RonRolheiser,OMI

Ông Hoàng Nói dối

Nhìn vào thế giới của chúng ta ngày nay, điều làm cho tôi lo sợ và lo lắng hơn cả mối đe dọa Covid, hơn cả bất bình đẳng ngày càng tăng giữa người giàu và người nghèo, hơn cả nguy hiểm biến đổi khí hậu, và thậm chí hơn cả sự căm ghét cay đắng hiện đang chia rẽ chúng ta, đó là việc chúng ta mất đi không còn cảm giác nào về sự thật, sự từ chối thẳng thừng của chúng ta đối với bất kỳ sự thật nào mà chúng ta cho là không thuận lợi, cũng như câu cửa miệng của chúng ta về “tin tức giả”, “sự thật dối lừa” và các âm mưu ảo tưởng. Mạng xã hội, với tất cả những gì tốt đẹp nó mang lại, lại tạo ra cơ sở để cho ai cũng có thể nói lên sự thật của riêng mình và sau đó làm xói mòn các sự thật kết nối chúng ta và neo giữ sức khỏe tinh thần chúng ta. Hiện nay chúng ta sống trong một thế giới mà hai cộng hai thường không còn là bốn nữa. Điều này tác động trên sức khỏe tinh thần chúng ta và đã tạo ra một số chuyện điên rồ trong xã hội. Các sự thật neo giữ cuộc sống chung của chúng ta không còn được neo giữ.

Rõ ràng đây là điều xấu, và Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta, Ngài nói với chúng ta Satan là Vua Dối trá tiêu biểu nhất. Nói dối là mối nguy hiểm tối hậu cuối cùng của thiêng liêng, đạo đức và tâm lý. Nó có gốc rễ trong điều Chúa Giêsu gọi là “tội chống Đức Chúa Thánh Thần là tội không thể tha thứ”. Tội này là tội gì và vì sao nó không thể tha thứ?

Đây là bối cảnh Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta về tội này: Ngài vừa trừ quỷ. Các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó tin như tín điều rằng: chỉ ai đến từ Chúa mới có thể đuổi quỷ. Chúa Giêsu vừa trừ quỷ, nhưng lòng hận thù của họ đối với Ngài làm cho họ xem đây là sự thật khó nuốt trôi. Vì thế để phủ nhận thực tế, họ chọn cách phủ nhận những gì họ biết là đúng. Họ chọn nói dối, khẳng định (dù họ đã biết rõ) Chúa Giêsu đuổi quỷ nhờ quyền lực của Ben-dê-bút. Mới đầu Chúa Giêsu cố gắng vạch ra lập trường phi lô-gích của họ, nhưng họ vẫn ngoan cố. Sau đó Chúa đưa ra lời cảnh báo tội không thể tha thứ là tội chạm đến Chúa Thánh Thần. Lúc đó Ngài không buộc tội họ phạm tội này, nhưng cảnh báo nếu họ đi theo con đường này, nếu họ không sửa đổi thì sẽ dẫn họ đến tội đó. Về bản chất, Ngài đang nói điều này: nếu chúng ta nói dối đủ lâu, cuối cùng chúng ta sẽ tin vào điều đó và điều này làm lương tâm chúng ta bị xói mòn đến mức chúng ta bắt đầu coi sự thật là giả dối và giả dối là sự thật. Tội sau đó trở thành không thể tha thứ vì chúng ta không còn muốn được tha thứ và cũng sẽ không sẵn sàng để nhận tha thứ. Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ nhưng chúng ta không sẵn sàng chấp nhận tha thứ vì chúng ta thấy tội là điều tốt và điều tốt lại thành tội. Thế thì chúng ta muốn được tha thứ để làm gì?

Có thể chúng ta sẽ rơi vào trạng thái này, một trạng thái trong đó chúng ta cho rằng các ơn của Chúa Thánh Thần (bác ái, vui vẻ, hòa bình, nhẫn nại, tốt lành, kiên trì, trung thành, dịu dàng, khiết tịnh) là giả dối, là chống lại sự sống, là sói đội lốt cừu. Và bước đầu để đi đến tình trạng này là nói dối, không chịu thừa nhận sự thật. Các bước tiếp theo cũng là nói dối, có nghĩa là tiếp tục từ chối chấp nhận sự thật để rồi tin lời nói dối của chính mình và chúng ta xem chúng là sự thật và sự thật là dối trá. Nói thẳng, đó là những gì tạo ra địa ngục.

Địa ngục không phải là nơi con người đau buồn, ăn năn và cầu xin Chúa cho thêm cơ hội để sửa đổi mọi thứ cho đúng đắn. Địa ngục cũng không bao giờ là điều bất ngờ tà ác chực chờ người lương thiện. Nếu có ai trong địa ngục, thì là họ ở đó với lòng kiêu ngạo, than phiền những người ở trên thiên đàng, xem thiên đàng là địa ngục, bóng tối là ánh sáng, giả dối là chân lý, xấu xa là tốt, hận thù là tình yêu, thiện cảm là yếu đuối, kiêu ngạo là sức mạnh, sáng suốt là điên rồ, và Chúa là ma quỷ.

Một trong các bài học trọng tâm trong Tin Mừng là: nói dối là nguy hiểm, là tội nguy hiểm nhất trong các tội. Và điều này không chỉ diễn ra trong mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần. Khi nói dối, chúng ta không những chỉ có tác động nhanh và lỏng lẻo với Chúa, chúng ta còn tác động nhanh và lỏng lẻo với chính sức khỏe tinh thần của chúng ta. Sức khỏe tinh thần của chúng ta tùy thuộc vào điều mà thần học cổ điển gọi là “hiệp nhất” của Chúa. Điều này có nghĩa Chúa là nhất quán. Không có mâu thuẫn nào bên trong Thiên Chúa và do đó, thực tế cũng có thể được cho là nhất quán. Sức khỏe tinh thần của chúng ta tùy thuộc vào niềm tin này. Chẳng hạn nếu một ngày mà hai cộng hai không còn là bốn, thì các nền tảng sức khỏe tinh thần của chúng ta sẽ không còn trụ được nữa; chúng ta thực sự sẽ không có gì để neo giữ bản thân nữa. Sức khỏe tinh thần của chúng ta và sức khỏe tinh thần của xã hội tùy thuộc vào sự thật, khi chúng ta thừa nhận sự thật, khi chúng ta nói sự thật, và dựa trên hai cộng hai mãi mãi vẫn là bốn.

Martin Luther đã nói: hãy phạm tội thật táo bạo! Ông muốn nói rất nhiều về điều này, nhưng chắc chắn điều ông muốn nói là mối nguy hiểm tối hậu đối với tinh thần và đạo đức của chúng ta là che đậy yếu điểm của mình bằng cách nói dối, vì Satan là Vua của Dối trá!

Thông điệp Tất cả anh em của Đức Phanxicô

Đức Phanxicô đã công bố Thông điệp Tất cả anh em vào ngày 4 tháng 10, ngày lễ Thánh Phanxicô Assisi, mang tên Fratelli Tutti – Về tình huynh đệ và tình bạn xã hội. Người đọc có thể chán khi đọc vì tính hiện thực nhức nhối của thông điệp, nhưng thông điệp mang một hy vọng kitô giáo lâu dài.

Thông điệp Tất cả anh em đưa ra lý do vì sao có quá nhiều bất công, bất bình đẳng và chia rẽ cộng đồng trong thế giới và cách giải quyết các vấn đề này trong đức tin và trong tình yêu. Mục đích bài này không phải là để tóm gọn thông điệp nhưng để nói lên thông điệp thật can đảm và nói sự thật trước quyền lực. Mục đích cũng để làm nổi bật một số thách thức đặc biệt trong thông điệp.

Trước hết, nó thách thức chúng ta nhìn người nghèo và xem hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội hiện tại đang làm gì cho họ. Khi nhìn vào thế giới chúng ta, qua nhiều khía cạnh, thông điệp cho thấy sự tan vỡ và nêu ra một số lý do để giải thích: toàn cầu hóa tư lợi, toàn cầu hóa sự hời hợt, và lạm dụng phương tiện truyền thông xã hội trong số các việc khác. Điều này tạo nên sự sống còn của những người thích ứng nhất. Và dù tình trạng hiện nay tan vỡ cho mọi người, thì cuối cùng những người nghèo là những người đau khổ nhất. Người giàu ngày càng giàu hơn, người quyền lực ngày càng quyền lực hơn, và người nghèo ngày càng nghèo đi và mất đi quyền lực ít ỏi mà họ có. Có một sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng về sự giàu có và quyền lực giữa người giàu và người nghèo, thế giới chúng ta ngày nay ngày càng vô cảm hơn với hoàn cảnh người nghèo. Ngày nay sự bất bình đẳng được xem là bình thường và đạo đức thường được biện minh nhân danh Chúa và tôn giáo. Người nghèo trở thành đồ vật dùng một lần rồi vứt: “Dường như một vài phần tử trong gia đình nhân loại chúng ta có thể dễ dàng hy sinh vì lợi ích của người khác. Sự giàu có tăng lên, nhưng kèm theo là bất bình đẳng”. Khi nói về bất bình đẳng, thông điệp nhấn mạnh bao lần, đúng là có sự bất bình đẳng này đối với phụ nữ trên toàn thế giới: “Không thể chấp nhận một số người có ít quyền hơn chỉ vì họ là phụ nữ”.

Thông điệp dùng dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu làm ẩn dụ cơ bản. Dụ ngôn so sánh hoàn cảnh chúng ta ngày nay – cá nhân và tập thể – với linh mục và thầy thượng tế trong dụ ngôn, những người vì lý do tôn giáo, xã hội và chính trị khi đi ngang qua người nghèo, bị đánh đập, chảy máu và cần được giúp đỡ. Giống như linh mục và thầy thượng tế trong dụ ngôn, sự thờ ơ và thất bại trong tôn giáo của chúng ta bắt nguồn từ sự mù quáng đạo đức cá nhân cũng như trong các đặc điểm xã hội, tôn giáo của xã hội chúng ta đã góp phần tạo ra sự mù quáng này.

Đứng trước tình trạng toàn cầu hóa, thông điệp tiếp tục cảnh báo chúng ta phải chống lại việc theo chủ nghĩa dân tộc và bộ lạc, chỉ chăm sóc cho bản thân và xem người ngoại lai là ma quỷ. Thông điệp nói, trong thời kỳ cay đắng, hận thù và thù địch, chúng ta phải dịu dàng và nhân ái, luôn nói lên tình yêu chứ không hận thù: “Lòng tốt cần phải được trau dồi; đây không phải là đức tính trưởng giả hời hợt”.

Thông điệp công nhận ngày nay thật khó và phản văn hóa như thế nào khi hy sinh công việc của mình, sự thoải mái và tự do để phục vụ cộng đồng, thông điệp mời gọi chúng ta hy sinh vì điều này: “Tôi đặc biệt muốn nêu lên, tinh thần đoàn kết là một đức tính đạo đức và một thái độ xã hội được sinh ra từ sự hoán cải cá nhân.”

Tại một thời điểm, thông điệp đưa ra một thách thức rất rõ ràng (có tầm vóc sâu rộng). Thông điệp tuyên bố không lập lờ (với cả sức nặng của giáo hội) rằng các tín hữu kitô phải phản đối và bác bỏ án tử hình, phải có lập trường chống chiến tranh: “Thánh Gioan Phaolô II đã tuyên bố rõ ràng và kiên quyết, rằng, trên quan điểm luân lý, án tử hình không thích đáng, và trên quan điểm công lý hình sự, án tử hình không còn cần thiết. Hôm nay chúng tôi tuyên bố rõ ràng, ‘án tử hình là không thể chấp nhận’ và Giáo hội quyết tâm kêu gọi bãi bỏ hình phạt này trên toàn thế giới. Tất cả các tín hữu kitô và những người có thiện chí ngày nay được kêu gọi làm việc không chỉ để xóa bỏ án tử hình, dù hợp pháp hay bất hợp pháp, dưới mọi hình thức, mà còn làm việc để cải thiện điều kiện sinh sống trong nhà tù.”

Còn với chiến tranh: “Chúng ta không còn có thể nghĩ chiến tranh như một giải pháp, vì các rủi ro của nó có lẽ sẽ luôn lớn hơn các lợi ích được cho là của nó. Theo quan điểm này, ngày nay rất khó viện dẫn các tiêu chuẩn hợp lý được dựng lên trong các thế kỷ trước để nói về khả năng của một “chiến tranh chính nghĩa.”

Thông điệp cũng gây ra một số chỉ trích mạnh mẽ của một vài nhóm phụ nữ cho rằng thông điệp “phân biệt giới tính”, dù lời chỉ trích này gần như chỉ dựa trên tiêu đề của thông điệp và thực tế là thông điệp không hề viện dẫn tác giả nữ nào. Tôi nghĩ các lời chỉ trích liên quan đến việc lựa chọn tựa đề cũng đúng. Tựa đề dù rất đẹp trong ngôn ngữ cổ điển, nhưng cuối cùng lại là nam tính. Điều này có thể tha thứ, nhưng tôi đã sống ở Rôma đủ lâu để hiểu sự vô cảm thường xuyên của Rôma với ngôn ngữ hòa nhập là một bỏ quên không phải là vô tội. Nhưng lỗi ở đây chỉ như vết muỗi chích, một chuyện nhỏ, không thể làm hại cho chuyện lớn, cụ thể đây là thông điệp mang tính ngôn sứ, đặt công lý và người nghèo ở trọng tâm.

Linh đạo và nửa sau của cuộc đời

Một kích thước thì sẽ không phù hợp cho tất cả mọi người. Điều này không những chỉ đúng với quần áo mà còn đúng với linh đạo. Các thách thức trong đời sống chúng ta thay đổi theo tuổi đời. Linh đạo không phải lúc nào cũng hoàn toàn tinh tế với vấn đề này. Dĩ nhiên chúng ta luôn có các chỉ dẫn và sinh hoạt thích ứng với trẻ em, với người trẻ, với các cha mẹ nuôi dạy con, với người người đang làm việc, đang trả nợ ngân hàng nhưng chúng ta chưa bao giờ triển khai linh đạo cho những người đã hoàn thành các việc này.

Vì sao lại cần? Chúa Giêsu dường như không làm. Ngài không có bộ giáo lý nào dành riêng cho người trẻ, cho người trung niên, cho người lớn tuổi. Ngài chỉ giảng dạy. Bài giảng trên núi, các dụ ngôn và lời Ngài kêu gọi mọi người vác thập giá theo Ngài, một mục đích giống nhau cho tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác. Nhưng chúng ta nghe các lời dạy này vào những lúc khác nhau trong cuộc đời; chúng ta nghe Bài giảng trên núi lúc bảy tuổi khác lúc chúng ta nghe khi hai mươi bảy tuổi và khi tám mươi bảy tuổi. Lời Chúa Giêsu dạy không thay đổi, nhưng chúng ta thay đổi, và các lời dạy này đưa ra các thách thức cụ thể ở các thời điểm khác nhau trong cuộc đời chúng ta.

Chung chung linh đạo kitô ghi nhớ điều này, trừ một ngoại lệ. Ngoại trừ Chúa Giêsu và các nhà thần nghiệm không chuyên (những người không dành trọn đời hay một thời gian dài như một nhà linh đạo, họ chỉ ngẫu nhiên hoặc một giai đoạn rất ngắn sống như nhà thần nghiệm), đã không phát triển một linh đạo rõ ràng cho những năm cuối đời của chúng ta, chúng ta nên sinh sôi như thế nào trong những năm tuổi già và làm sao để có một cái chết đem lại sự sống. Nhưng có một lý do cho sự thiếu sót này. Đơn giản mà nói, nó không cần thiết vì cho đến cuối thế kỷ trước, đa số người dân chưa bao giờ sống đến tuổi già. Ví dụ, ở Palestina vào thời Chúa Giêsu, tuổi thọ trung bình chỉ ba mươi đến ba mươi lăm năm. Cách đây một thế kỷ, tuổi thọ ở Mỹ vẫn chưa đầy năm mươi. Khi hầu hết mọi người trên thế giới qua đời trước khi họ bước vào tuổi năm mươi, thực sự không cần thiết phải có một linh đạo cho người lớn tuổi.

Nhưng có một linh đạo như thế bên trong Tin Mừng. Mặc dù chết ở tuổi ba mươi ba, nhưng Chúa Giêsu vẫn để lại cho chúng ta khuôn mẫu về cách già đi và cách chết. Nhưng mô hình này, dù thấm đậm và nâng đỡ lành mạnh cho linh đạo kitô chung chung lại chưa hề được phát triển cụ thể thành một linh đạo cho lão hóa (ngoại trừ một số nhà thần nghiệm kitô giáo vĩ đại).

Sau Chúa Giêsu, các Giáo phụ, Giáo mẫu trong sa mạc đã đặt lại vấn đề về cách già đi và về cái chết, họ đã đưa vào khuôn khổ chung trong linh đạo của họ. Theo các Giáo phụ, linh đạo là việc đi tìm để “thấy khuôn mặt của Chúa” và điều này, như Chúa Giêsu đã nói rõ, đòi hỏi chỉ một điều, thanh tẩy tâm hồn. Vì vậy, theo các Giáo phụ, dù ở tuổi nào thách thức vẫn giống nhau, cố gắng làm sao để có được tâm hồn tinh tuyền. Sau đó, đến thời các cuộc bách hại và các vị tử đạo kitô giáo đầu tiên, một ý tưởng được phát triển, cách lý tưởng để già đi và chết là tử đạo. Sau đó, khi tín hữu kitô không còn tử đạo về thể xác thì có ý tưởng cho rằng, chúng ta có thể tự nguyện hy sinh bằng cách sống theo lời khuyên của Tin Mừng, sống khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời. Họ nghĩ rằng sống như vậy, cũng như việc đi tìm để tâm hồn được tinh tuyền, sẽ dạy cho chúng ta tất cả những gì chúng ta cần, ở bất cứ độ tuổi nào. Cuối cùng, điều này được mở rộng, có nghĩa là bất cứ ai trung thành làm bổn phận đời mình, dù ở tuổi nào sẽ học được mọi thứ cần thiết để trở nên thánh thiện nhờ lòng trung thành này. Như câu châm ngôn nổi tiếng đã nói: Hãy ở trong tịnh cốc của bạn, bạn sẽ học được tất cả những gì bạn cần biết. Hiểu một cách chính xác, đây là linh đạo của lão hóa và của cái chết bên trong các khái niệm này, nhưng cho đến gần đây, không cần giải thích nhiều để hiểu một cách rõ ràng hơn.

May thay, tình trạng này ngày nay đã tiến triển, chúng ta ngày càng phát triển các linh đạo rõ ràng về lão hóa và cái chết. Có lẽ điều này nói lên hiện trạng dân số đã già đi, và bây giờ có phong trào văn học đang phát triển, cả tôn giáo và thế tục, đặt ra câu hỏi về lão hóa và về cái chết. Các tác giả này quá nhiều để không thể nêu hết, nhưng có nhiều tác giả đã quen thuộc với chúng ta: Henri Nouwen, Richard Rohr, Kathleen Dowling Singh, David Brooks, Hồng y Bernardin, Michael Paul Gallagher, Joan Chittister, Parker Palmer, Marilyn Chandler McEntyre, Paul Kalanithi, Erica Jong, Kathie Roiphe, và Wilkie và Noreeen Au. Ở trên nhiều quan điểm khác nhau, mỗi người đều có cái nhìn về Chúa và thiên nhiên, và họ nói với chúng ta trong những năm gần đây.

Về bản chất, đây là vấn đề: ngày nay, càng ngày chúng ta càng sống thọ và có sức khỏe khi về già. Thường chúng ta nghỉ hưu vào khoảng đầu những năm sáu mươi sau khi đã nuôi dạy con cái, nghỉ việc và trả xong nợ ngân hàng. Vậy giai đoạn tiếp là gì, nếu chúng ta có thể sống hai hoặc ba mươi năm nữa, sức khỏe vẫn còn tốt và còn năng lượng? Những năm này để làm gì? Bây giờ chúng ta được gọi để làm gì, ngoài việc yêu thương con cháu mình? Ông Abraham và bà Sarah được mời lên đường đến vùng đất mới và mang thai một đứa trẻ đã từ rất lâu họ không thể có. Đó cũng là lời kêu gọi chúng ta. Chúng ta được kêu gọi sinh ra “Isaac” nào trong những năm cuối đời? Chúng ta cần được hướng dẫn.

Bộ mặt ẩn giấu của cái ác

Chúng ta thường có suy nghĩ ngây ngô về cái ác, ít nhất là với những gì nó trông như thế nào trong đời sống hàng ngày. Hình ảnh chúng ta có về cái ác thường được cấu thành một cách giả tạo, lấy từ các chuyện thần thoại, tín ngưỡng tôn giáo, từ sách vở phim ảnh mô tả cái ác nhân cách hóa trong các thế lực thần linh nham hiểm. Các con quỷ ám trong các căn nhà, ở các lễ hội, ở các tấm ván cầu cơ triệu hồi về với cơ thể vặn vẹo và bị nước thánh xua đuổi. Tất cả cái ác ở bên trong khái niệm của lực ma quỷ này (và chúng ta có thể tin vào đó hay không) đều vô cùng lu mờ trước cái ác chúng ta xem trong các bản tin hàng ngày, trong đời sống bình thường và biểu hiện ngay cả trong chính chúng ta một lúc nào đó.

Phần lớn chúng ta mù quáng trước cái ác tiềm ẩn đang rình rập bên trong chúng ta, chia rẽ các cộng đồng, ăn mòn Chúa và ăn mòn lòng tốt. Các Tin Mừng có thể giúp chúng ta hiểu điều này.

Trong các Tin Mừng, cái ác có hai tên vì cái ác hành động theo hai cách. Đôi khi các Tin Mừng gọi thế lực ma quỷ là “Ma quỷ” và ở các lần khác thì lại gọi là “Satan”. Vậy có gì khác biệt ở đây? Dù sao thì rốt cùng cả hai đều ám chỉ cùng một lực (hoặc một người) nhưng dưới hai tên gọi để chỉ cách thức hoạt động khác nhau của cái ác. Trong tiếng Hy Lạp, ma quỷ có nghĩa là vu khống và xé nát mọi thứ. Nhưng trớ trêu thay, Satan lại có nghĩa gần như hoàn toàn ngược lại. Nó có nghĩa là hợp nhất mọi thứ, nhưng theo một cách bệnh hoạn và ác độc.

Như thế cái ác hoạt động theo hai cách: ma quỷ hoạt động trong chúng ta bằng cách chia rẽ chúng ta, và chúng ta có thói quen vu khống lẫn nhau để cộng đồng mãi mãi bị chia rẽ do ghen tị và buộc tội. Còn satan thì làm ngược lại nhưng với kết quả tương tự. Satan kết hợp chúng ta theo một cách bệnh hoạn, có nghĩa là dưới tác động cuồng loạn của đám đông, dưới hình thức đấu đá truyền thông xã hội, các ý thức hệ ích kỷ, kỳ thị chủng tộc, phân biệt giới tính, ghen tị, hận thù và bằng vô số cách ác độc khác để lôi kéo chúng ta vào đám đông – hận thù, cưỡng hiếp tập thể, hành hung và đóng đinh. Đó là lực satan đã đóng đinh Chúa Giêsu.

Khi chúng ta nhìn thế giới ngày nay, từ chính trị đến mạng xã hội, đến những gì đang xảy ra bên trong khuôn viên tôn giáo, chúng ta phải mù mới không thấy sức mạnh của “quỷ” và của “satan” đang làm việc (dù bạn định nghĩa như thế nào và hình dung những loại này như thế nào).

Chúng ta thấy quỷ làm việc ở đâu? Chung chung là khắp mọi nơi. Ngày nay, gần như đâu đâu chúng ta cũng thấy có những người gây chia rẽ, họ gán các động lực sai cho người khác, họ gieo ngờ vực và tẩy chay. Thật vậy, đây gần như là yếu tố nổi trội chúng ta thấy trong chính trị và trên mạng xã hội. Kết quả là sự tan vỡ cộng đoàn, sự bế tắc trong đường lối chính trị, sự phá vỡ nền văn minh, sự mất tin tưởng vào ý nghĩa của sự thật, niềm tin tự mãn, nhưng đặc biệt là câu khẩu hiệu đặc trưng của chúng ta hoạt động như thật, và gần như quên đi đức ái phổ quát. Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự tan vỡ nguy hiểm của lòng tin và phép lịch sự, đức tính thẳng thắn đơn thuần bị xói mòn. Con quỷ chắc đang mỉm cười.

Chúng ta thấy satan làm việc ở đâu? Cũng mọi nơi. Càng ngày chúng ta càng co mình vào các bộ tộc, các băng nhóm, với những người nghĩ giống chúng ta và có cùng lợi ích phải bảo vệ. Dù điều này có thể là điều tốt, nhưng nó sẽ không tốt khi chúng ta kết hợp với nhau, bám rễ trong các ý thức hệ theo lợi nhuận, theo các đặc quyền kinh tế, phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, chủ nghĩa dân tộc sai lầm, tham lam và thù hận. Khi điều này xảy ra, nhóm của chúng ta không còn là một cộng đồng, thay vào đó nhóm chúng ta trở thành đám đông, trở thành kẻ bệnh hoạn, mà cuối ngày, dù khẩu hiệu có riêng biệt như thế nào thì cũng kết thúc như đám đông ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đã hô vang: “Đóng đinh! Đóng đinh nó vào thập giá!” Điều đáng kể là trong các Tin Mừng, chữ “đám đông” dùng khi nào mang một ý nghĩa xấu. Các nhà chú giải đều nói với chúng ta, hầu như không có ngoại lệ, mỗi khi chữ “đám đông” xuất hiện trong Tin Mừng, nó có thể được đặt trước tính từ “thiếu suy xét”. Đám đông là thiếu suy xét, còn tệ hơn, nó thường có khuynh hướng bệnh hoạn nghiêng về đóng đinh. Tiểu thuyết gia nổi tiếng người Séc Milan Kundera nhấn mạnh điều này khi ông chia sẻ nỗi sợ hãi to lớn của ông về “cuộc tuần hành vĩ đại”, cơn sốt bệnh hoạn làm lây nhiễm đám đông và chẳng bao lâu sau, họ hô vàng: “Thả Ba-ra-ba cho chúng tôi, còn đối với Chúa Giêsu thì giết nó đi, đóng đinh nó vào thập giá!” Đây là bộ mặt của satan trong đời sống bình thường, bộ mặt thực của cái ác.

Ngày nay chúng ta cần đặt tên cho điều này khi chúng ta thấy sự phân cực ngày càng mãnh liệt và cay đắng bên trong gia đình, cộng đồng, khu phố, thành phố và quốc gia chúng ta. Chủ nghĩa bè phái, giận dữ, cay đắng, ngờ vực, buộc tội và hận thù đang gia tăng ở hầu hết mọi nơi, ngay cả trong chính gia đình chúng ta, nơi chúng ta ngày càng cảm thấy khó ngồi lại với nhau, cư xử lịch sự với nhau khi nói chuyện về các vấn đề chính trị, xã hội và các khác biệt về giá trị đạo đức. Đáng buồn thay, ngay cả đại dịch chết người đe dọa toàn thế giới, chúng ta lại có khuynh hướng chia rẽ thay vì đoàn kết.

Cái ác thường không có khuôn mặt và cảm giác của ác quỷ như trong phim kinh dị Rosemary’s Baby; nó có bộ mặt và cảm giác của bản tin cuối ngày.

Chúa hạnh phúc

Kitô giáo, Do thái giáo và Hồi giáo cuối cùng đều tin cùng một Thượng đế. Điều thú vị là, trong tâm trí bình dân, tất cả đều có khuynh hướng quan niệm Chúa theo cùng một cách, cụ thể là nam giới, sống độc thân và đặc biệt không hạnh phúc.

Chắc chắn giới tính của Chúa là điều chúng ta không bao giờ khái niệm được. Thượng đế không đàn ông cũng không đàn bà, cũng không phối hợp nam tính nữ tính của giới tính. Vì thế làm sao chúng ta có một khái niệm về giới tính của Thượng đế được? Chúng ta không thể, thuần túy và đơn giản. Theo kiểu cổ điển, chúng ta nói Thượng đế là nam giới, dù chúng ta biết điều này hoàn toàn không đúng, vì về mặt giáo điều chúng ta khẳng định, Thiên Chúa là khó tả nên lời, không bao giờ có thể đặt Ngài trong một khái niệm nào được. Điều này cũng áp dụng cho quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa độc thân, không có vợ. Kết hợp nam tính và nữ tính nơi Chúa cũng không thể tả nên lời được, không thể nhận thức nhưng chúng ta biết Chúa không chỉ đơn giản là một đấng nam nhi độc thân.

Nhưng còn quan niệm phổ biến khác, cụ thể là Chúa đặc biệt không hạnh phúc, nhất là với chúng ta?

Ở đây chúng ta có một câu trả lời rõ ràng: Chúa hạnh phúc. Làm thế nào Chúa không thể hạnh phúc? Nếu Chúa là Đấng trọn hảo duy nhất, trọn hảo lòng lành, chân lý trọn vẹn, đẹp toàn mỹ, viên mãn trọn vẹn về mọi mặt, thì làm sao Chúa lại không thể hạnh phúc trọn vẹn được? Một Chúa không hạnh phúc sẽ không phải là Chúa vì như vậy Chúa không có quyền năng để làm cho mình hạnh phúc trọn vẹn được sao. Không có một bất cập nhỏ nào với Chúa. Vì thế một Thượng đế hoàn hảo cũng là một Thượng đế hoàn toàn hạnh phúc. Nhưng đó là lời tuyên bố siêu hình. Chúng ta vẫn có thể hỏi, Chúa có hạnh phúc về mặt tình cảm và Chúa có hạnh phúc với chúng ta không? Hẳn đôi khi Chúa cũng phải nhíu mày và lắc đầu thất vọng trước hành vi của chúng ta đó sao? Chắc chắn Chúa không thể hài lòng với rất nhiều điều đang xảy ra trong thế giới. Chúa không thể hạnh phúc trước tội lỗi.

Và cũng giống như mọi điều khác về Chúa, có những điều ở đây chúng ta không thể hiểu được. Tuy nhiên, cần phải khẳng định điều này, cả từ điều sâu sắc nhất được mặc khải trong Sách Thánh và trong chứng từ của vô số người tốt: Chúa hạnh phúc! Chúa không quen thất vọng về chúng ta, không nhíu mày trước các yếu đuối của chúng ta và đưa đa số chúng ta xuống địa ngục. Nhưng ngược lại, Chúa như cha mẹ yêu thương đứa con bé bỏng của mình, Chúa luôn hướng chúng ta đi về phía trước, vui với năng lượng của chúng ta, muốn chúng ta thăng tiến, buồn khi chúng ta cư xử không tốt với người khác và với chính chúng ta, nhưng Ngài thông cảm yếu đuối của chúng ta hơn là tức giận và không hạnh phúc.

Nhà thần nghiệm danh tiếng Julian de Norwich mô tả Chúa theo cách này: Chúa ở trên thiên đàng, mỉm cười, hoàn toàn thoải mái, gương mặt giống như bản giao hưởng kỳ diệu. Cách đây vài năm khi đọc đoạn này lần đầu tiên, tôi đã sửng sốt vừa về khái niệm Chúa mỉm cười vừa hình ảnh Chúa “thoải mái”. Tôi chưa bao giờ nghĩ Chúa “thoải mái”. Với tất cả những gì xảy ra trong thế giới, và chắc chắn với tất cả các phản bội lớn nhỏ trong cuộc sống chúng ta, Chúa hẳn căng thẳng, thất vọng và lo lắng. Hình dung Chúa đang cười (ít nhất là đôi khi) thì khó nhưng còn dễ hơn, nhưng cực kỳ khó để hình dung Chúa thoải mái, không căng thẳng về tất cả những gì không ổn với chúng ta và thế giới chúng ta.

Và đây là hành trình của tôi trong việc đấu tranh với điều này. Tôi đã được ân phước vô cùng trong môi trường tôn giáo của tôi. Từ cha mẹ và gia đình, từ cộng đoàn giáo xứ tôi lớn lên, từ các nữ tu Dòng Ursuline đã dạy tôi ở trường, quý vị không thể nào có một một môi trường đức tin lý tưởng hơn. Tôi đã trải nghiệm đức tin và đời sống tu trì trong đời sống thực, và nó đã mang đến lòng tin tưởng cho tôi và trở nên hấp dẫn. Việc đào tạo ở chủng viện và nghiên cứu thần học của tôi đã củng cố mạnh mẽ cho điều này. Nhưng, trong suốt quá trình, bên dưới vẫn có bức tranh của một vị thần không được hạnh phúc cho lắm và người chỉ mỉm cười trong trường hợp xứng đáng và điều này cũng không thường xuyên cho lắm. Hậu quả là trong đời sống của tôi luôn có khuynh hướng lo âu để ở tầm cao, để khá tốt, để không làm Chúa buồn và để được Chúa chấp thuận và yêu mến. Nhưng chắc chắn, chúng ta không bao giờ có thể đủ tốt, không bao giờ ở tầm cao và vì thế, thật tự nhiên khi chúng ta nghĩ Chúa chẳng bao giờ thực sự hài lòng với chúng ta và Ngài cũng không bao giờ thực sự hạnh phúc.

Dĩ nhiên về lý thuyết chúng ta biết rõ hơn. Chúng ta thường có khái niệm lành mạnh hơn về Chúa; nhưng trái tim không dễ dàng để ở bên cạnh. Thật khó để tôi cảm nhận trong tôi Chúa hạnh phúc, hạnh phúc với chúng ta, hạnh phúc với tôi. Tôi đã mất bảy mươi năm để nhận ra, chấp nhận, an ủi và cuối cùng đắm mình trong sự thật, rằng Chúa hạnh phúc. Tôi không chắc điều gì đã khơi trong tôi tất cả yếu tố thúc đẩy bên trong giúp tôi thay đổi, nhưng thực tế, bây giờ mỗi khi tôi cầu nguyện hết lòng, trần trụi và chân thành, tôi cảm nhận Chúa hạnh phúc. Và đó cũng là điều xảy đến với tôi khi tôi nhìn các vị thánh trong cuộc đời tôi, các thánh nam nữ tôi tôn kính nhất trong đức tin, những người phản ánh khuôn mặt của Chúa cho tôi. Họ vui vẻ, thoải mái và ít khi nhíu mày vì không hài lòng.

Vượt lên các sai lầm và điểm yếu

Điều có thể bào chữa thì không cần được bào chữa và điều không thể bào chữa thì không thể bào chữa được.

Tác giả Michael Buckley đã viết những lời này và đó là cả một thách thức quan trọng. Chúng ta luôn biện minh cho những chuyện mà chúng ta không cần phải biện minh và luôn cố gắng bào chữa cho những chuyện không bào chữa được. Chuyện này chuyện kia đều không cần thiết, cũng chẳng ích lợi gì.

Chúng ta có thể học bài học này từ cách Chúa Giêsu đối xử với những người phản bội Ngài. Ví dụ điển hình là với Thánh Phêrô, người được Chúa chọn đặc biệt và được Chúa đặt là hòn đá tảng của cộng đoàn tông đồ. Thánh Phêrô là người trung thực, với tấm lòng chân thành như trẻ thơ, ngài có đức tin sâu đậm, và hơn người khác, ngài hiểu được ý nghĩa sâu xa Chúa Giêsu là ai và ý nghĩa giáo huấn của Chúa Giêsu. Đúng vậy, khi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ (còn các anh, các anh nói tôi là ai?), Thánh Phêrô trả lời: “Ngài là Đấng Kitô, con Thiên Chúa, Đấng Hằng Sống.” Nhưng vài phút sau lời tuyên xưng đó, Chúa Giêsu đã phải sửa lại quan niệm sai lầm của Thánh Phêrô về ý nghĩa của điều này, và Ngài đã quở trách ông vì ông muốn làm chệch hướng chính sứ mệnh của Ngài. Nghiêm trọng hơn, chính Thánh Phêrô trong giây phút huyênh hoang đã nói, dù ai phản bội Chúa Giêsu, nhưng ông thì không, vậy mà ông đã chối Chúa ba lần trong giây phút khó khăn nhất của Chúa Giêsu.

Sau đó, chúng ta biết cuộc trao đổi của Chúa Giêsu với Thánh Phêrô về chuyện phản bội này. Điều quan trọng là Chúa Giêsu không đòi hỏi Thánh Phêrô phải giải thích, phải xin lỗi và cũng không nói những câu đại loại như: “Anh thực sự không phải là chính anh! Tôi hiểu ai ở trong tình trạng này sẽ rất hãi sợ! Tôi hiểu nỗi sợ hãi có thể làm cho anh làm như vậy!” Không có những lời này. Điều có thể bào chữa thì không cần được bào chữa và điều không thể bào chữa thì không thể bào chữa được. Trong sự phản bội của Thánh Phêrô, cũng như trong sự phản bội của chính chúng ta, khi nào cũng có hai khía cạnh này, có thể bào chữa và không thể bào chữa.

Vậy Chúa Giêsu làm gì với Thánh Phêrô? Ngài không đòi Thánh Phêrô phải giải thích, cũng không đòi phải xin lỗi, cũng không nói… không sao, không bào chữa cho Phêrô, cũng không nói mình yêu thương Thánh Phêrô. Thay vào đó, ngài hỏi: “Con có yêu Thầy không?” và tất cả mọi sự tiến đến đàng trước từ đó.

Mọi sự tiến đến đàng trước từ đó. Mọi thứ đều có thể tiến lên sau lời thú nhận yêu thương, nhất là lời thú nhận yêu thương sau khi phản bội. Lời xin lỗi là cần thiết (vì đó là nhận lỗi lầm và điểm yếu để vực tâm hồn của người bị phản bội lên, nhưng lời xin lỗi không hữu ích. Nếu hành động đó không phải là phản bội, thì không cần bào chữa; nếu là phản bội thì không lời xin lỗi nào có thể tha thứ được. Một lời xin lỗi hay một cố gắng xin lỗi để nhắm đến hai mục đích đều không có cái nào tốt. Đầu tiên, nó dùng để hợp lý hóa và biện minh, không cái nào hữu ích cho kẻ phản bội hay người bị phản bội. Điều thứ hai, nó làm suy yếu lời xin lỗi và làm cho lời xin lỗi trở nên không tinh sạch và trọn vẹn, do đó không thể xóa bỏ hoàn toàn sự phản bội khỏi tâm hồn người đã bị phản bội; và vì thế, đây không phải là lời nói thể hiện tình yêu cũng hữu ích như sự công nhận rõ ràng, trung thực về sự phản bội của chúng ta và một lời xin lỗi không cố gắng bào chữa cho sự yếu đuối và phản bội của mình.

Điều mà tình yêu đòi hỏi khi chúng ta yếu đuối là chân thành thừa nhận, không bào chữa lý luận về sự yếu đuối của mình, đồng thời thốt lên lời nói từ trái tim: “Tôi yêu bạn!” Mọi sự có thể tiến lên từ đó. Quá khứ và sự phản bội của chúng ta không được xóa bỏ, cũng không được bào chữa; nhưng, trong tình yêu, chúng ta có thể sống vượt lên chúng. Xoá bỏ, bào chữa hoặc hợp lý hoá là không sống trong sự thật; thật không công bằng cho người bị phản bội vì người đó phải gánh các vết sẹo và hậu quả.

Chỉ có tình yêu mới giúp chúng ta vượt lên yếu đuối và phản bội và đó là nguyên tắc quan trọng không chỉ đối với các trường hợp trong cuộc sống khi chúng ta phản bội và làm tổn thương người thân yêu, mà còn với sự thông hiểu của chúng ta về cuộc sống nói chung. Chúng ta là con người, chúng ta không phải là thần thánh, và do bẩm sinh, vì thế cơ thể tâm trí chúng ta bị dày vò với các yếu đuối và bất cập thuộc đủ mọi loại. Như Thánh Phaolô đã nói trong thư gởi tín hữu Rôma, không bao giờ chúng ta đủ tốt. Điều tốt chúng ta muốn làm thì chúng ta không làm, điều xấu chúng ta không muốn làm thì chúng ta lại làm. Dĩ nhiên một số điều này có thể hiểu được, có thể bào chữa được, cũng như một số điều là không thể bào chữa, vì chúng ta là người và một phần điều này đã là một bí ẩn cho chính chúng ta. Dù sao đến tận cùng, không có lời biện minh hay lời bào chữa nào là cần thiết (hoặc hữu ích). Chúng ta không tiến về phía trước trong quan hệ với Chúa hoặc với người bị chúng ta làm tổn thương mà nói: “Bạn phải hiểu! Trong hoàn cảnh này, tôi làm gì khác được? Tôi không muốn làm bạn tổn thương, chỉ là tôi quá yếu đuối để chống lại!” Những câu này không hữu ích, cũng không cần thiết. Mọi thứ tiến lên khi chúng ta, không bào chữa, chúng ta chấp nhận sự yếu đuối và chúng ta xin lỗi vì đã phản bội. Giống như Thánh Phêrô, khi Chúa Giêsu hỏi ông ba lần: “Con có yêu Thầy không?” từ trong trái tim, chúng ta phải nói: “Chúa đã biết tất cả, Chúa đã biết con yêu Chúa như thế nào.”

Kinh nghiệm thần nghiệm và đời sống hàng ngày của chúng ta

Đâu là những điều giúp chúng ta có được trải nghiệm thần nghiệm trong đời sống? Gần đây có người hỏi tôi câu hỏi này và tôi đã trả lời ngay lập tức và không suy nghĩ: Tất cả những gì làm bạn rơi nước mắt, dù đó là nỗi buồn có thật, niềm vui có thật, nhưng câu trả lời này dựa trên nhiều chuyện.

Thế nào là thần nghiệm? Điều gì làm nên trải nghiệm thần nghiệm?

Trong đầu óc người bình dân, chữ thần nghiệm không được hiểu đúng. Chúng ta thường có khuynh hướng xem thuyết thần nghiệm đồng nghĩa với cái gì phi thường và huyền nghiệm, và cũng xem đó như một cái gì dành cho giới tinh hoa tâm linh. Với đa số, thần nghiệm có nghĩa là tầm nhìn thiêng liêng và trải nghiệm xuất thần đưa chúng ta ra khỏi ý thức bình thường.

Đôi khi thần nghiệm có thể là các trạng thái ý thức thay đổi hoặc trạng thái xuất thần, dù bình thường nó không liên quan gì đến thị kiến. Đúng hơn là nó liên quan đến một tâm trí và một trái tim sáng tỏ vô cùng. Các kinh nghiệm thần nghiệm thường là các kinh nghiệm cắt xuyên qua những thứ thường chận không cho chúng ta chạm vào tận sâu thẳm lòng mình, và chúng rất hiếm bởi vì thông thường ý thức của chúng ta bị cắt đứt khỏi bản thể sâu đậm của chúng ta, đích thực và trinh nguyên, không bị ảnh hưởng của bản ngã, tổn thương, lịch sử, xã hội, áp lực, ý thức hệ, nỗi sợ sai lầm, và tất cả những ảnh hưởng khác nhau mà chúng ta mắc phải và trút bỏ như trút bỏ quần áo. Hiếm khi chúng ta tiếp xúc với nơi sâu thẳm nhất của mình, không bộ lọc, thuần túy; nhưng khi chúng ta tiếp xúc được thì đó là một trải nghiệm thần nghiệm.

Nữ tu Dòng Kín Ruth Burrows định nghĩa thần nghiệm là được Chúa chạm đến một cách vượt quá lời nói, trí tưởng tượng và cảm giác. Thiên Chúa như chúng ta biết, là Duy Nhất, Chân, Thiện, Mỹ. Vì vậy, bất cứ khi nào chúng ta thực sự cảm động trước sự duy nhất, chân, thiện, mỹ mà không có điều gì làm sai lệch nó thì chúng ta sống trải nghiệm thần nghiệm. Nó giống như thế nào?

Nữ tu Ruth Burrows kể, trải nghiệm thần nghiệm đã làm đời của sơ thay đổi hoàn toàn khi sơ mười tám tuổi, học sinh lớp cuối của trường nữ trung học tư thục do một nhà dòng nữ điều hành. Sơ tĩnh tâm để chuẩn bị thi tú tài và chưa trưởng thành mấy. Sơ và một trong các bạn không xem tuần tĩnh tâm này nghiêm túc, hai người chuyền thư tay cho nhau và chơi đùa trong kỳ tĩnh tâm. Đến một lúc, các trò hề của họ làm phiền nhóm, các nữ tu phải kéo họ ra khỏi phòng, bắt họ ngồi im lặng trong một nhà nguyện do một giáo viên hướng dẫn, mỗi khi lớp có buổi nói chuyện. Sơ Burrows thú nhận, lúc đầu họ tiếp tục đùa giỡn, nhưng thời gian thì dài và và cuối cùng im lặng làm họ mệt sức. Ngồi một mình, buồn chán, bứt rứt, một trải nghiệm thần nghiệm ập đến, không mời mà đến và rất bất ngờ. Và nó đến không như một thị kiến hay ở trong trạng thái xuất thần nhưng cảm nhận như một thấu suốt đau nhói. Vào một lúc, sơ ngồi một mình, sơ nhìn thấy bản thân mình với một sự rõ ràng tuyệt đối về con người thật của sơ, trong sự non nớt và trong tất cả lòng tốt của mình. Điều này đã thay đổi cuộc đời của sơ. Từ đó sơ biết mình là ai – vượt lên bản ngã, tổn thương, vượt lên sự non nớt, áp lực từ bạn bè, ý thức hệ và tất cả mọi ảnh hưởng. Trong khoảnh khắc đó, sơ biết được bản thân sâu thẳm nhất của mình (và điều phi thường nhất là sự trong sáng đến lạ thường của nó).

Vậy, những chuyện gì có thể tạo ra các trải nghiệm thần nghiệm trong cuộc sống chúng ta? Câu trả lời ngắn gọn: bất cứ chuyện gì làm chúng ta vượt lên bản ngã, các tổn thương, các ảnh hưởng, các áp lực xã hội mạnh mẽ mà chúng ta phải chịu, có nghĩa là bất cứ điều giúp chúng ta tiếp xúc với con người thật của mình và làm cho chúng ta muốn trở thành người tốt hơn. Và đây có thể là nhiều thứ. Nó có thể là một quyển sách chúng ta đọc; có thể là một phong cảnh thiên nhiên; có thể là khi nhìn một em bé sơ sinh, một em bé đang khóc, một con vật bị thương, gương mặt của một người đang đau khổ; hoặc có thể khi chúng ta cảm nhận trong sâu thẳm lời bày tỏ tình thương, lời chúc lành, lời ăn năn chân thật hoặc chia sẻ sự bất lực của mình. Nó có thể là rất nhiều thứ.

Cách đây vài năm, khi tôi đi dạy, tôi kể cho sinh viên một số sách để đọc, trong số đó có quyển sách của tác giả Christopher de Vinck, Chỉ có trái tim mới biết làm sao để tìm thấy – Những kỷ niệm quý giá cho thời gian không có đức tin (Only the Heart Knows How to Find them – Precious Memories for Faithless Time). Đây là một loạt các bài tiểu luận tự truyện, trong đó tác giả De Vinck thân tình chia sẻ đời sống vợ chồng, con cái và gia đình của ông. Vào cuối học kỳ, một cô sinh viên trẻ cầm quyển sách của De Vinck trên tay, cô nói với tôi: “Thưa cha, đây là quyển sách hay nhất mà con từng đọc. Con luôn nghĩ mình là người rất tự do, phóng khoáng và con đã sống qua nhiều thành phố, nhưng bây giờ con nhận ra, những gì con muốn là những gì người đàn ông này có. Con muốn tình dục đưa con về nhà. Con muốn có một ngôi nhà. Con muốn chiếc giường hôn nhân. Bây giờ con biết mình cần gì!”

Đọc quyển sách của Christopher de Vinck đã làm cho cô có trải nghiệm thần nghiệm, không khác gì trải nghiệm của sơ Ruth Burrows. Còn tôi là quyển Câu chuyện của một tâm hồn của Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu cho tôi trải nghiệm được kinh nghiệm thần nghiệm.

Vì vậy, đây là lời khuyên của tôi: hãy tìm những gì làm điều này cho tôi. Nó không cần phải làm cho chúng ta rơi nước mắt, chỉ cần nó hướng chúng ta về nhà một cách rõ ràng nhất!

Cám dỗ cuối cùng

Cám dỗ cuối cùng là cám dỗ phản bội lớn nhất:
Làm điều đúng nhưng với lý do sai.

Nhà thơ người Mỹ Thomas Stearns Eliot (1888-1965) đã viết câu trên để nói lên khó khăn biết bao khi loại bỏ các lý do xấu trong hành động tốt của chúng ta, bỏ tính ích kỷ để cuối cùng đừng làm các việc chính nghĩa chỉ vì mình.

Nhân vật chính trong vở Giết người ở Nhà thờ chính tòa (Murder in the Cathedral) của T. S. Eliot là Thomas Becket, Tổng giám mục giáo phận Canterbury, người đã tử vì đạo vì đức tin của mình. Từ mọi hình thức bên ngoài, Becket là vị thánh, vị tha, hành động do đức tin và tình yêu thúc đẩy. Nhưng như Eliot trêu chọc trong tác phẩm Giết người ở nhà thờ chính tòa, chuyện bên ngoài không nói lên chuyện bên trong sâu sắc hơn, không cho thấy hậu quả tận căn hơn. Không phải vì Thomas Becket không phải là vị thánh hoặc không trung thực trong động lực làm điều tốt; nhưng đúng hơn đây là “cám dỗ cuối cùng” ông cần vượt lên để trở thành một vị thánh hoàn hảo. Bên dưới bề mặt, luôn có một trận đấu tranh đạo đức sâu đậm hơn, tinh tế và vô hình hơn, một “cám dỗ cuối cùng” cần vượt lên. Cám dỗ cuối cùng đó là cám dỗ gì?

Đó là cám dỗ được ngụy trang như một ơn và cám dỗ chúng ta theo cách: không vụ lợi, trung thành, làm điều tốt, không bao giờ thỏa hiệp với sự thật, quan tâm đến người khác, đưa cô đơn của mình lên một mức độ cao, vượt lên trên sự tầm thường của đám đông, là người có đạo đức xuất chúng, chấp nhận tử đạo nếu được yêu cầu. Nhưng tại sao? Vì lý do gì?

Có nhiều lý do để giải thích vì sao chúng ta muốn trở thành người tốt, nhưng động cơ ngụy trang như một ơn thực sự là một cám dỗ tiêu cực chính là điều này: hãy tốt vì được kính trọng, được ngưỡng mộ, bạn sẽ có danh tiếng mãi mãi vì điều này sẽ mang đến cho bạn. Đây là cám dỗ mà người tốt phải đối diện. Muốn có danh thơm không phải là một chuyện xấu, nhưng cuối cùng nó vẫn thuộc về chúng ta.

Trong những lúc suy nghĩ sâu xa, tôi bị ám ảnh về chuyện này và nó làm cho tôi nghi ngờ về mình. Những gì tôi làm thực sự tôi làm cho Chúa Giêsu, cho người khác, cho thế giới hay tôi làm cho danh thơm của tôi, và tôi hài lòng về việc này như thế nào? Tôi làm cho người khác để họ có thể có cuộc sống trọn vẹn hơn, ít sợ hãi hơn hay tôi làm vì được tôn trọng? Khi tôi đi dạy, có phải động lực chính là làm cho người khác yêu Chúa hay để tôi được ngưỡng mộ vì tư tưởng của tôi? Khi tôi viết sách báo, tôi thực sự cố gắng truyền khôn ngoan hay tôi muốn cho thấy tôi khôn ngoan đến như thế nào? Đó là cho Chúa hay cho tôi?

Có lẽ chúng ta không bao giờ thực sự có thể có câu trả lời vì động lực của chúng ta luôn lẫn lộn và không thể phân loại chính xác. Tuy nhiên, chúng ta còn nợ người khác và chính mình về điều này, xem xét kỹ lưỡng về cầu nguyện, về lương tâm trong việc hướng dẫn thiêng liêng, khi thảo luận với người khác. Làm thế nào để chúng ta vượt qua “cám dỗ cuối cùng” đó, để làm những điều đúng đắn và không làm chỉ vì chúng ta?

Cuộc đấu tranh để vượt lên tính ích kỷ và động lực bản thân bằng tấm lòng vị tha trong sáng, trung thực có thể là một trận chiến không thể phân thắng bại. Theo kinh điển, chúng ta có bảy mối tội đầu (kiêu ngạo, hà tiện, dâmdục, giận dữ, tham ăn, tham lam, lười biếng) gắn liền với bản chất của chúng ta và với chúng, chúng ta sẽ phải đấu tranh suốt đời. Vấn đề là chúng ta tưởng mình đã vượt lên được, thì chúng ta lại ngụy trang dưới hình thức tế nhị hơn trong cuộc sống của mình. Chẳng hạn, Chúa Giêsu khuyên không nên tự cao tìm chỗ cao nhất trong bàn ăn, sau đó phải xấu hổ khi bị mời xuống chỗ thấp hơn, nhưng khiêm nhường ngồi ở chỗ thấp nhất để sau đó được mời lên chỗ cao. Rõ ràng, đây là lời khuyên thiết thực, nhưng nó cũng có thể tạo ra một kiểu tự hào để chúng ta có thể thực sự được tự hào. Một khi chúng ta tỏ ra mình khiêm tốn và chúng ta được công chúng công nhận, chúng ta còn cảm thấy tự hào thực sự cao hơn là sự khiêm tốn của mình! Với các mối tội đầu khác cũng vậy. Khi chúng ta thành công để không nhường bước trước các cám dỗ khó khăn hơn, chúng sẽ bắt rễ lại trong các hình thức tinh vi hơn trong lòng chúng ta.

Chúng ta chỉ công khai và vụng về làm các lỗi lầm của mình khi chúng ta chưa trưởng thành, và thường nó không còn khi chúng ta đã trưởng thành. Đơn giản chúng có hình thức tinh tế hơn. Chẳng hạn khi tôi chưa trưởng thành, tôi còn bị cuốn hút trong đời sống riêng và tham vọng của mình, có thể tôi chưa nghĩ nhiều đến việc giúp đỡ người nghèo. Nhưng khi tôi lớn tuổi hơn, chín chắn hơn và được học thần học nhiều hơn, tôi sẽ viết các bài báo công khai thú nhận chúng ta cần phải làm nhiều hơn cho người nghèo. Vậy mà, thách thức người khác và chính mình quan tâm đến người nghèo là một điều tốt… và mặc dù điều này có thể sẽ không giúp được gì nhiều cho người nghèo, nhưng chắc chắn sẽ giúp tôi cảm thấy tốt hơn cho chính tôi.

Làm thế nào để chúng ta có thể vượt lên điều này, vượt lên cám dỗ cuối cùng này, để làm điều đúng nhưng với lý do sai?

Lời mời gọi can đảm

Lòng dũng cảm không phải là một trong các điểm mạnh của tôi, ít nhất không phải là một loại can đảm cụ thể.

Kinh thánh cho chúng ta biết, Thánh Gioan Tẩy giả“càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh.” Tuổi trẻ lớn lên của tôi hơi có phần khác biệt. Không giống như Thánh Gioan Tẩy giả, khi lớn lên, tinh thần tôi có phần dễ dãi. Điều này có lý do của nó. Tôi sinh ra theo những gì Nữ tu Dòng Cát Minh Ruth Burrows mô tả là “tính nhạy cảm bị tra tấn”, một nhân cách quá nhạy cảm, chưa bao giờ có thể phát triển một làn da dạn dày. Đó không phải là cách các tiên tri được đào tạo. Khi còn là đứa trẻ, trong giờ ra chơi bạn cần có thể lực mạnh để đương cự nếu gặp chuyện không công bằng, nếu không cự được, bạn nên để yên mọi chuyện hầu khỏi bị thương. Bạn cũng nên phát triển tốt các kỹ năng sắc bén như lưỡi dao để tránh đối đầu và luôn ở trong nghệ thuật xây dựng hòa bình. Thêm nữa, nếu bạn không có năng khiếu về thể lực vượt hẳn, và nếu các tình huống thử thách xảy ra, bạn nên nhanh chóng học cách tránh xa để đừng đối đầu. Trên sân chơi, cừu con biết rõ khi nào nên nằm xuống, khi nào nên đối đầu với sư tử, dù cái nhìn về cánh chung của nhà tiên tri Isaia có như thế nào.

Và điều này cũng không phải là tệ. Lớn lên theo cách của mình, tôi không có được làn da dạn dày, không có được lòng dũng cảm để trở thành nhà tiên tri, nhưng như thế lại giúp tôi có được một độ nhạy sắc bén, một độ nhạy mà ở mức tốt nhất là có được sự đồng cảm thực sự (dù trong tình trạng tệ nhất, nó giúp tôi tránh lâm vào các vụ xung đột). Dù sao, điều này cũng không đặc biệt tạo cho mình có đức tính dũng cảm của các nhà tiên tri. Thường thường, theo thói quen, tôi không muốn làm phiền mọi người. Tôi không thích đối đầu, bằng mọi giá tôi muốn có hòa bình, dù tôi cũng có vẽ một vài vạch trên cát. Nhưng tôi không phải là Thánh Gioan Tẩy giả và tôi cũng đã mất nhiều năm để học, để chấp nhận và để hiểu tại sao – và cũng để hiểu tính của tôi, đời của tôi, đôi khi chỉ là lời giải thích chứ không phải là lý do để biện minh cho sự hèn nhát của tôi.

Cuối cùng, đức tính can đảm không phụ thuộc vào bẩm sinh, tính khí hay sức mạnh tinh thần, mặc dù các điều này có thể hữu ích. Lòng dũng cảm là ơn của Chúa Thánh Thần và đó là lý do tại sao tính chất và nền tảng của một người chỉ có thể là lời giải thích chứ không là lý do cho sự thiếu can đảm.

Tôi nhấn mạnh điều này vì hoàn cảnh chúng ta bây giờ đòi hỏi chúng ta can đảm, can đảm để có lời tiên tri. Ngày nay, chúng ta rất cần các nhà tiên tri, nhưng họ quá hiếm và nhiều người trong chúng ta đặc biệt không thích tự nguyện gánh trách vụ này. Vì sao không?

Số báo gần đây của tạp chí Commonweal đăng một bài của Linh mục Bryan Massingale, một tiếng nói tiên tri mạnh về vấn đề phân biệt chủng tộc. Linh mục cho rằng lý do mà chúng ta thấy rất ít tiến bộ thực sự trong việc giải quyết vấn đề bất công chủng tộc là vì chúng ta không có tiếng nói tiên tri ở nơi cần nhất, trong trường hợp này, trong số nhiều người da trắng đàng hoàng, họ nhìn thấy sự bất công chủng tộc, họ thông cảm với những người đau khổ nhưng họ không làm gì để đấu tranh. Linh mục Massingale, ngài đi nói chuyện rất nhiều trên toàn quốc, ngài kể đi kể lại trong các bài nói chuyện và trong các lớp học của ngài, ai cũng hỏi: nhưng làm thế nào đề cập đến vấn đề này mà không làm cho mọi người khó chịu? Câu hỏi này thể hiện một cách khéo léo sự thận trọng của chúng tôi và, theo tôi nghĩ, nó vừa là vấn đề vừa là thách thức.

Như văn hào Shakespeare đã nói, “A, đó là sự cọ xát!” Đối với tôi, vấn đề này đụng vào sợi dây thần kinh đạo đức tế nhị. Nếu tôi ở một trong các lớp học của linh mục, chắc chắn tôi sẽ là người đặt câu hỏi: nhưng làm thế nào tôi chống phân biệt chủng tộc mà không làm mọi người khó chịu? Và đây là vấn đề của tôi: Tôi muốn nói tiên tri, nhưng tôi không muốn làm phiền người khác; tôi muốn thách thức đặc quyền của người da trắng, vấn đề mà bẩm sinh chúng ta vốn đã mù quáng, nhưng tôi không muốn xa lánh các người quảng đại, tốt bụng đã hỗ trợ các trường học của chúng tôi; tôi muốn mạnh mẽ lên tiếng chống bất công hơn trong các bài viết của tôi, nhưng tôi không muốn vì thế mà nhiều báo sẽ bỏ chuyên mục của tôi; tôi muốn can đảm và đối đầu với người khác, nhưng tôi không muốn sống trong cảnh hận thù sau đó; tôi muốn công khai nêu lên các bất công và chỉ danh các tên, nhưng tôi không muốn xa các người này. Vì thế tôi luôn cầu nguyện cho sự can đảm cần thiết để có lời tiên tri.

Cách đây nhiều năm, một giáo sư thỉnh giảng người Mỹ gốc Phi được mời đến trường tôi chia sẻ với phân khoa chúng tôi các bất công gần như hàng ngày mà giáo sư đơn giản chịu đựng chỉ vì màu da của mình. Và tôi đã hỏi giáo sư: “Nếu tôi, là người da trắng, tôi đến với giáo sư như ông Nicôđêmô đến gặp Chúa Giêsu ban đêm, và hỏi ông tôi nên làm gì, ông sẽ nói gì với tôi?” Câu trả lời của ông: Chúa Giêsu sẽ không dễ dàng để ông Nicôđêmô bỏ đi, vì ông đã thú nhận các nỗi sợ của mình. Nicôđêmô phải thực hiện một hành động công khai để đưa đức tin của mình ra ánh sáng, ông phải tuyên bố xác chết của Chúa Giêsu. Do đó, thách thức của giáo sư cho tôi: bạn cần phải thực hiện một hành động công khai.

Giáo sư ấy đúng; nhưng tôi vẫn phải cầu nguyện để có sự can đảm của nhà tiên tri để làm được điều này. Và có phải cho tất cả chúng ta không?

Nạn khiêu dâm và thiêng liêng tính

Người Hy Lạp cổ đại có các vị thần nam nữ cho tất cả mọi thứ, kể cả nữ thần Aidos là thần Xấu hổ. Đối với họ, xấu hổ có nghĩa là có nhiều hơn bình thường so với chúng ta. Trong đầu óc người Hy Lạp, xấu hổ là khiêm tốn, tôn trọng và một sự thận trọng cần thiết nào đó trước các điều mà lẽ ra phải giữ và giấu kín. Nữ thần xấu hổ hướng dẫn để chúng ta quay đi không nhìn những chuyện quá thân mật không nên nhìn thấy. Như họ hiểu, xấu hổ là khiêm tốn và tôn kính khi chúng ta cảm nhận có một cái gì đó thiêng liêng, hay khi chúng ta nhận một món quà, hoặc khi làm tình.

Họ có một huyền thoại hấp dẫn làm nền cho điều này: nữ thầnTình yêu Aphrodite được sinh ra từ biển; nhưng khi nữ thần nhô lên làn sóng với vẻ đẹp tuyệt trần, sự khỏa thân của nữ thần được ba vị thần che chở: nữ thần xấu hổ Aidos, thần yêu đương Eros và nữ thần đúng đắn Horai. Ba vị thần bảo vệ cơ thể trần truồng của nữ thần Aphrodite bằng tình yêu, sự đàng hoàng và sự xấu hổ. Đối với người Hy Lạp cổ đại, đây là một chân lý mang tính thiêng liêng, một chân lý dạy rằng nếu không có ba vị thần bảo vệ này thì không nên nhìn thấy cơ thể trần truồng. Khi sự khỏa thân (dưới bất kỳ hình thức nào) không được các vị thần này bảo vệ, nó sẽ bị phơi bày một cách bất công và không liêm chính.

Tôi trích câu chuyện huyền thoại này để biện hộ cho việc chống lại nạn khiêu dâm, vì ngày nay nạn khiêu dâm được chấp nhận một cách quá ngây thơ trong văn hóa và đa số không nhận ra tác hại thực sự của nó.

Tôi xin được phép bắt đầu bằng cách này. Thứ nhất, nạn khiêu dâm trên internet ngày nay là nạn nghiện lớn nhất thế giới. Không nhà phân tích hay nhà phê bình uy tín nào phủ nhận điều này. Giống như tất cả các chứng nghiện, nó cũng gây chết người. Tuy nhiên, càng ngày chúng ta càng thấy xã hội trở nên thiếu trách nhiệm và thậm chí thờ ơ với nó. Nạn khiêu dâm ở khắp nơi, thường được cho là vô hại và không hiếm khi thấy các sitcom đại chúng trên truyền hình nói về bộ sưu tập khiêu dâm của ai đó như họ nói về bộ sưu tập đồ chơi máy bay của anh ta. Ngoài ra lại có những người hăng hái thách thức các người lên tiếng chống nạn khiêu dâm. Tôi có các bạn đồng nghiệp là thần học gia kitô giáo nói: “Tại sao chúng ta quá căng thẳng khi nói về tình dục! Tình dục là thứ đẹp đẽ nhất mà thượng đế cho con người, tại sao chúng ta lại không thể nhìn được?”

Tại sao chúng ta lại không thể nhìn được? Chúng ta có thể bắt đầu bằng câu tuyên bố của nhà tâm lý học Carl Jung, một trong các chuyện ngây thơ nhất của chúng ta là chúng ta nghĩ năng lượng là thân tình và chúng ta có thể luôn kiểm soát được. Không đúng. Năng lượng là tối thượng, nó muốn chiếm đoạt và kiểm soát chúng ta. Một khi nó xâm chiếm thì khó mà dập tắt được. Đó là một trong các lý do vì sao nạn khiêu dâm rất nguy hiểm. Năng lượng của nó áp đặt như một loại “quỷ ám”.

Nhưng nạn khiêu dâm không chỉ nguy hiểm mà nó còn sai lầm, sai một cách nặng nề. Các người phản đối cho rằng tình dục là đẹp và không có gì là sai lầm khi nhìn nó, họ chỉ đưa ra một nửa sự thật; tình dục là đẹp… nhưng năng lượng và sự trần trụi của nó cực mạnh đến mức không nên nhìn thấy, nếu không có các vị thần tình yêu, thần xấu hổ và thần đúng đắn che chở.

Là tín hữu kitô, chúng ta không tin vào đền đài của các vị thần nam nữ, chúng ta chỉ tin vào một Thiên Chúa duy nhất; và Thiên Chúa này bao gồm tất cả các vị thần khác, kể cả thần Tình yêu Aphrodite, thần xấu hổ Aidos, thần yêu đương Eros và thần đúng đắn Horai. Hơn nữa, Chúa luôn được che chắn khỏi cái nhìn của chúng ta, Ngài được bao phủ, được ẩn giấu, không được đến gần ngoại trừ phải tôn kính và đó là lý do. Đức tin của chúng ta nói với chúng ta, không ai có thể nhìn Chúa và sống.

Đó là lý do vì sao nạn khiêu dâm là sai. Sai không phải vì tình dục là không đẹp, nhưng đúng hơn vì tình dục cực mạnh, nó mang một phần năng lượng và quyền lực thần thánh. Chính vì vậy nạn khiêu dâm mang tính gây nghiện rất mạnh – và rất có hại. Tình dục là đẹp nhưng nét đẹp của nó trần trụi, giống như cơ thể trần truồng của thần Aphrodite ló ra ngoài biển, chỉ có thể được nhìn ngắm khi nó được nhìn đúng mức bởi tình yêu, sự đúng đắn và được che chở bởi sự xấu hổ.

Cuối cùng, tất cả các tội đều là tội lỗi của sự bất kính và sự bất kính đó luôn chứa một cái gì đó không đúng mực, thiếu tôn trọng và thiếu liêm sỉ. Nạn khiêu dâm là một tội của sự bất kính. Nói một cách ẩn dụ, đó là chúng ta đang đứng trước bụi cây đang cháy với đôi giày của mình khi chúng ta nhìn nữ thần Aphrodite trần truồng ló ra ngoài biển mà không được tình yêu và sự đúng đắn đi kèm, không được thần xấu hổ che mắt chúng ta khỏi sự trần trụi của nữ thần Aphrodite.

Chính vì vậy thế giới nghệ thuật phân biệt giữa bị khỏa thân và khỏa thân, và tại sao cái trước lại xuống cấp trong khi cái sau thì đẹp. Sự khác biệt? Bị khỏa thân là việc bị phơi bày, bị trưng bày, bị biểu lộ, bị nhìn trộm một cách không lành mạnh theo cách vi phạm sự thân mật và phẩm giá. Ngược lại, việc trần truồng được nhìn thấy là để cho tình yêu và sự đúng đắn được che chở bởi sự xấu hổ để sự mong manh của bạn giúp cho thấy nét đẹp của bạn.

Nạn khiêu dâm vừa làm xuống cấp cho cả người xem lẫn người bị xem một cách không lành mạnh. Điều này sai ở cả quan điểm con người và đức tin. Trên quan điểm con người, cơ thể trần truồng của nữ thần Aphrodite cần phải có lá chắn thần thánh. Trên quan điểm đức tin, chúng ta tin rằng không ai có thể nhìn gương mặt của Chúa và sống.

Tự tử và u sầu

Chúng ta không còn hiểu được u sầu. Ngày nay, chúng ta gộp tất cả các dạng u sầu lại thành một bó tạp nham và gọi đó là “trầm cảm.” Trong khi các bác sĩ tâm thần, các tâm lý gia, các nhân viên y tế đã triển khai nhiều về các chữ dùng trong việc điều trị chứng trầm cảm, thì đồng thời một cái gì quan trọng bị đánh mất ở đây. U sầu mang nhiều ý nghĩa hơn là cái chúng ta gọi là “trầm cảm.” Cho cả điều tốt cũng như điều xấu, người xưa xem u sầu như một ơn của Chúa.

Trước khi có khoa tâm lý và tâm thần học hiện đại, u sầu chính xác được xem là ơn Chúa. Trong thần thoại Hy Lạp, thậm chí sầu muộn còn có một vị thần riêng cho mình, đó là thần Saturn, được xem như một ơn phong phú nhưng hỗn hợp. Một mặt, nó có thể mang đến các cảm xúc xé nát tâm hồn như nỗi cô đơn không thể chịu đựng được, nỗi ám ảnh tê liệt, nỗi buồn không an ủi được, một nỗi buồn mênh mông, một sự tuyệt vọng muốn tự tử; mặt khác, nó cũng có thể mang lại chiều sâu, tài năng, sáng tạo, cảm hứng thơ ca, lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu thần nghiệm và khôn ngoan.

Giờ không còn thế nữa. Ngày nay, u sầu đã không những không còn tên gọi, mà theo cách nói của bà Lyn Cowan, chuyên gia phân tích về trường phái tâm lý Jung, thì u sầu đã bị “lâm sàng hóa, bệnh lý hóa và y tế hóa” để những gì mà các nhà thơ, các triết gia, các ca sĩ nhạc blues, nghệ sĩ và các nhà thần nghiệm luôn lấy cảm hứng sâu đậm từ đó, thì bây giờ bị cho là một “bệnh có thể chữa được”, chứ không phải là một phần đau đớn của tâm hồn, không muốn điều trị nhưng muốn được lắng nghe vì nó hiểu qua trực giác sự nặng nề khôn kham phải chịu đựng mọi thứ, cụ thể là sự dày vò của số phận hữu hạn của con người, của sự bất toàn và khả tử. Theo bà Cowan, mối quan tâm của ngành tâm lý học hiện đại đối với các triệu chứng trầm cảm và sự phụ thuộc vào thuốc điều trị trầm cảm cho thấy một “sự hời hợt đáng sợ khi đối diện với các đau khổ thực sự của con người”. Đối với bà, ngoài những ý nghĩa khác, việc từ chối nhận chiều sâu và ý nghĩa của nỗi sầu muộn là đánh giá thấp nạn nhân, dìm họ trong một bạo lực muôn thuở đối với một tâm hồn đã bị dày vò.

Và đó là vấn đề khi nói đến tự tử. Tự tử thường là kết quả của một tâm hồn bị dày vò, trong đa số các trường hợp, sự dày vò này không phải là kết quả của suy đồi đạo đức, nhưng là nỗi u uất đè nặng vào thời điểm người đó quá mềm yếu, quá yếu đuối, quá tổn thương, quá căng thẳng, hoặc quá suy giảm sinh hóa để có thể cự lại được áp lực. Văn hào Nga Leo Tolstoy, người cuối đời đã tự tử chết, trước đó ông viết về gánh nặng của các nỗi u uất đôi khi đã nhận chìm ông. Và đây là một trong các dòng nhật ký của ông: “Sức mạnh làm cho tôi xa rời cuộc sống đã quá đầy, quá mạnh, quá toàn thể hơn bất kỳ một mong muốn đơn giản nào. Đó là sức mạnh giống như khát vọng sống của tôi trước đây, chỉ có điều nó đẩy tôi đi theo hướng ngược lại. Đó là khát vọng của cả toàn thân tôi để thoát ra khỏi cuộc sống này”.

Vẫn còn rất nhiều điều chúng ta chưa hiểu về vấn đề tự tử và sự hiểu lầm này không chỉ về mặt tâm lý mà còn về mặt đạo đức. Tóm lại, chúng ta thường đổ lỗi cho nạn nhân: nếu tâm hồn của bạn bệnh, đó là lỗi của bạn. Phần lớn, đó là cách chúng ta đánh giá những người chết vì tự tử. Dù trong thời gian gần đây, đa số chúng ta đã đi một con đường dài để tìm hiểu về tự tử và bây giờ chúng ta có thể cho mình cởi mở hơn, ít phán xét hơn về mặt đạo đức hơn, nhưng sự kỳ thị vẫn còn. Chúng ta vẫn chưa làm hòa với các suy sụp về sức khỏe tinh thần cũng như thể xác. Những người chết vì ung thư, đột quỵ hoặc đau tim, chúng ta không nói đến các vấn đề tâm lý và đạo đức, nhưng khi có ai tự tử thì chúng ta lại nói đến các vấn đề này. Trên thực tế, những người chết vì tự tử là các bệnh nhân “phong cùi” mới của chúng ta.

Vào thời không có thuốc chữa, bệnh nhân phong cùi bị cách ly, ngoài việc cách ly, họ còn chịu đau khổ gấp đôi, vừa bệnh vừa vị cô lập xã hội, vừa bị kỳ thị (có lẽ điều này còn đau đớn hơn). Họ bị tuyên bố là “ô uế” và phải mang dấu ấn này. Nhưng người mắc bệnh phong cùi vẫn có niềm an ủi là không bị phán xét về mặt tâm lý và đạo đức. Họ không bị đánh giá là “ô uế” trong các lãnh vực đó. Họ nhận được sự thương hại.

Nhưng chúng ta không cảm thấy thương hại với những người mà trong đầu chúng ta không tẩy được về mặt tâm lý và đạo đức. Đó là lý do vì sao chúng ta phán xét người tự tử thay vì thương hại họ. Đối với chúng ta, cái chết do tự tử làm cho con người trở nên “ô uế”, ở chỗ họ bị đặt ra ngoài những gì chúng ta đánh giá là có thể chấp nhận được về mặt đạo đức và tâm lý. Cái chết của họ không được nói đến như các cái chết khác. Họ bị phán xét gấp đôi, về mặt tâm lý (nếu tâm hồn bạn bị bệnh là do lỗi của bạn) và về mặt đạo đức (cái chết của bạn là sự phản bội). Chết vì tự tử còn tệ hơn chết vì bệnh phong cùi.

Tôi không biết làm thế nào chúng ta có thể vượt lên được chuyện này. Như triết gia Pascal đã nói, trái tim có lý lẽ của nó. Cũng vậy, điều cấm kỵ mạnh mẽ trong trái tim chúng ta chiến đấu chống lại người tự tử. Có những lý do chính đáng vì sao chúng ta có cảm giác bộc phát khi đứng trước việc tự tử. Nhưng, có thể một sự thấu hiểu sâu hơn về sự phức tạp của các sức mạnh ẩn chứa bên trong cái mà chúng ta ngây thơ gọi là “trầm cảm” có thể giúp chúng ta hiểu, trong hầu hết các trường hợp, tự tử có thể không bị đánh giá là thất bại về mặt đạo đức hay tâm lý, mà là một nỗi u sầu.

Buông bỏ nỗi sợ sai lầm

Gần đây trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh, phóng viên hỏi tôi câu hỏi sau: “Nếu cha ở trên giường chết, cha muốn để lại gì khi chia tay?” Câu hỏi làm tôi chưng hửng lúc đó? Tôi muốn để lại gì trong các lời nói cuối cùng của mình? Không có thì giờ để suy nghĩ, tôi khựng lại. Tôi muốn nói: “Đừng sợ. Sống nhưng không sợ. Đừng sợ chết. Nhưng nhất là đừng sợ Chúa!”

Tôi là người công giáo từ trong nôi, cha mẹ tôi rất tuyệt vời, tôi được các cô thầy tận tâm dạy giáo lý, và tôi được ưu tiên học thần học trong các lớp học tốt nhất thế giới. Tuy nhiên, tôi đã phải mất năm mươi năm để thoát ra khỏi một số nỗi sợ trong đạo làm tôi bị tê liệt và để nhận ra Chúa là người duy nhất mà mình không được sợ. Tôi đã phải để một phần lớn đời mình để tin những lời Chúa nói hơn ba trăm lần trong Thánh Kinh và đó là những lời đầu tiên Chúa Giêsu nói với người Ngài gặp lần đầu tiên sau khi Ngài sống lại: Đừng sợ!

Đó là cuộc hành trình năm mươi năm để tôi tin điều đó, để tin tưởng nó. Trong phần lớn cuộc đời, tôi đã sống trong nỗi sợ hãi sai lầm về Chúa và nhiều thứ khác. Khi còn nhỏ, tôi đặc biệt sợ sấm sét, mà trong đầu óc thơ bé của tôi, sấm sét cho thấy Chúa có thể dữ dội và đe dọa đến mức như thế nào. Về mặt tôn giáo, sấm sét là điềm báo cho chúng ta biết, chúng ta phải sợ. Cùng các nỗi sợ này, tôi còn nuôi dưỡng nỗi sợ cái chết, tự hỏi linh hồn đi đâu sau khi chết, đôi khi tôi nhìn về chân trời u tối sau khi mặt trời lặn và tự hỏi liệu những người đã chết có ở đâu đó ngoài kia không, tôi bị ám ảnh trong bóng tối vô tận này, vẫn đau khổ cho hoàn cảnh của họ. Tôi đã không có lý trong cuộc sống. Tôi biết Thiên Chúa là tình yêu, nhưng tình yêu này cũng là một công lý quyết liệt, đáng sợ và đòi hỏi.

Các nỗi sợ hãi này vẫn âm thầm ở trong lòng tôi suốt tuổi vị thành niên. Năm 17 tuổi tôi quyết định đi tu, đôi khi tôi tự hỏi liệu tôi có tự do trong quyết định này không, hay do một nỗi sợ sai lầm. Tuy nhiên, bây giờ khi nhìn lại, với năm mươi năm sau, tôi biết đó không do nỗi sợ bắt buộc tôi, mà do một cảm nhận chân thực khi được gọi, ảnh hưởng của cha mẹ tôi và các nữ tu dòng Ursuline đã dạy tôi, rằng cuộc sống của mỗi người không phải là của họ, cuộc sống được kêu gọi phục vụ. Nhưng nỗi sợ tôn giáo vẫn mạnh mẽ trong tôi.

Vậy, điều gì đã giúp tôi buông bỏ điều đó? Điều này không xảy ra trong một ngày hoặc một năm; Đó là kết quả tích tụ trong năm mươi năm với các mảnh ghép gom lại với nhau. Nó bắt đầu với cái chết của cha mẹ tôi khi tôi hai mươi hai tuổi. Sau khi chứng kiến mẹ và cha tôi qua đời, tôi không còn sợ chết. Đó là lần đầu tiên tôi không sợ một xác chết vì các thi thể này là của cha mẹ tôi. Nỗi sợ hãi của tôi về Chúa cũng giảm dần mỗi khi tôi cố gắng gặp Chúa với tâm hồn trần trụi trong lúc cầu nguyện và nhận ra tóc của mình sẽ không trắng bạc khi mình đứng trước mặt Chúa; vì vậy tôi không còn sợ. Nỗi sợ hãi của tôi cũng giảm khi tôi phục vụ người khác và hiểu Lòng Thương Xót Chúa khi tôi học và dạy thần học, hai lần chẩn đoán ung thư buộc tôi phải suy ngẫm về cái chết thực sự của chính mình, và như một số đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã hình thành cho tôi làm sao có thể sống tự do hơn.

Về mặt đầu óc, một số người đặc biệt giúp đỡ tôi: John Shea đã giúp tôi nhận ra Chúa không phải là luật phải tuân theo, mà là năng lực đồng cảm vô tận, Ngài muốn chúng ta hạnh phúc; Robert Moore đã giúp tôi tin rằng Chúa đang thích thú nhìn chúng ta; Charles Taylor giúp tôi hiểu Chúa muốn chúng ta phát triển; các lời chỉ trích bài tôn giáo cay đắng của những người vô thần như triết gia Frederick Nietzsche đã giúp tôi thấy, nơi mà khái niệm riêng về Thiên Chúa và tôn giáo của tôi cần thanh tẩy nhiều; và người anh cả, một linh mục truyền giáo, đã làm xáo trộn thần học của tôi với những câu hỏi thiếu tôn kính như, loại Thiên Chúa nào muốn chúng ta sợ hãi Ngài? Các mảnh này mảnh kia đã ráp lại với nhau.

Những lời nói cuối cùng nào là quan trọng? Chúng có thể có nhiều ý nghĩa hay không có bao nhiêu ý nghĩa? Những lời cuối cùng cha tôi nói với các con là “hãy cẩn thận, cẩn thận”, cha tôi muốn nói đường từ bệnh viện về nhà trơn trợt trong tuyết và đá. Lời nói cuối cùng không phải lúc nào cũng để lại một thông điệp; nó có thể chỉ là lời tạm biệt hay tiếng thở dài đau đớn, kiệt sức không nghe được; nhưng đôi khi những lời này cũng là di sản của chúng ta.

Có cơ hội để lại một vài lời cuối cùng cho gia đình, bạn bè, tôi nghĩ sau khi nói lời tạm biệt lần đầu tiên, tôi sẽ nói: đừng sợ. Đừng sợ sống, đừng sợ chết. Nhất là đừng sợ Chúa.

Đừng khóa các cánh cửa của chúng ta

Trong quyển sách Bí mật (The Secret) của linh mục Rene Fumoleau có một bài thơ mang tên Tội lỗi. Fumoleau, một linh mục truyền giáo với Người dân Bản địa ở Bắc Canada, cha đã xin một nhóm người lớn tuổi nêu ra những gì họ xem là tội lỗi xấu xa nhất. Và đây là câu trả lời của họ:

Mười người Bản địa thảo luận với nhau,
Và sau một lúc, Radisca giải thích cho tôi:
“Chúng ta đã thảo luận và tất cả chúng ta đều đồng ý:
Tội lỗi xấu xa nhất con người có thể làm
là họ khóa cửa của họ lại”.

Có lẽ đó là lúc sự cố này xảy ra và đặc biệt tại ngôi làng Người bản địa này, chúng ta luôn có thể để cửa mở mà vẫn an toàn, nhưng đây không phải là lời khuyên đúng cho đa số, chúng ta chỉ cảm thấy an toàn khi các cửa đã được khóa và khi hệ thống an ninh điện tử đã được bật lên để bảo vệ các cánh cửa. Tuy nhiên, các bậc cao niên Người bản địa này có lý, xét tận cùng, họ đã nói về một điều gì đó sâu sắc hơn cái chốt an ninh bên ngoài cánh cửa của chúng ta. Khóa cửa nhà mình thực sự mang ý nghĩa nào?

Như chúng ta biết, có rất nhiều loại cửa chúng ta khóa và mở khóa để người khác ra vào. Jean-Paul Sartre, nhà hiện sinh nổi tiếng người Pháp đã từng viết: Địa ngục là nơi người khác. Mặc dù điều này có thể rất đúng về mặt cảm xúc vào một lúc nào đó, nhưng nó là phản đề cho bất cứ một sự thật tôn giáo nào, đặc biệt là sự thật kitô giáo. Trong tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới, rốt cùng ở với người khác là thiên đàng; vĩnh viễn sống một mình mới là địa ngục.

Đó là sự thật được xây dựng trên chính bản chất chúng ta. Là con người, chúng ta là thành phần của xã hội; có nghĩa là chúng ta được xây dựng theo cách, dù chúng ta luôn là cá nhân, riêng tư và đặc trưng nhưng cùng lúc, chúng ta luôn là xã hội, cộng đoàn và liên đới phụ thuộc nhau. Chúng ta được xây dựng để cùng ở với người khác, ở một mình không mang một ý nghĩa nào cũng không phát triển. Thật vậy, chúng ta cần nhau đơn giản để tồn tại và để sống lành mạnh. Còn nhiều hơn nữa, chúng ta cần nhau vì tình yêu và ý nghĩa, vì không có những chuyện này, đời chúng ta không có một mục đích nào. Ở một mình là loại chết tệ hại nhất.

Điều này cần phải được nhấn mạnh ngày hôm nay, vì cả trong xã hội cũng như ở các nhà thờ, đa số chúng ta đóng một số cửa theo cách vừa hủy hoại vừa thực sự không có tinh thần kitô giáo. Đâu là vấn đề của chúng ta?

Cách đây hai mươi năm, giáo sư khoa học chính trị Đại học Harvard Robert Putnam đã quan sát sự tan vỡ của cộng đồng trong nền văn hóa chúng ta và đặt tên cho nó bằng cụm từ dễ nhớ Chơi Bowling một mình (Bowling Alone). Theo giáo sư, gia đình, khu phố và cộng đồng nói chung của chúng ta đang tan vỡ vì chủ nghĩa cá nhân quá độ trong văn hóa. Hơn nữa, chúng ta làm việc một mình, đi trong nhịp điệu đặc thù của riêng mình hơn là đi theo nhịp của cộng đồng. Rất ít người chống lại đánh giá này.

Tuy nhiên, với những gì chúng ta đấu tranh ngày hôm nay, nó còn đi xa hơn chủ nghĩa cá nhân mà Putnam sáng suốt đưa ra rất nhiều. Trong chủ nghĩa cá nhân quá mức mà Putnam mô tả, chúng ta một mình trước sân bowling nhưng chủ yếu vẫn ở trong sân chơi, tách biệt nhau nhưng không bị khóa. Vấn đề của chúng ta đi sâu hơn. Nói một cách ẩn dụ, chúng ta đã khóa nhau ra khỏi sân chơi bowling chung. Điều này có nghĩa là gì?

Ngoài chủ nghĩa cá nhân cô lập, ngày nay chúng ta đấu tranh trong gia đình, trong cộng đồng, trong quốc gia và trong nhà thờ với một con quỷ loại khác, có nghĩa là với các cánh cửa bị khóa trong cay đắng. Về mặt chính trị, trong nhiều quốc gia, bây giờ chúng ta phân cực đến mức các bên khác nhau không có một đối thoại văn minh, tôn trọng nhau. Người kia là “địa ngục”. Điều này cũng đúng trong gia đình, trong các bữa ăn ngày lễ Tạ ơn hoặc Giáng sinh, chúng ta phải cẩn thận tránh nói xa nói gần những chuyện gì đang xảy ra trong nước và chúng ta chỉ có thể ở cùng bàn với nhau nếu biết giữ riêng quan điểm chính trị của mình.

Đáng buồn thay, điều này bây giờ lại xảy ra trong nhà thờ, nơi các cái nhìn khác nhau về thần học, giáo hội và đạo đức thường dẫn đến sự phân cực rất mạnh đến mức mỗi nhóm thần học và giáo hội bây giờ vẫn ở đằng sau cánh cửa bị khóa chặt của nó. Ở đó, không có sự mở ra cho người khác, và tất cả các cuộc đối thoại đích thực được thay thế bằng sự hủy hoại lẫn nhau. Cuối cùng việc thiếu tinh thần cởi mở này được các người Bản địa xem là tội lỗi xấu xa nhất trong tất cả, các cánh cửa bị khóa của chúng ta. Vậy thì địa ngục thực sự đúng là người khác. Triết gia Sartre phải mỉm cười.

Sự hoạt động của sự dữ thật thú vị. Các Tin mừng cho chúng ta hai từ riêng biệt của sự dữ. Đôi khi sự dữ được gọi là “quỷ” (Diabolos) và đôi khi gọi là “satan” (Satanas). Cả hai đều mô tả sức mạnh tà ác chống lại Chúa, lòng tốt và tình yêu trong cộng đồng. “Quỷ” hoạt động trong chúng ta chia rẽ người này người kia, phá vỡ cộng đồng vì ghen tương, kiêu ngạo và tự do giả tạo; Trong khi đó “Satan” làm việc theo cách ngược lại. Satan liên kết chúng ta lại theo cách bệnh hoạn để làm cho các nhóm chúng ta quỷ hóa nhau, đóng đinh nhau, nhiệt tình bám nhau qua những loại cuồng loạn và ý thức hệ không lành mạnh dẫn đến dê tế thần, phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, hận thù nhóm, hận thù loài. Dù đó là satan hay quỷ, cuối cùng chúng ta sẽ đứng sau cánh cửa bị khóa, nơi những kẻ bên ngoài bị cho là địa ngục.

Vì vậy, đúng là “tội lỗi xấu xa nhất chúng ta có thể làm là khóa các cánh cửa của mình”.

Phép thiêng để cảm nhận mình là người

Thật bình thường khi chúng ta cảm thấy mình ngồi không yên như khi còn nhỏ, cô đơn khi ở tuổi thiếu niên và hụt hẫng vì thiếu mật thiết khi đến tuổi trưởng thành; sau tất cả, chúng ta sống với các ham muốn không thỏa mãn đủ mọi loại, mà sẽ không ai thỏa trọn vẹn khi còn ở phía bên này của cõi vĩnh hằng.

Các ham muốn này đến từ đâu? Vì sao nó không thể nào thỏa mãn được? Ý nghĩa của chúng là gì?

Khi còn là một cậu bé, các bài giáo lý tôi học, các bài giảng tôi nghe đã trả lời các câu hỏi này, nhưng với một từ vựng quá trừu tượng, quá thần học và thiên về giáo hội nên không giúp được gì nhiều cho tôi về mặt hiện sinh. Chúng để lại cho tôi cảm giác đó là câu trả lời, nhưng không phải là câu trả lời có thể giúp tôi. Thế là tôi lặng lẽ chịu đựng sự cô đơn và bồn chồn. Thêm nữa tôi lo lắng vì tôi cảm thấy không thiêng liêng theo cách tôi cảm nhận. Dạy dỗ trong nhà tu dù phong phú cũng không mang lại cho tôi nụ cười nhân lành nào của Chúa về các bồn chồn và bất mãn của tôi. Tuổi dậy thì và sự khuấy động do ý thức tình dục làm cho mọi chuyện tệ hơn. Bây giờ không chỉ là bồn chồn và bất mãn, mà cảm giác ám ảnh làm cho tôi có cảm tưởng mình có tội.

Đó là tâm trạng của tôi khi bước vào đời tu và vào chủng viện ngay sau khi xong trung học. Dĩ nhiên sự bồn chồn vẫn tiếp tục, nhưng các môn triết học và thần học đã giúp tôi hiểu về những thao thức không ngừng khuấy động trong tôi và cho tôi phép thiêng để giúp tôi thỏa hiệp với các chuyện này.

Điều này bắt đầu trong năm tập sinh với bài nói chuyện của một linh mục khách đến thăm. Chúng tôi là các tân chủng sinh, đa số vừa mới cuối tuổi vị thành niên, và dù bước vào đời tu, chúng tôi vẫn còn bồn chồn, cô đơn và căng thẳng về tình dục. Vị khách của chúng tôi bắt đầu buổi nói chuyện bằng câu hỏi: “Các con có hơi bồn chồn không? Các con có cảm thấy mình hơi bị khép kín ở đây không?” Chúng tôi gật đầu. Cha nói: “Các con nên như vậy! Các con phải nhảy ra khỏi da thịt mình! Tất cả năng lực tuổi trẻ đang sôi sục trong các con! Các con phải phát điên! Nhưng không sao, đó là những gì các con cảm nhận nếu các con có sức khỏe! Đó là bình thường, là tốt đẹp. Các con còn trẻ, rồi mọi thứ sẽ ổn!”

Khi nghe các lời này, có một cái gì như được giải phóng trong tôi. Lần đầu tiên, trong một ngôn ngữ thực sự nói thẳng với tôi, một người đã cho tôi phép thiêng để tôi được thoải mái trong chính da thịt của tôi.

Các môn văn học, thần học và thiêng liêng tiếp tục cho tôi phép thiêng này, cả cách chúng đã giúp tôi hình thành một một ý tưởng về lý do tại sao những cảm xúc này lại có trong tôi, cách chúng bắt nguồn và ý nghĩa của chúng trong Chúa, và làm thế nào mà chúng không trong sạch và nghịch đạo.

Khi nghĩ lại các môn học của tôi, đến một số người nổi bật trong việc giúp tôi hiểu được tính cách hoang dã, vô độ, ý nghĩa và điều tốt tối thượng của ham muốn con người. Đầu tiên là Thánh Augutinô. Câu nói nổi tiếng bắt đầu quyển Lời thú tội của ngài: “Chúa đã dựng nên con cho Ngài, lạy Chúa, và tâm hồn chúng con luôn thao thức cho đến khi nó được an nghỉ trong Chúa”, câu này mãi mãi là then chốt giúp tôi liên kết các thứ khác lại với nhau. Với câu này, bí mật của tôi đã được tổng hợp, tôi gặp câu nói này nơi Thánh Tôma Aquinô: Đối tượng đầy đủ của trí tuệ và ý chí là tất cả đều như vậy. Điều đó nghe có vẻ trừu tượng nhưng dù ở tuổi hai mươi, tôi hiểu ý nghĩa câu này: Ngắn gọn, mình cần trải nghiệm điều gì để cuối cùng có thể nói “đủ”, tôi đã thỏa mãn hết chưa? Câu trả lời của Thánh Tôma Aquinô: Mọi thứ! Sau này trong nghiên cứu của tôi, tôi đọc Karl Rahner. Giống như Thánh Tôma Aquinô, ông cũng có thể trừu tượng một cách vô vọng, chẳng hạn ông định nghĩa con người là tiềm năng vâng lời cực mạnh sống bên trong một thực thể siêu nhiên. Có thật không? Ồ, chủ yếu ông muốn nói ở đây là ý nghĩa của lời khuyên mà ông từng đưa ra với một người bạn: Trong sự dằn vặt về sự không tự đủ của tất cả những gì chúng ta có thể đạt được, cuối cùng chúng ta học ở đây, trong cuộc sống này, sẽ không có bản giao hưởng nào trọn vẹn.

Cuối cùng, trong các nghiên cứu của tôi, tôi đã gặp con người và suy nghĩ của linh mục Henri Nouwen. Ngài tiếp tục dạy tôi ý nghĩa cuộc sống và không bao giờ được thưởng thức bản giao hưởng kết thúc, cha nói lên điều này với một thiên tài độc đáo trong một từ vựng mới. Đọc Nouwen, giống như mình đối diện với chính mình, dù mình vẫn ở bên trong tất cả các bóng của mình. Cha cũng giúp cho bạn cảm giác rằng đó là bình thường, khỏe mạnh, và không phải là không trong sạch hoặc không linh thiêng để cảm thấy tất cả các xáo trộn hoang dã với các cám dỗ cùng lúc có trong con người mình.

Mỗi người trong chúng ta là một bó của nhiều xung năng tình dục chưa được thuần, của ham muốn man rợ, khao khát, bồn chồn, cô đơn, không hài lòng, tình dục, và vô độ. Chúng ta cần có phép thiêng để biết điều này là bình thường và tốt lành vì đó là điều tất cả chúng ta đều cảm nhận, trừ khi chúng ta bị trầm cảm bệnh lý hoặc khi chúng ta đã kìm nén quá lâu các cảm nhận này đến mức bây giờ chúng thể hiện một cách tiêu cực mang tính hủy diệt.

Tất cả chúng ta cần một ai đó đến thăm bên trong con người “tập sinh” đặc biệt của chúng ta, hỏi chúng ta xem chúng ta có bị bồn chồn đau đớn, và khi chúng ta gật đầu, họ sẽ nói: “Tốt Tốt! Bạn có thể cảm nhận như vậy! Như thế có nghĩa là bạn khỏe mạnh! Các bạn biết rằng Chúa đang đang mỉm cười chuyện này với bạn!”

Một vài bí mật nên biết

Một vài bí mật nên biếtCác đan sĩ có những bí mật đáng để chúng ta biết, và các bí mật này có thể vô giá trong thời đại dịch coronavirus buộc hàng triệu người trong chúng ta phải sống như đan tu.

Vì Covid-19, hàng triệu người buộc phải ở nhà, làm việc ở nhà, giãn cách xã hội với mọi người trừ người trong nhà và có tiếp xúc xã hội tối thiếu với bên ngoài. Một cách nào đó, dù muốn dù không, điều này đã làm nhiều người trong chúng ta thành tu sĩ. Đâu là bí mật để phát triển mạnh điểm này?

Chà, tôi không phải là một đan sĩ, lại cũng không phải là chuyên gia sức khỏe tinh thần, vậy những gì tôi chia sẻ ở đây không chính xác theo luật Thánh Biển Đức hay theo một loạt lời khuyên nghề nghiệp trong lãnh vực sức khỏe tinh thần. Chia sẻ này tôi học từ các đan sĩ và theo kinh nghiệm sống trong tinh thần cho và nhận của một cộng đồng tu sĩ từ năm mươi năm nay.

Đây là mười lời khuyên để sống khi chúng ta ở chung nhà, nghĩa là sống trong hoàn cảnh thiếu riêng tư và phải sống nhiều người trong một không gian hẹp, đối diện nhau nhiều giờ, phải đấu tranh để có những gì làm chúng ta tăng thêm năng lực, trong đó chúng ta thấy mình có những lúc vui, lúc thất vọng, lúc buồn chán, lúc mất kiên nhẫn, lúc thờ ơ. Làm sao để sống còn và phát triển trong tình huống này?

  1. Tạo thói quen. Đó là mấu chốt. Và đó là những gì các đan sĩ làm. Tạo thói quen chi tiết, lên chương trình ngày của mình như một ngân sách tài chánh. Làm thế nào để nó thiết thực: kê những chuyện mình phải làm hàng ngày, chép vào lịch cụ thể, rồi xem đó là kỷ luật phải tôn trọng, dù có vẻ cứng nhắc và áp đặt. Cự lại với cám dỗ làm theo năng lượng, theo tâm trạng hoặc dựa vào giải trí và mọi chia trí để giúp mình qua ngày, qua đêm.
  2. Tắm rửa và ăn mặc đàng hoàng mỗi ngày, như thể bạn đi ra ngoài và gặp gỡ mọi người. Cự lại với cám dỗ xem thường vệ sinh, ăn mặc, trang điểm. Không mặc áo quần ngủ: tắm rửa, ăn mặc tươm tất. Khi bạn không làm những chuyện này, bạn nói gì với gia đình? Họ không xứng đáng để bạn cố gắng sao? Và bạn nói gì với chính mình? Tôi không đáng để cố gắng sao? Nhếch nhác luộm thuộm chắc chắn sẽ trở nên lờ đờ, biếng nhác.
  3. Nhìn xa hơn bản thân và nhu cầu của mình để thấy người khác, cũng như nỗi đau và thất vọng của họ. Bạn không ở đây một mình, người khác cũng chịu đựng như bạn. Không có gì làm cho ngày của mình khó khăn khi cứ quá nghĩ về mình, tội nghiệp cho mình.
  4. Tìm một nơi để ở một mình một lúc nào đó trong ngày và để người khác cũng được như vậy. Đừng xin lỗi vì cần thời gian ở một mình. Đây là điều rất cần thiết cho sức khỏe tinh thần chứ không phải là một chướng khí ích kỷ. Bạn cho người khác khoảng không gian này. Đôi khi bạn cần phải tách xa, không phải để bạn khỏe, nhưng vì còn lợi ích cho người khác. Các đan sĩ sống đời sống cộng đoàn rất mạnh, nhưng mỗi người có tịnh phòng riêng để lui về.
  5. Có giờ chiêm niệm mỗi ngày gồm giờ cầu nguyện. Trên lịch của mình, mỗi ngày bạn để ít nhất nửa giờ hay một giờ để chiêm niệm: cầu nguyện, đọc Sách Thánh, đọc sách nghiêm túc, viết nhật ký, vẽ một bức tranh, vẽ một hàng rào, tạo một tác phẩm, sửa chữa một cái gì, làm vườn, làm thơ, viết nhạc, viết hồi ký, viết một bức thư dài cho người bạn nhiều năm bạn không gặp, bất cứ gì, nhưng phải làm một cái gì để tâm hồn thông thoáng và phải có cầu nguyện.
  6. Thực hành “ngày Sa-bát” mỗi ngày.Sa-bát không cần phải một ngày, có thể một giờ. Tặng cho mình cái gì đó đặc biệt để mỗi ngày mình mong chờ, một chuyện thú vị gợi cảm: tắm nước nóng, một ly rượu, một điếu xì-gà ngoài mái hiên, xem lại cuốn phim yêu thích, ngủ trưa trên ghế ngoài trời dưới bóng cây, bất cứ điều gì miễn là việc này mang đến cho bạn một niềm vui.
  7. Thực hành “ngày Sa-bát” mỗi tuần.
    Bạn đã dành sáu ngày trong tuần để sống khép kín theo thói quen bạn đã lên lịch. Bạn dành một ngày trong tuần để bỏ thói quen này. Một ngày vui vẻ, một ngày bạn có thể mặc áo ngủ ăn điểm tâm thịnh soạn.
  8. Làm một cái gì đó mới mẻ. Thư giãn với một cái gì mới. Học một ngôn ngữ mới, học một nhạc cụ mới, có một sở thích mới. Đây là dịp bạn sẽ không bao giờ có.
  9. Nói chuyện về các căng thẳng trong nhà, nhưng cẩn thận. Căng thẳng sẽ nảy sinh khi bạn sống trong không gian bị giới hạn. Các đan sĩ có các buổi họp cộng đoàn để giải quyết các căng thẳng này. Chân thành nói các căng thẳng nhưng cẩn thận, các nhận xét đau đớn đôi khi không bao giờ lành hoàn toàn được.
  10. Chăm sóc cơ thể của bạn. Chúng ta là người vừa có tâm hồn, vừa có thể xác. Hãy chăm sóc cơ thể bạn. Tập thể dục đủ để giữ cơ thể khỏe mạnh. Cẩn thận không dùng thức ăn để bù cho đời sống đan tu bó buộc. Các đan sĩ cẩn thận về chế độ ăn uống của họ, trừ ngày lễ.

Các đan tu có những bí mật chúng ta cần biết!

Những điều sâu sắc hơn ở dưới bề mặt

Bạn hãy hình dung điều này. Bạn là con trai, con gái hiếu thảo và mẹ bạn là góa phụ sống ở nhà hưu dưỡng. Bạn may mắn được sống gần trong khi chị bạn ở xa đất nước hàng ngàn dặm. Vì vậy, mọi gánh nặng rơi vào bạn, người chăm sóc mẹ mình. Bạn đến thăm mẹ mỗi ngày. Mỗi buổi chiều, trên đường đi làm về, bạn ghé thăm mẹ một giờ khi bà ăn bữa ăn tối sớm. Và bạn trung thành làm năm lần một tuần, năm này qua năm khác.

Năm này qua năm khác, khi bạn dành thì giờ cho mẹ, trong suốt một năm, có bao nhiêu lần bạn có cuộc trò chuyện thực sự nhiệt tình và sâu đậm với mẹ không? Một lần? Hai lần? Không bao giờ? Mỗi ngày bạn nói gì? Những điều tầm thường: thời tiết, đội thể thao yêu thích của bạn, những gì con bạn đang làm, chương trình mới nhất trên truyền hình, những cơn đau nhức của mẹ và các chi tiết bình thường trong đời sống của bạn. Đôi khi bạn còn ngủ gật khi mẹ ăn bữa tối sớm. Năm nào tốt, có thể bạn có một hoặc hai lần có một cuộc trò chuyện có chiều sâu và hai mẹ con chia sẻ một điều gì đó quan trọng một cách sâu đậm hơn; nhưng, trừ trường hợp hiếm hoi đó, bạn sẽ chỉ lấp đầy thời gian mỗi ngày bằng cuộc trò chuyện hời hợt bên ngoài.

Nhưng, và đây là câu hỏi, có phải trên thực tế các cuộc thăm viếng hàng ngày với mẹ là hời hợt, hay đơn thuần do các câu chuyện trao đổi không sâu đậm phải không? Bạn chỉ đơn giản có tương giao thân mật vì bổn phận? Có điều gì sâu đậm xảy ra không?

Ồ, so sánh điều này với người chị sống xa quê, mỗi năm về nhà một lần để thăm mẹ. Khi chị về, cả chị và mẹ đều cảm động, họ ôm nhau nồng nàn, rơi nước mắt nhìn nhau và dường như nói về những gì vượt ra ngoài các chuyện thời tiết, đội thể thao yêu thích và sự mệt mỏi của mình. Và bạn ganh với cả hai! Có vẻ như cuộc gặp một năm một lần này có cái gì mà chuyến ghé thăm hàng ngày của bạn không có. Nhưng điều này có đúng không? Có phải những gì đang xảy ra giữa chị và mẹ đúng thực là sâu đậm hơn các buổi bạn đến thăm mẹ hàng ngày không?

Tuyệt đối không. Chắc chắn những gì họ có chỉ là về mặt xúc cảm và tình cảm, nhưng thực chất không có gì đặc biệt sâu đậm hơn. Khi mẹ bạn qua đời, bạn sẽ hiểu mẹ mình hơn ai khác, bạn gần gũi với mẹ hơn chị của bạn rất nhiều. Vì sao? Vì trong suốt những ngày bạn đến thăm mẹ, có vẻ như bạn chẳng nói gì khác hơn là thời tiết, nhưng có những gì sâu đậm hơn đã nằm dưới bề mặt. Khi chị đến thăm mẹ, mọi thứ đang diễn ra trên bề mặt (dù về mặt cảm xúc và yêu thương có thể hơn những gì nằm bên dưới). Đó là lý do vì sao tuần trăng mật đẹp hơn hôn nhân.

Những gì chị của bạn đã có với mẹ là những gì các tập sinh sống trong cầu nguyện và những gì các cặp vợ chồng trải nghiệm trong tuần trăng mật. Những gì bạn đã có với mẹ là những gì những người đã trải nghiệm trong cầu nguyện và các mối quan hệ khi họ trung thành trong một thời gian dài. Ở một mức độ thân mật trong tất cả các quan hệ của chúng ta, kể cả quan hệ với Chúa trong lời cầu nguyện, cảm xúc và xúc động (dù tuyệt vời như thế nào) sẽ trở nên ngày càng ít quan trọng và khi đó, chỉ cần ở bên nhau sẽ trở nên tối quan trọng. Trước đó, những điều quan trọng đã xảy ra trên bề mặt, cảm xúc và xúc động là quan trọng; bây giờ sợi dây liên kết sâu đậm đã có bên dưới bề mặt, cảm xúc và xúc động giảm tầm quan trọng của nó. Ở một chiều sâu nào đó của mối quan hệ, chỉ cần có mặt với nhau là điều quan trọng.

Quá thường xuyên, cả tâm lý đại chúng và linh đạo đại chúng không thực sự nắm bắt điều này và do đó tạo nhầm lẫn cho người tập sinh về hiệu năng cầu nguyện, cho cặp vợ chồng về tuần trăng mật và cho chiều sâu về bề mặt. Trong tất cả các mối quan hệ của chúng ta, chúng ta không thể đưa ra lời hứa về những gì mình sẽ luôn cảm nhận, nhưng chúng ta có thể hứa sẽ luôn trung thành, cho thấy mình luôn ở đây, dù chúng ta chỉ nói về thời tiết, về đội thể thao yêu thích, về chương trình truyền hình mới nhất, hoặc về sự mệt mỏi của mình. Và thỉnh thoảng có ngủ gật cũng không sao vì như Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu đã nói: một đứa bé dù thức hay ngủ cũng đẹp lòng cha mẹ, nhưng có lẽ khi ngủ thì sẽ đẹp lòng cha mẹ nhiều hơn! Điều đó cũng đúng với lời cầu nguyện. Thiên Chúa không phiền khi chúng ta ngủ gật trong lúc cầu nguyện vì chúng ta đã ở đó và thế là đủ. Thánh Gioan Thánh giá, người bác sĩ Tây Ban Nha vĩ đại của tâm hồn nói với chúng ta, khi chúng ta vào sâu trong các mối quan hệ, dù đó là với Chúa trong lời cầu nguyện, với nhau trong tình thân mật, hoặc với cộng đồng đang phục vụ, cuối cùng bề mặt sẽ ít cảm xúc, ít xúc động, và những điều sâu sắc hơn sẽ bắt đầu xảy ra dưới bề mặt.