RonRolheiser,OMI

Cuộc đấu tranh hụt hẫng với tính khiêm nhường

Thật khó để khiêm tốn, không phải vì chúng ta không đủ thiếu sót để xứng đáng với tính khiêm nhường, nhưng vì bên trong chúng ta có một cơ chế khéo léo thường không cho chúng ta có được tính khiêm tốn. Nói một cách đơn giản, khi chúng ta cố gắng quên mình, khiêm tốn, không đạo đức giả thì chúng ta lại tự hào về điều đó, và rồi cảm thấy tự mãn, chúng ta trở nên người đi phán xét người khác.

Chúa Giêsu cho chúng ta một dụ ngôn tuyệt vời về chuyện này, nhưng chúng ta thường quên bài học này. Tất cả chúng ta đều biết dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế. Chúa Giêsu kể câu chuyện hai người vào nhà thờ cầu nguyện. Người đầu tiên là người biệt phái sốt sắng, ông nghiêm túc giữ đạo hạnh. Ông cám ơn Chúa về lòng sốt sắng đạo hạnh của mình và cám ơn Chúa vì mình không như người thu thuế không đạo đức đang ở cuối nhà thờ. Người thứ hai là người thu thuế nhận biết mình là người không đạo đức (ông chân thành và không biện minh gì), ông là người có tội và xin Chúa tha cho các yếu kém của mình. Chúng ta đều biết Chúa Giêsu đánh giá hai người này như thế nào. Người biệt phái thật sự đã không cầu nguyện, còn người thu thuế thì cầu nguyện. Hơn nữa, dụ ngôn làm nổi bật sự mù quáng bên trong của người người biệt phái, một thứ không thể nào không thấy. Tất cả những ai đọc câu chuyện này đều không thể không thấy sự thiếu khiêm tốn của ông.

Tuy nhiên, thách thức là xem phản ứng của chúng ta về câu chuyện này. Ngay lập tức chúng ta thấy sự khác biệt giữa niềm tự hào rởm và tính khiêm nhường thật sự. Và chúng ta thấy người này kiêu căng đến mức độ nào khi ông nói: “Xin tạ ơn Chúa vì con không như tên thu thuế kia!” Nhưng, tôi nghĩ 98% trong chúng ta khi nghe câu chuyện này sẽ nghĩ, “tôi không như người biệt phái kia!” Khi nghĩ như vậy, chúng ta đều giống ông! Chính xác giống ông, chúng ta đầy tràn ý thức về đức hạnh, chính vì vậy, chúng ta bắt đầu phán xét người khác. Lời cầu nguyện của chúng ta thường ngược với lời cầu nguyện của người thu thuế. Chúng ta không cầu nguyện vì tội của mình mà là cầu nguyện: “Con cám ơn Chúa, con đã không mù quáng với bản thân và không phán xét như nhiều người khác!” Thật khó để được như người thu thuế. Đức hạnh và tính khiêm nhường của chúng ta luôn quay chung quanh chính mình và làm cho chúng ta tự hào và đi chỉ trích.

Câu trả lời ở đây là gì? Làm sao chúng ta bứt được cái vòng luẩn quẩn này? Ở đây chỉ có một cách duy nhất và người thu thuế đã chỉ cho chúng ta. Như thế nào? Ông thật sự cầu nguyện cho tội lỗi của mình. Đó là người phạm tội và ông chân thành thú nhận. Còn về phần chúng ta, chúng ta nói chúng ta là kẻ có tội nhưng chúng ta không thật sự nghĩ như vậy! Chúng ta thừa nhận chúng ta có các thiếu sót và đôi khi chúng ta phạm tội, nhưng như người biệt phái, ngay lập tức chúng ta tạ ơn vì chúng ta không có các thiếu sót và tội lỗi như người khác. Thường thường chúng ta nghĩ theo kiểu: “Chắc chắn rồi, mình cũng có các khiếm khuyết, nhưng ít nhất mình không ngốc và ích kỷ như bạn đồng nghiệp mình!”, “Với tất cả thiếu sót của tôi, tôi cám ơn Chúa, tôi đã không tự ái như ông chủ của tôi!”, “Có thể tôi không có nhiều đức tin nhưng ít nhất tôi không đạo đức giả như nhiều người trong nhà thờ!”, “Tôi có thể có nhiều lỗi, nhưng tôi không có các lỗi như anh Gioan!” Niềm tự hào luôn luôn luẩn quẩn chung quanh hàng rào phòng thủ của chúng ta và chúng ta để lòng khiêm nhường đứng xa xa.

Nhưng có một trường hợp khác, có thể không giống như vậy, đó là khi chúng ta thực sự nhận biết tội của mình. Khi chúng ta ý thức được tình trạng tội lỗi của mình, như người thu thuế, chúng ta sẽ không phán xét ai, ngay cả chính mình. Là linh mục công giáo đã nghe xưng tội trong vòng 47 năm, tôi không ngần ngại nói, những người tốt lành nhất là những người chân thành xưng các thiếu sót của mình. Khi chúng ta thật sự biết tội của mình, chúng ta không phán xét ai. Trong tinh thần này, chúng ta không bao giờ nghĩ: “Tạ ơn Chúa, con đã không phạm tội của anh Gioan!” Chúng ta biết bản thân mình là đủ. Vì thế lời cầu nguyện phải chân thành và theo Chúa Giêsu, thì lời cầu nguyện chân thành sẽ được trên trời nghe thấy.

Và chúng ta phải nhận biết sự tồn tại của tội lỗi của chúng ta và chịu đựng nó. Các thiếu sót khác, các bất toàn bẩm sinh và cá nhân có thể giúp chúng ta trở nên khiêm tốn, nhưng vì chúng ta không chịu trách nhiệm về mặt cá nhân hay đạo đức, nhận biết các thiếu sót này không phải như nhận biết tội lỗi của mình. Chúng ta không có trách nhiệm về ADN thể lý hay tâm lý của mình. Chúng ta không chịu trách nhiệm về sắc dân hay màu da của mình. Chúng ta cũng không chịu trách nhiệm về thành phần gia đình, về khu phố, về văn hóa mà chúng ta được nuôi dạy. Và chúng ta cũng không chịu trách nhiệm về những chuyện xảy ra ở công viên hay ở sân chơi khi chúng ta còn nhỏ. Dù vậy tất cả những điều này có một tác động sâu đậm trên các thiếu sót cũng như trên sức mạnh của chúng ta. Nhưng vì chúng ta không có trách nhiệm nên chúng ta không cần phải khiêm tốn về những chuyện này.

Nhưng chúng ta phải khiêm tốn về các tội lỗi của chính mình.

Ân sủng trong sự thụ động

Một người bạn của tôi chia sẻ câu chuyện sau. Cùng với năm anh chị em, cô lớn lên với một người cha nghiện rượu. Chứng nghiện rượu của người cha đã hủy hoại cả gia đình. Và cô kể thế này: Khi cha tôi chết, chứng nghiện rượu của ông đã tàn phá cả gia đình. Không một ai trong chúng tôi có thể nói chuyện với nhau nữa. Chúng tôi ở xa nhau trong các vùng khác nhau của đất nước và không liên lạc gì với nhau. Mẹ tôi là bà thánh, qua năm tháng, bà cố gắng giải hòa chúng tôi, mời chúng tôi về gặp nhau ăn lễ Giáng Sinh, lễ Tạ Ơn nhưng chẳng bao giờ được. Mọi cố gắng đều vô ích. Chúng tôi ghét nhau. Rồi, khi mẹ tôi sắp chết vì ung thư trong nhà hưu dưỡng, bà nằm liệt giường và bị hôn mê, chúng tôi ở bên đầu giường nhìn bà chết, còn bà thì không thể nói, nhưng lại có thể làm những gì bà còn có thể làm, mà trước đây qua bao nhiêu năm tháng khi bà còn nói được bà đã không thể làm. Khi nhìn bà chết, chúng tôi giải hòa với nhau.

Tất cả chúng ta đều biết các câu chuyện tương tự của những người đang chết, khi họ không còn có thể nói hay hành động gì, thì tác động của họ lại rất mạnh, mạnh hơn cả khi họ có thể nói, có thể làm cho người thân chung quanh mình, đổ tràn ân sủng cho những người thân yêu của mình. Dĩ nhiên đôi khi đây không còn là giải hòa nhưng là tăng sức mạnh cho một gia đình đã hiệp nhất. Đó là trường hợp câu chuyện gia đình được bà Carla Marie Carlson chia sẻ trong quyển sách Mỗi ngày là một ân sủng, Everyday Grace. Gia đình của bà đã rất gắn kết nhưng bà Carlson kể, làm sao mà cái chết của mẹ đã củng cố thêm sợi dây gắn kết gia đình và chúc phúc cho những người chứng kiến bà chết: “Những người có dịp ở với mẹ tôi trong chuyến đi cuối cùng này cho biết, cuộc sống của họ từ nay mãi mãi thay đổi. Đó là giai đoạn đáng kể mà tôi luôn trân trọng. Các bài học về sự chấp nhận và can đảm mà mẹ tôi chống chọi với cơ thể đang hấp hối. Thật là đau thương và sâu đậm, nhưng lại tràn ngập bình an và ân sủng.” Đa số những người ở bên cạnh người thân đang hấp hối đều có thể chia sẻ câu chuyện tương tự.

Ở đây ta có một bài học và một bí ẩn. Bài học là chúng ta không phải chỉ làm những chuyện quan trọng cho nhau nhưng chúng ta có tác động trên đời sống của nhau ngay cả khi chúng ta ở trong tình trạng thụ động, bất lực. Đó là bí ẩn của sự thụ động chúng ta thấy một cách nghịch lý nơi Chúa Giêsu, với những gì Ngài đã làm cho chúng ta.

Là kitô hữu, chúng ta nói Chúa Giêsu đã hiến mạng sống của Ngài cho chúng ta, đã chết cho chúng ta, nhưng chúng ta thường có xu hướng nghĩ điều này chỉ là một và cùng một chuyện. Thật sự không phải như vậy. Chúa Giêsu ban sự sống của Ngài cho chúng ta qua hành động của Ngài, Ngài chịu chết vì chúng ta qua sự thụ động của Ngài. Đó là hai việc khác nhau. Như người phụ nữ nói trên, trong nhiều năm tháng bà đã cố gắng giải hòa các con qua hành động, qua lời nói mà không được, nhưng cuối cùng lại được nhờ sự bất lực, nhờ sự thụ động trên giường chết của bà, Chúa Giêsu cũng vậy. Trong vòng ba năm, bằng đủ mọi phương tiện, Ngài làm cho chúng ta hiểu tình yêu, giải hòa và đức tin, nhưng không có hiệu quả đầy đủ. Và rồi chỉ trong vòng 24 giờ, trong sự bất lực, khi Ngài không thể nói được, trong cái chết của Ngài, chúng ta nhận được bài học. Chúa Giêsu và Mẹ Maria, trong sự bất lực và thụ động, đã ban cho thế giới một điều vốn không thể thực hiện hiệu quả khi mạnh mẽ và chủ động.

Đáng tiếc thay, đây không phải là những gì mà nền văn hóa của chúng ta hiện nay có thể hiểu nổi, một nền văn hóa chỉ nhấn mạnh đến sức khỏe, năng suất, thành tích và quyền lực. Chúng ta không còn hiểu và đánh giá cao giá trị của ân sủng nơi một người chết vì bệnh nan y, hay ân sủng nơi người khuyết tật và ngay cả trong cơ thể khiếm khuyết của chúng ta. Chúng ta cũng không hiểu nhiều về những gì chúng ta có thể mang đến cho gia đình, cho bạn bè, cho đồng nghiệp khi chúng ta bất lực, khi phải chấp nhận sự thờ ơ, khi phải đương đầu, khi bị ngộ nhận. Khi một nền văn hóa bắt đầu nói đến trợ tử, đó là dấu chỉ không sai lầm rằng chúng ta không còn hiểu gì nhiều về ân sủng trong thụ động.

Trong các bài viết của mình, Linh mục Henri Nouwen phân biệt cái chúng ta gọi là “thành tựu” và “sinh hoa kết trái”. Các thành tựu trực tiếp đến từ các hoạt động của chúng ta: Chúng ta hoàn tựu cái gì một cách tích cực không? Chúng ta có làm việc cho người khác không? Và các thành tựu chúng ta dừng lại khi chúng ta không còn hoạt động. Trái lại, sinh hoa kết trái thì vượt lên những gì chúng ta hoàn tựu một cách tích cực, cả về những gì chúng ta làm một cách thụ động cũng như tích cực làm. Gia đình trong câu chuyện trên giải hòa không phải do các thành tựu của bà mẹ, nhưng do sự sinh hoa kết trái của bà. Đó là bí ẩn của sự thụ động.

Linh mục Dòng Tên thần học gia Pierre Teilhard de Chardin, trong tác phẩm thiêng liêng kinh điển, Cảnh vực thần linh, The Divine Milieu, nói với chúng ta rằng chúng ta được định để giúp người khác qua những hoạt động và thụ động của chúng ta, qua những gì chúng ta cho đi một cách chủ động và cả những gì chúng ta thấm nhận một cách bị động.

Đau buồn như một bài tập thiêng liêng

Trong một quyển sách đáng chú ý, Tiếng nói bên trong của Tình yêu, The Inner Voice of Love viết trong lúc đang rơi vào trạng thái trầm cảm xúc cảm nặng, linh mục Henri Nouwen chia sẻ những lời sau: “Thử thách lớn nhất là sống với các tổn thương của mình thay vì xem xét chúng. Khóc thì tốt hơn là lo lắng, cảm nhận sâu sắc tổn thương của mình hơn là cố gắng hiểu chúng, tốt hơn để chúng đi vào im lặng của mình hơn là nói về chúng. Chọn lựa mà bạn phải liên tục đối diện là xem bạn đang xử lý các tổn thương này với cái đầu hay với quả tim. Trong đầu bạn, bạn phân tích chúng, bạn tìm nguyên do, hệ quả và bạn tìm chữ để nói và viết về chúng. Nhưng không có một chữa lành cuối cùng nào đến từ con đường này. Bạn phải đem các tổn thương của mình vào quả tim. Sau đó bạn đi theo chúng và khám phá chúng không hủy hoại bạn. Quả tim của bạn thì lớn hơn là tổn thương của bạn”.

Và cha Nouwen có lý; quả tim của chúng ta thì lớn hơn các tổn thương, dù chúng ta phải cẩn thận trong khi đối phó chúng. Các tổn thương có thể làm dịu quả tim chúng ta, nhưng nó cũng có thể làm quả tim chai cứng và đóng băng trong cay đắng. Vậy thì con đường nào ở đây? Cái gì làm quả tim ấm áp, cái gì làm quả tim lạnh lùng?

Trong một khảo luận đáng chú ý, Thảm kịch của em bé có năng khiếu đặc biệt, The Drama of the Gifted Child, bà Alice Miller, nhà tâm lý gia Thụy Sĩ giải thích cho chúng ta hiểu những gì làm chai cứng quả tim và những gì làm mềm quả tim. Bà mô tả một thảm kịch đặc biệt thường xảy ra trong nhiều cuộc đời. Theo bà, năng khiếu không phải là năng lực trí tuệ nhưng là năng lực của sự nhạy cảm. Đứa trẻ có năng khiếu là đứa trẻ nhạy cảm. Nhưng món quà nhạy cảm là một ân phúc có nhiều mặt. Mặt tích cực là nó làm cho chúng ta cảm nhận mọi thứ một cách sâu đậm để niềm vui trong cuộc sống có ý nghĩa hơn là người dửng dưng. Đó là mặt tốt của nó.

Tuy nhiên ngược lại, nếu nhạy cảm, chúng ta thường sợ làm người khác thất vọng, chúng ta thường sợ không được đánh giá đúng. Và việc chúng ta không đủ khả năng để tự đánh giá thường khơi dậy cảm nhận lo âu và mặc cảm trong người mình. Cũng vậy, nếu chúng ta cực kỳ nhạy cảm, chúng ta sẽ có khuynh hướng xóa mờ lỗi của mình, để người khác tự xoay xở, vì các nhu cầu riêng của mình không được thỏa mãn, rồi chúng ta tự lãnh các hệ quả. Cuối cùng, nếu chúng ta cảm nhận mọi thứ một cách sâu sắc, thì chúng ta cảm thấy mình bị tổn thương sâu đậm nhất. Nhược điểm của tính nhạy cảm và thảm kich mà bà Alice Miller gọi là “thảm kich của em bé có năng khiếu đặc biệt” là thảm kịch của người nhạy cảm.

Hơn nữa, theo quan điểm của bà, đối với nhiều người trong chúng ta, thảm kịch chỉ thật sự bắt đầu trong những năm ở tuổi trung niên và những năm sau đó, tạo nên thất vọng, bất mãn, giận dữ, cay đắng, khi các tổn thương thời thơ ấu và tuổi trưởng thành của chúng ta bắt đầu tan vỡ, đi qua và chế ngự các cơ chế bên trong mà chúng ta bắt đầu cự lại chúng. Ở giữa cuộc đời và già hơn, các tổn thương của chúng ta sẽ kêu mạnh hơn đến mức các cách thức phủ nhận và thích ứng theo thói quen chúng ta không còn hiệu quả nữa. Ở giữa cuộc đời, chúng ta nhận ra mẹ mình yêu chị mình hơn mình, cha mình không lo gì đến mình và tất cả công việc tổn thương bạn ngấm chịu vì bạn nuốt không trôi và bạn chơi trò khắc kỷ anh hùng còn cay đắng gặm nhắm bên trong bạn. Đó là cách tấn thảm kịch chấm dứt trong một quả tim giận dữ.

Vậy thì chúng ta ở đâu, Theo bà Alice Miller, câu trả lời nằm trong đau buồn. Các tổn thương của chúng ta là có thật và chúng ta không thể làm gì với chúng, chúng là thuần khiết và đơn giản. Đồng hồ không thể quay ngược lại. Chúng ta không thể sống lại cuộc sống của mình với các cha mẹ khác nhau, bạn bè tuổi thơ ấu khác nhau, kinh nghiệm khác nhau trên sân chơi, chọn lựa khác nhau và tính tình khác nhau. Chúng ta chỉ có thể dấn tới vượt quá các tổn thương của mình. Và chúng ta làm điều này bằng sự “để tang”. Bà Alice Miller xác nhận mọi nhiệm vụ tâm lý và thiêng liêng của tuổi ngoài bốn mươi và hơn nữa là “để tang” cho các tổn thương này, đau buồn cho đến tận nền tảng cuộc sống đủ để lay chuyển, đủ để có được một sự biến đổi.

Một vết sẹo tâm lý sâu đậm cũng như một phần cơ thể mình mang sẹo mãi mãi khi bị tai nạn. Bạn sẽ không bao giờ còn như cũ và sẽ không có gì làm thay đổi điều này. Nhưng bạn có thể có hạnh phúc lại; có lẽ còn hạnh phúc hơn bao giờ hết. Nhưng sự mất mát trọn vẹn này phải được đau buồn, nếu không nó sẽ thể hiện dưới hình thức giận dữ, cay đắng và hối tiếc ghen tuông.

Linh mục Dòng Tên Roc O’Connor, nhà soạn nhạc, nhà văn thiêng liêng chia sẻ cùng quan điểm này, cha nói thêm, tiến trình đau buồn đòi hỏi kiên nhẫn lâu dài, trong thời gian này chúng ta phải chờ lâu để sự chữa lành sẽ diễn tiến theo nguyên tắc riêng của nó, theo nhịp tự nhiên của nó. Ngài nói, phải ôm lấy tình trạng tổn thương nhân bản của chúng ta và không hành động. Ngài đề nghị, những gì hữu ích là khóc cho các hạn chế nhân bản của mình. Sau đó, chúng ta mới có thể chịu đựng đói khát, trống rỗng, thất vọng, sỉ nhục mà không cần tìm cách khắc phục nhanh chóng, ngay cả tìm giải pháp. Chúng ta không nên cố gắng lấp đầy sự trống rỗng của mình quá nhanh mà chưa chờ đợi đủ.

Và chúng ta sẽ không bao giờ giải hòa với các tổn thương của mình nếu chưa “để tang” cho đủ.

Chuyện người di dân, chuyện cũ, chuyện mới

Dòng Anh Em Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm của tôi đã có mối quan hệ lâu dài với các dân tộc người bản địa Bắc Mỹ. Chắc chắn chúng tôi có các thiếu sót nhưng mối quan hệ này luôn được duy trì từ 150 năm nay. Tôi viết chuyện này trong tài liệu lịch sử của câu chuyện này.

Vào giữa những năm 1800, một nhóm Anh em Hiến sĩ trẻ rời nước Pháp để đến làm việc với người dân bản địa ở bang Oregon và bang Washington. Vì phương tiện đi lại vào thời đó, đặc biệt là khi phải đi xuyên nước Mỹ, chủ yếu người dân phải đi ngựa, còn đi từ thành phố Marseille nước Pháp đến bờ biển Oregon thì phải đi cả năm. Trong các nhóm này có Charles Pandosy, một thanh niên truyền giáo trẻ.

Mùa hè năm 1854, Thống đốc Stevens triệu tập một cuộc họp các trưởng tộc bản địa ở Walla Walla để thảo luận về sự căng thẳng giữa chính quyền Mỹ và người bản địa. Một trong các bộ lạc khăng khăng chống đối là bộ lạc của người Yakima do tộc trưởng Kamiakin điều khiển, các Anh em Hiến sĩ và Linh mục Pandosy làm việc với ông. Đến một thời điểm, tộc trưởng Kamiakin xin cha Pandosy lời khuyên.

Trong một bức thư viết ngày 5 tháng 6 – 1854 gởi cho Thánh Eugène de Mazenod, nhà sáng lập Dòng Anh em Hiến sĩ ở Pháp, cha Pandosy tóm tắt buổi nói chuyện với tộc trưởng Yakima. Vì không biết châu Âu như thế nào, có bao nhiêu người sống ở đó và động lực nào đã thúc đẩy người dân đến Bắc Mỹ, người tộc trưởng hỏi cha Pandosy có bao nhiêu người da trắng ở đó và khi nào thì họ hết đến đây, ngây thơ nghĩ rằng họ còn lại chẳng bao nhiêu người để đến đây.

Trong bức thư của mình, cha Pandosy chia sẻ (nguyên văn) một phần buổi nói chuyện với ông Kamiakin: “Đây là điều tôi sợ. Người da Trắng sẽ lấy đất nước của ông như họ đã lấy nhiều đất nước khác của người thổ dân châu Mỹ. Tôi đến từ đất nước của người da Trắng, ở phía đông và rất xa, ở đó dân số của họ dày đặc như cỏ trên đồi. Bây giờ chỉ có vài người ở đây, nhưng hàng năm những người khác sẽ đến cho đến khi đất nước của ông bị họ tràn ngập… đất đai của ông sẽ bị họ lấy và người dân của ông sẽ bị họ đuổi ra khỏi nhà. Nó đã xảy ra như vậy với các bộ lạc khác; và rồi sẽ đến bộ lạc của ông. Các ông có thể chiến đấu và trì hoãn được một thời gian việc xâm lăng này, nhưng các ông không thể ngăn chặn được. Tôi đã sống nhiều mùa hè với ông và đã rửa tội trong đức tin một số lớn người trong dân tộc của ông. Tôi đã học để thương yêu ông. Tôi không thể khuyên ông cũng như giúp ông. Tôi ước tôi có thể.”

Nghe có vẻ quen? Không phải là vô ích để tìm một điểm chung với tình trạng hàng triệu người di dân hiện nay đang tập trung ở các biên giới Mỹ, Canada và một phần lớn châu Âu, họ tìm cách để vào các nước này. Như người tộc trưởng Kamiakin, chúng ta sống ở các nước này và thiết tha nghĩ đất nước này là “của riêng mình”, không phải lúc nào chúng ta cũng biết có bao nhiêu người muốn đến đây sống, áp lực nào đã thúc đẩy họ đến đây và khi nào làn sóng di dân gần như vô tận này sẽ ngừng. Cũng như các bộ lạc bản địa hồi đó, cuộc sống của họ đã hoàn toàn thay đổi khi chúng ta đến đất nước của họ, chúng ta cũng có khuynh hướng cảm thấy cuộc xâm lược này là bất hợp pháp và không công bằng và bây giờ chúng ta từ chối không cho những người này chia sẻ đất đai và thành phố với chúng ta.

Khi những người châu Âu di cư đến Bắc và Nam Mỹ, họ đến đây vì nhiều lý do khác nhau. Một vài người bỏ trốn vì bị đàn áp tôn giáo, một số tìm cách trốn khỏi cảnh nghèo đói, một số đến đây làm việc để gởi tiền về giúp gia đình, một số là bác sĩ, một số tu sĩ đến truyền giáo và còn có cả các tội phạm có khuynh hướng phạm tội ác.

Có vẻ như không có nhiều thay đổi, ngoại trừ đôi giày hiện đang ở chân kia. Chúng ta là những kẻ xâm lược ban đầu, bây giờ chúng ta là các bộ lạc bản địa, chăm chú bảo vệ những gì chúng ta coi là hợp pháp, sợ người xa lạ, đa số là ngây thơ không biết vì sao mình đến đây.

Và đây không phải chỉ là trường hợp xảy ra ở Bắc Mỹ, đa số các nước châu Âu cũng chịu áp lực như vậy, ngoại trừ là trường hợp của họ đã quá lâu, họ quên tổ tiên của họ đã đến từ nơi khác, và đa số đã bứng người bản địa đã sống ở đó.

Dĩ nhiên là không dễ dàng để giải quyết, về mặt chính trị cũng như về mặt đạo đức; không một nước nào đơn thuần mở biên giới của mình một cách bừa bãi cho ai muốn vào thì vào; tuy nhiên Sách Thánh của chúng ta, do thái giáo cũng như kitô giáo đều khẳng định rõ ràng, đất đai thuộc về tất cả mọi người và tất cả mọi người đều cùng có quyền với các tạo dựng của Chúa. Mệnh lệnh đạo đức có vẻ như không công bằng và không thực tế; nhưng làm sao chúng ta có thể biện minh được chúng ta đã di dời người khác để chúng ta xây dựng đời sống ở đây, và bây giờ chúng ta thấy không công bằng khi người khác đang làm điều tương tự như chúng ta đã làm.

Khi nhìn cuộc khủng hoảng người di dân trên thế giới hiện nay, chúng ta nhận ra mình gieo cái gì rồi cuối cùng sẽ gặt cái đó.

Tạo và giữ không gian cho các mối tan vỡ của chúng ta

Cách đây vài năm tôi có tham dự một buổi tĩnh tâm cuối tuần do một phụ nữ, người không giấu giếm gì về việc không thể có con là vết thương sâu đậm trong cuộc đời của bà. Vì thế bà hướng dẫn các buổi tĩnh tâm về nỗi đau không thể có con. Là người độc thân và cũng không có con, tôi là người đàn ông duy nhất tham dự một trong các khóa này của bà. Đa số người tham dự là phụ nữ, trung bình từ 40 đến 50 tuổi và họ không có con.

Dựa trên Sách Thánh, tâm lý học, các tiểu sử và thơ văn, bà xem xét vấn đề vô sinh dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Buổi chiều thứ bảy có một nghi thức trong nhà nguyện, các người tham dự khắc một cây thánh giá lớn, họ diễn tả nỗi đau để Chúa Giêsu và mọi người khác có thể hiểu họ. Tiếp theo đó chúng tôi cùng xem bộ phim Bí mật và Nói dối của nước Anh, nói lên nỗi buồn của một phụ nữ không thể nào có con. Kế tiếp là phần chia sẻ chân thành với nhiều nước mắt! Nhưng sau phần chia sẻ đau đớn và nước mắt tuôn trào thì bầu khí hoàn toàn thay đổi, như thể sau khi bị cơn bão đen tối hoành hành, chúng tôi được an toàn. Có sự nhẹ nhõm, rất nhiều tiếng cười và vui vẻ. Một cơn bão thực sự đã quét qua và chúng tôi yên hàn vô sự.

Tất cả nỗi đau có thể chịu đựng được nếu chúng ta có thể chia sẻ. Triết gia Schopenhauer được cho là người nói câu này, nhưng ai nói trước cũng được, câu đó đã tóm gọn điều xảy ra trong buổi tĩnh tâm này. Một nỗi đau sâu đậm được chịu đựng dễ dàng hơn không phải vì nó được cất đi, nhưng vì nó được chia sẻ, và chia sẻ mang “tính cách bí tích”. Đúng, có những bí tích không được cử hành trong nhà thờ, nhưng luôn có sức mạnh của bí tích. Và chúng ta cần nhiều hơn các bí tích này.

Như bà Rachel Held Evans (1981-2019), người viết khảo luận đã viết : “Tôi thường được độc giả cho biết, họ rời nhà thờ vì không có một lời nào nói cho họ nghe sau khi họ bị sẩy thai, bị ly dị, bị chẩn đoán bệnh, bị tấn công, bị phá sản, bị động đất, bị là nạn nhân trong các vụ nổ súng. Khuynh hướng của người Mỹ là khuynh hướng chiến thắng, lạc quan bám gốc rễ trong thành công, trong tiền bạc, trong đặc quyền ưu đãi, những điều này làm lây nhiễm và tổn hại đến bất cứ cộng đồng đức tin nào đã mất đi khả năng để một khoảng không gian cho những người ưu buồn.”

Bà Evans đúng. Các nhà thờ chúng ta không tạo đủ không gian để giữ nỗi đau. Về bản chất: trong linh đạo hàng ngày của cộng đoàn, của cầu nguyện, của phụng vụ và của Thánh Thể trong các nhà thờ, chúng ta không dựa đủ trên sự việc Chúa Kitô là một thực tế vừa là một sự chết, nhưng cũng vừa là sự sống lại đang trỗi dậy. Chung chung chúng ta không xem phần hấp hối của Chúa Kitô nghiêm túc như chúng ta phải xem. Và đâu là hệ quả?

Một hệ quả là chúng ta không tạo đủ các nghi thức cử hành trong cộng đoàn để giáo dân cảm thấy thoải mái khi giữ lại, khi diễn tả sự buồn bã, chia ly của họ với cộng đoàn và theo cách “bí tích.” Dĩ nhiên các nhà thờ chúng ta có nghi thức mai táng, có bí tích xức dầu, có bí tích giải hòa, có các nghi thức cầu nguyện đặc biệt sau các biến cố bi thảm trong cộng đồng hay các nghi thức tập họp khác, các khoảng không gian mạnh mẽ để kiềm chế nỗi buồn và các tan vỡ. Tuy nhiên (ngoại trừ bí tích hòa giải là bí tích riêng tư), các bí tích khác thường gắn liền với một hoàn cảnh đặc biệt như ma chay, bệnh nặng, hay một bi kịch xảy ra trong cộng đồng. Những gì chúng ta thiếu là các nghi thức cộng đoàn thường xuyên, dựa trên giáo hội, tương tự như các cuộc họp của những Người nghiện rượu ẩn danh, qua đó, mọi người có thể đến để chia sẻ tổn thương của họ và làm chứng cho ân sủng mà chỉ có cộng đồng mới có thể đem lại.

Chúng ta cần nhiều loại cử hành “bí tích” khác nhau trong nhà thờ, qua đó, để sử dụng thuật ngữ của bà Rachel Held Evans, chúng ta có thể tạo và dành một khoảng không gian cho những người đang đau buồn vì tan vỡ, bị sẩy thai, bị phá thai, bị chẩn đoán một căn bệnh nặng, bị phá sản, bị mất việc làm, bị ly dị, bị về hưu non, bị thất tình, bị mất người thân, bị mất tự lập, bị lâm vào hoàn cảnh phải thích ứng với sự trống trải trong hôn nhân, bị vô sinh và đủ loại hụt hẫng khác.

Những nghi thức này sẽ như thế nào? Chung chung là chưa có, chúng ta phải phát minh ra. Triết gia người Canada Charles Taylor cho rằng cuộc đấu tranh tôn giáo ngày nay không phải là cuộc đấu tranh của đức tin mà là cuộc đấu tranh của trí tưởng tượng. Chưa ai từng sống trong loại thế giới này trước đây. Chúng ta cần các nghi thức mới. Chúng ta là những người tiên phong trên một vùng đất mới và những người tiên phong phải tùy cơ ứng biến. Chắc chắn, nỗi đau và sự tan vỡ luôn ở bên cạnh chúng ta, nhưng các thế hệ trước đã có các cách chung để tạo không gian cho nỗi đau. Các giúp đỡ, các cộng đoàn, các nhà thờ ngày đó ít có vấn đề với chủ nghĩa cá nhân như bây giờ chúng ta đang có, chúng ta một mình phải đối diện trước các tan vỡ của mình. Ngày nay, không còn một cấu trúc cộng đồng, giáo hội nào đủ để giúp chúng ta chấp nhận sự việc, trong cuộc sống này, chúng ta sống ”trong tang tóc và khóc than trong thung lũng nước mắt”.

Chúng ta cần hình dung một số nghi thức mới mang tính bí tích, qua đó chúng ta có thể vững vàng trước nỗi đau của mình.

Chúa Giêsu Kitô – Con người và Mầu nhiệm

Chúng ta hoàn toàn có xu hướng nghĩ về từ “Chúa Kitô” như tên thứ hai của Chúa Giêsu. Chúng ta nghĩ về tên “Giêsu-Kitô” như tên họ bình thường kiểu Marie Trần hay Joseph Trần. Nhưng đó là sự nhầm lẫn không tốt. Chúa Giêsu không có tên thứ nhì. Từ “Kitô” là một danh hiệu, trong đó bao gồm con người Chúa Giêsu, nói về một cái gì đó rộng lớn hơn là chỉ một mình Giêsu. Có điều gì khác biệt giữa “Giêsu” và “Kitô?”

Giêsu là nói đến một người cụ thể, mặc dù là Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa, đã xuống thế trong 33 năm và ngày nay vẫn là người mà chúng ta hiểu và liên hệ đến như một con người riêng lẻ. Chúa Kitô quy chiếu đến một cái gì lớn hơn, cụ thể là mầu nhiệm mênh mông của tạo dựng và sự cứu rỗi mà Chúa Giêsu, với tư cách là Chúa Kitô, đóng vai trò nền tảng, bao gồm Bí tích Thánh Thể, cộng đồng kitô giáo, các giáo hội kitô giáo trong lịch sử, cộng đồng của tất cả những người thiện tâm: đi trên hành tinh này, và có hình dáng thể lý tự chính mình. Chúa Giêsu là người mà chúng ta tìm cách có mối quan hệ qua tình bạn và tình mật thiết, trong khi Chúa Kitô là mầu nhiệm mà chúng ta và tất cả tạo vật là một phần và trong đó chúng ta dự phần.

Điều này có ý nghĩa rất lớn, không chỉ trong cách chúng ta hiểu về mặt tâm linh và giáo hội. Về bản chất, đây là thách thức: Điều gì là trọng tâm của chúng ta, những gì Chúa Giêsu đã làm và xin chúng ta làm hoặc con người của chính Chúa Giêsu? Thật thú vị khi nhìn vào các giáo hội kitô giáo khác nhau dưới góc cạnh của câu hỏi này: chúng ta có tập trung hơn vào lời giảng dạy của Chúa Giêsu hay về con người của Chúa Giêsu? Chúng ta tập trung hơn vào Chúa Giêsu hay Chúa Kitô?

Xét về sự khái quát hóa quá mức, chúng ta có thể nói Công giáo la mã và đạo Tin lành chính gốc thường có khuynh hướng tập trung vào lời dạy của Chúa Giêsu và các đòi hỏi trong tinh thần môn đệ phát xuất từ các lời giảng dạy này hơn là chính con người của Chúa Giêsu. Điều ngược lại cũng đúng với người với theo giáo phái Phúc âm truyền thống, họ nhấn mạnh và tiếp tục nhấn mạnh về con người của Chúa Giêsu và mối quan hệ cá nhân của mỗi người với Ngài. Công bằng mà nói, rõ ràng cả hai truyền thống cũng có các chiều kích khác nhau. Người Công giáo la mã và người theo đạo Tin lành chính gốc không bỏ qua con người của Chúa Giêsu và các người theo giáo phái Phúc âm cũng không bỏ qua các giáo huấn của Chúa Giêsu; nhưng, trong cả hai trường hợp, một bên tập trung cái này nhiều hơn cái kia. Về phần mình, người Công giáo la mã cũng nhấn mạnh chiều kích mật thiết cá nhân với Chúa Giêsu, nhưng đặt điều này trong việc sốt sắng giữ đạo nhiều hơn là trong thần học chính của nó, tập trung nhiều vào mầu nhiệm Chúa Kitô hơn là con người của Chúa Giêsu.

Không ngạc nhiên khi linh đạo có khuynh hướng đi theo mô hình này. Ngược với người theo phái Phúc âm, các người Công giáo la mã và Tin lành chính gốc không đặt sự mật thiết với Chúa Giêsu làm trọng tâm chính linh đạo của mình, dù họ xem đây là lý tưởng tối thượng. Sự nhấn mạnh của họ là về Chúa Kitô. Còn về các người theo phái Phúc âm, họ đặt trọng tâm vào mối quan hệ cá nhân với Chúa Giêsu, diện đối diện, theo cách mà người Công giáo la mã và Tin lành chính gốc thường tự hỏi chính xác người theo phái Phúc âm muốn gì khi họ hỏi chúng ta: “Bạn đã gặp Chúa Giêsu Kitô chưa? Chúa Giêsu Kitô có phải là Chúa và là Đấng cứu thế của bạn không?” “Bạn có tái sinh không?” Ngược lại, người Công giáo la mã và người Tin lành chính gốc thường có cái nhìn phê phán với anh em phái phúc âm của mình, tự hỏi họ có quá chú trọng đến sự cứu rỗi cá nhân và tình mật thiết riêng tư với Chúa Giêsu mà xao nhãng đi một số giáo huấn trọng tâm của Chúa Giêsu liên quan đến công bằng xã hội và với một đức tin rộng lớn hơn.

Chắc chắn, cả hai ưu tiên này là cần thiết. Chúng ta đã thấy rõ ràng trong lời rao giảng của các giáo hội tiên khởi. Học giả về Sách Thánh nổi tiếng Raymond Brown nói với chúng ta rằng, bắt đầu từ Thánh Phaolô, các nhà rao giảng sớm nhất đã chuyển mục đích chính bài giảng của họ về chính Chúa Giêsu, như thử họ không thể loan báo vương quốc mà không loan báo về người mà với người đó, vương quốc mới hiện diện được.

Tuyên xưng chính người đó (hơn là chỉ nói về sứ điệp của họ) đã là một điều mới đối với các nhà rao giảng đầu tiên của Giáo hội kitô. Lời rao giảng của họ về con người Chúa Giêsu thì hoàn toàn khác với cách các Sách Thánh Do thái tôn vinh ông Môsê, trong nghĩa này họ tôn vinh sứ điệp của ông mà không bao giờ kéo sự chú ý về con người của ông để yêu cầu bất cứ ai bắt chước ông. Như vậy: có một bài học cần rút tỉa theo cách mà chúng ta thường đối xử với các thánh và những người thánh thiện. Chúng ta tôn vinh họ qua lòng ngưỡng mộ, trong khi thật sự điều chúng ta được yêu cầu là bắt chước hành động của họ.

Rõ ràng người môn đệ kitô giáo đòi hỏi phải có tính mật thiết với Chúa Kitô và quan tâm đến những gì Ngài giảng dạy, đạo đức cá nhân, công bằng xã hội, trung tín với gia đình giáo hội của mình và khả năng ôm lấy người khác với quả tim chân thành của những người trong cùng một gia đình đức tin. Triết gia Soren Kierkegaard đã cho rằng, những gì Chúa Giêsu thực sự muốn, chúng ta là những người đi theo Ngài chứ không phải người ngưỡng mộ Ngài. Đó là người Tin lành chính gốc. Các người thuộc giáo phái Phúc âm sẽ có thể không đồng ý, mà sẽ nói những gì Chúa Giêsu muốn thật sự, đó là chúng ta có mối quan hệ mật thiết với Chúa. Các nhà rao giảng đầu tiên của Tin Mừng sẽ đồng ý với triết gia Kierkegaard và các người thuộc giáo phái Phúc âm. Chúng ta phải tuyên xưng cả hai, sứ điệp của Chúa Giêsu và chính Chúa Giêsu.

Một vài lời khuyên về đức tin và tôn giáo cho thế hệ chúng ta hiện nay

Đây là vấn đề không còn bí mật với ai, chúng ta đang chứng kiến một sự suy giảm khổng lồ về việc đi lễ và song song với việc này là bây giờ người dân không còn quan tâm gì đến tôn giáo. Trong suy nghĩ mà chúng ta lo lắng như trước đây, đôi khi chúng ta còn bị ám ảnh về tội lỗi, về đi nhà thờ, về thiên đàng, về hỏa ngục, các ám ảnh này dường như chẳng còn tác động gì với hàng triệu người. Một phụ huynh, lo lắng về tình trạng tôn giáo của các con mình đã chia sẻ với tôi gần đây: “Các mối quan tâm tôn giáo cũ của chúng tôi chưa bao giờ làm hoen mờ suy nghĩ của chúng”. Chúng ta phải nói gì khi đối diện với điều này?

Chắc chắn tôi không phải là người phù hợp nhất để đưa ra lời khuyên. Tôi đã hơn 70 tuổi. Tôi là nhà văn thiêng liêng, trọng tâm chính hiện nay của tôi là nghiên cứu và giảng dạy, chú ý đến tâm linh của sự lão hóa, và tôi là linh mục công giáo la mã, là tu sĩ, người bị cho là người bán hàng cho tôn giáo và cho nhà thờ.

Nhưng dù vậy, đây là một số lời khuyên của tôi về đức tin và tôn giáo cho thế hệ ngày nay.

Thứ nhất: Tìm sự trung thực. Mối quan tâm đầu tiên của Chúa không phải là chúng ta có đi nhà thờ hay không, nhưng chúng ta có trung thực trong việc tìm sự thật và ý nghĩa của nó không. Khi Thánh Tôma tông đồ nghi ngờ về thực tế của sự sống lại, Chúa Giêsu không quở mắng nhưng chỉ xin Thánh Tôma đưa tay ra và tiếp tục tìm, tin rằng nếu Tôma trung thực đi tìm, cuối cùng Tôma sẽ tìm thấy sự thật. Điều này cũng đúng với chúng ta. Tất cả những gì chúng ta phải làm là trung thực, không nói dối, thừa nhận sự thật khi sự thật đến. Trong Phúc âm Thánh Gioan, Chúa Giêsu chỉ đưa ra một điều kiện để đến với Chúa: Hãy trung thực và không bao giờ từ chối nhận biết cái gì là thật, dù nó có phiền hà như thế nào. Nhưng quan trọng là phải trung thực! Nếu chúng ta trung thực, cuối cùng chúng ta sẽ tìm thấy ý nghĩa và điều đó sẽ dẫn chúng ta đến nơi chúng ta cần đến – thậm chí có thể đến một cánh cửa nhà thờ ở đâu đó. Nhưng ngay cả khi không phải như vậy, Chúa cũng sẽ tìm ra chúng ta. Mầu nhiệm của Chúa Kitô lớn hơn chúng ta hình dung.

Thứ hai: Lắng nghe những gì sâu sắc nhất bên trong tâm hồn mình. Tâm hồn là thứ hàng hóa quý giá. Chúng ta phải chắc chắn là mình tôn quý tâm hồn mình. Tôn vinh tiếng nói bên trong tâm hồn. Tiếng nói này sâu xa hơn các tiếng nói lôi cuốn mà chúng ta nghe thế giới mời gọi tứ phía, đó là tiếng nói bên trong tâm hồn, giống như khi chúng ta gặp phải cơn khát khủng khiếp, tiếng nói này luôn nhắc chúng ta nhớ sự thật lời cầu nguyện của Thánh Âugutinô: Chúa đã tạo chúng con ra cho Chúa và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi nó được nghỉ an trong Chúa. Chúng ta giữ liên lạc với tiếng nói khát khao này. Chúng ta sẽ nghe tiếng nói này trong sự bồn chồn thao thức của mình và như lời của thần học gia Karl Rahner, tiếng nói này sẽ dạy cho chúng ta một điều mà mới đầu chúng ta khó có thể chịu đựng được, nhưng cuối cùng thì nó lại giải thoát chúng ta: Trong dằn vặt của những gì chưa trọn, cuối cùng chúng ta cũng học được một điều, cuộc sống không có bản giao hưởng kết thúc trọn vẹn.

Thứ ba: Coi chừng đám đông! Trong các Tin mừng, từ ngữ “đám đông” luôn gần như không tốt. Vì lý do chính đáng: Các đám đông không có tinh thần và năng lực của đám đông thường nguy hiểm. Vì vậy, hãy cẩn thận với những gì nhà văn Milan Kundera gọi là cuộc “diễu hành vĩ đại”, cụ thể là xu hướng được dẫn dắt bởi ý thức hệ, suy nghĩ theo nhóm, theo xu hướng mới nhất, theo người, hay theo chuyện phổ biến, cảm giác sai lầm cho là đúng, vì phần lớn mọi người cảm thấy rằng cách, và áp lực xã hội đến từ cả cánh tả cũng như cánh hữu. Hãy thẳng thắn với chính mình. Hãy là nhà tiên tri đơn độc không sợ ở một mình bên ngoài. Hãy ước mơ. Hãy là người có lý tưởng. Hãy bảo vệ tâm hồn mình. Đừng bán tâm hồn mình với giá rẻ.

Thứ tư: Đừng nhầm lẫn đức tin với nhà thờ – nhưng đừng bỏ nhà thờ nhanh quá. Khi hỏi những người không dính gì với tôn giáo ngày nay, tại sao họ không đi nhà thờ, câu trả lời bất di bất dịch của họ là: “Tôi không tin vào điều đó nữa”. Nhưng “điều” họ không tin đó là điều gì? Những gì họ không tin nữa, đó không phải là sự thật về Chúa, về đức tin và tôn giáo, nhưng đúng hơn là những gì họ nghe về Chúa, về đức tin và tôn giáo. Chúng ta sắp xếp lại và sẽ thấy chúng ta có đức tin. Thêm nữa chúng ta đừng bỏ nhà thờ quá nhanh. Chúng có lỗi thực sự; bạn không sai về điều đó, nhưng đó luôn là GPS tốt nhất hiện nay để giúp bạn tìm ra con đường của mình. Đó là lộ trình được hàng triệu nhà thám hiểm đã đi trên con đường này trước bạn. Bạn có thể phớt lờ họ, nhưng bạn hãy chăm chú nghe tiếng nói dịu dàng của Chúa, Ngài hay nói: “Con xem lại đi”. Chúa sẽ đưa bạn về nhà, nhưng các nhà thờ cũng có thể giúp đỡ bạn.

Thứ năm: Bạn đừng quên người nghèo. Khi bạn chạm vào người nghèo, bạn đã chạm vào Chúa và, như Chúa Giêsu nói, vào ngày phán xét, chúng ta sẽ bị phán xét qua cách chúng ta phục vụ người nghèo. Bãn hãy tặng cho mình món quà của lòng vị tha, biết rằng, như Chúa Giêsu đã nói, không phải những người cứ nói Chúa, Chúa mà người đó lên thiên đàng, nhưng là những người phục vụ người khác. Trong hành trình tìm kiếm của bạn, bạn cần nhận thư giới thiệu của người nghèo.

Thứ sáu: Hãy tìm một vị bảo trợ trong số những người đương thời để họ có thể truyền cảm hứng cho bạn. Jean Vanier, Henri Nouwen, Thomas Merton, Dorothy Day, Oscar Romero, Dietrich Bonhoeffer, Simone Weil, Etty Hillesum và Dag Hammarskjold… còn nữa, tất cả đã từng đi qua con đường của bạn.

Mùi hương của đức khiêm nhường

Mùi hương của đức khiêm nhường Theo Isaac người Syria, giám mục và là nhà thần học nổi tiếng ở thế kỷ thứ 7, một người thực sự khiêm nhường là người tỏa ra một hương thơm nhất định nào đó mà người khác sẽ cảm nhận được và ngay cả động vật cũng cảm nhận đến mức mà các động vật hoang dã kể cả rắn cũng bị thu hút và không bao giờ dám làm hại người này.

Và đây là lập luận của ngài, ngài tin rằng một người khiêm nhường tìm thấy được mùi hương của thiên đàng, khi đứng trước một người như vậy, chúng ta không cảm thấy mình bị phán xét, không có gì để sợ, và điều này đúng với cả động vật. Họ cảm thấy an toàn bên cạnh người khiêm nhường và bị người đó thu hút. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy những người như Thánh Phanxicô Assisi có thể nói chuyện với chim muông và kết bạn với chó sói.

Dù đẹp như thế nào, có phải đây là câu chuyện cổ tích ngoan đạo hay đây là một ẩn dụ phong phú và nguyên mẫu? Tôi thích nghĩ đây là ẩn dụ phong phú và có thể có một cái gì còn hơn nữa. Quả vậy, đức khiêm nhường có một mùi hương, mùi của đất mùn, đất thó, mùi của thiên đàng.

Nhưng như thế nào? Bằng cách nào mà một đức tính thiêng liêng lại tỏa ra một mùi hương vật lý?

Chúng ta có tâm thế, là những tạo vật vừa có thể xác vừa có tâm linh. Vì thế trong chúng ta, thể chất và tâm linh là một phần của một và cùng một thực thể mà nó không thể nào tách cái này ra khỏi cái kia. Cơ thể và tâm hồn chúng ta cũng giống như đường có màu trắng và có vị ngọt, độ trắng và độ ngọt không thể nào tách riêng ra được. Cả hai có bên trong đường. Chúng ta là một thực thể, không thể tách rời, là thể xác và tâm hồn, như thế luôn vừa là thể lý vừa là tâm linh. Vì vậy, trên thực tế, chúng ta cảm nhận những chuyện về thể chất một cách thiêng liêng, cũng như ngửi những chuyện thiêng liêng qua các giác quan thể lý của mình. Nếu điều này đúng, thì quả thật khiêm nhường tỏa ra mùi hương có thể cảm nhận được về mặt thể xác và khái niệm của Isaac người Syria không chỉ là một ẩn dụ.

Nhưng nó cũng là một ẩn dụ: chữ khiêm nhường có nguồn gốc từ tiếng la-tinh là mùn (humus) có nghĩa là đất: nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa này thì người khiêm nhường mà chúng ta biết là người sát đất nhất và người có nền tảng nhất. Là người khiêm nhường là có bàn chân đạp đất, là tiếp xúc với đất, là mang mùi đất. Hơn nữa, khiêm nhường là lấy chỗ hợp pháp như một mảnh nhỏ của đất, chứ không phải như một con người hay một cái gì đó tách khỏi đất.

Nhà thần nghiệm và khoa học gia nổi tiếng Pierre Teilhard de Chardin đôi khi đã diễn tả điều này trong lời cầu nguyện của ngài. Trong nhiều năm, với tư cách là nhà cổ sinh vật học, ngài làm việc một thời gian dài trong các sa mạc hẻo lánh ở Trung quốc, có khi ngài soạn các lời cầu nguyện cho Chúa dưới hình thức mà ngài gọi đó là Thánh lễ cho thế giới. Nói chuyện với Chúa trong tư cách linh mục, ngài kết hiệp tiếng nói của mình với chính tiếng nói của đất, nơi sự sáng tạo vật lý chính là đất, nền của đất, để có thể mở ra và nói chuyện với Chúa. Là linh mục, ngài không nói cho đất; ngài nói như là đất, cho đất một tiếng nói, với những chữ có tác động:

Lạy Chúa, con đứng trước mặt Chúa như một sinh linh bé nhỏ của đất, để cho đất có tiếng nói: xin Chúa nhìn đến sự mở lòng ra của con, sự mở lòng ra của thế giới, sự bất trung của con, sự bất trung của thế giới; trong sự chân thành của con, sự chân thành của thế giới, trong đạo đức giả của con, trong đạo đức giả của thế giới; trong sự quảng đại của con, sự quảng đại của thế giới, trong sự quan tâm của con, sự quan tâm của thế giới, trong sự xao lãng của con, sự xao lãng của thế giới; trong ước muốn ca ngợi Chúa của con, trong ước muốn ca ngợi Chúa của thế giới, trong lợi ích riêng của con, trong sự quên lãng Chúa của thế giới. Vì con là đất, là chút đất nhỏ, chút đất mở ra hoặc khép lại qua cơ thể của con, tâm hồn và tiếng nói của con.

Đây là khiêm nhường, một biểu hiện của khiêm nhường đích thực. Khiêm nhường không bao giờ được nhầm lẫn với hình ảnh bản thân bị tổn thương như chúng ta thường thấy, với sự dè dặt quá mức, với sự rụt rè và sợ hãi hay với một nhận thức quá nhạy cảm về mình. Thường thường khái niệm một người khiêm nhường là khái niệm về người nhận lỗi khi mình có lỗi, người không nhận lời khen (dù mình xứng đáng), người quá rụt rè để không thể thân tình tin tưởng thổ lộ, hay người quá sợ hãi hoặc tự ti ý thức, lo lắng sợ xấu hổ để không bao giờ mở lòng đi tới trước và tặng cộng đoàn món quà của mình. Những điều này có thể là những điều của người hiền lành và quên mình, nhưng do chúng ta chê chính mình khi phủ nhận tài năng của mình, đây là khiêm nhường giả tạo và xét cho cùng, chúng ta biết điều này, vì vậy điều này thường làm cho một người nào đó che giấu sự giận dữ của mình sẽ dễ trở thành người gây hấn thụ động.

Người khiêm nhường nhất mà các bạn biết là người vững chãi nhất, có nghĩa là người biết họ không phải là trọng tâm của trái đất nhưng cũng biết họ không phải là một mẫu vụn đất hạng hai. Và người đó sẽ tỏa ra một mùi hương mang cả hương thơm của thiên đàng (món quà thần thánh) cũng như mùi hương của trái đất.

Di cư muộn

Chúa Giêsu nói rằng nếu chúng ta theo Ngài thì đau khổ và thập giá sẽ chờ chúng ta.

Thông điệp này luôn bị hiểu lầm. Có lẽ chúng ta sẽ hiểu hơn nếu Chúa Giêsu nói: Các con càng nhạy cảm thì nỗi đau sẽ càng thấm vào cuộc sống của con. Như thế thì chúng ta hiểu được mối liên kết giữa hai chuyện. Những người nhạy cảm bị đau khổ sâu đậm hơn, cũng như họ ngấm hơn niềm vui và vẻ đẹp của cuộc sống. Nỗi đau xâm nhập vào họ sâu đậm hơn cũng cùng một nghĩa đó. Họ rộng mở với chuyện này. Như thể họ tránh được sự nhẫn tâm bằng nỗi đau sâu đậm cũng như niềm vui sâu xa.

Trong bối cảnh này, tôi xin giới thiệu với độc giả quyển sách mới của bà Margaret Renkl, Di cư muộn – Lịch sử tự nhiên của tình yêu và của mất mát (Late Migrations: A Natural History of Love and Loss).

Quyển sách này cho thấy một sự nhạy cảm hiếm có. Một số người có năng khiếu về trí tuệ, người khác về mặt nghệ thuật, người khác nữa về mặt lãng mạn và tình cảm. Renkl có năng khiếu với tất cả những điều này; đặc biệt với trí thông minh cảm xúc bà phối hợp với khiếu thẩm mỹ tinh tế của một nghệ sĩ và sau đó kết hợp cả hai với kỹ năng của một nhà văn tài năng bẩm sinh. Tất cả tạo một tổng hợp tốt đẹp. Nội dung chỉ là một phần của món quà quyển sách này. Ngoài thông điệp của nó, quyển sách còn là một tác phẩm tuyệt vời và cũng là một tác phẩm nghệ thuật hay.

Nhưng đây cũng là một quyển sách về đức tin, mặc dù Renkl không nói lên một cách rõ ràng. Bà viết chủ yếu như một người theo chủ nghĩa tự nhiên, một người hành hương thành thị tại Tinker Creek, một người mê thiên nhiên, dành nhiều thời gian cho nó, hiểu rõ tính cách hào phóng và sự tàn ác bẩm sinh của nó, và cũng hiểu các tàn khốc này (đâu đó trong thiên nhiên có vẻ như dễ tìm và dễ lấy) được kết nối với các lực sâu thẳm nhất ẩn ngầm trong trọn sự sống, kể cả cuộc sống của chính chúng ta. Bà chia sẻ tính cách phức tạp nhất định với nhà cổ sinh vật học thần nghiệm vĩ đại, linh mục Dòng Tên Pierre Teilhard de Chardin, người thích nói mình sinh ra với hai tình yêu không thể chữa được, một tình yêu tự nhiên của thế giới lương dân với tất cả những vẻ đẹp của nó và một tình yêu mạnh mẽ không kém, tình yêu thần nghiệm cho thế giới bên kia, có nghĩa là Chúa đàng sau thế giới này. Tuy nhiên, ngược với Teilhard, người rất rõ ràng về ý thức của mình về Thiên Chúa và trọng tâm của đức tin, đức tin của Renk thì còn phôi thai, dù trong hiểu biết của bà, bà rất hiểu về thiên nhiên và cách bà chạm vào ngón tay của Chúa trong các câu chuyện bà chia sẻ.

Quyển sách này là một tập hợp các bài tiểu luận ngắn, xen kẽ các mô tả thẩm mỹ tuyệt vời về đời sống các con chim bà nuôi và các khu vườn bà có khuynh hướng mô tả một cách nhạy cảm, cũng như đời sống của chính bà và của gia đình bà, đặc biệt là về sự mất mát và đau buồn đan xen với tình yêu. Một vài ví dụ:

Về các thiếu sót của chúng ta trong cuộc sống: “Con người là những sinh vật được tạo ra cho niềm vui. Hiển nhiên ngược lại, chúng ta cho rằng đau buồn, cô đơn và tuyệt vọng là bi kịch, là biến thể không mong muốn của niềm vui, yên lặng và an toàn mà theo cách đúng đắn, sẽ tạo nền tảng vững chắc cho chúng ta”.

Về các bài học rút ra từ việc quan sát thiên nhiên: “Mỗi ngày thế giới dạy cho tôi những gì tôi cần để biết để có mặt trong thế giới này”.

Về cách tình cảm tạo nên lòng trắc ẩn một chiều: “Câu chuyện của em bé người Syria bị chết đuối trôi dạt trên sóng đã làm cho chúng ta thức giấc nửa đêm với cõi lòng đau buồn. Câu chuyện về bốn triệu người tị nạn trốn khỏi Syria có vẻ như đây chỉ là vấn đề con số”.

Còn về vẻ đẹp và sự tàn khốc của thiên nhiên: “Bên trong tổ chim, các con chim con thoát được nanh vuốt của diều hâu, của mưa gió, được bảo vệ khỏi con mắt sắc nhọn của con quạ và cái lưỡi khủng khiếp của chim gõ kiến bụng đỏ. (Nhưng…) Bên trong tổ chim, các con chim con bất lực, mong manh với cơn giận dữ của mặt trời mùa hè, của mỏ con chim sẻ. Bị chắn lối tứ phía trong tổ chim nhỏ của mình, các con chim con là bữa ăn ngon của con rắn muốn ăn lúc nào thì ăn”.

Về việc chăm sóc người thân yêu lớn tuổi cho đến khi họ chết: “Kết thúc việc chăm sóc là tự do. Kết thúc việc chăm sóc (cũng) là đau buồn.”

Khi trả lời cho một phụ nữ ám chỉ bà là kẻ hèn nhát, Renkl là người rất sợ mất người thân: “Tôi tự hỏi liệu bà ấy đã từng, dù chỉ một lần, yêu ai đủ để sợ một chuyện mất mát như vậy không, nhưng suy nghĩ này cũng xấu như ý của bà ấy, và dù sao thì bà ấy cũng không sai”.

Tu sĩ nhà văn Richard Rohr gợi ý rằng chúng ta mãi mãi phải đối phó với sự thật vừa của nỗi đau nặng nề vừa của tình yêu vĩ đại. Trong quyển sách này, bà Renkl chia sẻ làm thế nào mà mẹ bà, người phụ nữ trong một số lãnh vực cho thấy bà có một năng lực, một lòng nhiệt tình phi thường nhưng đôi khi phải chịu đựng những giai đoạn trầm cảm và bản thân bà cũng không tránh được. Có một lô-gic cho rằng, cũng như Chúa Giêsu, những người nhạy cảm thấm đậm những chuyện rất sâu xa, cả đau khổ cũng như tình yêu, đau khổ có thể làm bạn bị tê liệt cũng như tình yêu có thể cho bạn năng lực và niềm say mê phi thường.

Quyển sách xứng đáng để đọc.

Một bài học về lão hóa

Như hầu hết mọi người, tôi vẫn không tìm được bình an, tôi vẫn nghĩ mình trẻ. Nhưng tôi thật sự hạnh phúc khi mừng sinh nhật 70 cách đây hai năm, không phải vì tôi hạnh phúc ở tuổi này nhưng vì sau hai lần ung thư nặng trong những năm gần đây, tôi hạnh phúc được còn sống trên đời và tôi đủ khôn ngoan để biết ơn một chút về những gì lão hóa và bệnh ung thư đã dạy tôi. Nhà văn John Updike viết, có một vài bí mật ẩn giấu trong sức khỏe. Và lão hóa phát hiện ra rất nhiều, vì như ngạn ngữ Thụy Điển đã nói, “buổi chiều biết những gì buổi sáng không bao giờ ngờ tới”.


Chúng ta sống trong một nền văn hóa lý tưởng hóa tuổi trẻ và gạt ra bên lề người lớn tuổi. Như tâm lý gia người Mỹ James Hillman đã nói, người lớn tuổi không dễ dàng để bị mình truất ngôi cũng như bỏ đi động lực đã đưa họ đến đó. Tôi biết điều này, tôi đã già.

Trong phần lớn cuộc đời, tôi luôn xem mình là người trẻ. Vì sinh vào tháng 10 nên tôi luôn là học sinh nhỏ hơn các bạn cùng lớp, tốt nghiệp trung học ở tuổi mười bảy, vào chủng viện ở tuổi êm đềm đó, chịu chức linh mục ở tuổi hai mươi lăm, năm sau tốt nghiệp cao học, hai mươi sáu tuổi dạy thần học đệ tam cấp, tôi là người trẻ nhất phân khoa. Tôi tự hào về điều này vì đã thực hiện những chuyện này sớm trong đời. Và vì vậy tôi luôn nghĩ mình trẻ, dù năm tháng chồng chất, dù cơ thể tôi bắt đầu phản bội bản thân tôi.

Hơn nữa trong hầu hết những năm tháng cuộc đời, tôi luôn giữ đầu óc trẻ trung, gần với văn hóa trẻ, xem phim của họ, nghe các bài hát nổi tiếng, dùng chữ lóng của họ. Trong những năm ở chủng viện và nhiều năm sau khi chịu chức, tôi phục vụ giới trẻ, giúp họ tổ chức các buổi tĩnh tâm cho các bạn trẻ ở nhiều trường trung học và cao đẳng khác nhau. Vào thời đó, tôi thuộc các bài hát phổ thông, biết các cuốn phim được nhắc đến, các xu hướng đương thời, nói ngôn ngữ của người trẻ và tôi tự cho mình trẻ.

Nhưng tự nhiên không có luật trừ. Không ai trẻ mãi bao giờ. Hơn nữa, thường thường tiến trình lão hóa không báo trước. Bạn mù quáng cho tới ngày bạn thấy mình trong gương, bạn thấy bức ảnh mình chụp gần đây, hay bạn nghe bác sĩ chẩn đoán và bạn nhận ra bạn không còn trẻ. “Cái già nó thì xồng xộc đến.” Chung chung lão hóa thể hiện qua cách bạn phủ nhận nó, bạn chiến đấu với nó, và bạn chỉ chấp nhận từng phần với ít nhiều cay đắng.

Nhưng tới ngày, ngày này đến với tất cả mọi người, bạn sững sờ nhận ra những gì bạn nhìn trong gương thì khác với cách bạn hình dung và bạn tự hỏi: đây là mình thật sao? Tôi già như thế sao? Tôi trông giống gì đây? Thêm nữa bạn bắt đầu thấy những người trẻ tuổi đang đang tạo ‘nhóm của họ’, họ quan tâm đến những người giống họ, và bạn không có trong số đó, bạn cảm thấy ngớ ngẩn, lạc lõng khi bạn cố gắng ăn mặc, hành động và nói như họ. Cho đến ngày bạn chấp nhận bạn không còn trẻ trung dưới mắt họ, chứ không phải dưới mắt bạn.

Hơn nữa, trọng lực không những chỉ tác động đến cơ thể bạn, nó kéo mọi thứ đi xuống, kể cả tâm hồn. Nó kéo xuống theo cơ thể, dù lão hóa có nghĩa là có một cái gì rất khác. Tâm hồn không già, nó chín chắn. Tâm hồn mình có thể trẻ lâu dài dù thể xác phản bội mình. Thật vậy, chúng tôi luôn cảm thấy mình trẻ trung trong đầu óc. Tâm hồn mang sự sống khác với sự sống của cơ thể vì cơ thể được dựng ra để chết. Bên trong mỗi cơ thể sống, nguyên lý sự sống có một chiến lược để ra đi. Và tâm hồn không có chiến lược này, tâm hồn chỉ có một chiến lược là làm sâu sắc hơn, ngày càng phong phú hơn và kết cấu hơn. Lão hóa buộc chúng ta, chủ yếu chống lại ý chí chúng ta, lắng nghe tâm hồn chúng ta sâu đậm hơn, trung thực hơn để rút ra từ những nguồn sâu hơn và bắt đầu làm hòa với sự phức tạp của nó, cái bóng của nó và các xu hướng sâu xa nhất của nó – và lão hóa cơ thể đóng vai trò quan trọng trong việc này. Một ẩn dụ của tâm lý gia James Hillman như sau: Các loại rượu vang ngon nhất phải được ủ trong các thùng cũ bị nứt. Cũng vậy với tâm hồn: tiến trình lão hóa được Thiên Chúa và tự nhiên dựng lên để rèn luyện tâm hồn, dù chúng ta muốn hay không, để luôn đào sâu hơn trong huyền bí của sự sống, của cộng đoàn, của Chúa và của chính sự sống. Tâm hồn chúng ta không có tuổi, nó cũng như rượu, nó chín muồi và chúng ta có thể giữ tinh thần trẻ trung. Niềm say mê của chúng ta, lửa của chúng ta, háo hức của chúng ta, dí dỏm của chúng ta, tinh thần của chúng ta không thể mờ đi với tuổi tác. Thật vậy nó mang màu sắc của một tâm hồn trưởng thành.

Vì vậy, xét tận cùng, lão hóa là một món quà, ngay cả khi mình không muốn. Lão hóa đưa chúng ta đến một nơi sâu hơn, cho dù chúng ta có muốn đi đến đó hay không.

Như hầu hết mọi người, tôi vẫn không tìm được bình an, tôi vẫn nghĩ mình trẻ. Nhưng tôi thật sự hạnh phúc khi mừng sinh nhật 70 cách đây hai năm, không phải vì tôi hạnh phúc ở tuổi này nhưng vì sau hai lần ung thư nặng trong những năm gần đây, tôi hạnh phúc được còn sống trên đời và tôi đủ khôn ngoan để biết ơn một chút về những gì lão hóa và bệnh ung thư đã dạy tôi. Nhà văn John Updike viết, có một vài bí mật ẩn giấu trong sức khỏe. Và lão hóa phát hiện ra rất nhiều, vì như ngạn ngữ Thụy Điển đã nói, “buổi chiều biết những gì buổi sáng không bao giờ ngờ tới”.

Hình dung ra ân sủng

Chúng ta hãy tưởng tượng điều này: một người hoàn toàn không lo gì về đời sống đạo đức và thiêng liêng trong suốt đời mình, sống tuyệt đối ích kỷ, lạc thú là điều duy nhất họ chạy theo suốt đời. Họ sống bất chấp mọi khuôn khổ, không bao giờ cầu nguyện, không bao giờ đi nhà thờ, đời sống tình dục phóng túng và không quan tâm đến bất cứ ai ngoài mình. Sống như thế suốt đời, cuối đời họ bị bệnh và trên giường chết, họ khóc lóc ăn năn, họ chân thành xưng tội, nhận bí tích Thánh Thể và qua đời trong ân phúc của nhà thờ và bạn bè.

Bây giờ nếu phản ứng của chúng ta là: “Tốt, người này may mắn! Ông sống suốt đời ích kỷ và ông lên thiên đàng!”. Vậy thì theo nhà thần học Piet Fransen nổi tiếng về Ân sủng, chúng ta chưa hiểu như thế nào là ân sủng. Trong chừng mực nào đó, chúng ta vẫn còn ghen tị với người vô đạo đức và muốn loại họ ra khỏi ân sủng của Chúa, chúng ta là “người con cả” trong câu chuyện Người con hoang đàng trở về, đứng trước căn nhà của Người cha trên trời mà lòng cay đắng ghen tương.

Tôi giảng dạy ở chủng viện, chuẩn bị cho các chủng sinh chịu chức linh mục. Gần đây giáo sư thần học bí tích của chúng tôi chia sẻ điều này: Ông dạy môn bí tích hòa giải từ hơn bốn mươi năm nay, và chỉ vài năm gần đây các chủng sinh mới hỏi: “Khi nào chúng ta mới phải từ chối không ban phép giải tội?”

Điều gì nói lên trong câu chuyện này? Chắc chắn các chủng sinh rất chân thành khi đặt câu hỏi; họ không tỏ ra cứng nhắc hay nghiêm khắc. Lo lắng của họ là về ân sủng và lòng thương xót. Họ chân thành lo để không ban lòng thương xót Chúa một cách quá dễ dãi, quá rẻ tiền, bừa bãi, thực chất là bất công. Nỗi sợ của họ vừa không muốn để lòng thương xót Chúa bị giới hạn, vừa không muốn duy chỉ có lòng thương xót. Không phải như vậy. Quan tâm của họ nhiều hơn, nếu dễ dãi quá thì sẽ bất công với các tín hữu trung thành chịu đựng thử thách hàng ngày. Lo sợ của họ là liêm khiết, công bằng và công trạng.

Cái gì là thách thức ở đây? Ân sủng này không phải là cái gì do công sức chúng ta. Sau khi người thanh niên trẻ từ chối lời mời gọi bỏ hết mà theo Chúa Giêsu, thì Thánh Phêrô, người có mặt trong buổi gặp này, ngược với chàng trai trẻ giàu có, ông bỏ hết theo Chúa và hỏi Chúa những người bỏ hết theo Ngài sẽ nhận được gì. Để trả lời, Chúa Giêsu kể dụ ngôn người chủ hào phóng với các người xin vào làm vườn nho bất kể giờ nào. Người làm nhiều giờ, người làm ít giờ đều nhận số lương bằng nhau, làm cho những người làm suốt ngày nóng nực cay đắng cảm thấy mình bị đối xử bất công. Nhưng người chủ vườn nho (là Chúa) cho họ thấy không có bất công ở đây, mọi người đều đã được nhận phần mình quá hào phóng.

Đâu là bài học sâu sắc ở đây? Mỗi lần chúng ta phản đối, thật bất công khi những người không trung thành cũng nhận được lòng thương xót và ân sủng của Chúa, thì chúng ta xa với sự hiểu biết về ân sủng và về đời sống nội tâm.

Cô nhân viên vệ sinh răng miệng biết tôi là linh mục công giáo, cô hay đặt nhiều câu hỏi về tôn giáo và giáo hội. Một ngày nọ cô kể câu chuyện sau: cha mẹ cô không bao giờ đi nhà thờ. Họ có cảm tình với tôn giáo nhưng không quan tâm đến. Còn cô thì theo phái Giám lý, chủ yếu là do ảnh hưởng của bạn bè. Rồi mẹ cô qua đời, và khi gia đình bàn về việc tổ chức tang lễ thì cha của cô cho biết bà đã được rửa tội theo đạo công giáo và không giữ đạo từ khi hai tuổi. Ông đề nghị tổ chức theo nghi lễ công giáo cho bà. Vì không giữ đạo từ lâu, họ hơi lo lắng khi gặp linh mục ở giáo xứ bên cạnh để xin tang lễ được làm theo nghi thức công giáo. Trước sự ngạc nhiên to lớn của họ, vị linh mục không ngần ngại, cha nồng nhiệt đón họ: “Dĩ nhiên chúng tôi sẽ cử hành tang lễ! Đây là vinh dự cho chúng tôi! Và chúng tôi sẽ sắp xếp để có ca đoàn hát lễ và sẽ có buổi tiếp tân ở hội trường giáo xứ sau đó.”

Không đòi hỏi gì về sự vắng mặt cả đời của bà ở nhà thờ. Bà được chôn cất theo nghi thức Giáo hội… và cha của cô, quá xúc động trước sự quảng đại của nhà thờ và nét đẹp của nghi thức phụng vụ đã quyết định trở thành người công giáo la mã.

Chúng ta sẽ tự hỏi kết quả sẽ như thế nào nếu linh mục từ chối làm tang lễ và cũng tự hỏi điều gì biện minh cho tang lễ của một người cả đời chẳng quan tâm gì đến nhà thờ. Chúng ta cũng sẽ tự hỏi có bao nhiêu người sẽ thấy câu chuyện này là khích lệ hay là bực mình, vì theo luân lý giáo hội ngày nay, nhiều người trong chúng ta còn nuôi nỗi sợ không nhận được ơn và lòng thương xót quá dễ dàng.

Nhưng ân sủng và lòng thương xót không bao giờ có giá, dù rẻ dù đắt vì tình yêu không bao giờ là chuyện xứng công mới được.

Thông minh so với khôn ngoan

Có một khác biệt rất lớn giữa người xuất sắc và người khôn ngoan, giữa xuất chúng và minh triết. Chúng ta có thể là người rất thông minh nhưng không khôn ngoan cho lắm. Dĩ nhiên lý tưởng là chúng ta cố gắng cả hai, nhưng không phải khi nào cũng được như vậy, nhất là ngày nay.
Chúng ta sống trong thời buổi cổ vũ cho sự xuất chúng hơn là khôn ngoan, chúng ta tự hào là người xuất sắc hơn người khác. Ai là người xuất sắc nhất? Ai là người vào được đại học ưu tú nhất? Ai là nhà kinh doanh giỏi nhất? Ai là người nổi tiếng nhất? Ai là nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo, người dẫn chương trình truyền hình, người vui vẻ nhất ở văn phòng hay ở bàn ăn gia đình? Ai là người xuất sắc nhất? Chúng ta không bao giờ hỏi: ai là người khôn ngoan nhất? Ngày nay trí thông minh cao hơn khôn ngoan, nhưng không phải lúc nào điều này cũng đúng. Chúng ta là những người am tường tin tức và thông minh nhưng lòng trắc ẩn của chúng ta không ở cùng tầm cao với tài năng chúng ta. Chúng ta là những người xuất sắc, nhưng không phải là người khôn ngoan.

Đâu là khác biệt giữa thông minh và khôn ngoan? Khôn ngoan là trí tuệ được tô điểm bởi sự hiểu biết (mà phân tích từ gốc rễ của nó, có nghĩa là thấm đậm đồng cảm). Cuối cùng điều làm nên sự khôn ngoan, đó là thông minh xây dựng trên sự thông cảm với sự phức tạp của thế giới, của con người, và điều này mang các hệ quả kèm theo.

Học tập, để thực sự hữu ích thì phải đi kèm theo sự tăng trưởng đồng đều với sự thông cảm. Khi không có điều này thì sự tăng trưởng luôn chỉ một chiều và dù nó mang lại một cái gì cho cộng đồng, thì nó luôn thiếu tầm hiểu biết để có thể giúp cộng đồng nối kết với nhau, hiểu nhau hơn và hiểu thế giới hơn. Khi trí thông minh không có sự thông cảm thì những gì nó đem lại thường không đóng góp vào lợi ích chung. Không đi cùng với thông cảm, trí thông minh luôn là kiêu ngạo và hạ cố ban ơn. Ngược lại học tập đích thực là khiêm tốn, quên mình và đồng cảm. Khi chúng ta phát triển trí tuệ mà không đủ đồng cảm thì tài năng của chúng ta luôn là nguyên nhân cho tính đố kỵ, hơn là quà tặng cho cộng đồng.

Trớ trêu thay, cuối cùng thì trí thông minh mà không đủ đồng cảm thì sẽ không xuất sắc, thay vào đó là một trí thông minh bị trì trệ, lỗi của nó không ở những gì nó đã được học (vì học là chuyện tốt), nhưng ở chỗ việc học đó đã bị ngừng trệ. Nó bị một hiểm nguy mà nhà thơ người Anh Alexander Pope gọi là, “học một chút là điều nguy hiểm”, khi chúng ta đọc một quyển sách quá kỹ nhưng là một quyển sách ít giá trị!

Người ta có thể phản đối ở đây và đưa ra lời biện hộ cho tính khách quan của khoa học. Khoa học thực nghiệm có phải là sản phẩm trí tuệ thuần túy không nhuốm màu bởi bất cứ một cái gì ngoài nó không? Có phải lý tưởng của tất cả học tập là hoàn toàn khách quan, không ở phía nào không? Sự đồng cảm đóng vai trò gì trong nghiên cứu thuần túy? Liệu con mắt hướng về đồng cảm có làm mờ đi tính khách quan thuần túy không?

Tính khách quan không tồn tại, kể cả trong khoa học cũng như bất cứ nơi nào khác. Khoa học ngày nay thừa nhận không bao giờ có thể hoàn toàn khách quan. Tất cả đều có lịch làm việc riêng, góc cạnh riêng và không thể giúp can thiệp (tuy nhiên có lẽ là đến vô cùng) với những gì nó đánh giá. Tất cả mọi người và mọi thứ, bao gồm cả khoa học đều có tiền đề (nói trại ra là tiền bản thể học). Do đó, vì tất cả học tập nhất thiết phải bắt đầu từ một góc cạnh, một tiền đề, một tiền bản thể học thì câu hỏi không phải là: Làm thế nào tôi có thể hoàn toàn khách quan, nhưng là: Điều gì phục vụ chúng ta tốt nhất ở góc cạnh học tập này? Câu trả lời là đồng cảm. Đồng cảm biến đổi thông minh thành khôn ngoan và khôn ngoan biến đổi học tập thành một cái gì phục vụ đúng đắn nhất cho cộng đoàn.

Tuy nhiên sự đồng cảm không được lẫn lộn với tình cảm hoặc ngây ngô như đôi khi đã xảy ra. Tình cảm và ngây ngô thấy lỗi trong chính trí thông minh, xem học tập chính nó là vấn đề. Nhưng học tập không bao giờ là vấn đề. Học tập một chiều, đấy mới là vấn đề, có nghĩa học tập không được đồng cảm soi sáng đủ, tìm tòi kiến thức mà không tìm tòi hiểu biết.

Tôi dạy cho các sinh viên sắp tốt nghiệp, chuẩn bị nhận sứ vụ trong giáo hội. Như thế, đối với họ, học cao không chỉ là có điểm cao, có bằng cấp danh dự, có đầy đủ thông tin, có học hoặc đơn giản đáp ứng cho tính hiếu kỳ trí tuệ và câu hỏi của mình. Qua chính ơn gọi của họ, họ đang phấn đấu để có khôn ngoan hơn là đơn thuần thông minh. Nhưng ngay cả họ, cũng như đa số người khác trong nền văn hóa chúng ta, họ đấu tranh để không học tập một chiều, để việc học của mình mang đến cho mình sự thông cảm cũng như kiến thức. Tất cả chúng ta đều đấu tranh với điều này. Cũng khó để cự lại với cám dỗ, cũng như nạn dịch trong nền văn hóa chúng ta, nghĩ rằng chắc chắn có vi trùng trong nước, nghĩ rằng mình phải thông minh xuất chúng biết nhiều tin tức hơn người khác, mặc, chúng ta sẽ đồng cảm sau đó.

Vì vậy bài này là lời kêu gọi, không phải là bài chỉ trích: Đối với tất cả chúng ta, cho dù chúng ta có nghiên cứu chính thức hay không; cho dù chúng ta có đang học các công nghệ thông tin mới nhất; dù chúng ta có đang cố giữ cho mình được thông tin đúng về mặt xã hội và chính trị hay không; dù chúng ta viết bài, viết sách, viết blog; dù chúng ta đang học để có việc làm; hoặc chúng ta đơn thuần họp nhau để thảo luận ở sở làm hay ở bàn ăn gia đình, chúng ta nên nhớ: không phải chỉ có thông minh là tốt mà còn phải chứng tỏ mình có lòng trắc ẩn.

Sự hiểu biết thiêng liêng

Cách đây nhiều năm, trong một buổi hội thảo chuyên đề về đức tin và truyền giáo, một trong các diễn giả đã đưa ra lời tuyên bố khá giật mình. Cô là nhà hoạt động kitô giáo đã kết thúc bài thuyết trình của mình bằng những lời sau: “Tôi làm việc cho người nghèo, tôi làm việc này vì đức tin công giáo của tôi. Tôi dấn thân làm vì Chúa Giêsu nhưng tôi có thể đi ba năm ngoài đường phố mà không bao giờ nhắc đến tên Chúa Giêsu, vì tôi nghĩ Chúa đủ trưởng thành để không đòi hỏi mình là trung tâm sự chú ý có nhận thức của chúng ta trong mọi lúc.”

Giống như nhiều người khác trong phòng, tôi chưa bao giờ nghe một văn sĩ hay một nhà rao giảng nào nói thẳng như vậy. Tôi đã nghe các học giả Kinh Thánh nói về việc Chúa từ bỏ mình khi nhập thể, về sự quên mình trong ẩn giấu, về lòng kiên nhẫn của Chúa khi bị bỏ quên nhưng tôi chưa bao giờ nghe ai nói thẳng, Chúa không sợ chúng ta không chú ý đến Ngài trong một thời gian dài.

Nhưng điều này có đúng không? Chúa có đồng ý với loại bỏ bê này không?

Có một sự thật quan trọng ở đây, nhưng chỉ khi nó có đủ điều kiện minh xác. Nghĩ theo nghĩa đen, điều này có thể biện minh cho quá nhiều chuyện không tốt (lười biếng thiêng liêng, ích kỷ, nghĩ đến mình quá độ, cự lại với một suy nghĩ sâu sắc hơn, trì hoãn quá mức với những gì quan trọng và rất nhiều chuyện khác). Nhưng đây là sự thật: Chúa hiểu! Thiên Chúa là bậc cha mẹ yêu thương, hiểu được sự vô tâm và quan tâm của con cái mình.

Thiên Chúa không đặt chúng ta vào cuộc đời này chủ yếu chỉ để xem chúng ta có quan tâm đến Ngài mọi nơi mọi lúc không. Thiên Chúa muốn chúng ta chăm chú vào những việc ở thế gian này, nhưng dĩ nhiên là không được quên những chuyện này đang đi qua và chúng ta được định hướng cho một cuộc sống bên kia thế giới. Chúng ta không ở trên trái đất này để luôn nghĩ về đời sống vĩnh cửu, cũng không ở trên trái đất này để quên đi đời sống vĩnh cửu.

Tuy nhiên nếu cuộc sống không có ý thức thì cuộc sống ít nhân bản hơn nên, chúng ta cũng phải có những giây phút cố gắng để Chúa là trọng tâm ý thức của mình. Chúng ta cần những giây phút cầu nguyện, suy niệm, chiêm ngắm, thờ phượng, cần ngày sa-bát, cần nhận biết, cần tạ ơn Chúa. Chúng ta cần những giây phút ý thức mình có một cuộc sống trong tương lai, một đời sống vĩnh cửu ngoài đời sống hiện tại này.

Và cuối cùng, điều này không đi ngược, không tranh chấp với sự quan tâm tự nhiên của chúng ta về cuộc sống này, về các quan hệ trong đời sống hàng ngày, với gia đình, với công ăn việc làm, với sức khỏe, về sự tập trung tự nhiên của chúng ta với tin tức hàng ngày, với thể thao, thú vui và các giải trí khác. Với thiện tâm và trung thực, những gì thu hút sự quan tâm của chúng ta rồi cuối cùng cũng thúc đẩy sự quan tâm này hướng về những chuyện sâu sắc hơn và cuối cùng đương nhiên là hướng về Chúa. Nhà thần nghiệm cao cả Gioan Thánh giá nói với chúng ta, nếu chúng ta trung thực và chân thành khi chúng ta tập trung vào những chuyện tầm thường của thế gian này thì những điều sâu xa hơn sẽ xảy ra, một cách vô thức và dưới bề mặt, chúng ta sẽ đến gần với Chúa hơn.

Chẳng hạn, đan tu nổi tiếng Carlo Carretto đã kể câu chuyện sau: sau khi sống ẩn tu nhiều năm trong sa mạc Sahara, bỏ ra không biết bao nhiêu giờ để cầu nguyện, để suy gẫm, ông về Ý thăm mẹ mình. Bà là người phụ nữ nuôi một gia đình đông con với rất nhiều trách nhiệm trong đời, bà không có nhiều thời gian để cầu nguyện. Và Carretto ngạc nhiên nhận ra chính bà là người suy gẫm nhiều hơn mình, không phải vì các giờ cầu nguyện của một ẩn tu như mình là không tốt, nhưng vì tất cả các việc vô vị lợi mà mẹ mình đã làm trong việc nuôi nấng gia đình và chăm sóc người khác là rất tốt.

Và Chúa hiểu điều này. Chúa hiểu chúng ta là những con người, yếu đuối về mặt tâm linh, bận rộn và theo bản năng là hướng đến các chuyện ở trần gian này, đến mức chúng ta không tự nhiên hướng về cầu nguyện, về nhà thờ ngay cả khi chúng ta cầu nguyện hay ở trong nhà thờ. Chung chung chúng ta luôn đãng trí, mệt mỏi, thiếu kiên nhẫn, nghĩ đến chuyện khác và mong giờ cầu nguyện và ở trong nhà thờ sớm xong.

Không phải dễ để giữ Chúa ở trọng tâm chú ý có ý thức của chúng ta; nhưng Chúa biết và thông cảm.

Bà Kate Bowler, giáo sư thuộc giáo phái Mennô bình giải về cái mà Giáo hội gọi là “thường niên” nghĩa là thời gian không ở trong các mùa đặc biệt như Mùa Vọng, Mùa Chay, lễ Giáng Sinh, lễ Phục Sinh, không có gì đặc biệt để dâng mừng. Điều gì xảy ra ở đây? Đó là những chuyện trở nên “bình thường”: “Không có sinh ra trong máng cỏ, không có cái chết trên thập giá, không có các bài hát, các bài cầu nguyện sốt sắng và giữ con cái họ yên lặng khi nghe giảng. Điều huyền nhiệm mờ dần và để lộ ra hình ảnh thật của nhà thờ: giáo dân bình thường trong một tòa nhà nhàm chán gặp nhau cho đến khi được khởi động.”

Đúng, đa số thời gian, chúng ta, những người bình thường trong các tòa nhà nhàm chán đang chờ cú khởi động. Và Chúa hoàn toàn hiểu chuyện này.

Sự tự đại và các vết thương của chúng ta

Chúng ta đi vào cuộc đời với một tâm thức không thể nào xóa bỏ, nghĩ rằng chúng ta đặc biệt, chúng ta là tâm điểm vũ trụ. Và, xét một cách chủ quan, chúng ta là thế! Trong nhận thức của mình, chúng ta là tâm điểm vũ trụ và cuộc sống xoay quanh chúng ta. Hiện hữu của chúng ta là điều chân thực nhất. Như triết gia Descartes đã nói, điều duy nhất chúng ta biết chắc là chính bản thân mình; tôi suy tư do đó tôi tồn tại. Còn mọi sự khác, có lẽ chỉ là giấc mơ.

Linh đạo đã luôn xem điều này là tiêu cực. Tính vị kỷ thái quá, những cảm giác tự đại, sự tự quy, kiêu ngạo, tất cả được xem là kết quả của sự hủ hóa bản chất con người do tội nguyên tổ. Chúng ta gọi đó là Sa ngã. Tổ tông của chúng ta đã cố vượt quá tầm, cố trở thành gì đó cao hơn những gì Thiên Chúa dự định cho họ, và nó đã làm thoái hóa muôn đời bản chất của họ, và chúng ta, con cái của họ cũng kế thừa điều đó. Thế nên, chúng ta, con cái của ông A-dong và bà Evà, theo bản năng quá ngả theo xu hướng vượt quá tầm, tự đắc, tự phụ, và nghĩ về bản thân trước hết.

Giáo lý về tội nguyên tổ có ý nghĩa quan trọng, nhưng mục đích trước hết không phải để làm cho chúng ta hổ thẹn về sự kiêu hãnh tự nhiên và ý thức mình đặc biệt. Lý do thực sự vì sao sự kiêu hãnh và tự đại ăn sâu thâm căn cố đế trong chúng ta, chính là vì Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta như thế, và như vậy, tự nó không phải là một sai lỗi hay một thoái hóa, nhưng nó tạo nên những gì cao đẹp nhất và quý báu nhất trong chúng ta. Cả Kitô giáo lẫn Do Thái giáo đều có tín lý: mỗi một người chúng ta, được sinh ra theo hình ảnh Thiên Chúa. Nói thế không phải là có một biểu tượng tuyệt vời được ghi khắc vào linh hồn chúng ta, nhưng đúng hơn là có ngọn lửa thiêng trong chúng ta, và nó, theo ý Chúa, gợi lên trong chúng ta, ý thức về sự quý báu, phẩm giá, độc nhất vô nhị của cuộc đời chúng ta. Nhưng đi cùng với nó (như kiểu trọn gói) là tâm thức kiêu hãnh và tự đại. Nói đơn giản, chúng ta không thể có gì đó của Thiên Chúa trong mình mà không thấy mình đặc biệt.

Và chính nó tạo nên tình trạng không yên bình lắm cho trái đất. Bây giờ chúng ta có bảy tỷ rưỡi người trên trái đất, mỗi người đều có cùng ý thức bẩm tại rằng mình là trung tâm vũ trụ và hiện thực của chính mình là điều chân thực nhất. Chính nó là nguyên do thực sự cho những chuyện chúng ta thấy trên bản tin hằng ngày, dù tốt hay xấu. Sự tự đại là nguồn gốc xung đột của con người, nhưng cũng là nguồn gốc cho sự cao cả của con người.

Một điều quan trọng để hiểu được điều này, chính ý thức thần thiêng bẩm tại của chúng ta cũng chính là điểm mà chúng ta chịu những vết thương sâu nhất. Điều gì làm tổn thương hình ảnh Thiên Chúa trong chúng ta nhất? Đó là những điều này: sự sỉ nhục, không được thể hiện bản thân cho đủ, sự chán nản không bao giờ dứt vì cứ gặp phải những giới hạn cuộc sống, và sự thống khổ vì tình trạng vô danh.

Mỗi người chúng ta, do bản chất, có một sự độc nhất vô nhị và phẩm giá được Chúa ban, và do đó không gì làm tổn thương chúng ta hơn là bị sỉ nhục và hạ giá trong nỗ lực sống trọn vẹn sự độc nhất vô nhị đó. Một sự sỉ nhục hạ giá, thậm chí khi chúng ta còn rất nhỏ, có thể hằn dấu trên suốt cuộc đời chúng ta. Đó là một trong các lý do tại sao chúng ta có những vụ giết người hàng loạt. Cũng thế, như Iris Murdoch đã nói, nỗi đau lớn nhất của con người là nỗi đau khi không được thể hiện bản thân cho đủ. Có những nghệ sĩ vĩ đại, nhà soạn nhạc, giảng viên, vận động viên, trình diễn viên vĩ đại trong thế giới chúng ta, nhưng ít người có thể tạo nên sự biểu hiện đem lại thỏa mãn đó. Số còn lại trong chúng ta phải sống với sự chán nản không ngừng vì những gì thâm sâu nhất trong chúng ta không thể biểu hiện ra được. Cũng thế, chúng ta luôn mãi gặp phải những giới hạn thực sự trong cuộc sống và cả những giới hạn của sự sống nữa. Karl Rahner đã nói: Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học để biết rằng, trong đời này, tất cả mọi bản hòa âm đều phải dang dở. Đến tận cùng, tất cả chúng ta chết đi với một cuộc đời chưa hề được hoàn thành trọn vẹn. Và chuyện đó đâu dễ chấp nhận! Mọi sự trong con người chúng ta vùng lên chống lại nó. Cuối cùng, hầu hết tất cả chúng ta sống trong sự thống khổ của tình trạng vô danh, chúng ta chỉ được công nhận và nổi danh trong những giấc mơ hão huyền, và sự vĩ đại của chúng ta chẳng ai biết đến. Và chuyện đó cũng không dễ chấp nhận.

Vậy thì chúng ta rút ra được gì từ điều này? Vì chúng ta bí mật nuôi dưỡng những suy nghĩ về sự đặc biệt, nên chúng ta cũng nuôi dưỡng một sự hổ thẹn bí mật chăng? Sự kiêu hãnh bẩm tại của chúng ta là điều khiến chúng ta chống lại sự thánh thiện chăng? Sự tự đại của chúng ta là điều xấu chăng? Sự chán nản với những giới hạn và bất đạt trong cuộc sống của chúng ta, là điều không đẹp lòng Chúa sao? Những mộng tưởng hão huyền của chúng ta về sự độc nhất vô nhị và vĩ đại là thứ phá hoại việc chiêm niệm và cầu nguyện của chúng ta sao? Liệu bản chất của ta, tự nó có thoái hóa không? Chúng ta phải ra khỏi con người mình mới nên thánh sao?

Mỗi một câu hỏi này đều có thể trả lời bằng hai cách. Sự tự đại, kiêu hãnh, hổ thẹn, chán nản, và mơ ước hão huyền về sự vĩ đại, thật sự có thể là những thứ có thể làm cho chúng ta sa ngã và biến chúng ta thành những người đáng ghét, ích kỷ, ghen tỵ, hằn học và sát nhân. Nhưng chúng cũng có thể là nguồn cho sự vĩ đại, sự cao cả của linh hồn, sự quảng đại, quên mình, quan tâm đến mọi người, biết cầu nguyện thật sự, và có thể cho chúng ta thành những bậc tử đạo quên mình cho đức tin, đức cậy và đức mến. Sự thần thiêng của chúng ta là một ơn phúc phức tạp, nhưng chắc chắn nó là ơn lớn lao nhất của chúng ta.

“Tái sinh” là gì?

“Tái sinh” hay “sinh ra bởi ơn trên” nghĩa là gì? Nếu bạn là người phái Phúc âm hay phái Baptist, có lẽ bạn đã có câu trả lời. Tuy nhiên, nếu bạn là người công giáo La Mã hay người Tin Lành chính tông, thì cụm từ này có lẽ không nằm trong vốn từ vựng đạo của bạn, và thật sự sẽ gợi lên cho bạn một kiểu trào lưu chính thống Kinh thánh làm cho bạn hoang mang.

“Tái sinh” là gì? Từ ngữ này trong Phúc âm thánh Gioan, trong đoạn Chúa Giêsu nói chuyện với ông Nicôđêmô. Chúa Giêsu bảo ông “phải được sinh ra bởi ơn trên”. Nicôđêmô hiểu theo nghĩa đen và ông phản đối, một người trưởng thành không thể nào chui vào bụng mẹ để sinh ra lần nữa. Thế nên, Chúa nói lại câu này theo ẩn dụ, cho Nicôđêmô biết rằng lần tái sinh của một người thì không như lần đầu, không phải bởi xác thịt, nhưng là “bởi nước và Thần Khí”. Chà… Nói thế vẫn chưa đủ rõ với Nicôđêmô hay chúng ta. “Sinh ra bởi ơn trên” nghĩa là gì?

Có lẽ có quá nhiều câu trả lời. Sinh ra về mặt thiêng liêng, không như sinh ra về mặt thể lý, là điều không phải ai cũng hiểu như nhau. Tôi có những người bạn ở phái Phúc âm nói rằng, với họ, điều này nói đến một thời khắc tác động mạnh mẽ trong đời họ, khi họ có cuộc gặp riêng với Chúa Giêsu, như bà Maria Mađalêna gặp Chúa trong vườn vào ngày Phục Sinh. Một cuộc gặp gỡ khẳng định tình yêu của Ngài cho chúng ta, một khẳng định ghi khắc mãi trong lòng chúng ta. Lúc đó, theo lời họ, “họ đã gặp Chúa Giêsu Kitô” và “được tái sinh”, dù cho họ đã là kitô hữu và biết Chúa Giêsu Kitô từ thời thơ ấu.

Hầu hết người công giáo La Mã và người Tin Lành chính tông không đồng nhất việc “biết Chúa Giêsu Kitô” với một trải nghiệm riêng sâu sắc như thế. Nhưng họ tự hỏi chính xác Chúa Giêsu muốn nói gì khi Ngài đòi buộc chúng ta “tái sinh bởi ơn trên”.

Một linh mục tôi quen đã chia sẻ câu chuyện này, về cách hiểu của cha đối với “tái sinh nhờ ơn trên”. Bố của cha mất không lâu trước khi cha chịu chức, mẹ của cha sống ở cùng giáo xứ mà cha được phân về. Đó là một ơn lành khi hàng ngày được gặp mẹ trong nhà thờ, nhưng bà mẹ góa cô đơn bắt đầu đòi hỏi con dành thêm thì giờ cho mình, và người con có hiếu giờ phải dành hết thời gian rảnh rỗi cho mẹ, đưa mẹ đi ăn, lái xe chở mẹ đi đây đó, đây là mối liên kết duy nhất của bà với thế giới bên ngoài nhà hưu dưỡng của bà. Trong thời gian ở bên cạnh nhau, bà luôn nhắc chuyện cũ và buồn vì bây giờ mình cô đơn, cô độc. Nhưng đến một ngày, khi chở bà đi, sau một khoảng thời gian thinh lặng, bà nói một điều làm cha ngạc nhiên và chú ý nhiều hơn: “Mẹ từ bỏ nỗi sợ! Mẹ không còn sợ gì nữa. Mẹ đã sống cả đời trong nỗi sợ. Nhưng bây giờ mẹ không còn như vậy nữa, vì mẹ không còn gì để mất! Mẹ đã mất mọi thứ, mất chồng, mất cơ thể trẻ trung, mất sức khỏe, mất địa vị, mất niềm tự hào, mất phẩm giá. Giờ mẹ tự do! Mẹ không còn sợ nữa!”

Con trai bà, lâu nay chỉ nghe nửa vời những lời bà nói, bây giờ tập trung chú ý. Cha bắt đầu dành thêm giờ với bà, nhận ra rằng bà có điều gì đó quan trọng để dạy cho mình. Vài năm sau, bà qua đời. Và đến lúc đó bà đã có thể truyền cho con mình đôi điều giúp cha hiểu sâu sắc hơn về đời mình. Cha nói, “mẹ tôi đã sinh tôi hai lần, một lần từ hạ giới, và một lần từ thượng giới.” Bây giờ cha hiểu ra một điều mà ông Nicôđêmô đã không hiểu được.
Chắc chắn, tất cả chúng ta ai cũng có câu chuyện của mình.

Và các nhà học giả Kinh Thánh dạy chúng ta thế nào về điều này? Các học giả nói rằng, các Phúc âm nhất lãm bảo chúng ta chỉ có thể vào nước Trời nếu trở nên như trẻ thơ, nghĩa là chúng ta, theo lối sống của mình, phải nhận thức sự lệ thuộc của chúng ta vào Thiên Chúa và tha nhân. Chúng ta không tự đủ và như thế có nghĩa, chúng ta nhận ra và sống lệ thuộc vào sự quan phòng nhưng không của Thiên Chúa. Làm như thế chính là sinh ra bởi ơn trên.

Phúc âm theo thánh Gioan thêm một điều nữa. Khi dẫn giải về Phúc âm theo thánh Gioan, Raymond E Brown đã giải thích như sau: Sinh ra bởi ơn trên nghĩa là, đến lúc nào đó trong đời, chúng ta phải hiểu rằng sự sống của chúng ta đến từ bên ngoài thế giới này, từ một nơi và một nguồn nằm ngoài dạ mẹ, và ở đó có sự sống thâm sâu hơn cũng như ý nghĩa thâm sâu hơn. Và thế là chúng ta phải có hai lần sinh ra, một lần cho chúng ta sự sống sinh học (sinh ra trong thế giới này) và một lần cho chúng ta sự sống cánh chung (sinh ra chúng ta trong thế giới của đức tin, linh hồn, tình yêu, và thần khí). Và đôi khi, như trường hợp của bạn tôi, có thể người mẹ sinh ra bạn sẽ là người hỗ trợ cho lần sinh thứ hai. Nicôđêmô không thể vượt qua được chủ nghĩa kinh nghiệm bản năng của mình. Cuối cùng, ông không hiểu được. Còn chúng ta thì sao?

Bàn tay Thiên Chúa trong đời chúng ta

Theo Jim Wallis, vấn đề luôn mãi trong thế giới và trong các giáo hội là: phía bảo thủ hiểu sai và phía tự do (phản ứng thái quá với phía bảo thủ) chẳng hiểu được gì. Tôi tin rằng, không ở đâu câu này đúng cho bằng trong cách chúng ta nhận ra bàn tay Chúa trong những sự kiện trong đời.

Chúa Giêsu bảo chúng ta nhận ra bàn tay Chúa trong đời mình bằng cách đọc dấu chỉ của thời đại. Thế nghĩa là sao? Điều này không hẳn là chúng ta nhìn vào mọi phân tích về tôn giáo, chính trị, xã hội để cố hiểu xem thế giới đang có chuyện gì, nhưng đúng hơn, là chúng ta nhìn vào mọi sự kiện trong đời mình, cả cá nhân lẫn toàn cầu, và tự hỏi: Chúa nói gì với tôi qua sự kiện này? Chúa nói gì với chúng ta qua sự kiện này?

Thế hệ cao tuổi hơn hiểu điều này là cố hòa hợp bản thân với những hành động “quan phòng”. Đường lối này có từ thời xưa trong Kinh Thánh. Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta thấy dân Chúa không xác định những chuyện diễn ra bằng lăng kính thuần thế tục hoặc trung lập về tôn giáo. Đúng hơn, trong mọi sự kiện, dù là rất ngẫu nhiên và thế tục, họ đều thấy bàn tay Thiên Chúa. Ví dụ như, họ tin rằng nếu thua trận, thì đó không phải do đối phương có quân lính thiện chiến hơn, nhưng là do Thiên Chúa đã dạy cho họ một bài học. Hoặc nếu gặp tai ương, thì đó là do Thiên Chúa đã chủ động ngăn mưa rơi xuống đất, và một lần nữa dạy cho họ một bài học.

Chuyện này dễ bị hiểu lầm, vì khi viết ra như thế, các tác giả sách thánh đã gây ấn tượng rằng Thiên Chúa chủ động tạo ra sự kiện đó. Đó là lời của họ, chứ không phải ý định hay ý nghĩa. Kinh Thánh không định dạy chúng ta rằng Thiên Chúa tạo ra chiến tranh hay đóng cửa trời không cho mưa xuống, Kinh Thánh chấp nhận rằng chúng là kết quả của ngẫu nhiên trong tự nhiên. Bài học cần rút ra ở đây là, Thiên Chúa nói qua những sự kiện đó.

Và đây là điều mà người theo chủ nghĩa bảo thủ thường hiểu sai và người theo chủ nghĩa tự do thường nhầm lẫn. Một ví dụ mới đây cho chuyện này, là phản ứng của một vài giới tôn giáo nhất định, cả bảo thủ lẫn tự do, về sự bùng phát của bệnh sida. Khi bệnh sida bùng phát, nhiều người bảo thủ mạnh mẽ đã lên tiếng rằng sida là do Chúa trừng phạt chúng ta, vì sự bừa bãi tình dục, nhất là tình dục đồng giới. Còn phía tự do, nổi giận vì những lời này, đã đáp lại rằng: Chúa chẳng liên quan gì đến chuyện này cả!

Cả hai đều cần một bài học về hành động quan phòng. Những người bảo thủ tôn giáo đã sai khi diễn giải như thế. Chúa không gây ra sida để trừng phạt sự bừa bãi tình dục của chúng ta. Ngược lại, phía tự do cũng sai khi nói rằng chuyện này chẳng liên quan gì đến Chúa cả. Chúa không tạo ra sida hay bất kỳ một bệnh dịch nào, nhưng Chúa nói qua sida và mọi chứng bệnh khác. Nhiệm vụ sống đạo của chúng ta là nhận ra thông điệp đó. Chúa nói gì với chúng ta qua chuyện này?

James Mackey nói rằng sự quan phòng là một kế hoạch của những chuyện tình cờ, qua đó Thiên Chúa lên tiếng. Frederick Buechner nói rõ hơn nữa: “Điều này không có nghĩa là Thiên Chúa cho những sự kiện xảy đến với chúng ta để đẩy chúng ta theo những hướng nhất định, như những quân cờ. Thay vào đó, những sự kiện tự nó xảy ra ngẫu nhiên, nghĩa là Thiên Chúa hiện diện trong các sự kiện đó, không phải như người tạo ra nó nhưng như là người dù buồn đau vì chúng, vẫn cho chúng ta khả thể của sự sống mới và sự chữa lành mà tôi tin chính là ơn cứu độ.”

Thiên Chúa luôn nói với chúng ta qua mọi sự kiện trong đời chúng ta. Với một kitô hữu, không có điều gì là trải nghiệm thuần túy thế tục. Sự kiện này có thể là kết quả của những lực ngẫu nhiên và thuần túy thế tục, nhưng nó chứa đựng một thông điệp tôn giáo cho chúng ta, luôn là thế. Nhiệm vụ của chúng ta là đọc ra thông điệp đó.

Và nói xa hơn nữa: hầu như chúng ta chỉ nghe tiếng Chúa trong những trải nghiệm cực kỳ đau đớn với chúng ta hơn là trong những sự kiện đem lại hân hoan và vui thú. Nhưng chúng ta không nên hiểu lầm chuyện này. Không phải Thiên Chúa chỉ nói với chúng ta qua đau đớn, và làm thinh khi chuyện tốt đẹp. Đúng hơn, theo lời của C.S. Lewis, đau đớn là máy vi âm của Chúa với một thế giới điếc đặc. Thiên Chúa luôn nói, nhưng hầu như chúng ta chẳng nghe. Chỉ khi lòng chúng ta bắt đầu tan nát, chúng ta mới bắt đầu hòa hợp với tiếng của Chúa.

Sự quan phòng là một kế hoạch của những chuyện ngẫu nhiên, qua đó Thiên Chúa lên tiếng, và chúng ta phải cẩn thận để hiểu đúng theo cả hai phía. Thiên Chúa không gây nên sida, khí hậu toàn cầu nóng lên, tình trạng người di dân, bệnh ung thư, nạn đói, bão lụt, hay bất kỳ điều gì khác nhằm dạy cho chúng ta một bài học, nhưng trong tất cả những chuyện này có gì đó mời gọi chúng ta cố gắng nhận ra điều Chúa muốn nói qua chúng. Cũng như thế, Thiên Chúa không cho đội bóng bạn yêu thích vô địch, đó cũng chỉ là kết quả của kế hoạch của những chuyện ngẫu nhiên. Nhưng Thiên Chúa nói qua tất cả những chuyện đó, kể cả việc đội bóng của bạn vô địch đấy!