RonRolheiser,OMI

Không vũ trang nhưng lại nguy hiểm

Sau khi bị bắt lần đầu tiên, nhà hoạt động xã hội theo chủ trương hòa bình Daniel Berrigan bỏ trốn. Bốn tháng sau, cha bị bắt, nhưng trong những tháng lẩn trốn này, dù không làm hại ai, nhưng cha bị đưa vào danh sách 10 người bị truy nã gắt gao nhất của FBI. Chuyện này có cái mỉa mai không dễ bỏ qua. Có người đã làm bức poster hình của cha kèm dòng chữ:

Truy nã – Kẻ hiến thánh bánh rượu khét tiếng. Chuyên quấy rối chiến tranh và là tội phạm đốt giấy! Kẻ lẩn trốn được cho là cầm một quyển Kinh Thánh và phải cực kỳ thận trọng khi đến gần. Không vũ trang nhưng lại nguy hiểm.

Không vũ trang nhưng lại nguy hiểm! Nghe tức cười thật, nhưng nó thể hiện rõ mối đe dọa đối với bất công, bạo lực và chiến tranh. Không có vũ trang là nguy hiểm. Một người thật sự không có vũ trang cuối cùng lại là mối nguy lớn nhất cho hỗn loạn, vô luân và bạo lực. Bạo lực có thể chịu đựng bạo lực, nhưng sẽ bị triệt hạ dưới tay phi bạo lực. Đây là một số ví dụ:

Thế hệ chúng ta có tấm gương của linh mục người Pháp Christian de Cherge, một trong bảy tu sĩ dòng Xitô đã bị phiến quân hồi giáo bắt cóc và giết hại ở Algeria năm 1996. Hành trình của ngài và của các tu sĩ khác đã cùng chết với ngài, được thuật lại trong nhiều sách (gồm một vài lá thư và nhật ký của ngài) và còn trong bộ phim đoạt giải thưởng, Of Gods and Men (Của các vị thần và con người). Sống trong một cộng đoàn nhỏ gồm chín tu sĩ ở một ngôi làng hồi giáo hẻo lánh tại miền Bắc Algeria, các tín hữu kitô và cộng đoàn của ngài được dân chúng hồi giáo yêu mến. Là công dân Pháp và được hưởng sự bảo vệ nhờ có quốc tịch Pháp, sự hiện diện của các tu sĩ đem lại một sự bảo vệ nào đó cho dân làng trước quân khủng bố hồi giáo. Nhưng chuyện này không kéo dài được lâu.

Vào đêm Giáng Sinh năm 1995, quân khủng bố lần đầu tiên đến nơi các tu sĩ ở với lời cảnh báo rõ ràng, họ phải rời đi trước khi trở thành nạn nhân của chúng. Cả chính phủ Pháp và Algeria đều đề nghị hỗ trợ bảo vệ có vũ trang. Cha Christian, ban đầu hành động một mình, đi ngược lại ý kiến của đa số trong cộng đoàn, nhất quyết không nhận sự bảo vệ có vũ trang. Thay vào đó, cha cầu nguyện: Đối diện bạo lực này, lạy Chúa, xin hãy giải trừ vũ khí chúng con. Phản ứng của ngài trước mối đe dọa này là giải trừ vũ khí hoàn toàn. Cuối cùng, cả cộng đoàn hiệp cùng ngài trong lập trường đó.

Sáu tháng sau, họ bị bắt cóc và bị giết, nhưng vinh quang là của họ. Chứng tá trung tín của họ là món quà uy lực nhất họ có thể cho dân làng yếu ớt và tội nghiệp mà họ muốn bảo vệ, và chứng tá luân lý của họ cho thế giới sẽ nuôi dưỡng nhiều thế hệ về sau, khi con đường chủ nghĩa khủng bố này dữ dội vùng lên. Christian de Cherge và cộng đoàn của ngài không có vũ trang nhưng lại nguy hiểm.

Có vô số mẫu gương tương tự của những người không có vũ trang nhưng lại nguy hiểm. Bà Rosa Park, không vũ trang và dường như bất lực trước luật lệ kỳ thị chủng tộc thời đó, như mục sư Martin Luther, bà là một trong những nhân vật then chốt chấm dứt sự phân chia xã hội kỳ thị chủng tộc ở Mỹ. Danh sách những người nguy hiểm không có vũ trang còn dài: Mahatma Gandhi, Thomas Merton, Dorothy Day, Desmond Tutu, Oscar Romero, Franz Jagerstatter, Dorothy Stang, Daniel Berrigan, Elizabeth McAlister, Michael Rodrigo, Stan Rother, Jim Wallis, và nhiều người khác. Dĩ nhiên, không thể thiếu Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu không có vũ trang và quá sức nguy hiểm đến độ nhà cầm quyền thời đó buộc phải giết Ngài. Sự tuyệt đối phi bạo lực của Ngài đã tạo nên mối nguy hiểm tận cùng cho trật tự mà họ thiết lập. Hãy để ý cả nhà cầm quyền dân sự và tôn giáo thời đó đều không quá sợ hãi một kẻ giết người có vũ khí cho bằng sợ một Giêsu không vũ khí… Hãy thả Barabbas! Chúng ta thà đương đầu với một kẻ giết người có vũ trang còn hơn đương đầu với một người tuyên bố phi bạo lực và khuyên người khác hãy giơ má kia ra! Làm như thế đúng là khôn. Một cách vô thức, họ công nhận mối nguy hiểm thực sự là một người không vũ lực, phi bạo lực và giơ má kia cho người ta tát.

Tuy nhiên, phải hiểu chuyện “giơ má kia” một cách đúng đắn. Đây không phải là loại hành động tiêu cực và quy phục. Ngược lại thì đúng hơn. Khi khuyên như thế, Chúa Giêsu nói rõ là cả má kia. Tại sao lại nói cụ thể như vậy? Vì Ngài đang nói đến một việc làm theo văn hóa thời đó, một bề trên có thể theo nghi thức, đánh người cấp dưới vào má, không phải với ý định làm đau cho bằng làm cho người đó biết thân biết phận – Tôi là bề trên của ngươi, hãy biết chỗ của mình! Cái tát đó được thực hiện bằng cách vung mu tay phải với người đối diện, như thế sẽ đánh vào má phải của họ. Nếu làm như thế, bạo lực thật sự trong hành động đó vẫn ẩn đi, bởi vì nó trông gọn gàng, đẹp đẽ, là một việc được chấp nhận về mặt văn hóa.

Tuy nhiên, nếu người kia giơ má kia ra, má trái, thì bạo lực sẽ bị phơi bày. Như thế nào? Trước hết, cái tát giờ sẽ đánh một cách vụng về và trông bạo lực, thứ hai, người nhận cái tát đó đang gởi đi một tín hiệu rõ ràng. Sự thay đổi tư thế không chỉ phơi bày bạo lực mà còn nói rằng, anh vẫn tát tôi đấy, nhưng không phải như bề trên tát kẻ dưới, trật tự cũ hết rồi.

Không vũ trang nhưng lại nguy hiểm. Không trang bị vũ khí nào ngoài sự chính trực chính là mối đe dọa lớn nhất đối với những chuyện không đúng đắn.

Tại sao lại có gì thay vì không có gì?

Thần học gia người Bỉ, Jan Walgrave, người hướng dẫn tôi làm luận án tiến sĩ là nhà trí thức đích thực và hiếm có. Đích thực là vì suy nghĩ của giáo sư tự nhiên và theo bản năng hướng về những chất vấn triết học to lớn về bản chất và hiện hữu. Tại sao chúng ta ở đây? Chúng ta thật sự là gì? Hơn nữa, thầy còn là một nhà trí thức hiếm có, vì thầy là sự kết hợp lạ thường giữa sự kiểm xét trí thức cứng rắn và lòng sùng đạo ngây thơ. Thầy có uy lực cả trong sự tinh vi tri thức và sự ngây thơ như trẻ con của mình.

Trong một lần chúng tôi gặp nhau, thầy hỏi tôi: “Cha có bao giờ ngồi ở ghế đá công viên và tự hỏi mình: tại sao lại có gì đó thay vì không có gì không?” Tôi thành thật trả lời: “Thật tình, con chẳng nhớ nổi có khi nào con nghĩ chính xác như thế hay không. Như mọi người khác, con thường tự hỏi chúng ta phát xuất từ đâu và làm sao có một Thiên Chúa ẩn sau tất cả mọi sự này, nhưng con chưa hề suy ngẫm chính xác câu hỏi này”. Thầy bảo tôi: “Vậy cha không phải là triết gia rồi! Tôi nghĩ về câu hỏi này suốt, nó là câu hỏi quan trọng nhất trong mọi câu hỏi” (Thầy cũng an ủi tôi về chuyện tôi không bao giờ có thể thành triết gia thực thụ, bảo rằng tôi có “trí óc phong phú”, một ơn riêng của tôi).

Tại sao lại có gì đó thay vì không có gì? Chắc chắn nó là câu hỏi tận cùng. Mọi sự khởi đầu như thế nào? Người nào hay cái gì đã có lúc ban đầu và khởi đầu tất cả? Hơn nữa, người hay sự này từ đâu mà ra, ai tạo nên khởi đầu?

Khoa học đương thời không thể trả lời câu hỏi này. Nó có thể cho chúng ta biết đã có chuyện gì khi vũ trụ này khai sinh, là vụ nổ Big Bang, nhưng nó không cho chúng ta câu trả lời nào cho câu hỏi lớn hơn, cụ thể là ai hay sự gì đã khởi đầu cho vụ nổ ban đầu cách đây gần 15 tỷ năm đó, vụ nổ đã khai sinh vũ trụ chúng ta và hàng tỷ thiên hà khác? Lực này tự hiện hữu như thế nào?

Là người có đức tin, chúng ta tin chính Thiên Chúa là khởi đầu đó, và tin rằng Thiên Chúa không có khởi đầu. Tuy nhiên, đây là chuyện chúng ta không thể khái niệm hóa hay hình dung nổi. Điều gì khai sinh Thiên Chúa? Dù tin Thiên Chúa hay không, chúng ta đều có một câu hỏi, câu hỏi của thầy Walgrave, “tại sao lại có gì đó thay vì không có gì?” Hơn nữa, câu hỏi đó còn bị phức tạp hơn bởi sự thật rằng sự tạo dựng, ít ra là phần lớn trong đó, có một thiết kế thông minh rõ ràng. Với sự thật đó, định đề khả tín nhất về chuyện ai hay sự gì khởi đầu vạn vật, đòi buộc rằng sự này hay người này không phải là một lực thô bỉ mù quáng mà là một lực thông minh và riêng tư.

Thánh Tôma Aquinô, người có tâm thức triết học đích thực, từng đề xuất một vài lập luận lô-gích để cố chứng minh Thiên Chúa hiện hữu. Trong số đó, có lập luận này: Cứ hình dung chúng ta đang đi trên đường, thấy một hòn đá nằm trên mặt đất và hỏi: “Ai đặt viên đá ở đây?” Chúng ta có thể đơn giản kết luận, hòn đá luôn ở đó và không suy nghĩ gì thêm. Tuy nhiên, cứ hình dung chúng ta đang đi trên đường, thấy một cái đồng hồ đeo tay vẫn đang chạy và tự hỏi: “Ai đặt cái đồng hồ ở đây?” Trong trường hợp này, chúng ta không thể đơn giản cho rằng nó luôn nằm ở đó. Tại sao lại thế? Bởi vì cái đồng hồ có một thiết kế thông minh rõ ràng cần có trí tuệ thiết kế ra nó. Hơn nữa, nó vẫn chỉ giờ, chứng tỏ không phải nó nằm ở đó bao lâu nay rồi. Có ai để nó ở đó, ở một lúc nào đó. Do vậy, Thánh Aquinô kết luận vì nhiều thứ trong vũ trụ có thiết kế thông minh, hẳn phải có một nhà thiết kế thông minh khởi đầu nó.

Ngày nay, hầu hết mọi người xem lô-gích đó là hơi ngây thơ, nhưng có lẽ họ mới ngây thơ. Chính nhà bác học Albert Enstein đã khẳng định: Sự hòa hợp của luật tự nhiên cho thấy một thông minh thượng đẳng mà so với nó, mọi suy nghĩ và hành động mang tính hệ thống của nhân loại chỉ là những phản ảnh tầm thường.

Ông nói đúng, và sự hòa hợp mà ông nói đến không chỉ là sự hòa hợp sinh thái không thể hiểu thấu vốn có nơi mọi yếu tố của thế giới vật chất và sự tái sinh kỳ diệu của tự nhiên bất chấp mọi việc chúng ta làm để phá hủy sinh thái của nó. Hơn cả thế, sự hòa hợp của luật tự nhiên (theo cách nói của Enstein) còn bao gồm một sự thống nhất không thể chối bỏ giữa luật tự nhiên và luật luân lý. Luật của nghiệp và luật tự nhiên là như nhau, là một, cũng như luật hấp dẫn và Chúa Thánh Thần. Vật chất và tinh thần là những phần của một hòa âm duy nhất. Không khí chúng ta thở ra là không khí chúng ta hít vào – cả về vật chất lẫn tinh thần. Tôi hiếm khi ngồi trên ghế đá công viên và tự hỏi, “tại sao lại có gì đó thay vì không có gì?” Nhưng mà như thầy Jan Walgrave nói, tôi không phải là triết gia. Tôi chỉ hy vọng cuộc dạo chơi nhỏ này vào triết học không phải là bằng chứng cho chuyện đó!

Các cám dỗ của người tốt

Nhiều người trong chúng ta đã quen với câu trích của nhà thơ T.S. Eliot; Sự cám dỗ cuối cùng là kho báu lớn nhất; làm hành động đúng với lý do sai. Theo ông, đây là cám dỗ của người tốt. Cám dỗ là gì?

Trong Phúc âm Thánh Gioan, Chúa Giêsu hỏi những người nghe Ngài: “Các ông tôn vinh lẫn nhau và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa duy nhất, thì làm sao các ông có thể tin được?” Thách thức của Chúa Giêsu ở đây là gì? Là: Chúng ta có thể làm tất cả những điều đúng đắn, kiên trì trung thành, chống mọi thỏa hiệp, thậm chí còn chấp nhận tử đạo – nhưng tại sao? Để được tôn trọng? Được ngưỡng mộ? Để có được sự chấp thuận? Để có được một danh thơm vĩnh viễn cho chính mình?

Không phải những lý do này là tốt và cao quý đủ sao?

Đúng, chúng tốt và cao quý. Tuy nhiên như nhà thơ T.S. Eliot gợi ý trong tác phẩm Giết người trong nhà thờ chính tòa (Murder in the Cathedral), một cám dỗ có thể tự thể hiện như một ân sủng, và đó có thể là một trạng huống nếu xét về mặt đạo đức. Nhà thơ minh họa điều này qua cuộc đấu tranh của nhân vật chính Thomas a Beckett. Beckett là tổng giám mục Canterbury từ năm 1162 cho đến khi ngài bị sát hại tại Nhà thờ chính tòa của ngài năm 1170. Như Eliot trình bày, Beckett làm tất cả những điều đúng đắn. Ông là người vị tha, trung thành triệt để, cự lại với mọi thỏa hiệp, và sẵn sàng chấp nhận tử đạo. Tuy nhiên, như Eliot nhấn mạnh, đây có thể là “những cám dỗ của người tốt” và có thể phải mất một thời gian (và sự trưởng thành sâu đậm hơn) để phân biệt một số cám dỗ với ân sủng. Vì thế Eliot đã viết những câu thoại nổi tiếng:

Bây giờ cách của tôi là rõ ràng; bây giờ nghĩa đơn giản: Cám dỗ sẽ không xuất hiện trong loại hình này một lần nữa.
Cám dỗ cuối cùng là phản bội lớn nhất:
Làm điều đúng với lý do sai. …
Đối với những người phục vụ cho sự nghiệp vĩ đại hơn
Làm cho chính nghĩa phục vụ họ.

Những người phục vụ cho mục đích cao cả hơn có thể dễ dàng làm cho chính nghĩa phục vụ họ, họ mù quáng trước động cơ của họ.

Không phải tất cả chúng ta đều biết điều đó! Những người trong chúng ta làm việc trong sứ vụ, giảng dạy, quản lý, truyền thông, nghệ thuật, và những người trong chúng ta là người Samaritanô tốt bụng thường giúp đỡ mọi nơi, điều gì cuối cùng thúc đẩy năng lực chúng ta khi chúng ta làm tất cả những việc tốt này?

Đúng, động lực hiếm khi đơn giản là minh bạch. Chúng ta là một sinh vật phức tạp, thường bị tra tấn về động lực. Dưới đây là câu chuyện ngụ ngôn nhỏ về động lực từ truyền thống sufi ngụ ý chúng ta không có một động lực duy nhất mà có nhiều động lực. Câu chuyện ngụ ngôn đi theo hướng này.

Có một vị thánh, một guru nổi tiếng thông thái, ông sống gần đỉnh núi. Một ngày nọ, có ba ông đến trước cửa nhà ông để xin lời khuyên. Ông đặt câu hỏi đầu tiên: “Bạn leo lên ngọn núi này để gặp tôi vì tôi nổi tiếng hay vì bạn thực sự muốn hiểu biết một cái gì thông tuệ?” Người đàn ông trả lời, “Thành thật mà nói, tôi đến gặp ông vì danh tiếng của ông, tuy nhiên, tất nhiên, tôi cũng muốn nhận một số lời khuyên”. Nhà hiền triết bỏ ông qua, “Ông vẫn chưa sẵn sàng để học.” Quay sang người thứ hai, ông cũng hỏi cùng câu hỏi, “Lý do thực sự mà anh leo lên ngọn núi để gặp tôi là gì?” Câu trả lời của ông này khác, “Không phải danh tiếng của ông làm cho tôi đến đây, tôi không quan tâm đến điều đó. Tôi muốn học ở ông”. Ngạc nhiên, nhà hiền triết cũng gạt ông này qua một bên, và nói ông này cũng chưa sẵn sàng để học.

Quay sang người thứ ba, “Bạn leo lên ngọn núi này để gặp tôi vì tôi nổi tiếng hay vì bạn thực sự muốn đi tìm một lời khuyên?” Người thứ ba trả lời, “Thành thật mà nói, là cả hai lý do và có thể vì một số lý do khác mà tôi không biết. Tôi muốn gặp ông vì ông nổi tiếng và tôi cũng thực sự muốn học hỏi ở ông, nhưng tôi cũng không biết đó đúng thật là những lý do thực sự để tôi gặp ông không”. Người thầy thánh thiện nói, “Bạn đã sẵn sàng để học”.

Nhà thơ Eliot giới thiệu nhân vật chính của mình trong quyển Giết người ở nhà thờ chính tòa như một người đàn ông làm tất cả những điều đúng đắn, được công nhận vì lòng tốt của mình, nhưng vẫn phải tự kiểm tra xem động lực thực sự của mình khi làm những việc này là gì. Điều mà Eliot nhấn mạnh là điều gì đó sẽ mang lại cho tất cả chúng ta, những người đang cố gắng trở thành những người tốt, có đạo đức, trung thành, hãy dừng lại để suy ngẫm, xem xét kỹ lưỡng và cầu nguyện. Động lực thực sự của chúng ta là gì? Điều này có nghĩa bao nhiêu là động lực muốn giúp đỡ người khác và bao nhiêu là cho mình, để được tôn trọng, ngưỡng mộ, danh thơm – và có cảm nhận tốt về mình?

Đây là câu hỏi khó và có lẽ cũng không phải là câu hỏi công bằng, nhưng là một câu hỏi cần thiết, nếu được hỏi, có thể giúp chúng ta trên hành trình đi tìm một mức độ trưởng thành sâu đậm hơn. Cuối cùng, chúng ta đang làm những điều tốt vì tốt cho người khác hay vì tốt cho chính chúng ta?

Khi chúng ta trần trụi phơi bày trước câu hỏi này, chúng ta có thể nhận được một chút an ủi trong thông điệp có trong dụ ngôn Sufi. Mặt này của động lực vĩnh cửu của chúng ta rất phức tạp và hỗn hợp về mặt bệnh lý.

Đương đầu với linh hồn mình

Chúng ta có nhiều ảnh của thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu. Chị Céline của Thánh Têrêxa đã chụp nhiều ảnh của Têrêxa, nhưng trên những ảnh này có một điểm đáng chú ý. Nữ tu dòng người Anh dòng Cát Minh Ruth Burrows từng nghiên cứu những tấm ảnh này, sơ thấy trong các bức ảnh đó, không hiểu vì sao Têrêxa luôn cô đơn, kể cả khi chụp ảnh chung.

Đây là điều bất thường. Têrêxa là người thân ái, nồng hậu, giỏi giao tiếp và được quá nhiều người yêu mến. Nhưng trong mọi tấm ảnh chụp, kể cả khi chụp Thánh Têrêxa chụp chung với gia đình mà ngài thương yêu hết lòng, vẫn luôn có một nỗi cô đơn nào đó, một sự cô độc rõ ràng. Tuy nhiên, cô đơn mà ngài thể hiện không phải kiểu cô độc của người xung khắc với gia đình và cộng đồng, mà là một tách biệt nào đó của linh hồn, một điều có thể gọi là nỗi cô đơn tinh thần. Nó là gì? Linh hồn của chúng ta có thể cô đơn khi đang đắm mình trong tình bạn, tình yêu và gia đình sao?

Có, và nó đúng với tất cả chúng ta, đúng với thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và đúng với Chúa Giêsu.

Nhìn vào các sách phúc âm mô tả cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu, chúng ta thấy điều mà các thánh sử nhấn mạnh không phải là nỗi đau thể xác. Trong khi những đau đớn thể xác đó rất khủng khiếp, nhưng các phúc âm không chăm chăm vào đó. Điều mà các thánh sử nêu bật là sự thống khổ về cảm xúc của Chúa Giêsu, sự cô độc, cô đơn của linh hồn khi Ngài chịu khổ nạn và chịu chết. Các phúc âm viết, trong giờ tuyệt vọng nhất, khi chỉ còn một mình, bị bỏ rơi, bị phản bội, bị hiểu lầm, bị sỉ nhục, trở thành kẻ bị tất cả đồng lòng loại ra, thì nỗi đau khổ Ngài phải chịu là nơi tâm hồn hơn là thể xác.

Phúc âm theo thánh Luca nói, cơn thống khổ của Ngài diễn ra trong vườn Giếtsêmani. Và điều này thể hiện quá rõ ràng. Chúa Giêsu cũng chịu đau khổ ở nhiều nơi khác, trong đền thờ, nơi sa mạc, ở quê nhà, nhưng cơn thống khổ khốc liệt nhất diễn ra trong vườn Giếtsêmani. Tại sao lại là trong vườn? Như chúng ta biết, trong khuôn mẫu văn học, khu vườn không phải là nơi trồng rau, mà là nơi của niềm vui. Khu vườn hình mẫu là một nơi huyền bí của niềm vui, nơi tình nhân gặp gỡ, nơi bạn bè nâng chén thù chén tạc, nơi Adam và Eva trần truồng, ngây thơ, chưa biết đến tội. Chúa Giêsu đã đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu không phải là Chúa Giêsu Thầy dạy, Chúa Giêsu Chữa lành hay Chúa Giêsu Làm phép lạ. Trong vườn, Ngài là Chúa Giêsu người yêu, một người vui mừng trong tình yêu và đau khổ trong tình yêu, và Ngài gọi mời chúng ta đến với khu vườn của đau khổ, thân mật và vui mừng này.

Các phúc âm nhấn mạnh, điều Chúa Giêsu chịu đựng nhất khi bị đóng đinh không phải là nỗi đau của đòn roi và bị đóng đinh xuyên qua tay, nhưng là sự cô đơn sâu sắc của tâm hồn, một nỗi đau quá lớn so với những đau đớn thể xác kinh khủng đó. Chúa Giêsu không phải là một chiến sĩ về thể chất, nhưng là chiến sĩ về tinh thần, đang chiến đấu với tâm hồn mình.

Sự cô đơn tinh thần là gì?

Lần đầu tiên tôi gặp từ này là khi đọc những bài viết của tác giả Robert Coles mô tả bà Simone Weil. Và từ này nói lên, trong mỗi người chúng ta có một chốn thâm sâu, một tâm điểm thuần khiết, nơi mọi dịu hiền, thiêng liêng, đáng trân quý được giữ gìn và bảo vệ. Chính ở đó, chúng ta là chính mình một cách chân thực nhất, chân thành nhất và ngây thơ nhất. Đó là nơi chúng ta vô thức nhớ ra rằng, rất lâu trước khi có ý thức, chúng ta đã được nâng niu bởi đôi tay êm ái hơn đôi tay của chúng ta nhiều. Đó là nơi chúng ta vẫn cảm nhận được nụ hôn ban đầu của Thiên Chúa.

Ở nơi này, hơn bất kỳ nơi nào khác, chúng ta sợ sự khắc nghiệt, vô lễ, sỉ nhục, giễu cợt, bạo hành, dối trá. Ở nơi này, chúng cực kỳ dễ bị tổn thương và vô cùng cẩn trọng về việc để cho ai bước vào không gian này, dù không gian sâu sắc nhất của chúng ta là tìm được ai đó để chia sẻ không gian này với mình. Hơn cả khao khát tìm được ai đó ngủ cùng mình về mặt tình dục, chúng ta khao khát ai đó ngủ cùng mình ở không gian đó về mặt tinh thần, trở thành người tri kỷ của mình. Khao khát thâm sâu nhất của chúng ta chính là được hòa hợp về tinh thần.

Nhưng không dễ có được thế. Người bạn đời tinh thần hoàn hảo rất hiếm gặp, kể cả trong tình bạn hoặc trong một hôn nhân tốt đẹp. Và chúng ta luôn mãi đối diện với một cám dỗ kép: Giải quyết xung lực này bằng cách an phận với những thứ bù đắp nào đó, giúp ta sống qua tạm hôm nay, hoặc tệ hơn nữa, vì chúng ta quá nhức nhối không thể sống nỗi, nên đã thả mình chiều theo cay đắng, giận dữ và cay nghiệt, khinh rẻ ước mơ lớn lao của mình. Dù cách này hay cách khác, chúng ta đều bán rẻ mình và an phận với cái tốt thứ hai.

Trong cuộc đấu tranh của Chúa Giêsu với nỗi cô đơn tinh thần, có điều gì đó để chúng ta rút ra không? Đó là Ngài từ chối cả chấp nhận thứ bù đắp và chai đá tâm hồn. Ngài vẫn tiếp tục hành trình và đưa xung lực này đến điểm tới hạn của nó.

Sự cô đơn tinh thần của chúng ta có thể kinh khủng lắm. Tuy nhiên, nó không phải là sự phê chuẩn hay lời mời gọi để bắt đầu từ bỏ những cam kết, trách nhiệm, luân lý, hay bất kỳ điều gì cần thiết để tìm được người tri kỷ khó tìm mà chúng ta thiết tha mong mỏi. Điều mà Chúa Giêsu (và những người như Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và triết gia Simone Weil) làm gương cho chúng ta, chính là cách mang lấy xung lực đó một cách lý tưởng, cách để đưa cô độc của mình lên một tầm cao mới, và cách để bất chấp đang đau đớn như thế nào, cũng vẫn đương cự lại việc xem cái tốt thứ hai như là cái tốt nhất có thể.

Anh chị em của chúng ta trong đức tin – Bạn không phải thù

Đặc tính giáo phái ăn sâu trong tôi. Sinh ra, được rửa tội và được nuôi dạy theo truyền thống công giáo la-mã, đạo đã thành bản tính thứ hai của tôi, như con dấu đã đóng lên tôi. Tôi không có gì hối tiếc về việc giữ chặt bẩm tại của Công giáo La-mã trên tôi, dù tôi nghĩ về đạo như nền tảng hơn là đích để đến trên hành trình đức tin.

Đạo Công giáo La-mã tôi được nuôi dạy đã đưa tôi vào mầu nhiệm Chúa Kitô: Chúa Giêsu, hội thánh, các bí tích, Bài giảng trên núi. Tôi quá đỗi biết ơn vì điều này. Đạo còn dạy tôi đừng nóng vội phán xét. Tuy nhiên, đạo công giáo lại dạy tôi chỉ có người Công giáo La-mã (và một ít ỏi người tin lành) được lên thiên đàng, rằng chỉ Phép Thánh Thể của Công giáo La-mã mới đem lại “sự hiện diện thực sự” trọn vẹn, và chỉ công giáo la-mã mới là con đường đích thực của người tín hữu kitô. Hơn nữa, những người không theo kitô giáo (những người không rửa tội) thì không được lên thiên đàng, trừ những ngoại lệ do ân sủng. Chỉ sau này, tôi mới biết một số các giao phái kitô khác và thế giới tôn giáo cũng đáp trả như thế, họ xem đạo Công giáo La-mã là lầm lạc.

Với tôi và với nhiều người, mọi chuyện đã có thay đổi. Tôi vẫn là người Công giáo La-mã vững tin, nhưng bây giờ tôi sống đức tin và sống đạo trong sự tương giao với các tín hữu anh giáo, tân giáo, tin lành, phái phúc âm, do thái giáo và hồi giáo, tất cả đều là bạn đồng hành đức tin đáng trân quý của tôi. Đến giai đoạn này trong đời, tôi trân trọng sâu sắc chân lý (vốn được xác nhận trong thư gửi tín hữu Êphêsô) rằng xét tận cùng, chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa và một Thiên Chúa là Cha của tất cả mọi người, nhất là tôi ngày càng nhận thức rằng tất cả chúng ta cùng chia sẻ một Thiên Chúa thì cũng cùng chia sẻ những khắc khoải như nhau.

Vài năm trước, tôi gặp một nhóm sinh viên thần học ở Đại học Yale. Họ xuất thân từ những cơ sở và giáo phái kitô giáo khác nhau, nhưng họ đều có một mục đích chung, tất cả đều được đào tạo để làm một mục vụ nào đó, dù là giáo dân hay giáo sĩ, trong giáo phái của mình. Trong một thảo luận mở, họ đặt nhiều câu hỏi với tôi. Trong đó, có hai câu nổi bật nhất. Câu đầu tiên rất thực tế: “Làm sao để có được công việc trong giáo hội?” Câu hỏi thứ hai liên quan đến chủ đề chúng ta đang nói đến. Nhiều sinh viên hỏi: “Con có thể theo nhiều giáo phái cùng lúc không? Con có thể vừa theo anh giáo vừa theo Công giáo La-mã được không? Nếu con trân trọng những khía cạnh trong cả ba truyền thống tôn giáo tin lành, phái phúc âm và Công giáo La-mã, con có thể theo cả ba được không?”

Tôi không có câu trả lời vững chắc, và những câu hỏi của họ làm tôi phải tự vấn về những điều tôi gặp hằng ngày ở trường đại học nơi tôi dạy. Trường Thần học Dòng Hiến sĩ có chương trình tiến sĩ về linh đạo thu hút nhiều sinh viên từ nhiều giáo phái kitô khác nhau. Các sinh viên này gặp nhau trong một lớp, ăn cùng một phòng ăn, và kết giao với nhau trong nhiều năm học ở đây, ở một cơ sở Công giáo La-mã. Rất nhanh, chỉ cần vài tháng chứ không cần phải vài năm, khi họ nghiên cứu, cầu nguyện, giao tiếp và chia sẻ với nhau những lý tưởng và đấu tranh chung, các vấn đề giáo phái về căn bản đã biến mất. Chẳng ai quan tâm người kia thuộc về giáo phái nào nữa. Không phải họ xem nhẹ chuyện đó, hay những đặc tính giáo phái khác nhau đã tan rã. Không phải thế. Ngược lại thì có, trong mười năm tổ chức chương trình này, không một sinh viên nào cải đạo sang giáo phái khác.

Tuy nhiên, quan điểm của họ về các giáo phái khác và về giáo phái của mình đã thay đổi, về bản chất là được mở rộng. Có một sự tôn trọng chung cho mỗi giáo phái, và không chỉ có thế. Khi các sinh viên tập trung vào linh đạo, họ thấy rằng nó có thể đưa họ đến một mức độ mà mỗi người có thể hỗ trợ hiệu quả cho các giáo phái khác trong khi vẫn trân trọng sâu sắc giáo phái của mình.

Bài học sâu sắc trong chuyện này là: có một sự thông công và sự mật thiết trong đức tin mà chúng ta có thể có với nhau, có một sự nâng đỡ hiệu quả chúng ta có thể trao cho nhau bất chấp những khác biệt về giáo phái. Khi cùng nhau nghiên cứu và chia sẻ một đức tin chung (một đức tin vượt trên những khác biệt giáo phái), chúng ta nhận ra điểm chung của mình lớn hơn và quan trọng hơn hẳn những gì chia rẽ chúng ta. Chúng ta còn nhận ra mình mang những khắc khoải như nhau.

Hơn nữa, đây không chỉ là một trải nghiệm hiếm hoi chỉ có ở trường thần học. Mà càng ngày càng được trải nghiệm chung giữa các kitô hữu.

Tại sao cứ tiếp tục nghi ngờ nhau? Tại sao chúng ta phòng thủ bảo vệ đặc thù của giáo phái mình thay vì chủ động vươn đến để đến với các giáo phái khác trong một đức tin chung, nhất là khi có thể làm được thế mà không đe dọa giáo phái của mình và tách rời khỏi giáo hội học?

Điều chúng ta được mời gọi ở đây là đừng hướng đến một thuyết hổ lốn thiếu phê phán, tự bịt mắt không muốn thấy những khác biệt về giáo phái, nhưng đúng hơn là hãy bắt đầu ngày càng đón nhận những anh chị em chúng ta trong đức tin, chứ không chỉ đón nhận những người cùng giáo phái với mình.

Ân sủng rẻ tiền

Trong các tín hữu kitô thời nay có một sự căng thẳng giữa những người mở rộng lòng thương xót của Thiên Chúa đến khắp mọi nơi và dường như không cần bất cứ một điều kiện nào, với những người dè dặt và phân biệt hơn trong việc phân phát lòng thương xót ấy. Sự căng thẳng này thể hiện rõ trong những tranh luận về việc ai được nhận lãnh bí tích: Ai được phép rước Thánh Thể? Ai được phép tổ chức hôn lễ trong nhà thờ? Ai được có nghi thức an táng theo kitô giáo? Khi nào thì linh mục không tha tội trong tòa giải tội?

Tuy nhiên, sự căng thẳng này còn vượt xa vấn đề ai được phép nhận lãnh những bí tích nhất định. Xét tận cùng, vấn đề là cách chúng ta hiểu về ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa. Một ví dụ rõ ràng của thời nay, là sự phản đối ngày càng tăng trong một một số lĩnh vực nhắm đến con người và cách tiếp cận của Đức Phanxicô. Với những người chỉ trích, họ cho Đức Phanxicô mềm yếu và thỏa hiệp. Với họ, Ngài phân phát ân sủng rẻ tiền, khiến Thiên Chúa và lòng thương xót của Ngài trở nên dễ tiếp cận như nước máy. Thiên Chúa đón nhận tất cả. Không đòi hỏi điều kiện gì. Không kêu gọi phải sám hối trước. Không đòi buộc trước tiên phải có sự thay đổi trong đời sống. Ân sủng cho tất cả. Không cần phải mất gì.

Chúng ta nói được gì về điều này? Nếu chúng ta phân phát ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa một cách không phân biệt như thế, liệu có làm mất đi men muối của kitô giáo không? Liệu chúng ta có nên đón nhận và chúc lành cho tất cả mọi người mà không cần bất kỳ điều kiện đạo đức nào không? Chẳng phải Phúc âm là phải đương đầu sao?

Nội cụm từ “ân sủng rẻ tiền” đã là một nghịch hợp. Không có thứ gì gọi là ân sủng rẻ tiền cả. Theo định nghĩa, mọi ân sủng đều là ban cho người không xứng, nghĩa là không đòi hỏi phải đáp ứng trước điều kiện gì để được ban và nhận lãnh. Bản chất của ân sủng là một món quà, miễn phí, dù chúng ta không xứng đáng. Và dù bản chất của ân sủng thường khơi lên một phản ứng yêu thương và hoán cải nhân tâm, nhưng tự nó không đòi hỏi điều đó.

Không có ví dụ nào hùng hồn hơn dụ ngôn của Chúa Giêsu về người con hoang đàng và cách dụ ngôn ấy minh họa cách ân sủng đối diện với sự ương ngạnh. Chúng ta đều biết câu chuyện này. Người con hoang đàng đã chối bỏ và ruồng bỏ cha mình, lấy hết của thừa kế chẳng do công sức mình làm nên, bỏ đi đến nước ngoại bang, xa cách cha mình, và phung phí tiền bạc để mua lấy lạc thú. Khi đã phung phí hết tiền, anh quyết định trở về với cha mình, không phải bởi đột nhiên anh lại thấy yêu thương cha, nhưng chỉ vì tính ích kỷ, vì đói. Và chúng ta đều biết chuyện thế nào. Khi anh còn ở xa, cha anh (chắc chắn mong chờ anh trở về) đã vội chạy đến gặp anh, và trước khi anh kịp nói lời xin lỗi, người cha đã ôm chầm lấy anh cách vô điều kiện, đưa anh vào lại nhà và chuẩn bị ăn mừng thịnh soạn cho anh. Bây giờ chúng ta nói về ân sủng rẻ tiền!

Hãy để ý xem dụ ngôn này nói với ai. Dụ ngôn này nói với một nhóm người sùng đạo chân thành, buồn bực vì họ cảm thấy khi đón nhận và ăn uống chung với người tội lỗi (mà không đòi buộc trước tiên phải có một số điều kiện đạo đức nào đó) thì Chúa Giêsu là ân sủng rẻ tiền, làm cho tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa quá dễ tiếp cận và từ đó là bớt quý báu. Hãy để ý xem phản ứng của nhiều người đồng thời với Chúa Giêsu khi họ thấy Ngài ăn tối với những người tội lỗi. Ví dụ như, khi Ngài ăn tối với người thu thuế Giakêu, Phúc âm kể rằng: “Ai thấy cũng bắt đầu xầm xì với nhau”. Sự bất mãn dai dẳng này thật đáng chú ý.

Tại sao lại thế? Tại sao lại có lo lắng đó? Tại sao chúng ta “xầm xì”? Lo lắng cho tôn giáo đích thực sao? Không hẳn. Nguyên do sâu xa hơn cho sự lo lắng này không phải vì lòng đạo mà đúng hơn là vì bản tính và những thương tích của chúng ta. Chúng ta cự lại những món quà trần trụi, sự cho không thẳng thừng, tình yêu vô điều kiện, ân sủng dù ta không xứng, là vì một thứ gì gì đó trong di truyền bản năng của chúng ta đã bị làm chai đá bởi những thương tích. Một sự kết hợp giữa tự nhiên và thương tích sẽ hằn dấu trong chúng ta rằng bất kỳ món quà nào, kể cả tình yêu và tha thứ, đều cần phải xứng đáng mới được nhận. Trong đời này làm gì có bữa ăn miễn phí! Trong tôn giáo, làm gì có ân sủng miễn phí! Một âm mưu kết hợp giữa bản tính và những thương tích của chúng ta, cứ luôn mãi nhắc chúng ta rằng chúng ta bất khả ái, rằng tình yêu phải xứng đáng, không thể miễn phí được vì chúng ta bất xứng.

Tôi tin rằng trong cuộc đời chúng ta, việc thắng được tiếng nói nội tại đó là một đấu tranh tận cùng, cả về tâm lý và thiêng liêng. Hơn nữa, đừng bị lừa bởi những người khẳng định ngược lại. Những người tỏa rạng sự khả ái và khẳng định điều đó, hầu như đang cố tránh xa nỗi sợ đó thôi.

Thánh Phaolô đã viết trong Thư gửi tín hữu Roma như lời nhắn nhủ cuối đời của mình. Ngài dành trọn bảy chương đầu để đơn thuần khẳng định hết lần này đến lần khác rằng chúng ta không thể chỉnh đốn đời sống mình cho chuẩn. Chúng ta bất lực về đạo đức. Tuy nhiên, lời nhấn mạnh lặp đi lặp lại rằng chúng ta không thể chỉnh đốn đời mình cho chuẩn, thật sự là cái nền cho điều mà ngài muốn truyền lại cho chúng ta, cụ thể là, chúng ta không cần chỉnh đốn đời mình cho chuẩn. Chúng ta được yêu thương bất chấp tội lỗi, được trao ban mọi sự cách nhưng không, vô điều kiện, không cần chúng ta phải xứng đáng gì.

Chúng ta băn khoăn về ân sủng không xứng, chủ yếu là vì sự bất an của con người chứ không phải vì lo lắng thực sự nào cho tôn giáo.

Tự tử và những hiểu lầm của chúng ta

Nhà văn Margaret Atwood từng viết, đôi khi có những chuyện cần được nói ra, nói đi, nói lại cho đến khi không cần phải nói nữa. Chính vì thế mà hàng năm tôi đều viết bài về tự tử, chủ yếu là để nói đi nói lại một điều. Tôi hy vọng, như lời nhắn trong chiếc chai thả ra biển, thông điệp nhỏ của tôi sẽ đến được với ai đang cần khuây khỏa sau khi mất một người thân yêu vì tự tử.

Vậy điều gì cần được nói, và nói đi nói lại, về tự tử? Có bốn điều.

Thứ nhất, nó là một căn bệnh và có lẽ là căn bệnh khó hiểu nhất. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng nếu người tự gây ra cái chết của mình, thì nó là chuyện tự nguyện với suy nghĩ rằng cái chết do bệnh tật hoặc tai nạn thì không phải thế. Nhưng trong hầu hết các vụ tự tử, chuyện không phải như thế. Một người chết vì tự tử, cũng như người bị bệnh nan y hoặc gặp tai nạn chết người, không chết do lựa chọn của họ. Khi người ta chết vì đau tim, đột quỵ, ung thư, AIDS và tai nạn, là họ chết trái với ý họ. Với tự tử cũng thế, trừ một chuyện, tự tử là cơn bộc phát cảm xúc hơn là thể lý, một cơn đột quỵ về cảm xúc, một khối ung thư về cảm xúc, một sự sụp đổ của hệ miễn dịch cảm xúc, một tai nạn chí tử của cảm xúc.

Và đây không phải là cách nói ẩn dụ. Có nhiều loại đau tim, đột quỵ, ung thư, sụp đổ hệ miễn dịch, và tai nạn chết người. Tuy nhiên, chúng có cùng một tác động, chúng đều tước đoạt mạng sống của người nào đó trái với ý muốn của họ. Không ai chết vì tự tử mà thật sự muốn chết cả. Người đó chỉ muốn kết thúc nỗi đau không thể chịu đựng thêm nữa, cũng như một người nhảy ra khỏi tòa nhà đang cháy vì họ đã bị bắt lửa như cây đuốc sống.

Thứ hai, chúng ta không nên lo lắng quá mức về sự cứu rỗi đời đời của người chết vì tự tử, không nên tin rằng tự tử là hành động tuyệt vọng tận cùng và là điều mà Thiên Chúa sẽ không tha thứ. Chắc chắn Thiên Chúa thông hiểu hơn chúng ta vô hạn, tấm lòng của Chúa an toàn và êm ái hơn chúng ta vô hạn. Chúng ta hình dung một bà mẹ vừa sinh con, lần đầu tiên ôm con vào lòng. Tôi tin rằng đó chính là hình ảnh chính xác nhất để hình dung một nạn nhân của tự tử (hầu hết là một linh hồn quá nhạy cảm) sẽ được đón nhận vào đời sau. Thiên Chúa thông hiểu, yêu thương và trìu mến vô cùng vô tận. Chúng ta không nên lo lắng về số phận của bất kỳ ai đã rời thế giới này một cách trung thực, quá đỗi nhạy cảm, ân cần, quá đỗi kiệt quệ và bị sụp đổ về mặt cảm xúc. Thiên Chúa yêu thương đặc biệt những con người tan nát.

Tuy nhiên, dù biết mọi chyện này nhưng không nhất thiết chúng ta không còn đau đớn (hay có khi giận dữ) vì mất người thân yêu do tự tử, nhưng đức tin và sự thông hiểu không phải để xóa bỏ nỗi đau cho bằng cho chúng ta hy vọng, hình dung và nâng đỡ khi bước đi trong nỗi đau.

Thứ ba, chúng ta không nên hành hạ bản thân khi băn khoăn liệu mình đã đánh mất người thân yêu nào vào thời điểm nào: “Có việc gì đáng ra mình phải làm? Mình đã phụ lòng người ấy lúc nào? Giá mà mình ở đó? Giá như…” Lẽ tự nhiên, chúng ta sẽ bị ám ảnh với suy nghĩ, “Giá như mình ở đó vào đúng lúc đó”. Hiếm khi chuyện này tạo nên khác biệt gì. Thật vậy, hầu như chúng ta đều không ở đó vì người đó không muốn chúng ta ở đó. Người đó đã chọn thời điểm, địa điểm và phương thức sao cho chúng ta không thể làm được gì. Có lẽ chính xác hơn, tự tử là căn bệnh chọn nạn nhân theo cách làm sao để loại trừ những người khác và loại trừ sự quan tâm của họ. Đây không phải là cái cớ cho sự thờ ơ, thiếu nhạy cảm, nhất là với những người đang gặp trầm cảm nghiêm trọng, nhưng nó nên là một khẳng định lành mạnh để bác bỏ cảm giác tội lỗi và băn khoăn vô ích.

Chúng ta là con người, chúng ta không phải là Thiên Chúa. Con người luôn chết vì bệnh tật và tai nạn và đôi khi tình yêu và sự quan tâm của cả thế giới cũng không ngăn nổi cái chết. Tình yêu, với mọi sức mạnh của nó, đôi khi cũng bất lực trước một căn bệnh nan y.

Thứ tư, khi mất một người thân yêu vì tự tử, một trong những nhiệm vụ của chúng ta là hành động để chuộc lại ký ức về người đó, cụ thể là nhìn cuộc sống của người đó với một quan điểm không bị hoen ố vì tự tử.

Một phản ứng nhân văn và có đức tin với chuyện tự tử, không nên là kinh hoàng sợ hãi cho sự cứu rỗi đời đời của nạn nhân, hay băn khoăn không biết mình đã phụ lòng họ khi nào, hay cứ cảnh giác đề phòng mỗi khi nhắc đến họ. Tự tử thật sự là một cách chết kinh khủng, nhưng chúng ta phải hiểu, ít ra trong hầu hết trường hợp, nó là một căn bệnh, một sự sụp đổ của hệ miễn dịch cảm xúc. Trong hầu hết, chúng ta phải tin tưởng Thiên Chúa, tin tưởng sự tốt lành, thông hiểu của Ngài, tin tưởng sức mạnh trỗi dậy từ địa ngục và sức mạnh của Ngài có thể biến đổi mọi sự nên đúng đắn, kể cả với tự tử.

Phụ nữ, bình đẳng và chủ nghĩa nữ quyền

Ở khắp nơi vẫn có những người tin rằng không còn bất kỳ vấn đề gì liên quan đến địa vị của nữ giới nữa. Ngày nay, ít ra là ở các nước dân chủ, có một niềm tin phổ biến rằng nữ giới đang được hưởng sự bình đẳng trọn vẹn với nam giới. Và với nhiều người, cổ xúy nữ quyền là không hay, là nặng tính chính trị, thể hiện một hệ tư tưởng tự do quá khích với những kế hoạch đi ngược lại các giá trị gia đình truyền thống. Vậy thì chúng ta nói được gì về điều này?

Trước hết, chủ nghĩa nữ quyền, cũng như kitô giáo, là một từ bao gồm những biểu hiện cả lành mạnh và hung hãn. Có chủ nghĩa nữ quyền tốt và chủ nghĩa nữ quyền hung hãn, với kitô giáo cũng thế. Với suy nghĩ như thế, mục đích của tôi, chẳng gì có thể rời xa sự thật hơn là ngây thơ tin chúng ta đã có được bình đẳng giới, cho dù ở đâu. Chưa đâu, kể cả trong dài hạn.

Tại sao tôi nói như thế? Trước khi đưa ra bằng chứng cụ thể hơn, tôi xin đưa ra một ví dụ: Tôi sống ở phương Tây, ở Hoa Kỳ, bang Texas, thành phố San Antonio (một thành phố rất nồng nhiệt và đậm chất kitô giáo), tôi ở trong một nền văn hóa tự hào về mình và tin rằng nó là người dẫn đường cho nhân quyền và bình đẳng giới của thế giới. Đúng, đọc báo, hiếm khi thấy tuần nào không có bài về một phụ nữ chết vì bạo lực gia đình. Hơn nữa, chỉ có tin người chết mới lên báo, nhưng con số phụ nữ bị bạo hành thể xác và tình dục trong gia đình chắc chắn còn cao hơn nữa. Phải ghi nhận rằng, 90% trong những vụ này, người chết là phụ nữ.

Tuy nhiên, để chứng minh rằng phụ nữ vẫn đang chịu đau khổ, một cách nặng nề và bất tương xứng so với nam giới, tôi xin trích lại một loạt nhận định từ quyển sách mới đây của Joan Chittister, Thức tỉnh (Awakening):

“Sự thật rằng hai phần ba người nghèo trên thế giới là phụ nữ, hai phần ba người mù chữ là phụ nữ, và hai phần ba người đói trên thế giới là phụ nữ. Sự đàn áp đối với một nửa nhân loại này không thể được xem là chuyện ngẫu nhiên… Phụ nữ là những người nghèo nhất, những người bơ vơ nhất, những người thất học nhất, những người bị đánh đập và bị thế giới ruồng rẫy nhất”.

“Lịch sử của phụ nữ là lịch sử bị đàn áp, kỳ thị và bạo hành khắp nơi. Trong phật giáo, những ni sư được dạy phải nghe lệnh của nam tu sĩ nhỏ tuổi nhất. Trong hồi giáo, phụ nữ phải che mạng và che kín cơ thể để thể hiện sự vô giá trị của mình, cho thấy mình đã thuộc về một người đàn ông nào đó. Trong ấn giáo, phụ nữ bị chồng bỏ khi người chồng muốn lên một bậc cao hơn, kiếm của hồi môn hậu hĩnh hơn, và còn bị quy trách nhiệm cho cái chết của chồng với lý do nghiệp chướng. Trong hầu hết mọi hình thức của do thái giáo, phụ nữ không được tham gia nghi lễ và học hành. Trong kitô giáo, cho đến gần đây, và trong nhiều lãnh vực, quyền pháp lý của phụ nữ cũng chỉ ngang với trẻ em, chuyện đánh vợ được bảo vệ bằng quyền nội bộ gia đình, và thậm chí đời sống tâm linh của phụ nữ lại bị nam giáo sĩ chỉ định, ra lệnh và kiểm soát”.

Hơn thế nữa, sơ Chittister còn nêu bật một chuyện mỉa mai thường bị bỏ qua, và tệ hơn nữa, thường bị dùng làm cái cớ cho việc chúng ta không thể chấp nhận địa vị bình đẳng của phụ nữ. Chuyện đó như thế này: Nhiều người trong chúng ta, dù ý thức hay vô thức, nuôi dưỡng một thái độ có thể gọi là chủ nghĩa nữ quyền lãng mạn hóa, khi chúng ta lý tưởng hóa quá đáng và đề cao quá đáng nữ giới, rồi mỉa mai thay, nhưng lại hoàn toàn có thể hiểu được, khi cuối cùng lại từ chối sự bình đẳng trọn vẹn của họ. Sơ Chittister nói: “Không một lĩnh vực nào mà người ta lại vung vẩy hoang phí quá nhiều chất thơ, chất nhạc, quá nhiều hoa, nhiều lời khen, bao dung và tình yêu đến thế, nhưng cũng không có lĩnh vực nào khác mà sự tôn trọng nhân văn, tâm linh, trí thức và đạo đức lại ít đến thế”. Về bản chất, sự lý tưởng hóa quá đáng về phụ nữ là nói với họ: các bạn quá đặc biệt, quá tuyệt vời đến nỗi không nên được đối xử theo cùng một cách với đàn ông!

Tôi đủ tuổi để sống qua nhiều thế hệ chủ nghĩa nữ quyền. Thời thập niên 1980 và 1990, khi tôi dạy thần học ở một vài đại học, thì chủ nghĩa nữ quyền vừa lành mạnh vừa hùng hổ, thể hiện rất mạnh nơi ban giám hiệu và hội đoàn sinh viên. Tôi thú nhận, không phải lúc nào tôi cũng thấy thoải mái với nó, nhất là cách nói thường như sẵn sàng gây chiến. Tôi ý thức được sự chính đáng của nó, dù cho tôi e ngại sự hùng hổ của nó.

Thời thế đã thay đổi. Thời nay, trong những lớp tôi dạy, ngày càng có nhiều phụ nữ, với tuổi đời trẻ hơn, chẳng mấy đồng cảm hay tán thành chủ nghĩa nữ quyền của thập niên 1980 và 1990. Gần như có một thái độ xem thường đối với những phụ nữ tiên phong trong việc cổ xúy nữ quyền. Một phần, đó là vấn đề của thế hệ, một chuyện chúng ta có thể hiểu được. Nhưng một phần còn do sự ngây thơ, một niềm tin vô căn cứ rằng cuộc chiến này đã thắng, rằng phụ nữ đã được bình đẳng hoàn toàn, rằng không cần khơi lên cuộc chiến kiểu cũ nữa.

Vì thế, khi đọc những phân tích khủng khiếp của sơ Chittister, những bài báo đau lòng hàng ngày về bạo hành gia đình, tôi mong mỏi tìm kiếm những nhà nữ quyền hùng hổ mà tôi từng gặp trong lớp học và ban giám hiệu lúc trước.

Óc hài hước của Thiên Chúa

Nếu chúng ta thực sự tin tưởng vào Kinh thánh, có kinh nghiệm bản thân và tỉnh táo thì chúng ta chỉ có thể kết luận, Thiên Chúa có óc hài hước, một bộ óc hài hước mạnh bạo nhưng kín đáo. Bằng chứng nào?

Một thế hệ trước, thần học gia tin lành Peter Berger đã viết một quyển sách nhỏ đáng chú ý với tựa đề, Tin đồn về các thiên thần (A Rumor of Angels). Không như Aquinô, Anselm, Descartes và vô số triết gia lừng danh khác, ông không cố chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa bằng lý luận và tranh luận. Thay vào đó, ông nhìn vào một số kinh nghiệm rất bình thường của con người và đưa ra những gì ẩn giấu bên trong và đằng sau những trải nghiệm đó. Ví dụ như, khi một người mẹ dỗ đứa con bị hoảng sợ ban đêm, đảm bảo với con không có gì phải sợ, bà làm thế với niềm tin tốt đẹp vì ở một mức độ thâm sâu, bà trực cảm thấy, cuối cùng mọi sự đều tốt đẹp. Một cách vô thức, bà đang đọc kinh Tin kính.

Một trong những trải nghiệm mà Berger nêu bật, chính là trải nghiệm về hài hước. Luận điểm của ông: Dù cho hoàn cảnh có ngột ngạt và thảm khốc đến đâu đi nữa, con người luôn có năng lực làm nhẹ nó, nhìn nó qua lăng kính châm biếm và hài hước. Ví dụ như, các thánh tử đạo đã nói đùa với đao phủ, và chắc chắn trong những trại diệt chủng, vẫn có những lúc đùa cợt, châm biếm, và hài hước sâu cay. Sự thật rằng con người có thể và thực sự làm được việc này, cho thấy trong chúng ta luôn có gì đó siêu việt, có gì đó mạnh hơn áp bức của con người, có gì đó làm chúng ta vượt lên mọi hoàn cảnh mình gặp phải. Ý thức châm biếm và hài hước của chúng ta thể hiện trong linh hồn có gì đó làm chúng ta vượt lên bất kỳ điều gì có thể bủa vây chúng ta.

Và điều này có thể bắt nguồn từ một nơi duy nhất, là nơi Đấng Tạo Hóa đã tạo dựng chúng ta. Vì thế không hẳn Thiên Chúa có ý thức hài hước, mà còn hơn thế nữa, hài hước hẳn là cố hữu trong bản tính Thiên Chúa, vì hài hước là tốt và Thiên Chúa là đấng tạo nên mọi sự tốt lành.

Trường phái triết học kinh điển tin rằng, Thiên Chúa có bốn đặc tính siêu việt, là Duy nhất, Chân thật, Tốt lành và Tuyệt mỹ – và bây giờ chúng ta có thể thêm một điều: Hài hước. Hơn nữa, có thể kết luận như thế từ việc thỉnh thoảng chúng ta cảm nhận, hài hước thể hiện sự siêu việt của chúng ta trong một tình huống nào đó. Và quan trọng hơn nữa, chúng ta có thể suy ra hài hước có tính thần thiêng khi xem xét những phần tử cấu trúc tình yêu. Thiên Chúa là tình yêu, và hài hước là một phần quan trọng không thể chối cãi của tình yêu.

Khi các triết gia Hy Lạp kinh điển định nghĩa tình yêu, họ nêu bật một số thành phần bên trong của nó, cụ thể là sức hấp dẫn tình ái, sự ám ảnh, tình bạn, sự sắp xếp thực dụng và lòng vị tha. Tuy nhiên, họ còn nêu bật một thành phần khác, đó là vui vẻ/bông đùa/ hài hước. Thật thấu suốt làm sao. Hài hước cùng với bông đùa lành mạnh và trêu chọc vui vẻ là một phần dầu mỡ giúp chúng ta duy trì mối quan hệ lâu dài, bất chấp sự quen thuộc quá mức, tổn thương, thất vọng, và nhàm chán không thể tránh khỏi thế nào cũng xuất hiện trong hầu hết mối tình. Hài hước giúp tình yêu ổn định. Vì thế hài hước là một phần bẩm sinh của tình yêu, nó cũng là một phần bẩm tại của Thiên Chúa.

Đáng buồn là, chúng ta thường không hình dung Thiên Chúa như thế. Đây lại là điểm chung của kitô giáo, do thái giáo và hồi giáo. Chúng ta đều hình dung Thiên Chúa là nam giới, độc thân, uy nghi – và không hài hước. Làm sao để chúng ta hình dung Thiên Chúa một cách khác?

Nếu chúng ta phải vẽ lên một khuôn mặt tổng hợp thể hiện Thiên Chúa, thì chúng ta sẽ đưa khuôn mặt của ai vào chân dung này? Hình ảnh sốt mến của Chúa Giêsu tóc vàng hiền lành cõng chiên trên vai mà chúng ta thường thấy trong các ảnh tượng? Hình ảnh Đức Mẹ lặng lẽ điềm thản chúng ta thấy nơi nhiều bức tượng? Gương mặt Mẹ Têrêxa Calcutta? Têrêxa Hài Đồng Giêsu? Gương mặt của Dorothy Day? Của Martin Luther King? Của Oscar Romero? Billy Graham? Henri Nouwen? Rachel Held Evans? Gương mặt của cha mẹ chúng ta? Hay chúng ta hình dung gương mặt của danh hài hay một người hóm hỉnh mình yêu thích? Jerry Seinfeld? Bette Midler? Rowan Atkinson? Gương mặt tinh nghịch của một ông bác hay kể chuyện đùa?

Bất kỳ hình ảnh nào về dung mạo Thiên Chúa đều cần thể hiện một nội tại Độc nhất, Chân, Thiện, Mỹ, nhưng còn cả Hài hước và Tinh nghịch. Thât buồn cười, dù tôi tin Thiên Chúa là đấng tạo nên hài hước, tôi lại không bao giờ thích những bức họa vẽ Chúa Giêsu cười sảng khoái. Ý niệm thì tốt, ý định thì tốt, thần học cũng tốt, nhưng theo thị hiếu của tôi thì nó thiếu cái gì đó đúng đắn. Khuôn mặt cười ấy có tính chất phù du sẽ quá dễ tan biến, nhường chỗ cho một cái gì khác xuất hiện sau đó. Tôi cho rằng, gương mặt của Thiên Chúa có một sự tinh nghịch lâu dài, lặng lẽ hơn, ẩn giấu hơn.

Nếu đúng thế, nếu Thiên Chúa không chỉ có óc hài hước, mà còn là người tạo ra hài hước, thì hài hước là một phẩm chất quan trọng trong sự toàn vẹn và thánh thiện. Điều gì khiến chúng ta toàn vẹn, trưởng thành, thánh thiện, yêu thương và nên người mà chúng ta muốn được ngồi cạnh ở bàn ăn đời này và ở cả đời sau? Chắc chắn, bạn muốn ai đó thể hiện những phẩm chất mà Chúa Giêsu yêu cầu trong Bài giảng trên núi cùng với một óc hài hước tinh nghịch, ấm áp và vui tươi.

Có gì nơi sự từ biệt?

Từ biệt có thể rất khó khăn. Khi người chúng ta yêu thương đi xa, luôn có nỗi buồn, nhất là khi người thân yêu ra đi trong cái chết.

Nhưng từ kinh nghiệm, chúng ta biết rằng, đến cuối cùng, từ biệt không hẳn là cái chết nhưng là sự chuyển biến. Nó chấm dứt một cách hiện diện với người khác và mở đường cho một cách hiện diện khác, chỉ vừa mới khởi đầu và về lâu dài sẽ có lợi hơn cho yêu thương.

Chuyện này có vẻ hơi mơ hồ. Nhưng không phải thế. Chúng ta trải nghiệm chuyện này trong cuộc sống hằng ngày. Ví dụ, một cô gái vừa tốt nghiệp trung học, cô dọn ra sống tự lập, cô đi xa nhà. Với cha mẹ, như thế là rất đau lòng. Đứa con gái bé bỏng bây giờ không còn bé bỏng nữa, và lời từ biệt con khi ra xe đi về, sau khi đã giúp con ổn định chỗ ở mới sẽ ghi khắc trong lòng chúng ta, con không còn bé bỏng và không còn là của mình nữa. Một điều gì đó căn bản đã thay đổi, và có thể thật khó để buông bỏ hình ảnh cô con gái một thời ở trong lòng bố mẹ. Nhưng cô bé nhỏ đó đâu đã chết. Cuộc sống của cô bây giờ mở ra với những chuyện phong phú mới, cô sẽ có bước tiến mới và quan trọng để trưởng thành, dù cho bước tiến đó thay đổi hình ảnh cô bé trong tâm hồn chúng ta.

Bây giờ con gái đã rời nhà và sống tự lập, hình ảnh đó sẽ như thế nào trong lòng bố mẹ? Nghịch lý thay, cô bé lại càng hiện diện với bạn hơn bao giờ hết, dù là theo cách khác. Bây giờ là người trưởng thành, cô có thể mang lại cho bạn những gì mà khi còn nhỏ sống chung, cô đã không thể đem lại. Con cái còn nhỏ có thể khơi lên trong lòng cha mẹ một tình thương đặc biệt, nhưng con cái lớn tuổi có thể khơi lên một điều khác, cũng vô cùng phong phú. Chính vì thế mà mọi cô bé cậu bé cuối cùng cần nói với bố mẹ mình những lời mà Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ trong đêm trước khi tử nạn, “Thầy đi thì tốt hơn cho các con” – Nếu không đi xa, con sẽ luôn là đứa con nhỏ trong nhà, nhưng nếu con đi xa, con sẽ về lại nhà như người trưởng thành, đem lại cho bố mẹ một sự phong phú mới.

Cuối cùng sự chia ly lạnh lẽo lúc từ biệt có thể nhường chỗ cho một hội tụ ấm áp hơn, sâu sắc hơn và không còn phụ thuộc vào sự gần gũi về mặt thể lý. Một lời từ biệt chân thành chính là sự chuyển biến, chứ không phải kết thúc.

Điều này cũng đúng trong sự chia ly nhói lòng hơn của cái chết. Chúng ta không mất người thân yêu, mà là trải nghiệm một sự chuyển biến trong sự hiện diện của họ. Ở tang lễ, chúng ta cảm nghiệm sự chuyển biến của sự hiện diện và mối quan hệ giống như của người cha người mẹ thấy con mình lớn lên và dọn ra ngoài sống. Ở tang lễ, dĩ nhiên, cảm xúc dâng trào hơn, nhưng động lực vẫn như nhau. Một sự xoay chuyển tận căn đang diễn ra. Trong cái chết, thường phải mất một thời gian, có lẽ vài năm chúng ta mới nhận ra được đây là một chuyến biến, chứ không phải cái chết. Xin cho tôi đưa ra một ví dụ.

Năm tôi 23 tuổi, trong vòng ba tháng, cả cha và mẹ tôi lần lượt qua đời. Họ chưa cao tuổi lắm, chỉ mới 62 và 58. Tôi và các anh chị em vẫn còn trẻ, quá trẻ (theo đánh giá của chúng tôi) để chấp nhận nổi chuyện này. Do dó, ban đầu, cái chết của cha mẹ làm cho chúng tôi cảm thấy lạnh lẽo, cay đắng, chứ không thấy được sự chuyển biến. Tuy nhiên, thời gian hàn gắn dần, và cuối cùng, chúng tôi vượt qua được. Trong trường hợp của chúng tôi, thời gian chữa lành là vì cuối cùng chúng tôi bắt đầu nhận ra sự hiện diện của cha mẹ một lần nữa, theo một cách phong phú và sâu sắc hơn cả trước khi ông bà mất. Họ đã đi xa, nhưng họ quay lại, phong phú hơn, nồng ấm hơn và sâu sắc hơn.

Trong lời từ biệt ở bữa tiệc ly, Chúa Giêsu bảo các môn đệ đừng sợ, đừng đau buồn quá vì Ngài ra đi. Ngài nhắc đi nhắc lại, “Thầy đi thì tốt cho anh em hơn. Nếu Thầy không đi, Thầy không thể gửi Thần Khí đến”. Chúa Giêsu cũng như cô con gái rời nhà để bắt đầu cuộc sống mới và nói lời từ biệt làm cha mẹ đau lòng, nhưng lời từ biệt đó nằm trong bối cảnh, bây giờ cô sẽ có thể hiện diện với họ theo một cách khác và rất phong phú. Từ biệt không phải là cái chết, nhưng là sự chuyển biến.

Từ biệt và tạm biệt, kể cả lời vĩnh biệt ở tang lễ, không phải là những đoạn tuyệt phi tự nhiên đi ngược lại dự định của Thiên Chúa và cách của những mối quan hệ tăng tiến. Dĩ nhiên có thể như thế, khi lời từ biệt hay tạm biệt xuất phát từ giận dữ, thù ghét, xâm hại hay bạo lực. Tuy nhiên, khi từ biệt là điều tự nhiên vượt quá vòng tròn cuộc sống, thì cái chết thật sự chỉ là một phần của bí nhiệm nghịch lý, phong phú và khôn tả của tình yêu.

Định danh thời điểm hiện tại – Một vài ẩn dụ để lĩnh hội

Không phải chuyện gì cũng có thể khắc phục hoặc chữa lành, nhưng nó phải được định danh cho đúng. Linh mục Dòng Phanxicô người Mỹ Richard Rohr đã nói thế. Tâm lý gia người Mỹ James Hillman cũng nói tương tự khi ông viết rằng một triệu chứng đau khổ nhất khi nó không biết mình thuộc về đâu.

Vậy thời khắc hiện tại của chúng ta thuộc về đâu khi đối diện với đức tin vào Thiên Chúa và sự thích đáng của các Giáo hội? Chúng ta ở thời hậu-kitô giáo sao? Chúng ta đang chứng kiến cái chết của Thiên Chúa và các Giáo hội sao? Hay là, đức tin của chúng ta đang được thanh tẩy bởi những lời chỉ trích nhắm vào nó, và bất chấp sự sụt giảm lớn lao của số người đi lễ, chẳng phải các hội thánh đang có tiến bộ luân lý về những vấn đề như kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giới tính và công bằng xã hội đó sao? Chúng ta đang chết hay đang trưởng thành? Làm sao chúng ta định danh được thời điểm hiện tại này đây?

Để trả lời, tôi muốn đưa ra một loạt “ẩn dụ” rút ra từ nhiều nhà bình luận đã từng thử đặt ra một cái tên cho nó. Trong số này, có những người mâu thuẫn nhau, nhưng họ đều đáng để chúng ta suy ngẫm. Và tôi xin đưa ra để các bạn tự lĩnh hội.

  1. Đức tin là một dự án hết thời! Về căn bản, đó là quan điểm của các nhà tư tưởng Thời đại Khai sáng, điển hình là các triết gia Nietzsche, Freud, Feuerbach, và Marx, những người cho rằng đức tin và niềm tin vào Thiên Chúa là một thứ mà khi trưởng thành con người sẽ bỏ đi, như kiểu niềm tin có Ông già Noel và Thỏ Phục sinh. Niềm tin này là cần thiết cho một thời đại, nhưng nó sẽ ở dưới tầm của chúng ta khi chúng ta mất sự ngây thơ. Thiên Chúa và các giáo hội đã có thời của mình trong lịch sử, và thời đó đã qua. Ngày nay, hàng triệu người tin (hoặc sợ) như thế.
  2. Thế giới của chúng ta vẫn còn tuổi bỉm tã! Thần học gia Pierre Teilhard de Chardin cho rằng đức tin còn lâu mới là một dự án hết thời, nó chỉ mới trong giai đoạn sơ sinh thôi. Đây là một quan điểm cách mạng về lịch sử và đức tin, rằng chúng ta đang sống trong một thế giới tuổi bỉm tã, mới ngoi đầu lên khỏi nôi. Đức tin còn lâu mới hết thời! Chúng ta chỉ mới khởi đầu thôi!
  3. Một phương Tây hậu-kitô giáo! Đây là quan điểm của hồng y Joseph Ratzinger trước khi ngài là giáo hoàng. Cụ thể, ngài nói, thế giới thế tục, nhất là Bắc Mỹ và Tây Âu bây giờ đang ở thời “hậu-kitô giáo”. Thú vị là, sau khi trở thành giáo hoàng, ngài không bao giờ nhắc lại rõ ràng quan điểm này.
  4. Đức tin trong thế giới thế tục là chịu sự khổ nhọc giữa trưa!
    Đây là hình ảnh theo lời của nhà hàn lâm Tomas Halik. Theo quan điểm của cha, đức tin và các giáo hội không chết dần: đơn giản là đang chịu “cơn trầm cảm”, “con quỷ giờ giữa trưa”, sự khổ nhọc mà các tác giả sa mạc kitô giáo thời tiên khởi bảo rằng nó có thể tác hại đến cả những tín hữu sốt sắng nhất.
  5. Chúng ta đang trải qua cuộc khủng hoảng của hình dung, chứ không phải khủng hoảng của đức tin và trung tín. Những tình thế của đức tin đã thay đổi triệt để, và sức hình dung của chúng ta không theo kịp. Đây là quan điểm của triết gia lừng danh về thế tục, Charles Taylor. Với ông, là tín hữu thời nay, chúng ta là người mở đường, nỗ lực để học cách sống trong một đất nước (đức tin) mà chúng ta và không một ai từng sống. Chẳng trách chúng ta phải chật vật.
  6. Văn hóa thế tục là đứa con tuổi dậy thì của do-thái – kitô giáo và trong sự tự đại tuổi dậy thì, văn hóa của chúng ta chỉ thấy được những lầm lỗi của bố mẹ. Đây là quan điểm của ngòi bút thiêng liêng nổi danh, Kathleen Norris, và đồng hưởng với triết gia Louis Dupre của trường đại học Yale. Theo tác giả Norris, nếu muốn hình dung mối quan hệ giữa thế giới thế tục và kitô giáo, chúng ta hãy nhìn vào thiếu niên 17 tuổi, nó chẳng vui khi cha mẹ nói chuyện với chúng. Về chuyện này, triết gia Dupre thêm rằng, sự tự đại tuổi dậy thì không xấu, chỉ là chưa trưởng thành đủ thôi.
  7. Tính thế tục là một ảo tưởng mà giới trí thức thích thú. Với người bình thường, có những lời thì thầm thiêng liêng ở khắp nơi. Trong đời thực, tôn giáo tín ngưỡng là điều không thể không có. Đây là ý kiến của triết gia người Pháp, Chantel Delsol.
  8. Như Jonah, chúng ta đang ở trong bụng cá voi. Đây là cách định danh yêu thích của linh mục Richard Rohr. Trong mối hoài nghi và mơ hồ đương thời của chúng ta, Thiên Chúa đang đưa chúng ta qua bóng tối để đến nơi chúng ta cần đến.
  9. Quan điểm kitô giáo của Phương Tây là tàn dư của một cái nhìn cũ, trước khi bị hư giác mạc. Đây là ý của hồng y Walter Kasper. Theo ngài: nếu ai đó bị mù từ bẩm sinh, thì sẽ không có hình tượng thị giác về các vật thể bên ngoài. Tuy nhiên, nếu ai đó sau này bị mù, thì sẽ giữ lại những hình ảnh mình từng thấy, dù bây giờ không thấy được chúng nữa. Là kitô hữu, chúng ta sống quá phụ thuộc vào các hình ảnh quá khứ, và không còn thấy trực tiếp bằng đôi mắt đức tin.
  10. Chúng ta cần “Chọn lựa của Thánh Biển Đức”. Đây là ý của nhà văn Rod Dreher. Nền văn hóa bị thế tục hóa nặng nề đang bóp nghẹt đức tin của chúng ta. Cái cần cứu và nuôi dưỡng chính là “chọn lựa của Thánh Biển Đức”. Như thánh đan phụ lập dòng vĩ đại, Biển Đức, những người có đức tin thành tín cần phải tránh xa một nền văn hóa đang xói mòn đức tin chúng ta và sống đức tin theo cách “đan tu”, cụ thể là rút ra và xây dựng những dạng “đan tu” mới, trong đó chúng ta sống trọn đức tin của mình và nuôi dạy con cái mình trong đức tin. Cuối cùng, như đã từng xảy ra, thế giới sẽ tìm đến chúng ta để tìm sự giúp đỡ và ý nghĩa.

Vậy ai mới đúng? Ý tưởng nào định danh đúng nhất cho những triệu chứng và thời khắc hiện tại của chúng ta? Mỗi hình ảnh đều có cái để chúng ta lĩnh hội.

Tình yêu mới làm mọi chuyện đi đến đàng trước, không phải lời bào chữa

Chuyện bào chữa được thì không cần phải bào chữa, chuyện không bào chữa thì không thể bào chữa được.

Michael Buckley đã viết câu này khi nói về chuyện Thánh Phêrô chối Chúa ba lần. Và đây là nội dung: Phêrô đã phản bội Chúa Giêsu trong lúc Ngài đang cùng cực nhất, và ông làm thế không phải vì ác tâm mà đơn thuần vì yếu đuối. Giờ, lần đầu đối diện với Chúa Giêsu sau lần phản bội đó, hẳn Phêrô thấy bứt rứt lắm. Chúng ta sẽ nói gì sau khi đã phản bội người nào đó?

Ông không cần nói gì cả. Chúa Giêsu đã mở lời, và như Buckley nêu bật, Ngài không bào chữa cho Phêrô. Chúa Giêsu không nói theo kiểu: “Trong hoàn cảnh này, nếu sợ hãi thì cũng là chuyện thông cảm được. Con đâu có tỉnh táo nổi! Thầy hiểu vì sao chuyện đó lại xảy ra mà!” Ngài cũng không hề bảo Phêrô là Ngài vẫn thương ông. Hoàn toàn Chúa Giêsu không nói những lời đó. Ngài chỉ đơn thuần hỏi Phêrô: “Con có yêu ta không?” và khi Phêrô thưa có, mọi chuyện cũ giờ đã là chuyện cũ. Không cần bào chữa gì cả. Chuyện bào chữa được thì không cần phải bào chữa, chuyện không bào chữa thì không thể bào chữa được. Nhân loại chúng ta đã giải thích vì sao chúng ta dễ bị phản bội, và khi tỉnh ngộ qua chuyện đó thì điều cần nói ra chính là sự tái xác nhận tình yêu.

Tôi quen một cặp vợ chồng có kinh nghiệm chuyện này. Họ cùng nhau đi dự tiệc tối thứ sáu, và người vợ, do hơi men và ma túy, đã rời bữa tiệc với một người đàn ông khác. Lúc đó, chồng cô không biết chuyện, nhưng khi phát hiện ra, ông đau buồn vô hạn. Ông về nhà một mình, trằn trọc cả đêm không ngủ được, nghĩ đến đủ ảo tưởng trả thù và cuối cùng chọn được một cách.

Gần đến giờ trưa, ông ngồi trong bếp, lúc người vợ ngượng ngùng và tự biết lỗi trở về nhà. Cô đã chuẩn bị bài bản xin lỗi và sẵn sàng đối diện với cơn thịnh nộ chính đáng của chồng mình. Nhưng cái cô nhận được lại không phải thế. Chồng cô không để cô nói bất kỳ lời xin lỗi hay bào chữa gì, ông cũng không bừng bừng thịnh nộ. Thay vào đó, ông bình thản và buồn rầu có mấy lời với vợ: “Anh sẽ ra ngoài ở trong một tuần để em có thể thanh thản suy nghĩ. Em cần phải quyết định. Em là vợ anh, hay là vợ của người khác?” Một tuần sau ông về nhà, nghe vợ xin lỗi, nhưng điều quan trọng hơn là ông tìm được con người mới của vợ, chung thủy triệt để hơn. Cuộc hôn nhân của họ vững bền và tốt đẹp kể từ đó. Bây giờ cô chung thủy theo cách vượt hẳn trước đây.

Chắc chắn, khi ông trở về, người vợ đã khóc lóc xin lỗi và biện minh. Việc ông không để cô nói gì trước đó có lẽ đã đem lại lợi ích lâu dài, nhưng tôi cũng phải công nhận là trong ngắn hạn nó hơi tàn nhẫn. Kể cả khi có chuyện không thể bào chữa, chúng ta vẫn cần cơ hội để nói lời xin lỗi. Lời xin lỗi quan trọng, cho cả người nói xin lỗi và người được xin lỗi. Trước khi có một lời xin lỗi rõ ràng, thì chuyện vẫn chưa xong. Tuy nhiên, trong mối quan hệ bị tổn thương hay rạn vỡ, sự hối hận rõ ràng không phải là cái tối hậu để sang trang bước tiếp. Cái làm cho chúng ta bào chữa được và bước đi tiếp chính là hết lòng đổi mới với tình yêu và chung thủy sâu sắc hơn.

Chuyện không bào chữa thì không thể bào chữa được. Nói một cách nghiêm ngặt, thì nó đúng, dù đôi khi sự thông hiểu sâu sắc hơn có thể biện minh cho chuyện không thể biện minh. Tôi xin đưa ra một ví dụ.

Vài năm trước, ở Úc đã xảy ra một chuyện. Hội đồng một Trường Công giáo vừa xây xong ngôi trường trị giá nhiều triệu đô Không lâu sau khi trường khánh thành, một cậu bé học sinh trung học đã đốt lửa trong tủ đồ của mình, em không biết van khí đốt cho hệ thống sưởi nằm ngay sau tủ đồ đó. Một vụ hỏa hoạn lớn bùng lên và cả ngôi trường bị đốt trụi. Phải khen cậu bé, cậu lấy hết can đảm thú nhận chuyện này. Rồi dĩ nhiên là mọi người đặt không biết bao nhiêu câu hỏi: Sao cậu ấy lại làm thế? Có ai lại đi đốt lửa trong tủ đồ? Ngu ngốc bất cẩn kiểu gì lạ vậy? Có gì có thể biện minh cho chuyện không thể biện minh này?

Tôi rất cảm kích với câu trả lời của một giám mục Úc cho những câu hỏi này. Khi nói với một nhóm giáo viên và ban giám hiệu trường, câu trả lời ngắn gọn của cha đã gói gọn hết. Tại sao cậu học sinh này lại làm thế? Vì đó là một cậu con trai! Các cậu trai (vì những lý do có thể giải thích được) thích đốt lửa từ lâu trước khi có van khí đốt xuất hiện. Hơn nữa, không có biện minh nào cho chuyện đó, ngoại trừ bản tính con người.

Thường thì, đó là cái cớ cho chuyện không thể biện minh. Vì chúng ta là con người! Thật vậy, đây là cái cớ thực sự của người phụ nữ đã phản bội chồng trong hơi men, cũng như cái cớ thực sự của Thánh Phêrô khi phản bội Chúa.

Nhưng chúng ta phải xác định chuyện này cho rõ. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta được phép viện đến bản tính vô lý về luân lý của mình làm cái cớ cho sự phản bội hoặc ngu ngốc. Chúng ta là con người! Các cậu con trai cứ là con trai! Nhưng bài học chính là mỗi khi sự vô lý về luân lý làm chúng ta rơi vào phản bội hoặc ngu ngốc, thì cái tận cùng bỏ qua mọi chuyện không phải là lời xin lỗi hay bào chữa, mà chính là hết lòng đổi mới trong tình yêu.

Linh đạo – nơi để mọi người có đức tin tụ về

Đâu là nơi mà người có đức chúng ta có thể tụ về vượt lên chia rẽ do lịch sử, giáo lý, giáo phái và tôn giáo? Đâu là nơi cho tất cả những người thiện tâm có thể tìm được điểm chung và cùng nhau thờ phượng?

Nơi đó được tìm thấy trong việc mưu cầu một linh đạo liên tôn giáo và đại kết không, các học viện thần học cũng như chủng viện cần phải tạo được không gian này trong tầm nhìn và cấu trúc học thuật của mình.

Linh đạo như một khuôn khổ học thuật trong các học viện thần học và chủng viện của chúng ta như thế nào? Linh đạo đã có từ lâu, dù mang nhiều cái tên khác nhau. Trong giới công giáo la-mã, trước đây nó được phân ra từng mảng, là thần học luân lý, phụng vụ, thần học khổ hạnh, văn học mộ đạo và thần nghiệm. Trong giới tin lành và phái phúc âm (cho đến gần đây, văn học mộ đạo và thần nghiệm vẫn không được tín nhiệm) thì có nhiều khóa học về cương vị môn đệ, thờ phượng và luân lý kitô giáo.

Vậy linh đạo là một lĩnh vực nghiên cứu sao? Dù có khả năng tối giản quá đáng, nhưng tôi xin phép đưa ra một phép loại suy để hiểu cách linh đạo liên quan đến thần học và giáo lý. Cách linh đạo liên quan đến thần học và giáo lý cũng như cách trận đấu thể thao liên quan đến sách luật của môn thể thao đó.

Ví dụ như, môn bóng chuyền có luật chơi, được soạn thảo ban đầu rồi được chỉnh sửa theo từng giai đoạn trong nhiều năm lịch sử của bộ môn này. Thời nay người ta áp dụng luật này khi chơi bóng chuyền. Không thể chơi ngoài những luật đó được. Tuy nhiên, dù những luật này đưa ra quy tắc để chơi bóng, nhưng không phải là trận đấu. Luật chỉ xác định cách chơi và bảo đảm trận đấu được chơi một cách công bằng.

Về căn bản, đó chính là vai trò thiết yếu của thần học và giáo lý. Chúng là sách luật để chúng ta biết cách phân định đức tin và việc thực hành tôn giáo khi chúng ta sống trong cương vị môn đệ, nếu như chúng ta nhận mình là kitô hữu. Nhưng chúng làm nên luật, còn linh đạo là trận đấu thật sự, là cách chúng ta sống đức tin và cương vị môn đệ trong việc thực hành thực tế.

Do đó, linh đạo có trong luân lý và đạo đức, việc thờ phượng, thần học khổ hạnh, thần học thần nghiệm, thần học mộ đạo và mọi thứ chúng ta làm khi sống cương vị môn đệ. Thần học đưa ra luật lệ, còn linh đạo cố truyền động lực, ngọn lửa, hy vọng và hướng dẫn thực hành cho cuộc chơi, cho đời sống cương vị môn đệ.

Tôi đưa ra biện giải nho nhỏ này cho linh đạo trong tư cách một khuôn khổ học thuật, để xác nhận, linh đạo là nơi những người có đức tin cùng chung một tấm lòng có thể đến với nhau vượt lên những chia rẽ lâu dài do lịch sử, giáo lý, giáo hội học và các quan niệm đức tin khác biệt. Linh đạo là nơi mà chúng ta có thể gặp trong thông hiệp đức tin, đưa chúng ta (ít nhất trong không gian và thời khắc này) vượt lên những khác biệt lịch sử, giáo phái, tôn giáo và quan niệm đức tin.

Tôi biết đúng là như thế vì tôi đã thấy và đang thấy trực tiếp. Học viện Thần học Dòng Hiến sĩ, nơi tôi dạy, có Viện Thần học Đương đại, nơi đạo công giáo la-mã, tin lành và phái phúc âm cùng nhau học hỏi, nghiên cứu và cầu nguyện, không có khác biệt tôn giáo nào len lỏi vào. Tất cả mọi người, dù thuộc giáo phái nào đều tìm kiếm những điều như nhau: Làm môn đệ Chúa Giêsu thời nay nghĩa là gì? Làm thế nào để chân thành cầu nguyện? Làm thế nào để giữ vững đức tin trong một thế giới thế tục dễ dàng nuốt chửng chúng ta? Làm thế nào để truyền đức tin cho con cháu chúng ta? Làm thế nào để vừa là ngôn sứ vừa là người chữa lành trong thế giới chia rẽ chua cay này? Phản ứng dựa trên đức tin đối với bất công là gì? Làm sao để già đi tốt đẹp và chết lành? Những thấu suốt và ân sủng nào chúng ta có thể rút ra từ những suối nguồn thâm sâu của thần nghiệm kitô giáo và hạnh các thánh để hướng dẫn cuộc sống chúng ta?

Ai cũng có cùng những câu hỏi giống nhau và ai cũng đi tìm ở những nơi cũng giống nhau.

Chủ nghĩa giáo phái rút lui khi linh đạo xuất hiện.

Hơn nữa, điều này không chỉ liên quan đến việc đến cùng nhau vượt lên các khác biệt giáo phái kitô giáo, đối với sự tách biệt của chúng ta với các tôn giáo khác cũng vậy. Những câu hỏi mà tín hữu kitô chúng ta đang băn khoăn cũng là những câu hỏi lớn đối với các tôn giáo khác như ấn giáo, phật giáo, hồi giáo, lão giáo và những tín hữu khác đang cần chúng ta giúp cũng như chúng ta cần họ giúp. Trong linh đạo, người tín hữu kitô học hỏi từ thần nghiệm hồi giáo Sufi, còn tín hữu hồi giáo thì học hỏi từ Thánh Mẫu học và thần nghiệm kitô giáo. Phật giáo, ấn giáo và lão giáo học hỏi từ Linh thao của thánh Inhaxiô, tín hữu kitô cũng học hỏi nhiều từ các phương pháp thiền của phật giáo và ấn giáo.

Chúa Giêsu đã quả quyết với chúng ta: trong nhà Chúa có nhiều chỗ. Linh đạo là một trong những chỗ đó. Linh đạo là căn phòng nơi tất cả những ai đang băn khoăn cho một nhu cầu chung, một tìm kiếm chung và hy vọng chung, có thể tạm gác lại những khác biệt tôn giáo và giáo phái của mình, để cùng nhau đến căn phòng này tìm kiếm.

Đừng hiểu nhầm tôi, chuyện này không xóa nhòa những khác biệt của chúng ta, nhưng nó cho chúng ta một nơi để chúng ta có thể dự phần trong hiệp thông sự sống và đức tin với nhau, dù có những khác biệt này.

Đối diện với thăng thiên

Một người bạn của tôi, khá yếm thế về Giáo hội, gần đây đã nói: “Thể chế Giáo hội ngày nay đang cố đưa ra bộ mặt tốt nhất trước sự thật nó đang chết dần. Về căn bản, Giáo hội đang cố gắng đối diện với cái chết”.

Điều ông muốn nói, Giáo hội thời nay, như người đang cố đấu tranh để chấp nhận căn bệnh nan y, đang cố tái định hình một hình ảnh của mình để cuối cùng có thể thích nghi với chuyện không thể nghĩ đến nỗi, đó là cái chết của chính mình.

Ông nói đúng khi cho rằng Giáo hội thời nay đang cố tái định hình một hình ảnh của mình, nhưng ông đã sai về chuyện mà Giáo hội đang cố đối diện. Cái mà giáo hội đang cố đối diện thời này, không phải là cái chết, mà là sự thăng thiên. Cái cần tái định hình trong hình dung của chúng ta thời nay cũng giống như điều cần định hình trong hình dung của các tông đồ trong bốn mươi ngày giữa biến cố phục sinh và thăng thiên. Một lần nữa, chúng ta cần hiểu cách để buông bỏ một thân thể của Chúa Kitô để thân thể đó thăng thiên rồi chúng ta có thể cảm nhận sự Hiện xuống. Đâu là điểm quan trọng cấp bách trong chuyện này?

Trong mầu nhiệm vượt qua, thăng thiên là chuyện chúng ta ít hiểu nhất. Rõ ràng chúng ta thấy được ý nghĩa của cái chết và phục sinh của Đức Kitô, cũng như sự hiện xuống của Chúa Thánh Thần trong lễ Hiện Xuống. Nhưng chúng ta ít hiểu hơn về thăng thiên.

Bốn mươi ngày giữa Phục Sinh và Hiện Xuống, không phải là thời gian thuần vui mừng đối với các tông đồ. Đó là thời gian của vui mừng, đúng, nhưng cũng là thời gian của mơ hồ, nản lòng và mất đức tin. Trong những ngày trước sự thăng thiên, các tông đồ quá đỗi vui mừng mỗi khi họ được gặp Chúa phục sinh của mình, nhưng hầu hết thời gian, họ hoang mang, nản lòng và đầy hoài nghi, vì họ không được thấy sự hiện diện mới của Đức Kitô trong những chuyện xảy ra quanh họ. Có lúc, họ hoàn toàn từ bỏ, như thánh Gioan đã kể lại, họ trở lại với cuộc sống trước đây, đi đánh cá ngoài khơi.

Tuy nhiên, trong thời gian đó, Chúa Giêsu dần dần tái định hình hình dung của họ. Cuối cùng, họ hiểu được sự thật, rằng có một sự đã chết đi, nhưng có một sự khác còn phong phú hơn nhiều đã sinh ra, và giờ họ cần từ bỏ cách thức mà trước đây Chúa Giêsu đã hiện diện với họ ngỏ hầu Ngài có thể hiện diện với họ theo một cách mới. Thần học và linh đạo về thăng thiên, căn bản gói gọn trong những lời này: Từ chối bám chặt vào những gì từng có, buông bỏ nó để có thể nhận ra sự sống mới chúng ta đang sống và đón nhận sinh khí của sự sống ấy. Các phúc âm nhất lãm dạy cho chúng ta điều đó khi mô tả cảnh thăng thiên, khi Chúa Giêsu trong thân xác chúc lành mọi người rồi bay về trời. Thánh Gioan cũng cho chúng ta một thần học như thế, nhưng theo hình ảnh khác. Ngài nêu lên chuyện này khi mô tả cảnh Chúa Giêsu gặp Maria Magdalena vào buổi sáng Phục Sinh, khi Ngài bảo: “Maria, đừng giữ ta!”

Hôm nay, giáo hội đang cố đối diện sự thăng thiên, chứ không phải cái chết. Tôi có thể dễ dàng thấy bạn tôi mơ hồ chuyện gì, bởi vì mọi sự thăng thiên đều bao hàm cái chết và sự sinh ra, mà chuyện đó có thể gây nhiều mơ hồ. Vậy thì, thật sự, hội thánh thời nay là thế nào?

Edward Schillebeeckx từng cho rằng chúng ta đang sống trong cùng sự nản lòng của các tông đồ tiên khởi trong thời gian giữa cái chết của Chúa và lúc họ nhận ra Ngài đã phục sinh. Chúng ta có cùng cảm nhận, hoài nghi và mơ hồ của họ trên đường Ê-mau. Đức Kitô mà chúng ta từng biết đã bị đóng đinh và chúng ta không thể nhận ra Chúa Kitô đang đi giữa chúng ta, đang sống hơn bao giờ hết, dù theo một cách khác. Do đó, cũng như các môn đệ trên đường Ê-mau, chúng ta cũng thường bước đi cúi gầm mặt, mang một đức tin hoang mang, chúng ta cần Đức Kitô xuất hiện trong một hình hài mới để tái định hình những hình dung của chúng ta để chúng ta có thể nhận ra Ngài đang hiện ra với chúng ta.

Tôi nghĩ Schillebeeckx đúng về chuyện này, nhưng tôi lại có cách nói khác. Giáo hội ngày nay đang trong khoảng thời gian giữa phục sinh và thăng thiên, cảm nhận sự nản lòng đáng kể, với những hình dung hợp với một nhận thức cũ về Đức Kitô, không thể nhận ra Đức Kitô rõ ràng trong giây phút hiện tại. Với những ai lớn lên trong một nhận thức đức tin nào đó, thì nhận thức cũ của chúng ta về Đức Kitô đã bị đóng đinh. Nhưng Đức Kitô không chết. Giáo hội không chết. Cả Chúa Giêsu và giáo hội đang rất sống động, bước đi với chúng ta, dần dần tái định hình hình dung của chúng ta, tái diễn giải Kinh thánh cho chúng ta, một lần nữa nói với chúng ta rằng: Không phải Đức Kitô (và Giáo hội) cần chịu nhiều đau khổ sao…

Ngày nay, với nhiều người trong chúng ta, sống trong đức tin chính là ở trong thời gian giữa cái chết của Đức Kitô và sự thăng thiên, dao động giữa niềm vui và nản lòng, cố gắng đối diện chuyện thăng thiên.

Trên con đường đức tin, luôn có tin vui và tin buồn. Tin buồn là nhận thức của chúng ta về Đức Kitô luôn mãi bị đóng đinh. Tin vui là Đức Kitô luôn mãi sống động, vẫn ở với chúng ta theo một cách thâm sâu hơn.

Nỗi sợ bị bỏ lỡ

Thật khó cho một đứa trẻ phải đi ngủ lúc buổi tối mới bắt đầu, lúc cả nhà còn ăn tiệc. Không ai muốn đi ngủ lúc mọi người đang còn thức. Chẳng ai muốn bỏ lỡ gì đó trong đời.

Ai rồi cũng nhớ khi còn nhỏ, dù đã quá mệt, hai mắt đã díu lại, chúng ta vẫn cố cự lại bất cứ ai bắt mình đi ngủ. Dù mệt mỏi hay không, chúng ta cũng không muốn bỏ lỡ bất kỳ điều gì. Chúng ta không muốn đi ngủ khi đời sống vẫn đang tiếp diễn.

Và chẳng bao giờ chúng ta bỏ được chuyện này. Sự kháng cự đó là bẩm tại và nó vẫn còn trong chúng ta cho đến giờ lâm tử.

Một trong những nỗi băn khoăn day dứt nhất của chúng ta là ý thức rằng mình luôn mãi bỏ lỡ gì đó trong đời. Đây cũng là một trong những yếu tố lớn nhất của nỗi sợ chết. Với hầu hết mọi người, sự nặng nề và tăm tối của cái chết không hẳn đến từ nỗi sợ những điều sẽ gặp ở đời sau, sự phán xét và hình phạt, cho bằng đến từ nỗi sợ bị tiêu vong. Hơn nữa, nỗi sợ này không hẳn là sợ thân phận của mình sẽ tiêu tan không còn gì, cho bằng sợ mình sẽ bị tước đi mọi phần cuộc đời mình đã có. Nỗi buồn khi phải từ bỏ gì đó, khi biết rằng cuộc đời sẽ tiếp diễn mà không có mình, sợ phải đi ngủ khi tiệc vui chưa tàn. Và nỗi sợ này nằm sâu, rất sâu trong lòng chúng ta, đến nỗi chúng ta khó mà hình dung nổi làm sao thế giới có thể tiếp tục công việc mà không có chúng ta.

Tuy nhiên, đây không phải là dấu hiệu về một vấn để bất ổn trong chúng ta, nó không phải là một thứ cần được sửa chữa, cũng không phải là một vấn đề luân lý hay tôn giáo cần phải lưu tâm. Nó là bản chất con người, đơn giản là thế, và Thiên Chúa là Đấng tạo nên nó. Nói tóm lại, chúng ta được dựng lên để dự phần trong cả tấm vải chứ không phải để làm một sợi chỉ đơn độc.

Năm 23 tuổi, tôi chứng kiến cha tôi mất trong phòng bệnh viện. Ông chưa lớn tuổi, chỉ mới 62 và lẽ ra cha tôi phải được sống thêm nhiều năm nữa. Nhưng ông sắp chết, ông biết thế, và dù đức tin đã giúp ông xoa dịu nhưng ông vẫn rất buồn. Điều ông phải đấu tranh không phải nỗi sợ đời sau hay còn chuyện đền tội nào ông cần làm trong đời này. Không phải thế. Ông không có chuyện gì còn dang dở với Chúa hay với những vấn đề luân lý và tôn giáo. Ông cũng không có những nỗi sợ không lành mạnh về đời sau. Việc duy nhất ông còn đang dang dở với đời này, chính là (một cách trừu tượng) bị bắt đi ngủ khi tiệc chưa tàn. Hơn nữa, với ông, bữa tiệc đó đang lúc vui nhất. Các con lớn đã bắt đầu an cư lập nghiệp, sinh cho ông nhiều đứa cháu, các con nhỏ cũng đang hăng hái bước vào cuộc sống trưởng thành. Ông sẽ không còn đó để xem mọi chuyện sẽ thế nào, và ông sẽ không còn đó để thấy hầu hết các cháu của mình. Quan trọng hơn nữa, ông còn người vợ, người tri kỷ mà ông phải bỏ lại. Thật sự, bị bắt đi ngủ vào lúc như thế không vui gì.

Hơn nữa, cha tôi vẫn còn các anh chị em ruột, hàng xóm, bạn bè, giáo xứ, cộng đồng, các đội bóng và vô số các mối dây khác trong đời. Và ông ý thức trong đau đớn rằng, những chuyện này đều sẽ kết thúc, ít nhất là ở đời này.

Tại sao ông không nên buồn chứ? Thật sự là, tại sao có ai trong chúng ta không nên buồn khi đối diện với cái chết như thế, khi chúng ta bị bắt đi ngủ lúc cuộc đời còn đang mở tiệc?

Chúng ta được cấu thành với tính cộng đồng. Như chính Thiên Chúa đã nói khi Ngài tạo dựng gia đình nhân loại: con người ở một mình thì không tốt. Chúng ta phải là một phần của gia đình và cộng đồng, một phần của tấm vải cuộc đời, một tấm vải được dệt nên bởi vô số sợi chỉ riêng lẻ. Do đó, cũng không có gì lạ khi chúng ta buồn lúc sợi chỉ mỏng manh, riêng lẻ của mình bị kéo ra khỏi tấm vải. Chẳng lạ gì khi trẻ con không muốn đi ngủ lúc mọi người vẫn đang chơi vui.

Hơn nữa, điều này không chỉ đúng khi chúng ta thấy buồn vào lúc lâm tử. Cũng động năng đó bùng lên mỗi khi chúng ta trải qua những cái chết nho nhỏ trong lòng khi chúng ta bước vào tuổi già, mất đi sức khỏe, mất đi công việc dù là do nghỉ hưu hay bị sa thải, mất đi những người chúng ta yêu thương, mất đi hôn nhân, chuyển đổi chỗ ở, hay bất kỳ cách thức nào khác làm cho chúng ta bị đẩy ra rìa cái chúng ta gọi là dòng chảy chính của cuộc đời.

Vậy nên, sẽ tốt nếu chúng ta biết rằng cảm giác đó không có gì sai. Giờ lâm tử khó khăn mà. Buông bỏ khó khăn mà. Bị đẩy ra rìa khó khăn mà. Biến mất khỏi cuộc đời càng khó khăn hơn nữa. Chính vì thế mà trẻ con chẳng muốn bị bắt đi ngủ.

Rồi Thiên Chúa lại tạo nên ánh sáng

Chúng ta hình dung nguồn gốc vũ trụ theo cách khoa học là do vụ nổ Big Bang hay theo cách trình thuật Kinh Thánh, cũng không quan trọng. Cách nào cũng nói về một thời trước khi có ánh sáng. Vũ trụ tối tăm trước khi Thiên Chúa tạo ra ánh sáng. Tuy nhiên, cuối cùng vũ trụ lại tăm tối trở lại. Khi nào?

Các sách Phúc âm nói rằng khi Chúa Giêsu hấp hối trên thập giá, giữa giờ thứ sáu và giờ thứ chín, trời đất tăm tối và Chúa Giêsu kêu lên, “Lạy Cha, lạy Cha, sao Cha bỏ con?” Vậy đã có chuyện gì?

Các sách Phúc âm muốn nói về cảnh trời tối lúc đầu giờ chiều, nhật thực, hay đang nói đến một sự tăm tối khác, tăm tối kiểu tâm linh? Lúc Chúa Giêsu hấp hối đã xảy ra nhật thực sao? Có lẽ có. Chúng ta không biết chắc, nhưng nó chỉ là điều thứ yếu. Cái mà các sách Phúc âm muốn nói đến chính là một dạng tăm tối lớn lên trong chúng ta mỗi khi điều quý báu với chúng ta bị thế gian sỉ nhục, bị xem là vô lực, bị chế nhạo, bị đánh bại và bị đóng đinh. Có bóng tối bủa vây chúng ta mỗi khi các thế lực của tình yêu dường như bị áp chế bởi các thế lực của thù hận. Ánh sáng bị dập tắt lúc đó là ánh sáng của hy vọng, nhưng có một sự tăm tối sâu xa hơn và đây là dạng tăm tối mà các sách Phúc âm nói, nó đã tạo nên một đám mây che phủ thế giới khi Chúa Giêsu hấp hối trên thập giá.

Điều được ám chỉ ở đây là: trong cuộc khổ nạn đóng đinh của Chúa Giêsu, sự tạo dựng trở lại tình trạng hỗn mang nguyên thủy, như thời trước khi có ánh sáng. Nhưng nó còn ám chỉ rằng Thiên Chúa đã tạo ra ánh sáng một lần thứ hai, lần này bằng cách phục sinh Chúa Giêsu từ cõi chết, và vì vậy, ánh sáng mới này là ánh sáng chói lòa nhất. Hơn nữa, không như ánh sáng ban đầu vốn chỉ là vật chất, ánh sáng này là ánh sáng vừa cho con mắt vừa cho tâm hồn.

Đối với con mắt, ánh sáng phục sinh còn là hiện tượng vật chất hoàn toàn mới. Trong cuộc phục sinh của Chúa Giêsu, các nguyên tử của hành tinh bị rung động khỏi sự vận hành vật chất bình thường. Một xác chết từ trong mồ trỗi dậy và sẽ không bao giờ chết nữa. Chuyện đó chưa từng xảy ra trước đó. Hơn nữa, sự phục sinh của Chúa Giêsu cũng là ánh sáng mới triệt để cho tâm hồn, ánh sáng của hy vọng. Ánh sáng thứ hai này là gì?

Vào đầu thập niên 1970, Robbie Robertson sáng tác bài hát nổi tiếng bài The Night They Drove Old Dixie Down và ca sĩ Joan Baez hát bài này. Lời bài hát là tự thuật của một người tên Virgil Caine, một bài ai thán buồn bã về sự cùng quẫn của một gia đình da trắng ở miền Nam trong thời Nội chiến Mỹ. Mọi chuyện xấu ập đến với họ, con trai út bị tử trận. Tình cảnh của họ tối tăm, không có chút hy vọng nào. Trong bài hát, có đoạn người kể chuyện than van về cái chết của em mình:

Nó chỉ mới 18, tự hào và dũng cảm
Nhưng một tên lính đã tiễn nó xuống mộ
Tôi thề bằng máu dưới chân mình
Đâu thể cho Ca-in trỗi dậy khi đã bị đánh bại

Sự sống có thể trỗi dậy khi đã bị đánh bại không? Xác chết có thể ra khỏi mộ phần không? Cái xác tơi tả có thể nguyên vẹn lại không? Sự ngây thơ mất đi có thể phục hồi lại không? Một trái tim tan nát có thể lành lại không? Một hy vọng vỡ nát có thể nâng đỡ linh hồn lần nữa không? Bóng tối có dập tắt mọi ánh sáng không? Các môn đệ của Chúa Giêsu có hy vọng gì khi chứng kiến thầy mình bị sỉ nhục và chết trên thập giá? Khi chính sự thiện bị đóng đinh, thì còn căn cứ gì để hy vọng nữa?

Căn cứ gói gọn trong hai chữ, phục sinh. Khi bóng tối bao trùm trái đất lần thứ hai, Thiên Chúa đã tạo nên ánh sáng lần thứ hai, và ánh sáng đó, không như ánh sáng vật chất được tạo ra thuở khai thiên lập địa, ánh sáng này không thể bị dập tắt. Đó là sự khác biệt giữa sự sống lại của Lazarô và sự phục sinh của Chúa Giêsu, sự khác biệt giữa ánh sáng vật chất và ánh sáng của sự phục sinh. Lazarô đã được phục hồi thân xác như cũ, rồi thân xác đó phải chết lần nữa. Chúa Giêsu được ban một thân xác mới triệt để sẽ không bao giờ chết nữa.

Học giả kinh thánh lừng danh Raymond E. Brown nói rằng: bóng tối bủa vây thế giới khi Chúa Giêsu hấp hối trên thập giá, sẽ không còn nếu chúng ta tin vào sự phục sinh. Nếu chúng ta chưa tin rằng Thiên Chúa có lời đáp ban sự sống cho mọi kẻ chết, nếu chúng ta chưa tin Thiên Chúa sẽ vần tảng đá che mọi ngôi mộ bất chấp sự thiện bị chôn sâu đến đâu dưới thù hận và bạo lực, nếu như thế thì bóng tối của Thứ Sáu Tuần Thánh sẽ tiếp tục che phủ thế giới chúng ta.

Mohandas K. Gandhi từng nhận định rằng chúng ta có thể thấy chân lý của Thiên Chúa luôn tạo nên ánh sáng mới, chỉ cần nhìn vào lịch sử là thấy. “Khi tôi tuyệt vọng, tôi nhớ lại mọi chuyện đã trải qua suốt dòng lịch sử, chân lý và tình yêu luôn chiến thắng. Có những kẻ sát nhân và bạo chúa, và chúng bất khả chiến bại suốt một thời gian. Nhưng đến tận cùng, chúng luôn sụp đổ. Chúng ta cứ nghĩ như thế đi, luôn là thế”.