RonRolheiser,OMI

Loại bỏ căng thẳng trong cộng đồng

Bất cứ năng lượng nào chúng ta không chuyển hóa thì chúng ta sẽ truyền đi. Tôi nghe câu này lần đầu tiên là từ linh mục Dòng Phanxicô, Richard Rohr, nói lên một thách thức trọng tâm cho mọi người trưởng thành. Còn đây là một cách nói kitô giáo cho câu đó:

Trọng tâm để hiểu được cách Chúa Giêsu cứu rỗi chúng ta chính là nắm được sự thật của câu này: Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa xóa tội trần gian. Chúng ta được cứu rỗi qua đau khổ của Chúa Giêsu như thế nào? Rõ ràng, đấy là một ẩn dụ. Chúa Giêsu không phải là con chiên, nên chúng ta cần phải thấy được hiện thực ẩn sau ẩn dụ đó. Điều gì khiến thế hệ các tín hữu kitô tiên khởi dùng hình ảnh con chiên chịu nạn để giải thích việc Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta và cách Chúa Giêsu xóa tội chúng ta? Có một món nợ của tội lỗi mà chỉ có thống khổ của Thiên Chúa mới xóa được hay sao? Sự tha thứ cho tội lỗi chúng ta là một tương giao thiêng liêng, riêng tư giữa Thiên Chúa và Chúa Giêsu hay sao?

Những câu hỏi này không dễ trả lời, nhưng có thể nói như sau: dù cho một phần chuyện này là mầu nhiệm, nhưng không phải tất cả đều là phép mầu. Phải thừa nhận là trong chuyện này có mầu nhiệm, có gì đó vượt quá những gì chúng ta có thể giải thích bằng suy nghĩ lý tính, nhưng không có phép mầu nào ở đây cả. Những chân lý thâm sâu nằm ngoài năng lực lý tính của chúng ta không phủ định lý tính của chúng ta, mà chỉ thay thế chúng, tương tự như cách mà thuyết tương đối của Enstein làm cho toán học trung học thu nhỏ lại. Do đó, khi chấp nhận những mầu nhiệm, chúng ta có thể thấy ra gì từ ẩn dụ Chúa Kitô là Chiên Thiên Chúa xóa tội trần gian? Hơn nữa, điều này còn đem lại thách thức gì cho chúng ta?

Đây là bối cảnh lịch sử của hình ảnh này. Vào thời Chúa Giêsu, trong Do Thái giáo, có một số nghi lễ đền tội (hòa giải) xoay quanh con chiên. Chiên được sát tế trong đền thờ như của lễ dâng Thiên Chúa để đền tội chúng ta, và một số chiên được dùng làm con chiên gánh tội. Nghi lễ con chiên gánh tội như thế này. Một cộng đồng quy tụ lại để thực hành nghi lễ xóa đi căng thẳng tồn tại trong cộng đồng vì những yếu đuối và tội lỗi của họ. Theo nghi lễ, họ sẽ trút căng thẳng và tội lỗi của mình lên con chiên (và nó trở thành vật gánh tội), và con chiên này mang hai biểu tượng, là một vòng gai trên đầu (khiến nó thấy đau đớn) và một tấm vải tím khoác trên lưng (biểu trưng cho trách nhiệm phải gánh tội cho tất cả). Họ còn đuổi con chiên ra khỏi đền thờ, ra khỏi thành phố, đuổi nó vào hoang địa để chết. Ý niệm của chuyện này là khi đổ đau đớn và tội lỗi lên con chiên, rồi đuổi nó vĩnh viễn ra khỏi cộng đồng, thì đau đớn và tội lỗi của họ cũng được đem đi, tan biến đi khi con chiên chết đi.

Thật dễ để thấy vì sao người ta dễ liên tưởng đến hình ảnh này sau cái chết của Chúa Giêsu. Nhìn vào tình yêu Chúa Giêsu dành cho chúng ta trong cuộc khổ nạn và cái chết, thế hệ tín hữu kitô tiên khởi đã đồng nhất điều này với con chiên gánh tội. Chúa Giêsu chính là con chiên gánh tội của chúng ta. Chúng ta đặt đau đớn và tội lỗi của mình lên Ngài, rồi đuổi Ngài ra khỏi cộng đồng, để Ngài phải chết. Tội lỗi của chúng ta ra đi cùng với Ngài.

Ngoại trừ một điều, là các tín hữu kitô tiên khởi không xem đây là hành động thần thông kiểu Thiên Chúa tha tội cho chúng ta vì Chúa Giêsu đã chết. Không. Tội của họ không được cất đi khi Chúa Giêsu đã làm vừa lòng Chúa Cha. Tội được cất đi vì Chúa Giêsu đã hút lấy và biến đổi chúng, cũng như cách bộ lọc lấy đi chất bẩn, chất độc khỏi nước khi hút lấy nước vậy.

Máy lọc nước hoạt động như sau, nó lấy nước nhiễm bẩn, nhiễm độc, nhưng giữ chất bẩn lại trong mình và chỉ cho ra nước sạch. Chúa Giêsu cũng vậy. Ngài nhận lấy thù hận, giữ trong mình, biến đổi nó và trả lại yêu thương. Ngài nhận lấy cay đắng và trả lại qua lòng độ lượng, nhận lấy nguyền rủa và trả lại phúc lành, nhận lấy ghen tương và trả lại khen ngợi, nhận lấy sự giết người và trả lại sự tha thứ. Thật vậy, Ngài nhận lấy hết mọi sự là nguồn gây căng thẳng trong cộng đồng, giữ trong mình và trả lại là bình an cho tất cả. Do đó, Ngài đã xóa tội của chúng ta, không phải bằng phép thần thông nào nhưng bằng cách hấp thụ, ăn lấy chúng, trở thành con chiên gánh tội của chúng ta.

Hơn nữa, như triết gia Kierkegaard từng diễn tả, việc Chúa Giêsu làm không phải là điều chúng ta nên ngưỡng mộ, mà là điều chúng ta cần noi gương. Nhà thần học Anh giáo N.T. Wright, trong quyển sách gần đây Biển chỉ dẫn bị vỡ (Broken Signposts) đã tóm lại thách thức đó như sau: “Dù chúng ta có hiểu hay không, dù chúng ta có thích hay không – mà hầu hết chúng ta chẳng và sẽ không hiểu, không thích – thì tình yêu không chỉ đối diện với hiểu lầm, thù địch, ngờ vực, âm mưu và cuối cùng là bạo lực giết người, mà còn hút lấy mọi đòn tấn công của sự dữ tối hậu vào mình, hấp thụ hết sức mạnh của nó. …Bởi vì tình yêu nhận lấy những gì tồi tệ nhất mà cái ác có thể gây ra, hấp thụ nó, và đánh bại nó”.

Những gì chúng ta không biến đổi thì chúng ta sẽ truyền đi. Đây là chân lý thâm sâu về cách chúng ta phải làm để loại bỏ căng thẳng trong gia đình, cộng đồng, giáo hội và xã hội.

Sức mạnh của nét đẹp

Thế giới sẽ được cứu rỗi bởi vẻ đẹp! Fyodor Dostoyevsky đã viết như thế, Dorothy Day đã trích lại câu đó, và nhiều thế kỷ trước thời Chúa Giêsu, Khổng Tử cũng lấy đó làm trọng tâm cho lời dạy của mình. Họ có lý. Vẻ đẹp là một ngôn ngữ đặc biệt xuyên thấu nhiều và gạt bỏ mọi thứ chia rẽ chúng ta, từ lịch sử, chủng tộc, ngôn ngữ, tín điều, hệ tư tưởng, chính trị, kinh tế, giới tính, tính dục và những tổn thương riêng. Vẻ đẹp làm tan chảy mọi khác biệt. Tuyên ngôn của vẻ đẹp, cũng hệt như tuyên ngôn của một trẻ sơ sinh, chẳng có lời lẽ rõ ràng, nhưng nó là ngôn từ quá hoàn hảo đến nỗi chỉ có thể bị vẩn đục khi người ta tự làm bậy lên mình. Trên đời này có hai chuyện không thể đem ra tranh cãi, đó là vẻ đẹp và em bé. Cả hai đều không thể tự vệ, sự bảo vệ duy nhất của cả hai là chính sự yếu đuối.

Trong triết học kinh điển Tây phương, vẻ đẹp được xem là một trong những đặc tính siêu việt của hiện hữu, và do đó, nó là một đặc tính của Thiên Chúa. Người ta nhận thức Thiên Chúa có bốn phẩm chất siêu việt, cụ thể là Duy nhất, Chân, Thiện, Mỹ. Do đó, vẻ đẹp mang trong mình đặc tính thiêng liêng thần thánh. Các nghệ sĩ và tất cả những ai nhạy cảm với mỹ học đều luôn công nhận điều này, không hẳn bằng cách khẳng định rõ ràng, vẻ đẹp là đặc tính của Thiên Chúa, nhưng bằng cách công nhận có đặc tính thần thiêng trong vẻ đẹp, và họ cảm thấy có “sự phạm thượng” mỗi khi vẻ đẹp bị biến dạng cũng như cảm nhận được sinh lực sáng tạo như một đấng thần thiêng.

Như chúng ta biết, vẻ đẹp có nhiều dạng. Ai trong chúng ta chưa hề cảm nhận được sức mạnh đến choáng váng của vẻ đẹp thể lý? Ai lại chưa sững sờ trước vẻ đẹp của buổi hoàng hôn, của đại dương, rặng núi, những vì sao và ánh trăng rằm, hoang mạc, bão tố, một cái cây, cảnh tuyết rơi, cơn mưa phùn, một con vật hoang dã, một tác phẩm kiến trúc, một cơ thể con người? Vẻ đẹp thể lý tự nó nói lên tất cả. Chẳng thể nào tranh cãi về nó và cũng chẳng thể chê bai nó bằng cách viện đến điều gì đó tâm linh hơn cao cả hơn. Nó chân thực đễn nỗi không thể giải thích nổi, và do đó cần được công nhận, xác nhận và chúc phúc.

Với hầu hết chúng ta, khi nghe đến từ “vẻ đẹp”, liền nghĩ ngay đến vẻ đẹp thể lý. Dù vẻ đẹp đó rất thực, mạnh mẽ và có thể làm lay động trái tim, nhưng còn có những dạng vẻ đẹp khác cũng mạnh mẽ và có sức biến đổi như thế. Tôi không biết phải nói như thế nào cho chuẩn điều tôi định diễn đạt, nên xin lượng thứ cho tôi nếu diễn đạt của tôi ngớ ngẩn và không chuyên cho lắm, nhưng chúng ta cần và có thể nói về vẻ đẹp trong phạm vi tinh thần và cảm xúc. Có cái mà chúng ta có thể gọi là vẻ đẹp cảm xúc hoặc vẻ đẹp tinh thần.

Vẻ đẹp cảm xúc không phải là vẻ đẹp của buổi hoàng hôn hay một bức tranh vĩ đại, nhưng là vẻ đẹp của một biểu đạt đặc biệt của tình yêu, cảm thông, nhân hậu, mà chúng ta đã từng may mắn chứng kiến. Ví dụ, chúng ta có thể sững sờ khi thấy cảnh giải cứu kỳ diệu một em bé, khi thấy một con vật đang tuyệt vọng được cứu thoát, khi hai vợ chồng nắm tay nhau trìu mến, hay khi nghe về phản ứng hào phóng của cộng đồng trước lời kêu gọi giúp đỡ một gia đình nghèo. Cũng như với vẻ đẹp thể lý, trong những điều này cũng có đặc tính thần thiêng, có một điều gì đó mà thậm chí con người thô lỗ nhất cũng không dám mạo phạm. Tuy nhiên, bất kỳ lúc nào liên quan đến cảm xúc, thì luôn có nguy cơ đa cảm không lành mạnh, thế nhưng bất chấp nguy cơ đó, cảm xúc của chúng ta, cũng như đôi mắt, chính là cửa ngỏ đến với vẻ đẹp.

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, còn có vẻ đẹp tinh thần, vẻ đẹp của linh hồn. Ví dụ dễ thấy, đó là tử đạo và mọi dạng tình yêu hy sinh khác cho những ước nguyện, khát khao và sự sống của mình vì một điều gì đó cao cả hơn. Dù chuyện này không phải lúc nào cũng tạo ra một thể xác đẹp, nhưng nó lại tạo ra một linh hồn đẹp. Khi khẳng định điều này, tôi không nghĩ ngay đến những bậc tử vì đạo đã từ bỏ mạng sống của mình thay vì từ bỏ đức tin, hay thậm chí là những những người như Mohandas Gandhi, Albert Schweitzer, Martin Luther King, Dorothy Day, Maximillian Kolbe, Oscar Romero, và nhiều người khác ngày nay đang hy sinh tính mạng mình vì tha nhân. Có những ví dụ rất hùng hồn về vẻ đẹp tinh thần, nhưng nhiều người chúng ta có thể tận mắt thấy được chúng ngay trong gia đình và bạn bè mình. Ví dụ như, tôi nhìn vào cha mẹ tôi, những người dành gần như cả đời hy sinh để chăm sóc cho một gia đình đông con, nhất là cung cấp cho gia đình cái còn quan trọng hơn của ăn của mặc, cụ thể là đức tin và sự hướng dẫn tinh thần. Có vẻ đẹp tinh thần trong sự hy sinh của họ, dù cho có lúc trong thời này, với các tiêu chuẩn của Hollywood, cha mẹ tôi có vẻ là những người hốc hác hơn là đẹp. Nhưng mà, vẻ đẹp tinh thần được cân đo bằng một tiêu chuẩn khác. Như tôi đã nói, trong chuyện này, chúng ta cũng cần phải cẩn trọng: trong khi vẻ đẹp cảm xúc kèm theo nguy cơ đa cảm ủy mị, thì vẻ đẹp tinh thần cũng kèm theo nguy cơ cuồng tín. Những kẻ cuồng tín, giết người hàng loạt, cũng tập trung cao độ về tinh thần. Tinh thần, luân lý, như mọi thứ khác, có thể bị lầm lạc.

Thế giới sẽ được cứu rỗi bằng vẻ đẹp! Đúng là thế, nhưng tôi lại muốn dùng thì hiện tại, thế giới đang được cứu rỗi bởi vẻ đẹp.

Chiều kích vũ trụ của sự phục sinh

Một nhà phê bình từng hỏi linh mục thần học gia Pierre Teilhard de Chardin như thế này: “Cha đang cố làm gì thế? Sao cha lại nói về nguyên tử và phân tử lúc nói về Chúa Giêsu Kitô?” Câu trả lời của ngài: Tôi đang cố diễn đạt một cách có hệ thống một Kitô học đủ rộng để có thể nói đến Đức Kitô, bởi Đức Kitô không chỉ là một sự kiện của nhân loại mà là một hiện tượng toàn vũ trụ.

Về căn bản, ý của cha là Đức Kitô không chỉ đến để cứu rỗi nhân loại, Ngài đến để cứu rỗi cả địa cầu nữa.

Thấu suốt này thật sự cần thiết để hiểu trọn những hàm ý trong sự phục sinh của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã từ cõi chết sống lại. Thân xác là một hữu thể vật chất, nên khi thân xác (chứ không chỉ linh hồn) sống lại, thì có gì đó cao hơn thuần tâm linh và tâm lý. Có một điều gì đó cực kỳ vật chất trong chuyện này. Khi xác chết sống lại, các phân tử và nguyên tử được sắp đặt lại. Sự phục sinh không chỉ là sự thay đổi gì đó bên trong ý thức của con người.

Sự phục sinh là căn cứ cho niềm hy vọng của con người, không có nó, chúng ta không thể hy vọng vào một tương lai có gì đó vượt ngoài những giới hạn ngột ngạt của đời này. Trong sự phục sinh của Chúa Giêsu, chúng ta được trao ban một tương lai mới, vượt quá cuộc đời này của chúng ta. Tuy nhiên, sự phục sinh cũng đem lại một tương lai mới cho trái đất, cho hành tinh vật chất của chúng ta. Đức Kitô đến để cứu rỗi địa cầu, chứ không chỉ những người sống trên địa cầu. Sự phục sinh của Ngài bảo đảm một tương lai mới cho địa cầu cũng như những loài cư ngụ trên đó.

Cũng như chúng ta, địa cầu này cần được cứu rỗi. Cứu rỗi khỏi cái gì? Để hướng đến điều gì?

Theo nhận thức Kitô giáo đúng đắn, địa cầu không chỉ là sân khấu cho nhân loại, không chỉ là một thứ nếu không có chúng ta, nếu chỉ có nó, thì vô giá trị. Như nhân loại, nó cũng là tác phẩm của Thiên Chúa, là con của Thiên Chúa. Thật vậy, trái đất vật chất là mẹ của chúng ta, là ma trận nảy sinh chúng ta. Xét tận cùng, chúng ta không tách biệt với thế giới tự nhiên, nói đúng hơn, chúng ta là một phần của thế giới tự nhiên tự ý thức. Chúng ta không tách biệt với địa cầu và nó không chỉ tồn tại vì lợi ích của chúng ta, không chỉ là sân khấu cho diễn viên con người rồi bị bỏ không khi vở kịch đã hết. Thụ tạo vật chất có giá trị của nó, không phụ thuộc vào chúng ta. Chúng ta cần phải công nhận điều này, và không phải chỉ để sống có đạo đức với thiên nhiên hơn hầu cho địa cầu có thể tiếp tục cung cấp không khí, nước và thức ăn cho các thế hệ con người mai sau. Chúng ta cần công nhận giá trị cố hữu của địa cầu. Nó cũng là tác phẩm của Thiên Chúa, nó là mẹ của chúng ta, và số mệnh của nó là chia sẻ sự vĩnh hằng cùng chúng ta.

Hơn nữa, như chúng ta, nó cũng là thứ sẽ bị mục rữa. Nó cũng có giới hạn thời gian, cũng khả tử. Nếu không có sự can thiệp từ bên ngoài, nó cũng không có tương lai. Khoa học từ lâu đã dạy chúng ta về định luật biến thiên. Nói đơn giản, định luật đó nói rằng năng lượng trong vũ trụ đang giảm dần, mặt trời đang ngày càng cạn lửa. Tuổi đời còn lại của trái đất, cũng như tuổi đời của chúng ta là đếm được, là hữu hạn. Có thể là cả tỷ tỷ năm, nhưng đếm được là hữu hạn. Chúng ta biết rằng, cũng như cuộc đời chúng ta rồi sẽ đến lúc kết thúc, thì địa cầu cũng có hồi kết. Nếu không có sự tái tạo từ bên ngoài, thì cả trái đất lẫn con người sống trên nó đều không có tương lai.

Thánh Phaolô đã nói rõ điều này trong thư gửi tín hữu Rôma, rằng thụ tạo, vũ trụ vật chất, là thứ phù du, và nó đang rên rỉ khát khao được giải phóng để tận hưởng sự tự do vinh quang của con cái Thiên Chúa. Thánh Phaolô cam đoan với chúng ta rằng địa cầu sẽ hưởng cùng một tương lai như nhân loại, là sự phục sinh, sự biến đổi vượt quá hình dung hiện thời của chúng ta, một tương lai vô tận.

Địa cầu sẽ được biến đổi cách nào? Nó sẽ biến đổi theo cùng một cách như chúng ta, qua sự phục sinh. Sự phục sinh đem lại cho thế giới tâm linh và vật chất của chúng ta một sức mạnh mới, một sắp đặt mới cho vạn vật, một hy vọng mới, một thứ quá căn nguyên (và vật chất) đến nỗi chỉ có thể so sánh với sự tạo dựng ban đầu, khi các nguyên tử và phân tử của vũ trụ này được Thiên Chúa tạo ra từ hư không. Trong sự tạo dựng khởi nguyên đó, tự nhiên được hình thành, và hiện thực cũng như những quy luật của nó hình thành mọi sự cho đến khi Chúa Giêsu phục sinh.

Tuy nhiên, trong sự phục sinh, có một chuyện mới xảy ra chạm đến mọi khía cạnh của vũ trụ, từ linh hồn và tâm thần trong mọi con người cho đến mọi lõi của mọi nguyên tử và phân tử. Không phải tình cờ khi thế giới xác định thời gian theo mốc đó. Chúng ta đang ở năm 2021 sau sự tái tạo tận căn đó.

Sự phục sinh không chỉ mang tính tâm linh. Trong sự phục sinh, các nguyên tử vật chất của vũ trụ được sắp đặt lại. Cha Teilhard đã đúng. Chúng ta cần một tầm nhìn đủ rộng để thấy được chiều kích vũ trụ của Đức Kitô. Sự phục sinh là cho con người và cho cả địa cầu.

Yêu cuộc đời của mình là lành mạnh

Với những người có đức tin, họ có một quan niệm rằng nếu chúng ta có đức tin sâu đậm thì sẽ dễ dàng từ bỏ mọi sự thế gian, xem thế gian là phù du, không bám víu vào điều gì và chết một cách thanh thản hơn. Nhưng không phải như thế. Nghĩ như thế là ngây thơ, ít nhất là thường như vậy.

James Hillman có viết: Chúng ta không dễ dàng từ bỏ ngai vàng cũng như động lực đưa ta lên ngai đó. Dù điều này rõ ràng là đúng, nhưng nó xuất phát từ cái tôi của con người hơn là từ đức tin. Cho phép tôi trích dẫn thêm một câu nữa. Tiểu thuyết gia và triết gia lừng danh Iris Murdoch đã giáng thẳng sự thật này vào chúng ta. Một người lính bình thường thường chết mà không sợ hãi, nhưng Chúa Giêsu thì chết với sự sợ hãi.

Chuyện này cũng đúng với cái chết của cha tôi. Cha tôi là một người có đức tin sâu đậm, sống cả cuộc đời làm chứng nhân. Ông qua đời năm 62 tuổi, nhưng đó không phải là giờ lâm tử nhẹ nhàng. Ông buồn vô hạn khi nằm trên giường bệnh, dùng thuốc giảm đau để chờ đến lúc vĩnh biệt chúng tôi. Nỗi buồn và nỗi sợ của ông chẳng liên quan gì đến chuyện sợ đời sau, sợ những gì đang chờ ông ở thế giới bên kia. Ông buồn và sợ là do phải từ bỏ đời này, phải chết đi trước những phong phú đời này. Ông buồn vì sắp chết, vì phải từ biệt vợ con, cháu chắt, bạn bè, cộng đoàn, sức khỏe và đủ mọi thứ ông đã vui hưởng ở đời này. Ông chết trong đức tin, nhưng đó không phải là giờ lâm tử nhẹ nhàng.

Nếu đọc kỹ Kinh Thánh, chúng ta sẽ thấy Chúa Giêsu cũng thế. Ngài không nhẹ nhàng đón nhận cái chết, không phải vì Ngài sợ những gì đang chờ đón mình ở thế giới bên kia, mà là vì, như cha tôi, Ngài rất yêu đời này. Chúng ta thấy rõ sự đấu tranh của Chúa Giêsu trong vườn Giếtsêmani. Kinh Thánh cho chúng ta biết, khi đối diện với cái chết, Ngài đã “đổ mồ hôi máu” và nài xin Cha cho Ngài cách để thoát khỏi cái chết này. Chúng ta thường ngây thơ tin rằng Chúa Giêsu sợ là sợ nỗi đau thể xác đang chờ Ngài, sợ đòn roi và đinh sắt, nhưng thật sự trong Kinh Thánh không nói như vậy. Ngài đổ mồ hôi máu trong vườn, không phải nơi đấu trường. Theo khuôn mẫu văn học, vườn là chốn của tình yêu. Chính Chúa Giêsu, một người yêu chứ không phải đấu sĩ, đã đổ mồ hôi máu. Nỗi sợ chết của Ngài phát xuất từ tình yêu, yêu cuộc đời, chính cuộc đời này.

Thần học gia Dòng Tên, Michael Buckley, đã viết một bài so sánh Chúa Giêsu với triết gia cổ đại Socrate, một nghiên cứu thuần túy về sự ưu tú của con người. Ngạc nhiên thay, khi chỉ xét về sự ưu tú của con người, Chúa Giêsu dường như lại kém hơn Socrate. Trong bài đó, có một câu rất thấm thía.

Socrate chết với sự bình thản và đĩnh đạc. Ông chấp nhận phán quyết của tòa, giảng một bài về những khả thể khác có được nhờ cái chết và những biểu hiện biện chứng của sự bất tử, ông không thấy có lý do gì để sợ, ông uống thuốc độc và chết. Chúa Giêsu thì ngược lại hẳn. Chúa Giêsu gần như cuồng hoảng vì kinh hãi và sợ hãi, “kêu lớn, khóc than xin được cứu khỏi cái chết”. Ngài liên tục tìm đến các bạn của mình để kiếm sự an ủi, và cầu nguyện xin được thoát khỏi cái chết, nhưng chẳng tìm được gì… Tôi đã từng nghĩ điều này là vì Socrate và Chúa Giêsu chịu hai cái chết khác nhau, một cái quá kinh khủng hơn cái kia, đau đớn thống khổ của thập giá thì hơn xa lọ thuốc độc… Nhưng bây giờ tôi nghĩ Chúa Giêsu là người yếu đuối hơn hẳn Socrate, nhạy cảm ơn với nỗi đau và yếu đuối thể xác, nhạy cảm hơn với sự chối bỏ và khinh bỉ của con người, nhạy cảm hơn với tình yêu và thù hận. Socrate chưa từng đổ lệ cho thành Athens mà. Chúa Giêsu là một con người, quá con người.

Trong nhật ký của ông, triết gia Soren Kierkegaard từng thú nhận, ông đã rùng mình trước suy nghĩ phải chết ở đời này, chết đi với cuộc sống bình thường này: Tôi mê làm con người, tôi không đủ can đảm để làm cho linh hồn mãnh liệt như thế. Tôi vẫn quá mê được thấy niềm vui nhân sinh đơn thuần của những người khác trong đời, một điều mà tôi thấy rõ hơn người thường, vì tôi có đôi mắt của thi sĩ để nhìn cho kỹ.

Một trong những biểu hiện sớm của trầm cảm, chính là mất đi sự sôi nổi trong đời, mất đi ý thức về niềm vui cá nhân và từ đó xuất hiện sự xa cách, cụ thể là có thể buông bỏ hết mọi sự từng đã cho chúng ta sinh lực, ý nghĩa và niềm vui. Nhìn bề ngoài, nó có thể là tốt về mặt tôn giáo. Thật tuyệt vời, ông ấy đã không bám dính cuộc đời đến thế! Tuy nhiên, không nên nhầm lẫn sự thánh thiện với trầm cảm, đức tin với sự buông bỏ cảm xúc.

Nếu bạn lành mạnh về mặt tâm linh, thì đừng ngạc nhiên nếu bạn như Chúa Giêsu, đổ mồ hôi máu khi đối diện cái chết dưới bất kỳ hình thức nào, nhất là khi bạn yêu cuộc đời này.

Một kết hợp lạ kỳ

Một trong những vị thánh yêu thích của Dorothy Day là thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, vị thánh mà chúng ta gọi là “Bông hoa nhỏ”. Thoạt nhìn qua, đây có thể là một liên kết kỳ lạ. Dorothy Day là nhà hoạt động triệt để vì công lý, đã đi biểu tình, bị bắt, vào tù, lập một cộng đoàn và tờ báo Công nhân Công giáo để phục vụ người nghèo. Còn Têrêxa Hài Đồng Giêsu là nữ tu chiêm niệm, ẩn mình trong tu viện kín đáo ở một thị trấn nhỏ nước Pháp. Thật sự là, suốt cuộc đời mình, trừ chuyến hành hương ngắn đến Rôma cùng gia đình và giáo xứ, thánh Têrêxa chưa hề rời khỏi thị trấn nhỏ của mình, và đến khi qua đời, những người quen biết ngài có lẽ chưa đến 200 người. Hơn nữa, trong những bài viết của mình, thánh nữ hiếm có những lời ngôn sứ nào nói về công bằng xã hội. Thánh nữ viết như một nhà thần nghiệm, tập trung vào đời sống nội tâm và sự mật thiết của chúng ta với Chúa Giêsu. Đấy đâu hẳn là những tố chất của người ra đường biểu tình. Vậy tại sao, Dorothy Day, một người có vẻ khác biệt, lại có sự đồng cảm với một nữ tu ẩn dật trẻ tuổi như thế?

Dorothy Day ham thích linh đạo của thánh Têrêxa là vì bà thấu hiểu nó vượt trên những hiểu lầm thông thường. Trong tất cả các thánh, Têrêxa Hài Đồng Giêsu nổi lên như một trong những thánh được yêu mến nhất và cũng là một thánh bị hiểu lầm nhiều nhất mọi thời đại, và tầm đại chúng của ngài là một trong những nguyên nhân gây ra chuyện đó. Lòng sùng mến bình dân thường hay tối giản thái quá đã phủ bóng trên linh đạo và nhân cách của ngài, che mất đi chiều sâu thật sự của ngài. Thánh Têrêxa gọi linh đạo của mình là “con đường nhỏ”. Và lòng mộ đạo bình dân chủ yếu cho rằng “con đường nhỏ” là một linh đạo mời gọi chúng ta sống lặng lẽ, khiêm nhường, đơn sơ, vô danh, làm mọi việc một cách vô danh, nhất là làm những công việc khiêm hạ bằng lòng trung thành và nhân hậu, không tự cho mình là giỏi, sống như em bé, tạ ơn Chúa vì đã được tham gia phục vụ. Dù hiểu như thế phần lớn là đúng, nhưng nó lại thiếu mất đi phần nào linh đạo và nhân cách của thánh Têrêxa.

Để hiểu “con đường nhỏ” của thánh Têrêxa và mối liên kết của nó với công lý dành cho người nghèo, chúng ta cần hiểu vài điều trong cuộc sống của thánh nữ vốn giúp tạo nên một tầm nhìn ẩn sau “con đường nhỏ” của ngài.

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu có một tuổi thơ rất phức tạp. Một mặt, cuộc sống của ngài bị hằn dấu bởi những nỗi buồn sâu sắc, cụ thể là cái chết của mẹ năm Têrêxa mới bốn tuổi và những cơn bạo bệnh làm cho Têrêxa nhiều lần suýt mất mạng. Mặt khác, ngài có một tuổi thơ thật đẹp. Ngài lớn lên trong một gia đình đầy những vị thánh, những người yêu thương và trân trọng mọi niềm vui nỗi buồn của ngài. Ngài cũng là một cô bé xinh xắn, đầy sức hút, lại vô cùng dễ thương với sự nồng hậu và nhạy cảm của mình. Gia đình ngài và mọi người quanh ngài đều xem ngài là đặc biệt và quý báu. Ngài được yêu thương rất nhiều, nhưng nó không làm ngài hư. Chúng ta không bao giờ bị hư vì được yêu thương quá nhiều, chỉ hư vì bị thương sai cách thôi. Cả nhà đều yêu thương ngài, và kết quả là cô gái trẻ này mở rộng tâm hồn và con người mình với thế giới theo một cách thật phi thường.

Hơn nữa, khi trưởng thành, ngài bắt đầu để ý thấy một điều. Ngài để ý thấy khi ngài còn nhỏ, mọi giọt nước mắt của ngài đều được chú ý, trân trọng, nhưng nhiều người khác lại không được vậy. Ngài nhận ra rằng vô số người đang chịu những nỗi đau xé lòng, bất công, bạo hành, sỉ nhục, phải sống trong tủi hổ, khóc mà chẳng ai thấy chẳng ai quan tâm. Những nỗi đau của họ không được nhìn thấy và trân trọng. Từ thấu suốt này, ngài trình bày nó ra như nền tảng cho “con đường nhỏ” của mình.

Ngài viết thế này: Một ngày Chúa nhật nọ, khi nhìn lên hình Chúa chịu nạn, tôi sững sờ trước dòng máu chảy ra từ tay chí thánh. Tôi cảm thấy buồn vô hạn khi nghĩ rằng máu này rơi vãi xuống đất mà chẳng có ai ở đó để hứng lấy. Tôi quyết tâm đứng dưới chân thập giá mà đón lấy… Tôi không muốn máu châu báu này mất đi. Tôi sẽ dành cả đời để hứng lấy nó cho các linh hồn.

Từ đây, chúng ta thấy được rằng “con đường nhỏ” không phải là về lòng đạo đức riêng, mà là về việc chú ý và đáp lời với nỗi đau và nước mắt trên đời. Nói một cách ẩn dụ, “con đường nhỏ” là “hứng lấy” máu đổ ra từ gương mặt đau đớn của Chúa Kitô, gương mặt đang hiện diện trên thế giới này nơi những người nghèo, những người đau đớn và khóc than vì bất công, nghèo đói, thiếu tình yêu và không được xem trọng.

Dorothy Day ra đường cùng người nghèo, để tâm đến những giọt máu của họ, lau khô nước mắt cho họ, cố hết sức để quy tụ họ. Thánh Têrêxa cũng làm thế theo cách thần nghiệm, sâu bên trong thân thể Chúa Kitô. Thế nên, không có gì ngạc nhiên khi Dorythy Day nhận Têrêxa Hài Đồng Giêsu làm thánh bổn mạng.

Đưa bí mật của chúng ta ra ánh sáng như thế nào

Bạn bệnh hoạn cũng như bí mật không lành mạnh nhất của bạn! Đúng là câu thành ngữ quá khôn ngoan. Cái bệnh hoạn trong chúng ta vẫn cứ mãi bệnh hoạn, trừ khi chúng ta phơi bày nó ra với người khác và phơi bày ra ánh sáng. Bao lâu còn là bí mật, thì nó còn là thứ bệnh hoạn. Tuy nhiên, có lẽ vấn đề không nằm ở những gì chúng ta giữ bí mật, nhưng ở sự việc chúng ta giữ bí mật. Có lẽ bệnh hoạn chính là bí mật, chứ không phải những gì chúng ta xem là bệnh hoạn.

Chúng ta tất cả đều có những đấu tranh dằn vặt, và chúng ta có thể tạ ơn Chúa vì điều đó. Hình ảnh của Chúa trong chúng ta không đơn thuần là một biểu tượng đẹp đẽ được ghi khắc vào tâm hồn. Mà nó thật ra là một ngọn lửa thần thiêng, vô độ, thao túng chúng ta. Theo bản chất, chúng ta có những phức cảm vốn khó mà hài lòng với con người chúng ta thích hình dung về mình. Chúng ta đều có những ảo tưởng hoang dại và ám ảnh tối tăm. Nếu những mơ mộng hão huyền của chúng ta bị tiết lộ, chúng hẳn sẽ phơi bày rằng chúng ta đều là những kẻ nuôi dưỡng ảo tưởng tự đại, thù hận, bao biện, cũng như cho thấy chúng ta bị kìm kẹp trong những ám ảnh cảm xúc và tình dục đủ loại. Trong mơ mộng hão huyền của mình, chúng ta có những thứ mà chúng ta xấu hổ không dám nói ra. Chúng ta đều nuôi dưỡng những ảo tưởng hoang dại, trần tục, tự đại và ái kỷ. Vậy nên chúng ta giấu diếm chúng và xử lý chúng bằng cách xem chúng là bệnh hoạn hoặc bằng cách chối bỏ chúng.

Chúng ta xem những ảo tưởng của mình là bệnh hoạn khi chúng ta thấy nó là thứ chỉ có mình chúng ta vướng phải, một thứ bệnh hoạn đáng xấu hổ và chỉ có mình chúng ta chịu. Nó là một thứ mà chúng ta không bao giờ muốn người khác biết. Và kết quả là, những ảo tưởng và ám ảnh của chúng ta trở thành một thứ đáng xấu hổ, một bí mật đen tối, một thứ bệnh hoạn trong con người bình thường của chúng ta.

Một chọn lựa khác là chối bỏ. Chúng ta có thể chủ tâm chối bỏ rằng chúng ta từng có những suy nghĩ và cảm giác đó. Sự chối bỏ cho chúng ta thoát khỏi cảm giác hổ thẹn, nhưng cuối cùng, chúng ta lại phải trả một cái giá khác. Chối bỏ suy nghĩ và cảm giác của bản thân cũng gần giống như sống trên tầng trệt của một ngôi nhà và nếu có rác rến hay bất kỳ thứ gì mà chúng ta chẳng muốn xử lý thì cứ việc ném xuống tầng hầm rồi đóng cửa lại. Miễn là chúng ta khỏi thấy nó, khỏi nghĩ đến nó là được. Dù chỉ trong một thời gian. Khi đẩy đống rác đó vào tầng hầm, đâu có nghĩa là nó tan biến không còn tồn tại nữa. Đến cuối cùng, nó sẽ lên men chua, và phun khí ga độc hại qua những ống thông hơi lên lại tầng trên và làm nhiễm độc không khí chúng ta hít thở.

Tuy nhiên, đây cũng là điểm mấu chốt, những khát khao, ám ảnh và sự tự đại phức tạp trong linh hồn chúng ta không phải là thứ bệnh hoạn, cũng không phải là thứ chúng ta cần chối bỏ. Linh hồn chúng ta, dù vô cùng hoang dại, nhưng không bệnh hoạn. Vấn đề là chúng ta chưa hiểu thấu phần thâm sâu hơn trong linh hồn mình, phần tăm tối của mình, và thế là chúng ta tin rằng ở đó có gì đó bệnh hoạn, nhưng chính việc giấu kín nó mới thực sự là bệnh hoạn.

Bóng tối của chúng ta là gì? Nền văn học phổ biến đã cho chúng ta một khái niệm một chiều về thứ tạo nên bóng tối của chúng ta. Theo quan niệm phổ biến, bóng tối của chúng ta là nơi tối tăm, đáng sợ, một hoang mạc nội tâm mà chúng ta bằng mọi giá không vào, là những con quái vật nội tâm mà chúng ta chủ tâm muốn tránh né. Dù nhiều lúc chúng ta cảm thấy sợ như thế khi đối diện với bóng tối của mình, nhưng bóng tối của chúng ta hoàn toàn không phải là thứ tăm tối. Ngược lại mới đúng.

Bóng tối của chúng ta hình thành như thế này. Khi một đứa bé ra đời. Nó rạng ngời, cởi mở và ý thức vô cùng, mở đôi mắt nhìn quanh và nuốt lấy hiện thực. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, đứa bé chưa biết suy nghĩ vì nó thiếu cái tôi và do đó thiếu ý thức về bản thân. Để hình thành cái tôi và có ý thức về bản thân, đứa bé phải có những sự co rút tâm thần lớn lao, mỗi lần như thế đóng chặt nó khỏi một phần ánh sáng rạng ngời của nó. Trước hết, mới đầu, nó phân biệt bản thân nó là gì và người khác là gì, nó hiểu mình không phải là mẹ mình. Rồi chẳng mấy chốc, nó biết phân biệt giữa vật sống và vật không sống, con cún con thì sống, hòn đá thì không. Rồi sau đó, nó bắt đầu phân biệt thể xác và tâm trí, thể xác thì cứng cáp, tư tưởng thì khác. Cuối cùng, và đây là phần thiết yếu để tạo thành bóng tối của chúng ta, đến thời điểm nào đó, đứa bé sẽ có sự phân biệt giữa cái nó có thể ý thức đương đầu trong lòng nó và cái quá áp đảo đến nỗi nó không thể ý thức đương đầu. Và khi đó, nó tạo nên bóng tối bằng cách tách một phần lớn ánh sáng của mình (chính là hình ảnh giống Thiên Chúa trong bản thân) khỏi nhận thức chủ tâm của nó. Hãy nhớ rằng, bóng tối của chúng ta được tạo nên từ ánh sáng chứ không phải từ sự tối tăm trong lòng. Điều này đã được bà Marianne Williamson viết ra rất hay trong một câu mà về sau Nelson Mandela trích lại trong diễn văn nhậm chức, “cái ta sợ là chính ánh sáng, chứ không phải bóng tối của mình”. Trong một người lành mạnh, những bí mật tối tăm nhất thường giấu những thứ bắt nguồn từ ánh sáng cực đại, từ sinh lực thần thiêng, khát khao vô hạn và sự vĩ đại như của Chúa vốn ở sẵn trong chúng ta. Khi đưa chúng ra ánh sáng, thì chúng ta sẽ thấy chúng chẳng tăm tối cũng không bệnh hoạn. Không đưa chúng ra ánh sáng mới chính là bệnh hoạn.

Lời mời gọi đến với cái cao đẹp hơn

Năm 1986, tiểu thuyết gia người Czech, Ivan Klima, đã xuất bản một loạt bài tự thuật với tựa đề, Những mối tình đầu của tôi (My First Loves). Những bài này mô tả một số đấu tranh đạo đức khi ông còn là thanh niên theo thuyết bất khả tri đang tìm kiếm câu trả lời mà không có một khung luân lý rõ ràng để tạo khuôn khổ cho những đấu tranh đó. Thời đó, ông là một thanh niên đầy đam mê tình dục nhưng ngập ngừng không dám hăng hái về tình dục, mà thời đó, những người đồng lứa với ông dường như chẳng dè dặt đến thế. Đến giờ ông vẫn sống độc thân, nhưng không rõ vì sao, chắc chắn không phải vì lý do tôn giáo rồi, vì ông là người theo thuyết bất khả tri. Tại sao ông lại sống như vậy? Ông đang sống có trách nhiệm hay đơn giản chỉ là ông quá căng thẳng và thiếu táo bạo?

Ông cũng không chắc và đã tự hỏi mình: nếu tôi chết và có Thiên Chúa rồi tôi gặp Thiên Chúa, thì Ngài sẽ nói gì với tôi? Thiên Chúa có trừng phạt tôi vì đã căng thẳng hay Ngài sẽ khen ngợi tôi vì đã đưa sự cô tịch của mình lên một tầm cao hơn? Thiên Chúa sẽ thất vọng về tôi hay sẽ chúc mừng tôi vì đã đi hành trình cuộc đời mà không cần sự khuây khỏa?

Khi viết quyển sách này, Klima chẳng biết câu trả lời cho câu hỏi đó. Ông không chắc Thiên Chúa sẽ nói gì với ông và liệu có lúc nào Thiên Chúa mỉm cười hoặc cau mày về ông không. Dù câu trả lời có thế nào, tôi nghĩ rằng ở đây có một bài học học sâu sắc, là cách Klima tạo khuôn khổ cho lựa chọn luân lý của mình. Với ông, đây không phải là vấn đề phạm tội hay không, nhưng là vấn đề xử lý sự cô tịch và căng thẳng sao cho tạo nên sự cao đẹp của linh hồn. Mới nhìn qua, dĩ nhiên, nó có vẻ là một việc vị kỷ, bởi vì cố gắng trở nên đặc biệt cũng có thể tạo nên một sự kiêu ngạo đầy tính phán xét. Tuy nhiên, sự cao đẹp thật sự của linh hồn không phải là thứ nỗ lực vì bản thân nó, nhưng là một thứ nỗ lực vì sự tốt đẹp của tha nhân. Một người cao đẹp không cố trở nên tốt đẹp để tách tầm bản thân so với người khác. Một người cao đẹp thì cố gắng sống tốt để tạo nên một ngọn hải đăng dẫn đường cho sự ổn định, tôn trọng, nhân hậu và khiết tịnh cho những người khác.

Tôi tin rằng, đây có thể là xuất phát điểm thứ hai cho thần học luân lý và linh đạo luân lý. Xuất phát điểm đầu tiên dĩ nhiên là căn bản hơn. Nó tập trung vào việc giữ Mười Điều răn, và hầu hết bắt đầu với một lời cảnh báo tiêu cực “ngươi chớ…” Ở mức độ căn bản, thần học luân lý và linh đạo luân lý rất đồng nhất với đạo đức học, là xác định đúng sai, có tội hay không có tội. Tuy nhiên, giữ Mười Điều răn và xác định cái gì có tội hoặc không, dù là một nỗ lực quan trọng tiên quyết và không thể du di, nhưng chỉ là căn cứ thiết yếu cho thần học và linh đạo luân lý mà thôi, hệt như số học căn bản là căn cứ thiết yếu cho toán học cao cấp vậy. Khi đã đạt được căn cứ thiết yếu đó, thì nhiệm vụ thật sự mới bắt đầu, là đấu tranh để nhân hậu hơn, là mặc lấy trái tim của Chúa Kitô, là trở thành một thánh nhân để tạo một thế giới tốt đẹp hơn cho tha nhân.

Cho tôi mạo muội đưa ra một ví dụ trần tục để minh họa điều này. Lúc tôi là chủng sinh học về thần học luân lý, một hôm nọ chúng tôi được kiểm tra với những câu hỏi khác nhau về luân lý tình dục. Có câu hỏi rằng thủ dâm có tội hay không có tội. Nó có phải là rối loạn cố hữu hay không? Nó là tội trọng hay chỉ là tội rất nhẹ? Chúng ta có thể nói gì về vấn đề này về mặt đạo đức?

Sau khi cân nhắc các ý kiến khác nhau của các học viên, giáo sư đã trả lời rằng: “Tôi không nghĩ vấn đề quan trọng là liệu hành động này có phải là tội hay không. Có một cách tốt hơn để tạo khuôn khổ cho nó. Ý kiến của tôi về vấn đề này như sau: Tôi không đồng ý với ai nói đây là tội nặng, nhưng cũng không đồng ý với ai nói rằng chuyện này chẳng có vấn đề gì về đạo đức. Vấn đề ở đây không hẳn là chuyện nó có phải là tội hay không, mà là vấn đề, chúng ta muốn xử lý sự căng thẳng này ở mức độ nào, theo kiểu thỏa hiệp hay theo kiểu anh hùng. Trước vấn đề này, tôi cần tự vấn rằng, tôi muốn thực hiện sự cô tịch ở mức độ nào? Linh hồn tôi có thể cao đẹp đến mức nào? Tôi có thể chấp nhận xử lý sự căng thẳng này để tạo nên một cộng đoàn trong sạch hơn trong thân thể Chúa Kitô hay không?”

Ở mức độ thứ hai này, thần học và linh đạo luân lý không còn là mệnh lệnh mà là một lời mời, mời gọi chúng ta đến với sự cao đẹp hơn nữa của linh hồn vì thế giới này. Tôi có thể nhân hậu hơn không? Tôi có thể bớt nhỏ nhen không? Tôi có thể chịu đựng sự căng thẳng mà không xoa dịu nó? Tôi có thể tha thứ nhiều hơn không? Tôi có thể yêu thương một người khác biệt với tôi về tính khí và hệ tư tưởng không? Tôi có thể làm thánh không? Các thánh không nghĩ nhiều về chuyện việc gì là tội và việc gì không. Đúng hơn, các ngài nghĩ: việc gì yêu thương hơn? Việc gì cao thượng hơn và việc gì nhỏ nhen hơn? Việc gì phục vụ thế giới tốt hơn?

Trong Tin mừng nhất lãm, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng bằng từ “Metanoia”, một từ ngụ ý rộng hơn nhiều so với bản dịch “sám hối”. Metanoia là một lời mời gọi chúng ta hãy có một ý thức cao hơn, một tấm lòng cao thượng hơn, bỏ đi những hoang tưởng, nhỏ nhen và tự đại.

Tính đế quốc chủ nghĩa của linh hồn con người

Trong tự thuật của mình, nhà văn Nikos Kazantzakis chia sẻ, trong thời trai trẻ, ông được thúc đẩy bởi một sự khắc khoải bồn chồn khiến ông tìm kiếm một điều gì đó mà ông không bao giờ xác định được. Tuy nhiên, ông đã làm nguôi được sự bất an phần nào trong lòng nhờ chấp nhận, do bản tính của linh hồn, ông phải cảm nhận sự khắc khoải đó, và rằng một linh hồn lành mạnh là một linh hồn đầy thao thức. Ông đã viết về chuyện đó như thế này: “Trên đời này, không thứ gì nặng tính chủ nghĩa đế quốc hơn linh hồn con người. Nó chiếm đóng và bị chiếm đóng, nhưng luôn thấy đế chế của mình vẫn còn quá nhỏ chưa đủ thỏa mãn. Nó thấy ngột ngạt, khao khát chinh phục thế giới để được hít thở một cách tự do”.

Tôi nghĩ chúng ta cần cho phép mình chấp nhận cái tính đế quốc chủ nghĩa (cái tính luôn muốn xông ra, muốn chiếm lấy mọi thứ) mà chính Chúa đặt trong lòng chúng ta, dù cho phải luôn luôn cẩn thận không được xem nhẹ sức mạnh và ý nghĩa của nó. Nhưng đây là một chuyện thật sự gây nhiều căng thẳng. Làm sao để chúng ta thấy ổn với tính đế quốc chủ nghĩa trong linh hồn mình mà không cần phải khinh dễ sinh lực thần thiêng thổi bùng lên đế quốc chủ nghĩa đó? Với tôi, đây chính là một cuộc đấu tranh.

Tôi lớn lên giữa những đồng cỏ Canada rộng mênh mông xa tít tận chân trời. Về mặt địa lý, một nơi như thế cho linh hồn con người được mở rộng ra, nhưng trái lại, thế giới của tôi lại quá nhỏ bé để linh hồn tôi đủ dưỡng khí hít thở. Tôi lớn lên trong một cộng đồng chặt chẽ ở một vùng quê hẻo lánh, đủ nhỏ để mọi người ai cũng quen biết nhau. Chuyện đó thật tuyệt vời, vì nó như một cái kén ấm áp thân tình, nhưng dường như chính cái kén đó tách biệt tôi với thế giới rộng lớn, một nơi có lẽ tâm trí và linh hồn non trẻ của tôi có thể được tự do hít thở thoải mái ở một không gian rộng lớn hơn. Hơn nữa, lớn lên trong sự nhạy cảm về đạo đức và tôn giáo, tôi cảm thấy tội lỗi về sự thao thức của mình, như thể nó là một thứ bất thường mà tôi cần phải che giấu.

Và mang trong mình tình trạng như thế, năm 18 tuổi, tôi bước vào đời sống tu trì. Tập viện thời đó rất nghiêm ngặt và biệt lập. Chúng tôi chỉ có 18 tập sinh, ở ẩn trong một chủng viện cũ nằm ở bên này bờ hồ, cách xa thị trấn và xa lộ. Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng xe cộ và thấy cuộc sống ở phía bên kia hồ, nhưng không hề tham gia vào đó. Hầu hết mọi chuyện trong cuộc sống ẩn dật của chúng tôi tập trung vào chuyện thiêng liêng nên kể cả những khát khao trần tục nhất của chúng tôi cũng gắn liền với sự đói khát Thiên Chúa và mong mỏi bánh hằng sống. Sống được như thế chẳng dễ dàng gì, nhất là với một thiếu niên.

Một hôm nọ, có một linh mục đến thăm, và cha đã cho linh hồn tôi được phép giải tỏa sự ngột ngạt, được phép hít thở. Cha quy tụ 18 tập sinh chúng tôi vào một phòng học, và bắt đầu buổi thảo luận bằng câu hỏi này: “Các con có thấy hơi thao thức không?” Chúng tôi gật đầu, và khá ngạc nhiên khi cha hỏi câu đó. Cha nói tiếp, “Các con phải cảm thấy thao thức! Các con phải muốn thoát khỏi cảnh hiện tại! Sinh lực trong các con đang rất dữ dội, biết bao kích thích tố khuấy động trong máu, thế mà các con lại kẹt ở đây, đứng nhìn cuộc sống diễn ra bên kia hồ! Thỉnh thoảng, chắc các con phát điên thật! Nhưng… thế là tốt, các con phải cảm thấy như thế, và như thế là các con lành mạnh. Cứ tiếp tục như thế. Các con có thể làm được. Cảm thấy thao thức là tốt”.

Ngày hôm ấy, những đồng cỏ mênh mông mà tôi đã sống cả đời và những không gian mênh mông trong linh hồn tôi đã đến với nhau, kết thân với nhau. Và tình bạn đó tiếp tục phát triển dần khi tôi học hỏi và đọc từ các tác giả đã làm bạn với linh hồn mình. Trong số đó, nhiều vị đã thực sự khiến tôi cảm kích: Thánh Âugutinô (Chúa đã tạo chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài), thánh Tôma Aquinô (Đối tượng thích đáng cho trí tuệ và ý chí của con người là Hữu thể hoàn toàn), nhà văn Iris Murdoch (Nỗi đau thâm sâu nhất của toàn nhân loại là nỗi đau của việc không thể tự biểu hiện cho đủ), thần học gia Karl Rahner (Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, trong đời này, tất cả mọi hòa âm đều phải dang dở), tác giả Sydney Callahan (Chúng ta được tạo thành để tận cùng ngủ với toàn thể thế giới, chúng ta khao khát điều đó, có tuyệt vời không nào?) và tâm lý gia James Hillman (Cả tôn giáo lẫn tâm lý học đều không thật sự tôn vinh linh hồn con người. Tôn giáo luôn mãi cố cứu rỗi linh hồn, còn tâm lý học thì luôn mãi cố khắc phục linh hồn. Linh hồn không cần được cứu rỗi hay khắc phục, nó vốn đã bất diệt rồi, nó chỉ cần được lắng nghe).

Có lẽ thời nay, cuộc đấu tranh thật sự không hẳn là chấp nhận mình được phép làm bạn với những tham vọng khắc khoải hoang dại của linh hồn. Tôi cho rằng, thời nay, cuộc đấu tranh lớn hơn, chính là đừng tầm thường hóa linh hồn, đừng biến những khát khao vô tận của nó thành thứ gì đó tầm thường.

Trong Thế chiến Thứ hai, các thần học gia Dòng Tên đã chống đối việc Phát xít chiếm đóng nước Pháp bằng cách in một tờ báo ngầm. Và dòng mở đầu tờ báo đầu tiên là: Nước Pháp, cẩn thận đừng để mất linh hồn mình. Một lời cảnh báo đúng. Linh hồn mang tính đế quốc chủ nghĩa bởi nó mang một ngọn lửa thần thiêng và nó đấu tranh để được hít thở tự do trên đời. Và chúng ta lành mạnh khi cảm nhận cùng tôn vinh sự đấu tranh đó.

Lời cầu nguyện chân thành

Gần đây, tôi có nhận được một lá thư của một phụ nữ có cuộc sống vạn phần đắng cay nuốt hết vào lòng. Trong vài tháng, cô bị chồng ly dị, bị mất việc, bị buộc phải rời khỏi ngôi nhà cô đã sống lâu nay, bị kẹt trong chỗ ở mới vì lệnh phong tỏa Covid, và bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư nan y. Thật quá sức chịu đựng. Có lúc, cô đã sụp đổ, lòng đầy tức giận và chỉ muốn bỏ cuộc. Cô hướng về Chúa Giêsu trong cay đắng: “Nếu Chúa có đó, dù chắc là không có đâu, thì Chúa biết những chuyện này chứ? Chúa có bao giờ cô đơn như thế này đâu!” Tôi nghĩ chúng ta ai cũng có những lúc như thế này. Chúa có biết những cảnh này không?

Nếu chúng ta tin vào Tin Mừng, thì Chúa Giêsu biết hết những cảnh này, không phải bởi ngài có ý thức thần thánh, nhưng bởi như người phụ nữ tôi vừa kể, Ngài biết ngay từ đầu cảnh phải đơn độc, bị gạt ra ngoài thế giới bình thường của nhân loại.

Điều này đã rõ ràng ngay từ khi Ngài ra đời. Tin Mừng nói rõ cho chúng ta biết, Mẹ Maria phải sinh Chúa Giêsu trong chuồng bò vì nhà trọ không còn chỗ. Do người chủ trọ nhẫn tâm! Tội nghiệp ông ta đã phải chịu chê trách hàng thế kỷ. Tuy nhiên, nghĩ như thế là bỏ sót điểm chính của câu chuyện và hiểu sai ý nghĩa của nó. Bài học của câu chuyện này không phải là về sự tàn nhẫn vô lương tâm ngự trị thế gian hay là thế giới quá bận tâm đến bản thân mà chẳng để ý thấy Chúa Giêsu giáng sinh, mặc dù những ý này cũng đúng. Đúng ra, điểm mấu chốt là, Chúa Kitô, được sinh ra như một kẻ ngoài lề, một kẻ nghèo hèn, một người ngay từ đầu đã không được đặt vào guồng quay chính của xã hội. Như tác giả Gil Bailie nói, Chúa Giêsu là người bị tất cả nhất trí loại trừ. Sao có thể khác được chứ?

Với con người của Chúa Giêsu, với thông điệp trọng tâm của Ngài là tin mừng cho người nghèo, và với việc Ngài đi vào cuộc sống nhân loại để trải nghiệm mọi điều trong đó, kể cả đau đớn và sỉ nhục, khi mà đáng ra Ngài có thể Ngài sinh ra trong cung điện, được nhiều hỗ trợ và tâm điểm của mọi chú ý yêu thương. Khi đồng cảnh ngộ với người nghèo, Ngài đã phải sinh “ngoài thành phố” như cách nói của tu sĩ Merton, và nó mang một ý nghĩa ẩn dụ lớn lao. Ngay từ đầu, Chúa Giêsu đã biết nỗi đau và tủi nhục của người bị loại trừ, người chẳng có chỗ trong xu thế chủ đạo trần thế.

Khi xem kỹ các Tin Mừng, chúng ta thấy, chẳng nỗi đau, về cảm xúc hay thể lý nào, mà Chúa Giêsu chưa trải qua. Có thể nói, không một ai, bất chấp nỗi đau của chính mình, có thể nói với Chúa Giêsu rằng: Ngài đâu phải trải qua những gì con đã trải qua! Chúa Giêsu đã trải qua hết rồi.

Trong những năm mục vụ, Ngài đã đối diện với chối bỏ, chế nhạo và bị đe dọa liên tục, có lúc phải trốn đi như tội phạm lẩn trốn. Ngài cũng cô độc, ngủ một mình, không có được những sự thân mật bình thường của con người, không có gia đình riêng của mình. Rồi trong cuộc thương khó và cái chết, Ngài đã trải nghiệm những nỗi đau cảm xúc và thể lý cùng cực nhất. Về cảm xúc, Ngài đã “đổ mồ hôi máu”, và về thể lý, khi chịu đóng đinh, Ngài đã trải qua nỗi đau cùng cực, sỉ nhục cùng cực mà một con người có thể gánh chịu.

Như chúng ta đã biết, đóng đinh thập giá được người La Mã dựng lên như hình phạt tử hình, nhưng họ còn nghĩ xa hơn thế nhiều. Nó được dựng lên để tạo ra đau đớn và sỉ nhục nhiều nhất có thể cho người chịu nạn. Chính vì thế mà thỉnh thoảng người ta cho người chịu đóng đinh dùng thuốc phiện, không phải để làm giảm cơn đau, nhưng để người đó không ngất đi và thoát khỏi cơn đau này. Đóng đinh cũng được dùng để sự sỉ nhục lên đến cùng cực. Và để làm thế, họ lột trần người bị đóng đinh, phơi bày bộ phận sinh dục, và trong cơn co thắt lâm tử, bộ ruột lỏng ra sẽ là sự tủi nhục cuối cùng. Một vài học giả còn cho rằng trong đêm trước khi vác thập giá, có khi Ngài còn bị binh lính xâm hại tình dục. Thật sự, không có nỗi đau hay sỉ nhục nào mà Ngài chưa gánh chịu.

Theo Kinh viện, cầu nguyện được định nghĩa là nâng tâm trí và tâm hồn lên cùng Thiên Chúa. Sẽ có những điểm chùng xuống trong cuộc đời chúng ta, khi hoàn cảnh buộc chúng ta phải nâng tâm trí và tâm hồn lên với Chúa theo một cách có vẻ đi ngược với cầu nguyện. Có lúc, chúng ta sẽ tới điểm bùng nổ, khi mà trong sự sụp đổ, giận dữ, hổ thẹn và tuyệt vọng, chúng ta nghĩ không một ai, kể cả Thiên Chúa, quan tâm đến chúng ta, chúng ta cực kỳ cô độc, và thế là, dù có ý thức hay không, chúng ta sẽ đối đầu với Chúa Giêsu qua những lời này: “Chúa biết gì về chuyện này chứ!” Và Chúa sẽ lắng nghe lời đó như một lời cầu nguyện, một tiếng kêu chân thành từ cõi lòng, hơn là một lời bất kính.

Chiến thắng của sự thiện trên sự dữ

Một đồng nghiệp từng thách thức nhà thần học Pierre Teilhard de Chardin bằng câu hỏi này. Cha tin rằng sự thiện cuối cùng sẽ chiến thắng sự dữ, vậy nếu chúng ta cho bom nguyên tử làm trái đất nổ tung thì sự thiện sẽ như thế nào đây? Cha Teilhard trả lời: Nếu chúng ta cho trái đất nổ tung bằng bom nguyên tử, thì trái đất sẽ đi lui hai triệu năm, nhưng sự thiện sẽ chiến thắng sự dữ, không phải vì tôi ước mong như vậy, nhưng vì Thiên Chúa đã hứa như vậy, và trong biến cố phục sinh, Thiên Chúa đã cho thấy Ngài có quyền năng để thực hiện lời hứa này. Cha Teilhard nói đúng. Ngoài trừ sự phục sinh, chúng ta chẳng có đảm bảo nào cho bất kỳ chuyện gì. Dối trá, bất công, bạo lực có vẻ cuối cùng sẽ chiến thắng. Vào ngày Chúa Giêsu chết, mọi chuyện có vẻ rõ ràng như thế.

Chúa Giêsu là bậc thầy về đạo đức và nếu chúng ta tuân theo giáo lý của Ngài, thế giới sẽ biến đổi. Nói đơn giản, nếu chúng ta tất cả đều sống theo Bài giảng trên núi, thì thế giới chúng ta sẽ đầy yêu thương, bình an và công bằng, nhưng tư lợi thường đi ngược lại với huấn giáo đạo đức. Theo các Tin Mừng, chúng ta thấy được, đâu phải các giáo huấn của Chúa Giêsu lay chuyển các thế lực của sự dữ và tỏ lộ quyền năng Thiên Chúa. Đâu phải như vậy. Chiến thắng của sự thiện và quyền năng tối hậu của Thiên Chúa được tỏ lộ qua cái chết của Chúa Giêsu, hạt lúa rơi xuống lòng đất và chết đi để sinh nhiều hoa trái. Chúa Giêsu đã chiến thắng các thế lực thế gian theo cách dường như đi ngược lại với mọi quyền lực trên đời. Ngài không áp chế ai bằng sự ưu việt về trí tuệ hay bằng sức thuyết phục trần tục. Không, Ngài tỏ lộ quyền năng ưu việt của Thiên Chúa đơn giản bằng cách giữ vững sự thật và tình yêu dù cho những quyền lực dối trá, thù ghét, và tư lợi đã đóng đinh Ngài. Các thế lực của thế gian đã đẩy Ngài đến chỗ chết, nhưng Ngài đã tin tưởng, bằng cách nào đó, Thiên Chúa sẽ bào chữa cho Ngài, Thiên Chúa sẽ là người phán quyết sau cùng. Đúng thật là thế. Thiên Chúa đã phục sinh Ngài từ cõi chết, như một lời chứng nhận rằng Ngài đã đúng và các thế lực thế gian đã sai, rằng tình yêu và sự thật sẽ luôn là người phán quyết cuối cùng.

Đấy chính là bài học cho chúng ta. Chúng ta cũng phải tin tưởng Thiên Chúa sẽ cho sự thật và tình yêu được là người phán quyết cuối cùng, bất kể thế gian có thế nào đi nữa. Sự phán xét của Thiên Chúa đối với các thế lực thế gian sẽ không như kiểu phim Hollywood, kiểu kẻ xấu cuối phim sẽ bị bắn chết bởi một người hùng cơ bắp và chúng ta sẽ được hưởng cảm giác nhẹ nhõm hưng phấn. Sự phán xét của Thiên Chúa như thế này: tất cả mọi người được phán xét bởi Bài giảng trên núi, dù cho tư lợi thường lờ đi sự phán xét này và có vẻ chẳng hề hấn gì. Tuy nhiên, có sự phán xét thứ hai là tất cả mọi người sẽ quy phục sự phục sinh. Đến cuối cùng, và không như cái kết trong phim Hollywood, Thiên Chúa cho sự thật và tình yêu từ mồ sống dậy và được là người ra phán quyết cuối cùng. Đến tận cùng, những thế lực thế gian đều sẽ quy phục sự phán xét tối hậu đó.

Không có sự phục sinh, thì chẳng có bảo đảm cho bất kỳ điều gì. Chính vì thế mà thánh Phaolô đã nói, nếu Chúa Giêsu không phục sinh thì chúng ta là những kẻ ảo tưởng hơn ai hết. Thánh Phaolô nói đúng. Thỉnh thoảng, vào những lúc tin tức thế giới có vẻ khả quan, niềm tin rằng các thế lực dối trá, tư lợi, bất công và bạo lực cuối cùng sẽ biến đổi và từ bỏ sự thống trị trần tục của mình, có vẻ cũng khả thi. Tuy nhiên, như đã xảy ra với Chúa Giêsu, chẳng có gì bảo đảm rằng những thế lực này sẽ không trở mặt và đóng đinh hầu hết những gì là chân thành, yêu thương, công bằng, và hòa bình trên đời. Chuyện của Chúa Giêsu và lịch sử thế giới làm chứng, chúng ta không thể đặt niềm tin vào các thế lực trần gian kể cả vào những lúc chúng có vẻ đáng tin. Các thế lực tư lợi và bạo lực đã đóng đinh Chúa Giêsu. Chúng đã làm thế từ rất lâu trước đó và vẫn còn tiếp diễn rất lâu sau đó. Những thế lực này sẽ không tan biến vì những sức mạnh đạo đức cao vượt, nhưng nhờ chúng ta sống theo Bài giảng trên núi và tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ vần tảng đá chắn mồ của chúng ta.

Nhiều người, có lẽ là hầu hết, tin rằng hiện thực như một hình cung, hướng về sự thiện hơn là sự dữ, về tình yêu hơn là thù hận, sự thật hơn là đối trá, và công lý hơn là bất công, và họ lấy lịch sử để chứng minh điều đó, rằng sự dữ chiến thắng trong một thời gian, nhưng cuối cùng hiện thực tỏ lộ và sự thiện chiến thắng, luôn là thế. Một số người gọi đó là quy luật của nghiệp. Niềm tin đó phần nào cũng đúng, không phải chỉ bởi lịch sử dường như củng cố cho điều đó, nhưng là bởi khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, Ngài đã tạo thành một vũ trụ được điều hướng bởi tình yêu, và Thiên Chúa đã viết Bài giảng trên núi vào trong lòng con người và vào cả cốt lõi của vũ trụ. Tạo vật hữu hình biết cách tự chữa lành mình, thì tạo vật vô hình cũng thế. Do đó, sự thiện sẽ luôn chiến thắng sự dữ, nhưng, có một cái nhưng, là bởi sự tự do của con người, nên chẳng có gì đảm bảo cả, ngoại trừ lời hứa được ban cho chúng ta trong sự phục sinh.

Làm sao để tìm kiếm Thiên Chúa?

Chúng ta rất dễ hiểu lầm điều này. Chúng ta luôn mãi tìm kiếm Thiên Chúa, dù cho hầu hết không nhận ra như thế. Thường thì chúng ta nghĩ tìm kiếm Thiên Chúa là cuộc tìm kiếm có ý thức về mặt tôn giáo, một việc mà chúng ta làm theo khía cạnh tâm linh cuộc sống của mình. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ như sau: Tôi có cuộc sống bình thường và có những mưu cầu của tôi, và nếu có lòng, tôi sẽ thực hiện sự mưu cầu về tôn giáo và tâm linh qua cầu nguyện, suy niệm và giữ đạo để có thể biết Thiên Chúa. Đáng tiếc thay, đây là một hiểu lầm tai hại. Cuộc truy cầu bình thường của chúng ta để tìm kiếm ý nghĩa, sự viên mãn, và thậm chí là khoái lạc, thật ra đều là cuộc truy cầu Thiên Chúa.

Trong cuộc đời, chúng ta tự nhiên tìm kiếm những gì? Theo lẽ tự nhiên, chúng ta tìm kiếm ý nghĩa, tình yêu, người tri kỷ, tình bạn, tình cảm, viên mãn tình dục, tầm quan trọng, sự công nhận, kiến thức, sáng tạo, vui chơi, hài hước và hoan lạc. Tuy nhiên, chúng ta lại thường không xem những mưu cầu này là tìm kiếm Thiên Chúa. Khi mưu cầu những thứ này, chúng ta hiếm khi xem chúng là cách để tìm kiếm Thiên Chúa. Chúng ta nghĩ mình đơn giản chỉ đang tìm kiếm hạnh phúc, ý nghĩa, sự viên mãn và hoan lạc, và cuộc tìm kiếm Thiên Chúa là một việc phải thực hiện theo cách khác, và phải được thực hiện qua những việc thực hành tôn giáo rõ ràng.

Đâu phải chỉ mình chúng ta nghĩ vậy. Chuyện này đã tồn tại từ xưa rồi. Như Thánh Âugutinô đã phải đấu tranh với chuyện này, cho đến một ngày, ngài mới nhận ra. Là người nhiệt thành truy cầu, Thánh Âugutinô dành 24 năm đầu đời để truy cầu những thứ của trần thế: học tập, ý nghĩa cuộc sống, yêu đương, tình dục, và một sự nghiệp đáng trọng. Tuy nhiên, trước cả khi trở lại đạo, trong lòng ngài vẫn có một khát khao hướng về Thiên Chúa và những gì thiêng liêng. Nhưng, cũng như chúng ta, ngài lại xem đó là một khát khao tách biệt với những khát khao của ngài đối với trần thế. Chỉ sau khi trở lại, ngài mới nhận ra được một điều. Và đây là những lời trứ danh của ngài để mô tả điều ngài đã cảm nghiệm:

“Con đã yêu Ngài quá muộn màng, ôi Vẻ Đẹp muôn đời ban sơ, muôn đời mới mẻ, con đã yêu Ngài quá muộn màng! Ngài đã ở trong con, nhưng con lại ở ngoài, và con lại tìm kiếm Ngài bên ngoài. Khi mình chẳng đáng mến, con lao vào những thứ đáng mến mà Ngài tạo dựng. Ngài đã ở với con, mà con chẳng ở với Ngài… Ngài đã gọi, đã hét, đã phá tan sự điếc đặc của con. Ngài làm chớp lòa, chói sáng và phá tan sự mù tối của con.”

Đây là lời thừa nhận thành thật, Thánh Âugutinô đã sống nhiều năm không yêu mến Thiên Chúa, nhưng đó cũng là lời thừa nhận, trong những năm tháng đó, ngài đã hiểu lầm một điều và chính điều đó dẫn đến thất bại của ngài. Hiểu lầm đó là gì?

Đọc lời tự thú của ngài, chúng ta thường tập trung vào phần đầu, là việc ngài nhận ra rằng Thiên Chúa ở trong ngài bấy lâu nay mà ngài lại không ở trong chính mình. Đây cũng là đấu tranh triền miên của chúng ta. Nhưng trong lời tự thú này và trong cuộc đấu tranh triền miên của chúng ta, có một điều khó thấy hơn, chính là việc ngài công nhận rằng trong bao nhiêu năm tháng đó, khi ngài tìm kiếm đời sống trần thế, một cuộc tìm kiếm mà ngài từng xem là chẳng liên quan gì đến việc tìm kiếm Thiên Chúa, thật ra ngài đã tìm kiếm Chúa rồi. Điều ngài tìm kiếm bao năm qua nơi những sự trần tục và khoái lạc, thật ra chính là tìm kiếm chính Thiên Chúa. Thật vậy, lời tự thú của ngài có thể được viết lại như thế này.

Muộn, con đã yêu Ngài quá muộn màng, bởi con chẳng ở trong bản thân khi mà Ngài luôn ở trong con, con chẳng biết khi tìm kiếm trong thế trần là con đang tìm Ngài. Con chưa hề nghĩ cuộc tìm kiếm đó liên quan gì đến Ngài. Con cứ nghĩ không phải con tìm kiếm Ngài, mà là con tìm kiếm những gì đem lại cho con ý nghĩa, tình yêu, tầm quan trọng, sự viên mãn tình dục, kiến thức, hoan lạc và sự nghiệp. Con chưa hề nghĩ khát khao của con với những thứ này có liên hệ với khát khao hướng về Ngài. Con chẳng biết rằng mọi thứ con theo đuổi, mọi thứ con dốc mình, đều có sẵn trong con, trong Ngài. Muộn quá, con đã hiểu Ngài quá muộn màng. Muộn quá, con đã quá muộn để hiểu ra rằng điều con quá khát khao và dốc mình lại ở trong Ngài. Bao năm qua, con chưa hề nghĩ những khắc khoải, sự vị kỷ và mưu cầu khoái lạc của con lại có liên hệ gì đến Ngài. Mọi việc con dốc mình lại đang ở trong Ngài và Ngài ở trong con. Muộn quá, con đã nhận ra quá muộn màng.

“Chúng ta được bắn vào cuộc đời với sự điên cuồng của các vị thần”. Các nhà khắc kỷ Hy Lạp nhìn nhận như thế. Họ đã đúng. Cả cuộc đời chúng ta đơn giản chỉ là cuộc tìm kiếm để phản ứng với sự điên cuồng thần thánh trong chúng ta, một sự điên cuồng mà các kitô hữu đồng nhất với những khát khao vô tận của linh hồn. Với những khát khao này, như Thánh Âugutinô chúng ta lao vào thế trần tìm kiếm ý nghĩa, tình yêu, tri kỷ, tình bạn, tình cảm, sự viên mãn tình dục, tầm quan trọng, sự công nhận, kiến thức, sự sáng tạo, và hoan lạc. Mà có lẽ còn hơn cả những truy cầu tôn giáo rõ ràng của chúng ta, cuộc truy cầu trần thế đó thật sự chính là cuộc truy cầu Thiên Chúa.

Mong chúng ta sớm nhận ra điều này, để không phải viết: “Con yêu Ngài quá muộn màng!”

Thiên Chúa không thể nói dối

Dối trá là sự dữ tai hại nhất, là tội nguy hiểm nhất, xúc phạm nặng nề nhất, và là tội không thể tha thứ. Có lẽ thời nay chúng ta cần được nhắc nhớ chuyện này, bởi nền văn hóa hiện thời đang có nguy cơ đánh mất khái niệm về hiện thực và sự thật. Chẳng có gì nguy hiểm hơn thế.

Có một câu trong Kinh Thánh hiếm khi được trích dẫn, nằm trong Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Do Thái, đơn giản nói thế này: “Thiên Chúa không thể nói dối được” (Do Thái 6, 18). Chắc chắn là thế, không thể nào khác được. Thiên Chúa là Sự Thật, làm sao Thiên Chúa nói dối được? Vì Thiên Chúa nói dối sẽ là chối bỏ bản tính của Thiên Chúa. Như thế, chúng ta nói dối là đi ngược lại với Thiên Chúa.

Dối trá chính là bất kính và phạm thượng. Nó là phỉ báng bản tính của Thiên Chúa.

Nếu nhận thức được thế, thì có lẽ gần đây, chúng ta không thật tâm với xác quyết này. Khắp mọi nơi, từ vô số các bài đăng trên mạng xã hội, tin nhắn, blog, cho đến phát biểu của các nhân viên cấp cao trong chính phủ, công ty kinh doanh hay thậm chí trong cả giáo hội, chúng ta đều thấy một sự tách ly ngày càng xa rời hiện thực và sự thật. Dối trá và tạo ra phiên bản sự thật của mình, bây giờ đã trở thành một thứ được xã hội chấp nhận (đến một mức độ đáng kinh sợ).

Chuyện gì đã làm thay đổi như vậy? Chẳng phải trong bao lâu nay chúng ta vẫn không nói dối đó sao? Trong chúng ta có ai dám nói mình chưa hề nói dối hoặc ngụy tạo thông tin theo cách này hay cách khác? Vậy thì thời nay có gì khác thời xưa?

Cái khác là, trước thế hệ này, chúng ta vẫn còn có thể khó chịu vì sự dối trá của mình, thấy hổ thẹn và buộc phải thừa nhận mình bất lương. Nhưng bây giờ đã không còn như thế này nữa. Thời nay, mối quan hệ của chúng ta với sự thật đang rạn nứt đến mức độ chúng ta không còn phân biệt được, cả về đạo đức và thực tế, giữa dối trá và sự thật. Hiện giờ, một lời dối trá chỉ đơn giản là một thể thức khác của sự thật.

Và chuyện này tác động chúng ta thế nào? Nó là thứ chúng ta đang sống cùng, nó tác động mọi nơi mọi lúc. Trước hết, nó phá vỡ ý thức hiện thực chung, và cả cộng đồng không còn một nhận thức luận chung, không còn ý thức thiện ác chung nữa. Người ta không còn liên hệ với hiện thực theo cùng một cách như nhau nữa. Sự thật với người này lại là dối trá với người khác. Chúng ta không còn có thể xác định cái gì cấu thành một lời dối trá.

Nó không chỉ hủy hoại sự tin tưởng giữa chúng ta, mà nó còn tác hại sự ôn hòa lành mạnh và cả những đặc tính tôn giáo và luân lý của chúng ta. Như trong một bài tôi viết cách đây vài tháng, chúng ta tin rằng có bốn đặc tính siêu việt của Thiên Chúa. Đó là Duy nhất, Chân, Thiện, Mỹ. Bởi Thiên Chúa là Duy nhất, trọn vẹn và nhất quán, nên không thể nào có sự mâu thuẫn nội tại trong Ngài. Điều này có vẻ trừu tượng và hàn lâm quá, nhưng nó lại chính là mỏ neo giữ cho chúng ta được ôn hòa lành mạnh. Chúng ta tỉnh táo chỉ khi chúng ta luôn có thể tin rằng hai cộng hai bằng bốn. Sự Duy nhất của Thiên Chúa chính là mỏ neo đó. Nếu chuyện đó thay đổi, thì cái neo giữ sự tỉnh táo của chúng ta sẽ mất đi. Khi hai cộng hai không còn bằng bốn, thì chúng ta chẳng còn gì biết chắc hay đáng tin tưởng nữa. Đấy là mối nguy hại tối cùng của tình trạng thời nay. Chúng ta là con thuyền trôi dạt.

Mối nguy tiếp theo của dối trá là nó tác hại trực tiếp đến những người dối trá. Fyodor Dostoevsky đã tóm gọn nó thế này: “Những kẻ dối trá với chính mình, lắng nghe lời dối trá của họ đến nỗi trở nên không thể phân biệt sự thật trong bản thân và quanh bản thân, để rồi mất đi mọi sự tôn trọng đối với bản thân và tha nhân. Và khi không còn tôn trọng, họ chẳng còn yêu thương nữa”. Jordan Peterson thì nói thêm: Nếu chúng ta nói dối đủ lâu “thì sẽ xuất hiện sự ngông cuồng và ý thức thượng đẳng vốn đi kèm với những lời dối trá thành công, và nó là một trong những mối nguy lớn nhất, khi có vẻ ai cũng bị lừa, ai cũng ngu ngốc trừ mình ra, nên mình làm gì cũng được, chẳng bao giờ phải trả giá”. Và còn có câu: “Nó dễ bị tôi thao túng. Thế nên, nó đâu đáng để tôi tôn trọng”.

Cuối cùng, là lời cảnh báo nặng nhất của Chúa Giêsu nói trong phúc âm thánh Gioan. Ngài bảo nếu chúng ta nói dối đủ lâu, thì cuối cùng sẽ tin vào lời dối trá của mình và nhầm lẫn giữa dối trá và sự thật, và nó trở thành tội không thể tha thứ (một sự xúc phạm Thần Khí) bởi vì kẻ nói dối chẳng còn muốn được tha thứ.

Cuối cùng, dối trá phá vỡ sự tin tưởng giữa chúng ta. Sự tin tưởng tồn tại dựa trên niềm tin rằng chúng ta đều chấp nhận rằng hai cộng hai bằng bốn, rằng chúng ta đều chấp nhận nó là hiện thực, chúng ta đều chấp nhận rằng hiện thực có thể bị bóp méo bởi một lời dối trá, và một lời dối trá là giả dối chứ không phải một thể thức của sự thật. Dối trá hủy hoại sự tin tưởng đó.

Dối trá trong một thế giới xem nhẹ hiện thực và sự thật cũng có thể gây ra sự cô độc cho chúng ta. George Eliot từng viết rằng: “Còn gì cô đơn hơn là không thể tin tưởn

Thương tiếc người đã ra đi

Gần như chúng ta đều biết câu chuyện Zorba người Hy Lạp qua quyển sách nổi tiếng của tác giả Nikos Kazantzakis hoặc qua phim ảnh. Và Zorba không phải là nhân vật hư cấu. Alexix Zorba là người thật việc thật, có tính cách phóng khoáng và tinh thần hoạt bát đến nỗi khi ông qua đời, Kazantzakis không thể chấp nổi chuyện đó, tự vấn rằng một người với sức sống mãnh liệt thế kia mà có thể chết sao.

Khi biết tin Zorba qua đời, phản ứng của Kazantzakis là thế này: “Tôi nhắm mắt lại và cảm thấy nước mắt từ từ lăn xuống âm ấm trên gò má. Ông ấy chết rồi, chết thật rồi. Zorba đã ra đi, đi mãi không về. Tiếng cười đã chết, bài ca im bặt, cây đàn santir vỡ tan, điệu nhảy trên bãi đá bờ biển đã dừng, cái miệng ham muốn đặt câu hỏi không ngừng giờ đã đầy bùn đất. … Những linh hồn như thế sẽ không chết. Đất, nước, lửa, liệu có thể tạo ra một Zorba nữa không? … Như thể tôi tin ông ấy sẽ bất tử vậy”.

Đôi khi thật khó để tin là một người nào đó có thể chết, vì cuộc sống và sức sống của họ quá tuyệt diệu. Đơn giản là chúng ta chẳng hình dung nổi một sức sống như thế lại nằm yên, lại chết và mãi mãi xa rời trần thế này. Có những người dường như không thể chết vì chúng ta không hình dung nổi một sức sống, sự khoáng đạt, phong phú và tốt lành như thế lại chết. Làm sao một sức sống diệu kỳ như thế mà chết được chứ?

Tôi đã nhiều lần cảm nhận chuyện này, gần nhất là mới tuần trước, khi hai đồng nghiệp cũ của tôi, những người khoáng đạt, sắc sảo, phong phú và cực kỳ tâm linh, đã chết. Kazantzakis cố chấp nhận cái chết của Zorba, đồng thời tìm cách cố đương đầu với cái chết này. Ông quyết định nỗ lực “phục sinh” Zorba, bằng cách kể những câu chuyện của Zorba cho cả thế giới sao để biến cuộc đời ông thành huyền thoại, thành vũ khúc, thành tôn giáo.

Kazantzakis tin rằng đây chính là việc Maria Mađalêna đã làm khi thương tiếc cái chết của Chúa Giêsu, khi bà rời mộ Ngài và trở lại với đời. Bà đã “phục sinh” Chúa Giêsu bằng cách kể chuyện của Ngài, tạo nên một huyền thoại, một vũ khúc, một tôn giáo. Nên khi thương tiếc cái chết của Zorba, Kazantzakis tự nhủ: “Hãy cho ông máu của chúng ta để ông có thể sống lại, chúng ta hãy làm những gì có thể để kéo dài thêm sinh mệnh cho con người mê ăn, mê uống, mê làm việc, mê đàn bà, mê lang bạt, người vũ công và chiến binh, linh hồn khoáng đạt nhất, thân thể rắn chắc nhất, tiếng hét tự do nhất mà tôi từng biết”.

Ông đã rất nỗ lực! Và nỗ lực đó tạo nên một câu chuyện tuyệt vời, một thần thoại thú vị, nhưng nó không bao giờ tạo nên một tôn giáo hay một vũ khúc bất diệt, bởi nó không như những gì bà Maria Mađalêna đã làm cho Chúa Giêsu. Dù thế, vẫn có gì đó đáng để chúng ta học hỏi về cách đương đầu với những ra đi quá lớn làm cho thế giới bỗng chốc hoang lạnh đi hẳn. Chúng ta không được để sức sống diệu kỳ đó biến mất, chúng ta phải giữ cho nó sống. Tuy nhiên, là tín hữu kitô, chúng ta làm theo một cách khác.

Chúng ta đọc câu chuyện của Maria Mađalêna theo một cách rất khác. Bà Maria đến mộ Chúa Giêsu, thấy mộ trống, và đi ra ngoài khóc, nhưng… trước khi đi kể chuyện này cho người khác, bà đã được gặp Chúa Giêsu, được Ngài nói cho cách để tìm được sức sống, sự phong phú, tình yêu thương và con người của Ngài, trong một phương thức hoàn toàn mới là trong tinh thần của Ngài. Phương thức đó bao hàm cả bí mật về cách chúng ta trao sự sống cho những người thân yêu sau khi họ đã mất.

Làm sao để giữ những người thân yêu và sức sống kỳ diệu mà họ đã đem lại cho đời, vẫn tiếp tục sống sau khi họ đã mất? Trước hết, là bằng cách nhận ra rằng sức sống của họ không mất đi cùng với thân thể, rằng sức sống đó không rời trần thế này. Sức sống của họ vẫn còn sống, vẫn còn ở bên cạnh chúng ta, nhưng bây giờ là ở trong chúng ta, qua tinh thần họ để lại (cũng như Chúa Giêsu đã để lại tinh thần của Ngài). Hơn nữa, sức sống của họ truyền cho chúng ta mỗi khi chúng ta đi vào “Galilê” của họ, cụ thể là, vào những nơi mà tinh thần của họ phát triển và truyền đi dưỡng khí sinh sôi.

Thế nghĩa là sao? “Galilê” của ai đó, nghĩa là gì? “Galilê” của ai đó là sức sống đặc biệt, dưỡng khí đặc biệt mà người đó phát ra. Với Zorba, thì đó là sự táo bạo và ham mê sống, với cha tôi là tinh thần ngoan cường, với mẹ tôi thì là lòng quảng đại. Trong sức sống đó, họ phát ra một điều gì đó của Thiên Chúa. Bất kỳ lúc nào chúng ta đến những điểm mà tinh thần của họ phát ra sức sống của Thiên Chúa, thì chúng ta hít vào dưỡng khí của họ, vũ điệu của họ và sự sống của họ.

Như tất cả các bạn, tôi cũng có những lúc choáng váng, buồn đau và hoài nghi về cái chết của một người nào đó. Làm sao sức sống đặc biệt đó lại chết được? Đôi khi sức sống đặc biệt đó được thể hiện nơi vẻ đẹp thể lý, sự duyên dáng, bạo dạn, hăng say, phong phú, kiên cường, cảm thương, nhân ái, nồng hậu, khéo léo hay dí dỏm. Có thể rất khó chấp nhận rằng vẻ đẹp và dưỡng khí đem lại sự sống đó, có thể rời bỏ trần thế này.

Xét cho cùng, chẳng gì mất đi cả. Đôi khi, trong thời gian của Thiên Chúa, khi đúng thời đúng điểm, tảng đá sẽ lăn ra, và như Maria Mađalêna đã từ mộ đi về, chúng ta sẽ biết rằng nếu đến “Galilê”, mình có thể hít thở sức sống diệu kỳ đó lần nữa.

Tình yêu muốn chúng ta làm gì lúc này?

“Hoàn toàn có thể cho rằng chúng ta tạo nên Thiên Chúa theo hình ảnh mình, khi mà hóa ra Chúa ghét mọi người chúng ta ghét”. Anne Lamott

Những lời này đáng để suy ngẫm, khi nhìn vào mọi mặt của sự phân rẽ chính trị và tôn giáo thời nay. Chúng ta đang sống trong sự chia rẽ đầy cay đắng. Từ các viên chức chính phủ cho đến bàn ăn trong gia đình, có thể thấy được một sự căng thẳng và chia rẽ về chính trị, tôn giáo và những sự thật tùy biến đến độ vô lý lố bịch. Đáng buồn thay, những chia rẽ này lại khơi lên những gì xấu xa nhất trong tất cả chúng ta. Sự lễ độ đã rạn vỡ và cùng với nó là một thứ gì đó minh họa rõ ràng định nghĩa trong Kinh thánh về “ma quỷ”, nói cụ thể chính là, sự vô lễ, thù ghét, và xem người ta là ma quỷ, ngày càng lan rộng. Tất cả chúng ta giờ thiển cận tự mãn cho rằng Chúa ghét hết tất cả những người mà chúng ta ghét. Sự phân cực trong cuộc bầu cử mới đây ở Hoa Kỳ, vụ tấn công chiếm điện Capitol, những tranh cãi luân lý và tôn giáo đầy chua cay về phá thai, và việc mất đi khái niệm về sự thật, tất cả những điều này làm rõ rằng sự khiếm nhã, thù ghét, vô lễ và sự thật tiện dụng đang thống trị thời này.

Chúng ta sẽ đi về đâu đây? Tôi là thần học gia, không phải chính trị gia hay nhà phân tích xã hội, nên những ý kiến của tôi thiên về cương vị môn đệ kitô giáo và sự trưởng thành nhân văn căn bản hơn là về các phản ứng chính trị. Trong mặt tôn giáo, chúng ta sẽ đi về đâu đây?

Có lẽ để tìm hiểu cách phản ứng hợp lý trong kitô giáo, chúng ta nên đặt vấn đề như thế này: trong một thời như thế này, yêu thương nghĩa là gì? Yêu thương nghĩa là gì trong một thời mà người ta không còn nhất trí rằng cái gì là sự thật? Làm sao chúng ta lễ độ và lịch sự khi cảm thấy không thể nào tôn trọng những người bất đồng với mình?

Để làm rõ một vấn đề quá phức tạp, đôi khi nên thực hiện bằng Via Negativa, nghĩa là hỏi xem mình nên tránh làm gì? Chúng ta không nên làm gì trong thời nay?

Trước hết, chúng ta không được bỏ qua phép lễ độ và biến cung cách vô lễ và quỷ hóa người khác thành chuyện hợp tình hợp lý, nhưng chúng ta cũng không nên tiêu cưc không lành mạnh, sợ rằng nói ra sự thật sẽ khiến người khác bực mình. Chúng ta không nên bất chấp sự thật và để cho những dối trá, bất công trơ tráo diễu võ dương oai. Quá đơn giản để nói rằng cả hai phía đều có người tốt, để rồi chúng ta dựa vào đó mà trốn tránh đưa ra phán quyết thật sự về sự thật. Cả hai phía đều có những người chân thành, nhưng sự chân thành cũng có thể bị dẫn dụ. Chúng ta phải chỉ thẳng mặt dối trá và bất công. Cuối cùng, chúng ta phải chống lại cám dỗ tinh vi đến nỗi gần như không thể chống lại, dụ chúng ta để cho sự công chính của mình biến thành tự phụ, một trong những thứ gây chia rẽ nhất do cái tôi quá lớn.

Chúng ta cần làm gì vì tình yêu thương? Fyodor Dostoevsky từng viết rằng yêu thương là một thứ đáng sợ và khắc nghiệt, và phản ứng đầu tiên của chúng ta là phải chấp nhận sự thật như thế. Yêu thương là thứ khắc nghiệt, nó không chỉ là sự khó chịu khi đối đầu người khác hoặc bị họ đối đầu. Sự khắc nghiệt của yêu thương thể hiện rõ nhất (gần như là không chấp nhận nổi) khi chúng ta phải giằng sự tự phụ của mình xuống để có được một mức độ trưởng thành cao hơn, để chấp nhận rằng Thiên Chúa yêu thương những người chúng ta ghét không kém gì yêu thương chúng ta, và trong mắt Thiên Chúa, họ cũng quý báu và quan trọng y hệt như chúng ta.

Khi chấp nhận được điều này, chúng ta có thể bắt đầu lên tiếng vì sự thật và công lý. Rồi sự thật có thể đương đầu với “sự thật tùy biến” và sự chối bỏ sự thật. Nhiệm vụ của chúng ta là thế đấy. Phải vạch trần sự dối trá, và chúng ta cần điều này trong các tranh luận chính trị, trong hội thánh và trên bàn ăn gia đình mình. Có nhiều lúc, đấu tranh này đòi buộc chúng ta phải bỏ đi “sự ân cần” vốn là một chuyện rất khó với những người nhạy cảm. Tuy nhiên, dù không thể nào luôn mãi ân cần, nhưng chúng ta có thể luôn lễ độ và lịch sự.

Một trong những nhân vật mang tính ngôn sứ đương thời, linh mục Dòng Tên Mỹ Daniel Berrigan, bất chấp nhiều lần bị bắt vì bất tuân luật dân sự, đã kiên quyết khẳng định rằng một ngôn sứ phải có lời khấn yêu thương chứ không phải lời khấn ghét bỏ. Do đó, trong mọi nỗ lực để bảo vệ sự thật, để lên tiếng vì công lý, và nói lên sự thật với cường quyền, thì chúng ta phải nói bằng yêu thương, chứ không phải giận dữ hay thù ghét. Hơn nữa, việc chúng ta hành động bằng yêu thương hay ghét bỏ, sẽ luôn thể hiện ra nơi phép lễ độ hoặc thiếu lễ độ. Dù chúng có giận dữ đến đâu đi nữa, tình yêu thương vẫn giữ cho chúng ta một phép lễ độ, lịch sự bắt buộc phải có. Mỗi khi thấy mình rơi vào sự hấp tấp muốn quy chụp ai đó, là chúng ta có thể chắc chắn rằng mình đã rời xa tinh thần môn đệ, tinh thần ngôn sứ và những gì tốt đẹp nhất trong chúng ta.

Cuối cùng, cách chúng ta phản ứng với thời đại vẫn là một chuyện rất riêng của chúng ta. Không phải tất cả chúng ta đều được mời gọi làm một việc như nhau. Thiên Chúa đã cho chúng ta những ơn gọi độc nhất vô nhị, có người được gọi để phản kháng công khai, có người được gọi để phản kháng thầm lặng. Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều được kêu gọi tự vấn mình cùng một câu hỏi rằng: trước những chuyện hiện giờ, tình yêu muốn mình làm gì đây?

Việc thực hành của bạn là gì?

Ngày nay, câu hỏi thường thấy trong giới tâm linh không phải là, “Bạn thuộc nhà thờ nào, tôn giáo nào?” Mà là, “Bạn thực hành việc gì?”

Bạn thực hành việc gì? Việc thực hành cầu nguyện thể hiện rõ ra bên ngoài cụ thể của bạn là gì? Là Kitô giáo? Phật giáo? Hồi giáo? Thế tục? Bạn có chiêm niệm? Bạn có cầu nguyện hướng thần? Bạn có chánh niệm? Bạn làm những việc này bao lâu một ngày?

Đây là những câu hỏi có lý và những việc cầu nguyện này đều tốt đẹp, nhưng tôi thấy có một vấn đề. Xu hướng trong những chuyện này là đồng hóa bản chất việc giữ đạo và cương vị môn đệ với một thực hành cầu nguyện rõ ràng duy nhất, và như thế có thể sa vào tối giản hóa. Cương vị môn đệ đâu chỉ gói gọn trong một việc cầu nguyện.

Một người bạn của tôi đã chia sẻ câu chuyện như thế này. Ông đi dự một hội nghị tâm linh, ở đó hầu như ai cũng hỏi, anh thực hành việc gì? Một bà trả lời, “Việc thực hành của tôi là nuôi con!” Có lẽ bà chỉ đang cố giễu cợt, nhưng câu châm biếm của bà có một thấu suốt có thể đem lại sự chỉnh đốn quan trọng cho xu hướng đồng hóa bản chất cương vị môn đệ với một việc thực hành cầu nguyện duy nhất.

Các tu sĩ có những bí quyết đáng để chúng ta học hỏi. Một trong số đó là sự thật rằng bất kỳ thực hành cầu nguyện nào muốn đem lại sự biến đổi đều phải được đặt trong một tập hợp nhiều việc thực hành lớn hơn, một “lệ thường đời tu”, trong đó người tu sĩ cam kết với rất nhiều điều chứ không chỉ là việc cầu nguyện mà thôi. Với một tu sĩ, mỗi việc cầu nguyện đều nằm trong lệ thường của tu viện, và lệ thường đó trở thành lệ thường của người tu sĩ. Hơn nữa, để lệ thường tu viện thật sự có giá trị, nó phải dựa trên sự trung thành với những lời khấn.

Do đó, câu hỏi “bạn thực hành gì?” là một câu hỏi hay, nếu nó không chỉ nhắm riêng đến một việc cầu nguyện rõ ràng duy nhất. Câu hỏi đó còn để hỏi xem bạn có giữ các điều răn hay không? Bạn có trung thành với lời khấn và những kết ước của mình không? Bạn có nuôi dạy con cái đàng hoàng? Bạn có sống giữa cộng đoàn Kitô? Bạn có tìm đến người nghèo? Và, giờ tôi mới nói đến, bạn có thực hành cầu nguyện rõ ràng, thường xuyên, như một thói quen không?
Việc thực hành của tôi là gì?

Tôi chủ yếu dựa trên sự quy củ và nghi thức, “lệ thường tu viện”. Lệ thường của tôi là thế này: Mỗi sáng, tôi đọc Kinh Sáng (thường là chung với cả cộng đoàn). Rồi tôi về văn phòng mình, đọc sách thiêng liêng trong ít nhất 20 phút. Đến trưa, tôi chầu Thánh Thể, và thỉnh thoảng, tôi đi dạo dài giờ và cầu nguyện một tiếng (chủ yếu là dùng kinh mân côi và cầu nguyện cho nhiều người cụ thể). Nhiều hôm, tôi không đi dạo, mà ngồi suy niệm hoặc cầu nguyện hướng thần trong khoảng 15 phút. Mỗi tối, tôi đọc Kinh Chiều (cũng là chung với cả cộng đoàn). Một tuần một lần, tôi dành một tối viết một bài về chủ đề thiêng liêng nào đó. Một tháng một lần, tôi đi lãnh nhận Phép Hòa giải, lúc nào cũng với một cha giải tội duy nhất, và khi có thể, tôi cố dành một tuần mỗi năm để tĩnh tâm. Việc thực hành của tôi dựa vào lệ thường, nhịp điệu và nghi thức. Chúng giữ tôi vững vàng và giúp tôi ở lại với cương vị môn đệ và các lời khấn của mình. Chúng giữ tôi hơn là tôi giữ chúng. Dù có bận rộn đến đâu, dù có phân tâm đến đâu, và dù có cảm thấy thích cầu nguyện hay không, thì chính những nghi thức này đưa tôi vào tâm tình cầu nguyện và trung thành.

Làm môn đệ chính là đặt mình vào khuôn khổ. Do đó, phần lớn việc thực hành của tôi là việc mục vụ và khuôn khổ ăn sâu vào máu này. Tôi xin thú thật, việc mục vụ thường hấp dẫn hơn việc cầu nguyện, nhưng nó cũng đòi hỏi nhiều hơn nơi bạn, và nếu bạn trung thành, nó có thể có sức biến đổi vô cùng, đem lại cho bạn sự trưởng thành và vị tha.

Carlo Carretto, ngòi bút thiêng liêng lừng danh, đã dành phần lớn cuộc đời ở Sa mạc Sahara, sống đời tu sĩ trong cô tịch, dành nhiều giờ để cầu nguyện theo nghi lễ. Tuy nhiên, sau nhiều năm cô tịch và cầu nguyện trong sa mạc, ngài đến thăm mẹ già, người đã dành nhiều năm cuộc đời để nuôi dạy con cái và ít có thời gian để cầu nguyện theo nghi lễ. Khi thăm bà, ngài nhận ra mẹ mình còn chiêm niệm hơn bản thân mình! Từ đó, Carretto rút ra bài học rằng, việc ngài đã làm trong sự cô tịch của sa mạc bao năm trời chẳng có gì là sai, nhưng trong cuộc sống bận rộn nuôi dạy con cái suốt bao năm trời của mẹ ngài có điều gì đó vô cùng đúng đắn. Cuộc đời bà chính là tu viện của bà. Việc thực hành của bà là “nuôi dạy con cái”.

Tôi luôn thích dòng này của Robert Lax: “Bổn phận trong đời không phải là tìm được lối mòn trong khu rừng, cho bằng tìm một nhịp điệu để bước đi”. Có lẽ nhịp điệu của bạn “phi tu viện”, là “tại gia”. Việc thực hành cầu nguyện thể hiện rõ ràng ra bên ngoài là điều quan trọng trong hành đạo, nhưng các bổn phận hiện thời của chúng ta cũng vậy.

Mười quyển sách hàng đầu của tôi trong năm 2020

Khi Thánh Âugutinô nói “thị hiếu không tranh cãi được”, ngài chỉ đúng một phần. Phải thừa nhận rằng, thị hiếu luôn có khía cạnh chủ quan, nhưng cũng luôn có tính chất khách quan. Xét một cách khách quan, một lon soda rẻ tiền đâu như chai rượu ngon, cả triệu bản nhạc đâu phải một bản của Mozart, và bức tranh mà cô bạn nhà trẻ nào đó vẽ cho bạn trong dịp sinh nhật đâu phải tranh Van Gogh.

Với biện luận như thế, tôi thừa nhận rằng tuyển chọn mười quyển sách của tôi có yếu tố chủ quan rõ ràng. Chúng đơn giản là những quyển sách đi vào lòng tôi nhất trong năm qua. Có lẽ chúng sẽ không có tác động như thế với bạn. Dù gì đi nữa, tôi bảo đảm rằng không quyển nào là soda rẻ tiền hay một bức tranh sáp màu của một em bé nhà trẻ.

Mười quyển sách đi vào lòng tôi nhất trong năm qua là những quyển nào?

  1. Clare Carlisle, Triết lý của Trái tim, Cuộc đời đầy khắc khoải của Soren Kierkegaard (Philosopher of the Heart, The Restless Life of Soren Kierkegaard). Nếu bạn chưa hề đọc quyển nào hay về cuộc đời và tác phẩm của Soren Kierkegaard, thì đây là quyển sách bạn cần. Nó là kết hợp độc đáo của kiến thức hàn lâm, văn phong rõ ràng, những phê bình và đồng cảm với Kierkegaard.
  2. Michael J. Buckley, Bạn tìm kiếm gì? Những chất vấn của Chúa Giêsu là thách thức và lời hứa (What Do You Seek? The Questions of Jesus as Challenge and Promise). Trong những quyển sách tôi đọc năm nay, quyền này thách thức cá nhân tôi nhiều nhất. Qua quyển này, Buckley, mất năm 2019, chiếu rọi ánh sáng vào tâm hồn chúng ta và cho thấy cả những thách thức và lời hứa trong cuộc đời Chúa Giêsu.
  3. Frederick Buechner, Thất bại Tuyệt mỹ (The Magnificent Defeat). Được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1965, nhưng đến tận năm nay tôi mới tìm ra được quyển này. Là một thừa tác viên chức thánh của Giáo hội Trưởng lão, Buechner là thần học gia, nhà thơ, triết gia, tiểu thuyết gia, và nhà viết luận văn, tác phẩm của ông luôn đáng đọc, nhất là quyển này, với những thấu suốt rất hiếm có.
  4. Mark Wallace, Khi Thiên Chúa là một loài chim – Kitô giáo, vật hồn giáo và công cuộc tái quyến rũ thế giới (When God was a Bird – Christianity, Animism, and the Re-Enchantment of the World). Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng Thiên Chúa viết hai quyển sách, Kinh Thánh và thế giới tự nhiên. Là Kitô hữu, chúng ta có cả hai quyển sách, những người ngoại đạo và những người tin vật hồn giáo chỉ có một quyển, là quyển sách tự nhiên. Wallace cho rằng đã đến lúc để các kitô hữu chúng ta nghiêm túc hơn trong việc nhìn nhận quyển sách tự nhiên và bớt e ngại vật hồn giáo, hầu hiểu trọn vẹn hơn về đức tin của mình và có mối liên hệ lành mạnh hơn với thế giới tự nhiên. Những thấu suốt của ông sẽ mở mang cho bạn nhưng vẫn theo sát giáo lý.
  5. Gerhard Lohfink, Cầu nguyện đưa ta về nhà, Thần học và thực hành của việc cầu nguyện Kitô giáo (Prayer Takes Us Home, The Theology and Practice of Christian Prayer). Gerhard Lohfink là học giả Kinh Thánh người Đức và luôn đáng để đọc. Đây là quyển sách thứ tư của ông được dịch sang tiếng Anh, và như các quyển kia, nó là sự kết hợp hiếm có giữa kiến thức hàn lâm, đức tin cá nhân và văn phong rõ ràng.
  6. Muriel Barbery, Sự tinh nhã của con nhím (The Elegance of the Hedgehog). Đây là một tiểu thuyết viết vào năm 2006, đầy thấu suốt, khéo léo và bất ngờ. Nếu bạn thích tiểu thuyết hành động, thì quyển này không hợp với bạn lắm. Đọc nó cũng như là ngắm một tác phẩm nghệ thuật và cứ tự nhủ, làm sao người nghệ sĩ lại có thể khéo đến vậy?
  7. Marilynne Robinson, Jack. Tờ Times xem bà là một trong số 100 người có ảnh hưởng nhất nước Mỹ, và đúng thế, chắc chắn là thế trong thời của tôi. Marilynne Robinson là một tiểu thuyết gia được ca ngợi và là ngòi bút tôn giáo đầy thấu suốt. Để đọc quyển này, bạn cần thêm chút kiên nhẫn. Đừng bỏ cuộc, bởi 50 trang đầu chẳng khiến bạn cảm được gì cả. Nhưng đọc hết quyển, bạn sẽ thấy xúc động sâu sắc.
  8. Helen Prejean, Dòng sông lửa, Hành trình thiêng liêng của tôi (River of Fire, My Spiritual Journey). Tác giả của quyển Dead Man Walking chia sẻ tiểu sử tự thuật của mình. Đây là câu chuyện hoán cải của một người phụ nữ ngoại hạng mà ta cảm thấy bà chẳng cần hoán cải. Một quyển sách rất thẳng thắn, thành thật, sâu sắc.
  9. Lyn Cowan, Chân dung Sầu phu nhân, Tính cách sầu muộn (Portrait of the Blue Lady, The Character of Melancholy). Một quyển sách nữa được viết cách đây 16 năm nhưng năm nay tôi mới biết. Đây là quyển sách của nhà thần thoại học và tâm lý gia theo trường phái Jung viết về sầu muộn. Xin điểm qua một đoạn: “Sầu muộn còn bị mất đi tên của mình, thời nay sầu muộn bị gọi là “trầm cảm”, bị tách biệt, phân loại bệnh lý và lâm sàng khỏi “sầu muộn” thẫn thờ từng được các thi sĩ, triết gia, ca sĩ và bác sĩ ghi nhận. Giờ sầu muộn bị xem là “căn bệnh trị được” hơn là một ưu phiền thường đau đớn và khó khăn của linh hồn, nó không phải là một căn bệnh và không cần chữa trị”. Với Cowan, sầu muộn là con đường nội tâm để chúng ta kết thân với những phần thâm sâu nhất trong tâm hồn.
  10. Ira Byock, Bốn điều hệ trọng nhất (The Four Things that Matter Most). Xuất bản lần đầu vào năm 2004, quyển sách này xứng đáng được đông đảo đại chúng đón đọc. Byock đưa ra toàn bộ giả thuyết của mình trong câu mở đầu quyển sách. Bốn điều quan trọng nhất mà bạn nói được là: Tha thứ cho tôi. Tôi tha thứ cho bạn. Cảm ơn. Tôi yêu bạn. Đây là những lời người ta thường thốt ra trong giờ lâm tử. Tuy nhiên, như Byock thúc giục, tốt hơn chúng ta nên nói ra chúng từ rất lâu trước thời khắc những người thân thương quây quần bên giường lâm tử của ta. Những lời đáng buồn nhất của chúng ta là gì? “Giá mà như thế!”

Ngoài mười quyển sách này, tôi cũng rất mong các bạn đọc Thông điệp mới của Đức Phanxicô, Thông điệp Tất cả anh em Fratelli tutti.

Trên đây là mười quyển sách đi vào lòng tôi nhất trong năm qua. Tôi không thể bảo đảm bạn cũng sẽ cảm thấy thế. Nhưng tôi có thể bảo đảm, không quyển nào là soda rẻ tiền đâu!