RonRolheiser,OMI

Sự thất bại nặng nề của chúng ta trong đức bác ái

Thánh Eugène de Mazenod, người sáng lập Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, Hội Dòng mà tôi thuộc về, trước khi qua đời ngài để lại cho cho chúng tôi lời trăn trối cuối cùng: “Giữa anh em, bác ái, bác ái, bác ái”. Không phải khi nào tôi cũng sống được điều này, dù tôi mong mình sống được, nhất là ngày hôm nay.

Chúng ta đang ở trong thời buổi cay đắng. Đâu đâu cũng có giận dữ, lên án người khác và cay đắng bất đồng; đến mức bây giờ đơn giản là chúng ta không còn có thể có một cuộc thảo luận hợp lý về bất cứ vấn đề chính trị, đạo đức hay về giáo điều tế nhị nào. Chúng ta biến thành quỷ đến mức mà mọi cố gắng lý luận với nhau (đó là không nói đến việc đi đến một thỏa thuận hay giải quyết một bất đồng) chỉ làm nặng thêm sự thù nghịch. Nếu bạn nghi ngờ điều này, bạn chỉ cần đọc báo buổi chiều, đọc bất kỳ báo nào hay theo dõi các thảo luận về hầu hết các vấn đề đạo đức và tôn giáo, bạn sẽ thấy rõ.

Điều hiển nhiên đầu tiên là sự căm thù trần trụi có bên trong tiềm năng của chúng ta, làm cho chúng ta luôn có khuynh hướng biện minh các cơ sở đạo đức và tôn giáo. Đó là phản kháng của chúng ta: chúng ta đấu tranh cho sự thật, cho sự đúng đắn, cho công chính, cho Chúa, cho gia đình, cho nhà thờ, cho giáo lý đúng, cho việc giữ đạo, cho chính Chúa Kitô, vậy mà sự tức giận và thù hận của chúng ta lại được biện minh. Sự giận dữ được biện minh, nhưng sự hận thù là dấu hiệu không thể sai lầm rằng chúng ta đang hành động trái với sự thật, với sự đúng đắn, với công chính, với Chúa, với gia đình, với nhà thờ, với giáo lý đúng, với giữ đạo và với Chúa Kitô. Sẽ khó để nghĩ rằng loại tranh luận này lại từ Thần Khí và không từ một nguồn nào khác.

Khi nhìn vào Chúa Giêsu, chúng ta thấy tất cả năng lực của Ngài đều hướng về sự hiệp nhất. Chúa Giêsu không bao giờ rao giảng hận thù, như đã được minh chứng rõ ràng trong Bài giảng Trên núi, trong lời cầu nguyện linh mục ở Bữa Tiệc ly trong Tin Mừng Thánh Gioan, như được thể hiện rõ trong những lời cảnh báo thường xuyên dạy chúng ta phải kiên nhẫn với nhau, không phán xét nhau, nhưng tha thứ cho nhau.

Nhưng người ta có thể phản đối: thế còn những lời phán xét (có vẻ) chua cay của Chúa Giêsu? Thế khi Ngài gay gắt nói về người khác thì sao? Thế khi Ngài mất bình tĩnh và dùng roi để đuổi những người đổi tiền ra khỏi đền thờ thì sao? Ngài đã không tuyên bố: Ta đến để mang lửa đến cho trái đất đó sao?

Các tuyên bố này thường bị chú giải sai và dùng sai để hợp lý hóa cho sự thiếu đức ái trong tinh thần kitô chân chính của chúng ta. Khi Chúa Giêsu nói Ngài mang lửa đến trái đất và mong lửa này bùng cháy, lửa của Chúa Giêsu nói ở đây không phải là lửa chia rẽ nhưng là lửa của tình yêu. Chúa Giêsu mong muốn yêu thương, không xa lánh. Thông điệp của Ngài đã dấy lên sự chống đối hận thù, nhưng Ngài không cho mình là chiến binh văn hóa hay tôn giáo. Ngài chỉ giảng và chỉ thể hiện tình yêu, điều này đôi khi lại tạo nên phản đề của nó. (Và nó luôn là như vậy.) Đôi khi Ngài khơi dậy hận thù nơi người dân, nhưng không bao giờ Ngài ghét bỏ. Thay vào đó, Ngài khóc thương cảm, hiểu rằng đôi khi thông điệp về tình yêu và sự bao gồm lại khơi dậy hận thù trong lòng con người, vì một lý do nào đó, ở thời điểm nào đó, con người không thể mang trọn chữ yêu thương. Hơn nữa, sự việc Ngài đuổi các người đổi tiền ra khỏi đền thờ luôn được chúng ta trích dẫn để biện minh cho sữ giận dữ và phán xét của chúng ta trên người khác, nhưng ở đây nó có một tầm mức quan trọng và ý nghĩa rất khác. Hành động của Ngài khi Ngài dọn dẹp đền thờ (một cách hợp pháp) của người do thái, họ bắt người dân phải đổi tiền để mua của lễ dâng lên Chúa, ở đây Ngài loại bỏ trở ngại trên con đường đến với Chúa, chứ không phải Ngài tức giận với một số người cụ thể nào đó.

Chúng ta thường xuyên bỏ qua Tin Mừng. Chủ nghĩa phe phái, chủ nghĩa bộ lạc, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, lợi ích kinh tế, sự khác biệt lịch sử, đặc quyền lịch sử và nỗi sợ hãi mãi mãi gây ra sự phân cực cay đắng, tạo mối thù gặm nhấm chính trong cộng đoàn; và hận thù này luôn được biện minh bằng cách kêu gọi đến một số nền tảng đạo đức hoặc tôn giáo cao. Nhưng Tin Mừng không bao giờ cho phép điều này. Tin Mừng không bao giờ cho phép chúng ta đóng khung đức bác ái, nó từ chối không để chúng ta biện minh sự cay đắng của mình vì các lý do đạo đức và tôn giáo. Nó kêu gọi chúng ta đến với tình yêu, với sự đồng cảm và với lòng tha thứ, vượt qua mọi chia rẽ để mong điều tốt và làm điều tốt, chính xác cho những người ghét chúng ta. Và Tin Mừng hoàn toàn cấm hợp lý hóa sự thù hận nhân danh Tin Mừng hoặc nhân danh sự thật, công lý hoặc giáo điều đúng đắn.

Cố linh mục thần học gia Dòng Tên Michael J. Buckley (1931-2019) khi nhìn sự phân cực cay đắng trong các Giáo hội, ngài cho rằng không có gì biện minh cho sự cay đắng của chúng ta hiện nay: “Tuy nhiên điều đáng buồn là thường chúng ta không có cách nào khéo léo để đưa các nam nữ tu sĩ đừng chống nhau trong hình thức lên án khủng khiếp. Chiến tranh, dù chiến tranh cá nhân là những thực tế khủng khiếp, và khủng khiếp nhất trong số này thường được biện minh vì tôn giáo. Để đánh lừa hoặc chia rẽ dưới vỏ bọc tốt, dưới danh nghĩa chính thống hay phóng khoáng, cộng đoàn hay tự do cá nhân, ngay cả chính sự thánh thiện, các chia rẽ của con người có thể từ từ biến thành ti tiện, hoặc yếm thế, hoặc thù nghịch, hoặc cay đắng. Và theo cách này Giáo hội kitô bị chia rẽ.”

Chúng ta phải cẩn thận trong văn hóa và tôn giáo của chúng ta.

Nhân phẩm

Cuốn phim Cô Gái Triệu Đô (Million Dollar Baby) kể câu chuyện một phụ nữ trẻ trở thành võ sĩ quyền anh chuyên nghiệp. Trẻ trung, mạnh mẽ, thể chất hấp dẫn, cô chiếm được trái tim của khán giả, ngoài tất cả mong chờ, cô lên được đỉnh cao trong môn thể thao của mình. Nhưng câu chuyện lại trở nên bi thảm, cô bị đối thủ tấn công không đúng, cuối cùng cô bị liệt, cơ thể cùng với sức khỏe, sức hấp dẫn tan nát. Cô chọn cách kết thúc đời mình bằng an tử.

Tôi đi xem phim này với một cặp vợ chồng trẻ, cả hai có đời sống gắn kết với đức tin và với giáo xứ. Cả hai rất xúc động cách mà phụ nữ này chọn để chết. Có lẽ đó là cảm xúc của chính họ nhiều hơn khi họ biện minh cho cách chết của người phụ nữ này: “Nhưng cô ấy còn quá trẻ và đẹp! Sẽ không công bằng nếu cuộc đời còn lại của cô phải sống trong tình trạng khủng khiếp này!” Dưới đôi mắt tuổi trẻ của họ, tình trạng suy nhược này đã lấy đi tất cả nhân phẩm cần thiết của người phụ nữ.

Nhân phẩm là gì? Khi nào và làm thế nào mà nhân phẩm bị mất?

Nhân phẩm là thuật ngữ gây nhiều khó hiểu, nó thường xuyên mất đi các nghĩa khác nhau. Đó cũng là một thuật ngữ ngầm. Đôi khi nó không còn có nghĩa như những gì nó đã từng có nghĩa, và có phải ngày nay thuật ngữ này không còn đúng khi áp dụng cho “chết có nhân phẩm” không? Điều gì định nghĩa cho cái chết trong nhân phẩm?

Ngay sau cái chết bằng an tử của Brittany Maynard trong một vụ thu hút sự chú ý của dư luận, nhà báo Jessica Keating viết một bài trên tạp chí America lượng định cái chết này dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Đến một thời điểm, bà đưa ra câu hỏi về phẩm giá và viết: “Việc dùng từ nhân phẩm để mô tả cái chết này đã tạo ra một vấn đề sâu sắc, vì nó che giấu thực tế của sự sợ hãi và đồng hóa nhân phẩm chỉ nhắm vào sự tự lập, sự lựa chọn và khả năng nhận thức triệt để. Kết quả là một hàm ý không tế nhị, rằng người chọn sự bất lực và sự đau đớn, họ chết một cách không đúng nhân phẩm.” (America, 16 tháng 3 – 2015)

Ngày nay trong phần lớn cuộc nói chuyện của chúng ta về cái chết trong phẩm giá, trên thực tế có hàm ý người chọn sự bất lực và sự đau đớn thay vì một cái chết êm dịu, họ chết một cách kém nhân phẩm. Điều này khó phủ nhận, với đặc điểm nổi trội của một nền văn hóa mà sự bất lực và đau đớn bị xem như một công kích rất lớn vào phẩm giá của chúng ta. Nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, đôi khi ngược lại là khác, một thân thể già nua và sức vóc suy giảm có khi còn được xem là một cái gì đó xứng đáng và đẹp. Vì sao quan điểm của chúng ta bây giờ về nhân phẩm lại khác đi?

Chúng khác nhau vì cách chúng ta quan niệm về phẩm giá và nét đẹp khác đi. Với chúng ta, điều chính yếu là sức khỏe thể chất, sức sống thể chất và sức hấp dẫn thể chất của cơ thể con người. Với chúng ta, thẩm mỹ là căn nhà chỉ có một phòng – sức hấp dẫn thể chất. Mọi thứ khác đều là công kích vào nhân phẩm chúng ta. Điều đó làm cho chúng ta thấy bất kỳ tiến trình nào làm giảm và hạ thấp cơ thể con người, cướp đi sức sống và sức hấp dẫn thể chất đều là không đúng nhân phẩm. Vậy mà quy trình cái chết là bình thường. Nếu chúng ta ở bên đầu giường của những người sắp chết, chúng ta tháp tùng người ở giai đoạn cuối thì chúng ta biết về mặt cơ thể là không đẹp chút nào. Căn bệnh có thể làm những chuyện khủng khiếp trên cơ thể. Nhưng làm sao điều này lại có thể phá hủy nhân phẩm? Nó làm cho người ta mất đi vẻ đẹp sao?

Điều này tùy thuộc vào linh đạo, những gì được cho là đẹp, là đúng nhân phẩm. Chúng ta hãy xem cái chết của Chúa Giêsu. Theo khái niệm phẩm giá ngày nay thì đây là cái chết không có phẩm giá. Chúng ta luôn làm đẹp việc đóng đinh để bảo vệ chúng ta khỏi điều “bất xứng” sống sượng, nhưng đóng đinh là chuyện rất sỉ nhục. Khi người la-mã chọn hình thức đóng đinh để xử án tử hình, họ nghĩ đến nhiều thứ khác thay vì chỉ đơn thuần kết liễu một đời người. Họ muốn làm cho tử tội bị đau đớn đến cùng cực, làm sỉ nhục tối đa, trước công chúng bằng cách làm sỉ nhục cơ thể. Vì thế tử tội bị lột áo quần, bị phơi bày bộ phận sinh dục và khi có các cơn đau thắt trước khi chết thì ruột của họ sẽ thoát ra. Còn gì sỉ nhục hơn? Còn gì xấu hơn?

Nhưng ai sẽ nói Chúa Giêsu đã chết không có nhân phẩm? Ngược lại là đàng khác. Chúng ta luôn chiêm ngưỡng nét đẹp cái chết của Ngài kèm với phẩm giá được thể hiện trong đó. Nhưng đây là một thẩm mỹ khác, một loại văn hóa mà chúng ta không còn hiểu được. Đối với chúng ta, nhân phẩm và nét đẹp gắn bó chặt chẽ với sức khỏe thể xác, sức hấp dẫn ngoại hình, và không có giảm thiểu sỉ nhục nơi cơ thể. Trong bối cảnh này, dường như cái chết của Chúa Giêsu không có một phẩm giá nào.

Tôi là người đầu tiên công nhận vấn đề cái chết trong nhân phẩm là một vấn đề cực kỳ phức tạp, đặt ra các câu hỏi về pháp lý, y khoa, gia đình, xã hội, luân lý và thiêng liêng mà không có câu trả lời nào đơn giản. Nhưng bên trong tất cả các câu hỏi này, vẫn còn một câu hỏi về thẩm mỹ: cuối cùng cái gì tạo nên vẻ đẹp? Cuối cùng, chúng ta thấy phẩm giá như thế nào? Có phải một người với thân thể luôn mang vẻ hấp dẫn, không suy giảm, tự nguyện chọn chết trước khi vẻ đẹp đó bị xấu đi vì bệnh tật thì sẽ chết có phẩm giá hơn Chúa Giêsu sao?

Một thất bại tuyệt vời

Đâu là sự công bằng trong đời sống? Vì sao một số người diễm phúc dường như không xứng đáng trong thế giới này, trong khi một số người khác lại như bị nguyền rủa? Vì sao mưu mẹo, tham vọng ích kỷ, lợi dụng người khác, lưu manh lại thường được đền thưởng? Các câu hỏi này không có câu trả lời nhanh được.

Trong quyển sách Thất bại Tuyệt vời (The Magnificent Defeat), tiểu thuyết gia và nhà thuyết giảng nổi tiếng Frederick Buechner đưa ra câu hỏi này và tập trung vào ông Gia-cóp, nhân vật của Thánh Kinh. Như chúng ta biết, ông đánh lừa anh Ê-xau hai lần. Thừa lúc anh mình đói và yếu, ông mua quyền trưởng nam của anh mình với giá một bữa ăn. Còn nặng hơn, ông đóng giả Ê-xau, lừa cha và đánh cắp lời chúc phúc và quyền thừa kế của Ê-xau. Tất cả các chuyện này là sai và phải bị trả lẽ, nhưng cuộc đời của ông Gia-cóp dường như ngược lại. Ngược với người anh bị lừa, Gia-cóp có một đời sống sung túc, được Chúa và những người khác yêu mến. Đâu là bài học? Chúa của sự sống thật sự có đứng về phía người làm những chuyện này không?

Tác giả Buechner xây dựng câu trả lời của mình bằng cách chuyển từ thực dụng và tầm ngắn hạn qua thiêng liêng và tầm dài hạn.

Đầu tiên, từ quan điểm thực dụng, câu chuyện của ông Gia-cóp dạy cho chúng ta bài học của riêng mình, biết rằng trong đời sống thực tế, những người như ông Gia-cóp là những người thông minh, xảo quyệt và tham vọng thường là những người được thưởng theo cách mà những người chậm chạp như ông Ê-xau thường không được. Rõ ràng đây không phải như Bài giảng Trên núi, các lời dạy khác của Sách Thánh, kể cả một số lời dạy khác của Chúa Giêsu, luôn thử thách chúng ta phải thông minh, làm việc cực nhọc và đôi khi phải mưu mô. Chúa không nhất thiết phải giúp đỡ những người tự giúp mình, nhưng Chúa và cuộc sống dường như thưởng cho những người dùng tài năng của mình. Nhưng có một con đường đạo đức tốt ở đây và Buechner mô tả một cách xuất sắc.

Tác giả hỏi: khi ai đó làm những gì ông Gia-cóp làm và mang lại cho họ giàu có trong cuộc sống này, thì hệ quả đạo đức ở đâu? Câu trả lời đến từ Gia-cóp nhiều năm sau đó. Một đêm nọ, khi Gia-cóp ở một mình, có một người lạ nhảy vào, cuối cùng hai người lặng lẽ vật lộn nhau suốt đêm. Ngay khi bình minh ló dạng và dường như Gia-cóp sẽ thắng, mọi thứ đột nhiên đảo ngược. Với một sức mạnh ưu thế, dường như cố kiềm giữ cho đến lúc đó, người lạ mặt chạm vào khớp xương hông của ông làm cho ông bật động. Một cái gì đó biến đổi sâu đậm nơi Gia-cóp, ông cảm nhận mình bất lực. Cuối cùng bây giờ ông biết ông bị đánh bại, ông không còn muốn thoát khỏi sự kiềm kẹp của người lạ, thay vào đó ông bám vào kẻ thù của mình như người chết đuối. Vì sao?

Đây là lời giải thích của Buechner: “Bóng tối đã mờ đi vừa đủ để lần đầu tiên ông có thể lờ mờ thấy đối thủ của mình. Và những gì ông thấy còn khủng khiếp hơn khuôn mặt của tử thần – đó là khuôn mặt của tình yêu. Bao la và mạnh mẽ, bị hủy hoại một nửa vì đau khổ và niềm vui dữ dội, khuôn mặt của người chạy trốn tất cả bóng tối của đời mình để cuối cùng thốt lên: ‘Tôi không để ngài ra đi, trừ khi ngài chúc phúc cho tôi!’ Không phải lời chúc mà bây giờ ông có thể có bằng sức mạnh của mưu mẹo hay sức mạnh của ý chí, nhưng lời chúc ông chỉ có thể có như món quà.”

Có cả một linh đạo ở đây. Lời chúc phúc mà chúng ta mãi chiến đấu chỉ có thể đến với chúng ta như một món quà, chứ không phải là cái gì chúng ta có thể giành lấy nhờ tài năng, mưu mô hay sức mạnh của mình. Nhờ trí óc và mưu mô, ông Gia-cóp trở thành người giàu có được ngưỡng mộ ở thế gian này. Nhưng trong cuộc chiến để có tất cả sự giàu có này, ông đã vật lộn với một lực mà trong vô thức ông xem đó là một người hay một cái gì ông phải vượt lên. Cuối cùng, sau nhiều năm chiến đấu, ông thức tỉnh. Ánh sáng chợt lóe lên, qua thất bại của sự què quặt. Và trong ánh sáng của sự thất bại này, cuối cùng ông thấy trong những gì ông đã đấu tranh trong suốt thời gian này không phải là một ai đó hay một cái gì mà ông phải vượt qua, mà là tình yêu mà ông đã hết sức vật lộn để đạt được và đi tới đàng trước.

Với nhiều người trong chúng ta, đây cũng là sự thức tỉnh thực sự trong cuộc sống, ý thức được trong tham vọng và trong tất cả các kế hoạch mà chúng ta đưa ra để tiến lên, chúng ta không chiến đấu với một ai đó hay một cái gì để vượt lên bằng sức mạnh và trí thông minh của mình; chúng ta chiến đấu với cộng đồng của mình, với tình yêu và với Chúa. Và chắc chắn nó sẽ đánh bại sức mạnh của chính chúng ta (bị đi khập khiễng mãi mãi) trước khi nhận ra những gì chúng ta đang chiến đấu. Và rồi chúng ta sẽ từ bỏ nỗ lực giành chiến thắng, thay vào đó là bám víu như người chết đuối vào khuôn mặt của tình yêu, xin được chúc phúc, một sự chúc phúc mà chúng ta chỉ có thể nhận như món quà.

Tin rằng phúc lành của chúng ta đến từ chiến thắng, chúng ta cố gắng chiến đấu để cuộc sống của mình xa cuộc sống người khác, cho đến một ngày, nếu chúng ta có đủ may mắn để bị đánh bại, chúng ta bắt đầu cầu xin người khác giữ lấy chúng ta.

Một vài lời khuyên về cầu nguyện của người thầy cũ

Có thể tôi có nguy cơ đơn giản hóa, nhưng tôi muốn nói điều gì đó về cầu nguyện một cách rất đơn giản.

Trong khi làm luận án tiến sĩ, tôi có một giáo sư là linh mục Dòng Âugutinô lớn tuổi, thầy có thái độ, lời nói và phong cách tỏa ra sự khôn ngoan và trưởng thành. Tất cả nơi thầy là chính trực toàn diện. Bạn sẽ tin tưởng thầy ngay lập tức, thầy là hình ảnh người ông khôn ngoan của các sách truyện.

Một ngày nọ trong lớp, thầy nói về đời sống cầu nguyện của mình. Cũng như các chuyện chia sẻ khác của thầy, thầy không sàng lọc, chỉ có trung thực và khiêm tốn. Tôi không nhớ chính xác các lời của thầy, nhưng tôi nhớ rõ cốt tủy của những gì thầy nói và những lời này vẫn còn ở trong lòng tôi sau bốn mươi năm tôi được may mắn ở trong lớp của thầy.

Và đây là những gì thầy chia sẻ: cầu nguyện không dễ dàng vì chúng ta luôn mệt mỏi, chia trí, bận rộn, chán nản và bị cuốn vào đủ chuyện, khó có thể tìm thì giờ và năng lực để tập trung về Chúa dù chỉ trong vài phút. Vậy thì tôi làm như sau: dù ngày hôm đó là ngày như thế nào, dù hôm đó tôi đang nghĩ gì, dù hôm đó tôi bị chia trí hay bị cám dỗ như thế nào, tôi luôn trung thành với điều này: Mỗi ngày một lần, tôi đọc Kinh Lạy Cha sốt sắng nhất tôi có thể lúc đó. Bên trong những gì đến với tôi ngày hôm đó và chung quanh tôi ngày hôm đó, tôi cầu nguyện với Kinh Lạy Cha, xin Chúa nghe lời tôi cầu nguyện trong tất cả sự chia trí và cám dỗ đang bủa vây tôi lúc đó. Đó là điều tốt nhất tôi có thể làm. Có thể đó là cái tối thiểu nhất và tôi phải làm nhiều hơn, cố gắng tập trung hơn, nhưng ít nhất tôi cũng làm được điều đó. Và đôi khi, đó là tất cả những gì tôi làm, nhưng tôi làm mỗi ngày và tốt nhất có thể. Đó là lời cầu nguyện Chúa Giêsu đã dạy chúng ta.

Lời của thầy nghe có vẻ như đơn giản, quá đơn giản là đàng khác. Thật vậy, Giáo hội đặt Thánh lễ là trọng tâm đời sống chúng ta, tạo cho chúng ta thói quen suy gẫm và cầu nguyện riêng. Thêm nữa, nhiều nhà văn thiêng liêng cổ điển nói rằng mỗi ngày chúng ta phải dành ra một giờ để cầu nguyện riêng và nhiều nhà văn thiêng liêng hiện đại còn thách thức chúng ta, mỗi ngày phải đặt suy nghĩ hoặc mọi hình thức cầu nguyện chiêm ngắm vào trọng tâm. Vậy thầy Dòng Âugutinô và lời khuyên trung thành đọc Kinh Lạy Cha mỗi ngày, sốt sắng nhất có thể thì sao?

Dĩ nhiên không có gì trong các chuyện này đi ngược với những gì thầy khiêm tốn chia sẻ. Thầy sẽ là người đầu tiên đồng ý Thánh lễ là trọng tâm đời sống cầu nguyện của chúng ta, và thầy cũng sẽ đồng ý với các tác giả thiêng liêng cổ điển khuyên chúng ta mỗi ngày dành ra một giờ để cầu nguyện riêng và các tác giả đương đại thách thức chúng ta mỗi ngày nên có hình thức cầu nguyện chiêm ngắm hay ít nhất là quen làm như vậy. Nhưng thầy sẽ nói như sau: một trong những giây phút này trong ngày (lý tưởng là Thánh lễ, hay khi đọc phụng vụ giờ kinh, hoặc ít nhất vào một lúc nào đó trong ngày của chúng ta) khi chúng ta đọc Kinh Lạy Cha, chúng ta chân thành và tập trung nhất có thể, biết rằng dù chia trí lúc đó, nhưng đó là những gì Chúa xin chúng ta, như thế là đủ.

Lời khuyên này vẫn còn trong tâm trí tôi qua bao nhiêu năm tháng và dù tôi đã đọc nhiều Kinh Lạy Cha mỗi ngày, tôi vẫn phải cố gắng đọc sốt sắng nhất có thể, ý thức đầy đủ cách tôi đã đọc trước đây là không tốt. Thật là cả một thách thức nhưng cũng là cả một an ủi!

Thử thách là đọc Kinh Lạy Cha mỗi ngày, sốt sắng nhất có thể. Như chúng ta biết, Kinh Lạy Cha mang tính cộng đoàn một cách sâu đậm. Lời kinh ở số nhiều – “chúng con”, “chúng con”, chúng con” – không có “con” trong Kinh Lạy Cha. Hơn nữa, tất cả chúng ta đều là linh mục qua phép rửa và ở trong giao ưóc mà chúng ta đã làm, mỗi ngày chúng ta được yêu cầu để cầu nguyện cho người khác, cho thế giới. Cho những ai mỗi ngày không thể tham dự thánh lễ, cho những ai không đọc phụng vụ lời kinh, đọc Kinh Lạy Cha là cầu nguyện với Thánh Thể, lời cầu nguyện trong chức linh mục của chúng ta cho người khác.

Và đây là niềm an ủi: không một ai trong chúng ta là thần thánh. Không tránh được, chúng ta là người, điều này có nghĩa trong nhiều lần, có thể là đa số mọi lần, khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta bị bủa vây đủ mọi chuyện, từ mệt mỏi đến chán nản, từ thiếu kiên nhẫn đến bận lo ấn định lịch làm việc ngày mai, vượt lên các chuyện đau khổ trong ngày, suy nghĩ để nói gì với người làm mình tức giận, để đối diện với các hoang tưởng khiêu dâm. Lời cầu nguyện của chúng ta hiếm khi phát xuất từ một trái tim trong trắng, nhưng thường là từ trái tim rất trần tục. Nhưng đây là điểm chính, tích chất trần tục cũng có sự trung thực của nó. Quả tim chúng ta bồn chồn và chia trí cũng là quả tim hiện sinh của chúng ta, quả tim hiện sinh của thế giới. Khi chúng ta cầu nguyện phát xuất từ đây, chúng ta nâng tâm trí chúng ta hướng về Chúa (như định nghĩa cổ điển của cầu nguyện).

Chúng ta hãy cố gắng mỗi ngày, trung thành cầu nguyện Kinh Lạy Cha! Và sốt sắng nhất có thể!

Tình bạn trung thành

Tôi lớn lên trong một gia đình sống gần gũi nhau và một trong những điều khó khăn nhất tôi phải làm là rời gia đình ở tuổi mười bảy để vào Dòng Thừa sai Hiến sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm. Năm đầu tiên ở nhà tập thật không dễ dàng. Tôi nhớ nhà và tôi liên lạc với gia đình trong khuôn khổ nhà tập cho phép. Mỗi tuần tôi viết thư về nhà một lần và hàng tuần mẹ tôi luôn đều đặn viết thư trả lời. Tôi vẫn còn giữ các bức thư quý báu này. Tôi rời nhà nhưng tôi vẫn giữ liên lạc, tôi là thành viên trung thành với gia đình.

Và rồi cuộc sống của tôi trở nên phức tạp hơn nhiều với các đòi hỏi xã hội. Tôi dọn về chủng viện và sống trong một cộng đoàn với sáu mươi người khác, với những người thường xuyên đến rồi đi trong vòng bảy năm tôi ở đó, đến mức mà khi tôi xong thời gian đào tạo, tôi đã sống trong một cộng đoàn với hơn một trăm người khác nhau. Tôi lớn lên trong một gia đình sống gần gũi nhau và một trong những điều khó khăn nhất tôi phải làm là rời gia đình ở tuổi mười bảy để vào Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm. Năm đầu tiên ở nhà tập thật không dễ dàng. Tôi nhớ nhà và tôi liên lạc với gia đình trong khuôn khổ nhà tập cho phép. Mỗi tuần tôi viết thư về nhà một lần và hàng tuần mẹ tôi luôn trung thành viết trả lời. Tôi vẫn còn giữ các bức thư quý báu này. Tôi rời nhà nhưng tôi vẫn giữ liên lạc, tôi là thành viên trung thành với gia đình.

Trong những năm sau chủng viện, mô hình này nhân lên theo cấp số nhân. Học lên cao đưa tôi đến học ở nhiều nước khác nhau, có các bạn mới trong đời và rất nhiều người trở thành bạn thân. Thêm nữa với bốn mươi năm dạy học, tôi gặp hàng ngàn sinh viên và tôi có nhiều bạn trong số này. Viết lách và các buổi diễn thuyết cũng mang hàng ngàn người đến với tôi. Dù hầu hết trong số họ đi qua đời tôi không có gắn kết đáng kể, nhưng một số đã trở thành bạn suốt đời.

Tôi chia sẻ điều này không phải vì tôi nghĩ nó độc đáo, mà vì nó điển hình. Ngày nay, đây là câu chuyện của mọi người. Ngày càng có nhiều người đi qua cuộc sống của chúng ta, đến mức mình phải tự đặt câu hỏi: làm thế nào để có thể trung thành với gia đình, với bạn cũ, với hàng xòm cũ, với các sinh viên cũ, với đồng nghiệp cũ, với người quen biết cũ? Lòng trung thành đòi hỏi gì? Thỉnh thoảng thăm viếng? Viết tin nhắn, viết e-mail, thỉnh thoảng gọi điện thoại? Nhớ ngày sinh nhật và những ngày lễ? Họp bạn cùng lớp? Tham dự đám cưới, đám tang?

Rõ ràng tất cả các chuyện này là tốt, nhưng nó cũng chiếm toàn thời gian. Một cái gì khác được đòi hỏi ở đây, cụ thể là lòng trung thành không phụ thuộc vào e-mail, tin nhắn, điện thoại hay đi thăm thường xuyên. Nhưng cái gì sâu hơn so với tiếp xúc hữu hình của con người? Điều gì có thể thực tế hơn? Câu trả lời là lòng trung thành, lòng trung thành là ơn của một tâm hồn đạo đức được chia sẻ, là ơn của lòng tin tưởng, và trung thành là trung thực với con người của mình khi mình ở trong cộng đoàn của con người hữu hình và vẫn giữ tích cực với những người không còn ở trong đời sống hàng ngày của mình. Đó là ý nghĩa của lòng trung thành.

Thật thích thú khi xem lại Sách Thánh đã định nghĩa một cộng đoàn và lòng trung thành như thế nào. Trong sách Công vụ Tông đồ chúng ta đọc trước lễ Hiện Xuống các thành viên của cộng đoàn kitô hữu đầu tiên “đều ở với nhau trong phòng khép kín.” Và ở đây, dù về thể xác cùng ở với nhau nhưng trớ trêu thay, họ không thực sự ở trong một cộng đoàn với nhau, với người khác, không thực sự là một gia đình và cũng không trung thành với nhau. Rồi, sau khi nhận ơn Chúa Thánh Thần, họ mới thực sự thoát ra căn phòng và đi khắp nơi trên trái đất, rất nhiều người trong số họ không bao giờ gặp lại nhau, và bây giờ dù địa lý xa cách, nhưng trớ trêu thay, họ lại thành một gia đình thực sự, một cộng đoàn thực sự và sống trung thành với nhau.

Cuối cùng, bây giờ lòng trung thành không còn là việc kết nối thể xác với ai đó, nhưng là sống trong tinh thần chia sẻ. Sự phản bội không phải là vấn đề do xa cách, do quên đi một kỷ niệm hay một sinh nhật, hoặc không thể giữ liên lạc với người mình yêu quý. Phản bội là tránh xa sự thật và đức hạnh với người mà mình từng chia sẻ, với người mình thân yêu. Sự phản bội là thay đổi tâm hồn. Chúng ta không trung thành với gia đình và bạn bè khi chúng ta thành một người khác, để không còn chia sẻ cùng một tinh thần với họ.

Bạn có thể ở cùng nhà với ai đó, cùng ăn cơm và nói chuyện hàng ngày với họ, nhưng bạn không phải là thành viên trung thành của gia đình hay là một người bạn; cũng như bạn có thể là người bạn trung thành hay thành viên của một gia đình, dù bạn không gặp gia đình hay người bạn này trong bốn mươi năm qua. Trung thành trong việc nhớ các ngày sinh nhật là chuyện tuyệt vời, nhưng lòng trung thành còn hơn thế, khi ngày sinh nhật này nhắc bạn nhớ đó là ngày đặc biệt đối với bạn. Trung thành là duy trì một tinh thần đạo đức tương hợp với nhau.

Trong khả năng tốt nhất của tôi, tôi cố gắng giữ liên lạc với gia đình, bạn cũ, hàng xóm cũ, bạn học cũ, các sinh viên cũ, đồng nghiệp cũ và người quen cũ. Nhiều lúc nó cũng vượt quá khả năng tôi một chút. Vì vậy, tôi đặt niềm tin của tôi vào lòng trung thành đạo đức. Tôi cố gắng hết sức có thể để giữ cùng một tâm hồn, khi tôi rời nhà, khi tôi còn nhỏ, và đó là nét đặc trưng và là bản sắc của tôi khi tôi gặp tất cả những người tuyệt vời trên đường đời.

Đối diện với giờ phút khó khăn của chúng ta

Phân định không phải là chuyện dễ dàng. Chúng ta thử giải quyết vấn đề nan giải này: khi chúng ta thấy lòng mình ở trong tình trạng lo âu cực độ, liệu chúng ta có lơ đi cho rằng một đau đớn như thế là dấu chỉ rằng đây không phải là nơi phù hợp với chúng ta, rằng có cái gì đó sai lầm ở đây không? Hoặc, như Chúa Giêsu, chúng ta chấp nhận ở lại và nói với chính mình, với người thân, với Chúa: “Con sẽ nói gì bây giờ, cứu con khỏi giây phút này sao?”

Khi Chúa Giêsu đối diện với cái chết sỉ nhục trên thập giá, Tin Mừng Thánh Gioan có ám chỉ đến việc Ngài được đề nghị một cơ hội để trốn thoát. Một phái đoàn người Hy Lạp, qua trung gian Thánh Philiphê đề nghị Chúa Giêsu đi với họ, đến một nhóm sẽ đón Ngài và thông điệp của Ngài. Như thế Chúa Giêsu phải chọn: Chịu đựng nỗi thống khổ, tủi nhục và chết với cộng đoàn hay từ bỏ cộng đoàn này để đến với cộng đoàn sẽ chấp nhận mình. Chúa Giêsu đã làm gì? Chúa Giêsu cũng sẽ đặt câu hỏi: “Tôi sẽ nói gì bây giờ, cứu tôi khỏi giây phút này sao?

Dù câu này được xem là câu hỏi, nhưng đó là câu trả lời. Ngài đã chọn ở lại, đối diện với lo âu, với sỉ nhục, với đau đớn vì Ngài thấy đây là lòng trung tín chính xác, Ngài được mời gọi trong chính tình yêu mà Ngài rao giảng. Ngài xuống thế để nhập thể, để giảng dạy thế nào là tình yêu thực sự và bây giờ cái giá phải trả cho những chuyện này là sỉ nhục, là lo âu, Ngài biết và chấp nhận những gì đòi hỏi Ngài bây giờ. Nỗi đau Ngài chịu không có nghĩa là Ngài đã làm cái gì đó sai, Ngài ở không đúng nơi hoặc cộng đoàn này không đáng để Ngài chịu đau khổ này. Ngược lại: nỗi đau được hiểu là cách thể hiện lòng trung tín sâu thẳm nhất của chính sứ vụ và thiên chức của Ngài. Cho đến lúc này, chỉ có những lời kêu xin Ngài, bây giờ chúng ta xin Ngài nâng đỡ chúng ta trong thực tế; Ngài cần phải nuốt khó khăn để làm.

Tôi sẽ nói gì bây giờ, cứu tôi khỏi giây phút này sao? Chúng ta có đủ khôn ngoan và quảng đại để nói những lời này khi, trong sự dấn thân riêng của mình, chúng ta bị thách thức chịu đựng nỗi lo âu nóng bỏng trong lòng này không? Khi Chúa Giêsu đặt câu hỏi này, những gì Chúa phải đối diện là tấm gương gần như hoàn hảo cho các tình huống mà đôi khi chúng ta phải đối diện. Trong hầu hết mọi dấn thân, nếu chúng ta trung thành thì sẽ có khi chúng ta phải phải chịu đựng một nỗi lo âu trong lòng (và cũng có khi do hiểu lầm bên ngoài), chúng ta phải đối diện với một quyết định khó khăn: nỗi đau và sự hiểu lầm này (dù cho đó là do sự non nớt của chính mình) có phải là dấu chỉ tôi ở không đúng chỗ, tôi phải ra đi và tìm một ai khác, một cộng đoàn nào khác cần đến tôi không? Hoặc bên trong nỗi lo âu nội tâm này, hiểu lầm do bên ngoài, do sự non nớt của cá nhân tôi, tôi được gọi để nói: Tôi sẽ nói gì bây giờ, cứu tôi khỏi giây phút này sao? Đây là điều tôi đã được gọi! Tôi sinh ra để làm điều này!

Tôi nghĩ câu hỏi này rất quan trọng vì thường nỗi lo thường xuyên trong lòng có thể làm lung lay các cam kết dấn thân chúng ta, thúc đẩy chúng ta buông bỏ. Các hôn nhân, các ơn gọi sống đời sống thánh hiến, các dấn thân làm việc cho công lý, cho cộng đoàn tu sĩ và các dấn thân cho gia đình, bạn bè có thể bị buông bỏ vì đương sự nghĩ rằng không ai được gọi để sống trong lo âu tột độ, bị sầu khổ và hiểu lầm như vậy. Thật vậy, ngày nay nỗi đau, sầu khổ, hiểu lầm chung chung được xem như dấu chỉ để từ bỏ những chuyện mình đã dấn thân để đi tìm một ai khác, một cộng đoàn khác sẽ khẳng định mình, thay vì xem đây là dấu chỉ, bây giờ, chỉ có bây giờ, chỉ có giờ phút này, bên trong sự lo âu đặc biệt, sự hiểu lầm này, chúng ta mới có dịp mang lại ân sủng cho đời sống dấn thân của mình.

Tôi đã chứng kiến nhiều người từ bỏ hôn nhân, từ bỏ chức thánh, từ bỏ đời sống tu trì, từ bỏ cộng đoàn tôn giáo, từ bỏ bạn bè thân yêu, từ bỏ các dấn thân phục vụ cho công lý và hòa bình vì có một lúc nào đó họ cảm nhận mình quá đau và bị hiểu lầm. Và trong nhiều trường hợp này, tôi cũng thấy thực tế hóa ra là một điều tốt. Tình huống họ gặp không tốt cho họ cũng như cho người khác. Họ phải được cứu khỏi “lúc này.” Trong một vài trường hợp, điều ngược lại là đúng. Họ đau đớn tột cùng, nhưng nỗi đau đó là lời mời đến một nơi sâu đậm hơn, mang lại sự sống hơn trong đời sống dấn thân của họ. Họ rời đi, ngay lúc họ nên ở lại.

Chắc chắn, phân định không phải là chuyện dễ. Không phải lúc nào cũng vì thiếu quảng đại mà chúng ta từ bỏ dấn thân. Một số người quảng đại nhất, vị tha nhất mà tôi quen biết đã từ bỏ hôn nhân, chức thánh, đời sống tu trì hay bỏ giáo hội của mình. Nhưng tôi viết điều này vì ngày nay, nhiều tài liệu tâm lý và thiêng liêng đáng tin cậy không đủ làm nổi bật thách thức, như Chúa Giêsu đã trụ vững bên trong nỗi đau đớn tột cùng, hiểu lầm, nhục nhã của mình, thay vì bỏ đi để đến với một ai đó, một cộng đoàn nào đó chấp nhận và hiểu nỗi khao khát của mình, thì chúng ta chấp nhận nó sẽ mang đến sự sống hơn khi nói: Tôi sẽ nói gì bây giờ, cứu tôi khỏi giây phút này sao?

Để lại bình an là món quà từ giã của chúng ta cho người thân

Có một cái chết lành, chết tinh tuyền, một cái chết dù buồn nhưng để lại cảm giác bình yên. Tôi đã chứng kiến nhiều lần. Đôi khi điều này được nhận ra một cách rõ ràng khi ai đó chết, nhưng cũng có khi chỉ nhận ra trong vô thức. Nó được biết đến qua hoa quả của nó.

Tôi nhớ tôi ngồi với một với một người đàn ông hấp hối vì ung thư vào độ tuổi ngoài năm mươi, anh bỏ lại một gia đình trẻ, anh nói với tôi: “Tôi nghĩ tôi không có kẻ thù nào trên thế gian này, ít nhất là tôi không biết nếu tôi có thù gì hay không. Tôi không có việc gì dang dở.” Tôi cũng nghe một lời nói tương tự ở một phụ nữ trẻ chết vì ung thư, để lại gia đình trẻ. Bà nói: “Tôi nghĩ tôi đã khóc hết nước mắt, nhưng hôm qua khi nhìn đứa con gái út của tôi, tôi thấy tôi còn nhiều nước mắt để khóc. Nhưng tôi được bình an. Rất khó, nhưng tôi không còn gì mà tôi chưa cho.” Và tôi cũng đã có lúc ở bên cạnh giường chết mà không có gì trong các lời nói trên được nói lên lời, nhưng tất cả đều được diễn tả rõ trong vụng về, trong thinh lặng mà bạn thường chứng kiến chung quanh giường chết. Có một cách chết để lại bình yên.

Trong Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu đã nói lời từ giã dài trong Bữa Tiệc Ly vào đêm trước khi Ngài chết. Dĩ nhiên các môn đệ bị lung lay, sợ hãi và không chuẩn bị để chấp nhận thực tế tàn bạo của cái chết sắp đến. Chúa Giêsu cố gắng trấn an họ, cho họ những điều để họ bám lấy, và Ngài kết thúc như sau: Thầy đi, nhưng Thầy để lại món quà cuối cùng cho anh em, Thầy để lại bình an của Thầy cho anh em.

Tôi ngờ rằng, tất cả những ai đọc câu này đều muốn sống thời gian tang chế người thân của mình, cha mẹ, người phối ngẫu, con cái hay bạn thân của mình như vậy, ít nhất là sau một thời gian, sau nỗi buồn là cảm giác bình yên ấm áp mỗi khi nhớ lại người thân hoặc khi có ai nhắc đến. Tôi đã mất cả cha lẫn mẹ khi tôi còn ở tuổi hai mươi và dù buồn như lời chia tay, nhưng mỗi kỷ niệm đều gợi lên một tâm trạng ấm áp. Món quà từ giã của cha mẹ tôi là món quà bình yên.

Khi cố gắng hiểu điều này, điều quan trọng là phải phân biệt giữa muốn và cần. Khi tôi mất cha mẹ khi tuổi còn nhỏ, tôi vẫn rất muốn họ (và tin rằng tôi vẫn cần họ), nhưng tôi nhận ra trong sự bình an cuối cùng gia đình tôi đã có được sau khi cha mẹ qua đời, rằng nỗi đau của chúng tôi vẫn luôn còn muốn họ, nhưng chúng tôi không còn cần đến họ nữa. Trong cuộc sống và cái chết của cha mẹ tôi, cha mẹ đã cho chúng tôi những gì chúng tôi cần. Không có gì khác mà chúng tôi cần đến họ. Bây giờ chúng tôi chỉ nhớ họ và, dù còn buồn về sự ra đi của họ, mối quan hệ của chúng tôi đã hoàn tất. Chúng tôi đã bình yên.

Dĩ nhiên, thách thức của chúng ta bây giờ là ở phía bên kia phương trình, cụ thể là sống theo cách mà bình an sẽ là món quà từ giã cuối cùng của chúng ta cho gia đình, cho người thân, cho cộng đồng tôn giáo và cho thế giới của chúng ta. Làm thế nào để làm? Làm thế nào chúng ta để lại món quà bình an?

Như chúng ta biết, bình an không phải chỉ là không có chiến tranh và xung đột. Bình an được cấu thành bởi hai điều: hài hòa và trọn vẹn.

Để được bình an phải có một cái gì đó nhất quán bên trong tâm hồn chúng ta để mọi chuyển động hài hòa với nhau và phải hoàn chỉnh để nó không bị đau vì có một cái gì đó còn thiếu. Bình an là trái ngược với bất an nội tâm hay mong muốn một cái gì đó còn thiếu. Khi chúng ta không được yên ổn, đó là do chúng ta đang trải qua sự hỗn loạn hay cảm nhận một số công việc còn dang dở trong lòng. Như thế một cách tích cực, cái gì tạo nên bình an? Khi Chúa Giêsu hứa ban bình an là món quà vĩnh biệt của Ngài, Ngài đồng hóa bình an này với Chúa Thánh Thần; và như chúng ta biết, đó là tinh thần bác ái, niềm vui, hòa bình, kiên nhẫn, tốt lành, nhịn nhục, trung thành, ôn hòa, và khiết tịnh.

Làm thế nào để chúng ta để lại những điều này khi chúng ta rời cõi thế? Như thế, chết không khác gì sống. Khi một số người rời bỏ bất cứ cái gì, công việc, hôn nhân, gia đình hay cộng đoàn, họ để lại sự hỗn loạn đàng sau, một di sản của bất hòa, của việc làm dang dở, giận dữ, cay đắng, ghen tị và chia rẽ. Ký ức của họ luôn cảm nhận như một nỗi đau lạnh. Họ không nhớ dù ký ức của họ ám ảnh. Mặt khác, một số người để lại một di sản của sự hài hòa và đầy đủ, một tinh thần hiểu biết, trắc ẩn, khẳng định và thống nhất. Chúng ta nhớ những người này nhưng nỗi đau là điều ấm áp, nuôi dưỡng, của một kỷ niệm hạnh phúc.

Ra đi trong cái chết chính xác có cùng năng động này. Qua cách chúng ta sống và chết, chúng ta sẽ để lại đằng sau mình một tinh thần còn giữ mãi trong tâm trí người thân một cảm giác ấm áp mỗi khi họ nhớ chúng ta.

Sốt

Nhà văn Mỹ John Updike sau khi lành một căn bệnh nặng đã viết bài thơ có tựa đề Sốt. Bài thơ kết thúc với câu:

Nhưng có một sự thật đã được biết từ lâu, rằng một số bí mật ta chẳng biết khi khỏe mạnh.

Thực chất chúng ta đã biết điều này, nhưng đó là sự thật cá nhân, không phải là cái gì chúng ta có được trong lớp học, từ cha mẹ hay từ người cố vấn, ngay cả từ giáo lý tôn giáo cũng không. Những người này chỉ đơn thuần nói đó là thật, hiểu biết tự chính nó không mang đến khôn ngoan. Như nhà thơ Updike nói, khôn ngoan là qua trải nghiệm cá nhân khi bệnh nặng, khi mất mát lớn hay khi sỉ nhục trầm trọng.

Nhà văn, nhà tâm lý học người Mỹ James Hillman (1926-2011) theo thuyết bất khả tri cũng đi đến kết luận tương tự. Tôi nhớ đã nghe ông trong một cuộc hội thảo lớn, lúc nói chuyện, ông đã thách thức khán giả của mình về tác động này: Quý vị trung thực và can đảm suy nghĩ và tự hỏi: các kinh nghiệm nào trong đời sống quý vị làm cho quý vị sâu sắc hơn, mang đến cho quý vị cá tính? Trong hầu hết trường hợp, bạn sẽ phải công nhận đó là những chuyện sỉ nhục hoặc lạm dụng bạn phải chịu đựng, một kinh nghiệm về bất lực, thất vọng, bệnh tật hoặc bị gạt ra bên lề. Không phải nhờ những chuyện mang lại vinh quang hay ngưỡng mộ trong cuộc sống mà bạn có được chiều sâu và cá tính, lúc bạn đứng đầu lớp hay lúc bạn là vận động viên ngôi sao. Những điều này không làm cho bạn có chiều sâu. Nhưng đúng hơn là kinh nghiệm bất lực, mặc cảm, là những chuyện làm bạn trở nên khôn ngoan.

Tôi còn nhớ khi còn là sinh viên sắp tốt nghiệp, tôi dự một loạt các buổi diễn thuyết của nhà tâm thần học nổi tiếng người Ba Lan, Kasmir Dabrowski, ông viết một số sách chung quanh khái niệm mà ông gọi là, “sự tan rã tích cực”. Luận điểm thiết yếu của ông đưa ra, bằng cách tan rã chúng ta mới phát triển đến mức cao nhất của trưởng thành và khôn ngoan. Một lần, trong một bài diễn thuyết có sinh viên hỏi ông: “Tại sao chúng ta lớn lên nhờ các kinh nghiệm tan rã như lâm bệnh, gục ngã hay bị sỉ nhục? Sẽ hợp lý hơn không nếu chúng ta lớn lên qua kinh nghiệm tích cực khi được yêu, được khẳng định, thành công, khỏe mạnh và được ngưỡng mộ sao? Có nên rèn luyện lòng biết ơn trong chúng ta và từ lòng biết ơn, chúng ta sẽ trở nên quảng đại và khôn ngoan hơn không?”

Ông trả lời: Về lý thuyết, sự trưởng thành và khôn ngoan nên phát triển từ những kinh nghiệm mạnh và thành công; và có thể trong một số trường hợp, đúng là thế. Tuy nhiên, là bác sĩ tâm thần, tất cả những gì tôi có thể nói là trong bốn mươi năm hành nghề, tôi chưa bao giờ thấy. Tôi chỉ thấy mọi người trưởng thành hơn nhờ kinh nghiệm tan vỡ.

Có vẻ như Chúa Giêsu đồng ý với điều này. Chúng ta lấy ví dụ đoạn Tin Mừng khi ông Giacôbê và Gioan đến hỏi Chúa Giêsu họ có thể ngồi bên tả, bên hữu Ngài khi Ngài vinh quang không. Đáng chú ý là Ngài nghiêm túc trả lời câu hỏi của họ. Ngài không quở trách họ (trong trường hợp này) vì đã tìm kiếm vinh quang cho riêng mình; thay vào đó, Ngài xác nhận lại thế nào là vinh quang và con đường đến đó. Ngài hỏi họ: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống không?” Họ ngây thơ trả lời: “Thưa được!” Chúa Giêsu sau đó nói với họ về một điều mà họ còn ngây thơ hơn. Ngài nói với họ, “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.”

Chén nào? Làm thế nào uống chén này lại là con đường đưa đến vinh quang? Và tại sao chúng ta không thể nhận được vinh quang ngay cả khi chúng ta uống chén này?

Chén này sẽ được tiết lộ sau đó, là chén đau khổ, chén sỉ nhục, chén mà Chúa Giêsu uống trong sự thương khó và cái chết của Ngài, chén mà ở Giétsêmani khi hấp hối, Chúa Giêsu đã xin Chúa Cha: “Nếu được, xin Cha cất chén này cho con!”

Về cốt lõi, những gì Chúa Giêsu nói với ông Giacôbê và Gioan là như sau: Không có con đường nào đến với chúa nhật Phục Sinh mà không qua ngày con đường Thứ Sáu Tuần Thánh. Không có con đường đến chiều sâu và khôn ngoan trừ con đường đau khổ và sỉ nhục. Sự kết nối là nội tại, giống như sự đau đớn và rên rỉ của người phụ nữ là cần thiết khi sinh con. Hơn nữa, Chúa Giêsu cũng nói, đau khổ sâu đậm sẽ không tự động mang lại khôn ngoan. Tại sao? Bởi vì, nếu có một mối liên hệ nội tại giữa đau khổ sâu sắc và một cái gì sâu đậm lớn hơn trong đời sống chúng ta, đó là cái bẫy, sự đau khổ trong chua cay có thể dìm chúng ta trong cay đắng, giận dữ, ghen tị và hận thù, nhưng nó cũng dễ dàng làm cho chúng ta chìm đắm trong lòng trắc ẩn, tha thứ, thông cảm, và khôn ngoan. Chúng ta có thể có nỗi đau, và chúng ta không có được khôn ngoan.

Sốt! Triệu chứng chính của việc bị nhiễm Covid-19 là sốt cao. Sốt bây giờ đã bao vây thế giới chúng ta. Hy vọng sau khi nó làm tăng một cách nguy hiểm nhiệt độ cơ thể và tâm hệ, nó cũng cho thấy một vài bí mật được giấu kín của sức khỏe. Đó là những bí mật nào? Chúng ta chưa biết. Chúng chỉ được vén mở bên trong cơn sốt.

Thiên Chúa và nguyên tắc không mâu thuẫn

Thật buồn cười đôi khi các bài học trong các lớp học của chúng tôi đôi khi được hiểu.

Tôi học triết khi tôi còn quá trẻ để học, một thanh niên 19 tuổi học siêu hình học của triết gia Aristote và của Thánh Tôma Aquinô. Nhưng một cái gì đó từ lớp siêu hình học vẫn còn in dấu trong tâm trí tôi. Chúng tôi học có bốn thuộc tính “siêu việt” của Chúa: siêu hình học kinh điển dạy chúng tôi Thiên Chúa là Duy nhất, Chân, Thiện Mỹ. Từ đó tâm trí trẻ của tôi có một nắm bắt nào đó về ý nghĩa của Chân, Thiện, Mỹ, vì chúng tôi có một số quan niệm thông thường về những chuyện này; nhưng thế nào là Duy nhất? Thế nào là thiêng liêng không thể chia cắt?

Câu trả lời không đến với tôi trong lớp học hoặc trong một thảo luận học thuật dù tôi thường cố gắng giải thích ý nghĩa của nó cho các học sinh trong lớp học. Câu trả lời đến với tôi từ một siêu thị.

Tôi mua hàng hóa trong cùng một siêu thị từ mười hai năm nay, thì gặp một sự cố không đáng kể đã giải thích cho tôi về Chúa là Một và vì sao nó quan trọng đối với tôi. Cửa hàng là một siêu thị có quầy trái cây bạn có thể gom đủ thứ cam, táo, bưởi, chuối…, rồi mình để trong túi ny-lông của tiệm. Bên cạnh các túi này có những hộp nhỏ đựng dây buộc bằng kim loại. Một ngày nọ sau khi gom trái cây bỏ vào túi thì tôi thấy không còn giây buộc nào trong các hộp nhỏ bên cạnh. Khi tôi xem lại các món hàng mình mua, nghĩ rằng có ai đã chơi khăm gì đây, tôi báo cho cô thu ngân các dây buộc không còn. Câu trả lời của cô làm tôi ngạc nhiên: “Nhưng thưa ông, chúng tôi không bao giờ có thứ dây đó trong cửa hàng!” Nghĩ rằng chắc cô này là nhân viên mới, tôi nói: “Tôi mua hàng ở đây đã mười hai năm và khi nào tôi cũng thấy chúng! Cô có thể xem các cái hộp đựng nó ở đây!” Với một sự tin chắc tuyệt đối, cô trả lời: “Tôi làm ở đây cũng lâu rồi, và tôi có thể nói với ông là chúng tôi không bao giờ có nó!”

Tôi không thắc mắc thêm, nhưng khi ra khỏi cừa hàng, tôi nghĩ: “Nếu cô ấy có lý thì chắc mình điên! Nếu cô ấy có lý thì mình hoàn toàn đánh mất liên lạc với thực tế, từ lâu tôi không có một khái niệm gì về sự hợp lý!” Tôi chắc chắn là đã thấy sợi dây cột đó trong mười năm qua! Và đúng, lần sau tôi đến, chúng đã có lại, và hôm nay nó có đó, nhưng thử thách nho nhỏ cho sự hợp lý của tôi đã dạy cho tôi một điều gì đó. Bây giờ tôi biết ý nghĩa thế nào Chúa là Duy nhất và tại sao điều đó lại quan trọng.

Thiên Chúa là Duy nhất (và không phân chia) là nền tảng cho tất cả sự hợp lý và cho mọi lý lẽ. Sự việc Thiên Chúa không phân chia và nhất quán bảo đảm với bạn hai cộng hai luôn là bốn – và bạn có thể neo sức khỏe tinh thần của bạn vào đó. Rằng Thiên Chúa không phân chia, bảo đảm với bạn nếu bạn thấy các sợi dây cột trong cửa hàng từ mười hai năm nay, nó ở đó và bạn… không điên. Rằng Thiên Chúa là Duy nhất là nền tảng cho sức khỏe tinh thần của bạn. Nó bao gồm Nguyên tắc Không mâu thuẫn: có một cái gì ở đó hay không ở đó, nó không thể là cả hai; và hai cộng hai không bao giờ là năm – và điều này giúp chúng ta sống một đời sống hợp lý và lành mạnh. Bởi vì Thiên Chúa không phân chia, chúng ta có thể tin tưởng vào sức khỏe tinh thần của mình.

Sự thật không bao giờ bị nguy hiểm bởi các cuộc tranh luận nhận thức của lịch sử. Các nghi ngờ về tính hợp lý và lý lẽ không đến từ các triết gia Descartes, Kant, Hegel, Locke, Hume, Wittgenstein hay Jacques Derrida; các triết gia này chỉ tranh luận về cấu trúc tính hợp lý, không bao giờ về sự tồn tại của nó. Điều gây nguy hiểm cho sức khỏe tinh thần của chúng ta (và chắc chắn đây là mối đe dọa đạo đức lớn nhất của thế giới chúng ta ngày nay), đó là sự dối trá, phủ nhận các sự việc, tạo ra các sự việc giả. Không có gì, tuyệt đối không có gì nguy hiểm và độc hại cho bằng nói dối, không trung thực. Không phải chuyện ngẫu nhiên mà kitô giáo gọi Satan là vua dối trá và dạy rằng nói dối là gốc rễ của tội lỗi không thể tha thứ chống lại Chúa Thánh Thần. Khi các sự việc không còn là sự việc, thì tính hợp lý của chúng ta bị bủa vây vì nói dối đã làm hỏng nền tảng của sự hợp lý. Chúa là duy nhất! Điều này có nghĩa không có mâu thuẫn nội tại trong Thiên Chúa, và điều này bảo đảm cho chúng ta không có mâu thuẫn nội tại nào có thể có trong cấu trúc của thực tế và trong một tâm trí lành mạnh. Những gì đã xảy ra, đã mãi mãi xảy ra và không thể phủ nhận. Hai cộng hai luôn là bốn và vì thế, chúng ta có thể luôn hợp lý và có đủ tin tưởng vào thực tế để sống một đời sống nhất quán.

Điều nguy hiểm nhất cho thế giới là nói dối, không trung thực, phủ nhận sự thật. Phủ nhận một thực tế, đó không những là đánh nhanh và cố ý với lý lẽ riêng của mình, vào các nền tảng của chính sự hợp lý; và cũng là đánh nhanh và cố ý vào Chúa mà sự nhất quán bao gồm mọi lý lẽ và mọi ý nghĩa. Chúa là Duy nhất, không phân chia và nhất quán.

Giáo hội là bệnh viện dã chiến

Đa số chúng ta đều quen thuộc với câu nói của Đức Phanxicô, theo đó ngày nay Giáo hội phải là bệnh viện dã chiến. Điều này ngụ ý gì?

Trước tiên hết, lúc này giáo hội không phải là bệnh viện dã chiến, hay ít nhất cũng không còn nhiều. Quá nhiều giáo hội của nhiều phái xem thế giới như đối thủ phải chiến đấu hơn là chiến trường nơi người bị thương nằm đây đó chờ phục vụ. Các Giáo hội ngày nay, theo chữ dùng của Đức Phanxicô thường ngược với hình ảnh trong sách Khải Huyền (Book of Revelation?) khi Chúa Giêsu đứng ngoài cửa, gõ cửa, cố gắng bước vào, đến một tình huống Chúa ở bên trong giáo hội, cố gắng để đi ra ngoài.

Vậy làm thế nào các cộng đoàn giáo hội chúng ta lại có thể trở thành bệnh viện dã chiến?

Trong một bài viết khiêu khích rất haycủa báo America Magazine gần đây, nhà văn thiêng liêng người Tiệp Tomas Halik đề nghị các cộng đoàn giáo hội của chúng ta phải trở thành “bệnh viện dã chiến”, họ phải đảm nhận ba vai trò: một là chẩn đoán – phải nhận ra dấu chỉ của thời đại; hai là phòng ngừa – trong đó giáo hội tạo hệ thống miễn nhiễm với các vi-rút ác tính như sợ hãi, hận thù, chủ nghĩa mị dân, chủ nghĩa dân tộc làm tan nát các cộng đoàn và thứ ba là dưõng bệnh – trong đó giáo hội giúp thế giới vượt lên tổn thương của quá khứ bằng lòng tha thứ.

Cụ thể mỗi yếu tố này được dự kiến làm như thế nào?

Các giáo hội chúng ta phải được chẩn đoán; phải định danh cho thời điểm hiện tại một cách ngôn sứ. Nhưng điều này đòi hỏi phải có can đảm mà lúc này dường như thiếu, bị trật đường vì sợ hãi và ý thức hệ. Lúc này các người tự do và các người bảo thủ có một sự chẩn đoán hoàn toàn khác nhau, không phải vì các sự việc không giống nhau cho cả hai, nhưng vì mỗi bên nhìn sự việc theo ý thức hệ riêng của họ. Thêm nữa, cuối cùng, cả hai bên dường như quá sợ hãi khi nhìn các vấn đề khó khăn trước mặt, cả hai đều hãi sợ về những gì họ có thể nhìn thấy.

Chỉ nêu ra một vấn đề mà cả hai dường như sợ nhìn vào mà không chớp mắt: các nhà thờ trống rỗng nhanh chóng và thực tế là rất nhiều trẻ em của chính chúng ta không còn đi nhà thờ hoặc chúng không còn lấy bản sắc của chúng ở nhà thờ nữa. Phía bảo thủ thì đơn giản đổ lỗi cho chủ nghĩa thế tục, mà họ không bao giờ thực sự muốn cởi mở tranh luận với các phê phán khác nhau của các nhà thờ đến từ hầu hết mọi thành phần của xã hội. Còn phía tự do thì có xu hướng đơn giản đổ lỗi cho sự cứng nhắc bảo thủ mà không thực sự can đảm cởi mở nhìn một vài nơi thế tục, nơi đức tin vào một Thiên Chúa siêu việt và một Chúa Kitô nhập thể đối nghịch với một vài tiêu chuẩn đạo đức và ý thức hệ văn hóa của thế tục. Cả hai bên, cho thấy sự phòng thủ quá độ của họ, có vẻ như họ sợ nhìn vào tất cả vấn đề.

Chúng ta phải làm gì để phòng ngừa, để biến đổi nhà thờ chúng ta thành bệnh viện dã chiến? Hình ảnh nhà văn Halik đề nghị ở đây thì phong phú nhưng chỉ có thể dễ hiểu nếu thấu hiểu được Nhiệm thể Chúa Kitô và một sự chấp nhận kết nối sâu đậm giữa chúng ta với gia đình nhân loại. Chúng ta tất cả là một, một chi thể sống động, cùng một chi thể, do đó, như bất kỳ một cơ thể sống nào, bệnh tật hay sức khỏe, một bộ phận đau là đau toàn thân. Và sức khỏe của cơ thể tùy thuộc vào hệ thống miễn nhiễm, vào chất xúc tác sinh học (enzim) đi khắp cơ thể để giết các tế bào ung thư. Ngày nay, thế giới chúng ta bị bủa vây bởi các tế bào ung thư cay đắng, thù hận, dối trá, nỗi sợ hãi tự-bảo vệ và chủ nghĩa bộ lạc đủ mọi loại. Thế giới chúng ta bị bệnh trầm kha; bị bệnh ung thư hủy hoại cộng đồng.

Do đó các cộng đoàn giáo hội chúng ta phải trở thành nơi tạo các chất xúc tác sinh học lành mạnh cần thiết để giết các tế bào ung thư. Chúng ta phải tạo một hệ thống miễn nhiễm đủ mạnh để làm điều này. Và để làm được, trước hết chính chúng ta phải ngưng, không là thành phần của căn bệnh ung thư thù hận, sợ hãi, chống đối và tinh thần bộ lạc.

Và quá thường xuyên, chính chúng ta là tế bào ung thư. Thử thách tôn giáo lớn nhất của chúng ta ngày nay là thành lập một hệ thống miễn nhiễm mạnh đủ và đủ sức giết các tế bào ung thư của sợ hãi, của dối trá, của chủ nghĩa bộ lạc đang trôi nổi tự do trên khắp thế giới.

Cuối cùng vai trò dưỡng bệnh: các cộng đoàn giáo hội chúng ta phải giúp thế giới đi đến hòa giải sâu sắc hơn với các tổn thương trong quá khứ. May thay đây là một trong các điểm mạnh của chúng ta. Các giáo hội của chúng ta là đền thánh của tha thứ. Theo hồng y Francis George: “Trong xã hội chúng ta, tất cả đều được phép nhưng không có gì được tha thứ; trong nhà thờ thì cấm rất nhiều, nhưng tất cả đều được tha thứ.” Nhưng ở lãnh vực này chúng ta cần phải chủ động hơn, là đền thánh tha thứ ngày nay là liên kết với một số “chấn thương đau đớn trong quá khứ”. Tóm lại, tha thứ, chữa lành và chuộc tội sâu đậm hơn thì phải ở bên cạnh lịch sử của thế giới với chế độ thuộc địa, với tình trạng nô lệ, tình trạng phụ nữ, với tra tấn, với sự biến mất các dân tộc, đối xử tệ với người di dân, hỗ trợ lâu dài cho các chế độ bất công và chuộc tội với mẹ trái đất. Các nhà thờ chúng ta phải điều khiển nỗ lực này.

Trong vai trò bệnh viện dã chiến, các cộng đồng giáo hội chúng ta có thể là Galilê ngày nay.

Tảng đá lớn và cánh cửa bị khóa

Triết gia Soren Kierkegaard đã từng viết, bản văn Tin Mừng mà ông thấy rõ mình trong đó, là câu chuyện kể các môn đệ sau khi Chúa Giêsu chết, họ tự giam mình trong phòng vì sợ, rồi họ trải nghiệm Chúa Giêsu đi qua cánh cửa bị khóa để ban bình an cho họ. Kierkegaard muốn Chúa Giêsu làm như vậy với ông, đi qua các cánh cửa bị khóa của ông, sự cự lại của ông và để ông được hít thở sự bình yên trong Ngài.

Hình ảnh các cánh cửa bị khóa là một trong hai hình ảnh đặc biệt thú vị trong câu chuyện về ngày Phục sinh đầu tiên. Hình ảnh kia là hình ảnh tảng đá lớn đã chôn Chúa Giêsu. Các hình ảnh này nhắc chúng ta nhớ những gì thường tách chúng ta ra khỏi ơn sống lại. Đôi khi để ân sủng này đi tìm chúng ta, thì ai đó “phải lăn tảng đá” và đôi khi sự sống lại đến với chúng ta qua cánh cửa bị khóa.

Trước hết, về “tảng đá:

Các Tin mừng cho chúng ta biết rằng vào sáng sớm Phục sinh, ba phụ nữ đang trên đường đến mộ Chúa Giêsu, họ mang theo dầu thơm để ướp xác Ngài nhưng họ lo lắng không biết làm sao lăn tảng đá đã bít chặt mộ Ngài. Họ hỏi nhau: “Ai sẽ lăn hòn đá cho chúng ta?”

Và như chúng ta biết, hòn đá đã được lăn. Cách nào? Chúng ta không biết. Không có ai ở đó khi Chúa Giêsu sống lại. Không ai biết chính xác hòn đá đó đã lăn đi như thế nào. Nhưng điều mà Kinh thánh làm rõ là: Chúa Giêsu không tự sống lại. Chính Thiên Chúa đã làm cho Chúa Giêsu sống lại. Chúa Giêsu không lăn hòn đá, đó là điều chúng ta thường nghĩ như vậy. Tuy nhiên, và vì lý do chính đáng, cả Kinh Thánh và truyền thống kitô giáo đều khẳng định mạnh mẽ, Chúa Giêsu không tự mình sống lại từ cõi chết, Chúa Cha đã làm cho Chúa Giêsu sống lại. Điều này có vẻ như là điểm không cần thiết để nhấn mạnh; nhưng rốt cuộc, nó có gì khác biệt?

Điều này làm một sự khác biệt rất lớn. Chúa Giêsu không tự mình sống lại từ cõi chết và chúng ta cũng không thể. Đó là mục đích. Để sức mạnh của sự sống lại thấm nhập vào chúng ta, một thứ gì đó từ bên ngoài chúng ta phải loại bỏ tảng đá khổng lồ bất động của sự cự lại của chúng ta. Đây không phải để phủ nhận chúng ta không có thiện chí và sức mạnh cá nhân; nhưng những điều này, dù quan trọng, không còn là điều kiện tiên quyết để nhận được ân sủng của sự sống lại, mà chính do sức mạnh của sự sống lại, luôn đến với chúng ta từ bên kia. Chúng ta không bao giờ tự mình lăn được tảng đá!

Ai có thể lăn tảng đá? Có lẽ đây là câu hỏi chúng ta đặc biệt quan tâm, nhưng chúng ta nên hỏi… Chúa Giêsu đã bị táng xác và bất lực không thể tự dậy, cũng vậy đối với chúng ta. Giống như các phụ nữ trong ngày Phục sinh đầu tiên, chúng ta cũng lo lắng hỏi: “Ai sẽ là người lăn tảng đá cho chúng ta?” Chúng ta không thể tự mở mộ cho mình.

Thứ hai, các cánh cửa của chúng ta đã bị khóa:

Thật thú vị khi thấy các tín hữu của ngày Phục sinh đầu tiên này trải nghiệm Chúa Kitô phục sinh trong cuộc sống của họ. Các Tin mừng cho chúng ta biết, họ bị hãi sợ và hoang mang bao trùm nên họ ở trong phòng khóa cửa lại, chỉ muốn tự bảo vệ mình, Chúa Kitô đi qua cánh cửa bị khóa của họ, cánh cửa của sợ hãi, của tự bảo vệ và truyền bình an cho họ. Họ họp nhau lại trong sợ hãi không phải là họ không có ý chí hay không có đức tin. Trong thâm tâm, họ thật lòng mong mình không sợ, nhưng thiện ý này không phải lúc nào cũng mở cánh cửa của họ. Chúa Kitô bước vào và ban bình an cho họ dù họ cự lại, dù nỗi sợ hãi và cánh cửa bị khóa của họ

Các điều này không thay đổi gì từ hai ngàn năm nay. Là cộng đồng kitô hay cá nhân, chúng ta vẫn đang loay hoay trong sợ hãi, lo lắng về bản thân, không tin tưởng, không được bình an, cánh cửa của chúng ta bị khóa, ngay cả khi trái tim chúng ta mong muốn hòa bình và tin tưởng. Có lẽ, giống như triết gia Kierkegaard, chúng ta muốn được đặc ân như đoạn Sách Thánh này, khi Chúa Kitô sống lại đi qua các cánh cửa bị khóa do con người cự lại và thổi bình an đến cho chúng ta.

Hơn nữa, năm nay, vào thời điểm đặc biệt khi coronavirus Covid 19, đã khóa các thành phố và cộng đồng chúng ta và chúng ta cách ly trong ngôi nhà riêng của mình, đối diện với các tâm trạng hụt hẫng, mất kiên nhẫn, sợ hãi, hoảng loạn và buồn chán. Và đây. Lúc này chúng ta cần một chút gì đó để sống phục sinh, một hòn đá cần phải được lăn đi để cuộc sống được hồi sinh, để có thể đi qua cánh cửa bị khóa của chúng ta và để mang bình an đến cho chúng ta.

Vào cuối ngày, hai hình ảnh, “tảng đá phải được lăn” và “các cánh cửa của nỗi sợ chúng ta” hàm chứa trong chính nó sự thật an ủi nhất của mọi tôn giáo bởi vì chúng tiết lộ điều này về ân sủng của Chúa: Khi chúng ta không thể giúp chính mình, chúng ta vẫn có thể được giúp đỡ và khi chúng ta bất lực để vươn ra, ân sủng vẫn có thể đi qua các bức tường cự lại của chúng ta và mang bình an đến cho chúng ta. Chúng ta cần phải bám lấy điều này mỗi khi chúng ta bị đổ vỡ không thể cứu vãn được trong cuộc sống chúng ta, khi chúng ta cảm thấy bất lực trong các vết thương và nỗi sợ hãi, khi chúng ta cảm thấy bị tổn thương về mặt tinh thần và khi chúng ta đau buồn vì người thân yêu bị nghiện ngập hoặc tự tử. Chúa Kitô phục sinh có thể đi qua các cánh cửa bị khóa và đẩy đi bất cứ hòn đá nào chôn chúng ta, nhốt chúng ta, dù vô vọng đối với chúng ta như thế nào.

Ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu

Cái chết của Chúa Giêsu rửa sạch mọi thứ kể cả thiếu sót và tội lỗi của chúng ta. Đó là thông điệp rõ ràng của Tin Mừng Thánh Luca về cái chết của Chúa Giêsu.

Như chúng ta biết, chúng ta có bốn Tin Mừng, mỗi Tin Mừng có cái nhìn riêng về sự Thương Khó và cái chết của Chúa Giêsu, các câu chuyện phúc âm không giống như phóng sự của nhà báo về chuyện gì xảy ra ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng đúng hơn là các chú giải thần học những gì xảy ra vào thời đó. Đó là các bức tranh về cái chết của Chúa Giêsu hơn là phóng sự về chủ đề này, họ tùy nghi làm nổi bật một vài hình thức nhất định để thấy điều thiết yếu nhất. Mỗi tác giả Tin Mừng có cách chú giải riêng câu chuyện trên Núi Sọ.

Đối với Thánh Luca, chuyện xảy ra trong cái chết của Chúa Giêsu, là mạc khải rõ ràng nhất, rõ hơn bao giờ hết, về sự thấu hiểu, tha thứ và chữa lành của Thiên Chúa. Theo Thánh Luca, cái chết của Chúa Giêsu rửa sạch mọi thứ của sự thấu hiểu, tha thứ và chữa lành, phủ nhận tất cả mọi ý tưởng ngược lại. Để làm rõ điều này, Thánh Luca nhấn mạnh đến một số yếu tố trong bài tường thuật.

Đầu tiên là vụ bắt Chúa Giêsu ở Vưòn Giếtsêmani, Thánh Luca kể, khi một trong các môn đệ chém người đầy tớ của vị thượng tế làm người này bị đứt tai, Chúa Giêsu sờ vào tai người đầy tớ và chữa lành. Theo Thánh Luca, sự chữa lành của Chúa Giêsu bao gồm mọi hoàn cảnh, thậm chí cả trong hoàn cảnh cay đắng, phản bội và bạo lực. Cuối cùng ân sủng của Chúa sẽ chữa lành cả những tổn thương do hận thù.

Kế đó, sau khi Thánh Phêrô chối Chúa ba lần, Chúa Giêsu bị đưa ra trước Thượng hội đồng, Thánh Luca kể Chúa Giêsu quay lại nhìn ông Phêrô với ánh nhìn làm ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết. Mọi sự trong đoạn này và những gì xảy ra sau đó, ánh nhìn của Chúa Giêsu làm Thánh Phêrô khóc thảm thiết không phải là dấu hiệu của tuyệt vọng và buộc tội, một ánh nhìn làm Phêrô khóc vì hổ thẹn. Không, đúng hơn đây là cái nhìn thấu hiểu và thông cảm mà Phêrô chưa bào giờ thấy trước đây, làm ông nhẹ nhõm khóc, biết rằng mọi chuyện sẽ ổn và ông được bình tâm.

Và khi Thánh Luca kể phiên tòa Chúa Giêsu trước Philatô, ngài kể một chuyện không có trong các phúc âm khác, biết Chúa Giêsu thuộc thẩm quyền của vua Hêrôđê, Philatô gởi Chúa Giêsu đến vua Hêrôđê và hai người này cho đến lúc đó là kẻ thù của nhau, “hôm đó hai người thân thiện với nhau.”

Như Ray Brown nói về bản văn này “Chúa Giêsu có tác dụng chữa lành ngay cả với những người ngược đãi Ngài.”

Cuối cùng trong tường thuật của Thánh Luca, Chúa Giêsu chịu đóng đinh và trong khi họ đóng đinh Ngài, Ngài nói những lời mà giờ ai cũng biết: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm. Những lời này này được tín hữu kitô luôn xem là tiêu chuẩn tối hậu trong cách đối xử với kẻ thù, những người đối xử xấu với chúng ta, gói gọn sự mạc khải sâu sắc trong cái chết của Chúa Giêsu. Được nói lên khi Chúa Giêsu bị con người đóng đinh, cho thấy Chúa thấy và hiểu cả trong các hành động xấu xa nhất của chúng ta: không phải là ý xấu, không phải là cái gì làm chúng ta cuối cùng quay lại chống Chúa, hay Chúa chống chúng ta, nhưng là điều gì đó như sự thiếu hiểu biết – đơn giản, không có tội, không cưỡng lại được, thấu hiểu, tha thứ, một điều gì đó như hành động tự hại mình của một em bé ngây thơ vô tội.

Trong bối cảnh này cũng vậy, Thánh Luca kể việc Chúa Giêsu tha thứ cho người trộm lành. Điều ngài nhấn mạnh ở đây, vượt lên cả những chuyện hiển nhiên, là những điều này: đầu tiên, con người được tha thứ không phải vì nó không có tội, nhưng bất chấp tội của nó; thứ nhì, nó nhận nhiều vô hạn hơn những gì nó xin; và cuối cùng Chúa Giêsu sẽ không chết khi chưa làm xong việc, phải xóa tội cho người này trước.

Cuối cùng trong lời kể của Thánh Luca, ngược với Thánh Mác-cô và Mathêu, Chúa Giêsu không chết trong từ bỏ nhưng chết trong sự tin tưởng hoàn toàn: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”. Thánh Luca muốn chúng ta thấy nơi những lời này một tấm gương theo cách mà chúng ta đối diện với chính cái chết của mình, dù chúng ta yếu đuối như thế nào. Đâu là bài học? Nhaø vaên Leon Bloy có lần đã viết, điều buồn duy nhất trong cuộc đời, đó là không nên thánh. Vào cuối giờ, khi mỗi người đối diện với chính cái chết của mình, khi đó hối tiếc lớn nhất của chúng ta, chúng ta đã không thánh thiện. Nhưng, như Chúa Giêsu cho chúng ta thấy trong cái chết của Ngài, chúng ta có thể chết (dù trong yếu đuối), biết rằng chúng ta đang chết trong bàn tay nhân lành.

Ngược với đa số truyền thống kitô, tường thuật của Thánh Luca không tập trung vào giá trị cứu chuộc nhờ cái chết của Chúa Giêsu. Nhưng thay vào đó ngài nhấn mạnh: Cái chết của Chúa Giêsu rửa sạch mọi thư, mỗi chúng ta và cả thế giới. Chúa chữa lành tất cả, thông hiểu tất cả và tha thứ tất cả – dù chúng ta thiếu hiểu biết, yếu đuối và phản bội. Trong tường thuật của Thánh Gioan, xác Chúa Giêsu bị lưỡi đòng đâm và ngay lập tức “máu và nước” (sự sống và tẩy rửa) tuôn ra. Trong tường thuật của Thánh Luca, cơ thể của Chúa Giêsu không bị đâm. Không cần phải có. Khi Ngài trút hơi thở cuối cùng, Ngài đã tha thứ tất cả và tất cả đã được rửa sạch.

Xóa tan ảo ảnh

Chúng ta không thích chữ vỡ mộng. Bình thường chúng ta xem vỡ mộng là tiêu cực, một cái gì xấu chứ không phải một cái gì có thể hữu ích. Vậy mà vỡ mộng là một cái gì hữu ích, có nghĩa là xóa tan một ảo tưởng mà các ảo tưởng thì không tốt cho chúng ta, ngoại trừ khi chúng ta dùng nó như liều thuốc bổ tạm thời. Chúng che để chúng ta khỏi thấy sự thật, khỏi thấy thực tế.

Có rất nhiều, rất rất nhiều điều tiêu cực về con coronavirus hiện nay, nó gây chết chóc trên toàn thế giới. Nhưng nó có một điểm tích cực: cự lại mọi hình thức kháng cự mà chúng ta có thể gom lại, nó xóa tan ảo tưởng chúng ta có thể kiểm soát đời sống của mình, và chính các nỗ lực riêng của mình, chúng ta có thể trở nên bất khả xâm phạm. Bài học này không mời mà đến. Con vi-rút không lường trước và không mong muốn này dạy chúng ta, bất hoặc mức độ tinh vi, thông minh, giàu có, sức khỏe, địa vị xã hội, chúng ta tất cả đều bấp bênh, chúng ta phải chịu đựng hàng ngàn tình huống mà chúng ta không kiểm soát được. Không một phủ nhận nào sẽ thay đổi được điều này.

Chắc chắn, với tầm mức ý thức của chúng ta, chúng ta luôn biết sự bấp bênh của mình. Nhưng đôi khi sau khi lâu ngày đi trên bờ đá nguy hiểm, chúng ta quên sự nguy hiểm và không còn nhận ra sự chật chội của tấm ván mình bước đi trên đó. Sau đó là chúng ta ý thức về sự bấp bênh của hàng triệu người đang gặp nguy hiểm, giống như ý thức về cái chết của chúng ta, mà bình thường thì khá trừu tượng và không thực tế lắm. Như tất cả mọi người, chúng ta biết có một ngày chúng ta sẽ chết; nhưng thường thường điều này không đè nặng trên ý thức chúng ta. Thay vào đó, chúng ta sống với cảm giác chúng ta sẽ không chết bây giờ. Cái chết không thật sự là thật đối với chúng ta. Nó cũng chưa là mối đe dọa cận kề mà chỉ là một thực tế xa vời và trừu tượng.

Chung chung, chúng ta có cảm giác mơ hồ về sự bấp bênh của mình. Đúng, chúng ta biết một cách trừu tượng rằng chúng ta bấp bênh, nhưng nhìn chung chúng ta cảm thấy mình an toàn. Cho đến ngày con vi-rút này lan tràn, chiếm hết bản tin và làm cho đời sống bình thường của chúng ta chấm dứt, thì cảm nhận bấp bênh không còn là một cảm nhận mơ hồ và trừu tượng. Bây giờ chúng ta nhận thức rõ hơn, chúng ta tất cả đã phải chịu đựng cả ngàn tình huống mà chúng ta không kiểm soát được.

Tuy nhiên để bảo vệ chúng ta, ý thức bẩm sinh rằng chúng ta kiểm soát và có thể bảo vệ sự an toàn của mình, chúng ta không nên phán xét quá sớm và quá nghiêm khắc. Chúng ta có thể giúp đỡ nó. Và đó là cách chúng ta tự xây dựng. Bản năng chúng ta hướng chúng ta đến thù ghét các điểm yếu của mình, đến bấp bênh, các giới hạn và nhận thức về chính cái nghèo nàn của mình, và một cách bản năng, chúng ta hướng về những gì làm chúng ta cảm thấy an toàn, có kiểm soát, được độc lập, không bấp bênh và tự đủ.

Đó là lòng thương xót của ân sủng và của thiên nhiên, vì nó giúp chúng ta khỏi nản chí và sống với một niềm tự hào (cần thiết). Nhưng đó cũng là một ảo tưởng; có lẽ đó là một ảo tưởng mà chúng ta cần trong một thời gian dài của cuộc sống, nhưng cũng là thứ ảo tưởng mà trong thời điểm chính xác và sáng suốt, chúng ta buộc phải xóa tan để nhận biết, trước Chúa và với cả chính mình, chúng ta phụ thuộc lẫn nhau, không tự đủ và cuối cùng không kiểm soát. Dù có cái gì khác về con vi-rút này thì nó cũng mang lại cho chúng ta một khoảnh khắc chính xác và sáng suốt, ngay cả khi điều này không được chào đón.

Chúng ta đã có một bài học tương tự trong ngày 11 tháng 9 năm 2001 khi Tòa Tháp Đôi của thành phố New York bị sụp đổ. Khi chứng kiến sự kiện bi thảm này, chúng ta đã đi từ cảm nhận an toàn và vững chắc đến ý thức, dù chúng ta đã đạt được tất cả, chúng ta cũng không thể bảo đảm được an toàn riêng cho mình và cho người thân của mình. Trong ngày hôm đó, rất nhiều người học lại ý nghĩa thế nào là cầu nguyện. Rất nhiều người trong chúng ta đang học lại ý nghĩa của cầu nguyện khi chúng ta ở nhà trong đại dịch coronavirus này.

Linh mục tác giả sách thiêng liêng Richard Rohr gợi ý việc bước đi từ tuổi thơ ấu đến tuổi trưởng thành đòi hỏi một khởi mốc cho một số sự thật cần thiết của cuộc sống. Một trong số các sự thật này có thể tóm tắt như sau: bạn không thể kiểm soát được! Nếu điều này là đúng, và nó đúng thật, thì con coronavirus này khởi mốc cho chúng ta vào tuổi trưởng thành được chín chắn hơn. Chúng ta đang trở nên có ý thức hơn về một sự thật quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta có thể không thấy một chủ ý thiêng liêng nào trong việc này. Tiếng nói cơ bản nào cho rằng Chúa gởi con vi-rút này đến cho mỗi chúng ta là một sai lầm nguy hiểm và đó là sự xúc phạm đến đức tin đích thực. Chúng ta phải nghe tiếng Chúa trong tâm hồn. Chúa lúc nào cũng nói nhưng chủ yếu là chúng ta không nghe; như thử Chúa là máy phát thanh cho một thế giới điếc đặc.

Các ảo tưởng không phải dễ để xóa tan và cũng không phải có lý do tốt để xóa tan. Vì bản năng, chúng ta bám vào đó và chúng ta thường cần chúng để vượt qua cuộc sống. Chính vì lý do này mà triết gia Socrate thời cổ đại, trong minh triết của mình, ông đã viết “không có gì đòi hỏi một đối xử nhẹ nhàng như việc loại bỏ một ảo tưởng”. Bất cứ gì ngoài sự dịu dàng cũng chỉ làm chúng ta chống cự thêm mà thôi.

Con coronavirus này có tất cả mọi sự trừ sự dịu dàng. Nhưng bên trong cái khắc nghiệt của nó, có thể chúng ta cảm thấy có một cú huých đẩy nhẹ để giúp chúng ta xóa tan ảo tưởng rằng chúng ta kiểm soát được tất cả.

Tình yêu thời Covid-19

Năm 1985, văn hào được giải Nobel, Gabriel Garcia Marquez đã viết quyển sách có tên Tình yêu thời Thổ Tả (Love in the Time of Cholera). Ông kể câu chuyện đầy màu sắc về tình yêu có thể sinh sôi, bất chấp nạn dịch.

Vậy mà thứ đang bủa vây thế giới chúng ta bây giờ không phải là dịch tả mà là dịch coronavirus, Covid-19. Trong cả cuộc đời của tôi, tôi chưa bao giờ thấy thế giới bị tác động đến tận căn như bởi con vi-rút này. Nhiều nước đóng trọn cửa, trường học đóng cửa, học sinh về nhà học trực tuyến, chúng ta không còn muốn ra khỏi nhà, không còn muốn mời ai về nhà, và chúng ta xin đừng ai đụng đến mình, và thực hành “cách ly xã hội.” Bình thường, thời gian ngừng lại. Chúng ta ở trong một mùa, mà không có thế hệ nào, có thể kể từ nạn dịch năm 1918, từng trải qua. Hơn nữa, chúng ta chưa biết được khi nào sẽ chấm dứt tình trạng này. Không ai, kể cả các nhà lãnh đạo, các bác sĩ cũng không có được chiến lược để thoát ra khỏi tình trạng này. Không ai biết khi nào và cách nào nạn dịch này sẽ chấm dứt. Tuy nhiên như những người lên con tàu Nô-ê, chúng ta bị nhốt lại và không biết khi nào nước sẽ rút xuống để sống cuộc sống bình thường.

Làm thế nào sống trong giai đoạn lạ thường này?

Vậy mà tôi đã có chỉ dẫn riêng về chuyện này cách đây 9 năm. Mùa hè năm 2011, bác sĩ cho biết tôi bị ung thư ruột già, tôi phải mổ để cắt bỏ bướu, rồi trải qua hai mươi bốn tuần hóa trị. Dĩ nhiên tôi hãi sợ khi đứng trước sự hoang mang không biết hóa trị sẽ tác động như thế nào trên cơ thể. Hơn nữa tôi mất kiên nhẫn khi trong hai mươi bốn tuần là sáu tháng, thời gian tôi phải trải qua mùa “bất thường” này. Tôi muốn chấm dứt nhanh cho rồi. Vì thế, tôi đối diện nó giống như đối diện với hầu hết các thất bại khác trong cuộc sống của tôi, tôi có thái độ khắc kỷ: “Mình sẽ vượt qua nó! Mình sẽ chịu đựng được!”

Tôi giữ những gì có thể được gọi là nhật ký, chỉ đơn thuần ghi lại những gì tôi làm mỗi ngày, ai và những gì tôi gặp trong ngày. Và thế là tôi anh hùng bắt đầu buổi hóa trị đầu tiên, tôi đánh dấu các ngày này trong nhật ký Daybook của tôi: Ngày Một , rồi Ngày Hai… Tôi làm con tính và tôi biết phải 168 ngày để kết thúc mười hai liều hóa trị, liều này cách liều kia hai tuần. Cứ như thế tiếp tục trong vòng bảy mươi ngày đầu tiên, tôi kiểm con số mỗi ngày, cố giữ cuộc sống và hơi thở để chờ ngày tôi có thể viết Ngày 168.

Rồi một ngày giữa chặng đường hai mươi bốn tuần, tôi có một thức tỉnh. Tôi không biết chính xác điều gì nảy sinh, một ơn từ trên cao, một cử chỉ tình bạn của ai đó, một cảm giác mặt trời trên cơ thể tôi, một cảm giác tuyệt vời của một loại nước uống mát lạnh, có thể là tất cả những chuyện này, nhưng khi thức dậy, tôi nhận ra tôi đã để cuộc đời treo lơ lửng, tôi không thật sự sống, tôi sống chỉ để chịu đựng mỗi ngày, để kiểm và để cuối cùng đạt đến cái ngày thứ 168, ngày tôi có thể bắt đầu sống trở lại. Tôi nhận ra tôi đã lãng phí một nửa mùa cuộc đời mình. Hơn nữa, tôi nhận ra những gì tôi đã sống đôi khi còn phong phú hơn nhờ tác động của hóa trị trong cuộc đời tôi. Thế là tôi được lên tinh thần một cách đáng kể, dù hóa trị tiếp tục hành hạ nặng trên cơ thể tôi.

Tôi bắt đầu chào đón mỗi ngày với sự tươi mát, phong phú với những gì cuộc sống mang lại cho tôi. Bây giờ tôi nghĩ lại, tôi xem ba tháng cuối (trước ngày 168) như một trong ba quãng thời gian phong phú nhất đời tôi. Tôi kết với một số bạn cho cả đời, tôi học một vài bài học kiên nhẫn mà tôi cố bám vào và nhất là tôi học các bài học từ lâu tôi đã học về lòng biết ơn, sự mến chuộng, sức khỏe, tình bạn, công việc, những thứ mình không được xem mỗi khi có là có mãi mãi. Đó là niềm vui đặc biệt tìm lại đời sống bình thường sau khi đã sống 168 ngày “xa-bát”; nhưng những ngày “xa-bát” này cũng thật đặc biệt dù nó đặc biệt theo một cách khác.

Con coronavirus đã bắt chúng ta nghỉ xa-bát và bắt những người bị nhiễm phải theo một loại hóa trị riêng của nó. Và nguy hiểm là chúng ta ngưng sống khi qua giai đoạn lạ thường này, chúng ta chịu đựng với những gì xảy ra trong mùa không mời mà đến này.

Đúng, sẽ có thất vọng, sẽ có đau đớn khi sống trong cảnh này, nhưng điều này không phải là không tương hợp với hạnh phúc. Bác sĩ tác giả Paul Tournier (1898-1986) đã mất vợ, đã chịu cảnh tang chế sâu đậm, sau đó ông hòa nhập nỗi đau đớn này vào đời sống mới, ông mới viết được những hàng chữ sau: “Tôi thực sự nói tôi rất đau buồn và tôi là một người đàn ông hạnh phúc.” Những chữ đáng suy gẫm để chúng ta chiến đấu chống con coronavirus này.

Một cách diễn tả giữa tình yêu và niềm tin

Không gì nham hiểm và bất trị như lòng người, ai dò thấu được. Tiên tri Giêrêmia đã viết điều này hơn 2500 năm trước và bất cứ ai đấu tranh với sự phức tạp của tình yêu và các mối quan hệ nhân bản sẽ hiểu ngay những gì tiên tri nói.

Ai có thể hiểu được tâm hồn con người, được phơi ra một cách nào đó rất lạ lùng và tàn nhẫn, đôi khi chúng ta thấy đó là cách để nói lên tình yêu. Chẳng hạn nữ mục sư thần học gia người Mỹ, bà Nadia Bolz-Weber mô tả điều mà tất cả chúng ta đều có khuynh hướng: “Một cách khó tránh, khi tôi không thể làm điều xấu cho người đã làm điều xấu cho tôi, thì rốt cùng tôi lại làm điều xấu này lên những người thương tôi.” Quá đúng. Khi chúng ta bị tổn thương, hầu hết mọi bản năng trong chúng ta muốn hét lên để trả thù; nhưng hầu hết chúng ta trả đũa lại những người đã làm chúng ta bị tổn thương. Hay, có thể chúng ta cũng không biết ai làm tổn thương mình. Vì vậy cần phải đả kích ai đó, đả kích nơi mà mình thấy an toàn để làm, biết rằng những người chúng ta tin tưởng họ sẽ gánh chịu, những người chúng ta cảm thấy đủ an toàn để làm. Chúng ta tấn công họ vì biết họ không trả đũa lại. Nói cách khác, đôi khi chúng ta cần nỗi giận chống một ai đó, và vì chúng ta không thể trút cơn giận này lên đúng người hay đúng những người có trách nhiệm, chúng ta đổ trên người mà trong vô thức chúng ta tin rằng họ sẽ hứng chịu mà không phản ứng.

Nếu chúng ta là người phối ngẫu trung thành, một người bạn tin tưởng, một người cố vấn giỏi, một thừa tác vụ tốt hay chỉ là một người liêm chính đại diện cho nhà thờ hay cho một cơ quan đạo đức, thì chúng ta nên biết điều này. Nếu không thì chúng ta sẽ dễ dàng diễn giải một phần sự tức giận và trách cứ khi họ gặp mình và xem đây là trách cứ cá nhân chứ không phải sự thật của việc này. Khi có ai yêu thương chúng ta, họ giận chúng ta, thì chúng ta khó để nhận ra và chấp nhận mình có thể là đối tượng của sự tức giận đó dù mình không phải là nguyên do nhưng đúng hơn mình là nơi duy nhất mà người đó có thể trút cơn giận, họ không sợ bị trả thù và thấm đòn cay đắng. Nếu bạn không hiểu năng động tình yêu có vai trò ở đây, thì chắc chắn bạn sẽ xem trách cứ này là nhắm vào cá nhân bạn, bạn sẽ đau lòng, buồn vì bị trách cứ bất công và khó để chịu đựng với tình thương mà thường tình yêu này được đòi hỏi một cách vô thức.

Nhưng điều này có thể rất khó để chấp nhận ngay cả nhiều khi chúng ta hiểu vì sao nó xảy ra. Loại tình yêu này đòi hỏi một tình yêu siêu phàm. Chẳng hạn, là kitô hữu, chúng ta đặc biệt kính mến Đức Mẹ, vì chúng ta hình dung Mẹ đau đớn như thế nào khi đứng dưới chân thập giá, nhìn con mình trong sự nhân lành và vô tội đã chịu bất công một cách hung bạo. Không có cách nào để giảm nỗi đau Mẹ cảm nhận lúc đó, cảm thấy bất lực như Mẹ trong hoàn cảnh bất công khủng khiếp này, Mẹ được an ủi vì biết con mình yêu thương mình vô cùng. Nỗi đau của Mẹ sẽ rất lớn, cũng như nỗi đau của bất cứ người mẹ nào trong hoàn cảnh này, nhưng nỗi đau của Mẹ có một cái gì “sạch” (tôi dám dùng diễn tả này). Mẹ hoàn toàn thương cảm và cởi mở với con mình, biết rằng tình của con dành cho mình cho phép mình cảm nhận những gì mình cảm nhận.

Nhưng nhiều người mẹ yêu thương, người cha yêu thương, người phối ngẫu trung thành hay người bạn tin tưởng mà quả tim họ bị tan vỡ vì sự tức giận và trách cứ nhắm vào họ bởi người mà họ yêu thương và họ trung thành. Làm thế nào để họ không cảm thấy bị buộc tội, có trách nhiệm trên sự đóng đinh cay đắng mà họ phải chịu? Nỗi đau của họ sẽ không “sạch.” Thật ra những gì họ cảm nhận thì nhiều hơn những gì Chúa Giêsu cảm nhận trên thập giá, cả với Mẹ của Ngài cảm nhận khi chứng kiến cảnh này. Họ sống giống như Thánh Phaolô nói trong thư thứ hai ngài gởi cho tín hữu Côrintô khi ngài nói, dù vô tội, Chúa Giêsu cũng trở nên người có tội. Diễn đạt này, trừ phi ta đọc cho chuẩn, có thể đây là một trong những dòng khủng khiếp nhất Thánh Kinh. Dù vậy, hiểu trong năng động của tình yêu, thì nó làm nổi bật tình yêu thật sự có ý nghĩa vượt ngoài các chuyện cổ tích. Tình yêu là thấm đòn bất công trong sự thông hiểu, thấu cảm chỉ với một ý nghĩ trong đầu là làm tốt cho người khác.

Dĩ nhiên đôi khi sự tức giận nhắm vào chúng ta của những người chúng ta yêu thương được biện minh và cho rằng do chúng ta phản bội, tội lỗi, phá vỡ lòng tin. Đôi khi các trách cứ giận dữ nhắm vào chúng ta cũng do chính lỗi của chúng ta. Trong trường hợp này, những gì người buộc tội bắt chúng ta thấm đòn mang một ý nghĩa rất khác. Thêm nữa chúng ta phải biết, chúng ta cũng làm như vậy với người khác. Khi chúng ta bị tổn thương và chúng ta không thể điều hướng nỗi giận và buộc tội của mình chống những người làm mình tổn thương, thì khi đó giống như mục sư Nadia Bolz-Weber chia sẻ một cách trung thực, cuối cùng chúng ta thường đổ lên người mà chúng ta yêu thương nhất.

Tình yêu có nhiều cách thức, có cách nồng ấm, dễ thương, trìu mến nhưng cũng có một vài cách theo kiểu buộc tội, cay đắng và giận dữ. Đúng, đôi khi chúng ta có những cách kỳ lạ và bất bình thường để diễn tả tình yêu và lòng tin tưởng của chúng ta. Ai có thể hiểu được quả tim quanh co của chúng ta!

Ngày phán xét cuối cùng

Chúng ta tất cả đều sợ phán xét. Chúng ta sợ bị nhìn thấy với tất cả những gì bên trong lòng mình, mà một số người không muốn phơi bày chúng ra ánh sáng. Ngược lại chúng ta cũng sợ bị hiểu lầm, không được nhìn thấy dưới ánh sáng đầy đủ, không được biết chúng ta là ai. Và những gì chúng ta sợ nhất, có thể là phán xét cuối cùng, mặc khải tối hậu về chính con người mình. Dù chúng ta có đạo hay không, đa số chúng ta sợ một ngày phải đứng trước mặt Đấng Tạo hóa, ngày phán xét. Chúng ta sợ trần trụi trước ánh sáng rọi sáng, nơi không có gì che giấu được và mọi bóng tối bên trong chúng ta bị đưa ra ánh sáng.

Điều làm chúng ta tò mò về những nỗi sợ hãi này là chúng ta sợ con người thật của mình bị lộ ra, cũng như sợ con người thật của chúng ta không được biết đến. Chúng ta sợ ngày phán xét ngay cả khi chúng ta mong đợi nó. Có lẽ đó là do chúng ta đã biết được phán quyết cuối cùng của mình sẽ ra sao và nó sẽ diễn ra như thế nào. Có lẽ chúng ta cũng đã có trực giác khi chúng ta trần trụi trước ánh sáng của Chúa, chúng ta rồi cũng được hiểu và ánh sáng mặc khải không những chỉ phơi bày các thiếu sót, nhưng cũng còn cho thấy các đức tính của chúng ta.

Trực giác này được đặt một cách thiêng liêng trong chúng ta và phản ánh thực tế cho sự phán xét cuối cùng của chúng ta. Khi tất cả những bí mật của chúng ta được biết, lòng tốt thầm kín của chúng ta cũng được biết đến. Ánh sáng phơi bày tất cả. Chẳng hạn như thi sĩ, văn sĩ viết sách thiêng liêng nổi tiếng Wendell Berry đã thấy trước phán xét cuối cùng: “Tôi có thể hình dung người chết thức dậy, choáng váng bởi thứ ánh sáng không bóng tối, đó là lần đầu tiên họ biết thứ ánh sáng này. Một ánh sáng tàn nhẫn cho đến khi họ chấp nhận lòng thương xót của nó; qua ánh sáng này họ vừa bị lên án, vừa được cứu chuộc. Đó là Địa ngục cho đến khi nó thành Thiên đàng. Khi thấy mình trong ánh sáng này, nếu họ muốn, họ sẽ thấy mình thất bại như thế nào với công lý duy nhất là yêu thương. Và dù trong đau khổ khủng khiếp của ánh sáng rọi sáng này, khi thấy chính mình trong đó, họ thấy sự tha thứ và nét đẹp của nó và họ được an ủi.”

Theo nhiều cách, hình ảnh này tóm gọn điều đó một cách tuyệt vời: khi, một ngày, chúng ta ở trong ánh sáng trọn vẹn của Chúa, tâm hồn trần trụi, tinh thần không đề kháng, với tất cả những gì chúng ta chưa bao giờ lộ ra, theo tôi nghĩ, ánh sáng này cũng như một ít địa ngục trước khi nó biến thành thiên đàng. Nó sẽ phơi bày những gì là ích kỷ, là không trong sạch trong con người chúng ta và tất cả các cách chúng ta làm tổn thương người khác trong ích kỷ của mình, và cả những gì nó cho thấy ngược lại, tính vị tha và tinh tuyền trong lòng chúng ta. Với phán xét này kéo theo nó một loại lên án, dù cùng lúc nó cũng cho thấy sự thông hiểu, tha thứ và an ủi mà chúng ta chưa bao giờ thấy trước đây. Phán xét này sẽ là, như tác giả Berry gợi ý, trong giây lát là cay đắng nhưng cuối cùng là được an ủi.

Sắc thái duy nhất tôi muốn thêm vào ý tưỏng của Berry là ý tưởng mượn của thần học gia Karl Rahner. Trí tưởng tượng của Rahner về sự phán xét của Chúa sau khi chết thì cũng tương tự như của Berry, ngoại trừ theo Rahner, tác nhân phán xét không phải là ánh sáng của Chúa, nhưng là tình yêu của Chúa. Đối với Rahner, ý tưởng không hẳn chúng ta ở trong ánh sáng không ngớt làm chúng ta đau đớn và xuyên qua chúng ta, nhưng đúng hơn chúng ta được một tình yêu vô điều kiện ôm lấy, một tình yêu thông hiểu và êm ái đến nỗi bên trong nó, chúng ta biết ngay tất cả những gì là ích kỷ, là không tinh tuyền trong chúng ta, cũng như chúng ta biết tất cả những gì là tinh tuyền và vị tha trong chúng ta. Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu có thói quen xin Chúa với các lời đơn sơ của ngài: “Xin Chúa phạt con bằng một nụ hôn!” Ngày phán xét sẽ chính xác như vậy. Chúng ta sẽ “bị phạt” bằng nụ hôn, bằng cách chúng ta được yêu thương, chúng ta đau đớn nhận ra tội của mình, cũng như chúng ta biết mình tốt và đáng yêu.

Đối với người công giáo chúng ta, tôi nghĩ khái niệm phán xét này cũng là những gì chúng ta nghe nói về lò luyện tội. Lò luyện tội không phải là nơi tách biệt khỏi thiên đàng, nơi chúng ta dành thời gian để ăn năn tội của mình và thanh tẩy chúng. Trái tim chúng ta được thanh tẩy bằng cách được Chúa ôm ấp, chứ không phải xa Chúa một thời gian để xứng đáng nhận vòng ôm này. Như Thánh Têrêxa ngụ ý, hình phạt cho tội chúng ta nằm trong chính vòng ôm này. Phán xét cuối cùng diễn ra qua vòng ôm vô điều kiện bởi Tình yêu. Điều này xảy ra khi chúng ta biết mình tội lỗi và ích kỷ, vòng ôm thuần khiết lòng tốt và tình yêu sẽ làm chúng ta đau đớn nhận ra tội lỗi của mình và đó sẽ là địa ngục cho đến khi nó thành thiên đàng.

Như lời một bài hát của cố nhạc sĩ người Canada Leonard Cohen: đây là cánh cổng của lòng thương xót, trong khoảng không gian võ đoán và không ai trong chúng ta xứng đáng với sự tàn nhẫn hay ân sủng. Ông có lý. Không ai trong chúng ta xứng đáng với sự tàn nhẫn hay ân sủng mà chúng ta trải nghiệm ở thế gian này. Và chỉ có phán xét cuối cùng của chúng ta, vòng ôm của tình yêu không điều kiện, nụ hôn của Chúa mới làm cho chúng ta ý thức vừa sự tàn nhẫn vừa lòng tốt của chúng ta như thế nào.