RonRolheiser,OMI

Đánh mất bài hát nơi người ca sĩ

Khi nghe ai đó hát trực tiếp hoặc trên truyền hình, tôi thường nhắm mắt lại để cố nghe bài hát mà không bị phân tâm bởi màn trình diễn của ca sĩ. Một bài hát có thể bị đánh mất trong màn trình diễn. Thật vậy, màn trình diễn có thể áp đảo làm cho bài hát bị thay thế bởi ca sĩ.

Khi ai đó trình diễn sống, dù là trên sân khấu, lớp học, trong cuộc thi, hay trên bục giảng, luôn có sự kết hợp của ba điều. Diễn viên sẽ cố gây ấn tượng với người khác bằng tài năng của mình, sẽ cố truyền đi một thông điệp, dù ý thức hay vô thức, sẽ cố truyền một sự chân thiện mỹ nào đó vì chính sự chân thiện mỹ đó. Nói theo ẩn dụ, người đó đang say đắm với bản thân, với khán giả và với bài hát.

Chính yếu tố thứ ba, say đắm với bài hát, mới tạo nên nghệ thuật cao đẹp, nên hùng biện, bài giảng cao đẹp. Sự cao đẹp tách riêng ra bởi nó qua “bài hát” thay vì qua ca sĩ, thông điệp hơn là người truyền thông điệp, và sự đồng cảm của người trình diễn hơn là cái tôi của người đó. Và như thế, bài hát lôi cuốn khán giả thay vì ca sĩ lôi cuốn. Các ca sĩ giỏi lôi cuốn mọi người đến với âm nhạc thay vì với họ, những giáo viên giỏi lôi cuốn học sinh đến với chân lý hơn là với họ, các nghệ sĩ giỏi lôi cuốn khán giả đến với mỹ thuật hơn là đi tìm tán thưởng, và một giảng sư giỏi lôi cuốn cộng đoàn đến với Thiên Chúa thay vì để tôn vinh bản thân.

Phải thừa nhận, việc này chẳng dễ dàng gì. Chúng ta là con người, khán giả của chúng ta cũng vậy. Không một khán giả nào tôn trọng chúng ta trừ phi chúng ta trình diễn với tài năng, sự sáng tạo và trí tuệ. Luôn có một sức ép vô hình lên ca sĩ, diễn giả, giáo viên và giảng sư, cả từ bên ngoài lẫn bên trong. Từ bên trong là: “Tôi chẳng muốn làm họ thất vọng! Tôi đâu muốn mất mặt! Tôi cần phải xuất chúng! Tôi cần cho họ thấy một điều gì đó đặc biệt!” Và từ bên ngoài, từ khán giả là: “Anh có gì nào? Thể hiện điều đó đi! Cô lo lắng vì tôi chăm chú à? Cô có tạo vui vẻ không? Anh đáng chán à?” Chỉ có người trưởng thành nhất mới thoát được những áp lực này. Do đó, bài hát dễ dàng bị mất đi nơi người ca sĩ, thông điệp bị mất đi nơi người truyền thông điệp, giảng dạy bị mất đi nơi giáo viên, và thông điệp của Thiên Chúa bị mất đi vì tính cách của giảng sư.

Là một giáo viên, giảng sư và nhà văn, tôi công nhận tôi đã phải đấu tranh lâu dài với chuyện này. Khi mới bắt đầu giảng dạy, tôi phải tạo ấn tượng với sinh viên, nếu không thì sẽ không có được sự chú ý hoặc tôn trọng lâu dài. Việc giảng thuyết cũng thế. Giáo đoàn luôn đánh giá chúng ta và mình phải ở tầm cao, nếu không họ chẳng buồn nghe. Hơn nữa, nếu không có tự nhận thức bản thân cực độ, chúng ta sẽ luôn mãi là tù nhân của những bất an trong lòng. Chẳng ai muốn trông kém cỏi, ngốc nghếch, thiếu thông tin, hoặc bị xem là bất tài. Ai cũng muốn mình trông ổn.

Hơn nữa, vẫn còn cái tôi, và đừng bao giờ đánh giá thấp nó. Nó muốn thu hút sự chú ý và ngưỡng mộ hướng về mình hơn là hướng về chân thiện mỹ. Luôn có cám dỗ làm cho người truyền thông điệp quan tâm đến việc gây ấn tượng với người khác hơn là truyền đi thông điệp một cách thuần túy và chân thực. Cái cám dỗ tinh vi nhưng mạnh mẽ này là ý muốn lôi kéo người khác đến với mình hơn là đến chân thiện mỹ mà họ đang cố truyền đạt.

Tôi phải vật lộn với cám dỗ này trong mọi lớp tôi dạy, mọi bài tôi viết và mọi lần tôi cử hành thánh lễ. Tuy thế, tôi không biện hộ gì cho nó. Nó là sự đấu tranh nội tại của mọi nỗ lực sáng tạo. Chúng ta đang cố lôi cuốn người khác về phía mình, hay chúng ta đang cố lôi cuốn người khác về phía chân thiện mỹ, về với Thiên Chúa?

Khi đi dạy, sự chuẩn bị và sức sống của tôi được thôi thúc do tôi quan tâm thực sự đến sinh viên hay do nhu cầu muốn được nổi bật, gây ấn tượng, tạo danh tiếng là giảng viên giỏi? Khi viết một bài báo hay sách, tôi thật sự nỗ lực đem lại thấu suốt và hiểu biết cho mọi người, hay tôi đang nghĩ đến danh tiếng nhà văn của mình? Khi cử hành thánh lễ và giảng lễ, động cơ thật sự của tôi có phải là dẫn truyền nghi lễ thiêng liêng này mà không để tính cách của riêng tôi xen vào, có phải là dẫn dắt mọi người hiệp thông với nhau và cho tôi nhỏ lại để Đức Kitô lớn lên hay không?

Chẳng có câu trả lời đơn giản cho những câu hỏi này, vì thật sự là không thể. Động cơ của chúng ta không bao giờ là thuần túy. Hơn nữa, chúng ta đâu được định để làm những con robot không có tính cách. Các tính cách và tài năng độc nhất vô nhị của chúng ta được Thiên Chúa ban cho để sinh ích cho người khác mà. Nhưng chúng ta vẫn cần một dấu hiệu cảnh báo thật rõ ràng. Đó là khi khán giả tập trung vào tính cách của chúng ta hơn là bài hát, thì có lẽ chúng ta đang say đắm bản thân và người hâm mộ của mình hơn là say đắm bài hát.

Sức mạnh ràng buộc của thù hận

Dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy. Chúng ta biết câu này cũng ứng nghiệm với tình yêu. Vậy nó có ứng nghiệm với thù hận không? Thù hận của người khác có đi theo chúng ta đến tận cõi vĩnh hằng không?

Trong tiểu thuyết mới nhất của mình, Trả vốn, Payback, bà Mary Gordon đã đặt câu hỏi này. Câu chuyện của bà tập trung vào hai phụ nữ, một người, là Agnes đã làm tổn thương người kia, Heidi. Tổn thương này là vô tình, nhưng nó lại sâu đậm, sâu đến mức nó như chất độc ám ảnh tâm hồn họ trong suốt 40 năm. Câu chuyện lần theo cuộc sống của họ dài suốt 40 năm, thời gian họ không bao giờ gặp nhau, cũng chẳng biết tung tích gì của nhau, nhưng họ vẫn bị ám ảnh về nhau, một người giữ mãi tổn thương và một người cảm thấy mặc cảm tội lỗi về tổn thương đó. Cuối cùng câu chuyện lên đến đỉnh cao khi Heidi đi tìm Agnes để đương đầu với bà, đòi lại món nợ. Và món nợ đó là thù hận, một thù hận hoàn toàn xấu xí, một lời nguyền còn mãi đến lúc chết, bảo đảm Agnes sẽ không bao giờ được thanh thản vì nó cho đến tận cuối đời.

Agnes không biết làm gì với thù hận này, thứ áp chế cuộc sống và phá hoại hạnh phúc của bà. Bà tự hỏi nó có ảnh hưởng đến đời sống vĩnh hằng của mình không. “Cuộc gặp cuối cùng với Heidi đã làm cho niềm tin của bà vào sự trường tồn của những ràng buộc yêu thương bị lung lay dữ dội. Vì nếu sau cái chết, tình yêu vẫn còn mãi, còn thù hận thì sao? Bà hiểu rằng, trong trường hợp của Heidi, nó chính là mặt còn lại của đồng tiền, mặt kia là tình yêu. Kể cả sau cái chết, liệu thù hận của Heidi có bám theo bà, phá hoại đời sống vĩnh hằng của bà, phá vỡ sự hòa hợp, và là điểm đen giữa ánh sáng chói lòa không? Vì Heidi đã trở lại với cuộc sống của mình, lần đầu tiên, Agnes cảm thấy thật sự sợ chết. Bà phải làm sao để tin rằng tình yêu của những người yêu thương bà sẽ luôn ở bên bà… giữ bà khỏi thù hận và ác ý mà Heidi đã làm. Bà phải tin rằng, nếu không như thế… thì chuyện sẽ xảy ra sẽ quá sức chịu đựng, còn không dám nghĩ đến”.

Nhà văn Gabriel Marcel đã nói rất đúng: yêu ai đó là bảo đảm người đó không bao giờ có thể bị lạc lối, bảo đảm người đó (miễn là còn tình yêu thương đó thì) không bao giờ vào địa ngục. Qua tình yêu đó, người khác được kết nối (ràng buộc) luôn mãi với gia đình của tình yêu và cuối cùng là với tình yêu trong Thiên Chúa. Tuy nhiên, vậy thì điều này cũng đúng với thù hận không? Nếu ai đó hận bạn, thì sự thù hận đó có thể bám theo bạn đến vĩnh hằng và làm băng hoại niềm vui trên thiên đàng của bạn không? Nếu tình yêu của ai đó có thể ở bên bạn đến vĩnh hằng, thì sự thù hận của ai đó cũng có thể làm như vậy không?

Đây không phải câu hỏi dễ trả lời. Ràng buộc và tháo cởi, như Chúa Giêsu nói, vận hành theo cả hai hướng, với cả tình yêu và thù hận. Chúng ta giải phóng nhau nhờ tình yêu và kìm kẹp nhau bằng thù hận. Chúng ta biết như thế nhờ kinh nghiệm và thâm tâm chúng ta trực cảm được như vậy. Chính vì thế mà rất nhiều người đi tìm hòa giải lúc lâm tử, ước nguyện cuối cùng của họ là đừng rời thế gian này khi chưa được hòa giải. Nhưng sự thật đáng buồn là, đôi khi chúng ta rời cõi đời mà chưa được hòa giải, và sự thù hận bám theo chúng ta đến tận huyệt mộ. Nó cũng bám theo chúng ta đến tận cõi vĩnh hằng không?

Chọn lựa nằm ở chúng ta. Nếu chúng ta đáp trả thù hận bằng thù hận, thì nó sẽ theo chúng ta đến tận cõi vĩnh hằng. Mặt khác, về phần mình, nếu chúng ta tìm kiếm sự hòa giải (hết sức có thể về mặt thực hành và hiện sinh) thì sự thù hận đó không thể nào ràng buộc chúng ta được nữa, sợi xích sẽ bị đứt, từ phía chúng ta.

Leo Tolstoy đã nói rằng: Chỉ có một cách duy nhất để chấm dứt sự ác, đó là làm điều thiện để trả cho cái ác. Chúng ta thấy điều này nơi Chúa Giêsu. Có kẻ ghét Ngài, đến tận lúc Ngài chết. Tuy nhiên, sự thù hận đó đã mất sức mạnh trên Ngài, bởi vì Ngài không chấp nhận chịu gì trả nấy. Thay vào đó, Ngài lấy tình yêu đáp trả thù hận, thông hiểu đáp trả hiểu lầm, chúc phúc đáp trả nguyền rủa, hiền hậu đáp trả oán giận, trung tín đáp trả loại trừ, và tha thứ đáp trả sát nhân. Nhưng… để làm được thế cần một sức mạnh phi thường hiếm có.

Trong lời khẳng định của nhà văn Gabriel Marcel là nếu chúng ta yêu thương ai thì người đó không hư mất được, có một điều không nói ra, cụ thể là nếu như người kia không chủ định từ chối tình yêu của chúng ta. Với thù hận cũng vậy. Thù hận của người khác kiềm giữ chúng ta nếu chúng ta đáp trả nó bằng thù hận.

Chúng ta không thể khiến người kia không thù hận chúng ta, nhưng chúng ta có thể từ chối thù hận họ, và chính lúc đó, thù hận mất đi sức mạnh ràng buộc và trừng phạt chúng ta. Chuyện này thật chẳng dễ dàng gì, nhất là về mặt cảm xúc. Thù hận có xu hướng hiểm độc nắm chặt chúng ta, làm chúng ta tê liệt sức mạnh cần có để buông bỏ nó. Nếu thế, vẫn còn một điều có thể đem lại sự cứu rỗi. Thiên Chúa có thể làm cho chúng ta nhiều điều mà chúng ta không thể tự làm cho mình.

Vì thế, cuối cùng, như nữ tu Julian thành Norwich (1342-1416) đã dạy (và như niềm tin vào lòng trắc ẩn và sự thấu cảm của Chúa cho chúng ta biết), đến tận cùng tất cả đều tốt đẹp, dù cho có thù hận.

Những đứa trẻ giàu lớn lên không có tiền – vấn đề thông hiểu

Nhà báo, nhà hoạt động xã hội Gloria Steinem từng thú nhận, dù chưa khi nào bị dư ký, nhưng bà luôn lo lắng về cân nặng vì gene từ cha mẹ có khuynh hướng làm cho bà có vấn đề về cân nặng. Vì thế bà nói, tôi nghĩ về mình như một phụ nữ mập bây giờ đang mảnh mai. Lời của bà làm cho tôi nhận ra một điều mà tôi đã hiểu sai khi còn đi học.

Trong những năm chủng viện, khi học môn xã hội học về nghèo đói, tôi khó khăn chấp nhận lời giải thích của giáo sư về lý do nghèo đói, nó không phải khi nào cũng là hậu quả của thất bại cá nhân, nhưng thường là sản phẩm của môi trường, rủi ro và chuyện không may mà chúng ta không có quyền chọn lựa. Nhiều người trong lớp tôi không tin chuyện này. Hầu hết chúng tôi xuất thân từ những gia đình kinh tế khiêm tốn và nghĩ rằng mình phải tự lực vươn lên. Tại sao người khác không làm được như vậy?

Thế nên, chúng tôi phản đối: Hồi nhỏ, chúng tôi nghèo. Chúng tôi đã không có tiền. Chúng tôi chẳng có bữa ăn miễn phí ở trường. Chúng tôi phải làm việc để có tiền mua áo quần và sách vở. Cha mẹ chúng tôi chưa hề nhận trợ cấp của ai. Chẳng ai giúp họ, họ tự lo lấy thân. Và chúng tôi, con cái họ, cũng vậy. Chúng tôi phẫn uất với những người nhận nhiều thứ mà chẳng phải làm gì. Đời chúng tôi không có gì miễn phí! Chúng tôi tự kiếm lấy những gì chúng tôi có.

Giáo sư đã trả lời chúng tôi, đây chính là lý do chúng tôi cần một khóa xã hội học về nghèo đói. Ông đã không tin quan niệm rằng chúng tôi lớn lên trong nghèo khổ và đã tự có được nhiều điều bằng công sức khó nhọc của mình. Và ông có một câu gây kinh ngạc: “Các em không ai nghèo khi còn nhỏ, các em là những đứa trẻ giàu lớn lên không có tiền, và cái mà các em đạt được hôm nay không phải là kết quả công sức khó nhọc của các em, mà là kết quả của nhiều vận may”.

Tôi phải mất rất nhiều năm, và phải nhờ cả lời của bà Gloria Steinem, mới nhận ra giáo sư đã nói đúng. Tôi là một đứa trẻ giàu lớn lên trong một gia đình không có tiền. Hơn nữa, phần lớn những gì tôi tin rằng mình đã kiếm được bằng công sức khó nhọc, thật ra là sản phẩm của vận may.

Tôi không chắc xã hội chúng ta nhận ra được như vậy. Có nhiều câu nói sáo rỗng khiến chúng ta tin rằng xuất thân không bao giờ là cái cớ để biện minh cho việc không thành công trong thế giới này, và thành công là cơ hội san sẻ đều cho tất cả mọi người. Và chúng ta đều tiếp thu những lời sáo rỗng đó: Mọi đứa trẻ nghèo đều có thể trở thành tổng thống của đất nước này! Mọi đứa trẻ nghèo đều có thể vào trường Harvard! Bất kỳ ai cũng có thể thành đạt trong cuộc sống! Chẳng có lý do biện bạch gì cho một người khỏe mạnh không có việc làm!

Có thật vậy không? Một phần là đúng. Có những đứa trẻ trong gia đình nghèo khổ đã trở thành tổng thống, hàng ngàn đứa trẻ nghèo đã vào được những đại học tốt nhất, vô số đứa trẻ lớn lên trong nghèo khổ đã thành đạt trong đời, và những người có động lực, không lười biếng, thường đạt được thành công trong đời. Tuy nhiên, sự thật đó còn lâu mới là toàn bộ sự thật.

Điều gì thật sự phân tách giàu nghèo trong thế giới chúng ta? Tất cả mọi người đều có căn cơ bình đẳng sao? Có thật là đức tính tốt mang lại thành công và thiếu đức tính làm chúng ta thất bại sao?

Trong quyển sách bán chạy Tuổi già, Elderhood của mình, bà Louise Aronson đã có lời bình luận về mẹ mình và nữ hoàng Elizabeth, hai người đều già đi thật đẹp đẽ và tuyệt vời. “Họ đều sinh ra với đặc quyền: da trắng, công dân của các nước phát triển, giàu có và có học vấn. Cả hai đều được phúc có bộ gene tuyệt vời, cả hai đều gặp may khi chưa bị tấn công, xâm hại, ung thư hay tổn thương nặng do tai nạn giao thông… Những thuận lợi này đâu phải do đức tính cá nhân. “Thật sự, ý chí và năng lực quyết định khôn ngoan thường là sản phẩm phụ của một cuộc sống đầy phúc phần”. Và cuộc sống của tôi là vậy.

Thành công không chỉ dựa vào đức tính cá nhân, dốc sức làm việc và sự cống hiến tận tâm. Đồng thời, thất bại không hẳn là kết quả của yếu đuối, lười biếng và thiếu nỗ lực. Đâu phải chúng ta sinh ra đều bình đẳng, đều có điểm xuất phát như nhau, đều có tuổi thơ tốt đẹp hay khổ sở, chúng ta đâu có cùng những cơ hội ngang nhau về phát triển và giáo dục, và chúng ta cũng đâu có tỷ lệ ngang nhau về tai nạn, bệnh tật và bất hạnh trong đời. Tuy nhiên, do chúng ta ngây thơ tin rằng may rủi chia đều cho tất cả mọi người, nên chúng ta hấp tấp và tàn ác phân chia kẻ thắng người thua, phán xét thậm tệ những ai mà chúng ta xem là thảm hại, xem họ phải chịu trách nhiệm cho vận rủi của mình, và khen bản thân vì những gì chúng ta đã đạt được như thể mọi công trạng đều nhờ đức tính của riêng mình. Ngược lại, chúng ta thấy những người nghèo chỉ có thể trách bản thân mà thôi. Tại sao họ không thể tự lực vươn lên chứ? Chúng ta đã làm được thế mà!

Nhưng… một vài người trong chúng ta có bộ gene có chiều hướng làm chúng ta mập phì, một vài người trong chúng ta là những đứa trẻ giàu hồi nhỏ không có tiền, và ý chí cũng như năng lực quyết định khôn ngoan thường là sản phẩm của một cuộc sống đầy phúc phần hơn là vấn đề đức tính cá nhân. Nhận thức được như thế có thể giúp chúng ta bớt tàn độc hơn trong phán xét và bớt huênh hoang về thành công của mình.

Henri Nouwen, một vị thánh của thời đại chúng ta

Thời nay, làm thánh không thôi thì không đủ, chúng ta phải có sự thánh thiện mà thời điểm hiện tại đòi hỏi.

Triết gia Simone Weil đã viết câu đó, và bà đúng. Chúng ta cần những vị thánh mà thời điểm hiện tại đòi hỏi và tôi muốn đề xuất một người mà tôi tin rằng phù hợp với mô tả này, đó là linh mục Henri Nouwen, ngòi bút thiêng liêng nổi tiếng đã qua đời năm 1996. Sự thánh thiện của ngài là gì và tại sao nó đặc biệt thích ứng vời thời hiện tại?

Henri Nouwen được cho là ngòi bút thiêng liêng có sức ảnh hưởng nhất thế hệ chúng ta. Tuy nhiên, linh đạo của ngài không phát xuất từ lòng sốt mến dễ dàng hay đức tin chưa qua thử thách. Như tác giả Michael Higgins viết trong quyển tiểu sử Nouwen, ngài là “một thiên tài sinh ra từ thống khổ”. Nouwen là vị thánh bị lo âu dày vò, một vị thánh lý tưởng cho một thời đại chìm trong lo âu.

Ngài là con người lo âu, đau đớn, phức tạp với một cá tính quá đỗi nhạy cảm. Ngài có xu hướng ám ảnh trong các mối quan hệ thân thiết, có khi thể hiện những nhu cầu ấu trĩ như trẻ con và dù đã có được biết bao tình yêu thương, được đón nhận và thành công, nhưng ngài luôn mãi bị ám ảnh với ý thức, mình không được yêu thương thật sự và không có nơi nào là mái ấm cho mình. Ngài còn nuôi dưỡng một vết thương trong lòng mà ngài không bao giờ giải thích cho người khác cũng như không hòa giải với chính mình. Với biết bao chuyện như thế, ngài lại còn có tính khí của một nghệ sĩ, vừa là một ơn vừa là gánh nặng, và như nhiều nghệ sĩ khác, ngài phải đấu tranh để giữ sự bình thường, thiết thực và cân bằng khi sáng tạo, tận hưởng sự tỉnh táo thực tế và không vượt ra khỏi lời khấn khiết tịnh. Vì thế, ngài có thể lên sân khấu, tỏa một sức sống mãnh liệt, rồi bước xuống sân khấu và vài phút sau đã bật khóc và xin người khác an ủi mình. Về tính dục, dù đã có lời khấn độc thân khiết tịnh và vẫn giữ trọn lời khấn, nhưng có những lúc ngài yêu đến ám ảnh một ai đó, đến nỗi ngài chỉ có thể giữ trọn lời khấn và sự tỉnh táo bằng cách tìm đến bác sĩ chuyên khoa.

Đây không phải là những điều mà bạn thường đọc thấy nơi cuộc đời các thánh, ít ra là những thánh đã được chính thức phong thánh và được xem là gương mẫu của thánh thiện, nhưng thật ra, nó chính là chất liệu của sự thánh thiện. Triết gia Soren Kierkegaard, người mà linh mục Nouwen ái mộ, đã định nghĩa một vị thánh như sau: thánh là người chỉ muốn một điều. Đó là một việc không dễ dàng gì. Không phải vì chúng ta khó mong muốn điều đúng đắn, nhưng vì chúng ta còn muốn nhiều điều khác nữa. Thánh Tôma Aquinô đã xác nhận, mọi lựa chọn là một sự từ bỏ. Nói thế là nói ngắn gọn. Mọi lựa chọn là một loạt những từ bỏ, và chính vì thế mà lựa chọn và thánh thiện đều là việc khó khăn.

Trong nhật ký của mình, linh mục Nouwen mô tả sự đấu tranh của mình như thế này. Tôi muốn làm một vị thánh vĩ đại, nhưng tôi còn muốn trải nghiệm mọi cảm giác mà những người tội lỗi cảm nghiệm. Tôi muốn rút lui vào thinh lặng của cầu nguyện, nhưng tôi không muốn bỏ lỡ bất kỳ điều gì trên đời. Tôi muốn chôn mình trong vô danh sống giữa người nghèo, nhưng tôi cũng muốn viết sách, muốn người ta biết đến, muốn đi đây đó, gặp mọi người và làm những việc thú vị. Đó là những điều mà ngài đã phải đấu tranh, cũng như chúng ta vậy, nhưng cuối cùng, ngài đã tìm được cách để chỉ muốn một điều.

Ngài làm bằng cách nào, làm sao bất chấp tất cả mọi chuyện này, ngài đã trở nên một vị thánh ? Ngài làm được nhờ sự chân thật khiêm hạ không bao giờ chối bỏ những đấu tranh vật lộn của mình. Ngài làm được như thế nhờ ngài chấp nhận sự phức tạp của mình, bằng cách quỳ gối trong những lời cầu nguyện bất lực, khi sức của ngài không đủ, và bằng cách để người nghèo yêu mến mình. Và ngài làm như thế bằng cách chia sẻ những vết thương của mình với mọi người, bằng cách tìm sự giúp đỡ của chuyên gia khi suy sụp, bằng cách học lấy từ mọi nỗi đau, ám ảnh và đau lòng, rằng, đến tận cùng, trái tim chúng ta mạnh hơn những vết thương và vì thế chúng ta có thể giữ được những cam kết và cuối cùng có được bình an trong phức tạp, cám dỗ và đấu tranh.

Chắc chắn các vị thánh thời xưa đã có những đấu tranh của riêng họ khi cố gắng chỉ muốn một điều, cố gắng dẫn truyền sinh lực bất kham của họ và phó mình trong tay Thiên Chúa. Tuy nhiên, những câu chuyện chúng ta nghe về cuộc sống các ngài lại có khuynh hướng làm nổi bật những nhân đức hơn là đấu tranh. Ví dụ Mẹ Têrêxa cũng là vị thánh của thời đại chúng ta, là vị thánh đã tạo nhiều cảm hứng tích cực. Với nhiều người chúng ta, cuộc đời và nhân đức của Mẹ dường như quá xa vời với những đấu tranh rối ren và trần tục của chúng ta, đến nỗi chúng ta xem Mẹ như một vị thánh để ngưỡng mộ chứ không phải để noi gương. Dĩ nhiên như thế là không đúng. Mẹ cũng có những đấu tranh, và là đấu tranh cực lớn. Nhưng khi kể lại chuyện đời của Mẹ, những đấu tranh đó lại không thường được nêu bật.

Câu chuyện của linh mục Henri Nouwen và các tác phẩm của ngài, lại nêu bật những đấu tranh, chứ không chỉ nhân đức và sự khôn ngoan của ngài. Biết được sự trần tục trong những đấu tranh của ngài, có thể gây nên ấn tượng rằng nơi ngài có ít điều đáng ngưỡng mộ hơn Mẹ Têrêxa. Có lẽ thế. Nhưng, nơi cha Nouwen, chúng ta thấy một người mà chúng ta dễ noi gương hơn.

Đôi mắt của tình yêu

Chúng ta hình dung một cặp say sưa yêu nhau trong thời gian đầu; một người tân tòng yêu mến Chúa, cầu nguyện đến xuất thần; một thanh niên lòng đầy lý tưởng, làm việc không mệt mỏi vì người nghèo, lòng bừng bừng vì khao khát công bằng. Hai bạn trẻ đó có yêu nhau thực sự không? Người tân tòng đó có yêu Chúa thực sự không? Nhà hoạt động xã hội trẻ có có thật sự yêu người nghèo không? Đó là những câu hỏi không dễ để trả lời.

Khi có cảm giác yêu là chúng ta thật sự đang yêu ai? Yêu người khác? Yêu bản thân? Yêu mẫu hình và sinh lực nơi những người khác? Yêu ảo tưởng của chúng ta về người đó? Hay là yêu cái cảm giác mà trải nghiệm đó khơi lên trong chúng ta? Khi yêu, chúng ta thật sự yêu người khác hay chỉ đắm mình trong một cảm giác tuyệt vời vốn có thể dễ dàng được vô số người khơi lên?

Có những câu trả lời khác nhau cho câu hỏi này. Thánh Gioan Thánh Giá nói tình yêu là tất cả những điều này, là chúng ta thật sự yêu người đó, yêu ảo tưởng của chúng ta về người đó, và đắm mình trong cảm giác vui thích mà chuyện này khơi gợi lên trong lòng chúng ta. Chính vì thế, một chuyện luôn xảy ra là, đến một lúc nào đó trong mối quan hệ, những cảm giác yêu nồng nàn mạnh mẽ nhường chỗ cho vỡ mộng – và theo định nghĩa, “vỡ mộng” là xóa tan những ảo tưởng, mộng tưởng sai lầm, những gì không có thật. Với Thánh Gioan Thánh Giá, khi chúng ta yêu, thì một phần tình yêu đó là thật, và một phần là ảo tưởng. Hơn nữa, ngài nói điều này cũng đúng với những cảm giác sốt sắng ban đầu của chúng ta khi cầu nguyện và làm những việc hảo tâm. Có sự trộn lẫn cả hai, cả tình yêu chân thực và ảo tưởng.

Một vài phân tích khác lại không nương tay đến thế. Nhiều phân tích xác định rằng mọi tình yêu ban đầu của chúng ta, dù là với người khác, với Thiên Chúa khi cầu nguyện, với người nghèo trong việc phục vụ, chủ yếu đều là ảo tưởng. Xét cho cùng, chúng ta yêu chuyện được yêu, yêu những gì lời cầu nguyện làm cho ta, hoặc là yêu cảm giác chúng ta có được khi làm việc vì công bằng. Người khác, Thiên Chúa và người nghèo, chỉ là điều thứ yếu. Chính vì thế, chuyện thường xảy ra là khi lửa mến ban đầu nguội đi, thì tình yêu của chúng ta dành cho đối tượng cũng lạnh dần. Khi ảo tưởng chết đi, thì cảm thức yêu cũng thế. Chúng ta yêu mà không thật sự hiểu người kia, và chúng ta hết yêu mà cũng không thật sự hiểu người kia. “Bắt đầu yêu” trong tiếng Anh là “fall in love” (tiếng Việt là rơi vào lưới tình, là phải lòng) và nó nói lên nhiều điều. “Fall/ngã” không phải là điều chúng ta quyết định mà điều xảy đến với chúng ta. Linh đạo về hôn nhân có một khẩu hiệu rất sáng suốt: hôn nhân là lựa chọn, yêu thì không.

Ai nói đúng đây? Khi chúng ta yêu, bao nhiêu phần là tình yêu đích thực và bao nhiêu phần là ảo tưởng, vốn thật sự chỉ là chúng ta đang yêu chính mình? Nhà thơ người Mỹ Steven Levine trả lời câu hỏi này từ một góc nhìn khác và soi rọi nhận định mới về vấn đề này.

Ông nói rằng, tình yêu không phải là “cảm xúc đối ngẫu”. Với ông, mỗi khi chúng ta cảm nhận tình yêu chân thực, chính lúc đó, chúng ta cảm nhận sự đồng nhất với Thiên Chúa và vạn vật. Ông viết: “Cảm nghiệm tình yêu trỗi dậy khi chúng ta buông bỏ sự tách biệt của mình trước sự đồng nhất toàn thể. Nó là một cảm giác hợp nhất… Nó không phải là cảm giác, đúng hơn là một tình trạng hiện hữu…. Nó không phải là ‘cả hai nên một’ cho bằng ‘một mà thể hiện như hai’”. Nói cách khác, khi yêu ai đó, thì lúc ấy, chúng ta là một với người đó, không tách rời, đến nỗi dù cho những ảo tưởng và cảm giác của chúng ta chỉ nhắm vào tác động cho riêng chúng ta, nhưng luôn có đó một điều sâu sắc hơn và chân thực hơn nhiều. Chúng ta là một với người kia trong hiện hữu, và khi yêu, chúng ta cảm nhận được điều đó.

Với quan điểm này, tình yêu chân thực không phải là cái chúng ta cảm nhận cho bằng là cái mà chúng ta là. Về căn bản, tình yêu không phải là một cảm xúc gây xúc động hay một đức tính (dù chúng là những phần của tình yêu). Tình yêu là một tình trạng siêu hình, chứ không phải một thứ đến rồi đi như cảm xúc, không phải một thứ mà chúng ta có thể chọn hoặc bỏ theo tinh thần của mình. Tình trạng siêu hình là điều được trao, điều mà chúng ta tồn tại trong nó, điều mà một phần con người chúng ta cố kết dù chúng ta không nhận ra. Do đó, tình yêu, thậm chí cả cảm giác mới yêu, có thể giúp chúng ta ý thức hơn về sự không tách rời của mình, về sự thống nhất hiện hữu của chúng ta với người khác.

Khi yêu đậm sâu hay nồng nhiệt, có lẽ (như lời Thomas Merton mô tả một thị kiến cha thấy ở một góc đường) chúng ta có thể tỉnh hơn khỏi mộng ảo tách biệt và ảo tưởng khác biệt để thấy được vẻ đẹp và chiều sâu nơi tâm hồn người khác. Có lẽ nó cũng sẽ cho chúng ta thấy được người khác, thấy được phần mà cả tội, dục vọng hay sự tự tri đều không vươn dến được, phần cốt lõi hiện thực của con, là con người trong mắt Thiên Chúa.

Và thật là tuyệt vời, “nếu chúng ta có thể thấy người khác như thế suốt.” (theo lời cha Merton).

Tâm hồn chúng ta mạnh hơn những thương tích

Mười năm trước khi qua đời, cha Henri Nouwen đã chịu một cơn trầm cảm gần như đánh gục ngài. Trong thời gian trị liệu, ngài đã viết một quyển sách rất hùng hồn, Tiếng nói bên trong của tình yêu (The Inner Voice of Love), trong đó, ngài khiêm nhượng và thẳng thắn chia sẻ những đấu tranh và nỗ lực của mình để vượt qua căn bệnh trầm cảm. Nhiều lúc, ngài cảm thấy không chịu nổi những nỗi đau và ám ảnh của mình đến mức gần như bị nhận chìm, bị sụp đổ, và những lúc như thế, ngài chỉ biết khóc. Dù cho cuối cùng ngài đã tìm lại được sức mạnh nội tâm và sức bật kiên cường, sẵn sàng trở lại cuộc sống với sinh lực được tân tạo. Khi nói về những gì ngài đã học được trong sự sụp đổ nội tâm và sự phục hồi của mình, ngài đã viết rằng, đến tận cùng, tâm hồn chúng ta mạnh hơn những vết thương của chúng ta.

Đấy là một lời khẳng định từ một chân lý phải gian khổ mới ngộ ra, nhưng liệu nó có luôn đúng? Tâm hồn chúng ta luôn mạnh hơn những vết thương của chúng ta sao? Chúng ta luôn có những nguồn lực trong mình để thắng vượt những thương tích của mình sao?

Có lúc đúng như thế, như trong trường hợp của cha Nouwen, nhưng có lúc lại không, như chúng ta đã chứng kiến nơi cuộc sống tan vỡ của biết bao nhiêu người. Có lúc dường như thương tích mạnh hơn tâm hồn. Tôi có một ví dụ thấm thía của trường hợp này: Trong bài hát Tôi mơ có một giấc mơ (I Dreamed a Dream) của vở nhạc kịch lừng danh Những người khốn khổ, có một dòng đầy đau buồn, bi thương, ám ảnh. Câu chuyện trong vở Những người khốn khổ được dựa trên tiểu thuyết cùng tên của văn hào Pháp Victor Hugo, kể một loạt câu chuyện về cách sự nghèo khổ và áp bức có thể làm tan nát cõi lòng, suy sụp sức sống và hủy hoại cuộc đời của người nghèo đến như thế nào. Fantine, một nhân vật trong truyện, một người mẹ đơn thân, bị phụ tình và quả tim tan nát. Cô cũng phải vật lộn để nuôi đứa con gái, vật lộn với công việc và điều kiện làm việc đã dần dần hủy hoại sức khỏe cô, vật lộn với sự quấy rối tình dục từ ông chủ vốn tích tụ dần và dẫn đến chuyện cô bị đuổi việc một cách bất công. Có lúc, mọi chuyện quá sức chịu đựng, cô đã sụp đổ, và trong lúc hấp hối, cô đã hát một bài từ biệt với những lời nói lên rằng tâm hồn chúng ta không phải lúc nào cũng mạnh hơn những thương tích, đôi khi có những cơn bão không thể chống nổi. Đôi khi tâm hồn không thể chống nổi cơn bão và sụp đổ trước sức nặng của những thương tích.

Ai nói đúng, cha Nouwen hay Fantine? Tôi cho là cả hai đều đúng, dựa trên hoàn cảnh, sức khỏe nội tâm và nguồn lực cảm xúc của mỗi người. Như câu ngạn ngữ: Cái gì không giết được ta sẽ làm ta mạnh hơn!

Đúng là thế, với điều kiện nó không giết ta. Đáng buồn thay, có những lúc nó lại giết ta thật. Tôi cho rằng tất cả những ai đang đọc bài này đều đã từng mắt thấy tai nghe một người chúng ta quen biết hay yêu thương đã bị sụp đổ và chết, hoặc tự sát hoặc sụp đổ theo kiểu khác, do cuộc sống tan nát, con tim tan nát, tâm thần tan nát, do một thương tích mạnh hơn tâm hồn của họ.

Do đó, khi nhìn vào hai khẳng định đối lập nhau này, chúng ta cần thêm một sự thật nữa có thể thêm một sự thật có thể bao hàm cả hai. Ơn Chúa, sự tha thứ, và tình yêu thì mạnh hơn những thương tích, sụp đổ, thất bại và cái dường như là tuyệt vọng của chúng ta.

Có lúc, khi đấu tranh, chúng ta có thể tìm được sức mạnh nội tại chôn sâu dưới những thương tích của mình, và nó cho chúng ta có thể vươn lên, vượt qua những thương tích, trở lại với sự lành mạnh, sức mạnh và tinh thần hăng hái nhiệt tình. Tuy nhiên, có lúc những vết thương của chúng ta làm tê liệt tâm hồn và chúng ta không thể nào đến được với sức mạnh ẩn sâu trong lòng mình. Trong đời này, sự tan nát đó có thể bị cảm nhận như là sự sụp đổ tối hậu, một nỗi đau buồn không thể chữa lành, một tuyệt vọng, một cuộc đời vứt đi. Tuy nhiên, bất kỳ lúc nào hoàn cảnh cay đắng và sự mỏng manh tinh thần ập đến cùng lúc, khi nào tâm hồn chúng ta không còn mạnh hơn những thương tích, chúng ta đều có thể nương ẩn nơi một chân lý sâu sắc ơn, một sự an ủi thâm sâu hơn, cụ thể là sức mạnh nơi trái tim Thiên Chúa. Ơn Chúa, sự tha thứ, và tình yêu thì mạnh hơn những thương tích, sụp đổ, thất bại và cái dường như là tuyệt vọng của chúng ta.

Điều khiến đức tin kitô khác với các tôn giáo khác (cũng như khác với các phúc âm thịnh vượng) chính là kitô giáo là một tôn giáo của ơn sủng chứ không phải của nỗ lực tự thân (dù cho nó cũng có tầm quan trọng). Là người tín hữu kitô, chúng ta không cần phải tự cứu rỗi mình, không cần phải tự lực cứu vớt cuộc sống mình. Thật sự là không một ai cần làm thế. Như thánh Phaolô đã nói rõ trong thư gửi tín hữu Rôma, không một ai trong chúng ta tự cứu vớt cuộc sống mình bằng chính sức mình. Điều này cũng đúng khi muốn thắng vượt những thương tích của mình. Tất cả chúng ta đều có những lúc yếu đuối và sụp đổ. Tuy nhiên, chính lúc này đây, chính khi cơn bão đè bẹp chúng ta, khi chúng ta tìm sức mạnh để đương cự cơn bão nhưng rồi chỉ để thấy rằng cơn bão mạnh hơn chúng ta, chính lúc như thế, chúng ta cần tìm tìm sâu hơn nữa và sẽ thấy được rằng trái tim của Thiên Chúa mạnh hơn những vỡ nát của chúng ta.

Cội rễ của những xung đột và khác biệt

Vì sao những người chân thành lại thường thấy mình không hợp với những người khác? Vấn đề ở đây không phải là do sự chân thành gặp phải sự thiếu chân thành hay dối trá. Không phải thế. Vấn đề là tại sao những người chân thành, kính sợ Thiên Chúa lại có thể thấy mình cực kỳ lạc lõng với những người khác.

Trong tự thuật của tác giả Hy Lạp Nikos Kazantzakis có một đoạn rất thú vị, mang một ý nghĩa khai mở sâu xa hơn hẳn những gì chúng ta cảm được khi mới đọc qua. Khi bình luận về thần thoại Hy Lạp và nhiều xung đột giữa các thần, Kazantzakis viết như sau: “Các anh hùng trong những bi kịch Hy Lạp cổ đại chẳng khác gì những tay của thần Dionysus vung tán loạn tự đánh vào nhau. Chúng đánh vào nhau vì chúng là những mảnh rời. Mỗi mảnh chỉ đại diện cho một phần của thần tính, chúng chẳng phải là một vị thần toàn vẹn. Dionysus, vị thần toàn vẹn, vẫn đứng vững ở trọng tâm câu chuyện và kiểm soát sự ra đời, phát triển và những gay cấn của câu chuyện. Với những khán giả đã giác ngộ, tay chân tán loạn của Dionysus, dù đánh lẫn nhau, nhưng đã được kín đáo hợp nhất và hòa giải với Dionysus. Chúng tạo thành thân thể toàn vẹn của Dionysus và tạo nên sự hòa hợp”.

Trong thần thoại Hy Lạp, thần Dionysus toàn vẹn chứa mọi mảnh thần tính vốn phân tán và hiện thân cụ thể trong các thần và con người khác nhau. Trong Dionysus, có sự hòa hợp, mọi thứ đều ăn khớp với nhau, nhưng bên ngoài bản thân thần thì các mảnh thần tính đa dạng vật lộn và đương cự lẫn nhau, luôn mãi căng thẳng và tranh giành quyền lực.

Đấy là một hình ảnh ẩn dụ có thể soi rọi nhiều thứ. Một trong số đó có thể giúp chúng ta hiểu được cội rễ của nhiều xung đột giữa những người chân thành và tại sao lại có nhiều khác biệt về tôn giáo như thế.

Nguyên do nào làm cho con người xung khắc nhau, dù họ không thiếu chân thành hay phạm tội, dù họ đều là những người lương thiện và kính sợ Thiên Chúa? Ngày nay, chúng ta nói về các khác biệt hệ tư tưởng, lịch sử, chính trị, câu chuyện cuộc đời để giải thích lý do vì sao người chân thành thường nhìn thế giới một cách khác biệt và không tương hợp với người khác. Chúng ta có cả một hệ thống để giải thích chuyện này. Tuy nhiên, tôi không chắc hệ thống đó (dù có đủ thứ biện luận đi nữa) có thể nắm bắt được cốt lõi của vấn đề này một cách rõ ràng bằng ẩn dụ thần thoại Hy Lạp nói trên. Xét cho cùng, chẳng phải chúng ta đều nắm lấy mảnh thần tính của mình và biến nó thành khởi đầu cũng như cùng đích mọi sự, chẳng hề chấp nhận rằng những người chiến đấu với chúng ta, họ cũng có một mảnh thần tính, và chúng ta đang lấy thần để đấu với thần đó sao?

Xét đến tận cùng gốc rễ, chẳng phải đó chính là cái nền tảng cho căng thẳng giữa “bảo thủ” và “tự do”, giữa linh hồn và tinh thần, giữa trí óc với quả tim, giữa già và trẻ, giữa thân xác và linh hồn, giữa mọi thứ nhị nguyên khác đang chia rẽ chúng ta hay sao? Chẳng phải mỗi một người chúng ta đều có một mảnh thần tính đích thực và vì chẳng biết Thiên Chúa toàn vẹn là thế nào, nên chúng ta biến mảnh thần tính của mình thành lăng kính cho tất cả mọi sự hay sao?

Chúng ta không phải là những “khán giả đã giác ngộ” như lời Kazantzakis, những người đã thấy được vị thần toàn vẹn để thấy rằng mọi mảnh đó xét cho cùng đều hòa hợp với nhau. Chính vì thế mà chúng ta cứ luôn mãi bất hòa.

Cũng có thể rút từ hình ảnh này để có bài học về cách chúng ta nhìn nhận các tôn giáo khác. Khoảng năm 200, giáo phụ Clement thành Alexandria đã viết quyển sách với tựa đề Stromata, một từ Hy Lạp nghĩa là “phân tán”. Ý niệm của ngài (được trình bày cẩn thận theo lăng kính kitô giáo của ngài) là Thiên Chúa, dù được biểu lộ nơi Chúa Giêsu Kitô, nhưng cũng được “phân tán” nơi các tôn giáo khác và nơi tự nhiên. Ý của Thánh Clement cơ bản là, có những mảnh của Thiên Chúa nằm rải rác khắp nơi, dù cho ngài không nói rõ cách những mảnh riêng rẽ thần tính này thường hay xung khắc nhau.

Gần đây, linh mục Raimondo Panikkar (qua đời năm 2010), một trong những bình luận gia lớn về thế giới tôn giáo, đã nhắc lại về ý niệm Thiên Chúa “phân tán” và áp dụng vào thế giới tôn giáo. Theo cha, những gì kitô giáo thấy có nơi Ba Ngôi, thật ra cũng đã được nhiều người thuộc các tôn giáo khác cảm nghiệm phần nào. Ví dụ như, một vài tín ngưỡng như Phật giáo chẳng hạn, tập trung vào cảm nghiệm kinh ngạc, kính sợ, phụ thuộc và tự lu mờ khi đối diện với “Thượng đế”. Với Panikkar, đây là những tôn giáo “Thiên Chúa là Cha”. Một vài đức tin khác, nhất là kitô giáo và cả do thái giáo, hồi giáo, đều nhấn mạnh rất rõ về “Thiên Chúa là Cha”, nhưng Thánh kinh của ba tôn giáo này và các tín ngưỡng khác lại có một nguyên lý nhập thể, một “Đức Kitô”. Chắc chắn một số tôn giáo như Đạo giáo và Ấn giáo tập trung nhiều hơn vào trải nghiệm tinh thần, vào một “Thánh Linh”. Vì chúng ta, mỗi tôn giáo, mỗi người, đều nhấn mạnh một chiều kích nhất định của Thiên Chúa, nên chẳng có gì ngạc nhiên khi dù chúng ta đều chân thành, nhưng lại chẳng hợp nhau.

Và chính vì thế, nên chúng ta, những người kính sợ Thiên Chúa, lại thường không tương hợp nhau, nhưng cũng tốt khi biết và công nhận rằng một Thiên Chúa “toàn vẹn” đang đứng vô hình giữa trung tâm những xung khắc của chúng ta, nhìn những chân tay tán loạn của Ngài đấu đá nhau nhưng biết rằng đến tận cùng tất cả những mảnh phân tán này sẽ lại được hợp nhất trong hòa hợp.

Loại bỏ căng thẳng trong cộng đồng

Bất cứ năng lượng nào chúng ta không chuyển hóa thì chúng ta sẽ truyền đi. Tôi nghe câu này lần đầu tiên là từ linh mục Dòng Phanxicô, Richard Rohr, nói lên một thách thức trọng tâm cho mọi người trưởng thành. Còn đây là một cách nói kitô giáo cho câu đó:

Trọng tâm để hiểu được cách Chúa Giêsu cứu rỗi chúng ta chính là nắm được sự thật của câu này: Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa xóa tội trần gian. Chúng ta được cứu rỗi qua đau khổ của Chúa Giêsu như thế nào? Rõ ràng, đấy là một ẩn dụ. Chúa Giêsu không phải là con chiên, nên chúng ta cần phải thấy được hiện thực ẩn sau ẩn dụ đó. Điều gì khiến thế hệ các tín hữu kitô tiên khởi dùng hình ảnh con chiên chịu nạn để giải thích việc Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta và cách Chúa Giêsu xóa tội chúng ta? Có một món nợ của tội lỗi mà chỉ có thống khổ của Thiên Chúa mới xóa được hay sao? Sự tha thứ cho tội lỗi chúng ta là một tương giao thiêng liêng, riêng tư giữa Thiên Chúa và Chúa Giêsu hay sao?

Những câu hỏi này không dễ trả lời, nhưng có thể nói như sau: dù cho một phần chuyện này là mầu nhiệm, nhưng không phải tất cả đều là phép mầu. Phải thừa nhận là trong chuyện này có mầu nhiệm, có gì đó vượt quá những gì chúng ta có thể giải thích bằng suy nghĩ lý tính, nhưng không có phép mầu nào ở đây cả. Những chân lý thâm sâu nằm ngoài năng lực lý tính của chúng ta không phủ định lý tính của chúng ta, mà chỉ thay thế chúng, tương tự như cách mà thuyết tương đối của Enstein làm cho toán học trung học thu nhỏ lại. Do đó, khi chấp nhận những mầu nhiệm, chúng ta có thể thấy ra gì từ ẩn dụ Chúa Kitô là Chiên Thiên Chúa xóa tội trần gian? Hơn nữa, điều này còn đem lại thách thức gì cho chúng ta?

Đây là bối cảnh lịch sử của hình ảnh này. Vào thời Chúa Giêsu, trong Do Thái giáo, có một số nghi lễ đền tội (hòa giải) xoay quanh con chiên. Chiên được sát tế trong đền thờ như của lễ dâng Thiên Chúa để đền tội chúng ta, và một số chiên được dùng làm con chiên gánh tội. Nghi lễ con chiên gánh tội như thế này. Một cộng đồng quy tụ lại để thực hành nghi lễ xóa đi căng thẳng tồn tại trong cộng đồng vì những yếu đuối và tội lỗi của họ. Theo nghi lễ, họ sẽ trút căng thẳng và tội lỗi của mình lên con chiên (và nó trở thành vật gánh tội), và con chiên này mang hai biểu tượng, là một vòng gai trên đầu (khiến nó thấy đau đớn) và một tấm vải tím khoác trên lưng (biểu trưng cho trách nhiệm phải gánh tội cho tất cả). Họ còn đuổi con chiên ra khỏi đền thờ, ra khỏi thành phố, đuổi nó vào hoang địa để chết. Ý niệm của chuyện này là khi đổ đau đớn và tội lỗi lên con chiên, rồi đuổi nó vĩnh viễn ra khỏi cộng đồng, thì đau đớn và tội lỗi của họ cũng được đem đi, tan biến đi khi con chiên chết đi.

Thật dễ để thấy vì sao người ta dễ liên tưởng đến hình ảnh này sau cái chết của Chúa Giêsu. Nhìn vào tình yêu Chúa Giêsu dành cho chúng ta trong cuộc khổ nạn và cái chết, thế hệ tín hữu kitô tiên khởi đã đồng nhất điều này với con chiên gánh tội. Chúa Giêsu chính là con chiên gánh tội của chúng ta. Chúng ta đặt đau đớn và tội lỗi của mình lên Ngài, rồi đuổi Ngài ra khỏi cộng đồng, để Ngài phải chết. Tội lỗi của chúng ta ra đi cùng với Ngài.

Ngoại trừ một điều, là các tín hữu kitô tiên khởi không xem đây là hành động thần thông kiểu Thiên Chúa tha tội cho chúng ta vì Chúa Giêsu đã chết. Không. Tội của họ không được cất đi khi Chúa Giêsu đã làm vừa lòng Chúa Cha. Tội được cất đi vì Chúa Giêsu đã hút lấy và biến đổi chúng, cũng như cách bộ lọc lấy đi chất bẩn, chất độc khỏi nước khi hút lấy nước vậy.

Máy lọc nước hoạt động như sau, nó lấy nước nhiễm bẩn, nhiễm độc, nhưng giữ chất bẩn lại trong mình và chỉ cho ra nước sạch. Chúa Giêsu cũng vậy. Ngài nhận lấy thù hận, giữ trong mình, biến đổi nó và trả lại yêu thương. Ngài nhận lấy cay đắng và trả lại qua lòng độ lượng, nhận lấy nguyền rủa và trả lại phúc lành, nhận lấy ghen tương và trả lại khen ngợi, nhận lấy sự giết người và trả lại sự tha thứ. Thật vậy, Ngài nhận lấy hết mọi sự là nguồn gây căng thẳng trong cộng đồng, giữ trong mình và trả lại là bình an cho tất cả. Do đó, Ngài đã xóa tội của chúng ta, không phải bằng phép thần thông nào nhưng bằng cách hấp thụ, ăn lấy chúng, trở thành con chiên gánh tội của chúng ta.

Hơn nữa, như triết gia Kierkegaard từng diễn tả, việc Chúa Giêsu làm không phải là điều chúng ta nên ngưỡng mộ, mà là điều chúng ta cần noi gương. Nhà thần học Anh giáo N.T. Wright, trong quyển sách gần đây Biển chỉ dẫn bị vỡ (Broken Signposts) đã tóm lại thách thức đó như sau: “Dù chúng ta có hiểu hay không, dù chúng ta có thích hay không – mà hầu hết chúng ta chẳng và sẽ không hiểu, không thích – thì tình yêu không chỉ đối diện với hiểu lầm, thù địch, ngờ vực, âm mưu và cuối cùng là bạo lực giết người, mà còn hút lấy mọi đòn tấn công của sự dữ tối hậu vào mình, hấp thụ hết sức mạnh của nó. …Bởi vì tình yêu nhận lấy những gì tồi tệ nhất mà cái ác có thể gây ra, hấp thụ nó, và đánh bại nó”.

Những gì chúng ta không biến đổi thì chúng ta sẽ truyền đi. Đây là chân lý thâm sâu về cách chúng ta phải làm để loại bỏ căng thẳng trong gia đình, cộng đồng, giáo hội và xã hội.

Sức mạnh của nét đẹp

Thế giới sẽ được cứu rỗi bởi vẻ đẹp! Fyodor Dostoyevsky đã viết như thế, Dorothy Day đã trích lại câu đó, và nhiều thế kỷ trước thời Chúa Giêsu, Khổng Tử cũng lấy đó làm trọng tâm cho lời dạy của mình. Họ có lý. Vẻ đẹp là một ngôn ngữ đặc biệt xuyên thấu nhiều và gạt bỏ mọi thứ chia rẽ chúng ta, từ lịch sử, chủng tộc, ngôn ngữ, tín điều, hệ tư tưởng, chính trị, kinh tế, giới tính, tính dục và những tổn thương riêng. Vẻ đẹp làm tan chảy mọi khác biệt. Tuyên ngôn của vẻ đẹp, cũng hệt như tuyên ngôn của một trẻ sơ sinh, chẳng có lời lẽ rõ ràng, nhưng nó là ngôn từ quá hoàn hảo đến nỗi chỉ có thể bị vẩn đục khi người ta tự làm bậy lên mình. Trên đời này có hai chuyện không thể đem ra tranh cãi, đó là vẻ đẹp và em bé. Cả hai đều không thể tự vệ, sự bảo vệ duy nhất của cả hai là chính sự yếu đuối.

Trong triết học kinh điển Tây phương, vẻ đẹp được xem là một trong những đặc tính siêu việt của hiện hữu, và do đó, nó là một đặc tính của Thiên Chúa. Người ta nhận thức Thiên Chúa có bốn phẩm chất siêu việt, cụ thể là Duy nhất, Chân, Thiện, Mỹ. Do đó, vẻ đẹp mang trong mình đặc tính thiêng liêng thần thánh. Các nghệ sĩ và tất cả những ai nhạy cảm với mỹ học đều luôn công nhận điều này, không hẳn bằng cách khẳng định rõ ràng, vẻ đẹp là đặc tính của Thiên Chúa, nhưng bằng cách công nhận có đặc tính thần thiêng trong vẻ đẹp, và họ cảm thấy có “sự phạm thượng” mỗi khi vẻ đẹp bị biến dạng cũng như cảm nhận được sinh lực sáng tạo như một đấng thần thiêng.

Như chúng ta biết, vẻ đẹp có nhiều dạng. Ai trong chúng ta chưa hề cảm nhận được sức mạnh đến choáng váng của vẻ đẹp thể lý? Ai lại chưa sững sờ trước vẻ đẹp của buổi hoàng hôn, của đại dương, rặng núi, những vì sao và ánh trăng rằm, hoang mạc, bão tố, một cái cây, cảnh tuyết rơi, cơn mưa phùn, một con vật hoang dã, một tác phẩm kiến trúc, một cơ thể con người? Vẻ đẹp thể lý tự nó nói lên tất cả. Chẳng thể nào tranh cãi về nó và cũng chẳng thể chê bai nó bằng cách viện đến điều gì đó tâm linh hơn cao cả hơn. Nó chân thực đễn nỗi không thể giải thích nổi, và do đó cần được công nhận, xác nhận và chúc phúc.

Với hầu hết chúng ta, khi nghe đến từ “vẻ đẹp”, liền nghĩ ngay đến vẻ đẹp thể lý. Dù vẻ đẹp đó rất thực, mạnh mẽ và có thể làm lay động trái tim, nhưng còn có những dạng vẻ đẹp khác cũng mạnh mẽ và có sức biến đổi như thế. Tôi không biết phải nói như thế nào cho chuẩn điều tôi định diễn đạt, nên xin lượng thứ cho tôi nếu diễn đạt của tôi ngớ ngẩn và không chuyên cho lắm, nhưng chúng ta cần và có thể nói về vẻ đẹp trong phạm vi tinh thần và cảm xúc. Có cái mà chúng ta có thể gọi là vẻ đẹp cảm xúc hoặc vẻ đẹp tinh thần.

Vẻ đẹp cảm xúc không phải là vẻ đẹp của buổi hoàng hôn hay một bức tranh vĩ đại, nhưng là vẻ đẹp của một biểu đạt đặc biệt của tình yêu, cảm thông, nhân hậu, mà chúng ta đã từng may mắn chứng kiến. Ví dụ, chúng ta có thể sững sờ khi thấy cảnh giải cứu kỳ diệu một em bé, khi thấy một con vật đang tuyệt vọng được cứu thoát, khi hai vợ chồng nắm tay nhau trìu mến, hay khi nghe về phản ứng hào phóng của cộng đồng trước lời kêu gọi giúp đỡ một gia đình nghèo. Cũng như với vẻ đẹp thể lý, trong những điều này cũng có đặc tính thần thiêng, có một điều gì đó mà thậm chí con người thô lỗ nhất cũng không dám mạo phạm. Tuy nhiên, bất kỳ lúc nào liên quan đến cảm xúc, thì luôn có nguy cơ đa cảm không lành mạnh, thế nhưng bất chấp nguy cơ đó, cảm xúc của chúng ta, cũng như đôi mắt, chính là cửa ngỏ đến với vẻ đẹp.

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, còn có vẻ đẹp tinh thần, vẻ đẹp của linh hồn. Ví dụ dễ thấy, đó là tử đạo và mọi dạng tình yêu hy sinh khác cho những ước nguyện, khát khao và sự sống của mình vì một điều gì đó cao cả hơn. Dù chuyện này không phải lúc nào cũng tạo ra một thể xác đẹp, nhưng nó lại tạo ra một linh hồn đẹp. Khi khẳng định điều này, tôi không nghĩ ngay đến những bậc tử vì đạo đã từ bỏ mạng sống của mình thay vì từ bỏ đức tin, hay thậm chí là những những người như Mohandas Gandhi, Albert Schweitzer, Martin Luther King, Dorothy Day, Maximillian Kolbe, Oscar Romero, và nhiều người khác ngày nay đang hy sinh tính mạng mình vì tha nhân. Có những ví dụ rất hùng hồn về vẻ đẹp tinh thần, nhưng nhiều người chúng ta có thể tận mắt thấy được chúng ngay trong gia đình và bạn bè mình. Ví dụ như, tôi nhìn vào cha mẹ tôi, những người dành gần như cả đời hy sinh để chăm sóc cho một gia đình đông con, nhất là cung cấp cho gia đình cái còn quan trọng hơn của ăn của mặc, cụ thể là đức tin và sự hướng dẫn tinh thần. Có vẻ đẹp tinh thần trong sự hy sinh của họ, dù cho có lúc trong thời này, với các tiêu chuẩn của Hollywood, cha mẹ tôi có vẻ là những người hốc hác hơn là đẹp. Nhưng mà, vẻ đẹp tinh thần được cân đo bằng một tiêu chuẩn khác. Như tôi đã nói, trong chuyện này, chúng ta cũng cần phải cẩn trọng: trong khi vẻ đẹp cảm xúc kèm theo nguy cơ đa cảm ủy mị, thì vẻ đẹp tinh thần cũng kèm theo nguy cơ cuồng tín. Những kẻ cuồng tín, giết người hàng loạt, cũng tập trung cao độ về tinh thần. Tinh thần, luân lý, như mọi thứ khác, có thể bị lầm lạc.

Thế giới sẽ được cứu rỗi bằng vẻ đẹp! Đúng là thế, nhưng tôi lại muốn dùng thì hiện tại, thế giới đang được cứu rỗi bởi vẻ đẹp.

Chiều kích vũ trụ của sự phục sinh

Một nhà phê bình từng hỏi linh mục thần học gia Pierre Teilhard de Chardin như thế này: “Cha đang cố làm gì thế? Sao cha lại nói về nguyên tử và phân tử lúc nói về Chúa Giêsu Kitô?” Câu trả lời của ngài: Tôi đang cố diễn đạt một cách có hệ thống một Kitô học đủ rộng để có thể nói đến Đức Kitô, bởi Đức Kitô không chỉ là một sự kiện của nhân loại mà là một hiện tượng toàn vũ trụ.

Về căn bản, ý của cha là Đức Kitô không chỉ đến để cứu rỗi nhân loại, Ngài đến để cứu rỗi cả địa cầu nữa.

Thấu suốt này thật sự cần thiết để hiểu trọn những hàm ý trong sự phục sinh của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã từ cõi chết sống lại. Thân xác là một hữu thể vật chất, nên khi thân xác (chứ không chỉ linh hồn) sống lại, thì có gì đó cao hơn thuần tâm linh và tâm lý. Có một điều gì đó cực kỳ vật chất trong chuyện này. Khi xác chết sống lại, các phân tử và nguyên tử được sắp đặt lại. Sự phục sinh không chỉ là sự thay đổi gì đó bên trong ý thức của con người.

Sự phục sinh là căn cứ cho niềm hy vọng của con người, không có nó, chúng ta không thể hy vọng vào một tương lai có gì đó vượt ngoài những giới hạn ngột ngạt của đời này. Trong sự phục sinh của Chúa Giêsu, chúng ta được trao ban một tương lai mới, vượt quá cuộc đời này của chúng ta. Tuy nhiên, sự phục sinh cũng đem lại một tương lai mới cho trái đất, cho hành tinh vật chất của chúng ta. Đức Kitô đến để cứu rỗi địa cầu, chứ không chỉ những người sống trên địa cầu. Sự phục sinh của Ngài bảo đảm một tương lai mới cho địa cầu cũng như những loài cư ngụ trên đó.

Cũng như chúng ta, địa cầu này cần được cứu rỗi. Cứu rỗi khỏi cái gì? Để hướng đến điều gì?

Theo nhận thức Kitô giáo đúng đắn, địa cầu không chỉ là sân khấu cho nhân loại, không chỉ là một thứ nếu không có chúng ta, nếu chỉ có nó, thì vô giá trị. Như nhân loại, nó cũng là tác phẩm của Thiên Chúa, là con của Thiên Chúa. Thật vậy, trái đất vật chất là mẹ của chúng ta, là ma trận nảy sinh chúng ta. Xét tận cùng, chúng ta không tách biệt với thế giới tự nhiên, nói đúng hơn, chúng ta là một phần của thế giới tự nhiên tự ý thức. Chúng ta không tách biệt với địa cầu và nó không chỉ tồn tại vì lợi ích của chúng ta, không chỉ là sân khấu cho diễn viên con người rồi bị bỏ không khi vở kịch đã hết. Thụ tạo vật chất có giá trị của nó, không phụ thuộc vào chúng ta. Chúng ta cần phải công nhận điều này, và không phải chỉ để sống có đạo đức với thiên nhiên hơn hầu cho địa cầu có thể tiếp tục cung cấp không khí, nước và thức ăn cho các thế hệ con người mai sau. Chúng ta cần công nhận giá trị cố hữu của địa cầu. Nó cũng là tác phẩm của Thiên Chúa, nó là mẹ của chúng ta, và số mệnh của nó là chia sẻ sự vĩnh hằng cùng chúng ta.

Hơn nữa, như chúng ta, nó cũng là thứ sẽ bị mục rữa. Nó cũng có giới hạn thời gian, cũng khả tử. Nếu không có sự can thiệp từ bên ngoài, nó cũng không có tương lai. Khoa học từ lâu đã dạy chúng ta về định luật biến thiên. Nói đơn giản, định luật đó nói rằng năng lượng trong vũ trụ đang giảm dần, mặt trời đang ngày càng cạn lửa. Tuổi đời còn lại của trái đất, cũng như tuổi đời của chúng ta là đếm được, là hữu hạn. Có thể là cả tỷ tỷ năm, nhưng đếm được là hữu hạn. Chúng ta biết rằng, cũng như cuộc đời chúng ta rồi sẽ đến lúc kết thúc, thì địa cầu cũng có hồi kết. Nếu không có sự tái tạo từ bên ngoài, thì cả trái đất lẫn con người sống trên nó đều không có tương lai.

Thánh Phaolô đã nói rõ điều này trong thư gửi tín hữu Rôma, rằng thụ tạo, vũ trụ vật chất, là thứ phù du, và nó đang rên rỉ khát khao được giải phóng để tận hưởng sự tự do vinh quang của con cái Thiên Chúa. Thánh Phaolô cam đoan với chúng ta rằng địa cầu sẽ hưởng cùng một tương lai như nhân loại, là sự phục sinh, sự biến đổi vượt quá hình dung hiện thời của chúng ta, một tương lai vô tận.

Địa cầu sẽ được biến đổi cách nào? Nó sẽ biến đổi theo cùng một cách như chúng ta, qua sự phục sinh. Sự phục sinh đem lại cho thế giới tâm linh và vật chất của chúng ta một sức mạnh mới, một sắp đặt mới cho vạn vật, một hy vọng mới, một thứ quá căn nguyên (và vật chất) đến nỗi chỉ có thể so sánh với sự tạo dựng ban đầu, khi các nguyên tử và phân tử của vũ trụ này được Thiên Chúa tạo ra từ hư không. Trong sự tạo dựng khởi nguyên đó, tự nhiên được hình thành, và hiện thực cũng như những quy luật của nó hình thành mọi sự cho đến khi Chúa Giêsu phục sinh.

Tuy nhiên, trong sự phục sinh, có một chuyện mới xảy ra chạm đến mọi khía cạnh của vũ trụ, từ linh hồn và tâm thần trong mọi con người cho đến mọi lõi của mọi nguyên tử và phân tử. Không phải tình cờ khi thế giới xác định thời gian theo mốc đó. Chúng ta đang ở năm 2021 sau sự tái tạo tận căn đó.

Sự phục sinh không chỉ mang tính tâm linh. Trong sự phục sinh, các nguyên tử vật chất của vũ trụ được sắp đặt lại. Cha Teilhard đã đúng. Chúng ta cần một tầm nhìn đủ rộng để thấy được chiều kích vũ trụ của Đức Kitô. Sự phục sinh là cho con người và cho cả địa cầu.

Yêu cuộc đời của mình là lành mạnh

Với những người có đức tin, họ có một quan niệm rằng nếu chúng ta có đức tin sâu đậm thì sẽ dễ dàng từ bỏ mọi sự thế gian, xem thế gian là phù du, không bám víu vào điều gì và chết một cách thanh thản hơn. Nhưng không phải như thế. Nghĩ như thế là ngây thơ, ít nhất là thường như vậy.

James Hillman có viết: Chúng ta không dễ dàng từ bỏ ngai vàng cũng như động lực đưa ta lên ngai đó. Dù điều này rõ ràng là đúng, nhưng nó xuất phát từ cái tôi của con người hơn là từ đức tin. Cho phép tôi trích dẫn thêm một câu nữa. Tiểu thuyết gia và triết gia lừng danh Iris Murdoch đã giáng thẳng sự thật này vào chúng ta. Một người lính bình thường thường chết mà không sợ hãi, nhưng Chúa Giêsu thì chết với sự sợ hãi.

Chuyện này cũng đúng với cái chết của cha tôi. Cha tôi là một người có đức tin sâu đậm, sống cả cuộc đời làm chứng nhân. Ông qua đời năm 62 tuổi, nhưng đó không phải là giờ lâm tử nhẹ nhàng. Ông buồn vô hạn khi nằm trên giường bệnh, dùng thuốc giảm đau để chờ đến lúc vĩnh biệt chúng tôi. Nỗi buồn và nỗi sợ của ông chẳng liên quan gì đến chuyện sợ đời sau, sợ những gì đang chờ ông ở thế giới bên kia. Ông buồn và sợ là do phải từ bỏ đời này, phải chết đi trước những phong phú đời này. Ông buồn vì sắp chết, vì phải từ biệt vợ con, cháu chắt, bạn bè, cộng đoàn, sức khỏe và đủ mọi thứ ông đã vui hưởng ở đời này. Ông chết trong đức tin, nhưng đó không phải là giờ lâm tử nhẹ nhàng.

Nếu đọc kỹ Kinh Thánh, chúng ta sẽ thấy Chúa Giêsu cũng thế. Ngài không nhẹ nhàng đón nhận cái chết, không phải vì Ngài sợ những gì đang chờ đón mình ở thế giới bên kia, mà là vì, như cha tôi, Ngài rất yêu đời này. Chúng ta thấy rõ sự đấu tranh của Chúa Giêsu trong vườn Giếtsêmani. Kinh Thánh cho chúng ta biết, khi đối diện với cái chết, Ngài đã “đổ mồ hôi máu” và nài xin Cha cho Ngài cách để thoát khỏi cái chết này. Chúng ta thường ngây thơ tin rằng Chúa Giêsu sợ là sợ nỗi đau thể xác đang chờ Ngài, sợ đòn roi và đinh sắt, nhưng thật sự trong Kinh Thánh không nói như vậy. Ngài đổ mồ hôi máu trong vườn, không phải nơi đấu trường. Theo khuôn mẫu văn học, vườn là chốn của tình yêu. Chính Chúa Giêsu, một người yêu chứ không phải đấu sĩ, đã đổ mồ hôi máu. Nỗi sợ chết của Ngài phát xuất từ tình yêu, yêu cuộc đời, chính cuộc đời này.

Thần học gia Dòng Tên, Michael Buckley, đã viết một bài so sánh Chúa Giêsu với triết gia cổ đại Socrate, một nghiên cứu thuần túy về sự ưu tú của con người. Ngạc nhiên thay, khi chỉ xét về sự ưu tú của con người, Chúa Giêsu dường như lại kém hơn Socrate. Trong bài đó, có một câu rất thấm thía.

Socrate chết với sự bình thản và đĩnh đạc. Ông chấp nhận phán quyết của tòa, giảng một bài về những khả thể khác có được nhờ cái chết và những biểu hiện biện chứng của sự bất tử, ông không thấy có lý do gì để sợ, ông uống thuốc độc và chết. Chúa Giêsu thì ngược lại hẳn. Chúa Giêsu gần như cuồng hoảng vì kinh hãi và sợ hãi, “kêu lớn, khóc than xin được cứu khỏi cái chết”. Ngài liên tục tìm đến các bạn của mình để kiếm sự an ủi, và cầu nguyện xin được thoát khỏi cái chết, nhưng chẳng tìm được gì… Tôi đã từng nghĩ điều này là vì Socrate và Chúa Giêsu chịu hai cái chết khác nhau, một cái quá kinh khủng hơn cái kia, đau đớn thống khổ của thập giá thì hơn xa lọ thuốc độc… Nhưng bây giờ tôi nghĩ Chúa Giêsu là người yếu đuối hơn hẳn Socrate, nhạy cảm ơn với nỗi đau và yếu đuối thể xác, nhạy cảm hơn với sự chối bỏ và khinh bỉ của con người, nhạy cảm hơn với tình yêu và thù hận. Socrate chưa từng đổ lệ cho thành Athens mà. Chúa Giêsu là một con người, quá con người.

Trong nhật ký của ông, triết gia Soren Kierkegaard từng thú nhận, ông đã rùng mình trước suy nghĩ phải chết ở đời này, chết đi với cuộc sống bình thường này: Tôi mê làm con người, tôi không đủ can đảm để làm cho linh hồn mãnh liệt như thế. Tôi vẫn quá mê được thấy niềm vui nhân sinh đơn thuần của những người khác trong đời, một điều mà tôi thấy rõ hơn người thường, vì tôi có đôi mắt của thi sĩ để nhìn cho kỹ.

Một trong những biểu hiện sớm của trầm cảm, chính là mất đi sự sôi nổi trong đời, mất đi ý thức về niềm vui cá nhân và từ đó xuất hiện sự xa cách, cụ thể là có thể buông bỏ hết mọi sự từng đã cho chúng ta sinh lực, ý nghĩa và niềm vui. Nhìn bề ngoài, nó có thể là tốt về mặt tôn giáo. Thật tuyệt vời, ông ấy đã không bám dính cuộc đời đến thế! Tuy nhiên, không nên nhầm lẫn sự thánh thiện với trầm cảm, đức tin với sự buông bỏ cảm xúc.

Nếu bạn lành mạnh về mặt tâm linh, thì đừng ngạc nhiên nếu bạn như Chúa Giêsu, đổ mồ hôi máu khi đối diện cái chết dưới bất kỳ hình thức nào, nhất là khi bạn yêu cuộc đời này.

Một kết hợp lạ kỳ

Một trong những vị thánh yêu thích của Dorothy Day là thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, vị thánh mà chúng ta gọi là “Bông hoa nhỏ”. Thoạt nhìn qua, đây có thể là một liên kết kỳ lạ. Dorothy Day là nhà hoạt động triệt để vì công lý, đã đi biểu tình, bị bắt, vào tù, lập một cộng đoàn và tờ báo Công nhân Công giáo để phục vụ người nghèo. Còn Têrêxa Hài Đồng Giêsu là nữ tu chiêm niệm, ẩn mình trong tu viện kín đáo ở một thị trấn nhỏ nước Pháp. Thật sự là, suốt cuộc đời mình, trừ chuyến hành hương ngắn đến Rôma cùng gia đình và giáo xứ, thánh Têrêxa chưa hề rời khỏi thị trấn nhỏ của mình, và đến khi qua đời, những người quen biết ngài có lẽ chưa đến 200 người. Hơn nữa, trong những bài viết của mình, thánh nữ hiếm có những lời ngôn sứ nào nói về công bằng xã hội. Thánh nữ viết như một nhà thần nghiệm, tập trung vào đời sống nội tâm và sự mật thiết của chúng ta với Chúa Giêsu. Đấy đâu hẳn là những tố chất của người ra đường biểu tình. Vậy tại sao, Dorothy Day, một người có vẻ khác biệt, lại có sự đồng cảm với một nữ tu ẩn dật trẻ tuổi như thế?

Dorothy Day ham thích linh đạo của thánh Têrêxa là vì bà thấu hiểu nó vượt trên những hiểu lầm thông thường. Trong tất cả các thánh, Têrêxa Hài Đồng Giêsu nổi lên như một trong những thánh được yêu mến nhất và cũng là một thánh bị hiểu lầm nhiều nhất mọi thời đại, và tầm đại chúng của ngài là một trong những nguyên nhân gây ra chuyện đó. Lòng sùng mến bình dân thường hay tối giản thái quá đã phủ bóng trên linh đạo và nhân cách của ngài, che mất đi chiều sâu thật sự của ngài. Thánh Têrêxa gọi linh đạo của mình là “con đường nhỏ”. Và lòng mộ đạo bình dân chủ yếu cho rằng “con đường nhỏ” là một linh đạo mời gọi chúng ta sống lặng lẽ, khiêm nhường, đơn sơ, vô danh, làm mọi việc một cách vô danh, nhất là làm những công việc khiêm hạ bằng lòng trung thành và nhân hậu, không tự cho mình là giỏi, sống như em bé, tạ ơn Chúa vì đã được tham gia phục vụ. Dù hiểu như thế phần lớn là đúng, nhưng nó lại thiếu mất đi phần nào linh đạo và nhân cách của thánh Têrêxa.

Để hiểu “con đường nhỏ” của thánh Têrêxa và mối liên kết của nó với công lý dành cho người nghèo, chúng ta cần hiểu vài điều trong cuộc sống của thánh nữ vốn giúp tạo nên một tầm nhìn ẩn sau “con đường nhỏ” của ngài.

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu có một tuổi thơ rất phức tạp. Một mặt, cuộc sống của ngài bị hằn dấu bởi những nỗi buồn sâu sắc, cụ thể là cái chết của mẹ năm Têrêxa mới bốn tuổi và những cơn bạo bệnh làm cho Têrêxa nhiều lần suýt mất mạng. Mặt khác, ngài có một tuổi thơ thật đẹp. Ngài lớn lên trong một gia đình đầy những vị thánh, những người yêu thương và trân trọng mọi niềm vui nỗi buồn của ngài. Ngài cũng là một cô bé xinh xắn, đầy sức hút, lại vô cùng dễ thương với sự nồng hậu và nhạy cảm của mình. Gia đình ngài và mọi người quanh ngài đều xem ngài là đặc biệt và quý báu. Ngài được yêu thương rất nhiều, nhưng nó không làm ngài hư. Chúng ta không bao giờ bị hư vì được yêu thương quá nhiều, chỉ hư vì bị thương sai cách thôi. Cả nhà đều yêu thương ngài, và kết quả là cô gái trẻ này mở rộng tâm hồn và con người mình với thế giới theo một cách thật phi thường.

Hơn nữa, khi trưởng thành, ngài bắt đầu để ý thấy một điều. Ngài để ý thấy khi ngài còn nhỏ, mọi giọt nước mắt của ngài đều được chú ý, trân trọng, nhưng nhiều người khác lại không được vậy. Ngài nhận ra rằng vô số người đang chịu những nỗi đau xé lòng, bất công, bạo hành, sỉ nhục, phải sống trong tủi hổ, khóc mà chẳng ai thấy chẳng ai quan tâm. Những nỗi đau của họ không được nhìn thấy và trân trọng. Từ thấu suốt này, ngài trình bày nó ra như nền tảng cho “con đường nhỏ” của mình.

Ngài viết thế này: Một ngày Chúa nhật nọ, khi nhìn lên hình Chúa chịu nạn, tôi sững sờ trước dòng máu chảy ra từ tay chí thánh. Tôi cảm thấy buồn vô hạn khi nghĩ rằng máu này rơi vãi xuống đất mà chẳng có ai ở đó để hứng lấy. Tôi quyết tâm đứng dưới chân thập giá mà đón lấy… Tôi không muốn máu châu báu này mất đi. Tôi sẽ dành cả đời để hứng lấy nó cho các linh hồn.

Từ đây, chúng ta thấy được rằng “con đường nhỏ” không phải là về lòng đạo đức riêng, mà là về việc chú ý và đáp lời với nỗi đau và nước mắt trên đời. Nói một cách ẩn dụ, “con đường nhỏ” là “hứng lấy” máu đổ ra từ gương mặt đau đớn của Chúa Kitô, gương mặt đang hiện diện trên thế giới này nơi những người nghèo, những người đau đớn và khóc than vì bất công, nghèo đói, thiếu tình yêu và không được xem trọng.

Dorothy Day ra đường cùng người nghèo, để tâm đến những giọt máu của họ, lau khô nước mắt cho họ, cố hết sức để quy tụ họ. Thánh Têrêxa cũng làm thế theo cách thần nghiệm, sâu bên trong thân thể Chúa Kitô. Thế nên, không có gì ngạc nhiên khi Dorythy Day nhận Têrêxa Hài Đồng Giêsu làm thánh bổn mạng.

Đưa bí mật của chúng ta ra ánh sáng như thế nào

Bạn bệnh hoạn cũng như bí mật không lành mạnh nhất của bạn! Đúng là câu thành ngữ quá khôn ngoan. Cái bệnh hoạn trong chúng ta vẫn cứ mãi bệnh hoạn, trừ khi chúng ta phơi bày nó ra với người khác và phơi bày ra ánh sáng. Bao lâu còn là bí mật, thì nó còn là thứ bệnh hoạn. Tuy nhiên, có lẽ vấn đề không nằm ở những gì chúng ta giữ bí mật, nhưng ở sự việc chúng ta giữ bí mật. Có lẽ bệnh hoạn chính là bí mật, chứ không phải những gì chúng ta xem là bệnh hoạn.

Chúng ta tất cả đều có những đấu tranh dằn vặt, và chúng ta có thể tạ ơn Chúa vì điều đó. Hình ảnh của Chúa trong chúng ta không đơn thuần là một biểu tượng đẹp đẽ được ghi khắc vào tâm hồn. Mà nó thật ra là một ngọn lửa thần thiêng, vô độ, thao túng chúng ta. Theo bản chất, chúng ta có những phức cảm vốn khó mà hài lòng với con người chúng ta thích hình dung về mình. Chúng ta đều có những ảo tưởng hoang dại và ám ảnh tối tăm. Nếu những mơ mộng hão huyền của chúng ta bị tiết lộ, chúng hẳn sẽ phơi bày rằng chúng ta đều là những kẻ nuôi dưỡng ảo tưởng tự đại, thù hận, bao biện, cũng như cho thấy chúng ta bị kìm kẹp trong những ám ảnh cảm xúc và tình dục đủ loại. Trong mơ mộng hão huyền của mình, chúng ta có những thứ mà chúng ta xấu hổ không dám nói ra. Chúng ta đều nuôi dưỡng những ảo tưởng hoang dại, trần tục, tự đại và ái kỷ. Vậy nên chúng ta giấu diếm chúng và xử lý chúng bằng cách xem chúng là bệnh hoạn hoặc bằng cách chối bỏ chúng.

Chúng ta xem những ảo tưởng của mình là bệnh hoạn khi chúng ta thấy nó là thứ chỉ có mình chúng ta vướng phải, một thứ bệnh hoạn đáng xấu hổ và chỉ có mình chúng ta chịu. Nó là một thứ mà chúng ta không bao giờ muốn người khác biết. Và kết quả là, những ảo tưởng và ám ảnh của chúng ta trở thành một thứ đáng xấu hổ, một bí mật đen tối, một thứ bệnh hoạn trong con người bình thường của chúng ta.

Một chọn lựa khác là chối bỏ. Chúng ta có thể chủ tâm chối bỏ rằng chúng ta từng có những suy nghĩ và cảm giác đó. Sự chối bỏ cho chúng ta thoát khỏi cảm giác hổ thẹn, nhưng cuối cùng, chúng ta lại phải trả một cái giá khác. Chối bỏ suy nghĩ và cảm giác của bản thân cũng gần giống như sống trên tầng trệt của một ngôi nhà và nếu có rác rến hay bất kỳ thứ gì mà chúng ta chẳng muốn xử lý thì cứ việc ném xuống tầng hầm rồi đóng cửa lại. Miễn là chúng ta khỏi thấy nó, khỏi nghĩ đến nó là được. Dù chỉ trong một thời gian. Khi đẩy đống rác đó vào tầng hầm, đâu có nghĩa là nó tan biến không còn tồn tại nữa. Đến cuối cùng, nó sẽ lên men chua, và phun khí ga độc hại qua những ống thông hơi lên lại tầng trên và làm nhiễm độc không khí chúng ta hít thở.

Tuy nhiên, đây cũng là điểm mấu chốt, những khát khao, ám ảnh và sự tự đại phức tạp trong linh hồn chúng ta không phải là thứ bệnh hoạn, cũng không phải là thứ chúng ta cần chối bỏ. Linh hồn chúng ta, dù vô cùng hoang dại, nhưng không bệnh hoạn. Vấn đề là chúng ta chưa hiểu thấu phần thâm sâu hơn trong linh hồn mình, phần tăm tối của mình, và thế là chúng ta tin rằng ở đó có gì đó bệnh hoạn, nhưng chính việc giấu kín nó mới thực sự là bệnh hoạn.

Bóng tối của chúng ta là gì? Nền văn học phổ biến đã cho chúng ta một khái niệm một chiều về thứ tạo nên bóng tối của chúng ta. Theo quan niệm phổ biến, bóng tối của chúng ta là nơi tối tăm, đáng sợ, một hoang mạc nội tâm mà chúng ta bằng mọi giá không vào, là những con quái vật nội tâm mà chúng ta chủ tâm muốn tránh né. Dù nhiều lúc chúng ta cảm thấy sợ như thế khi đối diện với bóng tối của mình, nhưng bóng tối của chúng ta hoàn toàn không phải là thứ tăm tối. Ngược lại mới đúng.

Bóng tối của chúng ta hình thành như thế này. Khi một đứa bé ra đời. Nó rạng ngời, cởi mở và ý thức vô cùng, mở đôi mắt nhìn quanh và nuốt lấy hiện thực. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, đứa bé chưa biết suy nghĩ vì nó thiếu cái tôi và do đó thiếu ý thức về bản thân. Để hình thành cái tôi và có ý thức về bản thân, đứa bé phải có những sự co rút tâm thần lớn lao, mỗi lần như thế đóng chặt nó khỏi một phần ánh sáng rạng ngời của nó. Trước hết, mới đầu, nó phân biệt bản thân nó là gì và người khác là gì, nó hiểu mình không phải là mẹ mình. Rồi chẳng mấy chốc, nó biết phân biệt giữa vật sống và vật không sống, con cún con thì sống, hòn đá thì không. Rồi sau đó, nó bắt đầu phân biệt thể xác và tâm trí, thể xác thì cứng cáp, tư tưởng thì khác. Cuối cùng, và đây là phần thiết yếu để tạo thành bóng tối của chúng ta, đến thời điểm nào đó, đứa bé sẽ có sự phân biệt giữa cái nó có thể ý thức đương đầu trong lòng nó và cái quá áp đảo đến nỗi nó không thể ý thức đương đầu. Và khi đó, nó tạo nên bóng tối bằng cách tách một phần lớn ánh sáng của mình (chính là hình ảnh giống Thiên Chúa trong bản thân) khỏi nhận thức chủ tâm của nó. Hãy nhớ rằng, bóng tối của chúng ta được tạo nên từ ánh sáng chứ không phải từ sự tối tăm trong lòng. Điều này đã được bà Marianne Williamson viết ra rất hay trong một câu mà về sau Nelson Mandela trích lại trong diễn văn nhậm chức, “cái ta sợ là chính ánh sáng, chứ không phải bóng tối của mình”. Trong một người lành mạnh, những bí mật tối tăm nhất thường giấu những thứ bắt nguồn từ ánh sáng cực đại, từ sinh lực thần thiêng, khát khao vô hạn và sự vĩ đại như của Chúa vốn ở sẵn trong chúng ta. Khi đưa chúng ra ánh sáng, thì chúng ta sẽ thấy chúng chẳng tăm tối cũng không bệnh hoạn. Không đưa chúng ra ánh sáng mới chính là bệnh hoạn.

Lời mời gọi đến với cái cao đẹp hơn

Năm 1986, tiểu thuyết gia người Czech, Ivan Klima, đã xuất bản một loạt bài tự thuật với tựa đề, Những mối tình đầu của tôi (My First Loves). Những bài này mô tả một số đấu tranh đạo đức khi ông còn là thanh niên theo thuyết bất khả tri đang tìm kiếm câu trả lời mà không có một khung luân lý rõ ràng để tạo khuôn khổ cho những đấu tranh đó. Thời đó, ông là một thanh niên đầy đam mê tình dục nhưng ngập ngừng không dám hăng hái về tình dục, mà thời đó, những người đồng lứa với ông dường như chẳng dè dặt đến thế. Đến giờ ông vẫn sống độc thân, nhưng không rõ vì sao, chắc chắn không phải vì lý do tôn giáo rồi, vì ông là người theo thuyết bất khả tri. Tại sao ông lại sống như vậy? Ông đang sống có trách nhiệm hay đơn giản chỉ là ông quá căng thẳng và thiếu táo bạo?

Ông cũng không chắc và đã tự hỏi mình: nếu tôi chết và có Thiên Chúa rồi tôi gặp Thiên Chúa, thì Ngài sẽ nói gì với tôi? Thiên Chúa có trừng phạt tôi vì đã căng thẳng hay Ngài sẽ khen ngợi tôi vì đã đưa sự cô tịch của mình lên một tầm cao hơn? Thiên Chúa sẽ thất vọng về tôi hay sẽ chúc mừng tôi vì đã đi hành trình cuộc đời mà không cần sự khuây khỏa?

Khi viết quyển sách này, Klima chẳng biết câu trả lời cho câu hỏi đó. Ông không chắc Thiên Chúa sẽ nói gì với ông và liệu có lúc nào Thiên Chúa mỉm cười hoặc cau mày về ông không. Dù câu trả lời có thế nào, tôi nghĩ rằng ở đây có một bài học học sâu sắc, là cách Klima tạo khuôn khổ cho lựa chọn luân lý của mình. Với ông, đây không phải là vấn đề phạm tội hay không, nhưng là vấn đề xử lý sự cô tịch và căng thẳng sao cho tạo nên sự cao đẹp của linh hồn. Mới nhìn qua, dĩ nhiên, nó có vẻ là một việc vị kỷ, bởi vì cố gắng trở nên đặc biệt cũng có thể tạo nên một sự kiêu ngạo đầy tính phán xét. Tuy nhiên, sự cao đẹp thật sự của linh hồn không phải là thứ nỗ lực vì bản thân nó, nhưng là một thứ nỗ lực vì sự tốt đẹp của tha nhân. Một người cao đẹp không cố trở nên tốt đẹp để tách tầm bản thân so với người khác. Một người cao đẹp thì cố gắng sống tốt để tạo nên một ngọn hải đăng dẫn đường cho sự ổn định, tôn trọng, nhân hậu và khiết tịnh cho những người khác.

Tôi tin rằng, đây có thể là xuất phát điểm thứ hai cho thần học luân lý và linh đạo luân lý. Xuất phát điểm đầu tiên dĩ nhiên là căn bản hơn. Nó tập trung vào việc giữ Mười Điều răn, và hầu hết bắt đầu với một lời cảnh báo tiêu cực “ngươi chớ…” Ở mức độ căn bản, thần học luân lý và linh đạo luân lý rất đồng nhất với đạo đức học, là xác định đúng sai, có tội hay không có tội. Tuy nhiên, giữ Mười Điều răn và xác định cái gì có tội hoặc không, dù là một nỗ lực quan trọng tiên quyết và không thể du di, nhưng chỉ là căn cứ thiết yếu cho thần học và linh đạo luân lý mà thôi, hệt như số học căn bản là căn cứ thiết yếu cho toán học cao cấp vậy. Khi đã đạt được căn cứ thiết yếu đó, thì nhiệm vụ thật sự mới bắt đầu, là đấu tranh để nhân hậu hơn, là mặc lấy trái tim của Chúa Kitô, là trở thành một thánh nhân để tạo một thế giới tốt đẹp hơn cho tha nhân.

Cho tôi mạo muội đưa ra một ví dụ trần tục để minh họa điều này. Lúc tôi là chủng sinh học về thần học luân lý, một hôm nọ chúng tôi được kiểm tra với những câu hỏi khác nhau về luân lý tình dục. Có câu hỏi rằng thủ dâm có tội hay không có tội. Nó có phải là rối loạn cố hữu hay không? Nó là tội trọng hay chỉ là tội rất nhẹ? Chúng ta có thể nói gì về vấn đề này về mặt đạo đức?

Sau khi cân nhắc các ý kiến khác nhau của các học viên, giáo sư đã trả lời rằng: “Tôi không nghĩ vấn đề quan trọng là liệu hành động này có phải là tội hay không. Có một cách tốt hơn để tạo khuôn khổ cho nó. Ý kiến của tôi về vấn đề này như sau: Tôi không đồng ý với ai nói đây là tội nặng, nhưng cũng không đồng ý với ai nói rằng chuyện này chẳng có vấn đề gì về đạo đức. Vấn đề ở đây không hẳn là chuyện nó có phải là tội hay không, mà là vấn đề, chúng ta muốn xử lý sự căng thẳng này ở mức độ nào, theo kiểu thỏa hiệp hay theo kiểu anh hùng. Trước vấn đề này, tôi cần tự vấn rằng, tôi muốn thực hiện sự cô tịch ở mức độ nào? Linh hồn tôi có thể cao đẹp đến mức nào? Tôi có thể chấp nhận xử lý sự căng thẳng này để tạo nên một cộng đoàn trong sạch hơn trong thân thể Chúa Kitô hay không?”

Ở mức độ thứ hai này, thần học và linh đạo luân lý không còn là mệnh lệnh mà là một lời mời, mời gọi chúng ta đến với sự cao đẹp hơn nữa của linh hồn vì thế giới này. Tôi có thể nhân hậu hơn không? Tôi có thể bớt nhỏ nhen không? Tôi có thể chịu đựng sự căng thẳng mà không xoa dịu nó? Tôi có thể tha thứ nhiều hơn không? Tôi có thể yêu thương một người khác biệt với tôi về tính khí và hệ tư tưởng không? Tôi có thể làm thánh không? Các thánh không nghĩ nhiều về chuyện việc gì là tội và việc gì không. Đúng hơn, các ngài nghĩ: việc gì yêu thương hơn? Việc gì cao thượng hơn và việc gì nhỏ nhen hơn? Việc gì phục vụ thế giới tốt hơn?

Trong Tin mừng nhất lãm, Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng bằng từ “Metanoia”, một từ ngụ ý rộng hơn nhiều so với bản dịch “sám hối”. Metanoia là một lời mời gọi chúng ta hãy có một ý thức cao hơn, một tấm lòng cao thượng hơn, bỏ đi những hoang tưởng, nhỏ nhen và tự đại.

Tính đế quốc chủ nghĩa của linh hồn con người

Trong tự thuật của mình, nhà văn Nikos Kazantzakis chia sẻ, trong thời trai trẻ, ông được thúc đẩy bởi một sự khắc khoải bồn chồn khiến ông tìm kiếm một điều gì đó mà ông không bao giờ xác định được. Tuy nhiên, ông đã làm nguôi được sự bất an phần nào trong lòng nhờ chấp nhận, do bản tính của linh hồn, ông phải cảm nhận sự khắc khoải đó, và rằng một linh hồn lành mạnh là một linh hồn đầy thao thức. Ông đã viết về chuyện đó như thế này: “Trên đời này, không thứ gì nặng tính chủ nghĩa đế quốc hơn linh hồn con người. Nó chiếm đóng và bị chiếm đóng, nhưng luôn thấy đế chế của mình vẫn còn quá nhỏ chưa đủ thỏa mãn. Nó thấy ngột ngạt, khao khát chinh phục thế giới để được hít thở một cách tự do”.

Tôi nghĩ chúng ta cần cho phép mình chấp nhận cái tính đế quốc chủ nghĩa (cái tính luôn muốn xông ra, muốn chiếm lấy mọi thứ) mà chính Chúa đặt trong lòng chúng ta, dù cho phải luôn luôn cẩn thận không được xem nhẹ sức mạnh và ý nghĩa của nó. Nhưng đây là một chuyện thật sự gây nhiều căng thẳng. Làm sao để chúng ta thấy ổn với tính đế quốc chủ nghĩa trong linh hồn mình mà không cần phải khinh dễ sinh lực thần thiêng thổi bùng lên đế quốc chủ nghĩa đó? Với tôi, đây chính là một cuộc đấu tranh.

Tôi lớn lên giữa những đồng cỏ Canada rộng mênh mông xa tít tận chân trời. Về mặt địa lý, một nơi như thế cho linh hồn con người được mở rộng ra, nhưng trái lại, thế giới của tôi lại quá nhỏ bé để linh hồn tôi đủ dưỡng khí hít thở. Tôi lớn lên trong một cộng đồng chặt chẽ ở một vùng quê hẻo lánh, đủ nhỏ để mọi người ai cũng quen biết nhau. Chuyện đó thật tuyệt vời, vì nó như một cái kén ấm áp thân tình, nhưng dường như chính cái kén đó tách biệt tôi với thế giới rộng lớn, một nơi có lẽ tâm trí và linh hồn non trẻ của tôi có thể được tự do hít thở thoải mái ở một không gian rộng lớn hơn. Hơn nữa, lớn lên trong sự nhạy cảm về đạo đức và tôn giáo, tôi cảm thấy tội lỗi về sự thao thức của mình, như thể nó là một thứ bất thường mà tôi cần phải che giấu.

Và mang trong mình tình trạng như thế, năm 18 tuổi, tôi bước vào đời sống tu trì. Tập viện thời đó rất nghiêm ngặt và biệt lập. Chúng tôi chỉ có 18 tập sinh, ở ẩn trong một chủng viện cũ nằm ở bên này bờ hồ, cách xa thị trấn và xa lộ. Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng xe cộ và thấy cuộc sống ở phía bên kia hồ, nhưng không hề tham gia vào đó. Hầu hết mọi chuyện trong cuộc sống ẩn dật của chúng tôi tập trung vào chuyện thiêng liêng nên kể cả những khát khao trần tục nhất của chúng tôi cũng gắn liền với sự đói khát Thiên Chúa và mong mỏi bánh hằng sống. Sống được như thế chẳng dễ dàng gì, nhất là với một thiếu niên.

Một hôm nọ, có một linh mục đến thăm, và cha đã cho linh hồn tôi được phép giải tỏa sự ngột ngạt, được phép hít thở. Cha quy tụ 18 tập sinh chúng tôi vào một phòng học, và bắt đầu buổi thảo luận bằng câu hỏi này: “Các con có thấy hơi thao thức không?” Chúng tôi gật đầu, và khá ngạc nhiên khi cha hỏi câu đó. Cha nói tiếp, “Các con phải cảm thấy thao thức! Các con phải muốn thoát khỏi cảnh hiện tại! Sinh lực trong các con đang rất dữ dội, biết bao kích thích tố khuấy động trong máu, thế mà các con lại kẹt ở đây, đứng nhìn cuộc sống diễn ra bên kia hồ! Thỉnh thoảng, chắc các con phát điên thật! Nhưng… thế là tốt, các con phải cảm thấy như thế, và như thế là các con lành mạnh. Cứ tiếp tục như thế. Các con có thể làm được. Cảm thấy thao thức là tốt”.

Ngày hôm ấy, những đồng cỏ mênh mông mà tôi đã sống cả đời và những không gian mênh mông trong linh hồn tôi đã đến với nhau, kết thân với nhau. Và tình bạn đó tiếp tục phát triển dần khi tôi học hỏi và đọc từ các tác giả đã làm bạn với linh hồn mình. Trong số đó, nhiều vị đã thực sự khiến tôi cảm kích: Thánh Âugutinô (Chúa đã tạo chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài), thánh Tôma Aquinô (Đối tượng thích đáng cho trí tuệ và ý chí của con người là Hữu thể hoàn toàn), nhà văn Iris Murdoch (Nỗi đau thâm sâu nhất của toàn nhân loại là nỗi đau của việc không thể tự biểu hiện cho đủ), thần học gia Karl Rahner (Trong nỗi giày vò của sự thiếu hụt tất cả mọi thứ có thể đạt được, đến tận cùng, chúng ta học biết rằng, trong đời này, tất cả mọi hòa âm đều phải dang dở), tác giả Sydney Callahan (Chúng ta được tạo thành để tận cùng ngủ với toàn thể thế giới, chúng ta khao khát điều đó, có tuyệt vời không nào?) và tâm lý gia James Hillman (Cả tôn giáo lẫn tâm lý học đều không thật sự tôn vinh linh hồn con người. Tôn giáo luôn mãi cố cứu rỗi linh hồn, còn tâm lý học thì luôn mãi cố khắc phục linh hồn. Linh hồn không cần được cứu rỗi hay khắc phục, nó vốn đã bất diệt rồi, nó chỉ cần được lắng nghe).

Có lẽ thời nay, cuộc đấu tranh thật sự không hẳn là chấp nhận mình được phép làm bạn với những tham vọng khắc khoải hoang dại của linh hồn. Tôi cho rằng, thời nay, cuộc đấu tranh lớn hơn, chính là đừng tầm thường hóa linh hồn, đừng biến những khát khao vô tận của nó thành thứ gì đó tầm thường.

Trong Thế chiến Thứ hai, các thần học gia Dòng Tên đã chống đối việc Phát xít chiếm đóng nước Pháp bằng cách in một tờ báo ngầm. Và dòng mở đầu tờ báo đầu tiên là: Nước Pháp, cẩn thận đừng để mất linh hồn mình. Một lời cảnh báo đúng. Linh hồn mang tính đế quốc chủ nghĩa bởi nó mang một ngọn lửa thần thiêng và nó đấu tranh để được hít thở tự do trên đời. Và chúng ta lành mạnh khi cảm nhận cùng tôn vinh sự đấu tranh đó.

Lời cầu nguyện chân thành

Gần đây, tôi có nhận được một lá thư của một phụ nữ có cuộc sống vạn phần đắng cay nuốt hết vào lòng. Trong vài tháng, cô bị chồng ly dị, bị mất việc, bị buộc phải rời khỏi ngôi nhà cô đã sống lâu nay, bị kẹt trong chỗ ở mới vì lệnh phong tỏa Covid, và bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư nan y. Thật quá sức chịu đựng. Có lúc, cô đã sụp đổ, lòng đầy tức giận và chỉ muốn bỏ cuộc. Cô hướng về Chúa Giêsu trong cay đắng: “Nếu Chúa có đó, dù chắc là không có đâu, thì Chúa biết những chuyện này chứ? Chúa có bao giờ cô đơn như thế này đâu!” Tôi nghĩ chúng ta ai cũng có những lúc như thế này. Chúa có biết những cảnh này không?

Nếu chúng ta tin vào Tin Mừng, thì Chúa Giêsu biết hết những cảnh này, không phải bởi ngài có ý thức thần thánh, nhưng bởi như người phụ nữ tôi vừa kể, Ngài biết ngay từ đầu cảnh phải đơn độc, bị gạt ra ngoài thế giới bình thường của nhân loại.

Điều này đã rõ ràng ngay từ khi Ngài ra đời. Tin Mừng nói rõ cho chúng ta biết, Mẹ Maria phải sinh Chúa Giêsu trong chuồng bò vì nhà trọ không còn chỗ. Do người chủ trọ nhẫn tâm! Tội nghiệp ông ta đã phải chịu chê trách hàng thế kỷ. Tuy nhiên, nghĩ như thế là bỏ sót điểm chính của câu chuyện và hiểu sai ý nghĩa của nó. Bài học của câu chuyện này không phải là về sự tàn nhẫn vô lương tâm ngự trị thế gian hay là thế giới quá bận tâm đến bản thân mà chẳng để ý thấy Chúa Giêsu giáng sinh, mặc dù những ý này cũng đúng. Đúng ra, điểm mấu chốt là, Chúa Kitô, được sinh ra như một kẻ ngoài lề, một kẻ nghèo hèn, một người ngay từ đầu đã không được đặt vào guồng quay chính của xã hội. Như tác giả Gil Bailie nói, Chúa Giêsu là người bị tất cả nhất trí loại trừ. Sao có thể khác được chứ?

Với con người của Chúa Giêsu, với thông điệp trọng tâm của Ngài là tin mừng cho người nghèo, và với việc Ngài đi vào cuộc sống nhân loại để trải nghiệm mọi điều trong đó, kể cả đau đớn và sỉ nhục, khi mà đáng ra Ngài có thể Ngài sinh ra trong cung điện, được nhiều hỗ trợ và tâm điểm của mọi chú ý yêu thương. Khi đồng cảnh ngộ với người nghèo, Ngài đã phải sinh “ngoài thành phố” như cách nói của tu sĩ Merton, và nó mang một ý nghĩa ẩn dụ lớn lao. Ngay từ đầu, Chúa Giêsu đã biết nỗi đau và tủi nhục của người bị loại trừ, người chẳng có chỗ trong xu thế chủ đạo trần thế.

Khi xem kỹ các Tin Mừng, chúng ta thấy, chẳng nỗi đau, về cảm xúc hay thể lý nào, mà Chúa Giêsu chưa trải qua. Có thể nói, không một ai, bất chấp nỗi đau của chính mình, có thể nói với Chúa Giêsu rằng: Ngài đâu phải trải qua những gì con đã trải qua! Chúa Giêsu đã trải qua hết rồi.

Trong những năm mục vụ, Ngài đã đối diện với chối bỏ, chế nhạo và bị đe dọa liên tục, có lúc phải trốn đi như tội phạm lẩn trốn. Ngài cũng cô độc, ngủ một mình, không có được những sự thân mật bình thường của con người, không có gia đình riêng của mình. Rồi trong cuộc thương khó và cái chết, Ngài đã trải nghiệm những nỗi đau cảm xúc và thể lý cùng cực nhất. Về cảm xúc, Ngài đã “đổ mồ hôi máu”, và về thể lý, khi chịu đóng đinh, Ngài đã trải qua nỗi đau cùng cực, sỉ nhục cùng cực mà một con người có thể gánh chịu.

Như chúng ta đã biết, đóng đinh thập giá được người La Mã dựng lên như hình phạt tử hình, nhưng họ còn nghĩ xa hơn thế nhiều. Nó được dựng lên để tạo ra đau đớn và sỉ nhục nhiều nhất có thể cho người chịu nạn. Chính vì thế mà thỉnh thoảng người ta cho người chịu đóng đinh dùng thuốc phiện, không phải để làm giảm cơn đau, nhưng để người đó không ngất đi và thoát khỏi cơn đau này. Đóng đinh cũng được dùng để sự sỉ nhục lên đến cùng cực. Và để làm thế, họ lột trần người bị đóng đinh, phơi bày bộ phận sinh dục, và trong cơn co thắt lâm tử, bộ ruột lỏng ra sẽ là sự tủi nhục cuối cùng. Một vài học giả còn cho rằng trong đêm trước khi vác thập giá, có khi Ngài còn bị binh lính xâm hại tình dục. Thật sự, không có nỗi đau hay sỉ nhục nào mà Ngài chưa gánh chịu.

Theo Kinh viện, cầu nguyện được định nghĩa là nâng tâm trí và tâm hồn lên cùng Thiên Chúa. Sẽ có những điểm chùng xuống trong cuộc đời chúng ta, khi hoàn cảnh buộc chúng ta phải nâng tâm trí và tâm hồn lên với Chúa theo một cách có vẻ đi ngược với cầu nguyện. Có lúc, chúng ta sẽ tới điểm bùng nổ, khi mà trong sự sụp đổ, giận dữ, hổ thẹn và tuyệt vọng, chúng ta nghĩ không một ai, kể cả Thiên Chúa, quan tâm đến chúng ta, chúng ta cực kỳ cô độc, và thế là, dù có ý thức hay không, chúng ta sẽ đối đầu với Chúa Giêsu qua những lời này: “Chúa biết gì về chuyện này chứ!” Và Chúa sẽ lắng nghe lời đó như một lời cầu nguyện, một tiếng kêu chân thành từ cõi lòng, hơn là một lời bất kính.