RonRolheiser,OMI

Ai được Chúa yêu thương hơn?

Ai được Thiên Chúa cảm thương? Chúng ta nên cầu nguyện đặc biệt cho ai? Chúng ta nên xin Thiên Chúa ban phúc lành cho ai?

Thế giới đang diễn Thế vận hội. Cái chúng ta thấy là những cơ thể khỏe nhất thế giới, được tô điểm với nụ cười trẻ trung và những bộ đồ thể thao đủ sắc màu. Thế vận hội là để mừng sức khỏe. Bất chấp bất kỳ thứ gì bao vây hay lẩn khuất bên dưới những cuộc thi đấu này (buôn bán, tham vọng, sản phẩm cấm dùng, bất kỳ thứ gì), thì có lẽ phản ứng đầu tiên của chúng ta luôn là vui sướng. “Chà! Đẹp quá! Điều này nói lên sự tuyệt diệu về cuộc sống và về Thiên Chúa”.

Hơn nữa, cái chúng ta thấy, không chỉ là các vận động viên. Bao quanh các cuộc thi là ngân sách hàng tỷ đô la, nước chủ nhà đang thể hiện tất cả tinh hoa của mình, các đài truyền hình gởi đi những hình ảnh rực rỡ muôn màu khắp thế giới, và khắp nơi là những màn trình diễn được tính toán cẩn thận của tuổi trẻ, sức khỏe, vẻ đẹp, sung túc, như thể chỉ có chúng mới làm thế giới vận hành.

Đáng buồn thay, sức khỏe, vẻ đẹp và sung túc không phải là những thứ bẩm sinh đã công bằng hay được phân bổ và chia sẻ cách công bằng. Cứ mở một hai kênh truyền hình khác là sẽ thấy các hình ảnh đối cực, các kênh tin tức liên tục truyền đi những hình ảnh về đau khổ, đói nghèo, bất công, nạn đói, tàn phá, hàng triệu người chạy trốn bạo lực, hàng triệu người sống trong cảnh khổ sở và hàng triệu người sống với chút ít ỏi hy vọng tại những lằn ranh biên giới. Và đó chỉ là những gì chúng ta thấy trên bản tin. Cái chúng ta còn chưa thấy là hàng triệu người thất nghiệp, hàng triệu người là nạn nhân của bạo lực và xâm hại, hàng triệu người gặp vấn đề về thể lý và tâm lý đủ loại và hàng triệu người mắc các chứng bệnh nan y đang chờ chết. Những cuộc đời và những cơ thể này có gì tương xứng với những cuộc đời và cơ thể của các vận động viên Thế vận hội không? Đây là một câu đáng hỏi.

Chúng ta đánh giá sự tương phản đắng lòng này giữa những gì được thấy ở Thế vận hội và những gì chúng ta thấy trên bản tin này như thế nào? Nó có làm chúng ta suy nghĩ về cầu nguyện và đồng cảm không? Liệu đau khổ của người nghèo có áp đảo trước sức khỏe của người giàu, đến mức trái tim và lời cầu nguyện của chúng ta chỉ hướng đến người nghèo thôi sao? Nếu là thế, liệu chuyện này có đem lại cái nhìn tiêu cực về các ơn sức khỏe và sự sung túc tuyệt vời hay không?

Có một số bài học có thể rút ra từ kinh dâng lễ trong nghi thức Thánh Thể. Trong nghi thức Thánh Thể, linh mục dâng hai bánh và rượu lên Thiên Chúa và chúng ta xin Ngài chúc lành cả hai. Bánh và rượu đại điện cho hai khía cạnh khác nhau của thế giới và cuộc sống chúng ta. Đến đây, tôi xin trích lời thần học gia Pierre Teilhard de Chardin: “Thứ thật sự được thánh hiến mỗi ngày chính là sự phát triển của thế giới trong ngày hôm đó, bánh biểu trưng cho những gì được tạo nên, rượu là biểu trưng cho những gì mất đi trong lao công và đau khổ trong tiến trình của nỗ lực đó”.

Về căn bản, lời nguyện dâng lễ xin hai phúc lành.

“Lạy Chúa là Đấng tạo thành vạn vật, hôm nay chúng con dâng lên Chúa mọi sự trên thế giới này, cả vui mừng lẫn đau khổ. Chúng con dâng lên Chúa bánh là những thành tựu của thế giới, cũng như dâng lên Chúa rượu là những thất bại của thế giới, là dòng máu đổ ra khi đạt những thành tựu này. Chúng con dâng lên Chúa những người quyền thế, giàu có, nổi tiếng, các vận động viên, nghệ sĩ, ngôi sao điện ảnh, các doanh nhân, tuổi trẻ, vẻ đẹp và mọi thứ đầy sáng tạo cũng như đầy sức sống. Chúng con cũng dâng lên Chúa những người yếu đuối, mỏng manh, già nua, tan nát, bệnh tật, hấp hối và những nạn nhân của đau khổ. Chúng con dâng lên Chúa mọi vẻ đẹp, thú vui và niềm vui ngoại giáo của đời này, kể cả khi chúng con đứng với Chúa dưới thập giá, khẳng định rằng Đấng đã bị loại trừ khỏi thú vui trần thế chính là hòn đá tảng cho cộng đồng nhân loại. Chúng con dâng lên Chúa kẻ mạnh cũng như kẻ yếu, xin Chúa chúc phúc cho cả hai và mở rộng tấm lòng của chúng con để chúng con cũng như Chúa, có thể ôm lấy và chúc lành cho tất cả. Chúng con dâng lên Chúa mọi kỳ công và đau đớn của thế giới này, thế giới của Chúa”.

Chúa thương người nghèo, người đau khổ, người bệnh tật và yếu đuối hơn, và chúng ta cũng phải như thế. Đức tin của chúng ta khẳng định rằng người nghèo vào nước thiên đàng dễ hơn người giàu có và mạnh mẽ. Tuy nhiên, dù đúng là thế, nó không ngụ ý rằng khỏe mạnh, sung túc là xấu. Chắc chắn là chúng đem lại nguy cơ. Trẻ trung, khỏe mạnh, hấp dẫn và tài năng, thường (dù không phải luôn luôn) là công thức dẫn đến tự phụ, xem đời mình đặc biệt hơn đời người khác. Ít người có thể xử lý tốt những tặng vật phi thường này.

Tuy nhiên, dù có thế, chúng ta vẫn phải xác định, Thiên Chúa mỉm cười với sự tự hào và hài lòng với những gì sống động, những nơi mà sự sống được thịnh vượng, khỏe mạnh, trẻ trung tài năng và hấp dẫn. Thiên Chúa mỉm cười với các vận động viên Thế vận hội. Thiên Chúa thương người nghèo hơn, nhưng không vì thế mà ngăn cản tình yêu của Ngài dành cho người mạnh. Như một người cha, người mẹ tốt lành, Thiên Chúa tự hào về những đứa con tài năng của mình, kể cả khi Ngài yêu thương đặc biệt những đứa con gặp đau khổ.

Trong mọi nghi thức Thánh Thể, chúng ta ôm lấy cả những vận động viên Thế vận hội và những người tị nạn bên rìa biên giới của chúng ta.

Có thể chứng minh Thiên Chúa tồn tại không?

Tôi viết luận án tiến sĩ của tôi về giá trị của các tranh luận triết học khác nhau cố chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa. Liệu có thể có bằng chứng không? Các triết gia lỗi lạc, từ Anselm, đến Tôma Aquinô, Descartes, hay các triết gia đương thời như Charles Hartshorne, cho rằng có thể chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa qua lập luận lý tính. Trừ việc, phần nhiều dựa vào việc chúng ta định nghĩa “chứng minh” là gì. Chúng ta chứng minh gì đó bằng cách nào?

Có một giai thoại về thánh Christopher thích hợp để minh họa ở đây. Christopher là người đầy thiên tư mọi mặt, trừ đức tin. Ngài mạnh mẽ về thể chất, uy lực, nhân hậu, nhẹ nhàng và được yêu mến. Ngài cũng quảng đại, dùng sức mạnh cơ bắp của mình để giúp người, nhưng dù muốn, ngài vẫn thấy khó mà tin vào Thiên Chúa. Với ngài, cái thể lý vật chất mới là thật, còn mọi thứ khác đều không thực. Do đó, ngài sống cuộc đời theo chủ nghĩa bất khả tri, không thể thật sự tin vào bất kỳ điều gì vượt ngoài những gì ngài có thể thấy, cảm nhận và sờ vào một cách thể lý.

Tuy nhiên, điều này không ngăn cản ngài không dùng những thiên tư của mình, nhất là sức mạnh thể lý, để phục vụ tha nhân. Đây chính là điểm tựa, lòng quảng đại và phục vụ của ngài. Ngài dành cả đời để giúp người dân trong vùng vượt qua con sông nguy hiểm. Một đêm nọ, trong cơn bão, con thuyền bị lật úp và Christopher đã lao xuống vùng nước tối tăm để cứu một đứa trẻ. Khi đưa đứa trẻ đó lên bờ, ngài nhìn vào mặt đứa trẻ và thấy đó là khuôn mặt Chúa Kitô. Sau đó, ngài đã tin vì đã thấy dung nhan Chúa Kitô.

Giai thoại này là bài học sâu sắc cho chúng ta. Nó thay đổi quan điểm của chúng ta về vấn đề làm cách nào để cố “chứng minh” sự hiện hữu của Thiên Chúa. Nỗ lực của chúng ta để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa phải thực tế, hiện sinh và hiện thể hơn là chỉ thuần trí tuệ. Làm sao chúng ta chuyển từ chỉ tin vào những cái vật chất, chỉ tin vào hiện thực chúng ta có thể thấy, cảm nhận, sờ, nếm và ngửi, sang tin vào sự hiện hữu của những hiện thực tâm linh, thâm sâu hơn?

Trong câu chuyện của thánh Christopher có một bài học. Sống một cách chính trực và đáng trọng hết sức có thể và dùng thiên tư của mình để giúp người khác. Thì Thiên Chúa sẽ xuất hiện. Thiên Chúa không có ở kết luận của một tam đoạn luận triết học, nhưng có ở một lối sống nhào đó. Hơn nữa, đức tin không phải là câu hỏi về cảm giác cho bằng là việc phục vụ quên mình.

Trong đoạn Kinh Thánh về thánh tông đồ Tôma và những hoài nghi của ngài về việc Chúa sống lại còn có một bài học sâu xa hơn nữa. Thánh Tôma nói: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Hãy nhớ Chúa Giêsu không phản đối hay khiển trách gì trước sự hoài nghi của Tôma. Thay vào đó, Ngài dùng lại chính lời của Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Thầy đây, có phải ma đâu”.

Đấy là thách thức cho tất cả chúng ta. “Hãy tự xem đi, Chúa có thật, đâu phải là ma!” Tuy nhiên, thách thức đó không thiên về trí tuệ cho bằng tinh thần, một thách thức rằng chúng ta phải thành thật và quảng đại.

Chủ nghĩa hoài nghi và chủ nghĩa bất khả tri, thậm chí là chủ nghĩa vô thần, không phải là vấn đề, miễn họ thành thực, không biện luận, không dối trá, sẵn sàng chấp nhận hiện thực, và quảng đại trao cả cuộc đời mình để phục vụ. Nếu có những điều kiện đó, thì Thiên Chúa, Đấng tạo thành và là nguồn của mọi hiện thực, cuối cùng sẽ trở nên đủ thật, kể cả với những người cần có bằng chứng thể lý. Câu chuyện về thánh Christopher và thánh tông đồ Tôma dạy chúng ta như thế và bảo đảm với chúng ta rằng Thiên Chúa không nổi giận cũng không bị đe dọa bởi một người theo thuyết bất khả tri thành thực.

Đức tin không bao giờ là điều chắc chắn. Và đức tin cũng không phải cảm giác chắc chắn rằng Thiên Chúa hiện hữu. Ngược lại, không có đức tin đâu phải là thấy hoang mang khi không có cảm giác chắc chắn rằng Thiên Chúa tồn tại. Với tất cả mọi người, sẽ có những đêm tăm tối tâm hồn, những lúc cảm thấy Thiên Chúa thinh lặng, những lúc cô đơn, hoài nghi, những lúc không thể dùng ý thức mà nắm bắt hay nhận ra hiện thực của Thiên Chúa. Lịch sử đức tin, như chúng ta đã thấy trong cuộc đời Chúa Giêsu và cuộc đời các thánh, cho thấy Thiên Chúa thường có vẻ đã chết, và những lúc như thế, hiện thực của thế giới theo chủ nghĩa kinh nghiệm có thể chiếm lấy chúng ta và không gì có thật ngoài những gì chúng ta có thể thấy, cảm nhận ngay lúc đó, kể cả nỗi đau của chính chúng ta.

Bất kỳ lúc nào chúng ta gặp những chuyện như thế, thì như thánh Tôma và thánh Christopher, chúng ta cần trở nên những người bất khả tri thành thật dùng sự tốt lành và sức mạnh mà Chúa ban để đưa những người khác vượt qua dòng sông khó khăn cuộc đời. Thiên Chúa không yêu cầu chúng ta có một đức tin chắc chắn, nhưng yêu cầu chúng ta phục vụ quảng đại và lâu dài. Chúng ta có sự bảo đảm, nếu chúng ta trung thành giúp nâng đỡ người khác, thì đến một ngày chúng ta sẽ thấy mình đứng trước hiện thực của Thiên Chúa đang ở với chúng ta, rằng, “Hãy tự xem đi, Ta có thật, đâu phải ma”.

Chúng ta có thể chứng minh Thiên Chúa tồn tại không? Trong lý thuyết thì không, nhưng trong cuộc sống thì có.

Bầm dập và tổn thương – Hiểu về tự tử

Có chuyện cần phải nói, nói đi nói lại cho đến khi không cần nói nữa. Nữ thi sĩ Canada Margaret Atwood đã viết như thế. Tôi trích lại câu này vì năm nào tôi cũng viết một bài về tự tử, và hầu như lần nào cũng nói một điều như nhau, bởi vì có những chuyện cần được nói đi nói lại về tự tử cho đến khi chúng ta hiểu hơn về nó.

Chuyện gì cần được nói đi nói lại?

  1. Trước hết, tự tử là một căn bệnh, một thứ mà trong hầu hết trường hợp đẩy con người ra khỏi cuộc sống này, ngược với ý muốn của họ, một căn bệnh cảm xúc tương đương như ung thư, đột quỵ.
  2. Thứ hai, là chúng ta, những người bị bỏ lại trên đời, không nên dành thời gian và sức lực thái quá để đoán già đoán non xem chúng ta đã phụ lòng người đó như thế nào, lẽ ra chúng ta phải để ý thấy gì và lẽ ra chúng ta đã làm được gì để ngăn chuyện tự tử. Tự tử là một căn bệnh, và như với các căn bệnh thuần thể lý, chúng ta có thể yêu thương người đó vô cùng nhưng vẫn không thể nào cứu được người đó khỏi cái chết. Thiên Chúa cũng yêu thương người đó và Ngài cũng chia sẻ sự bất lực cùng chúng ta trong việc cố giúp người đó.
  3. Chúng ta cần hiểu thêm về sức khỏe tâm thần. Sự thật, không phải ai cũng có một nội tâm đủ mạnh để giúp họ duy trì sự hăng hái và ổn định. Sức khỏe tâm thần cũng tương đương với sức khỏe thể lý, có thể yếu ớt và không hoàn toàn trong tầm kiểm soát của người ta. Hơn nữa, cũng như các bệnh tiểu đường, thấp khớp, đột quỵ, xơ cứng teo cơ một bên, và đa xơ cứng, vốn có thể gây suy nhược và tử vong, thì các chứng bệnh tâm thần cũng có sức tàn phá mạnh, cũng gây đủ loại suy nhược và có lúc là cái chết do tự tử.
  4. Vai trò tiềm tàng của sinh hóa trong tự tử cũng cần được khám phá thêm. Nếu một số chứng trầm cảm kèm xu hướng tự tử có thể trị được bằng thuốc, thì rõ ràng một số vụ tự tử là do sự khiếm khuyết về sinh hóa, cũng hệt như các căn bệnh khác đang giết chúng ta vậy.
  5. Gần như luôn là thế, người chết vì tự tử là người rất nhạy cảm. Tự tử hiếm khi là hành vi ngang ngược, như thể một hành động khinh dễ. Dĩ nhiên có những ví dụ về những người quá kiêu hãnh không chấp nhận sự may rủi bình thường và tự giết mình vì kiêu ngạo, nhưng đó là một dạng tự tử rất khác, không phải là dạng mà chúng ta thường gặp nơi những người thân yêu. Thường thì, với những người đã ra đi vì tự tử, chúng ta thấy nơi họ nhiều đặc điểm, nhưng kiêu ngạo thì không. Đúng hơn, họ là những người bị bầm dập quá đỗi và bị tổn thương một cách sâu sắc đến nỗi chúng ta không thể hiểu nổi hay giúp họ chữa lành nổi. Thật vậy, thường thì khi đã qua một thời gian, chúng ta nhìn lại sẽ hiểu được đôi chút về vết thương của họ, thấy đó không còn là chuyện bất ngờ đến vậy. Có sự phân biệt rõ ràng giữa bị bầm dập đến độ không thể sống tiếp tục trên đời và kiểu quá kiêu ngạo không thèm ở lại trong cuộc đời. Chỉ có kiểu thứ hai mới là một tuyên bố tinh thần, chê bỏ những tình cảm tiếc thương, và thách thức lòng nhân từ của Thiên Chúa.
  6. Tự tử thường là lời kêu cầu tuyệt vọng của một linh hồn đau khổ. Linh hồn có thể đưa ra những đòi hỏi đi ngược lại cơ thể, và tự tử thường là thế.
  7. Chúng ta cần phải biết tha thứ cho mình nếu chúng ta cảm thấy giận người thân yêu đã tự kết liễu cuộc đời mình theo cách đó. Đừng mang mặc cảm tội lỗi khi cảm thấy giận dữ, đó là chuyện tự nhiên, một phản ứng có thể hiểu được khi một người thân yêu chết vì tự tử.
  8. Chúng ta cần hành động để chuộc lại ký ức về những người thân yêu đã chết vì tự tử. Làm sao để cách họ chết không trở thành lăng kính để chúng ta nhìn cuộc đời họ. Đừng cất bỏ hình ảnh của họ, và cố gạt đi những câu chuyện về họ và cái chết của họ. Chúng ta đâu làm thế nếu họ chết vì ung thư hay đột quỵ. Thật khó khăn khi mất đi một người thân yêu vì tự tử, nhưng chúng ta cũng không được để mất đi sự thật và tình nồng ấm dành cho sự khổ sở của họ và ký ức về họ.
  9. Cuối cùng, chúng ta đừng lo Thiên Chúa sẽ phán xét thế nào đối với người thân yêu đó của chúng ta. Tình yêu của Thiên Chúa, không như tình yêu của chúng ta, có thể băng qua những cánh cửa đóng kín, xuống tận địa ngục, và ban bình an khi mà chúng ta không thể. Hầu hết những người chết vì tự tử, ở đời sau, tỉnh dậy thấy Chúa Kitô đã đứng trong cánh cửa đóng kín của họ, bên trong hỗn loạn của họ mà nhẹ nhàng bảo rằng, “Bình an ở cùng con!” Sự thông hiểu và tình thương của Thiên Chúa vượt xa của chúng ta vô hạn. Những người thân yêu đã chết của chúng ta đang ở trong một bàn tay an toàn hơn bàn tay chúng ta. Nếu chúng ta, với những giới hạn của mình, có thể vượt qua bi kịch này với sự thông hiểu và tình yêu, thì chúng ta có thể an tâm, rằng, với chiều sâu của tình yêu Thiên Chúa, những người đã chết vì tự tử khi qua đời sau sẽ gặp được một tình thương và thông hiểu sâu sắc và bao la hơn của chúng ta nữa.

Julian thành Norwich đã nói, “Đến cuối cùng, tất cả sẽ tốt đẹp, và tất cả sẽ tốt đẹp, và mọi hiện sinh sẽ tốt đẹp”. Sẽ như thế, kể cả sau khi tự tử. Thiên Chúa có thể và thật sự đi qua những cánh cửa đóng kín, thổi hơi bình an vào một trái tim bị giày vò, hỗn loạn.

Vì sao tôi ở lại trong Giáo hội?

Vài tuần trước, sau khi có bài diễn thuyết ở một hội nghị tôn giáo, câu đầu tiên khán giả đặt ra cho tôi là: Làm sao chúng ta có thể tiếp tục ở lại trong một Giáo hội có vai trò chủ chốt trong việc lập và duy trì các trường nội trú cho người bản địa ở Canada? Làm sao chúng ta ở lại trong một Giáo hội đã làm những chuyện này?

Câu hỏi này chính đáng và quan trọng. Cả trong lịch sử cũng như trong hiện tại, Giáo hội đã phạm đủ tội làm cho câu hỏi này trở nên chính đáng. Danh sách các tội đã phạm nhân danh Giáo hội rất dài: Tòa dị giáo, ủng hộ chế độ nô lệ, vai trò của Giáo hội trong chủ nghĩa thực dân, mối liên kết với chủ nghĩa phát xít, vai trò trong việc áp chế nữ quyền, và vô số những thỏa hiệp trước đây và hiện tại với chủ nghĩa ưu việt da trắng, tiền bạc và chính trị. Những người phê phán Giáo hội có lúc quá đáng và thiếu cân bằng, nhưng nhìn chung, rõ ràng là Giáo hội có tội.

Tuy nhiên, tội này đâu phải chỉ có nơi Giáo hội. Những tội này có thể áp dụng với bất kỳ quốc gia nào mà chúng ta đang sống. Làm sao chúng ta có thể ở lại trong một đất nước có lịch sử kỳ thị chủng tộc, chế độ nô lệ, thực dân, diệt chủng những người bản địa, bất bình đẳng giàu nghèo cùng cực, một đất nước chai đá trước những người tị nạn tuyệt vọng đang đến gõ cửa, và một đất nước mà hàng triệu người căm ghét lẫn nhau? Khi nói rằng tôi hổ thẹn vì là người công giáo (hay kitô giáo) trong khi chúng ta đang sống ở một đất nước cũng mang cùng lịch sử và tội trạng như thế, như vậy chẳng phải là kiểu đạo đức có chọn lọc hay sao?

Nhưng mà, Bởi vì Giáo hội phải là men muối cho xã hội, chứ không phải là tấm gương phản ánh xã hội, nên câu hỏi đó vẫn chính đáng. Tại sao chúng ta ở lại trong giáo hội? Có những câu trả lời biện giáo đủ tốt cho chuyện này, nhưng xét cho cùng, với mỗi người chúng ta, câu trả lời phải là một câu trả lời của riêng mỗi người. Tại sao tôi ở lại trong giáo hội?

Trước hết, vì Giáo hội là tiếng mẹ đẻ của đời tôi. Giáo hội cho tôi đức tin, dạy tôi tin vào Chúa, cho tôi lời Chúa, dạy tôi cầu nguyện, cho tôi các bí tích, cho tôi thấy các nhân đức là thế nào, và đưa tôi liên kết với những vị thánh sống. Hơn nữa, bất chấp những khiếm khuyết của mình, với tôi, Giáo hội đủ chân thực, đủ vị tha, đủ tinh tuyền để có thẩm quyền luân lý cho tôi giao phó tâm hồn mình, một tin tưởng tôi không có với bất kỳ thực thể công nào. Tôi thoải mái với chuyện thờ phượng cùng các tôn giáo khác, và chia sẻ tấm lòng với những người không có đức tin, nhưng trong giáo hội mà tôi lớn lên, tôi thấy có mái ấm và tiếng mẹ đẻ của đời tôi.

Thứ hai, lịch sử của Giáo hội đâu chỉ có một màu. Tôi nhận ra tội lỗi của Giáo hội và công khai công nhận chúng, nhưng những cái đó còn lâu mới là toàn bộ hiện thực. Giáo hội cũng là Giáo hội của các vị tử đạo, các thánh, của lòng quãng đại vô hạn, và của hàng triệu người với tấm lòng cao thượng, rộng lượng, những gương mẫu đạo đức của tôi. Tôi đứng trong bóng tối tội lỗi của Giáo hội, nhưng tôi cũng đứng trong ánh sáng diễm phúc của Giáo hội, trong mọi sự tốt đẹp mà Giáo hội đã làm suốt dòng lịch sử.

Cuối cùng, và quan trọng nhất, tôi ở lại với Giáo hội vì Giáo hội là tất cả những gì chúng ta có! Đâu còn nơi nào khác để đi. Tôi thấy cảm giác vui buồn lẫn lộn này giống với cảm giác của thánh Phêrô sau khi nghe Chúa Giêsu nói “không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho”, mọi người quay mặt bỏ đi rồi Chúa quay sang thánh Phêrô mà hỏi, “cả anh cũng bỏ Thầy mà đi sao?” và Phêrô, thay mặt các tông đồ, đã trả lời: “ Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”.

Về căn bản, thánh Phêrô nói rằng, “Chúng con không hiểu Ngài, và những gì chúng con hiểu được thường lại là cái chúng con chẳng thích. Nhưng chúng con biết ở bên Ngài dù không hiểu, nhưng còn hơn đi bất kỳ nơi nào khác. Bất chấp những lúc tăm tối, Ngài là tất cả những gì chúng con có!”

Giáo hội là tất cả những gì chúng ta có. Chúng ta còn đi đâu được chứ? Ẩn sau câu nói, “Tôi có lòng đạo, nhưng không có tôn giáo” dù thốt ra cách chân thành đến mấy, cũng có hoặc một thất bại cùng cực, hoặc một miễn cưỡng sai trái không dám giải quyết chuyện thiết yếu của cộng đồng tôn giáo, không dám giải quyết cái mà bà Dorothy Day gọi là “chủ nghĩa khổ hạnh của đời sống Giáo hội”. Có thể nói rằng, câu “Tôi không thể hoặc sẽ không giải quyết một cộng đồng tôn giáo ô uế” chính là một lối thoát có lợi cho bản thân, một thứ đến tận cùng sẽ không hữu ích gì mấy, không chỉ cho người nói ra câu đó. Tại sao lại thế? Bởi vì để lòng cảm thương có hiệu lực, nó cần mang tính tập thể, bởi giấc mơ chúng ta mơ một mình vẫn là giấc mơ, nhưng giấc mơ chúng ta mơ cùng người khác có thể trở thành hiện thực. Tôi chẳng thể thấy có gì ngoài Giáo hội có thể cứu thế giới này.

Không có Giáo hội tinh tuyền nào để chúng ta gia nhập cả, cũng như không có quốc gia tinh tuyền nào để chúng ta chọn sống ở đó. Giáo hội này, với toàn bộ lịch sử có tốt có xấu và với hiện tại đang tổn thương của nó, chính là tất cả những gì chúng ta có. Chúng ta cần mang lấy những lỗi phạm của Giáo hội, vì chúng cũng là lỗi phạm của chúng ta. Lịch sử Giáo hội là lịch sử của chúng ta, tội của Giáo hội là tội của chúng ta, và gia đình của Giáo hội là gia đình của chúng ta, gia đình trường tồn duy nhất mà chúng ta có.

Có gì bên trong dung nhan Thiên Chúa?

Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn cỗi, không giọt nước.

Chúng ta thành tâm cầu nguyện với lời này. Có bao giờ chúng ta thật sự có ý như vậy chưa? Chúng ta có thể thành thực nói, những thao thức trong lòng làm chúng ta khuỵu gối thực sự là khao khát được thấy Thiên Chúa sao? Khi chúng ta bị ám ảnh vì cơn đau làm chúng ta không chợp mắt được, chúng ta có thành thực nói mình đang khao khát Thiên Chúa đó không? Mới nhìn qua thì không. Khát khao hiện sinh của chúng ta có xu hướng trần tục, tự quy, và cần khoái cảm đến độ khó lòng nói đó là khao khát Thiên Chúa. Chỉ có nhà thần nghiệm thuần khiết (hoặc chính chúng ta trong một lúc hiếm hoi nào đó), vào một thời điểm nhất định nào đó, mới có thể nhìn vào những khao khát cháy bỏng của mình mà thành thực nói, điều tôi mong muốn chính là Thiên Chúa. Tôi khao khát Thiên Chúa.

Tuy nhiên, chuyện này còn có một khía cạnh khác. Chúng ta cần phân biệt giữa cái chúng ta khao khát rõ ràng và cái khao khát ẩn tàng bên trong khao khát đó. Cho phép tôi dùng một ví dụ trần tục để minh họa. Cứ hình dung một người đàn ông cảm thấy bừng bừng trong đêm và tìm kiếm tình dục nơi một cô gái điếm. Người đó khao khát thấy dung nhan Thiên Chúa sao? Người đó khao khát được kết hiệp với thân thể Chúa Kitô sao? Rõ ràng là không. Đó là chuyện mà người đó ít nghĩ đến nhất, ít nhất là trong ý thức. Tuy nhiên, đồng thời lại có một điều khác nữa bên trong nhận thức của người đó, mà người đó biết nhưng lại không nhận thức rõ ràng. Khao khát của người đó vào đêm đó bung tỏa mạnh mẽ theo cách thức tình dục, nhưng ý định thực sự của nó là khao khát được thấy dung nhan Thiên Chúa và kết hiệp với những phần khác bên trong thân thể Chúa Kitô. Hàm ẩn trong những khao khát của người đó, chính là điều mà thánh Âugutinô đã mô tả trong câu nói trứ danh của ngài: Lạy Chúa, Ngài đã tạo nên chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài. Người đó khao khát thấy dung nhan Thiên Chúa.

Khi cố hiểu sự phân biệt giữa ý định rõ ràng trong một hành động và hàm ý trong hành động đó, chúng ta không nên viện đến quan niệm của chúng ta về ý thức và vô thức. Hai từ này thuộc về phạm trù tâm lý học, chuẩn và quan trọng trong phạm vi của nó, còn rõ ràng và ẩn tàng là từ ngữ triết học, hơi khác về ý nghĩa, với một thấu suốt riêng biệt về những gì bao hàm trong bất kỳ hành động nào. Một lần nữa, có lẽ ví dụ sẽ giúp chúng ta dễ hiểu hơn. Hãy hình dung bạn đang ra một phán đoán đơn giản, căn bản. Bạn nhìn vào một bức tường và nói bức tường này màu trắng. Đấy là cái bạn ý thức về rõ ràng ở thời điểm đó. Tuy nhiên, để bạn đưa ra phán đoán đó (bức tường này màu trắng), bạn đồng thời cũng phải biết, biết một cách ẩn tàng, chắc chắn, thật sự, một chuyện khác nữa. Trước hết, bức tường đó không phải màu xanh hay bất kỳ màu nào khác, và hơn nữa, bạn không thể nói rằng bức tường này màu trắng mà phủ nhận rằng bạn đang nhìn nó. Những chiều kích này là điều mà bạn biết, thật sự biết, nhưng lại không nhận thức một cách ý thức.

Giờ, hãy áp dụng điều này vào người đang bừng bừng tình dục muốn làm tình với cô gái điếm. Chúng ta thấy những gì rõ ràng nơi tâm trí người đó chẳng phải là khao khát thấy dung nhan Thiên Chúa hay kết hiệp với thân thể Chúa Kitô gì cả. Tuy nhiên, khi người đó thực hiện hành động đó, anh ấy biết một cách ẩn tàng rằng đây không phải là điều mà anh ấy thực sự tìm kiếm và là điều mà anh ấy không thể nào giả vờ được. Nhận thức ẩn tàng về các chiều kích này không chỉ là một chức năng của lương tâm mà còn là chức năng của nhận thức.

Chuyện này liên quan đến nhiều điều, không chỉ là không cảm thấy mặc cảm tội lỗi sai lầm vì việc hầu như chúng ta luôn thấy mình bẩm sinh bất lực chẳng thể nào biến Thiên Chúa thành mục đích chính, thành tâm điểm chú ý và thành mục tiêu tuyệt đối cho Tất cả khao khát của chúng ta. Hầu như chúng ta chẳng xem những ám ảnh và thao thức trong lòng là những điều hướng về Thiên Chúa. Tôi cho rằng điều này là vì chúng ta không xem Thiên Chúa có sức lôi cuốn, vẻ đẹp, sinh động và ái lực có thể khiến chúng ta yêu đến ám ảnh trong thế gian này. Tôi chẳng biết liệu có ai (trừ nhà thần nghiệm) từng ám ảnh về việc thấy dung nhan Thiên Chúa vì đã nhận thấy nơi Thiên Chúa có vẻ đẹp, sự lôi cuốn và ái lực còn lớn hơn những gì ta có thể tìm thấy trên trần gian. Chúng ta có bao giờ hình dung Thiên Chúa thú vị hơn và hấp dẫn hơn bất kỳ bạn tình nào của chúng ta trên thế gian, hơn xa đến vô tận không?

Đáng buồn là, Thiên Chúa của các tôn giáo quá khó để chúng ta khao khát! Thiên Chúa đó, dù hoàn hảo và lôi cuốn về mặt triết học, lại thiếu vắng vẻ đẹp và ái tình thật sự vốn ám ảnh chúng ta trên trần gian này.

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, bác sĩ tâm hồn đã cho chúng ta lời cảnh báo này: Hãy cẩn thận, đừng tìm bản thân nơi tình yêu, vì như thế cuối cùng bạn sẽ mang trái tim tan nát. May thay, một nhận thức ẩn tàng về những gì chúng ta thật sự khao khát, có thể giúp chúng ta thoát khỏi cảnh đó.

Niềm vui – một dấu chỉ của Thiên Chúa

Chỉ có một nỗi buồn thực sự, đó là không làm thánh được! Tiểu thuyết gia, triết gia người Pháp, Leon Bloy đã kết thúc quyển tiểu thuyết Người phụ nữ nghèo (The Woman Who Was Poor) bằng câu nói thường xuyên được trích dẫn này. Còn đây là một câu khác của Leon Bloy ít được trích dẫn hơn, nhưng rất hữu ích để giúp ta hiểu lý do vì sao lại buồn khi không được làm thánh! Niềm vui là dấu chỉ chắc chắn về cuộc sống của một tâm hồn có Chúa trong lòng.

Niềm vui không chỉ là một dấu chỉ chắc chắn về cuộc sống thuộc về Thiên Chúa, nó còn là dấu chỉ của một cuộc sống có Thiên Chúa. Niềm vui cấu thành cuộc sống nội tâm có Thiên Chúa. Thiên Chúa là niềm vui. Đây là điều mà chúng ta không dễ gì tin. Vì nhiều lý do, chúng ta thấy thật khó để nghĩ về một Thiên Chúa hạnh phúc, vui vẻ, thoải mái, tự tại và mỉm cười (theo lời Julian thành Norwich). Kitô giáo, do thái giáo, hồi giáo, dù có nhiều khác biệt, nhưng đều có điểm này là điểm chung. Trong nhận thức chung của mình, chúng ta hình dung Thiên Chúa là người nam, độc thân, và thường không hài lòng, thường thất vọng về chúng ta. Chúng ta khó nghĩ Thiên Chúa vui với cuộc sống chúng ta, và quan trọng hơn nữa, Thiên Chúa là Đấng hạnh phúc, vui vẻ, tự tại và mỉm cười.

Sao lại có thể khác được chứ? Kinh Thánh cho chúng ta biết Thiên Chúa là Đấng tạo ra mọi sự tốt lành và mọi sự tốt lành đều đến từ Thiên Chúa. Mà trên đời này, có sự gì tốt đẹp hơn hạnh phúc, vui vẻ, tiếng cười và vẻ đẹp mang lại sự sống của một nụ cười nhân hậu? Rõ ràng là không. Những điều này cấu thành sự sống thiên đàng và là những gì làm cho cuộc sống trên đời này đáng sống. Chắc chắn chúng phải phát xuất từ Thiên Chúa. Và như thế có nghĩa, Thiên Chúa vui vẻ, Thiên Chúa là niềm vui.

Nếu đúng thế, mà đúng thế thật, thì chúng ta không nên xem Thiên Chúa như một người yêu hay thất vọng, một người chồng hay giận dữ, một người mẹ hay đau lòng, cau mày trước những thiếu sót và phản bội của chúng ta. Đúng hơn, chúng ta phải hình dung Thiên Chúa như người ông, người bà, vui mừng trước cuộc sống và sinh lực của chúng ta, thoải mái với những kém cỏi của chúng ta, tha thứ cho những yếu đuối của chúng ta và luôn mãi nhẹ nhàng dỗ dành hướng chúng ta đến những gì cao đẹp hơn.

Một phần đang ngày càng phát triển trong dòng văn học hiện đại, gợi ý rằng sự hiện diện thuần khiết nhất của tình yêu và niềm vui trên trái đất này không phải là những gì giữa các tình nhân, giữa vợ chồng, hay thậm chí giữa bố mẹ và con cái. Trong những mối quan hệ này, có đủ căng thẳng và sự vị kỷ không thể tránh khỏi và cũng không phải là chuyện lạ lùng gì, và chính chúng làm cho sự thuần khiết và niềm vui của các mối quan hệ này bị phủ lên một màu khác. Nhưng điều này lại không mấy đúng trong quan hệ giữa ông bà và cháu chắt. Mối quan hệ đó ít căng thẳng và vị kỷ hơn, thường là sự hiện diện thuần khiết của tình yêu và niềm vui trên trái đất này. Trong mối quan hệ này, sự phấn khởi tuôn trào tự do hơn, thuần khiết hơn, đẹp đẽ hơn, và phản chiếu thuần khiết hơn những gì nội tại của Thiên Chúa, cụ thể là niềm vui và phấn khởi.

Thiên Chúa là tình yêu, Kinh Thánh cho chúng ta biết như vậy, nhưng Thiên Chúa còn là niềm vui. Thiên Chúa là nụ cười nhân hậu của người ông người bà nhìn ngắm con cháu với niềm tự hào và phấn khởi.

Tuy nhiên, làm sao điều này hợp với đau khổ, với khổ nạn phục sinh, với một Đức Kitô chịu khổ nạn dùng máu và thống khổ để chuộc tội chúng ta? Niềm vui của Thiên Chúa nằm ở đâu trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, khi Chúa Giêsu đau đớn trên thập giá? Cũng vậy, nếu Thiên Chúa là niềm vui, làm sao chúng ta giải thích biết bao lần cuộc sống của chúng ta, dù chân thành tin tưởng và dâng hiến, lại chẳng cảm nhận được niềm vui, hạnh phúc, tiếng cười?

Niềm vui và đau đớn không phải là hai thứ bất tương hợp. Hạnh phúc và buồn sầu cũng thế. Đúng hơn, chúng ta thường cảm nhận chúng cùng đi với nhau. Chúng ta có thể rất đau đớn mà vẫn hạnh phúc, cũng như chúng ta có thể không đau đớn, thấy khoái lạc, nhưng lại bất hạnh. Niềm vui và hạnh phúc được khẳng định dựa vào một điều gì đó tồn tại được qua đau đớn, cụ thể là ý nghĩa, nhưng chuyện này không dễ gì hiểu được. Chúng ta có xu hướng mang một ý niệm hời hợt vô ích về cấu thành của niềm vui và hạnh phúc. Với chúng ta, chúng bất tương hợp với đau đớn, thống khổ và buồn sầu. Tôi tự hỏi nếu vào Thứ Sáu Tuần Thánh, khi Chúa Giêsu đang bị treo trên thập giá, mà có người hỏi “Ngài có hạnh phúc khi ở trên đó không?” thì Chúa sẽ trả lời thế nào. Tôi cho rằng Ngài sẽ nói tương tự thế này. “Nếu ngươi hình dung hạnh phúc theo cách của ngươi, thì câu trả lời là không! Ta không hạnh phúc! Nhất là trong ngày hôm nay! Nhưng giữa những thống khổ Ta trải qua hôm nay, Ta cảm nghiệm được ý nghĩa, một ý nghĩa quá sâu sắc đến nỗi nó bao hàm cả niềm vui và hạnh phúc đi kèm thống khổ. Trong đau đớn, có một niềm vui và hạnh phúc thâm sâu từ việc hy sinh bản thân vì điều này. Cái bất hạnh và thiếu vắng niềm vui như ngươi cảm nhận, là thứ đến rồi đi, nhưng ý nghĩa thì tồn tại mãi trong mọi cảm giác này”.

Biết được thế nhưng chúng ta vẫn không dễ gì chấp nhận Thiên Chúa là niềm vui và là một dấu chỉ chắc chắn về cuộc sống thuộc về Thiên Chúa trong tâm hồn. Tuy nhiên, biết được vậy là một khởi đầu quan trọng để dần dần chúng ta cảm nhận và ý thức thêm về nó.

Có một nỗi buồn thực sự khi không làm thánh. Tại sao lại thế? Vì khoảng cách giữa chúng ta với sự thánh thiện cũng là khoảng cách giữa chúng ta với Thiên Chúa và khoảng cách giữa chúng ta với Thiên Chúa cũng là khoảng cách giữa chúng ta với niềm vui.

Tình yêu muốn chúng ta làm gì lúc này?

Vài năm trước, một đồng nghiệp của tôi bị thất vọng nặng nề đến phải sụp đổ. Tính khí và bản năng của cô thiên về giận dữ, cô đóng sập hàng loạt cánh cửa với đời và trốn vào chốn nội tâm. Tuy vậy, khi tâm hồn bị tổn thương, cô đặt cho mình một câu hỏi, tình yêu đang muốn gì nơi tôi? Để trả lời cho câu hỏi này, cô nhận ra, dù bản năng của cô hướng về chiều ngược lại, nhưng tình yêu lại muốn cô tránh xa cay đắng và lánh đời, muốn cô mở rộng tấm lòng với một mức độ hơn cả từ xưa đến bây giờ.

Tình yêu muốn chúng ta làm gì lúc này? Đây là câu hỏi mà chúng ta cần đặt ra cho mình vào những lúc cuộc sống bị chấn động (vì tổn thương nhưng cũng vì phúc lành) đến mức độ chúng ta không còn muốn phản ứng một cách tốt lành và yêu thương nữa, vì mọi thứ trong lòng chúng ta chỉ muốn khép mình và lánh đời.

Chính vì thế…

  • Khi tôi trải qua cuộc ly hôn cay đắng, khi tôi thấy trái tim mình chai đá và ngày càng hận người tôi từng tin tưởng, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi tôi mất đi một người thân yêu vì tự tử, không phải chỉ là chết mà còn chết theo một cách khiến mọi ký ức về người đó bị phủ lên một màu khác hẳn, khiến tình yêu thương của tôi biến thành giận dữ, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi một đồng nghiệp sỉ nhục tôi tại một cuộc họp lớn, một lời vu khống khiến tôi giận sôi lên vì cảm thấy bất công, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi con cái tôi bác bỏ đức tin và các giá trị của tôi, muốn nói toạc ra rằng tôi ngây thơ và không theo kịp thế giới, rằng tôi chỉ là kẻ dễ thương thân trách phận và dễ dàng rút lại tình yêu thương và ủng hộ của mình, lúc đó, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi tôi bị chẩn đoán là sức khỏe của tôi sẽ thay đổi hoàn toàn, và toàn bộ cơ thể cũng như tinh thần tôi muốn đắm chìm trong giận dữ và sầu thảm, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi giáo hội đã cho tôi đức tin, giáo hội tôi sống trọn trong đó, bị phát giác là bất công, là kẻ gây tội lỗi, khi tôi thấy các lỗi lầm của nó và tự nhủ làm sao mình có thể ở lại trong một giáo hội với biết bao biến tướng như vậy, thì câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi tôi bị phụ tình, bị người tôi tin tưởng lừa dối, khi tôi muốn chìm vào cay đắng và không bao giờ tin tưởng ai nữa, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi chính tôi phản bội sự tin tưởng của người ta, khi tôi phạm tội vì phút yếu lòng, khi tôi muốn ghét bỏ chính mình hoặc muốn biện minh hay chối bỏ sự yếu đuối của tôi, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi cuộc bầu cử ở đất nước tôi đem lại một lãnh đạo mà nhân cách và chính sách đi ngược lại mọi điều tôi ủng hộ, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi thế giới nhỏ nơi tôi lớn lên bắt đầu nhường chỗ cho một thế giới đa tôn giáo, đa chủng tộc, đa văn hóa, đa ngôn ngữ khiến tôi thấy mình bị tụt hậu, khi sự hoang tưởng và thủ thế khiến tôi tuyệt vọng bám vào những gì của thời xa xưa ấy, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi tôi sống với một người thân chẳng ra gì và tôi chỉ muốn tránh mặt người đó để sống cho yên thân, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi tôi phải đương đầu hàng ngày với người ghét tôi và lòng tôi chỉ muốn mắt đền mắt răng đền răng, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Tuy nhiên, không chỉ những điều tiêu cực mới khiến chúng ta phiền lòng, dẫn đưa chúng ta đến thù hận và lánh đời, khiến chúng rơi vào tình thế buộc phải phản ứng theo một cách mới; cả ân sủng lớn lao cũng có thể gây ra như vậy.

Chính vì thế…

  • Khi cuối cùng tôi cũng được thăng chức, được lương cao và có tiếng nói quyết định đồng thời có cám dỗ muốn vênh vang và ra vẻ làm bề trên với những người chung quanh tôi, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi tôi được chọn đứng ra phát biểu thay mặt cả niên khóa và đứng trên bục tận hưởng sự ngưỡng mộ của đám đông (thậm chí nhận thức được sự ghen tị từ các bạn học), biết bao cám dỗ sẽ vồ lấy tôi, hầu hết chúng đều không lành mạnh, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi ai đó đem lại cho tôi tình yêu, lòng biết ơn, sự công nhận, và lòng tôi cảm thấy muốn tôn mình lên, thì câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?

Chúng ta không thể bảo vệ mình trước những cảm xúc bộc phát vồ lấy chúng ta, cả khi chuyện tốt hay xấu, và hầu hết những cảm giác này cám dỗ chúng ta rời xa tình yêu. Vậy nên, mỗi khi buồn thảm hay vênh vang cám dỗ chúng ta xa khỏi những gì là tốt đẹp và cao thượng nhất, thì câu hỏi đặt ra là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?

Lời Kinh nguyện Thánh Thể

Khi còn là chủng sinh, một mùa hè nọ, tôi được diễm phúc dự một khóa học của Godfrey Diekmann, nhà phụng vụ học lừng danh. Lúc đó là thời sôi nổi, không lâu sau Vatican II, khi mà một chuyện khá hợp thời là bỏ các kinh nguyện nghi lễ có sẵn và viết một cái gì mới của mình. Điều này lại càng đúng với Kinh nguyện Thánh Thể, tâm điểm của thánh lễ, khi nhiều linh mục bắt đầu viết lời kinh riêng cho mình. Hóa ra, cha Diekmann không mê chuyện đó lắm. Một hôm nọ, khi được hỏi, cha trả lời, “Có vẻ thời nay bất kỳ ai có chút trí tưởng tượng và chút hiểu biết thần học đang cảm thấy mình cần phải viết một Kinh nguyện Thánh Thể”.

Năm nay vì Covid hạn chế, tôi thường dâng thánh lễ trên mạng. Thời gian đầu cử hành phụng vụ này, tôi nghĩ đâu là giá trị của Kinh nguyện Thánh Thể khi không có hiệp thông? Vì thế tôi chuyển thẳng từ phụng vụ Lời Chúa sang Kinh Lạy Cha. Cuối cùng tôi nghĩ nên đem lại cho cộng đoàn thêm một điều gì đó. Vì thế, (lúc này tôi chưa nhớ ra lời của cha Diekmann bốn mươi năm trước), tôi viết một Kinh nguyện Thánh Thể cho thánh lễ trên mạng.

Kinh nguyện Thánh Thể là gì? Hầu hết sẽ nói đó là một phần của Phụng vụ Thánh Thể, khi linh mục làm phép bánh và rượu, nhưng đó mới chỉ là một phần. Kinh nguyện Thánh Thể là phần Phụng vụ Thánh Thể mà chúng ta tưởng nhớ (theo tiếng Do Thái là Zikkaron) về sự kiện trọng đại mà Đức Kitô đã cứu rỗi chúng ta, để sự kiện đó hiện diện cho chúng ta tham dự vào ngày hiện tại. Chúng ta đến với Phụng vụ Thánh Thể không phải chỉ để đón nhận mình và máu thánh Chúa Kitô, nhưng còn (và quan trọng tương đương) tham dự sự kiện đó, cụ thể là hành động cứu rỗi của Đức Kitô khi Ngài trải qua Sự Thương khó, Cái chết, sự Sống lại, Lên trời và Chúa Thánh Thần hiện xuống. Phụng vụ Thánh Thể chính là bữa tối Vượt qua của Kitô giáo, như bữa tối Vượt qua của Do Thái giáo, với mục đích là làm cho sự kiện trong quá khứ hiện diện với chúng ta trong hiện tại.

Nó được thực thi như thế nào? Chúng ta không có lý thuyết siêu hình để hiểu chuyện này. Trong nghi lễ thiêng liêng, trong Phụng vụ Thánh Thể, trong bữa tối Vượt qua, có một điều gì đó xảy ra vượt quá thời gian. Nó không đi ngược tri thức, hình dung hay quy luật tự nhiên, nó chỉ đưa chúng vượt quá giới hạn bình thường của chúng.

Đây là Kinh nguyện Thánh Thể cho những lúc không có bánh và rượu để hiến thánh.

Lạy Chúa, Chúa đã đi vào cuộc sống chúng con theo những cách phi thường để thể hiện tình yêu của Chúa và cứu chúng con.
Vì dân dược chọn mà Chúa đã kỳ công rẽ đôi Biển Đỏ cho họ đến nơi an toàn bằng cách tạm dừng quy luật tự nhiên. Rồi trong hoang địa, Chúa đã kỳ công nuôi dưỡng họ bằng manna và mặc khải cho họ luật trong trái tim Chúa.
Vì chỉ một thế hệ đã băng qua Biển Đỏ rẽ đôi và chỉ một thế hệ đã ăn manna trong hoang địa, nên Chúa đã thiết lập bữa tối Vượt qua như một nghi lễ để mọi thế hệ cho đến ngày tận thế có thể băng qua Biển Đỏ và ăn bánh Chúa ban trong hoang địa. Bữa tối Vượt qua đưa những sự kiện cứu rỗi này đến tâm trí con người theo cách vượt ngoài thời gian của Chúa, khiến chúng một lần nữa chân thật cho chúng con ngày nay.
Hành động cứu rỗi của con Chúa, Chúa Giêsu Kitô, cũng thế. Cuộc thương khó của Ngài là giao ước mới, sự tin tưởng của Ngài trong cái chết là đức tin mới, Chúa cho Ngài sống lại và lên trời là Xuất hành mới, và Chúa gửi Thánh Linh đến là lối vào mới của Đất Hứa.
Do đó, lạy Chúa nhân lành, vào đêm trước khi chịu nạn, con Chúa đã để lại Bí tích Thánh Thể cho chúng con như bữa tối Vượt qua để qua đó Chúa cho những sự kiện cứu rỗi này hiện diện lần nữa.
Do đó chúng con xin Chúa ban Thánh Linh xuống trên chúng con đang quy tụ ở đây để tưởng niệm hành động cứu rỗi của con Chúa. Xin qua nghi lễ tưởng nhớ này, mà ban cho chúng con, toàn thể cộng đồng chúng con, được hiệp nhất với Đức Kitô trong sự thương khó, cái chết, phục sinh, thăng thiêng và sự hiện xuống của Thánh Linh. Chúa là Đấng vượt quá thời gian, xin ban cho chúng con hôm nay được nên một với Chúa Kitô trong hy lễ của Ngài, nên một với Ngài trong cái chết và phục sinh.
Khi chúng con cử hành nghi lễ tưởng nhớ này, xin giúp chúng con nên một với Chúa Giêsu, con Chúa, Chúa chúng con, hiệp nhất chúng con với Ngài khi Ngài trải qua Sự Thương khó, Cái chết, sự Sống lại, Lên trời và Chúa Thánh Thần hiện xuống.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết rằng của ăn Bí tích Thánh Thể là manna mới mà Chúa nuôi dân mình bằng của ăn từ trời.
Lạy Chúa, khi cử hành nghi lễ tưởng nhớ này, trên tất cả, chúng con xin Chúa giúp chúng con phá tan mọi ngăn cách giữa chúng con với nhau, phá tan mọi phân rẽ trong thế giới chúng con, để Chúa có thể cho chúng con ăn trên cùng một bàn, như một gia đình, với Chúa là Chúa duy nhất của tất cả chúng con.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, con Chúa, Chúa chúng con… Amen.

Nhà

Nhà không chỉ là một ngôi nhà hay một nơi chốn trên bản đồ. Nó là một nơi trong lòng người, nơi mà đến tận cùng chúng ta muốn tìm về nhất. Ý niệm ẩn dụ về nhà có thể giúp chúng ta giải quyết nhiều điều, thậm chí cả cách mà tình dục liên hệ với tình yêu.

Tình dục không bao giờ đơn giản là chuyện qua đường, chỉ phục vụ cho mục đích giải trí, một thứ không liên quan đến linh hồn. Tình dục luôn chạm đến linh hồn, dù tốt hay xấu. Hoặc tốt đẹp hoặc gây hại. Hoặc củng cố hoặc phá nát linh hồn. Khi đúng đắn, nó làm chúng ta tốt đẹp lên, và khi sai trái, nó làm chúng ta bớt nhân cách. Nói một cách ẩn dụ, khi đúng đắn, nó đưa chúng ta về nhà, khi không đúng đắn, nó đẩy chúng ta xa cách nhà. Tình dục do Thiên Chúa tạo nên và theo lẽ tự nhiên là để đưa chúng ta về nhà. Thật sự là, nó được định để làm nhà cho chúng ta. Nếu chúng ta về nhà sau khi làm tình, thì có một cái gì đó sai trái rồi. Trước hết, tôi nói thế không phải là để phán xét về đạo đức, nhưng đây là một nhận định nhân học thay mặt linh hồn.

Như chúng ta biết, linh hồn không phải là một vài tế bào tâm linh vô hình trôi nổi trong cơ thể chúng ta. Không thể họa nên linh hồn theo tưởng tượng, nhưng có thể hiểu được nó như một nguyên tắc. Khi nhìn vào những diễn tả thấu suốt của các triết gia như Aristotle và Tôma Aquinô, linh hồn là một nguyên tắc kép trong chúng ta. Nó là nguyên tắc của sự sống (của mọi sinh lực trong chúng ta) và là nguyên tắc của sự tích hợp (những gì giữ chúng ta trọn vẹn). Điều này có vẻ mơ hồ, nhưng không phải thế. Nếu bạn từng ở bên người hấp hối, bạn biết chính xác lúc nào hồn lìa khỏi xác. Không phải vì bạn thấy một linh hồn bay khỏi thể xác, nhưng vì mới đây cơ thể còn sống, còn là một tổ chức, ngay sau đó nó trơ ra, vô hồn, đã chết và bắt đầu phân rữa. Linh hồn giữ chúng ta sống và linh hồn giữ chúng ta cố kết với nhau.

Nếu đúng là thế, và là thế thật, thì bất kỳ việc làm có ý nghĩa nào của chúng ta, bất kỳ điều gì chạm đến tâm can chúng ta, tác động trên linh hồn chúng ta, động đến cả chất lửa và chất keo của linh hồn, thì nó sẽ làm suy yếu hoặc tăng cường. Tình dục cũng vậy. Thật sự, đó là một ví dụ rõ nhất. Tình dục rất mạnh và chính vì thế nó không bao giờ là chuyện vặt vãnh. Nó xây dựng hoặc phá nát linh hồn.

Ba mươi năm trước, khi dạy một lớp đêm ở đại học, tôi đã đưa cho lớp đọc quyển nghị luận của Christopher de Vinck, Chỉ những trái tim mới biết cách tìm ra nhau – Ký ức quý báu về thời gian không có đức tin (Only the Heart Knows How to Find Them – Precious Memories for a Faithless Time). Những bài luận này là các suy ngẫm của tác giả về cuộc đời của mình trong tư cách người chồng, người cha. Những câu chuyện ấm áp, không lãng mạn vô cớ, đầy tính nghệ thuật và không có chỗ cho những thứ đa cảm. Chúng là tiếng nói ủng hộ cho hôn nhân, không phải bằng những lập luận biện giải, mà đơn giản bằng cách chia sẻ làm thế nào mà hôn nhân có thể đem lại một nhà, một nơi thanh bình của sự cô tịch chung, có thể đưa chúng ta vượt lên những cuộc tìm kiếm miệt mài bủa vây chúng ta ở tuổi dậy thì và đẩy chúng ta ra khỏi nhà cha mẹ để đi tìm nhà của mình. Hôn nhân và chiếc giường hôn nhân có thể đưa chúng ta về lại nhà.

Đến cuối học kỳ, một nữ sinh viên gần 30 tuổi, đến văn phòng tôi nộp bài. Cô cầm theo quyển sách của Vinck và chia sẻ thế này: “Đây là quyển sách hay nhất em từng đọc. Em lớn lên mà không có nhiều hướng dẫn về tôn giáo hay đạo đức, và em đã ngủ lang khắp nửa nước Canada, nhưng bây giờ em biết mình thật sự muốn gì rồi. Em muốn cái mà tác giả này có! Em muốn chiếc giường hôn nhân. Em muốn tình dục đưa em về nhà, trở nên ngôi nhà của em.” Thấu suốt của cô xứng đáng được nhắc lại, không phải chỉ vì trong văn hóa thời nay, tình dục thường bị tách biệt khỏi hôn nhân và nhà.

Khi đi dạy và làm mục vụ, có những thời gian tôi làm việc nhiều với thanh niên, những người đang cố xác định ý nghĩa của tình yêu, quyết định kết hôn với ai và cố sống cả đời với ai, có một câu hỏi thường xuất hiện trong đầu tôi: Làm sao để nhận ra loại tình yêu nào có thể làm nền tảng để xây dựng hôn nhân? Đây là câu hỏi tối quan trọng, vì tình yêu không phải là thứ dễ hiểu hay dễ đánh giá. Chúng ta có thể phải lòng với đủ loại người, thường là nhầm người, những người chúng ta có thể tán tỉnh hoặc có thời gian mặn nồng ngắn ngủi nhưng lại không thể sống đến trọn đời.

Loại tình yêu nào có thể làm nền tảng để xây dựng hôn nhân? Cần có loại tình yêu đưa chúng ta về nhà. Chúng ta cần nhận thức rõ ràng, chẳng hạn với người này, chúng ta được ở trong nhà, vì hôn nhân rất khác với trăng mật. Đi trăng mật xong, là chúng ta về nhà. Trong hôn nhân, chúng ta ở trong chính căn nhà của mình.

Cả tình dục cũng thế. Nó phải là thứ đưa chúng ta về nhà và là nhà của chúng ta, chứ không phải một thứ mà khi xong việc, chúng ta lại đi về nhà.

Đánh mất bài hát nơi người ca sĩ

Khi nghe ai đó hát trực tiếp hoặc trên truyền hình, tôi thường nhắm mắt lại để cố nghe bài hát mà không bị phân tâm bởi màn trình diễn của ca sĩ. Một bài hát có thể bị đánh mất trong màn trình diễn. Thật vậy, màn trình diễn có thể áp đảo làm cho bài hát bị thay thế bởi ca sĩ.

Khi ai đó trình diễn sống, dù là trên sân khấu, lớp học, trong cuộc thi, hay trên bục giảng, luôn có sự kết hợp của ba điều. Diễn viên sẽ cố gây ấn tượng với người khác bằng tài năng của mình, sẽ cố truyền đi một thông điệp, dù ý thức hay vô thức, sẽ cố truyền một sự chân thiện mỹ nào đó vì chính sự chân thiện mỹ đó. Nói theo ẩn dụ, người đó đang say đắm với bản thân, với khán giả và với bài hát.

Chính yếu tố thứ ba, say đắm với bài hát, mới tạo nên nghệ thuật cao đẹp, nên hùng biện, bài giảng cao đẹp. Sự cao đẹp tách riêng ra bởi nó qua “bài hát” thay vì qua ca sĩ, thông điệp hơn là người truyền thông điệp, và sự đồng cảm của người trình diễn hơn là cái tôi của người đó. Và như thế, bài hát lôi cuốn khán giả thay vì ca sĩ lôi cuốn. Các ca sĩ giỏi lôi cuốn mọi người đến với âm nhạc thay vì với họ, những giáo viên giỏi lôi cuốn học sinh đến với chân lý hơn là với họ, các nghệ sĩ giỏi lôi cuốn khán giả đến với mỹ thuật hơn là đi tìm tán thưởng, và một giảng sư giỏi lôi cuốn cộng đoàn đến với Thiên Chúa thay vì để tôn vinh bản thân.

Phải thừa nhận, việc này chẳng dễ dàng gì. Chúng ta là con người, khán giả của chúng ta cũng vậy. Không một khán giả nào tôn trọng chúng ta trừ phi chúng ta trình diễn với tài năng, sự sáng tạo và trí tuệ. Luôn có một sức ép vô hình lên ca sĩ, diễn giả, giáo viên và giảng sư, cả từ bên ngoài lẫn bên trong. Từ bên trong là: “Tôi chẳng muốn làm họ thất vọng! Tôi đâu muốn mất mặt! Tôi cần phải xuất chúng! Tôi cần cho họ thấy một điều gì đó đặc biệt!” Và từ bên ngoài, từ khán giả là: “Anh có gì nào? Thể hiện điều đó đi! Cô lo lắng vì tôi chăm chú à? Cô có tạo vui vẻ không? Anh đáng chán à?” Chỉ có người trưởng thành nhất mới thoát được những áp lực này. Do đó, bài hát dễ dàng bị mất đi nơi người ca sĩ, thông điệp bị mất đi nơi người truyền thông điệp, giảng dạy bị mất đi nơi giáo viên, và thông điệp của Thiên Chúa bị mất đi vì tính cách của giảng sư.

Là một giáo viên, giảng sư và nhà văn, tôi công nhận tôi đã phải đấu tranh lâu dài với chuyện này. Khi mới bắt đầu giảng dạy, tôi phải tạo ấn tượng với sinh viên, nếu không thì sẽ không có được sự chú ý hoặc tôn trọng lâu dài. Việc giảng thuyết cũng thế. Giáo đoàn luôn đánh giá chúng ta và mình phải ở tầm cao, nếu không họ chẳng buồn nghe. Hơn nữa, nếu không có tự nhận thức bản thân cực độ, chúng ta sẽ luôn mãi là tù nhân của những bất an trong lòng. Chẳng ai muốn trông kém cỏi, ngốc nghếch, thiếu thông tin, hoặc bị xem là bất tài. Ai cũng muốn mình trông ổn.

Hơn nữa, vẫn còn cái tôi, và đừng bao giờ đánh giá thấp nó. Nó muốn thu hút sự chú ý và ngưỡng mộ hướng về mình hơn là hướng về chân thiện mỹ. Luôn có cám dỗ làm cho người truyền thông điệp quan tâm đến việc gây ấn tượng với người khác hơn là truyền đi thông điệp một cách thuần túy và chân thực. Cái cám dỗ tinh vi nhưng mạnh mẽ này là ý muốn lôi kéo người khác đến với mình hơn là đến chân thiện mỹ mà họ đang cố truyền đạt.

Tôi phải vật lộn với cám dỗ này trong mọi lớp tôi dạy, mọi bài tôi viết và mọi lần tôi cử hành thánh lễ. Tuy thế, tôi không biện hộ gì cho nó. Nó là sự đấu tranh nội tại của mọi nỗ lực sáng tạo. Chúng ta đang cố lôi cuốn người khác về phía mình, hay chúng ta đang cố lôi cuốn người khác về phía chân thiện mỹ, về với Thiên Chúa?

Khi đi dạy, sự chuẩn bị và sức sống của tôi được thôi thúc do tôi quan tâm thực sự đến sinh viên hay do nhu cầu muốn được nổi bật, gây ấn tượng, tạo danh tiếng là giảng viên giỏi? Khi viết một bài báo hay sách, tôi thật sự nỗ lực đem lại thấu suốt và hiểu biết cho mọi người, hay tôi đang nghĩ đến danh tiếng nhà văn của mình? Khi cử hành thánh lễ và giảng lễ, động cơ thật sự của tôi có phải là dẫn truyền nghi lễ thiêng liêng này mà không để tính cách của riêng tôi xen vào, có phải là dẫn dắt mọi người hiệp thông với nhau và cho tôi nhỏ lại để Đức Kitô lớn lên hay không?

Chẳng có câu trả lời đơn giản cho những câu hỏi này, vì thật sự là không thể. Động cơ của chúng ta không bao giờ là thuần túy. Hơn nữa, chúng ta đâu được định để làm những con robot không có tính cách. Các tính cách và tài năng độc nhất vô nhị của chúng ta được Thiên Chúa ban cho để sinh ích cho người khác mà. Nhưng chúng ta vẫn cần một dấu hiệu cảnh báo thật rõ ràng. Đó là khi khán giả tập trung vào tính cách của chúng ta hơn là bài hát, thì có lẽ chúng ta đang say đắm bản thân và người hâm mộ của mình hơn là say đắm bài hát.

Sức mạnh ràng buộc của thù hận

Dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy. Chúng ta biết câu này cũng ứng nghiệm với tình yêu. Vậy nó có ứng nghiệm với thù hận không? Thù hận của người khác có đi theo chúng ta đến tận cõi vĩnh hằng không?

Trong tiểu thuyết mới nhất của mình, Trả vốn, Payback, bà Mary Gordon đã đặt câu hỏi này. Câu chuyện của bà tập trung vào hai phụ nữ, một người, là Agnes đã làm tổn thương người kia, Heidi. Tổn thương này là vô tình, nhưng nó lại sâu đậm, sâu đến mức nó như chất độc ám ảnh tâm hồn họ trong suốt 40 năm. Câu chuyện lần theo cuộc sống của họ dài suốt 40 năm, thời gian họ không bao giờ gặp nhau, cũng chẳng biết tung tích gì của nhau, nhưng họ vẫn bị ám ảnh về nhau, một người giữ mãi tổn thương và một người cảm thấy mặc cảm tội lỗi về tổn thương đó. Cuối cùng câu chuyện lên đến đỉnh cao khi Heidi đi tìm Agnes để đương đầu với bà, đòi lại món nợ. Và món nợ đó là thù hận, một thù hận hoàn toàn xấu xí, một lời nguyền còn mãi đến lúc chết, bảo đảm Agnes sẽ không bao giờ được thanh thản vì nó cho đến tận cuối đời.

Agnes không biết làm gì với thù hận này, thứ áp chế cuộc sống và phá hoại hạnh phúc của bà. Bà tự hỏi nó có ảnh hưởng đến đời sống vĩnh hằng của mình không. “Cuộc gặp cuối cùng với Heidi đã làm cho niềm tin của bà vào sự trường tồn của những ràng buộc yêu thương bị lung lay dữ dội. Vì nếu sau cái chết, tình yêu vẫn còn mãi, còn thù hận thì sao? Bà hiểu rằng, trong trường hợp của Heidi, nó chính là mặt còn lại của đồng tiền, mặt kia là tình yêu. Kể cả sau cái chết, liệu thù hận của Heidi có bám theo bà, phá hoại đời sống vĩnh hằng của bà, phá vỡ sự hòa hợp, và là điểm đen giữa ánh sáng chói lòa không? Vì Heidi đã trở lại với cuộc sống của mình, lần đầu tiên, Agnes cảm thấy thật sự sợ chết. Bà phải làm sao để tin rằng tình yêu của những người yêu thương bà sẽ luôn ở bên bà… giữ bà khỏi thù hận và ác ý mà Heidi đã làm. Bà phải tin rằng, nếu không như thế… thì chuyện sẽ xảy ra sẽ quá sức chịu đựng, còn không dám nghĩ đến”.

Nhà văn Gabriel Marcel đã nói rất đúng: yêu ai đó là bảo đảm người đó không bao giờ có thể bị lạc lối, bảo đảm người đó (miễn là còn tình yêu thương đó thì) không bao giờ vào địa ngục. Qua tình yêu đó, người khác được kết nối (ràng buộc) luôn mãi với gia đình của tình yêu và cuối cùng là với tình yêu trong Thiên Chúa. Tuy nhiên, vậy thì điều này cũng đúng với thù hận không? Nếu ai đó hận bạn, thì sự thù hận đó có thể bám theo bạn đến vĩnh hằng và làm băng hoại niềm vui trên thiên đàng của bạn không? Nếu tình yêu của ai đó có thể ở bên bạn đến vĩnh hằng, thì sự thù hận của ai đó cũng có thể làm như vậy không?

Đây không phải câu hỏi dễ trả lời. Ràng buộc và tháo cởi, như Chúa Giêsu nói, vận hành theo cả hai hướng, với cả tình yêu và thù hận. Chúng ta giải phóng nhau nhờ tình yêu và kìm kẹp nhau bằng thù hận. Chúng ta biết như thế nhờ kinh nghiệm và thâm tâm chúng ta trực cảm được như vậy. Chính vì thế mà rất nhiều người đi tìm hòa giải lúc lâm tử, ước nguyện cuối cùng của họ là đừng rời thế gian này khi chưa được hòa giải. Nhưng sự thật đáng buồn là, đôi khi chúng ta rời cõi đời mà chưa được hòa giải, và sự thù hận bám theo chúng ta đến tận huyệt mộ. Nó cũng bám theo chúng ta đến tận cõi vĩnh hằng không?

Chọn lựa nằm ở chúng ta. Nếu chúng ta đáp trả thù hận bằng thù hận, thì nó sẽ theo chúng ta đến tận cõi vĩnh hằng. Mặt khác, về phần mình, nếu chúng ta tìm kiếm sự hòa giải (hết sức có thể về mặt thực hành và hiện sinh) thì sự thù hận đó không thể nào ràng buộc chúng ta được nữa, sợi xích sẽ bị đứt, từ phía chúng ta.

Leo Tolstoy đã nói rằng: Chỉ có một cách duy nhất để chấm dứt sự ác, đó là làm điều thiện để trả cho cái ác. Chúng ta thấy điều này nơi Chúa Giêsu. Có kẻ ghét Ngài, đến tận lúc Ngài chết. Tuy nhiên, sự thù hận đó đã mất sức mạnh trên Ngài, bởi vì Ngài không chấp nhận chịu gì trả nấy. Thay vào đó, Ngài lấy tình yêu đáp trả thù hận, thông hiểu đáp trả hiểu lầm, chúc phúc đáp trả nguyền rủa, hiền hậu đáp trả oán giận, trung tín đáp trả loại trừ, và tha thứ đáp trả sát nhân. Nhưng… để làm được thế cần một sức mạnh phi thường hiếm có.

Trong lời khẳng định của nhà văn Gabriel Marcel là nếu chúng ta yêu thương ai thì người đó không hư mất được, có một điều không nói ra, cụ thể là nếu như người kia không chủ định từ chối tình yêu của chúng ta. Với thù hận cũng vậy. Thù hận của người khác kiềm giữ chúng ta nếu chúng ta đáp trả nó bằng thù hận.

Chúng ta không thể khiến người kia không thù hận chúng ta, nhưng chúng ta có thể từ chối thù hận họ, và chính lúc đó, thù hận mất đi sức mạnh ràng buộc và trừng phạt chúng ta. Chuyện này thật chẳng dễ dàng gì, nhất là về mặt cảm xúc. Thù hận có xu hướng hiểm độc nắm chặt chúng ta, làm chúng ta tê liệt sức mạnh cần có để buông bỏ nó. Nếu thế, vẫn còn một điều có thể đem lại sự cứu rỗi. Thiên Chúa có thể làm cho chúng ta nhiều điều mà chúng ta không thể tự làm cho mình.

Vì thế, cuối cùng, như nữ tu Julian thành Norwich (1342-1416) đã dạy (và như niềm tin vào lòng trắc ẩn và sự thấu cảm của Chúa cho chúng ta biết), đến tận cùng tất cả đều tốt đẹp, dù cho có thù hận.

Những đứa trẻ giàu lớn lên không có tiền – vấn đề thông hiểu

Nhà báo, nhà hoạt động xã hội Gloria Steinem từng thú nhận, dù chưa khi nào bị dư ký, nhưng bà luôn lo lắng về cân nặng vì gene từ cha mẹ có khuynh hướng làm cho bà có vấn đề về cân nặng. Vì thế bà nói, tôi nghĩ về mình như một phụ nữ mập bây giờ đang mảnh mai. Lời của bà làm cho tôi nhận ra một điều mà tôi đã hiểu sai khi còn đi học.

Trong những năm chủng viện, khi học môn xã hội học về nghèo đói, tôi khó khăn chấp nhận lời giải thích của giáo sư về lý do nghèo đói, nó không phải khi nào cũng là hậu quả của thất bại cá nhân, nhưng thường là sản phẩm của môi trường, rủi ro và chuyện không may mà chúng ta không có quyền chọn lựa. Nhiều người trong lớp tôi không tin chuyện này. Hầu hết chúng tôi xuất thân từ những gia đình kinh tế khiêm tốn và nghĩ rằng mình phải tự lực vươn lên. Tại sao người khác không làm được như vậy?

Thế nên, chúng tôi phản đối: Hồi nhỏ, chúng tôi nghèo. Chúng tôi đã không có tiền. Chúng tôi chẳng có bữa ăn miễn phí ở trường. Chúng tôi phải làm việc để có tiền mua áo quần và sách vở. Cha mẹ chúng tôi chưa hề nhận trợ cấp của ai. Chẳng ai giúp họ, họ tự lo lấy thân. Và chúng tôi, con cái họ, cũng vậy. Chúng tôi phẫn uất với những người nhận nhiều thứ mà chẳng phải làm gì. Đời chúng tôi không có gì miễn phí! Chúng tôi tự kiếm lấy những gì chúng tôi có.

Giáo sư đã trả lời chúng tôi, đây chính là lý do chúng tôi cần một khóa xã hội học về nghèo đói. Ông đã không tin quan niệm rằng chúng tôi lớn lên trong nghèo khổ và đã tự có được nhiều điều bằng công sức khó nhọc của mình. Và ông có một câu gây kinh ngạc: “Các em không ai nghèo khi còn nhỏ, các em là những đứa trẻ giàu lớn lên không có tiền, và cái mà các em đạt được hôm nay không phải là kết quả công sức khó nhọc của các em, mà là kết quả của nhiều vận may”.

Tôi phải mất rất nhiều năm, và phải nhờ cả lời của bà Gloria Steinem, mới nhận ra giáo sư đã nói đúng. Tôi là một đứa trẻ giàu lớn lên trong một gia đình không có tiền. Hơn nữa, phần lớn những gì tôi tin rằng mình đã kiếm được bằng công sức khó nhọc, thật ra là sản phẩm của vận may.

Tôi không chắc xã hội chúng ta nhận ra được như vậy. Có nhiều câu nói sáo rỗng khiến chúng ta tin rằng xuất thân không bao giờ là cái cớ để biện minh cho việc không thành công trong thế giới này, và thành công là cơ hội san sẻ đều cho tất cả mọi người. Và chúng ta đều tiếp thu những lời sáo rỗng đó: Mọi đứa trẻ nghèo đều có thể trở thành tổng thống của đất nước này! Mọi đứa trẻ nghèo đều có thể vào trường Harvard! Bất kỳ ai cũng có thể thành đạt trong cuộc sống! Chẳng có lý do biện bạch gì cho một người khỏe mạnh không có việc làm!

Có thật vậy không? Một phần là đúng. Có những đứa trẻ trong gia đình nghèo khổ đã trở thành tổng thống, hàng ngàn đứa trẻ nghèo đã vào được những đại học tốt nhất, vô số đứa trẻ lớn lên trong nghèo khổ đã thành đạt trong đời, và những người có động lực, không lười biếng, thường đạt được thành công trong đời. Tuy nhiên, sự thật đó còn lâu mới là toàn bộ sự thật.

Điều gì thật sự phân tách giàu nghèo trong thế giới chúng ta? Tất cả mọi người đều có căn cơ bình đẳng sao? Có thật là đức tính tốt mang lại thành công và thiếu đức tính làm chúng ta thất bại sao?

Trong quyển sách bán chạy Tuổi già, Elderhood của mình, bà Louise Aronson đã có lời bình luận về mẹ mình và nữ hoàng Elizabeth, hai người đều già đi thật đẹp đẽ và tuyệt vời. “Họ đều sinh ra với đặc quyền: da trắng, công dân của các nước phát triển, giàu có và có học vấn. Cả hai đều được phúc có bộ gene tuyệt vời, cả hai đều gặp may khi chưa bị tấn công, xâm hại, ung thư hay tổn thương nặng do tai nạn giao thông… Những thuận lợi này đâu phải do đức tính cá nhân. “Thật sự, ý chí và năng lực quyết định khôn ngoan thường là sản phẩm phụ của một cuộc sống đầy phúc phần”. Và cuộc sống của tôi là vậy.

Thành công không chỉ dựa vào đức tính cá nhân, dốc sức làm việc và sự cống hiến tận tâm. Đồng thời, thất bại không hẳn là kết quả của yếu đuối, lười biếng và thiếu nỗ lực. Đâu phải chúng ta sinh ra đều bình đẳng, đều có điểm xuất phát như nhau, đều có tuổi thơ tốt đẹp hay khổ sở, chúng ta đâu có cùng những cơ hội ngang nhau về phát triển và giáo dục, và chúng ta cũng đâu có tỷ lệ ngang nhau về tai nạn, bệnh tật và bất hạnh trong đời. Tuy nhiên, do chúng ta ngây thơ tin rằng may rủi chia đều cho tất cả mọi người, nên chúng ta hấp tấp và tàn ác phân chia kẻ thắng người thua, phán xét thậm tệ những ai mà chúng ta xem là thảm hại, xem họ phải chịu trách nhiệm cho vận rủi của mình, và khen bản thân vì những gì chúng ta đã đạt được như thể mọi công trạng đều nhờ đức tính của riêng mình. Ngược lại, chúng ta thấy những người nghèo chỉ có thể trách bản thân mà thôi. Tại sao họ không thể tự lực vươn lên chứ? Chúng ta đã làm được thế mà!

Nhưng… một vài người trong chúng ta có bộ gene có chiều hướng làm chúng ta mập phì, một vài người trong chúng ta là những đứa trẻ giàu hồi nhỏ không có tiền, và ý chí cũng như năng lực quyết định khôn ngoan thường là sản phẩm của một cuộc sống đầy phúc phần hơn là vấn đề đức tính cá nhân. Nhận thức được như thế có thể giúp chúng ta bớt tàn độc hơn trong phán xét và bớt huênh hoang về thành công của mình.

Henri Nouwen, một vị thánh của thời đại chúng ta

Thời nay, làm thánh không thôi thì không đủ, chúng ta phải có sự thánh thiện mà thời điểm hiện tại đòi hỏi.

Triết gia Simone Weil đã viết câu đó, và bà đúng. Chúng ta cần những vị thánh mà thời điểm hiện tại đòi hỏi và tôi muốn đề xuất một người mà tôi tin rằng phù hợp với mô tả này, đó là linh mục Henri Nouwen, ngòi bút thiêng liêng nổi tiếng đã qua đời năm 1996. Sự thánh thiện của ngài là gì và tại sao nó đặc biệt thích ứng vời thời hiện tại?

Henri Nouwen được cho là ngòi bút thiêng liêng có sức ảnh hưởng nhất thế hệ chúng ta. Tuy nhiên, linh đạo của ngài không phát xuất từ lòng sốt mến dễ dàng hay đức tin chưa qua thử thách. Như tác giả Michael Higgins viết trong quyển tiểu sử Nouwen, ngài là “một thiên tài sinh ra từ thống khổ”. Nouwen là vị thánh bị lo âu dày vò, một vị thánh lý tưởng cho một thời đại chìm trong lo âu.

Ngài là con người lo âu, đau đớn, phức tạp với một cá tính quá đỗi nhạy cảm. Ngài có xu hướng ám ảnh trong các mối quan hệ thân thiết, có khi thể hiện những nhu cầu ấu trĩ như trẻ con và dù đã có được biết bao tình yêu thương, được đón nhận và thành công, nhưng ngài luôn mãi bị ám ảnh với ý thức, mình không được yêu thương thật sự và không có nơi nào là mái ấm cho mình. Ngài còn nuôi dưỡng một vết thương trong lòng mà ngài không bao giờ giải thích cho người khác cũng như không hòa giải với chính mình. Với biết bao chuyện như thế, ngài lại còn có tính khí của một nghệ sĩ, vừa là một ơn vừa là gánh nặng, và như nhiều nghệ sĩ khác, ngài phải đấu tranh để giữ sự bình thường, thiết thực và cân bằng khi sáng tạo, tận hưởng sự tỉnh táo thực tế và không vượt ra khỏi lời khấn khiết tịnh. Vì thế, ngài có thể lên sân khấu, tỏa một sức sống mãnh liệt, rồi bước xuống sân khấu và vài phút sau đã bật khóc và xin người khác an ủi mình. Về tính dục, dù đã có lời khấn độc thân khiết tịnh và vẫn giữ trọn lời khấn, nhưng có những lúc ngài yêu đến ám ảnh một ai đó, đến nỗi ngài chỉ có thể giữ trọn lời khấn và sự tỉnh táo bằng cách tìm đến bác sĩ chuyên khoa.

Đây không phải là những điều mà bạn thường đọc thấy nơi cuộc đời các thánh, ít ra là những thánh đã được chính thức phong thánh và được xem là gương mẫu của thánh thiện, nhưng thật ra, nó chính là chất liệu của sự thánh thiện. Triết gia Soren Kierkegaard, người mà linh mục Nouwen ái mộ, đã định nghĩa một vị thánh như sau: thánh là người chỉ muốn một điều. Đó là một việc không dễ dàng gì. Không phải vì chúng ta khó mong muốn điều đúng đắn, nhưng vì chúng ta còn muốn nhiều điều khác nữa. Thánh Tôma Aquinô đã xác nhận, mọi lựa chọn là một sự từ bỏ. Nói thế là nói ngắn gọn. Mọi lựa chọn là một loạt những từ bỏ, và chính vì thế mà lựa chọn và thánh thiện đều là việc khó khăn.

Trong nhật ký của mình, linh mục Nouwen mô tả sự đấu tranh của mình như thế này. Tôi muốn làm một vị thánh vĩ đại, nhưng tôi còn muốn trải nghiệm mọi cảm giác mà những người tội lỗi cảm nghiệm. Tôi muốn rút lui vào thinh lặng của cầu nguyện, nhưng tôi không muốn bỏ lỡ bất kỳ điều gì trên đời. Tôi muốn chôn mình trong vô danh sống giữa người nghèo, nhưng tôi cũng muốn viết sách, muốn người ta biết đến, muốn đi đây đó, gặp mọi người và làm những việc thú vị. Đó là những điều mà ngài đã phải đấu tranh, cũng như chúng ta vậy, nhưng cuối cùng, ngài đã tìm được cách để chỉ muốn một điều.

Ngài làm bằng cách nào, làm sao bất chấp tất cả mọi chuyện này, ngài đã trở nên một vị thánh ? Ngài làm được nhờ sự chân thật khiêm hạ không bao giờ chối bỏ những đấu tranh vật lộn của mình. Ngài làm được như thế nhờ ngài chấp nhận sự phức tạp của mình, bằng cách quỳ gối trong những lời cầu nguyện bất lực, khi sức của ngài không đủ, và bằng cách để người nghèo yêu mến mình. Và ngài làm như thế bằng cách chia sẻ những vết thương của mình với mọi người, bằng cách tìm sự giúp đỡ của chuyên gia khi suy sụp, bằng cách học lấy từ mọi nỗi đau, ám ảnh và đau lòng, rằng, đến tận cùng, trái tim chúng ta mạnh hơn những vết thương và vì thế chúng ta có thể giữ được những cam kết và cuối cùng có được bình an trong phức tạp, cám dỗ và đấu tranh.

Chắc chắn các vị thánh thời xưa đã có những đấu tranh của riêng họ khi cố gắng chỉ muốn một điều, cố gắng dẫn truyền sinh lực bất kham của họ và phó mình trong tay Thiên Chúa. Tuy nhiên, những câu chuyện chúng ta nghe về cuộc sống các ngài lại có khuynh hướng làm nổi bật những nhân đức hơn là đấu tranh. Ví dụ Mẹ Têrêxa cũng là vị thánh của thời đại chúng ta, là vị thánh đã tạo nhiều cảm hứng tích cực. Với nhiều người chúng ta, cuộc đời và nhân đức của Mẹ dường như quá xa vời với những đấu tranh rối ren và trần tục của chúng ta, đến nỗi chúng ta xem Mẹ như một vị thánh để ngưỡng mộ chứ không phải để noi gương. Dĩ nhiên như thế là không đúng. Mẹ cũng có những đấu tranh, và là đấu tranh cực lớn. Nhưng khi kể lại chuyện đời của Mẹ, những đấu tranh đó lại không thường được nêu bật.

Câu chuyện của linh mục Henri Nouwen và các tác phẩm của ngài, lại nêu bật những đấu tranh, chứ không chỉ nhân đức và sự khôn ngoan của ngài. Biết được sự trần tục trong những đấu tranh của ngài, có thể gây nên ấn tượng rằng nơi ngài có ít điều đáng ngưỡng mộ hơn Mẹ Têrêxa. Có lẽ thế. Nhưng, nơi cha Nouwen, chúng ta thấy một người mà chúng ta dễ noi gương hơn.

Đôi mắt của tình yêu

Chúng ta hình dung một cặp say sưa yêu nhau trong thời gian đầu; một người tân tòng yêu mến Chúa, cầu nguyện đến xuất thần; một thanh niên lòng đầy lý tưởng, làm việc không mệt mỏi vì người nghèo, lòng bừng bừng vì khao khát công bằng. Hai bạn trẻ đó có yêu nhau thực sự không? Người tân tòng đó có yêu Chúa thực sự không? Nhà hoạt động xã hội trẻ có có thật sự yêu người nghèo không? Đó là những câu hỏi không dễ để trả lời.

Khi có cảm giác yêu là chúng ta thật sự đang yêu ai? Yêu người khác? Yêu bản thân? Yêu mẫu hình và sinh lực nơi những người khác? Yêu ảo tưởng của chúng ta về người đó? Hay là yêu cái cảm giác mà trải nghiệm đó khơi lên trong chúng ta? Khi yêu, chúng ta thật sự yêu người khác hay chỉ đắm mình trong một cảm giác tuyệt vời vốn có thể dễ dàng được vô số người khơi lên?

Có những câu trả lời khác nhau cho câu hỏi này. Thánh Gioan Thánh Giá nói tình yêu là tất cả những điều này, là chúng ta thật sự yêu người đó, yêu ảo tưởng của chúng ta về người đó, và đắm mình trong cảm giác vui thích mà chuyện này khơi gợi lên trong lòng chúng ta. Chính vì thế, một chuyện luôn xảy ra là, đến một lúc nào đó trong mối quan hệ, những cảm giác yêu nồng nàn mạnh mẽ nhường chỗ cho vỡ mộng – và theo định nghĩa, “vỡ mộng” là xóa tan những ảo tưởng, mộng tưởng sai lầm, những gì không có thật. Với Thánh Gioan Thánh Giá, khi chúng ta yêu, thì một phần tình yêu đó là thật, và một phần là ảo tưởng. Hơn nữa, ngài nói điều này cũng đúng với những cảm giác sốt sắng ban đầu của chúng ta khi cầu nguyện và làm những việc hảo tâm. Có sự trộn lẫn cả hai, cả tình yêu chân thực và ảo tưởng.

Một vài phân tích khác lại không nương tay đến thế. Nhiều phân tích xác định rằng mọi tình yêu ban đầu của chúng ta, dù là với người khác, với Thiên Chúa khi cầu nguyện, với người nghèo trong việc phục vụ, chủ yếu đều là ảo tưởng. Xét cho cùng, chúng ta yêu chuyện được yêu, yêu những gì lời cầu nguyện làm cho ta, hoặc là yêu cảm giác chúng ta có được khi làm việc vì công bằng. Người khác, Thiên Chúa và người nghèo, chỉ là điều thứ yếu. Chính vì thế, chuyện thường xảy ra là khi lửa mến ban đầu nguội đi, thì tình yêu của chúng ta dành cho đối tượng cũng lạnh dần. Khi ảo tưởng chết đi, thì cảm thức yêu cũng thế. Chúng ta yêu mà không thật sự hiểu người kia, và chúng ta hết yêu mà cũng không thật sự hiểu người kia. “Bắt đầu yêu” trong tiếng Anh là “fall in love” (tiếng Việt là rơi vào lưới tình, là phải lòng) và nó nói lên nhiều điều. “Fall/ngã” không phải là điều chúng ta quyết định mà điều xảy đến với chúng ta. Linh đạo về hôn nhân có một khẩu hiệu rất sáng suốt: hôn nhân là lựa chọn, yêu thì không.

Ai nói đúng đây? Khi chúng ta yêu, bao nhiêu phần là tình yêu đích thực và bao nhiêu phần là ảo tưởng, vốn thật sự chỉ là chúng ta đang yêu chính mình? Nhà thơ người Mỹ Steven Levine trả lời câu hỏi này từ một góc nhìn khác và soi rọi nhận định mới về vấn đề này.

Ông nói rằng, tình yêu không phải là “cảm xúc đối ngẫu”. Với ông, mỗi khi chúng ta cảm nhận tình yêu chân thực, chính lúc đó, chúng ta cảm nhận sự đồng nhất với Thiên Chúa và vạn vật. Ông viết: “Cảm nghiệm tình yêu trỗi dậy khi chúng ta buông bỏ sự tách biệt của mình trước sự đồng nhất toàn thể. Nó là một cảm giác hợp nhất… Nó không phải là cảm giác, đúng hơn là một tình trạng hiện hữu…. Nó không phải là ‘cả hai nên một’ cho bằng ‘một mà thể hiện như hai’”. Nói cách khác, khi yêu ai đó, thì lúc ấy, chúng ta là một với người đó, không tách rời, đến nỗi dù cho những ảo tưởng và cảm giác của chúng ta chỉ nhắm vào tác động cho riêng chúng ta, nhưng luôn có đó một điều sâu sắc hơn và chân thực hơn nhiều. Chúng ta là một với người kia trong hiện hữu, và khi yêu, chúng ta cảm nhận được điều đó.

Với quan điểm này, tình yêu chân thực không phải là cái chúng ta cảm nhận cho bằng là cái mà chúng ta là. Về căn bản, tình yêu không phải là một cảm xúc gây xúc động hay một đức tính (dù chúng là những phần của tình yêu). Tình yêu là một tình trạng siêu hình, chứ không phải một thứ đến rồi đi như cảm xúc, không phải một thứ mà chúng ta có thể chọn hoặc bỏ theo tinh thần của mình. Tình trạng siêu hình là điều được trao, điều mà chúng ta tồn tại trong nó, điều mà một phần con người chúng ta cố kết dù chúng ta không nhận ra. Do đó, tình yêu, thậm chí cả cảm giác mới yêu, có thể giúp chúng ta ý thức hơn về sự không tách rời của mình, về sự thống nhất hiện hữu của chúng ta với người khác.

Khi yêu đậm sâu hay nồng nhiệt, có lẽ (như lời Thomas Merton mô tả một thị kiến cha thấy ở một góc đường) chúng ta có thể tỉnh hơn khỏi mộng ảo tách biệt và ảo tưởng khác biệt để thấy được vẻ đẹp và chiều sâu nơi tâm hồn người khác. Có lẽ nó cũng sẽ cho chúng ta thấy được người khác, thấy được phần mà cả tội, dục vọng hay sự tự tri đều không vươn dến được, phần cốt lõi hiện thực của con, là con người trong mắt Thiên Chúa.

Và thật là tuyệt vời, “nếu chúng ta có thể thấy người khác như thế suốt.” (theo lời cha Merton).

Tâm hồn chúng ta mạnh hơn những thương tích

Mười năm trước khi qua đời, cha Henri Nouwen đã chịu một cơn trầm cảm gần như đánh gục ngài. Trong thời gian trị liệu, ngài đã viết một quyển sách rất hùng hồn, Tiếng nói bên trong của tình yêu (The Inner Voice of Love), trong đó, ngài khiêm nhượng và thẳng thắn chia sẻ những đấu tranh và nỗ lực của mình để vượt qua căn bệnh trầm cảm. Nhiều lúc, ngài cảm thấy không chịu nổi những nỗi đau và ám ảnh của mình đến mức gần như bị nhận chìm, bị sụp đổ, và những lúc như thế, ngài chỉ biết khóc. Dù cho cuối cùng ngài đã tìm lại được sức mạnh nội tâm và sức bật kiên cường, sẵn sàng trở lại cuộc sống với sinh lực được tân tạo. Khi nói về những gì ngài đã học được trong sự sụp đổ nội tâm và sự phục hồi của mình, ngài đã viết rằng, đến tận cùng, tâm hồn chúng ta mạnh hơn những vết thương của chúng ta.

Đấy là một lời khẳng định từ một chân lý phải gian khổ mới ngộ ra, nhưng liệu nó có luôn đúng? Tâm hồn chúng ta luôn mạnh hơn những vết thương của chúng ta sao? Chúng ta luôn có những nguồn lực trong mình để thắng vượt những thương tích của mình sao?

Có lúc đúng như thế, như trong trường hợp của cha Nouwen, nhưng có lúc lại không, như chúng ta đã chứng kiến nơi cuộc sống tan vỡ của biết bao nhiêu người. Có lúc dường như thương tích mạnh hơn tâm hồn. Tôi có một ví dụ thấm thía của trường hợp này: Trong bài hát Tôi mơ có một giấc mơ (I Dreamed a Dream) của vở nhạc kịch lừng danh Những người khốn khổ, có một dòng đầy đau buồn, bi thương, ám ảnh. Câu chuyện trong vở Những người khốn khổ được dựa trên tiểu thuyết cùng tên của văn hào Pháp Victor Hugo, kể một loạt câu chuyện về cách sự nghèo khổ và áp bức có thể làm tan nát cõi lòng, suy sụp sức sống và hủy hoại cuộc đời của người nghèo đến như thế nào. Fantine, một nhân vật trong truyện, một người mẹ đơn thân, bị phụ tình và quả tim tan nát. Cô cũng phải vật lộn để nuôi đứa con gái, vật lộn với công việc và điều kiện làm việc đã dần dần hủy hoại sức khỏe cô, vật lộn với sự quấy rối tình dục từ ông chủ vốn tích tụ dần và dẫn đến chuyện cô bị đuổi việc một cách bất công. Có lúc, mọi chuyện quá sức chịu đựng, cô đã sụp đổ, và trong lúc hấp hối, cô đã hát một bài từ biệt với những lời nói lên rằng tâm hồn chúng ta không phải lúc nào cũng mạnh hơn những thương tích, đôi khi có những cơn bão không thể chống nổi. Đôi khi tâm hồn không thể chống nổi cơn bão và sụp đổ trước sức nặng của những thương tích.

Ai nói đúng, cha Nouwen hay Fantine? Tôi cho là cả hai đều đúng, dựa trên hoàn cảnh, sức khỏe nội tâm và nguồn lực cảm xúc của mỗi người. Như câu ngạn ngữ: Cái gì không giết được ta sẽ làm ta mạnh hơn!

Đúng là thế, với điều kiện nó không giết ta. Đáng buồn thay, có những lúc nó lại giết ta thật. Tôi cho rằng tất cả những ai đang đọc bài này đều đã từng mắt thấy tai nghe một người chúng ta quen biết hay yêu thương đã bị sụp đổ và chết, hoặc tự sát hoặc sụp đổ theo kiểu khác, do cuộc sống tan nát, con tim tan nát, tâm thần tan nát, do một thương tích mạnh hơn tâm hồn của họ.

Do đó, khi nhìn vào hai khẳng định đối lập nhau này, chúng ta cần thêm một sự thật nữa có thể thêm một sự thật có thể bao hàm cả hai. Ơn Chúa, sự tha thứ, và tình yêu thì mạnh hơn những thương tích, sụp đổ, thất bại và cái dường như là tuyệt vọng của chúng ta.

Có lúc, khi đấu tranh, chúng ta có thể tìm được sức mạnh nội tại chôn sâu dưới những thương tích của mình, và nó cho chúng ta có thể vươn lên, vượt qua những thương tích, trở lại với sự lành mạnh, sức mạnh và tinh thần hăng hái nhiệt tình. Tuy nhiên, có lúc những vết thương của chúng ta làm tê liệt tâm hồn và chúng ta không thể nào đến được với sức mạnh ẩn sâu trong lòng mình. Trong đời này, sự tan nát đó có thể bị cảm nhận như là sự sụp đổ tối hậu, một nỗi đau buồn không thể chữa lành, một tuyệt vọng, một cuộc đời vứt đi. Tuy nhiên, bất kỳ lúc nào hoàn cảnh cay đắng và sự mỏng manh tinh thần ập đến cùng lúc, khi nào tâm hồn chúng ta không còn mạnh hơn những thương tích, chúng ta đều có thể nương ẩn nơi một chân lý sâu sắc ơn, một sự an ủi thâm sâu hơn, cụ thể là sức mạnh nơi trái tim Thiên Chúa. Ơn Chúa, sự tha thứ, và tình yêu thì mạnh hơn những thương tích, sụp đổ, thất bại và cái dường như là tuyệt vọng của chúng ta.

Điều khiến đức tin kitô khác với các tôn giáo khác (cũng như khác với các phúc âm thịnh vượng) chính là kitô giáo là một tôn giáo của ơn sủng chứ không phải của nỗ lực tự thân (dù cho nó cũng có tầm quan trọng). Là người tín hữu kitô, chúng ta không cần phải tự cứu rỗi mình, không cần phải tự lực cứu vớt cuộc sống mình. Thật sự là không một ai cần làm thế. Như thánh Phaolô đã nói rõ trong thư gửi tín hữu Rôma, không một ai trong chúng ta tự cứu vớt cuộc sống mình bằng chính sức mình. Điều này cũng đúng khi muốn thắng vượt những thương tích của mình. Tất cả chúng ta đều có những lúc yếu đuối và sụp đổ. Tuy nhiên, chính lúc này đây, chính khi cơn bão đè bẹp chúng ta, khi chúng ta tìm sức mạnh để đương cự cơn bão nhưng rồi chỉ để thấy rằng cơn bão mạnh hơn chúng ta, chính lúc như thế, chúng ta cần tìm tìm sâu hơn nữa và sẽ thấy được rằng trái tim của Thiên Chúa mạnh hơn những vỡ nát của chúng ta.

Cội rễ của những xung đột và khác biệt

Vì sao những người chân thành lại thường thấy mình không hợp với những người khác? Vấn đề ở đây không phải là do sự chân thành gặp phải sự thiếu chân thành hay dối trá. Không phải thế. Vấn đề là tại sao những người chân thành, kính sợ Thiên Chúa lại có thể thấy mình cực kỳ lạc lõng với những người khác.

Trong tự thuật của tác giả Hy Lạp Nikos Kazantzakis có một đoạn rất thú vị, mang một ý nghĩa khai mở sâu xa hơn hẳn những gì chúng ta cảm được khi mới đọc qua. Khi bình luận về thần thoại Hy Lạp và nhiều xung đột giữa các thần, Kazantzakis viết như sau: “Các anh hùng trong những bi kịch Hy Lạp cổ đại chẳng khác gì những tay của thần Dionysus vung tán loạn tự đánh vào nhau. Chúng đánh vào nhau vì chúng là những mảnh rời. Mỗi mảnh chỉ đại diện cho một phần của thần tính, chúng chẳng phải là một vị thần toàn vẹn. Dionysus, vị thần toàn vẹn, vẫn đứng vững ở trọng tâm câu chuyện và kiểm soát sự ra đời, phát triển và những gay cấn của câu chuyện. Với những khán giả đã giác ngộ, tay chân tán loạn của Dionysus, dù đánh lẫn nhau, nhưng đã được kín đáo hợp nhất và hòa giải với Dionysus. Chúng tạo thành thân thể toàn vẹn của Dionysus và tạo nên sự hòa hợp”.

Trong thần thoại Hy Lạp, thần Dionysus toàn vẹn chứa mọi mảnh thần tính vốn phân tán và hiện thân cụ thể trong các thần và con người khác nhau. Trong Dionysus, có sự hòa hợp, mọi thứ đều ăn khớp với nhau, nhưng bên ngoài bản thân thần thì các mảnh thần tính đa dạng vật lộn và đương cự lẫn nhau, luôn mãi căng thẳng và tranh giành quyền lực.

Đấy là một hình ảnh ẩn dụ có thể soi rọi nhiều thứ. Một trong số đó có thể giúp chúng ta hiểu được cội rễ của nhiều xung đột giữa những người chân thành và tại sao lại có nhiều khác biệt về tôn giáo như thế.

Nguyên do nào làm cho con người xung khắc nhau, dù họ không thiếu chân thành hay phạm tội, dù họ đều là những người lương thiện và kính sợ Thiên Chúa? Ngày nay, chúng ta nói về các khác biệt hệ tư tưởng, lịch sử, chính trị, câu chuyện cuộc đời để giải thích lý do vì sao người chân thành thường nhìn thế giới một cách khác biệt và không tương hợp với người khác. Chúng ta có cả một hệ thống để giải thích chuyện này. Tuy nhiên, tôi không chắc hệ thống đó (dù có đủ thứ biện luận đi nữa) có thể nắm bắt được cốt lõi của vấn đề này một cách rõ ràng bằng ẩn dụ thần thoại Hy Lạp nói trên. Xét cho cùng, chẳng phải chúng ta đều nắm lấy mảnh thần tính của mình và biến nó thành khởi đầu cũng như cùng đích mọi sự, chẳng hề chấp nhận rằng những người chiến đấu với chúng ta, họ cũng có một mảnh thần tính, và chúng ta đang lấy thần để đấu với thần đó sao?

Xét đến tận cùng gốc rễ, chẳng phải đó chính là cái nền tảng cho căng thẳng giữa “bảo thủ” và “tự do”, giữa linh hồn và tinh thần, giữa trí óc với quả tim, giữa già và trẻ, giữa thân xác và linh hồn, giữa mọi thứ nhị nguyên khác đang chia rẽ chúng ta hay sao? Chẳng phải mỗi một người chúng ta đều có một mảnh thần tính đích thực và vì chẳng biết Thiên Chúa toàn vẹn là thế nào, nên chúng ta biến mảnh thần tính của mình thành lăng kính cho tất cả mọi sự hay sao?

Chúng ta không phải là những “khán giả đã giác ngộ” như lời Kazantzakis, những người đã thấy được vị thần toàn vẹn để thấy rằng mọi mảnh đó xét cho cùng đều hòa hợp với nhau. Chính vì thế mà chúng ta cứ luôn mãi bất hòa.

Cũng có thể rút từ hình ảnh này để có bài học về cách chúng ta nhìn nhận các tôn giáo khác. Khoảng năm 200, giáo phụ Clement thành Alexandria đã viết quyển sách với tựa đề Stromata, một từ Hy Lạp nghĩa là “phân tán”. Ý niệm của ngài (được trình bày cẩn thận theo lăng kính kitô giáo của ngài) là Thiên Chúa, dù được biểu lộ nơi Chúa Giêsu Kitô, nhưng cũng được “phân tán” nơi các tôn giáo khác và nơi tự nhiên. Ý của Thánh Clement cơ bản là, có những mảnh của Thiên Chúa nằm rải rác khắp nơi, dù cho ngài không nói rõ cách những mảnh riêng rẽ thần tính này thường hay xung khắc nhau.

Gần đây, linh mục Raimondo Panikkar (qua đời năm 2010), một trong những bình luận gia lớn về thế giới tôn giáo, đã nhắc lại về ý niệm Thiên Chúa “phân tán” và áp dụng vào thế giới tôn giáo. Theo cha, những gì kitô giáo thấy có nơi Ba Ngôi, thật ra cũng đã được nhiều người thuộc các tôn giáo khác cảm nghiệm phần nào. Ví dụ như, một vài tín ngưỡng như Phật giáo chẳng hạn, tập trung vào cảm nghiệm kinh ngạc, kính sợ, phụ thuộc và tự lu mờ khi đối diện với “Thượng đế”. Với Panikkar, đây là những tôn giáo “Thiên Chúa là Cha”. Một vài đức tin khác, nhất là kitô giáo và cả do thái giáo, hồi giáo, đều nhấn mạnh rất rõ về “Thiên Chúa là Cha”, nhưng Thánh kinh của ba tôn giáo này và các tín ngưỡng khác lại có một nguyên lý nhập thể, một “Đức Kitô”. Chắc chắn một số tôn giáo như Đạo giáo và Ấn giáo tập trung nhiều hơn vào trải nghiệm tinh thần, vào một “Thánh Linh”. Vì chúng ta, mỗi tôn giáo, mỗi người, đều nhấn mạnh một chiều kích nhất định của Thiên Chúa, nên chẳng có gì ngạc nhiên khi dù chúng ta đều chân thành, nhưng lại chẳng hợp nhau.

Và chính vì thế, nên chúng ta, những người kính sợ Thiên Chúa, lại thường không tương hợp nhau, nhưng cũng tốt khi biết và công nhận rằng một Thiên Chúa “toàn vẹn” đang đứng vô hình giữa trung tâm những xung khắc của chúng ta, nhìn những chân tay tán loạn của Ngài đấu đá nhau nhưng biết rằng đến tận cùng tất cả những mảnh phân tán này sẽ lại được hợp nhất trong hòa hợp.