RonRolheiser,OMI

Giáng Sinh chính là đập tan biết bao kỳ vọng của chúng ta

Thật bi hài khi Thiên Chúa luôn làm tiêu tan biết bao kỳ vọng của chúng ta. Chúng ta có quan niệm nhất định về cách thức hành động của Thiên Chúa, nhưng cuối cùng Ngài lại hành động theo những cách khiến biết bao kỳ vọng của ta tiêu tan và đồng thời lại thành toàn cho những kỳ vọng của chúng ta theo một cách sâu sắc hơn. Điều này đặc biệt đúng trong câu chuyện ở Bê-lem trong ngày Chúa Giáng Sinh.

Suốt hàng thế kỷ, biết bao nhiêu tín hữu ý thức sự vô lực của mình trước những chuyện sai trái trên đời, đã cầu nguyện xin Thiên Chúa xuống dương trần làm Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Tinh, tẩy uế dương trần và chỉnh đốn mọi sự. Có lẽ nó là một khát khao mơ hồ mong mỏi công lý, một hy vọng cháy bỏng, thay vì một viễn cảnh rõ ràng, ít nhất là trước thời các ngôn sứ Do Thái vĩ đại. Dần dà, các ngôn sứ như Isaiah bắt đầu trình bày rõ viễn cảnh khi Đấng Thiên Sai đến. Trong viễn cảnh họ mô tả, Đấng Thiên Sai sẽ mở ra “Thời đại Thiên Sai”, một thời đại mới khi mọi sự được chỉnh đốn đúng đắn tốt đẹp. Người nghèo được sung túc, người bệnh được chữa lành, mọi người bị giam cầm nô lệ được giải phóng, và tất cả được hưởng công lý (bao gồm cả sự trừng phạt dành cho kẻ ác). Người nghèo và người hiền lành sẽ thừa kế địa cầu vì Đấng Thiên Sai mà họ tìm kiếm từ lâu sẽ khuất phục mọi sự dữ, xua đuổi ác nhân khỏi mặt địa cầu và chấn chỉnh mọi sự.

Và sau hàng thế kỷ đợi chờ, khát khao, họ được gì? Họ đã được gì? Một hài nhi sơ sinh trần trần truồng, vô lực, còn chẳng tự ăn được. Chẳng một ai ngờ chuyện sẽ như thế. Họ kỳ vọng có một Siêu nhân, một Siêu sao,một người cường tráng, thông minh, đường bệ, bất khả xâm phạm và bất khả chiến bại, áp đảo hoàn toàn mọi thế lực trên địa cầu đến mức không một ai dám tranh biện, chống đối hay đương cự gì cả.

Và chúng ta thời nay, hầu hết, vẫn hình dung về cách quyền năng của Thiên Chúa hoạt động trên trần gian như thế. Nhưng như câu chuyện Giáng Sinh, chúng ta đã biết rằng thường thì Thiên Chúa không hoạt động như thế. Câu chuyện Bê-lem bày tỏ cho chúng ta rằng thường chúng ta gặp được sự hiện diện và quyền năng của Thiên Chúa trên trần gian trong hình hài một trẻ sơ sinh nằm trong máng cỏ, yếu ớt, vô lực, mà đi vào lòng chúng ta một cách tiềm thức.

Tại sao lại thế? Tại sao Đấng Tạo Hóa toàn năng của vũ trụ lại không mang lấy thêm cơ bắp cường tráng? Tại sao Thiên Chúa thường tỏ lộ trong hình hài trẻ bé hơn là trong hình hài siêu sao? Tại sao lại thế? Bởi vì quyền năng của Thiên Chúa hoạt động để làm tan chảy hơn là phá vỡ trái tim con người, và đấy chính là tác động của sự yếu đuối và vô lực. Đấy chính là điều mà một trẻ bé làm được. Quyền năng của Thiên Chúa, ít nhất là quyền năng của Thiên Chúa để kéo chúng ta lại gần nhau, thường không hoạt động qua sự uy nghi, cường tráng và bất khả xâm phạm. Quyền năng của Thiên Chúa hoạt động qua rất nhiều điều, nhưng khi hoạt động qua sự yếu đuối và vô lực, quyền năng đó thật đặc biệt. Sự thân mật dựa trên sự yếu đuối. Chúng ta không thể áp chế người khác để khiến người đó yêu bạn, trừ khi chúng ta áp chế người đó bằng cách làm của một trẻ bé. Chúng ta có thể quyến dụ nhau bằng sự hấp dẫn, khiến người ta ngưỡng mộ bằng tài năng, và áp đảo người khác bằng sức mạnh thượng đẳng, nhưng chúng không thể nào đem lại nền tảng cho một cộng đồng chia sẻ cuộc sống với nhau lâu dài…. Thế mà sự vô lực và ngây thơ của một đứa trẻ lại có thể làm được.

Quyền năng của Thiên Chúa, cũng như trẻ bé ngủ trong nôi, nằm đó trong thế giới của chúng ta với lời mời gọi lặng lẽ chứ không phải lời đe dọa áp chế. Đức Kitô mặc lấy xác phàm ở Bê-lem cách đây hai ngàn năm, rồi ba mươi năm sau, chết trong vô lực trên cây thập giá ở Jerusalem, điều này tỏ lộ cho chúng ta rằng: Thiên Chúa nhập thể nơi Đức Giêsu Kitô đi vào đau khổ của con người thay vì bàng quan đứng nhìn, đồng hiệp với chúng ta thay vì tách biệt khỏi chúng ta, thể hiện rõ rằng con đường đến vinh quang là con đường đi xuống thay vì đi lên, chung vai với người nghèo và người vô lực thay vì với người giàu và quyền lực, mời gọi thay vì cưỡng ép, và biểu lộ rõ nơi một trẻ bé hơn là nơi một siêu sao.

Nhưng chuyện này không phải lúc nào cũng dễ để chúng ta hiểu hoặc chấp nhận. Chúng ta thường chán nản và nóng vội khi Thiên Chúa có vẻ hành động quá chậm. Chúa Giêsu đã hứa rằng người nghèo và người hiền lành sẽ thừa kế địa cầu, thế mà hiện thực thế giới thì lại trái ngược hẳn. Người giàu ngày càng giàu lên, còn người nghèo có vẻ chẳng được thừa kế bao nhiêu. Một trẻ bé vô lực thì làm được gì trong chuyện này chứ? Chúng ta phải tìm đâu để thấy quyền năng của Đấng Thiên Sai?

Vâng, lại một lần nữa, biết bao kỳ vọng của chúng ta cần bị đập tan. Mà “thừa kế địa cầu” nghĩa là gì? Là làm siêu sao? Là giàu có và nổi tiếng? Là có quyền trên người khác? Là một yếu nhân đến đâu cũng được nhận ra và ngưỡng mộ? Đấy là cách chúng ta “thừa kế địa cầu” sao? Hay “thừa kế địa cầu” là khi sự lạnh lẽo tan chảy dần trong tim và chúng ta được tái hồi sự thiện ban sơ, nhờ nụ cười của một trẻ bé?

Ảo tưởng mình bất khả xâm phạm

Cái gì không giết được ta sẽ làm ta mạnh hơn. Đây là câu châm ngôn thiện chí vốn không phải lúc nào cũng đúng. Đôi khi chúng ta gặp chuyện xấu, mà đâu có học được gì. Mong là thời gian tồi tệ hiện thời, dịch Covid-19, sẽ dạy cho chúng ta gì đó và khiến chúng ta mạnh mẽ hơn. Tôi mong rằng Covid-19 sẽ dạy chúng ta điều gì đó mà các thế hệ trước không cần ai dạy nhưng đã tự học được qua kinh nghiệm sống, cụ thể là, chúng ta không bất khả xâm phạm, chúng ta không được miễn trừ những nguy cơ bệnh tật, suy nhược và cái chết. Nói tóm lại, mọi điều thế giới đương đại có thể cho chúng ta về công nghệ, y học, dinh dưỡng và sự bảo đảm về mọi mặt, đâu có miễn trừ được cho chúng ta khỏi sự mỏng manh và dễ bị tổn thương. Covid-19 đã dạy cho chúng ta như thế. Như mọi con người khác sống trên địa cầu này, chúng ta đều dễ bị tổn thương.

Tôi đủ lớn tuổi để biết thế hệ trước, thời hầu hết mọi người sống cùng nhiều nỗi sợ, không phải mọi nỗi sợ đó đều lành mạnh, nhưng tất cả chúng đều rất thật. Cuộc sống quá mong manh. Sinh con có thể khiến người mẹ mất mạng. Một trận cúm, một con virus có thể đoạt mạng người, và chúng ta chẳng có mấy cách đương đầu với nó. Chúng ta có thể chết trẻ vì bệnh tim, ung thư, tiểu đường, vệ sinh kém, và hàng chục thứ khác. Thiên nhiên cũng là mối đe dọa. Những cơn bão, gió lốc, hạn hán, dịch hạch, sấm sét, tất cả chúng đều đáng sợ vì trước mặt chúng con người gần như bất lực. Người ta sống với ý thức rằng sinh mạng và sức khỏe rất mỏng manh, không phải là cái mặc nhiên.

Nhưng rồi, nhờ vắc-xin, kháng sinh, chất lượng bệnh viện và thuốc men cải thiện, sinh nở an toàn hơn, chế độ dinh dưỡng tốt hơn, nhà ở, đường xá, xe cộ, đủ thứ tốt hơn, bảo đảm hơn cho chúng ta trước tình cảnh mất việc, trước hạn hán, lụt bão, dịch bệnh hay bất kỳ thiên tai gì. Và cùng với đó là một ý thức ngày càng lớn rằng chúng ta an toàn, chúng ta được bảo vệ, khác hẳn với các thế hệ trước, chúng ta có thể tự lo cho mình, không còn yếu ớt dễ bị tổn thương như các thế hệ trước.

Và xét phần lớn, điều đó đúng, ít nhất là về phương diện sức khỏe và an toàn thể lý. Về nhiều mặt, chúng ta bớt yếu ớt hơn các thế hệ trước nhiều. Nhưng, như Covid-19 đã phơi bày rõ, đây không phải là chốn nương ẩn tuyệt đối an toàn. Dù cho có chối bỏ và phản kháng nhiều đến mấy, chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng giờ chúng ta đang sống như những thế hệ trước mà thôi, nghĩa là không thể nào bảo đảm về sức khỏe và sự an toàn của mình. Giữa muôn vàn điều quái ác mà Covid-19 gây ra, nó cũng giúp chúng ta bỏ đi ảo tưởng về sự bất khả xâm phạm của mình. Chúng ta mỏng manh, dễ bị tổn thương, và khả tử.

Mới nghe qua, có vẻ chuyện này thật tệ, nhưng không đâu. Vỡ mộng chính là gạt bỏ đi một ảo tưởng sai lầm, và bấy lâu nay, chúng ta đã sống quá lâu, quá hăng hái trong một ảo tưởng, một vui thích giả tạo khiến chúng ta tin rằng các mối đe dọa thời trước sẽ không thể làm gì mình. Chúng ta đã quá sai rồi! Lúc tôi viết bài này, đã có hơn 70 triệu ca nhiễm Covid-19 trên toàn cầu, và hơn một triệu sáu người đã chết vì virus này. Hơn nữa, tỷ lệ nhiễm bệnh và tử vong cao nhất lại nằm ở các quốc gia mà chúng ta tưởng là vững vàng nhất, những quốc gia có bệnh viện tốt nhất và tiêu chuẩn y tế cao nhất. Đấy chính là hồi chuông cảnh tỉnh. Thế giới hiện đại và hậu hiện đại có thể đem lại cho chúng ta quá nhiều điều tốt đẹp, và dù nó có khiến chúng ta cảm thấy như nó có thể bảo vệ chúng ta khỏi tất cả, nhưng đến tận cùng, sự thật không phải vậy.

Covid-19 là thứ thay đổi tất cả, nó đã phá tan ảo tưởng về sự bất khả xâm phạm của chúng ta. Vậy trong chuyện này, có bài học gì để chúng ta rút ra? Nói tóm lại, thế hệ chúng ta phải chấp nhận vị trí của mình bên cạnh các thế hệ khác, công nhận rằng mình không thể xem sinh mạng, sức khỏe, gia đình, công việc, cộng đồng, đi lại, giải trí, tự do tụ tập, tự do đi nhà thờ, tất cả, là những thứ mặc nhiên. Covid-19 đã dạy cho chúng ta rằng chúng ta không phải là Chúa của sự sống và con người vẫn rất mỏng manh, kể cả trong thế giới hiện đại và hậu hiện đại đi nữa.

Thần học và triết học Kitô giáo kinh điển luôn dạy chúng ta rằng, là con người chúng ta không tự đủ. Chỉ có Thiên Chúa mới như thế. Chỉ có Thiên Chúa mới là “Hữu thể tự đủ” (Ipsum Esse Subsistens, trong thần học kinh điển). Còn chúng ta đều phụ thuộc vào may rủi, lệ thuộc, đồng lệ thuộc… và khả tử, đủ để phải sợ mỗi lần trở bệnh phải đi gặp bác sĩ. Các thế hệ trước, vì không có kiến thức y khoa, không có những bác sĩ và bệnh viện như chúng ta, không có tiêu chuẩn vệ sinh và thuốc men như chúng ta, không có vắc-xin và kháng sinh, nên họ cảm nhận được sự lệ thuộc may rủi của mình. Họ biết mình không tự đủ, và sinh mạng cũng như sức khỏe của họ không phải là điều mặc nhiên. Tôi chẳng ghen tỵ với họ về những nỗi sợ sai lầm đi kèm tâm thức này, nhưng tôi ghen tỵ với họ vì họ không sống với sự an toàn giả tạo. Thế giới đương thời đem lại cho chúng ta đủ điều tốt đẹp, nhưng cũng dẫn dụ chúng ta ngủ quên, vô ý thức, về sự mỏng manh, yếu đuối dễ tổn thương và khả tử của chúng ta. Covid-19 là tiếng chuông cảnh tỉnh, không chỉ cho sự thật rằng chúng ta yếu đuối dễ bị tổn thương, nhưng đặc biệt là cho sự thật rằng chúng ta không được xem những món quà quý giá là sức khỏe, gia đình, công việc, cộng đồng, đi lại, giải trí, tự do tụ tập và cả tự do đến nhà thờ, là những điều mặc nhiên.

Từ thánh Tarcisius đến Tạp chí People: Cuộc cách mạng của chúng ta về sự ngưỡng mộ và noi gương

Hồi tôi còn là cậu bé lớn lên trong cộng đoàn Công giáo, giáo lý thời đó cố hứng khởi cho con tim tuổi trẻ bằng những câu chuyện về các bậc tử đạo, các thánh và những người sống theo các lý tưởng cao cả về đức hạnh và đức tin. Tôi còn nhớ một câu chuyện khơi gợi trí tưởng tượng và cảm hứng trong tôi, kể về một bậc tử đạo vào thế kỷ 3, thánh Tarcisius.

Theo truyền thuyết (hay sự thật) thì thánh Tarcisius là một lễ sinh 12 tuổi, sống trong thời bách hại Kitô giáo. Thời đó, Kitô hữu ở Roma phải bí mật cử hành Phép Thánh Thể trong các hầm mộ. Sau các thánh lễ bí mật đó, một phó tế hoặc lễ sinh, sẽ đưa Mình Thánh Chúa đến cho các bệnh nhân và tù nhân. Một hôm nọ, sau thánh lễ, cậu bé Tarcisius đưa Mình Thánh Chúa đến một nhà tù, thì giữa đường bị một nhóm côn đồ chặn lại. Cậu không chịu đưa Mình Thánh Chúa cho họ, và bảo vệ Mình Thánh Chúa bằng cả cơ thể mình, kết quả là cậu bị đánh đến chết.

Năm tôi 12 tuổi, cùng độ tuổi với thánh Tarcisius, câu chuyện đó thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn của tôi. Tôi đã muốn có lý tưởng cao cả như thế trong đời. Trong trí tưởng tượng non trẻ của tôi, thánh Tarcisius là người hùng tuyệt vời nhất mà tôi muốn trở thành.

Từ thời điểm đó đến nay, chúng ta đã đi một quãng đường khá dài, cả trong nền văn hóa lẫn giáo hội. Chúng ta không còn thấy xúc động một cách lãng mạn bởi những câu chuyện về các vị thánh thời xưa lẫn thời nay. Phải, chúng ta vẫn dành cho các ngài một chỗ trang trọng và chính thức trong các nhà thờ cũng như trong các lý tưởng cao cả của mình, nhưng thời nay, chúng ta thấy xúc động một cách lãng mạn bởi những người giàu, người nổi tiếng, người đẹp, các ngôi sao ca nhạc, các vận động viên lừng lẫy, những người tài năng về thể chất cũng như trí tuệ. Hiện giờ, họ mới là những người thổi bùng và họa nên trí tưởng tượng của chúng ta, họ mới là những người mà chúng ta muốn noi gương nhất.

Hồi đầu thế kỷ 18, Alban Butler, một người Anh cải đạo, đã thu thập các câu chuyện về đời sống các thánh và tập hợp thành một hợp tuyển 12 tập, được biết đến với tên Hạnh Các Thánh của Butler. Trong gần 200 năm, quyển sách này đã tạo hứng khởi cho biết bao Kitô hữu, cả già lẫn trẻ. Nhưng giờ đã không còn như thế nữa. Ngày nay, quyển Hạnh Các Thánh của Butler đã bị thay thế bởi tạp chí People, Sports Illustrated, Rolling Stone, Time, và vô số tạp chí khác kể lại cuộc đời của những người giàu có và nổi tiếng đang bày bán nhan nhản trên mọi kệ sách báo và ngay cửa ra vào mọi cửa hàng.

Và thế là, chúng ta chuyển đổi, từ thánh Tarcisius sang Justin Bieber, từ Teresa Hài Đồng Giêsu sang Taylor Swift; từ thánh Tôma Aquinô sang Tom Brady, từ thánh Monica sang Meryl Streep, từ thánh Augustino sang Mark Zuckerberg, từ thánh Julian thành Norwich sang Marianne Williamson, và từ vị thánh gốc Phi đầu tiên, Martin de Porres sang LeBron James. Bây giờ, đây mới là những người thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn của chúng ta, mời gọi chúng ta noi gương họ.

Đừng hiểu lầm ý tôi, những người này không xấu và ngưỡng mộ họ chẳng có gì là sai. Thật sự chúng ta nên ngưỡng mộ họ vì mọi vẻ đẹp và tài năng đều phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng tạo tác mọi sự tốt đẹp. Từ đức hạnh của một vị thánh cho đến vẻ đẹp của một ngôi sao điện ảnh, hay sự lôi cuốn của một vận động viên, tất cả đều do một Đấng tạo tác và tất cả đều phát xuất từ nguồn của mọi sự tốt đẹp là chính Thiên Chúa. Thánh Tôma Aquinô từng chỉ ra rằng kìm nén lời khen cho người xứng đáng, chính là tội lỗi, vì chúng ta đang giấu đi của ăn cho người cần nó để sống. Vẻ đẹp, tài năng, và sự duyên dáng cần được thừa nhận và công nhận. Vấn đề tôi muốn nói đến không phải là sự ngưỡng mộ. Mà vấn đề là trong khi chúng ta cần ngưỡng mộ và công nhận tài năng của những con người xuất sắc này, cuộc sống của họ không phải lúc nào cũng là cái để ta nên noi gương, trừ phi họ toát ra đức hạnh và sự thánh thiện. Chúng ta không được dễ dàng đồng nhất sự duyên dáng với đức hạnh. Nhưng rắc rối cũng nằm ở chỗ đó.

Một trong những điểm yếu nhất của các giáo hội thời nay, là trong khi chúng ta đã nâng cấp và thanh lọc rất nhiều cho trí tưởng tượng về trí tuệ của mình đồng thời đã có những nghiên cứu kinh thánh và thần học tốt hơn, lành mạnh hơn, thế nhưng chúng ta vẫn chật vật trong việc chạm đến trái tim con người. Chúng ta chật vật trong việc khiến người ta rung động với đức tin và nhất là với giáo hội của họ. Chúng ta chật vật trong việc thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn mà một thời chúng ta đã làm được nhờ hạnh các thánh.

Với tình hình như thế, chúng ta có thể làm được gì đây? Chúng ta có thể một lần nữa tìm ra những vị thánh thổi bùng được các lý tưởng của mình không? Tác phẩm rất hay của Robert Ellsberg về hạnh các thánh (về cuộc đời các vị thánh và những vĩ nhân về đạo đức) có trở thành quyển Hạnh Các Thánh mới ngang tầm quyển của Butler không? Các tiểu sử thế tục về một số vĩ nhân đạo đức trong thời đại của mình có thể khiến chúng ta muốn noi gương không? Liệu thời nay có một thánh Tarcisius có thể tạo hứng khởi cho giới trẻ không?

Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần những câu chuyện hứng khởi về những người nam, người nữ, cả già và trẻ, đã sống trọn đức hạnh anh hùng. Không có những lý tưởng như thế để noi theo, chúng ta sẽ rất nhanh rơi vào tâm thức đồng nhất đức hạnh với sự duyên dáng, và tự tước bỏ những lý tưởng tâm linh cao cả hơn khỏi tầm tay mình.

Tổn thương, ân sủng và sức mạnh của chúng ta để chữa lành cho người khác

Cách đây gần năm mươi năm trước, Linh mục Henri Nouwen viết quyển sách có tựa đề Người bị tổn thương chữa lành (The Wounded Healer). Thành công của quyển sách đã làm cho ngài thành một trong các nhà lãnh đạo thiêng liêng thiêng liêng độc đáo và đã trở thành một trong những nhà văn tâm linh có ảnh hưởng nhất trong nửa thế kỷ qua. Điều gì đã làm cho các bài viết của ngài trở nên mạnh như vậy? Sự lỗi lạc của ngài? Tài năng diễn tả? Đúng, ngài có năng khiếu nhưng nhiều người khác cũng có. Điều làm cho ngài trở nên khác biệt, ngài là người bị tổn thương sâu đậm và từ nơi lo âu cùng cực nội tâm của mình, ngài tuôn ra những lời có thể chữa lành cho hàng triệu người.

Điều này hoạt động như thế nào? Làm thế nào để vết thương của chúng ta giúp chữa lành người khác? Đây không phải là trường hợp này. Không phải các tổn thương của chúng ta giúp chữa lành người khác. Ngược lại, những tổn thương của chúng ta có thể tô màu cho ân sủng và tài năng của chúng ta theo cách để chúng không còn tạo phản kháng và ghen tị nơi người khác nữa, thay vào đó chúng trở thành những gì Chúa muốn chúng trở thành, những món quà để làm cho người khác được ơn ích.

Nhưng đáng tiếc, điều ngược lại cũng lại đúng. Các ân sủng và tài năng của chúng ta thường lại là lý do làm chúng ta thành người không được yêu mến, thậm chí còn có thể bị ghét. Có một động lực đáng chú ý ở đây. Chúng ta không tự động và cũng không dễ dàng để các ơn của người khác mang đến ơn ích cho mình. Thông thường, chúng ta miễn cưỡng công nhận nét đẹp và sức mạnh của chúng, cùng lúc chúng ta chống lại và ghen tị với những người có các ơn này. Đó là một trong những lý do làm chúng ta khó có thể đơn giản ngưỡng mộ ai đó.

Nhưng sự miễn cưỡng này nơi chúng ta không chỉ nói lên điều gì đó về chúng ta. Thường thì nó cũng nói lên điều gì đó về những người có được các món quà đó. Tài năng là một chuyện không rõ ràng, nó có thể được dùng để khẳng định bản thân, để tách mình ra khỏi người khác, để trở nên nổi bật và đứng trên, hơn là món quà để giúp đỡ người khác. Tài năng của chúng ta có thể được dùng đơn giản để tỏ ra mình xuất sắc, có tài, ưa nhìn và thành công đến như thế nào. Sau đó, chúng đơn giản trở thành sức mạnh nhằm làm lu mờ người khác để chúng ta nổi bật.

Làm thế nào chúng ta có thể biến tài năng của mình thành món quà cho người khác? Làm thế nào chúng ta có thể được yêu mến vì tài năng thay vì bị ghét bỏ vì chúng? Đây là điểm khác biệt: chúng ta sẽ được yêu mến và ngưỡng mộ vì những món quà của mình khi những món quà này được tô màu bởi các tổn thương chúng ta để người khác không nhìn chúng như mối đe dọa hoặc một cái gì làm chúng ta trở nên khác biệt, nhưng là một món quà gởi đến họ trong các khuyết điểm của chính họ. Khi được chia sẻ theo một cách nào đó, các món quà của chúng ta có thể trở thành quà tặng cho mọi người.

Và đây là cách thức hoạt động của bài toán này: Những món quà chúng ta nhận không phải cho chúng ta mà cho người khác. Nhưng, để được như vậy, chúng cần được đượm màu bởi lòng trắc ẩn. Chúng ta đến được với lòng trắc ẩn khi để cho các vết thương trở nên thân thiện với những món quà của chúng ta. Đây là hai ví dụ.

Khi Công nương Diana qua đời vào năm 1997, có một làn sóng yêu thương tràn ngập. Vừa theo cảm tính và là một linh mục công giáo, tôi thường không than khóc cho những người nổi tiếng, nhưng tôi cảm nhận một nỗi buồn và tình yêu sâu đậm cho người phụ nữ này. Tại sao? Vì Diana xinh đẹp và nổi tiếng? Không phải vậy. Nhiều phụ nữ đẹp và nổi tiếng lại bị ghét vì chuyện này. Công nương Diana được rất nhiều người yêu mến vì bà là người bị tổn thương, người mà các tổn thương tô đậm thêm cho sắc đẹp và sự nổi tiếng của bà, theo một cách nó dẫn đến tình thương chứ không dẫn đến ganh tị.

Linh mục Henri Nouwen, người đã phổ biến thành ngữ “người bị tổn thương chữa lành” cũng có đặc nét tương tự. Cha là linh mục xuất sắc, tác giả của hơn bốn mươi cuốn sách, một trong những diễn giả về tôn giáo nổi tiếng nhất trong thế hệ của ngài, đã làm việc ở Đại học Harvard và đại học Yale, người có nhiều bạn trên khắp thế giới; nhưng cha lại là người bị tổn thương sâu đậm, cha đã thú nhận nhiều lần, phải chịu đựng lo âu, bồn chồn, ghen tương và có khi phải vào dưỡng đường. Thêm nữa khi thú nhận nhiều lần, giữa thành công và nổi tiếng này, trong phần lớn cuộc đời trưởng thành của mình, cha đã khó đơn giản chấp nhận tình yêu. Tổn thương của cha đã mãi mãi ngăn cản. Và điều này làm cho bản ngã của cha bị tổn thương, chủ yếu đậm nét trong từng trang viết trong mỗi cuốn sách của cha. Sự xuất sắc của cha mãi mãi tô đậm lên các tổn thương của cha và đó là lý do tại sao cha không bao giờ tự tin và luôn có lòng trắc ẩn. Không ai ganh với sự xuất sắc của cha Nouwen; ngài quá bị tổn thương để ganh tị. Thay vào đó, sự xuất sắc của cha luôn làm chúng ta xúc động theo cách chữa lành. Ngài là người chữa lành bị tổn thương.

Những lời nói, những tổn thương, những người chữa lành đan xen nhau. Tôi tin chắc Chúa kêu gọi mỗi người chúng ta với một ơn gọi và một công việc đặc biệt ở đây trên trái đất này, dựa trên các tổn thương chúng ta hơn là trên các ơn của chúng ta. Quà tặng của chúng ta là có thật và quan trọng; nhưng họ chỉ mang ơn ích khi được định hình trong một loại trắc ẩn đặc biệt do đặc tính duy nhất của các tổn thương chúng ta. Các tổn thương đặc biệt, duy nhất của chúng ta có thể giúp mỗi chúng ta trở thành người chữa lành duy nhất, đặc biệt.

Thế giới chúng ta đầy những người xuất sắc, tài năng, rất thành công và xinh đẹp. Những món quà này là có thật, đến từ Chúa và không bao giờ được gièm pha nhân danh Chúa. Tuy nhiên, quà tặng chúng ta không tự động giúp đỡ người khác; nhưng chúng có thể làm được tô màu bởi các tổn thương của chúng ta để chúng tuôn ra như lòng trắc ẩn chứ không phải là niềm kiêu hãnh.

Lời mời gọi trưởng thành – Khóc cho thành Giêrusalem

Trưởng thành có nhiều mức độ khác nhau. Trưởng thành cơ bản được định nghĩa chính yếu là phải vượt qua tính ích kỷ bản năng mà chúng ta được sinh ra, để bây giờ động lực và hành động của chúng ta được định hình qua nhu cầu của người khác chứ không chỉ qua nhu cầu của chúng ta. Đó là mức tối thiểu cơ bản, mức tối thiểu để được trưởng thành. Sau mức độ này, còn có các mức độ và trình độ tùy theo mức độ động cơ và hành động của chúng ta là vị tha hay vị kỷ.

Trong các sách Tin Mừng, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta có các mức độ trưởng thành ngày càng sâu sắc hơn, dù đôi khi chúng ta có thể bỏ lỡ lời mời vì nó được thể hiện một cách tinh tế chứ không như lời mời đạo đức được truyền đạt một cách rõ ràng. Một lời mời tinh tế, nhưng rất sâu sắc để có được một mức độ trưởng thành cao hơn như việc Chúa Giêsu khóc cho thành Giêrusalem. Có gì bên trong hình ảnh này?

Và đây là hình ảnh và khung bối cảnh của nó. Chúa Giêsu vừa bị bác bỏ, cả về con người lẫn thông điệp của Ngài và Ngài thấy rõ nỗi đau mà người dân sẽ gánh chịu do sự từ chối này. Phản ứng của ngài là gì? Ngài có phản ứng theo cách mà hầu hết chúng ta thường nghĩ: “Quỷ tha ma bắt! Tôi hy vọng bạn gánh đủ toàn bộ hậu quả của chính sự ngu ngốc này của bạn!” Không. Ngài khóc, giống như cha mẹ đối xử với đứa con ương ngạnh bằng tình yêu; ngài mong trong từng thớ thịt, có thể cứu con mình khỏi các hệ quả của các lựa chọn không tốt của nó. Ngài cảm nhận được vết thương của con cái hơn là vui vẻ nhìn nỗi đau của chúng.

Ở đây có một thách thức kép. Đầu tiên là vấn đề cá nhân: chúng ta vui mừng khi những người từ chối lời khuyên của chúng ta đau khổ vì sự sai trái của họ hay chúng ta khóc trong lòng vì nỗi đau mà họ đã tự mang lại? Khi chúng ta thấy các hệ quả trong cuộc sống của những người có các chọn lựa không đúng, dù đó là do vô trách nhiệm, do lười biếng, do ma túy, tình dục, phá thai, do ý thức hệ, do thái độ chống tôn giáo, hoặc do ý xấu, chúng ta có vui mừng khi các lựa chọn bắt đầu cắn họ như rắn cắn (Này, đã làm thì ráng chịu!) hay chúng ta khóc vì họ, vì bất hạnh của họ?

Phải thừa nhận, thật khó để không vui khi thấy người từ chối lời khuyên của mình bị lãnh đủ với quyết định cứng đầu của họ. Đó là cách hoạt động tự nhiên của trái tim, vì thế sự đồng cảm có thể đòi hỏi một mức độ trưởng thành rất cao. Ví dụ, trong đại dịch Covid-19, các chuyên gia y tế (hầu như không có ngoại lệ) yêu cầu chúng ta mang khẩu trang để bảo vệ người khác và bảo vệ chính mình. Phản ứng tự phát khi chúng ta thấy ai coi thường cảnh báo này, chúng ta có nghĩ họ thông minh hơn bác sĩ, không mang khẩu trang và sau đó bị nhiễm vi-rút không? Chúng ta có vui thầm khi thấy họ phải gánh hậu quả việc họ làm hay chúng ta, một cách ẩn dụ, “khóc cho thành Giêrusalem” không?”

Ngoài thách thức đưa ra cho mỗi chúng ta để tiến tới một mức độ trưởng thành cao hơn, hình ảnh này còn chứa đựng một thách thức mục vụ quan trọng đối với Giáo hội: trong tư cách Giáo hội, làm thế nào chúng ta thấy một thế giới thế tục hóa đã khước từ nhiều niềm tin và giá trị của chúng ta? Khi chúng ta thấy các hệ quả thế giới đang phải trả cho điều này, chúng ta vui mừng hay thông cảm? Chúng ta có thấy thế giới thế tục với tất cả những vấn đề mà nó đang tự gây ra do từ chối một số giá trị Tin Mừng như một đối thủ (người mà chúng ta cần bảo vệ cho chính chúng ta) hay như đứa con đau khổ của mình? Nếu bạn là cha mẹ hoặc ông bà đang đau khổ vì đứa con hay đứa cháu chướng khí, bạn sẽ có thể hiểu ý nghĩa của “khóc cho Giêrusalem”.

Hơn nữa, cuộc đấu tranh để “khóc” cho thế giới thế tục (hoặc với bất cứ ai từ chối các giá trị chúng ta bảo vệ) còn bị làm trầm trọng hơn vì một động lực khác chiến đấu chống lại sự cảm thông. Trong chúng ta có một khuynh hướng cảm xúc và tâm lý sai lệch hoạt động theo cách này. Bất cứ khi nào chúng ta bị tổn thương nặng nề, chúng ta cần phải đổ lỗi cho ai đó, cần phải tức giận chống ai đó và cần phải đả kích ai đó. Và bạn biết ai là người chúng ta luôn chọn để đổ lỗi không? Một người mà chúng ta cảm thấy đủ an toàn để làm tổn thương vì chúng ta biết họ đủ trưởng thành để không trả đũa lại!

Có rất nhiều chỉ trích Giáo hội ngày nay. Đúng, có rất nhiều lý do chính đáng để chỉ trích. Do các thiếu sót của Giáo hội, một phần của sự thù địch này là chính đáng; nhưng một số sự thù địch thường vượt ra ngoài những gì được chứng minh. Cùng với sự tức giận chính đáng, đôi khi cũng có rất nhiều tức giận vô cớ, tự nguyện. Phản ứng của chúng ta trước những tức giận vô cớ và lời buộc tội không công bằng đó là gì? Chúng ta có phản ứng bằng trả đũa không? “Anh vượt giới hạn rồi, đi chỗ khác mà nổi giận!”Hay là, như Chúa Giêsu khóc cho thành Giêrusalem, chúng ta đáp lại tức giận và buộc tội bất công bằng nước mắt cảm thông và lời cầu nguyện rằng một thế giới đang giận dữ với chúng ta sẽ được tha thứ cho các lựa chọn không đúng của họ không?

Triết gia Soren Kierkegaard đã viết câu nổi tiếng: Chúa Giêsu muốn có đồ đệ, Ngài không muốn có người ngưỡng mộ Ngài! Lời khôn ngoan. Trong phản ứng của Chúa Giêsu trước sự từ chối mình, khi Ngài khóc cho thành Giêrusalem, chúng ta thấy sự tinh tế trong mức độ trưởng thành con người. Và chúng ta được kêu gọi trưởng thành trong tư cách cá nhân cũng như trong tư cách cộng đồng giáo hội. Chúng ta cũng thấy đây là trái tim rộng lớn cảm nhận được nỗi đau của người khác, ngay cả nỗi đau của người từ chối mình.

Trái đất có thể khóc không?

Trái đất có cảm thấy đau không? Nó có thể rên rỉ và khóc với Chúa không? Trái đất có thể nguyền rủa chúng ta vì tội ác của chúng ta không?

Có thể có, và không phải chỉ các nhà sinh thái học, đạo đức học và Đức Phanxicô nói, cả Kinh thánh dường như cũng đã nói vậy.

Có một số đoạn thể hiện rất rõ điều này trong trao đổi giữa ông Ca-in và Chúa, sau khi Ca-in giết em trai A-ben của mình. Khi Chúa hỏi Ca-in em trai đâu, Ca-in trả lời không biết và nói “con là người giữ em con hay sao?”. Nhưng Chúa nói với ông: “Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta! Giờ đây ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra. Ngươi có canh tác đất đai, nó cũng không còn cho ngươi hoa màu của nó nữa. Máu của em ngươi đã kêu lên với Ta từ mặt đất.”

Máu của em ngươi đã kêu lên với Ta từ mặt đất… và từ nay mặt đất sẽ nguyền rủa ngươi! Đây là một ẩn dụ hay một sự thật theo nghĩa đen? Mặt đất trên đó chúng ta đi, cày bừa, gieo hạt, làm xa lộ, làm bãi đậu xe, và gọi “Mẹ Trái đất” chỉ là một chất liệu vô tri, vô hồn, không nói nên lời, hoàn toàn miễn nhiễm với đau khổ và đau đớn mà con người và các sinh vật mẫn cảm khác cảm nhận, thậm chí cả với bạo lực mà đôi khi chúng ta gây ra cho mặt đất sao? Trái đất có thể kêu lên với Chúa trong thất vọng và đau đớn không? Nó có thể nguyền rủa chúng ta không?

Một quyển sách đầy khiêu khích gần đây của tác giả Mark L. Wallace có tựa đề Khi Chúa là một Con chim – Kitô giáo, Thuyết vật linh và Tái hân hoan của Lời (When God was a Bird – Christianity, Animism, and the Re-Enchantment of the Word) nói rằng, đúng, thế giới có thể và thực sự cảm thấy đau đớn và nó có thể và sẽ nguyền rủa chúng ta vì chúng ta gây ra nỗi đau đó. Theo tác giả Wallace, những gì Chúa nói với ông Ca-in về việc trái đất đang khóc vì bị đẫm máu thì hơn cả một ẩn dụ, một lời dạy thiêng liêng. Nó cũng thể hiện một chân lý bản thể học ở chỗ có mối liên hệ nhân quả thực sự giữa suy thoái đạo đức và suy thoái sinh thái. Chúng ta không phải là những người duy nhất gánh chịu hậu quả của tội lỗi, trái đất cũng bị.

Đây là cách Wallace giải thích: “Trái đất không phải là vật ngu xuẩn, một vật thể vô tri vô giác không có khả năng cảm nhận và tình cảm, mà là một sinh vật có khí chất và dễ bị tổn thương, chịu sự mất mát khủng khiếp và thảm khốc sau cái chết của A-ben. Trái tim tan vỡ, miệng kêu lên, trong hình ảnh kinh hoàng của bài viết, Trái đất “nuốt lọng” các bụm máu của A-ben… Vang lên từ mặt đất nhuốm đỏ, tiếng kêu của A-ben không chỉ nói rằng Ca-in đã giết em mình mà Ca-in còn gây sự xâm hại kéo dài, có thể là không thể sửa chữa được đối với trái đất. … (Bây giờ) bị tổn thương và nhuốm máu, Trái đất tấn công trở lại. Trái đất có sự trả thù của nó. Trái đất không chấp nhận thụ động trước các tấn công của Ca-in, không khoanh tay chứng kiến Ca-in gây đổ máu mà không bị quả báo gì. Ngược lại, Trái đất trả đũa và giáng xuống lời nguyền” cho Ca-in bằng cách “lấy lại lòng quảng đại” đã cho người nông dân giết người này, người giờ đây phải lang thang trên vùng đất không được bảo vệ và không có an ninh”. Trái đất bây giờ từ chối cho Ca-in lòng quảng đại của mình.

Điều mà Wallace khẳng định ở đây dựa trên hai niềm tin, cả hai đều đúng. Đầu tiên, mọi người và cả hành tinh, các sinh vật có tri giác và không tri giác đều là một phần của một và cùng một cơ thể sống tối cùng, trong đó cuối cùng mỗi phần tử đều thực sự có ảnh hưởng đến tất cả các bộ phận khác. Thứ hai, mỗi lần chúng ta đối xử không tốt với trái đất (hoặc với nhau), trái đất sẽ trả đũa và tước đi sức mạnh cũng như lòng quảng đại, không chỉ theo cách ẩn dụ mà còn theo một cách rất thực tế.

Có lẽ không ai nói điều này một cách sâu sắc như nhà văn Mỹ John Steinbeck, cách đây tám mươi năm ông đã viết trong tác phẩm Chùm nho phẫn nộ (The Grapes of Wrath). Ông mô tả, làm thế nào mà đất đã sản xuất thực phẩm cho chúng ta bây giờ lại phải làm việc với những chiếc máy kéo thép khổng lồ và những cỗ máy vô hình khổng lồ, thực tế phản nghĩa với người phụ nữ hay người đàn ông nhẹ nhàng âu yếm dỗ ngôi vườn phát triển, ông viết:

Và khi cây trái lớn lên, đến mùa gặt, chẳng ai cầm cục đất nóng hổi trên tay để đất rơi khẽ qua những kẽ tay. Chẳng ai chạm vào hạt giống, chẳng ai khát mong cây cối lớn lên. Và con người ăn khi chẳng trồng, con người đó chẳng có liên hệ gì với tấm bánh đó cả. Đất đai oằn mình dưới sắt thép, và chết dần mòn dưới sắt thép, vì nó đâu được yêu, đâu được ghét, đâu được cầu chúc, đâu được nguyền rủa gì.

Khi Chúa Giêsu nói chúng ta đong đấu nào thì sẽ bị đong lại đấu đó, Ngài không chỉ nói về luật nghiệp chướng trong các quan hệ của con người, nơi lòng tốt sẽ được trả bằng lòng tốt, lòng quảng đại được trả bằng lòng quảng đại, nhỏ nhen trả lại nhỏ nhen, và bạo lực trả bạo lực. Ngài cũng đang nói về mối quan hệ của chúng ta với Đất mẹ. Càng nhiều ngôi nhà, ô tô và nhà máy của chúng ta tiếp tục thải ra khí carbon monoxide, thì chúng ta càng hít phải khí carbon monoxide. Và chúng ta càng tiếp tục gây bạo lực cho trái đất và giữa chúng ta với nhau thì trái đất sẽ giữ lại sức mạnh và lòng quảng đại của nó, và chúng ta sẽ cảm nhận lời nguyền cho Ca-in trong các cơn bão dữ dội, virus chết người và những trận đại hồng thủy.

Luật vạn vật hấp dẫn và Chúa Thánh Thần

Thiên Chúa đầy ái tình còn thế trần khắc khoải trong tình ái, do đó cả hai âu yếm nhau với sự hấp dẫn tương liên.

Triết gia Do Thái, Martin Buber đã khẳng định như thế, và dù nó có vẻ rất đồng hưởng với câu mở đầu quyển tự thuật của thánh Âugutinô, “Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài”, nhưng nó lại muốn nói đến một điều khác nữa. Thánh Âugutinô nói về nỗi khắc khoải không nguôi trong lòng con người khiến chúng ta cứ bồn chồn và luôn ý thức rằng mọi sự chúng ta trải nghiệm vẫn không đủ, bởi hữu hạn không ngừng khắc khoải cái vô hạn, và vô hạn thì không ngừng quyến rũ cái hữu hạn. Nhưng thánh Âugutinô nói về tâm hồn con người, về sự khắc khoải và xung lực hướng về Thiên Chúa mà nó cảm nhận.

Martin Buber cũng nói về chuyện đó, nhưng ông còn nói về một sự khắc khoải, một xung lực hướng về Thiên Chúa có trong tự nhiên, trong toàn vũ trụ. Không phải chỉ con người mới khắc khoải tình si, mà là cả thế trần, cả tự nhiên, cả vũ trụ đều như thế.

Thâm ý của ông là gì? Về căn bản, Buber nói rằng, cái cảm giác trong tâm hồn con người cũng tồn tại trong mọi nguyên tố của tự nhiên, trong những nguyên tử, phân tử, đất đá, cây cối, côn trùng, thú vật. Sự khát mong Thiên Chúa có trong tất thảy mọi hiện hữu, từ một hành tinh chết, hố đen, cây tùng cây bách, chú chó chú mèo, hay tấm lòng một vị thánh. Và lại chẳng có sự phân biệt giữa tâm linh và thể lý. Hiện hữu nào được Thiên Chúa ban cho cả hai thì hướng về Ngài trong cả hai.

Pierre Teilhard de Chardin, nhà khoa học đồng thời là nhà thần nghiệm, tin rằng sự tác động qua lại này giữa sinh lực tuôn trào từ Thiên Chúa đầy ái tình và sinh lực tuôn trào lại từ thế trần khắc khoải tình si, chính là sinh lực nâng đỡ mọi cấu trúc của vũ trụ, cả thể lý và tâm linh, hữu hình lẫn vô hình. Với Teilhard, luật vạn vật hấp dẫn, hoạt động nguyên tử, sự quang hợp, các hệ sinh thái, các trường điện tử, bản năng động vật, tính dục, tình thân, sự sáng tạo và lòng vị tha, tất cả đều rút lấy và thể hiện cùng một sinh lực như nhau, một sinh lực luôn mãi kéo tất cả mọi sự hướng về nhau. Nếu đúng là thế, và là thế thật, thì xét tận cùng, luật vạn vật hấp dẫn và Chúa Thánh Thần đều là một phần trong cùng một sinh lực duy nhất, một luật duy nhất, một sự tương tác duy nhất của ái tình và sự đáp lời tình ái.

Nhìn sơ qua, có vẻ thật phi chính thống về mặt thần học, khi đặt con người và thiên nhiên ngang hàng nhau. Cũng có vẻ báng bổ khi nói Thiên Chúa là “đầy ái tình”. Thế nên, tôi mạn phép nói thêm về những quan ngại này.

Về việc Thiên Chúa liên hệ với tự nhiên vật chất, thần học Kitô giáo chính thống và các bản văn Kinh Thánh của chúng ta xác nhận rằng việc Thiên Chúa đến với chúng ta trong Đức Kitô khi nhập thể là một sự kiện không chỉ dành cho con người mà còn cho toàn thể thụ tạo hữu hình nữa. Khi Chúa Giêsu nói rằng Ngài đến để cứu thế trần, là Ngài đang nói đến toàn bộ thế giới chứ không chỉ con người nơi trần thế. Thụ tạo hữu hình, chứ không chỉ nhân loại mà thôi, đều là con cái Thiên Chúa và Ngài dự định cứu chuộc toàn thể con cái Ngài. Thần học Kitô giáo chưa hề dạy rằng thế trần sẽ bị hủy diệt vào thời cánh chung, nhưng như thánh Phaolô đã nói, thụ tạo hữu hình sẽ được biến đổi và đi vào sự tự do vinh quang của con cái Thiên Chúa. Làm sao thế giới hữu hình có thể vào thiên đàng? Chúng ta không biết được, cũng không thể khái niệm được chuyện đó. Nhưng chúng ta biết một điều: Đức Kitô mặc lấy xác phàm khi nhập thể cũng là Đức Kitô Hoàn Vũ, nghĩa là qua Đức Kitô mà mọi sự được tạo dựng và chính Ngài gắn kết mọi thụ tạo với nhau. Do đó, các thần học gia có nói về “sự nhập thể thâm sâu”, cụ thể hơn là sự kiện Đức Kitô nhập thể không chỉ là cứu rỗi nhân loại, mà còn là cứu rỗi toàn bộ thụ tạo hữu hình.

Tôi cũng có thể thấy khi nói Thiên Chúa đầy “ái tình”, có gì đó sai sai, vì thời nay chúng ta thường liên hệ từ này với tình dục. Nhưng ý nghĩa thực sự của từ đó không phải vậy. Với các triết gia Hy Lạp, “eros”, từ nguyên gốc của ái tình, nghĩa là tình yêu, một tình yêu với trọn vẹn mọi khía cạnh của nó. Eros nghĩa là sự hấp dẫn về tình dục và ám ảnh về cảm xúc, nhưng nó còn mang nghĩa tình thân, sự hân hoan, sáng tạo, thường thức và vị tha. Nếu hiểu cho đúng, eros, hay ái tình, bao gồm mọi yếu tố này, thế nên, nếu chúng ta xác định ái tình là tình dục, thì vẫn không có gì kỳ quặc khi áp dụng nó cho Thiên Chúa cả. Chúng ta được tạo nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, do đó tình dục của chúng ta phản ánh một điều gì đó trong bản tính của Thiên Chúa. Một Thiên Chúa đủ tính sinh sôi để tạo ra hàng tỷ thiên hà và không ngừng tạo nên hàng tỷ con người, rõ ràng Ngài đầy tình dục và sinh sôi hơn quan niệm của chúng ta nhiều. Hơn nữa, trong mọi nguyên tố, mọi con người trong vũ trụ đều có sự khắc khoải không nguôi mong được hiệp nhất với một sự gì đó cao vượt hơn chính nó, và sự khắc khoải muôn nơi đó có cùng một cùng đích nơi tình yêu với Thiên Chúa, Đấng là chính Tình yêu.

Vậy nên, trong thực tế, luật vạn vật hấp dẫn và các ơn Chúa Thánh Thần đều mang cùng một mục đích như nhau và duy nhất mà thôi.

Cấu trúc, nghi thức và thói quen như neo giữ cho tình yêu, cầu nguyện và phục vụ

Trong quyển sách Ngọn núi thứ nhì (The Second Mountain) tác giả David Brooks gợi ý chìa khóa để duy trì lòng chung thủy cho bất kỳ ơn gọi nào là xây dựng cấu trúc cho hành vi ở thời điểm khi tình yêu chùn bước. Tác giả nói đúng.

Bất kỳ ai dấn thân trung thành lâu dài trong hôn nhân, tình bạn, trong cộng đồng đức tin, hoặc ơn gọi phục vụ người khác, họ sẽ cần lòng trung thành chân thật, một năng lực yêu thương, các quyết tâm đúng để duy trì con đường này hơn là nhiệt tình ban đầu. Hưởng tuần trăng mật là một chuyện, nhưng trung thành với ai lâu dài trong hôn nhân là một chuyện khác. Tân binh nhiệt tình trên con đường thiêng liêng là một chuyện, trung thành trong tiến trình này bảy mươi hay tám mươi năm là một chuyện khác. Và lâu lâu nổi hứng đi phục vụ bữa ăn cho người vô gia cư thì khácvới cuộc sống của Dorothy Day.

Vì thế câu hỏi là: làm thế nào chúng ta duy trì được nhiệt tình ban đầu, lòng chân thành, năng lượng tình cảm và các quyết tâm tốt ban đầu, vượt qua chán nản, đau lòng, hiểu lầm, mệt mỏi và các cám dỗ mà tất cả chúng ta sẽ trải qua trong cuộc sống, dù đó là đời sống hôn nhân, ơn gọi, đời sống tu sĩ, đời sống cầu nguyện, hay phục vụ cho người khác?

Câu hỏi này tôi vừa đặt ra gần đây cho một nhóm chủng sinh trẻ, tôi chia sẻ với họ tôi vừa kỷ niệm bốn mươi tám năm mục vụ. Các chủng sinh đặt các câu hỏi: Đâu là bí quyết của cha? Làm thế nào cha vượt qua những lúc khó khăn? Làm thế nào cha còn ý hướng tốt, ý chí tốt và năng lượng tốt năm này qua năm khác? Làm thế nào để cha củng cố đời sống cầu nguyện trong hơn bốn mươi, năm mươi năm?

Tôi đã trả lời theo cái nhìn sắc bén của mục sư Dietrich Bonhoeffer, người mà mỗi lần ngài cử hành đám cưới, ngài đều nói với cặp vợ chồng mới cưới: Hôm nay anh chị yêu nhau, anh chị nghĩ rằng tình yêu của mình sẽ duy trì hôn nhân. Nó không thể. Nhưng hôn nhân của anh chị có thể duy trì tình yêu. Tôi cũng đã khuyên các chủng sinh như vậy: đừng tin tưởng vào lòng nhiệt thành và năng lượng tốt hiện tại của mình để duy trì chức linh mục; hãy để chức linh mục duy trì lòng nhiệt thành và năng lượng của mình. Điều gì thách thức ở đây?

Một cam kết thực sự trong đức tin, trong tình yêu hoặc trong phục vụ sẽ là hộp nghi thức, là nhà vòm, như vòm ông Nô-ê sẽ khóa chặt chúng ta. Và sự việc mình bị khóa chặt, chính xác là điều mà sự cam kết hoạt động. Một cách ngây thơ bạn bước vào, bạn nghĩ cảm xúc tốt đẹp và năng lượng tình cảm sẽ nâng đỡ bạn. Chúng sẽ không nâng đỡ được. Không thể nào tránh khỏi, chúng sẽ bị mòn theo thời gian, theo sự quen thuộc, buồn chán, hiểu lầm, mệt mỏi, theo các tổn thương, các ám ảnh mới về cảm xúc cám dỗ bạn. Khi đó làm thế nào bạn có thể duy trì cam kết qua những lúc khô héo? Câu trả lời của tác giả David Brook là câu trả lời hay – bằng cách xây dựng cấu trúc hành vi chính xác cho những lúc này.

Bạn làm điều này như thế nào? Qua nếp cũ, nghi thức và thói quen. Bám neo cam kết của mình trong các thói quen nghi thức đã làm bạn thăng bằng và duy trì bạn vượt ngoài cảm xúc hàng ngày của mình. Bạn bám vào các nghi thức, một số hành vi nghi thức nhất định mà bạn sẽ làm thường xuyên cho dù bạn có cảm thấy như thế nào.

Theo tôi, là linh mục, một số nghi thức đã được ấn định. Là linh mục, bạn phải dâng thánh lễ mỗi ngày như lời cầu nguyện cho thế giới, cho dù bạn cảm thấy như thế nào. Mỗi ngày bạn phải cử hành thánh lễ cho người khác, cho dù có ngày bạn thấy có ý nghĩa hoặc không có ý nghĩa cho cá nhân mình. Bạn phải cầu nguyện riêng mỗi ngày, đặc biệt khi bạn không muốn cầu nguyện. Danh sách còn dài. Các nghi thức cho bạn một cấu trúc và thói quen lành mạnh, và chúng cần thiết cho chức linh mục và cho mọi ơn gọi khác, có những lúc sốt sắng đủ để nâng đỡ bạn; nhưng cũng có những lúc khô héo, cay chua, giận dữ, những lúc tình yêu suy yếu. Khi đó, cấu trúc của hành vi có thể giúp bạn ổn định và nâng đỡ bạn.

Điều này cũng đúng với hôn nhân. Các cặp vợ chồng phải xây dựng cấu trúc hành vi cho những lúc tình yêu suy yếu. Một trong các nghi thức này: vợ chồng cần có một số nghi thức diễn tả tình cảm khi họ chúc nhau ngày tốt lành trước khi đi làm, dù cảm xúc, tình cảm của họ lúc đó như thế nào. Nghi thức, đó là bình chứa, là cái vòm, khóa chặt họ lại, giữ họ với nhau cho đến một mùa tốt hơn và tình cảm tốt hơn trở lại. Nghi thức có thể nâng đỡ tình yêu khi tình yêu suy yếu.

Để hiểu điều này, chúng ta phải cẩn thận với “các bạn của ông Gióp”, nghĩa là phải cẩn thận với các quyển sách, các kinh sư khác nhau về tâm linh, về cầu nguyện, về hôn nhân, làm cho chúng ta có cảm tưởng có một cái gì đó không ổn nếu nhiệt tình và tình cảm của chúng ta không còn là chất keo kết dính để duy trì cam kết trong đời sống hàng ngày. Nói một cách đơn giản, đó là các sách của các tân binh trên con đường tâm linh hay cẩm nang hôn nhân của các tác giả nhầm tuần trăng mật với đời sống hôn nhân. Sự nhiệt tình và cảm xúc tốt là điều tuyệt vời, nhưng chúng không thể nâng đỡ chúng ta trong cuộc chạy đua đường dài. Với cuộc chạy đua đường dài, bạn cần có chiến lược luyện tập lâu dài để đi bộ hàng chục cây số trong lúc đi và ở đoạn cuối.

Loại nhà nào các con muốn xây cho Ta?

Điều gì đúng và điều gì không đúng? Chúng ta đấu tranh rất nhiều về các vấn đề đạo đức, thường là với một biện minh cho mình. Và đa số chúng ta rơi vào tình trạng tự cho mình là đúng mỗi khi tranh luận về tội. Điều gì cấu thành tội và điều gì cấu thành tội trọng? Các phái kitô giáo và các trường phái tư tưởng khác nhau dựa trên nhiều loại lý luận kinh thánh và triết học để cố gắng giải quyết vấn đề này, thường là có các bất đồng gay gắt và tạo ra nhiều tức giận hơn là đồng thuận.

Phần nào đó là chuyện hẳn nhiên, vì các vấn đề đạo đức phải tính đến sự bí ẩn của tự do con người, các hạn chế vốn có trong tình huống ngẫu nhiên và số lượng các tình huống tồn tại khác nhau giữa người này với người kia. Trong bất kỳ tình huống cụ thể nào cũng không dễ dàng phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai, thậm chí còn khó hơn để phân biệt đâu là tội và đâu là không.

Dù không có ý định xúc phạm đến các tiếp cận các vấn đề đạo đức một cách kinh điển của các giáo hội và các nhà tư tưởng đạo đức của chúng ta, tôi nghĩ rằng có một cách tốt hơn để tiếp cận lành mạnh hơn, xét đến tự do, đến các giới hạn của con người và hoàn cảnh hiện sinh đặc biệt của từng cá nhân. Cách tiếp cận không phải của riêng tôi, mà là cách tiếp cận được tiên tri Isaia đưa ra, ngài đưa ra câu hỏi này của Chúa cho chúng ta: Các ngươi sẽ xây cho Ta ngôi nhà nào? (Isaia 66, 1) Câu hỏi này là nền tảng cho tinh thần môn đệ và tất cả các lựa chọn đạo đức của chúng ta.

Các ngươi sẽ xây cho Ta ngôi nhà nào? Giáo dân có đức tin nói chung đã hiểu điều này theo nghĩa đen, và vì vậy từ thời cổ đại cho đến ngày nay, họ đã xây đền thờ, nhà thờ chính tòa, vương cung thánh đường, các đền thánh nguy nga tráng lệ để thể hiện đức tin của họ vào Chúa. Điều đó thật tuyệt vời, nhưng lời mời mà tiên tri Isaia nói, trước hết và quan trọng nhất, là loại ngôi nhà mà chúng ta có ý định xây dựng bên trong lòng mình. Làm thế nào để chúng ta giữ hình ảnh và sự giống Chúa trong cơ thể, trong trí tuệ, trong tình cảm, hành động của chúng ta? Loại “nhà thờ” hay “thánh đường” nào trong con người chúng ta? Đó là câu hỏi sâu hơn về lối sống đạo đức.

Vượt lên trình độ sơ đẳng, việc chúng ta có quyết định về mặt đạo đức không còn được hướng dẫn bởi câu hỏi đúng hay sai, điều này có tội hay không. Thay vào đó, nó nên được hướng dẫn và thúc đẩy bởi một câu hỏi cao hơn: Các ngươi sẽ xây cho Ta ngôi nhà nào? Tôi muốn sống hết nhân tính và tư cách môn đệ của tôi ở mức độ nào? Tôi muốn tự phục vụ bản thân nhiều hơn hay tôi muốn quảng đại hơn? Tôi muốn hèn hạ hay cao quý? Tôi muốn tự thương hại hay có tâm hồn cao thượng? Tôi muốn thực hiện các cam kết của mình hoàn toàn trung thực hay tôi cảm thấy thoải mái khi phản bội người khác và chính tôi một cách ẩn giấu? Tôi muốn nên thánh hay muốn tầm thường?

Ở mức độ trưởng thành trong tư cách môn đệ (và trong sự trưởng thành của con người), câu hỏi không còn đặt ra nữa, điều này có đúng không? Đó không phải là câu hỏi của tình yêu. Câu hỏi của tình yêu là, làm thế nào tôi có thể đi sâu hơn? Tôi có thể sống tình yêu, sự thật, ánh sáng và lòng chung thủy ở mức độ nào?

Tôi xin đơn cử một ví dụ đơn giản dễ hiểu để minh họa điều này. Chúng ta hãy xem vấn đề khiết tịnh tình dục: thủ dâm có sai và tội không? Tôi đã từng nghe một giáo sư đạo đức có quan điểm về điều này, ông phản ánh sự thách thức của tiên tri Isaia. Ở đây, trong một cách diễn đạt, ông đã đưa ra vấn đề: “Tôi không nghĩ việc ngữ cảnh hóa câu hỏi này, cũng như các văn bản thần học đạo đức cổ điển là hữu ích, khi nói rằng đó là một rối loạn nghiêm trọng và tội nghiêm trọng. Tôi cũng không nghĩ sẽ hữu ích khi nói những gì nền văn hóa và phần lớn tâm lý học đương đại đang nói, rằng đó là sự thờ ơ về mặt đạo đức. Tôi nghĩ, một cách hữu ích hơn để tiếp cận vấn đề này là không nhìn nó qua lăng kính của đúng hay sai, tội hay không. Thay vào đó, hãy tự hỏi mình câu hỏi: tôi muốn sống ở mức độ nào? Tôi muốn thực hiện đức khiết tịnh, lòng trung thành và sự trung thực của tôi ở mức độ nào? Vào lúc nào trong cuộc đời, tôi muốn chấp nhận gánh thêm căng thẳng mà trong tư cách môn đệ và nhân tính của tôi đòi hỏi tôi? Tôi muốn trở thành người như thế nào? Tôi muốn trở thành người hoàn toàn minh bạch hay người có những thứ phải che giấu? Tôi có muốn sống trong sự tiết độ hoàn toàn không?” Tôi muốn là “đền thờ” nào? Tôi có thể xây loại nhà nào cho Chúa?

Tôi tin đây là cách lý tưởng mà chúng ta nên có, trước các lựa chọn đạo đức trong cuộc đời. Chắc chắn đây không phải là linh đạo dành cho những người có sự phát triển đạo đức quá kém hoặc bị suy giảm đến mức họ vẫn còn đấu tranh với các đòi hỏi căn bản nhất của Mười Điều Răn. Những người như vậy cần trợ giúp khắc phục và điều trị và đó là một trách vụ khác (dù rất cần thiết).

Và một điểm nữa, sự lựa chọn luân lý này đến với chúng ta, cũng như tất cả các lời mời từ Chúa, như một lời mời, chứ không như một mối đe dọa. Chính qua tình yêu chứ không qua đe dọa mà Chúa mời gọi chúng ta vào đời sống và làm môn đệ, Ngài luôn nhẹ nhàng hỏi chúng ta: loại nhà nào con muốn xây cho Ta?

Ông Hoàng Nói dối

Nhìn vào thế giới của chúng ta ngày nay, điều làm cho tôi lo sợ và lo lắng hơn cả mối đe dọa Covid, hơn cả bất bình đẳng ngày càng tăng giữa người giàu và người nghèo, hơn cả nguy hiểm biến đổi khí hậu, và thậm chí hơn cả sự căm ghét cay đắng hiện đang chia rẽ chúng ta, đó là việc chúng ta mất đi không còn cảm giác nào về sự thật, sự từ chối thẳng thừng của chúng ta đối với bất kỳ sự thật nào mà chúng ta cho là không thuận lợi, cũng như câu cửa miệng của chúng ta về “tin tức giả”, “sự thật dối lừa” và các âm mưu ảo tưởng. Mạng xã hội, với tất cả những gì tốt đẹp nó mang lại, lại tạo ra cơ sở để cho ai cũng có thể nói lên sự thật của riêng mình và sau đó làm xói mòn các sự thật kết nối chúng ta và neo giữ sức khỏe tinh thần chúng ta. Hiện nay chúng ta sống trong một thế giới mà hai cộng hai thường không còn là bốn nữa. Điều này tác động trên sức khỏe tinh thần chúng ta và đã tạo ra một số chuyện điên rồ trong xã hội. Các sự thật neo giữ cuộc sống chung của chúng ta không còn được neo giữ.

Rõ ràng đây là điều xấu, và Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta, Ngài nói với chúng ta Satan là Vua Dối trá tiêu biểu nhất. Nói dối là mối nguy hiểm tối hậu cuối cùng của thiêng liêng, đạo đức và tâm lý. Nó có gốc rễ trong điều Chúa Giêsu gọi là “tội chống Đức Chúa Thánh Thần là tội không thể tha thứ”. Tội này là tội gì và vì sao nó không thể tha thứ?

Đây là bối cảnh Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta về tội này: Ngài vừa trừ quỷ. Các nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó tin như tín điều rằng: chỉ ai đến từ Chúa mới có thể đuổi quỷ. Chúa Giêsu vừa trừ quỷ, nhưng lòng hận thù của họ đối với Ngài làm cho họ xem đây là sự thật khó nuốt trôi. Vì thế để phủ nhận thực tế, họ chọn cách phủ nhận những gì họ biết là đúng. Họ chọn nói dối, khẳng định (dù họ đã biết rõ) Chúa Giêsu đuổi quỷ nhờ quyền lực của Ben-dê-bút. Mới đầu Chúa Giêsu cố gắng vạch ra lập trường phi lô-gích của họ, nhưng họ vẫn ngoan cố. Sau đó Chúa đưa ra lời cảnh báo tội không thể tha thứ là tội chạm đến Chúa Thánh Thần. Lúc đó Ngài không buộc tội họ phạm tội này, nhưng cảnh báo nếu họ đi theo con đường này, nếu họ không sửa đổi thì sẽ dẫn họ đến tội đó. Về bản chất, Ngài đang nói điều này: nếu chúng ta nói dối đủ lâu, cuối cùng chúng ta sẽ tin vào điều đó và điều này làm lương tâm chúng ta bị xói mòn đến mức chúng ta bắt đầu coi sự thật là giả dối và giả dối là sự thật. Tội sau đó trở thành không thể tha thứ vì chúng ta không còn muốn được tha thứ và cũng sẽ không sẵn sàng để nhận tha thứ. Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ nhưng chúng ta không sẵn sàng chấp nhận tha thứ vì chúng ta thấy tội là điều tốt và điều tốt lại thành tội. Thế thì chúng ta muốn được tha thứ để làm gì?

Có thể chúng ta sẽ rơi vào trạng thái này, một trạng thái trong đó chúng ta cho rằng các ơn của Chúa Thánh Thần (bác ái, vui vẻ, hòa bình, nhẫn nại, tốt lành, kiên trì, trung thành, dịu dàng, khiết tịnh) là giả dối, là chống lại sự sống, là sói đội lốt cừu. Và bước đầu để đi đến tình trạng này là nói dối, không chịu thừa nhận sự thật. Các bước tiếp theo cũng là nói dối, có nghĩa là tiếp tục từ chối chấp nhận sự thật để rồi tin lời nói dối của chính mình và chúng ta xem chúng là sự thật và sự thật là dối trá. Nói thẳng, đó là những gì tạo ra địa ngục.

Địa ngục không phải là nơi con người đau buồn, ăn năn và cầu xin Chúa cho thêm cơ hội để sửa đổi mọi thứ cho đúng đắn. Địa ngục cũng không bao giờ là điều bất ngờ tà ác chực chờ người lương thiện. Nếu có ai trong địa ngục, thì là họ ở đó với lòng kiêu ngạo, than phiền những người ở trên thiên đàng, xem thiên đàng là địa ngục, bóng tối là ánh sáng, giả dối là chân lý, xấu xa là tốt, hận thù là tình yêu, thiện cảm là yếu đuối, kiêu ngạo là sức mạnh, sáng suốt là điên rồ, và Chúa là ma quỷ.

Một trong các bài học trọng tâm trong Tin Mừng là: nói dối là nguy hiểm, là tội nguy hiểm nhất trong các tội. Và điều này không chỉ diễn ra trong mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần. Khi nói dối, chúng ta không những chỉ có tác động nhanh và lỏng lẻo với Chúa, chúng ta còn tác động nhanh và lỏng lẻo với chính sức khỏe tinh thần của chúng ta. Sức khỏe tinh thần của chúng ta tùy thuộc vào điều mà thần học cổ điển gọi là “hiệp nhất” của Chúa. Điều này có nghĩa Chúa là nhất quán. Không có mâu thuẫn nào bên trong Thiên Chúa và do đó, thực tế cũng có thể được cho là nhất quán. Sức khỏe tinh thần của chúng ta tùy thuộc vào niềm tin này. Chẳng hạn nếu một ngày mà hai cộng hai không còn là bốn, thì các nền tảng sức khỏe tinh thần của chúng ta sẽ không còn trụ được nữa; chúng ta thực sự sẽ không có gì để neo giữ bản thân nữa. Sức khỏe tinh thần của chúng ta và sức khỏe tinh thần của xã hội tùy thuộc vào sự thật, khi chúng ta thừa nhận sự thật, khi chúng ta nói sự thật, và dựa trên hai cộng hai mãi mãi vẫn là bốn.

Martin Luther đã nói: hãy phạm tội thật táo bạo! Ông muốn nói rất nhiều về điều này, nhưng chắc chắn điều ông muốn nói là mối nguy hiểm tối hậu đối với tinh thần và đạo đức của chúng ta là che đậy yếu điểm của mình bằng cách nói dối, vì Satan là Vua của Dối trá!

Thông điệp Tất cả anh em của Đức Phanxicô

Đức Phanxicô đã công bố Thông điệp Tất cả anh em vào ngày 4 tháng 10, ngày lễ Thánh Phanxicô Assisi, mang tên Fratelli Tutti – Về tình huynh đệ và tình bạn xã hội. Người đọc có thể chán khi đọc vì tính hiện thực nhức nhối của thông điệp, nhưng thông điệp mang một hy vọng kitô giáo lâu dài.

Thông điệp Tất cả anh em đưa ra lý do vì sao có quá nhiều bất công, bất bình đẳng và chia rẽ cộng đồng trong thế giới và cách giải quyết các vấn đề này trong đức tin và trong tình yêu. Mục đích bài này không phải là để tóm gọn thông điệp nhưng để nói lên thông điệp thật can đảm và nói sự thật trước quyền lực. Mục đích cũng để làm nổi bật một số thách thức đặc biệt trong thông điệp.

Trước hết, nó thách thức chúng ta nhìn người nghèo và xem hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội hiện tại đang làm gì cho họ. Khi nhìn vào thế giới chúng ta, qua nhiều khía cạnh, thông điệp cho thấy sự tan vỡ và nêu ra một số lý do để giải thích: toàn cầu hóa tư lợi, toàn cầu hóa sự hời hợt, và lạm dụng phương tiện truyền thông xã hội trong số các việc khác. Điều này tạo nên sự sống còn của những người thích ứng nhất. Và dù tình trạng hiện nay tan vỡ cho mọi người, thì cuối cùng những người nghèo là những người đau khổ nhất. Người giàu ngày càng giàu hơn, người quyền lực ngày càng quyền lực hơn, và người nghèo ngày càng nghèo đi và mất đi quyền lực ít ỏi mà họ có. Có một sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng về sự giàu có và quyền lực giữa người giàu và người nghèo, thế giới chúng ta ngày nay ngày càng vô cảm hơn với hoàn cảnh người nghèo. Ngày nay sự bất bình đẳng được xem là bình thường và đạo đức thường được biện minh nhân danh Chúa và tôn giáo. Người nghèo trở thành đồ vật dùng một lần rồi vứt: “Dường như một vài phần tử trong gia đình nhân loại chúng ta có thể dễ dàng hy sinh vì lợi ích của người khác. Sự giàu có tăng lên, nhưng kèm theo là bất bình đẳng”. Khi nói về bất bình đẳng, thông điệp nhấn mạnh bao lần, đúng là có sự bất bình đẳng này đối với phụ nữ trên toàn thế giới: “Không thể chấp nhận một số người có ít quyền hơn chỉ vì họ là phụ nữ”.

Thông điệp dùng dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu làm ẩn dụ cơ bản. Dụ ngôn so sánh hoàn cảnh chúng ta ngày nay – cá nhân và tập thể – với linh mục và thầy thượng tế trong dụ ngôn, những người vì lý do tôn giáo, xã hội và chính trị khi đi ngang qua người nghèo, bị đánh đập, chảy máu và cần được giúp đỡ. Giống như linh mục và thầy thượng tế trong dụ ngôn, sự thờ ơ và thất bại trong tôn giáo của chúng ta bắt nguồn từ sự mù quáng đạo đức cá nhân cũng như trong các đặc điểm xã hội, tôn giáo của xã hội chúng ta đã góp phần tạo ra sự mù quáng này.

Đứng trước tình trạng toàn cầu hóa, thông điệp tiếp tục cảnh báo chúng ta phải chống lại việc theo chủ nghĩa dân tộc và bộ lạc, chỉ chăm sóc cho bản thân và xem người ngoại lai là ma quỷ. Thông điệp nói, trong thời kỳ cay đắng, hận thù và thù địch, chúng ta phải dịu dàng và nhân ái, luôn nói lên tình yêu chứ không hận thù: “Lòng tốt cần phải được trau dồi; đây không phải là đức tính trưởng giả hời hợt”.

Thông điệp công nhận ngày nay thật khó và phản văn hóa như thế nào khi hy sinh công việc của mình, sự thoải mái và tự do để phục vụ cộng đồng, thông điệp mời gọi chúng ta hy sinh vì điều này: “Tôi đặc biệt muốn nêu lên, tinh thần đoàn kết là một đức tính đạo đức và một thái độ xã hội được sinh ra từ sự hoán cải cá nhân.”

Tại một thời điểm, thông điệp đưa ra một thách thức rất rõ ràng (có tầm vóc sâu rộng). Thông điệp tuyên bố không lập lờ (với cả sức nặng của giáo hội) rằng các tín hữu kitô phải phản đối và bác bỏ án tử hình, phải có lập trường chống chiến tranh: “Thánh Gioan Phaolô II đã tuyên bố rõ ràng và kiên quyết, rằng, trên quan điểm luân lý, án tử hình không thích đáng, và trên quan điểm công lý hình sự, án tử hình không còn cần thiết. Hôm nay chúng tôi tuyên bố rõ ràng, ‘án tử hình là không thể chấp nhận’ và Giáo hội quyết tâm kêu gọi bãi bỏ hình phạt này trên toàn thế giới. Tất cả các tín hữu kitô và những người có thiện chí ngày nay được kêu gọi làm việc không chỉ để xóa bỏ án tử hình, dù hợp pháp hay bất hợp pháp, dưới mọi hình thức, mà còn làm việc để cải thiện điều kiện sinh sống trong nhà tù.”

Còn với chiến tranh: “Chúng ta không còn có thể nghĩ chiến tranh như một giải pháp, vì các rủi ro của nó có lẽ sẽ luôn lớn hơn các lợi ích được cho là của nó. Theo quan điểm này, ngày nay rất khó viện dẫn các tiêu chuẩn hợp lý được dựng lên trong các thế kỷ trước để nói về khả năng của một “chiến tranh chính nghĩa.”

Thông điệp cũng gây ra một số chỉ trích mạnh mẽ của một vài nhóm phụ nữ cho rằng thông điệp “phân biệt giới tính”, dù lời chỉ trích này gần như chỉ dựa trên tiêu đề của thông điệp và thực tế là thông điệp không hề viện dẫn tác giả nữ nào. Tôi nghĩ các lời chỉ trích liên quan đến việc lựa chọn tựa đề cũng đúng. Tựa đề dù rất đẹp trong ngôn ngữ cổ điển, nhưng cuối cùng lại là nam tính. Điều này có thể tha thứ, nhưng tôi đã sống ở Rôma đủ lâu để hiểu sự vô cảm thường xuyên của Rôma với ngôn ngữ hòa nhập là một bỏ quên không phải là vô tội. Nhưng lỗi ở đây chỉ như vết muỗi chích, một chuyện nhỏ, không thể làm hại cho chuyện lớn, cụ thể đây là thông điệp mang tính ngôn sứ, đặt công lý và người nghèo ở trọng tâm.

Linh đạo và nửa sau của cuộc đời

Một kích thước thì sẽ không phù hợp cho tất cả mọi người. Điều này không những chỉ đúng với quần áo mà còn đúng với linh đạo. Các thách thức trong đời sống chúng ta thay đổi theo tuổi đời. Linh đạo không phải lúc nào cũng hoàn toàn tinh tế với vấn đề này. Dĩ nhiên chúng ta luôn có các chỉ dẫn và sinh hoạt thích ứng với trẻ em, với người trẻ, với các cha mẹ nuôi dạy con, với người người đang làm việc, đang trả nợ ngân hàng nhưng chúng ta chưa bao giờ triển khai linh đạo cho những người đã hoàn thành các việc này.

Vì sao lại cần? Chúa Giêsu dường như không làm. Ngài không có bộ giáo lý nào dành riêng cho người trẻ, cho người trung niên, cho người lớn tuổi. Ngài chỉ giảng dạy. Bài giảng trên núi, các dụ ngôn và lời Ngài kêu gọi mọi người vác thập giá theo Ngài, một mục đích giống nhau cho tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác. Nhưng chúng ta nghe các lời dạy này vào những lúc khác nhau trong cuộc đời; chúng ta nghe Bài giảng trên núi lúc bảy tuổi khác lúc chúng ta nghe khi hai mươi bảy tuổi và khi tám mươi bảy tuổi. Lời Chúa Giêsu dạy không thay đổi, nhưng chúng ta thay đổi, và các lời dạy này đưa ra các thách thức cụ thể ở các thời điểm khác nhau trong cuộc đời chúng ta.

Chung chung linh đạo kitô ghi nhớ điều này, trừ một ngoại lệ. Ngoại trừ Chúa Giêsu và các nhà thần nghiệm không chuyên (những người không dành trọn đời hay một thời gian dài như một nhà linh đạo, họ chỉ ngẫu nhiên hoặc một giai đoạn rất ngắn sống như nhà thần nghiệm), đã không phát triển một linh đạo rõ ràng cho những năm cuối đời của chúng ta, chúng ta nên sinh sôi như thế nào trong những năm tuổi già và làm sao để có một cái chết đem lại sự sống. Nhưng có một lý do cho sự thiếu sót này. Đơn giản mà nói, nó không cần thiết vì cho đến cuối thế kỷ trước, đa số người dân chưa bao giờ sống đến tuổi già. Ví dụ, ở Palestina vào thời Chúa Giêsu, tuổi thọ trung bình chỉ ba mươi đến ba mươi lăm năm. Cách đây một thế kỷ, tuổi thọ ở Mỹ vẫn chưa đầy năm mươi. Khi hầu hết mọi người trên thế giới qua đời trước khi họ bước vào tuổi năm mươi, thực sự không cần thiết phải có một linh đạo cho người lớn tuổi.

Nhưng có một linh đạo như thế bên trong Tin Mừng. Mặc dù chết ở tuổi ba mươi ba, nhưng Chúa Giêsu vẫn để lại cho chúng ta khuôn mẫu về cách già đi và cách chết. Nhưng mô hình này, dù thấm đậm và nâng đỡ lành mạnh cho linh đạo kitô chung chung lại chưa hề được phát triển cụ thể thành một linh đạo cho lão hóa (ngoại trừ một số nhà thần nghiệm kitô giáo vĩ đại).

Sau Chúa Giêsu, các Giáo phụ, Giáo mẫu trong sa mạc đã đặt lại vấn đề về cách già đi và về cái chết, họ đã đưa vào khuôn khổ chung trong linh đạo của họ. Theo các Giáo phụ, linh đạo là việc đi tìm để “thấy khuôn mặt của Chúa” và điều này, như Chúa Giêsu đã nói rõ, đòi hỏi chỉ một điều, thanh tẩy tâm hồn. Vì vậy, theo các Giáo phụ, dù ở tuổi nào thách thức vẫn giống nhau, cố gắng làm sao để có được tâm hồn tinh tuyền. Sau đó, đến thời các cuộc bách hại và các vị tử đạo kitô giáo đầu tiên, một ý tưởng được phát triển, cách lý tưởng để già đi và chết là tử đạo. Sau đó, khi tín hữu kitô không còn tử đạo về thể xác thì có ý tưởng cho rằng, chúng ta có thể tự nguyện hy sinh bằng cách sống theo lời khuyên của Tin Mừng, sống khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời. Họ nghĩ rằng sống như vậy, cũng như việc đi tìm để tâm hồn được tinh tuyền, sẽ dạy cho chúng ta tất cả những gì chúng ta cần, ở bất cứ độ tuổi nào. Cuối cùng, điều này được mở rộng, có nghĩa là bất cứ ai trung thành làm bổn phận đời mình, dù ở tuổi nào sẽ học được mọi thứ cần thiết để trở nên thánh thiện nhờ lòng trung thành này. Như câu châm ngôn nổi tiếng đã nói: Hãy ở trong tịnh cốc của bạn, bạn sẽ học được tất cả những gì bạn cần biết. Hiểu một cách chính xác, đây là linh đạo của lão hóa và của cái chết bên trong các khái niệm này, nhưng cho đến gần đây, không cần giải thích nhiều để hiểu một cách rõ ràng hơn.

May thay, tình trạng này ngày nay đã tiến triển, chúng ta ngày càng phát triển các linh đạo rõ ràng về lão hóa và cái chết. Có lẽ điều này nói lên hiện trạng dân số đã già đi, và bây giờ có phong trào văn học đang phát triển, cả tôn giáo và thế tục, đặt ra câu hỏi về lão hóa và về cái chết. Các tác giả này quá nhiều để không thể nêu hết, nhưng có nhiều tác giả đã quen thuộc với chúng ta: Henri Nouwen, Richard Rohr, Kathleen Dowling Singh, David Brooks, Hồng y Bernardin, Michael Paul Gallagher, Joan Chittister, Parker Palmer, Marilyn Chandler McEntyre, Paul Kalanithi, Erica Jong, Kathie Roiphe, và Wilkie và Noreeen Au. Ở trên nhiều quan điểm khác nhau, mỗi người đều có cái nhìn về Chúa và thiên nhiên, và họ nói với chúng ta trong những năm gần đây.

Về bản chất, đây là vấn đề: ngày nay, càng ngày chúng ta càng sống thọ và có sức khỏe khi về già. Thường chúng ta nghỉ hưu vào khoảng đầu những năm sáu mươi sau khi đã nuôi dạy con cái, nghỉ việc và trả xong nợ ngân hàng. Vậy giai đoạn tiếp là gì, nếu chúng ta có thể sống hai hoặc ba mươi năm nữa, sức khỏe vẫn còn tốt và còn năng lượng? Những năm này để làm gì? Bây giờ chúng ta được gọi để làm gì, ngoài việc yêu thương con cháu mình? Ông Abraham và bà Sarah được mời lên đường đến vùng đất mới và mang thai một đứa trẻ đã từ rất lâu họ không thể có. Đó cũng là lời kêu gọi chúng ta. Chúng ta được kêu gọi sinh ra “Isaac” nào trong những năm cuối đời? Chúng ta cần được hướng dẫn.

Bộ mặt ẩn giấu của cái ác

Chúng ta thường có suy nghĩ ngây ngô về cái ác, ít nhất là với những gì nó trông như thế nào trong đời sống hàng ngày. Hình ảnh chúng ta có về cái ác thường được cấu thành một cách giả tạo, lấy từ các chuyện thần thoại, tín ngưỡng tôn giáo, từ sách vở phim ảnh mô tả cái ác nhân cách hóa trong các thế lực thần linh nham hiểm. Các con quỷ ám trong các căn nhà, ở các lễ hội, ở các tấm ván cầu cơ triệu hồi về với cơ thể vặn vẹo và bị nước thánh xua đuổi. Tất cả cái ác ở bên trong khái niệm của lực ma quỷ này (và chúng ta có thể tin vào đó hay không) đều vô cùng lu mờ trước cái ác chúng ta xem trong các bản tin hàng ngày, trong đời sống bình thường và biểu hiện ngay cả trong chính chúng ta một lúc nào đó.

Phần lớn chúng ta mù quáng trước cái ác tiềm ẩn đang rình rập bên trong chúng ta, chia rẽ các cộng đồng, ăn mòn Chúa và ăn mòn lòng tốt. Các Tin Mừng có thể giúp chúng ta hiểu điều này.

Trong các Tin Mừng, cái ác có hai tên vì cái ác hành động theo hai cách. Đôi khi các Tin Mừng gọi thế lực ma quỷ là “Ma quỷ” và ở các lần khác thì lại gọi là “Satan”. Vậy có gì khác biệt ở đây? Dù sao thì rốt cùng cả hai đều ám chỉ cùng một lực (hoặc một người) nhưng dưới hai tên gọi để chỉ cách thức hoạt động khác nhau của cái ác. Trong tiếng Hy Lạp, ma quỷ có nghĩa là vu khống và xé nát mọi thứ. Nhưng trớ trêu thay, Satan lại có nghĩa gần như hoàn toàn ngược lại. Nó có nghĩa là hợp nhất mọi thứ, nhưng theo một cách bệnh hoạn và ác độc.

Như thế cái ác hoạt động theo hai cách: ma quỷ hoạt động trong chúng ta bằng cách chia rẽ chúng ta, và chúng ta có thói quen vu khống lẫn nhau để cộng đồng mãi mãi bị chia rẽ do ghen tị và buộc tội. Còn satan thì làm ngược lại nhưng với kết quả tương tự. Satan kết hợp chúng ta theo một cách bệnh hoạn, có nghĩa là dưới tác động cuồng loạn của đám đông, dưới hình thức đấu đá truyền thông xã hội, các ý thức hệ ích kỷ, kỳ thị chủng tộc, phân biệt giới tính, ghen tị, hận thù và bằng vô số cách ác độc khác để lôi kéo chúng ta vào đám đông – hận thù, cưỡng hiếp tập thể, hành hung và đóng đinh. Đó là lực satan đã đóng đinh Chúa Giêsu.

Khi chúng ta nhìn thế giới ngày nay, từ chính trị đến mạng xã hội, đến những gì đang xảy ra bên trong khuôn viên tôn giáo, chúng ta phải mù mới không thấy sức mạnh của “quỷ” và của “satan” đang làm việc (dù bạn định nghĩa như thế nào và hình dung những loại này như thế nào).

Chúng ta thấy quỷ làm việc ở đâu? Chung chung là khắp mọi nơi. Ngày nay, gần như đâu đâu chúng ta cũng thấy có những người gây chia rẽ, họ gán các động lực sai cho người khác, họ gieo ngờ vực và tẩy chay. Thật vậy, đây gần như là yếu tố nổi trội chúng ta thấy trong chính trị và trên mạng xã hội. Kết quả là sự tan vỡ cộng đoàn, sự bế tắc trong đường lối chính trị, sự phá vỡ nền văn minh, sự mất tin tưởng vào ý nghĩa của sự thật, niềm tin tự mãn, nhưng đặc biệt là câu khẩu hiệu đặc trưng của chúng ta hoạt động như thật, và gần như quên đi đức ái phổ quát. Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự tan vỡ nguy hiểm của lòng tin và phép lịch sự, đức tính thẳng thắn đơn thuần bị xói mòn. Con quỷ chắc đang mỉm cười.

Chúng ta thấy satan làm việc ở đâu? Cũng mọi nơi. Càng ngày chúng ta càng co mình vào các bộ tộc, các băng nhóm, với những người nghĩ giống chúng ta và có cùng lợi ích phải bảo vệ. Dù điều này có thể là điều tốt, nhưng nó sẽ không tốt khi chúng ta kết hợp với nhau, bám rễ trong các ý thức hệ theo lợi nhuận, theo các đặc quyền kinh tế, phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, chủ nghĩa dân tộc sai lầm, tham lam và thù hận. Khi điều này xảy ra, nhóm của chúng ta không còn là một cộng đồng, thay vào đó nhóm chúng ta trở thành đám đông, trở thành kẻ bệnh hoạn, mà cuối ngày, dù khẩu hiệu có riêng biệt như thế nào thì cũng kết thúc như đám đông ngày Thứ Sáu Tuần Thánh đã hô vang: “Đóng đinh! Đóng đinh nó vào thập giá!” Điều đáng kể là trong các Tin Mừng, chữ “đám đông” dùng khi nào mang một ý nghĩa xấu. Các nhà chú giải đều nói với chúng ta, hầu như không có ngoại lệ, mỗi khi chữ “đám đông” xuất hiện trong Tin Mừng, nó có thể được đặt trước tính từ “thiếu suy xét”. Đám đông là thiếu suy xét, còn tệ hơn, nó thường có khuynh hướng bệnh hoạn nghiêng về đóng đinh. Tiểu thuyết gia nổi tiếng người Séc Milan Kundera nhấn mạnh điều này khi ông chia sẻ nỗi sợ hãi to lớn của ông về “cuộc tuần hành vĩ đại”, cơn sốt bệnh hoạn làm lây nhiễm đám đông và chẳng bao lâu sau, họ hô vàng: “Thả Ba-ra-ba cho chúng tôi, còn đối với Chúa Giêsu thì giết nó đi, đóng đinh nó vào thập giá!” Đây là bộ mặt của satan trong đời sống bình thường, bộ mặt thực của cái ác.

Ngày nay chúng ta cần đặt tên cho điều này khi chúng ta thấy sự phân cực ngày càng mãnh liệt và cay đắng bên trong gia đình, cộng đồng, khu phố, thành phố và quốc gia chúng ta. Chủ nghĩa bè phái, giận dữ, cay đắng, ngờ vực, buộc tội và hận thù đang gia tăng ở hầu hết mọi nơi, ngay cả trong chính gia đình chúng ta, nơi chúng ta ngày càng cảm thấy khó ngồi lại với nhau, cư xử lịch sự với nhau khi nói chuyện về các vấn đề chính trị, xã hội và các khác biệt về giá trị đạo đức. Đáng buồn thay, ngay cả đại dịch chết người đe dọa toàn thế giới, chúng ta lại có khuynh hướng chia rẽ thay vì đoàn kết.

Cái ác thường không có khuôn mặt và cảm giác của ác quỷ như trong phim kinh dị Rosemary’s Baby; nó có bộ mặt và cảm giác của bản tin cuối ngày.

Chúa hạnh phúc

Kitô giáo, Do thái giáo và Hồi giáo cuối cùng đều tin cùng một Thượng đế. Điều thú vị là, trong tâm trí bình dân, tất cả đều có khuynh hướng quan niệm Chúa theo cùng một cách, cụ thể là nam giới, sống độc thân và đặc biệt không hạnh phúc.

Chắc chắn giới tính của Chúa là điều chúng ta không bao giờ khái niệm được. Thượng đế không đàn ông cũng không đàn bà, cũng không phối hợp nam tính nữ tính của giới tính. Vì thế làm sao chúng ta có một khái niệm về giới tính của Thượng đế được? Chúng ta không thể, thuần túy và đơn giản. Theo kiểu cổ điển, chúng ta nói Thượng đế là nam giới, dù chúng ta biết điều này hoàn toàn không đúng, vì về mặt giáo điều chúng ta khẳng định, Thiên Chúa là khó tả nên lời, không bao giờ có thể đặt Ngài trong một khái niệm nào được. Điều này cũng áp dụng cho quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa độc thân, không có vợ. Kết hợp nam tính và nữ tính nơi Chúa cũng không thể tả nên lời được, không thể nhận thức nhưng chúng ta biết Chúa không chỉ đơn giản là một đấng nam nhi độc thân.

Nhưng còn quan niệm phổ biến khác, cụ thể là Chúa đặc biệt không hạnh phúc, nhất là với chúng ta?

Ở đây chúng ta có một câu trả lời rõ ràng: Chúa hạnh phúc. Làm thế nào Chúa không thể hạnh phúc? Nếu Chúa là Đấng trọn hảo duy nhất, trọn hảo lòng lành, chân lý trọn vẹn, đẹp toàn mỹ, viên mãn trọn vẹn về mọi mặt, thì làm sao Chúa lại không thể hạnh phúc trọn vẹn được? Một Chúa không hạnh phúc sẽ không phải là Chúa vì như vậy Chúa không có quyền năng để làm cho mình hạnh phúc trọn vẹn được sao. Không có một bất cập nhỏ nào với Chúa. Vì thế một Thượng đế hoàn hảo cũng là một Thượng đế hoàn toàn hạnh phúc. Nhưng đó là lời tuyên bố siêu hình. Chúng ta vẫn có thể hỏi, Chúa có hạnh phúc về mặt tình cảm và Chúa có hạnh phúc với chúng ta không? Hẳn đôi khi Chúa cũng phải nhíu mày và lắc đầu thất vọng trước hành vi của chúng ta đó sao? Chắc chắn Chúa không thể hài lòng với rất nhiều điều đang xảy ra trong thế giới. Chúa không thể hạnh phúc trước tội lỗi.

Và cũng giống như mọi điều khác về Chúa, có những điều ở đây chúng ta không thể hiểu được. Tuy nhiên, cần phải khẳng định điều này, cả từ điều sâu sắc nhất được mặc khải trong Sách Thánh và trong chứng từ của vô số người tốt: Chúa hạnh phúc! Chúa không quen thất vọng về chúng ta, không nhíu mày trước các yếu đuối của chúng ta và đưa đa số chúng ta xuống địa ngục. Nhưng ngược lại, Chúa như cha mẹ yêu thương đứa con bé bỏng của mình, Chúa luôn hướng chúng ta đi về phía trước, vui với năng lượng của chúng ta, muốn chúng ta thăng tiến, buồn khi chúng ta cư xử không tốt với người khác và với chính chúng ta, nhưng Ngài thông cảm yếu đuối của chúng ta hơn là tức giận và không hạnh phúc.

Nhà thần nghiệm danh tiếng Julian de Norwich mô tả Chúa theo cách này: Chúa ở trên thiên đàng, mỉm cười, hoàn toàn thoải mái, gương mặt giống như bản giao hưởng kỳ diệu. Cách đây vài năm khi đọc đoạn này lần đầu tiên, tôi đã sửng sốt vừa về khái niệm Chúa mỉm cười vừa hình ảnh Chúa “thoải mái”. Tôi chưa bao giờ nghĩ Chúa “thoải mái”. Với tất cả những gì xảy ra trong thế giới, và chắc chắn với tất cả các phản bội lớn nhỏ trong cuộc sống chúng ta, Chúa hẳn căng thẳng, thất vọng và lo lắng. Hình dung Chúa đang cười (ít nhất là đôi khi) thì khó nhưng còn dễ hơn, nhưng cực kỳ khó để hình dung Chúa thoải mái, không căng thẳng về tất cả những gì không ổn với chúng ta và thế giới chúng ta.

Và đây là hành trình của tôi trong việc đấu tranh với điều này. Tôi đã được ân phước vô cùng trong môi trường tôn giáo của tôi. Từ cha mẹ và gia đình, từ cộng đoàn giáo xứ tôi lớn lên, từ các nữ tu Dòng Ursuline đã dạy tôi ở trường, quý vị không thể nào có một một môi trường đức tin lý tưởng hơn. Tôi đã trải nghiệm đức tin và đời sống tu trì trong đời sống thực, và nó đã mang đến lòng tin tưởng cho tôi và trở nên hấp dẫn. Việc đào tạo ở chủng viện và nghiên cứu thần học của tôi đã củng cố mạnh mẽ cho điều này. Nhưng, trong suốt quá trình, bên dưới vẫn có bức tranh của một vị thần không được hạnh phúc cho lắm và người chỉ mỉm cười trong trường hợp xứng đáng và điều này cũng không thường xuyên cho lắm. Hậu quả là trong đời sống của tôi luôn có khuynh hướng lo âu để ở tầm cao, để khá tốt, để không làm Chúa buồn và để được Chúa chấp thuận và yêu mến. Nhưng chắc chắn, chúng ta không bao giờ có thể đủ tốt, không bao giờ ở tầm cao và vì thế, thật tự nhiên khi chúng ta nghĩ Chúa chẳng bao giờ thực sự hài lòng với chúng ta và Ngài cũng không bao giờ thực sự hạnh phúc.

Dĩ nhiên về lý thuyết chúng ta biết rõ hơn. Chúng ta thường có khái niệm lành mạnh hơn về Chúa; nhưng trái tim không dễ dàng để ở bên cạnh. Thật khó để tôi cảm nhận trong tôi Chúa hạnh phúc, hạnh phúc với chúng ta, hạnh phúc với tôi. Tôi đã mất bảy mươi năm để nhận ra, chấp nhận, an ủi và cuối cùng đắm mình trong sự thật, rằng Chúa hạnh phúc. Tôi không chắc điều gì đã khơi trong tôi tất cả yếu tố thúc đẩy bên trong giúp tôi thay đổi, nhưng thực tế, bây giờ mỗi khi tôi cầu nguyện hết lòng, trần trụi và chân thành, tôi cảm nhận Chúa hạnh phúc. Và đó cũng là điều xảy đến với tôi khi tôi nhìn các vị thánh trong cuộc đời tôi, các thánh nam nữ tôi tôn kính nhất trong đức tin, những người phản ánh khuôn mặt của Chúa cho tôi. Họ vui vẻ, thoải mái và ít khi nhíu mày vì không hài lòng.

Vượt lên các sai lầm và điểm yếu

Điều có thể bào chữa thì không cần được bào chữa và điều không thể bào chữa thì không thể bào chữa được.

Tác giả Michael Buckley đã viết những lời này và đó là cả một thách thức quan trọng. Chúng ta luôn biện minh cho những chuyện mà chúng ta không cần phải biện minh và luôn cố gắng bào chữa cho những chuyện không bào chữa được. Chuyện này chuyện kia đều không cần thiết, cũng chẳng ích lợi gì.

Chúng ta có thể học bài học này từ cách Chúa Giêsu đối xử với những người phản bội Ngài. Ví dụ điển hình là với Thánh Phêrô, người được Chúa chọn đặc biệt và được Chúa đặt là hòn đá tảng của cộng đoàn tông đồ. Thánh Phêrô là người trung thực, với tấm lòng chân thành như trẻ thơ, ngài có đức tin sâu đậm, và hơn người khác, ngài hiểu được ý nghĩa sâu xa Chúa Giêsu là ai và ý nghĩa giáo huấn của Chúa Giêsu. Đúng vậy, khi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ (còn các anh, các anh nói tôi là ai?), Thánh Phêrô trả lời: “Ngài là Đấng Kitô, con Thiên Chúa, Đấng Hằng Sống.” Nhưng vài phút sau lời tuyên xưng đó, Chúa Giêsu đã phải sửa lại quan niệm sai lầm của Thánh Phêrô về ý nghĩa của điều này, và Ngài đã quở trách ông vì ông muốn làm chệch hướng chính sứ mệnh của Ngài. Nghiêm trọng hơn, chính Thánh Phêrô trong giây phút huyênh hoang đã nói, dù ai phản bội Chúa Giêsu, nhưng ông thì không, vậy mà ông đã chối Chúa ba lần trong giây phút khó khăn nhất của Chúa Giêsu.

Sau đó, chúng ta biết cuộc trao đổi của Chúa Giêsu với Thánh Phêrô về chuyện phản bội này. Điều quan trọng là Chúa Giêsu không đòi hỏi Thánh Phêrô phải giải thích, phải xin lỗi và cũng không nói những câu đại loại như: “Anh thực sự không phải là chính anh! Tôi hiểu ai ở trong tình trạng này sẽ rất hãi sợ! Tôi hiểu nỗi sợ hãi có thể làm cho anh làm như vậy!” Không có những lời này. Điều có thể bào chữa thì không cần được bào chữa và điều không thể bào chữa thì không thể bào chữa được. Trong sự phản bội của Thánh Phêrô, cũng như trong sự phản bội của chính chúng ta, khi nào cũng có hai khía cạnh này, có thể bào chữa và không thể bào chữa.

Vậy Chúa Giêsu làm gì với Thánh Phêrô? Ngài không đòi Thánh Phêrô phải giải thích, cũng không đòi phải xin lỗi, cũng không nói… không sao, không bào chữa cho Phêrô, cũng không nói mình yêu thương Thánh Phêrô. Thay vào đó, ngài hỏi: “Con có yêu Thầy không?” và tất cả mọi sự tiến đến đàng trước từ đó.

Mọi sự tiến đến đàng trước từ đó. Mọi thứ đều có thể tiến lên sau lời thú nhận yêu thương, nhất là lời thú nhận yêu thương sau khi phản bội. Lời xin lỗi là cần thiết (vì đó là nhận lỗi lầm và điểm yếu để vực tâm hồn của người bị phản bội lên, nhưng lời xin lỗi không hữu ích. Nếu hành động đó không phải là phản bội, thì không cần bào chữa; nếu là phản bội thì không lời xin lỗi nào có thể tha thứ được. Một lời xin lỗi hay một cố gắng xin lỗi để nhắm đến hai mục đích đều không có cái nào tốt. Đầu tiên, nó dùng để hợp lý hóa và biện minh, không cái nào hữu ích cho kẻ phản bội hay người bị phản bội. Điều thứ hai, nó làm suy yếu lời xin lỗi và làm cho lời xin lỗi trở nên không tinh sạch và trọn vẹn, do đó không thể xóa bỏ hoàn toàn sự phản bội khỏi tâm hồn người đã bị phản bội; và vì thế, đây không phải là lời nói thể hiện tình yêu cũng hữu ích như sự công nhận rõ ràng, trung thực về sự phản bội của chúng ta và một lời xin lỗi không cố gắng bào chữa cho sự yếu đuối và phản bội của mình.

Điều mà tình yêu đòi hỏi khi chúng ta yếu đuối là chân thành thừa nhận, không bào chữa lý luận về sự yếu đuối của mình, đồng thời thốt lên lời nói từ trái tim: “Tôi yêu bạn!” Mọi sự có thể tiến lên từ đó. Quá khứ và sự phản bội của chúng ta không được xóa bỏ, cũng không được bào chữa; nhưng, trong tình yêu, chúng ta có thể sống vượt lên chúng. Xoá bỏ, bào chữa hoặc hợp lý hoá là không sống trong sự thật; thật không công bằng cho người bị phản bội vì người đó phải gánh các vết sẹo và hậu quả.

Chỉ có tình yêu mới giúp chúng ta vượt lên yếu đuối và phản bội và đó là nguyên tắc quan trọng không chỉ đối với các trường hợp trong cuộc sống khi chúng ta phản bội và làm tổn thương người thân yêu, mà còn với sự thông hiểu của chúng ta về cuộc sống nói chung. Chúng ta là con người, chúng ta không phải là thần thánh, và do bẩm sinh, vì thế cơ thể tâm trí chúng ta bị dày vò với các yếu đuối và bất cập thuộc đủ mọi loại. Như Thánh Phaolô đã nói trong thư gởi tín hữu Rôma, không bao giờ chúng ta đủ tốt. Điều tốt chúng ta muốn làm thì chúng ta không làm, điều xấu chúng ta không muốn làm thì chúng ta lại làm. Dĩ nhiên một số điều này có thể hiểu được, có thể bào chữa được, cũng như một số điều là không thể bào chữa, vì chúng ta là người và một phần điều này đã là một bí ẩn cho chính chúng ta. Dù sao đến tận cùng, không có lời biện minh hay lời bào chữa nào là cần thiết (hoặc hữu ích). Chúng ta không tiến về phía trước trong quan hệ với Chúa hoặc với người bị chúng ta làm tổn thương mà nói: “Bạn phải hiểu! Trong hoàn cảnh này, tôi làm gì khác được? Tôi không muốn làm bạn tổn thương, chỉ là tôi quá yếu đuối để chống lại!” Những câu này không hữu ích, cũng không cần thiết. Mọi thứ tiến lên khi chúng ta, không bào chữa, chúng ta chấp nhận sự yếu đuối và chúng ta xin lỗi vì đã phản bội. Giống như Thánh Phêrô, khi Chúa Giêsu hỏi ông ba lần: “Con có yêu Thầy không?” từ trong trái tim, chúng ta phải nói: “Chúa đã biết tất cả, Chúa đã biết con yêu Chúa như thế nào.”

Kinh nghiệm thần nghiệm và đời sống hàng ngày của chúng ta

Đâu là những điều giúp chúng ta có được trải nghiệm thần nghiệm trong đời sống? Gần đây có người hỏi tôi câu hỏi này và tôi đã trả lời ngay lập tức và không suy nghĩ: Tất cả những gì làm bạn rơi nước mắt, dù đó là nỗi buồn có thật, niềm vui có thật, nhưng câu trả lời này dựa trên nhiều chuyện.

Thế nào là thần nghiệm? Điều gì làm nên trải nghiệm thần nghiệm?

Trong đầu óc người bình dân, chữ thần nghiệm không được hiểu đúng. Chúng ta thường có khuynh hướng xem thuyết thần nghiệm đồng nghĩa với cái gì phi thường và huyền nghiệm, và cũng xem đó như một cái gì dành cho giới tinh hoa tâm linh. Với đa số, thần nghiệm có nghĩa là tầm nhìn thiêng liêng và trải nghiệm xuất thần đưa chúng ta ra khỏi ý thức bình thường.

Đôi khi thần nghiệm có thể là các trạng thái ý thức thay đổi hoặc trạng thái xuất thần, dù bình thường nó không liên quan gì đến thị kiến. Đúng hơn là nó liên quan đến một tâm trí và một trái tim sáng tỏ vô cùng. Các kinh nghiệm thần nghiệm thường là các kinh nghiệm cắt xuyên qua những thứ thường chận không cho chúng ta chạm vào tận sâu thẳm lòng mình, và chúng rất hiếm bởi vì thông thường ý thức của chúng ta bị cắt đứt khỏi bản thể sâu đậm của chúng ta, đích thực và trinh nguyên, không bị ảnh hưởng của bản ngã, tổn thương, lịch sử, xã hội, áp lực, ý thức hệ, nỗi sợ sai lầm, và tất cả những ảnh hưởng khác nhau mà chúng ta mắc phải và trút bỏ như trút bỏ quần áo. Hiếm khi chúng ta tiếp xúc với nơi sâu thẳm nhất của mình, không bộ lọc, thuần túy; nhưng khi chúng ta tiếp xúc được thì đó là một trải nghiệm thần nghiệm.

Nữ tu Dòng Kín Ruth Burrows định nghĩa thần nghiệm là được Chúa chạm đến một cách vượt quá lời nói, trí tưởng tượng và cảm giác. Thiên Chúa như chúng ta biết, là Duy Nhất, Chân, Thiện, Mỹ. Vì vậy, bất cứ khi nào chúng ta thực sự cảm động trước sự duy nhất, chân, thiện, mỹ mà không có điều gì làm sai lệch nó thì chúng ta sống trải nghiệm thần nghiệm. Nó giống như thế nào?

Nữ tu Ruth Burrows kể, trải nghiệm thần nghiệm đã làm đời của sơ thay đổi hoàn toàn khi sơ mười tám tuổi, học sinh lớp cuối của trường nữ trung học tư thục do một nhà dòng nữ điều hành. Sơ tĩnh tâm để chuẩn bị thi tú tài và chưa trưởng thành mấy. Sơ và một trong các bạn không xem tuần tĩnh tâm này nghiêm túc, hai người chuyền thư tay cho nhau và chơi đùa trong kỳ tĩnh tâm. Đến một lúc, các trò hề của họ làm phiền nhóm, các nữ tu phải kéo họ ra khỏi phòng, bắt họ ngồi im lặng trong một nhà nguyện do một giáo viên hướng dẫn, mỗi khi lớp có buổi nói chuyện. Sơ Burrows thú nhận, lúc đầu họ tiếp tục đùa giỡn, nhưng thời gian thì dài và và cuối cùng im lặng làm họ mệt sức. Ngồi một mình, buồn chán, bứt rứt, một trải nghiệm thần nghiệm ập đến, không mời mà đến và rất bất ngờ. Và nó đến không như một thị kiến hay ở trong trạng thái xuất thần nhưng cảm nhận như một thấu suốt đau nhói. Vào một lúc, sơ ngồi một mình, sơ nhìn thấy bản thân mình với một sự rõ ràng tuyệt đối về con người thật của sơ, trong sự non nớt và trong tất cả lòng tốt của mình. Điều này đã thay đổi cuộc đời của sơ. Từ đó sơ biết mình là ai – vượt lên bản ngã, tổn thương, vượt lên sự non nớt, áp lực từ bạn bè, ý thức hệ và tất cả mọi ảnh hưởng. Trong khoảnh khắc đó, sơ biết được bản thân sâu thẳm nhất của mình (và điều phi thường nhất là sự trong sáng đến lạ thường của nó).

Vậy, những chuyện gì có thể tạo ra các trải nghiệm thần nghiệm trong cuộc sống chúng ta? Câu trả lời ngắn gọn: bất cứ chuyện gì làm chúng ta vượt lên bản ngã, các tổn thương, các ảnh hưởng, các áp lực xã hội mạnh mẽ mà chúng ta phải chịu, có nghĩa là bất cứ điều giúp chúng ta tiếp xúc với con người thật của mình và làm cho chúng ta muốn trở thành người tốt hơn. Và đây có thể là nhiều thứ. Nó có thể là một quyển sách chúng ta đọc; có thể là một phong cảnh thiên nhiên; có thể là khi nhìn một em bé sơ sinh, một em bé đang khóc, một con vật bị thương, gương mặt của một người đang đau khổ; hoặc có thể khi chúng ta cảm nhận trong sâu thẳm lời bày tỏ tình thương, lời chúc lành, lời ăn năn chân thật hoặc chia sẻ sự bất lực của mình. Nó có thể là rất nhiều thứ.

Cách đây vài năm, khi tôi đi dạy, tôi kể cho sinh viên một số sách để đọc, trong số đó có quyển sách của tác giả Christopher de Vinck, Chỉ có trái tim mới biết làm sao để tìm thấy – Những kỷ niệm quý giá cho thời gian không có đức tin (Only the Heart Knows How to Find them – Precious Memories for Faithless Time). Đây là một loạt các bài tiểu luận tự truyện, trong đó tác giả De Vinck thân tình chia sẻ đời sống vợ chồng, con cái và gia đình của ông. Vào cuối học kỳ, một cô sinh viên trẻ cầm quyển sách của De Vinck trên tay, cô nói với tôi: “Thưa cha, đây là quyển sách hay nhất mà con từng đọc. Con luôn nghĩ mình là người rất tự do, phóng khoáng và con đã sống qua nhiều thành phố, nhưng bây giờ con nhận ra, những gì con muốn là những gì người đàn ông này có. Con muốn tình dục đưa con về nhà. Con muốn có một ngôi nhà. Con muốn chiếc giường hôn nhân. Bây giờ con biết mình cần gì!”

Đọc quyển sách của Christopher de Vinck đã làm cho cô có trải nghiệm thần nghiệm, không khác gì trải nghiệm của sơ Ruth Burrows. Còn tôi là quyển Câu chuyện của một tâm hồn của Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu cho tôi trải nghiệm được kinh nghiệm thần nghiệm.

Vì vậy, đây là lời khuyên của tôi: hãy tìm những gì làm điều này cho tôi. Nó không cần phải làm cho chúng ta rơi nước mắt, chỉ cần nó hướng chúng ta về nhà một cách rõ ràng nhất!