RonRolheiser,OMI

Mùi hương của đức khiêm nhường

Mùi hương của đức khiêm nhường Theo Isaac người Syria, giám mục và là nhà thần học nổi tiếng ở thế kỷ thứ 7, một người thực sự khiêm nhường là người tỏa ra một hương thơm nhất định nào đó mà người khác sẽ cảm nhận được và ngay cả động vật cũng cảm nhận đến mức mà các động vật hoang dã kể cả rắn cũng bị thu hút và không bao giờ dám làm hại người này.

Và đây là lập luận của ngài, ngài tin rằng một người khiêm nhường tìm thấy được mùi hương của thiên đàng, khi đứng trước một người như vậy, chúng ta không cảm thấy mình bị phán xét, không có gì để sợ, và điều này đúng với cả động vật. Họ cảm thấy an toàn bên cạnh người khiêm nhường và bị người đó thu hút. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy những người như Thánh Phanxicô Assisi có thể nói chuyện với chim muông và kết bạn với chó sói.

Dù đẹp như thế nào, có phải đây là câu chuyện cổ tích ngoan đạo hay đây là một ẩn dụ phong phú và nguyên mẫu? Tôi thích nghĩ đây là ẩn dụ phong phú và có thể có một cái gì còn hơn nữa. Quả vậy, đức khiêm nhường có một mùi hương, mùi của đất mùn, đất thó, mùi của thiên đàng.

Nhưng như thế nào? Bằng cách nào mà một đức tính thiêng liêng lại tỏa ra một mùi hương vật lý?

Chúng ta có tâm thế, là những tạo vật vừa có thể xác vừa có tâm linh. Vì thế trong chúng ta, thể chất và tâm linh là một phần của một và cùng một thực thể mà nó không thể nào tách cái này ra khỏi cái kia. Cơ thể và tâm hồn chúng ta cũng giống như đường có màu trắng và có vị ngọt, độ trắng và độ ngọt không thể nào tách riêng ra được. Cả hai có bên trong đường. Chúng ta là một thực thể, không thể tách rời, là thể xác và tâm hồn, như thế luôn vừa là thể lý vừa là tâm linh. Vì vậy, trên thực tế, chúng ta cảm nhận những chuyện về thể chất một cách thiêng liêng, cũng như ngửi những chuyện thiêng liêng qua các giác quan thể lý của mình. Nếu điều này đúng, thì quả thật khiêm nhường tỏa ra mùi hương có thể cảm nhận được về mặt thể xác và khái niệm của Isaac người Syria không chỉ là một ẩn dụ.

Nhưng nó cũng là một ẩn dụ: chữ khiêm nhường có nguồn gốc từ tiếng la-tinh là mùn (humus) có nghĩa là đất: nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa này thì người khiêm nhường mà chúng ta biết là người sát đất nhất và người có nền tảng nhất. Là người khiêm nhường là có bàn chân đạp đất, là tiếp xúc với đất, là mang mùi đất. Hơn nữa, khiêm nhường là lấy chỗ hợp pháp như một mảnh nhỏ của đất, chứ không phải như một con người hay một cái gì đó tách khỏi đất.

Nhà thần nghiệm và khoa học gia nổi tiếng Pierre Teilhard de Chardin đôi khi đã diễn tả điều này trong lời cầu nguyện của ngài. Trong nhiều năm, với tư cách là nhà cổ sinh vật học, ngài làm việc một thời gian dài trong các sa mạc hẻo lánh ở Trung quốc, có khi ngài soạn các lời cầu nguyện cho Chúa dưới hình thức mà ngài gọi đó là Thánh lễ cho thế giới. Nói chuyện với Chúa trong tư cách linh mục, ngài kết hiệp tiếng nói của mình với chính tiếng nói của đất, nơi sự sáng tạo vật lý chính là đất, nền của đất, để có thể mở ra và nói chuyện với Chúa. Là linh mục, ngài không nói cho đất; ngài nói như là đất, cho đất một tiếng nói, với những chữ có tác động:

Lạy Chúa, con đứng trước mặt Chúa như một sinh linh bé nhỏ của đất, để cho đất có tiếng nói: xin Chúa nhìn đến sự mở lòng ra của con, sự mở lòng ra của thế giới, sự bất trung của con, sự bất trung của thế giới; trong sự chân thành của con, sự chân thành của thế giới, trong đạo đức giả của con, trong đạo đức giả của thế giới; trong sự quảng đại của con, sự quảng đại của thế giới, trong sự quan tâm của con, sự quan tâm của thế giới, trong sự xao lãng của con, sự xao lãng của thế giới; trong ước muốn ca ngợi Chúa của con, trong ước muốn ca ngợi Chúa của thế giới, trong lợi ích riêng của con, trong sự quên lãng Chúa của thế giới. Vì con là đất, là chút đất nhỏ, chút đất mở ra hoặc khép lại qua cơ thể của con, tâm hồn và tiếng nói của con.

Đây là khiêm nhường, một biểu hiện của khiêm nhường đích thực. Khiêm nhường không bao giờ được nhầm lẫn với hình ảnh bản thân bị tổn thương như chúng ta thường thấy, với sự dè dặt quá mức, với sự rụt rè và sợ hãi hay với một nhận thức quá nhạy cảm về mình. Thường thường khái niệm một người khiêm nhường là khái niệm về người nhận lỗi khi mình có lỗi, người không nhận lời khen (dù mình xứng đáng), người quá rụt rè để không thể thân tình tin tưởng thổ lộ, hay người quá sợ hãi hoặc tự ti ý thức, lo lắng sợ xấu hổ để không bao giờ mở lòng đi tới trước và tặng cộng đoàn món quà của mình. Những điều này có thể là những điều của người hiền lành và quên mình, nhưng do chúng ta chê chính mình khi phủ nhận tài năng của mình, đây là khiêm nhường giả tạo và xét cho cùng, chúng ta biết điều này, vì vậy điều này thường làm cho một người nào đó che giấu sự giận dữ của mình sẽ dễ trở thành người gây hấn thụ động.

Người khiêm nhường nhất mà các bạn biết là người vững chãi nhất, có nghĩa là người biết họ không phải là trọng tâm của trái đất nhưng cũng biết họ không phải là một mẫu vụn đất hạng hai. Và người đó sẽ tỏa ra một mùi hương mang cả hương thơm của thiên đàng (món quà thần thánh) cũng như mùi hương của trái đất.

Di cư muộn

Chúa Giêsu nói rằng nếu chúng ta theo Ngài thì đau khổ và thập giá sẽ chờ chúng ta.

Thông điệp này luôn bị hiểu lầm. Có lẽ chúng ta sẽ hiểu hơn nếu Chúa Giêsu nói: Các con càng nhạy cảm thì nỗi đau sẽ càng thấm vào cuộc sống của con. Như thế thì chúng ta hiểu được mối liên kết giữa hai chuyện. Những người nhạy cảm bị đau khổ sâu đậm hơn, cũng như họ ngấm hơn niềm vui và vẻ đẹp của cuộc sống. Nỗi đau xâm nhập vào họ sâu đậm hơn cũng cùng một nghĩa đó. Họ rộng mở với chuyện này. Như thể họ tránh được sự nhẫn tâm bằng nỗi đau sâu đậm cũng như niềm vui sâu xa.

Trong bối cảnh này, tôi xin giới thiệu với độc giả quyển sách mới của bà Margaret Renkl, Di cư muộn – Lịch sử tự nhiên của tình yêu và của mất mát (Late Migrations: A Natural History of Love and Loss).

Quyển sách này cho thấy một sự nhạy cảm hiếm có. Một số người có năng khiếu về trí tuệ, người khác về mặt nghệ thuật, người khác nữa về mặt lãng mạn và tình cảm. Renkl có năng khiếu với tất cả những điều này; đặc biệt với trí thông minh cảm xúc bà phối hợp với khiếu thẩm mỹ tinh tế của một nghệ sĩ và sau đó kết hợp cả hai với kỹ năng của một nhà văn tài năng bẩm sinh. Tất cả tạo một tổng hợp tốt đẹp. Nội dung chỉ là một phần của món quà quyển sách này. Ngoài thông điệp của nó, quyển sách còn là một tác phẩm tuyệt vời và cũng là một tác phẩm nghệ thuật hay.

Nhưng đây cũng là một quyển sách về đức tin, mặc dù Renkl không nói lên một cách rõ ràng. Bà viết chủ yếu như một người theo chủ nghĩa tự nhiên, một người hành hương thành thị tại Tinker Creek, một người mê thiên nhiên, dành nhiều thời gian cho nó, hiểu rõ tính cách hào phóng và sự tàn ác bẩm sinh của nó, và cũng hiểu các tàn khốc này (đâu đó trong thiên nhiên có vẻ như dễ tìm và dễ lấy) được kết nối với các lực sâu thẳm nhất ẩn ngầm trong trọn sự sống, kể cả cuộc sống của chính chúng ta. Bà chia sẻ tính cách phức tạp nhất định với nhà cổ sinh vật học thần nghiệm vĩ đại, linh mục Dòng Tên Pierre Teilhard de Chardin, người thích nói mình sinh ra với hai tình yêu không thể chữa được, một tình yêu tự nhiên của thế giới lương dân với tất cả những vẻ đẹp của nó và một tình yêu mạnh mẽ không kém, tình yêu thần nghiệm cho thế giới bên kia, có nghĩa là Chúa đàng sau thế giới này. Tuy nhiên, ngược với Teilhard, người rất rõ ràng về ý thức của mình về Thiên Chúa và trọng tâm của đức tin, đức tin của Renk thì còn phôi thai, dù trong hiểu biết của bà, bà rất hiểu về thiên nhiên và cách bà chạm vào ngón tay của Chúa trong các câu chuyện bà chia sẻ.

Quyển sách này là một tập hợp các bài tiểu luận ngắn, xen kẽ các mô tả thẩm mỹ tuyệt vời về đời sống các con chim bà nuôi và các khu vườn bà có khuynh hướng mô tả một cách nhạy cảm, cũng như đời sống của chính bà và của gia đình bà, đặc biệt là về sự mất mát và đau buồn đan xen với tình yêu. Một vài ví dụ:

Về các thiếu sót của chúng ta trong cuộc sống: “Con người là những sinh vật được tạo ra cho niềm vui. Hiển nhiên ngược lại, chúng ta cho rằng đau buồn, cô đơn và tuyệt vọng là bi kịch, là biến thể không mong muốn của niềm vui, yên lặng và an toàn mà theo cách đúng đắn, sẽ tạo nền tảng vững chắc cho chúng ta”.

Về các bài học rút ra từ việc quan sát thiên nhiên: “Mỗi ngày thế giới dạy cho tôi những gì tôi cần để biết để có mặt trong thế giới này”.

Về cách tình cảm tạo nên lòng trắc ẩn một chiều: “Câu chuyện của em bé người Syria bị chết đuối trôi dạt trên sóng đã làm cho chúng ta thức giấc nửa đêm với cõi lòng đau buồn. Câu chuyện về bốn triệu người tị nạn trốn khỏi Syria có vẻ như đây chỉ là vấn đề con số”.

Còn về vẻ đẹp và sự tàn khốc của thiên nhiên: “Bên trong tổ chim, các con chim con thoát được nanh vuốt của diều hâu, của mưa gió, được bảo vệ khỏi con mắt sắc nhọn của con quạ và cái lưỡi khủng khiếp của chim gõ kiến bụng đỏ. (Nhưng…) Bên trong tổ chim, các con chim con bất lực, mong manh với cơn giận dữ của mặt trời mùa hè, của mỏ con chim sẻ. Bị chắn lối tứ phía trong tổ chim nhỏ của mình, các con chim con là bữa ăn ngon của con rắn muốn ăn lúc nào thì ăn”.

Về việc chăm sóc người thân yêu lớn tuổi cho đến khi họ chết: “Kết thúc việc chăm sóc là tự do. Kết thúc việc chăm sóc (cũng) là đau buồn.”

Khi trả lời cho một phụ nữ ám chỉ bà là kẻ hèn nhát, Renkl là người rất sợ mất người thân: “Tôi tự hỏi liệu bà ấy đã từng, dù chỉ một lần, yêu ai đủ để sợ một chuyện mất mát như vậy không, nhưng suy nghĩ này cũng xấu như ý của bà ấy, và dù sao thì bà ấy cũng không sai”.

Tu sĩ nhà văn Richard Rohr gợi ý rằng chúng ta mãi mãi phải đối phó với sự thật vừa của nỗi đau nặng nề vừa của tình yêu vĩ đại. Trong quyển sách này, bà Renkl chia sẻ làm thế nào mà mẹ bà, người phụ nữ trong một số lãnh vực cho thấy bà có một năng lực, một lòng nhiệt tình phi thường nhưng đôi khi phải chịu đựng những giai đoạn trầm cảm và bản thân bà cũng không tránh được. Có một lô-gic cho rằng, cũng như Chúa Giêsu, những người nhạy cảm thấm đậm những chuyện rất sâu xa, cả đau khổ cũng như tình yêu, đau khổ có thể làm bạn bị tê liệt cũng như tình yêu có thể cho bạn năng lực và niềm say mê phi thường.

Quyển sách xứng đáng để đọc.

Một bài học về lão hóa

Như hầu hết mọi người, tôi vẫn không tìm được bình an, tôi vẫn nghĩ mình trẻ. Nhưng tôi thật sự hạnh phúc khi mừng sinh nhật 70 cách đây hai năm, không phải vì tôi hạnh phúc ở tuổi này nhưng vì sau hai lần ung thư nặng trong những năm gần đây, tôi hạnh phúc được còn sống trên đời và tôi đủ khôn ngoan để biết ơn một chút về những gì lão hóa và bệnh ung thư đã dạy tôi. Nhà văn John Updike viết, có một vài bí mật ẩn giấu trong sức khỏe. Và lão hóa phát hiện ra rất nhiều, vì như ngạn ngữ Thụy Điển đã nói, “buổi chiều biết những gì buổi sáng không bao giờ ngờ tới”.


Chúng ta sống trong một nền văn hóa lý tưởng hóa tuổi trẻ và gạt ra bên lề người lớn tuổi. Như tâm lý gia người Mỹ James Hillman đã nói, người lớn tuổi không dễ dàng để bị mình truất ngôi cũng như bỏ đi động lực đã đưa họ đến đó. Tôi biết điều này, tôi đã già.

Trong phần lớn cuộc đời, tôi luôn xem mình là người trẻ. Vì sinh vào tháng 10 nên tôi luôn là học sinh nhỏ hơn các bạn cùng lớp, tốt nghiệp trung học ở tuổi mười bảy, vào chủng viện ở tuổi êm đềm đó, chịu chức linh mục ở tuổi hai mươi lăm, năm sau tốt nghiệp cao học, hai mươi sáu tuổi dạy thần học đệ tam cấp, tôi là người trẻ nhất phân khoa. Tôi tự hào về điều này vì đã thực hiện những chuyện này sớm trong đời. Và vì vậy tôi luôn nghĩ mình trẻ, dù năm tháng chồng chất, dù cơ thể tôi bắt đầu phản bội bản thân tôi.

Hơn nữa trong hầu hết những năm tháng cuộc đời, tôi luôn giữ đầu óc trẻ trung, gần với văn hóa trẻ, xem phim của họ, nghe các bài hát nổi tiếng, dùng chữ lóng của họ. Trong những năm ở chủng viện và nhiều năm sau khi chịu chức, tôi phục vụ giới trẻ, giúp họ tổ chức các buổi tĩnh tâm cho các bạn trẻ ở nhiều trường trung học và cao đẳng khác nhau. Vào thời đó, tôi thuộc các bài hát phổ thông, biết các cuốn phim được nhắc đến, các xu hướng đương thời, nói ngôn ngữ của người trẻ và tôi tự cho mình trẻ.

Nhưng tự nhiên không có luật trừ. Không ai trẻ mãi bao giờ. Hơn nữa, thường thường tiến trình lão hóa không báo trước. Bạn mù quáng cho tới ngày bạn thấy mình trong gương, bạn thấy bức ảnh mình chụp gần đây, hay bạn nghe bác sĩ chẩn đoán và bạn nhận ra bạn không còn trẻ. “Cái già nó thì xồng xộc đến.” Chung chung lão hóa thể hiện qua cách bạn phủ nhận nó, bạn chiến đấu với nó, và bạn chỉ chấp nhận từng phần với ít nhiều cay đắng.

Nhưng tới ngày, ngày này đến với tất cả mọi người, bạn sững sờ nhận ra những gì bạn nhìn trong gương thì khác với cách bạn hình dung và bạn tự hỏi: đây là mình thật sao? Tôi già như thế sao? Tôi trông giống gì đây? Thêm nữa bạn bắt đầu thấy những người trẻ tuổi đang đang tạo ‘nhóm của họ’, họ quan tâm đến những người giống họ, và bạn không có trong số đó, bạn cảm thấy ngớ ngẩn, lạc lõng khi bạn cố gắng ăn mặc, hành động và nói như họ. Cho đến ngày bạn chấp nhận bạn không còn trẻ trung dưới mắt họ, chứ không phải dưới mắt bạn.

Hơn nữa, trọng lực không những chỉ tác động đến cơ thể bạn, nó kéo mọi thứ đi xuống, kể cả tâm hồn. Nó kéo xuống theo cơ thể, dù lão hóa có nghĩa là có một cái gì rất khác. Tâm hồn không già, nó chín chắn. Tâm hồn mình có thể trẻ lâu dài dù thể xác phản bội mình. Thật vậy, chúng tôi luôn cảm thấy mình trẻ trung trong đầu óc. Tâm hồn mang sự sống khác với sự sống của cơ thể vì cơ thể được dựng ra để chết. Bên trong mỗi cơ thể sống, nguyên lý sự sống có một chiến lược để ra đi. Và tâm hồn không có chiến lược này, tâm hồn chỉ có một chiến lược là làm sâu sắc hơn, ngày càng phong phú hơn và kết cấu hơn. Lão hóa buộc chúng ta, chủ yếu chống lại ý chí chúng ta, lắng nghe tâm hồn chúng ta sâu đậm hơn, trung thực hơn để rút ra từ những nguồn sâu hơn và bắt đầu làm hòa với sự phức tạp của nó, cái bóng của nó và các xu hướng sâu xa nhất của nó – và lão hóa cơ thể đóng vai trò quan trọng trong việc này. Một ẩn dụ của tâm lý gia James Hillman như sau: Các loại rượu vang ngon nhất phải được ủ trong các thùng cũ bị nứt. Cũng vậy với tâm hồn: tiến trình lão hóa được Thiên Chúa và tự nhiên dựng lên để rèn luyện tâm hồn, dù chúng ta muốn hay không, để luôn đào sâu hơn trong huyền bí của sự sống, của cộng đoàn, của Chúa và của chính sự sống. Tâm hồn chúng ta không có tuổi, nó cũng như rượu, nó chín muồi và chúng ta có thể giữ tinh thần trẻ trung. Niềm say mê của chúng ta, lửa của chúng ta, háo hức của chúng ta, dí dỏm của chúng ta, tinh thần của chúng ta không thể mờ đi với tuổi tác. Thật vậy nó mang màu sắc của một tâm hồn trưởng thành.

Vì vậy, xét tận cùng, lão hóa là một món quà, ngay cả khi mình không muốn. Lão hóa đưa chúng ta đến một nơi sâu hơn, cho dù chúng ta có muốn đi đến đó hay không.

Như hầu hết mọi người, tôi vẫn không tìm được bình an, tôi vẫn nghĩ mình trẻ. Nhưng tôi thật sự hạnh phúc khi mừng sinh nhật 70 cách đây hai năm, không phải vì tôi hạnh phúc ở tuổi này nhưng vì sau hai lần ung thư nặng trong những năm gần đây, tôi hạnh phúc được còn sống trên đời và tôi đủ khôn ngoan để biết ơn một chút về những gì lão hóa và bệnh ung thư đã dạy tôi. Nhà văn John Updike viết, có một vài bí mật ẩn giấu trong sức khỏe. Và lão hóa phát hiện ra rất nhiều, vì như ngạn ngữ Thụy Điển đã nói, “buổi chiều biết những gì buổi sáng không bao giờ ngờ tới”.

Hình dung ra ân sủng

Chúng ta hãy tưởng tượng điều này: một người hoàn toàn không lo gì về đời sống đạo đức và thiêng liêng trong suốt đời mình, sống tuyệt đối ích kỷ, lạc thú là điều duy nhất họ chạy theo suốt đời. Họ sống bất chấp mọi khuôn khổ, không bao giờ cầu nguyện, không bao giờ đi nhà thờ, đời sống tình dục phóng túng và không quan tâm đến bất cứ ai ngoài mình. Sống như thế suốt đời, cuối đời họ bị bệnh và trên giường chết, họ khóc lóc ăn năn, họ chân thành xưng tội, nhận bí tích Thánh Thể và qua đời trong ân phúc của nhà thờ và bạn bè.

Bây giờ nếu phản ứng của chúng ta là: “Tốt, người này may mắn! Ông sống suốt đời ích kỷ và ông lên thiên đàng!”. Vậy thì theo nhà thần học Piet Fransen nổi tiếng về Ân sủng, chúng ta chưa hiểu như thế nào là ân sủng. Trong chừng mực nào đó, chúng ta vẫn còn ghen tị với người vô đạo đức và muốn loại họ ra khỏi ân sủng của Chúa, chúng ta là “người con cả” trong câu chuyện Người con hoang đàng trở về, đứng trước căn nhà của Người cha trên trời mà lòng cay đắng ghen tương.

Tôi giảng dạy ở chủng viện, chuẩn bị cho các chủng sinh chịu chức linh mục. Gần đây giáo sư thần học bí tích của chúng tôi chia sẻ điều này: Ông dạy môn bí tích hòa giải từ hơn bốn mươi năm nay, và chỉ vài năm gần đây các chủng sinh mới hỏi: “Khi nào chúng ta mới phải từ chối không ban phép giải tội?”

Điều gì nói lên trong câu chuyện này? Chắc chắn các chủng sinh rất chân thành khi đặt câu hỏi; họ không tỏ ra cứng nhắc hay nghiêm khắc. Lo lắng của họ là về ân sủng và lòng thương xót. Họ chân thành lo để không ban lòng thương xót Chúa một cách quá dễ dãi, quá rẻ tiền, bừa bãi, thực chất là bất công. Nỗi sợ của họ vừa không muốn để lòng thương xót Chúa bị giới hạn, vừa không muốn duy chỉ có lòng thương xót. Không phải như vậy. Quan tâm của họ nhiều hơn, nếu dễ dãi quá thì sẽ bất công với các tín hữu trung thành chịu đựng thử thách hàng ngày. Lo sợ của họ là liêm khiết, công bằng và công trạng.

Cái gì là thách thức ở đây? Ân sủng này không phải là cái gì do công sức chúng ta. Sau khi người thanh niên trẻ từ chối lời mời gọi bỏ hết mà theo Chúa Giêsu, thì Thánh Phêrô, người có mặt trong buổi gặp này, ngược với chàng trai trẻ giàu có, ông bỏ hết theo Chúa và hỏi Chúa những người bỏ hết theo Ngài sẽ nhận được gì. Để trả lời, Chúa Giêsu kể dụ ngôn người chủ hào phóng với các người xin vào làm vườn nho bất kể giờ nào. Người làm nhiều giờ, người làm ít giờ đều nhận số lương bằng nhau, làm cho những người làm suốt ngày nóng nực cay đắng cảm thấy mình bị đối xử bất công. Nhưng người chủ vườn nho (là Chúa) cho họ thấy không có bất công ở đây, mọi người đều đã được nhận phần mình quá hào phóng.

Đâu là bài học sâu sắc ở đây? Mỗi lần chúng ta phản đối, thật bất công khi những người không trung thành cũng nhận được lòng thương xót và ân sủng của Chúa, thì chúng ta xa với sự hiểu biết về ân sủng và về đời sống nội tâm.

Cô nhân viên vệ sinh răng miệng biết tôi là linh mục công giáo, cô hay đặt nhiều câu hỏi về tôn giáo và giáo hội. Một ngày nọ cô kể câu chuyện sau: cha mẹ cô không bao giờ đi nhà thờ. Họ có cảm tình với tôn giáo nhưng không quan tâm đến. Còn cô thì theo phái Giám lý, chủ yếu là do ảnh hưởng của bạn bè. Rồi mẹ cô qua đời, và khi gia đình bàn về việc tổ chức tang lễ thì cha của cô cho biết bà đã được rửa tội theo đạo công giáo và không giữ đạo từ khi hai tuổi. Ông đề nghị tổ chức theo nghi lễ công giáo cho bà. Vì không giữ đạo từ lâu, họ hơi lo lắng khi gặp linh mục ở giáo xứ bên cạnh để xin tang lễ được làm theo nghi thức công giáo. Trước sự ngạc nhiên to lớn của họ, vị linh mục không ngần ngại, cha nồng nhiệt đón họ: “Dĩ nhiên chúng tôi sẽ cử hành tang lễ! Đây là vinh dự cho chúng tôi! Và chúng tôi sẽ sắp xếp để có ca đoàn hát lễ và sẽ có buổi tiếp tân ở hội trường giáo xứ sau đó.”

Không đòi hỏi gì về sự vắng mặt cả đời của bà ở nhà thờ. Bà được chôn cất theo nghi thức Giáo hội… và cha của cô, quá xúc động trước sự quảng đại của nhà thờ và nét đẹp của nghi thức phụng vụ đã quyết định trở thành người công giáo la mã.

Chúng ta sẽ tự hỏi kết quả sẽ như thế nào nếu linh mục từ chối làm tang lễ và cũng tự hỏi điều gì biện minh cho tang lễ của một người cả đời chẳng quan tâm gì đến nhà thờ. Chúng ta cũng sẽ tự hỏi có bao nhiêu người sẽ thấy câu chuyện này là khích lệ hay là bực mình, vì theo luân lý giáo hội ngày nay, nhiều người trong chúng ta còn nuôi nỗi sợ không nhận được ơn và lòng thương xót quá dễ dàng.

Nhưng ân sủng và lòng thương xót không bao giờ có giá, dù rẻ dù đắt vì tình yêu không bao giờ là chuyện xứng công mới được.

Thông minh so với khôn ngoan

Có một khác biệt rất lớn giữa người xuất sắc và người khôn ngoan, giữa xuất chúng và minh triết. Chúng ta có thể là người rất thông minh nhưng không khôn ngoan cho lắm. Dĩ nhiên lý tưởng là chúng ta cố gắng cả hai, nhưng không phải khi nào cũng được như vậy, nhất là ngày nay.
Chúng ta sống trong thời buổi cổ vũ cho sự xuất chúng hơn là khôn ngoan, chúng ta tự hào là người xuất sắc hơn người khác. Ai là người xuất sắc nhất? Ai là người vào được đại học ưu tú nhất? Ai là nhà kinh doanh giỏi nhất? Ai là người nổi tiếng nhất? Ai là nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo, người dẫn chương trình truyền hình, người vui vẻ nhất ở văn phòng hay ở bàn ăn gia đình? Ai là người xuất sắc nhất? Chúng ta không bao giờ hỏi: ai là người khôn ngoan nhất? Ngày nay trí thông minh cao hơn khôn ngoan, nhưng không phải lúc nào điều này cũng đúng. Chúng ta là những người am tường tin tức và thông minh nhưng lòng trắc ẩn của chúng ta không ở cùng tầm cao với tài năng chúng ta. Chúng ta là những người xuất sắc, nhưng không phải là người khôn ngoan.

Đâu là khác biệt giữa thông minh và khôn ngoan? Khôn ngoan là trí tuệ được tô điểm bởi sự hiểu biết (mà phân tích từ gốc rễ của nó, có nghĩa là thấm đậm đồng cảm). Cuối cùng điều làm nên sự khôn ngoan, đó là thông minh xây dựng trên sự thông cảm với sự phức tạp của thế giới, của con người, và điều này mang các hệ quả kèm theo.

Học tập, để thực sự hữu ích thì phải đi kèm theo sự tăng trưởng đồng đều với sự thông cảm. Khi không có điều này thì sự tăng trưởng luôn chỉ một chiều và dù nó mang lại một cái gì cho cộng đồng, thì nó luôn thiếu tầm hiểu biết để có thể giúp cộng đồng nối kết với nhau, hiểu nhau hơn và hiểu thế giới hơn. Khi trí thông minh không có sự thông cảm thì những gì nó đem lại thường không đóng góp vào lợi ích chung. Không đi cùng với thông cảm, trí thông minh luôn là kiêu ngạo và hạ cố ban ơn. Ngược lại học tập đích thực là khiêm tốn, quên mình và đồng cảm. Khi chúng ta phát triển trí tuệ mà không đủ đồng cảm thì tài năng của chúng ta luôn là nguyên nhân cho tính đố kỵ, hơn là quà tặng cho cộng đồng.

Trớ trêu thay, cuối cùng thì trí thông minh mà không đủ đồng cảm thì sẽ không xuất sắc, thay vào đó là một trí thông minh bị trì trệ, lỗi của nó không ở những gì nó đã được học (vì học là chuyện tốt), nhưng ở chỗ việc học đó đã bị ngừng trệ. Nó bị một hiểm nguy mà nhà thơ người Anh Alexander Pope gọi là, “học một chút là điều nguy hiểm”, khi chúng ta đọc một quyển sách quá kỹ nhưng là một quyển sách ít giá trị!

Người ta có thể phản đối ở đây và đưa ra lời biện hộ cho tính khách quan của khoa học. Khoa học thực nghiệm có phải là sản phẩm trí tuệ thuần túy không nhuốm màu bởi bất cứ một cái gì ngoài nó không? Có phải lý tưởng của tất cả học tập là hoàn toàn khách quan, không ở phía nào không? Sự đồng cảm đóng vai trò gì trong nghiên cứu thuần túy? Liệu con mắt hướng về đồng cảm có làm mờ đi tính khách quan thuần túy không?

Tính khách quan không tồn tại, kể cả trong khoa học cũng như bất cứ nơi nào khác. Khoa học ngày nay thừa nhận không bao giờ có thể hoàn toàn khách quan. Tất cả đều có lịch làm việc riêng, góc cạnh riêng và không thể giúp can thiệp (tuy nhiên có lẽ là đến vô cùng) với những gì nó đánh giá. Tất cả mọi người và mọi thứ, bao gồm cả khoa học đều có tiền đề (nói trại ra là tiền bản thể học). Do đó, vì tất cả học tập nhất thiết phải bắt đầu từ một góc cạnh, một tiền đề, một tiền bản thể học thì câu hỏi không phải là: Làm thế nào tôi có thể hoàn toàn khách quan, nhưng là: Điều gì phục vụ chúng ta tốt nhất ở góc cạnh học tập này? Câu trả lời là đồng cảm. Đồng cảm biến đổi thông minh thành khôn ngoan và khôn ngoan biến đổi học tập thành một cái gì phục vụ đúng đắn nhất cho cộng đoàn.

Tuy nhiên sự đồng cảm không được lẫn lộn với tình cảm hoặc ngây ngô như đôi khi đã xảy ra. Tình cảm và ngây ngô thấy lỗi trong chính trí thông minh, xem học tập chính nó là vấn đề. Nhưng học tập không bao giờ là vấn đề. Học tập một chiều, đấy mới là vấn đề, có nghĩa học tập không được đồng cảm soi sáng đủ, tìm tòi kiến thức mà không tìm tòi hiểu biết.

Tôi dạy cho các sinh viên sắp tốt nghiệp, chuẩn bị nhận sứ vụ trong giáo hội. Như thế, đối với họ, học cao không chỉ là có điểm cao, có bằng cấp danh dự, có đầy đủ thông tin, có học hoặc đơn giản đáp ứng cho tính hiếu kỳ trí tuệ và câu hỏi của mình. Qua chính ơn gọi của họ, họ đang phấn đấu để có khôn ngoan hơn là đơn thuần thông minh. Nhưng ngay cả họ, cũng như đa số người khác trong nền văn hóa chúng ta, họ đấu tranh để không học tập một chiều, để việc học của mình mang đến cho mình sự thông cảm cũng như kiến thức. Tất cả chúng ta đều đấu tranh với điều này. Cũng khó để cự lại với cám dỗ, cũng như nạn dịch trong nền văn hóa chúng ta, nghĩ rằng chắc chắn có vi trùng trong nước, nghĩ rằng mình phải thông minh xuất chúng biết nhiều tin tức hơn người khác, mặc, chúng ta sẽ đồng cảm sau đó.

Vì vậy bài này là lời kêu gọi, không phải là bài chỉ trích: Đối với tất cả chúng ta, cho dù chúng ta có nghiên cứu chính thức hay không; cho dù chúng ta có đang học các công nghệ thông tin mới nhất; dù chúng ta có đang cố giữ cho mình được thông tin đúng về mặt xã hội và chính trị hay không; dù chúng ta viết bài, viết sách, viết blog; dù chúng ta đang học để có việc làm; hoặc chúng ta đơn thuần họp nhau để thảo luận ở sở làm hay ở bàn ăn gia đình, chúng ta nên nhớ: không phải chỉ có thông minh là tốt mà còn phải chứng tỏ mình có lòng trắc ẩn.

Sự hiểu biết thiêng liêng

Cách đây nhiều năm, trong một buổi hội thảo chuyên đề về đức tin và truyền giáo, một trong các diễn giả đã đưa ra lời tuyên bố khá giật mình. Cô là nhà hoạt động kitô giáo đã kết thúc bài thuyết trình của mình bằng những lời sau: “Tôi làm việc cho người nghèo, tôi làm việc này vì đức tin công giáo của tôi. Tôi dấn thân làm vì Chúa Giêsu nhưng tôi có thể đi ba năm ngoài đường phố mà không bao giờ nhắc đến tên Chúa Giêsu, vì tôi nghĩ Chúa đủ trưởng thành để không đòi hỏi mình là trung tâm sự chú ý có nhận thức của chúng ta trong mọi lúc.”

Giống như nhiều người khác trong phòng, tôi chưa bao giờ nghe một văn sĩ hay một nhà rao giảng nào nói thẳng như vậy. Tôi đã nghe các học giả Kinh Thánh nói về việc Chúa từ bỏ mình khi nhập thể, về sự quên mình trong ẩn giấu, về lòng kiên nhẫn của Chúa khi bị bỏ quên nhưng tôi chưa bao giờ nghe ai nói thẳng, Chúa không sợ chúng ta không chú ý đến Ngài trong một thời gian dài.

Nhưng điều này có đúng không? Chúa có đồng ý với loại bỏ bê này không?

Có một sự thật quan trọng ở đây, nhưng chỉ khi nó có đủ điều kiện minh xác. Nghĩ theo nghĩa đen, điều này có thể biện minh cho quá nhiều chuyện không tốt (lười biếng thiêng liêng, ích kỷ, nghĩ đến mình quá độ, cự lại với một suy nghĩ sâu sắc hơn, trì hoãn quá mức với những gì quan trọng và rất nhiều chuyện khác). Nhưng đây là sự thật: Chúa hiểu! Thiên Chúa là bậc cha mẹ yêu thương, hiểu được sự vô tâm và quan tâm của con cái mình.

Thiên Chúa không đặt chúng ta vào cuộc đời này chủ yếu chỉ để xem chúng ta có quan tâm đến Ngài mọi nơi mọi lúc không. Thiên Chúa muốn chúng ta chăm chú vào những việc ở thế gian này, nhưng dĩ nhiên là không được quên những chuyện này đang đi qua và chúng ta được định hướng cho một cuộc sống bên kia thế giới. Chúng ta không ở trên trái đất này để luôn nghĩ về đời sống vĩnh cửu, cũng không ở trên trái đất này để quên đi đời sống vĩnh cửu.

Tuy nhiên nếu cuộc sống không có ý thức thì cuộc sống ít nhân bản hơn nên, chúng ta cũng phải có những giây phút cố gắng để Chúa là trọng tâm ý thức của mình. Chúng ta cần những giây phút cầu nguyện, suy niệm, chiêm ngắm, thờ phượng, cần ngày sa-bát, cần nhận biết, cần tạ ơn Chúa. Chúng ta cần những giây phút ý thức mình có một cuộc sống trong tương lai, một đời sống vĩnh cửu ngoài đời sống hiện tại này.

Và cuối cùng, điều này không đi ngược, không tranh chấp với sự quan tâm tự nhiên của chúng ta về cuộc sống này, về các quan hệ trong đời sống hàng ngày, với gia đình, với công ăn việc làm, với sức khỏe, về sự tập trung tự nhiên của chúng ta với tin tức hàng ngày, với thể thao, thú vui và các giải trí khác. Với thiện tâm và trung thực, những gì thu hút sự quan tâm của chúng ta rồi cuối cùng cũng thúc đẩy sự quan tâm này hướng về những chuyện sâu sắc hơn và cuối cùng đương nhiên là hướng về Chúa. Nhà thần nghiệm cao cả Gioan Thánh giá nói với chúng ta, nếu chúng ta trung thực và chân thành khi chúng ta tập trung vào những chuyện tầm thường của thế gian này thì những điều sâu xa hơn sẽ xảy ra, một cách vô thức và dưới bề mặt, chúng ta sẽ đến gần với Chúa hơn.

Chẳng hạn, đan tu nổi tiếng Carlo Carretto đã kể câu chuyện sau: sau khi sống ẩn tu nhiều năm trong sa mạc Sahara, bỏ ra không biết bao nhiêu giờ để cầu nguyện, để suy gẫm, ông về Ý thăm mẹ mình. Bà là người phụ nữ nuôi một gia đình đông con với rất nhiều trách nhiệm trong đời, bà không có nhiều thời gian để cầu nguyện. Và Carretto ngạc nhiên nhận ra chính bà là người suy gẫm nhiều hơn mình, không phải vì các giờ cầu nguyện của một ẩn tu như mình là không tốt, nhưng vì tất cả các việc vô vị lợi mà mẹ mình đã làm trong việc nuôi nấng gia đình và chăm sóc người khác là rất tốt.

Và Chúa hiểu điều này. Chúa hiểu chúng ta là những con người, yếu đuối về mặt tâm linh, bận rộn và theo bản năng là hướng đến các chuyện ở trần gian này, đến mức chúng ta không tự nhiên hướng về cầu nguyện, về nhà thờ ngay cả khi chúng ta cầu nguyện hay ở trong nhà thờ. Chung chung chúng ta luôn đãng trí, mệt mỏi, thiếu kiên nhẫn, nghĩ đến chuyện khác và mong giờ cầu nguyện và ở trong nhà thờ sớm xong.

Không phải dễ để giữ Chúa ở trọng tâm chú ý có ý thức của chúng ta; nhưng Chúa biết và thông cảm.

Bà Kate Bowler, giáo sư thuộc giáo phái Mennô bình giải về cái mà Giáo hội gọi là “thường niên” nghĩa là thời gian không ở trong các mùa đặc biệt như Mùa Vọng, Mùa Chay, lễ Giáng Sinh, lễ Phục Sinh, không có gì đặc biệt để dâng mừng. Điều gì xảy ra ở đây? Đó là những chuyện trở nên “bình thường”: “Không có sinh ra trong máng cỏ, không có cái chết trên thập giá, không có các bài hát, các bài cầu nguyện sốt sắng và giữ con cái họ yên lặng khi nghe giảng. Điều huyền nhiệm mờ dần và để lộ ra hình ảnh thật của nhà thờ: giáo dân bình thường trong một tòa nhà nhàm chán gặp nhau cho đến khi được khởi động.”

Đúng, đa số thời gian, chúng ta, những người bình thường trong các tòa nhà nhàm chán đang chờ cú khởi động. Và Chúa hoàn toàn hiểu chuyện này.

Sự tự đại và các vết thương của chúng ta

Chúng ta đi vào cuộc đời với một tâm thức không thể nào xóa bỏ, nghĩ rằng chúng ta đặc biệt, chúng ta là tâm điểm vũ trụ. Và, xét một cách chủ quan, chúng ta là thế! Trong nhận thức của mình, chúng ta là tâm điểm vũ trụ và cuộc sống xoay quanh chúng ta. Hiện hữu của chúng ta là điều chân thực nhất. Như triết gia Descartes đã nói, điều duy nhất chúng ta biết chắc là chính bản thân mình; tôi suy tư do đó tôi tồn tại. Còn mọi sự khác, có lẽ chỉ là giấc mơ.

Linh đạo đã luôn xem điều này là tiêu cực. Tính vị kỷ thái quá, những cảm giác tự đại, sự tự quy, kiêu ngạo, tất cả được xem là kết quả của sự hủ hóa bản chất con người do tội nguyên tổ. Chúng ta gọi đó là Sa ngã. Tổ tông của chúng ta đã cố vượt quá tầm, cố trở thành gì đó cao hơn những gì Thiên Chúa dự định cho họ, và nó đã làm thoái hóa muôn đời bản chất của họ, và chúng ta, con cái của họ cũng kế thừa điều đó. Thế nên, chúng ta, con cái của ông A-dong và bà Evà, theo bản năng quá ngả theo xu hướng vượt quá tầm, tự đắc, tự phụ, và nghĩ về bản thân trước hết.

Giáo lý về tội nguyên tổ có ý nghĩa quan trọng, nhưng mục đích trước hết không phải để làm cho chúng ta hổ thẹn về sự kiêu hãnh tự nhiên và ý thức mình đặc biệt. Lý do thực sự vì sao sự kiêu hãnh và tự đại ăn sâu thâm căn cố đế trong chúng ta, chính là vì Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta như thế, và như vậy, tự nó không phải là một sai lỗi hay một thoái hóa, nhưng nó tạo nên những gì cao đẹp nhất và quý báu nhất trong chúng ta. Cả Kitô giáo lẫn Do Thái giáo đều có tín lý: mỗi một người chúng ta, được sinh ra theo hình ảnh Thiên Chúa. Nói thế không phải là có một biểu tượng tuyệt vời được ghi khắc vào linh hồn chúng ta, nhưng đúng hơn là có ngọn lửa thiêng trong chúng ta, và nó, theo ý Chúa, gợi lên trong chúng ta, ý thức về sự quý báu, phẩm giá, độc nhất vô nhị của cuộc đời chúng ta. Nhưng đi cùng với nó (như kiểu trọn gói) là tâm thức kiêu hãnh và tự đại. Nói đơn giản, chúng ta không thể có gì đó của Thiên Chúa trong mình mà không thấy mình đặc biệt.

Và chính nó tạo nên tình trạng không yên bình lắm cho trái đất. Bây giờ chúng ta có bảy tỷ rưỡi người trên trái đất, mỗi người đều có cùng ý thức bẩm tại rằng mình là trung tâm vũ trụ và hiện thực của chính mình là điều chân thực nhất. Chính nó là nguyên do thực sự cho những chuyện chúng ta thấy trên bản tin hằng ngày, dù tốt hay xấu. Sự tự đại là nguồn gốc xung đột của con người, nhưng cũng là nguồn gốc cho sự cao cả của con người.

Một điều quan trọng để hiểu được điều này, chính ý thức thần thiêng bẩm tại của chúng ta cũng chính là điểm mà chúng ta chịu những vết thương sâu nhất. Điều gì làm tổn thương hình ảnh Thiên Chúa trong chúng ta nhất? Đó là những điều này: sự sỉ nhục, không được thể hiện bản thân cho đủ, sự chán nản không bao giờ dứt vì cứ gặp phải những giới hạn cuộc sống, và sự thống khổ vì tình trạng vô danh.

Mỗi người chúng ta, do bản chất, có một sự độc nhất vô nhị và phẩm giá được Chúa ban, và do đó không gì làm tổn thương chúng ta hơn là bị sỉ nhục và hạ giá trong nỗ lực sống trọn vẹn sự độc nhất vô nhị đó. Một sự sỉ nhục hạ giá, thậm chí khi chúng ta còn rất nhỏ, có thể hằn dấu trên suốt cuộc đời chúng ta. Đó là một trong các lý do tại sao chúng ta có những vụ giết người hàng loạt. Cũng thế, như Iris Murdoch đã nói, nỗi đau lớn nhất của con người là nỗi đau khi không được thể hiện bản thân cho đủ. Có những nghệ sĩ vĩ đại, nhà soạn nhạc, giảng viên, vận động viên, trình diễn viên vĩ đại trong thế giới chúng ta, nhưng ít người có thể tạo nên sự biểu hiện đem lại thỏa mãn đó. Số còn lại trong chúng ta phải sống với sự chán nản không ngừng vì những gì thâm sâu nhất trong chúng ta không thể biểu hiện ra được. Cũng thế, chúng ta luôn mãi gặp phải những giới hạn thực sự trong cuộc sống và cả những giới hạn của sự sống nữa. Karl Rahner đã nói: Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học để biết rằng, trong đời này, tất cả mọi bản hòa âm đều phải dang dở. Đến tận cùng, tất cả chúng ta chết đi với một cuộc đời chưa hề được hoàn thành trọn vẹn. Và chuyện đó đâu dễ chấp nhận! Mọi sự trong con người chúng ta vùng lên chống lại nó. Cuối cùng, hầu hết tất cả chúng ta sống trong sự thống khổ của tình trạng vô danh, chúng ta chỉ được công nhận và nổi danh trong những giấc mơ hão huyền, và sự vĩ đại của chúng ta chẳng ai biết đến. Và chuyện đó cũng không dễ chấp nhận.

Vậy thì chúng ta rút ra được gì từ điều này? Vì chúng ta bí mật nuôi dưỡng những suy nghĩ về sự đặc biệt, nên chúng ta cũng nuôi dưỡng một sự hổ thẹn bí mật chăng? Sự kiêu hãnh bẩm tại của chúng ta là điều khiến chúng ta chống lại sự thánh thiện chăng? Sự tự đại của chúng ta là điều xấu chăng? Sự chán nản với những giới hạn và bất đạt trong cuộc sống của chúng ta, là điều không đẹp lòng Chúa sao? Những mộng tưởng hão huyền của chúng ta về sự độc nhất vô nhị và vĩ đại là thứ phá hoại việc chiêm niệm và cầu nguyện của chúng ta sao? Liệu bản chất của ta, tự nó có thoái hóa không? Chúng ta phải ra khỏi con người mình mới nên thánh sao?

Mỗi một câu hỏi này đều có thể trả lời bằng hai cách. Sự tự đại, kiêu hãnh, hổ thẹn, chán nản, và mơ ước hão huyền về sự vĩ đại, thật sự có thể là những thứ có thể làm cho chúng ta sa ngã và biến chúng ta thành những người đáng ghét, ích kỷ, ghen tỵ, hằn học và sát nhân. Nhưng chúng cũng có thể là nguồn cho sự vĩ đại, sự cao cả của linh hồn, sự quảng đại, quên mình, quan tâm đến mọi người, biết cầu nguyện thật sự, và có thể cho chúng ta thành những bậc tử đạo quên mình cho đức tin, đức cậy và đức mến. Sự thần thiêng của chúng ta là một ơn phúc phức tạp, nhưng chắc chắn nó là ơn lớn lao nhất của chúng ta.

“Tái sinh” là gì?

“Tái sinh” hay “sinh ra bởi ơn trên” nghĩa là gì? Nếu bạn là người phái Phúc âm hay phái Baptist, có lẽ bạn đã có câu trả lời. Tuy nhiên, nếu bạn là người công giáo La Mã hay người Tin Lành chính tông, thì cụm từ này có lẽ không nằm trong vốn từ vựng đạo của bạn, và thật sự sẽ gợi lên cho bạn một kiểu trào lưu chính thống Kinh thánh làm cho bạn hoang mang.

“Tái sinh” là gì? Từ ngữ này trong Phúc âm thánh Gioan, trong đoạn Chúa Giêsu nói chuyện với ông Nicôđêmô. Chúa Giêsu bảo ông “phải được sinh ra bởi ơn trên”. Nicôđêmô hiểu theo nghĩa đen và ông phản đối, một người trưởng thành không thể nào chui vào bụng mẹ để sinh ra lần nữa. Thế nên, Chúa nói lại câu này theo ẩn dụ, cho Nicôđêmô biết rằng lần tái sinh của một người thì không như lần đầu, không phải bởi xác thịt, nhưng là “bởi nước và Thần Khí”. Chà… Nói thế vẫn chưa đủ rõ với Nicôđêmô hay chúng ta. “Sinh ra bởi ơn trên” nghĩa là gì?

Có lẽ có quá nhiều câu trả lời. Sinh ra về mặt thiêng liêng, không như sinh ra về mặt thể lý, là điều không phải ai cũng hiểu như nhau. Tôi có những người bạn ở phái Phúc âm nói rằng, với họ, điều này nói đến một thời khắc tác động mạnh mẽ trong đời họ, khi họ có cuộc gặp riêng với Chúa Giêsu, như bà Maria Mađalêna gặp Chúa trong vườn vào ngày Phục Sinh. Một cuộc gặp gỡ khẳng định tình yêu của Ngài cho chúng ta, một khẳng định ghi khắc mãi trong lòng chúng ta. Lúc đó, theo lời họ, “họ đã gặp Chúa Giêsu Kitô” và “được tái sinh”, dù cho họ đã là kitô hữu và biết Chúa Giêsu Kitô từ thời thơ ấu.

Hầu hết người công giáo La Mã và người Tin Lành chính tông không đồng nhất việc “biết Chúa Giêsu Kitô” với một trải nghiệm riêng sâu sắc như thế. Nhưng họ tự hỏi chính xác Chúa Giêsu muốn nói gì khi Ngài đòi buộc chúng ta “tái sinh bởi ơn trên”.

Một linh mục tôi quen đã chia sẻ câu chuyện này, về cách hiểu của cha đối với “tái sinh nhờ ơn trên”. Bố của cha mất không lâu trước khi cha chịu chức, mẹ của cha sống ở cùng giáo xứ mà cha được phân về. Đó là một ơn lành khi hàng ngày được gặp mẹ trong nhà thờ, nhưng bà mẹ góa cô đơn bắt đầu đòi hỏi con dành thêm thì giờ cho mình, và người con có hiếu giờ phải dành hết thời gian rảnh rỗi cho mẹ, đưa mẹ đi ăn, lái xe chở mẹ đi đây đó, đây là mối liên kết duy nhất của bà với thế giới bên ngoài nhà hưu dưỡng của bà. Trong thời gian ở bên cạnh nhau, bà luôn nhắc chuyện cũ và buồn vì bây giờ mình cô đơn, cô độc. Nhưng đến một ngày, khi chở bà đi, sau một khoảng thời gian thinh lặng, bà nói một điều làm cha ngạc nhiên và chú ý nhiều hơn: “Mẹ từ bỏ nỗi sợ! Mẹ không còn sợ gì nữa. Mẹ đã sống cả đời trong nỗi sợ. Nhưng bây giờ mẹ không còn như vậy nữa, vì mẹ không còn gì để mất! Mẹ đã mất mọi thứ, mất chồng, mất cơ thể trẻ trung, mất sức khỏe, mất địa vị, mất niềm tự hào, mất phẩm giá. Giờ mẹ tự do! Mẹ không còn sợ nữa!”

Con trai bà, lâu nay chỉ nghe nửa vời những lời bà nói, bây giờ tập trung chú ý. Cha bắt đầu dành thêm giờ với bà, nhận ra rằng bà có điều gì đó quan trọng để dạy cho mình. Vài năm sau, bà qua đời. Và đến lúc đó bà đã có thể truyền cho con mình đôi điều giúp cha hiểu sâu sắc hơn về đời mình. Cha nói, “mẹ tôi đã sinh tôi hai lần, một lần từ hạ giới, và một lần từ thượng giới.” Bây giờ cha hiểu ra một điều mà ông Nicôđêmô đã không hiểu được.
Chắc chắn, tất cả chúng ta ai cũng có câu chuyện của mình.

Và các nhà học giả Kinh Thánh dạy chúng ta thế nào về điều này? Các học giả nói rằng, các Phúc âm nhất lãm bảo chúng ta chỉ có thể vào nước Trời nếu trở nên như trẻ thơ, nghĩa là chúng ta, theo lối sống của mình, phải nhận thức sự lệ thuộc của chúng ta vào Thiên Chúa và tha nhân. Chúng ta không tự đủ và như thế có nghĩa, chúng ta nhận ra và sống lệ thuộc vào sự quan phòng nhưng không của Thiên Chúa. Làm như thế chính là sinh ra bởi ơn trên.

Phúc âm theo thánh Gioan thêm một điều nữa. Khi dẫn giải về Phúc âm theo thánh Gioan, Raymond E Brown đã giải thích như sau: Sinh ra bởi ơn trên nghĩa là, đến lúc nào đó trong đời, chúng ta phải hiểu rằng sự sống của chúng ta đến từ bên ngoài thế giới này, từ một nơi và một nguồn nằm ngoài dạ mẹ, và ở đó có sự sống thâm sâu hơn cũng như ý nghĩa thâm sâu hơn. Và thế là chúng ta phải có hai lần sinh ra, một lần cho chúng ta sự sống sinh học (sinh ra trong thế giới này) và một lần cho chúng ta sự sống cánh chung (sinh ra chúng ta trong thế giới của đức tin, linh hồn, tình yêu, và thần khí). Và đôi khi, như trường hợp của bạn tôi, có thể người mẹ sinh ra bạn sẽ là người hỗ trợ cho lần sinh thứ hai. Nicôđêmô không thể vượt qua được chủ nghĩa kinh nghiệm bản năng của mình. Cuối cùng, ông không hiểu được. Còn chúng ta thì sao?

Bàn tay Thiên Chúa trong đời chúng ta

Theo Jim Wallis, vấn đề luôn mãi trong thế giới và trong các giáo hội là: phía bảo thủ hiểu sai và phía tự do (phản ứng thái quá với phía bảo thủ) chẳng hiểu được gì. Tôi tin rằng, không ở đâu câu này đúng cho bằng trong cách chúng ta nhận ra bàn tay Chúa trong những sự kiện trong đời.

Chúa Giêsu bảo chúng ta nhận ra bàn tay Chúa trong đời mình bằng cách đọc dấu chỉ của thời đại. Thế nghĩa là sao? Điều này không hẳn là chúng ta nhìn vào mọi phân tích về tôn giáo, chính trị, xã hội để cố hiểu xem thế giới đang có chuyện gì, nhưng đúng hơn, là chúng ta nhìn vào mọi sự kiện trong đời mình, cả cá nhân lẫn toàn cầu, và tự hỏi: Chúa nói gì với tôi qua sự kiện này? Chúa nói gì với chúng ta qua sự kiện này?

Thế hệ cao tuổi hơn hiểu điều này là cố hòa hợp bản thân với những hành động “quan phòng”. Đường lối này có từ thời xưa trong Kinh Thánh. Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta thấy dân Chúa không xác định những chuyện diễn ra bằng lăng kính thuần thế tục hoặc trung lập về tôn giáo. Đúng hơn, trong mọi sự kiện, dù là rất ngẫu nhiên và thế tục, họ đều thấy bàn tay Thiên Chúa. Ví dụ như, họ tin rằng nếu thua trận, thì đó không phải do đối phương có quân lính thiện chiến hơn, nhưng là do Thiên Chúa đã dạy cho họ một bài học. Hoặc nếu gặp tai ương, thì đó là do Thiên Chúa đã chủ động ngăn mưa rơi xuống đất, và một lần nữa dạy cho họ một bài học.

Chuyện này dễ bị hiểu lầm, vì khi viết ra như thế, các tác giả sách thánh đã gây ấn tượng rằng Thiên Chúa chủ động tạo ra sự kiện đó. Đó là lời của họ, chứ không phải ý định hay ý nghĩa. Kinh Thánh không định dạy chúng ta rằng Thiên Chúa tạo ra chiến tranh hay đóng cửa trời không cho mưa xuống, Kinh Thánh chấp nhận rằng chúng là kết quả của ngẫu nhiên trong tự nhiên. Bài học cần rút ra ở đây là, Thiên Chúa nói qua những sự kiện đó.

Và đây là điều mà người theo chủ nghĩa bảo thủ thường hiểu sai và người theo chủ nghĩa tự do thường nhầm lẫn. Một ví dụ mới đây cho chuyện này, là phản ứng của một vài giới tôn giáo nhất định, cả bảo thủ lẫn tự do, về sự bùng phát của bệnh sida. Khi bệnh sida bùng phát, nhiều người bảo thủ mạnh mẽ đã lên tiếng rằng sida là do Chúa trừng phạt chúng ta, vì sự bừa bãi tình dục, nhất là tình dục đồng giới. Còn phía tự do, nổi giận vì những lời này, đã đáp lại rằng: Chúa chẳng liên quan gì đến chuyện này cả!

Cả hai đều cần một bài học về hành động quan phòng. Những người bảo thủ tôn giáo đã sai khi diễn giải như thế. Chúa không gây ra sida để trừng phạt sự bừa bãi tình dục của chúng ta. Ngược lại, phía tự do cũng sai khi nói rằng chuyện này chẳng liên quan gì đến Chúa cả. Chúa không tạo ra sida hay bất kỳ một bệnh dịch nào, nhưng Chúa nói qua sida và mọi chứng bệnh khác. Nhiệm vụ sống đạo của chúng ta là nhận ra thông điệp đó. Chúa nói gì với chúng ta qua chuyện này?

James Mackey nói rằng sự quan phòng là một kế hoạch của những chuyện tình cờ, qua đó Thiên Chúa lên tiếng. Frederick Buechner nói rõ hơn nữa: “Điều này không có nghĩa là Thiên Chúa cho những sự kiện xảy đến với chúng ta để đẩy chúng ta theo những hướng nhất định, như những quân cờ. Thay vào đó, những sự kiện tự nó xảy ra ngẫu nhiên, nghĩa là Thiên Chúa hiện diện trong các sự kiện đó, không phải như người tạo ra nó nhưng như là người dù buồn đau vì chúng, vẫn cho chúng ta khả thể của sự sống mới và sự chữa lành mà tôi tin chính là ơn cứu độ.”

Thiên Chúa luôn nói với chúng ta qua mọi sự kiện trong đời chúng ta. Với một kitô hữu, không có điều gì là trải nghiệm thuần túy thế tục. Sự kiện này có thể là kết quả của những lực ngẫu nhiên và thuần túy thế tục, nhưng nó chứa đựng một thông điệp tôn giáo cho chúng ta, luôn là thế. Nhiệm vụ của chúng ta là đọc ra thông điệp đó.

Và nói xa hơn nữa: hầu như chúng ta chỉ nghe tiếng Chúa trong những trải nghiệm cực kỳ đau đớn với chúng ta hơn là trong những sự kiện đem lại hân hoan và vui thú. Nhưng chúng ta không nên hiểu lầm chuyện này. Không phải Thiên Chúa chỉ nói với chúng ta qua đau đớn, và làm thinh khi chuyện tốt đẹp. Đúng hơn, theo lời của C.S. Lewis, đau đớn là máy vi âm của Chúa với một thế giới điếc đặc. Thiên Chúa luôn nói, nhưng hầu như chúng ta chẳng nghe. Chỉ khi lòng chúng ta bắt đầu tan nát, chúng ta mới bắt đầu hòa hợp với tiếng của Chúa.

Sự quan phòng là một kế hoạch của những chuyện ngẫu nhiên, qua đó Thiên Chúa lên tiếng, và chúng ta phải cẩn thận để hiểu đúng theo cả hai phía. Thiên Chúa không gây nên sida, khí hậu toàn cầu nóng lên, tình trạng người di dân, bệnh ung thư, nạn đói, bão lụt, hay bất kỳ điều gì khác nhằm dạy cho chúng ta một bài học, nhưng trong tất cả những chuyện này có gì đó mời gọi chúng ta cố gắng nhận ra điều Chúa muốn nói qua chúng. Cũng như thế, Thiên Chúa không cho đội bóng bạn yêu thích vô địch, đó cũng chỉ là kết quả của kế hoạch của những chuyện ngẫu nhiên. Nhưng Thiên Chúa nói qua tất cả những chuyện đó, kể cả việc đội bóng của bạn vô địch đấy!

Những kiểu gương thánh cần có

Simone Weil từng bình luận rằng thời nay, làm thánh không thôi thì không đủ, hay nói đúng hơn là “chúng ta phải có sự thánh thiện mà thời điểm hiện tại đòi hỏi.”

Chắc chắn bà đúng về tiền đề thứ hai, chúng ta cần các vị thánh với những nhân đức mang tiếng nói với thời đại.
Thời nay chúng ta cần dạng thánh nào? Người có thể cho chúng ta thấy cách thực sự tha thứ cho kẻ thù? Người có thể giúp chúng ta vượt lên chia rẽ cay đắng trong cộng đoàn và giáo hội? Người có thể đưa ra con đường để chúng ta đến với người nghèo? Người có thể dạy cho chúng ta cách cầu nguyện đích thực? Người có thể cho chúng ta cách tìm ra “ngày Sabbath” giữa muôn trùng bủa vây của hàng ngàn kênh truyền hình, hàng triệu blog, và hàng tỷ câu tweet? Một người có thể giúp chúng ta gìn giữ đức tin thời thơ ấu giữa những ngụy biện, phức tạp và chủ trương bất khả tri của cuộc sống trưởng thành? Người như Chúa Giêsu, có thể đi vào quán bar tình một đêm mà không phạm tội? Người có thể tỏa ra nhân tính trọn vẹn, dù cho khác biệt hẳn với mọi người nhờ đức tin? Người là nhà thần nghiệm nhưng lại có óc hài hước vô cùng? Người có thể vừa khiết tịnh vừa sống tình dục lành mạnh?

Danh sách này có thể dài thêm nữa. Chúng ta đang trong miền đất mới. Các vị thánh thời xưa không đối diện với những vấn đề của chúng ta ngày nay. Các vị có những con quỷ cần đánh gục riêng của họ, và sẽ không chê bai khinh rẻ những nỗ lực và những bất tín của chúng ta. Các vị biết cuộc đấu tranh của chúng ta, biết chúng ta đang ở miền đất mới với những con quỷ mới cần đánh gục và những nhân đức mới cần đạt được. Các vị thánh thời xưa, dĩ nhiên là các tấm gương của tinh thần môn đệ Kitô giáo, đã sống tinh thần Phúc Âm nhưng trong thời đại các ngài.

Vậy thời nay cần dạng thánh nào?

Chúng ta cần các vị thánh có thể tôn vinh sự thiện của thế giới khi tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta cần những người có thể cho chúng ta thấy cách nào để sống với đức tin thiết thực giữa một nền văn hóa nghĩ rằng đời này là đủ và những chuyện về Thiên Chúa cũng như đời sau là chuyện ngoài lề. Chúng ta cần những vị thánh có thể vững vàng với đức tin, chính chắn trước các ngụy biện của thế gian, với căn bệnh bồn chồn, với cái kiểu vĩ đại quá đáng, với những chuyện gây phân tâm tê liệt, và những cám dỗ ghê gớm của nó. Chúng ta cần những vị thánh có thể cảm thông với những người đã xa Giáo hội, trong khi vẫn không thỏa hiệp về nền tảng tôn giáo và đạo đức của mình. Chúng ta cần những vị thánh trẻ có thể khơi lại mãnh liệt hình ảnh tôn giáo về thế giới, như thánh Phanxicô và thánh Clara từng làm. Và chúng ta cần những vị thánh lớn tuổi, đã từng trải và có thể chỉ cho chúng ta cách đương đầu với những thách thức thời nay nhưng vẫn giữ vững đức tin thời thơ ấu.

Và chúng ta cần điều mà Sarah Coakley gọi là “những vị thánh gợi tình” những con người có thể đưa khiết tịnh và ái tình đến với nhau mà vẫn nói lên tầm quan trọng của cả hai. Chúng ta cần những vị thánh có thể làm gương cho chúng ta về sự tốt lành của tình dục, những người có thể vui mừng trong các vui thú của con người và tôn vinh vị thế mà Chúa đã ban cho nó trong hành trình thiêng liêng, không bao giờ bôi xấu nó bằng cách xem nó là đối chọi với thiêng liêng hoặc xem thường nó khi đơn giản hóa nó thành một dạng giải trí.

Rồi chúng ta cần những vị thánh có thể cảm thương giúp chúng ta thấy ra sự đồng lõa mù quáng của mình với đủ thứ hệ thống tác hại đến những người yếu đuối nhằm bảo vệ sự thoải mái, an toàn và đặc quyền đặc lợi lâu nay của ta. Chúng ta cần những vị thánh có thể nói lời ngôn sứ cho người nghèo, cho môi trường, cho phụ nữ, cho người tị nạn, cho những người không được tiếp cận đủ với y tế và giáo dục, và cho tất cả những ai bị kỳ thị vì chủng tộc, màu da, hay tín ngưỡng của họ. Chúng ta cần những vị thánh, những ngôn sứ cô đơn, những người có thể làm kẻ lạc loài, có thể đem lại hòa bình, và có thể chỉ cho chúng ta thấy hiện thực vượt ngoài tầm nhìn thiển cận của chúng ta.

Và những vị thánh này không cần được chính thức phong thánh, cuộc sống của họ đơn giản chỉ cần là ngọn đèn cho mắt chúng ta và men cho cuộc sống chúng ta. Tôi không biết các vị thánh thời nay của các bạn là ai, nhưng tôi đã tìm được cho mình rất nhiều người, với nhiều kiểu người khác nhau, già có trẻ có, Công giáo, Tin lành, phái Phúc âm, bảo thủ có tự do có, đi tu có ở đời có, đầy đức tin có hoặc theo thuyết bất khả tri cũng có. Nói đúng ra, danh mục tôi sẽ đề cập ở đây không phải là những người tôi biết tường tận về cuộc đời họ. Hầu hết, tôi chỉ biết qua những gì họ viết, nhưng những bài viết của họ là ngọn đèn soi đường cho tôi.

Trong những người thuộc thế hệ của tôi, tôi mang nợ Raymond E. Brown, Charles Taylor, Daniel Berrigan, Jean Vanier, Mary Jo Leddy, Henri Nouwen, Thomas Keating, Jim Wallis, Richard Rohr, Elizabeth Johnson, Parker Palmer, Barbara Brown Taylor, Wendy Wright, Gerhard Lohfink, Kathleen Dowling Singh, Jim Forest, John Shea, James Hillman, Thomas Moore, và Marilynne Robinson.

Còn trong những người trẻ hơn, với cuộc sống và các bài viết cũng đồng hưởng với một thế hệ trẻ hơn tôi, tôi muốn nhắc đến Shane Claiborne, Rachel Held Evans, James Martin, Kerry Weber, Trevor Herriot, Macy Halford, Robert Barron, Bryan Stevenson, Robert Ellsberg, Bieke Vandekerckhove, và Annie Riggs.

Có lẽ đây không phải là các vị thánh của các bạn, điều này cũng hợp lý thôi. Vậy thì xin các bạn tìm những người giúp soi đường cho mình.

Một quyển sách quan trọng

Mỗi năm, tôi viết một bài chia sẻ với độc giả tiêu đề và nội dung vắn tắt của mười quyển sách đánh động tôi trong năm. Tuy nhiên, đôi lúc, tôi đánh giá một quyển sách đủ xuất sắc để dành riêng một bài cho nó, đó là quyển sách mới của Robert Ellsberg, Phúc âm Sống – Đọc câu chuyện của Chúa trong Đời sống các thánh (A Living Gospel – Reading God’s Story in Holy Lives).

Robert Ellsberg là nhà xuất bản và tổng biên tập của Orbis Books, và với vai trò đó ông coi sóc việc in ấn một số tác phẩm thiêng liêng đầy tính thách thức cho thế hệ chúng ta. Ông còn biên tập các bài viết, nhật ký, và thư tín được chọn lọc của Dorothy Day, người mà ông được vinh hạnh ở cùng cộng đồng trong năm năm cuối đời của bà. Nhưng không chỉ xuất bản suy tư của người khác, Ellsberg còn lặng lẽ tạo nên một kho báu lớn lao với những bài viết về cuộc sống của các thánh. Ông có ba quyển sách lớn về cuộc đời của các thánh, “Các Thánh, All Saints”, “Hướng dẫn để Hạnh phúc của các Thánh, The Saints’ Guide to Happiness” và “Phúc thay giữa các phụ nữ, Blessed Among Women” và mỗi ngày ông viết một bài về cuộc đời của một vị thánh cho tập sách nhỏ “Cho chúng ta ngày hôm nay, Give Us This Day”

Ellsberg về cơ bản có thể được gọi là người viết hạnh các thánh, người viết lại đời sống của các ngài để làm nguồn hứng khởi cho chúng ta. Bất kỳ ai có một chút hiểu biết về linh đạo Kitô giáo đều biết tầm quan trọng của công việc này. Chính các Phúc âm cũng có thể được xem là hạnh các thánh vì đời sống Chúa Giêsu làm cho chúng ta hứng khởi và noi gương Ngài. Rồi thời giáo hội sơ khai, chúng ta có nhiều vị thánh tử đạo, và rất nhiều vị thánh xuất hiện trong thời trung cổ, thời hiện đại và cho đến tận bây giờ. Chúng ta đều được nghe về chuyện các thánh.

Tôi nghĩ nhiều người biết về quyển Hạnh Các Thánh, dài bốn tập rất kinh điển của Alban Butler. Các tiểu sử nhỏ này được phát hành từ 200 năm trước, tác giả dùng lối hành văn thời đó để viết về cuộc sống của các thánh. Lối hành này về căn bản phần nào bóp méo hiện thực để nêu bật bản chất, và điều này thường làm cho độc giả có ấn tượng các thánh được mô tả trong sách hoàn toàn không bị yếu đuối, không bị hạn chế do khả năng bình thường của con người. Thời đại của chúng ta không còn hiểu theo kiểu đó, và vì thế chúng ta cần có một dòng hạnh các thánh mới đem lại được bản chất mà không phải hy sinh đi phần hiện thực. Robert Ellsberg là người viết hạnh các thánh theo kiểu đó, và thời nay chúng ta cần đến hạnh các thánh.

Hồi tôi còn nhỏ, cuộc đời các thánh là một trong nhiều cách chủ yếu để dạy linh đạo. Tất cả chúng ta ai cũng có thánh bổn mạng, mỗi thành phố, mỗi giáo xứ đều có thánh bổn mạng riêng của mình, chúng ta đều đọc đời sống các thánh và có được hứng khởi để vươn đến các lý tưởng cao đẹp hơn nhờ các tấm gương như tấm gương của thánh Tarcisius đã bị ném đá đến chết vì bảo vệ Mình Thánh Chúa, như Maria Goretti sẵn sàng chết còn hơn để mất sự trong sạch, như thánh George nhờ sức mạnh đức tin mà có thể hạ gục con rồng, và như thánh Christopher với đôi mắt tiên liệu có thể giữ gìn chúng ta trên đường đời.

Dĩ nhiên, khi nhìn lại, bây giờ chúng ta có thể thấy các tác giả khi viết các mẫu chuyện này thường tự ý thay đổi các sự kiện lịch sử nhằm nêu bận vấn đề mấu chốt. Thật vậy, cả thánh George và thánh Christopher có vẻ như thiên về chuyện thần thoại hơn là chuyện thật. Dù sao đi nữa, các câu chuyện đó, cũng như chuyện về các vị thánh khác đã hướng đôi mắt chúng ta cao lên hơn một chút, cho chúng ta thêm chút can đảm, thêm chút mẫu gương sống của tinh thần môn đệ Kitô hữu, và giúp chúng ta hướng lòng về những gì cao đẹp hơn.

Ngày nay, chúng ta có một phiên bản khác về cuộc đời các thánh. “Người giàu có, nổi tiếng, và thành công” đã thay thế hẳn các thánh thời xưa. Quyển Hạnh các thánh của Butler đã bị thay thế bởi People Magazine, các quyển tiểu sử, các chương trình truyền hình, các website và hình ảnh về cuộc sống của những người giàu có và nổi tiếng. Và những cuộc sống này, dù có tốt lành như chúng ta thường thấy, lại không hẳn hướng đôi mắt và tâm hồn chúng ta về cùng một hướng như những gì mà cuộc đời của các thánh đã làm. Trong một nền văn hóa thần tượng hóa sự nổi tiếng, chúng ta cần những người nổi tiếng khác để khiến họ phải ghen tị. Robert Ellsberg đang đưa ra các người này.

Trong quyển này, Ellsberg thuật lại cuộc sống của bốn vị “thánh” đương thời, Dorothy Day, Thomas Merton, Henri Nouwen, và Charles de Foucault (chưa ai trong số các vị này được phong thánh). Nhưng ông tin rằng cuộc sống của họ có thể giúp chúng ta hình dung được theo Chúa Giêsu là như thế nào, giữa những phức tạp của thế hệ chúng ta.

Và điều này cũng đúng với Giáo hội. Khi nói về cuộc sống của Charles de Foucauld, Ellsberg viết: “Trong một thời đại mà Kitô giáo không còn đồng nghĩa với sự vươn ra của nền văn minh phương Tây và quyền lực thực dân, thì chứng tá của Foucauld – nghèo, không vũ trang, trần trụi mọi sự, không dựa vào thẩm quyền nào khác ngoài uy lực của tình yêu – hẳn là đại diện cho tương lai của Giáo hội, một Giáo hội bắt rễ trong ký ức về nguồn gốc và đấng sáng lập nghèo khó của mình.”

Các vị thánh có gì đó cho tất cả mọi người!

Mất thiên đàng và nỗi sợ hỏa ngục

Là người công giáo la mã, như phần lớn thế hệ của tôi, chúng tôi học Kinh ăn năn tội. Kinh ăn năn tội của tôi hồi đó như sau: … Lạy Chúa, con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, con lo buồn đau đớn cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự, vì con sợ mất thiên đàng và các đau đớn của hỏa ngục…

Sợ mất thiên đàng và các đau đớn của hỏa ngục có vẻ như cùng một chuyện. Nhưng không phải. Có một khoảng cách đạo đức rất lớn giữa sợ mất thiên đàng và sợ đau đớn của hỏa ngục. Lời cầu nguyện khôn ngoan sẽ ngăn cách được chuyện này. Sợ hỏa ngục dựa trên sợ bị hình phạt; sợ mất thiên đàng dựa trên sợ không phải là người tốt, người được yêu thương. Có một khác biệt rất lớn giữa nỗi sợ hình phạt và sợ không được yêu thương. Chúng ta sẽ trưởng thành hơn, nhân bản hơn và là tín hữu kitô tốt khi chúng ta sợ mình không được yêu thương hơn là khi sợ mình bị phạt vì làm một cái gì sai.

Lớn lên trong những năm 1950 và 1960, tôi hít thở linh đạo và giáo lý công giáo la mã thời đó. Vào thời mà đạo đức công giáo (về cơ bản thì giống với người tin lành và cơ đốc) nhấn mạnh về cánh chung, nghiêng nặng về việc sợ xuống hỏa ngục hơn là sợ không phải là người được yêu thương. Là đứa bé công giáo, cùng với các bạn tôi, tôi rất lo mình phạm tội trọng, có nghĩa làm một cái gì vì ích kỷ, vì yếu đuối mà chưa xưng tội trước khi chết sẽ nhốt tôi vào địa ngục đời đời. Tôi sợ xuống hỏa ngục hơn là sợ mình không phải là người được yêu thương, người bỏ lỡ tình yêu và cộng đồng. Vì thế tôi lo mình là người xấu chứ không lo mình là người không tốt. Tôi sợ làm một cái gì phạm tội trọng bị xuống hỏa ngục; nhưng tôi không lo mình không có quả tim đủ lớn để yêu thương Chúa như Chúa đã yêu thương tôi. Tôi cũng không lo nhiều về việc tha thứ cho người khác, buông bỏ các tổn thương, yêu thương người khác mình, không lo về việc phán xét, thiên vị, kỳ thị, phân biệt giới tính, bè phái quốc gia, hay hẹp hòi trong quan điểm tôn giáo sẽ làm cho mình không thoải mái khi ngồi cùng bàn với người khác trong bàn tiệc của Chúa.

Bàn tiệc thiên đàng mở ra cho tất cả những ai sẵn sàng ngồi xuống với mọi người. Đó là câu thơ của thi sĩ John Shea, người nói ra một cách cô đọng và tôi nghĩ, đó là điều kiện không thể thương lượng để lên thiên đàng, cụ thể là có quyết tâm và có khả năng yêu thương mọi người, ngồi với mọi người. Điều kiện không thể thương lượng vì: Làm thế nào chúng ta có thể ngồi vào bàn tiệc thiên đàng với mọi người nếu vì lý do nào đó chúng ta còn kiêu ngạo, tổn thương, còn tính khí cay đắng, cố chấp, bè phái chính trị, quốc gia, bè phái màu da, chủng tộc, tôn giáo hoặc lịch sử, chúng ta không mở ra để ngồi xuống với mọi người sao?

Chúa Giêsu cũng dạy điều này nhưng theo một cách khác. Sau khi truyền cho chúng ta Kinh Lạy Cha kết thúc với câu “và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, Ngài nói thêm: “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.” Vì sao Chúa không thể tha lỗi cho chúng ta nếu chúng ta không tha lỗi cho người anh em? Có phải Chúa tùy tiện chọn điều kiện duy nhất làm tiêu chuẩn để lên thiên đàng đó không? Không.

Chúng ta không thể ngồi bàn tiệc trên trời nếu chúng ta vẫn luôn muốn biết mình sẽ ngồi với ai. Nếu, ở đời sau, cũng như ở đời này, chúng ta chọn người để ôm, để yêu thương thì ở thiên đàng cũng giống như ở dưới đất, cũng sẽ có phe phái, cay đắng, hận thù, tổn thương và tất cả các loại phân biệt chủng tộc, giới tính, bè phái quốc gia, bè phái tôn giáo giữ chúng ta trong các ô riêng biệt. Chúng ta không thể ngồi bàn tiệc trên trời khi quả tim chúng ta không đủ lớn để ôm các người khác ngồi chung bàn. Thiên đàng đòi hỏi chúng ta có quả tim rộng mở để ôm mọi người.

Và vì vậy khi già đi, khi đến gần cuối đời và sẵn sàng đối diện với Đấng sinh ra mình, tôi càng ít lo về việc mình xuống hỏa ngục, nhưng ngày càng lo về sự giận dữ, cay đắng, vô ơn, không tôn trọng, không tha thứ vẫn còn trong lòng tôi. Tôi ít lo về việc phạm tội trọng hơn là việc liệu tôi có đủ lòng thương xót, tôn trọng và tha thứ cho người khác không. Tôi lo lắng về sự mất thiên đàng hơn là nỗi đau của hỏa ngục, có nghĩa là cuối cùng tôi như người anh cả trong câu chuyện người con hoang đàng trở về, khi đứng bên ngoài căn nhà của Người Cha, bị loại ra ngoài vì giận dữ chứ không phải vì tội.

Dù sao tôi vẫn biết ơn hành vi ăn năn trong tuổi thanh xuân của tôi. Nỗi sợ địa ngục không phải là một chuyện xấu để bắt đầu.

Điều gì tạo nên sự hiệp thông kitô giáo?

Vấn đề quan hệ qua về giữa các giáo hội chúng ta ngày nay là một vấn đề quan trọng, quan trọng và đau đớn. Tôi khá lớn tuổi để có thể nhớ lại một lần khác, thật ra là hai lần khác.

Đầu tiên khi còn là một cậu bé lớn lên trước Công đồng Vatican II, việc liên lạc giữa các kitô hữu không phải là công giáo la mã với nhau là chuyện cấm kỵ. Chuyện này không thể có. Một người không theo quy tắc có thể dám liều, nhưng họ sẽ được nhắc nhở nếu chuyện này được biết đến. Rồi mọi sự đã thay đổi. Trong những năm sứ vụ đầu tiên, tôi làm việc ở nhiều giáo phận và trong các dịp đặc biệt như đám cưới, đám tang, các buổi gặp mặt giữa các giáo hội thì việc liên lạc với nhau là phổ biến, ngay cả còn được khuyến khích. Là linh mục chủ sự trong các buổi gặp gỡ này, trong tinh thần tích cực, tôi được phép mời những người không công giáo nhận bí tích Thánh Thể, trong chừng mực đức tin riêng và cảm nhận của họ cho phép.

Rồi thời gian đó đã kết thúc. Trong vòng mười năm, vào giữa những năm 1990, những người trong chúng tôi chủ sự các buổi lễ công giáo la mã được yêu cầu không được mời các người công giáo không theo la mã nhận bí tích Thánh Thể dù trong bất cứ dịp nào. Lý do đưa ra, bí tích Thánh Thể giữa tín hữu chúng ta là một hành vi mật thiết, chúng ta chỉ có thể chia sẻ với nhau, và sự chia sẻ mật thiết này, cũng như trong hôn nhân là phải trung thực và có ý nghĩa, đòi hỏi chúng ta phải hiệp thông với nhau; các khác biệt về giáo điều, giáo hội học, về một số vấn đề đạo đức đơn giản là chúng ta không hiệp thông trọn vẹn. Hơn nữa, lập luận cho rằng nỗi đau không thể nhận được sự hiệp thông với các giáo hội khác sẽ là động lực thúc đẩy chúng ta cố gắng hơn nữa để cùng nhau học hỏi chung quanh giáo điều, giáo hội và đạo đức của chúng ta.

Vậy cần phải nói thêm gì về điều này? Trước hết, đó là sự thật và nó có giá trị của nó, ngoại trừ một ý tưởng được gợi ra, phải loại ra khỏi lập luận và phải được xem xét kỹ lưỡng, cụ thể là phải hiểu khái niệm chúng ta chưa hiệp thông đủ với người khác để chia sẻ bí tích Thánh Thể vì các khác biệt về giáo điều, giáo hội học và một số vấn đề đạo đức.

Là tín hữu kitô, hiệp thông với nhau trong đức tin có nghĩa là gì, ít nhất là đủ hiệp thông để nhận bí tích Thánh Thể ở bàn của người khác? Điều gì tạo nên sự mật thiết đích thực trong đức tin?

Về mặt thần học, rõ ràng bí tích rửa tội làm cho chúng ta cùng ở trong một gia đình. Tất cả tín hữu kitô đều nắm vững điều này và cả Tin Mừng. Thánh Phaolô thừa nhận thêm một phẩm chất liên quan đến việc rước lễ. Tuy nhiên ngoài vấn đề thần học, còn có vấn đề về giáo hội học: nếu cộng đồng kitô hữu chúng ta chia sẻ với nhau qua phép rửa tội, thì chúng ta thuộc về các giáo hội khác nhau và các gia đình sẽ có khuynh hướng ăn riêng trong nhà của họ. Đúng thêm một lần nữa. Nhưng sau đó một câu hỏi khác được đặt ra: khi nào thì chúng ta ăn ở một gia đình khác và khi nào thì không?

Câu hỏi sâu sắc hơn cần đặt ra là, điều gì tạo nên được sự mật thiết trong đức tin và điều gì tạo nên sự mật thiết để biện minh cho việc cùng nhận bí tích Thánh Thể chung, trước hết, không phải là sự liên kết trong giáo điều hay trong giáo hội nhưng trong sự hiệp nhất với Thần Khí. Điều gì làm cho tín hữu kitô chúng ta hiệp nhất? Khi nào chúng ta là một gia đình trong đức tin?

Có lẽ không có bản văn nào rõ hơn là chương 5 của thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Ga-lát. Ngài bắt đầu bằng cách nói cái gì làm cho chúng ta không ở trong đơn vị hiệp nhất trong Chúa Thánh Thần. Chúng ta không sống trong Thần Khí cũng không kết hiệp với nhau, nếu chúng ta sống trong xung đột, ghen tương, giận hờn, cãi vã, bất đồng, phe phái, ghen tị, thờ ngẫu tượng, theo phù thủy hoặc ngoại tình. Đó là những dấu hiệu không thể sai lầm làm cho chúng ta không hiệp thông với nhau. Nhưng nếu chúng ta sống hiệp thông đích thực, mật thiết trong đức tin, trong cùng một gia đình thì khi đó chúng ta sống trong niềm vui, đức ái, kiên nhẫn, tốt lành, đau khổ, trung thành, dịu dàng và khiết tịnh. Sống bên trong những điều này là những gì tạo nên sự hiệp thông kitô giáo, tạo thành một đơn vị, tạo tình mật thiết với nhau. Các khác biệt về một vài vấn đề liên quan đến giáo điều, giáo hội và đạo đức trên thực tế chỉ là thứ yếu. Điều quan trọng nhất là liệu quả tim chúng ta có đầy lòng bác ái hay giận dữ, tốt lành hay bè phái, bình an hay xung đột, thiếu kiên nhẫn hay khiết tịnh. Chúng ta hiệp thông nhiều hơn, kết hiệp trong đức tin nhiều hơn với người khác giáo phái nhưng có quả tim được nung nấu bởi đức ái, có lòng kiên nhẫn, có lòng tốt hơn là với người trong cùng giáo hội nhưng họ có quả tim giận dữ, ghen tị và phán xét. Sự khác biệt về giáo hội không phải là tiêu chí thực sự.

Đạo đức nào tạo nên sự mật thiết biện minh cho việc rước lễ liên hiệp thông? Tôi không phải là giám mục và quyết định mục vụ về vấn đề này không thuộc thẩm quyền của tôi. Là người con trung thành với giáo hội, tôi tin tưởng Chúa Thánh Thần hoạt động qua những người, qua các văn phòng được ủy thác để đưa ra quyết định này. Tuy nhiên là thần học gia, tôi cũng có một nhiệm vụ phải làm. Công việc của tôi là xem xét các vấn đề này và mang đến các tài liệu thần học và Thánh Kinh.

Rachel Held Evans, 1981-2019

Không có cộng đồng được xem thường cái chết. Sử gia Mircea Eliade đã viết những lời này như lời cảnh báo: Nếu chúng ta không tôn vinh đúng đắn cuộc sống của người vừa từ giã chúng ta thì chúng ta đối xử bất công với người đó và lừa dối chính mình về món quà mà người đó để lại.

Trong tinh thần này, tôi muốn nhấn mạnh đến sự mất mát mà cộng đoàn kitô giáo chúng ta, dù ở danh xưng nào đã phải chịu thiệt thòi trước cái chết của cô Rachel Held Evans, qua đời ngày 4 tháng 5, 2019 ở tuổi 37.

Cô Rachel Held Evans là ai? Cô thách thức mọi định nghĩa sơ sài, ngoài việc nói cô là một nhà văn tôn giáo trẻ, viết sâu sắc và cân bằng dù cô còn trẻ, cô còn là người kể các khó khăn đi từ đức tin sâu đậm, chân thành và trẻ con trong đó cô được nuôi dạy, để cuối cùng đặt các câu hỏi trưởng thành hơn, một đức tin bây giờ sẵn sàng đối diện với các câu hỏi khó khăn của đức tin, của tôn giáo và của giáo hội. Và trong cuộc hành trình này, cô đã vấp phải sự chống đối từ bên trong (rất khó để can đảm dò tìm gốc rễ sâu xa của mình) và từ bên ngoài (chung chung các giáo hội thường không thích bị thúc ép bởi các câu hỏi khó khăn, đặc biệt từ những người trẻ của mình). Nhưng hành trình cô thực hiện và nói lên (với một sự trung thực và hóm hỉnh hiếm có) là tiến trình mà tất cả chúng ta, người trẻ cũng như người không còn trẻ đều phải thực hiện để có một đức tin có thể đứng vững trước các câu hỏi khó khăn của thế giới, các câu hỏi khó khăn nhất trong tâm hồn chúng ta.

Tâm lý gia Carl Rogers đã từng nói: “Điều gì riêng tư nhất cũng chính là điều phổ quát nhất”. Hành trình của cô Rachel Held Evans bắt nguồn từ cuộc sống của chính cô, và theo tôi, đó là hành trình phổ quát ngày nay, có nghĩa là đức tin ngây thơ của tuổi thơ chúng ta, chắc chắn sẽ không tránh được các thử thách, các câu hỏi và các chế giễu ở tuổi trưởng thành, điều này đòi hỏi chúng ta phải có câu trả lời vượt ra ngoài các bài giáo lý ngày chúa nhật thời thanh xuân. Trong số các câu hỏi và các thách thức, ít quan trọng nhất là các câu hỏi về giáo hội, biện minh cho việc thuộc về, nhưng quan trọng là các câu hỏi đầy tràn trong giáo hội về bất tín, đầu óc hẹp hòi, thái độ phán xét, miễn cưỡng đối diện với các nghi ngờ, cám dỗ triền miên muốn đưa Tin Mừng vào các đảng phái chính trị mình ưa thích, vào hệ tư tưởng của mình.

Cô Rachel Held Evans đã đấu tranh để thực hiện cuộc hành trình từ tuổi thơ với tất cả sự ngây thơ và kỳ diệu của mình, chúng ta có thể gặp ông già Noel, con thỏ Phục Sinh và các câu chuyện Thánh Kinh mà triết gia Paul Ricouer gọi đó là “ngây thơ thứ nhì”, một tương tác đau đớn giữa nghi ngờ và đức tin, chúng ta có thể làm việc thông qua sự tinh tế liên quan đến tuổi trưởng thành để rồi nuối tiếc sự hồn nhiên và điều kỳ diệu (và đức tin) của tuổi thơ trên cơ sở nghiêm túc giữa nghi ngờ và vỡ mộng luôn dày vò khi chúng ta đối diện với tuổi trưởng thành.

Triết gia người Ai-Len John Moriarty, mà câu chuyện thiêng liêng diễn ra cùng chiều với cô Rachel, ông thường dùng một thành ngữ rất hay để mô tả những gì xảy ra với ông. Đến một lúc trong hành trình thiêng liêng của mình, ông viết: “Tôi rớt đài với câu chuyện của tôi”. Đạo công giáo la mã mà ông được nuôi dạy không còn là đạo mà từ đó ông có thể sống suốt đời. Cuối cùng sau khi giải quyết một số câu hỏi khó khăn, ông nhận ra đức tin của tuổi thanh xuân là “tiếng mẹ đẻ”, ông tìm lại con đường trở về trong câu chuyện thiêng liêng của mình.

Câu chuyện của cô Rachel Held Evans cũng giống như vậy. Được nuôi dạy ở miền Nam nước Mỹ với Thánh Kinh, với một Giáo hội tin lành vững mạnh, cô cũng phải đối diện với các câu hỏi ở tuổi trung thành, cũng nửa đường biến mất như câu chuyện của triết gia Moriarty và rồi cuối cùng cũng quay trở lại, ít nhất là về cơ bản.

Cuối cùng, cô tìm được con đường về với đức tin trưởng thành (đức tin có thể đương đầu được với các nghi ngờ), tìm thấy nhà thờ (Anh giáo) nơi cô đến thờ phượng để tìm về con đường tiếng mẹ đẻ của mình. Cô viết, giáo hội và đức tin tuổi thơ vẫn ở trong cuộc sống như người bạn trai ngày xưa… Dù bây giờ không còn ở chung với nhau như cách ngày xưa, nhưng rồi mỗi ngày bạn cũng vào Facebook để xem chuyện gì xảy ra trong cuộc sống anh ấy.

Tôi nghĩ có thể nhiều người công giáo la mã và tin lành không biết nhiều về cô Rachel Held Evans hay đã đọc các sách của cô. Cô đã viết bốn quyển sách bán chạy, Cảm hứng (Inspired), Tìm gì cho ngày chúa nhật (Searching for Sunday), Một năm Kinh Thánh của Nữ tính (A Year of Biblical Womanhood), và Đức tin được làm sáng tỏ (Faith Unraveled). Mục đích chính của bài viết này khá đơn giản: xin quý vị độc giả đọc các sách này! Nhưng quan trọng hơn là giới thiệu các sách này cho những người đang chiến đấu với đức tin hay với giáo hội: những người thân, con cái, vợ chồng, người trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp.

Cô Rachel Held Evans xuất thân từ truyền thống giáo hội tin lành và đặc biệt là tinh thần môn đệ Chúa Kitô. Cô và tôi thuộc các giáo phái rất khác nhau. Nhưng, là linh mục công giáo la mã, gắn kết sâu đậm với truyền thống tôi được lớn lên, là thần học gia, là văn sĩ viết các đề tài thiêng liêng từ hơn 40 năm nay, khi đọc các sách của cô Rachel Held Evans, tôi không thấy một hàng nào mà tôi bất đồng với cô. Thức ăn tinh thần của cô đáng tin tưởng. Cô là một người đặc biệt mà chúng ta mất cô quá sớm.

Đức tin, Sợ hãi và Cái chết

Một người lính thường chết không sợ; Chúa Giêsu chết hãi sợ. Nữ văn sĩ triết gia Iris Murdoch đã viết câu này, tôi nghĩ nó giúp giải thích một quan niệm quá đơn giản mà chúng ta có về đức tin khi đứng trước cái chết.

Có một quan niệm phổ biến cho rằng nếu chúng ta có đức tin mạnh mẽ, chúng ta sẽ không sợ khi đứng trước cái chết, chúng ta bình tĩnh, yên tâm và thậm chí còn biết ơn vì chúng ta không có gì phải sợ Chúa hoặc sợ thế giới bên kia. Chúa Kitô đã chiến thắng cái chết. Cái chết đưa chúng ta lên thiên đàng. Vậy tại sao chúng ta phải sợ?

Trên thực tế, đây là trường hợp của đàn ông cũng như đàn bà, của những người tin cũng như không tin. Nhiều người ít sợ khi đối diện với cái chết. Tiểu sử của các thánh chứng minh điều này, và nhiều người trong chúng ta chứng kiến cái chết của những người sẽ không bao giờ được phong thánh, nhưng họ bình thản và không sợ khi đối diện với cái chết.

Vậy thì vì sao Chúa Giêsu lại sợ? Và gần như là như vậy. Ba trong số các Tin mừng mô tả Chúa Giêsu không được bình tâm nhiều giờ trước khi chết, Ngài đã đổ mồ hôi máu. Phúc Âm Thánh Mát-thêu đặc biệt mô tả giây phút đau đớn của Chúa Giêsu trước khi chết: Lạy Cha, Lạy Cha, sao Cha bỏ con! Phải nói gì thêm về điều này?

Linh mục Dòng Tên Michael Buckley ở California có một bài giảng nổi tiếng, ngài đưa ra sự tương phản trong cách đối diện cái chết của triết gia Socrate và của Chúa Giêsu. Kết luận của linh mục Buckley có thể làm chúng ta bối rối. Socrate dường như can đảm đối diện với cái chết hơn Chúa Giêsu.

Cũng như Chúa Giêsu, triết gia Socrate cũng bị kết án oan cho đến chết. Nhưng ông hoàn toàn không sợ, ông bình tĩnh đối diện với cái chết, nghĩ rằng người công chính không có gì phải sợ, kể cả sự phán xét của con người cũng như cái chết. Ông bình tĩnh nói chuyện với các môn sinh, nói cho họ biết ông không sợ, chúc lành cho họ rồi ông uống chén thuộc độc và chết.

Và Chúa Giêsu thì ngược lại: Những giờ trước khi chết, Ngài cảm thấy mình bị môn đệ phản bội, ngài đổ mồ hôi máu trong đau đớn, và chỉ vài phút trước khi chết, Ngài đau khổ khóc khi thấy mình bị bỏ rơi. Dĩ nhiên chúng ta biết, tiếng khóc bị bỏ rơi của Chúa Giêsu không phải là giây phút cuối cùng của Ngài. Sau giây phút lo lắng sợ hãi, Ngài đã phó linh hồn mình trong tay Đức Chúa Cha, rồi Ngài có được bình an, nhưng các giây phút trước đó, đã có lúc Ngài đau khổ tột độ, nghĩ mình bị Chúa Cha bỏ rơi.

Nếu không xem xét sự phức tạp bên trong của đức tin, các nghịch lý của nó, thì sẽ không có một ý nghĩa nào khi Chúa Giêsu là người vô tội và trung thành, lại đổ mồ hôi máu và kêu lên trong nỗi đau đớn bên trong khi phải đối diện với cái chết. Nhưng đức tin thực sự không phải lúc nào cũng giống như bên ngoài. Rất nhiều người, và thường là những người đặc biệt trung thành nhất, phải trải qua một thử thách mà các nhà thần nghiệm gọi là đêm tối tâm hồn.

Và đêm tối tâm hồn là gì? Đó là một thử thách của Chúa trong cuộc sống, chúng ta bàng hoàng và lo lắng, chúng ta không còn hình dung được sự hiện diện của Chúa cũng như cảm nhận Chúa yêu thương mình. Theo nghĩa cảm nhận bên trong, đây là cảm nhận của hoài nghi như người vô thần. Dù cố gắng, chúng ta không hình dung có sự hiện diện của Chúa, lại càng không nghĩ Chúa yêu thương mình. Tuy nhiên, như các nhà thần nghiệm nhấn mạnh và chính Chúa Giêsu làm chứng, đây không phải là mất đức tin, nhưng thực sự là một phương thức sâu sắc hơn của chính đức tin.

Cho đến bây giờ, trong đức tin chúng ta, chúng ta nối lại quan hệ với Chúa chủ yếu qua hình ảnh và cảm xúc. Nhưng hình ảnh và cảm xúc của chúng ta có về Chúa không phải là Chúa. Vì vậy, tại một số thời điểm, với một số người, nhưng không phải tất cả mọi người, Chúa lấy đi các hình ảnh và cảm xúc, để lại một khái niệm trống rỗng và cảm xúc khô khan, tước bỏ tất cả hình ảnh chúng ta đã tạo ra về Chúa. Trong khi trong thực tế, đây thực sự là một ánh sáng đè nặng, nhưng được cảm nhận như bóng tối, như nỗi thống khổ, sợ hãi và nghi ngờ.

Như thế chúng ta có thể chờ con đường đến với cái chết và cuộc gặp gỡ diện đối diện với Chúa cũng liên quan đến việc phá vỡ suy nghĩ và cảm nhận chúng ta có về Chúa qua nhiều cách. Và điều này sẽ mang lại sự nghi ngờ, bóng tối và sợ hãi cho cuộc sống chúng ta.

Linh mục Henri Nouwen đưa ra một bằng chứng mạnh mẽ khi ngài nói về cái chết của mẹ mình. Bà là người có đức tin sâu đậm, mỗi ngày bà cầu nguyện với Chúa: Xin cho con sống như Chúa và xin cho con chết như Chúa. Hiểu đức tin mẹ mình có cơ sở, cha Nouwen nghĩ bà sẽ bình thản và đối diện với cái chết mà không sợ. Nhưng bà đã lo âu tột cùng và hãi sợ trước cái chết làm cho cha Nouwen bối rối, cho đến khi cha nhận ra lời cầu nguyện của mẹ mình đã được nhận lời. Bà đã cầu nguyện được chết như Chúa Giêsu và bà đã được.

Một người lính thường chết không sợ; Chúa Giêsu chết hãi sợ. Và nghịch lý thay, nhiều người có đức tin cũng như vậy.

Đâu là nhà?

Trong nhiều năm tôi là Bề trên Tỉnh dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở miền Tây Canada, tôi cố gắng giữ một chân trong thế giới giảng dạy, tôi dạy lớp tối môn dẫn nhập vào thần học kitô giáo ở Đại học Saskatchewan mỗi tuần một lần và đã thu hút được nhiều sinh viên.

Một trong các bài đọc được chỉ định cho lớp này là quyển sách Chỉ có trái tim biết cách tìm ra: Ký ức quý giá cho giai đoạn yếu đức tin (Only the Heart Knows How to Find Them: Precious Memories for a Faithless Time) của giáo sư văn sĩ Christopher de Vinck. Quyển sách là một loạt các bài tự truyện tập trung phần lớn về gia đình và các quan hệ với vợ con của ông. Các bài viết mô tả tương quan giữa ông với vợ không thiếu phần lãng mạn mà còn rất khích lệ, ông đặt tình dục vào bối cảnh hôn nhân, an toàn và chung thủy.

Vào cuối học kỳ, một cô khoảng 30 tuổi đến nạp bài tiểu luận cho tôi, cô nói: “Đây là quyển sách hay nhất tôi chưa từng đọc. Trước đây tôi không có nhiều định hướng về đạo đức vì vậy tôi không chú tâm đến tâm hồn, tôi phóng khoáng về tình dục và sống theo hiện sinh. Tóm tắt, cơ bản tôi đã ngủ ở hai đầu bang Canada; nhưng bây giờ tôi biết tôi thực sự muốn gì, điều mà con người của tác giả có được. Tôi đang đi tìm chiếc giường hôn nhân!” Đôi mắt cô rưng rưng khi cô chia sẻ điều này.

Tôi đang đi tìm chiếc giường hôn nhân! Đó là hình ảnh rất đẹp cho cái mà quả tim gọi là nhà.

Xét cho cùng, nhà là gì? Có phải đó là bản sắc dân tộc, giới tính, quyền công dân, một ngôi nhà đâu đó, nơi chúng ta sinh ra hay đó là một chỗ trong quả tim?

Đó là một chỗ trong quả tim và chiếc giường hôn nhân mô tả đúng. Nhà là nơi mà mình cảm thấy thoải mái về mặt thể chất, tâm lý và đạo đức. Nhà là nơi chúng ta cảm thấy an toàn. Nhà là nơi trái tim chúng ta không cảm thấy lạc lõng, bị xâm phạm, bị ức hiếp, bị chê bai, bị coi thường, bị ở bên lề (dù đôi khi điều này xem như một chuyện hiển nhiên). Nhà là nơi mà mình không cần phải đi mới cảm thấy là mình. Nhà là nơi mình trọn vẹn là mình mà không cần phải giải thích mình như thế nào. Bạn cứ xem như bạn đang ở nhà bạn là câu nói chào mừng ‘xin bạn cứ tự nhiên’.

Có nhiều khái niệm khác nhau về nhà, người phụ nữ trẻ này ý thức được nhiều bài học, cô làm cho chúng ta hiểu quan điểm của chúng ta về tình yêu, về tình dục quý như thế nào. Một trong các vấn đề trong chuyện này là hình ảnh phổ biến của một hoài niệm đi tìm tâm hồn tri kỷ. Vấn đề ở đây thường do chúng ta nghĩ tâm hồn tri kỷ theo nghĩa rất lãng mạn. Nhưng, theo quyển sách của tác giả De Vinck, tìm tâm hồn tâm giao có liên quan đến việc đi tìm bình tâm về mặt đạo đức và an toàn tâm lý hơn là đi tìm chiếc giường hôn nhân một vợ một chồng như trong các tiểu thuyết lãng mạn. Còn về khả năng tình dục của chúng ta, điều ẩn sâu nhất bên trong khao khát tình ái là chúng ta mong muốn tìm được ai đó để đưa về nhà. Mọi tình dục mà từ đó bạn mang về nhà luôn là cái gì đó không mang lại điều bạn mong muốn nhất và, càng tốt nếu nó là loại thuốc bổ tạm thời làm cho bạn vẫn đi tìm một cái gì đó càng lúc càng thực tế hơn.

Cụm từ “Tôi đi tìm chiếc giường hôn nhân” cũng hàm chứa một vài yếu tố giúp chúng ta hiểu hơn các thể loại khác nhau của tình yêu, mê đắm và các cuốn hút kéo chúng ta rơi vào. Chung chung bản chất của phần lớn con người là lăng nhăng, có nghĩa là chúng ta có các trải nghiệm thu hút, mê đắm, yêu đương mãnh liệt đối với người khác, bất kể việc chúng ta bị thu hút ở người khác không cùng một chuyện như ở nhà. Chúng ta có thể yêu nhiều loại người khác nhau, nhưng tình yêu nào mới là tình yêu cho hôn nhân, cho một mái nhà? Hôn nhân và nhà được xây dựng trên một loại tình yêu đưa chúng ta về nhà, trên loại tình yêu mang lại cho chúng ta cảm nhận với người này, mình có thể mang về nhà và xây dựng một căn nhà.

Và, rõ ràng, khái niệm này không chỉ áp dụng cho một người chồng, một người vợ trong hôn nhân. Nó là hình ảnh cho những gì xây dựng lên căn nhà – cho tất cả mọi người, lập gia đình hay độc thân đều như nhau. Chiếc giường hôn nhân là ẩn dụ cho cái được đặt vào trọng tâm luân lý và tâm lý để có được thoải mái.

Thi sĩ T.S. Eliot đã viết: Nhà là nơi chúng ta bắt đầu. Nó cũng là nơi chúng ta muốn kết thúc. Khi sinh ra cha mẹ mang chúng ta về nhà. Đó là nơi chúng ta bắt đầu và cũng là nơi chúng ta thoải mái cho đến tuổi dậy thì buộc chúng ta phải đi tìm một mái ấm khác. Rất nhiều cạm bẫy có thể chờ đợi chúng ta trong cuộc tìm kiếm đó, nhưng nếu chúng ta lắng nghe lời khuyên sâu sắc tự bên trong tâm hồn mình, thì nỗi khao khát về nhà không kềm được này cũng giống như ‘ba vua’ theo ngôi sao đặc biệt tìm về máng cỏ và chúng ta sẽ tìm được chiếc giường hôn nhân, hay ít nhất chúng ta sẽ không tìm nó ở nơi không đúng chỗ.