RonRolheiser,OMI

Tro mùa Chay

Chúng ta bước vào mùa Chay bằng cách rắc tro lên đầu. Việc này tượng trưng cho điều gì? Có lẽ chuyện này hiểu bằng tấm lòng thì tốt hơn là bằng trí óc, bởi vì giáo dân đi nhà thờ ngày thứ Tư Lễ Tro nhiều hơn bất kỳ ngày nào khác trong năm, nhiều khi còn hơn cả lễ Giáng Sinh. Dòng người đi nhận tro trong các nhà thờ dài bất tận. Tại sao lại thế? Tại sao mọi người xem trọng chuyện xức tro nhiều như thế? Tôi cho rằng lý do vì đây là một biểu tượng, tro là thứ thô sơ, nguyên thủy, nguyên hình, và nói lên tiếng nói của tâm hồn.

Chúng ta biết chính xác trong lòng vì sao chúng ta đi xức tro. Không cần đến lời giải thích cao siêu hàn lâm gì cả. Tro là bụi, là đất, là bùn, là khiêm hạ tận cùng khiêm hạ. Tro luôn là biểu tượng lớn trong mọi tôn giáo. Xức tro lên đầu, ngồi trong đống tro, là nói với tất cả mọi người và nói với bản thân, chúng ta đang sám hối, đây không phải là “thời gian thông thường” của chúng ta. Xức tro lên mình là nói rằng, đây không phải là lúc ăn mừng, rằng trong lòng chúng ta đang nghiêm túc, và nói lên rằng chúng ta đang ở trong khối tro than của một ngọn lửa đang tắt, chờ đợi một sự viên mãn hơn trong đời.

Tất cả những ý nghĩa này có những nguồn gốc thâm sâu. Trong linh hồn con người có gì đó bẩm tại hiểu được rằng thỉnh thoảng chúng ta phải đi xuống, phải chìm xuống, phải mất đi hào quang và chờ đợi để tro bụi thực hiện công việc thầm lặng của nó. Mọi truyền thống cổ xưa, dù là trong tôn giáo hay thần bí hoang đường, đều có nhiều câu chuyện về việc ngồi trong đống tro. Ví dụ, chúng ta ai cũng biết chuyện Cô bé Lọ Lem Cinderella. Đây là câu chuyện đã có từ bao nhiêu thế kỷ trước, đầy khôn ngoan, nói lên giá trị của tro bụi trong đời sống. Cái tên Cinderella tự nó đã thể hiện đủ. Theo nghĩa đen, Cinderella là “thiếu nữ ngồi trong đống tro than”. Hơn nữa, như câu chuyện mở ra, trước khi mang đôi giày pha lê, trước khi có bộ váy lộng lẫy, trước khi dự dạ hội, trước khi khiêu vũ với hoàng tử rồi kết hôn với chàng, phải có một thời gian cô ngồi trong tro than, khiêm hạ, hèn mọn, kiên nhẫn chờ đợi dù trong lòng đã sẵn sàng cho niềm vui tột cùng và sự viên mãn. Trong câu chuyện Cô bé Lọ Lem, chúng ta có thể thấy được tinh thần của mùa Chay.

Truyền thống người bản địa châu Mỹ cũng luôn có một vị trí đặc biệt cho tro. Trong một số cộng động Da Đỏ, có khái niệm rằng thỉnh thoảng người ta sẽ ngồi trong tro một thời gian. Không ai biết tại sao người nào đó thấy cần phải ngồi trong tro, nhưng ai cũng biết, đây là một điều rất tự nhiên, biết rằng tro có tác động quan trọng lên linh hồn, và cuối cùng, người đó sẽ trở lại cuộc sống bình thường và trở nên tốt hơn nhờ đã có thời gian ngồi trong tro.

Tôi xin kể rõ thêm về chuyện này. Có một vài cộng đồng Da Đỏ sống trong nhà dài. Nhà dài là tòa nhà chung, nhà của cả cộng đồng. Nhà dài hình chữ nhật dài, với mái nghiêng, phần đỉnh mái thường để mở như lỗ thoát khói. Lửa được đốt liên tục ở trung tâm nhà dài để nấu ăn và giữ ấm. Người dân quy tụ lại đó, gần bên ngọn lửa để nấu, ăn, và gặp gỡ nhau, nhưng họ ngủ xa đống lửa, dưới các mái hai bên nhà. Thường xuyên, có một người, đàn ông hay phụ nữ, vì lý do gì đó mà họ không cần giải thích, sẽ không làm theo thông lệ đó. Thay vào đó, họ im lặng, ngồi ngay sát bếp lửa, trên đống tro, ăn qua loa, không tiếp chuyện, không ra ngoài, không tắm rửa và không đi ngủ với những người khác, cứ ngồi đó giữa đống tro.

Ngày nay, chúng ta sẽ xem chuyện này như là trầm cảm lâm sàng và tức tốc lôi người đó đi khám. Nhưng người Da Đỏ thời xưa thì không hoảng lên như vậy. Họ thấy đây là chuyện bình thường, một chuyện mà ai cũng được kêu gọi thực hiện lúc này hay lúc khác trong đời. Họ cứ để người đó ngồi trong tro cho đến một ngày nào đó người này đứng dậy, rũ sạch tro và bắt đầu sống lại đời sống thường lệ. Họ tin rằng tro, hay thời gian ngồi thinh lặng, đã có tác động quan trọng, không thể thấy được bên trong con người. Ta ngồi trong tro để được chữa lành.

Giáo hội cũng dựa vào những nguồn khôn ngoan thâm sâu này khi cử hành nghi thức xức tro lên trán chúng ta vào đầu mùa Chay. Mùa Chay là mùa để mỗi người chúng ta ngồi trong tro, dành thời gian như Cinderella để nuối tiếc về những gì ta chúng ta đã làm sai, kiềm chế bản thân khỏi vũ hội, từ chối làm việc như thường lệ, để kiên nhẫn trong thinh lặng chờ đợi sự tăng tiến diễn ra trong con người mình. Mùa Chay là thời gian để tĩnh lặng hầu cho tro có thể làm việc của nó trên con người chúng ta.

Và chúng ta không cần hiểu chính xác tro hoạt động thế nào trên mình. Tro đã kiên nhẫn nâng đỡ chúng ta suốt bao đời nay rồi.

Món quà từ biệt đẹp nhất

Theo phúc âm Thánh Gioan, trong buổi tiệc ly, Chúa Giêsu bảo là Ngài sẽ đi xa, nhưng sẽ để lại cho chúng ta một món quà chia tay, đó là bình an của Ngài, và chúng ta phải trải nghiệm món quà này theo tinh thần Ngài để lại cho chúng ta.

Vậy tinh thần này như thế nào? Làm sao chúng ta để lại bình an và di sản tinh thần khi ra đi?

Đây không phải là một chuyện mơ hồ, nhưng là điều mà chúng ta trải nghiệm (có khi vô thức) trong mọi mối quan hệ của mình. Nó như thế này. Mỗi người chúng ta đem một sinh lực nhất định vào trong mọi mối quan hệ của mình, và khi chúng ta đến đâu, sinh lực đó tác động đến cảm giác của những người ở đó. Hơn nữa, nó còn ở lại với họ sau khi chúng ta đi. Thật vậy, chúng ta đã để lại tinh thần.

Ví dụ như, nếu tôi bước vào một căn phòng, và con người của tôi phát ra sinh lực tích cực, như tin tưởng, vững vàng, tri ân, quan tâm, vui sống, hóm hỉnh, hài hước, thì sinh lực đó sẽ tác động đến mọi người trong phòng và sẽ ở lại với họ sau khi tôi đã rời căn phòng đó. Tôi đi, nhưng tinh thần đó ở lại. Ngược lại, dù tôi có nói hay chừng nào, nhưng nếu con người tôi phát ra sinh lực tiêu cực như giận dữ, ghen tương, cay đắng, dối trá, hỗn loạn, thì mọi người sẽ cảm nhận được, và sinh lực tiêu cực đó sẽ ở lại với họ cả khi tôi đã ra đi, phủ bóng lên mọi sự tôi để lại.

Sigmund Freud đã nói, chúng ta hiểu thứ gì đó rõ ràng nhất khi nó vỡ, và câu đó đúng ở đây. Ví dụ, chúng ta thấy rõ chuyện này nơi tác động của những bậc cha mẹ nghiện rượu lâu ngày lên con cái. Dù không cố ý, nhưng người đó sẽ liên tục để lại sự bất ổn, bất tín, hỗn loạn trong gia đình, và nó sẽ còn ở lại đó sau khi người đó ra đi, tinh thần người đó sẽ ở lại, dù ngắn hạn hay dài hạn. Con người của người đó sẽ khơi lên cảm giác bất tín và hỗn loạn, ký ức về người đó cũng thế.

Và đối với những người đem lại sinh lực tích cực, sự ổn định và tin tưởng, cũng vậy. Tiếc là, thường chúng ta không cảm được món quà thực sự mà những người này đem lại cũng như tác động của chúng. Nó hầu như là một sinh lực không lời, cảm nhận vô thức và phải về sau này (một thời gian lâu sau khi người đó đã ra đi) chúng ta mới nhận ra và ý thức cảm kích những gì mà sự hiện diện của họ đã làm cho chúng ta. Chuyện này cũng đúng với bản thân tôi khi nghĩ lại về sự an toàn và ổn định của mái ấm mà bố mẹ đã cho tôi. Hồi nhỏ, thỉnh thoảng tôi ước gì có những bố mẹ thú vị hơn, thậm chí còn ngô nghê cảm thấy sự an toàn và ổn định này là sự nhàm chán hơn là món quà. Nhiều năm sau, một thời gian lâu sau khi tôi rời nhà và biết được nhiều người thèm khát có được an toàn và ổn định cho thời thơ ấu đến như thế nào, tôi mới nhận ra món quà lớn lao bố mẹ đã tặng cho tôi. Bất chấp những bất toàn của con người, cha mẹ đã cho anh em tôi một nơi an toàn và ổn định để trưởng thành. Cha mẹ chúng tôi qua đời khi chúng tôi còn trẻ, nhưng đã để lại cho chúng tôi món quà bình an. Tôi nghĩ rằng nhiều người trong các bạn cũng cảm thấy thế.

Động lực này (dù là ổn định hay hỗn loạn) là điều phủ bóng hàng ngày lên mọi mối quan hệ của chúng ta, và nó càng đúng hơn nữa đối với tinh thần mà chúng ta để lại khi qua đời. Cái chết làm rõ mọi sự, nhất là với cách chúng ta được tưởng nhớ và cách di sản chúng ta tác động lên người khác. Khi người thân qua đời, mối quan hệ của chúng ta với người đó cuối cùng được làm rõ và chúng ta sẽ biết chính xác người đó là món quà hay gánh nặng trong đời chúng ta. Có lẽ phải mất một thời gian, vài tháng, có khi vài năm, nhưng cuối cùng chúng ta sẽ nhận tinh thần mà người đó để lại một cách rõ ràng, và biết đó là món quà hay gánh nặng.

Do đó, chúng ta cần nghiêm túc với sự thật là cuộc đời chúng ta không chỉ của chúng ta mà còn là của người khác. Như thế, cái chết của chúng ta không chỉ thuộc về chúng ta, mà còn thuộc về người thân, những người thân yêu và cả thế giới. Chúng ta phải trao cả cuộc sống và cái chết cho người khác như một món quà. Nếu đúng là thế, thì cái chết của chúng ta sẽ là trao món quà hay gánh nặng cho những người quen biết chúng ta.

Tôi xin trích lời của cha Henri Nouwen ở đây, nếu chúng ta chết với mặc cảm tội lỗi, hổ thẹn, giận dữ, cay đắng, tất cả sẽ cấu thành tinh thần mà chúng ta để lại, gắn chặt và đè nặng lên cuộc sống của người thân và bạn bè. Ngược lại, cái chết của chúng ta có thể là món quà cuối cùng chúng ta tặng cho họ. Nếu chúng ta chết mà không giận dữ, chết trong hòa giải, tri ân những người quanh mình, bình an với tất cả, không buộc tội, không làm cho ai phải thấy họ có lỗi, thì cái chết của chúng ta sẽ gây đau buồn nhưng không là gánh nặng gắn theo. Như thế, tinh thần chúng ta để lại, di sản thật sự của chúng ta, sẽ tiếp tục nuôi dưỡng người khác với cùng sinh lực nồng ấm mà chúng ta từng đem đến cho họ khi còn sống.

Đừng làm cho Thiên Chúa thành xấu đi

Trong 15 năm qua, tôi dạy một môn tên là Thần học về Thiên Chúa. Các sinh viên học môn này chủ yếu là các chủng sinh, cùng với một số giáo dân chuẩn bị nhận thừa tác vụ. Tôi luôn dạy theo giáo trình, là những mặc khải chính trong Kinh Thánh về bản tính Thiên Chúa và các hành động của Thiên Chúa trong lịch sử, một vài quan điểm nổi bật từ các Giáo phụ về bản tính và hành động của Thiên Chúa, sự phát triển theo dòng lịch sử của định nghĩa giáo lý về Thiên Chúa, một vài quan niệm suy đoán về ba ngôi, trải từ thánh Âugutinô đến các thần học gia Karl Rahner (1904-1984) và Catherine Lacugna (1952-1997). Nhưng điểm nhấn mạnh chính yếu, một mô thức nhất quán của tôi, luôn là điểm này. Tôi luôn bảo các sinh viên: “Dù các em làm gì trong việc mục vụ và giảng dạy, hãy cố đừng làm cho Thiên Chúa thành xấu đi!”

Trong việc giảng dạy, rao giảng, và hoạt động mục vụ của chúng ta, không gì quan trọng bằng khái niệm chúng ta truyền tải về Thiên Chúa, Đấng bảo chứng cho tất cả những hoạt động này. Mọi bài giảng lễ, mọi bài giảng về giáo lý và bí tích và mọi việc mục vụ chúng ta làm, phản ánh Thiên Chúa đứng sau mọi việc đó. Nếu giáo huấn của chúng ta hạn hẹp và nhỏ nhen, thì chúng ta làm cho Thiên Chúa có vẻ hạn hẹp và nhỏ nhen. Nếu việc mục vụ của chúng ta thiếu thông hiểu và tình thương, thì chúng ta làm cho Thiên Chúa có vẻ thiếu thông hiểu và tình thương. Nếu chúng ta vị luật, thì chúng ta làm cho Thiên Chúa có vẻ vị luật. Nếu chúng ta bè phái, theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, kỳ thị chủng tộc, thì chúng ta làm cho Thiên Chúa có vẻ bè phái, dân tộc cực đoan, kỳ thị chủng tộc. Nếu chúng ta làm những việc bất chấp lương thức, thì chúng ta làm cho Thiên Chúa có vẻ bất chấp lương thức. Nói thẳng ra, khi chúng ta làm những việc xấu xí trong thừa tác vụ, thì chúng ta làm cho Thiên Chúa có vẻ xấu xí.

Trong mọi bài giảng, giáo huấn và việc mục vụ của mình, chúng ta đừng để những thứ độc đoán, hạn hẹp, vị luật, khắc nghiệt, kỳ thị chủng tộc, óc bè phái, dân tộc cực đoan, mọi thứ hẹp hòi nhỏ nhen liên kết với Thiên Chúa qua chúng ta. Bất kỳ việc gì chúng ta làm nhân danh Thiên Chúa là phản ánh Thiên Chúa.

Không phải ngẫu nhiên mà chủ nghĩa vô thần, chủ trương bài giáo sĩ, và hầu hết thái độ tiêu cực đối với Giáo hội và tôn giáo thời nay luôn có thể bắt nguồn từ một thần học tồi hay một việc thực hành tồi trong bản thân Giáo hội. Chủ nghĩa vô thần luôn là ký sinh sống nhờ một tôn giáo tồi. Điều này cũng đúng với thái độ tiêu cực đối với các Giáo hội thời nay. Thái độ bài Giáo hội sống nhờ tôn giáo tồi và do đó, chúng ta, những người giảng dạy, giáo huấn và mục vụ nhân danh Thiên Chúa, cần phải kiểm xét lại mình bằng những lời phê phán này.

Cũng vậy, chúng ta cần phải thành thật thừa nhận rằng mình đã làm tổn thương nghiêm trọng nhiều người bằng sự khắc nghiệt trong mục vụ vốn chẳng phản ánh được một Thiên Chúa thông hiểu, cảm thương và khôn ngoan, thay vào đó lại gợi lên một Thiên Chúa độc đoán, vị luật và không khôn ngoan cho lắm.

Tôi muốn nói ra điều này trong tinh thần cảm thông. Không dễ để phản ánh Thiên Chúa cho thỏa đáng, nhưng chúng ta phải thử, phải nỗ lực để phản ánh tốt hơn về Thiên Chúa mà Chúa Giêsu là hiện thân. Những đặc nét của Thiên Chúa là gì?
Trước hết, Thiên Chúa vô tư. Thiên Chúa không ưu ái người nào, dân tộc hay chủng tộc nào. Tất cả đều có đặc ân. Thiên Chúa đó cũng nói rõ rằng không phải chỉ ai tuyên xưng Thiên Chúa và tôn giáo mới là người có đức tin, mà là cả những ai, bất chấp tôn giáo tín ngưỡng, biết thực thi ý Ngài trong cuộc sống.

Tiếp theo, Thiên Chúa thông hiểu và cảm thương đến mức độ chúng ta không thể nào chấp nhận nổi, nhất là đối với những người yếu đuối và tội lỗi. Thiên Chúa đó sẵn sàng ngồi lại với các tội nhân để ngỏ lời mời xin họ thanh tẩy đời mình. Hơn nữa, Thiên Chúa đó yêu cầu chúng ta cũng phải cảm thương như thế, yêu thương tội nhân và thánh nhân như nhau. Thiên Chúa đó không ưu ái cho người đức hạnh hơn.

Hơn nữa, Thiên Chúa đó chỉ trích những ai, dù thật tâm đến mấy, cố ngăn cản những người tội lỗi đến với Ngài. Thiên Chúa đó không bao giờ thủ thế, Ngài đã chấp nhận chịu chết còn hơn là bảo vệ cho mình, chưa hề lấy thù hận đáp trả thù hận, chết trong yêu thương và tha thứ cho những người giết Ngài.

Cuối cùng và cũng là trọng tâm, Thiên Chúa đó là Tin mừng cho người nghèo. Bất kỳ lời giảng nào nhân danh Thiên Chúa mà không phải là Tin mừng cho người nghèo thì không phải là Phúc âm.

Đây là những đặc nét của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu là hiện thân và chúng ta cần phải ghi nhớ hình ảnh Thiên Chúa như thế khi rao giảng, giáo huấn, và mục vụ, kể cả khi chúng ta cực kỳ quan tâm đến giới hạn và những yêu cầu của giáo lý chính thống.

Các vấn đề mục vụ phức tạp sẽ luôn xuất hiện và tôi không có ý nói nên giải quyết những vấn đề này theo cách tối giản hóa. Sự thật sẽ giải phóng chúng ta và như chính Chúa Giêsu đã nói, những yêu cầu của cương vị môn đệ thật khó khăn. Tuy nhiên, với tâm thức như thế, chúng ta phải luôn phản ánh lòng thương, sự nhân từ và khôn ngoan của Thiên Chúa trong mọi hoạt động mục vụ của mình. Nếu không, Thiên Chúa sẽ có vẻ độc đoán, bè phái, tàn nhẫn và là phản đề của tình yêu. Như nhà văn Marilynne Robinson nói, kitô giáo tuyệt đối không thể chịu thua sự hạn hẹp, vị luật, thiếu tình thương và thiếu lương thức.

Nghi thức hoàn hảo

Đôi khi, cần người ngoài cuộc để giúp chúng ta thấy được vẻ đẹp và chiều sâu của một cái gì mà chúng ta chưa hề cảm kích trọn vẹn. Tôi cho rằng câu này đúng với nhiều người chúng ta, kể cả bản thân tôi, về việc cử hành Phép Thánh Thể trong nhà thờ.

Giáo sư David P. Gushee, thuộc Phái Phúc âm gần đây đã xuất bản quyển sách có tựa đề Hậu Phúc âm hóa (After Evangelicalism), mô tả cuộc đấu tranh hàng chục năm trời của ông để hòa hợp với một vài vấn đề trong giáo hội của ông. Ông vẫn ở lại giáo hội của ông dù hiện nay, ông cũng đi lễ ngày chúa nhật với vợ (vợ ông là theo đạo công giáo la-mã). Và ông mô tả những gì ông chứng kiến như sau:

“Tôi thấy thánh lễ công giáo như một viên ngọc được đánh bóng, tinh tế hơn qua thời gian đến mức độ tuyệt mỹ – nếu như chúng ta hiểu những gì mình đang xem… Động tác thánh lễ đạt được rất nhiều điều trong vòng một một giờ – một nghi thức rước với thánh giá giương cao, lời chào hỏi nhân danh Thiên Chúa ba ngôi, lời thú nhận tội lỗi trước, ngắn gọn mà quá hay, một bài Cựu Ước do giáo dân đọc, hát Thánh vịnh, một bài thánh thư do giáo dân đọc, Phúc âm do linh mục đọc cùng những nghi thức cử hành quanh bài đọc, bài giảng ngắn gọn, nghi thức hướng nội của Kinh Tin Kính và lời nguyện giáo dân. Phần dâng lễ và âm nhạc. Rồi đến phần Dâng lễ – giáo dân mang lễ vật dâng lên Chúa, rồi cũng những lễ vật này về lại giáo dân trong Mình và Máu Chúa Kitô, khiêm nhường quỳ gối, Kinh Lạy Cha và chúc bình an cho nhau trước khi nhận của ăn, lại quỳ gối là lúc nhìn người khác lên rước Mình Thánh Chúa và cầu nguyện cho họ hoặc bình tâm thinh lặng trước Chúa, lời chúc lành nhân danh Thiên Chúa ba ngôi và đoàn rước khi kết thúc thánh lễ”.

Thật là một mô tả thấu suốt về nghi lễ mà chúng ta cử hành Phép Thánh Thể! Đôi khi, là người trong cuộc, chúng ta không thấy rõ như người ngoài cuộc.

Tôi xin được phép mô tả thêm hai yếu tố nêu bật nghi thức cử hành Phép Thánh Thể theo cách mà chúng thường không nghĩ đến, cũng không thường gặp trong thần học và giáo lý thường lệ.

Trước hết, là lời của một người ngoài công giáo thuộc giáo phái Mêthôđista đã chia sẻ: “Tôi không phải là người công giáo la-mã, nhưng thỉnh thoảng, tôi đi lễ ở nhà thờ công giáo la-mã chỉ để được tham gia vào nghi lễ. Tôi không chắc họ có biết chính xác mình đang làm gì không, nhưng họ đang cử hành một điều đầy uy lực. Ví dụ như thánh lễ ngày thường. Không như thánh lễ chúa nhật, họ cử hành thánh lễ ngày thường đơn giản hơn, với nghi thức giảm hơn. Những gì tôi thấy, về căn bản, là cái gì đó tương tự như một buổi hội của “Hội Cai nghiện Ẩn danh”. Vì sao ông lại có liên kết như vậy?

Tôi xin trích nguyên văn của ông. “Những người đi lễ ngày thường, họ không đi để trải nghiệm một chuyện gì đó mới lạ hay thú vị. Nó lúc nào cũng như nhau, và vấn đề là thế. Như những người đến Hội Cai nghiện Ẩn danh, họ đến đó để nhận sự nâng đỡ họ cần để vững vàng trong cuộc sống, và sự vững vàng đó đến qua nghi lễ. Hẳn mỗi người đang thầm nói lên rằng, ‘Tôi tên là A. B. C, và đời tôi mong manh lắm. Tôi biết là nếu tôi không dự nghi lễ này một cách đều đặn, đời tôi sẽ bắt đầu rối lên. Tôi cần nghi lễ này để sống’. Nghi thức cử hành Phép Thánh Thể cũng hoạt động như các buổi hội ‘12 bước’.”

Quan điểm còn lại là của thần học gia người Anh Ronald Knox. Ông cho rằng chúng ta chưa hề thật sự trung tín với Chúa Giêsu. Chân thành mà nói, chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta không yêu kẻ thù mình, không đưa má kia cho người ta đánh, không chúc phúc những ai nguyền rủa mình, không tha thứ cho kẻ giết người thân yêu của mình, không đến với người nghèo cho đủ, và không yêu thương người xấu và người tốt như nhau. Đúng hơn, chúng ta làm một cách kén chọn các giáo huấn của Chúa Giêsu. Nhưng, ông Knox nói rằng, chúng ta đã trung tín theo một cách rất quan trọng, là qua nghi thức Phép Thánh Thể. Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta tiếp tục cử hành nghi thức này cho đến khi Ngài trở lại, và 2000 năm sau, chúng ta vẫn cử hành như thế. Nghi thức Phép Thánh Thể là một trong những hành động trung tín lớn lao của chúng ta, và thật mừng là nghi thức này xét tận cùng là đủ rồi.

Chúa Giêsu để lại cho chúng ta hai điều: Lời Ngài và Phép Thánh Thể. Các giáo hội khác nhau ưu tiên một trong hai điều này mỗi cách khác nhau. Một số giáo hội, như công giáo la-mã, Tân giáo, Anh giáo, ưu tiên Phép Thánh Thể như là nền tảng để xây dựng và giữ vững cộng đoàn. Các giáo hội khác, hầu hết các cộng đoàn tin lành và giáo phái Phúc âm, thì ngược lại, ưu tiên Lời Chúa là nền tảng để xây dựng và giữ vững cộng đoàn. Lời Chúa và Phép Thánh Thể hợp nhau như thế nào?

Chúng ta nhớ lại, trên đường Ê-mau, khi hai môn đệ không thể nhận ra Chúa Giêsu dù cho Ngài đã đi cùng họ cả quãng đường, thì Chúa Giêsu khơi dậy lòng họ bằng Lời của Ngài, đủ để họ nài nỉ Ngài ở lại với họ. Rồi Ngài ngồi lại với họ để cử hành Phép Thánh Thể, và đó là lúc họ nhận ra Ngài.

Cái chết của khiết tịnh trong nền văn hóa chúng ta

Quan niệm về khiết tịnh đã bị sụp đổ nặng nề.

Vài năm trước, tôi được mời đến nói chuyện với một nhóm sinh viên tại một đại học Công giáo. Thư mời đi kèm một yêu cầu và một giới hạn. Tôi được yêu cầu nói về khiết tịnh, nhưng lý tưởng nhất là tránh nhắc đến từ đó. Trưởng khoa Thần học, người mời tôi, đã đánh giá tình hình như thế này: Có lẽ hơn bất kỳ điều gì khác, các sinh viên cần có một thách thức về khiết tịnh, nhưng họ lại bị “dội” bởi từ đó nên nếu chúng ta nhắc đến từ đó trong tiêu đề bài nói chuyện, sẽ có rất ít sinh viên đến dự.

Linh tính của ông đúng về hai điều: nhu cầu cần có sự khiết tịnh trong đời sống sinh viên và ác cảm của họ với từ đó. Điều này cũng đúng với nền văn hóa của chúng ta.
Với nhiều người thời nay, từ khiết tịnh có những hàm nghĩa tiêu cực. Ngoài phạm vi những nhóm trong Giáo hội với con số ngày càng thu hẹp, thì từ “khiết tịnh” gần như luôn gợi lên cảm giác tiêu cực. Trong thế giới đặc biệt thế tục hóa và cầu kỳ hóa, khiết tịnh gần như bị đánh đồng với ngây thơ, với sự ngại ngùng về tình dục, với chủ nghĩa tôn giáo chính thống cực đoan, với một sự nhấn mạnh độc hại về trinh tiết, thiếu sự tinh vi, và là một thứ thuộc về một thời đại khác. Thường thì quan niệm này bị giễu cợt, thậm chí cả trong phạm vi tôn giáo. Thời nay, rất ít người dám nói về chuyện giữ trinh tiết trước hôn nhân hay xem khiết tịnh là một nhân đức.

Ẩn sau chuyện này là gì? Tại sao người ta lại thấy tiêu cực và khinh thị khiết tịnh như thế?

Một phần là do một số quan niệm đại chúng. Họ thường xem khiết tịnh có nền tảng ở chủ nghĩa tôn giáo chính thống cực đoan, một thứ mà nền văn hóa thời nay hoặc khinh thị hoặc thương hại (chẳng hạn như với phong trào (“Khiết tịnh vì Chúa Giêsu”). Cũng vậy, khái niệm khiết tịnh bị xem là sản phẩm của sự nhấn mạnh một phía, lâu dài của Giáo hội về sự trinh tiết và độc thân, cũng như thất bại của Giáo hội trong việc thể hiện rõ ràng một linh đạo lành mạnh và mạnh mẽ về tình dục. Thật khó để tranh luận với những quan niệm này, ngoại trừ lập luận rằng lý do cho sự suy tàn của khái niệm khiết tịnh trong nền văn hóa chúng ta là một chuyện phức tạp hơn thế nhiều.

Phải thừa nhận, giáo lý căn bản của chúng ta về khiết tịnh là một phần của vấn đề. Tôi cho rằng một số người thấy khái niệm này tiêu cực vì cách giới thiệu nó. Giáo hội và các giảng viên luân lý của chúng ta phải chịu phần nào trách nhiệm và thừa nhận rằng khái niệm khiết tịnh, dù không chủ ý, quá thường xuyên bị thể hiện như một thứ ngây thơ, kìm kẹp và quá nhấn mạnh đến sự trong trắng về tình dục. Và chuyện này cũng phần nào tương đồng với cách mà chủ nghĩa vô thần tìm thấy nền tảng của nó. Cũng như chủ nghĩa vô thần là ký sinh sống nhờ tôn giáo xấu, thì quá nhiều sự tiêu cực hướng đến khái niệm khiết tịnh cũng là ký sinh sống nhờ các giáo huấn tôn giáo không lành mạnh.

Tuy nhiên, cái nhìn tiêu cực của nền văn hóa chúng ta đối với khiết tịnh đâu chỉ tồn tại bởi một giáo lý căn bản thiếu lành mạnh. Vậy thủ phạm chính là gì? Sự tinh vi xem nó là nhân đức và tự nó cũng là mục đích. Nói tóm lại, nền văn hóa tôn vinh sự cầu kỳ cá nhân trên tất cả mọi sự, và khi sự cầu kỳ được tôn vinh quá cao, thì khiết tịnh trông có vẻ ngây thơ và ngu muội.

Thật thế không? Khiết tịnh là ngây thơ và ngu muội sao? Xét tận cùng, khái niệm khiết tịnh có thật là sự kìm kẹp tình dục, là sự ngại ngùng không lành mạnh, là sự nhấn mạnh độc hại về trinh tiết, là chủ nghĩa tôn giáo chính thống cực đoan, là sự kém tinh vi đáng thương hại hay không? Phải thừa nhận, đôi lúc, có thể là thế. Tuy nhiên, vấn đề của khiết tịnh là thế này.

Năm 2013, giáo sư nhà văn Donna Freitas, tác giả của một số sách về tình dục và đồng thuận, đã đăng một nghiên cứu với tiêu đề: Kết cục của Tình dục: Cách mà nền văn hóa tình qua đường làm cho một thế hệ bất hạnh, thiếu viên mãn về tình dục và mơ hồ về sự thân mật (The End of Sex: How Hookup Culture is Leaving a Generation Unhappy, Sexually Unfulfilled, and Confused about Intimacy). Tiêu đề đó cũng là tóm gọn cả quyển sách. Trong quyển sách này, bà không hề nói rằng những gì đang xảy ra trong văn hóa thời nay về vấn đề tình dục bất cần tầm hồn là sai trái hay tội lỗi (và bị nhiều người trong tôn giáo chỉ trích vì vậy). Bà đâu cần phải nói thế. Bà đã nêu rõ những hậu quả rồi, là bất hạnh, hoang mang, trầm cảm về tình dục.

Một thế hệ trước đó, nhà giáo dục lừng danh Allan Bloom, từ một quan điểm thuần thế tục, đã có cùng kết luận như vậy. Nhìn vào những sinh viên trẻ tuổi, vô cùng cầu kỳ của mình, ông kết luận rằng sự cầu kỳ vô độ mà họ quá tự hào (và ở đây ông cũng đưa ra cụm từ “sự vắng mặt của khiết tịnh trong đời sống của họ”) đã có tác động lên đời họ, làm cho họ “khập khiễng về tình ái”.

Và tôi cho rằng khiết tịnh xứng đáng được nền văn hóa của chúng ta nhìn lại. Có sự ngây thơ ấu trĩ và sự ngây thơ như trẻ con. Có loại tình dục qua đường và tình dục thấm vào tâm hồn. Có chủ nghĩa tôn giáo chính thống cực đoan và có sự khôn ngoan được thần thánh mặc khải. Có sự nhấn mạnh quá đáng về trinh tiết và có sự xâm phạm phi nhân hóa trên người khác (thứ mà phong trào #MeToo đang đứng lên phản đối). Có một sự buồn chán và mệt mỏi trong sự cầu kỳ cực đoan tin rằng mọi điều cấm kỵ phải bị xô đổ, và có sự rung động, hạnh phúc khi “cởi giày trước bụi gai đang cháy”. Phải thấy, trong mỗi một cặp này, khiết tịnh là tiếng nói của tâm hồn, của khôn ngoan, của tôn trọng và của hạnh phúc.

Khi thế giới chúng ta sụp đổ

Thời đương tuổi thanh niên và mới làm linh mục, tôi dạy thần học ở Trường Thần học Newman tại Edmonton, Canada. Trẻ tuổi, đầy sinh lực, đam mê giảng dạy và đang khám phá niềm vui mục vụ. Có thể nói thời gian đó là những năm tháng tươi đẹp của đời tôi.

Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng êm đềm. Chúng ta ai cũng có lúc rơi vào khắc khoải và rối loạn nội tâm. Những đòi hỏi của việc mục vụ, những căng thẳng trong cộng đoàn, những ám ảnh cố hữu của tôi, sự ra đi cũng khá thường xuyên của những người bạn thân thương trong cộng đoàn, sự thay đổi thường xuyên những người đi qua đời tôi, tất cả đã làm cho tôi thỉnh thoảng rơi vào rối loạn cảm xúc, khó thở, khó ngủ, không biết mình có tìm lại được tâm hồn như trước nữa không.

Nhưng may là tôi có một công thức nho nhỏ để giúp xử lý chuyện này. Mỗi khi rối loạn tăng, tôi sẽ lên xe, lái bốn tiếng về nông trại gia đình ở Saskatchewan. Gia đình tôi vẫn sống trong ngôi nhà tôi lớn lên từ nhỏ, và tôi có thể ngồi bên chiếc bàn thơ ấu, ngủ tại căn phòng thơ ấu và bước đi trên mảnh sân mà tôi đã chập chững đi. Thường thì mái ấm gia đình sớm hồi phục cho tôi. Tôi chỉ cần một bữa ăn, một tối ngủ lại là những hỗn loạn và đau lòng sẽ bị dập tắt, tôi lại bắt đầu cảm thấy vững vàng trở lại.

Về nhà không chữa lành nỗi đau trong lòng, nhưng cho tâm hồn sự chăm sóc mà nó cần. Không hiểu sao, cách đó luôn hiệu nghiệm.

Ngày nay, cũng những hỗn loạn cảm xúc và đau lòng đó vẫn thỉnh thoảng làm cho tôi rối bời và thậm chí bất định về bản thân, bất an về những lựa chọn của tôi trong đời, về người nào hay chuyện gì tôi có thể tin tưởng. Tuy nhiên, tôi không thể lái xe về lại ngôi nhà thơ ấu như trước nữa, nên tôi cần tìm những phương cách mới để lấy lại sự vững vàng đó. Không phải lúc nào cũng dễ tìm được, kể cả khi chúng ta ở trong một cộng đoàn tốt, một gia đình biết nâng đỡ, những người bạn yêu thương và có một công việc tốt. Mái ấm có thể lu mờ trong một đêm rối bời. Người chúng ta cần có để bình tâm, không phải lúc nào cũng có. Khi chúng ta rời nhà, đôi khi thật khó để tìm đường về lại.
Vậy giờ tôi làm gì khi cần về nhà, chạm vào gốc rễ của mình để bình tâm? Có khi, tôi tìm được điều đó nơi một người bạn, có khi là một người thân, có khi là một gia đình đã thân quen với tôi, có khi là cầu nguyện hay ở giữa thiên nhiên, có khi là đắm mình trong công việc, có khi tôi chẳng thể nào tìm được và tôi phải sống trong hỗn loạn, chờ đến khi cơn bão qua.

Qua năm tháng, tôi đã khám phá có một quyển sách đặc biệt có thể đưa tôi về mái ấm hệt như chuyến xe bốn tiếng khi trước. Mỗi người tìm thấy mái ấm ở những nơi khác nhau. Một quyển sách đã làm được thế cho tôi, hầu như lúc nào cũng làm được, chính là quyển Câu chuyện Linh hồn của thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Chẳng lạ gì khi đây là câu chuyện về một hành trình tĩnh, câu chuyện của thánh Têrêxa cố nắm bắt những gì mà mái nhà, mái ấm và gia đình từng cho ngài. Nhưng hành trình tĩnh này tự nó không phải là điều cho quyển sách này sức mạnh đặc biệt đến vậy. Nhiều tự thuật gây hoang mang hơn là ổn định. Còn quyển sách này giúp xoa dịu tâm hồn.

Tuy nhiên, chỉ nhớ lại không hẳn đã chăm sóc được cho tâm hồn và đôi khi ký ức của chúng ta về mái ấm và thời thơ ấu mang lại nhiều nỗi đau, nặng nề hơn là ổn định và chữa lành. Không phải mái nhà của ai cũng an toàn và nuôi dưỡng được. Đau lòng là mái nhà đầu tiên cũng có thể là nơi mà sự tin tưởng và bình tâm của chúng ta bị phá tan không thể nào lành lại, đây là chuyện thường gặp trong những gia đình có bạo hành và lạm dụng. Tôi là người may mắn. Mái nhà đầu tiên của tôi cho tôi tin tưởng và đức tin. Với những ai không đủ may mắn, họ cần tìm ra một mái ấm, một nơi chốn hay một người nâng niu trìu mến một tâm hồn bị tổn thương.

Điều gì làm cho mái ấm là nơi có thể nâng niu tâm hồn chúng ta? Mái ấm là nơi ta an toàn. Mái ấm cũng là nơi chúng ta cảm thấy được an tâm và tin tưởng, và sự bình tâm giúp chúng ta tin vào những chuyện của đức tin. Tôi từng lái xe bốn tiếng để ăn một bữa, ngủ một đêm, để tìm lại điều đó. Hiện giờ, tôi cần thực hiện hành trình tĩnh đó theo những cách khác.

Đó là hành trình chúng ta đều cần thực hiện trong những thời điểm hỗn loạn và bồn chồn thao thức trong cuộc sống, cụ thể là tìm một nơi chốn, một không gian, một người bạn, một gia đình, một mái nhà, một chiếc bàn, một chiếc giường, một quyển sách, một thứ gì đó cho chúng ta lại có được an toàn, tin tưởng, vững vàng và đức tin.

Dĩ nhiên, có những chuyện đau đầu và đau lòng mà không có cách nào chữa được, nhưng tâm hồn không cần được chữa lành, tâm hồn chỉ cần được quan tâm cho đúng. Nhiệm vụ của chúng ta là về nhà, tìm ra những con người, nơi chốn, lời cầu nguyện và quyển sách nâng niu trìu mến tâm hồn chúng ta vào những lúc thế giới như đang sụp đổ.

Khiêu dâm và khiết tịnh

Sản phẩm khiêu dâm là chứng nghiện nặng nhất của thế giới ngày nay, với mức độ phủ sóng rất rộng. Chủ yếu nó tác hại đàn ông, nhưng cũng gây nghiện cho phụ nữ. Dĩ nhiên phần nhiều nguyên nhân là do có thể truy cập dễ dàng và miễn phí trên mạng. Hiện giờ, tất cả mọi người (thậm chí là trẻ con) có thể truy cập sản phẩm khiêu dâm một cách ẩn danh và kín đáo trên điện thoại và máy tính. Không còn ai phải tìm đến những nơi hẻo lánh kín đáo trong thành phố để xem văn hóa phẩm bị cấm. Khiêu dâm phẩm ngày nay ngày càng được đón nhận một cách chính thống. Nó có gì nguy hại hay đáng hổ thẹn?

Vậy nó nguy hay hay đáng hổ thẹn ở điểm nào? Ngày càng nhiều người không thấy nó có gì nguy hại hay đáng hổ thẹn. Quan niệm của họ là, bất chấp những mặt có hại nào đó, sản phẩm khiêu dâm là giải phóng khỏi sự áp chế tình dục của tôn giáo trước đây. Thật vậy, nhiều người xem nó là một sự biểu lộ lành mạnh của tình dục (ngạc nhiên là nhiều nhà bảo vệ nữ quyền cũng nghĩ như vậy). Các nhân vật trên truyền hình chính thống nói đùa về những bộ sưu tập khiêu dâm phẩm của họ, như thể nó chỉ như một bộ sưu tập album nhạc, và nhiều đồng nghiệp của tôi đã nói, chúng ta mà phản đối chuyện đó thì chỉ bị xem là áp chế tình dục. Họ lập luận rằng tình dục thật đẹp, vậy tại sao chúng ta lại ngại xem nó?

Vậy khiêu dâm phẩm có gì không ổn? Gần như toàn bộ nó đều không ổn, và không chỉ là vấn đề đạo đức đâu.

Hãy bắt đầu với lập luận “tình dục thật đẹp, vậy tại sao chúng ta lại ngại xem nó”. Lập luận đó đúng một chuyện, tình dục thật đẹp, chính vì thế nó càng cần được bảo vệ khỏi sức mạnh của chính nó. Nói rằng có thể ngắm nhìn tình dục như ngắm một buổi hoàng hôn, thì quá sức ngây thơ, cả về mặt tôn giáo lẫn tâm lý. Về tôn giáo, chúng ta biết, không ai có thể thấy dung nhan Thiên Chúa mà còn sống. Với tình dục cũng thế. Nó là ánh sáng quá mãnh liệt cần phải được bao bọc lại. Hơn nữa, cũng thật ngây thơ về mặt tâm lý học khi cho rằng sự thân mật sâu sắc này có thể trưng ra cho công chúng xem. Không thể và không được làm thế. Công khai dạng thân mật đó là vi phạm mọi quy luật của lễ phép và sự tôn trọng dành cho cả những người làm và người xem. Như mọi sự thân mật sâu sắc, nó cần được bao bọc lại cho thích đáng.

Tiếp theo, khi nói về vẻ đẹp của tình dục và cơ thể con người, chúng ta cần phân biệt giữa khỏa thân và lõa lồ. Khi một họa sĩ giỏi vẽ cơ thể khỏa thân, thì sự khỏa thân là để nêu bật vẻ đẹp của toàn bộ con người, cả cơ thể và tâm hồn, cả tính dục của người đó. Trong một bức tranh khỏa thân, tình dục được liên kết với toàn bộ con người, với tâm hồn, trái ngược hẳn với lõa lồ. Lõa lồ phơi bày cơ thể con người theo một cách thủ tiêu hết sự toàn vẹn, không liên quan đến tâm hồn và tách hẳn tình dục ra khỏi con người trọn vẹn. Và khi đó, tình dục trở thành một thứ vô hồn, máy móc, không có ý nghĩa sâu đậm, lưỡng cực, một thứ mà ta cần từ bỏ để trở lại với con người thực sự của mình. Và khi đó, sự thâm thúy biến mất, như lời nhà thơ Anh Wystan Hugh Auden đã viết, chúng ta đều biết vài chuyện mà loài có vú chúng ta có thể làm.

Đáng buồn thay, ngày nay, nhiều người trẻ, nhất là các chàng trai, xem sản phẩm khiêu dâm là giáo dục giới tính ban đầu và do đó nó là một trong những thứ có thể để lại dấu ấn vĩnh viễn cho đời họ. Dấu ấn của nó có thể có tác động lâu dài đối với cách hiểu của họ về ý nghĩa của tình dục, cách họ tôn trọng hay xem thường phụ nữ, và cách họ hiểu hay không hiểu mối liên kết sống còn giữa tình dục và tâm hồn. Khiêu dâm phẩm có thể để lại những vết sẹo tâm hồn khó chữa lành. Có người lập luận rằng khiêu dâm phẩm có thể làm méo mó quan điểm của một cậu bé tuổi dậy thì, nhưng chuyện này sẽ thay đổi khi cậu ấy trưởng thành và khi yêu ai đó thật sự. Tôi mong rằng chuyện này đúng, nhưng tôi lo là dấu ấn ban đầu đó có thể làm méo mó cách người ta yêu và nhất là cách người đó hiểu sự tương quan cần có của tình dục trong tình yêu. Khiêu dâm phẩm có sức mạnh tiềm tàng ghê gớm như vậy đấy.
Ngoài ra, một lập luận lớn nữa là sản phẩm khiêu dâm (trong việc sản xuất và xem) là sự xúc phạm phụ nữ và khiêm dâm phẩm thúc đẩy sự xúc phạm phụ nữ (một cách tinh vi hay trắng trợn).

Cuối cùng, trong một nền văn hóa tự hào rằng mình tinh vi và giải phóng hơn bất kỳ ai, bao gồm cả giải phóng khỏi nhiều điều cấm kỵ tôn giáo cũ, hẳn nhiều người sẽ ngại nhắc đến chữ “khiết tịnh”. Có ai dám nói rằng khiêu dâm phẩm là xấu vì nó đối nghịch với đức khiết tịnh không? Có ai dám dùng đức khiết tịnh để tranh luận khi mà phần lớn nền văn hóa chúng ta xem thường sự khiết tịnh, và cực kỳ châm chích cay nghiệt với những nhóm tôn giáo vẫn bảo vệ cho quy tắc xưa “chờ đến khi kết hôn”? Tệ hơn nữa, là họ còn cay nghiệt trước ý niệm giữ khiết tịnh vì Chúa Giêsu. Nhưng lý tưởng khiết tịnh đưa tình dục vào trong sự lãng mạn, thiêng liêng, cam kết, gắn kết, và linh hồn, còn khiêu dâm phẩm thì thể hiện tình dục một cách vô hồn và riêng tư không lành mạnh. Vậy thì trong hai điều, điều gì khiến cho tình dục trở nên bẩn thỉu?

Ân tình với thần thiêng

Kabir, một nhà thần bí hinđu vào thế kỷ 15 đã viết những dòng này:

Cái bạn gọi là “cứu rỗi” thuộc về thời trước cái chết.
Nếu bạn không phá vỡ xiềng xích khi còn sống,
chẳng lẽ bạn nghĩ
sau đó, hồn ma sẽ phá được sao?…
Những gì bạn thấy bây giờ sau này bạn sẽ thấy.
Nếu bây giờ bạn không thấy gì,
kết cục của bạn sẽ là một chỗ trong Tử Thành.
Nếu bạn ân ái với thần thiêng bây giờ, kiếp sau ta sẽ có
khuôn mặt của mãn nguyện.

Ân tình với thần thiêng. Tôi cho rằng hầu hết chúng ta sẽ hình dung đây là một sự thân mật đầy tình cảm, riêng tư, nồng ấm, như cách chúng ta hình dung tình cảm yêu đương, chỉ khác một điểm là người kia là Thiên Chúa. Thật vậy, văn học thần nghiệm kitô giáo có đầy những hình ảnh thế này, như trong Phúc âm theo thánh Gioan chẳng hạn. Chuyện này chẳng có gì là không ổn, trừ chuyện khái niệm đó bị lý tưởng hóa và riêng tư hóa quá mức. Nếu chúng ta tin lời Chúa Giêsu, thì ân tình với thần thiêng là một chuyện dễ xác định và phổ quát hơn là hình ảnh tình cảm của chúng ta về sự thân mật.

Làm sao chúng ta có ân tình với thần thiêng trong đời này? Tôi luôn dạy rằng có bốn điều miễn tranh cãi trong cương vị môn đệ Chúa Kitô, là trung tín đạo đức trong đời sống riêng, dấn thân vì công bằng xã hội, tham dự cộng đồng giáo hội và một tấm lòng độ lượng trìu mến. Chúng ta ân ái với thần thiêng bằng cách sống những điều này.

Để dễ hiểu hơn, cho phép tôi đưa ra mười điểm cần có để ân ái với thần thiêng trong đời này.

  1. Trung tín đạo đức trong đời sống riêng
    Kinh Thánh dạy chúng ta, ai yêu Thiên Chúa thì giữ giới răn của Ngài và ai nói mình yêu Thiên Chúa mà không giữ giới răn thì người đó là người nói dối. Hơn nữa, nó cho chúng ta biết rằng mình ở trong một cơ thể và mỗi hành động riêng tư của chúng ta đều ảnh hưởng đến mọi người khác. Chúng ta ân ái với thần thiêng bằng cách không mang những bí mật tăm tối.
  2. Nỗ lực sống trong một cộng đồng
    Chúng ta được kêu gọi sống đời mình và đến với Thiên Chúa trong một cộng đồng. Chúng ta không thể một mình ân ái với Thiên Chúa. Luôn là Thiên Chúa, tha nhân và ta. Như lời của nhà văn Charles Peguy, khi đứng trước Thiên Chúa trong Ngày phán xét, chúng ta sẽ được hỏi, “Tha nhân ở đâu?” Ân ái với thần thiêng mang cả ý nghĩa tâm linh lẫn tôn giáo.
  3. Một trái tim trìu mến tỏa ra lòng tri ân và tha thứ
    Như người anh của người em hoang đàng, chúng ta làm mọi việc tốt, nhưng với tinh thần sai trái. Chúng ta ân tình với Thiên Chúa bằng cách tiếp sức cho bản thân bằng lòng tri ân hơn là cay đắng, bằng cách tha thứ cho tha nhân (và Thiên Chúa) vì những bất công và mọi chuyện đã làm chúng ta tổn thương.
  4. Tích cực đến với người nghèo và bền bỉ quan tâm đến công bằng thế giới
    Chúng ta không thể có ân tình với Chúa mà không gồm cả người nghèo và người bị tổn thương. Cũng như thế, chúng ta không thể có ân tình với Chúa khi chúng ta làm ngơ trước bất công. Như Chúa Giêsu đã nói rõ, một mối quan hệ thân thiết riêng tư với Thiên Chúa không bao giờ bù đắp được cho sự lãnh đạm trước người nghèo và bất công.
  5. Một cuộc đời chân thật không chấp nhận nói dối dù có phải chịu phiền phức thế nào
    Ân tình với thần thiêng là sống trong sự thật. Satan là vua dối trá. Điều nguy hiểm nhất mà chúng ta có thể tạo cho tâm linh của mình chính là lúc chúng ta không chịu công nhận điều đúng đắn, và cách quan trọng nhất để chúng ta có ân tình với Thiên Chúa là không bao giờ nói dối.
  6. Sự ngây thơ như con trẻ không bao giờ rơi vào ảo tưởng tự phụ
    Đừng bao giờ xem cuộc đời là mặc nhiên, nhưng hãy xem là ơn nhưng không. Chúng ta có ân tình với thần thiêng là không bao giờ sống trong ảo tưởng tự phụ, biết nhìn nhận rằng cuộc đời luôn là một ơn và chúng ta phụ thuộc, đồng phụ thuộc với tha nhân và với Thiên Chúa.
  7. Nỗ lực không ngừng để yêu người ghét ta, đừng lấy oán báo oán
    Chúng ta có ân tình với thần thiêng mỗi khi chúng ta yêu thương người ghét mình, chúc phúc cho ai nguyền rủa và tha thứ cho ai làm tổn thương chúng ta. Đó là điều vô cùng cơ bản.
  8. Một trái tim cởi mở với tất cả
    Bàn tiệc vĩnh hằng của Thiên Chúa mở ra cho tất cả những ai sẵn lòng ngồi lại với tất cả mọi người. Vì Thiên Chúa yêu thương tất cả, nên chúng ta có ân tình với thần thiêng bằng cách chia sẻ vòng ôm phổ quát của Thiên Chúa.
  9. Thường xuyên mở lòng để sinh lực của Thiên Chúa tuôn đổ vào cuộc sống chúng ta
    Chúng ta có ân tình với thần thiêng bằng cách để sinh lực của Thiên Chúa triển nở qua cuộc sống chúng ta, cụ thể là khi chúng ta để sinh lực thần thiêng trong chúng ta được vui mừng và sinh sôi để tỏa ra sự sống bất chấp hoàn cảnh chúng ta đang gặp.
  10. Sẵn sàng chờ đợi, sống trong nhẫn nại
    Chúng ta có ân tình với thần thiêng mỗi khi chúng ta chấp nhận sống nhẫn nại, chờ đợi sự sống và tình yêu triển nở theo những điều kiện nội tại của chúng. Chúng ta có ân tình với thần thiêng mỗi khi chúng ta gánh lấy một cách lành mạnh sự căng thẳng của khiết tịnh, không chỉ trong phạm vi tình dục, mà còn trong mọi phạm vi của cuộc đời.

Ngôn sứ Mikha gói gọi lại tất cả trong mấy lời này: hành động công chính, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn.

Thần học và Thiêng liêng, viết hay viết về thần học và thiêng liêng

Trong giới nghệ thuật, họ phân biệt giữa người tạo nên tác phẩm – họa sĩ, điêu khắc gia, tiểu thuyết gia – và người viết về nghệ sĩ và tác phẩm của họ. Có tiểu thuyết gia và nhà phê bình văn học, có nghệ sĩ và nhà phê bình nghệ thuật, cả hai đều quan trọng. Các nhà phê bình giữ cho nghệ thuật và văn học khỏi những dạng thức tồi, giật gân, thô tục, hào nhoáng, nhưng chính người nghệ sĩ và tiểu thuyết gia tạo nên thực thể nghệ thuật, không có họ thì các bài phê bình cũng chẳng làm được gì.

Ví dụ như quyển Nhật ký Anne Frank là một tuyệt tác. Vô số sách và bài viết đã viết về nó, nhưng chúng không phải là tuyệt tác, thực thể hay nghệ phẩm chạm đến tâm hồn hàng triệu con người. Chúng là những bình luận về nghệ phẩm đó. Dĩ nhiên, đôi khi có người có thể đóng cả hai vai trò đó, vừa là tiểu thuyết gia vừa là nhà phê bình văn học, vừa là nghệ sĩ vừa là nhà phê bình nghệ thuật, nhưng sự phân biệt vẫn rõ ràng. Có những kỹ thuật và nguyên tắc khác nhau.

Trong lĩnh vực thần học và thiêng liêng cũng vậy, dù người ta thường không nhận ra. Có người viết nên thần học và có người viết về thần học, cũng có người viết nên linh đạo và có người viết về linh đạo. Hiện giờ, tôi đang viết về thần học và linh đạo thay vì thật sự làm nên thần học hay linh đạo.

Có lẽ sẽ dễ hiểu hơn với ví dụ này. Linh mục Henri Nouwen là một trong những ngòi bút thiêng liêng nổi bật nhất trong 70 năm qua. Cha viết nên linh đạo, cha không hề viết về linh đạo. Cha không phải là nhà phê bình, cha viết nên những văn bản linh đạo. Nhiều người, kể cả tôi, đã viết về Henri Nouwen, về cuộc đời, tác phẩm và lý do vì sao cha tác động đến nhiều người như thế. Và xét một cách khắt khe, thì đó là viết về linh đạo, đối lập với viết nên linh đạo như cha Nouwen đã làm. Sự thật là, thời nay, chúng ta không có nhiều ngòi bút thiêng liêng có tầm vóc như cha Nouwen. Nhưng có nhiều ngòi bút phê bình về linh đạo, nhất là ở tầm mức học thuật.

Tôi đưa ra đây ví dụ về ngòi bút thiêng liêng đương thời là cha Henri Nouwen, nhưng sự phân biệt này có lẽ còn rõ ràng hơn nếu chúng ta nhìn vào những ngòi bút thiêng liêng kinh điển. Chúng ta đã có một “kinh điển” về các ngòi bút thiêng liêng: như các Giáo phụ và Giáo mẫu Sa mạc, Dionysius, Julian thành Norwich, Nicholas thành Cusa, Phanxicô thành Assisi, Đôminicô, Inhaxiô, Gioan Thánh Giá, Têrêxa thành Avila, Phanxicô Salê, Vinh Sơn Phaolô và Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Trong số các ngài, không ai viết những tác phẩm phê bình, họ viết nên linh đạo. Rất nhiếu tác giả đã viết vô số sách về các ngài, phân tích tác phẩm của các ngài. Những quyển sách đó có giá trị, phải, nhưng xét cho cùng, chúng không phải là sách linh đạo, mà là sách về linh đạo.

Với thần học cũng thế. Chúng ta có vô số sách viết về thần học hơn là những sách thần học thật sự. Từ “thần học/theology” phát xuất từ hai chữ Hy Lạp là Theos (Thần/Thiên Chúa) và Logos (lời). Do đó, về căn bản, thần học là “lời về Thiên Chúa”. Hầu hết sách thần học và khóa học về thần học chứa đựng một số “lời về Thiên Chúa”, nhưng thường quá ít ỏi so với “lời về Thiên Chúa”.

Đây không phải là phê bình, mà là diễn giải. Tôi đã giảng dạy và viết lách trong lĩnh vực thần học và linh đạo gần 50 năm, và gần như suốt thời gian đó tôi ngây thơ chẳng nhận thức sự phân biệt này, chủ yếu là vì chúng ta cần cả hai và cả hai quyện chặt vào nhau. Tuy nhiên, có lúc không được nhầm lẫn hay gộp chung sự đánh giá phê bình một tác phẩm với chính tác phẩm đó, và trong trường hợp của chúng ta, chúng ta nhận ra viết về thần học và linh đạo không đồng nghĩa với thật sự viết nên thần học và linh đạo. Tại sao lại thế? Tại sao lại phải nêu bật sự phân biệt này?

Bởi vì chúng ta cần những nghệ sĩ và nhà phê bình chạm đến những phần khác nhau trong chúng ta, và chúng ta cần nhận ra phần nào cần được nuôi dưỡng hoặc dẫn dắt. Nghệ sĩ nói với linh hồn theo một kiểu nhất định, cụ thể là tạo hứng khởi, thổi bùng, đào sâu, đem lại thấu suốt mới và cảm thúc cho chúng ta. Nhà phê bình thì nói theo kiểu khác, là hướng dẫn, giữ cân bằng, tỉnh táo, chừng mực, giữ nguyên tắc cộng đồng, mỹ học và tính chính thống. Cả hai đều quan trọng. Cái này giữ cho cái kia khỏi rơi vào tình trạng giật gân đa cảm quá đà, và cái kia giữ cho cái này khỏi trở thành một công việc trống rỗng. Nói đơn giản là thế này. Các nhà phê bình xác định luật chơi và giữ người chơi theo luật, nhưng nghệ thuật, thần học và linh đạo là trò chơi. Trò chơi cần có trọng tài, không thì sẽ sớm rối loạn.

Trong các giáo hội thời nay, thường có căng thẳng giữa những người cố tạo nên các thấu suốt mới, đem lại những ngọn lửa nhiệt thành mới, và nói thấm lòng người, đồng thời cũng có những người canh giữ nhưng lâu đài của học thuật, chính thống, phụng vụ và thẩm mỹ. Thần học hàn lâm thường căng thẳng với đời sống mộ đạo, các nhà phụng vụ thường căng thẳng với các mục tử, và các ngòi bút thiêng liêng thường căng thẳng với các nhà phê bình. Chúng ta có thể khó chịu vì cái này hoặc cái kia, nhưng xét tận cùng, cả hai đều là bạn chúng ta.

Việc chúng ta làm trong riêng tư

Không ai là một hòn đảo, thật vậy, không ai thật sự cô độc. Nếu là một người có đức tin hoặc thậm chí chỉ cần là người có nhạy cảm trực giác sắc bén, bạn sẽ biết trên đời này không hề có hành động riêng lẻ thật sự, dù tốt hay xấu. Mọi việc chúng ta làm, dù riêng tư đến thế nào, cũng ảnh hưởng đến người khác. Chúng ta không phải là những đơn tử với những suy nghĩ và hành động không có tác động gì đến bất kỳ ai. Chúng ta biết như thế, không phải chỉ qua đức tin, mà còn trực cảm được nó qua những gì trong đời mình.
Làm sao chúng ta cảm nhận được những gì ẩn trong riêng tư cuộc đời người khác? Ngược lại, những chuyện xảy ra trong riêng tư của cuộc đời chúng ta tác động đến người khác như thế nào?

Chúng ta không có khoa siêu hình học, hiện tượng học hay khoa học nào để xác định rõ ràng chuyện này. Nhưng chúng ta biết nó là sự thật. Việc chúng ta làm trong sâu kín riêng tư tâm hồn và tâm trí có thể được người khác cảm nhận theo một cách nào đó. Mọi tôn giáo thật sự đều dạy như thế, cụ thể là chúng ta đang trong tương giao cộng sinh, huyền bí và thật sự với nhau, hoàn toàn không có cái gọi là riêng tư thật sự. Mọi tôn giáo lớn trên thế giới, về căn bản, đều tin như thế, bao gồm Kitô giáo, Ấn giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Lão giáo, và các tôn giáo bản địa ở châu Mỹ và châu Phi. Không một tôn giáo nào nói rằng tội riêng không ảnh hưởng đến toàn thể cộng đồng.

Và điều này giải thích một vài giáo huấn của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu dạy rằng không chỉ hành động bên ngoài của chúng ta giúp đỡ hay làm hại người khác, ngay cả những suy nghĩ trong lòng cũng vậy. Với Ngài, không chỉ là chúng ta không được hại người mình ghét, mà còn không được có những suy nghĩ thù ghét thầm kín về người đó. Cũng thế, giữ kỷ luật về tình dục để không phạm tội ngoại tình là không đủ, chúng ta còn phải kỷ luật cả những suy nghĩ dâm dục về người khác.

Tại sao lại thế? Những suy nghĩ riêng tư thầm kín thì có hại gì? Đó là, nếu chúng ta có những suy nghĩ xấu xa về người khác, cuối cùng chúng ta sẽ thực hiện chúng (và có lẽ đúng là thế). Vấn đề ở đây là một chuyện sâu sắc hơn, một chuyện nội hàm rõ ràng trong khái niệm kitô giáo về Nhiệm thể Chúa Kitô.

Là tín hữu kitô, chúng ta tin rằng hết thảy đều là thành phần của một cơ thể sống, Nhiệm thể Chúa Kitô, và sự hiệp nhất này của chúng ta không chỉ mang tính ẩn dụ. Nó là thật, thật như vật chất thể lý của một cơ thể sống. Chúng ta không phải là một đoàn thể, mà là một cơ thể sống, nơi mọi phần đều ảnh hưởng đến nhau. Do đó, trong một cơ thể sống, các chất xúc tác (enzyme, men tiêu hóa có tác dụng làm chất xúc tác) lành mạnh giúp cho toàn bộ cơ thể khỏe mạnh, cũng như những tế bào ung thư đe dọa sức khỏe của toàn cơ thể, thì trong Nhiệm thể Chúa Kitô cũng vậy. Việc chúng ta làm nơi riêng tư vẫn nằm trong thân thể này. Do đó, khi chúng ta làm việc nhân đức, kể cả trong riêng tư, thì cũng như các chất xúc tác lành mạnh, chúng ta giúp tăng cường hệ miễn dịch trong toàn bộ cơ thể. Ngược lại, khi chúng ta bất tín, ích kỷ, phạm tội, dù là chỉ trong riêng tư, thì như một tế bào bị nhiễm độc hay ung thư, chúng ta góp phần phá hệ miễn dịch của cơ thể. Cả chất xúc tác lành mạnh và tế bào ung thư có hại đều hoạt động một cách thầm lặng, ẩn kín.

Và quan niệm này có hệ trọng với cuộc sống riêng tư của chúng ta. Nói đơn giản, không việc gì chúng ta suy nghĩ hay thực hiện trong riêng tư lại không ảnh hưởng đến người khác. Những suy nghĩ và hành động riêng tư của chúng ta, như chất xúc tác lành mạnh hay tế bào nhiễm độc, đều ảnh hưởng đến sức khỏe của cơ thể, hoặc tăng cường hoặc làm suy yếu hệ miễn dịch. Khi chúng ta thành tín là chúng ta giúp đem lại sức khỏe cho cơ thể, khi chúng ta bất tín, chúng ta là tế bào nhiễm độc gây trở ngại cho hệ miễn dịch trong cơ thể.

Dù chúng ta thành tín hay bất tín trong riêng tư, nó vẫn tác động đến người khác, và đây không phải là một chuyện trừu tượng hay huyền bí. Ví dụ như, một người vợ sẽ biết khi chồng mình không chung thủy, dù cho chuyện ngoại tình chưa bị bại lộ. Hơn nữa, người ấy biết chuyện không phải do có những biểu hiện thiếu chung thủy trong hành vi và ngôn ngữ cơ thể người kia. Không, người ấy biết ở mức độ linh tính, huyền bí, mơ hồ, vì người ấy cảm nhận được sự phản bội đang kìm kẹp sự lành mạnh và toàn vẹn của cuộc hôn nhân. Chuyện này nghe vẫn có vẻ ẩn dụ hơn là thật, nhưng tôi mong các bạn cứ thử kiểm nghiệm trong đời thực mà xem. Chúng ta cảm nhận được sự phản bội.

Có chuyện chúng ta biết cách có ý thức và có chuyện chúng ta biết một cách vô thức. Có chuyện chúng ta biết được nhờ quan sát, và có chuyện chúng ta biết được nhờ trực cảm. Chúng ta nhận thức bằng cái đầu, trái tim và linh tính, và qua cả ba yếu tố này, đôi khi chúng ta biết được chuyện gì đó bởi vì chúng ta cảm nhận nó đang gây căng thẳng hay xoa dịu linh hồn mình. Không hề có hành động riêng tư. Hành động riêng tư của chúng ta, cũng như hành động công khai, sẽ đem lại sức khỏe hoặc bệnh tật cho cộng đồng.

Tôi xin kết lại bài này bằng hai câu thơ góp nhặt:

Nếu thành tín, ta đem lại mối phúc lớn lao. (Parker Palmer)
Nếu bất tín, ta đem lại mối hại lớn lao. (Rumi)

Về nguồn gốc vũ trụ, Chúa Giêsu và Big Bang

Gần đây Cơ quan Không gian Mỹ NASA phóng Viễn vọng kính Không gian James Webb, viễn vọng kính lớn nhất và có chi phí cao nhất chưa từng được chế tạo. Nó mất sáu tháng để đi hơn triệu cây số từ trái đất, tìm một chỗ cố định trong không gian rồi bắt đầu truyền hình ảnh về trái đất. Những tấm ảnh mà trước đây chúng ta chưa hề thấy. Hy vọng chúng sẽ cho chúng ta nhìn xa hơn vào vũ trụ, lý tưởng nhất là đến tận cùng của vũ trụ đang phát triển của chúng ta, đến tận những hạt vật chất đầu tiên phát xuất từ vụ nổ nguyên thủy, Big Bang, đã mở đầu thời gian và vũ trụ chúng ta.

Các nhà khoa học ước tính vũ trụ của chúng ta đã 13,7 tỷ năm tuổi. Theo kiến thức chúng ta biết hiện nay, trước đó, không có gì hiện hữu, trừ Thiên Chúa. Rồi từ hư không đó, có vụ nổ Big Bang, từ đó phát sinh mọi sự trong vũ trụ bao gồm hành tinh trái đất của chúng ta. Như với bất kỳ vụ nổ nào, những phần gắn chặt nhất với lực nổ là những phần bị bắn đi xa nhất. Do đó, khi các nhà điều tra cố xác định nguyên nhân vụ nổ, họ đặc biệt chú ý tìm kiếm và xem xét những mảnh gắn chặt nhất với lực gốc của vụ nổ, và thường đó cũng là những mảnh bị bắn đi xa nhất.

Lực của vụ nổ Big Bang vẫn đang diễn ra và những phần vũ trụ của chúng ta gắn kết chặt nhất với điểm khởi đầu của nó vẫn đang bị đẩy đi ngày một xa hơn trong không gian. Nhà khoa học là những nhà điều tra đang tìm hiểu về vụ nổ nguyên thủy đó. Kính viễn vọng Không gian James Webb hy vọng sẽ giúp chúng ta thấy được những phần nguyên gốc của vụ nổ không thể nào hình dung nổi đã khai sinh vũ trụ vì những phần này đã hiện hữu từ ban đầu, ở nguồn gốc của mọi sự đang tồn tại. Khi thấy và xem xét chúng, khoa học mong hiểu rõ hơn về nguồn gốc vũ trụ chúng ta.

Nhìn các nhà khoa học phấn khích và hy vọng kính viễn vọng này sẽ cho chúng ta thấy ảnh của những hạt có từ thời điểm khởi thủy có thể giúp chúng ta hiểu tại sao thánh Gioan, tác giả phúc âm, không thể kìm nổi sự sốt mến nồng nhiệt khi nói về Chúa Giêsu trong thư thứ nhất của mình. Thánh Gioan háo hức về Chúa Giêsu, bởi vì Chúa đã có đó ngay từ khởi thủy của vũ trụ và sự thật là, Ngài là khởi thủy của vạn vật. Với thánh Gioan, Chúa Giêsu là kính viễn vọng thần nhiệm qua đó chúng ta có thể thấy vụ nổ nguyên thủy đã tạo nên vũ trụ, vì Chúa Giêsu đã hiện diện khi nó xảy ra.

Xin cho phép tôi mạo muội diễn dịch đoạn mở đầu Thư thứ nhất của thánh Gioan (1, 1-4) theo kiểu viết cho thế hệ chúng ta tò mò muốn biết về nguồn gốc của vũ trụ.

Anh chị em cần hiểu tôi nói về ai hay sự gì:
Đức Giêsu không chỉ là con người phi thường làm nhiều phép lạ hay thậm chí là con người sống lại từ cõi chết.
Chúng ta đang nói về Đấng đã hiện hữu ở nguồn gốc tận cùng của sự tạo dựng,
Đấng là nền tảng cho sự tạo dựng đó,
Đấng ở cùng Thiên Chúa khi Big Bang xảy ra,
và thậm chí là từ trước đó nữa.
Thế mà chúng tôi được thấy Ngài trong xác thịt bằng mắt phàm,
Thiên Chúa tạo ra Big Bang đang bước đi giữa chúng ta!
Chúng tôi thật sự đã chạm đến thân thể Ngài.
Chúng tôi thật sự đã nói chuyện với Ngài và nghe Ngài nói,
mà Ngài là Đấng đã hiện hữu ở nguồn gốc của vũ trụ chúng ta,
khi Big Bang xảy ra!
Quả thật, Ngài là Đấng đã mở đầu cho tiến trình đó,
với kế hoạch cho nó, một kế hoạch bao gồm cả chúng ta.
Anh chị em có muốn tìm hiểu sâu hơn về những gì xảy ra ở thời điểm khởi nguồn của chúng ta không?
Đức Giêsu là kính viễn vọng thần nhiệm để chúng ta nhìn qua.
Xét tận cùng, Ngài đã hiện hữu ngay từ khởi thủy
và thế mà chúng tôi lại được thấy, nghe và chạm đến Ngài!
Xin lượng thứ vì tôi quá hồ hởi, nhưng chúng tôi đã cùng đi và trò chuyện với Đấng đã hiện hữu từ thời điểm khởi đầu của thời gian.

Có nhiều loại kiến thức khác nhau và nhiều loại khôn ngoan khác nhau, cùng với đó là nhiều con đường khác nhau để tìm hiểu. Khoa học là một trong những con đường đó, một con đường quan trọng. Lâu nay, thần học và tôn giáo không xem khoa học là bạn. Đấy đã và đang là một sai lầm tai hại vì khoa học cũng có cùng điểm khởi đầu và ý định như thần học và tôn giáo. Thần học và tôn giáo sai mỗi khi cố hạ tầm quan trọng của khoa học hay khẳng định chỉ mình nắm giữ sự thật. Đáng buồn thay, khoa học cũng thường đáp trả và xem thần học, tôn giáo là địch thủ hơn là đồng sự. Hai bên cần nhau, không chỉ trong việc tìm hiểu nguồn gốc và dự định của vũ trụ này.

Làm sao chúng ta hiểu được nguồn gốc và dự định của vũ trụ này đây? Khoa học và Chúa Giêsu. Khoa học đang tìm hiểu những nguồn gốc này để nói cho chúng ta biết cách nó diễn ra, còn Chúa Giêsu, đã hiện diện khi nó xảy ra, thì muốn nói cho chúng ta biết tại sao nó xảy ra và nó có ý nghĩa gì.

Mười quyển sách hàng đầu của tôi năm 2021

Tôi không phải là nhà phê bình văn học và cũng không giả vờ mình ở tầm mức này. Đơn giản vì tôi không đọc đủ nhiều. Cuộc sống bận rộn và nhiều áp lực chỉ cho tôi chút thì giờ eo hẹp để đọc những gì không liên quan trực tiếp đến việc mục vụ của mình. Dù vậy, tôi cố trung thành với nguyên tắc tự đặt ra cho mình từ nhiều năm, cụ thể là đọc tám đến mười trang sách mỗi ngày, không tính tạp chí và báo. Như thế, một năm trung bình tôi có thể đọc được hơn ba ngàn trang.

Trong số những quyển sách tôi đọc năm nay, quyển nào tôi muốn giới thiệu đến quý độc giả nhất? Danh sách năm 2021 của tôi là gì?

Trong số sách phi hư cấu, sách về tâm linh, phát triển nhân bản và biến đổi con người, tôi xin giới thiệu những quyển sau:

  1. Dorothy Day, Về Hành hương, Thập kỷ 1960 – Một niên sử về đức tin và hành động thông qua một thập kỷ phản kháng, chủ nghĩa lý tưởng và thay đổi [Dorothy Day, On Pilgrimage, The Sixties – A Chronicle of faith and action through a decade of protest, idealism, and change] của Robert Ellsberg. Trong những thế hệ gần đây, chúng ta không có mấy người như Dorothy Day, cụ thể là một ngòi bút nổi bật vì tấm lòng tận tụy với công bằng xã hội và lòng mộ đạo cá nhân Các vị thánh không phải lúc nào cũng là nhà hoạt động xã hội và các nhà hoạt động xã hội không phải lúc nào cũng là vị thánh. Nhưng Dorothy Day là cả hai. Robert Ellsberg đã sống với bà trong những năm tháng cuối đời bà, là người phụ trách các bản thảo và đã làm được bộ sưu tập tuyệt vời các bài bà Dorothy viết trong thập kỷ 1960 hỗn loạn, một thập kỷ đầy những cuộc cách mạng xã hội và tôn giáo lớn hơn bao giờ hết.
  2. Nhân loại – Cách sự tái khẳng định giá trị con người và thực hiện sự nhân ái triệt để sẽ đưa chúng ta về lại với nhau [Human(Kind) – How Reclaiming Human Worth and Embracing Radical Kindness Will Bring Us Back Together] của Ashlee Eiland. Tôi mua quyển sách này để làm quà và nghĩ nên đọc nó trước để xem nó có đúng với những lời phê bình đầy khen ngợi không. Và nó đúng như thế, thậm chí còn hơn nữa. Đây là một loạt những bài tự thuật của một phụ nữ Mỹ gốc Phi trẻ tuổi đã giúp giải nghĩa cách để sống Bài giảng trên núi trong thời nay. Một quyển sách ngoại hạng! Nỗ lực sống tử tế trong một thế giới không tử tế.
  3. Tuổi già, Tái định nghĩa sự lão hóa, biến đổi y dược, tái hình dung sự sống [Elderhood, Redefining Aging, Transforming Medicine, Reimagining Life] của Louise Aronson. Tựa đề đã là tóm tắt chuẩn về quyển sách này. Là bác sĩ làm việc với người già, Aronson thách thức hệ thống y tế của chúng ta hướng đến lòng cảm thương sâu sắc hơn và thách thức để chúng ta thông hiểu hơn về lão hóa.
  4. Vẫn là Kitô hữu, Theo Chúa Giêsu ngoài tinh thần phái Phúc âm Mỹ [Still Christian, Following Jesus out of American Evangelicalism,] của David Gushee. Đây là tự thuật về hành trình tôn giáo và học thuật của Gushee, từ khi cải đạo (lúc còn trẻ, sâu sắc và chân thành) sang phái Phúc âm cho đến cách mà tiếng gọi lương tâm dần xóa bỏ mối quan hệ của ông với sự diễn đạt Kitô giáo này nhưng không ảnh hưởng đến quan hệ của ông với Chúa Giêsu. Bất kỳ ai, ở bất kỳ giáo phái nào, đang thấy khó ở trong giáo hội của mình, sẽ thu hoạch được nhiều điều từ quyển sách này.
  5. Sống giữa các thế giới – Tìm sức bật bản thân trong những lúc biến động [Living Between Worlds – Finding Personal Resilience in Changing Times] của James Hollis. Tâm lý học dành cho linh hồn. Không một bác sĩ tâm lý nào giải quyết được vấn đề của chúng ta, nhưng họ có thể giúp chúng ta tìm được một câu chuyện rộng lớn hơn, cho nỗi đau khổ của chúng ta có ý nghĩa và chân giá trị hơn. Quyển sách này làm việc đó.

Trong số sách hư cấu, đây là những quyển sách đánh động tôi nhất trong năm 2021.

  1. Oscar và bà áo hồng [Oscar et la dame rose] của Éric-Emmanuel Schmitt. Đây là một quyển sách đã xuất bản từ lâu, bản gốc tiếng Pháp (và đã có bản tiếng Việt). Nó là tuyển tập những lá thư hư cấu của một cậu bé viết cho Chúa khi đang đi đến những ngày cuối đời. Đơn giản mà sâu sắc. Một quyển sách đáng đọc.
  2. Trả đũa [Payback] của Mary Gordon. Tôi đọc bất kỳ tác phẩm nào của Mary Gordon. Bà luôn có điều quan trọng để chia sẻ. Quyển sách này thật sự đáng giá, trong đó bà viết về khối ung thư của báo thù và những hậu quả chúng ta gánh chịu khi nhầm lẫn sự giải khuây với khép lại vấn đề.
  3. Dù ở nơi đâu [Whereabouts] của Jhumpa Lahire. Vì những tác phẩm trước đây của Lahire, tôi cũng chọn đọc hết mọi tác phẩm của cô. Quyển này hơi khác với những tác phẩm trước, nhưng không làm tôi thất vọng. Có người từng nói rằng khôn ngoan khác biệt với hiểu biết vì khôn ngoan là trí tuệ kết hợp với sự thông hiểu. Đấy chính là nét đặc trưng của Lahire, và quyển sách này cũng thế.
  4. Thiên thần của cô Garnet [Miss Garnet’s Angel] của Salley Vickers. Có người gửi tặng tôi quyển sách này trong thời gian tôi phục hồi sau cuộc phẫu thuật lớn. Đây là quyển sách viết về “phép lạ”, không phải kiểu phép lạ đi trên mặt nước, mà là kiểu phép lạ có thực, ý nghĩa và ẩn giấu trong cuộc đời bình thường của chúng ta.
  5. Khu rừng của những tinh tú lụi tàn [The Forest of Vanishing Stars] của Kristen Harmel. Một câu chuyện hư cấu về những gia đình Do Thái cố thoát khỏi tay quân Phát xít bằng cách trốn trong rừng sâu. Câu chuyện này ban đầu có vẻ hơi ảo, nhưng dù là hư cấu, thật ra nó là tổng hợp câu chuyện chạy trốn quân Phát xít trong một cánh rừng cụ thể của một số gia đình có thật trong lịch sử.

Những quyển sách chúng ta cần đọc luôn tìm đến chúng ta, và tìm đến đúng vào lúc chúng ta cần đọc nó. Đời tôi đúng là thế. Tôi không chắc tại sao những quyển sách cụ thể này lại tìm đến tôi trong năm nay, nhưng chúng là những quyển tôi cần vào thời điểm này trong đời. Tôi phải thừa nhận, có thể các bạn sẽ không cảm nhận như thế!

Nhưng dù gì tôi cũng xin chúc các bạn đọc sách vui vẻ, đọc những quyển này, hay những quyển khác!

Không còn chỗ trong quán trọ

Chúa Giêsu ra đời ở bên ngoài thành phố, bên ngoài bệnh viện hay một ngôi nhà bình thường. Các sách Phúc âm cho chúng ta biết Chúa Giêsu ra đời ở chuồng bò, bên ngoài thành phố vì không còn chỗ trong quán trọ.

Chúng ta luôn chê ghét người chủ quán trọ xấu tính đã đuổi Đức Mẹ và thánh Giuse đi, và rút ra bài học là cần phải mở lòng ra để có chỗ cho nhiều chuyện khác xảy đến trong đời, chúng ta đừng quá bận rộn, quá bận tâm đến nỗi không có chỗ cho sự thánh thiêng nảy sinh trong đời chúng ta.

Thật ra, còn có một bài học nữa mà tôi nghiệm thấy quá cần thiết cho chính cuộc sống của tôi. Vì áp lực trong mấy năm qua, tôi chưa có dịp để suy tư sâu về Giáng Sinh. Hiện giờ trong quán trọ của tôi chẳng còn chỗ! Và tôi dần thấy thương cho người chủ quán trọ năm xưa, vì biết rằng chúng có thể chồng chất quá nhiều lên cuộc đời mình đến nỗi không còn chỗ để chào đón một vị khách thánh thiêng.

Đấy rõ ràng là một thách thức quan trọng dành cho chúng ta, nhưng đồng thời các học giả kinh thánh cũng nói rằng còn có một bài học sâu sắc hơn trong việc Chúa Giêsu ra đời ở một chuồng bò bên ngoài thành phố vì không còn chỗ cho Ngài trong quán trọ. Ý nghĩa thật sự trong các sách Phúc âm không phải nhắm đến sự nhẫn tâm của người chủ quán trọ, nhưng đúng hơn là nói đến sự thật, Chúa Giêsu ra đời ở bên ngoài thành phố, bên ngoài những gì tiện nghi thoải mái, bên ngoài danh vọng, bên ngoài những gì được công nhận bởi người giàu có và quyền thế, bên ngoài những gì được thế giới thường nhật chú ý đến. Chúa Giêsu ra đời giữa sự vô danh, nghèo hèn, không ai để ý ngoại trừ người có đức tin và Thiên Chúa.

Chúa ra đời ở bên ngoài thành phố cũng báo trước về cái chết và mai táng của Ngài. Cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu sẽ kết thúc như lúc khởi đầu, như một người lạ, một kẻ ngoài cuộc bị đóng đinh bên ngoài thành phố, được chôn cất bên ngoài thành phố hệt như khi Ngài ra đời bên ngoài thành phố.

Thomas Merton từng có một nhận định cực kỳ thấm thía như thế này: Ở thế giới này, ở quán trọ điên loạn này, tuyệt đối chẳng có chỗ cho Ngài, Chúa Kitô là khách không mời mà đến. Nhưng bởi Ngài không thể cư ngụ ở đó, bởi Ngài không thuộc về nơi đó, thế mà Ngài vẫn ở trong đó, cho nên chỗ của Ngài là ở với những người không có phòng để ở. Chỗ của Ngài là ở với những người không thuộc về chốn này, những người bị giới cầm quyền loại trừ vì họ bị xem là yếu đuối, không có uy tín, bị chối bỏ tư cách làm người, bị tra tấn, bị ném bom và bị diệt trừ. Cùng với những người không có phòng để ở đó, Chúa Kitô hiện diện trong thế giới này. Ngài hiện diện một cách bí nhiệm trong những người dường như là con số không, là cặn bã của thế giới.

Chúa Giêsu ra đời, vào thế giới mà chẳng ai để ý, ở bên ngoài thành phố, bên ngoài mọi con người và sự kiện có vẻ quan trọng vào thời điểm đó. Hai ngàn năm sau, bây giờ chúng ta công nhận tầm quan trọng của sự hạ sinh này. Thật ra chúng ta tính thời gian bằng mốc đó. Chúng ta đang ở năm thứ 2021 từ sau sự hạ sinh không đáng chú ý đó. Tuy nhiên, hiện giờ, gần như cũng không ai để ý.

Từ đây, chúng ta thấy được bài học gì? Một bài học, chuyện này phải cho chúng ta một quan điểm khác về những gì là tối quan trọng trong thế giới này và xét tận cùng, ai là người định hình lịch sử? Những người quyền thế hay những người ở ngoài rìa?

Theo Kinh thánh, hầu hết chúng ta đều sinh ra bên ngoài thành phố, nghĩa là trong đời mình chúng ta sẽ luôn mãi là kẻ ngoài cuộc, vô danh, xa lạ, nhỏ bé tầm thường, những vai phụ trong bức tranh toàn cảnh. Hình ảnh và câu chuyện của chúng ta sẽ không bao giờ được lên trang nhất. Tên tuổi của chúng ta sẽ không bao giờ tỏa sáng lấp lánh và chúng ta sẽ chết trong sự vô danh bình thường, chẳng được mấy ai ngoài nhóm thân quen biết đến.

Hầu hết chúng ta sẽ sống đời mình trong âm thầm chẳng mấy ai biết, ở những vùng nông thôn, thành thị nhỏ, ở những phần vô danh trong thành phố, đứng từ xa mà chứng kiến những sự kiện lớn của thế giới xảy ra và luôn thấy người khác quan trọng hơn mình. Dường như chúng ta sẽ mãi mãi vô danh, tài năng và đóng góp của chúng ta sẽ không được bất kỳ ai chú ý đặc biệt, thậm chí là cả người nhà cũng vậy. Có thể nói, chúng ta sẽ luôn “ở bên ngoài thành phố”. Chúng ta sống, làm việc, yêu thương và tạo nên sự sống ở những nơi thấp hèn.

Có lẽ đau đớn nhất là chúng ta sẽ biết được sự chán nản khi không thể đưa tài năng và thiên tư của chúng ta vào thế giới, nhưng vẫn cứ thấy rằng những hòa âm và giai điệu thâm sâu nhất trong chúng ta sẽ không bao giờ được thể hiện gì nhiều ở thế giới ngoài rìa này. Những ước mơ và sự phong phú sâu sắc nhất nơi chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được một sân khấu ở trần gian. Sẽ không bao giờ có chỗ trong quán trọ cho những gì tốt đẹp nhất nơi chúng ta ra đời. Những sự phong phú sâu sắc nhất trong chúng ta, cũng như sự hạ sinh của Chúa Giêsu, sẽ vẫn “ở bên ngoài thành phố”, rồi cuối cùng chết đi “bên ngoài thành phố”, chết trong đau đớn của kiếp vô danh và không thể tỏ lộ mình cho đủ.

Đức Mẹ đã sinh Chúa Giêsu trong một chuồng bò bên ngoài thành phố vì không còn chỗ trong nhà trọ. Chuyện này không chỉ là lời trách cứ sự phũ phàng của một chủ quán trọ đang quá căng thẳng vì áp lực. Bài học quan trọng hơn là cách chúng ta cần phải xác định đến tận cùng, điều gì định hình cuộc sống. Về căn bản, đó không hẳn là những người có vẻ đang ngự trị ở trung tâm mọi sự (người giàu có, quyền thế, danh nhân, lãnh đạo chính quyền, người nổi tiếng ngành giải trí, chủ các công ty tập đoàn, học giả) những người mà cuộc đời họ thành mốc lịch sử. Những gì sâu sắc nhất, ý nghĩa nhất và quan trọng nhất trong đời thường được sinh ra trong vô danh, không được giới quyền thế để ý đến, được trìu mến quấn trong khăn là đức tin, ở bên ngoài thành phố.

Lắng nghe linh hồn của chúng ta

Trong thời Thế chiến Thứ hai, khi Phát xít Đức chiếm đóng nước Pháp, một nhóm thần học gia Dòng Tên đã phản đối việc chiếm đóng bằng cách xuất bản một tờ báo ngầm, Tập sách Chứng từ Kitô (Cahiers du Temoignage Chretien), với dòng mở đầu bất hủ trên số báo đầu tiên: “Nước Pháp, cẩn thận đừng để mất linh hồn mình”. Chuyện đó làm cho tôi nhớ lại một câu của linh mục Hans Kolvenbach, cựu Bề trên Tổng quyền Dòng Tên. Nói về toàn cầu hóa, cha cho rằng một trong những điều cha sợ nhất về toàn cầu hóa, chính là sự toàn cầu hóa sự tầm thường. Một cảnh báo quá đúng!

Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến sự tầm thường hóa linh hồn trong nền văn hóa. Bây giờ không còn mấy chuyện siêu nhiên nữa, nghĩa là còn ít chuyện liên quan đến linh hồn. Những chuyện từng mang ý nghĩa thâm sâu, bây giờ lại liên quan đến những thứ bình thường hơn. Như tình dục chẳng hạn. Nền văn hóa này (trừ một vài giáo hội lẻ loi đứng ngoài xu thế) ngày càng tin rằng tình dục phải không liên quan đến linh hồn, trừ khi chúng ta muốn nó như thế và cho nó một ý nghĩa như thế. Ví dụ gần đây, trong một tranh luận, tôi nghe có người giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng về luân lý trong việc một giáo sư ngủ với sinh viên của mình bằng lập luận: có gì khác nhau giữa chuyện này với chuyện một giáo sư chơi quần vợt với sinh viên của mình chứ? Vậy quan điểm của người đó là gì? Tình dục không cần phải đặc biệt trừ khi chúng ta muốn nó đặc biệt. Có gì khiến làm tình khác với một trận quần vợt?

Chỉ có những người ngây thơ đến độ nguy hiểm mới không thấy sự khác biệt quá lớn về mặt linh hồn ở đây. Một trận quần vợt không chạm đến chiều sâu của linh hồn. Nhưng tình dục thì có, và nó là như thế không chỉ bởi một số giáo hội nói như thế. Chúng ta thấy rõ chuyện này khi nó bị xâm phạm. Freud từng nói, chúng ta hiểu rõ nhất cái gì đó khi nó vỡ. Ông nói đúng, và trong chuyện này, không gì thể hiện rõ hơn tác hại của bạo lực và lạm dụng tình dục lên người khác. Khi tình dục sai trái, thì có sự xâm phạm linh hồn quá lớn so với một trận quần vợt. Thậm chí nếu các giáo hội không khẳng định như vậy, thì tình dục vẫn là chuyện của linh hồn. Bởi vì nó liên kết với linh hồn theo những cách mà trận quần vợt không thể làm được. Mỉa mai thay, khi nền văn hóa này đang tầm thường hóa quan điểm truyền thống của xã hội về tình dục vốn xem nó liên quan đến linh hồn, thì những chuyên gia chữa trị tổn thương về tình dục lại thấy rõ hơn bao giờ hết sự khác biệt không thể so sánh nổi về mặt linh hồn, giữa chuyện bị lạm dụng tình dục với một trận quần vợt.

Tuy nhiên, chúng ta không chỉ đang tầm thường hóa chuyện của linh hồn, mà còn chật vật trong việc lắng nghe linh hồn. Một điều đáng chú ý là thời nay, lời cảnh báo này không phải đến từ các giáo hội cho bằng đến từ các triết gia theo thuyết bất khả tri và những nhà phân tích tâm lý theo trường phái Jung. Ví dụ như, nét chủ đạo trong những bài viết của James Hillman, triết gia theo thuyết bất khả tri về linh hồn, nói rằng nhiệm vụ của cuộc sống là sống trong cảm xúc sâu đậm của linh hồn và chúng ta chỉ có thể sống được khi lắng nghe linh hồn của mình. Và ông thừa nhận, có rất nhiều thứ đang lâm nguy. Trong quyển sách Tự tử và Linh hồn (Suicide and the Soul), ông cho rằng đôi khi trong chuyện tự tử, linh hồn không thể kêu thấu ai, nên cuối cùng đã giết đi thân xác.

Tâm lý chiều sâu cũng có những cái nhìn tương tự và cho rằng sự hiện diện của một số triệu chứng nhất định như trầm cảm, lo âu quá độ, rối loạn mặc cảm tội lỗi và nhu cầu cần tự chữa cho mình thường là tiếng kêu của linh hồn muốn được lắng nghe. Tiến sĩ tâm lý theo trường phái Jung, James Hollis, cho rằng đôi khi chúng ta có những ác mộng là bởi linh hồn đang giận dữ với chúng ta, ông còn nói rằng, khi thấy những triệu chứng đó, chúng ta cần tự hỏi: “Linh hồn muốn gì nơi tôi?”

Thật sự, linh hồn muốn gì nơi chúng ta? Linh hồn muốn nhiều thứ, dù về bản chất quy về ba điều này: được bảo vệ, được tôn kính, và được lắng nghe.

Trước hết, linh hồn cần được bảo vệ khỏi sự xâm phạm và tầm thường hóa. Những gì nằm ở nơi thâm sâu nhất của chúng ta, ở trọng tâm linh hồn chúng ta, là điều mà Thomas Merton từng mô tả là điểm trinh nguyên. Tất cả những gì thiêng liêng nhất, dịu dàng nhất, chân thật nhất và yếu đuối nhất nơi chúng ta trú ở đó, và dù linh hồn chúng ta liên tục xin bảo vệ, nhưng linh hồn không thể tự bảo vệ chính mình. Linh hồn cần chúng ta bảo vệ điểm trinh nguyên đó.

Thứ hai, linh hồn cần được tôn kính, cần chúng ta tôn trọng sự thiêng liêng của nó và nhìn nhận chiều sâu của nó. Linh hồn cứu rỗi là “bụi gai đang cháy” mà chúng ta cần cởi giày khi đến gần. Đánh mất sự tôn kính đó chính là tầm thường hóa chiều sâu của chính mình.

Cuối cùng, linh hồn cần được lắng nghe. Tiếng kêu, sự kháng cự của linh hồn và những giấc mơ mà linh hồn cho chúng ta trong giấc ngủ, là những điều mà chúng ta phải lắng nghe. Hơn nữa, linh hồn cần được lắng nghe không chỉ trong những lúc hăng hái mà còn trong những lúc nặng nề, buồn sầu, giận dữ. Cũng thế, chúng ta cần phải lắng nghe cả yêu cầu được bảo vệ của linh hồn và thách thức của linh hồn muốn chúng ta mạo hiểm.

Linh hồn là điều quý báu xứng đáng để chúng ta bảo vệ. Linh hồn là tiếng nói thâm sâu nhất trong chúng ta, nói lên những gì quan trọng nhất và đánh động nhất trong đời chúng ta, và chúng ta cần luôn mãi để ý đến lời cảnh báo này: cẩn thận đừng để mất linh hồn mình.

Nhân loại – Ashlee Eiland

Tôi không bao giờ có thể làm nhà phê bình văn học, không phải vì tôi không thể phân biệt được tác phẩm hay và dở, nhưng vì tôi thiếu sự phê bình mạnh bạo. Nếu không thích quyển nào đó, tôi ngại không dám nói ra. Ngược lại, nếu thích quyển nào đó, tôi có khuynh hướng cổ vũ hơn là đánh giá phê bình quyển sách đó. Dù là thế, tôi muốn khẳng định giá trị quyển sách Nhân loại – Phục hồi giá trị nhân văn và thực thi lòng nhân triệt để sẽ đưa chúng ta đến lại với nhau như thế nào (Human Kind) – How Reclaiming Human Worth and Embracing Radical Kindness Will Bring Us Back Together), một quyển sách mới của tác giả Ashlee Eiland,

Đây không phải là quyển sách đa cảm hay ho về việc chúng ta cần tử tế với nhau như thế nào. Đúng hơn, quyển sách này là Bài giảng Trên núi cho thời đại chúng ta, hay ít nhất là cách chúng ta phải sống Bài giảng Trên núi như thế nào. Làm sao để chúng ta giữ vững tình cảm, nồng hậu và nhân tính trong mọi sự có khuynh hướng khuếch đại không lành mạnh hoặc làm tâm hồn chúng ta chua cay đây? Tác giả Ashlee diễn tả thế này.

“Đây là câu chuyện của tôi, câu chuyện của một phụ nữ da đen lớn lên ở miền Nam và đã khám phá được sự toàn vẹn cũng như những hố sâu trên đường đời. Khi nhìn lại cuộc đời của tôi, tôi thấy có những khoảnh khắc mà tôi nhớ như in. Ngẫm lại, chúng rõ như in vì chúng quan trọng. Chúng là những dấu mốc cho tôi theo những cách vừa đẹp vừa đau đớn. Nhưng khi tôi nhìn lại những khoảnh khắc và ký ức này, tôi nhận ra chúng quan trọng bởi vì chúng dạy cho tôi phải tử tế với nhân cách đáng giá của chính tôi. Nhớ lại chúng giúp tôi công nhận những tặng vật tốt lành tôi đã nhận, những tặng vật mà giờ tôi mong trao cho người khác, và nó còn cho tôi thấy những khoảnh khắc đau đớn và khổ sở là những cơ hội để trở nên con người trọn vẹn hơn, để nhắc nhở tôi đón nhận ân sủng ngay giữa sầu khổ”.

Quyển sách là một loạt truyện về cuộc đời của tác giả, tất cả được kể ra một cách tài tình và được viết ra bởi một nghệ sĩ không hề bị rơi vào kiểu sướt mướt hay thương thân trách phận. Và chúng là những câu chuyện kể về ân sủng cũng như tổn thương. Cuộc đời của tác giả Eiland là một cuộc đời đầy những chuyện tương phản.

Một mặt, cuộc đời cô đầy hồng ân, có cha mẹ yêu thương, có cơ hội học tập hàng đầu, chưa hề kiệt quệ tài chính, và luôn có gia đình cũng như cộng đồng ủng hộ. Mặt khác, cô sống cuộc đời của một phụ nữ da đen trong một thế giới bất công và bất bình đẳng. Cô đã phải sống như một người luôn phải ý thức về màu da của mình, mỗi lần đến đâu là phải nhìn quanh để xem ở đó có bao nhiêu người như mình. Cô còn phải chịu đựng những câu kỳ thị chủng tộc cay nghiệt nhất. Và như cô nói, cô đã mang lấy những vết sẹo hằn sâu, vừa đau đớn vừa đẹp đẽ.

Ví dụ câu chuyện cô kể về một lần cô đến nhà hàng với vài người bạn gốc Á để ăn món bánh bao đặc sản Hàn Quốc. Tối đó ổn cả, và khi từ nhà hàng ra về, cười đùa với các bạn trong xe, cô cảm thấy như một gánh nặng cả đời đã được trút khỏi lòng cô. “Lần đầu tiên, tôi không cảm thấy như thể mình phải định giá cuộc nói chuyện bằng một lời nhắc nhở với bạn tôi – hoặc với chính tôi – về chủng tộc của tôi. … Trước hôm đó, tôi cảm thấy mình phải rón rén bước qua bước về giữa hai thế giới. Nhưng tôi nhận ra kiểu này đi kèm với sự hổ thẹn. Nó tạo điều kiện cho tuyến chuyện “không trọn vẹn” bùng lên, đe dọa cái thường là phần tốt đẹp nhất trong việc chia sẻ cuộc sống với nhau”.

Chúng ta cần lời kể của tác giả. Chúng ta sống trong một thời đại của cay đắng và chia rẽ, nơi thảo luận dân sự và sự tôn trọng đã bị vùi dập, nơi chúng ta quỷ hóa người khác, nơi bất công, bất bình đẳng và kỳ thị chủng tộc vẫn là những thứ định hình chúng ta, và nơi sự tử tế thường bị xem là yếu đuối. Hơn nữa, có một kiểu siêu nhạy cảm đang bị kích động hơn bao giờ hết làm cho một lời có ý tốt cũng có thể là mầm họa khủng khiếp. Hoang tưởng đã thay thế cho sám hối, và nó khơi ra những gì xấu xa nhất nơi chúng ta.

Tác giả Ashlee Eiland cho chúng ta một công thức khơi lên những gì tốt đẹp nhất nơi chúng ta. Chúng ta phản ứng thế nào trước bất công, xúc phạm, và sự quỷ hóa người khác? Ví dụ như, đây là cách cô ấy phản ứng sau khi cô cố gắng tử tế với người khác và bị đáp lại bằng một câu chửi kỳ thị chủng tộc nặng nề nhất thẳng vào mặt: “Bị sỉ nhục, tôi đã dốc sức, làm hết sức có thể trong một buổi chiều… nhưng tôi biết rằng đôi khi làm việc tốt là không đủ. Đôi khi chúng ta phải chấp nhận những sự khó khăn và sỉ nhục trong nỗ lực khó khăn tạo tình hiệp nhất và cố hết sức đừng để mình gục ngã vì nó. Thay vào đó, chúng ta cần để nó định hình chúng ta theo một cách khác, giúp chúng ta tỉnh táo và thúc đẩy chúng ta phải bỏ đi lăng kính hồng, thừa nhận rằng đôi khi nỗ lực xích lại gần, làm việc tốt và hàn gắn khoảng cách giữa người với người lại không đem lại kết quả như chúng ta mong muốn. Nhưng có lẽ nó cũng đáng để chúng ta xuất đầu lộ diện”.

Không có tính phê bình mạnh bạo, tôi không chắc lắm cái gì tạo nên “linh hồn âm nhạc”, nhưng tôi vẫn có thể nhận ra “linh hồn văn học”.

Rời bỏ Giáo hội

Vì sao có quá nhiều người đang rời bỏ các nhà thờ của họ? Không có câu trả lời chung nào cho câu hỏi này. Con người thì phức tạp. Đức tin thì phức tạp. Các vấn đề thì phức tạp.

Trước câu hỏi này, có lẽ chúng ta chia thành từng nhóm thì sẽ hợp lý hơn. Nhóm Không, nhóm Bỏ, nhóm sống Tâm linh mà không Tôn giáo, nhóm Lãnh đạm, nhóm Nổi giận, và nhóm Ngoài lề. Các nhóm này có thể chồng chéo nhau, nhưng mỗi nhóm đều có tập hợp vấn đề riêng của họ đối với Giáo hội.

Nhóm Không là những người từ chối xác định bản thân dù với bất cứ đức tin hay tôn giáo nào. Khi điền vào ô “tôn giáo hay tín ngưỡng của bạn?” họ sẽ trả lời “không”. Lập trường của họ là lập trường bất khả tri. Họ không hẳn là người vô thần hay thù địch với tôn giáo, tín ngưỡng và các Giáo hội. Đúng hơn là, vào thời điểm đó trong đời, họ từ chối xác định bản thân bằng bất kỳ đức tin cụ thể hay bất kỳ giáo hội nào. Một số thì khiêm tốn về chuyện này, một số thì huyênh hoang, nhưng xét cho cùng, lập trường của họ đều như nhau, là chủ nghĩa bất khả tri về tôn giáo và đức tin.

Nhóm Bỏ, là những người nói rằng họ chịu hết nổi tôn giáo và thường cũng chịu hết nổi một đức tin cụ thể rõ ràng. Họ từ bỏ! Họ có nhiều lý do, từ việc khi còn nhỏ họ có một vài kinh nghiệm xấu với tôn giáo, đến việc họ giận giáo hội, hay sức mạnh độc hại của một nền văn hóa tự cho mình là đủ để thay thế tôn giáo. Họ đã bước vào, đã muốn theo tôn giáo, rồi từ bỏ.

Nhóm sống Tâm linh mà không Tôn giáo là những người tin vào giá trị tâm linh nhưng không tin vào bất kỳ giáo hội nào. Họ đã chọn theo đuổi con đường tâm linh bên ngoài cộng đồng giáo hội, tin rằng (ít nhất đối với họ) tốt nhất nên đi hành trình tâm linh ngoài khuôn khổ của một tôn giáo có tổ chức. Có nhiều lý do dẫn đến thái độ này, trong đó không thể không kể đến tâm thức áp đảo của chủ nghĩa cá nhân và tự do cá nhân đang chi phối nền văn hóa chúng ta. Trong hành trình đức tin thời nay, người ta có xu hướng chỉ tin tưởng những mưu cầu và trải nghiệm riêng của chính mình.

Nhóm Lãnh đạm đúng như tên gọi, họ lãnh đạm với tôn giáo (dù có thể họ vẫn giữ đức tin ở một chừng mực nào đó). Có vô số lý do làm cho người ta lãnh đạm với tôn giáo hoặc có thể là lãnh đạm với cả đức tin. Nền văn hóa chúng ta, giữa biết bao nhiêu điều tốt, tự nó cũng là một chất ma túy hạng nặng, gây mê bản năng tôn giáo của chúng ta và làm cho chúng ta tin vào điều mà triết gia Charles Taylor gọi là chủ nghĩa nhân văn tự đủ. Trong nhiều phần đời của chúng ta, dường như thế giới tự nó là đủ, và khi nghĩ như thế thì lãnh đạm với tôn giáo là một lựa chọn khá rõ ràng cho những người này.

Nhóm Nổi giận là những người vì những lý do họ biết rõ, họ không còn đến với Giáo hội nữa. Và lý do có thể rất nhiều – như xâm hại tình dục của giáo sĩ, các đối xử của Giáo hội với phụ nữ, kỳ thị chủng tộc, việc Giáo hội không sống trọn ý nghĩa phúc âm, việc Giáo hội của họ can dự hoặc không can dự đến chính trị, những xung đột từng có với Giáo hội của họ, gặp phải một mục tử tồi hay một bất công trong chuyện mục vụ. Những người thuộc nhóm này có lúc tìm kiếm một giáo hội mới nơi một giáo phái khác, nhưng nhiều người đơn giản là không còn dính dáng gì đến Giáo hội nói chung nữa.

Nhóm Ngoài lề là những người cảm thấy mình nằm ngoài phạm vi thông hiểu, cảm thương và linh đạo của Giáo hội. Như thế là bao gồm cả những người thuộc cộng đồng LGBTQ, những người vô gia cư trên đường phố, hàng vạn người cảm thấy (dù ý thức hay vô thức) rằng sự rối ren trong cuộc đời họ đã đẩy họ ra khỏi cộng đồng Giáo hội. Họ cảm thấy mình là kẻ lạc loài với tôn giáo và các Giáo hội.

Người ta rời bỏ Giáo hội vì nhiều lý do và điều này đặt cho chúng ta những câu hỏi sâu xa hơn nữa. Khi nào người ta rời bỏ Giáo hội và khi đó thật sự là họ rời bỏ điều gì? Sau đó, họ đi đâu, hay rơi vào ngõ cụt?

Trong một quyển sách mới phát hành gần đây, Sau Phúc âm hóa, Con đường đến với Kitô giáo Mới [After Evangelicalism, The Path to a New Christianity], tác giả David Gushee đã đặt câu hỏi này về những người rời bỏ Giáo hội. Họ có hiểu rõ mình thật sự đang rời bỏ điều gì không? Họ có biết liệu họ đang rời bỏ Giáo hội, rời bỏ giáo phái, rời bỏ đức tin, rời bỏ Chúa Giêsu, hay đơn giản chỉ là rời bỏ?

Quan trọng hơn nữa, rồi họ sẽ thế nào? Họ sẽ gia nhập một giáo phái khác, hay là sống kiểu Tâm linh mà không Tôn giáo, bất khả tri, hay vỡ mộng?

Có lẽ câu hỏi này không quan trọng lắm đối với nhóm Không, nhóm Bỏ, nhóm sống Tâm linh mà không Tôn giáo, nhóm Lãnh đạm và phần nhiều ở nhóm Ngoài lề, nhưng đối với nhóm Nổi giận, với những người cảm thấy ghẻ lạnh Hội thánh của mình, thì vấn đề này quan trọng. Mình sẽ đi đâu, khi cơn giận làm mình tránh xa bàn ăn gia đình? Mình tìm một gia đình cùng tâm thức hơn sao? Mình có từ bỏ tìm kiếm một bàn ăn gia đình không? Mình cứ ở nhà sáng chúa nhật ư? Có ổn không nếu mình vẫn giận dữ trong giờ lâm chung? Mình có hài lòng không nếu cứ ở trong tình trạng vỡ mộng?

Đối với việc rời bỏ Giáo hội, có hai câu hỏi rõ ràng mà chúng ta phải chất vấn. Tại sao ngày càng nhiều người rời bỏ Giáo hội hay đơn giản là không tìm đến với Giáo hội nữa? Và tương lai tôn giáo của những người không còn đến với Giáo hội sẽ ra sao? Câu hỏi đầu tiên là dành cho các Giáo hội, câu hỏi thứ hai là để những người không còn đến với Giáo hội suy ngẫm.