RonRolheiser,OMI

Việc chúng ta làm trong riêng tư

Không ai là một hòn đảo, thật vậy, không ai thật sự cô độc. Nếu là một người có đức tin hoặc thậm chí chỉ cần là người có nhạy cảm trực giác sắc bén, bạn sẽ biết trên đời này không hề có hành động riêng lẻ thật sự, dù tốt hay xấu. Mọi việc chúng ta làm, dù riêng tư đến thế nào, cũng ảnh hưởng đến người khác. Chúng ta không phải là những đơn tử với những suy nghĩ và hành động không có tác động gì đến bất kỳ ai. Chúng ta biết như thế, không phải chỉ qua đức tin, mà còn trực cảm được nó qua những gì trong đời mình.
Làm sao chúng ta cảm nhận được những gì ẩn trong riêng tư cuộc đời người khác? Ngược lại, những chuyện xảy ra trong riêng tư của cuộc đời chúng ta tác động đến người khác như thế nào?

Chúng ta không có khoa siêu hình học, hiện tượng học hay khoa học nào để xác định rõ ràng chuyện này. Nhưng chúng ta biết nó là sự thật. Việc chúng ta làm trong sâu kín riêng tư tâm hồn và tâm trí có thể được người khác cảm nhận theo một cách nào đó. Mọi tôn giáo thật sự đều dạy như thế, cụ thể là chúng ta đang trong tương giao cộng sinh, huyền bí và thật sự với nhau, hoàn toàn không có cái gọi là riêng tư thật sự. Mọi tôn giáo lớn trên thế giới, về căn bản, đều tin như thế, bao gồm Kitô giáo, Ấn giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Lão giáo, và các tôn giáo bản địa ở châu Mỹ và châu Phi. Không một tôn giáo nào nói rằng tội riêng không ảnh hưởng đến toàn thể cộng đồng.

Và điều này giải thích một vài giáo huấn của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu dạy rằng không chỉ hành động bên ngoài của chúng ta giúp đỡ hay làm hại người khác, ngay cả những suy nghĩ trong lòng cũng vậy. Với Ngài, không chỉ là chúng ta không được hại người mình ghét, mà còn không được có những suy nghĩ thù ghét thầm kín về người đó. Cũng thế, giữ kỷ luật về tình dục để không phạm tội ngoại tình là không đủ, chúng ta còn phải kỷ luật cả những suy nghĩ dâm dục về người khác.

Tại sao lại thế? Những suy nghĩ riêng tư thầm kín thì có hại gì? Đó là, nếu chúng ta có những suy nghĩ xấu xa về người khác, cuối cùng chúng ta sẽ thực hiện chúng (và có lẽ đúng là thế). Vấn đề ở đây là một chuyện sâu sắc hơn, một chuyện nội hàm rõ ràng trong khái niệm kitô giáo về Nhiệm thể Chúa Kitô.

Là tín hữu kitô, chúng ta tin rằng hết thảy đều là thành phần của một cơ thể sống, Nhiệm thể Chúa Kitô, và sự hiệp nhất này của chúng ta không chỉ mang tính ẩn dụ. Nó là thật, thật như vật chất thể lý của một cơ thể sống. Chúng ta không phải là một đoàn thể, mà là một cơ thể sống, nơi mọi phần đều ảnh hưởng đến nhau. Do đó, trong một cơ thể sống, các chất xúc tác (enzyme, men tiêu hóa có tác dụng làm chất xúc tác) lành mạnh giúp cho toàn bộ cơ thể khỏe mạnh, cũng như những tế bào ung thư đe dọa sức khỏe của toàn cơ thể, thì trong Nhiệm thể Chúa Kitô cũng vậy. Việc chúng ta làm nơi riêng tư vẫn nằm trong thân thể này. Do đó, khi chúng ta làm việc nhân đức, kể cả trong riêng tư, thì cũng như các chất xúc tác lành mạnh, chúng ta giúp tăng cường hệ miễn dịch trong toàn bộ cơ thể. Ngược lại, khi chúng ta bất tín, ích kỷ, phạm tội, dù là chỉ trong riêng tư, thì như một tế bào bị nhiễm độc hay ung thư, chúng ta góp phần phá hệ miễn dịch của cơ thể. Cả chất xúc tác lành mạnh và tế bào ung thư có hại đều hoạt động một cách thầm lặng, ẩn kín.

Và quan niệm này có hệ trọng với cuộc sống riêng tư của chúng ta. Nói đơn giản, không việc gì chúng ta suy nghĩ hay thực hiện trong riêng tư lại không ảnh hưởng đến người khác. Những suy nghĩ và hành động riêng tư của chúng ta, như chất xúc tác lành mạnh hay tế bào nhiễm độc, đều ảnh hưởng đến sức khỏe của cơ thể, hoặc tăng cường hoặc làm suy yếu hệ miễn dịch. Khi chúng ta thành tín là chúng ta giúp đem lại sức khỏe cho cơ thể, khi chúng ta bất tín, chúng ta là tế bào nhiễm độc gây trở ngại cho hệ miễn dịch trong cơ thể.

Dù chúng ta thành tín hay bất tín trong riêng tư, nó vẫn tác động đến người khác, và đây không phải là một chuyện trừu tượng hay huyền bí. Ví dụ như, một người vợ sẽ biết khi chồng mình không chung thủy, dù cho chuyện ngoại tình chưa bị bại lộ. Hơn nữa, người ấy biết chuyện không phải do có những biểu hiện thiếu chung thủy trong hành vi và ngôn ngữ cơ thể người kia. Không, người ấy biết ở mức độ linh tính, huyền bí, mơ hồ, vì người ấy cảm nhận được sự phản bội đang kìm kẹp sự lành mạnh và toàn vẹn của cuộc hôn nhân. Chuyện này nghe vẫn có vẻ ẩn dụ hơn là thật, nhưng tôi mong các bạn cứ thử kiểm nghiệm trong đời thực mà xem. Chúng ta cảm nhận được sự phản bội.

Có chuyện chúng ta biết cách có ý thức và có chuyện chúng ta biết một cách vô thức. Có chuyện chúng ta biết được nhờ quan sát, và có chuyện chúng ta biết được nhờ trực cảm. Chúng ta nhận thức bằng cái đầu, trái tim và linh tính, và qua cả ba yếu tố này, đôi khi chúng ta biết được chuyện gì đó bởi vì chúng ta cảm nhận nó đang gây căng thẳng hay xoa dịu linh hồn mình. Không hề có hành động riêng tư. Hành động riêng tư của chúng ta, cũng như hành động công khai, sẽ đem lại sức khỏe hoặc bệnh tật cho cộng đồng.

Tôi xin kết lại bài này bằng hai câu thơ góp nhặt:

Nếu thành tín, ta đem lại mối phúc lớn lao. (Parker Palmer)
Nếu bất tín, ta đem lại mối hại lớn lao. (Rumi)

Về nguồn gốc vũ trụ, Chúa Giêsu và Big Bang

Gần đây Cơ quan Không gian Mỹ NASA phóng Viễn vọng kính Không gian James Webb, viễn vọng kính lớn nhất và có chi phí cao nhất chưa từng được chế tạo. Nó mất sáu tháng để đi hơn triệu cây số từ trái đất, tìm một chỗ cố định trong không gian rồi bắt đầu truyền hình ảnh về trái đất. Những tấm ảnh mà trước đây chúng ta chưa hề thấy. Hy vọng chúng sẽ cho chúng ta nhìn xa hơn vào vũ trụ, lý tưởng nhất là đến tận cùng của vũ trụ đang phát triển của chúng ta, đến tận những hạt vật chất đầu tiên phát xuất từ vụ nổ nguyên thủy, Big Bang, đã mở đầu thời gian và vũ trụ chúng ta.

Các nhà khoa học ước tính vũ trụ của chúng ta đã 13,7 tỷ năm tuổi. Theo kiến thức chúng ta biết hiện nay, trước đó, không có gì hiện hữu, trừ Thiên Chúa. Rồi từ hư không đó, có vụ nổ Big Bang, từ đó phát sinh mọi sự trong vũ trụ bao gồm hành tinh trái đất của chúng ta. Như với bất kỳ vụ nổ nào, những phần gắn chặt nhất với lực nổ là những phần bị bắn đi xa nhất. Do đó, khi các nhà điều tra cố xác định nguyên nhân vụ nổ, họ đặc biệt chú ý tìm kiếm và xem xét những mảnh gắn chặt nhất với lực gốc của vụ nổ, và thường đó cũng là những mảnh bị bắn đi xa nhất.

Lực của vụ nổ Big Bang vẫn đang diễn ra và những phần vũ trụ của chúng ta gắn kết chặt nhất với điểm khởi đầu của nó vẫn đang bị đẩy đi ngày một xa hơn trong không gian. Nhà khoa học là những nhà điều tra đang tìm hiểu về vụ nổ nguyên thủy đó. Kính viễn vọng Không gian James Webb hy vọng sẽ giúp chúng ta thấy được những phần nguyên gốc của vụ nổ không thể nào hình dung nổi đã khai sinh vũ trụ vì những phần này đã hiện hữu từ ban đầu, ở nguồn gốc của mọi sự đang tồn tại. Khi thấy và xem xét chúng, khoa học mong hiểu rõ hơn về nguồn gốc vũ trụ chúng ta.

Nhìn các nhà khoa học phấn khích và hy vọng kính viễn vọng này sẽ cho chúng ta thấy ảnh của những hạt có từ thời điểm khởi thủy có thể giúp chúng ta hiểu tại sao thánh Gioan, tác giả phúc âm, không thể kìm nổi sự sốt mến nồng nhiệt khi nói về Chúa Giêsu trong thư thứ nhất của mình. Thánh Gioan háo hức về Chúa Giêsu, bởi vì Chúa đã có đó ngay từ khởi thủy của vũ trụ và sự thật là, Ngài là khởi thủy của vạn vật. Với thánh Gioan, Chúa Giêsu là kính viễn vọng thần nhiệm qua đó chúng ta có thể thấy vụ nổ nguyên thủy đã tạo nên vũ trụ, vì Chúa Giêsu đã hiện diện khi nó xảy ra.

Xin cho phép tôi mạo muội diễn dịch đoạn mở đầu Thư thứ nhất của thánh Gioan (1, 1-4) theo kiểu viết cho thế hệ chúng ta tò mò muốn biết về nguồn gốc của vũ trụ.

Anh chị em cần hiểu tôi nói về ai hay sự gì:
Đức Giêsu không chỉ là con người phi thường làm nhiều phép lạ hay thậm chí là con người sống lại từ cõi chết.
Chúng ta đang nói về Đấng đã hiện hữu ở nguồn gốc tận cùng của sự tạo dựng,
Đấng là nền tảng cho sự tạo dựng đó,
Đấng ở cùng Thiên Chúa khi Big Bang xảy ra,
và thậm chí là từ trước đó nữa.
Thế mà chúng tôi được thấy Ngài trong xác thịt bằng mắt phàm,
Thiên Chúa tạo ra Big Bang đang bước đi giữa chúng ta!
Chúng tôi thật sự đã chạm đến thân thể Ngài.
Chúng tôi thật sự đã nói chuyện với Ngài và nghe Ngài nói,
mà Ngài là Đấng đã hiện hữu ở nguồn gốc của vũ trụ chúng ta,
khi Big Bang xảy ra!
Quả thật, Ngài là Đấng đã mở đầu cho tiến trình đó,
với kế hoạch cho nó, một kế hoạch bao gồm cả chúng ta.
Anh chị em có muốn tìm hiểu sâu hơn về những gì xảy ra ở thời điểm khởi nguồn của chúng ta không?
Đức Giêsu là kính viễn vọng thần nhiệm để chúng ta nhìn qua.
Xét tận cùng, Ngài đã hiện hữu ngay từ khởi thủy
và thế mà chúng tôi lại được thấy, nghe và chạm đến Ngài!
Xin lượng thứ vì tôi quá hồ hởi, nhưng chúng tôi đã cùng đi và trò chuyện với Đấng đã hiện hữu từ thời điểm khởi đầu của thời gian.

Có nhiều loại kiến thức khác nhau và nhiều loại khôn ngoan khác nhau, cùng với đó là nhiều con đường khác nhau để tìm hiểu. Khoa học là một trong những con đường đó, một con đường quan trọng. Lâu nay, thần học và tôn giáo không xem khoa học là bạn. Đấy đã và đang là một sai lầm tai hại vì khoa học cũng có cùng điểm khởi đầu và ý định như thần học và tôn giáo. Thần học và tôn giáo sai mỗi khi cố hạ tầm quan trọng của khoa học hay khẳng định chỉ mình nắm giữ sự thật. Đáng buồn thay, khoa học cũng thường đáp trả và xem thần học, tôn giáo là địch thủ hơn là đồng sự. Hai bên cần nhau, không chỉ trong việc tìm hiểu nguồn gốc và dự định của vũ trụ này.

Làm sao chúng ta hiểu được nguồn gốc và dự định của vũ trụ này đây? Khoa học và Chúa Giêsu. Khoa học đang tìm hiểu những nguồn gốc này để nói cho chúng ta biết cách nó diễn ra, còn Chúa Giêsu, đã hiện diện khi nó xảy ra, thì muốn nói cho chúng ta biết tại sao nó xảy ra và nó có ý nghĩa gì.

Mười quyển sách hàng đầu của tôi năm 2021

Tôi không phải là nhà phê bình văn học và cũng không giả vờ mình ở tầm mức này. Đơn giản vì tôi không đọc đủ nhiều. Cuộc sống bận rộn và nhiều áp lực chỉ cho tôi chút thì giờ eo hẹp để đọc những gì không liên quan trực tiếp đến việc mục vụ của mình. Dù vậy, tôi cố trung thành với nguyên tắc tự đặt ra cho mình từ nhiều năm, cụ thể là đọc tám đến mười trang sách mỗi ngày, không tính tạp chí và báo. Như thế, một năm trung bình tôi có thể đọc được hơn ba ngàn trang.

Trong số những quyển sách tôi đọc năm nay, quyển nào tôi muốn giới thiệu đến quý độc giả nhất? Danh sách năm 2021 của tôi là gì?

Trong số sách phi hư cấu, sách về tâm linh, phát triển nhân bản và biến đổi con người, tôi xin giới thiệu những quyển sau:

  1. Dorothy Day, Về Hành hương, Thập kỷ 1960 – Một niên sử về đức tin và hành động thông qua một thập kỷ phản kháng, chủ nghĩa lý tưởng và thay đổi [Dorothy Day, On Pilgrimage, The Sixties – A Chronicle of faith and action through a decade of protest, idealism, and change] của Robert Ellsberg. Trong những thế hệ gần đây, chúng ta không có mấy người như Dorothy Day, cụ thể là một ngòi bút nổi bật vì tấm lòng tận tụy với công bằng xã hội và lòng mộ đạo cá nhân Các vị thánh không phải lúc nào cũng là nhà hoạt động xã hội và các nhà hoạt động xã hội không phải lúc nào cũng là vị thánh. Nhưng Dorothy Day là cả hai. Robert Ellsberg đã sống với bà trong những năm tháng cuối đời bà, là người phụ trách các bản thảo và đã làm được bộ sưu tập tuyệt vời các bài bà Dorothy viết trong thập kỷ 1960 hỗn loạn, một thập kỷ đầy những cuộc cách mạng xã hội và tôn giáo lớn hơn bao giờ hết.
  2. Nhân loại – Cách sự tái khẳng định giá trị con người và thực hiện sự nhân ái triệt để sẽ đưa chúng ta về lại với nhau [Human(Kind) – How Reclaiming Human Worth and Embracing Radical Kindness Will Bring Us Back Together] của Ashlee Eiland. Tôi mua quyển sách này để làm quà và nghĩ nên đọc nó trước để xem nó có đúng với những lời phê bình đầy khen ngợi không. Và nó đúng như thế, thậm chí còn hơn nữa. Đây là một loạt những bài tự thuật của một phụ nữ Mỹ gốc Phi trẻ tuổi đã giúp giải nghĩa cách để sống Bài giảng trên núi trong thời nay. Một quyển sách ngoại hạng! Nỗ lực sống tử tế trong một thế giới không tử tế.
  3. Tuổi già, Tái định nghĩa sự lão hóa, biến đổi y dược, tái hình dung sự sống [Elderhood, Redefining Aging, Transforming Medicine, Reimagining Life] của Louise Aronson. Tựa đề đã là tóm tắt chuẩn về quyển sách này. Là bác sĩ làm việc với người già, Aronson thách thức hệ thống y tế của chúng ta hướng đến lòng cảm thương sâu sắc hơn và thách thức để chúng ta thông hiểu hơn về lão hóa.
  4. Vẫn là Kitô hữu, Theo Chúa Giêsu ngoài tinh thần phái Phúc âm Mỹ [Still Christian, Following Jesus out of American Evangelicalism,] của David Gushee. Đây là tự thuật về hành trình tôn giáo và học thuật của Gushee, từ khi cải đạo (lúc còn trẻ, sâu sắc và chân thành) sang phái Phúc âm cho đến cách mà tiếng gọi lương tâm dần xóa bỏ mối quan hệ của ông với sự diễn đạt Kitô giáo này nhưng không ảnh hưởng đến quan hệ của ông với Chúa Giêsu. Bất kỳ ai, ở bất kỳ giáo phái nào, đang thấy khó ở trong giáo hội của mình, sẽ thu hoạch được nhiều điều từ quyển sách này.
  5. Sống giữa các thế giới – Tìm sức bật bản thân trong những lúc biến động [Living Between Worlds – Finding Personal Resilience in Changing Times] của James Hollis. Tâm lý học dành cho linh hồn. Không một bác sĩ tâm lý nào giải quyết được vấn đề của chúng ta, nhưng họ có thể giúp chúng ta tìm được một câu chuyện rộng lớn hơn, cho nỗi đau khổ của chúng ta có ý nghĩa và chân giá trị hơn. Quyển sách này làm việc đó.

Trong số sách hư cấu, đây là những quyển sách đánh động tôi nhất trong năm 2021.

  1. Oscar và bà áo hồng [Oscar et la dame rose] của Éric-Emmanuel Schmitt. Đây là một quyển sách đã xuất bản từ lâu, bản gốc tiếng Pháp (và đã có bản tiếng Việt). Nó là tuyển tập những lá thư hư cấu của một cậu bé viết cho Chúa khi đang đi đến những ngày cuối đời. Đơn giản mà sâu sắc. Một quyển sách đáng đọc.
  2. Trả đũa [Payback] của Mary Gordon. Tôi đọc bất kỳ tác phẩm nào của Mary Gordon. Bà luôn có điều quan trọng để chia sẻ. Quyển sách này thật sự đáng giá, trong đó bà viết về khối ung thư của báo thù và những hậu quả chúng ta gánh chịu khi nhầm lẫn sự giải khuây với khép lại vấn đề.
  3. Dù ở nơi đâu [Whereabouts] của Jhumpa Lahire. Vì những tác phẩm trước đây của Lahire, tôi cũng chọn đọc hết mọi tác phẩm của cô. Quyển này hơi khác với những tác phẩm trước, nhưng không làm tôi thất vọng. Có người từng nói rằng khôn ngoan khác biệt với hiểu biết vì khôn ngoan là trí tuệ kết hợp với sự thông hiểu. Đấy chính là nét đặc trưng của Lahire, và quyển sách này cũng thế.
  4. Thiên thần của cô Garnet [Miss Garnet’s Angel] của Salley Vickers. Có người gửi tặng tôi quyển sách này trong thời gian tôi phục hồi sau cuộc phẫu thuật lớn. Đây là quyển sách viết về “phép lạ”, không phải kiểu phép lạ đi trên mặt nước, mà là kiểu phép lạ có thực, ý nghĩa và ẩn giấu trong cuộc đời bình thường của chúng ta.
  5. Khu rừng của những tinh tú lụi tàn [The Forest of Vanishing Stars] của Kristen Harmel. Một câu chuyện hư cấu về những gia đình Do Thái cố thoát khỏi tay quân Phát xít bằng cách trốn trong rừng sâu. Câu chuyện này ban đầu có vẻ hơi ảo, nhưng dù là hư cấu, thật ra nó là tổng hợp câu chuyện chạy trốn quân Phát xít trong một cánh rừng cụ thể của một số gia đình có thật trong lịch sử.

Những quyển sách chúng ta cần đọc luôn tìm đến chúng ta, và tìm đến đúng vào lúc chúng ta cần đọc nó. Đời tôi đúng là thế. Tôi không chắc tại sao những quyển sách cụ thể này lại tìm đến tôi trong năm nay, nhưng chúng là những quyển tôi cần vào thời điểm này trong đời. Tôi phải thừa nhận, có thể các bạn sẽ không cảm nhận như thế!

Nhưng dù gì tôi cũng xin chúc các bạn đọc sách vui vẻ, đọc những quyển này, hay những quyển khác!

Không còn chỗ trong quán trọ

Chúa Giêsu ra đời ở bên ngoài thành phố, bên ngoài bệnh viện hay một ngôi nhà bình thường. Các sách Phúc âm cho chúng ta biết Chúa Giêsu ra đời ở chuồng bò, bên ngoài thành phố vì không còn chỗ trong quán trọ.

Chúng ta luôn chê ghét người chủ quán trọ xấu tính đã đuổi Đức Mẹ và thánh Giuse đi, và rút ra bài học là cần phải mở lòng ra để có chỗ cho nhiều chuyện khác xảy đến trong đời, chúng ta đừng quá bận rộn, quá bận tâm đến nỗi không có chỗ cho sự thánh thiêng nảy sinh trong đời chúng ta.

Thật ra, còn có một bài học nữa mà tôi nghiệm thấy quá cần thiết cho chính cuộc sống của tôi. Vì áp lực trong mấy năm qua, tôi chưa có dịp để suy tư sâu về Giáng Sinh. Hiện giờ trong quán trọ của tôi chẳng còn chỗ! Và tôi dần thấy thương cho người chủ quán trọ năm xưa, vì biết rằng chúng có thể chồng chất quá nhiều lên cuộc đời mình đến nỗi không còn chỗ để chào đón một vị khách thánh thiêng.

Đấy rõ ràng là một thách thức quan trọng dành cho chúng ta, nhưng đồng thời các học giả kinh thánh cũng nói rằng còn có một bài học sâu sắc hơn trong việc Chúa Giêsu ra đời ở một chuồng bò bên ngoài thành phố vì không còn chỗ cho Ngài trong quán trọ. Ý nghĩa thật sự trong các sách Phúc âm không phải nhắm đến sự nhẫn tâm của người chủ quán trọ, nhưng đúng hơn là nói đến sự thật, Chúa Giêsu ra đời ở bên ngoài thành phố, bên ngoài những gì tiện nghi thoải mái, bên ngoài danh vọng, bên ngoài những gì được công nhận bởi người giàu có và quyền thế, bên ngoài những gì được thế giới thường nhật chú ý đến. Chúa Giêsu ra đời giữa sự vô danh, nghèo hèn, không ai để ý ngoại trừ người có đức tin và Thiên Chúa.

Chúa ra đời ở bên ngoài thành phố cũng báo trước về cái chết và mai táng của Ngài. Cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu sẽ kết thúc như lúc khởi đầu, như một người lạ, một kẻ ngoài cuộc bị đóng đinh bên ngoài thành phố, được chôn cất bên ngoài thành phố hệt như khi Ngài ra đời bên ngoài thành phố.

Thomas Merton từng có một nhận định cực kỳ thấm thía như thế này: Ở thế giới này, ở quán trọ điên loạn này, tuyệt đối chẳng có chỗ cho Ngài, Chúa Kitô là khách không mời mà đến. Nhưng bởi Ngài không thể cư ngụ ở đó, bởi Ngài không thuộc về nơi đó, thế mà Ngài vẫn ở trong đó, cho nên chỗ của Ngài là ở với những người không có phòng để ở. Chỗ của Ngài là ở với những người không thuộc về chốn này, những người bị giới cầm quyền loại trừ vì họ bị xem là yếu đuối, không có uy tín, bị chối bỏ tư cách làm người, bị tra tấn, bị ném bom và bị diệt trừ. Cùng với những người không có phòng để ở đó, Chúa Kitô hiện diện trong thế giới này. Ngài hiện diện một cách bí nhiệm trong những người dường như là con số không, là cặn bã của thế giới.

Chúa Giêsu ra đời, vào thế giới mà chẳng ai để ý, ở bên ngoài thành phố, bên ngoài mọi con người và sự kiện có vẻ quan trọng vào thời điểm đó. Hai ngàn năm sau, bây giờ chúng ta công nhận tầm quan trọng của sự hạ sinh này. Thật ra chúng ta tính thời gian bằng mốc đó. Chúng ta đang ở năm thứ 2021 từ sau sự hạ sinh không đáng chú ý đó. Tuy nhiên, hiện giờ, gần như cũng không ai để ý.

Từ đây, chúng ta thấy được bài học gì? Một bài học, chuyện này phải cho chúng ta một quan điểm khác về những gì là tối quan trọng trong thế giới này và xét tận cùng, ai là người định hình lịch sử? Những người quyền thế hay những người ở ngoài rìa?

Theo Kinh thánh, hầu hết chúng ta đều sinh ra bên ngoài thành phố, nghĩa là trong đời mình chúng ta sẽ luôn mãi là kẻ ngoài cuộc, vô danh, xa lạ, nhỏ bé tầm thường, những vai phụ trong bức tranh toàn cảnh. Hình ảnh và câu chuyện của chúng ta sẽ không bao giờ được lên trang nhất. Tên tuổi của chúng ta sẽ không bao giờ tỏa sáng lấp lánh và chúng ta sẽ chết trong sự vô danh bình thường, chẳng được mấy ai ngoài nhóm thân quen biết đến.

Hầu hết chúng ta sẽ sống đời mình trong âm thầm chẳng mấy ai biết, ở những vùng nông thôn, thành thị nhỏ, ở những phần vô danh trong thành phố, đứng từ xa mà chứng kiến những sự kiện lớn của thế giới xảy ra và luôn thấy người khác quan trọng hơn mình. Dường như chúng ta sẽ mãi mãi vô danh, tài năng và đóng góp của chúng ta sẽ không được bất kỳ ai chú ý đặc biệt, thậm chí là cả người nhà cũng vậy. Có thể nói, chúng ta sẽ luôn “ở bên ngoài thành phố”. Chúng ta sống, làm việc, yêu thương và tạo nên sự sống ở những nơi thấp hèn.

Có lẽ đau đớn nhất là chúng ta sẽ biết được sự chán nản khi không thể đưa tài năng và thiên tư của chúng ta vào thế giới, nhưng vẫn cứ thấy rằng những hòa âm và giai điệu thâm sâu nhất trong chúng ta sẽ không bao giờ được thể hiện gì nhiều ở thế giới ngoài rìa này. Những ước mơ và sự phong phú sâu sắc nhất nơi chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được một sân khấu ở trần gian. Sẽ không bao giờ có chỗ trong quán trọ cho những gì tốt đẹp nhất nơi chúng ta ra đời. Những sự phong phú sâu sắc nhất trong chúng ta, cũng như sự hạ sinh của Chúa Giêsu, sẽ vẫn “ở bên ngoài thành phố”, rồi cuối cùng chết đi “bên ngoài thành phố”, chết trong đau đớn của kiếp vô danh và không thể tỏ lộ mình cho đủ.

Đức Mẹ đã sinh Chúa Giêsu trong một chuồng bò bên ngoài thành phố vì không còn chỗ trong nhà trọ. Chuyện này không chỉ là lời trách cứ sự phũ phàng của một chủ quán trọ đang quá căng thẳng vì áp lực. Bài học quan trọng hơn là cách chúng ta cần phải xác định đến tận cùng, điều gì định hình cuộc sống. Về căn bản, đó không hẳn là những người có vẻ đang ngự trị ở trung tâm mọi sự (người giàu có, quyền thế, danh nhân, lãnh đạo chính quyền, người nổi tiếng ngành giải trí, chủ các công ty tập đoàn, học giả) những người mà cuộc đời họ thành mốc lịch sử. Những gì sâu sắc nhất, ý nghĩa nhất và quan trọng nhất trong đời thường được sinh ra trong vô danh, không được giới quyền thế để ý đến, được trìu mến quấn trong khăn là đức tin, ở bên ngoài thành phố.

Lắng nghe linh hồn của chúng ta

Trong thời Thế chiến Thứ hai, khi Phát xít Đức chiếm đóng nước Pháp, một nhóm thần học gia Dòng Tên đã phản đối việc chiếm đóng bằng cách xuất bản một tờ báo ngầm, Tập sách Chứng từ Kitô (Cahiers du Temoignage Chretien), với dòng mở đầu bất hủ trên số báo đầu tiên: “Nước Pháp, cẩn thận đừng để mất linh hồn mình”. Chuyện đó làm cho tôi nhớ lại một câu của linh mục Hans Kolvenbach, cựu Bề trên Tổng quyền Dòng Tên. Nói về toàn cầu hóa, cha cho rằng một trong những điều cha sợ nhất về toàn cầu hóa, chính là sự toàn cầu hóa sự tầm thường. Một cảnh báo quá đúng!

Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự tầm thường hóa linh hồn trong nền văn hóa. Bây giờ không còn mấy chuyện siêu nhiên nữa, nghĩa là còn ít chuyện liên quan đến linh hồn. Những chuyện từng mang ý nghĩa thâm sâu, bây giờ lại liên quan đến những thứ bình thường hơn. Như tình dục chẳng hạn. Nền văn hóa này (trừ một vài giáo hội lẻ loi đứng ngoài xu thế) ngày càng tin rằng tình dục phải không liên quan đến linh hồn, trừ khi chúng ta muốn nó như thế và cho nó một ý nghĩa như thế. Ví dụ gần đây, trong một tranh luận, tôi nghe có người giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng về luân lý trong việc một giáo sư ngủ với sinh viên của mình bằng lập luận: có gì khác nhau giữa chuyện này với chuyện một giáo sư chơi quần vợt với sinh viên của mình chứ? Vậy quan điểm của người đó là gì? Tình dục không cần phải đặc biệt trừ khi chúng ta muốn nó đặc biệt. Có gì khiến làm tình khác với một trận quần vợt?

Chỉ có những người ngây thơ đến độ nguy hiểm mới không thấy sự khác biệt quá lớn về mặt linh hồn ở đây. Một trận quần vợt không chạm đến chiều sâu của linh hồn. Nhưng tình dục thì có, và nó là như thế không chỉ bởi một số giáo hội nói như thế. Chúng ta thấy rõ chuyện này khi nó bị xâm phạm. Freud từng nói, chúng ta hiểu rõ nhất cái gì đó khi nó vỡ. Ông nói đúng, và trong chuyện này, không gì thể hiện rõ hơn tác hại của bạo lực và lạm dụng tình dục lên người khác. Khi tình dục sai trái, thì có sự xâm phạm linh hồn quá lớn so với một trận quần vợt. Thậm chí nếu các giáo hội không khẳng định như vậy, thì tình dục vẫn là chuyện của linh hồn. Bởi vì nó liên kết với linh hồn theo những cách mà trận quần vợt không thể làm được. Mỉa mai thay, khi nền văn hóa này đang tầm thường hóa quan điểm truyền thống của xã hội về tình dục vốn xem nó liên quan đến linh hồn, thì những chuyên gia chữa trị tổn thương về tình dục lại thấy rõ hơn bao giờ hết sự khác biệt không thể so sánh nổi về mặt linh hồn, giữa chuyện bị lạm dụng tình dục với một trận quần vợt.

Tuy nhiên, chúng ta không chỉ đang tầm thường hóa chuyện của linh hồn, mà còn chật vật trong việc lắng nghe linh hồn. Một điều đáng chú ý là thời nay, lời cảnh báo này không phải đến từ các giáo hội cho bằng đến từ các triết gia theo thuyết bất khả tri và những nhà phân tích tâm lý theo trường phái Jung. Ví dụ như, nét chủ đạo trong những bài viết của James Hillman, triết gia theo thuyết bất khả tri về linh hồn, nói rằng nhiệm vụ của cuộc sống là sống trong cảm xúc sâu đậm của linh hồn và chúng ta chỉ có thể sống được khi lắng nghe linh hồn của mình. Và ông thừa nhận, có rất nhiều thứ đang lâm nguy. Trong quyển sách Tự tử và Linh hồn (Suicide and the Soul), ông cho rằng đôi khi trong chuyện tự tử, linh hồn không thể kêu thấu ai, nên cuối cùng đã giết đi thân xác.

Tâm lý chiều sâu cũng có những cái nhìn tương tự và cho rằng sự hiện diện của một số triệu chứng nhất định như trầm cảm, lo âu quá độ, rối loạn mặc cảm tội lỗi và nhu cầu cần tự chữa cho mình thường là tiếng kêu của linh hồn muốn được lắng nghe. Tiến sĩ tâm lý theo trường phái Jung, James Hollis, cho rằng đôi khi chúng ta có những ác mộng là bởi linh hồn đang giận dữ với chúng ta, ông còn nói rằng, khi thấy những triệu chứng đó, chúng ta cần tự hỏi: “Linh hồn muốn gì nơi tôi?”

Thật sự, linh hồn muốn gì nơi chúng ta? Linh hồn muốn nhiều thứ, dù về bản chất quy về ba điều này: được bảo vệ, được tôn kính, và được lắng nghe.

Trước hết, linh hồn cần được bảo vệ khỏi sự xâm phạm và tầm thường hóa. Những gì nằm ở nơi thâm sâu nhất của chúng ta, ở trọng tâm linh hồn chúng ta, là điều mà Thomas Merton từng mô tả là điểm trinh nguyên. Tất cả những gì thiêng liêng nhất, dịu dàng nhất, chân thật nhất và yếu đuối nhất nơi chúng ta trú ở đó, và dù linh hồn chúng ta liên tục xin bảo vệ, nhưng linh hồn không thể tự bảo vệ chính mình. Linh hồn cần chúng ta bảo vệ điểm trinh nguyên đó.

Thứ hai, linh hồn cần được tôn kính, cần chúng ta tôn trọng sự thiêng liêng của nó và nhìn nhận chiều sâu của nó. Linh hồn cứu rỗi là “bụi gai đang cháy” mà chúng ta cần cởi giày khi đến gần. Đánh mất sự tôn kính đó chính là tầm thường hóa chiều sâu của chính mình.

Cuối cùng, linh hồn cần được lắng nghe. Tiếng kêu, sự kháng cự của linh hồn và những giấc mơ mà linh hồn cho chúng ta trong giấc ngủ, là những điều mà chúng ta phải lắng nghe. Hơn nữa, linh hồn cần được lắng nghe không chỉ trong những lúc hăng hái mà còn trong những lúc nặng nề, buồn sầu, giận dữ. Cũng thế, chúng ta cần phải lắng nghe cả yêu cầu được bảo vệ của linh hồn và thách thức của linh hồn muốn chúng ta mạo hiểm.

Linh hồn là điều quý báu xứng đáng để chúng ta bảo vệ. Linh hồn là tiếng nói thâm sâu nhất trong chúng ta, nói lên những gì quan trọng nhất và đánh động nhất trong đời chúng ta, và chúng ta cần luôn mãi để ý đến lời cảnh báo này: cẩn thận đừng để mất linh hồn mình.

Nhân loại – Ashlee Eiland

Tôi không bao giờ có thể làm nhà phê bình văn học, không phải vì tôi không thể phân biệt được tác phẩm hay và dở, nhưng vì tôi thiếu sự phê bình mạnh bạo. Nếu không thích quyển nào đó, tôi ngại không dám nói ra. Ngược lại, nếu thích quyển nào đó, tôi có khuynh hướng cổ vũ hơn là đánh giá phê bình quyển sách đó. Dù là thế, tôi muốn khẳng định giá trị quyển sách Nhân loại – Phục hồi giá trị nhân văn và thực thi lòng nhân triệt để sẽ đưa chúng ta đến lại với nhau như thế nào (Human Kind) – How Reclaiming Human Worth and Embracing Radical Kindness Will Bring Us Back Together), một quyển sách mới của tác giả Ashlee Eiland,

Đây không phải là quyển sách đa cảm hay ho về việc chúng ta cần tử tế với nhau như thế nào. Đúng hơn, quyển sách này là Bài giảng Trên núi cho thời đại chúng ta, hay ít nhất là cách chúng ta phải sống Bài giảng Trên núi như thế nào. Làm sao để chúng ta giữ vững tình cảm, nồng hậu và nhân tính trong mọi sự có khuynh hướng khuếch đại không lành mạnh hoặc làm tâm hồn chúng ta chua cay đây? Tác giả Ashlee diễn tả thế này.

“Đây là câu chuyện của tôi, câu chuyện của một phụ nữ da đen lớn lên ở miền Nam và đã khám phá được sự toàn vẹn cũng như những hố sâu trên đường đời. Khi nhìn lại cuộc đời của tôi, tôi thấy có những khoảnh khắc mà tôi nhớ như in. Ngẫm lại, chúng rõ như in vì chúng quan trọng. Chúng là những dấu mốc cho tôi theo những cách vừa đẹp vừa đau đớn. Nhưng khi tôi nhìn lại những khoảnh khắc và ký ức này, tôi nhận ra chúng quan trọng bởi vì chúng dạy cho tôi phải tử tế với nhân cách đáng giá của chính tôi. Nhớ lại chúng giúp tôi công nhận những tặng vật tốt lành tôi đã nhận, những tặng vật mà giờ tôi mong trao cho người khác, và nó còn cho tôi thấy những khoảnh khắc đau đớn và khổ sở là những cơ hội để trở nên con người trọn vẹn hơn, để nhắc nhở tôi đón nhận ân sủng ngay giữa sầu khổ”.

Quyển sách là một loạt truyện về cuộc đời của tác giả, tất cả được kể ra một cách tài tình và được viết ra bởi một nghệ sĩ không hề bị rơi vào kiểu sướt mướt hay thương thân trách phận. Và chúng là những câu chuyện kể về ân sủng cũng như tổn thương. Cuộc đời của tác giả Eiland là một cuộc đời đầy những chuyện tương phản.

Một mặt, cuộc đời cô đầy hồng ân, có cha mẹ yêu thương, có cơ hội học tập hàng đầu, chưa hề kiệt quệ tài chính, và luôn có gia đình cũng như cộng đồng ủng hộ. Mặt khác, cô sống cuộc đời của một phụ nữ da đen trong một thế giới bất công và bất bình đẳng. Cô đã phải sống như một người luôn phải ý thức về màu da của mình, mỗi lần đến đâu là phải nhìn quanh để xem ở đó có bao nhiêu người như mình. Cô còn phải chịu đựng những câu kỳ thị chủng tộc cay nghiệt nhất. Và như cô nói, cô đã mang lấy những vết sẹo hằn sâu, vừa đau đớn vừa đẹp đẽ.

Ví dụ câu chuyện cô kể về một lần cô đến nhà hàng với vài người bạn gốc Á để ăn món bánh bao đặc sản Hàn Quốc. Tối đó ổn cả, và khi từ nhà hàng ra về, cười đùa với các bạn trong xe, cô cảm thấy như một gánh nặng cả đời đã được trút khỏi lòng cô. “Lần đầu tiên, tôi không cảm thấy như thể mình phải định giá cuộc nói chuyện bằng một lời nhắc nhở với bạn tôi – hoặc với chính tôi – về chủng tộc của tôi. … Trước hôm đó, tôi cảm thấy mình phải rón rén bước qua bước về giữa hai thế giới. Nhưng tôi nhận ra kiểu này đi kèm với sự hổ thẹn. Nó tạo điều kiện cho tuyến chuyện “không trọn vẹn” bùng lên, đe dọa cái thường là phần tốt đẹp nhất trong việc chia sẻ cuộc sống với nhau”.

Chúng ta cần lời kể của tác giả. Chúng ta sống trong một thời đại của cay đắng và chia rẽ, nơi thảo luận dân sự và sự tôn trọng đã bị vùi dập, nơi chúng ta quỷ hóa người khác, nơi bất công, bất bình đẳng và kỳ thị chủng tộc vẫn là những thứ định hình chúng ta, và nơi sự tử tế thường bị xem là yếu đuối. Hơn nữa, có một kiểu siêu nhạy cảm đang bị kích động hơn bao giờ hết làm cho một lời có ý tốt cũng có thể là mầm họa khủng khiếp. Hoang tưởng đã thay thế cho sám hối, và nó khơi ra những gì xấu xa nhất nơi chúng ta.

Tác giả Ashlee Eiland cho chúng ta một công thức khơi lên những gì tốt đẹp nhất nơi chúng ta. Chúng ta phản ứng thế nào trước bất công, xúc phạm, và sự quỷ hóa người khác? Ví dụ như, đây là cách cô ấy phản ứng sau khi cô cố gắng tử tế với người khác và bị đáp lại bằng một câu chửi kỳ thị chủng tộc nặng nề nhất thẳng vào mặt: “Bị sỉ nhục, tôi đã dốc sức, làm hết sức có thể trong một buổi chiều… nhưng tôi biết rằng đôi khi làm việc tốt là không đủ. Đôi khi chúng ta phải chấp nhận những sự khó khăn và sỉ nhục trong nỗ lực khó khăn tạo tình hiệp nhất và cố hết sức đừng để mình gục ngã vì nó. Thay vào đó, chúng ta cần để nó định hình chúng ta theo một cách khác, giúp chúng ta tỉnh táo và thúc đẩy chúng ta phải bỏ đi lăng kính hồng, thừa nhận rằng đôi khi nỗ lực xích lại gần, làm việc tốt và hàn gắn khoảng cách giữa người với người lại không đem lại kết quả như chúng ta mong muốn. Nhưng có lẽ nó cũng đáng để chúng ta xuất đầu lộ diện”.

Không có tính phê bình mạnh bạo, tôi không chắc lắm cái gì tạo nên “linh hồn âm nhạc”, nhưng tôi vẫn có thể nhận ra “linh hồn văn học”.

Rời bỏ Giáo hội

Vì sao có quá nhiều người đang rời bỏ các nhà thờ của họ? Không có câu trả lời chung nào cho câu hỏi này. Con người thì phức tạp. Đức tin thì phức tạp. Các vấn đề thì phức tạp.

Trước câu hỏi này, có lẽ chúng ta chia thành từng nhóm thì sẽ hợp lý hơn. Nhóm Không, nhóm Bỏ, nhóm sống Tâm linh mà không Tôn giáo, nhóm Lãnh đạm, nhóm Nổi giận, và nhóm Ngoài lề. Các nhóm này có thể chồng chéo nhau, nhưng mỗi nhóm đều có tập hợp vấn đề riêng của họ đối với Giáo hội.

Nhóm Không là những người từ chối xác định bản thân dù với bất cứ đức tin hay tôn giáo nào. Khi điền vào ô “tôn giáo hay tín ngưỡng của bạn?” họ sẽ trả lời “không”. Lập trường của họ là lập trường bất khả tri. Họ không hẳn là người vô thần hay thù địch với tôn giáo, tín ngưỡng và các Giáo hội. Đúng hơn là, vào thời điểm đó trong đời, họ từ chối xác định bản thân bằng bất kỳ đức tin cụ thể hay bất kỳ giáo hội nào. Một số thì khiêm tốn về chuyện này, một số thì huyênh hoang, nhưng xét cho cùng, lập trường của họ đều như nhau, là chủ nghĩa bất khả tri về tôn giáo và đức tin.

Nhóm Bỏ, là những người nói rằng họ chịu hết nổi tôn giáo và thường cũng chịu hết nổi một đức tin cụ thể rõ ràng. Họ từ bỏ! Họ có nhiều lý do, từ việc khi còn nhỏ họ có một vài kinh nghiệm xấu với tôn giáo, đến việc họ giận giáo hội, hay sức mạnh độc hại của một nền văn hóa tự cho mình là đủ để thay thế tôn giáo. Họ đã bước vào, đã muốn theo tôn giáo, rồi từ bỏ.

Nhóm sống Tâm linh mà không Tôn giáo là những người tin vào giá trị tâm linh nhưng không tin vào bất kỳ giáo hội nào. Họ đã chọn theo đuổi con đường tâm linh bên ngoài cộng đồng giáo hội, tin rằng (ít nhất đối với họ) tốt nhất nên đi hành trình tâm linh ngoài khuôn khổ của một tôn giáo có tổ chức. Có nhiều lý do dẫn đến thái độ này, trong đó không thể không kể đến tâm thức áp đảo của chủ nghĩa cá nhân và tự do cá nhân đang chi phối nền văn hóa chúng ta. Trong hành trình đức tin thời nay, người ta có xu hướng chỉ tin tưởng những mưu cầu và trải nghiệm riêng của chính mình.

Nhóm Lãnh đạm đúng như tên gọi, họ lãnh đạm với tôn giáo (dù có thể họ vẫn giữ đức tin ở một chừng mực nào đó). Có vô số lý do làm cho người ta lãnh đạm với tôn giáo hoặc có thể là lãnh đạm với cả đức tin. Nền văn hóa chúng ta, giữa biết bao nhiêu điều tốt, tự nó cũng là một chất ma túy hạng nặng, gây mê bản năng tôn giáo của chúng ta và làm cho chúng ta tin vào điều mà triết gia Charles Taylor gọi là chủ nghĩa nhân văn tự đủ. Trong nhiều phần đời của chúng ta, dường như thế giới tự nó là đủ, và khi nghĩ như thế thì lãnh đạm với tôn giáo là một lựa chọn khá rõ ràng cho những người này.

Nhóm Nổi giận là những người vì những lý do họ biết rõ, họ không còn đến với Giáo hội nữa. Và lý do có thể rất nhiều – như xâm hại tình dục của giáo sĩ, các đối xử của Giáo hội với phụ nữ, kỳ thị chủng tộc, việc Giáo hội không sống trọn ý nghĩa phúc âm, việc Giáo hội của họ can dự hoặc không can dự đến chính trị, những xung đột từng có với Giáo hội của họ, gặp phải một mục tử tồi hay một bất công trong chuyện mục vụ. Những người thuộc nhóm này có lúc tìm kiếm một giáo hội mới nơi một giáo phái khác, nhưng nhiều người đơn giản là không còn dính dáng gì đến Giáo hội nói chung nữa.

Nhóm Ngoài lề là những người cảm thấy mình nằm ngoài phạm vi thông hiểu, cảm thương và linh đạo của Giáo hội. Như thế là bao gồm cả những người thuộc cộng đồng LGBTQ, những người vô gia cư trên đường phố, hàng vạn người cảm thấy (dù ý thức hay vô thức) rằng sự rối ren trong cuộc đời họ đã đẩy họ ra khỏi cộng đồng Giáo hội. Họ cảm thấy mình là kẻ lạc loài với tôn giáo và các Giáo hội.

Người ta rời bỏ Giáo hội vì nhiều lý do và điều này đặt cho chúng ta những câu hỏi sâu xa hơn nữa. Khi nào người ta rời bỏ Giáo hội và khi đó thật sự là họ rời bỏ điều gì? Sau đó, họ đi đâu, hay rơi vào ngõ cụt?

Trong một quyển sách mới phát hành gần đây, Sau Phúc âm hóa, Con đường đến với Kitô giáo Mới [After Evangelicalism, The Path to a New Christianity], tác giả David Gushee đã đặt câu hỏi này về những người rời bỏ Giáo hội. Họ có hiểu rõ mình thật sự đang rời bỏ điều gì không? Họ có biết liệu họ đang rời bỏ Giáo hội, rời bỏ giáo phái, rời bỏ đức tin, rời bỏ Chúa Giêsu, hay đơn giản chỉ là rời bỏ?

Quan trọng hơn nữa, rồi họ sẽ thế nào? Họ sẽ gia nhập một giáo phái khác, hay là sống kiểu Tâm linh mà không Tôn giáo, bất khả tri, hay vỡ mộng?

Có lẽ câu hỏi này không quan trọng lắm đối với nhóm Không, nhóm Bỏ, nhóm sống Tâm linh mà không Tôn giáo, nhóm Lãnh đạm và phần nhiều ở nhóm Ngoài lề, nhưng đối với nhóm Nổi giận, với những người cảm thấy ghẻ lạnh Hội thánh của mình, thì vấn đề này quan trọng. Mình sẽ đi đâu, khi cơn giận làm mình tránh xa bàn ăn gia đình? Mình tìm một gia đình cùng tâm thức hơn sao? Mình có từ bỏ tìm kiếm một bàn ăn gia đình không? Mình cứ ở nhà sáng chúa nhật ư? Có ổn không nếu mình vẫn giận dữ trong giờ lâm chung? Mình có hài lòng không nếu cứ ở trong tình trạng vỡ mộng?

Đối với việc rời bỏ Giáo hội, có hai câu hỏi rõ ràng mà chúng ta phải chất vấn. Tại sao ngày càng nhiều người rời bỏ Giáo hội hay đơn giản là không tìm đến với Giáo hội nữa? Và tương lai tôn giáo của những người không còn đến với Giáo hội sẽ ra sao? Câu hỏi đầu tiên là dành cho các Giáo hội, câu hỏi thứ hai là để những người không còn đến với Giáo hội suy ngẫm.

Đối diện với sự tê liệt cảm xúc

Sức mạnh lớn nhất của chúng ta thường là chuyện yếu đuối lớn nhất của chúng ta. Nhạy cảm là một thiên tư, nhiều người nhạy cảm sẽ nói cho bạn biết, thiên tư đó có thể là một ơn rất phức tạp. Có lúc, sự gan lỳ dày dạn có thể cứu bạn khỏi nhiều đau khổ, nhất là những đau khổ trong trái tim.

Ngòi bút thiêng liêng Henri Nouwen là người vô cùng nhạy cảm. Đó vừa là ơn vừa là lời nguyền của cha. Cha đã đau khổ nhiều vì sự nhạy cảm của mình. Ví dụ như, đã có vài lần cha yêu đến tuyệt vọng, nhưng vì đã khấn lời khấn độc thân khiết tịnh và vì tình cảm hai phía không như nhau, nên cha bị bỏ rơi trong nỗi ám ảnh, nản lòng và tê liệt về mặt cảm xúc. Những cảm giác ám ảnh ấy chiếm lấy cha đến nỗi cha đã phải nhờ đến trị liệu y khoa. Theo lời thú nhận của cha, đó là những giai đoạn tăm tối và đau đớn nhất đời cha.

Trên đời này, có nhiều người giống như cha và trong mỗi một chúng ta cũng có phần nào đó giống như cha, vô cùng nhạy cảm. Một trong những người mà cha Nouwen xem là anh hùng là họa sĩ Vincent Van Gogh, một người đã khổ sở vì sự nhạy cảm quá độ, đến nỗi có lúc vì quá đau đớn trong tình yêu mà ông đã cắt đứt một tai rồi gửi cho người ông yêu. Một người nữa mà cha Nouwen thần tượng là triết gia người Đan Mạch, Soren Kierkegaard, với những tác phẩm tôn giáo và triết học thấm đẫm cô đơn của ông. Không phải ngẫu nhiên khi quá nhiều thiên tài đầy sáng tạo, như họa sĩ, nhà văn, diễn viên, thường rơi vào vòng kìm tỏa của ám ảnh cảm xúc. Tôi cho rằng chuyện này cũng đúng với tất cả chúng ta ở một mức độ nào đó.

Chúng ta phải làm gì khi ám ảnh cảm xúc làm chúng ta tê liệt?

Tôi đã hai lần đặt câu hỏi này cho các bác sĩ tâm lý. Lần đầu tiên là với nhà tâm lý học lừng danh người Hà Lan, Antone Vergote. Tôi đã hai lần được dự khóa học của ông, và một lần tôi đã hỏi ông câu này: Làm sao để giúp một người bị tê liệt quá đỗi vì thất tình hay một nỗi đau đớn khác làm cho người đó phải tự tử? Ông trả lời một cách rất khiêm tốn. Ông nói, đây là một tình trạng khó xử lý nhất trong bản thân, trong gia đình, trong bạn bè và trong cả việc mục vụ cũng như tư vấn tâm lý. Ông thừa nhận, tâm lý học vẫn còn đấu tranh để xác định cách phản ứng hữu hiệu và cho rằng có lẽ chúng ta có thể tìm được nhiều quan điểm khai sáng trong tác phẩm của những tiểu thuyết gia vĩ đại.

Sau đó ông cho biết, ám ảnh cảm xúc là một dạng của tập trung quá độ, một sự gắn chặt giữ chúng ta trong vòng kìm tỏa của nó, cho đến khi chúng ta có thể phá vỡ ấn niêm. Và cái có thể giúp ích trong tình trạng này là một sự phân tâm, bất kỳ thứ gì có thể khiến tâm trí người đó rời khỏi sự cố định chặt cứng đó. Tôi biết nói thế này có vẻ không ổn, nhất là khi chúng ta luôn nghe lời khuyên trong đạo, “hãy đưa những vấn đề của mình đến nhà nguyện”. Chẳng phải cầu nguyện là câu trả lời sao? Phải, và nên là thế, nhưng việc đó cũng có những nguy cơ. Nếu chúng ta đang trong vòng kìm tỏa của một nỗi ám ảnh, thì ở một mình trong nhà nguyện có vẻ không phải là môi trường lý tưởng. Khi đang bị tê liệt về cảm xúc và lại ở một mình, thì bóng tối sẽ chiếm lấy chúng ta. Trong những thời khắc tăm tối nhất, chính Thiên Chúa nhập thể, ngón tay của Thiên Chúa qua sự chăm sóc của tha nhân, mới chính là nhà nguyện thật sự mà chúng ta cần tìm đến.

Nhà tâm lý học thứ hai mà tôi hỏi về vấn đề này đã bổ sung thêm lời khuyên này: Đừng bao giờ ở một mình trong dạng bóng tối này. Thật vậy, đừng bao giờ một mình đi vào bóng tối đó. Hãy ở cùng ai đó, một người bạn, một người thầy, một bác sĩ, người tư vấn, một người cùng cảnh ngộ, bất kỳ ai. Tôi nhớ một chuyện từ vài năm trước, một thanh niên tìm đến tôi, anh đang chịu dạng ám ảnh này, anh bảo, anh muốn lái xe một mình đến miền núi, thuê một ngôi nhà gỗ biệt lập và “nghĩ cho thông”. Tôi mạnh mẽ khuyên anh tuyệt đối đừng làm thế, vì cô độc và tách biệt khi đang ở trong nỗi ám ảnh này có thể sẽ vô cùng nguy hiểm. Cái anh cần là những gì có thể giúp anh phân tâm, là công việc, bạn bè, đời sống bình thường, những kiểu thoát ly hiện thực thông thường.

Đâu phải ai cũng được như Chúa Giêsu, một mình đi vào bóng tối của cuộc khổ nạn. Ngoại trừ khi, Ngài không hề cô độc. Ngài ở cùng Cha. Nếu chúng ta có đức tin đủ mạnh, chúng ta sẽ biết có Chúa ở bên cạnh chúng ta, như thế chúng ta có thể mạo hiểm đi vào bóng tối một mình. Vậy, chúng ta có thể đưa sự tê liệt cảm xúc của mình đến nhà nguyện, đến ngôi nhà gỗ trên miền núi hẻo lánh. Tuy nhiên, nếu chúng ta sợ bản ngã đầy thương tích của mình làm chúng ta bất lực và nghĩ đến chuyện tự tử, thì chúng ta hãy giữ chặt bàn tay của một người bạn đáng tin cậy hay bám lấy bất kỳ sự phân tâm nào có thể phá vỡ nỗi ám ảnh đang làm chúng ta tê liệt.

Một trong những lần cha Henri Nouwen phải đi bác sĩ vì chứng trầm cảm, cha đã viết quyển sách “Tiếng nói bên trong của tình yêu”, để chia sẻ cách cha đương đầu với chuyện này. Cái mà cha nghiệm ra được là trái tim của chúng ta lớn hơn những vết thương của chúng ta, nhưng khi ở trong bóng tối, không phải lúc nào chúng ta cũng biết được thế.

Khái niệm về ơn gọi

Tôi lớn lên trong một thế hệ được dạy rằng Thiên Chúa cho mỗi một người chúng ta một ơn gọi để sống. Trong tâm thức tôn giáo thời đó, nhất là trong linh đạo của công giáo la-mã, chúng tôi tin rằng mình được đưa đến địa cầu với một kế hoạch thần thiêng, tin rằng Thiên Chúa cho mỗi người một ơn gọi đặc biệt để sống. Hơn nữa, dây không phải một thứ mà chúng ta được tự do chọn lựa, đó là ơn Thiên Chúa ban. Nhiệm vụ của chúng ta là phân định được ơn gọi và dốc mình theo ơn gọi đó, thậm chí với cái giá từ bỏ những ước mơ của mình. Chúng ta vẫn được tự do chấp nhận nó hoặc không, nhưng có cái giá. Không trung thành với ơn gọi của mình nghĩa là sống một cuộc sống lạc lối.

Quan niệm như thế có một sự thật quan trọng, dù vẫn thiếu một số nét trọng yếu khác. Trước hết, trong tinh thần đó, chúng ta nghĩ về ơn gọi theo một ý niệm rất hạn chế, vạch ra bốn ơn gọi căn bản là: linh mục, tu trì, hôn nhân và độc thân. Xa hơn nữa, chúng thường gây sức ép lên chọn lựa, cụ thể là nếu chọn sai là chúng ta đang đi ngược lại ơn gọi Chúa ban, và nó có thể gây hại cho ơn cứu rỗi đời đời của chúng ta. Và như thế là có những nỗi sợ không lành mạnh liên kết với việc chọn lựa.

Tôi đã chứng kiến tận mắt khi làm bề trên tỉnh dòng trong sáu năm. Một trong những việc của tôi là gởi đơn xin hoàn tục về Rôma. Tôi đã thấy nhiều người từ bỏ chức linh mục do trước đó đã chọn ơn gọi vì áp lực và nỗi sợ sai lầm. Lựa chọn của họ không tự do.

Thật đáng buồn là quan niệm cũ về ơn gọi về căn bản vẫn đúng và quá dễ thất lạc trong một thế giới và văn hóa thường đặt tự do cá nhân lên trên tất cả. Chúng ta cần học lại tầm quan trọng của việc tìm thấy ơn gọi và dốc trọn bản thân theo đó. Phải thừa nhận, ơn gọi cần được định nghĩa rộng hơn bốn chọn lựa căn bản: linh mục, tu trì, hôn nhân và độc thân. Thay vào đó, nó cần được xác định là một sự quy phục với những mệnh lệnh nội tại của linh hồn, những thiên tư, tài năng của chúng ta và một ủy lệnh không thể thương lượng thôi thúc chúng ta dốc mình phục vụ tha nhân và thế giới.

James Hollis, một bác sĩ tâm lý theo trường phái tâm lý gia Jung, đã viết từ quan điểm thuần thế tục, nêu bật rõ ràng điểm này. “Những khao khát thật sự và định mệnh của chúng ta không phải được chọn lựa bởi bản ngã của chúng ta, nhưng bởi bản tính của chúng ta và “trời” … Trong chúng ta có một cái gì đó biết điều gì là đúng đắn cho chúng ta và việc nó nhất quyết muốn thể hiện ra chính là cái giữ chúng ta tỉnh thức trong màn đêm, thúc đẩy chúng ta từ nội tại trong những giờ phút bận rộn nhất hoặc khiến chúng ta ghen tỵ với người khác. Ơn gọi là những lời hiệu triệu của linh hồn. … Nó như thể là chúng ta được sai đến mảnh đất này với một ủy lệnh hoàng gia, và nếu chúng ta cứ dao động và quên lãng nhiệm vụ, thì chúng ta đã vi phạm nguyên do chúng chúng ta tồn tại ở đây”. Thật đúng.

Nhà báo David Brooks, cũng nói từ quan điểm thế tục, đã mạnh mẽ ủng hộ điều này. Ông viết rằng, ơn gọi là một yếu tố phi lý mà trong đó chúng ta nghe một tiếng nói nội tâm quá mạnh mẽ đến nỗi không thể nào ngoảnh mặt lại với nó, chúng ta trực cảm biết, không có chọn lựa nào ngoài tự hỏi chính mình: trách nhiệm của tôi là gì? Cũng vậy, những lời kêu gọi chúng ta theo ơn gọi, chính là lời thánh thiêng, một cái gì đó thần nghiệm, một tiếng gọi từ thâm sâu. Do đó, phân định ơn gọi không phải là chuyện hỏi xem mình kỳ vọng những gì từ cuộc đời, nhưng đúng hơn là cuộc đời kỳ vọng những gì nơi mình.

Chúa Giêsu sẽ nói gì về chuyện này? Như chúng ta biết, Chúa Giêsu thích dạy bằng dụ ngôn, và dụ ngôn của ngài về nén bạc (Matthêu chương 25 và Luca chương 19) là về sống trọn ơn gọi mà Thiên Chúa ban. Trong dụ ngôn đó, những ai dùng tài năng của mình thì ngày càng phát triển và được ban thêm tài năng. Ngược lại, những ai giấu tài năng của mình thì bị trừng phạt. Về căn bản, thông điệp là: Nếu chúng ta dùng tài năng Thiên Chúa ban, chúng ta sẽ tìm được ý nghĩa và ân phúc trong đời, ngược lại, nếu chúng ta không sử dụng tài năng của mình, thì những ơn đó trở ngược lại gây hại cho chúng ta, đầu độc hạnh phúc chúng ta và thường làm cho tinh thần chúng ta nên cay đắng. Hãy chỉ cho tôi một người cay đắng và ghen tỵ đi, hầu như đó luôn là người có tài, nhưng dù vô thức hay có ý thức, họ đang nản lòng vì đã không dùng tài năng hoặc dùng tài năng theo cách không phục vụ tha nhân. Cay đắng và ghen tỵ thường là thặng dư của việc không dùng hoặc dùng sai trí tuệ và tài năng của mình.

Trong chúng ta, có một tiếng nói phát xuất từ thâm sâu trong linh hồn lên tiếng vì những tài năng, tính khí, hoàn cảnh riêng biệt của chúng ta trong đời, những nhạy cảm tôn giáo và đạo đức, thậm chí là những tổn thương của chúng ta. Tiếng nói đó nhẹ nhàng nhưng cương quyết và không bao giờ ngơi mách bảo chúng ta, rằng chúng ta không được tự do làm bất kỳ điều gì mình muốn trong đời. Chúng ta cần quy phục trước một sự gì đó cao hơn chúng ta.

Và thật sự là nếu không lắng nghe nó sẽ gây ra những nguy cơ, dù có thể không hại đến ơn cứu rỗi đời đời, nhưng cũng có thể tác hại đến hạnh phúc và sự sinh sôi của chúng ta ở đời này.

Tự cho mình một câu chuyện tốt hơn

Trong quyển sách mới đây, Sống giữa các thế giới (Living Between Worlds), tác giả James Hollis đã cho chúng ta một ý tưởng thâm thúy. Một bác sĩ tâm lý nói với bệnh nhân, “Tôi không thể giải quyết vấn đề của anh, nhưng tôi có thể cho anh một câu chuyện hấp dẫn hơn về khổ sở của anh”. Đúng là một câu thâm thúy. Chúng ta thấy tốt hay tệ về bản thân thường dựa trên loại chuyện nào chúng ta nghĩ về cuộc đời mình.

Tôi nhớ một hội nghị chuyên đề với diễn giả chính là linh mục trẻ người Canada nói tiếng Pháp, Pierre Olivier Tremblay. Cha Tremblay mở đầu bài nói chuyện với những lời này: “Tôi là cha tuyên úy ở một trường đại học, làm việc với các sinh viên trẻ tuổi. Họ đầy sức sống, ước mơ và sinh lực, tuy nhiên, đáng buồn thay, họ hầu như không có hy vọng vì họ không có siêu-tuyến chuyện (meta-narrative). Họ khổ sở vì không có một câu chuyện với cái nhìn rộng hơn để hiểu bản thân và hiểu chuyện đời họ. Câu chuyện của họ, dù quý báu như bản thân họ, lại quá nhỏ bé và cá nhân đến nỗi họ khó mà rút ra được gì nơi đó mỗi khi gặp phải đau đớn và buồn sầu. Họ cần một câu chuyện rộng lớn hơn, một siêu tuyến chuyện. Dù cái đó không nhất thiết xóa bỏ được đau đớn và buồn sầu của họ, nhưng nó sẽ cho họ một cái gì đó rộng lớn hơn để từ đó họ hiểu được đau khổ của mình”.

Nghe những lời này làm tôi nghĩ về cha mẹ tôi và linh đạo đã góp phần nâng đỡ họ và thế hệ của họ. Cha mẹ tôi có một siêu-tuyến chuyện, cụ thể là câu chuyện lịch sử cứu rỗi của kitô giáo, và trong câu chuyện đó, thuở ban đầu, ông Adong và bà Evà đã phạm tội nguyên tổ gây méo mó hiện thực đến nỗi chúng ta không thể nào đạt được sự hòa hợp trọn vẹn trong đời. Khi cuộc sống khó khăn, mà chúng ta ai cũng từng gặp, họ có một quan điểm tôn giáo về lý do tại sao họ nản lòng và đau đớn. Họ hiểu mình được sinh ra trong một thế giới khiếm khuyết và bản chất khiếm khuyết. Do đó, trong lời cầu nguyện của họ nói đến chuyện “khóc than trong thung lũng nước mắt”.

Ngày nay, chúng ta có vẻ không thích và xem đó là chuyện không lành mạnh, nhưng câu chuyện về Adong và bà Evà giúp giải thích và nêu ra ý nghĩa cho mọi khiếm khuyết trong cuộc đời cha mẹ tôi. Dù nó không xóa đi nỗi đau của họ, nhưng đã giúp cho họ thấy đau khổ của mình có một giá trị. Ngày nay, tôi thấy nhiều bậc cha mẹ cố thử những cách mới để cho con cái họ có một tuyến-chuyện rộng lớn hơn, chẳng hạn họ dùng chuyện phim Vua Sư tử. Cái đó thật sự có ích cho trẻ con, nhưng như cha Pierre Olivier Tremblay đưa ra, đến tận cùng, cần có một tuyến-chuyện rộng lớn hơn và thuyết phục hơn.

Câu chuyện bao trọn cả nỗi đau của chúng ta tạo nên sự khác biệt về cách chúng ta đối đầu với nó. Ví dụ như, tác giả James Hillman bảo chúng ta, có lẽ nỗi đau lớn nhất mà chúng ta trải qua khi già, chính là ý niệm về tuổi già của chúng ta. Điều này cũng đúng với nhiều đấu tranh của chúng ta. Chúng cần được có chân giá trị của một quan điểm rộng lớn hơn, bao trùm hơn. Tôi thích ý của Robertson Davies khi ông than vãn rằng ông không muốn đấu tranh với một “bờ vực lớn dần”, ông thà “bị cám dỗ bởi ma quỷ” còn hơn. Ông muốn cho những cám dỗ mình chịu một chân giá trị cao hơn!

Một câu chuyện rộng lớn hơn cho chúng ta giá trị này, bởi nó giúp chúng ta phân biệt được ý nghĩa với hạnh phúc. Chúng ta thường nhầm lẫn hai điều này với nhau. Cái chúng ta cần tìm kiếm trong đời là ý nghĩa, không phải hạnh phúc. Thật vậy, hạnh phúc (như chúng ta thường hiểu) không bao giờ có thể là thứ để mưu cầu vì nó luôn là sản phẩm phụ của một thứ gì đó khác. Hơn nữa, hạnh phúc là chóng qua và có thời có điểm, nó đến rồi nó đi. Ý nghĩa là cái bất di bất dịch và có thể đồng tồn tại với đau đớn và thống khổ. Tôi không nghĩ Chúa Giêsu vô cùng hạnh phúc khi Ngài chết trên thập giá, nhưng tôi cho rằng trong mọi nỗi đau mà Ngài đã chịu đựng có một ý nghĩa thâm sâu, thậm chí là ý nghĩa thâm sâu nhất. Và không phải ngẫu nhiên mà Chúa Giêsu tìm được ý nghĩa thâm sâu tột cùng này, bởi vì Chúa hiểu bản thân mình tồn tại trong chiều sâu nhất của mọi câu chuyện.

Xét cho cùng, đức tin, tôn giáo, cộng đồng, tình bạn và chữa trị, chẳng thể nào xóa bỏ được các vấn đề của chúng ta. Hầu như luôn là thế, chẳng có bất kỳ giải pháp nào và chúng ta phải sống với vấn đề đó. Như lời của tác giả Gabriel Marcel, cuộc đời là một mầu nhiệm để sống chứ không phải một vấn đề để giải quyết. Câu chuyện bao trọn cả nỗi đau của chúng ta chính là chìa khóa để biến vấn đề thành mầu nhiệm.

Triết gia Arthur Schopenhauer từng viết, mọi nỗi đau có thể được mang lấy nếu nó có thể được chia sẻ. Sự chia sẻ mà ông nói đến không phải chỉ là sự chia sẻ trong tình bạn, cộng đồng hay tình ái. Mà nó còn là sự chia sẻ trong cùng câu chuyện chung. Nỗi đau có thẻ được chia sẻ một cách sinh sôi hơn nữa nếu nó tìm được vị trí trong câu chuyện rộng lớn hơn, khi nó chia sẻ cùng một siêu-tuyến chuyện, một chân trời đủ rộng để khiến sự cô đơn riêng biệt trở nên tầm thường.

Tác giả Hollis nói đúng. Không một bác sĩ tâm lý nào giải quyết được vấn đề của chúng ta, nhưng họ có thể giúp chúng ta tìm được một câu chuyện rộng lớn hơn, cho nỗi đau khổ của chúng ta có ý nghĩa và chân giá trị hơn.

Trói buộc và tháo cởi

Nói với ai đó bằng cả tấm lòng rằng “Tôi yêu bạn” cũng đồng nghĩa với nói rằng, “Bạn sẽ không bao giờ chết”. Triết gia Gabriel Marcel của thế kỷ 20 đã viết những dòng này và chúng đồng hưởng với những dòng được viết cách đây 500 năm, những lời của chân phước Magdalen Panattieri, Dòng Ba Đa Minh, viết cho một người bạn, “Tôi sẽ không thể hạnh phúc trên thiên đàng nếu bạn không cùng ở đó”. Hơn nữa, cả Marcel và Panattieri đều đồng vọng lại những lời của Chúa Giêsu cách đây hai ngàn năm: “Điều gì anh trói buộc dưới đất thì trên trời cũng trói buộc, điều gì anh tháo cởi dưới đất thì trên trời cũng tháo cởi”.

“Trói buộc và tháo cởi” nghĩa là gì? Một trong nhiều ý nghĩa của chúng là, chúng ta, một kitô hữu, một thành phần trong nhiệm thể Chúa Kitô, như Chúa Giêsu khi Ngài bước đi trên trần gian, chúng ta có sức mạnh để phân phát lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa và trở thành sợi dây cứu vớt kết nối những người khác với gia đình của Chúa. Nếu ai đó kết nối với chúng ta là họ kết nối với Chúa Kitô và cộng đoàn cứu rỗi.

Trong những bài viết trước đây, tôi từng dùng ví dụ này để minh họa. Cứ tưởng tượng bạn có một đứa con, một người vợ, người chồng, hoặc một người bạn không chịu đi lễ và thờ ơ hoặc thù địch với tôn giáo, một người có vẻ tách lìa hoàn toàn với cộng đoàn đức tin. Tuy nhiên, miễn là bạn yêu thương người ấy và người ấy không từ chối tình yêu của bạn, thì người ấy sẽ không bị hư mất. Miễn là giữa hai người có mối dây yêu thương, thì người ấy được liên kết với nhiệm thể Chúa Kitô và với cộng đoàn cứu rỗi, và đây chính là điều mà Gabriel Marcel ngụ ý khi nói rằng, nói với ai đó bằng cả tấm lòng rằng “Tôi yêu bạn” cũng đồng nghĩa với nói rằng, “Bạn sẽ không bao giờ chết”.

Gần như mọi lúc tôi viết về chủ đề này, tôi đều bị chất vấn về tính chính thống của nó (dù tôi chưa hề bị chất vấn chuyện này bởi một thần học gia chuyên nghiệp hay một giám mục). Và lời chất vấn luôn là một trong hai hướng này. Một nhóm thì phản đối thế này: Làm sao cha nói như vậy được? Chỉ có Chúa Kitô mới có quyền làm thế! Mỉa mai thay, chính câu sau đã tự trả lời cho câu trước rồi. Đúng thế, chỉ có Chúa Kitô mới có quyền làm thế, nhưng chúng ta là nhiệm thể Chúa Kitô. Và chính Chúa Kitô đang làm việc đó, chứ không phải chúng ta. Nhóm thứ hai thì phản đối rằng họ thấy khái niệm này khó tin: Làm sao có thể như thế được? Nếu đúng là thế thì quá tốt, tốt đến mức không tin nổi! Nhưng chẳng phải sự nhập thế cũng như vậy sao? Một việc quá tốt đẹp, tốt đến mức không tin nổi. Sự nhập thể cho chúng ta sức mạnh đó và từ đó, như chân phước Magdalen Panattieri nói, chúng ta có sức mạnh để nói với Chúa, rằng thiên đàng của chúng ta cần có những người chúng ta yêu thương.

Có lẽ còn có một chất vấn nghiêm túc hơn nữa, là thế này: Chính xác thì năng quyền này được ban cho ai? Chẳng phải nó được ban cho thánh Phêrô, Đại diện Chúa Kitô, và mở rộng ra với giáo hội thể chế với năng quyền theo bí tích, chứ không phải cho mọi kitô hữu chân thành sao?

Chúng ta xem qua phúc âm thánh Matthêu, chương 16, chúng ta thấy năng quyền này được trao riêng cho thánh Phêrô mà thôi. Bối cảnh là thế này: thánh Phêrô vừa có lời tuyên xưng đức tin mạnh mẽ, nói rằng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Đáp lại, Chúa Giêsu bảo ông, “Anh là Phêrô nghĩa là tảng đá và trên đá này Thầy sẽ xây hội thánh của Thầy. Và cửa địa ngục sẽ không thắng nổi. Thầy ban cho anh chìa khóa thiên đàng. Điều gì anh trói buộc dưới đất thì trên trời cũng trói buộc, điều gì anh tháo cởi dưới đất thì trên trời cũng tháo cởi”.

Vậy là chuyện tháo cởi và ràng buộc chỉ dành riêng cho Phêrô thôi sao? Không, đúng hơn là qua Phêrô, điều này được ban cho toàn hội thánh và cho tất cả những ai cùng tuyên xưng một đức tin như Phêrô. Nó được trao cho tất cả những ai tuyên xưng rằng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống bởi vì chính sự tuyên xưng đức tin và tình yêu đã khiến cho “tảng đá” trở nên không một thế lực nào kể cả địa ngục có thể thắng nổi. Khi chúng ta cùng tuyên xưng một đức tin như Phêrô, chúng ta cũng trở thành tảng đá, với năng quyền tháo cởi và ràng buộc.

Khi tuyên xưng đức tin, chúng ta trở nên thành phần trong Nhiệm thể Chúa Kitô và từ đó, như khi Chúa Giêsu sống trên địa cầu, khi người khác chạm đến chúng ta là chạm đến Chúa Kitô. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu đã bảo đảm với chúng ta rằng “bất kỳ ai tin vào Ta sẽ làm được những việc mà chính Ta làm, và sẽ còn làm những việc lớn lao hơn nữa”. (Gioan 14, 12)

Tình yêu chính là sức mạnh tối hậu trong đời. Thiên Chúa là tình yêu, và đến tận cùng sẽ chỉ còn lại tình yêu. Nội ở mức độ con người thuần túy, chưa kể đến đức tin, chúng ta đã cảm nhận được sức mạnh của tình yêu như một sự đến tận cùng có thể đương cự tất cả. Tình yêu là đá tảng. Chắc chắn đây cũng là trường hợp trong sự nhập thể. Tình yêu là đá tảng mà Chúa Giêsu xây hội thánh của Ngài trên đó. Do đó, khi chúng ta yêu thương ai đó và người ấy đáp lại, thì tư cách thành phần nhiệm thể Chúa Kitô cho chúng ta năng quyền để nói rằng thiên đàng của tôi sẽ bao gồm người thân yêu này.

Cẩn thận với các vòng nối kết nội tâm của chúng ta

“Không ai là một hòn đảo”. Nhà thơ người Anh John Donne đã viết câu bất hủ này cách đây bốn thế kỷ, và bây giờ câu này vẫn còn đúng, trừ khi chúng ta không còn tin như thế nữa.

Ngày nay, chúng ta ngày càng xác định gia đình hạt nhân và nhóm bạn hữu thân thuộc mà chúng ta đã tuyển chọn kỹ càng là hòn đảo tự đủ cho mình, và ngày càng kén chọn để không ai được phép bước vào hòn đảo đó, vào nhóm bằng hữu đó, nhóm những người mà chúng ta xem là đáng tôn trọng. Chúng ta xác định và bảo vệ những hòn đảo riêng của mình bằng một ý thức hệ, bằng quan điểm chính trị, quan điểm luân lý, quan điểm về giới tính và tôn giáo nhất định nào đó. Bất kỳ ai không cùng quan điểm với chúng ta thì không được hoan nghênh, không xứng đáng để chúng ta tôn trọng và dành thì giờ cho họ.

Hơn nữa, truyền thông đương thời còn góp phần cho chuyện này. Ngoài hàng trăm kênh truyền hình mà mỗi kênh đều có chương trình kế hoạch riêng, chúng ta còn có mạng xã hội để chúng ta tìm được những quan điểm ý thức hệ, chính trị, luân lý và tôn giáo vốn vun đắp, bảo vệ và cô lập hòn đảo của mình, biến nhóm hạt nhân nhỏ của chúng ta thành một thứ tự đủ, riêng biệt và bất khoan nhượng. Lại thêm chúng ta còn có những công cụ để rảo khắp mạng lưới truyền thông cho đến khi tìm được chính xác “sự thật” mà chúng ta thích. Chúng ta đã xa rồi thời ngày xưa khi có những nhà báo như nhà báo Mỹ Walter Cronkite, ông có thể đưa ra một sự thật mà ai cũng có thể tin.

Tác động của chuyện này xảy ra khắp nơi, không chỉ trong sự phân cực cay đắng ngày càng tăng mà chúng ta đang thấy rõ trong mọi vấn đề chính trị, luân lý, kinh tế và tôn giáo của thế giới. Ngày nay, chúng ta thấy mình đang sống trên những hòn đảo biệt lập, không cởi mở lắng nghe, tôn trọng hay đối thoại với bất kỳ ai không cùng quan điểm với mình. Bất kỳ ai bất đồng với tôi thì chẳng đáng để tôi dành thời gian, chẳng đáng để tôi lắng nghe, tôn trọng. Chuyện này dường như đang là thái độ phổ biến thời nay.

Và nó có trong những hình thức hung hãn của Văn hóa Tẩy chay, trong chủ nghĩa dân tộc ngày càng hướng nội và cứng rắn ở nhiều quốc gia. Những gì xa lạ thì không được hoan nghênh, đơn giản vậy thôi. Chúng ta không còn đối diện với bất kỳ thứ gì thách thức đặc nét của mình nữa.

Có cái gì không ổn ở đây? Gần như tất cả đều không ổn. Dù chúng ta nhìn chuyện này từ quan điểm Kinh Thánh và kitô giáo hay từ quan điểm sức khỏe và sự chính chắn của con người, thì nó đều sai trái.

Về mặt Kinh Thánh thì quá rõ ràng rồi. Thiên Chúa đi vào đời chúng ta qua nhiều con đường quan trọng, chủ yếu là qua “người lạ”, qua những gì xa lạ, qua những gì khác với chúng ta, và qua những gì làm cho tư tưởng của chúng ta rối bời, đập tan những kỳ vọng theo tính toán của chúng ta. Sự mặc khải thường đến một cách đầy ngạc nhiên, dưới những hình thức làm cho tư tưởng của ta đảo lộn tất cả. Như sự nhập thể chẳng hạn. Trong nhiều thế kỷ, người ta tìm kiếm Đấng Thiên sai, Thiên Chúa trong xác phàm, Đấng đè bẹp và hạ nhục mọi kẻ địch và ban vinh quang và danh dự cho những ai trung tín cầu nguyện mong ngóng Ngài. Họ cầu nguyện và trông đợi một siêu nhân, nhưng cuối cùng là thế nào? Một đứa bé yếu đuối nằm trong máng cỏ. Mặc khải làm việc như thế. Chính vì vậy mà thánh Phaolô dạy chúng ta hãy luôn chào đón khách lạ vì đó có thể là một thiên thần hóa trang.

Tôi chắc chắn rằng, trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều có trải nghiệm được gặp một thiên thần trong hình hài người lạ mà chúng ta tiếp đón với phần nào e dè và sợ hãi. Tôi biết trong đời tôi, đã có nhiều lúc tôi chẳng muốn chào đón một người nào đó hay một chuyện nào đó đến với mình. Tôi sống trong dòng tu, nơi chúng ta đâu được lựa ai sẽ là người sống với mình. Bạn được chỉ định vào “gia đình ruột” của mình, và (trừ vài trường hợp ngoại lệ do thể chất hạn chế) bề trên không xem tâm trạng tương đồng là tiêu chuẩn để chỉ định người cùng sống chung với nhau trong cộng đoàn. Và không hiếm khi tôi sống trong những cộng đoàn có những người mà nếu được chọn thì tôi đã hẳn không chọn họ làm bạn bè, đồng nghiệp, người láng giềng hay người thân của mình. Ngạc nhiên thay, thường thì những người tôi chẳng ưu tiên chọn nhất lại là những người mang ân sủng và làm cuộc đời tôi biến đổi.

Hơn nữa, chuyện này cũng đúng trong cuộc sống nói chung của tôi. Tôi thường thấy mình được thêm ân phúc nhờ những người ban đầu ít có khả năng được tôi chào đón nhất. Thú thật, chuyện này không phải lúc nào cũng êm đẹp. Những gì xa lạ, những gì khác mình, có thể gây buồn bực và đau khổ trong một thời gian dài trước khi chúng ta nhận ra được ân sủng và mặc khải.

Nhưng đó luôn là thách thức cho chúng ta, nhất là thời nay khi nhiều người trong chúng ta rút vào trong những hòn đảo riêng, xem đó là chính chắn, rồi biện luận nó bằng một đức tin sai lầm, lòng ái quốc sai lầm và ý tưởng sai lầm về sự chính chắn. Làm như thế vừa sai trái vừa nguy hiểm. Dấn thân vào những gì khác lạ sẽ đem lại thăng tiến cho bản thân chúng ta. Thiên Chúa ở trong người lạ, và mỗi khi chúng ta không để người lạ vào cuộc sống mình là chúng ta đang tự tách mình khỏi con đường ân phúc chủ yếu.

Được phép buồn

Hãy để cho người rao giảng nói, bạn được phép buồn!

Trong quyển sách Khi người pha rượu vặn nhỏ đèn (When the Bartender Dims the Lights), Ron Evans đã viết:

“Tôi tình cờ gặp được câu này trong suy tư của một mục sư: Vào một sáng chúa nhật, nhiều người ngồi trước mặt bạn là những người đầy tổn thương, và bạn phải cho họ được quyền buồn. Trong một thế giới bị ám ảnh bởi hạnh phúc, khi mà sự tuyệt vời là tất cả, hãy để người rao giảng nói: bạn được phép buồn. Trong một thế giới mà tuổi già trở thành những năm tháng vàng son, nơi mọi vấn đề đều có thể được khắc phục và mọi bệnh tật đều được chữa lành, hãy nghe lời người rao giảng: bạn được phép buồn. Trong một thế giới quá bận tâm về tuổi thọ, nơi mà cái chết là từ cấm kỵ, bạn hãy nghe người rao giảng nói: bạn được phép buồn. Và hãy để người rao giảng nói: bạn được phép sống trong ký ức của người đơn độc”.

Ngày nay, cả nền văn hóa lẫn các giáo hội của chúng ta đều không cho chúng ta đủ quyền để buồn. Nhiều lúc, khi một người thân thương qua đời hoặc khi một thảm kịch xảy đến, chúng ta được phép buồn, được phép trầm lắng, rơi lệ, thay vì vui vẻ yêu đời. Nhưng có quá nhiều dịp và hoàn cảnh trong cuộc đời chúng ta mà linh hồn chúng ta hoàn toàn được phép buồn, thế nhưng nền văn hóa, giáo hội và cái tôi của chúng ta lại không để cho chúng ta được phép cảm nhận cảm xúc thật sự của mình – của nỗi buồn. Khi trường hợp đó xảy ra, và thường là như thế, chúng ta có thể phủ nhận cảm xúc của mình và chuyển sang vui vẻ yêu đời, hoặc chúng ta có thể nhường chỗ cho nỗi buồn, nhưng với cái giá phải trả là thấy có gì đó không ổn, chúng ta không nên cảm nhận theo cách này. Cả hai cách đều không tốt.

Nỗi buồn là một phần không thể tránh khỏi trong cuộc sống, và tự nó không phải là một điều tiêu cực. Trong nỗi buồn, có tiếng khóc mà chúng ta thường bịt tai không nghe. Trong nỗi buồn, tâm hồn chúng ta có cơ hội để nói và tiếng nói của nó nói với chúng ta rằng, nỗi thất vọng, mất mát, cái chết, sự bất xứng, sai lầm về đạo đức, hoặc một hoàn cảnh cụ thể nào đó của cuộc đời chúng ta là những thứ rất thật, cay đắng và không thể nào thay đổi được. Chúng ta có một cách là chấp nhận, kèm theo cái giá là nỗi buồn. Khi tiếng nói đó không được lắng nghe, thì sự lành mạnh và tỉnh táo của chúng ta bị kìm kẹp.

Ví dụ như, trong quyển sách đầy thách thức, “Tự tử và Linh hồn” (Suicide and the Soul), tác giả James Hillman đã nói, đôi lúc trong chuyện tự tử, tâm hồn đó quá chán nản và tổn thương đến nỗi giết luôn thể xác. Vì nhiều lý do quá phức tạp và khó để nhiều người biết được, tâm hồn đó không thể làm cho người khác lắng nghe mình và không bao giờ được phép cảm nhận cái nó thật sự đang cảm nhận. Và đến mức cực độ, chuyện này có thể giết chết thân xác.

Chúng ta thấy chuyện này trong một hiện tượng ít cực độ hơn, là chứng tình trạng biếng ăn của các cô gái trẻ. Có một áp lực không thể cưỡng lại từ nền văn hóa (thường đi đôi với sự bắt nạt có thật trên mạng xã hội) thúc đẩy chúng ta phải có cơ thể hoàn hảo. Đáng buồn là, đâu dễ để có cơ thể hoàn hảo. Do đó, các cô gái này cần được phép chấp nhận những giới hạn của cơ thể mình và chấp nhận với nỗi buồn đi kèm với chuyện này. Đáng buồn là, chuyện chẳng như thế, hoặc ít nhất là gần như không thể như thế, cho nên thay vì chấp nhận nỗi buồn vì không có cơ thể như mong muốn, các cô gái trẻ này lại bị thúc ép phải cố gắng làm cho bằng được với bất kỳ giá nào. Chúng ta đã thấy những tác hại đáng buồn của nó.

Các nhà tâm lý trị liệu, những người làm việc với khách hàng về giấc mơ, họ nói khi chúng ta gặp ác mộng, thường là vì linh hồn đang giận dữ với chúng ta. Vì ban ngày linh hồn không được chúng ta lắng nghe, nên khi đêm đến, lúc chúng ta không thể nào kìm nén được nữa, linh hồn bắt chúng ta phải lắng nghe nó.

Có nhiều lý do chính đáng để buồn. Một số người trong chúng ta sinh ra đã có “tâm hồn già nua”, những nhà thơ quá nhạy cảm với những tình tiết cảm động trong cuộc sống. Có người có sức khỏe thể chất kém, có người lại có sức khỏe tâm thần kém. Có người chưa hề được yêu thương và tôn trọng đủ, có người đã tan nát tâm hồn vì bị phụ bạc, vì bị không chung tình. Có người bị tan nát cuộc đời vì từng bị lạm dụng, cưỡng hiếp, bạo hành, có người đơn giản là vô vọng, mong muốn trong bất lực với những ước mơ bị vùi dập, cứ mãi hoài niệm trong đau khổ. Hơn nữa, tất cả chúng ta dù ít hay nhiều, đều có người thân yêu đã ra đi, đã từng suy sụp đủ kiểu, đã nếm những giai đoạn u sầu. Có vô số lý do chính đáng để buồn.

Và điều này cần được đề cao trong Phép Thánh Thể và các buổi họp trong nhà thờ. Nhà thờ không phải chỉ là nơi mừng các lễ lạc. Mà còn là nơi an toàn để chúng ta có thể tuôn trào cảm xúc. Phụng vụ cũng phải cho chúng ta quyền được buồn.

Nhà văn D.H. Lawrence từng viết những câu trứ danh:

Cảm xúc tôi không có thì tôi không có.
Cảm xúc tôi không có, tôi sẽ không nói rằng tôi có.
Cảm xúc bạn nói mình có, bạn không có.
Cảm xúc bạn muốn cả hai chúng ta đều có, thì chỉ một trong hai có mà thôi.
Chúng ta cần sống thật với linh hồn bằng cách chân thực với cảm xúc của nó

Chuyện nhập cư, thời ấy và bây giờ

Vào mùa hè năm 1854, tổng thống Hoa Kỳ, Franklin Pierce cử ông Isaac Stevens làm thống đốc Lãnh thổ Washington, một vùng đất do chính quyền liên bang quản lý. Thống đốc Stevens đã mở cuộc họp với các tù trưởng Da Đỏ để bàn về căng thẳng giữa chính quyền Hoa Kỳ với người Da Đỏ. Một trong các bộ lạc ở đó, bộ lạc Yakima, dưới sự dẫn dắt của tù trưởng Kamiakin, đã ngoan cường đấu tranh. Dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ (cũng là dòng của tôi) đã làm việc với các bộ lạc của Yakima. Tù trưởng của họ, Kamaikin, đã tìm đến một linh mục Charles Pandosy dòng Hiến sĩ để xin lời khuyên, hỏi xem ở châu Âu có bao nhiêu người và khi nào họ sẽ không đến nữa. Đáng buồn là lời khuyên của cha Pandosy chẳng giúp tù trưởng yên lòng chút nào. Trong một lá thư gửi cho bậc sáng lập dòng ở Pháp, thánh Eugene de Mazenod, cha Pandosy đã tóm gọn cuộc chuyện trò của cha với tù trưởng của Yakima. Cha Pandosy bảo Kamiakin rằng: “Chuyện này đúng như tôi đã lo sợ. Người da trắng sẽ chiếm lấy đất nước của ông như họ đã chiếm đất nước của các bộ lạc Da Đỏ khác. Tôi đến từ vùng đất của người da trắng, một nơi rất xa về phía đông, nơi người còn đông hơn cỏ trên đồi. Hiện giờ mới có vài người, nhưng hằng năm sẽ có thêm nhiều người khác đến, cho đến khi đất nước của ông đông đặc người của họ… Các bộ lạc khác đã bị như vậy, bộ lạc của ông cũng sẽ bị thế. Ông có thể chiến đấu và trì hoãn cuộc chinh phạt này, nhưng ông không thể ngăn được nó. Tôi đã sống với ông qua nhiều mùa hè, đã rửa tội cho nhiều người của dân ông có đức tin. Tôi đã học biết cách yêu thương các ông. Tôi không thể cố vấn hay giúp ông. Dù tôi mong giá mà giúp được”. (Trích từ Kay Cronin, Thập giá giữa Hoang địa, Cross in the Wilderness, Mission Press, Toronto, 1960, trang 35.)

Một trăm bảy mươi năm sau, tình hình vẫn như thế, chỉ khác là nhân vật thay đổi.

Năm 1854, người Âu châu đến Mỹ châu vì vô số lý do. Một số chạy trốn đói nghèo, số khác vì bị bách hại, số nữa thấy ở quê nhà không có tương lai, số nữa thì muốn có tự do tôn giáo, và số khác thì nhập cư vì thấy có vô số cơ hội lớn cho sự nghiệp và tiền tài. Nhưng vấn đề là thế. Có những người đã sống ở đây rồi, và những người bản địa này phản kháng và phẫn uất với những người mới đến, xem đó là mối đe dọa, là bất công, và cướp lấy quê hương của họ. Kể cả trước khi họ ý thức được bao nhiêu người sẽ đặt chân xuống bờ biển của mình, các quốc gia bản địa này đã trực cảm được chuyện này sẽ là cái kết cho lối sống của họ.

Nghe có quen không? Tôi nhớ lại một bình luận trên một trang thể thao cách đây vài năm, một lời nói lên nhiều điều. Một cầu thủ bóng chày ở New York chơi cho đội Yankees đã chia sẻ anh choáng váng thế nào vì những điều nghe và thấy khi đi trên tàu điện ngầm đến sân vận động: Có những người đủ mọi màu da, nói nhiều ngôn ngữ khác nhau, và tôi tự hỏi, ai đã biết có bao nhiêu người này vào đất nước chúng ta? Cầu thủ đó cũng không khác gì tù trưởng Kamaikin của Yakima cách đây 170 năm. Ngày nay, khắp dọc biên giới các nước phương Tây đang chật kín người muốn vào, và họ trốn chạy khỏi quê hương vì cũng những lý do hệt như của những người Âu châu vào Mỹ thời xưa. Hầu hết đều chạy trốn sự bách hại, chạy trốn tương lai vô vọng, và cả những người tìm kiếm một tương lai tươi sáng hơn. Và như những người bản địa, giờ chúng ta cũng có những bận tâm như của tù trưởng Kamaikin cách đây 170 năm. Khi nào chuyện này dừng lại? Họ có bao nhiêu người vậy? Chuyện này sẽ ảnh hưởng thế nào đến lối sống, sắc tộc, ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo của chúng ta?

Dù cảm nhận cá nhân của chúng ta có như thế nào, thì câu trả lời cho những câu hỏi này cũng khó lòng khác đi nhiều so với câu trả lời của cha Pandosy cho tù trưởng Kamaikin từ 170 năm trước. Nó sẽ không dừng lại, vì nó không thể dừng lại. Tại sao?

Sự toàn cầu hóa là không thể tránh khỏi vì trái đất hình cầu, chứ không phải vô tận. Sớm hay muộn, chúng ta sẽ không còn chọn lựa nào khác ngoài gặp gỡ nhau, đón nhận nhau, và tìm cách chia sẻ không gian và cuộc sống với nhau. Vì trái đất hình cầu, không gian và nguồn lực của nó có hạn, chứ không vô tận. Hơn nữa, có hàng triệu người không thể nào sống nổi ở nơi họ đang sống. Họ sẽ làm bất kỳ điều gì cho bản thân và gia đình họ. Chuyện đang diễn ra không thể nào ngăn cản nổi. Nói theo lời cha Pandosy, chúng ta có thể cố gắng chiến đấu và trì hoãn cuộc chinh phạt này, nhưng không thể ngăn được nó.

Ngày nay, chúng ta, những người nhập cư một thời, đang bắt đầu hiểu ra cảm giác của những người bản địa khi chúng ta không được mời mà xuất hiện nơi bờ biển của họ. Giờ đến lượt chúng ta hiểu được cái cảm giác khi mà quốc gia chúng ta xem là của mình đang ngày càng đông đặc những người khác với chúng ta về chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo và lối sống.

Việc gì đã đến thì cũng sẽ đến.

Chúng ta có thiên thần hộ thủ hay không?

Khi còn nhỏ tôi được dạy, tôi có một thiên thần hộ thủ, một thiên thần thật sự được Chúa ban để đồng hành cùng tôi đi khắp nơi, bảo vệ tôi khỏi hiểm nguy. Tôi còn nhớ mẹ tôi tặng cho tôi một tấm thẻ thiêng liêng, trên đó là hình một cậu bé đang chơi bên rìa bờ vực và có một thiên thần đang bảo vệ cậu bé. Hầu hết người công giáo la-mã thế hệ tôi đều thuộc một lời kinh mà chúng tôi đọc mỗi ngày, xin thiên thần hộ thủ dẫn dắt và bảo vệ: Thiên thần của Chúa, thiên thần hộ thủ của con…

Còn điều gì về các thiên thần hộ thủ nữa? Những linh thần được nhân cách hóa này có thật sự hiện hữu, hay thiên thần hộ thủ đơn giản chỉ là những thứ mà trí tưởng tượng của chúng ta tạo ra để giúp hình thành ý thức tôn giáo cho trẻ em? Chúng ta có cần phải bỏ đi niềm tin đó khi lớn lên không?

Dù có hay không, thì sự thật ngày nay là hầu hết chúng ta đã bỏ đi niềm tin đó. Hầu hết người trưởng thành thuộc các phái kitô giáo, đều xem sự tồn tại của thiên thần hộ thủ là những ảo tượng sùng đạo hoặc thờ ơ với ý niệm này.

Chúng ta vẫn phải tin là có thiên thần hộ thủ sao? Nếu là phải, thì chính xác chúng ta phải tin điều gì? Các thiên thần là những hiện hữu được nhân cách hóa hay đơn giản là cách nói khác cho sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống chúng ta?

Các học giả kinh thánh không cho chúng ta câu trả lời dứt khoát, nhưng cho rằng câu hỏi này có thể được trả lời theo hai cách. Trong Kinh thánh, từ “thiên thần” dùng để nói đến một linh thần được nhân cách hóa có thật, hoặc nói đến sự hiện diện đặc biệt của Thiên Chúa trong một vài trường hợp. Truyền thống Giáo hội xác nhận rõ ràng hơn nữa là thiên thần có thật. Các thiên thần có một lịch sử phong phú và hầu hết được xem như một con người thật (dẫu cho các ngài là linh thần). Tranh ảnh và âm nhạc kitô giáo có đầy hình ảnh các thiên thần, và Giáo hội Công giáo la-mã có nhiều lễ lớn để mừng các thiên thần và thiên thần hộ thủ. Công đồng Laterano IV năm 1215, rất lâu trước cuộc Kháng cách, đã tuyên bố rằng niềm tin có các thiên thần hộ thủ được ám chỉ trong Kinh thánh. Giáo lý của Giáo hội công giáo khẳng định, “cuộc đời con người từ sinh đến tử được bao bọc bởi sự canh chừng cẩn thận và can thiệp của các thiên thần hộ thủ của họ. Bên cạnh một tín hữu là một thiên thần làm người bảo vệ chăn dắt tín hữu đó đến với sự sống”.

Chúng ta thấy sao về chuyện này? Chia rẽ. Các kitô hữu bảo thủ thường xác nhận sự tồn tại của các thiên thần như một giáo huấn tín điều. Các thiên thần có thật. Các kitô hữu tự do thì có khuynh hướng hoài nghi chuyện này, hay ít nhất đặt nó vào phạm vi bất khả tri. Với họ, “thiên thần” có vẻ như nói đến một sự hiện diện đặc biệt của Thiên Chúa thì đúng hơn. Ví dụ như, họ xem câu trong Phúc âm nói rằng khi Chúa Giêsu cầu nguyện thì “có một thiên thần đến và tăng sức cho Ngài” có ý là ơn Thiên Chúa đến và tăng sức cho Chúa Giêsu.

Vậy ai mới đúng? Có lẽ chuyện này chẳng quan trọng, vì trong thực tế, cả hai đều như nhau. Thiên Chúa ban cho chúng ta mặc khải, dẫn dắt, bảo vệ và tăng sức, Ngài làm thế theo một cách “thiên thần” vượt ngoài hình dung khái niệm hóa bình thường của chúng ta.

Những người tin rằng thiên thần có thật, có một căn cứ vững vàng. Chỉ cần nhìn vào khởi nguồn và các chiều kích của sự tạo dựng vật chất (dù chúng ta có viện đến khoa học nào về điều này thế nào đi chăng nữa) thì sự nhiệm mầu vẫn vượt quá khả năng hình dung của chúng ta. Quá lớn đến nỗi chúng ta không nắm bắt được! Chúng ta biết rằng có hàng tỷ vũ trụ (không chỉ là hành tinh) và chúng ta biết rằng địa cầu của chúng ta là một vết nhỏ xíu trong vũ trụ rộng lớn không hình dung nổi của những gì Thiên Chúa tạo dựng. Nếu đúng là thế, và là thế thật, thì thật quá khó để hoài nghi về mức độ tạo dựng của Thiên Chúa, thật quá khó để tin rằng nhân loại là trọng tâm sự tạo dựng và không có một hiện thể nhân cách hóa nào khác ngoài con người máu thịt của chúng ta. Nghĩ như thế thì quá hạn hẹp, cả từ quan điểm đức tin lẫn khoa học.

Tuy nhiên, thuyết bất khả tri của những người hoài nghi về sự hiện hữu của các thiên thần lại vô cùng nhẹ nhàng. Khi Kinh thánh nói, thiên thần Gabriel hiện ra với Đức Mẹ để báo cho Đức Mẹ biết Mẹ sẽ mang thai, khi Chúa Giêsu kiệt sức trong vườn Giêtsêmani thì một thiên thần hiện ra và tăng sức cho Ngài, thì sự khác biệt xem đó là một linh thần nhân cách hóa và xem đó là sự hiện diện của Thiên Chúa, thật chẳng là bao nhiêu. Dù là thế nào đi nữa, thì đó cũng là thật. Dù là thế nào đi nữa, thì nó cũng được cụ thể hóa, là một lối có thật để Thiên Chúa đi vào cuộc đời ai đó.

Vậy, chúng ta có thiên thần hộ thủ hay không? Lúc chúng ta ra đời hoặc được rửa tội, Thiên Chúa có chỉ định một thiên thần cụ thể đồng hành với chúng ta suốt cả cuộc đời để cho chúng ta sự hướng dẫn và bảo vệ vô hình hay không?

Có, chúng ta có một thiên thần hộ thủ, dù cho chúng ta có hình dung hay ý thức thế nào về chuyện này. Thiên Chúa gần với chúng ta hơn cả chúng ta gần với mình, và tình yêu, sự dẫn dắt, bảo vệ của Thiên Chúa luôn ở với chúng ta. Xét tận cùng, nếu những điều đó đến với chúng ta qua một linh thần nhân cách hóa cụ thể (một thiên thần có tên trên trời) hay qua sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa, thì sự khác biệt chẳng là bao.

Sự hiện diện của Thiên Chúa là thật, và chúng ta không bao giờ cô đơn khi có tình yêu, sự dẫn dắt và bảo vệ của Thiên Chúa.

Tận cùng trọng tâm chú ý của chúng ta hướng về gì?

Trong quyển tiểu thuyết Tình yêu giữa Hoang phế (Love Among the Ruins) xuất bản năm 1971 của Walker Percy, nhân vật chính của truyện là bác sĩ tâm lý Tom More. More là người công giáo la mã không còn giữ đạo nhưng ông vẫn tin. Ông mô tả tình trạng của mình như sau: “Tôi tin vào Thiên Chúa và toàn bộ đức tin, nhưng tôi yêu phụ nữ nhất, yêu âm nhạc và khoa học nhì, rượu whisky thứ ba, Thiên Chúa thứ tư, còn những người đồng loại thì chắc là khỏi… Nhưng mà, tôi vẫn tin”.

Oái oăm thay, một nhân vật như ông Tom More, một kẻ có tội nhưng vẫn giữ đức tin lại là những người được lôi cuốn đến gần Chúa Giêsu nhất trong các sách Tin mừng.

Đọc danh sách những gì ông More yêu, tôi nhớ đến một hội nghị tôi từng tham dự về chủ đề Thế tục và Tin mừng. Một diễn giả chính, một nhà hoạt động xã hội lừng danh đã nhận định thế này: Tôi làm việc trên đường phố với người nghèo, và tôi làm thế vì tôi là tín hữu kitô. Nhưng tôi có thể làm việc trên đường phố nhiều năm mà không nhắc đến danh Chúa Kitô vì tôi nghĩ Chúa đủ trưởng thành để không đòi hỏi phải luôn là trọng tâm chú ý của chúng ta.

Như độc giả có thể đoán được, lời của bà đã khơi lên một số tranh luận. Phải thế. Thiên Chúa có đòi hỏi luôn là trọng tâm chú ý trong nhận thức của chúng ta hay không? Chúng ta có thói quen tập trung đến chuyện khác thì có được không? Nếu chúng ta thật sự yêu nhiều người và yêu nhiều thứ hơn Chúa thì có phản bội đức tin không?

Không có câu trả lời đơn giản nào cho những câu hỏi này, vì chúng cần có sự cân bằng tinh tế giữa những yêu cầu của Điều răn thứ nhất và một thần học tổng thể về Thiên Chúa. Như Điều răn thứ nhất dạy, Thiên Chúa là trên hết, luôn là thế. Chúng ta không bao giờ được làm ngơ điều này, nhưng chúng ta cũng biết Thiên Chúa khôn ngoan và khả tín. Do đó, chúng ta có thể yên tâm suy luận, Thiên Chúa không tạo nên chúng ta theo kiểu này rồi lại đòi hỏi chúng ta sống theo một kiểu hoàn toàn khác biệt, cụ thể, Thiên Chúa không tạo nên chúng ta với những khuỵnh hướng mạnh mẽ vốn theo bản năng và thường xuyên hướng chúng ta vào những chuyện ở đời này, rồi lại đòi hỏi chúng ta phải luôn đặt Ngài vào trọng tâm chú ý. Như thế Ngài là cha mẹ xấu rồi.

Cha mẹ tốt thương con mình, cố dạy bảo con mình đầy đủ, rồi để con cái tự do tập trung vào cuộc đời của nó. Cha mẹ tốt không đòi hỏi họ là trọng tâm đời sống của con cái, họ chỉ xin con cái trung thành với đạo đức và các giá trị của gia đình, dù họ vẫn muốn con cái về thăm nhà đều đặn và không quên gia đình.

Trong hôn nhân, động năng này còn phức tạp hơn. Các cặp vợ chồng với tình yêu chín chắn dành cho nhau không còn đòi hỏi mình là trọng tâm chú ý của người kia. Hầu như chuyện này không thành vấn đề. Vấn đề nảy sinh là lúc một người bạn đời không còn là trọng tâm thực sự của người kia, khi sự tập trung và lôi cuốn về tình cảm dành cho người khác, đã chiếm mất vị trí của người đó trong lòng người kia rồi. Chuyện này có thể đau đớn về mặt tình cảm, nhưng trong một tình yêu chín chắn, nó không đe dọa hôn nhân. Cảm xúc của chúng ta như con thú hoang, chồm lên khi nào nó muốn, nhưng chúng đâu phải là dấu chỉ thực sự của tình yêu và sự chung thủy. Tôi biết một nhà văn đã yêu thương chung thủy và chăm sóc vợ mình trong hơn 40 năm, ông thú nhận với tôi, một ngày ông cảm thấy mình phải lòng một người khác. Chuyện này đã không đe dọa hôn nhân của ông. Nhưng phải thừa nhận, nó có thể đe dọa mạnh mẽ cho đời sống tâm linh và luân lý.

Nguyên tắc này cũng đúng với mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Trước hết, Thiên Chúa cho chúng ta một bản tính hoang dại và bừa bãi. Thiên Chúa kỳ vọng chúng ta có trách nhiệm về cách chúng ta hành động trong bản tính đó, nhưng căn cứ vào cách chúng ta được tạo thành, thì không diễn giải được Điều răn thứ nhất theo kiểu, chúng ta cảm thấy mình có tội mỗi khi Thiên Chúa không còn là số một trong đời chúng ta cách có ý thức và hiệu lực.

Thứ hai, như một bậc cha mẹ tốt, Thiên Chúa không đòi hỏi phải luôn là trọng tâm chú tâm có ý thức của chúng ta. Thiên Chúa không buồn khi chúng ta tập trung vào cuộc sống mình, miễn là chúng ta vẫn trung thành và không thờ ơ quá đáng, không chịu tập trung vào Thiên Chúa khi cần phải thế.

Và Thiên Chúa còn như một người vợ người chồng tốt, biết rằng đôi lúc, do tính bừa bãi bẩm tại của chúng ta mà tình cảm chúng ta sẽ chạy theo một trọng tâm khác. Như một người vợ chồng tốt, điều Thiên Chúa muốn là sự chung thủy.

Cuối cùng, sâu sắc hơn nữa, là câu hỏi chúng ta mê đắm và khao khát điều gì khi tập trung vào những chuyện khác không phải Thiên Chúa. Kể cả những lúc như thế, điều chúng ta đi tìm vẫn chính là Thiên Chúa.

Có nhiều lúc, chúng ta được kêu gọi tập trung chú ý vào Thiên Chúa, nếu yêu và tin, thì phải thế. Tuy nhiên, sẽ có nhiều lúc, một cách chủ ý và thực sự, Thiên Chúa đứng vị trí thứ tư trong đời chúng ta, và Thiên Chúa đủ chín chắn và thông hiểu để không chấp nhặt chuyện đó.