RonRolheiser,OMI

Những kiểu gương thánh cần có

Simone Weil từng bình luận rằng thời nay, làm thánh không thôi thì không đủ, hay nói đúng hơn là “chúng ta phải có sự thánh thiện mà thời điểm hiện tại đòi hỏi.”

Chắc chắn bà đúng về tiền đề thứ hai, chúng ta cần các vị thánh với những nhân đức mang tiếng nói với thời đại.
Thời nay chúng ta cần dạng thánh nào? Người có thể cho chúng ta thấy cách thực sự tha thứ cho kẻ thù? Người có thể giúp chúng ta vượt lên chia rẽ cay đắng trong cộng đoàn và giáo hội? Người có thể đưa ra con đường để chúng ta đến với người nghèo? Người có thể dạy cho chúng ta cách cầu nguyện đích thực? Người có thể cho chúng ta cách tìm ra “ngày Sabbath” giữa muôn trùng bủa vây của hàng ngàn kênh truyền hình, hàng triệu blog, và hàng tỷ câu tweet? Một người có thể giúp chúng ta gìn giữ đức tin thời thơ ấu giữa những ngụy biện, phức tạp và chủ trương bất khả tri của cuộc sống trưởng thành? Người như Chúa Giêsu, có thể đi vào quán bar tình một đêm mà không phạm tội? Người có thể tỏa ra nhân tính trọn vẹn, dù cho khác biệt hẳn với mọi người nhờ đức tin? Người là nhà thần nghiệm nhưng lại có óc hài hước vô cùng? Người có thể vừa khiết tịnh vừa sống tình dục lành mạnh?

Danh sách này có thể dài thêm nữa. Chúng ta đang trong miền đất mới. Các vị thánh thời xưa không đối diện với những vấn đề của chúng ta ngày nay. Các vị có những con quỷ cần đánh gục riêng của họ, và sẽ không chê bai khinh rẻ những nỗ lực và những bất tín của chúng ta. Các vị biết cuộc đấu tranh của chúng ta, biết chúng ta đang ở miền đất mới với những con quỷ mới cần đánh gục và những nhân đức mới cần đạt được. Các vị thánh thời xưa, dĩ nhiên là các tấm gương của tinh thần môn đệ Kitô giáo, đã sống tinh thần Phúc Âm nhưng trong thời đại các ngài.

Vậy thời nay cần dạng thánh nào?

Chúng ta cần các vị thánh có thể tôn vinh sự thiện của thế giới khi tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta cần những người có thể cho chúng ta thấy cách nào để sống với đức tin thiết thực giữa một nền văn hóa nghĩ rằng đời này là đủ và những chuyện về Thiên Chúa cũng như đời sau là chuyện ngoài lề. Chúng ta cần những vị thánh có thể vững vàng với đức tin, chính chắn trước các ngụy biện của thế gian, với căn bệnh bồn chồn, với cái kiểu vĩ đại quá đáng, với những chuyện gây phân tâm tê liệt, và những cám dỗ ghê gớm của nó. Chúng ta cần những vị thánh có thể cảm thông với những người đã xa Giáo hội, trong khi vẫn không thỏa hiệp về nền tảng tôn giáo và đạo đức của mình. Chúng ta cần những vị thánh trẻ có thể khơi lại mãnh liệt hình ảnh tôn giáo về thế giới, như thánh Phanxicô và thánh Clara từng làm. Và chúng ta cần những vị thánh lớn tuổi, đã từng trải và có thể chỉ cho chúng ta cách đương đầu với những thách thức thời nay nhưng vẫn giữ vững đức tin thời thơ ấu.

Và chúng ta cần điều mà Sarah Coakley gọi là “những vị thánh gợi tình” những con người có thể đưa khiết tịnh và ái tình đến với nhau mà vẫn nói lên tầm quan trọng của cả hai. Chúng ta cần những vị thánh có thể làm gương cho chúng ta về sự tốt lành của tình dục, những người có thể vui mừng trong các vui thú của con người và tôn vinh vị thế mà Chúa đã ban cho nó trong hành trình thiêng liêng, không bao giờ bôi xấu nó bằng cách xem nó là đối chọi với thiêng liêng hoặc xem thường nó khi đơn giản hóa nó thành một dạng giải trí.

Rồi chúng ta cần những vị thánh có thể cảm thương giúp chúng ta thấy ra sự đồng lõa mù quáng của mình với đủ thứ hệ thống tác hại đến những người yếu đuối nhằm bảo vệ sự thoải mái, an toàn và đặc quyền đặc lợi lâu nay của ta. Chúng ta cần những vị thánh có thể nói lời ngôn sứ cho người nghèo, cho môi trường, cho phụ nữ, cho người tị nạn, cho những người không được tiếp cận đủ với y tế và giáo dục, và cho tất cả những ai bị kỳ thị vì chủng tộc, màu da, hay tín ngưỡng của họ. Chúng ta cần những vị thánh, những ngôn sứ cô đơn, những người có thể làm kẻ lạc loài, có thể đem lại hòa bình, và có thể chỉ cho chúng ta thấy hiện thực vượt ngoài tầm nhìn thiển cận của chúng ta.

Và những vị thánh này không cần được chính thức phong thánh, cuộc sống của họ đơn giản chỉ cần là ngọn đèn cho mắt chúng ta và men cho cuộc sống chúng ta. Tôi không biết các vị thánh thời nay của các bạn là ai, nhưng tôi đã tìm được cho mình rất nhiều người, với nhiều kiểu người khác nhau, già có trẻ có, Công giáo, Tin lành, phái Phúc âm, bảo thủ có tự do có, đi tu có ở đời có, đầy đức tin có hoặc theo thuyết bất khả tri cũng có. Nói đúng ra, danh mục tôi sẽ đề cập ở đây không phải là những người tôi biết tường tận về cuộc đời họ. Hầu hết, tôi chỉ biết qua những gì họ viết, nhưng những bài viết của họ là ngọn đèn soi đường cho tôi.

Trong những người thuộc thế hệ của tôi, tôi mang nợ Raymond E. Brown, Charles Taylor, Daniel Berrigan, Jean Vanier, Mary Jo Leddy, Henri Nouwen, Thomas Keating, Jim Wallis, Richard Rohr, Elizabeth Johnson, Parker Palmer, Barbara Brown Taylor, Wendy Wright, Gerhard Lohfink, Kathleen Dowling Singh, Jim Forest, John Shea, James Hillman, Thomas Moore, và Marilynne Robinson.

Còn trong những người trẻ hơn, với cuộc sống và các bài viết cũng đồng hưởng với một thế hệ trẻ hơn tôi, tôi muốn nhắc đến Shane Claiborne, Rachel Held Evans, James Martin, Kerry Weber, Trevor Herriot, Macy Halford, Robert Barron, Bryan Stevenson, Robert Ellsberg, Bieke Vandekerckhove, và Annie Riggs.

Có lẽ đây không phải là các vị thánh của các bạn, điều này cũng hợp lý thôi. Vậy thì xin các bạn tìm những người giúp soi đường cho mình.

Một quyển sách quan trọng

Mỗi năm, tôi viết một bài chia sẻ với độc giả tiêu đề và nội dung vắn tắt của mười quyển sách đánh động tôi trong năm. Tuy nhiên, đôi lúc, tôi đánh giá một quyển sách đủ xuất sắc để dành riêng một bài cho nó, đó là quyển sách mới của Robert Ellsberg, Phúc âm Sống – Đọc câu chuyện của Chúa trong Đời sống các thánh (A Living Gospel – Reading God’s Story in Holy Lives).

Robert Ellsberg là nhà xuất bản và tổng biên tập của Orbis Books, và với vai trò đó ông coi sóc việc in ấn một số tác phẩm thiêng liêng đầy tính thách thức cho thế hệ chúng ta. Ông còn biên tập các bài viết, nhật ký, và thư tín được chọn lọc của Dorothy Day, người mà ông được vinh hạnh ở cùng cộng đồng trong năm năm cuối đời của bà. Nhưng không chỉ xuất bản suy tư của người khác, Ellsberg còn lặng lẽ tạo nên một kho báu lớn lao với những bài viết về cuộc sống của các thánh. Ông có ba quyển sách lớn về cuộc đời của các thánh, “Các Thánh, All Saints”, “Hướng dẫn để Hạnh phúc của các Thánh, The Saints’ Guide to Happiness” và “Phúc thay giữa các phụ nữ, Blessed Among Women” và mỗi ngày ông viết một bài về cuộc đời của một vị thánh cho tập sách nhỏ “Cho chúng ta ngày hôm nay, Give Us This Day”

Ellsberg về cơ bản có thể được gọi là người viết hạnh các thánh, người viết lại đời sống của các ngài để làm nguồn hứng khởi cho chúng ta. Bất kỳ ai có một chút hiểu biết về linh đạo Kitô giáo đều biết tầm quan trọng của công việc này. Chính các Phúc âm cũng có thể được xem là hạnh các thánh vì đời sống Chúa Giêsu làm cho chúng ta hứng khởi và noi gương Ngài. Rồi thời giáo hội sơ khai, chúng ta có nhiều vị thánh tử đạo, và rất nhiều vị thánh xuất hiện trong thời trung cổ, thời hiện đại và cho đến tận bây giờ. Chúng ta đều được nghe về chuyện các thánh.

Tôi nghĩ nhiều người biết về quyển Hạnh Các Thánh, dài bốn tập rất kinh điển của Alban Butler. Các tiểu sử nhỏ này được phát hành từ 200 năm trước, tác giả dùng lối hành văn thời đó để viết về cuộc sống của các thánh. Lối hành này về căn bản phần nào bóp méo hiện thực để nêu bật bản chất, và điều này thường làm cho độc giả có ấn tượng các thánh được mô tả trong sách hoàn toàn không bị yếu đuối, không bị hạn chế do khả năng bình thường của con người. Thời đại của chúng ta không còn hiểu theo kiểu đó, và vì thế chúng ta cần có một dòng hạnh các thánh mới đem lại được bản chất mà không phải hy sinh đi phần hiện thực. Robert Ellsberg là người viết hạnh các thánh theo kiểu đó, và thời nay chúng ta cần đến hạnh các thánh.

Hồi tôi còn nhỏ, cuộc đời các thánh là một trong nhiều cách chủ yếu để dạy linh đạo. Tất cả chúng ta ai cũng có thánh bổn mạng, mỗi thành phố, mỗi giáo xứ đều có thánh bổn mạng riêng của mình, chúng ta đều đọc đời sống các thánh và có được hứng khởi để vươn đến các lý tưởng cao đẹp hơn nhờ các tấm gương như tấm gương của thánh Tarcisius đã bị ném đá đến chết vì bảo vệ Mình Thánh Chúa, như Maria Goretti sẵn sàng chết còn hơn để mất sự trong sạch, như thánh George nhờ sức mạnh đức tin mà có thể hạ gục con rồng, và như thánh Christopher với đôi mắt tiên liệu có thể giữ gìn chúng ta trên đường đời.

Dĩ nhiên, khi nhìn lại, bây giờ chúng ta có thể thấy các tác giả khi viết các mẫu chuyện này thường tự ý thay đổi các sự kiện lịch sử nhằm nêu bận vấn đề mấu chốt. Thật vậy, cả thánh George và thánh Christopher có vẻ như thiên về chuyện thần thoại hơn là chuyện thật. Dù sao đi nữa, các câu chuyện đó, cũng như chuyện về các vị thánh khác đã hướng đôi mắt chúng ta cao lên hơn một chút, cho chúng ta thêm chút can đảm, thêm chút mẫu gương sống của tinh thần môn đệ Kitô hữu, và giúp chúng ta hướng lòng về những gì cao đẹp hơn.

Ngày nay, chúng ta có một phiên bản khác về cuộc đời các thánh. “Người giàu có, nổi tiếng, và thành công” đã thay thế hẳn các thánh thời xưa. Quyển Hạnh các thánh của Butler đã bị thay thế bởi People Magazine, các quyển tiểu sử, các chương trình truyền hình, các website và hình ảnh về cuộc sống của những người giàu có và nổi tiếng. Và những cuộc sống này, dù có tốt lành như chúng ta thường thấy, lại không hẳn hướng đôi mắt và tâm hồn chúng ta về cùng một hướng như những gì mà cuộc đời của các thánh đã làm. Trong một nền văn hóa thần tượng hóa sự nổi tiếng, chúng ta cần những người nổi tiếng khác để khiến họ phải ghen tị. Robert Ellsberg đang đưa ra các người này.

Trong quyển này, Ellsberg thuật lại cuộc sống của bốn vị “thánh” đương thời, Dorothy Day, Thomas Merton, Henri Nouwen, và Charles de Foucault (chưa ai trong số các vị này được phong thánh). Nhưng ông tin rằng cuộc sống của họ có thể giúp chúng ta hình dung được theo Chúa Giêsu là như thế nào, giữa những phức tạp của thế hệ chúng ta.

Và điều này cũng đúng với Giáo hội. Khi nói về cuộc sống của Charles de Foucauld, Ellsberg viết: “Trong một thời đại mà Kitô giáo không còn đồng nghĩa với sự vươn ra của nền văn minh phương Tây và quyền lực thực dân, thì chứng tá của Foucauld – nghèo, không vũ trang, trần trụi mọi sự, không dựa vào thẩm quyền nào khác ngoài uy lực của tình yêu – hẳn là đại diện cho tương lai của Giáo hội, một Giáo hội bắt rễ trong ký ức về nguồn gốc và đấng sáng lập nghèo khó của mình.”

Các vị thánh có gì đó cho tất cả mọi người!

Mất thiên đàng và nỗi sợ hỏa ngục

Là người công giáo la mã, như phần lớn thế hệ của tôi, chúng tôi học Kinh ăn năn tội. Kinh ăn năn tội của tôi hồi đó như sau: … Lạy Chúa, con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, con lo buồn đau đớn cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự, vì con sợ mất thiên đàng và các đau đớn của hỏa ngục…

Sợ mất thiên đàng và các đau đớn của hỏa ngục có vẻ như cùng một chuyện. Nhưng không phải. Có một khoảng cách đạo đức rất lớn giữa sợ mất thiên đàng và sợ đau đớn của hỏa ngục. Lời cầu nguyện khôn ngoan sẽ ngăn cách được chuyện này. Sợ hỏa ngục dựa trên sợ bị hình phạt; sợ mất thiên đàng dựa trên sợ không phải là người tốt, người được yêu thương. Có một khác biệt rất lớn giữa nỗi sợ hình phạt và sợ không được yêu thương. Chúng ta sẽ trưởng thành hơn, nhân bản hơn và là tín hữu kitô tốt khi chúng ta sợ mình không được yêu thương hơn là khi sợ mình bị phạt vì làm một cái gì sai.

Lớn lên trong những năm 1950 và 1960, tôi hít thở linh đạo và giáo lý công giáo la mã thời đó. Vào thời mà đạo đức công giáo (về cơ bản thì giống với người tin lành và cơ đốc) nhấn mạnh về cánh chung, nghiêng nặng về việc sợ xuống hỏa ngục hơn là sợ không phải là người được yêu thương. Là đứa bé công giáo, cùng với các bạn tôi, tôi rất lo mình phạm tội trọng, có nghĩa làm một cái gì vì ích kỷ, vì yếu đuối mà chưa xưng tội trước khi chết sẽ nhốt tôi vào địa ngục đời đời. Tôi sợ xuống hỏa ngục hơn là sợ mình không phải là người được yêu thương, người bỏ lỡ tình yêu và cộng đồng. Vì thế tôi lo mình là người xấu chứ không lo mình là người không tốt. Tôi sợ làm một cái gì phạm tội trọng bị xuống hỏa ngục; nhưng tôi không lo mình không có quả tim đủ lớn để yêu thương Chúa như Chúa đã yêu thương tôi. Tôi cũng không lo nhiều về việc tha thứ cho người khác, buông bỏ các tổn thương, yêu thương người khác mình, không lo về việc phán xét, thiên vị, kỳ thị, phân biệt giới tính, bè phái quốc gia, hay hẹp hòi trong quan điểm tôn giáo sẽ làm cho mình không thoải mái khi ngồi cùng bàn với người khác trong bàn tiệc của Chúa.

Bàn tiệc thiên đàng mở ra cho tất cả những ai sẵn sàng ngồi xuống với mọi người. Đó là câu thơ của thi sĩ John Shea, người nói ra một cách cô đọng và tôi nghĩ, đó là điều kiện không thể thương lượng để lên thiên đàng, cụ thể là có quyết tâm và có khả năng yêu thương mọi người, ngồi với mọi người. Điều kiện không thể thương lượng vì: Làm thế nào chúng ta có thể ngồi vào bàn tiệc thiên đàng với mọi người nếu vì lý do nào đó chúng ta còn kiêu ngạo, tổn thương, còn tính khí cay đắng, cố chấp, bè phái chính trị, quốc gia, bè phái màu da, chủng tộc, tôn giáo hoặc lịch sử, chúng ta không mở ra để ngồi xuống với mọi người sao?

Chúa Giêsu cũng dạy điều này nhưng theo một cách khác. Sau khi truyền cho chúng ta Kinh Lạy Cha kết thúc với câu “và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, Ngài nói thêm: “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.” Vì sao Chúa không thể tha lỗi cho chúng ta nếu chúng ta không tha lỗi cho người anh em? Có phải Chúa tùy tiện chọn điều kiện duy nhất làm tiêu chuẩn để lên thiên đàng đó không? Không.

Chúng ta không thể ngồi bàn tiệc trên trời nếu chúng ta vẫn luôn muốn biết mình sẽ ngồi với ai. Nếu, ở đời sau, cũng như ở đời này, chúng ta chọn người để ôm, để yêu thương thì ở thiên đàng cũng giống như ở dưới đất, cũng sẽ có phe phái, cay đắng, hận thù, tổn thương và tất cả các loại phân biệt chủng tộc, giới tính, bè phái quốc gia, bè phái tôn giáo giữ chúng ta trong các ô riêng biệt. Chúng ta không thể ngồi bàn tiệc trên trời khi quả tim chúng ta không đủ lớn để ôm các người khác ngồi chung bàn. Thiên đàng đòi hỏi chúng ta có quả tim rộng mở để ôm mọi người.

Và vì vậy khi già đi, khi đến gần cuối đời và sẵn sàng đối diện với Đấng sinh ra mình, tôi càng ít lo về việc mình xuống hỏa ngục, nhưng ngày càng lo về sự giận dữ, cay đắng, vô ơn, không tôn trọng, không tha thứ vẫn còn trong lòng tôi. Tôi ít lo về việc phạm tội trọng hơn là việc liệu tôi có đủ lòng thương xót, tôn trọng và tha thứ cho người khác không. Tôi lo lắng về sự mất thiên đàng hơn là nỗi đau của hỏa ngục, có nghĩa là cuối cùng tôi như người anh cả trong câu chuyện người con hoang đàng trở về, khi đứng bên ngoài căn nhà của Người Cha, bị loại ra ngoài vì giận dữ chứ không phải vì tội.

Dù sao tôi vẫn biết ơn hành vi ăn năn trong tuổi thanh xuân của tôi. Nỗi sợ địa ngục không phải là một chuyện xấu để bắt đầu.

Điều gì tạo nên sự hiệp thông kitô giáo?

Vấn đề quan hệ qua về giữa các giáo hội chúng ta ngày nay là một vấn đề quan trọng, quan trọng và đau đớn. Tôi khá lớn tuổi để có thể nhớ lại một lần khác, thật ra là hai lần khác.

Đầu tiên khi còn là một cậu bé lớn lên trước Công đồng Vatican II, việc liên lạc giữa các kitô hữu không phải là công giáo la mã với nhau là chuyện cấm kỵ. Chuyện này không thể có. Một người không theo quy tắc có thể dám liều, nhưng họ sẽ được nhắc nhở nếu chuyện này được biết đến. Rồi mọi sự đã thay đổi. Trong những năm sứ vụ đầu tiên, tôi làm việc ở nhiều giáo phận và trong các dịp đặc biệt như đám cưới, đám tang, các buổi gặp mặt giữa các giáo hội thì việc liên lạc với nhau là phổ biến, ngay cả còn được khuyến khích. Là linh mục chủ sự trong các buổi gặp gỡ này, trong tinh thần tích cực, tôi được phép mời những người không công giáo nhận bí tích Thánh Thể, trong chừng mực đức tin riêng và cảm nhận của họ cho phép.

Rồi thời gian đó đã kết thúc. Trong vòng mười năm, vào giữa những năm 1990, những người trong chúng tôi chủ sự các buổi lễ công giáo la mã được yêu cầu không được mời các người công giáo không theo la mã nhận bí tích Thánh Thể dù trong bất cứ dịp nào. Lý do đưa ra, bí tích Thánh Thể giữa tín hữu chúng ta là một hành vi mật thiết, chúng ta chỉ có thể chia sẻ với nhau, và sự chia sẻ mật thiết này, cũng như trong hôn nhân là phải trung thực và có ý nghĩa, đòi hỏi chúng ta phải hiệp thông với nhau; các khác biệt về giáo điều, giáo hội học, về một số vấn đề đạo đức đơn giản là chúng ta không hiệp thông trọn vẹn. Hơn nữa, lập luận cho rằng nỗi đau không thể nhận được sự hiệp thông với các giáo hội khác sẽ là động lực thúc đẩy chúng ta cố gắng hơn nữa để cùng nhau học hỏi chung quanh giáo điều, giáo hội và đạo đức của chúng ta.

Vậy cần phải nói thêm gì về điều này? Trước hết, đó là sự thật và nó có giá trị của nó, ngoại trừ một ý tưởng được gợi ra, phải loại ra khỏi lập luận và phải được xem xét kỹ lưỡng, cụ thể là phải hiểu khái niệm chúng ta chưa hiệp thông đủ với người khác để chia sẻ bí tích Thánh Thể vì các khác biệt về giáo điều, giáo hội học và một số vấn đề đạo đức.

Là tín hữu kitô, hiệp thông với nhau trong đức tin có nghĩa là gì, ít nhất là đủ hiệp thông để nhận bí tích Thánh Thể ở bàn của người khác? Điều gì tạo nên sự mật thiết đích thực trong đức tin?

Về mặt thần học, rõ ràng bí tích rửa tội làm cho chúng ta cùng ở trong một gia đình. Tất cả tín hữu kitô đều nắm vững điều này và cả Tin Mừng. Thánh Phaolô thừa nhận thêm một phẩm chất liên quan đến việc rước lễ. Tuy nhiên ngoài vấn đề thần học, còn có vấn đề về giáo hội học: nếu cộng đồng kitô hữu chúng ta chia sẻ với nhau qua phép rửa tội, thì chúng ta thuộc về các giáo hội khác nhau và các gia đình sẽ có khuynh hướng ăn riêng trong nhà của họ. Đúng thêm một lần nữa. Nhưng sau đó một câu hỏi khác được đặt ra: khi nào thì chúng ta ăn ở một gia đình khác và khi nào thì không?

Câu hỏi sâu sắc hơn cần đặt ra là, điều gì tạo nên được sự mật thiết trong đức tin và điều gì tạo nên sự mật thiết để biện minh cho việc cùng nhận bí tích Thánh Thể chung, trước hết, không phải là sự liên kết trong giáo điều hay trong giáo hội nhưng trong sự hiệp nhất với Thần Khí. Điều gì làm cho tín hữu kitô chúng ta hiệp nhất? Khi nào chúng ta là một gia đình trong đức tin?

Có lẽ không có bản văn nào rõ hơn là chương 5 của thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Ga-lát. Ngài bắt đầu bằng cách nói cái gì làm cho chúng ta không ở trong đơn vị hiệp nhất trong Chúa Thánh Thần. Chúng ta không sống trong Thần Khí cũng không kết hiệp với nhau, nếu chúng ta sống trong xung đột, ghen tương, giận hờn, cãi vã, bất đồng, phe phái, ghen tị, thờ ngẫu tượng, theo phù thủy hoặc ngoại tình. Đó là những dấu hiệu không thể sai lầm làm cho chúng ta không hiệp thông với nhau. Nhưng nếu chúng ta sống hiệp thông đích thực, mật thiết trong đức tin, trong cùng một gia đình thì khi đó chúng ta sống trong niềm vui, đức ái, kiên nhẫn, tốt lành, đau khổ, trung thành, dịu dàng và khiết tịnh. Sống bên trong những điều này là những gì tạo nên sự hiệp thông kitô giáo, tạo thành một đơn vị, tạo tình mật thiết với nhau. Các khác biệt về một vài vấn đề liên quan đến giáo điều, giáo hội và đạo đức trên thực tế chỉ là thứ yếu. Điều quan trọng nhất là liệu quả tim chúng ta có đầy lòng bác ái hay giận dữ, tốt lành hay bè phái, bình an hay xung đột, thiếu kiên nhẫn hay khiết tịnh. Chúng ta hiệp thông nhiều hơn, kết hiệp trong đức tin nhiều hơn với người khác giáo phái nhưng có quả tim được nung nấu bởi đức ái, có lòng kiên nhẫn, có lòng tốt hơn là với người trong cùng giáo hội nhưng họ có quả tim giận dữ, ghen tị và phán xét. Sự khác biệt về giáo hội không phải là tiêu chí thực sự.

Đạo đức nào tạo nên sự mật thiết biện minh cho việc rước lễ liên hiệp thông? Tôi không phải là giám mục và quyết định mục vụ về vấn đề này không thuộc thẩm quyền của tôi. Là người con trung thành với giáo hội, tôi tin tưởng Chúa Thánh Thần hoạt động qua những người, qua các văn phòng được ủy thác để đưa ra quyết định này. Tuy nhiên là thần học gia, tôi cũng có một nhiệm vụ phải làm. Công việc của tôi là xem xét các vấn đề này và mang đến các tài liệu thần học và Thánh Kinh.

Rachel Held Evans, 1981-2019

Không có cộng đồng được xem thường cái chết. Sử gia Mircea Eliade đã viết những lời này như lời cảnh báo: Nếu chúng ta không tôn vinh đúng đắn cuộc sống của người vừa từ giã chúng ta thì chúng ta đối xử bất công với người đó và lừa dối chính mình về món quà mà người đó để lại.

Trong tinh thần này, tôi muốn nhấn mạnh đến sự mất mát mà cộng đoàn kitô giáo chúng ta, dù ở danh xưng nào đã phải chịu thiệt thòi trước cái chết của cô Rachel Held Evans, qua đời ngày 4 tháng 5, 2019 ở tuổi 37.

Cô Rachel Held Evans là ai? Cô thách thức mọi định nghĩa sơ sài, ngoài việc nói cô là một nhà văn tôn giáo trẻ, viết sâu sắc và cân bằng dù cô còn trẻ, cô còn là người kể các khó khăn đi từ đức tin sâu đậm, chân thành và trẻ con trong đó cô được nuôi dạy, để cuối cùng đặt các câu hỏi trưởng thành hơn, một đức tin bây giờ sẵn sàng đối diện với các câu hỏi khó khăn của đức tin, của tôn giáo và của giáo hội. Và trong cuộc hành trình này, cô đã vấp phải sự chống đối từ bên trong (rất khó để can đảm dò tìm gốc rễ sâu xa của mình) và từ bên ngoài (chung chung các giáo hội thường không thích bị thúc ép bởi các câu hỏi khó khăn, đặc biệt từ những người trẻ của mình). Nhưng hành trình cô thực hiện và nói lên (với một sự trung thực và hóm hỉnh hiếm có) là tiến trình mà tất cả chúng ta, người trẻ cũng như người không còn trẻ đều phải thực hiện để có một đức tin có thể đứng vững trước các câu hỏi khó khăn của thế giới, các câu hỏi khó khăn nhất trong tâm hồn chúng ta.

Tâm lý gia Carl Rogers đã từng nói: “Điều gì riêng tư nhất cũng chính là điều phổ quát nhất”. Hành trình của cô Rachel Held Evans bắt nguồn từ cuộc sống của chính cô, và theo tôi, đó là hành trình phổ quát ngày nay, có nghĩa là đức tin ngây thơ của tuổi thơ chúng ta, chắc chắn sẽ không tránh được các thử thách, các câu hỏi và các chế giễu ở tuổi trưởng thành, điều này đòi hỏi chúng ta phải có câu trả lời vượt ra ngoài các bài giáo lý ngày chúa nhật thời thanh xuân. Trong số các câu hỏi và các thách thức, ít quan trọng nhất là các câu hỏi về giáo hội, biện minh cho việc thuộc về, nhưng quan trọng là các câu hỏi đầy tràn trong giáo hội về bất tín, đầu óc hẹp hòi, thái độ phán xét, miễn cưỡng đối diện với các nghi ngờ, cám dỗ triền miên muốn đưa Tin Mừng vào các đảng phái chính trị mình ưa thích, vào hệ tư tưởng của mình.

Cô Rachel Held Evans đã đấu tranh để thực hiện cuộc hành trình từ tuổi thơ với tất cả sự ngây thơ và kỳ diệu của mình, chúng ta có thể gặp ông già Noel, con thỏ Phục Sinh và các câu chuyện Thánh Kinh mà triết gia Paul Ricouer gọi đó là “ngây thơ thứ nhì”, một tương tác đau đớn giữa nghi ngờ và đức tin, chúng ta có thể làm việc thông qua sự tinh tế liên quan đến tuổi trưởng thành để rồi nuối tiếc sự hồn nhiên và điều kỳ diệu (và đức tin) của tuổi thơ trên cơ sở nghiêm túc giữa nghi ngờ và vỡ mộng luôn dày vò khi chúng ta đối diện với tuổi trưởng thành.

Triết gia người Ai-Len John Moriarty, mà câu chuyện thiêng liêng diễn ra cùng chiều với cô Rachel, ông thường dùng một thành ngữ rất hay để mô tả những gì xảy ra với ông. Đến một lúc trong hành trình thiêng liêng của mình, ông viết: “Tôi rớt đài với câu chuyện của tôi”. Đạo công giáo la mã mà ông được nuôi dạy không còn là đạo mà từ đó ông có thể sống suốt đời. Cuối cùng sau khi giải quyết một số câu hỏi khó khăn, ông nhận ra đức tin của tuổi thanh xuân là “tiếng mẹ đẻ”, ông tìm lại con đường trở về trong câu chuyện thiêng liêng của mình.

Câu chuyện của cô Rachel Held Evans cũng giống như vậy. Được nuôi dạy ở miền Nam nước Mỹ với Thánh Kinh, với một Giáo hội tin lành vững mạnh, cô cũng phải đối diện với các câu hỏi ở tuổi trung thành, cũng nửa đường biến mất như câu chuyện của triết gia Moriarty và rồi cuối cùng cũng quay trở lại, ít nhất là về cơ bản.

Cuối cùng, cô tìm được con đường về với đức tin trưởng thành (đức tin có thể đương đầu được với các nghi ngờ), tìm thấy nhà thờ (Anh giáo) nơi cô đến thờ phượng để tìm về con đường tiếng mẹ đẻ của mình. Cô viết, giáo hội và đức tin tuổi thơ vẫn ở trong cuộc sống như người bạn trai ngày xưa… Dù bây giờ không còn ở chung với nhau như cách ngày xưa, nhưng rồi mỗi ngày bạn cũng vào Facebook để xem chuyện gì xảy ra trong cuộc sống anh ấy.

Tôi nghĩ có thể nhiều người công giáo la mã và tin lành không biết nhiều về cô Rachel Held Evans hay đã đọc các sách của cô. Cô đã viết bốn quyển sách bán chạy, Cảm hứng (Inspired), Tìm gì cho ngày chúa nhật (Searching for Sunday), Một năm Kinh Thánh của Nữ tính (A Year of Biblical Womanhood), và Đức tin được làm sáng tỏ (Faith Unraveled). Mục đích chính của bài viết này khá đơn giản: xin quý vị độc giả đọc các sách này! Nhưng quan trọng hơn là giới thiệu các sách này cho những người đang chiến đấu với đức tin hay với giáo hội: những người thân, con cái, vợ chồng, người trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp.

Cô Rachel Held Evans xuất thân từ truyền thống giáo hội tin lành và đặc biệt là tinh thần môn đệ Chúa Kitô. Cô và tôi thuộc các giáo phái rất khác nhau. Nhưng, là linh mục công giáo la mã, gắn kết sâu đậm với truyền thống tôi được lớn lên, là thần học gia, là văn sĩ viết các đề tài thiêng liêng từ hơn 40 năm nay, khi đọc các sách của cô Rachel Held Evans, tôi không thấy một hàng nào mà tôi bất đồng với cô. Thức ăn tinh thần của cô đáng tin tưởng. Cô là một người đặc biệt mà chúng ta mất cô quá sớm.

Đức tin, Sợ hãi và Cái chết

Một người lính thường chết không sợ; Chúa Giêsu chết hãi sợ. Nữ văn sĩ triết gia Iris Murdoch đã viết câu này, tôi nghĩ nó giúp giải thích một quan niệm quá đơn giản mà chúng ta có về đức tin khi đứng trước cái chết.

Có một quan niệm phổ biến cho rằng nếu chúng ta có đức tin mạnh mẽ, chúng ta sẽ không sợ khi đứng trước cái chết, chúng ta bình tĩnh, yên tâm và thậm chí còn biết ơn vì chúng ta không có gì phải sợ Chúa hoặc sợ thế giới bên kia. Chúa Kitô đã chiến thắng cái chết. Cái chết đưa chúng ta lên thiên đàng. Vậy tại sao chúng ta phải sợ?

Trên thực tế, đây là trường hợp của đàn ông cũng như đàn bà, của những người tin cũng như không tin. Nhiều người ít sợ khi đối diện với cái chết. Tiểu sử của các thánh chứng minh điều này, và nhiều người trong chúng ta chứng kiến cái chết của những người sẽ không bao giờ được phong thánh, nhưng họ bình thản và không sợ khi đối diện với cái chết.

Vậy thì vì sao Chúa Giêsu lại sợ? Và gần như là như vậy. Ba trong số các Tin mừng mô tả Chúa Giêsu không được bình tâm nhiều giờ trước khi chết, Ngài đã đổ mồ hôi máu. Phúc Âm Thánh Mát-thêu đặc biệt mô tả giây phút đau đớn của Chúa Giêsu trước khi chết: Lạy Cha, Lạy Cha, sao Cha bỏ con! Phải nói gì thêm về điều này?

Linh mục Dòng Tên Michael Buckley ở California có một bài giảng nổi tiếng, ngài đưa ra sự tương phản trong cách đối diện cái chết của triết gia Socrate và của Chúa Giêsu. Kết luận của linh mục Buckley có thể làm chúng ta bối rối. Socrate dường như can đảm đối diện với cái chết hơn Chúa Giêsu.

Cũng như Chúa Giêsu, triết gia Socrate cũng bị kết án oan cho đến chết. Nhưng ông hoàn toàn không sợ, ông bình tĩnh đối diện với cái chết, nghĩ rằng người công chính không có gì phải sợ, kể cả sự phán xét của con người cũng như cái chết. Ông bình tĩnh nói chuyện với các môn sinh, nói cho họ biết ông không sợ, chúc lành cho họ rồi ông uống chén thuộc độc và chết.

Và Chúa Giêsu thì ngược lại: Những giờ trước khi chết, Ngài cảm thấy mình bị môn đệ phản bội, ngài đổ mồ hôi máu trong đau đớn, và chỉ vài phút trước khi chết, Ngài đau khổ khóc khi thấy mình bị bỏ rơi. Dĩ nhiên chúng ta biết, tiếng khóc bị bỏ rơi của Chúa Giêsu không phải là giây phút cuối cùng của Ngài. Sau giây phút lo lắng sợ hãi, Ngài đã phó linh hồn mình trong tay Đức Chúa Cha, rồi Ngài có được bình an, nhưng các giây phút trước đó, đã có lúc Ngài đau khổ tột độ, nghĩ mình bị Chúa Cha bỏ rơi.

Nếu không xem xét sự phức tạp bên trong của đức tin, các nghịch lý của nó, thì sẽ không có một ý nghĩa nào khi Chúa Giêsu là người vô tội và trung thành, lại đổ mồ hôi máu và kêu lên trong nỗi đau đớn bên trong khi phải đối diện với cái chết. Nhưng đức tin thực sự không phải lúc nào cũng giống như bên ngoài. Rất nhiều người, và thường là những người đặc biệt trung thành nhất, phải trải qua một thử thách mà các nhà thần nghiệm gọi là đêm tối tâm hồn.

Và đêm tối tâm hồn là gì? Đó là một thử thách của Chúa trong cuộc sống, chúng ta bàng hoàng và lo lắng, chúng ta không còn hình dung được sự hiện diện của Chúa cũng như cảm nhận Chúa yêu thương mình. Theo nghĩa cảm nhận bên trong, đây là cảm nhận của hoài nghi như người vô thần. Dù cố gắng, chúng ta không hình dung có sự hiện diện của Chúa, lại càng không nghĩ Chúa yêu thương mình. Tuy nhiên, như các nhà thần nghiệm nhấn mạnh và chính Chúa Giêsu làm chứng, đây không phải là mất đức tin, nhưng thực sự là một phương thức sâu sắc hơn của chính đức tin.

Cho đến bây giờ, trong đức tin chúng ta, chúng ta nối lại quan hệ với Chúa chủ yếu qua hình ảnh và cảm xúc. Nhưng hình ảnh và cảm xúc của chúng ta có về Chúa không phải là Chúa. Vì vậy, tại một số thời điểm, với một số người, nhưng không phải tất cả mọi người, Chúa lấy đi các hình ảnh và cảm xúc, để lại một khái niệm trống rỗng và cảm xúc khô khan, tước bỏ tất cả hình ảnh chúng ta đã tạo ra về Chúa. Trong khi trong thực tế, đây thực sự là một ánh sáng đè nặng, nhưng được cảm nhận như bóng tối, như nỗi thống khổ, sợ hãi và nghi ngờ.

Như thế chúng ta có thể chờ con đường đến với cái chết và cuộc gặp gỡ diện đối diện với Chúa cũng liên quan đến việc phá vỡ suy nghĩ và cảm nhận chúng ta có về Chúa qua nhiều cách. Và điều này sẽ mang lại sự nghi ngờ, bóng tối và sợ hãi cho cuộc sống chúng ta.

Linh mục Henri Nouwen đưa ra một bằng chứng mạnh mẽ khi ngài nói về cái chết của mẹ mình. Bà là người có đức tin sâu đậm, mỗi ngày bà cầu nguyện với Chúa: Xin cho con sống như Chúa và xin cho con chết như Chúa. Hiểu đức tin mẹ mình có cơ sở, cha Nouwen nghĩ bà sẽ bình thản và đối diện với cái chết mà không sợ. Nhưng bà đã lo âu tột cùng và hãi sợ trước cái chết làm cho cha Nouwen bối rối, cho đến khi cha nhận ra lời cầu nguyện của mẹ mình đã được nhận lời. Bà đã cầu nguyện được chết như Chúa Giêsu và bà đã được.

Một người lính thường chết không sợ; Chúa Giêsu chết hãi sợ. Và nghịch lý thay, nhiều người có đức tin cũng như vậy.

Đâu là nhà?

Trong nhiều năm tôi là Bề trên Tỉnh dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở miền Tây Canada, tôi cố gắng giữ một chân trong thế giới giảng dạy, tôi dạy lớp tối môn dẫn nhập vào thần học kitô giáo ở Đại học Saskatchewan mỗi tuần một lần và đã thu hút được nhiều sinh viên.

Một trong các bài đọc được chỉ định cho lớp này là quyển sách Chỉ có trái tim biết cách tìm ra: Ký ức quý giá cho giai đoạn yếu đức tin (Only the Heart Knows How to Find Them: Precious Memories for a Faithless Time) của giáo sư văn sĩ Christopher de Vinck. Quyển sách là một loạt các bài tự truyện tập trung phần lớn về gia đình và các quan hệ với vợ con của ông. Các bài viết mô tả tương quan giữa ông với vợ không thiếu phần lãng mạn mà còn rất khích lệ, ông đặt tình dục vào bối cảnh hôn nhân, an toàn và chung thủy.

Vào cuối học kỳ, một cô khoảng 30 tuổi đến nạp bài tiểu luận cho tôi, cô nói: “Đây là quyển sách hay nhất tôi chưa từng đọc. Trước đây tôi không có nhiều định hướng về đạo đức vì vậy tôi không chú tâm đến tâm hồn, tôi phóng khoáng về tình dục và sống theo hiện sinh. Tóm tắt, cơ bản tôi đã ngủ ở hai đầu bang Canada; nhưng bây giờ tôi biết tôi thực sự muốn gì, điều mà con người của tác giả có được. Tôi đang đi tìm chiếc giường hôn nhân!” Đôi mắt cô rưng rưng khi cô chia sẻ điều này.

Tôi đang đi tìm chiếc giường hôn nhân! Đó là hình ảnh rất đẹp cho cái mà quả tim gọi là nhà.

Xét cho cùng, nhà là gì? Có phải đó là bản sắc dân tộc, giới tính, quyền công dân, một ngôi nhà đâu đó, nơi chúng ta sinh ra hay đó là một chỗ trong quả tim?

Đó là một chỗ trong quả tim và chiếc giường hôn nhân mô tả đúng. Nhà là nơi mà mình cảm thấy thoải mái về mặt thể chất, tâm lý và đạo đức. Nhà là nơi chúng ta cảm thấy an toàn. Nhà là nơi trái tim chúng ta không cảm thấy lạc lõng, bị xâm phạm, bị ức hiếp, bị chê bai, bị coi thường, bị ở bên lề (dù đôi khi điều này xem như một chuyện hiển nhiên). Nhà là nơi mà mình không cần phải đi mới cảm thấy là mình. Nhà là nơi mình trọn vẹn là mình mà không cần phải giải thích mình như thế nào. Bạn cứ xem như bạn đang ở nhà bạn là câu nói chào mừng ‘xin bạn cứ tự nhiên’.

Có nhiều khái niệm khác nhau về nhà, người phụ nữ trẻ này ý thức được nhiều bài học, cô làm cho chúng ta hiểu quan điểm của chúng ta về tình yêu, về tình dục quý như thế nào. Một trong các vấn đề trong chuyện này là hình ảnh phổ biến của một hoài niệm đi tìm tâm hồn tri kỷ. Vấn đề ở đây thường do chúng ta nghĩ tâm hồn tri kỷ theo nghĩa rất lãng mạn. Nhưng, theo quyển sách của tác giả De Vinck, tìm tâm hồn tâm giao có liên quan đến việc đi tìm bình tâm về mặt đạo đức và an toàn tâm lý hơn là đi tìm chiếc giường hôn nhân một vợ một chồng như trong các tiểu thuyết lãng mạn. Còn về khả năng tình dục của chúng ta, điều ẩn sâu nhất bên trong khao khát tình ái là chúng ta mong muốn tìm được ai đó để đưa về nhà. Mọi tình dục mà từ đó bạn mang về nhà luôn là cái gì đó không mang lại điều bạn mong muốn nhất và, càng tốt nếu nó là loại thuốc bổ tạm thời làm cho bạn vẫn đi tìm một cái gì đó càng lúc càng thực tế hơn.

Cụm từ “Tôi đi tìm chiếc giường hôn nhân” cũng hàm chứa một vài yếu tố giúp chúng ta hiểu hơn các thể loại khác nhau của tình yêu, mê đắm và các cuốn hút kéo chúng ta rơi vào. Chung chung bản chất của phần lớn con người là lăng nhăng, có nghĩa là chúng ta có các trải nghiệm thu hút, mê đắm, yêu đương mãnh liệt đối với người khác, bất kể việc chúng ta bị thu hút ở người khác không cùng một chuyện như ở nhà. Chúng ta có thể yêu nhiều loại người khác nhau, nhưng tình yêu nào mới là tình yêu cho hôn nhân, cho một mái nhà? Hôn nhân và nhà được xây dựng trên một loại tình yêu đưa chúng ta về nhà, trên loại tình yêu mang lại cho chúng ta cảm nhận với người này, mình có thể mang về nhà và xây dựng một căn nhà.

Và, rõ ràng, khái niệm này không chỉ áp dụng cho một người chồng, một người vợ trong hôn nhân. Nó là hình ảnh cho những gì xây dựng lên căn nhà – cho tất cả mọi người, lập gia đình hay độc thân đều như nhau. Chiếc giường hôn nhân là ẩn dụ cho cái được đặt vào trọng tâm luân lý và tâm lý để có được thoải mái.

Thi sĩ T.S. Eliot đã viết: Nhà là nơi chúng ta bắt đầu. Nó cũng là nơi chúng ta muốn kết thúc. Khi sinh ra cha mẹ mang chúng ta về nhà. Đó là nơi chúng ta bắt đầu và cũng là nơi chúng ta thoải mái cho đến tuổi dậy thì buộc chúng ta phải đi tìm một mái ấm khác. Rất nhiều cạm bẫy có thể chờ đợi chúng ta trong cuộc tìm kiếm đó, nhưng nếu chúng ta lắng nghe lời khuyên sâu sắc tự bên trong tâm hồn mình, thì nỗi khao khát về nhà không kềm được này cũng giống như ‘ba vua’ theo ngôi sao đặc biệt tìm về máng cỏ và chúng ta sẽ tìm được chiếc giường hôn nhân, hay ít nhất chúng ta sẽ không tìm nó ở nơi không đúng chỗ.

Ngôn ngữ, biểu tượng và biết mình

Tại công trình xây dựng một nhà thờ, một ngày nọ, một phóng viên hỏi hai người đàn ông đang làm việc ở đây, họ làm gì để kiếm sống. Người đàn ông thứ nhất trả lời: “Tôi là thợ nề.” Người thứ nhì nói: “Tôi xây dựng nhà thờ chính tòa!” Cách mà chúng ta nói lên kinh nghiệm của mình phần lớn nói lên ý nghĩa của nó.

Có nhiều cách nói khác nhau trong một ngôn ngữ, và một số ngôn ngữ nói sâu sắc hơn các ngôn ngữ khác.

Ba mươi năm trước, nhà giáo dục người Mỹ Allan Bloom đã viết một quyển sách có tựa đề: “Sự khép kín đầu óc của người Mỹ” (The Closing of the American Mind). Đây là luận điểm của ông: Ngày nay ngôn ngữ của chúng ta ngày càng thực nghiệm, một chiều và không có chiều sâu. Theo ông, điều này làm đầu óc chúng ta bị khép kín khi chúng ta tầm thường hóa kinh nghiệm của mình.

Hai mươi năm trước, trong bài tiểu luận khá khiêu khích, Chiến thắng của trị liệu (The Triumph of the Therapeutic), nhà xã hội học người Mỹ Philip Rieff cũng đã viết tương tự như vậy. Theo Rieff, chúng ta sống cuộc sống của mình dưới một hàng rào biểu tượng nhất định, nghĩa là, trong một ngôn ngữ và một tập hợp các khái niệm qua đó chúng ta diễn giải kinh nghiệm của mình. Và hàng rào này có thể cao hoặc thấp. Chúng ta có thể hiểu kinh nghiệm của mình trong một ngôn ngữ và trong một tập hợp các khái niệm mà chúng ta nghĩ chúng rất có ý nghĩa hoặc chúng khá nông cạn và chẳng có ý nghĩa gì. Kinh nghiệm sẽ phong phú hay nông cạn tùy thuộc vào ngôn ngữ mà chúng ta diễn giải nó.

Lấy ví dụ một người đàn ông bị đau lưng đi khám bác sĩ. Bác sĩ nói ông bị viêm khớp. Định bệnh này làm cho ông yên tâm. Bây giờ ông biết vì sao ông đau. Nhưng nếu ông không bằng lòng, ông đi gặp một nhà tâm lý học. Nhà tâm lý học nói các triệu chứng của ông không hẳn chỉ về thể chất mà ông đang trải qua cuộc khủng hoảng tuổi trung niên. Điều này cho ông hiểu nhiều hơn cơn đau của mình. Nhưng ông vẫn không hài lòng và đi gặp một vị linh hướng. Vị linh hướng không phủ nhận ông bị viêm khớp và đang qua cuộc khủng hoảng tuổi trung niên, nhưng vị linh hướng nói cơn đau này đúng là vườn Giếtsêmani của ông, là thập giá ông phải vác. Chúng ta nên nhớ, cả ba chẩn bệnh này đều nói về cùng một nỗi đau, nhưng mỗi người đặt nó dưới một hàng rào tượng trưng khác nhau.

Công việc của các nhà tâm lý như Carl Jung, James Hillman và triết gia Thomas Moore là giúp chúng ta hiểu rõ hơn vì sao có một loại ngôn ngữ chạm sâu hơn vào tâm hồn.

Ví dụ: Giữa các ngôn ngữ khác nhau, chúng ta thấy ngôn ngữ của tâm hồn trong một số huyền thoại và các truyện cổ tích có từ ngàn xưa. Sự đơn giản bề ngoài của các câu chuyện này che giấu một chiều sâu lạ lùng. Ví dụ câu chuyện Cô bé Lọ lem Cinderella: điều đáng chú ý đầu tiên là cái tên Cinderella, đây không phải là một tên thực nhưng là sự kết hợp của hai chữ: Cinder là tro tàn; và Puella là cô gái trẻ. Đây cũng không phải là câu chuyện cổ tích đơn giản về một cô gái trẻ cô đơn, bị đánh đập. Đây là một huyền thoại làm nổi bật tính năng động, nghịch lý, tái sinh mà chúng ta sống trong cuộc sống của mình, trong đó, trước khi mang đôi giày thủy tinh, trước khi là người đẹp trong buổi dạ vũ, trước khi lấy hoàng tử và sống hạnh phúc đời đời, đầu tiên hết chúng ta phải trải qua giai đoạn ở trong đống tro tàn, chịu đựng sỉ nhục và được thanh tẩy trong thời gian bụi bặm.

Chúng ta lưu ý cách câu chuyện này nói theo cách riêng của nó về linh đạo kitô, cái mà chúng ta gọi là “Mùa Chay”, mùa đền tội, trong đó chúng ta đánh dấu mình bằng tro tàn để bước vào thời gian khổ hạnh chuẩn bị cho niềm vui (vì lý do mà chúng ta chỉ biết qua trực giác) chỉ có thể có sau thời gian từ bỏ và thăng hoa. Câu chuyện Cô bé Lọ lem làm sáng tỏ một cách nào đó chiều sâu tâm hồn chúng ta. Rất nhiều huyền thoại nổi tiếng làm được điều này.

Tuy nhiên, không có một huyền thoại nào chiếu sáng tâm hồn chúng ta sâu đậm hơn là Sách Thánh. Ngôn ngữ và biểu tượng của nó đặt tên cho trải nghiệm của chúng ta theo cách giúp chúng ta nắm bắt được chiều sâu đích thực các trải nghiệm riêng của chính mình.

Như vậy, có hai cách chúng ta tự hiểu về mình: chúng ta có thể hoang mang hoặc chúng ta có thể ở trong bụng con cá voi. Chúng ta có thể bất lực trước cơn nghiện hoặc chúng ta có thể bị quỷ ám. Chúng ta có thể dao động giữa niềm vui và trầm cảm hoặc chúng ta có thể xen kẽ khi thì “ở Galilê” khi thì “ở Giêrusalem” với Chúa Giêsu. Chúng ta có thể bị tê liệt khi đứng trước nạn toàn cầu hóa hoặc chúng ta có thể đứng cùng Chúa Giêsu bên bờ giếng Samaria khi Ngài nói chuyện với người phụ nữ lương dân. Chúng ta có thể đấu tranh với lòng trung tín trong việc giữ các cam kết của mình hoặc chúng ta có thể đứng bên cạnh ông Gio-duệ, nhận được lệnh giết người Ca-na-an để giữ Đất Hứa. Chúng ta có thể bị viêm khớp hoặc chúng ta có thể đổ mồ hôi máu trong vườn Giếtsêmani. Ngôn ngữ chúng ta dùng để hiểu một kinh nghiệm xác định ý nghĩa của kinh nghiệm này đối với chúng ta.

Cuối cùng, chúng ta có thể xem đây là một công việc hay một ơn gọi; chúng ta có thể thất bại hay đi 40 ngày trong sa mạc; chúng ta có thể thất vọng cay đắng hay chúng ta có thể suy gẫm cùng Đức Mẹ; hoặc chúng ta có thể lệ thuộc vào tấm chi phiếu trả lương hay chúng ta là người xây nhà thờ chính tòa. Ý nghĩa phụ thuộc rất nhiều vào ngôn ngữ.

Ai đi xuống hỏa ngục, ai không?

Địa ngục không bao giờ là một ngạc nhiên khó chịu cho một người thật sự có hạnh phúc. Và cũng không nhất thiết địa ngục là hồi cuối báo trước cho một người cay đắng và không hạnh phúc. Một người hạnh phúc nồng hậu có thể xuống hỏa ngục sao? Một người cay đắng không hạnh phúc có thể lên thiên đàng sao? Tất cả tùy thuộc vào sự hiểu biết của chúng ta về địa ngục và cách chúng ta đọc tâm hồn con người.

Một người đấu tranh một cách trung thực để có hạnh phúc không thể xuống hỏa ngục vì hỏa ngục là phản đề của một đấu tranh trung thực cho hạnh phúc. Theo Đức Phanxicô, hỏa ngục là “muốn xa tình yêu của Chúa”. Ai chân thành mong muốn tình yêu và hạnh phúc sẽ không bao giờ bị lên án đời đời phải bị tha hóa, trống rỗng, cay đắng, giận dữ, thù hận (là các chất liệu dùng thiêu đốt lửa hỏa ngục), vì hỏa ngục là không muốn ở thiên đàng. Vì thế, người chân thành mong có một cơ hội khác để sửa chữa mọi thứ để lên thiên đàng, thì không ở trong hỏa ngục. Nếu có ai phải ở hỏa ngục, thì là vì người đó thực sự muốn xa lánh tình yêu.

Nhưng ai là người thực sự muốn xa lánh tình yêu của Chúa và tình yêu của nhân loại? Câu trả lời khá phức tạp vì chúng ta là phức tạp: “Muốn gì đó” nghĩa là gì? Chúng ta có thể cùng một lúc muốn vài thứ và không muốn tất cả đó sao? Đúng, bởi vì có các mức độ khác nhau trong tâm hệ con người và vì thế, trong cùng một mong muốn mình có thể xung đột với chính mong muốn này.

Chúng ta có thể cùng một lúc muốn vài thứ và không muốn tất cả. Đó là kinh nghiệm chung. Lấy ví dụ một đứa bé vừa bị mẹ phạt. Lúc đó đứa bé cay đắng ghét mẹ mình, nhưng trong một lúc khác nhẹ hơn, đứa bé khao khát được ôm mẹ mình. Nhưng cơn hờn dỗi nó muốn xa mẹ, nhưng mong muốn sâu xa nhất của đứa bé vẫn là ở bên cạnh mẹ mình. Chúng ta tất cả đều biết cảm nhận này.

Như chúng ta biết, sự thù hận không đối nghịch với tình yêu, nhưng là một hình thức tang chế của tình yêu. Loại năng động này luôn tồn tại trong quan hệ nghịch lý, hoang mang, phức tạp mà hàng triệu người trong chúng ta duy trì trong quan hệ với Chúa, với Giáo hội, với nhau và với chính tình yêu. Các tổn thương của chúng ta gần như hầu hết không phải lỗi của chúng ta, nhưng là hậu quả của một lạm dụng, một ức hiếp, một phản bội hay do khinh suất đau thương trong vòng tình yêu. Tuy nhiên điều này không ngăn chúng ta làm những chuyện thích thú. Khi chúng ta bị tổn thương vì tình yêu thì như đứa bé hờn dỗi vì bị phạt, nó chỉ muốn xa mẹ nó, chúng ta cũng vậy, trong một thời gian hoặc đôi khi cả đời, chúng ta không muốn thiên đàng vì chúng ta cảm thấy mình bị đối xử bất công. Đây là chuyện tự nhiên đối với nhiều người muốn xa Chúa. Đứa trẻ bị bắt nạt ở sân chơi, sẽ khoanh “những người bắt nạt mình” vào một vòng, và dĩ nhiên nó sẽ xa cái vòng này, hoặc có thể chứng tỏ cho thấy bạo lực dưới mắt mình.

Tuy nhiên ở cấp độ tâm hồn thì sâu hơn, khao khát cuối cùng của chúng ta là luôn ở bên trong vòng tình yêu mà lúc đó dường như chúng ta ghét, ghét vì cảm thấy mình bị đối xử bất công, bị ức hiếp và chúng ta xem đó là một cái gì mình không muốn thuộc về. Vì thế, một người có thể có tâm hồn rất chân thành nhưng vì các tổn thương sâu xa, họ đi qua cuộc sống và chết, họ chỉ muốn xa cái mà họ xem đó là Chúa, là tình yêu và thiên đàng. Nhưng chúng ta không thể đưa ra một đánh giá đơn giản ở đây.

Chúng ta cần phân biệt giữa những gì chúng ta muốn rõ ràng ở một thời điểm nhất định và những gì chúng ta muốn ẩn ngầm (thực sự) cũng cùng thời điểm đó. Và thường thường chúng không giống nhau. Đứa bé bị phạt rõ ràng nó muốn xa mẹ, nhưng ở một cấp độ khác thì nó rất muốn gần mẹ.

Nhiều người muốn xa Chúa và các nhà thờ. Nhưng Chúa đọc được tâm hồn họ, nhận ra sự giả vờ ẩn giấu bên trong hờn dỗi hay bĩu môi và theo đó mà Ngài phán xét. Chính vì lý do này mà chúng ta không nên nhanh chóng lấp đầy địa ngục với những người muốn xa tình yêu, đức tin, nhà thờ và Chúa. Tình yêu của Chúa có thể bao phủ, thương cảm, làm tan chảy và chữa lành hận thù đó. Tình yêu của chúng ta cũng phải vậy.

Hy vọng kitô giáo đòi hỏi chúng ta phải tin vào những chuyện đi ngược với bản năng và xúc cảm tự nhiên của mình. Một trong các điều này là tình yêu của Chúa, một tình yêu cực mạnh, cũng giống như cái chết của Chúa Giêsu, Ngài có thể xuống địa ngục ban tình yêu và tha thứ cho các tâm hồn bị tổn thương nhất, chai đá nhất. Hy vọng đòi hỏi chúng ta phải tin vào chiến thắng cuối cùng của tình yêu Chúa và chính Lu-xi-phe cũng sẽ trở lại, sẽ quay về trời và địa ngục sẽ trống rỗng.

Như thế có viễn vông không? Không, vì đó là hy vọng kitô giáo; là điều các vị thánh lớn của chúng ta tin tưởng.

Đúng, có một địa ngục, và với sự tự do của con người, chắc chắn ai cũng có khả năng rơi vào đó; nhưng, với tình yêu của Chúa, có thể đến một lúc nào đó, địa ngục sẽ hoàn toàn trống rỗng.

Vượt ngoài Thần nghiệm

“Tôi là nhà thần nghiệm thực hành!” Vài năm trước, một cô đã nói như thế trong lớp tôi dạy và khiến nhiều người cau mày. Tôi đang dạy một lớp về thần nghiệm và hỏi các sinh viên vì sao họ lại có hứng thú với môn thần nghiệm. Mỗi người trả lời một kiểu. Có người đơn giản thấy hấp dẫn với khái niệm này, người khác là những người linh hướng muốn có thêm thấu suốt về những cảm nghiệm thần nghiệm, và một số thì theo học vì cố vấn học tập khuyên họ nên vào lớp này. Nhưng có một cô trả lời: “Vì tôi là nhà thần nghiệm thực hành!”

Ai đó có thể là nhà thần nghiệm thực hành sao? Có thể, nếu hiểu cho đúng cả hai từ này, thần nghiệm và thực hành.

Vậy thần nghiệm nghĩa là gì? Trong quan điểm phổ thông, thần nghiệm thường được gắn với cảm nghiệm tôn giáo khác thường và huyền bí, cụ thể là những thị kiến, mặc khải, sự hiện ra, đại loại như thế. Thật sự, nhiều lúc đúng là thế, như với những nhà thần nghiệm vĩ đại như Julian thành Norwich và Teresa thành Avila, nhưng cũng có những ngoại lệ. Kiểu thần nghiệm theo quan niệm của ta không phải là quy tắc. Thường thì cảm nghiệm thần nghiệm rất bình thường, không thị kiến, không có sự hiện ra, không xuất thần, chỉ là một cảm nghiệm thường nhật, nhưng có một sự khác biệt.

Ruth Burrows, nhà thần nghiệm lừng danh người Anh thuộc dòng Carmel đã mô tả thần nghiệm như thế này: Cảm nghiệm thần nghiệm là được Thiên Chúa chạm đến ở một mức độ thâm sâu hơn lời lẽ, suy nghĩ, hình tượng và cảm giác. Chúng ta có cảm nghiệm thần nghiệm khi nhận thức về bản thân và thế giới một cách rõ ràng, dù chỉ là trong thoáng chốc. Điều này có thể đi kèm những điều khác thường, như thị kiến hay sự hiện ra, nhưng thường thì không như thế. Thường thì cảm nghiệm thần nghiệm không phải là khoảnh khắc một thiên thần hay một thần linh hiện ra với bạn, cũng không phải là lúc có chuyện huyền bí xảy ra với bạn. Cảm nghiệm thần nghiệm là khác thường, nhưng khác thường vì nó rõ ràng một cách độc nhất vô nhị, vì trong khoảnh khắc ấy chúng ta quy hướng một cách khác thường, và vì trong khoảnh khắc ấy chúng ta cảm thức một cách vô thức, mơ hồ, và lộn xộn, cảm thức vượt ngoài từ ngữ và hình tượng, cảm thức được điều mà các nhà thần nghiệm gọi là ký ức không phai về nụ hôn của Chúa trên linh hồn chúng ta, ký ức nguyên sơ về lần mình từng cảm nghiệm tình yêu hoàn hảo khi còn ở trong lòng Chúa trước lúc ta ra đời. Bernard Lonergan, dùng một thuật ngữ khác, gọi đây là dấu ấn của những nguồn gốc đầu tiên lên linh hồn chúng ta, dấu ấn bẩm tại của những yếu tố siêu việt thuộc về Thiên Chúa, là Duy nhất, Chân, Thiện, Mỹ, ở trong chúng ta.

Chúng ta có cảm nghiệm thần nghiệm khi liên kết với phần linh hồn mà chúng ta từng được Chúa chạm đến trước khi chúng ta ra đời, phần linh hồn chúng ta vẫn mang theo dù trong vô thức, phần ký ức đã được Chúa chạm đến. Henri Nouwen gọi đây là ký ức mơ hồ về “tình yêu đầu tiên” về một thời chúng ta được nâng niu bởi đôi bàn tay trìu mến hơn bất kỳ lần nào chúng ta có trong đời này.

Tất cả chúng ta đều có cảm nghiệm này ở một mức độ nào đó. Tất cả chúng ta đều có những cảm nghiệm thần nghiệm, dù không phải ai cũng là nhà thần nghiệm. Vậy đâu là điểm khác biệt giữa có cảm nghiệm thần nghiệm và là nhà thần nghiệm? Nó cũng là điểm khác biệt giữa có cảm nghiệm mỹ thuật và là nghệ sĩ. Tất cả chúng ta đều có cảm nghiệm mỹ thuật và nhiều lần thấy được mỹ thuật đánh động sâu sắc, nhưng chỉ có một số ít người trở thành nghệ sĩ lớn, nhà soạn nhạc lớn, không hẳn bởi họ có cảm nghiệm sâu sắc hơn chúng ta, nhưng bởi họ có thể cho cảm nghiệm của họ một biểu lộ mỹ thuật đặc biệt. Biểu lộ mỹ học luôn luôn có sự hòa hợp nhất định. Do đó bất kỳ ai cũng có thể trở thành nghệ sĩ thực hành, dù cho không phải nghệ sĩ chuyên nghiệp.

Về thần nghiệm cũng thế. Nhà thần nghiệm là người có thể đem lại biểu lộ có ý nghĩa cho cảm nghiệm thần nghiệm của họ, cũng như một nghệ sĩ là người có thể đem lại biểu lộ thích đáng cho cảm nghiệm mỹ thuật của họ. Bạn có thể là một nhà thần nghiệm thực hành, tương tự như là một nghệ sĩ thực hành. Như một nghệ sĩ đầy nỗ lực, bạn có thể dốc sức để đem lại một biểu lộ có ý nghĩa và có ý thức cho những vận động thâm sâu mà bạn cảm nhận được trong linh hồn mình, và như một nghệ sĩ nghiệp dư thôi, bạn sẽ không là một Rembrandt hoặc Picasso trong đời sống thiêng liêng, nhưng những nỗ lực của bạn có thể hữu ích vô cùng khi bạn làm rõ những vận động trong linh hồn và tâm thần mình.

Vậy cụ thể, làm sao để bạn làm một nhà thần nghiệm thực hành trong thực tế? Bằng cách làm bất kỳ điều gì giúp bạn liên hệ cách có ý thức với những vận động thâm sâu trong linh hồn và bằng cách làm những điều giúp bạn vững vàng và tập trung vào linh hồn mình.

Ví dụ như, khi nỗ lực liên kết với linh hồn mình, bạn có thể làm nhà thần nghiệm thực hành bằng cách viết nhật ký, đọc sách thiêng liêng, xin linh hướng, làm những việc linh thao chẳng hạn như bài Linh Thao của thánh Inhaxiô, và cầu nguyện dưới bất kỳ hình thức nào. Khi quy hướng vào và làm vững vàng linh hồn mình, bạn có thể là một nhà thần nghiệm thực hành, khi dốc hết bản thân một cách ý thức hơn và chủ tâm hơn, vào việc sống ngày Xa-bat và làm những việc quy hướng về linh hồn chẳng hạn như làm vườn, đi bộ đường dài, nghe nhạc, đối ẩm với người thân và bạn bè, yêu vợ hoặc chồng mình, bồng một đứa bé, thăm người bệnh, hay thậm chí chỉ cần làm việc mình thích và có khoảng nghỉ lành mạnh tránh những ám ảnh của bận tâm thường nhật.

Đấy chính là những cách để làm nhà thần nghiệm thực hành, thậm chí chẳng cần phải theo học lớp chính thức về thần nghiệm.

Hướng thượng, hướng hạ, và đơn giản là giữ cho vững vàng

Chúng ta phải hướng mắt về đâu? Nhìn lên, nhìn xuống, hay chỉ nhìn vào con đường chúng ta đang đi?

Linh đạo cũng có nhiều dạng: Linh đạo Hướng thượng, Linh đạo Hướng hạ, và Linh đạo Dưỡng nuôi, và mỗi cái đều quan trọng.

Linh đạo Hướng thượng là những linh đạo mời gọi chúng ta luôn nỗ lực vì những gì cao hơn, những gì cao cả hơn, những gì mở rộng và đưa chúng ta hướng lên vượt trên những đường lối sáo mòn về tâm linh và luân lý mà chúng ta đang sống. Chúng mách bảo chúng ta rằng chúng ta có thể tốt đẹp hơn nữa, chúng ta có thể vượt quá sự bình thường của mình và phá vỡ các giới hạn trong tầm của chúng ta. Chúng mách bảo chúng ta rằng nếu chúng ta mở rộng bản thân đủ thì chúng ta sẽ có thể đi trên mặt nước, trở thành những bậc đại thánh, được cháy bỏng bởi Chúa Thánh Thần, và trải nghiệm ngay đời này những niềm vui thâm sâu của Nước Trời. Những linh đạo này bảo chúng ta rằng sự thánh thiện nằm ở những gì trên cao và chúng ta phải thường xuyên mở mang bản thân hướng đến những mục tiêu cao hơn.

Những linh đạo này có một bản sao thế tục và bản sao đó là cái mà chúng ta thường nghe từ những diễn giả trong lễ tốt nghiệp lúc nào cũng thách thức những người mới tốt nghiệp hãy mơ những giấc mơ lớn, vươn đến các ngôi sao.

Còn nhiều điều phải nói về lời mời này. Nhiều lần trong Tin mừng cũng có dạng thách thức hệt như vậy. Hãy hướng mắt lên: Hãy suy nghĩ rộng, cảm nhận với tâm hồn quảng đại, hình dung mình là con Thiên Chúa và bắt chước sự cao cả của Ngài, hãy để lời dạy của Chúa Giêsu mở mang cho bạn, hãy để tinh thần của Chúa Giêsu lấp đầy lòng bạn, hãy để những lý tưởng cao đẹp mở mang cho bạn.

Nhưng Tin mừng cũng mời gọi chúng ta đến với Linh đạo Hướng hạ. Các Tin mừng mách bảo chúng ta hãy kết thân với hoang mạc, thập giá, tro bụi, từ bỏ chính mình, sự sỉ nhục, bóng tối trong lòng và cả cái chết. Thậm chí là bảo chúng ta đừng chỉ hướng lên trên mà còn phải hướng xuống dưới. Chúng ta trưởng thành nhờ để hoang mạc rèn luyện, nhờ từ bỏ những ước mơ mà ta nâng niu để chấp nhận thập giá, nhờ để sự sỉ nhục trút lên chúng ta đào sâu thêm nhân cách cho ta, nhờ có can đảm để đối diện với những hỗn loạn của chính mình, và thấy bình yên với sự khả tử của mình. Những linh đạo này bảo chúng ta rằng đôi khi nhiệm vụ của chúng ta, về tâm linh và tâm lý, không phải là hướng mắt lên trời, nhưng là nhìn xuống mặt đất, ngồi trong đống tro cô độc và sỉ nhục, đăm đăm nhìn vào hoang mạc vô tận trong lòng mình, và chấp nhận những giới hạn con người cùng sự khả tử của mình.

Không có nhiều bản sao thế tục của dạng linh đạo này (dù bạn có thể thấy được nó trong các tinh túy của tâm lý học và nhân học). Thách thức hướng hạ không phải là điều mà bạn thường nghe nơi các diễn giả trong lễ tốt nghiệp.

Nhưng còn một dòng linh đạo khác, một dòng rất quan trọng, cụ thể là, Linh đạo Dưỡng nuôi. Có những linh đạo mời gọi chúng ta chăm sóc mình cho thích đáng, hiểu được rằng hành trình môn đệ là một cuộc chạy marathon đường dài chứ không phải chạy nước rút, và như thế biết để tâm đến những giới hạn của mình. Không phải ai cũng là những lực sĩ trong đường thiêng liêng, và nếu ta không cẩn thận, thì sự mệt mỏi, khủng hoảng, cô đơn và yếu đuối về tâm thần hay thể lý, có thể khiến ta sụp đổ. Những linh đạo này mời gọi chúng ta cẩn trọng về sự hướng thượng quá hăng hái và sự hướng hạ ngây thơ. Chúng nhắc chúng ta rằng sự cùn mòn, chán chường và nản lòng sẽ xuất hiện, nên chúng ta cần có một ly rượu giải khuây khi cần thiết và sẽ lành mạnh hơn cho chúng ta về mặt tâm linh nếu có một hôm mệt mỏi chúng ta phải dừng lại để xem một bộ phim hài vu vơ, hay một trận bóng thay vì xem chương trình đạo. Chúng cũng bảo chúng ta phải tôn trọng sự thật rằng, vì nhiều khi tâm thần chúng ta mỏng manh dễ vỡ, nên có lúc chúng ta phải tránh những tâm tính hướng hạ. Chúng không phủ nhận rằng ta phải thúc đẩy bản thân vươn đến những đỉnh cao mới và nhiều lúc phải có can đảm đối diện với những hỗn loạn và hoang mạc trong lòng mình, nhưng chúng cảnh báo chúng ta rằng nhiều lúc chúng ta cũng phải xác định sức mình được đến đâu. Những linh đạo tốt không đẩy chúng ta vào một băng chuyền, một con đường chung cho tất cả mọi người, nhưng để tâm đến những gì chúng ta cần để duy trì sinh lực và sự lành mạnh cho cuộc chạy marathon.

Linh đạo Dưỡng nuôi có một bản sao thế tục và chúng ta có thể học được nhiều điều từ việc nền văn hóa của chúng ta nhấn mạnh chuyện duy trì sức khỏe thể lý qua tập thể dục, ăn có chế độ và có những thói quen lành mạnh. Đôi khi trong nền văn hóa của chúng ta, điều này trở nên một chiều và gây ám ảnh, nhưng nó vẫn là một điều mà các linh đạo có thể học hỏi, cụ thể là nhiệm vụ trong đời không phải chỉ là lớn lên và can đảm đối diện với bóng tối và sự khả tử của mình. Đôi khi, nhiều lúc, nhiệm vụ cấp thiết hơn đơn giản chỉ là duy trì sự lành mạnh, ôn hòa và vui vẻ.

Những linh đạo khác nhau nhấn mạnh một hay nhiều điểm khác nhau này, hướng thượng, hướng hạ, hay (ít phổ biến hơn là) dưỡng nuôi, nhưng một linh đạo tốt sẽ nhấn mạnh cả ba: Hướng mắt lên, đừng quên nhìn xuống, và giữ đôi chân vững vàng trên mặt đất.

Và mọi hiện sinh sẽ tốt đẹp

Tôi cho rằng, chúng ta đã quen với câu nói của Julian thành Norwich, giờ đã như một tiền đề trong giới linh đạo. Xơ từng viết câu trứ danh: “Đến cuối cùng, tất cả sẽ tốt đẹp, và tất cả sẽ tốt đẹp, và mọi hiện sinh sẽ tốt đẹp.” Và Oscar Wilde được cho là đã thêm câu này: “Và nếu nó chưa tốt đẹp, thì chưa phải là cuối cùng.”

Vài lời này diễn tả rõ hơn những gì chúng ta mừng kính trong biến cố phục sinh của Chúa Giêsu. Niềm tin vào phục sinh, niềm tin rằng Thiên Chúa cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, là nền tảng cho đức tin Kitô giáo. Mọi sự khác chúng ta tin đều dựa trên chân lý đó, và như thánh Phaolô đã nói, nếu nó không có thật, nếu Chúa Giêsu không sống lại từ cõi chết, thì chúng ta là những kẻ bị lừa dối nhất. Nhưng nếu Thiên Chúa đã cho Chúa Giêsu sống lại, và chúng ta tin là thế, thì không chỉ những thông điệp còn lại của Chúa Giêsu đáng tin, mà chúng ta còn có thể sống với sự khuây khỏa vô cùng rằng cái kết câu chuyện cuộc đời chúng ta đã được viết sẵn, một cái kết hạnh phúc ngất ngây. Đến cuối cùng, chúng ta sẽ sống hạnh phúc mãi mãi. Cuộc đời như thế thật đúng là chuyện cổ tích.

Làm sao mà sự phục sinh của Chúa Giêsu bảo đảm được điều đó? Pierre Teilhard de Chardin, nhà khoa học và thần nghiệm của thế hệ trước, đã trả lời thế này: Một lần nọ, khi ngài trình bày về một thị kiến về cách thức vũ trụ và mọi sự sống sẽ chung hợp trong sự hòa hợp chung cục trong Đức Kitô Vũ Trụ vào thời cuối cùng, một người hoài nghi đã chất vấn ngài rằng, “Đấy đúng là suy nghĩ ước vọng và lạc quan. Nhưng giả sử ta phá tan thế giới bằng bom nguyên tử, thì suy nghĩ ước vọng đó sẽ thế nào?” Câu trả lời của cha Teilhard đã phân biệt tuyệt vời giữa đức cậy Kitô giáo đích thực với suy nghĩ ước vọng và chủ nghĩa lạc quan tự nhiên, thậm chí xác nhận những gì mà sự phục sinh của Chúa Giêsu bảo đảm cho ta. Ngài trả lời thế này: “Nếu chúng ta phá tan thế giới bằng bom nguyên tử, thì sự tốt đẹp đó sẽ bị đẩy lùi hai triệu năm. Nhưng điều tôi đang nêu ra đây sẽ xảy ra, không phải bởi tôi ước vọng nó xảy ra hay tôi có chứng cứ kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa để bảo đảm. Nó sẽ xảy ra vì Đức Kitô đã hứa như thế, và trong biến cố phục sinh, Thiên Chúa cho thấy rằng Thiên Chúa có quyền năng để thực hiện lời hứa đó.”

Điều mà các Kitô hữu chúng ta tin, không dựa vào suy nghĩ ước vọng hay chủ nghĩa lạc quan tự nhiên, mà dựa vào lời và lời hứa của Chúa Giêsu, và sự khả tín của lời và lời hứa đó được bảo đảm bằng sự sống lại của Chúa Giêsu. Khi tin vào điều này, chúng ta có thể sống đời mình mà không phải lo lắng quá đáng về bất kỳ điều gì, tự tin rằng cái kết câu chuyện đời chúng ta đã được viết sẵn và đấy là một cái kết có hậu.

Nếu chúng ta tin rằng Thiên Chúa đã cho Chúa Giêsu sống lại, nếu chúng ta tin vào sự phục sinh, thì về cơ bản, chúng ta tin rằng thế giới sẽ được cứu rỗi. Chúng ta không cần phải cứu thế giới, chúng ta chỉ phải sống đối diện với sự thật rằng chúng ta tin thế giới đã được cứu rồi. Và nếu chúng ta sống với niềm tin rằng chúng ta có thể mạo hiểm tất cả, mạo hiểm chính mạng sống của mình, biết rằng cái kết của mình đã được viết sẵn và đấy là cái kết hạnh phúc, bất chấp mọi chuyện hiện thời có khốc liệt đến thế nào đi nữa.

Chúng ta đã thấy một mẫu gương tuyệt vời của dạng niềm tin này nơi Tổng Giám mục Desmond Tutu, một trong những nhân vật chủ chốt phản đối và cuối cùng phá đổ chế độ kỳ thị chủng tộc (apartheid) ở Nam Phi. Ở tâm điểm của cuộc đấu tranh phá đổ chế độ kỳ thị chủng tộc, đối diện với đủ loại đe dọa, cha vẫn vững vàng và thậm chí là vui vẻ trước những đe dọa và hiểm nguy quá đỗi. Điều gì giữ cha vững vàng và vui vẻ? Chính là niềm tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu.

Thỉnh thoảng vào những sáng Chúa nhật, khi cha giảng, toán lính có vũ trang lại vào nhà thờ xếp hai hàng dọc hành lang giữa, súng cầm trong tay, với hy vọng khiến cha nhụt chí. Về phần mình, cha Tutu, mỉm cười với họ và nói: “Tôi mừng vì các anh đã theo phe thắng! Chúng tôi đã thắng rồi!” Khi nói thế, cha không nói về trận chiến với chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc, vốn lúc đó còn lâu mới đến chiến thắng. Cha đang nói về sự phục sinh của Chúa Giêsu, chiến thắng tuyệt đối của sự thiện trên sự dữ, vốn bảo đảm rằng, đến cuối cùng, sự thiện sẽ chiến thắng sự dữ, tình yêu thương chiến thắng chia rẽ, công lý chiến thắng bất công, và sự sống chiến thắng sự chết.

Khi biết như thế, chúng ta có thể tiếp tục sống trong tự tin và hy vọng. Mọi sự sẽ kết thúc tốt đẹp, không phải bởi chúng ta ao ước thế hay bởi mọi chuyện chúng ta thấy thể hiện như thế. Mọi sự sẽ kết thúc tốt đẹp bởi Chúa Giêsu đã hứa sẽ như thế và trong sự phục sinh, Thiên Chúa cam đoan cho lời hứa đó.

Do đó, chẳng có gì phải sợ, chẳng gì cả, kể cả thất bại, đe dọa, mất mát, bệnh tật, hay thậm chí là cái chết. Sự phục sinh của Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta rằng đến cuối cùng, tất cả sẽ tốt đẹp, và tất cả sẽ tốt đẹp, và mọi hiện sinh sẽ tốt đẹp, và nếu nó chưa tốt đẹp… thì chưa phải là cuối cùng.

Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh của riêng chúng ta

Khi người Rôma thiết lập đóng đinh thập giá là phương thức tử hình, họ không chỉ nghĩ đến việc giết một ai đó. Họ muốn đạt được một điều khác nữa, cụ thể là khiến cái chết này thật ghê gớm để làm nhụt chí người ta, khiến bất kỳ ai chứng kiến nó sẽ phải nghĩ lại về chuyện phạm cùng tội như tội của người đang bị đóng đinh đó.

Thế nên, đóng đinh thập giá được thiết kế để làm vài điều khác nữa, chứ không chỉ giết ai đó. Nó được thiết kế để gây ra đau đớn ghê gớm nhất mà thân thể con người có thể chịu nổi. Do đó, đôi khi họ cho người bị hành hình thuốc an thần, không phải để đỡ đau, mà để người đó tỉnh táo nhằm phải chịu nhiều đau đớn hơn nữa. Có lẽ điều tàn ác nhất, là đóng đinh thập giá được thiết kế để sỉ nhục tận cùng thân thể của người bị đóng đinh. Người đó bị lột trần, những phần phải giấu kín giờ phơi ra hết, và khi cơ thể co thắt chắc chắn bộ ruột của người đó sẽ phơi rõ toàn bộ. Còn sự sỉ nhục nào tệ hơn thế?

Tôi tin là có những đau khổ của con người gần hoặc tương đương như thế, và đáng buồn là những thứ này ngày càng phổ biến. Những trường hợp bạo lực xảy ra hằng ngày trong thế giới chúng ta (bạo hành gia đình, bạo lực tình dục, tra tấn, bắt nạt nhẫn tâm, và tương tự thế) đang bắt chước sự sỉ nhục của thập giá. Và đôi khi, chúng ta thấy dạng sỉ nhục thân thể này nơi những người chết vì ung thư, và những chứng bệnh gây suy kiệt khác. Người đó không chỉ chết, mà còn chết trong đau đớn, thân thể bị sỉ nhục, phẩm giá bị xói mòn, những gì phải giấu kín giờ bị phơi bày, hệt như Chúa Giêsu khi chết trên thập giá.

Tôi ngờ rằng đây là lý do Thiên Chúa để cho (dù không dự tính) Chúa Giêsu chịu đựng đau khổ và sỉ nhục như thế trong giờ chết. Nhìn cách Chúa Giêsu chết, thật khó để ai đó nói: “Quá dễ cho Ngài, Ngài đâu có chịu đau khổ như tôi!” Sự sỉ nhục của thập giá khiến Chúa Giêsu đồng cảnh ngộ với tất cả những ai từng biết đến đau khổ và nỗi hổ thẹn khi bị sỉ nhục.

Nhưng hoa trái của việc Chúa Giêsu đồng cảnh ngộ với chúng ta không chỉ là sự an ủi khi biết rằng chính Chúa Giêsu đã chịu đau khổ trước, nhưng nó còn cho chúng ta chia sẻ những gì diễn ra sau khi đóng đinh thập giá, cụ thể là theo lời Thánh kinh, chia sẻ sự an ủi với Ngài. Những lời thật không dễ nghe. Có sự an ủi khi bị sỉ nhục chứ? Được gì khi phải chịu đau đớn tủi hổ như thế? Nói đơn giản, điều ta đạt được là sự sâu sắc của linh hồn.

Không gì, tuyệt đối không điều gì, thúc đẩy chúng ta đi vào chiều sâu của tâm hồn và linh hồn cho bằng sự sỉ nhục. Cứ hỏi mình câu này đi: Điều gì cho tôi chiều sâu cá tính? Điều gì cho tôi chiều sâu tâm hồn con người? Điều gì cho tôi nhận thức sâu sắc hơn? Tôi ngờ rằng, câu trả lời trong mọi trường hợp là một điều gì đó mà bạn hổ thẹn không dám nhắc đến, một sự sỉ nhục nhức nhối với nỗi đau và nỗi xấu hổ của nó đẩy bạn vào chốn thâm sâu hơn trong lòng.

Tôi tin rằng, các Tin mừng dạy chúng ta điều đó. Ví dụ như, khi hai tông đồ Giacôbê và Gioan đến với Chúa Giêsu và hỏi xem liệu khi đến ngày vinh quang họ có thể được ngồi bên tả và bên hữu Ngài hay không, Chúa Giêsu đã không nhân cơ hội đó mà dạy họ về sự khiêm nhượng. Thay vào đó, Ngài dạy họ rằng họ thiếu hiểu biết về ý nghĩa của vinh quang và con đường dẫn đến vinh quang. Dĩ nhiên, họ đã nhầm lẫn khái niệm về vinh quang là mọi thứ đối ngược với sự sỉ nhục, yếu đuối và đồng cảnh ngộ. Với họ, và tôi cho rằng với tất cả chúng ta nữa, vinh quang được xem là tách biệt với quần chúng, vượt trên quần chúng, được là cầu thủ xuất sắc nhất, là giành giải Nobel, là ngôi sao điện ảnh mà ai cũng ghen tị, là người hấp dẫn không dễ gì bị sỉ nhục, là người vượt trên muôn người. Và Chúa Giêsu hỏi Giacôbê và Gioan xem họ có thể “uống chén đắng”, và chén đó như chúng ta đã thấy nơi cuộc đấu tranh của Chúa Giêsu trong Vườn Giếtsêmani, chính là chén sỉ nhục.

Theo Chúa Giêsu và theo những gì chân thật nhất trong cảm nghiệm của chính chúng ta, uống chén sỉ nhục, chấp nhận thập giá, chính là những gì cho chúng ta vinh quang, cụ thể là, chiều sâu tâm hồn, chiều sâu linh hồn và chiều sâu nhận thức và cảm thông. Tuy nhiên, như Chúa Giêsu đã cảnh báo, uống chén sỉ nhục này, dù nó tự động cho chúng ta chiều sâu, nhưng không tự động bảo đảm cho chúng ta vinh quang (như Chúa Giêsu đã nói, “vinh quang đó ta không ban cho được”) Sự sỉ nhục cho chúng ta chiều sâu, nhưng nó không cho chúng ta chiều sâu theo cách đúng đắn. Nó cũng có thể cho chúng ta tác động ngược lại.

Đây chính là phép tính cho chúng ta: Như Chúa Giêsu, chúng ta đều sẽ chịu sỉ nhục trong đời, chúng ta đều sẽ uống chén đắng, và nó sẽ cho chúng ta chiều sâu, nhưng rồi chúng ta phải có một lựa chọn: Sự sỉ nhục này sẽ cho chúng ta sâu sắc trong sự cảm thương và thông hiểu hay nó sẽ khiến chúng ta sâu sắc trong giận dữ và cay đắng. Đây quả thật là lựa chọn luân lý cao nhất mà ta đối diện trong đời, không phải chỉ là trong giờ chết mà là vô số lần trong đời. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, và những gì nó đòi buộc nơi chúng ta, là điều mà chúng ta phải đương đầu hằng ngày.

Điều không chuẩn của chúng ta về Tình dục

Vài năm trước, trong một buổi hỏi đáp sau bài diễn thuyết, một chàng trai trẻ hơi cáu kỉnh hỏi tôi một câu, thái độ của anh không được thân thiện cho lắm. “Có vẻ cha viết nhiều về tình dục, cha có vấn đề gì với nó thế?” Bài diễn thuyết của tôi nói về lòng thương xót Chúa và không đề cập gì đến tình dục, nên rõ ràng câu hỏi của anh ta có chủ đích khác. Tôi trả lời: “Tôi viết 52 bài báo một năm, và đã làm thế trong 30 năm. Tính trung bình, mỗi hai năm tôi mới viết một bài về chủ đề tình dục, như thế tính trung bình trên 104 lần, thì số bài về tình dục chiếm chưa đến 1%. Anh nghĩ như thế là quá đáng sao?”

Tôi đưa ra cuộc nói chuyện này vì tôi ý thức khá rõ là mỗi khi một người độc thân khiết tịnh viết về tình dục thì sẽ khiến một số người khó chịu, theo cả hai hướng. Và như thế, tôi xin đưa ra đây hai câu đầy thấu suốt của Gary Gutting, để nói lên rằng nền văn hóa của ta nên dũng cảm xem lại quan điểm của mình về tình dục để xem điẻm nào không ổn nơi thái độ đương thời về tình dục. Đây là hai câu đó.

Trong một bài về Công ích (23-9-2016), Gutting đã viết: “Tuy nhiên, chúng ta cần có một đạo đức về tình dục, và điểm khởi đầu cho nó phải là nhận ra rằng tình dục không phải“vui thú.” Nó không phải là một hành động vui thú mà chúng ta có thể yên tâm tách rời nó khỏi những chuyện thực sự có ý nghĩa. Tình dục không phải là nói đùa một câu, uống một ly rượu ngon, hay xem một trận bóng rổ. Không phải tình dục chỉ là những thứ như trên nhưng mạnh mẽ hơn đâu, tình dục chạm đến những chiều sâu tinh thần và cảm xúc mà những thú vui bình thường không thể chạm đến. Những giá trị nhân văn cốt lõi như tình yêu, tôn trọng, và ý thức bản thân luôn tồn tại trong tình dục. “Tình qua đường” là một ảo tưởng nguy hiểm. Tình dục là một vấn đề với chúng ta, chủ yếu là vì chúng ta đánh đồng nó với thú vui.”

Hai năm sau, trong một bài khác về Công ích (19-3-218), bình luận về cơn bột phát đạo đức khơi lên do phong trào #MeToo, Gutting đã viết: “Cơn bột phát của chúng ta có vẻ lạ thường, nhất là trong bối cảnh Hollywood, vì ngành công nghiệp giải trí, cùng với ngành quảng cáo, ngành công nghiệp tự lực, và giới trí thức “khai sáng” – là nguồn chính của khái niệm được chấp nhận rộng rãi rằng tình dục phải tách biệt khỏi sự nghiêm trọng của các phê bình đạo đức và được xem là một cách khác để con người hiện đại có thể tận hưởng. …Tôi không yếm thế, nhưng tôi nghĩ đáng để suy ngẫm về sự căng thẳng giữa cơn bột phát đạo đức đối với nạn quấy rối tình dục và đạo đức của tình dục tự do. Vấn đề cốt lõi là nguyên tắc xử thế này tán thành quan niệm rằng tình dục về đặc thù nên chỉ là một cách vui thú khác mà thôi. …Nguyên tắc xử thế này dĩ nhiên cởi mở với quan niệm rằng tình dục cũng có thể là một biểu lộ của sự thân mật đơn ái, có cam kết, và sâu sắc, nhưng nó vẫn cho thấy chẳng có vấn đề gì với kiểu tình dục khởi đầu và kết thúc chỉ để vui thú.”

Tình dục có thể khởi đầu và kết thúc chỉ để vui thú? Nhiều người trong văn hóa thời nay hẳn sẽ nói là có. Có vẻ chúng ta đã tiến hóa đến mức đó.

Trong khoảng thời gian nửa thế kỷ, chúng ta đã chứng kiến nhiều sự đảo chiều về luận thuyết trong cách nền văn hóa đánh giá tính dục về mặt đạo đức. Cho đến thập niên 1950, quy chuẩn đạo đức về tình dục phổ biến vẫn gắn chặt tình dục với hôn nhân và có con cái. Tình dục được xem là hợp đạo đức khi được chia sẻ trong hôn nhân và sẵn sàng có con cái. Thập niên 1960 đã loại bớt phần tình dục liên quan đến sinh con cái, vì nền văn hóa đã chấp nhận kiểm soát sinh sản. Nhưng tình dục vẫn cần phải nằm trong hôn nhân. Tình dục trước hôn nhân và ngoài hôn nhân, dù có phổ biến, vẫn không được xem là được chấp nhận về mặt đạo đức.

Thập niên 1970 và 1980 đã thay đổi điều đó. Nền văn hóa của chúng ta trở nên chấp nhận tình dục ngoài hôn nhân, miễn sao có tình yêu sự đồng thuận. Do đó, tình dục trở thành mức tiếp theo trong việc hẹn hò. Thế hệ thời nay sinh ra và lớn lên trong quy chuẩn đạo đức đó. Cuối cùng, đến thập niên 1990, thế hệ millennium vẫn đem lại một sự đảo chiều triệt để hơn nữa, cụ thể là tình dục “qua đường”, một thứ tình dục mà linh hồn, cảm xúc và sự cam kết bị chủ tâm loại trừ khỏi mối quan hệ. Với nhiều người thời nay, tình dục có thể được hiểu là một hoạt động giải trí thuần túy, và vẫn đạo đức nhé, thuần túy chỉ để vui thú.

Vậy thì chúng ta nói được gì về điều này? Tình dục chỉ để vui thú? Câu trả lời của tôi cũng như của Gutting. Tình dục chỉ để vui thú thì không ổn vì dù có cố hết sức, chúng ta vẫn không thể tách rời tình dục khỏi linh hồn.

Xét cho cùng, tình dục chỉ để vui thú thì chẳng vui, trừ phi trong trí tưởng tượng, trong hệ tư tưởng xa lìa thực tế, và trong những tiểu thuyết và phim ảnh ngây thơ. Với người nhạy cảm, nó luôn đem lại nỗi nhức nhối trong tim, còn với người vô cảm nó luôn khiến trái tim thêm chai đá. Với tất cả mọi người, nó đem lại sự bóc lột tình dục. Nghiêm trọng nhất, nó dẫn đến một sự vô hồn nhất định. Khi tình cảm không có chỗ đứng đúng của nó trong tình dục, thì còn tệ hơn khi bị tách hẳn ra khỏi tình dục, cuối cùng chúng ta hạ giá mình, không còn tôn trọng bản thân hay người khác cho đúng nữa, và cuối cùng, sẽ chẳng đem lại hạnh phúc với bản thân cũng như sự tôn trọng dành cho người khác.
Linh hồn là điều đáng để bảo vệ, nhất là trong tình dục.

Nhưng những người khác đâu?

Hầu hết chúng ta từ nhỏ được dạy để tin rằng mình có quyền sở hữu bất kỳ điều gì mà chúng ta có được cách ngay chính, dù là qua lao công hay được thừa kế hợp pháp. Dù tài sản đó có lớn bao nhiêu chăng nữa, miễn là chúng ta không gian lận để có nó, thì nó là của ta. Niềm tin này được tôn trọng tuyệt đối trong pháp luật của các nước dân chủ, và chúng ta thường tin rằng nó được Kitô giáo phê chuẩn về mặt đạo đức. Phần nào đúng, nhưng còn nhiều điều cần phải hiểu thêm.

Đây không thật sự là quan điểm trong các bản văn Kitô giáo, cũng không nằm trong huấn giáo xã hội của Giáo hội Công giáo. Không phải mọi thứ chúng ta có được cách ngay chính qua lao công của mình thì đơn thuần là của mình chiếm hữu. Chúng ta không phải là hòn đảo, và chúng ta không sống một mình trên đời theo kiểu việc lo cho phúc lợi của người khác là một chuyện muốn thì làm không thì thôi. Thi sĩ và văn sĩ người Pháp, Charles Peguy từng nói rằng khi tiến đến cổng thiên đàng, chúng ta đều sẽ bị hỏi: “Nhưng những người khác đâu?” (“Mais ou sont les autres?”) Câu hỏi này dành cho cả tính nhân văn và đức tin của chúng ta. Nhưng những người khác đâu? Thật là ảo tưởng và sai lầm khi nghĩ rằng mọi thứ chúng ta có do lao công thì phải là của mình. Nghĩ như thế là phải xem lại đời mình.

Thân sinh của ông Bill Gates, cách đây 15 năm, đã viết trên tờ Sojourners một bài, thách thức không chỉ người con nổi tiếng của mình, mà cả chúng ta nữa, với những lời này: “Xã hội có quyền rất lớn trên tài sản của người giàu. Điều này không chỉ bắt rễ trong các truyền thống tôn giáo, mà còn trong việc thành thật tính đến sự đầu tư trọng yếu của xã hội để tạo nền tảng màu mỡ cho sự sinh sản của cải. Do Thái giáo, Kitô giáo, và Hồi giáo đều xác nhận quyền sở hữu riêng và tài sản riêng, nhưng đặt ra các giới hạn luân lý về quyền sở hữu tuyệt đối. Mỗi truyền thống đều khẳng định chúng ta không phải là cá thể đơn độc mà là những thành phần trong cộng đồng, một cộng đồng có quyền trên chúng ta. Khái niệm “cái này hoàn toàn là của tôi” là một sự vi phạm những lời dạy và truyền thống này. Việc xã hội có quyền trên tài sản tích lũy của cá nhân “được căn cứ trên việc công nhận sự đầu tư gián tiếp và trực tiếp của xã hội vào thành công của một cá nhân. Nói cách khác, người đó không tự mình tạo dựng được chừng đó.” (Sojourners, tháng 1 đến tháng 2, 2003)

Không một ai tự mình tạo dựng được chừng đó, và do đó khi đạt được chừng đó, người đó phải công nhận rằng điều mình tích lũy được là kết quả không chỉ nhờ lao công của người đó mà còn nhờ cơ sở hạ tầng của toàn xã hội mà người đó sống. Do đó, những gì người đó tích lũy được không hoàn toàn là của người đó, không thể xem là tài sản đó hoàn toàn chỉ nhờ công sức của người đó mà có được.

Hơn thế nữa, luôn có một thứ mà Benjamin Hales gọi là “tấm màn của giàu sang” khiến chúng ta tin rằng mỗi người chúng ta xứng đáng có mọi thứ mình kiếm được. Hales đã khẳng định là không. Khó lòng xác định được ai là người được sở hữu cái gì. “Tấm màn của giàu sang là việc con người tin rằng nguồn lực, cơ hội và tài năng là những thứ ai cũng có được một cách nhưng không, rằng của cải dư tràn, rằng sự ngẫu nhiên hay tình cờ không có tác động tiêu cực gì đến những người đấu tranh để thành công nhưng lại thất bại vì những vấn đề không phải lỗi của họ… Nó khiến người ta làm ngơ trước nghịch cảnh của người khác, những nghịch cảnh người ta phải mang lấy từ khi lọt lòng. Khi nhất quyết rằng chúng ta cân nhắc các chính sách chung theo quan điểm của những người có lợi thế nhất, thì tấm màn của giàu sang lấp liếm đi sự thất thường của may rủi vô tình. Nhưng khoan đã, có lẽ bạn nghĩ, thế thì còn gì là thưởng phạt? Những người đã lao công, cực nhọc, vắt kiệt sức mình để khiến cuộc sống của mình và gia đình tốt đẹp hơn thì sao? Đây thật sự là một vấn đề quan trọng. Nhiều người làm việc cật lực để kiếm tiền cho mình và xứng đáng được giữ những gì họ kiếm được. Cả các giáo lý và lương thức đều trả lời như thế. Tấm màn của giàu sang thì cho rằng sân chơi công bằng, mọi thứ đạt được là đạt được cách công bằng, và không có may rủi gì cả. Khi làm thế, là nó thiên vị cho những người tốt số. …Thật là ảo tưởng của sự giàu sang khi tin rằng mỗi người chúng ta xứng đáng có những gì chúng ta kiếm được.” (New York Times, 12-8-2012)

Kinh thánh và huấn giáo xã hội của Công giáo tóm tắt điều này như thế này: Thiên Chúa dựng nên trái đất và muôn vật cho loài người. Do đó, theo lẽ công bằng, những thứ được tạo dựng phải chia đều cho mọi người. Mọi quyền khác đều chiếu theo nguyên tắc này. Chúng ta có quyền tư hữu và không ai bác bỏ quyền này của chúng ta, nhưng quyền đó phải chiếu theo lợi ích chung, theo sự thật rằng của cải vốn được định cho tất cả mọi người. Của cải và sở hữu phải được hiểu là những thứ để chúng ta quản lý hơn là chiếm giữ tuyệt đối. Cuối cùng, có lẽ điều thách thức nhất, là không một ai được dư thừa nếu người khác không có được những gì nhu thiết yếu. Khi tích lũy của cải và sở hữu, chúng ta phải luôn đối diện với câu hỏi này: “Nhưng những người khác đâu?” (“Mais ou sont les autres?”)

Đấu tranh để ăn mừng cho đúng

Chúng ta không biết làm sao để ăn mừng những điều đáng phải ăn mừng. Chúng ta muốn, nhưng hầu như chẳng biết làm thế nào. Thường thì chúng ta ăn mừng chẳng ra gì. Chúng ta thường ăn mừng thế nào? Bằng cách làm quá lên, bằng cách làm thật nhiều những thứ chúng ta thường làm, ăn, uống, nói, hát, pha trò, đến mức thừa mứa. Với hầu hết chúng ta, ăn mừng nghĩa là ăn quá nhiều, uống quá nhiều, hát quá lớn, pha trò quá nhiều, và cầu mong sao trong sư quá lố đó ta sẽ tìm ra điều biến dịp này thành đặc biệt.

Chúng ta có ý tưởng lạ lùng rằng chúng ta có thể tìm niềm vui đặc biệt bằng cách ép mọi thứ vượt quá giới hạn bình thường của nó. Nhưng chuyện này có một niềm vui đích thực nho nhỏ đáng trân quý. Niềm vui thích được thổi bùng lên khi liên hệ với người khác một cách sâu sắc hơn, khi cảm thấy cuộc đời chúng ta được mở rộng, và khi cảm nghiệm tình yêu và sự vui thú một cách đặc biệt. Nhưng trong sự điên cuồng, thì không như thế. Do đó, việc ăn mừng của chúng ta thường kéo theo các cơn say nguội, cả trong thân xác và cảm xúc. Tại sao lại thế? Tại sao việc ăn mừng đích thực lại khó làm như thế?

Có lẽ lý do chính là vì tự bẩm tính, chúng ta đấu tranh để đơn thuần hưởng thụ mọi thứ, đơn thuần xem cuộc sống, thú vui, tình yêu là những món quà rộng lượng nhưng không mà Chúa ban, đơn giản và hoàn toàn chỉ là thế. Chúng ta không thiếu khả năng hưởng thụ. Chúa đã ban cho chúng ta ơn này. Nhưng vấn đề là ở việc khả năng tận hưởng của chúng ta thường lẫn lộn với các cảm xúc tội lỗi mơ hồ về việc cảm nghiệm thú vui (và càng vui thú thì càng thấy có lỗi). Vì thế, và vì nhiều thứ khác nữa, chúng ta thường đấu tranh để tận hưởng những gì Chúa chính thức ban, vì dù ý thức hay vô thức, chúng ta cảm thấy việc tận hưởng thú vui có thể nói là “trộm của Chúa”. Đây là cảm giác khó chịu tác động đến các tâm hồn nhạy cảm và đạo đức. Có thể nói, nhân danh Chúa, chúng ta đấu tranh để cho mình toàn quyền tận hưởng, và điều này khiến chúng ta có khuynh hướng thái quá (vốn là một thứ thế tạm cho niềm vui đích thực).

Dù lý do là gì, chúng ta đấu tranh với chuyện này và do đó nhiều người trong chúng ta sống mà không có khả năng lành mạnh để tận hưởng, nhưng tự nhiên vẫn có cách của nó để cuối cùng chúng ta phải chọn giữa tận hưởng nổi loạn (các vui thú trộm của Chúa nhưng mang mặc cảm tội lỗi) và một đời sống kỷ luật trách nhiệm (mà chúng ta chẳng có mấy niềm vui). Nhưng chúng ta hiếm khi có thể ăn mừng một cách đích thực. Chúng ta hiếm khi tìm được niềm vui đích thực mà chúng ta tìm kiếm trong đời, chính nó đẩy chúng ta vào sự ăn mừng giả tạo, cụ thể hơn, là ăn mừng thái quá. Nhưng nói đơn giản là, bởi chúng ta đấu tranh để cho mình quyền tận hưởng, mỉa mai thay, chúng ta lại có khuynh hướng theo đuổi vui thú quá nhiều và lại không đúng cách nữa. Chúng ta nhầm lẫn thú vui với niềm vui, thái quá với ngây ngất, và mất ý thức với nhận thức nâng cao. Vì chúng ta không thể đơn thuần tận hưởng, nên chúng ta trở nên thái quá, thúc ép các giới hạn bình thường của mình, và mong là phá bỏ nhận thức sẽ nâng cao nhận thức.

Thế nhưng, chúng ta vẫn phải ăn mừng. Chúng ta có nhu cầu bẩm tại phải ăn mừng vì những thời khắc và sự kiện nhất định trong đời cần chúng ta phải ăn mừng (như sinh nhật, lễ cưới, tốt nghiệp, một thành tựu, hay thậm chí là tang lễ). Chúng buộc chúng ta phải dùng đến những nghi thức để nâng cao và tăng cường ý nghĩa của chúng để chia sẻ với người khác một các thật đặc biệt. Những gì chúng ta không ăn mừng thì chúng ta sẽ sớm không còn trân trọng.

Cũng đúng như thế với các thời khắc sáng tạo, vui thú, yêu thương sâu sắc hơn của chúng ta. Chúng cũng cần được ăn mừng, được nêu bật, được mở rộng và chia sẻ với người khác. Chúng ta có nhu cầu không thể đè nén, phải ăn mừng, và thế là tốt. Thật sự nhu cầu muốn được ngây ngất là thứ ghi sâu trong máu chúng ta rồi. Nhưng ngây ngất là một nhận thức được nâng cao, chứ không phải là gạt đi ý thức. Ăn mừng là để tăng cường nhận thức, chứ không phải gạt bỏ nó. Mục đích của ăn mừng là nêu bật những sự kiện và cảm xúc nhất định để chia sẻ với người khác một cách thật đặc biệt. Nhưng do hiểu lầm về ăn mừng, chúng ta hầu như chỉ ăn mừng giả tạo, làm quá lên đến độ không còn nhận thức và ý thức nữa.

Chúng ta phải khắc phục nhiều điều để đấu tranh sao cho có thể ăn mừng đích thực. Chúng ta vẫn còn phải học biết rằng sự tận hưởng nâng cao không nằm ở sự thái quá, một cộng đồng sâu sắc không có nơi sự thân thiết vô thức, và nhận thức nâng cao không có khi gạt bỏ ý thức của mình. Cho đến khi học được bài học đó, chúng ta vẫn còn phải lê bước về nhà, thấy trống rỗng hơn, mệt mỏi hơn, và cô đơn hơn trước bữa tiệc. Một cơn say nguội là dấu hiệu rõ ràng rằng, chúng ta đã bỏ sót gì đó. Chúng ta đấu tranh để biết cách ăn mừng, nhưng chúng ta phải tiếp tục cố gắng hơn nữa.

Chúa Giêsu đến và mở tiệc ăn mừng như ở tiệc cưới Cana. Họ đóng đinh Chúa Giêsu không phải vì Ngài không sống quá khổ hạnh, nhưng vì Ngài bảo rằng chúng ta phải thật sự tận hưởng cuộc sống, cam đoan với chúng ta rằng Thiên Chúa và cuộc sống sẽ cho ta nhiều điều tốt đẹp và vui thú hơn những gì ta đón nhận nổi, nếu như chúng ta có thể học cách đón nhận chúng với sự tôn kính đúng đắn và không sợ hãi phi lý.