RonRolheiser,OMI

Sốt

Nhà văn Mỹ John Updike sau khi lành một căn bệnh nặng đã viết bài thơ có tựa đề Sốt. Bài thơ kết thúc với câu:

Nhưng có một sự thật đã được biết từ lâu, rằng một số bí mật ta chẳng biết khi khỏe mạnh.

Thực chất chúng ta đã biết điều này, nhưng đó là sự thật cá nhân, không phải là cái gì chúng ta có được trong lớp học, từ cha mẹ hay từ người cố vấn, ngay cả từ giáo lý tôn giáo cũng không. Những người này chỉ đơn thuần nói đó là thật, hiểu biết tự chính nó không mang đến khôn ngoan. Như nhà thơ Updike nói, khôn ngoan là qua trải nghiệm cá nhân khi bệnh nặng, khi mất mát lớn hay khi sỉ nhục trầm trọng.

Nhà văn, nhà tâm lý học người Mỹ James Hillman (1926-2011) theo thuyết bất khả tri cũng đi đến kết luận tương tự. Tôi nhớ đã nghe ông trong một cuộc hội thảo lớn, lúc nói chuyện, ông đã thách thức khán giả của mình về tác động này: Quý vị trung thực và can đảm suy nghĩ và tự hỏi: các kinh nghiệm nào trong đời sống quý vị làm cho quý vị sâu sắc hơn, mang đến cho quý vị cá tính? Trong hầu hết trường hợp, bạn sẽ phải công nhận đó là những chuyện sỉ nhục hoặc lạm dụng bạn phải chịu đựng, một kinh nghiệm về bất lực, thất vọng, bệnh tật hoặc bị gạt ra bên lề. Không phải nhờ những chuyện mang lại vinh quang hay ngưỡng mộ trong cuộc sống mà bạn có được chiều sâu và cá tính, lúc bạn đứng đầu lớp hay lúc bạn là vận động viên ngôi sao. Những điều này không làm cho bạn có chiều sâu. Nhưng đúng hơn là kinh nghiệm bất lực, mặc cảm, là những chuyện làm bạn trở nên khôn ngoan.

Tôi còn nhớ khi còn là sinh viên sắp tốt nghiệp, tôi dự một loạt các buổi diễn thuyết của nhà tâm thần học nổi tiếng người Ba Lan, Kasmir Dabrowski, ông viết một số sách chung quanh khái niệm mà ông gọi là, “sự tan rã tích cực”. Luận điểm thiết yếu của ông đưa ra, bằng cách tan rã chúng ta mới phát triển đến mức cao nhất của trưởng thành và khôn ngoan. Một lần, trong một bài diễn thuyết có sinh viên hỏi ông: “Tại sao chúng ta lớn lên nhờ các kinh nghiệm tan rã như lâm bệnh, gục ngã hay bị sỉ nhục? Sẽ hợp lý hơn không nếu chúng ta lớn lên qua kinh nghiệm tích cực khi được yêu, được khẳng định, thành công, khỏe mạnh và được ngưỡng mộ sao? Có nên rèn luyện lòng biết ơn trong chúng ta và từ lòng biết ơn, chúng ta sẽ trở nên quảng đại và khôn ngoan hơn không?”

Ông trả lời: Về lý thuyết, sự trưởng thành và khôn ngoan nên phát triển từ những kinh nghiệm mạnh và thành công; và có thể trong một số trường hợp, đúng là thế. Tuy nhiên, là bác sĩ tâm thần, tất cả những gì tôi có thể nói là trong bốn mươi năm hành nghề, tôi chưa bao giờ thấy. Tôi chỉ thấy mọi người trưởng thành hơn nhờ kinh nghiệm tan vỡ.

Có vẻ như Chúa Giêsu đồng ý với điều này. Chúng ta lấy ví dụ đoạn Tin Mừng khi ông Giacôbê và Gioan đến hỏi Chúa Giêsu họ có thể ngồi bên tả, bên hữu Ngài khi Ngài vinh quang không. Đáng chú ý là Ngài nghiêm túc trả lời câu hỏi của họ. Ngài không quở trách họ (trong trường hợp này) vì đã tìm kiếm vinh quang cho riêng mình; thay vào đó, Ngài xác nhận lại thế nào là vinh quang và con đường đến đó. Ngài hỏi họ: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống không?” Họ ngây thơ trả lời: “Thưa được!” Chúa Giêsu sau đó nói với họ về một điều mà họ còn ngây thơ hơn. Ngài nói với họ, “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.”

Chén nào? Làm thế nào uống chén này lại là con đường đưa đến vinh quang? Và tại sao chúng ta không thể nhận được vinh quang ngay cả khi chúng ta uống chén này?

Chén này sẽ được tiết lộ sau đó, là chén đau khổ, chén sỉ nhục, chén mà Chúa Giêsu uống trong sự thương khó và cái chết của Ngài, chén mà ở Giétsêmani khi hấp hối, Chúa Giêsu đã xin Chúa Cha: “Nếu được, xin Cha cất chén này cho con!”

Về cốt lõi, những gì Chúa Giêsu nói với ông Giacôbê và Gioan là như sau: Không có con đường nào đến với chúa nhật Phục Sinh mà không qua ngày con đường Thứ Sáu Tuần Thánh. Không có con đường đến chiều sâu và khôn ngoan trừ con đường đau khổ và sỉ nhục. Sự kết nối là nội tại, giống như sự đau đớn và rên rỉ của người phụ nữ là cần thiết khi sinh con. Hơn nữa, Chúa Giêsu cũng nói, đau khổ sâu đậm sẽ không tự động mang lại khôn ngoan. Tại sao? Bởi vì, nếu có một mối liên hệ nội tại giữa đau khổ sâu sắc và một cái gì sâu đậm lớn hơn trong đời sống chúng ta, đó là cái bẫy, sự đau khổ trong chua cay có thể dìm chúng ta trong cay đắng, giận dữ, ghen tị và hận thù, nhưng nó cũng dễ dàng làm cho chúng ta chìm đắm trong lòng trắc ẩn, tha thứ, thông cảm, và khôn ngoan. Chúng ta có thể có nỗi đau, và chúng ta không có được khôn ngoan.

Sốt! Triệu chứng chính của việc bị nhiễm Covid-19 là sốt cao. Sốt bây giờ đã bao vây thế giới chúng ta. Hy vọng sau khi nó làm tăng một cách nguy hiểm nhiệt độ cơ thể và tâm hệ, nó cũng cho thấy một vài bí mật được giấu kín của sức khỏe. Đó là những bí mật nào? Chúng ta chưa biết. Chúng chỉ được vén mở bên trong cơn sốt.

Thiên Chúa và nguyên tắc không mâu thuẫn

Thật buồn cười đôi khi các bài học trong các lớp học của chúng tôi đôi khi được hiểu.

Tôi học triết khi tôi còn quá trẻ để học, một thanh niên 19 tuổi học siêu hình học của triết gia Aristote và của Thánh Tôma Aquinô. Nhưng một cái gì đó từ lớp siêu hình học vẫn còn in dấu trong tâm trí tôi. Chúng tôi học có bốn thuộc tính “siêu việt” của Chúa: siêu hình học kinh điển dạy chúng tôi Thiên Chúa là Duy nhất, Chân, Thiện Mỹ. Từ đó tâm trí trẻ của tôi có một nắm bắt nào đó về ý nghĩa của Chân, Thiện, Mỹ, vì chúng tôi có một số quan niệm thông thường về những chuyện này; nhưng thế nào là Duy nhất? Thế nào là thiêng liêng không thể chia cắt?

Câu trả lời không đến với tôi trong lớp học hoặc trong một thảo luận học thuật dù tôi thường cố gắng giải thích ý nghĩa của nó cho các học sinh trong lớp học. Câu trả lời đến với tôi từ một siêu thị.

Tôi mua hàng hóa trong cùng một siêu thị từ mười hai năm nay, thì gặp một sự cố không đáng kể đã giải thích cho tôi về Chúa là Một và vì sao nó quan trọng đối với tôi. Cửa hàng là một siêu thị có quầy trái cây bạn có thể gom đủ thứ cam, táo, bưởi, chuối…, rồi mình để trong túi ny-lông của tiệm. Bên cạnh các túi này có những hộp nhỏ đựng dây buộc bằng kim loại. Một ngày nọ sau khi gom trái cây bỏ vào túi thì tôi thấy không còn giây buộc nào trong các hộp nhỏ bên cạnh. Khi tôi xem lại các món hàng mình mua, nghĩ rằng có ai đã chơi khăm gì đây, tôi báo cho cô thu ngân các dây buộc không còn. Câu trả lời của cô làm tôi ngạc nhiên: “Nhưng thưa ông, chúng tôi không bao giờ có thứ dây đó trong cửa hàng!” Nghĩ rằng chắc cô này là nhân viên mới, tôi nói: “Tôi mua hàng ở đây đã mười hai năm và khi nào tôi cũng thấy chúng! Cô có thể xem các cái hộp đựng nó ở đây!” Với một sự tin chắc tuyệt đối, cô trả lời: “Tôi làm ở đây cũng lâu rồi, và tôi có thể nói với ông là chúng tôi không bao giờ có nó!”

Tôi không thắc mắc thêm, nhưng khi ra khỏi cừa hàng, tôi nghĩ: “Nếu cô ấy có lý thì chắc mình điên! Nếu cô ấy có lý thì mình hoàn toàn đánh mất liên lạc với thực tế, từ lâu tôi không có một khái niệm gì về sự hợp lý!” Tôi chắc chắn là đã thấy sợi dây cột đó trong mười năm qua! Và đúng, lần sau tôi đến, chúng đã có lại, và hôm nay nó có đó, nhưng thử thách nho nhỏ cho sự hợp lý của tôi đã dạy cho tôi một điều gì đó. Bây giờ tôi biết ý nghĩa thế nào Chúa là Duy nhất và tại sao điều đó lại quan trọng.

Thiên Chúa là Duy nhất (và không phân chia) là nền tảng cho tất cả sự hợp lý và cho mọi lý lẽ. Sự việc Thiên Chúa không phân chia và nhất quán bảo đảm với bạn hai cộng hai luôn là bốn – và bạn có thể neo sức khỏe tinh thần của bạn vào đó. Rằng Thiên Chúa không phân chia, bảo đảm với bạn nếu bạn thấy các sợi dây cột trong cửa hàng từ mười hai năm nay, nó ở đó và bạn… không điên. Rằng Thiên Chúa là Duy nhất là nền tảng cho sức khỏe tinh thần của bạn. Nó bao gồm Nguyên tắc Không mâu thuẫn: có một cái gì ở đó hay không ở đó, nó không thể là cả hai; và hai cộng hai không bao giờ là năm – và điều này giúp chúng ta sống một đời sống hợp lý và lành mạnh. Bởi vì Thiên Chúa không phân chia, chúng ta có thể tin tưởng vào sức khỏe tinh thần của mình.

Sự thật không bao giờ bị nguy hiểm bởi các cuộc tranh luận nhận thức của lịch sử. Các nghi ngờ về tính hợp lý và lý lẽ không đến từ các triết gia Descartes, Kant, Hegel, Locke, Hume, Wittgenstein hay Jacques Derrida; các triết gia này chỉ tranh luận về cấu trúc tính hợp lý, không bao giờ về sự tồn tại của nó. Điều gây nguy hiểm cho sức khỏe tinh thần của chúng ta (và chắc chắn đây là mối đe dọa đạo đức lớn nhất của thế giới chúng ta ngày nay), đó là sự dối trá, phủ nhận các sự việc, tạo ra các sự việc giả. Không có gì, tuyệt đối không có gì nguy hiểm và độc hại cho bằng nói dối, không trung thực. Không phải chuyện ngẫu nhiên mà kitô giáo gọi Satan là vua dối trá và dạy rằng nói dối là gốc rễ của tội lỗi không thể tha thứ chống lại Chúa Thánh Thần. Khi các sự việc không còn là sự việc, thì tính hợp lý của chúng ta bị bủa vây vì nói dối đã làm hỏng nền tảng của sự hợp lý. Chúa là duy nhất! Điều này có nghĩa không có mâu thuẫn nội tại trong Thiên Chúa, và điều này bảo đảm cho chúng ta không có mâu thuẫn nội tại nào có thể có trong cấu trúc của thực tế và trong một tâm trí lành mạnh. Những gì đã xảy ra, đã mãi mãi xảy ra và không thể phủ nhận. Hai cộng hai luôn là bốn và vì thế, chúng ta có thể luôn hợp lý và có đủ tin tưởng vào thực tế để sống một đời sống nhất quán.

Điều nguy hiểm nhất cho thế giới là nói dối, không trung thực, phủ nhận sự thật. Phủ nhận một thực tế, đó không những là đánh nhanh và cố ý với lý lẽ riêng của mình, vào các nền tảng của chính sự hợp lý; và cũng là đánh nhanh và cố ý vào Chúa mà sự nhất quán bao gồm mọi lý lẽ và mọi ý nghĩa. Chúa là Duy nhất, không phân chia và nhất quán.

Giáo hội là bệnh viện dã chiến

Đa số chúng ta đều quen thuộc với câu nói của Đức Phanxicô, theo đó ngày nay Giáo hội phải là bệnh viện dã chiến. Điều này ngụ ý gì?

Trước tiên hết, lúc này giáo hội không phải là bệnh viện dã chiến, hay ít nhất cũng không còn nhiều. Quá nhiều giáo hội của nhiều phái xem thế giới như đối thủ phải chiến đấu hơn là chiến trường nơi người bị thương nằm đây đó chờ phục vụ. Các Giáo hội ngày nay, theo chữ dùng của Đức Phanxicô thường ngược với hình ảnh trong sách Khải Huyền (Book of Revelation?) khi Chúa Giêsu đứng ngoài cửa, gõ cửa, cố gắng bước vào, đến một tình huống Chúa ở bên trong giáo hội, cố gắng để đi ra ngoài.

Vậy làm thế nào các cộng đoàn giáo hội chúng ta lại có thể trở thành bệnh viện dã chiến?

Trong một bài viết khiêu khích rất haycủa báo America Magazine gần đây, nhà văn thiêng liêng người Tiệp Tomas Halik đề nghị các cộng đoàn giáo hội của chúng ta phải trở thành “bệnh viện dã chiến”, họ phải đảm nhận ba vai trò: một là chẩn đoán – phải nhận ra dấu chỉ của thời đại; hai là phòng ngừa – trong đó giáo hội tạo hệ thống miễn nhiễm với các vi-rút ác tính như sợ hãi, hận thù, chủ nghĩa mị dân, chủ nghĩa dân tộc làm tan nát các cộng đoàn và thứ ba là dưõng bệnh – trong đó giáo hội giúp thế giới vượt lên tổn thương của quá khứ bằng lòng tha thứ.

Cụ thể mỗi yếu tố này được dự kiến làm như thế nào?

Các giáo hội chúng ta phải được chẩn đoán; phải định danh cho thời điểm hiện tại một cách ngôn sứ. Nhưng điều này đòi hỏi phải có can đảm mà lúc này dường như thiếu, bị trật đường vì sợ hãi và ý thức hệ. Lúc này các người tự do và các người bảo thủ có một sự chẩn đoán hoàn toàn khác nhau, không phải vì các sự việc không giống nhau cho cả hai, nhưng vì mỗi bên nhìn sự việc theo ý thức hệ riêng của họ. Thêm nữa, cuối cùng, cả hai bên dường như quá sợ hãi khi nhìn các vấn đề khó khăn trước mặt, cả hai đều hãi sợ về những gì họ có thể nhìn thấy.

Chỉ nêu ra một vấn đề mà cả hai dường như sợ nhìn vào mà không chớp mắt: các nhà thờ trống rỗng nhanh chóng và thực tế là rất nhiều trẻ em của chính chúng ta không còn đi nhà thờ hoặc chúng không còn lấy bản sắc của chúng ở nhà thờ nữa. Phía bảo thủ thì đơn giản đổ lỗi cho chủ nghĩa thế tục, mà họ không bao giờ thực sự muốn cởi mở tranh luận với các phê phán khác nhau của các nhà thờ đến từ hầu hết mọi thành phần của xã hội. Còn phía tự do thì có xu hướng đơn giản đổ lỗi cho sự cứng nhắc bảo thủ mà không thực sự can đảm cởi mở nhìn một vài nơi thế tục, nơi đức tin vào một Thiên Chúa siêu việt và một Chúa Kitô nhập thể đối nghịch với một vài tiêu chuẩn đạo đức và ý thức hệ văn hóa của thế tục. Cả hai bên, cho thấy sự phòng thủ quá độ của họ, có vẻ như họ sợ nhìn vào tất cả vấn đề.

Chúng ta phải làm gì để phòng ngừa, để biến đổi nhà thờ chúng ta thành bệnh viện dã chiến? Hình ảnh nhà văn Halik đề nghị ở đây thì phong phú nhưng chỉ có thể dễ hiểu nếu thấu hiểu được Nhiệm thể Chúa Kitô và một sự chấp nhận kết nối sâu đậm giữa chúng ta với gia đình nhân loại. Chúng ta tất cả là một, một chi thể sống động, cùng một chi thể, do đó, như bất kỳ một cơ thể sống nào, bệnh tật hay sức khỏe, một bộ phận đau là đau toàn thân. Và sức khỏe của cơ thể tùy thuộc vào hệ thống miễn nhiễm, vào chất xúc tác sinh học (enzim) đi khắp cơ thể để giết các tế bào ung thư. Ngày nay, thế giới chúng ta bị bủa vây bởi các tế bào ung thư cay đắng, thù hận, dối trá, nỗi sợ hãi tự-bảo vệ và chủ nghĩa bộ lạc đủ mọi loại. Thế giới chúng ta bị bệnh trầm kha; bị bệnh ung thư hủy hoại cộng đồng.

Do đó các cộng đoàn giáo hội chúng ta phải trở thành nơi tạo các chất xúc tác sinh học lành mạnh cần thiết để giết các tế bào ung thư. Chúng ta phải tạo một hệ thống miễn nhiễm đủ mạnh để làm điều này. Và để làm được, trước hết chính chúng ta phải ngưng, không là thành phần của căn bệnh ung thư thù hận, sợ hãi, chống đối và tinh thần bộ lạc.

Và quá thường xuyên, chính chúng ta là tế bào ung thư. Thử thách tôn giáo lớn nhất của chúng ta ngày nay là thành lập một hệ thống miễn nhiễm mạnh đủ và đủ sức giết các tế bào ung thư của sợ hãi, của dối trá, của chủ nghĩa bộ lạc đang trôi nổi tự do trên khắp thế giới.

Cuối cùng vai trò dưỡng bệnh: các cộng đoàn giáo hội chúng ta phải giúp thế giới đi đến hòa giải sâu sắc hơn với các tổn thương trong quá khứ. May thay đây là một trong các điểm mạnh của chúng ta. Các giáo hội của chúng ta là đền thánh của tha thứ. Theo hồng y Francis George: “Trong xã hội chúng ta, tất cả đều được phép nhưng không có gì được tha thứ; trong nhà thờ thì cấm rất nhiều, nhưng tất cả đều được tha thứ.” Nhưng ở lãnh vực này chúng ta cần phải chủ động hơn, là đền thánh tha thứ ngày nay là liên kết với một số “chấn thương đau đớn trong quá khứ”. Tóm lại, tha thứ, chữa lành và chuộc tội sâu đậm hơn thì phải ở bên cạnh lịch sử của thế giới với chế độ thuộc địa, với tình trạng nô lệ, tình trạng phụ nữ, với tra tấn, với sự biến mất các dân tộc, đối xử tệ với người di dân, hỗ trợ lâu dài cho các chế độ bất công và chuộc tội với mẹ trái đất. Các nhà thờ chúng ta phải điều khiển nỗ lực này.

Trong vai trò bệnh viện dã chiến, các cộng đồng giáo hội chúng ta có thể là Galilê ngày nay.

Tảng đá lớn và cánh cửa bị khóa

Triết gia Soren Kierkegaard đã từng viết, bản văn Tin Mừng mà ông thấy rõ mình trong đó, là câu chuyện kể các môn đệ sau khi Chúa Giêsu chết, họ tự giam mình trong phòng vì sợ, rồi họ trải nghiệm Chúa Giêsu đi qua cánh cửa bị khóa để ban bình an cho họ. Kierkegaard muốn Chúa Giêsu làm như vậy với ông, đi qua các cánh cửa bị khóa của ông, sự cự lại của ông và để ông được hít thở sự bình yên trong Ngài.

Hình ảnh các cánh cửa bị khóa là một trong hai hình ảnh đặc biệt thú vị trong câu chuyện về ngày Phục sinh đầu tiên. Hình ảnh kia là hình ảnh tảng đá lớn đã chôn Chúa Giêsu. Các hình ảnh này nhắc chúng ta nhớ những gì thường tách chúng ta ra khỏi ơn sống lại. Đôi khi để ân sủng này đi tìm chúng ta, thì ai đó “phải lăn tảng đá” và đôi khi sự sống lại đến với chúng ta qua cánh cửa bị khóa.

Trước hết, về “tảng đá:

Các Tin mừng cho chúng ta biết rằng vào sáng sớm Phục sinh, ba phụ nữ đang trên đường đến mộ Chúa Giêsu, họ mang theo dầu thơm để ướp xác Ngài nhưng họ lo lắng không biết làm sao lăn tảng đá đã bít chặt mộ Ngài. Họ hỏi nhau: “Ai sẽ lăn hòn đá cho chúng ta?”

Và như chúng ta biết, hòn đá đã được lăn. Cách nào? Chúng ta không biết. Không có ai ở đó khi Chúa Giêsu sống lại. Không ai biết chính xác hòn đá đó đã lăn đi như thế nào. Nhưng điều mà Kinh thánh làm rõ là: Chúa Giêsu không tự sống lại. Chính Thiên Chúa đã làm cho Chúa Giêsu sống lại. Chúa Giêsu không lăn hòn đá, đó là điều chúng ta thường nghĩ như vậy. Tuy nhiên, và vì lý do chính đáng, cả Kinh Thánh và truyền thống kitô giáo đều khẳng định mạnh mẽ, Chúa Giêsu không tự mình sống lại từ cõi chết, Chúa Cha đã làm cho Chúa Giêsu sống lại. Điều này có vẻ như là điểm không cần thiết để nhấn mạnh; nhưng rốt cuộc, nó có gì khác biệt?

Điều này làm một sự khác biệt rất lớn. Chúa Giêsu không tự mình sống lại từ cõi chết và chúng ta cũng không thể. Đó là mục đích. Để sức mạnh của sự sống lại thấm nhập vào chúng ta, một thứ gì đó từ bên ngoài chúng ta phải loại bỏ tảng đá khổng lồ bất động của sự cự lại của chúng ta. Đây không phải để phủ nhận chúng ta không có thiện chí và sức mạnh cá nhân; nhưng những điều này, dù quan trọng, không còn là điều kiện tiên quyết để nhận được ân sủng của sự sống lại, mà chính do sức mạnh của sự sống lại, luôn đến với chúng ta từ bên kia. Chúng ta không bao giờ tự mình lăn được tảng đá!

Ai có thể lăn tảng đá? Có lẽ đây là câu hỏi chúng ta đặc biệt quan tâm, nhưng chúng ta nên hỏi… Chúa Giêsu đã bị táng xác và bất lực không thể tự dậy, cũng vậy đối với chúng ta. Giống như các phụ nữ trong ngày Phục sinh đầu tiên, chúng ta cũng lo lắng hỏi: “Ai sẽ là người lăn tảng đá cho chúng ta?” Chúng ta không thể tự mở mộ cho mình.

Thứ hai, các cánh cửa của chúng ta đã bị khóa:

Thật thú vị khi thấy các tín hữu của ngày Phục sinh đầu tiên này trải nghiệm Chúa Kitô phục sinh trong cuộc sống của họ. Các Tin mừng cho chúng ta biết, họ bị hãi sợ và hoang mang bao trùm nên họ ở trong phòng khóa cửa lại, chỉ muốn tự bảo vệ mình, Chúa Kitô đi qua cánh cửa bị khóa của họ, cánh cửa của sợ hãi, của tự bảo vệ và truyền bình an cho họ. Họ họp nhau lại trong sợ hãi không phải là họ không có ý chí hay không có đức tin. Trong thâm tâm, họ thật lòng mong mình không sợ, nhưng thiện ý này không phải lúc nào cũng mở cánh cửa của họ. Chúa Kitô bước vào và ban bình an cho họ dù họ cự lại, dù nỗi sợ hãi và cánh cửa bị khóa của họ

Các điều này không thay đổi gì từ hai ngàn năm nay. Là cộng đồng kitô hay cá nhân, chúng ta vẫn đang loay hoay trong sợ hãi, lo lắng về bản thân, không tin tưởng, không được bình an, cánh cửa của chúng ta bị khóa, ngay cả khi trái tim chúng ta mong muốn hòa bình và tin tưởng. Có lẽ, giống như triết gia Kierkegaard, chúng ta muốn được đặc ân như đoạn Sách Thánh này, khi Chúa Kitô sống lại đi qua các cánh cửa bị khóa do con người cự lại và thổi bình an đến cho chúng ta.

Hơn nữa, năm nay, vào thời điểm đặc biệt khi coronavirus Covid 19, đã khóa các thành phố và cộng đồng chúng ta và chúng ta cách ly trong ngôi nhà riêng của mình, đối diện với các tâm trạng hụt hẫng, mất kiên nhẫn, sợ hãi, hoảng loạn và buồn chán. Và đây. Lúc này chúng ta cần một chút gì đó để sống phục sinh, một hòn đá cần phải được lăn đi để cuộc sống được hồi sinh, để có thể đi qua cánh cửa bị khóa của chúng ta và để mang bình an đến cho chúng ta.

Vào cuối ngày, hai hình ảnh, “tảng đá phải được lăn” và “các cánh cửa của nỗi sợ chúng ta” hàm chứa trong chính nó sự thật an ủi nhất của mọi tôn giáo bởi vì chúng tiết lộ điều này về ân sủng của Chúa: Khi chúng ta không thể giúp chính mình, chúng ta vẫn có thể được giúp đỡ và khi chúng ta bất lực để vươn ra, ân sủng vẫn có thể đi qua các bức tường cự lại của chúng ta và mang bình an đến cho chúng ta. Chúng ta cần phải bám lấy điều này mỗi khi chúng ta bị đổ vỡ không thể cứu vãn được trong cuộc sống chúng ta, khi chúng ta cảm thấy bất lực trong các vết thương và nỗi sợ hãi, khi chúng ta cảm thấy bị tổn thương về mặt tinh thần và khi chúng ta đau buồn vì người thân yêu bị nghiện ngập hoặc tự tử. Chúa Kitô phục sinh có thể đi qua các cánh cửa bị khóa và đẩy đi bất cứ hòn đá nào chôn chúng ta, nhốt chúng ta, dù vô vọng đối với chúng ta như thế nào.

Ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu

Cái chết của Chúa Giêsu rửa sạch mọi thứ kể cả thiếu sót và tội lỗi của chúng ta. Đó là thông điệp rõ ràng của Tin Mừng Thánh Luca về cái chết của Chúa Giêsu.

Như chúng ta biết, chúng ta có bốn Tin Mừng, mỗi Tin Mừng có cái nhìn riêng về sự Thương Khó và cái chết của Chúa Giêsu, các câu chuyện phúc âm không giống như phóng sự của nhà báo về chuyện gì xảy ra ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng đúng hơn là các chú giải thần học những gì xảy ra vào thời đó. Đó là các bức tranh về cái chết của Chúa Giêsu hơn là phóng sự về chủ đề này, họ tùy nghi làm nổi bật một vài hình thức nhất định để thấy điều thiết yếu nhất. Mỗi tác giả Tin Mừng có cách chú giải riêng câu chuyện trên Núi Sọ.

Đối với Thánh Luca, chuyện xảy ra trong cái chết của Chúa Giêsu, là mạc khải rõ ràng nhất, rõ hơn bao giờ hết, về sự thấu hiểu, tha thứ và chữa lành của Thiên Chúa. Theo Thánh Luca, cái chết của Chúa Giêsu rửa sạch mọi thứ của sự thấu hiểu, tha thứ và chữa lành, phủ nhận tất cả mọi ý tưởng ngược lại. Để làm rõ điều này, Thánh Luca nhấn mạnh đến một số yếu tố trong bài tường thuật.

Đầu tiên là vụ bắt Chúa Giêsu ở Vưòn Giếtsêmani, Thánh Luca kể, khi một trong các môn đệ chém người đầy tớ của vị thượng tế làm người này bị đứt tai, Chúa Giêsu sờ vào tai người đầy tớ và chữa lành. Theo Thánh Luca, sự chữa lành của Chúa Giêsu bao gồm mọi hoàn cảnh, thậm chí cả trong hoàn cảnh cay đắng, phản bội và bạo lực. Cuối cùng ân sủng của Chúa sẽ chữa lành cả những tổn thương do hận thù.

Kế đó, sau khi Thánh Phêrô chối Chúa ba lần, Chúa Giêsu bị đưa ra trước Thượng hội đồng, Thánh Luca kể Chúa Giêsu quay lại nhìn ông Phêrô với ánh nhìn làm ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết. Mọi sự trong đoạn này và những gì xảy ra sau đó, ánh nhìn của Chúa Giêsu làm Thánh Phêrô khóc thảm thiết không phải là dấu hiệu của tuyệt vọng và buộc tội, một ánh nhìn làm Phêrô khóc vì hổ thẹn. Không, đúng hơn đây là cái nhìn thấu hiểu và thông cảm mà Phêrô chưa bào giờ thấy trước đây, làm ông nhẹ nhõm khóc, biết rằng mọi chuyện sẽ ổn và ông được bình tâm.

Và khi Thánh Luca kể phiên tòa Chúa Giêsu trước Philatô, ngài kể một chuyện không có trong các phúc âm khác, biết Chúa Giêsu thuộc thẩm quyền của vua Hêrôđê, Philatô gởi Chúa Giêsu đến vua Hêrôđê và hai người này cho đến lúc đó là kẻ thù của nhau, “hôm đó hai người thân thiện với nhau.”

Như Ray Brown nói về bản văn này “Chúa Giêsu có tác dụng chữa lành ngay cả với những người ngược đãi Ngài.”

Cuối cùng trong tường thuật của Thánh Luca, Chúa Giêsu chịu đóng đinh và trong khi họ đóng đinh Ngài, Ngài nói những lời mà giờ ai cũng biết: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm. Những lời này này được tín hữu kitô luôn xem là tiêu chuẩn tối hậu trong cách đối xử với kẻ thù, những người đối xử xấu với chúng ta, gói gọn sự mạc khải sâu sắc trong cái chết của Chúa Giêsu. Được nói lên khi Chúa Giêsu bị con người đóng đinh, cho thấy Chúa thấy và hiểu cả trong các hành động xấu xa nhất của chúng ta: không phải là ý xấu, không phải là cái gì làm chúng ta cuối cùng quay lại chống Chúa, hay Chúa chống chúng ta, nhưng là điều gì đó như sự thiếu hiểu biết – đơn giản, không có tội, không cưỡng lại được, thấu hiểu, tha thứ, một điều gì đó như hành động tự hại mình của một em bé ngây thơ vô tội.

Trong bối cảnh này cũng vậy, Thánh Luca kể việc Chúa Giêsu tha thứ cho người trộm lành. Điều ngài nhấn mạnh ở đây, vượt lên cả những chuyện hiển nhiên, là những điều này: đầu tiên, con người được tha thứ không phải vì nó không có tội, nhưng bất chấp tội của nó; thứ nhì, nó nhận nhiều vô hạn hơn những gì nó xin; và cuối cùng Chúa Giêsu sẽ không chết khi chưa làm xong việc, phải xóa tội cho người này trước.

Cuối cùng trong lời kể của Thánh Luca, ngược với Thánh Mác-cô và Mathêu, Chúa Giêsu không chết trong từ bỏ nhưng chết trong sự tin tưởng hoàn toàn: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”. Thánh Luca muốn chúng ta thấy nơi những lời này một tấm gương theo cách mà chúng ta đối diện với chính cái chết của mình, dù chúng ta yếu đuối như thế nào. Đâu là bài học? Nhaø vaên Leon Bloy có lần đã viết, điều buồn duy nhất trong cuộc đời, đó là không nên thánh. Vào cuối giờ, khi mỗi người đối diện với chính cái chết của mình, khi đó hối tiếc lớn nhất của chúng ta, chúng ta đã không thánh thiện. Nhưng, như Chúa Giêsu cho chúng ta thấy trong cái chết của Ngài, chúng ta có thể chết (dù trong yếu đuối), biết rằng chúng ta đang chết trong bàn tay nhân lành.

Ngược với đa số truyền thống kitô, tường thuật của Thánh Luca không tập trung vào giá trị cứu chuộc nhờ cái chết của Chúa Giêsu. Nhưng thay vào đó ngài nhấn mạnh: Cái chết của Chúa Giêsu rửa sạch mọi thư, mỗi chúng ta và cả thế giới. Chúa chữa lành tất cả, thông hiểu tất cả và tha thứ tất cả – dù chúng ta thiếu hiểu biết, yếu đuối và phản bội. Trong tường thuật của Thánh Gioan, xác Chúa Giêsu bị lưỡi đòng đâm và ngay lập tức “máu và nước” (sự sống và tẩy rửa) tuôn ra. Trong tường thuật của Thánh Luca, cơ thể của Chúa Giêsu không bị đâm. Không cần phải có. Khi Ngài trút hơi thở cuối cùng, Ngài đã tha thứ tất cả và tất cả đã được rửa sạch.

Xóa tan ảo ảnh

Chúng ta không thích chữ vỡ mộng. Bình thường chúng ta xem vỡ mộng là tiêu cực, một cái gì xấu chứ không phải một cái gì có thể hữu ích. Vậy mà vỡ mộng là một cái gì hữu ích, có nghĩa là xóa tan một ảo tưởng mà các ảo tưởng thì không tốt cho chúng ta, ngoại trừ khi chúng ta dùng nó như liều thuốc bổ tạm thời. Chúng che để chúng ta khỏi thấy sự thật, khỏi thấy thực tế.

Có rất nhiều, rất rất nhiều điều tiêu cực về con coronavirus hiện nay, nó gây chết chóc trên toàn thế giới. Nhưng nó có một điểm tích cực: cự lại mọi hình thức kháng cự mà chúng ta có thể gom lại, nó xóa tan ảo tưởng chúng ta có thể kiểm soát đời sống của mình, và chính các nỗ lực riêng của mình, chúng ta có thể trở nên bất khả xâm phạm. Bài học này không mời mà đến. Con vi-rút không lường trước và không mong muốn này dạy chúng ta, bất hoặc mức độ tinh vi, thông minh, giàu có, sức khỏe, địa vị xã hội, chúng ta tất cả đều bấp bênh, chúng ta phải chịu đựng hàng ngàn tình huống mà chúng ta không kiểm soát được. Không một phủ nhận nào sẽ thay đổi được điều này.

Chắc chắn, với tầm mức ý thức của chúng ta, chúng ta luôn biết sự bấp bênh của mình. Nhưng đôi khi sau khi lâu ngày đi trên bờ đá nguy hiểm, chúng ta quên sự nguy hiểm và không còn nhận ra sự chật chội của tấm ván mình bước đi trên đó. Sau đó là chúng ta ý thức về sự bấp bênh của hàng triệu người đang gặp nguy hiểm, giống như ý thức về cái chết của chúng ta, mà bình thường thì khá trừu tượng và không thực tế lắm. Như tất cả mọi người, chúng ta biết có một ngày chúng ta sẽ chết; nhưng thường thường điều này không đè nặng trên ý thức chúng ta. Thay vào đó, chúng ta sống với cảm giác chúng ta sẽ không chết bây giờ. Cái chết không thật sự là thật đối với chúng ta. Nó cũng chưa là mối đe dọa cận kề mà chỉ là một thực tế xa vời và trừu tượng.

Chung chung, chúng ta có cảm giác mơ hồ về sự bấp bênh của mình. Đúng, chúng ta biết một cách trừu tượng rằng chúng ta bấp bênh, nhưng nhìn chung chúng ta cảm thấy mình an toàn. Cho đến ngày con vi-rút này lan tràn, chiếm hết bản tin và làm cho đời sống bình thường của chúng ta chấm dứt, thì cảm nhận bấp bênh không còn là một cảm nhận mơ hồ và trừu tượng. Bây giờ chúng ta nhận thức rõ hơn, chúng ta tất cả đã phải chịu đựng cả ngàn tình huống mà chúng ta không kiểm soát được.

Tuy nhiên để bảo vệ chúng ta, ý thức bẩm sinh rằng chúng ta kiểm soát và có thể bảo vệ sự an toàn của mình, chúng ta không nên phán xét quá sớm và quá nghiêm khắc. Chúng ta có thể giúp đỡ nó. Và đó là cách chúng ta tự xây dựng. Bản năng chúng ta hướng chúng ta đến thù ghét các điểm yếu của mình, đến bấp bênh, các giới hạn và nhận thức về chính cái nghèo nàn của mình, và một cách bản năng, chúng ta hướng về những gì làm chúng ta cảm thấy an toàn, có kiểm soát, được độc lập, không bấp bênh và tự đủ.

Đó là lòng thương xót của ân sủng và của thiên nhiên, vì nó giúp chúng ta khỏi nản chí và sống với một niềm tự hào (cần thiết). Nhưng đó cũng là một ảo tưởng; có lẽ đó là một ảo tưởng mà chúng ta cần trong một thời gian dài của cuộc sống, nhưng cũng là thứ ảo tưởng mà trong thời điểm chính xác và sáng suốt, chúng ta buộc phải xóa tan để nhận biết, trước Chúa và với cả chính mình, chúng ta phụ thuộc lẫn nhau, không tự đủ và cuối cùng không kiểm soát. Dù có cái gì khác về con vi-rút này thì nó cũng mang lại cho chúng ta một khoảnh khắc chính xác và sáng suốt, ngay cả khi điều này không được chào đón.

Chúng ta đã có một bài học tương tự trong ngày 11 tháng 9 năm 2001 khi Tòa Tháp Đôi của thành phố New York bị sụp đổ. Khi chứng kiến sự kiện bi thảm này, chúng ta đã đi từ cảm nhận an toàn và vững chắc đến ý thức, dù chúng ta đã đạt được tất cả, chúng ta cũng không thể bảo đảm được an toàn riêng cho mình và cho người thân của mình. Trong ngày hôm đó, rất nhiều người học lại ý nghĩa thế nào là cầu nguyện. Rất nhiều người trong chúng ta đang học lại ý nghĩa của cầu nguyện khi chúng ta ở nhà trong đại dịch coronavirus này.

Linh mục tác giả sách thiêng liêng Richard Rohr gợi ý việc bước đi từ tuổi thơ ấu đến tuổi trưởng thành đòi hỏi một khởi mốc cho một số sự thật cần thiết của cuộc sống. Một trong số các sự thật này có thể tóm tắt như sau: bạn không thể kiểm soát được! Nếu điều này là đúng, và nó đúng thật, thì con coronavirus này khởi mốc cho chúng ta vào tuổi trưởng thành được chín chắn hơn. Chúng ta đang trở nên có ý thức hơn về một sự thật quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta có thể không thấy một chủ ý thiêng liêng nào trong việc này. Tiếng nói cơ bản nào cho rằng Chúa gởi con vi-rút này đến cho mỗi chúng ta là một sai lầm nguy hiểm và đó là sự xúc phạm đến đức tin đích thực. Chúng ta phải nghe tiếng Chúa trong tâm hồn. Chúa lúc nào cũng nói nhưng chủ yếu là chúng ta không nghe; như thử Chúa là máy phát thanh cho một thế giới điếc đặc.

Các ảo tưởng không phải dễ để xóa tan và cũng không phải có lý do tốt để xóa tan. Vì bản năng, chúng ta bám vào đó và chúng ta thường cần chúng để vượt qua cuộc sống. Chính vì lý do này mà triết gia Socrate thời cổ đại, trong minh triết của mình, ông đã viết “không có gì đòi hỏi một đối xử nhẹ nhàng như việc loại bỏ một ảo tưởng”. Bất cứ gì ngoài sự dịu dàng cũng chỉ làm chúng ta chống cự thêm mà thôi.

Con coronavirus này có tất cả mọi sự trừ sự dịu dàng. Nhưng bên trong cái khắc nghiệt của nó, có thể chúng ta cảm thấy có một cú huých đẩy nhẹ để giúp chúng ta xóa tan ảo tưởng rằng chúng ta kiểm soát được tất cả.

Tình yêu thời Covid-19

Năm 1985, văn hào được giải Nobel, Gabriel Garcia Marquez đã viết quyển sách có tên Tình yêu thời Thổ Tả (Love in the Time of Cholera). Ông kể câu chuyện đầy màu sắc về tình yêu có thể sinh sôi, bất chấp nạn dịch.

Vậy mà thứ đang bủa vây thế giới chúng ta bây giờ không phải là dịch tả mà là dịch coronavirus, Covid-19. Trong cả cuộc đời của tôi, tôi chưa bao giờ thấy thế giới bị tác động đến tận căn như bởi con vi-rút này. Nhiều nước đóng trọn cửa, trường học đóng cửa, học sinh về nhà học trực tuyến, chúng ta không còn muốn ra khỏi nhà, không còn muốn mời ai về nhà, và chúng ta xin đừng ai đụng đến mình, và thực hành “cách ly xã hội.” Bình thường, thời gian ngừng lại. Chúng ta ở trong một mùa, mà không có thế hệ nào, có thể kể từ nạn dịch năm 1918, từng trải qua. Hơn nữa, chúng ta chưa biết được khi nào sẽ chấm dứt tình trạng này. Không ai, kể cả các nhà lãnh đạo, các bác sĩ cũng không có được chiến lược để thoát ra khỏi tình trạng này. Không ai biết khi nào và cách nào nạn dịch này sẽ chấm dứt. Tuy nhiên như những người lên con tàu Nô-ê, chúng ta bị nhốt lại và không biết khi nào nước sẽ rút xuống để sống cuộc sống bình thường.

Làm thế nào sống trong giai đoạn lạ thường này?

Vậy mà tôi đã có chỉ dẫn riêng về chuyện này cách đây 9 năm. Mùa hè năm 2011, bác sĩ cho biết tôi bị ung thư ruột già, tôi phải mổ để cắt bỏ bướu, rồi trải qua hai mươi bốn tuần hóa trị. Dĩ nhiên tôi hãi sợ khi đứng trước sự hoang mang không biết hóa trị sẽ tác động như thế nào trên cơ thể. Hơn nữa tôi mất kiên nhẫn khi trong hai mươi bốn tuần là sáu tháng, thời gian tôi phải trải qua mùa “bất thường” này. Tôi muốn chấm dứt nhanh cho rồi. Vì thế, tôi đối diện nó giống như đối diện với hầu hết các thất bại khác trong cuộc sống của tôi, tôi có thái độ khắc kỷ: “Mình sẽ vượt qua nó! Mình sẽ chịu đựng được!”

Tôi giữ những gì có thể được gọi là nhật ký, chỉ đơn thuần ghi lại những gì tôi làm mỗi ngày, ai và những gì tôi gặp trong ngày. Và thế là tôi anh hùng bắt đầu buổi hóa trị đầu tiên, tôi đánh dấu các ngày này trong nhật ký Daybook của tôi: Ngày Một , rồi Ngày Hai… Tôi làm con tính và tôi biết phải 168 ngày để kết thúc mười hai liều hóa trị, liều này cách liều kia hai tuần. Cứ như thế tiếp tục trong vòng bảy mươi ngày đầu tiên, tôi kiểm con số mỗi ngày, cố giữ cuộc sống và hơi thở để chờ ngày tôi có thể viết Ngày 168.

Rồi một ngày giữa chặng đường hai mươi bốn tuần, tôi có một thức tỉnh. Tôi không biết chính xác điều gì nảy sinh, một ơn từ trên cao, một cử chỉ tình bạn của ai đó, một cảm giác mặt trời trên cơ thể tôi, một cảm giác tuyệt vời của một loại nước uống mát lạnh, có thể là tất cả những chuyện này, nhưng khi thức dậy, tôi nhận ra tôi đã để cuộc đời treo lơ lửng, tôi không thật sự sống, tôi sống chỉ để chịu đựng mỗi ngày, để kiểm và để cuối cùng đạt đến cái ngày thứ 168, ngày tôi có thể bắt đầu sống trở lại. Tôi nhận ra tôi đã lãng phí một nửa mùa cuộc đời mình. Hơn nữa, tôi nhận ra những gì tôi đã sống đôi khi còn phong phú hơn nhờ tác động của hóa trị trong cuộc đời tôi. Thế là tôi được lên tinh thần một cách đáng kể, dù hóa trị tiếp tục hành hạ nặng trên cơ thể tôi.

Tôi bắt đầu chào đón mỗi ngày với sự tươi mát, phong phú với những gì cuộc sống mang lại cho tôi. Bây giờ tôi nghĩ lại, tôi xem ba tháng cuối (trước ngày 168) như một trong ba quãng thời gian phong phú nhất đời tôi. Tôi kết với một số bạn cho cả đời, tôi học một vài bài học kiên nhẫn mà tôi cố bám vào và nhất là tôi học các bài học từ lâu tôi đã học về lòng biết ơn, sự mến chuộng, sức khỏe, tình bạn, công việc, những thứ mình không được xem mỗi khi có là có mãi mãi. Đó là niềm vui đặc biệt tìm lại đời sống bình thường sau khi đã sống 168 ngày “xa-bát”; nhưng những ngày “xa-bát” này cũng thật đặc biệt dù nó đặc biệt theo một cách khác.

Con coronavirus đã bắt chúng ta nghỉ xa-bát và bắt những người bị nhiễm phải theo một loại hóa trị riêng của nó. Và nguy hiểm là chúng ta ngưng sống khi qua giai đoạn lạ thường này, chúng ta chịu đựng với những gì xảy ra trong mùa không mời mà đến này.

Đúng, sẽ có thất vọng, sẽ có đau đớn khi sống trong cảnh này, nhưng điều này không phải là không tương hợp với hạnh phúc. Bác sĩ tác giả Paul Tournier (1898-1986) đã mất vợ, đã chịu cảnh tang chế sâu đậm, sau đó ông hòa nhập nỗi đau đớn này vào đời sống mới, ông mới viết được những hàng chữ sau: “Tôi thực sự nói tôi rất đau buồn và tôi là một người đàn ông hạnh phúc.” Những chữ đáng suy gẫm để chúng ta chiến đấu chống con coronavirus này.

Một cách diễn tả giữa tình yêu và niềm tin

Không gì nham hiểm và bất trị như lòng người, ai dò thấu được. Tiên tri Giêrêmia đã viết điều này hơn 2500 năm trước và bất cứ ai đấu tranh với sự phức tạp của tình yêu và các mối quan hệ nhân bản sẽ hiểu ngay những gì tiên tri nói.

Ai có thể hiểu được tâm hồn con người, được phơi ra một cách nào đó rất lạ lùng và tàn nhẫn, đôi khi chúng ta thấy đó là cách để nói lên tình yêu. Chẳng hạn nữ mục sư thần học gia người Mỹ, bà Nadia Bolz-Weber mô tả điều mà tất cả chúng ta đều có khuynh hướng: “Một cách khó tránh, khi tôi không thể làm điều xấu cho người đã làm điều xấu cho tôi, thì rốt cùng tôi lại làm điều xấu này lên những người thương tôi.” Quá đúng. Khi chúng ta bị tổn thương, hầu hết mọi bản năng trong chúng ta muốn hét lên để trả thù; nhưng hầu hết chúng ta trả đũa lại những người đã làm chúng ta bị tổn thương. Hay, có thể chúng ta cũng không biết ai làm tổn thương mình. Vì vậy cần phải đả kích ai đó, đả kích nơi mà mình thấy an toàn để làm, biết rằng những người chúng ta tin tưởng họ sẽ gánh chịu, những người chúng ta cảm thấy đủ an toàn để làm. Chúng ta tấn công họ vì biết họ không trả đũa lại. Nói cách khác, đôi khi chúng ta cần nỗi giận chống một ai đó, và vì chúng ta không thể trút cơn giận này lên đúng người hay đúng những người có trách nhiệm, chúng ta đổ trên người mà trong vô thức chúng ta tin rằng họ sẽ hứng chịu mà không phản ứng.

Nếu chúng ta là người phối ngẫu trung thành, một người bạn tin tưởng, một người cố vấn giỏi, một thừa tác vụ tốt hay chỉ là một người liêm chính đại diện cho nhà thờ hay cho một cơ quan đạo đức, thì chúng ta nên biết điều này. Nếu không thì chúng ta sẽ dễ dàng diễn giải một phần sự tức giận và trách cứ khi họ gặp mình và xem đây là trách cứ cá nhân chứ không phải sự thật của việc này. Khi có ai yêu thương chúng ta, họ giận chúng ta, thì chúng ta khó để nhận ra và chấp nhận mình có thể là đối tượng của sự tức giận đó dù mình không phải là nguyên do nhưng đúng hơn mình là nơi duy nhất mà người đó có thể trút cơn giận, họ không sợ bị trả thù và thấm đòn cay đắng. Nếu bạn không hiểu năng động tình yêu có vai trò ở đây, thì chắc chắn bạn sẽ xem trách cứ này là nhắm vào cá nhân bạn, bạn sẽ đau lòng, buồn vì bị trách cứ bất công và khó để chịu đựng với tình thương mà thường tình yêu này được đòi hỏi một cách vô thức.

Nhưng điều này có thể rất khó để chấp nhận ngay cả nhiều khi chúng ta hiểu vì sao nó xảy ra. Loại tình yêu này đòi hỏi một tình yêu siêu phàm. Chẳng hạn, là kitô hữu, chúng ta đặc biệt kính mến Đức Mẹ, vì chúng ta hình dung Mẹ đau đớn như thế nào khi đứng dưới chân thập giá, nhìn con mình trong sự nhân lành và vô tội đã chịu bất công một cách hung bạo. Không có cách nào để giảm nỗi đau Mẹ cảm nhận lúc đó, cảm thấy bất lực như Mẹ trong hoàn cảnh bất công khủng khiếp này, Mẹ được an ủi vì biết con mình yêu thương mình vô cùng. Nỗi đau của Mẹ sẽ rất lớn, cũng như nỗi đau của bất cứ người mẹ nào trong hoàn cảnh này, nhưng nỗi đau của Mẹ có một cái gì “sạch” (tôi dám dùng diễn tả này). Mẹ hoàn toàn thương cảm và cởi mở với con mình, biết rằng tình của con dành cho mình cho phép mình cảm nhận những gì mình cảm nhận.

Nhưng nhiều người mẹ yêu thương, người cha yêu thương, người phối ngẫu trung thành hay người bạn tin tưởng mà quả tim họ bị tan vỡ vì sự tức giận và trách cứ nhắm vào họ bởi người mà họ yêu thương và họ trung thành. Làm thế nào để họ không cảm thấy bị buộc tội, có trách nhiệm trên sự đóng đinh cay đắng mà họ phải chịu? Nỗi đau của họ sẽ không “sạch.” Thật ra những gì họ cảm nhận thì nhiều hơn những gì Chúa Giêsu cảm nhận trên thập giá, cả với Mẹ của Ngài cảm nhận khi chứng kiến cảnh này. Họ sống giống như Thánh Phaolô nói trong thư thứ hai ngài gởi cho tín hữu Côrintô khi ngài nói, dù vô tội, Chúa Giêsu cũng trở nên người có tội. Diễn đạt này, trừ phi ta đọc cho chuẩn, có thể đây là một trong những dòng khủng khiếp nhất Thánh Kinh. Dù vậy, hiểu trong năng động của tình yêu, thì nó làm nổi bật tình yêu thật sự có ý nghĩa vượt ngoài các chuyện cổ tích. Tình yêu là thấm đòn bất công trong sự thông hiểu, thấu cảm chỉ với một ý nghĩ trong đầu là làm tốt cho người khác.

Dĩ nhiên đôi khi sự tức giận nhắm vào chúng ta của những người chúng ta yêu thương được biện minh và cho rằng do chúng ta phản bội, tội lỗi, phá vỡ lòng tin. Đôi khi các trách cứ giận dữ nhắm vào chúng ta cũng do chính lỗi của chúng ta. Trong trường hợp này, những gì người buộc tội bắt chúng ta thấm đòn mang một ý nghĩa rất khác. Thêm nữa chúng ta phải biết, chúng ta cũng làm như vậy với người khác. Khi chúng ta bị tổn thương và chúng ta không thể điều hướng nỗi giận và buộc tội của mình chống những người làm mình tổn thương, thì khi đó giống như mục sư Nadia Bolz-Weber chia sẻ một cách trung thực, cuối cùng chúng ta thường đổ lên người mà chúng ta yêu thương nhất.

Tình yêu có nhiều cách thức, có cách nồng ấm, dễ thương, trìu mến nhưng cũng có một vài cách theo kiểu buộc tội, cay đắng và giận dữ. Đúng, đôi khi chúng ta có những cách kỳ lạ và bất bình thường để diễn tả tình yêu và lòng tin tưởng của chúng ta. Ai có thể hiểu được quả tim quanh co của chúng ta!

Ngày phán xét cuối cùng

Chúng ta tất cả đều sợ phán xét. Chúng ta sợ bị nhìn thấy với tất cả những gì bên trong lòng mình, mà một số người không muốn phơi bày chúng ra ánh sáng. Ngược lại chúng ta cũng sợ bị hiểu lầm, không được nhìn thấy dưới ánh sáng đầy đủ, không được biết chúng ta là ai. Và những gì chúng ta sợ nhất, có thể là phán xét cuối cùng, mặc khải tối hậu về chính con người mình. Dù chúng ta có đạo hay không, đa số chúng ta sợ một ngày phải đứng trước mặt Đấng Tạo hóa, ngày phán xét. Chúng ta sợ trần trụi trước ánh sáng rọi sáng, nơi không có gì che giấu được và mọi bóng tối bên trong chúng ta bị đưa ra ánh sáng.

Điều làm chúng ta tò mò về những nỗi sợ hãi này là chúng ta sợ con người thật của mình bị lộ ra, cũng như sợ con người thật của chúng ta không được biết đến. Chúng ta sợ ngày phán xét ngay cả khi chúng ta mong đợi nó. Có lẽ đó là do chúng ta đã biết được phán quyết cuối cùng của mình sẽ ra sao và nó sẽ diễn ra như thế nào. Có lẽ chúng ta cũng đã có trực giác khi chúng ta trần trụi trước ánh sáng của Chúa, chúng ta rồi cũng được hiểu và ánh sáng mặc khải không những chỉ phơi bày các thiếu sót, nhưng cũng còn cho thấy các đức tính của chúng ta.

Trực giác này được đặt một cách thiêng liêng trong chúng ta và phản ánh thực tế cho sự phán xét cuối cùng của chúng ta. Khi tất cả những bí mật của chúng ta được biết, lòng tốt thầm kín của chúng ta cũng được biết đến. Ánh sáng phơi bày tất cả. Chẳng hạn như thi sĩ, văn sĩ viết sách thiêng liêng nổi tiếng Wendell Berry đã thấy trước phán xét cuối cùng: “Tôi có thể hình dung người chết thức dậy, choáng váng bởi thứ ánh sáng không bóng tối, đó là lần đầu tiên họ biết thứ ánh sáng này. Một ánh sáng tàn nhẫn cho đến khi họ chấp nhận lòng thương xót của nó; qua ánh sáng này họ vừa bị lên án, vừa được cứu chuộc. Đó là Địa ngục cho đến khi nó thành Thiên đàng. Khi thấy mình trong ánh sáng này, nếu họ muốn, họ sẽ thấy mình thất bại như thế nào với công lý duy nhất là yêu thương. Và dù trong đau khổ khủng khiếp của ánh sáng rọi sáng này, khi thấy chính mình trong đó, họ thấy sự tha thứ và nét đẹp của nó và họ được an ủi.”

Theo nhiều cách, hình ảnh này tóm gọn điều đó một cách tuyệt vời: khi, một ngày, chúng ta ở trong ánh sáng trọn vẹn của Chúa, tâm hồn trần trụi, tinh thần không đề kháng, với tất cả những gì chúng ta chưa bao giờ lộ ra, theo tôi nghĩ, ánh sáng này cũng như một ít địa ngục trước khi nó biến thành thiên đàng. Nó sẽ phơi bày những gì là ích kỷ, là không trong sạch trong con người chúng ta và tất cả các cách chúng ta làm tổn thương người khác trong ích kỷ của mình, và cả những gì nó cho thấy ngược lại, tính vị tha và tinh tuyền trong lòng chúng ta. Với phán xét này kéo theo nó một loại lên án, dù cùng lúc nó cũng cho thấy sự thông hiểu, tha thứ và an ủi mà chúng ta chưa bao giờ thấy trước đây. Phán xét này sẽ là, như tác giả Berry gợi ý, trong giây lát là cay đắng nhưng cuối cùng là được an ủi.

Sắc thái duy nhất tôi muốn thêm vào ý tưỏng của Berry là ý tưởng mượn của thần học gia Karl Rahner. Trí tưởng tượng của Rahner về sự phán xét của Chúa sau khi chết thì cũng tương tự như của Berry, ngoại trừ theo Rahner, tác nhân phán xét không phải là ánh sáng của Chúa, nhưng là tình yêu của Chúa. Đối với Rahner, ý tưởng không hẳn chúng ta ở trong ánh sáng không ngớt làm chúng ta đau đớn và xuyên qua chúng ta, nhưng đúng hơn chúng ta được một tình yêu vô điều kiện ôm lấy, một tình yêu thông hiểu và êm ái đến nỗi bên trong nó, chúng ta biết ngay tất cả những gì là ích kỷ, là không tinh tuyền trong chúng ta, cũng như chúng ta biết tất cả những gì là tinh tuyền và vị tha trong chúng ta. Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu có thói quen xin Chúa với các lời đơn sơ của ngài: “Xin Chúa phạt con bằng một nụ hôn!” Ngày phán xét sẽ chính xác như vậy. Chúng ta sẽ “bị phạt” bằng nụ hôn, bằng cách chúng ta được yêu thương, chúng ta đau đớn nhận ra tội của mình, cũng như chúng ta biết mình tốt và đáng yêu.

Đối với người công giáo chúng ta, tôi nghĩ khái niệm phán xét này cũng là những gì chúng ta nghe nói về lò luyện tội. Lò luyện tội không phải là nơi tách biệt khỏi thiên đàng, nơi chúng ta dành thời gian để ăn năn tội của mình và thanh tẩy chúng. Trái tim chúng ta được thanh tẩy bằng cách được Chúa ôm ấp, chứ không phải xa Chúa một thời gian để xứng đáng nhận vòng ôm này. Như Thánh Têrêxa ngụ ý, hình phạt cho tội chúng ta nằm trong chính vòng ôm này. Phán xét cuối cùng diễn ra qua vòng ôm vô điều kiện bởi Tình yêu. Điều này xảy ra khi chúng ta biết mình tội lỗi và ích kỷ, vòng ôm thuần khiết lòng tốt và tình yêu sẽ làm chúng ta đau đớn nhận ra tội lỗi của mình và đó sẽ là địa ngục cho đến khi nó thành thiên đàng.

Như lời một bài hát của cố nhạc sĩ người Canada Leonard Cohen: đây là cánh cổng của lòng thương xót, trong khoảng không gian võ đoán và không ai trong chúng ta xứng đáng với sự tàn nhẫn hay ân sủng. Ông có lý. Không ai trong chúng ta xứng đáng với sự tàn nhẫn hay ân sủng mà chúng ta trải nghiệm ở thế gian này. Và chỉ có phán xét cuối cùng của chúng ta, vòng ôm của tình yêu không điều kiện, nụ hôn của Chúa mới làm cho chúng ta ý thức vừa sự tàn nhẫn vừa lòng tốt của chúng ta như thế nào.

Jean Vanier – Xem lại

Giống như nhiều người khác, tôi thật sự vô cùng đau khổ khi nghe các tiết lộ gần đầy về ông Jean Vanier. Đó là người mà tôi rất ngưỡng mộ và vì vậy mà nhiều lần tôi viết bài ca ngợi. Vì thế, các tin tức về ông đã làm tôi chấn động sâu xa. Còn nói gì được về ông Jean Vanier sau các tiết lộ này?

Đầu tiên, những gì ông làm là rất sai lầm và độc hại sâu đậm, nhất là với các phụ nữ mà họ là nạn nhân. Tôi không biết các chi tiết (và cũng không muốn biết), nhưng đủ để biết đây là sự lạm dụng lòng tin nghiêm trọng. Không có gì có thể biện minh được chung quanh vấn đề này.

Thứ hai, những gì ông làm có thể không liên hệ hoặc không xác định liên quan đến các lạm dụng của các giáo sĩ. Ông Jean Vanier không phải là tu sĩ, cũng không thực sự là tu sĩ có lời khấn theo giáo luật. Ông là giáo dân, một người độc thân công khai nhưng sự phải bội với lời hứa độc thân của ông có thể không được xem như lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Ông đã vi phạm điều răn thứ sáu, theo cách xứng đáng với một bản án khắc nghiệt, qua tầm vóc đại chúng của ông và qua loại lạm dụng đặc biệt vi phạm đến lòng tin thiêng liêng. Tuy nhiên việc ông vi phạm tình trạng độc thân của mình không đặt ra vấn đề về tính hợp pháp và sinh ích của chính việc sống độc thân, cũng không phải vấn đề của một người đàn ông không chung thủy với vợ, nên không đặt vấn đề về tính hợp pháp và sinh ích của bậc sống hôn nhân.

Thứ ba, các vi phạm của ông Jean Vanier không phủ nhận công việc tốt đẹp của cộng đoàn Arche và không đưa ra bất cứ một bóng tiêu cực nào về sự tận tâm và công việc tốt lành của nhiều người đã và đang làm việc ở đó. Nhìn quả mà biết cây! Chúa Giêsu đã dạy như vậy và không ai có thể phủ nhận hay đặt vấn đề về công việc tốt lành của cộng đoàn Arche đã làm và tiếp tục làm trên hơn ba mươi nước trên thế giới. Cộng đoàn Arche là công trình của Chúa, của ân sủng, của Thần Khí. Bây giờ người sáng lập phạm lỗi lầm. Đúng như vậy. Chúa Giêsu là nhà sáng lập duy nhất không phạm lỗi lầm. Thật vậy, công việc tốt lành được cộng đoàn Arche thực hiện cũng như ông Vanier đã làm thì lớn hơn tội lỗi của ông. Không ai suốt đời sống hai mặt lại để lại một di sản đầy ân sủng như vậy.

Cuối cùng là sự vỡ mộng và tức giận mà chúng ta cảm nhận, sự thật nói về chính chúng ta hơn là nói về ông Jean Vanier. Trong Tin Mừng Thánh Luca, khi thanh niên trẻ đến gần Chúa Giêsu và nói với Ngài: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (18, 18-23) Ngay lập tức Chúa sửa lại cách anh thanh niên nói: “Sao ông nói tôi nhân lành? Chẳng có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa.” Đó là sai lầm của chúng ta với ông Jean Vanier, cũng như sai lầm của chúng ta với những người chúng ta mặc cho họ bộ áo thánh thiện chỉ dành cho một mình Chúa. Và mỗi lần chúng ta làm như vậy, như chúng ta đã làm với ông Jean Vanier, thì cuối cùng chúng ta chỉ sẽ phải thất vọng và vỡ mộng. Không ai, ngoại trừ Thiên Chúa, chỉ có Chúa làm điều tốt, còn phần còn lại cuối cùng cũng làm chúng ta thất vọng.

Với chúng ta, những gì ông Jean Vanier làm là không công bằng. Chúng ta không thể không thấy mình bị phản bội qua sự phản bội của ông. Tuy nhiên những gì chúng ta làm với ông cũng không công bằng. Chúng ta đòi hỏi ông phải là Chúa của chúng ta và như vậy không phải là một đòi hỏi đúng.

Khi tôi còn là một chủng sinh trẻ 21 tuổi, chúng tôi đi tìm người cố vấn, một trong các giáo sư của tôi vừa đi một khóa tĩnh tâm của ông Jean Vanier về, giáo sư không tiếc lời khen ông Vanier, “người thánh thiện trong các người thánh thiện, người đơn sơ nhất, người thiêng liêng nhất” mà ông chưa từng gặp. Ngay lập tức khả năng phê phán của tôi dè chừng: “Không ai tốt như vậy!” Vì vậy tôi quyết định không nhờ ông làm cố vấn. Tuy nhiên trong năm mươi năm sau đó, tôi đã quay về xin ông làm cố vấn. Dù tôi chưa bao giờ gặp cá nhân ông, tôi đọc nhiều sách của ông và tôi bị ảnh hưởng rất mạnh của những người xem ông là người có tác động lớn trên cuộc đời của họ (kể cả linh mục Henri Nouwen), tôi viết lời nói đầu cho một trong các sách cuối cùng của ông và tôi viết bài ca ngợi ông cho các báo khi ông qua đời. Vì thế tôi khá say mê ông để bây giờ tôi cảm thấy mất tinh thần và vỡ mộng khi biết các sai lầm đạo đức của ông.

Tuy nhiên vỡ mộng là một hiện tượng là lạ. Sau cú sốc đầu tiên, chúng ta lại nhanh chóng nhận ra đây là chuyện tích cực. Nó xóa tan một ảo tưởng, một ảo tưởng luôn ở trong đầu của người đang nhận thức hơn là phía người được nhận thức. Với vụ ông Jean Vanier, ảo tưởng là thuộc về chúng ta, không phải của ông. Bây giờ như chúng ta biết, ông có một số sai lầm trong đời – nhưng cũng có một phần về phía chúng ta.

Đúng, các tiết lộ về ông Jean Vanier đã làm tôi bị chấn động sâu đậm, nhưng không phải trong tâm hồn tôi vì tâm hồn chúng ta, khi chúng ta chạm vào, chúng ta biết không có ai tốt, ngoại trừ Chúa, ít nhất là với một lòng tốt không có bất toàn. Một khi chúng ta chấp nhận điều này, chúng ta có thể chấp nhận không một ai hoàn hảo, ngay cả ông Jean Vanier. Căn bản, chúng ta có thể chấp nhận, dù với sự phản bội này, ông Jean Vanier là một người tốt và cộng đoàn Arche là một thực tế đáng được vinh danh.

Sự phức tạp bẩm sinh của chúng ta

Nhà văn viết về đời sống thiêng liêng nổi tiếng Ruth Burrows bắt đầu quyển tiểu sử của bà với dòng như sau: “Tôi sinh ra trong thế giới này với một tính nhạy cảm gần như tra tấn tôi. Từ lâu tôi đã tự hỏi về lý do lo âu tâm lý này của tôi.”

Thật là thiệt hại cho chúng ta, quá nhiều các tiểu sử thiêng liêng không bắt đầu như vậy, có nghĩa là ngay từ đầu đã không nhận thấy sự phức tạp làm hoang mang, làm bệnh hoạn có trong bản chất chúng ta. Chúng ta không đơn sơ trong trái tim, trong tinh thần, trong tâm hồn và ngay cả trong thể xác. Mỗi chúng ta đủ phức tạp nội tâm để viết câu chuyện về tâm lý bất thường riêng của mình.

Và sự phức tạp này, không những phải chấp nhận nó, mà còn phải tôn trọng và thánh hóa nó, vì nó không bắt nguồn từ những gì xấu nhất trong chúng ta, nhưng từ những gì tốt nhất trong chúng ta. Chúng ta phức tạp bởi vì những gì lôi kéo tâm hồn chúng ta và cám dỗ kéo chúng ta đi đủ hướng, trước hết không phải là do mưu chước của quỷ, nhưng đúng hơn là từ hình ảnh và từ sự giống nhau với Chúa có trong lòng chúng ta. Trong lòng chúng ta có một ngọn lửa thiêng, một tầm cao cả mang lại cho chúng ta một chiều sâu vô hạn, những ham muốn vô độ và đủ độ sáng để làm hoang mang mọi nhà tâm lý học. Hình ảnh và sự giống Chúa ở trong lòng chúng ta như Thánh Gioan Thánh giá mô tả làm cho quả tim, tinh thần và tâm hồn chúng ta thành các “hang động” quá sâu để có thể lấp đầy hoặc có thể được hiểu đầy đủ.

Tôi xác quyết linh đạo kitô, ít nhất trong việc giảng dạy và giáo lý phổ biến đã thường không xem trọng chuyện này cho đủ. Ngắn gọn, chúng ta có cảm tưởng môn đệ kitô không nên quá rắc rối: vì sao lại có sự kháng cự này trong bạn! Có chuyện gì không ổn! Nhưng như chúng ta biết qua kinh nghiệm bản thân, sự phức tạp bẩm sinh của chúng ta mãi mãi có các biến chứng và các kháng cự để chúng ta không là thánh, để “chỉ muốn một chuyện”. Hơn nữa, vì sự phức tạp của chúng ta không được công nhận và đề cao về mặt tâm linh, nên chúng ta thường có mặc cảm tội lỗi: vì sao tôi rắc rối như vậy? Vì sao tôi có tất cả các câu hỏi này? Vì sao tôi thường hay hoang mang? Vì sao tình dục lại có một xung năng cực mạnh như vậy? Vì sao tôi có nhiều cám dỗ?

Câu trả lời rất đơn giản: Vì chúng ta sinh ra với một ngọn lửa thiêng trong lòng. Và đó là nguồn gốc của các hoang mang, cám dỗ và kháng cự đến từ những gì tốt nhất của mưu chước Satan và thế giới.
Chúng ta phải làm gì trước tính phức tạp làm hoang mang này?

Một vài lời khuyên để đi đường dài:

Tôn trọng và thánh hóa tính phức tạp của mình: chấp nhận đây là ơn của Chúa có trong mình, và cuối cùng đó là điều tốt cho mình. Đó là điều làm cho mình khác với thực vật và động vật. Bản chất của nó thì đơn giản, nhưng nó có một tâm hồn bất tử và vô tận tạo ra rất nhiều chuyện phức tạp khi chúng ta đấu tranh để sống với các hạn chế đang bủa vây mình.

Đừng bao giờ đánh giá thấp sự phức tạp của bạn – ngay cả khi bạn cự lại với việc vỗ về nó: hãy nhận ra và tôn trọng các “con quỷ và thiên thần” đang tự do lang thang trong tâm trí bạn. Nhưng cũng đừng vỗ về sự phức tạp bằng cách hình dung mình là nghệ sĩ quay cuồng hay như người theo chủ nghĩa hiện sinh, anh hùng bước ra khỏi cuộc sống.

Làm bạn với cái bóng của mình: chính ánh sáng đã làm bạn tách ra. Chầm chậm và với sự thận trọng và hỗ trợ thích ứng, bạn bắt đầu đối diện với những điều bên trong làm bạn sợ hãi.

Bảo vệ sức mạnh và chỗ đứng của tình dục trong bạn: bạn không thể nào được chữa lành về mặt tình dục và đó là một lý do thần thánh. Đừng bao giờ phủ nhận hoặc chê bai sức mạnh của tình dục – dù bạn sống đời sống khiết tịnh chuẩn mực.

Định danh cho các vết thương của bạn, đau buồn cho nó, khóc cho sự chưa thỏa mãn của mình. Bất cứ vết thương nào mà bạn không khóc cho nó, cuối cùng nó sẽ trở lại cắn bạn. Chấp nhận và thương tiếc cho điều này: trong cuộc sống này không có bản giao hưởng nào trọn vẹn.

Đừng bao giờ để “xung năng siêu việt” trong lòng bạn trở thành thứ gây nghiện hay bị đầu độc. Sự phức tạp của bạn liên tục cho bạn biết, bạn được xây dựng nhiều hơn cho cuộc sống này. Không bao giờ để xung năng này chết trong bạn. Bạn học cách để nhận biết nó qua các hụt hẫng và hoang tưởng của bạn. Các cách mà bạn thường giam cầm nó.

Hãy cố gắng tìm một “tình yêu cao hơn”, qua đó siêu việt hóa sức mạnh tức thì của các xung năng tự nhiên của bạn. Tất cả các phép lạ bắt đầu bằng việc rơi vào lưới tình. Bạn hãy đi tìm tình yêu này và các giá trị cao nhất mà nó hướng tới để giao các xung năng và cám dỗ tức thời này cho nó. Hãy cho người khác lòng vị tha và cái nhìn ngưỡng phục của bạn, bạn sẽ cảm thấy tốt và đúng đắn, giúp cho bạn thực hiện những gì mà bạn thực sự mong chờ.

Hãy để cho sự phức tạp dạy bạn về sự thông hiểu và thông cảm. Khi đối diện với chính sự phức tạp của mình, cuối cùng bạn sẽ hiểu không có gì là xa lạ và những gì bạn thấy trên bản tin hàng ngày phản ánh những gì có trong tâm hồn bạn.

Thường xuyên tha thứ cho bản thân. Sự phức tạp làm cho bạn vấp ngã nhiều lần và vì vậy bạn phải tha thứ cho bản thân nhiều lần. Sống, biết rằng lòng thương xót của Chúa là cái giếng không bao giờ cạn kiệt.

Sống trong lòng kiên nhẫn và thông hiểu của Chúa. Chúa là Đấng tạo dựng bạn, là kiến trúc sư xây dựng bạn, là người chịu trách nhiệm về sự phức tạp của bạn. Hãy tin tưởng Chúa hiểu bạn. Tin tưởng Chúa còn lo cho bạn hơn chính bạn.

Nói với thẩm quyền

Chúng ta đang ngày càng mất niềm tin vào lời nói. Đâu đâu chúng ta cũng nghe nói: “Nói cho có nói! Chẳng có gì ngoài những chữ trống rỗng!”

Và những lời trống rỗng luôn ở chung quanh chúng ta. Thế giới đầy rẫy những lời dối trá, những lời hứa cuội, những quảng cáo lấp lánh vô ý nghĩa, những lời vô căn cứ. Chúng ta ngày càng ít tin vào những gì chúng ta nghe. Chúng ta thường xuyên bị lừa dối và phản bội, bây giờ chúng ta thận trọng về những gì chúng ta tin.

Nhưng sự dè chừng về các lời mà chúng ta nghe chỉ là một trong các cách để nói, lời của chúng ta quá yếu. Lời của chúng ta có thể là sự thật nhưng lại có ít sức mạnh. Tại sao? Bởi vì, để sử dụng các thuật ngữ Tin Mừng, chúng ta có thể không nói mạnh với thẩm quyền. Lời nói của chúng ta có thể không có những gì người khác cần để cứu họ. Điều này có nghĩa là gì?

Các Tin Mừng cho chúng ta biết, một trong những điều mà Chúa Giêsu khác với các nhà rao giảng cùng thời với Ngài là Ngài rao giảng với quyền uy, trong khi các nhà rao giảng khác không làm được. Cái gì đã làm cho các lời của Ngài có quyền uy? Cái gì đã làm cho lời của Ngài có năng lực chuyển hóa?

Như chúng ta biết, có nhiều loại quyền khác nhau. Có quyền lực phát xuất từ cơ thể, từ năng lượng. Như chúng ta thấy ở các lực sĩ có tài năng, họ cử động với một quyền uy thật mạnh. Cũng có một loại quyền uy nơi trong sức thu hút của các siêu sao hay các nhà hùng biện tài ba. Họ cũng nói với một quyền uy và một quyền lực nào đó. Nhưng còn một loại quyền lực và thẩm quyền khác, bản chất rất khác quyền lực và quyền uy của các lực sĩ hay các siêu sao. Nơi em bé cũng có một quyền lực, quyền lực nghịch lý của sự mong manh, của ngây thơ, của bất lực. Nếu bạn để một lực sĩ, một siêu sao và một em bé chung vào một phòng, ai sẽ là người mạnh nhất? Ai là người có quyền nhất? Dù sức mạnh vô địch của lực sĩ hay của siêu sao, em bé vẫn là người có quyền lực nhất để thay đổi các quả tim.

Các bản văn Kinh Thánh cho chúng ta biết, Chúa Giêsu nói với “quyền uy”, không bao giờ Ngài nói với “một năng lực lớn” hay ”một sức hấp dẫn mạnh”. Để mô tả quyền uy của Chúa Giêsu, họ dùng chữ “exousia”, một chữ Hy lạp mà chúng ta không có chữ tương đương trong tiếng Anh. “Exousia” có nghĩa là gì? Chúng ta không có chữ để nói về chữ này, nhưng chúng ta có một khái niệm: “Exousia” có thể mô tả là sự kết hợp của sự mong manh, ngây thơ và bất lực mà một em bé có thể mang lại trong phòng. Sự bất lực, sự ngây thơ và sự mong manh có một quyền uy và quyền lực độc nhất để chạm vào lương tâm của bạn. Đây là lý do chính đáng để mọi người nhìn lại ngôn ngữ của mình khi ở bên cạnh em bé. Sự hiện diện của em làm tẩy sạch.

Nhưng cũng có vài yếu tố củng cố cho quyền uy mà Chúa Giêsu nói. Sự dễ tổn thương, sự ngây thơ của Ngài cũng đã làm cho lời nói của Ngài có một quyền lực đặc biệt, đúng; nhưng cũng có hai yếu tố khác làm cho lời của ngài cực mạnh: lời của Ngài luôn đặt nền tảng trên chính đời của Ngài. Hơn nữa, mọi người nhận ra, quyền uy của Ngài không đến từ Ngài, nhưng đến từ một cái gì từ một Ai” đó lớn hơn mà Ngài đang phục vụ. Không có một cách biệt nào giữa lời của Ngài và đời của Ngài. Thêm nữa, lời của Ngài cực mạnh vì nó không đến từ Ngài, nó đến từ Ai đó qua Ngài, Đấng ở trên Ngài mà quyền uy không thể nào chối cãi, đó là Thiên Chúa.

Bạn cũng có thể thấy loại quyền uy này chẳng hạn nơi những người như Mẹ Têrêxa và ông Jean Vanier. Lời của họ có một quyền uy đặc biệt. Mẹ Têrêxa có thể gặp một người nào đó lần đầu và xin họ đến Ấn Độ làm việc với Mẹ. Ông Jean Vanier cũng có thể làm như vậy. Một trong các linh mục bạn tôi kể chuyện, lần đầu tiên khi gặp ông Vanier, trong buổi nói chuyện đầu tiên, ông mời bạn tôi làm linh mục truyền giáo. Ý nghĩ này chưa bao giờ có trong đầu bạn tôi. Bây giờ bạn tôi là nhà truyền giáo.

Cái gì đã làm cho một vài người có quyền lực đặc biệt này? “Exousia”, một đời sống vị tha, một đời sống bám neo trong quyền uy đến từ trên cao. Những gì các bạn thấy nơi Mẹ Têrêxa, nơi ông Jean Vanier là sự bất lực của một em bé, kết hợp với một đời sống vị tha, bám neo trong một quyền uy vượt quá họ. Khi những người này nói, cũng như Chúa Giêsu, lời nói của họ có sức mạnh làm dịu trái tim, chữa lành cho họ, thay đổi họ và một cách ẩn dụ là thực sự xua đuổi quỷ ra khỏi con người họ.

Nhưng chúng ta không phải lúc nào cũng cần nhìn đến các tấm gương thiêng liêng cao lớn như Mẹ Têrêxa hay ông Jean Vanier để thấy điều này. Với đa số chúng ta, Mẹ Têrêxa hay ông Jean Vanier cũng không có ảnh hưởng gì trên cá nhân mình, nhưng có những người chung quanh chúng ta đã nói một cách quyền uy với chúng ta. Trong trường hợp tôi, đó là cha mẹ tôi đã nói với tôi qua loại quyền uy này. Cũng như một vài cô giáo nữ tu Dòng Ursuline đã dạy tôi và một vài cậu dì tôi đã xin tôi hy sinh vì họ nói với “exousia”, với một lòng chính trực và đức tin mà tôi không thể nghi ngờ hoặc phủ nhận. Họ xin tôi suy nghĩ lại để làm linh mục và tôi đã làm linh mục.

Những gì làm thế giới ‘nhúc nhích’ thường đến từ năng lượng cực mạnh và sức lôi cuốn của những người có tài năng cao; nhưng quả tim bị lay động bởi một loại quyền uy khác.

Về việc thánh hóa các giới hạn của chúng ta

Cách đây ba mươi năm, cố tác giả John Jungblut viết một quyển sách nhỏ có tựa đề Về việc thánh hóa các giới hạn của chúng ta (“On Hallowing Our Diminishments”). Đây là một khảo luận gợi ý các phương tiện để đóng khung các sỉ nhục và các hạn chế bao vây chúng ta qua hoàn cảnh, tuổi tác, tai nạn, để mặc dù bị sỉ nhục, chúng ta có thể đặt chúng dưới một phong chắn nào đó, để tránh đi sự xấu hổ và phục hồi cho chúng ta một số nhân phẩm đã bị mất.

Và chúng ta tất cả đều bị đau khổ về các giới hạn này. Một vài chuyện làm chúng ta đau khổ vì do di truyền, vì lịch sử, vì hoàn cảnh, vì xã hội chúng ta sống hoặc các tàn phá do lão hóa, hoặc bị tai nạn, nhìn dưới mọi khía cạnh, không những chúng bất công một cách cay đắng nhưng có thể làm chúng ta không còn nhân phẩm và chúng ta bị sỉ nhục. Chẳng hạn làm sao chúng ta chịu đựng được việc thể hình không đúng tiêu chuẩn thẩm mỹ của xã hội? Làm sao chịu được kỳ thị? Làm sao đương đầu với một tai nạn làm chúng ta bị liệt một phần hay hoàn toàn? Làm sao chịu đựng được các suy yếu của tuổi già? Làm sao chịu được khi người thân bị hiếp hay bị giết chỉ vì màu da của mình? Làm sao đỡ nổi khi người thân tự tử? Làm sao để có phẩm cách và có một ý nghĩa để những gì gọi là bất công khủng khiếp không làm chúng ta luôn phẫn nộ và xấu hổ? Làm sao có ai thánh hóa được các giới hạn của mình?

Triết gia Soren Kierkegaard có lời khuyên. Ông, trong khi còn sống đôi khi bị chế giễu, báo chí biếm họa về ngoại hình của ông (chân khẹo), ông khuyên như sau: đối diện với những chuyện như vậy, đây không phải là vấn đề phủ nhận hay che đậy, hoặc cố gắng tìm các giải trí lành mạnh khác nhau để đỡ buồn hay giữ một khoảng cách rõ rệt với nó. Thay vì vậy, chúng ta phải ý thức rõ chuyện này bằng cách “làm chúng sáng tỏ một cách hoàn toàn.” Làm như vậy chúng ta thánh hóa chúng. Chúng ta đưa chúng ra khỏi mặc cảm sỉ nhục và mang đến cho chúng một phẩm cách nào đó. Làm sao chúng ta có thể làm được?

Chúng ta tưởng tượng một cảnh như sau: một phụ nữ trẻ đi bộ một mình trên con đường vắng bị một nhóm các ông say rượu hiếp và giết, xong họ vứt xác người phụ nữ xuống hố. Gia đình và cộng đoàn đau khổ của cô làm theo lời khuyên của triết gia Kierkegaard. Họ không phủ nhận chuyện đã xảy ra, họ không che giấu, họ không thử để có các giải trí lành mạnh để vơi buồn. Thay vào họ làm “sáng tỏ hoàn toàn”.

Họ nhặt xác cô, tắm rửa, mặc quần áo đẹp nhất và ba ngày sau là một đám tang khổng lồ có hàng trăm người tham dự. Nghi thức tôn vinh không dừng ở đó. Sau tang lễ họ họp nhau ở một công viên gần nơi cô ở và sau vài giờ làm lễ tưởng niệm, họ đổi tên công viên thành tên cô.

Dĩ nhiên những gì họ làm không làm cho cô sống lại, không xóa đi một chút gì trong cái chết bất công khủng khiếp của cô, không đưa các tên sát nhân ra công lý, cũng không thay đổi nền tảng các điều kiện xã hội đã làm cho xã hội trở nên hung bạo, chết chóc. Nhưng một cách rất quan trọng, hành vi này khôi phục lại cho cô một số phẩm giá đã bị vụ giết người này lấy đi một cách hung bạo ra khỏi cô. Cả cô và cái chết của cô được thánh hóa. Bây giờ tên của cô và đời sống của cô sẽ mãi mãi nói lên một điều gì đó vượt quá sự bất công và thảm kịch về cái chết của cô.

Chúng ta thấy ví dụ về điều này ở tầm vĩ mô theo cách mà thế giới đã xử lý cái chết của những nhân vật như mục sư Martin Luther King, tổng thống John F.Kennedy, nghị sĩ Bobby Kennedy, giảng sư Malcolm X, nhà báo Jamal Khashoggi và những người khác bị giết vì hận thù. Chúng ta tìm cách để thánh hóa họ để con người và cuộc sống của họ bây giờ được ghi nhớ một cách nào đó, để làm lu mờ cái chết của họ. Và chúng ta thấy điều này trong cách một vài cộng đồng đã xử lý cái chết của những người thân yêu bị các phe đảng hay cảnh sát bắn một cách vô lý, cái chết của họ phủ nhận tất cả những gì là tốt. Và cũng tương tự như vậy với một số gia đình đã đã xử lý các giới hạn của họ khi người thân chết vì quá liều ma túy, vì tự tử hay mất trí nhớ. Sự mất phẩm cách về cái chết này bị lu mờ qua việc làm rõ ràng đúng đắn xung quanh sự hạn chế thậm chí đôi khi hạn chế này gây ra cái chết của họ. Ký ức của họ được chuộc lại. Ngắn gọn, đó là chức năng của bất kỳ sự thức tỉnh phù hợp và mọi chôn cất phù hợp nào. Khi làm rõ sự phẫn nộ ngay cả khi đụng chạm đến ai, chúng ta cũng khôi phục lại nhân phẩm cho họ.

Điều này đúng không chỉ với những người chết bất công hoặc để cho người thân phải đi tìm cách mang lại cho họ một chút phẩm giá nào đó. Nó cũng đúng với mọi sự sỉ nhục và phẫn nộ mà chính chúng ta, phải chịu đựng trong cuộc sống, từ những vết thương thời thơ ấu luon ám ảnh chúng ta, đến vô số sỉ nhục mà chúng ta phải chịu ở tuổi trưởng thành. Chúng ta không thể thay đổi những gì đã xảy ra, nhưng chúng ta có thể thánh hóa nó bằng cách “mang lại sự rõ ràng”, để sự phẫn nộ bị lu mờ.

Lòng quảng đại

Có một quả tim bao la, một lòng quảng đại nghĩa là gì?

Một lần trong một trận bóng chày ở trường trung học, một trọng tài đã xử bất công cho đội chúng tôi. Cả đội tức tối, chúng tôi hét lên giận dữ chống ông, thóa mạ ông, kêu tên ông ra chửi, lớn tiếng trút cơn giận của mình. Nhưng một trong các bạn trong đội không làm theo. Thay vì la hét trọng tài, anh cố gắng chận chúng tôi đừng la hét. “Bỏ qua đi!”. Anh cứ lặp đi lặp lại với chúng tôi: “Bỏ qua đi! Chúng ta lớn hơn thế!” Lớn hơn gì cơ chứ? Anh không nói đến sự non nớt của trọng tài, nhưng đến sự non nớt của chúng tôi. Và chúng tôi “không lớn hơn thế” ít nhất là trong lúc này. Chắc chắn tôi không thể nuốt được bất công. Tôi chưa đủ lớn.

Nhưng có cái gì đã ở lại trong lòng tôi sau sự cố này. Thách thức phải “lớn hơn” bên trong sự việc đã làm chúng ta yếu đi. Tôi vẫn không làm được, không phải luôn luôn, nhưng tôi là người tốt hơn, quảng đại hơn khi tôi làm, cũng như tôi sẽ là người thấp hơn, nhỏ nhen hơn khi tôi không làm được.

Nhưng cũng như các bạn đồng đội của chúng tôi đã thách thức chúng tôi trong những năm qua, chúng tôi phải tiếp tục “lớn hơn” giây phút nhỏ nhen lúc đó. Lời mời gọi này nằm ở trọng tâm thách thức đạo đức của Chúa Giêsu trong Các Mối Phúc. Ngài mời gọi chúng ta có một “đức tính sâu đậm hơn các người biệt phái và các luật sĩ”. Và có nhiều điều ẩn giấu trong đó hơn là những gặp gỡ đầu tiên với những nhà luật sĩ và người biệt phái, vì những người này rất đạo đức. Họ cố gắng trung thành với lề luật đức tin, họ là những người có lòng tin và giữ công lý nghiêm ngặt. Họ không bất công như các trọng tài! Nhưng bên trong lòng tốt này thiếu một cái gì mà Các Mối Phúc mời gọi chúng ta, một lòng quảng đại nào đó để có quả tim và tinh thần khá lớn, để vươn lên, để không bị yếu, để lớn hơn trong một khoảng khắc nhất định.

Cho phép tôi đưa ra một chuyện về điều này: Đức Gioan-Phaolô II là giáo hoàng đầu tiên chống án tử hình. Điều quan trọng cần lưu ý là ngài không nói án tử hình là sai. Kinh thánh nói chúng ta có quyền thi hành án tử hình. Đức Gioan-Phaolô II cũng thừa nhận. Tuy nhiên, và đây là bài học, ngài nói, khi chúng ta có thể thực thi công lý bằng bản án tử hình, nhưng chúng ta không nên làm điều đó vì Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta làm một cái gì cao hơn, cụ thể là tha thứ cho kẻ có tội và không xử tử họ. Đó là lòng quảng đại, là lớn hơn ở thời điểm chúng ta nắm bắt nó.

Thánh Tôma Aquinô, trong sự khôn ngoan về đạo đức của ngài, ngài đã làm một phân biệt mà chúng ta ít nghe thấy, cả ngoài đời lẫn trong giảng dạy của nhà thờ. Ngài nói, có một vài chuyện có thể là tội đối với người này, mà không là tội đối với người kia. Về thực chất, một cái gì đó có thể là tội cho một người có trái tim quảng đại, ngay cả khi nó không phải là tội đối với người thấp bé và có trái tim nhỏ. Đây là ví dụ: trong một bình luận đầy thách thức cực kỳ khó, Thánh Tôma Aquinô đã viết, thật là tội lỗi khi từ chối khen một người thực sự xứng đáng, vì khi làm như vậy chúng ta từ chối một phần thức ăn mà người đó cần để sống. Trong việc giảng dạy điều này, Thánh Tôma rõ ràng cho rằng, chỉ là tội đối với một người có lòng quảng đại, rộng lượng và có một mức độ trưởng thành nhất định. Một người chưa trưởng thành, ích kỷ và nhỏ mọn thì không có cùng mức độ đạo đức và thiêng liêng.

Làm thế nào có thể, tội không còn là tội, dù đó là người như thế nào? Không phải lúc nào cũng vậy. Có một cái gì là tội hay không là tội tùy thuộc vào chiều sâu và mức độ trưởng thành trong mối quan hệ. Chúng ta hình dung chuyện này: một người đàn ông và vợ mình có mối quan hệ sâu sắc, nhạy cảm, quan tâm, tôn trọng và thân mật đến mức các biểu hiện nhỏ nhất của tình cảm hoặc coi thường là đủ để cho họ hiểu. Chẳng hạn, buổi sáng khi họ chia tay nhau đi làm, khi nào họ cũng có một biểu lộ tình cảm, như một nghi thức chia tay. Bây giờ, nếu một trong hai bỏ biểu lộ này vào một buổi sáng bình thường, khi không có lý do gì đặc biệt, thì đó không phải là chuyện nhỏ, chuyện vô tình. Có một cái gì lớn ở đây. Ngược lại, nếu một cặp vợ chồng khác có mối quan hệ ít gần gũi, ít quan tâm, ít tình cảm, ít tôn trọng và không có thói quen thể hiện tình cảm khi chia tay. Quên như vậy sẽ không có nghĩa gì. Không nhẹ, không có ý định, không có hại, không có lỗi, chỉ là thiếu quan tâm như bình thường. Đúng, một số điều có thể là tội cho người này mà không tội cho người kia.

Chúng ta được Chúa Giêsu mời gọi để những gì tốt nhất trong chúng ta trở nên đủ lớn, để có trái tim và tâm trí, để biết là có tội nếu không khen, để biết dù Kinh Thánh cho phép chúng ta thi hành án tử hình, nhưng chúng ta vẫn không nên làm và để biết rằng chúng ta là những người tốt hơn khi chúng ta lớn hơn bất kỳ chuyện gì nhỏ bé mà chúng ta trải qua trong một thời điểm nhất định.

Về hận chính mình và mặc cảm tội lỗi

Gần đây trong chương trình truyền hình đại chúng Đêm Thứ bảy Trực tuyến (Saturday Night Live), một diễn viên hài đã có câu chuyện khá màu mè lém lỉnh để đáp lại câu trả lời của bà nghị sĩ Nancy Pelosi khi bà bị một ký giả cáo buộc bà ghét Tổng thống. Bà Pelosi tuyên bố, là người công giáo la-mã bà không ghét ai, và câu này đã làm cho diễn viên hài châm chọc: “Là người công giáo, tôi biết tôi luôn có một người để tôi ghét – đó là chính tôi.”

Tôi không phải là người dễ bối rối về các lời nói đùa tôn giáo. Hài hước luôn có lợi thế và các diễn viên hài luôn đóng vai trò quan trọng, việc của hề cung đình là làm xẹp bớt những chuyện đang phình lên ghê gớm. Tôn giáo thường là một thách đố của công chính. Thật ra tôi rất thích sự lém lỉnh thông minh này. Dù vậy có một cái gì đó làm tôi dị ứng với loại trò đùa đặc biệt này, vì nó có một vai trò khuôn thước nào đó mà tiếc thay ngày nay lại rất phổ biến, mọi người thuộc mọi tôn giáo (chứ không đặc biệt với công giáo la-mã) đều đổ lỗi vì giáo dục tôn giáo mà họ hận chính mình và có mặc cảm tội lỗi.

Có đúng như vậy không? Giáo dục tôn giáo của chúng ta có là nguyên do sâu xa cho các đấu tranh của chúng ta với sự thù hận chính mình và mặc cảm tội lỗi không?

Rõ ràng giáo dục tôn giáo của chúng ta có một vai trò nào đó ở đây, và sẽ quá là đơn giản (và cũng không đặc biệt hữu ích) để đổ lỗi cho tất cả về chuyện này, hoặc là phần lớn cho giáo dục tôn giáo của chúng ta. Các tâm lý gia và các nhà nhân chủng học bảo đảm với chúng ta vấn đề hận chính mình và mặc cảm tội lỗi mông lung thì vô cùng phức tạp, hơn nữa chúng ta cũng thấy vấn đề này nơi những người thuộc các tôn giáo khác và ở cả những người không có tôn giáo. Các đấu tranh chống thù hận chính mình và mặc cảm tội lỗi không phải là một hiện tượng đặc biệt nơi người công giáo la-mã, nơi người tin lành, nơi người thuộc giáo phái phúc âm, nơi người hồi giáo hay do thái giáo; đây là một hiện tượng chung, đa số chúng ta thấy nơi những người nhạy cảm. Hơn nữa cuộc đấu tranh này không phải lúc nào cũng không lành mạnh.

Ngược với những người không nhạy cảm về mặt đạo đức, bất cứ ai nhạy cảm đều hay tự kiểm, lo lắng xem mình ích kỷ hay rộng lượng, thường xuyên xem lời nói và hành động của mình có làm tổn thương người khác, có xúc phạm đến mối quan hệ của mình với Chúa hay không. Sống trong tình trạng lo âu này chính xác là đấu tranh chống hận chính mình và mặc cảm tội lỗi; và vì thế, ở một mức độ nào đó thì đây là đấu tranh lành mạnh. Khi chúng ta lo lắng tự kiểm thì ít nguy hiểm hơn là xem người khác, xem ơn của cuộc sống, xem sự tốt lành của Chúa như một chuyện đương nhiên phải có. Sự nhạy cảm về mặt đạo đức là một đức tính, cũng như nhạy cảm về thẩm mỹ, nó giúp chúng ta sợ hãi một cách lành mạnh, để không phớt lờ và vô cảm vẽ râu trên bức tranh Mona Lisa.

Dĩ nhiên có một số yếu tố không lành mạnh. Như nhà phân tâm học Freud đã dạy chúng ta, lương tâm không nói cho chúng ta biết cái gì đúng, cái gì sai, lương tâm chỉ cho chúng ta biết những gì chúng ta cảm nhận trong các hành động của mình. Và khi chúng ta có mặc cảm tội lỗi về những gì chúng ta vừa làm hay chúng ta bỏ qua một bên, chắc chắn những cảm nhận này thường bị ảnh hưởng mạnh bởi các chuẩn mực xã hội và đạo đức đã được cha mẹ, thầy giáo, văn hóa và giáo dục tôn giáo áp đặt trên chúng ta. Giáo dục tôn giáo và đạo đức để chúng ta đấu tranh với một mặc cảm tội lỗi sai lầm.

Nhưng dù điều này được chấp nhận, vẫn còn nhiều nguyên do sâu xa hơn mà chúng ta đấu tranh với lòng thù hận chính mình và mặc cảm tội lỗi mông lung và vì sao chúng ta không bao giờ cảm thấy tốt đủ.

Nếu chúng ta có thể nhìn đời mình qua một video thì chúng ta sẽ thấy không biết bao nhiêu lần, bằng cách này cách kia, chúng ta nói mình không tốt, không đầy đủ, không đáng yêu, không đáng quý, không có giá trị. Chúng ta sẽ thấy không biết bao nhiêu lần chúng ta xấu hổ vì quá nhiệt tình và điều này, tôi nghĩ hơn tất cả các yếu tố khác đã làm chúng ta có mặc cảm tội lỗi mông lung và cay đắng mà chúng ta thường cảm thấy đối với người khác.

Điều này bắt đầu từ chiếc ghế trên cao, khi còn rất nhỏ, trong năng lượng mù quáng của mình, chúng ta ăn uống quá nhiệt tình và cha mẹ nói chúng ta đừng ăn như heo. Cũng vậy, khi còn nhỏ, với niềm say mê và với thức ăn đầy ắp, chúng ta vừa hét vừa ném thức ăn xuống sàn, và mọi người nói chúng ta phải ngừng, phải im lặng, năng lực tự nhiên là không lành mạnh. Rồi đến tuổi đi nhà trẻ, chúng ta thường xấu hổ vì quá năng nổ. Cuối cùng, mọi thứ chuyển qua sân chơi, lớp học, trong vòng gia đình khi sự độc đáo và quý giá của chúng ta thường không được công nhận và coi trọng cho đủ, chúng ta thường bị bỏ qua, bị chèn nén, bị đối xử bất công, bị bắt nạt, bị mặc cảm thấp kém và thất bại, và một cách tinh tế hoặc không quá tinh tế, chúng ta cho mình không đủ tốt. Điều này khi lớn lên, chúng ta xem mình là người bị bỏ rơi, chúng ta ghen tương khi thấy đời sống người khác có vẻ phong phú hơn chúng ta, vì sự cay đắng chưa được nói lên mà chúng ta nuôi dưỡng do các bất toàn của riêng mình, và cho mặc cảm tội lỗi mà chúng ta cảm nhận do các phản bội của chính mình.

Đây không phải chủ yếu là do giáo dục tôn giáo của chúng ta mà chúng ta ghét chính mình và bị ám ảnh bởi mặc cảm tội lỗi mông lung.

Đúng, hầu hết người công giáo chúng ta ghét chính mình. Đáng tiếc thay, nó mà khác đi, thì mọi người cũng sẽ khác đi.

Không đầy đủ, tổn thương và hòa giải

Dù với thiện chí tốt nhất, dù không ác ý, dù là kitô hữu, đôi khi chúng ta không thể không làm tổn thương nhau. Đôi khi thân phận con người quá phức tạp để chúng ta không làm đau khổ cho nhau.

Đây là ví dụ: Triết gia Soren Kierkegaard người Đan Mạch, ông đã dành cả cuộc đời mình để cố gắng trung thành với những gì Chúa kêu gọi nơi ông, ông đã làm tổn thương sâu đậm một cô gái. Khi còn trẻ ông đã yêu sâu đậm cô Régine, cô cũng rất yêu ông. Nhưng gần đến ngày cưới, Kierkegaard đối diện với cơn khủng hoảng nội tâm, vừa có tính cách tâm lý, vừa có tính cách đạo đức, qua đó ông phân định hôn nhân hai người về lâu về dài sẽ tạo bất hạnh cho cả hai và ông hủy bỏ hôn ước. Quyết định này đã làm tổn thương Régine vô cùng và suốt đời. Cô không bao giờ có thể tha thứ cho ông, còn ông thì suốt quãng đời còn lại, hằn trong tâm trí mình đã làm cho người yêu đau khổ. Mới đầu ông viết cho cô nhiều thư để giải thích quyết định của mình và xin lỗi đã làm cô đau khổ, trong hy vọng cô hiểu và tha thứ. Cuối cùng, ông bỏ cuộc sau khi đã viết trang này qua trang khác trong nhật ký riêng tư của mình, đặt lại vấn đề, tự phạt mình và sau đó, ngược lại, cố gắng biện minh hết lần này qua lần khác trong quyết định không đi đến hôn nhân của mình.

Gần mười năm sau quyết định định mệnh đó, khi bây giờ cô Régine đã lập gia đình với một người khác, ông để nhiều tuần để cố gắng soạn bức thư đúng, xin cô tha lỗi và đưa ra nhiều giải thích cho hành động của mình và van cô cho một cơ hội để nói chuyện với cô. Ông khó khăn để tìm các chữ thích hợp, những chữ có thể đưa đến sự thông hiểu. Cuối cùng ông viết bức thư như sau:

Tôi đã tàn nhẫn, đó là sự thật. Vì sao? Thật ra, em không thể biết điều này được.

Tôi đã im lặng, đó là điều tôi đã làm. Chỉ có Chúa biết tôi đã đau khổ như thế nào – và Chúa cho phép tôi không nói, ngay cả bây giờ vì quá sóm!

Tôi không thể kết hôn. Ngay cả khi em còn tự do, nhưng tôi không thể.

Nhưng em đã yêu tôi, cũng như tôi đã yêu em. Tôi nợ em rất nhiều – và bây giờ em lập gia đình. Đồng ý, bây giờ tôi xin đề nghị em lần thứ nhì những gì tôi có thể và dám và phải mang đến cho em: sự hòa giải.

Tôi làm điều này dưới hình thức viết để em không ngạc nhiên hay choáng ngợp. Có thể nhân cách của tôi đã có tác dụng quá mạnh; điều này không nên xảy ra thêm một lần nữa. Nhưng vì tình yêu của Chúa trên trời, xin em suy nghĩ nghiêm túc, nếu em dám tham dự vào việc này, vậy nếu em ưng thuận, em có thể nói chuyện với tôi ngay lập tức hoặc trao đổi một số thư trước.

Nếu em trả lời “không”, thì xin em nhớ, để có một tình trạng tốt hơn, tôi đã thể hiện bước này.
Dù sao, như thuở ban đầu cho đến bây giờ, với tấm lòng chân thành và trọn tấm lòng tận tình, S.K. của em.

(Trái tim của một triết gia, Le cœur d’un philosophe, Clare Carlisle, Penguin Book, 2019)

Dĩ nhiên câu trả lời là “không”. Ông để bức thư này trong một bức thư khác và gởi cho chồng của bà Régine, và xin người chồng quyết định có nên đưa thư này cho vợ hay không. Bức thư được gởi trả lại, không được mở ra, lại còn kèm vài chữ giận dữ, lời đề nghị giải hòa của ông đã bị từ chối một cách cay đắng.

Đâu là đạo đức ở đây? Đơn giản: Chúng ta làm tổn thương nhau; đôi khi vì ích kỷ, đôi khi vì coi thường, đôi khi vì không trung thành, đôi khi vì ác ý, nhưng đôi khi cũng không phải vì ích kỷ, không phải vì coi thường, không phải vì phản bội, không phải vì ác ý nhưng chỉ là tàn nhẫn trong hoàn cảnh, trong kém cỏi, trong giới hạn của con người. Đôi khi chúng ta làm tổn thương nhau sâu đậm, là tín hữu hay không tín hữu bằng một cách khác. Nhưng dù có lỗi đạo đức hay không, phản bội hay ác ý thì luôn có một sự đau khổ sâu đậm, đôi khi sâu đến nỗi ở thế gian này không có một chữa lành nào có thể có được.

Và liệu sẽ có thể khác hơn không. Liệu triết gia Kierkegaard có thể giải thích đầy đủ hơn để Régine hiểu và tha thứ, rằng mỗi chúng ta có thể giải thích đầy đủ để chúng ta có thể được hiểu và được tha thứ, và liệu trọn cuộc sống chúng ta có thể kết thúc như bộ phim nồng hậu ấm áp với màn hình chấm dứt với hàng chữ, mọi sự đã được hiểu và được hòa giải.

Nhưng với trường hợp này không phải lúc nào cũng xảy ra; thật vậy, thậm chí nó cũng không kết thúc êm đẹp với Chúa Giêsu. Khi chết, Ngài bị xem là tội phạm, là người phạm thượng tôn giáo, là người đã làm sai. Bức thư hòa giải của Ngài bị gởi trả lại, không được mở ra mà còn kèm theo vài chữ giận dữ.

Có lần tôi đến thăm người đàn ông 56 tuổi chết vì ung thư. Ông đã liệt giường và ở nhà săn sóc chờ chết, nhưng đầu óc ông còn sáng suốt, ông chia sẻ như sau: “Tôi đang chết với niềm an ủi này: nếu tôi có một kẻ thù trên thế giới này thì tôi không biết người đó là ai. Tôi không nghĩ có một người nào đó mà tôi cần phải hòa giải.”

Ít ai trong chúng ta có được may mắn này. Phần lớn chúng ta vẫn nhìn vào phong bì bị trả lại và chưa được mở.