RonRolheiser,OMI

Con đường nhỏ

Hầu hết trong chúng ta, ai cũng đã từng nghe nói về Thánh Têrêxa Hài Đồng, nhà thần nghiệm người Pháp qua đời năm 1897 ở tuổi 24 và có lẽ đây là vị thánh nổi tiếng nhất trong hai thế kỷ qua. Thánh Têrêxa nổi tiếng vì nhiều chuyện, nhất là về con đường tâm linh được gọi là “con đường nhỏ” của ngài. “Con đường nhỏ” là gì?

Suy nghĩ chung thường nhìn Thánh Têrêxa và “con đường nhỏ” của ngài là lòng mộ đạo đơn sơ không phải là công lý so với chiều sâu con người hay tâm linh của ngài. Thường thường “con đường nhỏ” được đơn giản hiểu là, vì danh Chúa Giêsu, chúng ta làm những việc bác ái nhỏ bé, ẩn giấu, khiêm nhường cho người khác mà không mong đợi được đáp trả lại. Trong cách giải thích phổ biến này, chúng ta đã gọt rửa, tẩy sạch các vết nhơ và tươi cười với những người khó chịu để làm vui lòng Chúa. Chắc chắn ở một vài khía cạnh, điều này là đúng; nhưng “con đường nhỏ” của Thánh Têrêxa cần được hiểu sâu rộng hơn.

Đúng, “con đường nhỏ” khuyên chúng ta nên làm những việc nhỏ, dễ thương với nhau nhân danh Chúa Giêsu, nhưng con đường này có những chiều kích sâu đậm hơn. “Con đường nhỏ” của Thánh Têrêxa dẫn đến sự thánh thiện dựa trên ba chuyện: nhỏ bé, ẩn danh và có động lực riêng.

Nhỏ bé: Đối với Thánh Têrêxa, “nhỏ bé” trước hết không phải là nhỏ bé trong các hành động chúng ta làm, rửa chén, gọt khoai hay tươi cười với người khó chịu. Nhỏ bé trước hết là nói đến tình trạng thấp hèn của chính mình, tình trạng khó nghèo tận cùng của mình trước mặt Chúa. Đứng trước Thiên Chúa, chúng ta nhỏ bé. Chấp nhận mình nhỏ bé, hành động trong tinh thần nhỏ bé là khiêm nhường. Chúng ta đến với người khác, đến với Chúa trên “con đường nhỏ” khi chúng ta làm các việc bác ái nhỏ cho người khác, chứ không bằng sức mạnh và đức tính mà chúng ta cảm nhận lúc đó, nhưng đúng hơn là qua cảm nhận mình khó nghèo, mình bất lực, mình trống rỗng để ân sủng Chúa làm việc qua chúng ta, để những gì chúng ta đang làm sẽ lôi kéo người khác đến với Chúa chứ không phải đến với mình.

Hơn nữa sự thấp bé của chúng ta làm cho chúng ta nghĩ, đa số chúng ta, chúng ta không làm chuyện gì lớn để thay đổi lịch sử nhân loại. Nhưng chúng ta có thể thay đổi thế giới qua các việc thấp bé của mình, chúng ta gieo đây đó hạt mầm ẩn giấu, như một loại kháng sinh tiềm ẩn cho sức khỏe tâm hồn, phân chia nguyên tử tình yêu trong chính con người mình. Và như thế, “con đường nhỏ” là làm những chuyện khiêm tốn, ẩn giấu.

Ẩn danh: “Con đường nhỏ” của Thánh Têrêxa là con đường ẩn giấu, để những gì Cha thấy trong ẩn giấu sẽ được đền đáp trong ẩn giấu. Và những gì ẩn giấu không phải là việc làm bác ái của chúng ta, nhưng là chính chúng ta, những người đang làm việc này. Trong “con đường nhỏ”, các hành động bác ái nhỏ của chúng ta đa phần không được chú ý, dường như không có một tác động nào thực sự trên lịch sử nhân loại và nó cũng không mang lại cho chúng ta một lòng biết ơn nào. Nó vẫn ẩn giấu, không ai biết nhưng bên trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, những gì ẩn giấu, không vụ lợi, không ai biết, những gì bị xóa mờ, những gì không đáng kể, không quan trọng chính là chiếc xe quan trọng nhất của tất cả để ân sủng ở một mức độ sâu đậm nhất. Giống như Chúa Giêsu, Chúa không cứu chúng ta bằng các phép lạ giật gân và các hành động đáng kể, nhưng Ngài cứu chúng ta qua sự vâng phục không điều kiện với Chúa Cha và qua sự tử đạo thầm lặng, các việc làm của chúng ta cũng vẫn là những việc làm không ai biết, để cái chết và tinh thần chúng ta để lại mới làm cho chúng ta thực sự nên ơn ích.

Cuối cùng, “con đường nhỏ” dựa trên một động lực đặc biệt. Chúng ta được mời gọi để hành động khởi đi từ sự thấp bé và ẩn danh của mình, làm các hành động yêu thương nhỏ, phục vụ người khác vì một lý do đặc biệt, theo nghĩa bóng, đó là lau gương mặt đang đau khổ của Chúa Kitô. Bằng cách nào?

Thánh Têrêxa Lisiơ là người cực kỳ được ân phúc và có biệt tài. Dù từ đầu đời, ngài đã trải qua nhiều đau khổ, nhưng như ngài công nhận và theo chứng từ của nhiều người, Thánh Têrêxa được yêu thương một cách thuần khiết, sâu đậm và tuyệt vời đến nỗi làm cho nhiều người phải ao ước. Ngài cũng là em bé rất dễ thương, được bao quanh bởi yêu thương và an toàn của một đại gia đình mà mỗi nụ cười, mỗi giọt nước mắt đều được chú ý, đều được yêu mến (và thường được chụp hình). Nhưng khi ngài lớn lên, ngài nhanh chóng nhận ra, những gì có thật trong đời sống của mình không phải ai cũng có. Nụ cười và nước mắt của họ không ai chú ý và cũng không được ai yêu mến. Như thế “con đường nhỏ” của ngài xây dựng trên một động lực đặc biệt. Và đây là lời của Thánh Têrêxa:

“Một ngày chúa nhật nọ, khi nhìn hình Chúa Giêsu trên thập giá, hình ảnh máu chảy ra từ bàn tay cực thánh của Ngài đã làm cho tôi xúc động mãnh liệt. Tôi cảm thấy đau đớn tột cùng khi nghĩ, giọt máu này rơi xuống đặt mà không ai vội đến thấm. Tôi quyết tâm giữ tinh thần mình luôn ở dưới chân thập giá và nhận sương rơi của Ngài… Ôi, tôi không muốn giọt máu này bị mất. Tôi sẽ dành cả đời để lau thấm nó vì lợi ích cho các linh hồn. Sống cho tình yêu, đó là lau khô khuôn mặt của bạn.”

Sống “con đường nhỏ” là để ý và yêu mến các giọt nước mắt không ai chú ý rơi từ khuôn mặt của những người đau khổ.

Mười quyển sách hay nhất đến với tôi năm 2019

Có một châm ngôn la-tinh cho rằng, về khiếu thưởng thức thì không có tranh luận, de gustibus non est disputandum. Tôi dùng câu này để mở đầu cho danh sách mười quyển sách mà tôi thích nhất trong năm qua, vì chắc chắn, sở thích là một cái gì hơi chủ quan. Tôi chọn những quyển sách này đặc biệt vì chúng sâu đậm đối với tôi. Có thể chúng cũng như vậy với các bạn. Vậy là đã đủ. Về sở thích thì không có gì để bàn cải.

Và đây là mười quyển sách đã tác động đến tôi nhiều nhất trong năm qua.

  1. Bernardo Olivera, Có thể đến tận đâu? Các vị tử đạo của Atlas (How Far to Follow? The Martyrs of Atlas). Quyển sách kể câu chuyện đấu tranh nội tâm của các tu sĩ Dòng Trappist đã tử đạo ở Algeria năm 1996, các vị đã bị những kẻ cực đoan hồi giáo giết. Giống như cuốn phim, Các vị thần và con người (Des dieux et des hommes), quyển sách tập trung vào cuộc chiến đấu sâu đậm mà các tu sĩ này đã chịu lúc phải quyết định rời tu viện hay ở lại đối diện với việc tử đạo.
  2. Donald Senior, Raymond E. Brown và canh tân Kinh Thánh công giáo (Raymond E. Brown and the Catholic Biblical Renewal). Đây là tài liệu nghiên cứu kỹ lưỡng và viết rất hay, là tiểu sử của học giả Kinh Thánh nổi tiếng, Raymond E. Brown, người nổi bật về sự uyên bác, tinh thần môn đệ và chức thánh của mình. Quyển sách là câu chuyện về trí tuệ của Brown hơn là biên niên đời sống của cha, thú vị qua việc chia sẻ câu chuyện trí tuệ và nêu bật các đấu tranh thần học và giáo hội đặc biệt ở thế hệ của cha Brown. Đối với nhiều người trong chúng ta, đây là một ám ảnh quen thuộc.
  3. Rachel Held Evans, Năm vừa qua khi đọc các bài phê bình sách, tôi khám phá các tác phẩm của Rachel Held Evans. Tôi xin nêu ra đây các tác phẩm đã tác động sâu đậm đến tôi: Tìm kiếm ngày chúa nhật, Yêu thương, Rời bỏ, và Tìm kiếm Nhà thờ; Cảm hứng, Giết những kẻ khổng lồ, Đi trên nước, và Yêu thương Kinh Thánh lại; và Một năm của phụ nữ trong Kinh Thánh (Searching for Sunday, Loving, Leaving, and Finding Church; Inspired, Slaying Giants, Walking on Water, and Loving the Bible Again; and A Year of Biblical Womanhood).

Tác giả Rachel lớn lên trong nôi tin lành với một đức tin sâu đậm và vững chắc, nhưng đến tuổi trưởng thành, bà có những thách thức riêng, đặc biệt của một người can đảm và trung thực. Các quyển sách này cho thấy tác giả đấu tranh với ngôn ngữ mẹ đẻ tôn giáo của mình, bị sa ngã trong đức tin và cách đặc biệt bà tìm lại được con đường trở lại của mình. Câu chuyện của bà nói lên cuộc chiến đấu của hàng triệu người. Đó là bài học vô giá, cho dù quyển sách không phân biệt tiếng mẹ đẻ tôn giáo của mình. Tác giả là nhà văn có năng khiếu đặc biệt, nhưng thật đáng tiếc, bà qua đời ở tuổi 37. Chúng ta mất đi một tiếng nói tôn giáo cần thiết, nhưng những gì bà để lại có thể giúp cho nhiều người trong chúng ta sàng lọc lại các đấu tranh tôn giáo của mình.

  1. Jean Bosco Rutagengwa, Tình yêu thắng thế, câu chuyện của một cặp vợ chồng về đức tin và sự sống còn trong vụ diệt chủng ở Rwanda, (Love Prevails, One Couple’s Story of Faith and Survival in the Rwandan Genocide).

Có người đã nói, nếu có ngày nào đó bạn muốn hiểu thảm kich Thế chiến Thứ hai, bạn có thể đọc hàng ngàn quyển sách về chủ đề này hoặc xem hàng trăm giờ phim về nó – và cũng có thể bạn chỉ cần đọc Nhật ký Anne Frank. Đây là quyển “nhật ký” viết từ bên trong cuộc diệt chủng kinh hoàng ở Rwanda.

  1. Robert Ellsberg, Tin Mừng sống động, đọc câu chuyện về Chúa trong đời sống các thánh (A Living Gospel, Reading God’s Story in Holy Lives). Đời sống các thánh là Tin Mừng sống của chúng ta và tác giả Robert Ellsberg là người viết sách các thánh hàng đầu trong tiếng Anh. Quyển sách tuyệt vời này vừa dạy chúng ta về đời sống các thánh vừa giải thích vì sao đời sống các thánh lại quan trọng như vậy.
  2. Margaret Renkl, Di cư muộn, câu chuyện tự nhiên của tình yêu và mất mát (Late Migrations, A Natural History of Love and Loss). Đây là quyển sách độc đáo, một thi pháp về tình yêu, thiên nhiên, tôn kính, đời sống gia đình, cái chết và khả năng phục hồi của con người. Đây là một tuyệt tác của nghệ thuật.
  3. Richard Rohr, Chúa Kitô hoàn vũ, (The Universal Christ). Quyển sách này thách thức chúng ta, và với một nền thần học vững chắc, sẽ thách thức thần học chính thống trong quan niệm phổ biến của nó về cả ý định và phạm trù nhập thể. Một quyển sách quan trọng.
  4. Ruth Burrows, Đứng trước Thiên Chúa Hằng sống (Before the Living God). Đây là quyển tự truyện của Ruth Burrows. Quyển này tôi đọc lần đầu tiên cách đây 32 năm. Khi đó tôi đã rất xúc động và 32 năm sau tôi vẫn còn xúc động. Trong câu chuyện của bà, chúng ta sẽ hiểu hơn về chính câu chuyện của mình và chuyển động của Chúa trong đời sống của mình.
  5. David Brooks, Ngọn núi thứ hai, Cuộc đi tìm đời sống đạo đức (The Second Mountain, The Quest for a Moral Life). Quyển sách Ngọn núi thứ hai tương ứng với những gì mà các nhà văn thiêng liêng như Richard Rohr gọi là nửa sau của đời sống (The Second-Half of Life). Dựa trên chính kinh nghiệm của mình và pha trộn một cách sáng tạo các quan điểm thế tục và tôn giáo, tác giả giới thiệu một cái nhìn đầy thách thức về ý nghĩa thế nào là trưởng thành, đi từ đứa bé đói khát đến người lớn trưởng thành trong ân phúc. Một quyển sách tuyệt vời.
  6. Mary Jo Leddy, Vì sao chúng ta ở đây, một suy niệm ở Canada (Why Are We Here, A Meditation on Canada). Đây là quyển sách của một người Canada, và không phải là quyển sách không quan trọng. Bà Mary Jo Leddy, nhà sáng lập và giám đốc Nhà Romero cho người Tị nạn ở Toronto, tiếng nói của bà luôn mang tính ngôn sứ. Trong quyển sách này, bà cho rằng mỗi quốc gia có “tội nguyên thủy của mình”, một lỗi nguyên thủy trong nguồn gốc của mình mà bây giờ lấm vết của nó vẫn còn trong hiện tại. Theo bà, đó là cách chúng ta đối xử với người dân bản địa khi hình thành một quốc gia. Nước Canada không phải là nước duy nhất có “tội nguyên thủy.” Nước nào cũng có tội nguyên thủy của mình. Và mọi người nên đọc quyển sách này.

Nhập thể sâu đậm – Một ý nghĩa khác của lễ Giáng Sinh

Cách đây vài năm, trong một buổi hội thảo tôn giáo, một người tiến đến gần máy vi âm, sau khi xin lỗi vì ông nghĩ đây là câu hỏi không phù hợp, ông hỏi: “Tôi mê con chó của tôi. Khi nó chết, nó có lên thiên đàng không? Động vật có đời sống vĩnh cửu không?”

Câu trả lời cho câu hỏi này có thể làm nhiều người ngạc nhiên, nhưng qua cái nhìn của đức tin kitô giáo, thì có, con chó có thể lên thiên đàng. Đó là một trong các ý nghĩa của lễ Giáng Sinh. Chúa xuống trần để cứu thế giới, không phải chỉ con người sống trên quả đất. Nhập thể có một ý nghĩa cho nhân loại, nhưng cũng có ý nghĩa cho toàn vũ trụ. Chính xác điều đó có nghĩa là gì, trí tưởng tượng của chúng ta không ở tầm mức hình dung ra được, nhưng, nhờ nhập thể, con chó cũng có thể lên thiên đàng. Có hoang tưỏng đây không? Không, đó là giảng dạy của Kinh Thánh.

Lễ Giáng Sinh là lễ mừng Chúa ra đời, chúng ta thấy trong sự ra đời của Ngài là khởi đầu mầu nhiệm nhập thể diễn ra trong lịch sử, mầu nhiệm Chúa mặc xác phàm để cứu nhân loại. Và với điều này, chúng ta có khuynh hướng đấu tranh, làm sao để hiểu Chúa cứu thế giới có nghĩa là gì. Hầu hết chúng ta xem điều này có nghĩa là Chúa Kitô xuống trần để cứu con người, những người trong chúng ta có ý thức về mình và những tâm hồn vĩnh cửu.
Điều đó đúng, nhưng đức tin cũng đòi hỏi chúng ta tin rằng hành động cứu rỗi của Chúa trong Chúa Kitô trải rộng ra ngoài cả loài người, ngoài cả động vật và các sinh vật sống khác. Hành động của Chúa trong Chúa Kitô đạt đến mức sâu đậm đến mức có thể cứu được chính sự tạo dựng – đại dương, núi đồi, đất đai trồng trọt, cát trong sa mạc và chính quả đất. Chúa Kitô xuống trần cứu tất cả mọi sự, chứ không phải chỉ một mình loài người chúng ta.

Chúng ta có thể hỏi ở đâu Sách Thánh đã dạy những điều này? Điều này được dạy ở hầu hết mọi chỗ một cách ngầm mặc, nhưng nó được dạy một cách khá rõ ràng ở một số nơi khác nhau. Chẳng hạn trong Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Rôma (8, 19-22), ngài viết: “Thật vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta. Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang. Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở.”

Điều này có thể làm chúng ta ngạc nhiên, vì cho đến gần đây, việc giảng dạy và giáo lý của chúng ta thường không làm điều này trở nên rõ ràng. Tuy nhiên ở đây Thánh Phaolô đã nói, chính sự tạo dựng thể lý, toàn vũ trụ, vào ngày tận thế, sẽ được biến đổi một cách vinh quang nào đó và được lên thiên đàng, tất cả cũng như loài người. Ngài cũng nói rằng, như chúng ta, cũng cảm nhận được sự chết và những rên siết để thoát khỏi các giới hạn hiện nay của mình.

Chúng ta cũng phải tự đặt cho mình câu hỏi này không? Chúng ta nghĩ gì sẽ xảy ra với tạo dựng thể lý vào cuối thời gian? Nó sẽ bi hủy hoại, đốt cháy, tiêu diệt? Hoặc đơn giản nó sẽ bị bỏ rơi, bỏ trống, bỏ hoang như cảnh sân khấu sau khi vở diễn kết thúc, trong khi chúng ta tiếp tục cuộc sống ở nơi khác? Sách Thánh chỉ dẫn cho chúng ta một cách khác, Sách Thánh nói với chúng ta chính tạo dựng thể lý, quả đất chúng ta sẽ được biến đổi (“không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát”) và sẽ lên thiên đàng với chúng ta. Làm thế nào điều này sẽ xảy ra? Chúng ta không thể hình dung được điều này, cũng như chúng ta không hình dung được trạng thái biến đổi của chính mình. Nhưng Sách Thánh bảo đảm với chúng ta điều này sẽ xảy ra, vì cũng như chúng ta, thế giới chúng ta, tạo dựng thể lý cũng được định sẵn để chết, và cũng như chúng ta, cảm nhận được sự chết và những rên siết để thoát khỏi các giới hạn của mình và trở thành bất tử.

Khoa học đồng ý. Nó cho chúng ta biết, tạo dựng thể lý là chết, mặt trời thiêu cháy, năng lượng từ từ giảm dần và quả đất như chúng ta biết sẽ có ngày chết. Trái đất cũng sinh tử như chúng ta, vì thế để có tương lai, trái đất phải được cứu bởi một cái gì đó hay bởi một ai đó bên ngoài. Cái Gì Đó và Ai Đó được mạc khải qua mầu nhiệm nhập thể, qua đó Chúa mặc xác phàm trong Chúa Kitô để cứu thế giới – và những gì Ngài cứu không phải chỉ có một mình chúng ta, những người sống trên quả đất nhưng đúng ra là “thế giới”, chính hành tinh và tất cả mọi thứ trên đó.

Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta không có gì cuối cùng là hư mất. Không một sợi tóc của một ai rơi, không một con chim sẻ nào rơi và biến mất mãi mãi, như thể nó chưa tồn tại. Thiên Chúa đã tạo dựng, yêu thương, chăm sóc và cuối cùng làm sống lại từng mảnh tạo dựng cho muôn đời kể cả con chó yêu quý.

Xem lại Công chính và Bác ái

Ít có đức tính nào quan trọng hơn đức bác ái. Đó là dấu hiệu của một quả tim nhân lành. Nhưng cảm nhận mình xứng công khi mình cho chính mình trong đức ái không được nhầm lẫn với cảm nhận sai lầm rằng chúng ta đã thật sự làm phần của mình.

Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta ai cũng phân biệt được công chính và bác ái. Bác ái là cho thì giờ, năng lực, tài lực và cho chính mình để giúp người anh em khi họ cần. Và đó là một đức hạnh đáng kính phục, dấu hiệu của một trái tim nhân hậu. Mặt khác, công chính thì ít trực tiếp với hành động cho, công chính là tìm cách thay đổi các hệ thống, các điều kiện để giúp người khác đang cần.

Chắc chắn chúng ta đều quen thuộc với ngụ ngôn được dùng để minh họa sự khác biệt này. Ngắn gọn nó như sau:
Có một thị trấn ở bên bờ sông ngày nào cũng có các thi thể nổi lềnh bềnh trên sông từ thượng nguồn chảy về. Dân làng thường giúp những người còn sống và tôn kính chôn người chết. Với lòng thành, họ làm từ nhiều năm nay; nhưng cũng trong các năm tháng này, không ai lên thượng nguồn để xem vì sao hàng ngày đều có người bị thương, có người chết trôi về.

Người dân thị trấn có lòng tốt và có đức ái, nhưng họ không làm gì để thay đổi tình trạng này. Hơn nữa, người dân nhân hậu cũng không ý thức về lối sống của họ, rõ ràng là nó chẳng liên quan gì đến các người bị thương, các người bị chết họ thấy mỗi ngày, như thế trên thực tế, họ cũng góp phần vào các nguyên do cho những cuộc đời mất mát này, họ tốt bụng nhưng họ cũng đồng lõa trong chuyện làm hại người khác, dù cho chuyện này mang động lực và phương tiện đến để họ làm việc từ thiện.

Bài học ở đây không phải chúng ta không nên tốt bụng, không nên bác ái. Bác ái giúp đỡ nhau, như dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu đã nói rõ ràng, và cũng đòi hỏi chúng ta, vậy vừa phải nhân đạo, vừa phải là tín hữu kitô. Bài học là có lòng tốt thôi chưa đủ. Đó là điểm khởi đầu, một chuyện tốt, nhưng nó còn đòi hỏi chúng ta hơn. Tôi nghĩ đa số chúng ta đã biết, nhưng có thể chúng ta ít ý thức hơn về một chuyện ít rõ ràng hơn, có thể chính tính quảng đại của chúng ta có thể làm chúng ta mù quáng, làm chúng ta ủng hộ (và bỏ phiếu cho) các khuynh hướng chính trị, kinh tế, các hệ thống văn hóa đổ lỗi cho những người bị thương, các thi thể mà chúng ta thấy trong các tổ chức từ thiện của chúng ta.

Công việc tổ chức từ thiện có thể làm chúng ta mù quáng, đồng lõa trong cái bất công, là điều được nhấn mạnh trong quyển sách gần đây của tác giả Anand Giridharada, Người chiến thắng có tất cả: Cuộc diễn hành ưu tú của việc thay đổi thế giới (Winners Take All: The Elite Charade of Changing the World). Trong một khẳng định đáng lo, tác giả Giridharada cho rằng, lòng rộng lượng có thể và thường là chọn lựa thay thế, một phương tiện để tránh sự cần thiết của một hệ thống phân phối quyền lực công chính và công bằng hơn. Bác ái là điều tuyệt vời nhưng chưa phải là công bằng; một tấm lòng tốt là điều tuyệt vời, nhưng chưa phải là chính sách tốt, chưa phục vụ cho những người kém may mắn nhất; và vị tha cũng là điều tuyệt vời nhưng nó có thể làm chúng ta lẫn lộn với bác ái mà chúng ta làm với công chính đòi hỏi của chúng ta. Vì lý do này, và trong số các lý do khác, các vấn đề tác giả Giridharada đưa ra không nên được riêng tư hóa và ủy quyền cho lãnh vực từ thiện cá nhân, như bây giờ thường hay xảy ra.

Christiana Zenner, khi bình luận sách của Anand trên tờ America, đã tóm tắt như sau: “Hãy cẩn thận với cám dỗ lý tưởng hóa một tổ chức hay một người hứa giúp mà người này, tổ chức này không ít nhất ở giữa chúng ta và không để ý đến các yếu tố có thể tạo điều kiện dễ dàng đầu tiên hết cho việc thống trị ». Và bà nói thêm: “Khi chúng ta thấy sự vi phạm của người khác qua các việc làm bất công trực tiếp, chúng ta bực mình, nhưng bất công và thủ phạm là chuyện hiển nhiên. Chúng ta thấy một cái gì sai và chúng ta tìm ai đó để đổ lỗi. Nhưng đây chính là điểm thực sự của nó, khi chúng ta sống với các hệ thống bất công vi phạm đến người khác, mà chúng ta có thể mù quáng đồng lõa, vì chúng ta cảm thấy mình tốt do các tổ chức từ thiện của chúng ta có thể giúp những người bị tác hại. »

Chẳng hạn: Chúng ta hình dung, một người tốt bụng cảm thấy mình chân thành đồng cảm với người vô gia cư trong thành phố. Vì lễ Giáng Sinh gần đến, tôi tặng một số lớn thức ăn và tiền bạc cho các tổ chức từ thiện địa phương. Hơn nữa, đến ngày lễ Giáng Sinh, trước khi ăn lễ ở nhà, tôi phục vụ hàng giờ cho bữa ăn của những người vô gia cư. Lòng bác ái của tôi là đáng khâm phục, và tôi cảm thấy tốt về việc tôi vừa làm. Và đó là điều tốt! Nhưng khi ủng hộ cho một chính trị gia hay một chính sách ưu tiên cho người giàu và như thế là bất công với người nghèo, chúng ta có thể dễ dàng suy luận, tôi chỉ làm đúng phần tôi và tôi có một quả tim cho người nghèo, trong khi chính lá phiếu của tôi đảm bảo rằng, sẽ luôn có người vô gia cư cần thức ăn vào ngày lễ Giáng Sinh.

Ít có đức tính nào quan trọng hơn đức bác ái. Đó là dấu hiệu của một quả tim nhân lành. Nhưng cảm nhận mình xứng công khi mình cho chính mình trong đức ái không được nhầm lẫn với cảm nhận sai lầm rằng chúng ta đã thật sự làm phần của mình.

Cắm rễ trong lòng nhân hậu của Chúa

Chúa Giêsu sẽ làm gì trong trường hợp này? Đối với một số tín hữu kitô, đó là câu trả lời dễ dàng cho mọi câu hỏi. Trong mỗi tình huống, chúng ta chỉ cần hỏi: Chúa Giêsu sẽ làm gì?

Ở một mức độ sâu sắc, đó là điều đúng. Chúa Giêsu là tiêu chí tối thượng. Ngài là đường, là sự thật và là sự sống, tất cả những gì đi ngược điều này đều không phải là con đường dẫn đến với Chúa. Tuy nhiên, tôi nghĩ rất nhiều người trong chúng ta sẽ dị ứng qua cách trả lời này, lời nói thường biểu hiện một cách quá đơn giản, như một chủ nghĩa cơ bản khó mà tiêu hóa nổi. Nhiều lúc bực bội về kiểu này, chúng ta chỉ muốn nói: Chúa Giêsu chẳng liên quan gì đến chuyện này! Nhưng dĩ nhiên, khi những chữ này vừa vuột ra khỏi miệng, chúng ta nhận ra ngay câu nói này tệ quá sức! Chúa Giêsu quá liên quan đến các vấn đề thần học, giáo hội hay phụng vụ dù nó phức tạp đến như thế nào. Dĩ nhiên nguy cơ của chủ nghĩa cơ bản là ở đây; nhưng cũng nguy hiểm không kém khi trả lời các câu hỏi thần học, giáo hội, phụng vụ mà không xem xét xem Chúa Giêsu sẽ làm gì trong trường hợp này. Ngài luôn và vẫn mãi mãi là một tiêu chí bất di bất dịch.

Nhưng nếu Chúa Giêsu là một tiêu chí bất di bất dịch thì Ngài không đơn giản. Vậy Chúa Giêsu đã làm gì? Khi nhìn cuộc đời của Ngài, chúng ta thấy đôi khi Ngài làm các chuyện theo cách này, đôi khi theo cách khác, lại có khi Ngài bắt đầu làm một chuyện theo hướng này, và cuối cùng Ngài thay đổi ý kiến và làm theo cách khác, như chúng ta thấy trong việc Ngài đối xử với bà xứ Xyri-Phênixi (Mc 7, 24-30). Đó là lý do vì sao tôi ngờ trong kitô giáo có rất nhiều danh xưng, nhiều linh đạo và cách thờ phượng khác nhau, mỗi người có cách chú giải về Chúa Giêsu riêng của mình. Chúa Giêsu là phức tạp.

Với sự phức tạp của Chúa Giêsu, không phải tình cờ mà các thần học gia, các nhà thuyết giảng, các nhà hướng dẫn thiêng liêng thường tìm trong con người của Ngài và trong lời dạy của Ngài các phuơng cách nào phản ánh nhiều hơn cách mà họ xử lý tình huống không theo kiểu của Ngài. Chúng ta thấy điều này khắp nơi trong các nhà thờ, tôi nói điều này với cảm thông chứ không phán xét. Không ai trong chúng ta hiểu đúng hoàn toàn về Chúa Giêsu.

Thế thì chuyện này khiến chúng ta phải như thế nào? Chúng ta có đơn giản tin tưởng vào sự giải thích riêng của mình về Chúa Giêsu không? Chúng ta có dựa vào thẩm quyền giáo hội hay học thuật mà không phân định và chúng ta có tin chắc rằng nó sẽ cho chúng ta biết về Chúa Giêsu sẽ làm gì trong mọi tình huống không? Có thể nào có một “con đường thứ ba không?”

Có một “con đường thứ ba”, con đường của đa số các phái kitô giáo, trong đó chúng ta đặt các giải thích riêng của mình theo truyền thống giáo luật của giáo hội, và chúng ta chấp nhận – dù không mù quáng và không chỉ trích- vâng lời và theo giải thích của cộng đoàn lớn hơn, lịch sử lâu đời hơn, kinh nghiệm rộng lớn hơn, khiêm tốn chấp nhận, dù có thể ngây thơ (và kiêu ngạo) khép mình trong 2000 năm kinh nghiệm kitô giáo, để tin rằng sự thấu suốt của chúng ta về Chúa Giêsu là một sự điều chỉnh cần thiết cho một tầm nhìn đã truyền cảm hứng cho hàng triệu người qua bao nhiêu thế kỷ.

Tuy nhiên chúng ta không mang các tiếng gọi của lương tâm mình, các câu hỏi quan trọng của mình, các dị ứng của một số điều nào đó, các vết thương của chúng ta đến cửa nhà thờ. Cuối cùng, tất cả chúng ta phải trung thành với chính lương tâm của mình, trung thành với các hiểu biết cụ thể mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta và quan tâm đến các tổn thương mà chúng ta mang. Các ân sủng và tổn thương của chúng ta đều phải được lắng nghe, cũng như các tiếng nói sâu đậm nhất trong lương tâm chúng ta cũng cần phải được xem xét khi chúng ta hỏi: Chúa Giêsu sẽ làm gì?

Chúng ta phải trả lời câu hỏi này cho chính chúng ta bây giờ và phải chịu căng thẳng giữa vâng lời giáo hội và không phản bội với tiếng nói phê phán trong lương tâm riêng của mình. Nếu chúng ta trung thực làm điều này, cuối cùng mọi sự sẽ biến đổi tuyệt đối trong chúng ta: Thiên Chúa cực tốt cực lành! Tất cả những gì Chúa Giêsu giảng dạy và nhập thể đều được xây dựng trên sự thật này. Tất cả những gì gây thỏa hiệp hay nói ngược lại, dù đó là nhà thờ, là thần học, là thực hành phụng vụ hay linh đạo đều là sai. Và bất kỳ tiếng nói nào trong giáo điều hay trong lương tâm riêng đi ngược với điều này cũng là sai.

Làm thế nào chúng ta nhận thức các sắc màu của Chúa cho điều tốt cũng như điều xấu trong việc giữ đạo của chúng ta. Và trên tất cả, Chúa Giêsu đã mạc khải điều này về Thiên Chúa: Thiên Chúa là cực tốt cực lành. Sự thật này phải được xây dựng trên tất cả, cho nhà thờ, cho thần học, cho linh đạo, cho phụng vụ và cho sự thấu cảm của chúng ta về người khác. Đáng buồn thay, điều này lại không được như vậy. Nỗi sợ Chúa không tốt bị ngụy trang một cách tinh tế, nhưng luôn được biểu lộ bất cứ khi nào, trong các lời giảng dạy của chúng ta hay trong việc giữ đạo, bằng cách nào đó làm cho Chúa trên trời thành không thấu hiểu, không thương xót, mù quáng, không vô điều kiện trong tình yêu như Chúa Giêsu ở trần gian. Đó cũng là biểu hiện bất cứ khi nào chúng ta sợ chúng ta ban phát quá nhiều ân sủng nhưng không và làm cho Chúa trở nên dễ gần.

Đáng buồn thay, Thiên Chúa mà chúng ta gặp trong các nhà thờ ngày nay thường quá hẹp hòi, quá tàn nhẫn, quá bộ tộc, quá nhỏ mọn và quá không đáng tin để xứng đáng với Chúa Giêsu… hoặc tâm hồn chúng ta đầu hàng.

Chúa Giêsu sẽ làm gì? Phải công nhận câu hỏi rất phức tạp. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng chúng ta sẽ có câu trả lời sai bất cứ khi nào chúng ta làm điều không tốt cho Chúa, khi chúng ta đặt điều kiện cho một tình yêu không điều kiện, và mỗi khi, một cách tinh tế chúng ta chận đường đến với Chúa, đến với lòng thương xót của Ngài.

Điều gì tạo nên lòng trung thành?

Để mỗi người chúng ta giữ được lòng trung thành, chúng ta cần người này người kia. chúng ta cần hơn cả một ngôi làng, chúng ta cần tất cả. Lòng trung thành của mỗi người làm cho lòng trung thành của mọi người dễ dàng hơn, cũng như sự không trung thành của một người làm cho sự trung thành của người khác khó hơn. Vì thế, trong một thế giới cực kỳ cá nhân và thoáng qua, khi chúng ta có cảm tưởng như mọi người xa mình, món quà đẹp nhất mà chúng ta có thể cho, chính là món quà của lòng trung thành riêng của mình, món quà ở lại lâu dài.

Trong thế giới ngày nay ngày càng khó khăn để tin tưởng bất cứ ai vì một lý do chính đáng nào. Ít có chuyện gì ổn định, bền vững, đáng tin cậy. Chúng ta sống trong thế giới mọi sự đều là dòng chảy, ở đâu cũng phải dè chừng, các giá trị bị bỏ rơi, mọi người rời chỗ mình ở, thông tin mâu thuẫn, không trung thực và giả dối được xã hội và đạo đức chấp nhận. Không còn bao nhiêu tin tưởng trong thế giới chúng ta.

Điều này kêu gọi chúng ta cái gì? Chúng ta được gọi để làm nhiều chuyện, nhưng có lẽ không có gì quan trọng hơn là lòng trung tín, là thẳng thắn và kiên trì trong việc giữ mình đúng thực là mình và với những gì chúng ta bảo vệ.

Và đây là một minh họa.

Một trong các nhà truyền giáo Dòng Anh Em Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm kể câu chuyện sau. Cha được gởi đến truyền giáo ở một nhóm của các cộng đoàn người thiểu số ở miền Bắc Canada. Mọi người rất dễ thương với cha nhưng nhanh chóng, cha nhận ra một chuyện. Chung chung, mỗi lần cha ấn định một cuộc hẹn thì không có ai đến. Mới đầu cha nghĩ do thiếu thông tin liên lạc, nhưng cuối cùng cha hiểu, chuyện này quá hiển nhiên để gọi đây là vì sự cố. Cha gặp một người lớn tuổi trong cộng đoàn để xin lời khuyên. Cha nói: “Mỗi lần tôi ấn định cuộc hẹn với họ thì không thấy ai đến.” Người lớn tuổi này hiểu vấn đề và trả lời: “Dĩ nhiên là họ không đến, chuyện họ cần là có một người ở ngoài cuộc như cha đến đây giúp họ tổ chức cuộc sống!” Nhà truyền giáo hỏi: “Vậy tôi phải làm gì?” Người lớn tuổi trả lời: “Cha đừng ấn định ngày hẹn, cha cứ đến và nói chuyện với họ! Họ sẽ dễ thương với cha. Quan trọng hơn nữa, đây là những gì cha cần làm: Cha ở lại đây lâu và làm cho họ tin tưởng. Họ muốn biết cha là nhà truyền giáo hay khách du lịch. Tại sao họ phải tin tưởng cha? Họ bị phản bội và nghe lời nói dối của hầu hết những người đến đây. Cha hãy ở lại đây lâu và làm cho họ tin tưởng.”

Ở lại lâu và làm cho họ tin tưởng. Ở lại lâu có nghĩa là gì? Chúng ta có thể ở lại và không nhất thiết tạo được tin tưởng, cũng như chúng ta có thể đi chỗ khác mà vẫn tạo được tin tưởng. Về bản chất, việc trung thành với bản chất, với con người của mình, với những gì chúng ta tin là chủ yếu để trung thành với các cam kết, các lời hứa mà chúng ta làm và những gì chân thật nhất trong con người của mình, để đời sống riêng của mình không đi ngược với hình ảnh mình có với quần chúng.

Món quà của lòng trung thành là món quà của một cuộc sống trung thực. Sự trung thực riêng tư của chúng ta là ơn ích cho cả cộng đồng, cũng như sự không trung thực riêng tư của chúng ta làm cho cả cộng đồng bị tổn thương. Nhà văn Parker Palmer đã viết: “Nếu bạn trung thành ở đây, bạn mang đến một ơn ích rất lớn.” Và nhà thơ người Afghanistan Rumi viết: “Nếu bạn ở đây mà không trung thực, bạn mang một tác hại rất lớn.” Trong mức độ mà chúng ta trung thành với những gì chúng ta tin, gia đình, bạn bè và cộng đoàn chúng ta đã cam kết và với các mệnh lệnh đạo đức sâu đậm nhất trong cõi lòng riêng của mình, chúng ta trung thành ở lại với người khác, và chúng ta “ở lại lâu dài với họ”. Điều ngược lại cũng đúng, trong chừng mực chúng ta không trung thành với tôn giáo của mình, với các lời chúng ta đã hứa và trung thực với chính tâm hồn mình, chúng ta không trung thành, chúng ta xa người khác, chúng ta chỉ là khách du lịch chứ không phải người truyền giáo.

Trong thư gởi cho tín hữu Ga-lát, Thánh Phaolô nói cho chúng ta biết thế nào là việc ở bên cạnh nhau, sống với nhau, vượt lên khoảng cách địa lý và các tình huống khác của đời sống làm chúng ta xa cách nhau. Chúng ta ở với nhau như anh chị em của nhau, trung thành với nhau khi chúng ta sống trong đức ái, vui vẻ, hòa bình, nhẫn nại, nhân hậu, đau khổ, dịu dàng, kiên trì và bác ái. Khi nội tâm chúng ta sống những điều này thì chúng ta “ở lại với nhau”, không xa nhau, dù khoảng cách địa lý làm chúng ta xa nhau. Ngược lại, khi chúng ta sống ngoài những điều này, “chúng ta không ở lại với nhau” dù chúng ta ở gần nhau. Như các nhà thơ thường hay nói, ở trong chúng ta, có một chỗ trong tâm hồn chúng ta, chứ không phải có một chỗ trên bản đồ. Và như Thánh Phaolô nói, ở trong chúng ta là sống trong Thần Khí.

Và tôi nghĩ, chính điều này cuối cùng đã định nghĩa lòng trung thành và kiên trì, là sự khác biệt giữa một nhà truyền giáo đạo đức và một khách du lịch, cho thấy ai là người ở lại, ai là người đi xa.

Để mỗi người chúng ta giữ được lòng trung thành, chúng ta cần người này người kia. chúng ta cần hơn cả một ngôi làng, chúng ta cần tất cả. Lòng trung thành của mỗi người làm cho lòng trung thành của mọi người dễ dàng hơn, cũng như sự không trung thành của một người làm cho sự trung thành của người khác khó hơn. Vì thế, trong một thế giới cực kỳ cá nhân và thoáng qua, khi chúng ta có cảm tưởng như mọi người xa mình, món quà đẹp nhất mà chúng ta có thể cho, chính là món quà của lòng trung thành riêng của mình, món quà ở lại lâu dài.

Thánh cho một tình trạng mới

Trong tình trạng thế tục hóa, với sự sung túc và cầu kỳ của nó, chúng ta đã thấy có một số người đã tìm phương tiện để trở thành người hậu-sung túc và hậu-cầu kỳ. Đây là các người lãnh đạo mới sẽ dạy chúng ta, chúng ta và con cái chúng ta làm thế nào để sống như những kitô hữu trong tình trạng mới này.

Ngày nay trong phạm vi nhà thờ chúng ta thường nghe than: nhà thờ của chúng ta bây giờ trống vắng. Chúng ta đã mất đi tuổi trẻ. Thế hệ này không còn biết, cũng không hiểu ngôn ngữ thần học cổ điển. Chúng ta phải loan báo về Chúa Giêsu theo một cách mới, như thể lần đầu tiên, nhưng bằng cách nào? Nhà thờ ngày càng bị gạt ra rìa.

Đó là tình trạng gần như ở khắp nơi trong thế giới thế tục ngày nay. Tại sao lại có chuyện này? Đức tin là điều lỗi thời? Đây là sự tự đại bốc đồng tuổi trẻ của tính thế tục trước bậc sinh ra nó là Do Thái-Kitô giáo? “Cái tôi xù lông” như nhà thần học Charles Taylor mô tả? Sung túc? Hay đây là vấn đề chủ yếu với chính nhà thờ? Lạm dụng tình dục? Bao che? Phụng vụ nghèo nàn? Giảng dở? Các nhà thờ quá tự do? Các nhà thờ quá bảo thủ?

Tôi nghi ngờ đây là một tổng hợp của tất cả các yếu tố này, nhưng tôi chọn một vấn đề duy nhất để nhấn mạnh, sự sung túc. Chúa Giêsu đã nói, rất khó (thậm chí không thể được) để người giàu vào Nước Trời. Chắc chắn đó là một phần lớn trong cuộc đấu tranh của chúng ta hiện nay. Chúng ta là kitô hữu tốt lành khi chúng ta nghèo, ít học và thường là sống bên lề xã hội. Chúng ta đã có nhiều thế kỷ giữ đạo như vậy. Chúng ta chưa bao giờ giữ đạo, chưa bao giờ tốt khi chúng ta giàu có, sành điệu và thuộc trào lưu văn hóa chủ đạo.

Vì vậy tôi đề nghị những gì chúng ta cần ngày nay không phải là một tiếp cận mục vụ mới, nhưng là một loại thánh mới, một người đàn ông, một phụ nữ có thể cho chúng ta một khuôn mẫu cụ thể, thế nào là sống Tin Mừng trong hoàn cảnh giàu có và thế tục. Vì sao là điều này?

Một trong các bài học lịch sử thực sự làm mới lại hình ảnh của đạo không đến từ các nhóm suy tư, các buổi hội thảo hay các thượng hội đồng của giáo hội, nhưng từ các cá nhân được ơn sủng – các thánh, các người nhiệt thành như Thánh Âugutinô, Thánh Phanxicô, Thánh Clara, Thánh Đôminicô, Thánh I-Nhã và các nhân vật tôn giáo khác có thể thay đổi hình ảnh tôn giáo trong đầu chúng ta. Họ cho chúng ta thấy cái mới ở nơi khác, những gì cần sửa chữa trong Giáo hội không phải đơn giản bằng cách vá cái cũ. Điều phải làm, đó là một trí tưởng tượng tôn giáo và giáo hội mới. Nhà thần học người Canada Charles Taylor trong nghiên cứu rất uy tín của ông về tính thế tục đã cho thấy, những gì chúng ta sống hôm nay không phải là cuộc khủng hoảng đức tin, nhưng là cuộc khủng hoảng của trí tưởng tượng. Trước chúng ta, không có một kitô hữu nào sống trong loại thế giới này.

Loại thánh mới này, thánh Phanxicô mới này sẽ trông giống như thế nào? Thành thật mà nói, tôi không biết. Hình như cũng không có ai khác biết. Chúng ta chưa có câu trả lời, ít nhất cũng chưa có ai sinh hoa kết trái trong văn hóa chủ đạo này. Điểm này không làm chúng ta ngạc nhiên. Loại trí tưởng tượng định hình lại lịch sử này không dễ gì tìm thấy. Trong khi đó chúng ta đã đi xa hết mức có thể trên con đường đã đưa chúng ta đến đó, con đường mà đa số con cái chúng ta không còn đi.

Và đây là tình trạng tiến thoái lưỡng nan của chúng ta: khi một người đã vào nhà thờ, chúng ta biết phải làm gì, nhưng chúng ta không biết cách làm sao đưa họ đến. Vì sao? Tôi nghĩ điểm yếu của chúng ta không ở trong trí tưởng tượng thần học, vì chúng ta có một hiểu biết thần học và Thánh Kinh phong phú. Điều chúng ta thiếu là thiếu các thánh trên lãnh vực này, các ông, các bà trong niềm đam mê và trung thành, họ vừa hoàn toàn trung thành với Chúa, vừa đồng cảm mãnh liệt với thế giới thế tục, thể hiện được đức tin của họ trong lối sống có thể cho chúng ta thấy một cách cụ thể, làm thế nào chúng ta vừa là môn đệ nghèo hèn và khiêm tốn của Chúa Giêsu, khi chúng ta ở trong một thế giới giàu có và rất thế tục.

Và những người mới như vậy sẽ xuất hiện. Qua lịch sử, chúng ta đã từng có kinh nghiệm và chúng ta luôn tìm phương tiện để tiến bộ. Mỗi lần thế giới nghĩ họ đã chôn Chúa Kitô thì hòn đá ngôi mộ lại bật ra, mỗi lần các nhà đạo đức văn hóa tuyên bố các nhà thờ đang trên đường trượt dốc không tránh khỏi thì Thần Khí lại can thiệp và ngay sau đó có một khuôn mặt trước mặt; mỗi lần chúng ta tuyệt vọng, nghĩ rằng thời buổi này không còn các thánh, các nhà tiên tri thì một Thánh Âugutinô, một Thánh Phanxicô xuất hiện, cho thấy ở thời buổi này cũng như thời buổi ngày xưa cũng có thể có các thánh; và mỗi lần trí tưởng tượng của chúng ta cạn kiệt, như trường hợp ngày nay thì chúng ta thấy Sách Thánh luôn có các ý tưởng mới. Có thể chúng ta thiếu tưởng tượng, nhưng chúng ta không thiếu hy vọng.

Chúa Kitô đã hứa, chúng ta sẽ không mồ côi và lời hứa này là chắc chắn. Thiên Chúa vẫn ở với chúng ta và thời buổi của chúng ta sẽ có các tiên tri và các thánh của mình. Ơn mà chúng ta xin lúc này là ơn kiên nhẫn và chờ Chúa. Kitô giáo có thể mệt mỏi, cạn kiệt, phải nỗ lực trong một văn hóa mà sự phong phú và phức tạp là các vị thần, nhưng hy vọng bắt đầu cho thấy; trong tình trạng thế tục hóa, với sự sung túc và cầu kỳ của nó, chúng ta đã thấy có một số người đã tìm phương tiện để trở thành người hậu-sung túc và hậu-cầu kỳ. Đây là các người lãnh đạo mới sẽ dạy chúng ta, chúng ta và con cái chúng ta làm thế nào để sống như những kitô hữu trong tình trạng mới này.

Sống theo ơn gọi

Có ơn gọi có nghĩa là gì? Thuật ngữ này được dùng trong giới tu hành cũng như trong giới thế tục và mọi người đều nghĩ ý nghĩa của nó đã rõ ràng. Vậy thì ơn gọi là gì?

Nhà tâm lý học Thụy Sĩ Karl Jung đã định nghĩa như sau: “Ơn gọi là một yếu tố phi lý giúp cho con người tự giải phóng khỏi bầy đàn và các đường mòn xưa cũ”. Nhà giáo nổi tiếng Frederick Buechner thì cho rằng: “Ơn gọi là niềm vui của bạn đáp trả cho cơn đói của thế giới.”

Nhà báo thời danh David Brooks suy nghĩ về ơn gọi trong quyển sách gần đây của ông Ngọn núi thứ nhì (The Second Mountain) cho chúng ta vài câu trích dẫn này của Jung và của Buechner, sau đó ông viết: Ơn gọi không phải là cái gì chúng ta chọn. Ơn gọi chọn chúng ta. Khi chúng ta cảm nhận ơn gọi như một khả thể trong đời sống của mình, thì chúng ta cũng cảm nhận mình không có chọn lựa, và chúng ta chỉ có thể hỏi: đâu là trách nhiệm của tôi ở đây? Đây không phải là câu hỏi mà chúng ta chờ trong cuộc sống, nhưng đúng hơn đó là câu hỏi mà cuộc sống chờ chúng ta. Hơn nữa, theo nhà báo Brooks, một khi chúng ta hiểu ơn gọi của mình, thì chúng ta không thể quay lưng với ơn gọi, và chúng ta sẽ nhận ra, mình sẽ có lỗi nếu mình quay lưng. Ông trích dẫn lời của nhà thơ William Wordsworth để hỗ trợ:

Lòng tôi đầy tràn, Tôi không khấn hứa
Nhưng lời khấn hứa, Được tạo cho tôi
Liên kết với tôi mà tôi không biết
Lời khấn hứa đó được trao cho tôi
Và tôi phải nên, và tôi phải theo
Nếu không tôi sẽ vô cùng phạm tội.

Ông Brooks gợi ý rất nhiều chuyện có thể giúp tâm hồn chúng ta nhận thức được ơn gọi của mình: âm nhạc, kịch nghệ, nghệ thuật, tình bạn, được ở bên cạnh trẻ con, được đẹp và nghịch lý thay, là nạn nhân của bất công. Ông còn đưa ra thêm hai quan sát: quan sát đầu tiên, chúng ta chỉ thấy và hiểu rõ ràng tất cả những chuyện này khi chúng ta lớn tuổi và khi chúng ta nhìn lại đàng sau đời sống, đàng sau các lựa chọn của mình; và thứ hai, dù tiếng gọi là một cái gì thiêng liêng, một cái gì thần nghiệm nhưng cách chúng ta thực sự sống với nó thường lộn xộn, trệch đường, bị lãng phí và chung chung là không cảm thấy linh thiêng gì cả.

Đúng vậy, tôi đã khá lớn tuổi và tôi nhìn lại đàng sau. Câu chuyện ơn gọi của tôi có giống như các mô tả này không? Chủ yếu là giống.

Lớn lên trong nền văn hóa công giáo la mã của những năm 1950 và đầu những năm 1960, tôi thuộc thế hệ công giáo mà mỗi em bé lớn lên được hỏi một cách nghiêm túc: “Tôi có ơn gọi không?” Ở thời buổi đó, câu hỏi này chủ yếu muốn nói: “Tôi có được gọi để làm linh mục, làm tu sĩ nam nữ không?” Trên thực tế, lập gia đình hay ở độc thân không được xem là ơn gọi, chỉ là chuyện thứ yếu. Ơn gọi cao cả là đời sống thánh hiến.

Vì vậy khi lớn lên trong môi trường này, tôi nghiêm túc đặt câu hỏi sau: “Tôi có ơn gọi làm linh mục không?” Và câu trả lời đến với tôi, không phải trong một cái nhìn sâu sắc, hay một cái gì quảng đại của trái tim, hay cuốn hút theo một lối sống nào đó. Không có gì trong các điều này. Câu trả lời đến với tôi như cái móc trong lương tâm tôi, như thử có một cái gì mà tôi không thể quay lưng cả về mặt đạo đức lẫn tôn giáo. Điều này đối với tôi như một bắt buộc, một trách nhiệm. Mới đầu tôi chiến đấu và cự lại với câu trả lời này. Đó không phải là những gì tôi muốn.

Nhưng đó là những gì tôi cảm thấy tôi được gọi. Có một cái gì đòi hỏi vượt ngoài các giấc mơ riêng của tôi. Đó là tiếng gọi. Dù khi đó tôi mới 17 tuổi, tôi quyết định vào Dòng Anh Em Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm và tôi được đào tạo để làm linh mục. Tôi ngờ ít có nhà cố vấn hay tâm lý nào đặt tin tưởng vào một quyết định như vậy với tuổi của tôi hồi đó; nhưng sau 50 năm, với một độ lùi, tôi nghĩ đó là quyết định trong trắng nhất và bất vụ lợi nhất tôi đã làm trong đời.

Và tôi không bao giờ nhìn lại. Tôi không bao giờ nghiêm túc cân nhắc việc từ bỏ cam kết này dù đôi khi tôi có đủ loại cảm xúc bất an, ám ảnh, khuấy động, chán nản và tội nghiệp mình, ám ảnh và hành hạ tôi. Tôi chưa bao giờ hối tiếc quyết định này. Tôi biết đây là những gì tôi được gọi để làm và tôi hạnh phúc theo cách mà các chuyện này diễn tiến. Nó mang lại cho tôi sự sống và giúp tôi phục vụ người khác. Và với các đặc điểm, các tổn thương và các yếu đuối cá nhân, tôi ngờ tôi sẽ tìm một con đường cũng sâu đậm như ơn gọi này đã cho tôi trong cuộc sống và trong cộng đoàn, dù nó có thể mang lợi ích cá nhân.

Tôi chỉ chia sẻ câu chuyện cá nhân để có thể hữu ích trong việc minh họa khái niệm ơn gọi. Nhưng đời sống tu trì và chức thánh chỉ là một ơn gọi. Có rất nhiều ơn gọi khác, tất cả đều lành mạnh và quan trọng. Ơn góp có thể là một nghệ sĩ, một nhà nông, một văn sĩ, một bác sĩ, một người cha, một người mẹ, một người vợ, một cô giáo, một người bán hàng và vô số các việc khác. Ơn gọi chọn chúng ta và làm lời khấn cho chúng ta – và các lời khấn này đặt chúng ta vào nơi này ở đây, nơi mình được đặt tốt nhất để phục vụ người khác và để có hạnh phúc.

Đức tin và giờ hấp hối

Chúng ta thường nuôi dưỡng một sự ngây ngô nào đó về ý nghĩa của đức tin khi đối diện với cái chết. Chung chung, tín hữu kitô chúng ta cho rằng ai có đức tin vững mạnh thì đứng trước cái chết họ không sợ hãi và không nghi ngờ. Hàm ý rằng nếu sợ hãi và nghi ngờ khi sắp cái chết là dấu hiệu của một đức tin yếu đuối. Dù đúng là có nhiều người có đức tin mạnh đã không sợ và bình thản trước cái chết, nhưng không phải ai cũng được như vậy và cũng không nhất thiết điều đó là chuẩn mực.

Chúng ta có thể bắt đầu với Chúa Giêsu. Chắc chắn Ngài có một đức tin vững mạnh, nhưng trước khi chết, Ngài đã kêu lên trong hãi sợ và nghi ngờ. Tiếng kêu khóc thống khổ của Chúa, “Lạy Chúa, Lạy Chúa, sao Chúa bỏ con” đến từ một nỗi thống khổ thực sự, chứ không phải để tạo hiệu ứng thần linh gì đó như đôi khi chúng ta mặc định theo lòng sùng đạo. Tiếng kêu đó không hẳn hướng về chúng ta, nhưng là một điều chúng ta nên nghe. Một vài phút trước khi chết, Đức Giêsu đã sống giây phút thực sự sợ hãi và nghi ngờ. Đức tin của Ngài đâu mất rồi? Điều này tùy thuộc vào cách chúng ta nghĩ về đức tin và phương cách cụ thể mà nó có thể diễn ra khi chúng ta sắp chết.

Trong nghiên cứu nổi tiếng của mình về các giai đoạn chết, nữ bác sĩ tâm thần Mỹ Elizabeth Kubler-Ross (1926-2004) đưa ra năm giai đoạn trong tiến trình chết: phủ nhận, giận dữ, mặc cả, trầm cảm, chấp nhận. Phản ứng đầu tiên của chúng ta khi nhận chẩn đoán cuối cùng là phủ nhận – chuyện này không thể xảy ra được! Sau đó khi phải chấp nhận thì phản ứng kế tiếp là giận dữ – vì sao là mình! Và giận dữ nhường chỗ cho mặc cả – tôi còn bao nhiêu thời gian nữa để sống? Rồi đến trầm cảm, và khi không làm gì được, chúng ta mới chấp nhận – tôi sắp chết. Tất cả các điều này đều đúng.

Nhưng trong một quyển sách sâu sắc, Ơn sủng khi hấp hối (The Grace in Dying), bà Kathleen Dowling Singh dựa trên kinh nghiệm khi ở bên đầu giường của những người sắp chết, bà đưa ra các giai đoạn khác: nghi ngờ, cự lại và ngây ngất. Các giai đoạn giúp chúng ta hiểu Chúa Giêsu khi Ngài đối diện với cái chết.

Đêm trước đó ở vườn Giếtsêmani, rõ ràng Chúa Giêsu đã chấp nhận mình sẽ chết. Nhưng sự chấp nhận này chưa phải là cự lại hoàn toàn. Nó chỉ xảy ra ngày hôm sau trên thập giá, trong khi trút hơi thở cuối cùng như các Phúc âm tường thuật, Ngài gục đầu xuống và trút hơi thở cuối cùng. Ngay trước đó, Ngài đã trải qua cơn hãi sợ khủng khiếp, rằng những gì Ngài luôn tin và được dạy về Chúa có thể là không phải. Có lẽ thiên đàng trống rỗng, có lẽ những gì chúng ta xem là các hứa hẹn của Chúa chỉ là một mơ ước sốt sắng.

Nhưng như chúng ta biết, Ngài đã không nhường bước trước các nghi ngờ đó, đúng hơn là bên trong các bóng tối này. Chúa Giêsu đã chết trong đức tin – nhưng không trong những gì chúng ta ngây thơ nghĩ về đức tin. Chết trong đức tin không phải lúc nào cũng chết bình thản, không sợ, không nghi ngờ.

Chẳng hạn linh mục học giả Kinh Thánh nổi tiếng Raymond E. Brown (1928-1998) đã bình giải về nỗi sợ cái chết trong cộng đoàn của Người môn đệ Yêu dấu: “Cùng đích của cái chết và sự bấp bênh của nó đã làm cho những người suốt đời tin vào Chúa Kitô run rẩy. Thật vậy, không hiếm khi trong cộng đoàn nhỏ các Môn đệ Thánh Gioan đã thú nhận mình nghi ngờ khi trong đầu nghĩ đến cái chết… Câu chuyện của ông Ladarô trong phần cuối đời sống hoạt động của Chúa Giêsu trong Phúc âm Thánh Gioan là để dạy chúng ta đối diện với thực tế hữu hình, đó là nấm mồ, tất cả chúng ta đều cần nghe, cần nắm lấy thông điệp táo bạo mà Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Ta là sự sống”… Đối với Thánh Gioan, cho dù chúng ta có tuyên xưng lại đức tin bao nhiêu lần, thì thử thách tối hậu vẫn là cái chết. Dù đó là cái chết của người thân hay của chính mình, đó là giây phút mà chúng ta nhận ra, tất cả đều tùy thuộc vào Chúa. Trong suốt cuộc đời, chúng ta đã bảo vệ mình trước sự thật phũ phàng này. Nhưng đứng trước cái chết, tất cả mọi phòng thủ đều rơi rụng.”

Đôi khi những người có đức tin sâu đậm bình thản và yên bình đối diện với cái chết. Nhưng thỉnh thoảng cũng có người không làm được, nỗi sợ và các nghi ngờ đe đọa họ không nhất thiết đó là dấu hiệu của một đức tin yếu đuối hoặc chùn bước. Điều này có thể ngược lại, như chúng ta thấy trong trường hợp Chúa Giêsu. Bên trong tâm hồn của một người có đức tin, nỗi sợ và nghi ngờ khi đứng trước cái chết, điều mà các nhà thần nghiệm gọi là “đêm tối tâm hồn”… và những gì xảy ra bên trong kinh nghiệm này là: sợ và nghi ngờ non nớt mà chúng ta cảm nhận lúc này là chúng ta không thể nhầm lẫn chính mình với nguồn sinh lực của chúng ta cho Chúa. Khi chúng ta phải chấp nhận chết với niềm tin tưởng bên trong với những gì có vẻ như là sự phủ nhận tuyệt đối, và chúng ta chỉ có thể kêu lên trong thống khổ với một sự trống rỗng rõ ràng, thì không còn có thể nhầm lẫn Chúa với cảm xúc và bản ngã của chính chúng ta. Trong điểm này, chúng ta trải nghiệm một sự thanh lọc cuối cùng của tâm hồn. Chúng ta có thể có một đức tin sâu đậm nhưng vẫn cảm thấy nghi ngờ và sợ hãi trước cái chết. Cứ nhìn vào Chúa Giêsu là thấy.

Cuộc đấu tranh hụt hẫng với tính khiêm nhường

Thật khó để khiêm tốn, không phải vì chúng ta không đủ thiếu sót để xứng đáng với tính khiêm nhường, nhưng vì bên trong chúng ta có một cơ chế khéo léo thường không cho chúng ta có được tính khiêm tốn. Nói một cách đơn giản, khi chúng ta cố gắng quên mình, khiêm tốn, không đạo đức giả thì chúng ta lại tự hào về điều đó, và rồi cảm thấy tự mãn, chúng ta trở nên người đi phán xét người khác.

Chúa Giêsu cho chúng ta một dụ ngôn tuyệt vời về chuyện này, nhưng chúng ta thường quên bài học này. Tất cả chúng ta đều biết dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế. Chúa Giêsu kể câu chuyện hai người vào nhà thờ cầu nguyện. Người đầu tiên là người biệt phái sốt sắng, ông nghiêm túc giữ đạo hạnh. Ông cám ơn Chúa về lòng sốt sắng đạo hạnh của mình và cám ơn Chúa vì mình không như người thu thuế không đạo đức đang ở cuối nhà thờ. Người thứ hai là người thu thuế nhận biết mình là người không đạo đức (ông chân thành và không biện minh gì), ông là người có tội và xin Chúa tha cho các yếu kém của mình. Chúng ta đều biết Chúa Giêsu đánh giá hai người này như thế nào. Người biệt phái thật sự đã không cầu nguyện, còn người thu thuế thì cầu nguyện. Hơn nữa, dụ ngôn làm nổi bật sự mù quáng bên trong của người người biệt phái, một thứ không thể nào không thấy. Tất cả những ai đọc câu chuyện này đều không thể không thấy sự thiếu khiêm tốn của ông.

Tuy nhiên, thách thức là xem phản ứng của chúng ta về câu chuyện này. Ngay lập tức chúng ta thấy sự khác biệt giữa niềm tự hào rởm và tính khiêm nhường thật sự. Và chúng ta thấy người này kiêu căng đến mức độ nào khi ông nói: “Xin tạ ơn Chúa vì con không như tên thu thuế kia!” Nhưng, tôi nghĩ 98% trong chúng ta khi nghe câu chuyện này sẽ nghĩ, “tôi không như người biệt phái kia!” Khi nghĩ như vậy, chúng ta đều giống ông! Chính xác giống ông, chúng ta đầy tràn ý thức về đức hạnh, chính vì vậy, chúng ta bắt đầu phán xét người khác. Lời cầu nguyện của chúng ta thường ngược với lời cầu nguyện của người thu thuế. Chúng ta không cầu nguyện vì tội của mình mà là cầu nguyện: “Con cám ơn Chúa, con đã không mù quáng với bản thân và không phán xét như nhiều người khác!” Thật khó để được như người thu thuế. Đức hạnh và tính khiêm nhường của chúng ta luôn quay chung quanh chính mình và làm cho chúng ta tự hào và đi chỉ trích.

Câu trả lời ở đây là gì? Làm sao chúng ta bứt được cái vòng luẩn quẩn này? Ở đây chỉ có một cách duy nhất và người thu thuế đã chỉ cho chúng ta. Như thế nào? Ông thật sự cầu nguyện cho tội lỗi của mình. Đó là người phạm tội và ông chân thành thú nhận. Còn về phần chúng ta, chúng ta nói chúng ta là kẻ có tội nhưng chúng ta không thật sự nghĩ như vậy! Chúng ta thừa nhận chúng ta có các thiếu sót và đôi khi chúng ta phạm tội, nhưng như người biệt phái, ngay lập tức chúng ta tạ ơn vì chúng ta không có các thiếu sót và tội lỗi như người khác. Thường thường chúng ta nghĩ theo kiểu: “Chắc chắn rồi, mình cũng có các khiếm khuyết, nhưng ít nhất mình không ngốc và ích kỷ như bạn đồng nghiệp mình!”, “Với tất cả thiếu sót của tôi, tôi cám ơn Chúa, tôi đã không tự ái như ông chủ của tôi!”, “Có thể tôi không có nhiều đức tin nhưng ít nhất tôi không đạo đức giả như nhiều người trong nhà thờ!”, “Tôi có thể có nhiều lỗi, nhưng tôi không có các lỗi như anh Gioan!” Niềm tự hào luôn luôn luẩn quẩn chung quanh hàng rào phòng thủ của chúng ta và chúng ta để lòng khiêm nhường đứng xa xa.

Nhưng có một trường hợp khác, có thể không giống như vậy, đó là khi chúng ta thực sự nhận biết tội của mình. Khi chúng ta ý thức được tình trạng tội lỗi của mình, như người thu thuế, chúng ta sẽ không phán xét ai, ngay cả chính mình. Là linh mục công giáo đã nghe xưng tội trong vòng 47 năm, tôi không ngần ngại nói, những người tốt lành nhất là những người chân thành xưng các thiếu sót của mình. Khi chúng ta thật sự biết tội của mình, chúng ta không phán xét ai. Trong tinh thần này, chúng ta không bao giờ nghĩ: “Tạ ơn Chúa, con đã không phạm tội của anh Gioan!” Chúng ta biết bản thân mình là đủ. Vì thế lời cầu nguyện phải chân thành và theo Chúa Giêsu, thì lời cầu nguyện chân thành sẽ được trên trời nghe thấy.

Và chúng ta phải nhận biết sự tồn tại của tội lỗi của chúng ta và chịu đựng nó. Các thiếu sót khác, các bất toàn bẩm sinh và cá nhân có thể giúp chúng ta trở nên khiêm tốn, nhưng vì chúng ta không chịu trách nhiệm về mặt cá nhân hay đạo đức, nhận biết các thiếu sót này không phải như nhận biết tội lỗi của mình. Chúng ta không có trách nhiệm về ADN thể lý hay tâm lý của mình. Chúng ta không chịu trách nhiệm về sắc dân hay màu da của mình. Chúng ta cũng không chịu trách nhiệm về thành phần gia đình, về khu phố, về văn hóa mà chúng ta được nuôi dạy. Và chúng ta cũng không chịu trách nhiệm về những chuyện xảy ra ở công viên hay ở sân chơi khi chúng ta còn nhỏ. Dù vậy tất cả những điều này có một tác động sâu đậm trên các thiếu sót cũng như trên sức mạnh của chúng ta. Nhưng vì chúng ta không có trách nhiệm nên chúng ta không cần phải khiêm tốn về những chuyện này.

Nhưng chúng ta phải khiêm tốn về các tội lỗi của chính mình.

Ân sủng trong sự thụ động

Một người bạn của tôi chia sẻ câu chuyện sau. Cùng với năm anh chị em, cô lớn lên với một người cha nghiện rượu. Chứng nghiện rượu của người cha đã hủy hoại cả gia đình. Và cô kể thế này: Khi cha tôi chết, chứng nghiện rượu của ông đã tàn phá cả gia đình. Không một ai trong chúng tôi có thể nói chuyện với nhau nữa. Chúng tôi ở xa nhau trong các vùng khác nhau của đất nước và không liên lạc gì với nhau. Mẹ tôi là bà thánh, qua năm tháng, bà cố gắng giải hòa chúng tôi, mời chúng tôi về gặp nhau ăn lễ Giáng Sinh, lễ Tạ Ơn nhưng chẳng bao giờ được. Mọi cố gắng đều vô ích. Chúng tôi ghét nhau. Rồi, khi mẹ tôi sắp chết vì ung thư trong nhà hưu dưỡng, bà nằm liệt giường và bị hôn mê, chúng tôi ở bên đầu giường nhìn bà chết, còn bà thì không thể nói, nhưng lại có thể làm những gì bà còn có thể làm, mà trước đây qua bao nhiêu năm tháng khi bà còn nói được bà đã không thể làm. Khi nhìn bà chết, chúng tôi giải hòa với nhau.

Tất cả chúng ta đều biết các câu chuyện tương tự của những người đang chết, khi họ không còn có thể nói hay hành động gì, thì tác động của họ lại rất mạnh, mạnh hơn cả khi họ có thể nói, có thể làm cho người thân chung quanh mình, đổ tràn ân sủng cho những người thân yêu của mình. Dĩ nhiên đôi khi đây không còn là giải hòa nhưng là tăng sức mạnh cho một gia đình đã hiệp nhất. Đó là trường hợp câu chuyện gia đình được bà Carla Marie Carlson chia sẻ trong quyển sách Mỗi ngày là một ân sủng, Everyday Grace. Gia đình của bà đã rất gắn kết nhưng bà Carlson kể, làm sao mà cái chết của mẹ đã củng cố thêm sợi dây gắn kết gia đình và chúc phúc cho những người chứng kiến bà chết: “Những người có dịp ở với mẹ tôi trong chuyến đi cuối cùng này cho biết, cuộc sống của họ từ nay mãi mãi thay đổi. Đó là giai đoạn đáng kể mà tôi luôn trân trọng. Các bài học về sự chấp nhận và can đảm mà mẹ tôi chống chọi với cơ thể đang hấp hối. Thật là đau thương và sâu đậm, nhưng lại tràn ngập bình an và ân sủng.” Đa số những người ở bên cạnh người thân đang hấp hối đều có thể chia sẻ câu chuyện tương tự.

Ở đây ta có một bài học và một bí ẩn. Bài học là chúng ta không phải chỉ làm những chuyện quan trọng cho nhau nhưng chúng ta có tác động trên đời sống của nhau ngay cả khi chúng ta ở trong tình trạng thụ động, bất lực. Đó là bí ẩn của sự thụ động chúng ta thấy một cách nghịch lý nơi Chúa Giêsu, với những gì Ngài đã làm cho chúng ta.

Là kitô hữu, chúng ta nói Chúa Giêsu đã hiến mạng sống của Ngài cho chúng ta, đã chết cho chúng ta, nhưng chúng ta thường có xu hướng nghĩ điều này chỉ là một và cùng một chuyện. Thật sự không phải như vậy. Chúa Giêsu ban sự sống của Ngài cho chúng ta qua hành động của Ngài, Ngài chịu chết vì chúng ta qua sự thụ động của Ngài. Đó là hai việc khác nhau. Như người phụ nữ nói trên, trong nhiều năm tháng bà đã cố gắng giải hòa các con qua hành động, qua lời nói mà không được, nhưng cuối cùng lại được nhờ sự bất lực, nhờ sự thụ động trên giường chết của bà, Chúa Giêsu cũng vậy. Trong vòng ba năm, bằng đủ mọi phương tiện, Ngài làm cho chúng ta hiểu tình yêu, giải hòa và đức tin, nhưng không có hiệu quả đầy đủ. Và rồi chỉ trong vòng 24 giờ, trong sự bất lực, khi Ngài không thể nói được, trong cái chết của Ngài, chúng ta nhận được bài học. Chúa Giêsu và Mẹ Maria, trong sự bất lực và thụ động, đã ban cho thế giới một điều vốn không thể thực hiện hiệu quả khi mạnh mẽ và chủ động.

Đáng tiếc thay, đây không phải là những gì mà nền văn hóa của chúng ta hiện nay có thể hiểu nổi, một nền văn hóa chỉ nhấn mạnh đến sức khỏe, năng suất, thành tích và quyền lực. Chúng ta không còn hiểu và đánh giá cao giá trị của ân sủng nơi một người chết vì bệnh nan y, hay ân sủng nơi người khuyết tật và ngay cả trong cơ thể khiếm khuyết của chúng ta. Chúng ta cũng không hiểu nhiều về những gì chúng ta có thể mang đến cho gia đình, cho bạn bè, cho đồng nghiệp khi chúng ta bất lực, khi phải chấp nhận sự thờ ơ, khi phải đương đầu, khi bị ngộ nhận. Khi một nền văn hóa bắt đầu nói đến trợ tử, đó là dấu chỉ không sai lầm rằng chúng ta không còn hiểu gì nhiều về ân sủng trong thụ động.

Trong các bài viết của mình, Linh mục Henri Nouwen phân biệt cái chúng ta gọi là “thành tựu” và “sinh hoa kết trái”. Các thành tựu trực tiếp đến từ các hoạt động của chúng ta: Chúng ta hoàn tựu cái gì một cách tích cực không? Chúng ta có làm việc cho người khác không? Và các thành tựu chúng ta dừng lại khi chúng ta không còn hoạt động. Trái lại, sinh hoa kết trái thì vượt lên những gì chúng ta hoàn tựu một cách tích cực, cả về những gì chúng ta làm một cách thụ động cũng như tích cực làm. Gia đình trong câu chuyện trên giải hòa không phải do các thành tựu của bà mẹ, nhưng do sự sinh hoa kết trái của bà. Đó là bí ẩn của sự thụ động.

Linh mục Dòng Tên thần học gia Pierre Teilhard de Chardin, trong tác phẩm thiêng liêng kinh điển, Cảnh vực thần linh, The Divine Milieu, nói với chúng ta rằng chúng ta được định để giúp người khác qua những hoạt động và thụ động của chúng ta, qua những gì chúng ta cho đi một cách chủ động và cả những gì chúng ta thấm nhận một cách bị động.

Đau buồn như một bài tập thiêng liêng

Trong một quyển sách đáng chú ý, Tiếng nói bên trong của Tình yêu, The Inner Voice of Love viết trong lúc đang rơi vào trạng thái trầm cảm xúc cảm nặng, linh mục Henri Nouwen chia sẻ những lời sau: “Thử thách lớn nhất là sống với các tổn thương của mình thay vì xem xét chúng. Khóc thì tốt hơn là lo lắng, cảm nhận sâu sắc tổn thương của mình hơn là cố gắng hiểu chúng, tốt hơn để chúng đi vào im lặng của mình hơn là nói về chúng. Chọn lựa mà bạn phải liên tục đối diện là xem bạn đang xử lý các tổn thương này với cái đầu hay với quả tim. Trong đầu bạn, bạn phân tích chúng, bạn tìm nguyên do, hệ quả và bạn tìm chữ để nói và viết về chúng. Nhưng không có một chữa lành cuối cùng nào đến từ con đường này. Bạn phải đem các tổn thương của mình vào quả tim. Sau đó bạn đi theo chúng và khám phá chúng không hủy hoại bạn. Quả tim của bạn thì lớn hơn là tổn thương của bạn”.

Và cha Nouwen có lý; quả tim của chúng ta thì lớn hơn các tổn thương, dù chúng ta phải cẩn thận trong khi đối phó chúng. Các tổn thương có thể làm dịu quả tim chúng ta, nhưng nó cũng có thể làm quả tim chai cứng và đóng băng trong cay đắng. Vậy thì con đường nào ở đây? Cái gì làm quả tim ấm áp, cái gì làm quả tim lạnh lùng?

Trong một khảo luận đáng chú ý, Thảm kịch của em bé có năng khiếu đặc biệt, The Drama of the Gifted Child, bà Alice Miller, nhà tâm lý gia Thụy Sĩ giải thích cho chúng ta hiểu những gì làm chai cứng quả tim và những gì làm mềm quả tim. Bà mô tả một thảm kịch đặc biệt thường xảy ra trong nhiều cuộc đời. Theo bà, năng khiếu không phải là năng lực trí tuệ nhưng là năng lực của sự nhạy cảm. Đứa trẻ có năng khiếu là đứa trẻ nhạy cảm. Nhưng món quà nhạy cảm là một ân phúc có nhiều mặt. Mặt tích cực là nó làm cho chúng ta cảm nhận mọi thứ một cách sâu đậm để niềm vui trong cuộc sống có ý nghĩa hơn là người dửng dưng. Đó là mặt tốt của nó.

Tuy nhiên ngược lại, nếu nhạy cảm, chúng ta thường sợ làm người khác thất vọng, chúng ta thường sợ không được đánh giá đúng. Và việc chúng ta không đủ khả năng để tự đánh giá thường khơi dậy cảm nhận lo âu và mặc cảm trong người mình. Cũng vậy, nếu chúng ta cực kỳ nhạy cảm, chúng ta sẽ có khuynh hướng xóa mờ lỗi của mình, để người khác tự xoay xở, vì các nhu cầu riêng của mình không được thỏa mãn, rồi chúng ta tự lãnh các hệ quả. Cuối cùng, nếu chúng ta cảm nhận mọi thứ một cách sâu sắc, thì chúng ta cảm thấy mình bị tổn thương sâu đậm nhất. Nhược điểm của tính nhạy cảm và thảm kich mà bà Alice Miller gọi là “thảm kich của em bé có năng khiếu đặc biệt” là thảm kịch của người nhạy cảm.

Hơn nữa, theo quan điểm của bà, đối với nhiều người trong chúng ta, thảm kịch chỉ thật sự bắt đầu trong những năm ở tuổi trung niên và những năm sau đó, tạo nên thất vọng, bất mãn, giận dữ, cay đắng, khi các tổn thương thời thơ ấu và tuổi trưởng thành của chúng ta bắt đầu tan vỡ, đi qua và chế ngự các cơ chế bên trong mà chúng ta bắt đầu cự lại chúng. Ở giữa cuộc đời và già hơn, các tổn thương của chúng ta sẽ kêu mạnh hơn đến mức các cách thức phủ nhận và thích ứng theo thói quen chúng ta không còn hiệu quả nữa. Ở giữa cuộc đời, chúng ta nhận ra mẹ mình yêu chị mình hơn mình, cha mình không lo gì đến mình và tất cả công việc tổn thương bạn ngấm chịu vì bạn nuốt không trôi và bạn chơi trò khắc kỷ anh hùng còn cay đắng gặm nhắm bên trong bạn. Đó là cách tấn thảm kịch chấm dứt trong một quả tim giận dữ.

Vậy thì chúng ta ở đâu, Theo bà Alice Miller, câu trả lời nằm trong đau buồn. Các tổn thương của chúng ta là có thật và chúng ta không thể làm gì với chúng, chúng là thuần khiết và đơn giản. Đồng hồ không thể quay ngược lại. Chúng ta không thể sống lại cuộc sống của mình với các cha mẹ khác nhau, bạn bè tuổi thơ ấu khác nhau, kinh nghiệm khác nhau trên sân chơi, chọn lựa khác nhau và tính tình khác nhau. Chúng ta chỉ có thể dấn tới vượt quá các tổn thương của mình. Và chúng ta làm điều này bằng sự “để tang”. Bà Alice Miller xác nhận mọi nhiệm vụ tâm lý và thiêng liêng của tuổi ngoài bốn mươi và hơn nữa là “để tang” cho các tổn thương này, đau buồn cho đến tận nền tảng cuộc sống đủ để lay chuyển, đủ để có được một sự biến đổi.

Một vết sẹo tâm lý sâu đậm cũng như một phần cơ thể mình mang sẹo mãi mãi khi bị tai nạn. Bạn sẽ không bao giờ còn như cũ và sẽ không có gì làm thay đổi điều này. Nhưng bạn có thể có hạnh phúc lại; có lẽ còn hạnh phúc hơn bao giờ hết. Nhưng sự mất mát trọn vẹn này phải được đau buồn, nếu không nó sẽ thể hiện dưới hình thức giận dữ, cay đắng và hối tiếc ghen tuông.

Linh mục Dòng Tên Roc O’Connor, nhà soạn nhạc, nhà văn thiêng liêng chia sẻ cùng quan điểm này, cha nói thêm, tiến trình đau buồn đòi hỏi kiên nhẫn lâu dài, trong thời gian này chúng ta phải chờ lâu để sự chữa lành sẽ diễn tiến theo nguyên tắc riêng của nó, theo nhịp tự nhiên của nó. Ngài nói, phải ôm lấy tình trạng tổn thương nhân bản của chúng ta và không hành động. Ngài đề nghị, những gì hữu ích là khóc cho các hạn chế nhân bản của mình. Sau đó, chúng ta mới có thể chịu đựng đói khát, trống rỗng, thất vọng, sỉ nhục mà không cần tìm cách khắc phục nhanh chóng, ngay cả tìm giải pháp. Chúng ta không nên cố gắng lấp đầy sự trống rỗng của mình quá nhanh mà chưa chờ đợi đủ.

Và chúng ta sẽ không bao giờ giải hòa với các tổn thương của mình nếu chưa “để tang” cho đủ.

Chuyện người di dân, chuyện cũ, chuyện mới

Dòng Anh Em Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm của tôi đã có mối quan hệ lâu dài với các dân tộc người bản địa Bắc Mỹ. Chắc chắn chúng tôi có các thiếu sót nhưng mối quan hệ này luôn được duy trì từ 150 năm nay. Tôi viết chuyện này trong tài liệu lịch sử của câu chuyện này.

Vào giữa những năm 1800, một nhóm Anh em Hiến sĩ trẻ rời nước Pháp để đến làm việc với người dân bản địa ở bang Oregon và bang Washington. Vì phương tiện đi lại vào thời đó, đặc biệt là khi phải đi xuyên nước Mỹ, chủ yếu người dân phải đi ngựa, còn đi từ thành phố Marseille nước Pháp đến bờ biển Oregon thì phải đi cả năm. Trong các nhóm này có Charles Pandosy, một thanh niên truyền giáo trẻ.

Mùa hè năm 1854, Thống đốc Stevens triệu tập một cuộc họp các trưởng tộc bản địa ở Walla Walla để thảo luận về sự căng thẳng giữa chính quyền Mỹ và người bản địa. Một trong các bộ lạc khăng khăng chống đối là bộ lạc của người Yakima do tộc trưởng Kamiakin điều khiển, các Anh em Hiến sĩ và Linh mục Pandosy làm việc với ông. Đến một thời điểm, tộc trưởng Kamiakin xin cha Pandosy lời khuyên.

Trong một bức thư viết ngày 5 tháng 6 – 1854 gởi cho Thánh Eugène de Mazenod, nhà sáng lập Dòng Anh em Hiến sĩ ở Pháp, cha Pandosy tóm tắt buổi nói chuyện với tộc trưởng Yakima. Vì không biết châu Âu như thế nào, có bao nhiêu người sống ở đó và động lực nào đã thúc đẩy người dân đến Bắc Mỹ, người tộc trưởng hỏi cha Pandosy có bao nhiêu người da trắng ở đó và khi nào thì họ hết đến đây, ngây thơ nghĩ rằng họ còn lại chẳng bao nhiêu người để đến đây.

Trong bức thư của mình, cha Pandosy chia sẻ (nguyên văn) một phần buổi nói chuyện với ông Kamiakin: “Đây là điều tôi sợ. Người da Trắng sẽ lấy đất nước của ông như họ đã lấy nhiều đất nước khác của người thổ dân châu Mỹ. Tôi đến từ đất nước của người da Trắng, ở phía đông và rất xa, ở đó dân số của họ dày đặc như cỏ trên đồi. Bây giờ chỉ có vài người ở đây, nhưng hàng năm những người khác sẽ đến cho đến khi đất nước của ông bị họ tràn ngập… đất đai của ông sẽ bị họ lấy và người dân của ông sẽ bị họ đuổi ra khỏi nhà. Nó đã xảy ra như vậy với các bộ lạc khác; và rồi sẽ đến bộ lạc của ông. Các ông có thể chiến đấu và trì hoãn được một thời gian việc xâm lăng này, nhưng các ông không thể ngăn chặn được. Tôi đã sống nhiều mùa hè với ông và đã rửa tội trong đức tin một số lớn người trong dân tộc của ông. Tôi đã học để thương yêu ông. Tôi không thể khuyên ông cũng như giúp ông. Tôi ước tôi có thể.”

Nghe có vẻ quen? Không phải là vô ích để tìm một điểm chung với tình trạng hàng triệu người di dân hiện nay đang tập trung ở các biên giới Mỹ, Canada và một phần lớn châu Âu, họ tìm cách để vào các nước này. Như người tộc trưởng Kamiakin, chúng ta sống ở các nước này và thiết tha nghĩ đất nước này là “của riêng mình”, không phải lúc nào chúng ta cũng biết có bao nhiêu người muốn đến đây sống, áp lực nào đã thúc đẩy họ đến đây và khi nào làn sóng di dân gần như vô tận này sẽ ngừng. Cũng như các bộ lạc bản địa hồi đó, cuộc sống của họ đã hoàn toàn thay đổi khi chúng ta đến đất nước của họ, chúng ta cũng có khuynh hướng cảm thấy cuộc xâm lược này là bất hợp pháp và không công bằng và bây giờ chúng ta từ chối không cho những người này chia sẻ đất đai và thành phố với chúng ta.

Khi những người châu Âu di cư đến Bắc và Nam Mỹ, họ đến đây vì nhiều lý do khác nhau. Một vài người bỏ trốn vì bị đàn áp tôn giáo, một số tìm cách trốn khỏi cảnh nghèo đói, một số đến đây làm việc để gởi tiền về giúp gia đình, một số là bác sĩ, một số tu sĩ đến truyền giáo và còn có cả các tội phạm có khuynh hướng phạm tội ác.

Có vẻ như không có nhiều thay đổi, ngoại trừ đôi giày hiện đang ở chân kia. Chúng ta là những kẻ xâm lược ban đầu, bây giờ chúng ta là các bộ lạc bản địa, chăm chú bảo vệ những gì chúng ta coi là hợp pháp, sợ người xa lạ, đa số là ngây thơ không biết vì sao mình đến đây.

Và đây không phải chỉ là trường hợp xảy ra ở Bắc Mỹ, đa số các nước châu Âu cũng chịu áp lực như vậy, ngoại trừ là trường hợp của họ đã quá lâu, họ quên tổ tiên của họ đã đến từ nơi khác, và đa số đã bứng người bản địa đã sống ở đó.

Dĩ nhiên là không dễ dàng để giải quyết, về mặt chính trị cũng như về mặt đạo đức; không một nước nào đơn thuần mở biên giới của mình một cách bừa bãi cho ai muốn vào thì vào; tuy nhiên Sách Thánh của chúng ta, do thái giáo cũng như kitô giáo đều khẳng định rõ ràng, đất đai thuộc về tất cả mọi người và tất cả mọi người đều cùng có quyền với các tạo dựng của Chúa. Mệnh lệnh đạo đức có vẻ như không công bằng và không thực tế; nhưng làm sao chúng ta có thể biện minh được chúng ta đã di dời người khác để chúng ta xây dựng đời sống ở đây, và bây giờ chúng ta thấy không công bằng khi người khác đang làm điều tương tự như chúng ta đã làm.

Khi nhìn cuộc khủng hoảng người di dân trên thế giới hiện nay, chúng ta nhận ra mình gieo cái gì rồi cuối cùng sẽ gặt cái đó.

Tạo và giữ không gian cho các mối tan vỡ của chúng ta

Cách đây vài năm tôi có tham dự một buổi tĩnh tâm cuối tuần do một phụ nữ, người không giấu giếm gì về việc không thể có con là vết thương sâu đậm trong cuộc đời của bà. Vì thế bà hướng dẫn các buổi tĩnh tâm về nỗi đau không thể có con. Là người độc thân và cũng không có con, tôi là người đàn ông duy nhất tham dự một trong các khóa này của bà. Đa số người tham dự là phụ nữ, trung bình từ 40 đến 50 tuổi và họ không có con.

Dựa trên Sách Thánh, tâm lý học, các tiểu sử và thơ văn, bà xem xét vấn đề vô sinh dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Buổi chiều thứ bảy có một nghi thức trong nhà nguyện, các người tham dự khắc một cây thánh giá lớn, họ diễn tả nỗi đau để Chúa Giêsu và mọi người khác có thể hiểu họ. Tiếp theo đó chúng tôi cùng xem bộ phim Bí mật và Nói dối của nước Anh, nói lên nỗi buồn của một phụ nữ không thể nào có con. Kế tiếp là phần chia sẻ chân thành với nhiều nước mắt! Nhưng sau phần chia sẻ đau đớn và nước mắt tuôn trào thì bầu khí hoàn toàn thay đổi, như thể sau khi bị cơn bão đen tối hoành hành, chúng tôi được an toàn. Có sự nhẹ nhõm, rất nhiều tiếng cười và vui vẻ. Một cơn bão thực sự đã quét qua và chúng tôi yên hàn vô sự.

Tất cả nỗi đau có thể chịu đựng được nếu chúng ta có thể chia sẻ. Triết gia Schopenhauer được cho là người nói câu này, nhưng ai nói trước cũng được, câu đó đã tóm gọn điều xảy ra trong buổi tĩnh tâm này. Một nỗi đau sâu đậm được chịu đựng dễ dàng hơn không phải vì nó được cất đi, nhưng vì nó được chia sẻ, và chia sẻ mang “tính cách bí tích”. Đúng, có những bí tích không được cử hành trong nhà thờ, nhưng luôn có sức mạnh của bí tích. Và chúng ta cần nhiều hơn các bí tích này.

Như bà Rachel Held Evans (1981-2019), người viết khảo luận đã viết : “Tôi thường được độc giả cho biết, họ rời nhà thờ vì không có một lời nào nói cho họ nghe sau khi họ bị sẩy thai, bị ly dị, bị chẩn đoán bệnh, bị tấn công, bị phá sản, bị động đất, bị là nạn nhân trong các vụ nổ súng. Khuynh hướng của người Mỹ là khuynh hướng chiến thắng, lạc quan bám gốc rễ trong thành công, trong tiền bạc, trong đặc quyền ưu đãi, những điều này làm lây nhiễm và tổn hại đến bất cứ cộng đồng đức tin nào đã mất đi khả năng để một khoảng không gian cho những người ưu buồn.”

Bà Evans đúng. Các nhà thờ chúng ta không tạo đủ không gian để giữ nỗi đau. Về bản chất: trong linh đạo hàng ngày của cộng đoàn, của cầu nguyện, của phụng vụ và của Thánh Thể trong các nhà thờ, chúng ta không dựa đủ trên sự việc Chúa Kitô là một thực tế vừa là một sự chết, nhưng cũng vừa là sự sống lại đang trỗi dậy. Chung chung chúng ta không xem phần hấp hối của Chúa Kitô nghiêm túc như chúng ta phải xem. Và đâu là hệ quả?

Một hệ quả là chúng ta không tạo đủ các nghi thức cử hành trong cộng đoàn để giáo dân cảm thấy thoải mái khi giữ lại, khi diễn tả sự buồn bã, chia ly của họ với cộng đoàn và theo cách “bí tích.” Dĩ nhiên các nhà thờ chúng ta có nghi thức mai táng, có bí tích xức dầu, có bí tích giải hòa, có các nghi thức cầu nguyện đặc biệt sau các biến cố bi thảm trong cộng đồng hay các nghi thức tập họp khác, các khoảng không gian mạnh mẽ để kiềm chế nỗi buồn và các tan vỡ. Tuy nhiên (ngoại trừ bí tích hòa giải là bí tích riêng tư), các bí tích khác thường gắn liền với một hoàn cảnh đặc biệt như ma chay, bệnh nặng, hay một bi kịch xảy ra trong cộng đồng. Những gì chúng ta thiếu là các nghi thức cộng đoàn thường xuyên, dựa trên giáo hội, tương tự như các cuộc họp của những Người nghiện rượu ẩn danh, qua đó, mọi người có thể đến để chia sẻ tổn thương của họ và làm chứng cho ân sủng mà chỉ có cộng đồng mới có thể đem lại.

Chúng ta cần nhiều loại cử hành “bí tích” khác nhau trong nhà thờ, qua đó, để sử dụng thuật ngữ của bà Rachel Held Evans, chúng ta có thể tạo và dành một khoảng không gian cho những người đang đau buồn vì tan vỡ, bị sẩy thai, bị phá thai, bị chẩn đoán một căn bệnh nặng, bị phá sản, bị mất việc làm, bị ly dị, bị về hưu non, bị thất tình, bị mất người thân, bị mất tự lập, bị lâm vào hoàn cảnh phải thích ứng với sự trống trải trong hôn nhân, bị vô sinh và đủ loại hụt hẫng khác.

Những nghi thức này sẽ như thế nào? Chung chung là chưa có, chúng ta phải phát minh ra. Triết gia người Canada Charles Taylor cho rằng cuộc đấu tranh tôn giáo ngày nay không phải là cuộc đấu tranh của đức tin mà là cuộc đấu tranh của trí tưởng tượng. Chưa ai từng sống trong loại thế giới này trước đây. Chúng ta cần các nghi thức mới. Chúng ta là những người tiên phong trên một vùng đất mới và những người tiên phong phải tùy cơ ứng biến. Chắc chắn, nỗi đau và sự tan vỡ luôn ở bên cạnh chúng ta, nhưng các thế hệ trước đã có các cách chung để tạo không gian cho nỗi đau. Các giúp đỡ, các cộng đoàn, các nhà thờ ngày đó ít có vấn đề với chủ nghĩa cá nhân như bây giờ chúng ta đang có, chúng ta một mình phải đối diện trước các tan vỡ của mình. Ngày nay, không còn một cấu trúc cộng đồng, giáo hội nào đủ để giúp chúng ta chấp nhận sự việc, trong cuộc sống này, chúng ta sống ”trong tang tóc và khóc than trong thung lũng nước mắt”.

Chúng ta cần hình dung một số nghi thức mới mang tính bí tích, qua đó chúng ta có thể vững vàng trước nỗi đau của mình.

Chúa Giêsu Kitô – Con người và Mầu nhiệm

Chúng ta hoàn toàn có xu hướng nghĩ về từ “Chúa Kitô” như tên thứ hai của Chúa Giêsu. Chúng ta nghĩ về tên “Giêsu-Kitô” như tên họ bình thường kiểu Marie Trần hay Joseph Trần. Nhưng đó là sự nhầm lẫn không tốt. Chúa Giêsu không có tên thứ nhì. Từ “Kitô” là một danh hiệu, trong đó bao gồm con người Chúa Giêsu, nói về một cái gì đó rộng lớn hơn là chỉ một mình Giêsu. Có điều gì khác biệt giữa “Giêsu” và “Kitô?”

Giêsu là nói đến một người cụ thể, mặc dù là Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa, đã xuống thế trong 33 năm và ngày nay vẫn là người mà chúng ta hiểu và liên hệ đến như một con người riêng lẻ. Chúa Kitô quy chiếu đến một cái gì lớn hơn, cụ thể là mầu nhiệm mênh mông của tạo dựng và sự cứu rỗi mà Chúa Giêsu, với tư cách là Chúa Kitô, đóng vai trò nền tảng, bao gồm Bí tích Thánh Thể, cộng đồng kitô giáo, các giáo hội kitô giáo trong lịch sử, cộng đồng của tất cả những người thiện tâm: đi trên hành tinh này, và có hình dáng thể lý tự chính mình. Chúa Giêsu là người mà chúng ta tìm cách có mối quan hệ qua tình bạn và tình mật thiết, trong khi Chúa Kitô là mầu nhiệm mà chúng ta và tất cả tạo vật là một phần và trong đó chúng ta dự phần.

Điều này có ý nghĩa rất lớn, không chỉ trong cách chúng ta hiểu về mặt tâm linh và giáo hội. Về bản chất, đây là thách thức: Điều gì là trọng tâm của chúng ta, những gì Chúa Giêsu đã làm và xin chúng ta làm hoặc con người của chính Chúa Giêsu? Thật thú vị khi nhìn vào các giáo hội kitô giáo khác nhau dưới góc cạnh của câu hỏi này: chúng ta có tập trung hơn vào lời giảng dạy của Chúa Giêsu hay về con người của Chúa Giêsu? Chúng ta tập trung hơn vào Chúa Giêsu hay Chúa Kitô?

Xét về sự khái quát hóa quá mức, chúng ta có thể nói Công giáo la mã và đạo Tin lành chính gốc thường có khuynh hướng tập trung vào lời dạy của Chúa Giêsu và các đòi hỏi trong tinh thần môn đệ phát xuất từ các lời giảng dạy này hơn là chính con người của Chúa Giêsu. Điều ngược lại cũng đúng với người với theo giáo phái Phúc âm truyền thống, họ nhấn mạnh và tiếp tục nhấn mạnh về con người của Chúa Giêsu và mối quan hệ cá nhân của mỗi người với Ngài. Công bằng mà nói, rõ ràng cả hai truyền thống cũng có các chiều kích khác nhau. Người Công giáo la mã và người theo đạo Tin lành chính gốc không bỏ qua con người của Chúa Giêsu và các người theo giáo phái Phúc âm cũng không bỏ qua các giáo huấn của Chúa Giêsu; nhưng, trong cả hai trường hợp, một bên tập trung cái này nhiều hơn cái kia. Về phần mình, người Công giáo la mã cũng nhấn mạnh chiều kích mật thiết cá nhân với Chúa Giêsu, nhưng đặt điều này trong việc sốt sắng giữ đạo nhiều hơn là trong thần học chính của nó, tập trung nhiều vào mầu nhiệm Chúa Kitô hơn là con người của Chúa Giêsu.

Không ngạc nhiên khi linh đạo có khuynh hướng đi theo mô hình này. Ngược với người theo phái Phúc âm, các người Công giáo la mã và Tin lành chính gốc không đặt sự mật thiết với Chúa Giêsu làm trọng tâm chính linh đạo của mình, dù họ xem đây là lý tưởng tối thượng. Sự nhấn mạnh của họ là về Chúa Kitô. Còn về các người theo phái Phúc âm, họ đặt trọng tâm vào mối quan hệ cá nhân với Chúa Giêsu, diện đối diện, theo cách mà người Công giáo la mã và Tin lành chính gốc thường tự hỏi chính xác người theo phái Phúc âm muốn gì khi họ hỏi chúng ta: “Bạn đã gặp Chúa Giêsu Kitô chưa? Chúa Giêsu Kitô có phải là Chúa và là Đấng cứu thế của bạn không?” “Bạn có tái sinh không?” Ngược lại, người Công giáo la mã và người Tin lành chính gốc thường có cái nhìn phê phán với anh em phái phúc âm của mình, tự hỏi họ có quá chú trọng đến sự cứu rỗi cá nhân và tình mật thiết riêng tư với Chúa Giêsu mà xao nhãng đi một số giáo huấn trọng tâm của Chúa Giêsu liên quan đến công bằng xã hội và với một đức tin rộng lớn hơn.

Chắc chắn, cả hai ưu tiên này là cần thiết. Chúng ta đã thấy rõ ràng trong lời rao giảng của các giáo hội tiên khởi. Học giả về Sách Thánh nổi tiếng Raymond Brown nói với chúng ta rằng, bắt đầu từ Thánh Phaolô, các nhà rao giảng sớm nhất đã chuyển mục đích chính bài giảng của họ về chính Chúa Giêsu, như thử họ không thể loan báo vương quốc mà không loan báo về người mà với người đó, vương quốc mới hiện diện được.

Tuyên xưng chính người đó (hơn là chỉ nói về sứ điệp của họ) đã là một điều mới đối với các nhà rao giảng đầu tiên của Giáo hội kitô. Lời rao giảng của họ về con người Chúa Giêsu thì hoàn toàn khác với cách các Sách Thánh Do thái tôn vinh ông Môsê, trong nghĩa này họ tôn vinh sứ điệp của ông mà không bao giờ kéo sự chú ý về con người của ông để yêu cầu bất cứ ai bắt chước ông. Như vậy: có một bài học cần rút tỉa theo cách mà chúng ta thường đối xử với các thánh và những người thánh thiện. Chúng ta tôn vinh họ qua lòng ngưỡng mộ, trong khi thật sự điều chúng ta được yêu cầu là bắt chước hành động của họ.

Rõ ràng người môn đệ kitô giáo đòi hỏi phải có tính mật thiết với Chúa Kitô và quan tâm đến những gì Ngài giảng dạy, đạo đức cá nhân, công bằng xã hội, trung tín với gia đình giáo hội của mình và khả năng ôm lấy người khác với quả tim chân thành của những người trong cùng một gia đình đức tin. Triết gia Soren Kierkegaard đã cho rằng, những gì Chúa Giêsu thực sự muốn, chúng ta là những người đi theo Ngài chứ không phải người ngưỡng mộ Ngài. Đó là người Tin lành chính gốc. Các người thuộc giáo phái Phúc âm sẽ có thể không đồng ý, mà sẽ nói những gì Chúa Giêsu muốn thật sự, đó là chúng ta có mối quan hệ mật thiết với Chúa. Các nhà rao giảng đầu tiên của Tin Mừng sẽ đồng ý với triết gia Kierkegaard và các người thuộc giáo phái Phúc âm. Chúng ta phải tuyên xưng cả hai, sứ điệp của Chúa Giêsu và chính Chúa Giêsu.

Một vài lời khuyên về đức tin và tôn giáo cho thế hệ chúng ta hiện nay

Đây là vấn đề không còn bí mật với ai, chúng ta đang chứng kiến một sự suy giảm khổng lồ về việc đi lễ và song song với việc này là bây giờ người dân không còn quan tâm gì đến tôn giáo. Trong suy nghĩ mà chúng ta lo lắng như trước đây, đôi khi chúng ta còn bị ám ảnh về tội lỗi, về đi nhà thờ, về thiên đàng, về hỏa ngục, các ám ảnh này dường như chẳng còn tác động gì với hàng triệu người. Một phụ huynh, lo lắng về tình trạng tôn giáo của các con mình đã chia sẻ với tôi gần đây: “Các mối quan tâm tôn giáo cũ của chúng tôi chưa bao giờ làm hoen mờ suy nghĩ của chúng”. Chúng ta phải nói gì khi đối diện với điều này?

Chắc chắn tôi không phải là người phù hợp nhất để đưa ra lời khuyên. Tôi đã hơn 70 tuổi. Tôi là nhà văn thiêng liêng, trọng tâm chính hiện nay của tôi là nghiên cứu và giảng dạy, chú ý đến tâm linh của sự lão hóa, và tôi là linh mục công giáo la mã, là tu sĩ, người bị cho là người bán hàng cho tôn giáo và cho nhà thờ.

Nhưng dù vậy, đây là một số lời khuyên của tôi về đức tin và tôn giáo cho thế hệ ngày nay.

Thứ nhất: Tìm sự trung thực. Mối quan tâm đầu tiên của Chúa không phải là chúng ta có đi nhà thờ hay không, nhưng chúng ta có trung thực trong việc tìm sự thật và ý nghĩa của nó không. Khi Thánh Tôma tông đồ nghi ngờ về thực tế của sự sống lại, Chúa Giêsu không quở mắng nhưng chỉ xin Thánh Tôma đưa tay ra và tiếp tục tìm, tin rằng nếu Tôma trung thực đi tìm, cuối cùng Tôma sẽ tìm thấy sự thật. Điều này cũng đúng với chúng ta. Tất cả những gì chúng ta phải làm là trung thực, không nói dối, thừa nhận sự thật khi sự thật đến. Trong Phúc âm Thánh Gioan, Chúa Giêsu chỉ đưa ra một điều kiện để đến với Chúa: Hãy trung thực và không bao giờ từ chối nhận biết cái gì là thật, dù nó có phiền hà như thế nào. Nhưng quan trọng là phải trung thực! Nếu chúng ta trung thực, cuối cùng chúng ta sẽ tìm thấy ý nghĩa và điều đó sẽ dẫn chúng ta đến nơi chúng ta cần đến – thậm chí có thể đến một cánh cửa nhà thờ ở đâu đó. Nhưng ngay cả khi không phải như vậy, Chúa cũng sẽ tìm ra chúng ta. Mầu nhiệm của Chúa Kitô lớn hơn chúng ta hình dung.

Thứ hai: Lắng nghe những gì sâu sắc nhất bên trong tâm hồn mình. Tâm hồn là thứ hàng hóa quý giá. Chúng ta phải chắc chắn là mình tôn quý tâm hồn mình. Tôn vinh tiếng nói bên trong tâm hồn. Tiếng nói này sâu xa hơn các tiếng nói lôi cuốn mà chúng ta nghe thế giới mời gọi tứ phía, đó là tiếng nói bên trong tâm hồn, giống như khi chúng ta gặp phải cơn khát khủng khiếp, tiếng nói này luôn nhắc chúng ta nhớ sự thật lời cầu nguyện của Thánh Âugutinô: Chúa đã tạo chúng con ra cho Chúa và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi nó được nghỉ an trong Chúa. Chúng ta giữ liên lạc với tiếng nói khát khao này. Chúng ta sẽ nghe tiếng nói này trong sự bồn chồn thao thức của mình và như lời của thần học gia Karl Rahner, tiếng nói này sẽ dạy cho chúng ta một điều mà mới đầu chúng ta khó có thể chịu đựng được, nhưng cuối cùng thì nó lại giải thoát chúng ta: Trong dằn vặt của những gì chưa trọn, cuối cùng chúng ta cũng học được một điều, cuộc sống không có bản giao hưởng kết thúc trọn vẹn.

Thứ ba: Coi chừng đám đông! Trong các Tin mừng, từ ngữ “đám đông” luôn gần như không tốt. Vì lý do chính đáng: Các đám đông không có tinh thần và năng lực của đám đông thường nguy hiểm. Vì vậy, hãy cẩn thận với những gì nhà văn Milan Kundera gọi là cuộc “diễu hành vĩ đại”, cụ thể là xu hướng được dẫn dắt bởi ý thức hệ, suy nghĩ theo nhóm, theo xu hướng mới nhất, theo người, hay theo chuyện phổ biến, cảm giác sai lầm cho là đúng, vì phần lớn mọi người cảm thấy rằng cách, và áp lực xã hội đến từ cả cánh tả cũng như cánh hữu. Hãy thẳng thắn với chính mình. Hãy là nhà tiên tri đơn độc không sợ ở một mình bên ngoài. Hãy ước mơ. Hãy là người có lý tưởng. Hãy bảo vệ tâm hồn mình. Đừng bán tâm hồn mình với giá rẻ.

Thứ tư: Đừng nhầm lẫn đức tin với nhà thờ – nhưng đừng bỏ nhà thờ nhanh quá. Khi hỏi những người không dính gì với tôn giáo ngày nay, tại sao họ không đi nhà thờ, câu trả lời bất di bất dịch của họ là: “Tôi không tin vào điều đó nữa”. Nhưng “điều” họ không tin đó là điều gì? Những gì họ không tin nữa, đó không phải là sự thật về Chúa, về đức tin và tôn giáo, nhưng đúng hơn là những gì họ nghe về Chúa, về đức tin và tôn giáo. Chúng ta sắp xếp lại và sẽ thấy chúng ta có đức tin. Thêm nữa chúng ta đừng bỏ nhà thờ quá nhanh. Chúng có lỗi thực sự; bạn không sai về điều đó, nhưng đó luôn là GPS tốt nhất hiện nay để giúp bạn tìm ra con đường của mình. Đó là lộ trình được hàng triệu nhà thám hiểm đã đi trên con đường này trước bạn. Bạn có thể phớt lờ họ, nhưng bạn hãy chăm chú nghe tiếng nói dịu dàng của Chúa, Ngài hay nói: “Con xem lại đi”. Chúa sẽ đưa bạn về nhà, nhưng các nhà thờ cũng có thể giúp đỡ bạn.

Thứ năm: Bạn đừng quên người nghèo. Khi bạn chạm vào người nghèo, bạn đã chạm vào Chúa và, như Chúa Giêsu nói, vào ngày phán xét, chúng ta sẽ bị phán xét qua cách chúng ta phục vụ người nghèo. Bãn hãy tặng cho mình món quà của lòng vị tha, biết rằng, như Chúa Giêsu đã nói, không phải những người cứ nói Chúa, Chúa mà người đó lên thiên đàng, nhưng là những người phục vụ người khác. Trong hành trình tìm kiếm của bạn, bạn cần nhận thư giới thiệu của người nghèo.

Thứ sáu: Hãy tìm một vị bảo trợ trong số những người đương thời để họ có thể truyền cảm hứng cho bạn. Jean Vanier, Henri Nouwen, Thomas Merton, Dorothy Day, Oscar Romero, Dietrich Bonhoeffer, Simone Weil, Etty Hillesum và Dag Hammarskjold… còn nữa, tất cả đã từng đi qua con đường của bạn.