RonRolheiser,OMI

Cầu nguyện cho Israel và Giêrusalem

Có một thời gian, tôi đã sống chung nhiều năm trong cộng đoàn với một tu huynh Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm (O.M.I.), người rất quảng đại và đạo đức đến mức gần như thái quá. Nhưng thầy lại gặp khó khăn trong việc nắm bắt biểu tượng và ẩn dụ. Thầy hiểu mọi sự theo nghĩa đen. Với thầy, lời nói viết sao thì phải hiểu đúng như vậy!

Điều này đã gây cho thầy không ít bối rối và xao xuyến khi mỗi ngày, trong giờ Kinh Thần Vụ với các Thánh vịnh, chúng tôi cầu nguyện cho Giêrusalem và Israel, và thỉnh thoảng lại cầu xin cho sự suy vong của một quốc gia khác. Sau giờ cầu nguyện, thầy thường hỏi: “Tại sao chúng ta lại cầu nguyện cho Giêrusalem? Cho Israel? Điều gì khiến những nơi đó đặc biệt hơn trong mắt Thiên Chúa so với các thành phố và quốc gia khác? Tại sao Thiên Chúa lại ghét một số quốc gia và thành phố?”

Chúng tôi cố gắng hết sức để giúp thầy hiểu rằng những tên gọi ấy không nên được hiểu theo nghĩa đen như những địa danh trên bản đồ, mà đúng hơn là những biểu tượng. Có lúc, khôn ngoan hay không thì chưa biết, tôi đã nói: “Thầy mến, mỗi khi thầy đọc thấy chữ ‘Giêrusalem’ hay ‘Israel’, cứ hiểu đó là ‘Hội Thánh’; và mỗi khi thấy nói đến một quốc gia hay thành phố mà Thiên Chúa dường như ghét bỏ, thì hãy hiểu rằng Thiên Chúa ghét tội lỗi.”

Chúng ta có thể mỉm cười trước lòng đạo đức và cách hiểu quá sát chữ của tu huynh ấy, nhưng tôi không chắc rằng tất cả chúng ta không còn đang vật lộn với chính lối hiểu theo nghĩa đen của mình khi tìm hiểu Kinh Thánh thực sự muốn nói gì qua những từ như Giêrusalem, Israel, Dân được tuyển chọn, và những người được Thiên Chúa tuyển chọn. Thật vậy, với tư cách là Kitô hữu, chúng ta hiểu thế nào về những từ như Kitô hữu, Hội Thánh, và Thân Thể Đức Kitô?

Vậy, khi chúng ta cầu nguyện cho Giêrusalem và Israel, chúng ta đang cầu nguyện cho ai?

Điều ta thấy trong Kinh Thánh là một tiến trình dần dần “thoát khỏi nghĩa đen” các tên gọi và địa danh. Ban đầu, Israel là một dân tộc lịch sử, Giêrusalem là một thành phố lịch sử, Dân được tuyển chọn là một chủng tộc theo huyết thống, và những người được Thiên Chúa tuyển chọn chính là dân tộc ấy, thành phố ấy, chủng tộc ấy. Nhưng khi mạc khải dần được khai mở, những tên gọi và khái niệm này ngày càng mang tính biểu tượng.

Ít là điều này đúng với phần lớn Do Thái giáo. Phần lớn Do Thái giáo hiểu những từ ấy theo nghĩa biểu tượng, dù vẫn có những nhóm hiểu theo nghĩa đen. Với họ, Giêrusalem là thành phố Giêrusalem cụ thể, và Israel là một dải đất cụ thể tại Palestine.

Kitô hữu cũng phản chiếu điều đó. Thần học Kitô giáo chính thống, ngay từ nguồn gốc của mình, đã từ chối việc đồng nhất những tên gọi và địa danh ấy theo cách đơn giản hóa, chẳng hạn như hiểu Giêrusalem chỉ đơn thuần là Ki-tô giáo và Kitô hữu là Dân tộc được tuyển chọn. Tuy nhiên, cũng giống như trong Do Thái giáo, nhiều Kitô hữu, sau khi đã thoát khỏi cách hiểu theo nghĩa đen từ cội rễ Do Thái, lại tiếp tục hiểu những từ ấy theo nghĩa đen để chỉ các Giáo hội Kitô giáo lịch sử và các thành viên tuyên xưng đức tin một cách rõ ràng. Thật vậy, câu trả lời của tôi cho tu huynh Hiến sĩ (“Giêrusalem nghĩa là Hội Thánh, Israel nghĩa là Kitô giáo”) dường như cũng gợi ý đúng theo hướng đó.

Tuy nhiên, chính các danh từ “Hội Thánh” vra”Kitô giáo” cũng cần được “thoát khỏi nghĩa đen”. Hội Thánh là một thực tại rộng lớn và bao dung hơn nhiều so với tư cách thành viên hữu hình, được rửa tội một cách rõ ràng. Chiều kích hữu hình và lịch sử của Hội Thánh là có thật, quan trọng, và không bao giờ được xem nhẹ; nhưng (từ thời Chúa Giêsu cho đến suốt lịch sử tín lý và thần học Kitô giáo) Kitô giáo luôn tin và dạy cách rõ ràng rằng mầu nhiệm Đức Kitô vừa hữu hình vừa vô hình. Có phần chúng ta thấy được, và có phần chúng ta không thấy được. Có phần mầu nhiệm ấy được nhập thể rõ ràng trong lịch sử, và có phần vẫn vô hình. Mầu nhiệm Đức Kitô được nhập thể trong lịch sử, nhưng không phải tất cả đều có thể nhìn thấy. Có những người được rửa tội cách hữu hình, và cũng có những người chỉ được rửa tội theo những cách vô hình, không thể thấy.

Hơn nữa, đây không phải là một thứ thần học mới mẻ hay tự do. Chính Chúa Giêsu đã dạy rằng không hẳn những ai thưa “Lạy Chúa, lạy Chúa” mới là những người tin thật sự của Người, nhưng chính những ai sống theo giáo huấn của Người (dù có thể không ý thức) mới là những môn đệ đích thực. Thần học Kitô giáo từ xưa đến nay luôn dạy rằng mầu nhiệm trọn vẹn của Đức Kitô lớn hơn rất nhiều so với việc thể hiện lịch sử của nó trong các Giáo hội Kitô giáo.

Kenneth Cragg, một nhà truyền giáo Kitô giáo, sau nhiều năm sống và phục vụ trong thế giới Hồi giáo, đã đưa ra nhận xét này: “Tôi tin rằng cần đến tất cả các Giáo hội Kitô giáo mới có thể diễn tả trọn vẹn Đức Kitô.” Và tôi xin bổ sung rằng: không chỉ cần đến tất cả các Giáo hội Kitô giáo để diễn tả trọn vẹn mầu nhiệm Đức Kitô, mà còn cần đến tất cả những con người thiện chí, vượt qua mọi biên giới tôn giáo và mọi ranh giới sắc tộc, để diễn tả mầu nhiệm ấy.

Khi tu huynh Hiến sĩ đạo đức kia, người gặp khó khăn trong việc hiểu biểu tượng và ẩn dụ, hỏi tôi tại sao chúng tôi luôn cầu nguyện cho Giêrusalem và Israel, và tôi trả lời rằng thầy có thể đơn giản thay thế những từ ấy bằng Hội Thánh và Kitô giáo, thì câu trả lời của tôi (nếu hiểu theo nghĩa đen) lại chính là quá đạo đức, quá đơn giản, và quá hẹp trong việc hiểu mầu nhiệm Đức Kitô. Những từ Hội Thánh và Kitô giáo, như ta thấy trong tiến trình mạc khải dần được khai mở trong Kinh Thánh, cũng cần được “thoát khỏi nghĩa đen”. Vậy khi chúng ta cầu nguyện cho Giêrusalem hay Israel, chúng ta đang cầu nguyện cho ai? Chúng ta đang cầu nguyện cho tất cả những con người thiện chí, thuộc mọi đức tin, mọi hệ phái, mọi chủng tộc, mọi lứa tuổi. Chính họ là Giêrusalem mới và Israel mới.

Những cuốn sách hay nhất đã chạm đến tôi trong năm 2025

Thánh Augustine có câu nói nổi tiếng: “Về sở thích thì không có gì để tranh cãi.” Vì vậy, tôi không hứa rằng những cuốn sách này sẽ mang lại cho bạn những gì chúng đã mang lại cho tôi, nhưng đây là những cuốn sách đã chạm đến tôi sâu sắc nhất trong năm qua.

Trong lĩnh vực tâm linh …

• Tomas Halik, The Afternoon of Christianity, The Courage to Change (Buổi chiều của Kitô giáo, Can đảm để Thay đổi): Halik là một trong những tiếng nói quan trọng nhất trong dòng tâm linh Kitô giáo hiện nay, và cuốn sách này sẽ không làm bạn thất vọng.

• Serene Jones, Call It Grace – Finding Meaning in a Fractured World (Gọi đó là Ân sủng – Tìm kiếm ý nghĩa trong một thế giới rạn nứt): Là chủ tịch của Union Theological tại New York, Jones kể lại hành trình cuộc đời và hành trình trong ân sủng của chính mình qua lăng kính tự truyện. Một cuốn sách rất đáng đọc.

• Jeffrey Munroe, Reading Buechner, Exploring the Work of a Master Memoirist, Novelist, Theologian, and Preacher (Đọc Buechner, Khám phá tác phẩm của một bậc thầy hồi ký, tiểu thuyết gia, thần học gia và nhà thuyết giáo): Đây là cuốn sách giới thiệu hay nhất về các tác phẩm của Frederick Buechner mà chúng ta hiện có. Có lẽ đây là cuốn sách tôi yêu thích nhất trong năm.

• Richard Rohr, The Tears of Things, Prophetic Wisdom for an Age of Outrage (Nước mắt của vạn vật, Trí huệ ngôn sứ cho một thời đại phẫn nộ): Đây là lúc Richard Rohr thể hiện phong độ xuất sắc nhất của mình. Một cuốn sách sẽ giúp bạn mở rộng tầm nhìn theo cách rất lành mạnh. Trong số nhiều thách đố mà ông đưa ra, có những ý tưởng như:

  • Các vị thánh và những nhà huyền bí khóc trước thập giá, trước hết là họ rơi lệ cho một thế giới đang đau khổ.
  • Trong sự yếu đuối của mình, chúng ta xứng đáng được nhận những giọt nước mắt (sự cảm thông) hơn là sự thù ghét, sự sửa chữa hay sự chối bỏ.
  • Ngôn ngữ của một ngôn sứ thay đổi từ sự giận dữ trước tội lỗi sang sự thương xót trước đau khổ và tổn thương. Sự giận dữ không cho phép chúng ta thực hiện những bước chuyển lớn, nhưng những giọt nước mắt thì có thể.

• Robert Ellsberg (Biên tập), Dorothy Day, On Pilgrimage, The Seventies (Dorothy Day, Trên hành trình hành hương, Thập niên 70): Những lá thư của Dorothy Day từ những năm 1970. Đơn giản là một cuốn sách rất đáng đọc.

• Jim Wallis, The False White Gospel, Rejecting Christian Nationalism, Reclaiming True Faith, and Refounding Democracy (Phúc âm trắng giả tạo, Từ khước chủ nghĩa dân tộc Kitô giáo, Thu hồi đức tin chân chính và tái lập nền dân chủ): Jim Wallis được ví như Dorothy Day của thế hệ chúng ta. Cuốn sách này là một thách đố mạnh mẽ thúc giục chúng ta nhìn nhận Chúa Giêsu một cách nghiêm túc hơn, và đôi khi là theo nghĩa đen hơn.

  • Thiên Chúa là của cá nhân (personal) nhưng không bao giờ là riêng tư (private).
  • Khái niệm “Ai là người thân cận của tôi” phải mở rộng ra ngoài những người có giấy tờ chính thức. Người thân cận của bạn, theo cách Chúa Giêsu định nghĩa, thường nằm ngoài vùng an toàn của bạn. Chúa Giêsu nói: “Hãy yêu người thân cận như chính mình”, không có ngoại lệ!
  • Chúng ta đang ở gần một cách nguy hiểm với những hệ tư tưởng đang bành trướng mà không coi “những người khác” là thuộc về cộng đồng. Những ý tưởng cho rằng người khác biệt với bạn không phải là người thân cận, bạn không phải yêu thương họ và có quyền thù ghét họ – tất cả những điều đó khiến bạn đi ngược lại với Chúa Giêsu.

• Joseph F. Kelly, The Origins of Christmas (Nguồn gốc của Giáng sinh): Kelly, một học giả nghiêm túc, đã lần lại (bằng ngôn ngữ rất dễ đọc) cách chúng ta nên hiểu về các câu chuyện Giáng sinh trong các sách Phúc âm.

• Robert Wicks, The Art of Kindness (Nghệ thuật của lòng tốt): Tôi đã đề tựa cho cuốn sách này trên bìa rằng: “Robert Wicks có một vốn từ vựng tâm linh độc đáo và thiên bẩm. Rất ít nhà văn có khả năng đan xen giữa cái đặc biệt và cái phổ thông, cái học thuật và cái đời thường, giữa chiều sâu của cái nhìn tâm linh với trí khôn thực tiễn mạnh mẽ.” Cuốn sách này thể hiện tất cả những điều đó, kèm theo một chút hài hước lành mạnh. Ông mở đầu cuốn sách bằng trích dẫn: “Khi một bông hoa không nở, bạn sửa chữa môi trường nơi nó lớn lên, chứ không phải sửa chữa bông hoa.” Đó là tinh thần chủ đạo cho những câu chuyện của ông.

Một vài cuốn sách học thuật…

• William T. Cavanaugh, The Uses of Idolatry (Sự sử dụng ngẫu tượng): Một cái nhìn sâu sắc và phản biện về sự tương tác giữa văn hóa và đức tin của chúng ta. Cavanaugh lập luận rằng chúng ta không phải là đã “giải ma thuật” (disenchanted) đối với những điều siêu việt (như Charles Taylor gợi ý), mà đúng hơn là chúng ta đang “tái mê hoặc” (re-enchanted) với những vị thần khác. Một cuốn sách học thuật quan trọng.

• Charles Taylor, Cosmic Connections – Poetry in an Age of Disenchantment (Những kết nối vũ trụ – Thơ ca trong thời đại giải ma thuật): Cảnh báo trước, đây là một cuốn sách thuần học thuật, cực kỳ dày đặc và dài hơn sáu trăm trang. Nhưng Taylor là một trong những triết gia lỗi lạc của thế hệ chúng ta, và trong cuốn sách này (đâu đó giữa những trang giấy ấy) là hàng chục nhận thức rực rỡ. Ví dụ, về giá trị của thơ ca:

  • Triết học không thể phớt lờ cái nhìn thấu suốt của thơ ca.
  • Thơ ca có thể là một cách để “tái mê hoặc” thế giới.
  • Thơ ca là sự chuyển ngữ của trực giác vào những ngôn ngữ tinh tế hơn.
  • Và thơ ca là cảm xúc được hồi tưởng lại trong sự tĩnh lặng.

Về tiểu thuyết…

• Jane Urquhart, In Winter I get up at night (Vào mùa đông tôi thức dậy ban đêm): Đáng buồn là năm qua tôi không đọc nhiều tiểu thuyết vì tập trung vào sách phi hư cấu. Tôi đang tự trách mình vì điều đó, bởi lẽ hư cấu mang lại những hiểu biết mà phi hư cấu không thể. Cuốn tiểu thuyết này của Urquhart là cuốn duy nhất khiến tôi chú ý. Lấy bối cảnh ở Saskatchewan, câu chuyện diễn biến chậm nhưng văn phong của Urquhart (như mọi khi) rất rực rỡ. Hãy đọc nó vì chất văn, ngay cả khi cốt truyện không làm bạn hứng thú.
Và một lựa chọn đặc biệt (Wildcard)…

• Margaret Atwood, A Book of Lives – A Memoir of Sort (Cuốn sách của những cuộc đời – Một kiểu hồi ký): Cuốn sách này không thuộc một thể loại cụ thể nào mà là, như cụm từ Latinh nói, sui generis – một thể loại của riêng nó. Đây không hẳn là một cuốn tự truyện mà là những lời hồi tưởng của Atwood về cuộc đời mình, từ thuở nhỏ cho đến nay. Nó dài sáu trăm trang, nhưng một khi bạn đã bắt đầu, nó như một cơn nghiện, bạn cứ lật hết trang này đến trang khác. Nhẹ nhàng, sâu sắc, hài hước và cũng đầy sức nặng. Atwood quả là một nhà văn vĩ đại.

Chúc các bạn đọc sách vui vẻ, dù là với những cuốn này hay bất kỳ cuốn nào khác.

Đêm Tĩnh Lặng

Không có gì là hoàn hảo, nhưng bài thánh ca Silent Night (Đêm Thánh Vô Cùng) gần như diễn tả một cách hoàn hảo cách chúng ta nên hình dung về những gì đã xảy ra trong ngày Chúa Giêsu giáng sinh. Giai điệu của nó vỗ về như lời ru của mẹ dành cho con thơ, và giai điệu ấy hòa quyện với ca từ để mô tả một cách tuyệt đẹp những gì đã diễn ra khi Chúa Giêsu chào đời.

Gói gọn trong một từ, đó chính là: Tĩnh lặng! Không pháo hoa, không đám đông, không tiếng hò reo, không máy ảnh, không truyền thông đưa tin, không mạng xã hội, không một lời tuyên cáo rằng một sự kiện chấn động địa cầu đang diễn ra. Chẳng có gì cả. Mọi thứ đều im lìm, ngoại trừ thỉnh thoảng có tiếng khóc nhẹ nhàng của một đứa trẻ; chỉ có một cặp vợ chồng vô danh trong một chuồng gia súc với một trẻ sơ sinh yếu ớt, được vài con vật câm lặng dõi nhìn.

Đó là cách Thiên Chúa bước vào thế giới khi Chúa Giêsu giáng sinh, và đó vẫn là cách Thiên Chúa thường bước vào cuộc đời chúng ta. Một cách âm thầm, lặng lẽ, yếu ớt như một hài nhi, chỉ có sức mạnh của sự mong manh, của sự ngây thơ, của một sự thúc giục đạo đức chạm đến những phần cao quý nhất (higher angels) bên trong chúng ta và khẩn thiết mong được nâng niu, nuôi dưỡng.

Thiên Chúa không sinh ra trong thế giới này như một người trưởng thành tự túc, càng không phải là một siêu nhân hay siêu sao. Thiên Chúa sinh ra như một trẻ sơ sinh bất lực, không thể tự ăn hay tự thay tã cho mình. Và đó là cách Thiên Chúa thường hiện diện trong đời sống chúng ta: như một hài nhi yếu ớt mà chúng ta cần bồng bế và nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Và, khi là một hài nhi yếu ớt, Thiên Chúa có thể bị phớt lờ, để trả giá cho sự toàn vẹn và lương tâm của chính chúng ta.

Hãy lưu ý rằng đây cũng là khuôn mẫu trong sứ vụ trần thế của Chúa Giêsu, nhất là trong cách Ngài hiến dâng cái chết của mình cho chúng ta. Ngài không bao giờ dùng quyền lực áp chế ai. Ngài không bao giờ cưỡng bức ai. Ngài không bao giờ thực hiện phép lạ để gây ấn tượng với bất kỳ ai. Ngài không bao giờ cố dùng quyền năng thần linh để chứng minh rằng chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tin rằng Thiên Chúa tồn tại, hay Bài Giảng Trên Núi là bộ luật đạo đức tối thượng, hoặc tình yêu nằm ở trung tâm của mọi sự hiện hữu. Đấng Thần Linh cứ nằm đó một cách thầm lặng, như một lời mời gọi, một lời khẩn nài đạo đức không ngừng nghỉ.

Khi bị nhạo báng trên thập giá và bị thách thức phô diễn quyền năng thần linh, Chúa Giêsu đã khước từ; Ngài chọn phó mặc bản thân trong thầm lặng và tình yêu thay vì dùng sức mạnh vật lý để áp đảo bất kỳ thế lực trần gian nào. Giống như hài nhi nằm bất lực trong máng cỏ ở Bêlem, Ngài treo mình bất lực trên thập giá ở Giêrusalem. Đó là cách Thiên Chúa hiện diện trong thế giới của chúng ta.

Nhưng đó không phải là cách chúng ta muốn về sự hiện diện và quyền năng của Thiên Chúa trong thế giới này. Giống như những tổ phụ đức tin thuở xưa – những người hằng khao khát và cầu nguyện cho một Đấng Mêsia trần thế có thể dùng sức mạnh vật lý áp đảo các thế lực tà ác – chúng ta cũng không muốn một đứa trẻ yếu ớt làm Đấng cứu thế. Chúng ta muốn một Đấng Mêsia phô diễn quyền lực thế gian, người làm ta lóa mắt, làm phép lạ, thực thi công lý bằng vũ lực, ban cho chúng ta phép mầu bất cứ khi nào cần, và liên tục lóe lên quyền năng thần linh để cho thế giới thấy ai mới thực sự là người nắm quyền. Chúng ta muốn một Chúa Giêsu mà khi bị nhạo báng, Ngài sẽ dùng quyền năng từ trời bước xuống khỏi thập giá và làm nhục những kẻ nghĩ rằng họ có quyền trên Ngài. Chúng ta không muốn một hài nhi nằm im lặng, không thể nói năng. Chúng ta muốn sự giáng sinh của thần linh phải như một tiếng nổ siêu thanh phá tan mọi nghi ngờ của chúng ta.

Nhưng đó không phải là những gì chúng ta nhận được!

Daniel Berrigan từng được mời diễn thuyết tại một trường đại học về chủ đề: Thiên Chúa đang lên tiếng ở đâu trong thế giới hôm nay? Với những lời lẽ đại ý như sau, ông đã trình bày chủ đề trong chưa đầy ba phút: “Hiện nay tôi đang làm việc tại một nhà lưu trú cho người hấp hối, ngồi bên cạnh những người đang sắp lìa đời. Ngay lúc này, trong số những người đang hấp hối đó có một chàng trai trẻ hoàn toàn kiệt quệ và bất lực. Anh ta nằm liệt giường, không thể tự ăn, hầu như bất tỉnh và không thể nói năng. Tôi cố gắng ngồi với anh ấy một khoảng thời gian dài mỗi ngày, nắm lấy tay anh ấy và đấu tranh để nghe những gì anh ấy đang nói – bởi vì anh ấy không thể nói, bởi vì đó là nơi duy nhất mà Thiên Chúa đang lên tiếng trong thế giới của chúng ta.”

Tôi không chắc trường đại học có trả thù lao cho bài thuyết trình hai phút đó của ông hay không, nhưng bốn mươi năm sau, những lời của ông vẫn in đậm trong tâm trí tôi vì thách đố quyết liệt của chúng: Chúng ta cần phải tranh đấu để nghe thấy tiếng nói của Thiên Chúa trong những gì không thể cất tiếng.

Joseph Mohr đã viết lời cho bài Silent Night trong thời gian chiến tranh và xã hội đầy biến động. Mohr, một linh mục trẻ người Áo, đã cảm tác những lời này sau khi nhìn thấy một người mẹ trẻ trong một túp lều vào đêm Giáng sinh, đang ngồi tĩnh lặng và bình yên cho con bú.

Vào đêm Ngài chào đời, Hài Nhi Kitô chỉ nói bằng sự thầm lặng, một sự thầm lặng tỏa lan bình an. Có một bài thơ cổ viết đại ý rằng: Nếu những ngày này bạn đang bước đi trên những nẻo đường đời và tìm kiếm Thiên Chúa, hay một chút gì đó của Thiên Chúa, hay một tinh thần nào đó để dẫn dắt cuộc đời mình, bạn nên nhìn xuống dưới thấp. Bởi vì nếu Thiên Chúa được tìm thấy trong những ngày này, Ngài sẽ ở trong những điều nhỏ bé, ở gần mặt đất, thậm chí có thể ở dưới mặt đất, và thậm chí có thể ở trong khuôn mặt thầm lặng của một hài nhi.

Ai mà ngờ được nhỉ?

Tôi từng có đặc ân được ghé thăm Đất Thánh. Đó là một nơi khác biệt đến lạ kỳ. Nó thấm đẫm lịch sử, những cuộc đấu tranh, tôn giáo và máu. Hầu như mỗi tấc đất nơi đây đều đã từng nhuốm máu, bao gồm cả máu của Chúa Giêsu. Lịch sử như nhảy vọt ra khỏi từng viên đá trước mắt bạn.

Những điều cổ xưa trỗi dậy nơi đó và hòa quyện với những thứ của ngày hôm nay. Khi đứng ở những địa điểm linh thiêng ấy, bạn bắt đầu hiểu tại sao ông Môsê được bảo phải cởi giày ra, và tại sao qua nhiều thế kỷ, biết bao cuộc chiến đã nổ ra vì dải sa mạc nhỏ bé này. Được mệnh danh là Đất Thánh một cách đầy chuẩn xác, tôi đã bước đi trên nền đất ấy với một đôi chân trần của tâm hồn.

Trong tất cả những gì tôi đã thấy, bao gồm cả mộ phần của Chúa Giêsu, ít có nơi nào chạm đến tôi sâu sắc như Nhà thờ Thăm Viếng. Nó đứng ở một thế tương phản sắc nét với hầu hết các nhà thờ khác ở đó – vốn là những nơi đánh dấu các sự kiện chính trong cuộc đời Chúa Giêsu.

Không giống như hầu hết các nhà thờ khác, Nhà thờ Thăm Viếng là một tòa nhà rất khiêm tốn. Bạn không thấy vàng hay đá cẩm thạch. Những bức tường gỗ và trần nhà bằng gỗ sồi thật đơn sơ và hầu như để trống. Tuy nhiên, trên bức tường phía trước, sau bàn thờ, có một bức họa miêu tả cảnh Thăm Viếng, và chính bức họa này đã khiến tôi xúc động sâu sắc.

Đó là bức tranh vẽ hai người phụ nữ quê mùa, Maria và Elizabeth, cả hai đều đang mang thai, đang chào đón nhau. Mọi thứ về bức tranh đều gợi lên sự nhỏ bé, thấp kém, lu mờ, bụi bặm, vẻ tỉnh lẻ và sự tầm thường.

Bạn thấy hai người phụ nữ trông rất bình thường, đứng trong bụi bặm của một ngôi làng vô danh. Chẳng có gì gợi ý rằng một trong hai người họ, hay bất cứ điều gì họ đang làm hoặc đang mang trong mình, là phi thường hay có ý nghĩa quan trọng. Thế nhưng – và đây chính là điểm thiên tài của bức họa – tất cả sự nhỏ bé, lu mờ, vẻ cằn cỗi và sự tầm thường của một thị trấn nhỏ đó lại khiến bạn tự động đặt ra câu hỏi: Ai mà ngờ được? Ai có thể tưởng tượng được rằng hai người phụ nữ này, ở cái thị trấn hẻo lánh này, tại địa điểm vô danh này, vào thời điểm mờ nhạt này, lại đang mang trong mình một thứ gì đó sẽ thay đổi toàn bộ thế giới một cách triệt để và mãi mãi?

Ai mà ngờ được? Đúng vậy. Ai có thể nghĩ rằng những gì mà những người phụ nữ nông thôn quê mùa này đang thai nghén và mang trong lòng, một ngày kia sẽ thay đổi lịch sử nhiều hơn bất kỳ quân đội, triết gia, nghệ sĩ, hoàng đế, vua chúa hay siêu sao nào từng làm được?

Bên trong họ, họ đang thai nghén Chúa Giêsu và Gioan Tẩy Giả – Đấng Kitô và vị ngôn sứ sẽ loan báo về Ngài. Hai sự sinh hạ này đã thay đổi thế giới một cách triệt để đến mức ngày nay chúng ta thậm chí còn đo lường thời gian bằng sự kiện của những lần sinh hạ đó. Chúng ta đang sống ở năm 2025 sau sự kiện ấy.

Có một bài học ở đây: Đừng bao giờ đánh giá thấp tầm ảnh hưởng đối với thế giới của một người đang sống trong sự thầm lặng nhưng đang thai nghén trong mình một lời hứa. Đừng bao giờ coi thường tác động lịch sử của quá trình thai nghén thầm lặng, ẩn giấu. Làm sao ai đó trong chúng ta có thể có bất kỳ ý nghĩa thực sự nào đối với thế giới khi chúng ta sống trong sự lu mờ, không ai biết đến, bị ẩn giấu đi, không thể làm được những việc lớn lao để định hình lịch sử?

Chúng ta có thể học một bài học từ Maria và Elizabeth. Chúng ta có thể mang thai những lời hứa, niềm hy vọng, mang trong mình Chúa Thánh Thần và rồi, ẩn mình khỏi thế giới, chúng ta thai nghén điều đó thành xương thịt thật sự – chính là con người chúng ta. Chúng ta cũng có thể tái định hình lịch sử.

Nếu có thể nắm bắt được điều này, cuộc sống chúng ta sẽ có nhiều bình an hơn vì những ngọn lửa thao thức bên trong sẽ bớt dằn vặt chúng ta hơn. Tóm lại, có một sự bất mãn vĩnh cửu bên trong chúng ta mà chỉ có thể được làm dịu đi bằng cách chấp nhận một điều mà chúng ta có thể gọi là “sự tử đạo của sự thầm lặng” (the martyrdom of obscurity) – nghĩa là sự hy sinh tự nguyện khi chấp nhận một cuộc đời mà ở đó chúng ta sẽ không bao giờ có được sự thể hiện bản thân đầy đủ và thỏa đáng. Sự chấp nhận đó có thể giúp làm dịu đi áp lực thúc ép chúng ta phải được biết đến, phải tạo ra sự khác biệt, phải làm cho cuộc đời mình có giá trị xét theo những tiêu chuẩn lớn lao.

Tất cả chúng ta đều biết cảm giác nhìn vào cuộc đời mình và thấy mình vô danh, tầm thường, không có gì nổi bật, và thấy nản lòng vì những giá trị của mình không ai hay biết. Chúng ta có quá nhiều thứ để cống hiến cho thế giới, nhưng thế giới lại không biết đến chúng ta. Chúng ta khao khát làm những việc vĩ đại, những việc quan trọng, những việc ảnh hưởng đến thế giới vượt ra ngoài biên giới của những thị trấn nhỏ nơi chúng ta sống (ngay cả khi chúng ta đang sống ở những thành phố lớn).

Điều có thể giúp mang lại chút bình an chính là hình ảnh được thể hiện trong bức họa ở Nhà thờ Thăm Viếng: rằng điều cuối cùng làm thay đổi thế giới chính là những gì chúng ta sinh hạ khi chúng ta – giữa sự lu mờ và bụi bặm của những “thị trấn nhỏ” của mình, và trong nỗi thất vọng của những cuộc đời dường như luôn quá nhỏ bé so với tầm vóc của mình – trở nên “mang thai” với niềm hy vọng. Và sau một quá trình thai nghén âm thầm, không được quảng cáo hay thế giới biết đến, chúng ta đưa niềm hy vọng đó đến ngày đơm bông kết trái.

Khi tôi còn giảng dạy tại Cao đẳng Newman ở Edmonton, vị hiệu trưởng của chúng tôi lúc đó là một linh mục thuộc dòng Thánh Giá, người đã mang đến cho chúng tôi chút sắc màu vùng ven biển. Mỗi khi ngạc nhiên vì điều gì đó, ngài thường thốt lên: “Ai mà ngờ được nhỉ?” (Who would have thunk it?)

Vâng, hai người phụ nữ mang thai, cách đây hai ngàn năm, không địa vị, cô lập, đứng trong bụi bặm, đã mãi mãi thay đổi thế giới? Ai mà ngờ được nhỉ?

Những hình ảnh cho Mùa Vọng

Đừng bao giờ nhầm lẫn Mùa Vọng với Mùa Chay. Mùa Chay là một mùa sám hối; màu sắc của nó là màu tím và biểu tượng là tro bụi. Khác với Mùa Chay, Mùa Vọng không nói về ăn chay và đền tội. Mùa Vọng nói về sự chờ đợi. Mùa Vọng là thời gian để chạm vào nỗi khao khát, mong mỏi, và hiểu thế nào là chờ đợi k. Màu sắc của mùa này là màu đỏ thẫm (crimson), màu của sự khao khát.

Với ý nghĩa đó, dưới đây là một số hình ảnh cho Mùa Vọng:

  • Mọi giọt nước mắt đều đưa Đấng Messiah đến gần hơn! Đây là một tiên đề rút ra từ văn chương khải huyền Do Thái, nhấn mạnh rằng Đấng Mê-si-a chỉ có thể được sinh ra trong đời sống chúng ta khi chúng ta đã tạo ra một không gian thích hợp để đón nhận Ngài. Không gian đó được tạo nên thông qua sự khao khát, chờ đợi, nỗi đau khổ, những giọt nước mắt, và việc để cho những nỗi thất vọng và căng thẳng kéo giãn trái tim cũng như tầm nhìn của chúng ta đủ rộng để Đấng Mê-si-a có thể đến – không phải như một siêu nhân hay người hùng trong phim Hollywood, mà như một Hài nhi Giêsu yếu ớt, Người biểu lộ tình yêu thực sự là gì thông qua cách Ngài sống, chịu khổ hình, chịu chết và tha thứ.
  • Để có cái cao cả, trước hết phải có sự thăng hoa! Từ “cao cả” (sublime) có gốc rễ từ từ “thăng hoa” (sublimation). Để một điều gì đó trở nên cao cả, trước hết phải có một sự căng thẳng (tension) nào đó. Sự căng thẳng càng lớn, kết quả sẽ càng cao cả nếu sự căng thẳng đó được dẫn đưa đến tận cùng và không bị giải tỏa quá sớm. Quá trình thai nghén không thể vội vàng, sự chữa lành đòi hỏi thời gian thích hợp, sự viên mãn tâm hồn dựa trên sự chờ đợi trước đó, và ngay cả rượu vang cũng cần đủ thời gian để ủ chín.
  • Trong nỗi khát khao và cô đơn, chúng ta cảm nhận được Nước Thiên Chúa! Tất cả chúng ta đều quen thuộc với câu nói của Thánh Augustine: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, và tâm hồn con sẽ còn khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.” Chúng ta có thể làm gì khi cảm thấy cô đơn, khi nỗi đau của sự đơn độc trở nên nhức nhối nhất? Chúng ta có thể sử dụng khoảnh khắc đó, cảm giác đau đớn về sự xa cách với sự thân mật, để cảm nhận về Nước Thiên Chúa; nghĩa là, để nỗi đau đó kéo giãn trái tim ta đủ rộng để cho ta một cảm thức chân thực hơn về những gì thực sự tạo nên Nước Trời.
  • Nỗi khát khao và đau đớn giúp gia tăng “nhiệt độ tâm thức”!Đây là một hình ảnh được mượn từ Pierre Teilhard de Chardin. Teilhard, vừa là một nhà khoa học vừa là một nhà huyền bí, đã rút ra bài học tâm linh từ phòng thí nghiệm hóa học. Đôi khi nhà khoa học cho hai hóa chất vào cùng một ống nghiệm, nhưng chúng không kết hợp với nhau. Thay vào đó, chúng chỉ nằm cạnh nhau, không thể hòa quyện thành một. Nếu nhà khoa học tác động nhiệt vào ống nghiệm, ở nhiệt độ cao hơn, chúng thường sẽ hòa tan và trở thành một. Teilhard áp dụng điều này vào các mối quan hệ nhân bản. Đôi khi, vì đủ mọi lý do, chúng ta từ chối những mối quan hệ có ý nghĩa với nhau và giống như hai hóa chất trong ống nghiệm, chúng ta tách biệt, quá lạnh lùng để có thể hiệp nhất. Tuy nhiên, nỗi khát khao sâu thẳm, sự đau đớn, tổn thương, mất mát và sự chờ đợi cay đắng có thể – theo lời của Teilhard – làm gia tăng “nhiệt độ tâm thức” của chúng ta đến mức làm tan chảy sự lạnh lùng và mở lòng chúng ta ra với sự hiệp nhất. Mùa Vọng là mùa để gia tăng nhiệt độ tâm thức, thông qua việc để nỗi khao khát, sự cô đơn và những thất vọng làm chúng ta bớt lạnh lùng, bớt phán xét và bớt ích kỷ hơn.
  • Một khúc củi ẩm phải xèo xèo trong lửa trước khi có thể bùng cháy! Đây là một hình ảnh từ Thánh Gioan Thánh Giá. Khi bạn ném một khúc củi ẩm vào lửa, nó không bắt lửa ngay lập tức. Trước hết nó phải nằm trong lửa và kêu “xèo xèo” cho đến khi sức nóng làm khô nó đủ mức. Chỉ khi đó nó mới bùng cháy. Thánh Gioan gợi ý rằng trong nỗi khát khao và những mong muốn thất vọng, chúng ta đang “xèo xèo” một cách ẩn dụ bên trong ngọn lửa tình yêu (cả nhân bản và thần linh). Có thể nói, nỗi đau đang “làm khô” chúng ta, để đến một lúc nào đó chúng ta cũng có thể bùng cháy trong tình yêu. Mùa Vọng là thời gian để những khao khát chưa được lấp đầy và những thất vọng cay đắng “xèo xèo” bên trong chúng ta, để ngọn lửa tình yêu cuối cùng có thể bắt nhịp và bùng cháy.

Sau cùng, tất cả những hình ảnh này đều nói lên cùng một điều: Mùa Vọng là về sự chờ đợi đúng nghĩa, về việc không giải tỏa căng thẳng quá sớm, về việc kiên nhẫn chịu đựng nó để để cho thần tính, sự gần gũi, Đấng Mê-si-a và cái cao cả được sinh ra sâu đậm hơn trong đời sống chúng ta. Có lẽ từ duy nhất tóm gọn tất cả điều này là từ KIÊN NHẪN. Mùa Vọng là mùa để thực hành lòng kiên nhẫn.

Carlo Carretto là một tu sĩ đã sống một thời gian dài trong sa mạc Sahara như một ẩn sĩ, nơi ông đã viết những cuốn sách đầy thử thách sâu sắc. Sau khi ở sa mạc nhiều năm, một phóng viên đã phỏng vấn và hỏi ông rằng: “Sau tất cả những năm tháng thầm lặng và cầu nguyện, nếu ông phải gửi một thông điệp về cho thế giới, đó sẽ là gì? Ông nghe thấy Thiên Chúa nói gì với thế giới?”

Câu trả lời của Carretto là: “Thiên Chúa đang bảo chúng ta hãy học cách chờ đợi! Chờ đợi nhiều thứ! Chờ đợi Thiên Chúa!”

Đó chính là thách đố của Mùa Vọng.

Làm sao chúng ta biết Thiên Chúa hiện hữu?

Gần đây, tôi có nghe một chương trình đàm thoại về tôn giáo trên radio, một thính giả đã đặt câu hỏi: Làm sao chúng ta biết được Thiên Chúa hiện hữu? Một câu hỏi rất hay.

Người dẫn chương trình trả lời rằng chúng ta biết điều đó thông qua đức tin. Đó không phải là một câu trả lời tồi, ngoại trừ việc điều cần được làm rõ chính là: làm thế nào chúng ta biết được điều này thông qua đức tin.

Trước hết, “biết” một điều gì đó nghĩa là gì? Nếu chúng ta tin rằng “biết” nghĩa là có thể hình dung, thấu hiểu và tưởng tượng về sự tồn tại của nó theo một cách nào đó, thì ở phía bên này của sự vĩnh cửu, chúng ta sẽ không bao giờ có thể biết về Thiên Chúa. Tại sao?

Bởi vì Thiên Chúa là Đấng bất khả thuyết (không thể diễn tả bằng lời). Đó là sự thật đầu tiên và không thể giản lược mà chúng ta cần chấp nhận về Thiên Chúa; điều đó có nghĩa là, theo định nghĩa, Thiên Chúa nằm ngoài trí tưởng tượng của chúng ta. Thiên Chúa là hữu thể vô hạn, mà cái vô hạn thì không bao giờ có thể bị giới hạn hay nắm bắt trọn vẹn trong một khái niệm. Hãy thử tưởng tượng về con số lớn nhất mà con người có thể đếm được. Bản tính và sự hiện hữu của Thiên Chúa không bao giờ có thể được khái niệm hóa hay tưởng tượng ra. Nhưng Ngài có thể được nhận biết.

Sự hiểu biết không phải lúc nào cũng nằm trong đầu óc, không phải là thứ chúng ta luôn có thể giải thích, đóng khung trong một bức tranh hay diễn đạt thành lời. Đôi khi, đặc biệt là với những điều chạm đến những mầu nhiệm sâu thẳm nhất của cuộc sống, chúng ta biết bằng một thứ gì đó vượt lên trên lý trí và trái tim. Sự hiểu biết này nằm ở “trực giác thẳm sâu” (gut), một thứ cảm giác như một mệnh lệnh đạo đức, một sự thúc giục, một tiếng gọi, một nghĩa vụ, một tiếng nói mách bảo chúng ta phải làm gì để sống đúng với sự thật. Chính tại nơi đó, chúng ta biết Thiên Chúa, vượt xa mọi sự nắm bắt về trí tưởng tượng, trí tuệ hay thậm chí là cảm xúc.

Những chân lý được mặc khải về Thiên Chúa trong Kinh Thánh, trong truyền thống Kitô giáo, và qua sự làm chứng từ cuộc đời của các thánh tử đạo và các thánh, đơn giản là sự diễn đạt cho một điều mà chúng ta vốn đã biết – như các nhà thần học huyền bí vẫn nói – theo một cách thức mờ mịt.

Vậy, làm thế nào chúng ta có thể chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa?

Tôi đã viết luận án tiến sĩ của mình chính về câu hỏi đó. Trong luận án, tôi đã xem xét các chứng minh cổ điển về sự tồn tại của Thiên Chúa như đã được trình bày trong triết học Tây phương. Ví dụ, Thánh Thomas Aquinas đã cố gắng chứng minh sự tồn tại của Ngài qua năm lập luận riêng biệt.

Đây là một trong những lập luận đó: Hãy tưởng tượng bạn đang đi bộ trên đường và nhìn thấy một hòn đá, bạn tự hỏi: làm sao nó lại ở đó? Với thực tại thô sơ của một hòn đá, bạn có thể đơn giản trả lời: nó đã luôn ở đó rồi. Tuy nhiên, hãy tưởng tượng bạn đi trên đường và thấy một chiếc đồng hồ vẫn đang chạy. Bạn có còn nói được rằng nó đã luôn ở đó không? Không, nó không thể luôn ở đó được, bởi vì nó có một thiết kế thông minh mà ai đó phải tạo ra cho nó, và nó đang gõ nhịp thời gian, nghĩa là nó không thể tồn tại mãi mãi như thế được.
Aquinas sau đó yêu cầu chúng ta áp dụng điều này vào sự tồn tại của chính mình và của vũ trụ. Tạo hóa có một thiết kế thông minh đến kinh ngạc và, như chúng ta biết từ vật lý học đương đại, vũ trụ không phải lúc nào cũng tồn tại. Một điều gì đó hoặc một Đấng trí tuệ nào đó đã ban cho chúng ta và vũ trụ này một khởi đầu lịch sử và một thiết kế thông minh. Đó là ai?

Một lập luận như thế này có sức nặng bao nhiêu? Từng có một cuộc tranh luận nổi tiếng trên đài BBC ở Anh giữa Frederick Copleston, một triết gia Kitô giáo lừng danh, và Bertrand Russell, một nhà tư tưởng bất khả tri xuất chúng. Sau tất cả những màn tranh luận qua lại, họ – một người vô thần và một người có đạo – đã đồng ý với nhau một điều: Nếu thế giới này có ý nghĩa, thì Thiên Chúa tồn tại. Là một người vô thần, Russell đồng ý với điều đó, nhưng ông nói thêm rằng xét cho cùng thì thế giới này chẳng có ý nghĩa gì cả.

Hầu hết những người vô thần có tư duy đều chấp nhận rằng thế giới này không có ý nghĩa; nhưng rồi, giống như Albert Camus, họ phải vật lộn với câu hỏi: làm sao nó có thể không có ý nghĩa được? Nếu không có Thiên Chúa, làm sao chúng ta có thể nói rằng giúp đỡ một đứa trẻ thì tốt hơn là lạm dụng nó? Nếu không có Thiên Chúa, chúng ta dựa vào đâu để thiết lập tính hợp lý và đạo đức?

Ở phần cuối luận án, tôi đã kết luận rằng sự tồn tại của Thiên Chúa không thể được chứng minh thông qua một lập luận thuần lý, một tam đoạn luận logic hay một phương trình toán học, mặc dù tất cả những thứ đó đều có thể đưa ra những gợi ý đầy thuyết phục.

Tuy nhiên, Thiên Chúa không được tìm thấy ở điểm cuối của một cuộc tranh luận, một tam đoạn luận hay một phương trình. Sự tồn tại, sự sống và tình yêu của Thiên Chúa được nhận biết (được trải nghiệm) bên trong một lối sống nhất định.

Nói một cách đơn giản, nếu chúng ta sống theo một cách thức nhất định – cách mà tất cả các tôn giáo chân chính (không riêng gì Kitô giáo) mời gọi chúng ta sống – cụ thể là với lòng trắc ẩn, sự vị tha, lòng tha thứ, sự quảng đại, kiên nhẫn, nhẫn nhục, lòng trung tín và sự biết ơn, thì khi đó chúng ta sẽ biết về sự tồn tại của Thiên Chúa bằng cách dự phần vào chính sự sống của Ngài – và việc chúng ta có hình dung được sự tồn tại của Ngài hay không lúc đó không còn quan trọng nữa.

Tại sao tôi tin vào Thiên Chúa? Không phải vì tôi bị thuyết phục đặc biệt bởi những chứng minh từ các bộ óc triết học vĩ đại như Aquinas, Anselm, Descartes, Leibnitz, hay Hartshorne. Tôi thấy những chứng minh của họ thú vị về mặt trí tuệ nhưng ít thuyết phục về mặt hiện sinh.

Tôi tin vào Thiên Chúa vì tôi cảm nhận được sự hiện diện của Ngài ở mức độ trực giác thẳm sâu, như một tiếng nói thầm lặng, như một lời mời gọi, một mệnh lệnh đạo đức mà bất cứ khi nào tôi lắng nghe và tuân theo, nó đều mang lại sự hiệp nhất, tình yêu, bình an và mục đích sống.

Đó mới chính là bằng chứng thực sự cho sự tồn tại hay hiện hữu của Thiên Chúa.

Nói Sự Thật Qua Dụ Ngôn

Một lần, người ta hỏi Đức Giêsu tại sao Người lại nói bằng dụ ngôn. Câu trả lời của Người khá lạ lùng: “Ta dùng dụ ngôn… kẻo họ thấy bằng mắt, nghe bằng tai, hiểu bằng lòng và quay lại, và Ta sẽ chữa lành họ.”

Nhìn thoáng qua, dường như Đức Giêsu cố ý nói mơ hồ để người ta không hiểu sự thật—để họ cứ ở lại trong sự ngu muội và ngoan cố.

Sự thật thì ngược lại. Việc Người cố tình nói gián tiếp chính là một sự hiền hòa, một lòng cảm thông sâu sắc nhận biết rằng đời sống con người rất phức tạp, nên sự thật chỉ nên được nói theo một cách thức nhất định. Vậy, nói thế nào?

Chỉ có sự thật thôi thì chưa đủ. Sự thật có thể giải thoát ta, nhưng cũng có thể làm trái tim ta càng thêm đóng băng nếu được trình bày một cách cẩu thả. Đây là một ví dụ rất thấm thía:

Nhà văn Joyce Carol Oates từng xuất bản một cuốn tiểu thuyết mang tên “Họ”. Tuy là tiểu thuyết, nhưng cuốn sách dựa trên đời thật của một phụ nữ trẻ mà Oates từng dạy ở đại học và đã bị bà cho điểm rớt.

Sau khi nhận điểm rớt, cô gái đã gửi cho Oates một lá thư. Trong thư, cô chia sẻ câu chuyện đời mình—một quá khứ đầy vết thương và đau đớn. Cô lớn lên trong một gia đình tồi tệ, bị lạm dụng khi còn nhỏ, và đã trải qua nhiều năm cố gắng đối phó với bản thân bị tổn thương bằng những cuộc tình dục vô hồn và vô danh.

Khi viết lá thư ấy, cô đang cố gắng thoát khỏi quá khứ và những hình thức đối phó đầy hủy hoại. Trong thư, cô cay đắng than phiền rằng lớp học của Oates chẳng giúp ích gì cho cô. Dưới đây là đoạn trích dài (được lược nhẹ):

“Bà từng nói trong một buổi học: ‘Văn chương tạo hình cho cuộc sống.’ Tôi nhớ rất rõ câu nói ấy. Và giờ tôi muốn hỏi bà: ‘Hình dạng là gì? Và tại sao nó lại tốt hơn việc đời sống tự diễn ra theo cách của nó?’ “

Tôi ghét tất cả những điều đó, tất cả những lời nói dối, bao nhiêu chữ nghĩa trong những cuốn sách đó. Có hình dạng nào cho cách mọi sự xảy đến? Tôi muốn chạy đến bên bà sau buổi học để hỏi bà câu ấy, muốn gào lên, muốn quát vào mặt bà vì lời bà nói là sai! Bà sai rồi!

Vậy mà tôi lại ghen tị với bà. Tôi đã ghen tị với bà từ lần đầu nhìn thấy bà. Bà và những người giống như bà. Cái cách bà thoải mái dùng lời nói và tương tác với người khác. Cái cách bà nói chuyện với họ như bạn bè.

Một ngày nọ, trước giờ học, tôi thấy bà đi vào tòa nhà cùng một giáo viên khác, hai người ăn mặc đẹp, nói cười với nhau như thể điều đó chẳng phải là điều gì to tát. Một lần khác, tôi thấy bà lái chiếc xe màu xanh rời trường.

Và tôi ghét cô vì điều đó. Vì điều đó và vì những cuốn sách của bà, vì những lời của bà, vì bà biết quá nhiều về những điều chẳng bao giờ xảy ra theo một hình dạng hoàn hảo nào.

Tôi thậm chí thỉnh thoảng thấy hình bà trên báo. Bà, với bao tri thức, trong khi tôi thì đã sống đời mình rồi, đã xoáy tung bản thân lên và chẳng nhận lại được gì. Tôi đã sống đời mình và chẳng có hình dạng gì trong đó. Chẳng có khuôn khổ gì cả.

Tôi có thể kể cho bà nghe về đời sống. Tôi và những người như tôi. Tất cả chúng tôi—những người nằm một mình trong đêm, quằn quại với nỗi hận thù không thể sắp xếp thành hình dạng. Tất cả chúng tôi—những phụ nữ trao thân cho đàn ông mà không hiểu vì sao. Tất cả chúng tôi—những người bước vội với nỗi hận như cơn đau trong bụng, đầy sợ hãi. Bà biết gì về điều đó?

Như người phụ nữ tôi đang ngồi đối diện trong thư viện khi viết lá thư này. Bà ấy béo, nặng nề, đôi chân dày màu kem đầy vết loang, nứt các mạch máu. Những người như bà ấy và tôi biết những điều mà cô không biết—cô và những giáo viên, những nhà văn.

Chúng tôi là những người nán lại thư viện vào giờ đóng cửa và ngồi uống cà phê một mình trong bếp. Chúng tôi là những người lập những kế hoạch điên rồ về hôn nhân mà chẳng có ai để cưới. Chúng tôi là những người bước xuống xe buýt và nhìn quanh chậm rãi; nhưng không biết mình đang tìm gì.

Chúng tôi là những người lật từng trang tạp chí đầy hình màu, và dành hàng giờ chìm trong chính cơ thể mình; nghĩ ngợi, nhớ lại, mơ mộng, chờ ai đó đến và cho hình dạng cho ngần ấy nỗi đau. Và cô biết gì về điều đó?”

Đúng vậy, chúng ta biết gì về tất cả những điều đó—chúng ta là giáo viên, là giảng viên, là những người viết sách? Lá thư của cô ấy cho chúng ta hiểu vì sao Đức Giêsu nói bằng dụ ngôn.

Sự thật có thể giải thoát chúng ta. Thật vậy, nó có thể tạo nên hình hài cho cuộc sống. Nhưng sự thật cũng có thể được nói ra một cách thiếu suy nghĩ, thiếu trái tim, và khi ấy nó chủ yếu chỉ để tự vả vào mặt sự bất lực và xấu hổ của chính chúng ta.

Chúng ta cần nói sự thật bằng dụ ngôn. Sự thật không phải là điều ta có thể tùy tiện dùng một cách nhanh chóng và dễ dàng.

Điều Gì Làm Cho Chúng Ta Nên Một Gia Đình – Huyết Thống Hay Đức Tin?

Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói rằng Kitô giáo đã “khai sinh” ra tôn giáo theo nghĩa hiện đại, bởi trước Kitô giáo, các cộng đồng đức tin phần lớn dựa trên sắc tộc và bộ tộc. Đức Giêsu đã định nghĩa một gia đình đức tin theo cách khác: không phải lòng mẹ sinh ra ta, nhưng là lòng dạ mà ta được tái sinh từ đó mới định nghĩa gia đình của ta. Đối với Đức Giêsu, gia đình đích thực không đặt nền trên huyết thống, sắc tộc hay quốc gia, nhưng được đặt nền trên đức tin.

Vậy Đức Giêsu dạy điều này ở đâu? Chủ đề ấy hầu như hiện diện khắp nơi trong giáo huấn của Người, nhưng được diễn tả cách tỏ tường qua nhiều lần Người xác định mối tương quan của Người với chính mẹ mình và vị trí của Mẹ trong cộng đoàn đức tin.

Có nhiều đoạn trong Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu dường như giữ khoảng cách với chính Mẹ Người. Chẳng hạn, trong một sự kiện, có người đến thưa: “Có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia muốn gặp Thầy.” Nhưng Đức Giêsu đáp: “Ai là mẹ Ta? Ai là anh em Ta?” Rồi Người chỉ vào các môn đệ và nói: “Đây là mẹ Ta và anh em Ta.”

Một lần khác, khi Người đang giảng dạy, có một phụ nữ kêu lên: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm!” Nhưng Đức Giêsu đáp lại: “Đúng hơn, phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.”

Ta có thể diễn lại cuộc đối thoại ấy như sau: Một phụ nữ trong đám đông xúc động trước lời giảng của Đức Giêsu và kêu lên: “Hẳn Mẹ Thầy là một người tuyệt vời lắm!” Đức Giêsu đáp: “Đúng vậy, Mẹ Ta tuyệt vời, còn tuyệt vời hơn bà nghĩ. Tất cả các bà mẹ đều tuyệt vời trong phương diện làm mẹ. Nhưng Mẹ Ta còn tuyệt vời hơn trong đức tin!”

Thoạt nhìn, những sự kiện ấy có thể gây nhầm lẫn, vì dường như Đức Giêsu đang tách xa chính mẹ Người. Nhưng không phải như vậy. Người đang tái định nghĩa tương quan của mình với Mẹ theo một cách thức nâng Mẹ lên một vị thế khác (và cao trọng hơn): “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.” Tin Mừng cho thấy rõ rằng chính Maria là người đầu tiên thực sự làm điều ấy. Đức tin của Mẹ khi thưa “xin xảy ra cho con như lời Sứ Thần nói” mới là điều làm Mẹ trở nên đặc biệt hơn cả yếu tố sinh học.

Trong các sách Tin Mừng, Đức Maria có vị thế đặc biệt trong cộng đoàn tông đồ, không phải trước hết vì Mẹ là mẹ ruột của Đức Giêsu, nhưng vì Mẹ là người đầu tiên thực sự lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa. Đức tin của Mẹ Maria, hơn là huyết thống, mới mang lại cho Mẹ địa vị đặc biệt.

Hơn nữa, qua những câu trả lời này, Đức Giêsu đang tái định nghĩa căn bản về một gia đình đích thực: đức tin hơn là huyết thống xác định ai là mẹ, là anh chị em của ta. Gia đình đích thực không đặt nền trên huyết thống nhưng trên đức tin. Đối với Kitô hữu, không phải lòng mẹ sinh ra ta, nhưng là lòng dạ mà ta được tái sinh từ đó mới định nghĩa gia đình của chúng ta. Gia đình thật sự không còn dựa trên sắc tộc, huyết thống, bộ tộc hay quốc gia. Không điều gì trong số đó làm chúng ta trở nên anh chị em của nhau theo nghĩa sâu xa nhất của từ “gia đình”.

Có những thách thức sâu rộng phát sinh từ điều này, những thách thức mà chúng ta luôn có xu hướng phớt lờ. Nói cách đơn giản, chúng ta luôn phản đối việc định nghĩa gia đình theo chiều rộng này. Bản tính con người thúc đẩy chúng ta gắn gia đình đức tin với gia đình huyết thống, sắc tộc, quốc gia, giáo phái hay ý thức hệ của riêng mình, và như thế vô tình biến Thiên Chúa thành vị Thiên Chúa bộ tộc, quốc gia, giáo phái hay ý thức hệ của chúng ta. Điều này không chỉ tạo ra một quan niệm sai lầm về gia đình mà còn dẫn đến một quan niệm sai lầm về Thiên Chúa. Như Nikos Kazantzakis nói, khi ta làm vậy, “lòng Thiên Chúa trở thành một khu ổ chuột.”

“Ai là mẹ Ta? Ai là anh chị em Ta?” Ai là gia đình thật sự của tôi?

Khi trả lời câu hỏi ấy, đức tin phải vượt lên trên mọi quy chiếu về huyết thống, sắc tộc, quốc tịch, giáo phái hay ý thức hệ. Những ai lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa thì họ là “mẹ, anh, chị, em” của chúng ta.

Việc Đức Giêsu tái định nghĩa gia đình, theo tôi, là một thách đố rất cần thiết cho thời đại hôm nay – khi chúng ta ngày càng tách biệt nhau bằng những khác biệt về ý thức hệ, quốc gia, sắc tộc, và định nghĩa gia đình theo cách rất khác với Đức Giêsu. Việc đồng nhất gia đình đức tin với gia đình huyết thống, sắc tộc, quốc gia, giáo phái hay ý thức hệ chính là nền tảng của chủ nghĩa dân tộc Kitô giáo và các loại chủ nghĩa bộ tộc khác vốn tìm cách khoác lên mình danh nghĩa Đức Giêsu và Tin Mừng. Những quan niệm ấy, dù có thể chân thành, nhưng sai lạc và trong nhiều phương diện trái ngược với Đức Giêsu và Tin Mừng. Trong Đức Kitô, như Kinh Thánh khẳng định, tất cả chúng ta đều được chịu phép rửa để trở nên một thân thể, dù là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, và tất cả đều được uống cùng một Thần Khí. Trong gia đình đức tin, không còn Johnson hay Rolheiser, người Mỹ hay người Mexico, người Anh hay người Pháp, người da trắng hay da màu, người cấp tiến hay bảo thủ. Gia đình thật của chúng ta – gia đình trong Đức Kitô – vượt trên tất cả những điều đó, và dù chúng ta vẫn có bổn phận trung thành với gia đình huyết thống, với giáo phái và quốc gia, Đức Kitô cũng mời gọi chúng ta vượt trên những giới hạn ấy.

Mở Rộng Thiên Đàng “Hào Phóng” Của Chúng Ta

John Muir từng đặt câu hỏi: “Tại sao các Kitô hữu lại ngần ngại không muốn cho các loài vật bước vào một thiên đàng keo kiệt của họ?”

Thật vậy, tại sao? Nhất là khi thánh Phaolô trong thư Rôma nói với chúng ta rằng toàn thể thụ tạo (khoáng vật, thực vật, động vật) đang rên siết mong được giải thoát khỏi cảnh hư nát để được bước vào sự sống đời đời với chúng ta. Bằng cách nào? Làm sao khoáng vật, cây cỏ và thú vật “vào” thiên đàng? Điều đó vượt ngoài trí tưởng tượng của chúng ta hôm nay, cũng như việc chúng ta không thể hình dung mình sẽ vào thiên đàng thế nào: “Mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa hề nghĩ tới những điều Thiên Chúa chuẩn bị cho những ai yêu mến Người.” Sự sống đời đời vượt quá tầm hiểu của chúng ta.

Những gì John Muir về động vật có thể được hỏi theo nghĩa rộng hơn: liệu chúng ta có quá “keo kiệt” khi nghĩ về ai được vào thiên đàng?

Từ “keo kiệt” ở đây nói đến việc chúng ta thường quá ám ảnh với sự trong sạch, ranh giới, giáo lý và thực hành tôn giáo đến mức loại trừ biết bao người ra khỏi nhà thờ, khỏi các sinh hoạt mục vụ, khỏi các chương trình bí tích, khỏi bàn tiệc Thánh Thể, và thậm chí khỏi chính quan niệm của chúng ta về những ai có thể được cứu độ. Điều này xảy ra ở mọi hệ phái Kitô giáo. Tất cả chúng ta thường có khuynh hướng tạo ra một “thiên đàng keo kiệt”.

Tuy nhiên, tôi có thể hiểu được bản năng đằng sau điều này. Việc đi theo Chúa Giê-su phải có ý nghĩa cụ thể. Là môn đệ Chúa Giêsu, cần đặt ra những yêu cầu thực tế và các nhà thờ cần có những ranh giới thực tế về giáo điều, bí tích, thành viên và thực hành. Việc tạo ra một ranh giới phân chia giữa người được vào và người bị ra khỏi nhà là hợp lý. Bản năng đằng sau điều này là lành mạnh.

Nhưng khi đem thực hành, tinh thần ấy thường bị bóp méo. Chúng ta thường làm cho thiên đàng trở nên keo kiệt. Nói một cách ẩn dụ, chúng ta thường giống như nhóm người trong Phúc Âm, những người ngăn cản người bại liệt đến với Chúa Giê-su, để anh ta chỉ có thể đến với Ngài bằng cách đi qua một lỗ hổng trên mái nhà.

Bản năng của chúng ta có thể đúng, nhưng cách thực hành của chúng ta thường sai. Chúng ta, những người gắn bó sâu đậm với Giáo hội, cần đủ vững mạnh trong đức tin và trong đời sống thiêng liêng để trở thành điểm tựa cho một tinh thần rộng mở, biết đón nhận và ngồi ăn với những người chưa gắn bó. Làm sao? Xin mượn một hình ảnh.

Hãy tưởng tượng một gia đình có mười người con, nay đều là người lớn. Năm người trong số đó luôn gắn bó sâu sắc với gia đình: thường xuyên về thăm, dùng bữa mỗi cuối tuần, liên lạc đều đặn, duy trì những nghi thức, truyền thống để giữ tình thân, và chăm lo cho cha mẹ.Có thể gọi họ là những “thành viên thực hành”.

Bây giờ, hãy tưởng tượng năm đứa con còn lại đã rời xa gia đình. Chúng không còn duy trì bất kỳ mối liên hệ ý nghĩa thường xuyên nào với gia đình, tách biệt khỏi cuộc sống và chuẩn mực đạo đức hàng ngày của gia đình, không còn quan tâm nhiều đến cuộc sống của cha mẹ, nhưng vẫn muốn có sự kết nối với gia đình để thỉnh thoảng cùng nhau chia sẻ một dịp lễ, một buổi tiệc hoặc một bữa ăn. Có thể gọi chúng là những “thành viên không thực hành” trong gia đình.

Điều này đặt ra câu hỏi: Liệu những “thành viên thực hành” trong gia đình có từ chối cho họ tham gia các buổi tụ họp, vì tin rằng việc cho phép họ đến sẽ gây nguy hiểm cho niềm tin, giá trị và bản sắc của gia đình? Hay họ cho phép họ đến, nhưng chỉ với điều kiện trước tiên họ phải thực hiện một loạt các cam kết thiết thực để thường xuyên liên lạc với gia đình?

Tôi đoán rằng trong hầu hết các gia đình lành mạnh, những thành viên “thực hành” sẽ vui vẻ chào đón những thành viên “không thực hành” đến một sự kiện, buổi họp mặt hoặc bữa ăn gia đình, biết ơn vì họ có mặt ở đó, vui vẻ chấp nhận họ mà không yêu cầu bất kỳ lời hứa hay cam kết thực tế nào ngay từ đầu. Họ cũng sẽ không cảm thấy bị đe dọa khi họ tham gia lễ kỷ niệm và ngồi vào bàn, lo sợ rằng bản sắc của gia đình có thể bị ảnh hưởng.

Với tư cách là những “thành viên thực hành” của gia đình, họ có một sự tự tin vững vàng rằng chính cam kết của họ đủ để neo giữ tinh thần, các giá trị và những nghi thức của gia đình. Nhờ đó, sự hiện diện của những người ít gắn bó không gây đe dọa điều gì, trái lại còn làm cho buổi sum họp thêm phong phú và bao dung hơn. Sự tự tin ấy xuất phát từ ý thức rằng (trong gia đình này) họ chính là những người trưởng thành trong căn phòng, có khả năng đón nhận người khác mà không cần thỏa hiệp bất cứ điều gì thuộc về bản sắc của mình. Họ sẽ không trở nên “keo kiệt” với hồng ân và món quà của tình gia đình.

Bài học ở đây rất rõ: chúng ta, những Kitô hữu sống đạo cách nghiêm túc, có trách nhiệm với giáo lý đúng đắn, với bí tích, với luân lý và với việc tiếp nối sứ vụ rao giảng và cử hành Bí Tích Thánh Thể, chúng ta không được “keo kiệt” với ân sủng của gia đình Thiên Chúa.

Giống như Chúa Giêsu – Đấng đón nhận tất cả mọi người trước khi yêu cầu sự hoán cải hay cam kết – chúng ta phải rộng mở trong đón tiếp và rộng lượng trong vòng tay. Bao gồm, không loại trừ, phải là cách tiếp cận đầu tiên của chúng ta. Giống như Chúa Giêsu, chúng ta không nên sợ điều xem ra “không tinh tuyền”, và đôi khi còn phải chấp nhận gây “chướng” cho người khác vì những người mà ta ngồi cùng bàn. Đừng keo kiệt khi chia sẻ gia đình của Thiên Chúa, nhất là khi chúng ta đang phục vụ một Thiên Chúa quảng đại – Đấng chẳng bao giờ bị đe dọa bởi bất cứ điều gì!

Lễ Các Thánh và Lễ Các Đẳng

Trong một hội nghị mà tôi tham dự, một bác sĩ tâm lý đã chia sẻ câu chuyện sau đây. Một phụ nữ tìm đến ông trong tình trạng đau khổ tột độ. Nỗi dằn vặt của bà liên quan đến cuộc trò chuyện cuối cùng với chồng mình trước khi ông qua đời. Bà kể rằng họ đã có một cuộc hôn nhân tốt đẹp hơn ba mươi năm, chưa từng xảy ra một cuộc cãi vã lớn nào. Vậy mà một buổi sáng nọ, họ lại bất hòa vì một chuyện vặt vãnh (đến mức bà không còn nhớ nổi chuyện gì). Cuộc tranh cãi kết thúc trong sự tức giận, và ông đã dậm chân bước ra khỏi nhà để đi làm – để rồi qua đời trong ngày hôm đó vì một cơn đau tim, trước khi họ có cơ hội nói chuyện lại với nhau.

Thật là xui xẻo! Ba mươi năm sống bên nhau chưa từng xảy ra chuyện như vậy, và giờ đây, những lời cuối cùng họ dành cho nhau lại là lời giận dữ! Trước hết, vị chuyên gia tâm lý đã nhẹ nhàng pha chút hài hước, trấn an bà rằng lỗi hoàn toàn thuộc về ông chồng… vì đã chọn đúng thời điểm “oan nghiệt” ấy để qua đời, khiến bà phải mang gánh nặng tội lỗi này!

Sau đó, nghiêm túc hơn, ông hỏi bà: “Nếu giờ đây chồng bà đang ngồi ở đây, bà sẽ nói gì với ông ấy?” Bà đáp rằng bà sẽ nói với ông rằng sau bao năm gắn bó, chuyện nhỏ ấy chẳng là gì cả, rằng tình yêu của họ lớn đến mức hoàn toàn bao phủ và xóa nhòa khoảnh khắc ngắn ngủi đó. Vị bác sĩ trấn an bà rằng chồng bà vẫn đang sống trong mầu nhiệm hiệp thông của các thánh, và đang hiện diện với họ lúc này. Rồi ông nói: “Tại sao bà không ngồi vào chiếc ghế này và nói với ông ấy điều bà vừa chia sẻ, rằng tình yêu chung thủy của hai người hoàn toàn xóa hoàn toàn cuộc trò chuyện cuối cùng ấy. Thậm chí hãy cùng bật cười về sự trớ trêu của nó.” Suy nghĩ viển vông ư? Không.

Là Kitô hữu, chúng ta tin có một mầu nhiệm khẳng định rằng chúng ta vẫn sống trong sự hiệp thông, liên lạc và ý thức với những người đã qua đời. Mầu nhiệm này – Hiệp thông cùng các Thánh – được ghi trong Kinh Tin Kính và được cử hành cách đặc biệt mỗi năm vào hai ngày: Lễ Các Thánh và Lễ Các Đẳng.

Mầu nhiệm này, trong nhiều khía cạnh, mời gọi chúng ta cầu nguyện cho người đã khuất. Không có gì ngạc nhiên, khi có một số người phản đối rằng Thiên Chúa đâu cần ai nhắc để tỏ lòng xót thương và tha thứ. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Cuối cùng, thì đó không phải là lý do chúng ta cầu nguyện cho những người thân yêu đã khuất của mình.

Mục đích thật sự của lời cầu nguyện cho người đã khuất là để chúng ta tiếp tục giữ liên lạc với họ, tiếp tục duy trì ý thức tương quan yêu thương, hoàn tất những điều còn dang dở, nói lời xin lỗi, tha thứ, xin họ tha thứ, ghi nhớ những điều tốt đẹp họ đã mang đến cho thế giới này, và đôi khi là cùng họ “nâng ly” mừng một kỷ niệm nào đó trong tâm hồn.

Vì vậy, trong số những điều khác, niềm tin vào hiệp thông các thánh trao cho chúng ta một cơ hội thứ hai – một sự an ủi cần thiết. Dù là ai, chúng ta đều có những thiếu sót trong các tương quan. Chúng ta không phải lúc nào cũng hiện diện đầy đủ cho người mình yêu; đôi khi chúng ta trong giận dữ nói những lời gây tổn thương; đôi khi chúng ta phản bội niềm tin theo những cách không ngờ; và phần nhiều là chúng ta thiếu trưởng thành hoặc can đảm để biểu lộ sự trân trọng và yêu thương đúng như lẽ ra chúng ta nên làm. Không ai trong chúng ta hoàn toàn đáp ứng được.

Rốt cuộc, ai trong chúng ta cũng đã mất đi một người thân theo cách giống như người phụ nữ mất chồng ấy: còn điều dang dở, chia tay vào thời điểm không thích hợp. Luôn có những lời đáng lẽ phải nói mà lại chưa kịp nói, và luôn có những lời đáng lẽ không nên nói mà cuối cùng lại được thốt ra.

Nhưng đó chính là lúc đức tin lên tiếng. Thật vậy, chúng ta không phải là những người đầu tiên thất bại trong những giờ phút quan trọng. Khi Đức Giêsu bị bắt, bị xét xử và bị giết, hầu như tất cả các môn đệ đều bỏ trốn. Thời điểm ấy cũng thật tệ hại. Thứ Sáu Tuần Thánh đã “xấu” rất lâu trước khi nó trở thành “tốt”. Nhưng – và đây là điểm cốt yếu – là Kitô hữu, chúng ta không tin rằng cuộc đời này sẽ luôn có những kết thúc có hậu, hoặc rằng chúng ta luôn đủ khả năng trong mọi tương quan. Trái lại, chúng ta tin rằng sự viên mãn và hạnh phúc đến với chúng ta qua việc được cứu chuộc khỏi những điều đã hỏng, nhất là những điều hỏng vì sự yếu đuối và bất toàn của chính chúng ta.

G.K. Chesterton từng nói rằng Kitô giáo đặc biệt vì trong mầu nhiệm hiệp thông các thánh, “người chết vẫn được quyền bỏ phiếu”. Thực ra, họ còn làm được nhiều hơn thế: họ vẫn nghe chúng ta nói với họ.

Vì vậy, nếu bạn đã mất một người thân khi giữa hai người vẫn còn điều chưa kịp hóa giải, vẫn còn một căng thẳng chưa được gỡ, vẫn còn một sự quan tâm lẽ ra bạn nên dành nhiều hơn, hoặc vẫn còn một lời yêu thương bạn chưa từng nói ra… bạn hãy biết rằng vẫn chưa quá muộn. Bạn vẫn có thể nói những điều ấy!

Và khi nói lời “hòa giải muộn màng” ấy, đừng ngại mỉm cười về cách mà sự mong manh của kiếp người đôi khi làm lạc hướng cả những ý định tốt đẹp nhất của chúng ta.

Thánh Vịnh như là lời cầu nguyện

“Thiên Chúa trong các Thánh Vịnh hành động theo những cách mà thần học hệ thống không cho phép Người hành động.”

Lời nhận xét dí dỏm của Sebastian Moore có thể rất đáng chú ý trong bối cảnh ngày nay, khi nhiều người ngại dùng Thánh Vịnh để cầu nguyện, bởi họ cảm thấy khó chịu khi thấy Thánh Vịnh nói về giết chóc, báo thù, giận dữ, bạo lực, chiến tranh và tính gia trưởng.

Thế nhưng, qua nhiều thế kỷ, Thánh Vịnh vẫn là trung tâm trong đời sống cầu nguyện của cả người Do Thái lẫn Kitô hữu. Thánh Vịnh là trái tim của Các Giờ Kinh Phụng Vụ (lời cầu nguyện của Hội Thánh cho thế giới), được hát trong các buổi Kinh Chiều, được hàng triệu người nam nữ đọc mỗi ngày, và được các đan sĩ hát suốt bao thế kỷ như phần thiết yếu của đời sống cầu nguyện.

Tại sao lại có sự phản đối Thánh Vịnh?

Một số người hỏi: “Làm sao tôi có thể cầu nguyện bằng những lời lẽ chứa đầy hận thù, giận dữ, bạo lực, ca ngợi chiến tranh và việc nghiền nát kẻ thù nhân danh Thiên Chúa?” Với người khác, vấn đề là tính gia trưởng của Thánh Vịnh. Với một số khác nữa, họ chê bai về mặt thẩm mỹ: “Đó đâu phải là thơ hay!”

Có thể đúng là Thánh Vịnh không phải là những bài thơ tuyệt mỹ, và chúng thực sự chứa đựng hình ảnh bạo lực, chiến tranh, hận thù, khao khát trả thù, và chịu ảnh hưởng của xã hội nam quyền. Nhưng điều đó có khiến chúng trở thành ngôn ngữ tồi cho cầu nguyện không? Ngược lại là đằng khác.

Một định nghĩa cổ điển về cầu nguyện nói rằng: “Cầu nguyện là nâng tâm hồn và con tim lên cùng Thiên Chúa.” Đơn giản, rõ ràng và chính xác. Vấn đề là chúng ta thường không thực sự làm điều đó khi cầu nguyện. Thay vì dâng lên Thiên Chúa những gì thật sự trong tâm trí và con tim, chúng ta lại coi Người như một Đấng mà ta phải che giấu cảm xúc thật. Thay vì trút ra mọi điều, ta nói với Chúa những gì ta nghĩ Người muốn nghe, chứ không phải những ý nghĩ giết chóc, lòng báo thù hay cả sự thất vọng với chính Người.

Nhưng việc bộc lộ những cảm xúc đó chính là điều cốt yếu.

Điều khiến Thánh Vịnh trở thành phương tiện thích hợp cho cầu nguyện là vì chúng không che giấu sự thật trước Thiên Chúa; chúng diễn tả toàn bộ cung bậc cảm xúc thật của con người. Chúng cho ta một tiếng nói trung thực cho những gì đang diễn ra trong lòng mình.

Khi ta vui, ta tự nhiên muốn hát ngợi khen và tạ ơn. Thánh Vịnh cho ta ngôn ngữ đó- nói về lòng nhân lành của Chúa, về tình yêu, bạn hữu, đức tin, sức khỏe, thức ăn, rượu ngon, niềm vui sống. Nhưng không phải lúc nào ta cũng vui. Đời ta cũng có những mùa lạnh lẽo, cô đơn, khi thất vọng và cay đắng âm ỉ trong lòng. Thánh Vịnh cho ta lời để bày tỏ những cảm xúc đó cách trung thực trước mặt Chúa.

Có khi ta cảm thấy yếu đuối, không xứng đáng với tình yêu và niềm tin mà Chúa dành cho mình. Thánh Vịnh lại cho ta tiếng nói để thưa: xin Chúa thương xót, làm mềm lòng ta, rửa sạch ta, cho ta khởi đầu mới. Và cũng có những lúc ta thất vọng với chính Thiên Chúa- ta cần diễn tả điều đó. Thánh Vịnh cũng cho ta lời để nói: “Tại sao Chúa im lặng? Sao Chúa xa con thế?” Đồng thời giúp ta nhận ra rằng Chúa không sợ sự giận dữ hay cay đắng của ta; như một người cha yêu thương, Người chỉ muốn ta đến và nói ra hết.

Thánh Vịnh là phương tiện đặc biệt cho cầu nguyện, vì chúng nâng trọn vẹn mọi ý nghĩ và cảm xúc của ta lên cùng Thiên Chúa.

Thế nhưng, ta vẫn thường gặp khó khăn với điều đó. Thứ nhất, vì con người thời nay ít hiểu về ngôn ngữ ẩn dụ; nếu hiểu theo nghĩa đen, nhiều hình ảnh trong Thánh Vịnh sẽ gây phản cảm. Thứ hai, ta thường chối bỏ cảm xúc thật của mình- khó mà thú nhận rằng đôi khi ta cảm thấy kiêu ngạo, đam mê xác thịt, ghen tị, muốn trả thù, thậm chí có ý nghĩ bạo lực. Quá thường xuyên, lời cầu nguyện của ta không phản ánh cảm xúc thật mà chỉ nói với Chúa những gì ta nghĩ Người muốn nghe. Còn Thánh Vịnh thì trung thực hơn nhiều.

Như Kathleen Norris từng viết: nếu bạn cầu nguyện thường xuyên, “sẽ không có cách nào để bạn làm điều đó ‘đúng’ cả. Bạn sẽ không luôn ngồi thẳng người hay nghĩ những ý tưởng thánh thiện. Bạn sẽ không mặc bộ đồ đẹp nhất, mà chỉ là thứ gì còn sạch trong giỏ đồ. Bạn đến với quyển ‘sách ngợi khen’ vĩ đại của Kinh Thánh qua mọi tâm trạng và hoàn cảnh của đời sống, và ngay cả khi tâm hồn rối bời, bạn vẫn hát. Và điều khiến bạn ngạc nhiên là Thánh Vịnh không chối bỏ cảm xúc thật của bạn, mà cho phép bạn phản chiếu chúng – ngay trước mặt Thiên Chúa và mọi người.”

Những lời sáo rỗng kiểu “hãy vui lên, hãy nghĩ tích cực” chẳng thể thay thế được sự chân thật, gần gũi, trần trụi của Thánh Vịnh – nơi bày tỏ đúng những gì con người thật sự cảm thấy. Ai cầu nguyện mà không bao giờ nhắc đến cảm xúc cay đắng, ghen tị, hận thù, hay khát vọng trả thù thì có lẽ hợp để viết thiệp chúc mừng hơn là để hướng dẫn thiêng liêng.

Tư Thế Hoàn Hảo Để Cầu Nguyện

Trong cuốn tự truyện “The Long Loneliness” (Nỗi Cô Đơn Dài Lâu), Dorothy Day kể lại một lần bà đã cầu nguyện trong thời điểm rất thấp thỏm của đời mình. Dorothy Day, như ta biết, lớn lên mà không có đức tin. Bà là một trí thức, thường xuyên hoạt động trong những vòng tròn Marxist và chống tôn giáo. Khi bước vào tuổi đôi mươi, bà tin chắc rằng nếu ai đủ can đảm nhìn thẳng vào thực tại của cuộc đời, người ấy sẽ không thể tin vào Thiên Chúa.

Người đàn ông mà bà yêu lúc đó cũng chia sẻ cùng quan điểm ấy. Họ sống chung mà không kết hôn, và bà sinh một đứa con gái với ông. Nhưng sự ra đời của đứa bé đã thay đổi Dorothy một cách không ngờ tới. Khi ôm đứa con sơ sinh trong tay, một niềm kinh ngạc và biết ơn sâu sắc trào dâng trong bà đến mức bà bật thốt lên lời cầu nguyện đầu tiên trong đời: “Với niềm vui quá lớn này, con phải cảm ơn một ai đó!” Và đức tin của bà được sinh ra từ giây phút đó – từ nguồn suối tinh tuyền nhất: lòng biết ơn.
Sau đó, Dorothy Day bắt đầu học giáo lý, lãnh nhận bí tích Rửa Tội và trở thành một người Công giáo. Tuy nhiên, cha của đứa bé phản đối dữ dội sự thay đổi ấy. Ông nói rằng nếu bà dám rửa tội cho con, ông sẽ bỏ đi. Bà đã cho con mình chịu phép rửa – và ông thật sự rời bỏ bà.

Không chỉ thế, nhiều bạn bè của Dorothy cũng xa lánh bà, vì cho rằng bà đã phản bội lý tưởng. Dù được nâng đỡ bởi đức tin mới, bà lại thấy mình hoàn toàn cô độc: không chồng, mất bạn, thiếu tiền, và không biết phải làm gì với cuộc đời mình. Bà chật vật một thời gian dài, ngày càng cảm thấy cô đơn, mệt mỏi, và mất phương hướng.

Rồi một ngày, bà quyết định phải làm gì đó. Bà gửi cô con gái nhỏ cho bạn trông, rồi lên tàu đến Washington D.C., nơi bà dành nhiều giờ cầu nguyện tại Đền Thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Hôm ấy, lời cầu nguyện của bà là tiếng kêu tuyệt vọng. Bà nói với Chúa, gần như than trách: “Con đã bỏ lại rất nhiều vì Ngài, mà Ngài chẳng làm gì cho con cả! Con lạc lối, cô đơn, không biết phải làm gì, sức lực và kiên nhẫn đều cạn kiệt. Con cần giúp – ngay bây giờ, chứ không phải trong tương lai xa! Xin giúp con! Xin giúp con ngay! Con không thể tiếp tục như thế này nữa!”

Khi trở lại New York, có một người đàn ông đang đợi gặp bà. Ông nói rằng đã nghe nói về bà, có một ý tưởng và cần sự giúp đỡ của bà. Ông bắt đầu trình bày với bà ý tưởng về “The Catholic Worker” (Phong trào Công nhân Công Giáo). Người đàn ông ấy tên là Peter Maurin- và phần còn lại đã trở thành lịch sử.

Từ giây phút ấy, Dorothy Day có một hướng đi cho phần còn lại của cuộc đời. Không phải ai cũng được Chúa đáp lại nhanh và rõ ràng như Dorothy Day, nhưng nhiều người hơn ta tưởng cũng có những kinh nghiệm tương tự.

Chẳng hạn, Martin Luther King Jr. từng kể về một lần cầu nguyện trong tuyệt vọng: “Một đêm cuối tháng Giêng, tôi đi ngủ muộn sau một ngày kiệt sức. Coretta (vợ tôi) đã ngủ, và khi tôi vừa chợp mắt thì điện thoại reo. Một giọng tức giận vang lên: “Này, thằng da đen, chúng tao đã chịu đựng mày đủ rồi. Trước tuần tới, mày sẽ hối hận vì đã đặt chân đến Montgomery.” Tôi gác máy, nhưng không thể ngủ được. Mọi nỗi sợ hãi như đổ ập xuống cùng lúc. Tôi đã đến điểm giới hạn.” “Tôi đứng dậy, đi qua đi lại trong nhà, rồi vào bếp, pha một ấm cà phê. Tôi thấy mình muốn bỏ cuộc. Tách cà phê nguội lạnh trước mặt, tôi cố nghĩ cách rút lui mà không mang tiếng hèn nhát. Trong trạng thái kiệt quệ đó, khi can đảm đã gần như cạn kiệt, tôi quyết định mang vấn đề đến với Chúa. Với đầu cúi trong tay, tôi cầu nguyện lớn tiếng ngay trên bàn bếp. Lời cầu ấy tôi vẫn còn nhớ rõ cho đến bây giờ: ‘Lạy Chúa, con đang đứng lên vì điều con tin là đúng, nhưng giờ đây con sợ hãi. Dân chúng đang trông cậy vào con; nếu con yếu đuối, họ cũng sẽ gục ngã. Con đã đến giới hạn của sức mình. Con chẳng còn gì nữa. Con không thể tiếp tục một mình được.’ Và ngay lúc đó, con cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa theo một cách mà con chưa từng cảm nhận trước đây.” (Martin Luther King Jr., “Stride Toward Freedom”)

Tác giả Christina Crawford, người viết hồi ký “Mommy Dearest” – kể về tuổi thơ lớn lên ở Hollywood với người mẹ là minh tinh nổi tiếng – từng chia sẻ rằng có lúc trong đời bà cảm thấy hoàn toàn lạc lõng và tuyệt vọng. Nhưng rồi bà nói thêm một câu sâu sắc: “Lạc lối – cũng là một nơi chốn.” Và bà nói đúng. “Lạc lối” chính là một nơi đặc biệt để cầu nguyện. Khi ta đau khắp nơi, mất hết hy vọng, bất lực và kiệt sức, và chỉ còn có thể quỳ gối vì không đủ sức đứng, thì đó chính là tư thế hoàn hảo nhất để cầu nguyện.
“Lạc lối – cũng là một nơi dành cho cầu nguyện.” Vì chính trong những lúc yếu đuối và tan vỡ nhất, chúng ta mới thật sự cúi đầu trước Thiên Chúa – và đó chính là nơi Ngài nghe chúng ta rõ nhất.

Độc Thân và Hôn Nhân Cần Đến Nhau

“Tại sao Kitô giáo thời sơ khai lại chọn lý tưởng sống khiết tịnh, trong khi một người La Mã thông minh – hoặc chỉ cần chút nghi ngờ – cũng có thể thấy rằng điều này sẽ làm lung lay nền tảng của xã hội cổ đại?” Đó là nhận định của nhà sử học Kate Cooper, và câu hỏi này mở ra nhiều điều đáng để suy ngẫm.

Liệu đời sống độc thân – đặc biệt là độc thân vì Nước Trời – có phá vỡ cấu trúc tự nhiên của xã hội không? Liệu việc sống độc thân có mang tính phản hôn nhân? Có phải nó chống lại quy luật tự nhiên, nơi mà con người được mời gọi “sinh sôi nảy nở và làm đầy mặt đất”?

Câu hỏi đầu tiên có thể dễ trả lời hơn. Dân số nhân loại ngày nay đã vượt quá 8 tỷ người, nên chúng ta không còn nỗi lo tuyệt chủng sinh học. Thời xưa – đặc biệt trong thời Kinh Thánh – việc kết hôn và sinh con được xem như mệnh lệnh thiêng liêng.
Người không kết hôn bị coi là bất thường, là không chu toàn bổn phận với xã hội và tạo hóa. “Người này không sinh con – chẳng phải họ đang chống lại luật tự nhiên sao?” Chính vì thế, quyết định sống độc thân của Đức Giêsu trở nên một điều rất khác thường trong bối cảnh Do Thái đương thời.

Tiếp đến, liệu đời sống độc thân có “nói ngược” với hôn nhân? Liệu nó có làm suy yếu nền tảng của xã hội? Chẳng phải Thiên Chúa đã phán trong Sách Sáng Thế: “Con người ở một mình thì không tốt” sao?

Điều này hoàn toàn đúng – Thiên Chúa không muốn con người sống cô lập. Con người được tạo dựng để sống trong gia đình, trong cộng đoàn, chứ không sống đơn độc. Do đó, đời sống độc thân tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Tu sĩ Thomas Merton từng được hỏi cảm giác sống độc thân như thế nào. Ông trả lời: “Là địa ngục. Bạn sống trong một nỗi cô đơn mà chính Thiên Chúa đã lên án.” Nhưng rồi ông thêm ngay: “Đó là một nỗi cô đơn có thể sinh hoa kết quả.”

Vẫn còn đó câu hỏi: Vậy độc thân có mang tính phản hôn nhân không? Có thể – nếu nó được chọn sai cách. Một người chọn sống độc thân vì sợ hôn nhân, vì sợ bị ràng buộc, hay vì ích kỷ, thì điều đó thật sự là một dấu chứng phản hôn nhân. Khi đó, độc thân trở thành một kiểu khước từ tình yêu, xem hôn nhân như nhà tù của tự do.

Nhưng khi độc thân và hôn nhân được sống lành mạnh, chúng lại nâng đỡ và soi sáng cho nhau. Có một nguyên tắc rất đẹp: “Nếu bạn sống trung tín, bạn mang lại sự lành mạnh và nâng đỡ cho chúng tôi. Nhưng nếu bạn sống bất trung, bạn gieo vào chúng tôi sự bất an và hỗn loạn.”

Cả hôn nhân lẫn đời sống độc thân đều là một hành trình dài của trung hỗn. Cả hai ơn gọi đều là một cuộc chạy marathon – với muôn vàn cám dỗ và thử thách.

Để trung tín với giao ước hôn nhân hay lời khấn độc thân, đôi khi phải đổ mồ hôi máu. Nó đòi hỏi sức mạnh nội tâm, nhưng không ai có thể sống một mình trong hai ơn gọi này. Không ai được gọi để làm “anh hùng cô độc”. Cả người có gia đình lẫn người độc thân đều cần được nâng đỡ bởi gương trung tín của người khác.

Vì vậy, khi một người sống độc thân vì Nước Trời nhìn thấy một đôi vợ chồng sống chung thủy và yêu thương nhau, họ sẽ cảm thấy được củng cố trong ơn gọi của mình.
Ngược lại, nếu họ thấy sự bất trung trong hôn nhân, họ sẽ cảm thấy cô đơn hơn, mất đi một phần “ân sủng của chứng nhân” để tiếp tục trung thành.

Tương tự, người đã lập gia đình khi thấy một tu sĩ hoặc linh mục sống độc thân trung tín, vui tươi và hạnh phúc, họ cũng nhận được nguồn sức mạnh và ánh sáng mới để trung thành với giao ước hôn nhân của mình. Ngược lại, khi họ thấy người sống đời tu bất trung, họ sẽ mất đi ơn soi sáng đặc biệt giúp mình kiên vững trong thử thách.
Nghe có vẻ lạ, nhưng đó là sự thật: Hôn nhân và đời sống độc thân cần nhau.

Chúng ta cần chứng tá của nhau. Chúng ta cần thấy và được nuôi dưỡng bởi lòng trung tín của nhau. Và điều này không chỉ dừng ở việc “nhìn thấy” nhau. Nó còn sâu xa hơn – mang tính mầu nhiệm. Trong đức tin Kitô giáo, chúng ta tin rằng: Mọi người đều là chi thể trong cùng một thân thể là Đức Kitô. Sự hiệp nhất này không phải chỉ là “cùng đội”, mà là hiệp nhất hữu cơ: Tất cả liên kết trong một thân thể sống động duy nhất. Vì thế, một phần của thân thể nếu đau, yếu, hoặc nhiễm bệnh các phần khác đều bị ảnh hưởng. Nếu ta trung tín, ta là phần khỏe mạnh của hệ miễn dịch trong Thân Thể Đức Kitô. Nếu ta bất trung, dù trong hôn nhân hay độc thân, ta trở thành một tế bào ung thư, một virus gây hại cho toàn thân thể.

Không có “hành động đơn lẻ” nào trong đời sống Kitô hữu. Với người Kitô hữu, không có hành vi nào là “đơn lẻ”. Mỗi hành vi trung tín hoặc bất trung của ta đều ảnh hưởng đến cộng đoàn, đến Thân Thể Đức Kitô. Chúng ta là enzyme lành mạnh hay virus độc hại- tùy thuộc vào cách ta sống ơn gọi của mình trong sự trung tín.

Vì thế, chúng ta cần lòng trung tín của nhau – cả trong hôn nhân lẫn trong đời sống độc thân vì Nước Trời. Chỉ khi cả hai ơn gọi cùng trung thành với lời hứa của mình,
thì Thân Thể Đức Kitô – tức là Giáo Hội và thế giới – mới được chữa lành, lớn lên và tỏa sáng trong tình yêu.

Thế Giới Sẽ Được Cứu Nhờ Cái Đẹp

Trong bộ phim “Bệnh nhân người Anh” (The English Patient) có một cảnh thật xúc động.
Một nhóm người đến từ nhiều quốc gia khác nhau, vì hoàn cảnh chiến tranh, bị dồn về sống tạm trong một biệt thự bỏ hoang ở nước Ý sau chiến tranh. Trong số họ có một cô y tá trẻ đang chăm sóc một phi công người Anh bị bỏng nặng sau một vụ rơi máy bay, và một chàng trai châu Á trẻ tuổi có nhiệm vụ tìm kiếm và tháo gỡ bom mìn còn sót lại. Cô y tá và chàng trai trở nên thân thiết, và một ngày kia, anh nói rằng mình có một điều bất ngờ đặc biệt dành cho cô.

Anh dẫn cô đến một ngôi nhà thờ cổ bỏ hoang, nơi anh đã sắp xếp sẵn một hệ thống dây ròng rọc để đưa cô lên trần nhà, ẩn mình trong bóng tối là những bức khảm tuyệt đẹp, những tác phẩm nghệ thuật huy hoàng không thể nhìn thấy từ mặt đất. Anh đưa cô một ngọn đèn pin, rồi nhẹ nhàng kéo dây, đưa cô bay lên cao như thiên thần có cánh, lơ lửng giữa không trung, để có thể dùng ánh sáng soi chiếu và chiêm ngắm vẻ đẹp ẩn khuất trong bóng tối.

Đối với cô, đó là một trải nghiệm choáng ngợp và đầy hân hoan: cảm giác được bay, được ngắm nhìn vẻ đẹp lạ lùng cùng một lúc. Khi được hạ xuống lại, cô đỏ mặt vì xúc động, tràn ngập niềm vui và biết ơn, cô ôm lấy mặt chàng trai và hôn liên tục, vừa cười vừa nói: “Cảm ơn anh! Cảm ơn anh! Cảm ơn anh vì đã cho tôi thấy điều tuyệt vời này!”
Từ nét mặt cô, người ta có thể thấy cô đang nói hai lời cảm ơn: “Cảm ơn anh vì đã cho tôi thấy một điều mà tự tôi không bao giờ có thể tìm đến được.” “Và cảm ơn anh vì đã tin tưởng tôi — tin rằng tôi có thể hiểu được, có thể cảm nhận được vẻ đẹp ấy.”
Bài học ở đây là gì?

Giáo Hội cũng được mời gọi làm cho thế giới điều mà chàng trai ấy đã làm cho người bạn y tá: Chỉ cho nhân loại thấy nơi nào ẩn giấu vẻ đẹp mà họ không tự mình tìm thấy, vẻ đẹp bị che khuất trong bóng tối. Và tin tưởng rằng con người có khả năng cảm nhận được, sẽ hiểu và biết trân trọng kho tàng ấy.

Giáo Hội có thể tìm thấy vẻ đẹp ấy ở đâu? Trong kho tàng phong phú của chính lịch sử mình. Trong thiên nhiên, nghệ thuật, khoa học. Trong trẻ em, trong sức sống của tuổi trẻ, và trong sự khôn ngoan của người già. Khắp nơi đều có những viên ngọc của vẻ đẹp đang ẩn mình. Sứ mạng của Giáo Hội là chỉ cho thế giới thấy những điều ấy.
Vì sao?

Vì cái đẹp có sức lay động và biến đổi linh hồn. Cái đẹp gợi lên lòng biết ơn và sự kinh ngạc, điều mà ít điều gì khác có thể làm được. Khổng Tử đã hiểu điều này, nên ông nói rằng: “Cái đẹp là người thầy vĩ đại nhất.” Triết lý giáo dục của ông đặt nền trên cái đẹp, vì con người có thể nghi ngờ hầu hết mọi thứ — nhưng không thể nghi ngờ cái đẹp.
Tại sao cái đẹp không thể bị nghi ngờ?

Bởi vì cái đẹp là thuộc tính của Thiên Chúa. Triết học và thần học Kitô giáo cổ điển dạy rằng Thiên Chúa có bốn thuộc tính siêu việt: Duy Nhất – Toàn Chân – Toàn Thiện – và Toàn Mỹ. Nếu điều đó đúng, thì: Khi ta được chạm đến bởi cái đẹp, là ta được chạm đến Thiên Chúa; Khi ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp, là ta đang chiêm ngưỡng Thiên Chúa; Khi ta được cho thấy vẻ đẹp ẩn giấu, là ta được cho thấy Thiên Chúa ẩn giấu; Khi ta kinh ngạc trước cái đẹp, là ta kinh ngạc trước Thiên Chúa; Và khi ta cảm thấy lòng mình rung động vì cái đẹp, là ta đang cảm thấy nỗi “nhớ nhà” hướng về Thiên Đàng.
Thần học gia Hans Urs von Balthasar từng nói rằng: “Cái đẹp là một yếu tố cốt lõi trong cách Thiên Chúa nói với con người, và cũng phải là cách mà con người nói về Thiên Chúa với thế giới.”

Tuy nhiên, ta cũng không nên ngây thơ. Cái đẹp không phải lúc nào cũng “đẹp” theo tiêu chuẩn phổ thông. Đúng là ta nhìn thấy cái đẹp trong màu sắc huy hoàng của hoàng hôn, trong nụ cười thơ ngây của một đứa trẻ, hay trong sự hoàn hảo của bức tượng Michelangelo; nhưng cái đẹp cũng hiện diện trong những nếp nhăn của một cụ già, và trong nụ cười móm mém không răng của một ông lão. Thiên Chúa nói với ta qua cái đẹp, và chúng ta cũng phải nói với thế giới bằng cái đẹp ấy. Và hơn hết, ta cần tin tưởng rằng con người có khả năng cảm nhận và hiểu được, như cô y tá trong The English Patient — sẽ biết trân trọng điều được cho thấy.

Dostoevsky đã viết một câu nổi tiếng (thường được Dorothy Day trích lại): “Thế giới sẽ được cứu nhờ cái đẹp.” Lý luận ấy là gì? Làm sao cái đẹp có thể chữa lành những tội lỗi và vết thương của nhân loại? Đây là “phép tính” của Dostoevsky: Trước sự tàn bạo, cần có lòng nhân hậu. Trước sự giả dối và cuồng tín, cần có chân lý. Trước cay đắng và lời nguyền rủa, cần có ân cần và chúc lành. Trước hận thù và giết chóc, cần có tình yêu và tha thứ. Trước sự quen thuộc đến mức khinh thường, cần có niềm kinh ngạc và sự ngưỡng mộ. Và trước sự xấu xí, tục tĩu lan tràn khắp thế giới và các bản tin buổi tối, cần có CÁI ĐẸP.

Vì cái đẹp – chính là hình bóng của Thiên Chúa. Và khi con người còn biết rung động, còn biết kinh ngạc trước cái đẹp, thì vẫn còn hy vọng cho thế giới này được cứu chuộc.

Lòng Sùng Kính – Truyền Thống của Trái Tim

Lớn lên trong một gia đình Công giáo, lòng sùng kính luôn là một phần thiết yếu trong đời sống tôn giáo của chúng tôi. Mặc dù gia đình chúng tôi coi Bí tích Thánh Thể quan trọng hơn lòng sùng kính, nhưng chúng tôi nuôi dưỡng đời sống tâm linh của mình rất nhiều bằng lòng sùng kính, giống như nhiều người Công giáo thời đó.

Ngoài những việc khác, chúng tôi lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày, đọc kinh Truyền Tin hàng ngày, đọc các kinh cầu đặc biệt (kính Thánh Giuse vào tháng Ba, kính Đức Mẹ Maria vào tháng Năm và tháng Mười, và kính Thánh Tâm Chúa Giêsu vào tháng Sáu), cầu nguyện Chặng Đàng Thánh Giá mỗi Thứ Sáu trong Mùa Chay, háo hức tham dự Thánh Lễ vào các Thứ Sáu Đầu Tháng và Thứ Bảy Đầu Tháng để xin những lời hứa đặc biệt từ Chúa, và đọc những lời cầu nguyện đặc biệt để được hưởng ơn toàn xá.

Ngoài ra, còn có những cuộc hành hương đến các đền thờ Đức Mẹ dành cho những người có điều kiện, và hầu hết mọi người đều đeo huy chương từ Lộ Đức hoặc Fatima và có lòng sùng kính đặc biệt đối với những đền thờ đó (với lòng sùng kính đặc biệt trong gia đình và giáo xứ của tôi đối với Đức Mẹ Cape, tại Cap De Madeleine, Quebec). Lòng sùng kính là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của chúng tôi.

Có thể nói gì về lòng sùng kính từ góc độ thần học và từ góc độ của một nền văn hóa phần lớn không tin tưởng vào chúng?

Chúng ta có thể bắt đầu với phản ứng của Martin Luther và những nhà cải cách Tin Lành vĩ đại. Họ lo sợ hai điều trong việc sùng kính. Thứ nhất, vào thời điểm đó, một số hình thức sùng kính quá phóng túng và đơn giản là thần học tồi (nổi tiếng là rao bán ân xá). Thứ hai, họ thấy lòng sùng kính, tự thân không hẳn là xấu, nhưng thường xuyên thay thế Chúa Giêsu và Lời Chúa làm trung tâm và trọng tâm của chúng ta. Và vì vậy, họ đã xa lánh hầu hết các hình thức sùng kính của Công giáo, cả những hình thức phóng túng lẫn lành mạnh.

Phần lớn sự ngờ vực của người Thệ Phản và Tin Lành đối với các sùng kính Công giáo đã tồn tại cho đến tận ngày nay. Mặc dù sự ngờ vực đó đang dần phai nhạt trong một số nhà thờ ngoài Rô-ma, nhưng nó vẫn là thái độ phổ biến trong hầu hết các nhóm Thệ Phản và Tin Lành. Tóm lại, họ nghi ngờ hầu hết các sùng kính vì chúng không chỉ bị coi là làm chúng ta mất tập trung vào Chúa Giê-su và Lời Chúa, mà còn là những thứ có khả năng gây hại cho sức khỏe, như thức ăn vặt trong chế độ ăn uống tâm linh của chúng ta.

Phải nói gì về điều này?

Đây là một lời cảnh báo công bằng và cần thiết cho những người Công giáo (và những người khác) đang nuôi dưỡng đời sống tâm linh của họ bằng các sùng kính. Tóm lại, các sùng kính có thể dễ dàng dựa trên nền tảng thần học không vững chắc và có thể trở thành một thứ thức ăn vặt làm ô nhiễm chế độ ăn uống tâm linh của chúng ta: nơi các sùng kính thay thế Kinh Thánh, Đức Mẹ Maria thay thế Chúa Giê-su làm trung tâm, và một số sùng kính nhất định khiến Chúa trông giống như một con rối trên dây.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, như Goethe đã từng nói, những nguy hiểm của cuộc sống là rất nhiều và sự an toàn là một trong những nguy hiểm đó. Đúng vậy, việc sùng kính có thể là một mối nguy hiểm, nhưng chúng cũng có thể là một nguồn bổ sung lành mạnh và phong phú cho chế độ ăn uống thiết yếu của Lời Chúa và Bí tích Thánh Thể.

Đây là cách Eric Mascall (nhà thần học Anh giáo nổi tiếng tại Oxford cùng với C.S. Lewis, J.R.R. Tolkien, Dorothy Sayers và Austin Ferrar) chỉ ra cả mối nguy hiểm của việc sùng kính lẫn mối nguy hiểm của việc không có lòng sùng kính trong đời sống tâm linh của bạn: Các nhà cải cách Tin Lành (Luther, Calvin, Zwingli) rất sợ bị ảnh hưởng bởi lòng sùng kính của Công giáo, đến nỗi họ bắt chúng ta phải ăn kiêng bằng thuốc sát trùng. Khi bạn ăn kiêng bằng thuốc sát trùng, bạn sẽ không bị ngộ độc thực phẩm, nhưng bạn có thể bị suy dinh dưỡng.

Đó là một thách thức ngang nhau cho cả những người thực hành lòng sùng kính và những người sợ chúng. Phải thừa nhận rằng nền thần học hỗ trợ một số lòng sùng kính có thể còn lỏng lẻo (ví dụ, Đức Maria không phải là Đấng đồng cứu chuộc với Chúa Giêsu). Tuy nhiên, bên trong nhiều việc sùng kính (với Đức Maria, với các thánh, với việc tôn thờ Thánh Thể, với Thánh Tâm Chúa), có thể có một nguồn dinh dưỡng phong phú giúp nuôi dưỡng trung tâm, cụ thể là Lời Chúa và Thánh Thể.

Trong cuốn sách “Sacred Heart: Gateway to God” (Thánh Tâm: Cổng Vào Thiên Chúa), Wendy Wright đã đưa ra một lời biện hộ tuyệt vời cho các thực hành sùng kính Công giáo, đặc biệt là việc sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Đối với bà, các thực hành sùng kính Công giáo là một truyền thống của trái tim. Trong khi Chúa Giêsu vẫn là trung tâm và sự phục sinh của Người vẫn là điểm tựa thực sự cho đức tin của chúng ta, thì việc sùng kính có thể mang lại cho chúng ta điều gì đó vượt xa hơn những điều thiết yếu căn bản này.

Lấy lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu làm ví dụ, bà viết: “Trong lòng sùng kính này, chúng ta, Chúa Giêsu và các thánh, tồn tại theo một cách thiết yếu nào đó bên ngoài dòng chảy của lịch sử. Truyền thống của trái tim làm cho điều này trở nên rõ ràng một cách sống động, thậm chí kỳ lạ. Sự tương ứng giữa thần linh và con người rất mật thiết. Nó được khám phá trong xác thịt. Trái tim xác thịt của chúng ta được trang bị cho tất cả những gì vượt ra ngoài xác thịt bằng cách đồng hình đồng dạng với trái tim Chúa Giêsu. Trái tim thần linh và con người ấy là lối đi giữa đất và trời. Trái tim ấy là những dấu vết xúc giác của tình yêu thần thánh trên trật tự tạo dựng. Trái tim ấy là khát vọng rộng lớn nhất, hoang dại nhất của tình yêu nhân loại.”

Những nguy hiểm của cuộc sống thì nhiều, và sự an toàn là một trong những nguy hiểm đó. Lòng sùng kính có thể khiến chúng ta xa rời những điều cốt lõi hơn và có thể bắt nguồn từ một số nền thần học đáng ngờ, nhưng chúng cũng có thể, theo lời Wendy Wright, là lối đi may mắn cho trái tim giữa trời và đất.

Mọi Thứ Đều Sai Về Họ, Ngoại Trừ Chính Họ

Gilbert K. Chesterton, nhà hộ giáo Công giáo nổi tiếng, là bạn thân của George Bernard Shaw, nhà viết kịch nổi tiếng, mặc dù Shaw, một người theo thuyết bất khả tri, có những vấn đề lớn với niềm tin của Chesterton vào Chúa, đặc biệt là việc ông trở thành một tín đồ Công giáo. Thật vậy, khi nghe tin Chesterton đã trở thành một tín đồ Công giáo, ông đã viết cho Chesterton một lá thư bày tỏ sự thất vọng của mình.

Vẫn là một nhà văn đa dạng, Shaw kết thúc lá thư bằng cách mô tả cho Chesterton một hình ảnh ông thấy về việc ông đi xưng tội: “Anh sẽ phải đi xưng tội vào lễ Phục sinh tới, và tôi thấy cảnh tượng đó – chiếc hộp, dáng người to béo đang quỳ gối của anh – tất cả thật khó tin, quái dị, hài hước. …. Tuy nhiên, giờ đây tôi đang trở nên quen hơn (nếu không thì làm sao tôi có thể chân thành được?).”

Nhưng những khác biệt này không ngăn cản họ trở thành những người bạn tốt. Họ vô cùng tôn trọng và quý trọng lẫn nhau. Thật vậy, có lúc, Chesterton cảm thấy cần phải bảo vệ Shaw khỏi những người theo Ki-tô giáo có thiện chí đang bôi nhọ ông vì thuyết bất khả tri của ông. Để bảo vệ Shaw, ông viết: “Có một sự thật cơ bản mà tôi chưa bao giờ bất đồng quan điểm với ông ấy. Dù ông ấy có là người như thế nào đi nữa, ông ấy chưa bao giờ là người bi quan hay chủ nghĩa thất bại trong các vấn đề tâm linh. Ít nhất ông ấy cũng đứng về phía Sự sống. Mọi thứ đều sai trái ở ông ấy, ngoại trừ chính bản thân ông ấy.”

Tôi nghĩ rằng hầu hết chúng ta đều có những người bạn như vậy, những người không còn cùng chúng ta bước đi trên con đường đức tin rõ ràng. Theo quan điểm của một số Ki-tô hữu, hầu hết mọi thứ đều sai ở họ, ngoại trừ chính họ. Họ không phải là những người theo thuyết bất khả tri hay vô thần, nhưng họ cũng không phù hợp với mô tả về một Ki-tô hữu thực hành. Họ hiếm khi đến nhà thờ, phần lớn phớt lờ giáo lý của Giáo hội về tình dục, chỉ cầu nguyện khi gặp khủng hoảng, coi những người đi nhà thờ như chúng ta là ngây thơ, và quá đắm chìm trong cuộc sống hiện tại đến nỗi không nghĩ nhiều về Chúa, Giáo hội và sự sống đời đời.

Tuy nhiên, họ vẫn tỏa ra sức sống, thường theo những cách thách thức chúng ta. Có điều gì đó ở họ rất đúng đắn, thậm chí truyền cảm hứng và mang lại sức sống. Họ có thể là những người theo thuyết bất khả tri thực tế và vô thần trong Giáo hội, nhưng sự hiện diện của họ thường mang đến năng lượng tích cực, lòng tốt, tình yêu, trí tuệ, ánh nắng và sự hài hước cho căn phòng.

Đừng hiểu sai ý tôi: Điều này không ngụ ý (như một quan niệm đơn giản hòa, hợp lý hóa quá mức đang phổ biến ngày nay) rằng những người đến nhà thờ và cố gắng tuân theo các quy tắc của Giáo hội là những người ngây thơ và chưa trưởng thành, trong khi những người không đến nhà thờ và tự đặt ra quy tắc của riêng mình là những người giác ngộ và trưởng thành. Không. Không có gì giác ngộ khi những người rời xa nhà thờ, nghĩ rằng họ đã vượt ra ngoài Giáo hội, sống ngoài các quy tắc của Giáo hội, hoặc tin rằng việc tập trung quá mức vào cuộc sống này biện minh cho việc bỏ bê thế giới bên kia. Đó là một lỗi lầm trong lòng mộ đạo, và thường cũng là một lỗi lầm trong sự khôn ngoan và trưởng thành.

Nói một cách đơn giản, năng lượng tuyệt vời mà chúng ta thấy ở nhiều người tốt mà chúng ta biết, những người không còn đi nhà thờ nữa, chính xác là như vậy, năng lượng tuyệt vời, nhưng không phải là thứ gì đó có thể nhầm lẫn với chiều sâu.

Ví dụ, tôi nhìn vào nhiều nhạc sĩ nhạc pop tài năng của chúng ta và thấy cách họ có thể khiến mọi người nhảy múa, không phải là một điều nhỏ nhặt, thậm chí là một điều thiêng liêng. Chúng ta nhảy múa quá ít và tinh thần của chúng ta thường quá nặng nề. Nhưng điều đó không cho phép chúng ta nhầm lẫn năng lượng vui tươi (“Ob-la-dee, Ob-la-da, cuộc sống vẫn tiếp diễn!”) với sự khôn ngoan hay chiều sâu. Thật tuyệt vời khi khiến mọi người nhảy múa, mang ánh nắng vào căn phòng, nâng đỡ trái tim con người để họ có thể tận hưởng cuộc sống nhiều hơn một chút, nhưng đó không phải là toàn bộ thực đơn, cũng không phải là phần sâu sắc hơn của thực đơn. Nó là chính nó, một điều tốt đẹp tự thân, nhưng chỉ có vậy.

Nhưng nó nằm ở mặt tốt của sự việc. Nó nằm ở mặt của cuộc sống. Nó giúp mang năng lượng thiêng liêng vào một căn phòng, và điều đó cần được chúc phúc. Đó là lý do tại sao, là những người theo Ki-tô giáo, chúng ta cần chúc phúc cho những người bạn bất khả tri tốt bụng trong giáo hội và để bản thân được họ chúc phúc.

Đó cũng là lý do tại sao chúng ta nên cân nhắc hơn khi sử dụng các cụm từ như “văn hóa sự sống” và “văn hóa sự chết”. Chúa là tác giả tối cao của tất cả những điều tốt đẹp, dù sự tốt lành, ánh sáng mặt trời, năng lượng, màu sắc và hơi ấm đó được nhìn thấy bên trong hay bên ngoài Giáo hội. Và bất cứ nơi nào năng lượng đó tốt lành, thì ở đó có “một nền văn hóa sự sống”, ngay cả khi nó cũng có thể mang một số yếu tố của “một nền văn hóa sự chết”.

Richard Rohr nói rằng không phải mọi thứ đều có thể được sửa chữa hay chữa lành, nhưng chúng cần được đặt tên đúng. Điều gì sai thì là sai, và nên được gọi là sai, nhưng điều gì tốt thì là tốt, và nên được gọi là tốt. Tôi nhìn một số người bạn “ngoại đạo” của mình, nhìn vào năng lượng, sự ấm áp của họ, những gì họ mang vào một căn phòng, và điều đó giúp tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Mọi thứ về họ đều sai, ngoại trừ chính họ. Chúa cũng tạo ra ánh sáng mặt trời và hơi ấm của họ. Họ không đến nhà thờ, và điều đó không tốt; nhưng họ thường đứng về phía cuộc sống và đức tin ngầm của họ giúp tôi luôn đứng về phía đúng đắn. Và điều đó thật tốt.