RonRolheiser,OMI

Chiến thắng của sự thiện trên sự dữ

Một đồng nghiệp từng thách thức nhà thần học Pierre Teilhard de Chardin bằng câu hỏi này. Cha tin rằng sự thiện cuối cùng sẽ chiến thắng sự dữ, vậy nếu chúng ta cho bom nguyên tử làm trái đất nổ tung thì sự thiện sẽ như thế nào đây? Cha Teilhard trả lời: Nếu chúng ta cho trái đất nổ tung bằng bom nguyên tử, thì trái đất sẽ đi lui hai triệu năm, nhưng sự thiện sẽ chiến thắng sự dữ, không phải vì tôi ước mong như vậy, nhưng vì Thiên Chúa đã hứa như vậy, và trong biến cố phục sinh, Thiên Chúa đã cho thấy Ngài có quyền năng để thực hiện lời hứa này. Cha Teilhard nói đúng. Ngoài trừ sự phục sinh, chúng ta chẳng có đảm bảo nào cho bất kỳ chuyện gì. Dối trá, bất công, bạo lực có vẻ cuối cùng sẽ chiến thắng. Vào ngày Chúa Giêsu chết, mọi chuyện có vẻ rõ ràng như thế.

Chúa Giêsu là bậc thầy về đạo đức và nếu chúng ta tuân theo giáo lý của Ngài, thế giới sẽ biến đổi. Nói đơn giản, nếu chúng ta tất cả đều sống theo Bài giảng trên núi, thì thế giới chúng ta sẽ đầy yêu thương, bình an và công bằng, nhưng tư lợi thường đi ngược lại với huấn giáo đạo đức. Theo các Tin Mừng, chúng ta thấy được, đâu phải các giáo huấn của Chúa Giêsu lay chuyển các thế lực của sự dữ và tỏ lộ quyền năng Thiên Chúa. Đâu phải như vậy. Chiến thắng của sự thiện và quyền năng tối hậu của Thiên Chúa được tỏ lộ qua cái chết của Chúa Giêsu, hạt lúa rơi xuống lòng đất và chết đi để sinh nhiều hoa trái. Chúa Giêsu đã chiến thắng các thế lực thế gian theo cách dường như đi ngược lại với mọi quyền lực trên đời. Ngài không áp chế ai bằng sự ưu việt về trí tuệ hay bằng sức thuyết phục trần tục. Không, Ngài tỏ lộ quyền năng ưu việt của Thiên Chúa đơn giản bằng cách giữ vững sự thật và tình yêu dù cho những quyền lực dối trá, thù ghét, và tư lợi đã đóng đinh Ngài. Các thế lực của thế gian đã đẩy Ngài đến chỗ chết, nhưng Ngài đã tin tưởng, bằng cách nào đó, Thiên Chúa sẽ bào chữa cho Ngài, Thiên Chúa sẽ là người phán quyết sau cùng. Đúng thật là thế. Thiên Chúa đã phục sinh Ngài từ cõi chết, như một lời chứng nhận rằng Ngài đã đúng và các thế lực thế gian đã sai, rằng tình yêu và sự thật sẽ luôn là người phán quyết cuối cùng.

Đấy chính là bài học cho chúng ta. Chúng ta cũng phải tin tưởng Thiên Chúa sẽ cho sự thật và tình yêu được là người phán quyết cuối cùng, bất kể thế gian có thế nào đi nữa. Sự phán xét của Thiên Chúa đối với các thế lực thế gian sẽ không như kiểu phim Hollywood, kiểu kẻ xấu cuối phim sẽ bị bắn chết bởi một người hùng cơ bắp và chúng ta sẽ được hưởng cảm giác nhẹ nhõm hưng phấn. Sự phán xét của Thiên Chúa như thế này: tất cả mọi người được phán xét bởi Bài giảng trên núi, dù cho tư lợi thường lờ đi sự phán xét này và có vẻ chẳng hề hấn gì. Tuy nhiên, có sự phán xét thứ hai là tất cả mọi người sẽ quy phục sự phục sinh. Đến cuối cùng, và không như cái kết trong phim Hollywood, Thiên Chúa cho sự thật và tình yêu từ mồ sống dậy và được là người ra phán quyết cuối cùng. Đến tận cùng, những thế lực thế gian đều sẽ quy phục sự phán xét tối hậu đó.

Không có sự phục sinh, thì chẳng có bảo đảm cho bất kỳ điều gì. Chính vì thế mà thánh Phaolô đã nói, nếu Chúa Giêsu không phục sinh thì chúng ta là những kẻ ảo tưởng hơn ai hết. Thánh Phaolô nói đúng. Thỉnh thoảng, vào những lúc tin tức thế giới có vẻ khả quan, niềm tin rằng các thế lực dối trá, tư lợi, bất công và bạo lực cuối cùng sẽ biến đổi và từ bỏ sự thống trị trần tục của mình, có vẻ cũng khả thi. Tuy nhiên, như đã xảy ra với Chúa Giêsu, chẳng có gì bảo đảm rằng những thế lực này sẽ không trở mặt và đóng đinh hầu hết những gì là chân thành, yêu thương, công bằng, và hòa bình trên đời. Chuyện của Chúa Giêsu và lịch sử thế giới làm chứng, chúng ta không thể đặt niềm tin vào các thế lực trần gian kể cả vào những lúc chúng có vẻ đáng tin. Các thế lực tư lợi và bạo lực đã đóng đinh Chúa Giêsu. Chúng đã làm thế từ rất lâu trước đó và vẫn còn tiếp diễn rất lâu sau đó. Những thế lực này sẽ không tan biến vì những sức mạnh đạo đức cao vượt, nhưng nhờ chúng ta sống theo Bài giảng trên núi và tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ vần tảng đá chắn mồ của chúng ta.

Nhiều người, có lẽ là hầu hết, tin rằng hiện thực như một hình cung, hướng về sự thiện hơn là sự dữ, về tình yêu hơn là thù hận, sự thật hơn là đối trá, và công lý hơn là bất công, và họ lấy lịch sử để chứng minh điều đó, rằng sự dữ chiến thắng trong một thời gian, nhưng cuối cùng hiện thực tỏ lộ và sự thiện chiến thắng, luôn là thế. Một số người gọi đó là quy luật của nghiệp. Niềm tin đó phần nào cũng đúng, không phải chỉ bởi lịch sử dường như củng cố cho điều đó, nhưng là bởi khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, Ngài đã tạo thành một vũ trụ được điều hướng bởi tình yêu, và Thiên Chúa đã viết Bài giảng trên núi vào trong lòng con người và vào cả cốt lõi của vũ trụ. Tạo vật hữu hình biết cách tự chữa lành mình, thì tạo vật vô hình cũng thế. Do đó, sự thiện sẽ luôn chiến thắng sự dữ, nhưng, có một cái nhưng, là bởi sự tự do của con người, nên chẳng có gì đảm bảo cả, ngoại trừ lời hứa được ban cho chúng ta trong sự phục sinh.

Làm sao để tìm kiếm Thiên Chúa?

Chúng ta rất dễ hiểu lầm điều này. Chúng ta luôn mãi tìm kiếm Thiên Chúa, dù cho hầu hết không nhận ra như thế. Thường thì chúng ta nghĩ tìm kiếm Thiên Chúa là cuộc tìm kiếm có ý thức về mặt tôn giáo, một việc mà chúng ta làm theo khía cạnh tâm linh cuộc sống của mình. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ như sau: Tôi có cuộc sống bình thường và có những mưu cầu của tôi, và nếu có lòng, tôi sẽ thực hiện sự mưu cầu về tôn giáo và tâm linh qua cầu nguyện, suy niệm và giữ đạo để có thể biết Thiên Chúa. Đáng tiếc thay, đây là một hiểu lầm tai hại. Cuộc truy cầu bình thường của chúng ta để tìm kiếm ý nghĩa, sự viên mãn, và thậm chí là khoái lạc, thật ra đều là cuộc truy cầu Thiên Chúa.

Trong cuộc đời, chúng ta tự nhiên tìm kiếm những gì? Theo lẽ tự nhiên, chúng ta tìm kiếm ý nghĩa, tình yêu, người tri kỷ, tình bạn, tình cảm, viên mãn tình dục, tầm quan trọng, sự công nhận, kiến thức, sáng tạo, vui chơi, hài hước và hoan lạc. Tuy nhiên, chúng ta lại thường không xem những mưu cầu này là tìm kiếm Thiên Chúa. Khi mưu cầu những thứ này, chúng ta hiếm khi xem chúng là cách để tìm kiếm Thiên Chúa. Chúng ta nghĩ mình đơn giản chỉ đang tìm kiếm hạnh phúc, ý nghĩa, sự viên mãn và hoan lạc, và cuộc tìm kiếm Thiên Chúa là một việc phải thực hiện theo cách khác, và phải được thực hiện qua những việc thực hành tôn giáo rõ ràng.

Đâu phải chỉ mình chúng ta nghĩ vậy. Chuyện này đã tồn tại từ xưa rồi. Như Thánh Âugutinô đã phải đấu tranh với chuyện này, cho đến một ngày, ngài mới nhận ra. Là người nhiệt thành truy cầu, Thánh Âugutinô dành 24 năm đầu đời để truy cầu những thứ của trần thế: học tập, ý nghĩa cuộc sống, yêu đương, tình dục, và một sự nghiệp đáng trọng. Tuy nhiên, trước cả khi trở lại đạo, trong lòng ngài vẫn có một khát khao hướng về Thiên Chúa và những gì thiêng liêng. Nhưng, cũng như chúng ta, ngài lại xem đó là một khát khao tách biệt với những khát khao của ngài đối với trần thế. Chỉ sau khi trở lại, ngài mới nhận ra được một điều. Và đây là những lời trứ danh của ngài để mô tả điều ngài đã cảm nghiệm:

“Con đã yêu Ngài quá muộn màng, ôi Vẻ Đẹp muôn đời ban sơ, muôn đời mới mẻ, con đã yêu Ngài quá muộn màng! Ngài đã ở trong con, nhưng con lại ở ngoài, và con lại tìm kiếm Ngài bên ngoài. Khi mình chẳng đáng mến, con lao vào những thứ đáng mến mà Ngài tạo dựng. Ngài đã ở với con, mà con chẳng ở với Ngài… Ngài đã gọi, đã hét, đã phá tan sự điếc đặc của con. Ngài làm chớp lòa, chói sáng và phá tan sự mù tối của con.”

Đây là lời thừa nhận thành thật, Thánh Âugutinô đã sống nhiều năm không yêu mến Thiên Chúa, nhưng đó cũng là lời thừa nhận, trong những năm tháng đó, ngài đã hiểu lầm một điều và chính điều đó dẫn đến thất bại của ngài. Hiểu lầm đó là gì?

Đọc lời tự thú của ngài, chúng ta thường tập trung vào phần đầu, là việc ngài nhận ra rằng Thiên Chúa ở trong ngài bấy lâu nay mà ngài lại không ở trong chính mình. Đây cũng là đấu tranh triền miên của chúng ta. Nhưng trong lời tự thú này và trong cuộc đấu tranh triền miên của chúng ta, có một điều khó thấy hơn, chính là việc ngài công nhận rằng trong bao nhiêu năm tháng đó, khi ngài tìm kiếm đời sống trần thế, một cuộc tìm kiếm mà ngài từng xem là chẳng liên quan gì đến việc tìm kiếm Thiên Chúa, thật ra ngài đã tìm kiếm Chúa rồi. Điều ngài tìm kiếm bao năm qua nơi những sự trần tục và khoái lạc, thật ra chính là tìm kiếm chính Thiên Chúa. Thật vậy, lời tự thú của ngài có thể được viết lại như thế này.

Muộn, con đã yêu Ngài quá muộn màng, bởi con chẳng ở trong bản thân khi mà Ngài luôn ở trong con, con chẳng biết khi tìm kiếm trong thế trần là con đang tìm Ngài. Con chưa hề nghĩ cuộc tìm kiếm đó liên quan gì đến Ngài. Con cứ nghĩ không phải con tìm kiếm Ngài, mà là con tìm kiếm những gì đem lại cho con ý nghĩa, tình yêu, tầm quan trọng, sự viên mãn tình dục, kiến thức, hoan lạc và sự nghiệp. Con chưa hề nghĩ khát khao của con với những thứ này có liên hệ với khát khao hướng về Ngài. Con chẳng biết rằng mọi thứ con theo đuổi, mọi thứ con dốc mình, đều có sẵn trong con, trong Ngài. Muộn quá, con đã hiểu Ngài quá muộn màng. Muộn quá, con đã quá muộn để hiểu ra rằng điều con quá khát khao và dốc mình lại ở trong Ngài. Bao năm qua, con chưa hề nghĩ những khắc khoải, sự vị kỷ và mưu cầu khoái lạc của con lại có liên hệ gì đến Ngài. Mọi việc con dốc mình lại đang ở trong Ngài và Ngài ở trong con. Muộn quá, con đã nhận ra quá muộn màng.

“Chúng ta được bắn vào cuộc đời với sự điên cuồng của các vị thần”. Các nhà khắc kỷ Hy Lạp nhìn nhận như thế. Họ đã đúng. Cả cuộc đời chúng ta đơn giản chỉ là cuộc tìm kiếm để phản ứng với sự điên cuồng thần thánh trong chúng ta, một sự điên cuồng mà các kitô hữu đồng nhất với những khát khao vô tận của linh hồn. Với những khát khao này, như Thánh Âugutinô chúng ta lao vào thế trần tìm kiếm ý nghĩa, tình yêu, tri kỷ, tình bạn, tình cảm, sự viên mãn tình dục, tầm quan trọng, sự công nhận, kiến thức, sự sáng tạo, và hoan lạc. Mà có lẽ còn hơn cả những truy cầu tôn giáo rõ ràng của chúng ta, cuộc truy cầu trần thế đó thật sự chính là cuộc truy cầu Thiên Chúa.

Mong chúng ta sớm nhận ra điều này, để không phải viết: “Con yêu Ngài quá muộn màng!”

Thiên Chúa không thể nói dối

Dối trá là sự dữ tai hại nhất, là tội nguy hiểm nhất, xúc phạm nặng nề nhất, và là tội không thể tha thứ. Có lẽ thời nay chúng ta cần được nhắc nhớ chuyện này, bởi nền văn hóa hiện thời đang có nguy cơ đánh mất khái niệm về hiện thực và sự thật. Chẳng có gì nguy hiểm hơn thế.

Có một câu trong Kinh Thánh hiếm khi được trích dẫn, nằm trong Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Do Thái, đơn giản nói thế này: “Thiên Chúa không thể nói dối được” (Do Thái 6, 18). Chắc chắn là thế, không thể nào khác được. Thiên Chúa là Sự Thật, làm sao Thiên Chúa nói dối được? Vì Thiên Chúa nói dối sẽ là chối bỏ bản tính của Thiên Chúa. Như thế, chúng ta nói dối là đi ngược lại với Thiên Chúa.

Dối trá chính là bất kính và phạm thượng. Nó là phỉ báng bản tính của Thiên Chúa.

Nếu nhận thức được thế, thì có lẽ gần đây, chúng ta không thật tâm với xác quyết này. Khắp mọi nơi, từ vô số các bài đăng trên mạng xã hội, tin nhắn, blog, cho đến phát biểu của các nhân viên cấp cao trong chính phủ, công ty kinh doanh hay thậm chí trong cả giáo hội, chúng ta đều thấy một sự tách ly ngày càng xa rời hiện thực và sự thật. Dối trá và tạo ra phiên bản sự thật của mình, bây giờ đã trở thành một thứ được xã hội chấp nhận (đến một mức độ đáng kinh sợ).

Chuyện gì đã làm thay đổi như vậy? Chẳng phải trong bao lâu nay chúng ta vẫn không nói dối đó sao? Trong chúng ta có ai dám nói mình chưa hề nói dối hoặc ngụy tạo thông tin theo cách này hay cách khác? Vậy thì thời nay có gì khác thời xưa?

Cái khác là, trước thế hệ này, chúng ta vẫn còn có thể khó chịu vì sự dối trá của mình, thấy hổ thẹn và buộc phải thừa nhận mình bất lương. Nhưng bây giờ đã không còn như thế này nữa. Thời nay, mối quan hệ của chúng ta với sự thật đang rạn nứt đến mức độ chúng ta không còn phân biệt được, cả về đạo đức và thực tế, giữa dối trá và sự thật. Hiện giờ, một lời dối trá chỉ đơn giản là một thể thức khác của sự thật.

Và chuyện này tác động chúng ta thế nào? Nó là thứ chúng ta đang sống cùng, nó tác động mọi nơi mọi lúc. Trước hết, nó phá vỡ ý thức hiện thực chung, và cả cộng đồng không còn một nhận thức luận chung, không còn ý thức thiện ác chung nữa. Người ta không còn liên hệ với hiện thực theo cùng một cách như nhau nữa. Sự thật với người này lại là dối trá với người khác. Chúng ta không còn có thể xác định cái gì cấu thành một lời dối trá.

Nó không chỉ hủy hoại sự tin tưởng giữa chúng ta, mà nó còn tác hại sự ôn hòa lành mạnh và cả những đặc tính tôn giáo và luân lý của chúng ta. Như trong một bài tôi viết cách đây vài tháng, chúng ta tin rằng có bốn đặc tính siêu việt của Thiên Chúa. Đó là Duy nhất, Chân, Thiện, Mỹ. Bởi Thiên Chúa là Duy nhất, trọn vẹn và nhất quán, nên không thể nào có sự mâu thuẫn nội tại trong Ngài. Điều này có vẻ trừu tượng và hàn lâm quá, nhưng nó lại chính là mỏ neo giữ cho chúng ta được ôn hòa lành mạnh. Chúng ta tỉnh táo chỉ khi chúng ta luôn có thể tin rằng hai cộng hai bằng bốn. Sự Duy nhất của Thiên Chúa chính là mỏ neo đó. Nếu chuyện đó thay đổi, thì cái neo giữ sự tỉnh táo của chúng ta sẽ mất đi. Khi hai cộng hai không còn bằng bốn, thì chúng ta chẳng còn gì biết chắc hay đáng tin tưởng nữa. Đấy là mối nguy hại tối cùng của tình trạng thời nay. Chúng ta là con thuyền trôi dạt.

Mối nguy tiếp theo của dối trá là nó tác hại trực tiếp đến những người dối trá. Fyodor Dostoevsky đã tóm gọn nó thế này: “Những kẻ dối trá với chính mình, lắng nghe lời dối trá của họ đến nỗi trở nên không thể phân biệt sự thật trong bản thân và quanh bản thân, để rồi mất đi mọi sự tôn trọng đối với bản thân và tha nhân. Và khi không còn tôn trọng, họ chẳng còn yêu thương nữa”. Jordan Peterson thì nói thêm: Nếu chúng ta nói dối đủ lâu “thì sẽ xuất hiện sự ngông cuồng và ý thức thượng đẳng vốn đi kèm với những lời dối trá thành công, và nó là một trong những mối nguy lớn nhất, khi có vẻ ai cũng bị lừa, ai cũng ngu ngốc trừ mình ra, nên mình làm gì cũng được, chẳng bao giờ phải trả giá”. Và còn có câu: “Nó dễ bị tôi thao túng. Thế nên, nó đâu đáng để tôi tôn trọng”.

Cuối cùng, là lời cảnh báo nặng nhất của Chúa Giêsu nói trong phúc âm thánh Gioan. Ngài bảo nếu chúng ta nói dối đủ lâu, thì cuối cùng sẽ tin vào lời dối trá của mình và nhầm lẫn giữa dối trá và sự thật, và nó trở thành tội không thể tha thứ (một sự xúc phạm Thần Khí) bởi vì kẻ nói dối chẳng còn muốn được tha thứ.

Cuối cùng, dối trá phá vỡ sự tin tưởng giữa chúng ta. Sự tin tưởng tồn tại dựa trên niềm tin rằng chúng ta đều chấp nhận rằng hai cộng hai bằng bốn, rằng chúng ta đều chấp nhận nó là hiện thực, chúng ta đều chấp nhận rằng hiện thực có thể bị bóp méo bởi một lời dối trá, và một lời dối trá là giả dối chứ không phải một thể thức của sự thật. Dối trá hủy hoại sự tin tưởng đó.

Dối trá trong một thế giới xem nhẹ hiện thực và sự thật cũng có thể gây ra sự cô độc cho chúng ta. George Eliot từng viết rằng: “Còn gì cô đơn hơn là không thể tin tưởn

Thương tiếc người đã ra đi

Gần như chúng ta đều biết câu chuyện Zorba người Hy Lạp qua quyển sách nổi tiếng của tác giả Nikos Kazantzakis hoặc qua phim ảnh. Và Zorba không phải là nhân vật hư cấu. Alexix Zorba là người thật việc thật, có tính cách phóng khoáng và tinh thần hoạt bát đến nỗi khi ông qua đời, Kazantzakis không thể chấp nổi chuyện đó, tự vấn rằng một người với sức sống mãnh liệt thế kia mà có thể chết sao.

Khi biết tin Zorba qua đời, phản ứng của Kazantzakis là thế này: “Tôi nhắm mắt lại và cảm thấy nước mắt từ từ lăn xuống âm ấm trên gò má. Ông ấy chết rồi, chết thật rồi. Zorba đã ra đi, đi mãi không về. Tiếng cười đã chết, bài ca im bặt, cây đàn santir vỡ tan, điệu nhảy trên bãi đá bờ biển đã dừng, cái miệng ham muốn đặt câu hỏi không ngừng giờ đã đầy bùn đất. … Những linh hồn như thế sẽ không chết. Đất, nước, lửa, liệu có thể tạo ra một Zorba nữa không? … Như thể tôi tin ông ấy sẽ bất tử vậy”.

Đôi khi thật khó để tin là một người nào đó có thể chết, vì cuộc sống và sức sống của họ quá tuyệt diệu. Đơn giản là chúng ta chẳng hình dung nổi một sức sống như thế lại nằm yên, lại chết và mãi mãi xa rời trần thế này. Có những người dường như không thể chết vì chúng ta không hình dung nổi một sức sống, sự khoáng đạt, phong phú và tốt lành như thế lại chết. Làm sao một sức sống diệu kỳ như thế mà chết được chứ?

Tôi đã nhiều lần cảm nhận chuyện này, gần nhất là mới tuần trước, khi hai đồng nghiệp cũ của tôi, những người khoáng đạt, sắc sảo, phong phú và cực kỳ tâm linh, đã chết. Kazantzakis cố chấp nhận cái chết của Zorba, đồng thời tìm cách cố đương đầu với cái chết này. Ông quyết định nỗ lực “phục sinh” Zorba, bằng cách kể những câu chuyện của Zorba cho cả thế giới sao để biến cuộc đời ông thành huyền thoại, thành vũ khúc, thành tôn giáo.

Kazantzakis tin rằng đây chính là việc Maria Mađalêna đã làm khi thương tiếc cái chết của Chúa Giêsu, khi bà rời mộ Ngài và trở lại với đời. Bà đã “phục sinh” Chúa Giêsu bằng cách kể chuyện của Ngài, tạo nên một huyền thoại, một vũ khúc, một tôn giáo. Nên khi thương tiếc cái chết của Zorba, Kazantzakis tự nhủ: “Hãy cho ông máu của chúng ta để ông có thể sống lại, chúng ta hãy làm những gì có thể để kéo dài thêm sinh mệnh cho con người mê ăn, mê uống, mê làm việc, mê đàn bà, mê lang bạt, người vũ công và chiến binh, linh hồn khoáng đạt nhất, thân thể rắn chắc nhất, tiếng hét tự do nhất mà tôi từng biết”.

Ông đã rất nỗ lực! Và nỗ lực đó tạo nên một câu chuyện tuyệt vời, một thần thoại thú vị, nhưng nó không bao giờ tạo nên một tôn giáo hay một vũ khúc bất diệt, bởi nó không như những gì bà Maria Mađalêna đã làm cho Chúa Giêsu. Dù thế, vẫn có gì đó đáng để chúng ta học hỏi về cách đương đầu với những ra đi quá lớn làm cho thế giới bỗng chốc hoang lạnh đi hẳn. Chúng ta không được để sức sống diệu kỳ đó biến mất, chúng ta phải giữ cho nó sống. Tuy nhiên, là tín hữu kitô, chúng ta làm theo một cách khác.

Chúng ta đọc câu chuyện của Maria Mađalêna theo một cách rất khác. Bà Maria đến mộ Chúa Giêsu, thấy mộ trống, và đi ra ngoài khóc, nhưng… trước khi đi kể chuyện này cho người khác, bà đã được gặp Chúa Giêsu, được Ngài nói cho cách để tìm được sức sống, sự phong phú, tình yêu thương và con người của Ngài, trong một phương thức hoàn toàn mới là trong tinh thần của Ngài. Phương thức đó bao hàm cả bí mật về cách chúng ta trao sự sống cho những người thân yêu sau khi họ đã mất.

Làm sao để giữ những người thân yêu và sức sống kỳ diệu mà họ đã đem lại cho đời, vẫn tiếp tục sống sau khi họ đã mất? Trước hết, là bằng cách nhận ra rằng sức sống của họ không mất đi cùng với thân thể, rằng sức sống đó không rời trần thế này. Sức sống của họ vẫn còn sống, vẫn còn ở bên cạnh chúng ta, nhưng bây giờ là ở trong chúng ta, qua tinh thần họ để lại (cũng như Chúa Giêsu đã để lại tinh thần của Ngài). Hơn nữa, sức sống của họ truyền cho chúng ta mỗi khi chúng ta đi vào “Galilê” của họ, cụ thể là, vào những nơi mà tinh thần của họ phát triển và truyền đi dưỡng khí sinh sôi.

Thế nghĩa là sao? “Galilê” của ai đó, nghĩa là gì? “Galilê” của ai đó là sức sống đặc biệt, dưỡng khí đặc biệt mà người đó phát ra. Với Zorba, thì đó là sự táo bạo và ham mê sống, với cha tôi là tinh thần ngoan cường, với mẹ tôi thì là lòng quảng đại. Trong sức sống đó, họ phát ra một điều gì đó của Thiên Chúa. Bất kỳ lúc nào chúng ta đến những điểm mà tinh thần của họ phát ra sức sống của Thiên Chúa, thì chúng ta hít vào dưỡng khí của họ, vũ điệu của họ và sự sống của họ.

Như tất cả các bạn, tôi cũng có những lúc choáng váng, buồn đau và hoài nghi về cái chết của một người nào đó. Làm sao sức sống đặc biệt đó lại chết được? Đôi khi sức sống đặc biệt đó được thể hiện nơi vẻ đẹp thể lý, sự duyên dáng, bạo dạn, hăng say, phong phú, kiên cường, cảm thương, nhân ái, nồng hậu, khéo léo hay dí dỏm. Có thể rất khó chấp nhận rằng vẻ đẹp và dưỡng khí đem lại sự sống đó, có thể rời bỏ trần thế này.

Xét cho cùng, chẳng gì mất đi cả. Đôi khi, trong thời gian của Thiên Chúa, khi đúng thời đúng điểm, tảng đá sẽ lăn ra, và như Maria Mađalêna đã từ mộ đi về, chúng ta sẽ biết rằng nếu đến “Galilê”, mình có thể hít thở sức sống diệu kỳ đó lần nữa.

Tình yêu muốn chúng ta làm gì lúc này?

“Hoàn toàn có thể cho rằng chúng ta tạo nên Thiên Chúa theo hình ảnh mình, khi mà hóa ra Chúa ghét mọi người chúng ta ghét”. Anne Lamott

Những lời này đáng để suy ngẫm, khi nhìn vào mọi mặt của sự phân rẽ chính trị và tôn giáo thời nay. Chúng ta đang sống trong sự chia rẽ đầy cay đắng. Từ các viên chức chính phủ cho đến bàn ăn trong gia đình, có thể thấy được một sự căng thẳng và chia rẽ về chính trị, tôn giáo và những sự thật tùy biến đến độ vô lý lố bịch. Đáng buồn thay, những chia rẽ này lại khơi lên những gì xấu xa nhất trong tất cả chúng ta. Sự lễ độ đã rạn vỡ và cùng với nó là một thứ gì đó minh họa rõ ràng định nghĩa trong Kinh thánh về “ma quỷ”, nói cụ thể chính là, sự vô lễ, thù ghét, và xem người ta là ma quỷ, ngày càng lan rộng. Tất cả chúng ta giờ thiển cận tự mãn cho rằng Chúa ghét hết tất cả những người mà chúng ta ghét. Sự phân cực trong cuộc bầu cử mới đây ở Hoa Kỳ, vụ tấn công chiếm điện Capitol, những tranh cãi luân lý và tôn giáo đầy chua cay về phá thai, và việc mất đi khái niệm về sự thật, tất cả những điều này làm rõ rằng sự khiếm nhã, thù ghét, vô lễ và sự thật tiện dụng đang thống trị thời này.

Chúng ta sẽ đi về đâu đây? Tôi là thần học gia, không phải chính trị gia hay nhà phân tích xã hội, nên những ý kiến của tôi thiên về cương vị môn đệ kitô giáo và sự trưởng thành nhân văn căn bản hơn là về các phản ứng chính trị. Trong mặt tôn giáo, chúng ta sẽ đi về đâu đây?

Có lẽ để tìm hiểu cách phản ứng hợp lý trong kitô giáo, chúng ta nên đặt vấn đề như thế này: trong một thời như thế này, yêu thương nghĩa là gì? Yêu thương nghĩa là gì trong một thời mà người ta không còn nhất trí rằng cái gì là sự thật? Làm sao chúng ta lễ độ và lịch sự khi cảm thấy không thể nào tôn trọng những người bất đồng với mình?

Để làm rõ một vấn đề quá phức tạp, đôi khi nên thực hiện bằng Via Negativa, nghĩa là hỏi xem mình nên tránh làm gì? Chúng ta không nên làm gì trong thời nay?

Trước hết, chúng ta không được bỏ qua phép lễ độ và biến cung cách vô lễ và quỷ hóa người khác thành chuyện hợp tình hợp lý, nhưng chúng ta cũng không nên tiêu cưc không lành mạnh, sợ rằng nói ra sự thật sẽ khiến người khác bực mình. Chúng ta không nên bất chấp sự thật và để cho những dối trá, bất công trơ tráo diễu võ dương oai. Quá đơn giản để nói rằng cả hai phía đều có người tốt, để rồi chúng ta dựa vào đó mà trốn tránh đưa ra phán quyết thật sự về sự thật. Cả hai phía đều có những người chân thành, nhưng sự chân thành cũng có thể bị dẫn dụ. Chúng ta phải chỉ thẳng mặt dối trá và bất công. Cuối cùng, chúng ta phải chống lại cám dỗ tinh vi đến nỗi gần như không thể chống lại, dụ chúng ta để cho sự công chính của mình biến thành tự phụ, một trong những thứ gây chia rẽ nhất do cái tôi quá lớn.

Chúng ta cần làm gì vì tình yêu thương? Fyodor Dostoevsky từng viết rằng yêu thương là một thứ đáng sợ và khắc nghiệt, và phản ứng đầu tiên của chúng ta là phải chấp nhận sự thật như thế. Yêu thương là thứ khắc nghiệt, nó không chỉ là sự khó chịu khi đối đầu người khác hoặc bị họ đối đầu. Sự khắc nghiệt của yêu thương thể hiện rõ nhất (gần như là không chấp nhận nổi) khi chúng ta phải giằng sự tự phụ của mình xuống để có được một mức độ trưởng thành cao hơn, để chấp nhận rằng Thiên Chúa yêu thương những người chúng ta ghét không kém gì yêu thương chúng ta, và trong mắt Thiên Chúa, họ cũng quý báu và quan trọng y hệt như chúng ta.

Khi chấp nhận được điều này, chúng ta có thể bắt đầu lên tiếng vì sự thật và công lý. Rồi sự thật có thể đương đầu với “sự thật tùy biến” và sự chối bỏ sự thật. Nhiệm vụ của chúng ta là thế đấy. Phải vạch trần sự dối trá, và chúng ta cần điều này trong các tranh luận chính trị, trong hội thánh và trên bàn ăn gia đình mình. Có nhiều lúc, đấu tranh này đòi buộc chúng ta phải bỏ đi “sự ân cần” vốn là một chuyện rất khó với những người nhạy cảm. Tuy nhiên, dù không thể nào luôn mãi ân cần, nhưng chúng ta có thể luôn lễ độ và lịch sự.

Một trong những nhân vật mang tính ngôn sứ đương thời, linh mục Dòng Tên Mỹ Daniel Berrigan, bất chấp nhiều lần bị bắt vì bất tuân luật dân sự, đã kiên quyết khẳng định rằng một ngôn sứ phải có lời khấn yêu thương chứ không phải lời khấn ghét bỏ. Do đó, trong mọi nỗ lực để bảo vệ sự thật, để lên tiếng vì công lý, và nói lên sự thật với cường quyền, thì chúng ta phải nói bằng yêu thương, chứ không phải giận dữ hay thù ghét. Hơn nữa, việc chúng ta hành động bằng yêu thương hay ghét bỏ, sẽ luôn thể hiện ra nơi phép lễ độ hoặc thiếu lễ độ. Dù chúng có giận dữ đến đâu đi nữa, tình yêu thương vẫn giữ cho chúng ta một phép lễ độ, lịch sự bắt buộc phải có. Mỗi khi thấy mình rơi vào sự hấp tấp muốn quy chụp ai đó, là chúng ta có thể chắc chắn rằng mình đã rời xa tinh thần môn đệ, tinh thần ngôn sứ và những gì tốt đẹp nhất trong chúng ta.

Cuối cùng, cách chúng ta phản ứng với thời đại vẫn là một chuyện rất riêng của chúng ta. Không phải tất cả chúng ta đều được mời gọi làm một việc như nhau. Thiên Chúa đã cho chúng ta những ơn gọi độc nhất vô nhị, có người được gọi để phản kháng công khai, có người được gọi để phản kháng thầm lặng. Tuy nhiên, tất cả chúng ta đều được kêu gọi tự vấn mình cùng một câu hỏi rằng: trước những chuyện hiện giờ, tình yêu muốn mình làm gì đây?

Việc thực hành của bạn là gì?

Ngày nay, câu hỏi thường thấy trong giới tâm linh không phải là, “Bạn thuộc nhà thờ nào, tôn giáo nào?” Mà là, “Bạn thực hành việc gì?”

Bạn thực hành việc gì? Việc thực hành cầu nguyện thể hiện rõ ra bên ngoài cụ thể của bạn là gì? Là Kitô giáo? Phật giáo? Hồi giáo? Thế tục? Bạn có chiêm niệm? Bạn có cầu nguyện hướng thần? Bạn có chánh niệm? Bạn làm những việc này bao lâu một ngày?

Đây là những câu hỏi có lý và những việc cầu nguyện này đều tốt đẹp, nhưng tôi thấy có một vấn đề. Xu hướng trong những chuyện này là đồng hóa bản chất việc giữ đạo và cương vị môn đệ với một thực hành cầu nguyện rõ ràng duy nhất, và như thế có thể sa vào tối giản hóa. Cương vị môn đệ đâu chỉ gói gọn trong một việc cầu nguyện.

Một người bạn của tôi đã chia sẻ câu chuyện như thế này. Ông đi dự một hội nghị tâm linh, ở đó hầu như ai cũng hỏi, anh thực hành việc gì? Một bà trả lời, “Việc thực hành của tôi là nuôi con!” Có lẽ bà chỉ đang cố giễu cợt, nhưng câu châm biếm của bà có một thấu suốt có thể đem lại sự chỉnh đốn quan trọng cho xu hướng đồng hóa bản chất cương vị môn đệ với một việc thực hành cầu nguyện duy nhất.

Các tu sĩ có những bí quyết đáng để chúng ta học hỏi. Một trong số đó là sự thật rằng bất kỳ thực hành cầu nguyện nào muốn đem lại sự biến đổi đều phải được đặt trong một tập hợp nhiều việc thực hành lớn hơn, một “lệ thường đời tu”, trong đó người tu sĩ cam kết với rất nhiều điều chứ không chỉ là việc cầu nguyện mà thôi. Với một tu sĩ, mỗi việc cầu nguyện đều nằm trong lệ thường của tu viện, và lệ thường đó trở thành lệ thường của người tu sĩ. Hơn nữa, để lệ thường tu viện thật sự có giá trị, nó phải dựa trên sự trung thành với những lời khấn.

Do đó, câu hỏi “bạn thực hành gì?” là một câu hỏi hay, nếu nó không chỉ nhắm riêng đến một việc cầu nguyện rõ ràng duy nhất. Câu hỏi đó còn để hỏi xem bạn có giữ các điều răn hay không? Bạn có trung thành với lời khấn và những kết ước của mình không? Bạn có nuôi dạy con cái đàng hoàng? Bạn có sống giữa cộng đoàn Kitô? Bạn có tìm đến người nghèo? Và, giờ tôi mới nói đến, bạn có thực hành cầu nguyện rõ ràng, thường xuyên, như một thói quen không?
Việc thực hành của tôi là gì?

Tôi chủ yếu dựa trên sự quy củ và nghi thức, “lệ thường tu viện”. Lệ thường của tôi là thế này: Mỗi sáng, tôi đọc Kinh Sáng (thường là chung với cả cộng đoàn). Rồi tôi về văn phòng mình, đọc sách thiêng liêng trong ít nhất 20 phút. Đến trưa, tôi chầu Thánh Thể, và thỉnh thoảng, tôi đi dạo dài giờ và cầu nguyện một tiếng (chủ yếu là dùng kinh mân côi và cầu nguyện cho nhiều người cụ thể). Nhiều hôm, tôi không đi dạo, mà ngồi suy niệm hoặc cầu nguyện hướng thần trong khoảng 15 phút. Mỗi tối, tôi đọc Kinh Chiều (cũng là chung với cả cộng đoàn). Một tuần một lần, tôi dành một tối viết một bài về chủ đề thiêng liêng nào đó. Một tháng một lần, tôi đi lãnh nhận Phép Hòa giải, lúc nào cũng với một cha giải tội duy nhất, và khi có thể, tôi cố dành một tuần mỗi năm để tĩnh tâm. Việc thực hành của tôi dựa vào lệ thường, nhịp điệu và nghi thức. Chúng giữ tôi vững vàng và giúp tôi ở lại với cương vị môn đệ và các lời khấn của mình. Chúng giữ tôi hơn là tôi giữ chúng. Dù có bận rộn đến đâu, dù có phân tâm đến đâu, và dù có cảm thấy thích cầu nguyện hay không, thì chính những nghi thức này đưa tôi vào tâm tình cầu nguyện và trung thành.

Làm môn đệ chính là đặt mình vào khuôn khổ. Do đó, phần lớn việc thực hành của tôi là việc mục vụ và khuôn khổ ăn sâu vào máu này. Tôi xin thú thật, việc mục vụ thường hấp dẫn hơn việc cầu nguyện, nhưng nó cũng đòi hỏi nhiều hơn nơi bạn, và nếu bạn trung thành, nó có thể có sức biến đổi vô cùng, đem lại cho bạn sự trưởng thành và vị tha.

Carlo Carretto, ngòi bút thiêng liêng lừng danh, đã dành phần lớn cuộc đời ở Sa mạc Sahara, sống đời tu sĩ trong cô tịch, dành nhiều giờ để cầu nguyện theo nghi lễ. Tuy nhiên, sau nhiều năm cô tịch và cầu nguyện trong sa mạc, ngài đến thăm mẹ già, người đã dành nhiều năm cuộc đời để nuôi dạy con cái và ít có thời gian để cầu nguyện theo nghi lễ. Khi thăm bà, ngài nhận ra mẹ mình còn chiêm niệm hơn bản thân mình! Từ đó, Carretto rút ra bài học rằng, việc ngài đã làm trong sự cô tịch của sa mạc bao năm trời chẳng có gì là sai, nhưng trong cuộc sống bận rộn nuôi dạy con cái suốt bao năm trời của mẹ ngài có điều gì đó vô cùng đúng đắn. Cuộc đời bà chính là tu viện của bà. Việc thực hành của bà là “nuôi dạy con cái”.

Tôi luôn thích dòng này của Robert Lax: “Bổn phận trong đời không phải là tìm được lối mòn trong khu rừng, cho bằng tìm một nhịp điệu để bước đi”. Có lẽ nhịp điệu của bạn “phi tu viện”, là “tại gia”. Việc thực hành cầu nguyện thể hiện rõ ràng ra bên ngoài là điều quan trọng trong hành đạo, nhưng các bổn phận hiện thời của chúng ta cũng vậy.

Mười quyển sách hàng đầu của tôi trong năm 2020

Khi Thánh Âugutinô nói “thị hiếu không tranh cãi được”, ngài chỉ đúng một phần. Phải thừa nhận rằng, thị hiếu luôn có khía cạnh chủ quan, nhưng cũng luôn có tính chất khách quan. Xét một cách khách quan, một lon soda rẻ tiền đâu như chai rượu ngon, cả triệu bản nhạc đâu phải một bản của Mozart, và bức tranh mà cô bạn nhà trẻ nào đó vẽ cho bạn trong dịp sinh nhật đâu phải tranh Van Gogh.

Với biện luận như thế, tôi thừa nhận rằng tuyển chọn mười quyển sách của tôi có yếu tố chủ quan rõ ràng. Chúng đơn giản là những quyển sách đi vào lòng tôi nhất trong năm qua. Có lẽ chúng sẽ không có tác động như thế với bạn. Dù gì đi nữa, tôi bảo đảm rằng không quyển nào là soda rẻ tiền hay một bức tranh sáp màu của một em bé nhà trẻ.

Mười quyển sách đi vào lòng tôi nhất trong năm qua là những quyển nào?

  1. Clare Carlisle, Triết lý của Trái tim, Cuộc đời đầy khắc khoải của Soren Kierkegaard (Philosopher of the Heart, The Restless Life of Soren Kierkegaard). Nếu bạn chưa hề đọc quyển nào hay về cuộc đời và tác phẩm của Soren Kierkegaard, thì đây là quyển sách bạn cần. Nó là kết hợp độc đáo của kiến thức hàn lâm, văn phong rõ ràng, những phê bình và đồng cảm với Kierkegaard.
  2. Michael J. Buckley, Bạn tìm kiếm gì? Những chất vấn của Chúa Giêsu là thách thức và lời hứa (What Do You Seek? The Questions of Jesus as Challenge and Promise). Trong những quyển sách tôi đọc năm nay, quyền này thách thức cá nhân tôi nhiều nhất. Qua quyển này, Buckley, mất năm 2019, chiếu rọi ánh sáng vào tâm hồn chúng ta và cho thấy cả những thách thức và lời hứa trong cuộc đời Chúa Giêsu.
  3. Frederick Buechner, Thất bại Tuyệt mỹ (The Magnificent Defeat). Được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1965, nhưng đến tận năm nay tôi mới tìm ra được quyển này. Là một thừa tác viên chức thánh của Giáo hội Trưởng lão, Buechner là thần học gia, nhà thơ, triết gia, tiểu thuyết gia, và nhà viết luận văn, tác phẩm của ông luôn đáng đọc, nhất là quyển này, với những thấu suốt rất hiếm có.
  4. Mark Wallace, Khi Thiên Chúa là một loài chim – Kitô giáo, vật hồn giáo và công cuộc tái quyến rũ thế giới (When God was a Bird – Christianity, Animism, and the Re-Enchantment of the World). Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng Thiên Chúa viết hai quyển sách, Kinh Thánh và thế giới tự nhiên. Là Kitô hữu, chúng ta có cả hai quyển sách, những người ngoại đạo và những người tin vật hồn giáo chỉ có một quyển, là quyển sách tự nhiên. Wallace cho rằng đã đến lúc để các kitô hữu chúng ta nghiêm túc hơn trong việc nhìn nhận quyển sách tự nhiên và bớt e ngại vật hồn giáo, hầu hiểu trọn vẹn hơn về đức tin của mình và có mối liên hệ lành mạnh hơn với thế giới tự nhiên. Những thấu suốt của ông sẽ mở mang cho bạn nhưng vẫn theo sát giáo lý.
  5. Gerhard Lohfink, Cầu nguyện đưa ta về nhà, Thần học và thực hành của việc cầu nguyện Kitô giáo (Prayer Takes Us Home, The Theology and Practice of Christian Prayer). Gerhard Lohfink là học giả Kinh Thánh người Đức và luôn đáng để đọc. Đây là quyển sách thứ tư của ông được dịch sang tiếng Anh, và như các quyển kia, nó là sự kết hợp hiếm có giữa kiến thức hàn lâm, đức tin cá nhân và văn phong rõ ràng.
  6. Muriel Barbery, Sự tinh nhã của con nhím (The Elegance of the Hedgehog). Đây là một tiểu thuyết viết vào năm 2006, đầy thấu suốt, khéo léo và bất ngờ. Nếu bạn thích tiểu thuyết hành động, thì quyển này không hợp với bạn lắm. Đọc nó cũng như là ngắm một tác phẩm nghệ thuật và cứ tự nhủ, làm sao người nghệ sĩ lại có thể khéo đến vậy?
  7. Marilynne Robinson, Jack. Tờ Times xem bà là một trong số 100 người có ảnh hưởng nhất nước Mỹ, và đúng thế, chắc chắn là thế trong thời của tôi. Marilynne Robinson là một tiểu thuyết gia được ca ngợi và là ngòi bút tôn giáo đầy thấu suốt. Để đọc quyển này, bạn cần thêm chút kiên nhẫn. Đừng bỏ cuộc, bởi 50 trang đầu chẳng khiến bạn cảm được gì cả. Nhưng đọc hết quyển, bạn sẽ thấy xúc động sâu sắc.
  8. Helen Prejean, Dòng sông lửa, Hành trình thiêng liêng của tôi (River of Fire, My Spiritual Journey). Tác giả của quyển Dead Man Walking chia sẻ tiểu sử tự thuật của mình. Đây là câu chuyện hoán cải của một người phụ nữ ngoại hạng mà ta cảm thấy bà chẳng cần hoán cải. Một quyển sách rất thẳng thắn, thành thật, sâu sắc.
  9. Lyn Cowan, Chân dung Sầu phu nhân, Tính cách sầu muộn (Portrait of the Blue Lady, The Character of Melancholy). Một quyển sách nữa được viết cách đây 16 năm nhưng năm nay tôi mới biết. Đây là quyển sách của nhà thần thoại học và tâm lý gia theo trường phái Jung viết về sầu muộn. Xin điểm qua một đoạn: “Sầu muộn còn bị mất đi tên của mình, thời nay sầu muộn bị gọi là “trầm cảm”, bị tách biệt, phân loại bệnh lý và lâm sàng khỏi “sầu muộn” thẫn thờ từng được các thi sĩ, triết gia, ca sĩ và bác sĩ ghi nhận. Giờ sầu muộn bị xem là “căn bệnh trị được” hơn là một ưu phiền thường đau đớn và khó khăn của linh hồn, nó không phải là một căn bệnh và không cần chữa trị”. Với Cowan, sầu muộn là con đường nội tâm để chúng ta kết thân với những phần thâm sâu nhất trong tâm hồn.
  10. Ira Byock, Bốn điều hệ trọng nhất (The Four Things that Matter Most). Xuất bản lần đầu vào năm 2004, quyển sách này xứng đáng được đông đảo đại chúng đón đọc. Byock đưa ra toàn bộ giả thuyết của mình trong câu mở đầu quyển sách. Bốn điều quan trọng nhất mà bạn nói được là: Tha thứ cho tôi. Tôi tha thứ cho bạn. Cảm ơn. Tôi yêu bạn. Đây là những lời người ta thường thốt ra trong giờ lâm tử. Tuy nhiên, như Byock thúc giục, tốt hơn chúng ta nên nói ra chúng từ rất lâu trước thời khắc những người thân thương quây quần bên giường lâm tử của ta. Những lời đáng buồn nhất của chúng ta là gì? “Giá mà như thế!”

Ngoài mười quyển sách này, tôi cũng rất mong các bạn đọc Thông điệp mới của Đức Phanxicô, Thông điệp Tất cả anh em Fratelli tutti.

Trên đây là mười quyển sách đi vào lòng tôi nhất trong năm qua. Tôi không thể bảo đảm bạn cũng sẽ cảm thấy thế. Nhưng tôi có thể bảo đảm, không quyển nào là soda rẻ tiền đâu!

Giáng Sinh chính là đập tan biết bao kỳ vọng của chúng ta

Thật bi hài khi Thiên Chúa luôn làm tiêu tan biết bao kỳ vọng của chúng ta. Chúng ta có quan niệm nhất định về cách thức hành động của Thiên Chúa, nhưng cuối cùng Ngài lại hành động theo những cách khiến biết bao kỳ vọng của ta tiêu tan và đồng thời lại thành toàn cho những kỳ vọng của chúng ta theo một cách sâu sắc hơn. Điều này đặc biệt đúng trong câu chuyện ở Bê-lem trong ngày Chúa Giáng Sinh.

Suốt hàng thế kỷ, biết bao nhiêu tín hữu ý thức sự vô lực của mình trước những chuyện sai trái trên đời, đã cầu nguyện xin Thiên Chúa xuống dương trần làm Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Tinh, tẩy uế dương trần và chỉnh đốn mọi sự. Có lẽ nó là một khát khao mơ hồ mong mỏi công lý, một hy vọng cháy bỏng, thay vì một viễn cảnh rõ ràng, ít nhất là trước thời các ngôn sứ Do Thái vĩ đại. Dần dà, các ngôn sứ như Isaiah bắt đầu trình bày rõ viễn cảnh khi Đấng Thiên Sai đến. Trong viễn cảnh họ mô tả, Đấng Thiên Sai sẽ mở ra “Thời đại Thiên Sai”, một thời đại mới khi mọi sự được chỉnh đốn đúng đắn tốt đẹp. Người nghèo được sung túc, người bệnh được chữa lành, mọi người bị giam cầm nô lệ được giải phóng, và tất cả được hưởng công lý (bao gồm cả sự trừng phạt dành cho kẻ ác). Người nghèo và người hiền lành sẽ thừa kế địa cầu vì Đấng Thiên Sai mà họ tìm kiếm từ lâu sẽ khuất phục mọi sự dữ, xua đuổi ác nhân khỏi mặt địa cầu và chấn chỉnh mọi sự.

Và sau hàng thế kỷ đợi chờ, khát khao, họ được gì? Họ đã được gì? Một hài nhi sơ sinh trần trần truồng, vô lực, còn chẳng tự ăn được. Chẳng một ai ngờ chuyện sẽ như thế. Họ kỳ vọng có một Siêu nhân, một Siêu sao,một người cường tráng, thông minh, đường bệ, bất khả xâm phạm và bất khả chiến bại, áp đảo hoàn toàn mọi thế lực trên địa cầu đến mức không một ai dám tranh biện, chống đối hay đương cự gì cả.

Và chúng ta thời nay, hầu hết, vẫn hình dung về cách quyền năng của Thiên Chúa hoạt động trên trần gian như thế. Nhưng như câu chuyện Giáng Sinh, chúng ta đã biết rằng thường thì Thiên Chúa không hoạt động như thế. Câu chuyện Bê-lem bày tỏ cho chúng ta rằng thường chúng ta gặp được sự hiện diện và quyền năng của Thiên Chúa trên trần gian trong hình hài một trẻ sơ sinh nằm trong máng cỏ, yếu ớt, vô lực, mà đi vào lòng chúng ta một cách tiềm thức.

Tại sao lại thế? Tại sao Đấng Tạo Hóa toàn năng của vũ trụ lại không mang lấy thêm cơ bắp cường tráng? Tại sao Thiên Chúa thường tỏ lộ trong hình hài trẻ bé hơn là trong hình hài siêu sao? Tại sao lại thế? Bởi vì quyền năng của Thiên Chúa hoạt động để làm tan chảy hơn là phá vỡ trái tim con người, và đấy chính là tác động của sự yếu đuối và vô lực. Đấy chính là điều mà một trẻ bé làm được. Quyền năng của Thiên Chúa, ít nhất là quyền năng của Thiên Chúa để kéo chúng ta lại gần nhau, thường không hoạt động qua sự uy nghi, cường tráng và bất khả xâm phạm. Quyền năng của Thiên Chúa hoạt động qua rất nhiều điều, nhưng khi hoạt động qua sự yếu đuối và vô lực, quyền năng đó thật đặc biệt. Sự thân mật dựa trên sự yếu đuối. Chúng ta không thể áp chế người khác để khiến người đó yêu bạn, trừ khi chúng ta áp chế người đó bằng cách làm của một trẻ bé. Chúng ta có thể quyến dụ nhau bằng sự hấp dẫn, khiến người ta ngưỡng mộ bằng tài năng, và áp đảo người khác bằng sức mạnh thượng đẳng, nhưng chúng không thể nào đem lại nền tảng cho một cộng đồng chia sẻ cuộc sống với nhau lâu dài…. Thế mà sự vô lực và ngây thơ của một đứa trẻ lại có thể làm được.

Quyền năng của Thiên Chúa, cũng như trẻ bé ngủ trong nôi, nằm đó trong thế giới của chúng ta với lời mời gọi lặng lẽ chứ không phải lời đe dọa áp chế. Đức Kitô mặc lấy xác phàm ở Bê-lem cách đây hai ngàn năm, rồi ba mươi năm sau, chết trong vô lực trên cây thập giá ở Jerusalem, điều này tỏ lộ cho chúng ta rằng: Thiên Chúa nhập thể nơi Đức Giêsu Kitô đi vào đau khổ của con người thay vì bàng quan đứng nhìn, đồng hiệp với chúng ta thay vì tách biệt khỏi chúng ta, thể hiện rõ rằng con đường đến vinh quang là con đường đi xuống thay vì đi lên, chung vai với người nghèo và người vô lực thay vì với người giàu và quyền lực, mời gọi thay vì cưỡng ép, và biểu lộ rõ nơi một trẻ bé hơn là nơi một siêu sao.

Nhưng chuyện này không phải lúc nào cũng dễ để chúng ta hiểu hoặc chấp nhận. Chúng ta thường chán nản và nóng vội khi Thiên Chúa có vẻ hành động quá chậm. Chúa Giêsu đã hứa rằng người nghèo và người hiền lành sẽ thừa kế địa cầu, thế mà hiện thực thế giới thì lại trái ngược hẳn. Người giàu ngày càng giàu lên, còn người nghèo có vẻ chẳng được thừa kế bao nhiêu. Một trẻ bé vô lực thì làm được gì trong chuyện này chứ? Chúng ta phải tìm đâu để thấy quyền năng của Đấng Thiên Sai?

Vâng, lại một lần nữa, biết bao kỳ vọng của chúng ta cần bị đập tan. Mà “thừa kế địa cầu” nghĩa là gì? Là làm siêu sao? Là giàu có và nổi tiếng? Là có quyền trên người khác? Là một yếu nhân đến đâu cũng được nhận ra và ngưỡng mộ? Đấy là cách chúng ta “thừa kế địa cầu” sao? Hay “thừa kế địa cầu” là khi sự lạnh lẽo tan chảy dần trong tim và chúng ta được tái hồi sự thiện ban sơ, nhờ nụ cười của một trẻ bé?

Ảo tưởng mình bất khả xâm phạm

Cái gì không giết được ta sẽ làm ta mạnh hơn. Đây là câu châm ngôn thiện chí vốn không phải lúc nào cũng đúng. Đôi khi chúng ta gặp chuyện xấu, mà đâu có học được gì. Mong là thời gian tồi tệ hiện thời, dịch Covid-19, sẽ dạy cho chúng ta gì đó và khiến chúng ta mạnh mẽ hơn. Tôi mong rằng Covid-19 sẽ dạy chúng ta điều gì đó mà các thế hệ trước không cần ai dạy nhưng đã tự học được qua kinh nghiệm sống, cụ thể là, chúng ta không bất khả xâm phạm, chúng ta không được miễn trừ những nguy cơ bệnh tật, suy nhược và cái chết. Nói tóm lại, mọi điều thế giới đương đại có thể cho chúng ta về công nghệ, y học, dinh dưỡng và sự bảo đảm về mọi mặt, đâu có miễn trừ được cho chúng ta khỏi sự mỏng manh và dễ bị tổn thương. Covid-19 đã dạy cho chúng ta như thế. Như mọi con người khác sống trên địa cầu này, chúng ta đều dễ bị tổn thương.

Tôi đủ lớn tuổi để biết thế hệ trước, thời hầu hết mọi người sống cùng nhiều nỗi sợ, không phải mọi nỗi sợ đó đều lành mạnh, nhưng tất cả chúng đều rất thật. Cuộc sống quá mong manh. Sinh con có thể khiến người mẹ mất mạng. Một trận cúm, một con virus có thể đoạt mạng người, và chúng ta chẳng có mấy cách đương đầu với nó. Chúng ta có thể chết trẻ vì bệnh tim, ung thư, tiểu đường, vệ sinh kém, và hàng chục thứ khác. Thiên nhiên cũng là mối đe dọa. Những cơn bão, gió lốc, hạn hán, dịch hạch, sấm sét, tất cả chúng đều đáng sợ vì trước mặt chúng con người gần như bất lực. Người ta sống với ý thức rằng sinh mạng và sức khỏe rất mỏng manh, không phải là cái mặc nhiên.

Nhưng rồi, nhờ vắc-xin, kháng sinh, chất lượng bệnh viện và thuốc men cải thiện, sinh nở an toàn hơn, chế độ dinh dưỡng tốt hơn, nhà ở, đường xá, xe cộ, đủ thứ tốt hơn, bảo đảm hơn cho chúng ta trước tình cảnh mất việc, trước hạn hán, lụt bão, dịch bệnh hay bất kỳ thiên tai gì. Và cùng với đó là một ý thức ngày càng lớn rằng chúng ta an toàn, chúng ta được bảo vệ, khác hẳn với các thế hệ trước, chúng ta có thể tự lo cho mình, không còn yếu ớt dễ bị tổn thương như các thế hệ trước.

Và xét phần lớn, điều đó đúng, ít nhất là về phương diện sức khỏe và an toàn thể lý. Về nhiều mặt, chúng ta bớt yếu ớt hơn các thế hệ trước nhiều. Nhưng, như Covid-19 đã phơi bày rõ, đây không phải là chốn nương ẩn tuyệt đối an toàn. Dù cho có chối bỏ và phản kháng nhiều đến mấy, chúng ta vẫn phải thừa nhận rằng giờ chúng ta đang sống như những thế hệ trước mà thôi, nghĩa là không thể nào bảo đảm về sức khỏe và sự an toàn của mình. Giữa muôn vàn điều quái ác mà Covid-19 gây ra, nó cũng giúp chúng ta bỏ đi ảo tưởng về sự bất khả xâm phạm của mình. Chúng ta mỏng manh, dễ bị tổn thương, và khả tử.

Mới nghe qua, có vẻ chuyện này thật tệ, nhưng không đâu. Vỡ mộng chính là gạt bỏ đi một ảo tưởng sai lầm, và bấy lâu nay, chúng ta đã sống quá lâu, quá hăng hái trong một ảo tưởng, một vui thích giả tạo khiến chúng ta tin rằng các mối đe dọa thời trước sẽ không thể làm gì mình. Chúng ta đã quá sai rồi! Lúc tôi viết bài này, đã có hơn 70 triệu ca nhiễm Covid-19 trên toàn cầu, và hơn một triệu sáu người đã chết vì virus này. Hơn nữa, tỷ lệ nhiễm bệnh và tử vong cao nhất lại nằm ở các quốc gia mà chúng ta tưởng là vững vàng nhất, những quốc gia có bệnh viện tốt nhất và tiêu chuẩn y tế cao nhất. Đấy chính là hồi chuông cảnh tỉnh. Thế giới hiện đại và hậu hiện đại có thể đem lại cho chúng ta quá nhiều điều tốt đẹp, và dù nó có khiến chúng ta cảm thấy như nó có thể bảo vệ chúng ta khỏi tất cả, nhưng đến tận cùng, sự thật không phải vậy.

Covid-19 là thứ thay đổi tất cả, nó đã phá tan ảo tưởng về sự bất khả xâm phạm của chúng ta. Vậy trong chuyện này, có bài học gì để chúng ta rút ra? Nói tóm lại, thế hệ chúng ta phải chấp nhận vị trí của mình bên cạnh các thế hệ khác, công nhận rằng mình không thể xem sinh mạng, sức khỏe, gia đình, công việc, cộng đồng, đi lại, giải trí, tự do tụ tập, tự do đi nhà thờ, tất cả, là những thứ mặc nhiên. Covid-19 đã dạy cho chúng ta rằng chúng ta không phải là Chúa của sự sống và con người vẫn rất mỏng manh, kể cả trong thế giới hiện đại và hậu hiện đại đi nữa.

Thần học và triết học Kitô giáo kinh điển luôn dạy chúng ta rằng, là con người chúng ta không tự đủ. Chỉ có Thiên Chúa mới như thế. Chỉ có Thiên Chúa mới là “Hữu thể tự đủ” (Ipsum Esse Subsistens, trong thần học kinh điển). Còn chúng ta đều phụ thuộc vào may rủi, lệ thuộc, đồng lệ thuộc… và khả tử, đủ để phải sợ mỗi lần trở bệnh phải đi gặp bác sĩ. Các thế hệ trước, vì không có kiến thức y khoa, không có những bác sĩ và bệnh viện như chúng ta, không có tiêu chuẩn vệ sinh và thuốc men như chúng ta, không có vắc-xin và kháng sinh, nên họ cảm nhận được sự lệ thuộc may rủi của mình. Họ biết mình không tự đủ, và sinh mạng cũng như sức khỏe của họ không phải là điều mặc nhiên. Tôi chẳng ghen tỵ với họ về những nỗi sợ sai lầm đi kèm tâm thức này, nhưng tôi ghen tỵ với họ vì họ không sống với sự an toàn giả tạo. Thế giới đương thời đem lại cho chúng ta đủ điều tốt đẹp, nhưng cũng dẫn dụ chúng ta ngủ quên, vô ý thức, về sự mỏng manh, yếu đuối dễ tổn thương và khả tử của chúng ta. Covid-19 là tiếng chuông cảnh tỉnh, không chỉ cho sự thật rằng chúng ta yếu đuối dễ bị tổn thương, nhưng đặc biệt là cho sự thật rằng chúng ta không được xem những món quà quý giá là sức khỏe, gia đình, công việc, cộng đồng, đi lại, giải trí, tự do tụ tập và cả tự do đến nhà thờ, là những điều mặc nhiên.

Từ thánh Tarcisius đến Tạp chí People: Cuộc cách mạng của chúng ta về sự ngưỡng mộ và noi gương

Hồi tôi còn là cậu bé lớn lên trong cộng đoàn Công giáo, giáo lý thời đó cố hứng khởi cho con tim tuổi trẻ bằng những câu chuyện về các bậc tử đạo, các thánh và những người sống theo các lý tưởng cao cả về đức hạnh và đức tin. Tôi còn nhớ một câu chuyện khơi gợi trí tưởng tượng và cảm hứng trong tôi, kể về một bậc tử đạo vào thế kỷ 3, thánh Tarcisius.

Theo truyền thuyết (hay sự thật) thì thánh Tarcisius là một lễ sinh 12 tuổi, sống trong thời bách hại Kitô giáo. Thời đó, Kitô hữu ở Roma phải bí mật cử hành Phép Thánh Thể trong các hầm mộ. Sau các thánh lễ bí mật đó, một phó tế hoặc lễ sinh, sẽ đưa Mình Thánh Chúa đến cho các bệnh nhân và tù nhân. Một hôm nọ, sau thánh lễ, cậu bé Tarcisius đưa Mình Thánh Chúa đến một nhà tù, thì giữa đường bị một nhóm côn đồ chặn lại. Cậu không chịu đưa Mình Thánh Chúa cho họ, và bảo vệ Mình Thánh Chúa bằng cả cơ thể mình, kết quả là cậu bị đánh đến chết.

Năm tôi 12 tuổi, cùng độ tuổi với thánh Tarcisius, câu chuyện đó thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn của tôi. Tôi đã muốn có lý tưởng cao cả như thế trong đời. Trong trí tưởng tượng non trẻ của tôi, thánh Tarcisius là người hùng tuyệt vời nhất mà tôi muốn trở thành.

Từ thời điểm đó đến nay, chúng ta đã đi một quãng đường khá dài, cả trong nền văn hóa lẫn giáo hội. Chúng ta không còn thấy xúc động một cách lãng mạn bởi những câu chuyện về các vị thánh thời xưa lẫn thời nay. Phải, chúng ta vẫn dành cho các ngài một chỗ trang trọng và chính thức trong các nhà thờ cũng như trong các lý tưởng cao cả của mình, nhưng thời nay, chúng ta thấy xúc động một cách lãng mạn bởi những người giàu, người nổi tiếng, người đẹp, các ngôi sao ca nhạc, các vận động viên lừng lẫy, những người tài năng về thể chất cũng như trí tuệ. Hiện giờ, họ mới là những người thổi bùng và họa nên trí tưởng tượng của chúng ta, họ mới là những người mà chúng ta muốn noi gương nhất.

Hồi đầu thế kỷ 18, Alban Butler, một người Anh cải đạo, đã thu thập các câu chuyện về đời sống các thánh và tập hợp thành một hợp tuyển 12 tập, được biết đến với tên Hạnh Các Thánh của Butler. Trong gần 200 năm, quyển sách này đã tạo hứng khởi cho biết bao Kitô hữu, cả già lẫn trẻ. Nhưng giờ đã không còn như thế nữa. Ngày nay, quyển Hạnh Các Thánh của Butler đã bị thay thế bởi tạp chí People, Sports Illustrated, Rolling Stone, Time, và vô số tạp chí khác kể lại cuộc đời của những người giàu có và nổi tiếng đang bày bán nhan nhản trên mọi kệ sách báo và ngay cửa ra vào mọi cửa hàng.

Và thế là, chúng ta chuyển đổi, từ thánh Tarcisius sang Justin Bieber, từ Teresa Hài Đồng Giêsu sang Taylor Swift; từ thánh Tôma Aquinô sang Tom Brady, từ thánh Monica sang Meryl Streep, từ thánh Augustino sang Mark Zuckerberg, từ thánh Julian thành Norwich sang Marianne Williamson, và từ vị thánh gốc Phi đầu tiên, Martin de Porres sang LeBron James. Bây giờ, đây mới là những người thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn của chúng ta, mời gọi chúng ta noi gương họ.

Đừng hiểu lầm ý tôi, những người này không xấu và ngưỡng mộ họ chẳng có gì là sai. Thật sự chúng ta nên ngưỡng mộ họ vì mọi vẻ đẹp và tài năng đều phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng tạo tác mọi sự tốt đẹp. Từ đức hạnh của một vị thánh cho đến vẻ đẹp của một ngôi sao điện ảnh, hay sự lôi cuốn của một vận động viên, tất cả đều do một Đấng tạo tác và tất cả đều phát xuất từ nguồn của mọi sự tốt đẹp là chính Thiên Chúa. Thánh Tôma Aquinô từng chỉ ra rằng kìm nén lời khen cho người xứng đáng, chính là tội lỗi, vì chúng ta đang giấu đi của ăn cho người cần nó để sống. Vẻ đẹp, tài năng, và sự duyên dáng cần được thừa nhận và công nhận. Vấn đề tôi muốn nói đến không phải là sự ngưỡng mộ. Mà vấn đề là trong khi chúng ta cần ngưỡng mộ và công nhận tài năng của những con người xuất sắc này, cuộc sống của họ không phải lúc nào cũng là cái để ta nên noi gương, trừ phi họ toát ra đức hạnh và sự thánh thiện. Chúng ta không được dễ dàng đồng nhất sự duyên dáng với đức hạnh. Nhưng rắc rối cũng nằm ở chỗ đó.

Một trong những điểm yếu nhất của các giáo hội thời nay, là trong khi chúng ta đã nâng cấp và thanh lọc rất nhiều cho trí tưởng tượng về trí tuệ của mình đồng thời đã có những nghiên cứu kinh thánh và thần học tốt hơn, lành mạnh hơn, thế nhưng chúng ta vẫn chật vật trong việc chạm đến trái tim con người. Chúng ta chật vật trong việc khiến người ta rung động với đức tin và nhất là với giáo hội của họ. Chúng ta chật vật trong việc thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn mà một thời chúng ta đã làm được nhờ hạnh các thánh.

Với tình hình như thế, chúng ta có thể làm được gì đây? Chúng ta có thể một lần nữa tìm ra những vị thánh thổi bùng được các lý tưởng của mình không? Tác phẩm rất hay của Robert Ellsberg về hạnh các thánh (về cuộc đời các vị thánh và những vĩ nhân về đạo đức) có trở thành quyển Hạnh Các Thánh mới ngang tầm quyển của Butler không? Các tiểu sử thế tục về một số vĩ nhân đạo đức trong thời đại của mình có thể khiến chúng ta muốn noi gương không? Liệu thời nay có một thánh Tarcisius có thể tạo hứng khởi cho giới trẻ không?

Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần những câu chuyện hứng khởi về những người nam, người nữ, cả già và trẻ, đã sống trọn đức hạnh anh hùng. Không có những lý tưởng như thế để noi theo, chúng ta sẽ rất nhanh rơi vào tâm thức đồng nhất đức hạnh với sự duyên dáng, và tự tước bỏ những lý tưởng tâm linh cao cả hơn khỏi tầm tay mình.

Tổn thương, ân sủng và sức mạnh của chúng ta để chữa lành cho người khác

Cách đây gần năm mươi năm trước, Linh mục Henri Nouwen viết quyển sách có tựa đề Người bị tổn thương chữa lành (The Wounded Healer). Thành công của quyển sách đã làm cho ngài thành một trong các nhà lãnh đạo thiêng liêng thiêng liêng độc đáo và đã trở thành một trong những nhà văn tâm linh có ảnh hưởng nhất trong nửa thế kỷ qua. Điều gì đã làm cho các bài viết của ngài trở nên mạnh như vậy? Sự lỗi lạc của ngài? Tài năng diễn tả? Đúng, ngài có năng khiếu nhưng nhiều người khác cũng có. Điều làm cho ngài trở nên khác biệt, ngài là người bị tổn thương sâu đậm và từ nơi lo âu cùng cực nội tâm của mình, ngài tuôn ra những lời có thể chữa lành cho hàng triệu người.

Điều này hoạt động như thế nào? Làm thế nào để vết thương của chúng ta giúp chữa lành người khác? Đây không phải là trường hợp này. Không phải các tổn thương của chúng ta giúp chữa lành người khác. Ngược lại, những tổn thương của chúng ta có thể tô màu cho ân sủng và tài năng của chúng ta theo cách để chúng không còn tạo phản kháng và ghen tị nơi người khác nữa, thay vào đó chúng trở thành những gì Chúa muốn chúng trở thành, những món quà để làm cho người khác được ơn ích.

Nhưng đáng tiếc, điều ngược lại cũng lại đúng. Các ân sủng và tài năng của chúng ta thường lại là lý do làm chúng ta thành người không được yêu mến, thậm chí còn có thể bị ghét. Có một động lực đáng chú ý ở đây. Chúng ta không tự động và cũng không dễ dàng để các ơn của người khác mang đến ơn ích cho mình. Thông thường, chúng ta miễn cưỡng công nhận nét đẹp và sức mạnh của chúng, cùng lúc chúng ta chống lại và ghen tị với những người có các ơn này. Đó là một trong những lý do làm chúng ta khó có thể đơn giản ngưỡng mộ ai đó.

Nhưng sự miễn cưỡng này nơi chúng ta không chỉ nói lên điều gì đó về chúng ta. Thường thì nó cũng nói lên điều gì đó về những người có được các món quà đó. Tài năng là một chuyện không rõ ràng, nó có thể được dùng để khẳng định bản thân, để tách mình ra khỏi người khác, để trở nên nổi bật và đứng trên, hơn là món quà để giúp đỡ người khác. Tài năng của chúng ta có thể được dùng đơn giản để tỏ ra mình xuất sắc, có tài, ưa nhìn và thành công đến như thế nào. Sau đó, chúng đơn giản trở thành sức mạnh nhằm làm lu mờ người khác để chúng ta nổi bật.

Làm thế nào chúng ta có thể biến tài năng của mình thành món quà cho người khác? Làm thế nào chúng ta có thể được yêu mến vì tài năng thay vì bị ghét bỏ vì chúng? Đây là điểm khác biệt: chúng ta sẽ được yêu mến và ngưỡng mộ vì những món quà của mình khi những món quà này được tô màu bởi các tổn thương chúng ta để người khác không nhìn chúng như mối đe dọa hoặc một cái gì làm chúng ta trở nên khác biệt, nhưng là một món quà gởi đến họ trong các khuyết điểm của chính họ. Khi được chia sẻ theo một cách nào đó, các món quà của chúng ta có thể trở thành quà tặng cho mọi người.

Và đây là cách thức hoạt động của bài toán này: Những món quà chúng ta nhận không phải cho chúng ta mà cho người khác. Nhưng, để được như vậy, chúng cần được đượm màu bởi lòng trắc ẩn. Chúng ta đến được với lòng trắc ẩn khi để cho các vết thương trở nên thân thiện với những món quà của chúng ta. Đây là hai ví dụ.

Khi Công nương Diana qua đời vào năm 1997, có một làn sóng yêu thương tràn ngập. Vừa theo cảm tính và là một linh mục công giáo, tôi thường không than khóc cho những người nổi tiếng, nhưng tôi cảm nhận một nỗi buồn và tình yêu sâu đậm cho người phụ nữ này. Tại sao? Vì Diana xinh đẹp và nổi tiếng? Không phải vậy. Nhiều phụ nữ đẹp và nổi tiếng lại bị ghét vì chuyện này. Công nương Diana được rất nhiều người yêu mến vì bà là người bị tổn thương, người mà các tổn thương tô đậm thêm cho sắc đẹp và sự nổi tiếng của bà, theo một cách nó dẫn đến tình thương chứ không dẫn đến ganh tị.

Linh mục Henri Nouwen, người đã phổ biến thành ngữ “người bị tổn thương chữa lành” cũng có đặc nét tương tự. Cha là linh mục xuất sắc, tác giả của hơn bốn mươi cuốn sách, một trong những diễn giả về tôn giáo nổi tiếng nhất trong thế hệ của ngài, đã làm việc ở Đại học Harvard và đại học Yale, người có nhiều bạn trên khắp thế giới; nhưng cha lại là người bị tổn thương sâu đậm, cha đã thú nhận nhiều lần, phải chịu đựng lo âu, bồn chồn, ghen tương và có khi phải vào dưỡng đường. Thêm nữa khi thú nhận nhiều lần, giữa thành công và nổi tiếng này, trong phần lớn cuộc đời trưởng thành của mình, cha đã khó đơn giản chấp nhận tình yêu. Tổn thương của cha đã mãi mãi ngăn cản. Và điều này làm cho bản ngã của cha bị tổn thương, chủ yếu đậm nét trong từng trang viết trong mỗi cuốn sách của cha. Sự xuất sắc của cha mãi mãi tô đậm lên các tổn thương của cha và đó là lý do tại sao cha không bao giờ tự tin và luôn có lòng trắc ẩn. Không ai ganh với sự xuất sắc của cha Nouwen; ngài quá bị tổn thương để ganh tị. Thay vào đó, sự xuất sắc của cha luôn làm chúng ta xúc động theo cách chữa lành. Ngài là người chữa lành bị tổn thương.

Những lời nói, những tổn thương, những người chữa lành đan xen nhau. Tôi tin chắc Chúa kêu gọi mỗi người chúng ta với một ơn gọi và một công việc đặc biệt ở đây trên trái đất này, dựa trên các tổn thương chúng ta hơn là trên các ơn của chúng ta. Quà tặng của chúng ta là có thật và quan trọng; nhưng họ chỉ mang ơn ích khi được định hình trong một loại trắc ẩn đặc biệt do đặc tính duy nhất của các tổn thương chúng ta. Các tổn thương đặc biệt, duy nhất của chúng ta có thể giúp mỗi chúng ta trở thành người chữa lành duy nhất, đặc biệt.

Thế giới chúng ta đầy những người xuất sắc, tài năng, rất thành công và xinh đẹp. Những món quà này là có thật, đến từ Chúa và không bao giờ được gièm pha nhân danh Chúa. Tuy nhiên, quà tặng chúng ta không tự động giúp đỡ người khác; nhưng chúng có thể làm được tô màu bởi các tổn thương của chúng ta để chúng tuôn ra như lòng trắc ẩn chứ không phải là niềm kiêu hãnh.

Lời mời gọi trưởng thành – Khóc cho thành Giêrusalem

Trưởng thành có nhiều mức độ khác nhau. Trưởng thành cơ bản được định nghĩa chính yếu là phải vượt qua tính ích kỷ bản năng mà chúng ta được sinh ra, để bây giờ động lực và hành động của chúng ta được định hình qua nhu cầu của người khác chứ không chỉ qua nhu cầu của chúng ta. Đó là mức tối thiểu cơ bản, mức tối thiểu để được trưởng thành. Sau mức độ này, còn có các mức độ và trình độ tùy theo mức độ động cơ và hành động của chúng ta là vị tha hay vị kỷ.

Trong các sách Tin Mừng, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta có các mức độ trưởng thành ngày càng sâu sắc hơn, dù đôi khi chúng ta có thể bỏ lỡ lời mời vì nó được thể hiện một cách tinh tế chứ không như lời mời đạo đức được truyền đạt một cách rõ ràng. Một lời mời tinh tế, nhưng rất sâu sắc để có được một mức độ trưởng thành cao hơn như việc Chúa Giêsu khóc cho thành Giêrusalem. Có gì bên trong hình ảnh này?

Và đây là hình ảnh và khung bối cảnh của nó. Chúa Giêsu vừa bị bác bỏ, cả về con người lẫn thông điệp của Ngài và Ngài thấy rõ nỗi đau mà người dân sẽ gánh chịu do sự từ chối này. Phản ứng của ngài là gì? Ngài có phản ứng theo cách mà hầu hết chúng ta thường nghĩ: “Quỷ tha ma bắt! Tôi hy vọng bạn gánh đủ toàn bộ hậu quả của chính sự ngu ngốc này của bạn!” Không. Ngài khóc, giống như cha mẹ đối xử với đứa con ương ngạnh bằng tình yêu; ngài mong trong từng thớ thịt, có thể cứu con mình khỏi các hệ quả của các lựa chọn không tốt của nó. Ngài cảm nhận được vết thương của con cái hơn là vui vẻ nhìn nỗi đau của chúng.

Ở đây có một thách thức kép. Đầu tiên là vấn đề cá nhân: chúng ta vui mừng khi những người từ chối lời khuyên của chúng ta đau khổ vì sự sai trái của họ hay chúng ta khóc trong lòng vì nỗi đau mà họ đã tự mang lại? Khi chúng ta thấy các hệ quả trong cuộc sống của những người có các chọn lựa không đúng, dù đó là do vô trách nhiệm, do lười biếng, do ma túy, tình dục, phá thai, do ý thức hệ, do thái độ chống tôn giáo, hoặc do ý xấu, chúng ta có vui mừng khi các lựa chọn bắt đầu cắn họ như rắn cắn (Này, đã làm thì ráng chịu!) hay chúng ta khóc vì họ, vì bất hạnh của họ?

Phải thừa nhận, thật khó để không vui khi thấy người từ chối lời khuyên của mình bị lãnh đủ với quyết định cứng đầu của họ. Đó là cách hoạt động tự nhiên của trái tim, vì thế sự đồng cảm có thể đòi hỏi một mức độ trưởng thành rất cao. Ví dụ, trong đại dịch Covid-19, các chuyên gia y tế (hầu như không có ngoại lệ) yêu cầu chúng ta mang khẩu trang để bảo vệ người khác và bảo vệ chính mình. Phản ứng tự phát khi chúng ta thấy ai coi thường cảnh báo này, chúng ta có nghĩ họ thông minh hơn bác sĩ, không mang khẩu trang và sau đó bị nhiễm vi-rút không? Chúng ta có vui thầm khi thấy họ phải gánh hậu quả việc họ làm hay chúng ta, một cách ẩn dụ, “khóc cho thành Giêrusalem” không?”

Ngoài thách thức đưa ra cho mỗi chúng ta để tiến tới một mức độ trưởng thành cao hơn, hình ảnh này còn chứa đựng một thách thức mục vụ quan trọng đối với Giáo hội: trong tư cách Giáo hội, làm thế nào chúng ta thấy một thế giới thế tục hóa đã khước từ nhiều niềm tin và giá trị của chúng ta? Khi chúng ta thấy các hệ quả thế giới đang phải trả cho điều này, chúng ta vui mừng hay thông cảm? Chúng ta có thấy thế giới thế tục với tất cả những vấn đề mà nó đang tự gây ra do từ chối một số giá trị Tin Mừng như một đối thủ (người mà chúng ta cần bảo vệ cho chính chúng ta) hay như đứa con đau khổ của mình? Nếu bạn là cha mẹ hoặc ông bà đang đau khổ vì đứa con hay đứa cháu chướng khí, bạn sẽ có thể hiểu ý nghĩa của “khóc cho Giêrusalem”.

Hơn nữa, cuộc đấu tranh để “khóc” cho thế giới thế tục (hoặc với bất cứ ai từ chối các giá trị chúng ta bảo vệ) còn bị làm trầm trọng hơn vì một động lực khác chiến đấu chống lại sự cảm thông. Trong chúng ta có một khuynh hướng cảm xúc và tâm lý sai lệch hoạt động theo cách này. Bất cứ khi nào chúng ta bị tổn thương nặng nề, chúng ta cần phải đổ lỗi cho ai đó, cần phải tức giận chống ai đó và cần phải đả kích ai đó. Và bạn biết ai là người chúng ta luôn chọn để đổ lỗi không? Một người mà chúng ta cảm thấy đủ an toàn để làm tổn thương vì chúng ta biết họ đủ trưởng thành để không trả đũa lại!

Có rất nhiều chỉ trích Giáo hội ngày nay. Đúng, có rất nhiều lý do chính đáng để chỉ trích. Do các thiếu sót của Giáo hội, một phần của sự thù địch này là chính đáng; nhưng một số sự thù địch thường vượt ra ngoài những gì được chứng minh. Cùng với sự tức giận chính đáng, đôi khi cũng có rất nhiều tức giận vô cớ, tự nguyện. Phản ứng của chúng ta trước những tức giận vô cớ và lời buộc tội không công bằng đó là gì? Chúng ta có phản ứng bằng trả đũa không? “Anh vượt giới hạn rồi, đi chỗ khác mà nổi giận!”Hay là, như Chúa Giêsu khóc cho thành Giêrusalem, chúng ta đáp lại tức giận và buộc tội bất công bằng nước mắt cảm thông và lời cầu nguyện rằng một thế giới đang giận dữ với chúng ta sẽ được tha thứ cho các lựa chọn không đúng của họ không?

Triết gia Soren Kierkegaard đã viết câu nổi tiếng: Chúa Giêsu muốn có đồ đệ, Ngài không muốn có người ngưỡng mộ Ngài! Lời khôn ngoan. Trong phản ứng của Chúa Giêsu trước sự từ chối mình, khi Ngài khóc cho thành Giêrusalem, chúng ta thấy sự tinh tế trong mức độ trưởng thành con người. Và chúng ta được kêu gọi trưởng thành trong tư cách cá nhân cũng như trong tư cách cộng đồng giáo hội. Chúng ta cũng thấy đây là trái tim rộng lớn cảm nhận được nỗi đau của người khác, ngay cả nỗi đau của người từ chối mình.

Trái đất có thể khóc không?

Trái đất có cảm thấy đau không? Nó có thể rên rỉ và khóc với Chúa không? Trái đất có thể nguyền rủa chúng ta vì tội ác của chúng ta không?

Có thể có, và không phải chỉ các nhà sinh thái học, đạo đức học và Đức Phanxicô nói, cả Kinh thánh dường như cũng đã nói vậy.

Có một số đoạn thể hiện rất rõ điều này trong trao đổi giữa ông Ca-in và Chúa, sau khi Ca-in giết em trai A-ben của mình. Khi Chúa hỏi Ca-in em trai đâu, Ca-in trả lời không biết và nói “con là người giữ em con hay sao?”. Nhưng Chúa nói với ông: “Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta! Giờ đây ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra. Ngươi có canh tác đất đai, nó cũng không còn cho ngươi hoa màu của nó nữa. Máu của em ngươi đã kêu lên với Ta từ mặt đất.”

Máu của em ngươi đã kêu lên với Ta từ mặt đất… và từ nay mặt đất sẽ nguyền rủa ngươi! Đây là một ẩn dụ hay một sự thật theo nghĩa đen? Mặt đất trên đó chúng ta đi, cày bừa, gieo hạt, làm xa lộ, làm bãi đậu xe, và gọi “Mẹ Trái đất” chỉ là một chất liệu vô tri, vô hồn, không nói nên lời, hoàn toàn miễn nhiễm với đau khổ và đau đớn mà con người và các sinh vật mẫn cảm khác cảm nhận, thậm chí cả với bạo lực mà đôi khi chúng ta gây ra cho mặt đất sao? Trái đất có thể kêu lên với Chúa trong thất vọng và đau đớn không? Nó có thể nguyền rủa chúng ta không?

Một quyển sách đầy khiêu khích gần đây của tác giả Mark L. Wallace có tựa đề Khi Chúa là một Con chim – Kitô giáo, Thuyết vật linh và Tái hân hoan của Lời (When God was a Bird – Christianity, Animism, and the Re-Enchantment of the Word) nói rằng, đúng, thế giới có thể và thực sự cảm thấy đau đớn và nó có thể và sẽ nguyền rủa chúng ta vì chúng ta gây ra nỗi đau đó. Theo tác giả Wallace, những gì Chúa nói với ông Ca-in về việc trái đất đang khóc vì bị đẫm máu thì hơn cả một ẩn dụ, một lời dạy thiêng liêng. Nó cũng thể hiện một chân lý bản thể học ở chỗ có mối liên hệ nhân quả thực sự giữa suy thoái đạo đức và suy thoái sinh thái. Chúng ta không phải là những người duy nhất gánh chịu hậu quả của tội lỗi, trái đất cũng bị.

Đây là cách Wallace giải thích: “Trái đất không phải là vật ngu xuẩn, một vật thể vô tri vô giác không có khả năng cảm nhận và tình cảm, mà là một sinh vật có khí chất và dễ bị tổn thương, chịu sự mất mát khủng khiếp và thảm khốc sau cái chết của A-ben. Trái tim tan vỡ, miệng kêu lên, trong hình ảnh kinh hoàng của bài viết, Trái đất “nuốt lọng” các bụm máu của A-ben… Vang lên từ mặt đất nhuốm đỏ, tiếng kêu của A-ben không chỉ nói rằng Ca-in đã giết em mình mà Ca-in còn gây sự xâm hại kéo dài, có thể là không thể sửa chữa được đối với trái đất. … (Bây giờ) bị tổn thương và nhuốm máu, Trái đất tấn công trở lại. Trái đất có sự trả thù của nó. Trái đất không chấp nhận thụ động trước các tấn công của Ca-in, không khoanh tay chứng kiến Ca-in gây đổ máu mà không bị quả báo gì. Ngược lại, Trái đất trả đũa và giáng xuống lời nguyền” cho Ca-in bằng cách “lấy lại lòng quảng đại” đã cho người nông dân giết người này, người giờ đây phải lang thang trên vùng đất không được bảo vệ và không có an ninh”. Trái đất bây giờ từ chối cho Ca-in lòng quảng đại của mình.

Điều mà Wallace khẳng định ở đây dựa trên hai niềm tin, cả hai đều đúng. Đầu tiên, mọi người và cả hành tinh, các sinh vật có tri giác và không tri giác đều là một phần của một và cùng một cơ thể sống tối cùng, trong đó cuối cùng mỗi phần tử đều thực sự có ảnh hưởng đến tất cả các bộ phận khác. Thứ hai, mỗi lần chúng ta đối xử không tốt với trái đất (hoặc với nhau), trái đất sẽ trả đũa và tước đi sức mạnh cũng như lòng quảng đại, không chỉ theo cách ẩn dụ mà còn theo một cách rất thực tế.

Có lẽ không ai nói điều này một cách sâu sắc như nhà văn Mỹ John Steinbeck, cách đây tám mươi năm ông đã viết trong tác phẩm Chùm nho phẫn nộ (The Grapes of Wrath). Ông mô tả, làm thế nào mà đất đã sản xuất thực phẩm cho chúng ta bây giờ lại phải làm việc với những chiếc máy kéo thép khổng lồ và những cỗ máy vô hình khổng lồ, thực tế phản nghĩa với người phụ nữ hay người đàn ông nhẹ nhàng âu yếm dỗ ngôi vườn phát triển, ông viết:

Và khi cây trái lớn lên, đến mùa gặt, chẳng ai cầm cục đất nóng hổi trên tay để đất rơi khẽ qua những kẽ tay. Chẳng ai chạm vào hạt giống, chẳng ai khát mong cây cối lớn lên. Và con người ăn khi chẳng trồng, con người đó chẳng có liên hệ gì với tấm bánh đó cả. Đất đai oằn mình dưới sắt thép, và chết dần mòn dưới sắt thép, vì nó đâu được yêu, đâu được ghét, đâu được cầu chúc, đâu được nguyền rủa gì.

Khi Chúa Giêsu nói chúng ta đong đấu nào thì sẽ bị đong lại đấu đó, Ngài không chỉ nói về luật nghiệp chướng trong các quan hệ của con người, nơi lòng tốt sẽ được trả bằng lòng tốt, lòng quảng đại được trả bằng lòng quảng đại, nhỏ nhen trả lại nhỏ nhen, và bạo lực trả bạo lực. Ngài cũng đang nói về mối quan hệ của chúng ta với Đất mẹ. Càng nhiều ngôi nhà, ô tô và nhà máy của chúng ta tiếp tục thải ra khí carbon monoxide, thì chúng ta càng hít phải khí carbon monoxide. Và chúng ta càng tiếp tục gây bạo lực cho trái đất và giữa chúng ta với nhau thì trái đất sẽ giữ lại sức mạnh và lòng quảng đại của nó, và chúng ta sẽ cảm nhận lời nguyền cho Ca-in trong các cơn bão dữ dội, virus chết người và những trận đại hồng thủy.

Luật vạn vật hấp dẫn và Chúa Thánh Thần

Thiên Chúa đầy ái tình còn thế trần khắc khoải trong tình ái, do đó cả hai âu yếm nhau với sự hấp dẫn tương liên.

Triết gia Do Thái, Martin Buber đã khẳng định như thế, và dù nó có vẻ rất đồng hưởng với câu mở đầu quyển tự thuật của thánh Âugutinô, “Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài”, nhưng nó lại muốn nói đến một điều khác nữa. Thánh Âugutinô nói về nỗi khắc khoải không nguôi trong lòng con người khiến chúng ta cứ bồn chồn và luôn ý thức rằng mọi sự chúng ta trải nghiệm vẫn không đủ, bởi hữu hạn không ngừng khắc khoải cái vô hạn, và vô hạn thì không ngừng quyến rũ cái hữu hạn. Nhưng thánh Âugutinô nói về tâm hồn con người, về sự khắc khoải và xung lực hướng về Thiên Chúa mà nó cảm nhận.

Martin Buber cũng nói về chuyện đó, nhưng ông còn nói về một sự khắc khoải, một xung lực hướng về Thiên Chúa có trong tự nhiên, trong toàn vũ trụ. Không phải chỉ con người mới khắc khoải tình si, mà là cả thế trần, cả tự nhiên, cả vũ trụ đều như thế.

Thâm ý của ông là gì? Về căn bản, Buber nói rằng, cái cảm giác trong tâm hồn con người cũng tồn tại trong mọi nguyên tố của tự nhiên, trong những nguyên tử, phân tử, đất đá, cây cối, côn trùng, thú vật. Sự khát mong Thiên Chúa có trong tất thảy mọi hiện hữu, từ một hành tinh chết, hố đen, cây tùng cây bách, chú chó chú mèo, hay tấm lòng một vị thánh. Và lại chẳng có sự phân biệt giữa tâm linh và thể lý. Hiện hữu nào được Thiên Chúa ban cho cả hai thì hướng về Ngài trong cả hai.

Pierre Teilhard de Chardin, nhà khoa học đồng thời là nhà thần nghiệm, tin rằng sự tác động qua lại này giữa sinh lực tuôn trào từ Thiên Chúa đầy ái tình và sinh lực tuôn trào lại từ thế trần khắc khoải tình si, chính là sinh lực nâng đỡ mọi cấu trúc của vũ trụ, cả thể lý và tâm linh, hữu hình lẫn vô hình. Với Teilhard, luật vạn vật hấp dẫn, hoạt động nguyên tử, sự quang hợp, các hệ sinh thái, các trường điện tử, bản năng động vật, tính dục, tình thân, sự sáng tạo và lòng vị tha, tất cả đều rút lấy và thể hiện cùng một sinh lực như nhau, một sinh lực luôn mãi kéo tất cả mọi sự hướng về nhau. Nếu đúng là thế, và là thế thật, thì xét tận cùng, luật vạn vật hấp dẫn và Chúa Thánh Thần đều là một phần trong cùng một sinh lực duy nhất, một luật duy nhất, một sự tương tác duy nhất của ái tình và sự đáp lời tình ái.

Nhìn sơ qua, có vẻ thật phi chính thống về mặt thần học, khi đặt con người và thiên nhiên ngang hàng nhau. Cũng có vẻ báng bổ khi nói Thiên Chúa là “đầy ái tình”. Thế nên, tôi mạn phép nói thêm về những quan ngại này.

Về việc Thiên Chúa liên hệ với tự nhiên vật chất, thần học Kitô giáo chính thống và các bản văn Kinh Thánh của chúng ta xác nhận rằng việc Thiên Chúa đến với chúng ta trong Đức Kitô khi nhập thể là một sự kiện không chỉ dành cho con người mà còn cho toàn thể thụ tạo hữu hình nữa. Khi Chúa Giêsu nói rằng Ngài đến để cứu thế trần, là Ngài đang nói đến toàn bộ thế giới chứ không chỉ con người nơi trần thế. Thụ tạo hữu hình, chứ không chỉ nhân loại mà thôi, đều là con cái Thiên Chúa và Ngài dự định cứu chuộc toàn thể con cái Ngài. Thần học Kitô giáo chưa hề dạy rằng thế trần sẽ bị hủy diệt vào thời cánh chung, nhưng như thánh Phaolô đã nói, thụ tạo hữu hình sẽ được biến đổi và đi vào sự tự do vinh quang của con cái Thiên Chúa. Làm sao thế giới hữu hình có thể vào thiên đàng? Chúng ta không biết được, cũng không thể khái niệm được chuyện đó. Nhưng chúng ta biết một điều: Đức Kitô mặc lấy xác phàm khi nhập thể cũng là Đức Kitô Hoàn Vũ, nghĩa là qua Đức Kitô mà mọi sự được tạo dựng và chính Ngài gắn kết mọi thụ tạo với nhau. Do đó, các thần học gia có nói về “sự nhập thể thâm sâu”, cụ thể hơn là sự kiện Đức Kitô nhập thể không chỉ là cứu rỗi nhân loại, mà còn là cứu rỗi toàn bộ thụ tạo hữu hình.

Tôi cũng có thể thấy khi nói Thiên Chúa đầy “ái tình”, có gì đó sai sai, vì thời nay chúng ta thường liên hệ từ này với tình dục. Nhưng ý nghĩa thực sự của từ đó không phải vậy. Với các triết gia Hy Lạp, “eros”, từ nguyên gốc của ái tình, nghĩa là tình yêu, một tình yêu với trọn vẹn mọi khía cạnh của nó. Eros nghĩa là sự hấp dẫn về tình dục và ám ảnh về cảm xúc, nhưng nó còn mang nghĩa tình thân, sự hân hoan, sáng tạo, thường thức và vị tha. Nếu hiểu cho đúng, eros, hay ái tình, bao gồm mọi yếu tố này, thế nên, nếu chúng ta xác định ái tình là tình dục, thì vẫn không có gì kỳ quặc khi áp dụng nó cho Thiên Chúa cả. Chúng ta được tạo nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, do đó tình dục của chúng ta phản ánh một điều gì đó trong bản tính của Thiên Chúa. Một Thiên Chúa đủ tính sinh sôi để tạo ra hàng tỷ thiên hà và không ngừng tạo nên hàng tỷ con người, rõ ràng Ngài đầy tình dục và sinh sôi hơn quan niệm của chúng ta nhiều. Hơn nữa, trong mọi nguyên tố, mọi con người trong vũ trụ đều có sự khắc khoải không nguôi mong được hiệp nhất với một sự gì đó cao vượt hơn chính nó, và sự khắc khoải muôn nơi đó có cùng một cùng đích nơi tình yêu với Thiên Chúa, Đấng là chính Tình yêu.

Vậy nên, trong thực tế, luật vạn vật hấp dẫn và các ơn Chúa Thánh Thần đều mang cùng một mục đích như nhau và duy nhất mà thôi.

Cấu trúc, nghi thức và thói quen như neo giữ cho tình yêu, cầu nguyện và phục vụ

Trong quyển sách Ngọn núi thứ nhì (The Second Mountain) tác giả David Brooks gợi ý chìa khóa để duy trì lòng chung thủy cho bất kỳ ơn gọi nào là xây dựng cấu trúc cho hành vi ở thời điểm khi tình yêu chùn bước. Tác giả nói đúng.

Bất kỳ ai dấn thân trung thành lâu dài trong hôn nhân, tình bạn, trong cộng đồng đức tin, hoặc ơn gọi phục vụ người khác, họ sẽ cần lòng trung thành chân thật, một năng lực yêu thương, các quyết tâm đúng để duy trì con đường này hơn là nhiệt tình ban đầu. Hưởng tuần trăng mật là một chuyện, nhưng trung thành với ai lâu dài trong hôn nhân là một chuyện khác. Tân binh nhiệt tình trên con đường thiêng liêng là một chuyện, trung thành trong tiến trình này bảy mươi hay tám mươi năm là một chuyện khác. Và lâu lâu nổi hứng đi phục vụ bữa ăn cho người vô gia cư thì khácvới cuộc sống của Dorothy Day.

Vì thế câu hỏi là: làm thế nào chúng ta duy trì được nhiệt tình ban đầu, lòng chân thành, năng lượng tình cảm và các quyết tâm tốt ban đầu, vượt qua chán nản, đau lòng, hiểu lầm, mệt mỏi và các cám dỗ mà tất cả chúng ta sẽ trải qua trong cuộc sống, dù đó là đời sống hôn nhân, ơn gọi, đời sống tu sĩ, đời sống cầu nguyện, hay phục vụ cho người khác?

Câu hỏi này tôi vừa đặt ra gần đây cho một nhóm chủng sinh trẻ, tôi chia sẻ với họ tôi vừa kỷ niệm bốn mươi tám năm mục vụ. Các chủng sinh đặt các câu hỏi: Đâu là bí quyết của cha? Làm thế nào cha vượt qua những lúc khó khăn? Làm thế nào cha còn ý hướng tốt, ý chí tốt và năng lượng tốt năm này qua năm khác? Làm thế nào để cha củng cố đời sống cầu nguyện trong hơn bốn mươi, năm mươi năm?

Tôi đã trả lời theo cái nhìn sắc bén của mục sư Dietrich Bonhoeffer, người mà mỗi lần ngài cử hành đám cưới, ngài đều nói với cặp vợ chồng mới cưới: Hôm nay anh chị yêu nhau, anh chị nghĩ rằng tình yêu của mình sẽ duy trì hôn nhân. Nó không thể. Nhưng hôn nhân của anh chị có thể duy trì tình yêu. Tôi cũng đã khuyên các chủng sinh như vậy: đừng tin tưởng vào lòng nhiệt thành và năng lượng tốt hiện tại của mình để duy trì chức linh mục; hãy để chức linh mục duy trì lòng nhiệt thành và năng lượng của mình. Điều gì thách thức ở đây?

Một cam kết thực sự trong đức tin, trong tình yêu hoặc trong phục vụ sẽ là hộp nghi thức, là nhà vòm, như vòm ông Nô-ê sẽ khóa chặt chúng ta. Và sự việc mình bị khóa chặt, chính xác là điều mà sự cam kết hoạt động. Một cách ngây thơ bạn bước vào, bạn nghĩ cảm xúc tốt đẹp và năng lượng tình cảm sẽ nâng đỡ bạn. Chúng sẽ không nâng đỡ được. Không thể nào tránh khỏi, chúng sẽ bị mòn theo thời gian, theo sự quen thuộc, buồn chán, hiểu lầm, mệt mỏi, theo các tổn thương, các ám ảnh mới về cảm xúc cám dỗ bạn. Khi đó làm thế nào bạn có thể duy trì cam kết qua những lúc khô héo? Câu trả lời của tác giả David Brook là câu trả lời hay – bằng cách xây dựng cấu trúc hành vi chính xác cho những lúc này.

Bạn làm điều này như thế nào? Qua nếp cũ, nghi thức và thói quen. Bám neo cam kết của mình trong các thói quen nghi thức đã làm bạn thăng bằng và duy trì bạn vượt ngoài cảm xúc hàng ngày của mình. Bạn bám vào các nghi thức, một số hành vi nghi thức nhất định mà bạn sẽ làm thường xuyên cho dù bạn có cảm thấy như thế nào.

Theo tôi, là linh mục, một số nghi thức đã được ấn định. Là linh mục, bạn phải dâng thánh lễ mỗi ngày như lời cầu nguyện cho thế giới, cho dù bạn cảm thấy như thế nào. Mỗi ngày bạn phải cử hành thánh lễ cho người khác, cho dù có ngày bạn thấy có ý nghĩa hoặc không có ý nghĩa cho cá nhân mình. Bạn phải cầu nguyện riêng mỗi ngày, đặc biệt khi bạn không muốn cầu nguyện. Danh sách còn dài. Các nghi thức cho bạn một cấu trúc và thói quen lành mạnh, và chúng cần thiết cho chức linh mục và cho mọi ơn gọi khác, có những lúc sốt sắng đủ để nâng đỡ bạn; nhưng cũng có những lúc khô héo, cay chua, giận dữ, những lúc tình yêu suy yếu. Khi đó, cấu trúc của hành vi có thể giúp bạn ổn định và nâng đỡ bạn.

Điều này cũng đúng với hôn nhân. Các cặp vợ chồng phải xây dựng cấu trúc hành vi cho những lúc tình yêu suy yếu. Một trong các nghi thức này: vợ chồng cần có một số nghi thức diễn tả tình cảm khi họ chúc nhau ngày tốt lành trước khi đi làm, dù cảm xúc, tình cảm của họ lúc đó như thế nào. Nghi thức, đó là bình chứa, là cái vòm, khóa chặt họ lại, giữ họ với nhau cho đến một mùa tốt hơn và tình cảm tốt hơn trở lại. Nghi thức có thể nâng đỡ tình yêu khi tình yêu suy yếu.

Để hiểu điều này, chúng ta phải cẩn thận với “các bạn của ông Gióp”, nghĩa là phải cẩn thận với các quyển sách, các kinh sư khác nhau về tâm linh, về cầu nguyện, về hôn nhân, làm cho chúng ta có cảm tưởng có một cái gì đó không ổn nếu nhiệt tình và tình cảm của chúng ta không còn là chất keo kết dính để duy trì cam kết trong đời sống hàng ngày. Nói một cách đơn giản, đó là các sách của các tân binh trên con đường tâm linh hay cẩm nang hôn nhân của các tác giả nhầm tuần trăng mật với đời sống hôn nhân. Sự nhiệt tình và cảm xúc tốt là điều tuyệt vời, nhưng chúng không thể nâng đỡ chúng ta trong cuộc chạy đua đường dài. Với cuộc chạy đua đường dài, bạn cần có chiến lược luyện tập lâu dài để đi bộ hàng chục cây số trong lúc đi và ở đoạn cuối.

Loại nhà nào các con muốn xây cho Ta?

Điều gì đúng và điều gì không đúng? Chúng ta đấu tranh rất nhiều về các vấn đề đạo đức, thường là với một biện minh cho mình. Và đa số chúng ta rơi vào tình trạng tự cho mình là đúng mỗi khi tranh luận về tội. Điều gì cấu thành tội và điều gì cấu thành tội trọng? Các phái kitô giáo và các trường phái tư tưởng khác nhau dựa trên nhiều loại lý luận kinh thánh và triết học để cố gắng giải quyết vấn đề này, thường là có các bất đồng gay gắt và tạo ra nhiều tức giận hơn là đồng thuận.

Phần nào đó là chuyện hẳn nhiên, vì các vấn đề đạo đức phải tính đến sự bí ẩn của tự do con người, các hạn chế vốn có trong tình huống ngẫu nhiên và số lượng các tình huống tồn tại khác nhau giữa người này với người kia. Trong bất kỳ tình huống cụ thể nào cũng không dễ dàng phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai, thậm chí còn khó hơn để phân biệt đâu là tội và đâu là không.

Dù không có ý định xúc phạm đến các tiếp cận các vấn đề đạo đức một cách kinh điển của các giáo hội và các nhà tư tưởng đạo đức của chúng ta, tôi nghĩ rằng có một cách tốt hơn để tiếp cận lành mạnh hơn, xét đến tự do, đến các giới hạn của con người và hoàn cảnh hiện sinh đặc biệt của từng cá nhân. Cách tiếp cận không phải của riêng tôi, mà là cách tiếp cận được tiên tri Isaia đưa ra, ngài đưa ra câu hỏi này của Chúa cho chúng ta: Các ngươi sẽ xây cho Ta ngôi nhà nào? (Isaia 66, 1) Câu hỏi này là nền tảng cho tinh thần môn đệ và tất cả các lựa chọn đạo đức của chúng ta.

Các ngươi sẽ xây cho Ta ngôi nhà nào? Giáo dân có đức tin nói chung đã hiểu điều này theo nghĩa đen, và vì vậy từ thời cổ đại cho đến ngày nay, họ đã xây đền thờ, nhà thờ chính tòa, vương cung thánh đường, các đền thánh nguy nga tráng lệ để thể hiện đức tin của họ vào Chúa. Điều đó thật tuyệt vời, nhưng lời mời mà tiên tri Isaia nói, trước hết và quan trọng nhất, là loại ngôi nhà mà chúng ta có ý định xây dựng bên trong lòng mình. Làm thế nào để chúng ta giữ hình ảnh và sự giống Chúa trong cơ thể, trong trí tuệ, trong tình cảm, hành động của chúng ta? Loại “nhà thờ” hay “thánh đường” nào trong con người chúng ta? Đó là câu hỏi sâu hơn về lối sống đạo đức.

Vượt lên trình độ sơ đẳng, việc chúng ta có quyết định về mặt đạo đức không còn được hướng dẫn bởi câu hỏi đúng hay sai, điều này có tội hay không. Thay vào đó, nó nên được hướng dẫn và thúc đẩy bởi một câu hỏi cao hơn: Các ngươi sẽ xây cho Ta ngôi nhà nào? Tôi muốn sống hết nhân tính và tư cách môn đệ của tôi ở mức độ nào? Tôi muốn tự phục vụ bản thân nhiều hơn hay tôi muốn quảng đại hơn? Tôi muốn hèn hạ hay cao quý? Tôi muốn tự thương hại hay có tâm hồn cao thượng? Tôi muốn thực hiện các cam kết của mình hoàn toàn trung thực hay tôi cảm thấy thoải mái khi phản bội người khác và chính tôi một cách ẩn giấu? Tôi muốn nên thánh hay muốn tầm thường?

Ở mức độ trưởng thành trong tư cách môn đệ (và trong sự trưởng thành của con người), câu hỏi không còn đặt ra nữa, điều này có đúng không? Đó không phải là câu hỏi của tình yêu. Câu hỏi của tình yêu là, làm thế nào tôi có thể đi sâu hơn? Tôi có thể sống tình yêu, sự thật, ánh sáng và lòng chung thủy ở mức độ nào?

Tôi xin đơn cử một ví dụ đơn giản dễ hiểu để minh họa điều này. Chúng ta hãy xem vấn đề khiết tịnh tình dục: thủ dâm có sai và tội không? Tôi đã từng nghe một giáo sư đạo đức có quan điểm về điều này, ông phản ánh sự thách thức của tiên tri Isaia. Ở đây, trong một cách diễn đạt, ông đã đưa ra vấn đề: “Tôi không nghĩ việc ngữ cảnh hóa câu hỏi này, cũng như các văn bản thần học đạo đức cổ điển là hữu ích, khi nói rằng đó là một rối loạn nghiêm trọng và tội nghiêm trọng. Tôi cũng không nghĩ sẽ hữu ích khi nói những gì nền văn hóa và phần lớn tâm lý học đương đại đang nói, rằng đó là sự thờ ơ về mặt đạo đức. Tôi nghĩ, một cách hữu ích hơn để tiếp cận vấn đề này là không nhìn nó qua lăng kính của đúng hay sai, tội hay không. Thay vào đó, hãy tự hỏi mình câu hỏi: tôi muốn sống ở mức độ nào? Tôi muốn thực hiện đức khiết tịnh, lòng trung thành và sự trung thực của tôi ở mức độ nào? Vào lúc nào trong cuộc đời, tôi muốn chấp nhận gánh thêm căng thẳng mà trong tư cách môn đệ và nhân tính của tôi đòi hỏi tôi? Tôi muốn trở thành người như thế nào? Tôi muốn trở thành người hoàn toàn minh bạch hay người có những thứ phải che giấu? Tôi có muốn sống trong sự tiết độ hoàn toàn không?” Tôi muốn là “đền thờ” nào? Tôi có thể xây loại nhà nào cho Chúa?

Tôi tin đây là cách lý tưởng mà chúng ta nên có, trước các lựa chọn đạo đức trong cuộc đời. Chắc chắn đây không phải là linh đạo dành cho những người có sự phát triển đạo đức quá kém hoặc bị suy giảm đến mức họ vẫn còn đấu tranh với các đòi hỏi căn bản nhất của Mười Điều Răn. Những người như vậy cần trợ giúp khắc phục và điều trị và đó là một trách vụ khác (dù rất cần thiết).

Và một điểm nữa, sự lựa chọn luân lý này đến với chúng ta, cũng như tất cả các lời mời từ Chúa, như một lời mời, chứ không như một mối đe dọa. Chính qua tình yêu chứ không qua đe dọa mà Chúa mời gọi chúng ta vào đời sống và làm môn đệ, Ngài luôn nhẹ nhàng hỏi chúng ta: loại nhà nào con muốn xây cho Ta?