RonRolheiser,OMI

Cám dỗ cuối cùng

Cám dỗ cuối cùng là cám dỗ phản bội lớn nhất:
Làm điều đúng nhưng với lý do sai.

Nhà thơ người Mỹ Thomas Stearns Eliot (1888-1965) đã viết câu trên để nói lên khó khăn biết bao khi loại bỏ các lý do xấu trong hành động tốt của chúng ta, bỏ tính ích kỷ để cuối cùng đừng làm các việc chính nghĩa chỉ vì mình.

Nhân vật chính trong vở Giết người ở Nhà thờ chính tòa (Murder in the Cathedral) của T. S. Eliot là Thomas Becket, Tổng giám mục giáo phận Canterbury, người đã tử vì đạo vì đức tin của mình. Từ mọi hình thức bên ngoài, Becket là vị thánh, vị tha, hành động do đức tin và tình yêu thúc đẩy. Nhưng như Eliot trêu chọc trong tác phẩm Giết người ở nhà thờ chính tòa, chuyện bên ngoài không nói lên chuyện bên trong sâu sắc hơn, không cho thấy hậu quả tận căn hơn. Không phải vì Thomas Becket không phải là vị thánh hoặc không trung thực trong động lực làm điều tốt; nhưng đúng hơn đây là “cám dỗ cuối cùng” ông cần vượt lên để trở thành một vị thánh hoàn hảo. Bên dưới bề mặt, luôn có một trận đấu tranh đạo đức sâu đậm hơn, tinh tế và vô hình hơn, một “cám dỗ cuối cùng” cần vượt lên. Cám dỗ cuối cùng đó là cám dỗ gì?

Đó là cám dỗ được ngụy trang như một ơn và cám dỗ chúng ta theo cách: không vụ lợi, trung thành, làm điều tốt, không bao giờ thỏa hiệp với sự thật, quan tâm đến người khác, đưa cô đơn của mình lên một mức độ cao, vượt lên trên sự tầm thường của đám đông, là người có đạo đức xuất chúng, chấp nhận tử đạo nếu được yêu cầu. Nhưng tại sao? Vì lý do gì?

Có nhiều lý do để giải thích vì sao chúng ta muốn trở thành người tốt, nhưng động cơ ngụy trang như một ơn thực sự là một cám dỗ tiêu cực chính là điều này: hãy tốt vì được kính trọng, được ngưỡng mộ, bạn sẽ có danh tiếng mãi mãi vì điều này sẽ mang đến cho bạn. Đây là cám dỗ mà người tốt phải đối diện. Muốn có danh thơm không phải là một chuyện xấu, nhưng cuối cùng nó vẫn thuộc về chúng ta.

Trong những lúc suy nghĩ sâu xa, tôi bị ám ảnh về chuyện này và nó làm cho tôi nghi ngờ về mình. Những gì tôi làm thực sự tôi làm cho Chúa Giêsu, cho người khác, cho thế giới hay tôi làm cho danh thơm của tôi, và tôi hài lòng về việc này như thế nào? Tôi làm cho người khác để họ có thể có cuộc sống trọn vẹn hơn, ít sợ hãi hơn hay tôi làm vì được tôn trọng? Khi tôi đi dạy, có phải động lực chính là làm cho người khác yêu Chúa hay để tôi được ngưỡng mộ vì tư tưởng của tôi? Khi tôi viết sách báo, tôi thực sự cố gắng truyền khôn ngoan hay tôi muốn cho thấy tôi khôn ngoan đến như thế nào? Đó là cho Chúa hay cho tôi?

Có lẽ chúng ta không bao giờ thực sự có thể có câu trả lời vì động lực của chúng ta luôn lẫn lộn và không thể phân loại chính xác. Tuy nhiên, chúng ta còn nợ người khác và chính mình về điều này, xem xét kỹ lưỡng về cầu nguyện, về lương tâm trong việc hướng dẫn thiêng liêng, khi thảo luận với người khác. Làm thế nào để chúng ta vượt qua “cám dỗ cuối cùng” đó, để làm những điều đúng đắn và không làm chỉ vì chúng ta?

Cuộc đấu tranh để vượt lên tính ích kỷ và động lực bản thân bằng tấm lòng vị tha trong sáng, trung thực có thể là một trận chiến không thể phân thắng bại. Theo kinh điển, chúng ta có bảy mối tội đầu (kiêu ngạo, hà tiện, dâmdục, giận dữ, tham ăn, tham lam, lười biếng) gắn liền với bản chất của chúng ta và với chúng, chúng ta sẽ phải đấu tranh suốt đời. Vấn đề là chúng ta tưởng mình đã vượt lên được, thì chúng ta lại ngụy trang dưới hình thức tế nhị hơn trong cuộc sống của mình. Chẳng hạn, Chúa Giêsu khuyên không nên tự cao tìm chỗ cao nhất trong bàn ăn, sau đó phải xấu hổ khi bị mời xuống chỗ thấp hơn, nhưng khiêm nhường ngồi ở chỗ thấp nhất để sau đó được mời lên chỗ cao. Rõ ràng, đây là lời khuyên thiết thực, nhưng nó cũng có thể tạo ra một kiểu tự hào để chúng ta có thể thực sự được tự hào. Một khi chúng ta tỏ ra mình khiêm tốn và chúng ta được công chúng công nhận, chúng ta còn cảm thấy tự hào thực sự cao hơn là sự khiêm tốn của mình! Với các mối tội đầu khác cũng vậy. Khi chúng ta thành công để không nhường bước trước các cám dỗ khó khăn hơn, chúng sẽ bắt rễ lại trong các hình thức tinh vi hơn trong lòng chúng ta.

Chúng ta chỉ công khai và vụng về làm các lỗi lầm của mình khi chúng ta chưa trưởng thành, và thường nó không còn khi chúng ta đã trưởng thành. Đơn giản chúng có hình thức tinh tế hơn. Chẳng hạn khi tôi chưa trưởng thành, tôi còn bị cuốn hút trong đời sống riêng và tham vọng của mình, có thể tôi chưa nghĩ nhiều đến việc giúp đỡ người nghèo. Nhưng khi tôi lớn tuổi hơn, chín chắn hơn và được học thần học nhiều hơn, tôi sẽ viết các bài báo công khai thú nhận chúng ta cần phải làm nhiều hơn cho người nghèo. Vậy mà, thách thức người khác và chính mình quan tâm đến người nghèo là một điều tốt… và mặc dù điều này có thể sẽ không giúp được gì nhiều cho người nghèo, nhưng chắc chắn sẽ giúp tôi cảm thấy tốt hơn cho chính tôi.

Làm thế nào để chúng ta có thể vượt lên điều này, vượt lên cám dỗ cuối cùng này, để làm điều đúng nhưng với lý do sai?

Lời mời gọi can đảm

Lòng dũng cảm không phải là một trong các điểm mạnh của tôi, ít nhất không phải là một loại can đảm cụ thể.

Kinh thánh cho chúng ta biết, Thánh Gioan Tẩy giả“càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh.” Tuổi trẻ lớn lên của tôi hơi có phần khác biệt. Không giống như Thánh Gioan Tẩy giả, khi lớn lên, tinh thần tôi có phần dễ dãi. Điều này có lý do của nó. Tôi sinh ra theo những gì Nữ tu Dòng Cát Minh Ruth Burrows mô tả là “tính nhạy cảm bị tra tấn”, một nhân cách quá nhạy cảm, chưa bao giờ có thể phát triển một làn da dạn dày. Đó không phải là cách các tiên tri được đào tạo. Khi còn là đứa trẻ, trong giờ ra chơi bạn cần có thể lực mạnh để đương cự nếu gặp chuyện không công bằng, nếu không cự được, bạn nên để yên mọi chuyện hầu khỏi bị thương. Bạn cũng nên phát triển tốt các kỹ năng sắc bén như lưỡi dao để tránh đối đầu và luôn ở trong nghệ thuật xây dựng hòa bình. Thêm nữa, nếu bạn không có năng khiếu về thể lực vượt hẳn, và nếu các tình huống thử thách xảy ra, bạn nên nhanh chóng học cách tránh xa để đừng đối đầu. Trên sân chơi, cừu con biết rõ khi nào nên nằm xuống, khi nào nên đối đầu với sư tử, dù cái nhìn về cánh chung của nhà tiên tri Isaia có như thế nào.

Và điều này cũng không phải là tệ. Lớn lên theo cách của mình, tôi không có được làn da dạn dày, không có được lòng dũng cảm để trở thành nhà tiên tri, nhưng như thế lại giúp tôi có được một độ nhạy sắc bén, một độ nhạy mà ở mức tốt nhất là có được sự đồng cảm thực sự (dù trong tình trạng tệ nhất, nó giúp tôi tránh lâm vào các vụ xung đột). Dù sao, điều này cũng không đặc biệt tạo cho mình có đức tính dũng cảm của các nhà tiên tri. Thường thường, theo thói quen, tôi không muốn làm phiền mọi người. Tôi không thích đối đầu, bằng mọi giá tôi muốn có hòa bình, dù tôi cũng có vẽ một vài vạch trên cát. Nhưng tôi không phải là Thánh Gioan Tẩy giả và tôi cũng đã mất nhiều năm để học, để chấp nhận và để hiểu tại sao – và cũng để hiểu tính của tôi, đời của tôi, đôi khi chỉ là lời giải thích chứ không phải là lý do để biện minh cho sự hèn nhát của tôi.

Cuối cùng, đức tính can đảm không phụ thuộc vào bẩm sinh, tính khí hay sức mạnh tinh thần, mặc dù các điều này có thể hữu ích. Lòng dũng cảm là ơn của Chúa Thánh Thần và đó là lý do tại sao tính chất và nền tảng của một người chỉ có thể là lời giải thích chứ không là lý do cho sự thiếu can đảm.

Tôi nhấn mạnh điều này vì hoàn cảnh chúng ta bây giờ đòi hỏi chúng ta can đảm, can đảm để có lời tiên tri. Ngày nay, chúng ta rất cần các nhà tiên tri, nhưng họ quá hiếm và nhiều người trong chúng ta đặc biệt không thích tự nguyện gánh trách vụ này. Vì sao không?

Số báo gần đây của tạp chí Commonweal đăng một bài của Linh mục Bryan Massingale, một tiếng nói tiên tri mạnh về vấn đề phân biệt chủng tộc. Linh mục cho rằng lý do mà chúng ta thấy rất ít tiến bộ thực sự trong việc giải quyết vấn đề bất công chủng tộc là vì chúng ta không có tiếng nói tiên tri ở nơi cần nhất, trong trường hợp này, trong số nhiều người da trắng đàng hoàng, họ nhìn thấy sự bất công chủng tộc, họ thông cảm với những người đau khổ nhưng họ không làm gì để đấu tranh. Linh mục Massingale, ngài đi nói chuyện rất nhiều trên toàn quốc, ngài kể đi kể lại trong các bài nói chuyện và trong các lớp học của ngài, ai cũng hỏi: nhưng làm thế nào đề cập đến vấn đề này mà không làm cho mọi người khó chịu? Câu hỏi này thể hiện một cách khéo léo sự thận trọng của chúng tôi và, theo tôi nghĩ, nó vừa là vấn đề vừa là thách thức.

Như văn hào Shakespeare đã nói, “A, đó là sự cọ xát!” Đối với tôi, vấn đề này đụng vào sợi dây thần kinh đạo đức tế nhị. Nếu tôi ở một trong các lớp học của linh mục, chắc chắn tôi sẽ là người đặt câu hỏi: nhưng làm thế nào tôi chống phân biệt chủng tộc mà không làm mọi người khó chịu? Và đây là vấn đề của tôi: Tôi muốn nói tiên tri, nhưng tôi không muốn làm phiền người khác; tôi muốn thách thức đặc quyền của người da trắng, vấn đề mà bẩm sinh chúng ta vốn đã mù quáng, nhưng tôi không muốn xa lánh các người quảng đại, tốt bụng đã hỗ trợ các trường học của chúng tôi; tôi muốn mạnh mẽ lên tiếng chống bất công hơn trong các bài viết của tôi, nhưng tôi không muốn vì thế mà nhiều báo sẽ bỏ chuyên mục của tôi; tôi muốn can đảm và đối đầu với người khác, nhưng tôi không muốn sống trong cảnh hận thù sau đó; tôi muốn công khai nêu lên các bất công và chỉ danh các tên, nhưng tôi không muốn xa các người này. Vì thế tôi luôn cầu nguyện cho sự can đảm cần thiết để có lời tiên tri.

Cách đây nhiều năm, một giáo sư thỉnh giảng người Mỹ gốc Phi được mời đến trường tôi chia sẻ với phân khoa chúng tôi các bất công gần như hàng ngày mà giáo sư đơn giản chịu đựng chỉ vì màu da của mình. Và tôi đã hỏi giáo sư: “Nếu tôi, là người da trắng, tôi đến với giáo sư như ông Nicôđêmô đến gặp Chúa Giêsu ban đêm, và hỏi ông tôi nên làm gì, ông sẽ nói gì với tôi?” Câu trả lời của ông: Chúa Giêsu sẽ không dễ dàng để ông Nicôđêmô bỏ đi, vì ông đã thú nhận các nỗi sợ của mình. Nicôđêmô phải thực hiện một hành động công khai để đưa đức tin của mình ra ánh sáng, ông phải tuyên bố xác chết của Chúa Giêsu. Do đó, thách thức của giáo sư cho tôi: bạn cần phải thực hiện một hành động công khai.

Giáo sư ấy đúng; nhưng tôi vẫn phải cầu nguyện để có sự can đảm của nhà tiên tri để làm được điều này. Và có phải cho tất cả chúng ta không?

Nạn khiêu dâm và thiêng liêng tính

Người Hy Lạp cổ đại có các vị thần nam nữ cho tất cả mọi thứ, kể cả nữ thần Aidos là thần Xấu hổ. Đối với họ, xấu hổ có nghĩa là có nhiều hơn bình thường so với chúng ta. Trong đầu óc người Hy Lạp, xấu hổ là khiêm tốn, tôn trọng và một sự thận trọng cần thiết nào đó trước các điều mà lẽ ra phải giữ và giấu kín. Nữ thần xấu hổ hướng dẫn để chúng ta quay đi không nhìn những chuyện quá thân mật không nên nhìn thấy. Như họ hiểu, xấu hổ là khiêm tốn và tôn kính khi chúng ta cảm nhận có một cái gì đó thiêng liêng, hay khi chúng ta nhận một món quà, hoặc khi làm tình.

Họ có một huyền thoại hấp dẫn làm nền cho điều này: nữ thầnTình yêu Aphrodite được sinh ra từ biển; nhưng khi nữ thần nhô lên làn sóng với vẻ đẹp tuyệt trần, sự khỏa thân của nữ thần được ba vị thần che chở: nữ thần xấu hổ Aidos, thần yêu đương Eros và nữ thần đúng đắn Horai. Ba vị thần bảo vệ cơ thể trần truồng của nữ thần Aphrodite bằng tình yêu, sự đàng hoàng và sự xấu hổ. Đối với người Hy Lạp cổ đại, đây là một chân lý mang tính thiêng liêng, một chân lý dạy rằng nếu không có ba vị thần bảo vệ này thì không nên nhìn thấy cơ thể trần truồng. Khi sự khỏa thân (dưới bất kỳ hình thức nào) không được các vị thần này bảo vệ, nó sẽ bị phơi bày một cách bất công và không liêm chính.

Tôi trích câu chuyện huyền thoại này để biện hộ cho việc chống lại nạn khiêu dâm, vì ngày nay nạn khiêu dâm được chấp nhận một cách quá ngây thơ trong văn hóa và đa số không nhận ra tác hại thực sự của nó.

Tôi xin được phép bắt đầu bằng cách này. Thứ nhất, nạn khiêu dâm trên internet ngày nay là nạn nghiện lớn nhất thế giới. Không nhà phân tích hay nhà phê bình uy tín nào phủ nhận điều này. Giống như tất cả các chứng nghiện, nó cũng gây chết người. Tuy nhiên, càng ngày chúng ta càng thấy xã hội trở nên thiếu trách nhiệm và thậm chí thờ ơ với nó. Nạn khiêu dâm ở khắp nơi, thường được cho là vô hại và không hiếm khi thấy các sitcom đại chúng trên truyền hình nói về bộ sưu tập khiêu dâm của ai đó như họ nói về bộ sưu tập đồ chơi máy bay của anh ta. Ngoài ra lại có những người hăng hái thách thức các người lên tiếng chống nạn khiêu dâm. Tôi có các bạn đồng nghiệp là thần học gia kitô giáo nói: “Tại sao chúng ta quá căng thẳng khi nói về tình dục! Tình dục là thứ đẹp đẽ nhất mà thượng đế cho con người, tại sao chúng ta lại không thể nhìn được?”

Tại sao chúng ta lại không thể nhìn được? Chúng ta có thể bắt đầu bằng câu tuyên bố của nhà tâm lý học Carl Jung, một trong các chuyện ngây thơ nhất của chúng ta là chúng ta nghĩ năng lượng là thân tình và chúng ta có thể luôn kiểm soát được. Không đúng. Năng lượng là tối thượng, nó muốn chiếm đoạt và kiểm soát chúng ta. Một khi nó xâm chiếm thì khó mà dập tắt được. Đó là một trong các lý do vì sao nạn khiêu dâm rất nguy hiểm. Năng lượng của nó áp đặt như một loại “quỷ ám”.

Nhưng nạn khiêu dâm không chỉ nguy hiểm mà nó còn sai lầm, sai một cách nặng nề. Các người phản đối cho rằng tình dục là đẹp và không có gì là sai lầm khi nhìn nó, họ chỉ đưa ra một nửa sự thật; tình dục là đẹp… nhưng năng lượng và sự trần trụi của nó cực mạnh đến mức không nên nhìn thấy, nếu không có các vị thần tình yêu, thần xấu hổ và thần đúng đắn che chở.

Là tín hữu kitô, chúng ta không tin vào đền đài của các vị thần nam nữ, chúng ta chỉ tin vào một Thiên Chúa duy nhất; và Thiên Chúa này bao gồm tất cả các vị thần khác, kể cả thần Tình yêu Aphrodite, thần xấu hổ Aidos, thần yêu đương Eros và thần đúng đắn Horai. Hơn nữa, Chúa luôn được che chắn khỏi cái nhìn của chúng ta, Ngài được bao phủ, được ẩn giấu, không được đến gần ngoại trừ phải tôn kính và đó là lý do. Đức tin của chúng ta nói với chúng ta, không ai có thể nhìn Chúa và sống.

Đó là lý do vì sao nạn khiêu dâm là sai. Sai không phải vì tình dục là không đẹp, nhưng đúng hơn vì tình dục cực mạnh, nó mang một phần năng lượng và quyền lực thần thánh. Chính vì vậy nạn khiêu dâm mang tính gây nghiện rất mạnh – và rất có hại. Tình dục là đẹp nhưng nét đẹp của nó trần trụi, giống như cơ thể trần truồng của thần Aphrodite ló ra ngoài biển, chỉ có thể được nhìn ngắm khi nó được nhìn đúng mức bởi tình yêu, sự đúng đắn và được che chở bởi sự xấu hổ.

Cuối cùng, tất cả các tội đều là tội lỗi của sự bất kính và sự bất kính đó luôn chứa một cái gì đó không đúng mực, thiếu tôn trọng và thiếu liêm sỉ. Nạn khiêu dâm là một tội của sự bất kính. Nói một cách ẩn dụ, đó là chúng ta đang đứng trước bụi cây đang cháy với đôi giày của mình khi chúng ta nhìn nữ thần Aphrodite trần truồng ló ra ngoài biển mà không được tình yêu và sự đúng đắn đi kèm, không được thần xấu hổ che mắt chúng ta khỏi sự trần trụi của nữ thần Aphrodite.

Chính vì vậy thế giới nghệ thuật phân biệt giữa bị khỏa thân và khỏa thân, và tại sao cái trước lại xuống cấp trong khi cái sau thì đẹp. Sự khác biệt? Bị khỏa thân là việc bị phơi bày, bị trưng bày, bị biểu lộ, bị nhìn trộm một cách không lành mạnh theo cách vi phạm sự thân mật và phẩm giá. Ngược lại, việc trần truồng được nhìn thấy là để cho tình yêu và sự đúng đắn được che chở bởi sự xấu hổ để sự mong manh của bạn giúp cho thấy nét đẹp của bạn.

Nạn khiêu dâm vừa làm xuống cấp cho cả người xem lẫn người bị xem một cách không lành mạnh. Điều này sai ở cả quan điểm con người và đức tin. Trên quan điểm con người, cơ thể trần truồng của nữ thần Aphrodite cần phải có lá chắn thần thánh. Trên quan điểm đức tin, chúng ta tin rằng không ai có thể nhìn gương mặt của Chúa và sống.

Tự tử và u sầu

Chúng ta không còn hiểu được u sầu. Ngày nay, chúng ta gộp tất cả các dạng u sầu lại thành một bó tạp nham và gọi đó là “trầm cảm.” Trong khi các bác sĩ tâm thần, các tâm lý gia, các nhân viên y tế đã triển khai nhiều về các chữ dùng trong việc điều trị chứng trầm cảm, thì đồng thời một cái gì quan trọng bị đánh mất ở đây. U sầu mang nhiều ý nghĩa hơn là cái chúng ta gọi là “trầm cảm.” Cho cả điều tốt cũng như điều xấu, người xưa xem u sầu như một ơn của Chúa.

Trước khi có khoa tâm lý và tâm thần học hiện đại, u sầu chính xác được xem là ơn Chúa. Trong thần thoại Hy Lạp, thậm chí sầu muộn còn có một vị thần riêng cho mình, đó là thần Saturn, được xem như một ơn phong phú nhưng hỗn hợp. Một mặt, nó có thể mang đến các cảm xúc xé nát tâm hồn như nỗi cô đơn không thể chịu đựng được, nỗi ám ảnh tê liệt, nỗi buồn không an ủi được, một nỗi buồn mênh mông, một sự tuyệt vọng muốn tự tử; mặt khác, nó cũng có thể mang lại chiều sâu, tài năng, sáng tạo, cảm hứng thơ ca, lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu thần nghiệm và khôn ngoan.

Giờ không còn thế nữa. Ngày nay, u sầu đã không những không còn tên gọi, mà theo cách nói của bà Lyn Cowan, chuyên gia phân tích về trường phái tâm lý Jung, thì u sầu đã bị “lâm sàng hóa, bệnh lý hóa và y tế hóa” để những gì mà các nhà thơ, các triết gia, các ca sĩ nhạc blues, nghệ sĩ và các nhà thần nghiệm luôn lấy cảm hứng sâu đậm từ đó, thì bây giờ bị cho là một “bệnh có thể chữa được”, chứ không phải là một phần đau đớn của tâm hồn, không muốn điều trị nhưng muốn được lắng nghe vì nó hiểu qua trực giác sự nặng nề khôn kham phải chịu đựng mọi thứ, cụ thể là sự dày vò của số phận hữu hạn của con người, của sự bất toàn và khả tử. Theo bà Cowan, mối quan tâm của ngành tâm lý học hiện đại đối với các triệu chứng trầm cảm và sự phụ thuộc vào thuốc điều trị trầm cảm cho thấy một “sự hời hợt đáng sợ khi đối diện với các đau khổ thực sự của con người”. Đối với bà, ngoài những ý nghĩa khác, việc từ chối nhận chiều sâu và ý nghĩa của nỗi sầu muộn là đánh giá thấp nạn nhân, dìm họ trong một bạo lực muôn thuở đối với một tâm hồn đã bị dày vò.

Và đó là vấn đề khi nói đến tự tử. Tự tử thường là kết quả của một tâm hồn bị dày vò, trong đa số các trường hợp, sự dày vò này không phải là kết quả của suy đồi đạo đức, nhưng là nỗi u uất đè nặng vào thời điểm người đó quá mềm yếu, quá yếu đuối, quá tổn thương, quá căng thẳng, hoặc quá suy giảm sinh hóa để có thể cự lại được áp lực. Văn hào Nga Leo Tolstoy, người cuối đời đã tự tử chết, trước đó ông viết về gánh nặng của các nỗi u uất đôi khi đã nhận chìm ông. Và đây là một trong các dòng nhật ký của ông: “Sức mạnh làm cho tôi xa rời cuộc sống đã quá đầy, quá mạnh, quá toàn thể hơn bất kỳ một mong muốn đơn giản nào. Đó là sức mạnh giống như khát vọng sống của tôi trước đây, chỉ có điều nó đẩy tôi đi theo hướng ngược lại. Đó là khát vọng của cả toàn thân tôi để thoát ra khỏi cuộc sống này”.

Vẫn còn rất nhiều điều chúng ta chưa hiểu về vấn đề tự tử và sự hiểu lầm này không chỉ về mặt tâm lý mà còn về mặt đạo đức. Tóm lại, chúng ta thường đổ lỗi cho nạn nhân: nếu tâm hồn của bạn bệnh, đó là lỗi của bạn. Phần lớn, đó là cách chúng ta đánh giá những người chết vì tự tử. Dù trong thời gian gần đây, đa số chúng ta đã đi một con đường dài để tìm hiểu về tự tử và bây giờ chúng ta có thể cho mình cởi mở hơn, ít phán xét hơn về mặt đạo đức hơn, nhưng sự kỳ thị vẫn còn. Chúng ta vẫn chưa làm hòa với các suy sụp về sức khỏe tinh thần cũng như thể xác. Những người chết vì ung thư, đột quỵ hoặc đau tim, chúng ta không nói đến các vấn đề tâm lý và đạo đức, nhưng khi có ai tự tử thì chúng ta lại nói đến các vấn đề này. Trên thực tế, những người chết vì tự tử là các bệnh nhân “phong cùi” mới của chúng ta.

Vào thời không có thuốc chữa, bệnh nhân phong cùi bị cách ly, ngoài việc cách ly, họ còn chịu đau khổ gấp đôi, vừa bệnh vừa vị cô lập xã hội, vừa bị kỳ thị (có lẽ điều này còn đau đớn hơn). Họ bị tuyên bố là “ô uế” và phải mang dấu ấn này. Nhưng người mắc bệnh phong cùi vẫn có niềm an ủi là không bị phán xét về mặt tâm lý và đạo đức. Họ không bị đánh giá là “ô uế” trong các lãnh vực đó. Họ nhận được sự thương hại.

Nhưng chúng ta không cảm thấy thương hại với những người mà trong đầu chúng ta không tẩy được về mặt tâm lý và đạo đức. Đó là lý do vì sao chúng ta phán xét người tự tử thay vì thương hại họ. Đối với chúng ta, cái chết do tự tử làm cho con người trở nên “ô uế”, ở chỗ họ bị đặt ra ngoài những gì chúng ta đánh giá là có thể chấp nhận được về mặt đạo đức và tâm lý. Cái chết của họ không được nói đến như các cái chết khác. Họ bị phán xét gấp đôi, về mặt tâm lý (nếu tâm hồn bạn bị bệnh là do lỗi của bạn) và về mặt đạo đức (cái chết của bạn là sự phản bội). Chết vì tự tử còn tệ hơn chết vì bệnh phong cùi.

Tôi không biết làm thế nào chúng ta có thể vượt lên được chuyện này. Như triết gia Pascal đã nói, trái tim có lý lẽ của nó. Cũng vậy, điều cấm kỵ mạnh mẽ trong trái tim chúng ta chiến đấu chống lại người tự tử. Có những lý do chính đáng vì sao chúng ta có cảm giác bộc phát khi đứng trước việc tự tử. Nhưng, có thể một sự thấu hiểu sâu hơn về sự phức tạp của các sức mạnh ẩn chứa bên trong cái mà chúng ta ngây thơ gọi là “trầm cảm” có thể giúp chúng ta hiểu, trong hầu hết các trường hợp, tự tử có thể không bị đánh giá là thất bại về mặt đạo đức hay tâm lý, mà là một nỗi u sầu.

Buông bỏ nỗi sợ sai lầm

Gần đây trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh, phóng viên hỏi tôi câu hỏi sau: “Nếu cha ở trên giường chết, cha muốn để lại gì khi chia tay?” Câu hỏi làm tôi chưng hửng lúc đó? Tôi muốn để lại gì trong các lời nói cuối cùng của mình? Không có thì giờ để suy nghĩ, tôi khựng lại. Tôi muốn nói: “Đừng sợ. Sống nhưng không sợ. Đừng sợ chết. Nhưng nhất là đừng sợ Chúa!”

Tôi là người công giáo từ trong nôi, cha mẹ tôi rất tuyệt vời, tôi được các cô thầy tận tâm dạy giáo lý, và tôi được ưu tiên học thần học trong các lớp học tốt nhất thế giới. Tuy nhiên, tôi đã phải mất năm mươi năm để thoát ra khỏi một số nỗi sợ trong đạo làm tôi bị tê liệt và để nhận ra Chúa là người duy nhất mà mình không được sợ. Tôi đã phải để một phần lớn đời mình để tin những lời Chúa nói hơn ba trăm lần trong Thánh Kinh và đó là những lời đầu tiên Chúa Giêsu nói với người Ngài gặp lần đầu tiên sau khi Ngài sống lại: Đừng sợ!

Đó là cuộc hành trình năm mươi năm để tôi tin điều đó, để tin tưởng nó. Trong phần lớn cuộc đời, tôi đã sống trong nỗi sợ hãi sai lầm về Chúa và nhiều thứ khác. Khi còn nhỏ, tôi đặc biệt sợ sấm sét, mà trong đầu óc thơ bé của tôi, sấm sét cho thấy Chúa có thể dữ dội và đe dọa đến mức như thế nào. Về mặt tôn giáo, sấm sét là điềm báo cho chúng ta biết, chúng ta phải sợ. Cùng các nỗi sợ này, tôi còn nuôi dưỡng nỗi sợ cái chết, tự hỏi linh hồn đi đâu sau khi chết, đôi khi tôi nhìn về chân trời u tối sau khi mặt trời lặn và tự hỏi liệu những người đã chết có ở đâu đó ngoài kia không, tôi bị ám ảnh trong bóng tối vô tận này, vẫn đau khổ cho hoàn cảnh của họ. Tôi đã không có lý trong cuộc sống. Tôi biết Thiên Chúa là tình yêu, nhưng tình yêu này cũng là một công lý quyết liệt, đáng sợ và đòi hỏi.

Các nỗi sợ hãi này vẫn âm thầm ở trong lòng tôi suốt tuổi vị thành niên. Năm 17 tuổi tôi quyết định đi tu, đôi khi tôi tự hỏi liệu tôi có tự do trong quyết định này không, hay do một nỗi sợ sai lầm. Tuy nhiên, bây giờ khi nhìn lại, với năm mươi năm sau, tôi biết đó không do nỗi sợ bắt buộc tôi, mà do một cảm nhận chân thực khi được gọi, ảnh hưởng của cha mẹ tôi và các nữ tu dòng Ursuline đã dạy tôi, rằng cuộc sống của mỗi người không phải là của họ, cuộc sống được kêu gọi phục vụ. Nhưng nỗi sợ tôn giáo vẫn mạnh mẽ trong tôi.

Vậy, điều gì đã giúp tôi buông bỏ điều đó? Điều này không xảy ra trong một ngày hoặc một năm; Đó là kết quả tích tụ trong năm mươi năm với các mảnh ghép gom lại với nhau. Nó bắt đầu với cái chết của cha mẹ tôi khi tôi hai mươi hai tuổi. Sau khi chứng kiến mẹ và cha tôi qua đời, tôi không còn sợ chết. Đó là lần đầu tiên tôi không sợ một xác chết vì các thi thể này là của cha mẹ tôi. Nỗi sợ hãi của tôi về Chúa cũng giảm dần mỗi khi tôi cố gắng gặp Chúa với tâm hồn trần trụi trong lúc cầu nguyện và nhận ra tóc của mình sẽ không trắng bạc khi mình đứng trước mặt Chúa; vì vậy tôi không còn sợ. Nỗi sợ hãi của tôi cũng giảm khi tôi phục vụ người khác và hiểu Lòng Thương Xót Chúa khi tôi học và dạy thần học, hai lần chẩn đoán ung thư buộc tôi phải suy ngẫm về cái chết thực sự của chính mình, và như một số đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã hình thành cho tôi làm sao có thể sống tự do hơn.

Về mặt đầu óc, một số người đặc biệt giúp đỡ tôi: John Shea đã giúp tôi nhận ra Chúa không phải là luật phải tuân theo, mà là năng lực đồng cảm vô tận, Ngài muốn chúng ta hạnh phúc; Robert Moore đã giúp tôi tin rằng Chúa đang thích thú nhìn chúng ta; Charles Taylor giúp tôi hiểu Chúa muốn chúng ta phát triển; các lời chỉ trích bài tôn giáo cay đắng của những người vô thần như triết gia Frederick Nietzsche đã giúp tôi thấy, nơi mà khái niệm riêng về Thiên Chúa và tôn giáo của tôi cần thanh tẩy nhiều; và người anh cả, một linh mục truyền giáo, đã làm xáo trộn thần học của tôi với những câu hỏi thiếu tôn kính như, loại Thiên Chúa nào muốn chúng ta sợ hãi Ngài? Các mảnh này mảnh kia đã ráp lại với nhau.

Những lời nói cuối cùng nào là quan trọng? Chúng có thể có nhiều ý nghĩa hay không có bao nhiêu ý nghĩa? Những lời cuối cùng cha tôi nói với các con là “hãy cẩn thận, cẩn thận”, cha tôi muốn nói đường từ bệnh viện về nhà trơn trợt trong tuyết và đá. Lời nói cuối cùng không phải lúc nào cũng để lại một thông điệp; nó có thể chỉ là lời tạm biệt hay tiếng thở dài đau đớn, kiệt sức không nghe được; nhưng đôi khi những lời này cũng là di sản của chúng ta.

Có cơ hội để lại một vài lời cuối cùng cho gia đình, bạn bè, tôi nghĩ sau khi nói lời tạm biệt lần đầu tiên, tôi sẽ nói: đừng sợ. Đừng sợ sống, đừng sợ chết. Nhất là đừng sợ Chúa.

Đừng khóa các cánh cửa của chúng ta

Trong quyển sách Bí mật (The Secret) của linh mục Rene Fumoleau có một bài thơ mang tên Tội lỗi. Fumoleau, một linh mục truyền giáo với Người dân Bản địa ở Bắc Canada, cha đã xin một nhóm người lớn tuổi nêu ra những gì họ xem là tội lỗi xấu xa nhất. Và đây là câu trả lời của họ:

Mười người Bản địa thảo luận với nhau,
Và sau một lúc, Radisca giải thích cho tôi:
“Chúng ta đã thảo luận và tất cả chúng ta đều đồng ý:
Tội lỗi xấu xa nhất con người có thể làm
là họ khóa cửa của họ lại”.

Có lẽ đó là lúc sự cố này xảy ra và đặc biệt tại ngôi làng Người bản địa này, chúng ta luôn có thể để cửa mở mà vẫn an toàn, nhưng đây không phải là lời khuyên đúng cho đa số, chúng ta chỉ cảm thấy an toàn khi các cửa đã được khóa và khi hệ thống an ninh điện tử đã được bật lên để bảo vệ các cánh cửa. Tuy nhiên, các bậc cao niên Người bản địa này có lý, xét tận cùng, họ đã nói về một điều gì đó sâu sắc hơn cái chốt an ninh bên ngoài cánh cửa của chúng ta. Khóa cửa nhà mình thực sự mang ý nghĩa nào?

Như chúng ta biết, có rất nhiều loại cửa chúng ta khóa và mở khóa để người khác ra vào. Jean-Paul Sartre, nhà hiện sinh nổi tiếng người Pháp đã từng viết: Địa ngục là nơi người khác. Mặc dù điều này có thể rất đúng về mặt cảm xúc vào một lúc nào đó, nhưng nó là phản đề cho bất cứ một sự thật tôn giáo nào, đặc biệt là sự thật kitô giáo. Trong tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới, rốt cùng ở với người khác là thiên đàng; vĩnh viễn sống một mình mới là địa ngục.

Đó là sự thật được xây dựng trên chính bản chất chúng ta. Là con người, chúng ta là thành phần của xã hội; có nghĩa là chúng ta được xây dựng theo cách, dù chúng ta luôn là cá nhân, riêng tư và đặc trưng nhưng cùng lúc, chúng ta luôn là xã hội, cộng đoàn và liên đới phụ thuộc nhau. Chúng ta được xây dựng để cùng ở với người khác, ở một mình không mang một ý nghĩa nào cũng không phát triển. Thật vậy, chúng ta cần nhau đơn giản để tồn tại và để sống lành mạnh. Còn nhiều hơn nữa, chúng ta cần nhau vì tình yêu và ý nghĩa, vì không có những chuyện này, đời chúng ta không có một mục đích nào. Ở một mình là loại chết tệ hại nhất.

Điều này cần phải được nhấn mạnh ngày hôm nay, vì cả trong xã hội cũng như ở các nhà thờ, đa số chúng ta đóng một số cửa theo cách vừa hủy hoại vừa thực sự không có tinh thần kitô giáo. Đâu là vấn đề của chúng ta?

Cách đây hai mươi năm, giáo sư khoa học chính trị Đại học Harvard Robert Putnam đã quan sát sự tan vỡ của cộng đồng trong nền văn hóa chúng ta và đặt tên cho nó bằng cụm từ dễ nhớ Chơi Bowling một mình (Bowling Alone). Theo giáo sư, gia đình, khu phố và cộng đồng nói chung của chúng ta đang tan vỡ vì chủ nghĩa cá nhân quá độ trong văn hóa. Hơn nữa, chúng ta làm việc một mình, đi trong nhịp điệu đặc thù của riêng mình hơn là đi theo nhịp của cộng đồng. Rất ít người chống lại đánh giá này.

Tuy nhiên, với những gì chúng ta đấu tranh ngày hôm nay, nó còn đi xa hơn chủ nghĩa cá nhân mà Putnam sáng suốt đưa ra rất nhiều. Trong chủ nghĩa cá nhân quá mức mà Putnam mô tả, chúng ta một mình trước sân bowling nhưng chủ yếu vẫn ở trong sân chơi, tách biệt nhau nhưng không bị khóa. Vấn đề của chúng ta đi sâu hơn. Nói một cách ẩn dụ, chúng ta đã khóa nhau ra khỏi sân chơi bowling chung. Điều này có nghĩa là gì?

Ngoài chủ nghĩa cá nhân cô lập, ngày nay chúng ta đấu tranh trong gia đình, trong cộng đồng, trong quốc gia và trong nhà thờ với một con quỷ loại khác, có nghĩa là với các cánh cửa bị khóa trong cay đắng. Về mặt chính trị, trong nhiều quốc gia, bây giờ chúng ta phân cực đến mức các bên khác nhau không có một đối thoại văn minh, tôn trọng nhau. Người kia là “địa ngục”. Điều này cũng đúng trong gia đình, trong các bữa ăn ngày lễ Tạ ơn hoặc Giáng sinh, chúng ta phải cẩn thận tránh nói xa nói gần những chuyện gì đang xảy ra trong nước và chúng ta chỉ có thể ở cùng bàn với nhau nếu biết giữ riêng quan điểm chính trị của mình.

Đáng buồn thay, điều này bây giờ lại xảy ra trong nhà thờ, nơi các cái nhìn khác nhau về thần học, giáo hội và đạo đức thường dẫn đến sự phân cực rất mạnh đến mức mỗi nhóm thần học và giáo hội bây giờ vẫn ở đằng sau cánh cửa bị khóa chặt của nó. Ở đó, không có sự mở ra cho người khác, và tất cả các cuộc đối thoại đích thực được thay thế bằng sự hủy hoại lẫn nhau. Cuối cùng việc thiếu tinh thần cởi mở này được các người Bản địa xem là tội lỗi xấu xa nhất trong tất cả, các cánh cửa bị khóa của chúng ta. Vậy thì địa ngục thực sự đúng là người khác. Triết gia Sartre phải mỉm cười.

Sự hoạt động của sự dữ thật thú vị. Các Tin mừng cho chúng ta hai từ riêng biệt của sự dữ. Đôi khi sự dữ được gọi là “quỷ” (Diabolos) và đôi khi gọi là “satan” (Satanas). Cả hai đều mô tả sức mạnh tà ác chống lại Chúa, lòng tốt và tình yêu trong cộng đồng. “Quỷ” hoạt động trong chúng ta chia rẽ người này người kia, phá vỡ cộng đồng vì ghen tương, kiêu ngạo và tự do giả tạo; Trong khi đó “Satan” làm việc theo cách ngược lại. Satan liên kết chúng ta lại theo cách bệnh hoạn để làm cho các nhóm chúng ta quỷ hóa nhau, đóng đinh nhau, nhiệt tình bám nhau qua những loại cuồng loạn và ý thức hệ không lành mạnh dẫn đến dê tế thần, phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, hận thù nhóm, hận thù loài. Dù đó là satan hay quỷ, cuối cùng chúng ta sẽ đứng sau cánh cửa bị khóa, nơi những kẻ bên ngoài bị cho là địa ngục.

Vì vậy, đúng là “tội lỗi xấu xa nhất chúng ta có thể làm là khóa các cánh cửa của mình”.

Phép thiêng để cảm nhận mình là người

Thật bình thường khi chúng ta cảm thấy mình ngồi không yên như khi còn nhỏ, cô đơn khi ở tuổi thiếu niên và hụt hẫng vì thiếu mật thiết khi đến tuổi trưởng thành; sau tất cả, chúng ta sống với các ham muốn không thỏa mãn đủ mọi loại, mà sẽ không ai thỏa trọn vẹn khi còn ở phía bên này của cõi vĩnh hằng.

Các ham muốn này đến từ đâu? Vì sao nó không thể nào thỏa mãn được? Ý nghĩa của chúng là gì?

Khi còn là một cậu bé, các bài giáo lý tôi học, các bài giảng tôi nghe đã trả lời các câu hỏi này, nhưng với một từ vựng quá trừu tượng, quá thần học và thiên về giáo hội nên không giúp được gì nhiều cho tôi về mặt hiện sinh. Chúng để lại cho tôi cảm giác đó là câu trả lời, nhưng không phải là câu trả lời có thể giúp tôi. Thế là tôi lặng lẽ chịu đựng sự cô đơn và bồn chồn. Thêm nữa tôi lo lắng vì tôi cảm thấy không thiêng liêng theo cách tôi cảm nhận. Dạy dỗ trong nhà tu dù phong phú cũng không mang lại cho tôi nụ cười nhân lành nào của Chúa về các bồn chồn và bất mãn của tôi. Tuổi dậy thì và sự khuấy động do ý thức tình dục làm cho mọi chuyện tệ hơn. Bây giờ không chỉ là bồn chồn và bất mãn, mà cảm giác ám ảnh làm cho tôi có cảm tưởng mình có tội.

Đó là tâm trạng của tôi khi bước vào đời tu và vào chủng viện ngay sau khi xong trung học. Dĩ nhiên sự bồn chồn vẫn tiếp tục, nhưng các môn triết học và thần học đã giúp tôi hiểu về những thao thức không ngừng khuấy động trong tôi và cho tôi phép thiêng để giúp tôi thỏa hiệp với các chuyện này.

Điều này bắt đầu trong năm tập sinh với bài nói chuyện của một linh mục khách đến thăm. Chúng tôi là các tân chủng sinh, đa số vừa mới cuối tuổi vị thành niên, và dù bước vào đời tu, chúng tôi vẫn còn bồn chồn, cô đơn và căng thẳng về tình dục. Vị khách của chúng tôi bắt đầu buổi nói chuyện bằng câu hỏi: “Các con có hơi bồn chồn không? Các con có cảm thấy mình hơi bị khép kín ở đây không?” Chúng tôi gật đầu. Cha nói: “Các con nên như vậy! Các con phải nhảy ra khỏi da thịt mình! Tất cả năng lực tuổi trẻ đang sôi sục trong các con! Các con phải phát điên! Nhưng không sao, đó là những gì các con cảm nhận nếu các con có sức khỏe! Đó là bình thường, là tốt đẹp. Các con còn trẻ, rồi mọi thứ sẽ ổn!”

Khi nghe các lời này, có một cái gì như được giải phóng trong tôi. Lần đầu tiên, trong một ngôn ngữ thực sự nói thẳng với tôi, một người đã cho tôi phép thiêng để tôi được thoải mái trong chính da thịt của tôi.

Các môn văn học, thần học và thiêng liêng tiếp tục cho tôi phép thiêng này, cả cách chúng đã giúp tôi hình thành một một ý tưởng về lý do tại sao những cảm xúc này lại có trong tôi, cách chúng bắt nguồn và ý nghĩa của chúng trong Chúa, và làm thế nào mà chúng không trong sạch và nghịch đạo.

Khi nghĩ lại các môn học của tôi, đến một số người nổi bật trong việc giúp tôi hiểu được tính cách hoang dã, vô độ, ý nghĩa và điều tốt tối thượng của ham muốn con người. Đầu tiên là Thánh Augutinô. Câu nói nổi tiếng bắt đầu quyển Lời thú tội của ngài: “Chúa đã dựng nên con cho Ngài, lạy Chúa, và tâm hồn chúng con luôn thao thức cho đến khi nó được an nghỉ trong Chúa”, câu này mãi mãi là then chốt giúp tôi liên kết các thứ khác lại với nhau. Với câu này, bí mật của tôi đã được tổng hợp, tôi gặp câu nói này nơi Thánh Tôma Aquinô: Đối tượng đầy đủ của trí tuệ và ý chí là tất cả đều như vậy. Điều đó nghe có vẻ trừu tượng nhưng dù ở tuổi hai mươi, tôi hiểu ý nghĩa câu này: Ngắn gọn, mình cần trải nghiệm điều gì để cuối cùng có thể nói “đủ”, tôi đã thỏa mãn hết chưa? Câu trả lời của Thánh Tôma Aquinô: Mọi thứ! Sau này trong nghiên cứu của tôi, tôi đọc Karl Rahner. Giống như Thánh Tôma Aquinô, ông cũng có thể trừu tượng một cách vô vọng, chẳng hạn ông định nghĩa con người là tiềm năng vâng lời cực mạnh sống bên trong một thực thể siêu nhiên. Có thật không? Ồ, chủ yếu ông muốn nói ở đây là ý nghĩa của lời khuyên mà ông từng đưa ra với một người bạn: Trong sự dằn vặt về sự không tự đủ của tất cả những gì chúng ta có thể đạt được, cuối cùng chúng ta học ở đây, trong cuộc sống này, sẽ không có bản giao hưởng nào trọn vẹn.

Cuối cùng, trong các nghiên cứu của tôi, tôi đã gặp con người và suy nghĩ của linh mục Henri Nouwen. Ngài tiếp tục dạy tôi ý nghĩa cuộc sống và không bao giờ được thưởng thức bản giao hưởng kết thúc, cha nói lên điều này với một thiên tài độc đáo trong một từ vựng mới. Đọc Nouwen, giống như mình đối diện với chính mình, dù mình vẫn ở bên trong tất cả các bóng của mình. Cha cũng giúp cho bạn cảm giác rằng đó là bình thường, khỏe mạnh, và không phải là không trong sạch hoặc không linh thiêng để cảm thấy tất cả các xáo trộn hoang dã với các cám dỗ cùng lúc có trong con người mình.

Mỗi người trong chúng ta là một bó của nhiều xung năng tình dục chưa được thuần, của ham muốn man rợ, khao khát, bồn chồn, cô đơn, không hài lòng, tình dục, và vô độ. Chúng ta cần có phép thiêng để biết điều này là bình thường và tốt lành vì đó là điều tất cả chúng ta đều cảm nhận, trừ khi chúng ta bị trầm cảm bệnh lý hoặc khi chúng ta đã kìm nén quá lâu các cảm nhận này đến mức bây giờ chúng thể hiện một cách tiêu cực mang tính hủy diệt.

Tất cả chúng ta cần một ai đó đến thăm bên trong con người “tập sinh” đặc biệt của chúng ta, hỏi chúng ta xem chúng ta có bị bồn chồn đau đớn, và khi chúng ta gật đầu, họ sẽ nói: “Tốt Tốt! Bạn có thể cảm nhận như vậy! Như thế có nghĩa là bạn khỏe mạnh! Các bạn biết rằng Chúa đang đang mỉm cười chuyện này với bạn!”

Một vài bí mật nên biết

Một vài bí mật nên biếtCác đan sĩ có những bí mật đáng để chúng ta biết, và các bí mật này có thể vô giá trong thời đại dịch coronavirus buộc hàng triệu người trong chúng ta phải sống như đan tu.

Vì Covid-19, hàng triệu người buộc phải ở nhà, làm việc ở nhà, giãn cách xã hội với mọi người trừ người trong nhà và có tiếp xúc xã hội tối thiếu với bên ngoài. Một cách nào đó, dù muốn dù không, điều này đã làm nhiều người trong chúng ta thành tu sĩ. Đâu là bí mật để phát triển mạnh điểm này?

Chà, tôi không phải là một đan sĩ, lại cũng không phải là chuyên gia sức khỏe tinh thần, vậy những gì tôi chia sẻ ở đây không chính xác theo luật Thánh Biển Đức hay theo một loạt lời khuyên nghề nghiệp trong lãnh vực sức khỏe tinh thần. Chia sẻ này tôi học từ các đan sĩ và theo kinh nghiệm sống trong tinh thần cho và nhận của một cộng đồng tu sĩ từ năm mươi năm nay.

Đây là mười lời khuyên để sống khi chúng ta ở chung nhà, nghĩa là sống trong hoàn cảnh thiếu riêng tư và phải sống nhiều người trong một không gian hẹp, đối diện nhau nhiều giờ, phải đấu tranh để có những gì làm chúng ta tăng thêm năng lực, trong đó chúng ta thấy mình có những lúc vui, lúc thất vọng, lúc buồn chán, lúc mất kiên nhẫn, lúc thờ ơ. Làm sao để sống còn và phát triển trong tình huống này?

  1. Tạo thói quen. Đó là mấu chốt. Và đó là những gì các đan sĩ làm. Tạo thói quen chi tiết, lên chương trình ngày của mình như một ngân sách tài chánh. Làm thế nào để nó thiết thực: kê những chuyện mình phải làm hàng ngày, chép vào lịch cụ thể, rồi xem đó là kỷ luật phải tôn trọng, dù có vẻ cứng nhắc và áp đặt. Cự lại với cám dỗ làm theo năng lượng, theo tâm trạng hoặc dựa vào giải trí và mọi chia trí để giúp mình qua ngày, qua đêm.
  2. Tắm rửa và ăn mặc đàng hoàng mỗi ngày, như thể bạn đi ra ngoài và gặp gỡ mọi người. Cự lại với cám dỗ xem thường vệ sinh, ăn mặc, trang điểm. Không mặc áo quần ngủ: tắm rửa, ăn mặc tươm tất. Khi bạn không làm những chuyện này, bạn nói gì với gia đình? Họ không xứng đáng để bạn cố gắng sao? Và bạn nói gì với chính mình? Tôi không đáng để cố gắng sao? Nhếch nhác luộm thuộm chắc chắn sẽ trở nên lờ đờ, biếng nhác.
  3. Nhìn xa hơn bản thân và nhu cầu của mình để thấy người khác, cũng như nỗi đau và thất vọng của họ. Bạn không ở đây một mình, người khác cũng chịu đựng như bạn. Không có gì làm cho ngày của mình khó khăn khi cứ quá nghĩ về mình, tội nghiệp cho mình.
  4. Tìm một nơi để ở một mình một lúc nào đó trong ngày và để người khác cũng được như vậy. Đừng xin lỗi vì cần thời gian ở một mình. Đây là điều rất cần thiết cho sức khỏe tinh thần chứ không phải là một chướng khí ích kỷ. Bạn cho người khác khoảng không gian này. Đôi khi bạn cần phải tách xa, không phải để bạn khỏe, nhưng vì còn lợi ích cho người khác. Các đan sĩ sống đời sống cộng đoàn rất mạnh, nhưng mỗi người có tịnh phòng riêng để lui về.
  5. Có giờ chiêm niệm mỗi ngày gồm giờ cầu nguyện. Trên lịch của mình, mỗi ngày bạn để ít nhất nửa giờ hay một giờ để chiêm niệm: cầu nguyện, đọc Sách Thánh, đọc sách nghiêm túc, viết nhật ký, vẽ một bức tranh, vẽ một hàng rào, tạo một tác phẩm, sửa chữa một cái gì, làm vườn, làm thơ, viết nhạc, viết hồi ký, viết một bức thư dài cho người bạn nhiều năm bạn không gặp, bất cứ gì, nhưng phải làm một cái gì để tâm hồn thông thoáng và phải có cầu nguyện.
  6. Thực hành “ngày Sa-bát” mỗi ngày.Sa-bát không cần phải một ngày, có thể một giờ. Tặng cho mình cái gì đó đặc biệt để mỗi ngày mình mong chờ, một chuyện thú vị gợi cảm: tắm nước nóng, một ly rượu, một điếu xì-gà ngoài mái hiên, xem lại cuốn phim yêu thích, ngủ trưa trên ghế ngoài trời dưới bóng cây, bất cứ điều gì miễn là việc này mang đến cho bạn một niềm vui.
  7. Thực hành “ngày Sa-bát” mỗi tuần.
    Bạn đã dành sáu ngày trong tuần để sống khép kín theo thói quen bạn đã lên lịch. Bạn dành một ngày trong tuần để bỏ thói quen này. Một ngày vui vẻ, một ngày bạn có thể mặc áo ngủ ăn điểm tâm thịnh soạn.
  8. Làm một cái gì đó mới mẻ. Thư giãn với một cái gì mới. Học một ngôn ngữ mới, học một nhạc cụ mới, có một sở thích mới. Đây là dịp bạn sẽ không bao giờ có.
  9. Nói chuyện về các căng thẳng trong nhà, nhưng cẩn thận. Căng thẳng sẽ nảy sinh khi bạn sống trong không gian bị giới hạn. Các đan sĩ có các buổi họp cộng đoàn để giải quyết các căng thẳng này. Chân thành nói các căng thẳng nhưng cẩn thận, các nhận xét đau đớn đôi khi không bao giờ lành hoàn toàn được.
  10. Chăm sóc cơ thể của bạn. Chúng ta là người vừa có tâm hồn, vừa có thể xác. Hãy chăm sóc cơ thể bạn. Tập thể dục đủ để giữ cơ thể khỏe mạnh. Cẩn thận không dùng thức ăn để bù cho đời sống đan tu bó buộc. Các đan sĩ cẩn thận về chế độ ăn uống của họ, trừ ngày lễ.

Các đan tu có những bí mật chúng ta cần biết!

Những điều sâu sắc hơn ở dưới bề mặt

Bạn hãy hình dung điều này. Bạn là con trai, con gái hiếu thảo và mẹ bạn là góa phụ sống ở nhà hưu dưỡng. Bạn may mắn được sống gần trong khi chị bạn ở xa đất nước hàng ngàn dặm. Vì vậy, mọi gánh nặng rơi vào bạn, người chăm sóc mẹ mình. Bạn đến thăm mẹ mỗi ngày. Mỗi buổi chiều, trên đường đi làm về, bạn ghé thăm mẹ một giờ khi bà ăn bữa ăn tối sớm. Và bạn trung thành làm năm lần một tuần, năm này qua năm khác.

Năm này qua năm khác, khi bạn dành thì giờ cho mẹ, trong suốt một năm, có bao nhiêu lần bạn có cuộc trò chuyện thực sự nhiệt tình và sâu đậm với mẹ không? Một lần? Hai lần? Không bao giờ? Mỗi ngày bạn nói gì? Những điều tầm thường: thời tiết, đội thể thao yêu thích của bạn, những gì con bạn đang làm, chương trình mới nhất trên truyền hình, những cơn đau nhức của mẹ và các chi tiết bình thường trong đời sống của bạn. Đôi khi bạn còn ngủ gật khi mẹ ăn bữa tối sớm. Năm nào tốt, có thể bạn có một hoặc hai lần có một cuộc trò chuyện có chiều sâu và hai mẹ con chia sẻ một điều gì đó quan trọng một cách sâu đậm hơn; nhưng, trừ trường hợp hiếm hoi đó, bạn sẽ chỉ lấp đầy thời gian mỗi ngày bằng cuộc trò chuyện hời hợt bên ngoài.

Nhưng, và đây là câu hỏi, có phải trên thực tế các cuộc thăm viếng hàng ngày với mẹ là hời hợt, hay đơn thuần do các câu chuyện trao đổi không sâu đậm phải không? Bạn chỉ đơn giản có tương giao thân mật vì bổn phận? Có điều gì sâu đậm xảy ra không?

Ồ, so sánh điều này với người chị sống xa quê, mỗi năm về nhà một lần để thăm mẹ. Khi chị về, cả chị và mẹ đều cảm động, họ ôm nhau nồng nàn, rơi nước mắt nhìn nhau và dường như nói về những gì vượt ra ngoài các chuyện thời tiết, đội thể thao yêu thích và sự mệt mỏi của mình. Và bạn ganh với cả hai! Có vẻ như cuộc gặp một năm một lần này có cái gì mà chuyến ghé thăm hàng ngày của bạn không có. Nhưng điều này có đúng không? Có phải những gì đang xảy ra giữa chị và mẹ đúng thực là sâu đậm hơn các buổi bạn đến thăm mẹ hàng ngày không?

Tuyệt đối không. Chắc chắn những gì họ có chỉ là về mặt xúc cảm và tình cảm, nhưng thực chất không có gì đặc biệt sâu đậm hơn. Khi mẹ bạn qua đời, bạn sẽ hiểu mẹ mình hơn ai khác, bạn gần gũi với mẹ hơn chị của bạn rất nhiều. Vì sao? Vì trong suốt những ngày bạn đến thăm mẹ, có vẻ như bạn chẳng nói gì khác hơn là thời tiết, nhưng có những gì sâu đậm hơn đã nằm dưới bề mặt. Khi chị đến thăm mẹ, mọi thứ đang diễn ra trên bề mặt (dù về mặt cảm xúc và yêu thương có thể hơn những gì nằm bên dưới). Đó là lý do vì sao tuần trăng mật đẹp hơn hôn nhân.

Những gì chị của bạn đã có với mẹ là những gì các tập sinh sống trong cầu nguyện và những gì các cặp vợ chồng trải nghiệm trong tuần trăng mật. Những gì bạn đã có với mẹ là những gì những người đã trải nghiệm trong cầu nguyện và các mối quan hệ khi họ trung thành trong một thời gian dài. Ở một mức độ thân mật trong tất cả các quan hệ của chúng ta, kể cả quan hệ với Chúa trong lời cầu nguyện, cảm xúc và xúc động (dù tuyệt vời như thế nào) sẽ trở nên ngày càng ít quan trọng và khi đó, chỉ cần ở bên nhau sẽ trở nên tối quan trọng. Trước đó, những điều quan trọng đã xảy ra trên bề mặt, cảm xúc và xúc động là quan trọng; bây giờ sợi dây liên kết sâu đậm đã có bên dưới bề mặt, cảm xúc và xúc động giảm tầm quan trọng của nó. Ở một chiều sâu nào đó của mối quan hệ, chỉ cần có mặt với nhau là điều quan trọng.

Quá thường xuyên, cả tâm lý đại chúng và linh đạo đại chúng không thực sự nắm bắt điều này và do đó tạo nhầm lẫn cho người tập sinh về hiệu năng cầu nguyện, cho cặp vợ chồng về tuần trăng mật và cho chiều sâu về bề mặt. Trong tất cả các mối quan hệ của chúng ta, chúng ta không thể đưa ra lời hứa về những gì mình sẽ luôn cảm nhận, nhưng chúng ta có thể hứa sẽ luôn trung thành, cho thấy mình luôn ở đây, dù chúng ta chỉ nói về thời tiết, về đội thể thao yêu thích, về chương trình truyền hình mới nhất, hoặc về sự mệt mỏi của mình. Và thỉnh thoảng có ngủ gật cũng không sao vì như Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu đã nói: một đứa bé dù thức hay ngủ cũng đẹp lòng cha mẹ, nhưng có lẽ khi ngủ thì sẽ đẹp lòng cha mẹ nhiều hơn! Điều đó cũng đúng với lời cầu nguyện. Thiên Chúa không phiền khi chúng ta ngủ gật trong lúc cầu nguyện vì chúng ta đã ở đó và thế là đủ. Thánh Gioan Thánh giá, người bác sĩ Tây Ban Nha vĩ đại của tâm hồn nói với chúng ta, khi chúng ta vào sâu trong các mối quan hệ, dù đó là với Chúa trong lời cầu nguyện, với nhau trong tình thân mật, hoặc với cộng đồng đang phục vụ, cuối cùng bề mặt sẽ ít cảm xúc, ít xúc động, và những điều sâu sắc hơn sẽ bắt đầu xảy ra dưới bề mặt.

Sự thất bại nặng nề của chúng ta trong đức bác ái

Thánh Eugène de Mazenod, người sáng lập Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, Hội Dòng mà tôi thuộc về, trước khi qua đời ngài để lại cho cho chúng tôi lời trăn trối cuối cùng: “Giữa anh em, bác ái, bác ái, bác ái”. Không phải khi nào tôi cũng sống được điều này, dù tôi mong mình sống được, nhất là ngày hôm nay.

Chúng ta đang ở trong thời buổi cay đắng. Đâu đâu cũng có giận dữ, lên án người khác và cay đắng bất đồng; đến mức bây giờ đơn giản là chúng ta không còn có thể có một cuộc thảo luận hợp lý về bất cứ vấn đề chính trị, đạo đức hay về giáo điều tế nhị nào. Chúng ta biến thành quỷ đến mức mà mọi cố gắng lý luận với nhau (đó là không nói đến việc đi đến một thỏa thuận hay giải quyết một bất đồng) chỉ làm nặng thêm sự thù nghịch. Nếu bạn nghi ngờ điều này, bạn chỉ cần đọc báo buổi chiều, đọc bất kỳ báo nào hay theo dõi các thảo luận về hầu hết các vấn đề đạo đức và tôn giáo, bạn sẽ thấy rõ.

Điều hiển nhiên đầu tiên là sự căm thù trần trụi có bên trong tiềm năng của chúng ta, làm cho chúng ta luôn có khuynh hướng biện minh các cơ sở đạo đức và tôn giáo. Đó là phản kháng của chúng ta: chúng ta đấu tranh cho sự thật, cho sự đúng đắn, cho công chính, cho Chúa, cho gia đình, cho nhà thờ, cho giáo lý đúng, cho việc giữ đạo, cho chính Chúa Kitô, vậy mà sự tức giận và thù hận của chúng ta lại được biện minh. Sự giận dữ được biện minh, nhưng sự hận thù là dấu hiệu không thể sai lầm rằng chúng ta đang hành động trái với sự thật, với sự đúng đắn, với công chính, với Chúa, với gia đình, với nhà thờ, với giáo lý đúng, với giữ đạo và với Chúa Kitô. Sẽ khó để nghĩ rằng loại tranh luận này lại từ Thần Khí và không từ một nguồn nào khác.

Khi nhìn vào Chúa Giêsu, chúng ta thấy tất cả năng lực của Ngài đều hướng về sự hiệp nhất. Chúa Giêsu không bao giờ rao giảng hận thù, như đã được minh chứng rõ ràng trong Bài giảng Trên núi, trong lời cầu nguyện linh mục ở Bữa Tiệc ly trong Tin Mừng Thánh Gioan, như được thể hiện rõ trong những lời cảnh báo thường xuyên dạy chúng ta phải kiên nhẫn với nhau, không phán xét nhau, nhưng tha thứ cho nhau.

Nhưng người ta có thể phản đối: thế còn những lời phán xét (có vẻ) chua cay của Chúa Giêsu? Thế khi Ngài gay gắt nói về người khác thì sao? Thế khi Ngài mất bình tĩnh và dùng roi để đuổi những người đổi tiền ra khỏi đền thờ thì sao? Ngài đã không tuyên bố: Ta đến để mang lửa đến cho trái đất đó sao?

Các tuyên bố này thường bị chú giải sai và dùng sai để hợp lý hóa cho sự thiếu đức ái trong tinh thần kitô chân chính của chúng ta. Khi Chúa Giêsu nói Ngài mang lửa đến trái đất và mong lửa này bùng cháy, lửa của Chúa Giêsu nói ở đây không phải là lửa chia rẽ nhưng là lửa của tình yêu. Chúa Giêsu mong muốn yêu thương, không xa lánh. Thông điệp của Ngài đã dấy lên sự chống đối hận thù, nhưng Ngài không cho mình là chiến binh văn hóa hay tôn giáo. Ngài chỉ giảng và chỉ thể hiện tình yêu, điều này đôi khi lại tạo nên phản đề của nó. (Và nó luôn là như vậy.) Đôi khi Ngài khơi dậy hận thù nơi người dân, nhưng không bao giờ Ngài ghét bỏ. Thay vào đó, Ngài khóc thương cảm, hiểu rằng đôi khi thông điệp về tình yêu và sự bao gồm lại khơi dậy hận thù trong lòng con người, vì một lý do nào đó, ở thời điểm nào đó, con người không thể mang trọn chữ yêu thương. Hơn nữa, sự việc Ngài đuổi các người đổi tiền ra khỏi đền thờ luôn được chúng ta trích dẫn để biện minh cho sữ giận dữ và phán xét của chúng ta trên người khác, nhưng ở đây nó có một tầm mức quan trọng và ý nghĩa rất khác. Hành động của Ngài khi Ngài dọn dẹp đền thờ (một cách hợp pháp) của người do thái, họ bắt người dân phải đổi tiền để mua của lễ dâng lên Chúa, ở đây Ngài loại bỏ trở ngại trên con đường đến với Chúa, chứ không phải Ngài tức giận với một số người cụ thể nào đó.

Chúng ta thường xuyên bỏ qua Tin Mừng. Chủ nghĩa phe phái, chủ nghĩa bộ lạc, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, lợi ích kinh tế, sự khác biệt lịch sử, đặc quyền lịch sử và nỗi sợ hãi mãi mãi gây ra sự phân cực cay đắng, tạo mối thù gặm nhấm chính trong cộng đoàn; và hận thù này luôn được biện minh bằng cách kêu gọi đến một số nền tảng đạo đức hoặc tôn giáo cao. Nhưng Tin Mừng không bao giờ cho phép điều này. Tin Mừng không bao giờ cho phép chúng ta đóng khung đức bác ái, nó từ chối không để chúng ta biện minh sự cay đắng của mình vì các lý do đạo đức và tôn giáo. Nó kêu gọi chúng ta đến với tình yêu, với sự đồng cảm và với lòng tha thứ, vượt qua mọi chia rẽ để mong điều tốt và làm điều tốt, chính xác cho những người ghét chúng ta. Và Tin Mừng hoàn toàn cấm hợp lý hóa sự thù hận nhân danh Tin Mừng hoặc nhân danh sự thật, công lý hoặc giáo điều đúng đắn.

Cố linh mục thần học gia Dòng Tên Michael J. Buckley (1931-2019) khi nhìn sự phân cực cay đắng trong các Giáo hội, ngài cho rằng không có gì biện minh cho sự cay đắng của chúng ta hiện nay: “Tuy nhiên điều đáng buồn là thường chúng ta không có cách nào khéo léo để đưa các nam nữ tu sĩ đừng chống nhau trong hình thức lên án khủng khiếp. Chiến tranh, dù chiến tranh cá nhân là những thực tế khủng khiếp, và khủng khiếp nhất trong số này thường được biện minh vì tôn giáo. Để đánh lừa hoặc chia rẽ dưới vỏ bọc tốt, dưới danh nghĩa chính thống hay phóng khoáng, cộng đoàn hay tự do cá nhân, ngay cả chính sự thánh thiện, các chia rẽ của con người có thể từ từ biến thành ti tiện, hoặc yếm thế, hoặc thù nghịch, hoặc cay đắng. Và theo cách này Giáo hội kitô bị chia rẽ.”

Chúng ta phải cẩn thận trong văn hóa và tôn giáo của chúng ta.

Nhân phẩm

Cuốn phim Cô Gái Triệu Đô (Million Dollar Baby) kể câu chuyện một phụ nữ trẻ trở thành võ sĩ quyền anh chuyên nghiệp. Trẻ trung, mạnh mẽ, thể chất hấp dẫn, cô chiếm được trái tim của khán giả, ngoài tất cả mong chờ, cô lên được đỉnh cao trong môn thể thao của mình. Nhưng câu chuyện lại trở nên bi thảm, cô bị đối thủ tấn công không đúng, cuối cùng cô bị liệt, cơ thể cùng với sức khỏe, sức hấp dẫn tan nát. Cô chọn cách kết thúc đời mình bằng an tử.

Tôi đi xem phim này với một cặp vợ chồng trẻ, cả hai có đời sống gắn kết với đức tin và với giáo xứ. Cả hai rất xúc động cách mà phụ nữ này chọn để chết. Có lẽ đó là cảm xúc của chính họ nhiều hơn khi họ biện minh cho cách chết của người phụ nữ này: “Nhưng cô ấy còn quá trẻ và đẹp! Sẽ không công bằng nếu cuộc đời còn lại của cô phải sống trong tình trạng khủng khiếp này!” Dưới đôi mắt tuổi trẻ của họ, tình trạng suy nhược này đã lấy đi tất cả nhân phẩm cần thiết của người phụ nữ.

Nhân phẩm là gì? Khi nào và làm thế nào mà nhân phẩm bị mất?

Nhân phẩm là thuật ngữ gây nhiều khó hiểu, nó thường xuyên mất đi các nghĩa khác nhau. Đó cũng là một thuật ngữ ngầm. Đôi khi nó không còn có nghĩa như những gì nó đã từng có nghĩa, và có phải ngày nay thuật ngữ này không còn đúng khi áp dụng cho “chết có nhân phẩm” không? Điều gì định nghĩa cho cái chết trong nhân phẩm?

Ngay sau cái chết bằng an tử của Brittany Maynard trong một vụ thu hút sự chú ý của dư luận, nhà báo Jessica Keating viết một bài trên tạp chí America lượng định cái chết này dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Đến một thời điểm, bà đưa ra câu hỏi về phẩm giá và viết: “Việc dùng từ nhân phẩm để mô tả cái chết này đã tạo ra một vấn đề sâu sắc, vì nó che giấu thực tế của sự sợ hãi và đồng hóa nhân phẩm chỉ nhắm vào sự tự lập, sự lựa chọn và khả năng nhận thức triệt để. Kết quả là một hàm ý không tế nhị, rằng người chọn sự bất lực và sự đau đớn, họ chết một cách không đúng nhân phẩm.” (America, 16 tháng 3 – 2015)

Ngày nay trong phần lớn cuộc nói chuyện của chúng ta về cái chết trong phẩm giá, trên thực tế có hàm ý người chọn sự bất lực và sự đau đớn thay vì một cái chết êm dịu, họ chết một cách kém nhân phẩm. Điều này khó phủ nhận, với đặc điểm nổi trội của một nền văn hóa mà sự bất lực và đau đớn bị xem như một công kích rất lớn vào phẩm giá của chúng ta. Nhưng không phải lúc nào cũng như vậy, đôi khi ngược lại là khác, một thân thể già nua và sức vóc suy giảm có khi còn được xem là một cái gì đó xứng đáng và đẹp. Vì sao quan điểm của chúng ta bây giờ về nhân phẩm lại khác đi?

Chúng khác nhau vì cách chúng ta quan niệm về phẩm giá và nét đẹp khác đi. Với chúng ta, điều chính yếu là sức khỏe thể chất, sức sống thể chất và sức hấp dẫn thể chất của cơ thể con người. Với chúng ta, thẩm mỹ là căn nhà chỉ có một phòng – sức hấp dẫn thể chất. Mọi thứ khác đều là công kích vào nhân phẩm chúng ta. Điều đó làm cho chúng ta thấy bất kỳ tiến trình nào làm giảm và hạ thấp cơ thể con người, cướp đi sức sống và sức hấp dẫn thể chất đều là không đúng nhân phẩm. Vậy mà quy trình cái chết là bình thường. Nếu chúng ta ở bên đầu giường của những người sắp chết, chúng ta tháp tùng người ở giai đoạn cuối thì chúng ta biết về mặt cơ thể là không đẹp chút nào. Căn bệnh có thể làm những chuyện khủng khiếp trên cơ thể. Nhưng làm sao điều này lại có thể phá hủy nhân phẩm? Nó làm cho người ta mất đi vẻ đẹp sao?

Điều này tùy thuộc vào linh đạo, những gì được cho là đẹp, là đúng nhân phẩm. Chúng ta hãy xem cái chết của Chúa Giêsu. Theo khái niệm phẩm giá ngày nay thì đây là cái chết không có phẩm giá. Chúng ta luôn làm đẹp việc đóng đinh để bảo vệ chúng ta khỏi điều “bất xứng” sống sượng, nhưng đóng đinh là chuyện rất sỉ nhục. Khi người la-mã chọn hình thức đóng đinh để xử án tử hình, họ nghĩ đến nhiều thứ khác thay vì chỉ đơn thuần kết liễu một đời người. Họ muốn làm cho tử tội bị đau đớn đến cùng cực, làm sỉ nhục tối đa, trước công chúng bằng cách làm sỉ nhục cơ thể. Vì thế tử tội bị lột áo quần, bị phơi bày bộ phận sinh dục và khi có các cơn đau thắt trước khi chết thì ruột của họ sẽ thoát ra. Còn gì sỉ nhục hơn? Còn gì xấu hơn?

Nhưng ai sẽ nói Chúa Giêsu đã chết không có nhân phẩm? Ngược lại là đàng khác. Chúng ta luôn chiêm ngưỡng nét đẹp cái chết của Ngài kèm với phẩm giá được thể hiện trong đó. Nhưng đây là một thẩm mỹ khác, một loại văn hóa mà chúng ta không còn hiểu được. Đối với chúng ta, nhân phẩm và nét đẹp gắn bó chặt chẽ với sức khỏe thể xác, sức hấp dẫn ngoại hình, và không có giảm thiểu sỉ nhục nơi cơ thể. Trong bối cảnh này, dường như cái chết của Chúa Giêsu không có một phẩm giá nào.

Tôi là người đầu tiên công nhận vấn đề cái chết trong nhân phẩm là một vấn đề cực kỳ phức tạp, đặt ra các câu hỏi về pháp lý, y khoa, gia đình, xã hội, luân lý và thiêng liêng mà không có câu trả lời nào đơn giản. Nhưng bên trong tất cả các câu hỏi này, vẫn còn một câu hỏi về thẩm mỹ: cuối cùng cái gì tạo nên vẻ đẹp? Cuối cùng, chúng ta thấy phẩm giá như thế nào? Có phải một người với thân thể luôn mang vẻ hấp dẫn, không suy giảm, tự nguyện chọn chết trước khi vẻ đẹp đó bị xấu đi vì bệnh tật thì sẽ chết có phẩm giá hơn Chúa Giêsu sao?

Một thất bại tuyệt vời

Đâu là sự công bằng trong đời sống? Vì sao một số người diễm phúc dường như không xứng đáng trong thế giới này, trong khi một số người khác lại như bị nguyền rủa? Vì sao mưu mẹo, tham vọng ích kỷ, lợi dụng người khác, lưu manh lại thường được đền thưởng? Các câu hỏi này không có câu trả lời nhanh được.

Trong quyển sách Thất bại Tuyệt vời (The Magnificent Defeat), tiểu thuyết gia và nhà thuyết giảng nổi tiếng Frederick Buechner đưa ra câu hỏi này và tập trung vào ông Gia-cóp, nhân vật của Thánh Kinh. Như chúng ta biết, ông đánh lừa anh Ê-xau hai lần. Thừa lúc anh mình đói và yếu, ông mua quyền trưởng nam của anh mình với giá một bữa ăn. Còn nặng hơn, ông đóng giả Ê-xau, lừa cha và đánh cắp lời chúc phúc và quyền thừa kế của Ê-xau. Tất cả các chuyện này là sai và phải bị trả lẽ, nhưng cuộc đời của ông Gia-cóp dường như ngược lại. Ngược với người anh bị lừa, Gia-cóp có một đời sống sung túc, được Chúa và những người khác yêu mến. Đâu là bài học? Chúa của sự sống thật sự có đứng về phía người làm những chuyện này không?

Tác giả Buechner xây dựng câu trả lời của mình bằng cách chuyển từ thực dụng và tầm ngắn hạn qua thiêng liêng và tầm dài hạn.

Đầu tiên, từ quan điểm thực dụng, câu chuyện của ông Gia-cóp dạy cho chúng ta bài học của riêng mình, biết rằng trong đời sống thực tế, những người như ông Gia-cóp là những người thông minh, xảo quyệt và tham vọng thường là những người được thưởng theo cách mà những người chậm chạp như ông Ê-xau thường không được. Rõ ràng đây không phải như Bài giảng Trên núi, các lời dạy khác của Sách Thánh, kể cả một số lời dạy khác của Chúa Giêsu, luôn thử thách chúng ta phải thông minh, làm việc cực nhọc và đôi khi phải mưu mô. Chúa không nhất thiết phải giúp đỡ những người tự giúp mình, nhưng Chúa và cuộc sống dường như thưởng cho những người dùng tài năng của mình. Nhưng có một con đường đạo đức tốt ở đây và Buechner mô tả một cách xuất sắc.

Tác giả hỏi: khi ai đó làm những gì ông Gia-cóp làm và mang lại cho họ giàu có trong cuộc sống này, thì hệ quả đạo đức ở đâu? Câu trả lời đến từ Gia-cóp nhiều năm sau đó. Một đêm nọ, khi Gia-cóp ở một mình, có một người lạ nhảy vào, cuối cùng hai người lặng lẽ vật lộn nhau suốt đêm. Ngay khi bình minh ló dạng và dường như Gia-cóp sẽ thắng, mọi thứ đột nhiên đảo ngược. Với một sức mạnh ưu thế, dường như cố kiềm giữ cho đến lúc đó, người lạ mặt chạm vào khớp xương hông của ông làm cho ông bật động. Một cái gì đó biến đổi sâu đậm nơi Gia-cóp, ông cảm nhận mình bất lực. Cuối cùng bây giờ ông biết ông bị đánh bại, ông không còn muốn thoát khỏi sự kiềm kẹp của người lạ, thay vào đó ông bám vào kẻ thù của mình như người chết đuối. Vì sao?

Đây là lời giải thích của Buechner: “Bóng tối đã mờ đi vừa đủ để lần đầu tiên ông có thể lờ mờ thấy đối thủ của mình. Và những gì ông thấy còn khủng khiếp hơn khuôn mặt của tử thần – đó là khuôn mặt của tình yêu. Bao la và mạnh mẽ, bị hủy hoại một nửa vì đau khổ và niềm vui dữ dội, khuôn mặt của người chạy trốn tất cả bóng tối của đời mình để cuối cùng thốt lên: ‘Tôi không để ngài ra đi, trừ khi ngài chúc phúc cho tôi!’ Không phải lời chúc mà bây giờ ông có thể có bằng sức mạnh của mưu mẹo hay sức mạnh của ý chí, nhưng lời chúc ông chỉ có thể có như món quà.”

Có cả một linh đạo ở đây. Lời chúc phúc mà chúng ta mãi chiến đấu chỉ có thể đến với chúng ta như một món quà, chứ không phải là cái gì chúng ta có thể giành lấy nhờ tài năng, mưu mô hay sức mạnh của mình. Nhờ trí óc và mưu mô, ông Gia-cóp trở thành người giàu có được ngưỡng mộ ở thế gian này. Nhưng trong cuộc chiến để có tất cả sự giàu có này, ông đã vật lộn với một lực mà trong vô thức ông xem đó là một người hay một cái gì ông phải vượt lên. Cuối cùng, sau nhiều năm chiến đấu, ông thức tỉnh. Ánh sáng chợt lóe lên, qua thất bại của sự què quặt. Và trong ánh sáng của sự thất bại này, cuối cùng ông thấy trong những gì ông đã đấu tranh trong suốt thời gian này không phải là một ai đó hay một cái gì mà ông phải vượt qua, mà là tình yêu mà ông đã hết sức vật lộn để đạt được và đi tới đàng trước.

Với nhiều người trong chúng ta, đây cũng là sự thức tỉnh thực sự trong cuộc sống, ý thức được trong tham vọng và trong tất cả các kế hoạch mà chúng ta đưa ra để tiến lên, chúng ta không chiến đấu với một ai đó hay một cái gì để vượt lên bằng sức mạnh và trí thông minh của mình; chúng ta chiến đấu với cộng đồng của mình, với tình yêu và với Chúa. Và chắc chắn nó sẽ đánh bại sức mạnh của chính chúng ta (bị đi khập khiễng mãi mãi) trước khi nhận ra những gì chúng ta đang chiến đấu. Và rồi chúng ta sẽ từ bỏ nỗ lực giành chiến thắng, thay vào đó là bám víu như người chết đuối vào khuôn mặt của tình yêu, xin được chúc phúc, một sự chúc phúc mà chúng ta chỉ có thể nhận như món quà.

Tin rằng phúc lành của chúng ta đến từ chiến thắng, chúng ta cố gắng chiến đấu để cuộc sống của mình xa cuộc sống người khác, cho đến một ngày, nếu chúng ta có đủ may mắn để bị đánh bại, chúng ta bắt đầu cầu xin người khác giữ lấy chúng ta.

Một vài lời khuyên về cầu nguyện của người thầy cũ

Có thể tôi có nguy cơ đơn giản hóa, nhưng tôi muốn nói điều gì đó về cầu nguyện một cách rất đơn giản.

Trong khi làm luận án tiến sĩ, tôi có một giáo sư là linh mục Dòng Âugutinô lớn tuổi, thầy có thái độ, lời nói và phong cách tỏa ra sự khôn ngoan và trưởng thành. Tất cả nơi thầy là chính trực toàn diện. Bạn sẽ tin tưởng thầy ngay lập tức, thầy là hình ảnh người ông khôn ngoan của các sách truyện.

Một ngày nọ trong lớp, thầy nói về đời sống cầu nguyện của mình. Cũng như các chuyện chia sẻ khác của thầy, thầy không sàng lọc, chỉ có trung thực và khiêm tốn. Tôi không nhớ chính xác các lời của thầy, nhưng tôi nhớ rõ cốt tủy của những gì thầy nói và những lời này vẫn còn ở trong lòng tôi sau bốn mươi năm tôi được may mắn ở trong lớp của thầy.

Và đây là những gì thầy chia sẻ: cầu nguyện không dễ dàng vì chúng ta luôn mệt mỏi, chia trí, bận rộn, chán nản và bị cuốn vào đủ chuyện, khó có thể tìm thì giờ và năng lực để tập trung về Chúa dù chỉ trong vài phút. Vậy thì tôi làm như sau: dù ngày hôm đó là ngày như thế nào, dù hôm đó tôi đang nghĩ gì, dù hôm đó tôi bị chia trí hay bị cám dỗ như thế nào, tôi luôn trung thành với điều này: Mỗi ngày một lần, tôi đọc Kinh Lạy Cha sốt sắng nhất tôi có thể lúc đó. Bên trong những gì đến với tôi ngày hôm đó và chung quanh tôi ngày hôm đó, tôi cầu nguyện với Kinh Lạy Cha, xin Chúa nghe lời tôi cầu nguyện trong tất cả sự chia trí và cám dỗ đang bủa vây tôi lúc đó. Đó là điều tốt nhất tôi có thể làm. Có thể đó là cái tối thiểu nhất và tôi phải làm nhiều hơn, cố gắng tập trung hơn, nhưng ít nhất tôi cũng làm được điều đó. Và đôi khi, đó là tất cả những gì tôi làm, nhưng tôi làm mỗi ngày và tốt nhất có thể. Đó là lời cầu nguyện Chúa Giêsu đã dạy chúng ta.

Lời của thầy nghe có vẻ như đơn giản, quá đơn giản là đàng khác. Thật vậy, Giáo hội đặt Thánh lễ là trọng tâm đời sống chúng ta, tạo cho chúng ta thói quen suy gẫm và cầu nguyện riêng. Thêm nữa, nhiều nhà văn thiêng liêng cổ điển nói rằng mỗi ngày chúng ta phải dành ra một giờ để cầu nguyện riêng và nhiều nhà văn thiêng liêng hiện đại còn thách thức chúng ta, mỗi ngày phải đặt suy nghĩ hoặc mọi hình thức cầu nguyện chiêm ngắm vào trọng tâm. Vậy thầy Dòng Âugutinô và lời khuyên trung thành đọc Kinh Lạy Cha mỗi ngày, sốt sắng nhất có thể thì sao?

Dĩ nhiên không có gì trong các chuyện này đi ngược với những gì thầy khiêm tốn chia sẻ. Thầy sẽ là người đầu tiên đồng ý Thánh lễ là trọng tâm đời sống cầu nguyện của chúng ta, và thầy cũng sẽ đồng ý với các tác giả thiêng liêng cổ điển khuyên chúng ta mỗi ngày dành ra một giờ để cầu nguyện riêng và các tác giả đương đại thách thức chúng ta mỗi ngày nên có hình thức cầu nguyện chiêm ngắm hay ít nhất là quen làm như vậy. Nhưng thầy sẽ nói như sau: một trong những giây phút này trong ngày (lý tưởng là Thánh lễ, hay khi đọc phụng vụ giờ kinh, hoặc ít nhất vào một lúc nào đó trong ngày của chúng ta) khi chúng ta đọc Kinh Lạy Cha, chúng ta chân thành và tập trung nhất có thể, biết rằng dù chia trí lúc đó, nhưng đó là những gì Chúa xin chúng ta, như thế là đủ.

Lời khuyên này vẫn còn trong tâm trí tôi qua bao nhiêu năm tháng và dù tôi đã đọc nhiều Kinh Lạy Cha mỗi ngày, tôi vẫn phải cố gắng đọc sốt sắng nhất có thể, ý thức đầy đủ cách tôi đã đọc trước đây là không tốt. Thật là cả một thách thức nhưng cũng là cả một an ủi!

Thử thách là đọc Kinh Lạy Cha mỗi ngày, sốt sắng nhất có thể. Như chúng ta biết, Kinh Lạy Cha mang tính cộng đoàn một cách sâu đậm. Lời kinh ở số nhiều – “chúng con”, “chúng con”, chúng con” – không có “con” trong Kinh Lạy Cha. Hơn nữa, tất cả chúng ta đều là linh mục qua phép rửa và ở trong giao ưóc mà chúng ta đã làm, mỗi ngày chúng ta được yêu cầu để cầu nguyện cho người khác, cho thế giới. Cho những ai mỗi ngày không thể tham dự thánh lễ, cho những ai không đọc phụng vụ lời kinh, đọc Kinh Lạy Cha là cầu nguyện với Thánh Thể, lời cầu nguyện trong chức linh mục của chúng ta cho người khác.

Và đây là niềm an ủi: không một ai trong chúng ta là thần thánh. Không tránh được, chúng ta là người, điều này có nghĩa trong nhiều lần, có thể là đa số mọi lần, khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta bị bủa vây đủ mọi chuyện, từ mệt mỏi đến chán nản, từ thiếu kiên nhẫn đến bận lo ấn định lịch làm việc ngày mai, vượt lên các chuyện đau khổ trong ngày, suy nghĩ để nói gì với người làm mình tức giận, để đối diện với các hoang tưởng khiêu dâm. Lời cầu nguyện của chúng ta hiếm khi phát xuất từ một trái tim trong trắng, nhưng thường là từ trái tim rất trần tục. Nhưng đây là điểm chính, tích chất trần tục cũng có sự trung thực của nó. Quả tim chúng ta bồn chồn và chia trí cũng là quả tim hiện sinh của chúng ta, quả tim hiện sinh của thế giới. Khi chúng ta cầu nguyện phát xuất từ đây, chúng ta nâng tâm trí chúng ta hướng về Chúa (như định nghĩa cổ điển của cầu nguyện).

Chúng ta hãy cố gắng mỗi ngày, trung thành cầu nguyện Kinh Lạy Cha! Và sốt sắng nhất có thể!

Tình bạn trung thành

Tôi lớn lên trong một gia đình sống gần gũi nhau và một trong những điều khó khăn nhất tôi phải làm là rời gia đình ở tuổi mười bảy để vào Dòng Thừa sai Hiến sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm. Năm đầu tiên ở nhà tập thật không dễ dàng. Tôi nhớ nhà và tôi liên lạc với gia đình trong khuôn khổ nhà tập cho phép. Mỗi tuần tôi viết thư về nhà một lần và hàng tuần mẹ tôi luôn đều đặn viết thư trả lời. Tôi vẫn còn giữ các bức thư quý báu này. Tôi rời nhà nhưng tôi vẫn giữ liên lạc, tôi là thành viên trung thành với gia đình.

Và rồi cuộc sống của tôi trở nên phức tạp hơn nhiều với các đòi hỏi xã hội. Tôi dọn về chủng viện và sống trong một cộng đoàn với sáu mươi người khác, với những người thường xuyên đến rồi đi trong vòng bảy năm tôi ở đó, đến mức mà khi tôi xong thời gian đào tạo, tôi đã sống trong một cộng đoàn với hơn một trăm người khác nhau. Tôi lớn lên trong một gia đình sống gần gũi nhau và một trong những điều khó khăn nhất tôi phải làm là rời gia đình ở tuổi mười bảy để vào Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm. Năm đầu tiên ở nhà tập thật không dễ dàng. Tôi nhớ nhà và tôi liên lạc với gia đình trong khuôn khổ nhà tập cho phép. Mỗi tuần tôi viết thư về nhà một lần và hàng tuần mẹ tôi luôn trung thành viết trả lời. Tôi vẫn còn giữ các bức thư quý báu này. Tôi rời nhà nhưng tôi vẫn giữ liên lạc, tôi là thành viên trung thành với gia đình.

Trong những năm sau chủng viện, mô hình này nhân lên theo cấp số nhân. Học lên cao đưa tôi đến học ở nhiều nước khác nhau, có các bạn mới trong đời và rất nhiều người trở thành bạn thân. Thêm nữa với bốn mươi năm dạy học, tôi gặp hàng ngàn sinh viên và tôi có nhiều bạn trong số này. Viết lách và các buổi diễn thuyết cũng mang hàng ngàn người đến với tôi. Dù hầu hết trong số họ đi qua đời tôi không có gắn kết đáng kể, nhưng một số đã trở thành bạn suốt đời.

Tôi chia sẻ điều này không phải vì tôi nghĩ nó độc đáo, mà vì nó điển hình. Ngày nay, đây là câu chuyện của mọi người. Ngày càng có nhiều người đi qua cuộc sống của chúng ta, đến mức mình phải tự đặt câu hỏi: làm thế nào để có thể trung thành với gia đình, với bạn cũ, với hàng xòm cũ, với các sinh viên cũ, với đồng nghiệp cũ, với người quen biết cũ? Lòng trung thành đòi hỏi gì? Thỉnh thoảng thăm viếng? Viết tin nhắn, viết e-mail, thỉnh thoảng gọi điện thoại? Nhớ ngày sinh nhật và những ngày lễ? Họp bạn cùng lớp? Tham dự đám cưới, đám tang?

Rõ ràng tất cả các chuyện này là tốt, nhưng nó cũng chiếm toàn thời gian. Một cái gì khác được đòi hỏi ở đây, cụ thể là lòng trung thành không phụ thuộc vào e-mail, tin nhắn, điện thoại hay đi thăm thường xuyên. Nhưng cái gì sâu hơn so với tiếp xúc hữu hình của con người? Điều gì có thể thực tế hơn? Câu trả lời là lòng trung thành, lòng trung thành là ơn của một tâm hồn đạo đức được chia sẻ, là ơn của lòng tin tưởng, và trung thành là trung thực với con người của mình khi mình ở trong cộng đoàn của con người hữu hình và vẫn giữ tích cực với những người không còn ở trong đời sống hàng ngày của mình. Đó là ý nghĩa của lòng trung thành.

Thật thích thú khi xem lại Sách Thánh đã định nghĩa một cộng đoàn và lòng trung thành như thế nào. Trong sách Công vụ Tông đồ chúng ta đọc trước lễ Hiện Xuống các thành viên của cộng đoàn kitô hữu đầu tiên “đều ở với nhau trong phòng khép kín.” Và ở đây, dù về thể xác cùng ở với nhau nhưng trớ trêu thay, họ không thực sự ở trong một cộng đoàn với nhau, với người khác, không thực sự là một gia đình và cũng không trung thành với nhau. Rồi, sau khi nhận ơn Chúa Thánh Thần, họ mới thực sự thoát ra căn phòng và đi khắp nơi trên trái đất, rất nhiều người trong số họ không bao giờ gặp lại nhau, và bây giờ dù địa lý xa cách, nhưng trớ trêu thay, họ lại thành một gia đình thực sự, một cộng đoàn thực sự và sống trung thành với nhau.

Cuối cùng, bây giờ lòng trung thành không còn là việc kết nối thể xác với ai đó, nhưng là sống trong tinh thần chia sẻ. Sự phản bội không phải là vấn đề do xa cách, do quên đi một kỷ niệm hay một sinh nhật, hoặc không thể giữ liên lạc với người mình yêu quý. Phản bội là tránh xa sự thật và đức hạnh với người mà mình từng chia sẻ, với người mình thân yêu. Sự phản bội là thay đổi tâm hồn. Chúng ta không trung thành với gia đình và bạn bè khi chúng ta thành một người khác, để không còn chia sẻ cùng một tinh thần với họ.

Bạn có thể ở cùng nhà với ai đó, cùng ăn cơm và nói chuyện hàng ngày với họ, nhưng bạn không phải là thành viên trung thành của gia đình hay là một người bạn; cũng như bạn có thể là người bạn trung thành hay thành viên của một gia đình, dù bạn không gặp gia đình hay người bạn này trong bốn mươi năm qua. Trung thành trong việc nhớ các ngày sinh nhật là chuyện tuyệt vời, nhưng lòng trung thành còn hơn thế, khi ngày sinh nhật này nhắc bạn nhớ đó là ngày đặc biệt đối với bạn. Trung thành là duy trì một tinh thần đạo đức tương hợp với nhau.

Trong khả năng tốt nhất của tôi, tôi cố gắng giữ liên lạc với gia đình, bạn cũ, hàng xóm cũ, bạn học cũ, các sinh viên cũ, đồng nghiệp cũ và người quen cũ. Nhiều lúc nó cũng vượt quá khả năng tôi một chút. Vì vậy, tôi đặt niềm tin của tôi vào lòng trung thành đạo đức. Tôi cố gắng hết sức có thể để giữ cùng một tâm hồn, khi tôi rời nhà, khi tôi còn nhỏ, và đó là nét đặc trưng và là bản sắc của tôi khi tôi gặp tất cả những người tuyệt vời trên đường đời.

Đối diện với giờ phút khó khăn của chúng ta

Phân định không phải là chuyện dễ dàng. Chúng ta thử giải quyết vấn đề nan giải này: khi chúng ta thấy lòng mình ở trong tình trạng lo âu cực độ, liệu chúng ta có lơ đi cho rằng một đau đớn như thế là dấu chỉ rằng đây không phải là nơi phù hợp với chúng ta, rằng có cái gì đó sai lầm ở đây không? Hoặc, như Chúa Giêsu, chúng ta chấp nhận ở lại và nói với chính mình, với người thân, với Chúa: “Con sẽ nói gì bây giờ, cứu con khỏi giây phút này sao?”

Khi Chúa Giêsu đối diện với cái chết sỉ nhục trên thập giá, Tin Mừng Thánh Gioan có ám chỉ đến việc Ngài được đề nghị một cơ hội để trốn thoát. Một phái đoàn người Hy Lạp, qua trung gian Thánh Philiphê đề nghị Chúa Giêsu đi với họ, đến một nhóm sẽ đón Ngài và thông điệp của Ngài. Như thế Chúa Giêsu phải chọn: Chịu đựng nỗi thống khổ, tủi nhục và chết với cộng đoàn hay từ bỏ cộng đoàn này để đến với cộng đoàn sẽ chấp nhận mình. Chúa Giêsu đã làm gì? Chúa Giêsu cũng sẽ đặt câu hỏi: “Tôi sẽ nói gì bây giờ, cứu tôi khỏi giây phút này sao?

Dù câu này được xem là câu hỏi, nhưng đó là câu trả lời. Ngài đã chọn ở lại, đối diện với lo âu, với sỉ nhục, với đau đớn vì Ngài thấy đây là lòng trung tín chính xác, Ngài được mời gọi trong chính tình yêu mà Ngài rao giảng. Ngài xuống thế để nhập thể, để giảng dạy thế nào là tình yêu thực sự và bây giờ cái giá phải trả cho những chuyện này là sỉ nhục, là lo âu, Ngài biết và chấp nhận những gì đòi hỏi Ngài bây giờ. Nỗi đau Ngài chịu không có nghĩa là Ngài đã làm cái gì đó sai, Ngài ở không đúng nơi hoặc cộng đoàn này không đáng để Ngài chịu đau khổ này. Ngược lại: nỗi đau được hiểu là cách thể hiện lòng trung tín sâu thẳm nhất của chính sứ vụ và thiên chức của Ngài. Cho đến lúc này, chỉ có những lời kêu xin Ngài, bây giờ chúng ta xin Ngài nâng đỡ chúng ta trong thực tế; Ngài cần phải nuốt khó khăn để làm.

Tôi sẽ nói gì bây giờ, cứu tôi khỏi giây phút này sao? Chúng ta có đủ khôn ngoan và quảng đại để nói những lời này khi, trong sự dấn thân riêng của mình, chúng ta bị thách thức chịu đựng nỗi lo âu nóng bỏng trong lòng này không? Khi Chúa Giêsu đặt câu hỏi này, những gì Chúa phải đối diện là tấm gương gần như hoàn hảo cho các tình huống mà đôi khi chúng ta phải đối diện. Trong hầu hết mọi dấn thân, nếu chúng ta trung thành thì sẽ có khi chúng ta phải phải chịu đựng một nỗi lo âu trong lòng (và cũng có khi do hiểu lầm bên ngoài), chúng ta phải đối diện với một quyết định khó khăn: nỗi đau và sự hiểu lầm này (dù cho đó là do sự non nớt của chính mình) có phải là dấu chỉ tôi ở không đúng chỗ, tôi phải ra đi và tìm một ai khác, một cộng đoàn nào khác cần đến tôi không? Hoặc bên trong nỗi lo âu nội tâm này, hiểu lầm do bên ngoài, do sự non nớt của cá nhân tôi, tôi được gọi để nói: Tôi sẽ nói gì bây giờ, cứu tôi khỏi giây phút này sao? Đây là điều tôi đã được gọi! Tôi sinh ra để làm điều này!

Tôi nghĩ câu hỏi này rất quan trọng vì thường nỗi lo thường xuyên trong lòng có thể làm lung lay các cam kết dấn thân chúng ta, thúc đẩy chúng ta buông bỏ. Các hôn nhân, các ơn gọi sống đời sống thánh hiến, các dấn thân làm việc cho công lý, cho cộng đoàn tu sĩ và các dấn thân cho gia đình, bạn bè có thể bị buông bỏ vì đương sự nghĩ rằng không ai được gọi để sống trong lo âu tột độ, bị sầu khổ và hiểu lầm như vậy. Thật vậy, ngày nay nỗi đau, sầu khổ, hiểu lầm chung chung được xem như dấu chỉ để từ bỏ những chuyện mình đã dấn thân để đi tìm một ai khác, một cộng đoàn khác sẽ khẳng định mình, thay vì xem đây là dấu chỉ, bây giờ, chỉ có bây giờ, chỉ có giờ phút này, bên trong sự lo âu đặc biệt, sự hiểu lầm này, chúng ta mới có dịp mang lại ân sủng cho đời sống dấn thân của mình.

Tôi đã chứng kiến nhiều người từ bỏ hôn nhân, từ bỏ chức thánh, từ bỏ đời sống tu trì, từ bỏ cộng đoàn tôn giáo, từ bỏ bạn bè thân yêu, từ bỏ các dấn thân phục vụ cho công lý và hòa bình vì có một lúc nào đó họ cảm nhận mình quá đau và bị hiểu lầm. Và trong nhiều trường hợp này, tôi cũng thấy thực tế hóa ra là một điều tốt. Tình huống họ gặp không tốt cho họ cũng như cho người khác. Họ phải được cứu khỏi “lúc này.” Trong một vài trường hợp, điều ngược lại là đúng. Họ đau đớn tột cùng, nhưng nỗi đau đó là lời mời đến một nơi sâu đậm hơn, mang lại sự sống hơn trong đời sống dấn thân của họ. Họ rời đi, ngay lúc họ nên ở lại.

Chắc chắn, phân định không phải là chuyện dễ. Không phải lúc nào cũng vì thiếu quảng đại mà chúng ta từ bỏ dấn thân. Một số người quảng đại nhất, vị tha nhất mà tôi quen biết đã từ bỏ hôn nhân, chức thánh, đời sống tu trì hay bỏ giáo hội của mình. Nhưng tôi viết điều này vì ngày nay, nhiều tài liệu tâm lý và thiêng liêng đáng tin cậy không đủ làm nổi bật thách thức, như Chúa Giêsu đã trụ vững bên trong nỗi đau đớn tột cùng, hiểu lầm, nhục nhã của mình, thay vì bỏ đi để đến với một ai đó, một cộng đoàn nào đó chấp nhận và hiểu nỗi khao khát của mình, thì chúng ta chấp nhận nó sẽ mang đến sự sống hơn khi nói: Tôi sẽ nói gì bây giờ, cứu tôi khỏi giây phút này sao?

Để lại bình an là món quà từ giã của chúng ta cho người thân

Có một cái chết lành, chết tinh tuyền, một cái chết dù buồn nhưng để lại cảm giác bình yên. Tôi đã chứng kiến nhiều lần. Đôi khi điều này được nhận ra một cách rõ ràng khi ai đó chết, nhưng cũng có khi chỉ nhận ra trong vô thức. Nó được biết đến qua hoa quả của nó.

Tôi nhớ tôi ngồi với một với một người đàn ông hấp hối vì ung thư vào độ tuổi ngoài năm mươi, anh bỏ lại một gia đình trẻ, anh nói với tôi: “Tôi nghĩ tôi không có kẻ thù nào trên thế gian này, ít nhất là tôi không biết nếu tôi có thù gì hay không. Tôi không có việc gì dang dở.” Tôi cũng nghe một lời nói tương tự ở một phụ nữ trẻ chết vì ung thư, để lại gia đình trẻ. Bà nói: “Tôi nghĩ tôi đã khóc hết nước mắt, nhưng hôm qua khi nhìn đứa con gái út của tôi, tôi thấy tôi còn nhiều nước mắt để khóc. Nhưng tôi được bình an. Rất khó, nhưng tôi không còn gì mà tôi chưa cho.” Và tôi cũng đã có lúc ở bên cạnh giường chết mà không có gì trong các lời nói trên được nói lên lời, nhưng tất cả đều được diễn tả rõ trong vụng về, trong thinh lặng mà bạn thường chứng kiến chung quanh giường chết. Có một cách chết để lại bình yên.

Trong Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu đã nói lời từ giã dài trong Bữa Tiệc Ly vào đêm trước khi Ngài chết. Dĩ nhiên các môn đệ bị lung lay, sợ hãi và không chuẩn bị để chấp nhận thực tế tàn bạo của cái chết sắp đến. Chúa Giêsu cố gắng trấn an họ, cho họ những điều để họ bám lấy, và Ngài kết thúc như sau: Thầy đi, nhưng Thầy để lại món quà cuối cùng cho anh em, Thầy để lại bình an của Thầy cho anh em.

Tôi ngờ rằng, tất cả những ai đọc câu này đều muốn sống thời gian tang chế người thân của mình, cha mẹ, người phối ngẫu, con cái hay bạn thân của mình như vậy, ít nhất là sau một thời gian, sau nỗi buồn là cảm giác bình yên ấm áp mỗi khi nhớ lại người thân hoặc khi có ai nhắc đến. Tôi đã mất cả cha lẫn mẹ khi tôi còn ở tuổi hai mươi và dù buồn như lời chia tay, nhưng mỗi kỷ niệm đều gợi lên một tâm trạng ấm áp. Món quà từ giã của cha mẹ tôi là món quà bình yên.

Khi cố gắng hiểu điều này, điều quan trọng là phải phân biệt giữa muốn và cần. Khi tôi mất cha mẹ khi tuổi còn nhỏ, tôi vẫn rất muốn họ (và tin rằng tôi vẫn cần họ), nhưng tôi nhận ra trong sự bình an cuối cùng gia đình tôi đã có được sau khi cha mẹ qua đời, rằng nỗi đau của chúng tôi vẫn luôn còn muốn họ, nhưng chúng tôi không còn cần đến họ nữa. Trong cuộc sống và cái chết của cha mẹ tôi, cha mẹ đã cho chúng tôi những gì chúng tôi cần. Không có gì khác mà chúng tôi cần đến họ. Bây giờ chúng tôi chỉ nhớ họ và, dù còn buồn về sự ra đi của họ, mối quan hệ của chúng tôi đã hoàn tất. Chúng tôi đã bình yên.

Dĩ nhiên, thách thức của chúng ta bây giờ là ở phía bên kia phương trình, cụ thể là sống theo cách mà bình an sẽ là món quà từ giã cuối cùng của chúng ta cho gia đình, cho người thân, cho cộng đồng tôn giáo và cho thế giới của chúng ta. Làm thế nào để làm? Làm thế nào chúng ta để lại món quà bình an?

Như chúng ta biết, bình an không phải chỉ là không có chiến tranh và xung đột. Bình an được cấu thành bởi hai điều: hài hòa và trọn vẹn.

Để được bình an phải có một cái gì đó nhất quán bên trong tâm hồn chúng ta để mọi chuyển động hài hòa với nhau và phải hoàn chỉnh để nó không bị đau vì có một cái gì đó còn thiếu. Bình an là trái ngược với bất an nội tâm hay mong muốn một cái gì đó còn thiếu. Khi chúng ta không được yên ổn, đó là do chúng ta đang trải qua sự hỗn loạn hay cảm nhận một số công việc còn dang dở trong lòng. Như thế một cách tích cực, cái gì tạo nên bình an? Khi Chúa Giêsu hứa ban bình an là món quà vĩnh biệt của Ngài, Ngài đồng hóa bình an này với Chúa Thánh Thần; và như chúng ta biết, đó là tinh thần bác ái, niềm vui, hòa bình, kiên nhẫn, tốt lành, nhịn nhục, trung thành, ôn hòa, và khiết tịnh.

Làm thế nào để chúng ta để lại những điều này khi chúng ta rời cõi thế? Như thế, chết không khác gì sống. Khi một số người rời bỏ bất cứ cái gì, công việc, hôn nhân, gia đình hay cộng đoàn, họ để lại sự hỗn loạn đàng sau, một di sản của bất hòa, của việc làm dang dở, giận dữ, cay đắng, ghen tị và chia rẽ. Ký ức của họ luôn cảm nhận như một nỗi đau lạnh. Họ không nhớ dù ký ức của họ ám ảnh. Mặt khác, một số người để lại một di sản của sự hài hòa và đầy đủ, một tinh thần hiểu biết, trắc ẩn, khẳng định và thống nhất. Chúng ta nhớ những người này nhưng nỗi đau là điều ấm áp, nuôi dưỡng, của một kỷ niệm hạnh phúc.

Ra đi trong cái chết chính xác có cùng năng động này. Qua cách chúng ta sống và chết, chúng ta sẽ để lại đằng sau mình một tinh thần còn giữ mãi trong tâm trí người thân một cảm giác ấm áp mỗi khi họ nhớ chúng ta.