RonRolheiser,OMI

Jean Vanier – Xem lại

Giống như nhiều người khác, tôi thật sự vô cùng đau khổ khi nghe các tiết lộ gần đầy về ông Jean Vanier. Đó là người mà tôi rất ngưỡng mộ và vì vậy mà nhiều lần tôi viết bài ca ngợi. Vì thế, các tin tức về ông đã làm tôi chấn động sâu xa. Còn nói gì được về ông Jean Vanier sau các tiết lộ này?

Đầu tiên, những gì ông làm là rất sai lầm và độc hại sâu đậm, nhất là với các phụ nữ mà họ là nạn nhân. Tôi không biết các chi tiết (và cũng không muốn biết), nhưng đủ để biết đây là sự lạm dụng lòng tin nghiêm trọng. Không có gì có thể biện minh được chung quanh vấn đề này.

Thứ hai, những gì ông làm có thể không liên hệ hoặc không xác định liên quan đến các lạm dụng của các giáo sĩ. Ông Jean Vanier không phải là tu sĩ, cũng không thực sự là tu sĩ có lời khấn theo giáo luật. Ông là giáo dân, một người độc thân công khai nhưng sự phải bội với lời hứa độc thân của ông có thể không được xem như lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Ông đã vi phạm điều răn thứ sáu, theo cách xứng đáng với một bản án khắc nghiệt, qua tầm vóc đại chúng của ông và qua loại lạm dụng đặc biệt vi phạm đến lòng tin thiêng liêng. Tuy nhiên việc ông vi phạm tình trạng độc thân của mình không đặt ra vấn đề về tính hợp pháp và sinh ích của chính việc sống độc thân, cũng không phải vấn đề của một người đàn ông không chung thủy với vợ, nên không đặt vấn đề về tính hợp pháp và sinh ích của bậc sống hôn nhân.

Thứ ba, các vi phạm của ông Jean Vanier không phủ nhận công việc tốt đẹp của cộng đoàn Arche và không đưa ra bất cứ một bóng tiêu cực nào về sự tận tâm và công việc tốt lành của nhiều người đã và đang làm việc ở đó. Nhìn quả mà biết cây! Chúa Giêsu đã dạy như vậy và không ai có thể phủ nhận hay đặt vấn đề về công việc tốt lành của cộng đoàn Arche đã làm và tiếp tục làm trên hơn ba mươi nước trên thế giới. Cộng đoàn Arche là công trình của Chúa, của ân sủng, của Thần Khí. Bây giờ người sáng lập phạm lỗi lầm. Đúng như vậy. Chúa Giêsu là nhà sáng lập duy nhất không phạm lỗi lầm. Thật vậy, công việc tốt lành được cộng đoàn Arche thực hiện cũng như ông Vanier đã làm thì lớn hơn tội lỗi của ông. Không ai suốt đời sống hai mặt lại để lại một di sản đầy ân sủng như vậy.

Cuối cùng là sự vỡ mộng và tức giận mà chúng ta cảm nhận, sự thật nói về chính chúng ta hơn là nói về ông Jean Vanier. Trong Tin Mừng Thánh Luca, khi thanh niên trẻ đến gần Chúa Giêsu và nói với Ngài: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (18, 18-23) Ngay lập tức Chúa sửa lại cách anh thanh niên nói: “Sao ông nói tôi nhân lành? Chẳng có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa.” Đó là sai lầm của chúng ta với ông Jean Vanier, cũng như sai lầm của chúng ta với những người chúng ta mặc cho họ bộ áo thánh thiện chỉ dành cho một mình Chúa. Và mỗi lần chúng ta làm như vậy, như chúng ta đã làm với ông Jean Vanier, thì cuối cùng chúng ta chỉ sẽ phải thất vọng và vỡ mộng. Không ai, ngoại trừ Thiên Chúa, chỉ có Chúa làm điều tốt, còn phần còn lại cuối cùng cũng làm chúng ta thất vọng.

Với chúng ta, những gì ông Jean Vanier làm là không công bằng. Chúng ta không thể không thấy mình bị phản bội qua sự phản bội của ông. Tuy nhiên những gì chúng ta làm với ông cũng không công bằng. Chúng ta đòi hỏi ông phải là Chúa của chúng ta và như vậy không phải là một đòi hỏi đúng.

Khi tôi còn là một chủng sinh trẻ 21 tuổi, chúng tôi đi tìm người cố vấn, một trong các giáo sư của tôi vừa đi một khóa tĩnh tâm của ông Jean Vanier về, giáo sư không tiếc lời khen ông Vanier, “người thánh thiện trong các người thánh thiện, người đơn sơ nhất, người thiêng liêng nhất” mà ông chưa từng gặp. Ngay lập tức khả năng phê phán của tôi dè chừng: “Không ai tốt như vậy!” Vì vậy tôi quyết định không nhờ ông làm cố vấn. Tuy nhiên trong năm mươi năm sau đó, tôi đã quay về xin ông làm cố vấn. Dù tôi chưa bao giờ gặp cá nhân ông, tôi đọc nhiều sách của ông và tôi bị ảnh hưởng rất mạnh của những người xem ông là người có tác động lớn trên cuộc đời của họ (kể cả linh mục Henri Nouwen), tôi viết lời nói đầu cho một trong các sách cuối cùng của ông và tôi viết bài ca ngợi ông cho các báo khi ông qua đời. Vì thế tôi khá say mê ông để bây giờ tôi cảm thấy mất tinh thần và vỡ mộng khi biết các sai lầm đạo đức của ông.

Tuy nhiên vỡ mộng là một hiện tượng là lạ. Sau cú sốc đầu tiên, chúng ta lại nhanh chóng nhận ra đây là chuyện tích cực. Nó xóa tan một ảo tưởng, một ảo tưởng luôn ở trong đầu của người đang nhận thức hơn là phía người được nhận thức. Với vụ ông Jean Vanier, ảo tưởng là thuộc về chúng ta, không phải của ông. Bây giờ như chúng ta biết, ông có một số sai lầm trong đời – nhưng cũng có một phần về phía chúng ta.

Đúng, các tiết lộ về ông Jean Vanier đã làm tôi bị chấn động sâu đậm, nhưng không phải trong tâm hồn tôi vì tâm hồn chúng ta, khi chúng ta chạm vào, chúng ta biết không có ai tốt, ngoại trừ Chúa, ít nhất là với một lòng tốt không có bất toàn. Một khi chúng ta chấp nhận điều này, chúng ta có thể chấp nhận không một ai hoàn hảo, ngay cả ông Jean Vanier. Căn bản, chúng ta có thể chấp nhận, dù với sự phản bội này, ông Jean Vanier là một người tốt và cộng đoàn Arche là một thực tế đáng được vinh danh.

Sự phức tạp bẩm sinh của chúng ta

Nhà văn viết về đời sống thiêng liêng nổi tiếng Ruth Burrows bắt đầu quyển tiểu sử của bà với dòng như sau: “Tôi sinh ra trong thế giới này với một tính nhạy cảm gần như tra tấn tôi. Từ lâu tôi đã tự hỏi về lý do lo âu tâm lý này của tôi.”

Thật là thiệt hại cho chúng ta, quá nhiều các tiểu sử thiêng liêng không bắt đầu như vậy, có nghĩa là ngay từ đầu đã không nhận thấy sự phức tạp làm hoang mang, làm bệnh hoạn có trong bản chất chúng ta. Chúng ta không đơn sơ trong trái tim, trong tinh thần, trong tâm hồn và ngay cả trong thể xác. Mỗi chúng ta đủ phức tạp nội tâm để viết câu chuyện về tâm lý bất thường riêng của mình.

Và sự phức tạp này, không những phải chấp nhận nó, mà còn phải tôn trọng và thánh hóa nó, vì nó không bắt nguồn từ những gì xấu nhất trong chúng ta, nhưng từ những gì tốt nhất trong chúng ta. Chúng ta phức tạp bởi vì những gì lôi kéo tâm hồn chúng ta và cám dỗ kéo chúng ta đi đủ hướng, trước hết không phải là do mưu chước của quỷ, nhưng đúng hơn là từ hình ảnh và từ sự giống nhau với Chúa có trong lòng chúng ta. Trong lòng chúng ta có một ngọn lửa thiêng, một tầm cao cả mang lại cho chúng ta một chiều sâu vô hạn, những ham muốn vô độ và đủ độ sáng để làm hoang mang mọi nhà tâm lý học. Hình ảnh và sự giống Chúa ở trong lòng chúng ta như Thánh Gioan Thánh giá mô tả làm cho quả tim, tinh thần và tâm hồn chúng ta thành các “hang động” quá sâu để có thể lấp đầy hoặc có thể được hiểu đầy đủ.

Tôi xác quyết linh đạo kitô, ít nhất trong việc giảng dạy và giáo lý phổ biến đã thường không xem trọng chuyện này cho đủ. Ngắn gọn, chúng ta có cảm tưởng môn đệ kitô không nên quá rắc rối: vì sao lại có sự kháng cự này trong bạn! Có chuyện gì không ổn! Nhưng như chúng ta biết qua kinh nghiệm bản thân, sự phức tạp bẩm sinh của chúng ta mãi mãi có các biến chứng và các kháng cự để chúng ta không là thánh, để “chỉ muốn một chuyện”. Hơn nữa, vì sự phức tạp của chúng ta không được công nhận và đề cao về mặt tâm linh, nên chúng ta thường có mặc cảm tội lỗi: vì sao tôi rắc rối như vậy? Vì sao tôi có tất cả các câu hỏi này? Vì sao tôi thường hay hoang mang? Vì sao tình dục lại có một xung năng cực mạnh như vậy? Vì sao tôi có nhiều cám dỗ?

Câu trả lời rất đơn giản: Vì chúng ta sinh ra với một ngọn lửa thiêng trong lòng. Và đó là nguồn gốc của các hoang mang, cám dỗ và kháng cự đến từ những gì tốt nhất của mưu chước Satan và thế giới.
Chúng ta phải làm gì trước tính phức tạp làm hoang mang này?

Một vài lời khuyên để đi đường dài:

Tôn trọng và thánh hóa tính phức tạp của mình: chấp nhận đây là ơn của Chúa có trong mình, và cuối cùng đó là điều tốt cho mình. Đó là điều làm cho mình khác với thực vật và động vật. Bản chất của nó thì đơn giản, nhưng nó có một tâm hồn bất tử và vô tận tạo ra rất nhiều chuyện phức tạp khi chúng ta đấu tranh để sống với các hạn chế đang bủa vây mình.

Đừng bao giờ đánh giá thấp sự phức tạp của bạn – ngay cả khi bạn cự lại với việc vỗ về nó: hãy nhận ra và tôn trọng các “con quỷ và thiên thần” đang tự do lang thang trong tâm trí bạn. Nhưng cũng đừng vỗ về sự phức tạp bằng cách hình dung mình là nghệ sĩ quay cuồng hay như người theo chủ nghĩa hiện sinh, anh hùng bước ra khỏi cuộc sống.

Làm bạn với cái bóng của mình: chính ánh sáng đã làm bạn tách ra. Chầm chậm và với sự thận trọng và hỗ trợ thích ứng, bạn bắt đầu đối diện với những điều bên trong làm bạn sợ hãi.

Bảo vệ sức mạnh và chỗ đứng của tình dục trong bạn: bạn không thể nào được chữa lành về mặt tình dục và đó là một lý do thần thánh. Đừng bao giờ phủ nhận hoặc chê bai sức mạnh của tình dục – dù bạn sống đời sống khiết tịnh chuẩn mực.

Định danh cho các vết thương của bạn, đau buồn cho nó, khóc cho sự chưa thỏa mãn của mình. Bất cứ vết thương nào mà bạn không khóc cho nó, cuối cùng nó sẽ trở lại cắn bạn. Chấp nhận và thương tiếc cho điều này: trong cuộc sống này không có bản giao hưởng nào trọn vẹn.

Đừng bao giờ để “xung năng siêu việt” trong lòng bạn trở thành thứ gây nghiện hay bị đầu độc. Sự phức tạp của bạn liên tục cho bạn biết, bạn được xây dựng nhiều hơn cho cuộc sống này. Không bao giờ để xung năng này chết trong bạn. Bạn học cách để nhận biết nó qua các hụt hẫng và hoang tưởng của bạn. Các cách mà bạn thường giam cầm nó.

Hãy cố gắng tìm một “tình yêu cao hơn”, qua đó siêu việt hóa sức mạnh tức thì của các xung năng tự nhiên của bạn. Tất cả các phép lạ bắt đầu bằng việc rơi vào lưới tình. Bạn hãy đi tìm tình yêu này và các giá trị cao nhất mà nó hướng tới để giao các xung năng và cám dỗ tức thời này cho nó. Hãy cho người khác lòng vị tha và cái nhìn ngưỡng phục của bạn, bạn sẽ cảm thấy tốt và đúng đắn, giúp cho bạn thực hiện những gì mà bạn thực sự mong chờ.

Hãy để cho sự phức tạp dạy bạn về sự thông hiểu và thông cảm. Khi đối diện với chính sự phức tạp của mình, cuối cùng bạn sẽ hiểu không có gì là xa lạ và những gì bạn thấy trên bản tin hàng ngày phản ánh những gì có trong tâm hồn bạn.

Thường xuyên tha thứ cho bản thân. Sự phức tạp làm cho bạn vấp ngã nhiều lần và vì vậy bạn phải tha thứ cho bản thân nhiều lần. Sống, biết rằng lòng thương xót của Chúa là cái giếng không bao giờ cạn kiệt.

Sống trong lòng kiên nhẫn và thông hiểu của Chúa. Chúa là Đấng tạo dựng bạn, là kiến trúc sư xây dựng bạn, là người chịu trách nhiệm về sự phức tạp của bạn. Hãy tin tưởng Chúa hiểu bạn. Tin tưởng Chúa còn lo cho bạn hơn chính bạn.

Nói với thẩm quyền

Chúng ta đang ngày càng mất niềm tin vào lời nói. Đâu đâu chúng ta cũng nghe nói: “Nói cho có nói! Chẳng có gì ngoài những chữ trống rỗng!”

Và những lời trống rỗng luôn ở chung quanh chúng ta. Thế giới đầy rẫy những lời dối trá, những lời hứa cuội, những quảng cáo lấp lánh vô ý nghĩa, những lời vô căn cứ. Chúng ta ngày càng ít tin vào những gì chúng ta nghe. Chúng ta thường xuyên bị lừa dối và phản bội, bây giờ chúng ta thận trọng về những gì chúng ta tin.

Nhưng sự dè chừng về các lời mà chúng ta nghe chỉ là một trong các cách để nói, lời của chúng ta quá yếu. Lời của chúng ta có thể là sự thật nhưng lại có ít sức mạnh. Tại sao? Bởi vì, để sử dụng các thuật ngữ Tin Mừng, chúng ta có thể không nói mạnh với thẩm quyền. Lời nói của chúng ta có thể không có những gì người khác cần để cứu họ. Điều này có nghĩa là gì?

Các Tin Mừng cho chúng ta biết, một trong những điều mà Chúa Giêsu khác với các nhà rao giảng cùng thời với Ngài là Ngài rao giảng với quyền uy, trong khi các nhà rao giảng khác không làm được. Cái gì đã làm cho các lời của Ngài có quyền uy? Cái gì đã làm cho lời của Ngài có năng lực chuyển hóa?

Như chúng ta biết, có nhiều loại quyền khác nhau. Có quyền lực phát xuất từ cơ thể, từ năng lượng. Như chúng ta thấy ở các lực sĩ có tài năng, họ cử động với một quyền uy thật mạnh. Cũng có một loại quyền uy nơi trong sức thu hút của các siêu sao hay các nhà hùng biện tài ba. Họ cũng nói với một quyền uy và một quyền lực nào đó. Nhưng còn một loại quyền lực và thẩm quyền khác, bản chất rất khác quyền lực và quyền uy của các lực sĩ hay các siêu sao. Nơi em bé cũng có một quyền lực, quyền lực nghịch lý của sự mong manh, của ngây thơ, của bất lực. Nếu bạn để một lực sĩ, một siêu sao và một em bé chung vào một phòng, ai sẽ là người mạnh nhất? Ai là người có quyền nhất? Dù sức mạnh vô địch của lực sĩ hay của siêu sao, em bé vẫn là người có quyền lực nhất để thay đổi các quả tim.

Các bản văn Kinh Thánh cho chúng ta biết, Chúa Giêsu nói với “quyền uy”, không bao giờ Ngài nói với “một năng lực lớn” hay ”một sức hấp dẫn mạnh”. Để mô tả quyền uy của Chúa Giêsu, họ dùng chữ “exousia”, một chữ Hy lạp mà chúng ta không có chữ tương đương trong tiếng Anh. “Exousia” có nghĩa là gì? Chúng ta không có chữ để nói về chữ này, nhưng chúng ta có một khái niệm: “Exousia” có thể mô tả là sự kết hợp của sự mong manh, ngây thơ và bất lực mà một em bé có thể mang lại trong phòng. Sự bất lực, sự ngây thơ và sự mong manh có một quyền uy và quyền lực độc nhất để chạm vào lương tâm của bạn. Đây là lý do chính đáng để mọi người nhìn lại ngôn ngữ của mình khi ở bên cạnh em bé. Sự hiện diện của em làm tẩy sạch.

Nhưng cũng có vài yếu tố củng cố cho quyền uy mà Chúa Giêsu nói. Sự dễ tổn thương, sự ngây thơ của Ngài cũng đã làm cho lời nói của Ngài có một quyền lực đặc biệt, đúng; nhưng cũng có hai yếu tố khác làm cho lời của ngài cực mạnh: lời của Ngài luôn đặt nền tảng trên chính đời của Ngài. Hơn nữa, mọi người nhận ra, quyền uy của Ngài không đến từ Ngài, nhưng đến từ một cái gì từ một Ai” đó lớn hơn mà Ngài đang phục vụ. Không có một cách biệt nào giữa lời của Ngài và đời của Ngài. Thêm nữa, lời của Ngài cực mạnh vì nó không đến từ Ngài, nó đến từ Ai đó qua Ngài, Đấng ở trên Ngài mà quyền uy không thể nào chối cãi, đó là Thiên Chúa.

Bạn cũng có thể thấy loại quyền uy này chẳng hạn nơi những người như Mẹ Têrêxa và ông Jean Vanier. Lời của họ có một quyền uy đặc biệt. Mẹ Têrêxa có thể gặp một người nào đó lần đầu và xin họ đến Ấn Độ làm việc với Mẹ. Ông Jean Vanier cũng có thể làm như vậy. Một trong các linh mục bạn tôi kể chuyện, lần đầu tiên khi gặp ông Vanier, trong buổi nói chuyện đầu tiên, ông mời bạn tôi làm linh mục truyền giáo. Ý nghĩ này chưa bao giờ có trong đầu bạn tôi. Bây giờ bạn tôi là nhà truyền giáo.

Cái gì đã làm cho một vài người có quyền lực đặc biệt này? “Exousia”, một đời sống vị tha, một đời sống bám neo trong quyền uy đến từ trên cao. Những gì các bạn thấy nơi Mẹ Têrêxa, nơi ông Jean Vanier là sự bất lực của một em bé, kết hợp với một đời sống vị tha, bám neo trong một quyền uy vượt quá họ. Khi những người này nói, cũng như Chúa Giêsu, lời nói của họ có sức mạnh làm dịu trái tim, chữa lành cho họ, thay đổi họ và một cách ẩn dụ là thực sự xua đuổi quỷ ra khỏi con người họ.

Nhưng chúng ta không phải lúc nào cũng cần nhìn đến các tấm gương thiêng liêng cao lớn như Mẹ Têrêxa hay ông Jean Vanier để thấy điều này. Với đa số chúng ta, Mẹ Têrêxa hay ông Jean Vanier cũng không có ảnh hưởng gì trên cá nhân mình, nhưng có những người chung quanh chúng ta đã nói một cách quyền uy với chúng ta. Trong trường hợp tôi, đó là cha mẹ tôi đã nói với tôi qua loại quyền uy này. Cũng như một vài cô giáo nữ tu Dòng Ursuline đã dạy tôi và một vài cậu dì tôi đã xin tôi hy sinh vì họ nói với “exousia”, với một lòng chính trực và đức tin mà tôi không thể nghi ngờ hoặc phủ nhận. Họ xin tôi suy nghĩ lại để làm linh mục và tôi đã làm linh mục.

Những gì làm thế giới ‘nhúc nhích’ thường đến từ năng lượng cực mạnh và sức lôi cuốn của những người có tài năng cao; nhưng quả tim bị lay động bởi một loại quyền uy khác.

Về việc thánh hóa các giới hạn của chúng ta

Cách đây ba mươi năm, cố tác giả John Jungblut viết một quyển sách nhỏ có tựa đề Về việc thánh hóa các giới hạn của chúng ta (“On Hallowing Our Diminishments”). Đây là một khảo luận gợi ý các phương tiện để đóng khung các sỉ nhục và các hạn chế bao vây chúng ta qua hoàn cảnh, tuổi tác, tai nạn, để mặc dù bị sỉ nhục, chúng ta có thể đặt chúng dưới một phong chắn nào đó, để tránh đi sự xấu hổ và phục hồi cho chúng ta một số nhân phẩm đã bị mất.

Và chúng ta tất cả đều bị đau khổ về các giới hạn này. Một vài chuyện làm chúng ta đau khổ vì do di truyền, vì lịch sử, vì hoàn cảnh, vì xã hội chúng ta sống hoặc các tàn phá do lão hóa, hoặc bị tai nạn, nhìn dưới mọi khía cạnh, không những chúng bất công một cách cay đắng nhưng có thể làm chúng ta không còn nhân phẩm và chúng ta bị sỉ nhục. Chẳng hạn làm sao chúng ta chịu đựng được việc thể hình không đúng tiêu chuẩn thẩm mỹ của xã hội? Làm sao chịu được kỳ thị? Làm sao đương đầu với một tai nạn làm chúng ta bị liệt một phần hay hoàn toàn? Làm sao chịu đựng được các suy yếu của tuổi già? Làm sao chịu được khi người thân bị hiếp hay bị giết chỉ vì màu da của mình? Làm sao đỡ nổi khi người thân tự tử? Làm sao để có phẩm cách và có một ý nghĩa để những gì gọi là bất công khủng khiếp không làm chúng ta luôn phẫn nộ và xấu hổ? Làm sao có ai thánh hóa được các giới hạn của mình?

Triết gia Soren Kierkegaard có lời khuyên. Ông, trong khi còn sống đôi khi bị chế giễu, báo chí biếm họa về ngoại hình của ông (chân khẹo), ông khuyên như sau: đối diện với những chuyện như vậy, đây không phải là vấn đề phủ nhận hay che đậy, hoặc cố gắng tìm các giải trí lành mạnh khác nhau để đỡ buồn hay giữ một khoảng cách rõ rệt với nó. Thay vì vậy, chúng ta phải ý thức rõ chuyện này bằng cách “làm chúng sáng tỏ một cách hoàn toàn.” Làm như vậy chúng ta thánh hóa chúng. Chúng ta đưa chúng ra khỏi mặc cảm sỉ nhục và mang đến cho chúng một phẩm cách nào đó. Làm sao chúng ta có thể làm được?

Chúng ta tưởng tượng một cảnh như sau: một phụ nữ trẻ đi bộ một mình trên con đường vắng bị một nhóm các ông say rượu hiếp và giết, xong họ vứt xác người phụ nữ xuống hố. Gia đình và cộng đoàn đau khổ của cô làm theo lời khuyên của triết gia Kierkegaard. Họ không phủ nhận chuyện đã xảy ra, họ không che giấu, họ không thử để có các giải trí lành mạnh để vơi buồn. Thay vào họ làm “sáng tỏ hoàn toàn”.

Họ nhặt xác cô, tắm rửa, mặc quần áo đẹp nhất và ba ngày sau là một đám tang khổng lồ có hàng trăm người tham dự. Nghi thức tôn vinh không dừng ở đó. Sau tang lễ họ họp nhau ở một công viên gần nơi cô ở và sau vài giờ làm lễ tưởng niệm, họ đổi tên công viên thành tên cô.

Dĩ nhiên những gì họ làm không làm cho cô sống lại, không xóa đi một chút gì trong cái chết bất công khủng khiếp của cô, không đưa các tên sát nhân ra công lý, cũng không thay đổi nền tảng các điều kiện xã hội đã làm cho xã hội trở nên hung bạo, chết chóc. Nhưng một cách rất quan trọng, hành vi này khôi phục lại cho cô một số phẩm giá đã bị vụ giết người này lấy đi một cách hung bạo ra khỏi cô. Cả cô và cái chết của cô được thánh hóa. Bây giờ tên của cô và đời sống của cô sẽ mãi mãi nói lên một điều gì đó vượt quá sự bất công và thảm kịch về cái chết của cô.

Chúng ta thấy ví dụ về điều này ở tầm vĩ mô theo cách mà thế giới đã xử lý cái chết của những nhân vật như mục sư Martin Luther King, tổng thống John F.Kennedy, nghị sĩ Bobby Kennedy, giảng sư Malcolm X, nhà báo Jamal Khashoggi và những người khác bị giết vì hận thù. Chúng ta tìm cách để thánh hóa họ để con người và cuộc sống của họ bây giờ được ghi nhớ một cách nào đó, để làm lu mờ cái chết của họ. Và chúng ta thấy điều này trong cách một vài cộng đồng đã xử lý cái chết của những người thân yêu bị các phe đảng hay cảnh sát bắn một cách vô lý, cái chết của họ phủ nhận tất cả những gì là tốt. Và cũng tương tự như vậy với một số gia đình đã đã xử lý các giới hạn của họ khi người thân chết vì quá liều ma túy, vì tự tử hay mất trí nhớ. Sự mất phẩm cách về cái chết này bị lu mờ qua việc làm rõ ràng đúng đắn xung quanh sự hạn chế thậm chí đôi khi hạn chế này gây ra cái chết của họ. Ký ức của họ được chuộc lại. Ngắn gọn, đó là chức năng của bất kỳ sự thức tỉnh phù hợp và mọi chôn cất phù hợp nào. Khi làm rõ sự phẫn nộ ngay cả khi đụng chạm đến ai, chúng ta cũng khôi phục lại nhân phẩm cho họ.

Điều này đúng không chỉ với những người chết bất công hoặc để cho người thân phải đi tìm cách mang lại cho họ một chút phẩm giá nào đó. Nó cũng đúng với mọi sự sỉ nhục và phẫn nộ mà chính chúng ta, phải chịu đựng trong cuộc sống, từ những vết thương thời thơ ấu luon ám ảnh chúng ta, đến vô số sỉ nhục mà chúng ta phải chịu ở tuổi trưởng thành. Chúng ta không thể thay đổi những gì đã xảy ra, nhưng chúng ta có thể thánh hóa nó bằng cách “mang lại sự rõ ràng”, để sự phẫn nộ bị lu mờ.

Lòng quảng đại

Có một quả tim bao la, một lòng quảng đại nghĩa là gì?

Một lần trong một trận bóng chày ở trường trung học, một trọng tài đã xử bất công cho đội chúng tôi. Cả đội tức tối, chúng tôi hét lên giận dữ chống ông, thóa mạ ông, kêu tên ông ra chửi, lớn tiếng trút cơn giận của mình. Nhưng một trong các bạn trong đội không làm theo. Thay vì la hét trọng tài, anh cố gắng chận chúng tôi đừng la hét. “Bỏ qua đi!”. Anh cứ lặp đi lặp lại với chúng tôi: “Bỏ qua đi! Chúng ta lớn hơn thế!” Lớn hơn gì cơ chứ? Anh không nói đến sự non nớt của trọng tài, nhưng đến sự non nớt của chúng tôi. Và chúng tôi “không lớn hơn thế” ít nhất là trong lúc này. Chắc chắn tôi không thể nuốt được bất công. Tôi chưa đủ lớn.

Nhưng có cái gì đã ở lại trong lòng tôi sau sự cố này. Thách thức phải “lớn hơn” bên trong sự việc đã làm chúng ta yếu đi. Tôi vẫn không làm được, không phải luôn luôn, nhưng tôi là người tốt hơn, quảng đại hơn khi tôi làm, cũng như tôi sẽ là người thấp hơn, nhỏ nhen hơn khi tôi không làm được.

Nhưng cũng như các bạn đồng đội của chúng tôi đã thách thức chúng tôi trong những năm qua, chúng tôi phải tiếp tục “lớn hơn” giây phút nhỏ nhen lúc đó. Lời mời gọi này nằm ở trọng tâm thách thức đạo đức của Chúa Giêsu trong Các Mối Phúc. Ngài mời gọi chúng ta có một “đức tính sâu đậm hơn các người biệt phái và các luật sĩ”. Và có nhiều điều ẩn giấu trong đó hơn là những gặp gỡ đầu tiên với những nhà luật sĩ và người biệt phái, vì những người này rất đạo đức. Họ cố gắng trung thành với lề luật đức tin, họ là những người có lòng tin và giữ công lý nghiêm ngặt. Họ không bất công như các trọng tài! Nhưng bên trong lòng tốt này thiếu một cái gì mà Các Mối Phúc mời gọi chúng ta, một lòng quảng đại nào đó để có quả tim và tinh thần khá lớn, để vươn lên, để không bị yếu, để lớn hơn trong một khoảng khắc nhất định.

Cho phép tôi đưa ra một chuyện về điều này: Đức Gioan-Phaolô II là giáo hoàng đầu tiên chống án tử hình. Điều quan trọng cần lưu ý là ngài không nói án tử hình là sai. Kinh thánh nói chúng ta có quyền thi hành án tử hình. Đức Gioan-Phaolô II cũng thừa nhận. Tuy nhiên, và đây là bài học, ngài nói, khi chúng ta có thể thực thi công lý bằng bản án tử hình, nhưng chúng ta không nên làm điều đó vì Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta làm một cái gì cao hơn, cụ thể là tha thứ cho kẻ có tội và không xử tử họ. Đó là lòng quảng đại, là lớn hơn ở thời điểm chúng ta nắm bắt nó.

Thánh Tôma Aquinô, trong sự khôn ngoan về đạo đức của ngài, ngài đã làm một phân biệt mà chúng ta ít nghe thấy, cả ngoài đời lẫn trong giảng dạy của nhà thờ. Ngài nói, có một vài chuyện có thể là tội đối với người này, mà không là tội đối với người kia. Về thực chất, một cái gì đó có thể là tội cho một người có trái tim quảng đại, ngay cả khi nó không phải là tội đối với người thấp bé và có trái tim nhỏ. Đây là ví dụ: trong một bình luận đầy thách thức cực kỳ khó, Thánh Tôma Aquinô đã viết, thật là tội lỗi khi từ chối khen một người thực sự xứng đáng, vì khi làm như vậy chúng ta từ chối một phần thức ăn mà người đó cần để sống. Trong việc giảng dạy điều này, Thánh Tôma rõ ràng cho rằng, chỉ là tội đối với một người có lòng quảng đại, rộng lượng và có một mức độ trưởng thành nhất định. Một người chưa trưởng thành, ích kỷ và nhỏ mọn thì không có cùng mức độ đạo đức và thiêng liêng.

Làm thế nào có thể, tội không còn là tội, dù đó là người như thế nào? Không phải lúc nào cũng vậy. Có một cái gì là tội hay không là tội tùy thuộc vào chiều sâu và mức độ trưởng thành trong mối quan hệ. Chúng ta hình dung chuyện này: một người đàn ông và vợ mình có mối quan hệ sâu sắc, nhạy cảm, quan tâm, tôn trọng và thân mật đến mức các biểu hiện nhỏ nhất của tình cảm hoặc coi thường là đủ để cho họ hiểu. Chẳng hạn, buổi sáng khi họ chia tay nhau đi làm, khi nào họ cũng có một biểu lộ tình cảm, như một nghi thức chia tay. Bây giờ, nếu một trong hai bỏ biểu lộ này vào một buổi sáng bình thường, khi không có lý do gì đặc biệt, thì đó không phải là chuyện nhỏ, chuyện vô tình. Có một cái gì lớn ở đây. Ngược lại, nếu một cặp vợ chồng khác có mối quan hệ ít gần gũi, ít quan tâm, ít tình cảm, ít tôn trọng và không có thói quen thể hiện tình cảm khi chia tay. Quên như vậy sẽ không có nghĩa gì. Không nhẹ, không có ý định, không có hại, không có lỗi, chỉ là thiếu quan tâm như bình thường. Đúng, một số điều có thể là tội cho người này mà không tội cho người kia.

Chúng ta được Chúa Giêsu mời gọi để những gì tốt nhất trong chúng ta trở nên đủ lớn, để có trái tim và tâm trí, để biết là có tội nếu không khen, để biết dù Kinh Thánh cho phép chúng ta thi hành án tử hình, nhưng chúng ta vẫn không nên làm và để biết rằng chúng ta là những người tốt hơn khi chúng ta lớn hơn bất kỳ chuyện gì nhỏ bé mà chúng ta trải qua trong một thời điểm nhất định.

Về hận chính mình và mặc cảm tội lỗi

Gần đây trong chương trình truyền hình đại chúng Đêm Thứ bảy Trực tuyến (Saturday Night Live), một diễn viên hài đã có câu chuyện khá màu mè lém lỉnh để đáp lại câu trả lời của bà nghị sĩ Nancy Pelosi khi bà bị một ký giả cáo buộc bà ghét Tổng thống. Bà Pelosi tuyên bố, là người công giáo la-mã bà không ghét ai, và câu này đã làm cho diễn viên hài châm chọc: “Là người công giáo, tôi biết tôi luôn có một người để tôi ghét – đó là chính tôi.”

Tôi không phải là người dễ bối rối về các lời nói đùa tôn giáo. Hài hước luôn có lợi thế và các diễn viên hài luôn đóng vai trò quan trọng, việc của hề cung đình là làm xẹp bớt những chuyện đang phình lên ghê gớm. Tôn giáo thường là một thách đố của công chính. Thật ra tôi rất thích sự lém lỉnh thông minh này. Dù vậy có một cái gì đó làm tôi dị ứng với loại trò đùa đặc biệt này, vì nó có một vai trò khuôn thước nào đó mà tiếc thay ngày nay lại rất phổ biến, mọi người thuộc mọi tôn giáo (chứ không đặc biệt với công giáo la-mã) đều đổ lỗi vì giáo dục tôn giáo mà họ hận chính mình và có mặc cảm tội lỗi.

Có đúng như vậy không? Giáo dục tôn giáo của chúng ta có là nguyên do sâu xa cho các đấu tranh của chúng ta với sự thù hận chính mình và mặc cảm tội lỗi không?

Rõ ràng giáo dục tôn giáo của chúng ta có một vai trò nào đó ở đây, và sẽ quá là đơn giản (và cũng không đặc biệt hữu ích) để đổ lỗi cho tất cả về chuyện này, hoặc là phần lớn cho giáo dục tôn giáo của chúng ta. Các tâm lý gia và các nhà nhân chủng học bảo đảm với chúng ta vấn đề hận chính mình và mặc cảm tội lỗi mông lung thì vô cùng phức tạp, hơn nữa chúng ta cũng thấy vấn đề này nơi những người thuộc các tôn giáo khác và ở cả những người không có tôn giáo. Các đấu tranh chống thù hận chính mình và mặc cảm tội lỗi không phải là một hiện tượng đặc biệt nơi người công giáo la-mã, nơi người tin lành, nơi người thuộc giáo phái phúc âm, nơi người hồi giáo hay do thái giáo; đây là một hiện tượng chung, đa số chúng ta thấy nơi những người nhạy cảm. Hơn nữa cuộc đấu tranh này không phải lúc nào cũng không lành mạnh.

Ngược với những người không nhạy cảm về mặt đạo đức, bất cứ ai nhạy cảm đều hay tự kiểm, lo lắng xem mình ích kỷ hay rộng lượng, thường xuyên xem lời nói và hành động của mình có làm tổn thương người khác, có xúc phạm đến mối quan hệ của mình với Chúa hay không. Sống trong tình trạng lo âu này chính xác là đấu tranh chống hận chính mình và mặc cảm tội lỗi; và vì thế, ở một mức độ nào đó thì đây là đấu tranh lành mạnh. Khi chúng ta lo lắng tự kiểm thì ít nguy hiểm hơn là xem người khác, xem ơn của cuộc sống, xem sự tốt lành của Chúa như một chuyện đương nhiên phải có. Sự nhạy cảm về mặt đạo đức là một đức tính, cũng như nhạy cảm về thẩm mỹ, nó giúp chúng ta sợ hãi một cách lành mạnh, để không phớt lờ và vô cảm vẽ râu trên bức tranh Mona Lisa.

Dĩ nhiên có một số yếu tố không lành mạnh. Như nhà phân tâm học Freud đã dạy chúng ta, lương tâm không nói cho chúng ta biết cái gì đúng, cái gì sai, lương tâm chỉ cho chúng ta biết những gì chúng ta cảm nhận trong các hành động của mình. Và khi chúng ta có mặc cảm tội lỗi về những gì chúng ta vừa làm hay chúng ta bỏ qua một bên, chắc chắn những cảm nhận này thường bị ảnh hưởng mạnh bởi các chuẩn mực xã hội và đạo đức đã được cha mẹ, thầy giáo, văn hóa và giáo dục tôn giáo áp đặt trên chúng ta. Giáo dục tôn giáo và đạo đức để chúng ta đấu tranh với một mặc cảm tội lỗi sai lầm.

Nhưng dù điều này được chấp nhận, vẫn còn nhiều nguyên do sâu xa hơn mà chúng ta đấu tranh với lòng thù hận chính mình và mặc cảm tội lỗi mông lung và vì sao chúng ta không bao giờ cảm thấy tốt đủ.

Nếu chúng ta có thể nhìn đời mình qua một video thì chúng ta sẽ thấy không biết bao nhiêu lần, bằng cách này cách kia, chúng ta nói mình không tốt, không đầy đủ, không đáng yêu, không đáng quý, không có giá trị. Chúng ta sẽ thấy không biết bao nhiêu lần chúng ta xấu hổ vì quá nhiệt tình và điều này, tôi nghĩ hơn tất cả các yếu tố khác đã làm chúng ta có mặc cảm tội lỗi mông lung và cay đắng mà chúng ta thường cảm thấy đối với người khác.

Điều này bắt đầu từ chiếc ghế trên cao, khi còn rất nhỏ, trong năng lượng mù quáng của mình, chúng ta ăn uống quá nhiệt tình và cha mẹ nói chúng ta đừng ăn như heo. Cũng vậy, khi còn nhỏ, với niềm say mê và với thức ăn đầy ắp, chúng ta vừa hét vừa ném thức ăn xuống sàn, và mọi người nói chúng ta phải ngừng, phải im lặng, năng lực tự nhiên là không lành mạnh. Rồi đến tuổi đi nhà trẻ, chúng ta thường xấu hổ vì quá năng nổ. Cuối cùng, mọi thứ chuyển qua sân chơi, lớp học, trong vòng gia đình khi sự độc đáo và quý giá của chúng ta thường không được công nhận và coi trọng cho đủ, chúng ta thường bị bỏ qua, bị chèn nén, bị đối xử bất công, bị bắt nạt, bị mặc cảm thấp kém và thất bại, và một cách tinh tế hoặc không quá tinh tế, chúng ta cho mình không đủ tốt. Điều này khi lớn lên, chúng ta xem mình là người bị bỏ rơi, chúng ta ghen tương khi thấy đời sống người khác có vẻ phong phú hơn chúng ta, vì sự cay đắng chưa được nói lên mà chúng ta nuôi dưỡng do các bất toàn của riêng mình, và cho mặc cảm tội lỗi mà chúng ta cảm nhận do các phản bội của chính mình.

Đây không phải chủ yếu là do giáo dục tôn giáo của chúng ta mà chúng ta ghét chính mình và bị ám ảnh bởi mặc cảm tội lỗi mông lung.

Đúng, hầu hết người công giáo chúng ta ghét chính mình. Đáng tiếc thay, nó mà khác đi, thì mọi người cũng sẽ khác đi.

Không đầy đủ, tổn thương và hòa giải

Dù với thiện chí tốt nhất, dù không ác ý, dù là kitô hữu, đôi khi chúng ta không thể không làm tổn thương nhau. Đôi khi thân phận con người quá phức tạp để chúng ta không làm đau khổ cho nhau.

Đây là ví dụ: Triết gia Soren Kierkegaard người Đan Mạch, ông đã dành cả cuộc đời mình để cố gắng trung thành với những gì Chúa kêu gọi nơi ông, ông đã làm tổn thương sâu đậm một cô gái. Khi còn trẻ ông đã yêu sâu đậm cô Régine, cô cũng rất yêu ông. Nhưng gần đến ngày cưới, Kierkegaard đối diện với cơn khủng hoảng nội tâm, vừa có tính cách tâm lý, vừa có tính cách đạo đức, qua đó ông phân định hôn nhân hai người về lâu về dài sẽ tạo bất hạnh cho cả hai và ông hủy bỏ hôn ước. Quyết định này đã làm tổn thương Régine vô cùng và suốt đời. Cô không bao giờ có thể tha thứ cho ông, còn ông thì suốt quãng đời còn lại, hằn trong tâm trí mình đã làm cho người yêu đau khổ. Mới đầu ông viết cho cô nhiều thư để giải thích quyết định của mình và xin lỗi đã làm cô đau khổ, trong hy vọng cô hiểu và tha thứ. Cuối cùng, ông bỏ cuộc sau khi đã viết trang này qua trang khác trong nhật ký riêng tư của mình, đặt lại vấn đề, tự phạt mình và sau đó, ngược lại, cố gắng biện minh hết lần này qua lần khác trong quyết định không đi đến hôn nhân của mình.

Gần mười năm sau quyết định định mệnh đó, khi bây giờ cô Régine đã lập gia đình với một người khác, ông để nhiều tuần để cố gắng soạn bức thư đúng, xin cô tha lỗi và đưa ra nhiều giải thích cho hành động của mình và van cô cho một cơ hội để nói chuyện với cô. Ông khó khăn để tìm các chữ thích hợp, những chữ có thể đưa đến sự thông hiểu. Cuối cùng ông viết bức thư như sau:

Tôi đã tàn nhẫn, đó là sự thật. Vì sao? Thật ra, em không thể biết điều này được.

Tôi đã im lặng, đó là điều tôi đã làm. Chỉ có Chúa biết tôi đã đau khổ như thế nào – và Chúa cho phép tôi không nói, ngay cả bây giờ vì quá sóm!

Tôi không thể kết hôn. Ngay cả khi em còn tự do, nhưng tôi không thể.

Nhưng em đã yêu tôi, cũng như tôi đã yêu em. Tôi nợ em rất nhiều – và bây giờ em lập gia đình. Đồng ý, bây giờ tôi xin đề nghị em lần thứ nhì những gì tôi có thể và dám và phải mang đến cho em: sự hòa giải.

Tôi làm điều này dưới hình thức viết để em không ngạc nhiên hay choáng ngợp. Có thể nhân cách của tôi đã có tác dụng quá mạnh; điều này không nên xảy ra thêm một lần nữa. Nhưng vì tình yêu của Chúa trên trời, xin em suy nghĩ nghiêm túc, nếu em dám tham dự vào việc này, vậy nếu em ưng thuận, em có thể nói chuyện với tôi ngay lập tức hoặc trao đổi một số thư trước.

Nếu em trả lời “không”, thì xin em nhớ, để có một tình trạng tốt hơn, tôi đã thể hiện bước này.
Dù sao, như thuở ban đầu cho đến bây giờ, với tấm lòng chân thành và trọn tấm lòng tận tình, S.K. của em.

(Trái tim của một triết gia, Le cœur d’un philosophe, Clare Carlisle, Penguin Book, 2019)

Dĩ nhiên câu trả lời là “không”. Ông để bức thư này trong một bức thư khác và gởi cho chồng của bà Régine, và xin người chồng quyết định có nên đưa thư này cho vợ hay không. Bức thư được gởi trả lại, không được mở ra, lại còn kèm vài chữ giận dữ, lời đề nghị giải hòa của ông đã bị từ chối một cách cay đắng.

Đâu là đạo đức ở đây? Đơn giản: Chúng ta làm tổn thương nhau; đôi khi vì ích kỷ, đôi khi vì coi thường, đôi khi vì không trung thành, đôi khi vì ác ý, nhưng đôi khi cũng không phải vì ích kỷ, không phải vì coi thường, không phải vì phản bội, không phải vì ác ý nhưng chỉ là tàn nhẫn trong hoàn cảnh, trong kém cỏi, trong giới hạn của con người. Đôi khi chúng ta làm tổn thương nhau sâu đậm, là tín hữu hay không tín hữu bằng một cách khác. Nhưng dù có lỗi đạo đức hay không, phản bội hay ác ý thì luôn có một sự đau khổ sâu đậm, đôi khi sâu đến nỗi ở thế gian này không có một chữa lành nào có thể có được.

Và liệu sẽ có thể khác hơn không. Liệu triết gia Kierkegaard có thể giải thích đầy đủ hơn để Régine hiểu và tha thứ, rằng mỗi chúng ta có thể giải thích đầy đủ để chúng ta có thể được hiểu và được tha thứ, và liệu trọn cuộc sống chúng ta có thể kết thúc như bộ phim nồng hậu ấm áp với màn hình chấm dứt với hàng chữ, mọi sự đã được hiểu và được hòa giải.

Nhưng với trường hợp này không phải lúc nào cũng xảy ra; thật vậy, thậm chí nó cũng không kết thúc êm đẹp với Chúa Giêsu. Khi chết, Ngài bị xem là tội phạm, là người phạm thượng tôn giáo, là người đã làm sai. Bức thư hòa giải của Ngài bị gởi trả lại, không được mở ra mà còn kèm theo vài chữ giận dữ.

Có lần tôi đến thăm người đàn ông 56 tuổi chết vì ung thư. Ông đã liệt giường và ở nhà săn sóc chờ chết, nhưng đầu óc ông còn sáng suốt, ông chia sẻ như sau: “Tôi đang chết với niềm an ủi này: nếu tôi có một kẻ thù trên thế giới này thì tôi không biết người đó là ai. Tôi không nghĩ có một người nào đó mà tôi cần phải hòa giải.”

Ít ai trong chúng ta có được may mắn này. Phần lớn chúng ta vẫn nhìn vào phong bì bị trả lại và chưa được mở.

Con đường nhỏ

Hầu hết trong chúng ta, ai cũng đã từng nghe nói về Thánh Têrêxa Hài Đồng, nhà thần nghiệm người Pháp qua đời năm 1897 ở tuổi 24 và có lẽ đây là vị thánh nổi tiếng nhất trong hai thế kỷ qua. Thánh Têrêxa nổi tiếng vì nhiều chuyện, nhất là về con đường tâm linh được gọi là “con đường nhỏ” của ngài. “Con đường nhỏ” là gì?

Suy nghĩ chung thường nhìn Thánh Têrêxa và “con đường nhỏ” của ngài là lòng mộ đạo đơn sơ không phải là công lý so với chiều sâu con người hay tâm linh của ngài. Thường thường “con đường nhỏ” được đơn giản hiểu là, vì danh Chúa Giêsu, chúng ta làm những việc bác ái nhỏ bé, ẩn giấu, khiêm nhường cho người khác mà không mong đợi được đáp trả lại. Trong cách giải thích phổ biến này, chúng ta đã gọt rửa, tẩy sạch các vết nhơ và tươi cười với những người khó chịu để làm vui lòng Chúa. Chắc chắn ở một vài khía cạnh, điều này là đúng; nhưng “con đường nhỏ” của Thánh Têrêxa cần được hiểu sâu rộng hơn.

Đúng, “con đường nhỏ” khuyên chúng ta nên làm những việc nhỏ, dễ thương với nhau nhân danh Chúa Giêsu, nhưng con đường này có những chiều kích sâu đậm hơn. “Con đường nhỏ” của Thánh Têrêxa dẫn đến sự thánh thiện dựa trên ba chuyện: nhỏ bé, ẩn danh và có động lực riêng.

Nhỏ bé: Đối với Thánh Têrêxa, “nhỏ bé” trước hết không phải là nhỏ bé trong các hành động chúng ta làm, rửa chén, gọt khoai hay tươi cười với người khó chịu. Nhỏ bé trước hết là nói đến tình trạng thấp hèn của chính mình, tình trạng khó nghèo tận cùng của mình trước mặt Chúa. Đứng trước Thiên Chúa, chúng ta nhỏ bé. Chấp nhận mình nhỏ bé, hành động trong tinh thần nhỏ bé là khiêm nhường. Chúng ta đến với người khác, đến với Chúa trên “con đường nhỏ” khi chúng ta làm các việc bác ái nhỏ cho người khác, chứ không bằng sức mạnh và đức tính mà chúng ta cảm nhận lúc đó, nhưng đúng hơn là qua cảm nhận mình khó nghèo, mình bất lực, mình trống rỗng để ân sủng Chúa làm việc qua chúng ta, để những gì chúng ta đang làm sẽ lôi kéo người khác đến với Chúa chứ không phải đến với mình.

Hơn nữa sự thấp bé của chúng ta làm cho chúng ta nghĩ, đa số chúng ta, chúng ta không làm chuyện gì lớn để thay đổi lịch sử nhân loại. Nhưng chúng ta có thể thay đổi thế giới qua các việc thấp bé của mình, chúng ta gieo đây đó hạt mầm ẩn giấu, như một loại kháng sinh tiềm ẩn cho sức khỏe tâm hồn, phân chia nguyên tử tình yêu trong chính con người mình. Và như thế, “con đường nhỏ” là làm những chuyện khiêm tốn, ẩn giấu.

Ẩn danh: “Con đường nhỏ” của Thánh Têrêxa là con đường ẩn giấu, để những gì Cha thấy trong ẩn giấu sẽ được đền đáp trong ẩn giấu. Và những gì ẩn giấu không phải là việc làm bác ái của chúng ta, nhưng là chính chúng ta, những người đang làm việc này. Trong “con đường nhỏ”, các hành động bác ái nhỏ của chúng ta đa phần không được chú ý, dường như không có một tác động nào thực sự trên lịch sử nhân loại và nó cũng không mang lại cho chúng ta một lòng biết ơn nào. Nó vẫn ẩn giấu, không ai biết nhưng bên trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, những gì ẩn giấu, không vụ lợi, không ai biết, những gì bị xóa mờ, những gì không đáng kể, không quan trọng chính là chiếc xe quan trọng nhất của tất cả để ân sủng ở một mức độ sâu đậm nhất. Giống như Chúa Giêsu, Chúa không cứu chúng ta bằng các phép lạ giật gân và các hành động đáng kể, nhưng Ngài cứu chúng ta qua sự vâng phục không điều kiện với Chúa Cha và qua sự tử đạo thầm lặng, các việc làm của chúng ta cũng vẫn là những việc làm không ai biết, để cái chết và tinh thần chúng ta để lại mới làm cho chúng ta thực sự nên ơn ích.

Cuối cùng, “con đường nhỏ” dựa trên một động lực đặc biệt. Chúng ta được mời gọi để hành động khởi đi từ sự thấp bé và ẩn danh của mình, làm các hành động yêu thương nhỏ, phục vụ người khác vì một lý do đặc biệt, theo nghĩa bóng, đó là lau gương mặt đang đau khổ của Chúa Kitô. Bằng cách nào?

Thánh Têrêxa Lisiơ là người cực kỳ được ân phúc và có biệt tài. Dù từ đầu đời, ngài đã trải qua nhiều đau khổ, nhưng như ngài công nhận và theo chứng từ của nhiều người, Thánh Têrêxa được yêu thương một cách thuần khiết, sâu đậm và tuyệt vời đến nỗi làm cho nhiều người phải ao ước. Ngài cũng là em bé rất dễ thương, được bao quanh bởi yêu thương và an toàn của một đại gia đình mà mỗi nụ cười, mỗi giọt nước mắt đều được chú ý, đều được yêu mến (và thường được chụp hình). Nhưng khi ngài lớn lên, ngài nhanh chóng nhận ra, những gì có thật trong đời sống của mình không phải ai cũng có. Nụ cười và nước mắt của họ không ai chú ý và cũng không được ai yêu mến. Như thế “con đường nhỏ” của ngài xây dựng trên một động lực đặc biệt. Và đây là lời của Thánh Têrêxa:

“Một ngày chúa nhật nọ, khi nhìn hình Chúa Giêsu trên thập giá, hình ảnh máu chảy ra từ bàn tay cực thánh của Ngài đã làm cho tôi xúc động mãnh liệt. Tôi cảm thấy đau đớn tột cùng khi nghĩ, giọt máu này rơi xuống đặt mà không ai vội đến thấm. Tôi quyết tâm giữ tinh thần mình luôn ở dưới chân thập giá và nhận sương rơi của Ngài… Ôi, tôi không muốn giọt máu này bị mất. Tôi sẽ dành cả đời để lau thấm nó vì lợi ích cho các linh hồn. Sống cho tình yêu, đó là lau khô khuôn mặt của bạn.”

Sống “con đường nhỏ” là để ý và yêu mến các giọt nước mắt không ai chú ý rơi từ khuôn mặt của những người đau khổ.

Mười quyển sách hay nhất đến với tôi năm 2019

Có một châm ngôn la-tinh cho rằng, về khiếu thưởng thức thì không có tranh luận, de gustibus non est disputandum. Tôi dùng câu này để mở đầu cho danh sách mười quyển sách mà tôi thích nhất trong năm qua, vì chắc chắn, sở thích là một cái gì hơi chủ quan. Tôi chọn những quyển sách này đặc biệt vì chúng sâu đậm đối với tôi. Có thể chúng cũng như vậy với các bạn. Vậy là đã đủ. Về sở thích thì không có gì để bàn cải.

Và đây là mười quyển sách đã tác động đến tôi nhiều nhất trong năm qua.

  1. Bernardo Olivera, Có thể đến tận đâu? Các vị tử đạo của Atlas (How Far to Follow? The Martyrs of Atlas). Quyển sách kể câu chuyện đấu tranh nội tâm của các tu sĩ Dòng Trappist đã tử đạo ở Algeria năm 1996, các vị đã bị những kẻ cực đoan hồi giáo giết. Giống như cuốn phim, Các vị thần và con người (Des dieux et des hommes), quyển sách tập trung vào cuộc chiến đấu sâu đậm mà các tu sĩ này đã chịu lúc phải quyết định rời tu viện hay ở lại đối diện với việc tử đạo.
  2. Donald Senior, Raymond E. Brown và canh tân Kinh Thánh công giáo (Raymond E. Brown and the Catholic Biblical Renewal). Đây là tài liệu nghiên cứu kỹ lưỡng và viết rất hay, là tiểu sử của học giả Kinh Thánh nổi tiếng, Raymond E. Brown, người nổi bật về sự uyên bác, tinh thần môn đệ và chức thánh của mình. Quyển sách là câu chuyện về trí tuệ của Brown hơn là biên niên đời sống của cha, thú vị qua việc chia sẻ câu chuyện trí tuệ và nêu bật các đấu tranh thần học và giáo hội đặc biệt ở thế hệ của cha Brown. Đối với nhiều người trong chúng ta, đây là một ám ảnh quen thuộc.
  3. Rachel Held Evans, Năm vừa qua khi đọc các bài phê bình sách, tôi khám phá các tác phẩm của Rachel Held Evans. Tôi xin nêu ra đây các tác phẩm đã tác động sâu đậm đến tôi: Tìm kiếm ngày chúa nhật, Yêu thương, Rời bỏ, và Tìm kiếm Nhà thờ; Cảm hứng, Giết những kẻ khổng lồ, Đi trên nước, và Yêu thương Kinh Thánh lại; và Một năm của phụ nữ trong Kinh Thánh (Searching for Sunday, Loving, Leaving, and Finding Church; Inspired, Slaying Giants, Walking on Water, and Loving the Bible Again; and A Year of Biblical Womanhood).

Tác giả Rachel lớn lên trong nôi tin lành với một đức tin sâu đậm và vững chắc, nhưng đến tuổi trưởng thành, bà có những thách thức riêng, đặc biệt của một người can đảm và trung thực. Các quyển sách này cho thấy tác giả đấu tranh với ngôn ngữ mẹ đẻ tôn giáo của mình, bị sa ngã trong đức tin và cách đặc biệt bà tìm lại được con đường trở lại của mình. Câu chuyện của bà nói lên cuộc chiến đấu của hàng triệu người. Đó là bài học vô giá, cho dù quyển sách không phân biệt tiếng mẹ đẻ tôn giáo của mình. Tác giả là nhà văn có năng khiếu đặc biệt, nhưng thật đáng tiếc, bà qua đời ở tuổi 37. Chúng ta mất đi một tiếng nói tôn giáo cần thiết, nhưng những gì bà để lại có thể giúp cho nhiều người trong chúng ta sàng lọc lại các đấu tranh tôn giáo của mình.

  1. Jean Bosco Rutagengwa, Tình yêu thắng thế, câu chuyện của một cặp vợ chồng về đức tin và sự sống còn trong vụ diệt chủng ở Rwanda, (Love Prevails, One Couple’s Story of Faith and Survival in the Rwandan Genocide).

Có người đã nói, nếu có ngày nào đó bạn muốn hiểu thảm kich Thế chiến Thứ hai, bạn có thể đọc hàng ngàn quyển sách về chủ đề này hoặc xem hàng trăm giờ phim về nó – và cũng có thể bạn chỉ cần đọc Nhật ký Anne Frank. Đây là quyển “nhật ký” viết từ bên trong cuộc diệt chủng kinh hoàng ở Rwanda.

  1. Robert Ellsberg, Tin Mừng sống động, đọc câu chuyện về Chúa trong đời sống các thánh (A Living Gospel, Reading God’s Story in Holy Lives). Đời sống các thánh là Tin Mừng sống của chúng ta và tác giả Robert Ellsberg là người viết sách các thánh hàng đầu trong tiếng Anh. Quyển sách tuyệt vời này vừa dạy chúng ta về đời sống các thánh vừa giải thích vì sao đời sống các thánh lại quan trọng như vậy.
  2. Margaret Renkl, Di cư muộn, câu chuyện tự nhiên của tình yêu và mất mát (Late Migrations, A Natural History of Love and Loss). Đây là quyển sách độc đáo, một thi pháp về tình yêu, thiên nhiên, tôn kính, đời sống gia đình, cái chết và khả năng phục hồi của con người. Đây là một tuyệt tác của nghệ thuật.
  3. Richard Rohr, Chúa Kitô hoàn vũ, (The Universal Christ). Quyển sách này thách thức chúng ta, và với một nền thần học vững chắc, sẽ thách thức thần học chính thống trong quan niệm phổ biến của nó về cả ý định và phạm trù nhập thể. Một quyển sách quan trọng.
  4. Ruth Burrows, Đứng trước Thiên Chúa Hằng sống (Before the Living God). Đây là quyển tự truyện của Ruth Burrows. Quyển này tôi đọc lần đầu tiên cách đây 32 năm. Khi đó tôi đã rất xúc động và 32 năm sau tôi vẫn còn xúc động. Trong câu chuyện của bà, chúng ta sẽ hiểu hơn về chính câu chuyện của mình và chuyển động của Chúa trong đời sống của mình.
  5. David Brooks, Ngọn núi thứ hai, Cuộc đi tìm đời sống đạo đức (The Second Mountain, The Quest for a Moral Life). Quyển sách Ngọn núi thứ hai tương ứng với những gì mà các nhà văn thiêng liêng như Richard Rohr gọi là nửa sau của đời sống (The Second-Half of Life). Dựa trên chính kinh nghiệm của mình và pha trộn một cách sáng tạo các quan điểm thế tục và tôn giáo, tác giả giới thiệu một cái nhìn đầy thách thức về ý nghĩa thế nào là trưởng thành, đi từ đứa bé đói khát đến người lớn trưởng thành trong ân phúc. Một quyển sách tuyệt vời.
  6. Mary Jo Leddy, Vì sao chúng ta ở đây, một suy niệm ở Canada (Why Are We Here, A Meditation on Canada). Đây là quyển sách của một người Canada, và không phải là quyển sách không quan trọng. Bà Mary Jo Leddy, nhà sáng lập và giám đốc Nhà Romero cho người Tị nạn ở Toronto, tiếng nói của bà luôn mang tính ngôn sứ. Trong quyển sách này, bà cho rằng mỗi quốc gia có “tội nguyên thủy của mình”, một lỗi nguyên thủy trong nguồn gốc của mình mà bây giờ lấm vết của nó vẫn còn trong hiện tại. Theo bà, đó là cách chúng ta đối xử với người dân bản địa khi hình thành một quốc gia. Nước Canada không phải là nước duy nhất có “tội nguyên thủy.” Nước nào cũng có tội nguyên thủy của mình. Và mọi người nên đọc quyển sách này.

Nhập thể sâu đậm – Một ý nghĩa khác của lễ Giáng Sinh

Cách đây vài năm, trong một buổi hội thảo tôn giáo, một người tiến đến gần máy vi âm, sau khi xin lỗi vì ông nghĩ đây là câu hỏi không phù hợp, ông hỏi: “Tôi mê con chó của tôi. Khi nó chết, nó có lên thiên đàng không? Động vật có đời sống vĩnh cửu không?”

Câu trả lời cho câu hỏi này có thể làm nhiều người ngạc nhiên, nhưng qua cái nhìn của đức tin kitô giáo, thì có, con chó có thể lên thiên đàng. Đó là một trong các ý nghĩa của lễ Giáng Sinh. Chúa xuống trần để cứu thế giới, không phải chỉ con người sống trên quả đất. Nhập thể có một ý nghĩa cho nhân loại, nhưng cũng có ý nghĩa cho toàn vũ trụ. Chính xác điều đó có nghĩa là gì, trí tưởng tượng của chúng ta không ở tầm mức hình dung ra được, nhưng, nhờ nhập thể, con chó cũng có thể lên thiên đàng. Có hoang tưỏng đây không? Không, đó là giảng dạy của Kinh Thánh.

Lễ Giáng Sinh là lễ mừng Chúa ra đời, chúng ta thấy trong sự ra đời của Ngài là khởi đầu mầu nhiệm nhập thể diễn ra trong lịch sử, mầu nhiệm Chúa mặc xác phàm để cứu nhân loại. Và với điều này, chúng ta có khuynh hướng đấu tranh, làm sao để hiểu Chúa cứu thế giới có nghĩa là gì. Hầu hết chúng ta xem điều này có nghĩa là Chúa Kitô xuống trần để cứu con người, những người trong chúng ta có ý thức về mình và những tâm hồn vĩnh cửu.
Điều đó đúng, nhưng đức tin cũng đòi hỏi chúng ta tin rằng hành động cứu rỗi của Chúa trong Chúa Kitô trải rộng ra ngoài cả loài người, ngoài cả động vật và các sinh vật sống khác. Hành động của Chúa trong Chúa Kitô đạt đến mức sâu đậm đến mức có thể cứu được chính sự tạo dựng – đại dương, núi đồi, đất đai trồng trọt, cát trong sa mạc và chính quả đất. Chúa Kitô xuống trần cứu tất cả mọi sự, chứ không phải chỉ một mình loài người chúng ta.

Chúng ta có thể hỏi ở đâu Sách Thánh đã dạy những điều này? Điều này được dạy ở hầu hết mọi chỗ một cách ngầm mặc, nhưng nó được dạy một cách khá rõ ràng ở một số nơi khác nhau. Chẳng hạn trong Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Rôma (8, 19-22), ngài viết: “Thật vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta. Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang. Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở.”

Điều này có thể làm chúng ta ngạc nhiên, vì cho đến gần đây, việc giảng dạy và giáo lý của chúng ta thường không làm điều này trở nên rõ ràng. Tuy nhiên ở đây Thánh Phaolô đã nói, chính sự tạo dựng thể lý, toàn vũ trụ, vào ngày tận thế, sẽ được biến đổi một cách vinh quang nào đó và được lên thiên đàng, tất cả cũng như loài người. Ngài cũng nói rằng, như chúng ta, cũng cảm nhận được sự chết và những rên siết để thoát khỏi các giới hạn hiện nay của mình.

Chúng ta cũng phải tự đặt cho mình câu hỏi này không? Chúng ta nghĩ gì sẽ xảy ra với tạo dựng thể lý vào cuối thời gian? Nó sẽ bi hủy hoại, đốt cháy, tiêu diệt? Hoặc đơn giản nó sẽ bị bỏ rơi, bỏ trống, bỏ hoang như cảnh sân khấu sau khi vở diễn kết thúc, trong khi chúng ta tiếp tục cuộc sống ở nơi khác? Sách Thánh chỉ dẫn cho chúng ta một cách khác, Sách Thánh nói với chúng ta chính tạo dựng thể lý, quả đất chúng ta sẽ được biến đổi (“không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát”) và sẽ lên thiên đàng với chúng ta. Làm thế nào điều này sẽ xảy ra? Chúng ta không thể hình dung được điều này, cũng như chúng ta không hình dung được trạng thái biến đổi của chính mình. Nhưng Sách Thánh bảo đảm với chúng ta điều này sẽ xảy ra, vì cũng như chúng ta, thế giới chúng ta, tạo dựng thể lý cũng được định sẵn để chết, và cũng như chúng ta, cảm nhận được sự chết và những rên siết để thoát khỏi các giới hạn của mình và trở thành bất tử.

Khoa học đồng ý. Nó cho chúng ta biết, tạo dựng thể lý là chết, mặt trời thiêu cháy, năng lượng từ từ giảm dần và quả đất như chúng ta biết sẽ có ngày chết. Trái đất cũng sinh tử như chúng ta, vì thế để có tương lai, trái đất phải được cứu bởi một cái gì đó hay bởi một ai đó bên ngoài. Cái Gì Đó và Ai Đó được mạc khải qua mầu nhiệm nhập thể, qua đó Chúa mặc xác phàm trong Chúa Kitô để cứu thế giới – và những gì Ngài cứu không phải chỉ có một mình chúng ta, những người sống trên quả đất nhưng đúng ra là “thế giới”, chính hành tinh và tất cả mọi thứ trên đó.

Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta không có gì cuối cùng là hư mất. Không một sợi tóc của một ai rơi, không một con chim sẻ nào rơi và biến mất mãi mãi, như thể nó chưa tồn tại. Thiên Chúa đã tạo dựng, yêu thương, chăm sóc và cuối cùng làm sống lại từng mảnh tạo dựng cho muôn đời kể cả con chó yêu quý.

Xem lại Công chính và Bác ái

Ít có đức tính nào quan trọng hơn đức bác ái. Đó là dấu hiệu của một quả tim nhân lành. Nhưng cảm nhận mình xứng công khi mình cho chính mình trong đức ái không được nhầm lẫn với cảm nhận sai lầm rằng chúng ta đã thật sự làm phần của mình.

Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta ai cũng phân biệt được công chính và bác ái. Bác ái là cho thì giờ, năng lực, tài lực và cho chính mình để giúp người anh em khi họ cần. Và đó là một đức hạnh đáng kính phục, dấu hiệu của một trái tim nhân hậu. Mặt khác, công chính thì ít trực tiếp với hành động cho, công chính là tìm cách thay đổi các hệ thống, các điều kiện để giúp người khác đang cần.

Chắc chắn chúng ta đều quen thuộc với ngụ ngôn được dùng để minh họa sự khác biệt này. Ngắn gọn nó như sau:
Có một thị trấn ở bên bờ sông ngày nào cũng có các thi thể nổi lềnh bềnh trên sông từ thượng nguồn chảy về. Dân làng thường giúp những người còn sống và tôn kính chôn người chết. Với lòng thành, họ làm từ nhiều năm nay; nhưng cũng trong các năm tháng này, không ai lên thượng nguồn để xem vì sao hàng ngày đều có người bị thương, có người chết trôi về.

Người dân thị trấn có lòng tốt và có đức ái, nhưng họ không làm gì để thay đổi tình trạng này. Hơn nữa, người dân nhân hậu cũng không ý thức về lối sống của họ, rõ ràng là nó chẳng liên quan gì đến các người bị thương, các người bị chết họ thấy mỗi ngày, như thế trên thực tế, họ cũng góp phần vào các nguyên do cho những cuộc đời mất mát này, họ tốt bụng nhưng họ cũng đồng lõa trong chuyện làm hại người khác, dù cho chuyện này mang động lực và phương tiện đến để họ làm việc từ thiện.

Bài học ở đây không phải chúng ta không nên tốt bụng, không nên bác ái. Bác ái giúp đỡ nhau, như dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu đã nói rõ ràng, và cũng đòi hỏi chúng ta, vậy vừa phải nhân đạo, vừa phải là tín hữu kitô. Bài học là có lòng tốt thôi chưa đủ. Đó là điểm khởi đầu, một chuyện tốt, nhưng nó còn đòi hỏi chúng ta hơn. Tôi nghĩ đa số chúng ta đã biết, nhưng có thể chúng ta ít ý thức hơn về một chuyện ít rõ ràng hơn, có thể chính tính quảng đại của chúng ta có thể làm chúng ta mù quáng, làm chúng ta ủng hộ (và bỏ phiếu cho) các khuynh hướng chính trị, kinh tế, các hệ thống văn hóa đổ lỗi cho những người bị thương, các thi thể mà chúng ta thấy trong các tổ chức từ thiện của chúng ta.

Công việc tổ chức từ thiện có thể làm chúng ta mù quáng, đồng lõa trong cái bất công, là điều được nhấn mạnh trong quyển sách gần đây của tác giả Anand Giridharada, Người chiến thắng có tất cả: Cuộc diễn hành ưu tú của việc thay đổi thế giới (Winners Take All: The Elite Charade of Changing the World). Trong một khẳng định đáng lo, tác giả Giridharada cho rằng, lòng rộng lượng có thể và thường là chọn lựa thay thế, một phương tiện để tránh sự cần thiết của một hệ thống phân phối quyền lực công chính và công bằng hơn. Bác ái là điều tuyệt vời nhưng chưa phải là công bằng; một tấm lòng tốt là điều tuyệt vời, nhưng chưa phải là chính sách tốt, chưa phục vụ cho những người kém may mắn nhất; và vị tha cũng là điều tuyệt vời nhưng nó có thể làm chúng ta lẫn lộn với bác ái mà chúng ta làm với công chính đòi hỏi của chúng ta. Vì lý do này, và trong số các lý do khác, các vấn đề tác giả Giridharada đưa ra không nên được riêng tư hóa và ủy quyền cho lãnh vực từ thiện cá nhân, như bây giờ thường hay xảy ra.

Christiana Zenner, khi bình luận sách của Anand trên tờ America, đã tóm tắt như sau: “Hãy cẩn thận với cám dỗ lý tưởng hóa một tổ chức hay một người hứa giúp mà người này, tổ chức này không ít nhất ở giữa chúng ta và không để ý đến các yếu tố có thể tạo điều kiện dễ dàng đầu tiên hết cho việc thống trị ». Và bà nói thêm: “Khi chúng ta thấy sự vi phạm của người khác qua các việc làm bất công trực tiếp, chúng ta bực mình, nhưng bất công và thủ phạm là chuyện hiển nhiên. Chúng ta thấy một cái gì sai và chúng ta tìm ai đó để đổ lỗi. Nhưng đây chính là điểm thực sự của nó, khi chúng ta sống với các hệ thống bất công vi phạm đến người khác, mà chúng ta có thể mù quáng đồng lõa, vì chúng ta cảm thấy mình tốt do các tổ chức từ thiện của chúng ta có thể giúp những người bị tác hại. »

Chẳng hạn: Chúng ta hình dung, một người tốt bụng cảm thấy mình chân thành đồng cảm với người vô gia cư trong thành phố. Vì lễ Giáng Sinh gần đến, tôi tặng một số lớn thức ăn và tiền bạc cho các tổ chức từ thiện địa phương. Hơn nữa, đến ngày lễ Giáng Sinh, trước khi ăn lễ ở nhà, tôi phục vụ hàng giờ cho bữa ăn của những người vô gia cư. Lòng bác ái của tôi là đáng khâm phục, và tôi cảm thấy tốt về việc tôi vừa làm. Và đó là điều tốt! Nhưng khi ủng hộ cho một chính trị gia hay một chính sách ưu tiên cho người giàu và như thế là bất công với người nghèo, chúng ta có thể dễ dàng suy luận, tôi chỉ làm đúng phần tôi và tôi có một quả tim cho người nghèo, trong khi chính lá phiếu của tôi đảm bảo rằng, sẽ luôn có người vô gia cư cần thức ăn vào ngày lễ Giáng Sinh.

Ít có đức tính nào quan trọng hơn đức bác ái. Đó là dấu hiệu của một quả tim nhân lành. Nhưng cảm nhận mình xứng công khi mình cho chính mình trong đức ái không được nhầm lẫn với cảm nhận sai lầm rằng chúng ta đã thật sự làm phần của mình.

Cắm rễ trong lòng nhân hậu của Chúa

Chúa Giêsu sẽ làm gì trong trường hợp này? Đối với một số tín hữu kitô, đó là câu trả lời dễ dàng cho mọi câu hỏi. Trong mỗi tình huống, chúng ta chỉ cần hỏi: Chúa Giêsu sẽ làm gì?

Ở một mức độ sâu sắc, đó là điều đúng. Chúa Giêsu là tiêu chí tối thượng. Ngài là đường, là sự thật và là sự sống, tất cả những gì đi ngược điều này đều không phải là con đường dẫn đến với Chúa. Tuy nhiên, tôi nghĩ rất nhiều người trong chúng ta sẽ dị ứng qua cách trả lời này, lời nói thường biểu hiện một cách quá đơn giản, như một chủ nghĩa cơ bản khó mà tiêu hóa nổi. Nhiều lúc bực bội về kiểu này, chúng ta chỉ muốn nói: Chúa Giêsu chẳng liên quan gì đến chuyện này! Nhưng dĩ nhiên, khi những chữ này vừa vuột ra khỏi miệng, chúng ta nhận ra ngay câu nói này tệ quá sức! Chúa Giêsu quá liên quan đến các vấn đề thần học, giáo hội hay phụng vụ dù nó phức tạp đến như thế nào. Dĩ nhiên nguy cơ của chủ nghĩa cơ bản là ở đây; nhưng cũng nguy hiểm không kém khi trả lời các câu hỏi thần học, giáo hội, phụng vụ mà không xem xét xem Chúa Giêsu sẽ làm gì trong trường hợp này. Ngài luôn và vẫn mãi mãi là một tiêu chí bất di bất dịch.

Nhưng nếu Chúa Giêsu là một tiêu chí bất di bất dịch thì Ngài không đơn giản. Vậy Chúa Giêsu đã làm gì? Khi nhìn cuộc đời của Ngài, chúng ta thấy đôi khi Ngài làm các chuyện theo cách này, đôi khi theo cách khác, lại có khi Ngài bắt đầu làm một chuyện theo hướng này, và cuối cùng Ngài thay đổi ý kiến và làm theo cách khác, như chúng ta thấy trong việc Ngài đối xử với bà xứ Xyri-Phênixi (Mc 7, 24-30). Đó là lý do vì sao tôi ngờ trong kitô giáo có rất nhiều danh xưng, nhiều linh đạo và cách thờ phượng khác nhau, mỗi người có cách chú giải về Chúa Giêsu riêng của mình. Chúa Giêsu là phức tạp.

Với sự phức tạp của Chúa Giêsu, không phải tình cờ mà các thần học gia, các nhà thuyết giảng, các nhà hướng dẫn thiêng liêng thường tìm trong con người của Ngài và trong lời dạy của Ngài các phuơng cách nào phản ánh nhiều hơn cách mà họ xử lý tình huống không theo kiểu của Ngài. Chúng ta thấy điều này khắp nơi trong các nhà thờ, tôi nói điều này với cảm thông chứ không phán xét. Không ai trong chúng ta hiểu đúng hoàn toàn về Chúa Giêsu.

Thế thì chuyện này khiến chúng ta phải như thế nào? Chúng ta có đơn giản tin tưởng vào sự giải thích riêng của mình về Chúa Giêsu không? Chúng ta có dựa vào thẩm quyền giáo hội hay học thuật mà không phân định và chúng ta có tin chắc rằng nó sẽ cho chúng ta biết về Chúa Giêsu sẽ làm gì trong mọi tình huống không? Có thể nào có một “con đường thứ ba không?”

Có một “con đường thứ ba”, con đường của đa số các phái kitô giáo, trong đó chúng ta đặt các giải thích riêng của mình theo truyền thống giáo luật của giáo hội, và chúng ta chấp nhận – dù không mù quáng và không chỉ trích- vâng lời và theo giải thích của cộng đoàn lớn hơn, lịch sử lâu đời hơn, kinh nghiệm rộng lớn hơn, khiêm tốn chấp nhận, dù có thể ngây thơ (và kiêu ngạo) khép mình trong 2000 năm kinh nghiệm kitô giáo, để tin rằng sự thấu suốt của chúng ta về Chúa Giêsu là một sự điều chỉnh cần thiết cho một tầm nhìn đã truyền cảm hứng cho hàng triệu người qua bao nhiêu thế kỷ.

Tuy nhiên chúng ta không mang các tiếng gọi của lương tâm mình, các câu hỏi quan trọng của mình, các dị ứng của một số điều nào đó, các vết thương của chúng ta đến cửa nhà thờ. Cuối cùng, tất cả chúng ta phải trung thành với chính lương tâm của mình, trung thành với các hiểu biết cụ thể mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta và quan tâm đến các tổn thương mà chúng ta mang. Các ân sủng và tổn thương của chúng ta đều phải được lắng nghe, cũng như các tiếng nói sâu đậm nhất trong lương tâm chúng ta cũng cần phải được xem xét khi chúng ta hỏi: Chúa Giêsu sẽ làm gì?

Chúng ta phải trả lời câu hỏi này cho chính chúng ta bây giờ và phải chịu căng thẳng giữa vâng lời giáo hội và không phản bội với tiếng nói phê phán trong lương tâm riêng của mình. Nếu chúng ta trung thực làm điều này, cuối cùng mọi sự sẽ biến đổi tuyệt đối trong chúng ta: Thiên Chúa cực tốt cực lành! Tất cả những gì Chúa Giêsu giảng dạy và nhập thể đều được xây dựng trên sự thật này. Tất cả những gì gây thỏa hiệp hay nói ngược lại, dù đó là nhà thờ, là thần học, là thực hành phụng vụ hay linh đạo đều là sai. Và bất kỳ tiếng nói nào trong giáo điều hay trong lương tâm riêng đi ngược với điều này cũng là sai.

Làm thế nào chúng ta nhận thức các sắc màu của Chúa cho điều tốt cũng như điều xấu trong việc giữ đạo của chúng ta. Và trên tất cả, Chúa Giêsu đã mạc khải điều này về Thiên Chúa: Thiên Chúa là cực tốt cực lành. Sự thật này phải được xây dựng trên tất cả, cho nhà thờ, cho thần học, cho linh đạo, cho phụng vụ và cho sự thấu cảm của chúng ta về người khác. Đáng buồn thay, điều này lại không được như vậy. Nỗi sợ Chúa không tốt bị ngụy trang một cách tinh tế, nhưng luôn được biểu lộ bất cứ khi nào, trong các lời giảng dạy của chúng ta hay trong việc giữ đạo, bằng cách nào đó làm cho Chúa trên trời thành không thấu hiểu, không thương xót, mù quáng, không vô điều kiện trong tình yêu như Chúa Giêsu ở trần gian. Đó cũng là biểu hiện bất cứ khi nào chúng ta sợ chúng ta ban phát quá nhiều ân sủng nhưng không và làm cho Chúa trở nên dễ gần.

Đáng buồn thay, Thiên Chúa mà chúng ta gặp trong các nhà thờ ngày nay thường quá hẹp hòi, quá tàn nhẫn, quá bộ tộc, quá nhỏ mọn và quá không đáng tin để xứng đáng với Chúa Giêsu… hoặc tâm hồn chúng ta đầu hàng.

Chúa Giêsu sẽ làm gì? Phải công nhận câu hỏi rất phức tạp. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng chúng ta sẽ có câu trả lời sai bất cứ khi nào chúng ta làm điều không tốt cho Chúa, khi chúng ta đặt điều kiện cho một tình yêu không điều kiện, và mỗi khi, một cách tinh tế chúng ta chận đường đến với Chúa, đến với lòng thương xót của Ngài.

Điều gì tạo nên lòng trung thành?

Để mỗi người chúng ta giữ được lòng trung thành, chúng ta cần người này người kia. chúng ta cần hơn cả một ngôi làng, chúng ta cần tất cả. Lòng trung thành của mỗi người làm cho lòng trung thành của mọi người dễ dàng hơn, cũng như sự không trung thành của một người làm cho sự trung thành của người khác khó hơn. Vì thế, trong một thế giới cực kỳ cá nhân và thoáng qua, khi chúng ta có cảm tưởng như mọi người xa mình, món quà đẹp nhất mà chúng ta có thể cho, chính là món quà của lòng trung thành riêng của mình, món quà ở lại lâu dài.

Trong thế giới ngày nay ngày càng khó khăn để tin tưởng bất cứ ai vì một lý do chính đáng nào. Ít có chuyện gì ổn định, bền vững, đáng tin cậy. Chúng ta sống trong thế giới mọi sự đều là dòng chảy, ở đâu cũng phải dè chừng, các giá trị bị bỏ rơi, mọi người rời chỗ mình ở, thông tin mâu thuẫn, không trung thực và giả dối được xã hội và đạo đức chấp nhận. Không còn bao nhiêu tin tưởng trong thế giới chúng ta.

Điều này kêu gọi chúng ta cái gì? Chúng ta được gọi để làm nhiều chuyện, nhưng có lẽ không có gì quan trọng hơn là lòng trung tín, là thẳng thắn và kiên trì trong việc giữ mình đúng thực là mình và với những gì chúng ta bảo vệ.

Và đây là một minh họa.

Một trong các nhà truyền giáo Dòng Anh Em Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm kể câu chuyện sau. Cha được gởi đến truyền giáo ở một nhóm của các cộng đoàn người thiểu số ở miền Bắc Canada. Mọi người rất dễ thương với cha nhưng nhanh chóng, cha nhận ra một chuyện. Chung chung, mỗi lần cha ấn định một cuộc hẹn thì không có ai đến. Mới đầu cha nghĩ do thiếu thông tin liên lạc, nhưng cuối cùng cha hiểu, chuyện này quá hiển nhiên để gọi đây là vì sự cố. Cha gặp một người lớn tuổi trong cộng đoàn để xin lời khuyên. Cha nói: “Mỗi lần tôi ấn định cuộc hẹn với họ thì không thấy ai đến.” Người lớn tuổi này hiểu vấn đề và trả lời: “Dĩ nhiên là họ không đến, chuyện họ cần là có một người ở ngoài cuộc như cha đến đây giúp họ tổ chức cuộc sống!” Nhà truyền giáo hỏi: “Vậy tôi phải làm gì?” Người lớn tuổi trả lời: “Cha đừng ấn định ngày hẹn, cha cứ đến và nói chuyện với họ! Họ sẽ dễ thương với cha. Quan trọng hơn nữa, đây là những gì cha cần làm: Cha ở lại đây lâu và làm cho họ tin tưởng. Họ muốn biết cha là nhà truyền giáo hay khách du lịch. Tại sao họ phải tin tưởng cha? Họ bị phản bội và nghe lời nói dối của hầu hết những người đến đây. Cha hãy ở lại đây lâu và làm cho họ tin tưởng.”

Ở lại lâu và làm cho họ tin tưởng. Ở lại lâu có nghĩa là gì? Chúng ta có thể ở lại và không nhất thiết tạo được tin tưởng, cũng như chúng ta có thể đi chỗ khác mà vẫn tạo được tin tưởng. Về bản chất, việc trung thành với bản chất, với con người của mình, với những gì chúng ta tin là chủ yếu để trung thành với các cam kết, các lời hứa mà chúng ta làm và những gì chân thật nhất trong con người của mình, để đời sống riêng của mình không đi ngược với hình ảnh mình có với quần chúng.

Món quà của lòng trung thành là món quà của một cuộc sống trung thực. Sự trung thực riêng tư của chúng ta là ơn ích cho cả cộng đồng, cũng như sự không trung thực riêng tư của chúng ta làm cho cả cộng đồng bị tổn thương. Nhà văn Parker Palmer đã viết: “Nếu bạn trung thành ở đây, bạn mang đến một ơn ích rất lớn.” Và nhà thơ người Afghanistan Rumi viết: “Nếu bạn ở đây mà không trung thực, bạn mang một tác hại rất lớn.” Trong mức độ mà chúng ta trung thành với những gì chúng ta tin, gia đình, bạn bè và cộng đoàn chúng ta đã cam kết và với các mệnh lệnh đạo đức sâu đậm nhất trong cõi lòng riêng của mình, chúng ta trung thành ở lại với người khác, và chúng ta “ở lại lâu dài với họ”. Điều ngược lại cũng đúng, trong chừng mực chúng ta không trung thành với tôn giáo của mình, với các lời chúng ta đã hứa và trung thực với chính tâm hồn mình, chúng ta không trung thành, chúng ta xa người khác, chúng ta chỉ là khách du lịch chứ không phải người truyền giáo.

Trong thư gởi cho tín hữu Ga-lát, Thánh Phaolô nói cho chúng ta biết thế nào là việc ở bên cạnh nhau, sống với nhau, vượt lên khoảng cách địa lý và các tình huống khác của đời sống làm chúng ta xa cách nhau. Chúng ta ở với nhau như anh chị em của nhau, trung thành với nhau khi chúng ta sống trong đức ái, vui vẻ, hòa bình, nhẫn nại, nhân hậu, đau khổ, dịu dàng, kiên trì và bác ái. Khi nội tâm chúng ta sống những điều này thì chúng ta “ở lại với nhau”, không xa nhau, dù khoảng cách địa lý làm chúng ta xa nhau. Ngược lại, khi chúng ta sống ngoài những điều này, “chúng ta không ở lại với nhau” dù chúng ta ở gần nhau. Như các nhà thơ thường hay nói, ở trong chúng ta, có một chỗ trong tâm hồn chúng ta, chứ không phải có một chỗ trên bản đồ. Và như Thánh Phaolô nói, ở trong chúng ta là sống trong Thần Khí.

Và tôi nghĩ, chính điều này cuối cùng đã định nghĩa lòng trung thành và kiên trì, là sự khác biệt giữa một nhà truyền giáo đạo đức và một khách du lịch, cho thấy ai là người ở lại, ai là người đi xa.

Để mỗi người chúng ta giữ được lòng trung thành, chúng ta cần người này người kia. chúng ta cần hơn cả một ngôi làng, chúng ta cần tất cả. Lòng trung thành của mỗi người làm cho lòng trung thành của mọi người dễ dàng hơn, cũng như sự không trung thành của một người làm cho sự trung thành của người khác khó hơn. Vì thế, trong một thế giới cực kỳ cá nhân và thoáng qua, khi chúng ta có cảm tưởng như mọi người xa mình, món quà đẹp nhất mà chúng ta có thể cho, chính là món quà của lòng trung thành riêng của mình, món quà ở lại lâu dài.

Thánh cho một tình trạng mới

Trong tình trạng thế tục hóa, với sự sung túc và cầu kỳ của nó, chúng ta đã thấy có một số người đã tìm phương tiện để trở thành người hậu-sung túc và hậu-cầu kỳ. Đây là các người lãnh đạo mới sẽ dạy chúng ta, chúng ta và con cái chúng ta làm thế nào để sống như những kitô hữu trong tình trạng mới này.

Ngày nay trong phạm vi nhà thờ chúng ta thường nghe than: nhà thờ của chúng ta bây giờ trống vắng. Chúng ta đã mất đi tuổi trẻ. Thế hệ này không còn biết, cũng không hiểu ngôn ngữ thần học cổ điển. Chúng ta phải loan báo về Chúa Giêsu theo một cách mới, như thể lần đầu tiên, nhưng bằng cách nào? Nhà thờ ngày càng bị gạt ra rìa.

Đó là tình trạng gần như ở khắp nơi trong thế giới thế tục ngày nay. Tại sao lại có chuyện này? Đức tin là điều lỗi thời? Đây là sự tự đại bốc đồng tuổi trẻ của tính thế tục trước bậc sinh ra nó là Do Thái-Kitô giáo? “Cái tôi xù lông” như nhà thần học Charles Taylor mô tả? Sung túc? Hay đây là vấn đề chủ yếu với chính nhà thờ? Lạm dụng tình dục? Bao che? Phụng vụ nghèo nàn? Giảng dở? Các nhà thờ quá tự do? Các nhà thờ quá bảo thủ?

Tôi nghi ngờ đây là một tổng hợp của tất cả các yếu tố này, nhưng tôi chọn một vấn đề duy nhất để nhấn mạnh, sự sung túc. Chúa Giêsu đã nói, rất khó (thậm chí không thể được) để người giàu vào Nước Trời. Chắc chắn đó là một phần lớn trong cuộc đấu tranh của chúng ta hiện nay. Chúng ta là kitô hữu tốt lành khi chúng ta nghèo, ít học và thường là sống bên lề xã hội. Chúng ta đã có nhiều thế kỷ giữ đạo như vậy. Chúng ta chưa bao giờ giữ đạo, chưa bao giờ tốt khi chúng ta giàu có, sành điệu và thuộc trào lưu văn hóa chủ đạo.

Vì vậy tôi đề nghị những gì chúng ta cần ngày nay không phải là một tiếp cận mục vụ mới, nhưng là một loại thánh mới, một người đàn ông, một phụ nữ có thể cho chúng ta một khuôn mẫu cụ thể, thế nào là sống Tin Mừng trong hoàn cảnh giàu có và thế tục. Vì sao là điều này?

Một trong các bài học lịch sử thực sự làm mới lại hình ảnh của đạo không đến từ các nhóm suy tư, các buổi hội thảo hay các thượng hội đồng của giáo hội, nhưng từ các cá nhân được ơn sủng – các thánh, các người nhiệt thành như Thánh Âugutinô, Thánh Phanxicô, Thánh Clara, Thánh Đôminicô, Thánh I-Nhã và các nhân vật tôn giáo khác có thể thay đổi hình ảnh tôn giáo trong đầu chúng ta. Họ cho chúng ta thấy cái mới ở nơi khác, những gì cần sửa chữa trong Giáo hội không phải đơn giản bằng cách vá cái cũ. Điều phải làm, đó là một trí tưởng tượng tôn giáo và giáo hội mới. Nhà thần học người Canada Charles Taylor trong nghiên cứu rất uy tín của ông về tính thế tục đã cho thấy, những gì chúng ta sống hôm nay không phải là cuộc khủng hoảng đức tin, nhưng là cuộc khủng hoảng của trí tưởng tượng. Trước chúng ta, không có một kitô hữu nào sống trong loại thế giới này.

Loại thánh mới này, thánh Phanxicô mới này sẽ trông giống như thế nào? Thành thật mà nói, tôi không biết. Hình như cũng không có ai khác biết. Chúng ta chưa có câu trả lời, ít nhất cũng chưa có ai sinh hoa kết trái trong văn hóa chủ đạo này. Điểm này không làm chúng ta ngạc nhiên. Loại trí tưởng tượng định hình lại lịch sử này không dễ gì tìm thấy. Trong khi đó chúng ta đã đi xa hết mức có thể trên con đường đã đưa chúng ta đến đó, con đường mà đa số con cái chúng ta không còn đi.

Và đây là tình trạng tiến thoái lưỡng nan của chúng ta: khi một người đã vào nhà thờ, chúng ta biết phải làm gì, nhưng chúng ta không biết cách làm sao đưa họ đến. Vì sao? Tôi nghĩ điểm yếu của chúng ta không ở trong trí tưởng tượng thần học, vì chúng ta có một hiểu biết thần học và Thánh Kinh phong phú. Điều chúng ta thiếu là thiếu các thánh trên lãnh vực này, các ông, các bà trong niềm đam mê và trung thành, họ vừa hoàn toàn trung thành với Chúa, vừa đồng cảm mãnh liệt với thế giới thế tục, thể hiện được đức tin của họ trong lối sống có thể cho chúng ta thấy một cách cụ thể, làm thế nào chúng ta vừa là môn đệ nghèo hèn và khiêm tốn của Chúa Giêsu, khi chúng ta ở trong một thế giới giàu có và rất thế tục.

Và những người mới như vậy sẽ xuất hiện. Qua lịch sử, chúng ta đã từng có kinh nghiệm và chúng ta luôn tìm phương tiện để tiến bộ. Mỗi lần thế giới nghĩ họ đã chôn Chúa Kitô thì hòn đá ngôi mộ lại bật ra, mỗi lần các nhà đạo đức văn hóa tuyên bố các nhà thờ đang trên đường trượt dốc không tránh khỏi thì Thần Khí lại can thiệp và ngay sau đó có một khuôn mặt trước mặt; mỗi lần chúng ta tuyệt vọng, nghĩ rằng thời buổi này không còn các thánh, các nhà tiên tri thì một Thánh Âugutinô, một Thánh Phanxicô xuất hiện, cho thấy ở thời buổi này cũng như thời buổi ngày xưa cũng có thể có các thánh; và mỗi lần trí tưởng tượng của chúng ta cạn kiệt, như trường hợp ngày nay thì chúng ta thấy Sách Thánh luôn có các ý tưởng mới. Có thể chúng ta thiếu tưởng tượng, nhưng chúng ta không thiếu hy vọng.

Chúa Kitô đã hứa, chúng ta sẽ không mồ côi và lời hứa này là chắc chắn. Thiên Chúa vẫn ở với chúng ta và thời buổi của chúng ta sẽ có các tiên tri và các thánh của mình. Ơn mà chúng ta xin lúc này là ơn kiên nhẫn và chờ Chúa. Kitô giáo có thể mệt mỏi, cạn kiệt, phải nỗ lực trong một văn hóa mà sự phong phú và phức tạp là các vị thần, nhưng hy vọng bắt đầu cho thấy; trong tình trạng thế tục hóa, với sự sung túc và cầu kỳ của nó, chúng ta đã thấy có một số người đã tìm phương tiện để trở thành người hậu-sung túc và hậu-cầu kỳ. Đây là các người lãnh đạo mới sẽ dạy chúng ta, chúng ta và con cái chúng ta làm thế nào để sống như những kitô hữu trong tình trạng mới này.

Sống theo ơn gọi

Có ơn gọi có nghĩa là gì? Thuật ngữ này được dùng trong giới tu hành cũng như trong giới thế tục và mọi người đều nghĩ ý nghĩa của nó đã rõ ràng. Vậy thì ơn gọi là gì?

Nhà tâm lý học Thụy Sĩ Karl Jung đã định nghĩa như sau: “Ơn gọi là một yếu tố phi lý giúp cho con người tự giải phóng khỏi bầy đàn và các đường mòn xưa cũ”. Nhà giáo nổi tiếng Frederick Buechner thì cho rằng: “Ơn gọi là niềm vui của bạn đáp trả cho cơn đói của thế giới.”

Nhà báo thời danh David Brooks suy nghĩ về ơn gọi trong quyển sách gần đây của ông Ngọn núi thứ nhì (The Second Mountain) cho chúng ta vài câu trích dẫn này của Jung và của Buechner, sau đó ông viết: Ơn gọi không phải là cái gì chúng ta chọn. Ơn gọi chọn chúng ta. Khi chúng ta cảm nhận ơn gọi như một khả thể trong đời sống của mình, thì chúng ta cũng cảm nhận mình không có chọn lựa, và chúng ta chỉ có thể hỏi: đâu là trách nhiệm của tôi ở đây? Đây không phải là câu hỏi mà chúng ta chờ trong cuộc sống, nhưng đúng hơn đó là câu hỏi mà cuộc sống chờ chúng ta. Hơn nữa, theo nhà báo Brooks, một khi chúng ta hiểu ơn gọi của mình, thì chúng ta không thể quay lưng với ơn gọi, và chúng ta sẽ nhận ra, mình sẽ có lỗi nếu mình quay lưng. Ông trích dẫn lời của nhà thơ William Wordsworth để hỗ trợ:

Lòng tôi đầy tràn, Tôi không khấn hứa
Nhưng lời khấn hứa, Được tạo cho tôi
Liên kết với tôi mà tôi không biết
Lời khấn hứa đó được trao cho tôi
Và tôi phải nên, và tôi phải theo
Nếu không tôi sẽ vô cùng phạm tội.

Ông Brooks gợi ý rất nhiều chuyện có thể giúp tâm hồn chúng ta nhận thức được ơn gọi của mình: âm nhạc, kịch nghệ, nghệ thuật, tình bạn, được ở bên cạnh trẻ con, được đẹp và nghịch lý thay, là nạn nhân của bất công. Ông còn đưa ra thêm hai quan sát: quan sát đầu tiên, chúng ta chỉ thấy và hiểu rõ ràng tất cả những chuyện này khi chúng ta lớn tuổi và khi chúng ta nhìn lại đàng sau đời sống, đàng sau các lựa chọn của mình; và thứ hai, dù tiếng gọi là một cái gì thiêng liêng, một cái gì thần nghiệm nhưng cách chúng ta thực sự sống với nó thường lộn xộn, trệch đường, bị lãng phí và chung chung là không cảm thấy linh thiêng gì cả.

Đúng vậy, tôi đã khá lớn tuổi và tôi nhìn lại đàng sau. Câu chuyện ơn gọi của tôi có giống như các mô tả này không? Chủ yếu là giống.

Lớn lên trong nền văn hóa công giáo la mã của những năm 1950 và đầu những năm 1960, tôi thuộc thế hệ công giáo mà mỗi em bé lớn lên được hỏi một cách nghiêm túc: “Tôi có ơn gọi không?” Ở thời buổi đó, câu hỏi này chủ yếu muốn nói: “Tôi có được gọi để làm linh mục, làm tu sĩ nam nữ không?” Trên thực tế, lập gia đình hay ở độc thân không được xem là ơn gọi, chỉ là chuyện thứ yếu. Ơn gọi cao cả là đời sống thánh hiến.

Vì vậy khi lớn lên trong môi trường này, tôi nghiêm túc đặt câu hỏi sau: “Tôi có ơn gọi làm linh mục không?” Và câu trả lời đến với tôi, không phải trong một cái nhìn sâu sắc, hay một cái gì quảng đại của trái tim, hay cuốn hút theo một lối sống nào đó. Không có gì trong các điều này. Câu trả lời đến với tôi như cái móc trong lương tâm tôi, như thử có một cái gì mà tôi không thể quay lưng cả về mặt đạo đức lẫn tôn giáo. Điều này đối với tôi như một bắt buộc, một trách nhiệm. Mới đầu tôi chiến đấu và cự lại với câu trả lời này. Đó không phải là những gì tôi muốn.

Nhưng đó là những gì tôi cảm thấy tôi được gọi. Có một cái gì đòi hỏi vượt ngoài các giấc mơ riêng của tôi. Đó là tiếng gọi. Dù khi đó tôi mới 17 tuổi, tôi quyết định vào Dòng Anh Em Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm và tôi được đào tạo để làm linh mục. Tôi ngờ ít có nhà cố vấn hay tâm lý nào đặt tin tưởng vào một quyết định như vậy với tuổi của tôi hồi đó; nhưng sau 50 năm, với một độ lùi, tôi nghĩ đó là quyết định trong trắng nhất và bất vụ lợi nhất tôi đã làm trong đời.

Và tôi không bao giờ nhìn lại. Tôi không bao giờ nghiêm túc cân nhắc việc từ bỏ cam kết này dù đôi khi tôi có đủ loại cảm xúc bất an, ám ảnh, khuấy động, chán nản và tội nghiệp mình, ám ảnh và hành hạ tôi. Tôi chưa bao giờ hối tiếc quyết định này. Tôi biết đây là những gì tôi được gọi để làm và tôi hạnh phúc theo cách mà các chuyện này diễn tiến. Nó mang lại cho tôi sự sống và giúp tôi phục vụ người khác. Và với các đặc điểm, các tổn thương và các yếu đuối cá nhân, tôi ngờ tôi sẽ tìm một con đường cũng sâu đậm như ơn gọi này đã cho tôi trong cuộc sống và trong cộng đoàn, dù nó có thể mang lợi ích cá nhân.

Tôi chỉ chia sẻ câu chuyện cá nhân để có thể hữu ích trong việc minh họa khái niệm ơn gọi. Nhưng đời sống tu trì và chức thánh chỉ là một ơn gọi. Có rất nhiều ơn gọi khác, tất cả đều lành mạnh và quan trọng. Ơn góp có thể là một nghệ sĩ, một nhà nông, một văn sĩ, một bác sĩ, một người cha, một người mẹ, một người vợ, một cô giáo, một người bán hàng và vô số các việc khác. Ơn gọi chọn chúng ta và làm lời khấn cho chúng ta – và các lời khấn này đặt chúng ta vào nơi này ở đây, nơi mình được đặt tốt nhất để phục vụ người khác và để có hạnh phúc.

Đức tin và giờ hấp hối

Chúng ta thường nuôi dưỡng một sự ngây ngô nào đó về ý nghĩa của đức tin khi đối diện với cái chết. Chung chung, tín hữu kitô chúng ta cho rằng ai có đức tin vững mạnh thì đứng trước cái chết họ không sợ hãi và không nghi ngờ. Hàm ý rằng nếu sợ hãi và nghi ngờ khi sắp cái chết là dấu hiệu của một đức tin yếu đuối. Dù đúng là có nhiều người có đức tin mạnh đã không sợ và bình thản trước cái chết, nhưng không phải ai cũng được như vậy và cũng không nhất thiết điều đó là chuẩn mực.

Chúng ta có thể bắt đầu với Chúa Giêsu. Chắc chắn Ngài có một đức tin vững mạnh, nhưng trước khi chết, Ngài đã kêu lên trong hãi sợ và nghi ngờ. Tiếng kêu khóc thống khổ của Chúa, “Lạy Chúa, Lạy Chúa, sao Chúa bỏ con” đến từ một nỗi thống khổ thực sự, chứ không phải để tạo hiệu ứng thần linh gì đó như đôi khi chúng ta mặc định theo lòng sùng đạo. Tiếng kêu đó không hẳn hướng về chúng ta, nhưng là một điều chúng ta nên nghe. Một vài phút trước khi chết, Đức Giêsu đã sống giây phút thực sự sợ hãi và nghi ngờ. Đức tin của Ngài đâu mất rồi? Điều này tùy thuộc vào cách chúng ta nghĩ về đức tin và phương cách cụ thể mà nó có thể diễn ra khi chúng ta sắp chết.

Trong nghiên cứu nổi tiếng của mình về các giai đoạn chết, nữ bác sĩ tâm thần Mỹ Elizabeth Kubler-Ross (1926-2004) đưa ra năm giai đoạn trong tiến trình chết: phủ nhận, giận dữ, mặc cả, trầm cảm, chấp nhận. Phản ứng đầu tiên của chúng ta khi nhận chẩn đoán cuối cùng là phủ nhận – chuyện này không thể xảy ra được! Sau đó khi phải chấp nhận thì phản ứng kế tiếp là giận dữ – vì sao là mình! Và giận dữ nhường chỗ cho mặc cả – tôi còn bao nhiêu thời gian nữa để sống? Rồi đến trầm cảm, và khi không làm gì được, chúng ta mới chấp nhận – tôi sắp chết. Tất cả các điều này đều đúng.

Nhưng trong một quyển sách sâu sắc, Ơn sủng khi hấp hối (The Grace in Dying), bà Kathleen Dowling Singh dựa trên kinh nghiệm khi ở bên đầu giường của những người sắp chết, bà đưa ra các giai đoạn khác: nghi ngờ, cự lại và ngây ngất. Các giai đoạn giúp chúng ta hiểu Chúa Giêsu khi Ngài đối diện với cái chết.

Đêm trước đó ở vườn Giếtsêmani, rõ ràng Chúa Giêsu đã chấp nhận mình sẽ chết. Nhưng sự chấp nhận này chưa phải là cự lại hoàn toàn. Nó chỉ xảy ra ngày hôm sau trên thập giá, trong khi trút hơi thở cuối cùng như các Phúc âm tường thuật, Ngài gục đầu xuống và trút hơi thở cuối cùng. Ngay trước đó, Ngài đã trải qua cơn hãi sợ khủng khiếp, rằng những gì Ngài luôn tin và được dạy về Chúa có thể là không phải. Có lẽ thiên đàng trống rỗng, có lẽ những gì chúng ta xem là các hứa hẹn của Chúa chỉ là một mơ ước sốt sắng.

Nhưng như chúng ta biết, Ngài đã không nhường bước trước các nghi ngờ đó, đúng hơn là bên trong các bóng tối này. Chúa Giêsu đã chết trong đức tin – nhưng không trong những gì chúng ta ngây thơ nghĩ về đức tin. Chết trong đức tin không phải lúc nào cũng chết bình thản, không sợ, không nghi ngờ.

Chẳng hạn linh mục học giả Kinh Thánh nổi tiếng Raymond E. Brown (1928-1998) đã bình giải về nỗi sợ cái chết trong cộng đoàn của Người môn đệ Yêu dấu: “Cùng đích của cái chết và sự bấp bênh của nó đã làm cho những người suốt đời tin vào Chúa Kitô run rẩy. Thật vậy, không hiếm khi trong cộng đoàn nhỏ các Môn đệ Thánh Gioan đã thú nhận mình nghi ngờ khi trong đầu nghĩ đến cái chết… Câu chuyện của ông Ladarô trong phần cuối đời sống hoạt động của Chúa Giêsu trong Phúc âm Thánh Gioan là để dạy chúng ta đối diện với thực tế hữu hình, đó là nấm mồ, tất cả chúng ta đều cần nghe, cần nắm lấy thông điệp táo bạo mà Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Ta là sự sống”… Đối với Thánh Gioan, cho dù chúng ta có tuyên xưng lại đức tin bao nhiêu lần, thì thử thách tối hậu vẫn là cái chết. Dù đó là cái chết của người thân hay của chính mình, đó là giây phút mà chúng ta nhận ra, tất cả đều tùy thuộc vào Chúa. Trong suốt cuộc đời, chúng ta đã bảo vệ mình trước sự thật phũ phàng này. Nhưng đứng trước cái chết, tất cả mọi phòng thủ đều rơi rụng.”

Đôi khi những người có đức tin sâu đậm bình thản và yên bình đối diện với cái chết. Nhưng thỉnh thoảng cũng có người không làm được, nỗi sợ và các nghi ngờ đe đọa họ không nhất thiết đó là dấu hiệu của một đức tin yếu đuối hoặc chùn bước. Điều này có thể ngược lại, như chúng ta thấy trong trường hợp Chúa Giêsu. Bên trong tâm hồn của một người có đức tin, nỗi sợ và nghi ngờ khi đứng trước cái chết, điều mà các nhà thần nghiệm gọi là “đêm tối tâm hồn”… và những gì xảy ra bên trong kinh nghiệm này là: sợ và nghi ngờ non nớt mà chúng ta cảm nhận lúc này là chúng ta không thể nhầm lẫn chính mình với nguồn sinh lực của chúng ta cho Chúa. Khi chúng ta phải chấp nhận chết với niềm tin tưởng bên trong với những gì có vẻ như là sự phủ nhận tuyệt đối, và chúng ta chỉ có thể kêu lên trong thống khổ với một sự trống rỗng rõ ràng, thì không còn có thể nhầm lẫn Chúa với cảm xúc và bản ngã của chính chúng ta. Trong điểm này, chúng ta trải nghiệm một sự thanh lọc cuối cùng của tâm hồn. Chúng ta có thể có một đức tin sâu đậm nhưng vẫn cảm thấy nghi ngờ và sợ hãi trước cái chết. Cứ nhìn vào Chúa Giêsu là thấy.