩ khá hòa hợp với mỹ học. Đây là một quyển sách về nghệ thuật, đức tin và tôn giáo. Fujimura là một Kitô hữu và một nghệ sĩ có tâm. Với hầu hết mọi người, điều này sẽ dẫn đến căng thẳng, nhưng Fujimura không chỉ cho thấy mình có thể giữ đức tin và nghệ thuật sát cánh bên nhau, ông còn có một lời biện giải sắc sảo cho tôn giáo.

  • Tiểu sử của Thinh lặng [Biography of Silence], của Pablo d’Ors

Cha Ors là người Tây Ban Nha với các tiểu thuyết và các sách linh đạo. Quyển sách nhỏ, ngắn và dễ đọc này có thể là một món hay với bất kỳ ai, dù vô thức cảm thấy cầu nguyện không đáng để mình bỏ thì giờ và bỏ công. Viết từ thói quen suy niệm thinh lặng, cha Ors cho ta thấy cầu nguyện có thể đem lại ơn ích gì cho cuộc sống.

  • Hướng đến Đền tội Đồng cỏ [Towards a Prairie Atonement], của Trevor Herriot

Herriot là tác giả người Canada, và trong quyển sách mới nhất này, ông cho rằng khi mình làm tổn thương ai đó, thì cần có việc đền tội để hòa giải, thì mối quan hệ của chúng ta với trái đất cũng thế. Vì những xâm phạm lâu nay, chúng ta cần có việc đền tội tích cực đối với trái đất.

Tôi xin chúc các bạn đọc sách vui vẻ!

Thông điệp kép của Giáng Sinh

Tôi cực kỳ hạnh phúc khi một số bạn bè là nhà hoạt động xã hội gửi cho tôi các tấm thiệp Giáng Sinh với lời chúc: “Nguyện xin Bình an Chúa Kitô làm phiền bạn!” Chẳng lẽ chúng ta không thể có một ngày trong năm để vui vẻ ăn mừng mà không để cái tôi vốn đã chẳng vui vẻ gì giờ lại gánh thêm cảm giác tội lỗi sao? Chẳng phải Giáng Sinh là thời gian để chúng ta tận hưởng cảm giác làm trẻ thơ lần nữa sao? Hơn nữa, như Karl Rahner từng nói, chẳng phải Giáng Sinh là thời gian Chúa cho chúng ta được phép vui vẻ sao? Thế thì sao lại không vui vẻ?

À, chuyện này phức tạp lắm. Giáng Sinh là thời gian Chúa cho chúng ta được phép vui vẻ, là thời gian như lời Chúa nói qua ngôn sứ Isaia: “Hãy làm khuây khỏa dân Ta. Hãy nói những lời khuây khỏa!” Nhưng Giáng Sinh cũng là thời gian cho thấy khi Thiên Chúa sinh ra cách đây 2000 năm, chẳng nhà nào có chỗ cho Ngài. Chẳng có chỗ cho Ngài trong nhà trọ. Cuộc sống bận rộn và những kỳ vọng của mọi người đã ngăn họ dành cho Ngài một nơi để ra đời. Và điều đó vẫn không thay đổi.

Nhưng trước hết, tôi xin nói đến sự khuây khỏa Chúa Giêsu đem lại khi ra đời. Nhiều năm về trước, tôi có tham gia hội đồng của một giáo phận lớn. Trong giờ sinh hoạt, người điếu hành chương trình chia chúng tôi thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm được yêu cầu trả lời một câu hỏi: Một điều duy nhất, quan trọng nhất mà Giáo hội cần thách thức thế giới thực hiện ngay lúc này?

Các nhóm gửi lại câu trả lời, mỗi nhóm lại nêu ra một thách thức đạo đức hoặc thiêng liêng quan trọng: “Chúng ta cần thách thức xã hội biết thực thi công lý hơn!” “Chúng ta cần thách thức thế giới biết có đức tin thật và đừng nhầm lẫn Lời Chúa với ý muốn của riêng mình.” “Chúng ta cần thách thức thế giới biết nghiêm túc hơn về đạo đức tình dục. Chúng ta đã lạc lối rồi!” Đây đều là những thách thức cần thiết, và tốt đẹp. Nhưng không nhóm nào nói: “Chúng ta cần thách thức thế giới đón nhận sự khuây khỏa của Thiên Chúa!” Cứ cho là thế giới hiện nay đang có nhiều bất công, bạo lực, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính, tham lam, ích kỷ, tình dục bừa bãi, và giả danh đức tin vì lợi ích riêng, nhưng hầu hết những người trưởng thành cũng đang sống trong đau đớn, lo âu, thất vọng, mất mát, trầm cảm, và mặc cảm tội lỗi không cách nào cởi bỏ. Nhìn đâu cũng thấy những tâm hồn nặng trĩu. Hơn nữa, quá nhiều người đang sống với tổn thương và thất vọng, họ chẳng thấy Thiên Chúa và Giáo hội là lời giải cho nỗi đau của mình, mà thậm chí còn là một phần gây nên nỗi đau đó.

Thế nên, khi rao giảng Lời Chúa, Giáo hội trước hết phải cam đoan với thế giới về tình yêu thương, sự quan tâm và sự tha thứ của Thiên Chúa. Lời Chúa, trước hết là sự khuây khỏa cho chúng ta, thật sự là nguồn tối hậu của mọi khuây khỏa. Chỉ khi nào thế giới biết đến sự khuây khỏa nơi Lời Chúa, thì thế giới mới đón nhận các thách thức kèm theo.
Và thách thức đó, trong mọi thách thức khác là dành chỗ cho Chúa Kitô trong nhà trọ, nghĩa là mở rộng lòng mình, nhà mình và thế giới mình sao cho Chúa Kitô có thể đến và sống ở đó. Với khoảng cách 2000 năm, chúng ta dễ dàng phán xét gay gắt những người đồng thời với Chúa Giêsu đã không nhận ra thánh Giuse và Đức Mẹ đang cưu mang ai, đã không tạo một nơi xứng đáng để Ngài hạ sinh, đã không nhận ra Ngài là Đấng Thiên sai. Sao họ có thể mù tối như thế? Nhưng chính phán xét đó có thể áp dụng trên chúng ta. Chúng ta đâu hẳn đã dành chỗ cho Chúa trong nhà trọ của mình.

Khi có một người mới sinh ra trên đời, thì người đó chiếm lấy một chỗ vốn trước đây chưa từng có ai. Đôi khi, con người mới đó được chào đón nồng hậu, được có ngay một không gian yêu thương và được mọi người xung quanh mừng vui vì sự hiện diện mới này. Nhưng không phải lúc nào cũng thế, đôi khi, như hoàn cảnh của Chúa Giêsu, người ta chẳng tạo một không gian yêu thương và cũng chẳng chào đón sự hiện diện mới này.

Thời nay chúng ta thấy chuyện này trong sự miễn cưỡng chào đón người nhập cư, một chuyện xảy ra gần như khắp thế giới và sẽ là lời phán xét sau này cho thế hệ chúng ta. Liên hiệp quốc ước tính có 19,5 triệu người tị nạn trên thế giới, những người chẳng được ai hoan nghênh. Tại sao lại không hoan nghênh? Chúng ta đâu phải người xấu, và hầu như lúc nào chúng ta cũng có thể quảng đại rộng rãi vô cùng mà. Nhưng để làn sóng nhập cư này tràn vào sẽ gây phiền toái cho cuộc đời chúng ta. Cuộc đời của chúng ta sẽ phải thay đổi. Chúng ta sẽ mất đi nhiều tiện nghi hiện thời, mất nhiều thứ vốn đã quen thuộc, và mất đi phần nào cảm giác an toàn.

Chúng ta không phải là người xấu, các chủ quán trọ hai ngàn năm trước cũng thế, họ không biết mình đang làm gì khi bỏ mặc, quay lưng với thánh Giuse cùng Đức Mẹ. Tôi luôn có một lòng cảm thông dành cho họ. Có lẽ bởi tôi, cũng đang vô thức làm hệt như họ. Một người bạn của tôi thích nói rằng, “Tôi phản đối cho thêm người nhập cư vào… Vì tôi đã vào rồi mà!”

Bình an của Chúa Kitô, thông điệp tiềm ẩn và bối cảnh không êm đẹp trong việc Chúa Kitô xuống thế, nếu hiểu được, chắc chắn sẽ làm phiền chúng ta. Và mong sao chúng cũng đem lại sự khuây khỏa sâu sắc cho chúng ta.

Ngoài rìa thành phố

Có vẻ Thiên Chúa ưu ái người không có quyền lực, người không được chú ý, trẻ em, người ngoài rìa, người tị nạn không nơi nương tựa không có gì để bám víu.

Vì thế Chúa Giêsu mới sinh ra bên ngoài thành phố, trong hang lừa, không ai chú ý, xa những gì phô trương ầm ĩ, xa truyền thông và xa những con người cũng như sự kiện được cho là quan trọng vào thời đó, một Chúa Giêsu khiêm hạ và vô danh. Thiên Chúa làm việc như thế. Tại sao?

Trong vở rock opera Siêu sao Giêsu Kitô (Jesus Christ Superstar), câu hỏi đó đã được đặt ra cho Chúa Giêsu. Tại sao Ngài lại chọn một thời xa xưa, ở một vùng đất xa lạ như thế? Nếu Ngài đến hôm nay, Ngài có thể vươn đến cả một quốc gia. Israel vào năm 4, làm gì có truyền thông đại chúng.

Kinh Thánh trả lời bằng cách bảo chúng ta rằng cách thức của Thiên Chúa không như chúng ta, và cách thức của chúng ta không phải của Thiên Chúa. Đúng là thế. Chúng ta có khuynh hướng hiểu sức mạnh qua cách nó tác động trên thế giới. Sức mạnh có nơi tầm đại chúng, nơi truyền thông đại chúng, nơi đặc quyền có từ xưa, nơi thế lực tài chính, nơi giáo dục cao, nơi tài năng cá nhân, và thậm chí là nơi sự hung hăng, tham lam, và lãnh đạm trước nhu cầu của tha nhân và tự nhiên.
Nhưng chỉ cần lướt qua Kinh thánh, là đủ thấy đấy không phải cách làm của Thiên Chúa. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu thể hiện không hoành tráng đi vào thế giới, không sinh ra trong hoàng tộc với biết bao kỳ vọng và được công bố khắp nơi, không cùng cha mẹ xuất hiện trên khắp các mặt báo, không được cả thế giới trông chờ một tương lai vĩ đại và đầy ảnh hưởng, không có đặc quyền học cao và nằm trong nhóm những người quyền lực và uy thế.

Rõ ràng, quá rõ ràng, Chúa Giêsu không sinh ra như thế, và cuộc đời của Ngài cũng không như thế. Như Kinh thánh chỉ rõ, Thiên Chúa hành động một cách vô danh hơn là nổi bật trên những trang nhất, Thiên Chúa hoạt động qua người nghèo hơn là người quyền thế, và qua những người ngoài rìa hơn là nhóm quyền lực. Khi nhìn vào cách Thiên Chúa hành động, chúng ta thấy được, không phải ngẫu nhiên mà Chúa Giêsu sinh ra ở bên ngoài thành phố, và sau khi chịu tử nạn Ngài cũng được chôn bên ngoài thành phố.

Việc Thiên Chúa làm trong thế giới chúng ta thường không lên trang nhất các mặt báo. Thiên Chúa không bao giờ đi vào thế giới hay đi vào lương tâm của chúng ta với kiểu hoành tráng đầy uy thế. Thiên Chúa hành động kín đáo hơn, âm thầm chạm đến linh hồn, đến lương tâm, chạm đến những gì sâu trong lòng chúng ta đã từng được Ngài chạm đến từ rất xa xưa, nơi chúng ta vẫn vô thức lưu giữ một ký ức mơ hồ về việc mình được Thiên Chúa sáng tạo, chạm đến, nâng niu và yêu thương. Vì thế mà Chúa Kitô sinh ra trong thế giới này trong hình hài một đứa trẻ chứ không phải một siêu sao, Ngài sinh ra với một sức mạnh duy nhất là chạm đến và làm êm dịu những tâm hồn quanh Ngài. Trẻ em không mạnh hơn ai về mặt thể lý hay tri thức. Trẻ em chỉ nằm đó, không có quyền lực, khóc để được yêu thương chăm sóc. Thế mà, ngược đời thay, xét cho cùng, trẻ em lại mạnh hơn tất cả. Không một sức mạnh thể lý hay trí thức nào, có thể chạm đến lương tâm con người cho bằng một em bé, một nét vô lực ngây thơ cũng phần nào có nơi một chú chim bị thương, một chú mèo bị bỏ rơi, một đứa trẻ đứng một mình khóc. Bản tính thiện trong chúng ta được thổi bùng lên trước sự vô lực và ngây thơ.

Đấy chính là cách Thiên Chúa đến với chúng ta, thật nhẹ nhàng không huyên náo. Không có kiểu hoành tráng. Và đấy cũng là lý do Thiên Chúa thường bỏ qua những nhóm người quyền thế để ưu ái những người bị bỏ rơi và dễ bị tổn thương. Chẳng hạn trong Tin Mừng, thánh Luca đã kể lại ơn Chúa đến với Gioan Tẩy giả thế nào. Thánh Luca liệt kê tên mọi lãnh đạo nhà nước và tôn giáo thời đó (các quan lại La Mã, các vua Palestina và các thượng tế) rồi nói rõ rằng Lời Chúa bỏ qua họ mà đến với Gioan đang sống đơn độc trong hoang địa. (Lc 3, 1-3) Theo Tin Mừng, hoang địa là nơi dễ tìm thấy và cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa nhất, bởi Thiên Chúa thường bỏ qua các trung tâm quyền lực để tìm một nơi trong lòng những người không nằm trong các nhóm quyền thế đó.

Các bạn cũng có thể thấy điều này qua nhiều lần Đức Mẹ hiện ra, những lần đã được Giáo hội công nhận. Có điểm chung nào giữa những lần hiện ra đó? Đức Mẹ không bao giờ hiện ra cho một tổng thống, giáo hoàng, một lãnh đạo tôn giáo, một ông chủ ngân hàng ở Wall Street, người điều hành các công ty lớn, hay thậm chí là một nhà thần học. Không một ai như thế. Đức Mẹ hiện ra cho các trẻ em, cho một phụ nữ chẳng có quyền thế gì, cho một nông dân mù chữ, và cho nhiều người khác chẳng có địa vị nào.

Chúng ta có khuynh hướng xem sức mạnh nằm ở nơi tiềm lực tài chính, uy thế chính trị, tài năng lỗi lạc, ảnh hưởng truyền thông, sức mạnh thể chất, năng lực siêu phàm, nơi nhan sắc, sức khỏe, trí khôn và quyến rũ. Nhìn qua thì thấy như vậy có vẻ đúng, và thật sự là những điều đó chẳng có gì là xấu. Nhưng nhìn sâu hơn, như khi xem lại việc Chúa Kitô sinh hạ, chúng ta thấy được Lời Chúa bỏ qua những người quyền thế mà đến với tâm hồn của những người ngoài rìa thành phố.

Một danh sách việc cần làm

Trong đời bạn còn điều gì dang dở?

Chà, trong đời ai cũng luôn có nhiều điều còn dang dở. Chẳng điều gì thực sự thành toàn. Dường như cuộc đời chúng ta bị gián đoạn bởi cái chết. Hầu hết chúng ta chẳng hoàn thành đời mình, chúng ta thiếu thời gian. Thế nên, một cách ý thức và vô thức, chúng ta lập danh sách việc chúng ta còn muốn làm, điều chúng ta muốn thấy, những gì chúng ta muốn hoàn tất trước khi chết.

Chúng ta vẫn còn muốn làm gì? Nhiều việc nảy ra ngay lập tức. Chúng ta muốn thấy con cái lớn lên. Chúng ta muốn thấy đám cưới của con gái mình. Chúng ta muốn thấy những đứa cháu ra đời. Chúng ta muốn hoàn thành tác phẩm cuối cùng, tòa nhà cuối cùng. Chúng ta muốn mừng sinh nhật tuổi 80. Chúng ta muốn hòa giải với người thân.

Trên những điều đó, những điều quan trọng hơn, thường thì chúng ta cũng có một danh sách những việc ta chưa làm vì bận rộn, vì khó khăn kinh tế, vì xao lãng. Chúng ta muốn hành hương Camino, muốn đến Thánh địa, muốn thấy danh lam thắng cảnh Âu châu, muốn xách balô đi Châu Á, muốn cùng con cháu đi khắp nước, tận hưởng tuổi về hưu.

Nhưng khi tưởng tượng về những chuyện còn dang dở trong đời, có một mối nguy là chúng ta dễ bỏ qua những gì phong phú có ngay trong cuộc sống, trong thời khắc hiện tại của mình. Câu đáng để hỏi hơn, nên là thế này: Tôi muốn sống như thế nào trong hiện tại để sẵn sàng chết khi thời điểm đó đến?

Ngòi bút người Tây Ban Nha, linh mục Pablo d’Ors, trong quyển Tiểu sử của Thinh lặng (Biography of Silence), một quyển sách tuyệt vời về chiêm niệm, đã nhìn thẳng vào sự khả tử của mình và quyết định những điều mình muốn làm khi biết rồi đến một ngày mình sẽ chết. Đây là danh sách của cha. “Tôi đã quyết định đứng lên và mở rộng đôi mắt. Tôi đã quyết định ăn uống chừng mực, ngủ đủ giấc, chỉ viết những gì hữu ích cho sự thăng tiến của những người đọc, kiềm chế sự vô độ và không bao giờ so sánh mình với người khác. Tôi cũng quyết định tưới cây và chăm sóc cho các vật tôi nuôi. Tôi sẽ đi thăm người bệnh, sẽ chuyện trò với người cô đơn, và sẽ chơi đùa với con nít. Tôi cũng đã quyết định đọc kinh mỗi ngày, cúi mình trước những sự tôi thấy là thiêng liêng, tôn kính Phép Thánh Thể, lắng nghe Lời Chúa, cử hành Phép Thánh Thể, chúc bình an, và hát đồng thanh. Và tôi sẽ đi rảo bộ, một việc tôi thấy cần thiết. Tôi sẽ đốt lò sưởi, một việc cũng cần thiết. Và tôi sẽ đi mua đồ một cách thong thả không vội vàng, chào hỏi hàng xóm dù tôi chẳng ưa họ, tôi sẽ đăng ký theo dõi một tờ báo, thường xuyên gọi điện hỏi thăm bạn bè và anh chị em. Và tôi sẽ đi chơi, đi bơi ở biển ít nhất một năm một lần, chỉ đọc những sách hay, hoặc đọc lại những sách tôi thích… Tôi sẽ sống vì những điều đáng để chú tâm và quan tâm. Và như thế, đến tuổi già, tôi sẽ trầm ngâm thưởng ngoạn, vừa khiêm nhượng vừa tự hào, vườn cây trái tuy nhỏ bé nhưng tráng lệ mà tôi đã trồng. Cuộc đời là thái độ, văn hóa và vun đắp.”

Cuộc đời là thái độ, văn hóa và vun đắp. Tôi đã thoát được hai chứng ung thư. Lần đầu tiên tôi được chẩn đoán mắc ung thư là bảy năm về trước, nhưng bác sĩ bảo không có gì nghiêm trọng. Tôi đã sợ, nhưng thời gian của đời tôi vẫn còn rất dài. Nhưng cách đây bốn năm, khi chứng ung thư tái phát, các bác sĩ không tỏ ra lạc quan cho mấy, và dùng những từ ngữ chuyên ngành, ngỏ ý cho tôi biết thời gian của tôi không còn bao nhiêu. Và nó đã làm cho tôi suy nghĩ và cảm nhận của tôi được rõ ràng hơn bao giờ hết. Tôi choáng váng, về nhà, ngồi xuống cầu nguyện, rồi viết một lời tuyên tín nhỏ cho bản thân, một dạng danh sách cần làm.

Tôi sẽ nỗ lực để sinh hoa trái bao lâu còn có thể.
Tôi sẽ biến mỗi ngày và mỗi hoạt động trở nên quý báu và vui vẻ hết sức có thể.
Tôi sẽ nỗ lực để dễ thương, nồng hậu, nhân từ hết sức có thể.
Tôi sẽ nỗ lực để sống lành mạnh hết sức có thể.
Tôi sẽ nỗ lực để đón nhận tình yêu thương của người khác một cách sâu sắc hơn lâu nay.
Tôi sẽ nỗ lực để sống “hòa giải” trọn vẹn hơn. Không còn làm tổn thương người khác nữa.
Tôi sẽ nỗ lực để giữ tinh thần hài hước.
Tôi sẽ nỗ lực để can đảm và dũng cảm hết sức có thể.
Tôi sẽ nỗ lực để không bao giờ nhìn vào những gì tôi đang mất đi, nhưng nhìn vào cuộc đời tuyệt vời và viên mãn của tôi lâu nay.
Và tôi sẽ, mỗi ngày, quỳ dưới chân Chúa trong lời cầu nguyện.
Và tôi cũng sẽ bắt đầu tưới cây, quan tâm đến con mèo hoang, và cho chim chóc quanh nhà ăn.
Cuộc đời là thái độ, văn hóa và vun đắp.

Bài học ở bãi đậu xe

Đến một mức nào đó, bản năng rất hữu ích cho ta. Chúng là cơ chế tự vệ, và chúng cũng lành mạnh cho chúng ta, đến một mức nào đó. Tôi xin phép giải thích.

Mới đây, tôi đi xem một trận bóng với vài người bạn. Chúng tôi đi hai xe, và đỗ ở bãi đậu xe của sân vận động. Vé của chúng tôi là các chỗ ngồi cách xa nhau, nên chúng tôi tạm rời nhau, ai tìm chỗ mình. Khi trận bóng kết thúc, tôi về chỗ đậu xe với một người bạn, và khoảng mười phút sau, các bạn khác đến sau. Trong khi chờ đợi, bạn tôi và tôi nhìn đám đông trước mặt, cố tìm xem các bạn mình ở đâu. Nhưng ánh mắt của chúng tôi đụng phải một thái độ không được hoan nghênh lắm. Hai phụ nữ tiến tới chỗ chúng tôi, họ giận dữ, yêu cầu chúng tôi giải thích vì sao chúng tôi nhìn họ: “Sao các ông nhìn chúng tôi? Các ông đang cố dụ chúng tôi sao?”

Đó là lúc bản năng lên tiếng. Ngay lập tức, trước khi có một phản ứng hợp lý nào để xoa dịu suy nghĩ và cảm giác của tôi lúc đó, lòng tôi bùng lên cơn giận, phẫn nộ, cảm giác bất công, lạnh lùng, xấu hổ, và oán ghét. Những cảm giác đó tôi không mong muốn, nhưng chúng cứ tuôn trào. Và cùng chúng là những suy nghĩ lên án. “Nếu đây là phong trào “Me Too”(Cả tôi nữa), thì tôi phản đối nó! Thật không công bằng!”

May thay, những chuyện đó không xảy ra. Tôi lịch sự xin lỗi và giải thích là chúng tôi đang tìm bạn mà thôi. Các cô ấy bỏ đi, chẳng có chuyện gì, nhưng cái cảm giác đó vẫn cứ bám trong tôi cho đến khi tôi có cơ hội để xem xét, để nhìn lại nó và trân trọng nó theo đúng bản chất của nó, cảm giác bản năng tự vệ, tận cùng là cảm giác cần được thay thế bằng các cảm giác khác, cụ thể là một nhận thức cao hơn là phản xạ tự vệ.

Khi nghĩ lại, tôi không thấy vụ này là do lệch lạc của phong trào “Me Too” hay một chuyện đáng để tôi phẫn nộ. Đúng hơn, nó giúp tôi nhận ra tại sao lại có phong trào “Me Too”. Chắc chắn phản ứng của hai phụ nữ này phần nào là do sự bất công lâu nay mà họ hay người nào mà họ quen đã phải chịu, do những lần bị quấy rối tình dục, những lời gạ gẫm chướng tai, và sự bạo hành giới tính, những bất công chắc chắn nặng nề hơn cái “bất công” mà tôi đã chịu vì nhận định vô căn cứ của họ.

Không phải vô cớ mà lại có những chuyện như thế này xảy ra ở bãi đậu xe. Mới đây, tôi có đọc báo cáo kết luận rằng hơn 80% phụ nữ Mỹ đã chịu những dạng quấy rối tình dục khác nhau trong đời. Mới đầu, tôi thấy con số này có vẻ hơi cao, tôi hỏi một vài đồng nghiệp nữ về phản ứng của họ đối với thống kê này. Và tôi đã phải ngạc nhiên. Họ nói, “80% là quá thấp, phải là tất cả mới đúng. Hiếm có phụ nữ nào trong đời chưa từng bị quấy rối tình dục dưới hình thức nào đó.” Hiểu như thế, tôi thấy những cáo buộc vô căn cứ tôi gặp phải ở bãi đậu xe, không hẳn là vô lý.

Còn có một chuyện nữa. Khi ngẫm nghĩ sâu hơn về chuyện này, tôi bắt đầu thấy rõ sự tách biệt giữa bản năng tự nhiên và sự thấu cảm trưởng thành. Tự nhiên cho chúng ta có bản năng mạnh mẽ, hữu ích đến một mức độ nào đó. Chúng là cơ chế tự vệ, là ích kỷ, dù chúng vẫn có một mức độ thấu cảm tự nhiên nhất định. Đôi khi bản năng có thấu cảm vô cùng. Ví dụ, chúng ta tự nhiên thấy mình chú tâm đến một đứa trẻ bơ vơ, một chú chim bị thương, hay một con mèo đi lạc. Nhưng sâu xa hơn, chúng ta thấy như thế, là vì suy nghĩ riêng của mình. Xét cho cùng, khi làm như thế là chúng ta thấy mình tốt đẹp hơn, và hơn nữa, sự bất lực của họ chẳng có gì đe dọa chúng ta. Bản năng tự nhiên có thể thấu cảm khi nó không thấy bị đe dọa.

Nhưng khi tình huống thay đổi, khi cảm thấy bị đe dọa, Thì sự thấu cảm tự nhiên lập tức biến mất, sự đón nhận trở thành lạnh lùng, và mọi bản năng trong chúng ta bắt đầu thể hiện thái độ tư lợi. Đó chính là cảm giác của tôi khi ở bãi đậu xe sau trận bóng.

Và mối nguy cho chúng ta là nhầm lẫn những cảm giác đó với bản chất vấn đề, với con người thật của mình, và với những gì chúng ta thật sự tin tưởng. Và nếu như thế, thì bản năng không còn hữu ích cho chúng ta nữa, không còn là thứ bảo vệ cho lợi ích lâu dài của chúng ta. Điều tốt cho chúng ta về lâu dài, lại là điều mà bản năng không nắm bắt được. Trong những trường hợp này, chúng ta cần thấu cảm, bất chấp mọi cảm giác đang lướt qua đầu, bất chấp mọi hệ tư tưởng mà chúng ta dựa vào để biện minh cho sự phẫn nộ của mình. “Đây là sự đúng đắn về chính trị (bên phải hoặc bên trái) quá khích. Đây là sự lầm lạc!”

Cảm giác của chúng ta là những thứ quan trọng, cần được công nhận và tôn trọng, nhưng chúng ta không chỉ có cảm giác. Chúng ta được kêu gọi để vượt lên bản năng, để có được thấu cảm, để cầu nguyện rằng sẽ đến một ngày, những phụ nữ tôi gặp trong bãi đỗ xe đó, cũng như con cháu họ, sẽ không phải có cảm giác bị đe dọa như thế nữa.

Thiếu đón nhận

“Cô nhi, quả phụ, và khách lạ,” đó là nguyên tắc trong Kinh thánh để nhận ra những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội mọi thời. Cả các ngôn sứ lớn của Do Thái và chính Chúa Giêsu, đều khẳng định với chúng ta rằng, đến cuối cùng chúng ta sẽ được phán xét theo cách mình đối xử với họ khi còn sống.

Tôi nghĩ thật hay khi nhìn vào bất kỳ sách nào trong Kinh thánh, và đặt ra câu hỏi này. “Tác giả của sách này xem điều gì là yếu tính của tôn giáo?” Bạn sẽ có nhiều câu trả lời khác nhau. Ví dụ như, nếu bạn hỏi câu đó với các tác giả của sách Xuất hành, Đệ Nhị Luật, Dân số, thì họ sẽ trả lời, tâm điểm đức tin của họ là việc hành đạo cho đúng đắn, giữ các Điều răn và trung thành với các luật sống đạo được ban hành vào thời của mình.

Tuy nhiên, khi các ngôn sứ lớn, như Isaia, Giêrêmia, Êdêkien, và Joel xuất hiện, họ lại cho chúng ta thấy một cái nhìn khác. Với các vị, lòng đạo đích thực không chỉ là trung thành với việc hành đạo, mà còn là cách chúng ta đối xử với người nghèo. Với các vị, đức tin được đánh giá dựa trên mức độ công bằng ở nơi chúng ta sống, và mức độ công bằng đó được xác định dựa trên cách đối xử với “cô nhi, quả phu, và khách lạ” khi chúng ta còn sống. Với các ngôn sứ, thực thi công lý thì quan trọng hơn việc vào đạo và hành đạo.

Chúng ta thấy các ngôn sứ đã nói nhiều lời cảnh báo rằng Thiên Chúa không muốn của lễ trên bàn thờ nhưng muốn sự công bằng cho người nghèo, không muốn kinh kệ nhưng muốn công bằng cho góa phụ, không muốn lễ lạc nhưng muốn khách lạ được tiếp đón.

Dĩ nhiên phải để ý rằng, ngoài các ngôn sứ, trong lịch sử Do Thái, chúng ta còn có những bà góa vĩ đại. Với họ, bản chất tôn giáo không phải chỉ là việc giữ đạo hoặc đơn thuần là giúp đỡ người nghèo, mà là phải có một tấm lòng cảm thông và khôn ngoan, từ đó vừa trung thành với việc giữ đạo và vừa giúp đỡ người nghèo.

Đấy là truyền thống mà Chúa Giêsu kế thừa. Và Ngài làm thế nào? Ngài chấp thuận cả ba. Với Chúa Giêsu, lòng đạo đích thực cần có cả ba, giữ đạo, giúp đỡ người nghèo, và lòng thông cảm khôn ngoan. Với Chúa Giêsu, chúng ta không chọn một trong ba điều, mà phải chu toàn cả ba. Ngài đã nói rõ rằng: “Nếu các con yêu Ta, thì sẽ giữ giới răn của Ta,” (Ga 14) nhưng Ngài cũng nói rằng chúng ta sẽ được phán xét theo cách chúng ta đối xử với người nghèo (Mt 25,” và Ngài còn bảo điều Thiên Chúa muốn là một tấm lòng cảm thông khôn ngoan (Lc 6 & 15.)

Với Chúa, chúng ta là môn đệ đích thực khi có tấm lòng cảm thông, từ đó giữ các giới răn, tôn kính Thiên Chúa, và các ưu tiên hàng đầu trong đạo là đến với các người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội. Thật vậy, Chúa Giêsu còn có những lời cảnh báo mạnh hơn cả lời của các ngôn sứ Do Thái. Các ngôn sứ khẳng định Thiên Chúa ưu ái người nghèo, Chúa Giêsu thì khẳng định Thiên Chúa ở trong người nghèo (“dù anh em làm gì cho người bé mọn nhất, là anh em làm cho Thầy.”) Chúng ta đối xử với người nghèo thế nào là đối xử với Thiên Chúa như vậy.

Hơn nữa, (và tôi không chắc chúng ta nghiêm túc đón nhận lời này,) Chúa Giêsu dạy rằng trong ngày Phán xét, chúng ta sẽ vào thiên đàng hay hỏa ngục tùy theo cách chúng ta đối xử với người nghèo, đặc biệt là cách chúng ta đối xử với những người dễ bị tổn thương nhất. Trong chương 25 Tin Mừng thánh Matthêu, Chúa Giêsu đã đặt ra tiêu chuẩn phán xét. Phải thấy được rằng, trong những tiêu chuẩn này, không nói đến liệu chúng ta có tuân giữ giới răn, có đi nhà thờ, hay có đời sống tình dục theo đúng luật. Chúng ta chỉ được phán xét dựa theo một điều duy nhất, là cách đối xử với người nghèo. Phần nào đáng sợ và bối rối khi chúng ta đối diện thẳng vấn đề này vì chúng ta sẽ vào thiên đàng hay hỏa ngục dựa trên cách chúng ta đối xử với người nghèo.

Tôi nêu bật điểm này vì thời nay, nhiều người trong chúng ta, các tín hữu kitô giữ đạo không thấy hay không thông cảm với “các cô nhi, quả phụ, và khách lạ” chung quanh chúng ta. Ai là những người dễ bị tổn thương nhất thời nay? Ai là người không có quyền có quyền, như lời của Gustavo Gutierrez nói về người nghèo?

Xin cho phép tôi mạo muội nói ra. Những “cô nhi, quả phụ, và khách lạ” trong thế giới ngày nay, là những trẻ em không được sinh ra, người tị nạn, và người nhập cư. Đáng mừng là, hầu hết các tín hữu kitô chân thành không làm ngơ trước cảnh ngộ của những trẻ em không được sinh ra. Nhưng ít đáng mừng hơn, khi nhiều người trong số chúng ta lại chẳng thấy cảnh ngộ của hàng triệu người tị nạn đang tìm kiếm ai đó để đón nhận họ. Mỗi bản tin đưa ra cho chúng ta thấy mình không chào đón khách lạ cho lắm.

Chúng ta đã quên mất lời cảnh báo của Chúa: “Các ngươi phải yêu quý khách ngoại kiều, bởi chính các ngươi cũng từng là khách ngoại kiều.” Đệ Nhị Luật 10, 18 -19.

Cả hai dòng nước

Tôi sống ở cả hai bên biên giới. Không phải một biên giới địa lý, mà là một biên giới phân chia hai nhóm người.

Tôi lớn lên trong môi trường Công giáo La Mã bảo thủ, và hầu hết mọi chuyện khác tôi cũng bảo thủ. Dù cho bố tôi làm việc cho đảng Tự do, nhưng hầu hết mọi giáo dục trong nhà tôi đều là bảo thủ, nhất là về tôn giáo. Tôi là người công giáo La Mã kiên định. Tôi lớn lên trong thời giáo hoàng Piô XII, và nếu các bạn biết em út của tôi tên là Piô thì hiểu gia đình tôi trung thành thế nào với cái nhìn về thế giới của Đức Giáo hoàng này rồi đấy. Chúng tôi tin công giáo La Mã là đạo thật và người tin lành cần được hoán cải và trở về với đức tin đích thực. Tôi thuộc lòng giáo lý Công giáo La Mã và bảo vệ từng chữ trong đó. Hơn nữa, chúng tôi không chỉ đi nhà thờ, mà rất sốt sắng mộ đạo, ngày nào cả nhà cũng cầu nguyện chung, khắp nhà nơi đâu cũng thấy ảnh tượng thánh, chúng tôi đeo trên cổ tượng được làm phép, đọc kinh cầu Đức Mẹ, thánh Giuse, và Thánh Tâm Chúa Giêsu, cũng như có lòng sùng kính các thánh. Và thế là thật tuyệt. Tôi sẽ luôn mãi biết ơn nền tảng sống đạo tôi có được.

Đến năm 17 tuổi, tôi vào chủng viện và những năm đầu ở đó đã củng cố thêm những gì gia đình đã hình thành trong tôi. Việc học được phát triển và chúng tôi được khuyến khích đọc tác phẩm của các tư tưởng gia lớn thuộc mọi trường phái. Nhưng nền học thuật cao này vẫn nằm trong phạm vi các đặt nét của công giáo La Mã, đánh giá mọi thứ theo lòng sùng mến và tôn giáo như tôi đã được dạy. Đến lúc đó, học vấn của tôi đi song song với lòng sùng mến của tôi. Trí óc tôi được mở rộng, nhưng lòng sùng mến vẫn y nguyên.

Nhưng nhà là nơi ta khởi đầu. Dần dà qua năm tháng, thế giới của tôi thay đổi. Học tập và giảng dạy ở các ngôi trường khác nhau, liên tục tiếp xúc với những biểu hiện đức tin khác, đọc tác phẩm của các tiểu thuyết gia và tư tưởng gia đương thời, có các đồng nghiệp học thuật thân thiết, tất cả đã gây sức ép lên lòng mộ đạo thiếu thời của tôi. Rõ ràng là thế, chúng ta không còn lần hạt, không còn đọc kinh cầu Đức Mẹ hay cầu Thánh Tâm trong lớp học hay khi họp giảng viên.

Tuy nhiên, các lớp học và những buổi họp giảng viên lại đem đến một thứ khác, một thứ vô cùng cần thiết cho nhà thờ và những người sùng tín, cụ thể là một cái nhìn thần học rộng hơn và các nguyên tắc quan thiết để giữ cho lòng sùng tín cực độ, chủ nghĩa chính thống cực đoan ngây thơ và sự nhiệt thành tôn giáo lầm lạc trong giới hạn chừng mực. Điều tôi đã học được trong giới học thuật cũng tuyệt vời, và tôi luôn biết ơn vì mình đã được học cao.

Nhưng dĩ nhiên, những điều đó cũng dẫn đến căng thẳng, dù là căng thẳng lành mạnh. Tôi xin dùng lời một người khác để nói rõ điều này. Makoto Fujimura, một nghệ sĩ Mỹ gốc Nhật, trong quyển sách mới ra mắt gần đây, Thinh lặng và Vẻ đẹp (Silence and Beauty), đã chia sẻ một chuyện ông đã gặp. Một ngày Chúa nhật, từ nhà thờ đi ra, ông được mục sư mời điền tên vào danh sách đồng ý tẩy chay bộ phim Cơn Cám dỗ Cuối cùng của Chúa Giêsu. Ông thích mục sư này và muốn làm vui lòng ông ấy bằng cách ký tên vào danh sách, nhưng lại thấy chần chừ vì những lý do mà lúc đó ông không diễn tả rõ được. Nhưng vợ ông thì có. Khi ông chưa kịp ký, vợ ông đến và nói: “ “Các nghệ sĩ có lẽ có nhiều vai trò để đóng hơn là tẩy chay bộ phim này.” Ông hiểu ý vợ mình. Ông đã không ký tên.

Nhưng quyết định này làm cho ông ngẫm nghĩ về sự căng thẳng giữa việc tẩy chay một bộ phim như thế với vai trò nghệ sĩ và nhà phê bình của ông. Và đây là cách diễn giải của ông: “Một nghệ sĩ thường bị kéo theo hai hướng. Những người bảo thủ về tôn giáo có khuynh hướng nghi ngờ văn hóa, hoặc tệ hơn nữa, và khi có những biểu hiện văn hóa xâm phạm đến thực tế thông thường của họ, thì phản ứng mặc định của họ là phản đối và tẩy chay. Những người trong nhóm nghệ sĩ theo tư tưởng tự do hơn, thì thấy những việc làm có tính xâm phạm này là cần thiết cho “tự do thể hiện” của họ. Một nghệ sĩ như tôi, đánh giá cao cả tôn giáo và nghệ thuật, sẽ bị loại trừ khỏi cả hai điều này. Tôi cố giữ sự tận tâm với cả hai, nhưng đây đúng là việc khó khăn vất vả.”

Và tôi cũng thế. Lòng sùng mến thiếu thời, của bố mẹ tôi, của công giáo, là những điều chân thật và đem lại sự sống, nhưng cũng chủ trương đả phá dị đoan đầy phê phán; thần học của giới học thuật, cũng như vậy. Cả hai đều vô cùng cần lẫn nhau, nhưng những người cố trung thành với cả hai, như Fujimura, cuối cùng lại bị cả hai loại trừ. Các thần học gia cũng có vai khác để diễn hơn là đi tẩy chay các bộ phim.

Những người đã hướng dẫn tôi trong ngành thần học, theo tôi thấy, chính là những người trung thành với cả hai. Như Dorothy Day, có thể hoàn toàn thoải mái, vừa lần hạt vừa dẫn đầu đoàn biểu tình, như Jim Wallis, có thể hăng say lên tiếng cho những vấn đề xã hội triệt để cũng như cho sự thân thiết cá nhân với Chúa Giêsu, và như Tôma Aquinô, với tri thức át hẳn mọi nhà trí thức khác nhưng vẫn có thể cầu nguyện sùng mến như đứa trẻ con.

Vòng tròn của lòng mộ đạo và học thuật thần học không phải kẻ thù, chúng cần được gắn bó chặt chẽ với nhau.

Khi nào cuộc đời chúng ta viên mãn?

Khi nào cuộc đời chúng ta viên mãn? Đến một lúc nào đó trong đời, chúng ta có thể nói được: “Chính là đây! Đây là cao điểm! Từ giờ tôi chẳng thể làm gì hơn thế này nữa. Tôi đã dốc hết sức mình!”

Lúc nào thì chúng ta nói được như thế? Sau khi đạt đến đỉnh cao sức khỏe và sức mạnh thể chất? Sau khi sinh con? Sau khi nuôi dạy con cái thành công? Sau khi có một tác phẩm bán chạy? Sau khi nổi tiếng? Sau khi thắng chức vô địch lớn? Sau khi mừng kỷ niệm 60 năm ngày cưới? Sau khi tìm được tri kỷ? Sau khi bình an trở lại, thoát được cơn dằn vặt kéo dài? Khi nào thì chúng ta có thời điểm đó? Khi nào chúng ta đi đến tận đỉnh con đường trưởng thành?

Nhà thần nghiệm thời trung cổ, Gioan Thánh Giá nói cho rằng chúng ta đạt đến điểm này khi đến được “tâm điểm thâm sâu nhất của mình.” Nhưng với ngài, tâm điểm thâm sâu nhất trong linh hồn này, lại không giống với quan niệm thường có của chúng ta. Với thánh Gioan, tâm điểm thâm sâu nhất này chính là điểm tối đa có thể trong sự tiến triển của con người, sự trưởng thành thâm sâu nhất có thể đạt được trước khi chết. Nếu thật là thế, thì với một bông hoa, tâm điểm thâm sâu nhất, điểm tột đỉnh tiến triển của nó, sẽ không phải là lúc nở hoa, mà là lúc nó chết và tạo thành hạt giống. Đó là sự tiến triển xa hơn, là thành tựu tối cùng của nó.

Vậy còn điểm tiến triển tối hậu của chúng ta là gì? Tôi cho rằng chúng ta có khuynh hướng nghĩ nó như một thành tựu tích cực và cụ thể, như thành công trong sự nghiệp, hay một thành tích về thể thao, trí tuệ hay nghệ thuật đem lại cho chúng ta sự thỏa mãn, công nhận và danh tiếng. Nhưng nếu nhìn từ quan điểm ý nghĩa sâu xa, có lẽ chúng ta sẽ trả lời theo kiểu khác, nói rằng thành tựu tối hậu của chúng ta là một hôn nhân trọn vẹn, được làm cha mẹ, hay sống cuộc đời phục vụ tha nhân.

Vậy nếu như một bông hoa, khi nào chúng ta sẽ tạo thành hạt giống đây? Henri Nouwen cho rằng người ta sẽ có những câu trả lời rất khác nhau cho câu hỏi này. “Với một số người, đó là tận hưởng ánh hào quang của danh tiếng, với số khác, là khi họ được hoàn toàn quên lãng, với một số là khi họ đạt đến tột đỉnh sức mạnh, với số khác là khi họ yếu đuối và vô lực, với một số là khi năng lực sáng tạo triển nở, với số khác là khi họ mất hết tự tin vào năng lực của mình.”

Vậy lúc nào thì Chúa Giêsu tạo thành hạt giống của Ngài, sự viên mãn của Ngài? Với Chúa Giêsu, đây không phải là ngay sau phép lạ làm cho dân chúng kinh ngạc, cũng không phải khi Ngài đi trên mặt nước, hay khi Ngài vang danh khắp cõi Israel đến nỗi dân chúng muốn tôn Ngài lên làm vua. Không phải như thế. Vậy lúc nào Chúa Giêsu không còn gì nữa để vươn đến?

Và Henri Nouwen lại một lần nữa cho chúng ta câu trả lời này. “Tuy nhiên, chúng ta biết một điều, với Con Người, mọi sự đến hồi viên mãn, khi Ngài mất hết tất cả, mất quyền uy để lên tiếng và chữa lành, mất sự thành công và tầm ảnh hưởng, mất môn đệ và bạn bè, thậm chí là mất cả Chúa của mình. Khi Ngài bị đóng đinh trên cây thập tự, bị tước hết phẩm giá con người, Ngài biết rằng mình đã đến thời điểm đó, và nói, ‘Mọi sự đã hoàn tất!’”

Chữ hoàn tất ở đây có gốc Hy Lạp là Tetelesti. Đây là một diễn đạt được các họa sĩ dùng để nói rõ rằng tác phẩm đã hoàn thiện và không thêm thắt gì nữa. Nó còn được dùng để thể hiện việc gì đó đã xong. Ví dụ như, chữ Tetelesti được đóng dấu trên các bản án sau khi phạm nhân đã mãn hạn tù, còn được ngân hàng dùng đóng trên giấy ghi nợ đã trả xong, được gia nhân dùng khi báo cáo với chủ đã hoàn thành công việc, và được các vận động viên thốt lên khi băng qua vạch đích.

Đã hoàn tất! Một bông hoa chết đi để tạo thành hạt giống, nên cũng hợp lý khi đây là những lời cuối cùng của Chúa Giêsu. Trên thập giá, vẫn trung tín đến cùng với Chúa Cha, với lời của mình, với lòng yêu thương mà Ngài đã giảng dạy, Ngài thôi sống và bắt đầu chết, và đấy là khi Ngài tạo thành hạt giống của mình, khi thần khí Ngài bắt đầu ngấm vào thế giới. Ngài đã đến tâm điểm thâm sâu nhất của mình, cuộc đời Ngài đã viên mãn.

Vậy khi nào chúng ta thôi sống và bắt đầu chết? Khi chúng ta đi từ đóa hoa nở rộ đến tạo thành hạt giống? Nhìn qua, thì dĩ nhiên là khi sức khỏe, uy lực, danh tiếng và sự thu hút của chúng ta bắt đầu suy giảm và mờ nhạt đi, bị đẩy dần ra rìa và xuống dốc. Nhưng khi nhìn qua lăng kính cuộc đời Chúa Giêsu, thì chúng ta thấy rằng khi mờ nhạt đi, như một bông hoa đã qua thời điểm bung nở, chúng ta bắt đầu tạo ra một sự gì đó còn hấp dẫn hơn cả nở hoa. Đó là khi chúng ta có thể nói, “Đã hoàn tất!”

Chết cho đúng

Tôi không muốn chết vì bệnh, tôi muốn chết vì chết!

Ivan Illich đã viết thế. Vậy nghĩa là gì? Chẳng phải ta đều chết vì chết sao? Dĩ nhiên, thực sự chúng ta đều chết vì chết, nhưng trong quan niệm của chúng ta, thường chúng ta chết vì bệnh, hay vì xấu số, do ung thư, bệnh tim, tiểu đường hay do tai nạn. Đôi khi do cách nghĩ của mình, mà chúng ta thấy ta chết vì bệnh.

Đó là điều mà Ivan Illich đang cố nhấn mạnh. Phải đối diện và tôn trọng cái chết như một cảm nghiệm nhân sinh bình thường, chứ không phải như một thất bại về mặt y khoa. Chết là chuyện không thể nào tránh và phải hiểu đó là một mốc trưởng thành cần thiết, một sự mà chúng ta được định về mặt hữu cơ và tinh thần, chứ không phải là sự bừa bãi sai sót trong vòng đời, không phải là một sự bất thường có thể tránh được. Chúng ta cần hiểu cái chết như người phụ nữ đang lâm bồn chờ đứa con ra đời, không phải một chuyện bất thường hay một can thiệp y khoa nguy hiểm mà là như một sự triển nở trọn vẹn của tiến trình sống.

Chúng ta trả giá cho quan niệm sai lầm của mình về cái chết, một cái giá đắt hơn chúng ta tưởng. Khi xem cái chết là sự thất bại của y khoa hay một vận rủi, thì nó biến thành một bóng ma đe dọa và một bóng tối đáng sợ mà chúng ta không dám đương đầu cách ý thức và không dám tìm hiểu nó.

Ernest Becker có nói về một thứ mà ông gọi là “chối bỏ cái chết” và cho rằng khi từ chối đối diện và tôn trọng cái chết như một tiến trình tự nhiên thay vì một chuyện bất thường, là chúng ta đang tự bần cùng hóa mình vô cùng. Khi sợ hãi một cách sai lầm đối với cái chết, thì ý thức mơ hồ về sự khả tử của chúng ta trở thành một góc tối mà chúng ta tránh xa. Chúng ta phải trả giá cho điều này, ngược đời thay, khi sợ cái chết là chúng ta không thể sống cho đúng đắn.

Trong nhận thức về sự sống, Martin Heidegger cũng xác nhận như thế. Ông cho rằng mỗi chúng ta là “hữu thể hướng đến cái chết”, nghĩa là từ lúc sinh ra chúng ta đã có một tình trạng mãn tính gọi là cuộc đời, và chúng ta chỉ có thể gạt đi nỗi sợ sai lầm kia nếu mình sống đời mình với sự thật không thể bàn cãi đó. Chúng ta đang chết. Cách nói của ông có thể khiến ta thấy phức tạp, nhưng như Illich, ông nêu ra một điểm tích cực. Với Heidegger, xét cho cùng, chúng ta không chết vì bệnh hay vì vận rủi. Chúng ta chết vì tự nhiên có tiến trình của nó và tự nhiên điều hành tiến trình đó, và chúng ta sẽ tận hưởng cuộc sống của mình hơn nếu như biết tôn trọng tiến trình tự nhiên đó, vì khi chấp nhận là mình biết trân quý hơn các thời khắc sống và yêu.

Mỉa mai thay, việc trợ tử, với mọi luận điệu phức tạp của nó cho rằng nó giúp chúng ta kiểm soát cái chết, lại là thứ khiến chúng ta chết vì bệnh chứ không phải chết vì chết.

Dĩ nhiên, muốn chết vì chết chứ không phải vì bệnh, không có nghĩa là chúng ta không xem trọng y khoa và tác dụng của nó với sức khỏe và cứu mạng cho mình. Chúng ta bị cưỡng bách bởi bản chất, bởi những người thân yêu, bởi thường thức, và bởi một nguyên tắc không thể thay đổi trong luân lý, đòi chúng ta phải thực hiện mọi biện pháp y khoa thông thường có thể để gìn giữ sức khỏe. Y khoa hiện đại thật tuyệt vời, và nhiều người trong chúng ta, kể cả tôi, được sống đến hôm nay chính là nhờ y khoa hiện đại. Nhưng chúng ta cũng phải làm rõ rằng khi chúng ta chết, không phải vì thất bại y khoa, mà vì cái chết là cùng đích tự nhiên của chúng ta. Khi vừa sinh ra khỏi lòng mẹ, là đã xác định sẽ có một lúc chúng ta cần được sinh ra lần nữa từ lòng đất.

Hơn nữa, đón nhận cái chết như thế không phải là kiểu khắc kỷ tiêu cực xóa bỏ mọi vui thú trong đời. Ngược lại, như bất kỳ ai từng rơi vào tình trạng cận tử, họ sẽ cho chúng ta biết cái chết sẽ làm cho mọi thứ trong đời càng quý giá hơn bao giờ hết, bởi họ không còn xem chúng là thứ mặc nhiên.

Cần chú ý điểm này. Không cần nói chuyện này với giới trẻ, những người chối bỏ cái chết dữ dội, và với nguyên do tốt. Dù người trẻ không nên cố ý lờ đi sự khả tử hoặc sống như thể mình sẽ không bao giờ chết, nhưng người trẻ chưa nên tập trung vào cái chết. Việc của họ là xây dựng tương lai cho mình và cho thế giới. Họ có thể đối diện với cái chết sau. Nói một cách ẩn dụ, là họ cần tập trung hơn vào việc nuôi dưỡng bào thai hơn là lo chuyện lâm bồn.

Và trong những lời dạy của Chúa Giêsu có một điều nghịch lý vô cùng. Ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, và ai thí mạng sống mình thì sẽ tìm được nó. Hẳn Ivan Illich sẽ đồng ý như thế.