RonRolheiser,OMI

Khi chúng ta hoài nghi sức mạnh của lời cầu nguyện

Chúng ta cần cầu nguyện kể cả khi đó là việc thiếu sức sống nhất để làm. Đó là lời khuyên của linh mục triết gia Dòng Tên Michael J. Buckley về những gì chúng ta cần thách thức bản thân mỗi ngày. Khi đối diện với đời sống thực tế, lời cầu nguyện thường là việc thiếu sức sống nhất để làm. Vậy lời cầu nguyện tạo nên được khác biệt gì?

Tôi sẽ cầu nguyện cho bạn! Xin nhớ đến tôi trong lời cầu nguyện! Chúng ta luôn nói những câu này. Tôi cho là không ngày nào chúng ta không hứa cầu nguyện cho ai đó. Tuy nhiên, chúng ta có thật sự tin lời cầu nguyện của chúng ta tạo nên khác biệt không? Chúng ta thật sự tin lời cầu nguyện của chúng ta có thể chặn đứng được đại dịch, xoa dịu căng thẳng trong cộng đồng, xóa bỏ hàng thế kỷ hiểu lầm giữa các gis1o phái, chữa lành căn bệnh nan y, đưa con em chúng ta trở lại với nhà thờ, hay làm cho ai đó tha thứ cho chúng ta không? Lời cầu nguyện có thể làm gì khi chúng ta bất lực trong một hoàn cảnh nào đó?

Chúa Giêsu nói rằng có những con quỷ chỉ có thể bị xua đuổi nhờ lời cầu nguyện và chay tịnh. Tôi cho rằng, chúng ta tin câu này theo nghĩa đen như việc trừ quỷ thì dễ hơn là tin lời cầu nguyện có thể xua trừ những con quỷ trần tục như hận thù, bất công, hiểu lầm, chia rẽ, chiến tranh, kỳ thị chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc, định kiến bất dung và những chứng bệnh thể xác cũng như tâm hồn. Đây là những con quỷ thật sự đang bủa vây cuộc sống chúng ta và dù chúng ta xin Thiên Chúa giúp đỡ trong lời cầu nguyện, nhưng thường chúng ta không mấy tin tưởng lời cầu nguyện của mình sẽ tạo nên khác biệt. Sao có thể như thế?

Lịch sử lâu dài của do thái giáo và kitô giáo dạy chúng ta, Thiên Chúa không có thói quen can thiệp trực tiếp vào đời sống tự nhiên và đời sống nhân loại, ít nhất không phải theo cách mà chúng ta thấy được. Các phép lạ có xảy ra, có thể theo hàng triệu cách mà chúng ta không nhận thức được. Nhưng nếu chúng ta không thể nhìn thấy phép lạ, thì chúng có thật không?

Hiện thực có những phương thức khác. Có kinh nghiệm và thần nghiệm. Cả hai đều có thật, dù chúng ta không xem cả hai như nhau về phương diện hành động của Thiên Chúa trong lịch sử. Nếu một xác chết đội mồ sống lại (Phục sinh) hay nếu cả một dân tộc bước đi khô ráo qua Biển Đỏ (Xuất hành) thì rõ ràng đó là sự can thiệp của Thiên Chúa trong thế giới chúng ta, nhưng nếu một lãnh đạo thế giới hồi tâm chuyển ý và đột nhiên đồng cảm với người nghèo, làm sao chúng ta biết được điều gì dẫn đến chuyện này? Với mọi sự chúng ta cầu nguyện cũng vậy.

Điều gì thúc đẩy trí khôn dẫn đến việc tìm ra vắcxin cho đại dịch? Thuần túy là cơ may sao? Hay sự can thiệp từ trời cao? Ta cũng có thể đặt câu hỏi đó với hầu hết mọi điều chúng ta cầu nguyện, từ tình hình thế giới cho đến sức khỏe của mình. Nguồn nào đem lại hứng khởi, phục hồi sức khỏe, xóa tan cay đắng, biến đổi nhân tâm, giúp đem lại quyết định sáng suốt hay một cơ hội gặp ai đó khiến cả cuộc đời chúng ta tốt đẹp hơn? Cơ may thuần túy hay ngẫu nhiên tình cờ? Hay là ơn phúc và sự dẫn dắt của Chúa nhờ lời cầu nguyện, dù là của chính mình hay người khác cầu cho mình?

Tâm điểm của đức tin kitô giáo là chúng ta đều thuộc về một thân thể nhiệm mầu, Nhiệm thể Chúa Kitô. Đây không phải là cách nói ẩn dụ. Cơ thể này là một cơ thể sống, cũng thật như một cơ thể vật chất. Bên trong cơ thể vật chất, mọi phần đều ảnh hưởng đến nhau, dù tốt hay xấu. Các enzym (chất xúc tác sinh học) lành mạnh giúp cơ thể duy trì sức khỏe, còn các vi-rút không lành mạnh thì làm suy yếu cả cơ thể. Nếu đúng là thế, mà đúng là thế thật, thì cái gọi là hành động thật sự cá nhân không tồn tại. Mọi việc chúng ta làm, dù là trong tư tưởng, có tác động đến người khác và do đó tư tưởng và hành động của chúng ta hoặc enzym lành mạnh hoặc vi-rút gây hại cho người khác. Lời cầu nguyện của chúng ta là enzym lành mạnh tác động đến toàn bộ cơ thể, nhất là đến những người, những sự việc mà chúng ta hướng tới. Đây là giáo lý đức tin, chứ không phải một ý nghĩ đơn thuần.

Bà Dorothy Day từng có thời không thích Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu, nghĩ rằng tách mình vào một tu viện nhỏ và “con đường thần nghiệm nhỏ” là lòng mộ đạo ngây thơ. Về sau, khi bà Dorothy dốc sức làm những việc lớn lao cho công lý và hòa bình, nhưng bà thấy dường như chúng không thay đổi được đời sống thực tế bao nhiêu, bà đã nhận thánh Têrêxa làm quan thầy. Điều mà bà Dorothy Day nhận ra qua kinh nghiệm của mình là những hành động dường như nhỏ bé và vô ích về mặt thực dụng cho công lý và hòa bình, lại không vô ích chút nào. Dù nhỏ, nhưng chúng đã giúp mở ra một không gian, mới đầu thì nhỏ, nhưng dần dần mở rộng thành một thứ lớn hơn và có tác động hơn. Khi đưa một vài enzym bé xíu vào cơ thể của thế giới, cuối cùng Dorothy Day đã giúp thế giới lành mạnh hơn một chút.

Lời cầu nguyện là một chất kháng sinh kín đáo khó thấy, có khi dường như vô dụng, nhưng lại thật sự cần thiết.

Hai mươi năm sau ngày 11 tháng 9

Cách đây 20 năm, khi cố sức muốn hiểu biến cố 11 tháng 9, tôi đã viết bài này. Hai mươi năm trôi qua, phản ứng của tôi vẫn như vậy. Và đây là bài năm đó.

Bà Iris Murdoch, nhà văn người Ai-len-Anh từng nói, cả thế giới có thể thay đổi trong 15 giây đồng hồ. Câu đó bà nói về chuyện phải lòng yêu ai đó. Nhưng sự hận thù cũng vậy. Vào ngày 11 tháng 9, cả thế giới thay đổi. Hai máy bay chở khách bị quân khủng bố cướp và đâm vào tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới, làm cho hơn hai ngàn người thiệt mạng, các máy quay truyền hình liên tục ghi lại trực tiếp biến cố này, chiếu đi chiếu lại những thước phim sống động đến khủng khiếp. Không lâu sau, chiếc máy bay bị cướp thứ ba đâm vào Lầu Năm Góc, và chiếc thứ tư đâm xuống một cánh đồng. Ngay trong nơi được xem là an toàn nhất thế giới, hàng ngàn người vô tội đã bị giết trong vòng một tiếng đồng hồ.

Choáng váng, câm lặng, nhưng chúng ta vẫn cố nói gì đó về chuyện này. Nhiều tiếng nói trong đó đầy cứng rắn, giận dữ, đòi trả đũa và báo thù. Hầu hết những lời cất lên đều nhẹ nhàng, chỉ mong tìm một nơi an toàn, một nơi thân mật để khóc, tìm một người để ôm. Một trang mạng đã chuyển sang màn hình trắng, một cử chỉ lặng lẽ mà hùng hồn. Xét cho cùng, có thể nói gì đây?

Những dòng đầu tiên của sách Ai Ca mô tả cho chúng ta một hình ảnh đến ám ảnh như sau: “Làm sao Đô Thị dân đông đúc lại ngồi trơ, tủi nhục một mình! Xưa lệnh bà giữa muôn dân nước, nay khác chi quả phụ tội tình”.

Về sau, sách Ai Ca cho chúng ta thấy rằng có những lúc ta chỉ có thể vùi mặt trong cát và chờ đợi. Nhà thơ Rainer Marie Rilke hẳn đồng ý như thế. Đối với những thời điểm như thế này, ông khuyên chúng ta: Ôi, những tình nhân quá dịu dàng, thỉnh thoảng bước vào hơi thở của kẻ khốn khổ vốn chẳng định cho người… Đừng sợ đau khổ, hãy trả gánh nặng về cho sức nặng của địa cầu, đồi núi vốn nặng nề, biển cả vốn nặng nề mà.

Địa cầu hiểu đau đớn của chúng ta. Đôi khi, thinh lặng là tốt nhất.

Nhưng vào những lúc vừa mới xảy ra biến cố, lúc vết thương còn chưa kịp băng bó, chúng ta phải nói ra một cái gì đó. Nói gì bây giờ?

Trước hết, mỗi sinh mạng mất đi đều độc nhất vô nhị, thiêng liêng, quý báu, không thể thay thế. Không người nào trong số họ đáng phải chịu cảnh chìm trong sự vô danh giữa cảnh mất mát quá nhiều sinh mạng. Phải tôn vinh riêng từng cuộc sống và cái chết của từng người trong số họ. Và cũng phải làm thế với những người thân yêu đang đau đớn của họ.

Thứ hai, phải có những tiếng nói rõ ràng kêu gọi chúng ta, nhất là kêu gọi chính quyền, phải biết kiềm chế. Nhiều người thấy biến cố này là sự tấn công vào nền văn minh. Họ đã đúng. Như vậy thì nhiệm vụ của chúng ta là đáp lại một cách văn minh, luôn bám chặt vào niềm tin rằng bạo lực là sai trái, dù là bạo lực do tay chúng ta hay do tay người khác. Cái chúng ta thở ra cuối cùng cũng là cái chúng ta hít vào. Bạo lực thổi bùng bạo lực. Báo thù cay đắng đâu chặn đứng được chủ nghĩa khủng bố. Xả giận đâu giải quyết được vấn đề. Chúng ta không được ngây thơ về chuyện này. Và chúng ta cũng không được ngây thơ về chuyện ngược lại. Những kẻ khủng bố này đã hành động một cách coi thường sinh mạng, cho thế giới thấy rõ họ sẽ tạo nên một thế giới thế nào nếu họ đủ sức và được phép làm theo cách của họ. Phải ngăn chặn và đưa họ ra công lý. Họ là một mối đe dọa đối với thế giới, nhưng khi nỗ lực đưa họ ra trước công lý, chúng ta không chấp nhận dùng phương thức của họ, trở nên như họ, bị thúc đẩy bởi hận thù đến nỗi chẳng còn nhìn thấy công lý và sự thiêng liêng của tính mạng con người.

Không tình huống khẩn cấp nào cho phép người ta xem nhẹ những nguyên tắc căn bản của đức ái và sự tôn trọng sự sống. Thật sự là, những bi kịch khủng khiếp kêu gọi chúng ta phải làm ngược lại, là tích cực tái bén rễ vào mọi sự tốt lành và phát xuất từ Thiên Chúa, là phải lịch sự văn minh, phải dành thời gian để làm những việc hệ trọng và phải nhắn nhủ người thân của mình rằng chúng ta yêu thương họ. Nó còn kêu gọi chúng ta tìm công lý, và để làm thế cần có dũng khí và hy sinh thật sự. Chúng ta không còn ở trong thời bình thường nữa.

Trên hết, chuyện này kêu gọi chúng ta cầu nguyện. Cái chúng ta một lần nữa học được nơi biến cố 11 tháng 9 là nếu chỉ dựa vào chính mình thì chúng ta chẳng phải bất khả xâm phạm hay bất tử. Chúng ta chỉ có thể tiếp tục sống và sống trong hân hoan bình an bằng cách đặt niềm tin vào một sự cao hơn chúng ta. Chúng ta không bao giờ có thể bảo đảm an toàn và tương lai của mình. Chúng ta cần nhận thức được điều này trong lời cầu nguyện, khi quỳ gối, khi ở trong nhà thờ, mất thiết thưa với Chúa, thân gửi những người thân yêu và những người với lòng chân thành đã trở nên anh chị em chúng ta trong gia đình nhân loại.

Hơn nữa, chúng ta được kêu gọi hãy hy vọng. Chúng ta là những con người bền gan vững chí, tin vào sự sống lại. Mọi sự bị đóng đinh cuối cùng sẽ trỗi dậy. Sau đêm tối luôn là buổi bình minh. Mặt trời luôn mọc lại. Chúng ta phải sống cuộc đời mình trước những chuyện này, kể cả vào những thời điểm bi thảm.

Tôi xin kết thúc với lời của nhà thơ Rilke: Kể cả cái cây bạn trồng hồi bé cũng đã quá nặng từ lâu rồi, giờ bạn không thể nào vác nổi nó. Nhưng bạn có thể vác được cơn gió… và không gian vũ trụ.

Họ ở dưới gầm cầu Austin

Gần đây, trong một hội thảo có một bà chia sẻ lo âu về cái chết của anh bà. Ông chết vì Covid trước khi có vacxin, và đã chết vì ông đã ở trong tình trạng có nhiều nguy cơ nhiễm vi-rút. Tuy nhiên, ông có lý do đáng để làm. Là cựu quân nhân, sống một mình, ông dùng phần lớn lương hưu và tiền tiết kiệm để nấu những bữa ăn đem cho người vô gia cư sống dưới cây cầu ở quê nhà Austin bang Texas của ông.

Chắc chắn đây như một cái chết cao thượng và mang tinh thần kitô giáo, trừ việc trong cuộc đời trưởng thành của mình, ông không có một đức tin rõ ràng vào Thiên Chúa và Chúa Giêsu, ông tự cho mình theo thuyết bất khả tri (dù ông không có ác cảm gì với tôn giáo). Đơn giản là ông không tin vào Thiên Chúa và không đi nhà thờ. Em gái ông thương ông vô cùng, kính phục việc ông cho người vô gia cư ăn, nhưng lo lắng về việc ông chết mà xa cách Giáo hội và không có đức tin rõ ràng. Lo lắng của bà càng nặng hơn khi bà có một người anh khác, một tín hữu kitô cực kỳ chính thống, kiên định với niềm tin rằng chết mà xa Giáo hội thì đời đời không được ơn cứu rỗi, nói tóm lại là vào địa ngục. Linh tính mách bảo bà chuyện này không đúng. Nhưng bà vẫn lo lắng và muốn có chứng cứ đảm bảo người anh cực kỳ chính thống của mình đã sai và nỗi lo của bà về ơn cứu rỗi đời đời của anh mình chỉ là lo nhầm mà thôi.

Vậy chúng ta có thể nói gì trước chuyện này? Chúng ta có vài điều. Trước hết, Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã nhập thể và mặc khải là một Thiên Chúa chắc chắn là đối nghịch với kiểu chính thống cực đoan và nỗi sợ sai nhầm về ơn cứu rỗi này. Chính Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta, Thiên Chúa dò thấu tâm hồn chúng ta, thấy hết những phức tạp hiện sinh của nó. Một người chính thống cực đoan chỉ đọc những gì được viết trên giấy, chứ không đọc sự thiện có trong tâm hồn con người. Cũng vậy, Kinh Thánh mô tả Thiên Chúa là “một Thiên Chúa ghen tuông”. Điều này không có nghĩa là Chúa nổi giận, nổi ghen khi chúng ta bận lòng với những chuyện của mình hay khi chúng ta phản bội Ngài do yếu đuối và tội lỗi. Đúng hơn, nó có nghĩa là Thiên Chúa, như một người cha người mẹ đầy lo âu, không bao giờ muốn mất chúng ta và tìm mọi cách có thể để giữ chúng ta không lạc xa và tự làm tổn hại chính mình. Hơn nữa, trong ngôn ngữ trừu tượng của thần học hàn lâm, Thiên Chúa có ý muốn phổ quát cho ơn cứu rỗi, và như thế nghĩa là cho tất cả mọi người, kể cả người bất khả tri và vô thần.

Cụ thể hơn, Chúa Giêsu đã cho chúng ta ba cái nhìn đan xen nhau để phơi bày sự hạn hẹp của suy nghĩ chính thống cực đoan về việc ai được lên thiên đàng và ai xuống địa ngục.

Trước hết, Ngài cho chúng ta dụ ngôn về một người cha bảo hai con trai mình ra đồng. Người con cả nói sẽ không đi nhưng cuối cùng lại đi, còn người con thứ nói sẽ đi mà cuối cùng lại không đi. Ai là người con thực sự đây? Câu trả lời rõ ràng rồi, nhưng Chúa Giêsu củng cố dụ ngôn này bằng một lời nữa: Không phải ai nói “Lạy Chúa, Lạy Chúa” là được vào nước trời đâu, mà những ai thực thi ý muốn của Thiên Chúa trên đời.

Dụ ngôn này nêu bật điều mà các thần học gia (từ John Henry Newman cho đến Karl Rahner) đã cố dạy, cụ thể là, người ta có thể có một đức tin ý niệm nhưng lại là con số không nếu xét về đức tin thật. Ngược lại, người ta có thể rõ ràng phủ nhận những gì chúng ta giữ trong ý niệm đức tin của mình, nhưng lại là người sống theo những gì đức tin thực sự yêu cầu và có đức tin đích thực, bởi vì đức tin đích thực không nhất thiết được thể hiện trong ý niệm đức tin mà là trong hoa trái đời sống.

Cũng vậy, chúng ta có lời cảnh báo gây sốc của Chúa Giêsu trong sách Matthêu chương 25, về cách chúng ta sẽ được phán xét lên thiên đàng hay xuống địa ngục dựa trên việc chúng ta có phục vụ người nghèo hay không. Lời cảnh báo này không có ý, đức tin thể hiện rõ ràng và đời sống Giáo hội chẳng có ý nghĩa gì, tất nhiên chúng có tầm quan trọng của chúng, nhưng lời này là để cảnh báo có những điều còn quan trọng hơn.

Cuối cùng, và có lẽ là ý rộng nhất, là Chúa Giêsu đã cho chúng ta quyền tháo cởi và ràng buộc. Là chi thể trong Thân thể Chúa Kitô, tình yêu của chúng ta, cũng như tình yêu của Chúa Giêsu, giữ cho người thân yêu của chúng ta nối kết với cộng đồng ơn cứu rỗi. Như lời của nhà văn Gabriel Marcel, yêu ai đó là nói rằng người ấy không bao giờ mất đi. Tình thương của bà cho anh trai mình bảo đảm ông ấy không phải vào địa ngục.

Tôi muốn viết, nhưng xin mượn lời tuyệt vời của Charles Peguy, nhà thơ và nhà văn lừng danh người Pháp. Peguy từng cho rằng khi chúng ta chết và đến trước Thiên Chúa, mỗi người chúng ta sẽ được đặt câu hỏi: “Những người khác đâu?” (“Où sont les autres?”). Tôi đã bảo đảm với bà, bà không cần lo cho ơn cứu rỗi đời đời của anh mình, dù ông chết xa cách Giáo hội và không có đức tin thể hiện rõ ràng. Khi đứng trước Thiên Chúa và được Ngài đặt câu hỏi “Những người khác đâu?”, hẳn ông có câu trả lời chuẩn rồi: Họ ở dưới gầm cầu Austin.

Những hình thức “có tâm linh mà không có đạo” khác nhau

Không gì giống với ngôn ngữ của Thiên Chúa bằng im lặng, nhà thần học Đức Meister Eckhart đã nói như thế.

Một trong những hàm ý của ngài là một hoạt động nội tâm sâu sắc nào đó chỉ có thể thực hiện trong thinh lặng, một mình, riêng tư.

Dĩ nhiên ngài đúng, nhưng chuyện này còn có một khía cạnh khác. Dù có một số hoạt động nội tâm sâu sắc chỉ có thể được thực hiện trong thinh lặng, nhưng cũng có một số hoạt động tâm linh, trọng yếu và sâu sắc chỉ có thể được thực hiện khi cùng làm với người khác, khi ở trong một mối quan hệ, gia đình, giáo hội và xã hội. Sự thinh lặng có thể là con đường đặc biệt để đi đến chiều sâu của linh hồn. Nhưng nó cũng có thể là một con đường nguy hiểm. Ted Kaczynski, hay còn gọi là kẻ khủng bố Unabomber, đã sống trong thinh lặng, cô độc, và nhiều người bị rối loạn tâm thần sâu sắc khác cũng thế. Các chuyên gia về sức khỏe tâm thần cho chúng ta biết, để giữ mình tỉnh táo thì phải có tương tác với người khác. Sự tương tác xã hội giúp chúng ta đứng vững, cân bằng và tỉnh táo. Tôi nhìn vào một vài người trẻ thời nay đang tương tác với người khác (trực tiếp hoặc qua mạng xã hội), liên tu bất tận khi họ không ngủ, và dù không lo lắng về sự tỉnh táo thì cũng đáng lo cho chiều sâu của họ.

Chúng ta cần nhau. Triết gia Pháp Jean-Paul Sartre từng nói câu lừng danh “tha nhân là địa ngục”. Ông không thể sai hơn. Xét cho cùng, tha nhân là thiên đàng, là cứu rỗi mà chúng ta được định cho. Tuyệt đối cô độc mới là địa ngục. Hơn nữa, sự cô độc hiểm ác này có thể lẻn vào chúng ta dưới lớp vỏ tôn giáo và vị tha tốt đẹp nhất.

Tôi xin đưa ra một ví dụ. Tôi lớn lên trong một gia đình gắn bó với cộng đồng nông thôn nhỏ, nơi gia đình, hàng xóm, giáo xứ giao tiếp với người khác là tất cả, nơi mà mọi thứ đều được chia sẻ và hiếm khi chúng tôi ở một mình. Tôi đã sợ ở một mình, tránh né và thậm chí tôi chỉ thoải mái khi ở bên người khác.

Tốt nghiệp trung học, tôi vào Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ, và trong tám năm ở đó, tôi sống trong một cộng đồng lớn và cũng là nơi mọi thứ đều được chia sẻ và hiếm khi chúng tôi ở một mình. Khi sắp khấn trọng và khấn vĩnh viễn với đời sống tu trì và chức linh mục, điều tôi sợ nhất là lời sống độc thân khiết tịnh và sự cô đơn đi kèm. Không vợ, không con, không gia đình và sự cô lập của đời sống độc thân.

Hóa ra mọi chuyện lại không phải thế. Dĩ nhiên đời sống độc thân có những cái giá của nó, và nó cũng không phải là cuộc sống bình thường mà Thiên Chúa dự định cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, sự cô đơn mà tôi đã e sợ (dù chỉ trong những khoảnh khắc ngắn ngủi) lại hiếm khi xảy ra, thực tế ngược lại thì đúng hơn. Tôi thấy cuộc đời của tôi đầy ắp các mối quan hệ, tương tác, bận rộn, áp lực thường nhật và những cam kết lấp đầy mọi giờ trong ngày. Thay vì cảm giác cô đơn, tôi thấy mình lại thường khao khát được cô tịch, được tĩnh lặng, được ở một mình, và tôi dần cảm thấy khá thoải mái với chuyện ở một mình. Thật sự là quá thoải mái với nó.

Trong hầu hết những năm đời linh mục, tôi sống trong cộng đồng dòng tu lớn, và cộng đồng cũng như bất kỳ một gia đình nào, luôn có những đòi hỏi. Tuy nhiên, khi tôi làm Viện trưởng Trường Thần học, tôi được phân ở ngôi nhà dành riêng cho Viện trưởng và trong một thời gian, tôi ở một mình. Mới đầu, tôi hơi hoang mang vì chưa hề ở một mình, nhưng sau một thời gian, tôi quen dần. Tôi lại thích thế. Tôi không có trách nhiệm phải ở nhà vì ai cả ngoài chính tôi.

Nhưng tôi sớm nhận ra những nguy cơ của chuyện này. Sau một năm, tôi bỏ đặc quyền này. Một trong những nguy cơ của sống một mình và một trong những nguy cơ của đời sống độc thân, kể cả khi chúng ta trung thành sống với nó, là chúng ta không có người khác để nhắc nhở và đòi hỏi chúng ta. Chúng ta phải tự nhắc bản thân và có thể tránh cái mà Dorothy Day gọi là “sự khổ hạnh của sống trong một gia đình”. Khi sống một mình, chúng ta dễ dàng lên kế hoạch và sống theo ý mình, tự do kén chọn giao thiệp, chọn người nào trong gia đình, cộng đồng nào chúng ta thích, tránh những người gây khó khăn cho mình.

Có những chuyện ban đầu là nhân đức rồi dễ dàng biến thành thói xấu. Như bận rộn chẳng hạn. Chúng ta hy sinh thì giờ ở bên gia đình để đi làm kiếm tiền nuôi sống gia đình, nhưng rồi nó làm chúng ta xa sinh hoạt gia đình. Mới đầu, đây là hy sinh, nhưng cuối cùng nó lại thành lối thoát, một miễn trừ cố hữu để chúng ta khỏi phải đương đầu với những chuyện nào đó trong đời sống gia đình. Đời sống độc thân theo lời khấn và đời linh mục cũng có cùng nguy cơ đó.

Chúng ta đều biết câu, ‘chúng tôi có đời sống tâm linh nhưng không có đạo’ (dùng cho những người cởi mở với chuyện có Chúa nhưng không cởi mở với chuyện liên quan đến Giáo hội). Tuy nhiên, với hình thức này, chúng ta chật vật hơn là chúng ta nghĩ. Ít nhất là với tôi. Là một linh mục đã khấn sống đời độc thân, tôi cũng có thể sống kiểu như vậy với những lý do cao đẹp nhất, tôi có thể tránh được những khổ hạnh thường nhật vốn có nơi những người sống trong gia đình. Tuy nhiên, đây là nguy cơ cho tất cả chúng ta, dù là độc thân hay lập gia đình. Khi chúng ta, dù với những lý do tốt đẹp, có thể kén chọn phần nào trong gia đình và cộng đồng mà chúng ta thích để giao thiệp và phần nào gây khó khăn cho chúng ta để tránh né, thì đó chính là kiểu có đời sống tâm linh mà không có đạo.

Tha thứ phai nhạt dần

Trên số báo mới đây của Comment Magazine, Timothy Keller, thần học gia và mục sư của Hội thánh Trưởng lão Đấng Cứu Chuộc ở New York, đã viết một bài đầy thấu suốt với tiêu đề, Tha thứ phai nhạt dần (The Fading of Forgiveness), trong đó, ông nêu bật cách mà sự tha thứ ngày càng bị xem là yếu đuối và ngây thơ.

Mục sư mở đầu bài viết bằng cách chỉ ra một vài vụ việc xôn xao công luận về sự tha thứ. Năm 2015, Dylann Roof đã bắn chín người ở một nhà thờ của người Mỹ gốc Phi tại Nam Carolina và đã được người thân của các nạn nhân công khai tha thứ. Năm 2006, một tay súng đã bắn chín trẻ em thuộc cộng đồng Amish ở một trường học bang Pennsylvania rồi tự sát, cộng đồng Amish không chỉ tha thứ cho anh ta mà còn thăm gia đình anh ta và chia buồn với họ. Phản ứng của công luận thế nào? Ngưỡng mộ vì sự vị tha và nhân đức phi thường này ư? Không phải. Những cử chỉ tha thứ này chủ yếu bị xem là chủ nghĩa chính thống cực đoan ngây thơ và vô ích. Tại sao? Tại sao những cử chỉ này không được công nhận như là nhân tính cao thượng nhất của con người và nhân đức tôn giáo cao đẹp nhất?

Keller cho rằng có một vài lý do, nhưng ông nêu bật hai lý do đặc biệt. Chúng ta ở trong “nền văn hóa trị liệu” (nơi mà chỉ có sự thật và cảm giác của chính bản thân mình có giá trị) và trong nền văn hóa có một “tôn giáo mà không có ân sủng” (với tầm nhìn và phẩm hạnh của nó không đi xa hơn những gì vang vọng trong cảm xúc và ý chí của chúng ta). Do đó, nền văn hóa của chúng ta nhìn nhận sự tha thứ một cách tiêu cực hơn là tích cực. Với nó, sự tha thứ cho phép sự đàn áp tiếp tục duy trì quyền lực và do đó cho phép vòng luẩn quẩn của bạo lực và xâm hại tiếp diễn. Như một gia đình từ chối đứng lên dằn mặt người nhà bị nghiện rượu, họ đang cổ vũ thay vì chặn đứng chứng nghiện và cho phép tình trạng tồi tệ tiếp diễn. Và như thế thì sự tha thứ là một sự bất công nối tiếp với người đã bị tác hại và có thể dẫn đến một dạng tự ghét bỏ bản thân, chấp nhận sự hạ nhục hủy hoại, sự tự nhận thức bản thân, một sự mất phẩm giá nặng nề hơn nữa. Hơn nữa, áp lực luân lý buộc chúng ta phải tha thứ có thể là một gánh nặng hơn nữa lên nạn nhân và là lối thoát dễ dàng cho kẻ thủ ác. Lôgic này có đúng không?

Từ quan điểm cảm xúc thuần túy, thì đúng, có vẻ hợp lý, nhưng khi xem xét kỹ thì nó sai. Trước hết, rõ ràng báo thù chỉ gây thêm báo thù. Báo thù sẽ không bao giờ làm cho tâm hồn dịu đi và thay đổi. Chỉ có tha thứ (tương tự như lọc máu) mới có thể loại bỏ bạo lực và hận thù ra khỏi mối quan hệ. Cũng vậy, theo lời của mục sư Martin Luther King, bất kỳ ai không có năng lực tha thứ thì không có năng lực yêu thương. Tại sao lại thế? Bởi vì mỗi người chúng ta sẽ bị người khác làm tổn thương và đến lượt mình làm tổn thương người khác trong mọi mối quan hệ của chúng ta. Đó chính là cái giá của sự thông hiệp trong sự thông hiệp thiếu sót của con người. Do đó, các mối quan hệ ở mọi cấp độ, dù thân thiết hay xã giao, chỉ có thể bền vững nếu có tha thứ.

Hơn nữa, với Chúa Giêsu, tha thứ đã trở thành nhân đức quan trọng nhất. Nó quyết định liệu chúng ta có vào thiên đàng hay không. Như Chúa Giêsu đã dạy trong Kinh Lạy Cha, nếu chúng ta không thể tha thứ cho nhau, Thiên Chúa sẽ không thể tha thứ cho chúng ta. Tại sao lại thế? Bởi vì bàn tiệc thiên quốc, sự thông hiệp sự sống vĩnh cửu, chỉ mở ra cho tất cả những ai sẵn sàng ngồi lại với tất cả mọi người. Thiên Chúa không thể thay đổi điều này. Chỉ khi chúng ta mở rộng lòng mình đủ để ngồi lại với tất cả mọi người thì mới được.

Gần đây, khi có những đấu đá trong nội bộ Giáo hội, nhiều nhóm khác nhau đã cố nêu bật một nét luân lý đặc thù nào đó để làm phép thử cho cương vị môn đệ Chúa Kitô. Với nhiều người, phép thử này là chuyện phá thai, người khác lại là việc đi nhà thờ, hay những chuyện khác nữa. Cái gì là phép thử cho cương vị môn đệ Chúa Kitô đây? Chính xác phải là: sẵn lòng tha thứ. Tôi có thể tha thứ cho người đã xử tệ với tôi không? Tôi có thể tha thứ cho người tôi ghét và ghét tôi không? Thách thức đó vốn có sẵn nơi tâm điểm giáo huấn của Chúa Giêsu.

Nhưng dù thế, rõ ràng, tha thứ không phải là một việc đơn giản hay dễ dàng. Chính vì thế mà trong linh đạo Do Thái-Kitô giáo, có một linh đạo (dù ít người biết) về sự tha thứ. Như chúng ta biết, giới răn về thời kỳ Sabbath đòi hỏi chúng ta phải tuân thủ chu kỳ này trong cuộc sống: Làm việc sáu ngày, nghỉ một ngày. Làm việc bảy năm, nghỉ một năm. Làm việc bảy lần bảy (49) năm, nghỉ dài hạn (sabbath). Làm việc một đời, rồi nghỉ đến vô tận.

Đấy cũng là chu kỳ cho sự tha thứ. Linh đạo theo tinh thần Sabbath là thế này: Có thù ghét trong sáu ngày, rồi phải buông bỏ. Có hận thù trong bảy năm, rồi phải buông bỏ. Có thâm thù trong 49 năm, rồi phải buông bỏ. Có thâm thù huyết hận hủy hoại cuộc đời mình cho đến tận giờ chết, rồi phải buông bỏ. Đấy là mệnh lệnh luân lý kitô giáo tối hậu. Giám mục Anh giáo Desmond Tutu từng nói, “không có tha thứ thì không có tương lai”. Đúng là thế, dù là ở đời này hay đời sau.

Sự phong phú của Bí tích Thánh Thể

Bí tích Thánh Thể là gì? Điều gì xảy ra khi chúng ta quy tụ để mừng kính nghi thức mà Chúa Giêsu đã truyền ở bữa Tiệc ly và xin chúng ta tiếp tục làm cho đến khi Ngài trở lại? Bí tích Thánh Thể là bữa ăn gia đình hay tái hiện lại cái chết hiến mình của Chúa Giêsu? Bí tích Thánh Thể phải theo nghi thức La Tinh cũ hay theo nghi thức chúng ta thấy trong hầu hết nhà thờ hiện nay?

Không có câu trả lời đơn giản cho những câu hỏi này, bởi vì không có thần học tổng thể nào về Bí tích Thánh Thể, kể cả trong Tân Ước. Đúng hơn là có nhiều thần học về Bí tích Thánh Thể bổ túc cho nhau, nhưng mỗi cái lại nêu bật một khía cạnh khác nhau của một hiện thực quá đỗi phong phú để có thể gói gọn trong một khái niệm duy nhất. Bí tích Thánh Thể là gì?

Về căn bản, Bí tích Thánh Thể là một hiện thực với nhiều chiều kích đan xen vào nhau.

  1. Bí tích thánh thể là vòng ôm thể lý của Thiên Chúa với chúng ta. Như Andre Dubus đã nói, không có Phép Thánh Thể thì Thiên Chúa trở thành vai độc thoại. Bí tích Thánh Thể là lúc Thiên Chúa chạm đến chúng ta một cách thể lý. Đó là lúc Thiên Chúa vẫn mang lấy xác thịt hữu hình.
  2. Bí tích Thánh Thể là bữa ăn chúng ta chia sẻ với nhau. Bữa Tiệc ly mang nhiều ý nghĩa, nhưng cũng là một bữa ăn, thời gian tương tác, tiệc mừng trên bàn ăn. Thế nên, Bí tích Thánh Thể, giữa nhiều ý nghĩa, cũng là chiếc bàn ăn để gia đình quy tụ, nơi chia sẻ niềm vui và bộc bạch nỗi buồn.
  3. Bí tích Thánh Thể là tăng cường sự hiệp nhất của chúng ta với nhau trong Thân thể Chúa Kitô. Là môn đệ Chúa Giêsu, chúng ta cũng cấu thành Thân thể Chúa Kitô. Trong Bí tích Thánh Thể, không chỉ bánh và rượu được thay đổi thành mình và máu Chúa Kitô, mà cả chúng ta cũng thế. Chính vì vậy mà Thánh Âugutinô khi trao Mình Thánh Chúa, ngài thường nói, “Hãy lãnh nhận chính mình”.
  4. Bí tích Thánh Thể là một hy lễ. Là chúng ta làm lễ tưởng niệm (Zikkaron) sự kiện cứu rỗi là cái chết của Chúa Giêsu. Nói ngắn gọn, đó là bữa tối Vượt qua của kitô giáo. Lời nguyện Thánh Thể không chỉ xin Thiên Chúa biến đổi bánh và rượu thành mình và máu Chúa Kitô, mà còn xin Thiên Chúa cho chúng ta được dự phần vào sự kiện cứu rỗi nhờ cái chết của Chúa Kitô ngay trong chính ngày hôm nay.
  5. Bí tích Thánh Thể là manna mới. Như Thiên Chúa đã nuôi dân Ngài trong hoang mạc bằng manna mỗi ngày, thì bây giờ, mỗi ngày, Thiên Chúa nuôi dân Ngài với bánh từ trời này. (Mô thức này đặc biệt được nêu bật trong Phúc âm thánh Gioan).
  6. Bí tích Thánh Thể là một hoạt động canh thức. Chúa Giêsu đã bảo chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể để chờ đợi Ngài trở lại. Chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể như một lễ canh thức. Như Gerhard Lohfink đã nói: “Không thể hiểu về các cộng đồng tông đồ tiên khởi mà không liên quan đến sự kỳ vọng lớn lao này. Đó là các cộng đồng háo hức chờ đợi Chúa Kitô trở lại. Ngoài những lý do khác, họ quy tụ với nhau trong Bí tích Thánh Thể để vun đắp và giữ gìn ý thức rằng họ đang sống trong chờ đợi, chờ Chúa Kitô trở lại”. Trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta gặp gỡ nhau trong một lễ canh thức chờ Chúa Giêsu trở lại.
  7. Bí tích Thánh Thể là hành động rửa chân cho nhau. Phúc âm thánh Gioan không nhắc đến bánh và rượu trong bữa Tiệc ly, thay chỗ cho nghi thức bánh và rượu thành mình máu Chúa vốn được các thánh sử và thánh Phaolô nêu bật, thánh Gioan lại nêu bật chậu rửa và chiếc khăn. Tại sao lại thế? Một trong nhiều lý do, là để dạy rằng hành động khiêm nhường, rửa chân cho nhau, là một trong những ý nghĩa lớn nhất của Bí tích Thánh Thể.
  8. Bí tích Thánh Thể là lời cầu nguyện cho thế giới, tạo nên của ăn của Chúa Kitô nuôi sống thế giới. Đây là lời cầu nguyện xin Thiên Chúa giúp cho toàn thế giới. Cũng gần giống với “Nghi thức Thinh lặng của phái Quaker”, nó đưa sự bất lực của thế giới đến trước Thiên Chúa và xin Ngài cho thế giới bình an và công lý mà thế giới không tự đem lại cho mình được.
  9. Bí tích Thánh Thể là một bí tích hòa giải và tha thứ. Chúng ta đến với Bí tích Thánh Thể để được tha tội, để là những tội nhân được ngồi cùng bàn với Chúa Giêsu.
  10. Cuối cùng, Bí tích Thánh Thể là nghi lễ tôn giáo tột cùng, mà qua đó chúng ta gìn giữ mình trong đức tin, cương vị môn đệ và cộng đoàn. Chúng ta quy tụ để cử hành Bí tích Thánh Thể để được sống động. Buổi quy tụ cử hành Bí tích Thánh Thể cũng tương tự như buổi họp của Hội cai nghiện ẩn danh (AA). Chúng ta quy tụ bởi vì không có sự quy tụ nghi thức đều đặn này, thì đức tin, cương vị môn đệ và cộng đoàn của chúng ta sẽ sụp đổ. Nói theo lời Ronald Knox, Bí tích Thánh Thể là một trong những hành động trung tín nhất của chúng ta với Chúa Giêsu. Đúng thật, chúng ta đều không thật sự trung thành với Phúc âm, chúng ta đâu yêu thương kẻ thù và đâu chìa má phải cho người ta đánh, nhưng chúng ta trung thành theo một cách thức quan trọng, là tiếp tục cử hành Bí tích Thánh Thể, và hành động đó sẽ cứu rỗi chúng ta.

Sự phức tạp và nghịch lý

Gần đây, khi đọc Những lá thư của Dorothy Day, nhà làm việc xã hội Mỹ, tôi gặp phải dòng này, “chắc chắn chúng ta cần một người lên giàn giáo như Savonarola nhưng cũng cần một người thánh thiện như thánh Phanxicô”. Bà đang nói về điều mà linh đạo cần có để giữ được sự lành mạnh và cân bằng. Và điều này làm cho tôi nghĩ đến một chuyện, một chuyện tôi chưa bao giờ giải quyết được. Tôi luôn thấy thoải mái, có lẽ là quá thoải mái, giữa cả giữa những người sùng đạo và cả những người đả phá tín ngưỡng. Lòng tôi hướng về Thánh Tâm Chúa kể cả khi tôi thấy được kích thích bởi triết gia Nietzsche, và tôi thấy được óc hài hước nguyên thô của nhà thần nghiệm Thomas Merton là một điều phát xuất từ cùng một chỗ độc nhất vô nhị trong ông đã phát xuất đức tin, cái này học hỏi cái kia.

Một trong những ngòi bút thiêng liêng mà tôi yêu thích nhất là Carlo Carretto, tu sĩ và ẩn sĩ người Ý. Khi đọc sách Carretto, chúng ta không bao giờ biết chắc cái mình sẽ đọc thấy là về lòng sùng tín hay điều ngược lại. Trang này, ngài viết về một món đồ chơi tự làm dâng lên Đức Trinh nữ Maria để tặng cho Hài đồng Giêsu, và một hay hai trang sau, ngài lại đưa ra một chỉ trích nghiêm khắc đối với chủ nghĩa giáo quyền hoặc kêu gọi giáo hoàng đóng cửa các chủng viện hiện thời vì ngài tin rằng sự đào tạo linh mục phải là sống mỗi ngày trong gia đình. Nhiều người chúng ta quen thuộc với bài “Tụng ca Giáo hội” của ngài, trong đó ngài thể hiện rõ cả tấm lòng mến mộ lẫn chủ trương đả phá tín ngưỡng.

Tôi phải chỉ trích Giáo hội biết chừng nào, thế mà tôi lại yêu Giáo hội biết bao, Giáo hội của tôi!

Sao người làm cho tôi đau khổ đến thế mà tôi lại nợ người nhiều đến thế.

Tôi muốn thấy người bị hủy diệt nhưng tôi cần sự hiện diện của người.

Người đã đem lại quá nhiều tai tiếng, nhưng mà chỉ mình người khiến tôi hiểu được sự thánh thiện.

Trong đời này, tôi chưa hề thấy cái gì ngu dân, thỏa hiệp, sai lầm đến thế, nhưng mà trong đời này, tôi chưa hề được chạm đến điều gì tinh tuyền, quảng đại và đẹp đẽ hơn thế.

Nhiều lần tôi muốn đóng sầm cánh cửa linh hồn mình với người, nhưng tôi lại thường cầu nguyện cho tôi được chết trong vòng tay vững chãi của người.

Không nhiều ngòi bút thiêng liêng có sự mãnh liệt như thế. Như thần học gia Đức Ernst Kasemann từng nói, vấn đề trong Giáo hội và trong thế giới chính là người mến mộ thì không theo chủ nghĩa tự do và người theo chủ nghĩa tự do thì lại không mến mộ. Nhưng Carretto là cả hai. Ngài có thể yêu Giáo hội một cách mãnh liệt, sùng tín, với sự hết lòng như con trẻ, kể cả trong sự hết lòng đó, ngài có thể nhận thức phê phán và lên tiếng chống lại những sai lầm của Giáo hội. Đó là một năng lực hiếm có, chỉ thấy ở một vài vị thánh.

Dorothy Day, không như Carretto, bà là một phụ nữ cự kỳ sùng đạo, một người một mình chống lại thế giới, đứng ra bảo vệ sự khiết tịnh trong các cộng đồng bà ở, và là một phụ nữ tin rằng sự tôn kính là một đức hạnh miễn bàn cãi. Nhưng, như Carretto, bà có thể gay gắt chỉ trích lòng sùng đạo bất kỳ lúc nào nó bịt mắt làm ngơ trước bất công, kỳ thị chủng tộc, bạo lực và chiến tranh. Chẳng ngạc nhiên khi vị thánh bà yêu thích là Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, một nữ tu sùng tín ẩn mình trong một tu viện kín ở Pháp, viết những bài thần nghiệm về tình yêu của Chúa Giêsu dành cho chúng ta.

Hơn nữa, chính Têrêxa là gương mẫu tuyệt vời về lòng sùng tín có thể rất ngọt ngào, nhưng lại có khả năng làm cho óc phê phán phải câm lặng. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu cũng là người, dù thể hiện mình trong những bài viết như một cô bé nhỏ, một người không quan trọng, Đóa hoa nhỏ, lại có thể đảo chiều cực kỳ và đột nhiên trở nên như một triết gia già dặn khôn ngoan với những lời khuyên thiêng liêng đầy gai góc: “Hãy cẩn thận, đừng tìm bản thân nơi tình yêu, vì như thế cuối cùng bạn sẽ mang trái tim tan nát. Tôi cảm thấy nói chuyện với Chúa thì giá trị hơn là nói chuyện về Chúa, vì trong những chuyện trò thiêng liêng đó vẫn vương vấn sự ái kỷ. Không có phép lạ, xuất thần gì cả… chỉ có phục vụ”. Têrêxa có ngòi bút có thể cất lên những giai điệu rất đa dạng.

Cố học giả kinh thánh người Ireland, Jerome Murphy-O’Connor, từng nói, sự nhất quán là sản phẩm của những tâm trí nhỏ bé. Điều mà ông nhấn mạnh dĩ nhiên là những tâm trí vĩ đại thì không đơn giản, rằng họ biết tầm quan trọng của sắc thái, rằng họ không có kiểu hoặc trắng hoặc đen, rằng họ có thể giữ mọi sự trong căng thẳng mà không hấp tấp giải quyết nó, và họ có thể làm cho bạn sốc cả về tinh thần tôn kính hay tinh thần đả phá tín ngưỡng.

Chúa Giêsu phù hợp với mô tả đó. Ngài đã làm cho người đồng thời chướng tai gai mắt và tiếp tục làm chúng ta chướng tai với những lời có vẻ như bất nhất quán, nhưng lại là năng lực của một tâm trí và tâm hồn vĩ đại có thể giữ chân lý trong nghịch lý, trong căng thẳng. Chẳng lạ gì khi thời nay có quá nhiều phái kitô giáo. Chúng ta, những người theo Chúa Kitô, không thể giữ chân lý lại với nhau như Ngài đã làm, và chúng ta sống thể hiện ra từng mảnh thay vì toàn bộ Phúc âm. Cũng có thể nói như thế về những nhân vật vĩ đại trong lịch sử, như Thánh Âugutinô, người được xem là nguồn của cả chính thống lẫn dị giáo trong thần học.

Chắc chắn có sự mâu thuẫn và bất nhất quán thật sự, nhưng cũng có nghịch lý trong những tâm trí vĩ đại, những người biết chính xác khi nào thì tôn kính tượng thần và khi nào đập nát nó.

Ai được Chúa yêu thương hơn?

Ai được Thiên Chúa cảm thương? Chúng ta nên cầu nguyện đặc biệt cho ai? Chúng ta nên xin Thiên Chúa ban phúc lành cho ai?

Thế giới đang diễn Thế vận hội. Cái chúng ta thấy là những cơ thể khỏe nhất thế giới, được tô điểm với nụ cười trẻ trung và những bộ đồ thể thao đủ sắc màu. Thế vận hội là để mừng sức khỏe. Bất chấp bất kỳ thứ gì bao vây hay lẩn khuất bên dưới những cuộc thi đấu này (buôn bán, tham vọng, sản phẩm cấm dùng, bất kỳ thứ gì), thì có lẽ phản ứng đầu tiên của chúng ta luôn là vui sướng. “Chà! Đẹp quá! Điều này nói lên sự tuyệt diệu về cuộc sống và về Thiên Chúa”.

Hơn nữa, cái chúng ta thấy, không chỉ là các vận động viên. Bao quanh các cuộc thi là ngân sách hàng tỷ đô la, nước chủ nhà đang thể hiện tất cả tinh hoa của mình, các đài truyền hình gởi đi những hình ảnh rực rỡ muôn màu khắp thế giới, và khắp nơi là những màn trình diễn được tính toán cẩn thận của tuổi trẻ, sức khỏe, vẻ đẹp, sung túc, như thể chỉ có chúng mới làm thế giới vận hành.

Đáng buồn thay, sức khỏe, vẻ đẹp và sung túc không phải là những thứ bẩm sinh đã công bằng hay được phân bổ và chia sẻ cách công bằng. Cứ mở một hai kênh truyền hình khác là sẽ thấy các hình ảnh đối cực, các kênh tin tức liên tục truyền đi những hình ảnh về đau khổ, đói nghèo, bất công, nạn đói, tàn phá, hàng triệu người chạy trốn bạo lực, hàng triệu người sống trong cảnh khổ sở và hàng triệu người sống với chút ít ỏi hy vọng tại những lằn ranh biên giới. Và đó chỉ là những gì chúng ta thấy trên bản tin. Cái chúng ta còn chưa thấy là hàng triệu người thất nghiệp, hàng triệu người là nạn nhân của bạo lực và xâm hại, hàng triệu người gặp vấn đề về thể lý và tâm lý đủ loại và hàng triệu người mắc các chứng bệnh nan y đang chờ chết. Những cuộc đời và những cơ thể này có gì tương xứng với những cuộc đời và cơ thể của các vận động viên Thế vận hội không? Đây là một câu đáng hỏi.

Chúng ta đánh giá sự tương phản đắng lòng này giữa những gì được thấy ở Thế vận hội và những gì chúng ta thấy trên bản tin này như thế nào? Nó có làm chúng ta suy nghĩ về cầu nguyện và đồng cảm không? Liệu đau khổ của người nghèo có áp đảo trước sức khỏe của người giàu, đến mức trái tim và lời cầu nguyện của chúng ta chỉ hướng đến người nghèo thôi sao? Nếu là thế, liệu chuyện này có đem lại cái nhìn tiêu cực về các ơn sức khỏe và sự sung túc tuyệt vời hay không?

Có một số bài học có thể rút ra từ kinh dâng lễ trong nghi thức Thánh Thể. Trong nghi thức Thánh Thể, linh mục dâng hai bánh và rượu lên Thiên Chúa và chúng ta xin Ngài chúc lành cả hai. Bánh và rượu đại điện cho hai khía cạnh khác nhau của thế giới và cuộc sống chúng ta. Đến đây, tôi xin trích lời thần học gia Pierre Teilhard de Chardin: “Thứ thật sự được thánh hiến mỗi ngày chính là sự phát triển của thế giới trong ngày hôm đó, bánh biểu trưng cho những gì được tạo nên, rượu là biểu trưng cho những gì mất đi trong lao công và đau khổ trong tiến trình của nỗ lực đó”.

Về căn bản, lời nguyện dâng lễ xin hai phúc lành.

“Lạy Chúa là Đấng tạo thành vạn vật, hôm nay chúng con dâng lên Chúa mọi sự trên thế giới này, cả vui mừng lẫn đau khổ. Chúng con dâng lên Chúa bánh là những thành tựu của thế giới, cũng như dâng lên Chúa rượu là những thất bại của thế giới, là dòng máu đổ ra khi đạt những thành tựu này. Chúng con dâng lên Chúa những người quyền thế, giàu có, nổi tiếng, các vận động viên, nghệ sĩ, ngôi sao điện ảnh, các doanh nhân, tuổi trẻ, vẻ đẹp và mọi thứ đầy sáng tạo cũng như đầy sức sống. Chúng con cũng dâng lên Chúa những người yếu đuối, mỏng manh, già nua, tan nát, bệnh tật, hấp hối và những nạn nhân của đau khổ. Chúng con dâng lên Chúa mọi vẻ đẹp, thú vui và niềm vui ngoại giáo của đời này, kể cả khi chúng con đứng với Chúa dưới thập giá, khẳng định rằng Đấng đã bị loại trừ khỏi thú vui trần thế chính là hòn đá tảng cho cộng đồng nhân loại. Chúng con dâng lên Chúa kẻ mạnh cũng như kẻ yếu, xin Chúa chúc phúc cho cả hai và mở rộng tấm lòng của chúng con để chúng con cũng như Chúa, có thể ôm lấy và chúc lành cho tất cả. Chúng con dâng lên Chúa mọi kỳ công và đau đớn của thế giới này, thế giới của Chúa”.

Chúa thương người nghèo, người đau khổ, người bệnh tật và yếu đuối hơn, và chúng ta cũng phải như thế. Đức tin của chúng ta khẳng định rằng người nghèo vào nước thiên đàng dễ hơn người giàu có và mạnh mẽ. Tuy nhiên, dù đúng là thế, nó không ngụ ý rằng khỏe mạnh, sung túc là xấu. Chắc chắn là chúng đem lại nguy cơ. Trẻ trung, khỏe mạnh, hấp dẫn và tài năng, thường (dù không phải luôn luôn) là công thức dẫn đến tự phụ, xem đời mình đặc biệt hơn đời người khác. Ít người có thể xử lý tốt những tặng vật phi thường này.

Tuy nhiên, dù có thế, chúng ta vẫn phải xác định, Thiên Chúa mỉm cười với sự tự hào và hài lòng với những gì sống động, những nơi mà sự sống được thịnh vượng, khỏe mạnh, trẻ trung tài năng và hấp dẫn. Thiên Chúa mỉm cười với các vận động viên Thế vận hội. Thiên Chúa thương người nghèo hơn, nhưng không vì thế mà ngăn cản tình yêu của Ngài dành cho người mạnh. Như một người cha, người mẹ tốt lành, Thiên Chúa tự hào về những đứa con tài năng của mình, kể cả khi Ngài yêu thương đặc biệt những đứa con gặp đau khổ.

Trong mọi nghi thức Thánh Thể, chúng ta ôm lấy cả những vận động viên Thế vận hội và những người tị nạn bên rìa biên giới của chúng ta.

Có thể chứng minh Thiên Chúa tồn tại không?

Tôi viết luận án tiến sĩ của tôi về giá trị của các tranh luận triết học khác nhau cố chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa. Liệu có thể có bằng chứng không? Các triết gia lỗi lạc, từ Anselm, đến Tôma Aquinô, Descartes, hay các triết gia đương thời như Charles Hartshorne, cho rằng có thể chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa qua lập luận lý tính. Trừ việc, phần nhiều dựa vào việc chúng ta định nghĩa “chứng minh” là gì. Chúng ta chứng minh gì đó bằng cách nào?

Có một giai thoại về thánh Christopher thích hợp để minh họa ở đây. Christopher là người đầy thiên tư mọi mặt, trừ đức tin. Ngài mạnh mẽ về thể chất, uy lực, nhân hậu, nhẹ nhàng và được yêu mến. Ngài cũng quảng đại, dùng sức mạnh cơ bắp của mình để giúp người, nhưng dù muốn, ngài vẫn thấy khó mà tin vào Thiên Chúa. Với ngài, cái thể lý vật chất mới là thật, còn mọi thứ khác đều không thực. Do đó, ngài sống cuộc đời theo chủ nghĩa bất khả tri, không thể thật sự tin vào bất kỳ điều gì vượt ngoài những gì ngài có thể thấy, cảm nhận và sờ vào một cách thể lý.

Tuy nhiên, điều này không ngăn cản ngài không dùng những thiên tư của mình, nhất là sức mạnh thể lý, để phục vụ tha nhân. Đây chính là điểm tựa, lòng quảng đại và phục vụ của ngài. Ngài dành cả đời để giúp người dân trong vùng vượt qua con sông nguy hiểm. Một đêm nọ, trong cơn bão, con thuyền bị lật úp và Christopher đã lao xuống vùng nước tối tăm để cứu một đứa trẻ. Khi đưa đứa trẻ đó lên bờ, ngài nhìn vào mặt đứa trẻ và thấy đó là khuôn mặt Chúa Kitô. Sau đó, ngài đã tin vì đã thấy dung nhan Chúa Kitô.

Giai thoại này là bài học sâu sắc cho chúng ta. Nó thay đổi quan điểm của chúng ta về vấn đề làm cách nào để cố “chứng minh” sự hiện hữu của Thiên Chúa. Nỗ lực của chúng ta để chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa phải thực tế, hiện sinh và hiện thể hơn là chỉ thuần trí tuệ. Làm sao chúng ta chuyển từ chỉ tin vào những cái vật chất, chỉ tin vào hiện thực chúng ta có thể thấy, cảm nhận, sờ, nếm và ngửi, sang tin vào sự hiện hữu của những hiện thực tâm linh, thâm sâu hơn?

Trong câu chuyện của thánh Christopher có một bài học. Sống một cách chính trực và đáng trọng hết sức có thể và dùng thiên tư của mình để giúp người khác. Thì Thiên Chúa sẽ xuất hiện. Thiên Chúa không có ở kết luận của một tam đoạn luận triết học, nhưng có ở một lối sống nhào đó. Hơn nữa, đức tin không phải là câu hỏi về cảm giác cho bằng là việc phục vụ quên mình.

Trong đoạn Kinh Thánh về thánh tông đồ Tôma và những hoài nghi của ngài về việc Chúa sống lại còn có một bài học sâu xa hơn nữa. Thánh Tôma nói: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Hãy nhớ Chúa Giêsu không phản đối hay khiển trách gì trước sự hoài nghi của Tôma. Thay vào đó, Ngài dùng lại chính lời của Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Thầy đây, có phải ma đâu”.

Đấy là thách thức cho tất cả chúng ta. “Hãy tự xem đi, Chúa có thật, đâu phải là ma!” Tuy nhiên, thách thức đó không thiên về trí tuệ cho bằng tinh thần, một thách thức rằng chúng ta phải thành thật và quảng đại.

Chủ nghĩa hoài nghi và chủ nghĩa bất khả tri, thậm chí là chủ nghĩa vô thần, không phải là vấn đề, miễn họ thành thực, không biện luận, không dối trá, sẵn sàng chấp nhận hiện thực, và quảng đại trao cả cuộc đời mình để phục vụ. Nếu có những điều kiện đó, thì Thiên Chúa, Đấng tạo thành và là nguồn của mọi hiện thực, cuối cùng sẽ trở nên đủ thật, kể cả với những người cần có bằng chứng thể lý. Câu chuyện về thánh Christopher và thánh tông đồ Tôma dạy chúng ta như thế và bảo đảm với chúng ta rằng Thiên Chúa không nổi giận cũng không bị đe dọa bởi một người theo thuyết bất khả tri thành thực.

Đức tin không bao giờ là điều chắc chắn. Và đức tin cũng không phải cảm giác chắc chắn rằng Thiên Chúa hiện hữu. Ngược lại, không có đức tin đâu phải là thấy hoang mang khi không có cảm giác chắc chắn rằng Thiên Chúa tồn tại. Với tất cả mọi người, sẽ có những đêm tăm tối tâm hồn, những lúc cảm thấy Thiên Chúa thinh lặng, những lúc cô đơn, hoài nghi, những lúc không thể dùng ý thức mà nắm bắt hay nhận ra hiện thực của Thiên Chúa. Lịch sử đức tin, như chúng ta đã thấy trong cuộc đời Chúa Giêsu và cuộc đời các thánh, cho thấy Thiên Chúa thường có vẻ đã chết, và những lúc như thế, hiện thực của thế giới theo chủ nghĩa kinh nghiệm có thể chiếm lấy chúng ta và không gì có thật ngoài những gì chúng ta có thể thấy, cảm nhận ngay lúc đó, kể cả nỗi đau của chính chúng ta.

Bất kỳ lúc nào chúng ta gặp những chuyện như thế, thì như thánh Tôma và thánh Christopher, chúng ta cần trở nên những người bất khả tri thành thật dùng sự tốt lành và sức mạnh mà Chúa ban để đưa những người khác vượt qua dòng sông khó khăn cuộc đời. Thiên Chúa không yêu cầu chúng ta có một đức tin chắc chắn, nhưng yêu cầu chúng ta phục vụ quảng đại và lâu dài. Chúng ta có sự bảo đảm, nếu chúng ta trung thành giúp nâng đỡ người khác, thì đến một ngày chúng ta sẽ thấy mình đứng trước hiện thực của Thiên Chúa đang ở với chúng ta, rằng, “Hãy tự xem đi, Ta có thật, đâu phải ma”.

Chúng ta có thể chứng minh Thiên Chúa tồn tại không? Trong lý thuyết thì không, nhưng trong cuộc sống thì có.

Bầm dập và tổn thương – Hiểu về tự tử

Có chuyện cần phải nói, nói đi nói lại cho đến khi không cần nói nữa. Nữ thi sĩ Canada Margaret Atwood đã viết như thế. Tôi trích lại câu này vì năm nào tôi cũng viết một bài về tự tử, và hầu như lần nào cũng nói một điều như nhau, bởi vì có những chuyện cần được nói đi nói lại về tự tử cho đến khi chúng ta hiểu hơn về nó.

Chuyện gì cần được nói đi nói lại?

  1. Trước hết, tự tử là một căn bệnh, một thứ mà trong hầu hết trường hợp đẩy con người ra khỏi cuộc sống này, ngược với ý muốn của họ, một căn bệnh cảm xúc tương đương như ung thư, đột quỵ.
  2. Thứ hai, là chúng ta, những người bị bỏ lại trên đời, không nên dành thời gian và sức lực thái quá để đoán già đoán non xem chúng ta đã phụ lòng người đó như thế nào, lẽ ra chúng ta phải để ý thấy gì và lẽ ra chúng ta đã làm được gì để ngăn chuyện tự tử. Tự tử là một căn bệnh, và như với các căn bệnh thuần thể lý, chúng ta có thể yêu thương người đó vô cùng nhưng vẫn không thể nào cứu được người đó khỏi cái chết. Thiên Chúa cũng yêu thương người đó và Ngài cũng chia sẻ sự bất lực cùng chúng ta trong việc cố giúp người đó.
  3. Chúng ta cần hiểu thêm về sức khỏe tâm thần. Sự thật, không phải ai cũng có một nội tâm đủ mạnh để giúp họ duy trì sự hăng hái và ổn định. Sức khỏe tâm thần cũng tương đương với sức khỏe thể lý, có thể yếu ớt và không hoàn toàn trong tầm kiểm soát của người ta. Hơn nữa, cũng như các bệnh tiểu đường, thấp khớp, đột quỵ, xơ cứng teo cơ một bên, và đa xơ cứng, vốn có thể gây suy nhược và tử vong, thì các chứng bệnh tâm thần cũng có sức tàn phá mạnh, cũng gây đủ loại suy nhược và có lúc là cái chết do tự tử.
  4. Vai trò tiềm tàng của sinh hóa trong tự tử cũng cần được khám phá thêm. Nếu một số chứng trầm cảm kèm xu hướng tự tử có thể trị được bằng thuốc, thì rõ ràng một số vụ tự tử là do sự khiếm khuyết về sinh hóa, cũng hệt như các căn bệnh khác đang giết chúng ta vậy.
  5. Gần như luôn là thế, người chết vì tự tử là người rất nhạy cảm. Tự tử hiếm khi là hành vi ngang ngược, như thể một hành động khinh dễ. Dĩ nhiên có những ví dụ về những người quá kiêu hãnh không chấp nhận sự may rủi bình thường và tự giết mình vì kiêu ngạo, nhưng đó là một dạng tự tử rất khác, không phải là dạng mà chúng ta thường gặp nơi những người thân yêu. Thường thì, với những người đã ra đi vì tự tử, chúng ta thấy nơi họ nhiều đặc điểm, nhưng kiêu ngạo thì không. Đúng hơn, họ là những người bị bầm dập quá đỗi và bị tổn thương một cách sâu sắc đến nỗi chúng ta không thể hiểu nổi hay giúp họ chữa lành nổi. Thật vậy, thường thì khi đã qua một thời gian, chúng ta nhìn lại sẽ hiểu được đôi chút về vết thương của họ, thấy đó không còn là chuyện bất ngờ đến vậy. Có sự phân biệt rõ ràng giữa bị bầm dập đến độ không thể sống tiếp tục trên đời và kiểu quá kiêu ngạo không thèm ở lại trong cuộc đời. Chỉ có kiểu thứ hai mới là một tuyên bố tinh thần, chê bỏ những tình cảm tiếc thương, và thách thức lòng nhân từ của Thiên Chúa.
  6. Tự tử thường là lời kêu cầu tuyệt vọng của một linh hồn đau khổ. Linh hồn có thể đưa ra những đòi hỏi đi ngược lại cơ thể, và tự tử thường là thế.
  7. Chúng ta cần phải biết tha thứ cho mình nếu chúng ta cảm thấy giận người thân yêu đã tự kết liễu cuộc đời mình theo cách đó. Đừng mang mặc cảm tội lỗi khi cảm thấy giận dữ, đó là chuyện tự nhiên, một phản ứng có thể hiểu được khi một người thân yêu chết vì tự tử.
  8. Chúng ta cần hành động để chuộc lại ký ức về những người thân yêu đã chết vì tự tử. Làm sao để cách họ chết không trở thành lăng kính để chúng ta nhìn cuộc đời họ. Đừng cất bỏ hình ảnh của họ, và cố gạt đi những câu chuyện về họ và cái chết của họ. Chúng ta đâu làm thế nếu họ chết vì ung thư hay đột quỵ. Thật khó khăn khi mất đi một người thân yêu vì tự tử, nhưng chúng ta cũng không được để mất đi sự thật và tình nồng ấm dành cho sự khổ sở của họ và ký ức về họ.
  9. Cuối cùng, chúng ta đừng lo Thiên Chúa sẽ phán xét thế nào đối với người thân yêu đó của chúng ta. Tình yêu của Thiên Chúa, không như tình yêu của chúng ta, có thể băng qua những cánh cửa đóng kín, xuống tận địa ngục, và ban bình an khi mà chúng ta không thể. Hầu hết những người chết vì tự tử, ở đời sau, tỉnh dậy thấy Chúa Kitô đã đứng trong cánh cửa đóng kín của họ, bên trong hỗn loạn của họ mà nhẹ nhàng bảo rằng, “Bình an ở cùng con!” Sự thông hiểu và tình thương của Thiên Chúa vượt xa của chúng ta vô hạn. Những người thân yêu đã chết của chúng ta đang ở trong một bàn tay an toàn hơn bàn tay chúng ta. Nếu chúng ta, với những giới hạn của mình, có thể vượt qua bi kịch này với sự thông hiểu và tình yêu, thì chúng ta có thể an tâm, rằng, với chiều sâu của tình yêu Thiên Chúa, những người đã chết vì tự tử khi qua đời sau sẽ gặp được một tình thương và thông hiểu sâu sắc và bao la hơn của chúng ta nữa.

Julian thành Norwich đã nói, “Đến cuối cùng, tất cả sẽ tốt đẹp, và tất cả sẽ tốt đẹp, và mọi hiện sinh sẽ tốt đẹp”. Sẽ như thế, kể cả sau khi tự tử. Thiên Chúa có thể và thật sự đi qua những cánh cửa đóng kín, thổi hơi bình an vào một trái tim bị giày vò, hỗn loạn.

Vì sao tôi ở lại trong Giáo hội?

Vài tuần trước, sau khi có bài diễn thuyết ở một hội nghị tôn giáo, câu đầu tiên khán giả đặt ra cho tôi là: Làm sao chúng ta có thể tiếp tục ở lại trong một Giáo hội có vai trò chủ chốt trong việc lập và duy trì các trường nội trú cho người bản địa ở Canada? Làm sao chúng ta ở lại trong một Giáo hội đã làm những chuyện này?

Câu hỏi này chính đáng và quan trọng. Cả trong lịch sử cũng như trong hiện tại, Giáo hội đã phạm đủ tội làm cho câu hỏi này trở nên chính đáng. Danh sách các tội đã phạm nhân danh Giáo hội rất dài: Tòa dị giáo, ủng hộ chế độ nô lệ, vai trò của Giáo hội trong chủ nghĩa thực dân, mối liên kết với chủ nghĩa phát xít, vai trò trong việc áp chế nữ quyền, và vô số những thỏa hiệp trước đây và hiện tại với chủ nghĩa ưu việt da trắng, tiền bạc và chính trị. Những người phê phán Giáo hội có lúc quá đáng và thiếu cân bằng, nhưng nhìn chung, rõ ràng là Giáo hội có tội.

Tuy nhiên, tội này đâu phải chỉ có nơi Giáo hội. Những tội này có thể áp dụng với bất kỳ quốc gia nào mà chúng ta đang sống. Làm sao chúng ta có thể ở lại trong một đất nước có lịch sử kỳ thị chủng tộc, chế độ nô lệ, thực dân, diệt chủng những người bản địa, bất bình đẳng giàu nghèo cùng cực, một đất nước chai đá trước những người tị nạn tuyệt vọng đang đến gõ cửa, và một đất nước mà hàng triệu người căm ghét lẫn nhau? Khi nói rằng tôi hổ thẹn vì là người công giáo (hay kitô giáo) trong khi chúng ta đang sống ở một đất nước cũng mang cùng lịch sử và tội trạng như thế, như vậy chẳng phải là kiểu đạo đức có chọn lọc hay sao?

Nhưng mà, Bởi vì Giáo hội phải là men muối cho xã hội, chứ không phải là tấm gương phản ánh xã hội, nên câu hỏi đó vẫn chính đáng. Tại sao chúng ta ở lại trong giáo hội? Có những câu trả lời biện giáo đủ tốt cho chuyện này, nhưng xét cho cùng, với mỗi người chúng ta, câu trả lời phải là một câu trả lời của riêng mỗi người. Tại sao tôi ở lại trong giáo hội?

Trước hết, vì Giáo hội là tiếng mẹ đẻ của đời tôi. Giáo hội cho tôi đức tin, dạy tôi tin vào Chúa, cho tôi lời Chúa, dạy tôi cầu nguyện, cho tôi các bí tích, cho tôi thấy các nhân đức là thế nào, và đưa tôi liên kết với những vị thánh sống. Hơn nữa, bất chấp những khiếm khuyết của mình, với tôi, Giáo hội đủ chân thực, đủ vị tha, đủ tinh tuyền để có thẩm quyền luân lý cho tôi giao phó tâm hồn mình, một tin tưởng tôi không có với bất kỳ thực thể công nào. Tôi thoải mái với chuyện thờ phượng cùng các tôn giáo khác, và chia sẻ tấm lòng với những người không có đức tin, nhưng trong giáo hội mà tôi lớn lên, tôi thấy có mái ấm và tiếng mẹ đẻ của đời tôi.

Thứ hai, lịch sử của Giáo hội đâu chỉ có một màu. Tôi nhận ra tội lỗi của Giáo hội và công khai công nhận chúng, nhưng những cái đó còn lâu mới là toàn bộ hiện thực. Giáo hội cũng là Giáo hội của các vị tử đạo, các thánh, của lòng quãng đại vô hạn, và của hàng triệu người với tấm lòng cao thượng, rộng lượng, những gương mẫu đạo đức của tôi. Tôi đứng trong bóng tối tội lỗi của Giáo hội, nhưng tôi cũng đứng trong ánh sáng diễm phúc của Giáo hội, trong mọi sự tốt đẹp mà Giáo hội đã làm suốt dòng lịch sử.

Cuối cùng, và quan trọng nhất, tôi ở lại với Giáo hội vì Giáo hội là tất cả những gì chúng ta có! Đâu còn nơi nào khác để đi. Tôi thấy cảm giác vui buồn lẫn lộn này giống với cảm giác của thánh Phêrô sau khi nghe Chúa Giêsu nói “không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho”, mọi người quay mặt bỏ đi rồi Chúa quay sang thánh Phêrô mà hỏi, “cả anh cũng bỏ Thầy mà đi sao?” và Phêrô, thay mặt các tông đồ, đã trả lời: “ Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời”.

Về căn bản, thánh Phêrô nói rằng, “Chúng con không hiểu Ngài, và những gì chúng con hiểu được thường lại là cái chúng con chẳng thích. Nhưng chúng con biết ở bên Ngài dù không hiểu, nhưng còn hơn đi bất kỳ nơi nào khác. Bất chấp những lúc tăm tối, Ngài là tất cả những gì chúng con có!”

Giáo hội là tất cả những gì chúng ta có. Chúng ta còn đi đâu được chứ? Ẩn sau câu nói, “Tôi có lòng đạo, nhưng không có tôn giáo” dù thốt ra cách chân thành đến mấy, cũng có hoặc một thất bại cùng cực, hoặc một miễn cưỡng sai trái không dám giải quyết chuyện thiết yếu của cộng đồng tôn giáo, không dám giải quyết cái mà bà Dorothy Day gọi là “chủ nghĩa khổ hạnh của đời sống Giáo hội”. Có thể nói rằng, câu “Tôi không thể hoặc sẽ không giải quyết một cộng đồng tôn giáo ô uế” chính là một lối thoát có lợi cho bản thân, một thứ đến tận cùng sẽ không hữu ích gì mấy, không chỉ cho người nói ra câu đó. Tại sao lại thế? Bởi vì để lòng cảm thương có hiệu lực, nó cần mang tính tập thể, bởi giấc mơ chúng ta mơ một mình vẫn là giấc mơ, nhưng giấc mơ chúng ta mơ cùng người khác có thể trở thành hiện thực. Tôi chẳng thể thấy có gì ngoài Giáo hội có thể cứu thế giới này.

Không có Giáo hội tinh tuyền nào để chúng ta gia nhập cả, cũng như không có quốc gia tinh tuyền nào để chúng ta chọn sống ở đó. Giáo hội này, với toàn bộ lịch sử có tốt có xấu và với hiện tại đang tổn thương của nó, chính là tất cả những gì chúng ta có. Chúng ta cần mang lấy những lỗi phạm của Giáo hội, vì chúng cũng là lỗi phạm của chúng ta. Lịch sử Giáo hội là lịch sử của chúng ta, tội của Giáo hội là tội của chúng ta, và gia đình của Giáo hội là gia đình của chúng ta, gia đình trường tồn duy nhất mà chúng ta có.

Có gì bên trong dung nhan Thiên Chúa?

Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn cỗi, không giọt nước.

Chúng ta thành tâm cầu nguyện với lời này. Có bao giờ chúng ta thật sự có ý như vậy chưa? Chúng ta có thể thành thực nói, những thao thức trong lòng làm chúng ta khuỵu gối thực sự là khao khát được thấy Thiên Chúa sao? Khi chúng ta bị ám ảnh vì cơn đau làm chúng ta không chợp mắt được, chúng ta có thành thực nói mình đang khao khát Thiên Chúa đó không? Mới nhìn qua thì không. Khát khao hiện sinh của chúng ta có xu hướng trần tục, tự quy, và cần khoái cảm đến độ khó lòng nói đó là khao khát Thiên Chúa. Chỉ có nhà thần nghiệm thuần khiết (hoặc chính chúng ta trong một lúc hiếm hoi nào đó), vào một thời điểm nhất định nào đó, mới có thể nhìn vào những khao khát cháy bỏng của mình mà thành thực nói, điều tôi mong muốn chính là Thiên Chúa. Tôi khao khát Thiên Chúa.

Tuy nhiên, chuyện này còn có một khía cạnh khác. Chúng ta cần phân biệt giữa cái chúng ta khao khát rõ ràng và cái khao khát ẩn tàng bên trong khao khát đó. Cho phép tôi dùng một ví dụ trần tục để minh họa. Cứ hình dung một người đàn ông cảm thấy bừng bừng trong đêm và tìm kiếm tình dục nơi một cô gái điếm. Người đó khao khát thấy dung nhan Thiên Chúa sao? Người đó khao khát được kết hiệp với thân thể Chúa Kitô sao? Rõ ràng là không. Đó là chuyện mà người đó ít nghĩ đến nhất, ít nhất là trong ý thức. Tuy nhiên, đồng thời lại có một điều khác nữa bên trong nhận thức của người đó, mà người đó biết nhưng lại không nhận thức rõ ràng. Khao khát của người đó vào đêm đó bung tỏa mạnh mẽ theo cách thức tình dục, nhưng ý định thực sự của nó là khao khát được thấy dung nhan Thiên Chúa và kết hiệp với những phần khác bên trong thân thể Chúa Kitô. Hàm ẩn trong những khao khát của người đó, chính là điều mà thánh Âugutinô đã mô tả trong câu nói trứ danh của ngài: Lạy Chúa, Ngài đã tạo nên chúng con cho Ngài, và tâm hồn chúng con khắc khoải mãi cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài. Người đó khao khát thấy dung nhan Thiên Chúa.

Khi cố hiểu sự phân biệt giữa ý định rõ ràng trong một hành động và hàm ý trong hành động đó, chúng ta không nên viện đến quan niệm của chúng ta về ý thức và vô thức. Hai từ này thuộc về phạm trù tâm lý học, chuẩn và quan trọng trong phạm vi của nó, còn rõ ràng và ẩn tàng là từ ngữ triết học, hơi khác về ý nghĩa, với một thấu suốt riêng biệt về những gì bao hàm trong bất kỳ hành động nào. Một lần nữa, có lẽ ví dụ sẽ giúp chúng ta dễ hiểu hơn. Hãy hình dung bạn đang ra một phán đoán đơn giản, căn bản. Bạn nhìn vào một bức tường và nói bức tường này màu trắng. Đấy là cái bạn ý thức về rõ ràng ở thời điểm đó. Tuy nhiên, để bạn đưa ra phán đoán đó (bức tường này màu trắng), bạn đồng thời cũng phải biết, biết một cách ẩn tàng, chắc chắn, thật sự, một chuyện khác nữa. Trước hết, bức tường đó không phải màu xanh hay bất kỳ màu nào khác, và hơn nữa, bạn không thể nói rằng bức tường này màu trắng mà phủ nhận rằng bạn đang nhìn nó. Những chiều kích này là điều mà bạn biết, thật sự biết, nhưng lại không nhận thức một cách ý thức.

Giờ, hãy áp dụng điều này vào người đang bừng bừng tình dục muốn làm tình với cô gái điếm. Chúng ta thấy những gì rõ ràng nơi tâm trí người đó chẳng phải là khao khát thấy dung nhan Thiên Chúa hay kết hiệp với thân thể Chúa Kitô gì cả. Tuy nhiên, khi người đó thực hiện hành động đó, anh ấy biết một cách ẩn tàng rằng đây không phải là điều mà anh ấy thực sự tìm kiếm và là điều mà anh ấy không thể nào giả vờ được. Nhận thức ẩn tàng về các chiều kích này không chỉ là một chức năng của lương tâm mà còn là chức năng của nhận thức.

Chuyện này liên quan đến nhiều điều, không chỉ là không cảm thấy mặc cảm tội lỗi sai lầm vì việc hầu như chúng ta luôn thấy mình bẩm sinh bất lực chẳng thể nào biến Thiên Chúa thành mục đích chính, thành tâm điểm chú ý và thành mục tiêu tuyệt đối cho Tất cả khao khát của chúng ta. Hầu như chúng ta chẳng xem những ám ảnh và thao thức trong lòng là những điều hướng về Thiên Chúa. Tôi cho rằng điều này là vì chúng ta không xem Thiên Chúa có sức lôi cuốn, vẻ đẹp, sinh động và ái lực có thể khiến chúng ta yêu đến ám ảnh trong thế gian này. Tôi chẳng biết liệu có ai (trừ nhà thần nghiệm) từng ám ảnh về việc thấy dung nhan Thiên Chúa vì đã nhận thấy nơi Thiên Chúa có vẻ đẹp, sự lôi cuốn và ái lực còn lớn hơn những gì ta có thể tìm thấy trên trần gian. Chúng ta có bao giờ hình dung Thiên Chúa thú vị hơn và hấp dẫn hơn bất kỳ bạn tình nào của chúng ta trên thế gian, hơn xa đến vô tận không?

Đáng buồn là, Thiên Chúa của các tôn giáo quá khó để chúng ta khao khát! Thiên Chúa đó, dù hoàn hảo và lôi cuốn về mặt triết học, lại thiếu vắng vẻ đẹp và ái tình thật sự vốn ám ảnh chúng ta trên trần gian này.

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, bác sĩ tâm hồn đã cho chúng ta lời cảnh báo này: Hãy cẩn thận, đừng tìm bản thân nơi tình yêu, vì như thế cuối cùng bạn sẽ mang trái tim tan nát. May thay, một nhận thức ẩn tàng về những gì chúng ta thật sự khao khát, có thể giúp chúng ta thoát khỏi cảnh đó.

Niềm vui – một dấu chỉ của Thiên Chúa

Chỉ có một nỗi buồn thực sự, đó là không làm thánh được! Tiểu thuyết gia, triết gia người Pháp, Leon Bloy đã kết thúc quyển tiểu thuyết Người phụ nữ nghèo (The Woman Who Was Poor) bằng câu nói thường xuyên được trích dẫn này. Còn đây là một câu khác của Leon Bloy ít được trích dẫn hơn, nhưng rất hữu ích để giúp ta hiểu lý do vì sao lại buồn khi không được làm thánh! Niềm vui là dấu chỉ chắc chắn về cuộc sống của một tâm hồn có Chúa trong lòng.

Niềm vui không chỉ là một dấu chỉ chắc chắn về cuộc sống thuộc về Thiên Chúa, nó còn là dấu chỉ của một cuộc sống có Thiên Chúa. Niềm vui cấu thành cuộc sống nội tâm có Thiên Chúa. Thiên Chúa là niềm vui. Đây là điều mà chúng ta không dễ gì tin. Vì nhiều lý do, chúng ta thấy thật khó để nghĩ về một Thiên Chúa hạnh phúc, vui vẻ, thoải mái, tự tại và mỉm cười (theo lời Julian thành Norwich). Kitô giáo, do thái giáo, hồi giáo, dù có nhiều khác biệt, nhưng đều có điểm này là điểm chung. Trong nhận thức chung của mình, chúng ta hình dung Thiên Chúa là người nam, độc thân, và thường không hài lòng, thường thất vọng về chúng ta. Chúng ta khó nghĩ Thiên Chúa vui với cuộc sống chúng ta, và quan trọng hơn nữa, Thiên Chúa là Đấng hạnh phúc, vui vẻ, tự tại và mỉm cười.

Sao lại có thể khác được chứ? Kinh Thánh cho chúng ta biết Thiên Chúa là Đấng tạo ra mọi sự tốt lành và mọi sự tốt lành đều đến từ Thiên Chúa. Mà trên đời này, có sự gì tốt đẹp hơn hạnh phúc, vui vẻ, tiếng cười và vẻ đẹp mang lại sự sống của một nụ cười nhân hậu? Rõ ràng là không. Những điều này cấu thành sự sống thiên đàng và là những gì làm cho cuộc sống trên đời này đáng sống. Chắc chắn chúng phải phát xuất từ Thiên Chúa. Và như thế có nghĩa, Thiên Chúa vui vẻ, Thiên Chúa là niềm vui.

Nếu đúng thế, mà đúng thế thật, thì chúng ta không nên xem Thiên Chúa như một người yêu hay thất vọng, một người chồng hay giận dữ, một người mẹ hay đau lòng, cau mày trước những thiếu sót và phản bội của chúng ta. Đúng hơn, chúng ta phải hình dung Thiên Chúa như người ông, người bà, vui mừng trước cuộc sống và sinh lực của chúng ta, thoải mái với những kém cỏi của chúng ta, tha thứ cho những yếu đuối của chúng ta và luôn mãi nhẹ nhàng dỗ dành hướng chúng ta đến những gì cao đẹp hơn.

Một phần đang ngày càng phát triển trong dòng văn học hiện đại, gợi ý rằng sự hiện diện thuần khiết nhất của tình yêu và niềm vui trên trái đất này không phải là những gì giữa các tình nhân, giữa vợ chồng, hay thậm chí giữa bố mẹ và con cái. Trong những mối quan hệ này, có đủ căng thẳng và sự vị kỷ không thể tránh khỏi và cũng không phải là chuyện lạ lùng gì, và chính chúng làm cho sự thuần khiết và niềm vui của các mối quan hệ này bị phủ lên một màu khác. Nhưng điều này lại không mấy đúng trong quan hệ giữa ông bà và cháu chắt. Mối quan hệ đó ít căng thẳng và vị kỷ hơn, thường là sự hiện diện thuần khiết của tình yêu và niềm vui trên trái đất này. Trong mối quan hệ này, sự phấn khởi tuôn trào tự do hơn, thuần khiết hơn, đẹp đẽ hơn, và phản chiếu thuần khiết hơn những gì nội tại của Thiên Chúa, cụ thể là niềm vui và phấn khởi.

Thiên Chúa là tình yêu, Kinh Thánh cho chúng ta biết như vậy, nhưng Thiên Chúa còn là niềm vui. Thiên Chúa là nụ cười nhân hậu của người ông người bà nhìn ngắm con cháu với niềm tự hào và phấn khởi.

Tuy nhiên, làm sao điều này hợp với đau khổ, với khổ nạn phục sinh, với một Đức Kitô chịu khổ nạn dùng máu và thống khổ để chuộc tội chúng ta? Niềm vui của Thiên Chúa nằm ở đâu trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, khi Chúa Giêsu đau đớn trên thập giá? Cũng vậy, nếu Thiên Chúa là niềm vui, làm sao chúng ta giải thích biết bao lần cuộc sống của chúng ta, dù chân thành tin tưởng và dâng hiến, lại chẳng cảm nhận được niềm vui, hạnh phúc, tiếng cười?

Niềm vui và đau đớn không phải là hai thứ bất tương hợp. Hạnh phúc và buồn sầu cũng thế. Đúng hơn, chúng ta thường cảm nhận chúng cùng đi với nhau. Chúng ta có thể rất đau đớn mà vẫn hạnh phúc, cũng như chúng ta có thể không đau đớn, thấy khoái lạc, nhưng lại bất hạnh. Niềm vui và hạnh phúc được khẳng định dựa vào một điều gì đó tồn tại được qua đau đớn, cụ thể là ý nghĩa, nhưng chuyện này không dễ gì hiểu được. Chúng ta có xu hướng mang một ý niệm hời hợt vô ích về cấu thành của niềm vui và hạnh phúc. Với chúng ta, chúng bất tương hợp với đau đớn, thống khổ và buồn sầu. Tôi tự hỏi nếu vào Thứ Sáu Tuần Thánh, khi Chúa Giêsu đang bị treo trên thập giá, mà có người hỏi “Ngài có hạnh phúc khi ở trên đó không?” thì Chúa sẽ trả lời thế nào. Tôi cho rằng Ngài sẽ nói tương tự thế này. “Nếu ngươi hình dung hạnh phúc theo cách của ngươi, thì câu trả lời là không! Ta không hạnh phúc! Nhất là trong ngày hôm nay! Nhưng giữa những thống khổ Ta trải qua hôm nay, Ta cảm nghiệm được ý nghĩa, một ý nghĩa quá sâu sắc đến nỗi nó bao hàm cả niềm vui và hạnh phúc đi kèm thống khổ. Trong đau đớn, có một niềm vui và hạnh phúc thâm sâu từ việc hy sinh bản thân vì điều này. Cái bất hạnh và thiếu vắng niềm vui như ngươi cảm nhận, là thứ đến rồi đi, nhưng ý nghĩa thì tồn tại mãi trong mọi cảm giác này”.

Biết được thế nhưng chúng ta vẫn không dễ gì chấp nhận Thiên Chúa là niềm vui và là một dấu chỉ chắc chắn về cuộc sống thuộc về Thiên Chúa trong tâm hồn. Tuy nhiên, biết được vậy là một khởi đầu quan trọng để dần dần chúng ta cảm nhận và ý thức thêm về nó.

Có một nỗi buồn thực sự khi không làm thánh. Tại sao lại thế? Vì khoảng cách giữa chúng ta với sự thánh thiện cũng là khoảng cách giữa chúng ta với Thiên Chúa và khoảng cách giữa chúng ta với Thiên Chúa cũng là khoảng cách giữa chúng ta với niềm vui.

Tình yêu muốn chúng ta làm gì lúc này?

Vài năm trước, một đồng nghiệp của tôi bị thất vọng nặng nề đến phải sụp đổ. Tính khí và bản năng của cô thiên về giận dữ, cô đóng sập hàng loạt cánh cửa với đời và trốn vào chốn nội tâm. Tuy vậy, khi tâm hồn bị tổn thương, cô đặt cho mình một câu hỏi, tình yêu đang muốn gì nơi tôi? Để trả lời cho câu hỏi này, cô nhận ra, dù bản năng của cô hướng về chiều ngược lại, nhưng tình yêu lại muốn cô tránh xa cay đắng và lánh đời, muốn cô mở rộng tấm lòng với một mức độ hơn cả từ xưa đến bây giờ.

Tình yêu muốn chúng ta làm gì lúc này? Đây là câu hỏi mà chúng ta cần đặt ra cho mình vào những lúc cuộc sống bị chấn động (vì tổn thương nhưng cũng vì phúc lành) đến mức độ chúng ta không còn muốn phản ứng một cách tốt lành và yêu thương nữa, vì mọi thứ trong lòng chúng ta chỉ muốn khép mình và lánh đời.

Chính vì thế…

  • Khi tôi trải qua cuộc ly hôn cay đắng, khi tôi thấy trái tim mình chai đá và ngày càng hận người tôi từng tin tưởng, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi tôi mất đi một người thân yêu vì tự tử, không phải chỉ là chết mà còn chết theo một cách khiến mọi ký ức về người đó bị phủ lên một màu khác hẳn, khiến tình yêu thương của tôi biến thành giận dữ, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi một đồng nghiệp sỉ nhục tôi tại một cuộc họp lớn, một lời vu khống khiến tôi giận sôi lên vì cảm thấy bất công, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi con cái tôi bác bỏ đức tin và các giá trị của tôi, muốn nói toạc ra rằng tôi ngây thơ và không theo kịp thế giới, rằng tôi chỉ là kẻ dễ thương thân trách phận và dễ dàng rút lại tình yêu thương và ủng hộ của mình, lúc đó, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi tôi bị chẩn đoán là sức khỏe của tôi sẽ thay đổi hoàn toàn, và toàn bộ cơ thể cũng như tinh thần tôi muốn đắm chìm trong giận dữ và sầu thảm, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi giáo hội đã cho tôi đức tin, giáo hội tôi sống trọn trong đó, bị phát giác là bất công, là kẻ gây tội lỗi, khi tôi thấy các lỗi lầm của nó và tự nhủ làm sao mình có thể ở lại trong một giáo hội với biết bao biến tướng như vậy, thì câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi tôi bị phụ tình, bị người tôi tin tưởng lừa dối, khi tôi muốn chìm vào cay đắng và không bao giờ tin tưởng ai nữa, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi chính tôi phản bội sự tin tưởng của người ta, khi tôi phạm tội vì phút yếu lòng, khi tôi muốn ghét bỏ chính mình hoặc muốn biện minh hay chối bỏ sự yếu đuối của tôi, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi cuộc bầu cử ở đất nước tôi đem lại một lãnh đạo mà nhân cách và chính sách đi ngược lại mọi điều tôi ủng hộ, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi thế giới nhỏ nơi tôi lớn lên bắt đầu nhường chỗ cho một thế giới đa tôn giáo, đa chủng tộc, đa văn hóa, đa ngôn ngữ khiến tôi thấy mình bị tụt hậu, khi sự hoang tưởng và thủ thế khiến tôi tuyệt vọng bám vào những gì của thời xa xưa ấy, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi tôi sống với một người thân chẳng ra gì và tôi chỉ muốn tránh mặt người đó để sống cho yên thân, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi tôi phải đương đầu hàng ngày với người ghét tôi và lòng tôi chỉ muốn mắt đền mắt răng đền răng, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Tuy nhiên, không chỉ những điều tiêu cực mới khiến chúng ta phiền lòng, dẫn đưa chúng ta đến thù hận và lánh đời, khiến chúng rơi vào tình thế buộc phải phản ứng theo một cách mới; cả ân sủng lớn lao cũng có thể gây ra như vậy.

Chính vì thế…

  • Khi cuối cùng tôi cũng được thăng chức, được lương cao và có tiếng nói quyết định đồng thời có cám dỗ muốn vênh vang và ra vẻ làm bề trên với những người chung quanh tôi, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi tôi được chọn đứng ra phát biểu thay mặt cả niên khóa và đứng trên bục tận hưởng sự ngưỡng mộ của đám đông (thậm chí nhận thức được sự ghen tị từ các bạn học), biết bao cám dỗ sẽ vồ lấy tôi, hầu hết chúng đều không lành mạnh, câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?
  • Khi ai đó đem lại cho tôi tình yêu, lòng biết ơn, sự công nhận, và lòng tôi cảm thấy muốn tôn mình lên, thì câu hỏi đặt ra cho tôi là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?

Chúng ta không thể bảo vệ mình trước những cảm xúc bộc phát vồ lấy chúng ta, cả khi chuyện tốt hay xấu, và hầu hết những cảm giác này cám dỗ chúng ta rời xa tình yêu. Vậy nên, mỗi khi buồn thảm hay vênh vang cám dỗ chúng ta xa khỏi những gì là tốt đẹp và cao thượng nhất, thì câu hỏi đặt ra là, tình yêu muốn tôi làm gì lúc này?

Lời Kinh nguyện Thánh Thể

Khi còn là chủng sinh, một mùa hè nọ, tôi được diễm phúc dự một khóa học của Godfrey Diekmann, nhà phụng vụ học lừng danh. Lúc đó là thời sôi nổi, không lâu sau Vatican II, khi mà một chuyện khá hợp thời là bỏ các kinh nguyện nghi lễ có sẵn và viết một cái gì mới của mình. Điều này lại càng đúng với Kinh nguyện Thánh Thể, tâm điểm của thánh lễ, khi nhiều linh mục bắt đầu viết lời kinh riêng cho mình. Hóa ra, cha Diekmann không mê chuyện đó lắm. Một hôm nọ, khi được hỏi, cha trả lời, “Có vẻ thời nay bất kỳ ai có chút trí tưởng tượng và chút hiểu biết thần học đang cảm thấy mình cần phải viết một Kinh nguyện Thánh Thể”.

Năm nay vì Covid hạn chế, tôi thường dâng thánh lễ trên mạng. Thời gian đầu cử hành phụng vụ này, tôi nghĩ đâu là giá trị của Kinh nguyện Thánh Thể khi không có hiệp thông? Vì thế tôi chuyển thẳng từ phụng vụ Lời Chúa sang Kinh Lạy Cha. Cuối cùng tôi nghĩ nên đem lại cho cộng đoàn thêm một điều gì đó. Vì thế, (lúc này tôi chưa nhớ ra lời của cha Diekmann bốn mươi năm trước), tôi viết một Kinh nguyện Thánh Thể cho thánh lễ trên mạng.

Kinh nguyện Thánh Thể là gì? Hầu hết sẽ nói đó là một phần của Phụng vụ Thánh Thể, khi linh mục làm phép bánh và rượu, nhưng đó mới chỉ là một phần. Kinh nguyện Thánh Thể là phần Phụng vụ Thánh Thể mà chúng ta tưởng nhớ (theo tiếng Do Thái là Zikkaron) về sự kiện trọng đại mà Đức Kitô đã cứu rỗi chúng ta, để sự kiện đó hiện diện cho chúng ta tham dự vào ngày hiện tại. Chúng ta đến với Phụng vụ Thánh Thể không phải chỉ để đón nhận mình và máu thánh Chúa Kitô, nhưng còn (và quan trọng tương đương) tham dự sự kiện đó, cụ thể là hành động cứu rỗi của Đức Kitô khi Ngài trải qua Sự Thương khó, Cái chết, sự Sống lại, Lên trời và Chúa Thánh Thần hiện xuống. Phụng vụ Thánh Thể chính là bữa tối Vượt qua của Kitô giáo, như bữa tối Vượt qua của Do Thái giáo, với mục đích là làm cho sự kiện trong quá khứ hiện diện với chúng ta trong hiện tại.

Nó được thực thi như thế nào? Chúng ta không có lý thuyết siêu hình để hiểu chuyện này. Trong nghi lễ thiêng liêng, trong Phụng vụ Thánh Thể, trong bữa tối Vượt qua, có một điều gì đó xảy ra vượt quá thời gian. Nó không đi ngược tri thức, hình dung hay quy luật tự nhiên, nó chỉ đưa chúng vượt quá giới hạn bình thường của chúng.

Đây là Kinh nguyện Thánh Thể cho những lúc không có bánh và rượu để hiến thánh.

Lạy Chúa, Chúa đã đi vào cuộc sống chúng con theo những cách phi thường để thể hiện tình yêu của Chúa và cứu chúng con.
Vì dân dược chọn mà Chúa đã kỳ công rẽ đôi Biển Đỏ cho họ đến nơi an toàn bằng cách tạm dừng quy luật tự nhiên. Rồi trong hoang địa, Chúa đã kỳ công nuôi dưỡng họ bằng manna và mặc khải cho họ luật trong trái tim Chúa.
Vì chỉ một thế hệ đã băng qua Biển Đỏ rẽ đôi và chỉ một thế hệ đã ăn manna trong hoang địa, nên Chúa đã thiết lập bữa tối Vượt qua như một nghi lễ để mọi thế hệ cho đến ngày tận thế có thể băng qua Biển Đỏ và ăn bánh Chúa ban trong hoang địa. Bữa tối Vượt qua đưa những sự kiện cứu rỗi này đến tâm trí con người theo cách vượt ngoài thời gian của Chúa, khiến chúng một lần nữa chân thật cho chúng con ngày nay.
Hành động cứu rỗi của con Chúa, Chúa Giêsu Kitô, cũng thế. Cuộc thương khó của Ngài là giao ước mới, sự tin tưởng của Ngài trong cái chết là đức tin mới, Chúa cho Ngài sống lại và lên trời là Xuất hành mới, và Chúa gửi Thánh Linh đến là lối vào mới của Đất Hứa.
Do đó, lạy Chúa nhân lành, vào đêm trước khi chịu nạn, con Chúa đã để lại Bí tích Thánh Thể cho chúng con như bữa tối Vượt qua để qua đó Chúa cho những sự kiện cứu rỗi này hiện diện lần nữa.
Do đó chúng con xin Chúa ban Thánh Linh xuống trên chúng con đang quy tụ ở đây để tưởng niệm hành động cứu rỗi của con Chúa. Xin qua nghi lễ tưởng nhớ này, mà ban cho chúng con, toàn thể cộng đồng chúng con, được hiệp nhất với Đức Kitô trong sự thương khó, cái chết, phục sinh, thăng thiêng và sự hiện xuống của Thánh Linh. Chúa là Đấng vượt quá thời gian, xin ban cho chúng con hôm nay được nên một với Chúa Kitô trong hy lễ của Ngài, nên một với Ngài trong cái chết và phục sinh.
Khi chúng con cử hành nghi lễ tưởng nhớ này, xin giúp chúng con nên một với Chúa Giêsu, con Chúa, Chúa chúng con, hiệp nhất chúng con với Ngài khi Ngài trải qua Sự Thương khó, Cái chết, sự Sống lại, Lên trời và Chúa Thánh Thần hiện xuống.
Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết rằng của ăn Bí tích Thánh Thể là manna mới mà Chúa nuôi dân mình bằng của ăn từ trời.
Lạy Chúa, khi cử hành nghi lễ tưởng nhớ này, trên tất cả, chúng con xin Chúa giúp chúng con phá tan mọi ngăn cách giữa chúng con với nhau, phá tan mọi phân rẽ trong thế giới chúng con, để Chúa có thể cho chúng con ăn trên cùng một bàn, như một gia đình, với Chúa là Chúa duy nhất của tất cả chúng con.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, con Chúa, Chúa chúng con… Amen.

Nhà

Nhà không chỉ là một ngôi nhà hay một nơi chốn trên bản đồ. Nó là một nơi trong lòng người, nơi mà đến tận cùng chúng ta muốn tìm về nhất. Ý niệm ẩn dụ về nhà có thể giúp chúng ta giải quyết nhiều điều, thậm chí cả cách mà tình dục liên hệ với tình yêu.

Tình dục không bao giờ đơn giản là chuyện qua đường, chỉ phục vụ cho mục đích giải trí, một thứ không liên quan đến linh hồn. Tình dục luôn chạm đến linh hồn, dù tốt hay xấu. Hoặc tốt đẹp hoặc gây hại. Hoặc củng cố hoặc phá nát linh hồn. Khi đúng đắn, nó làm chúng ta tốt đẹp lên, và khi sai trái, nó làm chúng ta bớt nhân cách. Nói một cách ẩn dụ, khi đúng đắn, nó đưa chúng ta về nhà, khi không đúng đắn, nó đẩy chúng ta xa cách nhà. Tình dục do Thiên Chúa tạo nên và theo lẽ tự nhiên là để đưa chúng ta về nhà. Thật sự là, nó được định để làm nhà cho chúng ta. Nếu chúng ta về nhà sau khi làm tình, thì có một cái gì đó sai trái rồi. Trước hết, tôi nói thế không phải là để phán xét về đạo đức, nhưng đây là một nhận định nhân học thay mặt linh hồn.

Như chúng ta biết, linh hồn không phải là một vài tế bào tâm linh vô hình trôi nổi trong cơ thể chúng ta. Không thể họa nên linh hồn theo tưởng tượng, nhưng có thể hiểu được nó như một nguyên tắc. Khi nhìn vào những diễn tả thấu suốt của các triết gia như Aristotle và Tôma Aquinô, linh hồn là một nguyên tắc kép trong chúng ta. Nó là nguyên tắc của sự sống (của mọi sinh lực trong chúng ta) và là nguyên tắc của sự tích hợp (những gì giữ chúng ta trọn vẹn). Điều này có vẻ mơ hồ, nhưng không phải thế. Nếu bạn từng ở bên người hấp hối, bạn biết chính xác lúc nào hồn lìa khỏi xác. Không phải vì bạn thấy một linh hồn bay khỏi thể xác, nhưng vì mới đây cơ thể còn sống, còn là một tổ chức, ngay sau đó nó trơ ra, vô hồn, đã chết và bắt đầu phân rữa. Linh hồn giữ chúng ta sống và linh hồn giữ chúng ta cố kết với nhau.

Nếu đúng là thế, và là thế thật, thì bất kỳ việc làm có ý nghĩa nào của chúng ta, bất kỳ điều gì chạm đến tâm can chúng ta, tác động trên linh hồn chúng ta, động đến cả chất lửa và chất keo của linh hồn, thì nó sẽ làm suy yếu hoặc tăng cường. Tình dục cũng vậy. Thật sự, đó là một ví dụ rõ nhất. Tình dục rất mạnh và chính vì thế nó không bao giờ là chuyện vặt vãnh. Nó xây dựng hoặc phá nát linh hồn.

Ba mươi năm trước, khi dạy một lớp đêm ở đại học, tôi đã đưa cho lớp đọc quyển nghị luận của Christopher de Vinck, Chỉ những trái tim mới biết cách tìm ra nhau – Ký ức quý báu về thời gian không có đức tin (Only the Heart Knows How to Find Them – Precious Memories for a Faithless Time). Những bài luận này là các suy ngẫm của tác giả về cuộc đời của mình trong tư cách người chồng, người cha. Những câu chuyện ấm áp, không lãng mạn vô cớ, đầy tính nghệ thuật và không có chỗ cho những thứ đa cảm. Chúng là tiếng nói ủng hộ cho hôn nhân, không phải bằng những lập luận biện giải, mà đơn giản bằng cách chia sẻ làm thế nào mà hôn nhân có thể đem lại một nhà, một nơi thanh bình của sự cô tịch chung, có thể đưa chúng ta vượt lên những cuộc tìm kiếm miệt mài bủa vây chúng ta ở tuổi dậy thì và đẩy chúng ta ra khỏi nhà cha mẹ để đi tìm nhà của mình. Hôn nhân và chiếc giường hôn nhân có thể đưa chúng ta về lại nhà.

Đến cuối học kỳ, một nữ sinh viên gần 30 tuổi, đến văn phòng tôi nộp bài. Cô cầm theo quyển sách của Vinck và chia sẻ thế này: “Đây là quyển sách hay nhất em từng đọc. Em lớn lên mà không có nhiều hướng dẫn về tôn giáo hay đạo đức, và em đã ngủ lang khắp nửa nước Canada, nhưng bây giờ em biết mình thật sự muốn gì rồi. Em muốn cái mà tác giả này có! Em muốn chiếc giường hôn nhân. Em muốn tình dục đưa em về nhà, trở nên ngôi nhà của em.” Thấu suốt của cô xứng đáng được nhắc lại, không phải chỉ vì trong văn hóa thời nay, tình dục thường bị tách biệt khỏi hôn nhân và nhà.

Khi đi dạy và làm mục vụ, có những thời gian tôi làm việc nhiều với thanh niên, những người đang cố xác định ý nghĩa của tình yêu, quyết định kết hôn với ai và cố sống cả đời với ai, có một câu hỏi thường xuất hiện trong đầu tôi: Làm sao để nhận ra loại tình yêu nào có thể làm nền tảng để xây dựng hôn nhân? Đây là câu hỏi tối quan trọng, vì tình yêu không phải là thứ dễ hiểu hay dễ đánh giá. Chúng ta có thể phải lòng với đủ loại người, thường là nhầm người, những người chúng ta có thể tán tỉnh hoặc có thời gian mặn nồng ngắn ngủi nhưng lại không thể sống đến trọn đời.

Loại tình yêu nào có thể làm nền tảng để xây dựng hôn nhân? Cần có loại tình yêu đưa chúng ta về nhà. Chúng ta cần nhận thức rõ ràng, chẳng hạn với người này, chúng ta được ở trong nhà, vì hôn nhân rất khác với trăng mật. Đi trăng mật xong, là chúng ta về nhà. Trong hôn nhân, chúng ta ở trong chính căn nhà của mình.

Cả tình dục cũng thế. Nó phải là thứ đưa chúng ta về nhà và là nhà của chúng ta, chứ không phải một thứ mà khi xong việc, chúng ta lại đi về nhà.