RonRolheiser,OMI

Anh chị em của chúng ta trong đức tin – Bạn không phải thù

Đặc tính giáo phái ăn sâu trong tôi. Sinh ra, được rửa tội và được nuôi dạy theo truyền thống công giáo la-mã, đạo đã thành bản tính thứ hai của tôi, như con dấu đã đóng lên tôi. Tôi không có gì hối tiếc về việc giữ chặt bẩm tại của Công giáo La-mã trên tôi, dù tôi nghĩ về đạo như nền tảng hơn là đích để đến trên hành trình đức tin.

Đạo Công giáo La-mã tôi được nuôi dạy đã đưa tôi vào mầu nhiệm Chúa Kitô: Chúa Giêsu, hội thánh, các bí tích, Bài giảng trên núi. Tôi quá đỗi biết ơn vì điều này. Đạo còn dạy tôi đừng nóng vội phán xét. Tuy nhiên, đạo công giáo lại dạy tôi chỉ có người Công giáo La-mã (và một ít ỏi người tin lành) được lên thiên đàng, rằng chỉ Phép Thánh Thể của Công giáo La-mã mới đem lại “sự hiện diện thực sự” trọn vẹn, và chỉ công giáo la-mã mới là con đường đích thực của người tín hữu kitô. Hơn nữa, những người không theo kitô giáo (những người không rửa tội) thì không được lên thiên đàng, trừ những ngoại lệ do ân sủng. Chỉ sau này, tôi mới biết một số các giao phái kitô khác và thế giới tôn giáo cũng đáp trả như thế, họ xem đạo Công giáo La-mã là lầm lạc.

Với tôi và với nhiều người, mọi chuyện đã có thay đổi. Tôi vẫn là người Công giáo La-mã vững tin, nhưng bây giờ tôi sống đức tin và sống đạo trong sự tương giao với các tín hữu anh giáo, tân giáo, tin lành, phái phúc âm, do thái giáo và hồi giáo, tất cả đều là bạn đồng hành đức tin đáng trân quý của tôi. Đến giai đoạn này trong đời, tôi trân trọng sâu sắc chân lý (vốn được xác nhận trong thư gửi tín hữu Êphêsô) rằng xét tận cùng, chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa và một Thiên Chúa là Cha của tất cả mọi người, nhất là tôi ngày càng nhận thức rằng tất cả chúng ta cùng chia sẻ một Thiên Chúa thì cũng cùng chia sẻ những khắc khoải như nhau.

Vài năm trước, tôi gặp một nhóm sinh viên thần học ở Đại học Yale. Họ xuất thân từ những cơ sở và giáo phái kitô giáo khác nhau, nhưng họ đều có một mục đích chung, tất cả đều được đào tạo để làm một mục vụ nào đó, dù là giáo dân hay giáo sĩ, trong giáo phái của mình. Trong một thảo luận mở, họ đặt nhiều câu hỏi với tôi. Trong đó, có hai câu nổi bật nhất. Câu đầu tiên rất thực tế: “Làm sao để có được công việc trong giáo hội?” Câu hỏi thứ hai liên quan đến chủ đề chúng ta đang nói đến. Nhiều sinh viên hỏi: “Con có thể theo nhiều giáo phái cùng lúc không? Con có thể vừa theo anh giáo vừa theo Công giáo La-mã được không? Nếu con trân trọng những khía cạnh trong cả ba truyền thống tôn giáo tin lành, phái phúc âm và Công giáo La-mã, con có thể theo cả ba được không?”

Tôi không có câu trả lời vững chắc, và những câu hỏi của họ làm tôi phải tự vấn về những điều tôi gặp hằng ngày ở trường đại học nơi tôi dạy. Trường Thần học Dòng Hiến sĩ có chương trình tiến sĩ về linh đạo thu hút nhiều sinh viên từ nhiều giáo phái kitô khác nhau. Các sinh viên này gặp nhau trong một lớp, ăn cùng một phòng ăn, và kết giao với nhau trong nhiều năm học ở đây, ở một cơ sở Công giáo La-mã. Rất nhanh, chỉ cần vài tháng chứ không cần phải vài năm, khi họ nghiên cứu, cầu nguyện, giao tiếp và chia sẻ với nhau những lý tưởng và đấu tranh chung, các vấn đề giáo phái về căn bản đã biến mất. Chẳng ai quan tâm người kia thuộc về giáo phái nào nữa. Không phải họ xem nhẹ chuyện đó, hay những đặc tính giáo phái khác nhau đã tan rã. Không phải thế. Ngược lại thì có, trong mười năm tổ chức chương trình này, không một sinh viên nào cải đạo sang giáo phái khác.

Tuy nhiên, quan điểm của họ về các giáo phái khác và về giáo phái của mình đã thay đổi, về bản chất là được mở rộng. Có một sự tôn trọng chung cho mỗi giáo phái, và không chỉ có thế. Khi các sinh viên tập trung vào linh đạo, họ thấy rằng nó có thể đưa họ đến một mức độ mà mỗi người có thể hỗ trợ hiệu quả cho các giáo phái khác trong khi vẫn trân trọng sâu sắc giáo phái của mình.

Bài học sâu sắc trong chuyện này là: có một sự thông công và sự mật thiết trong đức tin mà chúng ta có thể có với nhau, có một sự nâng đỡ hiệu quả chúng ta có thể trao cho nhau bất chấp những khác biệt về giáo phái. Khi cùng nhau nghiên cứu và chia sẻ một đức tin chung (một đức tin vượt trên những khác biệt giáo phái), chúng ta nhận ra điểm chung của mình lớn hơn và quan trọng hơn hẳn những gì chia rẽ chúng ta. Chúng ta còn nhận ra mình mang những khắc khoải như nhau.

Hơn nữa, đây không chỉ là một trải nghiệm hiếm hoi chỉ có ở trường thần học. Mà càng ngày càng được trải nghiệm chung giữa các kitô hữu.

Tại sao cứ tiếp tục nghi ngờ nhau? Tại sao chúng ta phòng thủ bảo vệ đặc thù của giáo phái mình thay vì chủ động vươn đến để đến với các giáo phái khác trong một đức tin chung, nhất là khi có thể làm được thế mà không đe dọa giáo phái của mình và tách rời khỏi giáo hội học?

Điều chúng ta được mời gọi ở đây là đừng hướng đến một thuyết hổ lốn thiếu phê phán, tự bịt mắt không muốn thấy những khác biệt về giáo phái, nhưng đúng hơn là hãy bắt đầu ngày càng đón nhận những anh chị em chúng ta trong đức tin, chứ không chỉ đón nhận những người cùng giáo phái với mình.

Ân sủng rẻ tiền

Trong các tín hữu kitô thời nay có một sự căng thẳng giữa những người mở rộng lòng thương xót của Thiên Chúa đến khắp mọi nơi và dường như không cần bất cứ một điều kiện nào, với những người dè dặt và phân biệt hơn trong việc phân phát lòng thương xót ấy. Sự căng thẳng này thể hiện rõ trong những tranh luận về việc ai được nhận lãnh bí tích: Ai được phép rước Thánh Thể? Ai được phép tổ chức hôn lễ trong nhà thờ? Ai được có nghi thức an táng theo kitô giáo? Khi nào thì linh mục không tha tội trong tòa giải tội?

Tuy nhiên, sự căng thẳng này còn vượt xa vấn đề ai được phép nhận lãnh những bí tích nhất định. Xét tận cùng, vấn đề là cách chúng ta hiểu về ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa. Một ví dụ rõ ràng của thời nay, là sự phản đối ngày càng tăng trong một một số lĩnh vực nhắm đến con người và cách tiếp cận của Đức Phanxicô. Với những người chỉ trích, họ cho Đức Phanxicô mềm yếu và thỏa hiệp. Với họ, Ngài phân phát ân sủng rẻ tiền, khiến Thiên Chúa và lòng thương xót của Ngài trở nên dễ tiếp cận như nước máy. Thiên Chúa đón nhận tất cả. Không đòi hỏi điều kiện gì. Không kêu gọi phải sám hối trước. Không đòi buộc trước tiên phải có sự thay đổi trong đời sống. Ân sủng cho tất cả. Không cần phải mất gì.

Chúng ta nói được gì về điều này? Nếu chúng ta phân phát ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa một cách không phân biệt như thế, liệu có làm mất đi men muối của kitô giáo không? Liệu chúng ta có nên đón nhận và chúc lành cho tất cả mọi người mà không cần bất kỳ điều kiện đạo đức nào không? Chẳng phải Phúc âm là phải đương đầu sao?

Nội cụm từ “ân sủng rẻ tiền” đã là một nghịch hợp. Không có thứ gì gọi là ân sủng rẻ tiền cả. Theo định nghĩa, mọi ân sủng đều là ban cho người không xứng, nghĩa là không đòi hỏi phải đáp ứng trước điều kiện gì để được ban và nhận lãnh. Bản chất của ân sủng là một món quà, miễn phí, dù chúng ta không xứng đáng. Và dù bản chất của ân sủng thường khơi lên một phản ứng yêu thương và hoán cải nhân tâm, nhưng tự nó không đòi hỏi điều đó.

Không có ví dụ nào hùng hồn hơn dụ ngôn của Chúa Giêsu về người con hoang đàng và cách dụ ngôn ấy minh họa cách ân sủng đối diện với sự ương ngạnh. Chúng ta đều biết câu chuyện này. Người con hoang đàng đã chối bỏ và ruồng bỏ cha mình, lấy hết của thừa kế chẳng do công sức mình làm nên, bỏ đi đến nước ngoại bang, xa cách cha mình, và phung phí tiền bạc để mua lấy lạc thú. Khi đã phung phí hết tiền, anh quyết định trở về với cha mình, không phải bởi đột nhiên anh lại thấy yêu thương cha, nhưng chỉ vì tính ích kỷ, vì đói. Và chúng ta đều biết chuyện thế nào. Khi anh còn ở xa, cha anh (chắc chắn mong chờ anh trở về) đã vội chạy đến gặp anh, và trước khi anh kịp nói lời xin lỗi, người cha đã ôm chầm lấy anh cách vô điều kiện, đưa anh vào lại nhà và chuẩn bị ăn mừng thịnh soạn cho anh. Bây giờ chúng ta nói về ân sủng rẻ tiền!

Hãy để ý xem dụ ngôn này nói với ai. Dụ ngôn này nói với một nhóm người sùng đạo chân thành, buồn bực vì họ cảm thấy khi đón nhận và ăn uống chung với người tội lỗi (mà không đòi buộc trước tiên phải có một số điều kiện đạo đức nào đó) thì Chúa Giêsu là ân sủng rẻ tiền, làm cho tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa quá dễ tiếp cận và từ đó là bớt quý báu. Hãy để ý xem phản ứng của nhiều người đồng thời với Chúa Giêsu khi họ thấy Ngài ăn tối với những người tội lỗi. Ví dụ như, khi Ngài ăn tối với người thu thuế Giakêu, Phúc âm kể rằng: “Ai thấy cũng bắt đầu xầm xì với nhau”. Sự bất mãn dai dẳng này thật đáng chú ý.

Tại sao lại thế? Tại sao lại có lo lắng đó? Tại sao chúng ta “xầm xì”? Lo lắng cho tôn giáo đích thực sao? Không hẳn. Nguyên do sâu xa hơn cho sự lo lắng này không phải vì lòng đạo mà đúng hơn là vì bản tính và những thương tích của chúng ta. Chúng ta cự lại những món quà trần trụi, sự cho không thẳng thừng, tình yêu vô điều kiện, ân sủng dù ta không xứng, là vì một thứ gì gì đó trong di truyền bản năng của chúng ta đã bị làm chai đá bởi những thương tích. Một sự kết hợp giữa tự nhiên và thương tích sẽ hằn dấu trong chúng ta rằng bất kỳ món quà nào, kể cả tình yêu và tha thứ, đều cần phải xứng đáng mới được nhận. Trong đời này làm gì có bữa ăn miễn phí! Trong tôn giáo, làm gì có ân sủng miễn phí! Một âm mưu kết hợp giữa bản tính và những thương tích của chúng ta, cứ luôn mãi nhắc chúng ta rằng chúng ta bất khả ái, rằng tình yêu phải xứng đáng, không thể miễn phí được vì chúng ta bất xứng.

Tôi tin rằng trong cuộc đời chúng ta, việc thắng được tiếng nói nội tại đó là một đấu tranh tận cùng, cả về tâm lý và thiêng liêng. Hơn nữa, đừng bị lừa bởi những người khẳng định ngược lại. Những người tỏa rạng sự khả ái và khẳng định điều đó, hầu như đang cố tránh xa nỗi sợ đó thôi.

Thánh Phaolô đã viết trong Thư gửi tín hữu Roma như lời nhắn nhủ cuối đời của mình. Ngài dành trọn bảy chương đầu để đơn thuần khẳng định hết lần này đến lần khác rằng chúng ta không thể chỉnh đốn đời sống mình cho chuẩn. Chúng ta bất lực về đạo đức. Tuy nhiên, lời nhấn mạnh lặp đi lặp lại rằng chúng ta không thể chỉnh đốn đời mình cho chuẩn, thật sự là cái nền cho điều mà ngài muốn truyền lại cho chúng ta, cụ thể là, chúng ta không cần chỉnh đốn đời mình cho chuẩn. Chúng ta được yêu thương bất chấp tội lỗi, được trao ban mọi sự cách nhưng không, vô điều kiện, không cần chúng ta phải xứng đáng gì.

Chúng ta băn khoăn về ân sủng không xứng, chủ yếu là vì sự bất an của con người chứ không phải vì lo lắng thực sự nào cho tôn giáo.

Tự tử và những hiểu lầm của chúng ta

Nhà văn Margaret Atwood từng viết, đôi khi có những chuyện cần được nói ra, nói đi, nói lại cho đến khi không cần phải nói nữa. Chính vì thế mà hàng năm tôi đều viết bài về tự tử, chủ yếu là để nói đi nói lại một điều. Tôi hy vọng, như lời nhắn trong chiếc chai thả ra biển, thông điệp nhỏ của tôi sẽ đến được với ai đang cần khuây khỏa sau khi mất một người thân yêu vì tự tử.

Vậy điều gì cần được nói, và nói đi nói lại, về tự tử? Có bốn điều.

Thứ nhất, nó là một căn bệnh và có lẽ là căn bệnh khó hiểu nhất. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng nếu người tự gây ra cái chết của mình, thì nó là chuyện tự nguyện với suy nghĩ rằng cái chết do bệnh tật hoặc tai nạn thì không phải thế. Nhưng trong hầu hết các vụ tự tử, chuyện không phải như thế. Một người chết vì tự tử, cũng như người bị bệnh nan y hoặc gặp tai nạn chết người, không chết do lựa chọn của họ. Khi người ta chết vì đau tim, đột quỵ, ung thư, AIDS và tai nạn, là họ chết trái với ý họ. Với tự tử cũng thế, trừ một chuyện, tự tử là cơn bộc phát cảm xúc hơn là thể lý, một cơn đột quỵ về cảm xúc, một khối ung thư về cảm xúc, một sự sụp đổ của hệ miễn dịch cảm xúc, một tai nạn chí tử của cảm xúc.

Và đây không phải là cách nói ẩn dụ. Có nhiều loại đau tim, đột quỵ, ung thư, sụp đổ hệ miễn dịch, và tai nạn chết người. Tuy nhiên, chúng có cùng một tác động, chúng đều tước đoạt mạng sống của người nào đó trái với ý muốn của họ. Không ai chết vì tự tử mà thật sự muốn chết cả. Người đó chỉ muốn kết thúc nỗi đau không thể chịu đựng thêm nữa, cũng như một người nhảy ra khỏi tòa nhà đang cháy vì họ đã bị bắt lửa như cây đuốc sống.

Thứ hai, chúng ta không nên lo lắng quá mức về sự cứu rỗi đời đời của người chết vì tự tử, không nên tin rằng tự tử là hành động tuyệt vọng tận cùng và là điều mà Thiên Chúa sẽ không tha thứ. Chắc chắn Thiên Chúa thông hiểu hơn chúng ta vô hạn, tấm lòng của Chúa an toàn và êm ái hơn chúng ta vô hạn. Chúng ta hình dung một bà mẹ vừa sinh con, lần đầu tiên ôm con vào lòng. Tôi tin rằng đó chính là hình ảnh chính xác nhất để hình dung một nạn nhân của tự tử (hầu hết là một linh hồn quá nhạy cảm) sẽ được đón nhận vào đời sau. Thiên Chúa thông hiểu, yêu thương và trìu mến vô cùng vô tận. Chúng ta không nên lo lắng về số phận của bất kỳ ai đã rời thế giới này một cách trung thực, quá đỗi nhạy cảm, ân cần, quá đỗi kiệt quệ và bị sụp đổ về mặt cảm xúc. Thiên Chúa yêu thương đặc biệt những con người tan nát.

Tuy nhiên, dù biết mọi chyện này nhưng không nhất thiết chúng ta không còn đau đớn (hay có khi giận dữ) vì mất người thân yêu do tự tử, nhưng đức tin và sự thông hiểu không phải để xóa bỏ nỗi đau cho bằng cho chúng ta hy vọng, hình dung và nâng đỡ khi bước đi trong nỗi đau.

Thứ ba, chúng ta không nên hành hạ bản thân khi băn khoăn liệu mình đã đánh mất người thân yêu nào vào thời điểm nào: “Có việc gì đáng ra mình phải làm? Mình đã phụ lòng người ấy lúc nào? Giá mà mình ở đó? Giá như…” Lẽ tự nhiên, chúng ta sẽ bị ám ảnh với suy nghĩ, “Giá như mình ở đó vào đúng lúc đó”. Hiếm khi chuyện này tạo nên khác biệt gì. Thật vậy, hầu như chúng ta đều không ở đó vì người đó không muốn chúng ta ở đó. Người đó đã chọn thời điểm, địa điểm và phương thức sao cho chúng ta không thể làm được gì. Có lẽ chính xác hơn, tự tử là căn bệnh chọn nạn nhân theo cách làm sao để loại trừ những người khác và loại trừ sự quan tâm của họ. Đây không phải là cái cớ cho sự thờ ơ, thiếu nhạy cảm, nhất là với những người đang gặp trầm cảm nghiêm trọng, nhưng nó nên là một khẳng định lành mạnh để bác bỏ cảm giác tội lỗi và băn khoăn vô ích.

Chúng ta là con người, chúng ta không phải là Thiên Chúa. Con người luôn chết vì bệnh tật và tai nạn và đôi khi tình yêu và sự quan tâm của cả thế giới cũng không ngăn nổi cái chết. Tình yêu, với mọi sức mạnh của nó, đôi khi cũng bất lực trước một căn bệnh nan y.

Thứ tư, khi mất một người thân yêu vì tự tử, một trong những nhiệm vụ của chúng ta là hành động để chuộc lại ký ức về người đó, cụ thể là nhìn cuộc sống của người đó với một quan điểm không bị hoen ố vì tự tử.

Một phản ứng nhân văn và có đức tin với chuyện tự tử, không nên là kinh hoàng sợ hãi cho sự cứu rỗi đời đời của nạn nhân, hay băn khoăn không biết mình đã phụ lòng họ khi nào, hay cứ cảnh giác đề phòng mỗi khi nhắc đến họ. Tự tử thật sự là một cách chết kinh khủng, nhưng chúng ta phải hiểu, ít ra trong hầu hết trường hợp, nó là một căn bệnh, một sự sụp đổ của hệ miễn dịch cảm xúc. Trong hầu hết, chúng ta phải tin tưởng Thiên Chúa, tin tưởng sự tốt lành, thông hiểu của Ngài, tin tưởng sức mạnh trỗi dậy từ địa ngục và sức mạnh của Ngài có thể biến đổi mọi sự nên đúng đắn, kể cả với tự tử.

Phụ nữ, bình đẳng và chủ nghĩa nữ quyền

Ở khắp nơi vẫn có những người tin rằng không còn bất kỳ vấn đề gì liên quan đến địa vị của nữ giới nữa. Ngày nay, ít ra là ở các nước dân chủ, có một niềm tin phổ biến rằng nữ giới đang được hưởng sự bình đẳng trọn vẹn với nam giới. Và với nhiều người, cổ xúy nữ quyền là không hay, là nặng tính chính trị, thể hiện một hệ tư tưởng tự do quá khích với những kế hoạch đi ngược lại các giá trị gia đình truyền thống. Vậy thì chúng ta nói được gì về điều này?

Trước hết, chủ nghĩa nữ quyền, cũng như kitô giáo, là một từ bao gồm những biểu hiện cả lành mạnh và hung hãn. Có chủ nghĩa nữ quyền tốt và chủ nghĩa nữ quyền hung hãn, với kitô giáo cũng thế. Với suy nghĩ như thế, mục đích của tôi, chẳng gì có thể rời xa sự thật hơn là ngây thơ tin chúng ta đã có được bình đẳng giới, cho dù ở đâu. Chưa đâu, kể cả trong dài hạn.

Tại sao tôi nói như thế? Trước khi đưa ra bằng chứng cụ thể hơn, tôi xin đưa ra một ví dụ: Tôi sống ở phương Tây, ở Hoa Kỳ, bang Texas, thành phố San Antonio (một thành phố rất nồng nhiệt và đậm chất kitô giáo), tôi ở trong một nền văn hóa tự hào về mình và tin rằng nó là người dẫn đường cho nhân quyền và bình đẳng giới của thế giới. Đúng, đọc báo, hiếm khi thấy tuần nào không có bài về một phụ nữ chết vì bạo lực gia đình. Hơn nữa, chỉ có tin người chết mới lên báo, nhưng con số phụ nữ bị bạo hành thể xác và tình dục trong gia đình chắc chắn còn cao hơn nữa. Phải ghi nhận rằng, 90% trong những vụ này, người chết là phụ nữ.

Tuy nhiên, để chứng minh rằng phụ nữ vẫn đang chịu đau khổ, một cách nặng nề và bất tương xứng so với nam giới, tôi xin trích lại một loạt nhận định từ quyển sách mới đây của Joan Chittister, Thức tỉnh (Awakening):

“Sự thật rằng hai phần ba người nghèo trên thế giới là phụ nữ, hai phần ba người mù chữ là phụ nữ, và hai phần ba người đói trên thế giới là phụ nữ. Sự đàn áp đối với một nửa nhân loại này không thể được xem là chuyện ngẫu nhiên… Phụ nữ là những người nghèo nhất, những người bơ vơ nhất, những người thất học nhất, những người bị đánh đập và bị thế giới ruồng rẫy nhất”.

“Lịch sử của phụ nữ là lịch sử bị đàn áp, kỳ thị và bạo hành khắp nơi. Trong phật giáo, những ni sư được dạy phải nghe lệnh của nam tu sĩ nhỏ tuổi nhất. Trong hồi giáo, phụ nữ phải che mạng và che kín cơ thể để thể hiện sự vô giá trị của mình, cho thấy mình đã thuộc về một người đàn ông nào đó. Trong ấn giáo, phụ nữ bị chồng bỏ khi người chồng muốn lên một bậc cao hơn, kiếm của hồi môn hậu hĩnh hơn, và còn bị quy trách nhiệm cho cái chết của chồng với lý do nghiệp chướng. Trong hầu hết mọi hình thức của do thái giáo, phụ nữ không được tham gia nghi lễ và học hành. Trong kitô giáo, cho đến gần đây, và trong nhiều lãnh vực, quyền pháp lý của phụ nữ cũng chỉ ngang với trẻ em, chuyện đánh vợ được bảo vệ bằng quyền nội bộ gia đình, và thậm chí đời sống tâm linh của phụ nữ lại bị nam giáo sĩ chỉ định, ra lệnh và kiểm soát”.

Hơn thế nữa, sơ Chittister còn nêu bật một chuyện mỉa mai thường bị bỏ qua, và tệ hơn nữa, thường bị dùng làm cái cớ cho việc chúng ta không thể chấp nhận địa vị bình đẳng của phụ nữ. Chuyện đó như thế này: Nhiều người trong chúng ta, dù ý thức hay vô thức, nuôi dưỡng một thái độ có thể gọi là chủ nghĩa nữ quyền lãng mạn hóa, khi chúng ta lý tưởng hóa quá đáng và đề cao quá đáng nữ giới, rồi mỉa mai thay, nhưng lại hoàn toàn có thể hiểu được, khi cuối cùng lại từ chối sự bình đẳng trọn vẹn của họ. Sơ Chittister nói: “Không một lĩnh vực nào mà người ta lại vung vẩy hoang phí quá nhiều chất thơ, chất nhạc, quá nhiều hoa, nhiều lời khen, bao dung và tình yêu đến thế, nhưng cũng không có lĩnh vực nào khác mà sự tôn trọng nhân văn, tâm linh, trí thức và đạo đức lại ít đến thế”. Về bản chất, sự lý tưởng hóa quá đáng về phụ nữ là nói với họ: các bạn quá đặc biệt, quá tuyệt vời đến nỗi không nên được đối xử theo cùng một cách với đàn ông!

Tôi đủ tuổi để sống qua nhiều thế hệ chủ nghĩa nữ quyền. Thời thập niên 1980 và 1990, khi tôi dạy thần học ở một vài đại học, thì chủ nghĩa nữ quyền vừa lành mạnh vừa hùng hổ, thể hiện rất mạnh nơi ban giám hiệu và hội đoàn sinh viên. Tôi thú nhận, không phải lúc nào tôi cũng thấy thoải mái với nó, nhất là cách nói thường như sẵn sàng gây chiến. Tôi ý thức được sự chính đáng của nó, dù cho tôi e ngại sự hùng hổ của nó.

Thời thế đã thay đổi. Thời nay, trong những lớp tôi dạy, ngày càng có nhiều phụ nữ, với tuổi đời trẻ hơn, chẳng mấy đồng cảm hay tán thành chủ nghĩa nữ quyền của thập niên 1980 và 1990. Gần như có một thái độ xem thường đối với những phụ nữ tiên phong trong việc cổ xúy nữ quyền. Một phần, đó là vấn đề của thế hệ, một chuyện chúng ta có thể hiểu được. Nhưng một phần còn do sự ngây thơ, một niềm tin vô căn cứ rằng cuộc chiến này đã thắng, rằng phụ nữ đã được bình đẳng hoàn toàn, rằng không cần khơi lên cuộc chiến kiểu cũ nữa.

Vì thế, khi đọc những phân tích khủng khiếp của sơ Chittister, những bài báo đau lòng hàng ngày về bạo hành gia đình, tôi mong mỏi tìm kiếm những nhà nữ quyền hùng hổ mà tôi từng gặp trong lớp học và ban giám hiệu lúc trước.

Óc hài hước của Thiên Chúa

Nếu chúng ta thực sự tin tưởng vào Kinh thánh, có kinh nghiệm bản thân và tỉnh táo thì chúng ta chỉ có thể kết luận, Thiên Chúa có óc hài hước, một bộ óc hài hước mạnh bạo nhưng kín đáo. Bằng chứng nào?

Một thế hệ trước, thần học gia tin lành Peter Berger đã viết một quyển sách nhỏ đáng chú ý với tựa đề, Tin đồn về các thiên thần (A Rumor of Angels). Không như Aquinô, Anselm, Descartes và vô số triết gia lừng danh khác, ông không cố chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa bằng lý luận và tranh luận. Thay vào đó, ông nhìn vào một số kinh nghiệm rất bình thường của con người và đưa ra những gì ẩn giấu bên trong và đằng sau những trải nghiệm đó. Ví dụ như, khi một người mẹ dỗ đứa con bị hoảng sợ ban đêm, đảm bảo với con không có gì phải sợ, bà làm thế với niềm tin tốt đẹp vì ở một mức độ thâm sâu, bà trực cảm thấy, cuối cùng mọi sự đều tốt đẹp. Một cách vô thức, bà đang đọc kinh Tin kính.

Một trong những trải nghiệm mà Berger nêu bật, chính là trải nghiệm về hài hước. Luận điểm của ông: Dù cho hoàn cảnh có ngột ngạt và thảm khốc đến đâu đi nữa, con người luôn có năng lực làm nhẹ nó, nhìn nó qua lăng kính châm biếm và hài hước. Ví dụ như, các thánh tử đạo đã nói đùa với đao phủ, và chắc chắn trong những trại diệt chủng, vẫn có những lúc đùa cợt, châm biếm, và hài hước sâu cay. Sự thật rằng con người có thể và thực sự làm được việc này, cho thấy trong chúng ta luôn có gì đó siêu việt, có gì đó mạnh hơn áp bức của con người, có gì đó làm chúng ta vượt lên mọi hoàn cảnh mình gặp phải. Ý thức châm biếm và hài hước của chúng ta thể hiện trong linh hồn có gì đó làm chúng ta vượt lên bất kỳ điều gì có thể bủa vây chúng ta.

Và điều này có thể bắt nguồn từ một nơi duy nhất, là nơi Đấng Tạo Hóa đã tạo dựng chúng ta. Vì thế không hẳn Thiên Chúa có ý thức hài hước, mà còn hơn thế nữa, hài hước hẳn là cố hữu trong bản tính Thiên Chúa, vì hài hước là tốt và Thiên Chúa là đấng tạo nên mọi sự tốt lành.

Trường phái triết học kinh điển tin rằng, Thiên Chúa có bốn đặc tính siêu việt, là Duy nhất, Chân thật, Tốt lành và Tuyệt mỹ – và bây giờ chúng ta có thể thêm một điều: Hài hước. Hơn nữa, có thể kết luận như thế từ việc thỉnh thoảng chúng ta cảm nhận, hài hước thể hiện sự siêu việt của chúng ta trong một tình huống nào đó. Và quan trọng hơn nữa, chúng ta có thể suy ra hài hước có tính thần thiêng khi xem xét những phần tử cấu trúc tình yêu. Thiên Chúa là tình yêu, và hài hước là một phần quan trọng không thể chối cãi của tình yêu.

Khi các triết gia Hy Lạp kinh điển định nghĩa tình yêu, họ nêu bật một số thành phần bên trong của nó, cụ thể là sức hấp dẫn tình ái, sự ám ảnh, tình bạn, sự sắp xếp thực dụng và lòng vị tha. Tuy nhiên, họ còn nêu bật một thành phần khác, đó là vui vẻ/bông đùa/ hài hước. Thật thấu suốt làm sao. Hài hước cùng với bông đùa lành mạnh và trêu chọc vui vẻ là một phần dầu mỡ giúp chúng ta duy trì mối quan hệ lâu dài, bất chấp sự quen thuộc quá mức, tổn thương, thất vọng, và nhàm chán không thể tránh khỏi thế nào cũng xuất hiện trong hầu hết mối tình. Hài hước giúp tình yêu ổn định. Vì thế hài hước là một phần bẩm sinh của tình yêu, nó cũng là một phần bẩm tại của Thiên Chúa.

Đáng buồn là, chúng ta thường không hình dung Thiên Chúa như thế. Đây lại là điểm chung của kitô giáo, do thái giáo và hồi giáo. Chúng ta đều hình dung Thiên Chúa là nam giới, độc thân, uy nghi – và không hài hước. Làm sao để chúng ta hình dung Thiên Chúa một cách khác?

Nếu chúng ta phải vẽ lên một khuôn mặt tổng hợp thể hiện Thiên Chúa, thì chúng ta sẽ đưa khuôn mặt của ai vào chân dung này? Hình ảnh sốt mến của Chúa Giêsu tóc vàng hiền lành cõng chiên trên vai mà chúng ta thường thấy trong các ảnh tượng? Hình ảnh Đức Mẹ lặng lẽ điềm thản chúng ta thấy nơi nhiều bức tượng? Gương mặt Mẹ Têrêxa Calcutta? Têrêxa Hài Đồng Giêsu? Gương mặt của Dorothy Day? Của Martin Luther King? Của Oscar Romero? Billy Graham? Henri Nouwen? Rachel Held Evans? Gương mặt của cha mẹ chúng ta? Hay chúng ta hình dung gương mặt của danh hài hay một người hóm hỉnh mình yêu thích? Jerry Seinfeld? Bette Midler? Rowan Atkinson? Gương mặt tinh nghịch của một ông bác hay kể chuyện đùa?

Bất kỳ hình ảnh nào về dung mạo Thiên Chúa đều cần thể hiện một nội tại Độc nhất, Chân, Thiện, Mỹ, nhưng còn cả Hài hước và Tinh nghịch. Thât buồn cười, dù tôi tin Thiên Chúa là đấng tạo nên hài hước, tôi lại không bao giờ thích những bức họa vẽ Chúa Giêsu cười sảng khoái. Ý niệm thì tốt, ý định thì tốt, thần học cũng tốt, nhưng theo thị hiếu của tôi thì nó thiếu cái gì đó đúng đắn. Khuôn mặt cười ấy có tính chất phù du sẽ quá dễ tan biến, nhường chỗ cho một cái gì khác xuất hiện sau đó. Tôi cho rằng, gương mặt của Thiên Chúa có một sự tinh nghịch lâu dài, lặng lẽ hơn, ẩn giấu hơn.

Nếu đúng thế, nếu Thiên Chúa không chỉ có óc hài hước, mà còn là người tạo ra hài hước, thì hài hước là một phẩm chất quan trọng trong sự toàn vẹn và thánh thiện. Điều gì khiến chúng ta toàn vẹn, trưởng thành, thánh thiện, yêu thương và nên người mà chúng ta muốn được ngồi cạnh ở bàn ăn đời này và ở cả đời sau? Chắc chắn, bạn muốn ai đó thể hiện những phẩm chất mà Chúa Giêsu yêu cầu trong Bài giảng trên núi cùng với một óc hài hước tinh nghịch, ấm áp và vui tươi.

Có gì nơi sự từ biệt?

Từ biệt có thể rất khó khăn. Khi người chúng ta yêu thương đi xa, luôn có nỗi buồn, nhất là khi người thân yêu ra đi trong cái chết.

Nhưng từ kinh nghiệm, chúng ta biết rằng, đến cuối cùng, từ biệt không hẳn là cái chết nhưng là sự chuyển biến. Nó chấm dứt một cách hiện diện với người khác và mở đường cho một cách hiện diện khác, chỉ vừa mới khởi đầu và về lâu dài sẽ có lợi hơn cho yêu thương.

Chuyện này có vẻ hơi mơ hồ. Nhưng không phải thế. Chúng ta trải nghiệm chuyện này trong cuộc sống hằng ngày. Ví dụ, một cô gái vừa tốt nghiệp trung học, cô dọn ra sống tự lập, cô đi xa nhà. Với cha mẹ, như thế là rất đau lòng. Đứa con gái bé bỏng bây giờ không còn bé bỏng nữa, và lời từ biệt con khi ra xe đi về, sau khi đã giúp con ổn định chỗ ở mới sẽ ghi khắc trong lòng chúng ta, con không còn bé bỏng và không còn là của mình nữa. Một điều gì đó căn bản đã thay đổi, và có thể thật khó để buông bỏ hình ảnh cô con gái một thời ở trong lòng bố mẹ. Nhưng cô bé nhỏ đó đâu đã chết. Cuộc sống của cô bây giờ mở ra với những chuyện phong phú mới, cô sẽ có bước tiến mới và quan trọng để trưởng thành, dù cho bước tiến đó thay đổi hình ảnh cô bé trong tâm hồn chúng ta.

Bây giờ con gái đã rời nhà và sống tự lập, hình ảnh đó sẽ như thế nào trong lòng bố mẹ? Nghịch lý thay, cô bé lại càng hiện diện với bạn hơn bao giờ hết, dù là theo cách khác. Bây giờ là người trưởng thành, cô có thể mang lại cho bạn những gì mà khi còn nhỏ sống chung, cô đã không thể đem lại. Con cái còn nhỏ có thể khơi lên trong lòng cha mẹ một tình thương đặc biệt, nhưng con cái lớn tuổi có thể khơi lên một điều khác, cũng vô cùng phong phú. Chính vì thế mà mọi cô bé cậu bé cuối cùng cần nói với bố mẹ mình những lời mà Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ trong đêm trước khi tử nạn, “Thầy đi thì tốt hơn cho các con” – Nếu không đi xa, con sẽ luôn là đứa con nhỏ trong nhà, nhưng nếu con đi xa, con sẽ về lại nhà như người trưởng thành, đem lại cho bố mẹ một sự phong phú mới.

Cuối cùng sự chia ly lạnh lẽo lúc từ biệt có thể nhường chỗ cho một hội tụ ấm áp hơn, sâu sắc hơn và không còn phụ thuộc vào sự gần gũi về mặt thể lý. Một lời từ biệt chân thành chính là sự chuyển biến, chứ không phải kết thúc.

Điều này cũng đúng trong sự chia ly nhói lòng hơn của cái chết. Chúng ta không mất người thân yêu, mà là trải nghiệm một sự chuyển biến trong sự hiện diện của họ. Ở tang lễ, chúng ta cảm nghiệm sự chuyển biến của sự hiện diện và mối quan hệ giống như của người cha người mẹ thấy con mình lớn lên và dọn ra ngoài sống. Ở tang lễ, dĩ nhiên, cảm xúc dâng trào hơn, nhưng động lực vẫn như nhau. Một sự xoay chuyển tận căn đang diễn ra. Trong cái chết, thường phải mất một thời gian, có lẽ vài năm chúng ta mới nhận ra được đây là một chuyến biến, chứ không phải cái chết. Xin cho tôi đưa ra một ví dụ.

Năm tôi 23 tuổi, trong vòng ba tháng, cả cha và mẹ tôi lần lượt qua đời. Họ chưa cao tuổi lắm, chỉ mới 62 và 58. Tôi và các anh chị em vẫn còn trẻ, quá trẻ (theo đánh giá của chúng tôi) để chấp nhận nổi chuyện này. Do dó, ban đầu, cái chết của cha mẹ làm cho chúng tôi cảm thấy lạnh lẽo, cay đắng, chứ không thấy được sự chuyển biến. Tuy nhiên, thời gian hàn gắn dần, và cuối cùng, chúng tôi vượt qua được. Trong trường hợp của chúng tôi, thời gian chữa lành là vì cuối cùng chúng tôi bắt đầu nhận ra sự hiện diện của cha mẹ một lần nữa, theo một cách phong phú và sâu sắc hơn cả trước khi ông bà mất. Họ đã đi xa, nhưng họ quay lại, phong phú hơn, nồng ấm hơn và sâu sắc hơn.

Trong lời từ biệt ở bữa tiệc ly, Chúa Giêsu bảo các môn đệ đừng sợ, đừng đau buồn quá vì Ngài ra đi. Ngài nhắc đi nhắc lại, “Thầy đi thì tốt cho anh em hơn. Nếu Thầy không đi, Thầy không thể gửi Thần Khí đến”. Chúa Giêsu cũng như cô con gái rời nhà để bắt đầu cuộc sống mới và nói lời từ biệt làm cha mẹ đau lòng, nhưng lời từ biệt đó nằm trong bối cảnh, bây giờ cô sẽ có thể hiện diện với họ theo một cách khác và rất phong phú. Từ biệt không phải là cái chết, nhưng là sự chuyển biến.

Từ biệt và tạm biệt, kể cả lời vĩnh biệt ở tang lễ, không phải là những đoạn tuyệt phi tự nhiên đi ngược lại dự định của Thiên Chúa và cách của những mối quan hệ tăng tiến. Dĩ nhiên có thể như thế, khi lời từ biệt hay tạm biệt xuất phát từ giận dữ, thù ghét, xâm hại hay bạo lực. Tuy nhiên, khi từ biệt là điều tự nhiên vượt quá vòng tròn cuộc sống, thì cái chết thật sự chỉ là một phần của bí nhiệm nghịch lý, phong phú và khôn tả của tình yêu.

Định danh thời điểm hiện tại – Một vài ẩn dụ để lĩnh hội

Không phải chuyện gì cũng có thể khắc phục hoặc chữa lành, nhưng nó phải được định danh cho đúng. Linh mục Dòng Phanxicô người Mỹ Richard Rohr đã nói thế. Tâm lý gia người Mỹ James Hillman cũng nói tương tự khi ông viết rằng một triệu chứng đau khổ nhất khi nó không biết mình thuộc về đâu.

Vậy thời khắc hiện tại của chúng ta thuộc về đâu khi đối diện với đức tin vào Thiên Chúa và sự thích đáng của các Giáo hội? Chúng ta ở thời hậu-kitô giáo sao? Chúng ta đang chứng kiến cái chết của Thiên Chúa và các Giáo hội sao? Hay là, đức tin của chúng ta đang được thanh tẩy bởi những lời chỉ trích nhắm vào nó, và bất chấp sự sụt giảm lớn lao của số người đi lễ, chẳng phải các hội thánh đang có tiến bộ luân lý về những vấn đề như kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính và công bằng xã hội đó sao? Chúng ta đang chết hay đang trưởng thành? Làm sao chúng ta định danh được thời điểm hiện tại này đây?

Để trả lời, tôi muốn đưa ra một loạt “ẩn dụ” rút ra từ nhiều nhà bình luận đã từng thử đặt ra một cái tên cho nó. Trong số này, có những người mâu thuẫn nhau, nhưng họ đều đáng để chúng ta suy ngẫm. Và tôi xin đưa ra để các bạn tự lĩnh hội.

  1. Đức tin là một dự án hết thời! Về căn bản, đó là quan điểm của các nhà tư tưởng Thời đại Khai sáng, điển hình là các triết gia Nietzsche, Freud, Feuerbach, và Marx, những người cho rằng đức tin và niềm tin vào Thiên Chúa là một thứ mà khi trưởng thành con người sẽ bỏ đi, như kiểu niềm tin có Ông già Noel và Thỏ Phục sinh. Niềm tin này là cần thiết cho một thời đại, nhưng nó sẽ ở dưới tầm của chúng ta khi chúng ta mất sự ngây thơ. Thiên Chúa và các giáo hội đã có thời của mình trong lịch sử, và thời đó đã qua. Ngày nay, hàng triệu người tin (hoặc sợ) như thế.
  2. Thế giới của chúng ta vẫn còn tuổi bỉm tã! Thần học gia Pierre Teilhard de Chardin cho rằng đức tin còn lâu mới là một dự án hết thời, nó chỉ mới trong giai đoạn sơ sinh thôi. Đây là một quan điểm cách mạng về lịch sử và đức tin, rằng chúng ta đang sống trong một thế giới tuổi bỉm tã, mới ngoi đầu lên khỏi nôi. Đức tin còn lâu mới hết thời! Chúng ta chỉ mới khởi đầu thôi!
  3. Một phương Tây hậu-kitô giáo! Đây là quan điểm của hồng y Joseph Ratzinger trước khi ngài là giáo hoàng. Cụ thể, ngài nói, thế giới thế tục, nhất là Bắc Mỹ và Tây Âu bây giờ đang ở thời “hậu-kitô giáo”. Thú vị là, sau khi trở thành giáo hoàng, ngài không bao giờ nhắc lại rõ ràng quan điểm này.
  4. Đức tin trong thế giới thế tục là chịu sự khổ nhọc giữa trưa!
    Đây là hình ảnh theo lời của nhà hàn lâm Tomas Halik. Theo quan điểm của cha, đức tin và các giáo hội không chết dần: đơn giản là đang chịu “cơn trầm cảm”, “con quỷ giờ giữa trưa”, sự khổ nhọc mà các tác giả sa mạc kitô giáo thời tiên khởi bảo rằng nó có thể tác hại đến cả những tín hữu sốt sắng nhất.
  5. Chúng ta đang trải qua cuộc khủng hoảng của hình dung, chứ không phải khủng hoảng của đức tin và trung tín. Những tình thế của đức tin đã thay đổi triệt để, và sức hình dung của chúng ta không theo kịp. Đây là quan điểm của triết gia lừng danh về thế tục, Charles Taylor. Với ông, là tín hữu thời nay, chúng ta là người mở đường, nỗ lực để học cách sống trong một đất nước (đức tin) mà chúng ta và không một ai từng sống. Chẳng trách chúng ta phải chật vật.
  6. Văn hóa thế tục là đứa con tuổi dậy thì của do-thái – kitô giáo và trong sự tự đại tuổi dậy thì, văn hóa của chúng ta chỉ thấy được những lầm lỗi của bố mẹ. Đây là quan điểm của ngòi bút thiêng liêng nổi danh, Kathleen Norris, và đồng hưởng với triết gia Louis Dupre của trường đại học Yale. Theo tác giả Norris, nếu muốn hình dung mối quan hệ giữa thế giới thế tục và kitô giáo, chúng ta hãy nhìn vào thiếu niên 17 tuổi, nó chẳng vui khi cha mẹ nói chuyện với chúng. Về chuyện này, triết gia Dupre thêm rằng, sự tự đại tuổi dậy thì không xấu, chỉ là chưa trưởng thành đủ thôi.
  7. Tính thế tục là một ảo tưởng mà giới trí thức thích thú. Với người bình thường, có những lời thì thầm thiêng liêng ở khắp nơi. Trong đời thực, tôn giáo tín ngưỡng là điều không thể không có. Đây là ý kiến của triết gia người Pháp, Chantel Delsol.
  8. Như Jonah, chúng ta đang ở trong bụng cá voi. Đây là cách định danh yêu thích của linh mục Richard Rohr. Trong mối hoài nghi và mơ hồ đương thời của chúng ta, Thiên Chúa đang đưa chúng ta qua bóng tối để đến nơi chúng ta cần đến.
  9. Quan điểm kitô giáo của Phương Tây là tàn dư của một cái nhìn cũ, trước khi bị hư giác mạc. Đây là ý của hồng y Walter Kasper. Theo ngài: nếu ai đó bị mù từ bẩm sinh, thì sẽ không có hình tượng thị giác về các vật thể bên ngoài. Tuy nhiên, nếu ai đó sau này bị mù, thì sẽ giữ lại những hình ảnh mình từng thấy, dù bây giờ không thấy được chúng nữa. Là kitô hữu, chúng ta sống quá phụ thuộc vào các hình ảnh quá khứ, và không còn thấy trực tiếp bằng đôi mắt đức tin.
  10. Chúng ta cần “Chọn lựa của Thánh Biển Đức”. Đây là ý của nhà văn Rod Dreher. Nền văn hóa bị thế tục hóa nặng nề đang bóp nghẹt đức tin của chúng ta. Cái cần cứu và nuôi dưỡng chính là “chọn lựa của Thánh Biển Đức”. Như thánh đan phụ lập dòng vĩ đại, Biển Đức, những người có đức tin thành tín cần phải tránh xa một nền văn hóa đang xói mòn đức tin chúng ta và sống đức tin theo cách “đan tu”, cụ thể là rút ra và xây dựng những dạng “đan tu” mới, trong đó chúng ta sống trọn đức tin của mình và nuôi dạy con cái mình trong đức tin. Cuối cùng, như đã từng xảy ra, thế giới sẽ tìm đến chúng ta để tìm sự giúp đỡ và ý nghĩa.

Vậy ai mới đúng? Ý tưởng nào định danh đúng nhất cho những triệu chứng và thời khắc hiện tại của chúng ta? Mỗi hình ảnh đều có cái để chúng ta lĩnh hội.

Tình yêu mới làm mọi chuyện đi đến đàng trước, không phải lời bào chữa

Chuyện bào chữa được thì không cần phải bào chữa, chuyện không bào chữa thì không thể bào chữa được.

Michael Buckley đã viết câu này khi nói về chuyện Thánh Phêrô chối Chúa ba lần. Và đây là nội dung: Phêrô đã phản bội Chúa Giêsu trong lúc Ngài đang cùng cực nhất, và ông làm thế không phải vì ác tâm mà đơn thuần vì yếu đuối. Giờ, lần đầu đối diện với Chúa Giêsu sau lần phản bội đó, hẳn Phêrô thấy bứt rứt lắm. Chúng ta sẽ nói gì sau khi đã phản bội người nào đó?

Ông không cần nói gì cả. Chúa Giêsu đã mở lời, và như Buckley nêu bật, Ngài không bào chữa cho Phêrô. Chúa Giêsu không nói theo kiểu: “Trong hoàn cảnh này, nếu sợ hãi thì cũng là chuyện thông cảm được. Con đâu có tỉnh táo nổi! Thầy hiểu vì sao chuyện đó lại xảy ra mà!” Ngài cũng không hề bảo Phêrô là Ngài vẫn thương ông. Hoàn toàn Chúa Giêsu không nói những lời đó. Ngài chỉ đơn thuần hỏi Phêrô: “Con có yêu ta không?” và khi Phêrô thưa có, mọi chuyện cũ giờ đã là chuyện cũ. Không cần bào chữa gì cả. Chuyện bào chữa được thì không cần phải bào chữa, chuyện không bào chữa thì không thể bào chữa được. Nhân loại chúng ta đã giải thích vì sao chúng ta dễ bị phản bội, và khi tỉnh ngộ qua chuyện đó thì điều cần nói ra chính là sự tái xác nhận tình yêu.

Tôi quen một cặp vợ chồng có kinh nghiệm chuyện này. Họ cùng nhau đi dự tiệc tối thứ sáu, và người vợ, do hơi men và ma túy, đã rời bữa tiệc với một người đàn ông khác. Lúc đó, chồng cô không biết chuyện, nhưng khi phát hiện ra, ông đau buồn vô hạn. Ông về nhà một mình, trằn trọc cả đêm không ngủ được, nghĩ đến đủ ảo tưởng trả thù và cuối cùng chọn được một cách.

Gần đến giờ trưa, ông ngồi trong bếp, lúc người vợ ngượng ngùng và tự biết lỗi trở về nhà. Cô đã chuẩn bị bài bản xin lỗi và sẵn sàng đối diện với cơn thịnh nộ chính đáng của chồng mình. Nhưng cái cô nhận được lại không phải thế. Chồng cô không để cô nói bất kỳ lời xin lỗi hay bào chữa gì, ông cũng không bừng bừng thịnh nộ. Thay vào đó, ông bình thản và buồn rầu có mấy lời với vợ: “Anh sẽ ra ngoài ở trong một tuần để em có thể thanh thản suy nghĩ. Em cần phải quyết định. Em là vợ anh, hay là vợ của người khác?” Một tuần sau ông về nhà, nghe vợ xin lỗi, nhưng điều quan trọng hơn là ông tìm được con người mới của vợ, chung thủy triệt để hơn. Cuộc hôn nhân của họ vững bền và tốt đẹp kể từ đó. Bây giờ cô chung thủy theo cách vượt hẳn trước đây.

Chắc chắn, khi ông trở về, người vợ đã khóc lóc xin lỗi và biện minh. Việc ông không để cô nói gì trước đó có lẽ đã đem lại lợi ích lâu dài, nhưng tôi cũng phải công nhận là trong ngắn hạn nó hơi tàn nhẫn. Kể cả khi có chuyện không thể bào chữa, chúng ta vẫn cần cơ hội để nói lời xin lỗi. Lời xin lỗi quan trọng, cho cả người nói xin lỗi và người được xin lỗi. Trước khi có một lời xin lỗi rõ ràng, thì chuyện vẫn chưa xong. Tuy nhiên, trong mối quan hệ bị tổn thương hay rạn vỡ, sự hối hận rõ ràng không phải là cái tối hậu để sang trang bước tiếp. Cái làm cho chúng ta bào chữa được và bước đi tiếp chính là hết lòng đổi mới với tình yêu và chung thủy sâu sắc hơn.

Chuyện không bào chữa thì không thể bào chữa được. Nói một cách nghiêm ngặt, thì nó đúng, dù đôi khi sự thông hiểu sâu sắc hơn có thể biện minh cho chuyện không thể biện minh. Tôi xin đưa ra một ví dụ.

Vài năm trước, ở Úc đã xảy ra một chuyện. Hội đồng một Trường Công giáo vừa xây xong ngôi trường trị giá nhiều triệu đô Không lâu sau khi trường khánh thành, một cậu bé học sinh trung học đã đốt lửa trong tủ đồ của mình, em không biết van khí đốt cho hệ thống sưởi nằm ngay sau tủ đồ đó. Một vụ hỏa hoạn lớn bùng lên và cả ngôi trường bị đốt trụi. Phải khen cậu bé, cậu lấy hết can đảm thú nhận chuyện này. Rồi dĩ nhiên là mọi người đặt không biết bao nhiêu câu hỏi: Sao cậu ấy lại làm thế? Có ai lại đi đốt lửa trong tủ đồ? Ngu ngốc bất cẩn kiểu gì lạ vậy? Có gì có thể biện minh cho chuyện không thể biện minh này?

Tôi rất cảm kích với câu trả lời của một giám mục Úc cho những câu hỏi này. Khi nói với một nhóm giáo viên và ban giám hiệu trường, câu trả lời ngắn gọn của cha đã gói gọn hết. Tại sao cậu học sinh này lại làm thế? Vì đó là một cậu con trai! Các cậu trai (vì những lý do có thể giải thích được) thích đốt lửa từ lâu trước khi có van khí đốt xuất hiện. Hơn nữa, không có biện minh nào cho chuyện đó, ngoại trừ bản tính con người.

Thường thì, đó là cái cớ cho chuyện không thể biện minh. Vì chúng ta là con người! Thật vậy, đây là cái cớ thực sự của người phụ nữ đã phản bội chồng trong hơi men, cũng như cái cớ thực sự của Thánh Phêrô khi phản bội Chúa.

Nhưng chúng ta phải xác định chuyện này cho rõ. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta được phép viện đến bản tính vô lý về luân lý của mình làm cái cớ cho sự phản bội hoặc ngu ngốc. Chúng ta là con người! Các cậu con trai cứ là con trai! Nhưng bài học chính là mỗi khi sự vô lý về luân lý làm chúng ta rơi vào phản bội hoặc ngu ngốc, thì cái tận cùng bỏ qua mọi chuyện không phải là lời xin lỗi hay bào chữa, mà chính là hết lòng đổi mới trong tình yêu.

Linh đạo – nơi để mọi người có đức tin tụ về

Đâu là nơi mà người có đức chúng ta có thể tụ về vượt lên chia rẽ do lịch sử, giáo lý, giáo phái và tôn giáo? Đâu là nơi cho tất cả những người thiện tâm có thể tìm được điểm chung và cùng nhau thờ phượng?

Nơi đó được tìm thấy trong việc mưu cầu một linh đạo liên tôn giáo và đại kết không, các học viện thần học cũng như chủng viện cần phải tạo được không gian này trong tầm nhìn và cấu trúc học thuật của mình.

Linh đạo như một khuôn khổ học thuật trong các học viện thần học và chủng viện của chúng ta như thế nào? Linh đạo đã có từ lâu, dù mang nhiều cái tên khác nhau. Trong giới công giáo la-mã, trước đây nó được phân ra từng mảng, là thần học luân lý, phụng vụ, thần học khổ hạnh, văn học mộ đạo và thần nghiệm. Trong giới tin lành và phái phúc âm (cho đến gần đây, văn học mộ đạo và thần nghiệm vẫn không được tín nhiệm) thì có nhiều khóa học về cương vị môn đệ, thờ phượng và luân lý kitô giáo.

Vậy linh đạo là một lĩnh vực nghiên cứu sao? Dù có khả năng tối giản quá đáng, nhưng tôi xin phép đưa ra một phép loại suy để hiểu cách linh đạo liên quan đến thần học và giáo lý. Cách linh đạo liên quan đến thần học và giáo lý cũng như cách trận đấu thể thao liên quan đến sách luật của môn thể thao đó.

Ví dụ như, môn bóng chuyền có luật chơi, được soạn thảo ban đầu rồi được chỉnh sửa theo từng giai đoạn trong nhiều năm lịch sử của bộ môn này. Thời nay người ta áp dụng luật này khi chơi bóng chuyền. Không thể chơi ngoài những luật đó được. Tuy nhiên, dù những luật này đưa ra quy tắc để chơi bóng, nhưng không phải là trận đấu. Luật chỉ xác định cách chơi và bảo đảm trận đấu được chơi một cách công bằng.

Về căn bản, đó chính là vai trò thiết yếu của thần học và giáo lý. Chúng là sách luật để chúng ta biết cách phân định đức tin và việc thực hành tôn giáo khi chúng ta sống trong cương vị môn đệ, nếu như chúng ta nhận mình là kitô hữu. Nhưng chúng làm nên luật, còn linh đạo là trận đấu thật sự, là cách chúng ta sống đức tin và cương vị môn đệ trong việc thực hành thực tế.

Do đó, linh đạo có trong luân lý và đạo đức, việc thờ phượng, thần học khổ hạnh, thần học thần nghiệm, thần học mộ đạo và mọi thứ chúng ta làm khi sống cương vị môn đệ. Thần học đưa ra luật lệ, còn linh đạo cố truyền động lực, ngọn lửa, hy vọng và hướng dẫn thực hành cho cuộc chơi, cho đời sống cương vị môn đệ.

Tôi đưa ra biện giải nho nhỏ này cho linh đạo trong tư cách một khuôn khổ học thuật, để xác nhận, linh đạo là nơi những người có đức tin cùng chung một tấm lòng có thể đến với nhau vượt lên những chia rẽ lâu dài do lịch sử, giáo lý, giáo hội học và các quan niệm đức tin khác biệt. Linh đạo là nơi mà chúng ta có thể gặp trong thông hiệp đức tin, đưa chúng ta (ít nhất trong không gian và thời khắc này) vượt lên những khác biệt lịch sử, giáo phái, tôn giáo và quan niệm đức tin.

Tôi biết đúng là như thế vì tôi đã thấy và đang thấy trực tiếp. Học viện Thần học Dòng Hiến sĩ, nơi tôi dạy, có Viện Thần học Đương đại, nơi đạo công giáo la-mã, tin lành và phái phúc âm cùng nhau học hỏi, nghiên cứu và cầu nguyện, không có khác biệt tôn giáo nào len lỏi vào. Tất cả mọi người, dù thuộc giáo phái nào đều tìm kiếm những điều như nhau: Làm môn đệ Chúa Giêsu thời nay nghĩa là gì? Làm thế nào để chân thành cầu nguyện? Làm thế nào để giữ vững đức tin trong một thế giới thế tục dễ dàng nuốt chửng chúng ta? Làm thế nào để truyền đức tin cho con cháu chúng ta? Làm thế nào để vừa là ngôn sứ vừa là người chữa lành trong thế giới chia rẽ chua cay này? Phản ứng dựa trên đức tin đối với bất công là gì? Làm sao để già đi tốt đẹp và chết lành? Những thấu suốt và ân sủng nào chúng ta có thể rút ra từ những suối nguồn thâm sâu của thần nghiệm kitô giáo và hạnh các thánh để hướng dẫn cuộc sống chúng ta?

Ai cũng có cùng những câu hỏi giống nhau và ai cũng đi tìm ở những nơi cũng giống nhau.

Chủ nghĩa giáo phái rút lui khi linh đạo xuất hiện.

Hơn nữa, điều này không chỉ liên quan đến việc đến cùng nhau vượt lên các khác biệt giáo phái kitô giáo, đối với sự tách biệt của chúng ta với các tôn giáo khác cũng vậy. Những câu hỏi mà tín hữu kitô chúng ta đang băn khoăn cũng là những câu hỏi lớn đối với các tôn giáo khác như ấn giáo, phật giáo, hồi giáo, lão giáo và những tín hữu khác đang cần chúng ta giúp cũng như chúng ta cần họ giúp. Trong linh đạo, người tín hữu kitô học hỏi từ thần nghiệm hồi giáo Sufi, còn tín hữu hồi giáo thì học hỏi từ Thánh Mẫu học và thần nghiệm kitô giáo. Phật giáo, ấn giáo và lão giáo học hỏi từ Linh thao của thánh Inhaxiô, tín hữu kitô cũng học hỏi nhiều từ các phương pháp thiền của phật giáo và ấn giáo.

Chúa Giêsu đã quả quyết với chúng ta: trong nhà Chúa có nhiều chỗ. Linh đạo là một trong những chỗ đó. Linh đạo là căn phòng nơi tất cả những ai đang băn khoăn cho một nhu cầu chung, một tìm kiếm chung và hy vọng chung, có thể tạm gác lại những khác biệt tôn giáo và giáo phái của mình, để cùng nhau đến căn phòng này tìm kiếm.

Đừng hiểu nhầm tôi, chuyện này không xóa nhòa những khác biệt của chúng ta, nhưng nó cho chúng ta một nơi để chúng ta có thể dự phần trong hiệp thông sự sống và đức tin với nhau, dù có những khác biệt này.

Đối diện với thăng thiên

Một người bạn của tôi, khá yếm thế về Giáo hội, gần đây đã nói: “Thể chế Giáo hội ngày nay đang cố đưa ra bộ mặt tốt nhất trước sự thật nó đang chết dần. Về căn bản, Giáo hội đang cố gắng đối diện với cái chết”.

Điều ông muốn nói, Giáo hội thời nay, như người đang cố đấu tranh để chấp nhận căn bệnh nan y, đang cố tái định hình một hình ảnh của mình để cuối cùng có thể thích nghi với chuyện không thể nghĩ đến nỗi, đó là cái chết của chính mình.

Ông nói đúng khi cho rằng Giáo hội thời nay đang cố tái định hình một hình ảnh của mình, nhưng ông đã sai về chuyện mà Giáo hội đang cố đối diện. Cái mà giáo hội đang cố đối diện thời này, không phải là cái chết, mà là sự thăng thiên. Cái cần tái định hình trong hình dung của chúng ta thời nay cũng giống như điều cần định hình trong hình dung của các tông đồ trong bốn mươi ngày giữa biến cố phục sinh và thăng thiên. Một lần nữa, chúng ta cần hiểu cách để buông bỏ một thân thể của Chúa Kitô để thân thể đó thăng thiên rồi chúng ta có thể cảm nhận sự Hiện xuống. Đâu là điểm quan trọng cấp bách trong chuyện này?

Trong mầu nhiệm vượt qua, thăng thiên là chuyện chúng ta ít hiểu nhất. Rõ ràng chúng ta thấy được ý nghĩa của cái chết và phục sinh của Đức Kitô, cũng như sự hiện xuống của Chúa Thánh Thần trong lễ Hiện Xuống. Nhưng chúng ta ít hiểu hơn về thăng thiên.

Bốn mươi ngày giữa Phục Sinh và Hiện Xuống, không phải là thời gian thuần vui mừng đối với các tông đồ. Đó là thời gian của vui mừng, đúng, nhưng cũng là thời gian của mơ hồ, nản lòng và mất đức tin. Trong những ngày trước sự thăng thiên, các tông đồ quá đỗi vui mừng mỗi khi họ được gặp Chúa phục sinh của mình, nhưng hầu hết thời gian, họ hoang mang, nản lòng và đầy hoài nghi, vì họ không được thấy sự hiện diện mới của Đức Kitô trong những chuyện xảy ra quanh họ. Có lúc, họ hoàn toàn từ bỏ, như thánh Gioan đã kể lại, họ trở lại với cuộc sống trước đây, đi đánh cá ngoài khơi.

Tuy nhiên, trong thời gian đó, Chúa Giêsu dần dần tái định hình hình dung của họ. Cuối cùng, họ hiểu được sự thật, rằng có một sự đã chết đi, nhưng có một sự khác còn phong phú hơn nhiều đã sinh ra, và giờ họ cần từ bỏ cách thức mà trước đây Chúa Giêsu đã hiện diện với họ ngỏ hầu Ngài có thể hiện diện với họ theo một cách mới. Thần học và linh đạo về thăng thiên, căn bản gói gọn trong những lời này: Từ chối bám chặt vào những gì từng có, buông bỏ nó để có thể nhận ra sự sống mới chúng ta đang sống và đón nhận sinh khí của sự sống ấy. Các phúc âm nhất lãm dạy cho chúng ta điều đó khi mô tả cảnh thăng thiên, khi Chúa Giêsu trong thân xác chúc lành mọi người rồi bay về trời. Thánh Gioan cũng cho chúng ta một thần học như thế, nhưng theo hình ảnh khác. Ngài nêu lên chuyện này khi mô tả cảnh Chúa Giêsu gặp Maria Magdalena vào buổi sáng Phục Sinh, khi Ngài bảo: “Maria, đừng giữ ta!”

Hôm nay, giáo hội đang cố đối diện sự thăng thiên, chứ không phải cái chết. Tôi có thể dễ dàng thấy bạn tôi mơ hồ chuyện gì, bởi vì mọi sự thăng thiên đều bao hàm cái chết và sự sinh ra, mà chuyện đó có thể gây nhiều mơ hồ. Vậy thì, thật sự, hội thánh thời nay là thế nào?

Edward Schillebeeckx từng cho rằng chúng ta đang sống trong cùng sự nản lòng của các tông đồ tiên khởi trong thời gian giữa cái chết của Chúa và lúc họ nhận ra Ngài đã phục sinh. Chúng ta có cùng cảm nhận, hoài nghi và mơ hồ của họ trên đường Ê-mau. Đức Kitô mà chúng ta từng biết đã bị đóng đinh và chúng ta không thể nhận ra Chúa Kitô đang đi giữa chúng ta, đang sống hơn bao giờ hết, dù theo một cách khác. Do đó, cũng như các môn đệ trên đường Ê-mau, chúng ta cũng thường bước đi cúi gầm mặt, mang một đức tin hoang mang, chúng ta cần Đức Kitô xuất hiện trong một hình hài mới để tái định hình những hình dung của chúng ta để chúng ta có thể nhận ra Ngài đang hiện ra với chúng ta.

Tôi nghĩ Schillebeeckx đúng về chuyện này, nhưng tôi lại có cách nói khác. Giáo hội ngày nay đang trong khoảng thời gian giữa phục sinh và thăng thiên, cảm nhận sự nản lòng đáng kể, với những hình dung hợp với một nhận thức cũ về Đức Kitô, không thể nhận ra Đức Kitô rõ ràng trong giây phút hiện tại. Với những ai lớn lên trong một nhận thức đức tin nào đó, thì nhận thức cũ của chúng ta về Đức Kitô đã bị đóng đinh. Nhưng Đức Kitô không chết. Giáo hội không chết. Cả Chúa Giêsu và giáo hội đang rất sống động, bước đi với chúng ta, dần dần tái định hình hình dung của chúng ta, tái diễn giải Kinh thánh cho chúng ta, một lần nữa nói với chúng ta rằng: Không phải Đức Kitô (và Giáo hội) cần chịu nhiều đau khổ sao…

Ngày nay, với nhiều người trong chúng ta, sống trong đức tin chính là ở trong thời gian giữa cái chết của Đức Kitô và sự thăng thiên, dao động giữa niềm vui và nản lòng, cố gắng đối diện chuyện thăng thiên.

Trên con đường đức tin, luôn có tin vui và tin buồn. Tin buồn là nhận thức của chúng ta về Đức Kitô luôn mãi bị đóng đinh. Tin vui là Đức Kitô luôn mãi sống động, vẫn ở với chúng ta theo một cách thâm sâu hơn.

Nỗi sợ bị bỏ lỡ

Thật khó cho một đứa trẻ phải đi ngủ lúc buổi tối mới bắt đầu, lúc cả nhà còn ăn tiệc. Không ai muốn đi ngủ lúc mọi người đang còn thức. Chẳng ai muốn bỏ lỡ gì đó trong đời.

Ai rồi cũng nhớ khi còn nhỏ, dù đã quá mệt, hai mắt đã díu lại, chúng ta vẫn cố cự lại bất cứ ai bắt mình đi ngủ. Dù mệt mỏi hay không, chúng ta cũng không muốn bỏ lỡ bất kỳ điều gì. Chúng ta không muốn đi ngủ khi đời sống vẫn đang tiếp diễn.

Và chẳng bao giờ chúng ta bỏ được chuyện này. Sự kháng cự đó là bẩm tại và nó vẫn còn trong chúng ta cho đến giờ lâm tử.

Một trong những nỗi băn khoăn day dứt nhất của chúng ta là ý thức rằng mình luôn mãi bỏ lỡ gì đó trong đời. Đây cũng là một trong những yếu tố lớn nhất của nỗi sợ chết. Với hầu hết mọi người, sự nặng nề và tăm tối của cái chết không hẳn đến từ nỗi sợ những điều sẽ gặp ở đời sau, sự phán xét và hình phạt, cho bằng đến từ nỗi sợ bị tiêu vong. Hơn nữa, nỗi sợ này không hẳn là sợ thân phận của mình sẽ tiêu tan không còn gì, cho bằng sợ mình sẽ bị tước đi mọi phần cuộc đời mình đã có. Nỗi buồn khi phải từ bỏ gì đó, khi biết rằng cuộc đời sẽ tiếp diễn mà không có mình, sợ phải đi ngủ khi tiệc vui chưa tàn. Và nỗi sợ này nằm sâu, rất sâu trong lòng chúng ta, đến nỗi chúng ta khó mà hình dung nổi làm sao thế giới có thể tiếp tục công việc mà không có chúng ta.

Tuy nhiên, đây không phải là dấu hiệu về một vấn để bất ổn trong chúng ta, nó không phải là một thứ cần được sửa chữa, cũng không phải là một vấn đề luân lý hay tôn giáo cần phải lưu tâm. Nó là bản chất con người, đơn giản là thế, và Thiên Chúa là Đấng tạo nên nó. Nói tóm lại, chúng ta được dựng lên để dự phần trong cả tấm vải chứ không phải để làm một sợi chỉ đơn độc.

Năm 23 tuổi, tôi chứng kiến cha tôi mất trong phòng bệnh viện. Ông chưa lớn tuổi, chỉ mới 62 và lẽ ra cha tôi phải được sống thêm nhiều năm nữa. Nhưng ông sắp chết, ông biết thế, và dù đức tin đã giúp ông xoa dịu nhưng ông vẫn rất buồn. Điều ông phải đấu tranh không phải nỗi sợ đời sau hay còn chuyện đền tội nào ông cần làm trong đời này. Không phải thế. Ông không có chuyện gì còn dang dở với Chúa hay với những vấn đề luân lý và tôn giáo. Ông cũng không có những nỗi sợ không lành mạnh về đời sau. Việc duy nhất ông còn đang dang dở với đời này, chính là (một cách trừu tượng) bị bắt đi ngủ khi tiệc chưa tàn. Hơn nữa, với ông, bữa tiệc đó đang lúc vui nhất. Các con lớn đã bắt đầu an cư lập nghiệp, sinh cho ông nhiều đứa cháu, các con nhỏ cũng đang hăng hái bước vào cuộc sống trưởng thành. Ông sẽ không còn đó để xem mọi chuyện sẽ thế nào, và ông sẽ không còn đó để thấy hầu hết các cháu của mình. Quan trọng hơn nữa, ông còn người vợ, người tri kỷ mà ông phải bỏ lại. Thật sự, bị bắt đi ngủ vào lúc như thế không vui gì.

Hơn nữa, cha tôi vẫn còn các anh chị em ruột, hàng xóm, bạn bè, giáo xứ, cộng đồng, các đội bóng và vô số các mối dây khác trong đời. Và ông ý thức trong đau đớn rằng, những chuyện này đều sẽ kết thúc, ít nhất là ở đời này.

Tại sao ông không nên buồn chứ? Thật sự là, tại sao có ai trong chúng ta không nên buồn khi đối diện với cái chết như thế, khi chúng ta bị bắt đi ngủ lúc cuộc đời còn đang mở tiệc?

Chúng ta được cấu thành với tính cộng đồng. Như chính Thiên Chúa đã nói khi Ngài tạo dựng gia đình nhân loại: con người ở một mình thì không tốt. Chúng ta phải là một phần của gia đình và cộng đồng, một phần của tấm vải cuộc đời, một tấm vải được dệt nên bởi vô số sợi chỉ riêng lẻ. Do đó, cũng không có gì lạ khi chúng ta buồn lúc sợi chỉ mỏng manh, riêng lẻ của mình bị kéo ra khỏi tấm vải. Chẳng lạ gì khi trẻ con không muốn đi ngủ lúc mọi người vẫn đang chơi vui.

Hơn nữa, điều này không chỉ đúng khi chúng ta thấy buồn vào lúc lâm tử. Cũng động năng đó bùng lên mỗi khi chúng ta trải qua những cái chết nho nhỏ trong lòng khi chúng ta bước vào tuổi già, mất đi sức khỏe, mất đi công việc dù là do nghỉ hưu hay bị sa thải, mất đi những người chúng ta yêu thương, mất đi hôn nhân, chuyển đổi chỗ ở, hay bất kỳ cách thức nào khác làm cho chúng ta bị đẩy ra rìa cái chúng ta gọi là dòng chảy chính của cuộc đời.

Vậy nên, sẽ tốt nếu chúng ta biết rằng cảm giác đó không có gì sai. Giờ lâm tử khó khăn mà. Buông bỏ khó khăn mà. Bị đẩy ra rìa khó khăn mà. Biến mất khỏi cuộc đời càng khó khăn hơn nữa. Chính vì thế mà trẻ con chẳng muốn bị bắt đi ngủ.

Rồi Thiên Chúa lại tạo nên ánh sáng

Chúng ta hình dung nguồn gốc vũ trụ theo cách khoa học là do vụ nổ Big Bang hay theo cách trình thuật Kinh Thánh, cũng không quan trọng. Cách nào cũng nói về một thời trước khi có ánh sáng. Vũ trụ tối tăm trước khi Thiên Chúa tạo ra ánh sáng. Tuy nhiên, cuối cùng vũ trụ lại tăm tối trở lại. Khi nào?

Các sách Phúc âm nói rằng khi Chúa Giêsu hấp hối trên thập giá, giữa giờ thứ sáu và giờ thứ chín, trời đất tăm tối và Chúa Giêsu kêu lên, “Lạy Cha, lạy Cha, sao Cha bỏ con?” Vậy đã có chuyện gì?

Các sách Phúc âm muốn nói về cảnh trời tối lúc đầu giờ chiều, nhật thực, hay đang nói đến một sự tăm tối khác, tăm tối kiểu tâm linh? Lúc Chúa Giêsu hấp hối đã xảy ra nhật thực sao? Có lẽ có. Chúng ta không biết chắc, nhưng nó chỉ là điều thứ yếu. Cái mà các sách Phúc âm muốn nói đến chính là một dạng tăm tối lớn lên trong chúng ta mỗi khi điều quý báu với chúng ta bị thế gian sỉ nhục, bị xem là vô lực, bị chế nhạo, bị đánh bại và bị đóng đinh. Có bóng tối bủa vây chúng ta mỗi khi các thế lực của tình yêu dường như bị áp chế bởi các thế lực của thù hận. Ánh sáng bị dập tắt lúc đó là ánh sáng của hy vọng, nhưng có một sự tăm tối sâu xa hơn và đây là dạng tăm tối mà các sách Phúc âm nói, nó đã tạo nên một đám mây che phủ thế giới khi Chúa Giêsu hấp hối trên thập giá.

Điều được ám chỉ ở đây là: trong cuộc khổ nạn đóng đinh của Chúa Giêsu, sự tạo dựng trở lại tình trạng hỗn mang nguyên thủy, như thời trước khi có ánh sáng. Nhưng nó còn ám chỉ rằng Thiên Chúa đã tạo ra ánh sáng một lần thứ hai, lần này bằng cách phục sinh Chúa Giêsu từ cõi chết, và vì vậy, ánh sáng mới này là ánh sáng chói lòa nhất. Hơn nữa, không như ánh sáng ban đầu vốn chỉ là vật chất, ánh sáng này là ánh sáng vừa cho con mắt vừa cho tâm hồn.

Đối với con mắt, ánh sáng phục sinh còn là hiện tượng vật chất hoàn toàn mới. Trong cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, các nguyên tử của hành tinh bị rung động khỏi sự vận hành vật chất bình thường. Một xác chết từ trong mồ trỗi dậy và sẽ không bao giờ chết nữa. Chuyện đó chưa từng xảy ra trước đó. Hơn nữa, sự phục sinh của Chúa Giêsu cũng là ánh sáng mới triệt để cho tâm hồn, ánh sáng của hy vọng. Ánh sáng thứ hai này là gì?

Vào đầu thập niên 1970, Robbie Robertson sáng tác bài hát nổi tiếng bài The Night They Drove Old Dixie Down và ca sĩ Joan Baez hát bài này. Lời bài hát là tự thuật của một người tên Virgil Caine, một bài ai thán buồn bã về sự cùng quẫn của một gia đình da trắng ở miền Nam trong thời Nội chiến Mỹ. Mọi chuyện xấu ập đến với họ, con trai út bị tử trận. Tình cảnh của họ tối tăm, không có chút hy vọng nào. Trong bài hát, có đoạn người kể chuyện than van về cái chết của em mình:

Nó chỉ mới 18, tự hào và dũng cảm
Nhưng một tên lính đã tiễn nó xuống mộ
Tôi thề bằng máu dưới chân mình
Đâu thể cho Ca-in trỗi dậy khi đã bị đánh bại

Sự sống có thể trỗi dậy khi đã bị đánh bại không? Xác chết có thể ra khỏi mộ phần không? Cái xác tơi tả có thể nguyên vẹn lại không? Sự ngây thơ mất đi có thể phục hồi lại không? Một trái tim tan nát có thể lành lại không? Một hy vọng vỡ nát có thể nâng đỡ linh hồn lần nữa không? Bóng tối có dập tắt mọi ánh sáng không? Các môn đệ của Chúa Giêsu có hy vọng gì khi chứng kiến thầy mình bị sỉ nhục và chết trên thập giá? Khi chính sự thiện bị đóng đinh, thì còn căn cứ gì để hy vọng nữa?

Căn cứ gói gọn trong hai chữ, phục sinh. Khi bóng tối bao trùm trái đất lần thứ hai, Thiên Chúa đã tạo nên ánh sáng lần thứ hai, và ánh sáng đó, không như ánh sáng vật chất được tạo ra thuở khai thiên lập địa, ánh sáng này không thể bị dập tắt. Đó là sự khác biệt giữa sự sống lại của Lazarô và sự phục sinh của Chúa Giêsu, sự khác biệt giữa ánh sáng vật chất và ánh sáng của sự phục sinh. Lazarô đã được phục hồi thân xác như cũ, rồi thân xác đó phải chết lần nữa. Chúa Giêsu được ban một thân xác mới triệt để sẽ không bao giờ chết nữa.

Học giả kinh thánh lừng danh Raymond E. Brown nói rằng: bóng tối bủa vây thế giới khi Chúa Giêsu hấp hối trên thập giá, sẽ không còn nếu chúng ta tin vào sự phục sinh. Nếu chúng ta chưa tin rằng Thiên Chúa có lời đáp ban sự sống cho mọi kẻ chết, nếu chúng ta chưa tin Thiên Chúa sẽ vần tảng đá che mọi ngôi mộ bất chấp sự thiện bị chôn sâu đến đâu dưới thù hận và bạo lực, nếu như thế thì bóng tối của Thứ Sáu Tuần Thánh sẽ tiếp tục che phủ thế giới chúng ta.

Mohandas K. Gandhi từng nhận định rằng chúng ta có thể thấy chân lý của Thiên Chúa luôn tạo nên ánh sáng mới, chỉ cần nhìn vào lịch sử là thấy. “Khi tôi tuyệt vọng, tôi nhớ lại mọi chuyện đã trải qua suốt dòng lịch sử, chân lý và tình yêu luôn chiến thắng. Có những kẻ sát nhân và bạo chúa, và chúng bất khả chiến bại suốt một thời gian. Nhưng đến tận cùng, chúng luôn sụp đổ. Chúng ta cứ nghĩ như thế đi, luôn là thế”.

Cố gắng lắng nghe tiếng nói của Thứ Sáu Tuần Thánh

Bia tưởng niệm các nạn nhân vụ thảm sát kinh hoàng ở El Mozote, El Salvador

Họ sẽ nhìn Đấng mà họ đã đâm! Một câu nói lên tiếng nói được để lại trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

Năm 1981, một cô gái trẻ vô danh đã bị các quân nhân ở một địa điểm khuất nẻo hiếp và giết hại dã man ở El Salvador, với tên gọi La Cruz (tình cờ ý nghĩa thay, lại có nghĩa là “Thập giá”). Câu chuyện của cô được nhà báo Mark Danner thuật lại. Danner thuật lại chia sẻ của một vài người lính kể về chuyện sau cuộc thảm sát, một số binh sĩ chia sẻ, nạn nhân của họ đã ám ảnh họ như thế nào, họ không thể nào gạt cô ấy ra khỏi đầu, kể cả khi cô đã chết từ rất lâu.

Họ đã cướp bóc một ngôi làng và cưỡng hiếp nhiều phụ nữ. Một trong số đó, là một cô gái trẻ, một kitô giáo truyền giáo, đã bị họ cưỡng hiếp nhiều lần nội trong một buổi chiều, còn bị họ tra tấn. Tuy nhiên, dù trải qua chuyện này, cô vẫn bám chặt lòng tin vào Đức Kitô, cô đã hát những bài thánh ca. Những người lính đã xâm hại và cuối cùng giết cô, họ bị ám ảnh vì chuyện này. Tôi xin trích lại lời của Danner:

“Cô ấy cứ tiếp tục hát, kể cả sau những việc họ đã làm với cô, đã bắn cô vào ngực. Cô nằm đó ở La Cruz, máu me tuôn ra từ ngực, mà vẫn hát, dù giọng có yếu đi, nhưng vẫn hát. Và những người lính sững sờ, đứng đó chứng kiến và chỉ trỏ. Rồi họ mệt mỏi vì chuyện này và bắn cô lần nữa, cô vẫn hát, sự ngạc nhiên của họ biến thành sợ hãi – cho đến khi họ lôi mã tấu ra và cắt cổ cô, cuối cùng tiếng hát im bặt”. (Vụ thảm sát ở El Mozote [The Massacre at El Mozote], NY, Vintage Books, 1994, trang 78-79.)

Họ sẽ nhìn cô, người họ đã đâm! Hãy chú ý đại danh từ giống cái ở đây, vì trong trường hợp này, người bị nhìn sau khi bị đâm là một phụ nữ. Chết một cái chết bị sỉ nhục, bất công và bạo lực như thế mà lòng vẫn giữ đức tin và trên môi, điều này làm cho cô giống Đức Kitô khi chịu đóng đinh, và không chỉ vì cô (giống mọi kitô hữu khác) vốn là một phần trong Nhiệm thể Chúa Kitô. Đúng hơn là trong thời điểm này, với cách chết này, với đức tin thể hiện nơi cô, thì như Chúa Giêsu, cô để lại một tiếng nói không thể bị dập tắt, một tiếng nói ám ảnh những người đã gây bạo lực với cô và ám ảnh tất cả những người đã nghe câu chuyện này.

Điều gì ám ảnh những người lính này? Sự ám ảnh ở đây không phải là cách một oan hồn muốn báo thù bằng cách dọa ma và làm chúng ta gặp ác mộng. Cũng không phải là kiểu ám ảnh do hối hận cay đắng, khi nhận ra một sai lầm quá lớn không thể khắc phục, một sai lầm mà nếu thấy trước hậu quả, chúng ta đã không làm. Đúng hơn, đây là tiếng nói đã ám ảnh chúng ta mỗi khi chúng ta bịt miệng, xâm hại, hoặc giết người vô tội. Đây là tiếng nói mà chúng ta biết không thể bị bịt miệng, và bất chấp những cảm giác tức thời khơi lên trong bản thân, chúng ta nhận ra mình không bao giờ có thể thoát khỏi tiếng nói đó. Mà nghịch lý thay, chính tiếng nói đó mời gọi chúng ta đừng sợ, đừng ghét bản thân, mà hãy ghét những thứ mà nó đại diện.

Gil Bailie, người đã đưa câu chuyện này làm một phần cốt yếu trong quyển sách của ông về thập giá và phi bạo lực, không chỉ nêu ra sự tương đồng đáng kinh ngạc giữa cách chết của cô gái đó và Chúa Giêsu mà còn nêu ra sự thật rằng, trong cả hai trường hợp, một phần của sự phục sinh chính là tiếng nói của cả hai vẫn sống mãi.

Trong trường hợp của Chúa Giêsu, không một ai chứng kiến cái chết nhục nhã của Ngài trên đồi cao cô độc, lại có thể ngờ rằng đây sẽ là cái chết được ghi nhớ nhất lịch sử. Với cô gái ấy cũng thế. Vụ cưỡng hiếp và giết hại cô xảy ra ở một nơi vô cùng hẻo lánh và những người muốn ghi nhớ câu chuyện của cô cũng đã bị giết. Nhưng tiếng nói của cô vẫn sống, và chắc chắn sẽ còn tiếp tục vang dội hơn nữa trong lịch sử, rất lâu sau khi những kẻ làm hại cô đã bị lãng quên. Cái chết theo kiểu này hằn dấu lên lương tâm và để lại tiếng vọng trường cửu mà không một ai có thể làm câm lặng.

Khi chúng ta phân tích tất cả những gì có trong tiếng vọng ấy, khi chúng ta suy gẫm Chúa Giêsu trên thập giá hay về cái chết của cô gái trẻ này, chúng ta không thể không cảm thấy một vết thương sâu tận trong lòng. Nhìn vào người mà chúng ta đã đâm, dù là Chúa Giêsu hay là bất kỳ nạn nhân vô tội nào, chính là nhận thức (theo cách xuyên thấu mọi sự làm ngơ tội lỗi và ghê gớm) rằng tiếng nói của tư lợi, bất công, bạo lực, hung ác và cưỡng hiếp, cuối cùng sẽ bị câm lặng bởi tiếng nói của vô tội, nhân từ và trìu mến. Phải, đức tin là chân chính.

Một nhà phê bình quyển sách của Danner trên New York Times nói rằng, sau khi đọc câu chuyện này, ông cứ “mong mỏi một cách vô vọng được nghe tiếng hát ấy”. Trong Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta đọc trình thuật Tin Mừng về cái chết của Chúa Giêsu. Lắng nghe câu chuyện đó, như những người lính đã giết hại tàn nhẫn một cô gái vô tội đầy đức tin, chúng ta được hướng nhìn lên người mà chúng ta đã đâm. Chúng ta cần cố gắng chú tâm lắng nghe tiếng hát ấy hơn nữa.

Bí mật ẩn giấu với kẻ vô luân

Theo Kinh Thánh, có bí mật được ẩn giấu không cho kẻ vô luân biết, chỉ có người đức hạnh biết. Sách Khôn Ngoan bảo rằng khi không sống đạo đức thì “chúng ta không biết những lời khuyên ẩn giấu của Thiên Chúa, cũng không hiểu được sự bù đắp của thánh thiện, không biết được phần thưởng của linh hồn ngây thơ.”

Thật đúng thay! Khó đến thế nào để biết, để nắm bắt một cách hiện sinh và thật sự tin tưởng rằng đức hạnh tự nó là phần thưởng và là hạnh phúc cao nhất. Chúng ta lại thường ghen tỵ với kẻ vô luân và thương hại người đức hạnh. Như nhà văn Hy Lạp Nikos Kazantzakis từng nói, đức hạnh ngồi trên cành cao nhất của cái cây, nhìn quanh mọi điều nó đã bỏ lỡ và khóc.

Vậy thì chúng ta nói được gì về điều này? Cuối cùng, ai đã bỏ lỡ trong đời?

Một thế hệ trước, Piet Fransen đã viết một quyển sách kinh điển về ân sủng (Sự sống mới của Ân sủng/The New Life of Grace) vốn được dùng làm sách giáo khoa trong các chủng viện và học viện thần học suốt nhiều năm. Ông mở đầu luận thuyết về ân sủng như thế này. Cứ hình dung một người hoàn toàn không quan tâm đến mọi sự đạo đức và tâm linh, mà chỉ quan tâm đến lạc thú của mình. Người đó sống vì lạc thú, lờ đi mọi giới luật. Người đó có rất nhiều tình nhân, không bao giờ từ chối bất kỳ lạc thú có thể nào, và người đó sống như thế suốt cả đời cho đến tận giờ hấp hối mới nhận ra sự vô trách nhiệm của mình, hối hận về cách sống của mình, thú nhận và chết trong vòng tay của Thiên Chúa và Giáo hội.

Rồi Fransen nhận định thế này: Nếu, dù chỉ trong một phút, bạn cảm thấy ghen tị (“Anh ta may mắn quá, cả đời làm bậy mà chẳng bị gì, chết vẫn được lên thiên đàng!”) thì bạn không bao giờ thật sự hiểu được ân sủng. Đúng hơn, bạn như người anh của đứa em hoang đàng, giận dữ với Thiên Chúa vì chào đón đứa con ương ngạnh đã từ bỏ cha mình để theo đuổi lạc thú trong khi bản thân mình, người con hiếu thảo, thì ở nhà và nghiêm túc từ bỏ nhiều lạc thú vì lòng trung thành.

Khi chúng ta là người anh nặng gánh trách nhiệm của đứa con hoang đàng, thì nhân đức hiếm khi được xem tự nó là phần thưởng, có khi còn chẳng phải là phần thưởng gì. Hầu như không một ai thật sự tin lời khuyên ẩn giấu của Thiên Chúa rằng sự đền bù cao nhất được ban cho sự thánh thiện và ngây thơ trong linh hồn. Đúng hơn, hầu hết chúng ta phần nào giận dữ và cay đắng vì sự trung tín của mình, ghen tỵ với người em vô luân của mình.

Tại sao lại thế? Nếu nhân đức tự nó là phần thưởng và là phần thưởng cao nhất, vậy tại sao chúng ta, như người anh của đứa em hoang đàng, lại quá thường xuyên ghen tị với sự phấn khích và lạc thú mà chúng ta hình dung sẽ có trong cuộc sống của đứa kẻ từ bỏ đức hạnh để chạy theo lạc thú trần gian?

Các lý do khá phức tạp. Trước hết, là do bản tính con người. Chúng ta không đơn thuần là những hiện hữu tâm linh đầy đức tin, mà chúng ta còn là loài thú có vú, là những sinh vật có máu có thịt, với những bản năng bẩm tại mạnh mẽ. Có những phần mạnh mẽ không nhượng bộ trong chúng ta muốn chúng ta nếm thử mọi lạc thú, bất kể nó có đạo đức hay không. Phần này là bẩm tại của chúng ta rồi. Một phần trong chúng ta cảm thấy không thể nào không ghen tị với những người lao mình vào lạc thú và dường như chẳng bị gì.

Hơn nữa, chính phần này của chúng ta không thể hiểu được ân sủng hay hạnh phúc. Khi người anh bày tỏ sự thất vọng với cha mình, một sự thất vọng không thèm giấu giếm sự ghen tị, thì câu trả lời của người cha đã tỏ lộ lời khuyên ẩn giấu của Thiên Chúa. Người cha bảo người anh, họ phải vui mừng vì em đã chết mà bây giờ đã về nhà. Cái mà bản năng con người chúng ta xem là cuộc vui chơi đáng ghen tị, một thời gian thoải mái tránh xa đạo đức, thật sự lại không phải là một chuyện hạnh phúc, vui vẻ hay đem lại sự sống chút nào, thay vào đó, nó là một thời gian của cái chết, chết với mọi thứ cấu thành hạnh phúc thật sự.

Nhìn bên ngoài, có thể trông như người con hoang đàng đã thoát tội, có thời gian vui chơi hưởng lạc mà không bị gì, và chúng ta thầm ước rằng giá mà mình có gan để làm như thế. Tuy nhiên, hình ảnh ngồi ăn với đàn heo và thèm khát đồ ăn thừa trong nhà cha mình đã minh họa rõ nét rằng dù những lạc thú của cuộc đời hoang đàng có đem lại gì cho anh đi nữa, thì cũng còn lâu mới là hạnh phúc. Tội lỗi, cũng như đức hạnh, cũng có phần thưởng của chính nó.

Khi chúng ta ghen tị với người vô luân, là chúng ta chưa hiểu được ân sủng và hạnh phúc. Nếu không biết được thế, thì chắc chắn chúng ta có phần bối rối khi lên thiên đàng và gặp một tội nhân khét tiếng trên đó. Sau khi đã sống cuộc đời trung thành, chúng ta giận dữ hỏi rằng, “Sao người này được ở đây, hắn sống như thế cơ mà?” Ngược lại, nếu chúng ta hiểu được ân sủng và điều gì làm nên hạnh phúc thực sự, thì thay vào đó, chúng ta cảm thấy vừa biết ơn vừa nhẹ nhõm khi thấy người tội nhân khét tiếng đó và nói rằng “Chúa ơi, con mừng vì anh ấy được vào đây! Con đã lo cho anh ấy!”

Tội lỗi tự nó là hình phạt và nhân đức tự nó là phần thưởng. Đến tận cùng, không gì tốt hơn nhân đức và không gì tệ hơn tội lỗi. Tuy nhiên, nhận thức đó không dễ tương hợp với những bản năng tự nhiên của chúng ta, đúng ra, nó là một sự thật mà chúng ta chỉ có thể hiểu được bằng cách sống nó.

Trị liệu của đời sống chung

Bốn mươi năm trước, tác giả Philip Rieff viết một quyển sách có tiêu đề Chiến thắng của Trị liệu (Triumph of the Therapeutic). Về căn bản, ông lập luận rằng ngày nay, ở thế giới phương Tây, quá nhiều người cần trị liệu tâm lý chủ yếu bởi cấu trúc gia đình của họ đã suy yếu và nhiều cấu trúc cộng đồng bị phá vỡ. Ông cho rằng trong những xã hội vẫn còn các gia đình mạnh mẽ và cộng đồng mạnh mẽ, thì ít cần trị liệu cá nhân hơn, người ta có thể dễ dàng xử lý các vấn đề của mình giữa gia đình và cộng đồng. Ngược lại, ở những nơi mà gia đình và cộng đồng suy yếu, chúng ta gần như bị bỏ mặc, tự xử lý những vấn đề của mình với trị liệu viên hơn là với gia đình.

Nếu Rieff đúng, và tôi cho là đúng, thì nó cũng nói lên rằng lời giải đáp cho nhiều vấn đề khiến chúng ta phải đi tư vấn tâm lý, có thể chính là sự tham gia lành mạnh hơn vào đời sống chung, bao gồm đời sống giáo hội, hơn là đi tư vấn tâm lý riêng. Như Parker Palmer từng nêu lên, chúng ta cần sự trị liệu của đời sống chung.

Nói thế nghĩa là sao? Trị liệu của đời sống chung là gì?

Đời sống chung, đời sống chia sẻ trong một gia đình hay cộng đồng, vượt ngoài cái tôi riêng và những người quen thân riêng của chúng ta, có thể là phép trị liệu mạnh mẽ bởi vì nó đưa chúng ta vào đời sống người khác, cho chúng ta một nhịp điệu và kết nối chúng ta với những nguồn lực mạnh hơn là sự thiếu thốn trong đời sống chúng ta.

Tham gia vào đời sống của người khác một cách lành mạnh có thể đưa chúng ta vượt lên những ám ảnh riêng của mình. Nó cũng có thể giữ cho chúng ta bền vững. Đời sống chung thường có một nhịp điệu nhất định và sự đều đặn có thể giúp bình lặng cơn lốc xoáy hỗn loạn của những khắc khoải, trầm cảm và trống vắng thường hủy hoại đời sống chúng ta. Tham gia vào đời sống chung cho chúng ta những việc được xác định rõ ràng để làm, những điểm dừng đều đặn, những sự kiện có cơ cấu và ổn định, và một nhịp điệu – những điều mà không một bác sĩ tâm lý nào có thể cho chúng ta. Đời sống chung liên kết chúng ta với những nguồn lực vượt quá chúng ta, và đôi khi chỉ có chúng mới giúp được chúng ta.

Khi nghiên cứu ở Bỉ, tôi được vinh hạnh tham dự các bài diễn thuyết của Antoine Vergote, một bác sĩ tâm lý học lừng danh và một tâm hồn nhạy bén. Một hôm nọ, tôi hỏi ông về cách xử lý những ám ảnh cảm xúc gây tê liệt, cả với bản thân mình và cả khi muốn giúp đỡ người khác.

Câu trả lời của ông làm tôi kinh ngạc. Về căn bản, ông nói thế này: “Khi cha là linh mục, cha thường bị thôi thúc đưa ra lời khuyên như thế này: “Hãy đưa rắc rối của con đến nhà nguyện! Hãy cầu nguyện. Chúa sẽ giúp con”. Không phải là cách đó sai. Chúa và việc cầu nguyện, có thể và thật sự có ích. Nhưng những vấn đề ám ảnh chủ yếu là những vấn đề do quá tập trung, và cách để phá vỡ nó, chủ yếu là đi ra khỏi con người mình, ra khỏi tâm trí mình, tấm lòng mình, đời sống và không gian của mình. Vậy nên, về chuyện này, tôi khuyên chúng ta nên tìm đến những gì chung, công cộng, từ giải trí, chính trị cho đến công việc. Hãy ra khỏi thế giới khép kín của mình. Hãy kiên quyết đi vào đời sống chung”.

Dĩ nhiên, ông nói tiếp, việc này không giống với cái thôi thúc đơn giản là vùi mình vào những thú vui cho quên đời hay cắm đầu làm việc để quên. Lời khuyên của ông không phải là chúng ta nên chạy trốn khỏi việc xử lý nội tâm đau đớn, mà là việc giải quyết những vấn đề nội tâm riêng tư cũng dựa vào các mối quan hệ bên ngoài, vào những mối quan hệ thân mật lẫn những mối quan hệ chung.

Tôi xin đưa ra một ví dụ: Hơn mười năm qua, tôi dạy thần học ở Học viện Thần học Newman tại Edmonton, Canada. Trường của chúng tôi nhỏ và ấm cúng, nên đời sống chung rất mạnh. Thỉnh thoảng, có người nào đó đang gặp bất ổn hoặc mỏng manh về cảm xúc sẽ tìm đến trường, không phải để ghi danh một khóa học nào đó, mà đơn giản là được ở trong cộng đồng chúng tôi, cầu nguyện với chúng tôi, giao thiệp với chúng tôi và ngồi dự vài lớp học. Lúc nào cũng vậy, tôi thấy họ dần vững vàng và mạnh mẽ lên về cảm xúc, và họ tìm được một sức mạnh mới và sự cân bằng mới, không phải từ những gì họ tiếp thu được trong buổi học cho bằng từ việc họ tham gia vào đời sống sân trường bên ngoài những lớp học đó. Sự trị liệu của đời sống chung đã giúp chữa lành cho họ.

Với tín hữu kitô chúng ta, điều này cũng có nghĩa là sự trị liệu của đời sống giáo hội. Nhờ tham gia đời sống chung của giáo hội cách trọn vẹn hơn và lành mạnh hơn, mà chúng ta mạnh mẽ hơn, vững vàng hơn, ít ám ảnh hơn và tâm hoan ít bị khắc khoải bồn chồn khống chế. Các tu sĩ có những bí quyết đáng để chúng ta học hỏi. Từ lâu họ đã hiểu được, một chương trình đều đặn, một nhịp điệu thường nhật, một việc mà mình phải thực hiện, và kỷ luật của tiếng chuông tu viện kêu gọi mọi người đến dự một hoạt động chung (dù hoạt động đó có hợp ý với người đó vào lúc đó không), chính chúng giữ cho chúng ta tỉnh táo và ổn định về mặt cảm xúc. Đi tham dự thánh lễ đều đặn, cầu nguyện đều đặn với người khác, gặp gỡ đều đặn với ai đó, những bổn phận đều đặn và trách nhiệm đều đặn trong cộng đồng giáo hội không chỉ giúp nuôi dưỡng chúng ta về mặt tâm lý mà còn giúp giữ chúng ta tỉnh táo và ổn định. Trị liệu riêng đôi khi có thể có ích, nhưng đời sống chung và đời sống giáo hội, với nhịp điệu và những đòi hỏi thường nhật đều đặn, hơn bất kỳ thứ gì khác, có thể giúp chúng ta vững vàng trên đôi chân của mình.

Từ khi nào chúng ta không còn tối thiểu tôn trọng nhau?

Chúng ta đã mất đi từ khi nào? Từ khi nào chúng ta mất đi ý thức thâm căn cố đế luôn mãi xác nhận, dù bất đồng hoặc thậm chí ghét bỏ nhau như thế nào, chúng ta vẫn phải đồng ý về cách cư xử, tôn trọng và lễ độ tối thiểu với nhau?

Chúng ta đã mất đi điều đó, chí ít cũng mất một phần lớn rồi. Từ cấp độ cao như chính phủ cho đến diễn đàn bình dân nhất trên mạng xã hội, chúng ta đang chứng kiến cái chết của sự tôn trọng, lịch sự và thành thực cơ bản. Dường như không một ai chịu trách nhiệm cho cách cư xử cơ bản hay thành thực nữa. Những chuyện thông thường chúng ta phải phạt trẻ con như chửi thề, khinh miệt sắc tộc, chế nhạo, nói dối, và vô lễ thẳng mặt nhau, bây giờ lại ngày càng được chấp nhận. Đáng ngại hơn là chúng ta thấy mình có lý do chính đáng về mặt đạo đức khi làm thế. Làm người lễ độ, tôn trọng và lịch sự không còn được xem là nhân đức mà là yếu đuối. Lễ độ đã chết.

Ẩn sau chuyện này là gì? Làm thế nào mà chúng ta chuyển từ coi trọng quy tắc xã giao thành một tình trạng đang diễn ra trên mạng xã hội thời nay? Ai cho phép chúng ta chấp thuận để làm như thế trên mặt xã hội và thiêng liêng?

Triết gia Pháp Blaise Pascal từng viết câu nói trứ danh: “Con người không bao giờ làm việc ác một cách trọn vẹn và hớn hở cho bằng lúc họ làm việc đó theo xác quyết tôn giáo”. Nhiều người trích lại câu này sau vụ khủng bố 11-9, như thể họ nhận ra được chuyện này trong chủ nghĩa hồi giáo cực đoan, khi việc giết người hàng loạt được công chính hóa và được xem là việc làm cần thiết phải làm nhân danh Thượng Đế.

Chắc chắn chúng ta dễ thấy chuyện này nơi người khác, vì Chúa Giêsu đã nói, chúng ta thấy rác nơi mắt người rõ hơn là thấy xà trong mắt mình. Niềm tin sai lầm đã làm cho những kẻ khủng bố hồi giáo chấp nhận phá vỡ mọi quy luật đạo đức này và cũng chính nó cũng đang bắt rễ khắp nơi vào lúc này. Tại sao lại thế? Nhiệt tâm kiểu tôn giáo cho những gì họ tin là đúng và niềm tin cho rằng, có thể đối xử tệ bạc vì chính nghĩa chân lý, thời nay tâm thức này đang áp đảo mọi nơi chính nó làm cho chúng ta chấp nhận mình trở nên bất kính, bất lương và lỗ mãng nhân danh sự thật, sự thiện và Thiên Chúa. Lề lối tự xem mình hành động như ngôn sứ biến chúng ta thành những chiến binh chân lý.

Nhưng chính nó là thứ xa rời chân lý nhất. Thù hận và bất kính luôn là phản đề với tính chất ngôn sứ. Như lời linh mục Dòng Tên Mỹ Daniel Berrigan, ngôn sứ là người mang lời thề yêu thương chứ không phải lời thù hận. Như Chúa Giêsu, ngôn sứ khóc thương cho bất kỳ “thành Giêrusalem” nào đáp trả hành động ngôn sứ của Ngài bằng thù hận. Một ngôn sứ không bao giờ xem nhẹ mệnh lệnh bất khả xâm phạm là phải luôn biết tôn trọng và thành thực, bất chấp chúng ta làm vì chính nghĩa gì. Không có một chính nghĩa cao lớn nào, dù là về mặt xã hội hay thiêng liêng, có thể cho chúng ta quyền miễn trừ những quy luật lễ độ nhân văn cơ bản.

Nhiều người phản đối chuyện này, nói rằng chính Chúa Giêsu cũng đã gay gắt với những ai chống đối Ngài. Đúng là Ngài đã gay gắt. Nhưng Ngài không bất kính và vô lễ. Hơn nữa, ẩn dưới những thách thức Ngài dành cho những kẻ chống đối, luôn có một tình thương đồng cảm thiết tha của người cha người mẹ hướng đến đứa con hoang đàng, chứ không phải là sự thô bỉ đê tiện mà ngày nay chúng ta thấy nơi chính phủ, trên mạng xã hội và trong sự hận thù không đội trời chung của nhiều hệ phái tư tưởng thời nay.

Chân lý có thể gay gắt và đương đầu với chúng ta bằng những thách thức dữ dội, nhưng nó không bao giờ bất kính. Bất kính là dấu hiệu không thể lầm lẫn rằng người đó không đúng, rằng người đó không có đạo đức tốt, và với chúng ta, có thể nói rằng, người đó không nói chuyện với Thiên Chúa, với sự thật, với điều thiện. Người nào bất chấp những quy luật căn bản của tình yêu, người đó là tiên tri giả, chỉ biết chăm chăm vào tư lợi và sự thật nào có lợi cho mình.

Thật không dễ để giữ cân bằng trong thời đại chua cay này. Cám dỗ ngả theo một hệ tư tưởng và làm thỏa mãn mình, có vẻ là thứ con người không thể cưỡng lại. Tuy nhiên, dù chúng ta ngả theo hướng nào, tả hay hữu, sẽ luôn đi kèm với một mức độ biện minh, vô lễ, bất kính và bất lương nào đó. Cùng với đó, là cả sự tự công chính hóa như những người đã chống đối Chúa Giêsu và tin rằng họ có lý do chính đáng để bất kính và bạo lực nhân danh Thiên Chúa.

Thời đại cay đắng, vô số thù hận và dối trá, sự phân cực đối chọi lẫn nhau, tất cả cám dỗ của chúng ta chạy theo lối hành xử tự nhiên là mắng chửi, bất kính, thiếu lịch sự và bất lương, bất kỳ khi nào có một sự thật hay dối trá có lợi cho chúng ta. Ngược đời thay, thách thức cho chúng ta là hướng ngược lại. Với sự sụp đổ lễ độ của thời này, tiếng gọi của sự thật và từ Thiên Chúa phải thận trọng, kỹ lưỡng và cương quyết hơn bao giờ hết.

Chúng ta sẽ sống với nhau đến vô tận, cùng ngồi chung một bàn. Chúng ta hay những người bất đồng với chúng ta, đâu có chuẩn bị để ngồi lại bên cùng một chiếc bàn, diện đối diện với thù hận, bất lương, bất kính và bất đồng, như thể chiếc bàn đó có thể bị gạt qua một bên bằng bạo lực và quyền lực.

Đến tận cùng, không phải tất cả mọi người ngồi vào bàn tiệc vĩnh hằng đều thích người kia ở đời này, nhưng tất cả sẽ phải tử tế, tôn trọng và thành thực nhất ở đời sau.